Chiến lược dùng nạn đói – Phần cuối


Đi đôi với điều đó, phần của giá phân bón trong giá sản phẩm nông nghiệp tăng từ 11 lên 16%. Những hậu quả của chiến lược này không chỉ hạn chế ở tình trạng đất bị nghèo đi, mà sức mua của lân bị giảm sút, mà còn bao gồm việc tăng giá trên thị trường. Ở nước kém phát triển, những hậu quả ấy còn nghiêm trọng hơn và sản xuất nông nghiệp còn giảm sút hơn. Những con số sau đây – có tính tới những sự khác nhau về khí hậu và địa chất – đem lại một ý niệm rõ ràng về sự mất cân bằng do việc dùng những kỹ thuật khác nhau và sự mất cân đối giữa các số lượng phân bón được sử dụng đẻ ra:

Sản lượng (tạ/ha)
Nước Lúa mì Lúa đại mạch Ngô
Pháp 38,88 33,60 41,04
Tây Ban Nha 15,06 15,93 34,91
Bồ Đào Nha 13,10 9,38 13,32

Như vậy, không những các nước nghèo khổ mà cả các nước châu Âu cũng có nguy cơ bị đẩy về phê các nước nhập khẩu sản phẩm nông nghiệp. Liên Xô, sau Mỹ là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới phốt-phát nhưng gần đây cũng đã chuyển sang phe các nước nhập khẩu, với 10 triệu tấn năm 1972.

Có lẽ đó là lý do duy nhất đã thúc đẩy chính phủ Pháp cải tổ lại khu vực phân hóa học năm 1977 và quyết định sáp nhập hai công ty Nhà nước, EMC (Doanh nghiệp mỏ và hóa chất) và CDF – Hóa chất. Đồng thời chính phủ Pháp cũng khuyến cáo tập trung khu vực tư nhân vào chuyên ngành này: GESA (Tổng công ty phân bón), chi nhánh của Rhône-Poulenc và của Pechiney – Ugine – Kulmann), phải kiểm soát được SOPAG (Công ty cổ phần Gardinier), đứng đầu trong khu vực này.

Phải đặt “vấn đề nhỏ” về vùng Sahara thuộc Tây Ban Nha cũ trong bối cảnh này. Vùng đất ấy, do sự giàu có về phốt-phát và sự dễ dàng khai thác nó, có thể củng cố sức mạnh của Mỹ về phân bón và… uranium. Vì phốt-phát không phải là sự giàu có duy nhất của Sahara như người ta thường tưởng. Một mỏ sắt khoảng 70 triệu tấn đã được phát hiện trong vùng Rio de Oro. Cũng vậy, mọi cái cho thấy ở đó có cả đồng, uranium, dầu mỏ (và nước nữa!). Về dầu mỏ, làm sao có thể nghĩ rằng các công ty lão luyện như Exxon, Texaco, Mobil Oil, Gulf Oil, Elf Erap lại bỏ mất chừng 500 triệu USD mỗi năm với những hy vọng không chắc chắn được? Còn về uranium, một công ty Mỹ, Gardinier Big River, và một công ty Pháp, CDF-Hóa chất, chi nhánh của Công ty Than đá Pháp, đã bắt đầu khai thác theo một hệ thống cho phép khai thác nó từ… Phốt-phát. Điều này sẽ không thể làm được nếu không điều hòa những lợi ích “vô tư” của một số nước đã cố giữ không can thiệp vào cuộc xung đột Sahara” (Mỹ, Pháp, Anh…).

Còn về nước, người ta đã phát hiện được một tầng nước ngầm 60.000 km2 mà nếu được khai thác, sẽ làm hoàn toàn thay đổi sự cằn cỗi của vùng này và, do đó, những triển vọng kinh tế và nông nghiệp của nó.

Mỏ Fos Bucraa là gì? Đó là mỏ phốt-phát lộ thiên rộng 268 km2. Công ty Fos Bucraa, về mặt chính thức, là một chi nhánh của Viện công nghiệp quốc gia (Tây Ban Nha) mặc dầu vốn của nó cũng đến từ những khu vực khác ít chính thức hơn: Ngân hàng Paris và Hà Lan, Ngân hàng Rothschild, Eximbank, Wisconsin National Bank…

Năm 1969, các công trình được khởi đầu ở Fos Bucraa, dưới dấu hiệu “hợp tác quốc tế”.

+ Cảng mỏ, có thể nhận những chiếc tàu 100.000 tấn, được xây dựng bởi C&T (Tây Ban Nha), Hersent (Pháp), Straban (Đức) và De Long and Co (Mỹ). Chi phí cho các công trình này: 25 triệu USD.

+ Nhà máy nghiền và rửa quặng có trị giá 12 triệu USD, do Centauro (Tây Ban Nha) và Klockn, Humboldt và Deutz (Đức) thực hiện.

+ Những thảm quay chuyển quặng mỏ ra cảng (100 km, với năng lực vận tải 2000 tấn mỗi giờ, tốc độ 16km/h) và những trạm tương ứng của chúng, với giá thành trên 100 triệu USD, do Krupp (Đức) thực hiện.

+ Những nhà máy điện do General Electric ký hợp đồng, những máy xúc do Bucyrus, những xe tải do Wabco.

Tóm lại, một sự thông đồng quốc tế tuyệt vời!

Kiểu khai thác lộ thiên này và giá nhân công thấp cho phép bán mỗi tấn phốt-phát ở Fos Bucraa (một trong những thứ phốt-phát có hàm lượng giàu nhất thế giới: theo chỉ số BLP, hàm lượng này là từ 65 đến 80%), với giá 10 USD FOB.

Việc buôn bán và xử lý thứ phốt-phát này (để biết nó thành axit phosphoric được dùng trong nông nghiệp) được thực hiện qua trung gian một công ty khác của Tây Ban Nha (trong đó thấy có những quyền lợi nếu không phải của người Marocco thì ít ra cũng của các nhân vật Marocco). Công ty này đã xử lý và buôn bán phốt-phát Marocco từ các mỏ Yusufia và Kuribia… Xin chú ý rằng việc thanh toán về xử lý phốt-phát Marocco này được người Marocco thực hiện theo giá biểu nguyên liệu 12 USD mỗi tấn đã xử lý. Marocco còn bảo đảm cho Tây Ban Nha một giá biểu ưu tiên về việc mua phốt-phát của mình bằng 40% thời giá thế giới.

Khi việc khai thác và xử lý phốt-phát Bucraa vừa bắt đầu, người ta liền thấy rõ sự sáng suốt của những khoản đầu tư này: tiền lãi ròng năm 1974 là 15 triệu USD; năm 1975, với sản lượng 2,8 triệu tấn, tiền lãi ròng 25 triệu USD, trong đó 15 triệu dành để trả các khoản vay và 10 triệu trả cho các “cổ đông”.

Năng lực sản xuất của những cơ sở hiện có là 12 triệu tấn mỗi năm. Tức là một nửa mức tiêu dùng thế giới.

