Ngành điện than Việt Nam trước áp lực của chống biến đổi khí hậu


Theo đài RFI, trong chiều hướng thế giới đẩy mạnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, nhiều tập đoàn quốc tế đang phải rút ra khỏi các dự án nhà máy điện than, bị xem là gây nhiều ô nhiễm và làm gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính. Ngành điện than Việt Nam cũng đang gặp tình trạng như vậy.

Để sản xuất đủ điện nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, Việt Nam hiện vẫn dựa nhiều vào các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Tuy nhiên, theo hãng tin Reuters và báo Nikkei Asia ngày 26/2, tập đoàn Nhật Mitsubishi đã quyết định rút khỏi dự án nhà máy điện than Vĩnh Tân 3 ở tỉnh Bình Thuận, một dự án có tổng đầu tư khoảng 2 tỷ USD,dự kiến đi vào hoạt động năm 2024. Theo báo chí Việt Nam, lãnh đạo Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) đã xác nhận thông tin nói trên. Cũng theo lãnh đạo cơ quan này, cơ cấu cổ phần Nhà máy nhiệt điện than Vĩnh Tân 3 có 29% là của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), còn lại là cổ phần của OneEnergy, liên doanh giữa Mitsubishi với Tập đoàn CLP của Hong Kong.

Áp lực của các cổ đông

Quyết định của Mitsubishi cho thấy các công ty năng lượng và các công ty tài chính quốc tế, trong đó có các công ty của Nhật Bản, nay không còn ủng hộ mạnh mẽ các dự án điện than, dưới áp lực của các cổ đông và các nhà hoạt động bảo vệ môi trường. Theo Nikkei Asia, đây là lần đầu tiên Mitsubishi rút khỏi một dự án điện than và tập đoàn này cũng sẽ không xây dựng bất kỳ nhà máy điện than nào mới sau dự án Vũng Áng 2 mà tập đoàn này có tham gia. Thay vào đó, Mitsubishi có kế hoạch góp phần phát triển các dự án năng lượng ít gây hại cho môi trường bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và năng lượng tái tạo, như năng lượng gió và mặt trời.

Trả lời RFI tiếng Việt ngày 8/3, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nhận định về quyết định của Mitsubishi: “Theo thiết kế nhà máy này có công suất lên tới 2000 MW, một đơn vị phát điện chiếm một phần khá lớn trong tổng công suất điện than của Việt Nam hiện nay. Mitsubishi rútra khỏi dự án này. Ngoài ra, còn có thông tin những ngân hàng như Standard Chatered đang rút lại tiền tài trợ cho dự án thứ hai là Vũng Áng 2 với công suất 1200 MW, nhưng Mitsubishi và chính phủ Nhật nói là họ vẫn ở lại dự án này.

Tại sao họ rút khỏi Vĩnh Tân 3? Điều này cũng dễ hiểu vì đó là những tập đoàn lớn và họ đã cam kết góp phần vào việc chống biến đổi khí hậu, mà điện than thì phát ra khí CO2 nhiều. Nhiều công ty khác của các nước lớn cũng đi theo hướng đó. Thành ra chuyện đó mình cũng đã lường trước”.

Áp lực trong nước

Không chỉ bị áp lực bên ngoài, ngành điện than Việt Nam còn bị áp lực của dư luận trong nước, một phần là do các nhà máy điện than có thể gây ô nhiễm không khí. Giáo sư Phạm Duy Hiển nói: “Ở Việt Nam nói chung, công chúng phản đối các nhà máy điện than, một phần vì nó làm tăng lượng khí CO2 gây biến đổi khí hậu, nhưng mặt khác nó có thể gây ô nhiễm không khí. Nhưng tôi có hỏi những người bạn ở EVN, họ nói các nhà máy điện than mới có quy trình công nghệ tương đối tốt. Thêm nữa, họ luôn luôn có các bộ cảm biến (sensor) đặt ở những nơi phát thải. Những sensor đó truyền luôn các tín hiệu về Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương. Do đó, không có nhiều nguy cơ các nhà máy này thải ra nhiều khí, bụi”.

Theo Giáo sư Phạm Duy Hiển, trước mắt, có thể EVN sẽ tìm những đối tác mới để làm nhà máy điện than Vĩnh Tân 3, bởi vì những nhà máy đó rất lớn, không thể dừng lại được. Thật ra, ngay cả Việt Nam cũng đang đi theo hướng từ bỏ dần dần điện than để gia tăng đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề, đó là việc tiếp tục thực hiện các dự án điện than sẽ gây khó khăn cho việc tuân thủ các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra về chống biến đổi khí hậu.

Tiết kiệm năng lượng

Thật ra, trong chiến lược phát triển điệnnăng, có một hướng khác mà Việt Nam có thể làm, đó là tiết kiệm năng lượng. Giáo sư Phạm Duy Hiển nhắc lại điều mà ông vẫn nhấn mạnh từ lâu nay, đó là hiệu quả tiêu thụ điện năng của Việt Nam vẫn còn rất kém so với nhiều nước. Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam, cho rằng thúc đẩy tiết kiệm năng lượng là giải pháp tốt có chi phí thấp nhất để đạt được nhiều mục tiêu cùng một lúc: Đáp ứng nhu cầu năng lượng, chống ô nhiễm và giảm phát thải khí nhà kính đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Trung Quốc quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào


Trang mạng rfa.org/lao vừa đăng tải bài viết nhận định về việc Chính phủ Lào ngày 11/03 đã ký thỏa thuận tô nhượng với Công ty truyền tải điện quốc gia (EDLT), một liên doanh giữa Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) và Công ty Điện lực Lào (EDL), cho phép liên doanh do phía Trung Quốc nắm cổ phần chi phối này quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào. Phóng viên TTXVN tại Lào lược dịch bài viết của RFA nhận định về vấn đề này.

Theo bài viết, một ban lãnh đạo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào cho biết, Trung Quốc đã được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện tại Lào, sau khi Chính phủ nước này đồng ý ký thỏa thuận với EDLT – liên doanh do Trung Quốc làm chủ đầu tư để bảo đảm việc truyền tải và xuất khẩu điện an toàn, ổn định với các quốc gia láng giềng khu vực.

Quan chức trên cho biết: “Thỏa thuận được thực hiện theo hình thức Công ty cổ phần trong thời gian 25 năm; sau khi hết thời hạn trên, hoạt động của dự án sẽ được chuyển giao cho Chính phủ Lào”.

Quan chức này cho biết thêm, EDLT sẽ xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện từ 230 KV trở lên và xây dựng hệ thống hạ tầng mạng lưới điện của Lào kết nối với các nước xung quanh, đưa Lào trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á” theo Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Lào. Trong khi mạng lưới đường dây tải điện dưới 230 KV sẽ vẫn do EDL xây dựng và quản lý như trước đây.

Chia sẻ với RFA về vấn đề sử dụng điện, một người dân ở tỉnh Savannakhet, Trung Lào cho biết ông chẳng hy vọng gì về việc người dân Lào sẽ được sử dụng điện miễn phí khi nhiều đập thủy điện lớn và hệ thống truyền tải điện tại Lào không phải do Chính phủ Lào đầu tư và rằng người dân sẽ tiếp tục phải trả giá điện cao hơn.

Đề cập tới vấn đề này, một người dân Thủ đô Vientiane cho rằng việc Trung Quốc tham gia xây dựng mạng lưới truyền tải điện cũng là vấn đề hợp lý, là hoạt động đầu tư thông thường. Tuy nhiên, nếu để cho công ty Trung Quốc hoàn toàn chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống mạng lưới điện tại Lào là không phù hợp. Nếu như không còn lựa chọn, nên vay tiền của nước ngoài để triển khai dự án hơn là để cho Trung Quốc quản lý.

Đánh giá về vấn đề này, một chuyên gia về năng lượng điện thuộc Bộ Năng lượng và Mỏ Lào giấu tên cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế Lào suy thoái cùng với tình trạng nợ công cao, để phát huy mọi nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đưa Lào thoát khỏi tình trạng quốc gia kém phát triển, Chính phủ Lào không còn lựa chọn nào khác ngoài việc để Trung Quốc hợp tác đầu tư.

Theo chuyên gia trên, Trung Quốc có điều kiện về tài chính, lao động và công nghệ hiện đại để tham gia quá trình xây dựng, quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào, nhằm giúp Lào thực hiện mục tiêu trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á”.

Tuy nhiên, chia sẻ với RFA, một người dân Lào cho biết, trong hợp tác lần này giữa Lào và Trung Quốc, phía Lào bị mất nhiều hơn được, đặc biệt trong vấn đề chuyển giao công nghệ cao cho lao động Lào, do không có điều khoản yêu cầu công ty Trung Quốc thực hiện nên cũng như các dự án đầu tư lớn khác, lao động Lào không được chuyển giao kiến thức, chuyên môn và kỹ thuật.

