Sự trở lại của các thành bang – Phần cuối


Thành phố tự trị (thành bang)/city-state dường như đang gia tăng trở lại thành một đối thủ đáng gờm. Đó là những thành phố với quyền tự trị như một quốc gia, những nơi kiểu như Singapore hay Monaco. Thành bang gần đây đã được đề cập nhiều hơn bởi các tạp chí quốc tế như Forbes (“Kỉ nguyên mới cho thành phố tự trị” 2010), Quartz (“Các quốc gia sẽ không còn dẫn dắt quá trình toàn cầu hóa mà là các thành phố”, 2013), The Boston Globe (“Sự trở lại của các thành phố tự trị”,2015) và How we get to next/Làm thế nào chúng ta đi đến bước kế tiếp do Quỹ Gates tài trợ (“Sự tái sinh của các thành bang”, 2016).

Những xu hướng gây tổn thương cho quốc gia tự trị thì lại đang giúp mở rộng mô hình thành phố tự trị. Trong một thế giới kết nối cao độ và hầu như phi biên giới, các thành phố là trung tâm của thương mại, tăng trưởng, sáng tạo, công nghệ và tài chính. Theo như Bruce Katz, Học giả trăm năm/Centennial Scholar của viện nghiên cứu Brookings ở Washington, DC và đồng tác giả (với Jemery Nowark) trong cuốn sách sắp xuất bản “Chủ nghĩa địa phương hóa mới/Localism: Làm thế nào để thành phố có thể vươn lên trong kỉ nguyên của chủ nghĩa dân túy/populism”. Một kiểu tập hợp các thành phố lớn theo mô hình hub/tập trung thì đặc biệt có giá trị cho nền kinh tế hiện đại:” Sự sáng tạo diễn ra liên tục bởi sự hợp tác và nó cần có sự gần gũi về không gian thời gian/proximity. Bạn cần một hệ thống kinh tế cô đặc và sự kết nối cao độ thì đang củng cố sự tập trung này.” Các thành phố cũng có sức nặng về nhân khẩu học ở phía của nó: lần đầu tiên trong lịch sử, năm 2014, đa số nhân loại đã tập trung đến sống ở các thành phố.

Điều này đã khiến cho các thành phố đóng vai trò chính trị quan trọng (political muscle) hơn bao giờ hết, có nhiều yếu tố đã củng cố điều đó. Ở khía cạnh biến đổi khí hậu, lấy ví dụ – thứ mà dường như các nhà nước tự trị thất bại thảm hại – thì các thành phố sẽ dẫn dắt việc này. Kể từ năm 2006, sáng kiến C40 đã đưa 60 thành phố đến gần nhau hơn để tăng cường hợp tác và phát triển công nghệ giảm thiểu phát thải khí ô nhiễm, và những thành tựu đạt được thường vượt xa các thỏa thuận quốc tế. Ở Hoa Kỳ, nơi mà chính quyền liên bang dường như bó tay trước việc biến đổi khí hậu, việc lãnh đạo và dẫn dắt đã được chuyển xuống cho các thành phố.

Sự chuyển dịch quyền lực thì hiển hiện theo cách thị trưởng của các thành phố chính yếu đã ngày càng đặt nặng quyền lợi chính trị của họ: hãy nghĩ đến Bill de Blasio của New York, Sadiq Khan ở London, Virginia Raggi ở Rome, Ada Colau ở Barcelona. Những thành phố đa dạng như Indianapolis và Copenhagen đang thử nghiệm cách thức sử dụng các tài sản vật chất, kinh tế và xã hội có sẵn để có thể tự chi trả cho các khoản đầu tư ở mức độ thành phố của mình.

Theo như Katz, thế giới đang chuyển động vượt xa khỏi mô hình quốc gia tự trị: “Chúng ta đang ở trong một thời kì nơi các thành phố đã có một kiểu quyền lực mới. Nó có một cơ hội lớn để thúc đẩy các lợi thế về kinh tế và tài chính để làm tăng thêm vị thế và tác động tạo ra thay đổi.” Tôi đã từng suy nghĩ về quyền lực ở khía cạnh nhị nguyên: bạn sẽ đạt được nó hoặc là không có gì cả. Nhưng theo Katz, chúng ta cần phải tái tư duy bởi có một cái gì đó ở giữa chúng, nơi các thành phố thì không hoàn toàn độc lập khỏi mô hình quốc gia tự trị, nhưng cũng không cần xin ân huệ hay hỗ trợ từ chính quyền quốc gia đó.”Các thành phố không phụ thuộc vào quốc gia, đó là một mạng lưới quyền lực của các định chế và các nhân tố thúc đẩy tạo nên nền kinh tế. Quyền lực trong thế kỉ 21 phụ thuộc vào những người giải quyết vấn đề. Chính quyền quốc gia suốt ngày tranh cãi và dần trở nên lung lay. Các thành phố hành động, các thành phố làm việc. Sức mạnh sẽ gia tăng dần từ các thành phố lên, chứ không phải được chuyển xuống từ quốc gia.”

Thực ra trong suốt một thời gian dài, quyền lực hầu như luôn được tìm thấy ở mức độ thành phố. Sau hàng ngàn năm, việc hình thành các đô thị và chính quyền tự trị cùng các bức tường thành phố đã cung cấp sự bảo vệ và các dịch vụ cho cư dân nhằm đổi lấy một phần thuế (tithes and taxes) từ họ đồng thời các quy tắc/luật được tạo ra cho cư dân nhằm quy định cách họ sống và trao đổi thương mại.

Các thành phố thuộc liên minh Hanse là một ví dụ – với quân đội và luật lệ riêng – họ kết hợp với nhau để gia tăng khả năng kinh tế nhằm cải thiện sức mạnh đàm phán với các quốc gia khác trong đầu thế kỉ 19, và trở thành một định chế/powerhouse kinh tế quyền lực ở con đường thương mại biển Baltic. Những thành phố này – bao gồm Bremen và Hamburg – nhận ra rằng họ có thể chia sẻ nhiều điểm chung với nhau, và những lợi ích chung sẽ được phục vụ tốt nhất nếu họ làm việc chung với nhau. Ngày nay đây là các trung tâm đô thị tư bản hóa toàn cầu, các thành phố lớn thì có nhiều điểm tương tự nhau hơn là các khu vực và tỉnh thành khác nằm trong các quốc gia tự trị. Điển hình tất cả đều là nơi tập trung/hub của tài chính, sáng tạo công nghệ, văn hóa và mang tính đa dạng cao độ cùng làn sóng nhập cư vào từ bên ngoài. Khi Liên hiệp Anh bầu để rời khỏi Liên minh châu Âu EU với tỷ lệ 52/48, những người ở thành phố London lại bầu để ở lại với tỷ lệ 60/40. (Có thể căn cứ theo tỷ lệ này, đã có một làn sóng ngắn hạn ở London tuyên bố độc lập khỏi quan điểm của phần còn lại của nước Anh). London, trong mắt nhiều du khách không có gì giống như phần còn lại của nước Anh. Cũng có thể đưa ra kết luận tương tự cho sự khác biệt to lớn giữa phần bờ đông và bờ tây của Hoa Kỳ.

Chúng ta sẽ thử đi một vòng các thành phố, nơi cho chúng ta cảm giác thuộc về liên minh Hanse hơn là Liên đoàn các Quốc gia (League of Nation): một hệ thống các thành phố thương mại, quyền lực, giàu kết nối. Bản thân liên minh Hanse cũng là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt. Trước đó nữa, chúng ta có thể tham khảo thành phố Venice, gần như đây là thành phố nổi tiếng nhất trong nhiều thành phố độc lập tự trị điểm chấm xuyên suốt chiều dài nước Ý ngày nay từ thế kỉ thứ 10 tới thế kỉ 16 bao gồm Florence, Bologna và Turin. Trong suốt chiều dài lịch sử của các thành bang, ta còn có thể hồi tưởng về nhiều thành phố khác như Jerusalem, trước đó nữa là Athen, trước nữa là Babylon thậm chí quay về đến Ur. Chỉ một vài thành bang chính thức còn tồn tại đến ngày hôm nay (Monaco, Singapore và Vatican là những thành phố tự trị hoàn toàn, những thành phố khác như Hongkong cũng có vẻ như vậy nhưng thực ra lại không có hoàn toàn quyền tự trị). Ngày nay thật là đặc biệt và dị thường khi chúng ta sống trong một thành bang như vậy.

Rõ ràng là các quốc gia tự trị sẽ không sụp đổ một cách buồn tẻ. Để đưa ra được một hình thức mới của chủ quyền lãnh thổ từ hiện trạng hiện tại là việc cực kỳ khó và sẽ khiến cho UN không hài lòng. Cũng có những lý do mang tính thế tục nhiều hơn. Vào năm 2015, có 2,1 triệu cư dân sống ở Venice của Ý (có 89% dân số đi bầu cử) bầu cho việc độc lập tự trị trong một cuộc trưng cầu dân ý không ràng buộc. Các cư dân rất giận dữ vì thành phố phải chi trả gần 20 tỷ $ tiền thuế nhiều hơn những giá trị tương đương mà họ thu nhận về được và dĩ nhiên nước Ý chắc chắn không để 20 tỷ thu thuế từ Venice có thể mất đi dễ dàng.

