Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần cuối


Kết luận

Nếu chế độ dân chủ đã chiến thắng ở một phần nào đó của thế giới, thì đó là ở các nước của Ba bên, trong 25 năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai. – Chiến thắng này một phần lớn là nhờ ở chính sách nhìn xa trông rộng do những người lãnh đạo của họ và nhờ ở sự lãnh đạo của Mỹ đối với toàn bộ các quốc gia dân chủ (…).

Ở châu Âu, chính các đảng cộng sản Pháp và Italy đã chấp nhận trò chơi dân chủ và sẽ tiếp tục áp dụng các quy tắc của nó ít ra như họ khẳng định – nếu họ lên cầm quyền, ở các nước thành viên của Ba bên, không một nhóm xã hội hay chính trị có một sức nặng nào đó trù tính một cách nghiêm chỉnh tới việc thay thế các thể chế dân chủ bằng một chế độ độc tài dân tộc chủ nghĩa, một nhà nước phường hội, hay thậm chí một nền chuyên chính vô sản cả.

Các thủ lĩnh công đoàn, những người hiện có uy quyền thực sự đối với các đoàn viên công đoàn, không đặt mình, thành những đối thủ của các nhà lãnh đạo chính trị, mà đúng hơn, chỉ tự coi mình là những người đối thoại cần thiết cho việc thực hiện uy quyền của chính phủ. Khi các công đoàn bị tan rã, khi các đoàn viên trở thành vô kỷ luật và các yêu sách được đưa lên quá mức, khi các cuộc bãi công hoang dã tăng lên, thì không thể đưa ra và thực hiện một chính sách tiền lương ở cấp quốc gia được. Trái lại, sự suy đồi của các đảng chính trị trong thế giới công nghiệp hóa đang đưa chúng ta tới chỗ đặt ra một câu hỏi: một chính phủ dân chủ không thuộc đảng nào, hay có sự tham gia của các đảng đang suy tàn, liệu có thể có sức sống không?

Mối đe dọa của một cuộc xâm lược quân sự, về nguyên tắc, đang mờ nhạt đi. Vì thế, ở tất cả các nước Ba bên, an ninh không còn nằm ở trung tâm cảu những mối lo toan nữa. Thiếu một nguy cơ thực tế và cụ thể, các chế độ dân chủ đang phải chật vật giành sự đồng tình cần thiết cho việc duy trì những biện pháp an ninh. Ở châu Âu, cũng như ở Mỹ và Canada, nghĩa vụ quân sự bị giảm bớt nếu chưa bị xóa bỏ; ngân sách quốc phòng bị giảm bớt về mặt tuyệt đối cũng như về tỉ lệ trong toàn bộ ngân sách quốc gia; thái độ chống chủ nghĩa quân phiệt đang trở thành mốt ở những người trí thức của Ba bên vì những vấn đề nó đang phải đương đầu. Nó cần có những đầu tư dài hạn khá nhanh, vì những nguồn lực riêng của nó không cho phép vượt qua các vấn đề của nó. Ngoài ra, lại phải chế ngự những khó khăn trước mắt và những khó khăn sẽ xuất hiện trong ngắn hạn, nếu nó muốn đứng vững trước cuộc khủng hoảng bên trong cũng như bên ngoài.

Những mảnh đất hành động

Nếu có thể khen ngợi hành động của các chính phủ dân chủ thuộc Ba bên về nhiều điểm, thì cũng đang có những vùng yếu ớt, những nguyên nhân của sự tan vỡ có thể có. Những mâu thuẫn gây ra vấn đề này được thể hiện rõ trong từ ngữ “tính có thể cai quản của dân chủ” (goovernabilité de la démocratie). Các từ “tính có thể cai quản” và dân chủ, ở một mức độ nào đó, là những từ đối kháng nhau. Một chế độ dân chủ quá lớn bao hàm tình trạng không thể cai quản được, còn một “tính có thể cai quản” quá dễ dàng lại cho thấy trước một chế độ dân chủ suy yếu. Trong lịch sử các chế độ dân chủ, quả lắc đồng hồ đã dao động từ cực này sang cực khác.

Hiện nay, người ta có cảm tưởng rằng sự cân bằng đã bị phá vỡ theo một hướng bất lợi cho các chính phủ phương Tây; vấn đề này không được đặt ra một cách gay gắt như vậy ở Nhật Bản, ít ra là lúc này. Mỹ và Tây Âu thì lại cần phải khôi phục những liên hệ hài hòa giữa uy quyền của chính phủ và sự kiểm soát của nhân dân. Còn ở Nhật Bản, nó có thể tự chuẩn bị để đương đầu với vấn đề này trong một tương lai tương đối gần. Những khó khăn ngày càng tăng, mà các chính phủ vấp phải trong việc sử dụng những liên hệ của mình với một xã hội phức hợp, đang đòi hỏi một sự gia tăng những nguồn lực vật chất và uy quyền chính trị. Ngay cả ở Nhật Bản, những yếu tố này không bao lâu nữa cũng sẽ thiếu (…) (ở Mỹ), quyền lực tổng thống đang biến mất nhanh chóng, do lịch sử cuốn đi; tất nhiên, không cần thiết phải khôi phục lại nó. Nhưng cũng không được để cho quả lắc đồng hồ đi quá xa theo hướng ngược lại. Những hạn chế do ngành lập pháp đề xướng phải được xem xét theo những tiêu chuẩn sau đây: nếu tổng thống không còn quyền lực như thế nữa, thì ai sẽ nắm nó? Nếu Quốc hội có năng lực thực hiện quyền lực này một cách có hiệu quả, thì Quốc hội có những lý do để hạn chế vai trò của tổng thống. Nhưng những hạn chế này không nhất thiết có lợi cho Quốc hội. Chúng cũng có thể tăng thêm quyền lực của bộ máy quan liêu hoặc của các nhóm lợi ích riêng (…).

Tình hình châu Âu rất khác nhau. Ở Pháp, quyền lực tổng thống rất mạnh, mạnh hơn ở Mỹ nhiều và sẽ tiếp tục như vậy. Ở nước này, vấn đề chủ yếu sẽ là ở trình độ duy trì hoạt động kiểm soát dân chủ. Đó là một vấn đề phức tạp vì, theo truyền thống có một khoảng cách lớn giữa quyền lực hành pháp – với những sự kiểm soát bị thu hẹp – và quyền lực của Nghị viện – tức là một chế độ Quốc hội – khá bất lực. Chính phủ Italy nằm trong hoàn cảnh ngược lại. Quyền quyết định của nó trên thực tế đã bị phân giải, và giải pháp phải là khôi phục những điều kiện cần thiết cho sự phát triển một ngành hành pháp mạnh hơn, vững chắc hơn, tích cực hơn và được gia tầng chính trị chấp nhận.

Hoạt động thực sự của các chính phủ dân chủ không được bị đặt thành nghi vấn. Những yêu cầu ngày càng tăng của dân cư và những sức ép, một mặt, đối với các chính phủ, và mặt khác các chính phủ ấy thiếu phương tiện và cuộc khủng hoảng về uy quyền công cộng sẽ làm cho một sự cộng tác cụ thể hơn trở nên cần thiết (…), thể hiện ở việc lập ra một cơ quan được giao trách nhiệm củng cố các thể chế dân chủ. Mục đích của cơ quan này sẽ là khởi xuống việc nghiên cứu những vấn đề chung có liên quan tới hoạt động của chế độ dân chủ ở các nước Ba bên, tạo ra một sự hợp tác có hiệu quả giữa các thể chế và các nhóm có những quan tâm giống nhau, thúc đẩy các quốc gia thành viên sử dụng những kinh nghiệm để cho mỗi quốc gia hoàn thiện sự vận hành của xã hội. Sự trao đổi có lợi ấy đã có ở bình diện kinh tế và quân sự. Thực hiện sự trao đổi ấy cả về mặt chính trị sẽ là một điều tốt. Cơ quan ấy cũng có thể thu hút sự chú ý vào những vấn đề cấp bách nhất, chẳng hạn như nội dung phê phán đối với các vấn đề mà chế độ dân chủ ở châu Âu đang đương đầu.

Những nhận xét của Ralph Dahrendorf về việc nghiên cứu đã được thực hiện về tính có thể cai quản

Đối với một chính phủ dân chủ, thật khó duy trì những quan hệ cân bằng với các thể chế ngoài nghị viện (…), các thể chế này thường biến quyền lực thành trò khôi hài. Khi nói tới những thể chế ngoài nghị viện, tôi muốn đặc biệt nói tới hai tổ chức kinh tế hùng mạnh: các công ty lớn và các công đoàn lớn.

Tôi cho rằng cần phải xem xét vai trò tích cực mà một kiểu hợp đồng xã hội thực tế có thể có, theo kiểu hành động phối hợp hoặc Hội đồng kinh tế và xã hội, trong hoạt động của các thể chế chính trị của những chế độ dân chủ tiên tiến. Tôi không tin rằng những cuộc thương lượng tập thể không có quy chế là cần thiết trong một xã hội tự do và dân chủ. Trái lại, cần phải chấp nhận cho mọi người tổ chức thành các công đoàn, cho các công ty khổng lồ tồn tại, cho những lợi ích kinh tế phải được thảo luận ở đâu đó, cho những đường hướng lớn của hệ thống kinh tế chúng ta và sự vận hành của nó phải trở thành đối tượng của một sự thương lượng (…). Tất nhiên, đây không phải là để biến các nước chúng ta thành những quốc gia phường hội, mà là để chú trọng một cách dân chủ tới những hiện tượng mới mẻ có hại cho hiệu quả kinh tế trong những năm gần đây (…).

