Các mùa của thời gian – Phần V


Saeculum của chiến tranh và hòa bình

Cuối thập niên 1960, khi những thanh niên biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam cùng nhau hát vang “không nghĩ về chiến tranh nữa”, thì một trong những người lớn tuổi ủng hộ họ, giáo sư sử học đã về hưu Quincy Wright ở Đại học Chicago, đã làm như vậy một cách có hệ thống. Chứng kiến Thế hệ Lạc lõng của chính mình bị Thế chiến I hủy hoại một cách bạc bẽo, Wright đã nỗ lực torng vô vọng để Thượng viện phê chuẩn Hội Quốc Liên. Thập niên 1920, khi châu Âu đang nhức nhối trước tình trạng thù địch mới, ông bắt đầu thiên sử thi Study of War (Tạm dịch: Nghiên cứu về chiến tranh) của mình, một tuyển tập hơn 50 dự án nghiên cứu riêng biệt được ông hoàn thành vào năm 1942, nghiên cứu sâu sắc về nỗi sợ hãi của nước Mỹ trước một Thế chiến II minh chứng là bị tổn thất hơn rất nhiều so với Thế chiến I.

Trong Study, Wright nhận thấy chiến tranh được tiến hành “dao động khoảng 50 năm một lần, giai đoạn sau khốc liệt hơn giai đoạn trước”. Wright phát hiện ra mô hình này không chỉ trong lịch sử Mỹ và châu Âu hiện đại mà còn ở cả thời kỳ Hy Lạp cổ đại và La Mã, và chú thích rằng đã có những người khác trước ông nhận thấy điều đó. Ông cho rằng mô hình này chủ yếu là do trải nghiệm thế hệ. “Người chiến binh không muốn chiến đấu chống lại chính mình và khiến con trai mình có định kiến chống chiến tranh, nhưng cháu chắt lại được dạy dỗ để nghĩ về chiến tranh đầy chất thơ ca”, ông nhận xét. Dù Wright cũng nghiên cứu về những chu kỳ “sóng dài” trọng đại hơn của chiến tranh, nhưng nhịp điệu seaculum của ông đã thu hút phần lớn sự quan tâm của các sử gia sau này.

Mặc dù tính chất chu kỳ rõ ràng, nhưng Wright vẫn tin rằng có thể tránh được chiến tranh bằng việc gìn giữ hòa bình hợp lý. Tuy nhiên, tại thời điểm ông qua đời vào năm 1970, những phân tích học thuật sâu sắc có ảnh hưởng này của ông đã khiến chính các hy vọng của ông sụp đổ. Liên hợp quốc (mà chính ông khuyến khích thành lập) đã trở thành một kẻ ngoài cuộc bất lực. Các nhà hoạch định chính sách lý trí nhất mà bất kỳ học giả chiến tranh nào cũng mong muốn, không hiểu vì sao đã đưa Mỹ vào một cuộc xung đột làm suy giảm giá trị đạo đức ở khu vực Đông Nam Á, ngay trên đỉnh của góc phần tư “chiến tranh nhỏ” trong chu kỳ của ông.

Chỉ ít năm sau khi cuốn sách của ông xuất hiện, thời gian biểu của Wright đã được chứng thực bởi một người Anh nổi tiếng sống cùng thời, Arnold Toynbee. Trong A Study of History (Tạm dịch: Nghiên cứu Lịch sử), được biết đến nhiều nhất với lý thuyết về sự thăng trầm của các nền văn minh, Toynbee đã xác định một “nhịp điệu luân phiên” của “Chu kỳ của Chiến tranh và Hòa bình”. Ngắt giữa chu kỳ này là những cuộc “chiến tranh tổng lực” kéo dài một phần tư thế kỷ đã xảy ra ở châu Âu với khoảng cách cách nhau khoảng một thế kỷ từ thời Phục hưng. Toynbee xác định và ghi niên lịch năm lần lặp lại của chu kỳ này, mỗi lần đều bắt đầu bằng cuộc chiến mang tính quyết định nhất của thế kỷ đó.