Đây là lý do tại sao có rất nhiều nỗ lực nhằm tạo ra một thành phố hoàn toàn mới. Paul Romer, kinh tế trưởng của ngân hàng thế giới World Bank đã tham gia từ rất lâu vào các đề xuất nhằm tạo ra những thành phố với nhiều đặc quyền hơn, đặc biệt là các khu vực hành chính ở cấp thành phố mà hoạt động ở quy mô nào đó, hoàn toàn độc lập. Ông tranh luận, các thành phố phải ở quy mô hợp lý, đủ lớn để có khả năng thử nghiệm một điều gì đó mới nhưng không quá lớn để không bỏ tất cả trứng vào một rổ. “Một luật lệ nhằm tạo nhiều luật mới.” Romer chia sẻ trong một bài nói chuyện tại TED vào năm 2009. Một thành phố đặc quyền, xây dựng trong một khu vực chưa có dân cư sẽ cho phép những thử nghiệm những luật lệ và hệ thống mới nhằm thu hút các khoản đầu tư và cư dân. Ý tưởng cụ thể của ông là các quốc gia cần phải làm việc cùng với nhau như cách Trung Quốc và Liên hiệp Anh làm việc với nhau về vấn đề Hongkong. (Các đặc khu kinh tế, đã tồn tại một vài năm qua, cũng tương tự như vậy: các vùng địa lý quan trọng mang tính đảm bảo về mặt cơ cấu vật lý, hoạt động với những luật chơi kinh tế khác với các quốc gia mẹ, thường là nhằm khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài).

Nhưng cho dù nó không hề dễ chút nào, vì nó đòi hỏi các quốc gia phải thuê thêm đất bên ngoài, mà điều này lại khiến cho việc tự trị khó đạt được. Có một vài mô hình thực ra không cần đến điều đó.

Ở phía ngoài khu vực biên giới đầm lầy của Croatia và Serbia là một vùng trải dài 7 cây số vuông tên là Gornja Siga. Mặc dù đang nằm dưới quyền kiểm soát của Croatia, vùng đất nhỏ này về mặt kĩ thuật lại vô thừa nhận vì cả Croatia và Serbia đều tin rằng nó thuộc về nước kia. Theo như một trạng thái pháp lý dị thường – terra nullius – đây là nơi mà Vit Jedlicka, một người theo chủ nghĩa tự do của Cộng hòa Czech đã cố gắng tạo ra một thiên đường chủ nghĩa tự do ở tầm vóc một thành phố/city-sized của tự do, thương mại và thịnh vượng mang tên “Liberland”.

Liberland, một nơi không có người ở nhưng đã có hơn 100000 công dân đăng kí trực tuyến sẵn sàng đến nếu chính phủ Croatia không ngăn chặn đường vào, có những yếu tố/trappings hình thành nên một thành phố tự trị: Tiền tệ, hiến pháp, tổng thống và thậm chí một đội bóng. Tất cả được thiết kế nhằm tối đa hóa quyền tự do cá nhân. Lúc đầu, mọi người có thể tự do tham gia và rời khỏi nếu họ muốn. Đó có thể là một nhà nước tự trị đầu tiên trên thế giới nơi không có cái gì hoàn toàn bắt buộc, nơi bạn có thể làm bất cứ cái gì mà bạn muốn miễn là nó không gây hại tới cơ thể người khác. “Đây là một thiên đường thuế thực sự/tax heaven, chứ không phải là nơi trú ẩn về thuế/tax haven.” Jedlicka đã chia sẻ với tôi gần đây khi nói về quyển sách mới của ông mang tên “Những người cấp tiến/Radicals theo đuổi một xã hội không tưởng/Utopia” (2017). Trường học, bệnh viện, hưu trí, đường xá, công trình xử lý chất thải, thu thập rác đô thị và nhiều dịch vụ khác nữa sẽ được cung cấp bởi thị trường, nếu mọi cư dân đều cho rằng đây là thứ mà họ muốn và sẵn sàng chi trả tiền cho nó/stump up.

Như đa số những người theo chủ nghĩa tự do, Jedlicka yêu thích công nghệ số hiện đại, và xem nó thực sự hữu ích trong việc đấu tranh cho tự do, làm suy yếu các quốc gia tự trị và giúp mở ra cơ hội cho các mô hình mới như cái ông đang triển khai. Nó có vẻ như là một điều viển vông/pipe-dream – không có một quốc gia nào công nhận mảnh nhỏ của vùng đất sình lầy ấy – nhưng đây không phải là điều quan trọng, một vài nhà đầu tư có ảnh hưởng ở thung lũng Sillicon đã chia sẻ cùng tầm nhìn tự do với Jedlicka đồng thời gửi cho ông các khoản tiền hỗ trợ cho dự án. “Một trường hợp mang tính tiểu thuyết (hoang đường) cao độ”. Tờ Luật pháp Quốc Tế của Tuần báo Chicago đã viết như vậy trong một bài báo về Liberland trong năm 2016, và cho rằng Liberland đã gây chú ý ở vị thế một nước mới/statehood.

Vấn đề của Liberland là cảnh sát Croatia có thể đến bất cứ lúc nào mà họ muốn, đây chính xác là những gì mà họ làm khi tôi tìm cách tiếp cận vùng đất này để viết bài. Đây là lý do tại sao mà, nhà hoạt động theo chủ nghĩa tự do của Hoa Kỳ Patri Friedman chia sẻ khi chúng tôi gặp nhau ở Thung lũng Silicon, những thành phố mới sẽ không còn được xây ở trên đất liền nữa. Chúng sẽ được đưa đến các hải phận quốc tế vượt xa khỏi biên giới của quốc gia tự trị và quân đội của họ.

Vào năm 2008, Patri sáng lập viện Seasteading Institute, với sự hỗ trợ nửa triệu $ từ Peter Thiel, một tỷ phú công nghệ theo trường phái tự do người đã đồng sáng lập nên Paypal, và một kế hoạch nhằm xây dựng thành phố “đảo” nổi giữa đại dương mênh mông/các seastead như là một thử nghiệm sống còn cho nhân loại. “Seasteading sẽ tạo ra một thị trường nơi ở mới cho cư dân ở các quốc gia khác. Bạn chỉ có thể đi xa hơn bằng cách ráp nối và phá hủy các hệ thống cũ.”, Patri nói. Và trên tinh thần của người ông nổi tiếng của mình Milton Friedman, Patri chia sẻ: “Khi quốc gia nơi bạn sống không có khu vực dành cho những sáng kiến khởi nghiệp, sự tồn tại của họ thực sự rất bấp bênh… các quốc gia kiển như vậy chỉ cung cấp cho bạn những dịch vụ tệ hại và ít có sự thay đổi. Bạn cần có những khu vực dành cho sự sáng tạo để trở thành một mối đe dọa cho họ.” Trong thế giới của “Seasteads”, nếu bạn không ưa thích chính quyền hiện tại, thì thật dễ dàng để bạn di chuyển đến một nơi khác mà bạn thích. Nó dễ dàng như việc chuyển kênh trên Netflix, đặt xe Uber và gặp một ai đó mới trên Tinder.

Patri nghĩ rằng mỗi seastead sẽ rất khác nhau và nó sẽ tạo ra một thị trường các hệ thống/môi trường sinh sống khác biệt nhau khiến mọi người có nhiều lựa chọn nơi phù hợp để sinh sống và qua đó nâng cao hiệu suất của mình. Đặc biệt là khi các quốc gia tự trị bắt đầu suy tàn (trong khi đó chúng ta không cần phải lo lắng về mực nước biển gia tăng ở các seastead).

Một lần nữa, công nghệ chính là chìa khóa: Patri đã đem tư duy của thung lũng Silicon và ứng dụng nó vào việc khắc phục bất cập của hình thái quốc gia tự trị. Có rất nhiều thứ bạn đang làm bây giờ không hề tồn tại khi mà hệ thống nhà nước hiện tại ra đời như hệ thống bầu cử trực tiếp trực tuyến, xây dựng thành phố thông minh, sử dụng tiền tệ được mã hóa. Và tất nhiên chúng ta vẫn đang phải sống trong những mô hình được sử dụng từ thế kỉ 19.

Hãy lên Google và gõ từ khóa “Seastead” và bạn sẽ tìm thấy những bản thiết kế phi thường của các đô thị nổi trong một thế giới giả tưởng được vẽ ra bằng máy tính đồ họa. Đó có lẽ là một giấc mơ hoang đường/pipe dream. Thậm chí khi mục tiêu khiêm tốn của viện Seasteading là sẽ có 150 seasteaders vào năm 2015 đã không hoàn thành.

Không bỏ cuộc. Trong năm nay, Patri cùng với giám đốc truyền thông của viện Joe Quirk đã phát hành một quyển sách khá toàn diện về seasteading nhằm phổ biến kiến thức và ký một thỏa thuận ghi nhớ tăng cường hiểu biết với khu vực Polynésie thuộc Pháp nhằm tạo ra một vùng bán tự trị ở vị trí nước nông gần bờ biển của họ để nhằm xây dựng một thành phố hình mẫu/prototype đầu tiên trên biển. Patri chia sẻ với tôi rằng họ sẽ tiến hành việc xây dựng sớm nhất có thể và chỉ trong vòng một vài năm, họ mong đợi sẽ có vài trăm người sẽ chuyển đến sinh sống khu đô thị nổi phía ngoài bờ biển của Tahili. Tôi đã hỏi Patri rằng đây có phải là một viễn cảnh thực tế. Anh đáp:”Dĩ nhiên”. Hãy nhìn vào giá bất động sản ở San Francisco, nếu có thể sống ở một đất nước khác có chuẩn mực tương tự với mức chi phí ít hơn rất nhiều, nhiều người sẽ chọn lựa điều đó. Patri đã có một danh sách hàng ngàn người xếp hàng chờ và nhiều người hỗ trợ cho dự án – đa số là các doanh nhân công nghệ – những người nhìn nhận điều này như một cơ hội đầu tư. “Đây là những người nhìn vào hệ thống vụn vỡ hiện tại và tự hỏi liệu chúng ta có thể thiết kế lên một thứ gì đó tốt hơn hay không.”

