Ảnh hưởng của an ninh mạng đến chủ quyền quốc gia và triển vọng hợp tác Nga – Việt – Phần I


S. Dovgy, V. Kolotov, N. Storozhuk

Tóm tắt:

Bài viết xem xét ảnh hưởng của an ninh mạng đối với vấn đề chủ quyền trong thế giới hiện đại: từ đó đề xuất một danh sách các biện pháp ưu tiên, có thể giúp bảo vệ, củng cố chủ quyền quốc gia. Các vấn đề được nghiên cứu thông qua trường hợp của Việt Nam, một đất nước mà trong những năm gần đây đã cho thấy hoạt động quản lý kinh tế đạt được hiệu quả cao, nhưng cho đến hiện nay Việt Nam vẫn thuộc vùng dễ bị tổn thương, dễ bị công kích trong lĩnh vực mạng và an ninh mạng. Các tác giả tin rằng, việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này với Nga sẽ cho phép Việt Nam nhanh chóng giảm thiểu rủi ro ở những khu vực nguy hiểm nhất.

Đặt vấn đề

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng các công nghệ hiện đại, mà trong những trường hợp cần thiết, có thể được quản lý từ xa mà không có hiểu biết về các nhà khai thác. Điều này có thể gây nguy hại cho các cơ sở hạ tầng quan trọng và an ninh quốc gia của các quốc gia, những nơi mà các nhà lãnh đạo quốc gia thể hiện sự sơ suất mang tính hình sự và các bộ, ban, ngành thì tỏ rõ sự không phù hợp.

Trong thế giới hiện đại, công nghệ thông tin ngày một phát triển hơn, đang làm thay đổi cuộc sống của chúng ta, thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực giáo dục, sản xuất, hậu cần, tài chính, cũng như quốc phòng và an ninh. Vì điều này đã liên tục xảy ra trong lịch sử nhân loại nên các cường quốc phát triển nhất đang tìm cách áp dụng những công nghệ tiên tiến do họ phát triển chống lại những nước đi sau và bằng chi phí của các nước này để củng cố vị thế địa chính trị và kinh tế của mình. Sự khác biệt ngày càng tăng về mức độ phát triển kỹ thuật số dẫn đến việc các quốc gia có chủ quyền sẽ vẫn tồn tại và có thể kiểm soát và bảo vệ không gian kỹ thuật số của họ, còn tất cả các nước khác sẽ phải chấp nhận hoặc sống chung với những rủi ro về áp lực và cướp bóc, hoặc cúi đầu trước những kẻ có thể trở thành “người lãnh đạo” mình.

Ngày nay, không gian mạng là một lĩnh vực mà chủ quyền quốc gia có thể được thiết lập giống như trên đất liền, trên không hay không gian biển, hoặc chính quyền của đất nước có thể quyết định chuyển quyền kiểm soát không gian mạng của họ cho một cường quốc khác hoặc thậm chí bỏ mặc ở lĩnh vực này (ở một quốc gia như vậy, nhà nước không quản lý các quy trình, mà là các quy trình được khởi xướng từ bên ngoài).

Tuy nhiên, vấn đề chính của an ninh kỹ thuật số không phải là lừa đảo qua mạng, mà là chiến tranh mạng. Ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác, việc đào tạo đội quân mạng diễn ra mạnh mẽ. Nguyên Tổng thống Mỹ Barack Obama công khai đe dọa một cuộc tấn công vào cơ sở hạ tầng quan trọng của Nga. Tài liệu WikiLeaks đã cho thấy các công cụ tấn công mạng đang được phát triển như thế nào. Vì vậy, sẽ là ngây thơ khi nghĩ rằng các công cụ này sẽ không được sử dụng, đặc biệt là trong điều kiện căng thẳng ngày càng gia tăng. Trước đây, để khiến kẻ địch phải đầu hàng, người ta đã bao vây pháo đài và ném bom các thành phố. Hiện nay người ta sẽ phá hủy các hệ thống thanh toán và nền tảng kỹ thuật số công nghiệp.

