Hồi kết cho toàn cầu hóa?


Daniel Gros

Trung Quốc vừa công bố rằng năm ngoái, lần đầu tiên kể từ khi nước này bắt đầu mở cửa kinh tế với thế giới từ cuối những năm 1970, xuất khẩu của nước này đã giảm so với năm trước. Và đó chưa phải là tất cả; xét trên khía cạnh giá trị, thương mại toàn cầu đã suy giảm trong năm 2015. Hiển nhiên, câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao?

Dù thương mại toàn cầu cũng từng suy giảm vào năm 2009, nhưng lý giải cho việc đó lại rất rõ ràng: thế giới đã trải qua sự sụt giảm mạnh về GDP vào thời điểm đó. Tuy nhiên, vào năm ngoái kinh tế thế giới đã tăng trưởng đáng kể, đạt mức 3%. Hơn nữa, các rào cản thương mại đã không gia tăng rõ rệt ở nơi nào cả, cộng thêm chi phí vận chuyển giảm xuống do sự sụt giảm mạnh của giá dầu.

Đáng chú ý là chỉ số nổi tiếng Baltic Dry Index, dùng để đo lường chi phí thuê những con tàu lớn vốn vận chuyển phần lớn hàng hóa đường dài, đã tụt xuống mức thấp nhất từ trước tới nay. Điều này cho thấy các thị trường không kỳ vọng vào một sự phục hồi, đồng nghĩa với việc các dữ liệu của năm 2015 có thể dự báo trước một thời kỳ thương mại chững lại mới. Một kết luận rõ ràng là những lực đẩy từng không thể cưỡng lại được của toàn cầu hóa đang giảm bớt sức nóng.

Tình hình hiện tại ở Trung Quốc đã nói lên tất cả. Trong những thập niên gần đây, từ khi trở thành nền kinh tế có trao đổi thương mại hàng đầu của thế giới, Trung Quốc đã làm biến đổi hệ thống thương mại toàn cầu. Vào thời điểm này giá trị của cả nhập khẩu và xuất khẩu (của Trung Quốc) đều tụt giảm, mặc dù nhập khẩu giảm nhiều hơn, chủ yếu là do sự sụt giảm của giá cả hàng hoá cơ bản trên thế giới.

Trên thực tế, giá cả hàng hóa cơ bản là chìa khóa để thấu hiểu những khuynh hướng thương mại trong vài thập niên qua. Khi giá cả cao, chúng thúc đẩy thương mại gia tăng – tới mức đẩy tỉ lệ thương mại trong GDP tăng lên – điều dẫn tới quan điểm cường điệu về những tiến bộ tất yếu của toàn cầu hóa. Nhưng trong năm 2012, giá cả hàng hóa cơ bản bắt đầu tuột dốc, nhanh chóng kéo thương mại xuống theo.

Giả sử rằng cần một tấn thép và mười thùng dầu để sản xuất ra một chiếc ô tô. Trong giai đoạn 2002- 2003, toàn bộ số nguyên liệu thô trên trị giá khoảng 800 đô la, tức khoảng 5% giá trị của một chiếc ô tô có giá 16.000 đô la. Điều này hàm ý rằng, trong giai đoạn đầu những năm 2000, các nước công nghiệp phải xuất khẩu năm chiếc ô tô để đạt được giá trị tương ứng với một trăm lần số nguyên liệu như trên mà họ đã nhập về.

Đến giai đoạn 2012-2013, giá trị của các nguyên liệu thô cần thiết để sản xuất một chiếc ô tô đã tăng lên tới gần 2.000 đô la, tức khoảng 10% chi phí của cùng một chiếc ô tô như trên (giá ô tô có tăng nhưng với một mức độ thấp hơn).

Kết quả là các nước công nghiệp đã phải xuất khẩu gấp đôi, tức là mười chiếc ô tô mới tương ứng với cùng một lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu như trên.

Rõ ràng, có một mối liên hệ trực tiếp giữa các khuynh hướng trong thương mại và giá cả hàng hóa cơ bản (xem hình). Do mối liên quan này ảnh hưởng đến tất cả các loại hàng hóa chế tạo đòi hỏi đầu vào là nguyên liệu thô, cho nên chẳng có gì ngạc nhiên khi giá cả hàng hóa cơ bản sụt giảm thì thương mại toàn cầu cũng sẽ sụt giảm theo.

Người ta có thể lập luận rằng ví dụ trên chỉ quan tâm tới giá trị của thương mại, và rằng trong những thập niên gần đây, tăng trưởng thương mại tính theo khối lượng cũng đã vượt trội so với tăng trưởng GDP thực tế. Tuy nhiên, giá cả hàng hóa cơ bản cũng tác động đến khối lượng thương mại, vì giá cả hàng hóa cơ bản cao buộc các nước công nghiệp phải gia tăng khối lượng xuất khẩu của họ (mười chiếc xe thay vì năm, như trong ví dụ đã đưa ra), để trang trải chi phí cho cùng một khối lượng nguyên liệu thô được nhập khẩu.

Do thực phẩm, nhiên liệu và nguyên liệu cấu thành khoảng một phần tư tổng thương mại toàn cầu, khi giá cả của chúng biến động – nhất là nếu mạnh mẽ như trong những thập niên gần đây – thì các số liệu về tổng thương mại rõ ràng cũng chịu ảnh hưởng. Chỉ riêng sự sụt giảm mạnh của giá cả hàng hóa cơ bản trong giai đoạn gần đây đã đủ để lý giải cho sự trì trệ trong tăng trưởng thương mại.

Điều này không có nghĩa rằng toàn cầu hóa và thương mại là một. Toàn cầu hóa đòi hỏi nhiều đặc tính khác, bao gồm cả sự tăng vọt trong các giao dịch tài chính xuyên quốc gia và du lịch, trao đổi dữ liệu, và các hoạt động kinh tế khác. Trên thực tế, những mối liên kết này có tác động trở lại thương mại khi chúng kích hoạt cho sự xuất hiện của các chuỗi giá trị toàn cầu, theo đó các công đoạn khác nhau trong một quá trình sản xuất được tiến hành tại nhiều quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên hiện tượng này đã được đánh giá quá cao. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới, giá trị gia tăng từ yếu tố nước ngoài chỉ chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu đối với hầu hết các nền kinh tế lớn, như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu. Nói cách khác, các chuỗi giá trị toàn cầu chỉ có tác động rất nhỏ tới những nền kinh tế có quy mô giao thương lớn.

Trung Quốc là ngoại lệ duy nhất. Với vị trí như một trạm lắp ráp các sản phẩm trên toàn thế giới, điều này có nghĩa là Trung Quốc đã nhập khẩu hầu hết các phần có giá trị gia tăng cao nhất của các hàng hoá đó. Nhưng khi cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc chín muồi hơn – những chiếc iPhone được lắp ráp tại đây hiện nay chứa nhiều bộ phận được sản xuất tại chính đất nước này hơn so với thời điểm chỉ vài năm trước – Trung Quốc sẽ bám đuổi Mỹ và EU sát hơn xét trên phương diện giá trị gia tăng, chứ không phải theo hướng ngược lại. Đây là một nguyên nhân nữa có thể sẽ làm giảm bớt tầm quan trọng của thương mại.

Khi một điều gì đó được cường điệu hóa một cách rộng rãi, hầu như luôn có một lý do thực sự đằng sau nó. Hầu hết các nền kinh tế hiện nay đã mở cửa hơn nếu so với thế hệ trước. Nhưng hiện tại rõ ràng là việc xem toàn cầu hóa như một lực lượng áp đảo và không thể lay chuyển được đã phản ánh rất rõ những tác dụng phụ từ sự bùng nổ giá cả hàng hóa cơ bản trong thập niên trước. Nếu giá cả vẫn duy trì ở mức thấp, như chiều hướng gần đây cho thấy, thương mại toàn cầu trong thập niên tới có thể vẫn tiếp tục trì trệ, trong khi mô hình thương mại sẽ “tái cân bằng”, nghiêng từ các nền kinh tế mới nổi sang các cường quốc công nghiệp lâu đời.

Biên dịch: Nguyễn Hồng Nhung | Biên tập: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Daniel Gros, “The End of Globalizaton?”, Project Syndicate, 08/03/2016.

Daniel Gros là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Chính sách châu Âu tại Brussels. Ông từng làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và đóng vai trò cố vấn kinh tế cho Ủy ban châu Âu, Nghị viện châu Âu cũng như Thủ tướng và Bộ trưởng Tài chính Pháp. Ông là  biên tập viên của tờ Economie Internationale và tạp chí International Finance.

Advertisements

Thế giới với cuộc chơi quyền lực mới? – Phần cuối


Sức mạnh vẫn là trung tâm, giải pháp tham khảo và sẽ tồn tại lâu dài trong các khu vực mang tính quyết định của thế giới – nhất là trong không gian Thái Bình Dương, tuy nhiên, Mỹ không còn là cường quốc duy nhất có quyền quyết định như họ đã từng là như vậy cách đây 20 năm.

