Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long


Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong.

Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nước hạ nguồn sông.

Chỉ hai tháng sang khi Lào chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong (MRC) vào tháng 11/2016 về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20/12/2016, là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên dòng chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng như làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu USD/năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản

Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn.

Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers – IR), nhận định: “Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Mekong”.

IR là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng ĐBSCL. Ông nói: “Nếu đúng kế hoạch, việc xây dựng 11 đập ở Lào và Campuchia được tiếp tục thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về ĐBSCL nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở ĐBSCL, các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu xây dựng người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn tiếp tục giảm”.

Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở ĐBSCL vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào.

Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng ĐBSCL, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: “Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới ĐBSCL. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm vì phần lớn đất ĐBSCL là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng động, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bối bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao càng làm cho phù sa lên đồng gặp khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng”.

Hiện tại, Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. IR đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng ĐBSCL đã phải chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: “Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hồ sâu chẳng hạn là chỗ để cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long”.

MRC đã quá vội vã

Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến việc chuẩn bị xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự tính bán đến 90% điện sản xấut từ đập thủy điện sang Thái Lan.

Ngày 16/1, IR ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vàng với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995, theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo IR, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại: “Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn”.

Trả lời báo Người Đô thị ngày 22/2, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong.

Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Bà nói: “Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan, nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì Chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông”.

Từ năm 2010, các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông.

Tuy nhiên, kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. IR quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại qua 1nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nguồn: RFA

TKNB – 27/03/2017

Donald Trump muốn làm sống lại “Chiến tranh giữa các vì sao”


Robert Jules

Nhằm đối phó với Tổng thống Nga Vladimir Putin, Donald Trump muốn tăng cường kho vũ khí hạt nhân của Mỹ để cân bằng lại quan hệ quyền lực trên thế giới, phục hồi một chính sách răn đe hạt nhân và quay lưng lại với cách tiếp cận của Barack Obama.

Ngay trước đêm Giáng sinh, Tổng thống mới đắc cử của Mỹ Donald Trump đã phát đi một thông điệp trên Twitter  rằng “Mỹ phải củng cố mạnh mẽ và phát triển tiềm năng hạt nhân cho đến khi thế giới tái trở lại hợp lý mà liên quan đến vũ khí hạt nhân”. Trump đang theo bước chân của một trong những người tiền nhiệm của ông, Ronald Reagan, ngời đã tung ra cuộc chạy đua vũ trang tốn kém năm 1983, với tên gọi là “Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược – SDI” vẫn được biết đến với tên gọi “Chiến tranh giữa các vì sao” để nhằm hạ bệ Liên Xô. Giống như Reagan, Trump nghĩ rằng cần vượt xa hơn sự cân bằng của đối thủ, bằng cách trang bị vũ khí mới có thể tiêu diệt kẻ thù, hoặc ít nhất là kho tên lửa trước khi nó có thể vươn tới Mỹ.

Sự đáp trả của Vladimir Putin

Đương nhiên, thông điệp trên mạng xã hội Twitter của Trump là một sự đáp trả Putin. Trong một bài phát biểu, Tổng thống Nga công bố kế hoạch phát triển “hệ thống tên lửa có khả năng thâm nhập đáng tin cậy vào tất cả các hệ thống chống tên lửa hiện tại và tương lai”. Như thế, sự leo thang hạt nhân đang rõ ràng hơn trong giai đoạn hiện nay.

Ngay cải khi hai nhà lãnh đạo đã có ý giảm nhẹ những ý kiến của mình, thì đề xuất của họ vẫn là rõ ràng. Hai cường quốc hạt nhân, Nga (với 7300 đầu đạn) và Mỹ (6970 đầu đạn) tập trung tới 93% vũ khí hạt nhân hiện nay trên thế giới. Việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh hạt nhân rõ ràng phụ thuộc vào mối quan hệ giữa hai cường quốc này.

Tuy nhiên, nếu tính cả các đồng minh tương ứng của cả hai cường quốc hạt nhân thì cán cân có hơi nghiêng về phía Nga. Phía Mỹ thì ngoài Israel (với 80 đầu đạn), thì còn có Pháp (300 đầu đạn, đứng thứ ba thế giới) và Vương quốc Anh (với 215 đầu đạn). Bên phía Nga, Trung Quốc (260 đầu đạn), Pakistan (130 đầu đạn) và Ấn Độ (120 đầu đạn). Triều Tiên có thể được ghi nhận với 15 đầu đạn, nhưng chương trình hạt nhân của Triều TIên luôn là bí mật như của Trung Quốc và Iran, thì tổng số củaphe Nga còn có thể cao hơn.

Mối liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu hạt nhân quân sự và dân sự

Ngoài ra còn có một khía cạnh khác liên quan đến hồ sơ này. Với cách nhìn về sự liên kết chặt chẽ giữa chương trình hạt nhân dân sự và quân sự, và cần lưu ý rằng nhiều nền kinh tế mới nổi đang có xu hướng ủng hộ hạt nhân. Năng lượng nguyên tử có lợi thế độc lập về năng lượng, có thể cung cấp lượng điện năng đáng kể, thúc đẩy phát triển kinh tế (nhưng rất khó để xử lý chất thải hạt nhân), và có thể (được tuyên bố) phục vụ cuộc chiến chống lại sự nóng lên toàn cầu. Hiện trên thế giới có 437 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động, chủ yếu là ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Nhưng đã có 66 lò phản ứng đang được xây dựng, chủ yếu ở châu Á (25 ở Trung Quốc, và Trung Quốc đang muốn tăng gấp đôi công suất sản xuất điện hạt nhân). Trong 166 dự án điện hạt nhân đã công bố, thì chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ và cả ở Trung Đông.

Iran vẫn luôn bị nghi ngờ muốn phát triển vũ khí hạt nhân dưới vỏ bọc của một chương trình điện hạt nhân dân sự lớn, và Iran đã sở hữu các máy ly tâm thế hệ mới. Ngày 10/1 tới, một cuộc họp sẽ được tổ chức để xem xét việc thực hiện các thỏa thuận hạt nhân giữa Iran và các cường quốc do Mỹ dẫn đầu để xem xét quyết định dỡ bỏ hoặc củng cố các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iran. Cần nhớ rằng thỏa thuận về hạt nhân Iran đã bị Donald Trump hứa bãi bỏ.

