Những khó khăn về năng lượng của Việt Nam đe dọa tăng trưởng kinh tế


Kể từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã tiến hành khai thác các mỏ dầu phong phú ở Biển Đông. Hơn 31 năm trôi qua và việc này không vấp phải bất cứ vấn đề gì cho đến khi Trung Quốc bắt đầu đưa ra các yếu sách chủ quyền đối với hơn 80% diện tích ở Biển Đông. Do Trung Quốc đang khai thác cạn kiệt các mỏ dầu hiện tại, nên Bắc Kinh có thể áp dụng một lập trường mạnh mẽ hơn nhằm bảo đảm các nguồn năng lượng vốn hữu hạn cho chính nước này. Một động thái như vậy có thể khiến các quốc gia nhỏ hơn như Việt Nam bị cạn khô, không có đủ nguồn năng lượng để phát triển.

Các cuộc tranh chấp ở Biển Đông cản trở việc thăm dò khai thác năng lượng

Vào tháng 6/2017, Việt Nam đã bắt tay thực hiện dự án trị giá nhiều triệu USD tại lô 136/3 của mình (còn phía Trung Quốc thì gọi là lô Wanan Bei-21) với các công ty Respol của Tây Ba Nha và Mubadala Development Co. của UAE. Trong vòng 2 tháng, căng thẳng trong quan hệ Trung – Việt đã lên đến mức giống như trong vụ giàn khoan Hải Dương – 981 vào năm 2014.

Khi Respol xác nhận sự tồn tại của một mỏ khí đốt lớn tại lô 136/3 và lên kế hoạch tiến hành khoan, Trung Quốc tỏ ra không hài lòng. Ngay sau đó, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Tướng Phạm Trường Long đã quyết định cắt ngắn chuyến thăm chính thức Việt Nam và hủy bỏ cuộc giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt – Trung thường niên.

Dù vậy, Việt Nam vẫn tìm cách để vượt qua các giới hạn do Trung Quốc đặt ra và tiếp tục các hoạt động khoan dầu. Cuối cùng, khi Trung Quốc đe dọa tấn công các căn cứ quân sự của Việt Nam, chỉ có Rspol là ra tuyên bố đình chỉ các hoạt động khoan tại khu vực tranh chấp. Việt Nam không đưa ra một tuyên bố chính thức nào và tiếp tục khẳng định quyền của mình trong việc thăm dò khai thác năng lượng. Với các khoản tiền đã đầu tư, cùng với nhu cầu dầu mỏ và khí đốt ngày càng tăng của Việt Nam, việc này có thể chỉ bị dừng tạm thời cho đến khi Hà Nội tìm thấy các điểm khoan mới để tiếp tục dự án hợp tác. Nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nếu các công ty dầu mỏ nước ngoài đánh giá triển vọng của kinh tế Việt Nam là có rủi ro cao và rút lại các khoản đầu tư.

Gác lại những khó khăn trong việc tìm kiếm các mỏ dầu vốn khan hiếm sang một bên, Việt Nam giờ đây phải xử lý những phản ứng của Trung Quốc. Các kế hoạch năng lượng của Việt Nam bao gồm cả việc phát triển mỏ khí Cá Voi Xanh ở ngoài khơi bờ biển miền Trung trên Biển Đông. Trung Quốc đã không đưa ra những bình luận cụ thể, nhưng các công ty nước ngoài đã bị cảnh báo phải tránh xa Biển Đông.

Vì lợi ích tương lai của đất nước, Việt Nam vẫn đang đấu tranh bằng cách huy động sự ủng hộ nhân các chuyến thăm chính thức của lãnh đạo tới những quốc gia có cùng tình huống, hoàn cảnh tương tự. Nếu may mắn, tình hình có thể cải thiện nhờ việc các bên đã thông qua dự thảo khung về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) sau 15 năm cân nhắc, hoặc nhờ sự giúp đỡ của Mỹ nhằm đối trọng với sự thống trị của Trung Quốc.

Các nguồn năng lượng của Việt Nam đang bị đe dọa

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam đặt ra phương hướng cho giai đoạn 2011 – 2020 và bao gồm tầm nhìn dài hạn đến năm 2030. Với 600 triệu tấn dầu thô, Việt Nam nắm giữ trữ lượng dầu mỏ lớn thứ hai ở Đông Á, sau Trung Quốc. Đứng ở mức 34,4%, than đá là nguồn năng lượng chính của Việt Nam trong năm 2015. Than đá tương đối rẻ hơn, và Chính phủ Việt Nam có kế hoạch nâng tỷ trọng lên 42,6%.

Việt Nam là nước xuất khẩu ròng dầu thô và là nước nhập khẩu ròng các sản phẩm dầu mỏ. Ngành dầu khi vẫn là ngành đóng góp hàng đầu cho Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Nhưng sản lượng dầu mỏ đã bị sụt giảm kể từ năm 2000. Mỏ dầu lớn nhất của Việt Nam – mỏ Bạch Hổ – đạt mức sản lượng cao nhất vào năm 2004, và sản lượng ở mỏ này đã giảm xuống còn 16,7 triệu tấn vào năm 2013. Do tình trạng cạn kiệt của các mỏ dầu được phát hiện trước đây, Việt Nam nay cần phải nắm bắt mọi cơ hội để khám phá thêm nhiều mỏ dầu khác ở Biển Đông.

Tiêu thụ điện bình quân đầu người ở Việt Nam đã tăng từ 156 KWh trong năm 1995 lên 1.415 KWh vào năm 2014. Nhu cầu năng lượng trung bình dự kiến tăng khoảng 10,5% mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2020. Dự báo, nhu cầu tiếp theo sẽ tăng ở mức ít hơn, chỉ 8% mỗi năm trong giai đoạn 2021 – 2030, nếu như chính phủ đạt được mục tiêu về cung cấp sự tiếp cận phổ biến nguồn điện cho người dân. Hiện tại, một số cộng đồng ở vùng nông thôn, miền núi xa xôi vẫn chưa được kết nối với lưới điện.

Tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế

Kế hoạch phát triển điện quốc gia mới nhất của Việt Nam cho thấy một sự phụ thuộc ngày càng tăng vào than đá thông qua việc xây dựng nhiều nhà máy điện chạy bằng than. Kế hoạch này hoàn toàn mâu thuẫn với cam kết cắt giảm 25% lượng khí thải nhà kính trong cùng giai đoạn. Xét việc Việt Nam từng không đáp ứng được các mục tiêu của Ngân hàng Phát triển châu Á cũng như việc chính phủ chấp nhận tình trạng môi trường bị hủy hoại bởi các công ty nước ngoài phạm luật để đổi lấy tăng trưởng kinh tế, sẽ không phải là điều bất ngờ nếu Việt Nam không thực hiện được các mục tiêu cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính như đã cam kết.

