Sáng kiến hàng hải của “Bộ tứ” thúc đẩy quân sự hóa Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương


Trang CNBC của Mỹ ngày 8/6, đăng bài nhận định sáng kiến của nhóm “Bộ tứ” (gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản) sử dụng vệ tinh để theo dõi chuyển động của tàu ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể dẫn đến gia tăng nỗ lực quân sự hóa trong khu vực.

Thiếu tướng Dhruv Katoch của Quân đội Ấn Độ nói: “Dù hiện tại không phải là một tổ chức an ninh, song “Bộ tứ” có khả năng nhanh chóng biến thành một tổ chức như vậy. Nếu sự hiếu chiến của Trung Quốc đe dọa các nước ASEAN, có lẽ các nước Đông Nam Á sẽ có xu hướng tham gia một nhóm như “Bộ tứ””.

Lý do sáng kiền này gây quan ngại về mặt quân sự là vì chương trình được điều khiển bởi lực lượng hải quân của bốn quốc gia gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Chương trình “Đối tác Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhận thức trong lĩnh vực hàng hải” (IPMDA), được công bố tại hội nghị thượng đỉnh nhóm “Bộ tứ” ở Tokyo vào tháng 5 càng khiến tình trạng cảnh giác được nâng cao.

An ninh hàng hải Ấn Đô Dương – Thái Bình Dương

IPMDA sẽ chia sẻ dữ liệu vệ tinh thương mại có sẵn và cảnh báo các quốc gia Đông Nam Á khi có hành vi xâm phạm lãnh thổ, đánh bắt trái phép, buôn lậu hoặc cướp biển trong vùng biển thuộc ranh giới hàng hải của các nước này. Tuyên bố của Nhà Trắng nêu rõ: “Sáng kiến này sẽ chuyển đổi khả năng của các đối tác ở quần đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương trong việc giám sát đầy đủ vùng bên bờ, đồng thời duy trì một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”.

Theo Nhà Trắng, dữ liệu về chuyển động của tàu sẽ được chia sẻ với các bên tham gia tại 4 “trung tâm tổng hợp thông tin” ở Ấn Độ, Singapore, Quần đảo Solomon và Vanuatu – một quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương. Thiếu tướng Katoch nhấn mạnh: “Quyết định của “Bộ tứ” cung cấp dữ liệu từ các vệ tinh thương mại cho các quốc gia trên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ mang lại giá trị to lớn cho khu vực. Ở Biển Đông, sáng kiến này giúp tăng cường hợp tác giữa một số nước ASEAN và “Bộ tứ””.

Cơ chế hoạt động của IPMDA

Nhà Trắng cho biết IPMDA sẽ theo dõi các tàu muốn tránh bị phát hiện bằng cách tắt bộ phát truyền dữ liệu nhận dạng và vị trí. IPMDA cũng sẽ xác định các hoạt động cấp chiến thuật khác như vận chuyển trái phép vũ khí bị cấm hoặc đánh cá bất hợp pháp. Dữ liệu sẽ tích hợp ba khu vực quan trọng – quần đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – trong tổng thể khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chaitanya Giri, nhà tư vấn hệ thống thông tin tại New Delhi, phân tích: “Hài quân Trung Quốc đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng trên các chuỗi đảo thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Họ di chuyển về phía Đông, hướng tới bờ biển nước Mỹ, có được sự hiện diện nhiều hơn ở Guam và đến cả Hawaii. “Bộ tứ” sẽ theo dõi sát sao điều đó”.

Ba chuỗi đảo là một phần của khái niệm an ninh địa lý được các nhà hoạch định quân sự sử dụng. Họ mô tả ba đường liên tiếp của khối đất liền trải dài từ các đảo gần Trung Quốc, ví dụ như Đài Loan, gồm Philippines và Indonesia và kết thúc với Hawaii ở đầu kia của Thái Bình Dương.

Theo Giri, dữ liệu cũng sẽ hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật. Kho dữ liệu gần thời gian thực có sẵn trong chương trình sẽ bao gồm số nhận dạng tàu hoặc biển báo cuộc gọi, vị trí và đường đi tiềm năng, cảng xuất phát và điểm đến cuối cùng của tàu: “Đây là những phương tiện cần thiết để theo dõi việc vận chuyển trong đêm và thông tin tình báo từ các nguồn mặt đất có thể được kết hợp với dữ liệu vệ tinh để xác định ngay cả hàng hóa đang được vận chuyển trên những con tàu như vậy”.

Đối phó với Trung Quốc

Theo Chỉ số đánh cá IUU, Trung Quốc xếp hạng cao về chỉ số theo dõi đánh bắt bất hợp pháp. Tướng Katoch cho rằng sáng kiến của “Bộ tứ” sẽ được hoan nghênh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: “Từ góc độ thương mại thuần túy, thông tin miền hàng hải này là điều mà các quốc gia nhỏ hơn vô cùng mong muốn. Sáng kiến này cũng có thể xác định và chống lại nạn cướp biển cũng như các mối đe dọa khủng bố”.

Pavan Choudary, Chủ tịch Blue Circle – tổ chức tư vấn địa chính trị ở New Delhi, nhận định mục tiêu của “Bộ tứ” có phạm vi rộng hơn: “Mục đích thực sự của sáng kiến trong lĩnh vực hàng hải là chiến lược, nhằm kiểm tra “đánh bắt bất hợp pháp”, song đó cũng thực sự là phương tiện để “Bộ tứ” thúc đẩy các sáng kiến an ninh”.

Không phải ai cũng đồng quan điểm rằng việc quân sự hóa sẽ là kết quả cuối cùng.

Gregory Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á và Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS – Mỹ), đánh giá: “Sáng kiến này thực sự không mang tính chất quân sự nhiều như thực thi pháp luật. Nó sẽ giúp các quốc đảo nhỏ và các quốc gia đang phát triển ven biển ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương giám sát và thực thi luật pháp trong vùng biển của chính họ. Bằng cách giúp cung cấp những hàng hóa công cộng như thế này, “Bộ tứ” còn có thể cạnh tranh với Trung Quốc nhiều hơn là áp dụng các biện pháp chống Trung Quốc một cách rõ ràng”.

Trong một báo cáo mới đây, trang tiếng Anh của tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc cho rằng dù sáng kiến này không đề cập đến tên quốc gia, song rõ ràng nhắm vào Trung Quốc: “Cơ chế này biến Trung Quốc thành trung tâm bằng cách thổi phồng “mối đe dọa” của Bắc Kinh và dù họ có đưa ra mục tiêu kiềm chế Trung Quốc như thế nào đi chăng nữa, thì sẽ rất ít quốc gia trong khu vực bị lừa”.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Tâm điểm của Đối thoại Shangri-La 2022


Trang mạng của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược quốc tế (IISS) (Anh) mới đây đăng bài viết của chuyên gia James Crabtree, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của IISS, cho biết các đại biểu đang tập trung tại Singapore để tham dự Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (còn được biết đến với tên gọi Đối thoại Shangri-La), và đây sẽ là cơ hội hiếm có để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về một danh sách dài các bất đồng cũng như các chủ đề cùng quan tâm.

Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 – 12/6 (Đối thoại Shangri-La bị tạm hoãn trong năm 2020 và 2021 do dịch COVID-19), bắt đầu với bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida. Tuy nhiên, các đại biểu chắc chắn sẽ tập trung nhiều hơn vào các bài phát biểu của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa 2 siêu cường này ngày càng xấu đi. Có 5 khía cạnh quan trọng sẽ được chú trọng trong đối thoại năm nay.

Thứ nhất, bối cảnh của cuộc chiến ở Ukraine càng củng cố vai trò của Mỹ và Trung Quốc như những nhà lãnh đạo của các khối địa chính trị đối địch. Mặc dù không công khai ủng hộ các hành động của Nga ở Ukraine, song Bắc Kinh đã từ chối lên án Moskva. Ngay trước cuộc xung đột Nga – Ukraine, Nga và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhấn mạnh sự hợp tác, đồng thời khẳng định “tình hữu nghị giữa hai quốc gia không có giới hạn và không có vùng cấm”. Đã có những dấu hiệu cho thấy sự hợp tác này đang diễn ra trên thực tế. Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đến Tokyo để gặp gỡ những người đồng cấp trong nhóm Bộ tứ – đó là các nhà lãnh đạo của Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Đáp lại, Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tuần tra chung với các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang hạt nhân là Xian H-6 (của Trung Quốc) và Tu-95 (của Nga).

Thứ hai, căng thẳng Mỹ – Trung về “điểm nóng” Đài Loan ngày càng sâu sắc. Tổng thống Biden đã gửi tín hiệu sai về vấn đề “Đài Loan độc lập”, điều này rất nguy hiểm. Mối quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan trong tương lai vẫn rất bấp bênh, không loại trừ khả năng Trung Quốc dùng vũ lực để thu phục hòn đảo này. Mặc dù về mặt chính thức, Mỹ cho biết các chính sách lâu nay của nước này đối với Đài Loan không thay đổi; song rõ ràng Bắc Kinh khó có thể yên tâm khi nghe những tuyên bố lặp đi lặp lại của ông Biden về vấn đề này. Gần đây nhất, trong chuyến công du Nhật Bản, ông Biden đã nói rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan trước sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc, khiến các quan chức Mỹ phải nhanh chóng nói rõ rằng điều này không thể hiện sự thay đổi quan điểm của Mỹ.