“Bảo vệ nước Mỹ”

Cuối cùng, thông điệp của Trump có thể không chỉ dành riêng cho người Mỹ mà còn cho cả các quốc gia khác. Mỹ sẽ tiếp tục các chương trình hạt nhân dân sự và quân sự của mình để duy trì lợi thế về công nghệ và ưu thế quân sự “để bảo vệ nước Mỹ”. Điều mà vị tổng thống Mỹ tương lai không bao giờ quên nhắc nhở mình.

Nguồn: La Tribune – 27/12/2016

TKNB – 29/12/2016

Lào tham vấn thủy điện Pak Beng và tác động


Ngày 4/11 vừa qua, Lào đã chính thức nộp hồ sơ thủy điện Pak Beng lên Ban thư ký Ủy hội sông Mekong (MRC) để tiến hành thủ tục tham vấn trước, mặc dù điều này đã được lường trước, bởi đây là điều Lào không làm trước thì cũng làm sau. Tuy nhiên, việc Lào triển khai ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang đặt ra những dấu hỏi lớn, có thể làm ảnh hưởng tới kết quả của chuyến thăm. Phân tích và đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào:

Đôi nét về đập Pak Beng

Nằm tại huyện Pak Beng, tỉnh Oudomsay (Bắc Lào), thủy điện Pak Beng có công suất lắp đặt là 912 MW, sản xuất điện trung bình/năm là 4,775 GWh. Đây là thủy điện thứ 3 nằm trên dòng chính sông Mekong sau thủy điện Sayabouly và Don Sahong. Pak Beng được thiết kế bởi công ty Trung Quốc Datang Overseas Invesment Co., Ltd, qua một thỏa thuận ký kết giữa Lào vào Trung Quốc vào tháng 8/2007, với giá trị ban đầu 1,88 tỷ USD. Đến tháng 3/2014, công ty Datang nhận được Giấy phép môi trường từ Chính phủ Lào trước khi trải qua các bước PNPCA (thủ tục thông báo, tham vấn trước và chuẩn thuận). Và từ tháng 2/2015, Lào đã bắt đầu tiến hành các bước xây dựng để chuẩn bị cho việc khởi công dự án như mở đường và làm mặt bằng cho dự án.

Theo kế hoạch, Lào dự kiến khởi công thủy điện này vào đầu năm 2017 và nhà máy sẽ đi vào vận hành từ năm 2024. Tuy nhiên, thời hạn khởi công kể trên chắc chắn là không kịp bởi bây giờ đã là tháng 11, ngoài thời gian 1 tháng để Ban Thư ký MRC xem xét hồ sơ có đầy đủ hay không trước khi gửi hồ sơ cho Ủy ban sông Mekong các nước thành viên, còn cần ít nhất thêm 6 tháng để các nước tham vấn trước khi có quyết định chung cuộc. Như vậy, nhanh nhất thì cũng phải đến cuối năm 2017, Lào mới có thể khởi công được thủy điện này.

Trên thực tế, từ tháng 10/2015, Trung Quốc đã nộp hồ sơ và ép Lào tiến hành thủ tục tham vấn trước theo quy định của Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với thiết kế, đặt biệt là trong việc xử lý các vấn đề liên quan tới môi trường của Công ty Trung Quốc nên phía Lào đã lấy cớ đang chuẩn bị năm làm Chủ tịch ASEAN và sau đó lấy cớ đang làm Chủ tịch ASEAN đã kéo dài. Ngay sau khi Lào tổ chức xong Hội nghị cấp cao ASEAN 28 – 29 và các hội nghị liên quan, Trung Quốc lại tiếp tục tăng sức ép yêu cầu Lào tiến hành tham vấn và thậm chí còn đe dọa nếu Lào không tiến hành, sẽ ảnh hưởng tới các dự án viện trợ khác mà Trung Quốc dành cho Lào. Về yêu cầu sửa thiết kế của phía Viêng Chăn, phía Trung Quốc cho biết Lào cứ tiến hành tham vấn, sau đó có vấn đề gì sẽ sửa luôn một thể. Đây là một đòn “cao” của Trung Quốc nhưng cũng giúp tạo cơ hội để các nước thành viên xoáy vào các lỗi thiết kế của dự án để yêu cầu Công ty xây dựng phải sửa đổi thiết kế, điều này không chỉ giúp kéo dài thời gian mà còn giúp giảm thiểu tác động mà con đập có thể gây ra cho Hạ lưu. Đây là điều đã từng có tiền lệ ở Dự án thủy điện Sayabouly khi trong quá trình tham vấn, chủ đầu tư buộc phải bỏ ra thêm 400 triệu USD thiết kế lại thang cá và điều tiết phù sa.

Ảnh hưởng của quyết định

Việc Lào nộp đơn hồ sơ tham vấn trước lên Ban thư ký MRC ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Lào (24 – 26/11) đang đặt ra những câu hỏi lớn bởi trước đó vào ngày 20/10 vừa qua, khi Lào thông báo với Việt Nam về việc sẽ tiến hành nộp hồ sơ nói trên, phía Việt Nam đã ngay lập tức ngăn với hai lý do: Thứ nhất, Tổng Bí thư Việt Nam sắp sang thăm Lào; Thứ hai, năm 2017 là năm kỷ niệm 55 năm Việt Nam – Lào thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, việc Lào nộp hồ sơ sẽ gây ra dư luận xấu, tạo kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng đặt câu hỏi về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Về vấn đề này Lào công nhận ta nói đúng và Thủ tướng Thongloun Sisoulith đã đồng ý sẽ lùi, tuy nhiên ông này cũng nói thêm rằng để sau chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10 vừa qua rồi sẽ quyết. Bởi vậy, rất khó hiểu vì lý do gì khiến bạn quyết nhanh đến vậy khi vào ngày 3/11, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Lào, ông Sommat Pholsena thông báo Thủ thướng Thongloun Sisoulith đã ra lệnh cho ông nộp hồ sơ lên MRC và ngày 4/11, hồ sơ này đã được nộp lên Ban Thư ký MRC. Phải chăng Lào đã bị Trung Quốc ép đến mức phải nhượng bộ, hay sức ép vô cùng lớn từ những khó khăn kinh tế trong nước và việc chậm triển khai thủy điện Pak Beng theo đúng tiến độ đề ra đã khiến Lào vội vã, đến mức không còn để ý tới những tác động có thể trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào cuối tháng 11 này?

