Các phương tiện truyền thông và quá trình dân chủ – Phần cuối


Dân chủ quá mức. Cuối cùng, chúng ta cần xem xét quan điểm của Samuel Huntington cho rằng vấn đề của nền dân chủ ngày nay chính là sự dân chủ quá mức. Theo Huntington, chính phủ sẽ làm công việc của mình tốt hơn nếu mọi người đừng quan tâm thái quá. Ông thấy rằng một bộ phận những người có tri thức tỏ ra sốt sắng với công việc của chính phủ đến nỗi các cơ quan quản lý cảm thấy rất khó tránh được những bế tắc trong chính trị. Ông viết: “Hệ thống chính trị hoạt động hiệu quả cần thiết phải có sự lãnh đạm trong một số cá nhân hay nhóm người trong xã hội”.

Nhưng để tìm được điểm tương đồng giữa quan điểm trên với quan điểm dân chủ chính xác thật không dễ. Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc trình bày quá nhiều bức xúc sẽ làm chậm lại quá trình ban hành chính sách. Tất cả chúng ta đều biết các ủy ban hoạt động tốt hay không tốt như thế nào. Mấy năm trở lại đây, nhiều người tỏ ra lo lắng rằng các nhóm lợi ích quan tâm đến một vấn đề riêng lẻ – như nhóm chống phá thai hay Hiệp hội súng trường quốc gia hay một số tổ chức bảo vệ những vùng haong dã – có thể chống lại luật hay chính sách mà hầu hết các cử tri quan tâm. Việc duy trì và bảo vệ các nhóm thiểu số là một phần không thể thiếu trong một xã hội dân chủ, nhưng quyền lực của họ càng tăng thì ảnh hưởng đến số đông những nhóm còn lại càng gây rối loạn.

Nhưng Huntington cho rằng việc khuyến khích thái độ dửng dưng với chính trị là không thể chấp nhận được. Nếu những người tham gia vào một tiến trình chính trị không thể thương lượng sao cho hệ thống chính trị có thể hoạt động thông suốt thì biện pháp đầu tiên có thể nghĩ tới không phải là buộc họ rời bộ máy mà thay vào đó phải đào tạo họ về “nghệ thuật thương lượng”. Giống như nhiều người khác, Huntington tỏ ra quan tâm đến việc người dân ngày càng hiểu biết hơn và vì vậy có xu hướng tham gia vào chính trị nhiều hơn, nhưng sau đó ông quay ngược lại phủ nhận rằng họ là những người có thể đào tạo được về chính trị. Ông loại bỏ khả năng có thể giáo dục chính trị thực sự cho người dân. Tôi không cho rằng có đủ lý do để chúng ta đạt được sự dân chủ trong chính trị.

Việc ngày càng có nhiều các bộ phận cử tri thiên về một vấn đề có liên quan đến sự sụt giảm số lượng các tổ chức chính trị theo kiểu cũ. Công đoàn, nhà thờ, các đảng phái – các tổ chức chính trị phân cấp với một số người lãnh đạo, còn đa số phục tùng – đang dần mất ưu thế trước các nhóm được thành lập theo sở thích của công chúng với “sự chính xác cao hơn”. Những nhóm mới này mang tính chất định hướng vấn đề và dựa vào “sự nhạy cảm ngày càng cao về hệ tư tưởng giữa các cử tri với nhau”. Ngày nay có nhiều người sử dụng “những kỹ năng cần thiết để cụ thể hóa những yếu tố trừu tượng trong chịnh trị”. Đang có một thứ mà Ronald Inglehart gọi là “huy động nhận thức” diễn ra trong nền dân chủ công nghiệp tiên tiến.

