Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần cuối


Qatar sẽ ngừng vận hành đường ống dẫn chính?

Một kịch bản có thể sẽ làm nghiêm trọng hơn nữa cuộc khủng hoảng, đó là việc ngừng vận hành đường ống dẫn Dolphin nối liền Qatar và một số quốc gia có hành động xâm phạm đến họ.

Trong khi hai phần ba lượng LNG của Qatar được dành cho châu Á và châu Âu, khoảng 10% được chuyển đến Trung Đông. Hai thị trường xuất khác được đảm bảo nhờ những mố quan hệ chính trị tốt, đó là Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng hai nước khác là Ai Cập và UAE lại tham gia các quốc gia hiện nay đang cô lập Qatar. Nếu như Riyadh và UAE đẩy sự căng thẳng lên cao, điều đó sẽ làm dấy lên những lo ngại liên quan đến tương lai của đường ống dẫn dầu.

Ai Cập đón nhận từ Qatar hai phần ba nhu cầu khí đốt – khoảng 4,4 triệu tấn trong năm 2016 – theo giá thị trường cũng như hợp đồng ký kết trong ngắn hạn. Cairo đứng về phía của Saudi Arabia, nhưng không thể ngăn cản sự vận chuyển khí đốt. Kể từ khi khủng hoảng nổ ra, Ai Cập tiếp tục chấp nhận lô hàng khí đốt của Qatar trên những tàu vận tải được treo cờ của nước khác. Khoảng 300.000 người Ai Cập sống, làm việc tại Qatar đang tiếp tục công việc của họ một cách bình thường. Không một quốc gia nào mong muốn cắt đứt quan hệ mà không có lý do chính đáng, đặc biệt là Ai Cập – nước mới đây đã tránh được sự phá sản nhờ những sự trợ giúp tài hào phóng từ Qatar (đã có khoảng 6 tỷ USD được Qatar viện trợ cho Ai Cập sau cuộc nổi dậy – đảo chính “Mùa xuân Arập” năm 2011).

Tuy nhiên, tuyến đường ống dẫn khí Dolphin – vận chuyển khí đốt từ Qatar đến UAE và Oman mới là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. UAE nhập khẩu khảong 17,7 tỷ m3 khí đốt tự nhiên từ Qatar trong năm 2016 (theo báo cáo của BP), tương đương hơn 1/4 nguồn cung cấp khí đốt cho UAE. Cả UAE và Oman sẽ phải gánh chịu những mất mát to lớn nếu như không còn nhận được dòng khí hóa lỏng, đặc biệt là vào mùa Hè – thời điểm sản xuất điện đòi hỏi phải đạt công suất lớn nhất để vận hành hệ thống điều hòa không khí. Hậu quả của việc Qatar ngừng cung cấp khí đốt tại vùng Vịnh có thể so sánh với sự kiện tương tự vào tháng 1/2009, khi Nga tạm dừng hoạt động tuyến đường ống dẫn khí đốt đến Ukraine.

UAE nhận thức được rằng họ sẽ ngay lập tức phải đối mặt với nhiều khó khăn hàng ngày. Nước này được xem như tự bắn một viên đạn vào chân mình nếu không nhận được nguồn cung cấp khí đốt. Tuy nhiên, về phần mình, Qatar xem tuyến ống dẫn này là một sự lắp đặt vĩnh viễn, không phải như là một công cụ để phục vụ cho các lợi ích chính trị trong ngắn hạn. Do đó, không một bên liên quan nào mong muốn thay đổi nguyên trạng hiện nay và cũng không bên nào thông báo có được lợi ích khi áp dụng sự thay đổi.

Một số nhà phân tích cho rằng cả hai bên đều có được những kế hoạch dự phòng nếu như đường ống Dolphin tạm dừng hoạt động. Lúc đó, UAE sẽ phải vật lộn để bù đắp phần thiếu hụt nguồn khí đốt từ Qatar. Nước này sẽ phải nhập khẩu LNG vì không ai có thể gửi nó thông qua tuyến ống dẫn. Điều này sẽ khiến giá thành tăng lên gấp 3 lần so với mức giá mà UAE mua khí đốt từ Qatar. Cho dù không có mức giá chính thức, dự kiến UAE sẽ phải trả thêm khoảng 1,1 tỷ USD. Mặt khác, nếu UAE muốn ngừng nhập khẩu khí đốt của Qatar, họ sẽ tiếp tục phải trả một khoản tiền đắt gấp 3, theo mức giá hiện hành, bởi vì giá LNG liên kết chặt chẽ với giá dầu. Như vậy, liên quan đến vấn đề này, trong trường hợp UAE mua khí đốt từ một nguồn khác, với một hợp đồng theo giá thị trường và được chuyên chở bằng tàu thủy, nước này sẽ phải trả một khoản tiền gấp 6 lần so với các hợp đồng đã ký kết với Qatar. Đây quả thực là một thiệt hại đáng kể.

Sự gián đoạn gây ra do một bên nào đó đều dẫn đến việc vi phạm các hợp đồng song phương. Nếu như UAE vi phạm hợp đồng, họ sẽ phải trả giá. Trong trường hợp vì khủng hoảng, Qatar buộc phải ngừng hợp đồng, họ cũng sẽ gửi một thông điệp tiêu cực đến các khách hàng của mình – việc cung cấp khí đốt bị ảnh hưởng vì lý do chính trị.

Nếu một biện pháp như vậy được Qatar thực hiện có thể gây tổn hại đến chiến lược mà nước này đang theo đuổi, thì đó là muốn khẳng định cho thế giới thấy rằng dù bị các nước GCC đối xử bất công, nhưng Qatar vẫn tôn trọng các hợp đồng thương mại – trái ngược hoàn toàn với UAE và Saudi Arabia. Qatar đã khẳng định rằng việc vận chuyển khí đốt đến UAE và Oman thông qua tuyến ống Dolphin vẫn sẽ được tiếp tục. Do đó, các quốc gia liên quan không phải bận tâm về thời điểm của một kịch bản tồi tệ, khi mà Qatar có thể thay đổi quyết định đã đưa ra về vấn đề trên.