Một quốc gia khác biểu tượng cho sự trở lại đầy nghịch lý của sức mạnh là nước Nga. Đối với Nga, đây là việc thu hồi những quân bài quá yếu trước đây trong thời hoàng kim của phương Tây, và nắm lấy những cơ hội do những yếu kém và sai lầm của đối phương tạo ra, hơn là khẳng định sức mạnh có tính quyết định của họ trên thế giới. Người ta quá biết những điểm yếu của Nga khiến nước này không thể đóng một vai trò trong thế quân bình toàn cầu trong tương lai. Những yếu kém trong nước của Nga: một nền kinh tế không thể thoát khỏi logic trợ cấp (yếu kém về đầu tư và hiện đại hóa); một hệ thống trục trặc buộc phải lợi dụng các biện pháp trừng phạt của phương Tây để khởi động lại các hoạt động sản xuất. Những yếu kém bên ngoài: một môi trường ngoại giao không có những quan hệ đối tác thực sự; một bộ máy quân sự có vẻ hoành tráng như nhiều hạn chế; một nền kinh tế không sánh được với Mỹ, Trung Quốc, châu Âu vốn có khả năng ảnh hưởng thực sự tới tiến trình phát triển hay tái kiến thiết. Nga hiện nay là một cường quốc khu vực, theo tư duy logic toàn cầu – vì duy nhất chỉ có không gian khu vực của nước này là phủ rộng trên 9 múi giờ. Tất nhiên Nga đã giỏi lợi dụng những điểm yếu và những sai sót của phương Tây tại Trung Đông, tuy nhiên, Nga có thể giữ vai trò nào sau này, chẳng hạn để vực dậy các quốc gia?

Những ẩn số ở châu Á và châu Âu

Chúng ta đang chứng kiến một Trung Quốc trong một hình thái hoàn toàn khác: một sự tích lũy các công cụ sức mạnh mà ta vẫn khó xác định mục đích và sự bền vững của chúng. Trung Quốc đã có sự khẳng định rất ấn tượng từ 2 thập kỷ nay: về kinh tế, ngoại giao và cả quân sự – dù rằng Bắc Kinh còn ở cách rất xa sau các cường quốc quân sự lớn trên thế giới, tuy vậy, từ nay quân đội nước này hiện diện ở xa lãnh thổ Trung Quốc, tận rìa châu Phi và Địa Trung Hải. Đặc biệt, kế hoạch khổng lồ mở cửa (và đầu tư) sang phía Tây của Con đường tơ lụa mới đã gây ấn tượng bởi quy mô địa kinh tế và địa chiến lược của nó. Bằng việc thiết kế một con đường giao thương mới, cả trên bộ lẫn trên biển, từ lãnh thổ Trung Quốc tới các cảng của Địa Trung Hải và Bắc Âu, Bắc Kinh khẳng định rõ ràng quyết tâm thoát khỏi tình trạng bị mắc kẹt về chiến lược.

Vì thế, câu hỏi đặt ra không phải về quyết tâm của nước này mà là về tính lâu dài của những công cụ này. Nếu Trung Quốc thực sự triển khai khối lượng tài chính như đã thông báo trong khoảng thời gian ấn định, nước này có thể trở thành một cường quốc thống trị trong một phần có tính quyết định của hệ thống quốc tế (Nga, Trung Đông, Địa Trung Hải, châu Âu) với các điểm tựa lâu đời hơn tại châu Phi. Tuy nhiên, vẫn đầy nỗi băn khoăn: sự gắn kết nội bộ, sự ổn định của chế độ, sự phụ thuộc vào hệ thống thương mại thế giới và những khó khăn của nó, khả năng điều chỉnh hình mẫu tăng trưởng, các vấn đề của ổn định khu vực (quan hệ với Nhật Bản, Đài Loan, vấn đề Triều Tiên, quan hệ với Washington tại Thái Bình Dương). Cần chờ xem Bắc Kinh có sức nặng ra sao trong việc cấu trúc lại hệ thống quốc tế trong thời gian tới.

Ấn Độ đang tích lũy vũ khí, nhưng trong một logic địa chính trị thiên về khu vực hơn là toàn cầu, dù rằng nước này muốn phát triển quan hệ an ninh với Đông Nam Á và củng cố thêm các quan hệ kinh tế với các nước châu Âu. Còn Nhật Bản, vẫn rất phụ thuộc vào lịch sử khu vực và mối quan hệ của họ với Washington: Ít có khả năng rằng sự đầu tư đáng kể – dù kín đáo – của Nhật Bản về quân sự có thể trong ngắn hạn trở thành đối sách hiệu quả ngoài không gian Thái Bình Dương.

Về phần mình, Liên minh châu Âu (EU), bị giằng co giữa một bên là hệ tư tưởng hậu quốc gia, hậu quyền lực và một bên là những đòi hỏi dân tộc hồi sinh, bị suy yếu bởi tình trạng “đa khủng hoảng”, ít có khả năng nhanh chóng vượt qua được vị thế là một tổ chức quyền lực dân sự. Từ đây một câu hỏi kép được đặt ra: Liệu EU có củng cố được sức nặng kinh tế của mình? Liệu các quốc gia lớn trong EU có thể thỏa thuận với nhau để hợp thành nhóm hạt nhân hoặc tiên phong có uy lực về ngoại giao, thậm chí về quân sự, để lôi kéo những quốc gia khác? Câu hỏi kép này vẫn còn để ngỏ.

Một hệ thống đa trung tâm và đa dạng

Trong thực trạng của chính trường quốc tế hiện nay, không một cường quốc nào trong số những cường quốc này có thể tự nhận mình là nhân tố kiến tạo. Như vậy, ý tưởng về sự trở lại của sức mạnh là nghịch lý, khi mà các cường quốc quay trở về với khả năng điều chỉnh đã giảm thiểu. Hơn nữa, những cường quốc mơ tưởng vai trò toàn cầu không thể một mình thực hiện. Khi hệ thống quốc tế càng ít bị chi phối bởi ưu thế của những “nước lớn” thì không gian của các nước hạng trung càng mở rộng trong các khu vực phức tạp. Saudi Arabia, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Indonesia, Brazil, Nam Phi hoặc Nigeria, khi mà sự ổn định và phát triển của họ mang lại cho họ các phương tiện, sẽ có thể có ảnh hưởng mạnh mẽ – điều chỉnh hoặc làm rối loạn – trong không gian tự nhiên của họ sau này. Sự suy yếu của những logic trung tâm làm tăng giá trị của những nước gây rối, vốn ít bị đe dọa trong các bước tiến của họ, như Hungray, Nga hoặc Iran trong các bối cảnh rất khác nhau.

Một sự chuyển đổi, nhưng hướng tới điều gì?

Bối cảnh quốc tế này, với những động thái liên quốc gia, hành động hỗn loạn của các cường quốc không theo logic tập trung, những sự hợp tác theo từng vụ việc, thậm chí những không gian bị bỏ rơi, tất nhiên chỉ là sự quá độ, nhưng nó mở ra những con đường nào? Câu trả lời phụ thuộc trước tiên vào sức nặng riêng biệt của 3 yếu tố, hoặc giá trị, theo cách thức mà chúng sẽ tương tác hoặc lấn át nhau: Giá trị lưu thông (sự giao thoa của các nền kinh tế và ý chí công dân); giá trị sức mạnh (bị hạn chế do tính chất siêu quyết định của hạt nhân, nhưng có hiệu quả trong những không gian và những mức độ hạn chế như chủ nghĩa khủng bố hay an ninh mạng); và yếu tố hệ tư tưởng: hoạch định những tương lai khả dĩ theo những sơ đồ logic và cụ thể, điều này có thể làm đảo lộn những tương quan sức mạnh thuần túy.

Sự hỗn loạn nghiêm trọng hơn hay sự quản trị tối thiểu

Những kịch bản cực đoan nào cho phép hình dung ra những yếu tố này? Giả thuyết đầu tiên là giả thuyết về một thế giới củ những hỗn loạn nghiêm trọng với vô số những toan tính biệt l65p, đóng cửa: sự tan rã từng mảng của tiến trình toàn cầu hóa thương mại, sự gia tăng kiểm soát của các quốc gia về truyền thông, các xung đột trầm trọng hơn tại các khu vực bị bỏ rơi do tính ích kỷ của các cường quốc… Cũng còn là sự bế tắc của công việc xây dựng các khu vực: khủng hoảng dai dẳng của EU, sự thoái lui của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sự lu mờ của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) dưới sức ép của Trung Quốc, sự thất bại của Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU), khủng hoảng của các cuộc đàm phán quốc tế lớn… Sự mất cân bằng về sức mạnh và hơn nữa vấn đề hạt nhân đã khiến cho chính trường quốc tế phụ thuộc vào những logic quyền lực ôn hòa. Như vậy, sự trở lại của bạo lực, về tổng thể được kiểm soát nhưng khó có thể nói rằng sẽ chấm dứt. Ảo ảnh về trật tự do phương Tây điều khiển, một ngày nào đó sẽ không còn.

