Cần thừa nhận vai trò của Trung Quốc trong quản trị toàn cầu


Javier Solana

Rõ ràng biến động địa chiến lược nổi bật nhất trong hai thập niên vừa qua là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy vậy, phương Tây lại không thể chấp nhận việc Trung Quốc có một tầm ảnh hưởng tương xứng với sức mạnh của nước này trong hệ thống quản trị toàn cầu ngày nay, chưa nói đến các nền kinh tế lớn mới nổi khác. Nhưng điều này có khả năng sẽ phải thay đổi.

Hiện nay, Trung Quốc dựa vào các dàn xếp song phương để tăng cường can dự vào các quốc gia khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Được hậu thuẫn bởi lượng dự trữ ngoại hối 3,8 nghìn tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp các khoản đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để đổi lấy hàng hóa, qua đó biến mình trở thành nước cung cấp tài chính lớn nhất cho các nước đang phát triển, với việc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc hiện đã cho vay nhiều hơn cả Ngân hàng Thế giới.

Tuy vậy, do được thực hiện bởi các tập đoàn nhà nước, những thỏa thuận nói trên vẫn thường không tuân thủ các quy chuẩn quốc tế chung. Phương Tây vì thế đã thúc giục Trung Quốc hướng tới các tiến trình đa phương vốn đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở rộng cung cấp hàng hóa công toàn cầu. Tổng thống Mỹ Barack Obama thậm chí đã gọi Trung Quốc là “kẻ ngồi không hưởng lợi” vì nước này không màng đến trách nhiệm được kỳ vọng đối với một cường quốc toàn cầu.

Thế nhưng, nếu những sáng kiến chính sách ngoại giao gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ám chỉ điều gì đó, thì có lẽ đó là thay đổi trong tương lai gần. Tháng Bảy năm 2014, Trung Quốc khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới của năm nước khối BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) và đóng góp một khoản đáng kể vào số vốn 100 tỉ USD của ngân hàng này.

Tương tự, tại cuộc họp gần nhất của Diễn đàn hợp tác Á-Âu tại Bắc Kinh, Trung Quốc lại khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB). Nước này đã thiết lập một Quỹ Con đường Tơ lụa trị giá 40 tỉ USD, nhằm phục vụ tham vọng tái tạo lại con đường nối liền châu Á với châu Âu cả trên đất liền và trên biển.

Để theo đuổi chiến lược với tên gọi “Một vành đai, Một con đường”, Trung Quốc sẽ tiếp tục các khoản đầu tư có ảnh hưởng tới khoảng 60 nước, bao gồm cả khu vực Trung Á, nơi Trung Quốc đã rút hầu bao ra chi tới hơn 50 tỉ USD cho các dự án ở đây. Tuyến đường trên biển sẽ bao gồm cả Ấn Độ Dương, biển Đông (biển Nam Trung Hoa), và biển Địa Trung Hải. Khi hợp thành một thể, đây sẽ không đơn thuần là một con đường, mà là một mạng lưới xúc tiến trao đổi cả hàng hóa và sáng kiến giữa hai châu lục.

Trong sáng kiến này, châu Âu đã có vai trò quan trọng hơn khi Cảng Piraeus – Hy Lạp, nơi có sự tham gia vận hành của Công ty Vận tải biển Trung Quốc COSCO, được xác định là một điểm dừng trong tuyến đường tơ lụa trên biển. Những cơ sở hạ tầng được Trung Quốc đầu tư xây dựng tại Balkans và Hungary sẽ giúp nối liền Cảng Piraeus với các khu vực khác của châu Âu, củng cố thêm vai trò của Trung Quốc như một đối tác thương mại chính của EU.

Sáng kiến Con đường Tơ lụa Mới tái khẳng định tham vọng của Trung Quốc trong việc biến mình thành một cường quốc ở lục địa Á Âu. Con đường ấy sẽ không chỉ kết nối các nền kinh tế năng động tại Đông Á với Tây Âu, mà còn vươn tới các quốc gia Trung Á – nơi mà tầm ảnh hưởng của Nga đang trên đà sụt giảm. Sáng kiến này cũng có thể giúp xoa dịu các căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của mình.

Cho đến nay, những nỗ lực tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc dường như đang phát huy hiệu quả, không chỉ trong khối các nước đang phát triển. Gần đây Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định tham gia với tư cách là một thành viên sáng lập AIIB, khuấy động một trào lưu xin gia nhập  từ nhiều nước như Úc, Braxin, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, nước Mỹ lại coi những bước đi ấy là trở ngại về mặt địa chính trị cho mình. Quan điểm này về cơ bản là một sai lầm. Xét đến cùng, chính việc các nước phát triển từ chối trao cho Trung Quốc vai trò tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này đã đẩy Trung Quốc tới quyết định bỏ qua các định chế tài chính quốc tế ra đời sau Thế chiến II.

Lấy ví dụ như trong trường hợp Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Mỹ mỗi bên luôn nắm giữ 13% số phiếu biểu quyết, trong khi con số này của Trung Quốc chỉ là chưa đầy 6%, chưa kể đến việc chủ tịch Ngân hàng luôn là người Nhật Bản. Tương tự, người nắm quyền cao nhất ở Ngân hàng Thế giới luôn là người Mỹ, và Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế luôn là người châu Âu. Kể cả khi khối G-20 có một bước đi nhỏ đúng hướng là đồng ý tăng tỉ lệ phiếu bầu của Trung Quốc từ 3,65% lên 6,19% vào năm 2010, Quốc hội Mỹ lại từ chối phê chuẩn thỏa thuận này, chặn đứng việc tiến hành những cải cách đó.

Sự thật ở đây là sáng kiến mới của Trung Quốc không mang tính xét lại, mà là phản kháng. Nếu các cường quốc mới không được tiếp cận các kiến trúc quản trị toàn cầu đang tồn tại, họ sẽ tự tạo ra các hệ thống khác cho riêng mình. Điều này cũng có nghĩa là các nước phát triển có khả năng ngăn chặn việc trật tự thế giới bị vỡ vụn thành nhiều khối tư tưởng và kinh tế – nhưng chỉ khi họ có thể vượt qua sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc.

Theo đó, sự tham gia của các nước châu Âu vào AIIB là một bước đi tích cực, vì nó giúp đảm bảo rằng ngân hàng mới này sẽ hỗ trợ chứ không cạnh tranh với các thể chế tài chính hiện hành. (Thực tế, ảnh hưởng của châu Âu sẽ còn lớn hơn nữa nếu bản thân liên minh này, chứ không phải các nước thành viên đơn lẻ, có được sự hiện diện ở AIIB, như đã có ở G-20 và Tổ chức Thương mại Thế giới.)

Phương Tây phải làm nhiều điều, không chỉ là chào mừng Trung Quốc tham gia vào hệ thống quản trị toàn cầu, mà còn phải thừa nhận và hợp tác với các định chế mà Trung Quốc đang kiến tạo nên. Chỉ có thể bằng thái độ cởi mở, phương Tây mới có thể đảm bảo rằng những thể chế do Trung Quốc dẫn dắt sẽ áp dụng các quy chuẩn về đa phương hóa và trách nhiệm giải trình, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường.

Hiện tại là thời điểm lý tưởng để bắt đầu những công việc đó. Vì nếu châu Âu, Mỹ, và Trung Quốc có thể dung hòa các ý định của mình sao cho phù hợp với các lợi ích chung trong năm nay thì họ sẽ ở tư thế sẵn sàng để tận dụng tối đa Hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Trung Quốc vào năm 2016.

Việc Trung quốc tham gia vào các tiến trình đa phương là một tín hiệu tích cực đối với thế giới. Châu Âu – và đặc biệt là nước Mỹ – phải vượt qua được sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc. Để tối đa hóa việc chia sẻ lợi ích, họ không được phép phung phí cơ hội tham gia vào và định hình các tiến trình này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Xuân | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Nguồn: Javier Solana, “China and Global Governance”, Project Syndicate, 30/3/2015

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.

