Sau COP26, Việt Nam có thể vực dậy năng lượng sạch?


Trang South China Morning Post của Hong Kong ngày 8/5 đăng bài cho rằng ngành năng lượng mặt trời của Việt Nam tăng trưởng mạnh, song chính sách chậm trễ đang khiến các nhà đầu tư lo lắng. Kinh nghiệm của Trung Quốc có thể mang lại bài học kinh nghiệm, song Hà Nội vẫn cảnh giác với việc để nhà đầu tư Trung Quốc tham gia các dự án được coi là quan trọng đối với an ninh quốc gia.

5 năm kể từ khi Hà Nội triển khai các chính sách khuyến khích sản xuất năng lượng mặt trời và năng lượng gió – đóng góp khoảng 1/10 tổng sản lượng điện vào cuối năm 2021, ngành công nghiệp này hiện đang đi vào bế tắc. Việt Nam chủ yếu dựa vào thủy điện, than và khí đốt tự nhiên để sản xuất điện. Việt Nam nhập khẩu than và từ năm nay sẽ nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Việt Nam cũng nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc.

Zhou Xizhou, chuyên gia lĩnh vực năng lượng đang làm việc tại S&P Gobal, cho biết nhu cầu điện của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong thời kỳ hậu đại dịch và ước tính mức tăng trung b2inh sẽ là 5% mỗi năm cho đến năm 2030.

Tình trạng lấp lửng

Tháng 01/2022, Bộ Công Thương đề xuất tạm dừng phê duyệt đầu tư đối với các dự án điện mặt trời và điện gió chưa được thực hiện. Các nhà phát triển năng lượng mặt trời và năng lượng gió cho rằng họ bị nhà nước “bỏ rơi” với tương lai không rõ ràng về các kế hoạch mua điện và băn khoăn liệu họ có nên tiếp tục kinh doanh hay không.

Giám đốc một công ty Đài Loan đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo ở châu Á, châu Phi, châu Âu và châu Mỹ cho biết việc thiếu khả năng dự đoán gây khó khăn cho các nhà đầu tư: “Giữa các lần thông báo về chính sách mới, có khoảng trống chính sách kéo dài hàng tháng hoặc hơn một năm”. Ví dụ, biểu giá điện hỗ trợ (FIT) cho các dự án năng lượng mặt trời quy mô lớn chỉ vừa mới được công bố vào tháng 4/2020 – 10 thág sau khi các mức giá trước đó hết hạn. FIT cho các nhà phát triển thời hạn chỉ 8 tháng để hoàn thành các dự án trong bối cảnh chuỗi cung ứng bị gián đoạn do đại dịch COVID-19. Không rõ điều gì sẽ xảy ra nếu họ bỏ lỡ thời hạn.

Bài học, đầu tư từ Trung Quốc?

Liu Huan, Tổng giám đốc công ty con tại Việt Nam của Sungrow Power Supply,  một công ty năng lượng tái tạo niêm yết tại Thâm Quyến, cho biết tình hình hiện tại – với nhiều dự án cơ sở hạ tầng hỗ trợ – là điều dễ hiểu: “Chính quyền trung ương và địa phương phê duyệt nhiều đề xuất hơn mức lưới điện có thể hỗ trợ vì họ không thể biết dự án nào cuối cùng sẽ được xây dựng”.

Ông tin rằng điều này sẽ được cải thiện khi các cơ quan chức năng của Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc xử lý các dự án năng lượng tái tạo. Ông Liu Huan lấy ví dụ về bài học từ Trung Quốc – quốc gia đã thúc đẩy đáng kể việc sản xuất điện gió và mặt trời thông qua FiTs từ năm 2009: “Qua nhiều năm phát triển năng lượng tái tạo, nhà chức trách nhận thức được mức độ tin cậy của từng doanh nghiệp địa phương và thị trường đã dần loại bỏ các doanh nghiệp nhỏ hơn và có vấn đề”.

Hà Đăng Sơn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng và tăng trưởng Xanh (CEGR) – tổ chức nghiên cứu và tư vấn phi lợi nhuận có trụ sở tại Hà Nội, cho biết Bộ Công thương hiện đang xây dựng quy hoạch phát triển điện mới gọi là Quy hoạch điện 8 (QHĐ 8), theo đó, vạch ra kế hoạch phát triển điện đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo ông: “Bộ đang giới thiệu các công cụ mô hình hiện đại để phát triển QHĐ 8”. QHĐ 8 sẽ phân tích kỹ lưỡng việc tích hợp các nguồn năng lượng tái tạo như gió và mặt trời vào lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, ông Sơn chỉ ra rằng: “Việt Nam chưa có phòng thí nghiệm quốc gia nào có thể thực hiện những nghiên cứu phức tạp như Phòng thí nghiệm năng lược tái tạo quốc gia (NREL) hay Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Berkeley ở Mỹ. NREL có siêu máy tính của riêng mình và do đó có thể tiến hành mô phỏng hệ thống điện quốc gia trong vòng vài ngày. Nếu không có năng lực như vậy, chính phủ VIệt Nam cần tới tuần hoặc vài tháng để hoàn thành công việc đó. Do đó, nhà quy hoạch điện của Việt Nam cần tạm thời cắt bỏ việc phê duyệt dự án để tiến hành phân tích tình huống cơ sở”.

Bà Vũ Chi Mai, Trưởng bộ phận năng lượng tái tạo và hiệu quả năng lượng tại Cơ quan hợp tác quốc tế Đức, cho biết Tập đoàn điện lực Việt Nam và chính phủ đã chủ động giải quyết vấn đề bằng cách đề xuất các thay đổi pháp lý để cho phép các nhà phát triển tư nhân đầu tư vào mạng lưới truyền tải điện. Những người trong ngành cho biết Chính phủ Việt Nam có thể sẽ thận trọng với các nhà đầu tư Trung Quốc do những cẳng thẳng về lãnh thổ và lịch sử giữa hia bên.

Một nhà quản lý của công ty Trung Quốc tham gia lĩnh vực năng lượng mặt trời và năng lượng gió của Việt Nam cho biết việc thúc đẩy các dự án điện gần bờ biển hoặc biên giới quốc gia rất “rắc rối” hoặc thậm chí là các dự án quy mô lớn vì tính nhạy cảm song phương. Ông cho biết nếu căng thẳng leo thang, những điều này có thể ảnh hưởng đến các quy trình xoay quanh dòng tiền và đầu tư xuyên biên giới.

Giám đốc CEGR Hà Đăng Sơn cho biết với bản chất của quá trình chuyển đổi năng lượng sạch, việc trì hoàn có thể là cần thiết để đưa ra các quyết định chính sách sáng suốt hơn: “Chúng ta phải kiên nhẫn. Quá trình chuyển đổi năng lượng đi kèm với rất nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là với năng lực của các nhà lập kế hoạch và sự phối hợp của chính phủ”.

Nguồn: TKNB – 11/05/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần cuối


Các nước Baltic: Đã sớm thực hiện chính sách “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (23%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (20%), năng lượng khác (14%).

Từng thuộc Liên Xô trước đây, mặc dù về chính trị đối đầu đến cùng với Chính quyền Putin, nhưng về nguồn cung năng lượng 3 nước Baltic vẫn khó tách rời hoàn toàn khỏi Nga. Về mặt địa lý, các quốc gia Tây và Bắc Âu có đường ống dẫn khí đốt đến thẳng các nước cung ứng chủ yếu như Na Uy, cũng như nhiều trạm nhập khẩu LNG, ngược lại, các quốc gia Đông Âu, Baltic và bán đảo Balkan rất khó thoát khỏi sự phụ thuộc vào đường ống vận chuyển khí đốt của Nga.

Trong đó, Litva là một trong những quốc gia châu Âu phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn năng lượng của Nga. Năm 2021, Litva nhập khẩu dầu, khí đốt và điện của Nga lên đến 3 tỷ euro, tỷ trọng nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga lần lượt chiếm 69% và 42%.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (2%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (37%), năng lượng khác (2%).

Kết cấu năng lượng cơ bản của Estonia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (60%), dầu mỏ (4%), khí đốt tự nhiên (8%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (24%), năng lượng khác (4%).

Trong những năm qua, Ủy ban châu Âu (EC) đã phân bổ tổng cộng 1,6 tỷ euro chia thành nhiều đợt khác nhau để hỗ trợ các nước Baltic tách khỏi lưới điện của Nga, kết nối vào EU. Ngoài lưới điện sẵn sàng “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”, sau sự kiện Crimea năm 2014, ba quốc gia nhỏ bé sống dưới cái bóng của Liên Xô đã bắt đầu triển khai kế hoạch giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng của Nga. Chẳng hạn, trạm LNG nổi Klaipeda được đưa vào vận hành từ năm 2014 đã cung cấp một nửa nhu cầu thị trường khí đốt tự nhiên của các nước Baltic và Phần Lan.

Còn về Litva, năm 2021, 90% khí đốt tự nhiên nhập khẩu vẫn đến từ Nga, tuy nhiên chính phủ nước này cho biết việc nhập khẩu khối lượng lớn khí đốt tự nhiên của Nga là do giá rẻ và tiện lợi, không phải không có sự lựa chọn khác. Chỉ cần có kế hoạch phù hợp, dựa vào trạm LNG Kalipeda đã đủ đáp ứng nhu cầu của ba nước Baltic. Ngoài ra, vừa qua Estonia cũng tuyên bố thúc đẩy kế hoạch dự án năng lượng 10 năm – trạm tiếp nhận LNG nổi. Theo tính toán của các cơ quan chức năng, giá mua một tàu LNG khoảng 300 triệu euro.

Bốn nước Trung Âu: Czech, Slovakia, Áo, Hungary đều có lập trường riêng

Kết cấu năng lượng cơ bản của Czech: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (34%), dầu mỏ (23%), khí đốt tự nhiên (17%), năng lượng hạt nhân (18%), năng lượng tái tạo (11%).

Chính phủ Czech vẫn chưa thể hiện lập trường về việc EU có thể cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga, Thủ tướng Petr Fiala nhiều lần cho biết EU cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch của Nga, nhưng không ủng hộ lệnh cấm nhập khẩu. Khoảng 90% khí đốt tự nhiên và 50% dầu mỏ của Czech được nhập khẩu từ Nga, nước này có các mỏ than của mình và nguồn than đá nhập khẩu thêm chủ yếu đến từ Ba Lan. Các chuyên gia kinh tế của Czech cho rằng mặc dù việc cấm nhập khẩu khí đốt từ Nga là vấn đề nguy hiểm đối với nền kinh tế Czech, nhưng vẫn có thể ứng phó một cách dễ dàng với lệnh cấm nhập khẩu dầu.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Slovakia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (17%), dầu mỏ (21%), khí đốt tự nhiên (24%), năng lượng hạt nhân (13%), năng lượng tái tạo (13%), năng lượng khác (1%).