Thế còn dự trữ của Fos Bucraa là bao nhiêu? Nó được ước lượng khoảng 8000 đến 10000 triệu tấn. 10.000 triệu tấn dự trữ cho một năng lực sản xuất 12 triệu: thật là một công cụ đẹp đẽ trong chiến lược nạn đói, và công cụ này, từ khi Tây Ban Nha nhường Sahara lại cho Marocco, đã nằm trong tay Mỹ và các công ty đa quốc gia.

Uranium, phốt-phát, sắt: ba lý do thật sự của nhiều cuộc thông đồng, liên minh, “tránh né” trong cuộc xung đột ở Sahara, trong đó cả phía này lẫn phía kia đã không đếm xỉa tới quyền lợi của những người chủ sở hữu tự nhiên và chính đáng của lãnh thổ này, như từ bao giờ vẫn thế.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Advertisements

Chiến lược dùng nạn đói – Phần III


Cả một chương trình được dành cho 800 triệu người, trên thế giới đang bị suy dinh dưỡng và đói; năm 1977, Mỹ quyết định giảm bớt những diện tích dành cho việc trồng ngũ cốc! Tuy rằng UNEO (United Nations for Emergency Operation) vừa công bố danh sách những nước cần được giúp đỡ khẩn cấp: Cameroon, Bờ Biển Ngà, Dahomey, Ethiopia, Ghana, Guinea, Thượng Volta, Kenya, Lesotho, Madagascar, Mali, Moritania, Niger, Cộng hòa Trung Phi, Ruanda, Senegal, Sierra Leon, Sudan, Somalia, Tanzania, Tchad, Bangladesh, Ấn Độ, Lào, Pakistan, Yemen, Sri Lanka, Salvador, Guyan, Haiti, Honduras… cách đây ít lâu, các tổ chức chính thức đã báo động cho các chính phủ “giàu”” rằng nhiều nước Sahel cấp thiết yêu cầu những số lượng ngũ cốc quan trọng để bù lại những hậu quả của nạn hạn hán: Cap-Vert (30.000 tấn), Gambia (25.000 tấn), Moritania (50.000 tấn), Senegal (180.000 tấn), Mali (150.000 tấn), Thượng Volta (135.000 tấn), Niger (85.000 tấn), Tchad (55.000 tấn), Guinea (70.000 tấn), Bissu (80.000 tấn)… Nạn hạn hán ấy năm 1973 – 1974, đã làm chết hơn 100.000 người và làm mất hơn 3 triệu gia súc. Về phía mình, CMA (Hội nghị quốc tế về lương thực) đã đề nghị đưa sự giúp đỡ lương thực năm 1976 lên 10 triệu tấn.

Nếu những năm 1976 – 1977 con số “viện trợ” được ước lượng tới 9,2 triệu tấn, thì xin đừng nghĩ rằng “tình hình đang khá lên”, ngược lại. Con số 10 triệu tấn chỉ là một giai đoạn nhằm khôi phục mức 12 triệu tấn của những năm 60, mà đến năm 1972 đã rơi xuống 5 triệu!

Theo CMA, trong việc tham gia đấu tranh chống nạn đói, năm 1965 Mỹ bao tới 94% tổng số quà tặng, thì năm 1974 chỉ còn bao 48%.

Người ta nói tới nào “quà tặng”, nào “viện trợ”. Phải chăng điều đó có nghĩa là “nỗ lực quốc tế” là cho không và vô tư? Không! Trong phần lớn các trường hợp, sự viện trợ này phải tuân theo những điều kiện chính trị không thể coi thường. Hơn nữa, những “quà tặng” này nói chung đẻ ra nhiều lệ thuộc. Về vấn đề này, thượng nghị sĩ Mỹ MacGovern đã tuyên bố năm 1964 rằng “những học trò Nhật Bản nào đã từng nếm vị bánh mì và sữa được phục vụ tại các trường học do Mỹ tài trợ về sau đã góp phần làm cho Nhật Bản trở thành khách hàng tốt nhất của Mỹ trong lĩnh vực sản phẩm nông nghiệp”. Cũng vậy, lúa mì được đưa vào một nước không có nó hoặc tiêu dùng nó rất ít có thể trở thành cần thiết và, do đó, đẻ ra những nhu cầu mới. Ở một nước không sản xuất đậu tương, gia súc sẽ tạo ra sự cần thiết phải nhập khẩu nó.

Trong những hoàn cảnh khác, “sự viện trợ và quà tặng” che đậy những thủ đoạn khác nhau. Chẳng hạn, đó là trường hợp công ty đa quốc gia Thụy Sỹ Nestlé cung cấp một khoản viện trợ “với điều kiện lập ra doanh nghiệp sẽ sản xuất ra hàng viện trợ ấy để đánh đổi”. Việc lập ra doanh nghiệp này chắc chắn được hưởng những ưu đãi của chính phủ và nhân công địa phương rẻ, sẽ tỏ ra có ích trong tương lai…

Như vậy, vũ khí nạn đói là có thật. Và sự thâm nhập của các công ty đa quốc gia trong lĩnh vực này làm tăng thêm nhiều nguy cơ. Giải pháp để chống lại điều đó, mà không phải mất nhiều năm, là xem xét lại những kỹ thuật được dùng ở tất cả các nước và từ bỏ một vài “chính sách kỹ thuật” được dùng ở tất cả các nước và từ bỏ một vài “chính sách nông nghiệp”… Nhưng, theo giả thuyết này, Mỹ và công ty đa quốc gia sẽ có thể tiếp tục thực hiện sự thống trị của mình bằng nạn đói như thế nào đây? Làm thế nào để đến một ngày nào đó, chính phủ của tất cả các nước có liên quan quyết định được việc hợp lý hóa các cây trồng của mình đây?

Câu trả lời cho câu hỏi đó đã được đưa ra ở Madrid tháng Mười một 1975, khi chính phủ ở đó “nhường lại lãnh thổ của Tây Ban Nha ở Sahara…”.

Giữa sự kiện ấy và chiến lược dùng nạn đói có mối liên hệ như thế nào? Giữa chính sách của Mỹ và các công ty đa quốc gia về nông nghiệp hiện đại và một lãnh thổ hoang mạc, cằn cỗi như Sahara thuộc Tây Ban Nha, có mối liên hệ gì? Chẳng phải đây chỉ là việc “thu hồi” một lãnh thổ bị Tây Ban Nha chiếm làm thuộc địa ư? Chẳng phải đây là một “vụ việc nhơ bẩn” giữa bọn Franco và vua Hassan II ư? Những yêu sách của Polissario chẳng phải là kết quả của một sự “điều khiển” của ông Bumerdien “đỏ” và của chủ nghĩa cộng sản quốc tế ư?

Mọi việc không phải đơn giản như người ta làm cho chúng ta lầm tưởng. Những lợi ích tranh chấp trong vụ này đã vượt quá khuôn khổ một vùng sa mạc nhiều.

Vì để “công nghiệp hóa nông nghiệp” (ý muốn của Mỹ) và để hợp lý hóa chính sách nông nghiệp (ý muốn của tất cả các nước), thì trước hết phải có phân bón. Mà Sahara, đó là Fos Bucraa, và Fos Bucraa có nghĩa là phân lân.

