Chiến tranh tiền tệ không tuyên mà chiến – Phần cuối


Các quốc gia châu Á xây dựng quỹ riêng để tiện giúp đỡ nhau trong cơn nguy nan – một việc vốn dĩ hết sức tốt đẹp, tuy nhiên, họ lại gặp phải sự phản đối kịch liệt của trục tài chính London – Phố Wall. Nhật Bản vốn là nền kinh tế lớn nhất trong khu vực, nhưng lại bị các nhà ngân hàng khống chế nên thiếu sự quyết đoán và lòng can đảm tối thiểu để giúp các nhà lãnh đạo kinh tế châu Á thoát khỏi khó khăn. Điều này không khỏi khiến cho các nước Đông Nam Á rơi vào cảnh tuyệt vọng cảm thấy càng thất vọng hơn. Nhưng điều khiến người ta khó nghĩ nhất chính là quan điểm của Singapore.Việc cho mình và các nước láng giềng cái quyền quyết định giúp đỡ lẫn nhau trong tình huống khó khăn sao lại có thể gây ra “rủi ro đạo đức” và đó là “đạo đức” của ai?

Thủ tướng Malaysia Mahathir là nhà lãnh đạo châu Á có cái nhìn tương đối thấu suốt đối với bản chất thực của khủng hoảng. Ông cho rằng: “Chúng ta hoàn toàn không biết nguồn gốc tiền bạc của họ, cũng chẳng biết rốt cuộc ai đang tiến hành giao dịch, càng không thể biết sau lưng họ còn có ai? Chúng ta có biết rằng sau khi kiếm được tiền thì họ có đóng thuế hay không? Và những khoản thuế này nộp cho ai? Chúng ta có biết ai là kẻ đang đứng sau lưng họ?” Ông nhận định, với cơ chế giao dịch tiền tệ trước mắt, chẳng ai biết liệu nguồn tiền này có chính đáng hay không, hay là sản phẩm của nạn rửa tiền. “Bởi chẳng có ai dám hỏi, mà cũng chẳng thể kiểm tra được”. Chỉ cần những người này phát động tấn công vào bất cứ quốc gia nào, thì lượng tiền không thể đếm xuể của họ sẽ ào ạt chảy vào quốc gia đó. Bất luận là thị trường tiền tệ, hàng hóa kỳ hạn hay là giao dịch chứng khoán, đều phải tiến hành dưới cơ chế hợp lý, “vì vậy, chúng ta cần kiểm soát giao dịch tiền tệ, khiến nó trở nên minh bạch hơn”. Ngay tức khắc, Mahathir gặp phải búa rìu dư luận phương Tây. Câu hỏi gay gắt của Mahathir có lẽ không phù hợp lắm để phát biểu trong cuộc họp mang tính ngoại giao. Tuy nhiên, ông đã đưa ra câu hỏi một cách đích xác về vấn đề mà mọi người dân châu Á đều nghi hoặc.

Hàn Quốc – một đồng minh thân cận của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh – sau cơn bão tài chính đã chìa tay về phía Mỹ xin viện trợ nhưng không ngờ nước Mỹ dứt khoát từ chối và thay đổi nhanh chóng đến vậy. Trong con mắt của các nhà ngân hàng quốc tế, mối quan hệ thân thiết giữa Mỹ và Hàn Quốc như đống xương tàn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Chính phủ Mỹ tranh cãi kịch liệt về vấn đề này, và theo ý kiến của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Madeleine Albright và các cố vấn an ninh quốc gia thì Mỹ phải chìa tay ra cứu vớt người anh em. Trong khi Bộ Tài chính đại diện cho Phố Wall thì cực lực phản đối, thậm chí còn chỉ trích Madeleine Albright chẳng hiểu mô tê gì về kinh tế học. Cuối cùng, Clinton phải tuân theo quan điểm của Bộ Tài chính.

Theo Bộ trưởng Tài chính Rubin, cuộc khủng hoảng này chính là thời cơ tốt nhất để Mỹ đạp toang cánh cửa kinh tế của Hàn Quốc. Ông ta ra lệnh cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế phải thực thi các biện pháp hà khắc hơn so với trước đây để đối đãi đồng minh cũ đang xin viện trợ này. Dưới sức ép của Bộ Tài chính Mỹ, IMF nâng các điều kiện đối với vấn đề “viện trợ”, bao gồm việc Hàn Quốc phải lập tức giải quyết các điều kiện có lợi đối với Mỹ và mọi tranh chấp thương mại với phía Mỹ. Người dân Hàn Quốc phẫn nộ chỉ trích các điều kiện khắt khe này, vì Mỹ và IMF luôn sẵn sàng đưa ra cho Hàn Quốc các điều kiện bất hợp lý.

Nhà kinh tế học Joseph Stiglitz cho rằng, việc Hàn Quốc rơi vào khủng hoảng tài chính bắt đầu từ khi Bộ Tài chính Mỹ thúc bách Hàn Quốc tiến hành mở cửa thị trường tư bản tài chính toàn diện và nhanh chóng. Với vai trò là cố vấn kinh tế hàng đầu của Clinton, Joseph Stiglitz kiên quyết phản đối kiểu hành vi thô lỗ này, ông cho rằng kiểu mở cửa này chẳng đem lại lợi ích an toàn nào cho nước Mỹ mà chỉ có lợi cho các nhà ngân hàng của Phố Wall mà thôi.