Thủ tướng Slovakia Eduard Heger cho biết nước này ủng hộ tất cả các lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, bao gồm dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. 87% lượng tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Slovakia được nhập khẩu từ Nga. Bộ trưởng Kinh tế Slovakia Richard Sulík cảnh báo lệnh cấm có thể mang lại hậu quả đối với ngành công nghiệp của Slovakia và châu Âu. Hiện nay, một trong những chính sách của Slovakia là nhập khẩu LNG thông qua các tàu chở dầu, dự kiến cuối tháng này tàu chở dầu đầu tiên sẽ về đến, đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Slovakia trong một tuần. Thủ tướng Eduard Heger nói: “Đương nhiên, chi phí sử dụng tàu chở dầu để vận chuyển khí đốt tự nhiên từ Mỹ đắt hơn so với sử dụng đường ống từ Nga, nhưng đây chính là cuộc sống, chúng tôi phải học cách chấp nhận”.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Áo: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (10%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (30%), năng lượng khác (1%).

Tương tự như Đức, Áo phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch của Nga. Tân Thủ tướng Karl Nehammer cam kết ủng hộ lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, nhưng cảnh báo điều này có thể gây nên hậu quả cho Áo. 80% khí đốt tự nhiên của Áo nhập khẩu từ Nga, ngoài ra nước này còn nhập khẩu của Na Uy (10%) và Đức (5%), do đó với tỷ lệ trên, mức độ lệ thuộc của Áo vào Nga còn cao hơn cả Đức. Hiện nay, Chính phủ Áo đang xây dựng kế hoạch nhanh chóng mở rộng năng lượng tái tạo, đồng thời tìm kiếm nguồn khí đốt tự nhiên thay thế ở Trung Đông, cũng như nguồn cung LNG, trong đó bao gồm việc vận chuyển từ bờ biển phía Bắc biển Adriatic của Italy về Áo thông qua tuyến đường ống Adria-Vienna.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Hungary: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (8%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (32%), năng lượng hạt nhân (15%), năng lượng tái tạo (11%), năng lượng khác (4%).

Hungary nhập khẩu phần lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga. Thủ tướng Viktor Orban cho biết sẽ phản đối lệnh trừng phạt năng lượng của EU, ông nói: “Mặc dù chúng tôi lên án hành động xâm lược của Nga và cũng lên án chiến tranh, nhưng chúng tôi sẽ không để cho các gia đình ở Hungary phải gánh chịu hậu quả”. Năm 2021, Hungary và tập đoàn năng lượng nhà nước Gazprom của Nga đã ký một thỏa thuận cung ứng khí đốt tự nhiên mới với thời hạn 15 năm. Mặc dù vậy, những năm gần đây, Budapest đã bắt đầu thực hiện đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, trong đó có được nguồn cung LNG từ trạm LNG của Croatia.

Anh: Tự chủ hơn về năng lượng sau khi rời khỏi EU (Brexit)

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (36%), năng lượng hạt nhân (6%), năng lượng tái tạo (15%).

Anh đã rời khỏi EU nên không còn chịu sự ràng buộc của EU về việc có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, hơn nữa trên thực tế mức độ phụ thuộc của Anh vào nhập khẩu năng lượng của nước ngoài khá thấp, tỷ lệ phụ thuộc năm 2019 chỉ 35%. Đầu tiên, một nửa nguồn cung khí đốt tự nhiên Anh đến từ trong nước, nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Na Uy và Qatar. Về dầu mỏ, nhập khẩu từ Nga chiếm 8% tổng nhu cầu dầu mỏ của Anh, nhưng bản thân Anh cũng là nước sản xuất quan trọng các sản phẩm dầu mỏ và dầu thô, hơn nữa cũng có thể tăng cường nhập khẩu dầu mỏ từ Hà Lan, Saudi Arabia và Mỹ.

Theo Cục quản lý thương mại quốc tế Mỹ (ITA), xét từ tình hình chung của thị trường và số liệu giao dịch, ngành công nghiệp năng lượng là ngành có triển vọng nhất của Anh. Anh có thị trường năng lượng hùng hậu, ngành năng lượng đã tạo ra các hoạt động kinh tế trị giá 130 tỷ USD. Lĩnh vực năng lượng cung cấp 730.000 việc làm cho nước Anh – tương đương cứ 49 việc làm trên thị trường thì có 1 việc làm trên lĩnh vực năng lượng. Chính quyền Boris Johnson thúc đẩy Anh phát triển theo hướng là một nền kinh tế carbon thấp, năm 2019, Anh trở thành nền kinh tế chủ chốt đầu tiên ban hành đạo luật để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phát triển toàn diện năng lượng tái tạo.

Do đó, về khía cạnh Anh loại bỏ năng lượng của Nga, có thể nói Johnson rất tự tin khi tuyên bố: Chính quyền Putin xâm lược phi pháp Ukraine, chúng ta sẽ giáng một đòn kinh tế đối với họ – việc Anh sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc năng lượng vào Nga trong năm nay sẽ tăng thêm một đòn trừng phạt quốc tế cứng rắn với Nga.

Các nước nhỏ của châu Âu: Chỉ có thể chờ đợi EU cứu trợ?

Một số quốc gia tương đối nhỏ ở châu Âu phụ thuộc hoàn toàn vào khí đốt tự nhiên của Nga, bao gồm Slovenia, Serbia, Bắc Macedonia, Bosnia và Heszegovina, Moldova, Romania, Bulgaria…, đây phần lớn là các nước thành viên của Nam Tư cũ hoặc Liên Xô trước đây, hầu hết không phải là các nước thành viên EU, do đó chắc chắn các nước này sẽ tiếp tục nhập khẩu năng lượng từ Nga.

Liên quan đến các thành viên EU như Romania và Slovenia, tạm thời chưa có động thái tán thành có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, giai đoạn hiện nay đang tập trung thảo luận mở rộng nhập khẩu từ các nguồn khác để làm giảm mức độ phụ thuộc vào Nga.

Mặt khác, sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, từ năm 2015 đến nay Ukraine đã ngừng mua khí đốt tự nhiên từ Nga, chuyển sang mua khí đốt tự nhiên của EU, tuy nhiên điều này cũng chỉ đồng nghĩa với việc Ukraine thông qua EU để tái nhập khẩu khí đốt của Nga, đồng thời phản ánh thực trạng không ít nước châu Âu không nhập khẩu từ Nga về mặt số liệu sổ sách, nhưng trên thực tế năng lượng vẫn có nguồn gốc từ Nga.

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần II


Pháp: Nước lớn về năng lượng hạt nhân của châu Âu

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (4%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (14%), năng lượng hạt nhân (41%), năng lượng tái tạo (11%).

Pháp là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai châu Âu, chỉ xếp sau Đức, chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu do trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ít. Đồng thời, Pháp cũng là nước sản xuất năng lượng hạt nhân lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ, là nước xuất khẩu ròng điện. Phần lớn điện năng của Pháp đến từ năng lượng hạt nhân, tiếp đó là thủy điện, về cơ bản có thể tự cung tự cấp năng lượng.

Về khía cạnh nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nguồn cung của Pháp đa dạng hơn so với Đức. Năm 2020, Pháp nhập khẩu xăng nhiều hơn dầu thô, trong đó dầu thô chủ yếu có nguồn gốc từ Kazakhstan (16%), Mỹ (16%) và Saudi Arabia (13%); sản phẩm xăng chủ yếu nhập khẩu từ Nga (18%) và Bỉ (13%). Nhìn chung, Nga vẫn là nước cung ứng lớn nhất các sản phẩm dầu thô và xăng của Pháp, các nhà cung ứng chủ yếu còn lại bao gồm Mỹ, Saudi Arabia, Algeria, Kazakhstan, các khu vực cung ứng khác nắm 50% nhu cầu của Pháp.

Nguồn cung khí đốt tự nhiên lớn nhất của Pháp là Na Uy (36%), tiếp đó là Nga (17%) và Algeria (8%). Trong khi đó, khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Pháp chủ yếu đến từ Algeria (21%), Nga (21%), Nigeria (20%), tổng nguồn cung của Mỹ và Qatar chiếm khoảng 10%.

Do đó, so với Đức, sức ép trả đũa từ Nga mà Pháp đối diện không quá lớn, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc gia tăng các biện pháp trừng phạt năng lượng đối với Nga. Hơn nữa, có “sức mạnh” từ năng lượng hạt nhân, Chính phủ Pháp sẽ dốc toàn lực thúc đẩy các biện pháp giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Sau khi xảy ra xung đột Nga – Ukraine, một mặt Pháp nhanh chóng yêu cầu các nước cung ứng khác gia tăng nguồn cung dầu và khí đốt, mặt khác đưa ra các biện pháp cải cách năng lượng ở trong nước: giữa tháng 3 vừa qua, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố sẽ ngừng trợ cấp cho việc lắp đặt mới các lò sưởi khí đốt tự nhiên trong khu dân cư, đồng thời tăng cường hỗ trợ đối với việc sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo, tăng trợ cấp 1000 euro cho các hộ lắp hệ thống sưởi bơm nhiệt và sinh khối. Chính phủ sẽ cung cấp 150 triệu euro để hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ quan chức năng ở các thành phố chuyển sang sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo.

Italy: “Ngồi chung một con thuyền” với Đức

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (5%), dầu mỏ (36%), khí đốt tự nhiên (39%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (19%), năng lượng khác (2%).

Sau thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine năm 1987, Italy quyết định ngừng phát triển điện hạt nhân bằng một cuộc trưng cầu dân ý với số phiếu áp đảo, trở thành nền kinh tế lớn nhất không sử dụng năng lượng hạt nhân ở châu Âu, đồng thời đến nay cũng là quốc gia Tây Âu có tỷ lệ phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng cao nhất (77,5% vào năm 2019).

