Bàn về các vấn đề xã hội – Phần II


Smith cho rằng con người đều vì lợi ích riêng, ai nấy đều có lòng vì mình, nhưng ông cho rằng loại tâm địa tự tư tự lợi này không gây tổn hại gì cho xã hội, hơn nữa còn vô cùng có ích nữa. Bởi vì con người đều có lòng tham lợi nên có thể khai thách lợi ích của vũ trụ tự nhiên, xã hội văn minh vì thế mà tiến bộ, tuy nói con người có lòng tự tư tự lợi, khó tránh khỏi làm hại tới người khác, nhưng đối phương cũng có lòng tự tư tự lợi, thế tất đối kháng lẫn nhau, kết quả tất sẽ là đôi bên cùng có lợi, mỗi người đi theo một con đường riêng của mình. Toàn bộ học thuyết của ông đều là chủ trương này, ông không ngờ rằng sau này các nhà tư bản lộng hành đến cực điểm, còn người lao động không hề có khả năng chống lại, phải chịu vô số đau khổ. Học thuyết của ông đã có kết quả như vậy.

Những người khởi xướng chủ nghĩa xã hội như Simon đều là bậc quân tử trách trời thương dân, mắt thấy những đau khổ mà người công nhân phải chịu đựng, đề xướng thuyết cộng sản. Họ đều nói: “Bản tính của con người là lương thiện, Thượng đế tạo ra loài người, không hề trao cho loài người tội ác và đau khổ, tội ác và đau khổ của loài người đều là do xã hội độc ác tạo thành”. Chúng ta đọc được nghị luận này của ông là biết được học thuyết của chủ nghãi cộng sản lấy tính thiện làm xuất phát điểm.

Mạnh Tử chủ trương tính thiện, chứng cứ mà ông đưa ra tổng cộng có hai thứ: (1) “Đứa trẻ khi còn nhỏ, không ai không biết yêu thương cha mẹ mình”; (2) “Chợt thấy đứa bé bị ngã xuống giếng đều có lòng kinh hoàng trắc ẩn”. Hai chứng cứ này của ông đều có khe hở. Ông nói “đứa trẻ khi còn nhỏ, không ai không biết yêu thương cha mẹ mình”. Câu này không hề sai nhưng chúng ta có thể gọi bất kỳ một người mẹ nào, bảo bà bế đứa con ruột của mình ra làm thí nghiệm. Trong tay người mẹ cầm một miếng bánh, đứa trẻ trông thấy liền đưa tay giật lấy, nếu người mẹ không đưa cho nó mà đút vào miệng mình, nó lập tức sẽ đưa tay vào miệng người mẹ để lấy miếng bánh ra, bỏ vào trong miệng mình. Xin hỏi Mạnh Tử hiện tượng này có phải là yêu thương cha mẹ không? Mạnh Tử lại nói: “Nay người chợt thấy đứa bé bị ngã xuống giếng đều có lòng kinh hoàng trắc ẩn”. Cách nói này tôi cũng thừa nhận, nhưng tôi muốn hỏi Mạnh Tử trong câu nói này rõ ràng là bốn chữ “kinh hoàng trắc ẩn”, vì sao đoạn bên dưới lại nói: “Lòng trắc ẩn là đầu mối của lòng nhân”, “không có lòng trắc ẩn thì không phải là người”. Bỗng nhiên lại bỏ đi hai chữ kinh hoàng, xin hỏi là đạo lý gì? Lại là chứng cứ mà Mạnh Tử đã nói, là giữa đứa trẻ và cái giếng phát sinh quan hệ sống chết tồn vong, lúc đó tôi đứng ở bên cạnh, tách biệt bên ngoài lợi hại. Xin hỏi Mạnh Tử, giả sử tôi và đứa bé cùng bị rơi xuống giếng, lòng ngài lúc đó sẽ ở trạng thái gì? Lúc đó ý niệm đầu tiên phát sinh rốt cuộc là kinh hoàng hay trắc ẩn? Không cần phải nói, vào thời khắc đó chỉ có kinh hoàng chứ không có trắc ẩn, trắc ẩn là nhân từ, kinh hoàng chắc chắc không thể nói là nhân từ, kinh hoàng có nghĩa là kinh sợ, được sinh ra từ lòng sợ chết của chính bản thân mình. Con người chúng ta có lòng sợ chết xuất phát từ bản tính tự nhiên, chợt thấy đứa trẻ sắp bị rơi xuống giếng, trong lúc hoảng hốt có một loại hiện tượng cái chết bày ra trước mắt tôi. Tôi thấy vậy bất giác giật mình kinh ngạc, tim đập liên hồi, đây tức là kinh hoàng. Tôi vừa nhìn qua đã biết được là đứa trẻ sắp chết chứ không phải tôi sắp chết, lập tức biến bản thân tôi thành đứa trẻ, biến kinh hoàng thành trắc ẩn. Đứa trẻ là hình ảnh phóng to của bản thân tôi, trắc ẩn là hình ảnh phóng to của kinh hoàng, trước có tôi rồi sau mới có đứa trẻ, trước có kinh hoàng rồi sau mới có trắc ẩn, thứ tự trong tự nhiên vốn là như vậy. Kinh hoàng là lòng có lợi cho mình, trắc ẩn là lòng có lợi cho người, lòng có lợi cho người là do lòng có lợi cho mình mà phóng to ra mà thành. Người chủ trương thuyết tính thiện thường dạy bảo người khác bỏ đi lòng có lợi cho mình, chỉ giữ ại lòng có lợi cho người, da mà không giữ lại thì lông biết bám vào đâu? Đã không có tôi thì làm sao còn có đứa trẻ? Đã không có kinh hoàng thì làm sao có trắc ẩn được?

