Vai trò của vũ khí hạt nhân trong chính sách răn đe của Joe Biden – Phần I


Ở Mỹ, một chính quyền mới thường thể hiện trách nhiệm của mình bằng việc công bố vào năm tiếp theo các văn bản khung xác định chính sách quốc phòng và chiến lược của Mỹ, như Chiến lược An ninh Quốc gia (National Security Strategy – NSS) do Bộ trưởng Quốc phòng ban hành hoặc Chiến lược Quân sự Quốc gia (National Military Strategy – NMS) do Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân ban hành. Báo cáo Đánh giá vị thế hạt nhân (NPR) là một trong những tài liệu khung như vậy được ban hành thường xuyên nhất trong thời gian đầu nhiệm kỳ. Như tên gọi đã thể hiện, báo cáo Đánh giá vị thế hạt nhân của Mỹ trong lĩnh vực quốc phòng, cả trong chính sách răn đe và hướng dẫn cho các lực lượng hạt nhân. Do đó, một báo cáo Đánh giá vị thế hạt nhân mới được chờ đợi công bố trong nửa đầu năm 2022. Đáng chú ý, trong số các thông báo được đề cập có thể có những thay đổi trong chính sách răn đe, hạn chế các điều kiện cam kết của các lực lượng hạt nhân so với các báo cáo Đánh giá vị thế hạt nhân trước đây.

Cuộc tranh luận nhằm hạn chế vai trò của răn đe hạt nhân trong chiến lược quốc phòng và an ninh quốc gia của Mỹ không phải mới. Từ Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược (hay “Chiến tranh giữa các vì sao”) được Ronald Reagan công bố năm 1983 qua bộ ba Phòng thủ tên lửa – Chiến lược tấn công nhanh toàn cầu – Răn đe hạt nhân của George W. Bush đến mục tiêu thế giới không có vũ khí hạt nhân được đưa vào bài diễn văn của Barack Obam tại Praha năm 2009, mong muốn giảm bớt tỷ trọng hạt nhân trong quốc phòng của Mỹ đã thường xuyên gây ra những phản ứng chiến lược. Mục đích của việc này là vừa giảm thiểu các rủi ro hạt nhân vừa đa dạng hóa các lựa chọn cho người ra quyết định trong việc giải quyết và ngăn chặn xung đột, đồng thời tận dụng tối đa ưu thế công nghệ của Mỹ trong lĩnh vực thông thường (không gian, các loại vũ khí năng lượng định hướng, thống trị thông tin,…). Mong muốn này luôn phải đối mặt với thực tế của các ngân hàng chiến lược, vốn dựa trên sự tin cậy cảu khả năng răn đe hạt nhân Mỹ, và đặc biệt của chương trình “răn đe mở rộng” mà các đồng minh và đối tác châu Âu, châu Á của được hưởng lợi.

Người ta nhận thấy có một hình thức cân bằng giữa hai mong muốn này vào dịp công bố báo cáo Đánh giá vị thế hạt nhân năm 2010, theo đó vai trò cơ bản của các vũ khí hạt nhân Mỹ là ngăn chặn một cuộc tấn công hạt nhân nhằm vào Mỹ hoặc các đồng minh Mỹ, nhưng không loại trừ trong một số hoàn cảnh khác (rất hạn chế), việc sử dụng trước tiên vũ khí hạt nhân có thể được xem xét. Tuy nhiên, trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra mạnh mẽ và Triều Tiên tăng cường các nỗ lực nhằm xây dựng một kho vũ khí hạt nhân đáng tin cậy, thì những tính toán cá nhân của Tổng thống Biden, người đã từng phát biểu khi là Phó Tổng thống của Barack Obama và trong chiến dịch tranh cử Tổng thống năm 2020 về sự cần thiết phải giảm thiểu vai trò của hạt nhân trong chính sách quốc phòng và an ninh quốc gia Mỹ, có thể dẫn đến sự thay đổi cán cân này một lần nữa.

Các chính sách răn đe, một yếu tố chính sách của chiến lược ngăn chặn

Răn đe hạt nhân là một cơ chế, phần lớn liên quan đến tâm lý và nhận thức, dựa trên mối đe dọa đáng tin cậy của việc sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại một kẻ thù cấp nhà nước. Nó nhằm trước hết làm nản lòng đối phương khi định sử dụng vũ lực chống lại các lợi ích, cốt lõi hoặc mở rộng, của bên răn đe và của các đồng minh trong trường hợp cần thiết. Răn đe hạt nhân phụ thuộc vào các khả năng vật chất giáng cho kẻ thù một đòn hủy diệt sức răn de về mặt tâm lý, với độ chính xác và khả năng thâm nhập thích hợp. Do đó, cơ chế này được thực hiện dựa trên sự hợp lý khi đánh giá mức độ các tổn thất so với nguy cơ đối với bên tấn công, nhưng cũng dựa trên một nhân tố có phần điên rồ, đó là ý chí của bên răn đe muốn phát động một thảm họa hạt nhân. Như Tướng Beaufre nói, “từ trong đống lộn xộn các đánh giá mang tính phỏng đoán, các giả định và các nhận định dựa trên trực giác này, chỉ nổi lên một yếu tố duy nhất có giá trị chắc chắn: đó là sự không chắc chắn. Suy cho cùng, chính là sự không chắc chắn mới là yếu tố cơ bản của sự răn đe”.