Thứ ba, các đời bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần đây đã sử dụng các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La để khẳng định các cam kết của họ ở châu Á. Các quan chức Lầu Năm Góc nhiều lần cho biết Mỹ có ý định rút khỏi Trung Đông và các nơi khác để dành nhiều nguồn lực quân sự hơn cho châu Á. Tuy nhiên, tiến độ này diễn ra rất chậm chạp, ngay cả trước các sự kiện ở Ukraine. Các đại biểu đến từ các nước trong khu vực sẽ theo dõi chặt chẽ bất kỳ tín hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ tăng tốc đầu tư vào các sáng kiến về vị thế khu vực – một chủ đề được đề cập sâu hơn trong chương mở đầu của Đánh giá An ninh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IISS năm nay. Các động thái an ninh ngày càng được tăng cường của Trung Quốc tại khu vực cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ, trong bố cảnh có những thông tin về thỏa thuận an ninh giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon cũng như việc Trung Quốc đang xây dựng một cơ sở hải quân ở Campuchia.

Thứ tư, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai siêu cường đang tạo ra những vấn đề của riêng hai nước. Chính quyền Biden hiện gọi chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc là “cạnh tranh trong hàng rào an toàn” – nghĩa là Washington tìm cách cạnh tranh mạnh mẽ với Bắc Kinh, nhưng vẫn tránh nguy cơ làm suy thoái nghiêm trọng và gây tổn hại trong lĩnh vực an ninh. Tuy nhiên, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden, được công bố hồi tháng 2/2022, đã thẳng thừng đề cập đến mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho các lợi ích của Mỹ, cho rằng “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và tìm cách trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất thế giới”. Chính quyền Biden hiện phải đối mặt với những lựa chọn phức tạp về cách cạnh tranh với Trung Quốc. Mỹ nhận ra rằng Mỹ không thể cạnh tranh một mình, do đó Washington tập trung vào việc thắt chặt quan hệ với các “đồng minh  và đối tác”, như những gì Mỹ đã thể hiện trong các liên minh AUKUS (gồm Australia, Anh, Mỹ) và Bộ tứ (gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Mỹ). Trong khi đó, Trung Quốc cũng hành động tương tự, thể hiện ở Sáng kiến An ninh Toàn cầu được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động gần đây cho đến các kế hoạch của Trung Quốc về một “Tầm nhìn phát triển chung” mới với 10 quốc đảo Thái Bình Dương.

Thứ năm, vấn đề liên lạc giữa Bắc Kinh và Washington, hoặc việc thiếu kênh liên lạc, là thách thức cuối cùng. Tháng 4/2022, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có cuộc điện đàm lần đầu tiên để thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và các chủ đề khác. Cuộc điện đàm thu hút sự chú ý vì trước đó Lầu Năm Góc đã nỗ lực thiết lập các cuộc điện đàm với một quan chức cấp cao khác của Trung Quốc, Tướng Hứa Kỳ Lượng – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Một số quan chức cấp cao khác của Mỹ, trong đó có Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan, sau đó cũng đã có các cuộc điện đàm với các quan chức tương ứng của Trung Quốc. Nhưng nói chung, những cuộc đối thoại như vậy vẫn hiếm khi xảy ra trong một mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng những mối liên hệ ít ỏi. Sự thiếu thông tin liên lạc này sẽ là nguyên nhân gây lo lắng trong bất kỳ cuộc khủng hoảng khu vực nào trong tương lai.

Các sự kiện như Đối thoại Shangri-La sẽ tạo cơ hội để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về các vấn đề cùng quan tâm, với việc cả hai quốc gia đều đưa các phái đoàn quan trọng tới hội nghị. Tuy nhiên, khả năng cải thiện quan hệ giữa các siêu cường là rất nhỏ. Nguy cơ mối quan hệ Mỹ – Trung “lao dốc” hơn nữa đã thực sự được kiểm soát trong những năm gần đây do đại dịch COVID-19, với việc các nhà lãnh đạo của cả hai nước đều phải tập trung vào việc phục hồi trong nước. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong năm 2022 do Tổng thống Biden phải tập trung vào cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, còn Chủ tịch Tập Cận Bình phải tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, cả hai đều sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tuy nhiên, những rủi ro mà Kurt Campbell – điều phối viên của Mỹ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – gọi là “bất ngờ chiến lược” có thể xảy ra trong ngắn hạn sẽ khó có thể giảm bớt, và cùng với đó là nguy cơ rạn nứt quan hệ vẫn gia tăng

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Trò chơi quyền lực của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương


Theo wsj.com cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama không bao giờ có thể lấy lại uy tín của mình sau khi ông không thể thực thi được một “lằn ranh đỏ” như đã tuyên bố trước đó ở Syria. Không có gì quá lời khi nói rằng liệu một nguyên thủ quốc gia giữ lời về những vấn đề như vậy có thể làm thay đổi lịch sử hay không. Đó là lý do vì sao những phát biểu gần đây của Thủ tướng Australia Scott Morrison về sức mạnh của Trung Quốc ở Thái Bình Dương lại không có ý nghĩa gì.

Ngày 24/4, đánh giá về ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với Quần đảo Solomon, Thủ tướng Morrison tuyên bố: “Australia cùng vạch ra lằn ranh đỏ với Mỹ liên quan đến vấn đề này. Chúng tôi sẽ không cho phép Trung Quốc thiết lập các căn cứ hải quân ở khu vực Thái Bình Dương vốn là cửa ngõ của Australia”. Thế nhưng, nhà lãnh đạo Australia lại không đề cập chi tiết cách thức Canberra sẽ đáp trả khi Trung Quốc vượt qua “lằn ranh đỏ” mà Australia đưa ra.

Thủ tướng Australia đưa ra những tuyên bố nói trên sau thông tin hồi tuần trước cho biết Trung Quốc đã ký một thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon. Đây là chiến thắng mới nhất về mặt ngoại giao đối với Bắc Kinh tại một quốc gia nhỏ bé song có vị trí chiến lược ở khu vực Thái Bình Dương. Quần đảo Solomon đã hoan nghênh sự hỗ trợ của Trung Quốc sau khi phải đối mặt với tình trạng bất ổn xã hội hồi năm 2021. Bản thỏa thuận cuối cùng giữa Bắc Kinh và Honiara vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, bản dự thảo của thỏa thuận này, vốn bị rò rỉ từ hồi tháng 3, cho thấy Trung Quốc cuối cùng có thể thiết lập một nơi đồn trú cho binh lính và tàu hải quân của nước này ở một quốc gia chỉ cách Australia 1200 dặm (khoảng hơn 1900 km). Thủ tướng Quần đảo Solomon Manasseh Sogavare khẳng định thỏa thuận “không liên quan đến việc Trung Quốc thiết lập một căn cứ quân sự ở Quần đảo Solomon liên quan đến việc hỗ trợ giải quyết những mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống nội bộ mà Quần đảo Solomon phải đối mặt”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng những bàn luận về việc thiết lập một căn cứ quân sự là “thông tin sai lệch do những người có động cơ ngầm thêu dệt nên”.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Bắc Kinh luôn đi kèm với những điều kiện ràng buộc, và lừa dối là bản chất của chiến lược quân sự của Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết với cựu Tổng thống Obama rằng Trung Quốc sẽ không quân sự hóa các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). Thế nhưng, hiện nay, các đảo nhân tạo đó đã được Trung Quốc cải tạo và bố trí các thiết bị và hệ thống quân sự có khả năng triển khai lực lượng và sức mạnh ở cách xa bờ biển của Trung Quốc.

Tuần trước, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cử một phái đoàn đến Quần đảo Solomon. Thông báo của Nhà Trắng nêu rõ: “Nếu các bước đi được triển khai để thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài trên thực tế, năng lực triển khai sức mạnh hoặc lắp đặt thiết bị quân sự thì phái đoàn của Mỹ đã lưu ý rằng Mỹ khi đó sẽ có những quan ngại to lớn và sẽ đáp trả tương ứng”. Những bình luận của Thủ tướng Morrison dường như không phải là những lời nói suông trong chiến dịch tranh cử hiện nay ở Australia. Những vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại đã đóng một vai trò lấn át hơn so với những vấn đề đối nội trong chiến dịch tranh cử trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử ở Australia vào tháng 5/2022. Australia dưới thời Thủ tướng Morrison – người không hề nao núng và sợ hãi trước cách hành xử bắt nạt của Bắc Kinh – là một đồng minh điển hình của Mỹ. Ông Morrison đã cứng rắn kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế về nguồn gốc của đại dịch COVID-19 bất chấp Trung Quốc đáp trả bằng lệnh cấm nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của “xứ sở chuột túi” này.

Đã quen với việc cáo buộc phe trung tả có thái độ mềm mỏng đối với Trung Quốc, giờ đây, Thủ tướng Morrison vấp phải chỉ trích ở trong nước vì đã không thể ngăn chặn việc ký kết thỏa thuận an ninh mới nói trên. Như một chính trị gia đối lập đã gọi sự thất bại này là “thất bại tồi tệ nhất trong chính sách đối ngoại của Australia ở khu vực Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai”. Mặc dù chính trị bầu cử luôn hỗn độn với những “trò bẩn” song nếu Australia phát triển được sự đồng thuận giữa hai lực lượng cánh tả và cánh hữu về mối đe dọa của Trung Quốc thì điều này sẽ là một tín hiệu đáng khích lệ.

Mỹ và các đồng minh đang phải đối mặt với những thách thức chiến lược và quân sự trên khắp thế giới, và bước tiến của Bắc Kinh ở khu vực Nam Thái Bình Dương sẽ không phải là minh chứng cuối cùng của việc Trung Quốc đang nỗ lực tận dụng sự sao nhãng của phương Tây đối với khu vực này khi phải bận tâm xử lý cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Khi chiến sự ở Ukraine có nguy cơ kéo dài, tình hình bất ổn sẽ tiếp tục gia tăng hơn nữa, không chỉ ở châu Âu mà cả ở những khu vực khác trên thế giới.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Thổ Nhĩ Kỳ là trọng tâm địa chiến lược mới của thế giới?


