Chiến tranh mạng lưới tương lai: khía cạnh quân sự, các cuộc chiến mạng lưới trung tâm – Phần VII


Việc ở Hoa Kỳ tồn tại những hội kín trước tiên là để bảo vệ động cơ mạt thế đúng đắn đó, đồng thời nhấn mạnh rằng thuộc về giới thượng lưu là thuộc về một đẳng cấp đặc biệt. Không có chỗ cho tất cả. Những đoàn, hội kín còn tồn tại để nhấn mạnh sự khó khăn đáng thèm muốn, tính khép kín và sự chọn lọc chân chính của giới thượng lưu.

Ở không gian hậu Xô viết hiện nay cũng có thể gặp giới tinh hoa khép kín. Nhưng đúng hơn nó là sự khép kín của lũ trộm cắp, ngồi trên quỹ đen chung. Mối quan tâm duy nhất của họ trong vấn đề này – không cho phép người khác lên nắm quyền, quyền lực mà họ hiểu là cơ hội duy nhất để tăng cường tài sản cá nhân của họ. Bởi với mỗi người mới họ phải chia sẻ, điều được cảm nhận là khá đau đớn. Giới thượng lưu Nga khép kín vì không muốn chia sẻ, cống nạp cho ai đó ngoài những ai đang tồn tại, những động cơ thật sự xa cách không chỉ với hệ tư tưởng cứu thế, mà còn với những lợi ích thường tình của quốc gia. Vì thế không có một sự phấn chấn xã hội nào, không có bất cứ phương sách nào khác để hành tiến vào giới thượng lưu Và điều đó đang gieo hi vọng cho những nhà quản trị của Manifest Destiny.

Mạng lưới Hoa Kỳ không dễ tổn thương

Theo kế hoạch ban đầu, cấu trúc Internet được thiết kế để chống lại cuộc tấn công quân sự. Bởi vì nó không có trung tâm và mỗi phần thật sự có thể hoạt động như một đơn vị độc lập, mạng có thể tiếp tục hoạt động kể cả khi một phần của nó bị phá hủy.

Phân cấp cũng là một yếu tố của kế hoạch này, bảo đảm sự sống sót, khiến cho việc kiểm soát mạng lưới là cực kỳ khó khăn. Bởi không một nút mạng nào là rất cần thiết để thông tin liên lạc với nhau, nên khó mà điều chỉnh hay cấm đoán sự liên lạc này. Mô hình dân chủ được thiết kế dưới dạng thức hệ thống rễ, mà Deleuze và Guattari gọi là thân rễ, không thứ bậc và phân cấp này đầu tiên xuất hiện trong nhận thức của các triết gia hậu hiện đại. Chỉ vài thập niên sau đó sự tinh tế triết học này mới được đặt làm nền móng cho mạng lưới, biến đổi thế giới theo phong cách hậu hiện đại.

Giống như cấu trúc thân rễ hậu hiện đại; cục diện chung của thiết chế đế chế hiện đại, bao phủ một không gian trống rỗng, chưa được mở mang của hành tin cũng có thể hình dung trong dạng thân rễ – một hệ thống rễ đa nhánh, một mạng lưới thông tin liên lạc toàn cầu mà tất cả các điểm hoặc các nút của nó liên kết với nhau. “Nghịch lý thay, cấu trúc mạng lưới như thế này dường như cùng lúc hoàn toàn mở, và hoàn toàn khép kín đối với những trình diễn chống lại nó, can thiệp vào quá trình hoạt động của nó. Một mặt, mạng lưới chính thức thừa nhận rằng tất cả các chuỗi hợp thành có thể của các mối quan hệ đều sẽ được giới thiệu, nhưng mặt khác bản thân mạng lưới thật sự hoạt động như một nhóm cục bộ. Như thế, xung đột quanh các nguyên tắc xây dựng đế chế sẽ xoay quanh trong không gian không xác định và tròng trành đó” – như Hardt và Negri khám phá bản chất mạng lưới.

“Đế chế” mạng lưới Hoa Kỳ – đó là đế chế của những mục đích, những quan điểm, hành vi, đó là môi trường tiêm nhiễm cho đông đảo quần chúng và toàn bộ không gian các lục địa một thế giới quan, sản phẩm của một phân khúc bé mọn của một nền văn minh nhân loại, của một nhóm cuồng tín tạo ra một loại vũ khí hiệu quả nhất và sử dụng chống lại nhân loại: mạng lưới. Bao phủ hành tinh bằng mạng lưới của mình, “nhóm những kẻ âm mưu” đã đạt được sự tuân phục gần như hoàn toàn và tổng thể khi tạo ra cho phần lớn cư dân trái đất ảo tưởng tự do và độc lập tư duy, trên thực tế họ đang nằm trong khuôn khổ chật hẹp và cứng nhắc của giáo điều ý thức hệ của những kẻ thật sự cai trị thế giới. Người kết nối mạng đã không còn khả năng tư duy độc lập, có nghĩa – hành động, phản ứng, ra quyết định, đưa ra lựa chọn riêng. Ảo tưởng tự do khỏi… tất cả, ngoại trừ mạng, đã hoàn toàn thay thế cho tự do bản thể của con người được Tạo hóa ban cho. Kẻ bị chiếm lĩnh bởi mạng trở thành chiến lợi phẩm của mạng, thành nạn nhân và nguồn năng lượng chính nuôi sống mạng. Mạng trong nhận thức, trong đầu người, trong suy nghĩ và xây dựng các ưu tiên. Kẻ nối mạng tin rằng mình tự do.

Liệu có thể tận diệt mạng lưới này không? Vâng, có thể. Cùng với nhân loại của mạng lưới. Đứa con của sự diệt vong sẽ mang nó đi cùng với những ai mắc kẹt vào trong đó. Ai sẽ còn lại? Những ai không kết nối vào mạng lưới. Không phải về kỹ thuật, không phải những ai không có khả năng truy cập vào “tiện tích” của văn minh, mà là những ai không khuất phục trước hứa hẹn của những vương tướng thế giới này, hứa hẹn tự do khỏi tất cả, những gì cản trở, giới hạn, khỏi nhân dân mình, khỏi những nghĩa vụ, khỏi truyền thống. Sẽ còn lại những ai có được tự do để cứu rỗi, tìm được ý nghĩa hiện sinh, bản thể học và sự viên mãn của tồn tại thần thánh – bản chất cao nhất của con người, đứa con của Đấng tạo háo, đứng về bên phải [Theo sách Phúc âm thứ nhất, vào ngày Tận thế, các thiên thần sẽ đến tách biệt kẻ dữ khỏi người lãnh. Người lành đứng bên tay phải và kẻ dữ đứng bên tay trái – ND].

Phòng chống mạng lưới: phản ứng qua sự phủ nhận

Phủ nhận sự vô vọng đối đầu với mạng lưới – đó chính là điều cung cấp sức lực cho trận chiến cuối cùng: giải phóng, kéo khỏi mạng lưới những ai đang rơi vào, trao cho họ cơ hội sinh ra lần thứ hai. Phòng chống và đưa ra các giới hạn cho sự phát tán – đó là điều còn có thể giúp cưỡng lại trong thời gian gần đây. Giới hạn – đó là ở đâu còn có ý chí đưa ra những phản chiến lược mạng chống lại sự tước đoạt không gian địa chính trị khỏi lục địa Á – Âu. Việc chiếm đoạt đó là tiếp tục của sự bành trướng địa chính trị phương Tây, nhưng không phải bằng con đường quân sự, mà là bằng sự hỗ trợ của chiến lược các hành động gián tiếp, được thực hiện mà là bằng sự hỗ trợ của chiến lược các hành động gián tiếp, được thực hiện theo “cách văn minh”, với sự giúp sức của việc tác động lên xã hội. Ở đây cần chỉ ra những vai trò xác định của xã hội trong thế giới hiện đại, để bảo vệ xã hội khỏi những tác động bên ngoài của mạng lưới, tạo cho nó một khả năng miễn dịch nhất định.

Bước đi đầu tiên theo hướng này là sự cần thiết phân loại theo nguyên tắc địa chính trị bảy loại nền văn minh, theo mô tả của Huntington. Cần xác định những nền văn minh nào trong số này có thể trở thành đồng minh, những nền văn minh nào chúng ta có thể xây dựng những liên minh chiến lược, còn những nền văn minh nào đơn giản theo nguyên tắc địa chính trị chúng ta tuyệt đối không thể tán tụng, không thể xây dựng một chiến lược hỗ tương.

Bước tiếp theo là phải rời khỏi trận địa kinh tế, thoát hoàn toàn khỏi những động cơ kinh tế về nguyên tắc. Từ bỏ kinh tế như một thế giới quan – không phải kinh tế theo bản chất cấu trúc các mối quan hệ, mà như khỏi một nhân tố cơ bản tác động của nền văn minh phương Tây lên kiểu nền văn minh của chúng ta, cần phải xác định và để lại cho mình tất cả những gì là các yếu tố phi kinh tế của bản sắc. Thoát khỏi sự phát triển toàn cầu đang xóa nhòa bản sắc và khả năng bảo tồn truyền thống. Và chú trọng vào những gì còn lại.

