Nguy cơ “thiếu điện” ở Việt Nam: phát triển thủy điện, nhiệt điện vô tội vạ và những hệ lụy – Phần cuối


Mua điện của Trung Quốc, trả tiền để nhận thêm họa?

Điện là một loại hàng hóa. Nguồn, phương thức phân phối, giá bán hàng hóa gây tác động trực tiếp đến kinh tế – xã hội, quyết định mức độ phát triển của một quốc gia nên điện trở thành hàng hóa đặc biệt. Sản xuất – cung ứng điện được xem là một yếu tố quan trọng phải tính kỹ để duy trì và bảo vệ an ninh năng lượng.

Dù liên quan tới an ninh năng lượng, nhưng nhập khẩu điện (mua điện của nước ngoài) là điều bình thường, thậm chí rất nên tiết giảm vốn đầu tư, gia tăng khả năng cung ứng, hạ giá bán, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Mua điện của Trung Quốc, Lào sẽ không phải là chuyện cần bận tâm, đáng bàn nếu…

Đồng bằng sông Cửu Long không… còn

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa của Việt Nam – đang ngắc ngoải. Sông rạch chằng chịt, nhưng khu vực này đang thiếu nước ngọt cho cả sản xuất lẫn sinh hoạt. Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL không còn dồi dào như trước, mực nước của hệ thống sông rạch tụt xuống là lý do nước mặn từ biển xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền. Cách đây 3 năm, nước mặn lấn sâu vào sông rạch tới 90 km. Ruộng thiếu nước, vườn thiếu nước, con người cũng thiếu nước ăn, uống, tắm, giặt, phải khai thác nước ngầm và bề mặt sụt lún. Nếu bề mặt tiếp tục sụt lún và nước biển tiếp tục dâng lên, phần lớn ĐBSCL sẽ biến mất.

Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL giảm đáng kể cũng là lý do đất đai cằn cỗi vì không được phù sa bù đắp, lượng cát sỏi cũng giảm dần, đây cũng là lý do sạt lở xảy ra khắp nơi. Theo các thống kê đã công bố, mỗi năm, sạt lở làm ĐBSCL mất khoảng 300 ha. Khu vực này hiện có 564 điểm sạt lở cả ở bờ sông (512 điểm) lẫn bờ biển (52 điểm). Chi phí chống sạt lở dù tính bằng tiền tỷ, nhưng những tỷ đồng đó cũng đổ xuống sông, biển vì chính đê bao, kè biển bị xói mòn. Có nhiều lý do dẫn tới thảm cảnh này: khai thác cát quá mức, số công trình ven bờ gia tăng tác động tới nền địa chất vốn yếu ớt,… song các chuyên gia vẫn khẳng định, nguyên nhân chính vẫn là sự suy giảm lượng nước, lượng phù sa từ thượng nguồn.

Tiến sĩ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ lưu ý: Có những thứ độc quyền của ĐBSCL vĩnh viễn biến mất. Trước tiên phải kể đến vỉa than bùn của vùng U Minh, từ hơn 8000 ha với chiều dày hơn 2 mét, nay chỉ còn lỏm chỏm trong vùng U Minh Hạ và trong vường quốc gia U Minh Thượng với chiều dày chỉ còn khoảng 1 mét và có nguy cơ mất dấu theo thời gian vì mực nước ở các vùng này mỗi năm mỗi kiệt hơn.

Thông qua hệ thống truyền thông Việt Nam, những chuyên gia như Tiến sĩ Lê Anh Tuấn – Viện Phó Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) từng nhiều lần lưu ý rằng, việc các nhà máy thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong tích nước cho việc phát điện trong mùa khô là một trong những lý do chính gây ra đủ thứ họa cho ĐBSCL. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia độc lập về ĐBSCL và thủy điện Mekng từng lặp đi lặp lại rằng các đập thủ điện ở Trung Quốc đã làm giảm 50% lượng phù sa lẽ ra ĐBSCL có thể nhận được hàng năm, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến độ màu mở của đất đai, sự phát triển của nông nghiệp mà còn gia tăng mức độ sạt lở bờ sông, bờ biển. Không chỉ dẫn đầu trong việc chặn dòng Mekong để phát triển thủy điện (từ cuối thập niên 1990 đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất 5/7 dự án theo kế hoạch khai thác đoạn Mekong trên lãnh thổ Trung Quốc), Trung Quốc còn đầu tư vào Lào, Campuchia để phát triển thủy điện trên đoạn Mekong chảy qua hai quốc gia này và cho họ vay vốn để phát triển các công trình thủy điện. Nếu kế hoạch này hoàn tất, năm 2030, đoạn Mekong chảy qua Lào và Campuchia trước khi đổ vào Việt Nam sẽ có thêm 12 công trình thủy điện nữa!

Các tổ chức bảo vệ sông ngòi, môi trường quốc tế đã lên tiếng nhiều lần, cố gắng thuyết phục cả Trung Quốc, Lào, Campuchia rằng, phát triển các công trình thủy điện trên dòng Mekong là hủy diệt cả nông nghiệp, ngư nghiệp lẫn tương lai toàn bộ khu vực thuộc lưu vực Mekong nhưng không hiệu quả. Chẳng riêng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng cũng bị đe dọa khi Trung Quốc đang và sẽ xây dựng các công trình thủy điện trên thượng nguồn sông Hồng, sông Đà đoạn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc.

Trong bối cảnh như hiện nay, ý tưởng hỏi mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để thiên hạ tích cực hơn trong việc tạo thêm họa cho mình. Mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để nhận thêm họa?

Ngoài nguồn từ thủy điện, Trung Quốc đang phát triển nguồn điện từ các nhà máy điện hạt nhân để thay thế hệ thống nhà máy đốt than phát điện. Trung Quốc đang hỗ trợ Việt Nam cả về vốn lẫn công nghệ để đừng “thiếu điện”!

Năm 2016, dân chúng Việt Nam xôn xao khi có tin Trung Quốc xây dựng 3 nhà máy điện hạt nhân sát biên giới Việt Nam (một ở Quảng Tây – Nhà máy Phòng Thành cách Móng Cái chỉ 50 km; một ở Quảng Đông – Nhà máy Trường Giang cách Hải Phòng khoảng 100 km; một trên đảo Hải Nam – Nhà máy Xương Giang), cách nhiều điểu ở Việt Nam khoảng 200 km. Đến giữa năm 2017, cả 3 nhà máy đều đã vận hành từ 2 đến 3 tổ máy phát điện và tiếp tục xây dựng thêm những tổ máy khác. Do khoảng cách giữa 3 nhà máy trên với biên giới Việt – Trung, theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam phải lập kế hoạch ứng phó mở rộng (EPD – bán kính mở rộng đến 100 km), hoặc lập kế hoạch theo dõi nhiễm xạ đối với thực phẩm và hàng hóa ICPD (bán kính mở rộng 300 km).

