Nguồn gốc và sự phát triển trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần cuối


Sự nối kết giữa CSR và sự phát triển bền vững

Hiện nay, ít nhất là tại châu Âu, các doanh nghiệp được mời gọi tiếp thu những nguyênt ắc của sự phát triển bền vững và cố gắng đưa các nguyên tắc ấy vào trong các chiến lược của mình. Trong chuyện này lại có một sự nhầm lẫn giữa sự phát triển bền vững với doanh nghiệp bền vững (hoặc doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội). Khái niệm phát triển bền vững và khái niệm CSR thuộc về những cấp độ khác nhau.

Phát triển bền vững là khái niệm mang tính kinh tế vĩ mô và xã hội vĩ mô ở cấp độ toàn cầu mà ta không thể áp dụng một cách trực tiếp vào một thực tế đặc thù nào đó, và cũng không phải cứ một doanh nghiệp phát triển bền vững, tức tồn tại lâu dài, là nhất thiết có đóng góp vào sự phát triển bền vững. Những hành vi không tôn trọng nhân quyền và môi trường cũng có thể kéo dài nếu như không có sự chế tài (về mặt pháp lý hoặc biểu trưng) để ngăn chặn chúng lại.

Nói chung, sự phát triển bền vững thường được nhìn nhận trong mối liên hệ với sự can thiệp của lĩnh vực chính trị; chẳng hạn tất cả các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu đểu phải đưa ra một chiến lược quốc gia về sự phát triển bền vững do các cơ quan công quyền thực thi. Những đòn bẩy khuyến khích gia tăng các lối hành xử tốt đẹp, những quan hệ giao kết và hợp tác giữa các chủ thể, những quyết định nhằm đặt ra quy tắc hạn chế các điều kiện hoạt động đối với các doanh nghiệp (hoặc cá nhân) cũng thường xuất phát từ các cơ quan công quyền ở các cấp lãnh thổ khác nhau.

Nhưng thật khó mà hình dung và hiểu được cách thức kết nối giữa những chính sách công ở tầm vĩ mô (sự phát triển bền vững) với những hành xử của các doanh nghiệp ở cấp kinh tế vi mô (CSR). Khái niệm phát triển bền vững kêu gọi doanh nghiệp đặt vấn đề về các cứu cánh của mình, quan niệm về tổ chức của mình, bằng cách đưa ra những nguyên tắc định hướng hoặc quy định cho các hoạt động kinh tế. Còn CSR là những mô thức ứng xử của doanh nghiệp (hoặc của một tập hợp kinh tế rộng lớn hơn) trước những đòi hỏi của xã hội khi đưa ra các chiến lược, công cụ quản trị, kiểm soát, lượng giá và giải trình thể hiện trong những quan niệm mới về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, ít ra là xét về mặt nguyên tắc.

CSR có tạo nên sự đồng thuận?

Người ta có thể đặt ra câu hỏi trên khi mà vấn đề này đã xuất hiện ở châu Âu và đặc biệt là tại Pháp từ ít nhất là mười năm trở lại đây. Đã có sự hồ hởi nơi một số khu vực kinh tế trong giai đoạn đầu khi CSR mới xuất hiện, mặc dù hiểu biết về CSR là chưa rõ ràng, và khái niệm này cũng chưa có nội dung cụ thể. Tức là, người ta đã không biết rằng đây là một khái niệm đặt vấn đề nhiều hơn là giải quyết vấn đề, và nó cũng có một lịch sử đầy biến động tại Mỹ. Thực tế là từ lâu, một bộ phận giới kinh doanh (có thể nói là đa số), do chịu ảnh hưởng bởi trường phái kinh tế Chicago (Friedman), nên đã có quan điểm đối lập gần như hoàn toàn với CSR, thậm chí là trước khi thuật ngữ này ra đời.

Chúng ta có thể quay lại ngọn nguồn vụ kiện tụng giữa Henry Ford và anh em nhà Dodge vào năm 1919. Anh em nhà Dodge không chấp nhận việc các nguồn lợi nhuận không được phân chia hoàn toàn cho các cổ đông, trong khi Ford (cổ đông chính) lại muốn tái đầu tư lợi nhuận vào công ty nhằm phục vụ những mục tiêu xã hội. Tòa án tối cao Michigan đã xử thua cho Ford, đồng thời kết luận rằng lợi nhuận chỉ để phục vụ cho các cổ đông mà thôi. Nhiều năm sau, cụ thể là vào năm 1958, Levitt đã cảnh báo những nguy cơ của CSR: các doanh nghiệp không thể chịu trách nhiệm (accountable) như các cơ quan công cộng được, bởi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không được bầu ra theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu.

Chính vì theo dòng tư tưởng này mà Friedman [1962, 1971] đã viết rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra càng nhiều tiền càng tốt cho các cổ đông của mình: “Nếu các doanh nhân có một trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra lợi nhuận tối đa cho các cổ đông, thì liệu họ làm thế nào để biết đó là trách nhiệm gì? Liệu những cá nhân tự chỉ định có thể quyết định được điều gì là có lợi cho xã hội?” Tuy nhiên, ông cũng cẩn trọng nói thêm là nếu việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp cho doanh nghiệp tối đa hóa được lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đường này. Như chúng ta sẽ thấy ở các phần sau, toàn bộ cuộc tranh luận này thực ra xoay quanh vấn đề quan nhiệm về vai trò của doanh nghiệp trong xã hội và phạm vi của trách nhiệm của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ngay ở những nhà kinh doanh không tỏ ra thù địch với khái niệm CSR cũng nảy sinh rất nhiều khác biệt khó dung hòa trong quan niệm về CSR, và điều này cuối cùng đã dẫn đến một sự lúng túng trong việc thao tác hóa khái niệm CSR, thậm chí là lúng túng trong việc xác định lợi ích của khái niệm này.