Với chiến lược phản ứng mạng lưới tạo ra ý kiến xã hội ở các nước đối phương, cũng cần phải nhắm vào xã hội. Không phải nhắm vào giới thượng lưu các nước này bởi họ đã bị mạng lưới mua chuộc, đã có khả năng miễn dịch vững vàng chống lại các tác động khác – mà phải là nhắm vào dư luận xã hội. Trong bất cứ trường hợp nào, đó phải là một chiến lược xã hội, hình thành nên hành vi của các nước thậm chí của những nền văn minh trong lĩnh vực quan hệ quốc tế. Đầu tiên phải nhắm vào những xã hội từ chối tác động kinh tế, hội nhập của văn minh phương Tây, quan tâm bảo tồn bản sắc đang bị toàn cầu hóa xói mòn, vào việc phục hồi và giữ gìn truyền thống, vào những tiêu chuẩn đạo đức. Chúng ta có thể sử dụng tất cả những dấu hiệu này như tiền đề để lập ra những khối chiến lược, địa chính trị tổng quát và văn minh để chống lại những tác động mạng lưới phương Tây lên những xã hội và nền văn minh gần với chúng ta. Trên cơ sở này chúng ta có thể tìm ra sự miễn dịch riêng khỏi tác động toàn cầu hóa của phương Tây.

Như thế, xã hội, vai trò và ảnh hưởng của nó đối với việc hình thành hoạt động của quốc gia trên trường thế giới trở thành yếu tố then chốt trong việc bảo vệ địa chính trị bản sắc nền văn minh của chúng ta. Đó là chiến lược bảo vệ cần thiết dưới tác động tấn công địa chính trị văn minh toàn cầu của phương Tây đang lấn sâu, với những kế hoạch tinh tế hơn tác động lên cộng đồng và các mối quan hệ xã hội. Lời kêu gọi trực tiếp tới xã hội ở đây sẽ có ý nghĩa địa chính trị.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba – NXB Trẻ 2017.

Advertisements

Các cuộc tấn công nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia có tác động mạnh đến nền kinh tế Mỹ?


Theo bài viết đăng trên Wall Street Journal ngày 15/9, các chuyên gia kinh tế nhận định các cuộc tấn công mới nhất nhằm vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia không có tác động trực tiếp nhiều tới nền kinh tế Mỹ, song có thể khiến giá xăng tăng cao hơn và gia tăng áp lực tới tăng trưởng toàn cầu.

Trong khi vẫn chưa biết rõ tác động tổng thể của các vụ tấn công trên, song các nhà phân tích khẳng định nền kinh tế Mỹ sẽ không rơi vào suy thoái khi giá dầu tăng mạnh giống như những năm 1970, bởi hiện nay những cú sốc về giá dầu không còn gây ra tác động tương tự đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc tấn công trên sẽ là một yếu tố mới để lãnh đạo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tính đến khi họ xem xét một loạt nguy cơ địa chính trị có thể gây ảnh hưởng tới tương lai của nền kinh tế. Các yếu tố khác có thể kể đến như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, bất ổn ở Hong Kong (Trung Quốc) và việc Anh sắp rời Liên minh châu Âu (EU).

Nguy cơ giảm đầu tư kinh doanh và sự chững lại của tăng trưởng toàn cầu chính là lý do chính khiến FED quyết định giảm lãi suất trong tháng Bảy vừa qua và có khả năng sẽ tiếp tục xu hướng này trong cuộc họp sắp tới. Lãnh đạo FED cũng sẽ theo dõi giá dầu trong những tuần tới để xác định ảnh hưởng tới lạm phát.

Tháng trước, Chủ tịch FED Jerome Powell cho biết, các quan chức trong ủy ban thiết lập lãi suất của ngân hàng trung ương nên đưa ra chính sách một cách thận trọng. Vì những tác động quan trọng nhất của chính sách tiền tệ được cảm nhận với mức độ bất ổn trong một năm hoặc hơn, nên ủy ban này của FED cần cố gắng xem xét những diễn biến đã xảy ra và tập trung vào yếu tố có khả năng sẽ tác động tới triển vọng kinh tế.

Các chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Bank of America cho biết, hiện nay năng lượng chiếm khoảng 2,5% tiêu dùng hộ gia đình, giảm từ 8% trong những năm 1970. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), kể từ đầu những năm 2000, các công ty năng lượng của Mỹ đã đẩy mạnh sản xuất bằng cách sử dụng các kỹ thuật khoan mới, chẳng hạn như công nghệ thủy lực. Sản lượng dầu đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua, từ năm 2008 – 2018 và Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới và đứng thứ hai là Saudi Arabia.

Một mặt, giá dầu cao hơn sẽ gây tổn hại cho người tiêu dùng và gây áp lực cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lượng để sản xuất hoặc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, mặt khác, những tổn thất đó sẽ được bù đắp bằng lợi nhuận mà ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ kiếm được từ giá dầu cao. Ngành công nghiệp này của Mỹ gần đây đang gặp khó khăn khi sản xuất năng lượng tăng trong khi nhu cầu giảm đã khiến giá cả đi xuống. Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/9, giá dầu thô kỳ hạn ở mức 54,82 USD/thùng, thấp hơn đáng kể so với mức 76,41 USD/thùng ngày 3/10/2018. Các cuộc cạnh tranh trong ngành công nghiệp này làm giảm đầu tư kinh doanh. Đầu tư cố định phi chính phủ đã giảm với tỷ lệ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 0,6% trong quý II/2019, điều này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong quý này.

Giá dầu tăng liên tục có thể thúc đẩy đầu tư nhiều hơn vào hoạt động thăm dò và khoan dầu, nhưng cũng có thể làm giảm đầu tư cố định vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng. Các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng, như Trung Quốc và Nhật Bản, các nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới sau Mỹ sẽ bị tác động nhiều. Theo EIA, Trung Quốc sản xuất khoảng 4,8 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhưng tiêu thụ khoảng 12,8 triệu thùng, khiến nước này phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu. Nền kinh tế Trung Quốc đã chịu áp lực từ cuộc chiến thương mại với Mỹ và sự suy giảm tăng trưởng toàn cầu trên diện rộng. Giá dầu cao hơn có thể khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại hơn nữa, qua đó sẽ làm giảm nhu cầu của Trung Quốc  đối với hàng xuất khẩu của Mỹ.

Tháng Bảy vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết sự giảm tốc mạnh mẽ của thương mại khiến nền kinh tế chững lại. Dự báo, tăng trưởng toàn cầu, được điều chỉnh theo lạm phát, sẽ giảm xuống 3,2% trong năm nay, từ mức 3,6% của năm ngoái và 3,8% trong năm 2017. Nếu các cuộc tấn công vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia vào ngày 14/8 vừa qua khiến giá năng lượng tiếp tục cao, điều này có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Cho tới nay, Mỹ vẫn tránh được những hậu quả nghiêm trọng của sự suy giảm toàn cầu. Nền kinh tế trong nước tăng trưởng với tốc độ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 2% trong quý II/2019. Công ty dự báo kinh tế Macroeconomic Advisers dự đoán tăng trưởng kinh tế sẽ giảm nhẹ xuống mức 1,9% trong quý III/2019.

Trong một diễn biến khác, một nguồn thạo tin cho hay hoạt động xuất khẩu dầu của Saudi Arabia sẽ trở lại bình thường trong tuần này, khi Riyadh sử dụng nguồn dầu từ các cơ sở dự trữ lớn. Các vụ tấn công nhằm vào 2 nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia hôm 14/9 đã làm giảm hơn một nửa sản lượng dầu của nước này, tương đương hơn 5% nguồn cung toàn cầu. Nguồn tin trên cho hay hiện vẫn chưa rõ việc ngừng sản xuất dầu của Saudi Arabia sẽ kéo dài bao lâu, vì tổn thất đối với cơ sở hạ tầng do các vụ tấn công này là khá lớn và không thể khôi phục một sớm một chiều.

Trước đó, lực lượng Houthi tại Yemen thừa nhận thực hiện vụ tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào 2 nhà máy của Aramco ở thành phố Abqaia và Khurais của Saudi Arabia. Kênh truyền hình vệ tinh Al-Masirah của Houthi cho biết, lực lượng này đã mở một chiến dịch quy mô lớn gồm 10 máy bay không người lái nhằm vào 2 cơ sở dầu mỏ này.

Cùng ngày, Iran đã lên tiếng bác bỏ tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cáo buộc Tehran tấn công vào các nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia, coi đây là những cáo buộc vô nghĩa khi Washington đang cố viện lý do để trả đũa nước Cộng hòa Hồi giáo này. Trong một tuyên bố, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Abbas Mousavi nêu rõ: “Những cáo buộc mù quáng và vô ích như vậy là khó hiểu và vô nghĩa. Những cáo buộc này được cho là chứng minh cho các hành động (của Mỹ) chống Iran”.