Liệu Qatar có bị mất thị phần vào tay Saudi Arabia?

Một số nhà phân tích đã không loại trừ một số biện pháp trừng phạt có thể được Saudi Arabia và UAE áp đặt trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng hiện nay. Bất kỳ biện pháp nào nhắm đến việc ngừng xuất khẩu năng lượng, đặc biệt là thông qua đường ống dẫn Dolphin có thể được xem như là một sự leo thang nghiêm trọng do Doha gây ra, và điều này cũng dẫn đến khả năng nền kinh tế nước này bị tê liệt.

Một kịch bản mang tính giả thuyết vốn là chủ đề của cuộc tranh luận chính trị gay gắt hiện nay, theo các nhà phân tích, dựa trên sự phong tỏa hoàn toàn đối với Qatar, Riyadh và Dubai đã đề cập đến khả năng tái cơ cấu GCC thông qua việc khai trừ Qatar ra khỏi tổ chức này, trừ khi có một sự thay đổi chế độ tại Doha.

Một phần mở rộng của kịch bản này có thể sẽ là việc Saudi Arabia sẽ được thừa hưởng trực tiếp lợi nhuận đến từ thị phần năng lượng đầy béo bở của Qatar. Lợi nhuận này sẽ giúp cung cấp tài chính cho chiến lược “tầm nhìn 2030” được hoàng tử Mohammed ben Salmane phát triển nhằm đa dạng hóa nền kinh tế của quốc gia này. Trên thực tế, kế hoạch chuyển đổi mang tầm vóc quốc gia và dự án “tầm nhìn 2030” chưa đạt được kết quả như ý muốn. Việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của Tập đoàn Saudi Aramco (dự kiến giá trị niêm yết là 2000 tỷ USD) có thể không đạt được giá trị đã đề ra. Trong trường hợp đó, Saudi Arabia sẽ cần thêm vào một lượng tiền lớn và nước này nhiều khả năng sẽ nhanh chóng thúc đẩy kịch bản trên xảy ra.

Một biện pháp như vậy được Riyadh thực hiện có thể sẽ mang đến những điều kinh khủng cho hoàng gia Qatar. Các thủ lĩnh Hồi giáo của Doha sẽ buộc phải thoái vị – như gợi ý của Khalaf al-Habtoor.

Các chuyên gia vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn đang trong giai đoạn yên tĩnh và có thể sẽ sớm được giải quyết. Hợp đồng mua máy bay chiến đấu trị giá 12 tỷ USD được ký kết gần đây giữa Qatar và Mỹ, cho Riyadh và Dubai thấy rằng họ sẽ không dễ dàng đạt được chiến thắng. Căn cứ quân sự của Mỹ đặt tại al’Udeid – Qatar là Bộ chỉ huy trung tâm của Mỹ (CENTCOM) tại khu vực, chi phối 20 quốc gia trong khu vực. Mới đây, việc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đến Qatar để huấn luyện cũng sẽ giúp xoa dịu những căng thẳng. Hai nước này cũng đã ký kết một hiệp ước quốc phòng. Ankara sở hữu số lượng quân đội thường trực lớn nhất khu vực và sự hiện diện của nước này ở gần biên giới Saudi Arabia được đánh giá là hành động có tính can ngăn.

Tuy nhiên, cũng có những nhà phân tích cho rằng chưa hề xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự giảm căng thẳng thời gian gần đây. Họ nhắc lại rằng những hậu duệ của Ibn Abd al-Wahhab – cha đẻ của chủ nghĩa Wahhabi, học thuyết chủ đạo của Saudi Arabia và cũng là của Qatar – từng tách mình ra khỏi gia tộc cai trị của UAE, gây tổn hại đến sự hợp pháp của nó. Sự leo thang của Riyadh và UAE chống lại Qatar vẫn tiếp tục. Vào giữa tháng 6, UAE đã kêu gọi Mỹ di dời căn cứ không quân khỏi al-Udeid của Qatar.

“Không còn ‘con thiên nga đen’ nào trên thế giới của chúng ta”. Và ý tưởng về sự tranh giành thị phần bắt đầu được gợi lên.

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Advertisements

Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần I


Nhờ thị trường châu Á, các đồng minh quân sự và một đường ống dẫn dầu chính, Doha giữa được một quyền lực nhất định để chống lại những đối thủ của mình trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay.

Sự phong tỏa đối với Qatar, được lãnh đạo bởi Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), đã gây ra một tác động kinh tế nhất định. Qatar – nhà sản xuất khí Heli lớn thứ hai thế giới, đã buộc phải ngừng sản xuất 2 nhà máy, không thể xuất khẩu khí đốt theo đường bộ. Hãng hàng không Qatar Airways không thể thực hiện các đường bay đến 18 điểm. Những ngân hàng Qatar cũng bị tác động nặng nề, đặc biệt là Ngân hàng Quốc gia Qatar (QNB) – lớn nhất khu vực về mặt tài sản, cũng như Ngân hàng Doha: cả hai đều sở hữu mạng lưới rộng khắp đất nước là thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC). Ngày 8/6, cơ quan đánh giá tín nhiệm Standard&Poor’s (S&P) đã hạ xếp hạng tín dụng của Qatar, từ AA xuống A-, đồng thời xếp nước này với triển vọng tiêu cực, dấu hiệu cho thấy khủng hoảng có thể gây ra ảnh hưởng đối với đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Moody’s cũng theo bước S&P bằng cách xếp hạng phát hành trái phiếu chính phủ (IDR) trong dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ của Qatar ở mức AA nhưng dưới cảnh báo triển vọng tiêu cực.

Tuy nhiên, Doha đã không nhượng bộ sớm. Nước này rất mạnh về tài chính, đặc biệt là Quỹ dự trữ quốc gia (QIA) có vốn lên đến 213,7 tỷ USD, theo ước tính của Viện Tài chính quốc tế. Vốn khởi điểm của quỹ này đến từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt của Qatar. Thu nhập đến từ năng lượng chiếm đến một nửa GDP của Qatar, 85% nguồn thu từ xuất khẩu và 70% doanh thu của Chính phủ. Khủng hoảng có thể tác động đến những hợp đồng năng lượng trong trung hạn của quốc gia này, khi các nhà nhập khẩu buộc phải đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của họ để giảm phụ thuộc vào khí đốt của Qatar.