Dù nguyên nhân là gì đi nữa, thì quyết định của Lào trong việc nộp hồ sơ tham vấn trước thủy điện Pak Beng cũng sẽ có ảnh hưởng nhất định tới thành công của chuyến thăm, bởi sẽ có nhiều người lấy cớ này để nói rằng Lào đặt lợi ích kinh tế hoặc một lợi ích nào đó rất lớn lên trên quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Nguồn: TKNB – 11/11/2016

Cuba bước vào khủng hoảng năng lượng mới?


Trong những lời than vãn về trình trạng thiếu thốn đã quen thuộc của người dân Cuba, những lo lắng trước các biện pháp tiết kiệm năng lượng mà nhà nước mới đưa ra trogn bối cảnh giá dầu sụt giảm trên thị trường thế giới ngày càng nhiều, và thậm chí một số người còn e ngại tình hình sẽ trở lại mức bi đát như năm 1994 trong “thời kỳ đặc biệt”.

Có một nghịch lý là giá dầu trên thế giới sụt giảm lại ảnh hưởng tới mức tiêu thụ điện tại Cuba. Như nhiều nước vùng Caribe và Trung Mỹ, Cuba nhập khẩu dầu qua chương trình hợp tác khu vực Petrocaribe do cố Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đưa ra từ năm 2005. Có thể coi Petrocaribe còn hơn cả một chiến lược ổn định kinh tế cho các nước đang phát triển này, đặc biệt là những nước biết tận dụng nó đúng cách. Ngoài ưu đã về giá, Petrocaribe còn cung cấp cho bên mua tín dụng dài hạn lãi suất thấp để mua dầu thô của Venezuela. Cho dù dự án này không đáp ứng toàn bộ khối lượng dầu thô mà các nước thành viên tham dự, nhưng cũng thỏa mãn phần lớn các quốc gia và nhiều nước thành viên luôn sử dụng hết hạn ngạch với những ưu đãi lớn nói trên. Tổng cộng có 16 nước được hưởng lợi từ dự án chỉ dành cho các công ty dầu khí nhà nước này. Dần dần, việc thanh toán các khoản dầu bán trong khuôn khổ Petrocaribe không còn là các khoản nợ đơn thuần mà được chuyển thành một quỹ đầu tư khu vực, gần giống với Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) mà Trung Quốc mới khởi xướng. Tuy nhiên, việc cố tổng thống Hugo Chávez – người đóng vai trò quan trọng nhất trong dự án – qua đời vào năm 2013 đã khiến chính trường Venezuela rơi vào những diễn biến phức tạp, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của dự án mang tham vọng thúc đẩy hội nhập khu vực này.

Xuất khẩu dầu khí là nguồn thu ngoại tệ chủ chốt của nền kinh tế gần như đơn ngành của Venezuela. Giá dầu cao trong những năm trước không chỉ cho phép Caracas đẩy mạnh và mở rộng Petrocaribe, mà còn có thể triển khai các chương trình xã hội rộng lớn và vận hành trơn tru nền kinh tế trogn nước. Tuy nhiên, khi giá dầu thô lao dốc, nền kinh tế Venezuela đã rơi vào tình trạng khốn đốn, và dù chưa hoàn toàn sụp đổ, song hoạt động của Petrocaribe cũng đã buộc phải thu hẹp lại đáng kể.

Các nước nhỏ như Nicaragua, Haiti, Cộng hòa Dominicana, Jamaica, El Salvador và tất nhiên là Cuba – nước được hưởng nhiều ưu đãi dầu khí nhất từ Venezuela – đã chịu tác động khá tiêu cực từ tình trạng này. Trong khi đó, nếu phân tích kỹ, quốc gia có điều kiện để đối mặt nhất với tình trạng này torng khối Petrocaribe lại chính là Cuba.

Khác với các nước láng giềng, nền kinh tế của Cuba đa phần là quốc doanh và do vậy có khả năng kế hoạch hóa cao. Dù tình trạng năm nay khốc liệt hơn các năm trước, nhưng mỗi một mùa Hè, Cuba đều đã áp dụng các biện pháp tiết kiệm điện. Cũng do thiếu hụt năng lượng thường xuyên, từ vài năm trước, La Habana đã tiến hành chiến dịch cải tổ mang tên Cách mạng năng lượng, trong đó phân cấp hóa ngành năng lượng để có thể khoanh vùng và đối phó tốt hơn mỗi khi sụt giảm điện năng.

Cũng khác với đa số các thành viên hưởng lợi khác trong Petrocaribe, Cuba đã tự cung tự cấp một phần đáng kể dầu và khí đốt, trong khi vẫn còn tiềm năng có thể khai thác. Xu hướng thoái trào của dự án khu vực trên có thể khiến La Habana phải đẩy mạnh hơn nữa đầu tư hoặc gọi vốn bên ngoài vào ngành dầu khí.

Với quan hệ đồng minh chiến lược, La Habana cũng là nước nắm rõ nhất tình hình tại Caracas và có thể đã có dự trừ ngân sách trong năm nay về khoản thiệt hại do Petrocaribe cắt giảm lượng dầu bán, cho dù việc bỏ thêm hàng trăm triệu USD từ nay tới hết năm 2016 và cả năm 2017 để nhập khẩu dầu thô từ các đối tác khác để bù vào khoản thâm hụt từ Petrocaribe vẫn sẽ là thách thức lớn, đặc biệt khi Mỹ vẫn chưa bỏ cấm vận và Cuba vẫn chưa thể thanh toán bằng đồng USD.

Việc cắt giảm giờ làm việc xuống còn gần một nửa tại các công sở để giảm lượng tiêu thụ điện năng cũng không đồng nghĩa với việc khối lượng công việc sẽ bị giảm một nữa xuất phát từ thực tế rằng đa số công nhân viên chức Cuban cũng chỉ cần khoảng thời gian như hiện tại (nửa ngày) để hoàn thành công việc của cả ngày.

Nến kinh tế và đặc biệt là quan hệ ngoại thương của Cuba hiện tại cũng đã đa dạng hó hơn rất nhiều so với thập kỷ 1990, và La Habana – cũng như người dân Cuba – cũng đã tích lũy nhiều kinh nghiệm hơn trong việc thích nghi và đối phó với tình trạng thiếu thốn nhiều mặt, kể cả khả năng bùng nổ xã hội. Do vậy có thể nói không thể so sánh Cuba 2016 với Cuba 1994.

