Sự biến mất của vàng – Phần cuối


Chắc chắn thất bại

Thật không may cho hệ thống tiền tệ quốc tế, Thỏa thuận Bretton Woods đã sụp đổ. Nhà tư tưởng tiên tri về gánh nặng của đồng tiền dự trữ thế giới trong thời kỳ này là Robert Triffin, nhà kinh tế học gốc Bỉ, người thực hiện nghiên cứu tại Cục Dự trữ Liên bang và Quỹ Tiền tệ Thế giới trong những năm đầu. Triffin đã dự đoán đúng kết cục của Thỏa thuận Bretton Woods trước một thập kỷ khi nó sụp đổ. Khi người dân Mỹ bị cấm sở hữu vàng, các quốc gia khác vẫn được phép đổi đồng USD dự trữ sang kim loại. Triffin dự đoán những quốc gia này cuối cùng sẽ rút cạn kho vàng của Mỹ, khiến giá cố định 35 USD/ounce vàng không thể duy trì. Ông ấy cảnh báo rằng khả năng chuyển đổi của vàng sẽ không tồn tại nếu Thỏa thuận Bretton Woods không áp dụng sự điều chỉnh trong cơ cấu. Điều quan trọng nhất là ông ấy xác định rằng trở thành tiền tệ dự trữ thế giới là một gánh nặng, không phải là một điều may mắn. Những nước khác sẽ tích lũy USD và gây ra sự mất cân đối thương mại đáng ra sẽ không xuất hiện nếu không có thêm nguồn cầu tiền tệ dự trữ thế giới. Giải pháp Triffin đề xuất đối với vấn đề tiền tệ của một quốc gia đóng vai trò là đơn vị của hệ thống tiền tệ quốc tế là sự kết hợp chính trị giữa các nguồn lực kinh tế chính. Trong phiên đối chất với Quốc hội Mỹ vào năm 1959, ông đã thừa nhận rằng giải pháp của ông ấy vẫn còn khó nắm bắt, một nghịch lý dẫn đến nhu cầu vàng như đồng tiền trung lập duy nhất của thế giới, dù cho nó có ngớ ngẩn đến mức nào:

Giải pháp hợp lý của vấn đề… sẽ đã sớm được tìm ra trước đó nếu không phải vì những khó khăn liên quan đến việc… đạt được thỏa thuận với một vài đất nước về nhiều mặt của một hệ thống tạo ra tín dụng và tiền tệ quốc tế hợp lý. Tất nhiên điều này là giải thích duy nhất cho bản thân sự tồn tại của vàng. Không ai có thể hình dung được điều gì lãng phí về nguồn nhân lực hơn là đào vàng ở những vùng xa xôi của Trái đất chỉ với một mục đích duy nhất là vận chuyển và ngay lập tức cất nó vào những chiếc kho khác, đặc biệt là đào lên chỉ để nhận và canh giữ nó cẩn thận. Tuy nhiên, lịch sử về sự hiểu biết của con người có một logic riêng.

Đồng dollar ở các nước khác

Câu chuyện về đồng Eurodollar được nói đến rất ít. Chúng ta cần phải hiểu về việc toàn bộ đồng dollar rơi vào tình trạng hỗn loạn như thế nào trong khủng hoảng tài chính những năm 2007 – 2009, tại sao hệ thống tiền tệ thế giới vẫn trong tình trạng đổ nát kể từ đó, và quan trọng nhất là vì sao thế giới lại cần đến một sự thiết lập lại tiền tệ.