Quốc gia tự trị thì không thể sụp đổ chỉ sau một đêm. Không có kẻ man rợ nào đang rình rập ở cổng (There are no barbarians at the gate). Thậm chỉ thành Rome huy hoàng cũng không sụp đổ trong một ngày. Mô hình quốc gia tự trị trước đây đã bùng phát trong suốt thời kì công nghiệp hóa và qua hệ thống hành chính quan liêu giúp tập trung hóa các mệnh lệnh, khả năng kiểm soát cùng với sự trung thành quốc gia thì nay công nghệ hiện đại lại đi theo xu hướng đối nghịch: nó được phân phối, phi tập trung hóa và không thể kiểm soát. Nếu sự sắp đặt các yếu tố chính trị của chúng ta là tấm gương phản chiếu các giai đoạn của quá trình sản xuất và theo giả định về thời gian, thì tương lai sẽ không ủ rủ như những phế tích/relic còn lại của thế kỉ 19. Tương lai thì cực kỳ tươi sáng và nó hướng đến những thành phố hiện đại, giàu tính kết nối và linh hoạt cho dù nó ở trên đất liền, ở biên giới hay ở ngoài khơi xa xôi.

Người dịch: Nguyễn Hà Quân

Nguồn: https://dichthuattudo.wordpress.com/2017/09/11/su-tro-lai-cua-cac-thanh-bang/

Advertisements

Sự trở lại của các thành bang – Phần đầu


James Bartlett

Các quốc gia có chủ quyền/nation-state chỉ mới xuất hiện sau này trong lịch sử, và có rất nhiều bằng chứng cho rằng chúng sẽ không thể tồn tại đến cuối thế kỉ này

Nếu bạn sinh ở phía Nam châu Âu cách đây 1500 năm, bạn sẽ bị thuyết phục rằng đế chế La Mã chắc chắn tồn tại mãi mãi. Thực ra đế chế này, sau hết, chỉ tồn tại gần 1000 năm. Chỉ sau một thời kì suy giảm về kinh tế và quân sự, đế chế dần tan rã và đến năm 476 sau công nguyên (CE), thì hoàn toàn biến mất. Đối với những ai từng sống dưới chế độ huy hoàng này, những sự kiện như thế này quả thật là không thể nghĩ tới. Điều này cũng giống với những ai được trải qua sự sụp đổ của các luật lệ Pharaoh hay Đại thế giới Cơ đốc giáo/Christendom hay chế độ quân chủ Pháp/Ancien Regime.

Chúng ta đã tự lừa dối bản thân rằng các mô hình quốc gia nơi chúng ta đang sinh sống là điều tất nhiên và sẽ trường tồn mãi mãi. Vâng, có những mô hình độc tài và có những mô hình dân chủ nhưng tựu chung lại cả thế giới này hầu như được tạo ra bởi những quốc gia có chủ quyền/nation-states. Điều này có nghĩa cả thế giới là một sự pha trộn của các “quốc gia” (tập hợp các nhóm người có cùng một thuộc tính/attributes và đặc điểm/characteristics) và “trạng thái chủ quyền/state” (một hệ thống chính trị có tổ chức với chủ quyền ở các vùng không gian xác định, với biên giới được đồng ý bởi các quốc gia có chủ quyền khác). Hãy thử hình dung một thế giới mà không có các quốc gia – một điều mà bạn hầu như không thể. Bởi quốc gia luôn gắn chặt với chúng ta qua cái cảm giác ta là ai, đến từ đâu cùng sự trung tín (tình cảm quê hương), quyền và trách nhiệm đi kèm.

Nghe có vẻ kì quặc nhưng sự hình thành các quốc gia có chủ quyền/nation-states thì thực sự không diễn ra từ quá lâu. Mãi tận đến giữa thế kỉ thứ 19, đại đa số thế giới là một tập hợp ngổn ngang của các đế chế, các vùng đất phi chủ quyền/unclaimed land, thành bang và các lãnh địa/principality (nơi vua hoặc chúa cai quản), các nhà du hành khi đó có thể đi xuyên qua các vùng đất này mà không cần phải thông qua quá trình kiểm tra nghiêm ngặt hay hộ chiếu như bây giờ. Quá trình công nghiệp hóa đã làm cho xã hội trở nên phức tạp hơn, kéo theo một hệ thống hành chính tập trung hóa quan liêu được hình thành để có thể quản lý sự rối rắm trên. Các chính quyền/governments được tạo ra trên nền đó có thể hợp nhất các vùng đất lại, lưu trữ các tài liệu/hồ sơ, và điều phối các hoạt động (đặc biệt là chiến tranh) đồng thời gia tăng quyền lực để đối phó với các quốc gia láng giềng của mình. Các cuộc cách mạng – đặc biệt là ở Hoa Kỳ vào năm 1776 và Pháp năm 1789 đã giúp phổ biến ý tưởng “lợi ích quốc gia/national interest”, cùng lúc đó các phương tiện giao tiếp được cải tiến đã giúp cho việc thống nhất lại những cá nhân có cùng ngôn ngữ, văn hóa và định danh. Sự mở rộng của chủ nghĩa đế quốc đã giúp lan tỏa mô hình quốc gia có chủ quyền ra khắp thế giới, và vào giữa thế kỉ thứ 20 mô hình này đã trở thành nhân tố duy nhất trong cuộc chơi toàn cầu. Hiện tại có tất cả 193 quốc gia có chủ quyền đang thống trị thế giới này.

Nhưng các quốc gia có chủ quyền với các đường biên giới, chính quyền tập trung, những con người giông giống nhau và với quyền tự trị dường như đang ngày càng lỗi nhịp với thế giới. Như Karl Marx đã quan sát thấy, nếu như bạn thay đổi trạng thái của quá trình sản xuất chi phối nằm ẩn dưới xã hội, cấu trúc chính trị và xã hội cũng sẽ thay đổi theo.

Các quan điểm chống lại mô hình các quốc gia có chủ quyền gần như không mới. Cách đây 20 năm, nhiều người đã dự đoán về cái chết sắp đến của nó. Toàn cầu hóa, khái niệm được đưa ra bởi các nhà tương lai học/futurists, đã làm giảm dần sức mạnh của mô hình quốc gia có chủ quyền và buộc mô hình này phải thay đổi. Sự phổ biến của mạng thông tin internet toàn cầu đã báo trước một tương lai không biên giới, tự do và ít tính định danh hơn. Đồng thời các vấn đề như sự thay đổi khí hậu, quản trị mạng và tội phạm quốc tế dường như vượt quá khả năng của một quốc gia. Khi đó các quốc gia riêng lẻ trở nên quá nhỏ bé để có thể giải quyết các thách thức mang tầm quốc tế cũng như quá ì ạch để xử lý các vấn đề địa phương. Lúc đó, những công dân đi bầu sẽ nhanh chóng nhận ra điều bất cập này và ngừng quan tâm đến việc bầu cử, khiến cho vấn đề của các quốc gia tự trị ngày càng tệ hại hơn. Vào năm 1995, hai quyển sách có cùng tựa đề “Cái kết của nhà nước có chủ quyền” – một bởi nhà ngoại giao Pháp Jean-Marie Guehenno, và một bởi nhà lý thuyết tổ chức người Nhật Kenichi Ohmae- tiên đoán rằng quyền lực cuối cùng sẽ gia tăng tập trung đến các định chế đa phương như Liên minh châu Âu hay Liên Hợp Quốc, hoặc suy giảm xuống tới các khu vực và thành phố riêng lẻ.

Các báo cáo trước đây về cái chết của nhà nước tự trị dường như đã bị phóng đại quá mức, và bản thân lý thuyết đó thì cũng bị lãnh quên vào thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ. Nhưng bây giờ nó đã trở lại ở một thời điểm phù hợp hơn.

Nên nhớ, chỉ có khoảng 10 triệu người trực tuyến/truy cập internet vào năm 1995, thời điểm lần cuối lý thuyết đó được nhắc đến trong thiên niên kỷ cũ. Đến 2015, con số đã gia tăng đến 3 tỷ người và vào năm 2020, nó sẽ lên đến 4 tỷ người (với trên 20 tỷ thiết bị kết nối Internet). Công nghệ số thì hoàn toàn không giống như một quốc gia có chủ quyền. Trong Bảng tuyên ngôn độc lập về không gian số của John Perry Barlow năm 1996 đã tổng kết lại: “mạng thông tin internet được xây dựng dựa trên các nguyên tắc tự do cá nhân/libertarian principles. Không có kiểm duyệt, phi tập trung và không biên giới. Nó phổ biến ở khắp mọi nơi.”

Đây là một cú đánh đau đớn cho mô hình nhà nước chủ quyền theo nhiều nghĩa khác nhau. Hiện nay, dữ liệu của Trung tâm Dịch vụ Sức khỏe quốc gia của Anh có thể là mục tiêu của các phần mềm phá hoại đến từ Bắc Hàn và chỉ có một vài cách thức để ngăn chặn việc này hoặc đưa những kẻ phá hoại ra công lý. Các ứng dụng công nghệ như Uber và Deliveroo cũng giúp tạo ra những khoản tăng trưởng bất ngờ trong nền kinh tế gig/tạm thời (kinh tế không ràng buộc quyền lợi), được xem là nằm trong khoản chi phí 3,5 tỷ bảng một năm vào 2020-1. Cũng có hàng triệu người sẽ chuyển sang sử dụng tiền bitcoin và công nghệ blockchain/truyền dữ liệu mã hóa, được thiết kế nhằm đấu với quá trình kiểm soát dòng tiền từ các ngân hàng trung ương và chính phủ, và con số này sẽ ngày càng gia tăng. Nó cũng truyền cho chúng ta những giá trị mới, những giá trị không nằm tự nhiên trong bản thân một quốc gia có chủ quyền, kiểu như sự gia tăng của những người tự nhận mình là “công dân toàn cầu”.