Trước hết, có vẻ như mối quan tâm đối với CSR chủ yếu chỉ diễn ra ở các doanh nghiệp lớn đa quốc gia; các doanh nghiệp vừa và nhỏ phần lớn đều nằm ngoài trào lưu này, do họ có những nguồn lực tài chính và nhân sự hạn chế cũng như thường xuyên phải tập trung vào các mục tiêu kinh tế mang tính sống còn trong ngắn hạn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ nếu tham gia vào trào lưu này thì thông thường là do nỗ lực thúc đẩy của người chủ doanh nghiệp, tùy theo những giá trị cá nhân của người này. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ thường tìm cách hội nhập tối đa vào cộng đồng địa phương, thông qua các hoạt động bảo trợ, mặc dù đôi khi cũng tham gia vào những hành động mang tính chiến lược hơn như là quản lý rác thải hoặc tiết kiệm năng lượng. Áp lực của các doanh nghiệp đối tác lớn cũng có thể là một động lực tạo nên những ứng xử mang tính CSR nơi các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng áp lực này thường mang tính hình thức và thường được nhìn nhận như là một sự cưỡng ép hơn là một sự khuyến khích.

Các động cơ của các doanh nghiệp thường là thuộc lĩnh vực kinh tế và tài chính, và xuất phát từ một xu hướng duy lợi chiến lược nhằm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Perrow [1997], một trong những lý thuyết gia lớn nhất hiện nay trong lĩnh vực khoa học tổ chức, đã nhận diện CSR như là một cơ chế có hiệu ứng rõ ràng nhất, đó là giúp định vị tổ chức của doanh nghiệp nhằm khai thác một cách tối ưu môi trường xung quanh. Những lý lẽ động viên thì nhấn mạnh rằng CSR sẽ có lợi cho doanh nghiệp. Đến nay, người ta không thể đem hết số lượng công trình nghiên cứu, tại Mỹ cũng như tại châu Âu, đã cố gắng chứng minh có mối liên hệ giữa “thành tích xã hội” với thành tích kinh tế của doanh nghiệp. Bởi vì các kết quả nghiên cứu đó không đưa đến những kết luận dứt khoát nên dường như đã làm hình thành nên một niềm tin có khả năng tác động lên ứng xử của các doanh nghiệp mà ta có thể gọi đó là một thứ huyền thoại có lý lẽ.

Tuy nhiên, CSR cũng có một cái giá nằm ngoài tầm với của các doanh nghiệp: rất nhiều lãnh đạo doanh nghiệp tuyên bố rằng doanh nghiệp chỉ có thể làm việc “xã hội” một khi đã có các kết quả tài chính tốt mà thôi. Như vậy, ý nghĩa của mối quan hệ đã bị đảo ngược. Thế nên, chúng ta có thể đặt câu hỏi là phải chăng những người ủng hộ cho tính hữu ích của CSR, nhưng theo đuổi khuynh hướng duy lợi, sẽ dùng thuật ngữ “trách nhiệm” như một cái nhãn nhằm tạo sự khác biệt trong cạnh tranh?

Cuối cùng thì nội dung, ý nghĩa và những sự tốt đẹp của trách nhiệm xã hội [của doanh nghiệp] và của sự phát triển bền vững phụ thuộc vào những  gì người ta đặt ra dưới lớp vỏ ngôn ngữ. Chiến lược của các doanh nghiệp bao gồm từ hoạt động từ thiện, cho đến việc hội nhập các yêu cầu xã hội và môi trường vào trong các công cụ quản trị và lượng giá. Giữa hai cực đó, người ta có thể thấy hàng loạt giải pháp cục bộ hết sức khác biệt nhau liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của sự phát triển bền vững.

Ngoài giới kinh doanh, cách nhìn và thái độ của các chủ thể hành động khác cũng khác biệt nhau rất nhiều: từ việc lên án CSR như là một hiện thân mới của chủ nghĩa tư bản nhằm dự báo trước những sự điều tiết mang tính cưỡng chế [Plihon, 2003], cho đến việc tin tưởng vào một đòn bẩy mới có khả năng làm biến đổi các doanh nghiệp cũng như giới kinh doanh [Duval, 2003].

Nếu xem xét ở cấp độ quốc tế, CSR xuất hiện nhiều nhất tại các quốc gia giàu có. Còn các quốc gia Đông Âu, các quốc gia mới nổi và Trung Quốc thì không biết hoặc làm như không biết vấn đề này, hoặc biết nhưng tìm cách lẩn tránh. Với họ, trước tiên phải phát triển kinh tế, còn những vấn đề khác sẽ tính sau…

Như thế thì cuối cùng chẳng có sự đồng thuận nào về CSR cả, mà chỉ thường là một ảo giác đồng thuận. Không thể có một định nghĩa duy nhất và phổ thông về CSR, bởi khái niệm này phụ thuộc vào cách hiểu của từng chủ thể hành động khác nhau. Nhưng có cần phải phàn nàn về điều này không? Sự không rõ ràng của khái niệm này có nhiều ý nghĩa hơn ta nghĩ, bởi lẽ chính vì thiếu sự đồng thuận trong cách hiểu nên điều này bắt buộc mỗi chủ thể phải đào sâu tìm hiểu về nó [Pasquero, 2005].

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s