Theo ông Roudi Baroudi – CEO của EEH – một công ty tư vấn độc lập (chủ sở hữu chính của EEH là Cheikh Jaber ben Youssef Jassem al-Thani – Tổng giám đốc Ban thư ký chung về kế hoạch và phát triển Qatar), cho biết, về dầu mỏ, muốn có được lợi thế thì phải tham gia nhóm do Riyadh lãnh đạo: Saudi Arabia gần đây đã vượt qua Nga trở thành nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới, trong khi UAE cũng được xếp trong nhóm 10 nước dẫn đầu. Tuy nhiên, về khí đốt, Qatar lại chiếm nhiều “quân bài” trong cuộc chơi, và đó là lại là những quân bài tốt nhất.

Doha có thể sử dụng năng lượng có lợi cho mình như là một công cụ đối ngoại: cách thức mà Qatar sử dụng sẽ rất quan trọng trong nỗ lực để vượt qua “cơn bão” hiện nay.

Làm thế nào để Qatar vận chuyển các mặt hàng xuất khẩu của mình?

Qatar là nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới. Theo Liên minh khí đốt quốc tế, nước này chiếm gần một phần ba sản lượng toàn cầu, với khảong 77,8 tỷ tấn trong năm 2016. Từ trước đến nay, hầu như không có sự gián đoạn khai thác hoặc xuất khẩu của Qatar, có lúc có đến 60 nhà vận chuyển LNG thuộc Công ty vận chuyển khí đốt Qatar (trong tiếng Arập là Nakilat). Nhưng ngay sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra, những doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu của Nikilat, dầu mỏ và công nghiệp Qatar đã gặp nhiều khó khăn. Một phần lớn khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được vận chuyển bằng tàu chở dầu. Mặc dù chúng ta không được nghe về sự ngừng chuyển dầu, nhưng vẫn có một sự lo ngại bao trùm lên hành trình đưa các mặt hàng của Qatar đến châu Á, khách hàng chủ chốt của đa số sản lượng dầu của họ, cũng như một phần lớn xuất khẩu từ vùng Vịnh. Những nguồn tin từ ngành công nghiệp vận tải biển cho biết một số giao dịch đã có thể bị hủy bỏ hoặc trì hoãn: các công ty bảo hiểm và hóa dầu đã báo rằng 17 tàu vận chuyển LNG hiện đang thả neo ngoài khơi cảng Ras Laffan của Qatar – một số lượng nhiều hơn thông thường khoảng 6 – 7 tàu.

Về mặt lịch sử, các khách hàng châu Á đòi hỏi một hỗn hợp dầu thô đến từ vùng Vịnh: thông thường, các tàu chở dầu rời khỏi vương quốc với dầu của Qatar, sau đó dừng lại để tiếp nhiên liệu và thêm dầu thô của Saudi Arabia, UAE và Oman, thông thường là tại các cảng của UAE. Karim Nassif, phó giám đốc của S&P tại Dubai cho biết, nếu những tàu chở dầu không được phép dừng lại và tiếp liệu, như theo một số thông tin gần đây, điều đó có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khách hàng muốn loại dầu thô hỗn hợp.

Tờ Daily Telegraph đưa tin rằng vì tác động của khủng hoảng, hai tàu vận chuyển LNG đến vương quốc Anh đã phải chuyến hành trình; tuy nhiên, nhiều chuyên gia khẳng định đây không phải là một vấn đề lớn. Nếu những thông tin trên trở thành sự thật, đấy chỉ là một chuyện bình thường mà các công ty quốc tế phải đối mặt, và họ có đủ các biện pháp cần thiết để ứng phó với lệnh trừng phạt của Saudi Arabia.

Giả thiết rằng công ty A đã có dự định vận chuyển LNG của Qatar đến UAE, nhưng nước này kể từ nay không cho phép các tàu vận tải của Qatar cập bến và dỡ hàng. Câu trả lời của công ty A có thể sẽ là gửi một nhà vận chuyển LNG của một nước thứ ba thực hiện việc vận chuyển này, sau đó chuyển hướng một hay nhiều nhà vận chuyển khác để đảm bảo rằng tất cả các khách hàng đều nhận được hàng.

Naser Tamimi, chuyên gia năng lượng độc lập của Qatar, cho rằng kịch bản tương tự sẽ xảy ra với khả năng Ai Cập không cho các tàu chở dầu của Qatar đi qua kênh đào Suez hoặc tăng giá đối với các tàu vận tải của Qatar. Nhưng Qatar có thể giải quyết vấn đề thông qua một tàu chở dầu mang quốc tịch nước khác, ví dụ như của đảo Marshall, hoặc chuyển hướng một phần các tàu chở hàng của họ đến châu Âu qua đường Nam Phi. Những biện pháp này có thể làm tăng thêm chi phí, nhưng là cách mà Qatar có thể dựa vào, ngay cả khi họ phải chịu tất cả chi phí này cho người tiêu dùng.

Khoảng 70% xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được thực hiện trong khuôn khổ các hợp đồng dài hạn – thông thường là khoảng 15 năm. Sản lượng và giá thành vì thế luôn đảm bảo. Những nhà xuất khẩu khác theo đuổi chế độ giá trong ngắn hạn hoặc biến động theo thị trường quốc tế.

Thị trường châu Á sẽ hướng đến nơi khác

Phần lớn LNG Qatar được đưa đến Đông Á – và một số phân tích đã khẳng định rằng ít có khả năng xu hướng này sớm chấm dứt. Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar không bị tác động bởi sự phong tỏa của các biện pháp trừng phạt, một cách đơn giản, bởi vì các quốc gia của GCC đều có nhu cầu duy trì quan hệ tốt với các đối tác Đông Á, theo tiết lộ của Theodore Karsik, cố vấn cao cấp của Gulf State Analytics – có trụ sở tại Washington. Theo ông, nếu Saudi Arabia và UAE làm gián đọn xuất khẩu LNG sang châu Á, các khách hàng có thể không muốn đầu tư vào các chương trình hướng đến chuyển đổi nền kinh tế của UAE và Saudi Arabia, ví dụ như chiến lược “tầm nhìn 2030”.

