Lý do Mỹ thua trong cuộc chiến với Huawei


Thất bại lớn về tình báo đã khiến chính sách vốn đã dao động của Lầu Năm Góc trở nên tồi tệ hơn và khiến cho nhiều đồng minh chủ chốt của Mỹ không còn lưu tâm đến lời khẩn cầu của Trump về việc tránh xa hệ thống 5G của gã khổng lồ công nghệ Huawei.

Bĩ bẽ mặt sau khi Anh từ chối loại trừ Huawei khỏi mạng băng thông rộng 5G của nước này, Chính quyền Trump đã tăng cường các nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc, với rất ít triển vọng thành công.

Cách đối phó của Mỹ bao gồm truy tố Huawei theo đạo luật của Tổ chức chống tham nhũng và ảnh hưởng của xã hội đen (RICO), được soạn thảo nhằm chống tội phạm có tổ chức. Ngoài ra Mỹ còn đề xuất các quy chế về việc ngừng bán linh kiện Mỹ cho Huawei và công ty viễn thông lớn thứ 2 Trung Quốc ZTE nếu 10% sản phẩm của họ có áp dụng công nghệ Mỹ.

Một lệnh cấm khác được đề xuất là cấm bán động cơ phản lực cho số máy bay dân sự mà tập đoàn General Electric của Mỹ và Safran của Pháp bán cho Trung Quốc kể từ năm 2014 – một biện pháp chiến tranh kinh tế không liên quan tới lý do an ninh quốc gia.

Trong số tất cả các sự kiện của Mỹ, chưa từng có sự kiện nào nhận được nhiều sự chú ý đến thế nhưng lại cho ít kết quả đến thế.

Trong khi đó, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien đã nói với tờ Wall Street Journal ào ngày 12/2 rằng Mỹ đã phát hiện ra một “cửa hậu” bí mật trong các thiết bị của Huawei cho phép công ty Trung Quốc này theo dõi mạng lưới thông tin liên lạc của phương Tây. Huawei bác bỏ cáo buộc này, yêu cầu Mỹ công khai các dữ liệu.

Cáo buộc của Mỹ bị cộng đồng quốc tế chế nhạo, Giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn Orange, Stephane Richard nói vào hôm 14/2: “Tôi rất muốn xem bằng chứng. Nó gợi tôi nhớ đến những vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Chiến tranh Iraq”. Tờ Der Spiegel của Đức giật tít: “Cánh cửa hậu chỉ Mỹ mới có thể nhìn thấy”.

Tại hội nghị an ninh thường niên ở Munich (Đức) ngày 14/2, các quan chức Mỹ trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mike Esper và Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi đã cảnh báo các nước châu Âu phải tránh xa Huawei. Esper nói: “Việc phụ thuộc vào các công ty cung cấp 5G của Trung Quốc có thể khiến các hệ thống quan trọng của các đối tác của chúng ta dễ bị phá vỡ, thao túng và do thám. Làm vậy cũng có thể gây nguy hiểm cho thông tin liên lạc và các năng lực chia sẻ thông tin tình báo của chúng ta và liên minh của Mỹ nói chung”. Nhưng hãng tin Politico của Mỹ lại đăng bài viết có tiêu đề: “Châu Âu phớt lờ cảnh báo của Mỹ về mạng 5G của Trung Quốc”.

Hậu quả tiềm tàng ngoài dự tính

Hậu quả ngoài dự tính đối với uy tín của Mỹ và rủi ro đối với các công ty Mỹ là rất lớn. Nếu Mỹ lợi dụng mối đe dọa thường được đồn đoán này để ngừng vận chuyển động cơ phản lực cho Trung Quốc, cản trở chương trình của Trung Quốc nhằm phát triển một máy bay dân sự lắp ráp trong nước sử dụng động cơ của General Electric hoặc Safran, thì cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ có đặc thù hoàn toàn khác. Công ty Safran của Pháp là một tài sản an ninh quốc gia và việc cản trở họ sẽ đẩy Paris về phía Bắc Kinh.Các công ty hàng đầu của Mỹ, trong đó có Boeing – với 1/4 số máy bay của họ được bán cho Trung Quốc, cũng như các hãng thiết kế vi mạch hàng đầu của Mỹ có thể sẽ phải chịu tổn thất nặng nề trong thời gian tới.

Mỹ chưa từng thực hiện biện pháp nào trong số này kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chúng bắt nguồn từ sự thất vọng ở Washington sau khi gần như toàn bộ đồng minh của Mỹ – trừ Israel, Nhật Bản và Australia – phớt lờ những yêu cầu đanh thép của Mỹ về việc loại trừ Huawei khỏi tiến trình khai thác mạng băng thông rộng 5G cho điện thoại di động.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã công khai phản đối quyết định của Thủ tướng Anh Boris Johnson về việc cho phép Huawei xây dựng một phần các mạng lưới 5G của Anh, và Tổng thống Trump đã đích thân can thiệp với Thủ tướng Anh nhưng vô hiệu. Ngày 6/2, tờ Financial Times đưa tin rằng Tổng thống Trump đã “bừng bừng tức giận” trong một cuộc điện đàm với Boris Johnson. Ngày 14/2, Boris Johnson đã hoãn một chuyến thăm Nhà Trắng như dự kiến để đáp trả.

Trong khi đó, Chính phủ Đức đã gạt bỏ sự phản đối của một nhóm các thành viên thuộc đảng cầm quyền tại Quốc hội Đức về việc Huawei can dự vào quá trình triển khai mạng 5G của nước này.

Vẫn chưa rõ đạo luật RICO có thể ngăn cản các hoạt động của Huawei bằng cách nào ngoài việc khiến các nhân viên của công ty Trung Quốc này phải chịu các hình phạt pháp lý cực đoan. Việc kiểm soát xuất khẩu các linh kiện của Mỹ cho Huawei có hiệu lực từ tháng 5/2019 đã không thể cản trở Huawei cung cấp thiết bị và điện thoại di động 5G, khi gã khổng lồ Trung Quốc này quay sang các nhà cung cấp Nhật Bản, Đài Loan và các nước khác. Huawei hiện sản xuất cả các trạm phát sóng thông tin mặt đất và điện thoại thông minh 5G mà không cần linh kiện của Mỹ.

Cuối tháng 1/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ bỏ phiếu phủ quyết một đề xuất của Bộ Thương mại nhằm áp đặt quy tắc bán linh kiện của Mỹ cho Huawei và ZTE với điều kiện số hàng hóa đó được sử dụng tối đa 10% nguồn lực của Mỹ trong quá trình sản xuất, nhằm ngăn các công ty nước ngoài sử dụng công nghệ của Mỹ từ việc bán hàng cho các công ty của Trung Quốc. Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Larry Kudlow nói với tờ Wall Street Journal vào ngày 4/2 rằng ông ủng hộ các lập luận phản đối của Lầu Năm Góc, vì “chúng tôi không muốn đẩy các doanh nghiệp lớn của mình đến tình trạng đóng băng kinh doanh”. Tuy nhiên, ngày 12/2, truyền thông Mỹ lại đưa tin rằng Lầu Năm Góc đã đổi ý và hiện ủng hộ lệnh cấm nghiêm ngặt hơn đối với việc xuất khẩu linh kiện cho Huawei – rõ ràng là để đáp ứng sự thay đổi ý kiến ở Nhà Trắng.

Các công ty sẽ chuyển sản phẩm của họ đi nơi khác

Một số công ty Mỹ sẽ không đóng băng, nhưng họ sẽ rời khỏi Mỹ. Ngày 16/2, tờ New York Times đưa tin rằng Quỹ RISC-V, một tổ chức phi lợi nhuận lập ra tiêu chuẩn phần mềm nguồn mở cho các loại vi mạch sử dụng trong điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác, trong những tháng gần đây đã thừa nhận rằng họ quyết định rời trụ sở từ Delaware sang Thụy Sĩ vì các thành viên của tổ chức lo ngại về những quy định nghiêm ngặt hơn ở Mỹ. Cũng theo tờ New York Times, Scott Jones, một nhà nghiên cứu hợp tác với Trung tâm Stimson, cho biết thếm: “Nếu chính quyền tiếp tục đi theo quỹ đạo hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự ra đi của nhiều công ty và nhiều nhà khoa học hơn. Họ sẽ đưa sản phẩm của họ đi nơi khác, và các nền kinh tế khác sẽ hưởng lợi từ điều đó”.

Phần lớn doanh thu của Qualcomm, Nvidia và các công ty sản xuất chất bán dẫn khác của Mỹ là từ châu Á. Nếu họ không được phép bán hàng cho Trung Quốc, họ sẽ mất một phần lớn hoạt động kinh doanh. Thậm chí tệ hơn, Huawei hiện đang sản xuất bộ vi mạch xử lý cho điện thoại thông minh, chẳng hạn như dòng Kirin cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Qualcomm, và bộ xử lý Ascend cho các máy chủ, cạnh tranh với Nvidia.