Hiện nay, khí đốt tự nhiên đáp ứng 40% nhu cầu năng lượng của Italy, tuy nhiên 40% khí đốt tự nhiên nhập khẩu của nước này đến từ Nga, tương đương với 3 tỷ m3/năm, muốn thoát khỏi phụ thuộc vào Nga có thể nói là khó khăn chẳng thua kém Đức. Ngoài việc tìm cách mở rộng nguồn cung từ hai nước cung ứng lớn thứ hai và thứ ba là Algeria (23%) và Na Uy (11%) thì Italy đang có kế hoạch xây dựng hai kho chứa LNG nổi (FSRU) để tăng cường nhập khẩu LNG.

Hai tàu vận chuyển LNG có tổng dung lượng hơn 10 triệu m3 sẽ được bố trí ở biển Tyrrhenus và biển Adriatic, gần các cảng hiện có cơ sở hạ tầng đường ống của Italy, tìm cách nhập khẩu LNG từ các nơi như Qatar, Mỹ, Mozambique… Đầu tháng 3, Bộ trưởng chuyển đổi năng lượng Italy Roberto Cingolani cho biết ít nhất cần phải mất 3 năm mới có thể hoàn thành việc thay thế nhập khẩu khí đốt tự nhiên của Nga, tuy nhiên thông qua việc tăng cường nhập khẩu LNG có thể thay thế 2 tỷ m3 trong trung hạn.

Năm 2020, lượng sản xuất điện bằng năng lượng tái tạo (38%) của các nước EU đã lần đầu tiên vượt qua nhiên liệu hóa thạch (34%), tuy nhiên tỷ trọng của năng lượng tái tạo ở Italy lại khá thấp, thấp hơn mức bình quân 22% của châu Âu. Cùng với chiến tranh Ukraine và cuộc chiến trừng phạt diễn ra, Chính phủ Italy đã nhanh chóng phê chuẩn nhiều dự án năng lượng tái tạo lớn, tuy nhiên để làm được điều này cần phải có thời gian. Mặc dù Thủ tướng Italy Mario Draghi tạm thời chưa thể hiện lập trường về việc liệu có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, nhưng nhiều khả năng là chỉ đồng ý cấm nhập khẩu dầu. Đối với Italy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay luôn là tìm kiếm nguồn cung thay thế, nhưng điều không may là đây không phải là điều có thể khắc phục trong một sớm một chiều.

Hà Lan: “Kẻ thừa kế giàu có” cũng gặp rắc rối về năng lượng

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (11%), dầu mỏ (35%), khí đốt tự nhiên (38%), năng lượng hạt nhân (3%), năng lượng tái tạo (8%), năng lượng khác (5%).

Như đã đề cập ở trên, trữ lượng năng lượng hóa thạch của châu Âu ít nhất toàn cầu, nhưng trong đó có một “kẻ thừa kế giàu có”, chính là Hà Lan. Một mặt nước này cùng Anh, Na Uy, Đan Mạch chia sẻ các giếng dầu ở Bắc Hải, mặt khác lại có giếng khí đốt Groningen lớn nhất EU, nên Hà Lan không thiếu năng lượng. Tuy nhiên, do khai thác quá mức giếng khí đốt Groningen từ thập niên 1960 đến nay đã khiến mặt đất của tỉnh này chìm xuống, cường độ và tần suất động đất của khu vực phía Bắc trong mấy thập niên trở lại đây không ngừng tăng lên, đe dọa an toàn tính mạng của người dân bản địa. Trước sự phản đối mạnh mẽ của người dân, năm 2019 cơ quan quản lý chức năng quyết định đóng cửa giếng khí đốt vào năm 2022, sớm hơn 8 năm so với dự kiến vào năm 2030. Kể từ năm 2018, Hà Lan đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng khí đốt tự nhiên.

So với năm 2000, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu của Hà Lan chỉ là 38%, nhưng năm 2019 đã tăng vọt lên 64%, chỉ đứng sau Đức ở châu Âu, hiện nay ngay cả công ty Shell cũng phải dựa vào nhập khẩu dầu và khí đốt của Nga để duy trì hoạt động, trong đó khí đốt của Nga chiếm tới 30% lượng khí đốt tự nhiên nhập khẩu của Hà Lan.

Hiện nay, Hà Lan chỉ có một nhà máy điện hạt nhân và một trạm LNG. Hai năm qua, các cơ quan chức năng của Hà Lan gấp rút theo đuổi phát triển năng lượng tái tạo, hy vọng từng bước giảm thiểu việc sử dụng khí đốt tự nhiên. Số liệu mới nhất của năm 2020 cho thấy tỷ trọng năng lượng tái tạo của Hà Lan đã đạt 11,1%.

Kể từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga – Ukraine đến nay, giá khí đốt tự nhiên ở châu Âu tăng lên mức chưa từng có, mặc dù vậy Chính phủ Hà Lan vẫn hết sức thận trọng đối với việc khai thác lại giếng khí đốt Groningen. Cuối tháng 2, Thủ tướng Mark Rutte cho biết: không thể để 100.000 – 200.000 người dân phải đối diện với rủi ro động đất lớn hơn vì giảm giá khí đốt. Tuy nhiên, Mark Rutte không loại trừ khả năng thay đổi lập trường liên quan, ông nói “Đây là tình huống cuối cùng, cũng là kịch bản cuối cùng nếu đột nhiên không có khí lưu chuyển từ các đường ống trong nhà”.

Mark Rutte cũng phản đối việc EU trừng phạt năng lượng của Nga. Trước khi xảy ra tình huống và kịch bản cuối cùng nêu trên, về cơ bản Hà Lan vẫn có khuynh hướng dựa vào nhập khẩu để giải quyết nhu cầu, và Nga đang là nhà cung cấp không thể thiếu.

Ba Lan: Than đá, khí đốt, đều dựa hoàn toàn vào Nga, liệu có thực sự ổn định?

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (42%), dầu mỏ (30%), khí đốt tự nhiên (15%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (12%), năng lượng khác (1%).

Là nước láng giềng tốt của Ukraine, Ba Lan có phản ứng mạnh mẽ nhất đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine, hàng triệu người tị nạn đã tràn vào nước này và được các gia đình mở rộng vòng tay chào đón. Chính phủ Ba Lan đứng ở “tuyến đầu chống Nga”, yêu cầu mạnh mẽ EU cấm nhập khẩu toàn bộ năng lượng của Nga. Tuy nhiên, là quốc gia có dân số đông thứ 5 của EU, sự tự tin về năng lượng của Nga dường như không đủ. Một đặc trưng trong kết cấu năng lượng của Ba Lan là tỷ lệ sử dụng than đá vẫn khá cao, chiếm 42% vào năm 2019, chỉ đứng sau Estonia (60%) trong số các nước thành viên EU. Nguồn cung điện lực của Ba Lan phụ thuộc đến 70% vào than đá.

Hiện nay, khí đốt tự nhiên của Nga chiếm khoảng 55% tổng lượng nhập khẩu của Ba Lan, hơn nữa dầu mỏ và than đá của Nga lại chiếm đến 67% và 75% khối lượng nhập khẩu của nước này, đủ thấy nhu cầu cơ bản về năng lượng của Ba Lan cũng phụ thuộc vào Nga rất nhiều. Để theo đuổi mục tiêu giảm phát thải carbon do EU đưa ra, Ba Lan luôn tìm cách nhập khẩu nhiều khí đốt tự nhiên hơn để thay thế than đá trong thập kỷ này. Cùng với việc hợp đồng dài hạn của Ba Lan với tập đoàn năng lượng nhà nước khổng lồ Gazprom của Nga sẽ hết hạn vào cuối năm nay, Ba Lan đã có sự chuẩn bị nhất định: ngoài tăng cường nhập khẩu LNG của Mỹ, tuyến đường ống dẫn khí đốt tự nhiên nối với Na Uy sẽ được đưa vào sử dụng vào tháng 11 năm nay.

Trong chương trình cải cách năng lượng dài hơi, điện hạt nhân sẽ là trụ cột. Chính quyền Warsaw có kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trong năm tới, đồng thời dự kiến Ba Lan có thể sản xuất 6 – 9 GW điện hạt nhân vào năm 2043, chiếm 10% tổng sản lượng điện, tổng kinh phí đầu tư xây dựng các lò phản ứng hạt nhân ước tính lên đến 22,5 tỷ euro.

Mặc dù nỗi ám ảnh của Ba Lan về thảm họa hạt nhân Chernobyl trong những năm 1980 sâu đậm hơn nhiều quốc gia châu Âu, nhưng phát triển điện hạt nhân dường như là con đường tất yếu, chính phủ hiện tại coi năng lượng hạt nhân là một khâu then chốt để thoát khỏi sự phụ thuộc vào than đá. Trong đó, Ba Lan có ý định đặt nhà máy điện hạt nhân ở khu vực sông Oder gần biên giới Đức – Ba Lan. Là quốc gia đang có kế hoạch loại bỏ điện hạt nhân, Đức cảm thấy lo ngại đối với các nhà máy điện hạt nhân. Trong chuyến thăm Ba Lan gần đây, Bộ trưởng Môi trường Đức Steffi Lemke – người thuộc đảng Xanh chủ trương loại bỏ năng lượng hạt nhân đã phát biểu rằng không loại trừ khả năng sử dụng công cụ pháp lý: theo quan điểm của Berlin, năng lượng hạt nhân vừa không tốt vừa không an toàn. Nếu các lò phản ứng hạt nhân được xây dựng ở Ba Lan, chúng tôi sẽ sử dụng các văn bản pháp lý thích hợp để theo đuổi đến cùng… Ở cấp độ châu Âu, điều này không cần nói”.

(còn tiếp)

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần I


Theo trang mạng hk01.com mới đây, chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine đã kéo dài hơn 1 tháng, Mỹ đã tuyên bố áp đặt lệnh trừng phạt năng lượng đối với Nga, cấm nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của Nga. Tuy nhiên, do các đồng minh châu Âu luôn phụ thuộc sâu sắc vào nguồn năng lượng của Nga, hơn nữa mức độ phụ thuộc của các nước khác nhau, nên Liên minh châu Âu (EU) vẫn chưa đạt được đồng thuận về mức độ trừng phạt.

Các nước thành viên EU đều có toan tính riêng trong vấn đề trừng phạt toàn diện năng lượng của Nga, cấm nhập khẩu dầu mỏ nhưng không cấm nhập khẩu khí đốt tự nhiên. Đặc biệt là trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy cắt giảm phát thải carbon, nhập khẩu khí đốt thiên nhiên vẫn là trụ cột quan trọng trong kết cấu năng lượng của nhiều nước, các nước đang chạy đua với thời gian để tìm kiếm phương án thay thế, nhưng liệu điều này có dễ dàng thực hiện nay không?

