Biên niên sử về một đại dịch được báo trước: Kinh nghiệm từ thất bại của COVID-19 trước khi xuất hiện đợt bùng phát tiếp theo – Phần III


Ngay cả khi thiếu hoạch định và đầu tư dài hạn, vẫn còn nhiều điều mà chính phủ Hoa Kỳ có thể và phải thực hiện bằng cách đối phó ngắn hạn. Ngay sau khi xác định được chủng virus corona mới và gây chết người, Washington có thể tiến hành xem xét một cách nhanh chóng nhưng toàn diện các quy định quốc gia về trang thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE), cho phép ngay lập tức tăng cường sản xuất khẩu trang N95, áo choàng và găng tay bảo hộ và lên kế hoạch sản xuất nhiều máy thở hơn nữa. Dựa trên kinh nghiệm của các nước khác, đáng lẽ chính phủ Mỹ phải đặt ra khả năng sản xuất thử nghiệm toàn diện và sẵn sàng tiến hành thử nghiệm và truy dấu tiếp xúc trong khi số ca nhiễm vẫn còn rất thấp, hạn chế virus càng nhiều càng tốt ngay khi chúng xuất hiện. Chính phủ có thể cử một điều phối viên chuỗi cung ứng làm việc với các thống đốc bang, trên cơ sở phi đảng phái, để phân bổ và phân phối nguồn lực. Đồng thời, Quốc hội có thể soạn thảo luật tài trợ khẩn cấp cho các bệnh viện, chuẩn bị cho họ đối phó với cả sự gia tăng dữ dội số lượng các bệnh nhân Covid-19 và giảm mạnh các cuộc phẫu thuật lựa chọn, các ca nhập viện thông thường, và các ca thăm khám của khách nước ngoài, các nguồn thu thiết yếu của nhiều tổ chức.

Thay vào đó, chính quyền lại phản đối những yêu cầu khuyên người dân ở trong nhà và thực hiện giãn cách xã hội và không thể hoặc không muốn phối hợp nỗ lực toàn chính phủ giữa các cơ quan và các bộ ngành liên quan. Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh (CDC) đáng lẽ phải ngay lập tức nâng cao mức độ vấn lên thành ưu tiên xử lý khủng hoảng đối với cả CDC lẫn Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) Hoa Kỳ, bao gồm cả việc đưa ngành công nghiệp thử nghiệm lâm sàng tư nhân vào quy trình giúp sản xuất các bộ xét nghiệm. Nhưng vấn đề đã bị coi nhẹ. Vào thời điểm tháng 02/2020, Hoa Kỳ có đã có khoảng 100 trường hợp được ghi nhận là mắc Covid-19. Khoảng hơn một tuần sau, số ca nhiễm vượt quá 1000 người, sau đó, Tổng thống đã ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia.

Trong năm 1918, những thành phố sớm đối phó lại bệnh cúm, ngăn cản người dân tụ tập và khuyến cáo các công dân ở trong nhà, nhìn chung, có số ca nhiễm ít hơn nhiều. Nhưng để cách tiếp cận này hiệu quả, họ phải có thông tin đáng tin cậy từ các cơ quan trung ương về y tế cộng đồng và chính phủ – cần phải trung thực, nhạy bén, và tín nhiệm ngay từ ban đầu. Trong khi đó với cuộc khủng hoảng hiện nay, tín hiệu đưa ra từ Nhà Trắng là – và tiếp tục là các dòng tweet tự chúc mừng, các thông điệp lẫn lộn, và các chỉ dẫn hằng ngày đầy mâu thuẫn mà trong đó Trump đồng thời khẳng định quyền lực và sự kiểm soát sâu rộng và phủ nhận trách nhiệm về bất cứ điều gì diễn ra sai lầm hoặc không được thực hiện. Mọi việc đều là trách nhiệm và lỗi lầm của thống đốc bang – kể cả việc không lên kế hoạch trước, một nhiệm vụ mà chính phủ từ chối thực hiện. Hai năm trước đó, chính phủ thậm chí đã giải tán lực lượng sẵn sàng ứng phó đại dịch thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia.

“Bạn ra trận với đội quân bạn có, chứ không phải với đội quân bạn có thể muốn hay muốn có sau này”. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ Donald Rumsfeld đã có tuyên bố nổi tiếng vào năm 2004, khi phát biểu trước quân đội Mỹ trên đường tới Iraq, với đoàn xe quân sự thiếu lớp vỏ sắt có thể bảo vệ các binh lính. Thông điệp nghiệt ngã đó cũng có thể áp dụng cho phản ứng chống đại dịch, chẳng hạn với các nhân viên y tế tuyến đầu tham gia vào cuộc chiến chống lại Covid-19 không có các thiết bị bảo hộ cá nhân. Nhưng về nhiều phương diện, tình huống hiện tại thậm chí còn tồi tệ hơn. Hoa Kỳ và các nước khác tham chiến chống lại một căn bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh chóng mà không hề có kế hoạch chiến đấu, không đủ nhân sự, phương tiện hay nguồn hàng dự trữ trang thiết bị và quân nhu thích đáng, chuỗi cung ứng đáng tin cậy, bộ chỉ huy tập trung, hay công chúng có hiểu biết hay được chuẩn bị cho cuộc chiến phía trước.