Nghiên cứu tâm lý học tự nhiên thấy lời Phật nói là thâm thúy nhất, nhưng lời Phật nói là phép xuất thế, giờ chúng ta nghiên cứu là phép của thế gian. Phật gia nói không có người không có ta, bài này nghiên cứu mối quan hệ giữa người và ta, mục đích vốn khác nhau nên không thể bàn tới Phật lý được. Mạnh Tử nói kinh hoàng trắc ẩn, chúng ta bắt đầu nghiên cứu từ kinh hoàng trắc ẩn là được. Kinh hoàng là lòng có lợi cho mình, trắc ẩn là lòng có lợi cho người. Tuân Tử biết con người có lòng có lợi cho mình, do vậy đề xướng thuyết tính ác, Mạnh Tử biết con người có lòng có lợi cho người, do vậy đề xuất thuyết tính thiện. Chúng ta có thể nói: Học thuyết của Tuân Tử lấy kinh hoàng làm xuất phát điểm; học thuyết của Mạnh Tử lấy trắc ẩn làm xuất phát điểm. “Truyện tập lục” của Vương Dương Minh (Vương Thủ Nhân) có nói: “Mạnh Tử bắt đầu nói từ ngọn nguồn, Tuân Tử bắt đầu nói từ sai sót”. Những điều mà Tuân Tử nói có phải là sai sót hay không, chúng ta không bàn luận kỹ ở đây. Phía trên kinh hoàng có còn ngọn nguồn hay không, chúng ta cũng không cần phải tìm cho kỹ. Duy chỉ có lòng trắc ẩn mà Mạnh Tử nói tới thì quả thật không phải là ngọn nguồn. Kinh hoàng là ngọn nguồn của trắc ẩn, trắc ẩn là dòng chảy của kinh hoàng, hai khái niệm “nguồn gốc và sự phát triển” mà Vương Dương Minh đưara khó tránh khỏi đã bị đảo ngược rồi.

Học thuyết của Mạnh Tử tuy không lấy kinh hoàng làm xuất phát điểm nhưng ông đã nhìn rõ được hai chữ “kinh hoàng”. Ông biết được trắc ẩn được mở rộng ra từ kinh hoàng, do đó dạy người ta tiếp tục mở rộng ra thêm nữa để lấp đầy bốn biển, cách nói của ông chưa chắc đã không viên mãn. Học thuyết của ông hoàn toàn là suy từ ta ra người, do đó ông nói với Tề Tuyên vương rằng: “Đại vương thích tiền của cũng giống với dân chúng, có gì khác đại vương chứ? Đại vương thích sắc đẹp cũng giống với dân chúng, có gì khác đại vương chứ? Lại ta: “Ta kính trọng cha mẹ ta cũng như kính trọng các cha mẹ của mọi người; ta yêu thương con em ta cũng như yêu thương con em của mọi người”. Lại nói: “Nếu ai cũng thương yêu họ hàng, kính trọng người trên thì thiên hạ thái bình”. Học thuyết của Mạnh Tử chỗ nào cũng đều nhắc đến chữ “mình”, để lại địa vị cho chữ “mình”, vốn là không có sai sót gì, tiếc là trong sách của ông lại thiếu một câu “trắc ẩn là do kinh hoàng mở rộng mà thành”. Truyền đến Tống Nho liền nhầm tưởng là bản tính tự nhiên của con người, vừa mới phát động ra đã là trắc ẩn rồi, lấy hai chữ “trắc ẩn” làm ngọn nguồn, xóa mất hai chữ “kinh hoàng”. Các nhà Nho thời Nguyên, Minh, Thanh kế thừa học thuyết của họ, cho nên một bộ học án Tống Nguyên Minh Thanh đều là tận lực phát huy hai chữ “trắc ẩn”,bỏ qua hai chữ “kinh hoàng” không đoái hoài gì tới, khó tránh khỏi làm tổn thương đến chữ “mình”, do vậy một loạt sai sót mới xảy ra.