Theo thehill.com, Mỹ và Trung Quốc hiện là hai nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới, trong khi Mỹ và Nga là siêu cường hạt nhân duy nhất trên toàn cầu. Thế nhưng, Thổ Nhĩ Kỳ, vối vị trí địa lý của mình cùng cú hat-trick gồm 3 quyết định vô cùng thảm họa của Tổng thống Nga Vladimir Putin, có thể còn có sức ảnh hưởng hơn cả ba nước kia tại thời điểm này.

Cuộc tấn công của Putin vào Ukraine đã phơi bày sự yếu kém của quân đội Nga; kéo theo điều có thể coi là một sự mở rộng của NATO – điều mà Putin không muốn nhất; và đẩy nhanh một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu cho khoảng 1 tỷ dân. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ cần phải chấp nhận để Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, điều kiện cần thiết theo quy định về sự đồng thuận tuyệt đối trong Hiệp ước Washington. Tuy nhiên, cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đưa ra những phản đối mạnh mẽ đối với cả hai nước này với lý do Phần Lan, Thụy Điển bị cho là ủng hộ hoặc công nhận Đảng Công nhân người Kurd (PKK) – vốn bị Thổ Nhĩ Kỳ ấn định là một tổ chức khủng bố.

Công ước Montreux 1936 quy định hạn chế các tàu không thuộc các nhà nước nằm ở xung quanh Biển Đen tiếp cận vùng biển này về cả mặt thời gian, trọng tải và vũ trang. Nếu một chuyến tàu nhân đạo thông qua Eo biển Dardanelles được lập ra để vận chuyển các nông sản thiết yếu tại Odessa để phân phối ra toàn cầu, qua đó dập tắt nạn đói tiềm tàng và đòi hỏi sự hỗ trợ của tàu hộ tống hải quân, thì Thổ Nhĩ Kỳ là nước duy nhất có thể cho phép hoặc từ chối các tàu chiến quá cảnh.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan là người rất nóng tính và sự thất bại trong việc nhất trí kết nạp thêm các thành viên mới sẽ là một đòn giáng mạnh vào NATO, còn hơn cả việc Pháp không tham gia khía cạnh quân sự của liên minh này vào năm 1966 dưới thời Charles de Gaulle. Putin hẳn nhận thức rõ được tình huống này. Chắc chắn là ông sẽ làm mọi thứ để có thể thuyết phục Erdogan từ chối sự kết nạp này.

Về các hình thức vận tải trên biển để chở lúa mì và các sản phẩm nông nghiệp khác từ Odessa, nhưng trở ngại là rất lớn. Nga sẽ chỉ đồng ý với một điều kiện thuận lợi cho họ, chẳng hạn như dỡ bỏ các lệnh trừng phạt. Các phương pháp tiếp cận Odessa đang được khai thác. Ukraine sẽ phải đồng ý đảm bảo một tuyến đường an toàn ra vào cảng. Và một nghị quyết của Liên hợp quốc nhất thiết phải đến từ Đại hội đồng vì Nga sẽ phủ quyết mọi đề xuất tại Hội đồng Bảo an.

Các bên khác thì lập luận rằng tàu chiến của NATO là cần thiết nếu như buộc phải đi vào vùng biển này. Tuy nhiên, các tàu đó có thể sẽ phải đối đầu với các lực lượng hải quân, không quân và tên lửa của Nga và có thể dẫn đến một sự leo thang căng thẳng, thậm chí là một cuộc chiến tranh trên biển. Hầu hết hạm đội trên Biển Đen của Nga đều đã già nua. Tuy nhiên, các tàu ngầm chạy bằng diesel lớp Kilo của nước này vẫn rất dữ dội. Với tính chất ồn ào của Biển Đen, việc phát hiện các lực lượng này là rất khó. Và tên lửa Kalibr cùng các loại tên lửa khác của Nga cũng đã được chứng tỏ là rất hiệu quả. NATO cũng cần sự hỗ trợ mạnh mẽ ở trên không.

Nếu Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì lập trường cứng rắn đối với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển và việc cho phép các tàu chiến của NATO hay các bên thứ ba đi vào Biển Đen, sẽ còn rất ít lựa chọn tích cực. Vậy liệu một phiếu trắng, cũng có tác dụng như một phiếu chống, đối với sự mở rộng của NATO, có thể được tận dụng để cho phép một tỷ lệ bỏ phiếu 29-0 đủ được coi là nhất trí hay không? Khả năng là không, bởi Thổ Nhĩ Kỳ vẫn phải thông qua các thay đổi theo quy định trong công ước.

Công ước Montreux là một công ước mang tính lịch sử lâu đời. Điều thú vị là trong số 4 nước đầu tiên ký kết công ước, gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Romania và Liên Xô, thì Liên Xô hiện đã không còn tồn tại. Và các thành viên mới hơn như Gruzia và Ukraine theo đó cũng không tồn tại nữa. Tuy nhiên, công ước này vẫn có hiệu lực. Việc thay thế nó dường như là bất khả thi bởi Thổ Nhĩ Kỳ có một vai trò chủ đạo nhờ vị trí địa lý của mình và có các Eo biển Bosporus và Dardanelles nằm giữa đất nước.

Về vấn đề thiếu lương thực, đây là một công cụ ngoại giao mạnh mẽ có thể được sử dụng để chống lại Nga. Việc cản trở chuyển hàng cứu trợ cho hàng trăm triệu người đang bị thiếu ăn thực sự là một tội ác chiến tranh. Tuy nhiên, Nga sẽ đổi lỗi cho Ukraine và phương Tây đã gây ra tình trạng thiếu lương thực này và thoái thác mọi trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn còn phải chờ xem lời cáo buộc dù có hơi thái quá nói trên có được chấp nhận bởi những khu vực và cộng đồng người dân bị ảnh hưởng hay không. Nhìn chung, chính sách ngoại giao và các thông điệp truyền tải của Mỹ và NATO sẽ là cần thiết để gây sức ép buộc Nga chấm dứt chiến tranh.

Một kết luận quan trọng khác có lẽ đã bị bỏ quên. Thế giới vẫn là một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau, không thể tách rời và vì vậy rất dễ bị tổn thương trước những cuộc tấn công ồ ạt mới gây rối loạn trên toàn cầu. Trớ trêu thay, chiến tranh tại Ukraine càng làm trầm trọng thêm tính chất dễ bị tổn thương này.

Ngoài những thiệt hại không thể bù đắp về người, sự tàn phá đất nước và hàng nghìn sinh mạng mà cuộc chiến Ukraine gây ra, sự đoàn kết của NATO cũng đang lâm nguy. Tồi tệ hơn, nạn đói có thể bao trùm một phần lớn dân số thế giới. Những kịch bản này không phải là mới. Điều mới ở đây là số lượng chúng nhiều hơn và mang tính tàn phá hơn trong kỷ nguyên này. Và với đại dịch COVID-19 đang hoành hành hiện nay mà thế giới chưa kịp chuẩn bị trước, mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần cuối


Chính sách ngoại giao khôn khéo

Chuyên gia tại Viện nghiên cứu Takshashila Manoj Kewalramani cho rằng những điểm tương đồng này chỉ là bề nổi. Thực ra, phản ứng của Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều khác biệt.

Nếu như Trung Quốc lên tiếng chỉ trích các biện pháp trừng phạt, đổ lỗi cho Mỹ và NATO gây ra cuộc khủng hoảng. Truyền thông của Bắc Kinh đưa thông tin sai lệch, ủng hộ các luận điểm của Moskva thì Ấn Độ tránh đề cập đến vai trò của NATO và muốn giảm thiểu tạo sự khác biệt lập trường với Mỹ. Thủ tướng Modi đã nói chuyện với tổng thống Ukraine Zelensky trong khi lãnh đạo Trung Quốc thì không.

Ấn Độ cũng tỏ ra gay gắt hơn với những cáo buộc tội ác chiến tranh của Nga. Đại sứ Ấn Độ tại Liên hợp quốc cho rằng thảm sát ở Bucha “đáng lo ngại” và kêu gọi mở điều tra. Đại sứ Trung Quốc thì lại kêu gọi các bên tránh đổ lỗi vô căn cứ.

Quan hệ Mỹ – Ấn phức tạp

Theo CNN, Mỹ nhận thấy rằng quan hệ giữa Nga và Ấn Độ đi theo một chiều hướng khác phương Tây. Ngoại trưởng Mỹ Blinken lưu ý rằng quan hệ này “đã phát triển trong nhiều thập kỷ vào thời điểm mà Mỹ không thể là đối tác của Ấn Độ”. Blinken  ám chỉ thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, dù Ấn Độ không chính thức tham gia.

Vào những năm 1970, Ấn Độ bắt đầu ngả về Liên Xô khi Mỹ bắt đầu hỗ trợ quân sự và tài chính cho láng giềng Pakistan. Đây cũng chính là thời điểm Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí cho Ấn Độ. Cho đến nay, quốc gia Nam Á này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Nga về thiết bị quân sự (50% vũ khí nhập khẩu từ Nga). Mặc dù Mỹ đã tăng cường hợp tác với Ấn Độ về an ninh và quân sự trong khuôn khổ nhóm “Bộ tứ” Quad (Nhật Bản – Mỹ – Australia – Ấn Độ), nhưng lại thua Nga khi Ấn Độ dùng vũ khí của Nga trong xung đột với Trung Quốc ở Himalaya.

Năm 2018, Ấn Độ đã ký một thỏa thuận vũ khí trị giá 5 tỷ USD với Nga, mua một hệ thống tên lửa phòng không, bất chấp thỏa thuận này có thể hiến New Delhi lãnh trừng phạt của Washington (theo một đạo luật trừng phạt đối thủ mà Mỹ đã áp dụng đối với Iran, Nga và Triều Tiên).

Do phụ thuộc vào vũ khí của Nga, Ấn Độ không dám lên tiếng tố cáo hành động xâm lược của Tổng thống Nga Vladimir Putin, mà thủ tướng Modi nhận là người bạn thân “đáng mến” (trong chuyến thăm của Putin tại Ấn Độ vào tháng 12/2021). Ngày 23/4, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ không ngần ngại nói rằng, Ấn Độ muốn xây dựng tình hữu nghị với các nước phương Tây, nhưng cần một đối tác mạnh như Nga để bảo vệ đường biên giới và 1,3 tỷ dân của mình.

