Thần thông trên cung trời Đao Lợi – Phần cuối


Thánh Nữ đang được nói đến trong Kinh này vốn thuộc dòng Bà La Môn, tức là ở hàng quý tộc. Xã hội Ấn Độ và Anh Quốc đều chú trọng giai cấp, và cho đến nay họ vẫn còn đặt nặng vấn đề giai cấp. Nước Mỹ là một quốc gia dân chủ, không ai có quan niệm phân chia giai cấp cả, mọi người đều sống rất bình đẳng. Còn Ấn Độ thì lại khác, những người thuộc giai cấp cao không được trò chuyện với người ở giai cấp thấp thua mình. Nếu vi phạm, họ sẽ bị những người thuộc giai cấp cao khinh rẻ, xem như kẻ không có chút giá trị, chẳng ra gì! Quan niệm phân chia giai cấp này rất lợi hại!

Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến. Thi La tiếng Phạn và có nghĩa là giới luật, tuy nhiên ở đây thì hàm nghĩa mát mẻ (thanh lương).

Thân mẫu tôi tên là Duyệt Đế Lợi. Duyệt Đế Lợi cũng là Phạn ngữ. Trong kinh Phật, không có cái gì thuyết pháp một cách chánh thức; nên ở đây tôi chú giải thêm chút đỉnh, như duyệt nghĩa là hoan hỷ, vui vẻ; đế là hoàng đế. Vậy hoàng đế vui thích, ý nói người này rất xinh đẹp đến ngay cả hoàng đế cũng phải yêu thích – cũng có thể giải thích như thế.

Thật ra, ý nghĩa của tên gọi thì không nhất định, quý vị muốn giảng nghĩa thế nào cũng được, miễn sao hợp lý thì thôi, nhất là đối với tiếng Phạn. Do đó, sau khi nghe giảng rồi, quý vị xem kinh văn có chỗ nào không hiểu, thì chớ vội nói là mình không biết. Quý vị phải vận dụng trí huệ của chính mình để nghiền ngẫm, suy luận! Trí huệ của quý vị một khi khai mở thì: “Ồ! Tôi biết rồi, thì ra là như vậy!” Hễ nói cho hợp lý thì giảng thế nào cũng được, chỉ cần đừng mắng chửi người khác, đừng nói xấu hoặc bôi nhọ, cũng chớ nên cứng nhắc, cố chấp!

Vô Độc chắp tay thưa Bồ Tát rằng… Quỷ Vương Vô Độc nghe Thánh Nữ Bà La Môn nói xong, liền chắp hai tay lại, biểu thị sự cung kính, và nói với Thánh Nữ rằng: “Xin Thánh Giả hãy trở về và chớ thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Xin Bồ Tát hãy trở về nơi ở của mình và xin Ngài chớ nên lo âu, buồn bã, nhớ thương thân mẫu nữa. Xin Ngài hãy bớt lòng lưu luyến, tiếc thương bởi vì tội nữ Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi trời đến nay đã ba ngày rồi”.

Tại vì sao mà bà Duyệt Đế Lợi lại được sanh lên cõi trời? Vì nghe nói nhờ con trai của bà có lòng hiếu thuận, mặc dù là con gái, nhưng ở đây biểu thị là con trai, vì mẹ mà thiết cúng để tu phước, và bố thí chùa tháp thờ Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Bố thí tức là “trai tăng cúng chúng”, làm cơm chay cúng dường chư tăng. Như vậy, bà Duyệt Đế Lợi này có một người con trai rất hiếu thảo. Y đã bán hết tất cả gia sản để thiết trai tăng, cúng dường đại chúng tại các chùa và tháp thờ Đức Giác Hoa Tự Tại Vương Như Lai, ngõ hầu tu tạo phước lành cho mẫu thân.

Chẳng phải chỉ thân mẫu của Bồ Tát được thoát khỏi địa ngục, mà ngày hôm đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được an lạc, đồng được thác sanh cả. Ngoài ra, cũng trong ngày hôm đó, không riêng gì thân mẫu của Thánh Nữ Bà La Môn, mà vô lượng vô biện tội nhân ở địa ngục Vô Gián lúc bấy giờ cũng đều được thoát khỏi tội khổ, được sự an vui và đều được sanh lên cõi trời. Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui. Quỷ Vương Vô Độc nói xong, liền cung kính chắp tay làm lễ chào Thánh Nữ, rồi rút lui.

