Dịch cúm do virus corona cho thấy sự phụ thuộc của OPEC vào Trung Quốc


Thành phố Vũ Hán đang bị phong tỏa. Hơn 50 triệu người đeo khẩu trang ngay trong chính ngôi nhà của mình. Hiếm khi nào trong lịch sử, nhân loại phải đối mặt với mối đe dọa virus gây hậu quả khủng khiếp như vậy. Những con người bất hạnh ở tỉnh Hồ Bắc có thể biết rằng khoa học cuối cùng sẽ có thể giải cứu họ, nhưng mối đe dọa về bệnh dịch toàn cầu và vết nhơ này có thể sẽ tồn tại mãi mãi.

Ngay sau khi đợt bùng phát virus gây sự chú ý của toàn thế giới, giới chức y tế Anh đã nhanh chóng đề cập đến những thông tin ít ỏi mà các đối tác Trung Quốc chia sẻ. Thông tin về số ca nhiễm mới và số người chết do chủng mới của virus corona gây ra cũng rất mập mờ. Bên cạnh sự che giấu thông tin, rào cản ngôn ngữ cũng ngăn chặn việc tiếp cận các chuyên gia và nguồn lực bên ngoài.

“Virus Vũ Hán” sẽ đánh gục nền kinh tế Trung Quốc, nhưng quan trọng nhất vẫn là những đồn đoán về an ninh quốc tế. Rõ ràng rằng đây là một bệnh dịch kiểu mới.

Nỗi lo sợ về sự giảm tốc kinh tế, bị kích động bởi đợt bùng phát virus corona tại Trung Quốc, đã hướng sự chú ý tới Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), vốn phụ thuộc lớn vào nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Phát biểu với AFP, nhóm nghiên cứu JBC Energy cho biết: “Trung Quốc đang ngày một trở nên quan trọng với các nước OPEC trong những năm gần đây”. Hơn 2/3 lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc là từ các nước OPEC và Nga. Sau đợt sụt giảm của giá dầu, OPEC và Nga – nước đồng minh sản xuất dầu chính của tổ chức này – đã tiến hành cuộc họp trong tuần để thảo luận về tình hình hiện nay.

Trong một dấu hiệu cho thấy các khó khăn đang bủa vây, các đại biểu OPEC tham dự cuộc họp ở Vienna cho biết sự kiện này sẽ tiếp tục trong ngày 6/2. Tuy nhiên, đây không phải là cuộc họp chính thức về sản lượng dầu mỏ, như trong cuộc họp hồi tháng 12/2019 khi OPEC và các đồng minh OPEC+ đồng ý gia hạn thỏa thuận hiện hành nhằm hạn chế sản lượng dầu thô để nâng giá dầu.

Saudi Arabia và Nga hiện là các nước cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc. Tuy nhiên, về tổng thể, OPEC sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự sụt giảm về nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc.

Bất luận việc tăng nhẹ trở lại hôm 5/2, nhìn chung giá dầu đã tụt dốc “thảm hại” trong các tuần qua do lo sợ về sự giảm tốc kinh tế toàn cầu bị kích động bởi Trung Quốc. Giá dầu sụt giảm khiến nhiều người tỏ ra quan ngại về OPEC bởi 13 quốc gia thành viên của tổ chức này sản xuất khoảng 1/3 lượng dầu thô thế giới và hiện đang lo ngại về nguồn thu của họ bởi nhu cầu yếu đi của Trung Quốc.

Yuijao Lei, nhà phân tích tại nhóm nghiên cứu Wood McKenzie, nói: “Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lớn thứ 2 thế giới, chiếm 13% nhu cầu dầu mỏ của thế giới. Hơn 1/3 tăng trưởng trong nhu cầu dầu mỏ thế giới từ Trung Quốc. Bởi không có đủ nguồn cung trong nước, sự phụ thuộc của Trung Quốc ngày một gia tăng, khiến Trungn Quốc trở thành một trong các thị trường quan trọng của OPEC”.

Tuần này, Saudi Arabia nói rằng tác động của virus corona đối với nhu cầu dầu mỏ của thế giới là “vô cùng hạn chế” và “được kích động bởi các yếu tố tâm lý”.

Tuy nhiên, theo JBC Energy, “các nước OPEC/OPEC+ chỉ có một lựa chọn duy nhất, và đó sẽ là tuyên bố cắt giảm nguồn cung hơn nữa, nếu không giá dầu sẽ lại tiếp tục sụt giảm” trong bối cảnh thế giới chưa thể kiềm chế sự lây lan của virus.

Naeem Aslam, nhà phân tích của Avatrade, nói: “Giá dầu đang chịu sức ép lớn kể từ sau đợt bùng phát virus corona bởi các nhà đầu tư đều quan ngại về nhu cầu dầu. Nhiều người dự đoán rằng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc – hiện ở mức gần 11 triệu thùng/ngày trong đầu tháng 2/2020 – sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Chúng tôi dự đoán rằng con số đó sẽ giảm xuống 7 triệu thùng/ngày”.

Nguồn: TKNB – 10/02/2020.

Lào “lấn tới” với thủy điện Luang Prabang và ứng phó của Việt Nam


Theo đài RFA, ngày 29/10, Lào bắt đầu cho vận hành đập thủy điện Xayaburi và tiếp theo sẽ là con đập Don Sahong. Đây là hai đập thủy điện nằm trên dòng chính sông Mekong, đã và đang gây rất nhiều tranh cãi giữa Lào, Thái Lan, Campuchia cũng như Việt Nam ở hạ nguồn sông Mekong.

Nguồn tin đáng chú ý khác từ Ủy hội Sông Mekong (MRC) cho thấy Lào đang chuẩn bị tham vấn dự án thủy điện Luang Prabang có công suất 1410 MW, nằm cách thị trấn Luang Prabang khoảng 30 km. Nếu không có gì đột biến, đập Luang Prabang được khởi công xây vào tháng 7/2020. Một chuyên gia sông Mekong, bác sĩ Ngô Thế Vinh, tác giả hai cuốn sách “Cửu Long cạn dòng – Biển Đông Dậy sóng” và “Mekong – Dòng sông nghẽn mạch”, từng có bài tham luận về dự án Luang Prabang liên quan đến những con đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong, từ Trung Quốc xuống tới hai quốc gia Lào và Campuchia do những tác động tiêu cực xuyên biên giới đối với Đồng bằng sông Cửu Long. Chính phủ Việt Nam đã từng kêu gọi Lào “hoãn lại 10 năm” dự án đập Xayaburi và các con đập dòng chính khác. Gần đây nhất, chính Việt Nam kêu gọi sự quan tâm khai thác các nguồn năng lượng tái tạo để thay thế cho thủy điện trong lưu vực sông Meong vì điều đó có thể giúp “bảo vệ và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mekong, đồng thời tránh được những ảnh hưởng tác hại tiêu cực trên đời sống các cộng đồng dân cư ven sông”.

Tuy nhiên, năm 2007, Việt Nam đã lập kế hoạch xây nhiều đập thủy điện trên lãnh thổ Lào; trong đó có cả dự án đập Luang Prabang lớn nhất trong số 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào với kinh phí lên đến 2 tỷ USD. Một Biên bản ghi nhớ (Memorandum of Understanding – MoU) về Dự án thủy điện Luang Prabang đã được ký kết từ 2007 giữa công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation (PVPC) và Chính phủ Lào.