Advertisements

Mục tiêu: De Gaulle! – Phần cuối


Rõ ràng là nếu như các cơ quan Mỹ tỏ ra quan tâm phần nào tới những hậu quả có thể có của các sự kiện ở bán đảo Ibère (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha), thì mối bận tâm chủ yếu của họ là lợi dụng tình hình ở mức tối đa để chống lại tướng de Gaulle. Mặc dù đã có kinh nghiệm, tác giả vẫn chưa biết rằng Mỹ có thể thúc đẩy việc mạo hiểm hạ bệ tổng thống Pháp “có lợi cho phái tả”. Tác giả bày tỏ sự ngạc nhiên của mình với Graham, ông này liền nhanh chóng kéo tác giả ra khỏi sai lầm:

“Đấy không phải là làm dễ dàng cho việc nắm chính quyền của phái tả, mà bằng cách khuyến khích tình trạng hỗn loạn, tạo ra những việc rắc rối giữa những người biểu tình và những lực lượng giữ gìn trật tự, để gây ra một phản ứng trong “đa số trầm lặng” và đứng trước nguy cơ ấy, giai cấp tư sản sẽ buộc de Gaulle phải thay đổi chính sách, xa rời các nước phương Đông và trở về trong khuôn khổ một châu Âu đồng minh với nước Mỹ”.

Chính vì điều này mà chúng ta có thể và phải làm việc, với sự giúp đỡ của những người bạn chúng ta đã thâm nhập vào bộ máy nhà nước: sức ép của phái hữu có thể bắt buộc de Gaulle phải rút lui, nhường chỗ cho một chính phủ mà chúng ta sẽ thỏa thuận được dễ dàng hơn.

Những liên hệ của chúng ta ở cấp chính phủ đã cho phép chúng ta can thiệp để thay đổi triệt để bộ máy đàn áp; cũng vậy – Graham nói tiếp – Chúng ta có thể thực hiện một loạt những hành vi khiêu khích ở bên trong các nhóm cốt cán nhỏ. Điều cần thiết đối với chúng ta – và cố sẽ phải là công việc của Cygne – là thâm nhập các cơ quan lãnh đạo lật đổ để biết được các kế hoạch và các khả năng của họ, để có thể ảnh hưởng tới họ theo hướng của chúng ta hoặc, nếu họ trở nên nguy hiểm, thì phá hỏng hành động của họ.

Trong thời gian đầu, điều có ích là những người bạn của chúng ta đã thâm nhập vào các nhóm cốt cán ấy lôi kéo được những người biểu tình để tạo ra càng nhiều vụ rắc rối càng tốt, với những lực lượng giữ trật tự. Những vụ phá hoại và những vụ gây thương tích lúc này là những đồng minh tốt nhất của chúng ta”.

Tác giả, dưới cái tên “đại úy Maedo” (đại úy Maedo – trước đây là một trong những người “phụ trách” Đội tiên phong Mỹ Latinh, một tổ chức được lập ra dưới sự bảo trợ của CIA và DIA nhằm mục đích thâm nhập các tổ chức cách mạng của lục địa Mỹ Latinh), được các ủy ban hành động cách mạng nhanh chóng chấp nhận, các ủy ban này giao cho tác giả cơ quan vệ sinh y tế của nhà hát Odéon, một vị trí quan sát lý tưởng cho phép tác giả biết được (và tham gia) tất cả các quyết định của “ủy ban – Odéon”.

Ở khu phố Latinh, những vật chướng ngại, những chai lựu đạn xăng Molotov, những cuộc khiêu khích đã tác động theo hướng mà CIA mong muốn… Ngày 29 tháng Năm, de Gaulle, sau khi cho dời những hồ sơ lưu trữ của mình khỏi điện tổng thống, đã biến mất. Graham và những “người bạn Pháp” của ông ta tiếp tục tạo ra một không khí sợ hãi: chẳng bao lâu nữa, những đơn vị đầu tiên của quân đội sẽ xuất hiện ở Paris (lính nhảy dù đã đóng ở Invalides) và nhiều “thông tin đáng tin cậy” báo cho những nhà chức trách chịu trách nhiệm về trật tự (các Bộ Nội vụ và Quốc phòng) rằng “CGT (Tổng công đoàn) đã vũ trang cho một trăm thành viên thường trực của nó và cuộc biểu tình sẽ xảy ra đúng ngày đó sẽ chuyển thành việc chiếm cứ nhiều cơ quan công cộng”…

Bộ tham mưu quân đội, “bị ảnh hưởng” bởi những thông tin từ CIA phát ra, đã đưa ra những chủ trương nhằm tăng cường tình trạng báo động trong quân đội. Pompidou, người cũng “bị ảnh hưởng” như thế, đã thổ lộ rằng ông ta đã nghĩ tới việc giải tán Quốc hội lúc đó và – de Gaulle chẳng phải đã bỏ trốn rồi sao? – tự đứng ra làm người kế tục của vị tổng thống đã “từ chức”.

Trong khi đó, de Gaulle bàn tính với nhiều chỉ huy quân sự, họ khuyên ông ta trở lại “và nắm lại tình hình trong tay”. Đại tướng trở lại rồi đọc diễn văn loan báo sự giải tán Quốc hội và tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, rồi tổ chức một cuộc biểu tình lớn ủng hộ de Gaulle – thế là dần dần tình hình sẽ đi vào dòng chảy bình thường…

CIA và DIA đã thất bại trong “cuộc chiến” của họ ư? Toàn bộ hoạt động của chúng tôi đã trở thành vô ích rồi ư? Chỉ là bề ngoài thôi…

De Gaulle sẽ không bao giờ tin cậy Pompidou nữa. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị quan trọng sẽ khuyến cáo bỏ phiếu Không trong cuộc trưng cầu ý dân. Một nhân vật hàng đầu sẽ nói lên câu nói nổi tiếng của mình: “Có, nhưng…”. Nhưng mặc dầu sẽ có sự trở về chiến thắng ấy, việc bỏ trốn (của de Gaulle) không được giai tầng chính trị và “đa số thầm lặng” tiếp nhận. Vị khổng lồ này chỉ có chân đất sét, ông ta không còn kiểm soát được tình hình nữa, và người ta không tha thứ cho ông ta về điều đó… de Gaulle hiểu rõ như thế, ông ta rút lui vài tháng sau đó.

Sau bài diễn văn và cuộc biểu tình của de Gaulle ở Champs-Elysée, vấn đề chiếm cứ các công sở vẫn còn nguyên vẹn. Vấn đề các cuộc bãi công thì đã được giải quyết nhờ có một bản tin do hãng thông tấn Xô Viết TASS công bố, coi “tướng de Gaulle là một người của tình thế”, rồi tiếp đó là những thỏa thuận ở Grenelle và lời kêu gọi của L’Humanité “thắng lợi làm việc trở lại”.

Ngoặc đơn

“Trung tâm cách mạng” đầu tiên mà các nhà chức trách cảnh sát quyết định giải tỏa là Odéon: rất sớm, sáng ngày 14 tháng Sáu, các lực lượng của cảnh sát quận chiếm cứ các thềm và một vài gian của những tòa nhà quanh nhà hát. Cơ quan an ninh CAR-Odéon, được báo trước về những ý định của cảnh sát, đã rút lui vì lý do chiến lược để lại trong đó vài trăm người (trong số đó có khoảng ba chục người bị thương), cả đàn ông, đàn bà, và trẻ con, họ từng đến đây hàng ngày để “tham gia cách mạng”…