Trong một quốc gia hạt nhân, việc chính quyền nêu ra các lý do để sở hữu những vũ khí như vậy có một tầm quan trọng chủ yếu: chẳng hạn, cùng với những lý do khác, họ trình bày các hoàn cảnh trong đó việc sử dụng vũ khí hạt nhân có thể được xem xét (các đảm bảo an ninh tích cực), với một mức độ mơ hồ hoặc không chắc chắn, cũng như nêu các điều kiện mà việc sử dụng chúng sẽ bị loại trừ (các đảm bảo an ninh tiêu cực). Chính sách răn đe này trước hết là nhằm vào các đối thủ tiềm năng. Nó là một trong những yếu tố của phép biện chứng ý chí gắn liền với chiến lược.

Trong khuôn khổ của một liên minh hạt nhân, như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), chính sách răn đe cũng hướng đến các đồng minh thuộc phạm vi bảo vệ của sự răn đe mở rộng, được Mỹ thực hiện trong trường hợp cụ thể. Mục tiêu của nó trong trường hợp này là mang đến cho các đồng minh của Mỹ một cam kết bảo vệ. Sau hết, trong các quốc gia dân chủ, chính sách đó nhắm đến những dân tộc có chủ quyền, đến những người đại diện và xã hội dân sự của họ, và do đó trong tuyên bố cũng phải coi trọng những ý kiến của họ. Nó cũng có thể mang một phần thông điệp nội bộ, đặc biệt là trong các chế độ độc tài như một nhân tố kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa hoặc để củng cố uy tín của các nhà lãnh đạo.

Các chính sách răn đe này có thể được thông báo qua các hình thức khác nhau ở các quốc gia có trang bị hạt nhân. Ở Pháp, thông thường là dưới hình thức một bài diễn văn của Tổng thống – chẳng hạn diễn văn của Emmanuel Macron ngày 7/2/2020. Các nước Mỹ, Nga, Vương quốc Anh và Trung Quốc lại lựa chọn thể hiện bằng hình thức các tài liệu. Những tuyên bố và tài liệu này thường được bổ sung các văn bản phổ biến ở các cấp chính trị, ngoại giao hoặc quân sự, cho phép cụ thể hóa hoặc làm rõ một số thuật ngữ.

Tuy nhiên, nên tương đối hóa mức độ quan trọng và hậu quả của một chính sách răn đe. Nó chỉ có giá trị khi phù hợp với vị thế của các lực lượng hạt nhân (triển khai các hệ thống vũ khí và các chế độ cảnh báo liên quan), và đặc biệt là những gì có thể quan sát được bởi các đối thủ tiềm năng. Luận điểm này có hai hạn chế. Thứ nhất, một sự thay đổi chính sách răn đe không nhất thiết dẫn đến thay đổi chính sách hạt nhân của một đối thủ tiềm năng. Thực vậy, đối thủ này sẽ có xu hướng quan sát trước tiên những thay đổi vị thế hạt nhân trên thực tế trước khi cân nhắc, trong trường hợp cần thiết, thay đổi vị thế hạt nhân của chính mình. Thứ hai, các yếu tố của một chính sách răn đe không qua vị thế của các lực lượng hạt nhân có thể dễ dàng bị nghi ngờ, đặc biệt là ở các quốc gia không được đặt dưới một sự kiểm soát dân chủ. CHẳng hạn, việc Liên bang Xô Viết năm 1982 thông qua chính sách răn đe “Không sử dụng vũ khí hạt nhân trước” (No First Use – NFU) đã không tạo ra bất kỳ sự thay đổi nào ở phía các quốc gia phương Tây, vốn không bao giờ tin vào điều đó. Việc Liên bang Nga năm 1993 từ bỏ chính sách răn đe tương tự cũng không làm thay đổi gì hơn. Và lý do là: việc phân tích các tài liệu lưu trữ có nguồn gốc Đông Đức cũ dường như chỉ ra rằng bất chấp tuyên bố năm 1982, khối Hiệp ước Warsaw vẫn tiếp tục xem xét các kế hoạch tấn công kết hợp các phương tiện theo quy ước với sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế Pháp – Tháng 12/2021

CVĐQT – số 01/2022

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s