Baroudi cũng chia sẻ quan điểm này: “Không nơi nào được như thị trường châu Á. Các quốc gia châu Á cần – và họ biết điều đó – quan hệ trong dài hạn với những nhà cung cấp ổn định, và, theo nghĩa đó, Qatar đóng vai trò một phần trong đó. Những quốc gia khác trên thế giới cũng vậy. Do đó, cho dù cuộc khủng hoảng có leo thang hơn nữa – và đến thời điểm hiện nay, mọi thứ liên quan đến xuất khẩu LNG của Qatar dường như vẫn không có gì xáo trộn, tất cả mọi sự gián đoạn sẽ chỉ là một hiện tượng tạm thời trong ngắn hạn”.

Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar đơn giản là không thể thay thế. LNG của Australia sẽ bắt đầu có tác động trên thị trường quốc tế từ nay đến hết thập kỷ, nhưng điều đó đơn giản chỉ nhằm nhấn mạnh “sự cạnh tranh” trên thị trường không có mặt hàng thay thế.

Tuy nhiên, Tamimi cũng cho rằng cuộc khủng hoảng có thể khuyến khích các khách hàng châu Á đa dạng hóa các nhà cung cấp và giảm sự phụ thuộc của họ vào khí đốt của Qatar. “Kể từ nay, các khách hàng sẽ ít phải chịu áp lực hơn trong bối cảnh thế giới đang thừa thãi nguồn cng LNG. Tất cả các khách hàng của Qatar yêu cầu những hợp đồng tốt hơn, trong khi thị phần của Qatar chứng kiến sự sụt giảm so với năm 2013 do tác động từ sự cạnh tranh không chỉ đến từ Australia, Indonesia, mà còn từ Malaysia. Khủng hoảng cho phép nhắc lại với tất cả mọi người tại châu Á rằng khu vực Trung Đông không ổn định, rằng mọi thứ có thể thay đổi chỉ trong vài ngày”.

(còn tiếp) 

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Khát năng lượng, Trung Quốc đánh cược vào băng cháy ở Biển Đông


Ngày 18/5, Trung Quốc thông báo đã thu được thành công đầu tiên trong việc thu thập được những mẫu khí mêtan hydrat (còn được gọi là “đá cháy” hay “băng cháy”) ở Biển Đông. Chỉ trong vòng 6 tuần, tính đến đầu tháng 7/2017, hơn 235.000m3 mêtan hydrat đã được Trung Quốc khai thác ở vùng biển cách 320 km về phía Đông Nam thành phố Châu Hải (Zhuhai), tỉnh Quảng Đông (Guangdong).

Kết quả trên được Bắc Kinh đánh giá là “một bước tiến lịch sử” sau gần 2 thập kỷ nghiên cứu với nhiều đợt khoan thăm dò trong vùng Biển Đông. Hãng tin AFP trích phát biểu của ông Hiệp Kiến Lương (Ye Jianliang), Giám đốc Cục Khảo sát Địa chất Quảng Châu, đánh giá: “Trung Quốc đã vượt qua mọi mong đợi trong quá trình khảo sát thăm dò băng cháy bằng những tiến bộ đổi mới của riêng mình về công nghệ và kỹ thuật. Sự kiện này đánh dấu một bước đột phá lịch sử”.

Theo tuyên bố ngày 2/6 của Bộ Lãnh thổ và Tài nguyên, được Xinhua.net trích dẫn, Trung Quốc sẽ có khoảng 80 tỷ tấn băng cháy. Khoảng 8.350m3 nhiên liệu này vẫn được khai thác hàng ngày ở ngoài khơi Đông Nam thành phố Châu Hải.

Trung Quốc nằm trong số vài nước có tham vọng khai thác nguồn tài nguyên mới này để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng. Từ 2 thập kỷ nay, quốc gia Đông Á này tăng cường các cuộc thăm dò dưới đáy đại dương để tìm băng cháy, một loại năng lượng hóa thạch được ưa chuộng vì khí mêtan. Tuy nhiên, để sử dụng được băng cháy trên quy mô thế giới, còn cần ít nhất thêm 10 năm nữa.

Cuộc cách mạng năng lượng hay dự án quảng bá?

Thành công trong việc khai thác được khí mêtan hydrat vừa qua được Trung Quốc đánh giá là “một bước tiến lịch sử”. Tuy nhiên, trang Sputnik (Nga) đặt câu hỏi liệu thành công này sẽ giúp Bắc Kinh tiến hành một cuộc cách mạng năng lượng hay đó chỉ là một dự án quảng bá?

Chuyên gia Nga Igor Iuskov thuộc Quỹ Quốc gia vì An ninh năng lượng cho rằng bước đầu trong quá trình khai thác khí mêtan hydrat có thể là một tiến bộ công nghệ của Trung Quốc trong một lĩnh vực cụ thể, nhưng đó không phải là một cú đột phát lịch sử trong lĩnh vực năng lượng. Chuyên gia Nga nhấn mạnh: “Trung Quốc thông báo thành công trong bước đầu chiết xuất băng cháy, nhưng lại im lặng về chi phí cho hoạt động này. Dĩ nhiên, điều này gây thắc mắc, vì vấn đề giá cả của nhiên liệu được khai thác là điều quan trong. Chỉ có giá, chứ không phải tiêu chí nào khác, cho phép đánh giá hiệu quả thương mại của công nghệ Trung Quốc và xa hơn là viễn cảnh khai thác băng cháy nói chung”.

Theo chuyên gia Nga, Bắc Kinh hiểu rằng một cuộc cách mạng công nghệ trong lĩnh vực khí mêtan hydrat có thể sẽ tác động hơn đến năng lượng thế giới so với sản xuất khí đá phiến (schiste). Ông Igor Iuskov nêu lên hai khả năng giải thích cho thông tin về thành công của Trung Quốc được truyền thông đăng tải: Thứ nhất, một thông tin như vậy phù hợp với chính sách của chính quyền Trung Quốc hiện nay. Thứ hai, Bắc Kinh đang bận tâm đến giá khí đốt ở nước ngoài.