Tất nhiên điều đó không có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng năng lượng mới sẽ không tác động nhiều tới nền kinh tế của đảo quốc Caribe này. Nói cách khác, ngoài việc sẽ trở thành lời bào chữa hữu ích cho tình trạng kém hiệu quả trong nhiều ngành nghề, cuộc khủng hoảng năng lược sẽ để lại tác động thực tế và hữu hình trong mọi mặt cuộc sống Cuba tới đây.

Yếu tố tích cực nhất mà cuộc khủng hoảng này đem lại là việc Cuba sẽ buộc phải tăng cường tính tự chủ và độc lập trong vấn đề năng lượng. Dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng thời kỳ hưởng lợi trực tiếp từ ngành dầu khí của Venezuela đã đi tới hồi kết. Chắc chắn sẽ là một thách thức không nhỏ đối với đảo quốc Caribe này, nhưng nếu vượt qua, nền kinh tế Cuba có thể sẽ bền vững hơn, điều đã từng diễn ra trước đây khi Liên Xô tan vỡ và sự đỡ đầu kinh tế cho Cuba đột ngột chấm dứt, dẫn tới sự lụi tàn của ngành công nghiệp mía đường.

Nguồn: La Joven Cuba (Cuba)

TKNB 12/07/2016

Những mục tiêu của Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân năm 2016


Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân (NSS) 2016, được tổ chức tại thủ đô Washington D.C (Mỹ) từ ngày 31/3. Đây là vòng thứ tư và cũng là vòng cuối cùng trong một loạt hội nghị nhằm tăng cường an ninh và kiểm soát các nguyên liệu phân hạch, gồm urani và plutoni được làm giàu ở cấp độ cao. Hội nghị năm nay sẽ hé lộ các kế hoạch hành động đối với 5 tổ chức quốc tế chính và các sáng kiến nhằm bảo đảm an toàn hạt nhân và các chất phóng xạ.

NSS lần đầu tiên được tổ chức tại Washington D.C vào năm 2010 theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Khi đó, 47 quốc gia tham gia với hầu hết các đại diện đều là nguyên thủ quốc gia đã cam kết bảo đảm an toàn hạt nhân bằng việc giảm sử dụng urani được làm giàu ở cấp độ cao (HEU), tăng cường an ninh đối với các cơ sở có lưu giữ các nguyên liệu có thể phân hạch, gia tăng hợp tác giữa các quốc gia thành viên tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực này. Quá trình tổ chức các NSS đến nay đã mang lại nhiều thành quả như hoàn toàn chấm dứt sử dụng HEU ở 12 quốc gia, đóng cửa hoặc chuyển sang sử dụng urani được làm giầu ở cấp độ thấp (LEU) tại 24 lò phản ứng và các cơ sở sản xuất chất đồng vị mà trước đó đã sử dụng HEU, nâng cấp an ninh tại 32 tòa nhà lưu giữ nguyên liệu có thể phân hạch.

Hơn 50 nước tham gia NSS năm 2016 sẽ trình bày tiến trình thực hiện các cam kết trước đây. Một văn bản thống nhất cuối cùng có thể theo hình thức Thông cáo Báo chí sẽ nhấn mạnh những thành công của hội nghị và vạch ra bước đi tiếp theo để bảo vệ các nguyên liệu hạt nhân. NSS lần này rất quan trọng do thảo luận về 5 kế hoạch hành động của các tổ chức và sáng kiến quốc tế liên quan đến lĩnh vực an ninh hạt nhân như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Liên hợp quốc (UN), Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL), Sáng kiến Toàn cầu Chống khủng bố Hạt nhân (GICNT), Hợp tác Toàn cầu về chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (Global Partnership). Mỗi kế hoạch hành động sẽ vạch ra mục tiêu để các quốc gia tham gia thể chế và sáng kiến quốc tế đó theo đuổi.

IAEA đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ các nguyên liệu hạt nhân thông qua việc xây dựng “định hướng phát triển và thực hiện các biện pháp bảo đảm an ninh hạt nhân”. Một phần quan trọng trong sự hướng dẫn này là Điều khoản bổ sung trong CPPNM, theo đó buộc các quốc gia phải bảo vệ cơ sở hạt nhân và các nguyên liệu trong quá trình sử dụng, lưu trữ và vận chuyển (đến nay chỉ còn 9 nước chưa phê chuẩn Điều khoản này). Kế hoạch hành động của IAEA sẽ khuyến khích các quốc gia ký tên vào Thông cáo chung năm 2014 về việc “Đẩy mạnh thực hiện an ninh hạt nhân”. Hội nghị quốc tế của IAEA về an ninh hạt nhân diễn ra vào tháng 12 năm nay và cơ chế đánh giá CPPNM sẽ là diễn đàn thúc đẩy đối thoại giữa các quốc gia về an ninh hạt nhân toàn cầu sau năm 2016.

UN đóng vai trò củng cố khuôn khổ quốc tế về an ninh hạt nhân thông qua hình thành Hiệp ước quốc tế về ngăn chặn các hoạt động khủng bố bằng vũ khí hạt nhân (ICSANT). Ngoài ra, Nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an buộc các thành viên UN phải thực thi các biện pháp phù hợp chống phổ biến vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học, vũ khí hóa học, đồng thời thành lập Ủy ban 1540 để hỗ trợ các quốc gia thực hiện Nghị quyết này. Kế hoạch hành dộng có thể tăng cường những nỗ lực của Ủy ban 1540 bởi nhiều quốc gia cần sự hỗ trợ trong việc thực thi Nghị quyết này.

INTERPOL tham gia bảo vệ các nguyên liệu hạt nhân thông qua chia sẻ thông tin, điều tra và triển khai các hoạt động chống buôn bán vũ khí hạt nhân và hỗ trợ các quốc gia chuẩn bị đối phó với các sự việc có liên quan đến các loại vật chất nguy hiểm. Kế hoạch hành động có thể tập trung vào củng cố và mở rộng các hoạt động đã có từ trước như tập huấn, thực hành ngăn chặn, phản ứng trước các vụ tai nạn hạt nhân, phóng xạ và thực hiện Sáng kiến chống buôn lậu hạt nhân (cơ chế chia sẻ thông tin theo dõi các cá nhân có liên quan tới việc mua bán nguyên liệu hạt nhân hoặc vật liệu phóng xạ). Thêm vào đó, việc INTERPOL tổ chức Hội nghị về buôn lậu hạt nhân toàn cầu hồi tháng 1/2016 có thể trở thành một diễn đàn định kỳ trao đổi về chống buôn bán hạt nhân.