GreenID, một tổ chức phi chính phủ ủng hộ việc phát triển năng lượng tái tạo, nhận thấy rằng, “chỉ số bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội cao hơn 5 lần so với mức trung bình hàng năm của Tổ chức Y tế Thế giới”. Mức ô nhiễm không khí này gây nguy hiểm nghiêm trọng cho tim và phổi. Trước khi quá muộn, Việt Nam cần phải có thêm các nguồn năng lượng bền vững. Ngày nay, Việt Nam có các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối. Đa số nguồn năng lượng tái tạo này sẽ được sản xuất từ các nhà máy thủy điện nhỏ và nhà máy phong điện. Việt nam cũng dự kiến bắt đầu nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng vào năm 2023. Trong số khoảng 50 dự án phong điện, chỉ có 4 dự án đang hoạt động với tổng công suất 160 MW. Tiềm năng chưa khai thác của các nguồn năng lượng này hiện cũng đang bị phủ bóng đen do chi phí cao và cần phải có bí quyết công nghệ.

Bà Phạm Cẩm Nhung, Quản lý Dự án năng lượng bền vững WWF – Việt Nam, đã tỏ ý hy vọng rằng thời điểm năm 2050 có thể đem lại các cơ hội tốt hơn để Việt Nam thành công trong lĩnh vực năng lượng tái tạo. Bà Nhung nói: “Việt Nam hoàn toàn có khả năng trở thành quốc gia tiên phong phát triển ngành năng lượng sạch và tái tạo. Năng lượng mặt trời có thể cung cấp ít nhất 35% trong khi năng lượng gió có thể cung cấp ít nhất 13% nhu cầu điện của Việt Nam vào năm 2050. Năng lượng tái tạo đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển một tương lai bền vững cho Việt Nam”.

Đầu tư vào công nghệ xanh bị giới hạn bởi nguồn vốn và năng lực

Năm ngoái, Việt Nam, vốn đang nợ đầm đìa, đã từ bỏ các kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân, viện dẫn các lý do như dự báo nhu cầu thấp, chi phí tăng và các quan mối quan ngại về an toàn. Nguồn kinh phí dự trù ban đầu cho 2 nhà máy điện hạt nhân là 18 tỷ USD, chiếm 9% GDP củ Việt Nam. Các công ty được chính phủ hỗ trợ không có khả năng đáp ứng được nhu cầu năng lượng cơ bản của Việt Nam, dẫn đến tình trạng thiếu điện. Với một hệ thống giá mơ hồ và bộ máy cồng kềnh, không hiệu quả, Điện lực Việt Nam (EVN) cùng hai doanh nghiệp năng lượng nhà nước khác không có khả năng tận dụng được những tiến bộ công nghệ.

Con  đường phía trước của Việt Nam đầy rẫy những thách thức, và các tranh chấp trên Biển Đông đang được bổ sung vào danh sách những thách thức này. Nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và giấc mơ tạo được sự tiếp cận điện năng trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam phải tìm được sự cân bằng mong manh giữa cung, cầu, tăng trưởng và môi trường sống bền vững.

Nguồn: http://www.aseantoday.com/2017/09/vietnams-energy-woes-threaten-to-cripple-her-growth/

TKNB – 19/09/2017

Advertisements

Nhận thức về môi trường có dẫn đến phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam?


Ngày 25/7, tại Trung tâm nghiên cứu Stimson ở Washington DC. (Mỹ) diễn ra buổi hội thảo nhân dịp công bố báo cáo nghiên cứu về việc phát triển năng lượng tại tạo tại khu vực tiểu vùng Mekong, bao gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và tỉnh Vân Nam Trung Quốc.

Những nhà nghiên cứu của Trung tâm Stimson cho rằng việc phát triển các nguồn điện năng tại vùng Hạ Mekong nói chung và Việt Nam nói riêng nên đi theo hướng phối hợp nhiều phương cách khác nhau, bao gồm một cách thức quan trọng là phát triển các nguồn điện năng tái tạo nhưng không phải là thủy điện, là gió và Mặt trời.

Các lý do được giới chuyên gia Trung tâm Stimson đưa ra là công nghệ điện gió và mặt trời ngày càng phát triển, làm cho giá điện của các loại này giảm mạnh. Nguyên nhân thứ hai là các phong trào bảo vệ môi trường đang phát triển mạnh ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, ngăn cản sự xây dựng các đập thủy điện lớn, cũng như những trung tâm điện năng chạy bằng than gây ô nhiễm.

Ý thức môi trường đang tăng lên của dân chúng Việt Nam

Công trình nghiên cứu của Trung tâm Stimson có đề cập đến ý thức môi trường của dân chúng Việt Nam đang gia tăng, thể hiện qua những cuộc biểu tình rất lớn sau thảm họa cá biển chết hàng loạt do nhà máy luyện thép Formosa gây ra. Tuy nhiên, công trình này thiếu số liệu về sự phản ứng của người dân Việt Nam đối với những nhà máy điện chạy than.

Có hai cụm nhiệt điện chạy than lớn đang được xây dựng tại miền Nam Việt Nam vì khu vực này không có các trung tâm thủy điện lớn. Đó là cụm 4 nhà máy được xây tại Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận). Thứ hai là Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải tại tỉnh Trà Vinh cũng gốm 4 nhà máy. Năm 2015, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra ở Tuy Phong chống việc nhà máy điện Vĩnh Tân 2 xả khói và xỉ than gây ô nhiễm đến mức dân chúng địa phương không chịu nổi. Cuộc biểu tình quy tụ hàng nghìn người, gây thiệt hại lớn về vật chất, một số người bị thương. Năm 2016, dân chúng và các giới chức tỉnh Trà Vinh lên tiếng than phiền nhà máy điện chạy than Duyên Hải 1 xả khói và xỉ than gây ô nhiễm và làm hại đến hoạt động kinh tế của người dân. Theo số liệu của trang web về môi trường, Trung tâm Sáng tạo Xanh, chỉ riêng nhà máy Duyên Hải 1 đã thải ra một lượng xỉ than là 1,6 triệu tấn 1 năm, và ngay lập tức đã lấp đầy phân nửa diện tích bãi thải rộng 100 ha.

