Bí mật an ninh mạng – Phần XV


Câu chuyện về cái tủ lạnh “SmartFridge” “có trang bị Internet” đã làm tôi ngạc nhiên và quan tâm. Một màn hình được gắn vào cửa tủ lạnh, và bên cạnh màn hình là một chỗ cắm chiếc bút điện tử nhỏ, cho phép ta viết nguệch ngoạc các tin nhắn. Nếu không muốn viết, ta có thể thu âm thanh hay thu video để ghi nhớ. Ta cũng có thể sử dụng màn hình này như sử dụng một máy tính thông thường, vì tủ lạnh có wifi. Ta có thể kiểm tra email, hoặc xem lịch. Ta có thể xem các clip trên YouTube hoặc nghe MP3. Thậm chí ta còn có thể gọi điện thoại. Tôi [Snowden] đã phải kiềm chế để khỏi nhập số điện thoại của Lindsay vào và nói, từ đầu bên kia tầng lầu, “Anh đang gọi em bằng một cái tủ lạnh”.

Máy tính trong tủ lạnh này theo dõi nhiệt độ bên trong, và thông qua việc quét mã vạch, theo dõi độ tươi mới của thực phẩm, nó cũng cung cấp thông tin dinh dưỡng và đề xuất công thức nấu ăn.

Đây không phải là cái tương lai công nghệ tuyệt đỉnh mà chúng ta đã được hứa hẹn. Tôi tin chắc rằng lý do duy nhất mà món đồ này được trang bị Internet là để nó có thể báo cáo lại cho nhà sản xuất về cách sử dụng của người sở hữu và bất kỳ dữ liệu gia đình nào khác nó có thể ghi nhận được. Đến lượt nhà sản xuất sẽ kiếm tiền bằng cách bán dữ liệu đó. Và chúng ta có bổn phận phải trả tiền để được hưởng đặc quyền ấy.

Tôi tự hỏi việc mình bận tâm đến sự theo dõi của chính phủ có ý nghĩa gì nếu như bạn bè, hàng xóm và đồng bào của tôi ai cũng hoan hỉ rước những thiết bị do thám của các công ty về nhà mình, tự cho phép bảnt hân được theo dõi trong lúc họ đang lướt Web bằng cái tủ lạnh thoải mái như đang dùng máy tính. Lúc đó vẫn còn 5 năm nữa mới đến cuộc cách mạng ngôi nhà thông minh, khi mọi người chào đón các “trợ lý ảo” như Amazon Echo và Google Home vào phòng ngủ và tự hào đặt chúng trên bàn ngủ để các thiết bị này ghi nhận và truyền đi mọi hoạt động của chủ nhân trong phạm vi theo dõi, để chúng nắm bắt mọi thói quen và sở thích (chưa nói đến những ý muốn, thói tật tình dục khác thường), để rồi những thông tin này sẽ được phát triển thành thuật toán quảng cáo và biến thành tiền. Dữ liệu mà ta tạo ra chỉ bằng cách sống – hay chỉ bằng cách tự để cho mình bị theo dõi trong lúc đang sống – sẽ làm giàu cho các công ty tư nhân bao nhiêu thì cũng sẽ làm nghèo nàn đi sự tồn tại riêng tư của chúng ta bấy nhiêu. Nếu việc theo dõi của chính phủ có tác dụng biến công dân thành nghi can, thuộc quyền sinh sát của nhà nước, thì việc theo dõi của các tập đoàn đã biến người tiêu dùng thành một sản phẩm để đem bán cho các tập đoàn khác, các công ty đầu cơ dữ liệu, và các hãng quảng cáo.

Trong khi đó, cứ như thể mọi công ty công nghệ lớn, kể cả Dell, đều đang tung ra các phiên bản dân sự mới về những gì tôi đang làm cho CIA: đám mây. (Thực tế, bốn năm trước Dell thậm chí đã thử đăng ký thương hiệu thuật ngữ “điện toán đám mây” nhưng bị từ chối). Tôi ngạc nhiên biết bao khi thấy ai cũng hăm hở đăng ký sử dụng, ai cũng hào hứng trước viễn cảnh là bao nhiêu ảnh chụp, video, nhạc, và sách điện tử của họ sẽ được sao lưu hết toàn bộ và luôn có sẵn mà họ không hề suy nghĩ nhiều về lý do tại sao một giải pháp lưu trữ tiện lợi và siêu tinh vi như vậy ngay từ đầu lại được cung cấp “miễn phí” hay “giá rẻ”.

Tôi nghĩ là mình chưa từng thấy một ý tưởng công nghệ nào mà lại được ủng hộ đồng nhất như vậy từ mọi phía. “Đám mây” là một tên gọi quảng cáo hiệu quả để Dell bán sản phẩm cho CIA cũng như để cho Amazon và Apple và Google bán cho người dùng của họ. Bây giờ nhắm mắt lại tôi vẫn có thể nghe tiếng Cliff rù rì với một tay CIA mặc áo vét nào đó về cách “ông có thể đưa lên các bản cập nhật bảo mật cho mọi máy tính của cơ quan ông trên toàn thế giới với công nghệ đám mây”, hay “khi đám mây đã hoạt động thì cơ quan ông có thể theo dõi ai đã đọc tập tin nào trên toàn thế giới”. Đám mây trắng mịn như bông và yên bình, bềnh bồng bên trên mọi xung đột. Dù nhiều đám mây có thể tạo nên một bầu trời giông bão, một đám mây duy nhất lại cho một chút bóng mát bao dung. Đám mây có tính che chở, bảo vệ. Tôi nghĩ hình tượng đó khiến mọi người nghĩ đến thiên đường.