Trong khi đó, 86 quốc gia là thành viên của GICNT đã trực tiếp tham gia các hoạt động đa phương nhằm ngăn chặn, nhận diện, phản ứng với khủng bố bằng vũ khí hạt nhân. Kế hoạch hành động của GINCT có thể thúc đẩy các hoạt động trao đổi thông tin, chuyên gia và hướng dẫn dò tìm; hỗ trợ các quốc gia phát triển năng lực nghiên cứu hạt nhân; cung cấp kỹ thuật và kỹ năng giải quyết khủng hoảng hạt nhân. NSS năm 2016 xác định GICNT là cơ chế hiệu quả để phổ biến rộng rãi các thông điệp quan trọng của các tổ chức an ninh hạt nhân khác do GICNT có số lượng các quốc gia thành viên đông đảo.

Hợp tác toàn cầu về chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bao gồm việc 29 quốc gia thành viên đóng góp quỹ và phối hợp hoạt động trong các chương trình nhằm tăng cường bảo đảm an ninh hạt nhân và phóng xạ. Kế hoạch hành động của cơ chế này sẽ tập trung vào các chương trình có mục tiêu giảm mối đe dọa từ bên trong, tăng cường an ninh đối với nguyên liệu phóng xạ, chống buôn lậu hạt nhân, thảo luận về việc thúc đẩy thực thi Nghị quyết 1540 (các quốc gia thành viên cung cấp trang thiết bị, chuyên gia, các khóa đào tạo) và tài trợ cho quỹ an ninh hạt nhân của IAEA.

Chính quyền Obama tuyên bố hồi tháng 8 năm ngoái rằng Mỹ tìm kiếm một cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu toàn diện, mạnh mẽ dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng sự tin cậy trong việc đảm bảo an ninh hạt nhân ở các quốc gia. Với 5 kế hoạch hành động nêu trên, NSS năm nay kỳ vọng thúc đẩy một cấu trúc an ninh hạt nhân toàn cầu được sự ủng hộ của chính giới ở mức cao để duy trì các hoạt động quan trọng tiếp theo.

Nguồn: Brookings Institutions

TKNB 31/03/2016

Tác động của đập thủy điện trên dòng Mekong tới kinh tế các nước Đông Nam Á


Theo một báo cáo mới được Ủy hội sông Mekong công bố, hệ thống các đập thủy điện trên lưu vực sông Mekong sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và gây thiệt hại không nhỏ cho kinh tế Campuchia.

Sự xuất hiện của các đập nước sẽ khiến dòng Mekong tại đoạn chảy qua tỉnh Kratie có thể mất đi 60% lượng nước và trầm tích, phù sa có thể giảm 65%. Sự hạn chế dòng chảy có thể làm mất đi khoảng 10% các loài cá tại khu vực Nam Campuchia và Việt Nam. Hai quốc gia hạ nguồn sông Mekong là Việt Nam và Campuchia có thể thiệt hại 50% sản lượng cá mà các giải pháp công nghệ thủy sản tốt nhất cũng khó bù đắp được.

Báo cáo tóm tắt của Ủy hội sông Mekong nói rằng, kết quả nghiên cứu cho thấy, sự đa dạng sinh học của Campuchia sẽ bị ảnh hưởng lớn và nguồn lợi thủy sản sẽ bị giảm sút nghiêm trọng và khiến kinh tế Campuchia thiệt hại ít nhất 450 triệu USD. Phần lớn các sự thay đổi nói trên đều đang ở tình trạng nguy cơ hiện hữu.

Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam đã tiến hành thực hiện nghiên cứu nói trên trong vòng 30 tháng, với sự hỗ trợ từ Viện Thủy lợi Đan Mạch và hợp tác của các chuyên gia Lào, Campuchia.

Sông Mekong có vai trò rất quan trọng trong đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế của Campuchia. Với diện tích lưu vực trên đất Campuchia chiếm khoảng 20%, sông Mekong cung cấp nguồn nước cho Biển Hồ – hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á, tạo ra môi trường sinh thái đồng bằng ngập nước đa dạng sinh học cho Campuchia và là điều kiện giúp Campuchia trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu cá nước ngọt hàng đầu thế giới.

Sông Mekong cũng có vai trò rất quan trọng đối với ngành nông nghiệp Campuchia vốn vẫn sử dụng phương thức sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Trong số 11 đập thủy điện được xây dựng trên vùng hạ lưu sông Mekong, có hai đập nằm trên phần đất của Campuchia.

Sau khi nghiên cứu và thảo luận, nhận thấy thực tế rằng các nước láng giềng ở hạ lưu đang phải chịu tình hình hạn hán và xâm nhập mặn khốc liệt nhất trong 20 năm qua, nhất là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống dân sinh, ngày 21/3 Chính phủ Lào đã chỉ đạo Bộ Năng lượng và Mỏ nghiên cứu khả năng xả nước các đập thủy điện để giúp các nước láng iềng ở khu vực hạ lưu đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề của nạn hạn hán, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Từ ngày 23/3, Lào đã bắt đầu xả nước từ bốn hệ thống sông nhánh gồm sông Nặm U, sông Nặm Khan, sông Nặm Ngừm và sông Nặm Thơn, với lưu lượng 1136 m3/giây. Đây là một việc làm cần thiết và rất quan trọng để giúp đỡ các nước láng giềng chống lại nạn hạn hán và xâm nhập mặn hiện nay.

Bộ trưởng Khammany cho biết Lào có kế hoạch sẽ xả nước cho đến cuối tháng Năm hoặc đầu tháng Sáu. Ông bày tỏ tin tưởng, với tổng lượng nước xả xuống hạ lưu sông Mekong là 3610 m3/giây, gồm 1136 m3/giây của Lào, 220 m3/giây của Thái Lan và 2254 m3/giây của Trung Quốc sẽ giúp giảm được phần nào tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn gay gắt hiện nay tại khu vực hạ lưu.

Trong khi đó, các quan chức và chuyên gia Thái Lan cho biết tình ình hạn hán tại nước này đang diễn biến hết sức nghiêm trọng đồng thời cảnh báo trong vòng 4 tháng rưỡi nữa, Thái Lan sẽ phải có các chương trình cụ thể quản lý nguồn nước và sử dụng nước khoa học để tránh hậu quả khó lường.