Kinh văn:

Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết các việc rồi, bèn đối trước tháp tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ mà quảng thiết phương tiện, khiến cho họ đều được giải thoát”.

Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Độc ngày trước, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát: còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Bồ Tát Địa Tạng vậy”.

Lược giảng:

Thánh Nữ Bà La Môn dường chiêm bao chợt tỉnh. Câu này, nguyên văn chữ Hán là “Bà La Môn nữ, tầm như mộng quy”. Chữ tầm vốn có nghĩa là tìm kiếm, nhưng ở đây hàm ý khoảng thời gian không lâu lắm, chỉ trong khoảnh khắc. Cho nên, tầm như một quy tức là dường như vừa tỉnh dậy sau một cơn mơ ngắn ngủi vậy.

Rõ biết các việc rồi. Tỉnh dậy rồi, Thánh Nữ hồi tưởng: “Ồ! Tôi vừa đến một bờ biển và gặp Đại Quỷ Vương Vô Độc. Sau đó, tôi lại còn trông thấy các thú dữ ở địa ngục cùng các tội nhân nữa. Tôi có hỏi về chỗ thác sanh của mẹ tôi, và được Quỷ Vương cho biết là bà đã sanh lên cõi trời rồi!” Thánh Nữ biết rằng mọi việc mình vừa được chứng kiến hoàn toàn không phải là hư dối, mà là nhờ oai thần của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai gia bị, giúp cho mình được thành tựu ý nguyện.

Thánh Nữ bèn đối trước tháp tượng của Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà lập hoằng thệ nguyện rằng… Hoằng có nghĩa là rộng lớn, to tát. Thánh Nữ Bà La Môn phát thệ nguyện rộng lớn như thế nào? Cô ta nguyện: “Tôi nguyện từ nay cho đến tận vị lai kiếp, sẽ vì những chúng sanh mắc phải tội khổ, những kẻ đang trầm luân trong sáu đường, mà quảng thiết phương tiện, lập ra nhiều phương chước, khiến cho họ đều được giải thoát, lìa khổ được vui”.

Tận vị lai kiếp tức là đến tận bao giờ? Khi nào sẽ là lúc cùng tận? Không thể có lúc cùng tận! Do đó, thệ nguyện của Địa Tạng Vương Bồ Tát cũng không có lúc cùng tận.

Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Quỷ Vương Vô Độc ngày trước, vị Quỷ Vương đã hỏi đáp cùng với Thánh Nữ Bà La Môn thuở nọ, nay chính là Tài Thủ Bồ Tát”. Như vậy, Bồ Tát Tài Thủ vốn là Vô Độc Quỷ Vương tu tập mà thành. Ngài đã tu pháp Thất Thánh Tài, bảy món của cải quý báu của hàng Thánh giả:

1/ Tín. Đức tin là một báu vật của sự tu hành.

2/ Giới Tài Bảo, Truyền Giới và thọ Giới là những sự kiện hết sức hy hữu (đặc biệt là trong thời Mạt Pháp), mà người xuất gia thì nhất định phải thọ Giới mới là người xuất gia hoàn chỉnh.

3/ Đa Văn Tài Bảo, nghe được hiểu biết rộng cũng là một tài sản quý báu.

4/ Xả. Biết bố thí, biết xả bỏ, cũng là một hạnh quý báu trong sự tu hành.

5/ Trí Huệ. Có trí huệ là điều rất thiết yếu, cho nên trí huệ cũng là báu vật của sự tu hành.

6/ Tàm. Tức là lòng xấu hổ.

7/ Quý. Là lòng hổ thẹn (sợ người chê).

Hai chữ tàm và quý này vốn thường đi chung với nhau, nhưng ở đây thì tách riêng ra. Trên đây là những bảo bối mà người tu hành cần phải có. Do có bảy món tài sản quý báu, thiêng liêng: Tín, Giới, Đa Văn, Xả, Trí Huệ, Tàm, Quý, nên gọi là Tài Thủ Bồ Tát.

Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay chính là Bồ Tát Địa Tạng vậy. Cho nên, chúng ta cần phải học theo đức hạnh tốt đẹp của tiền thân Bồ Tát Địa Tạng, phải hiếu thảo với cha mẹ, độ thoát cha mẹ.

Nguồn: Hòa thượng Tuyên Hóa – Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện – 2008.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s