+ Khúc dạo đầu bắt đầu bằng các cuộc Chiến tranh Italy (1494 – 1525).

+ Chu kỳ thứ nhất bắt đầu bằng Chiến tranh Hoàng gia của Philip II (1568 – 1609).

+ Chu kỳ thứ hai bắt đầu bằng Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha (1672 – 1713).

+ Chu kỳ thứ ba bắt đầu bằng Cách mạng Pháp và những cuộc Chiến tranh Napoleon (1792 – 1815).

+ Chu kỳ thứ tư bắt đầu bằng Thế chiến I và II (1914 – 1945).

Bổ sung thêm cho năm thế kỷ hiện đại này, Toynbee cũng xác định các chu kỳ tương tự kéo dài sáu thế kỷ trong lịch sử Trung Hoa và Hy Lạp cổ đại, tất cả đều xảy ra trong điều mà ông gọi là thời kỳ “tan vỡ” của những nền văn minh lớn. Ở bất kỳ đâu, ông đều thấy khoảng thời gian từ lúc bắt đầu cuộc chiến tranh tổng lực này đến khi cuộc chiến tranh tổng lực kế tiếp khác nổ ra dài trung bình 95 năm, với một “mức độ trùng hợp đáng ngạc nhiên” qua hàng thiên niên kỷ.

Toynbee ghi chút, đằng sau tính chu kỳ này là “các hoạt động của một Chu kỳ Thế hệ, một nhịp điệu trong dòng chảy của Cuộc sống Vật lý”, “áp đặt sự chi phối của nó lên Tinh thần Con người”. Giống như Wright, ông liên hệ điều này với sự suy giảm của “ký ức sống động về một cuộc chiến vừa qua”. Ông nhận định, rốt cuộc hậu duệ của các cựu chiến binh, những người “chỉ biết đến chiến tranh qua lời kể”, nắm quyền và tiếp tục mô hình hành vi thiên về chiến tranh như ban đầu. Cũng như Wright, Toynbee dự đoán “những cuộc chiến phụ” xảy ra ở giữa mỗi chu kỳ. Khi mới bắt đầu sự nghiệp, Toynbee tin rằng “sự kiểm soát của con người… có thể giảm bớt sự bất đồng và gia tăng sự hài hòa trong đời sống nhân loại”. Khi về già, ông tin vào thuyết định mệnh nhiều hơn – và cảm nhận sự siêu nghiệm thông qua tôn giáo có lẽ là một mục tiêu đáng giá hơn sự kiểm soát những vấn đề thế tục.

Toynbee bổ sung một khía cạnh mới quan trọng khi ông chia chu kỳ chiến tranh thành bốn giai đoạn và phân biệt giữa “quãng nghỉ” sau một cuộc chiến lớn với “hòa bình chung” sau một cuộc chiến nhỏ. Song ông đã lầm khi ngụ ý rằng chiến tranh không xảy ra trong những thời kỳ xen kẽ dài một phần tư thế kỷ này. Rõ ràng, một số cuộc chiến, ít nhất là một số cuộc chiến nhỏ lẻ, thực tế đã xảy ra mỗi 25 năm trong lịch sử châu Âu (và Mỹ). Để giải thích cho điều đó, L.L. Ferrar Jr. đã xây dựng lý thuyết chiến tranh bốn giai đoạn của Toynbee, thay thế quãng nghỉ và thời đại hòa bình chung bằng thứ mà ông gọi là “những cuộc chiến thăm dò”. Tương tự, Richard Rosecrance đã đưa ra một chu kỳ chiến tranh gồm bốn phần, luân phiên giữa thời đại lưỡng cực của chiến tranh và thời đại đa cực của “khoảng trống quyền lực”. Mặc dù không xác định tính định kỳ của chu kỳ này, nhưng ông lưu ý rằng “một trong những bi kịch của lịch sử quốc tế phương Tây là chu kỳ đó lặp lại hết lần này đến lần khác”.

