Các nước Balkans Âu – Á – Phần I


Ở châu Âu, ngôn từ “các nước Balkans” thường gợi lên những hình ảnh xung đột sắc tộc và những cuộc kình địch khu vực giữa các nước lớn. Khu vực lục địa Âu – Á cũng có “các nước Balkans”, nhưng đó là những nước lớn hơn, đông dân hơn, thậm chí còn hỗn tạp xét về mặt tôn giáo và sắc tộc. Những nước này nằm trong một khu vực hình thuôn rộng lớn, là trung tâm của những bất ổn trên thế giới. Hình thuôn này cũng trùm lên nhiều bộ phận thuộc Đông Nam Âu, Trung Á cũng như nhiều phần thuộc Nam Á, khu vực vịnh Ba Tư và Trung Đông.

Các nước Balkans Âu – Á nằm gọn bên trong của hình thuôn rộng đó. Các nước này khác với khu vực ngoài ở một điểm đặc biệt quan trọng: là một khoảng trống quyền lực. Tuy đa số các nước nằm ở vịnh Ba Tư và Trung Đông cũng mất ổn định, song ở đó lại có sự hiện diện của Mỹ với tư cách như một trọng tài. Do vậy, khu vực bất ổn ở vòng ngoài là một khu vực chỉ có một nước bá quyền và quyền lực của nó đã làm tình hình dịu đi. Trái lại, các nước Balkans Âu – Á lại gợi nhớ tới các nước Balkans cổ xưa hơn và quen thuộc hơn của Đông Nam Âu: Không chỉ những thực thể chính trị của vùng này bất ổn mà chúng còn như một miếng mồi hấp dẫn với ý đồ xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh. Mỗi nước láng giềng này đều quyết tâm chống nước khác đô hộ khu vực. Chính sự kết hợp của hai yếu tố khoảng trống và sức hút quyền lực đã làm cho “các nước Balkans Âu – Á” xứng với tên gọi này.

Trong cuộc đấu tranh giành địa vị thống trị châu Âu, các nước Balkans cổ truyền là một phần thưởng địa chính trị tiềm tàng. Do vị trí nằm án ngữ trên hệ thống đường vận tải hai cực Tây – Đông giàu nhất và cần cù nhất của lục địa Âu – Á nên các nước Balkan Âu – Á còn có tầm quan trọng về địa chính trị. Hơn nữa, ở khía cạnh an ninh và tham vọng lịch sử thì những nước này có tầm quan trọng đối với ít nhất ba trong số các nước láng giềng gần cận nhất và hùng mạnh nhất, đó là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Trung Quốc cũng ngày càng thể hiện sự quan tâm chính trị đối với khu vực này.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nước Balkans Âu – Á còn có tầm quan trọng hơn nhiều. Trong khu vực này tập trung nhiều khoáng sản quan trọng, nhiều dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, kể cả vàng. Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng rất nhiều. Bộ Năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu của thế giới sẽ tăng thêm hơn 50% trong khoảng từ năm 1993 đến năm 2015, và những nước tiêu thụ năng lượng sẽ tăng nhiều là ở Viễn Đông. Động lực phát triển kinh tế của châu Á hiện đang tạo ra nhiều sức ép lớn đòi thăm dò và khai thác những nguồn năng lượng mới. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của khu vực Trung Á và lòng chảo biển Caspian có khả năng vượt xa trữ lượng của Kuwait, vịnh Mexico hoặc Biển Bắc. Có được nguồn tài nguyên đó và chai sẻ sự giàu có tiềm tàng ở khu vực này là những mục tiêu và tham vọng của nhiều nước, làm sống lại những tham vọng đế quốc và thổi bùng lên những mối kình địch quốc tế. Tình hình này càng thêm biến động vì vùng này không chỉ là một khoảng trống quyền lực mà còn có bất ổn nội bộ. Mỗi nước ở đây đều phải chịu những khó khăn nội bộ nghiêm trọng. Tất cả các nước trên đều bị các nước láng giềng bá chủ hoặc đang có hận thù sắc tộc, chỉ có một số ít nước là đồng nhất về dân tộc. Một số nước đang chìm đắm trong xung đột lãnh thổ, sắc tộc hoặc tôn giáo.

1/ Lò nung sắc tộc

Vùng Balkans Âu – Á có 9 nước ít nhiều đang ở trong tình trạng trên. Chín nước đó là Kazakhstan, Kirgistan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Gruzia (tất cả đều là một phần của Liên Xô cũ) và Afghanistan. Bổ sung vào danh sách này trong tương lai có thể là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Cả hai nước này đều có sức sống chính trị và kinh tế, đều tích cực tranh giành ảnh hưởng khu vực trong số các nước Balkans, và do vậy, đều là những đấu thủ địa chính trị quan trọng trong khu vực. Bởi, cả hai nước đều dễ bị tổn thương vì những cuộc xung đột sắc tộc nội bộ, và nếu hai nước này mất ổn định thì những vấn đề nội bộ của khu vực sẽ trở nên rối ren. Đồng thời, từ đó những cố gắng nhằm hạn chế Nga chiếm địa vị bá chủ trong vùng có thể trở nên vô tác dụng.

Có thể nói ba nước vùng Kavkaz là Armenia, Gruzia và Azerbaijan dựa trên cơ sở dân tộc thực sự trong lịch sử. Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của họ vừa lan tỏa, vừa sâu sắc và những xung đột bên ngoài là thách thức chủ yếu đối với sự thịnh vượng của họ. Trái lại, có thể nói năm nước Trung Á mới thành lập đang trong giai đoạn xây dựng đất nước với đặc tính bộ lạc và sắc tộc còn mạnh, nên khó khăn lớn nhất của họ là sự bất đồng nội bộ. Cả hai kiểu nhà nước ấy đều có những điểm yếu để các láng giềng mạnh hơn và có tư tưởng đế quốc khai thác.

