Lý luận và thực tiễn về mô hình tăng trưởng dựa vào hệ thống khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – Phần XII


c/ Thực trạng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển

Trên tất cả các bảng xếp hạng, các chỉ số đánh giá năng lực đổi mới, Thụy Điển đều xếp thứ hạng cao. Với dân số khoảng 9,6 triệu người năm 2013, mức GDP là 570,59 tỷ USD năm 2014, giá trị GDP của Thụy Điển chiếm đến 0,92% nền kinh tế thế giới. Năm 2012, số lượng đơn xin cấp bằng sáng chế đạt 2749 đơn, trung bình 290 đơn/tháng.

Hệ thống đổi mới khoa học – công nghệ của Thụy Điển dựa trên mô hình Triple Helix, trong đó có 43 vườn ươm doanh nghiệp, 33 công viên khoa học, 12 quỹ đầu tư hạt giống vùng (số liệu thống kê năm 2013). Nhiệm vụ trọng tâm của các thành phần này là tập trung vào quá trình thương mại hóa và đổi mới kinh doanh. Có 5000 doanh nghiệp khởi nghiệp với 72.000 lao động.

Với những lợi thế về môi trường kinh doanh, sự ưu đãi trong các khoản vay của ngân hàng dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, sự liên kết đổi mới chặt chẽ, sâu rộng và một hiệu suất lao động cao tạo nên một môi trường đổi mới vô cùng thuận lợi cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào muốn khởi nghiệp.

d/ Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Toàn cảnh bức tranh về khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Thụy Điển rất đặc sắc về cấu trúc cũng như thành quả hoạt động. Những gì Thụy Điển đã đạt được về vị trí, sự phát triển kinh tế – xã hội là một tấm gương cho các quốc gia khác. Tuy nhiên, hạn chế trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu cũng được coi là điểm yếu của hệ thống đổi mới quốc gia của Thụy Điển. Đứng trước vấn đề như vậy, Thụy Điển đã xây dựng các chính sách nhằm đẩy mạnh các doanh nghiệp spin-off và các start-up để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là hình thành các doanh nghiệp nhỏ và vừa công nghệ cao thông qua việc phổ biến các kết quả nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận với nghiên cứu khoa học.

2/ Israel

Năm 2019, Israel xếp thứ 10/187 quốc gia về Chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, được xếp vào nhóm “phát triển rất cao”. Đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa các sản phẩm khoa học và công nghệ vào thực tiễn đã giúp cho Israel từ một nước xuất khẩu chủ yếu các loại quả có múi (cam, quýt) trở thành một nước xuất khẩu hàng đầu các sản phẩm công nghệ cao, đưa Israel trở thành nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo thành công nhất thế giới, là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập.

a/ Cơ chế, chính sách khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo của Israel

Chính phủ Israel đã thực thi nhiều biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế mà đáng kể đến là việc tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư được thực hiện. Chính phủ đã ban hành các luật khuyến khích đầu tư vốn từ năm 1959 thông qua các chương trình tài trợ cạnh tranh và miễn thuế cho các phương tiện sản xuất. Chính phủ cũng ban hành luật khuyến khích chi tiêu nghiên cứu và phát triển công nghiệp vào năm 1984 để thúc đẩy phát triển lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra, Chính phủ Israel cũng hỗ trợ phát triển kinh doanh trên mọi lĩnh vực thông qua nhiều chương trình như: Khuôn khổ hợp tác nghiên cứu và phát triển trong các doanh nghiệp toàn cầu, hình thành các trung tâm dự án R&D doanh nghiệp toàn cầu, ưu đãi thuế cho các trung tâm R&D, miễn thuế cho đầu tư vốn mạo hiểm, triển khai các chươgn trình hỗ trợ việc làm, các chương trình hỗ trợ đào tạo…

Chiến lược khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo tổng thể: Tuy không có chiến lược hay kế hoạch quốc gia nào về chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới, nhưgn Israel công bố nhiều báo cáo và văn kiện chính sách đưa ra nhiều định hướng. Một số lĩnh vực cụ thể được xác định thuộc những mục trọng tâm của chính sách gồm: công nghệ sinh học, công nghệ nano, lĩnh vực công nghệ sạch và nâng cao hiệu suất của các ngành công nghiệp công nghệ thấp. Như vậy, Israel xác định trực tiếp các định hướng phát triển kinh tế gắn với công nghệ cao. Đồng thời quốc gia này chú ý nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Không có sự thay đổi đáng kể nào gần đây trong chính sách quản trị khoa học – công nghệ và đổi mới. Một vấn đề ưu tiên chính liên quan đến quản trị là cải tiến đánh giá chính sách. Điều này dẫn đến việc thành lập một bộ phận thẩm định chính sách thuộc văn phòng của các nhà khoa học đứng đầu, tư vấn về các vấn đề chính sách liên quan đến hỗ trợ công cho R&D và các chương trình đánh giá.

Về ngân sách cho hoạt động khoa học – công nghệ và đổi mới, Israel có cường độ R&D rất cao trong khối OECD, với tổng chi phí quốc gia cho hoạt động R&D (GERD) năm 2010 đạt 4% GDP (không bao gồm quốc phòng). Đầu tư cho R&D tăng trung bình 4,1%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010. Khu vực tư nhân tài trợ khoảng 52% GERD trong năm 2008.