Khái quát tình hình năng lượng của EU

Năm 2019, EU chỉ tự sản xuất được 39% trong tổng mức năng lượng đã sử dụng của mình, 61% còn lại được nhập khẩu từ nước thứ ba, kết cấu năng lượng chủ yếu được hình thành từ 5 nguồn lớn, bao gồm 36% sản phẩm dầu mỏ (xăng, dầu diesel, dầu FO (dầu mazut)…), 22% khí đốt tự nhiên, 15% năng lượng tái tạo, 13% năng lượng hạt nhân và 13% nhiêu liệu hóa thạch thể rắn.

Trong kết cấu năng lượng nhập khẩu của EU, sản phẩm dầu mỏ chiếm 2/3, sau đó là khí đốt tự nhiên (27%) và nhiên liệu hóa thạch thể rắn (6%). Hơn nữa, Nga là nước cung ứng lớn duy nhất của ba loại năng lượng này. Lấy số liệu năm 2019 làm ví dụ, tỷ lệ dầu thô là 27%, khí đốt tự nhiên là 41% và nhiên liệu hóa thạch thể rắn (chủ yếu là than đá) là 47%. Nước mà EU có mức độ phụ thuộc tiếp sau chính là dầu thô và khí đốt tự nhiên của Na Uy.

EU phụ thuộc như thế nào vào năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài? Tỷ lệ phụ thuộc là tỷ lệ nhập khẩu ròng trong tổng mức tiêu thụ năng lượng. Trong 20 năm qua, mức độ phụ thuộc của EU đối với năng lượng bên ngoài đã tăng lên đáng kế, tỷ lệ phụ thuộc tăng từ 56% năm 2000 lên 61% vào năm 2019. Hơn nữa, mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài của 27 quốc gia thành viên EU cũng khác nhau.

Ngoại trừ các nước nhỏ như Malta, Luxembourg, Cyprus có tỷ lệ phụ thuộc rất cao (nhập khẩu trên 90% năng lượng), những nước có tỷ lệ nhập khẩu năng lượng cao bao gồm Italy (77%), Bỉ (77%), Litva (75%), Tây Ban Nha (75%), Hy Lạp (74%), Bồ Đào Nha (74%), tỷ lệ liên quan của Áo, Slovakia, Hungary, Ireland, Đức và Hà Lan cũng đều trên 64%. Bản thân Na Uy ở khu vực Bắc Âu là nước xuất khẩu ròng năng lượng, tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo cua Thụy Điển đạt đến 40%, cộng thêm 30% sử dụng năng lượng hạt nhân nên mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu khá thấp.

Hơn nữa tỷ trọng năng lượng giữa các nước thành viên có sự khác biệt rất lớn. Một số nước phụ thuộc nhiều vào sản phẩm dầu mỏ, chẳng hạn như Cyprus (90%), Malta (87%) và Luxembourg (65%). Trong khi đó, khí đốt tự nhiên lại chiếm hơn 1/3 trong kết cấu năng lượng của Italy và Hà Lan. Tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch thể rắn được sử dụng ở Estonia và Ba Lan lần lượt chiếm 60% và 43%. Pháp và Thụy Điển là những cường quốc về năng lượng hạt nhân, năng lượng hạt nhân là nguồn điện lớn nhất. Ở EU, Thụy Điển và Latvia là hai nước sử dụng năng lượng tái tạo khá sớm, tỷ lệ lần lượt chiếm 41% và 37%.

Để bước trên con đường tự chủ năng lượng là vấn đề không dễ dàng đối với châu Âu. Châu Âu có thể gọi là “vốn liếng nghèo nàn” so với các khu vực khác về năng lượng hóa thạch. Theo số liệu của công ty dầu mỏ (BP) của Anh, tính đến năm 2020, trong trữ lượng năng lượng hóa thạch đã thăm dò được trên toàn cầu, trữ lượng năng lượng hóa thạch của châu Âu thấp nhất thế giới, tỷ trọng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên chỉ lần lượt chiếm 1% và 2% toàn cầu. Ngược lại, trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên cảu khu vực Trung Đông lần lượt chiếm 46% và 40%, trong khi trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của khu vực Bắc Mỹ cũng lần lượt chiếm 15% và 8% toàn cầu.

Trong những năm gần đây, để theo đuổi mục tiêu trung hòa carbon của EU, các nước tích cực phát triển năng lượng tái tạo, cam kết từng bước loại bỏ phát điện bằng than đá, bên cạnh việc hai nguồn năng lượng tăng giảm trái chiều, trong giai đoạn hiện nay dầu mỏ và khí đốt tự nhiên trở thành “trụ cột” trong kết cấu năng lượng của các nước. Hơn nữa, các nước có quan điểm khác nhau đối với việc sử dụng năng lượng hạt nhân, ngoài Pháp và Thụy Điển được mệnh danh là cường quốc năng lượng hạt nhân, chỉ có 10 nước thành viên khác của EU vẫn còn sử dụng năng lượng hạt nhân (phần lớn là các nước Đông Âu), trong đó một số nước có chủ trương sẽ loại bỏ trong thời gian tới. Tuy nhiên, cuộc xung đột Nga – Ukraine lần này có thể làm đảo lộn kế hoạch năng lượng của châu Âu, làm xoay chuyển xu thế chung về xóa bỏ điện hạt nhân trước đó.

Do đó, trong cuộc khủng hoảng Ukraine lần này, e rằng bên bị tổn thất không chỉ có Ukraine, mà còn có châu Âu từ lâu luôn phụ thuộc sâu sắc vào nguồn năng lượng của Nga.

Đức: Phụ thuộc hoàn toàn vào Nga

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (20%), dầu mỏ (36%), khí đốt tự nhiên (24%), năng lượng hạt nhân (6%), năng lượng tái tạo (14%).

Than đá, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên chiếm 80% trong kết cấu năng lượng của Đức, tầm quan trọng của ba loại năng lượng này tương đương nhau, hơn nữa Nga là nhà cung ứng lớn nhất ba loại năng lượng này của Đức, trong đó các sản phẩm dầu mỏ chiếm 30% và khí đốt tự nhiên chiếm đến 66%.

Những năm gần đây, Đức liên tiếp chịu tác động của thời tiết cực đoan và lũ lụt nghiêm trọng, nên giảm phát thải carbon và biến đổi khí hậu nhận được nhiều sự quan tâm của người dân. Chính phủ Đức vốn đã thiết kế mục tiêu loại bỏ sản xuất điện từ than đá vào năm 2030, cộng thêm tác động của thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản năm 2011, tiếng nói phản đối hạt nhân ở Đức tăng cao, vậy nên tháng 5/2011 Chính quyền Angela Markel tuyên bố sẽ đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân trước tháng 12/2022.

Do đó, trong 10 năm qua, tăng cường nhập khẩu khí đốt tự nhiên, phát tiển năng lượng tái tạo đã trở thành phương hướng chuyển đổi kết cấu năng lượng tái tạo đã trở thành phương hướng chuyển đổi kết cấu năng lượng của Đức. Dự án Dòng chảy phương Bắc 2 hợp tác với Nga dự kiến đi vào hoạt động trong năm nay sẽ giúp lượng nhập khẩu khí đốt tự nhiên có hy vọng tăng gấp đôi, hai mục tiêu lớn là loại bỏ năng lượng hạt nhân và than đá đều có khả năng thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề Ukraine lại đã làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch triển khai của Chính phủ Đức.

Cần biết rằng 60% khí đốt tự nhiên của Đức do Nga cung cấp, hai nhà cung ứng lớn thứ hai và thứ ba là Na Uy (21%) và Hà Lan (12%) cộng lại cũng chỉ bằng một nửa nguồn cung của Nga, muốn mở rộng nguồn cung là điều vô cùng khó khăn, bởi vì nếu Nga trả đũa EU, thì Na Uy và Hà Lan phải tăng cường hỗ trợ cho toàn châu Âu. Hiện nay, ba nhà cung ứng này nắm 99% nhu cầu khí đốt tự nhiên của Đức, muốn thay thế khí đốt tự nhiên e rằng phải phát triển nguồn cung mới. Đảng Xanh, một lần nữa tham gia liên minh cầm quyền sau nhiều năm vốn chủ trương năng lượng xanh, liệu có tạm thời nhượng bộ đối với điện hạt nhân và than đá hay không?

(còn tiếp)

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Việt Nam sẽ quay trở lại với dự án nhà máy điện hạt nhân?


Theo đài Sputnik, tại Việt Nam, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế và năng lượng ngày càng thường xuyên nói về sự cần thiết phải quay lại phát triển chương trình hạt nhân hòa bình đã bắt đầu vào năm 2009 và bị hoãn lại vào năm 2016.

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga, nhấn mạnh:

Năm 2016, Việt Nam không từ bỏ hoàn toàn chương trình năng lượng hạt nhân mà chỉ tạm thời gián đoạn triển khai vì lý do kinh tế – tài chính. Tuy nhiên, trong hơn 6 năm qua, tình hình kinh tế Việt Nam đã thay đổi đáng kể, và thực tế trái với những tính toán đã được đưa ra để biện minh cho việc tạm dừng chương trình hạt nhân. Năm 2016, các chuyên gia Việt Nam đã giải thích rằng, nhu cầu điện năng trong nước đang giảm và sự sụt giảm này sẽ kéo dài trong thời gian dài. Tuy nhiên, trên thực tế, nền kinh tế Việt Nam tăng giảm theo chu kỳ, khi đó đất nước đã trải qua giai đoạn suy thoái theo chu kỳ thường xảy ra 10 – 11 năm một lần. Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang tích cực phát triển theo con đường công nghiệp, rất nhiều cơ sở công nghiệp mới đang được đưa vào hoạt động. Mức sống của người dân từng bước được cải thiện và nâng cao, kết quả là các thiết bị điện dân dụng có mặt ở hầu hết mọi nơi, không chỉ ở các thành phố mà cả nông thôn. Điều đó dẫn đến lượng tiêu thụ điện sinh hoạt không ngừng tăng lên. Vì vậy, 6 năm trước, các đánh giá về nhu cầu năng lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu này ở Việt Nam là sai lầm”.

