Nhiều cách hiểu đan xen nhau về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – Phần II


Các công việc nghiên cứu chuẩn bị cho việc xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 26.000 trong tương lai đã đề xuất một định nghĩa về CSR vừa thỏa mãn cho cả Mỹ lẫn châu Âu như sau: CSR là “những hoạt động của một tổ chức nhằm đảm nhận trách nhiệm về tác động các hành động của mình gây ra cho xã hội và môi trường, trong chừng mực mà các hoạt động này phải gắn bó với các lợi ích của xã hội và của sự phát triển bền vững, dựa trên một lối ứng xử có đạo đức, tôn trọng luật pháp hiện hành và các thiết chế của nhà nước, và được hội nhập vào trong các hoạt động thông thường của tổ chức”. Việc quy chiếu vào sự phát triển bền vững sẽ làm thỏa mãn các quốc gia Âu châu, trong khi việc quy chiếu vào đạo đức sẽ được người Mỹ tán thành.Nhưng chúng ta sẽ thấy rằng những người hành động có thể được xem như “có trách nhiệm về mặt xã hội” cần phải được “hội nhập vào các hoạt động thông thường của tổ chức” – điều này hàm ý rằng quan niệm về CSR đã vượt qua cách hiểu coi CSR chỉ là hoạt động từ thiện.

Có trách nhiệm về cái gì, đến đâu, liên quan đến ai, và như thế nào?

Bất cứ cuộc tranh luận nào về trách nhiệm cũng cần đặt ra các câu hỏi sau: Chịu trách nhiệm với ai? Liên quan đến cái gì? Có trách nhiệm đến đâu và như thế nào?

Với câu hỏi “chịu trách nhiệm với ai?”, có thể có nhiều câu trả lời rất khác nhau, tùy thuộc vào quan niệm về doanh nghiệp và về vị trí của doanh nghiệp trong xã hội. Đối với Friedman, doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm với các cổ đông mà thôi, bởi vì vai trò của doanh nghiệp là phải tối đa hóa lợi nhuận vì lợi ích của các cổ đông.

Một kiểu trả lời thứ hai, như của Liên minh châu Âu chẳng hạn, dựa trên khái niệm “các thành phần có liên quan”. Theo đó, doanh nghiệp cần phải quan tâm đến những cá nhân hoặc các nhóm có thể bị tác động bởi các hoạt động của mình, hoặc những nhóm hay cá nhân có thể có ảnh hưởng đối với các hoạt động của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp được gán cho vai trò làm thỏa mãn mọi thành phần có liên quan và trở thành nơi phân định các lợi ích khác nhau cho các thành phần có liên quan đó. Yêu cầu này có thể lớn hoặc nhỏ tùy theo các thành phần được xem xét: có những thành phần mà doanh nghiệp có các mối quan hệ khế ước (những người lao động, những nhà cung ứng, các khách hàng…), và những thành phần mà doanh nghiệp không có bất cứ mối quan hệ khế ước nào (các nhóm lợi ích khác nhau, chẳng hạn những người sống gần nơi hoạt động của doanh nghiệp hoặc những người bảo vệ thiên nhiên). Cách tiếp cận này không tính đến các nhóm quá yếu thế để có thể đại diện hoặc vắng mặt [trong các quyết định của doanh nghiệp], chẳng hạn như các thế hệ tương lai.

Cách trả lời thứ ba cho rằng doanh nghiệp phải có trách nhiệm với lợi ích chung của cộng đồng. Nhưng nếu hiểu theo định nghĩa của Adam Smith (Những nghiên cứu về bản chất và nguồn gốc sự thịnh vượng của quốc gia, 1776) thì lợi ích chung là tổng của các lợi ích riêng, nhờ “bàn tay vô hình” nhân từ của thị trường, điều này dẫn đến khả năng xem lợi ích riêng của doanh nghiệp như là cộng đồng lợi ích giữa vốn tư bản và lao động [Robe, 1999]. Ngược lại, theo khái niệm “ý chí chung” của Jean-Jacques Rousseau (Khế ước xã hội, 1762), diện mạo của doanh nghiệp sẽ được xây dựng trong mối quan hệ gắn kết chặt chẽ với xã hội tuân thủ những đòi hỏi của cộng đồng được thể hiện qua nhà nước. Hiện nay, khi các vấn đề về lợi ích chung đã vượt khỏi biên giới của các nhà nước – quốc gia thì vấn đề đóng góp của doanh nghiệp vào lợi ích chung cần phải được đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhưng vấn đề này cho đến nay mới chỉ có những phác thảo hay những kinh nghiệm hạn chế về các cơ chế điều tiết.