Theo tạp chí Foreign Policy, trong bối cảnh căng thẳng vẫn cao với Trung Quốc, Ấn Độ nhận thấy tầm quan trọng của Nga, không chỉ việc sẵn sàng cung cấp vũ khí mà mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc có thể giúp New Delhi kiềm chế Bắc Kinh hoặc Moskva có thể đứng ra làm trung gian hòa giải.

Thế trung lập của Ấn Độ

Tất cả những hành xử của Ấn Độ khiến quốc gia này nhận được ủng hộ từ tất cả các phe. Moskva vẫn muốn chơi với New Delhi và vẫn muốn bán dầu giá thấp cho Ấn Độ. Ngày 01/4/2022, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã gặp người đồng cấp ở New Delhi và hoan nghênh Ấn Độ không nhìn cuộc chiến Ukraine “một cách phiến diện”.

Mối quan hệ của chúng ta vẫn bền vững dù trải qua nhiều thời kỳ khó khăn trong quá khứ. Tôi không nghi ngờ về việc hai bên tôn trọng lẫn nhau và tìm kiếm sự cân bằng lợi ích, sẽ chiếm ưu thế trong quan hệ của hai nước trong tương lai.

Đối với phương Tây, quan hệ giữa hai bên ngày càng khăng khít từ khi Modi đắc cử năm 2014. Giao thương giữa Ấn Độ và Mỹ hằng năm đạt 110 tỷ USD, trong khi đó với Nga chỉ đạt 8 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Ấn Độ cũng trở thành khách hàng lớn mua các thiết bị quân sự của Mỹ.

Ấn Độ cũng không muốn bị coi là đối tác nhỏ bé của phương Tây và tin rằng phương Tây cần mình hơn. Chính quyền New Delhi luôn nhắc nhở phương Tây rằng nước này dù sao thì cũng có Nga là đồng minh. Ấn Độ cho rằng dù nghiêng về phía nào cũng có được bảo đảm của phương Tây theo một mức độ nào đó. Ví dụ như, dưới thời chính quyền George W. Bush, Washington sẵn sàng chi mạnh tay cho một thỏa thuận hạt nhân để đáp ứng lợi ích của New Delhi, trong khi Ấn Độ đáp lại không đáng kể.

Qua cuộc chiến Ukraine, Ấn Độ nhận ra rằng phương Tây có thể thực hiện các cam kết đưa ra để giúp Kiev. Do vậy, sự ủng hộ của phương Tây rất quan trọng nếu xung đột Trung – Ấn xảy ra. Foreign Policy kết luận rằng canh bạc trung lập, bắt cá hai tay của Ấn Độ chỉ có thể mang lại lợi ích cho nước này trong ngắn hạn. Nếu tiếp tục nghiêng về phía Nga, đồng thời giữ quan hệ với phương Tây, Ấn Độ sẽ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ cả hai trong tình thế khó khăn.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần đầu


Theo đài RFI, bất chấp việc các nước phương Tây ve vãn kêu gọi nhập phe, trừng phạt Nga, Ấn Độ lại tăng gấp đôi lượng dầu thô mua từ Nga kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, do giá thành rẻ. Là đồng minh với Liên Xô từ thời Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ chơi quân bài “trung lập”, muốn duy trì quan hệ tốt với cả Nga và phương Tây, để đối phó với mối nguy Trung Quốc.

Ấn Độ là nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc, 80% trong số đó là nhập khẩu. Hãng Reuters cho biết, các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ đã đặt hàng ít nhất 40 triệu thùng dầu của Nga kể từ ngày 24/2, khai nào chiến tranh Ukraine, trong khi đó, tổng lượng dầu mà Ấn Độ thu mua từ Nga vào năm 2021 chỉ đạt 16 triệu thùng. Truyền thông nước này cho biết Nga đã giảm giá mua dầu cho Ấn Độ, thấp hơn 20% so với giá chuẩn toàn cầu. Chính quyền New Delhi không chỉ bỏ ngoài tai các lệnh trừng phạt từ phương Tây đánh vào nền kinh tế của Nga, mà còn từ chối lên án hành động xâm lược của Moskva.

Phương Tây đổ xô “thăm” Ấn Độ

Lập trường trung lập của quốc gia đông dân thứ hai châu Á làm vừa lòng điện Kremlin nhưng ngay lập tức htu hút sự chú ý của phương Tây. CNN nhận định Nhà Trắng gây áp lực, chỉ trích New Delhi “run sợ” và có thể tính đến việc trừng phạt Ấn Độ vì gần đây đã mua vũ khí từ Nga. Thế nhưng, ngay lập tức, Mỹ lại đổi giọng.

Trong cuộc gọi trực tuyến giữa Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 11/4, Biden tán dương quan hệ hợp tác song phương và ca ngợi những giá trị chung của hai nước. Ngay sau đó, các nước châu Âu dồn dập đến thăm Ấn Độ. Đầu tiên là chuyến thăm của Thủ tướng Anh Boris Johnson nhằm tăng cường hợp tác thương mại với Ấn Độ ngày 22/4, tiếp đến là chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Ursula von der Leyen ngày 25/4, rồi đến Ngoại trưởng Ba Lan ngày 26/4.

Và chiến tranh Ukraine là phần không thể thiếu trong bài phát biểu của các vị lãnh đạo, vừa ve vãn lôi kéo, vừa gây áp lực cho New Delhi. Nguyên thủ Mỹ kêu gọi Ấn Độ chọn phe:

“Tôi rất hoan nghênh việc Ấn Độ viện trợ nhân đạo cho Ukraine – quốc gia đang phải hứng chịu những đợt tấn công kinh hoàng, bao gồm cả vụ đánh bom tại nhà ga vào tuần trước, đã khiến hàng chục phụ nữ và trẻ em và thường dân vô tội thiệt mạng, khi đang cố chạy lánh nạn. Mỹ và Ấn Độ tiếp tục hợp tác chặt chẽ và tham vấn về cách kiểm soát những tác động gây bất ổn từ cuộc chiến giữa Nga và Ukraine. Điều này bảo đảm mối quan hệ tiếp tục phát triển sâu rộng hơn giữa hai bên, mang lại lợi ích cho người dân của hai nước và toàn cầu. Tất cả chúng ta đều cố gắng kiểm soát (khủng hoảng) và vai trò của Ấn Độ rất quan trọng đối với thế giới”.

Về phần mình, Ấn Độ cho biết tình hình ở Ukraine “đáng lo ngại” và kêu gọi cả hai bên đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn chọn giữ im lặng, bỏ phiếu trắng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc để loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền, từ chối suy giảm quan hệ song phương với Nga.

CNN nhận định “Ấn Độ đã dạy cho phương Tây một bài học về ngoại giao”. Vị trí của nước này ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế khi Mỹ coi Ấn Độ là một “đối tác” cần săn sóc để chống lại Trung Quốc – mối đe dọa tiềm tàng với hòa bình thế giới, thậm chí còn l1o7n hơn cả Nga.

Cùng chung một kẻ thù Bắc Kinh

Cả Washington và New Delhi đều “khó chịu” trước sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc (về hải quân, vũ khí chiến đấu công nghệ cao, vũ khí hạt nhân) hay mạng lưới ảnh hưởng đối với kinh tế toàn cầu mà Bắc Kinh đang xây dựng.

Điều này thể hiện rõ trong cuộc họp Mỹ – Ấn ngày 11/4, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cảnh báo Trung Quốc đang tìm cách “thiết lập lại khu vực và hệ thống quốc tế” và cho biết Mỹ và Ấn Độ cùng nhau mở rộng phạm vi hoạt động quân sự chung.

Ấn Độ cũng có mối lo riêng với Trung Quốc khi cả hai có chung 3488 km đường biên giới. Cuộc xung đột quân sự dọc theo biên giới chung trên dãy Himalaya đã cướp đi sinh mạng của không ít người trong vài năm qua, đặc biệt là vào năm 2020, gần 100 binh sĩ Ấn Độ bỏ mạng tại thung lũng Galwan – có diện tích rộng bằng nước Thụy Sỹ, nơi mà Trung Quốc chiếm đóng từ 1962.

Phương Tây chỉ trích Trung Quốc nhưng im lặng với Ấn Độ

Mối lo Trung Quốc giải thích tại sao phương Tây mạnh mẽ chỉ trích sự im lặng của Bắc Kinh đối với hành động xâm lược của Nga nhưng lại không to tiếng với New Delhi. Trong khi đó, Ấn Độ và Trung Quốc dường như có chung quan điểm về cuộc chiến ở Ukraine.

Cả hai đều tự nhận là trung lập và chọn thế “tọa sơn quan hổ đấu”. Cả hai đều kêu gọi hòa bình và từ chối lên án cuộc xâm lược. Hơn nữa, cả hai có mối quan hệ chiến lược với Nga và không muốn gặp rủi ro tạo hiềm khích với Nga.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Về đề xuất “Sáng kiến an ninh toàn cầu” của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình


Trang The Diplomat đăng bài của Rajeswari Pillai Rajagopalan – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược, an ninh và công nghệ – Quỹ nhà quan sát (ORF) Ấn Độ về đề xuất “Sáng kiến an ninh toàn cầu” (GSI) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Bài báo cho rằng Tập Cận Bình đưa ra đề xuất an ninh toàn cầu mới, đặt câu hỏi ngầm về logic của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng như nhóm “Bộ tứ”. Đề xuất GSI mới đồng thời gọi tâm lý Chiến tranh Lạnh, chủ nghĩa bá quyền và chính trị quyền lực là những vấn đề có thể “gây nguy hiểm cho hòa bình thế giới” và “làm trầm trọng thêm các thách thức an ninh trong thế kỷ 21”.