Cuộc tấn công mạng của Hoa Kỳ vào Venezuela, bắt đầu ngày 7 tháng 3 năm 2019 chỉ ra rằng, không phải vô ích khi các chuyên gia kêu gọi phải cảnh giác: thế giới thực tế đã bước vào kỷ nguyên mới của chiến tranh mạng, nơi các nước phát triển hơn sử dụng các công nghệ mạng hiện đại để khuất phục các nước yếu hơn.

Thêm một ví dụ khác về hành động quân sự hóa không gian mạng là quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong lĩnh vực viễn thông, ngăn chặn công ty Huawei của Trung Quốc xâm nhập thị trường Mỹ. Và đây không phải là một ý thích nhất thời. Tháng 9 năm 2018, khi chiến lược an ninh mạng của Hoa Kỳ được phê chuẩn, Cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống là John Bolton tuyên bố: “Chúng tôi xác định và ngăn chặn hành vi trong không gian mạng trái với lợi ích quốc tế, nhưng đồng thời chúng tôi đang cố gắng đảm bảo rằng Hoa Kỳ duy trì lợi thế trong không gian mạng”. Nói cách khác, chính phủ Hoa Kỳ tự coi mình có quyền cấm sử dụng công nghệ thông tin của bất kỳ quốc gia hoặc công ty nào nếu điều đó đe dọa sự thống trị của Hoa Kỳ trong một lĩnh vực nào đó. Các biện pháp trừng phạt hiện tại đối với Huawei không chỉ bởi những nguy cơ an ninh đến từ những phần cài đặt trong các thiết bị của công ty Trung Quốc, mà còn bởi nguy cơ bị tụt hậu công nghệ của Hoa Kỳ.

Tình hình mạng của Việt Nam

Tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam) người ta biết rằng, an ninh mạng là một trong những vị trí yếu nhất trong cả nước, và khá hợp lý khi người Việt Nam cho rằng, vấn đề này cần được giải quyết với sự hỗ trợ của Nga. Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tới Liên bang Nga tháng 9 năm 2018 đã tăng cường sự hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực an ninh mạng.

Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT), năm 2017, hơn 40 nghìn vụ tấn công mạng đã được ghi nhận với tổng thiệt hại hơn 400 triệu USD. Tội phạm mạng đã xâm nhập hơn 400 tài khoản chỉ riêng ở Ngân hàng Agribank. Những kẻ tấn công liên tục cải tiến các phương pháp và công cụ tấn công. Nhóm rủi ro chủ yếu bao gồm các đối tượng là cơ quan thuộc nhà nước, các ngân hàng và cơ sở hạ tầng công nghiệp. Một cuộc tấn công có thể được thực hiện bằng cách lây nhiễm các chương trình virus cho phép tội phạm mạng kiểm soát từ xa các tài nguyên bị ảnh hưởng. Các chuyên gia thuộc Trung tâm VNCERT cảnh báo rằng, các cuộc tấn công như vậy có thể gây hậu quả rất nghiêm trọng đối với các tổ chức tài chính và các công ty liên quan đến thanh toán trực tuyến, do đó, các tổ chức như vậy cần đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ cơ sở dữ liệu của mình.

Theo các chuyên gia của trung tâm, ngày nay lỗ hổng tội phạm mạng ở Việt Nam rất lớn. Thông thường, tội phạm mạng có thể truy cập vào tài sản trí tuệ, dữ liệu cá nhân hoặc hệ thống tiền tệ thông qua Internet. Theo công ty BKAV của Việt Nam, chuyên đảm bảo an ninh thông tin và mạng, số vụ tấn công và lây nhiễm virus mạng cục bộ và máy tính cá nhân tại Việt Nam đang tăng khoảng 10% mỗi năm.