(…) Chúng ta phải trước hết chăm lo sao cho các thể chế dân chủ giữ được tất cả sự mềm dẻo của chúng, vì có thể nói đó là ưu điểm chủ yếu của chúng. Sự mềm dẻo ấy có nghĩa là: năng lực thực hiện và tiến hành đến cùng những biến đổi thực sự mà không có cách mạng; năng lực biến đổi những tư tưởng truyền thống; năng lực phản ứng theo lối mới trước những vấn đề mới; năng lực phát triển các thể chế hiện có thay vì cứ thay đổi chúng thường xuyên; năng lực thúc đẩy những giao tiếp giữa những người lãnh đạo và những người bị lãnh đạo; năng lực chú trọng tới cá nhân trước hết.

Tôi thuộc vào những những người nghĩ rằng các xã hội Bắc Mỹ đã thành công hơn các xã hội khác về sự duy trì tính mềm dẻo ấy để có thể hình dung tương lai cảu dân chủ với niềm tin tưởng.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Tại sao tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của ASEAN lại quan trọng?


Sau hơn một năm cân nhắc thận trọng, ngày 23/6 vừa qua, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua “Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Sau đó, vấn đề này đã được đề cập trong các cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Bangkok. Tài liệu này cung cấp chỉ dẫn cho sự can dự của ASEAN tại các khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, trông giống như một kế hoạch do Indonesia vạch ra.

Ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như một khái niệm khu vực không phải là mới và đã được thảo luận rộng rãi trong cộng đồng chính sách như là cách để liên kết Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương và công nhận vai trò lớn hơn của Ấn Độ và Indonesia trong bất kỳ công thức chiến lược khu vực nào. Nhưng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã mang lại sinh khí và ý nghĩa hơn khi chính quyền Trump vận dụng nó.

Là một lãnh đạo ASEAN, Indonesia không thoải mái với cách tiếp cận của Mỹ, coi đây là một phép loại trừ và nhằm mục đích cô lập Trung Quốc. Jakarta coi “Nhóm Bộ tứ” – bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ – như là một liên minh chiến lược tiềm năng của các cường quốc “bên ngoài” mà không có sự tham gia của ASEAN. Đáp lại, Jakarta đã và đang phát triển một chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lấy ASEAN làm trung tâm phù hợp hơn với nguyên tắc của ASEAN (bao gồm cả đối với Trung Quốc), xây dựng một sự đồng thuận và nhấn mạnh vào một cách tiếp cận ngoại giao, chính trị, có tính quy chuẩn – thay vì chiến lược quá thiên về quân sự.

Sự khác biệt thể hiện trong thuật ngữ này được hai nước sử dụng để làm rõ hơn tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của họ. Nói một cách ngắn gọn, Mỹ muốn một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “tự do và rộng mở”, lập lại cách diễn đạt của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, nhưng với định hướng công khai hơn về chiến lược – quân sự. Trong khi đó, Indonesia tìm kiếm một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “rộng mở” và “toàn diện”. Mỹ không sử dụng từ “toàn diện”, trong khi Indonesia không sử dụng từ “tự do”.

Ý tưởng của Mỹ về một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương “tự do” xác định sự cởi mở chính trị trong nước và quản trị tốt là những thành phần quan trọng – đặt nó vào thế bất hòa với Trung Quốc – trong khi Jakarta nhấn mạnh từ “toàn diện” với hàm ý rằng chính sách của họ không nhằm cô lập Trung Quốc. Ấn Độ dường như “đứng ở giữa”, kêu gọi một “Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và toàn diện”.

Tầm nhìn này ủng hộ quan điểm của Jakarta, lợi ích của nước này trong ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được thúc đẩy bởi mục tiêu của Tổng thống Joko Widodo nhằm biến Indonesia thành một “điểm tựa hàng hải”. Sáng kiến sẽ bao gồm cả ý tưởng và các đề xuất, tránh đề cập đến bất kỳ quốc gia hay cường quốc nào, không chỉ Trung Quốc và Mỹ, mà còn cả Nhật Bản, Ấn Độ và Nga. Văn kiện này cũng tránh sử dụng bất kỳ giọng điệu hoặc ngôn ngữ chiến lược nào và khía cạnh quân sự cũng không được đề cập trong tài liệu này.

Thay vào đó, tầm nhìn này phù hợp hơn với cách tiếp cận “an ninh toàn diện” của ASEAN, tập trung vào “thực hiện và khám phá các lĩnh vực hợp tác ưu tiên khác và hiện nay của ASEAN, bao gồm hợp tác hàng hải, kết nối. Các Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) và các lĩnh vực kinh tế và hợp tác khả thi khác”.

Tầm nhìn nhắc lại mạnh mẽ “Con đường ASEAN” truyền thống, tránh thể chế hóa hợp pháp – nó có nghĩa như một “hướng dẫn”, không phải là một tài liệu pháp lý hay hiệp ước.

Hơn nữa, tầm nhìn này nhấn mạnh sự phụ thuộc vào các quy tắc và cơ chế hiện hành của ASEAN, chẳng hạn như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á. Văn kiện này “không nhằm mục đích tạo ra các cơ chế mới hoặc thay thế các cơ chế hiện có; thay vào đó, đây là một Tầm nhìn nhằm tăng cường quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời củng cố và tạo động lực mới cho các cơ chế do ASEAN dẫn đầu hiện nay để đối phó tốt hơn với các thách thức và nắm bắt các cơ hội phát sinh từ môi trường khu vực và toàn cầu hiện tại và tương lai”. Điều này phản ánh sự quyết tâm duy trì “tính trung tâm” của ASEAN trong việc phát triển cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và chống lại bất kỳ mối liên kết nào của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cách tiếp cận cân bằng quyền lực.

Một số nhà quan sát phương Tây bác bỏ tầm quan trọng của Tầm nhìn này vì nó không nhắm mục tiêu cụ thể vào Trung Quốc hoặc thực hiện các biện pháp tuân thủ, nhưng lời chỉ trích này đã bỏ qua một điểm: Đây là cách ASEAN hoạt động kể từ khi thành lập. Vai trò chính của ASEAN trong an ninh khu vực là thiết lập quy tắc và xây dựng lòng tin, thay vì thực thi quyền lực cứng hoặc giải quyết xung đột.

Điều đáng thất vọng không phải là nội dung tài liệu này mà là sự khác biệt giữa cách phương Tây đánh giá ASEAN và cách ASEAN nhìn nhận bản thân mình. ASEAN chắc chắn sẽ làm thất vọng hững ai muốn thấy nó hoạt động như một cường quốc.

Trong khi Tầm nhìn được viết bằng “ngôn ngữ ASEAN” điển hình, nhưng văn kiện này không bỏ qua các vấn đề và nguyên tắc quan trọng đang bị đe dọa trong các tranh chấp hàng hải hiện nay ở Biển Đônng. Tài liệu nhấn mạnh “sự hợp tác để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; thúc đẩy an toàn và an ninh hàng hải, và tự do hàng hải và hàng không;…. cướp biển, cướp và cướp có vũ trang nhằm vào tàu thuyền trên biển”.

Tầm nhìn này tránh sử dụng thuật ngữ “tự do”, mà Trung Quốc coi là nhằm trực tiếp chống lại nước này song nhắc đến “quyền tự do hàng hải” mà Washington rất coi trọng. ASEAN đang đóng vai trò hàng đầu trong việc xây dựng đồng thuận khu vực, đây là điều cần thiết vào thời điểm căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng.

Cuối cùng, Tầm nhìn này là một hành động khẳng định chính trị và ngoại giao của ASEAN. ASEAN muốn nói với thế giới rằng tổ chức này có cách của riêng mình để phát triển ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và sẽ không để các cường quốc bên ngoài chi phối. Tầm nhìn cũng hợp pháp hóa vai trò của Indonesia, có thể là quốc gia Đông Nam Á duy nhất có quy mô, địa lý và sức mạnh tiềm tàng để đứng vững trước Trung Quốc và Mỹ, hoặc trước tất cả các cường quốc. Đây là điều quan trọng đối với việc duy trì tính trung tâm của ASEAN.

Nguồn: www.aspistrategist.org.au

TKNB – 15/08/2019

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần IV


Vả chăng, họ cũng đã cho thấy những bằng chứng về năng lực của họ. Họ tỏ ra có một hiệu quả xuất sắc trong việc quản lý địa phương, ở Pháp cũng như ở Italy. Họ đã góp phần khôi phục lại trật tự trong các trường đại học Pháp, Italy và Đức. Khắp nơi, ngay cả ở Anh, họ đã biết gây ảnh hưởng tới các công đoàn mạnh nhất bằng cách dùng những phương pháp kiểm soát của thiểu số. Sức mạnh của họ về mặt này như vậy là lớn hơn sức mạnh của cách mạng và các cuộc bầu cử. Chính nhờ có sức mạnh này mà họ lôi cuốn được một số chuyên gia, có giá trị và nâng cao được năng lực kỹ thuật của những chuyên gia ấy.