Theo một chuyên gia phân tích người Trung Quốc, Huawei có thể giảm 30% giá thành các bộ vi xử lý của mình trong cuộc cạnh tranh về giá với Mỹ, đẩy các công ty Mỹ ra khỏi toàn bộ thị trường châu Á. Chuyên gia phân tích này cho biết trong trường hợp đó, Nvidia sẽ hết sạch tiền mặt trong 18 tháng và Qualcomm sẽ hết sau 24 tháng, buộc họ phải ngừng hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho tầm quan trọng của Mỹ trong ngành sản xuất chất bán dẫn do chính Mỹ tạo ra.

Được biết lệnh cấm gây nhiều tranh cãi về việc bán động cơ phản lực cho Trung Quốc sẽ được thảo luận tại một cuộc họp nội các vào ngày 28/2 ở Washington. General Electric và các công ty khác của Mỹ đang ráo riết vận động hành lang để phản đối đề xuất này vì nó không có mục đích rõ ràng về an ninh quốc gia. Một số quan chức Mỹ đề nghị Trung Quốc có thể cải tạo các động cơ do Pháp và Mỹ đồng sản xuất, nhưng General Electric nhận thấy Trung Quốc vẫn mua các động cơ này kể từ năm 2014, và không cần thay bằng bất kỳ động cơ nào mới.

Đề xuất này được đưa ra như một nỗ lực nhằm ngăn Trung Quốc phát triển một công nghệ thông thường. Kết quả là Trung Quốc có thể sẽ đặt mua máy bay từ hãng Airbus của châu Âu thay vì hãng Boeing khi hãng này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn tài chính sau sự đổ vỡ của chương trình Max 737.

Thất bại thê thảm về mặt tình báo

Chính quyền Trump đã đưa ra những tín hiệu mâu thuẫn về ý định của họ đối với Huawei, khi Lầu Năm Góc liên tục đổi ý về những giới hạn được đề xuất cho việc bán linh kiện sử dụng công nghệ và bằng sáng chế của Mỹ. Nhà Trắng tin rằng họ có thể thuyết phục Chính phủ Anh loại trừ Huawei, và không thể nhận ra những gì đã xảy ra ngay cả sau khi London quyết định. Điều này nhấn mạnh một thất bại về tình báo mà phần lớn trách nhiệm thuộc về phía Mỹ.

Huawei không chỉ bán thiết bị viễn thông chất lượng cao với giá cả phải chăng cho các nhà cung cấp điện thoại di động của Anh, mà còn trở thành một phần trong cấu trúc viễn thông của Anh kể từ năm 2011, khi công ty này thuê Giám đốc an ninh thông tin của Chính phủ Anh John Suffolk làm người đứng đầu phụ trách hoạt động kinh doanh của công ty ở Anh. Một giám đốc điều hành cấp cao của Huawei cho biết trong số các nước phương Tây, Anh là quốc gia có quan hệ tốt nhất với công ty này. Cơ quan thông tin chính phủ Anh (GCHQ) – đóng vai trò như cơ quan an ninh quốc gia – đã dành nhiều năm để chỉ trích bộ mã của Huawei, thường đặt ra những đòi hỏi cải tiến mà công ty Trung Quốc này luôn nhanh chóng thực hiện.

Năm 2012, trước sự tán thưởng của Thủ tướng Anh khi đó là David Cameron, Huawei tuyên bố đầu tư 1,3 tỷ bảng vào Anh. Một báo cáo của Huawei lưu ý rằng trong năm 2018, họ đã đầu tư 112 triệu bảng vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, tuyển dụng hơn 300 nhà nghiên cứu ở Anh. Báo cáo cũng cho biết Huawei đã hợp tác với 35 trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Huawei tuyển dụng 50.000 người nước ngoài, phần lớn là các nhà nghiên cứu, tại 20 trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới và trợ cấp cho hàng nghìn người khác. Đây là công ty Trung Quốc đầu tiên kết nối với giới tinh hoa kỹ thuật và khoa học của phương Tây và chiếm được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ với sự giúp đỡ của họ.

Không ai nghi ngờ việc Anh sẽ tiếp tục hợp tác với Huawei, minh họa cho câu ngạn ngữ của Tôn Tử: “Sự chuẩn bị quyết định cuộc chiến thành hay bại”. Huawei đã xây dựng mối quan hệ với Anh một cách cởi mở và trở thành một phần trong cơ sở kỹ thuật của Anh với các dự án đầu tư chiến lược và sự phục tùng có tính toán trước các cơ quan an ninh của Anh.

Mỹ không nhận thấy điều đó cũng như không cơ quan nào của Mỹ cân nhắc khả năng Trân Châu Cảng có thể là một mục tiêu của Nhật Bản vào tháng 12/1941, hay cũng như quân đội Anh không cân nhắc khả năng Nhật Bản tấn công Singapore năm 1942. Đơn giản là các cơ quan tình báo Mỹ không nhận ra rằng Trung Quốc có khả năng thâu tóm toàn bộ thị trường thế giới bằng một công nghệ thay đổi cục diện. Washington cũng không nhận ra rằng Trung Quốc đã phát triển đủ năng lược trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn để tạo ra các vi mạch cao cấp của riêng mình và phớt lờ lệnh cấm nhập khẩu của Mỹ.

Rõ ràng Donald Trump đang tiếp nhận thông tin từ chính những cơ quan tình báo đã phớt lờ thách thức từ Trung Quốc cho đến khi quá muộn – và không muốn gì hơn ngoài việc đổ lỗi cho người khác về những thất bại của chính mình. Kết quả là một nỗi ô nhục và nguy cơ gián đoạn kinh tế nghiêm trọng của Mỹ.

Nguồn: Asia Times – 17/02/2020

TLTKĐB – 21/02/2020

Mối đe dọa từ sự suy yếu của các cường quốc


Cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 dự báo trước 3 bước ngoặt: sự chấm dứt của kế hoạch hội nhập châu Âu; sự kết thúc của một nước Mỹ thống nhất, thực dụng; và sự kết thúc của khế ước xã hội ngầm giữa nhà nước và người dân ở Trung Quốc. Do đó, sau đại dịch COVID-19, cả 3 thế lực này sẽ bị suy yếu từ bên trong, dẫn tới khả năng lãnh đạo toàn cầu của họ bị suy giảm.

Bắt đầu với châu Âu. Cũng như cuộc khủng hoảng tại khu vực này giai đoạn 2010 – 2012, đường đứt gãy của khối hiện nay chạy qua Italy. Kiệt quệ sau hàng thập kỷ phát triển năng động và nền tài chính mong manh, vấn đề này quá nghiêm trọng đến nỗi châu Âu không thể cứu vãn và cũng quá quant rọng tới nỗi không thể để thất bại. Trong đại dịch, người Italy đã cảm thấy họ bị các đối tác châu Âu bỏ rơi khi cuộc khủng hoảng liên quan tới sự tồn vong của họ đang diễn ra, tạo ra “mảnh đất màu mỡ” cho các chính trị gia dân túy khai thác. Hình ảnh thi thể các nạn nhân của COVID-19 ở Begamo được bọc trong các túi đụng và được đoàn xe quân sự chở đi an táng mà không có người đi cùng sẽ còn khắc sâu trong tâm trí người dân Italy.

Trong khi đó, phát biểu về việc làm thế nào để giúp các quốc gia thành viên bị đại dịch, giới tinh hoa kỹ trị của Liên minh châu Âu một lần nữa sa đà vào “một loạt chữ cái thể chế” – ECB, ESM, OMT, MFF và PEPP – những từ vốn đã trở thành ngôn ngữ mặc định của họ. Các nhà lãnh đạo của lục địa đã chùn bước và do dự, từ câu nói có vẻ bị hớ của chủ tịch ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Christine Lagarde hồi tháng 3/2020 – khi bà nói rằng: “ECB không phải ở đây để thu hẹp chênh lệch chi phí đi vay giữa các quốc gia thành viên”, đến các cuộc cãi vã về vấn đề biến các khoản nợ riêng thành nợ chung và quỹ cứu trợ COVID-19, và cả sự thay đổi dần dần một cách miễn cưỡng của thỏa thuận mới nhất. Và, gnay cả khi đạt được những tiến bộ hạn chế, tính bảo thủ trong bản năng của Đức – được minh chứng gần đây nhất bởi phán quyết của tòa án Hiến pháp Liên bang Đức về các hành động của ECB – luôn tìm cách làm suy yếu tinh thần hội nhập.

Giả sử rằng các nền kinh tế thành công vốn là cốt lõi của EU có thể phục hồi sau khủng hoảng trong khi những nền kinh tế ngoại vi bị lung lay – và điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra. Không có kế hoạch hội nhập chính trị nào có thể tồn tại khi các quốc gia vốn luôn thuộc tầng lớp dưới không được chia sẻ sự thịnh vượng với các nước láng giềng khi tình hình còn tốt đẹp, và bị bỏ rơi khi tai họa xảy ra.