Về phần mình, các chuyên gia của Hiệp hội An toàn thông tin Việt Nam (VNISA) lưu ý rằng, hầu hết các trang web của các tổ chức và cấu trúc chính phủ Việt Nam không có biện pháp phòng vệ đầy đủ chống lại các cuộc tấn công mạng và có thể bị tấn công bất cứ lúc nào. Thí dụ, tháng 10 năm 2014, một cuộc tấn công có chủ đích đã được thực hiện đối với nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ lớn nhất là Tập đoàn VCCorp, khi một số trang web được lưu trữ trên các trang web của công ty bị vô hiệu hóa. Năm 2019, theo hãng sản xuất và phân phối phần mềm bảo mật Kaspersky Lab, “người dùng Việt Nam phải đối mặt với hơn 800 nghìn cuộc tấn công từ mã độc và 21,5% người dùng Internet Việt Nam có nguy cơ trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công mạng”. Đồng thời, tin tặc Việt Nam đã khởi xướng khoảng một triệu cuộc tấn công mạng chỉ trong quý cuối năm 2018.

Một số cuộc tấn công mạng được đồng bộ hóa với các sự kiện địa chính trị mang tính biểu tượng. Chẳng hạn, năm 2016, phán quyết của Tòa án Trọng tài La Hay đã bác bỏ các yêu sách kiểm soát độc quyền các đảo trên Biển Đông của Bắc Kinh, được chính phủ và công chúng Hoa Kỳ, Nhật Bản và Philippines ủng hộ. Tại Việt Nam, người dân cũng hoan nghênh quyết định của tòa vá nhấn mạnh rằng, họ ủng hộ một giải pháp hòa bình về tranh chấp lãnh thổ. Sau đó, các tin tặc của nhóm 1937CN trong vài phút đã tìm cách chặn các hệ thống cảnh báo tại các sân bay quốc tế Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và tung các video clip trên màn hình sân bay với các biểu tượng riêng và tuyên bố rằng các đảo này thuộc Trung Quốc. Đồng thời, một giọng nam nói tiếng Anh vang lên trên hệ thống thông báo âm thanh, chỉ trích quan điểm của chính quyền Việt Nam về các đảo tranh chấp. Sau đó, trang web của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đã bị tấn công và hình ảnh trước đây vẫn hiển thị trên màn hình sân bay đã được hiển thị trên trang chính của hãng.

Theo thông tin của cựu nhân viên Cơ quan An ninh quốc gia Hoa Kỳ (NSA) Edward Snowden, các cơ quan ngoại giao của Việt Nam tại Hoa Kỳ hoàn toàn nằm dưới “chiếc nắp mạng” của cơ quan tình báo Mỹ.

Chính phủ Hoa Kỳ đã nỗ lực thông qua luật về bảo mật thông tin mạng và triển khai một máy chủ trên lãnh thổ của họ có dữ liệu liên quan đến Việt Nam. Nỗ lực này là một trong những lý do gây ra tình trạng bất ổn xuất phát từ bên ngoài vào mùa hè năm 2018, nhằm ngăn chặn việc áp dụng luật an ninh mạng và duy trì lỗ hổng mạng tại Việt Nam. Tuy nhiên, điều này không được trực tiếp nói ra và những người gây lộn xộn đã thể hiện mình bằng những khẩu hiệu bảo vệ quyền tự do thông tin. Tuy nhiên, từ ngày 1 tháng 1 năm 2019, luật này có hiệu lực tại Việt Nam và theo tuyên bố của các chuyên gia Việt Nam việc áp dụng luật này có liên quan đến các hoạt động lật đổ của các cơ quan tình báo nước ngoài nhằm phá hoại chế độ chính trị. Ngoài ra, chính phủ Việt Nam lo ngại về các cuộc tấn công của tin tặc sẽ gây thiệt hại đáng kể về kinh tế.

(còn tiếp)

Người dịch: Đỗ Minh Cao

Nguồn: TN 2019 – 59

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s