Nếu người nông dân không trả lại cho đất đai những khoáng chất bị anh ta làm mất đi, đến một lúc nào đó đất đai sẽ bị kiệt màu đến mức không sản xuất được nữa. Hiện nay, người ta ước lượng rằng mỗi năm nông nghiệp thế giới làm cho đất đai mất đi 450 triệu tấn lân mà chỉ trả lại được 23 triệu tấn.

Nếu không muốn làm cho đất đai kiệt màu, thì phải nhân gấp 20 lần số lượng lân được nông dân sử dụng. Số lượng này còn phải lớn hơn nữa trong trường hợp khai thác quá mức hoặc có những thay đổi về chính sách nông nghiệp. Ngoài ra, những nhận định này chỉ có giá trị khi tất cả các nước trên thế giới đều có những đặc trưng giống nhau: sự phong phú của đất đai, việc trả lại chất lân có hệ thống… Nhưng những thực tế lại khác nhau và những con số sau đây nói lên rõ tính nghiêm trọng của vấn đề: năm 1975, khi một nước phát triển sử dụng mức trung bình đầu người là 60 kg phân bón, thì thế giới thứ ba chỉ sử dụng 7kg. Khi một người Đan Mạch sử dụng tới 140 kg phân bón thì một người dân Ethiopia chỉ sử dụng có 800 gram.

Phải mất bao nhiêu năm nữa để cho khoảng cách giữa các con số này thu hẹp lại? Các nước đang phát triển phải chịu ách “bá quyền của các nước “lớn” trong bao nhiêu năm nữa, khi các nước này vẫn còn là những kẻ nắm giữ chủ yếu về sản phẩm phân bón?

Trước tầm quan trọng hiển nhiên của những sản phẩm này đối với cuộc chiến tranh nạn đói, các nhà chiến lược của cuộc chiến tranh ấy muốn chiếm giữ bằng mọi giá việc sản xuất phân lân ở Fos Bucraa để bổ sung vào kho vũ khí của họ. Qua trung gian của Phosrock và chi nhánh của nó Phoschem (International Minerals Corporation), Mỹ đang kiểm soát 1/3 sản lượng thế giới về phân lân. Sự thống trị này đã cho phép Mỹ năm 1974 – 1975, đẩy giá mỗi tấn từ 12 lên 68 USD.

Cơ chế được sử dụng thật đơn giản: do việc tăng giá thế giới đã được ban hành (nhân thể xin nói, chỉ bằng một quyết định “đơn phương” của Sở phốt-phát Marroco, do Mỹ khuyên bảo), Phosrock liền quyết định “đóng” những dự trữ của nó, không cho bán ra nước ngoài. Trong khi đó, trên thị trường trong nước, công ty này vẫn tiếp tục bán cho các đại lý với giá 15 USD/tấn. Chiến thuật này tất nhiên đã mang lại những vấn đề to lớn về nông nghiệp và kinh tế ở những nước thiếu phân bón nhất, kể cả một số nước phát triển. Chỉ riêng ở Pháp, sự tăng giá ghê gớm về các loại phân bón (trong đó có axit photphoric P2O5, chế từ phốt-phát) đã đưa tới một sự giảm bớt 21% số phân bón được sử dụng; tức là thụt lùi mất 5 năm đối với nông nghiệp Pháp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Chiến lược dùng nạn đói – Phần II


Năm 1976, Mỹ đã xuất khẩu 36 triệu tấn ngũ cốc, 45 triệu tấn ngũ cốc làm thức ăn gia súc và 15 triệu tấn hạt có dầu. Xuất khẩu nông nghiệp chiếm 25% tổng số xuất khẩu của Mỹ.

Cùng thời kỳ này, các nước khác đã xuất khẩu và hay nhập khẩu những số lượng dưới đây (tính theo triệu tấn) về ngũ cốc (lúa mì, ngô, đậu tương):

  Xuất khẩu Nhập khẩu
Liên Xô 5,03 9,40
Cộng đồng châu Âu 8,22 20,82
Canada 14,3  
Australia 7,48  
Argentina 8,90  

Tuy Liên Xô cũng như Cộng đồng châu Âu là những nơi xuất khẩu do các hiệp ước họ đã ký và do các đặc điểm thị trường của họ – nhưng họ cũng là nơi nhập khẩu và, điều thật có ý nghĩa là họ bị phụ thuộc vào những số lượng nhập khẩu cao hơn những khả năng xuất khẩu của họ nhiều. Năm 1977, Trung Quốc đến lượt mình bước vào sự phụ thuộc ấy khi yêu cầu nhập khẩu khoảng 9 triệu tấn lương thực hàng năm.

Cuối cùng, xin nhấn mạnh rằng sản lượng thế giới về đậu tương được dành cho sự tiêu dùng bên trong của các nước sản xuất, trừ Mỹ ra, và hiện nay Mỹ xuất khẩu tới 70% sản lượng hạt có dầu của mình.

Như vậy, nếu tính đến những điều kiện đặc biệt và những kỹ thuật nông nghiệp của các nước khác nhau, thì vũ khí lương thực là có thật. Nó nằm trong tay của Mỹ…

Xin nói thêm rằng Mỹ thường xuyên từ chối ký vào một kiểu hiệp định quốc tế nào đó nhằm điều tiết thị trường ngũ cốc, ngay cả khi nó đồng ý một sự lưu thông rộng rãi hơn của những thông tin về các thứ hàng hóa này, cũng như đồng ý cung cấp theo giá hạ một số lượng nào đó cho những nước cần mua. Những món “quà tặng” có điều kiện và lựa chọn này năm 1975 lên tới 1,3 tỷ USD. Nhưng giá trị trội ra do nạn thiếu ngũ cốc năm 1973 – 1974 và 1975 đẻ ra đã đem lại cho Mỹ số lợi nhuận lên tới 6 tỷ USD!

Những yếu tố ấy cho phép nhận định rằng, do ưu thế của nó trên thị trường ngũ cốc thế giới, nếu muốn, Mỹ có thể tạo ra một cách giả tạo (mà không cần dùng tới một tác động trực tiếp nào tới khí hậu, một kế hoạch khác của CIA!) một tình trạng thiếu hụt lương thực của thế giới, đưa tới không chỉ những biến đổi chính trị ở nhiều nước, mà còn là cái chết của hàng triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em.

Một yếu tố khác của sự thiếu hụt có thể là những số lượng khổng lồ mà Liên Xô phải mua ở nước ngoài những số mua này nếu là do một “ý đồ xấu” nào đó gây ra, thì sẽ có thể cao hơn những nhu cầu thực tế và cho phép lập ra những dự trữ “gây sức ép”.

Một yếu tố khác của cuộc chiến tranh này: từ năm 1973, Bộ Nông nghiệp Mỹ yêu cầu NASA cộng tác để “ước lượng vào bất cứ lúc nào những diện tích, những kiểu trồng, sự tiến triển của những thứ đó”, cho phép biết chính xác những số ngũ cốc hiện có của mỗi nước, nhờ vào các vệ tinh Landsat.

