An ninh năng lượng cho Việt Nam


Phó Thủ tướng Việt Nam, ông Trịnh Đình Dũng, tại buổi làm việc ngày 11/7 với Bộ Công Thương, nơi quản lý ngành điện Việt Nam đã phát biểu: “Yêu cầu năng lượng để đảm bảo an ninh quốc gia, đặc biệt là điện, rất lớn. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư, rồi cơ chế chính sách, nhu cầu bảo vệ môi trường,… đang là những thách thức rất lớn để chúng ta thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn an ninh năng lượng của chúng ta, đặc biệt là lĩnh vực điện”.

Trong bài phát biểu này, ông Trịnh Đình Dũng cũng nêu lên những con số về nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong tương lai. Ông kết luận rằng nếu không có một “cơ chế đột phá” thì sẽ không đảm bảo được an ninh năng lượng cho quốc gia.

Theo ông Trịnh Đình Dũng, sắp tới, Việt Nam sẽ phát triển các loại năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời, và mua điện từ nước Lào láng giềng.

Nhận định về buổi họp này, Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, hiện đang sống và làm việc tại Na Uy cho rằng có vẻ như Việt Nam đang bế tắc trong chiến lược năng lượng của mình.

Trong khi đó, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một người nghiên cứu chính trị Việt Nam từ Singapore, cho rằng Chính phủ Việt Nam cũng đã có những dự tính cụ thể cho việc phát triển điện năng của mình. Theo Tiến sĩ Hợp, cuối năm nay, Việt Nam có thể sẽ quyết định không xây dựng những nhà máy nhiệt điện nữa từ năm 2019, trừ những nhà máy đã được lên kế hoạch. Ngoài ra, cũng theo ôngợp, Việt Nam đã cấp giấy phép cho 31 dự án sản xuất điện gió tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Vấn đề phí tổn môi trường

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, hiện làm việc tại Trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Đồng bằng Sông Cửu Long, cho rằng việc tìm giải pháp để vừa đảm bảo năng lượng điện cho Việt Nam, nhưng đồng thời tránh gây ô nhiễm bởi các nhà máy điện chạy bằng than là một vấn đề rất nan giải. Ông Anh Tuấn nói: “Bây giờ, vấn đề là cân nhắc giữ tỉ lệ điện than có thể chấp nhận được là bao nhiêu, và tính đến các loại năng lượng tái tạo khác. Phải chấp nhận giá điện cao hơn. Đây là một bài toán khó cần phải giải quyết”.

Nói về việc Việt Nam sẽ xúc tiến mua điện từ Lào, ông Tuấn cho rằng đây là một việc làm có thể lợi bất cập hại, vì nó sẽ thúc đẩy nước Lào phát triển thủy điện trên dòng chính của sông Mekong, vốn đã và đang gây hại cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Ông đề ra biện pháp tiết kiệm điện là loại bỏ những ngành công nghiệp tiêu tốn điện năng quá nhiều nhưng lại không có hiệu quả kinh tế, và gây ô nhiễm cao như là đóng tàu và luyện kim.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, cũng như nhiều chuyên gia khác đều đồng ý rằng xây dựng những nhà máy điện chạy bằng than có điểm lợi là giá thành rẻ, tuy nhiên những phí tổn về môi trường sẽ rất lớn trong tương lai.

Nhận định về những dự án nhà máy điện than, đặc biệt là 14 nhà máy tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục được thực hiện. Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói: “Quan điểm cá nhân của tôi là không xây dựng những nhà máy nhiệt điện than. Đặc biệt là những vùng nhạy cảm như Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, trong những trường hợp bức bách quá, phải chấp nhận một số nhà máy với những điều kiện kỹ thuật nào đó, và phải tăng chuyện giám sát, cũng như các kỹ thuật giảm bớt sự phát thải. Phải cân nhắc rất kỹ vị trí đặt nhà máy với các vùng sản xuất xung quanh. Việc này cần phải có sự kiểm tra, đánh giá của các chuyên gia độc lập khác nhau”.

Tuy nhiên, để xây dựng những nguồn năng lượng tái tạo, như điện gió và điện mặt trời, trong tình hình hiện nay là rất tốn kém.

Tìm ở đâu nguồn vốn cho việc này?

Ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng cần phải tư nhân hóa ngành điện, không để cho nhà nước nắm độc quyền sản xuất và phân phối điện như hiện nay để có thể tạo nên sự cạnh tranh. Ông đưa ra 2 mô hình có thể áp dụng cho Việt Nam để có thể thu hút vốn vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Ông Vũ nói:

Mô hình Solar City ở Mỹ là họ có chính sách mua lại điện của người dân, công ty ký hợp đồng với người dân để lắp những tấm pin mặt trời lên mái nhà người dân, người dân dùng không hết thì bán lại điện đó. Cách thứ hai là bên Israel làm. Một công ty trong nước có thể kêu gọi một công ty nước ngoài đầu tư chung với mình Rồi chính phủ cũng là một cổ đông. Tổ hợp đó có thể hoạt động trong vòng 5 năm chẳng hạn, 2 công ty đó có thể mua lại cổ phần của chính phủ với giá ưu đãi. Đó là một cách gọi là Yozma bên Israel làm được mấy chục năm rồi”.

Theo ông Vũ, mô hình Yozma đã giúp Israel huy động được vốn không chỉ trong lĩnh vực năng lượng mà còn trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật cao khác.

Vấn đề an ninh

Ngoài vấn đề công suất điện phải đủ để đảm bảo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, an ninh năng lượng còn được hiểu như là phải đảm bảo nguồn cung cấp nhiêu liệu không gián đoạn, cũng như lưới phân phối điện không bị hư hỏng.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng khi Việt Nam phát triển năng lượng gió và mặt trời sẽ đảm bảo được an ninh như vậy, chứ không phụ thuộc vào nguồn cung cấp than đá đối với nhiệt điện, hay nguyên liệu hạt nhân cho điện hạt nhân. Một điều đặc biệt nữa, ông Tuấn nhấn mạnh là các trung tâm điện gió và mặt trời sẽ cho phép tổ chức mạng lưới điện theo mô hình phi tập trung, không hao tốn điện năng trên đường truyền tải, và trong trường hợp một trung tâm bị hư hỏng sẽ không ảnh hưởng tới những vùng khác.

Mô hình này đã được kỹ sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một chuyên gia về điện, sống tại Pháp, đề nghị với chính phủ Việt Nam cách đây hơn 20 năm, khi ông phản đối dự án xây dựng đường dây truyền tải điện xuyên Bắc Nam.

Tuy nhiên, hiện nay lại có một vấn đề an ninh khác rất nhạy cảm được đặt ra khi Việt Nam phát triển các trang trại điện gió và mặt trời, đó là Trung Quốc.

Theo những thông tin của Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, hiện nay, Trung Quốc đang mua nhiều trang trại điện gió và mặt trời tại Việt Nam, trực tiếp và gián tiếp qua Hong Kong, Thái Lan, Singapore.

Nhận xét về hiện tượng này, ông Lê Anh Tuấn và ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng mặc dù vấn đề Trung Quốc là nhạy cảm, nhưng việc họ có thể có mặt để kinh doanh điện gió và mặt trời ở Việt Nam không gây ra nhiều vấn đề an ninh năng lượng như là phụ thuộc vào nguồn cung cấp nhiên liệu từ bên ngoài.

