Giới thiệu “Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” của George Soros – Phần đầu


Mục đích trước sau của tôi khi viết cuốn sách này là làm rõ cái triết lý đã chỉ đạo tôi suốt đời. Tôi đã được người ta biết đến với tư cách một người quản lý tiền tệ thành công, và sau đó với tư cách một nhà từ thiện. Đôi khi tôi cam thấy giống như một con đường tiêu hóa khổng lồ: thu nhận tiền vào ở một đầu và đẩy nó ra ở đầu khác, nhưng thực ra một lượng suy tư to lớn đã gắn hai đầu với nhau. Một khung khái niệm mà tôi đã hình thành những ngày tôi là sinh viên, rất lâu trước khi tôi bắt đầu tham gia vào các thị trường tài chính, đã chỉ đạo cả việc kiếm tiền của tôi và các hoạt động từ thiện của tôi.

Tôi bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Karl Popper (1902 – 1994), nhà triết học khoa học, người viết cuốn sách “Xã hội mở và những kẻ thù của nó” để tìm hiểu các chế độ tôi trực tiếp trải nghiệm khi còn là một người vị thành niên ở Hungary. Các chế độ này có một nét chung: Họ tuyên cáo nắm được chân lý cuối cùng và áp đặt quan điểm của họ cho cả thế giới bằng cách dùng sức mạnh. Popper đã đề xướng một hình thái khác của tổ chức xã hội, một hình thái thừa nhận rằng không một ai tới được chân lý cuối cùng. Sự hiểu biết của chúng ta về thế giới nơi chúng ta sống vốn không hoàn hảo, và một xã hội hoàn hảo là không thể đạt được. Chúng ta phải tự bằng lòng với hàng tối ưu thứ hai: một xã hội không hoàn hảo nhưng có khả năng cải thiện không cùng. Ông gọi đó là xã hội mở, và các chế độ cực quyền là những kẻ thù của nó.

Tôi đã hấp thụ những ý tưởng của Popper về suy tư phê phán và phương pháp khoa học. Tôi làm việc đó có phê phán và tôi đã đi đến chỗ khác với ông ở một điểm quan trọng. Popper tuyên bố rằng cả khoa học tự nhiên lẫn các khoa học xã hội đều áp dụng cùng một số phương pháp và tiêu chuẩn. Tôi nhận thấy một sự khác biệt quan trọng: Trong các khoa học xã hội, suy nghĩ tạo thành một bộ phận của đối tượng nghiên cứu, trong khi các khoa học tự nhiên đề cập đến những hiện tượng xảy ra độc lập với những điều mà bất kỳ ai suy nghĩ. Điều này khiến cho các hiện tượng tự nhiên, chứ không phải các hiện tượng xã hội dễ hợp với mô hình và phương pháp khoa học của Popper.

Tôi đã phát triển khái niệm “tính phản xạ” (reflecxivity, cũng có thể gọi là “phản hồi”): một cơ chế liên hệ ngược hai chiều giữa tư duy và hiện thực. Thời ấy tôi đang nghiên cứu kinh tế học, và “tính phản xạ” không hợp với lý thuyết kinh tế học vốn đang hoạt động với một khái niệm vay mượn từ vật lý học Newton, cụ thể là khái niệm cân bằng (equilibrium).

Khái niệm “tính phản xạ” đã trở nên rất bổ ích đối với tôi khi tôi bắt đầu bước vào quản lý tiền tệ. Năm 1979, khi tôi đã kiếm nhiều tiền hơn là tôi đã chi dùng, tôi lập một quỹ gọi là Quỹ Xã hội Mở (Open Society Fund). Tôi xác định mục tiêu của nó là giúp các xã hội đóng được mở ra, giúp các xã hội mở trở nên thành công hơn, và khuyến khích một phương thức tư duy mang tinh thần phê phán. Thông qua quỹ này, tôi đã trở nên liên quan sâu sắc đến sự tan rã của hệ thống Xô Viết.

Phần nào do kết quả của kinh nghiệm đó và phần nào trên cơ sở kinh nghiệm của tôi về hệ thống tư bản chủ nghĩa, tôi đã đi đến kết luận rằng cái khung khái niệm mà bấy lâu tôi dùng để làm việc đã không còn giá trị nữa. Tôi đã nỗ lực để xây dựng lại khái niệm xã hội mở. Trong cách trình bày của Popper, nó tương phản với các xã hội đóng dựa trên cơ sở các hệ thống tư tưởng cực quyền, nhưng kinh nghiệm mới đây đã dạy tôi rằng nó cũng còn có thể bị đe dọa từ một hướng đối lập: từ sự không cố kết xã hội và không có sự quản lý điều hành.

Tôi đã bày tỏ quan điểm của mình ở một bài báo nhan đề “Mối đe dọa tư bản chủ nghĩa” công bố trên tờ “Nguyệt san Đại Tây Dương” (The Atlantic Monthly) số ra tháng 2/1997. Cuốn sách này tôi bắt đầu viết một thời gian ngắn sau đó, với dự định sẽ có một sự phát triển kỹ lưỡng hơn các ý tưởng đó. Ở các cuốn sách trước của tôi, tôi đã đẩy khung khái niệm của tôi vào một phần phụ lục hay giấu kín nó trong những hồi ức riêng tư. Bây giờ tôi luôn thấy rằng nó đáng được phát biểu trực tiếp. Tôi luôn quan tâm sâu sắc về tình cảm đến việc tìm hiểu thế giới nơi tôi đang sống. Dù đúng hay sai, tôi thấy tôi đã có một số tiến bộ, và tôi muốn chia sẻ nó.