Mới đây, một chương trình mới – “Earth Resources Technology Satellite” – cho phép (bằng cách dùng một hệ thống giống như của các việc thăm dò dư luận, tức là bằng cách chọn một “mẫu” đa quốc gia đại diện cho tất cả các diện tích dành cho nông nghiệp khắp thế giới) thu được những thông tin bổ sung về trạng thái đất đai, số lượng đất đai dành cho nông nghiệp, tình trạng thủy văn, các bệnh của cây trồng, số lượng gia súc tiêu dùng ngũ cốc… Điều đó cho phép Mỹ có những dự đoán cho mười năm sắp tới.

Năm 1975, những kết quả của chương trình “Large Area Crop Inventory Experiment (LACIE) đã được thông báo cho các tổ chức không chính thức. Khách hàng của LACIE là như sau: Chính phủ Mỹ và các cơ quan chính thức 25%, các công ty đa quốc gia 35%, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu 17%, cuối cùng các chính phủ của nước ngoài 12%.

Các công ty đa quốc gia là những khách hàng tốt nhất của chương trình LACIE ư? Đúng thế.

Theo những nghiên cứu mới đây, Mỹ có thể tăng thêm sản lượng ngũ cốc của mình 15% từ nay đến năm 1980, tức là bằng khả năng sản xuất hiện nay của Argentina… Nhà “tương lai học” Mỹ Carr, trong tài liệu của ông Maximum Efficiency Future (Tương lai có hiệu quả tối đa), soạn cho Quốc hội Mỹ, đã nêu rõ rằng nhờ có những kế hoạch tài trợ mới và công nghệ mới, có thể đạt được 15% ấy nhanh hơn.

Nhưng điều mà bản báo cáo này không chỉ rõ là công nghệ ấy đòi hỏi phải loại bỏ tất cả các yếu tố “yếu” khỏi khu vực nông nghiệp Mỹ, tức là những diện tích trồng trọt gia đình nhỏ hay có diện tích rất nhỏ không sinh lợi nhưng lại chiếm những đất đai cần thiết dành cho kế hoạch tối đa này.

Tuy nhiên, nếu Mỹ có ý định “sản xuất để đối phó với nạn thiếu hụt của thế giới” thật, thì đó sẽ là một xấu ít tệ hại hơn. Nhưng ý đồ của nó hoàn toàn khác: “Mỹ phải đi trước mức cầu của thế giới bằng cách thiết lập một hệ thống. Như vậy, Mỹ sẽ đứng ở vị trí thống trị thị trường thế giới, đương đầu được với những bất trắc về một vụ thu hoạch xảy ra trong nước hoặc những ý định cạnh tranh của nước ngoài”.

Đó là lẽ tại sao trong khu vực này lại có các công ty đa quốc gia, mà chỉ có chúng mới có thể cung cấp những tư bản cần thiết cho một chương trình vừa đầy tham vọng vừa nguy hiểm như vậy. Và nếu những công ty đa quốc gia tham gia vào chiến lược này, thì phải đề phòng điều tệ hại nhất có thể xảy ra: không có ai bảo đảm rằng những công ty ấy tự chúng sẽ không gây ra cuộc chiến tranh nạn đói.

Những triệu chứng đầu tiên của nguy cơ này đã xuất hiện: ITT – với những sự can thiệp của nó ở nhiều nước đã biết rõ – bắt đầu “chế tạo” gà tây theo lối công nghiệp; Dow Chemical (rất quan tâm tới vấn đề Sahara) đang sản xuất rau trên quy mô công nghiệp; Boeing – khoai tây; Fetty Oil – hạnh nhân; Unilever có những đồn điền nông nghiệp lớn ở Cameroon, Congo, Gabon, các đảo Salomon, ở Nigeria, ở Borneo, ngoài hơn 50 doanh nghiệp đã được lập ở nhiều nước khác nhau trên thế giới.

Ở Braxilia, nhờ những ưu đãi do chính phủ quân sự nước này cung cấp (tiền mua đất đai chỉ chiếm 3% chi phí chung về lập doanh nghiệp, đầu tư được “kích thích” bằng sự giảm thuế 50%, tiền lãi có thể đưa ra khỏi nước, không bắt buộc phải đầu tư lại…), các công ty đa quốc gia đang “quay về” với khu vực nông nghiệp – lương thực: Wolkswagen, Mitsubishi, Ludwig, Georgia Pacific, Bruynzeel, Tokomenka, Mc Glohn đã chiếm những fincas từ 200 đến 400 nghìn ha… Liquigas (với sự tham gia của Vatican và Montedison) chiếm một doanh nghiệp nông nghiệp rộng 570.000 ha… Banco Nacional, Mercedes Benz, Walters (có sự tham gia của Rockefeller), US Steel, Goodyear cũng đang lập doanh nghiệp ở Braxilia.

Việc thiết lập doanh nghiệp này hiện đang lầm mất đi một triệu cây mỗi ngày, phủ trên một diện tích 30 km2: nếu cứ tiếp tục kiểu này, chưa đầy 10 năm nữa người ta sẽ hoàn toàn phá vỡ sự cân bằng khí hậu ở vùng Amazon.

Ở châu Âu, các nhóm nước ngoài đang tranh nhau nuốt các doanh nghiệp nhỏ thuộc khu vực lương thực, đến mức chỉ vài năm nữa sẽ không còn một doanh nghiệp nào không có sự “tham gia” hay kiểm soát của các công ty đa quốc gia nước ngoài.

Ở Iran, công ty dầu mỏ Shell đang khai thác một vùng đất nông nghiệp rộng 15.000 ha. Nhóm Inter-Agro-Business Corp of Iran (Chase International Bank, Diamont, Mitsui) đang khai thác khoảng 17.000 ha.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Tranh chấp Biển Đông tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh mới?


KB Teo

Những bất đồng về thương mại và đặc biệt là cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông có nguy cơ tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh mới.

Bất chấp việc Trung Quốc phản đối phán quyết của Tòa trọng tài ở La Haye (Hà Lan) năm 2016 đối với yêu cầu lãnh hải của mình, căng thẳng tại Biển Đông đã phần nào giảm bớt. Tuy vậy, Biển Đông vẫn là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. Giữa tháng 10/2018, một vụ va chạm suýt xảy ra giữa khu trục hạm Decatur của Mỹ và tàu chiến Lữ Dương của Trung Quốc. Theo đó, khu trục hạm Decatur của Mỹ đang trên đường thực hiện chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông nhằm khẳng định quyền tự do đi qua các vùng biển quốc tế đã bị tàu chiến Lữ Dương của Trung Quốc tiếp cận, ngăn chặn. Trước đó, hôm 4/10, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đã có một bài phát biểu công kích chính sách đối ngoại bành trướng của Trung Quốc.

Ảnh hưởng lớn nhất và bao trùm đối với hòa bình hay căng thẳng tại Biển Đông chính là Trung Quốc và Mỹ. Thêm vào đó, Nhật Bản, một cường quốc khu vực, hiện đang nổi lên là một nhân tố có thể tác động tới tình hình Biển Đông bởi mối lo ngại của nước này về kinh tế bị ảnh hưởng do những căng thẳng tại khu vực Biển Đông gây ra.

Vậy mục tiêu của 3 cường quốc này tại Biển Đông là gì?