RFA cho biết, hợp tác lần này bắt đầu khi Công ty Điện lực Lào (EDL) và Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) ký hợp đồng góp vốn – khai thác hệ thống lưới điện quốc gia và thành lập Công ty Truyền tải điện quốc gia Lào (EDLT) vào tháng 9/2020. Theo thỏa thuận này, hai bên sẽ cùng góp vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD để thực hiện dự án. Và ngày 11/3/2021, EDLT đã ký thỏa thuận với Chính phủ Lào để được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào trong thời gian 25 năm. Thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Mặc dù thông tin chi tiết về Thỏa thuận được giữ kín, nhưng trong Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ Lào số 475/NNM của Bộ Năng lượng và Mỏ ngày 30/04/2020 về việc đề xuất thành lập Công ty EDLT giữa EDL và CSG, Bộ Năng lượng và Mỏ đã đề nghị Thủ tướng Lào cho phép thành lập EDLT. Theo đó, EDL chỉ giữ 10% cổ phần, trong khi CSG giữ tới 90% cổ phần. Về cơ cấu lãnh đạo dự kiến, Báo cáo đề xuất Hội đồng quản trị và Ban điều hành của EDLT có tất cả 7 người (5 người Trung Quốc và 2 người Lào). Theo đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành là người của CSG; Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và 1 Phó Giám đốc là người của EDL.

Mặc dù chưa rõ thỏa thuận ký ngày 11/03 giữa EDLT và Chính phủ Lào có những nội dung chi tiết gì, nhưng theo đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào, việc một công ty nhà nước của Trung Quốc được quyền nắm mạng lưới truyền tải điện của Lào trong 25 năm sẽ đem lại cho Trung Quốc vô số lợi ích.

Thứ nhất, Trung Quốc vừa được tiếng giúp Lào phát triển kinh tế, vừa tận dụng được mạng lưới này để bán điện từ một loạt nhà máy điện mà nước này đã đầu tư tại Lào, ví dụ như chuỗi 7 nhà máy thủy điện Nam-U 1-7. Chỉ tính riêng tiền đầu tư cho chuỗi dự án có tổng công suất 1.272 MW này, Trung Quốc đã bỏ ra 2,8 tỷ USD.

Thứ hai, trong bối cảnh Trung Quốc đang tăng cường tìm mọi cách để tạo ảnh hưởng tại Lào nói riêng và Đông Nam Á nói chung, việc Trung Quốc nắm được quyền điều hành mạng lưới điện của Lào trong hàng chục năm sẽ giúp nước này có thể tác động tới an ninh năng lượng không chỉ của Lào, mà còn của các nước trong khu vực đã, đang và sẽ nhập khẩu điện của Lào (Việt Nam là một trong số đó với số lượng điện mua ngày càng lớn). Sau khi chi phối nguồn nước sông Mekong, việc Trung Quốc có thể tác động tới an ninh năng lượng khu vực sẽ giúp nước này có thêm công cụ để “mặc cả” hoặc “răn đe” các nước trong khu vực. Ngoài ra, trong bối cảnh Lào đang ngập trong nợ và đang đối mặt với nguy cơ vỡ nợ như một số tổ chức tín dụng trên thế giới cảnh báo, việc Trung Quốc tiếp tục cho Lào vay nợ sẽ khiến nước này lún sâu vào “bẫy nợ”, buộc Vientiane phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Các công ty Nhật Bản sẵn sàng đối đầu với Trung Quốc ở ngoài khơi Việt Nam


Theo bài viết trên trang Energy Voice, Japan Inc., sẵn sàng đối đầu với Bắc Kinh ngoài khơi Việt Nam. Ông Bill Hayton, chuyên gia cấp cao thuộc Chương trình châu Á – Thái Bình Dương của Viện Nghiên cứu quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House), gọi đây là “những động thái mở đầu trong cuộc đối đầu tiếp theo về năng lượng ở Biển Đông”.

Theo Energy Voice, hai mỏ dầu khí do các công ty Nhật Bản kiểm soát ở ngoài khơi Việt Nam có thể trở thành điểm “nóng” tiềm tàng trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông khi Bắc Kinh liên tục tìm cách khẳng định yêu sách của mình ở khu vực này. Các tập đoàn Idemitsu và Inpex cùng với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) đang điều hành hai mỏ Sao Vàng và Đại Nguyệt thuộc Lô 05-01 của Bể Nam Côn Sơn thuộc thềm lục địa Việt Nam, nhưng các mỏ dầu khí này nằm trong cái gọi là yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, vốn kh6ong được các nước láng giềng hoặc Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) công nhận.

Sự quấy rối ngày càng tăng của Trung Quốc đối với các hoạt động khai thác của Việt Nam tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông khiến nhiều dự án bị bỏ dở trong những năm gần đây. Những lo ngại về khả năng Bắc Kinh sẽ cố gắng làm “trật bánh” hoạt động khai thác ở Lô 05-01 được cho là nguyên nhân dẫn tới việc các công ty Nhật Bản từ bỏ ý định bán một phần dự án cho Jadestone Energy có trụ sở tại Singapore. Việc có thỏa thuận với các công ty Nhật Bản sẽ giúp Việt Nam và Nhật Bản dễ dàng phối hợp để đối phó với bất kỳ hành vi quấy rối nào của Trung Quốc.

Inpex, công ty đang nắm giữ cổ phần của lô dầu khí này thông qua công ty con Teikoku Oil, đã hủy hợp đồng ký năm 2016 về việc bán 30% cổ phần của dự án cho Jadestone với giá 14,3 triệu USD. Jadestone đã phản đối hành động này của Inpex và khởi kiện ra Tòa trọng tài vào đầu tháng 7/2020. Ngày 11/11 hai bên đã nhất trí về một giải pháp đầy đủ và cuối cùng cho vụ kiện liên quan tới thương vụ mua bán không thành công này.

Nhiều khả năng Inpex đã quyết định hủy hợp đồng với Jadestone là do một yêu cầu không chính thức từ chính phủ Việt Nam. Trên thực tế, Hà Nội thích các đối tác đến từ các quốc gia có chung lợi ích chiến lược với Việt Nam hơn nhằm chống lại sự xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong một bài viết trên tờ The Diplomat, Bill Hayton, chuyên gia địa chính trị về Biển Đông của tổ chức Chatham House, có trụ sở tại Vương quốc Anh, nhận định: “Có suy đoán cho rằng theo yêu cầu của chính phủ Nhật Bản, Inpex muốn giữ lô dầu khí này chỉ gồm các công ty Nhật Bản để quản lý bất kỳ mối đe dọa nào từ Trung Quốc có thể ngăn cản hoạt động khai thác ở hai mỏ dầu này trong tương lai”.

Các mỏ dầu khí này nằm ở vùng nước nông gần với đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn và các cơ sở sản xuất hiện có. Các kế hoạch khai thác hai mỏ dầu khí này cũng đã được phê duyệt và đây là một thành tựu hiếm có của Việt Nam, nơi quy trình phê duyệt khắt khe và bộ máy quan liêu đã làm đình trệ nhiều dự án khai thác tiềm năng khác. Với việc hoạt động khai thác ở thượng nguồn mới đang cận kề, Việt Nam muốn hoạt động khai thác các mỏ dầu khí này diễn ra mà không có sự can thiệp của Bắc Kinh. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước, Hà Nội rất muốn khai thác mỏ dầu này để thu hút các nhà đầu tư đã bỏ chạy vì các “chiến thuật bắt nạt” của Trung Quốc trong những năm gần đây.

Tuy nhiên, chuyên gia Hayton cho rằng “Trung Quốc chắc chắn sẽ cố gắng gây áp lực để Việt Nam không thể tiến hành hoạt động khai thác”. Mặc dù vậy, chuyên gia này sẽ rất ngạc nhiên nếu Bắc Kinh cố gắng gây áp lực trực tiếp với các công ty Nhật Bản.

Sẽ rất có ý nghĩa nếu Japan Inc., có quan hệ mật thiết không chính thức giữa chính phủ và khu vực tư nhân ở Nhật Bản để tiến hành hoạt động khai thác ở Lô 05-01 và tạo ra một đối trọng trước sức ép của Trung Quốc.

Greg Poling, Giám đốc Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI), có trụ sở tại Washington,nói: “Tôi chắc chắn rằng nếu bạn là người Việt Nam, bạn muốn có Tokyo đứng sau hơn là một công ty tư nhân của Singapore, vốn sẽ chắc chắn không chịu được áp lực từ Trung Quốc”.

Hơn nữa, cũng giống như Mỹ, Nhật Bản lo ngại về việc Bắc Kinh sử dụng nhiều chiến thuật cưỡng ép khác nhau ở Biển Đông để buộc các đối thủ có tranh chấp chấp nhận Trung Quốc là đối tác khả thi duy nhất có thể hợp tác khai thác tài nguyên thiên nhiên.

Mỹ đã công khai nêu những lo ngại về các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và nhiều lần khẳng định rằng Washington coi các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông là phi pháp và không đúng với phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài quốc tế. Do đó, năm nay, Mỹ đang mở rộng sự hiện diện quân sự ở vùng biển tranh chấp này trong nỗ lực nhằm đẩy lùi Trung Quốc.