Ông Nguyễn Huy Vũ nói rằng, trong cơ chế thị trường, Việt Nam hông thể cấm người Trung Quốc mua bán, nhưng Việt Nam có thể học theo cách người Mỹ là bác bỏ những dự án nào người Trung Quốc nếu xét thấy nó nguy hại cho an ninh quốc gia. Ông Lê Anh Tuấn cho rằng mặc dù ông thấy chuyện Trung Quốc sở hữu những trang trại điện gió và mặt trời tại Việt Nam không đến nỗi nguy hại, nhưng ông cũng nêu ý kiến là không đồng tình với việc này.

Nguồn: RFA

DLTGVVN – 20/07/2018

Advertisements

Lào – “Cục pin ở châu Á”


Theo đài BBC, Lào ồ ạt ây đập dọc sông Mekong để bán điện cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam, bất chấp cảnh báo về các mối nguy cho an sinh của cộng đồng.

Thời bái Vientiane dẫn lời Tỉnh trưởng Attapeu, ông Bounhom Phommasane, cho biết 19 người chết, hơn 100 người mất tích và hàng ngàn người đang chờ được cứu sau vụ vỡ đập thủy điện Sepien Senammoi, huyện Sanamxay của tỉnh này.

Lợi và hại từ tham vọng biến Lào thành “cục pin”

Theo Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế, các đập thủy điện trên sông Mekong có thể dẫn tới nguy cơ giảm 30 – 40% sản lượng đánh bắt được vào năm 2040, giảm sản lượng nông nghiệp, kéo theo đói nghèo và làm tăng mức độ dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu của các nước ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có Việt Nam.

Theo Vietnamnet, trong số các đơn vị thi công đập thủy điện Sepien Senammoi có công ty Cổ phần Xây dựng và nhân lực Việt Nam (CMVietnam).

Sau khi hoàn thành, 90% sản lượng điện sản sinh từ dự án sẽ được bán cho công ty EGAT Thái Lan và 10% còn lại bán cho công ty điện EDL của Lào. Không thấy nhắc đến khách hàng Việt Nam trong dự án xây đập này, nhưng trên thực tế, Việt Nam đã và đang mua điện từ các đập thủy điện của Lào.

Theo The Diplomat, trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4/2018, Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Lào Khammany Inthirath đã gặp Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh để bàn việc hợp tác xuất khẩu điện của Lào cho Việt Nam và đã thảo luận việc xây dựng các khung pháp lý và hạ tầng để thực hiện.

Thực tế là Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu điện. Theo ước tính, sản lượng điện cần nhập khẩu vào Việt Nam tăng hơn 37,5% vào năm 2025 và tăng lên 58,5% vào năm 2035.

Theo tờ The Strait Times (Singapore), Lào có tham vọng trở thành “cục pin xạc” của châu Á (the battery of Asia), với nhiều dự án xây đập thủy điện có vốn đầu tư nước ngoài dịc hệ thống sông ngòi nước này.

The Nikkei Asian Review, trong khi châu Âu lưỡng lự đầu tư vào các dự án thủy điện ở Lào do lo ngại ảnh hưởng tới nguồn cá ở khu vực sông Mekong thì các nước khác như Thái Lan, Trung Quốc lại đầu tư ồ ạt vào lĩnh vực này tại Lào.

Tờ The Diplomat cho rằng Lào có khát vọng trở thành nhà xuất khẩu điện lớn nhất trong khu vực. Hiện nay, các đập thủy điện ở Lào có công suất 6000 MW. Chính phủ Lào tham vọng đạt công suất 14.000 MW vào năm 2020.

Trên 30% khảon tiền đầu tư nước ngoài 6,6 tỷ USD vào Lào từ năm 1986 đã được chi cho việc xây dựng các đập thủy điện HIện Lào đã vận hành 42 nhà máy thủy điện, 39 đập thủy điện và đang xây tiếp 53 đập.

Chính quyền Thái Lan và mạng xã hội Thái Lan đã kêu gọi quyên góp hỗ trợ nạn nhân vụ lụt do vỡ đập ở Lào. Dư luận Thái Lan muốn “trả ơn” nước Lào đã cử đội cứu trợ tham gia đợt giải cứu đội bóng nhí tại hang Tham Luang, Chiangrai gần đây. Tuy nhiên, có vẻ như chính quyền Lào không muốn truyền thông nước ngoài vào đưa tin về vụ vỡ đập. Một số nhà báo Thái Lan cho biết đơn xin thị thực (M-B2) để tác nghiệp báo chí của họ bị Bộ Ngoại giao Lào từ chối. Khác với đa số các quốc gia khác trên thế giới, Lào yêu cầu báo chí nước ngoài phải có thị thực đặc biệt mới có thể vào đưa tin.

Các báo Việt Nam ngày 25/7 đưa tin công ty Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) sẽ dùng trực thăng đưa 26 công nhân và trẻ em về nước an toàn. Bước đầu, HAGL hỗ trợ 50 tấn gạo cùng thực phẩm và quần áo gửi tới Attapeu trong ngày 25/7 để giao cho Ủy ban Cứu trợ của Chính phủ Lào.

Theo Vietnamnet, công ty này cũng lập đội cứu nạn gồm các bác sỹ, y tá đến Attapeu gày 25/7 để hỗ trợ các hoạt động cứu trợ của chính phủ Lào.\

Đập thủy điện mới bị vỡ nằm cách Việt Nam khoảng 700 km và cách nhánh sôn gchi1nh của sông Mekong khoảng 200 km.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Vỡ đập thủy điện – thảm họa đã được báo trước


Theo đài RFI, ít nhất 7 ngôi làng ở miền Đông Nam nước Lào đã bị ngập tối 23/7 do vỡ đập thủy điện Sepien Senamnoi. Dòng nước hung dữ đã cuốn đi nhiều căn nhà, người dân phải leo lên nóc những công trình còn trụ vững để trú ngụ, hoặc đeo bám trên cây. Hàng chục người và hơn 100 người mất tích.

Các hình ảnh của kênh truyền hình, ABC Laos News cho thấy chỉ còn cây cối và một số nóc nhà trồi lên khỏi mặt nước bùn đục ngầu. Trong một video, một phụ nữ run rẩy bế một em bé bước lên một chiếc xuồng gỗ, cho biết mẹ của bà vẫn phải trốn trên một cành cây. Có ít nhất 6000 người dân đã bị mất nhà.

Đập nước này được xây dựng trên một nhánh sông Mekong tại vùng cực Nam nước Lào, gần biên giới Việt Nam và Campuchia. Dự án đập thủy điện, với 90% sản lượng sẽ được bán cho Thái Lan một khi đi vào hoạt động, là công trình hợp tác giữa Lào với một công ty Thái Lan và 2 tập đoàn Hàn Quốc – trong đó có một chi nhánh của SK, một trong những tập đoàn lớnn nhất Hàn Quốc.

Dự án thập điện 410 MW được ước tính bắt đầu hoạt động vào năm 2019, gồm 2 đập chính và 5 hồ chứa, làm chuyển dòng 3 nhánh sông. Chi nhánh kỹ thuật và xây dựng của Tập đoàn SK thông báo phần trên cao của một trong những công trình phụ “đã bị cuốn trôi” trong đêm 22/7, sau nhiều ngày mưa lớn.

Hồ trữ nước dài 770m và cao 16m đã bị vỡ 1 ngày sau đó. Hiện trạng này khiến người ta đặt câu hỏi về những khiếm khuyết của hệ thống cảnh báo người dân địa phương, cho dù Tập đoàn SK nói rằng “đã báo động ngay lập tức cho chính quyền và bắt đầu di tản dân làng” vào tối 22/7.