Tháng 7/2017, các nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân lại gây ra một sự chống đối của dư luận, khi nhà máy số 1 được Bộ Tài nguyên Môi trường cấp giấy phép đổ chất thải nạo vét cảng Vĩnh Tân xuống gần vùng bảo tồn biển Hòn Cau của tỉnh Bình Thuận.

Điều chỉnh kế hoạch phát triển điện năng

Theo số liệu của Trung tâm Stimson, trích nguồn từ chính phủ Việt Nam, trong năm 2014, thủy điện chiếm 46%, điện than chiếm 29% tổng lượng điện sản xuất tại Việt Nam. Theo kế hoạch của chính phủ Việt Nam điện than sẽ chiếm 42,7% vào năm 2030. Con số này đã được điều chỉnh, vì hồi năm 2015, ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện năng lượng Việt Nam của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, nói rằng đến năm 2030, điện than chiếm 45%.

Theo các nhà quy hoạch chính sách điện năng của Việt Nam, nguồn năng lượng thủy điện bên trong biên giới Việt Nam đã được sử dụng hết. Vì thế trước nhu cầu phát triển kinh tế và mức sống của một dân số đông đúc ngày càng tăng, nhiệt điện chạy than là một chuyện cần thiết hiện nay. Tỉ lệ điện năng sản xuất từ gió và mặt trời, theo Trung tâm Stimson, các nhà hoạch định chính sách Việt Nam mong muốn sẽ ở mức 21% vào năm 2030. Các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Stimson cho rằng con số này là quá thấp.

Một trong những trở ngại cho việc phát triển năng lượng gió và Mặt Trời tại Việt Nam, theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, là giá than đá mà Việt Nam đang nhập khẩu từ Indonesia thấp do các khoản thuế đã được trừ đi theo các thỏa thuận thương mại. Bên cạnh đó, giá điện gió và điện Mặt Trời tại Việt Nam vẫn còn cao hơn so với điện sản xuất từ than.

Ông Lê Đăng Doanh cũng nêu một trở ngại khác là giá bán điện ở Việt Nam thấp, không khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các trung tâm điện gió và mặt trời. Điều này được các nhà nghiên cứu ở Trung tâm Stimson gọi là bao cấp giá điện.

Tuy nhiên, theo ông Brian Eyler, Giám đốc dự án Mekong của Trung tâm Stimson thì chính phủ Việt Nam dường như cũng ý thức được phải điều chỉnh kế hoạch phát triển năng lượng của mình. Ông nói tại buổi hội thảo: “Việt Nam là một đất nước quan trọng không chỉ ở khu vực mà còn trên thế giới. Chính phủ Việt Nam biết rằng mình đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp, không thể nằm ngoài việc đầu tư vào lĩnh vực nguồn năng lượng. Vấn đề là nhìn nhận sự chuyển tiếp đó ra sao, nguồn năng lượng nào? Chúng tôi làm việc chặt chẽ với chính phủ Việt Nam để giúp họ việc này. Hồi tháng 5/2017, các viên chức Việt nam đến Washington ký một thỏa thuận trị giá 2 tỷ USD về một nhà máy điện chạy khí, và công ty General Electric đạt được thỏa thuận phát triển một khu điện gió lớn nhất nước nằm ở phía Nam”.

Thỏa thuận mà ông Eyler đề cập là dự án của General Electric về việc xây dựng một khu điện gió tại tỉnh Sóc Trăng có công suất đến 800 MW. Thỏa thuận này được ký nhân chuyến viếng thăm Mỹ của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc.

Theo các nhà nghiên cứu của Trung tâm Stimson, trong nội bộ các nhà làm chính sách tại Việt Nam đã bắt đầu có sự đồng thuận chú ý đến việc phát triển năng lược tái tạo từ gió và Mặt Trời. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải làm rõ hơ các chính sách hỗ trợ cho việc phát triển năng lượng tái tạo, mặc dù nguyên tắc hỗ trợ này cũng như quyết tâm của Việt Nam trong việc cắt giảm khí thải nhà kính, trong đó có sự góp phần lớn của các nhà máy điện chạy than, đã được đưa ra từ sớm.

Nguồn: RFA

TKNB – 01/08/2017

Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần cuối


Qatar sẽ ngừng vận hành đường ống dẫn chính?

Một kịch bản có thể sẽ làm nghiêm trọng hơn nữa cuộc khủng hoảng, đó là việc ngừng vận hành đường ống dẫn Dolphin nối liền Qatar và một số quốc gia có hành động xâm phạm đến họ.

Trong khi hai phần ba lượng LNG của Qatar được dành cho châu Á và châu Âu, khoảng 10% được chuyển đến Trung Đông. Hai thị trường xuất khác được đảm bảo nhờ những mố quan hệ chính trị tốt, đó là Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng hai nước khác là Ai Cập và UAE lại tham gia các quốc gia hiện nay đang cô lập Qatar. Nếu như Riyadh và UAE đẩy sự căng thẳng lên cao, điều đó sẽ làm dấy lên những lo ngại liên quan đến tương lai của đường ống dẫn dầu.

Ai Cập đón nhận từ Qatar hai phần ba nhu cầu khí đốt – khoảng 4,4 triệu tấn trong năm 2016 – theo giá thị trường cũng như hợp đồng ký kết trong ngắn hạn. Cairo đứng về phía của Saudi Arabia, nhưng không thể ngăn cản sự vận chuyển khí đốt. Kể từ khi khủng hoảng nổ ra, Ai Cập tiếp tục chấp nhận lô hàng khí đốt của Qatar trên những tàu vận tải được treo cờ của nước khác. Khoảng 300.000 người Ai Cập sống, làm việc tại Qatar đang tiếp tục công việc của họ một cách bình thường. Không một quốc gia nào mong muốn cắt đứt quan hệ mà không có lý do chính đáng, đặc biệt là Ai Cập – nước mới đây đã tránh được sự phá sản nhờ những sự trợ giúp tài hào phóng từ Qatar (đã có khoảng 6 tỷ USD được Qatar viện trợ cho Ai Cập sau cuộc nổi dậy – đảo chính “Mùa xuân Arập” năm 2011).

