Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần XXX


Thọ mạng của Đức Phật ấy là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp. Thọ là tuổi thọ, sống lâu; mạng là sanh mạng, mạng sống.

Theo Kinh Pháp Hoa thì Đức Phật có ba thân:

1/ Pháp Thân. Pháp Thân Chân Như của Đức Phật vốn không tách rời các pháp. Chân Như của Pháp Thân cùng chư pháp không mảy may ngăn cách, đó gọi là thọ. Ở đây lấy lý Như Như làm mạng của Pháp Thân. Điều này thật không phải dễ giải thích! Lý Như Như là gì? Chính là đạo lý căn bản xưa nay, là sanh mạng của Phật và cũng chính là Pháp Thân.

2/ Báo Thân. Còn Báo Thân thì sao? Thì lấy Thật Tướng Trí Huệ làm mạng. Cảnh, trí tương ưng; cảnh là trí, trí cũng là cảnh. Cảnh giới của Phật chính là trí huệ, trí huệ cũng là cảnh giới. Đức Phật dùng trí huệ chiếu soi tất cả các cảnh giới, đó gọi là cảnh trí tương ưng (cảnh giới và trí huệ tương ứng với nhau), và cũng là cảnh trí bất nhị (cảnh giới và trí huệ chẳng phải hai). Đó cũng là hễ cảnh giới đến lúc nào thì chiếu soi lúc đó, soi chiếu tới đâu thì liễu ngộ tới đó. Cảnh giới nào xảy đến thì Đức Phật cũng đều nhận biết, đều hiểu rõ; chứ không bị cảnh giới làm chướng ngại mà không nhận rõ được nó. Tuy cảnh giới và trí huệ vốn là hai, nhưng rốt ráo cũng biến thành một. Báo Thân lấy đạo lý này làm thọ, lấy trí huệ làm mạng. Đây là nói về thọ mạng của Báo Thân Phật.

3/ Ứng Thân. Ứng Thân còn được gọi là Ứng Hóa Thân. Hóa chính là Ứng Thân. Ứng Thân lấy kỳ hạn một trăm năm không gián đoạn làm “thọ” – sống đến một trăm tuổi, tức là “thọ” vậy. Ứng Hóa Thân, Hóa Thân, hoặc Ứng Thân, lấy nhân duyên trong một đời này làm mạng.

Trên đây là nói về ba thân căn cứ theo Kinh Pháp Hoa. Tuy nhiên, trong Kinh Thập Lục Quán thì lại giảng cách khác; khác như thế nào? Trong kinh này có chép rằng: “Ứng Thân thị đồng sanh diệt”, nghĩa là sự thị hiện của Ứng Thân cũng có sanh có diệt. Phật có ra đời thì cũng có nhập Niết Bàn. Đó gọi là “đồng sanh diệt”. Vậy “thị đồng sanh diệt” tức là sự thị hiện “hữu thủy hữu chung”, có khởi đầu và cũng có kết thúc và đó chính là thọ mạng của Ứng Thân Phật.

Thế còn Báo Thân thì sao? Báo Thân này một khi đã chứng đắc được rồi thì vĩnh viễn thường còn. Hễ có được Báo Thân của Phật thì mãi mãi được sở hữu thân ấy. Đây gọi là “hữu thủy vô chung”, có khởi đầu mà không có kết thúc và đó chính là thọ mạng của Báo Thân Phật.

Còn thọ mạng của Pháp Thân thì như thế nào? Thì “phi thọ, phi bất thọ”. Quý vị nói rằng, Pháp Thân này thọ, tồn tại lâu dài ư? Cũng chẳng được lâu dài lắm! Thế thì Pháp Thân này không thọ, không lâu dài sao? Cũng lâu dài lắm chứ! “Chẳng thọ”, song “chẳng phải không thọ”, đó là thọ mạng của Pháp Thân Phật. Chính vì không thể nói được Pháp Thân của Phật sống thọ được bao nhiêu lâu, cho nên nói là “phi thọ” (chẳng thọ); lại vì tuổi thọ của Pháp Thân ấy cũng không phải là ngắn ngủi cho nên nói “phi bất thọ” (chẳng phải không thọ).

“Phi thọ phi bất thọ, vô thủy vô chung” (không có sự khởi đầu, cũng chẳng có sự kết thúc) – đó là thọ mạng của Pháp Thân Phật.

Như vậy, trong kinh nói rằng thọ mạng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai là bốn trăm ngàn muôn ức a-tăng-kỳ kiếp, là chỉ cho thứ thọ mạng nào? Đó là thọ mạng của Báo Thân Phật và Ứng Thân Phật.

Kinh văn:

“Trong thời Tượng Pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn nhiều đời tích phước sâu dày, được mọi người kính nể, đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ; song bà mẹ lại tin theo tà đạo, thường khinh chê ngôi Tam Bảo.

Thuở ấy, Thánh Nữ lập nhiều phương tiện để khuyến dụ mẹ, hầu làm cho bà sanh chánh kiến, nhưng bà chưa tin hẳn; và chẳng bao lâu thì bà mệnh chung, thần hồn bị đọa vào địa ngục Vô Gián.

Lúc đó, Thánh Nữ Bà La Môn biết rằng bà mẹ khi còn sống không tin nhân quả, ắt phải theo nghiệp mà sanh vào đường ác, bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương, hoa, cùng những đồ lễ cúng, rồi đem đến chùa tháp thờ tiên Phật mà làm đại lễ cúng dường”.