Dell – cùng với các công ty tư nhân có nền tảng đám mây lớn nhất, Amazon, Apple và Google – đã coi sự trỗi dậy của đám mây là kỷ nguyên mới của điện toán. Nhưng ít nhất về mặt khái niệm, đây lại là một sự thụt lùi quay về với kiến trúc máy tính lớn (mainframe) của thời đầu lịch sử điện toán, khi nhiều người dùng đều phụ thuộc vào một thiết bị trung tâm mạnh mẽ duy nhất, chỉ có thể được duy trì bởi một nhóm nòng cốt gồm chuyên gia ưu tú. Chỉ mới ba mươi năm trước, thế giới đã từ bỏ mô hình máy tính lớn “phi cá nhân” này khi các doanh nghiệp như Dell phát triển được các loại máy tính “cá nhân” đủ rẻ và đủ đơn giản, để thu hút người dùng bình thường. Giai đoạn phục hưng tiếp theo đã sản xuất ra các loại máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng và smartphone – tất cả những thiết bị cho phép mọi người tha hồ thực hiện một khối lượng khổng lồ những công việc sáng tạo. Vấn đề duy nhất là – làm sao để lưu trữ?

Đây là căn nguyên của “điện toán đám mây”. Bây giờ bạn sử dụng loại máy tính cá nhân nào cũng không quan trọng nữa, bởi vì các máy tính đích thực mà bạn phụ thuộc lại được đặt trong các trung tâm dữ liệu khổng lồ do các công ty đám mây xây dựng trên khắp thế giới. Về mặt nào đó, các trung tâm dữ liệu ấy chính là những máy tính lớn kiểu mới, hàng hàng lớp lớp các giàn máy chủ giống hệt nhau, liên kết với nhau sao cho từng máy riêng lẻ đều hoạt động phối hợp trong một hệ thống tính toán chung. Việc mất một máy chủ riêng lẻ hoặc thậm chí mất toàn bộ một trung tâm dữ liệu không còn quan trọng nữa, vì chúng chỉ là những giọt nước trong đám mây toàn cầu rộng lớn hơn.

Từ quan điểm của người dùng thông thường, đám mây chỉ là một cơ chế lưu trữ để bảo đảm rằng dữ liệu của bạn đang được xử lý hoặc cất giữ không phải trên thiết bị cá nhân của mình, mà trên một loạt máy chủ khác nhau, những máy chủ này cuối cùng lại được sở hữu và vận hành bởi nhiều công ty khác nhau. Kết quả là dữ liệu của bạn không còn thực sự là của bạn nữa. Nó được kiểm soát bởi các công ty và thực tế là họ có thể sử dụng dữ liệu đó vào bất cứ mục đích gì.

Hãy đọc các điều khoản thỏa thuận dịch vụ lưu trữ đám mây đi, chúng ngày càng dài hơn theo năm tháng – những bản thỏa thuận hiện thời đã dài hơn sáu nghìn từ. Khi chúng ta chọn cách lưu trữ dữ liệu trên mạng thì ta thường nhượng luôn quyền làm chủ dữ liệu của mình. Các công ty có thể quyết định loại dữ liệu nào họ sẽ giữ cho ta, và có thể cố tình xóa bất kỳ dữ liệu nào họ không thích. Trừ khi ta đã lưu một bản riêng trên các máy hoặc ổ đĩa riêng của mình, dữ liệu này mãi mãi không thuộc về ta nữa. Nếu bất kỳ dữ liệu nào của ta bị cho là đặc biệt khó chịu hoặc vi phạm các điều khoản dịch vụ, các công ty có thể đơn phương xóa tài khoản của ta, từ chối dữ liệu của ta, và giữ lại một bản sao trong hệ thống lưu trữ riêng của họ, những dữ liệu mà họ có thể chuyển cho các cơ quan chức năng mà ta không hay biết hoặc đồng ý. Bí mật riêng tư của dữ liệu hoàn toàn phụ thuộc vào quyền sở hữu dữ liệu của chúng ta. Không hề có tài sản nào ít được bảo vệ hơn, và không hề có tài sản nào riêng tư hơn là những dữ liệu cá nhân đó.

* * *

Thế giới Internet mà tôi đã lớn lên cùng, thế giới Internet đã dưỡng dục tôi, đang dần biến mất. Và cũng đi theo tuổi trẻ của tôi. Ngay cái việc lên mạng, điều từng giống như một cuộc phiêu lưu kỳ diệu, giờ đây dường như là nỗi khổ căng thẳng. Việc thể hiện bản thân bây giờ đòi hỏi phải có cách tự bảo vệ mạnh mẽ tới mức mất luôn tự do và không còn vui thú nữa. Mọi thông tin trên mạng không còn là vấn đề sáng tạo mà là an toàn. Mỗi giao dịch là một mối nguy tiềm ẩn.

Trong khi đó, khu vực tư nhân đang khai thác sự lệ thuộc công nghệ của chúng ta để củng cố thị trường. Phần lớn người Mỹ dùng Internet đã sống toàn bộ cuộc đời số của họ trên email, mạng xã hội, và các nền tảng thương mại điện tử thuộc sở hữu của bộ ba đế chế công ty (Google, Facebook và Amazon), và Cộng đồng Tình báo Mỹ đang tìm cách lợi dụng thực tế đó bằng cách giành quyền truy cập vào hệ thống mạng của bộ ba này – vừa bằng các mệnh lệnh trực tiếp giấu nhẹm với công chúng, vừa bằng các nỗ lực xâm nhập lén lút mà chính các công ty đó cũng không hay biết. Dữ liệu người dùng của chúng ta đang mang lại lợi nhuận khổng lồ cho các công ty, và chính phủ đã lấy cắp nó thoải mái. Tôi thấy mình chưa bao giờ bất lực đến thế.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s