Bộ Ngoại giao Iran đưa ra tuyên bố trên sau khi Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo trước đó cùng ngày trên mạng xã hội Twitter, cho biết: “Giữa lúc tất cả (các nước) kêu gọi giảm căng thẳng, thì Iran đã phát động một cuộc tấn công không thể chấp nhận được vào nguồn cung năng lượng của thế giới”. Hiện Bộ Ngoại giao Mỹ chưa cung cấp bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho cáo buộc của ông Pompeo.

Nguồn: TKTTK – 17/09/2019

Tương lai Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc


Chuyển giao công nghệ cho phép các nền kinh tế mới nổi nhảy vọt qua các giai đoạn phát triển nhưng có thể không đảm bảo lợi thế cạnh tranh. Trong bối cảnh cạnh tranh thương mại Mỹ – Trung tiếp tục căng thẳng, Mỹ tiếp tục triển khai các biện pháp hạn chế Tập đoàn viễn thông Huawei, hãng công nghệ hàng đầu của Trung Quốc. Một Con đường tơ lụa kỹ thuật số được các công ty công nghệ Trung Quốc khởi xướng đang được xây dựng kéo dài từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương đến vùng Vịnh và châu Phi. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu Con đường tơ lụa kỹ thuật số này có mang lại lợi thế cạnh tranh lâu dài cho các nền kinh tế mới nổi cũng tham gia Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc hay không?

Con đường tơ lụa kỹ thuật số của Trung Quốc về cơ bản là sự kết hợp của các chương trình thuộc chính phủ nhằm thúc đẩy nhu cầu trong nước với hoạt động xuất khẩu các công nghệ của nước này cùng với một chương trình nghị sự rộng lớn hơn để kết nối các mạng công nghệ của Trung Quốc và các quốc gia khác. Từ sau năm 1994 khi Trung Quốc chính thức triển khai quyền truy cập mạng Internet, lượng truy cập toàn cầu qua các điểm trung chuyển ở Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu liên tục tăng mạnh từ đầu những năm 2000. Với sự bùng nổ phát triển của công nghệ cao hiện nay, “nút thắt cổ chai” này được coi là một trở ngại đối với ngành công nghiệp công nghệ Trung Quốc trong quá trình hội nhập với các nước khác trên thế giới. Do đó, các công ty công nghệ Trung Quốc đã tìm cách mở rộng và tích hợp với một số thị trường mới nổi thông qua xuất khẩu dịch vụ của họ. Cơ hội được mở rộng thêm từ sau khi Bắc Kinh ra mắt BRI hồi năm 2013.

Một con đường tơ lụa về thông tin đã chính thức được đề cập trong một tuyên bố chung năm 2015 giữa Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Trung Quốc, Bộ Ngoại giao và Bộ Thương mại. Mục đích đặt ra là xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng Internet của Trung Quốc, tăng cường hợp tác trong không gian và phát triển các tiêu chuẩn công nghệ chung giữa các nước thành viên BRI.

Một sự phát triển đáng kể nằm trong BRI là hệ thống đường dây cáp nối Đông Phi – Pakistan, kết nối Pakistan với Kenya thông qua Djibouti, được Huawei Marine, một nhánh của Tập đoàn Huawei, thực hiện và được Trung tâm Khoa học Nhiệt đới của Hong Kong tài trợ năm 2017. Sự tham gia của Trung Quốc vào các tuyến cáp quang dưới biển khác cũng được thể hiện rõ như một tuyến cáp quang dài 4800 km nối thành phố cổ Kashgar, Tân Cương, Trung Quốc với Faizabad ở Afghanistan, qua Hành lang Wakhan; dự án cáp quang SEA-ME-WE 5 trên Vịnh Bengal nối Đông Nam Á – Trung Đông – Tây Âu có sự tham gia của công ty China Mobile International và China Mobile; tuyến AAE-1 nối châu Á – châu Phi – châu Âu dài 25.000 km có sự tham gia của công ty China Unicom; dự án Bay of Bengal Gateway (BBG) có sự góp mặt của China Mobile. Các dự án này được coi là nỗ lực nhằm mang lại lợi ích cho năng lực lưu lượng truy cập mạng Internet toàn cầu của Trung Quốc và thiết lập sự hiện diện thương mại nước ngoài.

Trong lĩnh vực phát triển không gian, Trung Quốc cũng đang trở thành trụ cột đối với nhiều quốc gia tham gia BRI. Tại Nam Á, Tập đoàn Công nghiệp Great Wall của Trung Quốc đã đồng ý tham gia cùng phóng vệ tinh PakSat Multi Mission với Pakistan, trong khi vệ tinh sắp tới của Afghanistan-Sat-2, cũng sẽ dựa vào sự hỗ trợ từ Bắc Kinh để có thể đi vào hoạt động. Hiện tại, Trung Quốc cũng đang lãnh đạo Tổ chức Hợp tác vũ trụ châu Á – Thái Bình Dương (APSCO), một nền tảng đa phương cho phép Bắc Kinh chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm của họ cho các nền kinh tế mới nổi khác.

Bên cạnh đó, Bắc Kinh cũng có kế hoạch tuyên truyền các tiêu chuẩn công nghệ của họ hơn nữa, chủ yếu tập trung ở các quốc gia thành viên BRI. Kế hoạch hành động chung về xây dựng các cơ sở hạ tầng do công ty China Unicom thực hiện dựa trên BRI (2018 – 2020) do Cơ quan Tiêu chuẩn hóa Trung Quốc (SAC) đưa ra nhằm kêu gọi các tiêu chuẩn thống nhất trên các công nghệ cao gồm 5G, trí tuệ nhân tạo và hệ thống định vị vệ tinh. Nền tảng thanh toán điện tử trong nước của Trung Quốc, Alipay, cũng đã bắt đầu thiết lập sự hiện diện trực tiếp hoặc hoạt động thông qua khách hàng địa phương tại hơn 40 quốc gia trên khắp châu Âu và châu Á, trong đó có Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ.

Bước nhảy vọt trong thập kỷ qua từ việc thiếu cơ sở hạ tầng mạng cơ bản sang có mạng thương mại và nền tảng công nghệ 4G là cơ sở để có thể hỗ trợ nhiều nền kinh tế mới nổi trong BRI có thể vượt qua các nền kinh tế phát triển chậm khác, ít nhất là về công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là liệu các quốc gia có thể phát huy tối đa lợi ích như thế nào khi phải dựa vào công nghệ của Trung Quốc trong dài hạn.

Thứ nhất, Con đường tơ lụa kỹ thuật số về cơ bản là một dự án dựa vào nguồn cung. Việc cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ là cơ sở để thúc đẩy các ngành thứ cấp và cao cấp của các nền kinh tế mới nổi, nhưng nó không đảm bảo mức độ áp dụng ngang bằng với các dịch vụ công nghệ trên thế giới.

Thứ hai, chuyển giao công nghệ Trung Quốc trên các nền kinh tế khác nhau sẽ được triển khai theo các cách khác nhau. Ví dụ, các thành phố châu Âu khó có thể nhanh chóng chấp nhận các công nghệ 5G của Trung Quốc như các thành phố ở Nam Á. Các nền kinh tế Nam Á có thể muốn ưu tiên nhiều hơn về phần cứng như vệ tinh và cáp quang, trong khi các nền kinh tế Đông Nam Á lại hướng đến các công nghệ mềm hơn, như trong lĩnh vực hợp tác trí tuệ nhân tạo và thương mại điện tử. Làm thế nào để những sự khác biệt này có thể bổ sung hoặc thay thế nhau với một lợi thế cạnh tranh vẫn là một điều không chắc chắn.

Thứ ba, do phải phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ Trung Quốc nên các công nghệ được triển khai cho các nước BRI có thể chỉ là thứ cấp so với các công nghệ được triển khai trên khắp các thành phố của Trung Quốc. Điều này có thể dẫn tới một hiệu ứng tụt hậu trong xuất khẩu công nghệ, nơi mà các công nghệ mới phải có được chỗ đứng nhất định tại thị trường Trung Quốc trước khi chúng có thể được triển khai ở nơi khác. Ngược lại, các quốc gia BRI này có thể trở thành các cơ sở thử nghiệm trước khi các sản phẩm và dịch vụ công nghệ tốt hơn, hiệu quả hơn được triển khai tại Trung Quốc.