Tuy nhiên, tuyến đường ống dẫn khí Dolphin – vận chuyển khí đốt từ Qatar đến UAE và Oman mới là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. UAE nhập khẩu khảong 17,7 tỷ m3 khí đốt tự nhiên từ Qatar trong năm 2016 (theo báo cáo của BP), tương đương hơn 1/4 nguồn cung cấp khí đốt cho UAE. Cả UAE và Oman sẽ phải gánh chịu những mất mát to lớn nếu như không còn nhận được dòng khí hóa lỏng, đặc biệt là vào mùa Hè – thời điểm sản xuất điện đòi hỏi phải đạt công suất lớn nhất để vận hành hệ thống điều hòa không khí. Hậu quả của việc Qatar ngừng cung cấp khí đốt tại vùng Vịnh có thể so sánh với sự kiện tương tự vào tháng 1/2009, khi Nga tạm dừng hoạt động tuyến đường ống dẫn khí đốt đến Ukraine.

UAE nhận thức được rằng họ sẽ ngay lập tức phải đối mặt với nhiều khó khăn hàng ngày. Nước này được xem như tự bắn một viên đạn vào chân mình nếu không nhận được nguồn cung cấp khí đốt. Tuy nhiên, về phần mình, Qatar xem tuyến ống dẫn này là một sự lắp đặt vĩnh viễn, không phải như là một công cụ để phục vụ cho các lợi ích chính trị trong ngắn hạn. Do đó, không một bên liên quan nào mong muốn thay đổi nguyên trạng hiện nay và cũng không bên nào thông báo có được lợi ích khi áp dụng sự thay đổi.

Một số nhà phân tích cho rằng cả hai bên đều có được những kế hoạch dự phòng nếu như đường ống Dolphin tạm dừng hoạt động. Lúc đó, UAE sẽ phải vật lộn để bù đắp phần thiếu hụt nguồn khí đốt từ Qatar. Nước này sẽ phải nhập khẩu LNG vì không ai có thể gửi nó thông qua tuyến ống dẫn. Điều này sẽ khiến giá thành tăng lên gấp 3 lần so với mức giá mà UAE mua khí đốt từ Qatar. Cho dù không có mức giá chính thức, dự kiến UAE sẽ phải trả thêm khoảng 1,1 tỷ USD. Mặt khác, nếu UAE muốn ngừng nhập khẩu khí đốt của Qatar, họ sẽ tiếp tục phải trả một khoản tiền đắt gấp 3, theo mức giá hiện hành, bởi vì giá LNG liên kết chặt chẽ với giá dầu. Như vậy, liên quan đến vấn đề này, trong trường hợp UAE mua khí đốt từ một nguồn khác, với một hợp đồng theo giá thị trường và được chuyên chở bằng tàu thủy, nước này sẽ phải trả một khoản tiền gấp 6 lần so với các hợp đồng đã ký kết với Qatar. Đây quả thực là một thiệt hại đáng kể.

Sự gián đoạn gây ra do một bên nào đó đều dẫn đến việc vi phạm các hợp đồng song phương. Nếu như UAE vi phạm hợp đồng, họ sẽ phải trả giá. Trong trường hợp vì khủng hoảng, Qatar buộc phải ngừng hợp đồng, họ cũng sẽ gửi một thông điệp tiêu cực đến các khách hàng của mình – việc cung cấp khí đốt bị ảnh hưởng vì lý do chính trị.

Nếu một biện pháp như vậy được Qatar thực hiện có thể gây tổn hại đến chiến lược mà nước này đang theo đuổi, thì đó là muốn khẳng định cho thế giới thấy rằng dù bị các nước GCC đối xử bất công, nhưng Qatar vẫn tôn trọng các hợp đồng thương mại – trái ngược hoàn toàn với UAE và Saudi Arabia. Qatar đã khẳng định rằng việc vận chuyển khí đốt đến UAE và Oman thông qua tuyến ống Dolphin vẫn sẽ được tiếp tục. Do đó, các quốc gia liên quan không phải bận tâm về thời điểm của một kịch bản tồi tệ, khi mà Qatar có thể thay đổi quyết định đã đưa ra về vấn đề trên.

Liệu Qatar có bị mất thị phần vào tay Saudi Arabia?

Một số nhà phân tích đã không loại trừ một số biện pháp trừng phạt có thể được Saudi Arabia và UAE áp đặt trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng hiện nay. Bất kỳ biện pháp nào nhắm đến việc ngừng xuất khẩu năng lượng, đặc biệt là thông qua đường ống dẫn Dolphin có thể được xem như là một sự leo thang nghiêm trọng do Doha gây ra, và điều này cũng dẫn đến khả năng nền kinh tế nước này bị tê liệt.

Một kịch bản mang tính giả thuyết vốn là chủ đề của cuộc tranh luận chính trị gay gắt hiện nay, theo các nhà phân tích, dựa trên sự phong tỏa hoàn toàn đối với Qatar, Riyadh và Dubai đã đề cập đến khả năng tái cơ cấu GCC thông qua việc khai trừ Qatar ra khỏi tổ chức này, trừ khi có một sự thay đổi chế độ tại Doha.

Một phần mở rộng của kịch bản này có thể sẽ là việc Saudi Arabia sẽ được thừa hưởng trực tiếp lợi nhuận đến từ thị phần năng lượng đầy béo bở của Qatar. Lợi nhuận này sẽ giúp cung cấp tài chính cho chiến lược “tầm nhìn 2030” được hoàng tử Mohammed ben Salmane phát triển nhằm đa dạng hóa nền kinh tế của quốc gia này. Trên thực tế, kế hoạch chuyển đổi mang tầm vóc quốc gia và dự án “tầm nhìn 2030” chưa đạt được kết quả như ý muốn. Việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của Tập đoàn Saudi Aramco (dự kiến giá trị niêm yết là 2000 tỷ USD) có thể không đạt được giá trị đã đề ra. Trong trường hợp đó, Saudi Arabia sẽ cần thêm vào một lượng tiền lớn và nước này nhiều khả năng sẽ nhanh chóng thúc đẩy kịch bản trên xảy ra.

Một biện pháp như vậy được Riyadh thực hiện có thể sẽ mang đến những điều kinh khủng cho hoàng gia Qatar. Các thủ lĩnh Hồi giáo của Doha sẽ buộc phải thoái vị – như gợi ý của Khalaf al-Habtoor.

Các chuyên gia vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn đang trong giai đoạn yên tĩnh và có thể sẽ sớm được giải quyết. Hợp đồng mua máy bay chiến đấu trị giá 12 tỷ USD được ký kết gần đây giữa Qatar và Mỹ, cho Riyadh và Dubai thấy rằng họ sẽ không dễ dàng đạt được chiến thắng. Căn cứ quân sự của Mỹ đặt tại al’Udeid – Qatar là Bộ chỉ huy trung tâm của Mỹ (CENTCOM) tại khu vực, chi phối 20 quốc gia trong khu vực. Mới đây, việc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đến Qatar để huấn luyện cũng sẽ giúp xoa dịu những căng thẳng. Hai nước này cũng đã ký kết một hiệp ước quốc phòng. Ankara sở hữu số lượng quân đội thường trực lớn nhất khu vực và sự hiện diện của nước này ở gần biên giới Saudi Arabia được đánh giá là hành động có tính can ngăn.