Từ sự lo âu của dân chúng Việt Nam, tháng 4/2017, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam loan báo đã liên lạc với giới hữu trách Trung Quốc để thảo luận về 3 nhà máy điện hạt nhân trên. Lúc đó, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khải, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cho biết, hai bên đã thảo luận về việc soạn thảo Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa các cơ quan hữu trách của hai bên nói riêng và ngành năng lượng hạt nhân nói chung. Khi đặt vấn đề về việc hợp tác xây dựng mạng quan trắc và kế hoạch ứng phó tầm mức quốc gia khi xảy ra sự cố – một trong những nội dung quan trọng trong hợp tác, thì phía Trung Quốc lại không tán thành và bỏ đi!

Khi được đề nghị cho ý kiến về sự hiện diện của các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc tọa lạc sát biên giới Việt – Trung, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hùng Võ cho rằng: Việt Nam từng dự định làm điện hạt nhân nhưng cuối cùng Quốc hội quyết định ngưng, vì sự thật là đến nay, điện hạt nhân vẫn là thứ không bảo đảm an toàn. Còn chuyện Trung Quốc làm điện hạt nhân thì Việt Nam không có cách nào bắt họ dừng được….

Việt Nam không có cách nào khiến Trung Quốc ngưng phát triển các nhà máy điện nguyên tử về phía Nam theo kế hoạch của Trung Quốc. Đàm phán mua điện của Trung Quốc là một ý tưởng góp phần thúc đẩy viễn cảnh sẽ sớm có thêm nhiều nhà máy điện hạt nhân gần lãnh thổ Việt Nam hơn.

Nguồn: TKNB – 05/07/2019

Advertisements

Nguy cơ “thiếu điện” ở Việt Nam: phát triển thủy điện, nhiệt điện vô tội vạ và những hệ lụy – Phần đầu


Theo đài RFA, tác hại của phong trào xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, rồi phong trào phát triển hệ thống nhà máy đốt than phát điện (nhiệt điện than) đối với môi trường, kinh tế – xã hội đã rõ. Cả hai cùng là “con đẻ” của cảnh báo “thiếu điện”.

Cuối thập niên 1990, cảnh báo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về viễn cảnh “thiếu điện” đã mở đường cho phong trào xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ở cả vùng rừng núi phía Bắc lẫn rừng núi miền Trung và Tây Nguyên trong thập niên 2000.

Năm 2013, Chính phủ Việt Nam công bố một bản báo cáo, theo đó, Việt Nam có hơn 1500 dự án thủy điện vừa và nhỏ. Theo tính toán của các chuyên gian, mỗi dự án thủy điện vừa và nhỏ ngốn khoảng 59 ha rừng.

Chẳng phải dân chúng, báo giới và các đại biểu Quốc hội cũng đồng thanh chỉ trích: Phát triển thủy điện vừa và nhỏ thực chất chỉ là tổ chức cấp giấy phép phá rừng! Cũng vì vậy, tháng 9/2013, Chính phủ Việt Nam loan báo không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí được xem là có “tiềm năng thủy điện”. Loại ra khỏi quy hoạch 424 dự án thủy điện bị xem là sẽ gây nguy hại ở mức nghiêm trọng cho môi trường và xã hội. Ra lệnh tạm dừng khởi công 136 dự án thủy điện đã được phê duyệt.

Tính đến thời điểm đó, theo quy hoạch đã được phê duyệt, Việt Nam vẫn còn 815 dự án thủy điện, trong đó có 286 dự án đã hoàn thành, 205 dự án đang xây dựng, hơn 300 dự án sẽ khởi công. “Thiếu điện” nên cần phát triển các dự án thủy điện từ bậc thang vừa tới nhỏ đã tạo điều kiện ch các nhà đầu tư “nuốt” khoảng 48000 ha rừng.

Gia tăng nguồn điện từ các ự án thủy điện tỷ lệ thuận với gia tăng thiệt hại do thiên tai: Lũ quét nhiều hơn, dễ lụt và lụt nặng hơn trong mùa mưa, hạn hán trầm trọng hơn trong mùa khô. Thiệt hại về người, tài sản do thời tiết dị thường mà từ chuyên gia tới dân chúng cùng tin là hậu quả của phong trào phát triển thủy điện tăng dần chứ không giảm.

Tháng 7/2018, tờ Nông nghiệp Việt Nam thực hiện một phóng sự, chứng minh hạn hán dị thường, lũ lụt dị thường, người chết, mùa màng thất bát, hàng trăm nghìn gia đình trắng tay, hệ thống hạ tầng hư hại nặng nề, thiệt hại về người, tài sản càng ngày càng cao đều do “một thủ phạm giấu mặt” gây ra. Tờ báo đã vạch mặt thủ phạm: đó là thủy điện!

Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về môi trường nói: “Thủy điện làm chặn phù sa và chặn đường cá đi. Trong mùa lũ, thủy điện xả lũ sẽ khiến lũ chồng lũ; còn trong mùa hạn hán, thủy điện tích nước làm gia tăng hạn hán; chặn đường cá đi, cá không di cư sinh sản được, chặn cát và phù sa mịn khiến bờ biển, đáy biển (sông) thiết cát gây sạt lở, ảnh hưởng nông nghiệp…”.

Sau giai đoạn phát triển ồ ạt thủy điện, EVN tiếp tục cảnh báo sẽ lại “thiếu điện”. Đầu thập niên 2010, EVN soạn và trình Chính phủ Quy hoạch điện 7. Quy hoạch điện 7 xác định Việt Nam sẽ bảo đảm nguồn điện bằng cách phát triển các nhà máy đốt than phát điện. Theo quy hoạch này, Việt Nam sẽ xây dựng các trung tâm nhiệt điện than ở Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Kiên Lương (Kiên Giang)…

Kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy điện nằm dọc bờ biển Việt Nam, suốt từ Bắc vào Nam đã bị các chuyên gia xem là “nỗ lực hủy diệt biển”. Than là nguồn nhiên liệu hóa thạch bẩn nhất và ô nhiễm nhất. Đốt than để sản xuất điện sẽ tạo ra nhiều loại khí độc, phóng thích nhiều kim loại nặng làm ô nhiễm cả nguồn nước mặn lẫn người nước ngầm, đất, chưa kể than còn tạo ra tro, xỉ… Báo chí Việt Nam thi nhau dẫn các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các đại học, cảnh báo đốt than phát điện là nguyên nhân dẫn tới đủ loại ung thư, nhiễm độc thần kinh, dị tật cho thai nhi… Vì các nhà máy nhiệt điện dùng than của Việt Nam đều được sắp đặt cạnh biển, biển Việt Nam dự báo sẽ ô nhiễm nặng nề, không còn nguồn lợi hải sản nào.