Lược giảng:

“Trong thời Tượng Pháp”. Phật Pháp của mỗi đức Phật đều gồm có ba thời kỳ là Chánh Pháp, Tượng Pháp và Mạt Pháp.

Vào thời kỳ Chánh Pháp, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, đều thành tâm tu Đạo và chứng đắc quả vị (cho nên gọi là thời Chánh Pháp).

Còn thời kỳ Tượng Pháp thì thế nào? Trong thời Tượng Pháp thì người thật tâm tu hành rất ít, đa số chỉ là dụng công ngoài mặt mà thôi. Đây là thời kỳ “tự miếu kiên cố” – mọi người đều thích làm việc công đức như xây chùa cất tháp, dựng am lập miếu, kiến tạo những chùa tháp tôn nghiêm để thờ Phật. Con người trong thời kỳ này chỉ muốn cầu phước chứ không cầu trí huệ. Đó là thời kỳ Tượng Pháp – “tự miếu kiên cố”, mạnh về mặt xây dựng chùa chiền.

Thời kỳ Chánh Pháp kéo dài một ngàn năm, thời kỳ Tượng Pháp cũng một ngàn năm, còn thời kỳ Mạt Pháp thì một vạn năm. Chúng ta hiện nay đang ở vào thời kỳ Mạt Pháp. Con người thời Mạt PHáp thì “đấu tranh kiên cố” – mạnh về mặt đấu tranh, hiếu chiến.

Vậy trong thời Tượng Pháp sau khi Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai nhập Niết Bàn, “có một người con gái dòng Bà La Môn…”.

Bà La Môn là một phái ngoại đạo của Ấn Độ. Người theo phái ngoại đạo này tu hạnh thanh tịnh. Họ chủ trương ăn chay, không ăn thịt, cũng giảng về việc tu Đạo, không có hành vi nam nữ bất tịnh, cho nên còn gọi là “Tịnh Duệ”. “Tịnh” tức là hạnh thanh tịnh, trong sạch. “Thanh tịnh” là không có hành vi bất tịnh giữa nam nữ, nếu phạm tức là không thanh tịnh.

Dòng Bà La Môn này tuy cũng tu pháp môn “viễn ly”, nhưng tu tới tu lui vẫn không đến được chỗ cốt tủy, không đạt được đạo lý rốt ráo. Đây là một giáo phái có tự ngàn xưa của nước Ấn Độ và cho đến hiện nay, tại Ấn Độ vẫn còn rất nhiều loại giáo phái như thế. Điển hình là phái Du Già, một giáo phái thoát thai từ đạo Bà La Môn. Đối với người Hoa thì đạo Bà La Môn chính là Đạo Giáo (đạo Lão), một giáo phái cũng chủ trương tu hạnh thanh tịnh.

“Nhiều đời tích phước sây dày”. Vào thời Tượng Pháp của Đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, có một người con gái thuộc dòng Bà La Môn mà trong những đời trước đã từng làm rất nhiều việc tốt, tạo được rất nhiều công đức; cho nên đời này cô ta được hưởng rất nhiều phước báo, và “được mọi người kính nể”. Mỗi khi gặp cô gái Bà La Môn này, mọi người đều tỏ ra khâm ngưỡng, kính trọng. Vì sao mọi người đều ngưỡng mộ, kính nể cô ta như vậy? Đó là phước báo do đời trước cô ta đã từng làm nhiều việc công đức. Cho nên, tướng mạo con người xấu hay đẹp là tùy thuộc vào công đức mà họ đã tạo được trong đời quá khứ. Nếu trong đời trước quý vị có tạo được công đức thì đời này tướng mạo của quý vị sẽ viên mãn, hoàn hảo. Còn nếu không tạo được công đức thì thế nào? Thì tướng mại sẽ không được viên mãn – không viên mãn tức là xấu xí vậy!

Đức Phật có 32 tướng hảo, 80 vẻ đẹp. Đó là “ngàn phước trang nghiêm”. Thế nào gọi là “ngàn phước”? Cứ làm một ngàn việc thiện thì được “một phước”. Vậy quý vị phải hoàn tất một ngàn việc thiện thì mới có được “một phước”, thế thì nếu làm mười ngàn việc thiện tức là được “mười phước”, làm một trăm ngàn việc thiện tức là được “một trăm phước”, và làm một triệu việc thiện thì được “một ngàn phước”. Đức Phật do dùng “ngàn phước trang nghiêm” nên mới có được 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp. Tướng mạo của chúng ta trong đời này là tùy thuộc vào nhân duyên của đời trước; do đó có người sinh ra thì xinh xắn đẹp đẽ, song cũng có người lại xấu xí khó coi.

Vậy cô gái dòng Bà La Môn này được mọi người kính nể, nói gì cũng được mọi người hoan hỷ lắng nghe, và khởi xướng việc gì cũng được mọi người hoan hỷ tán thành, hết lòng hỗ trợ. Chẳng những thế, “đi đứng nằm ngồi đều được chư Thiên theo hộ vệ”. Hằng ngày, cô ta luôn luôn được chư Thiên âm thầm che chở, phù hộ.

(còn tiếp)

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s