Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần VI


Sự suy giảm kiểm soát trực tiếp của nhà quảng cáo đối với truyền hình còn nhỏ hơn so với sự mất đi kiểm soát của giới kinh doanh đối với chương trình nghị sự chính trị. Những năm 1960 đã tạo ra một môi trường cho hàng loạt những vấn đề và định chế nhìn giới kinh doanh bằng ánh mắt lạ lùng trong những năm 1970. Bắt đầu từ những năm 1960, Quốc hội, đặc biệt là Thượng viện, đã phải chịu ảnh hưởng của những người Dân chủ miền Bắc, những người đã thách thức một cách thành công những gì thuộc lĩnh vực của những người Dân chủ bảo thủ miền Nam. Điều này đã đẩy nhanh việc thông qua chương trình lập pháp tự do trong giai đoạn cuối những năm 1960 và 1970, bao gồm việc thành lập các cơ quan chính phủ mới để kiểm soát hoạt động kinh doanh – Cơ quan bảo vệ môi trường (năm 1970), Ủy ban cơ hội tuyển dụng công bằng (1965). Ủy ban xem xét an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (1970) và Ủy ban an toàn sản phẩm cho người tiêu dùng (1973), đấy là chưa nói đến một Ủy ban thương mại liên bang mới và có sức chiến đấu. Báo giới, luôn được dùng cho việc ủng hộ chính phủ, đã ủng hộ các cơ quan mới này và do vậy chiếu ánh sáng lên giới kinh doanh với thái độ chỉ trích và theo dõi chặt chẽ hơn so với trước đây.

Sự ác cảm của giới kinh doanh đối với truyền thông cũng là một lời đáp lại cho thành công của Ralph Nader, người đã tạo ra sự đối lập mới của công chúng đối với giới kinh doanh. Nader sử dụng một số phương pháp truyền thông cũ kỹ trong bước đường thăng tiến trở thành nhân vật nổi bật. Đầu tiên ông công bố một bài viết về sự an toàn của ô tô trên tờ The Nation trong năm 1959. Cuốn Không an toàn ở bất kỳ tốc độ nào của ông đã thúc đẩy quá trình lập pháp năm 1966, biến chính quyền liên bang thành người bảo lãnh cho an toàn ô tô và đường cao tốc, và dẫn đến việc “gợi nhớ lại” các ô tô với những khuyết tật về độ an toàn. Trong những năm tiếp theo, Nader đã tạo ra một loạt vận động hành lang vì lợi ích của công chúng và thành lập các tổ chức nghiên cứu ở Washington và khắp đất nước. Chính quyền liên bang, bằng việc thành lập những cơ quan mới để bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an toàn cho người tiêu dùng, cùng với các ngành tư hữu, bằng việc tham gia vào xử lý tồi những vụ việc bên bờ thảm họa (Đảo Ba dặm) và những thảm họa nghiêm trọng (Bhopal), đã thực thi phần còn lại. Quốc hội, mặc dù vẫn là trung tâm cho những hoạt động lập pháp ở Washington, ngày càng trở thành “người tiêu thụ” những sáng kiến chính sách không chỉ từ Nhà Trắng mà từ cả một loạt dài những kẻ vận động hành lang. Mặc dù các nhóm công dân và các nhóm lợi ích công chúng vẫn chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộ nỗ lực vận động hành lang ở Washington, nhưng chúng đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn 1960 – 1980.

Và như vậy truyền thông, tiếp theo Washington, đã chuyển sang cánh tả trong những năm 1970; một lần nữa, theo chân Washington và việc thâu tóm quyền lực của chính quyền Reagan, họ chuyển sang cánh hữu trong những năm 1980. Quá nhiều nhà phê bình truyền thông, thuộc cánh tả hay cánh hữu, đã cường điệu tính độc lập của truyền thông và giảm nhẹ sức mạnh của tập quán truyền thông, xuất hiện lặp đi lặp lại trong những nghiên cứu của Edward Epstein, Herbert Gans, Todd Gitlin, Daniel Hallin, Stephen Hess, Michael Robinson, Leon Sigal, Gaye Tuchman và những người khác. Những gì thay đổi từ những năm 1960 đến những năm 1970 rồi những năm 1980 là môi trường chính trị mang lại xu hướng lập pháp phân biệt cho những nguồn khác nhau. Truyền thông, dường như đóng vai trò trung gian giữa hàng loạt những âm điệu khác nhau, có ít tài nguyên trí tuệ cho phán xét độc lập và không có hậu thuẫn chính trị cho bút chiến độc lập.

