Vụ Watergate và giới báo chí – Phần cuối


Cùng lúc đó, Woodward lại đánh giá thấp sức mạnh của những câu chuyện trên báo. Câu chuyện Watergate có thể có ý nghĩa với chúng ta hơn là những thay đổi trong báo giới mà người ta quy là do tác động của vụ Watergate và chỉ tại vụ đó mà thôi. Câu chuyện đã bị bóp méo trong nhiều tình tiết, đã cường điệu hóa quá mức chủ nghĩa anh hùng của những nhà báo và lại đánh giá thấp chủ nghĩa anh hùng của giới quan chức, lờ đi vai trò của những cơ quan khác trong cuộc điều tra và cũng không đề cập những điều tình cờ xảy ra và những may mắn trong quá trình phanh phui vụ Watergate. Nhưng đó không phải là vấn đề. Ngay cả khi những người theo chủ nghĩa xét lại đã đưa ra ý kiến của họ thì những gì mà Woodward và Bernstein mang lại vẫn rất đáng ngạc nhiên. Việc họ đã không thể tự mình khám phá ra vụ Watergate là hoàn toàn đúng. Toàn bộ giới báo chí nói chung trong thời gian xảy ra vụ Watergate, cũng như trước đó và sau đó, chủ yếu chỉ là một thể chế có rất ít tham vọng làm chao đảo các con thuyền quyền lực. Nhưng đó cũng không phải vấn đề. Vấn đề là ở chỗ những sự kiện, tình huống, năng lượng, tham vọng, sự cạnh tranh và lòng can đảm của một số nhà báo và biên tập viên trẻ của họ đã làm sống câu chuyện, làm cho tổng thống phải bãi nhiệm. Và bộ phận chủ yếu của sự thật đó đã duy trì một giai thoại chung và đem đến cho nó, với tất cả những “sự không chính xác của nó”, một sự thật lớn hơn, đó chính là tác dụng của giai thoại: không nói với chúng ta rằng chúng ta là ai, mà nói chúng ta đã từng là thế nào, rằng chúng ta sẽ có thể lại trở thành như thế nào và chúng ta muốn sẽ là như thế nào “nếu như”.

Về khía cạnh đó, Leonard Downie đã đúng khi chống lại chủ nghĩa hoài nghi trong cách tôi dùng thuật ngữ “giai thoại”. Ai sẽ quan tâm nếu trong suốt thời gian xảy ra vụ Watergate báo chí tỏ ra lười biếng? Hay liệu Thẩm phán Sirica hay một vài nhân viên FBI cũng có vai trò lớn như Woodward và Bernstein trong vụ Watergate? Đó không phải là vấn đề bởi vì giai thoại Watergate vẫn tồn tại. Nó tồn tại mà không bị hư hỏng bởi sự chỉ trích. Nó đã ban cho báo chí một đặc quyền, một cảm hứng, một lý do để biện minh cho những sự bảo vệ mang tính cơ cấu mà nó được hưởng.

Một giai thoại không phải khi nào cũng được dẫn chứng. Đó là cái mà phóng viên tờ Los Angeles Times Thomas Rosenstial gọi là một “ký ức thể chế, thỉnh thoảng như mê ngủ, thỉnh thoảng lại không, và đôi khi được đóng góp bởi các sự kiện”. Các nhà báo thường “phô trương” ký ức này “trong trường hợp nó được khấu dậy, khi thích hợp và khi chúng tôi nghĩ nó an toàn, khi chúng tôi không dẫn dắt ý kiến công chúng quá nhiều, khi mọi điều kiện và mọi ngôi sao đứng vào một hàng”. Và nếu giai thoại của báo chí trong vụ Watergate không được viện dẫn, thì giai thoại Watergate trong báo chí có thể, giai thoại đầu có vẻ lãng mạn và giai thoại sau thì phản diện.

Các giai thoại nhất thiết phải có nhiều ý nghĩa, nói cách khác là đa nghĩa. Chúng không nói về những chân lý giản đơn của một nền văn hóa nhiều bằng việc chúng tìm ra những trạng thái khó xử trung tâm của nền văn hóa đó. Chúng cũng sẽ được đọc theo nhiều cách và huyền thoại của báo chí Watergate cũng đã được đọc theo nhiều cách. Giai thoại này đã trao quyền cho những kẻ thù của một báo giới liều lĩnh như thể là nó đã khuyến khích việc làm phóng sự mang tính gây chiến. Giai thoại Watergate của các “phương tiện thông tin”độc lập và vô trách nhiệm là một sự tạo lập có ý của Richard Nixon cũng như một sự sáng tạo tình cơ của Woodward và Bernstein. Bất chấp hậu quả ra sao, đó vẫn là sự kết tinh của những niềm hy vọng, nỗi sợ hãi và bối rối của xã hội Mỹ về sự tăng lên rõ ràng của các phương tiện thông tin.