Một kịch bản khác nêu bật những yếu tố hợp lý. Sự bức bách của thời gian sẽ đưa tới sự hợp lý, với sự kết hợp giữa những sự hợp tác toàn cầu, khu vực và lĩnh vực. Tình trạng vô chính phủ đe dọa các trao đổi truyền thông sẽ thúc đẩy các tác nhân nhà nước và dân sự thỏa hiệp với nhau về một sự quản trị tối thiểu để tránh những mối nguy hiểm lớn hơn; các cấu trúc khu vực được tăng cường theo logic riêng của chúng và sự ổn định của chúng sẽ lan tỏa ra xung quanh; sẽ không có bất cứ hệ tư tưởng nào được áp đặt bằng cách làm đảo lộn không gian của những lý trí chính trị…

Cần phải chờ đợi một thế giới như vậy vì những động thái hiện nay quá mâu thuẫn với nó; tuy nhiên, mơ ước về nó không phải là sự điên rồ. Tại sao không hình dung rằng những người khởi xướng nó có thể xuất hiện từ Lục địa già và từ châu Á? Nói như vậy không phải là phủ nhận siêu cường Mỹ. Tuy nhiên, vì những lý do và với các cách thức khác nhau, Trung Quốc, Nga và Tây Âu cần một thế giới mới nổi lên, không phải là tiền – Mỹ cũng như hậu – Mỹ, mà sẽ là một thế giới không được tổ chức xung quanh những giả định của Mỹ, một thời kỳ không thể lường trước được. Tất nhiên, giấc mơ này giả định rằng Nga hướng tới một chiến lược hòa dịu hơn và phối hợp hơn với các đối tác châu Âu; Bắc Kinh có thể duy trì chiến lược phát triển hợp tác của họ; và EU, với 27 thành viên hoặc sắp xếp lại xung quanh các cường quốc ngoại giao và quân sự, tìm thấy một sự hiệu quả mới.

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế Pháp

TLTKĐB – 24/12/2017

Thế giới với cuộc chơi quyền lực mới? – Phần I


Thế giới của quyền lực trở lại sau 2 thập kỷ ôm giấc mộng toàn cầu. Tuy nhiên, đây là một thế giới khác biệt, tan vỡ và khó nhận ra các logic của tổ chức của nó. Trong tương lai, nhiều điều phụ thuộc vào kiểu kết nối được thiết lập giữa những động lực liên quốc gia và những động lực khẳng định lợi ích của quyền lực.

Các nước phương Tây quen với việc hợp pháp hóa quyền lực trong sự lý giải khác nhau về thế giới. Vì vậy, thời hậu Chiến tranh Lạnh là một giai đoạn huy hoàng đối với họ. Khi đó, cả thể giới dường như tập hợp lại trong sự hứng khởi để phát triển công nghệ và gia nhập các giá trị được tuyên bố là chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh của họ. Tuy nhiên, sự ngờ vực đã xuất hiện cùng với sự chuyển tiếp của thế kỷ. Hình ảnh một thế giới hỗn loạn được chế ngự và đi tới thống nhất, đã nhường chỗ cho hình ảnh của một mô trường quốc tế với nhiều chủ thể không được kiểm soát, bị hủy hoại bởi sự phát triển của các logic phân cắt. Những miêu tả địa chính trị, đặt các logic xung đột cạnh nhau và biện hộ cho chúng, đang làm sống lại những logic cũ về quyền lực.

Hai thập kỷ ảo tưởng

Trong các thế kỷ do phương Tây thống trị, có ba mô hình được xem như đưa đến một thế giới yên bình, hài hòa, hoặc đơn giản là được kiểm soát: cân bằng sức mạnh (lưỡng cực), thống trị (hòa bình do đế quốc áp đặt), hợp tác (để đàm phán về một trật tự chung). Những mô hình này được diễn giải lại vào đầu những năm 1990. Khái niệm cân bằng sức mạnh dường như lu mờ sau một tiến trình toàn cầu hóa thúc đẩy nhanh những trao đổi về mọi mặt. Các cường quốc phương Tây tự thấy có trách nhiệm thực hiện một sự thống trị “nhân từ”: Những giá trị chính trị, những quan niệm kinh tế, các chiến dịch “cảnh sát” quốc tế của họ đã chỉ còn là những giá trị tham khảo. Và quan hệ hợp tác quốc tế chuyển dịch theo hướng một chủ nghĩa đa phương luôn rộng mở hơn, vốn được minh chứng bởi sự tồn tại của những lợi ích chung của nhân loại, đang ngày càng phổ biến hơn. Tuy nhiên, ưu thế này chỉ là tạm thời.

Sự thống nhất thế giới, được tuyên bố quá sớm, trước hết đã tỏ ra vừa là chân lý, vừa là ảo tưởng. Tất nhiên những yếu tố mở cửa của các xã hội, có vẻ bình đẳng, mang tính khách quan (gia tăng các trao đổi thương mại, truyền bá các hình ảnh, thông tin và sự giao lưu của con người…). Tuy nhiên, sự khác biệt về lịch sử, văn hóa vẫn còn đó, và cưỡng lại động lực hấp dẫn của toàn cầu hóa. Trái lại, sự mở cửa của các xã hội có thể dẫn tới một phản xạ ngược lại: sự thu mùnh về văn hóa, sắc tộc, bản sắc, tôn giáo, kinh tế, chính trị… Do vậy, động lực của toàn cầu hóa đang ngày càng đối lập với thực tế của một sự khác biệt vừa mang tính khách quan vừa là sự đòi hỏi ở quy mô quốc tế cũng như trong mỗi xã hội: Bản đồ bầu cử Pháp năm 2017 đã cho thấy rõ khác biệt, thậm chí là sự chia rẽ này.

Sự thất bại của phương Tây, sự hụt hơi của ngoại giao đa phương

Cuộc khủng hoảng năm 2008 và những biến động liên minh tại châu Âu gieo rắc hoài nghi về khả năng tồn tại trong dài hạn của các phương thức được công bố là mang tính quyết định từ 20 năm nay. Những giá trị thống trị chỉ đứng vững được chừng nào những logic chính trị khác vẫn được áp đặt. Vậy mà, sự nổi lên của các cường quốc kinh tế mới đang làm thay đổi ván bài. Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran chẳng hạn, từ nay đã hoàn toàn có tư cách để khẳng định, trong những tuyên bố chung, các quan niệm riêng của họ về dân chủ và nhân quyền.

Còn trật tự quốc tế, dựa trên những chiến dịch của Liên hợp quốc hay những can thiệp trực tiếp của các cường quốc thống trị (các nước phương Tây), đã tỏ ra là sự ảo tưởng. Trong những bối cảnh rất khác nhau, các nước Balkan, vùng Hồ lớn châu Phi, Sahel, Trung Đông và thế giới Arab ít ra đã cho thấy sự bất lực của những nước muốn “dạy bảo” và áp đặt trật tự của họ tại đây.

Các cường quốc có vai trò quyết định về chính trị và quân sự cho đến nay – Mỹ, châu Âu – đặc biệt trong 25 năm qua, đã chứng tỏ rằng họ không có những quan niệm cũng như phương tiện cho tham vọng của mình. Mặc dù có những kinh nghiệm thực dân, những quan niệm của họ vẫn chỉ là những quan niệm về các cuộc chiến tranh lớn theo học thuyết quân sự Clausewitz; và các phương tiện của họ tốn kém cả về tài chính lẫn nhân lực, không phù hợp với thực tế trên thực địa đòi hỏi cần phải xây dựng các xã hội vốn bị đổ vỡ.

Sau hết, quan tâm hợp tác quốc tế giữa các thực thể chính trị, được giả định là có tính chất sống còn trong một nỗ lực toàn cầu hóa, đang vấp phải nhiều trở ngại. Được nuôi dưỡng bằng hệ tư tưởng theo thuyết phổ biến trước đây, nó hướng tới chủ nghĩa đa phương mở rộng nhất, từ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) tới quy chế Tòa án hình sự quốc tế (ICC) và các hiệp định khí hậu. Phải chăng thời của toàn cầu hóa đã khép lại? Các hiệp định thương mại, tốt lắm cũng chỉ ở quy mô khu vực, và bị tranh cãi; Liên hợp quốc thường uyên hơn quay trở về quy chế cũ của nó là nơi xung đột của các cường quốc; ICC nhận thấy tính hợp pháp của mình – trong các vụ việc chưa bao giờ mang tính toàn cầu – tiếp tục giảm sút… Thời kỳ của hợp tác theo vụ việc dường như trở lại, xa rời các lợi ích chung của nhân loại.

Một khu vực địa lý chính trị mới, những bối cảnh địa chính trị mới

Bản đồ nào của thế giới được dựng lên hiện nay? Trước tình trạng liên quốc gia hóa do toàn cầu hóa về trao đổi mang lại và trước các cuộc khủng hoảng, mọi thứ diễn ra như thể bức tranh địa lý chính trị thế giới trở lại như trước đây: các nhà nước kề bên nhau. Các quốc gia này – khắp nơi có lẽ trừ châu Phi – là những cấu trúc chính trị gần kề nhất trước làn gió khiêu khích của toàn cầu hóa; chúng cũng là sự cứu viện trong trường hợp khủng hoảng – kinh tế, y tế, khí hậu, quốc tế – và, đặc biệt tại châu Á, là những phương tiện cho sự cất cánh về kinh tế và tái cấu trúc khu vực. Vậy, phải chăng thế giới hiện nay có thể được lập bản đồ theo sự biến đổi của các cường quốc – được xác định theo khả năng làm chủ của họ đối với không gian nội địa và khả năng hành động bên ngoài, và lý lẽ của họ về vùng kiểm soát, ảnh hưởng và chiến lược? Vả phải chăng là sự trở lại của địa chính trị, thể hiện những xung đột về ý chí trong không gian? Phải chăng địa lý quyền lực đang khẳng định lại sự thắng thế đối với giới truyền thông có ý định hạ bệ nó? Có lẽ vậy. Nhưng các cường quốc đang thay đổi về sức mạnh và thậm chí tính chất của họ.