Khí mêtan hydrat, nguồn năng lượng của tương lai?

Băng cháy được hình thành từ những phân tử mêtan nằm trong các phân tử nước kết tinh, thường được tìm thấy bên dưới lớp băng vĩnh cửu và tầng địa chất sâu dưới lòng đại dương. Tuy nhiên, quy trình khai thác loại năng lượng này khó khăn và rất tốn kém.

Khí mêtan được chiết xuất bằng cách nâng nhiệt độ, hoặc giảm áp lực, để phân giải các hydrat thành khí và nước. Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, 1m3 mêtan hydrat có thể tỏa 164m3 khí mêtan và 0,83m3 nước. Hiện vẫn chưa có số liệu thống kê cụ thể về trữ lượng mêtan hydrat trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo Mỹ, trữ lượng loại khí này có thể lớn hơn cả “khối lượng của tất cả các nguồn năng lượng hóa thạch đã được biết” (như dầu mỏ, than đá…).

Các nhà nghiên cứu độc lập thì tỏ ra ngập ngừng trong việc đưa ra số liệu về quy mô của các mỏ băng cháy. Nhưng theo họ, số lượng các mỏ này rất lớn và có thể “làm thay đổi cán cân” đối với các nước có trữ lượng hạn chế về năng lượng hóa thạch truyền thống. Giảng viên Ingo Pecher, thuộc Đại học Khoa học, Đại học Auckland (Australia) nêu trường hợp điển hình của Nhật Bản: “Họ không có nhiều khí đốt và đối với họ, loại khí này có thể là một nguồn dự trữ quan trọng”. Quần đảo Nhật Bản bị lệ thuộc vào nhập khẩu khí đốt hóa lỏng tự nhiên, vì phần lớn các nhà máy điện nguyên tử của nước này vẫn đang ngừng hoạt động từ 6 năm nay, sau thảm họa Fukushima.

Tiềm năng rất lớn

“Băng cháy” được phát hiện trên khắp thế giới, từ New Zealand đến Alaska, nhưng thách thức chính là phải tìm được những mỏ tập trung và có thể thâm nhập được. Rất nhiều nước có tham vọng khai thác được khí mêtan hydrat. Nhật Bản thông báo thành công trong việc khoan thăm dò ngoài khơi phía Đông nước này. Mỹ cũng đạt được kết quả khả quan trong những lần khoan thử ở vịnh Mexico.

Nhưng để sản xuất một cách khả thi về mặt kinh tế thì sẽ còn cần “khoảng 10 năm”, theo ước tính của ông Paul Duerlo, Tổng Giám đốc văn phòng cố vấn Boston Consulting Group, trụ sở tại Tokyo (Nhật Bản). Còn theo thẩm định của giới chuyên gia Trung Quốc, băng cháy có thể trở thành một nguồn năng lượng sinh lợi “trong khoảng những năm 2030”. Ông Duerlo giải thích: “Người ta biết các mỏ năng lượng này nằm ở đâu, người ta có công nghệ cần thiết, nhưng mức sản xuất từ các giếng này vẫn còn chưa khả thi về mặt thương mại do giá thành hiện nay”.

Theo Giáo sư An Khắc, thuộc khoa Địa lý và Quản lý nguồn tài nguyên, Đại học Hong Kong, một thách thức khác trong việc chiết xuất, đó là loại khí mêtan cũng có thể gây hiệu ứng nhà kính. Dẫu sao, loại nhiên liệu này vẫn là “tiềm năng lớn” nếu vượt qua được mọi cản trở về tài chính và công nghệ.

Nguồn: TKNB – 06/07/2017

Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long


Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong.

Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nước hạ nguồn sông.

Chỉ hai tháng sang khi Lào chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong (MRC) vào tháng 11/2016 về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20/12/2016, là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên dòng chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng như làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu USD/năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản

Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn.

Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers – IR), nhận định: “Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Mekong”.

IR là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng ĐBSCL. Ông nói: “Nếu đúng kế hoạch, việc xây dựng 11 đập ở Lào và Campuchia được tiếp tục thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về ĐBSCL nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở ĐBSCL, các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu xây dựng người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn tiếp tục giảm”.

Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở ĐBSCL vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào.

Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng ĐBSCL, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: “Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới ĐBSCL. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm vì phần lớn đất ĐBSCL là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng động, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bối bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao càng làm cho phù sa lên đồng gặp khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng”.

Hiện tại, Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. IR đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng ĐBSCL đã phải chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: “Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hồ sâu chẳng hạn là chỗ để cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long”.

MRC đã quá vội vã

Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến việc chuẩn bị xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự tính bán đến 90% điện sản xấut từ đập thủy điện sang Thái Lan.

Ngày 16/1, IR ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vàng với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995, theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo IR, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại: “Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn”.

Trả lời báo Người Đô thị ngày 22/2, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong.

Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Bà nói: “Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan, nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì Chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông”.

Từ năm 2010, các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông.

Tuy nhiên, kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. IR quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại qua 1nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nguồn: RFA

TKNB – 27/03/2017

Donald Trump muốn làm sống lại “Chiến tranh giữa các vì sao”


Robert Jules

Nhằm đối phó với Tổng thống Nga Vladimir Putin, Donald Trump muốn tăng cường kho vũ khí hạt nhân của Mỹ để cân bằng lại quan hệ quyền lực trên thế giới, phục hồi một chính sách răn đe hạt nhân và quay lưng lại với cách tiếp cận của Barack Obama.