Các quốc gia dọc theo Con đường tơ lụa kỹ thuật số sẽ khó có thể chống lại sự phụ thuộc vào dòng chảy công nghệ Trung Quốc, nhưgn các nước vẫn sẽ phải đánh giá thận trọng nhu cầu trong nước, khả năng áp dụng công nghệ và tốc độ đổi mới nếu họ có thể đạt được lợi thế cạnh tranh trong dài hạn.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 23/08/2019

Chiến tranh mạng lưới tương lai: khía cạnh quân sự, các cuộc chiến mạng lưới trung tâm – Phần VI


Mỗi diễn viên trong trường hợp này, căn cứ vào ý định của chỉ huy, hoàn toàn nắm được mục tiêu cuối cùng, thậm chí không phải mục tiêu chiến thuật, mà là chiến lược, của toàn bộ chiến dịch, có thể không chỉ sử dụng những dữ liệu phổ cập trên cơ sở nguyên tắc am hiểu phổ quát, mà đồng thời còn bổ sung vào cơ sở dữ liệu chung, và quan trọng nhất là có khả năng và toàn quyến tạo ra một bối cảnh cần thiết, nếu anh ta cần nó, để thực thi nhiệm vụ. Cụ thể, đang có mặt trên “chiến trường” – ở đây không nhất thiết là nơi diễn ra đụng độ, mà là bất cứ môi trường nào khác tiến hành chiến dịch mạng lưới – diễn viên có khả năng nhanh chóng liên hệ với đại diện của một cơ quan tin tức. Nhưng đồng thời cũng với một cá nhân nhà báo nào đó, một nhà ngoại giao hay chính khách và bằng việc chuyển giao toàn bộ hay một phần thông tin có được, để tạo ra cho anh ta một bối cảnh hành động cần thiết vào ngay thời khắc đó. Thông báo được truyền đi từ “chiến trường” có thể ngay trong tích tắc đến được các hãng tin chính của thế giới, tác động lên giá cổ phiếu, và đến lượt mình, có thể nhanh chóng điều chỉnh các quyết định chính trị của các bên liên quan khác nhau mà bằng cách nào đó có liên quan đến chiến dịch và thay đổi tiến trình các sự kiện chung, tác động lên kết quả cuối cùng của một “trận chiến” cụ thể.

Người diễn viên có khả năng tác động lên tình hình xã hội, chính trị ở mỗi điểm cư trú cụ thể nếu có được ưu thế tiếp cận thông tin, tốc độ liên hệ với các diễn viên khác, đồng thời phối hợp hành động của mình với bộ tham mưu cung cấp sự am hiểu phổ quát cho tất cả các thành viên quá trình. Trong ý nghĩa này người lính thời chiến tranh mạng lưới – đó là một binh sĩ vạn năng, một tập hợp các khả năng tối đa, nói cách khác – là một hệ thống phổ quát có khả năng thực hiện bất cứ chiến dịch nào trong phạm vi thẩm quyền của anh ta, trong không gian xã hội vật chất và thông tin, để đạt được bất kỳ mục tiêu nào. Người lính của xã hội hậu tự do trong tương lai, đó là một sinh vật điều khiển học hoàn hảo với những khả năng gần như không giới hạn.

TRƯỚC TRẬN CHIẾN CUỐI CÙNG

Kỷ nguyên của những tổ chức mật và sự khép kín của giới tinh hoa

Với sự xuất hiện của kỷ nguyên hậu hiện đại và việc thông qua những chiến lược mạng lưới, các cơ quan an ninh và điệp viên mật ngày càng mất đi ý nghĩa thường thấy của chúng. Hoạt động tình báo nhanh chóng tiếp nhận dạng thức hậu thực chứng – ít tài liệu và dữ liệu cụ thể hơn, nhiều hình ảnh, ngụ ý và ngữ cảnh hơn. Học thuyết âm mưu với những âm mưu, hội tam điểm và tổ chức bí mật, xác nhận điều hiển nhiên nhưng không có bằng chứng cụ thể, đang đi vào cuộc sống hàng ngày. Mặc dù các thành viên hội tam điểm, đại diện các hội kín, ở phương Tây nói chung và Hoa Kỳ nói riêng, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong giới lãnh đạo như một yếu tố thiết yếu cho sự trang điểm chính trị, thực tế cả hai Bush, và phần lớn tầng lớp tinh hoa Hoa Kỳ đều tham gia vào một hội kín “Skull and bones”. Nhiều đại diện CIA và giới lãnh đạo Hoa Kỳ những năm trước cũng tham gia vào hội kín này. Và có bao nhiêu hội như thế thật sự tác động vào số phận thế giới đến hiện nay? Khó mà đồng tình với ý kiến rằng tất cả những thứ này chỉ mang tính biểu tượng hình thức nào đó của giới thượng lưu, một tàn tích cổ xưa. Nói ví dụ, nếu nữ hoàng vương quốc Anh là biểu tượng của Anh quốc và giới thượng lưu, thì biểu tượng của giới tinh hoa Hoa Kỳ là các hội kín. Ngày nay hội kín – đó là một nghiệp đoàn nào đó của các nhóm tinh hoa, thường mâu thuẫn nhau trong các vấn đề về chiến thuật đạt được sự hùng cường của thế giới. Nhưng về chiến lược, ở đó không có tranh cãi.

Hậu hiện đại mà sự thống trị của nó ngày càng thể hiện rõ, đã mở ra những khả năng bình đẳng cho cả truyền thống lẫn hiện đại. Thí dụ, trong xã hội hiện đại cùng với những người bình thường, cùng với những cư dân kiểu mẫu còn tồn tại những người theo nghi thức xưa, tín hữu các giáo phái cổ cùng với những người chuyển giới, cấy bộ phận nhân tạo vào cơ thể, với sự giúp đỡ của hóa chất hay sự biếnt đổi gien thay đổi khả năng của cơ thể chính mình. Các cyborg, người đột biến, người nhân bản, một thực tế không phải quá xa vời như đã từng ngỡ thế chỉ vài năm trước. Chỉ cần thêm một thời gian không lâu nữa và chúng sẽ ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn trong con người, xóa nhòa khái niệm “con người” mở rộng ranh giới của nó, thay đổi individuum, không thể chia cắt được, thành dividuum của hậu hiện đại, được đưa vào trong mạng lưới cũng giống như cá thể của thời hiện đại được đưa vào trong xã hội.

Nhưng cũng giống như trong thế giới hiện đại của những công nghệ cao và mạng lưới xuyên quốc gia, có những yếu tố cổ đại, xưa cũ, nghi lễ, trong thế giới này cũng tồn tại những hội kín và các hội tam điểm.

Nhìn chung giới tinh hoa Hoa Kỳ tràn đầy tinh thần cứu thế. Quan điểm của họ: sức mạnh là định mệnh cao cả của Hoa Kỳ, Manifest Destiny. Hoa Kỳ được thành lập để thực hiện quyền lực địa chính trị này và kiểm soát tất cả, nói đơn giản là thống trị thế giới. Nó được đặt ngay từ đầu trong bản thân khái niệm “đế chế” của Hoa Kỳ và mô tả trực tiếp trong hiến pháp Mỹ: “Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mà Jefferson đã chỉ ra tốt hơn hết là phải thích hợp cho “đế chế” mở rộng”. Cần nhấn mạnh, Hiến pháp này là Hiến pháp đế chế, không phải đế quốc. Đế chế bởi vì dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ dựa trên mô hình xây dựng một không gian mở và tái lập những quan hệ đơn lập và đa dạng vô tận kiểu mạng lưới trên một lãnh thổ không giới hạn.

Như vậy, sứ mệnh của giới thượng lưu Hoa Kỳ là mở lại, sau đó làm chủ không gian thế giới toàn cầu, cài đặt mô hình văn minh của mình vào đó và bằng cách này kết thúc lịch sử, tức loại bỏ tất cả các căn cứ cho mâu thuẫn và xung đột qua việc thiết lập một hệ thống thế giới quan Hoa Kỳ thống nhất. Tất cả không là gì khác ngoài dự án mạt thế, thể hiện trong các phạm trù tôn giáo. Cùng lúc dự án mạng Hoa Kỳ “đế chế” hệu hiện đại được xây dựng “trái ngược với chủ nghĩa đế quốc, vốn lan truyền thẳng quyền lực của mình trong những không gian khép kín và xâm chiếm các nước phụ thuộc, tiêu diệt sự độc lập và lôi ké chúng vào lĩnh vực chủ quyền của mình”, đặc tính chủ yếu cho thời kỳ tiền hiện đại với việc bước đầu chuyển sang thời hiện đại. “Đế chế” mạng lưới Hoa Kỳ muốn thâu tóm không chỉ những đối tượng của thế giới vật chất để đảm bảo sức mạnh kinh tế thay quản lý kinh tế. Giờ đây nó còn yêu sách thay đổi cái nhìn của bạn, cách suy nghĩ, lý trí của bạn, thay đổi tất cả sự đa dạng giá trị sống của thế giới thành thế giới quan của Mỹ. Nó không chỉ là sự chỉ huy và kiểm soát của chủ nghĩa đế quốc những thời đại trước, nó là yêu sách cho việc hình thành một chân lý tuyệt đối, trở thành bắt buộc đối với tất cả. Sự cứu rỗi đế chế của tầng lớp thượng lưu Hoa Kỳ như thế được biện minh theo bản thể luận và có tiền đề của thuyết mạt thế trong nền tảng của nó.