Tuy nhiên, cũng có những nhà phân tích cho rằng chưa hề xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự giảm căng thẳng thời gian gần đây. Họ nhắc lại rằng những hậu duệ của Ibn Abd al-Wahhab – cha đẻ của chủ nghĩa Wahhabi, học thuyết chủ đạo của Saudi Arabia và cũng là của Qatar – từng tách mình ra khỏi gia tộc cai trị của UAE, gây tổn hại đến sự hợp pháp của nó. Sự leo thang của Riyadh và UAE chống lại Qatar vẫn tiếp tục. Vào giữa tháng 6, UAE đã kêu gọi Mỹ di dời căn cứ không quân khỏi al-Udeid của Qatar.

“Không còn ‘con thiên nga đen’ nào trên thế giới của chúng ta”. Và ý tưởng về sự tranh giành thị phần bắt đầu được gợi lên.

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần I


Nhờ thị trường châu Á, các đồng minh quân sự và một đường ống dẫn dầu chính, Doha giữa được một quyền lực nhất định để chống lại những đối thủ của mình trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay.

Sự phong tỏa đối với Qatar, được lãnh đạo bởi Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), đã gây ra một tác động kinh tế nhất định. Qatar – nhà sản xuất khí Heli lớn thứ hai thế giới, đã buộc phải ngừng sản xuất 2 nhà máy, không thể xuất khẩu khí đốt theo đường bộ. Hãng hàng không Qatar Airways không thể thực hiện các đường bay đến 18 điểm. Những ngân hàng Qatar cũng bị tác động nặng nề, đặc biệt là Ngân hàng Quốc gia Qatar (QNB) – lớn nhất khu vực về mặt tài sản, cũng như Ngân hàng Doha: cả hai đều sở hữu mạng lưới rộng khắp đất nước là thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC). Ngày 8/6, cơ quan đánh giá tín nhiệm Standard&Poor’s (S&P) đã hạ xếp hạng tín dụng của Qatar, từ AA xuống A-, đồng thời xếp nước này với triển vọng tiêu cực, dấu hiệu cho thấy khủng hoảng có thể gây ra ảnh hưởng đối với đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Moody’s cũng theo bước S&P bằng cách xếp hạng phát hành trái phiếu chính phủ (IDR) trong dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ của Qatar ở mức AA nhưng dưới cảnh báo triển vọng tiêu cực.

Tuy nhiên, Doha đã không nhượng bộ sớm. Nước này rất mạnh về tài chính, đặc biệt là Quỹ dự trữ quốc gia (QIA) có vốn lên đến 213,7 tỷ USD, theo ước tính của Viện Tài chính quốc tế. Vốn khởi điểm của quỹ này đến từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt của Qatar. Thu nhập đến từ năng lượng chiếm đến một nửa GDP của Qatar, 85% nguồn thu từ xuất khẩu và 70% doanh thu của Chính phủ. Khủng hoảng có thể tác động đến những hợp đồng năng lượng trong trung hạn của quốc gia này, khi các nhà nhập khẩu buộc phải đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của họ để giảm phụ thuộc vào khí đốt của Qatar.

Theo ông Roudi Baroudi – CEO của EEH – một công ty tư vấn độc lập (chủ sở hữu chính của EEH là Cheikh Jaber ben Youssef Jassem al-Thani – Tổng giám đốc Ban thư ký chung về kế hoạch và phát triển Qatar), cho biết, về dầu mỏ, muốn có được lợi thế thì phải tham gia nhóm do Riyadh lãnh đạo: Saudi Arabia gần đây đã vượt qua Nga trở thành nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới, trong khi UAE cũng được xếp trong nhóm 10 nước dẫn đầu. Tuy nhiên, về khí đốt, Qatar lại chiếm nhiều “quân bài” trong cuộc chơi, và đó là lại là những quân bài tốt nhất.

Doha có thể sử dụng năng lượng có lợi cho mình như là một công cụ đối ngoại: cách thức mà Qatar sử dụng sẽ rất quan trọng trong nỗ lực để vượt qua “cơn bão” hiện nay.

Làm thế nào để Qatar vận chuyển các mặt hàng xuất khẩu của mình?

Qatar là nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới. Theo Liên minh khí đốt quốc tế, nước này chiếm gần một phần ba sản lượng toàn cầu, với khảong 77,8 tỷ tấn trong năm 2016. Từ trước đến nay, hầu như không có sự gián đoạn khai thác hoặc xuất khẩu của Qatar, có lúc có đến 60 nhà vận chuyển LNG thuộc Công ty vận chuyển khí đốt Qatar (trong tiếng Arập là Nakilat). Nhưng ngay sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra, những doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu của Nikilat, dầu mỏ và công nghiệp Qatar đã gặp nhiều khó khăn. Một phần lớn khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được vận chuyển bằng tàu chở dầu. Mặc dù chúng ta không được nghe về sự ngừng chuyển dầu, nhưng vẫn có một sự lo ngại bao trùm lên hành trình đưa các mặt hàng của Qatar đến châu Á, khách hàng chủ chốt của đa số sản lượng dầu của họ, cũng như một phần lớn xuất khẩu từ vùng Vịnh. Những nguồn tin từ ngành công nghiệp vận tải biển cho biết một số giao dịch đã có thể bị hủy bỏ hoặc trì hoãn: các công ty bảo hiểm và hóa dầu đã báo rằng 17 tàu vận chuyển LNG hiện đang thả neo ngoài khơi cảng Ras Laffan của Qatar – một số lượng nhiều hơn thông thường khoảng 6 – 7 tàu.

Về mặt lịch sử, các khách hàng châu Á đòi hỏi một hỗn hợp dầu thô đến từ vùng Vịnh: thông thường, các tàu chở dầu rời khỏi vương quốc với dầu của Qatar, sau đó dừng lại để tiếp nhiên liệu và thêm dầu thô của Saudi Arabia, UAE và Oman, thông thường là tại các cảng của UAE. Karim Nassif, phó giám đốc của S&P tại Dubai cho biết, nếu những tàu chở dầu không được phép dừng lại và tiếp liệu, như theo một số thông tin gần đây, điều đó có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khách hàng muốn loại dầu thô hỗn hợp.