Trong khi đó, sự suy yếu của Mỹ bị thổi phồng và bị hoài nghi. Ngay cả trước cuộc khủng hoảng COVID-19, các thể chế chủ chốt của Mỹ đã báo hiệu sự sa sút: nhiệm kỳ tổng thống hành động khó kiểm soát của Donald Trump, một Quốc hội có sự sắp xếp đảng phái không thỏa đáng. Tòa án Tối cao bị chính trị hóa, chủ nghĩa liên bang rạn nứt và các thể chế lập pháp bị kiểm soát (với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ là một ngoại lệ nổi bật).

Nhiều người Mỹ trong thâm tâm nhận thấy sự sa sút này, nhưng bác bỏ các quan điểm cho rằng nước Mỹ đang suy giảm sức mạnh. Họ vẫn tin rằng mạng lưới các tổ chức phi nhà nước và những sức mạnh ngầm – bao gồm các trường đại học, truyền thông, tinh thần khởi nghiệp và năng lực công nghệ, cũng như vị thế của đồng USD trên toàn cầu – tạo ra khả năng phục hồi mà nước Mỹ cần để duy trì địa vị của mình. Tuy nhiên, cho đến nay, quốc gia giàu nhất thế giới vẫn là nước đối phó với đại dịch tệ nhất. Mặc dù dân số Mỹ chiếm chưa tới 5% dân số thế giới, nhưng hiện Mỹ đã chiếm khoảng 24% tổng số ca tử vong ở những người đã được xác nhận nhiễm COVID-19 và 32% tính cả các trường hợp chưa được xét nghiệm. Do đó, uy tín và sự lãnh đạo toàn cầu của Mỹ đã liên tục bị tổn hại nặng nề bởi hành động xâm phạm kiểu đế quốc (chiến tranh Iraq), một hệ thống kinh tế gian lận (khủng hoảng tài chính toàn cầu), rối loạn chính trị (nhiệm kỳ tổng thống của Trump), và hiện nay là khả năng đối phó với dịch COVID-19 một cách kém cỏi của Mỹ khiến nhiều người phải ngạc nhiên. Những đòn giáng liên tiếp này đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng, mặc dù nó chưa gây ra tai họa chết người.

Rất nhiều trong số những vấn đề kể trên hóa ra lại xuất phát từ sự chia rẽ sâu sắc và độc hại trong xã hội Mỹ. Quả thực như vậy, Tổng thống Trump đang kích động những người ủng hộ nổi dậy. Đến tháng 11/2020, ngay cả tiêu chí dân chủ cơ bản là tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng cuối cùng cũng có thể bị bỏ qua. Tất nhiên, sẽ là quá vội vàng và gây hoang mang khi đánh giá rằng thất bại sâu rộng của Mỹ trong việc đối phó với khủng hoảng COVID-19 sẽ đe dọa nền dân chủ và sự tồn tại của nhà nước Mỹ. Tuy nhiên, việc khăng khăng tin vào chủ nghĩa ngoại lệ Mỹ ở một thời điểm như hiện nay có vẻ như sẽ là sự phủ nhận nguy hiểm.

Cuối cùng là Trung Quốc. Kể từ thời Đặng Tiểu Bình, đất nước đã phát triển dựa trên một thỏa thuận ngầm đơn giản: Công dân giữ im lặng về vấn đề chính trị, chấp nhận bị hạn chế sự tự do và các quyền tự do, và nhà nước – nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Trung Quốc – bảo đảm trật tự và sự thịnh vượng ngày càng đi lên. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng COVID-19 đe dọa thỏa thuận lớn này theo hai cách.

Thứ nhất, chính quyền Trung Quốc đã xử lý đại dịch một cách tệ hại ở thời điểm đầu, đặc biệt là việc họ lấp liếm sự thật về đại dịch COVID-19 bùng phát ở Vũ Hán làm dấy lên sự nghi ngờ về tính hợp pháp và năng lực của chế độ Bắc Kinh. Xét cho cùng, thỏa thuận xã hội có vẻ kém hấp dẫn nếu nhà nước không thể đảm bảo cho công dân phúc lợi cơ bản, bao gồm cả chính cuộc sống của họ. Số ca tử vong vì COVID-19 thực sự của Trung Quốc, gần như chắc chắn cao hơn con số chính quyền đang thừa nhận, cuối cùng sẽ được đưa ra ánh sáng. Và sự tương phản rõ rệt giữa phản ứng của Bắc Kinh với phản ứng mẫu mực đối với đại dịch của các xã hội tự do hơn là Đài Loan và Hong Kong cũng sẽ được phơi bày.

Thứ hai, đại dịch có thể dẫn đến sức ép từ bên ngoài trong lĩnh vực thương mại, đầu tư và tài chính. Nếu thế giới mất cân bằng do COVID-19, các quốc gia khác gần như chắc chắn sẽ tìm cách giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, từ đó, cơ hội thương mại của Trung Quốc sẽ bị thu hẹp. Tương tự, nhiều công ty Trung Quốc sẽ bị chặn đầu tư ra nước ngoài, và không chỉ vì lý do an ninh – như Ấn Độ gần đây đã phát đi tín hiệu. Sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc – nỗ lực đáng khen ngợi của Bắc Kinh để tăng cường sức mạnh mềm bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại và truyền thông từ châu Á đến châu Âu – có nguy cơ bị đổ vỡ khi những quốc gia nghèo tham gia bị tàn phá bởi đại dịch bắt đầu vỡ nợ.

Do đó, cuộc khủng hoảng COVID-19 có thể sẽ làm tổn hại đến triển vọng kinh tế dài hạn của Trung Quốc. Những nỗi bất bình ở trong nước đã bắt đầu lan rộng. Tình trạng rối loạn ở trong nước không chắc sẽ xảy ra, bởi Chủ tịch Tập Cận Bình có thể tăng cường đàn áp mạnh hơn những gì ông đã làm. Tuy nhiên, đối với những người dân thường Trung Quốc, thỏa thuận xã hội hiện tại có vẻ sẽ ngày càng giống “thỏa thuận với quỷ dữ”.

Kiểm soát tài nguyên là điều kiện tiên quyết cho quyền lực. Tuy nhiên, như lý thuyết quan hệ quốc tế nhắc nhở chúng ta, việc triển khai sức mạnh ra bên ngoài lãnh thổ đòi hỏi phải có chút ít sự đoàn kết và nhất trí trong nội bộ.. Xã hội yếu kém, rạn nứt thì cho dù quốc gia giàu có đến đâu cũng không thể tạo ra ảnh hưởng chiến lược hoặc nắm giữ vai trò lãnh đạo quốc tế.

Chúng ta đã sống một thời gian trong thế giới lưỡng cực G-2, nơi Mỹ và Trung Quốc thể hiện sự lãnh đạo yếu kém. Cả hai quốc gia này đã và đang mang đến cho cộng đồng toàn cầu “những điều tệ hại” như chiến tranh thương mại và làm xói mòn các tổ chức quốc tế, thay vì các hàng hóa công cộng như sự ổn định, các thị trường và nền tài chính rộng mở. Bằng cách làm suy yếu thêm sự gắn kết nội bộ giữa các cường quốc hàng đầu thế giới, cuộc khủng hoảng do đại dịch COVID-19 gây ra có nguy cơ khiến thế giới trở nên hỗn loạn, bất ổn và dễ xảy ra xung đột hơn. Sự kết thúc ở châu Âu, Mỹ và Trung Quốc sẽ dẫn tới những khả năng địa chính trị nghiệt ngã như vậy.

Nguồn: project-syndicate.org

TKNB – 12/05/2020

Hậu quả của làn sóng rút khỏi Trung Quốc


Katsuji Nakazawa

Sau khi dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 bùng phát, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã kêu gọi xây dựng một nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào một quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, để nước này có thể tránh được sự đứt gãy trong các chuỗi cung ứng. Lời kêu gọi này đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận đang nóng lên trong chính giới Trung Quốc.

Một nguồn tin kinh tế của Trung Quốc cho biết tại Trung Nam Hải (một khu vực nằm ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh nơi có văn phòng của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc), đã xuất hiện những mối quan ngại về việc các công ty nước ngoài đang rút khỏi Trung Quốc. Nguồn tin này cho biết: “Điều được đề cập tới nhiều khi nói về vấn đề này là điều khoản  “khuyến khích (và tài trợ) cho việc tái thiết lập các chuỗi cung ứng” trong gói kích thích kinh tế của Nhật Bản”.