Tuy vậy, những người cộng sản cũng có những vấn đề của họ. Vấn đề gay go nhất là nguy cơ bị nhiễm phải môi trường chung của các xã hội trong đó họ đang sống, tức là trở nên bất lực khi muốn tránh khỏi sự tan rã của mô hình uy quyền của họ. Chính vì thế họ chăm nom rất kỹ tới căn tính cách mạng của họ. Cho đến nay, họ được bảo vệ bởi qui chế thiểu số của họ để tách mình ra và chừng nào hoàn cảnh này còn kéo dài thì chừng đó những đảng viên tích cực nhất còn phải nắm chắc cách hoạt động cho đến nay vẫn thành công, nhằm chống lại sức ép của môi trường. Tuy có những điều vừa nói, những người cộng sản phương Tây đang đứng trước một hoạt dộng thật khó thực hiện. Họ phải tham gia đầy đủ vào các cuộc tranh luận quan trọng, trong khi lại phải tự tách ra một cách đầy đủ để giữ được những năng lực tổ chức của họ. Chỗ yếu của họ về căn bản là ở sự khó khăn khi phải tôn trọng nguyên tắc “tự do của” và phải chấp nhận chủ nghĩa nhị nguyên. Liệu họ có thể cai quản và kiểm soát được các xã hội mà những nguyên tắc chính trị của chúng là xa lạ đối với họ không? Điều đó liệu có gây ra một phản ứng cực kỳ quyết liệt không? Thật khó trả lời. Thật vậy, lúc này các xã hội đang chìm vào một cơn xoáy lốc của những biến đổi văn hóa sâu sắc, đụng chạm tới cả những nền tảng của tính hợp lý cũng như những cơ sở của chiến lược chính trị.

Xin nói rằng nếu những người cộng sản đột nhiên lên cầm quyền, thì chắc sẽ có một phản ứng chống cộng. Trái lại, nếu việc giành chính quyền được thực hiện từ từ, nhờ một hoạt động mạnh mẽ nhưng theo chiều sâu, thì thành công của họ sẽ khó lòng tranh cãi.

Kết luận: tính dễ thương tổn của châu Âu

(…) Những vấn đề của châu Âu thật khó giải quyết nhưng không phải không thể giải quyết. Châu Âu phương Tây, mặc dầu có những chỗ yếu của nó, vẫn còn nắm được một số chủ bài. Mới đây nó tỏ ra có một sự mềm dẻo nổi bật và những khả năng thích nghi, điều chỉnh và sáng tạo lớn. Ngay cả lúc này, nó vẫn tiếp tục đấu tranh để duy trì tính vững chắc của dân chủ trong những hoàn cảnh khó khăn. Trong hai mươi năm gần đây, nó đã tiến hành tốt những biến đổi gây ấn tượng mà ít có những người quan sát nào tin rằng nó có thể làm được. Nếu nó thoát được những sức ép bên ngoài; thì mọi cái cho phép hy vọng rằng nó sẽ thực hiện được những biến đổi khác từ nay thật cần thiết.

Do đó, điều làm chúng ta quan tâm không phải là quy mô to lớn của những vấn đề nó phải đương đầu, cũng không phải là sự bất lực của nó khi phải giải quyết những vấn đề đó, mà chính là tính dễ tổn thương của nó. Tất cả các nước châu Âu đang ở trong một tình huống giống nhau: phải chấp nhận sự biến đổi triệt để về mô hình cai quản và những phương tiện kiểm soát xã hội của mình, trong khi phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng bên trong và bên ngoài.

Mỗi nước có một tiềm năng khác nhau và, thoạt nhìn, những cơ may thành công dường như không ngang nhau. Dù sao, cũng không một nước nào có được những nguồn lực như của Mỹ và những khả năng của các nước châu Âu là một nhân tố tích cực trong chừng mực nó thúc đẩy sự thi đua và sự giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng đó cũng là một điều bất lợi vì nó đã làm cho chúng dễ phụ thuộc vào tính dễ thương tổn của nước yếu nhất trong các nước đó.

Cuộc khủng hoảng bên trong về căn bản là do tính không vững chắc về kinh tế và xã hội. Tỉ lệ lạm phát làm tăng thêm những căng thẳng cho đến nay vẫn được làm dịu bớt. Tất cả mọi đảo lộn xã hội đang phá vỡ những cơ sở của các cấu trúc xã hội. Tính đáng tin cậy đã biến mất; không thể nào xây dựng những kế hoạch dài hạn được. Ngay cả một chính sách giảm phát quá triệt để cũng sẽ đưa tới một sự phân phối của cải mới và một sự tăng thêm thất nghiệp, mà cả điều này lẫn điều kia đều không thể chấp nhận được. Các nước châu Âu đang nằm trong một vòng luẩn quẩn mà nó khó lòng thoát nếu không phải là tạo nên một sự suy thoái còn sâu sắc hơn và nguy hiểm hơn do tính mong manh của các cấu trúc xã hội.

Để kiểm soát được cuộc khủng hoảng, cần phải đặt lên hàng đầu những sự cân nhắc ngắn hạn, mà điều đó lại không thể đi đôi với sự biến đổi cần thiết về những phương tiện kiểm soát của xã hội.

Cộng thêm vào những khó khăn ấy là những hậu quả của cuộc khủng hoảng bên ngoài. Đó không chỉ là cuộc khủng hoảng năng lượng hay cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán, mà còn là sự yếu ớt tương đối của các quốc gia châu Âu. Sự sung túc của các quốc gia này, lần đầu tiên trong lịch sử của chúng, phụ thuộc vào những sức ép của các cường quốc không thuộc về thế giới phương Tây. Chừng nào các nước mạnh nhất còn giúp đỡ các nước yếu nhất để vượt qua những khó khăn của chúng, chừng đó sự cân bằng vẫn có thể được duy trì ở châu Âu. Nhưng nếu một nước như nước Pháp sụp đổ, thì toàn bộ hệ thống châu Âu sẽ tan rã.

Do tình hình này, chủ nghĩa xã hội Nhà nước có thể hiện ra như một giải pháp đáng mong muốn đối với một số nước, nhất là các nước Latin, vì nó sẽ đem lại những bảo đảm cho giai cấp công nhân và giúp chống lại nạn thất nghiệp. Khả năng này – cần được xem xét rất nghiêm túc – nếu được thực hiện sẽ đưa tới một sự hỗn loạn xã hội thật sự. Các đảng cộng sản lúc đó sẽ đóng một vai trò quyết định vì họ là những kẻ duy nhất có thể khôi phục trật tự và tính hiệu quả. Giả thuyết này không đụng tới toàn bộ châu Âu, nhưng đụng tới Pháp, Italy và Tây Ban Nha. Trong trường hợp đó, Đức sẽ chịu những sức ép to lớn, và khi đó, quá trình Phần Lan hóa sẽ xuất hiện như một điều ít tệ hại nhất.

Triển vọng bi thảm ấy không phải là không thể tránh khỏi, thậm chí cũng rất ít có khả năng xảy ra. Tuy vậy, chỉ một việc phải tính đến triển vọng này đủ cho thấy rõ tính dễ thương tổn của châu Âu rồi. Để tự bảo vệ, các nước châu Âu phải vượt qua những giới hạn hiện nay và chấp nhận thách thức của tương lai. Các nước này phải từ bỏ càng nhanh càng tốt những mô hình cũ dựa trên sự ngăn cách, sự phân tầng, sự bí mật và sự xa cách – những mô hình đã từng tạo ra một cân bằng có thể chấp nhận được giữa các quá trình dân chủ, uy quyền quan liêu và một phần truyền thống quý tộc – để lao mình vào việc thử nghiệm những mô hình mới mềm dẻo hơn, cho phép tăng thêm sự kiểm soát của xã hội, đồng thời giảm bớt những sự bó buộc. Những ý định ấy phải chiến thắng về lâu dài. Trong hoàn cảnh hiện nay, những ý định ấy có vẻ nguy hiểm. Nhưng đó là điều rất bình thường, vì chúng ta không thể dứt khoát từ bỏ những phương pháp cũ chừng nào chúng ta chưa tin chắc vào phẩm chất của những phương pháp mới. Tuy vậy, sự đổi mới dường như thật cần thiết, một sự đổi mới thận trọng, hiển nhiên là thế nhưng đó là sự đáp ứng duy nhất có thể có đối với sự lựa chọn của châu Âu.

Châu Âu cũng phải thay đổi phương hướng tăng trưởng kinh tế của mình. Việc duy trì sự tăng trưởng này là tuyệt đối cần thiết nếu người ta muốn đấu tranh chống thất nghiệp và chống những xung đột xã hội đang ngày càng trầm trọng. Nhưng nó phải khác với sự tăng trưởng trong những năm trước đây, một sự tăng trưởng từng gây ra những đảo lộn ngày càng tốn kém và một phần của nạn lạm phát. Có thể nhấn mạnh tới chất lượng, những đầu tư tập thể, việc sử dụng không gian; đặt ưu  tiên vào những mục tiêu mới nhằm chuẩn bị cho tương lai: hiện đại hóa hệ thống giáo dục, cải tiến việc đưa ra các quyết định ở trình độ cộng đồng và địa phương, biến đổi triệt để những điều kiện lao động, phục hồi phẩm giá của lao động chân tay, phát triển các chương trình nhằm duy trì mức tiền công, tăng thêm trách nhiệm của những sự phục vụ công cộng cho các công dân và những phục vụ riêng cho người tiêu dùng.