Mục tiêu của Trung Quốc là giành quyền thống trị Biển Đông. Điều này giúp Trung Quốc đạt được 2 lợi thế:

Thứ nhất, là kiểm soát toàn bộ các nguồn tài nguyên dầu, khí và thủy sản rộng lớn tại đây nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hàng năm của nước này, vốn đã giảm từ 10% (sau chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình từ 40 năm trước) xuống chỉ còn 6,5%. Theo ước tính, 1/3 hoạt động vận chuyển toàn cầu đi qua khu vực Biển Đông.

Thứ hai, kiểm soát Biển Đông sẽ giúp Trung Quốc ngăn chặn các đối thủ tiếp cận khu vực này. Kể từ năm 2005, Bắc Kinh đơn phương tiến hành các hoạt động quân sự hóa tại đây với việc triển khai máy bay chiến đấu và tên lửa tầm xa trên các thực thể tại Biển Đông. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như xem Biển Đông là lợii ích cốt lõi của Trung Quốc, ngang bằng với các khu vực khác như Đài Loan, Tân Cương hay Tây Tạng. Tháng 6/2018, trong chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, Tập Cận Bình đã tuyên bố Trung Quốc sẽ “không nhượng bộ dù chỉ là một tấc đất”. Trên thực tế, Bắc Kinh đã xây dựng một học thuyết nhằm thống trị châu Á. Đây là một phần trong tham vọng thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” được Tập Cận Bình đưa ra năm 2013.

Chiến lược răn đe của Tập Cận Bình?

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từng nhiều lần hô hào quân đội nước này sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong điều kiện hiện nay. Đây là một tham chiếu đến những ký ức của Bắc Kinh về “một thế kỷ sỉ nhục” của nước này trong giai đoạn 1839 – 1849.

Ông Tập cũng nhìn thấy việc Mỹ đang tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của nước này với việc Mỹ sử dụng liên minh Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines để kiềm tỏa Trung Quốc. Do vậy, nước này mong muốn có quan hệ tốt với Mỹ. Phát biểu tại một hội chợ được tổ chức trong tháng 11/2018, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát biểu rằng Trung Quốc sẽ mở cửa hơn nữa cho việc nhập khẩu hàng hóa. Một tuyên bố tương tự cũng được Phó Chủ tịch Trung Quốc Vương Kỳ Sơn đưa ra trong chuyến thăm Singapore hồi đầu tháng 11/2018.

Cũng trong tháng 11/2018, Trung Quốc và Mỹ đã nối lại các cuộc đàm phán cấp cao, ngay trước thềm diễn ra hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) tại Singapore. Tiếp đó, Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gặp nhau bên lề hội nghị G20 tại Argentina. Trong khi các vấn đề tranh chấp thương mại giữa hai bên là chủ đề chính của cuộc họp thì không có bất cứ một đề cập nào về vấn đề Biển Đông được đưa ra.

Nhật Bản ngày càng quan tâm vấn đề Biển Đông?

Nhật Bản không có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, nhưng nước này quan ngại sâu sắc trước những hoạt động của Trung Quốc tại đây.

Theo thống kê, tất cả lượng dầu và khí đốt Nhật Bản nhập khẩu đều vận chuyển qua khu vực Biển Đông và eo biển Malacca. Do vậy, Trung Quốc kiểm soát Biển Đông sẽ đe dọa trực tiếp đến huyết mạch kinh tế của Nhật Bản. Điều này rõ ràng là không thể chấp nhận được đối với Tokyo. Hai nước có sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng tại khu vực. Bên cạnh đó, Nhật Bản và Trung Quốc cũng có tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tại khu vực Biển Hoa Đông. Chính vì vậy, thời gian qua, Nhật Bản đã bán tàu tuần tra bờ biển cho Việt Nam và Philippines. Tháng 10/2018, Nhật Bản đã cử tàu khu trục và tiến hành diễn tập tầu ngầm lần đầu tiên tại khu vực Biển Đông, đưa ra thông điệp đối với Bắc Kinh về quyền tự do đi lại tại vùng biển quốc tế. Điều này giống với thông điệp mà Mỹ đưa ra khi tiến hành các chiến dịch FONOP.

Nhưng giữa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, cả Nhật Bản và Trung Quốc đều cố gắng hạn chế sự cạnh tranh giữa hai bên. Điều này lý giải vì sao thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tiến hành chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 10/2018 nhằm thúc đẩy mối quan hệ song phương. Đây là chuyến thăm cấp cao đầu tiên được tiến hành trong 7 năm qua.

Mỹ sẽ cứng rắn hơn?

Về phần mình, Washington cực lực phản đối các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Năm 2017, Tổng thống Trump đã gọi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh xứng tầm và Mỹ sẽ không chấp nhận việc Bắc Kinh tìm kiếm sự bá quyền. Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La tổ chức tại Singapore hồi tháng 6/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã công khai yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc quân sự hóa Biển Đông. Ông cảnh báo Bắc Kinh sẽ phải gánh chịu những hậu quả khôn lường. Đô đốc Philip S. Davidson, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ hồi tháng 10/2018 đã cho rằng Mỹ đã mất quyền kiểm soát Biển Đông bởi nước này “thiếu chiến tranh với Trung Quốc”.

Liệu có hình thành một cuộc chiến tranh lạnh mới?

Trung Quốc đã có một cách tiếp cận cứng rắn nhưng thực dụng đối với các tranh chấp tại Biển Đông. Và không có dấu hiệu nào cho thấy Bắc Kinh sẽ từ bỏ các yêu sách của mình tại Biển Đông. Kết quả là một cuộc Chiến tranh Lạnh mới giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang hình thành.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 33 vừa kết thúc tại Singapore, tranh chấp Biển Đông đã được thảo luận. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long hy vọng mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được duy trì ổn định bởi ASEAN không muốn phải lựa chọn giữa một trong hai cường quốc thế giới.

Trung Quốc và Mỹ hiện là hai đối tác thương mại lớn nhất của các nước ASEAN. Nếu Bắc Kinh và Washington leo thang xung đột, ASEAN sẽ không tránh khỏi bị ảnh hưởng tiêu cực.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC vừa kết thúc tại Papua New Guinea, thế giới lại chứng kiến sự khác biệt lớn về thương mại và an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử, APEC kết thúc mà không ra được tuyên bố chung bởi chia rẽ về thương mại giữa hai cường quốc, nhưng dường như đó không phải chỉ đơn thuần là bất đồng về thương mại giữa hai nước. Mỹ nhận thấy Bắc Kinh đang cố gắng thiết lập một trật tự thế giới theo kiểu Trung Quốc để thay thế cho trật tự thế giới kiểu Mỹ. Kết quả dẫn tới dường như sẽ là một cuộc chiến tranh lạnh mới.

