Biện chứng pháp Nāgārjuna – Phần cuối


Xa hơn nữa:

LXVII. Nếu sự nhận thức là bởi bản tánh riêng của nó, thì ai sẽ chuyển hóa sự nhận thức ấy (kas tam nivartayed grāham)? Cùng phương pháp này áp dụng cho những gì còn lại [của các pháp] cũng vậy (śeșeșv apy eșa vidhih). Vì thế, đây không phải là sự phê bình (tasmād eșo ‘nupālambhah).

Nếu sự nhận thức về nước trong một tấm gương (mrgatrșnāyām jalagrāhah) là bởi bản tánh riêng của nó, thì ai thật sự sẽ chuyển hóa nó? Vì tự tánh không thể chuyển hóa (na hi svabhāvah śakyo vinivartayitum): Ví dụ, hơi nóng của lửa, độ ẩm ướt của nước, sự trống rỗng (nirāvaranatva) của không gian. Tuy nhiên, sự chuyển biến của nó được thấy (drștam cāsya vinivartanam). Tự tánh của sự nhận thức, vì lẽ đó, là không (tasmāc chūnyasvabhāvo grāhah). Cùng phương pháp này (krama) thì được hiểu (pratyavagantavya) với những gì còn lại của các pháp cũng vậy (śeșeșv api dharmeșu), nghĩa là, năm pháp bắt đầu với đối tượng được nhận thức (grāhyaprabhŗtiș pañcasu). Trong những trường hợp này, sự phát biểu của bạn: Tất cả các pháp là không phải không bởi vì sự hiện hữu của uẩn thứ sáu (șațkabhāvāt), thì không có giá trị.

[Bác bẻ về sự phản biện thứ tám; xem v.XVII ở trên].

LXVIII. Trường hợp đang là giống nhau (samatvāt), chúng ta dã trả lời rồi bởi những gì đứng trước [sự phản biện về] sự vắng mặt của nhân (hetvabhāva), mà được phát biểu trong sự bác bẻ [của bạn] về ví dụ tấm gương (mŗgatŗșnādŗșțāntavyāvŗttividhau ya uktah prāk).

Nó nên được hiểu (avagantavya) rằng bằng sự giải tỏa trước đó (carcena pūrvoktena) chúng ta cũng đã trả lời [sự phản biện về] sự vắng mặt của nhân. Sự giải tỏa giống nhau này, mà được phát biểu ở cái nhân trước (pūrvasmin hetau), vì sự phủ định về uẩn thứ sáu (șațkapratiședhasya), cũng nên được cân nhắc ở đây (ihāpi carcayitavyah).

[Bác bẻ về sự phản biện thứ chín; xem v.XX ở trên].

LXIX. Chúng ta đã trả lời rồi [câu hỏi liên quan đến] nhân [đối với sự phủ định] trong ba thời gian (traikālya), vì trường hợp này là giống nhau (samatvāt). Và một nhân-đối-lập cho cả ba thời gian (traikālyapratihetu) được hiện hành đối với người duy trì giáo lý không tánh (śūnyatāvādinām prāptah).

Giáo lý không tánh phải được hiểu (pratyavagantavya) rằng câu hỏi tại sao sự phủ định thì có khả năng xảy ra trong cả ba thời (hetus traikālye pratiședhavāci) đã được nhận biết sự trả lời (uktottarah) của nó rồi. Tại sao? Bởi vì nhân này là thuộc bản tánh giống nhau như luận thuyết được lập (sādhyasamatvāt). Để giải thích: Bằng công dụng về cách phát biểu của bạn (tvadvacanena), sự phủ định thì không thể xảy ra trong cả ba thời, và, giống như sự phủ định này, vật mà bị phủ định, cũng vậy, không thật có. Như thế thì không có sự phủ định và không có đối tượng bị phủ định (pratiședhapratiședhye ‘sati), ý kiến của bạn thì sự phủ định này đã bị phủ định (yad bhavān manyate pratiședhah pratișiddha iti), là không vững. Chính cái nhân mà nó diễn tả sự phủ định cả ba thời được hiện hành đối với người duy trì giáo lý không tánh, vì họ phủ định tự tánh của tất cả các pháp, không phải đối với bạn (yas trikālapratiședhavācī hetur eșa eva śūnyatāvādinām prāptah sarvabhāvasvabhāvapratiședhakatvā na bhavatah).

Hoặc nó đã được trả lời trong cách dưới đây:

“Tôi không phủ định bất kỳ điều gì, cũng không phải là có bất kỳ điều gì bị phủ định. Vì lẽ đó, bạn vu khống tôi khi bạn nói: “Ông phủ định!””.

