Những quan niệm sai lầm về Việt Nam


Theo bài viết trên trang www.theconversation.com ngày 30/03, cuốn sách “Những quan niệm sai lầm về Việt Nam” (Idées reҫues sur le Viet Nam, bản tiếng Pháp) nghiên cứu về xã hội, văn hóa cũng như lịch sử chính trị và kinh tế của Việt Nam, đồng thời giúp hiểu về nhà nước Việt Nam không giống với các nhà nước khác. Nội dung chính của bài viết như sau:

Nhiều ý kiến cho rằng khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam cùng với Trung Quốc, Triều Tiên, Lào và Cuba là những nước cộng sản cuối cùng.

Thứ nhất, không nên nhầm lẫn chủ nghĩa cộng sản với Đảng Cộng sản Việt Nam, thực chất là đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam, với gần 5,2 triệu đảng viên và năm 2019, tức khoảng 5% dân số. Về lý thuyết, chủ nghĩa cộng sản là một học thuyết xã hội dựa trên việc xóa bỏ tư hữu cá nhân và gộp mọi phương tiện sản xuất, tìm cách thay thế xã hội tư bản bằng xã hội dựa trên sự bình đẳng và cùng chí hướng. Trên thực tế, trong hệ thống chính trị một đảng của Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản với tư cách là học thuyết và hành vi chính trị đang trải qua một quá trình cải tổ phức tạp. Ngày nay, không còn tồn tại vấn đề về đấu tranh giai cấp mà thay vào đó, “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” chính thức thay thế kinh tế kế hoạch tập trung. Hơn nữa, chưa bao giờ tài sản tư nhân lại được coi trọng như hiện nay với vai trò là động lực thúc đẩy quá trình phát triển đất nước. Vậy di sản cộng sản để lại là gì và chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã bắt rễ sâu đến mức nào.

Đại hội VI năm 1986 thừa nhận sự cần thiết phải “cải cách”, vừa để khắc phục nền kinh tế kiệt quệ, vừa tìm lối thoát khỏi môi trường quốc tế thù địch cho Việt Nam mà nguyên nhân là do xung đột ở Campuchia. Sự lựa chọn của Việt Nam rất sáng suốt, ít nhất là trong thời kỳ đó. Mong muốn duy trì cán cân quyền lực, củng cố tính hợp pháp chính trị của chế độ song trùng với ưu tiên thúc đẩy phát triển kinh tế. Nhìn chung, một chế độ không thể hợp pháp về mặt chính trị nếu không có sức mạnh kinh tế, nhưng đồng thời, mọi nỗ lực thúc đẩy phát triển kinh tế cũng sẽ vô ích nếu không đi kèm với môi trường chính trị ổn định.

Vì vậy, kể từ sau Đại hội VI, ĐCSVN đã sẵn sàng không đặt nặng vấn đề kiểm soát đất nước mà chú trọng hơn việc sửa chữa những sai lầm trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây chính xác là những gì mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi đó tuyên bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới ở Davos hồi tháng 2/1990 rằng đổi mới không có nghĩa là rũ sạch quá khứ, cũng không có nghĩa là từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà là tìm cách hiểu rõ hơn về một chủ nghĩa xã hội nhân văn, hoàn thiện.

Trên thực tế, điều này có nghĩa là khuyến khích vận động chính trị trong chiến dịch phê bình và tự phê bình, nhưng không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên. Các loại cải cách vẫn được Đảng kiểm soát chặt chẽ. Mô hình “Đổi mới” của Việt Nam gần với thực tiễn của Trung Quốc hơn so với mô hình “perestroika” của Nga. Đối với ĐCSVN, những điểm cốt yếu vẫn còn nguyên vẹn: Chủ nghĩa Marx-Lenin, nguyên tắc tập trung dân chủ và hệ thống chính trị nhất nguyên. Cái tên “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” vẫn được giữ lại dù chấp nhận rằng chủ nghĩa xã hội kiểu Liên Xô đã hết thời và thuật ngữ chủ nghĩa xã hội cần phải được định nghĩa lại.