Một tổ chức trật tự, gồm những “người Katanga” bị đuổi khỏi Sorbonne – trong đó có khảong mươi “cộng tác viên” của CIA – lúc đó chuẩn bị bảo vệ Odéon bằng mọi giá… Vào 9 giờ sáng, các nhà chức trách cảnh sát tới, đứng đầu là quận trưởng Grimaud, và chuẩn bị can thiệp “manu militari” (kiểu quân sự)… (Trong cuốn sách của ông ta, Tháng năm ấy, muốn làm gì thì làm, ông Grimaud quả quyết rằng ông ta tới đó một mình, trước cả đội quân cảnh sát. Thật ra, ba giờ trước đó, các lực lượng trật tự đã kiểm soát các ngả đường tới nhà hát Odéon và vùng chung quanh rồi). Ở bên trong, Cygne đang nghiên cứu tình thế và kết luận rằng “bảo vệ Odéon” – lúc này không còn một nhân vật chính trị phái tả nào ở đó nữa – không những không phục vụ cho cái gì mà còn gây ra nhiều người bị thương vô ích. Ra bằng một cửa bên – cửa chính bị đóng bằng một xích sắt to -, tác giả đến trình diện với quận trưởng Grimaud để báo cho ông ta biết rằng ở trong đó chỉ còn những kẻ “không phải phiến loạn” và do đó, phải đi tới một tạm ước (modus vivendi) cho phép họ tản ra khỏi đó… Người ta đi tới một thỏa thuận: cho tản ra một cách êm thấm và không có vũ khí, cảnh sát sẽ tuyệt đối không can thiệp, những người ở trong Odéon sẽ không bị bắt giữ hoặc bị lập phiếu. Dần dần, trước mặt báo chí quốc tế, người ta rời khỏi Odéon hết.

Cygne là kẻ cuối cùng ra khỏi đó và, mặc dầu đã có các thỏa thuận, là kẻ duy nhất bị cảnh sát bắt giữ.

Xin bạn đọc cho phép tôi nhường lời cho quận trưởng Grimaud để kết thúc dấu ngoặc về những sự kiện năm 1968 này:

“Các anh phải báo cho những người có trách nhiệm biết, – đây là lời của Grimaud nói với những cảnh sát cấp dưới của ông ta, – rằng các anh sẽ vào bên trong để cho mọi người tự do ra khỏi đó, với điều kiện là việc này phải được thực hiện nhanh chóng và không xảy ra rắc rối… Sau đó một lát, tôi đã xác nhận điều này với một người trẻ tuổi, phong nhã, lịch sự, đến gặp tôi như “người phụ trách Odéon” và sau đó đã vui vẻ cộng tác với việc tản đi này. Về sau, anh ta viết một cuốn sách, cam đoan rằng anh ta ở đó là do CIA. Tại sao không thể như thế?”.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Mục tiêu: De Gaulle! – Phần IV


Lợi dụng Tháng Năm 68 như thế nào?

1968 – Tại Canada (ở Mont-Tremblant), trong các ngày 26, 27 và 28, tháng Tư, dưới sự chủ trì của Bernard của Hà Lan, đã diễn ra một cuộc họp khác của Câu lạc bộ, với sự tham dự của 110 nhân vật cũng quan trong như trong những lần trước. Ngoài những nhân vật đã biết, còn mời thêm các ông Valéry Giscard d’Estraing, Mendès, France, Franco Nogueira (bộ trưởng Ngoại giao Bồ Đào Nha), Nicolas Franco (đại sứ Tây Ban Nha ở Lisbone), Joseph Luns (bộ trưởng Ngoại giao Hà Lan), George Ball (nhà ngoại giao), Lester Pearson (cựu Bộ trưởng Ngoại giao Canada), Jacques Pariseau (thuộc Hội đồng kinh tế Québec), Franz J. Strauss (Đức), Quandt (nhà tài chính Đức, con trai của Mart Goebbels), Mac Namara (Mỹ), Henry Ford (Mỹ), Angleton (CIA), Rosonneky (thống đốc Ngân hàng Canada), Edmond de Rothschild (Pháp), Powel (Anh), Agnelli (Fiat)…

Hội đồng quan trọng này bàn tới những chủ đề sau đây:

+ Quốc tế hóa thế giới tài chính;

+ Hợp tác kinh tế Đông – Tây;

+ Nhật Bản có nằm trong châu Á hay không?

+ Thị trường chung không có nước Anh;

+ Thái độ chống Đại Tây Dương của De Gaulle;

+ Sự lật đổ của cộng sản trong thế giới phương Tây.

Một lần nữa, ban lãnh đạo Câu lạc bộ Bilderberg, CIA và những người khác theo thuyết Đại Tây Dương định lợi dụng một hiện tượng mà họ không gây ra để làm vốn liếng và để dùng nó vào mục đích riêng. Những “sự kiện” tháng Năm – tháng Sáu 1968 làm chấn động châu Âu hồi đó sẽ bị lợi dụng để đẩy tới hành động chống De Gaulle.

Bạn đọc hẳn còn nhớ những sự kiện ở khắp châu Âu đã cho thấy rõ cuộc “khủng hoảng thế hệ” ấy. Ở Pháp, một nước có truyền thống đi tiên phong trong những cơn đột khởi xã hội – cách mạng, những “sự kiện này” mang một sức nóng và một tầm quan trọng ít thấy. Nhưng việc các cơ quan mật vụ Mỹ lợi dụng những sự kiện ấy thì được biết đến ít hơn.

Các nhà chiến lược không chỉ nhìn thấy một nguy cơ có thể có trong cuộc “cách mạng” này, mà còn – theo chúng tôi, họ chủ yếu nhìn thấy – khả năng kết liễu gọn một người mà từ nhiều năm nay đã tỏ ra giữ lập trường dân tộc chủ nghĩa ngày càng tiêu cực: tổng thống Charles de Gaulle.

Chủ nghĩa dân tộc “nguy hiểm” ấy được thể hiện ở việc rút các lực lượng Pháp ra khỏi sự bố trí quân sự của NATO (sau khi loại bỏ tất cả các căn cứ quân sự Mỹ đóng ở Pháp và di chuyển cơ quan đầu não của NATO sang Bỉ), cũng như ở việc nhấn mạnh “thuyết Oural” (de Gaulle muốn châu Âu phải trải rộng “từ Đại Tây Dương đến Oural”) trong chính sách đối ngoại của Pháp.

Chúng ta đã thấy “nguy cơ” của de Gaulle ấy làm cho Câu lạc bộ Bilderberg lo sợ đến mức nào. Ở Madrid, một số nhân vật của chế độ (Franco) cũng lo lắng về tình hình ở Pháp, nơi mà từ cuộc chiến tranh đã có một số kiều dân chống Franco đông đảo đến cư trú và là nước đã đón tiếp “một cách không chính thức” những tổ chức cũng “nguy hiểm” ngang với ủy ban trung ương Đảng Cộng sản Tây Ban Nha, như phái đoàn của nước Cộng hòa Tây Ban Nha, chính phủ Basque, chủ tịch Khu tài chính Catalogne, ban lãnh đạo tổ chức ly khai ETA và ban lãnh đạo các công đoàn và tổ chức “cực đoan”.

Ngày 3 tháng Năm, sau khi nhận được từ ăng-ten Paris (lúc đó do Ủy viên Tây Ban Nha Lopez de Maturana lãnh đạo) những thông tín cuối cùng nhấn mạnh tới tính chất nghiêm trọng của tình hình, đô đốc Carrero Blanco đã họp “một ban tham mưu về cuộc khủng hoảng” tại văn phòng ông ta. Carrero chính thức là thư ký Phủ tổng thống, nhưng ông ta lãnh đạo một cách không chính thức cơ quan tư liệu trung ương của Phủ tổng thống (SCPG), một kiểu giám sát bí mật trùm lên toàn bộ các cơ quan an ninh (hợp pháp và không hợp pháp) của Tây Ban Nha.

Về phía Tây Ban Nha, tham gia cuộc họp này có đại tá Blanco Rodriguez (tổng giám đốc An ninh và các cơ quan song hành) đại tá Mihuel Ternero Toledo (trưởng cơ quan thông tin của DGS), đại tá Carlos Cortezo y Junquera (trưởng ban “châu Âu” của SCDPG), José O. Gonzalez Campos (trưởng ăng-ten của các cơ quan mật vụ Tây Ban Nha ở Toulouse), Roberto Conesa (trưởng cơ quan Hành động của SCOE, cơ quan phối hợp tổ chức và liên lạc), Robert Cahagen (COS của CIA ở Madrid), Rogers Wayne (phó của tướng Walters ở châu Âu, chuyên gia về điện tử ở Paris), ủy viên Maturana (trưởng ăng-ten Pháp của SCDPG) và tác giả.

