Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần III


Câu “tôi nghe như vầy” được dùng nhằm xóa tan mọi nghi vấn trong lòng đại chúng. Lúc Đại Hội Kết Tập Kinh Tạng khai mạc, Tôn Giả A Nan không được mời tham dự. Sau đó, khi đã chứng được Tứ Quả A La Hán, vì không có ai mở cửa cho vào, Ngài bèn đi xuyên qua cửa và tiến vào hội trường để tham gia Đại Hội Kết Tập Kinh Tạng. Những người tham dự cuộc kết tập kinh tạng tuy đã chứng quả, nhưng trí nhớ của họ đều không bằng Tôn Giả A Nan. Ngài chính là đại quyền thị hiện, ẩn thật hiện quyền, thị hiện thiện xảo phương tiện. Tôn Giả A Nan đã từng làm thị giả cho tất cả chư Phật xuất thế trong quá khứ, và cũng được thân cận hết thảy chư Phật. Khi Đức Phật Thích Ca thành Phật, Tôn Giả A Nan cũng xuất thế để làm thị giả cho Phật; và vị thị giả ấy chính là người dự bị cho công cuộc kết tập kinh tạng sau này.

Lúc bấy giờ, khi Tôn Giả A Nan vừa bước lên Pháp tòa, trong đại chúng lập tức dấy khởi ba mối nghi ngờ.

+ Thứ nhất, họ nghi đó là Phật sống lại, ngờ rằng Phật chưa nhập Niết Bàn. Vì khi Tôn Giả A Nan lên Pháp tòa sư tử để kết tập kinh tạng, Ngài thị hiện tướng hảo trang nghiêm, tướng mạo giống hệt Đức Phật, chỉ thấp thua Phật ba lóng tay mà thôi, nên đại chúng mới ngờ rằng đó là Phật sống lại.

+ Thứ hai, nghi đó là Đức Phật từ phương khác đến.

+ Thứ ba, nghi Tôn Giả A Nan đã chứng quả, thành Phật.

Tuy nhiên, khi Tôn Giả A Nan vừa thốt ra bốn tiếng “tôi nghe như vầy” thì ba mối hoài nghi ấy liền tan biến, không còn vướng mắc trong tâm trí mọi người nữa.

Câu “tôi nghe như vầy” được dùng bởi bốn nguyên do:

1/ Dứt trừ mọi nghi ngờ (Đoạn chứng nghi),

2/ Tuân theo lời dặn dò của Đức Phật (Tuân Phật chúc),

3/ Chấm dứt mọi tranh cãi (Tức tranh luận).

Khi kết tập kinh tạng, Ngài A Nan vẫn còn rất trẻ. Một người trẻ tuổi mà đứng ra chủ trì việc kết tập kinh tạng thì e rằng những bậc Trưởng Lão như Tôn Giả Ca Diếp, Kiều Trần Như, Tu Bồ Đề sẽ nói: “Ông còn trẻ người non dạ như thế thì đã có kinh nghiệm, kiến thức gì đâu để mà kết tập kinh tạng hả?”

Nếu Ngài A Nan nói kinh điển là do chính Ngài tự viết ra thì sẽ không tránh khỏi sự tranh luận: “Những điều ông nói hoàn toàn không đúng, Đức Phật không hề nói như vậy!” Nhưng khi Ngài A Nan tuyên bố: “Tôi nghe như vầy”, thì mọi người đều không tranh cãi. Vì sao? Vì bốn chữ ấy ngụ ý rằng tất cả những gì Ngài A Nan sắp sửa nói ra, chỉ là tuyên thuyết lại những điều mà chính Ngài đã được nghe từ kim khẩu của Đức Phật, chứ hoàn toàn không phải do Ngài bịa đặt; nhờ thế mà chấm dứt mọi tranh luận!

4/ Cốt để khác biệt với ngoại đạo (Dị ngoại đạo). Lý thuyết mà các Luận Sư ngoại đạo thường dùng là: “Tất cả vạn pháp của thế gian đều không ngoài hai chữ hữu (có), và vô (không).”

Nếu nó , tức là vạn pháp đều hiện hữu; còn nói không, tức là vạn pháp đều không hiện hữu. Bởi họ rằng hết thảy các pháp đều nằm trọn trong một chữ và một chữ không, nên kinh điển ngoại đạo dùng hai chữ A, và Âu làm mở đầu cho kinh văn. A có nghĩa là không và Âu nghĩa là có.

Do đó, nhằm phân biệt với ngoại đạo, Đức Phật dạy phải dùng bốn chữ “Tôi nghe như vầy” để mở đầu cho kinh văn, ý nói rằng: “Chính tôi, A Nan, từng được nghe Phật nói Pháp như thế này”.

Phàm kinh điển do Phật thuyết đều hội đủ sáu điểm để thành tựu cho toàn Kinh, gọi là sáu loại thành tựu (lục chủng thành tựu).

1/ Tin cậy (Tín). Như vầy biểu thị thành tựu về tin cậy (Tín thành tựu).

