Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần V


Khi Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế khác phát triển, thị phần của Mỹ trong nền kinh tế thế giới sẽ ít hơn so với đầu thế kỷ này và sự trỗi dậy của các quốc gia khác sẽ khiến Mỹ gặp khó khăn hơn trong việc triển khai hành động. Nhưng không có quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc, sắp sửa thay thế vị trí của Mỹ trên thế giới về sức mạnh tổng thể. Nước Nga đang suy giảm nhân khẩu học và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng; Ấn Độ và Brazil (mỗi nước có nền kinh tế trị giá 2 nghìn tỷ USD) vẫn là các nước đang phát triển. Cũng không phải là một liên minh thực sự tin cậy của những nền độc tài, với sự ngờ vực tiềm ẩn giữa Nga và Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh của châu Á cũng có nghĩa là một sự thay đổi quyền lực trong khu vực, nhưng tại châu Á, sức mạnh của Trung Quốc được cân bằng bởi Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, trong số những quốc gia khác. Hoa Kỳ sẽ vẫn rất quan trọng đối với cán cân sức mạnh châu Á này. Nếu Hoa Kỳ duy trì các liên minh trong khu vực, có rất ít triển vọng để Trung Quốc có thể dồn đẩy Mỹ từ phía tây Thái Bình Dương và ít triển vọng hơn nữa trong việc thống trị thế giới.

Vị trí của Hoa Kỳ và hàng hóa công cộng toàn cầu

Quy mô kinh tế và quân sự là một nguồn giải thích khác cho chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ và nếu Hoa Kỳ vẫn là cường quốc mạnh nhất, có một trường hợp cho quốc gia lớn nhất dẫn đầu trong việc tổ chức sản xuất hàng hóa chung toàn cầu. Tuy nhiên, vai trò đó đòi hỏi một định nghĩa rộng về lợi ích quốc gia thay vì tập trung hẹp vào việc hưởng thụ miễn phí (free-riding). Trong một số lĩnh vực về hàng hóa quân sự và kinh tế, vai trò lãnh đạo của Mỹ đã cung cấp khá nhiều. Chẳng hạn, Hải quân Hoa Kỳ rất quan trọng trong việc kiểm soát Luật Biển và bảo vệ tự do hàng hải, và trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, Cục Dự trữ Liên bang đem đến sự tự tin từ việc có người cho vay cho phương sách cuối cùng.

Về các vấn đề xuyên quốc gia mới, mặc dù vai trò lãnh đạo của Mỹ vẫn quan trọng, nhưng để thành công sẽ cần sự hợp tác của nhiều quốc gia khác. Theo nghĩa này, quyền lực trở thành một trò chơi có tổng lợi ích là số dương. Sẽ là không đủ khi nghĩ về quyền lực Mỹ áp đặt lên những quốc gia khác. Người ta cũng phải suy nghĩ về quyền lực để hoàn thành các mục tiêu chung liên quan đến việc thực thi quyền lực cùng với nhau. Đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, việc trao quyền cho nước khác có thể giúp Hoa Kỳ hoàn thành các mục tiêu của riêng mình. Nước Mỹ sẽ được hưởng lợi nếu Trung Quốc cải thiện hiệu quả năng lượng và thải ra lượng carbon dioxide ít hơn. Trong thế giới ngày nay và tương lai dự đoán được, mạng lưới và kết nối là nguồn sức mạnh quan trọng. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, các quốc gia kết nối nhiều nhất là mạnh nhất. May mắn thay, Hoa Kỳ đứng đầu trong bảng xếp hạng các quốc gia của Viện Lowy của Australia dựa theo số lượng đại sứ quán, lãnh sự quán và phái bộ. Washington cũng có khoảng 60 đồng minh hiệp ước; trong khi Trung Quốc có ít hơn.