Collin Koh Swee Lean, nhà nghiên cứu tại Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam của Singapore, cho rằng mặc dù người Nhật Bản tinh tế hơn nhiều, nhưng quan điểm của họ cũng tương tự như người Mỹ. Theo ông Koh, “trong mọi trường hợp, không chỉ có sự quan tâm từ phía Nhật Bản mà còn có nhu cầu từ phía Việt Nam”. Ông Koh đồng thời cho biết, Việt Nam đã bị Trung Quốc quấy rối trong vụ Repsol vào năm 2018 dẫn tới việc công ty Tây Ban Nha phải rời khỏi Việt Nam. Các báo cáo cho thấy Việt Nam đã đồng ý trả khoảng 1 tỷ USD cho Repsol và đối tác Mubadala có trụ sở tại UAE trong các thỏa thuận chấm dứt và bồi thường sau khi Hà Nội hủy bỏ các hoạt động ở Biển Đông do áp lực từ Bắc Kinh.

Ngoài vụ Repsol, đã có nhiều vụ việc khác mà Bắc Kinh đưa ra những lời đe dọa công khai hoặc ngấm ngầm đối với các liên doanh năng lượng của Hà Nội với các công ty nước ngoài. Ông Koh cho rằng, điều này có thể làm nản chí các công ty dầu khí tham gia khai thác, đặc biệt là do các rủi ro an ninh đối với các công ty và các rủi ro chính trị đối với các công ty mẹ liên quan.

Nguồn: TKNB – 30/11/2020.

Philippines bất ngờ dọn đường cho Trung Quốc ở Biển Đông?


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte vừa bãi bỏ lệnh cấm thăm dò dầu khí ở Biển Đông, nơi Manila gọi là Biển Tây Philippines, mở đường cho việc tái khởi động 3 dự án, kể cả một dự án có thể là liên doanh với Trung Quốc.

Ngày 15/10, Bộ trưởng Năng lượng Philippines Alfonso Cusi cho biết các công ty dịch vụ dầu khí của Philippines đã được thông báo về việc mở lại hoạt động liên quan đến năng lượng trong khu vực, vốn bị đình chỉ từ nhiều năm qua. Ông Cusi nói thêm rằng ngoài 3 dự án được phép khởi động lại, 3 dự án thăm dò dầu khí khác ở Biển Đông cũng đang được Bộ Năng lượng Philippines xem xét.

Manila ban hành lệnh cấm khai thác dầu khí ở Biển Đông từ năm 2014 dưới thời Tổng thống Benigno Aquino III, trong khi chờ Tòa trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết về vụ kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Philippines tại Biển Đông. Năm 2016, PCA kết luận các yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế, đặc biệt là trái với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.

Trung Quốc cho đến nay vẫn bác bỏ và không tuân thủ phán quyết của PCA. Tháng 9 vừa qua, tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, Tổng thống Rodrigo Duterte từng tuyên bố ủng hộ mạnh mẽ phán quyết năm 2016 song Manila vẫn buộc phải dỡ bỏ lệnh cấm thăm dò dầu khí Biển Đông để có thể đáp ứng nhu cầu về Năng lượng nội địa, trong bối cảnh trữ lượng khí đốt của mỏ Malampaya, phía Tây Philippines, đang cạn dần.

Năm 2019, Tổng thống Duterte cho biết Bắc Kinh đã đề xuất Manila tham gia một liên doanh khai thác dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông với quyền kiểm soát 60% cổ phần, nếu Philippines chấp nhận gạt phán quyết Biển Đông sang một bên. RFI đặt câu hỏi rằng liệu có phải việc quyết định bãi bỏ lệnh cấm thăm dò dầu khí ở Biển Đông là cách để nhà lãnh đạo Philippines gián tiếp chấp nhận đề nghị nói trên hay không.

Theo lời Bộ trưởng Năng lượng Cusi, quyết định bãi bỏ lệnh cấm không ảnh hưởng gì đến các đàm phán hiện nay giữa Philippines và Trung Quốc, cụ thể là giữa Công ty TNHH Forum của Philippines và Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC), xung quanh khả năng phát triển và thăm dò dầu khí chung. Là một đơn vị của tập đoàn Philippines PXP Energy, Forum có thể khởi động lại dự án thăm dò dầu khí ở Bãi Cỏ Rong (Reed Bank), khu vực tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Ông Cusi còn nhấn mạnh việc bãi bỏ lệnh cấm thăm dò dầu khí ở Biển Đông là một hành động “đơn phương” của Philippines sẽ không gặp cản trở từ phía Trung Quốc, vì đó là “các quyền kinh tế” của Philippines.

Tạm thời Bắc Kinh không có phản ứng gì khó chịu trước quyết định của Manila, mà trái lại có vẻ hoan nghênh. Trong cuộc họp báo ngày 16/10, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên tuyên bố Bắc Kinh “hy vọng sẽ hợp tác với Philippines trong các dự án phát triển Năng lượng ở Biển Hoa Nam”. Bản ghi nhớ ký năm 2018 nhấn mạnh “Trung Quốc và Philippines đã đạt được đồng thuận về việc cùng phát triển các nguồn dầu khí ở Biển Hoa Nam và đã thiết lập một cơ chế hợp tác cho các cuộc thảo luận”.

Theo nhận định của RFI, có vẻ như Bắc Kinh muốn tỏ ra rằng họ đang nắm lợi thế về khả năng liên doanh phát triển dầu khí với Philippines. Nói cách khác, quyết định bãi bỏ lệnh cấm thăm dò dầu khí tại Biển Đông có thể được xem như đã mở đường cho Trung Quốc mở rộng khai thác tại vùng biển giàu năng lượng này.

Trên thực tế, vào năm 2018, thời điểm Philippines và Trung Quốc ký biên bản ghi nhớ về thăm dò dầu mỏ và khí đốt ở Biển Đông nhân chuyến công du của Chủ tịch Tập Cận Bình, nhiều người biểu tình phản đối Trung Quốc đã tràn xuống các đường phố và cáo buộc Tổng thống Duterte “bán Philippines cho Trung Quốc”. Nội dung chi tiết của bản ghi nhớ không được công bố vào thời điểm ký kết là tháng 11/2018, song mạng tin BenarNews sau đó đã có được một bản sao và công khai cho dư luận. Bản ghi nhớ nhấn mạnh hai nước nhất trí về một thỏa thuận chia sẻ, theo đó Philippines sẽ nắm 60% nguồn tài nguyên thu được từ Bãi Cỏ Rong và Trung Quốc nhận 40% còn lại. Giới phân tích chỉ ra rằng kế hoạch thăm dò chung trong khu vực là hoạt động đi ngược lại Hiến pháp Philippines.

Một diễn biến có liên quan đến những ồn ào Philippines – Trung Quốc là việc ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Philippines (phe đối lập) đã chỉ thị cho lực lượng vũ trang cảu đảng này là lực lượng Quân đội Nhân dân Mới (NPA) tấn công các công ty và các dự án hạ tầng có liên quan đến Bắc Kinh, các thực thể bị tố cáo chiếm đoạt tài nguyên biển đảo và phá hoại môi trường của Philippines. Một số doanh nghiệp bị nhắm đến cũng nằm trong danh sách trừng phạt của Mỹ do tham gia các hoạt động “quân sự hóa” Biển Đông.

AsiaNews dẫn lời người phát ngôn Đảng Cộng sản Philippines Marco Valbuena xác nhận “các công ty Trung Quốc và những người bảo vệ có vũ trang” sẽ là đối tượng bị tấn công. Quyết định của Đảng Cộng sản Philippines được loan báo sáu tuần sau khi chính quyền Duterte khẳng định lập trường không theo chiến lược của Mỹ, mà trái lại, sẽ duy trì và thậm chí củng cố thêm mối quan hệ hữu hảo với Bắc Kinh. Tháng 9 vừa qua, Manila cũng tuyên bố không muốn ngừng mối liên hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư hàng tỷ USD vào Philippines “vì quyền lợi quốc gia”.

Nguồn: TKNB – 20/10/2020.

Lý do Exxon Mobil đầu tư vào điện khí ở Việt Nam


Trang Energy Voice ngày 25/6 đưa tin tập đoàn ExxonMobil (Mỹ) đang muốn đầu tư vào các dự án điện khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) tại Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục đối mặt với nguy cơ thiếu điện và Hà Nội hoan nghênh các công ty Mỹ khắc phục tình trạng mất cân bằng thương mại.

Tin cho hay để ứng phó với cuộc khủng hoảng điện sắp tới, chính phủ đang đẩy nhanh các dự án điện mặt trời và đặt mục tiêu bắt đầu nhập khẩu LNG vào năm 2022 để cung cấp nhiên liệu cho các nhà máy điện khí. Hôm 11/6, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc trao đổi qua điện thoại với ông Irtiza Sayyed, Chủ tịch toàn cầu của Exxon Mobil, Chính phủ cho biết Exxon Mobil. Chính phủ cho biết ExxonMobil muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư vào ngành năng lượng Việt Nam, đặc biệt là các cơ sở nhập khẩu LNG và các nhà máy điện khí.

Giám đốc nghiên cứu Asia Pacific, Wood Mackenzie nhận định: “Exxon Mobil dự kiến ở rộng kinh doanh cung ứng LNG thông qua các dự án đầu tư lớn vào Mozambique, Qatar và Papua New Guinea. Lý do công ty tìm kiếm thị trường mới thông qua các dự án điện khí LNG”.