2/ Nghe (Văn). Tôi nghe biểu thị thành tựu về nghe. (Văn thành tựu). Vì sao không nói tai nghe mà lại nói là tôi nghe? Vì tôi là từ tổng xưng cho một thân thể, cho nên dùng tôi để tiêu biểu cho cả sáu căn.

3/ Thời điểm (Thời). Một thuở nọ (nhất thời) biểu thị thành tựu về thời điểm (Thời thành tựu). Tại sao không nói rõ là Phật thuyết Pháp vào ngày nào, tháng nào, năm nào, mà chỉ nói chung chung là một thuở nọ? Bởi vì quốc tế lịch số không đồng nhất, có khi nơi này là tháng chạp thì nơi khác lại đang là tháng hai; ở nước nọ là tháng giêng thì ở nước kia lại đang là tháng ba hoặc tháng tư… Cho nên trong kinh điển của Phật chỉ nói là một thuở nọ mà thôi. Có một thời điểm như thế này, thì đây là thành tựu về thời điểm.

4/ Chủ. Đức Phật biểu thị thành tựu về chủ (Chủ thành tựu). Phật thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Bởi tam giác viên mãn, vạn đức đầy đủ, nên gọi là Phật. Đức Phật này chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Giáo Chủ cõi Ta Bà.

Thật ra, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ vô lượng kiếp về trước. Nhưng vì nhận thấy chúng sanh ở cõi Ta Bà, Nam Thiệm Bộ Châu, cơ duyên đã thành thục, cho nên Ngài đến thị hiện thành Phật, hầu khiến tất cả chúng sanh cũng đều thành Phật, thoát khỏi sanh tử. Giáo pháp mà Đức Phật thuyết giảng đều là chân thật, không hư đối, tất cả chúng sanh chúng ta cần phải trân trọng thọ lãnh. Nếu chúng ta xem những lời giáo huấn của Đức Phật như gió thoảng qua tai, vào tai này rồi ra tai kia, ắt sẽ không được chút lợi ích nào cả. Do đó, chúng ta cần phải thực sự áp dụng, chân chánh thực hành theo đúng giáo pháp, không được mảy may hư đối dù nhỏ như đường tơ kẽ tóc – nhất định phải hoàn toàn chân thật.

5/ Nơi chốn (Xứ). Cung trời Đạo Lợi biểu thị thành tựu về nơi chốn (Xứ thành tựu).

Đức Phật lên cõi trời Đao Lợi là để độ thân mẫu. Sau khi Phật ra đời được bảy ngày, thì thân mẫu của Phật là Ma Da Phu Nhân qua đời và sau đó được sanh lên cõi trời Đao Lợi. Ma Da (Maya) là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đại Thuật, và cũng là Huyễn. Thánh Mẫu Ma Da từng là mẹ của ngàn đức Phật trong thời quá khứ, là đấng sanh thành của tất cả chư Phật xuất thế.

Thánh Mẫu làm mẹ của Đức Phật, đến khi Đức Phật thành Phật lại đi thuyết pháp để độ Thánh Mẫu, đây có thể ví như một vở tuồng ở nhân gian chúng ta vậy. Thế gian này, nếu quý vị hiểu rõ thì sẽ thấy tất cả đều giống như một vở kịch, mà các tình tiết, các màn diễn trong đó đều nó lên chân đế của cuộc đời, một thứ chân lý của nhân sinh. Nếu thấu suốt được một chân lý này, thì quý vị cũng sẽ thông hiểu được chân lý kia. Cho nên, những kẻ không hiểu mà xem kịch thì chỉ thấy các tình tiết diễn tiến cùng những cảm xúc vui buồn tam hợp, hoặc vui mừng, đau đớn, xót xa, sợ sệt, yêu thương, ganh ghét, thù hận, mong cầu… của vở kịch. Còn người sáng suốt, từng trải thì sao? Họ biết rằng đó chỉ là một vở kịch và tất cả vốn như huyễn như hóa, đời người chẳng qua là như thế mà thôi! Kinh Kim Cang có dạy:

Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng huyễn, bọt nước,

Như sương mai, điện chớp,

Nên quán tưởng như vậy.

Thế nên, việc giáo hóa chúng sanh đối với Phật cũng là Du Hý Tam Muội, Phật không xem đó là điều đáng kể, Phật không như phàm phu chúng ta, chấp đông chấp tây, chấp nam chấp bắc, chấp trên chấp dưới, không thấy được tất cả đều là viên dung vô ngại. Kỳ thực, mọi cảnh giới chẳng qua đều là giả dối, không thật; nếu quý vị không có được cái nhìn như vậy, tức là còn chấp trước.

6/ Chúng. Vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp biểu thị thành tựu về chúng (Chúng thành tựu).

Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân là mẹ của cả ngàn đức Phật, và mỗi đức Phật sau khi thành Phật đều lên cõi trời Đao Lợi thuyết Pháp cho mẫu thân nghe.

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s