Bí mật an ninh mạng – Phần XIV


Tôi [Snowden] thường nghĩ về cái gọi là “moment nguyên tử” – một thuật ngữ vật lý mô tả khoảnh khắc khi một hạt nhân kết hợp các proton và neutron đang quay xung quanh nó thành một nguyên tử, nhưng thuật ngữ này lại thường được mọi người hiểu là sự ra đời của thời đại hạt nhân, với những chất đồng vị cho phép tạo ra nhiều tiến bộ trong sản xuất năng lượng, nông nghiệp, thanh lọc nước uống, và chẩn đoán cũng như điều trị những chứng bệnh chết người. Nó cũng tạo ra bom nguyên tử.

Công nghệ không có lời thề Hippocrates. Vì thế, nhiều quyết định của các nhà công nghệ trong giới hàn lâm, công nghiệp, quân sự và chính phủ, ít nhất là kể từ thời Cách mạng Công nghiệp, đã được đưa ra trên cơ sở là “chúng ta có làm được không?” chứ không phải “chúng ta có nên làm không?” Và ý định thúc đẩy phát minh công nghệ hiếm khi nào, nếu có, hạn chế các phương thức ứng dụng và sử dụng công nghệ.

Tất nhiên, tôi không có ý so sánh vũ khí hạt nhân với việc do thám trên mạng về mặt tổn thất nhân mạng. Nhưng có một điểm chung nếu xét đến khái niệm phát triển ào ạt và giải trừ quân bị.

Hai quốc gia duy nhất mà tôi biết trước đây đã thực hành giám sát toàn bộ là hai cường quốc tham chiến khác trong Thế chiến II – một là kẻ thù của Mỹ, một là đồng minh của Mỹ. Ở cả Đức Quốc xã lẫn Liên Xô, các dấu hiệu công khai đầu tiên về một cuộc giám sát như thế bề ngoài lại mang hình thức vô hại của một cuộc điều tra dân số, các số liệu thống kê chính thức về toàn dân của một quốc gia. Cuộc điều tra dân số toàn liên bang đầu tiên của Liên Xô, vào năm 1926, đã có một động cơ thứ hai nằm ngoài việc đếm số lượng đơn thuần: Nó đã công khai truy vấn công dân Liên Xô về nguồn gốc dân tộc của họ. Các kết quả có được đã thuyết phục được những người dân tộc Nga vốn hợp thành giới đặc quyền Xô Viết tin rằng họ thuộc nhóm dân tộc thiểu số khi so với số đông công dân được nhập chung liên bang mang dòng máu Trung Á, như những người Uzbekistan, Kazakhstan, Tajikistan, Turkmenistan, Gruzia và Armenia. Các kết quả điều tra đã củng cố đáng kể quyết tâm của Stalin muốn xóa bỏ các nền văn hóa này, bằng cách “cải tạo” các dân tộc này theo ý thức hệ có tính tiệt trừ của chủ nghĩa Marx – Lenin.

Cuộc điều tra dân số năm 1939 của Đức Quốc xã cũng là một dự án tương tự, nhưng với sự hỗ trợ của của công nghệ máy tính. Nó đặt ra mục tiêu thống kê dân số Đức, để kiểm soát và thanh trừng – chủ yếu là thanh trừng dân Do Thái và dân di-gan – trước khi thực hiện những nỗ lực sát nhân đó với dân cư bên ngoài biên giới. Để thực hiện điều này, Đức hợp tác với Dehomag, một công ty con tại Đức thuộc hãng IBM của Mỹ, hãng sở hữu bằng sáng chế loại máy tính đục phiếu, một loại máy tính analog đếm các lô được đục vào các tấm phiếu. Mỗi công dân được biểu thị bằng một phiếu, và những lỗ đục nhất định trên phiếu sẽ biểu thị cho các dấu hiện nhận dạng nhất định. Cột 22 dành cho đề mục tôn giáo: lỗ 1 là Tin lành, lỗ 2 là Công giáo, và lỗ 3 là Do Thái. Ngay sau đó, thông tin điều tra dân số này đã được sử dụng để xác định và trục xuất dân số Do Thái này đến các trại tử thần.

Chỉ một chiếc smartphone kiểu mẫu hiện nay thôi đã có khả năng tính toán hơn tất cả các máy tính thời chiến của Đức Quốc xã và Liên Xô cộng lại. Nhớ lại điều này là cách tốt nhất để hình dung được toàn cảnh: không chỉ là sự thống trị công nghệ của Cộng đồng IC Mỹ hiện đại, mà còn là mối đe dọa mà nó đặt ra cho việc quản trị dân chủ. Trong vòng chừng một thế kỷ từ hai nỗ lực điều tra dân số đó, công nghệ đã đạt được những tiến bộ đáng kinh ngạc, nhưng ta lại không thể nói tương tự về khả năng kiềm chế công nghệ của luật pháp hoặc lương tri con người.