Cuối năm 2018, tờ Tuổi Trẻ, loan báo, khoảng 3 năm nữa, Việt Nam hết chỗ chứa tro xỉ than o các nhà máy nhiệt điện dùng than thải ra. Hệ số phát thải tro xỉ của Việt Nam gấp 4,7 lần so với Nhật Bản. Tỷ lệ than dư trong tro xỉ gấp khoảng 5 lần so với thế giới, tỉ lệ này càng cao thì nguy cơ sử dụng tro xỉ để san lấp, làm vật liệu xây dựng cho môi trường và sức khỏe con người càng lớn. Chưa đầy 10 năm, Việt Nam đã qua mặt Australia, Nhật Bản, Canada, hiện diện trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới về phát thải tro xỉ!

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu về biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) cho biết: “Nhiệt điện ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường, nhất là khi phát thải lượng khí nhà kính lớn, tác động ô nhiễm không khí; nhà máy nhiệt điện còn phát thải tro xỉ khó xử lý và sử dụng lượng nước lớn để làm mát hệ thống nên nước thải cảu nó không như nước bình thường làm ảnh hưởng các loài vi sinh vật và hệ sinh thái. Ngoài ra, hoạt động phát thải của các nhà máy nhiệt điện cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Riêng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn, rất nhạy cảm đối với sự thay đổi về môi trường nên sẽ bị tác động đáng kể đến sản xuất nông nghiệp và thủy sản”.

Tuyên bố của EVN khi vừa vay vốn, vừa mời gọi Trung Quốc đầu tư vào lĩnh vực đốt than phát điện (khi Trung Quốc – quốc gia dẫn đầu thế giới về tỉ lệ than dư trong tro xỉ, từ 5 – 15%) với bảo đảm khi phát triển hệ thống nhà máy đốt than tại Việt Nam chỉ sử dụng công nghệ tiên tiến, sạch của Trung Quốc dẫn đến hậu quả cả hai lần dân chúng huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận) nổi loạn (một lần vào tháng 4/2015, một lần vào tháng 6/2018) đều xuất phát từ sự bất bình do phải gánh chịu ô nhiễm quá mức chịu đựng từ Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân. Theo quy hoạch, trung tâm này có 5 nhà máy đốt than phát điện. Hiện mới chỉ có 3/5 nhà máy vận hành (Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4), 2/5 nhà máy (Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 mở rộng) đang xây dựng, nhưng Tuy Phong đã trở thành một “thùng thuốc súng”, thêm hai nhà máy nữa, “thùng thuốc súng” có thể nổ nhiều lần nữa.

Tác hại của việc phát triển các nhà máy nhiệt điện đối với môi trường, kinh tế – xã hội càng lúc càng rõ. Tháng 8/2018, chính quyền tỉnh Long An chính thức từ chối sử dụng công nghệ đốt than phát điện của tỉnh này. Tuy Bộ Công Thương đã tìm nhiều cách ép chính quyền tỉnh Long An chấp nhận xây dựng các nhà máy đốt than theo đúng tinh thần quy hoạch điện 7, nhưng Long An dứt khoát từ chối.

Xây dựng các nhà máy đốt than phát điện bằng công nghệ Trung Quốc, dùng vốn Trung Quốc dường như không còn hợp thời nữa, có thể vì thế, theo sau cảnh báo “thiếu điện” mới nhất, EVN vừa vạch ra một con đường mới: Mua điện của Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 05/07/2019

Khai thác dầu khí chung ở Biển Đông và mưu đồ của Trung Quốc


Mưu đồ của Trung Quốc khi thúc đẩy hoạt động khai thác dầu khí chung ở biển Hoa Nam (Biển Đông) với các nước Đông Nam Á là gì? Hậu quả rộng lớn hơn đối với địa chính trị khu vực sẽ là gì? Những câu hỏi này được 2 chuyên gia chiến lược và chính sách châu Á là Eufracia Taylor và Hugo Brennan, đến từ cơ quan tư vấn rủi ro toàn cầu Verisk Maplecroft, giải đáp.

Khai thác chung và mưu đồ của Trung Quốc

Việc khẳng định chủ quyền đối với các thực thể tranh chấp ở Biển Đông chỉ là tên của một ván bài và Bắc Kinh coi hoạt động khai thác dầu khí chung là một công cụ chính sách quan trọng để theo đuổi ván bài này. Các tín hiệu của việc các nước có tuyên bố chủ quyền đang đàm phán với Bắc Kinh để khai thác chung tài nguyên ở chính Vùng đặc quyền kinh tế của họ giúp hợp thức hóa cái mà Bắc Kinh gọi là “đường 9 đoạn”. Trung Quốc đang thực hiện chiêu bài “cây gậy và củ cà rốt”. Ví dụ, một mặt, Trung Quốc phản đối Việt Nam về kế hoạch khai thác dầu khi đơn phương ở vùng lãnh hải mà Bắc Kinh cho là của họ, thậm chí có tin tức còn nói rằng Bắc Kinh đe dọa sử dụng vũ lực đối với Hà Nội. Mặt khác, Bắc Kinh lại triển khai những nỗ lực khai thác chung, được đóng khung trong một ngôn từ hoa mỹ là quan hệ đối tác và được xây dựng trên những cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, vốn và đầu tư ở quy mô sâu rộng hơn, lại giúp nâng cao vị thế của Bắc Kinh là một đối tác quan trọng chứ không phải là một nước thù địch.

Tại sao Brunei và Philippines lại ký bản ghi nhớ chung với Trung Quốc về khai thác dầu khí?

Các nước Đông Nam Á và các nhà khai thác dầu khí tiềm năng đối mặt với những rủi ro địa chính trị đáng kể do những tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á nhỏ hơn lại có những nhu cầu cấp bách trong nước về phát triển năng lượng trong tương lai. Cả Brunei và Philippines đều đang có bước đi theo chiều hướng chủ nghĩa thực dụng và dường như sẵn sàng bỏ qua những yêu cầu chủ quyền gây tranh cãi của mình để thực hiện các mục tiêu trong nước. Bản ghi nhớ chung giữa Philippines và Trung Quốc được hai bên ký kết trong bối cảnh Manila đang có những quan ngại về an ninh năng lượng, như tình trạng khai thác ngoài khơi èo uột trong nhiều năm qua, suy giảm đầu tư, cạn kiệt tài nguyên ở mỏ Malampaya và nhu cầu tăng doanh thu nhà nước. Manila cũng sẽ thúc đẩy triển khai dự án nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng trị giá 2 tỷ USD, một dự án đánh dấu một hình thái đáng kể cho mối quan hệ hợp tác Trung Quốc – Philippines và mối quan hệ này đang nuôi dưỡng mối quan hệ đối tác rộng lớn hơn về lĩnh vực năng lượng giữa hai bên.