Maturana và tác giả nhận được nhiệm vụ do cấp trên giao để tổ chức sự thâm nhập của các nhóm chống đối nhằm kiểm soát chúng và tìm hiểu mối nguy cơ mà chúng có thể gây ra, nhất là về Tây Ban Nha.

Cygne, chuyên về những hành động thâm nhập và điều khiển, phải chịu trách nhiệm lãnh đạo công tác bí mật bằng cách dựa vào mạng lưới được các cơ quan mật vụ Mỹ cẩn thận lập ra ở Paris và mạng lưới đó phải được sử dụng theo chiến lược đã định ở Madrid, nhưng không để cho các cơ quan mật vụ chính thức của Tây Ban Nha và Mỹ xuất hiện công khai. Nhờ cương vị chính thức của mình, là nhân viên liên lạc giữa các cơ quan mật vụ Tây Ban Nha và Pháp, cũng như nhờ văn phòng của ông ta đặt tại sứ quán Tây Ban Nha ở Paris, Maturana được giao cho trách nhiệm thiết lập những liên lạc giữa Paris và Madrid, và đồng thời “cung cấp” cho những người ông ta tiếp xúc trong các cơ quan Pháp những “thông tin” (có thật hay “bịa đặt”) để thực hiện kế hoạch đã định.

Đến Paris, tác giả liền tiếp xúc với nhân viên chính thức của Mỹ phụ trách phối hợp các ăng-ten của CIA và DIA ở Pháp, đại tá Dant Graham, người được bổ nhiệm làm phó giám đốc cơ quan tình báo quân sự Mỹ (Defence Intelligence Acency) từ năm 1974 và đóng bản doanh tại các ăng-ten ở sứ quán Mỹ tại Paris, số 83 phố La Boétie.

Việc tiếp xúc này – thật logic – không được làm một cách trực tiếp mà qua trung gian một “cộng tác viên” người Pháp của CIA, người này làm việc ở “Trung tâm đại học Mỹ” ở đại lộ Saint-Germain. Người trung gian này đã chuyển cho tác giả một “lời mời đến ăn chiều”. Tại bữa ăn này có những người khác cũng đang quan tâm tới tình hình. Người ta cùng nhau định ra những đường hướng chung của “kế hoạch chiến đấu”.

Cuộc họp này diễn ra tại nhà ở của người phụ trách CIA ở Pháp, đại lộ George-Mandel. Ngoài Graham còn có mặt tướng Walters, Wayne, Stabber (giám đốc khu vực của CIA về Pháp, Thụy Sĩ và Italy), Clark (của INR cơ quan thông tin của Bộ Ngoại giao), Molisani (đại diện công đoàn Mỹ AFL-CIO) và tác giả.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Mục tiêu: De Gaulle! – Phần III


Những cuộc họp không giống những cuộc họp khác

Mới thoạt nhìn thì chẳng có quan hệ gì với cuộc họp này, tháng Năm cùng năm đó một hội nghị của “các nhà công nghiệp Pháp và Mỹ” đã họp ở Paris để nghiên cứu những “bất đồng giữa Pháp và Mỹ” và để hàn gắn với nhau. “Chủ đề chính của cuộc tranh luận (như Aux écoutes ngày 12 tháng Năm 1966 viết) là về thời kỳ sau De Gaulle (…), vì chủ nghĩa dân tộc quá khích của Cộng hòa thứ V chỉ là một hiện tượng ngắn ngủi và có thể bị giới hạn trong không gian và thời gian…”

Dự cuộc họp này có các ông Villiers, chủ tịch Giới chủ Pháp, Baumgertner, Hulevin (Kléber-Colombes), Roux (tổng giám đốc CGE), Grandpierre (Pont-à-Mousson), Guerlain (thuộc nhóm Guerlain), đại diện cho nước Pháp, và các ông Dillon (chủ ngân hàng, cựu bộ trưởng, cựu đại sứ), Blough (chủ tịch – tổng giám đốc US Steel), Borch (chủ tịch – tổng giám đốc GE), Murphy và Gates là hai nhà lãnh đạo cao nhất của một tổ chức giới chủ ở Mỹ, tập hợp giám đốc của hai trăm công ty trong số những công ty quan trọng nhất của Mỹ. Câu lạc bộ này, gọi là “Business Roundtalble”, lãnh đạo toàn bộ đời sống công nghiệp của Mỹ và, qua trung gian những đại diện của họ ở MILIC (Military Industrial Complex), của World Business, nó mở rộng quyền lực ra cả công nghiệp quân sự (Coinmil), công nghiệp dân sự (World Business Council) và cả lĩnh vực chính trị (Bilderberg). Về phía mình, Morgan Guaranty Trust (do Gates lãnh đạo) trực tiếp kiểm soát 27 công ty quốc tế quan trọng nhất, và là một trong những cổ đông lớn nhất của 56 công ty tầm cỡ quốc tế khác, có chi nhánh ở trên 20 nước khắp thế giới”.

Hãy chú ý rằng tất cả các công ty Mỹ được đại diện tại cuộc họp bất thường của Câu lạc bộ tháng ba 1966 cũng đã được đại diện một cách có hệ thống tại những cuộc họp trước đó. Cũng có thể nhận xét như vậy về các ông Villiers và Baumgertner (Pháp), cả hai đều là những thành viên sáng lập của Câu lạc bộ Bilderberg và trên thực tế đã tham dự tất cả các cuộc họp của nó. Hồi đó Villiers là chủ tịch Viện nghiên cứu Đại Tây Dương. Một người Pháp khác có mặt tại cuộc họp này ông Guerlain, hồi đó là quản lý của ủy ban Pháp – Mỹ, như đã biết, ủy ban này thuộc về Hiệp hội các tổ chức châu Âu – Mỹ do hoàng tử Bernard làm chủ tịch…

Vì lẽ đó chúng ta có thể và phải đặt ra câu hỏi này: đó là cuộc họp của các nhà kinh doanh Pháp – Mỹ như người ta nói, hay đơn giản hơn, đó là cuộc họp “khu vực” của một ủy ban chuyên gia kinh tế của Câu lạc bộ Bilderberg?

Xin xem thêm một chi tiết quan trọng là, gần như cùng một lúc, ở Genève đã có một cuộc họp khác dưới sự bảo trợ của Viện nghiên cứu Đại Tây Dương, mà phó chủ tịch hồi đó của nó là ông Spaak, thành viên lãnh đạo Bỉ của Câu lạc bộ Bilderberg.

Cả hai cuộc họp đều đi tới những kết luận giống hệt nhau: Không có Mỹ, châu Âu không thể tồn tại! Do đó, cần phải hoạt động để tạo thuận lợi cho sự thâm nhập của tư bản Mỹ vào thị trường cộng đồng”…

Từ đầu năm 1967, người ta thấy có một hoạt động sôi nổi như vậy ở những người theo thuyết Đại Tây Dương. Hai cuộc họp “khác nhau” đã diễn ra, cuộc họp thứ nhất ở Cannes (Pháp), do Viện nghiên cứu Đại Tây Dương (ông Georges Villiers) tổ chức và với sự chủ trì của hai người: các ông Baumgertner (Pháp) và Sidney Rolle (Mỹ), các ngày 19, 20, 21 và 22 tháng Giêng. Nó tập hợp một nhóm nhiều nhà kinh doanh nổi tiếng và có tầm quốc tế; lần đầu tiên các nhân vật Nhật Bản đã xuất hiện ở đó.

Trong bốn ngày ấy, một lần nữa, chủ đề chính là “chiến lược mới cần phải theo để đối phó với thái độ của De Gaulle”. Trong nghị quyết cuối cùng, có thể đọc thấy:

“Tất cả những người tham gia đều đồng ý về sự cần thiết phải tăng thêm sự hợp tác giữa các chính phủ, các ngành công nghiệp và các cơ quan tài chính, các thị trường.