45 đập thủy điện đang được xây dựng

Thảm họa này là minh chứng cụ thể cho mối quan ngại lâu nay tại một đất nước muốn trở thành “cột trụ châu Á” với tiềm năng to lớn về thủy điện. Là một quốc gia nhiều núi no hiểm trở, không có biển, được một đảng cộng sản lãnh đạo theo kiểu toàn trị, có thể toàn quyền quyết định mô hình phát triển theo ý mình, từ 1 thập niên qua, Lào đã tung ra rất nhiều dự án thủy điện trên những dòng sông chính, trong đó có dòng Mekong và các phụ lưu.

Có đến 45 đập thủy điện được xây dựng tại Lào, trong đó 12 đập đã đi vào hoạt động. Theo ông Martin Burdett, cộng tác viên của tờ Tạp chí quốc tế về đập thủy điện (International Journal on Hydropower & Dams), Lào “có thể cung cấp 26.500 MW từ thủy điện, và hiện chỉ mới khai thác 25% tiềm năng này”.

Tuy nhiên, hậu quả là các sự cố liên tục xảy ra. Một đập thủy điện ở miền Trung Lào đã bị vỡ hôm 11/9/2017. Các quan chức địa phương cáo buộc đơn vị phụ trách đã xây dựng trên khu vực đầm lầy, đồng thời đổ thừa nguyên nhân là do mưa lũ. Trước đó, vào tháng 12/2016, một đường ống dẫn nước đến tuabin của một công trình thủy điện ở một tỉnh miền Nam, gần biên giới Việt Nam, cũng đã bị vỡ do được xây dựng trên vùng đất dốc từng xảy ra các vụ sạt lở đất và nay càng trở nên bất ổn vì công trường xây dựng đập nước.

Tác động tai hại của việc lạm dụng xây dựng thủy điện đối với môi trường đều đã rõ: hệ sinh thái sông ngòi bị xuống cấp, sự đa dạng các loài thủy sản bị ảnh hưởng, dẫn đến sản lượng ngư nghiệp đánh bắt từ sông Mekong và vùng ĐBSCL bị giảm sút nặng nề.

Một dự án đập thủy điện lớn khác đang được tiến hành tại Lào là đập Xayaburi do tập đoàn Thái Lan CH Kamchang xây dựng, giá trị ước tính 3,8 tỷ USD, công suất 1285 MW, khiến Việt Nam và Campuchia, hai quốc gia nằm ở hạ nguồn lo ngại.

Ông Marc Goichot, phụ trách chương trình nước của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tại khu vực sông Mekong nhận xét: “Một nước nhỏ vốn không có năng lực về kỹ thuật và quản lý để theo dõi các nghiên cứu về tác động, nhưng lại lao vào xây dựng một loạt đập thủy điện là đặc biệt nguy hiểm!

Theo ông Goichot: “Các công trình thủy điện quy mô rất hấp dẫn đối với một quốc gia đang phát triển, nhưng hàm chứa nhiều rủi ro. Khủng khiếp nhất là vỡ đập, và một trong những hậu quả cay đắng là ngành đánh cá bị suy tàn, khiến những người nghèo khổ nhất không còn phương kế mưu sinh”.

Chỉ tính lợi ích kinh tế trước mắt, bất kể thảm họa

Các công trình quan trọng được giới quan chức địa phương coi là đòn bẩy thăng tiến, và ngân sách khổng lồ đổ vào cũng là nguồn tham nhũng trong một đất nước thiếu tính minh bạch. Các quan chức chính quyền được giao nhiệm vụ giám sát nhưng không có đủ kiến thức cần thiết để quản lý chặt chẽ dự án. Vì vậy, các tập đoàn xây dựng và điện lực lớn có thể thương lượng trên thế mạnh và thủ thế kỹ về mặt pháp luật, để đổ trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong trường hợp có vấn đề.

Đối với các ngân hàng lớn nước ngoài, những dự án thủy điện còn khả tín hơn khi được áp lên những con dấu của các công ty quốc doanh Trung Quốc. Quốc gia láng giềng khổng lồ này can dự vào một số lượng lớn các dự án, bên cạnh đó là Cơ quan sản xuất điện lực Thái Lan, khách hàng mua điện. Vì vậy, các dự án thủy điện được ưu tiên về tín dụng.

Các đập thủy điện được giới thiệu là chiến lược phát triển của Lào. Việc bán điện cho nước khác mang lại nguồn tài chính lớn cho Nhà nước, giảm bớt thâm hụt thương mại của một đất nước không có nền kỹ nghệ. Nhưng trên thực tế, các quyết định hành chính được đưa ra bởi các bộ chỉ quan tâm đến việc thu lợi nhanh chóng, mà không nghĩ đến tác động về lâu dài và nguy cơ xảy ra những thảm họa.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Cảnh báo đối với Việt Nam sau vụ vỡ đập ở Lào


Theo đài RFA, đập thủy điện Sepien Senamnoi trị giá 1,02 tỷ USD đang trong quá trình xây dựng đã vỡ vào ngày 23/7. Đây là dự án xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) gồm 3 con đập Houay Makchan, Sepien và Senamnoi nằm trên các nhánh của sông Mekong.

Ngay sau khi vụ vỡ đập xảy ra, Việt Nam đã họp khẩn về tác động của vụ việc đối với khu vực sông Mekong ở Việt Nam. Theo nhận định của cơ quan chức năng, tác động đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long không lớn, chỉ làm tăng mực nước lên 5 – 10 cm trong vài ngày tới.

Nước sẽ tràn về Việt Nam trong vài ngày tới

Theo VnExpress, ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm Phó ban chỉ đạo Trung ương Phòng chống thiên tai, cho biết: “Sự cố này nếu có ảnh hưởng đến Việt Nam thì cũng không lớn. Đây là con đập đang trong quá trình thi công và đã bắt đầu tích nước. Tuy nhiên, lượng nước tích được hiện nay chưa ai xác định được nên chưa thể có thông số chính xác.

Theo ông Thắng, các nhà khoa học ước tính trong 5 – 6 ngày tới, nước từ vụ vỡ đập Lào sẽ tràn về Việt Nam. Mực nước khi về đến Tân Châu, Châu Đốc (An Giang) sẽ dâng lên khảong 5 cm so với hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Tính, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng cho biết, do mực nước ở các sông đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện đang thấp, nên khi nước từ Lào tràn về sẽ không ảnh hưởng nhiều.

Trong khi đó, ông Trần Đức Cường, Phó Chánh văn phòng thường trực Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho rằng “vỡ đập thủy điện ở Lào là sự cố đột xuất nên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Hiện các cơ quan hữu quan đang thu thập số liệu và kết quả phân tích sẽ có trong 1 – 2 ngày tới để cảnh báo cho các quốc gia, đặc biệt là vùng ĐBSCL của Việt Nam”.

Đó là ảnh hưởng trước mắt. Còn về lâu dài, các mối nguy đối với an toàn lương thực cho Việt Nam và toàn khu vực Đông Nam Á do kế hoạch xây nhiều đập thủy điện dọc sông Mekong đã được cảnh báo từ lâu.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết, sự việc đã để lại  bài học quý giá về quản lý thủy điện đối với Việt Nam: “Những chiến lược để thực hiện phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Phòng phải là quan trọng nhất. Khi có một công trình đã xây dựng và trong quá trình quản lý vận hành thì luôn phải có phương án phòng tránh và khi có sự cố phải giảm nhẹ sự cố đó. Phải có tinh thần kiểm tra, kiểm soát, rà soát lại trước mùa mưa lũ hàng năm và 3 năm một lần phải tổng kiểm tra”.