Brunei lâu nay thường im ắng dù là một bên có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Những hy vọng rằng các khoản đầu tư lớn hơn của Trung Quốc sẽ giúp khôi phục tăng trưởng và đa dạng hóa nền kinh tế cũng như đem lại vị thế chính trị cho chính quyền dường như đang là lá bài của vương quốc này đối với các vấn đề về Biển Đông.

Kế hoạch của Trung Quốc về phát triển các nguồn năng lượng ở Biển Đông có bối cảnh chiến lược như thế nào?

Bối cảnh chiến lược ảnh hưởng sự phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường ở Biển Đông là một Trung Quốc đang trỗi dậy, ngày càng có khả năng và sẵn sàng theo đuổi các tuyên bố quyền chủ quyền mà Bắc Kinh tự “khoanh” cho mình ở vùng “đường 9 đoạn”, thì việc khai thác chung ở các vùng lãnh hải tranh chấp cũng xuất phát từ chính những quan ngại an ninh của Bắc Kinh. Trung Quốc đang ngày càng lệ thuộc vào lượng dầu khí nhập khẩu mà nước này lo ngại rằng có thể xảy ra tình trạng gián đoạn vì một lý do nào đó. Vì vậy, việc khai thác chung các nguồn dầu khí ngoài Biển Đông là một lựa chọn chiến lược của Bắc Kinh.

Các nước Đông Nam Á muốn đơn phương khai thác dầu khí ở vùng tranh chấp phải đong đếm những rủi ro địa chính trị không chịu “nghe lời” Trung Quốc, một đối tác đầu tư và thương mại chính của họ vốn sẵn sàng dùng vũ lực để đe dọa và khẳng định các tuyên bố chủ quyền của mình. Mỹ cũng đã tỏ ra chẳng hứng thú gì khi bảo vệ quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên mà các nước Đông Nam Á tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông có được theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.

Trong hơn 20 năm qua, Trung Quốc và các nước thuộc ASEAN đã thảo luận về khả năng hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Thế nhưng COC sẽ không thể giải quyết được những tuyên bố chủ quyền chồng lấn mà chỉ nhằm giúp đưa ra một số quy tắc và luật lệ được hai bên cùng nhất trí nhằm giúp ngăn tranh chấp Biển Đông leo thang căng thẳng.

Việc công bố văn bản dự thảo đàm phán hồi tháng 8/2018 là một bước đi quan trọng dẫn đến một số ẩn ý chính sách đáng lưu tâm. Quan trọng nhất là việc Washington bày tỏ quan ngại về các điều khoản dự thảo do Trung Quốc đưa ra nhằm đặt ra giới hạn cho các bên liên quan COC trong việc tiến hành các cuộc tập trận chung với các đối tác an ninh bên ngoài và ngăn chặn các công ty dầu khí từ các nước thứ ba tiến hành khai thác ở vùng lãnh hải tranh chấp. Tuy nhiên, các bên dường như phải trải qua cả một chặng đường dài mới có thể đạt được một thỏa thuận cuối cùng và có thể sẽ có nhiều thay đổi xảy ra.

Vấn đề an ninh năng lượng của Trung Quốc ở Đông Nam Á có thể ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực như thế nào?

Bắc Kinh coi Biển Đông là vùng biển chiến lược đối với những lợi ích an ninh của mình, xét về khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, song quan trọng hơn, Bắc Kinh coi đây là tuyến hải vận trung chuyển dầu khí nhập khẩu của mình từ Trung Đông và châu Phi. Ý nghĩa chiến lược của vùng biển này giải thích vì sao Bắc Kinh lâu nay triển khai các hoạt động quân sự hóa các thực thể tranh chấp ở Biển Đông. Sự thành công trong chiến lược “lát cắt salami” của Bắc Kinh là rõ ràng khi Đô đốc hải quân Mỹ Philip S. Davidson, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của hải quân Mỹ, thừa nhận Trung Quốc hiện có thể kiểm soát Biển Đông trong mọi viễn cảnh nếu xảy ra một cuộc chiến. Sự thừa nhận này là một cú đấm chí mạng vào vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực, trong khi đó, Washington lại chưa thể vạhc ra được một chiến lược thống nhất về vấn đề Biển Đông để có thể đảo ngược những lợi ích chiến lược mà Bắc Kinh đã đạt được ở vùng lãnh hải này.

Nguồn: The Diplomat

TKNB – 14/12/2018

An ninh năng lượng cho Việt Nam


Phó Thủ tướng Việt Nam, ông Trịnh Đình Dũng, tại buổi làm việc ngày 11/7 với Bộ Công Thương, nơi quản lý ngành điện Việt Nam đã phát biểu: “Yêu cầu năng lượng để đảm bảo an ninh quốc gia, đặc biệt là điện, rất lớn. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư, rồi cơ chế chính sách, nhu cầu bảo vệ môi trường,… đang là những thách thức rất lớn để chúng ta thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an toàn an ninh năng lượng của chúng ta, đặc biệt là lĩnh vực điện”.

Trong bài phát biểu này, ông Trịnh Đình Dũng cũng nêu lên những con số về nhu cầu năng lượng của Việt Nam trong tương lai. Ông kết luận rằng nếu không có một “cơ chế đột phá” thì sẽ không đảm bảo được an ninh năng lượng cho quốc gia.

Theo ông Trịnh Đình Dũng, sắp tới, Việt Nam sẽ phát triển các loại năng lượng tái tạo như điện gió và điện mặt trời, và mua điện từ nước Lào láng giềng.

Nhận định về buổi họp này, Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Huy Vũ, hiện đang sống và làm việc tại Na Uy cho rằng có vẻ như Việt Nam đang bế tắc trong chiến lược năng lượng của mình.