Ông Ngô Thế Vinh chỉ trích việc Việt Nam đã cho phép PVPC đầu tư xây đập Luang Prabang là hành động góp phần phá hoại Đồng bằng sông Cửu Long, một quyết định sẽ làm cho cuộc sống của 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL thê thảm hơn.

Ông cho rằng ĐBSCL là một vựa lúa của cả nước và Việt Nam lại là một quốc gia cuối nguồn, sẽ gánh chịu tất cả hậu quả tác hại tích lũy xuyên biên giới từ những con đập thượng nguồn đối với nguồn nước, nguồn phù sa, nguồn cá, và thêm thảm họa nước biển dâng do biến đổi khí hậu càng trầm trọng hơn nữa khi thiếu nguồn nước ngọt đổ xuống từ khúc sông Mekong thượng nguồn. Xa hơn nữa, khi không còn nguồn phù sa, ĐBSCL sẽ theo một tiến trình đảo ngược thay vì được bồi đắp thì đang dần dần bị sụp lở và tan rã.

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Biến đổi Khí hậu (Dragon Institute-Mekong) Đại học Cần Thơ, ông Lê Anh Tuấn, đã bày tỏ quan điểm phản đối mạnh mẽ dự án Luang Prabang. Ông phát biểu: “Điều rất tệ hại nếu một công ty quốc doanh Việt Nam tham gia đầu tư bất kỳ dự án thủy điện nào ở dòng chính sông Mekong. Sự kiện này phải được xem là một hành động cực kỳ nghiêm trọng, đẩy nhanh sự hủy hoại hệ sinh thái và cuộc sống ở hạ lưu ĐBSCL”.

Từ tháng 7/2019, Lào đã chính thức gửi hồ sơ tới MRC liên quan đến dự án xây đập dòng chính Luang Prabang, khi đó, ông Ngô Thế Vinh đã gọi đây là “Con Domino thứ 5”. Ông Ngô Thế Vinh nhận định rằng nếu không trì hoãn được ít nhất một thập niên, dự án Xayaburi như con cờ Domino đầu tiên đổ xuống, sẽ kéo theo những bước khai thác ồ ạt các con đập dòng chính hạ lưu khác và hậu quả tai hại trước mắt và lâu dài ra sao trên toàn hệ sinh thái sông Mekong và ĐBSCL là không lường được.

Xayaburi là con đập dòng chính đầu tiên vùng hạ lưu sông Mekong, cách thủ đô Vientiane 350 km về phía Bắc và cách con đập Cảnh Hồng (Jinhong) cực Nam trong chuỗi đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc 770 km và cách cố đô Luang Prabang 150 km về phía nam. Xayaburi được coi là một trong số 300 con đập lớn của toàn cầu.

Xayaburi chính là con cờ Domino đầu tiên, do không trì hoãn được ít nhất một thập niên tới năm 2020, theo như khuyến cáo của MRC, đã kéo theo những bước triển khai ồ ạt của chuỗi những con đập hạ lưu khác như: Don Sahong, Pak Beng, Pak Lay và sắp tới đây là Luang Prabang. Hậu quả trong hệ sinh thái sông Mekong và ĐBSCL sẽ rất trầm trọng nếu không muốn nói là bi thảm.

Nguồn nước từ con sông Mekong và các phụ lưu cùng với địa hình núi non giúp Lào sản xuất thủy điện với số lượng lớn. Thủy điện là nguồn tài nguyên quan trọng ở Lào, với công suất tiềm năng ước tính là 18000 MW. Từ 1971, Lào đã có con đập thủy điện Nam Ngum đầu tiên trên phụ lưu sông Mekong, hoàn thành năm 1971 với công suất ban đầu 30 MW sau tăng lên 155 MW, vừa cung cấp điện cho Lào vừa xuất khẩu sang Thái Lan.

Từ tháng 10/2014, các nhà máy thủy điện của Lào đã tạo ra gần 15,5 tỷ kWh. Trong số này, gần 12,5 tỷ kWh được xuất khẩu, thu về hơn 610 triệu USD. Thị trường chủ yếu của Lào là Thái Lan và Việt Nam. Hầu hết các đập đang hoạt động và đang xây dựng của Lào nằm trên các phụ lưu của sông Mekong. Hiện nay Lào đã hoàn tất thêm hai con đập trên dòng chính sông Mekong là Xayaburi và Don Sahong.

Theo trang web của Bộ Năng lượng và Mỏ Lào, hiện đã có 22 đập thủy điện đang hoạt động, 22 đập đang xây và hàng chục dự án được đề xuất. Thủy điện cung cấp những lợi ích kinh tế đáng kể cho Lào thông qua việc bán điện cho Thái Lan và Việt Nam.

RFA dẫn lời các chuyên gia cho rằng đây là sự khởi đầu một khủng hoảng tin cậy trong nỗ lực hợp tác vùng giữa các thành viên để bảo vệ hệ sinh thái của con sông Mekong, cũng là khởi đầu một vi phạm trắng trợn của Lào đối với Hiệp định phát triển bền vững lưu vực Sông Mekong 1995, đó là: “Các quốc gia thành viên ký kết đồng ý là bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường do phát triển và sử dụng Lưu vực Sông Mekong”, theo Điều 6 và 7 Hiệp định Mekong 1995.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Đỗ Chí, từng nhiều năm sống ở Lào, nhìn về toàn cảnh địa dư chính trị, Trung Quốc đang dùng Lào như một hành lang kinh tế cho kế hoạch bành trướng Dự án “Vành đai và Con đường” mở sang Việt Nam, qua sự tràn ngập FDI và các đặc khu kinh tế ở xứ láng giềng này. Người Trung Quốc hiện là thế lực chính trị chi phối nền kinh tế Lào, với 13 đặc khu kinh tế của Trung Quốc, trong đó có Đặc khu Kinh tế Tam giác vàng rộng 10.000 hecta, khiến Paul Chambers, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Bangkok đã đưa ra nhận định: “Bắc Lào giờ đây bị biến thành một đất nước Trung Quốc mới”.

Giới quan sát cho rằng việc Hà Nội ký với Lào 1 biên bản ghi nhớ năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang, mặc nhiên Việt Nam đã bật đèn xanh cho toàn chuỗi 9 dự án đập thủy điện dòng chính trên sông Mekong của Lào.

Một số chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài đặt câu hỏi Việt Nam có dám rút ra khỏi dự án Luang Prabang không?

Các chuyên gia cho rằng với một định chế chính trị như hiện nay, thì sẽ không phải là Ủy ban sông Mekong Việt Nam, cũng không phải là một Bộ trong chính phủ, mà phải là quyết tâm của Bộ Chính trị, không phải chỉ để cứu ĐBSCL mà là với tầm nhìn chiến lược vùng, buộc MRC thể hiện nghĩa vụ quốc tế theo đúng tinh thần Hiệp định phát triển bền vững lưu vực Sông Mekong 1995, bảo vệ sông Mekong, bảo vệ an ninh lương thực của thế giới.