Trong quá khứ, sự cởi mở của Hoa Kỳ đã tăng cường năng lực xây dựng mạng lưới, duy trì các thể chế và các liên minh. Liệu sự cởi mở và sẵn sàng tham gia với phần còn lại của thế giới sẽ chứng minh sự bền vững trogn nền chính trị nội tại của nước Mỹ, hay chúng ta sẽ thấy một thế kỷ XXI tương tự với những năm 1930? Ngay cả khi Hoa Kỳ sở hữu nhiều tài nguyên về quân sự, kinh tế và quyền lực mềm hơn bất kỳ quốc gia nào khác, họ có thể không chọn cách chuyển đổi các tài nguyên đó thành hành vi quyền lực hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu – như họ đã không làm trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với phản ứng theo chủ nghĩa biệt lập trước sự vượt quá của người theo chũ nghĩa Wilson. Cựu Ngoại trưởng Medeleine Albright gần đây đã chú ý tới mối nguy hiểm: “Tôi lo sợ sự trở lại với bầu không khí quốc tế mà đã tồn tại trong những năm 1920 và 1930 đó”.

Nếu chìa khóa cho vị trí tương lai của nước Mỹ trên thế giới là sự tiến triển thái độ hợp tác và học hỏi tầm quan trọng của “quyền lực cùng với” cũng như “quyền lực áp đặt”, thì nó không được cổ vũ trong những năm đầu của chính quyền Trump. “Nước Mỹ trên hết” ở một cấp độ chỉ là một khẩu hiệu mà mọi quốc gia đều đặt lợi ích của mình lên hàng đầu: câu hỏi quan trọng là những lợi ích đó được định nghĩa rộng hay hẹp như thế nào. Nhưng Trump đã cho thấy một xu hướng nghiêng về các giải thích theo nghĩa hẹp, tổng bằng không. Có lẽ mối đe dọa lớn đối với vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong tương lai không phải từ bên ngoài mà từ bên trong?

Chuyển đổi quyền lực và các mối đe dọa từ bên trong

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 được ghi dấu bằng những phản ứng dân túy từ cả hai đảng đối với toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại. “Chủ nghĩa dân túy” là một thuật ngữ khá mơ hồ có thể liên quan tới ý thức hệ của cả cánh tả và cánh hữu. Nó thường biểu thị sự phản kháng đối với giới tinh hoa bao gồm cả các kiểu thể chế và các nhà bình luận đã ủng hộ trật tự quốc tế tự do trong bảy thập kỷ qua. Chủ nghĩa dân túy không phải là mới, và nó rất Mỹ cũng giống như bánh bí ngô vậy. Một số phản ứng dân túy có lợi cho dân chủ (liên hệ tới Andrew Jackson hoặc William Jenning Bryant); các cá nhân và phong trào dân túy khác, chẳng hạn như phong trào KnowNothing chống người nhập cư vào thế kỷ XIX, hay Thượng nghị sĩ Joe McCarthy và Thống đốc George Wallace trong thế kỷ XX, nhấn mạnh đến tính bài ngoại và tính thiển cận. Hiện tượng Trump phần nhiều rơi vào nhóm những người theo chủ nghĩa địa phương (ưu đãi dân bản xứ hơn dân nhập cư).

Các phản ứng dân túy bắt nguồn cả từ kinh tế và văn hóa, và là chủ đề của những nghiên cứu khoa học xã hội quant rọng. Những cử tri bị mất việc do sự cạnh tranh từ nước ngoài có xu hướng ủng hộ Trump, nhưng cũng có cả các nhóm như nam giới da trắng lớn tuỏi, những người bị mất địa vị trong cuộc chiến văn hóa bắt nguồn từ những năm 1970 và liên quan đến sự thay đổi các giá trị liên quan đến chủng tộc, giới tính và khuynh hướng tình dục. Abramowitz chỉ ra rằng, “nỗi oán giận về chủng tộc là yếu tố dự báo mạnh nhất đối với hiện tượng Trump trong số các cử tri chính của đảng Cộng hòa”, nhưng các giải thích về kinh tế và văn hóa không loại trừ lẫn nhau và Trump “rõ ràng kết nối các vấn đề này bằng cách cho rằng những người nhập cư bất hợp pháp đang cướp việc làm của công dân Mỹ”.