Albert Hirschman đưa ra một lời kiến giải thú vị về hiện tượng gia tang các nhóm quan tâm đến vấn đề riêng lẻ này. Ông cho rằng hình thức thể hiện việc tham gia chính trị trong các chế độ dân chủ tự do – hình thức bỏ phiếu – là một hình thái tham gia thuần phục một cách quá mức. Thực chất hình thức này không làm mọi người thỏa mãn vì không cho họ đủ cơ hội “bộc lộ những cảm tưởng về những vấn đề công cộng mà họ đã trải nghiệm”. Hirschman còn lý giải rằng việc hình thàn hình thức bỏ phiếu như một kiểu tham gia chính “dẫn đến sự thất vọng với các cơ hội tiếp cận hạn chế và khiến cho các mối quan tâm này giảm sút”. Ông cho rằng việc gia tăng các nhóm có mối quan tâm đến một vấn đề riêng lẻ chính là hậu quả của hình thức bỏ phiếu:

Có thể mọi người tham gia vào các phong trào này không nhiều bởi họ tin vào tầm quan trọng của một vấn đề cụ thể nào đó và họ còn muốn chứng tỏ với thế giới, với bạn bè và bản thân họ rằng họ có khả năng giải quyết được một số vấn đề nhức nhối của xã hội. Bằng cách này, một hệ thống chính trị trong đó bầu cử được coi là hoạt động chính trị duy nhất có thể dẫn đến những hoạt động chính trị duy nhất có thể dẫn đến những hoạt động chính trị khác theo phương thức mới, tạo ra mối nguy hại tiềm tàng đe dọa đến chức năng đúng đắn của nền dân chủ.

Dù lý giải như thế nào thì sự thật hiển nhiên vẫn là đã từng tồn tại một loại hình tham gia chính trị mới mà hệ thống chính trị sẽ phải thích ứng. Nhiệm vụ của báo chí không phải là khuyến khích hay không khuyến khích những hình thức chính trị này mà chỉ đơn giản đưa tin về chúng.

Hơn nữa, các phương tiện truyền thông có thể hoạt động như những nhà giáo dục chính trị. Điều đó không có nghĩa là trưng khẩu hiệu hay đưa ra những bài thuyết giáo. Điều đó có nghĩa là các phương tiện truyền thông bằng những hoạt động của mình khuyến một quan điểm chính trị thấu đáo hơn so với những gì mà các tổ chức đó có hoặc – vô tình hay có chủ định – phổ biến và củng cố quan điểm của các tổ chức đó. Truyền thông không thể đứng ngoài được. Truyền thông phải gắn kết công việc với một quan điểm chính trị nhất định và có thể thực hiện điều này bằng nhiều cách.

Chẳng hạn, hầu hết các thành viên của các nhóm áp lực quan tâm đến một vấn đề duy nhất thường có quan điểm chính trị phức tạp hơn nhiều so với quy mô của tổ chức mà họ tham gia. Theo hầu hết các bài báo viết về quan điểm của công chúng, không có cách nào để nhận biết được điều đó. Một lần nữa tầm quan trọng của việc thăm dò ý kiến được nhắc đến và điều này dẫn đến khuynh hướng cho rằng thái độ của công chúng là không thay đổi và được hình thành từ trước. Trong cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1980, tờ Wall Street Journal đưa ra một cuộc thăm dò ý kiến đơn giản và họ, cũng như những tờ báo khác, vẫn tiếp tục sử dụng phương thức này. Tờ Wall Street Journal đã làm theo sự chỉ dẫn của các nhà nghiên cứu thị trường – không chỉ đưa ra các cuộc thăm dò có quy mô quốc gia mà cả các cuộc thăm dò có quy mô nhỏ, “các nhóm trọng điểm” có quy mô vừa nhằm nắm bắt tường tận điều mà người tiêu dùng nghĩ và cách thức người dân đi đến với những mong muốn đó. Họ chia người dân làm hai nhóm: nhóm lao động trí óc (cổ trắng) và nhóm lao động chân tay (cổ xanh) để tạo lập các cuộc thảo luận chung về chính trị. Người ta không thể đọc những bài báo này nếu không bị bắt buộc bỏ qua định kiến của họ về tầng lớp lao động hay giới trung lưu. Điều này không chỉ ra rằng “mọi người cũng như nhau” – cũng xuất hiện các tầng lớp khác nhau, nhưng chúng phức tạp hơn và đòi hỏi phải có suy nghĩ thấu đáo hơn so với mức độ thông thường.