Việc không thể yêu cầu ngừng xây đập thủy điện không có nghĩa là thả nổi cho Lào muốn làm gì thì làm. Lào phải tuân thủ những điều khoản cam kết trong Hiệp định Phát triển Bền vững Lưu vực Sông Mekong 1995. Việt Nam có nghĩa vụ bảo vệ Hiệp định Mekong 1995 vì sự sống còn của ĐBSCL và cũng là bảo vệ an ninh lương thực cho toàn vùng. Sông Mekong phải là sợi chỉ đỏ nối kết chứ không phải để hủy hoại xâu xé. Điều mà Trung Quốc rất muốn là sự phân hóa chia rẽ giữa các quốc gia Mekong, Bắc Kinh  không thể bẻ gẫy cả một bó đũa nhưng lại dễ dàng bẻ gãy từng chiếc, và hiện trạng 3 nước anh em Đông Dương thì đã có 2 là Campuchia và Lào đang tách ra khỏi Việt Nam để rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc.

Hủy dự án Luang Prabang và hoãn thêm 10 năm tới 2030, tất cả các con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào, đó là một thách đố cũng là cơ hội có tính lịch sử, là điều mà Việt Nam cần làm ngay và phải làm.

Nguồn: TKNB – 13/11/2019

Vì sao Việt Nam vỡ quy hoạch điện Mặt trời?


Theo đài RFA, Cố vấn dài hạn Chương trình hợp tác Đối tác năng lượng Việt Nam – Đan Mạch, ông Jakob Stenby Lundsager, khuyến nghị Việt Nam cần sớm dừng đầu tư vào những nhà máy nhiệt điện than mới và ưu tiên vào tiết kiệm năng lượng, tạo khung pháp lý minh bạch và ổn định cho năng lượng tái tạo phát triển.

Khuyến nghị của vị chuyên gia Đan Mạch được đưa ra tại Lễ công bố báo cáo Triển vọng Năng lượng Việt Nam 2019, do Bộ Công thương tổ chức vào chiều 5/11/2019.

Chuyên gia Jakob Stenby Lundsager diễn giải khuyến nghị về dừng đầu tư vào nhà máy nhiệt điện than sẽ có thể giúp tiết kiệm khoảng 30 tỷ USD vì nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu than đến năm 2050 sẽ tăng gấp 8 lần so với hiện tại và số liệu này chiếm 3/4 tiêu thụ năng lượng từ năng lượng nhập khẩu.

Vị chuyên gia Đan Mạch cũng nêu lên số liệu tính toán được trong trường hợp nếu Việt Nam không triển khai các nhà máy điện than mới thì sẽ giảm được 39% phát thải khí CO2 và giảm chi phí 20 tỷ USD.

Ông còn nhấn mạnh về tầm quan trọng của điện gió và điện Mặt trời chiếm 10% tổng nguồn điện của Việt Nam trong năm 2030 tăng lên 20% trong năm 2050. Do đó, ông khẳng định Việt Nam cần đưa ra khung pháp lý ổn định, đơn giản, minh bạch và tăng cườgg tính cạnh tranh đối với các dự án năng lượng tái tạo.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường cho biết: “Đây là một đề nghị rất chính xác trong hoàn cảnh hiện nay của thế giới cũng như của Việt Nam. Bởi vì, chúng ta cũng biết rằng tất cả các loại sản xuất năng lượng điện truyền thống trước đây, kể cả nhiệt điện và thủy điện mà nhất là nhiệt điện sản xuất bằng than thì đều gây ra tác động xấu về mặt môi trường. Hơn nữa, nhiệt điện than thải ra khí CO2 và nhiều loại khí nhà kính khác và chắc chắn không phải là xu hướng khuyến khích của thế giới, cũng như của Việt Nam. Đi theo con đường sản xuất năng lượng tái tạo, như năng lượng Mặt trời, hoặc năng lượng từ gió chẳng hạn, thậm chí năng lượng từ thủy triều là hướng rất đúng cho Việt Nam”.

Ông Đặng Hùng Võ còn khẳng định: “Chắc chắn thời gian tới, theo như ý kiến của Bộ trưởng Bộ Công thương và ý kiến của các Đại biểu Quốc hội chất vấn đều cho rằng Việt Nam cần phải thay đổi gấp chủ trương này và cần phải có những kế hoạch rất cụ thể để sản xuất điện từ năng lượng tái tạo”.

Thực tiễn vỡ quy hoạch điện Mặt trời tại Việt Nam

Tuy nhiên, tại buổi chất vấn trước Quốc hội vào chiều 6/11 liên quan đến vấn đề phát triển điện Mặt trời, năng lượng sạch, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh xác nhận: “ Khi lập quy hoạch năm 2017 đã không lường được hết sự phát triển của năng lượng tái tạo, trong đó chủ yếu là điện Mặt trời”.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết, theo Quyết định 11 khi được ban hành thì Việt Nam đối mặt với nguy cơ lớn nếu thiếu điện vào năm 2019 – 2020 nên điện Mặt trời là nguồn năng lượng bổ sung đáng kể. Tuy nhiên, sự phát triển quá nhanh của điện Mặt trời gây ra hệ lụy quá tải của hệ thống truyền tải điện.

Lãnh đạo Bộ Công thương cho biết thêm hiện công suất giải tỏa của các dự án điện Mặt trời chỉ đạt 30 – 40% và sẽ cố gắng giải tỏa công suất dự án điện Mặt trời đến năm 2020 đạt 60 – 70%. Thông tin từ Bộ Công thương cho biết đã báo cáo xin chính phủ bổ sung 15 dự án đường dây, trạm biến áp và ủng hộ tư nhân làm các dự án truyền tải điện.

Bộ Công thương cũng vừa trình Thủ tướng Chính phủ một dự án truyền tải điện của doanh nghiệp tư nhân đầu tiên – Công ty Đầu tư xây dựng Trung Nam, trong phê duyệt bổ sung Dự án Điện Mặt trời Trung Nam – Thuận Nam kết hợp đường dây truyền tải và quy hoạch điện quốc gia.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore nhận định tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam là không lường được việc vỡ quy hoạch điện Mặt trời. Ông nói: “Quy hoạch đây là quy hoạch không phù hợp với bất kỳ một nền tảng làm chính sách nào cả, do lỗi của tất cả những người làm quy hoạch. Điều này cũng cho thấy quá trình làm chính sách sai từ đầu”.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp nhấn mạnh về việc hoạch định chính sách cho năng lượng tái tạo tại Việt Nam cần phải chú trọng vào các yếu tố: “Mọi quy hoạch về điện nói chung, đặc biệt về năng lượng tái tạo là họ phải tính trước đến nhu cầu năng lượng như thế nào, sau đó tính đến an ninh năng lượng và tính đến các yếu tố khác như về thực trạng của ngành điện lực Việt Nam, hành vi tiêu thụ điện của các doanh nghiệp sản xuất hay hành vi tiêu thụ điện của người dân như thế nào, rồi từ đó mới tính toán ra được một quy hoạch, phải xem xét lại để bổ sung quy hoạch rất nhanh trong vòng một vài tháng với nền tảng là Bộ luật Quy hoạch mà Quốc hội đã thông qua”.

Ý kiến của giới chuyên gia

Trong bối cảnh Việt Nam được dự báo sẽ thiếu điện từ năm 2021, một trong những giải pháp hữu hiệu mà giới chuyên gia cho rằng Việt Nam cần phải cân nhắc, đó là tư nhân hóa ngành điện, không để cho nhà nước độc quyền trong sản xuất và phân phối như hiện nay.

Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Huy Vũ, từng nêu lên quan điểm rằng Việt Nam có thể học theo mô hình tư nhân hóa của nhiều nước trong lĩnh vực năng lượng điện tái tạo: “Mô hình Solar City ở Mỹ là họ có chính sách mua lại điện của người dân, công ty ký hợp đồng với người dân để lắp những tấm pin Mặt trời lên mái nhà, người dân dùng không hết thì bán lại. Cách thứ hai là của Israel. Một công ty trong nước có thể kêu gọi một công ty nước ngoài đầu tư chung với mình. Chính phủ cũng là một cổ đông. Tổ hợp đó có thể hoạt động trong vòng 5 năm chẳng hạn, rồi hai công ty đó có thể mua lại cổ phần của chính phủ với giá ưu đãi”.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường, giáo sư Đặng Hùng Võ, thì hiện nay xu hướng tư nhân hóa trong thủy điện đang gặp không ít những hậu quả nghiêm trọng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) mua điện của các nhà sản xuất năng lượng tái tạo với mức giá cả chưa khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân trong lĩnh vực này.

Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, một chuyên gia về điện năng tại Pháp, cho rằng Việt Nam có thể đạt 100% năng lượng tái tạo năm 2050 và “Sự thành công phụ thuộc phần lớn vào quyết tâm chính trị của Chính phủ Việt Nam”.

Hồi trung tuần tháng 10/2018, Giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn lưu ý một số việc Chính phủ Việt Nam cần phải đặc biệt lưu tâm trong một loạt các đề xuất của ông: “Thực hiện gấp các giải pháp: Không xây dựng các nhà máy điện than; Giảm tỉ lệ tăng trưởng hàng năm về tiêu thụ điện (mục tiêu ngắn hạn dưới 5%); Quy hoạch đất đai một cách thông minh; Bỏ rào cản hành chính và pháp lý cứng rắn; Chính sách mua lại giá thấp, hỗ trợ thuế; Dừng xây dựng các đường dây truyền tải 500 KV; Phân tán, xây cất các nhà máy điện nhỏ, tự chủ năng lượng của các vùng; Phát triển điều hòa nhiệt độ sinh học (điều hòa nhiệt độ hiện nay quá tốn điện); Tìm cách bổ sung cho khí đốt và điện; Triền khai các dự án thăm dò về “năng lượng dương” (energy positive)”.

Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết Việt Nam đang thực hiện giảm xây dựng các dự án nhiệt điện than mới, như đã dừng quy hoạch nhà máy nhiệt điện than ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tuy nhiên, tại Hội thảo “Cần có cái nhìn đúng về nhiệt điện than” diễn ra vào trung tuần tháng 12/2018, ông Lê Văn Lực, Phó Cục trưởng Cục Điện lực & Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) cho biết nhu cầu điện than ở Việt Nam sẽ chiếm hơn 50% sản lượng điện sau năm 2030 và theo quy hoạch điện 7 điều chỉnh, nguồn năng lượng từ nhiệt điện than sẽ chiếm khoảng 53% hệ thống điện.

Phó Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo tuyên bố: “nhiệt điện than phát thải gây ô nhiễm môi trường là có, nhưng có thể khắc phục được và nằm trong phạm vi cho phép”.

Mặc dù vậy, báo Tuổi trẻ Online tháng 10/2019 dẫn thông tin từ Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường công bố kết quả báo cáo vừa gửi lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thấy trong giai đoạn 3 năm 2015 – 2018, tổng khối lượng tro xỉ thải ra từ 12 nhà máy nhiệt điện than là hơn 25 triệu tấn. Trong đó, chỉ có hơn 10 triệu tấn tro xỉ được tiêu thục, còn 15 triệu tấn vẫn chưa biết đổ đi đâu.

Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam sẽ không gặp bế tắc trong vấn đề lập chính sách quy hoạch năng lượng điện một khi thực hiện được việc “đảm bảo chính sách phục vụ số đông, chứ không thể chỉ để cho một số những đối tượng hay những doanh nghiệp hoặc những cá nhân có thể trục lợi trên chính sách đó”.

Ông Hà Hoàng Hợp cho rằng nếu chính sách không đảm bảo minh bạch, không tránh được hành động tham nhũng chính sách hay tham nhũng kinh tế thì Việt Nam vẫn phải bị ràng buộc trong cái vòng luẩn quẩn là nhập khẩu điện từ nước ngoài, nhất là từ Lào và càng mua điện của Lào thì Trung Quốc càng đầu tư xây đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong. Như vậy, Việt Nam “lãnh đủ” hậu quả về môi trường ở vị trí hạ lưu của dòng Mekong này.

Nguồn: TKNB – 13/11/2019

Việt Nam khủng hoảng năng lượng vì Trung Quốc?


Những khó khăn mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt ở thời điểm hiện tại, nguy cơ thiếu hụt năng lượng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống cũng như áp lực không nhỏ mà Hà Nội phải đối mặt trước những thách thức từ phía Trung Quốc.

Dù bắt đầu hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, nhưng khủng hoảng năng lượng sẽ đe dọa nền kinh tế Việt Nam trong tương lai, trong khi Hà Nội đang phải đối mặt với áp lực mạnh mẽ từ phía Bắc Kinh khi tiến hành khai thác dầu khí trên Biển Đông.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc cảnh báo rằng tình trạng thiếu điện có thể xảy ra ngay sau năm 2021 và chỉ đạo các bộ, ngành đẩy nhanh các dự án nhà máy đang bị đình trệ, đổi mới phương pháp thực hiện giám sát tiến độ các dự án điện này. Tương lai của một nền kinh tế với nhiều hoạt động kinh doanh sản xuất phụ thuộc vào quá trình sử dụng nhiều năng lượng đang bị đe dọa. Việt Nam hiện vẫn được coi là điểm thu hút đầu tư toàn cầu nhờ nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) liên tục đổ vào, đồng thời, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Hà Nội chính là bên được hưởng lợi từ xung đột thương mại Mỹ – Trung.

Việt Nam phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng năng lượng tiềm tàng ở cả hai mặt trận cùng một lúc. Đó là, ngoài sự thiếu hụt năng lượng phục vụ sản xuất, (mà cả chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cùng nhiều ban ngành, chuyên gia đã lên tiếng cảnh báo từ lâu), còn có “áp lực mạnh mẽ” đến từ chiến thuật “hung hăng”, “bắt nạt”, thậm chí đe dọa của Trung Quốc khi Bắc Kinh liên tục gây áp lực, căng thẳng đối với các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí trên biển của Việt Nam.

Dù đã có chiến lược tinh tế và khôn ngoan, nhưng đối với một quốc gia đang nỗ lực cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc trên các bình diện ngoại giao và kinh tế như Việt Nam, Hà Nội sẽ phải đối mặt với những lựa chọn năng lượng ngắn hạn. Điều này sẽ có ý nghĩa địa chính trị trong nhiều năm tới.

