Các nước Balkans Âu – Á – Phần IV


Tuy ở xa, nhưng Mỹ có lợi ích trong việc duy trì chủ nghĩa đa nguyên địa chính trị trong khu vực Âu – Á từ sau khi Liên Xô tan rã. Bởi vậy, trong bối cảnh hiện nay Mỹ thật sự có vai trò quan trọng đối với sự phát triển các nguồn lực của khu vực và trong việc ngăn chặn ảnh hưởng của Nga trong việc chi phối không gian địa chính trị của khu vực. Như vậy, Mỹ không những theo đuổi những mục tiêu địa chiến lược lớn mà còn thể hiện mối quan tâm kinh tế ngày càng lớn, đồng thời tìm cách tiếp cận ngày càng sâu tới khu vực này.

Trong mớ bòng bong và rắc rối này, những vấn đề như địa chính trị, sự giàu có trong tương lai, những nhiệm vụ quốc gia, tôn giáo và vấn đề an ninh khu vực đang bị thách thức. Trước đây, Nga vẫn độc quyền chiếm giữ những con đường tiếp cận tới khu vực cho tới khi Liên Xô sụp đổ. Hoạt động vận chuyển hơi đốt bằng đường xe lửa và các đường ống dẫn dầu, thậm chí hoạt động đi lại của máy bay đều qua trung tâm này. Các nhà địa chính trị Nga muốn duy trì tình trạng này vì họ biết rằng, nước nào kiểm soát hoặc chi phối được đường tiếp cận vào khu vực này nước đó sẽ có khả năng lớn nhất để có thể giành được ưu thế về kinh tế và địa chính trị.

Chính sự tính toán này đã nâng tầm quan trọng của đường ống dẫn dầu đối với tương lai của lòng chảo biển Caspien và Trung Á. Nếu đường ống dẫn đầu chính dẫn đến khu vực vẫn đi qua đất Nga rồi đến cửa biển Novorossiysk trên Biển Đen thì hậu quả địa chính trị của tình hình sẽ tự bộc lộ, dù Nga không phô diễn quyền lực lộ liễu. Khu vực này vẫn sẽ bị phụ thuộc về chính trị, trong đó Nga có vị thế mạnh để quyết định cách chia sẻ nguồn của cải mới của khu vực. Ngược lại, nếu một đường dẫn dầu khác qua biển Caspian đến Azerbaijan và từ đó chạy đến Địa Trung Hải qua Thổ Nhĩ Kỳ, và nếu có thêm một đường nữa đến biển Arab qua Afghanistan thì không có cường quốc đơn lẻ nào có thể giữ được độc quyền đối với đường tiếp cận nữa.

Một số nhân vật trong giới chính trị của Nga đã tỏ ra không muốn phát triển các nguồn tài nguyên của khu vực này, nếu Nga không kiểm soát hoàn toàn được đường tiếp cận. Họ muốn nguồn của cải đó nằm yên trong lòng đất nếu như việc khai thác kéo theo việc đầu tư nước ngoài sẽ khiến cho nhiều tập đoàn kinh tế, chính trị ngoại quốc sẽ có mặt ở khu vực này. Thái độ độc quyền này có căn nguyên từ lịch sử. Để làm nó thay đổi, phải có thời gian và sức ép từ bên ngoài.

Sự bành trướng của Sa hoàng và vùng Kavkaz và Trung Á diễn ra trong khoảng 300 năm, nhưng kết thúc của nó lại là sự kiện hoàn toàn bất ngờ. Khi đế chế Ottoman suy yếu, đế chế Nga mở rộng xuống phía Nam dọc theo bờ biển Caspian đến Ba Tư. Họ chiếm lãnh địa Astrakhan năm 1556, và đến 1607 thì đến được Ba Tư. Họ chinh phục được Crimea vào khoảng những năm 1774 – 1784 sau đó chiếm vương quốc Gruzia năm 1801 và đè bẹp các bộ tộc nằm án ngữ dãy núi Caucasian vào nửa cuối của những năm 1800 rồi chiếm Armenia năm 1878.

Cuộc chinh phục Trung Á chưa đến mức là cuộc chinh phục một đế chế thù địch, mà chỉ là hành động khuất phục những lãnh địa phong kiến. Uzbekistan và Kazakhstan đã bị chiếm đóng qua hàng loạt cuộc viễn chinh quân sự trong các năm 1801 – 1881, còn Turkmenistan đã bị đánh bại và bị sáp nhập trong các chiến dịch kéo dài từ năm 1873 – 1886. Vào năm 1850, cuộc chinh phục phần lớn Trung Á về cơ bản đã hoàn thành, tuy từng thời gian vẫn nổ ra những cuộc kháng chiến của dân địa phương, ngay cả trong thời kỳ Xô viết.

Sự sụp đổ của Liên Xô là một sự đảo lộn lịch sử đầy kịch tính. Trong vài tuần của tháng 12 năm 1991, vùng đất châu Á của Nga đột ngột thu hẹp lại 20%, và dân số mà Nga kiểm soát ở châu Á đã giảm từ 75 triệu xuống 30 triệu. Hơn nữa, thêm 18 triệu cư dân ở vùng Kavkaz cũng tách khỏi Nga. Một điều đớn đau hơn cho giới chính trị Nga là họ nhận thức được rằng, tiềm năng kinh tế của những vùng này hiện nay đang là mục tiêu mà các nước nhòm ngó. Những nước này có phương tiện tài chính để đầu tư cũng như phát triển và khai thác các nguồn tài nguyên mà cho mãi đến gần đây vẫn chỉ riêng Nga được tiếp cận. Thế nhưng, Nga đứng trước một tình thế tiến thoái lưỡng nan: họ quá yếu về chính trị nên không thể giữ vùng này tách biệt hoàn toàn với bên ngoài và cũng quá nghèo về tài chính nên không tự mình độc quyền phát triển khu vực. Hơn nữa, các lãnh tụ Nga nhận thấy rằng, sự bùng nổ dân số đang diễn ra ở các quốc gia mới thành lập chứng tỏ rằng nếu họ không duy trì được tăng trưởng kinh tế thì cuối cùng sẽ tạo nên một tình huống dễ bùng nổ ở toàn bộ biên giới phía Nam nước Nga. Những gì Nga đã trải nghiệm ở Afghanistan và Chechnya có thể lặp lại trên toàn bộ đường biên giới trải dài từ Biển Đen đến Mông Cổ, đặc biệt trong điều kiện đang diễn ra sự hồi sinh dân tộc và Hồi giáo trong các dân tộc trước đây đã bị chinh phục.