Tập Cận Bình cho rằng sáng này nhằm duy trì nguyên tắc an ninh không thể chia cắt, xây dựng một kiến trúc an ninh cân bằng, hiệu quả và bền vững, đồng thời phản đối việc xây dựng an ninh quốc gia trên cơ sở gây mất an ninh ở các nước khác. Ông cũng nhấn mạnh chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các quốc gia, cũng như quyền lựa chọn con đường phát triển và hệ thống xã hội. Tại một cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Văn Bân tìm cách làm rõ ý nghĩa của sáng kiến mới. Ông cho rằng với các mối đe dọa ngày càng tăng do chủ nghĩa đơn phương, bá quyền và chính trị cường quyền, cùng với sự thiếu hụt ngày càng tăng trong hòa bình, an ninh, lòng tin và quản trị, nhân loại đang phải đối mặt với ngày càng nhiều các vấn đề khó khăn và mối đe dọa an ninh. Trong một bài đăng trên tờ People’s Daily, Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị trình bày chi tiết rằng sáng kiến này “đóng góp trí tuệ của Trung Quốc bù đắp cho sự thiếu hụt hòa bình của con người và cung cấp giải pháp của Trung Quốc đối phó với thách thức an ninh quốc tế”. Vương Nghị nhấn mạnh “Trung Quốc không bao giờ tuyên bố quyền bá chủ, tìm kiếm sự mở rộng hoặc phạm vi ảnh hưởng, cũng như không tham gia cuộc chạy đua vũ trang”.

Một người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Trung Quốc đang duy trì đường lối giống Nga, bao gồm cả khái niệm “an ninh không thể chia cắt”. Một nhà ngạoi giao châu Á cho rằng Trung Quốc có xu hướng “đưa ra một khuôn khổ quá lớn mà không ai phản đối. Ý tưởng là ngay cả khi các quốc gia không toàn tâm toàn ý, thì ít nhất họ cũng không thể phản đối hoàn toàn. Sau đó, họ dần dần sử dụng khuôn khổ đó để loại bỏ Mỹ”. Rất có thể GSI bắt đầu đóng vai trò nổi bật trong quan điểm ngoại giao công khai và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, vì vậy đáng được xem xét nghiêm túc. Một vài nhận xét ban đầu có thể được đưa ra về GSI của Tập Cận Bình.

Đầu tiên là đạo đức giả trắng trợn. Trung Quốc đang đề xuất các nguyên tắc mà họ rõ ràng đã vi phạm. Ví dụ, tuyên bố của Tập Cận Bình bắt đầu bằng việc nói về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nhưng hành vi của Trung Quốc ở cả Biển Đông và dọc theo biên giới Trung – Ấn rõ ràng vi phạm quan niệm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước láng giềng. Tương tự, tuyên bố của Tập Cận Bình về việc coi trọng các mối quan tâm an ninh chính đáng của tất cả các quốc gia và không theo đuổi an ninh riêng với giá của nước khác, không điều nào trong số đó có thể được nhìn thấy trong hành vi của chính Trung Quốc. Có những mâu thuẫn tương tự khác giữa các nguyên tắc nêu trong GSI và hành vi của chính Trung Quốc, nhưng hai nguyên tắc này nổi bật là rõ ràng nhất. Tất nhiên, các cường quốc đạo đức giả trong các tuyên bố công khai chính sách của họ không phải là mới. Tuy nhiên, sự đạo đức giả cần được lưu ý.

Nhận xét thứ hai đáng được đưa ra tại thời điểm này là mặc dù nói về việc bác bỏ tâm lý Chiến tranh Lạnh, GSI là một nỗ lực rõ ràng trong việc thúc đẩy chính trị quyền lực theo cách có lợi cho Trung Quốc. Nhiều đề xuất trong GSI là một nỗ lực được che đậy kín đáo nhằm cạnh tranh với Mỹ cũng như các đối tác và đồng minh Mỹ. Khi Tập Cận Bình nhấn mạnh “nói không với chính trị nhóm và đối đầu giữa các khối” hoặc chỉ trích “các vòng tròn nhỏ”, có thể không nghi ngờ gì rằng ông đang nhằm mục tiêu vào các quan hệ đối tác an ninh mà Mỹ đang tập trung ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những đề xuất này không chỉ được thúc đẩy bởi nỗ lực của Trung QUốc nhằm cạnh tranh với Mỹ mà đây còn là đạo đức giả khi cho rằng bản thân Trung Quốc đã có những liên kết chặt chẽ với các quốc gia, chẳng hạn như Liên Xô trong quá khứ, và tiếp tục có mối quan hệ an ninh lâu dài với cả Pakistan và Triều Tiên. Tất nhiên, Putin và Tập Cận Bình đã ký vào đầu năm nay, điều có thể dễ dàng được coi là quan hệ đối tác an ninh mới.

Tương tự, bản chất của nhiều đề xuất trong GSI xuất phát từ giả định rằng các vấn đề châu Á nên do các nước châu Á quản lý, điều này tạo cho Trung Quốc một vị thế độc đoán vì quy mô và sức mạnh của họ, và thuận lợi trong việc tìm cách đẩy Mỹ ra khỏi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đây là một nỗ lực trắng trợn nhằm theo đuổi vị thế bá chủ châu Á của Trung Quốc và thúc đẩy lợi ích của Trung Quốc trong cạnh tranh cường quốc với Mỹ.

Mặc dù nền chính trị cường quyền và đạo đức giả ở GSI có khả năng thu hút được sự ủng hộ đáng kể ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là Trung Đông, châu Phi và các khu vực khác xa Trung Quốc. Khi thế giới ngày càng trở nên lưỡng cực, chúng ta thấy sự lặp lại một số đặc điểm của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là các quốc gia yếu hơn đóng vai hai cực chống lại nhau. Mặc dù điều này khó khăn đối với các quốc gia gần Trung Quốc hoặc Mỹ, nhưng đây chắc chắn là một chiến lược hợp lý để những nước khác áp dụng vì có thể thu được lợi ích từ cả hai bên. Vì vậy, mặc dù điều quan trọng là phải chỉ ra đạo đức giả trong GSI, nhưng là ngu ngốc nếu bác bỏ hoặc cho rằng sáng kiến này sẽ không thu hút được sự ủng hộ từ các quốc gia khác.

Nguồn: TKNB – 11/05/2022

Trật tự thế giới mới: Nên khắc phục hay biến đổi? – Phần cuối


Mối lo ngại sâu sắc nhất là tình huống nguy cấp trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Tất cả những lo ngại dường như đã được giải quyết trong vài thập kỷ qua giờ đang quay trở lại trên phạm vi rộng. Ở đây xuất hiện nguy cơ tất cả các kinh nghiệm tích lũy được từ các thảo luận có liên quan của các chính trị gia, các chuyên gia và các nhà đàm phán chính thức bị loại bỏ, khi các thỏa thuận chính thức được soạn thảo và ký kết, hoạt động xác minh chuyên sâu được thực hiện. Hiện đang diễn ra việc hợp pháp hóa công khai chuyện sử dụng vũ khí hạt nhân vì mục đích chính trị và quân sự – mà vốn trong nhiều thập kỷ qua, nếu không phải là điều cấm kỵ, thì là vấn đề sai lầm về mặt chính trị.

Các mối quan hệ quốc tế nổi lên những hệ quả hết sức nghiêm trọng. Thứ nhất là sự xuất hiện các động cơ xây dựng quân đội và thúc đẩy các chu kỳ mới của cuộc chạy đua vũ trang. Thứ hai là mối đe dọa của sự cân bằng nguy hiểm bên bờ vực chiến tranh trong một lĩnh vực đầy rẫy những cuộc leo thang xung đột quân sự nhanh chóng với hậu quả thảm khốc. Thứ ba là liên quan tới nhiều khả năng phá hủy cơ chế không phổ biến hạt nhân và triển vọng đạt được điều này của các quốc gia mới, cũng như gia tăng nguy cơ khủng bố hạt nhân.

Những thách thức nảy sinh trong mối liên kết với hệ thống chính trị quốc tế thực sự kịch tính. Hoặc cần phải chấm dứt những thách thức này (một việc dường như phi thực tế) – hoặc tập trung chú ý vào việc khôi phục sự kiểm soát vũ khí hạt nhân trong tương lai (tốt nhất là không quá xa; có thể từ mức 0, với khuôn khổ khác nhau về thành phần quốc gia tham dự và dựa trên các định hướng và các nguyên tắc được điều chỉnh). Tình huống an ủi là những nước tham dự vào đời sống quốc tế đã từng trải qua con đường này.

Trật tự thế giới mới có thể được hình thành mà không cần sự kiểm soát vũ khí. Tuy nhiên, trong tình huống này hiệu quả của nó (ít nhất là trong lĩnh vực đảm bảo an ninh quốc tế) sẽ tuyệt đối không chắc chắn.

Một xu hướng có thể thấy rõ trong phát triển quốc tế đương đại là lơi lỏng biện pháp tự kiềm chế (chính thức và về mặt chính trị) liên quan tới việc sử dụng sức mạnh xuyên quốc gia. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người ta cũng không cần phải quá cường điệu – hầu như không có lý do nào để cho rằng “quyền của kẻ mạnh” đang trở thành biến số chi phối rõ ràng và rằng hầu hết quốc gia, mọi lúc mọi nơi, đều sẵn sàng sử dụng sức mạnh để đạt được các mục tiêu của mình trên vũ đài quốc tế. Vai trò của bộ điều tiết đủ hiệu quả về vấn đề này vẫn thuộc về luật pháp quốc tế (mặc dù không phải luôn luôn được áp dụng và thường có tính linh hoạt đặc biệt trong cách diễn giải). Còn có những yếu tố kìm hãm khác, chẳng hạn, về mặt vật chất hoặc do lo ngại về các hậu quả không mong muốn về mặt hình ảnh, uy tín.