Đó không phải là điều tồi tệ nhất. Vào ngày 17 tháng 9 năm 2016, ứng cử viên Tổng thống Mỹ đã đưa dòng thông tin sau trên Twitter của mình:” Một quốc gia mà không có biên giới thì không phải là một quốc gia đúng nghĩa. Chúng ta sẽ làm cho nước Mỹ an toàn trở lại.” Sự cuồng nộ của đám đông đã làm mờ đi một điều rằng Trump đã hoàn toàn đúng. (dù thế nào đi chăng nữa, cũng đúng vế đầu). Đường biên giới sẽ xác định ai ở bên trong và ai ở bên ngoài, ai là công dân của mình và ai thì không, ai sẽ được đưa vào cái lẩu chung (common pot) này và ai sẽ bị tống ra ngoài. Nếu một quốc gia không thể bảo vệ đường biên giới của nó thì khả năng tồn tại của nó ít nhiều đã bị suy giảm theo một nghĩa nào đó, dưới hai dạng thức, ở những lo ngại diễn tiếp có cơ sở và ở cả những suy tưởng ít có cơ sở (mang tính huyền thoại) /agreed upon myth đồng ý với việc ấy.

Dòng trạng thái của Trump được tạo ra để chống lại các cam kết của Thủ tướng Đức Angela Merkel một năm trước đó, sẽ tạo một nơi trú ẩn tại Đức cho những người tỵ nạn từ Syria. Động thái tiếp theo của mọi người ở châu Âu – các thành viên liên minh châu Âu đã nhận được 1,2 triệu đơn xin tỵ nạn vào năm 2015 – đã làm dấy lên cuộc khủng hoảng chính trị và nhân đạo. Mà các ảnh hưởng lan tỏa của nó vẫn đang diễn tiếp. Điều này đã đóng góp vào quyết định rời khỏi liên minh châu Âu của Liên hiệp Anh. Nhưng con số 1,2 triệu người thì quá nhỏ bé so với những gì sắp xảy đến. Con số chính xác trong nhiều thập kỉ tới thì rất khó tính toán, và được xem là rất lớn, có ước tính cho rằng gần 200 triệu người sẽ trở thành người tỵ nạn của biến đổi khí hậu trong tương lai vào giữa thế kỷ này. Nếu cả EU phải vật lộn đấu tranh để kiểm soát biên giới với 1,2 triệu người, chuyện gì sẽ xảy ra với 200 triệu người ? Bài học của lịch sử – dựa trên những nhìn nhận thực tế xuyên suốt chiều dài của nó – là khi con người đã muốn xê dịch và làm một điều gì đó, thì quả là khó để dừng họ lại.

Đây là cốt tử/crux của vấn đề: các nhà nước có chủ quyền đều dựa trên khả năng kiểm soát của họ. Nếu họ không thể kiểm soát thông tin, tội phạm, doanh nghiệp, biên giới và nguồn cung tiền, họ sẽ làm suy giảm nhu cầu của các công dân dành cho sự tồn tại của chính mình. Cuối cùng, các quốc gia chủ quyền cũng sẽ trở thành một huyền thoại được nhiều người tán đồng: chúng ta từ bỏ một vài sự tự do nào đó để đạt được những thứ khác từ chính quyền. Nhưng nếu giao dịch đó không còn hoạt động nữa, chúng ta sẽ ngừng tin tưởng vào huyền thoại này, và họ sẽ không còn có chút quyền lực nào trong mắt chúng ta nữa.

Vậy điều gì sẽ thay thế nó ?

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hà Quân

Nguồn: https://dichthuattudo.wordpress.com/2017/09/11/su-tro-lai-cua-cac-thanh-bang/

Đi tới những mâu thuẫn – Phần cuối


Năm 1977, cô Lorenz đã ra trước một ủy ban điều tra mới của nghị viện về “những tội ác của CIA” và đã khẳng định:

“Ít ngày trước vụ ám sát Kennedy, cùng với Sturgis, Fiorini và bốn thành viên của một nhóm do CIA lập ra, Action 40, chúng tôi đến Dallas và gặp Lee Harvey Oswald ở đó. Và cùng với anh ta, chúng tôi đã nghiên cứu một loạt kế hoạch nhằm trừ khử Kennedy… Tôi có những bằng chứng rằng Sturgis là một trong những kẻ bắn vào Kennedy…”.

Khi biết được những buộc tội ấy, Sturgis đã gọi nữ cộng tác viên cũ mình tới (dây nói đã được FBI nghe được một cách may mắn) và truyền đạt cho cô ta bằng mệnh lệnh phải rút lại lời khai, nếu không nhóm buộc phải can thiệp.

Sturgis chưa bằng lòng với những sự đe dọa bằng dây nói. Vài giờ sau, anh ta đến chỗ ở của Marita (cô ta ở tại Mahattan với con gái 15 tuổi của mình), ở đó anh ta bị một cơ quan bảo vệ của cảnh sát bắt giữ. Được tha có bảo lãnh, Sturgis khẳng định rằng “Marita bị KGB điều khiển và cô ta làm như thế để làm mất uy tín CIA”.

Georges de Mohrenschidt là một nhân vật khác dính líu vào vụ ám sát Kennedy, tuy người ta không biết rõ ông ta đóng vai trò gì trong tấn thảm kịch này. Ngay từ năm 1938, ông ta đã làm việc cho các cơ quan gián điệp quân sự Pháp. Sau đó, ông ta là cộng tác viên của COI và OSS cùng với tướng Donnavan (một trong những người sáng lập Câu lạc bộ Bilderberg) và, đương nhiên, Dulles đã đưa ông ta vào CIA lúc cơ quan này thành lập. Từ năm 1958, ông ta là nhân viên của cái gọi là Cơ quan tình báo ở Mỹ Latinh và một số nước phương Đông. Chúng ta cũng biết rằng, vào tháng Tư 1961, ông ta có mặt ở Guatemala, ngay tại một trong những trại chống Castro, nơi chuẩn bị cho cuộc xâm nhập vào vịnh Con Lợn. Ông ta cũng có mặt ở Saint-Domingue khi cuộc xâm nhập đầu tiên vào Cuba được chuẩn bị.

Tháng Mười 1963, ông ta đến các văn phòng CIA ở Dallas để hỏi xem nhà ở của ông ta có bị lục soát không, vì ông ta cho rằng mình bị chú ý “do có quan hệ bàn bè với Oswald” nên “CIA sẽ phải nói cho ông ta biết điều đó để chấm dứt việc theo dõi Oswald”. Câu trả lời của Oswald “không làm họ bận tâm, đó là một kẻ cuồng tưởng vô hại”.

Ngày 29 tháng Ba 1977, Morenschidt đã “tự sát” sau khi tuyên bố với nhiều tờ báo rằng “ông ta sẵn sàng kể lại tất cả mọi điều về tội ác ở Dallas”.

Tất cả những điều trên đây khiến chúng ta rất khó tin vào những thuyết chính thức, mà trái lại, cho chúng ta thấy rằng trong vụ ám sát tổng thống Kennedy, đã có đủ mọi thủ đoạn, lợi ích hoàn toàn không phải “của Castro” hay “của Liên Xô”. Chính bản thân CIA trực tiếp có liên quan với cái chế của tổng thống Mỹ, sau khi đã mất giám đốc của nó A. Dulles (đứng đầu cơ quan này từ 1953 đến 1961), ngoài ra còn là một trong những “bố đỡ đầu” của Câu lạc bộ Bilderberg, là người bảo trợ và sử dụng tốt nhất của Câu lạc bộ sau cuộc xâm nhập hụt vào Cuba và thấy rõ quyền hành của nó bị xén bớt cũng do “lỗi” của Kennedy. Chính Kennedy đã quyết định Dulles bằng một người “mà ông ta có thể hoàn toàn tin cậy, một người không thể nói dối ông ta”. Chính Kennedy hôm trước vụ ám sát ông ta, đã cấp tốc cử sang Cuba một phái viên riêng để nối lại những liên hệ hữu nghị với nước này. (Theo Fidel Castro, phái viên của Kennedy không phải ai khác ngoài Jean Daniel, chủ nhiệm tờ Nouvel Observateur – Người quan sát mới ở Pháp). Chính Kennedy, vào lúc cách chức Dulles, đã nhắc nhở tất cả các đại sứ Mỹ rằng: “họ phải chịu trách nhiệm cá nhân về tất cả các viên chức Mỹ làm việc dưới thẩm quyền ngoại giao của họ”. Chính Kennedy, trong khi chống lại chiến lược của CIA ở Việt Nam được đại diện ở Sài Gòn bởi John Richardson, kẻ bị đại sứ Cabot Lodge đòi phải thay thế vì cố duy trì chế độ của tổng thống Diệm bằng mọi giá, đã cho rằng “một chế độ như vậy phải được thay đổi hoàn toàn hoặc phải biến mất”.