Trong khi đó, Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, một người nghiên cứu chính trị Việt Nam từ Singapore, cho rằng Chính phủ Việt Nam cũng đã có những dự tính cụ thể cho việc phát triển điện năng của mình. Theo Tiến sĩ Hợp, cuối năm nay, Việt Nam có thể sẽ quyết định không xây dựng những nhà máy nhiệt điện nữa từ năm 2019, trừ những nhà máy đã được lên kế hoạch. Ngoài ra, cũng theo ôngợp, Việt Nam đã cấp giấy phép cho 31 dự án sản xuất điện gió tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

Vấn đề phí tổn môi trường

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, hiện làm việc tại Trung tâm nghiên cứu biến đổi khí hậu tại Đồng bằng Sông Cửu Long, cho rằng việc tìm giải pháp để vừa đảm bảo năng lượng điện cho Việt Nam, nhưng đồng thời tránh gây ô nhiễm bởi các nhà máy điện chạy bằng than là một vấn đề rất nan giải. Ông Anh Tuấn nói: “Bây giờ, vấn đề là cân nhắc giữ tỉ lệ điện than có thể chấp nhận được là bao nhiêu, và tính đến các loại năng lượng tái tạo khác. Phải chấp nhận giá điện cao hơn. Đây là một bài toán khó cần phải giải quyết”.

Nói về việc Việt Nam sẽ xúc tiến mua điện từ Lào, ông Tuấn cho rằng đây là một việc làm có thể lợi bất cập hại, vì nó sẽ thúc đẩy nước Lào phát triển thủy điện trên dòng chính của sông Mekong, vốn đã và đang gây hại cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam.

Ông đề ra biện pháp tiết kiệm điện là loại bỏ những ngành công nghiệp tiêu tốn điện năng quá nhiều nhưng lại không có hiệu quả kinh tế, và gây ô nhiễm cao như là đóng tàu và luyện kim.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, cũng như nhiều chuyên gia khác đều đồng ý rằng xây dựng những nhà máy điện chạy bằng than có điểm lợi là giá thành rẻ, tuy nhiên những phí tổn về môi trường sẽ rất lớn trong tương lai.

Nhận định về những dự án nhà máy điện than, đặc biệt là 14 nhà máy tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục được thực hiện. Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói: “Quan điểm cá nhân của tôi là không xây dựng những nhà máy nhiệt điện than. Đặc biệt là những vùng nhạy cảm như Đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, trong những trường hợp bức bách quá, phải chấp nhận một số nhà máy với những điều kiện kỹ thuật nào đó, và phải tăng chuyện giám sát, cũng như các kỹ thuật giảm bớt sự phát thải. Phải cân nhắc rất kỹ vị trí đặt nhà máy với các vùng sản xuất xung quanh. Việc này cần phải có sự kiểm tra, đánh giá của các chuyên gia độc lập khác nhau”.

Tuy nhiên, để xây dựng những nguồn năng lượng tái tạo, như điện gió và điện mặt trời, trong tình hình hiện nay là rất tốn kém.

Tìm ở đâu nguồn vốn cho việc này?

Ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng cần phải tư nhân hóa ngành điện, không để cho nhà nước nắm độc quyền sản xuất và phân phối điện như hiện nay để có thể tạo nên sự cạnh tranh. Ông đưa ra 2 mô hình có thể áp dụng cho Việt Nam để có thể thu hút vốn vào lĩnh vực năng lượng tái tạo. Ông Vũ nói:

Mô hình Solar City ở Mỹ là họ có chính sách mua lại điện của người dân, công ty ký hợp đồng với người dân để lắp những tấm pin mặt trời lên mái nhà người dân, người dân dùng không hết thì bán lại điện đó. Cách thứ hai là bên Israel làm. Một công ty trong nước có thể kêu gọi một công ty nước ngoài đầu tư chung với mình Rồi chính phủ cũng là một cổ đông. Tổ hợp đó có thể hoạt động trong vòng 5 năm chẳng hạn, 2 công ty đó có thể mua lại cổ phần của chính phủ với giá ưu đãi. Đó là một cách gọi là Yozma bên Israel làm được mấy chục năm rồi”.

Theo ông Vũ, mô hình Yozma đã giúp Israel huy động được vốn không chỉ trong lĩnh vực năng lượng mà còn trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật cao khác.

Vấn đề an ninh

Ngoài vấn đề công suất điện phải đủ để đảm bảo nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, an ninh năng lượng còn được hiểu như là phải đảm bảo nguồn cung cấp nhiêu liệu không gián đoạn, cũng như lưới phân phối điện không bị hư hỏng.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói rằng khi Việt Nam phát triển năng lượng gió và mặt trời sẽ đảm bảo được an ninh như vậy, chứ không phụ thuộc vào nguồn cung cấp than đá đối với nhiệt điện, hay nguyên liệu hạt nhân cho điện hạt nhân. Một điều đặc biệt nữa, ông Tuấn nhấn mạnh là các trung tâm điện gió và mặt trời sẽ cho phép tổ chức mạng lưới điện theo mô hình phi tập trung, không hao tốn điện năng trên đường truyền tải, và trong trường hợp một trung tâm bị hư hỏng sẽ không ảnh hưởng tới những vùng khác.

Mô hình này đã được kỹ sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một chuyên gia về điện, sống tại Pháp, đề nghị với chính phủ Việt Nam cách đây hơn 20 năm, khi ông phản đối dự án xây dựng đường dây truyền tải điện xuyên Bắc Nam.

Tuy nhiên, hiện nay lại có một vấn đề an ninh khác rất nhạy cảm được đặt ra khi Việt Nam phát triển các trang trại điện gió và mặt trời, đó là Trung Quốc.

Theo những thông tin của Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, hiện nay, Trung Quốc đang mua nhiều trang trại điện gió và mặt trời tại Việt Nam, trực tiếp và gián tiếp qua Hong Kong, Thái Lan, Singapore.

Nhận xét về hiện tượng này, ông Lê Anh Tuấn và ông Nguyễn Huy Vũ cho rằng mặc dù vấn đề Trung Quốc là nhạy cảm, nhưng việc họ có thể có mặt để kinh doanh điện gió và mặt trời ở Việt Nam không gây ra nhiều vấn đề an ninh năng lượng như là phụ thuộc vào nguồn cung cấp nhiên liệu từ bên ngoài.

Ông Nguyễn Huy Vũ nói rằng, trong cơ chế thị trường, Việt Nam hông thể cấm người Trung Quốc mua bán, nhưng Việt Nam có thể học theo cách người Mỹ là bác bỏ những dự án nào người Trung Quốc nếu xét thấy nó nguy hại cho an ninh quốc gia. Ông Lê Anh Tuấn cho rằng mặc dù ông thấy chuyện Trung Quốc sở hữu những trang trại điện gió và mặt trời tại Việt Nam không đến nỗi nguy hại, nhưng ông cũng nêu ý kiến là không đồng tình với việc này.

Nguồn: RFA

DLTGVVN – 20/07/2018

Lào – “Cục pin ở châu Á”


Theo đài BBC, Lào ồ ạt ây đập dọc sông Mekong để bán điện cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam, bất chấp cảnh báo về các mối nguy cho an sinh của cộng đồng.