Nếu dịch bệnh không bùng phát, thì chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình giờ đây đã kết thúc với việc Tập Cận Bình tự hào tuyên bố “một kỷ nguyên mới” trong quan hệ Trung – Nhật. Ông hẳn sẽ chúc mừng Thủ tướng Shinzo Abe trong bối cảnh Nhật Bản chuẩn bị đăng cai sự kiện thể thao quan trọng là Thế vận hội 2020. Giờ đây, thay vào đó, cả chuyến công du Nhật bản của Tập Cận Bình lẫn Olympic Tokyo 2020 đều đã bị hoãn lại, và quan hệ Trung – Nhật đang đứng trước ngã rẽ.

Các dấu hiệu về một chính sách mới của Thủ tướng Abe đã trở nên rõ ràng vào ngày 5/3. Cuối cùng, Nhật Bản đã có thể chấm dứt cuộc khủng hoảng liên quan tới du thuyền Diamond Princess, nhưng nước này vẫn phải đối mặt với thách thức trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19.

Trong ngày 5/3, ngày quyết định hoãn chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch Tập Cận Bình được công bố, Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức một cuộc họp của Hội đồng đầu tư cho tương lai. Thủ tướng Abe, Chủ tịch Hội đồng này cho biết ông muốn đưa các dây chuyền sản xuất có giá trị gia tăng cao trở lại Nhật Bản.

Tham dự cuộc họp nói trên có các nhà lãnh đạo kinh doanh có ảnh hưởng như ông Hiroaki Nakanishi, Chủ tịch Liên đoàn kinh tế Nhật Bản – tổ chức vận động hành lang lớn nhất nước này và thường được biết đến với tên gọi Keidanren. Tại cuộc họp, Thủ tướng Abe phát biểu: “Do dịch COVID-19, ngày càng có ít sản phẩm từ Trung Quốc vận chuyển tới Nhật Bản. Đã có nhiều lo ngại về các chuỗi cung ứng của chúng ta”. Ông Abe nhấn mạnh trong số các sản phẩm của Nhật Bản mà hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào một quốc gia, “cần cố gắng di dời các sản phẩm có giá trị gia tăng cao về Nhật Bản”. Đối với các sản phẩm khác, Abe cho rằng Nhật Bản “cần phải đa dạng hóa (sản xuất) sang các nước khác, chẳng hạn như các nước ASEAN”.

Ông Abe đã có những phát biểu rất rõ ràng trong bối cảnh sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng đang tác động tiêu cực tới việc nhập khẩu linh kiện ô tô và các sản phẩm khác mà Nhật Bản vốn phụ thuộc vào Trung Quốc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp nước này. Điều được Thủ tướng Abe đề cập tới khác hẳn so với quan niệm truyền thống “Trung Quốc+1”, trong đó các công ty sẽ xây dựng thêm một cơ sở ở ngoài Trung Quốc để đa dạng hóa sản xuất. Trên thực tế, ông Abe đã hình thành chính sách “rời bỏ Trung Quốc”.

Tại một quốc gia vẫn đang tập trung vào những tin tức về dịch COVID-19 như Nhật Bản, kế hoạch của ông Abe không thu hút được nhiều sự chú ý. Tuy nhiên, Trung Quốc đang theo dõi một cách cẩn trọng, có lẽ đang cân nhắc xem liệu nước này có sắp phải đối mặt với một làn sóng tháo chạy mới giống như Nhật Bản đã từng trải qua hay không. Một làn sóng như vậy sẽ làm rung chuyển nền tảng mô hình tăng trưởng lâu nay của Trung Quốc.

Trong gói kích thích kinh tế khẩn cấp được thông qua hôm 7/4, Chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi tái thiết các chuỗi cung ứng đang phải chịu thiệt hại do sự lây lan của virus SARS-CoV-2. Chính phủ Nhật Bản dự định sẽ phân bổ hơn 240 tỷ Yen (2,2 tỷ USD) trong kế hoạch ngân sách bổ sung cho năm tài khóa 2020 để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước di dời các cơ sở sản xuất về nước hoặc tìm đến Đông Nam Á để đa dạng hóa hoạt động sản xuất.

Một ngày sau đó, hôm 8/4, Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã nhóm họp tại Bắc Kinh. Phát biểu tại cuộc họp, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhận định: “Trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục lây lan khắp toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái gia tăng. Các nhân tố bất ổn và không chắc chắn đang gia tăng đáng kể”.

Bên cạnh đó, Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn với cách tư duy lấy kết quả làm trung tâm – tức là lường trước những kết quả tồi tệ nhất – và kêu gọi “sẵn sàng trong suy nghĩ và hành động để đối phó với những thay đổi kéo dài của môi trường bên ngoài”.

Không chỉ ở Nhật Bản, tại Mỹ cũng đã bắt đầu xuất hiện các cuộc thảo luận về sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Larry Kudlow, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia của Nhà Trắng, đã bày tỏ ý định xem xét khả năng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước này chi phí di dời các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc về Mỹ. Ý tưởng này phù hợp với chương trình nghị sự “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Nếu Mỹ và Nhật Bản – nền kinh tế lớn nhất và lớn thứ ba thế giới – di dời hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ phải chịu tác động vô cùng to lớn.

Một chủ đề thảo luận khác cũng đang được giới tri thức Trung Quốc thảo luận. Theo biểu đồ tử vi của Trung Quốc, 2020 là năm Tý. Người ta cho rằng cứ mỗi khi đến năm Canh Tý, một sự kiện chấn động lịch sử sẽ xảy ra. Năm 1840, dưới thời triều đại nhà Thanh, Chiến tranh Nha phiến đã nổ ra, dẫn tới sự trì trệ của Trung Quốc trong hơn một thập kỷ. 60 năm sau đó, vào năm 1900, vào cuối triều đại nhà Thanh, lực lượng đồng minh 8 nước, gồm Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Italy, Nga, Nhật Bản và Áo – Hung, đã di chuyển từ Thiên Tân tới Bắc Kinh – một hành động được châm ngòi do cuộc nổi loạn của Nghĩa Hòa Đoàn bắt đầu vào năm 1899. Bộ phim Mỹ “55 ngày tại Bắc Kinh” với sự góp mặt của ngôi sao Charlton Heston, đã mô tả việc các thành viên Nghĩa Hòa Đoàn vây hãm các tòa công sứ nước ngoài ở Bắc Kinh trong cuộc nổi loạn đó.

Năm Canh Tý 1960 đã xảy ra nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt” dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, người sáng lập “một Trung Hoa mới” (hay nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa). Dương Kế Thằng, cựu phóng viên của Tân Hoa xã đã viết cuốn sách với tiêu đề “Bia mộ” mô tả chi tiết về thảm kịch này. Dựa trên cơ sở các phỏng vấn và thu thập thông tin tại hiện trường, Dương Kế Thằng tiết lộ khoảng 36 triệu người đã chết trong nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt”, cao hơn rất nhiều so với số liệu do Trung Quốc công bố.

Vậy điều không may mắn nào sẽ xảy ra ở Trung Quốc trong năm Canh Tý 2020?

Trung Quốc đã vượt qua đỉnh dịch COVID-19. Tuy nhiên, Trương Văn Hoành, người đứng đầu nhóm chuyên gia y tế lâm sàng về SARS-CoV-2, cảnh báo đợt lây nhiễm thứ hai sẽ xảy ra vào tháng 11/2020 hoặc sau đó.

Trong đại dịch cúm Tây Ban Nha giai đoạn 1918 – 1920, đợt lây nhiễm thứ hai nghiêm trọng hơn so với đợt thứ nhất. Kể từ đó đến nay, chưa có đại dịch nào lấy đi nhiều sinh mạng hơn so với đại dịch cúm này. Ước tính vào thời điểm đó có 500 triệu người, chiếm khoảng 1/3 dân số trên hành tinh, đã bị nhiễm bệnh, trong đó có 50 triệu người đã thiệt mạng.

Chung Nam Sơn, một bác sỹ 83 tuổi, đã nổi lên từ năm 2003 khi ông đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại hội chứng hô hấp cấp tính (SARS). Bác sỹ này cảnh báo rằng virus SARS-CoV-2 đã biến đổi, và tỷ lệ tử vong do virus này gây ra đã tăng gấp 20 lần so với virus cúm.

SARS-CoV-2 khởi phát từ Trung Quốc vào cuối năm 2019, sau đó lây lan khắp toàn cầu. Việc Trung Quốc kiểm soát thông tin và mạng xã hội liên quan tới dịch bệnh này cho đến giữa tháng 1/2020 và phản ứng chậm chạp của Bắc Kinh trước cuộc khủng hoảng y tế công cộng này trong giai đoạn đầu đã dẫn tới thảm họa và châm ngòi cho sự phản đối của quốc tế. Tổng thống Trump từng nhiều lần gọi SARS-CoV-2 là “virus Trung Quốc”.