Trong tình trạng thiếu sự lãnh đạo liên bang mạnh mẽ và nhất quán, các thống đốc bang và nhiều thị trưởng thành phố lớn buộc phải tự mình chịu trách nhiệm chính về việc đối phó với đại dịch, vì Nhà Trắng thậm chí còn khuyên họ tự tìm kiếm các nguồn cung cấp máy thở và bộ xét nghiệm. Nhưng việc kiểm soát virus hiệu quả đòi hỏi những người ra quyết định phải bắt đầu tư duy có chiến lược – để xác định xem các hành động đang thực hiện ngay lúc đó có hiệu quả và có căn cứ vững chắc không – hay kết quả sẽ đạt được rất ít bất kể các ý định hết sức tốt đẹp. Về vấn đề này, vẫn chưa quá muộn để Hoa Kỳ đảm nhận vai trò lãnh đạo truyền thống của mình và là tấm gương trong cuộc chiến này, thay vì cho đến nay bị tụt lại phía sau Đức, Hong Kong, Singapore, và Hàn Quốc, và thậm chí là Trung Quốc, bất kể những bước đi sai lầm ban đầu của nước này.

Đại dịch lớn

Tại sao nhiều nhà hoạch định chính sách lại bỏ qua virus cho đến khi đã quá muộn? Đó không phải là sự thất bại về mặt quan niệm khiến họ không hiểu được những khía cạnh và tác động của một sự bùng phát bệnh truyền nhiễm quy mô lớn. Ở Hoa Kỳ, nhiều cuộc tập huấn mô phỏng khủng bố sinh học và đại dịch ở cấp độ cao – từ Dark Winteri (Mùa đông tăm tối) năm 2001 cho đến Clade X năm 2018 và Event 201 năm 2019 – đã cho thấy sự bối rối, ra quyết định kém cỏi, và thiếu sự phối hợp giữa các nguồn lực và việc truyền thông điệp có thể làm suy yếu phản ứng trong tình huống không có kế hoạch và sự chuẩn bị đối phó trước khủng hoảng bất ngờ. Vấn đề chủ yếu là về mặt cấu trúc, điều mà các nhà kinh tế học hành vi gọi là “chiết khấu hyperbol” (hyperbolic discounting). Theo giải thích của nhà quản lý khủng hoảng và nhân viên Nhà Trắng thời Reagan trước đây Eric Dezenhall dựa trên chiết khấu hyperbol, các nhà lãnh đạo “làm những gì dễ dàng và ngay lập tức tạo ra cổ tức thay vì làm những gì khó khăn, có vẻ lâu đem lại cổ tức… Với một vấn đề gì đó giống như đại dịch, nghe như một hiện tượng từ thế kỷ khác, có vẻ như quá xa vời để lên kế hoạch cho nó”.

Hiện tượng này hầu như không mới, Daniel Defoe kể lại trong cuốn A journal of the Plague Year (Nhật báo về một năm dịch bệnh) rằng, vào năm 1665, các nhà chức trách thành phố London lúc đầu từ chối thừa nhận rằng có điều gì đó bất thường đang diễn ra, sau đó cố gắng che giấu thông tin trước người dân, cho đến khi số người chết tăng vọt khiến người ta không thể phủ nhận về một bệnh dịch hạch khiến nhiều người lo sợ. Vào lúc đó, tất cả những gì các nhà chức trách có thể làm là nhốt các bệnh nhân và gia đình họ ở tại nhà họ trong một nỗ lực vô ích nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm.

Ngoại trừ cuộc chiến tranh nhiệt hạch toàn cầu và tác động dài hạn của biến đổi khí hậu, một đại dịch bệnh truyền nhiễm có khả năng phá hủy sức khỏe và sự ổn định kinh tế lớn nhất trên khắp thế giới. Tất cả các loại thảm họa và thiên tai khác đều bị giới hạn về địa lý và thời gian – dù là bão áp thấp nhiệt đới, động đất, hay tấn công khủng bố. Nhưng một đại dịch có thể cùng một lúc xảy ra ở bất cứ đâu và kéo dài nhiều tháng hay nhiều năm.

Ước tính tỷ lệ tử vong toàn cầu trong dịch cúm năm 1918 lên tới 100 triệu người – theo tỷ lệ dân số toàn cầu tương đương với 400 triệu dân ngày nay – khiến nó dễ dàng trở thành thảm họa tự nhiên tồi tệ nhất trong thời hiện đại. Ảnh hưởng của đại dịch sâu sắc tới mức tuổi thọ trung bình ở Hoa Kỳ ngay lập tức giảm tới hơn 10 năm. Khác với thế kỷ trước, thế giới ngày nay có dân số gấp bốn lần; hơn một tỷ lượt qua lại biên giới quốc tế mỗi năm; du lịch hàng không có thể kết nối với hầu hết hai điểm bất kỳ trên địa cầu trong khoảng vài giờ; sự xâm phạm quy mô lớn của con người đối với các khu rừng và môi trường sống của động vật hoang dã; các siêu đô thị đang phát triển trên thế giới, trong đó có người nghèo sống ngay cạnh những người thuộc tầng lớp khác và họ không có đủ dinh dưỡng, hệ thống vệ sinh, hay chăm sóc y tế; hoạt động chăn nuôi công nghiệp, trong đó các động vật được nuôi nhốt chung với nhau; việc lạm dụng kháng sinh đáng kể ở cả người và động vật; hàng triệu người sống cạnh với gia cầm và các vật nuôi trong nhà (tạo ra cái mà về bản chất là các phòng thí nghiệm tái sắp xếp gen); và sự lệ thuộc vào chuỗi cung ứng quốc tế theo nhu cầu với phần lớn sản lượng thiết yếu tập trung ở Trung Quốc.