Thí dụ, nhà địa chính trị và nhà tư tưởng hàng đầu Hoa Kỳ Zbigniew Brzezinski là một người bị tôn giáo ám ảnh theo đúng nghĩa đen. Ông ta bị thôi thúc bởi định mệnh cao cả của Hoa Kỳ – kiểm soát tất cả thế giới mà trước tiên là lục địa Á – Âu, như một kẻ cuồng tín tôn giáo bị ám ảnh bởi giáo phái của mình. Buộc làm nô lệ, phân chia, làm nhục và buộc phục vụ cho lợi ích của mình. Và nước Mỹ không thể có kẻ cạnh tranh trong việc này: Brzezinski viết thẳng ra điều đó – siêu cường chính yếu duy nhất lãnh đạo thế giới – đó là Hoa Kỳ. Ngoài ra không thể có thêm một ai. Trong những quyển sách của mình ông ta nhấn mạnh đến “an ninh”, đến việc thiết lập một sự thống trị duy nhất, Hoa Kỳ vươn tới an ninh toàn cầu, mà thực chất là an toàn tuyệt đối cho lợi ích của Mỹ. Tất cả những gì mà Brzezinski gọi là an ninh ở Á – Âu chính là con đường an toàn dẫn tới sự thống trị Mỹ. Tất cả đang được hiện thực hóa ngay trước mắt chúng ta.

Brzezinski là một nhân vật của công chúng, không phải một quan chức, không phải một nhà hoạt động xã hội, vì thế ông ta không che giấu cái nhìn lẫn cảm xúc của mình. Nhưng chính giới thượng lưu Hoa Kỳ, với gánh nặng quyền lực thật sự, cũng đang nghĩ thế, chỉ che giấu quan điểm và cảm xúc của mình bằng mặt nạ kiềm chế, ở Hoa Kỳ tất cả giới lãnh đạo đều tư duy kiểu cứu thế, chiến lược, toàn cầu. Khác với giới thượng lưu của ta, thô thiển động cơ chỉ về tài chính: “có tiền thì làm, không tiền chán chết”. Chiến tranh mạng lưới gì ở đây được chứ…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba – NXB Trẻ 2017.

Chiến tranh mạng lưới tương lai: khía cạnh quân sự, các cuộc chiến mạng lưới trung tâm – Phần V


Bất cứ hoạt động mạng lưới nào bắt đầu trước tiên từ việc giành được ưu thế thông tin. Đó là giai đoạn đầu của chiến dịch mạng lưới. Trên nguyên tắc, việc đạt được ưu thế thông tin được thực hiện bằng con đường triển khai mạng lưới thông tin riêng, đồng thời với việc trấn áp hay làm hỏng hệ thống thông tin tình báo của đối phương. Đối tượng cần quan tâm sát và loại bỏ trước tiên thường là các nút mạng cũng như các trung tâm xử lý thông tin, phân tích và ra quyết định. Trên thực tế, mạng lưới thông tin riêng thường được triển khai dưới dạng các tòa soạn của những phương tiện thông tin đại chúng mới thành lập cũng như các nơi tập trung phóng viên của các phương tiện truyền thông. Trong số này gồm có các hãng tư vấn, PR, và trong những điều kiện đặc biệt phức tạp còn là những công ty bình thường. Nếu môi trường hoàn toàn thù địch thì công cụ ưu tiên của việc triển khai thông tin sẽ là các mạng lưới đang tồn tại, bị thay đổi bằng cách mua lại, hay tác động về tư tưởng kể cả việc tuyển dụng trực tiếp.

Giai đoạn hai của chiến dịch mạng lưới là trấn áp khả năng kháng cự có tính hệ thống thực thể của đối phương sau khi đạt được ưu thế thông tin. Điều đó có thể xảy ra bằng việc phân hóa bộ máy quản lý nhà nước hay bất cứ tổ chức nào khác. Đến đây bắt đầu công việc xử lý tư tưởng, tuyển dụng, hay mua chuộc trực tiếp. Tất cả mọi việc nên diễn ra trong điều kiện luôn tạo ra những vấn đề về đời sống, bên cạnh việc gây sức ép tâm lý. Trên chiến trường, có thể đạt được hiệu ứng tương đương bằng cách giành được ưu thế trong không gian nhờ áp đảo hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương. Cả trong trường hợp này lẫn trường hợp kia, giai đoạn hai của chiến tranh mạng lưới có nghĩa là tước mất khả năng (đối phương) chống đỡ theo kế hoạch họ đã thỏa thuận một cách hệ thống trước đó, trong khi sự phân hóa và vượt trội thông tin làm đối phương hoàn toàn mất tinh thần.

Sau đó bắt đầu giai đoạn thứ ba của chiến tranh mạng lưới – tuần tự phá hủy những cơ sở lớn, đầy sinh lực nhưng không được kiểm soát, vẫn có thể phục hồi để kháng cự. Đó có thể là các bộ và các ngành cũng như các bộ chỉ huy quân sự hay tàn dư của các đơn vị quân đội.

Giai đoạn thứ tư, cuối cùng của chiến dịch mạng lưới là việc loại bỏ hoàn toàn, dứt khoát bất cứ lò lửa kháng cự nào, cho dù đó là những tờ báo nhỏ, các nhóm ngoài lề xã hội hay những bộ phận, đơn vị quân đội phân tán.

Nét đặc trưng của chiến dịch mạng lưới là tất cả bốn giai đoạn đều được thực hiện nhanh đến độ không để cho đối phương khả năng tập hợp lực lượng lẫn đưa ra những quyết định cần thiết. Trong phạm vi quốc gia, nó có thể diễn ra vài tháng đến vài năm, trong khi một số chủ thể nhỏ có thể bị loại bỏ chỉ sau vài ngày. Thêm vào đó mỗi giai đoạn tiếp theo có thể diễn ra chồng lấn, tức có thể được tiến hành mà không cần đợi giai đoạn trước hoàn tất. Trong những điều kiện lý tưởng, tất cả bốn giai đoạn được thực hiện gần như đồng thời, với một khoảng cách nhỏ ở điểm xuất phát. Cùng với đó trước khi bắt đầu chiến dịch mạng lưới cần có một giai đoạn thu thập và phân tích thông tin về đối phương, bởi chính hoạt động mạng lưới gồm bốn giai đoạn nói trên chỉ là bộ sưu tập cuối cùng những thông tin chung, đầy đủ về các giai đoạn của đối phương.

Ý định chỉ huy – sự am hiểu của người thừa hành

Trong chiến tranh mạng lưới thật sự không có khái niệm mệnh lệnh, ngoại trừ những trường hợp cực đoan hay tình huống khẩn cấp, nhưng lại có nhiều hiện tượng kiểu như ý định chỉ huy. Trong chiến lược quân sự – chiến tranh mạng lưới trung tâm – cũng có những điểm tương tự. Nhìn chung, khái niệm này xuất phát từ một chiến lược quân sự. Trong chiến tranh cổ điển thời công nghiệp, sự liên kết được thực hiện trên cơ sở nền tảng, mỗi binh đoàn hay đơn vị đều có chỉ huy đưa mệnh lệnh trực tiếp, mệnh lệnh đó phải được thực hiện nghiêm ngặt. “Băng qua sông và chiếm lấy căn cứ đầu cầu”. Tất cả khi đó đều nhận ra rằng bờ bên kia là thảm họa và cái chết, rằng không thể tiến tới đó vì đó là đầm lầy, tất cả sẽ bị nhấn chìm. Và kể cả khi họ băng qua được bờ bên kia, tại đó họ sẽ gặp hỏa lực vượt trội của đối thủ và kết quả tất cả họ sẽ bỏ mạng. Bản thân chỉ huy đơn vị cũng không hiểu tại sao phải làm điều đó, nhưng ông ta phải nghiêm túc hoàn thành mệnh lệnh trực tiếp của chỉ huy cấp trên. Tuân thủ kỷ luật quân đội và nghĩa vụ, ông ta tới đầm lầy và nhấn chìm ở đó gần như toàn bộ tiểu đoàn. 10 người thoát được lên bờ thì chết dưới làn đạn của đôói phương cố thủ ở đó. Một tiểu đoàn đã hy sinh anh dũng như thế trong điều kiện chiến tranh truyền thống thời công nghiệp.

Trong chiến tranh mạng lưới, các chỉ hy cố tránh ra mệnh lệnh trực tiếp, bởi điều đó sẽ làm giảm chất lượng thực hiện ý định cuối cùng của ông ta. Ban chỉ huy xuất phát từ quan điểm rằng tấn công trực diện là không cần thiết, mà là tạo ra cái tưởng là cuộc tấn công để lôi kéo sự chú ý của đối phương khỏi mẹo nghi binh. Chính điều đó được giải thích cho các thuộc cấp, tức những nhà điều hành mạng lưới rằng cần phải đạt được điều gì và kết quả nào. Cái đạt được từ mục tiêu đặt ra là kết quả sự áp đặt của nhiều yếu tố – từ trí tuệ đến công nghệ.