Mới đây, tổng thư ký Nhà Trắng trong nhiệm kỳ tổng thống của Nixon đã công bố một cuốn sách (được viết khi đang ở tù sau vụ Watergate) nhan đề The Ends of Power (Những giới hạn của quyền lực), trong đó ông thuật lại một cuộc gặp gỡ giữa Nixon và giám đốc CIA, ông Helms, trong đó Nixon đã gây áp lực đối với Helms để CIA chôn vùi “vụ thợ đặt ống” đi “Nếu ông không giúp đỡ chúng tôi, thì sẽ có nguy cơ đưa tới bùng lên lại toàn bộ vụ vịnh Con Lợn”. Bằng câu nói đó, Nixon ngấm ngầm đe dọa giám đốc CIA (và cùng với ông ta, toàn bộ “đồng bọn”) về việc mở lại hồ sơ vụ ám sát ở Dallas…

Cũng mong muốn cho Kennedy biến mất là cả một loạt những công ty đa quốc gia “nạn nhân” của chính sách “New Deal” của tổng thống, cũng như thái độ của tổng thống đối với những mánh khóe lớn của tờ rớt.

Kẻ mong muốn điều này cao nhất là mafia; sau khi chính sách can thiệp vào Cuba từ bỏ, mafia mất đi mọi hy vọng giành lại vương quốc du hý, ma túy và mại dâm là hòn đảo Cuba ngày xưa từng thuộc về nó.

Cuối cùng, những phần tử tị nạn chống Castro ở Mỹ cũng mong muốn điều đó, vì trong mắt họ, sự “phản bội” của Kennedy (do chống lại sự can thiệp của các đội quân Mỹ vào việc xâm nhập vịnh Con Lợn) đã đánh dấu sự thất bại của việc “giải phóng” Cuba…

Bao nhiêu là lợi ích! Chính những lợi ích này giải thích một cách tuyệt diệu tại sao có nhiều mâu thuẫn, xuyên tạc, bội phản và có nhiều vụ tự sát tai nạn phủ đầy lên diễn biến của cuộc điều tra về vụ ám sát tổng thống Mỹ J.F. Kennedy, vào một buổi sáng tháng Mười một đầy nắng ở Dallas đến thế.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Đi tới những mâu thuẫn – Phần IV


Ngày 31 tháng Mười, Oswald đến trình diện tại sứ quán Mỹ ở Moskva và chính thức báo ý định từ bỏ quốc tịch Mỹ cũng như ý định phục vụ cho Liên Xô của mình… Lời tuyên bố này được nói ở sứ quán, nghĩa là trên lãnh thổ Mỹ. Mặc dầu như thế, người ta không làm gì để thuyết phục anh ta từ bỏ những ý định của mình như để giữ anh ta lại…

Ngày 1 tháng Năm 1960, một máy bay U-2 xuất phát từ căn cứ MACS-1 đã bị một tên lửa Nga bắn hạ…

Sau hai năm vắng mặt, khi Oswald trở về Mỹ (đã lấy một phụ nữ Nga), chẳng có ai làm phiền hà anh ta hoặc quan tâm tới sự trở về của anh ta. Chẳng có ai yêu cầu anh ta cả. Điều còn tệ hại hơn, cả FBI và CIA đều chứng kiến mà không can thiệp gì vào những việc làm và cử chỉ của anh ta.

Tháng Mười 1962, Oswald bắt đầu là việc cho công ty Jch. Stoval, công ty này phục vụ cho Lầu Năm Góc (tất cả các nhân viên của nó bị đặt dưới sự kiểm soát an ninh của FBI) trong việc thực hiện những bản đồ địa hình được xếp vào loại tối mật.

Tháng Mười 1963, FBI chặn được việc trao đổi thư từ của Oswald với sứ quán Liên Xô ở Washington.

Ngày 10 cùng tháng, một bức điện mã số của CIA/Mexico báo cho FBI và OSO về những tiếp xúc của Oswald với các nhà ngoại giao Cuba và Nga, những người này bị coi là nhân viên của G-2 và KGB Xô viết.

Vài hôm trước vụ ám sát Kennedy, Oswald lập ra một ủy ban thân Cuba và xuất bản những ấn phẩm chống Mỹ… Anh ta thậm chí đi tới chỗ trao một bức thư đe dọa vào tay cảnh sát ở Dallas…

Ngày 8 tháng Mười một, trong khi lặng lẽ theo đuổi những hoạt động “Chống Mỹ” của mình, Oswald đã viết một bức thư vừa lạ lùng vừa sáng tỏ. Nó được gửi tới nhà triệu phú Texas L.H. Hunt, người đã dành một phần lớn tài sản của mình để công bố những bài viết và những cuốn sách nhỏ chống tổng thống Kennedy. Có thể đọc thấy trong bức thư đó rằng: Thưa ngài Hunt kính mến: ngài có thể cho tôi biết về quy chế của tôi được không? Tôi đề nghị ngài thảo luận kỹ với tôi về điều này trước khi có một ai đó hoặc chính tôi đưa ra một sáng kiến…

Tất cả những điều đó chẳng làm bận tâm gì FBI cũng như CIA, họ để cho một người nguy hiểm như thế hành động hoàn toàn tự do, dù anh ta có những tiếp xúc với những gián điệp cộng sản nước ngoài sau vụ ám sát Kennedy, họ làm biết mất tất cả các tài liệu có liên quan tới những sự việc đã nêu trên đây, và trong vài giờ cho đổi tất cả các nhân viên ở Dallas từng theo dõi Oswald bám sát hay từ xa.

Ruby, kẻ giết Oswald đã hành động vì lòng yêu nước, theo ủy ban Warren và về chuyện này CIA cũng khẳng định họ chẳng biết gì hết. Ruby chính là một cộng tác viên cũ của CIA trong một loạt những hoạt động chống Castro, trong đó đã sử dụng theo lối phối hợp những nhân viên cơ quan mật vụ Mỹ, những người tị nạn Cuba và những phần tử của Mafia… Cần chú ý là có hai người đã được kể trên đây như những người có mặt ở Dalls vào ngày gây tội ác, tức là Hunt và Sturgis (tài liệu FBI No I05/3I93), đã làm việc với các nhóm chống Castro này…

Mặt khác, Ruby đã giữ những tiếp xúc chặt chẽ với các nhà chức trách cảnh sát ở Dallas, và cũng chính FBI đã sử dụng anh ta trong nhiều dịp khác nhau…

Howard Hunt, chuyên gia của CIA về các vấn đề Mỹ Latinh, người vừa mới hoạt động (ngày 30 tháng Năm 1961) ở Cộng hòa Dominique để trông coi những sự chuẩn bị cho việc ám sát nhà độc tài Trujillo.

Từ ngày Castro lên cầm quyền Hunt cùng với Sturgis, đại tá Prouty và những phần tử mật vụ khác, đã đóng vai trò trong cả một loạt những kế hoạch nhằm chống lại nhân vật Cuba (những ý đồ ám sát) và trong việc chuẩn bị hai cuộc xâm nhập vũ trang vào Cuba. Sau đó, chúng ta lại thấy họ trực tiếp dính líu vào vụ bê bối Watergate và những vụ khác cùng loại như vậy.

Sturgis, người chưa bao giờ thuộc về CIA cả, thật ra là một trong những nhân viên của nó từ năm 1955, năm mà anh ta làm quen với Fidel Castro qua trung gian cựu tổng thống Cuba Prio Socastro. Len lỏi vào ban lãnh đạo Phong trào cách mạng 26 tháng Bảy để phục vụ cho CIA, Sturgis đã cộng tác với Castro trong nhiều hoạt động khác nhau chống Batista.

Năm 1958, anh ta tham gia đội đặc công bắt cóc tay đua ô tô Fangio. Bị cảnh sát Batista bỏ tù, anh ta nhanh chóng được thả ra sau một sự can thiệp của Helms (hồi đó, Helms là người phụ trách lãnh đạo các chương trình của CIA mà sau đó ông ta trở thành giám đốc).

Do đấu tranh cho Castro lên cầm quyền năm 1959, Sturgis được bổ nhiệm làm chỉ huy cơ quan thông tin (G-2) của ngành hàng không Cuba, mà người liên lạc của anh với CIA hồi đó W. Morgan (về sau bị giam và kết án ở Cuba vì tội làm gián điệp cho Mỹ).

Cuối năm 1959, Sturgis được một “bạn gái” trẻ của Fidel Castro cộng tác với mục đích ám sát lãnh tụ Cuba. Cũng chính cô gái này sau đó đã cung cấp cho CIA những thông tin đầu tiên về việc bố trí các căn cứ tên lửa Nga trên lãnh thổ Cuba.

“Bị lưu vong” năm 1960, Sturgis lập ra một loạt những tổ chức chống Castro để phục vụ cho CIA. Từ Miami, những tổ chức chống Castro cộng tác với các cơ quan mật vụ Mỹ và nhiều nước Mỹ Latinh trong những hoạt động “không chính thức” khác nhau: Hành quân 40 CORU, Alfa 66, Lữ đoàn 2506 Omega 7, theo ký hiệu của một số tổ chức này.

Một hoạt động khác của Sturgis là phối hợp những tiếp xúc giữa các tổ chức chống Castro, CIA… Mafia.

Cuối cùng, xin nói rằng Sturgis hoạt động ở Cuba dưới cái tên Frank Fiorini, khiến cho CIA đương nhiên khẳng định là nó “không biết tới Sturgis”…

John McCone, giám đốc CIA vào lúc xảy ra vụ ám sát Kennedy, về sau được chỉ định (lúc ông ta được thay thế bằng đô đốc Raborn) làm thành viên hội đồng quản trị ITT và phó chủ tịch công ty này về Châu Âu. Tên ông ta sau đó được báo Italy dẫn ra về “chiến lược gây căng thẳng”, cũng như báo chí Pháp và Italy dẫn ra vào lúc có những sự chuẩn bị cho cuộc đảo chính của tướng Spinola ở Bồ Đào Nha (sau khi ông ta làm tổng thống nước cộng hòa này một thời gian ngắn và đi lưu vong).