Andrew Harwood, Giám đốc nghiên cứu của Tổ dầu khí thượng nguồn tại Wood Mackenzie, Singapore, nói: “Các nguồn cung tiềm năng từ Việt Nam dự trữ dầu khí trong nước đã gặp phải những thách thức và chậm trễ, cả về khả năng tài chính của công ty dầu khí quốc gia trong việc phát triển các tài nguyên đó, lẫn do những tranh chấp hàng hải và căng thẳng chính trị.

Hiện đã có ý kiến quan tâm về việc Việt Nam sẽ đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai như thế nào”.

Cho đến nay, ngành điện lực ở Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào than đá, dầu khí và thủy điện. Tuy nhiên, một số dự án như vậy đã bị trì hoãn trong những năm gần đây do trở ngại đến từ thói quan liêu hoặc các nhà đầu tư nước ngoài không có khả năng đảm bảo các dự án của họ cho các khoản bảo lãnh từ chính phủ. Năm 2016, Hà Nội đã từ bỏ chương trình năng lượng hạt nhân.

Các nhà phân tích chính phủ và trong lĩnh vực công nghiệp cho biết, Việt Nam đang đẩy nhanh tiến độ về dự án năng lượng mặt trời, nghiên cứu nhập khẩu khí hóa lỏng quy mô lớn và xem xét nhập khẩu điện từ các nước láng giềng.

Được biết, đầu tháng 9/2019, cánh đồng năng lượng mặt trời trị giá 391 triệu USD, lớn nhất Đông Nam Á, đã bắt đầu hoạt động tại Tây Ninh. Công ty Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết hồi tháng trước, có hơn 4000 hộ gia đình đã lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên mái nhà trong 3 tháng qua với tổng công suất 200 MW. Một hệ thống 300 MW khác sẽ được lắp vào cuối năm 2019.

Ông Gavin Smith, Giám đốc dự án Phát triển sạch với Dragon Capital tại Thành phố Hồ Chí Minh, nói: “Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường năng lượng mặt trời vào năm 2019 là một dấu hiệu cho thấy chính phủ đã tiến hành đa dạng hóa sản xuất điện, với sự nhấn mạnh vào năng lượng tái tạo như một giải pháp… Vẫn còn phải xem liệu sự tăng trưởng nhanh chóng của năng lượng tái tại kể từ năm 2018 có đủ để chống lại nguy cơ mất điện trong 3 năm tới”.

Năng lượng đã kìm hãm sự tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển khác. Nam Phi đã phải đối mặt với tình trạng mất điện thường xuyên vì Eskom, tập đoàn quốc gia, đã không đáp ứng đủ công suất trong những năm gần đây để theo kịp nhu cầu xã hội.

Nhu cầu về điện ở Việt Nam đang tăng khoảng 9%/năm, nhanh hơn so với tốc độ nền kinh tế, vốn tăng hơn 7% trong năm 2018. Một chức đã xác nhận rằng có một số rủi ro về tình trạng thiếu điện trong những tinh huống cực kỳ bất ngờ, rất có thể là khi các hồ chứa cung cấp năng lượng cho các dự án đập thủy điện sắp hết.

Hà Nội đang theo đuổi các thay đổi kỹ thuật, bao gồm cả việc tăng nhập khẩu điện từ Lào. Các quan chức cũng đã thảo luận về khả năng nhập khẩu điện từ Trung Quốc.

Các công ty và quan chức Mỹ đang thúc đẩy LNG (khí hóa lỏng) là một giải pháp cho nhu cầu sức mạnh của Việt Nam. Việc bán LNG là một cách để giảm thặng dư thương mại kỷ lục của Mỹ, vốn là vấn đề gây căng thẳng với chính quyền Trump.

Tuy nhiên, LNG sẽ không phải là giải pháp đủ nhanh để chống lại khủng hoảng năng lượng sắp xảy ra.

Nguồn: Financial Times – 23/09

TKNB – 25/09/2019

Nguy cơ “thiếu điện” ở Việt Nam: phát triển thủy điện, nhiệt điện vô tội vạ và những hệ lụy – Phần cuối


Mua điện của Trung Quốc, trả tiền để nhận thêm họa?

Điện là một loại hàng hóa. Nguồn, phương thức phân phối, giá bán hàng hóa gây tác động trực tiếp đến kinh tế – xã hội, quyết định mức độ phát triển của một quốc gia nên điện trở thành hàng hóa đặc biệt. Sản xuất – cung ứng điện được xem là một yếu tố quan trọng phải tính kỹ để duy trì và bảo vệ an ninh năng lượng.

Dù liên quan tới an ninh năng lượng, nhưng nhập khẩu điện (mua điện của nước ngoài) là điều bình thường, thậm chí rất nên tiết giảm vốn đầu tư, gia tăng khả năng cung ứng, hạ giá bán, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Mua điện của Trung Quốc, Lào sẽ không phải là chuyện cần bận tâm, đáng bàn nếu…

Đồng bằng sông Cửu Long không… còn

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa của Việt Nam – đang ngắc ngoải. Sông rạch chằng chịt, nhưng khu vực này đang thiếu nước ngọt cho cả sản xuất lẫn sinh hoạt. Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL không còn dồi dào như trước, mực nước của hệ thống sông rạch tụt xuống là lý do nước mặn từ biển xâm nhập ngày càng sâu vào đất liền. Cách đây 3 năm, nước mặn lấn sâu vào sông rạch tới 90 km. Ruộng thiếu nước, vườn thiếu nước, con người cũng thiếu nước ăn, uống, tắm, giặt, phải khai thác nước ngầm và bề mặt sụt lún. Nếu bề mặt tiếp tục sụt lún và nước biển tiếp tục dâng lên, phần lớn ĐBSCL sẽ biến mất.

Lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL giảm đáng kể cũng là lý do đất đai cằn cỗi vì không được phù sa bù đắp, lượng cát sỏi cũng giảm dần, đây cũng là lý do sạt lở xảy ra khắp nơi. Theo các thống kê đã công bố, mỗi năm, sạt lở làm ĐBSCL mất khoảng 300 ha. Khu vực này hiện có 564 điểm sạt lở cả ở bờ sông (512 điểm) lẫn bờ biển (52 điểm). Chi phí chống sạt lở dù tính bằng tiền tỷ, nhưng những tỷ đồng đó cũng đổ xuống sông, biển vì chính đê bao, kè biển bị xói mòn. Có nhiều lý do dẫn tới thảm cảnh này: khai thác cát quá mức, số công trình ven bờ gia tăng tác động tới nền địa chất vốn yếu ớt,… song các chuyên gia vẫn khẳng định, nguyên nhân chính vẫn là sự suy giảm lượng nước, lượng phù sa từ thượng nguồn.

Tiến sĩ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm đa dạng sinh học Hòa An, Đại học Cần Thơ lưu ý: Có những thứ độc quyền của ĐBSCL vĩnh viễn biến mất. Trước tiên phải kể đến vỉa than bùn của vùng U Minh, từ hơn 8000 ha với chiều dày hơn 2 mét, nay chỉ còn lỏm chỏm trong vùng U Minh Hạ và trong vường quốc gia U Minh Thượng với chiều dày chỉ còn khoảng 1 mét và có nguy cơ mất dấu theo thời gian vì mực nước ở các vùng này mỗi năm mỗi kiệt hơn.