Nguồn: Trường Nghiên cứu quốc tế RSIS – Đại học công nghệ Nam Dương (Singapore)

TKNB – 11/12/2018

Chiến lược dùng nạn đói – Phần I


Tháng Mười một 1975, căn bệnh kéo dài và sự hấp hối của Franco – ông mất ngày 20 tháng ấy – cho phép diễn ra một thủ đoạn hỗn loạn mà thật ra đó chỉ là một đoạn phụ trong chiến lược thống trị thế giới mới: việc nhượng lại Sahara thuộc Tây Ban Nha cho Maroque và Moritani. Cho đến vài tháng trước đó, “vấn đề” Sahara thuộc Tây Ban Nha có vẻ quá rõ ràng: qua trung gian Liên hợp quốc, cả phía này lẫn phía kia đều đồng ý về “quyền tự quyết của dân Sahraoui”…

Đồng thời với hành động này, chắc chắn không thiếu những hành động trùng hợp! Mỹ đã khám phá ra một thứ vũ khí mới: nạn đói. Làm sao việc nhượng miền Sahara thuộc Tây Ban Nha “khốn khó” ấy lại có thể được gắn với chiến thuật mới của Mỹ này được nhỉ? Những trang sau đây sẽ mang lại một vài yếu tố cho phép hiểu rõ hơn cái được người ta cio là “Vũ khí lương thực”.

Do việc Mỹ mất uy tín trên thế giới (Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Cyprus, Việt Nam, Trung Đông…) những nhà kỹ trị ở Văn phòng nghiên cứu địa chính trị thuộc CIA chuẩn bị một bản báo cáo về các vấn đề lương thực, dân số và khí hậu có thể giúp Mỹ mở rộng sức mạnh của nó trên thế giới (hay “ảnh hưởng” của nó, theo từ ngữ được những nhà kỹ trị – tình báo ấy dùng).

Việc nghiên cứu của CIA bắt nguồn từ các công trình của tiến sĩ Erison thuộc trường Đại học Wilcosin. Theo ông, thế giới sắp bước vào một giai đoạn khí hậu bất lợi kéo dài từ 40 năm đến vài thế kỷ, điều đó sẽ gây ra những đảo lộn chính trị và kinh tế có tầm quan trọng không thể lường được, do sự giảm bớt rất lớn các vụ thu hoạch ngũ cốc thế giới…

Lợi dụng tình trạng thiếu ngũ cốc của thế giới, hiện nay cũng như sắp tới, những kẻ ở CIA kết luận rằng “các vấn đề lương thực sẽ mang lại cho Hoa Kỳ những tiềm năng khiến nó có thể đạt được tham vọng thống trị về kinh tế và chính trị như chưa bao giờ thực hiện được, kể cả sau Chiến tranh thế giới thứ hai… Trong những năm thiếu hụt lớn, khi Mỹ không còn thỏa mãn được đầy đủ cho tất cả những nhu cầu của các nước nhập khẩu lương thực, Washington có thể có khả năng quyết định sự sống hay cái chết của những đám đông có liên quan. Không cần phải dùng tới sự đe dọa, Mỹ vẫn có một ảnh hưởng chính trị và kinh tế đặc biệt… Không những các nước cần lương thực nhất, mà cả các cường quốc cũng sẽ phụ thuộc một phần vào những khoản thực phẩm nhập khẩu từ Mỹ…”

Sau đó, “kế hoạch” của CIA ám chỉ tới khả năng có những điều kiện khí hậu tai hại cho các vụ thu hoạch tốt:

“Khí hậu lạnh đi của các vùng cao hơn sẽ đưa tới một sự giảm sút sản xuất không thể tránh được (sic – nguyên văn). Nếu xu hướng này kéo dài hoặc nặng thêm, việc sản xuất ngũ cốc của Liên Xô, Trung Quốc, Nam Á và Đông Nam Á, vùng Sahel thuộc châu Phi sẽ giảm đi một cách nguy hiểm (…) Sự giảm sút này có thể có một hậu quả đáng kể không những tới sự cân bằng của nền kinh tế, mà tới cả sự cân bằng về sức mạnh trên thế giới nữa (…). Những đám người đói, những dịch bệnh, những cố gắng tuyệt vọng của các nước có trang bị quân sự để chiếm những số ngũ cốc họ còn thiếu bằng mọi giá, đều có thể đưa tới những cuộc di dân của các khối người có vũ trang và, trong một số trường hợp (Ấn Độ hoặc Pháp) tới việc dùng đến vũ khí nguyên tử”.

Các nhà kỹ trị ở CIA đã tìm được một cách tránh khỏi “mối nguy hiểm” ấy… Ta hãy đọc họ:

“Ở những vùng nghèo khổ và tự mình không thể tìm được các giải pháp, dân số phải được giảm bớt tới mức số lượng cho phép tự cứu thoát… Nếu không, mọi sự giúp đỡ, mọi trợ cấp, dù hào hiệp đến đâu, cũng sẽ không có hiệu quả… Phải làm cho dân số những nước nghèo nhất giảm đi, ít ra cho tới lúc những điều kiện khí hậu trở lại tốt và các kỹ thuật nông nghiệp được thích nghi một cách đầy đủ…”.

Nhưng, “tính nhạy cảm” của những kẻ ở CIA lại xuất hiện khi họ viết: “Vấn đề dân số sẽ phải được giải quyết theo lối ít khó chịu hơn cả”.

Đầy thương cảm, tổng thống Mỹ đã tuyên bố trước Đại hội đồng Liên hợp quốc: “Mặc dầu có sự cấm vận dầu mỏ và các quyết định về sản xuất dầu mỏ, chúng tôi đã không sử dụng như vấn đề lương thực làm vũ khí…” Một bằng chứng về tính đạo đức hay chỉ là một sự loan báo về điều mà người ta có thể làm trong tương lai?

Và bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ, ông Butz, khẳng định: “Từ nay, lương thực là một thứ vũ khí (…), một con bài chủ yếu trong trò chơi của chúng ta”.

Còn ông Moynihan, nhà ngoại giao và chính khách Mỹ, đã tuyên bố công nhiên hơn: “nếu lương thực là một vũ khí, thì chúng ta phải dùng nó. Cách đây mười năm, người ta có thể khó chịu trước một triển vọng như vậy, nhưng ngày nay chúng ta phải trông chờ vào nó”.

Ý đồ thật rõ. Còn nghiêm trọng hơn, vì đó không còn chỉ là những ý đồ, mà ở một số vùng, đã là những sự kiện cụ thể.

Ba loại ngũ cốc tạo thành cơ sở của hệ thống thị trường thế giới: lúa mì, ngô và đậu tương.

Ở Mỹ, năm 1972, tức là năm trước cuộc khủng hoảng ngũ cốc đầu tiên, những số xuất khẩu ba thứ sản phẩm này đã mang về 6,3 tỷ USD. Năm 1975, sự tăng thêm những số lượng xuất khẩu còn xa mới theo kịp sự tăng giá: 13 tỷ USD.