Những người tham gia cũng cho rằng những người cần tín dụng cũng như những người cấp tín dụng đều phải được tham gia tất cả các thị trường tài chính, không bị một hạn chế nhỏ nhất nào. Việc đơn giản hóa những quy tắc kiểm soát hối đoái là một điều cấp bách, và trong nhiều trường hợp, việc hoàn toàn tự do tham gia tất cả các thị trường phát hành, không loại trừ cả những sự phát hành đồng dollar châu Âu (eurodollars), là cần thiết”.

Nếu muốn biết rõ những gì nắm giữ các dòng chữ, như người ta thường đọc mọi “nghị quyết” của một cuộc họp tương tự, thì ý nghĩa thật của nó hiện ra rất rõ ràng: “tự do hoàn toàn cho tư bản Mỹ thâm nhập châu Âu”. Cũng vậy, rõ ràng là nhờ “nắm được tất cả các nguồn châu Âu”. Mỹ có thể dựa vào tài chính châu Âu để gia tăng sự thâm nhập của họ, và làm được như thế là nhờ có những tín dụng do chính châu Âu cung cấp!

Một lần nữa, tham gia cuộc họp này lại có đa số những thành viên của Bilderberg: Baumgartner, Villiers, Goerges-Picot (Ngân hàng Suez), Beaupère (giám đốc Tổng công ty), Guyot (Lazard Frères), Merlin (Tín dụng thương mại Pháp), Reye (chủ tịch – tổng giám đốc Ngân hàng Paris và Hà Lan), Sergent (cựu thư ký NATO, phó chủ tịch Tổng công đoàn xây dựng điện), Pierre Uri (cố vấn Viện nghiên cứu Đại Tây Dương), Roux (CGE)…

Cuộc họp thứ hai, lần này do Câu lạc bộ Bilderberg chính thức tổ chức, đã được tiến hành tại Cambridge dưới sự chủ trì danh dự của Hoàng tử Philip nước Anh, vào tháng Ba cùng năm. Chúng ta lại thấy có phần lớn những người “theo thuyết Đại Tây Dương” trước đây. Phái đoàn Mỹ được David Rockfeller (chủ tịch – tổng giám đốc Chase Manhattan Bank) lãnh đạo, đi theo có John Mc Cloy (chủ tịch Viện nghiên cứu Đại Tây Dương), Kunstamm (thuộc Ủy ban châu Âu về nước Mỹ), John Mc Cone (cựu giám đốc CIA) và Peter Corominas (“cố vấn” của CIA về vùng Hy Lạp – Thổ Nhĩ Kỳ, sau này đã can thiệp vào mưu toan đảo chính năm 1974 chống lại tống thống Síp Makarios).

Những chủ đề được bàn tới tại cuộc họp này là:

+ Sự hội nhập của Anh vào Thị trường chung;

+ Cải tổ những thể thức tài trợ, giữa châu Âu và Mỹ;

+ Có khả năng là một cộng đồng mà không theo thuyết Đại Tây Dương không?

+ Vấn đề Hy lạp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Mục tiêu: De Gaulle! – Phần II


Ngay từ khi đến Paris, tác giả bắt đầu tiếp xúc với kiều dân Mỹ Latinh và một ủy ban Pháp – Cộng hòa Dominique nhanh chóng được thành lập do ông Jean Cassou làm chủ tịch. Cùng với một phó tổng thống Dominique (bác sĩ Carron, cựu chiến binh trong hàng ngũ Kháng chiến Pháp dưới thời bị chiếm đóng và là cựu đại sứ của tổng thống Bosch bên cạnh UNESCO), nhiều nhà trí thức và chính khách đã tham gia ủy ban này: Sartre S. de Beauvoir, Bourdet, Mallet, E. de la Souchère, Mrtinet, K. Kaupp, C. Audry, Fournial, Capitant,… Rất nhanh chóng, ủy ban của chúng tôi gia tăng những hoạt động của nó (tác giả hoạt động với tư cách “phó tổng thư ký”, vì người thực sự giữ cương vị này, bà C. Audry, rất bận rộn): kêu gọi dư luận chống sự can thiệp đế quốc vào Cộng hòa Dominique”, họp tại Nhà Tương tế (do Daniel Mayer, chủ tịch Liên đoàn các quyền con người, chủ trì)… Các cánh cửa Điện Elysée nhanh chóng mở ra cho chúng tôi nhờ một sự ngộ nhận và sự môi giới của vài thành viên của ủy ban! Tôi xin nói rõ:

Cùng với những người Dominique cư trú tại Paris, tác giả gửi một bức thư tới tổng thống De Gaulle để cảm ơn vì lập trường của ông ta và yêu cầu ông ta có “một sự can thiệp trực tiếp hơn và có hiệu quả hơn, bằng cách thừa nhận chính phủ hợp hiến của Camano”… Sau khi gửi bức thư này được một hôm, ban thường trực của ủy ban nhận được một cú gọi điện thoại của “cơ quan bảo vệ những nhân vật cấp cao” thuộc Bộ Nội vụ, hỏi rõ “tên của người có sáng kiến gửi thư cho tướng De Gaulle”… Vì không ai có thể gánh lấy trách nhiệm đó, nên tác giả đã gánh lấy… Do đó, tác giả được một nhân vật làm việc cạnh De Gaulle và chuyên trách chủ yếu những công việc thuộc loại “tế nhị” này mời đến. Ông Foccart tiếp tác giả tại một gian nhà phụ của điện tổng thống (hiện nay đổi thành nơi ở của các nhân vật nước ngoài đến thăm chính thức) và, không nói vòng vo, sau khi “nhắc lại sự quan tâm của tổng thống Cộng hòa Pháp đối với vấn đề Dominique (“đại diện chúng tôi tại Liên hợp quốc đã lên tiếng rõ ràng chống lại sự can thiệp của Bắc Mỹ vào Saint-Dominique”) và bày tỏ mối thiện cảm của mìh đối với cả những người theo chủ nghĩa lập hiến, ông ta nói rõ ràng “lần này, kiều dân Dominique cần công khai cảm ơn tướng De Gaulle về thái độ của ông!…

Người cộng sự gần gũi của tướng De Gaulle nói tiếp, cũng “sẽ là đúng lúc nếu động viên và làm xúc động dư luận Pháp một cách rộng rãi hơn để gây ra một phong trào rộng lớn đoàn kết chung quanh thái độ của tổng thống chúng tôi”… Một phong trào, – như ông ta nhấn mạnh – sẽ đi “từ những người theo phái De Gaulle đế những người cộng sản” và sẽ bày tỏ sự bác bỏ rõ ràng đối với chính sách của Mỹ từ phía tất cả các đảng chính trị và dư luận.

Sau khi tham khảo Berg về cách tiến hành, tác giả đã gửi một bức thư mới “tới tổng thống Cộng hòa Pháp, từ phía kiều dân Dominique ở Pháp” và bức thư này đã được chuyển cho báo chí như ông Foccart mong muốn. Bức thư viết:

“Thưa Ngài Tổng thống, chúng tôi xin phép báo để Ngài biết qua bức thư này về sự tán thành của chúng tôi đối với lập trường của Ngài trước cuộc khủng hoảng ở Saint-Domingue. Thái độ mà chúng tôi hoàn toàn ủng hộ ấy đã được đón nhận ở nhiều nước, đặc biệt ở toàn châu Mỹ Latinh, một cách phấn khởi và đầy hy vọng.

“Đại tá Camano, được bầu làm tổng thống nước Cộng hòa bởi Nghị viện Dominique và đã được tấn phong chức danh đầy uy quyền hợp hiến này, đã gửi cho Ngài một bức điện trong đó ông “kêu gọi tất cả những tình cảm con người và tôn trọng phẩm giá dân tộc có lợi cho nước này” (…). Nhân dân Saint-Domingue và tất cả nhân dân Mỹ Latinh đều tin tưởng vào tướng De Gaulle vì đã trung thành với lập trường mẫu mực mà Ngài đã giã từ lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng này. Việc nước Pháp thừa nhận đại tá Camano làm vững lòng rất nhiều cho nhân dân Dominique trong cuộc đấu tranh của mình vì độc lập và tự do. Quyết định này sẽ làm thất bại thủ đoạn mới nhằm chống lại chính phủ Camano bằng một nhóm đảo chính quân sự do tướng Imbert Barrera đứng đầu…”.