Nhận định về những hậu quả có thể gây ra với ĐBSCL, Tiến sĩ Dương Văn Ni, một chuyên gia về ĐBSCL cho biết: “Ảnh hưởng lớn nhất là người dân ĐBSCL sẽ rất sợ bởi vì trên dòng Mekong còn nhiều đập lớn nữa đang xây và dự định xây. Về ảnh hưởng trực tiếp của vụ vỡ đập theo các cơ quan truyền thông, mùa này chưa phải cao điểm ngập lụt ở ĐBSCL nên chắc không ảnh hưởng nhiều”.

Thảm họa nói trên xảy ra giữa lúc Lào đặt mục tiêu trở thành “nguồn pin của châu Á” bằng cách bán điện cho các nước láng giềng thông qua một loạt dự án thủy điện. Chính phủ Vientien hiện xuất khẩu 2/3 lượng thủy điện và nguồn thu từ điện chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường ở Lào đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về hậu quả của các đập thủy điện dọc sông Mekong mà Chính phủ Lào đang có kế hoạch xây dựng. Theo đó, khoảng 12 đập lớn và 120 đập ở các nhánh sông này sẽ được xây dựng trong 20 năm tới. Bản thân dự án Sepien Senamoi cũng từng gây tranh cãi vì nó có thể tác động tiêu cực đến sông Mekong và cộng đồng cư dân gần đó.

Thời báo châu Á số ra ngày 25/7 đã đăng bài viết với nhan đề “Thảm họa vỡ đập ở Lào cho thấy những thất bại của chế độ Đảng Cộng sản”. Bài báo nêu rõ sự thờ ơ của cơ quan chức năng Lào trước những hiểm họa vỡ đập Sepien Senamnoi đã được cảnh báo trước đó. Bài báo dẫn lời Giám đốc Chiến dịch trả tự do cho Lào (Free Laos) – một tổ chức cổ xúy dân chủ quốc tế, ông Joe Rattanakhom cho biết người dân Lào cảm thấy vô vọng vì hầu hết đều sợ nói lên những sai trái trong cách quản lý của Chính phủ đối với đất nước và nguồn tài nguyên quốc gia. Chính phủ Lào không quan tâm đến những tác động xã hội và môi trường vì họ là những người được hưởng lợi từ thể chế tham nhũng ở Lào, bất kể đó là các dự án thủy điện hay khai thác gỗ…

Công trình thủy điện ở Việt Nam còn nhiều bất cập

Đài RFA dẫn lời Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL cho biết thảm họa vỡ đập ở Lào một lần nữa cho thấy vấn đề an toàn đập trên lưu vực sông Mekong là đáng lo ngại và cách làm thủy điển trong lưu vực sông Mekong chưa đạt độ chuyên nghiệp, tin cậy.

Theo thống kê và khảo sát sơ bộ của cơ quan chức năng, năm 2013, Việt Nam có hơn 200 đập thủy điện, trong đó, 95% là không đạt yêu cầu. Phần lớn đập và hồ chứ tập trung ở miền Trung, nơi có độ dốc cao – một bên giáp núi, một bên giáp biển.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, một nhà hoạt động môi trường cho biết: “Nhiều người đã biết các vụ vỡ đập thủy điện ở Việt Nam như ở Lâm Đồng. Điều đó chứng tỏ việc thiết kế và vận hành thủy điện ở Việt Nam có vấn đề mới dẫn đến việc vỡ đập, họ không lường trước được những nguy cơ rủi ro do vấn đề địa chấn, sụt lở đất hoặc do vấn đề kỹ thuật thiết kế hay do cả hai”.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật so sánh các công trình thủy điện ở Việt Nam cũng giống như các dự án xây dựng đường sá, cầu cống, chưa làm xong đã bị lún, bị sập. Ông cho rằng đây là hậu quả của vấn nạn tham nhũng, rút ruột công trình: “Nó liên quan đến vấn đề năng lực thiết kế, năng lực đấu thầu, cạnh tranh và năng lực xây dựng, thẩm định, giám sát. Nhưng điều quan trọng nhất, gốc rễ của mọi vấn đề, đó là nền tảng đạo đức bị suy thoái và vấn đề tham nhũng đang ở đỉnh điểm”.

Một nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, Liên minh Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên phối hợp với Ủy ban Sông Mekong Campuchia công bố tháng 5 vừa qua cho biết nguồn sinh kế của 3,4 triệu người dân Lào, Campuchia và Việt Nam đang bị đe dọa do việc xây dựng 65 đập thủy điện tại lưu vực nơi sông Mekong chảy qua các nước này.

Sau đó 1 tháng, Tổng cục Phòng chống thiên tai Việt Nam cho biết các đập thủy điện đầu nguồn do Trung Quốc xây dựng trên dòng Mekong đang gây sạt lở nghiêm trọng bờ sông và bờ biển khu vực ĐBSCL. Báo cáo nêu rõ trước năm 2010, khi Trung Quốc chưa hoàn thành các công trình thủy điện, tình trạng sạt lở ở ĐBSCL không nghiêm trọng. Tuy nhiên, kể từ năm 2010 đến nay, khi nhiều dự án thủy điện và hồ chứa của Trung Quốc đã hoàn thành, mức độ lở đã gia tăng nghiêm trọng.

Thêm vào đó, đầu năm nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết Việt Nam hiện có khoảng 6650 hồ chứa thủy lợi, nhưng có đến 1200 hồ chứa trong số này bị xuống cấp nghiêm trọng.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc


Nguyen Viet Phuong

Những nhà máy như vậy sẽ đem lại những rủi ro nghiêm trọng về tính an toàn đối với Trung Quốc và Đông Nam Á.

Vào ngày 28/4, tập đoàn hạt nhân Nga Rosatom tuyên bố Akademik Lomonosov, nhà máy điện hạt hân nổi trên mặt nước đầu tiên của họ, đã chính thức rời Saint Petersburg, nơi nó được xây dựng từ năm 2009, tới thị trấn Pevek ở huyện Chaunsky gần Bắc Cực. Tại thị trấn cực Bắc đó của Nga, Akademik Lomonosov sẽ được kết nối với lưới điện và cung cấp điện cho người dân địa phương thông qua hai lò phản ứng hạt nhân 35-MWe KLT-40S. Trong khi được Rosatom ca ngợi là một thành tựu lớn của ngành công nghiệp hạt nhân Nga và là một sản phẩm tiềm năng cho thị trường xuất khẩu hạt nhân, việc triển khai Akademik Lomonosov cũng gây quan ngại cho các nhà hoạt động môi trường. Họ nêu lên các rủi ro về tính an toàn do môi trường khắc nghiệt của Bắc Băng Dương, nơi các xà lan năng lượng hạt nhân sẽ được vận hành, và các tính năng bảo vệ hạn chế so với các nhà máy điện hạt nhân hiện đại đặt trên mặt đất. Mặc dù việc đặt tên các xà lan là “Chernobyl nổi” hay “Titanic hạt nhân”, như tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace đã làm, có thể là hấp tấp khi xét tới việc Nga có kinh nghiệm vận hành các tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân trong nhiều thập kỷ, nhưng các nước láng giềng của Nga và các tổ chức quốc tế như Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) vẫn sẽ phải theo dõi sát sao hoạt động của loại hình nhà máy hạt nhân mới này để bào vệ Akademik Lomonosov trươc bất kỳ sự cố an toàn hoặc an ninh nào với những hậu quả có khả năng vượt ra ngoài biên giới.