Tuy nhiên, các ví dụ về sự can thiệp bằng sức mạnh vào các tình huống bên ngoài tiếp tục tăng lên. Có không ít tình huống đã xảy ra trong quá khứ, nhưng ngày nay xuất một nguy cơ theo kiểu “tầm thường hóa” việc sử dụng sức mạnh xuyên quốc gia, khi mà sự việc kiểu vậy không phải là điều gì đó quá bất thường (hay chí ít, phá vỡ tiến trình thông thường của các sự kiện) trong chừng mực là một thực tế thông thường mà các nước đã quen và chấp nhận nó như là điều hiển nhiên, hoặc giả như là điều không thể tránh khỏi. Ngay cả Moscow, trong những xáo trộn hỗn loạn của thập kỷ trước, ở mức độ nào đó, đã rời bỏ cách tiếp cận hết sức hạn chế về vấn đề này vốn được Moscow tuân thủ theo truyền thống trong chính sách công khai của mình (không sử dụng vũ lực ở bên ngoài, ngoại trừ để phòng vệ, theo lời mời chính thức của các chính phủ hoặc với sự tán thành của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc).

Cách diễn giải gây hoang mang về xu hướng sử dụng sức mạnh xuyên biên giới tích cực hơn cho thấy, việc sử dụng như vậy có thể trở nên phổ biến hơn trong khu vực lãnh thổ. Đồng thời, các tranh luận về tính hợp pháp của nó sẽ dần biến mất – người ta sẽ sớm nhìn ra vấn đề để nhận được kết quả tối đa, đạt được này càng sớm càng tốt và đảm bảo giảm thiểu tổn thất chính trị (cả bên trong lẫn bên ngoài).

Vậy đâu là hậu quả của sự phát triển như vậy? Hành động của bất kỳ quốc gia nào theo cách này có thể dễn đến việc “dễ dàng” thông qua các nghị quyết thích đáng trong tương lai. Cần lưu ý rằng, vị trí đứng đầu ở đây hoàn toàn không dành cho Nga, nhưng nếu liên quan tới Kosovo và Iraq, thì Nga đã ngăn cản quá trình này, còn sự can thiệp và Syria đi theo xu thế chủ đạo. Một hậu quả khác là các công cụ luật pháp quốc tế trong các tình huống sử dụng sức mạnh xuyên biên giới thường không được coi trọng và giảm giá trị, nhường chỗ cho sự tuyên truyền chính trị. Có thể nhận thấy mối liên quan với sự giá quá cao các ý niệm về sự giảm sút tương đối vai trò của sức mạnh quân sự vốn phổ biến trong bối cảnh khắc phục Chiến tranh Lạnh.

Cuối cùng, sự phân định ranh giới giữa các tác động “bằng vũ lực” và “không bằng vũ lực” mang tính xuyên biên giới ngày càng trở nên mờ nhạt. Nảy sinh từ mối quan hệ này, quan niệm về “chiến tranh hỗn hợp” (hybrid war)” tập trung cả sự lo ngại về các mối đe dọa bên ngoài lẫn tác động tiềm ẩn tới các quốc gia. Cả điều đó và những điều khác nữa trở thành một hiện tượng phức tạp, có thể bao trùm trong nó mọi thứ: từ sự tuyên truyền minh bạch cho tới việc mua chuộc các chính trị gia, từ các cuộc tấn công mạng cho tới các hành động gây bất ổn hệ thống tài chính, từ việc tổ chức các phong trào ly khai cho tới việc củng cố lại các lực lượng đặc biệt,…

Nói đúng ra, ở đây chúng ta tuyệt nhiên không phải đối mặt với một cái gì đó mới mẻ về nguyên tắc. Có vô số ví dụ về chủ đề này được biết đến trong lịch sử (và thậm chí theo các văn bản Kinh Thánh) – “chiến tranh hỗn hợp” thường được bắt gặp khá nhiều, mặc dù không có khái niệm như vậy.

Nhưng có lẽ, một số trường hợp liên quan tới hiện tượng này có thể được coi là mới. Chúng xuất hiện trong khoảng 10 – 15 năm qua. Thứ nhất, việc sử dụng “các công nghệ” thích hợp được thử nghiệm ở quy mô rộng lớn chưa từng thấy (mở ra cho chúng cánh cửa vào tương lai). Thứ hai, khả năng to lớn của các mánh khóe tuyên truyền và chính trị trong lĩnh vực này đã được hé lộ, chúng tỏ ra cao hơn nhiều so với mức có thể dự kiến. Thứ ba, xuất hiện hiện tượng kỳ lạ biện giải cho “các cuộc chiến tranh hỗn hợp”, – khi chúng bắt đầu được coi là hiệu quả hơn (hoặc nguy hiểm hơn, tùy vào góc nhìn nhận) so với các phương pháp truyền thống.

Còn có một vấn đề khác xưa, ví dụ như thế giới hiện ra lờ mờ trên bảng màu trật tự thế giới hiện nay (hoặc đang hình thành), liên quan tới tình trạng của các vùng lãnh thổ. Ở đây liên quan tới các chủ đề như sự biến đổi biên giới, ly khai, chủ trương khôi phục lãnh thổ,… Chúng không bao giờ đơn giản, nhưng chúng có thể có được động lực mới (và nguy hiểm) dưới tác động của những sự biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đang thay thế cho chủ nghĩa bảo thủ hàng thế kỷ. Đặc biệt ở những nơi diễn ra sự gia tăng hoạt động chính trị – xã hội, bao gồm cả việc tìm kiếm bản sắc theo dấu hiệu sắc tộc, tôn giáo, văn hóa – lịch sử, nhà nước – dân tộc và các dấu hiệu khác.

Các mâu thuẫn liên quan tới biên giới và thuộc tính quốc gia của các vùng lãnh thổ luôn là một trong những nguồn gốc chính gây ra các cuộc xung đột và chiến tranh. Trong suốt phần lớn lịch sử nhân loại, những vấn đề được đề cập đến đã được giải quyết bằng chính cách này. Nhưng dần dần cộng đồng quốc tế đã tích lũy được một số kinh nghiệm liên quan tới các nỗ lực giải quyết phi bạo lực đối với kiểu xung đột này.

Kinh nghiệm này cho thấy tính phức tạp đặc biệt của nhiệm vụ như vậy. Nhưng nó cũng dẫn đến hiểu biết rằng, không nên hành động một cách vội vàng và hấp tấp (kẻo sau đó bạn sẽ phải trả giá vì điều đó). Lịch sử lâu dài về vấn đề ghi nhận một loạt cách tiếp cận được triển khai (kể cả ở mức độ chuyên nghiệp thông qua OSCE). Nhu cầu về khả năng này, một cách khách quan, trở nên quan trọng để giảm thiểu biến số xung đột trong việc giải quyết các vấn đề này.

Nga đã giải quyết vấn đề Crimea một cách nhanh chóng và trông có vẻ hết sức hiệu quả. Việc Nga không “lùi bước” trong tình huống này là rất rõ ràng, cũng như thực tế là chẳng có ai muốn kiểm tra xem nước Nga có kiên định trong vấn đề Crimea không. Vì vậy, nếu khía cạnh pháp lý quốc tế của vấn đề dường như còn lâu mới được giải quyết, thì thành phần địa chính trị của nó trông có vẻ khá ổn định.

Nhưng đồng thời, không rõ là những kết luận nào có thể được rút ra từ tiền lệ này khi áp dụng vào hệ thống quốc tế. Liệu điều này có mở đường cho việc thực hiện một kịch bản tương tự ở những nơi khác và bởi các tác nhân khác không? Có cứ nhất thiết (và có thể) phải đi từ sự phổ biến vô điều kiện nguyên tắc quyền tự quyết (thể hiện ý chí nhân dân) hơn bất cứ mệnh lệnh nào khác không? Những thỏa thuận và những sắp đặt chính trị nào có thể được tôn trọng hoặc bị bỏ qua? Có thể coi yếu tố về sự đảm bảo bên ngoài hoặc việc thiếu yếu tố đó quan trọng đến mức nào? “Thu hồi đất đai” theo nguyên tắc cộng đồng sắc tộc hay nhận thức chính trị của dân cư được hứa hẹn như thế nào? Vai trò sức ép thay đổi về mặt thời gian (yếu tố “sức mạnh nhanh chóng”) lớn tới mức nào? Việc sử dụng vũ lực trực tiếp hay việc thể hiện nó với sự hỗ trợ của “các công nghệ hỗn hợp” có cơ sở vững chắc (thích đáng) đến mức nào?

Những yếu tố kiểu như xác định hành vi của các nhà nước trong những tình huống khủng hoảng như vậy mang tính đặc thù và theo tình huống. Nhưng chúng có thể có liên quan ở những khu vực bất ổn quốc tế (ví dụ, ở châu Phi, Trung Cận Đông) – thậm chí bất chấp những tổn thất rất lớn về mặt chính trị, uy tín và những chi phí khác của hành động đơn phương hàm chứa thành phần sức mạnh đáng kể đã được chứng minh một cách thuyết phục.

Trong thời kỳ hỗn loạn đầy biến động của chúng ta, các cuộc tranh luận về việc trật tự thế giới hiện nay tốt hay xấu và liệu các lựa chọn thay thế trật tự này có khả thi hay không, có lẽ là điều không thể tránh khỏi. Trong các cuộc tranh luận đó, cần phải chú trọng phân tích ba đặc điểm chính của trật tự thế giới: tính ổn định, hiệu quả, độ chín. Chìa khóa cho sự ổn định của bất kỳ trậ tự thế giới nào nằm ở sự vận hành thành công của nó. Chỉ số quan trọng nhất về tính hiệu quả là khả năng phản ứng thích đáng trước các thách thức nổi lên trong quá trình phát triển chính trị quốc tế. Dấu hiệu về độ chín nằm ở kỹ năng của những nước tham dự nhằm giảm thiểu những vấn đề không thể giải quyết, giữ thái độ bình tĩnh và hướng tới sự tương tác mang tính xây dựng nhằm duy trì sự ổn định quốc tế.