Đi đôi với điều đó, chúng tôi đã chuẩn bị trong ủy ban Pháp – Cộng hòa Dominique “một lời kêu gọi nhân dân Pháp” để tất cả các tổ chức chính trị Pháp ký tên. Nhân đây xin nói rằng tác giả đã “kiểm soát” được lời văn một cách dễ dàng vì được giao trách nhiệm trình bày nó để cho những người theo phái De Gaulle và những người cộng sản ký tên.

Tiếp theo lời kêu gọi ấy, rất nhiều quà tặng được gửi dồn dập tới trụ sở ủy ban cũng như tới những tổ chức tương trợ khác nhau của Pháp: Cimade, Cứu trợ Gia tô giáo, Cứu trợ nhân dân,… Phải nghiên cứu nhanh chóng làm thế nào để gửi đi tất cả những quà tặng ấy – áo quần, thuốc men, sữa bột – cho “phái lập hiến” của Camano. Bàn tay mạnh mẽ và có thế lực của CIA liền xuất hiện để chặn lại chuyến gửi đầu tiên của chúng tôi (qua một chiếc máy bay của Air France, nhờ có Foccart giúp), làm cho nó bay lạc sang Porto Rico và giao trực tiếp cho Chữ Thập đỏ Dominique rõ ràng đang hoạt động trong phe chống lại phái hợp hiến. Sự việc này cho phép chúng tôi leo thang bằng cách lợi dụng sự bực tức của De Gaulle.

Chúng tôi đã yêu cầu và được tổng thống đồng ý để cho một chiếc tàu tuần tiễu của Hải quân Pháp, mang cờ Chữ thập đỏ, chở tất cả những quà tặng “của nhân dân Pháp gửi nhân dân Dominique” và lọt sâu vào “trại hậu cứ” của phái hợp hiến, vượt qua vòng vây do những chiếc tàu thuộc Hạm đội VII của Mỹ áp đặt.

De Gaulle đã chấp nhận ý kiến đó một cách thích thú! AJID (Hội nhà báo vì thông tin và phát triển) gửi một đại diện đến, và tổ chức Cứu trợ nhân dân cũng gửi một đại diện khác. Tổng thống Bosch, được tác giả tiếp xúc ở Porto Rico, sẽ đến Saint-Domingue trên một tàu tuần tiễu. De Gaulle lấy làm hài lòng: nhờ có ông mà Bosch chiếm lại được chức tổng thống của mình! Như vậy, uy tín của nước Pháp (và của tổng thống nước này) đối với lục địa Mỹ Latinh được bảo đảm biết bao!

Thật không may cho De Gaulle, Bosch đã từ chối tham gia hành động này. Báo chí quốc tế đã biết được “dự án điên rồ” này (New York Hera – Id và Times coi tổng thống Cộng hòa Pháp là “một ông già gây gổ và gàn dở” và “nhiều sức ép đủ loại, bên trong cũng như bên ngoài”, đã làm cho hành động này bị thất bại.

Tiếp tục công việc chống De Gaulle của mình, chúng tôi đã cho công bố trên tờ tuần báo theo phái De Gaulle Notre République một “tài liệu” dài về Saint-Domingue và về tình hình nước này. Với một thái độ chống đế quốc quá khích, bài báo ít được người ta đọc tới này (Notre République là một tờ báo thường kỳ “bí mật”, hầu như không được phổ biến) đã gây ra một vết rạn nứt đáng kể trong phong trào De Gaulle, Chủ nhiệm tờ Notre République là tướng Billotte, một người theo De Gaulle từ buổi đầu, nhưng lại là một người thân Mỹ thâm căn cố đế. Ông ta cố chống lại việc công bố bài báo, và khi người ta báo cho ông ta biết rằng bài báo “đã được Le Château gợi ý”, thì do bị xâu xé giữa sự trung thành với tướng De Gaulle và sự gắn với nước Mỹ, tướng Billotte từ chức khỏi tờ báo.

Việc quảng cáo cho lập trường của De Gaulle và cho những “lời lẽ khoác lác” chẳng có hiệu quả gì ấy chỉ là một trong những mặt của chiến dịch được các nhà chiến lược Bilderberg chỉ huy để chống lại uy tín của người đã dám chống lại những ý đồ của họ.

Năm 1966, chẳng có gì được giải quyết cả, khi chủ tịch Câu lạc bộ Bilderberg, hoàng tử Bernard cấp tốc triệu tập một cuộc họp bất thường trng các ngày 8, 9 và 10 tháng Ba, sau “công hàm” do Chính phủ Pháp công bố và sau quyết định của chính phủ nước này về “sự tham gia của Pháp vào các kế hoạch của NATO”.

Những khách mời chính thức đến căn cứ quân sự Wiesbaden (CHLB Đức) bằng một chiếc máy bay đặc biệt: Hoàng tử có sự tháp tùng của tổng thư ký NATO. Ông Brosio, Phó giám đốc CIA, tướng Walters, Bộ trưởng Ngoại giao, George Ball, B. Klosson, thuộc Bộ Ngoại giao, và tướng Mỹ Donovan. Pháp được đại diện bởi các ông Baumgertner, Villiers, Massigli, Pleven, Pflimlin, Faure (Maurice), Mollet, Pinay và Baumel.

Chương trình nghị sự của cuộc họp này thật đơn giản:

+ Cải tổ NATO

Song song với cuộc họp này, các đại diện của CIA và Anh đã lợi dụng nó để thảo luận một “vấn đề nhỏ”: tình hình ở Guyane thuộc Anh. Chia sẻ “mối quan tâm” này, các công đoàn Mỹ AFL-CIO và CIA đã can thiệp vào các cuộc bầu cử xảy ra ở xứ sở nhỏ bé này, và ứng cử viên của người Mỹ đã thắng cử… một cách đương nhiên!

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

FTAAP: Sự lựa chọn tốt nhất trong thời đại hậu TPP? – Phần cuối


Ngược lại, con đường với “kết cấu mở rộng” sẽ có tính khả thi cao hơn, con đường này sẽ hình thành cục diện RCEP, TPP, FTAAP cùng tồn tại song song, mức độ tự do hóa của FTAAP sẽ nằm ở giữa RCEP và TPP, các thành viên của hai bên phải thống nhất tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như thương mại dịch vụ, tiêu chuẩn quyền sở hữu trí tuệ… hàn gắn sự khác biệt về mặt nội dung như mua sắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước, tiêu chuẩn lao động, tiêu chuẩn môi trường…, đạt được nhận thức chung về mặt quy tắc bất động sản, khuyết điểm của nó là vì cần phải thống nhất quy tắc tồn tại xung đột nên quá trình đàm phán có thể dây dưa.

Con đường thứ năm được quyết định bởi hai nước Trung – Mỹ về mặt hợp tác kinh tế có chung nguyện vọng làm người lãnh đạo thế giới. Kể từ khi khởi động đàm phán BIT năm 2008 đến nay, hai nước đã tiến hành hơn 20 vòng đàm phán, nội dung cũng đi sâu vào các lĩnh vực then chốt như danh sách các lĩnh vực hạn chế đầu tư, ngành nghề văn hóa, an ninh quốc tế…, Trung Quốc còn thành lập khu thử nghiệm thương mại tự do là để tích lũy kinh nghiệm cho biện pháp mở cửa vòng mới. Nếu hai nước có thể sớm đạt được hiệp định BIT, sẽ mở ra một loạt lĩnh vực hợp tác kinh tế thương mại song phương mới, trong đó có khởi động đàm phán “Hiệp định đầu tư và thương mại Trung – Mỹ” (BITT), Trung Quốc tham gia đàm phán các hiệp định thương mại đa biên của WTO (chẳng hạn “Hiệp định thương mại dịch vụ quốc tế” TISA). Nhận thức chung mà hai nước đạt được trên cấp độ song phương sẽ xóa bỏ trở ngại chính khi hai nước cùng trở thành thành viên Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương. Cân nhắc đến mục tiêu thời gian hoàn thành đàm phán mà RCEP nhiều lần bỏ lỡ, hiện nay vẫn còn quá sớm để cho rằng con đường “qua RCEP thực hiện FTAAP” là tốt hơn.