Dư luận thế giới sẽ có ảnh hưởng tới việc thiết lập lại trật tự thế giới sau dịch COVID-19. Dựa trên tình hình hiện tại, những nước đưa ra sáng kiến sẽ là Mỹ và Trung Quốc.

Ở Trung Quốc cổ đại, những thẻ tre là phương tiện chủ yếu để lưu trữ văn bản trước khi giấy xuất hiện. Nhờ có thẻ tre, các văn bản chính thức được lưu giữ cho hậu thế, và việc khắc lên các thẻ tre này có ý nghĩa quan trọng đối với một vị hoàng đế. Nếu đại dịch COVID-19 làm thay đổi triệt để trật tự thế giới trong thế kỷ 21, thì các thẻ tre đó sẽ khắc tên Mỹ hay Trung Quốc? Trung Quốc không được phép thua cuộc.

Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào việc Mỹ và Trung Quốc sẽ tái thiết nền kinh tế của mình như thế nào sau đại dịch. Nếu các công ty lớn của nước ngoài rút khỏi Trung Quốc, thì đ1o sẽ là một trở ngại không nhỏ đối với sự phục hồi kinh tế của nước này.

Nguồn: Nikkei Asia Review – 16/04/2020

TLTKĐB –  21/04/2020

Cuộc chạy đua điều chế vaccine phòng chống COVID-19 tăng tốc tại Mỹ và Trung Quốc


Ba loại vaccine phòng dịch COVID-19 đang được đưa vào giai đoạn thử nghiệm trên người tại Trung Quốc và Mỹ, song đó vẫn là một con đường rất dài để xem xét liệu những loại dược phẩm này có thực sự hiệu quả hay không.

Theo thông báo từ Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ngày 14/4, phòng Thí nghiệm Sinh học CanSino (trụ sở tại Thiên Tân) của Trung Quốc đã bắt đầu giai đoạn thử nghiệm thứ hai với các tình nguyện viên.

Trong khi đó, Mỹ cũng không chậm chân hơn với hoạt động nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) khi tình nguyện viên thử vaccine tháng trước đã tới phòng nghiên cứu tại Seattle ngày 14/4 để tiêm liều vaccine thứ hai.

Tổ chức Y tế Thế giới trong tuần này cho biết trên khắp thế giới có hơn 60 loại vaccine đang trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Nhiều nhóm nghiên cứu cũng đã phối hợp với nhau để đẩy nhanh công việc, như tập đoàn Sanofi và GSK là những đối tác mới nhất thự chiện kế hoạch này.

Nỗ lực tại Trung Quốc

Vaccine của phòng thí nghiệm CanSino là vaccine tái tổ hợp do nhóm nghiên cứu của nhà dịch tễ học, Thiếu tướng Chen Wei (Trần Vi), làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Quân y. Đây là loại vaccine đầu tiên được đưa vào thử nghiệm lâm sàng dựa trên một vật liệu di truyền vốn được tạo ra để kháng lại virus ebola. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Mỹ đi theo hướng điều chế vaccine từ việc sao chép một phần bộ gen của virus corona.

Về vaccine của CanSino, giai đoạn I của quá trình thử nghiệm đã hoàn tất vào tháng 3/2020 và giai đoạn II bắt đầu từ ngày 12/4/2020. WHO cũng xác nhận đây là vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thứ hai. Trong giai đoạn hai, tình nguyện viên không còn bị giới hạn độ tuổi dưới 60. Bà Chen cho rằng người cao tuổi là nhóm đối tượng dễ bị lây nhiễm và tiến triển năng khi nhiễm SARS-CoV-2, vì vậy, các loại vaccine nên được điều chế để tạo thành lá chắn cho nhóm đối tượng này. Vaccine mang theo gen của các protein bề mặt (lồi thành dạng gai) của virus SARS-CoV-2 (đã giảm độc lực) được tiêm vào cơ thể tình nguyện viên để từ đó vật chủ xây dựng hệ thống miễn dịch với các protein này. Khi SARS-CoV-2 thực sự tấn công, cơ thể sẽ nhận dạng loại protein đó và ngăn chặn cuộc tấn công của chúng.

Wu Yuanbin, Vụ trưởng Vụ Công nghệ khoa học phát triển xã hội thuộc Bộ Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc, cho biết hai đơn vị khác được cấp phép thử nghiệm vaccine trên người là Viện sản phẩm sinh học Vũ Hán, thuộc Tập đoàn Dược phẩm Quốc gia (Sinopharm) (phối hợp cùng Viện virus Vũ Hán, Học viện Khoa học Trung Quốc); và Công ty Nghiên cứu và phát triển Sinovac. Hai đơn vị này đều phát triển các loại vaccine bất hoạt (chứa virus được nuôi cấy nhân tạo nhưng không còn khả năng gây bệnh).

Cũng theo ông Wu, Trung Quốc đang triển khai 5 cách tiếp cận trong quá trình phát triển vaccine phòng COVID-19, cụ thể là các vaccine bất hoạt, vaccine tái tổ hợp protein, vaccine sử dụng loại virus không chứa các đặc tính truyền nhiễm mà cung cấp vật liệu di truyền cho vật chủ, vaccine nucleic acid và vaccine dùng virus cúm đã được giảm độc lực làm vật chủ. Các nghiên cứu đều đang được gấp rút đẩy mạnh.

Nhấn mạnh an toàn là ưu tiên hàng đầu, ông Wang khẳng định, quá trình thử nghiêm lâm sàng vaccine luôn được tiến hành theo 3 giai đoạn. Giai đoạn I là thử nghiệm với vài chục tình nguyện viên để xác định độ an toàn của vaccine và sức chịu đựng của cơ thể con người với các liều khác nhau. Giai đoạn II sẽ có vô số người tham gia thử nghiệm nhiều hơn để xác định độ hiệu quả và an toàn. Giai đoạn III có thể được tiến hành với khoảng vài nghìn, cho đến vài chục nghìn người với thời gian theo dõi có thể là cả một chu kỳ dịch bệnh để quyết định hiệu quả của loại vaccine đó và xây dựng cơ sở khoa học nhằm đưa vào sử dụng.

Mũi thử nghiệm thứ hai tại Mỹ

Ngày 14/4, tình nguyện viên thử nghiệm vaccine mRNA-1273 tại Mỹ đã được tiêm mũi thứ hai. Đây là sản phẩm của NIH và công ty công nghệ sinh học Mordena hợp tác nghiên cứu và phát triển. Loại vaccine không chứa virus vì vậy giảm thiểu khả năng lây nhiễm.

Tiến sĩ Anthony Fauci, người đứng đầu khoa lây nhiễm của NIH chia sẻ với phóng viên hãng tin AP rằng cho đến nay, họ chưa ghi nhận bất kỳ cảnh báo nguy hiểm nào và hy vọng việc thử nghiệm trên quy mô rộng hơn sẽ được bắt đầu vào khoảng tháng 6 tới. Tiến sĩ Fauci cho rằng nếu dịch COVID-19 tiếp tục lan rộng suốt cả mùa Hè và mùa Thu tới, nhiều khả năng các nhà khoa học sẽ “nỗ lực hoàn thành các nghiên cứu quy mô sớm hơn khoảng thời gian dự kiến là 12 – 18 tháng”.

Doanh nghiệp Inovio Pharmaceuticals cũng bắt đầu đưa vaccine nghiên cứu vào thử nghiệm lần hai, và hy vọng có thể mở rộng các nghiên cứu tới Trung Quốc nhờ quá trình đàm phán với công ty công nghệ sinh học Advaccine Bắc Kinh.

Các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I chủ yếu chú trọng tới tính an toàn, và các nhà khoa học ở cả Mỹ và Trung Quốc đều đang thử các liều lượng khác nhau cho từng loại vaccine. Tuy nhiên, việc tiến tới giai đoạn thử nghiệm thứ hai là bước tiến quan trọng cho phép vaccine có thể được thử nghiệm trên người nhiều nhơn để quan sát và ghi nhận các dấu hiệu miễn dịch của các tình nguyện viên này.

Nguồn: TKNB – 17/04/2020.

Trump giúp Trung Quốc tạo dựng ảnh hưởng? – Phần cuối


Bắc Kinh thậm chí còn tận dụng các gã khổng lồ công nghệ của mình trong nỗ lực xây dựng lại thương hiệu quản trị toàn cầu. Liên hợp quốc gần đây đã đưa ra thông  báo rằng họ đang hợp tác với Tencent, công ty phần mềm giám sát lớn nhất Trung Quốc, để tổ chức các hội nghị trực tuyến và các hoạt động thông tin trực tuyến khác liên quan tới lễ kỷ niệm 75 năm thành lập tổ chức này vào tháng 9 tới. Năm 2018, Chương trình phát triển Liên hợp quốc cũng đã hợp tác với Tencent để giải quyết các thách thức về môi trường và đô thị ở những nước đang phát triển thông qua các nền tảng kỹ thuật số kết nối các cơ quan của chính quyền địa phương với các doanh nhân.