Là cố vấn của CIA về châu Mỹ Latinh, tên của McCone lại được nhắc tới khi có những sự can thiệp của CIA và ITT chống lại chế độ Allende. Được sự chú ý của Fidel Castro lúc đó đang ở Hilton – Havana đầu tiên, rồi ở trong một biệt thự sau đó. Vì mê cô ta, Fidel cố ngăn cô ta rời khỏi Cuba khi cô ta tỏ ra muốn trở về thăm gia đình mình. Bất mãn với những cách đối xử của Castro. Marita trở thành cái mồi dễ dàng cho Sturgis – Fiorini để cho ông ta đánh đổi sự cộng tác bằng việc hứa hẹn giúp cô ta rời khỏi nước này. Điều này xảy ra vài tháng sau đó.

Trở về Mỹ, Marita vẫn tiếp xúc với CIA và những phần tử chống Castro ở Miami. Lúc đó cô ta mới biết được Fiorini thật ra là ai.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Đi tới những mâu thuẫn – Phần III


2/ Thuyết chỉ có một khẩu súng

Tuy thật hiển nhiên là sự có mặt của hai người bắn hàm nghĩa sự có mặt của hai khẩu súng, nhưng các ủy ban điều tra lại cố sức phủ nhận khả năng này, bất chấp những bằng chứng cho thấy ngược lại. Một sự việc nghiêm trọng hơn: trong một số tài liệu của báo cáo Warren, người ta mô tả khẩu súng của Oswald là một khẩu Mauser cỡ nòng 7,65, có gắn một máy ngắm xa (theo sự mô tả của nhân viên cảnh sát Weitzman, người đã phát hiện ra khẩu súng này ở tầng cuối cùng của nhà xuất bản là nơi anh ta làm việc mà từ đó có kẻ bắn ra)… trong khi ở những tài liệu khác cũng nằm trong báo cáo đó, khẩu súng này được mô tả như một khẩu carbin nhãn hiệu Manulichter-Carcano do Italy chế tạo, cỡ nòng 6,5.

3/ Không thể xác định có sự can thiệp của một cơ quan mật vụ nào

Nhưng rất nhiều bằng chứng không thể bác bỏ được cho thấy ngược lại. Tất cả những bằng chứng này cho thấy rõ rằng không một ủy ban điều tra nào, vì những lý do cụ thể, đã tìm cách xác định sự thật về điểm này cả.

Richard Helms, giám đốc CIA, đã can thiệp ngày 24 tháng Sáu 1964 với chủ tịch Warren để yêu cầu ông này dừng tính đến lời làm chứng của Nosenko (thành viên phái đoàn Xô Viết tại hội nghị Genève bỏ chạy sang phương Tây ngày 20 tháng Giêng 1964, và khẳng định rằng Oswald “không phải là một nhân viên của KGB”). Sau ba năm bị giữ riêng biệt và chữa trị bằng hóa chất, hiện nay Nosenko là cố vấn cho CIA.

Trong khi ủy ban Warren giữ im lặng trước lời làm chứng của Nosenko bất lợi cho luận điểm nói rằng có “một âm mưu của Nga và Cuba, thì CIA lại trình bày cho ủy ban này “hồ sơ Kostikov” để cố cho rằng đã xác định được sự thật về những tiếp xúc của Oswald với sứ quán Cuba ở Mexico, tuy rằng từ ngày 24 tháng Mười một 1963, FBI lại trình bày cho ủy ban này “hồ sơ Kostikov” để cố cho rằng đã xác định được sự thật về những tiếp xúc của Oswald với sứ quán Cuba ở Mexico, tuy rằng từ ngày 24 tháng Mười một 1963, FBI đã chứng minh tính không xác thực của những khẳng định như vậy.

CIA đã cho phép (vài giờ trước khi Kennedy đến) sửa đổi hành trình của đoàn xe tổng thống, để cho đoàn xe đi qua dưới những cửa sổ của nhà xuất bản mà Oswald làm việc ở đó, nhưng cũng đi qua gần với ba điểm khác (mô đất màu lục, một điểm trên đường sắt, ngôi nhà gần đó), nơi đã phát hiện ra những kẻ bắn khác. (Chủ tịch của ủy ban thị chính đã quyết định sự thay đổi này chính là ông Cabel, thị trưởng Dallas, anh em với viên tướng cùng tên và là phó giám đốc CIA, bị Kennedy cách chức sau thất bại ở vịnh Con Lợn).

Khi những thông tin báo chí vạch ra sự có mặt ở Dallas, vào đúng ngày xảy ra vụ ám sát, của các cộng tác viên CIA là Hunt và Sturgis, thậm chí đã công bố một tấm ảnh chụp hai “tên vô gia cư” bị cảnh sát giữ lại trong thành phố xảy ra tội ác này ngày 22 tháng Mười một 1963, thì hai ủy ban điều tra ấy lại chấp nhận nhiều chi tiết như những bằng chứng ngược lại, mà sự phân tích chúng đã chứng minh hoàn toàn ngược với những gì họ cố chứng minh.

Người ta thừa nhận rằng, vào ngày xảy ra tội ác, trong hoạt động kiểm tra tiếp theo sự kiện ấy, hai “tên vô gia cư” đúng là đã bị cảnh sát bắt giữ và đưa về đồn. Nhưng, thật nghịch lý, người ta không tìm thấy trong hồ sơ lưu trữ của cảnh sát một dấu vết nào của việc hai người đó đã qua đây: Chẳng có biên bản hỏi cung, chẳng có phiếu và cũng chẳng có tấm ảnh nào…

Một kỹ thuật viên đo người đã được chỉ định để xác định xem những tấm ảnh được công bố trên báo chí có thể là tấm ảnh của những người bị buộc tội “không: kỹ thuật viên ấy cho là không phải…” Nhưng cũng kỹ thuật viên ấy lại chính là người đã đảo ngược các hình chụp trong cuộn phim của người quay phim “nghiệp dư” đã ghi lại được những chi tiết của tội ác…

Xin nói cụ thể hơn:

CIA cam đoan rằng Sturgis không hề là người của cơ quan họ… Còn Hunt, thì “do hồ sơ nhân sự cứ ba năm lại bị hủy”, nên người ta không thể biết chính thức anh ta ở đâu trong ngày 22 tháng Mười một 1963…

Nhiều nguồn tin cho thấy rằng Oswald thuộc về “một trong những cơ quan mật vụ Mỹ”, nhưng các ủy ban điều tra “không thấy có một yếu tố nào để bảo vệ luận điểm này”.

Ruby, kẻ sát nhân của kẻ sát nhân, đối với hai ủy ban ấy là “một người yêu nước cuồng loạn… Trong lý lịch của anh ta, chẳng có gì cho phép nhận thấy – như các ủy ban nói – có một sự thông đồng có thể có giữa anh ta và một cơ quan mật vụ nào đó”.

Những sự khẳng định sai lạc, những lời dối trá và những sai lầm cố ý ấy (và do đó, những sự thông đồng ấy) đã không thể ngăn cản sự thật hiện rõ lên nhiều năm sau đó, tuy cũng phá bỏ tất cả các thuyết trước đây, nhất là thuyết “âm mưu của Nga và Cuba” (Oswald là đảng viên cộng sản).

Chỉ nhìn qua những tiểu sử của các nhân vật chính là đủ thấy rõ:

Oswald, do đã từng cư trú ở Nga và lấy một phụ nữ Nga, được trình bày cho chúng ta như một “nhân viên KGB” nhưng trong nhiều năm đã được CIA che chở. Vào lúc mà chiến lược của Bilderberg cho rằng cần phải kìm hãm, thậm chí ngăn cản chính sách cởi mở của tổng thống Eisenhower, CIA đã bố trí cho anh ta “đào ngũ” và tự giới thiệu ở Moskva như một “kẻ phản bội” cung cấp các kế hoạch bay của những chiếc U-2 (máy bay do thám) nổi tiếng, khiến cho Liên Xô đã hạ được chiếc máy bay do Powers lái… Bạn đọc chắc còn nhớ tới hành động này đã được dùng làm cái cớ cho các nhà lãnh đạo Xô Viết tẩy chay cuộc gặp “cấp cao” ở Paris.

Oswald đã bị đặt dưới “sự bảo vệ cảnh giác” của CIA từ lúc anh ta gia nhập Hải quân năm 1956, ở đó anh ta trước tiên được đào tạo thành một nhân viên thao tác và kiểm tra máy radar, rồi thành nhân viên thao tác điện. Làm sao có thể nghĩ rằng CIA đã không bảo lãnh cho việc Oswald được gửi tới căn cứ Mỹ ơ Atsugi (Nhật Bản), nơi che đậy dưới ký hiệu MACS 1, căn cứ hoạt động quan trọng nhất của CIA ở châu Á và là nơi các chuyến bay của máy bay do thám do Lockheed chế tạo?

Nếu Oswald kh6ong phải là người của họ, thì làm sao có thể nghĩ rằng CIA lại quan tâm đến thông tin do OSO (cơ quan phản gián của Hải quân Mỹ) cung cấp, nói rằng hạ sĩ Oswald, người chỉ dựa vào phụ cấp (khoảng 100 USD mỗi tháng), lại tự cho phép mình lui tới một trong các hộp đêm sang trọng nhất ở Tokyo và một trong nhữ chiêu đãi viên ở đó?

Làm sao có thể tin rằng CIA sẽ không bảo vệ Oswald khi hành vi của anh ta trong nhiều lần đã chịu những biện pháp kỷ luật, thậm chí bị giáng cấp, nếu trung tâm tình báo kiểm soát các cơ quan an ninh không hề chú ý tới anh ta?