Theo Giáo sư Mazyrin, một điều đáng chú ý hiện nay là những lời kêu gọi quay trở lại chương trình hạt nhân đến từ các chuyên gia trong ngành năng lượng chứ không phải ở cấp độ chính thức. Các quan chức cấp cao vẫn chưa có kế hoạch quay trở lại chương trình hạt nhân. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 – 2030 không đề cập đến nhà máy điện hạt nhân. Có thể hiện nay ở Việt Nam đang có một số cuộc thảo luận về vấn đề này, có các quan điểm khác nhau, chủ yếu về chính trị, chứ không phải kinh tế.

Ngành dầu khí Việt Nam và lợi ích của doanh nghiệp Mỹ

Giáo sư Mazyrin nhận xét: “Tât cả những nội dung này đang được thảo luận trong bối cảnh Mỹ gây sức ép chưa từng có với tất cả các nước, trong đó có Việt Nam. Áp lực này đang tăng lên chủ yếu vì Washington cân nhắc đến lợi ích của các doanh nghiệp Mỹ, các tập đoàn trong lĩnh vực dầu khí. Người Mỹ từ lâu đã quyết định chiếm lĩnh ngành dầu khí của Việt Nam, và đã đạt được những tiến bộ trong việc này. Quyết định năm 2016 về chương trình hạt nhân không thể được đưa ra nếu không có ảnh hưởng của Mỹ. Đồng thời, Mỹ đang xúc tiến các dự án chuyển đổi sang các nguồn năng lượng tái tạo và khí đốt hóa lỏng. Cơ sở hạ tầng bao gồm kho tiếp nhận và thiết bị chứa LNG nhập khẩu đang được xây dựng. Đây là một tình huống nghịch lý. Việt Nam, quốc gia có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn nhất Đông Nam Á đang được khai thác chủ yếu với sự tham gia của Nga, do áp lực của Mỹ phải định hướng vào việc nhập khẩu khí hóa lỏng từ Mỹ. Hơn nữa, khí thiên thiên hóa lỏng đắt hơn nhiều so với khí thiên nhiên được sản xuất tại nước này. Việt Nam cũng bắt đầu xây dựng các cơ sở năng lượng mặt trời và năng lượng gió. Tuy nhiên, với chi phí cao, chúng chỉ có thể đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của đất nước, đặc biệt là theo kinh nghiệm thế giới, các trạm năng lượng mặt trời và gió đều không thể cung cấp đủ điện năng cho các cơ sở công nghiệp lớn đòi hỏi nguồn năng lượng mạnh mẽ liên tục”.

Trong quá trình này, dưới sức ép của các đối tác phương Tây, Việt Nam bắt đầu giảm sản lượng khai thác than và không phát triển thêm các nhà máy nhiệt điện mới. Kết quả là, ở cấp độ chính thức, VIệt Nam cảnh báo rằng, vào mùa khô, khi sản lượng điện tại các nhà máy thủy điện giảm xuống, đất nước sẽ thiếu than, không chỉ trong mùa Hè năm nay mà còn những mùa khô trong tương lai. Từ tình hình này, có thể rút ra kết luận: cần phải tạo ra các nhà máy sản xuất điện năng với công suất lớn. Ở đây có hai nguồn dự trữ: phát triển các nhà máy nhiệt điện và đưa vào vận hành các nhà máy điện hạt nhân. Đến năm 2016, các chuyên gia đã thực hiện các tính toán, Nga đã có sẵn các công nghệ và dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại tỉnh Ninh Thuận. Nếu dự án hạt nhân không bị hoãn lại, cơ sở này có thể đang hoạt động ở Việt Nam.

Việc sớm quay trở lại điện hạt nhân là xu hướng tất yếu

Theo giáo sư Mazyrin, việc quay trở lại dự án điện hạt nhân tại Việt Nam là điều tất yếu: “Trong tương lai gần, việc quay trở lại dự án hạt nhân là điều không thể tránh khỏi, nếu không nền kinh tế Việt Nam sẽ không có đủ lượng điện năng cần thiết và mọi kế hoạch phát triển kinh tế sẽ thất bại ở mức độ này hay mức độ khác. Và cách dễ nhất để nhanh chóng khởi động lại dự án điện hạt nhân là quay trở lại những công việc đã tồn tại từ năm 2016 và những địa điểm đã được phân bổ để xây dựng các nhà máy điện hạt nhân của Nga, Nhật Bản và một số qu6o1c gia khác”.

Ai có thể tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam?

Về các quốc gia có thể tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam, chuyên gia Nga cho rằng:

Nga không có cơ hội nào vì lý do chính trị. Tất nhiên, một dự án như vậy sẽ không được trao cho Nga. Mấu chốt ở đây không phải là lập trường của Việt Nam, mà là lập trường của những người tác động đến Việt Nam theo mọi hướng. Trong khi các biện pháp trừng phạt được áp dụng đối với Nga, phương Tây đang đẩy Nga ra khỏi những dự án lớn. Nhiều khả năng Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, có thể cả Đài Loan, sẽ dẫn đầu tại đây”.

Dự án độc đáo của Nga – nhà máy điện hạt nhân nổi

Giáo sư Mazyrin lưu ý rằng, Liên bang Nga có một dự án độc đáo có thể thu hút sự chú ý của VIệt Nam:

Tuy nhiên, nếu nói về các công nghệ tiên tiến Việt Nam nên chuyển sang các dạng năng lượng hạt nhân nhỏ trong chương trình hạt nhân của mình. Không nên xây dựng những cơ sở hạt nhân khổng lồ cỡ hàng nghìn megawatt, mà là những cơ sở có quy mô khiêm tốn hơn. Các nhà máy điện hạt nhân nổi cũng đầy hứa hẹn. Ở Nga, một dự án như vậy đã được phát triển. Nhà máy điện hạt nhân nổi của Nga đã được đưa vào hoạt động”.

“Akademik Lomonosov” là nhà máy điện hạt nhân nổi của Nga nằm ở cảng Pevek ở Chukota. Đây là nhà máy điện hạt nhân đặt xa nhất vùng cực Bắc trên thế giới. Nó bao gồm một tổ máy phát điện gồm 2 lò phản ứng hạt nhân với công suất 70 MW, một nền tảng ven biển với các cơ sở cung cấp năng lượng điện và nhiệt cho người tiêu dùng, cũng như các kết cấu thủy lực đảm bảo nhà máy an toàn trong vùng nước. Nó cũng có thể được sử dụng như một nhà máy khử muối với công suất từ 40 – 240.000 m3 nước ngọt mỗi ngày. Nhà máy điện hạt nhân nổi có thể cung cấp điện cho 100.000 người dân tại đây. Tập đoàn Nhà nước Roastom đang thiết kế và chế tạo các thùng lò của nhà máy điện hạt nhân nổi thế hệ thứ hai với mục tiêu để chúng nhỏ hơn và chắc chắn hơn nhằm nâng công suất lên 100 MW.

Giáo sư Mazyrin cho biết: “Đây là công nghệ độc đáo, không có công nghệ tương tự ở các nước khác. Và nếu Việt Nam lựa chọn phương án này thì đây sẽ là cơ hội duy nhất để Nga quay trở lại chương trình hạt nhân của Việt Nam”.

Nguồn: TKNB – 15/04/2022

Khả năng Iran trở thành đối tác năng lượng mới của châu Âu


Báo Die Welt (Thế giới) của Đức ngày 6/4 có bài bình luận về khả năng thiết lập đối tác năng lượng mới giữa Liên minh châu Âu (EU) và Iran, nội dung chính như sau:

Iran có trữ lượng khí đốt khổng lồ. Một thỏa thuận hạt nhân mới giữa Iran và phương Tây có thể sắp được ký kết, qua đó giúp Tehran quay trở lại thành một đối tác thương mại và nhà cung cấp năng lượng hợp pháp. Tuy nhiên, phương Tây có nguy cơ lặp lại một sai lầm với quốc gia này.

Trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine, chủ đề cấm vận năng lượng đối với Nga ngày càng được tranh luận sôi nổi, cùng với đó là việc tìm kiếm các nhà cung cấp năng lượng thay thế. Đối với Đức – nền kinh tế đầu tàu châu Âu và là quốc gia phụ thuộc rất lớn và khí đốt và dầu mỏ từ Nga, Berlin vẫn chưa rõ quốc gia nào có thể là cung cấp năng lượng thay thế Nga. Câu trả lời ngắn gọn là không có nhà cung cấp nào. Do đó, Đức vẫn đang phải cố gắng đa dạng hóa nguồn cung với nhiều nhà cung cấp mới.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habeck đã tới Qatar với mục đích đó. Quốc gia nhỏ bé này có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn, được lưu trữ trong các mỏ khí dưới đáy biển ngoài khơi bờ biển Qatar. Tuy nhiên, khả năng để Qatar có thể đáp ứng ngay tất cả nhu cầu của Đức là không dễ dàng.

Iran cũng nhiều lần được nhắc đến như một nhà cung cấp năng lượng tiềm năng, nhất là khi tiến trình đàm phán một thỏa thuận hạt nhân mới giữa các nước phương Tây và nước này có tiến triển tốt. Theo thông báo chính thức từ cả hai bên, một thỏa thuận hạt nhân mới sắp hoàn thành. Iran cam kết giảm hoạt động làm giàu uranium và phương Tây sẽ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với quốc gia Hồi giáo này.

Iran có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai và là nhà sản xuất dầu lớn thứ tư trên thế giới. Nếu thỏa thuận hạt nhân mới được ký kết, Tehran một lần nữa sẽ trở thành đối tác thương mại hợp pháp và nhà cung cấp năng lượng tiềm năng. Điều này sẽ rất đáng chú ý, đặc biệt là trên thị trường dầu mỏ. Chuyên gia kinh tế Ali Vaez từ tổ chức International Crisis Group cho rằng việc công bố một thỏa thuận hạt nhân mới sẽ có tác động ngay lập tức đến tâm lý thị trường dầu mỏ.

Hiện giá dầu trên thị trường thế giới đang ở mức hơn 100 USD/thùng, mức rất cao trong vòng 10 năm qua, Iran có thể giúp tăng nguồn cung và do đó làm giảm giá dầu. Một khi các lệnh trừng phạt thương mại được dỡ bỏ, Tehran ngay lập tức có thể xuất xưởng hàng trăm nghìn tấn dầu mỗi ngày. Trong vòng vài tháng, Iran có thể tăng sản lượng từ 1 triệu lên đến 1,5 triệu tấn mỗi ngày. Mặc dù khối lượng đó vẫn không thể thay thế năng lực giao hàng khoảng 7 triệu tấn mỗi ngày của Nga, nhưng đó sẽ là một bước khởi đầu mới.

Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Javad Owji cũng nhấn mạnh rằng Tehran có “năng lực cần thiết” để cung cấp cả khí đốt cho các nước láng giềng và thậm chí cả châu Âu. Với khối lượng khí đốt tự nhiên ước tính vào khoảng 34.000 tỷ mét khối, Iran là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó chưa được khai thác. Iran xuất khẩu tối đa 25 tỷ mét khối mỗi năm. Để so sánh, lượng khí đốt xuất khẩu của Nga lên tới khoảng 180 tỷ mét khối/năm.

Chuyên gia kinh tế Ali Vaez cho rằng mặc dù Tehran có thể đáp ứng nhu cầu khí đốt của chính mình và cung cấp lượng khí dư thừa cho các nước láng giềng gần kề, nhưng hiện quốc iga này không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của châu Âu. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc vận chuyển khí đốt từ Iran tới châu Âu như các đường ống hoặc các cảng khí lỏng cũng không tồn tại.

Trước đây, đã có một số nỗ lực đưa khí đốt từ Iran đến châu Âu như nỗ lực của Thổ Nhĩ Kỳ – Iran đưa khí đốt từ Iran qua đường ống Nabucco (dự án đã thất bại) qua Thổ Nhĩ Kỳ tới châu Âu. Dự án này nhằm giảm sự phụ thuộc của châu Âu vào khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Mỹ và EU đã lên tiếng phản đối sự tham gia của Iran. Những tranh cãi về vấn đề hạt nhân với Iran và các lệnh trừng phạt của Mỹ khi đó đã ngăn cản Tehran trở thành một nhà cung cấp khí đốt quan trọng của thế giới. Hiện Iran không đủ tiềm lực đầu tư vào lĩnh vực khai thác khí đốt. Theo các số liệu chính thức, cần tới 160 tỷ USD để có thể biến Iran thành một nhà cung cấp dầu và khí đốt hàng đầu thế giới.

Với khoản đầu tư cần thiết, chuyên gia Ali Vaez cho rằng Iran có thể thay thế Nga trở thành nhà cung cấp khí đốt trong vòng 5 đến 7 năm. Thế nhưng, phương Tây đã rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng Ukraine rằng việc tự rằng buộc với một nhà cung cấp năng lượng không chia sẻ các giá trị chung với phương Tây là rất rủi ro. Châu Âu không sẵn sàng phạm sai lầm tương tự tại Iran.

Dưới góc độ nhân quyền, không có một giải pháp thực sự tốt nào ở Trung Đông để thay thế nguồn cung từ Nga. Tuy nhiên, chuyên gia Ali Vaez cho rằng với phương Tây, các quốc gia vùng Vịnh khác đáng tin cậy hơn Iran vì các quốc gia này hướng về phương Tây.

Saudi Arabia, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Israel đều cảnh báo về một khía cạnh quan trọng khác nếu lệnh trừng phạt kinh tế Iran được dỡ bỏ và Tehran có thể xuất khẩu dầu mỏ trở lại: việc Iran kiếm được nhiều tiền hơn từ dầu mỏ cũng đồng nghĩa với việc họ có thể cung cấp nhiều tiền hơn cho các hoạt động khủng bố. Mặc dù Iran không xâm lược các nước láng giềng lân cận, nhưng Tehran lại tài trợ cho các nhóm khủng bố và sử dụng các nhóm này để gây bất ổn cho các quốc gia láng giềng.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Tuyên bố chung G7-ASEAN và ý định của Anh về an ninh, dầu khí trên Biển Đông


Nhóm 7 quốc gia công nghiệp phát triển (G7) vừa lên tiếng bày tỏ quan ngại về những căng thẳng ở Biển Đông và tuyên bố “có chung lợi ích trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Tuyên bố được đưa ra sau cuộc họp khai mạc giữa các ngoại trưởng G7 với những người đồng cấp ASEAN.

G7 gồm Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italy, Canada và Nhật Bản. Trong khuôn khổ cuộc gặp tại Liverpool (Anh), các nhà ngoại giao hàng đầu của G7 đã tham dự một cuộc họp trực tuyến với những người đồng cấp tại các quốc gia Đông Nam Á vào ngày 12/12/2021. Cuộc họp do Anh – quốc gia giữ chức chủ tịch G7 năm 2021 – tổ chức.

Tuyên bố chủ tọa cho biết G7 và ASEAN với 10 thành viên đã thảo luận về tình hình ở Biển Đông và “bày tỏ quan ngại về các hoạt động cải tạo đảo, các hoạt động, sự cố nghiêm trọng trong khu vực trong đó có thiệt hại đối với môi trường biển. Những hoạt động này đã làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng và có thể làm suy yếu hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực” – Tuyên bố nhấn mạnh nhưng không nêu tên bất kỳ quốc gia cụ thể nào.

Trung Quốc, nước đã bị cáo buộc về các hoạt động như vậy, đã không được mời tham dự cuộc họp và hiện chưa có phản ứng gì về tuyên bố này. Các bên tham gia hội nghị kêu gọi cần có “một Bộ Quy tắc ứng xử thực chất và hiệu quả ở Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982”.

Cuộc họp cấp bộ trưởng này được tổ chức trong bối cảnh các nước thành viên ASEAN đang có sự chia rẽ về vấn đề AUKUS – một quan hệ đối tác ba bên mới giữa Mỹ, Anh và Australia. Thỏa thuận này vốn bị Trung Quốc chỉ trích là có khả năng gây ra một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân ở châu Á. Chỉ vài ngày trước cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia Prabowo Subianto đã nhắc lại quan điểm của Indonesia về AUKUS: “Tất nhiên Đông Nam Á nên duy trì là một khu vực không có hạt nhân và các quốc gia Đông Nam Á lo sợ rằng điều này sẽ châm ngòi cho một cuộc chạy đua vũ trang”.

Giáo sư Carl Thayer tại Đại học New South Wales (Australia) cho biết cuộc họp ngày 12/12 được tổ chức theo sáng kiến của Anh và nó có thể phản ánh định hướng trong chính sách đối ngoại của Anh: “Anh đang thực hiện đặc quyền của mình với tư cách là Chủ tịch của G7 và nước này có chính sách độc lập riêng của mình đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.

Tháng 03/2021, Chính phủ Anh đã đề ra chính sách an ninh, quốc phòng, phát triển và ngoại giao của mình trong hai thập kỷ tới. Giới quan sát cho rằng đã có một “sự nghiêng hẳn về phía khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Mùa Hè vừa qua, tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của nước này đã lần đầu tiên triển khai tới Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace cho biết việc triển khai này thể hiện “sức mạnh và cam kết của Anh trên biển, trên không và trên đất liền” đồng thời thúc đẩy hơn nữa lợi ích của Anh cũng như củng cố các quan hệ đối tác của nước này.

Kế hoạch sản xuất dầu khí

Trong khi đó, trong một động thái có thể gây khó chịu cho Trung Quốc, công ty dầu khí Harbour Energy của Anh đã thông báo đang lên kế hoạch sản xuất dầu khí sau khi khoan thẩm định thành công ở hai lô ngoài khơi Indonesia. Ngày 9/12, Công ty cho biết hoạt động khoan thẩm định thành công ở lô A Natuna Sea và lô Tuna sẽ “hỗ trợ sản xuất trong tương lai”.

Harbour không cung cấp thông tin chi tiết nhưng giới truyền thông Indonesia đã dẫn lời ông Benny Lubiantara, một quan chức cấp phó phụ trách kế hoạch của một cơ quan chuyên trách các hoạt động kinh doanh dầu khí “thượng nguồn” của Indonesia cho biết: Trong tháng 01/2022, bộ phận của ông và Premier Oil sẽ bắt đầu thảo luận về một kế hoạch phát triển đã được đề xuất.

Premier Oil là tên gọi của Harbour tại Indonesia. Premier Oil đã hợp nhất Chrysaor để trở thành Harbour Energy PLC vào đầu năm nay. Premier Oil cùng đối tác Nga Zarubezhneft đã khoan hai giếng thẩm định ở phía Đông biển Natuna – gần biên giới biển giữa Indonesia với Việt Nam. Kết quả cho thấy tiềm năng hydrocarbon tốt.

Ông Benny cho biết: “Ngay từ đầu, SKK Migas đã đánh giá và phân loại hai giếng này là những giếng quan trọng… Ngoài việc gia tăng trữ lượng dầu khí quốc gia, những phát hiện này cũng nhấn mạnh chủ quyền lãnh thổ của Indonesia”.

Đầu tháng này, Bắc Kinh đã yêu cầu Indonesia ngừng khoan dầu khí ở lô Tuna. Lô nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia, cách biên giới biển Indonesia – Việt Nam khoảng 10 hải lý nhưng trùng với “đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh sử dụng để phân giới các khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Nguồn: TKNB – 16/12/2021

Việt Nam là quốc gia đầu tiên quan tâm đến loại tuabin gió theo nguyên tắc mới của Nga


Các chuyên gia Nga đánh giá Việt Nam là một trong những khu vực có triển vọng sử dụng năng lượng gió, với tiềm năng tự nhiên phù hợp và sự quan tâm lớn của cơ quan nhà nước cũng như tư nhân trong việc phát triển năng lượng điện gió. Thế giới đang ngày càng chú ý đến nguồn năng lượng tái tạo từ gió. Các chuyên gia Nga ước tính tiềm năng xuất khẩu ra các thị trường năng lượng gió nước ngoài trong những năm tới là 5 GW. Để so sánh, cuối năm 2021, tổng công suất của các nhà máy điện gió ở Nga hầu như không vượt quá 2 GW.

Tại sao Việt Nam lại quan tâm đến những cột phát điện gió Voronezh?