Dù thế nào thì Nga cũng phải tìm cách điều chỉnh cho phù hợp với thực tế mới của thời kỳ hậu đế chế. Nga đang tìm cách kiềm chế sự hiện diện của Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, tránh việc các nước mới thành lập trở thành đối thủ chính của Nga. Nga cũng không tạo cơ hội để hình thành bất kỳ sự hợp tác khu vực Trung Á thực sự độc lập nào, và còn ra sức hạn chế ảnh hưởng địa chính trị của Mỹ ở các nước mới có chủ quyền.

Do vậy, ở đây không còn là vấn đề phục hồi đế chế – một việc làm quá tốn kém và sẽ bị chống đối quyết liệt – mà là việc xây dựng mạng quan hệ mới để rồi kiềm chế các nước mới thành lập và duy trì địa vị kinh tế và địa chính trị thống soái của Nga.

Công cụ mà Nga lựa chọn để hoàn thành nhiệm vụ đó chủ yếu vẫn là CIS (Cộng đồng các quốc gia độc lập), tuy ở một số nơi việc dùng lực lượng quân sự và đường lối ngoại giao một cách khéo léo nhằm “chia để trị” cũng nhằm phục vụ lợi ích của Nga. Lâu nay, Nga vẫn dùng ảnh hưởng đan xen của mình để tranh thủ các nước mới thành lập phục tùng tối đa quan điểm của họ về một “khối thịnh vượng chung” ngày càng nhất thể hóa; đồng thời cũng thúc ép xây dựng một chế độ kiểm soát chặt chẽ các đường biên giới bên ngoài của CIS và tạo ra sự hòa nhập quân sự chặt chẽ hơn, đồng thời tìm cách mở rộng hơn nữa mạng đường ống dẫn dầu hiện tại nhằm loại trừ các mạng đường ống mới không đi qua Nga. Những phân tích chiến lược của Nga đã chứng tỏ khu vực này như không gian địa chính trị đặc biệt của họ, mặc dù nó không còn là một bộ phận thống nhất của đế chế trước đây.

Có thể hiểu được ý đồ địa chính trị của Nga qua việc Nga luôn tìm cách đòi duy trì sự hiện diện quân sự của mình trên lãnh thổ các quốc gia mới. Lợi dụng phong trào Abkhabat, Nga đã giành được quyền đặt căn cứ trên đất Gruzia, hợp pháp hóa sự hiện diện quân sự của mình trên lãnh thổ Armenia bằng cách cho rằng, Armenia cần được ủng hộ trong cuộc chiến tranh chống Azerbaijan. Nga đã tiếp tục dùng áp lực chính trị và tài chính để đòi Kazakhstan chấp nhận các căn cứ của Nga. Ngoài ra, cuộc nội chiến ở Tajikistan khiến cho quân đội Liên Xô cũ có thể tiếp tục đóng ở đó.

Trong khi xác định chính sách của mình, Nga đã luôn xúc tiến công việc với hy vọng rằng, mạng lưới quan hệ với Trung Á sẽ dần dần làm mất đi thực chất của thứ chủ quyền mà từng nước mới thành lập vừa có được, và rồi họ sẽ lại đặt các nước này trong mối quan hệ phụ thuộc vào một CIS “nhất thể hóa”. Để đạt mục tiêu đó, Nga không khuyến khích các nước mới thành lập làm một số việc như xây dựng quân đội riêng, đẩy mạnh sử dụng những ngôn ngữ riêng, xây dựng quan hệ mật thiết với bên ngoài và phát triển các đường ống dẫn dầu mới trực tiếp dẫn tới các cửa ra trên vùng biển Arab và Địa Trung Hải. Nếu chính sách này thành công, Nga có thể chi phối quan hệ đối ngoại của họ và quyết định việc chia sẻ thu nhập.

Trong khi theo đuổi mục tiêu đó, các nhà phát ngôn Nga thường lấy Liên minh châu Âu làm ví dụ. Nhưng trong thực tế, chính sách của Nga đối với các nước Trung Á và Kavkaz rất giống với trường hợp cộng đồng các nước châu Phi nói tiếng Pháp, mà ở đây các đội quân và các khoản trợ cấp ngân sách của Pháp thường quyết định các vấn đề chính trị và chính sách của các nước châu Phi nói tiếng Pháp sau khi giành được độc lập. Tuy mục tiêu chung là phục hồi ảnh hưởng kinh tế, chính trị của Nga ở trong vùng tới mức đối đa với mục tiêu củng cố CIS, nhưng đối tượng địa chính trị cốt yếu mà Nga muốn đưa vào vị thế phụ thuộc là Azerbaijan và Kazakhstan. Để cuộc phản công chính trị có thể thành công, Nga không chỉ chặn đường tiếp cận vào khu vực, mà còn phải xuyên thủng tấm lá chắn địa lý của nó.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s