“Các nhóm trọng điểm” tất nhiền là “không khoa học” – nhưng các nhà nghiên cứu thị trường coi đây là cách thức nghiên cứu điều tra bổ sung quan trọng nếu họ không thể hiểu được các khách hàng tiềm năng. Cách thức này cũng là giải pháp thay thế tuyệt vời mà các phương tiện truyền thông có thể sử dụng nếu truyền thông muốn tìm kiếm và giúp độc giả/khan giả có cái nhìn sâu sắc hơn về chính trị – và là thứ chỉ ra cho chúng ta phạm vi suy nghĩ và thỏa hiệp mà trên thực tế là đặc trưng của đại đa số công chúng.

Kết luận: Ưu điểm của sự ảo tưởng

Các nhà tâm lý cho rằng những người không đặt ra mục tiêu cho mình sẽ không đạt được gì nhiều, thế nhưng ngay cả những người đặt ra mục tiêu cao nhất cũng có thể như vậy. Những ai đặt ra mục tiêu cao, nhưng là những mục tiêu có thể với được, thường làm công việc tốt hơn. Các nhà tâm lý khuyên rằng nên có những ước mơ xa hơn nhưng đó phải là những ước mơ có thể đạt được và không quá viển vông.

Lời khuyên này có thể áp dụng đối với các cơ quan báo chí. Nhà báo cũng như những người làm việc trong lĩnh vực khác đã không đề ra mục tiêu. Họ chỉ muốn làm việc suôn sẻ và hoàn thành công việc đúng kế hoạch. Nhưng xuất phát từ suy nghĩ này, đôi khi họ lại làm quá đi và nghĩ rằng họ phải biến công chúng thành những nhà quan sát kỹ lưỡng các hoạt động chính trị và là người tham gia tích cực vào đời sống chính trị của đất nước. Họ cố gắng tạo ra một thế giới mà trong đó quan niệm về hình thức dân chủ cổ điển vẫn có chỗ đứng.

Tôi đã cố gắng phản biện rằng những mục tiêu cao ngất cho dù không đạt được nhưng trong nhiều trường hợp lại là sự chỉ dẫn tuyệt vời cho nghề báo. Tôi đề nghị rằng các nhà báo nên đưa báo chí vào đời sống và không phải tất cả công dân đều là những người thông minh, có lý trí và luôn tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị. Trong trường hợp các cử tri hiểu biết và quan tâm đến các hoạt động chính trị không tồn tại, báo chí vẫn phải có trách nhiệm đáp ứng các hình thức thay thế để bảo đảm tính dân chủ. Họ có thể giữ vai trò là người đại diện cho công chúng, là người bảo đảm rằng giới cầm quyền (được bầu ra – trong trường hợp là chính phủ; không được bầu – trong trường hợp là các doanh nhân, các nhà vận động hành lang, và các nhóm lợi ích) phải có trách nhiệm với mục tiêu mà họ đã đặt ra và những mục tiêu khác mà công chúng tán thành. Họ có thể thực hiện điều này đơn giản bằng quyền lực là người dẫn đường của công chúng và bằng việc tạo lập sự chỉ dẫn đó thường xuyên hơn.

Như tôi đã nói, điều này có thể làm cho giới truyền thông ảo tưởng và hành động như thể dễ dàng xây dựng được một xã hội dân chủ mà không cần những cử tri hiểu biết và quan tâm đêén chính trị. Ưu điểm của ảo tưởng này thể hiện ở chỗ cả hai điều trên có thể đúng trong những hoàn cảnh khác nhau. Các nhà báo có thể làm tốt cả hai việc này bởi vì thế giới mà họ đưa tin cũng tồn tại hai (hay nhiều) khả năng. Và tôi cho rằng trong thực tế này ẩn chứa không chỉ sự phức tạp mà còn cả cơ hội nữa.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Schudson – Sức mạnh của tin tức truyền thông – NXB CTQG 2003

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s