Theo các nguồn tin, gã khổng lồ năng lượng của Mỹ có thể đầu tư vào dự án sản xuất điện từ LNG lên đến hơn 4000 MW tại Hải Phòng, dự kiến đi vào hoạt động trong giai đoạn 2025 – 2030.

Exxon Mobil cũng dự kiến đầu tư vào một tổ hợp điện-khí có công suất khoảng 3000 MW tại tỉnh Long An.

Dự án này sẽ sử dụng LNG nhập từ Mỹ hoặc các nơi khác trong danh mục đầu tư toàn cầu. Tuy nhiên, nhập LNG từ Mỹ sẽ giúp cân bằng thương mại giữa hai nước.

Công ty Delta Offshore Energy (DOE) và Energy Capital Vietnam (ECV) cũng đã đề xuất các dự án nhà máy điện LNG tại Việt Nam. Cả hai nhà khai thác đều có cổ đông của Mỹ, đang đề xuất các nhà cung cấp LNG của Mỹ và đang thu hút vốn từ Mỹ.

Việc Mỹ gây sức ép với Việt Nam trong việc giảm thặng dư thương mại giữa hai nước mang đến cho các nhà cung cấp LNG của Mỹ cơ hội để khai thác thị trường mới nổi này. Các dự án điện khí được đề xuất sẽ giúp củng cố quan hệ thương mại Mỹ – Việt, đặc biệt, việc cung cấp LNG và thiết bị của Mỹ sẽ giúp cân bằng thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ.

Trong bối cảnh các dự án nhiệt điện bị đình trệ, Việt Nam sẽ cần nhiều khí đốt và LNG hơn. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế hoảng 6 – 7% mỗi năm, Việt Nam hy vọng sản lượng điện sẽ đạt 125.000 đến 130.000 MW vào năm 2030, tăng từ công suất 54.000 MW hiện nay. Năm 2019, điện khí chiếm 33% sản lượng điện của Việt Nam. Phần còn lại thuộc về năng lượng tái tạo và điện than.

Tuy nhiên, Việt Nam sẽ cần tăng nhập khẩu LNG trong tương lai.

Trước đại dịch COVID-19, công ty tư vấn Rystad Energy dự kiến sản lượng khí đốt trong nước của Việt Nam sẽ đạt 10 tỷ m3 vào năm 2025, trong đó, khoảng 60% tổng lượng khí sản xuất dự kiến từ những dự án mới.

Theo Rystad Energy, Việt Nam sẽ chỉ sản xuất 7 tỷ m3 khí vào năm 2025, thay vì 10 tỷ m3 như dự kiến, tạo ra khoảng cách 9 tỷ m3 giữa sản xuất trong nước và nhu cầu khí dự kiến 16 tỷ m3.

Báo cáo của Rystad nêu rõ, để tránh phải nhập khẩu số lượng lớn để đảm bảo nguồn cung năng lượng, Việt Nam có thể sẽ bắt đầu nhập khẩu LNG vào đầu năm 2022. Mặc dù vậy, việc nhập đủ khối lượng LNG không phải dễ dàng.

Hiện có 4 kho cảng LNG là Thị Vải, Sơn Mỹ, Tiền Giang và Tây Nam với tổng công suất dự kiến đạt 10 triệu tấn mỗi năm vào năm 2025. Tuy  nhiên, các kho cảng LNG, chủ yếu tập trung ở miền Nam, sẽ chỉ có thể đạt công suất nhập khẩu 1 triệu tấn/năm vào năm 2023, với sự khởi đầu Giai đoạn 1 của kho cảng LNG Thị Vải, đồng nghĩa với việc không đáp ứng đủ nhu cầu điện.

Dự kiến, Việt Nam sẽ bắt đầu thiếu điện từ đầu năm 2020. Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh cảnh báo tình hình sẽ ngày càng tệ hơn cho đến khoảng năm 2022-2023 do thiếu đầu tư trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao.

Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu không có biện pháp giải quyết, cuộc khủng hoảng nguồn năng lượng sẽ tác động đến khu vực sản xuất đang mở rộng của Việt Nam. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Hà Nội cần đến các nhà đầu tư tiềm năng lớn như ExxonMobil.

Nguồn: TKNB – 29/06/2020.

Việt Nam tụt hạng trong chuyển đổi năng lượng năm 2020


Theo đài RFA, trong bảng xếp hạng về Chỉ số Chuyển đổi Năng lượng năm 2020 của các quốc gia trên thế giới do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) phát hành, Việt Nam đứng thứ 65 trên tổng số 115 nước, giảm 9 bậc so với năm ngoái và đứng sau các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei và Singapore.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhận định về nguyên nhân xu hướng phát triển xanh trong việc sử dụng năng lượng tái tạo ở Việt Nam chưa cao. Ông nói: “Xu hướng phát triển cũng chưa được cao do một số ách tắc, ví dụ như câu chuyện giá, vì vậy, những người muốn đầu tư vào năng lượng tái tạo thấy ngại vì giá thành do chính phủ Việt Nam quy định là thấp, chính vì vậy mà không khuyến khích đầu tư”.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, trong khi các quốc gia đã cương quyết bỏ sử dụng năng lượng than hoặc chuyển đổi khai thác năng lượng cho nhiệt điện bằng việc chuyển từ than sang khí, VIệt Nam vẫn chưa làm được những việc này. Vì vậy, ông Đặng Hùng Võ cho rằng tầm nhìn về năng lượng sạch của Việt Nam vẫn còn tương đối ngắn, chưa thấy được lợi ích dài hạn, tức là lợi ích của phát triển xanh. Lợi ích này nhiều hơn là câu chuyện chi phí, lợi ích trực tiếp của chuyện sản xuất năng lượng. Ông Đặng Hùng Võ nói: “Đấy là những việc mà Việt Nam vẫn còn phải tiếp tục thay đổi tư duy nữa trong câu chuyện lợi ích dài hạn và lợi ích ngắn hạn đối với chuyện chuyển đổi năng lượng từ những nguồn năng lượng có thể gây ô nhiễm môi trường, gây phát thải khí nhà kính sang năng lượng sạch theo xu hướng phát triển xanh”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu thuộc Đại học Cần Thơ, nhận định, trong vài năm vừa qua, Việt Nam đã áp dụng nhiều công nghệ liên quan đến năng lượng sạch như năng lượng gió, năng lượng Mặt Trời và năng lượng sinh khối. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn nhỏ so với nhu cầu năng lượng cả nước vì thiếu những nhà đầu tư có nguồn vốn mạnh mẽ. Đồng thời, những cơ chế chính sách khuyến khích cho các nhà phát triển năng lượng sạch ở Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Dù vậy, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng Việt Nam vẫn là một quốc gia có tiềm năng chuyển đổi và áp dụng năng lượng sạch do vị trí địa lý tốt: “Về mặt tư nhân, các gia đình đã chủ động lắp đặt pin Mặt Trời, các thiết bị tiết kiệm điện ở quy mô gia đình, càng ngày càng nhiều. Tôi hi vọng, trong vài năm tới, Việt Nam sẽ chuyển đổi sang áp dụng năng lượng sạch, bởi vì dù sao đi nữa Việt Nam cũng là một quốc gia nằm trong khu vực cận nhiệt đới và có một bờ biển rất dài, nên khả năng áp dụng năng lượng tái tạo năng lượng gió, năng lượng Mặt Trời, gió biển và năng lượng sinh khối sản xuất nông nghiệp rất lớn, rất triển vọng”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng, để thúc đẩy các hộ gia đình tư nhân sử dụng năng lượng sạch lắp đặt tại nhà cần có sự hỗ trợ của chính phủ, như việc tạo ra các điều kiện để cho những nguồn năng lượng đó được hòa vào tổng nguồn năng lượng quốc gia cùng giá cả hợp lý. Ông Lê Anh Tuấn nhận định: “Hiện nay, khó khăn nhất là đường truyền tải điện hạn chế. Chính sách của Chính phủ cho khối tư nhân, tức là các công ty tư nhân, có thể xây dựng đường truyền đó. Tôi nghĩ rằng điều đó sẽ làm tăng tỷ lệ sử dụng năng lượng sạch”.

Ông Lê Anh Tuấn cho rằng với công nghệ ngày càng phát triển, giá lắp đặt pin Mặt trời đang có xu hướng ngày càng giảm. Đặc biệt, trong tình hình biến đổi khí hậu, nắng sẽ mạnh hơn, bức xạ nhiều hơn và gió mạnh hơn. Đây là lợi thế về mặt tư nhiên và kỹ thuật. Từ đó, sẽ có những phát triển lợi thế về mặt chính sách để hỗ trợ cho sự phát triển năng lượng sạch và tăng tính bền vững của nguồn năng lượng trong nước.

