Văn hóa tin tức quốc gia và công dân có thông tin – Phần cuối


Kết luận

Rất dễ chỉ ra rằng, với lượng thông tin ồ ạt hiện nay và những quảng cáo cường điệu chứa đầy những thông tin, chúng ta ngày càng dễ bị mờ mắt, chúng ta ngày càng đầu hàng trước những sức mạnh phê bình của chính chúng ta hoặc không bao giờ nghĩ đến nó, coi “tất cả các nhà chính trị đều là những kẻ lừa đảo” hoặc coi “tất cả mọi thứ đều gây ra ung thư”. Nhưng, bất chấp tất cả, mọi người vẫn thấy cuộc sống của họ có ý nghĩa, dù vẫn cảm thấy cáu kỉnh, buồn chán, tức giận và bị thao túng. Sẽ là sai lầm nếu chúng ta chỉ nhận xét thị hiếu mọi người qua cách tiêu dùng của họ. Có một xu hướng tin rằng nếu các đoạn tin ngắn rút ngắn từ một phút xuống 10 giây (và thực tế điều này đã diễn ra được 20 năm), thì khả năng chú ý liên tục của mọi người cũng giảm đi tương ứng. Nhưng điều này không đồng nghĩa với mức độ căng thẳng trong công việc kinh doanh, sự phát triển của kiểu gia đình với hai nguồn thu nhập chính, sức sống của những phong trào ủng hộ và chống đối phá thai, sự quay lại của phục hưng tôn giáo, và thậm chí cả xu hướng tăng điểm SAT.

Vậy thì sự bão hòa truyền thông có nghĩa là gì? Hãy thử dùng phép suy luận tương tự qua đồ ăn nhanh. Hầu hết những người tôi biết đều ăn món Big Macs nhiều hơn cá hồi trong bữa tối ở những nhà hàng sang trọng. McDonald là món ăn nhanh hơn, rẻ hơn, dễ biết trước hơn, để dễ dồn sức vào những phần còn lại của cuộc sống hơn. Điều này không có nghĩa là mọi người thích Big Macs hơn cá hồi. Theo phép lập thừa kinh tế học thì nó cũng không có nghĩa là mọi người “đánh giá” cao Big Macs. Nó cũng không có nghĩa là khẩu vị của mọi người bị nhàm chán. Nó có nghĩa là mọi người đã có những quyết định cho sở thích của mình, và như vậy việc ăn một bữa ăn ngon được lựa chọn sau việc giảm bớt cơn đói. Tôi không cho rằng thành công ngày càng tăng của tờ USD Today nhất thiết phải chỉ ra một sự khác biệt nào đấy; nó không có nghĩa là mọi người coi McPaper là “món ăn” “tốt nhất” hay “món ăn” duy nhất mà họ tìm kiếm; đơn giản chỉ là họ tìm thấy ở nó những gì họ cần ngay ở một tờ báo, vào một thời điểm nào đó với những hạn chế trong cuộc sống thường nhật. Với thời gian và thế giới chung quanh vừa đủ, hay với một vấn đề quan trọng ở địa phương, hay với một cuộc chạy đua vào chiếc ghế tổng thống nóng bỏng, thì lựa chọn của mọi người có thể khác nhau. Lựa chọn của mọi người, trong bất kỳ trường hợp nào, ở bất kỳ thời điểm nào, đều chứa đựng một tập hợp những nguồn thông tin khác nhau.

Nếu chúng ta không thể suy ra thị hiếu cá nhân từ lựa chọn của mọi người thì liệu chúng ta có thể nhìn nhận những gì liên quan đến những giới hạn kho tàng văn hóa hay định hình những cơ hội nhận thức hay không? Có thể, nhưng hãy cẩn thận. Sự phát triển của McDonald buộc các nhà hàng khác phải thay đổi món ăn hoặc đóng cửa. Sự hình thành của McDonald đã giúp các công dân, đặc biệt là giới trẻ, trong vấn đề đồ ăn nào là ngon, thế nào là đồ ăn, thế nào là một bữa ăn. Đây có thể không phải là “người hướng dẫn” mà chúng ta ưa thích nhất cho con cái chúng ta. Đồng thời, người Mỹ ngày nay ăn ít thịt bò hơn trước kia khi McDonald là một tia sáng yếu ớt trong con mắt của Ray Krock: McDonald không phải là “người hướng dẫn” duy nhất trong văn hóa. Bản thân McDonald cũng không được hướng dẫn bởi sự chuyển biến xã hội và văn hóa rộng lớn hơn; hãy nhìn vào sự sẵn có cúa salad và lời tuyên bố rằng món thịt rán sẽ không có mỡ động vật nữa. Một lần nữa, việc đánh giá thói quen hay cơ chế sinh hoạt của người Mỹ từ những yếu tố hiện hữu nhất trong tiêu dùng đại chúng phải được tiến hành thật cẩn thận.

Công dân Mỹ ngày nay có nhiều thông tin hơn so với cách đây một thế hệ. Nhiều thông tin đáng tin cậy hơn. Nhiều nguồn thông tin quốc gia hơn. Nhiều mâu thuẫn được kiểm chứng về thông tin và dư luận hơn. Nhiều thông tin hơn đến với người dân nói chung qua truyền thông chứ không qua chuyên gia trung gian. Nếu tạp chí y học New England Journal of Medecine xuất bản những nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của người dân nói chung thì những nghiên cứu đó không được sàng lọc qua những thầy thuốc gia đình mà đến thẳng báo chí, tạp chí, các phóng viên khoa học phát thanh truyền hình và sau đó nhanh chóng được đăng trên các tạp chí phụ nữ và người tiêu dùng. Chí ít đối với những người trung lưu đọc các tạp chí phụ nữ hay bài viết của Jane Brody trên New York Times và được công nhận bởi trình độ giáo dục và địa vị xã hội để chỉ dẫn bạn bè, gia đình và thuật lại cho bác sĩ của họ, thì loại thông tin này là có ích và được sử dụng.

Từ vấn đề này, tôi không kết luận rằng chúng ta có thông tin cần có vào thời điểm thích hợp hay thông tin sẵn có được phân phối công bằng hoặc công dân có thông tin được thông tin đầy đủ. Thư viện thông tin của chúng ta ngày càng làm hoa mắt và chỉ đem lại một ảo tưởng về tri thức và triển vọng nhầm lẫn về năng lực công dân nếu trật tự xã hội không trang bị cho mọi người đủ để sử dụng thông tin, nếu những người trẻ tuổi hay hoài nghi, nếu người nghèo không có hy vọng, nếu tầng lớp trung lưu quá ích kỷ, và nếu sự cướp phá đời sống xã hội vẫn đang làm nản lòng mọi người và làm cho những theo đuổi cá nhân được tưởng thưởng hơn lợi ích tập thể.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s