Có thể nghĩ rằng CIA cho phép Oswald trở lại căn cứ MASC 1 mà không có lý do gì thật có sức nặng, trong khi anh ta đã được thuyên chuyển sang Trung Hoa quốc gia (Đài Loan) và đã có một báo cáo chi tiết của cấp trên anh ta về “hành vi bất thường” của anh ta, không?

Liệu có thể nghĩ tới sự thờ ơ của CIA trước hành vi của một trong những kỹ thuật viên kiểm tra radar của nó, khi anh ta quyết định học tiếng Nga cấp tốc không?

Năm 1959, Oswald đã được chuyển tới căn cứ MACS 9 ở California; ở đó anh ta không những tiếp tục học tiếng Nga mà còn thư từ với phái đoán Cuba ở Liên hợp quốc (điều này được biết tới nhờ có một sự kiểm soát cổ điển ở mọi căn cứ quân sự và uqa việc dùng những phong bì có tiêu đề ngoại giao). CIA không biết gì tới điều đó chăng…

Tháng Chín 1959, Oswald được phục viên theo yêu cầu của anh ta, và sua khi ghi tên vào một trung tâm đại học Thụy Sĩ để học năm 1960, anh ta đã sang Anh trước tiên, rồi sang Helsinki (tháng Mười 1959), ở đó anh ta xin phép sang Liên Xô du lịch.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Chính sách “xoay trục” thực dụng sang châu Á của Donald Trump


Thitinan Pongsudhirak

Thật là mỉa mai và đi ngược với trực giác, nhưng chính quyền của Tổng thống Donald Trump đang mở ra các con đường cho Hoa Kỳ can dự vào Đông Nam Á, nhiều hơn so với sự mong đợi của các nước trong khu vực. Người tiền nhiệm Barack Obama đã đầu tư các nguồn lực khổng lồ và toàn bộ chiến lược địa chính trị của 2 nhiệm kỳ tổng thống của ông được gói gọn trong khái niệm “xoay trục” sang châu Á vốn được chào hàng ầm ĩ như là tái cân bằng lợi ích và nguồn lực của Mỹ từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Tuy nhiên, ông Trump, một nhân vật gây nhiều tranh cãi với một phong cách lãnh đạo nhiều mâu thuẫn và ít ỏi về kinh nghiệm trong chính sách đối ngoại, lại có thể đóng góp hiệu quả hơn cho mối quan hệ Mỹ – Đông Nam Á.

Trong 8 năm tại nhiệm, Tổng thống Obama đã được tôn trọng vì uy tín quốc tế. Sự ủng hộ nhiệt tình của ông đối với một trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ đã dẫn đến thỏa thuận mang tính bước ngoặt trong lĩnh vực chống biến đổi khí hậu cũng như phi hạt nhân hóa. Chiến lược “xoay trục” của ông cũng đã đặt Đông Nam Á làm trọng tâm.

Tuy nhiên, xét về tổng thể, tình hình đã không có nhiều biến chuyển. Trong những năm của chính quyền Obama, có thể nói rằng là Đông Nam Á đã bị “mất” về tay Trung Quốc. Kể từ năm 2012, Trung Quốc đã bồi đắp một chuỗi các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông, xây dựng và đóng quân ở căn cứ quân sự trên các hòn đảo khác. Mặc dù phán quyết quốc tế của Tòa Trọng tài Thường trực đã loại bỏ tính hợp pháp của hành động này vào tháng 7 năm ngoái, Bắc Kinh đã có những gì họ muốn.

Ở Đông Nam Á lục địa, Trung Quốc đã xây dựng một chuỗi đập ở thượng nguồn sông Mekong, gây thiệt hại cho các cộng đồng sống ở cuối dòng sông tại Campuchia và Việt Nam. Phản ứng trong khu vực đối với sự hung hăng của Trung Quốc là dè dặt với sự thiếu vắng của một đối trọng lớn.

Cùng lúc đó, sự nổi lên của các thể chế chuyên quyền ở Đông Nam Á, từ Thái Lan và Campuchia sang Malaysia và Philippines, khiến Bắc Kinh hưởng lợi. Chính quyền Obama thúc đẩy dân chủ và nhân quyền, những thứ đã trở thành điều khó chịu đối với một số chế độ ở Đông Nam Á. Các biểu hiện của sự trượt dốc của khu vực vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc bao gồm chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Đông Nam Á  đến Bắc Kinh, như Tổng thống Rodrigo Duterte của Philippines và Thủ tướng Najib Razak của Malaysia.

Nhưng giờ đây, Mỹ có thể được tái can dự vào khu vực thông qua cửa phụ. Chính quyền Trump dường như đặt vấn đề lợi ích cao hơn các giá trị trong giao dịch. Ông Trump đã phát biểu tại lễ nhậm chức của ông rằng Hoa Kỳ không tìm cách áp đặt lối sống cho người khác, một cam kết được lặp đi lặp lại ở Saudi Arabia hồi tháng trước.

Đối với Đông Nam Á, việc định hướng lại chính sách “xoay trục” của Obama đã dẫn đến các cuộc gọi điện thoại cá nhân và lời mời các nhà lãnh đạo của Philippines, Singapore và Thái Lan đến thăm Nhà Trắng, trước đó là lời bảo đảm rằng Tổng thống Trump sẽ có chuyến đi đến Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và gặp các nhà lãnh đạo ASEAN tại Manila vào tháng 11, một chặng dừng ngắn sau khi tham dự Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tại Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam. Động cơ ban đầu cho những cuộc gọi của Mỹ là tập hợp các đồng minh như Bangkok, Manila và các đối tác như Singapore để ngăn chặn chương trình hạt nhân của Triều Tiên, nhưng bước đi này cũng có thể phát triển thành một quan điểm tái can dự địa chính trị nhiều hơn của Mỹ trong mùa hội nghị thượng đỉnh khu vực.

Trong khi chưa ai trong số 3 nhà lãnh đạo nêu trên đến Washington, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã mở đường với chuyên thăm đầu tiên tới Nhà Trắng. Đó là một chuyến thăm vừa thực chất vừa mang tính biểu tượng. Cách đây không lâu, hai nước đã đối đầu nhau trong một cuộc “chiến tranh ý thức hệ cay đắng và xấu xí”. Nhưng tuần trước, ông Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý mua hơn 15 tỷ USD giá trị hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, một phần để giảm bớt số 32 tỷ USD thặng dư thương mại của Việt Nam. Rõ ràng quan hệ Mỹ – Việt đang đi lên, và nhiều thứ hơn nữa sẽ đến trong giai đoạn trước Hội nghị cấp cao APEC. Nhà lãnh đạo tiếp theo có thể là Đại tướng Prayuth Chan-ocha của Thái Lan. Công tác chuẩn bị cho chuyến thăm vào tháng tới đang được triển khai. Kể từ sau cuộc đảo chính quân sự ở Thái Lan tháng 5/2014, quan hệ Thái – Mỹ đã ở trạng thái không ổn. Chính quyền Barack Obama đã đặt điều kiện khôi phục quan hệ song phương lạnh bằng việc nối lại chính quyền dân chủ thông qua các cuộc bầu cử.

Bằng cách nhấn mạnh cuộc bầu cử trước khi có các cuộc đàm phán song phương, chính quyền B. Obama đã đánh mất mọi thế mạnh trong quan hệ với Thái Lan, khi quân đội Thái tiếp quản chính trị để đảm bảo sự ổn định trong bối cảnh các cuộc biểu tình đường phố và cuộc kế thừa vương vị đang đến gần. Thay vào đó, Bangkok đã nghiêng hơn về Bắc Kinh do nhu cầu cần phải có được sự công nhận của một siêu cường. Sự ghẻ lạnh trong quan hệ liên minh hiệp ước Thái – Mỹ bắt nguồn phần nhiều từ Washington hơn là từ Bangkok. Sự ghẻ lạnh hơn nữa đối với chính quyền quân sự Thái Lan sẽ đẩy Bangkok đến Bắc Kinh, giống như cách phương Tây bị mất Myanmar thông qua các biện pháp trừng phạt và cô lập trong những năm 1990.

Để chắc chắn, việc Mỹ thay đổi hoàn toàn chính sách như vậy phải không được đánh đồng với việc từ bỏ các vấn đề quyền tự do dân chủ mà Mỹ đang đại diện. Tuy nhiên, Mỹ phải tái can dự và quan hệ với chính quyền quân sự của Thái Lan để lấy lại thế mạnh và các dư địa chính sách. Tương tự là cách Mỹ có thể xử lý quan hệ với ông Duterte và cuộc chiến chống ma túy làm nhiều người chết của ông ta, với các vi phạm nhân quyền đáng chú ý. Vấn đề không phải để nắm lấy và cũng không phải là để xa lánh người hùng được dân bầu của Philippines khiến Trung Quốc hưởng lợi, mà là để lôi kéo ông ta theo cách sẽ giúp cải thiện hồ sơ nhân quyền của chính phủ này.

Việc ông Trump cân bằng chính sách “xoay trục” của ông Obama đã trở nên đầy đủ, nhưng nó không nên trở thành quá trớn. Theo đuổi vấn đề lợi ích có thể mang lại những cuộc thương lượng với các chế độ Đông Nam Á, nhưng vấn đề nhân quyền và tự do không phải không bị bỏ rơi. Phần lớn Đông Nam Á muốn Mỹ có sự trở lại tương xứng trong khu vực bởi họ không muốn đi “hoàn toàn” vào quỹ đạo của Trung Quốc. Dù vẫn mới chỉ là những ngày đầu trong kỷ nguyên Trump, quan hệ Mỹ – Đông Nam Á chớm nở, cho đến nay, thật ra là không quá tệ.