Thông qua hệ thống truyền thông Việt Nam, những chuyên gia như Tiến sĩ Lê Anh Tuấn – Viện Phó Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) từng nhiều lần lưu ý rằng, việc các nhà máy thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong tích nước cho việc phát điện trong mùa khô là một trong những lý do chính gây ra đủ thứ họa cho ĐBSCL. Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, một chuyên gia độc lập về ĐBSCL và thủy điện Mekng từng lặp đi lặp lại rằng các đập thủ điện ở Trung Quốc đã làm giảm 50% lượng phù sa lẽ ra ĐBSCL có thể nhận được hàng năm, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến độ màu mở của đất đai, sự phát triển của nông nghiệp mà còn gia tăng mức độ sạt lở bờ sông, bờ biển. Không chỉ dẫn đầu trong việc chặn dòng Mekong để phát triển thủy điện (từ cuối thập niên 1990 đến nay, Trung Quốc đã hoàn tất 5/7 dự án theo kế hoạch khai thác đoạn Mekong trên lãnh thổ Trung Quốc), Trung Quốc còn đầu tư vào Lào, Campuchia để phát triển thủy điện trên đoạn Mekong chảy qua hai quốc gia này và cho họ vay vốn để phát triển các công trình thủy điện. Nếu kế hoạch này hoàn tất, năm 2030, đoạn Mekong chảy qua Lào và Campuchia trước khi đổ vào Việt Nam sẽ có thêm 12 công trình thủy điện nữa!

Các tổ chức bảo vệ sông ngòi, môi trường quốc tế đã lên tiếng nhiều lần, cố gắng thuyết phục cả Trung Quốc, Lào, Campuchia rằng, phát triển các công trình thủy điện trên dòng Mekong là hủy diệt cả nông nghiệp, ngư nghiệp lẫn tương lai toàn bộ khu vực thuộc lưu vực Mekong nhưng không hiệu quả. Chẳng riêng ĐBSCL, đồng bằng sông Hồng cũng bị đe dọa khi Trung Quốc đang và sẽ xây dựng các công trình thủy điện trên thượng nguồn sông Hồng, sông Đà đoạn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc.

Trong bối cảnh như hiện nay, ý tưởng hỏi mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để thiên hạ tích cực hơn trong việc tạo thêm họa cho mình. Mua điện của Trung Quốc và Lào có khác gì trả tiền để nhận thêm họa?

Ngoài nguồn từ thủy điện, Trung Quốc đang phát triển nguồn điện từ các nhà máy điện hạt nhân để thay thế hệ thống nhà máy đốt than phát điện. Trung Quốc đang hỗ trợ Việt Nam cả về vốn lẫn công nghệ để đừng “thiếu điện”!

Năm 2016, dân chúng Việt Nam xôn xao khi có tin Trung Quốc xây dựng 3 nhà máy điện hạt nhân sát biên giới Việt Nam (một ở Quảng Tây – Nhà máy Phòng Thành cách Móng Cái chỉ 50 km; một ở Quảng Đông – Nhà máy Trường Giang cách Hải Phòng khoảng 100 km; một trên đảo Hải Nam – Nhà máy Xương Giang), cách nhiều điểu ở Việt Nam khoảng 200 km. Đến giữa năm 2017, cả 3 nhà máy đều đã vận hành từ 2 đến 3 tổ máy phát điện và tiếp tục xây dựng thêm những tổ máy khác. Do khoảng cách giữa 3 nhà máy trên với biên giới Việt – Trung, theo khuyến cáo của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA), một số tỉnh ở miền Bắc Việt Nam phải lập kế hoạch ứng phó mở rộng (EPD – bán kính mở rộng đến 100 km), hoặc lập kế hoạch theo dõi nhiễm xạ đối với thực phẩm và hàng hóa ICPD (bán kính mở rộng 300 km).

Từ sự lo âu của dân chúng Việt Nam, tháng 4/2017, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam loan báo đã liên lạc với giới hữu trách Trung Quốc để thảo luận về 3 nhà máy điện hạt nhân trên. Lúc đó, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khải, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân cho biết, hai bên đã thảo luận về việc soạn thảo Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa các cơ quan hữu trách của hai bên nói riêng và ngành năng lượng hạt nhân nói chung. Khi đặt vấn đề về việc hợp tác xây dựng mạng quan trắc và kế hoạch ứng phó tầm mức quốc gia khi xảy ra sự cố – một trong những nội dung quan trọng trong hợp tác, thì phía Trung Quốc lại không tán thành và bỏ đi!

Khi được đề nghị cho ý kiến về sự hiện diện của các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc tọa lạc sát biên giới Việt – Trung, Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Hùng Võ cho rằng: Việt Nam từng dự định làm điện hạt nhân nhưng cuối cùng Quốc hội quyết định ngưng, vì sự thật là đến nay, điện hạt nhân vẫn là thứ không bảo đảm an toàn. Còn chuyện Trung Quốc làm điện hạt nhân thì Việt Nam không có cách nào bắt họ dừng được….

Việt Nam không có cách nào khiến Trung Quốc ngưng phát triển các nhà máy điện nguyên tử về phía Nam theo kế hoạch của Trung Quốc. Đàm phán mua điện của Trung Quốc là một ý tưởng góp phần thúc đẩy viễn cảnh sẽ sớm có thêm nhiều nhà máy điện hạt nhân gần lãnh thổ Việt Nam hơn.

Nguồn: TKNB – 05/07/2019

Nguy cơ “thiếu điện” ở Việt Nam: phát triển thủy điện, nhiệt điện vô tội vạ và những hệ lụy – Phần đầu


Theo đài RFA, tác hại của phong trào xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, rồi phong trào phát triển hệ thống nhà máy đốt than phát điện (nhiệt điện than) đối với môi trường, kinh tế – xã hội đã rõ. Cả hai cùng là “con đẻ” của cảnh báo “thiếu điện”.

Cuối thập niên 1990, cảnh báo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) về viễn cảnh “thiếu điện” đã mở đường cho phong trào xây dựng các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ ở cả vùng rừng núi phía Bắc lẫn rừng núi miền Trung và Tây Nguyên trong thập niên 2000.

Năm 2013, Chính phủ Việt Nam công bố một bản báo cáo, theo đó, Việt Nam có hơn 1500 dự án thủy điện vừa và nhỏ. Theo tính toán của các chuyên gian, mỗi dự án thủy điện vừa và nhỏ ngốn khoảng 59 ha rừng.

Chẳng phải dân chúng, báo giới và các đại biểu Quốc hội cũng đồng thanh chỉ trích: Phát triển thủy điện vừa và nhỏ thực chất chỉ là tổ chức cấp giấy phép phá rừng! Cũng vì vậy, tháng 9/2013, Chính phủ Việt Nam loan báo không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí được xem là có “tiềm năng thủy điện”. Loại ra khỏi quy hoạch 424 dự án thủy điện bị xem là sẽ gây nguy hại ở mức nghiêm trọng cho môi trường và xã hội. Ra lệnh tạm dừng khởi công 136 dự án thủy điện đã được phê duyệt.

Tính đến thời điểm đó, theo quy hoạch đã được phê duyệt, Việt Nam vẫn còn 815 dự án thủy điện, trong đó có 286 dự án đã hoàn thành, 205 dự án đang xây dựng, hơn 300 dự án sẽ khởi công. “Thiếu điện” nên cần phát triển các dự án thủy điện từ bậc thang vừa tới nhỏ đã tạo điều kiện ch các nhà đầu tư “nuốt” khoảng 48000 ha rừng.