Cho dù cuối cùng con đường nào nói trên trở thành con đường cuối cùng để phát triển FTAAP thì nhận thức chung giữa Trung Quốc và Mỹ về quy tắc thương mại trong tương lai đều chắc chắn không thể thiếu. Khi Donald Trump trình bày chính sách thương mại của mình từng cho biết trong nhiệm kỳ này, ông sẽ chú trọng hơn đến việc thảo luận các quy tắc thương mại song phương công bằng, đây có thể sẽ mang lại cơ hội mới cho hiệp định song phương Trung – Mỹ. Nếu giữa Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được BIT và BITT có trình độ cao, có nghĩa là hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21”, xóa bỏ trở ngại lớn nhất về RCEP (hay các con đường khác) hướng tới FTAAP.

Tóm lại, FTAAP có Trung Quốc và Mỹ cùng tham gia sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời đại hậu TPP”, khối lượng kinh tế lớn của hai nước Trung – Mỹ sẽ mang lại lợi nhuận lớn cho các nước ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nền kinh tế thế giới. Mặc dù tồn tại nhiều con đường thực hiện, nhưng bất kỳ con đường nào cũng đều yêu cầu hai nước Trung – Mỹ đạt được nhận thức chung về các vấn đề then chốt. Sự thúc đẩy nhanh chóng BIT và việc sớm ký kết BITT giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ đặt nền tảng cùng thúc đẩy Khu thương mại tự do châu Á – Thái Bình Dương trong tương lai. Còn trước tình hình TPP gặp trở ngại, RCEP tiến hành trước, Trung Quốc cần phải mời Mỹ gia nhập RCEP đúng lúc đồng thời tiến hành đàm phán nâng cấp “RCEP+”, từ 3 phương diện quy tắc, phạm vi, thành viên sẽ nâng cấp RCEP thành FTAAP.

IV/ Tổng kết

Trong hội nghị thượng đỉnh APEC những năm gần đây, Trung Quốc nhiều lần đề xướng xây dựng FTAAP, việc xây dựng thành công FTAAP sẽ thông qua việc nâng cấp nhất thể hóa 2 nền kinh tế Trung – Mỹ, mang lại lợi nhuận lớn cho nền kinh tế châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Trong vài năm trước đây, các nước tìm cách nâng cấp hợp tác kinh tế và hội nhập chuỗi cung ứng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương dần dần chuyển hướng đàm phán hai “Khu thương mại tự do siêu khu vực”: TPP và RCEP lấy ASEAN làm trung tâm, việc sắp xếp thương mại tự do ở hai khu vực vừa tồn tại cạnh tranh, vừa có tính bổ sung nhất định: việc đàm phán giữa hai bên đều tăng nhanh trong những năm gần đây, nhưng cả hai đều trở thành con đường thực hiện FTAAP.

Trong thời đại “chuỗi giá trị toàn cầu”, doanh nghiệp ở các nơi trên thế giới được kết nối với nhau thông qua “mối quan hệ thương mại – đầu tư – dịch vụ – quyền sở hữu trí tuệ”, thông qua sự luân chuyển hai chiều không gián đoạn về hàng hóa, nhân viên, sáng kiến mới và đầu tư kịp thời mang đến tận tay khách hàng những sản phẩm có chất lượng và hiệu quả cao. Chính sách kinh tế thế kỷ 21 cần phải thông qua việ xây dựng quy tắc chung và tiêu chuẩn phổ biến, giảm bớt sự quấy nhiễu đối với các loại lâun chuyển đồng thời tăng thêm tính ổn định của chuỗi cung ứng, từ đó khiến cho mỗi người tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đều được hưởng lợi.

Lập “Quy tắc kinh tế toàn cầu thế kỷ 21” không tách rời với việc cùng tham gia của 2 nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ hai thế giới là Mỹ và Trung Quốc. Trong 30 năm 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, kim ngạch thương mại song phương đã tăng hơn 200 lần, kim ngạch đầu tư lũy kế của Mỹ đối với Trung Quốc vượt trên 200 tỷ USD, tính lũy kế đầu tư của Trung Quốc vào Mỹ đạt 64 tỷ USD, và năm 2015 vượt qua đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Trung Quốc. Việc hợp tác giữa Trung Quốc và Mỹ trong lĩnh vực quản trị kinh tế thương mại toàn cầu sẽ trực tiếp quyết định tương lai của nền kinh tế thế giới chuyển hướng cởi mở hơn, hội nhập hơn, hay là đi theo hướng chủ nghĩa biệt lập đẩy khó khăn cho người khác. Trong giai đoạn lịch sử mà Trung Quốc tìm cách chuyển đổi mô hình cơ cấu kinh tế và Chính quyền Mỹ nhiệm kỳ mới bố cục lại chiến lược kinh tế, FTAAP mà Trung Quốc và Mỹ cùng thúc đẩy phù hợp với lợi ích chiến lược, kinh tế của hia nước, FTAAP sẽ là sự lựa chọn tốt nhất trong “thời kỳ hậu TPP”.

Cuối cùng, báo cáo này đưa ra những kiến nghị sau:

1 – FTAAP đại diện cho sự phát triển mới của hội nhập kinh tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đàm phán RCEP hiện nay cần phải chú trọng đến việc “mở rộng” trong tương lai cùng với tính khả thi và tính hòa hợp với tư cách là con đường phát triển FTAAP. Trong trường hợp “RCEP đi trước” trong tương lai, có thể thông qua phương thức đàm phán nâng cấp RCEP, cân nhắc từ góc độ quy tắc, phạm vi, thành viên tiến hành hội nhập với TPP.

2 – FTAAP đại diện phương thức mới của hợp tác Trung – Mỹ, thống nhất với BIT giữa Trung Quốc và Mỹ hiện nay và phương hướng BITT có thể khởi động trong tương lai, đồng thời sẽ quyết định hướng đi tương lai của toàn cầu hóa. Với tư cách là nước lớn có trách nhiệm, Trung Quốc và Mỹ cần phải sớm đạt được BIT và khởi động đàm phán BITT, cũng như trong tương lai sẽ coi FTAAP là phương tiện truyền đạt mới và diễn đàn mới cùng thúc đẩy toàn cầu hóa.

3 – Trung Quốc và Mỹ cần phải tiếp tục ủng hộ một cách kiên định hệ thống thương mại đa phương của WTO, nhận thức được vai trò to lớn của cơ chế giải quyết tranh chấp, cơ chế rà soát chính sách thương mại trong WTO đối với việc bảo hộ mở cửa thương mại toàn cầu, cũng như hiệu quả hội nhập khu vực và đàm phán thương mại đa biên của WTO đối với việc thực hiện cuối cùng con đường tự do hóa thương mại đa phương.

Nguồn: The Financial Times Chinese

CVĐQT số 6/2017

Mục tiêu: De Gaulle! – Phần I


Từ khi nước Pháp rút ra khỏi NATO, những lập trường kêu gọi “chống Mỹ” của Tướng De Gaulle đã được những người theo thuyết Đại Tây Dương rất quan tâm.

Phải nói rằng vấn đề De Gaulle đã được bàn tới rất nghiêm chỉnh tại cuộc họp do Câu lạc bộ Bilderberg tổ chức năm 1964. Cuộc thảo luận ở đó chắc hẳn phải sôi nổi, vì những người chống lại chủ nghĩa De Gaulle theo những cách khác nhau, như các ông Gaston Deferre, Jacques Baumel, Christian de La Malène, Jean de Lipkowski, tướng Pierre Gallois, Wilfried Baumgartner, Antoine Pinay và Léon Boutbien, đã xuất hiện trong số 175 thành viên Bilderberg tham dự cuộc họp này.

