Loài khỉ siêu quần thể – Phần VII


Âm thanh của đám đông

Trước khi quen biết người chồng lịch lãm của mình, cô bạn Christine của tôi thường háo hức có được một buổi hẹn hồ trong đêm Lễ Tình Nhân. Nhưng theo nhiều cách, đó lại là điều tốt đẹp bởi nó cho phép co dành thời gian cho tình yêu đầu đời của mình là Câu lạc bộ bóng đá Asernal.

Vào một tối tháng Hai ẩm ướt năm 1988, cô thấy mình đứng ở khu vực Clock End trong Sân vận động Highbury để theo dõi trận bóng giao hữu giữa những chàng trai của cô và đội tuyển trẻ của Pháp do Michel Platini huấn luyện. Vào thời đó, Highbury không phải là một thành phố quốc tế như ngày nay (có vẻ như một nửa đội tuyển Pháp đang chơi cho các “Gooners”). Đúng vậy, vì đám đông người dân “ngoại quốc” Bắc London là những kẻ thô lỗ, và tất cả những người nước ngoài khác cũng thế.

Chính vì thế, thú vị là trong 30 phút đầu của trận đấu, toàn bộ sân vận động cùng hát vang một bài hát bằng tiếng Pháp. Giống như nhiều bài hát cổ động bóng đá khác, nó hoài nghi về tư cách “cầm cân nảy mực” của trọng tài nhưng theo cách khá hóm hỉnh: “Thằng kh… trong bộ đồ đen kia là ai?” Phải thừa nhận rằng câu hát đó có vấn đề về mặt ngữ pháp. Cũng như nó không sâu sắc hay không du dương, vậy mà cứ được lặp đi lặp lại. Tuy nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên về hiện tượng này chính là tốc độ mà bài hát được người hâm mộ bắt nhịp và hát cùng nhau. Và cả cái cảm giác sảng khoái mà Christine và những người hâm mộ khác kể lại.

Không tập dượt, không có nhạc trưởng, không có dàn hợp xướng để dẫn dắt đám đông. Không thứ gì “buộc” họ phải làm thế. Họ học lẫn nhau, họ bắt chước và cùng tham gia một cách vô thức.

Loài khỉ biết cảm thông

Sự sao chép và cảm thông không chỉ là những hiện tượng của con người. Chúng còn được phát hiện ở những người họ hàng không phải người của chúng ta. De Waal đã kể câu chuyện về một con tinh tinh, khi nghe tiếng kêu ai oán từ một con chim sẻ bị thương, nó đã mạo hiểm sinh mạng, leo xuống cái hào bao quanh khu vực của mình để bế chú chim lên và bình tĩnh thả nó bay đi. Câu chuyện của các nhà linh trưởng học luôn chứa đầy sự cảm thông mà đối tượng nghiên cứu của họ đã thể hiện trong các mối quan hệ lâu dài.

Tôi đặc biệt cảm động trước câu chuyện mà Dunbar sử dụng để mở đầu cuốn sách có sức ảnh hưởng lớn nhất của ông: Dunbar kể lại việc ông được một con tinh tinh chải lông cho mình, cảm giác ban đầu căng thẳng khi những ngón tay thoăn thoắt của chú tinh tinh di chuyển tán loạn trên da ông, đến khi có một chút sơ suất và da ông bị trầy xước, cảm giác thoải mái tràn ngập khắp người ông.

Tất cả chúng ta đều hưởng lợi từ cử chỉ tiếp xúc thân thiện với người khác; những cảm giác tương tự mà Dunbar mô tả sẽ xuất hiện khi chúng ta được ôm hay ghì chặt. Và một lần nữa, đặc tính hóa học của bộ não sẽ thay đổi khi điều này xảy ra; chúng ta cảm thấy thoải mái bởi vì bộ não của chúng ta tràn ngập các chất gây nghiện tự nhiên hay endorphin. Còn điều gì ẩn khuất sau giá trị to lớn của hành động ôm ấp hay vuốt ve thường thấy trong các mối quan hệ thân thiết của con người? Một số người cho rằng điều này ít nhất cũng là lời giải cho công hiệu của nhiều loại dược phẩm thay thế. Chẳng hạn như chuỗi chương trình truyền hình do đài BBC thực hiện gần đây đã tiến hành thử nghiệm lâm sàng tác dụng của châm cứu trong việc khống chế chứng viêm khớp mãn tính hay gặp ở đầu gối. Họ lập ra ba nhóm “mù kép” (double-bin cells) (đó là một bệnh nhân được lựa chọn và phân bố ngẫu nhiên vào ba nhóm): (1) chỉ sử dụng thuốc, (2) sử dụng thuốc và châm cứu, (3) sử dụng thuốc và hình thức châm cứu chỉ có tác dụng “trấn an” (tức là sử dụng kim châm mà không đâm xuyên qua da bởi loại kim này đặc biệt giống như thanh gươm đạo cụ trên sân khấu). Trong khi bệnh nhân ở nhóm thứ hai có nhiều cải thiện nhất thì nhóm thứ ba (nhóm được châm cứu trấn an) cũng cảm thấy khỏe hơn hẳn. Người ta cho rằng phần lớn là do mối tương tác xúc giác của con người.