 Những năm 1960 đã thay đổi văn hóa bên trong của các nhà báo hoạt động. Các bản tin truyền hình về vận động tranh cử lại tiêu cực hơn những gì chúng đã từng dành cho các ứng viên Cộng hòa cũng như Dân chủ trước đây. Các phóng viên, giống như bệnh nhân tìm sự tư vấn về thuốc men, lại có khả năng tìm những quan điểm nhiều chiều hơn so với trước đây. Những định chế rất thành thạo trong việc đưa ra quan điểm nhiều chiều đã phát triển nhanh chóng và chung quanh Washington. Giờ đây có một “kỹ nghệ phong trào xã hội” (social movement industry), như Mayer Zald và John McCarthy viết, với nhiều nguồn lực hơn bao giờ hết. Trên truyền thông quốc gia, kết quả là một bức tranh thế giới không nghiêng về cánh tả cũng không nghiêng về cánh hữu nhưng lại lộn xộn và đa khuynh hướng hơn (và lạc hậu hơn, nếu quan điểm của bạn trùng với thuật ngữ này).

Sự tồn tại – và phát triển – của in ấn

Vẫn cần phải nói đôi chút về phương tiện không thể bỏ qua mà bài này xuất hiện trong đó – sách. Có một thực tế rất quan trọng trong việc điển hình hóa những thay đổi văn hóa đương đại, đó là thực tế vào năm 1960 chỉ có 41% số người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) tốt nghiệp trung học trong khi năm 1988 là 76%. Năm 1960, 7,7% số người trưởng thành đã học ít nhất 4 năm ở trường cao đẳng: đến năm 1988 con số này tăng vọt lên 20,3%. Mặc dù phần lớn giáo dục cao đẳng là về kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ nhưng nhiều tổ chức nhấn mạnh “giáo dục tự do” và các nhóm “giáo dục tự do” tồn tại ngay ở những trường chuyên về kỹ thuật, tạo ra cơ hội cho điều tra phê bình mà các trường trung học hiếm khi mang lại. Tỷ lệ biết chữ không vì thế mà giảm đi. Trên thực tế, ngày nay sách được xuất bản bởi nhiều nhà xuất bản hơn và được phân phối qua nhiều hiệu sách hơn bao giờ hết. Bất chấp nhiều vụ sáp nhập và mua lại trong ngành xuất bản, tổng số nhà xuất bản vẫn tăng lên – đến mức không gì thuộc về “chế bản văn phòng” mà máy tính cá nhân không thể làm được. Trong năm 1960, khoảng 15.000 cuốn sách và ấn phẩm mới được xuất bản, năm 1970 là 36000, năm 1980 là 42.000 và năm 1990 là 47.000. Năm 1963 có 993 cơ sở xuất bản, con số này tăng lên 2264 trong năm 1987.

Tuy vậy, sách đến với công chúng qua một mạng lưới phân phối ngày càng tập trung. Năm 1980, B. Dalton có hơn 500 hiệu sách và khi Barnes và Noble mua lại năm 1987 thì con số này đã tăng lên gần 1000; Waldenbooks có hơn 700 hiệu sách năm 1980, 1100 năm 1994. Năm dây chuyền của hiệu sách lớn nhất chiếm 34% tổng số sách bán ra và B. Dalton và Waldenboos chiếm được ảnh hưởng cực kỳ to lớn đến toàn bộ ngành sách.

Sách, với tư cách là một hàng hóa, ngày càng chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ về nhu cầu giải trí – không chỉ từ truyền hình mà cả các dịch vụ giải trí gia đình. Số cửa hàng bán video cao hơn hai lần so với số hiệu sách. Nhưng việc sử dụng chữ in ấn vẫn tăng lên. Các báo cáo cho rằng thời đại chúng ta là thời đại của truyền hình đã cường điệu quá mức.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s