Bối cảnh và lịch sử của mỗi quốc gia châu Âu là một tiềm năng kinh nghiệm và tài năng to lớn. Phải coi đó là một chủ bài để tiến hành thật tốt những nhiệm vụ đang rơi vào các quốc gia châu Âu. Sự phụ thuộc lẫn nhau buộc chúng phải đương đầu vấn đề khó khăn là sự thống nhất. Lý tưởng một châu Âu thống nhất từ lâu đã góp phần làm sống dậy ước muốn vượt qua những hình thức cai quản cũ đang có hiệu lực trong các quốc gia. Khốn thay, những người chủ trương thống nhất đang nhìn thấy những hy vọng của họ bị tan vỡ trước trở ngại quyền lực trung ương của mỗi quốc gia, chính quyền lực này đang làm tăng thêm cuộc khủng hoảng hiện thời. Ước mơ của họ dường như không thể nào thực hiện được trong ngắn hạn. Nhưng chúng ta phải tin vào châu Âu, vào mỗi nước ở đó và chúc họ vượt qua được những giới hạn của mình. Liệu có thể làm được điều đó, bất chấp những sức ép hiện thời, không? Thật khó trả lời. Nhưng châu Âu đang được thực sự thông hiểu rộng lớn nhất từ hai thành viên khác của ủy ban Ba bên, Mỹ và Nhật Bản, những nước này hoàn toàn hiểu rõ những khó khăn cũng như mong muốn vượt qua những khó khăn ấy của đồng minh của mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần III


Lạm phát

Lạm phát là hậu quả trực tiếp của những khó khăn gặp phải trong việc cai quản của các chế độ dân chủ phương Tây. Khi một xã hội không còn có những phương tiện để vượt lên những căng thẳng do sự phát triển tạo ra nữa, thì có xu hướng chấp nhận lạm phát, vì lúc đó lạm phát có vẻ như giải pháp ít nặng nề nhất. Nhưng lạm phát tự bản thân nó là nguồn gốc của những rối loạn làm cho các xung đột trở thành gay gắt và giảm bớt những khả năng hành động của các nhóm và các xã hội. Vì thế, chúng tôi sẽ phân tích nó một cách ngắn gọn như một biến số phụ thuộc, một nguyên nhân bổ sung của những đảo lộn xã hội (…).

Trong một thời gian nhất định, nạn lạm phát to lớn mà chúng ta từng biết đã chấp nhận, bất chấp những hậu quả đáng lo ngại của nó đối với những điều kiện xã hội – kinh tế của dân cư. Những sự vận hành dửng dưng của nó ngăn cản những lời ta thán được biểu hiện cụ thể. Hơn nữa, các nhóm ta thán nhiều nhất nói chung cũng là những nhóm rút được món lợi lớn nhất từ tình huống này (…). Các chính phủ dường như bất lực trong việc thuyết phục những nhóm chiếm giữ những vị trí chiến lược chấp nhận một số hy sinh nào đó. Sự thống nhất châu Âu cũng không phải là một sự cứu thoát lớn, vì một chính phủ dể dàng đổ và cho thế giới bên ngoài phải chịu trách nhiệm về những chỗ yếu riêng của nó. Nói chung, chính sách kinh tế đối ngoại của các nước châu Âu đang thiếu sự phối hợp và có vẻ khá hỗn loạn (…).

Xét đến cùng, lạm phát và chị em sinh đôi của nó là suy thoái, do làm trầm trọng thêm những vấn đề quản trị, đang buộc mỗi nước phải giải quyết chúng. Như vậy, vấn đề được đặt ra là thế này: các nước châu Âu liệu có sẵn sàng đáp lại thách thức do hoàn cảnh mới đưa ra không, và vào lúc khủng khoảng, liệu có tìm ra được những phương tiện thể chế mà họ đã không thể tạo ra vào thời kỳ phồn thịnh không? (…)

Ảnh hưởng của những biến đổi xã hội, kinh tế và văn hóa đối với những nền tảng của tính hợp lý và những tín niệm chính trị căn bản

(…) Trước kia, các quá trình dân chủ dựa vào những chia tách của các nhóm và các giai cấp, vào tình trạng Uy quyền đã được tôn trọng. Người ta coi uy quyền là cần thiết để duy trì trật tự, nhưng đồng thời người ta bác bỏ nó vì nó đe dọa tự do. Mô hình ấy đã không trụ được trong cuộc chiến đấu để có những biến đổi của các cấu trúc mà trước đây thường phá bỏ những chướng ngại đi. Lúc đó người ta lao vào một cuộc đua nhau vượt quá những giới hạn truyền thống và xóa bỏ những khoảng cách từng bảo vệ cho uy quyền đã thiết lập. Do đó mà có một mâu thuẫn sâu sắc. Các cá nhân muốn thí nghiệm những cách làm khác nhau hoặc buộc phải làm như vậy, nhưng họ không thể chịu nổi những căng thẳng do các các làm đó tạo nên. Vì họ không thể chịu đựng hơn nữa uy quyền đã từng là nhân tố điều tiết và áp đặt trật tự, nên họ bị mắc vào vòng luẩn quẩn. Quá trình này không dạy cho người ta gì nhiều. Còn uy quyền thì lại nấp sau những liên hệ công cộng và tính phức hợp, nhưng nó không trở nên dễ tổn thương hơn vì nó không mạo hiểm đòi thực hiện các quyền của nó. Tính dễ tổn thương của nó càng lớn, thì sự đe dọa của các nhóm sức ép càng tăng lên. Những khả năng hành động tìm thấy lại tính hợp thức của nó.

Cần phải xây dựng nhữung hệ thống mới dựa vào sự dung hòa và điều chỉnh lẫn nhau. Trên thực tế, người ta đang học cách đương đầu với những căng thẳng và những đảo lộn do chúng gây ra, khốn thay, điều đó chỉ xảy tới khi người ta không còn trông cậy vào lạm phát được nữa. Trái lại, chẳng có gì xảy ra trên bình diện các giá trị và niềm tin căn bản. Ta hãy tỏ ra lạc quan và hy vọng rằng hành động sẽ làm nảy sinh những niềm tin mới, tức là hãy để cho mọi người học những kinh nghiệm riêng của mình thay vì bắt họ tuân theo những động cơ đã có. Kiểu học này có thể đi đôi với hệ thống những niềm tin căn bản, dù rằng nó đòi hỏi phải định hướng lại khái niệm tự do, “tự do của” phải trở thành “tự do vì” cũng như phải mở rộng những giới hạn chật hẹp của chủ nghĩa bình quân truyền thống. Nếu không học được điều đó một cách nhanh chóng, thì khủng hoảng và suy thoái sẽ đe dọa chúng ta.

Những nguy cơ của sự suy thoái xã hội và kinh tế

Châu Âu phương Tây đã từng trải qua thời kỳ suy thoái bi thảm, khi thế giới lộn xộn và sôi sục sau Chiến tranh thế giới thứ nhất không thể vượt qua những căng thẳng của nó, nhất là sự suy thoái, nên đã muốn thỏa mãn nhu cầu cần có trật tự của nó bằng cách phó mặc cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã. Người ta có thể coi chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã như một sự quay trở lại về với những hình thức độc tài trước đây nhằm khôi phục hoặc áp đặt một trật tự cần thiết. Điều đó là do một biến đổi đột ngột của những ứng xử, để cho những gì gần nhất của quá khứ sống lại.

Mỗi thử thách thuộc loại đó liệu có đe dọa châu Âu một lần nữa không? Có lẽ không. Ít ra cũng không phải theo lối đó hoặc theo hướng đó. Trong số những niềm tin cơ sở hiện thời, chẳng có niềm tin nào có thể bảo vệ được một hệ tư tưởng như vậy nữa. Sự quyết tâm, ý thức về sứ mệnh phải thực hiện sự hy sinh bản thân để phục hồi một trật tự đạo đức đã biến mất, cũng như mong muốn đấu tranh cho chủ nghĩa tư bản và kinh doanh tự do, tất cả những điều đó đều không có. Do đó, thật vô ích vì sợ một hành động bạo lực của phái hữu phản động. Như sự suy thoái lại có thể đến từ phái tả, và như vậy vì hai lý do bác bỏ nhau. Trước hết, các đảng cộng sản đang ngày càng tỏ ra là những đảng của trật tự, mà chỉ có những lãnh tụ của họ mới có thể đưa người ta vào cuộc. Sau nữa, từ lâu rồi vẫn có một xu hướng mạnh mẽ nhằm phát triển chủ nghĩa xã hội Nhà nước và sự quản lý, một giải pháp tạo thuận lợi cho việc cai quản cái không thể kiểm soát được. Những sự khẳng định ấy có vẻ nghịch lý. Nói chung, các đảng cộng sản đã mất đi cùng một lúc mảnh đất cũng như tính gây hấn của họ phần nào ở khắp Tây Âu. Sự trình bày về hệ tư tưởng của họ đã khác đi nhiều: nó giống nhiều hơn với sự trình bày của một Giáo hội rơi vào thói thủ cựu, mà sự hấp dẫn của nó đã mất đi, ít ra một phần.

Làm sa những đảng hiền lành như vậy, ôn hòa như vậy lại có thể đe dọa chế độ dân chủ đúng vào lúc họ bắt đầu tôn trọng những nguyên tắc cốt yếu của nó kia chứ?