Và khi công nghệ của họ đã len lỏi vào toàn bộ tổ chức này, Trung Quốc đã bắt tay với Nga thể chế hóa các chuẩn mực quốc tế xung quanh hoạt động giám sát và kiểm duyệt, bao gồm cả việc thông qua nghị quyết chung của Liên hợp quốc về tội phạm mạng vào tháng 11/2019 để trao cho các chính phủ độc đoán thẩm quyền lớn hơn trong việc kiểm duyệt và đàn áp bất đồng chính kiến trên mạng.

Bằng tất cả những cách này, Trung Quốc đang từng  bước phá vỡ thành công các chuẩn mực dân chủ tự do, chi phối luồng thông tin tự do và tìm cách tạo ra một môi trường  thông tin toàn cầu có lợi cho việc tuyên truyền và kiểm soát thông tin của nhà nước.

Hầu như chẳng có gì ngạc nhiên khi Bắc Kinh, sau nhiều năm xây dựng nền móng, đã có thể biến dịch COVID-19 từ một sự kiện gây bối rối thành cơ hội để mở rộng ảnh hưởng của họ tại Liên hợp quốc. Cho dù Trung Quốc ban đầu phủ nhận khả năng virus lây nhiễm từ người sang người và cản trở các chuyên gia của WHO vào nước này, nhưng Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus vẫn còn nhiều lần ca ngợi Chính phủ Trung Quốc về phản ứng của nước này trước sự bùng phát của dịch COVID-19. (Có lẽ điều trớ trêu là dù nhận được nhiều tin tức về những bước đi sai lầm của Chính quyền Trump trong giai đoạn đầu của đại dịch, nhưng Tedros cũng không chỉ trích phản ứng của Mỹ).

Hẳn là Tedros không muốn bị các nhà lãnh đạo Trung Quốc xa lánh vào thời điểm ông uốn đưa các điều tra viên của WHO tới Vũ Hán. Tuy nhiên, đối với các cơ quan Liên hợp quốc đang gặp khó khăn, nguồn tài trợ và ảnh hưởng đi đôi với nhau. Tháng 3, chỉ vài tuần trước khi Trump bắt đầu nói về việc cắt tài trợ cho WHO, Trung Quốc đã tuyên bố góp 20 triệu USD cho tổ chức này để chống dịch COVID-19.

Thế nhưng, Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn trong WHO từ rất lâu trước khi dịch COVID-19 bùng phát. Năm 2017, Tedros đã ca ngợi vai trò của sáng kiến “Vành đai và Con đường” trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao và nhắc lại lời kêu gọi của Bắc Kinh về việc tạo ra “Con đường tơ lụa y tế” để quảng bá mô hình chăm sóc sức khỏe của Trung Quốc tại nhiều quốc gia thuộc dự án “Vành đai và Con đường”. Điều này diễn ra chỉ vài tháng sau khi các đại diện của Ethiopia, quê hương của Tedros, tham dự Diễn đàn “Vành đai và Con đường” lần thứ nhất của Trung Quốc được tổ chức tại Bắc Kinh, đánh dấu thời điểm đầu tư ồ ạt của Trung Quốc và Ethiopia trong những năm qua đã đạt đỉnh. Trung Quốc hiện đang thúc đẩy “Con đường tơ lụa y tế” để khẳng định vai trò lãnh đạo toàn cầu thông qua việc tiến hành các cuộc trao đổi ngoại giao với các nhà lãnh đạo trên khắp châu Âu, Mỹ Latinh và châu Phi để triển khai các hoạt động cung cấp trang thiết bị y tế và viện trợ cho các quốc gia bị tổn hại nặng nề như Italy.

Các chính phủ trên khắp trên châu Á và phương Tây vẫn đang bận rộng với việc kiềm chế sự lây lan của virus khi dịch COVID-19 tàn phá nền kinh tế và làm suy giảm dân số của họ. Tuy nhiên, một khi cuộc khủng hoảng này qua đi, Bắc Kinh và Liên hợp quốc sẽ có cơ hội để kiểm nghiệm mọi việc.

Khi vai trò lãnh đạo tinh thần của họ không bị thách thức bởi một lựa chọn thay thế, Trung Quốc có thể trở nên táo bạo hơn trong việc lôi kéo Liên hợp quốc và đẩy nhanh các xu hướng hiện tại nhằm biến tổ chức này thành một diễn đàn ủng hộ các sáng kiến chính sách đối ngoại của mình. Dịch COVID-19 đã cho thấy hình hài của một thế giới như vậy: Các quốc gia phần lớn sẽ phải tự bảo vệ mình trong một cuộc khủng hoảng xuyên biên giới trong khi Đảng Cộng sản Trung Quốc tung ra chiến dịch tuyên truyền về vai trò lãnh đạo toàn cầu của nhà nước này. Điều đáng tiếc là vì không có một cơ quan điều phối quốc tế đứng ra thu thập thông tin nhất quán, minh bạch và đưa ra các chỉ dẫn rõ ràng, nên chính phủ và dân chúng các nước đã không có sự chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với sự tàn phá của dịch COVID-19 – và điều này sẽ còn lặp lại trong tương lai.

Nếu không thể chấp nhận tầm nhìn đó thì đây là lựa chọn thay thế: Đại dịch và hậu quả của nó có thể khuyến khích Mỹ cùng các đồng minh và đối tác dân chủ của nước này chung tay ủng hộ các giá trị chung, trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, mà Trung Quốc muốn Liên hợp quốc bỏ qua. Giờ đây, các nhà lãnh đạo Mỹ phải quyết định có nên tái khẳng định cam kết của Mỹ về chủ nghĩa đa phương và hợp tác với các đồng minh để chống lại nỗ lực của Trung Quốc trong việc làm xói mòn trật tự dựa trên các quy tắc hiện tại hay không và cách thức tiến hành việc này.

Điểm xuất phát sẽ là một chiến dịch tìm kiếm sự thật về nguồn gốc của dịch COVID-19 và những sai lầm ban đầu của ban lãnh đạo Trung Quốc. Có thể bắt đầu chiến dịch này bằng việc gây sức ép buộc WHO phải cung cấp thông tin trung thực về cách Bắc Kinh xử lý dịch bệnh, ngoài những thông tin mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra thông qua bộ máy tuyên truyền của nhà nước. Đáng chú ý là Chính quyền Trump và các thượng nghị sĩ Mỹ đã bắt đầu kêu gọi điều tra, cho dù họ chưa đưa ra một cách thức tiến hành rõ ràng nào; việc cắt tài trợ cho WHO chắc chắn đã khiến Mỹ hầu như chẳng có đồng minh để tiến hành cuộc điều tra này.

Cũng không nên lãng phí cơ hội thúc đẩy hoạt động bảo vệ nhân quyền. Mỹ và các quốc gia cùng chung chí hướng có thể kêu gọi Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền tiến hành một cuộc điều tra độc lập về việc bác sĩ Lý Văn Lượng ở Vũ Hán, người đã sớm lên tiếng cảnh báo về virus SARS-CoV-2, bị bịt miệng và giam giữ. Trái với cuộc điều tra của giới chức Trung Quốc mà không mang lại kết quả gì ngoài một lời xin lỗi được gửi đến gia đình bác sĩ Lý Văn Lượng, những phát hiện của cuộc điều tra này cần được công khai. Điều này cuối cùng có thể tạo động lực thúc đẩy việc đưa ra một giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của các chuyên gia y tế và chăm sóc sức khỏe, những người lên tiếng chống lại những sai sót của các thể chế, trong đó có WHO, trên quy mô rộng lớn.

Trên thực tế, Mỹ lẽ ra có lợi thế đáng kể để làm điều đó. Mỹ và các đồng minh vốn là những nước đóng góp hàng đầu cho WHO: Chỉ riêng Mỹ đã cung cấp khoảng 22% ngân sách cho tổ chức này, so với mức đóng góp 12% của Trung Quốc. Trung Quốc là nước có đóng góp tài chính lớn thứ hai cho toàn bộ hệ thống của Liên hợp quốc, nhưng vẫn còn kém xa Mỹ – nước đóng góp nhiều nhất.

Tuy nhiên, Mỹ nên tận dụng lợi thế đó để thúc đẩy một câu chuyện thay thế chứ không phải ngừng tài trợ cho WHO. Trong bài phát biểu vào năm 1942 nhân dịp kỷ niệm ngày ký kết Hiến chương Đại Tây Dương, Franklin D. Roosevelt đã đề cập đến một chương trình gồm các mục đích và nguyên tắc chung mà trong đó, niềm tin vào cuộc sống, tự do, độc lập, quyền tự do tôn giáo, cũng như việc bảo vệ nhân quyền và công lý là kim chỉ nam cho việc thành lập Liên hợp quốc.