Một giả định an ủi mang tính tự nhiên rằng, những tiến bộ y học có giá trị của một thế kỷ sẽ bù đắp những lỗ hổng bổ sung như vậy. Đó hẳn là một quan niệm sai lầm nghiêm trọng. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngay cả trong một năm không có đại dịch, các bệnh lây nhiễm bao gồm cả bệnh sốt rét, bệnh lao, HIV/AIDS, cúm mùa, tiêu chảy và các bệnh lây nhiễm qua vật trung gian (vector-borne illness) khác – là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trên toàn thế giới và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong rất nhiều ở các nước thu nhập thấp.

Trên thực tế, với những hiện thực đó của cuộc sống hiện đại, một đại dịch cúm nguy hại tương tự sẽ gây tổn hại nhiều hơn theo cấp số nhân so với đại dịch ở thế kỷ trước – như đại dịch hiện tại cho thấy rõ. Trong khi chưa có một loại vaccine đáng tin cậy được sản xuất với số lượng đủ để chủng ngừa cho phần lớn hành tinh, tất cả các biện pháp đối phó quan trọng nhằm ngăn chặn sự lây lan của Covid-19 đều không liên quan tới y tế: tránh tụ tập nơi công cộng, ở nguyên tại chỗ, giãn cách xã hội, đeo khẩu trang có các lớp công dụng khác nhau, rửa tay thường xuyên. Khi viết bài này, các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách thậm chí không nắm tường tận là cần bao nhiêu xét nghiệm RT-PCR để xác định một cá nhân có nhiễm virus hay không và cần bao nhiêu xét nghiệm huyết thanh để phát hiện ra kháng thể và xác định xem ai có nó. Trong khi đó, nhu cầu quốc tế về thuốc thử – hóa chất giúp cả hai loại xét nghiệm có kết quả – và bông ngoáy lấy mẫu đã và đang vượt xa nguồn cung và sản xuất. Khó có thể kết luận rằng, thế giới ngày nay được trang bị tốt hơn rất nhiều để chiến đấu với một đại dịch quy mô lớn so với các bác sỹ, nhân viên y tế cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách cách đây 100 năm.

Một số người gọi đại dịch Covid-19 là sự kiện 100 năm mới có một lần, có thể so sánh được với các trận lũ lụt hay các trận động đất trong 100 năm. Nhưng thực tế là thế giới đang hứng chịu một đại dịch ngay bây giờ chưa có dự đoán nào về việc khi nào đại dịch tiếp theo sẽ xảy ra ngoài việc tung xúc sắc về kết quả của lần tung tiếp theo. (Mặc dù bệnh cúm năm 1918 là đại dịch cúm tàn phá nặng nề nhất trong lịch sử, song đợt bùng phát năm 1830 – 1832 cũng tàn khốc tương tự, trong một thế giới với dân số chỉ bằng một nửa dân số năm 1918). Lần tung xúc sắc tiếp theo, hay đại dịch sau đó, thực tế có thể là “một đại dịch lớn”, thậm chí có thể khiến đại dịch hiện nay có vẻ quy mô nhỏ hơn.

Khi đại dịch cúm mới xảy đến có thể thực sự khiến toàn thế giới sụp đổ – thiệt mạng hàng trăm triệu người hoặc hơn, phá hủy hoạt động thương mại, khiến các chính phủ rối loạn, làm thay đổi tiến trình lịch sử đối với các thế hệ sau. Không giống với Covid-19, thường có ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng tới những người cao tuổi và những người có bệnh nền, bệnh cúm năm 1918 mặt khác đã gây thiệt hại đặc biệt nặng nề cho cả nam lẫn nữ khỏe mạnh trong độ tuổi 18 và 40 (được cho là kết quả của việc hệ thống miễn dịch khỏe hơn của họ phản ứng quá mạnh trước mối đe dọa thông qua “cơn bão cytokine”). Không có lý do gì để cho rằng đại dịch cúm mới tiếp theo không thể gây ra những hệ quả tương tự.

(còn tiếp)

Người dịch: Quỳnh Hoa

Nguồn: Michael T. Osterholm, Mark Olshaker – Chronicle of a Pandemic Foretold: Learning from the COVID-19 failure – Before the Next Outbreak Arrives – Foreign Affairs, July/August 2020, Vol.99, No. 4, p.10-24.

TN 2021 – 1,2

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s