Việc triển khai Akademik Lomonosov cũng là một lời nhắc nhở tới các nước Đông Nam Á rằng Trung Quốc cũng đã lên kế hoạch xây dựng và vận hành các phương tiện điện hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Vào năm 2016, hai nhà cung cấp hạt nhân chính thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc là Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) và Tập đoàn điện hạt nhân Trung Quốc (CGN) đã công bố kế hoạch cùng phát triển xà lan điện hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc để triển khai trên biển Nam Trung Hoa vào năm 2020, lò phản ứng đầu tiên trong số 20 lò phản ứng như vậy theo kế hoạch. Các lò phản ứng này sẽ không chỉ cung cấp điện hoặc nước đã khử muối mà các đảo do Trung Quốc kiểm soát rất cần, mà còn hỗ trợ hoạt động thăm dò dầu khí của Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC), chủ sở hữu giàn khoan dầu nước sâu Hải Dương 981. Năm 2014, việc triển khai giàn khoan này tới vùng biển tranh chấp đã gây ra một xung đột chính trị lớn giữa Trung Quốc và Việt Nam. Gần đây, việc các phương tiện truyền thông nhà nước như tờ Nhân dân Nhật báo xác nhận các kế hoạch như vậy đã dẫn tới các mối quan ngại rằng những phương tiện điện hạt nhân nổi này, một khi được hạ thủy trên biển Nam Trung Hoa, có thể giúp Trung Quốc đẩy nhanh hoạt động cải tạo đất và xây dựng đảo nhân tạo của nước này tại đó.

Gạt sang một bên khía cạnh pháp lý và quân sự tiềm tàng của việc triển khai các nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa, mà đã được đề cập tới ở các nơi khác và xứng đáng có một cuộc thảo luận riêng, bài viết này tập trung vào một vấn đề ít biết đến hơn: rủi ro về tính an toàn đối với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á nằm quanh biển Nam Trung Hoa từ các xà lan điện hạt nhân tại vùng biển tranh chấp.

Các rủi ro vận hành

Thứ nhât, có những thách thức nghiêm trọng của riêng hoạt động quản lý an toàn vận hành cho các nhà máy điện hạt nhân nổi do tính mới lạ của công nghệ, các điều kiện vận hành khó khăn và các hạn chế an toàn cố hữu của các nhà máy này (khoang chứa nhỏ hơn và khả năng xảy ra sự cố cao hơn do nguy cơ lật tàu hay va chạm). Về khía cạnh này, các chuyên gia đã lên tiếng bày tỏ quan ngại về năng lực của các cơ quan quản lý an toàn hạt nhân của Trung QUốc torng việc theo kịp sự mở rộng nhanh chóng về số lượng và tính đa dạng của công nghệ trong chương trình hạt nhân dân sự của Trung Quốc. Trung Quốc hiện có 39 nhà máy điện hạt nhân trên mặt đất đang hoạt động, thuộc 3 loại hình công nghệ khác nhau (lò phản ứng nước nhẹ áp lực, lò phản ứng nước nặng áp lực và lò phản ứng nhanh tái sinh) từ nhiều bên cung cấp trong nước và nước ngoài, và 18 nhà máy khác đang được xây dựng.

Năm 2011, Văn phòng nghiên cứu của Quốc vụ viện Trung Quốc đã kết luận Cơ quan an toàn hạt nhân quốc gia (NNSA), cơ quan giám sát hạt nhân chính của Trung Quốc, không có đủ nhân lực khi so sánh với các cơ quan tương tự tại các cường quốc hạt nhân khác, và mức lương của các nhà quản lý hạt nhân Trung Quốc nhìn chung thấp hơn so với những người đồng cấp của họ làm việc cho ngành công nghiệp hạt nhân. Hơn nữa, Trung Quốc có một kế hoạch đầy tham vọng là xây dựng các kiểu lò phản ứng tiên tiến mới, bao gồm các lò phản ứng module nhỏ được sử dụng cho các phương tiện hạt nhân nổi, và xuất khẩu chúng sang các nước láng giềng, điều sẽ đòi hỏi cơ quan giám sát của Trung Quốc kéo căng lực lượng lao động của mình hơn nữa. Do đó, NNSA và các tổ chức liên quan sẽ phải đối mặt với một thách thức đáng kể trong việc đảm bảo an toàn cho đội tàu hạt nhân nổi của Trung Quốc trước thời tiết khắc nghiệt và rủi ro va chạm từ giao thông hàng hải rộng lớn trên biển Nam Trung Hoa – đặc biệt là khi xét tới thực tế là khác với Nga, Trung Quốc chưa bao giờ chế tạo một tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân và vì vậy không có đủ kinh nghiệm trong xây dựng, vận hành hoặc giám sát các phương tiện hạt nhân nổi.

Như cựu Tổng giám đốc IAEA Mohamed ElBaradei từng nhận xét: “Một tai nạn hạt nhân ở bất cứ đâu là một tai nạn ở khắp mọi nơi”. Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc – cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua – đều có tác động nghiêm trọng về kinh tế và tâm lý không chỉ đối với các nước trong khu vực như Việt Nam, Philippines hay Singapore, mà còn cả với các nước như Nhật Bản hay Hàn Quốc vốn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ và khí đốt được cung cấp qua các tuyến đường vận tải đi qua biển Nam Trung Hoa.

Hợp tác an toàn hạt nhân đang lâm nguy

Thứ hai, kế hoạch của Trung Quốc vận hành các nhà máy hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa cũng sẽ tạo ra các vấn đề về hợp tác an toàn hạt nhân với các nước ven biển ở Đông Nam Á. Thông thường, để chứng minh thành tích an toàn của chương trình hạt nhân dân sự của mình trước cộng đồng quốc tế, một quốc gia cần phê chuẩn Công ước về an toàn hạt nhân và tham gia quá trình đánh giá của Công ước này bằng cách gửi một báo cáo quốc gia tới cuộc họp đánh giá được IAEA tổ chức 3 năm một lần. Sau khi đã bắt đầu thực thi Công ước kể từ năm 1996, Trung Quốc thường xuyên gửi báo cáo quốc gia về an toàn hạt nhân của mình tới các cuộc họp đánh giá, trong đó gần đây bao gồm một bản đồ với các tuyên bố chủ quyền của  Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa. Do các báo cáo này thường được công bố, các bên thứ ba như các quốc gia Đông Nam Á có thể xác minh liệu Trung Quốc có thực thi các biện pháp an toàn cần thiết cho các cơ sở hạt nhân dân sự của nước này hay không.

Tuy nhiên, họ sẽ không thể xem xét những thành tích như vậy về tính an toàn để đánh giá đội tàu hạt nhân nổi trong tương lai của Trung Quốc, do Công ước về an toàn hạt nhân chỉ áp dụng với các nhà máy điện hạt nhân trên đất liền. Mặc dù các quốc gia xung quanh biển Nam Trung Hoa vẫn có thể yêu cầu Trung Quốc cung cấp thông tin trong trường hợp xảy ra bất kỳ tai nạn nào đối với các phương tiện nổi của nước này (phù hợp với quy định của Công ước về thông báo sớm một tai nạn hạt nhân, áp dụng với tất cả các loại lò phản ứng hạt nhân, và đã được tất cả các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc phê chuẩn), rõ ràng sẽ là quá muộn để các nước có thể bị ảnh hưởng thực hiện bất kỳ phản ứng nào trong trường hợp khẩn cấp hoặc có kế hoạch giảm nhẹ thiệt hại nào một khi tai nạn đã xảy ra.