Sự tiếp cận lý thuyết về đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triển bền vững cần phải đi đến việc định vị các hoạt động của doanh nghiệp và những hậu quả của chúng trong quá trình khai thác và giữ gìn các lợi ích chung mang tính toàn cầu, trong đó bao gồm cả việc giảm bớt các chi phí ngoại tác đối với xã hội. Chúng ta vẫn còn cách xa điều đó lắm. Có lẽ tạm thời cộng đồng quốc tế (trong mối liên hệ với các chủ thể kinh tế) cần xác định những vấn đề quan trọng nhất khi nói đến sự phát triển bền vững và những lợi ích chung của cộng đồng thế giới.

Câu hỏi “có trách nhiệm về điều gì?” đề cập đến những tiêu chí mà dựa vào đó, người ta sẽ đánh giá xem liệu một doanh nghiệp nào đó có trách nhiệm về mặt xã hội hay không. Các tiêu chí này là hết sức đa dạng khiến cho việc đánh giá khó mang tính khách quan, bởi vì người lượng giá không thể không bị tác động bởi các giá trị riêng của mình cũng như vị trí của anh ta trong các mối quan hệ xã hội, hoặc các lợi ích của tổ chức mà anh ta là thành viên.

Do vậy, người ta có thể chỉ dựa vào những việc tốt đẹp mà doanh nghiệp đã làm cùng với vô số loại giải thưởng đã dựa trên các thành tích này để đề cao những “doanh nghiệp tốt nhất”. Ngược lại, người ta cũng có thể chỉ tập trung vào việc đánh giá những mặt chưa được của doanh nghiệp, những thiệt hại do doanh nghiệp gây ra mà thôi. Đây là cách làm của khá nhiều tổ chức phi chính phủ nhằm lôi kéo sự chú ý của công luận vào những nguy cơ, những rủi ro nảy sinh từ một số hoạt động của doanh nghiệp.

Trên thực tế, người ta thường hài lòng với cách đánh giá từng phần, tức là chỉ dựa trên một số sự kiện rõ rang, bởi vì thật sự là rất khó để có thể nắm bắt hoặc đưa ra một ý kiến tổng quát về toàn bộ hoạt động của một doanh nghiệp lớn. Vả lại, doanh nghiệp có thể có những điểm mạnh trong một lĩnh vực nào đó (lĩnh vực xã hội chẳng hạn) và những điểm yếu trong một lĩnh vực khác (lĩnh vực môi trường chẳng hạn); cái này không thể bù trừ cho cái kia, và người ta hoàn toàn không thể lấy một điểm trung bình cho cả hai lĩnh vực đó.

Mặt khác, người ta có thể tiến hành đánh giá quân bình bằng cách cân nhắc nhiều tiêu chí khác nhau,nhưng điều này cũng có thể dẫn đến sự tùy tiện trong việc xác định các tiêu chí. Ngay định hướng các câu hỏi cũng có thể tạo ra những tình huống khó phân định: chẳng hạn liệu có nên ca tụng công ty McDonald’s như một vị ân nhân vì đã cung cấp cho các nước Tây phương loại thực phẩm có giá rẻ, hay chê trách công ty này vì đã tạo nên mối đe dọa đối với sức khỏe cộng đồng với việc góp phần làm gia tăng tình trạng béo phì? Tất cả mọi hoạt động kinh tế đều có thể đưa đến những lưỡng đề nan giải kiểu như vậy và câu trả lời có thể là rất khác nhau tùy theo thang giá trị của các cá nhân hay các nhóm được hỏi.

Người ta cũng có thể yêu cầu doanh nghiệp tự lượng giá với lưu ý rằng kết quả hay số điểm đạt được không phải là điều quan trọng, mà quan trọng là tiến trình gây dự ý thức trong lòng doanh nghiệp mà cách làm này tạo ra. Trong trường hợp, việc xác định các tiêu chí đánh giá là điều có tính mấu chốt, và điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tính đến mong đợi của đối tượng mà báo cáo lượng giá muốn nhắm đến.

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm xã hội đến mức nào? Biên độ giới hạn về CSR có thể đi từ không cho đến vô cực. Không thể có câu trả lời mang tính phổ quát và vĩnh viễn cho câu hỏi này; tầm mức CSR có thể thay đổi qua các thời kỳ, tùy theo những mong đợi và áp lực của các xã hội dân sự, và câu trả lời cũng có thể rất khác nhau tùy theo thành phần của những người có liên quan. Cuối cùng, các câu trả lời cho câu hỏi này còn phụ thuộc rất nhiều vào nền văn hóa, lịch sử và các định chế của mỗi quốc gia.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michel Capron & Franҫois Quairel-Lanoizelée – Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp – NXB TT 2009.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s