Ông Lê Anh Tuấn nói: “Trong các quy hoạch điện sắp tới của chính phủ ban hành, tỷ lệ điện tái tạo sẽ tăng lên so với nguồn điện khác. Đồng thời, các tỉnh thành cũng nhận định là phát triển những nguồn năng lượng hư năng lượng than hay thủy điện sẽ không bền vững. Nếu có chính sách thúc đẩy thì năng lượng tái tạo bền vững hơn. Nếu chúng ta có nhiều nguồn năng lượng tái tạo bổ sung vào nhau thì tính bền vững càng gia tăng. Về phát triển năng lượng Mặt trời, khi Mặt trời tắt nắng, lượng gió sẽ tiếp tục hỗ trợ cho nguồn điện vào ban đêm, vì vào ban đêm gió sẽ mạnh hơn ban ngày”.

Giáo sư Đặng Hùng Võ cho rằng các quốc gia khai thác năng lượng từ các đập nước trên sông Mekong nên thống nhất với nhau trong việc giảm khai thác thủy điện, thay vào đó chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo để thiên nhiên của con sông này vẫn được giữ nguyên, không bị ảnh hưởng từ tác động của con người.

Đồng tình với ý kiến đó, ông Lê Anh Tuấn cho rằng năng lượng thủy điện sẽ tiếp tục tạo ra một số vấn đề đáng quan tâm trong xã hội. Ngoài ra, ông cũng nhận định năng lượng tái tạo lấy từ Mặt trời, gió, thủy triều luôn có ích cho môi trường hơn những nguồn năng lượng nhiệt điện hoặc những nguồn năng lượng mang lại nhiều rủi ro như năng lượng hạt nhân.

Nguồn: TKNB – 21/05/2020.

Giá dầu thế giới giảm ảnh hưởng Việt Nam ra sao?


Giá dầu thô WTI lần đầu rơi xuống mức -37,63 USD/thùng ngày 21/4 là giá thấp kỷ lục trên thế giới. Giá dầu âm như vậy nghĩa là các nhà sản xuất phải trả tiền cho người mua chỉ để lấy thùng dầu ra khỏi kho dự trữ. Việc này nghe có vẻ vô lý nhưng thực tế việc đóng cửa hoặc mở lại một giếng khoan dầu tốn chi phí hơn nhiều lần. Các nhà máy lọc dầu cũng đang mất tiền thuê chỗ chứa cho lượng dầu họ chế biến ra. Nếu các nhà máy lọc dầu ngừng hoạt động, nhiều nhà sản xuất sẽ không thể xuất khẩu dầu thô.

Việc giá dầu thế giới xuống tới mức kỷ lục như vậy ảnh hưởng gì tới Việt Nam khi Việt Nam là nước xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu xăng dầu thành phẩm? Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương nói với đài RFA: “Việc giá dầu giảm kỷ lục tới mức giá âm ảnh hưởng khá lớn đến kinh tế Việt Nam vì Việt Nam vẫn khai thác dầu để thu ngoại tệ. Sự phụ thuộc vào dầu của Việt Nam giảm đáng kể. Thời điểm cao nhất dầu khí có thể đóng góp đến 20% nguồn thu ngân sách, bây giờ chỉ còn khoảng 7% hoặc 8%. Giá dầu giảm ảnh hưởng nguồn thu ngaaân sách từ bán dầu. Có thể, công ty dầu khí Việt Nam sẽ không chịu được giá này vì càng khai thác sẽ càng lỗ. Mặt khác, giá dầu giảm thì các nguyên liệu xăng dầu cũng giảm, các sản phẩm làm ra từ dầu như sợi tổng hợp cũng giảm. Điều đó sẽ thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam. Làm giảm chỉ số giá cũng như giảm giá thành các mặt hàng nhập khẩu nguyên vật liệu từ dầu, thí dụ như hạt nhưa, sợi tổng hợp, các mặt hàng khác”.

Tiến sĩ Ngô Đức Lâm, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng cho rằng, ảnh hưởng rõ nhất là giá điện sẽ giảm. Giá điện và xăng dầu sẽ tác động lớn đến kinh tế Việt Nam. Ông giải thích: “Việt Nam vừa có xuất khẩu lại vừa có nhập khẩu. Nếu xuất khẩu giá rẻ thì lại bị thiệt. Dầu cho điện trong giai đoạn này chưa cần đến. Những năm trước thì những tháng này trong nước thiếu điện sản xuất từ thủy điện nên phải dùng dầu để bổ sung, nên giá điện sẽ tăng. Nếu giá dầu rẻ thì có lợi cho ngành sản xuất điện. Còn về kinh tế quốc dân thì nó lại có bài toán khác”.

Dưới góc nhìn của một doanh nghiệp vận tải nhỏ, ông Minh Đức chia sẻ rằng, mùa dịch COVID-19 ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp rất nặng nề, mất gần 80% doanh  thu từ Tết đến nay. Giá xăng dầu giảm là một “cứu cánh” cho ông. Ông chia sẻ: “Ở việt Nam có đến khoảng 80% người dân sử dụng xe gắn máy. Giá xăng dầu giảm có lợi cho người dân.

Khách quan mà nói, khi kinh doanh vận tải, giá xăng dầu giảm mạnh mà giá dịch vụ giảm không đáng kể thì cũng có lợi. Ví dụ, hôm qua tôi chạy chuyến xe du lịch, cả đi cả về tốn chưa đến 200 nghìn đồng tiền xăng dầu. Như vậy, chi phí xăng dầu chưa đến 20% tiền doanh thu.

Tôi vừa nghe nói là với mức độ giảm giá xăng dầu như hiện nay, Bộ Công thương và Chính phủ sẽ cân nhắc xem xét việc giảm giá xăng dầu trong nước từ nay đến cuối tháng 4. Tức là từ nay đến cuối tháng 4 sẽ quyết định có giảm hay không. Theo tôi, đó là động thái tốt”.

Theo ông Đức, giá xăng trong nước khó giảm theo kỳ vọng của người tiêu dùng, bởi, một lít xăng “cõng” theo nó đủ thứ thuế, phí mà người dân chỉ nghe và phải chấp nhận. Hiện cơ cấu giá xăng được cộng thêm nhiều khoản, gồm giá CIF tính thuế; thuế nhập khẩu (10%); thuế giá trị gia tăng (10%); thuế tiêu thụ đặc biệt (10% với xăng RON95 và 8% với xăng E5); thuế bảo vệ môi trường (4000 đồng); chi phí định mức kinh doanh (1.050 đồng/lít với xăng RON95 và 1.250 đồng/lít với xăng E5); lợi nhuận định mức (300 đồng) và trích quỹ bình ổn (300 đồng).

Việt Nam có thể làm gì?

Theo báo cáo quý I/2020 của Bộ Công thương, lượng dầu thô khai thác trong 3 tháng đầu năm giảm gần 11%. Tuy nhiên, nhập khẩu dầu thô tăng gần 68% và tồn kho sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng hơn 47%.

Có nhiều ý kiến cho rằng, khi giá xăng dầu xuống thấp thì Nhà nước nên mua dự trữ, hoặc người dân bỏ tiền ra mua rồi dự trữ trong kho của chính phủ. Khi giá dầu lên, chính phủ mua lại của dân theo giá thị trường.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận định: “Có lẽ cách tốt nhất là tạm thời không khai thác và mua dầu về dự trữ hết công suất chứa của Việt Nam. Khi nào giá dầu lên cao thì sử dụng kho dầu dự trữ hoặc bán để lấy lời. Tuy vậy, việc này lại sử dụng lượng ngoại tệ khá lớn. Điều này cũng cần phải cân nhắc khả năng chi trả ngoại tệ của Việt Nam có cho phép trữ một lượng dầu lớn hay không”.

Tiến sĩ Ngô Đức Lâm lại nêu một trở ngại khác, đó là kho chứa. Ông giải thích nguyên tắc dự trữ năng lượng ở Việt Nam: “Theo tôi, dự trữ quốc gia có quy định 60 ngày, tức là người ta tính trong một ngày sử dụng cho giao thông bao nhiêu, sử dụng cho quốc phòng bao nhiêu. Nếu có sự cố chiến tranh hay thiên tai mà không chở dầu về được thì bồn dầu dự trữ phải đủ sử dụng 60 ngày để đảm bảo an ninh trong nước. Cái khó là muốn dự trữ thêm xăng dầu thì phải có kho chứa phù hợp. Kho chứa ở Việt Nam chỉ có hạn. Nếu bây giờ muốn chứa thêm thì phải xây thêm mà xây thêm thì liệu có kinh tế không?”.

Ngày 10/4, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) kiến nghị chính phủ Việt Nam tạm dừng nhập khẩu xăng dầu để ưu tiên sử dụng xăng, dầu đang tồn kho nhiều tại hai nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Dung Quất của Việt Nam.

Nguồn: TKNB – 23/04/2020.

Tại sao cuộc chiến giá dầu của Saudi Arabia sẽ không có kết quả? – Phần cuối


Trong những tuần qua, các thành viên gia đình Hoàng gia và các nhà hoạt động đã chỉ trích cách thức Riyadh đối phó với khủng hoảng COVID-19, cho dù thực tế là Saudi Arabia chưa phải chịu tác động mạnh của đại dịch như nhiều nước khác khi có khoảng 1000 ca nhiễm SARS-CoV-2 được ghi nhận. Quyết định của chính phủ về việc tạm dừng cầu nguyện tại các thành đường ở Mecca và Medina, hai thành phố Hồi giáo linh thiêng nhất, đã làm giảm uy tín của nước này trong vai trò người bảo vệ Hồi giáo và khiến những người hành hương lo lắng. Mùa hành hương sẽ bắt đầu vào tháng 7. Điều này cũng gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng vì thường có 2,5 triệu tín đồ tới Saudi Arabia vào mùa hành hương mỗi năm và mang lại cho nước này nguồn thu hơn 12 tỷ USD, chiếm 20% tổng thu nhập của lĩnh vực phi dầu mỏ nơi đây.

