Các nước Balkans Âu – Á – Phần II


Trong năm nước mới độc lập ở Trung Á, Kazakhstan và Uzbekistan có vị trí quan trọng nhất. Trong khu vực này, Kazakhstan là lá chắn còn Uzbekistan là linh hồn thúc đẩy mức độ thức tỉnh dân tộc khác nhau. Tầm cỡ và vị trí địa lý của Kazakhstan che chở cho các nước khác khỏi bị sức ép tự nhiên trực tiếp của Nga, vì chỉ có Kazakhstan là giáp giới với Nga. Tuy nhiên, trong số 18 triệu dân của nước này có khoảng 36% là người Nga (dân số Nga trong toàn khu vực đang giảm dần) và thêm 20% nữa cũng không phải là dân Kozak. Thực tế này khiến các nhà cai trị Kozak mới gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia trên cơ sở sắc tộc và ngôn ngữ. Những người Nga sinh sống ở đây cũng căm ghét tập đoàn lãnh đạo người Kozak. Đa phần trong số họ thuộc tàng lớp thực dân thống trị trước đây, có trình độ văn hóa và cương vị bởi vậy họ sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những người này nhìn chủ nghĩa dân tộc Kozak mới với sự miệt thị lộ liễu. Do cả hai vùng Kozak Tây Bắc và Đông Bắc Kazakhstan đều bị đế chế Nga khống chế nặng nề, nên nước này đứng trước nguy cơ ly khai về lãnh thổ nếu quan hệ Kozak – Nga xấu đi. Đồng thời có nhiều người Kozak sống ở nước Nga nằm bên kia đường biên giới quốc gia và ở nước Uzbekistan về phía Đông Bắc, mà người Kozak coi là đối thủ chính tranh quyền lãnh đạo vùng Trung Á với họ.

Trong thực tế, Uzbekistan là ứng cử viên hàng đầu vào địa vị lãnh đạo khu vực ở Trung Á. Là nước nhỏ hơn, ít tài nguyên thiên nhiên hơn Kazakhstan, nhưng dân số nước này lại đông hơn (gần 25 triệu) và một điều quan trọng hơn hẳn là nước này có sự đồng nhất về sắc tộc hơn. Do tỷ lệ sinh của người bản xứ cao hơn và sự ra đi dần dần của người Nga, nên không bao lâu nữa, 75% dân số sẽ là người Uzbek và chỉ còn một thiểu số người Nga chủ yếu ở thủ đô Tashken.

Giới lãnh đạo chính trị của Uzbekistan tự cho rằng mình là hậu duệ trực tiếp của đế chế Tamerlane rộng lớn thời Trung cổ (1336 – 1404) với thủ đô Samakhan vốn là một trung tâm nổi tiếng trong khu vực về phục vụ nghiên cứu tôn giáo, chiêm tinh học và nghệ thuật. Mối liên hệ này làm cho nước Uzbekistan hiện đại có ý thức sâu sắc về tính kế thừa lịch sử và về nhiệm vụ của họ đối với khu vực hơn là các nước láng giềng. Ngay cả dân thường cũng ngày càng có ý thức tham gia vào những hoạt động xây dựng một nhà nước dân tộc hiện đại, quyết tâm không bao giờ trở lại địa vị thuộc địa bất chấp mọi khó khăn trong nước. Tinh thần này cao hơn ở bất kỳ nước Trung Á nào.

Điều kiện này làm cho Uzbekistan vừa trở thành người đi đầu trong việc nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau những chia rẽ sắc tộc và cũng vừa là đối tượng rất đáng lo ngại cho các nước láng giềng. Dù cho các lãnh tụ Uzbek bắt đầu khởi sắc trong xây dựng quốc gia và trong chủ trương tự lực khu vực, nhưng việc nước này có sự đồng nhất dân tộc và giác ngộ dân tộc sâu sắc lại khơi lên nỗi lo sợ trong các nhà lãnh đạo Turkmenistan, Tajikistan và Kazakhstan. Họ lo sợ rằng, sự lãnh đạo trong khu vực của người Uzbek sẽ phát triển lên thành sự thống trị khu vực. Nỗi lo ngại này cản trở hợp tác khu vực trong các nước mới có chủ quyền và kéo dài điểm yếu của khu vực.