Trên thế giới, mọi thứ đã thay đổi…

Người ta biết rằng nước Mỹ đang sở hữu những sức mạnh vô địch như hiện nay. Sức mạnh về kinh tế được thúc đẩy nhờ khả năng gần như tự túc về năng lượng. Sức mạnh về văn hóa có sức hấp dẫn trên toàn cầu. Sức mạnh của đồng USD. Sức mạnh về ngoại giao và quân sự: Mỹ vẫn là nước duy nhất có thể triển khai sức mạnh quân sự có vai trò quyết định khắp mọi nơi trên thế giới. Đặc biệt, sức mạnh công nghệ để khống chế việc thiết lập và các phương tiện chính của xã hội truyền thông thế giới. Người ta cũng biết những hạn chế của Mỹ – điều được chứng tỏ qua sự kiện Donald Trump đắc cử Tổng thống. Sự ngờ vực chính mình: về hành động quốc tế và những hệ quả trong nước của các chiến lược kinh tế trong những thập kỷ qua. Sự phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài (Trung Quốc, Nhật Bản) để cứu vãn ngân sách bị thâm hụt và ổn định tiền tệ. Hình ảnh nước Mỹ sa sút trên thế giới: Sau một ông Bush “du đãng” và một ông Obama luôn do dự, thì nay tính khí khó lường của ông Trump không làm yên lòng các đồng minh và đối tác của Mỹ. Sau hết là tính hạn chế về hiệu quả quân sự của Mỹ: nếu như Mỹ có tất cả để áp đặt trong chiến tranh, thì họ lại thiếu hiệu quả trước mọi biểu hiện khác của bạo lực – giống như các quốc gia khác, nhưng chắc chắn là hơn các quốc gia khác do văn hóa chiến lược, văn hóa cam kết thô bạo và quyết đoán của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện quan hệ quốc tế Pháp

TLTKĐB – 24/12/2017

Lý giải thành công của các chính trị gia dân túy


Dani Rodrik

Có lẽ, điều duy nhất đáng ngạc nhiên về phản ứng dân túy, điều đã áp đảo nền chính trị của nhiều nền dân chủ lâu đời, là nó đã xảy đến quá chậm. Thậm chí từ hai thập niên trước, khá dễ để dự đoán rằng sự miễn cưỡng của các chính trị gia dòng chính trong việc đề xuất giải pháp cho sự bất ổn và bất bình đẳng trong kỷ nguyên siêu toàn cầu hóa sẽ tạo nên một không gian chính trị cho các nhà đại dân túy với các giải pháp dễ dãi. Trước đây, đó là Ross Perot và Patrick Buchaman; ngày nay đó là Donald Trump, Marine Le Pen và nhiều nhân vật khác.

Lịch sử không bao giờ lặp lại, nhưng dù sao, bài học của nó vẫn vô cùng quan trọng. Chúng ta cần gợi nhớ lại rằng thời kỳ đầu tiên của toàn cầu hóa, vốn đạt đến đỉnh điểm trong vài thập niên trước Thế chiến I, sau cùng đã sản sinh ra một phản ứng chính trị thậm chí còn nghiêm trọng hơn.

Bằng chứng lịch sử đã được người đồng nghiệp tại Harvard của tôi là Jeffry Frieden tổng kết sâu sắc. Frieden cho rằng, trong thời kỳ hoàng kim của chế độ bản vị vàng, các chính trị gia dòng chính có xu hướng xem nhẹ cải cách xã hội và bản sắc dân tộc bởi họ đã dành sự ưu tiên cho các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Các phản ứng chống lại điều này đã diễn ra thông qua một trong hai hình thái nguy hiểm trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh (Thế chiến I và Thế chiến II): Các nhà xã hội chủ nghĩa và cộng sản chọn cải cách xã hội, trong khi các phần tử phát xít chọn chủ nghĩa dân tộc. Cả hai con đường đều dẫn đến việc toàn cầu hóa chuyển sang đóng cửa nền kinh tế (và thậm chí còn tệ hơn).

Làn sóng phản ứng ngày nay hầu như sẽ không đi xa đến thế. Dù tai hại, nhưng sự suy sụp kinh tế của cuộc đại suy thoái (từ 2008) và khủng hoảng nợ công châu Âu bị lu mờ đáng kể khi so sánh với cuộc Đại khủng hoảng (1929 – 1933). Các nền dân chủ lâu đời đã xây dựng – và duy trì (bất chấp những khó khăn gần đây) – một mạng lưới an sinh xã hội rộng rãi dưới hình thức bảo hiểm thất nghiệp, lương hưu và trợ cấp gia đình. Nền kinh tế thế giới hiện có các cơ quan chức năng quốc tế – chẳng hạn như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) – điều chưa hề có trước Thế chiến II. Sau cùng, nhưng cũng không kém phần quan trọng, các phong trào chính trị cực đoan như chủ nghĩa Phát xít và chủ nghĩa Cộng sản hiện đã bị mất uy tín.

Mặc dù vậy, những xung đột giữa một nền kinh tế siêu toàn cầu hóa và sự gắn kết xã hội là có thực, và giới chính trị gia cao cấp phớt lờ chúng bất chấp rủi ro cho chính mình. Như tôi biện luận trong cuốn sách vào năm 1997 Has Globalization Gone Too Far? (Tạm dịch: Liệu toàn cầu hóa có đang đi quá xa?), sự quốc tế hóa các thị trường hàng hóa, dịch vụ và tài chính sẽ gây chia rẽ giữa các nhóm người có kỹ năng cao, chuyên nghiệp, và có xu hướng toàn cầu, những người có thể tận dụng quá trình toàn cầu hóa, với phần còn lại của xã hội.

Hai kiểu chia rẽ chính trị đang trở nên trầm trọng hơn trong quá trình này: sự chia rẽ theo bản sắc, xoay quanh nguồn gốc quốc gia, sắc tộc, hoặc tôn giáo, và sự chia rẽ theo thu nhập, xoay quanh các giai cấp xã hội. Các nhà dân túy đã tạo được sự hấp dẫn cho mình bằng cách khai thác một trong các kiểu chia rẽ đó. Các nhà dân túy cánh hữu như Trump đánh vào chính trị bản sắc. Còn các nhà dân túy cánh tả như Bernie Sanders lại nhấn mạnh vào khoảng cách giàu nghèo.

Trong cả hai trường hợp, sẽ có một “ai đó” mà người ta có thể hướng sự giận dữ của mình vào. Bạn không kiếm đủ tiền để sống? Đó là vì người Trung Quốc đã cướp hết việc làm của bạn. Bạn phẫn nộ với tội phạm? Đó là vì người Mexico và những người nhập cư khác đem các cuộc xung đột băng đảng vào trong nước. Còn chủ nghĩa khủng bố? Dĩ nhiên là tại Hồi giáo. Còn tham nhũng chính trị? Bạn còn trông đợi gì hơn khi mà các ngân hàng lớn đang bơm tiền cho hệ thống chính trị của chúng ta? Không giống như giới tinh hóa chính trị dòng chính, các nhà dân túy có thể dễ dàng chỉ ra thủ phạm chịu trách nhiệm cho những bất hạnh của quần chúng nhân dân.

Dĩ nhiên, các chính trị gia cầm quyền đã bị “nắm thắt lưng” bởi họ đã luôn nắm giữ quyền lực trong toàn bộ giai đoạn này. Nhưng họ cũng đồng thời bị tê liệt bởi chính luận điệu chính trị trung tâm của mình vốn đầy sự ì ạch và bất lực.

Luận điệu này đổ lỗi cho các tác động khoa học công nghệ vượt ngoài tầm kiểm soát của chúng đã gây ra sự trì trệ trong tiền lương và bất bình đẳng gia tăng. Nó xem toàn cầu hóa và các luật lệ để duy trì điều đó là không thể lay chuyển và khó tránh khỏi. Giải pháp được đề xuất – đầu tư vào giáo dục và các kỹ năng – hứa hẹn sẽ không mang lại các tác động tích cực tức thời và ít nhất sẽ mất nhiều năm mới gặt hái được thành quả.

Trên thực tế, nền kinh tế thế giới ngày nay là sản phẩm của những quyết sách rõ ràng mà các chính phủ đã đưa ra trong quá khứ. Đó là việc lựa chọn không dừng lại ở Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) mà tiến hành xây dựng một WTO nhiều tham vọng và mang tính can thiệp nhiều hơn. Tương tự, đó sẽ là lựa chọn có nên phê chuẩn các thỏa thuận siêu thương mại trong tương lai như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) hay không.

Đó là lựa chọn của các chính phủ trong việc nới lỏng các quy định về tài chính và hướng đến sự luân chuyển vốn xuyên biên giới toàn diện, cũng như là lựa chọn duy trì nguyên vẹn các chính sách đó bất kể một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu quy mô lớn. Và, như Anthony Atkinson nhắc nhở chúng ta trong cuốn sách bậc thầy về bất bình đẳng của ông, thậm chí sự thay đổi khoa học công nghệ cũng không tránh khỏi tác động từ chính phủ: có rất nhiều thứ mà các nhà hoạch định chính sách có thể làm để ảnh hưởng đến phương hướng thay đổi công nghệ và đảm bảo rằng nó sẽ dẫn đến gia tăng việc làm và bình đẳng.