Mặc dù gia đình Hoàng gia vẫn có quyền lực lớn, song phản ứng của dân chúng đối với giá dầu thấp có thể là phép thử đối với giới lãnh đạo Saudi Arabia. Khoảng 20% dân số nước này giữ cổ phiếu của công ty Saudi Aramco, vì vậy giá dầu thấp phần nào buộc Saudi Arabia phải tìm cách ép Nga nhượng bộ – điều có thể khiến dân chúng nổi giận – thậm chí là nổi dậy. Làn sóng phản đối có thể gia tăng nếu suy thoái diễn ra tại Saudi Arabia, nơi tỷ lệ thất nghiệp cuối năm 2019 gần chạm mốc 12%, mức cao nhất kể từ năm 2015.

Điều quan trọng nhất là cuộc chiến giá dầu gây tổn hại đến các mục tiêu trong nước của Saudi Arabia trong 1/4 đầu thế kỷ 21: giảm phụ thuộc vào dầu mỏ thông qua chương trình cải cách Tầm nhìn 2030. Năm 2016, Saudi Arabia cam kết sẽ có thể “sống không cần dầu” vào năm 2020. Tuy nhiên, năm 2020 đã đến và Saudi Arabia vẫn phụ thuộc vào năng lượng – thậm chí giờ đây cuộc chiến giá dầu còn làm giảm ngân quỹ quốc gia mà theo kế hoạch sẽ được đầu tư vào các lĩnh vực phi dầu mỏ. Thái tử Mohammed bin Salman (MBS) đã tuyên bố Tầm nhìn 2030 là chiến lược nhằm đa dạng hóa nền kinh tế, thúc đẩy khu vực tư nhân, gia tăng chi tiêu xã hội và giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 7%. Tuy nhiên, Tầm nhìn 2030 đã bị ảnh hưởng do giá dầu thô giảm và khó khăn trong thu hút đầu tư nước ngoài. Cuộc chiến giá dầu hiện nay chỉ khiến cho các vấn đề này trở nên tồi tệ hơn.

Cả Nga và Saudi Arabia đều thừa nhận rằng cuộc chơi này không thể kéo dài; một trong hai nước hoặc cả hai sẽ hứng chịu áp lực tài chính và phải cắt giảm sản lượng dầu thô, nhưng không nước nào muốn nhượng bộ trước. Đối với Thái tử MBS, áp lực phải hạn chế ảnh hưởng của giá dầu thấp trong khi duy trì cuộc chiến giá dầu với Nga đang gia tăng. Việc giành chiến thắng trong cuộc chiến về giá là điều quan trọng đối với uy tín của Saudi Arabia cả trong và ngoài nước.

Tác động địa chính trị

Khoảng cách giữa Moskva và Riyadh ngày càng rộng, ảnh hưởng sâu rộng đến thị trường dầu thô và các nhà sản xuất khác. Một trong những nạn nhân ngoài dự tính của cuộc chiến giá dầu là ngành công nghiệp dầu đá phiến của Mỹ. Các nước sản xuất đã bắt đầu cắt giảm chi tiêu, ngăn chặn việc mua lại cổ phần, sa thải công nhân và giảm các dịch vụ để tiếp tục tồn tại. Mới đây, sàn WTI đã mất 60% giá trị tích lũy được từ đầu năm 2020. Hiện có nhiều tranh luận về khả năng phá sản của các công ty khi nợ gia tăng và nhiều công ty nhỏ đã đóng cửa. Các nhà lập pháp tại Texas đã bắt đầu cân nhắc việc giảm sản lượng lần đầu tiên trong 50 năm qua.

Tuy nhiên, nhiều cơ hội mới cũng được mở ra. Mỹ đã cố gắng thuyết phục Saudi Arabia dừng cuộc chiến, thậm chí là công khai liên minh dầu mỏ Mỹ – Saudi Arabia. Thông tin này xuất hiện sau khi có các báo cáo cho rằng một số quan chức trong ngành năng lượng Mỹ quan tâm đến việc thiết lập một thỏa thuận với Saudi Arabia để ổn định giá dầu. Một liên minh như vậy tất yếu sẽ đóng vai trò như một nhân tố đối trọng với ngành công nghiệp của Nga.

Mỹ dường như đang nỗ lực thắt chặt quan hệ với Saudi Arabia. Mới đây, Mỹ đã nhanh chóng chỉ định Victoria Coates, phó Cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia, làm đặc phái viên của nước này tại Saudi Arabia. Mỹ cũng đã bàn thảo về khả năng tổ chức một cuộc họp với lãnh đạo Saudi Arabia để thuyết phục Riyadh cắt giảm sản lượng theo đề nghị của nước này.

Xét tới những gì đang diễn ra, có thể nói lộ trình hồi phục giá dầu còn dài. Saudi Arabia không thể ấn định giá hay tăng nhu cầu. Nước này hiện không còn phương án tối ưu nào và đã lựa chọn một loạt bước đi mạo hiểm, với hy vọng có thể ép buộc Nga nhượng bộ hoặc tìm được các đối tác mới để định hướng thị trường dầu mỏ. OPEC+ với vai trò là một cơ chế kiểm soát giá dầu đang bị phân rã và Saudi Arabia đang ngày càng không thể duy trì áp lực đối với ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga. Khi đại dịch COVID-19 tiếp tục gia tăng và kinh tế toàn cầu đối mặt với suy thoái, Saudi Arabia sẽ khó có thể ép được Nga nhượng bộ.

Nguồn: www.geopoliticalfutures.com – 27/03/2020

TLTKĐB – 03/04/2020.

Tại sao cuộc chiến giá dầu của Saudi Arabia sẽ không có kết quả? – Phần đầu


Trong gần 3 năm qua, kể từ khi thị trường dầu thô mất giá và dầu đá phiến của Mỹ bùng nổ vào năm 2016, Nga và Saudi Arabia đã hợp tác với nhau để ổn định giá dầu toàn cầu như một phần của đàm phán liên minh Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ mở rộng (OPEC+). Tuy nhiên, sự hợp tác này dường như đang bên bờ sụp đổ. Khi đại dịch COVID-19 khiến các doanh nghiệp có nguy cơ bị đóng cửa, ngành hàng không bị đình trệ và chi tiêu tiêu dùng bị cắt giảm, nhu cầu tiêu thụ dầu thô đã giảm mạnh, đặc biệt là ở các quốc gia nhập khẩu dầu thô hàng đầu thế giới. Trung Quốc là một trong những nước chịu tác động mạnh nhất của đại dịch ở giai đoạn đầu. Việc sản xuất vaccine để đối phó với dịch COVID-19 ít nhất phải 1 năm nữa mới hoàn tất. Có quá ít dấu hiệu ho thấy nhu cầu dầu thô sẽ sớm phục hồi. Đầu tháng 3/2020, các thành viên của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã thúc giục các nước sản xuất cắt giảm sản lượng nhưng một nước trong số đó từ chối. Thay vì hưởng ứng lời kêu gọi của OPEC cắt giảm sản lượng 1 triệu thùng/ngày, Nga hy vọng có thể tận dụng việc các nước khác cắt giảm sản lượng. Để đáp trả, Saudi Arabia đã thực hiện chiến lược “bên miệng hố chiến tranh”, thông báo rằng nước này sẽ tăng sản lượng thêm 2,5 triệu thùng/ngày vào tháng 4/2020 để hạ giá dầu và gây sức ép buộc Nga phải nhượng bộ.

Chiến lược của Saudi Arabia nhằm hai mục đích. Họ muốn hạ giá dầu để thu hút khách hàng – những nước sẵn sàng tích trữ dầu thô. Cùng lúc đó, Saudi Arabia cũng hy vọng giá dầu thấp sẽ gây khó khăn về tài chính cho Nga và buộc nước này phải chấp nhận các yêu cầu của OPEC. Chiến lược này sẽ gây thiệt hại lớn cho Saudi Arabia, buộc Riyadh phải sử dụng Quỹ thịnh vượng quốc gia nhiều hơn so với kế hoạch trước đó, khiến nguồn quỹ bị giảm. Quỹ này vốn được ưu tiên cho đầu tư ra nước ngoài và phục vụ đa dạng hóa nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã khiến các nước càng ưu tiên lợi ích quốc gia hơn lợi ích tập thể, và cuộc chiến giá dầu không phải là ngoại lệ. Nga và Saudi Arabia đã bước vào con đường mạo hiểm khi tìm cách gia tăng nguồn thu, thị phần và cạnh tranh trên thị trường dầu thô toàn cầu.