Thời bái Vientiane dẫn lời Tỉnh trưởng Attapeu, ông Bounhom Phommasane, cho biết 19 người chết, hơn 100 người mất tích và hàng ngàn người đang chờ được cứu sau vụ vỡ đập thủy điện Sepien Senammoi, huyện Sanamxay của tỉnh này.

Lợi và hại từ tham vọng biến Lào thành “cục pin”

Theo Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế, các đập thủy điện trên sông Mekong có thể dẫn tới nguy cơ giảm 30 – 40% sản lượng đánh bắt được vào năm 2040, giảm sản lượng nông nghiệp, kéo theo đói nghèo và làm tăng mức độ dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu của các nước ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có Việt Nam.

Theo Vietnamnet, trong số các đơn vị thi công đập thủy điện Sepien Senammoi có công ty Cổ phần Xây dựng và nhân lực Việt Nam (CMVietnam).

Sau khi hoàn thành, 90% sản lượng điện sản sinh từ dự án sẽ được bán cho công ty EGAT Thái Lan và 10% còn lại bán cho công ty điện EDL của Lào. Không thấy nhắc đến khách hàng Việt Nam trong dự án xây đập này, nhưng trên thực tế, Việt Nam đã và đang mua điện từ các đập thủy điện của Lào.

Theo The Diplomat, trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4/2018, Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Lào Khammany Inthirath đã gặp Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh để bàn việc hợp tác xuất khẩu điện của Lào cho Việt Nam và đã thảo luận việc xây dựng các khung pháp lý và hạ tầng để thực hiện.

Thực tế là Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu điện. Theo ước tính, sản lượng điện cần nhập khẩu vào Việt Nam tăng hơn 37,5% vào năm 2025 và tăng lên 58,5% vào năm 2035.

Theo tờ The Strait Times (Singapore), Lào có tham vọng trở thành “cục pin xạc” của châu Á (the battery of Asia), với nhiều dự án xây đập thủy điện có vốn đầu tư nước ngoài dịc hệ thống sông ngòi nước này.

The Nikkei Asian Review, trong khi châu Âu lưỡng lự đầu tư vào các dự án thủy điện ở Lào do lo ngại ảnh hưởng tới nguồn cá ở khu vực sông Mekong thì các nước khác như Thái Lan, Trung Quốc lại đầu tư ồ ạt vào lĩnh vực này tại Lào.

Tờ The Diplomat cho rằng Lào có khát vọng trở thành nhà xuất khẩu điện lớn nhất trong khu vực. Hiện nay, các đập thủy điện ở Lào có công suất 6000 MW. Chính phủ Lào tham vọng đạt công suất 14.000 MW vào năm 2020.

Trên 30% khảon tiền đầu tư nước ngoài 6,6 tỷ USD vào Lào từ năm 1986 đã được chi cho việc xây dựng các đập thủy điện HIện Lào đã vận hành 42 nhà máy thủy điện, 39 đập thủy điện và đang xây tiếp 53 đập.

Chính quyền Thái Lan và mạng xã hội Thái Lan đã kêu gọi quyên góp hỗ trợ nạn nhân vụ lụt do vỡ đập ở Lào. Dư luận Thái Lan muốn “trả ơn” nước Lào đã cử đội cứu trợ tham gia đợt giải cứu đội bóng nhí tại hang Tham Luang, Chiangrai gần đây. Tuy nhiên, có vẻ như chính quyền Lào không muốn truyền thông nước ngoài vào đưa tin về vụ vỡ đập. Một số nhà báo Thái Lan cho biết đơn xin thị thực (M-B2) để tác nghiệp báo chí của họ bị Bộ Ngoại giao Lào từ chối. Khác với đa số các quốc gia khác trên thế giới, Lào yêu cầu báo chí nước ngoài phải có thị thực đặc biệt mới có thể vào đưa tin.

Các báo Việt Nam ngày 25/7 đưa tin công ty Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) sẽ dùng trực thăng đưa 26 công nhân và trẻ em về nước an toàn. Bước đầu, HAGL hỗ trợ 50 tấn gạo cùng thực phẩm và quần áo gửi tới Attapeu trong ngày 25/7 để giao cho Ủy ban Cứu trợ của Chính phủ Lào.

Theo Vietnamnet, công ty này cũng lập đội cứu nạn gồm các bác sỹ, y tá đến Attapeu gày 25/7 để hỗ trợ các hoạt động cứu trợ của chính phủ Lào.\

Đập thủy điện mới bị vỡ nằm cách Việt Nam khoảng 700 km và cách nhánh sôn gchi1nh của sông Mekong khoảng 200 km.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Vỡ đập thủy điện – thảm họa đã được báo trước


Theo đài RFI, ít nhất 7 ngôi làng ở miền Đông Nam nước Lào đã bị ngập tối 23/7 do vỡ đập thủy điện Sepien Senamnoi. Dòng nước hung dữ đã cuốn đi nhiều căn nhà, người dân phải leo lên nóc những công trình còn trụ vững để trú ngụ, hoặc đeo bám trên cây. Hàng chục người và hơn 100 người mất tích.

Các hình ảnh của kênh truyền hình, ABC Laos News cho thấy chỉ còn cây cối và một số nóc nhà trồi lên khỏi mặt nước bùn đục ngầu. Trong một video, một phụ nữ run rẩy bế một em bé bước lên một chiếc xuồng gỗ, cho biết mẹ của bà vẫn phải trốn trên một cành cây. Có ít nhất 6000 người dân đã bị mất nhà.

Đập nước này được xây dựng trên một nhánh sông Mekong tại vùng cực Nam nước Lào, gần biên giới Việt Nam và Campuchia. Dự án đập thủy điện, với 90% sản lượng sẽ được bán cho Thái Lan một khi đi vào hoạt động, là công trình hợp tác giữa Lào với một công ty Thái Lan và 2 tập đoàn Hàn Quốc – trong đó có một chi nhánh của SK, một trong những tập đoàn lớnn nhất Hàn Quốc.

Dự án thập điện 410 MW được ước tính bắt đầu hoạt động vào năm 2019, gồm 2 đập chính và 5 hồ chứa, làm chuyển dòng 3 nhánh sông. Chi nhánh kỹ thuật và xây dựng của Tập đoàn SK thông báo phần trên cao của một trong những công trình phụ “đã bị cuốn trôi” trong đêm 22/7, sau nhiều ngày mưa lớn.

Hồ trữ nước dài 770m và cao 16m đã bị vỡ 1 ngày sau đó. Hiện trạng này khiến người ta đặt câu hỏi về những khiếm khuyết của hệ thống cảnh báo người dân địa phương, cho dù Tập đoàn SK nói rằng “đã báo động ngay lập tức cho chính quyền và bắt đầu di tản dân làng” vào tối 22/7.