Điều hấp dẫn các nhà dân túy là họ giúp những người bị gạt ra bên lề nói lên tiếng nói của mình. Họ đề xuất một luận điệu chính trị tổng quát cũng như các giải pháp cụ thể, cho dù có sai lạc và thường nguy hiểm. Các chính trị gia dòng chính sẽ không thể giành lại những gì đã mất cho đến khi chính họ cũng phải đề xuất những giải pháp nghiêm túc, thứ sẽ mang đến hy vọng. Họ không nên tiếp tục ẩn nấp sau lý do biến đổi công nghệ hay việc toàn cầu hóa là không thể ngăn cản, và họ cần sẵn sàng liều lĩnh và tiến hành các cải cách trên quy mô lớn cách thức mà nền kinh tế nội địa và toàn cầu đang được vận hành.

Nếu như một bài học của lịch sử là sự toàn cầu hóa không được kiểm soát có thể gây ra nguy hiểm, thì một bài học khác nữa là sự linh hoạt của chủ nghĩa tư bản. Chính Chính sách Kinh tế mới (của Mỹ thời Đại Suy thoái – NBT), mô hình nhà nước phúc lợi, và toàn cầu hóa có kiểm soát (thời kỳ Hệ thống tiền tệ Bretton Woods còn vận hành) đã rốt cuộc giúp các xã hội định hướng thị trường có được sức sống mới và tạo ra sự bùng nổ sau chiến tranh. Không phải việc chắp vá và điều chỉnh lặt vặt các chính sách hiện hữu tạo ra những thành tựu trên, mà phải là sự tái thiết triệt để hệ thống.

Các chính trị gia ôn hòa hãy lưu ý điều trên.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Dani Rodrik, “The Politics of Anger”, Project Syndicate, 09/03/2016.

Dani Rodrik là Giáo sư ngành Kinh tế Chính trị Quốc tế tại trường Quản trị Nhà nước John F. Kennedy thuộc Đại học Harvard. Ông là tác giả của cuốn The Globalization Paradox: Democracy and the Future of the World Economy và gần đây nhất là cuốn Economic Rules: The Rights and Wrongs of the Dismal Science.

Biển Đông: Trục của thế cân bằng chiến lược đang thay đổi – Phần cuối


Trung Quốc, Mỹ và ASEAN

Sự đối địch và cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ đã buộc ASEAN phải đóng vai trò “người cầm trịch” để bảo toàn quyền tự chủ trong khu vực. Chẳng hạn, tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng được tổ chức tại Kuala Lumpur vào ngày 4/11, Trung Quốc đã đưa ra những phản đối mạnh mẽ với bất kỳ đề cập nào tới Biển Đông trong một dự thảo tuyên bố chung. Mỹ đã phản ứng lại bằng cách từ chối ủng hộ một tuyên bố chung mà bỏ qua bất kỳ đề cập nào tới Biển Đông. Hậu quả là, không có tuyên bố chung nào được đưa ra. Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, Hishammuddin, chủ trì hội nghị, đã đưa ra một tuyên bố chủ tịch trong đó điểm qua toàn bộ cuộc tranh luận trong phần đề cập ngắn gọn của nó về Biển Đông, trong khi thông cáo báo chí của vị bộ trưởng này không hề nhắc tới Biển Đông.

ASEAN không muốn đứng về phe nào, nhưng nó gần như không có biện pháp để kiềm chế hoặc là Trung Quốc hoặc là Mỹ không quân sự hóa Biển Đông hơn nữa.

Kavi Chongkittavorn đã đưa ra một lập luận thuyết phục rằng “lập trường chung của ASEAN về Biển Đông đã được củng cố” sau phán quyết của Tòa Trọng tài. Lập luận của Kavi dựa trên một phân tích thấu đáo 4 văn bản được các bộ trưởng ASEAN thông qua tại các cuộc họp trong 12 ngày ở Viên Chăn sau phán quyết:

+ Tuyên bố của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN nhân dịp kỷ niệm 40 năm Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC);

+ Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 49 tại Viêng Chăn vào ngày 24/7/2016;

+ Tuyên bố chung của các bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc về việc thực thi đầy đủ và có hiệu quả DOC (ngày 25/7/2016); và

+ Tuyên bố chung của các bộ trưởng ngoại giao của các nước thành viên ASEAN về việc duy trì hòa bình, an ninh và ổn định khu vực.

Kavi kết luận rằng hiện nay ASEAN đã đạt được một quan điểm đồng thuận mới về Biển Đông và điều này “bất ngờ tạo nên một tình huống đôi bên cùng có lợi cho các bên liên quan”, và rằng với việc Philippines trở lại lập trường của nhóm, lợi thế thương lượng của ASEAN đã gia tăng và “đổi mới quy trình cải thiện quan hệ ASEAN – Trung Quốc…”.

“Sự đồng thuận mới” của các bộ trưởng ngoại giao ASEAN đã được xác nhận tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 28 và 29 kết hợp tổ chức tại Viêng Chăn từ ngày 6 – 7/9. Đoạn 5 của tuyên bố của chủ tịch đã lặp lại Điểm 2 trong Thông cáo chung AMM lần thứ 49 tái khẳng định “sự tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao”. Phần về Biển Đông gồm 8 đoạn, trong đó 7 đoạn đầu là bản sao nguyên văn của Thông cáo chung AMM lần thứ 49. Đoạn thứ 8 hoan nghênh việc thông qua Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về DOC.

ASEAN và Trung Quốc hiện đang làm việc về văn bản cho một thỏa thuận khung cho COC vào nửa đầu năm 2017.

Phần 4: Chính quyền Trump và Trung Quốc

Việc ông Trump đắc cử vị trí tổng thống thứ 45 của Mỹ đã làm gia tăng mức độ bất ổn chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Trong suốt chiến dịch tranh cử tổng thống, ông Trump đã nhiều lần gọi Bắc Kinh là bên thao túng tiền tệ và đã đe dọa áp đặt mức thuế quan cao hơn đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc. Nếu ông Trump thông qua việc này, một cuộc chiến tranh thương mại có thể nổ ra. Ông Trump cũng đã đăng trên Twitter những lời chỉ trích về việc xây dựng đảo của Trung Quốc ở Biển Đông.

Ngày 2/12/2016, sau khi thắng cử, Tổng thống Mỹ đắc cử Trump đã nhận một cuộc điện đàm từ bà Thái Anh Văn, Tổng thống nước Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Hành động của ông Trump chưa từng có tiền lệ và đã đánh dấu lần đầu tiên trong 36 năm một vị tổng thống hay tổng thống đắc cử Mỹ nói chuyện với nhà lãnh đạo chính phủ Đài Loan.

Sau khi Trung Quốc bình luận chỉ trích về các hành động của tổng thống đắc cử Mỹ, ông Trump đã đăng trên Twitter: “Trung Quốc có xin phép chúng ta xây dựng một khu liên hợp quân sự khổng lổ ở giữa Biển Đông hay không? Tôi không nghĩ vậy!”. Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Wall Street Journal vào ngày 4/12, ông Trump được hỏi liệu ông có ủng hộ chính sách Một Trung Quốc hay không, ông trả lời: “Tất cả đều đang được đàm phán kẻ cả chính sách Một Trung Quốc”.

Ngày 8/12, Trung Quốc đã phản ứng bằng cách phái đi tàu sân bay duy nhất của mình, tàu Liêu Ninh, chạy vào vùng biển ngoài khơi Đài Loan trong một phản ứng thẳng thắn trước cuộc điện đàm của ông Trump với Tổng thống Thái Anh Văn. Trung Quốc cũng đã triển khai một máy bay ném bom có năng lực hạt nhân Xian H-6 làm nhiệm vụ tuần tra quanh khu vực đường 9 đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong khi những bài tweet và bình luận của ông Trump đã làm tăng nhiệt trong quan hệ Bắc Kinh – Washington, chúng trở nên mờ nhạt khi so sánh với sự tranh cãi sau những bình luận của Rex Tillerson, hiện là Ngoại trưởng Mỹ, tại buổi điều trần xác nhận của ông trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ vào ngày 01/11.

Trong buổi điều trần của mình ông Tillerson đã so sánh việc Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông là “chẳng khác nào việc Nga chiếm Crimea” từ Ukraine. Khi ông Tillerson được hỏi liệu ông có ủng hộ một tư thế quyết đoán hơn chống lại Trung Quốc, ông trả lời: “Chúng tôi sẽ phải gửi tới Trung Quốc một tính hiệu rõ ràng rằng, trước hết, việc xây dựng đảo [ở Biển Đông] phải ngừng lại, và thứ hai, quyền tiếp cận của Trung Quốc tới những đảo này sẽ không được cho phép”.