Nguồn: http://www.straitstimes.com/opinion/trumps-pragmatic-pivot-back-to-asia

TKNB – 09/06/2017

Đi tới những mâu thuẫn – Phần II


1963 – Một cuộc họp mới của Bilderberg được tiến hành ở Cannes trong các ngày 29, 30 và 31 tháng Năm (175 người tham gia); hãy chú ý tới những người mới tham gia: tướng Lemnitzer (chỉ huy khu vực Đại Tây Dương của NATO), Arthur Dean, George Ball (thứ trưởng Ngoại giao Mỹ), Nitze (thứ trưởng Quốc phòng Mỹ), Strauss (cựu Bộ trưởng Quốc phòng Đức), Edward Heath, Callagan và Healey (Anh), Spaak (Thủ tướng Bỉ), Manschotl (phó chủ tịch ủy ban kinh tế châu Âu), Petit Pierre (cựu chủ tịch Liên bang Hy Lạp)… Và trong số những người Pháp, có các ông Baumgartner, Jacques Baumel, Maurice Fabre, Guy Mollet, Antoine Pinay, Pierre Pflimlin, René Pléven, Georges Viliers, René Massigli…

Những vấn đề được bàn:

+ Sự hội nhập của Anh vào Thị trường chung;

+ Chiến lược mới đối với các nước đang phát triển;

+ Châu Mỹ Latinh theo những dấu vết của châu Phi?

Hãy chú ý rằng, nếu trước năm 1960 các cuộc họp của Bilderberg có số người tham gia lớn hơn (và vì thế có nhiều nhân vật chính trị – quân sự hơn), thì từ năm đó trở đi, những kết luận của “câu lạc bộ suy nghĩ” này được cụ thể hóa nhanh hơn.

Việc nhiều nước châu Phi giành được độc lập, sự trỗi dậy lại của chủ nghĩa dân tộc trên lục địa Mỹ Latinh (mà ở đó, điều này cũng có nghĩa là chống Bắc Mỹ), chiến lược đối ngoại mới của Washington được thông qua sau khi Kennedy được bầu làm tổng thống và sau sự thất bại của cuộc xâm lược Cuba, tất cả những sự kiện đó đã thu hút tới Câu lạc Bilderberg những lực lượng ngày càng quan trọng, ngày càng phản động và mong muốn khôi phục hoặc duy trì sức mạnh chính trị – kinh tế đã tuột khỏi tay họ.

Cũng cần thấy rằng các nhân vật chắc chắn có chủ định thuộc những nước khác nhau bắt đầu thực hiện những chiến lược mà họ cho là “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng phục vụ cho những quyền lực song hành của Mỹ một cách không thể tránh khỏi: các công ty đa quốc gia, các cơ quan mật vụ.

Là kẻ khởi xướng và đem sức sống tới cho Câu lạc bộ Bilderberg, những quyền lực song hành này ngày càng sử dụng nhiều hơn và tốt hơn công cụ của chúng mà không bận tâm quá nhiều tới những “đồng minh” châu Âu. Từ những nhượng bộ của Mỹ đối với đồng minh của nó biến mất và, đối với các nhà chiến lược Bilderberg, từ này chỉ có hiện tại và tương lai của chủ nghĩa tư bản Mỹ mới đáng được tính đến.

Đồng minh khách quan của chiến lược này sẽ là Liên Xô. Nước này do thèm khát những vùng ảnh hưởng của mình, và sau kinh nghiệm về các căn cứ tên lửa ở Cuba đã đưa tới cuộc đụng đầu lớn nhất trong lịch sử của mình, sẽ gây sức ép đối với chính phủ Cuba bằng cách buộc nó phải “phản bội” sứ mệnh cách mạng của nó là giúp đỡ cho các thứ chủ nghĩa dân tộc ở châu Mỹ Latinh.

Loại trừ Kennedy

Bạn đọc hẳn còn nhớ các sự kiện này: ngày 22 tháng Mười một năm 1963, tại thành phố Dallas (bang Texas), tổng thống Mỹ bị ám sát trong chiếc xe của ông. Những thời điểm bi thảm nhất của sự kiện này đã được một người quay phim nghiệp dư ghi lại cho hậu thế, ông đã ngẫu nhiên quay phim được đoàn xe của tổng thống ngay khi có những viên đạn bắn ra làm cho Kennedy chết.

Rất nhanh, một cách giải thích tội ác này đã được đưa ra cho công luận thế giới: người ta nói tới một hành vi cá nhân do một “đảng viên cộng sản” lấy một phụ nữ Nga phạm phải, và người này chỉ cách đây chưa lâu còn ủng hộ chế độ Castro…

Các sự kiện dồn dập diễn ra. Sau một cuộc cãi nhau với một nhân viên cảnh sát, ông Tippit, Oswald nổ súng bắn ông ta, bỏ ông ta nằm chết trong chiếc ô tô tuần tra của mình. Sau vụ ám sát mới này, Oswald lặng lẽ lẻn vào một rạp chiếu phim ở ngoại ô và kiên nhẫn đợi những viên cảnh sát khác tới bắt đi!

Khi đã là tù nhân, đến lượt mình Oswald lại bị ám sát trước các máy quay phim của truyền hình và trong khi anh ta được cảnh sát “bảo vệ”. Người giết anh ta là một chủ quán rượu, Ruby, “người yêu nước muốn trả thù cho việc ám sát tổng thống của mình”.

Ruby lại chết trong tù vì một ung thư vừa bí ẩn vừa tức nhói.

47 nhân chứng khác có dính líu tới vụ này hay có quan hệ trực tiếp với nó ít lâu sau đều chết “vì tai nạn” hay “tự sát”…

Trước khi ủy ban điều tra do tổng thống mới chỉ định đưa ra ý kiến của mình, thì FBI đã công bố (hay đưa ra công khai bằng một sự “vô ý” nào đó) những kết luận của nó:

+ Oswald chỉ hành động một mình, cuộc điều tra không cho thấy một sự giúp đỡ nào từ bên ngoài;

+ Chỉ một thứ vũ khí được dùng.

+ Không có một cơ quan mật vụ nào của Mỹ dính líu vào vụ này.

Năm 1964 và 1975, hai ủy ban được giao cho điều tra tội ác này đã đi tới những kết luận giống hệt.

Như vậy, mười hai năm sau tội ác, việc vạch ra những mâu thuẫn, những gian lận, những thủ đoạn và những đầu độc tâm lý vẫn chẳng có hiệu quả gì sao? Mọi việc ở năm 1975 cũng chỉ “sáng rõ” như ở năm 1964 sao? Liệu sau khi đọc và phân tích hai tài liệu được các ủy ban nói trên soạn thảo, người ta có thể nghĩ rằng Oswald đã hành động một mình và chỉ một mình anh ta bắn vào tổng thống Kennedy không? Liệu có một cơ quan mật vụ nào xen vào để điều khiển bọn sát nhân hoặc để ngăn cản những sự tìm kiếm không?

Rất nhiều yếu tố, một số nằm trong những tài liệu chính thức và những phụ lục của chúng, một số khác thì nằm trong những tài liệu đến từ các cơ quan mật vụ châu Âu, một số khác nữa là từ nhiều sự tìm kiếm riêng hay của các nhà báo, tất cả đều cho phép khẳng định ngược lại rằng Oswald chỉ là một “sát nhân hỏa mù”, rằng đã có nhiều kẻ bắn súng, rằng ngay trong các ủy ban điều tra đã có những nhân vật muốn làm cho sự thật không bị phát hiện, rằng FBI đã biết rõ sự thật nhưng che giấu nó, rằng CIA nếu không tự mình đặt kế hoạch gây tội ác này (đó là ý kiến cá nhân của tôi), thì cũng biết được âm mưu này khá sớm để có thể vô hiệu hóa nó.

Ta hãy lướt nhanh qua một số yếu tố cho phép nói lên những điều trên đây:

1/ Thuyết chỉ có một người bắn

Thuyết này không có giá trị vì thầy thuốc pháp y làm công việc mổ xác, bác sĩ Wecht, đã xác nhận có một vết thương ở phần sau của hộp sọ tổng thống, vết thương do một viên đạn đi ra tạo nên… Tổng thống là nạn nhân của một đường bắn chéo ít ra từ hai khẩu súng, một phía trước và một phía sau đoàn xe của tổng thống.

Điều này đã hiện rõ trong cuộn phim (do người quay phim nghiệp dư nói trên cung cấp), mà các hình chụp 314 và 315 cho thấy đầu của tổng thống dịch về phía sau… Nếu ủy ban Warren không nhìn thấy điều này, thì đó chỉ là vì thứ tự các hình chụp đã bị một trong những chuyên viên thuộc ủy ban này đảo ngược lại.

Lời khai của viên cảnh sát Craig cũng rất rõ theo hướng đó: anh ta đã xác nhận bằng văn bản là đã “thấy có một dấu đạn bắn trên lề đường, mà quỹ đạo của nó cho thấy rằng người bắn viên đạn này đứng đối diện với đoàn xe của tổng thống”… Xin nhắc lại rằng Oswald lúc đó đứng ở phía sau.

Nếu chú ý tới lập luận chính thức khẳng định rằng Oswald chỉ bắn có ba lần, thì viên đạn thứ tư đến từ đâu?

Cuối cùng, xin nói rằng “ba viên đạn của Oswald” được các nhà điều tra thu hồi hoặc trong chiếc xe tổng thống, hoặc tại bệnh viện mà nạn nhân đã được đưa tới đó… Và chính chuyên gia về đường đạn đã làm công việc phân tích này sau đó mấy hôm đã chết…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.