Người dịch: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 30 đến 33

Phương Tây mù mờ kế hoạch tiếp theo của Putin ở Ukraine


Phát biểu nhân dịp kỷ niệm Ngày Chiến thắng hôm 9/5, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ca ngợi và cổ vũ tinh thần chiến đấu của binh lính và người dân Nga để giành được thắng lợi trước phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo Nga không hề đề cập đến bất kỳ kế hoạch quân sự nào nhằm đẩy mạnh chiến dịch quân sự đang diễn ra ở Ukraine – một động thái đi ngược lại những đồn đoán trước đó về khả năng Moskva sẽ ra lệnh tổng động viên toàn quốc nhân dịp kỷ niệm này.

Như thường lệ, lễ kỷ niệm năm nay đi kèm với lễ duyệt binh, những màn phô diễn sức mạnh của xe tăng và tên lửa đạn đạo. Từ nhiều tuần qua, phương Tây nhận định rằng Putin sẽ chỉ huy các lực lượng Nga đạt được tiến bộ trong chiến dịch ở Ukraine ở mức độ đủ để tuyên bố chiến thắng trong ngày lễ mang tính biểu tượng này. Nếu không, ông chủ Điện Kremlin có thể tuyên bố một lệnh tổng động viên. Thế nhưng, mọi đồn đoán đã “xịt ngòi” khi Putin không hề đề cập đến những vấn đề đó mà chỉ khẳng định rằng các lực lượng Nga một lần nữa đang chiến đấu chống phát xít. Hãng tin Reuters dẫn lời Tổng thống Putin khích lệ tinh thần của người Nga: “Các bạn đang chiến đấu vì Đất Mẹ, vì tương lai của đất nước, để không ai có thể quên được những bài học của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Và để thế giới này không còn chỗ dung thân cho những tên đao phủ, trừng phạt và phát xít”.

Trong một tuyên bố không kém phần khích lệ, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky khẳng định, nước ông sẽ chiến thắng trong chiến dịch hiện nay. Ông Zelensky khẳng định: “Nhân dịp Ngày Chiến thắng này, chúng tôi sẽ chiến đấu để đạt được một thắng lợi mới. Con đường để đi đến chiến thắng dù chông gai song chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ chiến thắng”.

Các nguồn tin ở Washington tiết lộ rằng Tổng thống Joe Biden đã bày tỏ quan ngại khi Putin không đưa ra bất kỳ manh mối nào về những bước đi tiếp theo của Nga trong chiến dịch ở Ukraine. Ông Phillips O’Brien – Giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Đại học St Andrews của Anh – nhận định: “Nếu không có những bước đi cụ thể nhằm thiết lập một lực lượng mới, thì Nga không thể chiến đấu dài hơi trong khi quân đội Nga đang thất bại nhanh chóng ở Ukraine”.

“Ngày Chiến thắng” xưa và nay

Theo đài RFI, Ngày Chiến thắng Đức Quốc xã (ngày 9/5) đã trở thành một nghi thức hàng năm và đây cũng là dịp để chủ nhân Điện Kremlin phô trương đội quân đông đảo được cho là hùng mạnh và các loại vũ khí khí tài hiện đại. Theo nhận định của Isabelle Facon, Trợ lý Giám đốc Quỹ nghiên cứu chiến lược (FRS) trên đài Franceinfo, đây cũng là dịp để Moskva “thể hiện sức sống của quân đội và tổ hợp công nghiệp quốc phòng”. Thế nên, ngay từ năm 2008, sau cuộc chiến Gruzia, thế giới được chứng kiến màn phô trương rầm rộ những binh chủng hùng hậu cùng các loại vũ khí đời mới nhất như xe tăng, những chiếc tên lửa đạn đạo liên lục địa có thể mang đầu đạn hạt nhân.

Bài diễn văn của chủ nhân Điện Kremlin luôn nhấn mạnh đến “sự vĩ đại của nước Nga trên trường quốc tế, sức mạnh quân sự của Nga, các “anh hùng” dân tộc Nga” và hình ảnh hàng ngàn binh sĩ hô to “Hurrah” ấn tượng. Đối với Putin, ngày 9/5 là một ngày lễ lớn về lòng yêu nước, với từ chủ đạo: “Chúng ta có thể lặp lại”. Nghĩa là, theo giải thích của Cécile Vaissé – nhà nghiên cứu về Nga học, Xô viết và hậu Xô viết thuộc Đại học Rennes 2, trên đài France Inter: “Ý tưởng ở đây muốn nói rằng chúng ta có thể một lần nữa thắng phe phát xít”.

Điều này được khẳng định một lần nữa trong bài diễn văn năm nay, như trong trích dẫn của phóng viên TTXVN tại Moskva: “Những người đã tiêu diệt chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại đã cho chúng ta thấy một tấm gương về chủ nghĩa anh hùng cho mọi thời đại. Đây là thế hệ của những người chiến thắng và chúng ta sẽ luôn ngưỡng mộ họ”.

Chỉ có điều, như sự mỉa mai của tạp chí The Economist, “đội quân diễu binh” của Tổng thống Putin dường như chỉ có “hiệu quả trên Quảng trường Đỏ”, nhưng tại Ukraine lại thật “thê thảm”. Và trong bối cảnh Nga dồn quân đánh Ukraine nhưng vẫn chưa có được kết quả như mong đợi, quy mô cuộc duyệt binh năm nay đã bị thu hẹp tới 1/3 do có rất ít các phương tiện và khí tài được phô trương.

Phương Tây vẫn ở bên Ukraine

Đài BBC dẫn lời Thủ tướng Đức Olaf Scholz phát biểu trên truyền hình hôm 8/5: “Putin sẽ không thắng cuộc chiến này. Ukraine sẽ vẫn hiên ngang”. Ông Olaf Scholz nói rằng Ngày Chiến thắng năm nay có ý nghĩa đặc biệt khi cả Ukraine và Nga đều từng là nạn nhân của Đức Quốc xã nhưng hiện đang giao chiến và Nga là quốc gia khởi xướng. Ông Olaf Scholz cũng cam đoan về tình đoàn kết với Ukraine trong cuộc chiến chống Moskva. Đức sẽ hỗ trợ Ukraine về nhân đạo, tài chính và quân sự. Thủ tướng Đức khẳng định sẽ không có nền hòa bình do Nga ra lệnh, nhấn mạnh thêm bình luận của Chủ tịch Quốc hội Đức Baerbel Bas đưa ra trước đó.

Các chính phủ phương Tây tiếp tục bày tỏ sự ủng hộ đối với cuộc đấu tranh của Ukraine. CUối ngày 8/5, Tổng thống Ukraine đã hội đàm trực tuyến với các nhà lãnh đạo G7, bao gồm Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Anh Boris Johnson. Sau cuộc họp, các lãnh đạo cam kết tiếp tục hỗ trợ Ukraine và quyết tâm cắt giảm sự phụ thuộc vào nguồn dầu từ Nga. Các khoản thanh toán cho nguồn năng lượng của Nga lên tới hàng triệu USD mỗi ngày giúp bơm tiền cho cuộc chiến tranh của Moskva.

Thủ tướng Canada Justin Trudeau cũng gặp trực tiếp Tổng thống Zelensky sau khi có chuyến thăm bất ngờ tới thị trấn Irpin, gần Kiev – nơi bị quân Nga tàn phá thời gian đầu của cuộc tấn công. Trong một cuộc họp báo sau đó, ông Trudeau tuyên bố sẽ hỗ trợ thêm về quân sự cho Ukraine. Đệ nhất phu nhân Mỹ Jill Biden từ Slovakia đến Ukraine để gặp Đệ nhất phu nhân Ukraine là bà Olena Zelenska.

Từ nhà máy thép ở Mariupol – nơi các lực lượng Nga bao vây khu vực này trong nhiều tuần và kêu gọi những chiến binh thuộc Trung đoàn Azov của Ukraine hạ vũ khí – Trung tá Illia Samoilenko của Ukraine tuyên bố: “Đầu hàng với chúng tôi là không thể chấp nhận được vì chúng tôi không thể tặng cho kẻ thù món quà lớn như vậy… Đó là lý do tại sao chúng tôi chiến đấu một cách không sợ hãi”.

Kể từ khi Nga tấn công Ukraine hôm 24/2, Liên hợp quốc đã ghi nhận ít nhất 2345 dân thường thiệt mạng và 2919 người bị thương ở Ukraine. Hàng nghìn binh sĩ cũng được cho là đã thiệt mạng hoặc bị thương ở cả hai bên này.

Nguồn: TKNB – 12/05/2022

Trật tự thế giới mới: Nên khắc phục hay biến đổi? – Phần VII


Các cuộc luận chiến có thể diễn ra trên cơ sở này – đôi khi có ích và đôi khi không thành công lắm (giống như ngày nay người ta hăng hái tranh cãi rằng tại sao không thể tạo ra một bộ máy chuyển động không ngừng và rốt cuộc, làm thế nào để tạo ra nó). Nhưng các xung đột thực sự (và thường đẫm máu) có thể nảy sinh.

Không nhất thiết phải thiết lập một trật tự thế giới mới để xác định các phương thức ngăn chặn kiểu xung đột đó. Xu hướng có thể đưa ra giải pháp đã được chỉ ra từ lâu – đó là nhà nước chấp nhận một số nghĩa vụ liên quan tới việc điều chỉnh sự phát triển trong nước theo các tiêu chí nhất định. Cả tiêu chí lẫn nghĩa vụ tuân thủ chúng có thể mang tính chất chính thức, song điều quan trọng hơn cả là chúng tạo thành một loại “quy tắc hành xử” được thừa nhận trên thực tế.

