Cuộc chiến tranh cuối cùng của đồng tiền đích thực – Phần IV


Tháng 4 năm 1963, tại phiên điều trần Quốc hội, William J. Martin – Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ phát biểu rằng: “Ủy ban Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tin chắc rằng không cần thiết phải sử dụng bạc trắng trong hệ thống tiền tệ Mỹ. Cho dù không ít người cảm thấy việc rút bạc ra khỏi hệ thống tiền tệ của chúng ta có thể sẽ gây ra khả năng mất giá tiền tệ, nhưng tôi không đồng ý với quan điểm này”.

Theo quy luật thông thường, ngay khi thị trường bạc có tín hiệu tăng giá, người ta cần ít nhất 5 năm để bắt đầu lại quá trình thăm dò, lắp đặt thiết bị khai thác mới nhằm mở rộng quy mô sản xuất, cuối cùng là nâng cao lượng cung ứng.

Cao điểm trong cuộc đấu tranh giữa Kennedy và các nhà Ngân hàng quốc tế chính là hệ thống dùng bạc để bảo đảm vị thế tiền tệ. Một khi lượng cung ứng bạc bắt đầu tăng trở lại, Kennedy biết có thể bắt tay với các xí nghiệp sản xuất bạc ở các bang miền Tây nhằm tăng thêm lượng phát hành của Chứng chỉ bạc trắng và nó chắc chắn sẽ lại phát triển.

Đến khi đó, Pháp lệnh số 11110 do Tổng thống Kennedy ký ngày 4 tháng 6 năm 1963 sẽ lập tức trở thành vũ khí lợi hại để đối phó với Giấy bạc Cục Dự trữ Liên bang.

Điều đáng tiếc là, các nhà tài phiệt Ngân hàng quốc tế cũng nhìn ra sự dàn xếp của Kennedy. Vị Tổng thống rất được nhân dân tín nhiệm này gần như chắc chắn sẽ tái đắc cử thêm một nhiệm kỹ nữa trong cuộc tranh cử cuối năm 1964. Nếu Kennedy ngồi ở chiếc ghế Tổng thống thêm một nhiệm kỳ 4 năm nữa thì cục diện sẽ thay đổi không thể cứu vãn.

Vậy là, việc loại bỏ Kennedy trở thành lựa chọn duy nhất.

Kennedy bị ám sát tại phi trường đúng vào ngày Johnson trở thành Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ. Johnson biết rất rõ sự kỳ vọng của các nhà tài phiệt Ngân hàng quốc tế đối với mình và ông ta không thể và cũng không ám phụ lại sự “kỳ vọng” đó.

Tháng 3 năm 1964, sau khi nhậm chức Tổng thống không lâu, Johnson ra lệnh cho Bộ Tài chính đình chỉ việc hoán đổi giữa chứng chỉ bạc và bạc hiện vật, từ đó loại bỏ việc phát hành Chứng chỉ bạc trắng. Bộ Tài chính tiếp tục bán tháo bạc dự trữ cho giới công nghiệp với giá 1,29 USD để tiếp tục ép giá bạc, làm suy giảm động lực sản xuất của các ngành sản xuất bạc, ngăn chặn nhu cầu cung ứng bạc.

Sau đó, tháng 6 năm 1965, Johnson lại ra lệnh pha loãng bạc nhằm hạ thấp vị thế của bạc trong hệ thống tiền tệ. Ông ta nói: “Tôi muốn tuyên bố một cách rõ ràng, những sự thay đổi này sẽ không ảnh hưởng đến sức mua của tiền đúc. Trong phạm vi nước Mỹ, tiền mới sẽ có thể được hoán đổi với tiền giấy có cùng mệnh giá”.

Ngày 7 tháng 6 năm 1966, tờ The Wall Street Daily bình luận đầy mỉa mai rằng: “Đúng vậy, nhưng dưới ảnh hưởng của lạm phát tiền tệ suốt 30 năm qua, sức mua của tiền giấy đã bị ăn mòn gần hết. Chính vì vậy mà tiền tệ của chúng ta hoàn toàn bị tách biệt khỏi vàng bạc”.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cũng thừa nhận, hằng năm họ đều có kế hoạch với những tính toán “khoa học” để sức mua của đồng USD giảm xuống từ 3% đến 4% sao cho tầng lớp lao động có thể “thấy được” tiền lương của mình đang tăng lên.

Đến mùa hè năm 1967, Bộ Tài chính không còn bạc trắng “nhàn rỗi” để có thể bán đổ bán tháo.

Cuối cùng, đại nghiệp tiền tệ bạc trắng đã kết thúc trong tay Johnson.

Quỹ hỗ trợ vàng (gold pool)

Trong tiến trình loại bỏ chế độ dùng vàng bạc để đảm bảo tiền tệ, các nhà ngân hàng quốc tế đã sử dụng chiến lược “trước bạc sau vàng”. Nguyên nhân chủ yếu của chiến lược này là đầu thập niên 60, trên thế giới chỉ có mấy quốc gia đang còn sử dụng bạc làm tiền tệ. Loại bỏ bạc trắng ra khỏi hệ thống tiền tệ Mỹ chỉ là một thủ thuật cục bộ và đơn giản.