Người ta có thể lập luận rằng vấn đề liên lạc về chủ đề an toàn có thể được cải thiện thông qua việc phát triển các thỏa thuận song phương hoặc đa phương riêng rẽ giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Vấn đề quả thực đã được cải thiện khi Trung Quốc và Việt Nam ký một biên bản ghi nhớ (MoU) về hợp tác an toàn hạt nhân vào tháng 11/2017 tập trung vào trao đổi thông tin, sự sẵn sàng và phản ứng trong trường hợp khẩn cấp, trong số các chủ đề khác. MoU này xuất hiện không lâu sau khi Việt Nam tìm kiếm sự liên lạc tốt hơn với Trung Quốc liên quan tới tính an toàn của các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc đã được xây dựng và vận hành gần biên giới Việt – Trung, bao gồm Fangchenggang, Yangjiang và Changjiang, trong đó nhà máy Fangchenggang chỉ cách biên giới hai nước 50 km. Nhưng khi các nhà máy điện hạt nhân nổi được Trung Quốc triển khai đến một vùng biển cũng được các nước Đông Nam Á như Việt Nam hay Philippines tuyên bố chủ quyền, việc ký kết các thỏa thuận song phương hay đa phương tương tự cho các phương tiện nổi này khó có thể xay ra. Các quốc gia này sẽ không hy sinh tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ cho một MoU về an toàn hạt nhân.

Tuy nhiên, nếu không có bất kỳ kênh trao đổi thông tin nào, thì các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa sẽ không thể đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ duy trì các tiêu chuẩn an toàn cao nhất cho các nhà máy điện hạt nhân nổi của mình, trong khi chính nước này cũng không có một bộ phận quan trọng trong hệ thống giám sát nghiêm ngặt về an toàn hạt nhân – tức là hết sức cần có khảo cứu đồng đẳng của các nước khác trong khu vực.

Khi xét tới những thách thức tiềm tàng như vậy về tính an toàn mà các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc phải đối mặt trong tương lai và các vấn đề khác như trách nhiệm pháp lý dân sự trong trường hợp xảy ra tai nạn với các phương tiện này, hoặc rủi ro an ninh từ cướp biển hoặc các nhóm khủng bố trong khu vực, kịch bản tốt nhất cho khu vực sẽ là Trung Quốc xem xét lại nguồn cung cấp điện cho các đảo mà nước này kiểm soát, hoặc ít nhất trì hoãn triển khai đội tàu. Nhưng theo các nguồn tin của Trung Quốc, nguyên mẫu trình diễn đầu tiên cho một lò phản ứng hạt nhân nổi do Trung Quốc sản xuất nhiều khả năng sẽ được thử nghiệm trên biển Bột Hải ngoài khơi bờ biển phía Bắc của Trung Quốc “trước năm 2020”. Sự phát triển nhanh chóng của chương trình tàu hạt nhân nổi của Trung Quốc khiến cho một kịch bản tốt như vậy khó có thể xảy ra.

Điều đó có nghĩa là các nước Đông Nam Á – với sự hỗ trợ của ASEAN và Mạng lưới các cơ quan quản lý hạt nhân ở khu vực Đông Nam Á (ASEANTOM), các tổ chức và diễn đàn khu vực như Hội đồng hợp tác an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP) và các đối tác quốc tế khác có lợi ích trong khu vực như Mỹ, Nhật Bản hay Hàn Quốc – nên sớm tìm kiếm ít nhất một kênh liên lạc với Trung Quốc về cách thức trao đổi thông tin về sự an toàn của đội tàu và việc quản lý hoạt động của nó, trong khi không làm tổn hại đến tuyên bố chủ quyền của mỗi quốc gia đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa. Như cuộc thảo luận ở trên đã cho thấy, sẽ không có giải pháp dễ dàng nào cho vấn đề về tính an toàn của các nhà máy điện hạt nhân nổi, nhưng việc tìm ra một giải pháp như vậy là điều cần thiết cho một biển Nam Trung Hoa trong tương lai không có rủi ro an toàn hạt nhân.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/05/chinas-risky-plan-for-floating-nuclear-power-plants-in-the-south-china-sea/

TLTKĐB – 18/05/2018

Giá than thấp làm năng lượng tái tạo ở Việt Nam không phát triển


Trong hai năm qua, cụm nhà máy nhiệt điệt chạy than Vĩnh Tân tại Bình Thuận đã gây ra nhiều vấn đề không tốt liên quan đến môi trường, từ việc biểu tình chống khói bụi của hàng nghìn người dân, cho đến lo lắng cảu doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận về việc dìm bùn nạo vét ngoài biển tỉnh này. Trong khi đó, Bình Thuận và Ninh Thuận gần kề lại được đánh giá là nơi có tiềm năng rất lớn trong việc sản xuất năgn lượng từ gió và Mặt trời, còn gọi là năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm. Vậy liệu việc phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam có bị trở ngại?

Vào năm 2015, ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện năng lượng, thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, cho biết về kế hoạch phát triển năng lượng của Việt Nam tới đây: “Hiện nay, theo tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam đến năm 2030 thì nhiệt điện than sẽ chiếm tỷ trọng cao nhất, có thể đến 45%. Còn lại thủy điện, dầu khí đều giảm, năng lượng mặt trời sẽ chiếm khoảng 6% vào năm 2030”.

Trong khi đó, trên thế giới lại có xu hướng ngược lại. Tại Mỹ, quốc gia có nhiều mỏ than lớn, lượng điện sản xuất từ than đã giảm liên tục. Theo tạp chí kinh tế Economits (Anh), các nhà máy điện chạy than chiếm 51% sản lượng điện của Mỹ vào năm 2005, giảm còn 39% vào năm 2014. Xu hướng này hiện vẫn tiếp tục. Trong khi đó, lượng điện sản xuất từ gió và năng lượng Mặt Trời lại liên tục gia tăng. Năm 2014, hai nguồn này chiếm 4% lượng điện của nước Mỹ, đến đầu năm nay, báo chí Mỹ đưa tin là hai nguồn này chiếm 10% điện sản xuất của Mỹ, và số nhân công sử dụng trong các nhà máy điện gió, điện Mặt Trời cao hơn số nhân công sử dụng trong các nhà máy điện chạy than, dầu, và hạt nhân cộng lại.

Trong việc phát triển năng lượng tái tạo, Mỹ hiện vẫn còn đứng đằng sau nhiều quốc gia phát triển khác. Một quốc gia lớn khác là Trung Quốc, vốn từ trước đến nay được xem là nước gây ô nhiễm bậc nhất thế giới vì các nhà máy điện chạy bằng than, hiện nay đã đóng cửa nhiều nhà máy điện chạy than, và sản lượng điện tái tạo từ sức gió và Mặt Trời của nước này đang gia tăng mạnh mẽ, cao hơn cả Mỹ. Theo kênh truyền hình CNN (Mỹ), Bắc Kinh dự định đến năm 2030, năng lượng gió và Mặt trời sẽ chiếm 20% sản lượng điện của Trung Quốc.