Chỉ nhìn qua bảng dưới đây cũng đủ thấy rõ tầm quan trọng của nguy cơ này:

Đơn vị tính: triệu tấn

Lúa mì
Mỹ 1972 1973 1974 1975
Sản xuất 42 46 49 58
Xuất khẩu 23 38 26 33
Thế giới còn lại
Tổng sản lượng 346 377 360 376
Tổng số xuất khẩu 65 81 65 73
Gần một nửa số xuất khẩu lúa mì thế giới như vậy là do Mỹ thực hiện
Ngô
Mỹ 1972 1973 1974 1975
Sản xuất 142 143 118 146
Xuất khẩu 22 33 30 42
Thế giới còn lại
Tổng sản lượng 305 310 293 300
Xuất khẩu 37 48 50 70
Mỹ sản xuất gần một nửa tổng sản lượng thế giới và xuất khẩu hơn một nửa tổng số xuất khẩu thế giới.
Đậu tương
Mỹ 1972 1973 1974 1975
Sản xuất 19 23 21 22
Xuất khẩu 5 11 15 15
Thế giới còn lại
Sản xuất 21 62 57 60
Xuất khẩu 00 00 00 00

Năm 1973, việc phong tỏa xuất khẩu của Mỹ đã đưa tới một sự tăng giá thế giới lên 300%.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Nga và phương Tây khó xảy ra Chiến tranh Lạnh lần thứ hai?


Theo nhận định của Richard N. Haass, Chủ tịch Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Mỹ, căng thẳng gia tăng giữa Anh và Nga là một bằng chứng nữa cho thấy Nga và phương Tây đã bước vào cuộc “Chiến tranh Lạnh lần thứ 2”. Tuy nhiên, Sergei Karaganov – Chủ nhiệm khoa Kinh tế và Chính trị thế giới tại Trường cao học Kinh tế ở Moskva – lại không đồng tình với ý kiến này.

Trên thực tế, quan hệ Nga với Mỹ, và hiện giờ là với Anh, đang xấu hơn rất nhiều so với những năm 50 của thế kỷ trước. Khả năng xảy ra một cuộc xung đột trực tiếp cao hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Do các loại vũ khí hạt nhân chiến lược cũng như các hệ thống được thiết kết nhằm vô hiệu hóa chúng ngày nay vô cùng phức tạp nên không ai dám loại trừ khả năng 1 trong 2 bên xung đột, hoặc cũng có thể là bên thứ 3, sẽ kích động căng thẳng leo thang.

Điều tồi tệ hơn nữa là giới lãnh đạo Mỹ và Nga gần như cắt đứt liên lạc với nhau, do hai bên mất lòng tin vào nhau. Người Mỹ nhìn Nga với ánh mắt căm thù, còn nhiều người ở Nga thẳng thừng bày tỏ thái độ miệt thị Mỹ. Có thể nói, mối quan hệ song phương này hiện nay thực sự còn tồi tệ hơn cả thời Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những căng thẳng này sẽ dẫn tới một kết cục bi thảm. Một cuộc đối đầu sẽ thực sự xảy ra nếu như các bên xung đột nung nấu ý tưởng đó, nhưng ở đây Nga lại không như vậy. Nga không muốn khuấy động một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Mặc dù việc đối đầu với Mỹ ở một mức độ nào đó sẽ giúp Tổng thống Nga Vladimir Putin đoàn kết, được dư luận trong nước, đồng thời đánh bóng thành tích dân tộc chủ nghĩa của giới tinh hoa Nga, song Nga không phải là một quốc gia dễ bị kích động về mặt tư tưởng.

Trên thực tế, Điện Kremlin không muốn làm gì ảnh hưởng đến lợi ích của Nga. Cách tiếp cận của Nga đối với các vấn đề quốc tế lâu nay vẫn tập trung vào việc tôn trọng các lợi ích cũng như chủ quyền quốc gia, và niềm tin rằng tất cả các dân tộc cũng như quốc gia, và niềm tin rằng tất cả các dân tộc cũng như quốc gia trên toàn thế giới có quyền tự quyết trong mọi vấn đề chính trị, kinh tế và văn hóa của riêng họ.

Vấn đề giữa Nga và phương Tây hiện nay thực sự là vấn đề của chính những người phương Tây với nhau. Mỹ đang sử dụng chiêu “sự can thiệp của Nga (vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016) để giành lại quyền kiểm soát chính trị đã bị mất của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực truyền thông xã hội, nơi một bộ phận dân số bất đồng ý kiến và các chính khách phi đảng phái, cuối cùng cũng được lên tiếng. Tuy nhiên, cho dù giới tinh hoa Mỹ đang tìm cách giành lại quyền kiểm soát thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến cảm giác lo sợ của phương Tây vẫn tồn tại. Trong ít nhất một thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến giai đoạn cuối cùng của quyền bá chủ phương Tây vốn kéo dài suốt 500 năm qua. Giai đoạn này đã bắt đầu vào thế kỷ 16, khi châu Âu phát minh ra súng và tàu chiến tối tân hơn, đồng thời bắt đầu mở rộng đế chế. Trong những thế kỷ sau đó, người châu Âu thường tận dụng ưu thế kinh tế, văn hóa, chính trị và đặc biệt là quân sự để vơ vét tài nguyên trên thế giới.

Trong vài thập kỷ nửa cuối thế kỷ 20, Liên Xô và Trung Quốc đã thách thức sự thống trị của phương Tây. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ nổi lên là bá chủ duy nhất, và thế giới dường như trở lại nguyên trạng lịch sử. Thế nhưng, ngay sau đó, Mỹ mở rộng quá mức bằng cách lao vào các rủi ro địa chính trị, như cuộc xâm lược Iraq chẳng hạn. Và khi cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 bùng nổ, nó làm phơi bày sự yếu kém của tư bản chủ nghĩa thế kỷ 21.

Đồng thời, Mỹ lâu nay vẫn theo đuổi sức mạnh quân sự vượt trội. Năm 2002, nước này đơn phương hủy bỏ Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo năm 1972. Và gần đây hơn, nước này bắt tay vào việc xây dựng ồ ạt các lực lượng thông thường và hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân với quy mô lớn. Tuy nhiên, Nga, Trung Quốc và phần còn lại của thế giới sẽ không để cho Mỹ trở lại ngôi bá chủ. Gần đây, Putin đã không ngần ngại công khai một loạt hệ thống vũ khí chiến lược mới hàng đầu như một phần của cái gọi là chiến lược “đánh phủ đầu”. Thông điệp mà Putin muốn truyền tải là Mỹ không nên hy vọng sẽ giành lại được ưu thế quân sự tuyệt đối, cho dù nước này có quyết định dốc toàn lực vào một cuộc chạy đua vũ trang đi chăng nữa, như Liên Xô đã từng làm.

Các đánh giá ban đầu được giới chuyên gia đưa ra cho thấy dù Mỹ đơn phương quyết định phát động một cuộc Chiến tranh Lạnh thì cơ hội để nước này chống lại nga, Trung Quốc và các cường quốc đang nổi khác là rất ít. Sự cân bằng về sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế… đơn giản là đã tuột khỏi tay phương Tây quá xa, khó có thể được khôi phục.

Tuy nhiên, một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, cho dù chỉ đến từ một bên, cũng sẽ cực kỳ nguy hiểm cho nhân loại. Các cường quốc trên thế giới nên tập trung vào việc tăng cường sự ổn định chiến lược quốc tế thông qua đối thoại; mở lại các kênh giao tiếp giữa các lực lượng quân đội; và giữ phép lịch sự với nhau. Họ cũng nên cân nhắc việc tăng cường trao đổi ngoại giao, luật pháp, giáo dục, và trên tất cả, nên ngừng việc biến nhau thành quỷ dữ.