Chính phủ Hàn Quốc trong tình thế bức bách phải chấp nhận rất nhiều điều kiện hà khắc của Mỹ, cho phép Mỹ xây dựng các chi nhánh ngân hàng, công ty nước ngoài có thể nắm giữ từ 26% đến 50% cổ phiếu của công ty Hàn Quốc lên sàn, người nước ngoài có thể nắm giữ từ 7% đến 50% cổ phần trong các công ty của nước này. Các công ty Hàn Quốc phải áp dụng nguyên tắc kế toán quốc tế, cơ cấu tài chính cần chấp nhận sự thẩm tra nghiệp vụ kế toán quốc tế, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc phải vận hành độc lập, hối đoán tiền tệ theo công thức tư bản, minh bạch hóa tiến trình cho phép nhập khẩu, giám sát cơ cấu công ty, cải cách thị trường lao động. Các nhà ngân hàng Mỹ “thèm nhỏ dãi” trước các doanh nghiệp Hàn Quốc. Chỉ đợi Hàn Quốc đặt bút ký vào bản thỏa thuận, họ sẵn sàng đạp lên nhau để xâu xét con mồi săn đã đuối sức.

Thế nhưng, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế quá xem nhẹ sự mạnh mẽ và ý thức dân tộc của người Hàn. Một quốc gia có ý thức dân tộc hỗ trợ thì rất khó bị các thế lực bên ngoài thống trị. Người dân Hàn Quốc rơi vào tình cảnh cô lập vô phương bấu víu đã sôi nổi quyên hiến vàng bạc của mình cho quốc gia. Trong tình cảnh nguồn dự trữ ngoại hối cạn kiệt thì vàng bạc nhanh chóng trở thành phương thức hoàn trả nợ được đông đảo chủ nợ nước ngoài vui vẻ chấp nhận. Điều càng khiến các nhà ngân hàng quốc tế kinh ngạc hơn là, tại Hàn Quốc không xuất hiện làn sóng phá sản hàng loạt của các ngân hàng và công ty quy mô lớn theo hình dung của họ. Các công ty phương Tây hầu như không thể thâu tóm bất cứ doanh nghiệp lớn nào của Hàn Quốc. Mùa xuân năm 1998, khi Hàn Quốc vượt qua gian khó, lợi nhuận xuất khẩu của họ tăng nhanh cấp kỳ, Chính phủ Hàn Quốc nhận ra hết mọi ngón đòn của Phố Wall và dứt khoát vứt bỏ ngay những liều thuốc độc của IMF. Chính phủ đình chỉ việc xin phá sản của các doanh nghiệp lớn đồng loạt và quyết định thanh lý các khoản nợ xấu trị giá 70 đến 150 tỷ USD từ hệ thống ngân hàng. Ngay khi Chính phủ nhận được những khoản nợ xấu này, quyền kiểm soát hệ thống ngân hàng lại lọt vào tay Chính phủ. Và như vậy, IMF bị đẩy ra khỏi cuộc chơi.

Điều này không những khiến cho các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế và Bộ Tài chính Mỹ mừng hụt một phen mà còn giúp Hàn Quốc nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của Chính phủ trong việc lãnh đạo nền kinh tế. Mưu đồ thôn tính công ty phần mềm lớn nhất Hàn Quốc tan vỡ, 8 công ty phần mềm bản địa Hàn Quốc đã vận hành suôn sẻ. Kế hoạch thâu tóm Công ty Ô tô KIA của Ford bị gãy gánh. Hành động tiếp quản hai ngân hàng địa phương lớn của ngân hàng nước ngoài bị đình chỉ, Chính phủ Hàn Quốc tạm thời quản lý hai ngân hàng này.

Dưới sự chủ trì của Chính phủ, nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ trở lại. Điều khôi hài là Quỹ Tiền tệ Quốc tế hết lời ca ngợi Hàn Quốc như một trường hợp điển hình được họ hỗ trợ.

Năm 2003, Thái Lan hoàn trả số nợ 12 tỷ USD trước thời hạn. Sau khi thoát khỏi nanh vuốt của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Thủ tướng Thái Lan Thaksin tự tin đứng trước quốc kỳ mà thề rằng, nước Thái Lan sẽ “vĩnh viễn không trở lại làm con mồi cho tư bản quốc tế”, quyết sẽ không bao giờ cầu xin sự “viện trợ” của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Thậm chí Chính phủ Thái Lan còn ngầm khuyến khích các doanh nghiệp từ chối hoàn trả các khoản nợ của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế. Và rồi, tháng 9 năm 2006, cuộc đảo chính quân sự nổ ra ở Thái Lan, Thaksin bị lật đổ và chịu kiếp lưu vong ở nước ngoài.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Song Hong Binh – Chiến tranh tiền tệ P1 – NXB LĐ 2020.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s