Giá than thấp cản trở năng lượng tái tạo

Trong xu hướng tiến tới sử dụng năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng đặt ra cho mình một chương trình phát triển năng lượng, trong đó giảm bớt việc sử dụng than đá hay dầu mỏ. Theo kỹ sư Nguyễn Khắc Nhẫn, từng làm việc cho công ty điện lực Pháp, vào năm 2015, chính phủ Việt Nam đã công bố dự án phát triển năng lượng sạch, theo đó vào năm 2050, tỉ lệ điện sản xuất từ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 43%. Trích dẫn này được ông đưa ra trong một bài viết về khả năng phát triển năng lượng tái tạo cho Việt Nam đến năm 2050. Theo đó, đến năm 2050, Việt Nam có khả năng sử dụng 100% nhu cầu năng lượng của mình từ các nguồn năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, trên thực tế, các kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy điện chạy than từ Nam ra Bắc, trong đó có cụm 4 hà máy Vĩnh Tân, Bình Thuận, dường như đang chứng tỏ rằng Việt Nam đi ngược lại với chương trình năng lượng tái tạo mà tự mình đề ra.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế sống ở Hà Nội cho rằng một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy công ty điện lực Việt Nam xây dựng rất nhiều nhà máy điện chạy bằng than là do giá than ở Việt Nam hiện nay rất rẻ. Ông nói: “Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại tự do, thuế nhập khẩu than xuống thấp, Việt Nam không đánh thuế giá trị gia tăng đối với than như là đối với xăng dầu. Cho nên giá than tiếp tục giảm một cách bất ngờ. Đấy là cái động lực làm cho ngành điện tiếp tục đầu tư vào điện than”.

Mặt khác, việc xây dựng khá tốn kém các nhà máy điện sử dụng năng lượng gió và Mặt trời cũng là một trở ngại làm cho Việt Nam không thúc đẩy năng lượng tái tạo.

Tháng 4/2017, báo chí Việt Nam đưa tin rằng một nhà máy sản xuất điện từ gió đã được khởi công tại Dầm Nại, tỉnh Ninh Thuận. Công trình này sẽ có công suất 40 MW với vốn đầu tư là 80 triệu USD. Nếu so sánh một cách tương đối với nhà máy điện chạy than Vĩnh Tân 1, công suất 1200 MW, vốn đầu tư 1,8 tỷ USD, thì nhà máy điện gió vẫn đắt hơn.

Một vấn đề nữa được Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nêu lên là giá điện ở Việt Nam rẻ, nên không khuyến khích nhà đầu tư bỏ tiền vào các công trình nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo: “Ở Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) đã có một dự án để thúc đẩy, và cũng có những dự án khác để xây dựng điện gió, nhưng giá điện gió hiện nay vẫn cao hơn giá điện của EVN, và nếu như Việt Nam chưa có một chính sách điều chỉnh giá điện nhất định, thì điện gió sẽ tiếp tục tăng, nhưng khó có thể phát triển đến mức có thể thay thế được điện than”.

Tính toán kinh tế không bao gồm chi phí môi trường

Khi các nhà máy phát điện gió và Mặt Trời hoạt động thì có hai điểm lợi, thứ nhất là không cần cung cấp nhiên liệu, và thứ hai là không gây ô nhiễm như các nhà máy chạy bằng than.

Cuộc biểu tình lớn hàng nghìn người ở Tuy Phong (Bình Thuận) diễn ra vào năm 2015 chống ô nhiễm do nhà máy điện than Vĩnh Tân gây ra là một ví dụ cho thấy việc tính toán kinh tế khi quyết định xây các nhà máy điện than, người ta đã không lường được những chi phí do bất ổn xã hội gây ra bởi ô nhiễm.

Trong cuộc biểu tình đó, nhiều xe cộ bị đập phá, giao thông đình trệ hàng giờ liền trên quốc lộ. Một số người dân nói họ còn dự định sẽ bỏ xứ ra đi vì không thể sinh sống và sản xuất trong vùng đất bị ô nhiễm.

Khi việc dìm 1.000.000 m3 bùn tại vùng biển Bình Thuận được nêu lên, các doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận rất lo lắng việc sản xuất của mình sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các chủ trại nuôi tôm giống ở Tuy Phong cho biết rằng việc xây cầu cảng phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân làm cho chi phí lọc nước của họ tăng lên nhiều lần. Khi được chúng tôi trình bày điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết: “Đấy là những chi phí mà người ta cần phải tính đến, khi tính về điện than. Người ta không tính đến điều đó và người ta chỉ tính những hiệu ứng về kinh tế thôi, và đó là cái điều méo mó của cái việc chỉ vận dụng những tính toán về kinh tế, mà không tính đến những tác động bền vững và môi trường”.

Bên cạnh việc giải quyết nạn ô nhiễm do điện than gây ra, nhiều nhà quan sát, trong đó có tiến sĩ Nguyễn Quang A lo lắng rằng Việt Nam sẽ là bãi rác công nghệ cũ của Trung Quốc, khi nước này đóng cửa các nhà máy điện than của mình nhằm bảo vệ môi trường của Trung Quốc, nhưng đồng thời lại xuất khẩu các nhà máy cũ này sang Việt Nam.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trích lời Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) nói rằng việc Việt Nam cho xây dựng hàng loạt nhà máy chạy điện than là một thảm họa của nhân loại và của chính Việt Nam.

Nguồn: RFA

TKNB – 24/07/2017

Những khó khăn về năng lượng của Việt Nam đe dọa tăng trưởng kinh tế


Kể từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã tiến hành khai thác các mỏ dầu phong phú ở Biển Đông. Hơn 31 năm trôi qua và việc này không vấp phải bất cứ vấn đề gì cho đến khi Trung Quốc bắt đầu đưa ra các yếu sách chủ quyền đối với hơn 80% diện tích ở Biển Đông. Do Trung Quốc đang khai thác cạn kiệt các mỏ dầu hiện tại, nên Bắc Kinh có thể áp dụng một lập trường mạnh mẽ hơn nhằm bảo đảm các nguồn năng lượng vốn hữu hạn cho chính nước này. Một động thái như vậy có thể khiến các quốc gia nhỏ hơn như Việt Nam bị cạn khô, không có đủ nguồn năng lượng để phát triển.

Các cuộc tranh chấp ở Biển Đông cản trở việc thăm dò khai thác năng lượng

Vào tháng 6/2017, Việt Nam đã bắt tay thực hiện dự án trị giá nhiều triệu USD tại lô 136/3 của mình (còn phía Trung Quốc thì gọi là lô Wanan Bei-21) với các công ty Respol của Tây Ba Nha và Mubadala Development Co. của UAE. Trong vòng 2 tháng, căng thẳng trong quan hệ Trung – Việt đã lên đến mức giống như trong vụ giàn khoan Hải Dương – 981 vào năm 2014.

Khi Respol xác nhận sự tồn tại của một mỏ khí đốt lớn tại lô 136/3 và lên kế hoạch tiến hành khoan, Trung Quốc tỏ ra không hài lòng. Ngay sau đó, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Tướng Phạm Trường Long đã quyết định cắt ngắn chuyến thăm chính thức Việt Nam và hủy bỏ cuộc giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung thường niên.

