Nợ, thâm hụt ngân sách và đồng dollar – Phần IV


Một ví dụ về tính chất tiêu cực của chi tiêu Chính phủ là kế hoạch kích thích của Obama năm 2009. Những lợi ích kỳ vọng được đưa ra dựa trên các giả định sai lầm về cái gọi là số nhân Keynes (Keynesian multipliers). Trên thực tế, gói kích thích của Obana chủ yếu nhằm bổ sung biên chế ở tiểu bang và địa phương ở những công việc nghiệp đoàn trong công tác quản trị Chính phủ và trường học, phần nhiều trong số đó dư thừa, không hiệu quả và lãng phí của cải. Phần lớn số tiền còn lại được chi cho các công nghệ không hiệu quả, không thể phát triển lên như các tấm pin mặt trời, tuabin gió và xe điện. Khoản chi tiêu này chẳng những không tạo ra số nhân huyền thoại mà thậm chí còn không tạo ra tăng trưởng danh nghĩa tương ứng với chi tiêu danh nghĩa. Gói kích thích của Obama là một ví dụ về việc chi tiêu của Chính phủ không vượt qua được bài kiểm tra về lợi ích-chi phí.

Một sáng kiến của Chính phủ đáp ứng cả ba bài kiểm cho một khoản chi tiêu chấp nhận được là hệ thống đường cao tốc liên tiểu bang. Năm 1956, Tổng thống Eisenhower đã giành chiến thắng và Quốc hội phê duyệt hệ thống đường cao tốc liên bang với chi phí tương đương khảong 450 tỷ USD ngày nay. Những lợi ích mà hệ thống mang lại đã vượt xa 450 tỷ USD và tiếp tục tích lũy cho đến ngày nay. Rất khó để nói rằng khu vực tư nhân có thể thực hiện bất cứ dự án gì sánh bằng ma trận đường cao tốc này. Dù làm hết khả năng thì họ cũng chỉ xây dựng được những tuyến đường thu phí lộn xộn với nhiều khu vực bỏ không mà thôi. Chỉ Chính phủ mới có thể hoàn thành dự án này trên quy mô toàn quốc, và tỷ lệ nợ/GDP khi đó ổn định. Do đó, hệ thống đường cao tốc liên tiểu bang đã trải qua cuộc kiểm tra ba phần về chi tiêu của Chính phủ và chứng minh rằng đây là khoản nợ hợp lý.

Hiện nay, lãi suất dài hạn đang gần như thấp nhất mọi thời đại, và Hoa Kỳ có thể dễ dàng mượn 150 tỷ USD trong bảy năm tới với lãi suất 2,5%. Với khoản tiền đó, ví dụ, Chính phủ có thể xây dựng một đường ống dẫn khí tự nhiên mới gần hệ thống đường cao tốc liên tiểu bang và đặt các trạm nhiên liệu khí gas tự nhiên tại những cơ sở hiện có. Đường ống liên tiểu bang này có thể được kết nối với các đường ống dẫn khí gas tự nhiên lớn ở các giao điểm chính, và Chính phủ có thể yêu cầu rằng trong vòng mười năm, tất cả xe công suất lớn hoạt động liên tiểu bang phải chuyển từ dầu diesel sang khí gas tự nhiên.

Với đường ống này và mạng lưới trạm cung cấp nhiên liệu tại chỗ, các công ty tư nhân như Chevron, ExxonMobil và Ford sau đó sẽ tiếp quản công việc cải tiến và mở rộng lĩnh vực vận tải sử dụng nhiên liệu khí gas tự nhiên, một cuộc chuyển giao từ nhà nước sang tư nhân đã diễn ra với ARPANET. Việc chuyển sang các loại xe tải chạy bằng khí gas tự nhiên sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành ô tô chạy bằng khí gas tự nhiên. Cầu của khí gas tự nhiên sẽ thúc đẩy hoạt động thăm dò và sản xuất cùng với các công nghệ liên quan, những lĩnh vực mà vốn dĩ Hoa Kỳ đang vượt trội.

Giống như hệ thống đường cao tốc liên tiểu bảng, một hệ thống vận chuyển nhiên liệu khí gas tự nhiên liên tiểu bang sẽ mang lại kết quả thần kỳ. Động lực thúc đẩy nền kinh tế sẽ xuất hiện ngay lập tức – không phải từ số nhân “trong truyền thuyết”, mà từ những dự án chi tiêu sản xuất đơn giản. Hàng trăm nghìn việc làm sẽ được tạo ra trong quá trình xây dựng đường ống, và thêm nhiều việc làm hơn nữa khi chuyển đổi từ các loại phương tiện chạy bằng xăng sang phương tiện chạy bằng khí gas tự nhiên. Sự phụ thuộc vào dầu mỏ của nước ngoài sẽ chấm dứt, và thâm hụt ngân sách thương mại của Mỹ sẽ biến mất, thúc đẩy tăng trưởng. Lợi ích môi trường thì quá rõ ràng vì khí gas tự nhiên sách hơn diesel hoặc xanh.

Liệu viễn cảnh này sẽ xảy ra? Chưa chắc. Đảng Cộng hòa tập trung vào mục tiêu giảm nợ hơn là tăng trưởng. Còn về ý thức hệ, Đảng Dân chủ phản đối tất cả các nguồn năng lượng carbon, bao gồm cả khí gas tự nhiên. Các ngôi sao chính trị có vẻ như đồng lòng trong việc phản đối giải pháp khá mới mẻ và đột phá này Tuy nhiên, vẫn có trường hợp nợ Chính phủ để tài trợ cho chỉ tiêu có thể chấp nhận được nếu nó vượt qua cuộc kiểm tra ba bài về lợi ích tích cực, khu vực tư nhân không thể làm tốt bằng và các mức nợ bền vững. Hiện nay, nợ bền vững đang là vấn đề nan giải nhất.