Tờ Daily Telegraph đưa tin rằng vì tác động của khủng hoảng, hai tàu vận chuyển LNG đến vương quốc Anh đã phải chuyến hành trình; tuy nhiên, nhiều chuyên gia khẳng định đây không phải là một vấn đề lớn. Nếu những thông tin trên trở thành sự thật, đấy chỉ là một chuyện bình thường mà các công ty quốc tế phải đối mặt, và họ có đủ các biện pháp cần thiết để ứng phó với lệnh trừng phạt của Saudi Arabia.

Giả thiết rằng công ty A đã có dự định vận chuyển LNG của Qatar đến UAE, nhưng nước này kể từ nay không cho phép các tàu vận tải của Qatar cập bến và dỡ hàng. Câu trả lời của công ty A có thể sẽ là gửi một nhà vận chuyển LNG của một nước thứ ba thực hiện việc vận chuyển này, sau đó chuyển hướng một hay nhiều nhà vận chuyển khác để đảm bảo rằng tất cả các khách hàng đều nhận được hàng.

Naser Tamimi, chuyên gia năng lượng độc lập của Qatar, cho rằng kịch bản tương tự sẽ xảy ra với khả năng Ai Cập không cho các tàu chở dầu của Qatar đi qua kênh đào Suez hoặc tăng giá đối với các tàu vận tải của Qatar. Nhưng Qatar có thể giải quyết vấn đề thông qua một tàu chở dầu mang quốc tịch nước khác, ví dụ như của đảo Marshall, hoặc chuyển hướng một phần các tàu chở hàng của họ đến châu Âu qua đường Nam Phi. Những biện pháp này có thể làm tăng thêm chi phí, nhưng là cách mà Qatar có thể dựa vào, ngay cả khi họ phải chịu tất cả chi phí này cho người tiêu dùng.

Khoảng 70% xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được thực hiện trong khuôn khổ các hợp đồng dài hạn – thông thường là khoảng 15 năm. Sản lượng và giá thành vì thế luôn đảm bảo. Những nhà xuất khẩu khác theo đuổi chế độ giá trong ngắn hạn hoặc biến động theo thị trường quốc tế.

Thị trường châu Á sẽ hướng đến nơi khác

Phần lớn LNG Qatar được đưa đến Đông Á – và một số phân tích đã khẳng định rằng ít có khả năng xu hướng này sớm chấm dứt. Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar không bị tác động bởi sự phong tỏa của các biện pháp trừng phạt, một cách đơn giản, bởi vì các quốc gia của GCC đều có nhu cầu duy trì quan hệ tốt với các đối tác Đông Á, theo tiết lộ của Theodore Karsik, cố vấn cao cấp của Gulf State Analytics – có trụ sở tại Washington. Theo ông, nếu Saudi Arabia và UAE làm gián đọn xuất khẩu LNG sang châu Á, các khách hàng có thể không muốn đầu tư vào các chương trình hướng đến chuyển đổi nền kinh tế của UAE và Saudi Arabia, ví dụ như chiến lược “tầm nhìn 2030”.

Baroudi cũng chia sẻ quan điểm này: “Không nơi nào được như thị trường châu Á. Các quốc gia châu Á cần – và họ biết điều đó – quan hệ trong dài hạn với những nhà cung cấp ổn định, và, theo nghĩa đó, Qatar đóng vai trò một phần trong đó. Những quốc gia khác trên thế giới cũng vậy. Do đó, cho dù cuộc khủng hoảng có leo thang hơn nữa – và đến thời điểm hiện nay, mọi thứ liên quan đến xuất khẩu LNG của Qatar dường như vẫn không có gì xáo trộn, tất cả mọi sự gián đoạn sẽ chỉ là một hiện tượng tạm thời trong ngắn hạn”.

Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar đơn giản là không thể thay thế. LNG của Australia sẽ bắt đầu có tác động trên thị trường quốc tế từ nay đến hết thập kỷ, nhưng điều đó đơn giản chỉ nhằm nhấn mạnh “sự cạnh tranh” trên thị trường không có mặt hàng thay thế.

Tuy nhiên, Tamimi cũng cho rằng cuộc khủng hoảng có thể khuyến khích các khách hàng châu Á đa dạng hóa các nhà cung cấp và giảm sự phụ thuộc của họ vào khí đốt của Qatar. “Kể từ nay, các khách hàng sẽ ít phải chịu áp lực hơn trong bối cảnh thế giới đang thừa thãi nguồn cng LNG. Tất cả các khách hàng của Qatar yêu cầu những hợp đồng tốt hơn, trong khi thị phần của Qatar chứng kiến sự sụt giảm so với năm 2013 do tác động từ sự cạnh tranh không chỉ đến từ Australia, Indonesia, mà còn từ Malaysia. Khủng hoảng cho phép nhắc lại với tất cả mọi người tại châu Á rằng khu vực Trung Đông không ổn định, rằng mọi thứ có thể thay đổi chỉ trong vài ngày”.

(còn tiếp) 

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Khát năng lượng, Trung Quốc đánh cược vào băng cháy ở Biển Đông


Ngày 18/5, Trung Quốc thông báo đã thu được thành công đầu tiên trong việc thu thập được những mẫu khí mêtan hydrat (còn được gọi là “đá cháy” hay “băng cháy”) ở Biển Đông. Chỉ trong vòng 6 tuần, tính đến đầu tháng 7/2017, hơn 235.000m3 mêtan hydrat đã được Trung Quốc khai thác ở vùng biển cách 320 km về phía Đông Nam thành phố Châu Hải (Zhuhai), tỉnh Quảng Đông (Guangdong).

Kết quả trên được Bắc Kinh đánh giá là “một bước tiến lịch sử” sau gần 2 thập kỷ nghiên cứu với nhiều đợt khoan thăm dò trong vùng Biển Đông. Hãng tin AFP trích phát biểu của ông Hiệp Kiến Lương (Ye Jianliang), Giám đốc Cục Khảo sát Địa chất Quảng Châu, đánh giá: “Trung Quốc đã vượt qua mọi mong đợi trong quá trình khảo sát thăm dò băng cháy bằng những tiến bộ đổi mới của riêng mình về công nghệ và kỹ thuật. Sự kiện này đánh dấu một bước đột phá lịch sử”.

Theo tuyên bố ngày 2/6 của Bộ Lãnh thổ và Tài nguyên, được Xinhua.net trích dẫn, Trung Quốc sẽ có khoảng 80 tỷ tấn băng cháy. Khoảng 8.350m3 nhiên liệu này vẫn được khai thác hàng ngày ở ngoài khơi Đông Nam thành phố Châu Hải.