Như vậy, ở Việt Nam, thực hiện “Đổi mới” nhưng không kém phần trung thành với Đảng ngay cả khi chính bản thân Đảng cần phải đổi mới, hiện đại hóa và dân chủ hóa. Cần lưu ý rằng, năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khi đó đã đặt câu hỏi về chiến lược kinh tế “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”, theo ông là phi thực tế và có hại. Đã từng có tiền lệ, đó là Luận cương chính trị do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Trần Phú trình bày vào tháng 10/1930 tại Hong Kong. Những thay đổi trong học thuyết cũng được củng cố bởi kinh nghiệm của một nền kinh tế chiến tranh.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Kế hoạch lần thứ 4 năm 1977 đã hệ thống hóa những thay đổi này và hợp thức hóa các cơ sở khái niệm về sự phát triển xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với những luận điểm chính trị ban đầu, Đảng đã tự đưa ra định hướng kinh tế dựa trên mô hình tuyến tính “phát triển theo từng giai đoạn” của Liên Xô. Như nhà lịch sử dân tộc học Pierre-Richard Féray lập luận, trong số các mô hình, mô hình này đề xuất “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” và tiến lên mà không quá độ từ phương thức sản xuất “phong kiến” và “thuộc địa” sang phương thức sản xuất “xã hội chủ nghĩa”. Hơn nữa, ở châu Á hình thành tư tưởng chủ đạo của Mao Trạch Đông là: hệ tư tưởng đóng vai trò nòng cốt trong kiểm soát kinh tế. Tuy nhiên, chính cải cách từ năm 1986 của Việt Nam đã đảo ngược xu hướng này.

Tư duy quan hệ quốc tế của Việt Nam là dựa trên tầm nhìn về thế giới được định hình qua duy nhất lăng kính ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Lâu nay, tư duy này cho phép các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận được viện trợ quốc tế dưới hình thức hỗ trợ từ “các nước anh em”. Sự sụp đổ của Liên Xô vào cuối những năm 1980 cho thấy nhu cầu nhận được hỗ trợ từ bên ngoài, không chỉ với các đối tác mới mà còn là sự đánh giá lại các tiêu chí đã ban hành. Tuy nhiên, để đảm bảo không chỉ sự phát triển của Việt Nam mà còn cả sự bền vững của quyền lực mà họ đại diện, các cựu chiến binh trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc không từ bỏ sứ mệnh bảo vệ “an ninh và độc lập” của đất nước. Họ chỉ đơn giản là cố gắng tính đến bối cảnh mới để hưởng lợi từ “các điều kiện quốc tế thuận lợi”. Dù chủ nghĩa thực dụng là cần thiết, song một số nhà lãnh đạo dường như cũng tin rằng sự thất bại của chủ nghĩa xã hội không phải do sự khủng hoảng của học thuyết Marx-Lenin, mà là do những sai sót trong “nhận thức” và “ứng dụng”.

Chiến lược được đưa ra tại Đại hội X của Đảng (2006) với các điều khoản rõ ràng: tiếp tục và đẩy mạnh “đổi mới”, hoàn thiện “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và “hội nhập kinh tế quốc tế”. Chiến lược toàn cầu này được thực hiện thông qua hành động kép, cả bên trong và bên ngoài. Tuy nhiên, chiến lược này hơi mơ hồ và có vấn đề vì nó được xác định là điều kiện chính để tạo dựng ý thức đoàn kết dân tộc mạnh mẽ và một môi trường chính trị ổn định và an toàn.

Có 2 câu hỏi lớn đặt ra cho Đảng Cộng sản Việt Nam để duy trì chế độ độc đảng. Việt Nam nên quản lý như thế nào để đón đầu các cơ hội phát triển, song song với việc bảo vệ chủ quyền và bản sắc quốc gia? Làm thế nào để tận dụng những “điểm tích cực” của chủ nghĩa tư bản để theo đuổi công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa? Trong cuộc trò chuyện với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara vào ngày 9/11/1995 tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhắc lại quyết tâm của Việt Nam không để chủ quyền của mình bị suy giảm do toàn cầu hóa. Đại tướng không giấu giếm thực tế nguy hiểm mà Việt Nam phải đối mặt: “Ngày nay, Việt Nam đang tiến hành chính sách đối ngoại đa phương. Chúng tôi có bản sắc văn hóa và học thuyết riêng, song trình độ công nghệ và quản lý kinh tế của chúng tôi vẫn còn nhiều điều phải học hỏi. Chúng tôi muốn hưởng lợi từ kiến thức và kinh nghiệm quý báu của tất cả các nước mà không làm ảnh hưởng đến văn hóa, tinh thần độc lập tự chủ và những nét tính cách Việt Nam của chúng tôi”.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc sử dụng những từ ngữ rõ ràng hơn để miêu tả về những mối đe dọa đối với Việt Nam: “Khi đối thoại văn hóa với phương Tây, chúng ta không ở vị thế bình đẳng vì trình độ phát triển kinh tế của chúng ta. Điều này đồng nghĩa với việc giữ gìn bản sắc dân tộc không phải là điều dễ dàng”.