Hoa Kỳ cũng có điều tra dân số, tất nhiên. Hiến pháp là nền tảng của cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ và xem đó như số lượng chính thức của dân số từng tiểu bang nhằm xác định tỷ lệ số đại biểu tương ứng ở Hạ viện. Điều tra dân số cũng là một nguyên tắc xét duyệt, trong các chính phủ độc tài, kể cả chế độ quân chủ Anh cai trị các thuộc địa, theo truyền thống vẫn sử dụng việc thống kê này này như một phương pháp đánh giá mức thuế và xác định số lượng thanh niên đủ điều kiện nhập ngũ. Cái hay của Hiến pháp Hoa Kỳ là nó đã biến một thứ vốn là cơ chế áp bức thành một nền dân chủ. Cuộc điều tra dân số, chính thức thuộc thẩm quyền của Thượng viện, phải được thực hiện 10 năm một lần, gần bằng khoảng thời gian để xử lý dữ liệu của hầu hết các cuộc điều tra của Mỹ sau cuộc điều tra dân số đầu tiên năm 1790. Công việc kéo dài cả chục năm này đã được rút ngắn bởi cuộc điều tra dân số năm 1890, cuộc điều tra dân số đầu tiên trên thế giới sử dụng máy tính (nguyên mẫu của các mô hình mà IBM sau này đã bán cho Đức Quốc xã). Với công nghệ tính toán, thời gian xử lý đã giảm đi một nửa.

Công nghệ kỹ thuật số đã không chỉ đơn giản hóa những việc thống kê như vậy – nó đang khiến công việc này trở nên lỗi thời. Việc giám sát toàn bộ hiện nay là một cuộc điều tra dân số không bao giờ kết thúc, thực sự nguy hiểm hơn bất kỳ bảng câu hỏi nào được gửi qua thư. Tất cả các thiết bị của chúng ta, từ điện thoại đến máy tính, về cơ bản là những nhân viên điều tra dân số tí hon ta mang theo trong ba-lô và trong túi của mình – những nhân viên điều tra dân số nhớ hết mọi thứ và không bỏ qua điều gì cả.

Nhật Bản là “moment nguyên tử” của tôi. Đó là lúc tôi nhận ra những công nghệ mới này đang hướng tới đâu, và nếu thế hệ của tôi không can thiệp thì sự leo thang này vẫn sẽ tiếp tục mà thôi. Nếu đến lúc chúng ta cuối cùng quyết tâm chống lại mà sự phản kháng đó lại không hiệu quả thì đúng là một thảm kịch. Các thế hệ sau sẽ phải chấp nhận một thế giới mà ở đó sự giám sát không phải là điều thỉnh thoảng mới xảy ra và có định hướng trong những hoàn cảnh chính đáng về pháp lý, mà là sự hiện hữu liên tục và bất chấp: lỗ tai đó luôn nghe, con mắt đó luôn thấy, một trí nhớ không ngủ và vĩnh viễn.

Khi tính chất hiện diện khắp nơi của việc thu thập được kết hợp với tính chất trường cửu của việc lưu trữ, bất kỳ chính phủ nào cũng chỉ cần chọn một người hoặc một nhóm người làm vật tế thần và bắt tay vào tìm kiếm – như tôi tìm kiếm trong các tập tin của cơ quan – những chứng cớ của một tội lỗi thích hợp.

Ngôi nhà trên mây

Tại Dell, dự án chính của chúng tôi là giúp CIA bắt kịp xu hướng tiên nhất – hoặc chỉ bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật của NSA – bằng cách thiết kế cho cơ quan này những công nghệ mới nhất đang gây xôn xao, một “đám mây riêng”. Mục đích là để hợp nhất việc xử lý và lưu trữ của CIA, đồng thời chia sẻ các phương thức truy cập dữ liệu. Nói cho dễ hiểu, chúng tôi muốn làm sao mà một người đang ở trong một cái lều ở Afghanistan cũng có thể thực hiện chính xác cùng một công việc như một người nào đó tại tổng hành dinh CIA. Cơ quan này – và thực tế là toàn bộ lãnh đạo kỹ thuật của Cộng đồng IC – đã liên tục phàn nàn về vấn đề “cát cứ”: có quá nhiều dữ liệu nằm rải khắp thế giới mà họ không thể theo dõi hoặc truy cập được. Vì vậy, tôi đã đứng đầu một nhóm gồm một số người giỏi nhất ở Dell để nghĩ ra một cách mà bất cứ ai, ở bất cứ đâu, cũng có thể truy cập bất cứ thứ gì.

Trong giai đoạn kiểm tra ý tưởng, tên tạm thời của đám mây đó trở thành “Frankie”. Đừng trách tôi: nhóm kỹ thuật chúng tôi chỉ gọi nó là “Đám mây riêng”. Chính Cliff là người đã đặt cái tên kia cho nó, trong một lần giới thiệu với CIA khi ông ta nói rằng họ sẽ yêu thích con quái vật Frankenstein nhỏ bé của chúng tôi “bởi vì đó là một con quái vật thực sự”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s