Tiếp theo các binh đoàn hành động, so với thời chiến tranh công nghiệp, tương đối tự do, thậm chí trong chế độ “thoải mái”, tự đánh giá tình huống, phân tích dữ liệu nhận được, yêu cầu thông tin bổ sung cần thiết và kết quả là tự đưa ra quyết định, ở cấp độ chỉ huy lẫn cấp độ người thừa hành cụ thể. Xuất phát từ hoàn cảnh đang hiện diện và thay đổi rất nhanh, các chỉ huy có thể tự điều chỉnh những quyết định được đưa ra sao cho việc thực thi nhiệm vụ hiệu quả nhất và ít đổ máu nhất, sử dụng những khả năng hiện có và yêu cầu yểm trợ cần thiết từ trung tâm, trong đó có cả yêu cầu vượt cấp chỉ huy trên. Mỗi diễn viên mạng lưới đều nắm được ý định cuối cùng của chỉ huy, chủ đích mà ban chỉ huy muốn đạt được. Hiểu được ý định này, mỗi thành phần mạng, mỗi nhóm, mỗi nút mạng đồng bộ hóa với thực tại chung quanh cũng như với nhau, tạo ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ những liên kết khu vực cần cho cấu hình cần thiết. Tất cả diễn ra có tính đến yếu tố thời timing – thời gian, được giao để thực hiện nhiệm vụ này hay khác. Tránh khỏi sự ban hành mệnh lệnh trực tiếp là một cách tiếp cận hệ thống để đạt được mục tiêu bằng cách hiệu quả hơn và ít tổn thất hơn. Trong trường hợp này, ý định của chỉ huy được thực hiện dựa trên yếu tố sự am hiểu phổ quát.

Am hiểu phổ quát

Một trong những nét phân biệt của chiến dịch mạng lưới là sự am hiểu phổ quát. Sự am hiểu tình hình chung và nắm được các ý định của chỉ huy kết hợp với khả năng đồng bộ hóa và tự đồng bộ hóa sẽ cho phép phối hợp những hoạt động phức tạp và hiệu ứng, dẫn đến sự liên kết các hiệu ứng ở những mức độ khác nhau, trong đó những hành động khác nhau hiệp đồng dựa vào nhau.

Mỗi diễn viên có quyền truy cập vào một mạng chung, một cơ sở dữ liệu chung. Chính khi sử dụng thông tin của nó anh ta theo mặc định đã hành động đồng bộ với các đơn vị chiến đấu còn lại. Quyền truy cập này anh ta có thể trực tiếp nhận được, hặc với sự hỗ trợ của nhà điều hành mạng tùy theo hoàn cảnh. Thêm vào đó mỗi binh sĩ nếu cần phải nắm được tinh thần tất cả các cuộc trò chuyện, diễn ra giữa bộ tham mưu với những diễn viên còn lại, kể cả việc “lắng nghe”… suy nghĩ của các thành viên khác của chiến dịch. Trong khi đó đơn vị chiến đấu – đó là một khái niệm hoàn toàn không chính xác để mô tả các hoạt động mạng lưới. Cái mà trong các cuộc chiến tranh thời công nghiệp hóa xem là một đơn vị con người với những khả năng hạn chế bởi định dạng hành động của đơn vị này, thì trong chiến tranh mạng lưới là một hệ thống tổng quát. Quyết định do hệ thống này đưa ra trên chiến trường có thể thay đổi toàn diện diễn tiến sự kiện cũng như chiến lược chung của hành động, nếu nó được đưa ra trên cơ sở những dữ liệu mới nhận được rất nhanh, khiến thay đổi một cách chất lượng chiến thuật tiến hành chiến dịch.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba – NXB Trẻ 2017.

Chiến tranh mạng lưới tương lai: khía cạnh quân sự, các cuộc chiến mạng lưới trung tâm – Phần IV


Với sự hỗ trợ của mũ này, các binh sĩ có thể trao đổi thông tin bằng tốc độ tối ưu với bộ tham mưu cũng như với nhau, đồng thời truyền mệnh lệnh và báo cáo bằng những suy nghĩ thành tiếng, rõ ràng được truyền đi trong hình thái âm thanh vào mũ của những binh sĩ khác cũng như về cơ sở. Hiện nay trở ngại mới nhất của các nhà khoa học ở Đại học California tại Irvine, Đại học Carnegie Mellon và Đại học bang Maryland trước úng dụng cuối cùng là bảo đảm kỹ thuật cho việc tách những suy nghĩ cần thiết từ dòng chảy chung của hoạt động não. Tuy nhiên vấn đề này có thể được giải quyết cũng bằng thuật toán mà theo đó, người ta cô lập, sắp xếp thông tin cần thiết từ dòng chảy tin tức chung của xã hội thông tin, tức bằng con đường hình thành “mã mạng” tương ứng.

Cần nhận xét là “mũ thông minh” chỉ là một trong vô số phát minh triển vọng của quân đội Hoa Kỳ. Chẳng hạn, Cơ quan các dự án phòng thủ tiên tiến Hoa Kỳ (DARPA) đang thực hiện một dự án mang tên Super – Resolution Vision System (SRVS), dự định thành lập các thiết bị quang học cho phép tăng các hình ảnh với độ phân giải cao nhất. Sản phẩm mới này giúp xác định chính xác và linh hoạt những người vũ trang, đồng thời so sánh gương mặt của đối tượng với dữ liệu hình ảnh thống nhất. Ngoài ra, Lầu Năm góc cũng đã đưa ra mô hình mới của vũ khí và thiết bị quân sự được phát triển theo chương trình “Hệ thống chiến đấu tương lai” (FCS). Như thế, việc hiện đại hóa về mặt điều khiển học của sinh vật chiến đấu trở thành xu hướng chính trong việc tạo ra những binh sĩ chiến tranh mạng lưới hiệu quả.

Sự phức hợp của các đơn vị và cách tiếp cận

Còn một thuộc tính quan trọng nửa của chiến tranh mạng lưới – đó là tính phức hợp. Trong chiến tranh cổ điển, các diễn viên chính là những đơn vị chiến đấu, chẳng hạn một đại đội hay một trung đội thực hiện một nhiệm vụ chiến đấu nào đó, tấn công, rút lui, xâm chiếm hay bám trụ. Đó là việc phân chia ra những đơn vị chiến đấu tương đương, thống nhất do một chỉ huy lãnh đạo, điều khiển trên cơ sở hệ thống mệnh lệnh thứ bậc từ trên xuống.

Trong chiến tranh mạng lưới, đơn vị có thể hợp thành từ một binh sĩ với khẩu súng, một nhà báo, một nhà ngoại giao ngồi ở đại sứ quán nước mình ở một quốc gia là đối thể của chiến tranh mạng lưới, nữ thư ký của một quan chức cao cấp sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ của mình vào lúc cần thiết, một tay súng Hồi giáo với đai bom liều chết, một nhà khoa học điên khùng. Tất cả hợp thành một đơn vị điển hình của chiến tranh mạng lưới. Ai trong số họ là chính, ai là chỉ huy và ai là thuộc cấp – khó mà xác định, bởi tất cả những yếu tố này không tương đương nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ và không đồng nhất với nhau về vị thế xã hội. Thế nhưng tất cả những người này mặc dù ở những nơi khác nhau nhưng cùng thực hiện một chiến dịch, cùng giải quyết một nhiệm vụ. Thí dụ, thiết lập sự kiểm soát của Hoa Kỳ đối với một tập đoàn lớn nào đó, một xí nghiệp, một lãnh thổ… hay thực hiện âm mưu đánh lạc hướng để thiết lập sự kiểm soát của Hoa Kỳ. Đơn vị này của chiến tranh mạng lưới được bổ sung thêm bởi những đơn vị mạng lưới khác nhau và tạo nên không quá 25 phi công giống nhau trong những bộ đồ bay hay bộ binh trong những đôi bốt, mà là một cộng đồng bên ngoài lãnh thổ của những đơn vị chiến đấu chức năng. Vào lúc nào đó, người ta nối vào đơn vị này một tổ chức phi chính phủ nào đó để tăng cường, hoặc một đơn vị quân sự cổ điển. Mà có thể một ban biên tập đầy đủ của một tờ báo, tức bất kỳ chủ thể tập thể nào. Bản chất của hoạt động này không thay đổi.

Thâm nhập cảm biến

Hãy xem xét ví dụ sau: một người lính Mỹ tham gia chiến dịch quân sự ở Irag hay Afghanistan và được trang bị công nghệ mới nhất mà trong lĩnh vực chiến tranh mạng lưới trung tâm người ta mô tả khái niệm này là thâm nhập cảm biến. Ở mỗi binh sĩ Mỹ hoạt động trong vùng chiến sự, trên mũ của của họ đều có một máy quay video. Tất cả các camera này đều có liên lạc vệ tinh trực tiếp với trung tâm điều khiển và hỗ trợ. Người ngồi ở trung tâm có thể quan sát trên màn hình chuyện đang xảy ra trong vùng chiến sự. Người lính di chuyển, nhìn vào góc, không có ai, nhưng người ngồi ở bộ tham mưu thấy được trên màn hình của mình – hình ảnh từ camera, rằng ở đó, nơi camera người lính nhìn vào, anh ta đã không phát hiện một tay súng đang ẩn nấp. Sự khác biệt này, những sắc thái của nhận thức trực quan đã được xem xét chi tiết trong quyển sách Máy thị giác của Paul Virilio, nơi tác giả xem xét chi tiết các đặc điểm cái nhìn của con người và khác biệt giữa cái nhìn đó với nhận thức nhờ sự hỗ trợ của phương tiện quang học: đôi khi con người không thấy cái mà camera thấy, và ngược lại. Khi đó, người ngồi trước màn hình sẽ thông báo với đơn vị chiến đấu đang được kiểm soát: hãy nhìn bên trái, phía sau đống đổ nát có một người ẩn nấp với súng trường quang học. Đó chính là thí dụ về thâm nhập cảm biến sâu của trung tâm điều khiển trực tiếp trong điều kiện chiến trường với khả năng điều chỉnh tình hình tại chỗ.