Gia tăng nguồn điện từ các ự án thủy điện tỷ lệ thuận với gia tăng thiệt hại do thiên tai: Lũ quét nhiều hơn, dễ lụt và lụt nặng hơn trong mùa mưa, hạn hán trầm trọng hơn trong mùa khô. Thiệt hại về người, tài sản do thời tiết dị thường mà từ chuyên gia tới dân chúng cùng tin là hậu quả của phong trào phát triển thủy điện tăng dần chứ không giảm.

Tháng 7/2018, tờ Nông nghiệp Việt Nam thực hiện một phóng sự, chứng minh hạn hán dị thường, lũ lụt dị thường, người chết, mùa màng thất bát, hàng trăm nghìn gia đình trắng tay, hệ thống hạ tầng hư hại nặng nề, thiệt hại về người, tài sản càng ngày càng cao đều do “một thủ phạm giấu mặt” gây ra. Tờ báo đã vạch mặt thủ phạm: đó là thủy điện!

Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về môi trường nói: “Thủy điện làm chặn phù sa và chặn đường cá đi. Trong mùa lũ, thủy điện xả lũ sẽ khiến lũ chồng lũ; còn trong mùa hạn hán, thủy điện tích nước làm gia tăng hạn hán; chặn đường cá đi, cá không di cư sinh sản được, chặn cát và phù sa mịn khiến bờ biển, đáy biển (sông) thiết cát gây sạt lở, ảnh hưởng nông nghiệp…”.

Sau giai đoạn phát triển ồ ạt thủy điện, EVN tiếp tục cảnh báo sẽ lại “thiếu điện”. Đầu thập niên 2010, EVN soạn và trình Chính phủ Quy hoạch điện 7. Quy hoạch điện 7 xác định Việt Nam sẽ bảo đảm nguồn điện bằng cách phát triển các nhà máy đốt than phát điện. Theo quy hoạch này, Việt Nam sẽ xây dựng các trung tâm nhiệt điện than ở Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), Long Phú (Sóc Trăng), Sông Hậu (Hậu Giang), Kiên Lương (Kiên Giang)…

Kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy điện nằm dọc bờ biển Việt Nam, suốt từ Bắc vào Nam đã bị các chuyên gia xem là “nỗ lực hủy diệt biển”. Than là nguồn nhiên liệu hóa thạch bẩn nhất và ô nhiễm nhất. Đốt than để sản xuất điện sẽ tạo ra nhiều loại khí độc, phóng thích nhiều kim loại nặng làm ô nhiễm cả nguồn nước mặn lẫn người nước ngầm, đất, chưa kể than còn tạo ra tro, xỉ… Báo chí Việt Nam thi nhau dẫn các nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), các đại học, cảnh báo đốt than phát điện là nguyên nhân dẫn tới đủ loại ung thư, nhiễm độc thần kinh, dị tật cho thai nhi… Vì các nhà máy nhiệt điện dùng than của Việt Nam đều được sắp đặt cạnh biển, biển Việt Nam dự báo sẽ ô nhiễm nặng nề, không còn nguồn lợi hải sản nào.

Cuối năm 2018, tờ Tuổi Trẻ, loan báo, khoảng 3 năm nữa, Việt Nam hết chỗ chứa tro xỉ than o các nhà máy nhiệt điện dùng than thải ra. Hệ số phát thải tro xỉ của Việt Nam gấp 4,7 lần so với Nhật Bản. Tỷ lệ than dư trong tro xỉ gấp khoảng 5 lần so với thế giới, tỉ lệ này càng cao thì nguy cơ sử dụng tro xỉ để san lấp, làm vật liệu xây dựng cho môi trường và sức khỏe con người càng lớn. Chưa đầy 10 năm, Việt Nam đã qua mặt Australia, Nhật Bản, Canada, hiện diện trong nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới về phát thải tro xỉ!

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu về biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) cho biết: “Nhiệt điện ảnh hưởng rất nhiều đến môi trường, nhất là khi phát thải lượng khí nhà kính lớn, tác động ô nhiễm không khí; nhà máy nhiệt điện còn phát thải tro xỉ khó xử lý và sử dụng lượng nước lớn để làm mát hệ thống nên nước thải cảu nó không như nước bình thường làm ảnh hưởng các loài vi sinh vật và hệ sinh thái. Ngoài ra, hoạt động phát thải của các nhà máy nhiệt điện cũng ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Riêng vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn, rất nhạy cảm đối với sự thay đổi về môi trường nên sẽ bị tác động đáng kể đến sản xuất nông nghiệp và thủy sản”.

Tuyên bố của EVN khi vừa vay vốn, vừa mời gọi Trung Quốc đầu tư vào lĩnh vực đốt than phát điện (khi Trung Quốc – quốc gia dẫn đầu thế giới về tỉ lệ than dư trong tro xỉ, từ 5 – 15%) với bảo đảm khi phát triển hệ thống nhà máy đốt than tại Việt Nam chỉ sử dụng công nghệ tiên tiến, sạch của Trung Quốc dẫn đến hậu quả cả hai lần dân chúng huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận) nổi loạn (một lần vào tháng 4/2015, một lần vào tháng 6/2018) đều xuất phát từ sự bất bình do phải gánh chịu ô nhiễm quá mức chịu đựng từ Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân. Theo quy hoạch, trung tâm này có 5 nhà máy đốt than phát điện. Hiện mới chỉ có 3/5 nhà máy vận hành (Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 4), 2/5 nhà máy (Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 mở rộng) đang xây dựng, nhưng Tuy Phong đã trở thành một “thùng thuốc súng”, thêm hai nhà máy nữa, “thùng thuốc súng” có thể nổ nhiều lần nữa.

Tác hại của việc phát triển các nhà máy nhiệt điện đối với môi trường, kinh tế – xã hội càng lúc càng rõ. Tháng 8/2018, chính quyền tỉnh Long An chính thức từ chối sử dụng công nghệ đốt than phát điện của tỉnh này. Tuy Bộ Công Thương đã tìm nhiều cách ép chính quyền tỉnh Long An chấp nhận xây dựng các nhà máy đốt than theo đúng tinh thần quy hoạch điện 7, nhưng Long An dứt khoát từ chối.

Xây dựng các nhà máy đốt than phát điện bằng công nghệ Trung Quốc, dùng vốn Trung Quốc dường như không còn hợp thời nữa, có thể vì thế, theo sau cảnh báo “thiếu điện” mới nhất, EVN vừa vạch ra một con đường mới: Mua điện của Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 05/07/2019

Khai thác dầu khí chung ở Biển Đông và mưu đồ của Trung Quốc


Mưu đồ của Trung Quốc khi thúc đẩy hoạt động khai thác dầu khí chung ở biển Hoa Nam (Biển Đông) với các nước Đông Nam Á là gì? Hậu quả rộng lớn hơn đối với địa chính trị khu vực sẽ là gì? Những câu hỏi này được 2 chuyên gia chiến lược và chính sách châu Á là Eufracia Taylor và Hugo Brennan, đến từ cơ quan tư vấn rủi ro toàn cầu Verisk Maplecroft, giải đáp.