Trung Quốc nằm trong số vài nước có tham vọng khai thác nguồn tài nguyên mới này để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng. Từ 2 thập kỷ nay, quốc gia Đông Á này tăng cường các cuộc thăm dò dưới đáy đại dương để tìm băng cháy, một loại năng lượng hóa thạch được ưa chuộng vì khí mêtan. Tuy nhiên, để sử dụng được băng cháy trên quy mô thế giới, còn cần ít nhất thêm 10 năm nữa.

Cuộc cách mạng năng lượng hay dự án quảng bá?

Thành công trong việc khai thác được khí mêtan hydrat vừa qua được Trung Quốc đánh giá là “một bước tiến lịch sử”. Tuy nhiên, trang Sputnik (Nga) đặt câu hỏi liệu thành công này sẽ giúp Bắc Kinh tiến hành một cuộc cách mạng năng lượng hay đó chỉ là một dự án quảng bá?

Chuyên gia Nga Igor Iuskov thuộc Quỹ Quốc gia vì An ninh năng lượng cho rằng bước đầu trong quá trình khai thác khí mêtan hydrat có thể là một tiến bộ công nghệ của Trung Quốc trong một lĩnh vực cụ thể, nhưng đó không phải là một cú đột phát lịch sử trong lĩnh vực năng lượng. Chuyên gia Nga nhấn mạnh: “Trung Quốc thông báo thành công trong bước đầu chiết xuất băng cháy, nhưng lại im lặng về chi phí cho hoạt động này. Dĩ nhiên, điều này gây thắc mắc, vì vấn đề giá cả của nhiên liệu được khai thác là điều quan trong. Chỉ có giá, chứ không phải tiêu chí nào khác, cho phép đánh giá hiệu quả thương mại của công nghệ Trung Quốc và xa hơn là viễn cảnh khai thác băng cháy nói chung”.

Theo chuyên gia Nga, Bắc Kinh hiểu rằng một cuộc cách mạng công nghệ trong lĩnh vực khí mêtan hydrat có thể sẽ tác động hơn đến năng lượng thế giới so với sản xuất khí đá phiến (schiste). Ông Igor Iuskov nêu lên hai khả năng giải thích cho thông tin về thành công của Trung Quốc được truyền thông đăng tải: Thứ nhất, một thông tin như vậy phù hợp với chính sách của chính quyền Trung Quốc hiện nay. Thứ hai, Bắc Kinh đang bận tâm đến giá khí đốt ở nước ngoài.

Khí mêtan hydrat, nguồn năng lượng của tương lai?

Băng cháy được hình thành từ những phân tử mêtan nằm trong các phân tử nước kết tinh, thường được tìm thấy bên dưới lớp băng vĩnh cửu và tầng địa chất sâu dưới lòng đại dương. Tuy nhiên, quy trình khai thác loại năng lượng này khó khăn và rất tốn kém.

Khí mêtan được chiết xuất bằng cách nâng nhiệt độ, hoặc giảm áp lực, để phân giải các hydrat thành khí và nước. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, 1m3 mêtan hydrat có thể tỏa 164m3 khí mêtan và 0,83m3 nước. Hiện vẫn chưa có số liệu thống kê cụ thể về trữ lượng mêtan hydrat trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo Mỹ, trữ lượng loại khí này có thể lớn hơn cả “khối lượng của tất cả các nguồn năng lượng hóa thạch đã được biết” (như dầu mỏ, than đá…).

Các nhà nghiên cứu độc lập thì tỏ ra ngập ngừng trong việc đưa ra số liệu về quy mô của các mỏ băng cháy. Nhưng theo họ, số lượng các mỏ này rất lớn và có thể “làm thay đổi cán cân” đối với các nước có trữ lượng hạn chế về năng lượng hóa thạch truyền thống. Giảng viên Ingo Pecher, thuộc Đại học Khoa học, Đại học Auckland (Australia) nêu trường hợp điển hình của Nhật Bản: “Họ không có nhiều khí đốt và đối với họ, loại khí này có thể là một nguồn dự trữ quan trọng”. Quần đảo Nhật Bản bị lệ thuộc vào nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tự nhiên, vì phần lớn các nhà máy điện nguyên tử của nước này vẫn đang ngừng hoạt động từ 6 năm nay, sau thảm họa Fukushima.

Tiềm năng rất lớn

“Băng cháy” được phát hiện trên khắp thế giới, từ New Zealand đến Alaska, nhưng thách thức chính là phải tìm được những mỏ tập trung và có thể thâm nhập được. Rất nhiều nước có tham vọng khai thác được khí mêtan hydrat. Nhật Bản thông báo thành công trong việc khoan thăm dò ngoài khơi phía Đông nước này. Mỹ cũng đạt được kết quả khả quan trong những lần khoan thử ở vịnh Mexico.

Nhưng để sản xuất một cách khả thi về mặt kinh tế thì sẽ còn cần “khoảng 10 năm”, theo ước tính của ông Paul Duerlo, Tổng Giám đốc văn phòng cố vấn Boston Consulting Group, trụ sở tại Tokyo (Nhật Bản). Còn theo thẩm định của giới chuyên gia Trung Quốc, băng cháy có thể trở thành một nguồn năng lượng sinh lợi “trong khoảng những năm 2030”. Ông Duerlo giải thích: “Người ta biết các mỏ năng lượng này nằm ở đâu, người ta có công nghệ cần thiết, nhưng mức sản xuất từ các giếng này vẫn còn chưa khả thi về mặt thương mại do giá thành hiện nay”.

Theo Giáo sư An Khắc, thuộc khoa Địa lý và Quản lý nguồn tài nguyên, Đại học Hong Kong, một thách thức khác trong việc chiết xuất, đó là loại khí mêtan cũng có thể gây hiệu ứng nhà kính. Dẫu sao, loại nhiên liệu này vẫn là “tiềm năng lớn” nếu vượt qua được mọi cản trở về tài chính và công nghệ.

Nguồn: TKNB – 06/07/2017

Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long


Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong.

Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nước hạ nguồn sông.

Chỉ hai tháng sang khi Lào chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong (MRC) vào tháng 11/2016 về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20/12/2016, là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên dòng chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng như làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu USD/năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản

Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn.

Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers – IR), nhận định: “Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Mekong”.