Thực chất không phải Uzbekistan đã hoàn toàn thoát khỏi những căng thẳng sắc tộc. Nhiều nơi ở phía Nam Uzbekistan, nhất là quanh các trung tâm quan trọng về lịch sử và văn hóa như Samakhan và Bukhara có nhiều dân Tajik vẫn mang hận thù với các đường biên giới do Nga vẽ nên. Một yếu tố nữa làm cho vấn đề càng thêm phức tạp là sự hiện diện của người Uzbek ở phía Tây Tajikistan, sự hiện diện của người Uzbek tẫn Tajik ở thung lũng Fegana quan trọng về kinh tế (ở nơi này trong những năm gần đây đã xảy ra bạo lực sắc tộc đẫm máu). Đó là chưa kể đến sự hiện diện của người Uzbek ở Bắc Afghanistan.

Trong ba nước Trung Á vừa thoát khỏi ách thống trị của Nga (Kyrgystan, Tajikistan, Turkmenistan), chỉ có nước thứ ba là tương đối liên kết về sắc tộc. Khoảng 75% trong số 4,5 triệu dân là người Thổ còn người Uzbek và người Nga chỉ chiếm dưới 20% dân số. Được che chắn bởi Turkmenistan nên tương đối cách xa Nga, trong khi đó về mặt địa lý, Uzbekistan và Iran lại có liên quan lớn hơn đến tương lai của nước này. Một khi đường ống dẫn dầu đến vùng này được xây dựng thì các trữ lượng khí đốt thực sự khổng lồ của Turkmenistan báo hiệu một tương lai phồn vinh của nhân dân nước này.

Với con số 5 triệu dân, Kyrgystan đa dạng hơn nhiều. Chính dân Kyrgystan chỉ chiếm 55% tổng số, và dân Uzbek chiếm 13%, còn số dân Nga thì gần đây giảm từ 20% xuống trên 15%. Trước khi nước này độc lập, đa số trong thành phần trí thức kỹ thuật của nước này là dân Nga và sự ra đi ồ ạt của họ đã gây tổn thất cho nền kinh tế. Tuy giàu về khoáng sản và có cảnh quan thiên nhiên khiến một số người ví nước này là Thụy Sĩ của Trung Á, và do vậy có thể sẽ trở thành một miền đất mới cho khách du lịch. Do vị trí địa chính trị của Kyrgystan, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan, khiến nước này hầu như bị phụ thuộc vào việc Kazakhstan có thành công hay không trong việc duy trì nền độc lập.

Tajikistan có phần đồng nhất hơn về sắc tộc. Trong số 6,5 triệu dân, có chưa đầy 2/3 là dân Tajik, hơn 25% là người Uzbek, trong khi đó số người Nga chỉ còn lại 3%. Nhưng cũng như ở nơi khác, ngay cả cộng đồng sắc tộc thống trị cũng chia rẽ rất rõ rệt theo bộ lạc, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại chủ yếu chỉ giới hạn trong giới lãnh đạo chính trị ở thành phố. Do vậy, nền độc lập không chỉ tạo ra nội chiến mà còn tạo cớ cho Nga tiếp tục triển khai quân đến nước này. Tình hình sắc tộc càng phức tạp hơn do ở ngay bên kia biên giới trên vùng Đông Bắc Afghanistan nơi có một số đông người Tajik sinh sống. Thực ra, ở cả hai nước Afghanistan và Tajikistan số dân thuộc sắc tộc Tajik ngang nhau. Đây cũng là một nhân tố góp phần làm mất ổn định khu vực.