Dù chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu được khẳng định nhiều lần trong các văn kiện quan trọng của Đảng, một kiểu chủ nghĩa thực dụng kinh tế đã được đề xuất. Về mặt tu từ, đây là cách khiến hệ tư tưởng hiện tại trở nên mạch lạc hơn, bằng cách “tiêm” một liều thuốc chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ. Quả thật, trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài, chủ nghĩa dân tộc của Việt Nam hiện đã tìm được động lực và nguồn cảm hứng mới. “Dân giàu, nước mạnh” là khẩu hiệu lặp lại “công thức” nổi tiếng “Làm giàu để làm giàu cho đất nước” được Đặng Tiểu Bình đề xuất ở Bắc Kinh vào tháng 01/1992. “Dân giàu, nước mạnh” đã trở thành khẩu hiệu thể hiện tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam ngày nay.

Bước ngoặt mang tính biểu tượng thể hiện trong các quyết định được đưa ra tại Đại hội X của Đảng, sau cuộc tranh luận sôi nổi suốt nhiều năm về khả năng và quyền lợi của mọi đảng viên, với tư cách là một công dân, được “thịnh vượng”. Đại hội nhất trí cho rằng sự thịnh vượng của cá nhân sẽ đóng góp vào sự thịnh vượng của tập thể, có nghĩa là “chủ nghĩa tư bản”. Trong mọi trường hợp, các đảng viên hiện nay có thể “có hoạt động kinh doanh tư nhân”, nhưng vẫn giữ được “phẩm chất của người đảng viên và bản chất của Đảng”.

Ngày nay, khái niệm toàn diện về an ninh tập trung vào trục xoay kinh tế này, sự đoàn kết dân tộc, ý thức tập thể của quốc gia, được hỗ trợ bởi vai trò củng cố nhà nước và Đảng, vẫn là phương tiện chủ chốt để ngăn chặn cái mà giới tinh hoa chính trị  gọi là “các thế lực thù địch” gây nguy hiểm cho chủ nghĩa xã hội. Tháng 2/2007, trích lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã không ngần ngại lên án chủ nghĩa cá nhân gây mất đoàn kết dân tộc, thực sự là “có hại cho lợi ích của cách mạng và nhân dân”.

Theo nhà trí thức Hữu Ngọc, ở Việt Nam, tinh thần cộng đồng, trái với chủ nghĩa cá nhân của phương Tây, được “hiểu theo nghĩa là tinh thần dânt ộc, tình yêu quê hương, đất nước”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh: “Đoàn kết, tinh thần đại đoàn kết, đặc trưng của văn hóa Việt Nam, đã đem lại cho dân tộc sức sống mãnh liệt”.

Tuy nhiên, ở đất nước mà thành tựu kinh tế được quy cho cái gọi là các giá trị Á Đông – ví dụ như tính siêng năng, ý thức cộng đồng, ổn định gia đình,… – một số giá trị phương Tây được nhìn nhận là toàn cầu và cần thiết. Tại hội thảo quốc tế về “Các giá trị Á Đông và sự phát triển của Việt Nam dưới góc nhìn so sánh”, được tổ chức vào tháng 3/1999 tại Hà Nội, cách tiếp cận kết hợp của Việt Nam được đặc biệt khen ngợi vì khả năng duy trì sự ổn định nhất định trong bối cảnh “kinh tế xã hội quốc tế và quốc gia biến động”. Một số quan điểm cho rằng, điều này không chỉ là do “việc duy trì một phần các giá trị truyền thống”, mà còn do sự “chấp nhận một số giá trị phương Tây như quyền cá nhân, dân chủ, bình đẳng giới…”.

Nguồn: www.theconversation.com

TKNB – 01/04/2021

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s