Một số sử gia trích dẫn số liệu thương vong để tranh luận với Wright, Toynbee, và Ferrar về danh sách những cuộc chiến được coi là lớn, tổng lực hay bá quyền – song bất kỳ ai chỉ dựa theo mức độ ác liệt để xếp hạng chiến tranh đều bỏ qua một điều quan trọng. Dù được gọi bằng thuật ngữ gì, thì một cuộc chiến tranh kết thúc một chu kỳ đều để lại những hậu quả xã hội và chính trị mang tính quyết định. Nó phải kết thúc một kỷ nguyên. Đây chính là điểm mà chu kỳ chiến tranh cần sự ủng hộ từ nghiên cứu kinh điển của Ludwig Dehio chứng minh sự cân bằng quyền lực ở châu Âu đã thay đổi sâu sắc mỗi thế kỷ một lần ra sao. Theo quan điểm này, một số cuộc chiến đẫm máu nhất trong lịch sử (như Chiến tranh Ba mươi năm hoặc Thế chiến I) không được coi là sự kết thúc chu kỳ, vì chúng không thay thế trật tự cũ bằng thứ về cơ bản được coi là mới.

Một số học giả gần đây mở rộng chu kỳ Toynbee vượt ra ngoài phạm vi chiến tranh, thành một chủ đề tổng quát hơn về những đợt sóng dài trong hành vi xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, Terence Hopkins và Immanuel Wallerstein đã giải thích chu kỳ Toynbee như một hệ quả của sự phát triển kiểu tư bản chủ nghĩa. Trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, William Thompson và George Modelski cũng phát triển các lý thuyết về những chu kỳ chính trị phù hợp với chu kỳ của Toynbee. “Trong một khoảng thời gian (gần 100 năm), một cường quốc thế giới trỗi dậy từ một cuộc chiến toàn cầu chỉ để rồi dần sụp đổ từ vị trí ưu thế đó”. Thompson viết: “Trật tự toàn cầu tan rã với một tốc độ song song cho đến khi một cuộc chiến toàn cầu mới xảy ra và tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của một cường quốc thế giới mới”.

Modelski chia chu kỳ chính trị toàn cầu này thành bốn giai đoạn dài một phần tư thế kỷ, giai đoạn nối tiếp giai đoạn trước theo một tiến trình hỗn loạn tự nhiên. Ở giai đoạn cường quốc thế giới ban đầu, cả nhu cầu (xã hội) về trật tự và sự đáp ứng (chính trị) về trật tự đều cao. Ở giai đoạn giảm tính chính danh, nhu cầu về trật tự giảm. Ở giai đoạn phi tập trung, sự đáp ứng về trật tự giảm. Chu kỳ lên đến đỉnh điểm khi nhu cầu trật tự tăng cao, dẫn đến một kỷ nguyên tạo ra trật tự của chiến tranh toàn cầu. Giai đoạn cuối cùng được phân biệt không chỉ bởi quy mô hủy diệt nhân loại, mặc dù điều này sẽ có thể rất dữ dội, mà bởi quan niệm phổ biến rằng một kết cấu chính trị toàn cầu cũ đã sụp đổ và một kết cấu mới được sinh ra. Ông mô tả quá trình toàn cầu này như câu chuyện huyền thoại tạo nên trong phạm vi của nó: “Các nhóm sự kiện lớn trong chu kỳ, các chiến dịch chiến tranh toàn cầu và các dàn xếp nổi tiếng, sự tuân thủ mang tính nghi thức của các nước lớn, và sự dần chìm vào quên lãng của các nước khác, tất cả tạo nên nghi thức của nền chính trị thế giới. Đó là những dấu mốc quan trọng của thời gian thế giới”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: William Strauss, Neil Howe – Bước chuyển thứ tư – NXB TG 2019

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s