Dù vậy, Việt Nam vẫn tìm cách để vượt qua các giới hạn do Trung Quốc đặt ra và tiếp tục các hoạt động khoan dầu. Cuối cùng, khi Trung Quốc đe dọa tấn công các căn cứ quân sự của Việt Nam, chỉ có Rspol là ra tuyên bố đình chỉ các hoạt động khoan tại khu vực tranh chấp. Việt Nam không đưa ra một tuyên bố chính thức nào và tiếp tục khẳng định quyền của mình trong việc thăm dò khai thác năng lượng. Với các khoản tiền đã đầu tư, cùng với nhu cầu dầu mỏ và khí đốt ngày càng tăng của Việt Nam, việc này có thể chỉ bị dừng tạm thời cho đến khi Hà Nội tìm thấy các điểm khoan mới để tiếp tục dự án hợp tác. Nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nếu các công ty dầu mỏ nước ngoài đánh giá triển vọng của kinh tế Việt Nam là có rủi ro cao và rút lại các khoản đầu tư.

Gác lại những khó khăn trong việc tìm kiếm các mỏ dầu vốn khan hiếm sang một bên, Việt Nam giờ đây phải xử lý những phản ứng của Trung Quốc. Các kế hoạch năng lượng của Việt Nam bao gồm cả việc phát triển mỏ khí Cá Voi Xanh ở ngoài khơi bờ biển miền Trung trên Biển Đông. Trung Quốc đã không đưa ra những bình luận cụ thể, nhưng các công ty nước ngoài đã bị cảnh báo phải tránh xa Biển Đông.

Vì lợi ích tương lai của đất nước, Việt Nam vẫn đang đấu tranh bằng cách huy động sự ủng hộ nhân các chuyến thăm chính thức của lãnh đạo tới những quốc gia có cùng tình huống, hoàn cảnh tương tự. Nếu may mắn, tình hình có thể cải thiện nhờ việc các bên đã thông qua dự thảo khung về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) sau 15 năm cân nhắc, hoặc nhờ sự giúp đỡ của Mỹ nhằm đối trọng với sự thống trị của Trung Quốc.

Các nguồn năng lượng của Việt Nam đang bị đe dọa

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam đặt ra phương hướng cho giai đoạn 2011 – 2020 và bao gồm tầm nhìn dài hạn đến năm 2030. Với 600 triệu tấn dầu thô, Việt Nam nắm giữ trữ lượng dầu mỏ lớn thứ hai ở Đông Á, sau Trung Quốc. Đứng ở mức 34,4%, than đá là nguồn năng lượng chính của Việt Nam trong năm 2015. Than đá tương đối rẻ hơn, và Chính phủ Việt Nam có kế hoạch nâng tỷ trọng lên 42,6%.

Việt Nam là nước xuất khẩu ròng dầu thô và là nước nhập khẩu ròng các sản phẩm dầu mỏ. Ngành dầu khi vẫn là ngành đóng góp hàng đầu cho Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Nhưng sản lượng dầu mỏ đã bị sụt giảm kể từ năm 2000. Mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam – mỏ Bạch Hổ – đạt mức sản lượng cao nhất vào năm 2004, và sản lượng ở mỏ này đã giảm xuống còn 16,7 triệu tấn vào năm 2013. Do tình trạng cạn kiệt của các mỏ dầu được phát hiện trước đây, Việt Nam nay cần phải nắm bắt mọi cơ hội để khám phá thêm nhiều mỏ dầu khác ở Biển Đông.

Tiêu thụ điện bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng từ 156 KWh trong năm 1995 lên 1.415 KWh vào năm 2014. Nhu cầu năng lượng trung bình dự kiến tăng khoảng 10,5% mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2020. Dự báo, nhu cầu tiếp theo sẽ tăng ở mức ít hơn, chỉ 8% mỗi năm trong giai đoạn 2021 – 2030, nếu như chính phủ đạt được mục tiêu về cung cấp sự tiếp cận phổ biến nguồn điện cho người dân. Hiện tại, một số cộng đồng ở vùng nông thôn, miền núi xa xôi vẫn chưa được kết nối với lưới điện.

Tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam cho thấy một sự phụ thuộc ngày càng tăng vào than đá thông qua việc xây dựng nhiều nhà máy điện chạy bằng than. Kế hoạch này hoàn toàn mâu thuẫn với cam kết cắt giảm 25% lượng khí thải nhà kính trong cùng giai đoạn. Xét việc Việt Nam từng không đáp ứng được các mục tiêu của Ngân hàng Phát triển châu Á cũng như việc chính phủ chấp nhận tình trạng môi trường bị hủy hoại bởi các công ty nước ngoài phạm luật để đổi lấy tăng trưởng kinh tế, sẽ không phải là điều bất ngờ nếu Việt Nam không thực hiện được các mục tiêu cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính như đã cam kết.

GreenID, một tổ chức phi chính phủ ủng hộ việc phát triển năng lượng tái tạo, nhận thấy rằng, “chỉ số bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội cao hơn 5 lần so với mức trung bình hàng năm của Tổ chức Y tế Thế giới”. Mức ô nhiễm không khí này gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tim và phổi. Trước khi quá muộn, Việt Nam cần phải có thêm các nguồn năng lượng bền vững. Ngày nay, Việt Nam có các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối. Đa số nguồn năng lượng tái tạo này sẽ được sản xuất từ các nhà máy thủy điện nhỏ và nhà máy phong điện. Việt nam cũng dự kiến bắt đầu nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng vào năm 2023. Trong số khoảng 50 dự án phong điện, chỉ có 4 dự án đang hoạt động với tổng công suất 160 MW. Tiềm năng chưa khai thác của các nguồn năng lượng này hiện cũng đang bị phủ bóng đen do chi phí cao và cần phải có bí quyết công nghệ.

Bà Phạm Cẩm Nhung, Quản lý Dự án năng lượng bền vững WWF – Việt Nam, đã tỏ ý hy vọng rằng thời điểm năm 2050 có thể đem lại các cơ hội tốt hơn để Việt Nam thành công trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Bà Nhung nói: “Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành quốc gia tiên phong phát triển ngành năng lượng sạch và tái tạo. Năng lượng mặt trời có thể cung cấp ít nhất 35% trong khi năng lượng gió có thể cung cấp ít nhất 13% nhu cầu điện của Việt Nam vào năm 2050. Năng lượng tái tạo đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển một tương lai bền vững cho Việt Nam”.

Đầu tư vào công nghệ xanh bị giới hạn bởi nguồn vốn và năng lực

Năm ngoái, Việt Nam, vốn đang nợ đầm đìa, đã từ bỏ các kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân, viện dẫn các lý do như dự báo nhu cầu thấp, chi phí tăng và các quan mối quan ngại về an toàn. Nguồn kinh phí dự trù ban đầu cho 2 nhà máy điện hạt nhân là 18 tỷ USD, chiếm 9% GDP củ Việt Nam. Các công ty được chính phủ hỗ trợ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu năng lượng cơ bản của Việt Nam, dẫn đến tình trạng thiếu điện. Với một hệ thống giá mơ hồ và bộ máy cồng kềnh, không hiệu quả, Điện lực Việt Nam (EVN) cùng hai doanh nghiệp năng lượng nhà nước khác không có khả năng tận dụng được những tiến bộ công nghệ.

Con  đường phía trước của Việt Nam đầy rẫy những thách thức, và các tranh chấp trên Biển Đông đang được bổ sung vào danh sách những thách thức này. Nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và giấc mơ tạo được sự tiếp cận điện năng trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam phải tìm được sự cân bằng mong manh giữa cung, cầu, tăng trưởng và môi trường sống bền vững.

Nguồn: http://www.aseantoday.com/2017/09/vietnams-energy-woes-threaten-to-cripple-her-growth/

TKNB – 19/09/2017