Tất cả bắt đầu sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai sau khi đồng USD trở thành điểm tựa của nguồn vốn quốc tế và trong khi châu Âu đang xây dựng lại, sử dụng đồng USD. Trong thời kỳ Bretton Woods, đồng USD bắt đầu thống trị đơn vị tiền tệ của thương mại quốc tế. Các công ty từ  khắp nơi trên thế giới chú trọng vào những bảng cân đối kế toán với đơn vị USD. Họ sử dụng đồng USD trong vận hành tài chính của mình thay vì sử dụng tiền tệ địa phương bởi vì thị trường vốn của USD dày dặn hơn. Nhu cầu về đồng USD ở ngoài nước Mỹ tăng vọt, và các ngân hàng ở London, Paris và Zurich xuất hiện để đáp ứng nhu cầu đó. Những ngân hàng châu Âu này không thể đưa ra lãi suất tiết kiệm hấp dẫn hơn những đối tác Mỹ của họ vì sự khác biệt trong chính sách. Điều này khiến mọi người gửi tiền tiết kiệm bằng đồng USD ở châu Âu. Những khoản tiết kiệm đồng USD nước ngoài phát hành bởi những ngân hàng có nguồn gốc từ châu Âu và được gọi là Eurodollar (cụm từ này không có mối liên hệ đến đồng euro, đồng tiền xuất hiện từ năm 2001). Các ngân hàng quốc tế đã tìm ra cách mà không cần xin phép bất kỳ ai để tạo ra đồng USD từ ngoài tầm kiểm soát của Cục Dự trữ Liên bang. Những ngân hàng quốc tế này (những ngân hàng nước ngoài) nằm ngoài phạm vi quyền hạn của Mỹ, vì vậy họ không cần phải tuân thủ bất kỳ tỉ lệ dự trữ và duy trì vàng được đặt ra bởi Cục Dự trữ Liên bang và chính phủ Mỹ.

Một nhu cầu đặc trưng khác tồn tại với đồng Eurodollar: quyền tự chủ tài chính không phụ thuộc vào Mỹ. Những năm 1950 được xem là bắt đầu của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Dù có sự chia tách về chính trị, Liên Xô không thể loại bỏ hoàn toàn đồng USD vì họ cần USD để chi trả cho tất cả những nguyên vật liệu và hàng hóa nhập khẩu cần thiết để mở rộng đế chế của mình. Nguồn cung USD vừa bị hạn chế vừa bị kiểm soát bởi Hệ thống Dự trữ Liên bang, vì vậy thay vì phụ thuộc vào những ngân hàng ở New York trong việc nắm giữ USD, USD Liên Xô được gửi tiết kiệm tại ngân hàng London. Bằng cách này, tiền của họ tránh được quyền tài phán của Hệ thống Dự trữ Liên bang và chính phủ Mỹ. Chính phủ cộng sản Liên Xô có động lực mạnh mẽ để thoát khỏi sự giám sát tài chính và chế ngự của đất nước tư bản. Liên Xô chọn tiền gửi ngân hàng châu Âu thay vì ngân hàng Mỹ mặc dù tiền gửi vẫn theo mệnh giá đồng USD.

Vào năm 1957, những khoản tiền gửi USD ngoại quốc mới này bắt đầu được giao dịch cùng với những công cụ tiền tệ châu Âu khác ở thành phố London, đánh dấu sự xuất hiện của thị trường đồng Eurodollar. Đồng Eurodollar sẽ chứng minh nó không chỉ là một loại USD khác mà là một nghịch lý cho hệ thống tiền tệ quốc tế và chất xúc tác cho cuộc cải cách của chính nó, Charles Kindleberger, nguyên thành viên hội đồng Cục Dự trữ Liên bang, tác giả nhiều kinh nghiệm về nền kinh tế tiền tệ đã miêu tả đồng Eurodollar như một sản phẩm của nhu cầu tự nhiên đối với dòng vốn tự do trên thế giới. Vào năm 1970, ông thấy rằng đồng Eurodollar phát triển ngoài mức cần thiết vì Hệ thống Dự trữ Liên bang và các ngân hàng tư nhân Mỹ không tạo ra đủ USD lớp thứ hai và thứ ba cho người tiêu dùng ở nước ngoài:

Sự phát triển của thị trường Eurodollar thành trung tâm vốn của thế giới, tách biệt khỏi đồng USD về khoảng cách và khỏi châu Âu về mặt tiền tệ… là một sản phẩm không phải theo hoạch định của các nhà kinh tế học hoặc là sản phẩm của thực tiễn phát triển. Điều này cho thấy các lực hợp nhất trên thế giới, hợp nhất các thị trường hàng hóa, hay thị trường cho khách hàng, và thị trường vốn đã trở nên mạnh mẽ hơn các rào cản chính trị chia cắt đất nước.