Nợ bền vững

Một câu hỏi thiết yếu khác phải được đặt ra: Các mức nợ có bền vững không? Điều này lại dẫn đến các câu hỏi khác nữa: Làm sao các nhà hoạch định chính sách biết được rằng, liệu họ có đang thúc đẩy tỷ lệ nợ/GDP theo hướng mong muốn hay không? FED có vai trò gì trong việc duy trì thâm hụt ngân sách bền vững và nợ chấp nhận được.

Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang với nợ và thâm hụt ngân sách của quốc gia tiềm ẩn rất nhiều rủi ro nghiêm trọng đối với hợp đồng nợ dưới dạng tiền. Ở mức sơ khai nhất, FED thực sự có thể kiếm tiền từ bất kỳ khoản nợ nào mà Kho bạc phát hành, cho đến khi niềm tin vào đồng USD sụp đổ. Vấn đề chính sách là một trong những quy tắc hoặc những hạn chế tiềm ẩn đối với khả năng in tiền của FED. Vậy nguyên tắc chỉ đạo cho chính sách tiền tệ tùy ý là gì?

Trong lịch sử, bản vị vàng là một cách để hạn chế quyền tự quyết, nó xuất hiện khi chính sách tiền tệ đi chệch đường ray. Theo bản vị vàng cổ điển, dòng vàng ra đến các đối tác thương mại cho thấy chính sách tiền tệ quá lỏng và cần phải thắt chặt. Việc thắt chặt sẽ gây ra suy thoái, chi phí đơn vị lao động thấp hơn, cải thiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu, và một lần nữa khởi động dòng vào của vàng dưới dạng vật chất. Đây là quá trình tự điều chỉnh có cơ chế như một bộ chỉnh nhiệt tự động. Bản vị vàng cổ điển có những vấn đề riêng, nhưng nó vẫn tốt hơn hệ thống tốt nhì.

Trong những thập kỷ gần đây, Quy tắc Taylor (Taylor Rule) được đặt tên theo người tạo ra nó, nhà kinh tế học John B. Taylor- là cầm nang hướng dẫn thực tế cho chính sách tiền tệ của FED. Nó sử dụng các hàm để quy để dữ liệu từ các sự kiện gần thời điểm tính toán có thể đưa ra thông tin cho quyết định chính sách tiếp theo, tạo ra điều mà các nhà khoa học mạng gọi là kết quả phụ thuộc vào quy trình (path-dependent outcome). Quy tắc Taylor là một công cụ trong đợt rà soát trên diện rộng đối với bản vị USD vững mạnh được tạo ra bởi Paul Volcker và Ronald Reagan vào đầu những năm 1980. Từ cuối những năm 1980 sang những năm 1990, các Bộ trưởng Ngân khố Mỹ là James Baker và Robert Rubin của chính quyền Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ đều triển khai chính sách USD vững mạnh. Nếu đồng USD không tốt bằng vàng thì ít nhất nó vẫn duy trì sức mua được đo lường theo chỉ số giá, và ít nhất nó cũng đóng vai trò như một mỏ neo cho các quốc gia khác đang tìm kiếm một điểm tham chiếu tiền tệ.

Giờ đây, mọi điểm tham chiếu đã biến mất. Không có bản vị vàng, không có bản vị USD, và không có Quy tắc Taylor. Tất cả những gì còn lại là cái mà cây bút tài chính James Grant gọi là “Bản vị Tiến sĩ” (Ph.D Standard): việc triển khai chính sách được chủ trì bởi những học giả theo trường phái tân Keynes, và tân tiền tệ có bằng Tiến sĩ từ một vài trường ưu tú.

Người ta có thể tìm thấy vô số cuộc tranh cãi dưới nhiều hình thức khác nhau về các quy tắc mà các học giả hoạch định chính sách sử dụng để xác định thâm hụt ngân sách bền vững, giữa giới chuyên gia kinh tế học ưu tú, trong dư luận, các bài diễn văn, báo chí và dư luận. Trong một môi trường chi tiêu thâm hụt ngân sách, một trong những công cụ quan trọng nhất là khung bền vững của thâm hụt ngân sách cơ bản (primary deficit sustainability – PDS). Khung phân tích này có thể được thể hiện dưới dạng một phương trình hay một đồng nhất thức. Nó sẽ đo lường xem nợ và thâm hụt ngân sách quốc gia có bền vững không, hoặc ngược lại khi xu hướng vận động của thâm hụt ngân sách có thể gây mất lòng tin và đẩy chi phí đi vay tăng lên nhanh chóng. PDS là một cách để xác định liệu Mỹ có đang đi theo vết xe đổ của Hy Lạp hay không.

Khung này đã được sử dụng trong nhiều thập kỷ, nhưng cách thức sử dụng nó đã được nhà kinh tế học John Makin, một trong những bộ óc phân tích sắc sảo nhất về chính sách tiền tệ, tinh chỉnh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay. Năm 2012, sử dụng khung PDS làm chỉ dẫn, Makin đã “đánh vật” với mối quan hệ giữa nợ và thâm hụt ngân sách của Mỹ với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: James Rickards – Sự lụi tàn của đồng tiền – NXB TC 2017.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s