Bây giờ, nếu bạn nghĩ: Sự phủ định này được thành lập trong tất cả ba thời (trișv api kāleșu pratiședhah siddhah); chúng ta thấy cái nhân này trước, cái nhân này sau, và cái nhân đồng thời (dŗșțah pūrvakālīno ‘pi hetuh, uttarakālīno ‘pi, yuapakālīno ‘pi hetuh): Cái nhân có trước, ví dụ, người cha như là cái nhân của cậu con trai; Cái nhân theo sau, ví dụ, đệ tử như là cái nhân của người thầy; cái nhân đồng thời, ví dụ, ngọn đèn như là cái nhân của ánh sáng, chúng ta đáp: Việc này không phải vậy. Vì trong cách này được phát biểu ba sự thiếu sót trước đây (uktā hy etasmin krame trayah pūrvadoșāh). Hơn nữa, nếu việc này là vậy, thì bạn chấp nhận sự hiện hữu của sự phủ định, và bạn bỏ mất lời đề nghị của bạn (api ca yady evam, pratiședhasadbhāvas tvayābhyupagamyate, pratijñāhāniś ca te bhavati); sự phủ định về tự tánh thì cũng được lập trong cách này (etana kramena svabhāvapratiședho ‘pi siddhah).

LXX. Tất cả các pháp phổ biến khắp đối với vị ấy đối với ai mà không tánh này phổ biến khắp (prabhavati ca śūnyateyam yasya prabhavanti tasya sarvārthāh). Không có gì phổ biến khắp đối với vị ấy đối với ai mà không tánh không thịnh hành (prabhavati na tasya kimcin na prabhavati śūnyatā yasya).

Đối với ai không tánh này phổ biến khắp, đối với vị ấy tất cả các pháp – thế và xuất thế (sarvārthā laukikalokottarāh) – phổ biến khắp. Tại sao? Bởi vì Duyên sinh phổ biến khắp đối với vị ấy đối với ai mà không tánh thịnh hành. Tứ diệu đế (Bốn sự thật cao quý) lưu hành đối với vị ấy đối với ai mà Duyên sinh phổ biến khắp. Những kết quả của đời sống tu viện cũng như tất cả những sự chứng đắc đặc biệt (viśeșādhigama) lưu hành đối với vị ấy đối với ai Tứ diệu đế thịnh hành. Tam bảo (trīni ratnāni), nghĩa là: Phật, Pháp và Tăng, lưu hành đối với vị ấy đối với ai những sự chứng đắc đặc biệt thịnh hành. Đối với ai Duyên sinh này thịnh hành, đối với vị ấy giáo pháp (dharma), nhân của giáo pháp (dharmahetu), kết quả của giáo pháp (dharmaphala), sự phi pháp (adharma), nhân của sự phi pháp (adharmahetu), kết quả của sự phi pháp (adharmaphala), tất cả những điều này lưu hành. Đối với ai giáo pháp và sự phi pháp, những nhân của giáo pháp và sự phi pháp và những kết quả của giáo pháp và sự phi pháp lưu hành, đối với vị ấy phiền não (kleśa), nguồn gốc của phiền não (kleśavastūni) lưu hành. Đối với ai tất cả các điều ấy lưu hành (yasyaitat sarvam prabhavati pūrvoktam), đối với vị ấy pháp luật liên quan đến những trạng thái hỷ lạc và không hỷ lạc (sugatidurgativyavasthā), sự đạt được những trạng thái ấy (sugatidurgatigamana), đạo lộ này dẫn đến những trạng thái ấy (sugatidurgatigāmī mārga), hành động vượt trên những trạng thái ấy (sugatidurgativyatikramana), phương tiện vượt trên những trạng thái ấy (sugatidurgativyatikramanopāya), và tất cả những quy ước thế gian (sarvasamvyavahārāś ca laukikāh) được hình thành (vyavasthāpitāh). Chúng được mỗi người hiểu khác biệt, theo hướng này (svayam adhigantavyā anayā diśā): một phần [chỉ] có thể được dạy bằng những ngôn từ (kimcic chakyam vacanenopadeșțum).

Lại nữa ở đây,

Tôi tôn kính đức Phật vô thượng (tam apratimabuddham) Ngài đã dạy nghĩa lý Không tánh, Duyên sinh và Trung đạo như tương đương nhau (ekārtha).

Nơi đây chấm dứt tác phẩm này của ngài Long Thọ, bậc Thầy khả kính.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: E.H. Johnston & Arnold Kunst – Biện chứng pháp Nāgārjuan – NXB PĐ 2014

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s