Dịch COVID-19 đã cho thế giới thấy dưới ảnh hưởng của Trung Quốc, Liên hợp quốc đang dần biến thành một tổ chức xa rời các nguyên tắc sáng lập ra nó. Thay vì phục vụ các lợi ích của thế giới, tổ chức quốc tế này đang ngày càng ủng hộ các bên tham gia độc đoán, đặc biệt là Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Vì vậy, nếu các nhà lãnh đạo Mỹ không thích cách WHO xử lý dịch COVID-19 bùng phát ở Trung Quốc, thì câu hỏi là liệu họ có sẵn sàng gánh vác trách nhiệm hay không? Dịch COVID-19 đã cho thấy việc kỳ vọng các tổ chức quốc tế sẽ đứng lên chống lại Trung Quốc trong khi nền dân chủ hàng đầu thế giới lại thoái thác vai trò lãnh đạo toàn cầu là điều nực cười. Các quốc gia đang khao khát những lựa chọn có ý nghĩa để thay thế vai trò lãnh đạo của Trung Quốc, và sẽ ủng hộ Mỹ nếu nước này quyết định tái can dự với Liên hợp quốc. Đương nhiên, bước đi đầu tiên của Mỹ sẽ phải là khôi phục nguồn tài trợ cho WHO.

Nguồn: Politico – 15/04/2020

TLTKĐB – 21/04/2020

Trump giúp Trung Quốc tạo dựng ảnh hưởng? – Phần đầu


Mặc dù đã đưa ra những lời đe dọa nhưng việc Tổng thống Trump ngừng tài trợ WHO thực sự giúp ích cho Trung Quốc trong chiến lược mới đầy tinh vi của nước này nhằm tạo dựng ảnh hưởng.

Tổng thống Trump đã quyết định ngừng tài trợ cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) với cáo buộc rằng tổ chức này đã nhún nhường Trung Quốc trong giai đoạn đầu của dịch COVID-19 khi khen ngợi tính minh bạch của Chính phủ Trung Quốc và mặc nhiên chấp nhận các tuyên bố của Bắc Kinh như virus SARS-CoV-2 không thể lây từ người sang người. Trump cho rằng WHO đã lấy Trung Quốc làm trung tâm.

Có thể dễ dàng lên án động thái này là hành vi né tránh trách nhiệm, một kiểu đe dọa hay một biểu hiện của chủ nghĩa cô lập thiển cận mang phong cách đặc trưng của Trump. Tuy nhiên, đối với những người đã và đang theo dõi sát sao các hoạt động ngày một tích cực của Trung Quốc tại Liên hợp quốc, việc WHO tôn trọng Trung Quốc chẳng phải là điều đáng ngạc nhiên. Trên thực tế, đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm – và Trump đang nhắm thẳng vào đó.

Khổng thể hiểu được ảnh hưởng của Bắc Kinh đối với WHO nếu tách rời nó khỏi một chiến dịch dài hơi và trên quy mô rộng lớn hơn nhằm điều chỉnh quỹ đạo quản trị toàn cầu theo hướng thiển cận, ưu tiên lợi ích của các bên tham gia độc đoán.

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã đưa các công dân của mình vào vị trí lãnh đạo một loạt các cơ quan của Liên hợp quốc theo một cách có hệ thống. Từ năm 2019, Khuất Đông Ngọc – cựu Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và các vấn đề nông thôn – đã đảm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc. Năm 2018, Triệu Hậu Lân – ban đầu chỉ là một cán bộ của Bộ Bưu chính viễn thông – đã trúng cử Tổng thư ký Liên minh Viễn thông quốc tế nhiệm kỳ hai, một cơ quan trọng yếu có nhiệm vụ đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các mạng viễn thông. Triệu Hậu Lân đã tận dụng chức vụ của mình để đưa Huawei trở thành nhà cung cấp thiết bị viễn thông 5G trên toàn thế giới. Năm 2017, Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres đã bổ nhiệm Lưu Chấn Dân, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, vào một vị trí chủ chốt trong Vụ Liên hợp quốc về các vấn đề kinh tế và xã hội – một cơ quan được giao nhiệm vụ xúc tiến chương trình đặc trưng của Liên hợp quốc nhằm thúc đẩy sự phát triển, chống biển đổi khí hậu và giảm bớt tình trạng bất bình đẳng. Ngay cả Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế, cơ quan của Liên hợp quốc chịu trách nhiệm điều tiết hoạt động hàng không toàn cầu do Lưu Phương, một công dân Trung Quốc, đứng đầu cũng đã bị cáo buộc không thông báo cho Đài Loan về kế hoạch phòng chống dịch COVID-19.

Việc các công dân Trung Quốc nắm quyền chi phối những cơ quan chủ chốt của Liên hợp quốc phần nào phản ánh thủ đoạn ngoại giao tinh vi của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc đang trỗi dậy, và vị thế nền kinh tế lớn thứ hai thế giới của nước này. Tuy nhiên, điều này cũng có khả năng là do khoảng trống mà nước Mỹ dưới thời Trump đã để lại sau khi thoái thác vai trò lãnh đạo trước đây của họ trong các tổ chức quốc tế. Khi Trung Quốc tìm cách cải tổ lại Liên hợp quốc và các thể chế quốc tế khác theo hướng có lợi cho mình, họ sẽ để lại một hệ thống toàn cầu đã bị mất cân bằng do thiếu vắng khả năng lãnh đạo vững vàng của Mỹ. Ngay cả giữa đại dịch toàn cầu, Washington vẫn tiếp tục gửi đi những tín hiệu mập mờ về cam kết của họ về chủ nghĩa đa phương.

Trong bối cảnh này, việc ông Trump quyết định ngừng tài trợ cho WHO không chỉ là hành động mang tính đối phó mà xét theo nghĩa đen, hành động đó đúng là làm lợi cho Trung Quốc. Việc Mỹ hạ thấp vai trò của mình trong WHO và các tổ chức khác của Liên hợp quốc đồng nghĩa với việc họ sẽ nhường cho Trung Quốc vị trí và tầm ảnh hưởng thậm chí còn lớn hơn. Đây chính là điều mà Trung Quốc mong muốn.

Vì vậy, đối với những người Mỹ hiện đang đổ lỗi cho WHO vì đã không làm tốt hơn trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, có một câu hỏi quan trọng cần họ giải đáp: Nếu Mỹ muốn các tổ chức quốc tế hành động theo tiêu chuẩn của Mỹ và phản ánh các giá trị của Mỹ, thì nước này sẽ sẵn sàng đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn cầu đến mức nào?

Không nên bỏ qua việc Trung Quốc lợi dụng dịch COVID-19 để củng cố vị thế quốc tế của mình. Quả thật, khi đại dịch này phá vỡ mọi giả định về cách thức hoạt động của Liên hợp quốc thì đó có lẽ là cơ hội tốt nhất để Washington tăng cường cam kết về việc đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn cầu nhằm đảm bảo tính minh bạch, sự tự do và nhân quyền cho tất cả mọi người. Sẽ là như vậy nếu Tổng thống Mỹ sẵn sàng thay đổi lập trường.

Khi cuộc Chiến tranh Lạnh lên đến đỉnh điểm vào năm 1974, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã đứng trước Đại hội đồng Liên hợp quốc và tố cáo Mỹ theo đuổi bá quyền thế giới. Ông đã cảnh báo về việc các siêu cường như Mỹ khi đó đang gây ảnh hưởng quá lớn đối với Liên hợp quốc và các cơ quan quốc tế khác, cũng như kêu gọi chống lại bất kỳ nước nào đang thiết lập phạm vi ảnh hưởng của mình. Hơn 40 năm sau, Trung Quốc lại làm đúng điều mà họ cáo buộc Mỹ làm khi đó.

Trong một bài phát biểu vào tháng 10/2017 tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 19, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã phác họa tầm nhìn của ông về việc tích cực tham gia cải cách hệ thống quản trị toàn cầu. Mặc dù ông chỉ đưa ra những nét đại cương về việc dân chủ hóa các mối quan hệ quốc tế và đặt các nước đang phát triển ở vị trí ngang hàng nhau trong hệ thống quản trị toàn cầu, nhưng giới quan sát Trung Quốc hiểu rằng đó là mục tiêu then chốt đã được theo đuổi trong nhiều năm.

Kể từ đó, Bắc Kinh đã nhanh chóng chuyển sang áp đặt các giá trị phi tự do của họ đối với các tổ chức quốc tế. Bằng việc kết hợp giữa khéo léo xây dựng liên minh, tính toán thời điểm chiến lược khi đóng góp tài chính và nỗ lực định hình các câu chuyện, Bắc Kinh đã đạt được tiến triển trong việc biến Liên hợp quốc thành một diễn đàn có lợi cho chương trình nghị sự chính sách đối ngoại của họ, bao gồm việc thúc đẩy lợi ích kinh tế của Trung Quốc, bóp nghẹt bất đồng chính kiến và dân chủ, và làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc.