Việt Nam là quốc gia đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đối với loại tuabin gió hoàn toàn mới do công ty “Hệ thống Sáng tạo” ở Voronezh (miền Trung nước Nga, gần Moskva) phát triển. Trong cuộc phỏng vấn của Sputnik, bà Elena Tikhonova, Tổng giám đốc điều hành công ty “Hệ thống Đổi mới” Voronezh, cho biết: “Chúng tôi có một kỹ thuật mới cơ bản, chưa từng có trên thế giới Không phải hệ thống lắp đặt một trục quay mà là hai trục, như trên các máy bay trực thăng Nga nổi tiếng của Cục thiết kế Kamov. Người phụ trách khoa học của dự án là tổng công trình sư hàng không, có những phát triển được sử dụng trong ngành hàng không cỡ lớn và nhỏ, trên tàu vũ trụ. Cột gió của chúng tôi không chỉ có 3 cánh quạt như ở khắp mọi nơi trên thế giới, mà có 9 cánh – 4 cánh trên một trục, 5 cánh trên trục còn lại. Thường khi 3 cánh quạt lớn đi ngang qua tháp, không khí bị nén lại và phân nhánh. Xung động xảy ra, gây ra sóng hạ âm trong phạm vi nguy hiểm cho con người. Những chiếc cột gió của chúng tôi có những cánh quạt nhỏ hơn, quay nhanh hơn. Một trục quay theo chiều kim đồng hồ, trục kia quay theo hướng ngược lại. Xung động không khí xuất hiện giữa các cánh quạt có tần số nằm ngoài phạm vi nguy hiểm và tiêu tốn ít năng lượng hơn”.

Cột gió Voronezh có lợi thế rõ ràng

Cối gió 2 trục quay Voronezh cũng có những điểm khác biệt tích cực khác. Chúng được thiết kế theo cách mà tuabin gió có thể được kết nối trực tiếp với lưới điện. Do ở bất kỳ tốc độ gió nào, vòng quay không đổi được cung cấp cho máy phát điện, không có sự thay đổi công suất phụ thuộc vào sức mạnh của gió, như đối với cột phát điện 3 cánh, quay khi nhanh khi chậm. Để giải quyết vấn đề này, trên những chiếc cột 3 cánh quạt lắp đặt một hệ thống tự động hóa phức tạp và tốn kém, nhiều năng lượng bị hao hụt vào việc này.

Tuabin gió Voronezh được thiết kế theo tốc độ gió định dnah 10m/giây. Với chiều cao tháp 70m, đây là mức gió thường thấy ở Việt Nam. Còn tất cả các loại 3 cánh đều được thiết kế cho tốc độ gió tối đa lên đến 20 – 25m/giây. Ở tốc độ cao hơn, chúng không tạo ra năng lượng. Cột Voronezh có thể hoạt động với tốc độ lên tới 60m/giây. Cột 3 cánh không thể cho tỷ lệ sử dụng năng lượng gió cao hơn 30%. Hệ số của cột Voronezh – 70%. Do vậy, cột gió Voronezh có công suất 1 MW tạo ra năng lượng gấp 2,5 lần so với cột 3 cánh có cùng công suất.

Sơ đồ cơ học của những chiếc cột gió Voronezh cho phép không cần phải xây dựng các trạm biến áp đắt tiền, loại thiết bị luôn đi cùng với hệ thống 3 cánh. Điện thu được từ cột gió 2 trục quạt có giá thành rẻ hơn nhiệt điện, thủy điện và điện hạt nhân. Tuổi thọ 50 năm, dài hơn gấp đôi so với cột gió 3 cánh. Khi hết thời hạn sử dụng, phải xử lý cột gió. Các cánh của cột gió 1 trục được làm bằng sợi thủy tinh, xử lý rất tốn kém. Trên khắp thế giới, hầu hết những cánh quạt này được chôn trong lòng đất, chúng không bị phân hủy trong nhiều thế kỷ vì đó là thủy tinh. Cánh quạt Voronezh được làm bằng vật liệu tổng hợp carbon và than luôn có thể được xử lý – đóng bánh, đốt cháy, tái chế.

Hợp đồng điều khoản rõ ràng

Một trang trại điện gió dùng sản phẩm của Voronezh đã được xây dựng tại Việt Nam. Thành lập liên doanh Việt – Nga “Avangard Technologies JV”. Lĩnh vực chịu trách nhiệm chính của doanh nghiệp là cơ sở hạ tầng, nền tảng cho các tòa tháp và bản thân các tòa tháp, lắp đặt thiết bị.

Bà Elena Tikhonova cho biết: “Theo hợp đồng đã ký kết, lô hàng đầu tiên được giao cho Việt Nam từ Voronezh sẽ bao gồm 3 tổ máy. Sau khi hoạt động, phía Việt Nam sẽ đặt hàng thêm 30 chiếc. Đồng thời, “Avangard Technologies JV” cũng khởi công xây dựng nhà máy tại Việt Nam – nhiều khả năng ban đầu sẽ sản xuất cánh quạt và lắp ráp. Công nghệ sẽ được chuyển giao dần cho Việt Nam. Đã có 3 trang trại gió thể hiện sự quan tâm đến sản phẩm của chúng tôi với hơn 1000 cột.

Khi các tháp đầu tiên được lắp đặt, chúng tôi sẽ bắt đầu cung cấp các tổ máy điện, mỗi khối nặng 55 tấn. Ở Voronezh, chúng đã trải qua một loạt thử nghiệm giống như trong ngành công nghiệp hàng không: cấp nhà máy, độ bền, kéo dài 600 giờ. HIện chúng tôi đã đến giai đoạn thử nghiệm quy mô toàn diện trên lãnh thổ Nga, khi toàn bộ tổ máy được lắp ráp và đưa lên tháp, giờ nó đang được lắp ráp trước”.

Bà Elena Tikhonova ghi nhận sự tiếc nuối rằng công việc bị cản trở do bộ máy quan liêu của VIệt Nam. Từ tiền Việt Nam chuyển sang rất chậm trễ. Cho đến nay, việc chậm thanh toán cho các công đoạn đã hoàn thành ở Voronezh đã hơn 3 năm, dù Việt Nam không có khiếu nại hay khiếu kiện gì đối với hợp đồng.

Nguồn: TKNB – 09/02/2022

Bài toán điện than và giảm khí thải tại Việt Nam


Theo trang mạng agreenerlifeagreenerworld, khi các nhà đầu tư nước ngoài quay lưng lại với điện than, một cuộc đấu tranh nội bộ đang diễn ra về con đường năng lượng của Việt Nam.

Tại hội nghị khí hậu COP26 năm 2021, Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bất ngờ công bố mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việt Nam cũng đã ký Tuyên bố chuyển đổi từ điện than sang điện sạch toàn cầu, trong đó cam kết tăng nhanh quy mô của năng lượng tái tạo và không xây thêm nhà máy điện than mới.

Đây là một bước ngoặt lớn và bất ngờ đối với Việt Nam. Việt Nam đã đầu tư rất nhiều vào điện than trong thập kỷ qua, với mức độ xây dựng các nhà máy điện than nhiều nhất so với các nước khu vực sông Mekong, sau Trung Quốc. Chỉ 2 tháng trước COP26, Việt Nam đã công bố Quy hoạch điện 8 giai đoạn 2021 – 2030, chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài và năng lượng không tái tạo.

Brian Eyler, Giám đốc khu vực Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, một tổ chức tư vấn của Mỹ, giải thích rằng khi Việt Nam xuất khẩu nhiều hàng hóa chế tạo hơn các nước láng giềng, các nguồn sản xuất điện cần được phát triển nhanh hơn và điện than và thủy điện là “những giải pháp dễ dàng”.

Nghiên cứu được Friedrich Ebert Foundation, một tổ chức phi lợi nhuận của Đức thực hiện năm 2017, đã phát hiện ra rằng xung đột lợi ích được thể chế hóa là rào cản đối với việc Việt Nam chuyển đổi từ than sang các nguồn phát thải carbon thấp. Ông Eyler cũng nhất trí khi nói “thật khó để thuyết phục các công ty xây dựng nhà máy điện than không làm điều đó, họ có rất nhiều quyền lực và các nhóm đặc quyền” và rằng việc cân bằng lợi ích trong quá trình sửa đổi PDP giống như một trận đấu quyền anh.

Đầu tư cạn kiệt

Dữ liệu từ Global Energy Monitor cho thấy kể từ năm 2010, lĩnh vực điện than của Việt Nam đã nhận được ít nhất 29 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài. Còn theo Trung tâm Stimson, cứ 100 MW công suất điện than đang hoạt động hiện nay tại Việt Nam thì 93 MW được xây dựng với phần nào vốn đầu tư nước ngoài. James Browning, giám đốc truyền thông của Global Energy Monitor, nhấn mạnh: “Than là cách rẻ nhất và nahnh nhất để đáp ứng nhu cầu điện của Việt Nam”.

Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc từng là các nhà đầu tư chính trong lĩnh vực điện than của Việt Nam, nhưng hiện đã lùi bước. Ngay cả trước thông báo của Việt Nam tại COP26, các câu hỏi đã được đặt ra về việc QHĐ8 sẽ được tài trợ như thế nào. Theo dự thảo tháng 9/2021, Việt Nam sẽ cần khoảng 44 tỷ USD để phát triển các nhà máy than trong 10 năm tới, nhiều hơn khoảng 50% so với 29 tỷ USD vốn nước ngoài đã đổ vào lĩnh vực này trong thập kỷ qua – một mức tăng dường như khó xảy ra.

Sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố vào tháng 9/2021 rằng Trung Quốc sẽ ngừng xây dựng các dự án điện than mới ở nước ngoài, Viện kinh tế năng lượng và phân tích tài chính đã công bố một bản tóm tắt, kết luận rằng trong bối cảnh các chính phủ và ngân hàng châu Á và Bắc Mỹ từ chối tài trợ điện than, trong số 30 GW điện than được lên kế hoạch trong PDP8, chỉ 1/3 là khả thi, gồm các dự án đã được xây dựng hoặc đã được đảm bảo tài trợ.

Thích ứng với sự thay đổi toàn cầu

Cuối tháng 11/2021, Bộ Công thương Việt Nam cho biết, đến năm 2045, năng lượng sạch hơn bao gồm khí đốt, điện mặt trời và điện gió sẽ chiếm khoảng 75% tổng công suất phát điện đã lắp đặt của Việt Nam.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia không coi khí đốt là “năng lượng sạch”. Browning chỉ ra rằng, trong ngắn hạn, lượng khí mê-tan thải ra trong quá trình khai thác và đốt cháy khí đốt tệ hơn khí CO2 gấp 80 lần. Global Energy Monitor công bố một báo cáo vào tháng 10/2021 nói rằng nếu tất cả cơ sở hạ tầng khí đốt theo kế hoạch ở châu Á được xây dựng thì mục tiêu hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở mức 1,5 độ C khó có thể đạt được.