USD trở nên thiết yếu ở bên ngoài nước Mỹ vì cần có chúng để tham gia vào nền kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên dollar hóa. Cần có nguồn phải cung khi cần thiết, thậm chí nếu USD được cung cấp chỉ giống như những đồng tiền được phát hành bởi Cục Dự trữ Liên bang và hệ thống ngân hàng Mỹ. Bằng việc phát hành đồng Eurodolar, các ngân hàng châu Âu đang phản hồi lại với nhu cầu quốc tế mới xuất hiện đối với đồng USD.

USD đã in đậm với vai trò là đồng tiền của nền kinh tế toàn cầu: những thùng dầu được định giá bằng USD, những thỏa thuận thương mại được ký kết bằng USD, và số dư thanh toán của ngân hàng quốc tế với mệnh giá USD. Vì sự ra đời của đồng Eurodollar, kim tự tháp tiền USD đã thay đổi. Cục Dự trữ Liên bang không thể nhận ra, phân tích hay quản lý những ngân hàng quốc tế và đồng Eurodollar, đồng Eurodollar tồn tại ở lớp nào của tiền trở nên không rõ ràng. Liệu nó có phải là một hình thức của tiền tệ lớp thứ ba nằm dưới tiền giấy Cục Dự trữ Liên bang? Hay nó có phải là tiền lớp thứ hai nằm phía dưới trái phiếu chính phủ nào và công cụ tín dụng khác mà nhà phát hành sở hữu? Hay chúng là một kim tự tháp mới, không bị ràng buộc với đồng USD đang tồn tại? Những câu hỏi này không được trả lời đầy đủ cho đến cuộc khủng hoảng tài chính nặng nề vào những năm 2007 – 2009. Hình 12 đã chỉ ra hệ thống Eurodollar với dấu chấm hỏi ở đỉnh của kim tự tháp để thể hiện sự mơ hồ về tiền tệ của các ngân hàng quốc tế phát hành USD.

Sự biến mất của vàng

Vào năm 1961, những dấu hiệu cảnh báo đầu tiên đã cho thấy khả năng chuyển đổi của USD sang vàng gặp nguy hiểm nghiêm trọng. Khi lời cảnh báo của Robert Triffin đến gần hơn với các nhà hoạch định, Mỹ, Anh và những nước khác đã cùng nhau hình thành Quỹ vàng chung, nơi các ngân hàng trung ương bán kim loại quý ra thị trường để giữ nó ở mức giá 35 USD/ounce. Những quốc gia khác tích lũy USD vì vai trò đồng tiền dự trữ thế giới của nó và bắt đầu đổi USD thành vàng. Những yêu cầu đổi vàng bắt đầu gây áp lực đối với giá USD cố định của vàng. Quỹ vàng chung sụp đổ 7 năm sau khi giá vàng chính thức vượt mức 35 USD trên các thị trường châu Âu. Qua một vài năm sau đó, vàng tự loại bỏ mình khỏi lớp thứ nhất của kim tự tháp USD một cách nhẹ nhàng, đánh mất vị trí đồng tiền chính thức của mình. Vào năm 1971, Mỹ đình chỉ khả năng chuyển đổi của vàng sang USD; việc đình chỉ ban đầu chỉ là tạm thời, nhưng USD không bao giờ còn bất kỳ mối liên hệ nào với hàng hóa này. Hai năm sau, thời kỳ hiện đại của những đồng tiền tự do chính thức kết thúc thỏa thuận Bretton Woods. Vàng chuyển sang vai trò đồng tiền trung tính không chính thức, vẫn được chính phủ và các ngân hàng trung trên thế giới xem như là tiền tệ lớp thứ nhất và không có loại tiền tệ tương đương đến tận ngày nay.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Nik Bhatia – Sự tiến hóa của tiền tệ – NXB CT 2021

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s