Theo Bộ trưởng Nông nhiệp và Hợp tác xã Thái Lan Chatchai Sarikulya, người dân ở đồng bằng hai con sông Chao Phraya và Mekong vẫn đủ nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt cho đến hết tháng Bảy tới. Tuy nhiên, ông cũng cho biết hiện chỉ có gần 5/21 triệu ha đất trồng trọt của nước này có đủ nước tưới và nhà chức trách đang theo dõi sát việc xả nước từ các đập chính để đảm bảo hai vùng canh tác nông nghiệp chín không bị ảnh hưởng.

Hiện một số đập nước chính ở Thái Lan đã ngừng xả nước phục vụ tưới cho cây nông nghiệp mà chỉ ưu tiên cho sinh hoạt của người dân và đảm bảo cân bằng sinh thái. Mùa mưa ở nước này thường đến vào tháng Năm, song các chuyên gia đã cảnh báo rằng mùa mưa năm nay sẽ đến muộn. Cục Thủy lợi Hoàng gia Thái Lan kêu gọi tất cả các ngành kinh tế tiết kiệm nước để có thể đảm bảo đủ nước dùng cho đến cuối tháng Bảy tới, đề phòng khả năng mùa mưa bị lùi sang tận tháng Tám.

Tại các tỉnh đang đối mặt với hạn hán nghiêm trọng như Khon Kaen, Chon Buri và Suphan Buri, Cục Thủy lợi Hoàng gia Thái Lan sẽ cho phép sử dụng lượng nước dưới “mực chết” trong các hồ, đập chứa nước, vốn thường được giữ lại để đảm bảo an toàn nguồn nước. Một phần nước mực nước chết tại các đập Ubolrat, Bang Phra và Kra Siao sẽ được bơm ra cấp cho người dân khu vực chịu hạn.

Trong khi đó, tình trạng nhiễm mặn tại các tỉnh ven biển cuối nguồn sông Chao Phraya cũng trở nên đáng báo động. Cục Cấp thoát nước đô thị cho các vùng thủ đô Bangkok, Nonthaburi và Samut Prakan, mới đây cho biết độ mặn của sông Chao Phraya đã tăng lên mức cao báo động nhiều lần trong tháng Ba vừa qua. Cơ quan trên kết luận cần phải xem xét lại việc lấy nước từ sông này để đảm bảo cân bằng sinh thái. Bộ Nội vụ Thái Lan đã tuyên bố đặt 15 tỉnh trong tình trạng báo động thiên tai vì hạn hán trong khi theo dõi sát tình hình tại 42 tỉnh khác.

Để giải quyết tình trạng hạn hán ở vùng Đông Bắc, Thái Lan đã bắt đầu tiến hành xây dựng các trạm bơm chuyển nước sông Mekong vào hệ thống đập và kênh dẫn nước. Tại tỉnh Nong Khai từ giữa tháng Hai vừa qua đã xây dựng một cửa ngăn phụ lưu của sông Mekong trên địa phận Thái Lan và đào 30 hồ trữ nước gần lưu vực sông này từ năm ngoái. Hiện các máy bơm tạm thời ở thôn Chum Phon, huyện Phmvisay hút nước từ sông Mekong với công suất 15 m3/giây để cấp nước tưới tiêu cho khu lòng chảo Huay Luang. Cục Thủy lợi Hoàng gia Thái Lan cho biết dự kiến sẽ tiến hành bơm 47,4 triệu m3 nước trong vòng 3 tháng từ trạm bơm tạm thời này.

Về dài hạn, các máy bơm tạm thời dự kiến được thay thế bằng dự án trạm máy bơm cố định Ban Daen Muang ở thông Dong Khoong, huyện Phomvisay, tỉnh Nong Khai, với công suất hoạt động cao gấp 10 lần. Việc thi công xây dựng trạm bơm công suất lớn này đã được tiến hành suốt 3 tháng qua. Nếu giai đoạn triển khai ban đầu cho kết quả tốt, chương trình tích nước quy mô lớn cũng sẽ được triển khai ở tỉnh Loei, giáp tỉnh Nong Khai. Chính phủ Thái Lan đã dự kiến chỉ 1,8 tỷ USD để thực hiện kế hoạch chuyển nước sông Mekong nhằm đảm bảo nguồn nước phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.

Nguồn: TKT 09/04/2016

Giá dầu có ý nghĩa gì đối với địa chính trị?


Năm 2003 là một thời kỳ khác biệt, Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh chọn lựa ở Iraq; nước Nga của Vladimir Putin bị xem là một “con hổ giấy”; sự bùng nổ về kinh tế của Trung Quốc ầm vang nhưng không gây đe dọa; Dubai không được ai biết đến; và Mỹ dường như thế sẽ mãi mãi là một nước nhập khẩu dầu.

Nhiều điều đã thay đổi. Nhưng hiện nay, giá dầu đã rớt xuống mức khoảng 30 USD/thùng, điều được nhìn thấy lần cuối vào những ngày sôi nổi của Chính quyền W. Bush đầu tiên.

Trước hết, chúng ta đã tới đây như thế nào?

Còn nhớ sự điên rồ của năm 2008, khi giá dầu đạt mức choáng váng 140 USD/thùng? Trở lại thời điểm đó, các nhà đầu cơ dầu mỏ đã đẩy giá lên cao một cách quá đáng, sau đó chứng kiến nhu cầu “tan biến” khi cuộc Đại suy thoái bắt đầu diễn ra. Nhưng giá dầu tăng vì một lý do dễ hiểu: một nền kinh tế thế giới đang phát triển với cái mà nhiều người cho là mức cung dầu mỏ đang giảm bớt đơn giản đồng nghĩa với việc giá dầu sẽ luôn tăng. Đó quả thực là một điều cơ bản của thị trường.

Nhưng mức giá dầu cao chót vót như vậy cũng đã tạo ra động cơ cho những sự lựa chọn thay thế. Người dân và các chính phủ đã phải chật vật: họ đã tìm đến khí đốt tự nhiên, dầu đá phiến và các công nghệ “xanh”. Lợi ích lớn nhất trong tất cả là kỹ thuật “fracking” (kỹ thuật dùng thủy lực để khai thác đá phiến), kỹ thuật đã cho phép Mỹ bất ngờ trỗi dậy trở lại thành siêu cường dầu mỏ vào năm 2013.