Ông Tillerson cũng mô tả việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở Biển Đông là “hết sức đáng lo ngại” vì nếu Trung Quốc có thể tuyên bố quyền tiếp cận Biển Đông, nước này sẽ đe dọa “toàn bộ nền kinh tế toàn cầu”. Ông Tillerson đã quy cho việc xây dựng đảo ở Biển Đông và tuyên bố Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Hoa Đông của Trung Quốc là “những hành động bất hợp pháp”. Ông kết luận: “Cách để chúng ta đối phó với việc này là chúng ta phải thể hiện sự hỗ trợ trong khu vực đối với các đồng minh truyền thống của chúng ta ở Đông Nam Á”.

Tóm lại, những bình luận của Tillerson đã bổ sung thêm một điểm áp lực nữa lên mối quan hệ Trung – Mỹ đang căng thẳng. Điều này ngay lập tức trở nên rõ ràng khi tờ Global Times theo trường phái diều hâu đã phản bác: “Tillerson tốt hơn nên xem lại các chiến lược sức mạnh hạt nhân nếu ông muốn ép một cường quốc hạt nhân rút khỏi chính lãnh thổ của mình… Nếu êkip ngoại giao của ông Trump định hình mối quan hệ Trung – Mỹ trong tương lai như cách nó đang làm, hai bên nên chuẩn bị cho một cuộc đụng độ quân sự”.

Ngày 12/1, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ được bổ nhiệm James Mattis đã chứng thực tại buổi điều trần xác nhận của ông trước Ủy ban Quân vụ Thượng viện. Đáp lại câu hỏi của Thượng nghị sĩ John McCain về các mối đe dọa đối với Mỹ, ông Mattis trả lời: “Tôi cho rằng trật tự thế giới đang chịu cuộc tấn công lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai… từ Nga, từ các nhóm khủng bố, và với những gì Trung Quốc đang làm tại Biển Đông”. Ông Mattis kêu gọi tăng cường sự sẵn sàng quân sự của Mỹ và các liên minh của Mỹ.

Về Biển Đông, ông Mattis đã trả lời một câu hỏi rằng liệu ông có nhất trí với lời phát biểu của các quan chức Trung Quốc rằng họ đang không quân sự hóa Biển Đông. “Không, tôi không đồng ý”. Tướng Mattis sau đó nhận xét: “Trong khi các nỗ lực của chúng ta ở Thái Bình Dương nhằm giữ mối quan hệ tích cực với Trung Quốc đều đang tốt đẹp, những nỗ lực này phải song hành với một chính sách xây dựng thế đối trọng nếu Trung Quốc tiếp tục mở rộng vai trò đầy đe dọa của mình ở Biển Đông và nhiều nơi khác nữa”. Ông Mattis kết luận rằng Trung Quốc phải bị từ chối một “quyền phủ quyết đối với các tuyên bố chủ quyền” và rằng “răn đe là cần thiết”.

Những lời điều trần được ông Tillerson và Mattis đưa ra có phản ánh quan điểm của ông Trump hay không? Ngày 20/1, người phát ngôn Nhà Trắng Sean Spicer đã được hỏi tại một cuộc họp báo rằng liệu Tổng thống Trump có nhất trí với các bình luận của ông Tillerson hay không. Ông Spicer trả lời: “Tôi cho rằng Mỹ sẽ đảm bảo rằng chúng ta bảo vệ các lợi ích của chúng ta ở đó (Biển Đông). Đó là vấn đề về việc nếu những hòn đảo này thực tế thuộc vùng biển quốc tế và không phải một phần của Trung Quốc, thì chúng ta sẽ phải đảm bảo rằng chúng ta bảo vệ lãnh thổ quốc tế để không bị một nước nào chiếm đoạt”.

Giới truyền thông nhà nước của Trung Quốc ngay lập tức vặn lại rằng Mỹ sẽ cần “tiến hành chiến tranh” để ngăn Trung Quốc tiếp cận lãnh thổ chủ quyền của nước này.

Trong những ngày đầu nhậm chức, Chính quyền Trump đã gây ra sự bất ổn chiến lược giữa các đồng minh và kẻ thù về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc và làm dấy lên khả năng về một cuộc đối đầu ở Biển Đông.

Vẫn cần phải xem xem liệu nếu những bình luận của ông Trump và các quan chức cấp cao của ông có được coi là những trở ngại đầu tiên của một chính sách mới và quyết đoán hơn của Mỹ đối với Trung Quốc hay chỉ là một nước cờ mở đầu để giành được các nhượng bộ thương mại từ Bắc Kinh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo tại Hội nghị quốc tế về Biển Đông

CVĐQT – số 6/2017

Biển Đông: Trục của thế cân bằng chiến lược đang thay đổi – Phần VI


Phần 3: Trung Quốc, Mỹ và khu vực

Trung Quốc và Đông Nam Á

ASEAN. Năm 1996 Trung Quốc trở thành một đối tác đối thoại chính thức của ASEAN. Là một đối tác đối thoại, Trung Quốc thường xuyên tham gia quá trình tham vấn tại Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng ASEAN hàng năm. Quá trình này diễn ra dưới hình thức một cuộc họp giữa ASEAN với 10 đối tác đối thoại của nó (ASEAN 10 + 10), và một cuộc họp riêng giữa các thành viên ASEAN với từng đối tác đối thoại của mình (ASEAN 10 + 1). Trung Quốc là một thành viên của Diễn đàn khu vực ASEAN. Ngoài ra, là một đối tác đối thoại, Trung Quốc còn là thành viên khai mạc Hội nghị cấp cao Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN và Trung Quốc đã bắt đầu các cuộc họp thượng đỉnh hàng năm vào năm 1997.

Trung Quốc và ASEAN đã ký một Hiệp định thương mại tự do vào tháng 11/2002. Năm 2003, Trung Quốc đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác với ASEAN.

Biển Đông. Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trước hết đã nổi lên như một vấn đề giữa ASEAN và Trung Quốc trong năm 1992 khi Trung Quốc thông qua Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp. Luật Lãnh hải của Trung Quốc đã gióng lên hồi chuông cảnh báo giữa những nước thành viên ASEAN mà đã coi các hành động của Trung Quốc như một tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Những lo ngại của ASEAN đã tăng lên khi Mỹ rút quân khỏi Philippines vào thời điểm đó.

Năm 1992, ASEAN đã phản ứng trước những căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và Việt Nam bằng cách ban hành một tuyên bố bày tỏ quan ngại và thúc giục các bên không nêu rõ tên giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Những lo lắng của Đông Nam Á về sự quyết đoán của Trung Quốc đã bị khuấy động một lần nữa vào năm 1995 khi Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn được Philippines tuyên bố chủ quyền. ASEAN đã ra tuyên bố công khai thứ hai kêu gọi các bên kiềm chế và dàn xếp hòa bình các tranh chấp. ASEAN đã kiềm chế không nhắc đến Trung Quốc trong các tuyên bố của mình về Biển Đông.

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Trong một nỗ lực giải quyết vấn đề này, ASEAN và Trung Quốc đã bắt tay vào 7 năm đàm phán không có kết quả để đảm bảo một bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) ràng buộc về mặt pháp lý. Tháng 11/2002, khi các vấn đề đã đi vào bế tắc, các thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí một tuyên bố chính trị không ràng buộc được biết đến như là DOC. DOC đưa ra một loạt hoạt động hợp tác và các biện pháp xây dựng lòng tin. Tuy nhiên, cho đến tháng 12/2004, Trung Quốc và ASEAN mới nhất trí về các điều khoản tham chiếu cho một nhóm làm việc chung để thực hiện DOC. Thêm 7 năm nữa trôi qua trước khi Bản hướng dẫn thực thi DOC cuối cùng cũng được thông qua vào tháng 7/2011.

Các tranh chấp lãnh thổ và chủ quyền ở Biển Đông đã làm lộ ra những rạn nứt trong ASEAN. Ví dụ đáng chú ý nhất là hành động của Campuchia với tư cách Chủ tịch ASEAN năm 2012 khi nước này ngăn tất cả các đề cập đến những tranh chấp này trong một thông cáo chung theo thông lệ, hậu quả là lần đầu tiên kể từ khi ASEAN được thành lập, không có thông cáo chung nào được đưa ra.

Tháng 1/2013, Philippines đã phản ứng trước việc Trung Quốc đầu tư vào bãi cạn Scaborough và đã ngăn cản về mặt ngoại giao bằng cách kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Philippines đã thực hiện hành động này mà không tham vấn trước với các thành viên ASEAN khác. Hậu quả là, Trung Quốc đã tiến hành một chiến dịch tuyên truyền quốc tế mạnh mẽ tấn công Philippines (và những người ủng hộ nước này) vì đã quốc tế hóa tranh chấp giữa hai bên và làm mất uy tín quá trình trọng tài cưỡng chế theo UNCLOS.

Kể từ khi thông qua bản hướng dẫn thực thi DOC, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thúc giục những người đồng cấp Trung Quốc thực thi đầy đủ và hiệu quả DOC. Chỉ đến năm 2013 Trung Quốc mới tuyên bố nước này sẵn sàng tiến hành tham vấn với các nước thành viên ASEAN về COC, nhưng chỉ trong khuôn khổ nhóm làm việc chung để thực thi DOC và trên cơ sở đồng thuận. Ngày 13/9/2013, Trung Quốc và ASEAN đã tổ chức buổi tham vấn đầu tiên về COC tại một cuộc họp các quan chức cấp cao ở Tô Châu, Trung Quốc. Các cuộc tham vấn này vẫn tiếp diễn đến nay.