Israel là quốc gia có nền tảng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thuộc nhóm nước đứng đầu OECD về các trường đại học được xếp hạng trên thế giới. Trong giai đoạn 2011 – 2020, chi tiêu công cho R&D luôn ở mức cao trong khu vực, Chính phủ hỗ trợ Quỹ đầu tư cho các nghiên cứu lên đến hơn 100 USD/năm.

Ngoài ra, để khuyến khích nghiên cứu chất lượng cao, một hình thức tài trợ mới đã được áp dụng dựa nhiều hơn vào đánh giá hiệu suất hoạt động thực tế. Các nguồn lực bổ sung cũng được chuẩn bị sẵn sàng để cho phép thuê thêm giảng viên mới tại các trường đại học và để cải thiện hạ tầng cơ sở của các trường đại học. Các trung tâm dự án xuất sắc I-CORE nhằm mục tiêu tăng cường hạ tầng cơ sở nghiên cứu trong các lĩnh vực đã được lựa chọn. Dự án được chính phủ phê chuẩn và được Hội đồng Giáo dục đại học của Israel thông qua tháng 3/2010, có tổng ngân sách khoảng 362 triệu USD.

Chính sách thúc đẩy hoạt động đổi mới và ứng dụng công nghệ mới trong doanh nghiệp: Nhiều biện pháp đã được thực hiện để hỗ trợ R&D doanh nghiệp; khoảng 80% ngân sách R&D dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ R&D đã được thành lập để giảm thiểu rủi ro cho các nhà đổi mới công nghiệp. Quỹ này phê chuẩn dự án của tất cả các loại hình doanh nghiệp – mới khởi nghiệp hay doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí cả các công ty lớn – dựa trên tư vấn của các chuyên gia công nghiệp và đánh giá các dự án có hệ thống. Đây là một công cụ đã được sử dụng trong phát triển thành công lĩnh vực công nghệ thông tin và hiện nay tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực ưu tiên mới như công nghệ sinh học.

Để đảm bảo quyền lợi cho trường đại học và doanh nghiệp khi tham gia vào hoạt động chuyển giao công nghệ; đồng thời khuyến khích các nhà khoa học cũng như trường đại học nghiên cứu và đẩy mạnh thương mại hóa công nghệ, Israel quy định nghiêm ngặt về quyền sở hữu trí tuệ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ. Theo đó, doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ phải cam kết đưa công nghệ ra thị trường và không có quyền công bố kết quả nghiên cứu. Quyền sở hữu trí tuệ vẫn thuộc về trường đại học và luôn được quy định trong hợp đồng chuyển giao. Mặt khác, trường đại học cũng không có quyền tự kinh doanh bằng công nghệ đó mà không có sự hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Israel không cho bán mà chỉ cho phép trường đại học chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho doanh nghiệp theo hợp đồng chuyển giao công nghệ.

Về các chính sách thúc đẩy khởi nghiệp, việc hỗ trợ cho các công ty mới khởi nghiệp là một khía cạnh quan trọng trong chính sách khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo của Israel. Chương trình vườn ươm công nghệ hỗ trợ giai đoạn đầu cho doanh nghiệp công nghệ bằng cách hỗ trợ chuyển đổi các ý tưởng sáng tạo thành các sản phẩm thương mại có khả năng thành công. Ngân sách của chương trình vào khoảng 40 triệu USD. Chương trình thúc đẩy quốc gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (TNUFA) cũng hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ đổi mới sáng tạo ở giai đoạn trước khởi nghiệp bằng cách giúp chuẩn bị đăng ký sáng chế và đánh giá tính khả thi công nghệ và tài chính của các sáng kiến.

Chính sách đẩy mạnh chuyển giao tri thức và thương mại hóa kết quả nghiên cứu: Một số chương trình hỗ trợ sự tương tác giữa khu vực nghiên cứu công và công nghiệp tư nhân. Một trong số đó là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu lĩnh vực công nghệ mới (MAGNET), được thành lập vào năm 1994 và có ngân sách là 57 triệu USD vào năm 2011. Chương trình này hỗ trợ nghiên cứu khái quát tiền cạnh tranh do các consortium công nghiệp và các tổ chức nghiên cứu thực hiện. Chương trình hỗ trợ các đề xuất từ các viện nghiên cứu, ngành công nghiệp và các nhân viên MAGNET cũng đề xuất ý tưởng với các viện và ngành công nghiệp như là một cách để hình thành các consortium. Một mục tiêu bổ sung của chương trình là hỗ trợ sự phát triển các cụm công nghệ. Chương trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu (NOFAR) tích cực hỗ trợ thương mại hóa bằng cách tài trợ nghiên cứu khoa học về công nghệ sinh học và công nghệ nano nhằm điều chỉnh các hoạt động đổi mới phù hợp để sử dụng cho các ngành công nghiệp và khuyến khích áp dụng. Ngân sách phân bổ cho các dự án kéo dài 12 – 15 tháng, thường vào khoảng 100.000 USD.

(còn tiếp)

TH: T. Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Bùi Quang Tuấn & Hà Huy Ngọc (đcb) – Mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo – NXB CTQG 2021

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s