Sức mạnh của các đảng cộng sản châu Âu hiện không nằm ở sự hấp dẫn cách mạng hoặc ở những khả năng tranh cử của họ, tuy rằng những yếu tố này không thể bị coi nhẹ. Tính ưu việt của họ chỉ là tính ưu việt về tổ chức. Đó là những thể chế duy nhất ở châu Âu phương Tây chưa nghi ngờ đối với uy quyền, trong đó việc truyền các mệnh lệnh – tuy thô sơ nhưng có hiệu quả – còn cho phép điều khiển một lực lượng cộng tác ngoan ngoãn, lại vừa có khả năng đưa ra những quyết định phức tạp và nhanh chóng thích nghi với thực tế. Trong các đảng cộng sản, “hàng hóa có thể được giao kịp thời”. Trong trường hợp chậm trễ, người ta sẽ biết ngay và sẽ tính đến điều đó.

Có thể có một chủ nghĩa độc tài đang chi phối trong các đảng này, và môi trường khép rất kín để giữ đảng viên của họ trong đó đã làm hại cho sự mở rộng của họ. Nhưng, với cái giá này, cỗ máy vẫn giữ được một hiệu quả đặc biệt và tính ưu việt của nó không ngừng tăng lên, trong khi các thể chế khác ở châu Âu dần dần tan rã. Hiện nay, không có những thể chế nào khác, cũng không có một chức năng công cộng nào có thể so sánh được với các đảng cộng sản về mặt này. Đúng là chừng nào vấn đề trật tự chưa được đặt ra như một vấn đề then chốt, thì các đảng cộng sản vẫn còn đứng ngoài cuộc chơi. Nhưng nếu như tiếp theo một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng hơn như chúng ta đang trải qua, lại có một thời kỳ hỗn loạn kéo dài, thì liệu họ có thể đem lại một giải pháp quyết định không? Theo truyền thống, phần lớn các nước châu Âu thường bù lại chỗ yếu trong hệ thống chính trị của chúng bằng việc tăng cường kiểm soát của Nhà nước và bộ máy quan liêu. Tuy rằng, theo những cuộc thăm dò và điều tra, bộ máy quan liêu bị đa số những người được phỏng vấn phỉ nhổ, nhưng bộ máy này vẫn là một giải pháp tự nhiên thường được sử dụng để giải quyết tất cả các vấn đề. Điều đó là đặc biệt đúng ở Pháp và Anh, nhưng cũng đúng cả với những nước nhỏ và ở Đức. Đúng là nước Đức đã giữ được những khoảng cách với chủ nghĩa xã hội Nhà nước, nhưng nó vẫn có một sự tôn trọng rõ ràng đối với truyền thống này. Ở một số nước châu Âu, ý tưởng về quốc hữu hóa đã lấy lại sức sống của nó sau nhiều năm bị mất lòng tin và quên lãng. Trong thời kỳ hỗn loạn chính trị và suy thoái kinh tế, nó có thể lại xuất hiện như một phương sách cứu vãn cuối cùng, cho phép duy trì việc làm và phân phối những hy sinh một cách công bằng. Chắc chắn những người cộng sản là những người được chuẩn bị tốt nhất cho việc quản trị tình huống lộn xộn do việc quốc hữu hóa tạo ra và thiết lập lại trật tự trong những tổ chức không có sự lãnh đạo. Như vậy, các đảng này sẽ thắng nhưng là trong trường hợp không thể khác hơn được, vì họ sẽ là những người duy nhất có thể lấp khoảng trống.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần II


Những thể chế khác cũng bị đụng tới, dù ở một mức độ ít hơn, bởi sự sụp đổ của uy quyền đạo đức. Quân đội chẳng hạn, trước kia là một trường học kỷ luật, cũng như từng là biểu tượng và hiện thân của những giá trị yêu nước, đã mất đi sự hấp dẫn đạo đức và tâm lý cũ. Đúng là người ta đang phải trao nền quốc phòng cho một quân đội nhà nghề, còn một quân đội quốc gia dựa vào nghĩa vụ quân sự, nơi đào tạo đối với công dân và mô hình uy quyền, thì đang dần mất đi. Nó chẳng có gì để đề xướng nữa và đang bị đẩy lùi xa khỏi dòng chảy lớn của những liên hệ con người. Thế là một thành trì đạo đức khác của xã hội phương Tây đang từ từ tan rã (…).

Sự yếu ớt của các thể chế dẫn tới những hậu quả quan trọng. Một mặt, việc đưa giai cấp công nhân vào trò chơi xã hội chỉ mang tính chất cục bộ, nhất là ở các nước Mỹ Latin và ở Pháp. Mặt khác, các tổ chức và những người thừa hành có gốc gác từ giai cấp trung lưu đang là một sức mạnh bảo thủ có tác dụng làm tê liệt người ta.

Tình trạng không hội nhập của giai cấp công nhân đang gây trở ngại cho những cuộc thương lượng trực tiếp và cho sự thông cảm lẫn nhau giữa các đối tác xã hội, khiến cho doanh nghiệp châu Âu dễ bị tổn thương hơn. Nguồn gốc của tình trạng không hội nhập ấy là việc từ chối thực hiện những nhiệm vụ thấp hèn và được trả công ít, mà người ta thấy phổ biến ở lớp trẻ. Để giải quyết vấn đề sức lao động, các doanh nghiệp phải trông cậy vào sự di cư lao động từ Nam Âu và Bắc Phi. Nhưng chính sách này, tuy đã thành công lớn và cho phép công nghiệp châu Âu phát triển trong những năm bùng nổ, đã tạo ra những khó khăn mới trong đời sống cộng đồng của các công dân. Và dần dần, hiện lên một nhân tố bất ổn khác, do những người lao động nước ngoài đặt lại vấn đề về vị trí của họ trong hệ thống kinh tế và xã hội, cũng như về phạm vi những khả năng mở ra cho họ (…).

Khủng hoảng của giới trí thức

Giới trí thức cũng là một nguồn quan trọng đưa tới những đảo lộn cho các xã hội phương Tây. Daniel Bell đã nhấn mạnh đúng đắn tới vai trò căn bản của văn hóa vào cuối buổi bình minh của các xã hội hậu công nghiệp. Tri thức có xu hướng trở thành của cải chủ yếu đối với loài người. Những người trí thức, với tư cách một nhóm xã hội, đang tiến lên tuyến đầu của những cuộc chiến đấu xã hội – chính trị, và những liên hệ của họ với xã hội đang biến đổi căn bản (…).

Thành tố đầu tiên của cuộc khủng hoảng này trước hết là một vấn đề về số lượng. Sự ra đời của xã hội hậu công nghiệp đòi hỏi một sự tăng thêm nhiều con số những trí thức, những trí thức tương lai và những người “cận trí thức” (para intellectuels). Không những các nghề nghiệp trí thức hiện có đang phát triển, mà nhiều nghề nghiệp mới cũng như nhiều hoạt động vốn không phải là trí thức nhưgn đang trở thành trí thức cũng được tạo ra. Tuy nhiên, con số trí thức càng tăng lên, thì uy tín xã hội của họ càng giảm đi. Chúng ta đang đứng trước nghịch lý này: một nghề nghiệp càng có vẻ cần thiết một cách căn bản, thì uy tín và ảnh hưởng của người nào không thuộc về nó một cách thật hiển nhiên – với tư cách cá nhân – càng nhỏ. Vấn đề này chắc sẽ không được đặt ra nếu sự xã hội hóa và các cơ chế truyền thụ ăn khớp với trạng thái mới của sự vật. Nhưng giáo dục lại vẫn tiếp tục nằm trong khuôn khổ đạo đức quý tộc truyền thống dựa trên uy tín, và mọi người lầm tưởng rằng cá nhân mình đang tham gia một tập hợp hoạt động và liên hệ với thế giới bên ngoài không còn tồn tại nữa. Ngoài ra, những hành vi ngày càng thủ cựu của mỗi người nhằm thăng tiến và hiện đại hóa vai trò của mình đang đưa tới những hiệu quả kết hợp gần bằng không (…).

Những phương tiện truyền thông đại chúng

Tính dễ tổn thương của thế giới văn hóa và tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ xã hội là do vị trí trung tâm mà nó chiếm giữ được trong hai hệ thống nhỏ cốt yếu trong thời đại chúng ta: giáo dục và những phương tiện truyền thông.

Giáo dục cho thấy vài ví dụ về những mâu thuẫn mà thế giới hiện thời đang gánh chịu. Uy tín của giáo viên và giáo sư thì giảm đi, nhưng con số của họ lại tăng lên nhiều, còn những hy vọng của họ vẫn mang màu sắc truyền thống tự do. Chính họ, hơn những người trí thức khác, đang phải đương đầu trực tiếp với cuộc cách mạng, sẽ làm đảo lộn những liên hệ con người, đồng thời làm suy yếu những phương tiện kiểm soát truyền thống của họ. Song song với điều đó, những thay đổi về mặt văn hóa đã làm biến mất sự hướng dẫn đạo đức có tác dụng kích thích mà xã hội cần có. Vì vậy, sự truyền thụ những chuẩn mực xã hội, chính trị và văn hóa đã bị rối loạn sâu sắc và sự rối loạn ấy đã mở rộng ra toàn bộ xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rõ quy mô của những rạn nứt và sự lạc hướng đang chiếm ưu thế trong nhiều khu vực dân cư. Đúng là ứng xử của các cá nhân không bị ảnh hưởng, nhưng họ không thể phó thác cho một sự hợp lý hóa chặt chẽ của bối cảnh trong đó họ đang sống, và họ cảm thấy bị lạc đường khi họ muốn dấn mình vào xã hội. Cuộc cách mạng vô chính phủ, tình trạng bị đẩy ra lề và bị tha hóa đang tăng lên một cách nguy hiểm là do sự trống rỗng thí thức này mà có.