Khi tôi phỏng vấn nhà phân tích truyền thông Stephen Hess, ông ta phỏng vấn lại tôi, hỏi tôi: Anh có đồng ý với kết luận rằng Watergate không ảnh hưởng đến báo chí? Tôi dông dài một chút, sau đó tỏ vẻ khoa học ở mức độ cao nhất có thể và nói rằng đương nhiên, nếu đó là bằng chứng dẫn dắt tôi, tôi sẵn sàng đồng ý với kết luận đó, chỉ bởi vì tôi tin rằng văn hóa báo chí đã thay đổi ngay cả khi bộ máy thể chế không thay đổi. Điều tôi không nhìn thấy sau đó, và tôi cho là mình có thể tranh luận bây giờ, là chính bản thân giai thoại đó có thể trở thành một phần của bộ máy thể chế, giống như thiện chí đoàn thể, như bất kỳ truyền thống hay ngôn ngữ của nó. Mặc dù đã có một truyền thống về việc xoi mói trước vụ Watergate, nhưng vụ Watergate đã đem đến vấn đề này một sắc thái bản tính con người (Woodward và Bernstein), cũng như một thắng lợi không thể quên (việc Nixon từ chức), tuy có thể được quy một cách không thỏa đáng cho báo giới. Bằng việc làm cho tổng thống phải từ chức, Watergate là một ngôi sao băng nổ trên bầu trời báo chí, xóa sạch mọi kỷ lục phóng sự điều tra trong suốt thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Nó không chỉ rất nổi bật mà còn liên ứng. Việc Seymour Hersh đưa tin về vụ thảm sát Mỹ Lai là một bản báo cáo đẫm máu, tàn phá và gây chia rẽ đã đóng vai trò như một hình ảnh thu nhỏ của báo giới Mỹ. Watergate, dù đã lùi vào dĩ vãng, có thể được chấp nhận rộng rãi như là một chiến thắng không chỉ với báo chí Mỹ mà còn với hệ thống báo chí tự do ở Mỹ.

Điều quan trọng nhất với báo chí không phải là sự tăng lên hay giảm đi của phóng sự điều tra sau vụ Watergate mà là sự phục hồi, tiếp thêm sức lực và sự tái thần thoại hóa công việc xoi mói. Trong vòng một thế kỷ, chủ đề xoi mói đã trở nên phổ biến với báo giới Mỹ, mặc dù việc thực hiện nó là một ngoại lệ, chứ không phải là quy luật. Đó là một công việc rất khó khăn, đau đớn, đắt đỏ và không đáng được khích lệ. Nó trái với khuynh hướng tư tưởng của thái độ trung lập trong nghề nghiệp. Nó có những chủ thể đại diện chính thức trong thế giới báo chí, đặc biệt dưới dạng Giải thưởng Pulitzer danh tiếng dành cho sự tận tụy trong công việc. Tuy nhiên, trong thời gian giữa Lincoln Steffens, Ida Tarbell và Ray Stannard Barker năm 1904 với Woodward và Bernstein năm 1972 và 1973, nó không có đượcnhững bản mẫu hào hùng, gây tiếng vang về phương diện văn hóa. Nhưng Woodward và Bernstein không chỉ đơn giản hồi phục lại nó; họ đã mở rộng thêm quyền lực của hình ảnh điều tra. Trong thời kỳ Steffens, Nhà Trắng tượng trưng cho vị trí trung tâm dường như được loại trừ không bị xoi mói. Steffens đã cố làm điều đó và được uống rượu, ăn tối và được tổng thống Theodore Roosevelt cưng chiều. Thực tế, đối với những người làm công việc xoi mói vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính phủ liên bang là một nguồn để gây áp lực đối với chính quyền bang và chính quyền địa phương, là nơi hủ bại mà Steffens đã khám phá ra, chứ bản thân nó không phải là một địa điểm cho công việc xoi mói.

Nếu Tổng thống Nixon cuối cùng không dính dáng vào vụ Watergate, nếu vụ bê bối chỉ dừng lại với Jeb Magruder, thì sẽ không có ai nhớ đến vụ Watergate. Nếu vụ này chỉ liên quan đến Mitchell, Haldeman, Ehrlichman và Dean thì Watergate có thể được nhớ đến như một cuộc đảo chính báo chí. Nhưng nó sẽ không thể trở thành tâm điểm của giai thoại báo chí Mỹ. Watergate đã khám phá ra sự dối trá của tổng thống và buộc ông ta phải bãi nhiệm. Điều đó đã làm cho Watergate tất yếu trở thành giai thoại trung tâm của báo chí nước Mỹ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s