Trong khi vai trò trực tiếp của Trung Quốc trong thất bại năm 2012 ở Phnom Penh có thể bị tranh cãi, điều này không đúng trong Hội nghị đặc biệt Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc – ASEAN được tổ chức ở Côn Minh, Trung Quốc vào tháng 6/2016 do Trung Quốc và Singapore với tư cách nước điều phối của ASEAN về Trung Quốc đồng chủ trì.

Trước cuộc họp, các bộ trưởng ASEAN đã ký một thông cáo báo chí được nhất trí. Tuy nhiên, tại cuộc họp đặc biệt này, Trung Quốc đã gây áp lực thành công với Campuchia để phá vỡ sự đồng thuận và do đó đặt Lào, khi đó đang là Chủ tịch ASEAN vào tình thế khó khăn. Sau khi phá vỡ thông cáo báo chí ASEAN, một thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đã gây sức ép nặng nề cho các bộ trưởng ASEAN để nhất trí với một dự thảo tuyên bố chung của Trung Quốc sẽ được đưa ra tại một cuộc họp báo sau khi cuộc họp đặc biệt này kết thúc.

Các hành động của Trung Quốc đã gây ra sự xáo trộn trong hàng ngũ ASEAN. Các bộ trưởng ASEAN không thể đạt được sự đồng thuận để đăng dự thảo thông cáo báo chí của mình trên trang mạng của ASEAN nhưng đã nhất trí rằng mỗi nước có thể ban hành thông cáo riêng của mình. Bộ trưởng Ngoại giao Singapore đã ra về sớm để tránh một cuộc đụng độ công khai với người đồng chủ trì Trung Quốc. Kể từ đó Singapore đã phải chịu những chỉ trích công khai của Trung Quốc về việc xử lý vấn đề Biển Đông của nước này trong ASEAN.

Ngày 12/7, phiên tòa trọng tài xét xử các tuyên bố chủ quyền Philippines đưa ra nhằm chống lại Trung Quốc đã ra phán quyết nhất trí chống lại Trung Quốc trên hầu hết các vấn đề. Chiến dịch tuyên truyền của Trung Quốc khi đó đã tích cực tấn công tính liêm khiết của tòa án và cơ sở pháp lý cho phán quyết của họ. Với việc ngoại lệ ban đầu là Philippines và Việt Nam, các nước thành viên ASEAN đã tránh đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài.

Ngày 30/6/2016, ông Rodrigo Duterte trở thành Tổng thống Philippines. Ông Duterte đã theo một chính sách xoa dịu nếu không phải là lấy lòng Trung Quốc. Phán quyết của Tòa Trọng tài hiện đang trong tình trạng lấp lửng về mặt pháp lý trong khi Manila và Bắc Kinh chuẩn bị tổ chức các cuộc thảo luận về các tranh chấp lãnh thổ giữa hai bên.

Mỹ và Đông Nam Á

Quan hệ của Mỹ với ASEAN, bắt đầu từ khi ASEAN được thành lập vào năm 1967, đã có một bước ngoặt ấn tượng dưới thời Chính quyền Obama. Mỹ đã bổ nhiệm Đại sứ thường trực tới Ban thư ký ASEAN ở Jakarta, ký kết nghị định thư gia nhập Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN, đề xướng một cuộc họp các nhà lãnh đạo ASEAN, và trở thành một thành viên của Hội nghị cấp cao Đông Á. Theo chính sách tái cân bằng của ông Obama, Ngoại trưởng Mỹ đã thường xuyên tham dự Hội nghị Bộ trưởng ASEAN + 10 và ASEAN + 1 cũng như các cuộc họp thường niên của Diễn đàn Khu vực ASEAN.

Mỹ có một chính sách lâu dài không theo phe nào dựa trên lẽ phải trái của các tuyên bố lãnh thổ xung đột nhau ở Biển Đông. Tuy nhiên, Mỹ chủ trương dàn xếp hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS. Năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã thay đổi chính sách này khi tuyên bố tại một cuộc họp của Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Hà Nội rằng Mỹ có lợi ích quốc gia ở Biển Đông.

Trong hai nhiệm kỳ của Chính quyền Obama, Mỹ và ASEAN đã tổ chức hai hội nghị thượng đỉnh chính thức: Hội nghị thượng đỉnh lần 3 giữa Mỹ và ASEAN (21/11/2015) và Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt giữa các nhà lãnh đạo Mỹ – ASEAN tại Sunnylands (15 – 16/2/2016). Tất cả các tuyên bố của nước chủ tịch được đưa ra sau hội nghị thượng đỉnh của ASEAN với Mỹ đều nhất trí về: tầm quan trọng của hòa bình, an ninh và ổn định khu vực; quyền tự do hàng hải và qua lại trên không; việc thực thi DOC và ký kết sớm một Bộ quy tắc ứng xử; tự kiềm chế; không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; giải quyết hòa bình các tranh chấp; và luật quốc tế, bao gồm UNCLOS.

Tuy nhiên, quan trọng là cách diễn đạt của tuyên bố chung sau Hội nghị thượng đỉnh tại Sunnylands. Các văn bản bao gồm 6 vấn đề chưa từng được đề cập đến trong bất kỳ tuyên bố nào của ASEAN, bao gồm cả các tuyên bố được đưa ra sau các cuộc họp của Hội nghị thượng đỉnh ASEAN với Trung Quốc hay Mỹ. Những vấn đề này bao gồm: an ninh và an toàn hàng hải; tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao; các phương thức sử dụng biển hợp pháp khác; thương mại hàng hải hợp pháp không bị cản trở; phi quân sự hóa; và nhất trí xử lý các thách thức chung trong lĩnh vực hàng hải. Kể từ Hội nghị thượng đỉnh tại Sunnylands, ASEAN đã kết hợp việc đề cập đến “tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao” (ám chỉ gián tiếp Tòa Trọng tài) và việc phi quân sự hóa trong tất cả các bản tuyên bố được đưa ra sau các cuộc họp hội nghị thượng đỉnh và hội nghị bộ trưởng có liên quan.

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo tại Hội nghị quốc tế về Biển Đông

CVĐQT – số 6/2017

Biển Đông: Trục của thế cân bằng chiến lược đang thay đổi – Phần V


Bãi cạn Scarborough: Ngăn chặn hành động khiêu khích và quyết đoán

Tháng 3/2016, Đô đốc John Richardson, Tư lệnh tác chiến hải quân Mỹ, đã tiết lộ rằng các tàu khảo sát của Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough đã cho thấy giai đoạn xây dựng mới. Cũng trong tháng này, một trang mạng quân sự của Trung Quốc đã đăng một kế hoạch nạo vét chi tiết có mục đích đối với bãi cạn Scarborough bao gồm một đường băng, các hệ thống điện, các khu dân cư và bến cảng để đón tàu quân sự. Các cơ quan tình báo và phân tích của Mỹ và Australia sau đó đã cảnh báo rằng Trung Quốc đã sẵn sàng thực hiện “hành động quyết đoán và khiêu khích” như phá hủy san hô để xây dựng một sân bay thứ 4. Tổng thống Mỹ Barack Obama được đưa tin là đã nêu vấn đề này trong một cuộc trao đổi thẳng thắn với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bên lề Hội nghị thượng đỉnh an ninh hạt nhân tại Washington vào tháng 3.

Như Đô đốc Richardson đã lưu ý, một sân bay của Trung Quốc trên bãi cạn Scarborough sẽ hoàn thành tam giác nó đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa với các cấu trúc địa hình bị chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa và mang lại cho Trung Quốc khả năng giám sát gần như tất cả các máy bay và tàu mặt nước đi qua hoặc bay trên Biển Đông, đặc biệt là gần căn cứ hải quân Philippines ở vịnh Subic.

Từ ngày 19 – 21/4/2016, Mỹ đã tiến hành ít nhất ba cuộc tuần tra trên không xung quanh bãi cạn Scarborough bằng máy bay tấn công mặt đất Thunderbolt A-10 và máy bay trực thăng Pave Hawk HH-60 giữ lại ở Philippines sau cuộc tập trận quân sự hàng năm giữa Mỹ và Philippines. Đội tàu sân bay tấn công USS John C. Stennis đã quay lại Biển Đông, và Mỹ và Philippines đã tuyên bố bắt đầu các cuộc tuần tra hải quân chung.

Tháng 6/2016, tàu sân bay USS Ronald Reagan đã thay thế tàu Stennis trong các nhiệm vụ tuần tra và Mỹ đã triển khai 4 máy bay EA-18 Growler, máy bay tác chiến điện tử tiên tiến nhất thế giới, tới Philippines. Trong suốt mùa Hè, ba tàu khu trục của Mỹ, USS Stethem, USS Spruance và USS Momsen đã tiến hành các cuộc tuần tra độc lập trong vùng biển xung quanh bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa. Hai đội tàu sân bay tấn công, Stennis và Reagan, đã tham gia cùng 6 tàu chiến khác để tiến hành một cuộc tập trận quy mô lớn ngoài khơi bờ biển phía Đông của Philippines.

Thứ ba, trong năm 2016, Hải quân Mỹ đã tiến hành 3 FONOP. Cuối tháng 1/2016, tàu USS Curtis Wilbur đã đi ngang qua đảo Tri Tôn ở Hoàng Sa; tháng 5/2016, tàu USS William P. Lawrence đã tiến gần đá Chữ Thập; và vào tháng 10/2016, tàu USS Decatur đã quay lại vùng biển gần đảo Tri Tôn.