Khai thác chung và mưu đồ của Trung Quốc

Việc khẳng định chủ quyền đối với các thực thể tranh chấp ở Biển Đông chỉ là tên của một ván bài và Bắc Kinh coi hoạt động khai thác dầu khí chung là một công cụ chính sách quan trọng để theo đuổi ván bài này. Các tín hiệu của việc các nước có tuyên bố chủ quyền đang đàm phán với Bắc Kinh để khai thác chung tài nguyên ở chính Vùng đặc quyền kinh tế của họ giúp hợp thức hóa cái mà Bắc Kinh gọi là “đường 9 đoạn”. Trung Quốc đang thực hiện chiêu bài “cây gậy và củ cà rốt”. Ví dụ, một mặt, Trung Quốc phản đối Việt Nam về kế hoạch khai thác dầu khi đơn phương ở vùng lãnh hải mà Bắc Kinh cho là của họ, thậm chí có tin tức còn nói rằng Bắc Kinh đe dọa sử dụng vũ lực đối với Hà Nội. Mặt khác, Bắc Kinh lại triển khai những nỗ lực khai thác chung, được đóng khung trong một ngôn từ hoa mỹ là quan hệ đối tác và được xây dựng trên những cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, vốn và đầu tư ở quy mô sâu rộng hơn, lại giúp nâng cao vị thế của Bắc Kinh là một đối tác quan trọng chứ không phải là một nước thù địch.

Tại sao Brunei và Philippines lại ký bản ghi nhớ chung với Trung Quốc về khai thác dầu khí?

Các nước Đông Nam Á và các nhà khai thác dầu khí tiềm năng đối mặt với những rủi ro địa chính trị đáng kể do những tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á nhỏ hơn lại có những nhu cầu cấp bách trong nước về phát triển năng lượng trong tương lai. Cả Brunei và Philippines đều đang có bước đi theo chiều hướng chủ nghĩa thực dụng và dường như sẵn sàng bỏ qua những yêu cầu chủ quyền gây tranh cãi của mình để thực hiện các mục tiêu trong nước. Bản ghi nhớ chung giữa Philippines và Trung Quốc được hai bên ký kết trong bối cảnh Manila đang có những quan ngại về an ninh năng lượng, như tình trạng khai thác ngoài khơi èo uột trong nhiều năm qua, suy giảm đầu tư, cạn kiệt tài nguyên ở mỏ Malampaya và nhu cầu tăng doanh thu nhà nước. Manila cũng sẽ thúc đẩy triển khai dự án nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng trị giá 2 tỷ USD, một dự án đánh dấu một hình thái đáng kể cho mối quan hệ hợp tác Trung Quốc – Philippines và mối quan hệ này đang nuôi dưỡng mối quan hệ đối tác rộng lớn hơn về lĩnh vực năng lượng giữa hai bên.

Brunei lâu nay thường im ắng dù là một bên có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Những hy vọng rằng các khoản đầu tư lớn hơn của Trung Quốc sẽ giúp khôi phục tăng trưởng và đa dạng hóa nền kinh tế cũng như đem lại vị thế chính trị cho chính quyền dường như đang là lá bài của vương quốc này đối với các vấn đề về Biển Đông.

Kế hoạch của Trung Quốc về phát triển các nguồn năng lượng ở Biển Đông có bối cảnh chiến lược như thế nào?

Bối cảnh chiến lược ảnh hưởng sự phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường ở Biển Đông là một Trung Quốc đang trỗi dậy, ngày càng có khả năng và sẵn sàng theo đuổi các tuyên bố quyền chủ quyền mà Bắc Kinh tự “khoanh” cho mình ở vùng “đường 9 đoạn”, thì việc khai thác chung ở các vùng lãnh hải tranh chấp cũng xuất phát từ chính những quan ngại an ninh của Bắc Kinh. Trung Quốc đang ngày càng lệ thuộc vào lượng dầu khí nhập khẩu mà nước này lo ngại rằng có thể xảy ra tình trạng gián đoạn vì một lý do nào đó. Vì vậy, việc khai thác chung các nguồn dầu khí ngoài Biển Đông là một lựa chọn chiến lược của Bắc Kinh.

Các nước Đông Nam Á muốn đơn phương khai thác dầu khí ở vùng tranh chấp phải đong đếm những rủi ro địa chính trị không chịu “nghe lời” Trung Quốc, một đối tác đầu tư và thương mại chính của họ vốn sẵn sàng dùng vũ lực để đe dọa và khẳng định các tuyên bố chủ quyền của mình. Mỹ cũng đã tỏ ra chẳng hứng thú gì khi bảo vệ quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên mà các nước Đông Nam Á tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông có được theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.

Trong hơn 20 năm qua, Trung Quốc và các nước thuộc ASEAN đã thảo luận về khả năng hình thành Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Thế nhưng COC sẽ không thể giải quyết được những tuyên bố chủ quyền chồng lấn mà chỉ nhằm giúp đưa ra một số quy tắc và luật lệ được hai bên cùng nhất trí nhằm giúp ngăn tranh chấp Biển Đông leo thang căng thẳng.

Việc công bố văn bản dự thảo đàm phán hồi tháng 8/2018 là một bước đi quan trọng dẫn đến một số ẩn ý chính sách đáng lưu tâm. Quan trọng nhất là việc Washington bày tỏ quan ngại về các điều khoản dự thảo do Trung Quốc đưa ra nhằm đặt ra giới hạn cho các bên liên quan COC trong việc tiến hành các cuộc tập trận chung với các đối tác an ninh bên ngoài và ngăn chặn các công ty dầu khí từ các nước thứ ba tiến hành khai thác ở vùng lãnh hải tranh chấp. Tuy nhiên, các bên dường như phải trải qua cả một chặng đường dài mới có thể đạt được một thỏa thuận cuối cùng và có thể sẽ có nhiều thay đổi xảy ra.

Vấn đề an ninh năng lượng của Trung Quốc ở Đông Nam Á có thể ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực như thế nào?

Bắc Kinh coi Biển Đông là vùng biển chiến lược đối với những lợi ích an ninh của mình, xét về khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, song quan trọng hơn, Bắc Kinh coi đây là tuyến hải vận trung chuyển dầu khí nhập khẩu của mình từ Trung Đông và châu Phi. Ý nghĩa chiến lược của vùng biển này giải thích vì sao Bắc Kinh lâu nay triển khai các hoạt động quân sự hóa các thực thể tranh chấp ở Biển Đông. Sự thành công trong chiến lược “lát cắt salami” của Bắc Kinh là rõ ràng khi Đô đốc hải quân Mỹ Philip S. Davidson, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của hải quân Mỹ, thừa nhận Trung Quốc hiện có thể kiểm soát Biển Đông trong mọi viễn cảnh nếu xảy ra một cuộc chiến. Sự thừa nhận này là một cú đấm chí mạng vào vai trò lãnh đạo của Mỹ ở khu vực, trong khi đó, Washington lại chưa thể vạhc ra được một chiến lược thống nhất về vấn đề Biển Đông để có thể đảo ngược những lợi ích chiến lược mà Bắc Kinh đã đạt được ở vùng lãnh hải này.

Nguồn: The Diplomat

TKNB – 14/12/2018