Ngay cả khi không có toàn cầu hóa kinh tế, thì những thay đổi văn hóa và nhân khẩu học này sẽ tạo ra chủ nghĩa dân túy ở một mức độ nào đó. Chủ nghĩa dân túy có thể sẽ tiếp tục khi công việc bị mất vào tay người máy cũng như đối với thương mại, và sự thay đổi văn hóa đang tiếp tục gây chia rẽ. Sự phân cực chính trị ở Hoa Kỳ đã bắt đầu từ trước thời kỳ của Trump và cuộc bầu cử thắng lợi của ông là một triệu chứng cũng như là nguyên nhân của nó. Bài học cho giới tinh hoa làm chính sách – những người ủng hộ toàn cầu hóa và nền kinh tế mở là họ sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề bất bình đẳng kinh tế cũng như điều chỉnh sự hỗ trợ cho những người bị suy sụp bởi thay đổi kinh tế. Thái độ đối với vấn đề nhập cư được cải thiện khi nền kinh tế được cải thiện, nhưng nhập cư vẫn là một vấn đề mang tính cảm xúc đối với một số người. Trong một cuộc khảo sát năm 2015 của Pew, 51% người Mỹ trưởng thành cho biết người nhập cư đã tăng cường cho đất nước trong khi 41% tin rằng họ là một gánh nặng; so sánh con số này với tỷ lệ 50% nhìn nhận họ như một gánh nặng vào giữa năm 2010, khi những ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái đang ở đỉnh điểm. Các nhà lãnh đạo sẽ phải chứng minh rằng họ có thể quản lý được đường biên giới quốc gia nếu họ muốn chống lại các cuộc tấn công từ phe dân túy, đặc biệt là trong những thời điểm và đại điểm căng thẳng về kinh tế.

Đồng thời, sẽ là một sai lầm khi nghiên cứu quá nhiều về các xu hướng dài hạn trong dư luận Mỹ từ cuộc bầu cử năm 2016 hoặc cách Trump sử dụng phương tiện truyền thông một cách thông minh để kiểm soát tin tức. Dù Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, nhưng đã không giành được đa số phiếu phổ thông, và cuộc thăm dò tháng 9 năm 2016 của Hội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago cho thấy 65% người Mỹ nói rằng toàn cầu hóa hầu hết là tốt cho Hoa Kỳ, bất chấp lo ngại về việc làm. Mặc dù các cuộc thăm dò ý kiến luôn dễ bị đóng khung bằng cách thay đổi các câu hỏi, nhãn “biệt lập” không phải là sự mô tả chính xác về thái độ hiện tại của người Mỹ.

Một số người Mỹ nghi ngờ về việc Hoa Kỳ có đủ khả năng để duy trì một trật tự quốc tế mở. Trên thực tế, nước này hiện dành khoảng 3,5% GDP cho quốc phòng và đối ngoại, tính theo tỷ lệ GDP, chưa bằng một nửa so với những gì họ đã làm vào thời kỳ đỉnh điểm của những năm Chiến tranh Lạnh. Các liên minh không quá tốn kém như vậy. Vấn đề không phải là súng đối chọi với bơ, mà là súng đối chọi với bơ và với thuế. Trừ khi ngân sách được mở rộng bằng cách sẵn sàng tăng thuế, chi tiêu quốc phòng bị phong tỏa trong một cuộcc đánh đổi có tổng số bằng zero với các lĩnh vực đầu tư quan trọng như cải tạo hệ thống giáo dục trong nước và cơ sở hạ tầng khác, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Hoa Kỳ vẫn là một trong những quốc gia phát triển bị đánh thuế nhẹ nhất, với mức thuế thu nhập năm 2012 thấp hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của các nước OECD.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s