Khả năng chịu đựng của Saudi Arabia

Chính phủ Saudi Arabia đã chỉ ra rằng nước này đang trong cuộc đua gia tăng sức ép đối với Điện Kremlin khi gia tăng sản lượng lên gần 5 lần so với mức tăng sản lượng dầu thô cảu Nga. Tuy nhiên, liệu Saudi Arabia có thể kéo dài cuộc chơi khi họ gặp nhiều khó khăn hơn Nga trong việc buộc Nga phải nhượng bộ là mục tiêu lâu dài và là điều đáng làm cho dù phải chịu sự thiệt hại về nguồn thu trong ngắn hạn, bởi điều này sẽ chứng tỏ liệu Saudi Arabia có thể thực sự điều khiển được các thành viên OPEC+ hay không. Saudi Arabia tin rằng họ có khả năng sản xuất dầu thô với giá thấp hơn Nga (8,98 USD/thùng so với giá của Nga là 19,21 USD/thùng) và việc chiếm thị phần toàn cầu lớn hơn cho phép họ có lợi thế hơn.

Tuy nhiên, trên thực tế, Riyadh có thể phải chấp nhận thua cuộc trước Moskva. Saudi Arabia cần duy trì giá dầu ở mức 91 USD/thùng – cao hơn 3 lần so với giá dầu hiện tại – để cân bằng ngân sách năm 2020. Trái lại, ngân sách năm 2020 của Nga dựa trên giá dầu ở mức 42,40 USD/thùng, nghĩa là Nga có thể chịu đựng được giá dầu thấp lâu hơn so với Saudi Arabia.

Hiện tại, giá dầu Brent đang được duy trì ở mức 28,70 USD/thùng; trong khi đó, dầu thô nhẹ của Saudi Arabia có giá là 26,54 USD/thùng. Một số chuyên gia dự báo giá dầu có thể tiếp tục giảm xuống mức 10 USD/thùng khi các doanh nghiệp lớn và nhỏ cảm nhận được tác động của cuộc khủng hoảng COVID-19. Một số nhà quan sát tin rằng giá dầu thấp có thể khiến GDP của Saudi Arabia giảm 2% – 4%. Cho dù nắm giữ một trong những nguồn dự trữ lớn nhất thế giới và khối tài sản trị giá 320 tỷ USD, nước này cũng khó có thể duy trì giá dầu ở mức ổn định, đặc biệt là khi cuộc khủng hoảng dịch bệnh hiện nay có thể kéo dài 8 tháng tới 1 năm. Trên thực tế, đây không phải là lần đầu tiên Riyadh đối mặt với việc dầu trượt giá. Saudi Arabia đã cố gắng thao túng thị trường để kiếm lời trong những cuộc khủng hoảng khác. Vào những năm 1980, thời kỳ sản lượng dư thừa, nước này đã giảm sản lượng để duy trì giá dầu cao. Nước này cũng thao túng thị trường năm 2014 để đối phó với sự bùng nổ dầu đá phiến của Mỹ. Tuy nhiên, trong môi trường hiện nay, việc nhu cầu gia tăng sẽ khó xảy ra, đặc biệt là khi đại dịch và suy thoái kinh tế sắp diễn ra sẽ gây khó khăn cho các nước nhập khẩu và các lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào nhiên liệu. Ngay cả các gói kích thích trị giá hàng tỷ USD của Mỹ có thể cũng không đủ để giúp gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng. Các gói kích thích có thể giúp duy trì hoạt động của một số công ty và ngành công nghiệp nhưng khó có khả năng lập tức đẩy giá dầu lên và duy trì mức cao trong dài hạn.

Ngoài ra, lĩnh vực năng lượng của Nga chưa có dấu hiệu sụt giảm. Trên thực tế, nước này đã gia tăng sản lượng 0,5 triệu thùng/ngày, bằng một nửa mức tăng của Saudi Arabia. Điều này chứng tỏ Nga có thể vượt qua cuộc chiến giá dầu. Thêm vào đó, Điện Kremlin nói rằng Nga có đủ tiền mặt để trụ vững trong vòng 6 – 10 năm khi giá dầu ở mức từ 25 – 30 USD/thùng. Đương nhiên là Nga cũng sẽ bị tác động nhưng dự báo nền kinh tế nước này trong dài hạn lạc quan hơn Saudi Arabia.

Các tính toán trong nước

Thậm chí trước khi cuộc đàm phán OPEC+ sụp đổ, Saudi Arabia đã dự báo nhu cầu tiêu thụ dầu thô sẽ sụt giảm. Bộ trưởng Tài chính nước này đã yêu cầu các cơ quan chính phủ cắt giảm chi tiêu ở mức 20 – 30% vào đầu tháng 3 với dự báo rằng giá dầu sẽ sụt giảm. Hiện tại, với việc đại dịch COVID-19 và cuộc chiến giá dầu đang tiếp diễn, Saudi Arabia đã phải hãm chi tiêu công ở mức cao hơn. Mới đây, Chính phủ Saudi Arabia công bố sẽ cắt giảm ngân sách năm 2020 ở mức 5%, tương đương 13,2 tỷ USD. Chính phủ nước này nói rằng việc cắt giảm sẽ không tác động đến tình hình kinh tế – xã hội, nhưng thực tế là động thái này đã tác động đến nguồn ngân sách cho các dự án ngoài lĩnh vực dầu mỏ.

Khi nhu cầu dầu thô giảm và giá dầu sụt theo, Saudi Arabia sẽ phải rút tiền từ Quỹ thịnh vượng quốc gia nhiều hơn trước để thực hiện các mục tiêu dài hạn như can dự vào cuộc chiến tại Yemen, đối phó với việc Iran gia tăng ảnh hưởng tại Trung Đông và đa dạng hóa nền kinh tế. Mặc dù giảm chi tiêu, nhưng Saudi Arabia vẫn có khả năng bị thâm hụt ngân sách 61 tỷ USD trong năm nay do mức thu ngân sách được dự báo không đạt được chỉ tiêu 210 tỷ USD, trong khi chi tiêu sẽ vượt mức 270 tỷ USD. Saudi Arabia đồng thời phải đối mặt với một thách thức khác: kiểm soát tình hình trong nước.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.geopoliticalfutures.com – 27/03/2020

TLTKĐB – 03/04/2020.

COVID-19 cái cớ để Saudi Arabia và Nga khai mào chiến tranh dầu mỏ


Theo đài RFI, dầu mỏ mất giá 40% từ đầu năm 2020. Nguyên nhân chính do virus corona. Tiêu thụ của Trung Quốc và châu Âu, Mỹ giảm mạnh và thêm vào đó là cuộc chiến dầu mỏ Riyadh và Moskva vừa khai mào, khai tử liên minh Nga – Saudi Arabia được ký từ năm 2016.

Đâu là động cơ khiến hai trong số ba nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới đọ sức với nhau, mỗi bên tính toán những gì? Nga và Saudi Arabia dường như cùng theo đuổi một mục tiêu: chặn đường các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ. Liệu đây có phải là một nước cờ nguy hiểm cho cả đôi bên?

Thế giới không thể biết trước dịch COVID-19 sẽ kéo dài bao nhiêu lâu. Kinh tế của Trung Quốc và thế giới đóng băng. Ngành hàng không quốc tế gần như bị tê liệt. Chỉ số chứng khoán từ Âu sang Á và cả trên thị trường tài chính Mỹ giảm mạnh. Kịch bản “một cuộc khủng hoảng tài chính” ngày càng cận kề. Trong bức tranh đen tối đó, bất ngờ nổ ra cuộc chiến dầu mỏ giữa Saudi Arabia và Nga.

Ngày 8/3/2020, Riyadh đơn phương quyết định tăng mức sản xuất và xuất khẩu, giảm giá dầu cho một số khách hàng trong lúc trên thị trường quốc tế, mức cung đã cao hơn so với mức cầu. Vàng đen mất giá.

Quyết định trên lại càng khó hiểu, bởi hai ngày trước đó, khối các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ và các đối tác, gọi tắt là nhóm OPEC+ đã họp tại Vienna. Mục tiêu cuộc họp nhằm tìm đồng thuận khóa bớt van dầu, qua đó giữ giá vàng đen. Saudi Arabia là thành viên quan trọng nhất của OPEC trong lúc Nga là nguồn sản xuất lớn thứ nhì thế giới, chỉ thua có Mỹ. Hai quốc gia này cộng lại cung cấp 40% dầu cho thế giới.

Cuộc họp tại Vienna (Áo) thất bại do Nga bác bỏ đề xuất của Saudi Arabia giảm thêm 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày tư nay cho đến cuối 2020. Phái đoàn Saudi Arabia từ Vienna trở về, lập tức Riyadh phản công và quyết định mở thêm van dầu cho thế giới. Giá dầu càng tuột dốc thế giới càng hoảng loạn. Trong phiên giao dịch ngày 9/3 vừa qua “mức lãi tích lũy trên thị trường tài chính từ đầu năm 2020 tan thành mây khói”.