Thế giới đang bước vào thời kỳ nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu sáng suốt, các nước có thể xây dựng một hệ thống quốc tế cân bằng hơn, trong đó các cường quốc sẽ ngăn cản nhau, nhưng vẫn hợp tác với nhau để giải quyết các vấn đề toàn cầu. Còn các nước nhỏ hơn sẽ được tự do phát triển tùy thuộc vào chính trị, văn hóa và kinh tế của riêng họ. Hệ thống trước đây do phương Tây lãnh đạo đã sụp đổ. Để đảm bảo có được một tương lai hòa bình, các nước cần bắt đầu cùng nhau xây dựng một hệ thống mới.

Nguồn: atimes.com – 27/03/2018

TKNB – 28/03/2018

Thời đại Putin – Tập Cận Bình sẽ xóa nhòa giá trị tự do phương Tây?


Việc sửa đổi Hiến pháp Trung Quốc đã cho phép Chủ tịch Tập Cận Bình kéo dài nhiệm kỳ của mình – duy trì quyền lực đủ lâu để đem một thời kỳ “phục hưng” cho đất nước. Chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Nga của Vladimir Putin đã đảm bảo tính liên tục và kiên định cho mối quan hệ đối tác chiến lược Nga – Trung trong thập kỷ tới. Mối quan hệ đối tác Nga – Trung này sẽ thúc đẩy mối tương tác giữa sáng kiến “Vành đai và con đường” và Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU), sự phối hợp về mặt chính sách trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS), G-20 và sự thúc đẩy tổng thể hướng đến hội nhập Á – Âu.

Sự tăng cường sức mạnh của cái được xem là “Thời đại Putin – Tập” sẽ làm thay đổi những người theo chủ nghĩa tự do và tân tự do của phương Tây. Nhớ lại đầu những năm 1980, chủ nghĩa tư bản phương Tây đã hưởng lợi từ hình thức lao động bóc lột mới tại các đặc khu kinh tế của Trung Quốc. Kèm theo đó là sự ngạo mạn của giới tinh hoa phương Tây khi đánh cược rằng Trung Quốc – dù có lợi thế tối ưu về nguồn nhân công giá rẻ và một nước Nga suy yếu trong những năm 1990 – sẽ không bao giờ tích lũy đủ công nghệ và tri thức để có thể thách thức phương Tây về mặt kinh tế và địa chính trị.

Hệ thống chính trị độc đảng của Trung Quốc vì sự gắn kết quốc gia lại không đáp ứng tiêu chuẩn của một nền dân chủ tự do. Từ cách đây 12 năm, Minxin Pei, tác giả cuốn China’s Trapped Transition (Tạm dịch là “Sự chuyển giao bị mắc kẹt của Trung Quốc”) đã nhận định rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không bao giờ theo con đường tự do dân chủ của phương Tây. Vị tác giả này cũng đã đúng khi nói rằng Trung Quốc không “hứng thú gia nhập câu lạc bộ phương Tây. Họ (Bắc Kinh) muốn có được những lợi ích kinh tế mà trật tự tự do của phương Tây đem lại, song phải bác bỏ các giá trị chính trị của phương Tây, đồng thời lo sợ các mối quan hệ đồng minh an ninh của họ. Giờ đây, họ mong muốn xây dựng một câu lạc bộ của riêng mình”.

Đối với Putin và Tập Cận Bình, quyền phán xét tối cao thuộc về nhà nước, chứ không phải một nhóm đầu sỏ chính trị, điều vốn là một quy tắc đối với nền chính trị phương Tây tự do và tân tự do.

Đối với phương Tây, những người bảo vệ giá trị phương Tây than khóc về sự “phai mờ trật tự thế giới tự do”. Chí ít, một vài người trong nhóm bảo vệ này thừa nhận không còn một thế giới tự do nữa. Những người bảo vệ phương Tây ở cấp độ thấp hơn thì có thể thực tế hơn khi ghi nhận rằng giới chính trị gia phương Tây đã hoàn toàn bị tinh thần giận dữ của công chúng “vượt mặt” theo nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, dù họ vẫn tin rằng có thể “tái thiết những nền tảng đạo đức của nền dân chủ”. Những người bảo vệ giá trị phương Tây có thể không hiểu được sự lớn mạnh của chủ nghĩa dân túy. Còn những người chịu tác động của chủ nghĩa dân túy có thể hiểu tường tận những bí ẩn của “quy tắc pháp trị” và “chủ quyền dân tộc” đang nhanh chóng tan rã như thế nào.

Trong khi đó, Trung Quốc, Nga, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ – vốn đều tham gia vào quá trình hội nhập Á – Âu – có thể đều được coi là các hệ thống độc tài ở các cấp độ khác nhau. Ngoại trừ Trung Quốc, các nước còn lại đều chưa đạt được những thành tựu về kinh tế tương xứng với tiềm năng thực sự của mình. Tuy nhiên, có một điều mà những nước này đề cao hơn cả là chủ quyền dân tộc trong một hệ thống đa cực. Đó là luận điểm đối ứng của họ trước một trật tự thế giới tự do. Đó cũng là câu trả lời của họ đối với chính sách “không có sự lựa chọn thay thế” nào cho nền tảng chính trị của họ.

Những ai thân thuộc với Brussels đều hiểu rõ việc các quan chức làm việc trong cơ quan điều hành của châu Âu không bị đánh thuế gây xói mòn giá trị của hệ thống quy định siêu tập trung và quan liêu trong lòng châu Âu như thế nào. Trong khi đó, ý niệm của EU về việc thúc đẩy “hội nhập kinh tế” với hàng loạt biện pháp khắc khổ kinh tế mạnh tay có thể là hình thức phản dân chủ hơn. Ngoài những vụ “lùm xùm” thế này, các vụ bê bối ở cấp độ nhà nước cũng làm xói mòn niềm tin vào tính ưu việt của mô hình dân chủ tự do của phương Tây. Vụ việc gần đây nhất là tin tức về khả năng có lãnh đạo độc tài Lybia Muanmmar Gaddafi đã tài trợ cho chiến dịch tranh cử tổng thống của ông Sarkozy hồi năm 2007. Đây là sự vụ điển hình cho nền chính trị năng lượng, chính trị nước và những hợp đồng vũ khí béo bở mà thông qua đó những nền dân chủ tự do ở phương Tây đã vứt bỏ mọi nền tảng và lý lẽ đạo đức cao cả. Giờ đây, khi so sánh điều này với Tập Cận Bình như một nhà lãnh đạo “hạt nhân” của Trung Quốc, Tập Cận Bình trở thành người có uy quyền cao hơn trong học thuyết chế độ Cộng hòa của nhà triết học Plato. Học thuyết chính trị Hy Lạp – La Mã – Khai sáng không còn là nền tảng duy nhất. Còn một phương Tây quá tự tin lại chưa có dịp để bắt đầu học theo học thuyết Khổng Tử.

Nguồn: Asia Times – 27/03/2018

TKNB – 28/03/2018