Đúng là cuộc khủng hoảng của những phương tiện truyền thông đại chúng không sâu sắc bằng cuộc khủng hoảng của giáo dục. Nhưng nó đang tồn tại, do sự bùng nổ và phổ biến thông tin cũng như do việc áp dụng những giá trị mới do trí thức đề xướng. Ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại chúng đối với chính trị và đối với các chính phủ là trực tiếp hơn ảnh hưởng của giáo dục nhiều. Chúng tham gia một cách quyết định vào những biến đổi hiện thời bằng cách làm cho các chướng ngại cấm đoán thông tin bị hạ xuống dễ dàng hơn.

Như vậy, chúng góp phần vào việc làm rối loạn các cơ chế kiểm soát. Truyền hình đã đóng góp một vai trò hàng đầu vì nó làm cho không thể duy trì được tình trạng manh mún văn hóa và lối tổ chức đẳng cấp cần thiết cho hoạt động có hiệu quả của những phương tiện kiểm soát cũ. Với một tác động mới mẻ ở châu Âu hơn ở Mỹ và Nhật, nó đang vấp phải nhiều trở ngại hơn; với những khả năng chống cự của các xã hội bị chia nhỏ và bị phân tầng. Việc sử dụng nó cũng khác nhau nhiều tùy theo các tầng lớp hay giai cấp xã hội. Tuy nhiên, nó có một sức hấp dẫn đến mức công chúng và đời sống xã hội bị biến đổi sâu sắc. Cuối cùng, nó đã góp phần vào sự cải tổ báo chí viết. Tất nhiên, sức mạnh cảu những biến đổi là ở tính chất nhìn thấy được của thông tin. Chỉ tin tức nào có thể nhìn thấy mới là tin tức thật. Do đó, các nhà báo – những người canh giữ một chiều kích căn bản của đời sống công cộng – có một sứ mệnh hàng đầu để thực hiện.

Các phương tiện truyền thông đã trở thành một quyền lực tự chủ. Nói tới quyền lực thứ tư, không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng từ nay chúng ta chứng kiến một bước ngoặt quyết định: nghề này có xu hướng tự điều tiết và chống lại những sức ép của những lợi ích tài chính và chính phủ. Ngành truyền hình bị đặt dưới quyền kiểm soát của chính phủ của nó đang tăng lên ở nhiều nước, đó là một dấu hiệu tiến bộ quan trọng. Trái lại, các cơ chế điều tiết tự chủ do các phương tiện truyền thông thiết lập dễ đi tới thiếu tính khách quan. Bằng cách tạo ra thông tin, các nhà báo gây một tác động tới đời sống công cộng và xã hội. Hơn nữa, mục đích của họ là tranh thủ công chúng ngày càng rộng lớn càng tốt; do đó họ có xu hướng gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội một cách chủ quan và thiên vị, trong khi những người làm công vụ, thay vì theo đuổi những tiêu hiện thực, lại phải hành động theo công chúng đó. Điều đó bao hàm một số hậu quả. Trước hết, các phương tiện truyền thông đã trở thành một cái hộp cộng hưởng khổng lề khuếch đại tất cả những khó khăn, tất cả những mối căng thẳng xã hội. Các phong trào và các thứ mốt vì thế đã giành được những mức độ rộng lớn hơn nhiều. Hiện nay, ngày càng khó thoát ra khỏi cơn lốc xoáy của những liên hệ công cộng để tập trung vào những vấn đề cốt yếu. Vả chăng, các phương tiện truyền thông đang lấy mất của chính phủ và, ở một mức độ nào đó, của các giới chức trách khác, cả thời gian, cả sự thông hiểu và cả sự tin cậy cần thiết cho sự cách tân và thử nghiệm. Ngoài ra, sức ép của các phương tiện truyền thông không tạo thuận lợi cho việc giải quyết một vấn đề quan trọng của xã hội hiện đại chúng ta, vấn đề được biết dưới cái tên “hiệu ứng phản trực giác” (effect contres-intuitif). Các hệ thống thường hoạt động theo lối kết quả chung của một hành động cá nhân đi ngược với mong muốn của những người thực hiện nó, và cũng đi ngược với trực giác mà họ có thể có trước đó. Vì thế, cần coi trọng những phân tích phương pháp hơn là những quan điểm trực tiếp của cá nhân, vì những quan điểm này là một yếu tố tạo nên tính thiên vị của các phương tiện truyền thông. Hộp cộng hưởng càng khuếch đại phần xúc cảm trong “kinh nghiệm sống” của mỗi người bao nhiêu, thì lại càng dễ đi tới một sự phân tích chủ quan về trò chơi phức tạp của các thủ lĩnh chính trị bấy nhiêu. Cuối cùng, cái lối nhấn mạnh tới những điều hiển nhiên cũng dễ bị uốn nắn và che đậy hệ tư tưởng giống như lối hùng biện. Tính tự chủ của các nhà báo không nhất thiết đưa tới sự thật hay tính minh bạch; nó cũng có thể làm biến dạng việc nhận thức hiện thực.

Vấn đề này có liên quan đặc biệt hơn tới các nhà báo – trí thức, những người này thường gắn bó với một số gái trị. Vì muốn thu hút sự chú ý của công chúng, họ để cho trò chơi này cuốn theo và, do đó, họ chịu trách nhiệm về những biến dổi về mặt văn hóa. Về lâu dài, vấn đề này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nhiều so với vấn đề can thiệp của tư bản và chính phủ vào các phương tiện truyền thông, sự can thiệp này hiện nay có xu hướng giảm đi phần nào ở khắp nơi (…).

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 9 và vấn đề Biển Đông


Ngày 21/10, phát biểu khai mạc Diễn đàn Hương Sơn tại Bắc Kinh trước 500 đại biểu của 67 nước, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa tuyên bố Trung Quốc kiên quyết “thống nhất” Đài Loan cũng như không “từ bỏ một tấc đất” ở Biển Hoa Nam (Biển Đông).

Trong bài diễn văn mang nội dung răn đe tại diễn đàn với chủ đề “Duy trì trật tự quốc tế và thúc đẩy hóa bình ở châu Á – Thái Bình Dương”. Tướng Ngụy Phương Hòa tuyên bố: “Trung Quốc là đại cường duy nhất trên thế giới chưa đạt được mục tiêu thống nhất toàn vẹn lãnh thổ… không một cá nhân nào hay một thế lực nà có thể ngăn cản được quyết tâm thống nhất Đài Loan”.

Về vấn đề Biển Đông, trong bối cảnh bị nhiều nước láng giềng lên án Trung Quốc tranh giành chủ quyền, Bộ trưởng Ngụy Phương Hòa khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “lãnh thổ bất khả phân” của Trung Quốc, và Bắc Kinh “không thể để mất một tác đấc của tổ tiên để lại”.

Theo chuyển gia Timothy Heath thuộc Viện Nghiên cứu An ninh Quốc tế RAND Corporation, những tuyên bố trên của Trung Quốc nhằm bày tỏ thái độ bất bình đối với Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc không có khả năng buộc Mỹ rút khỏi khu vực.

Một tháng trước khi khai mạc Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 6, được Trung Quốc xem là để “cạnh tranh” với Diễn đàn Shangri-La ở Singapore, Bắc Kinh cho biết đã mời đại diện của 100 nước. Trong số 67 nước nhận lời tham dự có phái đoàn Việt Nam do tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam làm trưởng đoàn.

Tại diễn đàn lần này, dù không trực tiếp nêu tên Mỹ, nhưng Ngụy Phương Hòa đã lặp lại những luận điệu mà Bắc Kinh thường đưa ra, tố cáo Washington và các đồng minh phương Tây theo đuổi chính sách nhằm kìm hãm sự phát triển của Trung Quốc. Ông nói rằng Bắc Kinh không hề nao núng trước các biện pháp trừng phạt hay gây sức ép và chính sách “cây gậy” của Washington, đồng thời lặp lại lời đe dọa sẽ dùng sức mạnh quân sự để buộc chế độ dân chủ tự trị của đảo Đài Loan phải chấp nhận quyền cai trị từ Bắc Kinh.

Về phía Mỹ, các quan chứ nước này cũng đưa ra những đánh giá cứng rắn về các nỗ lực của Trung Quốc nhằm gạt Mỹ ra ngoài để trở thành cường quốc quân sự hàng đầu ở châu Á.

Dư luận về Diễn đàn Hương Sơn lần thứ 9

Trong buổi họp báo giới thiệu về Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 9 ngày 18/10, Phó Viện trưởng Học viện Khoa học quân sự Trung Quốc, Tổng Thư ký Diễn đàn, Thiếu tướng Bì Minh Dũng khẳng định đây là một kênh đối thoại cấp cao về an ninh, quốc phòng có tầm ảnh hưởng quốc tế. Diễn đàn nhận được sự quan tâm cao của dư luận thế giới. Tính đến ngày 18/10, Diễn đàn thu hút sự tham gia của 67 đoàn đại biểu với hơn 530 lãnh đạo quân đội, quan chức, chuyên gia, học giả đến từ nhiều nước và các tổ chức trên thế giới, trong đó có 23 bộ trưởng quốc phòng, nhiều hơn 6 bộ trưởng so với Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 8. Ngoài ra còn có 6 Tổng Tham mưu trưởng Quân đội các nước tham dự Diễn đàn.