Từ hoảng loạn về dầu mỏ đến chứng khoán

Trả lời trên đài RFI, Giáo sư kinh tế Jean Pierre Favennec đại học Paris Dauphine và Viện Dầu mỏ của Pháp phân tích về phản ứng khó hiểu của thị trường, bởi vì nhẽ ra khi dầu mỏ mất giá, đó phải là một tin vui. Tuy nhiên lần này, giới đầu tư quốc tế lại rơi vào hoảng loạn. Chuyên gia này cho biết: “Đúng là vì Nga – Saudi Arabia không đạt được đồng thuận, giá dầu đã giảm mạnh, nhưng đồng thời đó là dấu hiệu cho thấy thế giới đang hoang mang. Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ của Trung Quốc đã rơi xuống rất thấp và mọi người chờ đợi là mức cầu tại châu Âu cũng sẽ bị đóng băng. Điều đó khiến thị trường tài chính lại càng hoảng loạn. Trong bối cảnh mà dầu mỏ đang mất giá, Riyadh tấn thêm một đòn mạnh, khiến mọi người lại càng nghĩ rằng các hoạt động kinh tế của thế giới tiếp tục giảm thêm nữa trong những tuần lễ hay những tháng sắp tới”.

Saudi Arabia phá giá dầu khiến mọi người hiểu như đó là một tín hiệu mới cho thấy kinh tế thế giới bên bờ vực thẳm.

Matthieu Auzaneau – Giám đốc Shift Project, một nhóm nghiên cứu về mức độ lệ thuộc của kinh tế toàn cầu vào năng lượng hóa thạch, thận trọng nêu ra giả thuyết rằng Nga hay Saudi Arabia đã khơi mào chiến tranh dầu mỏ với mục đích gì? Và cũng có thể Saudi Arabia khai chiến để mặc cả với Nga. Chuyên gia Matthieu Auzaneau cho biết: “Trên thực tế, liên minh Nga – Saudi Arabia đã được hình thành. Riyadh là thành viên quan trong nhất trong khối OPEC – tức là các nước xuất khẩu dầu mỏ. Còn Moskva là nguồn sản xuất lớn thứ nhì thế giới, đứng sau Mỹ nhưng trước Saudi Arabia. Hơn nữa, Nga lại có một trọng lượng về địa chính trị rất lớn. Đôi bên đồng ý với nhau hạn chế mức sản xuất để giữ giá dầu tương đối cao. Thỏa thuận đó đã bị khai tử sau cuộc họp ở Vienna trong hai ngày 5 và 6/3 vừa qua. Phía Nga từ chối theo chân Saudi Arabia, để tiếp tục giảm thêm 1,5 triệu thùng dầu mỗi ngày từ nay cho đến cuối năm 2020. Mọi người nói rằng Nga gạt bỏ đề xuất của Saudi Arabia, nhưng chúng ta không biết chắc được về diễn tiến cuộc họp nói trên.

Có hai giả thuyết: Một là, Nga bác bỏ đề xuất của Riyadh tránh để tạo lợi thế cho các nhà sản xuất của Mỹ. Bởi vì từ trước tới nay, mỗi lần Nga và Saudi Arabia giảm mức xuất khẩu, thì dầu đá phiến của Mỹ lại lấp vào chỗ trống. Hai là, chính hoàng thái tử Mohammed Ben Salman đã châm ngòi cuộc chiến dầu mỏ. Saudi Arabia vừa thông báo tăng mức sản xuất để giữ thị phần, vừa giảm giá từ 7 – 8 USD/thùng dầu cho một số khách hàng”.

Dầu đá phiến Mỹ trong tầm ngắm của Nga và Saudi Arabia

Trước hết, nhiều nhà quan sát cho rằng Bộ trưởng Năng lượng Nga, Alexandre Novak “gây sự” trước chẳng qua là vì các nhà sản xuất Nga, đứng đầu là Rosneft, đã thuyết phục Tổng thống Vladimir Putin đã đến lúc nước Nga phải “cân bằng hóa lại thị trường dầu mỏ thế giới”. Một cách gián tiếp, Igor Setchine nhắc nhở chủ nhân điện Kremlin rằng, hạ mức sản xuất là giúp cho các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ chiếm mất thị phần của Nga.

Saudi Arabia cần giữ giá dầu ở mức từ 82 đến 90 USD/thùng thì mới có lãi, ngược lại phía Nga, về mặt chính thức, chỉ cần giá một thùng dầu dao động trên dưới 50 USD là đủ. Điện Kremlin biết rằng với giá dầu 30 USD/thùng, sẽ có “không ít các nguồn cung cấp Mỹ bị vỡ nợ”. Trong khi đó cả Nga lẫn Saudi Arabia cùng tạm thời có khả năng cầm cự với giá này. Chuyên gia Pháp, Matthieu Auzaneau trung tâm nghiên cứu Shift Power cho rằng thực ra Nga và Saudi Arabia theo đuổi cùng một mục đích, nhưng phá giá dầu là một trò chơi nguy hiểm. Chuyên gia Pháp, Matthieu Auzaneau nói: “Saudi Arabia và Nga cùng có một khoản dự trữ ngoại tệ khá tốt, tương đương với hàng trăm tỷ USD. Cả hai quốc gia này có khả năng cầm cự lâu dài trong trường hợp nổ ra một cuộc chiến dầu mỏ. Cả hai theo đuổi cùng một mục đích đó là cản đường các nhà sản xuất Mỹ. Tuy nhiên, đôi bên cùng đang đùa với lửa. Bởi vì dầu mỏ là con gà đẻ trứng vàng, cho phép bảo đảm ổn định trong xã hội. Chỉ cần nhìn vào trường hợp của Venezuela chúng ta cũng thấy được điều đó. Tôi rất lo ngại về tình hình tại Trung Đông.

Khu vực này đã như một thùng thuốc súng. Nga vì có những tính toán địa chiến lược trong khu vực này nên can thiệp quân sự tại Syria. Saudi Arabia cũng có những ẩn ý – đặc biệt là đối với Iran, kẻ thù không đội trời chung của Riyadh. Có điều về mặt kinh tế và quân sự, cả Nga lẫn Saudi Arabia cùng đang bị dồn vào chân tường. Giờ đây căng thẳng lại gia tăng thêm một bậc. Bài toán trở nên phức tạp hơn nhiều cho cả đôi bên”.

Giám đốc Shift Project, Matthieu Auzaneau thẩm định, chỉ cần giá dầu ở mức 50 USD/thùng trong dài hạn là cũng đủ để “giết chết” không ít nhà sản xuất cò con của Mỹ. Ông cho rằng, nghịch lý ở đây là Nga và Saudi Arabia, hai quốc gia có những quyền lợi địa chính trị khác hẳn nhau, lại có thể cộng tác với nhau về mặt kinh tế khi cần chặn đường công nghệ dầu mỏ của Mỹ. Chưa chắc gì là Moskva và Riyadh sẽ thành công.

Hoàng thái tử Ben Salman, phù thủy non tay?

Không thuyết phục được Nga khóa bớt van dầu, Saudi Arabia, mà người chủ chốt là hoàng thái tử Mohammed Ben Salman phản công. Riyadh thông báo nâng mức sản xuất lên thêm 25% tức là sản xuất đến hơn 12 triệu thùng dầu/ngày. Riyadh dùng “một viên đạn bắn hai con chim”: vừa gặm nhấm thêm thị phần của Nga vừa bóp ngạt không dưới 100 nhà sản xuất Mỹ theo thẩm định của công ty tư vấn Rystad Energy.

Kinh tế Nga phụ thuộc đến 30% vào dầu mỏ và khí đốt, đây cũng là nguồn đem về 50% ngân sách quốc gia. Việc Riyadh mở van, đẩy giá dầu tuột dốc khiến đồng ruble của Nga mất giá 7% trong phiên giao dịch 9/3.

Tuy nhiên, không chỉ có Nga bị tác động. Chiến lược của Riyadh trên bàn cờ năng lượng vừa qua tác động mạnh đến từ Iran tới tận các quốc gia sản xuất dầu mỏ ở tận châu Mỹ Latinh hay châu Phi. Tuy nhiên, trong cuộc đọ sức về dầu mỏ, Saudi Arabia cũng phải trả giá đắt, như ghi nhận của văn phòng tư vấn Compétence Finance, trụ sở tại Paris rằng dầu mỏ bảo đảm đến 3/4 thu nhập tại vương quốc này; gần như 100% nguồn ngoại tệ có được là nhờ nền công nghiệp dầu khí. Năm 2014, Riyadh từng thất bại khi muốn sử dụng lá bài năng lượng để hạ cả Nga, đồng minh của Iran lẫn dằn mặt Mỹ.

Theo thẩm định của Compétence Finance, từ ngày 8/3/2020, chơi trò phá giá dầu mỏ khiến mỗi tuần Saudi Arabia thất thu đến 1,75 tỷ USD. Tất cả những yếu tố đó lại càng phá hỏng chiến lược Tầm nhìn 2030 của Hoàng thái tử Ben Salman, nhằm giảm bớt mức độ lệ thuộc vào năng lượng hóa thạch.

Cả về chính trị lẫn kinh tế, thái tử Ben Salman đang nóng lòng muốn ghi được những bàn thắng quan trọng để nắm lấy ngai vàng vào lúc quốc vương Salman đã 84 tuổi và sức khỏe đang suy yếu. Đó là chưa kể trong trường hợp virus corona không dung thứ cho thần dân của vương quốc dầu mỏ này.

Nguồn: TKNB – 19/03/2020.