Như thế, sĩ quan tham mưu có cảm biến của mình ở chiến trường, thấy được điều gì diễn ra ở đó. Chuyển sang màn hình khác, nhìn vào khu vực từ một vị trí của một người lính khác… anh ta thấy trên màn hình chiến trường từ những vị trí khác nhau, nghe được các cuộc hội thoại, có thể đánh giá được tình hình và những quyết định được đưa ra tại chiến trường, anh ta có thể chỉ dẫn gì đó, sửa chữa. Có được sự thâm nhập cảm biến sâu vào môi trường, Trung tâm đánh giá tình hình từ các điểm khác nhau nhờ tiến hành phân tích tác chiến cần thiết, thu thập thông tin và hỗ trợ về tri thức. Có thể đánh giá tình hình chiến thuật ngay lúc đó theo bố trí của binh sĩ, một trên mái nhà, người kia trong tầm hầm, người thứ ba trong góc, người thứ tư ở cuối con đường đối diện – đường điều hành chuyển Alt+Tab và thấy ở đâu và cái gì xảy ra, điều chỉnh tình hình, bổ sung thêm thông tin cần thiết, cho lời khuyên. Tất cả những điều này chính là xâm nhập cảm biến sâu.

Trong lúc đó binh sĩ thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, người lính hay sĩ quan, được trang bị vũ khí, trong đầy đủ đồng phục với bộ truyền tin cá nhân. Cứ cho là anh ta là nhân chứng một tình huống nào đó, thí dụ, anh ta đột nhập vào dinh tổng thống và chứng kiến một cảnh đàm phán giữa các đại diện Nga và ban lãnh đạo Iraq. Anh ta ngay lập tức kết nối với nhà báo của một hãng tin hàng đầu và cung cấp thông tin đã chứng kiến một sự kiện như thế. Thông tin này trong chớp nhoáng  sẽ được loan đi trên các hãng tin hàng đầu thế giới, phát hiện của nó sẽ thay đổi bối cảnh mà kết quả là thay đổi toàn bộ tình hình. Vì lý do này mà những thay đổi được lên kế hoạch trong cuộc đàm phán mà anh ta là nhân chứng, đã bị phá vỡ. Việc chuyển giao thông tin ngay tức khắc, trong thời điểm diễn ra sự kiện, sang các hãng tin có thể thay đổi tình hình nơi chiến trường. Trong lúc đó các nhà đàm phán nghe phát thanh về việc họ, trong lúc này, đang bí mật thương lượng, kết quả là tất cả đều thay đổi và tình hình lại chuyển sang có lợi cho phía nào thương lượng tích cực hơn. Đó là một thí dụ của việc lập trình hoạt động mạng lưới mà thành công đạt được ngay trước cả khi thực hiện nó, tức lập ra những điều kiện đủ và thời điểm giúp ấn định trước kết quả.

Tính cơ động của thông tin và tốc độ đưa lại mệnh lệnh là một trong những nhân tố quan trọng nhất của chiến tranh mạng lưới. Kiểm soát tình hình ngày nay không phải là người sở hữu thông tin, mà là người có khả năng thu thập các thông tin cần thiết, đồng thời cả những khả năng truyền tải thông tin nhanh tối đa và cùng với ai đó, là việc nhanh chóng đưa ra quyết định.

Các giai đoạn của chiến tranh mạng lưới trung tâm

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét các giai đoạn của chiến tranh mạng lưới trung tâm, một lần nữa hãy lưu ý rằng, định dạng các cuộc đụng độ và diễn viên của hoạt động mạng lưới trung tâm với đầy đủ trang thiết bị đã mô tả ở trên – chỉ là một trong những hình thức biểu hiện của hoạt động mạng lưới, và được cho là biện pháp cực đoan. Việc thực hiện giai đoạn nó ở Afghanistan và Iraq chỉ ra toàn bộ tính dễ tổn thương, nhưng khi chưa hoàn thiện đủ những cách tiếp cận nóng với quá trình mạng lưới, Afghanistan hay Iraq đã trở thành nơi chạy thử của những cách tiếp cận “chiến đấu” kiểu mạng lưới tại khu vực, từ đó hàng loạt kết luận được đưa ra, cho phép hoàn thiện yếu tố chiến trận. Tuy nhiên, ở cấp độ này, diễn viên không gian điều khiển đang hoàn thiện có thể trở thành người tham gia cuộc xung đột mạng lưới trong điều kiện chiến trường lạnh, khi thực hiện các hoạt động mạng lưới tại khu vực mà không sử dụng vũ khí thông thường, chỉ dựa vào công nghệ cao, các chiến lược thông tin và xã hội.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba – NXB Trẻ 2017.

Đường đứt gãy – Phần cuối


Mối quan hệ chính trị của Mỹ với Ấn Độ, một đồng minh dân chủ, không mong manh như với Trung Quốc. Nhưng phong trào chính trị phản đối thương mại với Ấn Độ có thể lại lớn hơn nhiều. Lý do là mặc dù Mỹ đã mất rất nhiều việc làm vào tay người dân cả hai nước, nhưng việc làm rơi vào Trung Quốc chủ yếu là công nhân cổ xanh trong các nhà máy, còn Ấn Độ thì chiếm việc làm công nhân cổ trắng ở văn phòng vốn có tỷ trọng cao trong tổng số việc làm của Mỹ. Thực tế thì số việc làm từ Mỹ đi sang bờ kia Thái Bình Dương là không nhiều và tương lai chắc cũng chỉ như vậy. Nhưng nếu con số này tăng lên đáng kể thì khả năng sẽ gây ra một vụ động đất chính trị ở Mỹ cũng như các nước bị ảnh hưởng tương tự. Nếu hàng chục triệu công dân các nước giàu cảm thấy bị tổn hại thì họ sẽ hành động để bảo vệ nguồn thu nhập của mình, và hành động của họ có thể sẽ gây chấn động nghiêm trọng nền kinh tế toàn cầu.

Với nền kinh tế thế giới, hai đường đứt gãy địa tầng nói trên đã bớt nguy hiểm đi nhiều so với trước tính từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Trước năm 1945, thế giới thường xuyên có các cuộc chiến tranh lớn, chủ nghĩa bảo hộ thương mại lại rất phổ biến, gây tổn thất cho nền kinh tế thế giới nhiều hơn so với về sau. Ngược lại, loại động đất kinh tế thứ ba xuất phát từ lĩnh vực tài chính lại thường xuyên xuất hiện trong những năm gần đây.

Các cú sốc tài chính hình thành do sự kết hợp của hai tâm lý tiêu cực nhất của con người – lòng tham và sự sợ hãi – với thiết kế cơ bản của nền kinh tế thị trường tự do. Có nghĩa là khó mà loại bỏ được nguy cơ hình thành nó. Thị trường càng lớn, chính sách chống khủng hoảng tài chính càng ít thì khủng hoảng càng xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng. Vào kỷ nguyên thứ ba của toàn cầu hóa, thị trường đã mở rộng hơn, còn các biện pháp chống khủng hoảng lại bị thu hẹp.

Trước cú sốc tài chính tàn phá nặng nề năm 2008, các chính phủ bắt đầu phục hồi một vài biện pháp chống khủng hoảng như: quy định về vốn và giới hạn về quy mô của các tổ chức tài chính, hạn chế dòng vốn xuyên biên giới, các quy định khác nhằm quản lý ngành tài chính. Nhưng ở đâu chúng cũng gặp phải rào cản chính trị mạnh mẽ, chủ yếu từ ngành tài chính – những người bị thiệt hại nếu chúng có hiệu lực. Hơn nữa, để hạn chế được tần suất xảy ra khủng hoảng và tác động của chúng thì cần phải có một thứ mà rất khó đạt được về mặt chính trị, đó là hợp tác quốc tế về chính sách tài chính. Tất cả các nước cần cùng áp dụng những biện pháp phù hợp để cú sốc do hệ thống lỏng lẻo của nước này gây ra không lan sang nước khác.