Điều này đã khiến người Saudi Arabia và các đồng minh của họ hoảng sợ phần nào. Saudi Arabia từng xem dầu mỏ là một thứ vũ khí và do đó đã sử dụng nó để chống lại phương Tây sau cuộc Chiến tranh Arập – Israel năm 1973. Nhưng thay vì khuyến khích phương Tây ruồng bỏ Israel, nước này đã buộc các nước phương Tây, do Mỹ lãnh đạo, tìm kiếm những sự lựa chọn thay thế: hạt nhân, năng lượng mặt trời và gió. Việc này đã khiến người Saudi Arabia hoảng sợ, những người hiểu rằng phương Tây có thể, nếu có đủ thời gian và động lực thị trường, tìm kiếm một sự thay thế lâu dài cho dầu mỏ của Arập.

Kể từ đó, Saudi Arabia và các đồng minh của nước này trong Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) đã thay đổi chính sách dầu mỏ một cách rõ ràng hơn. Dầu mỏ vẫn phải đủ rẻ để phương Tây tiếp tục mua dầu của họ trong khi vẫn cho phép GCC có được tiền mặt để phát triển với một tốc độ chấp nhận được đối với người dân của họ.

Đây là lý do tại sao ngay cả trong Cuộc chiến tàu chở dầu, khi Iraq và Iran bắn phá các tàu chở dầu của nhau, dầu mỏ vẫn rẻ: Saudi Arabia đã kiên quyết. Bất chấp những hăm dọa như việc Saddam Hussein hủy diệt nền công nghiệp dầu mỏ của Kuwait, Riyadh đã giữ cho giá dầu không tăng và ngăn không cho một kẻ thách thức nắm được quyền kiểm soát.

Cũng đã có những hậu quả gián tiếp thú vị đối với việc này. Dầu giá rẻ đã gây khó khăn cho các kẻ thù của GCC như Liên Xô và Iran; sau cuộc chiến tranh Iran – Iraq, Iran đã duy trì đầu cơ nước ngoài của mình ở mức rất hạn chế, trong khi Liên Xô đã phá sản một phần do họ không thể sử dụng lượng dầu mỏ dự trữ khổng lồ của mình để cân bằng sổ sách kế toán.

Tình trạng này có vẻ tiếp diễn khi lượng dự trữ của Mỹ giảm dần. Nhưng bắt đầu với cuộc xâm lược Iraq vào năm 2003, giá dầu đã bắt đầu tăng lên đều đặn. Điều này đã xảy đến đồng thời với sự phát triển mạnh mẽ của ngành sản xuất của Trung Quốc.

Điều này có thể chấp nhận được do người ta cho rằng phương Tây không có sự lựa chọn nào ngoài việc tiếp tục mua dầu mỏ của GCC. Các nước GCC như UAE đã bắt đầu bắt tay vào các siêu dự án đầy hoang tưởng. Các kho bạc của GCC đã tăng lên. “Bữa tiệc” đã tiếp tục từ năm 2009 đến năm 2014.

Các nhà đầu tư vào ngành dầu mỏ của Mỹ có động cơ thị trường để cuối cùng làm một điều gì đó về sự phụ thuộc gây khó chịu này vào dầu mỏ của Arập. Họ đã khôi phục công nghệ fracking, công nghệ đã được phát triển khoảng từ những năm 1950 nhưng chưa bao giờ thực sự sinh lợi, và đã đẩy nhanh tốc độ. Và phương trình đã đột ngột thay đổi.

Đây là một mối đe dọa chiến lược đối với GCC. Mỹ cuối cùng đã phát triển được một sự lựa chọn thay thế đáng tin cậy; không bị can thiệp, nó sẽ gây tổn hại sâu sắc đến chiến lược năng lượng của Saudi Arabia. Nhưng hơn nữa, thế giới đã thay đổi nhiều từ năm 2003. Cơn khát dầu mỏ của Trung Quốc đã chậm lại; Nga và Iran, đều phụ thuộc vào giá dầu cao để thúc đẩy nền kinh tế của họ, đã chống lưng cho nhà độc tài Syria Bashar al-Assad, phần nhiều dẫn đến sự thất vọng của GCC và Mỹ. Và sự phát triển bên trong GCC có nghĩa rằng cần phải có một ngưỡng giá dầu cao hơn nhiều để các chế độ đạt được các mục tiêu ngân sách của họ.

Tuy nhiên, GCC có tiền mặt dự trữ. Khi giá dầu bất ngờ lao dốc trước một sự giảm tốc của Trung Quốc và cuộc cách mạng công nghệ fracking, GCC đã từ chối cắt giảm sản lượng. Việc này đã bắt đầu một chiều hướng đi xuống. Nga, bị bóp nghẹt bởi các biện pháp trừng phạt, cũng đã không thể cắt giảm sản lượng. Venezuela, một nước OPEC chủ chốt khác, có các vấn đề của riêng mình và rất cần bất cứ khoản tiền mặt nào mà chính phủ thiếu khả năng của nước này có thể kiếm được. Giọt nước làm tràn ly mới đây đã xảy đến khi Liên hợp quốc minh oan cho Iran và chế độ trừng phạt được dự kiến sẽ bị bãi bỏ. Sự sụt giá có ý nghĩa nhiều hơn trong những hoản cảnh như vậy.

Vậy ai là những người chiến thắng và những kẻ thua cuộc ở đây?

Những người chiến thắng hầu hết là phương Tây. Ngay cả Na Uy, nước có lượng dự trữ dầu mỏ lớn, cũng sẽ vượt qua được cơn giông bão: người Na Uy nhiều năm trước đã quyết định cất trữ tiền mặt có thêm của họ thay vì phung phí tiền bạc. Trong khi cá nhân các tổ chức sử dụng công nghệ fracking sẽ phá sản, phương Tây nói chung sẽ có được năng lượng với giá rẻ hơn và sẽ sẵn sàng sử dụng công nghệ fracking bị xếp xó nếu giá dầu tăng vọt lần nữa. Trong khi đó phương Tây với tư cách như một nền văn hóa đã chuyển hướng sang năng lượng “xanh” hơn: không khí sạch hơn là một động lực để khuyến khích những người trẻ tuổi phương Tây tránh đút tiền vào túi của các chế độ như Saudi Arabia.