Vấn đề vàng thì phức tạp và khó khăn hơn nhiều. Trong thực tiễn lịch sử kéo dài hơn 5000 năm của xã hội loài người, bất luận ở thời đại nào, quốc gia nào, tôn giáo nào, chủng tộc nào, vàng cũng được thế giới công nhận là một loại tài sản quý giá. Nhận thức này không dễ gì bị mớ lý thuyết coi vàng là “di tích dã man” hóa giải. Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế hiểu rất rõ rằng, vàng không phải là thứ kim loại bình thường, và nếu xét từ bản chất thì vàng là “thuộc kim chính trị” duy nhất, có độ nhạy cảm cao, có tính kế thừa lịch sử sâu sắc nhất. Nếu xử lý không tốt vấn đề vàng, có thể sẽ gây nên cơn bão tài chính trên phạm vi toàn thế giới. Trước khi chiến dịch bạc còn chưa kết thúc thì cần phải giữ vững chiến tuyến của vàng.

Chính sách lạm phát tiền tệ với quy mô lớn do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ “đạo diễn” từ thập niên 30 khiến lượng tiền giấy phát hành ra thị trường vượt mức cho phép, tạo sức ép đẩy giá vàng và bạc lên cao. Trong phạm vi nước Mỹ, Bộ Tài chính có trách nhiệm khống chế giá bạc, còn trên bình diện quốc tế, cần phải có một tổ chức đối ứng có thể thay thế chức năng của Bộ Tài chính, có trách nhiệm bán tháo vàng ra thị trường nhằm đánh tụt giá trị của vàng.

Thời đại máy bay đã tạo điều kiện cho các nhà ngân hàng quốc tế có cơ hội thường xuyên gặp mặt để bí mật thương lượng đối sách. Vậy là Ngân hàng Thanh toán Quốc tế có trụ sở tại Basel, Thụy Sĩ đã trở thành địa điểm diễn ra hội nghị “Basel cuối tuần” của họ.

Tháng 11 năm 1961, thông qua cuộc thương thảo tập trung, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đã lập ra một kế hoạch khá mỹ mãn – thành lập Quỹ Hỗ trợ vàng (Gold Pool) với thành viên chính là Mỹ và 7 quốc gia lớn ở châu Âu. Tôn chỉ của Quỹ này là ép giá vàng tại thị trường London và khống chế nó trong mức 35,20 USD/ounce, đã bao gồm phí vận chuyển vàng từ New York.

Với tài lực hùng hậu, Mỹ gánh vác một nửa ngân sách của Quỹ, còn Đức nhờ sự khởi sắc của nền kinh tế sau chiến tranh mà hầu bao cũng ngày càng rủng rỉnh. Tuy nhiên, vì là nước chiến bại nên số tiền quyên góp của Đức cho Quỹ chỉ ở mức 30 triệu USD, xếp sau Mỹ. Ba nước Anh, Pháp, Italy đều đóng mỗi nước 25 triệu USD,còn Thụy Sĩ, Vương quốc Bỉ và Hà Lan mỗi nước 10 triệu USD. Ngân hàng Anh phụ trách việc quản lý điều hành thực tế, xuất vàng trong kho ra chi trả, cuối tháng kết toán theo tỉ lệ với ngân hàng trung ương của các nước thành viên.

Ngân hàng trung ương của các nước thành viên đảm bảo không mua vàng từ thị trường London hay các nước thứ ba như Nam Phi, Liên Xô. Mọi nội dung hoạt động của Quỹ Hỗ trợ vàng đều được bảo mật tuyệt đối. Giống như hội nghị bí mật truyền thống của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế ở Basel, mọi thành viên không được phép ghi chép trên bất cứ văn bản nào, dù chỉ là một mảnh giấy. Bất cứ một nghị định này cũng đều thông qua bằng miệng, giống như việc Morgan dùng việc bắt tay và lời nói để hoàn thành những cuộc giao dịch khổng lồ vậy. Sự thừa nhận bằng miệng của các nhà ngân hàng quốc tế có sức trói buộc ngang bằng, thậm chí là cao hơn so với hợp đồng pháp lý.

Trong mấy năm đầu tiên hoạt động, “Quỹ hỗ trợ vàng” đã thu được thành công lớn, thậm chí còn vượt cả sự mong đợi. Vụ thu năm 1963 của Liên Xô – nước sản xuất vàng lớn trên thế giới – bị mất mùa nghiêm trọng, khiến cho nước này buộc phải bán rẻ một lượng lớn vàng để nhập khẩu lương thực. Chỉ trong một quý của năm 1963, Liên Xô bán ra tổng lượng vàng trị giá đến 470 triệu USD, vượt xa toàn bộ vốn tích lũy vàng của Quỹ Hỗ trợ vàng. Nước Pháp đành tháo lui khỏi Quỹ, thậm chí còn nhanh chóng đổi toàn bộ số USD hiện có sang vàng. Từ năm 1962 đế năm 1966, nước Pháp đã hoán đổi một lượng vàng trị giá gần 3 tỷ USD từ tay Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và vận chuyển về cất giữ ở Paris.

Đến cuối tháng 11 năm 1967, Quỹ Hỗ trợ vàng mất một lượng vàng trị giá 1 tỷ USD, tức là gần mức 900 tấn. Đồng USD lúc này đã không còn giữ thế thượng phong, dân chúng trên toàn thế giới tỏ ra không tin tưởng vào đồng tiền này.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ P1 – NXB LĐ 2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s