Một người bạn của tôi bị nghiện loại hình massage trong các spa chăm sóc sức khỏe; và theo kinh nghiệm của mình, tôi cam đoan rằng cơ chế hoạt động trong trường hợp này cũng tương tự. Chúng ta cần sự tiếp xúc từ người khác để cảm thấy ổn hơn. Không có gì ngạc nhiên khi đời sống tình dục của những cá thể biến dị giai đoạn sơ sinh – chúng ta – lại tràn ngập đủ mọi cảm giác xúc giác. Cơ thể của chúng ta khoan khoái hơn rất nhiều nhờ tiếp xúc với người khác.

Ngôn ngữ và vuốt ve

Có thể bạn cho rằng điều này rất tốt nhưng điều khiến chúng ta khác biệt với các loài khỉ khác chính là khả năng ngôn ngữ. Chúng không thể nói chuyện hay giao tiếp theo cách của chúng ta, hay bắt bẻ lập luận, viện dẫn bằng chứng như cách Mark đang làm.

Đúng vậy. Nhưng hãy phân tích nguồn gốc của ngôn ngữ. Có phải hiện nay mọi người nhất trí rằng những năng lực ngôn ngữ của con người đã phát triển cao hơn hành vi vuốt ve và chải lông ở các loài khỉ khác. Thảo nào mà hầu như toàn bộ nội dung giao tiếp khi tôi và bạn gặp mặt nhau đều thông qua ngôn ngữ cơ thể, giọng nói và ngữ điệu. Rất ít nội dung giao tiếp được thực hiện qua ngôn từ. Cũng không có gì bất ngờ khi phần lớn những gì chúng ta nói với nhau đều xoay quanh các mối quan hệ – Dunbar và những nhà nghiên cứu trong nhóm đã chứng minh được rằng những gì được ghi nhớ từ các câu chuyện tán gẫu (theo hình thức truyền miệng) chính là những thứ có giá trị xã hội. Tức là ai làm điều gì cho ai, và hàm ý xã hội của việc làm đó là gì. Vì vậy, ngay cả thứ bạn muốn bám lấy và xem như khả năng hay kỹ năng vượt trội để phân biệt chúng ta với các loài khỉ khác đều bắt nguồn từ hành vi mang tính bầy đàn của loài khỉ, và quả thật, nó chỉ là phiên bản tốt nhất của hành vi bắt chấy rận cho nhau mà thôi.

Sự cô độc của bệnh tự kỷ

Tất cả chúng ta đều là một dạng đột biến nào đó; mỗi chúng ta là một biến thể độc nhất từ mã gien của cha mẹ và ông bà. Mỗi chúng ta đều khác biệt đôi chút so với tiêu chuẩn bởi khi mã gien được sao chép từ cha mẹ cho con cái, có một chút gì đó bị mất đi trong quá trình chuyển hóa. Nhưng hiếm có trường hợp gây ra cho chúng ta những khó khăn thật sự trong cuộc sống bởi vì hầu như không có biến thể nào để lại ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc có hại cho hình dạng và chức năng tự nhiên, bình thường của các giống loài.

Tuy nhiên, có nhiều tình huống bộ não chúng ta không thể phát triển như cách vốn có của nó. Một tình huống phổ biến nhất (ít ra là trong trí tưởng tượng của mọi người) và rõ ràng nhất là chứng tự kỷ – một loại bệnh vốn gây phiền não nhất cho các bậc phụ huynh. Leo Kanner ở Baltimore và Hans Asperger ở Áo đã mô tả chứng rối loạn phát triển có hại này, và đặt tên nó theo một từ Hy Lạp là “autos”, tức “self” (“tự”). Bệh tự kỷ có thể cùng tồn tại với các trường hợp rối loạn chức năng khác (như hội chứng Down), nhưng nhìn chung người ta hiểu chứng bệnh này là hiện tượng mất khả năng tương tác và cảm thông với người khác.

Quá trình chẩn đoán này nay có hệ thống hơn, như hệ thống 10 điểm ở Mỹ chẳng hạn (xem Bảng 1), còn ở Anh là 7 điểm. Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi của quá trình chẩn đoán nằm ở sự tương tác xã hội.

Bảng 1: Tóm tắt các tiêu chuẩn DSM-III-R về bệnh tự kỷ (Mỹ)

+ Khiếm khuyết định tính trong tương tác xã hội tương hỗ (như là thiếu nhận thức hay cảm giác về người khác, không có khả năng bắt chước hay bắt chước kém, không có hành vi nô đùa với mọi người hay hành vi nô đùa không bình thường,…).
+ Khiếm khuyết định tính trong giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và trong hoạt động đòi hỏi trí tưởng tượng (như không có cách giao tiếp – nói lảm nhảm, cử chỉ, điệu bộ hay ngôn ngữ nói; đáng chú ý là ngôn ngữ cơ thể bất thường – nét mặt, dáng điệu cơ thể; không có hoạt động giàu tính tưởng tượng – như không tham gia trò chơi đóng vai, không thích thú với các câu chuyện về những điều tưởng tượng, nổi bật là khiếm khuyết về khả năng khởi xướng hay duy trì cuộc đàm thoại với người khác, có xu hướng độc thoại).
+ Danh mục các hoạt động và sở thích rất hạn chế (chẳng hạn như những cử động cơ thể rập khuôn giống như búng tay, giật giật đầu; khăng khăng giữ lấy các bộ phận của một vật thể hay đặc điểm của chúng ta hay những vật thể khác thường; dễ đau buồn trước những thay đổi không đáng kể trong môi trường; khăng khăng bám theo lề thói thông thường và giữ lấy những sở thích hạn chế)

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Mark Earls – Tâm lý bầy đàn – NXB THTPHCM – 2012

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s