Trong khi đó, những kẻ thua cuộc hầu hết là các nhà sản xuất dầu mỏ đều bần tiện, nhưng với các mức độ khác nhau

Nước Nga của Putin có một nền kinh tế mạnh mẽ hơn và đa dạng hơn Liên Xô trước đây, do vậy giá dầu thấp không có khả năng gây tai họa. Nhưng giá dầu thấp sẽ là một nguyên nhân gây căng thẳng mà sẽ gây tổn hại cho những tham vọng của ông thời gian qua. Việc không có tiền từ dầu mỏ sẽ khiến cho chủ nghĩa thân hữu của Putin trở nên trắng trợn hơn và khó mua chuộc hơn; nó có thể phá vỡ các nền tảng cho khế ước xã hội của Putin, cho phép những kẻ thách thức có được đòn bẩy chống lại ông. Nó cũng có thể khiến cho Putin trở nên liều lĩnh hơn: nếu ông không đạt được điều gì ở trong nước, ông sẽ chuyển hướng ra bên ngoài để giành được những thắng lợi rẻ mạt. Những nạn nhân của ông có thể gồm Ukraine, Gruzia và Trung Á.

Venezuela đang tiến gần đến các mức bần cùng: giá dầu bị hạ thấp sẽ chỉ đẩy nhanh điều đó. Phe đối lập của Venezuela đã nắm quyền trong các cơ quan lập pháp, nhưng Caracas có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng hỗn loạn theo kiểu Hy Lạp trong những năm tới khi những người kế nhiệm của Hugo Chávez tranh đấu với các kẻ thù của ông. Tin tốt là tất cả những điều này vẫn yên bình đáng kể với giá dầu thấp có khả năng sẽ chỉ làm suy yếu tư tưởng ủng hộ Chávez. Tin xấu là Tổng thống Nicolás Maduro, cũng giống như Putin, sẽ có động cơ để kích động rắc rối ở nước ngoài nhằm cứu lấy bản thân ông ta.

Iran không hoàn toàn ở trong tình cảnh khốn cùng, sau khi đã bị bóp nghẹt bởi nhiều năm bị trừng phạt, nhưng sự phục hồi từ chế độ trừng phạt sẽ không nhanh như nhiều người Iran hy vọng. Điều này cũng có thể dẫn đến phản tác dụng, mặc dù dễ dàng để thấy nó đang “thiêu đốt” cả phe theo chủ nghĩa tự do lẫn phe bảo thủ: phe theo chủ nghĩa tự do sẽ bị đổ lỗi bởi họ đã ký kết thỏa thuận hạt nhân này và cho đến giờ đã không đem lại sự thịnh vượng nhanh chóng nào trong khi phe bảo thủ sẽ phải chịu sự khinh miệt nào đó vì đã rước lấy các biện pháp trừng phạt. Một nhà nước Iran lung lay có khả năng xảy ra; dường như có khả năng họ sẽ chịu ít rủi ro hơn ở nước ngoài với những sự chia rẽ ở trong nước quá rõ ràng.

Saudi Arabia khó có thể ở trong tình trạng tốt đẹp: nợ xã hội của nước này rất lớn và người Saudi Arabia không quen với việc bị nói không, đặc biệt không phải bởi chính phủ cư xử nuông chiều của họ. Sau khi bắt đầu với một cuộc chiến ở Yemen và quyết định nỗ lực phá dầu mỏ fracking, các phí tổn đang tăng lên: Riyadh có thể cạn sạch tiền chỉ torng 4 năm. Có rất nhiều mánh khóe tài chính khác thường mà Saudi Arabia có thể sử dụng: nước này có thể chất động nợ, cắt giàm tiền trợ cấp, hủy bỏ các dự án và chỉ làm giả các con số, nhưng không điều nào trong số các hành động này sẽ tăng cường sự ổn định của họ. Họ thậm chí còn đề ra ý tưởng bán cổ phần trong thứ không được đụng chạm đến của Saudi Arabia, AARMCO, công ty dầu mỏ do nhà nước sở hữu, mặc dù điều đó có khả năng có tác dụng như thế nào trong thực tế chỉ đơn thuần cho phép các lãnh tụ Hồi giáo vốn rất giàu có của Saudi Arabia mua cổ phần thay vì mang đến các nhà đầu tư nước ngoài mới.

Ít nhất Saudi Arabia phần nào kiểm soát được số phận của mình; nếu nước này cắt giảm sản lượng, nó có thể đẩy giá dầu lên cao một lần nữa. Nhưng Quốc vương Salman và chế độ của ông dường như đã quyết tâm gây tổn hại cho công nghệ fracking trước khi họ làm như vậy. Điều này cũng cho phép chế độ quân chủ bắt tay vào cải cách xã hội hết sức cần thiết, sa thải các nhân viên chính phủ yếu kém, trục xuất lao động nước ngoài và nỗ lực hiện đại nguồn vốn nhân lực của nước này. Nhưng quá trình đó sẽ không được nhiều người ủng hộ.

Vậy đó là sự kết thúc của chứng hoang tưởng tự đại của kẻ chuyên quyền dầu mỏ: nhìn chung, rút cục là tốt

Giá dầu không có khả năng tăng vọt trở lại các mức của năm 2008 một lần nữa. Công nghệ fracking có thể trở nên đắt đỏ, nhưng các công ty dầu mỏ luôn có thể cất giữ nõ và chờ đợi những người tươi đẹp hơn. Điều này là lý do chủ chốt tại sao các chế độ dầu mỏ sẽ không bao giờ một lần nữa có được đòn bẩy mà họ từng có. Một sự lựa chọn thay thế lâu bền đang tồn tại và sẽ chỉ trở nên tốt hơn.

Nó có khả năng tiết chế các chế độ bằng cách kiềm chế sức mạnh mà họ có. Nhưng tình trạng hỗn loạn lớn hơn cũng có thể xảy ra trong tương lai khi các nhà lãnh đạo chi phí phóng tay để làm người ta xao lãng đi các nền kinh tế ảm đạm và cải cách xã hội thất bại. Nước Nga của Putin đã cho thấy xu hướng như vậy; trong số các nhà nước dầu mỏ, Moskva sẽ vẫn là bên phải chời đợi tình trạng bạo lực hơn nữa.

Nhưng đây thực sự là một thời đại mới. Dầu mỏ sẽ vẫn có vai trò quan trọng, nhưng không còn tính chất quyết định như nó đã từng. Riyadh và những người khác có thể trở nên luyến tích về những ngày tươi đẹp hơn, và hy vọng có thể vượt qua được sự thay đổi.

Nguồn: www.geopoliticsmadesuper.com

TLTKĐB 29/02/2016