Những chủ đề được bàn tới thật có nghĩa và việc nêu những chủ đề này ra cũng đủ thấy rõ:

+ Những vấn đề về thái độ của chính phủ Pháp đối với Liên minh Đại Tây Dương và Cộng đồng châu Âu;

+ Sự phát triển nội bộ của Liên Xô có thể ảnh hưởng tới thái độ quốc tế của nó không?

+ Trung Hoa nhân dân có thể là một công cụ chống Liên Xô ở châu Phi không?

+ Chủ nghĩa Castro, nguy cơ đối với lục địa Mỹ.

Năm 1965, tại biệt thự Este (Italy), các thành viên Bilderberg đã họp nhau vào tháng Tư. Số người tham dự còn đông hơn lần trước: 398 người tham dự! 108 người Mỹ, 12 người Canada, 35 người Pháp, 68 người Anh, 32 người Đức, 23 người Italy, 13 người Thụy Điển, 12 người Thổ Nhĩ Kỳ, 11 người Thụy Sĩ, 6 người Đan Mạch, 5 người Hy Lạp, 4 người Áo, 2 người Bồ Đào Nha, 2 người Tây Ban Nha, 25 người Hà Lan…

Những người Pháp tham gia – thành viên hoặc khách mời là như nhau: các ông Robert André, Jacques Baumel, Wilfried Baumgartner, Georges Brutelle, René Clément-Cuzn, François Croisieller, Gaston Defferre, Pierre Dreyfus, Roger Duchet, Maurice Faure, André Fontaine (chủ bút báo Le Monde), Pierre Gallois (tướng, chuyên gia về vũ khí hạt nhân), Olivier Guichard, J. Guillaume, Guillaume Guiidney, Comte Jean de Legarde, Jean de Lipkowski, Robert Marjolin, René Massigli, André Maurois, Guy Mollet, Goerges Morizot, Antoine Partrat, Jacques Piette, ntoine Pinay, Georges Pompidou, André Puget, Jacques Rueff, René Sergent, Pierre-Henri Teitgen, Piere Ur, André Voisin, Henri Yrissou.

Họ nghiên cứu:

+ Sự hợp tác tiền tệ;

+ Sự xâm nhập của cộng sản vào vùng Caribean;

+ Tình hình mới của NATO;

+ Những hậu quả tình hình mới ấy.

Tầm quan trọng của những người tham dự, “tư cách” của phần lớn những người tham dự, và nhất là con số và tính đa dạng của những đại diện Pháp, cho thấy tính chất nghiêm trọng của thời điểm này… Tướng De Gaulle quan tâm tới “ban lãnh đạo” của Bilderberg đến mức ông ta quyết định ủng hộ ứng cử viên Gaston Defferre trong các cuộc bầu cử tổng thống sắp tới. Bạn đọc Pháp hẳn sẽ nhớ lại chiến dịch “quảng cáo” cho ứng cử viên này từ tuần báo L’Express (Ông X) tiến hành.

Pháp – Cộng hòa Dominique

Phái chống De Gaulle một cách quyết liệt và tích cực đã tìm ra những thứ vũ khí khác để đánh bại tướng De Gaulle. Một tình tiết của cuộc chiến này đáng được kể lại, vì chính tác giả cũng đã lao vào trận. Sự kiện ấy xảy ra cách nước Pháp hàng nghìn kilomet, ở một nước nhỏ vùng Caribean: Cộng hòa Dominique. Ngày 21 tháng Tư 1965, cuộc đấu tranh giữa các phe phái giành nhau chính quyền ở Cộng hòa Dominique đang trở nên gay gắt: Camano và Morillo, từng được bổ nhiệm làm lãnh sự của Cộng hòa Dominique ở Miami và Jamaica.

Những người “bị loại trừ”, được bạn bè họ giúp đỡ, đã lánh nạn tại pháo đài Ozama (một trong những trại cảnh sát ở thủ đô) nằm giữa “thành phố mới”, một khu phố bình dân và đông người của Saint-Domingue, nơi người ta thấy có những phong trào dân chủ hoạt động.

Điều nói chung chỉ là một “công việc riêng” ấy rất nhanh chóng được phái đối lập cách mạng của những phong trào phái tả khác nhau chính trị hóa đi. Những phong trào này lợi dụng được tình thế, đã làm cho Camano cấp tiến hóa lập trường của mình và, sau khi vũ trang cho “dân chúng” đã tuyên chiến với “chế độ độc tài”, đòi đưa tổng thống Bosch trở về Porto Rico. Thế là nảy sinh ra cuộc “Cách mạng hiến pháp”, nhưng chỉ xuất hiện ở thủ đô mà không có sự tham gia của tỉnh lẻ.

Trước “nguy cơ cộng sản” ấy, Mỹ quyết định phái một lực lượng quân sự tới “để đảm bảo sinh mệnh và tài sản của những công dân Mỹ cư trú trên đảo”. (CIA khẳng định với tổng thống rằng nó đã khám phá ra ở Saint-Domingue có những “chuyên gia lật đổ” được KGB Xô Viết và G-2 của Cuba đào tạo).

Bạn đọc chắc còn nhớ rằng, để bảo đảm sinh mệnh 123 con người (nói thật chính xác) và tài sản của họ, hơn 40 nghìn lính Mỹ có trang bị vũ khí hạng nặng (xe tăng, đại bác, máy bay…) hồi đó đã đổ bộ lên đảo, có 17 chiếc tàu của Hải quân yểm trợ…

Trước biện pháp quá đáng vừa bất hợp pháp vừa không thể biện minh được này, cả thế giới bị chia đôi: lên án hoặc tán thành. Tướng De Gaulle là một trong những vị quốc trưởng phương Tây lên tiếng kịch liệt chống lại sự can thiệp quân sự ấy và ông ta đã kiên quyết đòi “một thái độ thuộc loại đó phải bị Liên hợp quốc lên án và phải rút các đội quân can thiệp ra”.

Mỹ ra sức chứng minh (với sự thông đồng của vài chính phủ Mỹ Latinh nhưng chỉ đạt được một phần) rằng sự can thiệp của họ không phải là “đơn phương, mà có cả những nước Mỹ Latinh khác và sự can thiệp liên kết ấy là kết quả của một yêu cầu khẩn cấp của chính phủ Dominique gửi tới OEA…”

Về phía mình, CIA nhận thấy trong thái độ của De Gaulle có khả năng hành động “làm mất uy tín quốc tế” và quyết định hành động. Một trong những người được chọn vào mục đích này là tác giả, vì quá khứ ở Dominique và những liên hệ bạn bè của tác giả với đại tá Camano và cựu tổng thống Bosch, đã tụ hội được những phẩm chất cần thiết cho một hành động thâm nhập – điều khiển…

Tại văn phòng của đô đốc Carrero Blanco (người lãnh đạo tất cả các cơ quan mật vụ Tây Ban Nha với tư cách bộ trưởng – thư ký tổng thống), tác giả được giới thiệu với ông Walters thuộc “các cơ quan mật vụ Mỹ” có ông Berg “một sĩ quan bị tước quân hàm” của CIA, đi theo.

Cả hai cho tác giả xem một hồ sơ về tình hình liên hệ giữa Dominique và Pháp và cho biết những khả năng do thái độ cá nhân của tướng De Gaulle tạo ra trước cuộc khủng hoảng ở Saint-Domingue. Walters nhấn mạnh tới sự cần thiết “phải can thiệp với kiều dân Dominique ở Pháp cũng như với gia tầng chính trị Pháp để buộc họ phải giữ những lập trường ngày càng cấp tiến hơn (điều này sẽ gieo bất hòa trong phong trào De Gaulle) và ngày càng khôi hài hơn! Sự phối hợp tại Paris sẽ được một nhân viên CIA là Donavan đảm bảo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.