Ngay trước đêm Giáng sinh, Tổng thống mới đắc cử của Mỹ Donald Trump đã phát đi một thông điệp trên Twitter  rằng “Mỹ phải củng cố mạnh mẽ và phát triển tiềm năng hạt nhân cho đến khi thế giới tái trở lại hợp lý mà liên quan đến vũ khí hạt nhân”. Trump đang theo bước chân của một trong những người tiền nhiệm của ông, Ronald Reagan, ngời đã tung ra cuộc chạy đua vũ trang tốn kém năm 1983, với tên gọi là “Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược – SDI” vẫn được biết đến với tên gọi “Chiến tranh giữa các vì sao” để nhằm hạ bệ Liên Xô. Giống như Reagan, Trump nghĩ rằng cần vượt xa hơn sự cân bằng của đối thủ, bằng cách trang bị vũ khí mới có thể tiêu diệt kẻ thù, hoặc ít nhất là kho tên lửa trước khi nó có thể vươn tới Mỹ.

Sự đáp trả của Vladimir Putin

Đương nhiên, thông điệp trên mạng xã hội Twitter của Trump là một sự đáp trả Putin. Trong một bài phát biểu, Tổng thống Nga công bố kế hoạch phát triển “hệ thống tên lửa có khả năng thâm nhập đáng tin cậy vào tất cả các hệ thống chống tên lửa hiện tại và tương lai”. Như thế, sự leo thang hạt nhân đang rõ ràng hơn trong giai đoạn hiện nay.

Ngay cải khi hai nhà lãnh đạo đã có ý giảm nhẹ những ý kiến của mình, thì đề xuất của họ vẫn là rõ ràng. Hai cường quốc hạt nhân, Nga (với 7300 đầu đạn) và Mỹ (6970 đầu đạn) tập trung tới 93% vũ khí hạt nhân hiện nay trên thế giới. Việc ngăn chặn một cuộc chiến tranh hạt nhân rõ ràng phụ thuộc vào mối quan hệ giữa hai cường quốc này.

Tuy nhiên, nếu tính cả các đồng minh tương ứng của cả hai cường quốc hạt nhân thì cán cân có hơi nghiêng về phía Nga. Phía Mỹ thì ngoài Israel (với 80 đầu đạn), thì còn có Pháp (300 đầu đạn, đứng thứ ba thế giới) và Vương quốc Anh (với 215 đầu đạn). Bên phía Nga, Trung Quốc (260 đầu đạn), Pakistan (130 đầu đạn) và Ấn Độ (120 đầu đạn). Triều Tiên có thể được ghi nhận với 15 đầu đạn, nhưng chương trình hạt nhân của Triều TIên luôn là bí mật như của Trung Quốc và Iran, thì tổng số củaphe Nga còn có thể cao hơn.

Mối liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu hạt nhân quân sự và dân sự

Ngoài ra còn có một khía cạnh khác liên quan đến hồ sơ này. Với cách nhìn về sự liên kết chặt chẽ giữa chương trình hạt nhân dân sự và quân sự, và cần lưu ý rằng nhiều nền kinh tế mới nổi đang có xu hướng ủng hộ hạt nhân. Năng lượng nguyên tử có lợi thế độc lập về năng lượng, có thể cung cấp lượng điện năng đáng kể, thúc đẩy phát triển kinh tế (nhưng rất khó để xử lý chất thải hạt nhân), và có thể (được tuyên bố) phục vụ cuộc chiến chống lại sự nóng lên toàn cầu. Hiện trên thế giới có 437 nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động, chủ yếu là ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Nhưng đã có 66 lò phản ứng đang được xây dựng, chủ yếu ở châu Á (25 ở Trung Quốc, và Trung Quốc đang muốn tăng gấp đôi công suất sản xuất điện hạt nhân). Trong 166 dự án điện hạt nhân đã công bố, thì chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Mỹ và cả ở Trung Đông.

Iran vẫn luôn bị nghi ngờ muốn phát triển vũ khí hạt nhân dưới vỏ bọc của một chương trình điện hạt nhân dân sự lớn, và Iran đã sở hữu các máy ly tâm thế hệ mới. Ngày 10/1 tới, một cuộc họp sẽ được tổ chức để xem xét việc thực hiện các thỏa thuận hạt nhân giữa Iran và các cường quốc do Mỹ dẫn đầu để xem xét quyết định dỡ bỏ hoặc củng cố các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Iran. Cần nhớ rằng thỏa thuận về hạt nhân Iran đã bị Donald Trump hứa bãi bỏ.

“Bảo vệ nước Mỹ”

Cuối cùng, thông điệp của Trump có thể không chỉ dành riêng cho người Mỹ mà còn cho cả các quốc gia khác. Mỹ sẽ tiếp tục các chương trình hạt nhân dân sự và quân sự của mình để duy trì lợi thế về công nghệ và ưu thế quân sự “để bảo vệ nước Mỹ”. Điều mà vị tổng thống Mỹ tương lai không bao giờ quên nhắc nhở mình.

Nguồn: La Tribune – 27/12/2016

TKNB – 29/12/2016

Lào tham vấn thủy điện Pak Beng và tác động


Ngày 4/11 vừa qua, Lào đã chính thức nộp hồ sơ thủy điện Pak Beng lên Ban thư ký Ủy hội sông Mekong (MRC) để tiến hành thủ tục tham vấn trước, mặc dù điều này đã được lường trước, bởi đây là điều Lào không làm trước thì cũng làm sau. Tuy nhiên, việc Lào triển khai ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang đặt ra những dấu hỏi lớn, có thể làm ảnh hưởng tới kết quả của chuyến thăm. Phân tích và đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào:

Đôi nét về đập Pak Beng

Nằm tại huyện Pak Beng, tỉnh Oudomsay (Bắc Lào), thủy điện Pak Beng có công suất lắp đặt là 912 MW, sản xuất điện trung bình/năm là 4,775 GWh. Đây là thủy điện thứ 3 nằm trên dòng chính sông Mekong sau thủy điện Sayabouly và Don Sahong. Pak Beng được thiết kế bởi công ty Trung Quốc Datang Overseas Invesment Co., Ltd, qua một thỏa thuận ký kết giữa Lào vào Trung Quốc vào tháng 8/2007, với giá trị ban đầu 1,88 tỷ USD. Đến tháng 3/2014, công ty Datang nhận được Giấy phép môi trường từ Chính phủ Lào trước khi trải qua các bước PNPCA (thủ tục thông báo, tham vấn trước và chuẩn thuận). Và từ tháng 2/2015, Lào đã bắt đầu tiến hành các bước xây dựng để chuẩn bị cho việc khởi công dự án như mở đường và làm mặt bằng cho dự án.