Tống Nho sáng tạo ra thuyết “bỏ đi nhân dục, giữ lại thiên lý”, trong thiên lý ẩn chứa hai chữ “trắc ẩn”, giữ nó lại đương nhiên là rất tốt. Duy chỉ có hai chữ “nhân dục” thì nói không rõ ràng, có lúc cũng coi kinh hoàng là “nhân dục”, muốn nghĩ cách để loại bỏ nó đi, trở thành “bỏ đi kinh hoàng, giữ lại trắc ẩn”, vậy thì không còn là sai lầm nhỏ nữa rồi. Trình Tử nói: “Đàn bà chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết mới là chuyện lớn”. Ông không biết đến sự đáng sợ của cái chết, đây có thể coi như là đã bỏ đi kinh hoàng. Trình Tứ là người chủ trương bỏ đi nhân dục, ông phát biểu điều nghị luận này, nguồn gốc căn bệnh của nó nằm ở chỗ đã xóa bỏ đi chữ “mình”. Đây là do ông đọc sách của Mạnh Tử, thiếu sự trải nghiệm đối với bốn chữ “kinh hoàng trắc ẩn” mà gây ra. Trương Ngụy công thất bại ở Phù Li, người chết không đếm xuể, nhưng đến đêm ông ta vẫn ngủ ngáy t như sấm, con ông ta là Nam Hiên còn khen cha mình rất tinh thông tâm học, đây cũng coi như là đã bỏ đi kinh hoàng rồi. Kinh hoàng là nguồn gốc của trắc ẩn, bỏ đi kinh hoàng rồi thì không có trắc ẩn nữa, sẽ trở nên tàn nhẫn, đây là chân lý bất di bất dịch. Nhiều kẻ ác độc giết người không chớp mắt, đến khi bị đưa ra pháp trường vẫn nói cười như thường, chính là minh chứng.

Theo nghiên cứu bên trên có thể biết được kinh hoàng và trắc ẩn cùng là một vật, thiên lý và nhân dục cũng là cùng một vật, tương tự như ngọn lửa dùng để thổi cơm cũng giống với ngọn lửa đốt cháy nhà cửa. Tống Nho không hiểu chân lý này, lại coi thiên lý nhân dục là hai vật khác nhau, tạo ra thuyết “bỏ đi nhân dục”, sai lầm của họ dẫn tới chuyện thương thiên hại lý.

Vương Dương Minh nói: “Lúc nhàn rỗi, lần lượt truy tìm gốc gác của những thứ tư lợi như ham tiền ham sắc ham danh, nhất định phải loại bỏ nguồn gốc căn bệnh, vĩnh viễn không mắc lại, mới bắt đầu thấy vui vẻ. Giống như con mèo bắt chuột, mắt thì nhìn, tai thì nghe, mới có ý niệm nảy sinh, lập tức vồ lấy, không thể thả cho chạy thoát, mới thật sự gắng sức, mới có thể quét sạch”. Cách nói này giống như: Trông thấy ngọn lửa có thể đốt cháy căn nhà liền bảo người khác sau này hễ trong thấy một đốm lửa nào là lập tức dập tắt, đoạn tuyệt với lửa, mới bắt đầu thấy vui vẻ. Truyện tập lục còn viết: “Một người học trò hỏi: Muốn lúc ngồi yên tĩnh đem hết nguồn gốc của những thứ ham tiền ham sắc ham danh tìm ra rồi quét sạch, e rằng là việc khoét thịt để chưa vết thương hay sao? Tiên sinh nghiêm sắc mặt đáp: Đây là phương thuốc cứu người của ta, thật sự có thể loại bỏ nguồn gốc căn bệnh của con người. Người có bản lĩnh lớn, sau mười mấy năm nữa vẫn còn dùng tới. Nếu ngươi không dùng thì cứ để đó, chớ có làm hỏng phương pháp của ta”. Chúng ta thử nghĩ xem: Vương Dương Minh là một người rất biết kiềm chế, thường ngày ông giảng bài, bất kỳ người nào nếu có gì nghi vấn, ông đều tận tình trả lời, chưa hề tức giận. Vì sao học trò hỏi câu này, ông lại tức giận? Vì sao không chỉ rõ sai lầm cho người học trò kia? Vì sao lại thừa nhận người nói câu này vẫn biết chút ý nghĩa? Bởi vì Dương Minh có thể kết hợp hai thứ hiểu biết và hành động làm một, có thể kết hợp hai thứ minh đức và thân dân làm một, có thểnhìn nhận năm thứ cách vật, chí tri, thành ý, chính tâm, tu thân là một chuyện, chỉ có không thể nhìn nhận thiên lý và nhân dục làm một thứ. Đây là khuyết điểm trong học thuyết của ông, câu này của học trò ông đã chọc đúng vào điểm yếu của ông, bởi vậy ông mới tức giận.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s