Có lẽ, theo thời gian, điều này sẽ trở thành một thực tiễn ngày càng phổ biến – trong khuôn khổ phát triển của hệ thống quốc tế theo biến số tự do. Tuy nhiên, giờ đây ở một số phân khúc, sự chuyển động theo xu hướng này rõ ràng đã bị dừng lại (hoặc hoàn toàn đi theo hướng ngược lại). Và căn cứ vào nhiều dấu hiệu cho thấy, động lực này sẽ quyết định tính chất phát triển của hệ thống quốc tế trong một thời gian dài.

Nhưng ngay cả khi có sự thay đổi vector sau đó, sự tiến triển theo chiều hướng này sẽ diễn ra hết sức chậm chạp. Song xác suất xảy ra thêm xung đột trên cơ sở này cao hơn nhiều. Đời sống hiện đại đầy rẫy những ví dụ liên quan – chẳng hạn, khi các đối tác bên ngoài của quốc gia bị tình trạng rối loạn tác động giải thích các sự kiện xảy ra ở quốc gia đó từ các lập trường hoàn toàn trái ngược (như trong trường hợp Ukraine và Syria), hoặc khi không thể đồng ý với các biện pháp mà cộng đồng quốc tế có thể và nên thực hiện (như trong trường hợp Libya).

Do đó, trong bối cảnh hiện địa, “việc can thiệp sâu” vào vấn đề nội bộ từ cấp độ hệ thống chính trị có thể mang tính chất xung đột. Và đây là câu hỏi thứ hai: liệu có thể cho rằng “sự nâng cấp” của hệ thống quốc tế lên mức độ các thách thức chung và các vấn đề toàn cầu có trở thành một phản đề hữu hiệu không? Ở đây, ức tranh mới nổi có vẻ như quá mơ hồ.

Một mặt, sự hiện diện các vấn đề chung theo truyền thống đã và đang được coi là tác nhân kích thích sự thống nhất của cộng đồng quốc tế, vì việc bắt buộc phải tương tác hợp tác trong những tình huống mà hành động riêng lẻ không thể đạt được kết quả quan trọng là điều rất rõ ràng. Trên thực tế, lĩnh vực hợp tác quốc tế đang mở rộng trong trường hợp này. Danh sách các từ khóa chỉ ra những lĩnh vực phát triển hợp tác đang không ngừng tăng lên: sinh thái, khí hậu, sức khỏe con người, di cư, các công nghệ mới – và cả chủ nghĩa khủng bố, tham nhũng, các hình thức khác của hoạt động tội phạm xuyên quốc gia…

Những người lạc quan được thuyết phục rằng, các động cơ để hợp tác mạnh tới mức thậm chí chúng sẽ nhanh chóng cho phép vượt qua mối quan hệ tan vỡ giữa Nga và phương Tây, hoặc chí ít bằng cách nào đó hòa nhập với nó. Nhưng những người hoài nghi có lý do để đưa ra đánh giá và dự báo bi quan.

Các vấn đề toàn cầu và những thách thức chung đối với tất cả không chỉ thúc đẩy các quốc gia hướng tới sự hợp tác, mà còn tạo ra các mâu thuẫn mới giữa họ. Chẳng hạn như, chúng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng chênh lệch về năng lực công nghệ trên thực tế (vì các nước hàng đầu sẽ luôn cố gắng điều chỉnh các giải pháp chung theo lợi ích của họ và không chia sẻ các thành tựu với những nước đang đi sau). Hoặc, các quốc gia khác nhau có thái độ không giống nhau đối với các ưu tiên khác nhau của họ (như hiện đang diễn ra trong lĩnh vực an ninh mạng). Kinh nghiệm đáng kể đã có trong việc giải quyết những vấn đề như vậy, cho dù chắc chắn mang tính tích cực, vẫn không cho thấy một sự đột phá về chất theo nghĩa tác động tới hệ thống quốc tế. Ví dụ, cuộc chiến chống nghĩa khủng bố quốc tế – trái ngược với các mong đợi – đã không trở thành một động lực mạnh mẽ đi tới hành động chung.

Điều quan trọng nhất là việc định hướng nhằm giải quyết các vấn đề như vậy bằng các nỗ lực chung bắt nguồn từ mô hình về một thế giới đang toàn cầu hóa, với sự hiện diện của các giá trị chung và các lợi ích cùng được chia sẻ. Trong khi đó, xu hướng trái ngược đang trên đà phát triển, khi các mối quan tâm riêng biệt được đặt lên hàng đầu. Đây là thách thức thứ ba trong số các thách thức được xem xét ở đây đối với hệ thống quốc tế.

Chúng tôi xác định đây là một hiện tượng của nguyên tắc trung thành tuyệt đối với chủ quyền quốc gia. Chúng ta đang nói về các ý tưởng và các yêu cầu chính trị, xuất phát từ giá trị tuyệt đối của vấn đề chủ quyền và sự phổ biến không kém phần tuyệt đối của các lợi ích dân tộc (quốc gia).

Ngày nay, kiểu tư duy và đường lối như vậy trong điều kiện thực tế có vẻ như hợp pháp và tự nhiên đối với nhiều quốc gia. Vậy có cách nào khác để bàn đến nhiệm vụ chính sách đối ngoại, các mục tiêu phát triển kinh tế, điều kiện để đảm bảo an ninh – nếu không phải là thông qua các ưu tiên vô điều kiện cho các lợi ích riêng biệt? Có nhiều nước trong số đó thể hiện rõ thiên hướng này. Việc duy trì và đặc biệt nhấn mạnh thiên hướng này có thể ảnh hưởng tâm lý trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Việc đặc các động cơ riêng biệt lên hàng đầu và hạ thấp những động cơ vượt ra ngoài khuôn khổ chủ nghĩa thực dụng của nhà nước – dân tộc có liên quan tới các vấn đề xã hội theo nghĩa rộng, hoặc mang tính thống nhất.

Các lập luận từ kho vũ khí “thuyết vị kỷ quốc gia” có thể được sử dụng khá thành công trogn cuộc đấu tranh tuyên truyền, vì chúng không yêu cầu minh chứng phức tạp và tương đối dễ nhận được sự ủng hộ ở trong nước. Do đó, có nhiều cơ hội hấp dẫn để hợp pháp hóa hiệu quả các chính sách liên quan. Hơn nữa, khá dễ dàng biện minh bằng cách kêu gọi về vấn đề chủ quyền (“chúng ta sẽ làm những gì chúng ta cho là cần thiết, được dẫn dắt theo các lợi ích quốc gia và chống lại bất cứ sự áp đặt nào từ bên ngoài”).

Các hệ quả đối với hệ thống quốc tế rất rõ ràng: sẽ xuất hiện ngày càng nhiều điều kiện tiên quyết cho các xung đột quốc tế, việc tìm kiếm các kết cục có tính thỏa hiệp cùng được chấp nhận dường như ngày càng khó khăn hơn, và bản thân hệ thống bắt đầu hứng chịu các thử thách nguy hiểm về tính bền vững.

Các nhóm vấn đề truyền thống: những điểm nhấn thay đổi

Trong khuôn khổ trật tự thế giới hiện nay và tương lai, tất cả những vấn đề phải được giải quyết trong quá khứ vẫn nằm trong chương trình nghị sự. Nhưng cần chú ý đến một số điểm nhấn mới đã xuất hiện trong diễn ngôn chính trị và rất có thể cần phải trở thành mục tiêu chú ý đặc biệt. Không loại trừ là, có thể chính ở đây sẽ xuất hiện một số tham số có tính nguyên tắc giúp hiệu chỉnh trật tự thế giới.

Một kiến giải rộng hơn về an ninh và những vấn đề liên quan trên một loạt vấn đề nổi lên ở đây – về các mối đe dọa và thách thức an ninh, các điều kiện đảm bảo nó, các phương pháp được sử dụng, các công cụ và các thiết bị, các tham số về sự tương tác có thể có với các nhà thầu bên ngoài,… – trở thành một hiện tượng đa dạng và đa chiều cạnh hơn là một hiện tượng quân sự thuần túy; nó giờ đây được xếp vào trạng thái sự vụ trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội vốn trước kia nằm ngoài chủ đề này.

Đây là một xu hướng gây tranh cãi. Một mặt, nó phản ánh đầy đủ hơn các hiện thực của cuộc sống, và mặt khác, nó làm xói mòn tính đặc thù của chính khái niệm “an ninh”, nếu bất cứ vấn đề nào cũng có thể được quy vào an ninh. Các tiêu chí về an ninh, khả năng đánh giá đầy đủ về nó – có thể mang tính tình thế dựa vào tình trạng báo động được kích hoạt theo tình huống – bị suy giảm giá trị.

Có lẽ, cách tiếp cận như vậy có thể là phản đề của lối tư duy sức mạnh quân sự truyền thống – nhưng trong thực tế chúng thường gắn liền với nhau. Trên cơ sở này, các biến số cũ hoạt động trở lại – chẳng hạn như biến số mô tả nghịch lý kinh điển về an ninh, khi được áp dụng, chúng thực sự tạo ra động cơ kích hoạt hoạt động chuẩn bị lực lượng quân sự của đối phương. Kết quả có thể là hiện tượng dự báo tự biện minh xuất hiện, chẳng hạn như trong bối cảnh cuộc đối đầu được tái lập giữa Nga và NATO.

Nếu điều này trở thành quy chuẩn sẽ là một mối nguy hiểm. Trường hợp này chính là tình huống khi những nước tham dự vào đời sống quốc tế phải tạo được sự thay đổi đột biến trong quá trình phát triển của xu hướng này – không liên quan tới việc diễn giải nó như thế nào (như là một sản phẩm của trật tự thế giới mới, hay là di sản của trật tự cũ).

(còn tiếp)

Người dịch: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 30 đến 33