Theo kế hoạch, Lào dự kiến khởi công thủy điện này vào đầu năm 2017 và nhà máy sẽ đi vào vận hành từ năm 2024. Tuy nhiên, thời hạn khởi công kể trên chắc chắn là không kịp bởi bây giờ đã là tháng 11, ngoài thời gian 1 tháng để Ban Thư ký MRC xem xét hồ sơ có đầy đủ hay không trước khi gửi hồ sơ cho Ủy ban sông Mekong các nước thành viên, còn cần ít nhất thêm 6 tháng để các nước tham vấn trước khi có quyết định chung cuộc. Như vậy, nhanh nhất thì cũng phải đến cuối năm 2017, Lào mới có thể khởi công được thủy điện này.

Trên thực tế, từ tháng 10/2015, Trung Quốc đã nộp hồ sơ và ép Lào tiến hành thủ tục tham vấn trước theo quy định của Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với thiết kế, đặt biệt là trong việc xử lý các vấn đề liên quan tới môi trường của Công ty Trung Quốc nên phía Lào đã lấy cớ đang chuẩn bị năm làm Chủ tịch ASEAN và sau đó lấy cớ đang làm Chủ tịch ASEAN đã kéo dài. Ngay sau khi Lào tổ chức xong Hội nghị cấp cao ASEAN 28 – 29 và các hội nghị liên quan, Trung Quốc lại tiếp tục tăng sức ép yêu cầu Lào tiến hành tham vấn và thậm chí còn đe dọa nếu Lào không tiến hành, sẽ ảnh hưởng tới các dự án viện trợ khác mà Trung Quốc dành cho Lào. Về yêu cầu sửa thiết kế của phía Viêng Chăn, phía Trung Quốc cho biết Lào cứ tiến hành tham vấn, sau đó có vấn đề gì sẽ sửa luôn một thể. Đây là một đòn “cao” của Trung Quốc nhưng cũng giúp tạo cơ hội để các nước thành viên xoáy vào các lỗi thiết kế của dự án để yêu cầu Công ty xây dựng phải sửa đổi thiết kế, điều này không chỉ giúp kéo dài thời gian mà còn giúp giảm thiểu tác động mà con đập có thể gây ra cho Hạ lưu. Đây là điều đã từng có tiền lệ ở Dự án thủy điện Sayabouly khi trong quá trình tham vấn, chủ đầu tư buộc phải bỏ ra thêm 400 triệu USD thiết kế lại thang cá và điều tiết phù sa.

Ảnh hưởng của quyết định

Việc Lào nộp đơn hồ sơ tham vấn trước lên Ban thư ký MRC ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Lào (24 – 26/11) đang đặt ra những câu hỏi lớn bởi trước đó vào ngày 20/10 vừa qua, khi Lào thông báo với Việt Nam về việc sẽ tiến hành nộp hồ sơ nói trên, phía Việt Nam đã ngay lập tức ngăn với hai lý do: Thứ nhất, Tổng Bí thư Việt Nam sắp sang thăm Lào; Thứ hai, năm 2017 là năm kỷ niệm 55 năm Việt Nam – Lào thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, việc Lào nộp hồ sơ sẽ gây ra dư luận xấu, tạo kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng đặt câu hỏi về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Về vấn đề này Lào công nhận ta nói đúng và Thủ tướng Thongloun Sisoulith đã đồng ý sẽ lùi, tuy nhiên ông này cũng nói thêm rằng để sau chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10 vừa qua rồi sẽ quyết. Bởi vậy, rất khó hiểu vì lý do gì khiến bạn quyết nhanh đến vậy khi vào ngày 3/11, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Lào, ông Sommat Pholsena thông báo Thủ thướng Thongloun Sisoulith đã ra lệnh cho ông nộp hồ sơ lên MRC và ngày 4/11, hồ sơ này đã được nộp lên Ban Thư ký MRC. Phải chăng Lào đã bị Trung Quốc ép đến mức phải nhượng bộ, hay sức ép vô cùng lớn từ những khó khăn kinh tế trong nước và việc chậm triển khai thủy điện Pak Beng theo đúng tiến độ đề ra đã khiến Lào vội vã, đến mức không còn để ý tới những tác động có thể trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào cuối tháng 11 này?

Dù nguyên nhân là gì đi nữa, thì quyết định của Lào trong việc nộp hồ sơ tham vấn trước thủy điện Pak Beng cũng sẽ có ảnh hưởng nhất định tới thành công của chuyến thăm, bởi sẽ có nhiều người lấy cớ này để nói rằng Lào đặt lợi ích kinh tế hoặc một lợi ích nào đó rất lớn lên trên quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Nguồn: TKNB – 11/11/2016

Cuba bước vào khủng hoảng năng lượng mới?


Trong những lời than vãn về trình trạng thiếu thốn đã quen thuộc của người dân Cuba, những lo lắng trước các biện pháp tiết kiệm năng lượng mà nhà nước mới đưa ra trogn bối cảnh giá dầu sụt giảm trên thị trường thế giới ngày càng nhiều, và thậm chí một số người còn e ngại tình hình sẽ trở lại mức bi đát như năm 1994 trong “thời kỳ đặc biệt”.