Tuy nhiên kế hoạch ban đầu cho cuốn sách này bị gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu ở Thái Lan tháng 7/1997. Khi ấy tôi đang khảo sát những khiếm khuyết của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu, nhưng tôi đang làm việc đó theo kiểu một hành động thư nhàn. Tôi hoàn toàn có ý thức về cuộc khủng hoảng châu Á – thực tế công ty quản lý ngân quỹ của tôi đã dự đoán nó 6 tháng trước khi nó xảy ra – nhưng tôi không hề có ý niệm rằng nó hóa ra sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tới mức nào. Lúc đó tôi đang lý giải vì sao hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu không lành mạnh và không có khả năng duy trì lâu, nhưng cho đến cuộc suy tàn của nền kinh tế Nga tháng 8/1998, tôi đã không nhận ra rằng thực tế nó đang tan rã. Bỗng nhiên cuốn sách của tôi có một ý nghĩa khẩn cấp mới. Ở đây tôi đã có một khung khái niệm sẵn có để từ đó có thể hiểu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang tiến hóa mau chóng. Tôi đã quyết định phải vắt chân lên cổ để in sách. Quan điểm của tôi về tình hình hiện nay được đúc kết trong lời giải trình tôi đưa ra trước Quốc hội ngày 15/9/1998, trong đó phần nào tôi nói như sau:

Hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn chịu đáp ứng được sự thịnh vượng nổi bật của đất nước này thập kỷ vừa qua đang đứt rời ở những chỗ nối. Sự suy giảm hiện nay trên thị trường chứng khoán Mỹ chỉ là một triệu chứng, và một triệu chứng quá muộn, của những vấn đề sâu sắc hơn đang tác động nền kinh tế thế giới. Một số thị trường chứng khoán châu Á suy sụp một cách tồi tệ hơn là cuộc suy giảm phố Wall năm 1929, và thêm vào đó, các đồng tiền của họ cũng tụt xuống tới cái phần nhỏ so với giá trị của chúng khi chúng bắt đầu gắn với đồng USD. Cuộc sụp đổ tài chính châu Á đi liền theo bởi một cuộc sụp đổ về kinh tế. Ví dụ ở Indonesia, hầu hết những thành tựu trong mức sống tích lũy suốt hơn 30 năm của chế độ Suharto đã tan biến. Các tòa nhà hiện đại, công xưởng và hạ tầng cơ sở vẫn còn đó, nhưng cũng còn đó một cư dân đã bị đứt rễ với nguồn gốc nông thôn của mình. Hiện nay nước Nga đã và đang trải qua một cuộc suy tàn toàn bộ về tài chính. Đó là một cảnh tượng hãi hùng và nó sẽ có những hậu quả chính trị và con người khôn lường. Tác hại của nó bây giờ cũng lan sang cả châu Mỹ Latinh.

Sẽ thật đáng tiếc nếu chúng vẫn tự bằng lòng chỉ vì hầu hết rắc rối xảy ra bên ngoài biên giới chúng ta. Tất cả chúng ta đều là bộ phận của hệ thống tư bản chủ nghĩa toàn cầu vốn mang đặc điểm không chỉ là tự do thương mại mà đặc biệt hơn còn là tự do vận động của vốn. Hệ thống rất thuận lợi cho tư bản tài chính, một thứ tư bản tự do lọc lựa nơi để vận động, và nó đã dẫn tới sự phát triển nhanh chóng của các thị trường tài chính toàn cầu. Nó có thể được hình dung như một hệ thống lưu thông khổng lồ, hút vốn vào các thị trường và thể chế tài chính ở trung tâm và rồi bơm nó ra vùng ngoại vi hoặc trực tiếp dưới hình thức tín dụng và đầu tư theo danh mục, hoặc gián tiếp thông qua các công ty đa quốc gia.

Cho đến cuộc khủng hoảng của Thái Lan tháng 7/1997, trung tâm vừa hút tiền vào vừa bơm ra một cách mạnh mẽ, các thị trường tài chính đang lớn lên về quy mô và tầm quan trọng, và các nước ở ngoại vi có thể nhận được sự cung cấp thừa mứa vốn bằng cách mở rộng các thị trường vốn của họ. Đã có một sự phát đạt toàn cầu trong đó các thị trường đang nổi lên đã thành công xuất sắc. Ở một thời điểm trong năm 1994 hơn một nửa tổng lưu lượng vào các quỹ tương hỗ của Mỹ đã chảy vào các quỹ thị trường đang nổi lên.

Cuộc khủng hoảng châu Á đã đảo ngược hướng dòng chảy. Vốn đã bắt đầu tháo chạy khỏi vùng ngoại vi. Thoạt đầu sự đổi hướng mang lại lợi ích cho các thị trường tài chính ở trung tâm. Nền kinh tế Mỹ đang ở đúng gần điểm quá nóng và Cục Dự trữ Liên bang đang dự định nâng tỷ lệ chiết khấu. Cuộc khủng hoảng châu Á đã khiến bước đi như vậy đã không cần thiết nữa, và thị trường chứng khoán lấy được sức mạnh. Nền kinh tế được hưởng những gì tốt đẹp nhất trong số tất cả mọi quy chuẩn vật chất có thể có, với nhập khẩu rẻ để giữ sức ép lạm phát nội địa trong tầm kiểm soát, và thị trường chứng khoán đạt những điểm cao mới. Sự hồi phục ở trung tâm dấy lên những niềm hy vọng rằng vùng ngoại vi cũng có thể phục hồi, và từ tháng Hai đến tháng Tư năm nay hầu hết các thị trường châu Á phục hồi khoảng một nửa những mất mát trước đây tính theo các đồng tiền địa phương. Đó là một cuộc phục hồi “thị trường giảm giá” cổ điển.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: George Soros – Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu – NXB KHXH 1999.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s