Phản ứng của Trung Quốc trước việc quân sự hóa của Mỹ

Trung Quốc lập luận rằng chính sách chiến lược tái cân bằng của Chính quyền Obama là nguyên nhân gốc rễ của những căng thẳng hiện nay ở Biển Đông. Đây là một lập luận phi lịch sử vì việc quân sự hóa của Trung Quốc đã bắt đầu từ rất lâu trước khi chính sách tái cân bằng được thông qua.

Trung Quốc đã phản ứng trước việc tái cân bằng của Mỹ theo 3 cách chủ yếu (ngoài việc quân sự hóa các đảo nhân tạo và các cuộc tập trận quân sự trên biển được mô tả bên trên):

Bám theo tàu chiến của Mỹ. Trước hết, các tàu chiến và máy bay PLAN thường xuyên theo dõi tàu chiến và máy bay Mỹ hoạt động trên vùng biển khơi và không phận quốc tế ở Biển Đông. Chẳng hạn, vào đầu tháng 3/2016, đội tàu sân bay tấn công USS John C. Stennis liên tục bị các tàu của PLAN theo dõi và giám sát trong 6 ngày khi nó đi qua Biển Đông. Cuối tháng 3, khi tàu USS Chancellorsville đi ngang qua đá Vành Khăn, nó đã bị một tàu hộ vệ của PLAN theo dõi và tàu này đã phái đi một máy bay trực thăng. Một tàu khu trục PLAN sau đó đã thay thế tàu hộ vệ này.

Ngày 10/5, khi tàu USS William P. Lawrence tiến hành một FONOP gần đá Chữ Thập, nó đã bị hai chiếc PLAAF J-11 và 3 tàu chiến PLAN theo dõi và cảnh báo phải rời khỏi khu vực này. Tháng 10/2016, khi tàu USS Decatur đi ngang qua đảo Tri Tôn, nó đã bị tàu khu trục Quảng Châu của PLAN bám theo.

Các tàu và máy bay quân sự của Mỹ thường xuyên được PLAN liên lạc qua bộ đàm và yêu cầu phải tiết lộ các nhiệm vụ của họ. Trong những dịp khác, máy bay của Mỹ được cảnh báo họ đang gây nguy hiểm cho sự an toàn của các tàu PLAN và được yêu cầu rời khỏi “khu vực cảnh báo quân sự” của Trung Quốc. Một ví dụ đáng chú ý khác đã diễn ra vào tháng 5/2015 khi CNN ghi lại một cuộc trao đổi giữa nhân viên quân sự Trung Quốc trên đá Chữ Thập và một máy bay trinh sát trên biển Poseidon P8-A của Hải quân Mỹ đang tuần tra trên không. Chiếc Poseidon bị PLAN thách thức 8 lần với thông báo: “Máy bay quân sự nước ngoài. Đây là Hải quân Trung Quốc. Các anh đang tiếp cận khu vực cảnh báo quân sự của chúng tôi. Hãy rời đi ngay lập tức”.

Gây ra các cuộc đối đầu. Thứ hai, Trung Quốc thỉnh thoảng gây ra các cuộc đói đầu trên biển và trên không để bày tỏ việc không tán thành các hoạt động quân sự hợp pháp của Mỹ trên Biển Đông.

Vụ việc đáng chú ý nhất liên quan đến việc PLAN quấy rối tàu USNS Impeccable (T-AGOS-23), một tàu quan trắc hải dương do dân thường vận hành đang hoạt động trong vùng biển ngoài khơi đảo Hải Nam trong khoảng 3 ngày vào tháng 3/2009. Một tàu hộ vệ của PLAN đã hai lần vượt mũi tàu Impeccable ở cự ly gần (90 m ở lần đầu tiên), trong khi một máy bay PLAAF Y-12 đã tiến hành 11 cuộc bay diễu ở tầm thấp và trong phạm vi 30 – 90 m quanh tàu. Một tàu tình báo PLA đã liên lạc với tàu Impeccable bằng sóng vô tuyến giữa các tàu và yêu cầu nó rời khỏi khu này hoặc “lĩnh hậu quả”. Vào ngày cuối cùng, 5 tàu Trung Quốc đã đến trạm gần tàu Impeccable và lệnh cho con tàu ra khỏi khu vực. Sau khi tàu Impeccable đáp lại về ý định rời khỏi khu vực và yêu cầu một hành lang an toàn, hai tàu đánh cá gắn cờ Trung Quốc đã dàn hàng ở cự ly gần (15 m), thả các tấm ván gỗ xuống nước và đứng im. Chiếc Impeccable buộc phải dừng khẩn cấp để tránh va chạm.

Một sự cố khác diễn ra vào tháng 11/2013 trong lần triển khai đầu tiên tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc tới Biển Đông. Tàu Liêu Ninh được tàu USS Cowpens (CG-63), một tàu tuần dương lớp Ticonderoga có tên lửa dẫn đường, giám sát chặt chẽ trong vùng biển quốc tế. Ngày 5/12, một tàu chiến PLAN đã liên lạc bằng sóng vô tuyến với tàu USS Cowpens và yêu cầu nó rời khỏi khu vực. Tàu USS Cowpens trả lời rằng đây là vùng biển quốc tế và từ chối thay đổi lộ trình. Sau đó tàu Cowpens đã bị một tàu đổ bộ lưỡng cư của PLAN chèn ép khi tàu này đột ngột chạy ngang qua mũi tàu Cowpens ở khoảng cách chưa đến 500 m và dừng lại trên mặt nước. Tàu USS Cowpens buộc phải chuyển hướng để tránh một cuộc va chạm. Hai tàu đã thực hiện liên lạc giữa các tàu để đảm bảo an toàn hàng hải và không có sự cố nào khác.

Một bài báo trên tờ Global Times của Trung Quốc đã thêm thắt vào sự kiện này, buộc tội tàu USS Cowpens sau khi bám sát và quấy rối đội hình tàu Liêu Ninh, đã tiến vào lớp phòng thủ bên trong phạm vi 45 km và thực hiện các hành động công kích trong ngày diễn ra cuộc đụng độ.

Các sự cố khác do Trung Quốc chủ động gây hấn gồm có:

1/ Tháng 8/2014, một máy bay chiến đấu PLAAF J-11 đã bay trong phạm vi 6 m quanh một máy bay P-8 Poseidon của Mỹ và sau đó thực hiện một cú lộn nhào trên đầu chiếc Poseidon. Chiếc Poseidon khi đó đang bay gần đảo Hải Nam. Mỹ đã cáo buộc phi công Trung Quốc bay một cách đe dọa, nguy hiểm và không chuyên nghiệp;

2/ Tháng 5/2016, một chiếc EP-3E Aries của Hải quân Mỹ đang bay cách đảo Hải Nam 500 km đã bị hai chiếc PLAAF J-11 chặn lại theo một cách không an toàn. Một trong 2 chiếc J-11 đã bay trong phạm vi 15 m quanh chiếc Aries;

3/ Ngày 8/6/2016, một máy bay trinh sát hàng hải RC-135 của lượng lượng không quân Mỹ đaã bị hai chiếc J-11 chặn lại;

4/ Ngày 17/6/2016, các quan chức quốc phòng Mỹ báo cáo rằng Trung Quốc đang sử dụng các biện pháp đối phó điện tử chống lại máy bay không người lái của Mỹ hoạt động trong không phận quốc tế trên Biển Đông;

5/ Ngày 15/5/2016, một tàu chiến của PLAN đã thu giữ một thiết bị dưới nước không người lái của Mỹ (UUV hoặc máy bay không người lái) được phóng đi từ tàu USNS Bowditch, một tàu quan trắc hải dương học do dân thường vận hành đang hoạt động trong vùng biển ngoài khơi bờ phía Tây Philippines. Sau những phản đối của Mỹ, Trung Quốc đã trả lại chiếc UUV này.

Quân sự hóa hơn nữa. Thứ ba, Trung Quốc đã dùng các hoạt động quân sự của Mỹ như một cái cớ để quân sự hóa hơn nữa các cấu trúc địa hình nước này chiếm đóng ở Biển Đông.

Chẳng hạn, giữa tháng 2/2016, sau khi tàu USS Curtis Wilbur tiến hành một FONOP gần đảo Tri Tôn ở Hoàng Sa, Trung Quốc đã triển khai hai khẩu đội pháo gồm tên lửa đất đối không Hongai-9 (HQ-9) (với tầm bắn 200 km) và hệ thống radar trên đảo Phú Lâm. Sau đó, Bắc Kinh đã triển khai 10 máy bay chiến đấu Thẩm Dương J-11 và Xian JH-7 tới đảo này. Vào tháng 3, PLAN đã tiến hành một loạt cuộc tập trận quân sự trên và xung quanh quần đảo Hoàng Sa bao gồm việc triển khai hệ thống tên lửa chống hạm YJ-62. Ngày 7/4, hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đã lắp đặt một hệ thống radar kiểm soát hỏa lực và triển khai thêm hai máy bay J-11 tới đảo Phú Lâm.

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo tại Hội nghị quốc tế về Biển Đông

CVĐQT – số 6/2017