Tiềm năng của ngành năng lượng tái tạo Việt Nam đang bùng nổ. Dự thảo QHĐ8 dự báo, đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần 92 GW điện. Để đáp ứng nhu cầu đó, nước này phải tăng cơ cấu năng lượng thêm 18 GW trong 9 năm, hay 2 GW mỗi năm. Năm 2020, chỉ riêng điện gió đã tăng 4 GW, và năm 2019, công suất điện mặt trời tăng 16 GW.

Ông Eyler cho biết: “Việt Nam có thể thực hiện chuyển đổi khỏi các nhà máy điện than đã được dự báo trước đây. Cơ hội lớn nhất nằm ở khu vực điện gió ngoài khơi. Chúng ta có thể thấy sự bùng nổ điện gió tương tự như chúng ta đã thấy ở điện mặt trời trong 2 năm qua. Tôi nghĩ cam kết của Trung Quốc (ngừng các dự án điện than ở nước ngoài) sẽ tạo ra kết quả và điều đó có thể thay đổi cách nghĩ về tương lai của các nhóm ủng hộ điện than. Chúng tôi đã thấy, tương tự như ở Mỹ, các công ty dầu khí lớn đang xây dựng điện Mặt Trời. Họ có thể tạo ra sự chuyển đổi”.

Nguồn: TKNB – 09/02/2022

Khủng hoảng năng lượng rất gần Trung Quốc?


Theo HK01, khủng hoảng năng lượng từng được cho đã đi rất xa, nhưng gần đây lại tái hiện trên khắp toàn cầu, hơn nữa rất gần Trung Quốc?

Dưới sức ép của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, việc sử dụng năng lượng của thế giới bắt đầu chuyển sang năng lượng mới trên quy mô lớn, năng lượng truyền thống bắt đầu trở thành năng lượng “lỗi thời”, “không thân thiện”, các tổ chức tài chính bắt đầu cắt giảm tài trợ vốn đối với các công ty năng lượng truyền thống và các công ty dầu mỏ bắt đầu chuyển sang phát triển năng lượng mới. Những thay đổi này đã phác họa triển vọng bi quan đối với lĩnh vực năng lượng truyền thống như dầu mỏ, than đá và việc giá dầu sụt giảm trở nên bình thường phù hợp với xu hướng nói trên.

Tuy nhiên, dưới tác động của một loạt nhân tố, giá dầu quốc tế lại tiếp tục tăng. Từ tháng 12/2021 đến nay, giá dầu quốc tế gần như tăng một chiều, điển hình là giá dầu WTI tăng từ mức 67 USD/thùng vào ngày 02/12/2021 lên 90 USD/thùng vào ngày 09/2, ghi nhận biên độ tăng gần 33% trong 2 tháng. Trong cùng thời gian đó, giá dầu thô Brent cũng tăng đến 29%.

Từ năm 2021 đến nay, giá khí đốt tự nhiên quốc tế xuất hiện tình trạng tăng ở các mức độ khác nhau, trong đó xu thế tăng ở khu vực châu Âu đặc biệt nhanh. Cuộc khủng hoảng năng lượng châu Âu ngày càng diễn biến nghiêm trọng, cung-cầu mất cân đối đã dẫn đến giá cả tăng vọt. Hiện nay, giá bán sỉ khí đốt tự nhiên ở châu Âu đã tăng 5 – 6 lần so với đầu năm 2021, hệ lụy là giá điện cũng tăng theo, giá điện bình quân của các nước chủ chốt ở châu Âu đều đã vượt mức 300 euro/MW, trong khi mức giá cùng kỳ của năm 2019 là 50 euro/MW. HIện nay, dự trữ khí đốt tự nhiên của toàn châu Âu chỉ đáp ứng 68% công suất hoạt động, thấp hơn nhiều so với giá trị trung bình trong cùng thời kỳ của 10 năm. Bên cạnh đó, giá khí đốt tự nhiên của Mỹ cũng đang tăng, ước tính trung bình chi phí sử dụng khí đốt tự nhiên để sưởi ấm trong mùa Đông của người dân Mỹ đạt 746 USD, tăng khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước. Ở châu Á, giá khí đốt tự nhiên có thời điểm tăng 5 lần.

Châu Âu nhập khẩu khoảng 40% khí đốt tự nhiên từ Nga, trong khi đó 70% doanh số từ đường ống khí đốt tự nhiên của Tập đoàn công nghiệp khí đốt tự nhiên Gazprom thuộc sở hữu nhà nước của Nga lại được bán cho Tây Âu. Theo số liệu của Cơ quan hợp tác quản lý năng lượng châu Âu (ACER), mức độ phụ thuộc của Đức, Italy đối với khí đốt tự nhiên Nga lần lượt là 49% và 46%, trong khi Pháp có nguồn điện hạt nhân dồi dào cũng phụ thuộc 24% vào khí đốt tự nhiên của Nga. Tính đến ngày 06/02, tồn kho khí đốt tự nhiên của châu Âu chỉ ở mức 37% lưu trữ.

Tập đoàn Gazprom của Nga cũng đa dạng hóa khách hàng thông qua các thiết bị đầu cuối khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) và tuyến đường ống vận chuyển khí đốt tự nhiên đến Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời có kế hoạch triển khai thêm nhiều dự án. Châu Âu và Nga đang nỗ lực giảm thiểu sự phụ thuộc lẫn nhau, điều này có thể có lợi cho xuất khẩu khí đốt tự nhiên của Mỹ và các khu vực khác.

Khủng hoảng Nga – Ukraine kéo dài đã củng cố quyết tâm của EU đối với việc tăng cường an ninh năng lượng. Tuy nhiên, xuất phát từ thời gian cần có và nguồn lực đầu tư lớn để chuyển đổi nhiên liệu, xây dựng hệ thống đường ống hoặc các thiết bị đầu cuối LNG, nên sự thay đổi chỉ có thể diễn ra từng bước. Điều này đồng nghĩa với việc hạ thấp mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa EU và Nga về cung cầu năng lượng là điều không thể thực hiện trong ngắn hạn. Sự biến đổi của nhân tố địa chính trị sẽ tiếp tục tác động đến thị trường năng lượng, đặc biệt là giao dịch khí đốt tự nhiên giữa Nga và EU. Một số chuyên gia năng lượng của phương Tây cảnh báo, nếu Tổng thống Nga V. Putin nhân cơ hội tình hình căng thẳng Nga – Ukraine leo thang để “vũ khí hóa” nguồn cung khí đốt tự nhiên cho châu Âu, thì Nga sẽ phải trả giá.

Trung Quốc là nước nhập khẩu năng lượng lớn nhất toàn cầu, khối lượng nhập khẩu dầu thô và LNG đều đứng đầu thế giới. Theo số liệu sản xuất và nhập khẩu năng lượng do Cục thống kê quốc gia Trung Quốc công bố, năm 2021 Trung Quốc nhập khẩu 320 triệu tấn than đá, 512,98 triệu tấn dầu thô, 121,36 triệu tấn khí đốt tự nhiên (tăng 19,9% so với cùng kỳ). Xét từ góc độ phụ thuộc nhập khẩu, mức độ phụ thuộc nhập khẩu dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và than đá của Trung Quốc năm 2021 lần lượt là 72,1% (giảm 1,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ), 45,5% (tăng 3,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ) và 7,3% (tăng 0,05 điểm phần trăm so với cùng kỳ).

Mức độ phụ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của Trung Quốc đối với thị trường quốc tế cao như vậy đã lớn hơn nhiều sự phụ thuộc năng lượng của các nước EU đối với Nga. Sự phụ thuộc của Trung Quốc đối với nguồn cung năng lượng bên ngoài vừa thể hiện mối quan hệ cung cấp năng lượng giữa Trung Quốc và thị trường quốc tế, vừa là kênh rủi ro về khía cạnh an ninh năng lượng giữa Trung Quốc và thế giới. Trong bối cảnh thị trường năng lượng quốc tế mong manh như hiện nay, nếu xuất hiện xung đột địa chính trị tương đối cực đoan, cho dù các bên xung đột có liên quan đến Trung Quốc hay không, thì cúc sốc của thị trường năng lượng đều lan tỏa đến Trung Quốc.

“Quy hoạch 5 năm lần thứ 14” của Trung Quốc đã nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực an ninh kinh tế lớn mà Trung Quốc đối diện, bao gồm an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính. Trong số 3 lĩnh vực an ninh kinh tế lớn nói trên, bảo đảm an ninh lương thực và an ninh tài chính chủ yếu thực hiện tốt các vấn đề trong nước, tuy nhiên chìa khóa của đảm bảo an ninh năng lượng lại không ở trong nước, mà nằm ở thị trường quốc tế. Do đó, Trung Quốc sẽ cần phải đầu tư nguồn lực quốc tế khá lớn để bảo đảm an ninh năng lượng cho sự phát triển của tương lai. Điều này cũng có nghĩa là vấn đề an ninh năng lượng sẽ là “điểm nhạy cảm” và điểm rủi ro tồn tại lâu dài của Trung Quốc, đồng thời cũng là “đòn bẩy” địa chính trị rất dễ bị lợi dụng.

Hiện nay, Trung Quốc vẫn đang nỗ lực xây dựng hệ thống an ninh năng lượng truyền thống. Ngày 04/02, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Nga V. Putin, hợp đồng lớn về năng lượng giữa hai nước là nội dung hợp tác không thể thiếu. Các doanh nghiệp hai nước đã ký thỏa thuận mau bán khí đốt tự nhiên Trung – Nga ở vùng Viễn Đông, đây là hợp đồng cung ứng dài hạn thứ hai về khí đốt tự nhiên mà hai nước ký kết, sau khi tuyến đường ống mới đi vào hoạt động, khối lượng khí đốt mà tập đoàn khí đốt tự nhiên Gazprom của Nga cung ứng cho Trung Quốc sẽ đạt 48 tỷ m3/năm.

Giá dầu mỏ và khí đốt tự nhiên thế giới tăng mạnh cho thấy quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu trong bối cảnh biến đổi khí hậu sẽ diễn ra lâu dài. Sự gia tăng cọ sát địa chính trị có thể sẽ dễ dàng kích hoạt những biến động dữ dội của thị trường năng lượng quốc tế. Là nước tiêu thị năng lượng và nhập khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới, Trung Quốc trong tình trạng tất gần khủng hoảnng năng lượng. Do đó, Trung Quốc cần phải có sự chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với sức ép khủng hoảng năng lượng lớn nhất toàn cầu.

Nguồn: TKNB – 23/02/2022