45 đập thủy điện đang được xây dựng

Thảm họa này là minh chứng cụ thể cho mối quan ngại lâu nay tại một đất nước muốn trở thành “cột trụ châu Á” với tiềm năng to lớn về thủy điện. Là một quốc gia nhiều núi no hiểm trở, không có biển, được một đảng cộng sản lãnh đạo theo kiểu toàn trị, có thể toàn quyền quyết định mô hình phát triển theo ý mình, từ 1 thập niên qua, Lào đã tung ra rất nhiều dự án thủy điện trên những dòng sông chính, trong đó có dòng Mekong và các phụ lưu.

Có đến 45 đập thủy điện được xây dựng tại Lào, trong đó 12 đập đã đi vào hoạt động. Theo ông Martin Burdett, cộng tác viên của tờ Tạp chí quốc tế về đập thủy điện (International Journal on Hydropower & Dams), Lào “có thể cung cấp 26.500 MW từ thủy điện, và hiện chỉ mới khai thác 25% tiềm năng này”.

Tuy nhiên, hậu quả là các sự cố liên tục xảy ra. Một đập thủy điện ở miền Trung Lào đã bị vỡ hôm 11/9/2017. Các quan chức địa phương cáo buộc đơn vị phụ trách đã xây dựng trên khu vực đầm lầy, đồng thời đổ thừa nguyên nhân là do mưa lũ. Trước đó, vào tháng 12/2016, một đường ống dẫn nước đến tuabin của một công trình thủy điện ở một tỉnh miền Nam, gần biên giới Việt Nam, cũng đã bị vỡ do được xây dựng trên vùng đất dốc từng xảy ra các vụ sạt lở đất và nay càng trở nên bất ổn vì công trường xây dựng đập nước.

Tác động tai hại của việc lạm dụng xây dựng thủy điện đối với môi trường đều đã rõ: hệ sinh thái sông ngòi bị xuống cấp, sự đa dạng các loài thủy sản bị ảnh hưởng, dẫn đến sản lượng ngư nghiệp đánh bắt từ sông Mekong và vùng ĐBSCL bị giảm sút nặng nề.

Một dự án đập thủy điện lớn khác đang được tiến hành tại Lào là đập Xayaburi do tập đoàn Thái Lan CH Kamchang xây dựng, giá trị ước tính 3,8 tỷ USD, công suất 1285 MW, khiến Việt Nam và Campuchia, hai quốc gia nằm ở hạ nguồn lo ngại.

Ông Marc Goichot, phụ trách chương trình nước của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tại khu vực sông Mekong nhận xét: “Một nước nhỏ vốn không có năng lực về kỹ thuật và quản lý để theo dõi các nghiên cứu về tác động, nhưng lại lao vào xây dựng một loạt đập thủy điện là đặc biệt nguy hiểm!

Theo ông Goichot: “Các công trình thủy điện quy mô rất hấp dẫn đối với một quốc gia đang phát triển, nhưng hàm chứa nhiều rủi ro. Khủng khiếp nhất là vỡ đập, và một trong những hậu quả cay đắng là ngành đánh cá bị suy tàn, khiến những người nghèo khổ nhất không còn phương kế mưu sinh”.

Chỉ tính lợi ích kinh tế trước mắt, bất kể thảm họa

Các công trình quan trọng được giới quan chức địa phương coi là đòn bẩy thăng tiến, và ngân sách khổng lồ đổ vào cũng là nguồn tham nhũng trong một đất nước thiếu tính minh bạch. Các quan chức chính quyền được giao nhiệm vụ giám sát nhưng không có đủ kiến thức cần thiết để quản lý chặt chẽ dự án. Vì vậy, các tập đoàn xây dựng và điện lực lớn có thể thương lượng trên thế mạnh và thủ thế kỹ về mặt pháp luật, để đổ trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong trường hợp có vấn đề.

Đối với các ngân hàng lớn nước ngoài, những dự án thủy điện còn khả tín hơn khi được áp lên những con dấu của các công ty quốc doanh Trung Quốc. Quốc gia láng giềng khổng lồ này can dự vào một số lượng lớn các dự án, bên cạnh đó là Cơ quan sản xuất điện lực Thái Lan, khách hàng mua điện. Vì vậy, các dự án thủy điện được ưu tiên về tín dụng.

Các đập thủy điện được giới thiệu là chiến lược phát triển của Lào. Việc bán điện cho nước khác mang lại nguồn tài chính lớn cho Nhà nước, giảm bớt thâm hụt thương mại của một đất nước không có nền kỹ nghệ. Nhưng trên thực tế, các quyết định hành chính được đưa ra bởi các bộ chỉ quan tâm đến việc thu lợi nhanh chóng, mà không nghĩ đến tác động về lâu dài và nguy cơ xảy ra những thảm họa.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Cảnh báo đối với Việt Nam sau vụ vỡ đập ở Lào


Theo đài RFA, đập thủy điện Sepien Senamnoi trị giá 1,02 tỷ USD đang trong quá trình xây dựng đã vỡ vào ngày 23/7. Đây là dự án xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) gồm 3 con đập Houay Makchan, Sepien và Senamnoi nằm trên các nhánh của sông Mekong.

Ngay sau khi vụ vỡ đập xảy ra, Việt Nam đã họp khẩn về tác động của vụ việc đối với khu vực sông Mekong ở Việt Nam. Theo nhận định của cơ quan chức năng, tác động đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long không lớn, chỉ làm tăng mực nước lên 5 – 10 cm trong vài ngày tới.

Nước sẽ tràn về Việt Nam trong vài ngày tới

Theo VnExpress, ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm Phó ban chỉ đạo Trung ương Phòng chống thiên tai, cho biết: “Sự cố này nếu có ảnh hưởng đến Việt Nam thì cũng không lớn. Đây là con đập đang trong quá trình thi công và đã bắt đầu tích nước. Tuy nhiên, lượng nước tích được hiện nay chưa ai xác định được nên chưa thể có thông số chính xác.

Theo ông Thắng, các nhà khoa học ước tính trong 5 – 6 ngày tới, nước từ vụ vỡ đập Lào sẽ tràn về Việt Nam. Mực nước khi về đến Tân Châu, Châu Đốc (An Giang) sẽ dâng lên khảong 5 cm so với hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Tính, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng cho biết, do mực nước ở các sông đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện đang thấp, nên khi nước từ Lào tràn về sẽ không ảnh hưởng nhiều.