Có một nghịch lý là giá dầu trên thế giới sụt giảm lại ảnh hưởng tới mức tiêu thụ điện tại Cuba. Như nhiều nước vùng Caribe và Trung Mỹ, Cuba nhập khẩu dầu qua chương trình hợp tác khu vực Petrocaribe do cố Tổng thống Venezuela Hugo Chávez đưa ra từ năm 2005. Có thể coi Petrocaribe còn hơn cả một chiến lược ổn định kinh tế cho các nước đang phát triển này, đặc biệt là những nước biết tận dụng nó đúng cách. Ngoài ưu đã về giá, Petrocaribe còn cung cấp cho bên mua tín dụng dài hạn lãi suất thấp để mua dầu thô của Venezuela. Cho dù dự án này không đáp ứng toàn bộ khối lượng dầu thô mà các nước thành viên tham dự, nhưng cũng thỏa mãn phần lớn các quốc gia và nhiều nước thành viên luôn sử dụng hết hạn ngạch với những ưu đãi lớn nói trên. Tổng cộng có 16 nước được hưởng lợi từ dự án chỉ dành cho các công ty dầu khí nhà nước này. Dần dần, việc thanh toán các khoản dầu bán trong khuôn khổ Petrocaribe không còn là các khoản nợ đơn thuần mà được chuyển thành một quỹ đầu tư khu vực, gần giống với Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) mà Trung Quốc mới khởi xướng. Tuy nhiên, việc cố tổng thống Hugo Chávez – người đóng vai trò quan trọng nhất trong dự án – qua đời vào năm 2013 đã khiến chính trường Venezuela rơi vào những diễn biến phức tạp, và ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của dự án mang tham vọng thúc đẩy hội nhập khu vực này.

Xuất khẩu dầu khí là nguồn thu ngoại tệ chủ chốt của nền kinh tế gần như đơn ngành của Venezuela. Giá dầu cao trong những năm trước không chỉ cho phép Caracas đẩy mạnh và mở rộng Petrocaribe, mà còn có thể triển khai các chương trình xã hội rộng lớn và vận hành trơn tru nền kinh tế trogn nước. Tuy nhiên, khi giá dầu thô lao dốc, nền kinh tế Venezuela đã rơi vào tình trạng khốn đốn, và dù chưa hoàn toàn sụp đổ, song hoạt động của Petrocaribe cũng đã buộc phải thu hẹp lại đáng kể.

Các nước nhỏ như Nicaragua, Haiti, Cộng hòa Dominicana, Jamaica, El Salvador và tất nhiên là Cuba – nước được hưởng nhiều ưu đãi dầu khí nhất từ Venezuela – đã chịu tác động khá tiêu cực từ tình trạng này. Trong khi đó, nếu phân tích kỹ, quốc gia có điều kiện để đối mặt nhất với tình trạng này torng khối Petrocaribe lại chính là Cuba.

Khác với các nước láng giềng, nền kinh tế của Cuba đa phần là quốc doanh và do vậy có khả năng kế hoạch hóa cao. Dù tình trạng năm nay khốc liệt hơn các năm trước, nhưng mỗi một mùa Hè, Cuba đều đã áp dụng các biện pháp tiết kiệm điện. Cũng do thiếu hụt năng lượng thường xuyên, từ vài năm trước, La Habana đã tiến hành chiến dịch cải tổ mang tên Cách mạng năng lượng, trong đó phân cấp hóa ngành năng lượng để có thể khoanh vùng và đối phó tốt hơn mỗi khi sụt giảm điện năng.

Cũng khác với đa số các thành viên hưởng lợi khác trong Petrocaribe, Cuba đã tự cung tự cấp một phần đáng kể dầu và khí đốt, trong khi vẫn còn tiềm năng có thể khai thác. Xu hướng thoái trào của dự án khu vực trên có thể khiến La Habana phải đẩy mạnh hơn nữa đầu tư hoặc gọi vốn bên ngoài vào ngành dầu khí.

Với quan hệ đồng minh chiến lược, La Habana cũng là nước nắm rõ nhất tình hình tại Caracas và có thể đã có dự trừ ngân sách trong năm nay về khoản thiệt hại do Petrocaribe cắt giảm lượng dầu bán, cho dù việc bỏ thêm hàng trăm triệu USD từ nay tới hết năm 2016 và cả năm 2017 để nhập khẩu dầu thô từ các đối tác khác để bù vào khoản thâm hụt từ Petrocaribe vẫn sẽ là thách thức lớn, đặc biệt khi Mỹ vẫn chưa bỏ cấm vận và Cuba vẫn chưa thể thanh toán bằng đồng USD.

Việc cắt giảm giờ làm việc xuống còn gần một nửa tại các công sở để giảm lượng tiêu thụ điện năng cũng không đồng nghĩa với việc khối lượng công việc sẽ bị giảm một nữa xuất phát từ thực tế rằng đa số công nhân viên chức Cuban cũng chỉ cần khoảng thời gian như hiện tại (nửa ngày) để hoàn thành công việc của cả ngày.

Nến kinh tế và đặc biệt là quan hệ ngoại thương của Cuba hiện tại cũng đã đa dạng hó hơn rất nhiều so với thập kỷ 1990, và La Habana – cũng như người dân Cuba – cũng đã tích lũy nhiều kinh nghiệm hơn trong việc thích nghi và đối phó với tình trạng thiếu thốn nhiều mặt, kể cả khả năng bùng nổ xã hội. Do vậy có thể nói không thể so sánh Cuba 2016 với Cuba 1994.

Tất nhiên điều đó không có nghĩa rằng cuộc khủng hoảng năng lượng mới sẽ không tác động nhiều tới nền kinh tế của đảo quốc Caribe này. Nói cách khác, ngoài việc sẽ trở thành lời bào chữa hữu ích cho tình trạng kém hiệu quả trong nhiều ngành nghề, cuộc khủng hoảng năng lược sẽ để lại tác động thực tế và hữu hình trong mọi mặt cuộc sống Cuba tới đây.

Yếu tố tích cực nhất mà cuộc khủng hoảng này đem lại là việc Cuba sẽ buộc phải tăng cường tính tự chủ và độc lập trong vấn đề năng lượng. Dù muốn hay không, phải thừa nhận rằng thời kỳ hưởng lợi trực tiếp từ ngành dầu khí của Venezuela đã đi tới hồi kết. Chắc chắn sẽ là một thách thức không nhỏ đối với đảo quốc Caribe này, nhưng nếu vượt qua, nền kinh tế Cuba có thể sẽ bền vững hơn, điều đã từng diễn ra trước đây khi Liên Xô tan vỡ và sự đỡ đầu kinh tế cho Cuba đột ngột chấm dứt, dẫn tới sự lụi tàn của ngành công nghiệp mía đường.

Nguồn: La Joven Cuba (Cuba)

TKNB 12/07/2016