Tình trạng lộn xộn hiện tại của Afghanistan cũng là một di sản của Liên Xô cũ, tuy nước này không phải là một nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Sự chiếm đóng của Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích kéo dài chống lại họ đã khiến Afghanistan chỉ là một nhà nước dân tộc trên danh nghĩa. Hai mươi hai triệu dân của nước này chia rẽ gay gắt theo bộ lạc, trong đó sự bất đồng lớn giữa các sắc tộc Pashtun, Tajik và Hazara ngày càng lớn. Đồng thời, phong trào Thánh chiến (jihat) chống quân Nga chiếm đóng đã làm cho tôn giáo trở nên một khía cạnh bao trùm trong đời sống chính trị của đất nước, làm cho những mối bất đồng vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt. Do vậy, phải nhìn nhận Afghanistan không chỉ là bộ phận trong vấn đề sắc tộc hóc búa ở Trung Á, mà còn là bộ phận quan trọng về chính trị của các nước Balkans Âu – Á.

Tuy các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ cũng như Azerbaijan có đa số dân là Hồi giáo, nhưng tầng lớp tinh hoa chính trị của họ (chủ yếu vẫn là sản phẩm của Liên Xô cũ), đều mang quan điểm phi tôn giáo. Có thể nói, các nước này về hình thức là vô thần. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ bản sắc thị tộc hoặc bộ lạc truyền thống sang nhận thức dân tộc hiện đại hơn thì có thể họ sẽ ngày càng giác ngộ thêm về đạo Hồi. Trong thực tế, một sự hồi sinh của đạo Hồi có thể trở thành xung lực thúc đẩy những thứ chủ nghĩa dân tộc mới ngày càng lan tràn, quyết tâm chống lại việc một lần nữa đưa họ vào vòng kiểm soát của Nga, và cũng là một sự kiểm soát vô thần.

Thực ra, quá trình Hồi giáo hóa có thể lây lan sang cả dân Hồi giáo vẫn tiếp tục sinh sống ở đất Nga. Số dân này là 20 triệu – gấp hơn hai lần số người Nga bất mãn (khoảng 9,5 triệu) vẫn tiếp tụcsinh sống dưới chế độ thống trị ngoại quốc ở các nước Trung Á độc lập. Người Hồi giáo Nga chiếm khoảng 13% dân số Nga và đều muốn đòi được quyền mang bản sắc chính trị và tôn giáo rõ rệt. Dù cho yêu sách này không mang hình thức một cuộc tìm kiếm độc lập hoàn toàn như ở Chechnya thì nó cũng phải đối mặt với những bế tắc ở Trung Á vì hành động dính líu kiểu đế quốc gần đây của họ.

Có một thực tế đã làm tăng sự bất ổn ở các nước Balkans Âu – Á và làm cho tình hình sẽ có thể dễ bùng nổ hơn, đó là việc hai nhà nước sát nhau là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều rất dễ thay đổi về xu hướng địa chính trị. Nếu hai nước này mất ổn định thì rất có thể toàn bộ khu vực sẽ bị đẩy vào rối loạn lớn và khi đó những cuộc xung đột sắc tộc và lãnh thổ đang tiếp diễn sẽ tuột ra khỏi tầm kiểm soát và thế cân bằng lực lượng trong vùng vốn đã mỏng manh lại càng bị phá hoại nặng. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran không những là những nhân tố quan trọng về địa chiến lược, mà còn là những trung tâm địa chính trị. Điều kiện nội bộ của chính họ lại có tầm cực kỳ quan trọng đối với số phận của khu vực. Tuy hai nước đều ở tầm cỡ trung bình, nhưng khát vọng khu vực lại rất mãnh liệt và luôn tự ý thức về tầm quan trọng lịch sử của họ. Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn về định hướng địa chính trị tương lai cũng như về sự liên kết quốc gia của cả hai nước.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s