Theo thông tin từ Ban tổ chức, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Shoygu Sergey Kuzhugetovich, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Hoàng Vĩnh Hồng, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch, Thứ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Kim Hyong-ryong… đều tề tựu tại Diễn đàn này để cùng thảo luận về chủ đề quản trị an ninh.

Nhiều quan chức như Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc Atul Khare, Phó Tổng thư ký ASEAN Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc tế Chữ thập đỏ Gilles Carbonnier… đều tham gia phát biểu tại Diễn đàn.

Xét về quy mô, đây là Diễn đàn có số lượng quan chức cấp cao và chuyên gia, học giả tham dự đông nhất từ trước đến nay; số lĩnh vực, chuyên ngành của các chuyên gia, học giả tham dự Diễn đàn cũng rộng nhất so với các kỳ trước.

Đại tá Chu Ba, Trưởng phòng hợp tác an ninh khu vực trực thuộc Văn phòng hợp tác quân sự quốc tế Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho rằng hiện nay ảnh hưởng và sức hấp dẫn của Diễn đàn Hương Sơn đang ngày càng gia tăng, tin tưởng rằng trong tương lai Diễn đàn sẽ thu hút càng nhiều phái đoàn quân sự cấp cao của nước ngoài tham gia.

Chủ đề của Diễn đàn đa dạng

Theo chương trình do Ban tổ chức công bố, Diễn đàn năm nay có 4 phiên toàn thể, 8 phiên thảo luận theo nhóm và phiên thỏa luận đặc biệt, trong đó số lượng phiên thảo luận theo nhóm tăng gấp đôi so với Diễn đàn lần trước. Theo Thiếu tướng Bì Minh Dũng, việc số lượng phiên thảo luận theo nhóm gia tăng cho thấy quy mô và tầm ảnh hưởng của Diễn đàn này tăng lên, chiều rộng và chiều sâu nội dung thảo luận trong Diễn đàn cũng theo đó gia tăng.

Chủ đề của các phiên toàn thể là: Quan hệ nước lớn và trật tự thế giới; Quản lý rủi ro về an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương; Lợi ích của các nước vừa và nhỏ và an ninh chung; Cơ chế kiểm soát vũ khí quốc tế và an ninh toàn cầu. Báo Quân giải phóng ngày 18/10 bình luận rằng do nhiều đại biểu diễn thuyết tại Diễn đàn đến từ các nước vừa và nhỏ, vì vậy, Diễn đàn này tạo kênh cho các nước đang phát triển lên tiếng, bày tỏ với cộng đồng quốc tế, họ sẽ cống hiến kế sách cho hòa bình, ổn định tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng như trên thế giới.

So với các Diễn đàn trước, các phiên thảo luận theo nhóm trong Diễn đàn năm nay có chủ đề cụ thể hơn, ví dụ chủ đề “Đánh giá cơ chế xây dựng lòng tin về an ninh quân sự châu Á – Thái Bình Dương” trong Diễn đàn lần này được cụ thể hóa thành 2 phiên thảo luận theo nhóm “Khung an ninh châu Á – Thái BÌnh Dương” và “Xây dựng cơ chế tạo lập lòng tin”. Bên cạnh đó, Diễn đàn năm nay còn gia tăng chủ đề thảo luận theo nhóm, cụ thể là “Sáng tạo khoa học công nghệ và an ninh quốc gia”.

Bên cạnh đó, trong ngày 22/10, Diễn đàn cũng có phiên đặc biệt với chủ đề 70 năm thành lập Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và sự phát triển của hòa bình thế giới, đồng thời bố trí hoạt động tham quan triển lãm. Thiếu tướng Bì Minh Dũng cho biết điều đó tạo cơ hội cho bạn bè quốc tế hiểu biết hơn về thành tựu xây dựng, phát triển của Trung Quốc cũng như những đóng góp tích cực của Trung Quốc đối với hòa bình, phát triển của thế giới.

Đỉnh cao mới trong quan hệ quân sự Trung – Nga

Bộ trưởng Quốc phòng Nga Shoygu Sergey Kuzhugetovich tham dự Diễn đàn lần này và có bài phát biểu mang tựa đề “Quan hệ nước lớn và trật tự quốc tế” trong phiên toàn thể thứ nhất. Đây là quan chức cao cấp nhất của Nga tham dự Diễn đàn Hương Sơn gần đây. Đại tá Chu Ba cho biết, trong Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 8, phía Nga cử quan chức cấp Thứ trưởng Quốc phòng tham dự.

Trong năm 2019, máy bay ném bom của Trung Quốc và Nga lần đầu cùng tiến hành tuần tra chiến lược, Trung Quốc lần đầu tham gia tập trận chiến lược “Miền Trung 2019” của Nga… Một loạt động thái “lần đầu” cho thấy quan hệ quân sự Trung – Nga đã có bước tiến triển mới. Việc Bộ trưởng Quốc phòng Nga Shoygu Sergey Kuzhugetovich tham dự Diễn đàn lần này tiếp tục thể hiện quan hệ giữa quân đội hai nước được nâng lên tầm cao mới.

Trong buổi họp báo được tổ chức vào tháng 6/2019, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Nhậm Quốc Cường cho biết quan hệ Trung – Nga bước vào thời đại mới, quan hệ giữa quân đội hai nước cũng bước vào thời đại mới. Dưới dự định hướng chiến lược của nguyên thủ hai nước, quân đội hai bên sẽ nâng quan hệ quân sự song phương lên tầm cao mới. Hai bên sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ lẫn nhau trong những vấn đề liên quan đến lợi ích cốt lõi, hoàn thiện cơ chế giao lưu hợp tác trong nhiều lĩnh vực như trao đổi đoàn cấp cao, huấn luyện thực chiến, phát triển công nghệ trang bị, chống khủng bố, qua đó tạo hiệu ứng tích cực cho việc ổn định chiến lược, bảo vệ hòa bình thế giới.

Trong bối cảnh đó, việc Bộ trưởng Quốc phòng Nga Shoygu Sergey Kuzhugetovich đánh giá về quan hệ quân sự Nga – Trung thế nào cũng là một điểm sáng của Diễn đàn lần này.

Đoàn đại biểu Triều Tiên tiếp tục tham gia Diễn đàn

Theo giới thiệu từ phía nhà tổ chức, phái đoàn quân sự Triều Tiên tham gia Diễn đàn lần này gồm 5 người, do Thứ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Kim Hyong-ryong dẫn đầu. Năm 2018, Thứ trưởng Quốc phòng Triều Tiên Kim Hyong-ryong cũng dẫn đầu phái đoàn quân sự gồm 6 người tham gia Diễn đàn Hương Sơn Bắc Kinh lần thứ 8.

Theo chương trình trong Diễn đàn năm nay, ngày 21/10, Thứ trưởng Quốc phòng Kim Hyong-ryong phát biển trong phiên toàn thể thứ hai. Theo đó, những quan điểm của ông về tình hình Bán đảo Triều Tiên và việc quản lý rủi ro về an ninh tại châu Á – Thái Bình Dương cũng là một điểm sáng trong Diễn đàn lần nay. Ngoài ra, dư luận còn quan tâm đến việc phái đoàn quân sự  liên Triều có tiến hành gặp gỡ như lần trước hay không.

Nguồn: TKNB – 23/10/2019

Ủy ban Ba bên quan tâm tới châu Âu – Phần I


Trích bản báo cáo về châu Âu do ông Michel Crozier trình bày và được công bố trong The Crisis of Democraties. Report on the Governability of Democraties (Cuộc khủng hoảng của các chế độ dân chủ. Báo cáo về khả năng quản trị của các chế độ dân chủ), New York, 1975.

Sự bão hòa của các hệ thống ra quyết định

Người ta thường coi tính ưu việt của các chế độ dân chủ ở chỗ đó là những xã hội mở về căn bản. Nhưng các cấu trúc mở chỉ đem lại những kết quả tốt nhất với một số điều kiện. Nếu chúng không duy trì hay phát triển được các hệ thống điều tiết thích hợp, thì entropi sẽ đe dọa chúng. Các chế độ dân chủ châu Âu chỉ mở một phần, thậm chí đôi khi chỉ mở về mặt lý thuyết. Các hệ thống điều tiết của chúng đã được xây dựng dựa trên một sự chọn lựa tinh vi những người trúng cử, một bên, và những yêu cầu của dân cư, một bên khác. Nếu ngày nay chúng ta có thể nói tới sự bão hòa, bất chấp những tiến bộ đã đạt được thực hiện trong sự sử dụng tính phức hợp, thì đó là vì mô hình truyền thống về lựa chọn và cai quản từ xa này đã dần dần thoái hóa, đưa tối chỗ mất đi những sự điều tiết cần thiết trên thực tiễn.