Để nền kinh tế thế giới không còn bị ảnh hưởng bởi một cuộc khủng hoảng tài chính lớn khác trong kỷ nguyên toàn cầu hóa thứ ba – khủng hoảng liên quan đến đồng euro – thì cần hợp tác chính trị quốc tế ở mức độ cao hơn. Cuộc khủng hoảng này có nguyên nhân là sự khác biệt về đặc điểm kinh tế – với nguồn gốc sâu xa là chính trị và văn hóa – giữa các nước phía bắc và phía nam châu Âu. Triệu chứng chính là các nước phía nam gặp khó khăn trong việc vay tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách. Giải pháp là phải có sự hội nhập chính trị sâu sắc hơn nữa giữa các nước, tức là phải có thể chế quản lý có thực quyền trên toàn bộ khu vực đồng euro. Nhưng giải pháp này sẽ buộc các nước phải từ bỏ một phần quan trọng mà nước nào cũng coi là có giá trị chính trị nhất: chủ quyền quốc gia. Chủ quyền là cái không ai có thể từ bỏ trừ khi bị thua trong một cuộc đấu tranh chính trị căng thẳng. Vì vậy, đường đứt gãy thứ ba của nền kinh tế thế giới chính là tinh hình chính trị của các cường quốc kinh tế và của các thành viên đồng tiền chung châu Âu. Đường đứt gãy cuối cùng là các vấn đề nội bộ của một nhóm nước khác. Các nước BRIC – gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc – là những thành viên quan trọng nhất trong nhóm các quốc gia thị trường mới nổi. Họ có tiềm năng tăng trưởng nhanh nhất trong những thập niên tới. Cả bốn nước đều đã lựa chọn mô hình kinh tế theo hướng thị trường tự do và tham gia vào hoạt động thương mại, đầu tư xuyên biên giới. Quy mô đóng góp của mỗi nước vào nền kinh tế thế giới sau này sẽ phụ thuộc vào việc họ áp dụng các chính sách khuyến khích tăng trưởng đến đâu. Nói theo ngôn ngữ của ngành máy tính thì tất cả bốn nước đều đã cài đặt hệ điều hành phục vụ toàn cầu hóa, giờ họ chỉ còn việc chạy chương trình nào cho phù hợp nhất thôi.

Thực hiện các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là việc khó vì nó đòi hỏi mỗi nước phải xóa bỏ, giảm thiểu hoặc chống lại những truyền thống, thể chế từng được ưa chuộng trước đây, nhưng hiện tại lại cản trở tăng trưởng. Để có thành tựu kinh tế tốt nhất thì cũng như với ba đường đứt gãy nói trên, các nước sẽ không tránh khỏi xung đột chính trị. Ở Brazil là chống lại chủ nghĩa dân túy; ở Nga là tránh những tác động tiêu cực của dự trữ tài nguyên; ở Ấn Độ là chỉnh sửa những khiếm khuyết của nền dân chủ; và ở Trung Quốc là dân chủ hóa cơ chế độc tài hiện tại.

Thế giới kỳ vọng cả bốn nước sẽ thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu thông qua tăng trưởng nhanh hơn bộ ba phương Tây trong vài thập niên tới. Tốc độ tăng trưởng của BRIC phụ thuộc vào những gì đạt được từ các cuộc đấu tranh chính trị ở mỗi nước. Từ đây xuất hiện một câu hỏi: các cuộc đấu tranh chính trị ở các nước BRIC cũng như ở Mỹ, Trung Quốc và châu Âu làm thay đổi tương lai kinh tế thế giới sẽ có kết quả như thế nào? Câu hỏi này khiến chúng ta phải quay lại nghiên cứu về động đất và điểm tương tự giữa nó với nghiên cứu kinh tế toàn cầu.

Với tất cả những thành tựu đã đạt được, vẫn không ai trong chúng ta đưa ra được dự đoán chính xác. Lý do là trong cả hai lĩnh vực động đất và kinh tế, chúng ta không có cơ hội để thử. Phần thưởng lớn nhất cho giới địa chấn học là dự báo được động đất, nhưng cho dù họ đã có nhiều tiến bộ trong ngành thì việc dự báo vẫn nằm ngoài khả năgn. Dự báo chính xác tương lai kinh tế quan trọng đến mức ngành này giờ đây có trị giá hàng triệu dollar. Mặc dù những người làm nghề dự báo kinh tế được trả thù lao đôi khi rất tốt, nhưng dự đoán của họ rất ít khi đúng với thực tế.

Nhược điểm của ngành địa chấn học xuất phát từ việc thiếu thông tin chi tiết. Mặc dù các nhà khoa học hiểu rõ quá trình địa – vật lý dẫn đến động đất, nhưng chúng lại diễn ra sâu dưới lòng đất cách bề mặt trái đất hơn 16km, không thể quan sát và đo đạc được. Với nền kinh tế thị trường hiện đại, con người có thể quan sát, đo đạc nhiều nhân tố khác nhau cấu thành nên nó. Nhưng có đến hàng triệu nhân tố, và chúng lại tương tác với nhau theo rất nhiều cách phức tạp. Vì vậy, khó mà dự báo được kết quả tổng hợp của những tương tác ấy sẽ thế nào. Cái khiến cho dự báo kinh tế lúc nào cũng khó khăn hơn – thực chất là không thể – là kinh tế không thể tránh khỏi liên quan đến chính trị.

Không ai dự báo được chính trị, vì nó dựa trên hành vi của con người. Con người thì không và cũng chưa bao giờ hành động theo một cách thức chuẩn mực, cố định. Các mảng địa tầng gây ra động đất không thể thay đổi ý định di chuyển, nhưng con người thì có. Vì vậy, dự báo về tương lai kinh tế thế giới chính xác như các ngành khoa học tự nhiên mong muốn và đã làm được là bất khả thi. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn mù mờ về tương lai. Dựa trên những điểm tương tự với quá khứ và hiểu biết về các đường đứt gãy chính trị lớn, tức là các chương trước, con người có thể tự tin dự báo được một vài đặc điểm của tương lai.

Tiến bộ công nghệ liên tục trong lĩnh vực giao thông vận tải và đặc biệt là thông tin sẽ làm tiềm năng tăng trưởng của kinh tế thế giới tăng lên nhiều lần khi ngày càng có nhiều người có thể tham gia hơn. Nó cũng sẽ thúc đẩy cả số lượng lẫn giá trị hàng hóa, tiền tệ và con người di chuyển xuyên biên giới. Thị trường tự do luôn có xu hướng mở rộng, nhờ vậy, ít nhất thế giới sẽ tận dụng được một vài tiềm năng của mình. Toàn cầu hóa sẽ vẫn mang lại động lực công nghệ và kinh tế mạnh mẽ ở thế kỷ 21, giống như đã từng diễn ra hầu như suốt thế kỷ 19 và 20.

Động lực chính trị cũng sẽ vẫn tồn tại vì hai lý do. Thứ nhất, thương mại, đầu tư và di cư xuyên biên giới ngày càng mở rộng nhìn chung sẽ còn đem lại tăng trưởng kinh tế, và phần lớn người dân cũng như các chính phủ sẽ tiếp tục coi tăng trưởng kinh tế là ưu tiên hàng đầu trong chương trình hành động của cá nhân, của quốc gia mình. Thứ hai, ở trong nội bộ mỗi nước, không có lựa chọn nào tốt hơn nền kinh tế thị trường, còn với quan hệ quốc tế thì chỉ có cách hội nhập kinh tế toàn cầu. Hai phương thức khác từng được áp dụng phổ biến ở thế kỷ trước là cơ chế kế hoạch hóa tập trung và thay thế nhập khẩu – vốn không giúp các nước đi theo chúng tham gia đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế – đã không thể đem lại tốc độ tăng trưởng cao như toàn cầu hóa. Các nước không còn lựa chọn nào khác.

Đồng thời, nền kinh tế toàn cầu sẽ phải trải qua những cú sốc do bốn đường đứt gãy gây ra. Không thể chống sốc được hoàn toàn. Tương tự như với động đất, một vài cú sốc sẽ nghiêm trọng hơn, nhưng giống như lịch sử chỉ có vài trận động đất mạnh như trận động đất ở Lisbon năm 1755, các cú sốc kinh tế trong những thập niên tới chỉ có tác động vừa phải lên dòng di chuyển hàng hóa, tiền tệ và con người xuyên biên giới. Tổn thất kinh tế mà chúng gây ra sẽ ít nghiêm trọng hơn nhiều so với hai cuộc chiến tranh thế giới hồi nừa đầu thế kỷ 20. Đại Khủng hoảng 1930 hay thậm chí khủng hoảng tài chính 2008.

Kết hợp những điểm gần-như-chắc-chắn này với nhau sẽ cho ta kết quả quan sát cuối cùng. Nền kinh tế thế giới thế kỷ 21, nếu so với phiên bản nguyên thủy thời xóa bỏ Luật Ngũ cốc năm 1846, sẽ giống như so chiếc ô tô hiện đại với phiên bản đầu tiên được sản xuất hồi đầu thế kỷ 20. Nền kinh tế phiên bản hiện tại lớn hơn, phức tạp hơn, mạnh mẽ hơn, bất ổn hơn, và chứa đựng trong nó nhiều người hơn: Bằng cách này hay cách khác, ngày nay nền kinh tế hội nhập quốc tế đang vận chuyển gần 7 tỷ người trên hành tinh. Trong những năm tới, phương tiện vận chuyển hiện đại này sẽ không dừng lại, không trượt khỏi đường đi, không có những cú va chạm chết người. Toàn cầu hóa chắc chắn sẽ tiếp tục con đường đi lên của nó, nhưng với hàng tỷ người đang ngồi trong xe, chuyến đi này hẳn là còn lắm gập ghềnh.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.