IR là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng ĐBSCL. Ông nói: “Nếu đúng kế hoạch, việc xây dựng 11 đập ở Lào và Campuchia được tiếp tục thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về ĐBSCL nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở ĐBSCL, các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu xây dựng người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn tiếp tục giảm”.

Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở ĐBSCL vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào.

Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng ĐBSCL, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: “Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới ĐBSCL. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm vì phần lớn đất ĐBSCL là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng động, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bối bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao càng làm cho phù sa lên đồng gặp khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng”.

Hiện tại, Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. IR đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng ĐBSCL đã phải chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: “Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hồ sâu chẳng hạn là chỗ để cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long”.

MRC đã quá vội vã

Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến việc chuẩn bị xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự tính bán đến 90% điện sản xấut từ đập thủy điện sang Thái Lan.

Ngày 16/1, IR ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vàng với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995, theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo IR, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại: “Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn”.

Trả lời báo Người Đô thị ngày 22/2, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong.

Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Bà nói: “Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan, nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì Chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông”.

Từ năm 2010, các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông.

Tuy nhiên, kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. IR quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại qua 1nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nguồn: RFA

TKNB – 27/03/2017

Donald Trump muốn làm sống lại “Chiến tranh giữa các vì sao”


Robert Jules

Nhằm đối phó với Tổng thống Nga Vladimir Putin, Donald Trump muốn tăng cường kho vũ khí hạt nhân của Mỹ để cân bằng lại quan hệ quyền lực trên thế giới, phục hồi một chính sách răn đe hạt nhân và quay lưng lại với cách tiếp cận của Barack Obama.

Ngay trước đêm Giáng sinh, Tổng thống mới đắc cử của Mỹ Donald Trump đã phát đi một thông điệp trên Twitter  rằng “Mỹ phải củng cố mạnh mẽ và phát triển tiềm năng hạt nhân cho đến khi thế giới tái trở lại hợp lý mà liên quan đến vũ khí hạt nhân”. Trump đang theo bước chân của một trong những người tiền nhiệm của ông, Ronald Reagan, ngời đã tung ra cuộc chạy đua vũ trang tốn kém năm 1983, với tên gọi là “Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược – SDI” vẫn được biết đến với tên gọi “Chiến tranh giữa các vì sao” để nhằm hạ bệ Liên Xô. Giống như Reagan, Trump nghĩ rằng cần vượt xa hơn sự cân bằng của đối thủ, bằng cách trang bị vũ khí mới có thể tiêu diệt kẻ thù, hoặc ít nhất là kho tên lửa trước khi nó có thể vươn tới Mỹ.

Sự đáp trả của Vladimir Putin

Đương nhiên, thông điệp trên mạng xã hội Twitter của Trump là một sự đáp trả Putin. Trong một bài phát biểu, Tổng thống Nga công bố kế hoạch phát triển “hệ thống tên lửa có khả năng thâm nhập đáng tin cậy vào tất cả các hệ thống chống tên lửa hiện tại và tương lai”. Như thế, sự leo thang hạt nhân đang rõ ràng hơn trong giai đoạn hiện nay.

Ngay cải khi hai nhà lãnh đạo đã có ý giảm nhẹ những ý kiến của mình, thì đề xuất của họ vẫn là rõ ràng. Hai cường quốc hạt nhân, Nga (với 7300 đầu đạn) và Mỹ (6970 đầu đạn) tập trung tới 93% vũ khí hạt nhân hiện nay trên thế giới. Việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh hạt nhân rõ ràng phụ thuộc vào mối quan hệ giữa hai cường quốc này.

Tuy nhiên, nếu tính cả các đồng minh tương ứng của cả hai cường quốc hạt nhân thì cán cân có hơi nghiêng về phía Nga. Phía Mỹ thì ngoài Israel (với 80 đầu đạn), thì còn có Pháp (300 đầu đạn, đứng thứ ba thế giới) và Vương quốc Anh (với 215 đầu đạn). Bên phía Nga, Trung Quốc (260 đầu đạn), Pakistan (130 đầu đạn) và Ấn Độ (120 đầu đạn). Triều Tiên có thể được ghi nhận với 15 đầu đạn, nhưng chương trình hạt nhân của Triều TIên luôn là bí mật như của Trung Quốc và Iran, thì tổng số củaphe Nga còn có thể cao hơn.

Mối liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu hạt nhân quân sự và dân sự

Ngoài ra còn có một khía cạnh khác liên quan đến hồ sơ này. Với cách nhìn về sự liên kết chặt chẽ giữa chương trình hạt nhân dân sự và quân sự, và cần lưu ý rằng nhiều nền kinh tế mới nổi đang có xu hướng ủng hộ hạt nhân. Năng lượng nguyên tử có lợi thế độc lập về năng lượng, có thể cung cấp lượng điện năng đáng kể, thúc đẩy phát triển kinh tế (nhưng rất khó để xử lý chất thải hạt nhân), và có thể (được tuyên bố) phục vụ cuộc chiến chống lại sự nóng lên toàn cầu. Hiện trên thế giới có 437 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động, chủ yếu là ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Nhưng đã có 66 lò phản ứng đang được xây dựng, chủ yếu ở châu Á (25 ở Trung Quốc, và Trung Quốc đang muốn tăng gấp đôi công suất sản xuất điện hạt nhân). Trong 166 dự án điện hạt nhân đã công bố, thì chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ và cả ở Trung Đông.

Iran vẫn luôn bị nghi ngờ muốn phát triển vũ khí hạt nhân dưới vỏ bọc của một chương trình điện hạt nhân dân sự lớn, và Iran đã sở hữu các máy ly tâm thế hệ mới. Ngày 10/1 tới, một cuộc họp sẽ được tổ chức để xem xét việc thực hiện các thỏa thuận hạt nhân giữa Iran và các cường quốc do Mỹ dẫn đầu để xem xét quyết định dỡ bỏ hoặc củng cố các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iran. Cần nhớ rằng thỏa thuận về hạt nhân Iran đã bị Donald Trump hứa bãi bỏ.

“Bảo vệ nước Mỹ”

Cuối cùng, thông điệp của Trump có thể không chỉ dành riêng cho người Mỹ mà còn cho cả các quốc gia khác. Mỹ sẽ tiếp tục các chương trình hạt nhân dân sự và quân sự của mình để duy trì lợi thế về công nghệ và ưu thế quân sự “để bảo vệ nước Mỹ”. Điều mà vị tổng thống Mỹ tương lai không bao giờ quên nhắc nhở mình.

Nguồn: La Tribune – 27/12/2016

TKNB – 29/12/2016