Các nước Balkans Âu – Á như một bức tranh đan xen các sắc tộc. Những nhà vẽ bản đồ độc đoán của Liên Xô những năm 1920 và 1930 đã vẽ đường biên giới của các nước thuộc khu vực này khi từng nước cộng hòa Xô viết được chính thức thành lập. (Afghanisatn là trường hợp ngoại lệ vì họ chưa bao giờ nằm trong Liên bang Xô viết). Các đường biên giới của họ chủ yếu được vạch ra theo nguyên tắc sắc tộc, nhưng cũng phản ánh ý đồ của Kremlin, nhằm làm cho khu vực Nam đế chế Nga trong tình trạng chia rẽ nội bộ để thuận lợi hơn cho việc thống trị.

Với mưu đồ đó, Nga bác bỏ đề nghị của các nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Á hòa nhập nhiều dân tộc Trung Á thành một đơn vị chính trị đơn nhất mang tên “Turkestan” hơn là tạo nên 5 “nước cộng hòa” riêng biệt. Có thể do một tính toán tương tự, Nga đã từ bỏ các kế hoạch thành lập một liên bang các nước Kavkaz. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên sau sự sụp đổ của Liên Xô, cả 3 nước vùng Kavkaz và 5 nước Trung Á đều không thật sẵn sàng cho vị thế độc lập mới cũng như chưa sẵn sàng thực hiện sự hợp tác khu vực cần thiết.

Ở vùng Kavkaz, chưa đầy 4 triệu dân Armenia và trên 8 triệu dân Azerbaijan đã nhanh chóng bị cuốn vào một cuộc chiến tranh công khai đòi vị thế cho vùng Nagorny-Karabakh, một vùng lõm với đa số dân Armenia trong lòng Azerbaijan. Cuộc xung đột gây ra những vụ tàn sát sắc tộc quy mô lớn, trong đó hàng trăm, hàng nghìn dân tha hương tháo chạy theo cả hai hướng. Do Armenia theo đạo Thiên chúa, còn Azerbaijan theo đạo Hồi, nên cuộc chiến tranh mang màu sắc của một cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh gây ra sự tàn phá về kinh tế, và việc xây dựng địa vị độc lập ổn định của cả hai nước đều rất khó. Armenia bị xô đẩy đến chỗ dựa nhiều hơn vào Nga, trong khi đó, Azerbaijan phải hi sinh vùng Nagorny-Karabakh để đổi lấy nền độc lập và ổn định nội bộ.

Vị trí của Azerbaijan đã khiến nước này trở thành một điểm then chốt địa chính trị. Có thể mô tả nó là chiếc “nút chai” có tầm quan trọng sinh tử, vì nó khống chế đường vào “chiếc chai” có chứa những tài nguyên giàu có của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á. Một nước Azerbaijan độc lập nói tiếng Thổ, có đường ống dẫn dầu chạy đến Thổ Nhĩ Kỳ, có quan hệ sắc tộc và ủng hộ về chính trị sẽ ngăn cản Nga độc quyền vào khu vực và do vậy khiến họ mất đi ảnh hưởng chính trị có tính quyết định đối với các chính sách của các nước Trung Á mới. Tuy vậy, Azerbaijan rất dễ bị tổn thương trước áp lực của nước Nga hùng mạnh ở phương Bắc và của Iran ở phương Nam. Ở Tây Bắc Iran có tới 20 triệu dân Azerbaijan, gấp đôi số sắc tộc này sống trên lãnh thổ Azerbaijan. Thực tế đó khiến Iran lo sợ về một chủ nghĩa ly khai tiềm tàng trong dân tộc Azerbaijan ở ngay Iran và do đó khiến họ lập lờ nước đôi đối với vị thế chủ quyền của Azerbaijan, mặc dù hai nước cùng theo đạo Hồi. Do vậy, Azerbaijan đã trở thành đối tượng để cả Nga và Iran cùng gây áp lực nhằm hạn chế họ làm ăn với phương Tây.

Khác với Armenia và Azerbaijan, 30% trong 6 triệu dân Gruzia là dân thiểu số. Hơn nữa những cộng đồng bé nhỏ này lâu nay vẫn căm ghét sự đô hộ của Gruzia. Do vậy, khi Liên Xô giải thể, các sắc tộc Osetia và Abkhazia đã lợi dụng sự ẩu đả chính trị nội bộ của Gruzia mưu toan ly khai chấp nhận sức ép của Nga buộc họ yên phận trong cộng đồng các quốc gia độc lập (lúc đầu Gruzia muốn hoàn toàn tách khỏi cộng đồng này), buộc phải chấp nhận các căn cứ quân sự Nga trên lãnh thổ của họ, tránh sự nhòm ngó của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về văn hóa và ngôn ngữ, bốn trong năm nước mới độc lập ở Trung Á là một phần của thế giới người Thổ. Tajikistan có ngôn ngữ và văn hóa thuộc vùng Ba Tư, còn Afghanistan (nằm ngoài Liên Xô cũ) thì có nhiều sắc tộc đan xen như Patha, Tajik, Pashtun và Ba Tư. Tất cả sáu nước này đều theo đạo Hồi và đã nhiều năm chịu ảnh hưởng của các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Tuy vậy, trải nghiệm đó không có tác dụng gắn kết họ cùng chung mối quan tâm khu vực. Trái lại, thành phần sắc tộc đa dạng đã khiến họ dễ bị tổn thất trước những cuộc xung đột bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này đã tạo ra sức hấp dẫn các nước láng giềng hùng mạnh hơn xâm lược.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s