Có thể nhận thấy những nỗ lực này ở gần như mọi ngóc ngách của Liên hợp quốc. Ngoài vai trò lãnh đạo trong các cơ quan cụ thể khác nhau như Liên minh Viễn thông quốc tế và Tổ chức  Lương thực và nông nghiệp, Trung Quốc cũng đang điều chỉnh lại các sáng kiến đa phương đặc trưng của Liên hợp quốc nhằm thúc đẩy các mục tiêu hạn hẹp cả về kinh tế và chính trị của nước này. Trung Quốc đang thách thức điều mà họ nhìn nhận là nguyên trạng có lợi cho phương Tây trong các thể chế quốc tế và thay thế nó bằng chuẩn mực mới (dưới vỏ bọc cải tiến công nghệ) để chấp nhận sự giám sát và kiểm duyệt của chính phủ. Trung Quốc đang sử dụng sáng kiến “Vành đai và Con đường” đặc trưng của Tập Cận Bình, một nỗ lực thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng toàn cầu, như một công cụ vạn năng để đẩy mạnh sự phát triển bền vững (ngay cải khi nó tạo ra công ăn việc làm cho các công ty Trung Quốc và mở rộng ảnh hưởng chính trị của nước này trong thế giới các nước đang phát triển).

Trong Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 2019, Trung Quốc đã đưa đề xuất xây dựng cái gọi là Liên minh Phát triển xanh quốc tế trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường” với mục đích xây dựng các tiêu chuẩn, bí quyết và thói quen tốt xung quanh việc bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo rằng sáng kiến “Vành đai và Con đường” mang lại sự phát triển xanh và bền vững trong dài hạn cho tất cả các nước liên quan. Đây là một chiêu quảng bá thông minh, vì các dự án “Vành đai và Con đường” đã hứng chịu nhiều lời chỉ trích vì sự coi thường các biện pháp bảo vệ môi trường. Nói rộng ra, Trung Quốc đã lấy Các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc làm cái cớ để thúc đẩy chiến lược kinh tế “Vành đai và Con đường” của Tập Cận Bình; Tổng thư ký Liên hợp quốc Guterres khi phát biểu tại Diễn đàn “Vành đai và Con đường” năm 2019 ở Bắc Kinh đã ca ngợi việc gắn kết sáng kiến “Vành đai và Con đường” với Các mục tiêu phát triển bền vững.

(còn tiếp) 

Nguồn: Politico – 15/04/2020

TLTKĐB – 21/04/2020

Châu Á và các chính sách tiền tệ khác thường thời COVID-19


Do đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 mà các nhà hoạch định chính sách của khu vực châu Á đang có những bước đi vốn trước đó chưa từng được tính đến. Ngân hàng trung ương có thể sẽ có các biện pháp khác xưa.

Cuộc chiến trên mặt trận kinh tế đối với COVID-19 đã đẩy châu Á vào tuyến đầu của sự ứng phó chính sách toàn cầu. Chính sách tiền tệ ở châu Á đã rơi vào tình trạng không chắc chắn mới, vốn thậm chí chưa từng được biết đến trong thời kỳ diễn ra cuộc Đại suy thoái và cuộc khủng hoảng tài chính châu Á trong những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ trước. Các biện pháp mà ngân hàng trung ương ở châu Á triển khai là chưa từng có tiền lệ và tác động của các quyết sách mà các thống đốc ngân hàng trung ương đưa ra chưa từng khi nào mang tính chất vĩ mô hơn lúc này. Sự thay đổi này thể hiện theo hai cách thức.

Điều dễ nhận ra trước tiên, giới chức quản lý tiền tệ châu Á đã đưa ra hàng loạt tuyên bố. Chi phí cho vay đã được giảm ở mức thấp nhất. Nếu như ý tưởng về việc các Ngân hàng Trung ương châu Á – trừ Nhật Bản – cần tiến hành chính sách nới lỏng định lượng chỉ mới gần đây được coi là chuyện nực cười thì giờ lại đang xảy ra. Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách đã gạt lo lắng về sự tăng giá cả hàng hóa sang một bên. Vì khi nguồn cầu đổ vỡ ở châu Á cũng giống như hiện tượng xảy ra ở phương Tây thì sẽ không có hiện tượng lạm phát. Việc thể hiện vai trò tăng cường của châu Á trong vấn đề tiền tệ ở đây có phần tinh tế hơn song không kém phần sâu sắc.

Ở khu vực châu Á, không có một quốc gia nào điển hình cho sự sụp đổ kinh tế thế giới như Australia. Khi đại dịch bùng phát, Ngân hàng Dự trữ Australia (Ngân hàng Trung ương) hôm 19/3 đã cắt giảm lãi suất xuống 0% và triển khai chương trình nới lỏng định lượng nhằm duy trì lợi tức trái phiếu thời giạn 3 năm ở mức 0,25%, một biện pháp tương tự như Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện. Dịch bệnh này có thể là “nấm mồ” chôn vùi sự phát triển của Australia, điều khiến nước này có thể thực hiện chính sách tiền tệ thông thường.

Nếu như quốc gia châu Á nào đó thực hiện chính sách tiền tệ ở mức độ khác hẳn so với quá khứ thì phải kể đến Indonesia, Philippines và Hàn Quốc. Vốn có thành tích không mấy vui vẻ gì khi đối phó với các cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế trước đây, Indonesia lần này quyết không phạm phải sai lầm cũ. Mặc dù Ngân hàng Trung ương Indonesia chưa cắt giảm lãi suất xuống 0% từ mức chuẩn 4,5% hiện nay song ngân hàng này đã được phép mua nợ chính phủ từ thị trường sơ cấp. Ngân hàng Trung ương Philippines thì đang mua nợ chính phủ ở thị trường thứ cấp. Các chính sách này nhằm giúp chính phủ hai nước có thêm sức mạnh tài chính để đối phó với dịch bệnh và làm tăng giá trị đồng nội tệ. Hiện cả Indonesia và Philippines đều bị thâm hụt tài khoản vãng lai, khiến họ có nguy cơ đánh mất sự hấp dẫn đối với giới đầu tư nước ngoài. Còn tại Hàn Quốc – nền kinh tế công nghiệp hiện đại hàng đầu thế giới – giới chức nước này đã tiến hành mua trái phiếu chính phủ ngay cả trước khi cắt giảm lãi suất cơ bản về 0%.

Trong tài liệu đánh giá về chính sách của châu Á, giới chuyên gia kinh tế Deutsche Bank AG nhận xét: “Không có gì ngạc nhiên khi chứng kiến chính phủ một số nền kinh tế đang nổi phải tìm cách làm theo cách giải cứu mà Mỹ, châu Âu và Nhật Bản phải thực hiện khi để ngân hàng trung ương phải chấn nhận thực hiện ch1inhs ách này trước khi họ tận dụng triệt để các chính sách truyền thống”.

Về phần mình, Trung Quốc đã tránh thiết lập một vòng quay tiền tệ mới để đối phó với cuộc khủng hoảng y tế. Thay vào đó, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã không ngừng điều chỉnh lãi suất xuống mức thấp dần, song lo ngại có thể gây ra tình trạng tích lũy nợ vốn từng là hệ quả của các nỗ lực kích thích kinh tế hồi năm 2008. Bắc Kinh cũng đã cắt giảm các yêu cầu dự trữ đối với các ngân hàng và thông qua hệ thống ngân hàng để tăng cấp vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách tài hóa cũng đã được nới lỏng dù không đáng kể như ở Mỹ và Nhật Bản.

Tương lai của châu Á là gì? Các biện pháp tiền tệ khác thường nói trên khó có thể sớm bị gỡ bỏ. Mộ tkhi các chính phủ và những người nắm giữ trái phiếu đã trở nên quen với các chính sách này thì khó có thể bỏ đi được. Các nhà hoạch định chính sách ở Indonesia và Philippines có thể gây ra hiện tượng “taper tantrums” nếu họ thử làm vậy. (Taper tantrums – chỉ sự tụt dốc mạnh của thị trường chứng khoán và giá trị đồng tiền của các nền kinh tế mới nổi khi nhà đầu tư quốc tế rút vốn khỏi đó hồi năm 2013). Chí ít, một số trợ cấp và công cụ nhà nước được huy động để đối phó với tác động của dịch bệnh sẽ vẫn được duy trì. Điều này đồng nghĩa với việc ngân sách nhà nước cần phải được cấp vốn. Giờ đây khi Australia đã thực hiện chính sách nới lỏng định lượng thì nước này sẽ rút khỏi chính sách này bằng cách nào? Tương tự, Nhật Bản đã khi nào rút bỏ chính sách định lượng hay chưa? E rằng điều này khó có thể xảy ra.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 22/04/2020