Trong khi đó, ông Trần Đức Cường, Phó Chánh văn phòng thường trực Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho rằng “vỡ đập thủy điện ở Lào là sự cố đột xuất nên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Hiện các cơ quan hữu quan đang thu thập số liệu và kết quả phân tích sẽ có trong 1 – 2 ngày tới để cảnh báo cho các quốc gia, đặc biệt là vùng ĐBSCL của Việt Nam”.

Đó là ảnh hưởng trước mắt. Còn về lâu dài, các mối nguy đối với an toàn lương thực cho Việt Nam và toàn khu vực Đông Nam Á do kế hoạch xây nhiều đập thủy điện dọc sông Mekong đã được cảnh báo từ lâu.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết, sự việc đã để lại  bài học quý giá về quản lý thủy điện đối với Việt Nam: “Những chiến lược để thực hiện phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Phòng phải là quan trọng nhất. Khi có một công trình đã xây dựng và trong quá trình quản lý vận hành thì luôn phải có phương án phòng tránh và khi có sự cố phải giảm nhẹ sự cố đó. Phải có tinh thần kiểm tra, kiểm soát, rà soát lại trước mùa mưa lũ hàng năm và 3 năm một lần phải tổng kiểm tra”.

Nhận định về những hậu quả có thể gây ra với ĐBSCL, Tiến sĩ Dương Văn Ni, một chuyên gia về ĐBSCL cho biết: “Ảnh hưởng lớn nhất là người dân ĐBSCL sẽ rất sợ bởi vì trên dòng Mekong còn nhiều đập lớn nữa đang xây và dự định xây. Về ảnh hưởng trực tiếp của vụ vỡ đập theo các cơ quan truyền thông, mùa này chưa phải cao điểm ngập lụt ở ĐBSCL nên chắc không ảnh hưởng nhiều”.

Thảm họa nói trên xảy ra giữa lúc Lào đặt mục tiêu trở thành “nguồn pin của châu Á” bằng cách bán điện cho các nước láng giềng thông qua một loạt dự án thủy điện. Chính phủ Vientien hiện xuất khẩu 2/3 lượng thủy điện và nguồn thu từ điện chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường ở Lào đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về hậu quả của các đập thủy điện dọc sông Mekong mà Chính phủ Lào đang có kế hoạch xây dựng. Theo đó, khoảng 12 đập lớn và 120 đập ở các nhánh sông này sẽ được xây dựng trong 20 năm tới. Bản thân dự án Sepien Senamoi cũng từng gây tranh cãi vì nó có thể tác động tiêu cực đến sông Mekong và cộng đồng cư dân gần đó.

Thời báo châu Á số ra ngày 25/7 đã đăng bài viết với nhan đề “Thảm họa vỡ đập ở Lào cho thấy những thất bại của chế độ Đảng Cộng sản”. Bài báo nêu rõ sự thờ ơ của cơ quan chức năng Lào trước những hiểm họa vỡ đập Sepien Senamnoi đã được cảnh báo trước đó. Bài báo dẫn lời Giám đốc Chiến dịch trả tự do cho Lào (Free Laos) – một tổ chức cổ xúy dân chủ quốc tế, ông Joe Rattanakhom cho biết người dân Lào cảm thấy vô vọng vì hầu hết đều sợ nói lên những sai trái trong cách quản lý của Chính phủ đối với đất nước và nguồn tài nguyên quốc gia. Chính phủ Lào không quan tâm đến những tác động xã hội và môi trường vì họ là những người được hưởng lợi từ thể chế tham nhũng ở Lào, bất kể đó là các dự án thủy điện hay khai thác gỗ…

Công trình thủy điện ở Việt Nam còn nhiều bất cập

Đài RFA dẫn lời Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL cho biết thảm họa vỡ đập ở Lào một lần nữa cho thấy vấn đề an toàn đập trên lưu vực sông Mekong là đáng lo ngại và cách làm thủy điển trong lưu vực sông Mekong chưa đạt độ chuyên nghiệp, tin cậy.

Theo thống kê và khảo sát sơ bộ của cơ quan chức năng, năm 2013, Việt Nam có hơn 200 đập thủy điện, trong đó, 95% là không đạt yêu cầu. Phần lớn đập và hồ chứ tập trung ở miền Trung, nơi có độ dốc cao – một bên giáp núi, một bên giáp biển.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, một nhà hoạt động môi trường cho biết: “Nhiều người đã biết các vụ vỡ đập thủy điện ở Việt Nam như ở Lâm Đồng. Điều đó chứng tỏ việc thiết kế và vận hành thủy điện ở Việt Nam có vấn đề mới dẫn đến việc vỡ đập, họ không lường trước được những nguy cơ rủi ro do vấn đề địa chấn, sụt lở đất hoặc do vấn đề kỹ thuật thiết kế hay do cả hai”.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật so sánh các công trình thủy điện ở Việt Nam cũng giống như các dự án xây dựng đường sá, cầu cống, chưa làm xong đã bị lún, bị sập. Ông cho rằng đây là hậu quả của vấn nạn tham nhũng, rút ruột công trình: “Nó liên quan đến vấn đề năng lực thiết kế, năng lực đấu thầu, cạnh tranh và năng lực xây dựng, thẩm định, giám sát. Nhưng điều quan trọng nhất, gốc rễ của mọi vấn đề, đó là nền tảng đạo đức bị suy thoái và vấn đề tham nhũng đang ở đỉnh điểm”.

Một nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, Liên minh Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên phối hợp với Ủy ban Sông Mekong Campuchia công bố tháng 5 vừa qua cho biết nguồn sinh kế của 3,4 triệu người dân Lào, Campuchia và Việt Nam đang bị đe dọa do việc xây dựng 65 đập thủy điện tại lưu vực nơi sông Mekong chảy qua các nước này.

Sau đó 1 tháng, Tổng cục Phòng chống thiên tai Việt Nam cho biết các đập thủy điện đầu nguồn do Trung Quốc xây dựng trên dòng Mekong đang gây sạt lở nghiêm trọng bờ sông và bờ biển khu vực ĐBSCL. Báo cáo nêu rõ trước năm 2010, khi Trung Quốc chưa hoàn thành các công trình thủy điện, tình trạng sạt lở ở ĐBSCL không nghiêm trọng. Tuy nhiên, kể từ năm 2010 đến nay, khi nhiều dự án thủy điện và hồ chứa của Trung Quốc đã hoàn thành, mức độ lở đã gia tăng nghiêm trọng.

Thêm vào đó, đầu năm nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết Việt Nam hiện có khoảng 6650 hồ chứa thủy lợi, nhưng có đến 1200 hồ chứa trong số này bị xuống cấp nghiêm trọng.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018