Một số lý do đã tạo ra tình huống này cùng một lúc. Trước tiên, những tiến bộ xã hội – kinh tế đã cho phép có sự liên kết ngày càng nhiều của các nhóm lợi ích. Thứ hai, sự bùng nổ về những thông tin phát ra làm cho việc giữ một khoảng cách, cho đến nay vẫn được coi là cần thiết cho tính hiệu quả giữa người cai trị và người bị cai trị trở nên khó khăn và thậm chí không thể thực hiện được. Thứ ba, đạo đức dân chủ làm cho việc tiếp nhận thông tin bị khó hạn chế, dù chỉ một phần. Mặc dù các quá trình truyền thống về quản lý và cai trị vẫn còn tồn tại dai dẳng, điều đó đang ngăn cản sự duy trì những thói quen hạn chế. Thật vậy, cái gọi là thông tin “tức thời” đang biến một xung đột nhỏ nhất thành một vấn đề cai trị, khi thiếu một cấp kiểm soát trung gian (…).

Sự sụp đổ của những thể chế truyền thống

Những mâu thuẫn bộc lộ ở trình độ kiểm soát các xã hội đã trở nên nghiêm trọng hơn do sự sụp đổ gần như hoàn toàn của những cấu trúc uy quyền làm chỗ dựa cho các hệ thống kiểm soát ấy. Sự sụp đổ này, một phần do những đảo lộn được gây ra bởi những biến đổi hiện thời, cũng là hệ quả logic của một sự tiến hóa chung của những liên hệ giữa cá nhân và xã hội. Ở thế giới phương Tây, sự tự do lựa chọn của cá nhân đã tăng lên nhiều. Người ta có thể lựa chọn công việc, bạn bè, vợ chồng của mình mà không chịu những bó buộc mà các quy ước ngày xưa áp đặt. Người ta cũng có thể cắt đứt dễ dàng với những gắn bó của mình. Do phạm vi những khả năng được mở rộng ra, người ta tỏ ra khe khắt hơn và từ chối gắn liền với người khác suốt đời. Điều đó đặc biệt thấy rõ hơn ở lớp trẻ. Tự do tính dục và việc đặt lại vai trò của phụ nữ trong xã hội cũng đã góp phần vào sự tiến hóa ấy một cách đáng kể. Trong bối cảnh ấy, uy quyền truyền thống bị phản bác; nó phải đụng đầu với làn sóng ngày càng tăng của những sự khẳng định cá nhân, trong khi lại mất đi quyền lực của nó về mặt kiểm soát các cá nhân mà cho đến nay chưa có gì thay thế cả.

Cuối thập kỷ 60 là thời gian có ý nghĩa quyết định. Những biến đổi còn ấp ủ cho đến lúc đó đã xuất hiện một cách nổi bật trong cơn xoáy lốc chính trị của thời đại. Một kiểu tranh luận đạo đức về khái niệm uy quyền truyền thống đã được mở ra. Tầm quan trọng của nó có lẽ đã được lý giải sai, vì cuộc nổi dậy có vẻ mang những mục đích chính trị. Ngày nay, dường như người ta tranh cãi về vấn đề đạo đức hơn là về uy quyền chính trị; về các Giáo hội, các trường đại học và các tổ chức văn hóa hơn là về các thể chế chính trị hoặc cả các thể chế kinh tế.

Trong thời kỳ này, Giáo hội dường như bị đụng tới nhiều nhất. Ở hầu khắp châu Âu, những biến đổi đang diễn ra nhanh chóng và ở một quy mô khiến cho Giáo hội – không chỉ Giáo hội Gia tô – mất đi uy quyền đạo đức và chính trị của nó đối với các tín đồ và xã hội trước kia. Bị đụng tới nhiều nhất là Giáo hội Gia tô vì nó vẫn là Giáo hội độc đoán nhất. Tuy vậy, như các cuộc điều tra cho thấy, những tình cảm và nhu cầu tôn giáo vẫn còn; thậm chí lại tìm thấy sức sống vì những nỗi lo lắng trong thời đại chúng ta đang nuôi dưỡng nó. Do đó, các Giáo hội khác nhau có lẽ sẽ có thể giành lại được một phần mảnh đất đã mất đi. Nhưng họ phải mở ra hơn nữa và phải từ bỏ những nguyên tắc truyền thống hiếm hoi còn lại của họ.

Có thể điều đó đã xảy ra, vì những cấu trúc uy quyền đang biến mất. Cuộc khủng hoảng ấy được thấy rõ ở hệ đẳng cấp của các giáo hội hơn là ở những người thế tục nhiều. Con số giáo sĩ rời bỏ giáo hội của họ không ngừng tăng lên; không có ai để thay thế họ và những người còn lại thì không chấp nhận một cách ngoan ngoãi như xưa uy quyền quan liêu của các cấp trên cũng như những ràng buộc giáo điều nữa, vì hoàn cảnh mới mà họ đang sống trong đó cho phép họ đòi hỏi và giành được sự tôn trọng nhiều hơn. Vả chăng, họ cũng không thể nào sử dụng uy quyền đạo đức truyền thống của mình đối với những người thế tục như trước kia nữa. Đúng là sẽ cường điệu khi nói rằng hệ thống cũ của những nghĩa vụ đạo đức và những lời khuyên bảo từng tạo nên Giáo hội đã sụp đổ; hệ thống ấy vẫn đứng đó nhưng nó đã thay đổi trong 10 năm gần đây nhiều hơn trong 2 thế kỷ qua. Sự sôi động đẻ ra từ biến đổi ấy là một dấu hiệu của sức sống. Người ta có thể thiết lập những nguyên tắc hợp lý mới để cho hệ thống sẽ ổn định xung quanh đó. Nhưng rõ ràng là mô hình truyền thống – một trong những thành trì vững chắc nhất của các xã hội châu Âu trong một thời gian dài – đã bị tan rã. Sự biến đổi này nằm trong những biến đổi quan trọng nhất xảy ra ở châu Âu. Mô hình cũ đã đem lại một sơ đồ cơ sở làm chỗ dựa cho trật tự xã hội. Xét đến cùng, nó được dùng để duy trì sự kiểm soát của xã hội, kể cả ở những nước gọi là thế tục như nước Pháp, nơi ảnh hưởng của Giáo hội Gia tô có vẻ yếu nhất. Tác động do sự biến đổi các giá trị gây ra thật rộng lớn và phổ biến. Những khu vực phi tôn giáo đã từng duy trì được những mô hình kiểm soát của xã hội, kể cả ở những nước gọi là thế tục như nước Pháp, nơi ảnh hưởng của Giáo hội Gia tô có vẻ yếu nhất. Tác động do sự biến đổi các giá trị gậy ra thật rộng lớn và phổ biến. Những khu vực phi tôn giáo đã từng duy trì được những mô hình kiểm soát xã hội giống như thế, mặc dầu chống lại những nguyên tắc tôn giáo, cũng không thể trụ lại hơn nữa, tuy mới thoạt nhìn, chúng có vẻ ít bị đụng tới hơn.

Giáo dục đem lại cho chúng ta một ví dụ rõ về những hoàn cảnh giống nhau, tuy có những truyền thống ngược nhau. Thật vậy, với tư cách một hệ thống đạo đức, nó cũng đụng phải cùng một vấn đề ấy. Trong toàn bộ châu Âu, dù mỗi quốc gia noi theo trào lưu triết học của mình như thế nào, thì giáo dục cũng đang bị khủng hoảng. Nó đã mất uy quyền của nó. Các giáo viên và giáo sư không còn tin vào “sứ mạng thiêng liêng của họ” nữa: sinh viên không còn chấp nhận uy quyền của giáo sư như ngày trước. Giống như tôn giáo về mặt trật tự xã hội, uy quyền, giáo dục không còn có nền tảng nữa. Tri thức đã được mở rộng nhiều. Chúng ngày càng được chia sẻ nhiều hơn. Giáo viên và giáo sư đã mất đi uy tín xã hội của họ, và những liên hệ đẳng cấp rất khép kín từng làm cho nó mang tính toàn năng cũng đã mất đi. Thói cũ vẫn cho phép hệ thống hoạt động, và hệ thống vẫn tồn tại do tầm quan trọng và sự cần thiết của vai trò của nó. Nhưng tai họa thật sâu sắc. Cấu trúc giáo điều đang tan rã. Không ai biết được mình sẽ làm việc như thế nào khi không có cấu trúc và hình thức thay thế nào hiện lên đằng chân trời. Chúng ta đang ở trong một quá trình phá vỡ cấu trúc, và những không tưởng hào hiệp – dường như là sự trả lời duy nhất có tính xây dựng đang được đưa ra làm phương thuốc cứu chữa. Có thể ngành đại học – từng trải qua một cuộc cách mạng nổi bật hơn – sẽ có lại sức sống của nó. Nhưng tình thế của nó vẫn không kém hỗn loạn ở nhiều nước và dưới nhiều bộ mặt khác nhau. Các trường đại học châu Âu không đưa ra được một thể chế lãnh đạo nào. Không có những thể chế thật sự thích hợp với sinh viên. Rất ít những giáo viên có thể đưa ra những mô hình hành động có thể có, mà không mang tính hệ tư tưởng, để cho sinh viên có thể chấp nhận. Do đó, tiềm lực của các trường đại học không thể được dùng làm nhân tố kích thích để làm biến đổi xã hội, và nghị lực của lớp trẻ đang mặc nhiên hướng tới những cuộc đấu tranh tiêu cực và không có lối thoát.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.