Vụ Matesa – Phần cuối


+ Estrelle Roja (Sao đỏ). Công ty này được ông Bender lập ra ở Peru trước tiên, rồi ở Chile ít lâu sau đó, ông ta dường như đã dính líu với CIA và các giới chống Castro của Cuba trong những hành động chống lại các chính phủ Mỹ Latinh và những phần tử đối lập lưu vong. Ông Raulf (cựu đại tác quốc xã, người thành lập nhiều công ty thương mại cho những phần tử lưu vong Đức trên thế giới, và là một trong những kẻ tổ chức ra « đường dây » đào thoát cho bọn quốc xã mang tên « Gai nhọn ») cũng là người cùng với Bender thành lập ra nó. Khi CIA và ITT chuẩn bị chống chính phủ Allende, Estrelle Roja được dùng làm dây dẫn để cung cấp vũ khí và tiền. Hiện nay, Raulf, cư trú tại Chile và làm « cố vấn » chính trị cho Pinochet.

+ Ratil. Chi nhánh của Matesa ở Bồ Đào Nha, chuyên về soạn thảo các chương trình hợp lý hóa, hoạt động của các doanh nghiệp. Nó đã giới thiệu OTC, chủ nhân của chiếc thuyền yat Apollo ở Lisbon, dưới đây sẽ nói tới. Cộng tác với các cơ quan mật vụ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, năm 1972 nó dính líu vào một kế hoạch chống chính phủ Sékou Toure ở Guinée. Những người lãnh đạo của nó (hay ít ra một số trong đó) về sau tham gia tuyển mộ và huấn luyện những lính đánh thuê được phái sang Angola (với Unita) hay sang Rhodésie. Mới đây (tháng bảy 1977), họ lãnh đạo một công ty ở Parma de Majorque mà dưới tên gọi : Cơ quan báo chí thế giới (bạn đọc chắc còn nhớ một « cơ quan báo chí » khác, Aginterpress, được lập ra ở Bồ Đào Nha để cho đậy những hoạt động quốc tế của một nhóm thân quốc xã, « Trật tự và Truyền thống », cánh tay vũ trang của cảnh sát chính trị Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha), cơ quan này đã che đậy một cơ quan chuyển tiếp nhằm đảm bảo những « nơi đỗ lại vì lý do kỹ thuật của một cầu hàng không hỗn hợp và rất đáng ngờ, nối châu Âu với châu Phi qua sân bay San Juan ở Parma de Majorque. Những chiếc máy bay này thuộc các công ty Touraine Air Transport (Pháp), Transportes Riplatenses (Argentina), Gabon Air và A-fretair Gabon (Gabon), Flying Tiger Lines (Mỹ), A.A.CH.Zair (Zair), Seabord World Airline (Mỹ)… theo một lệnh do người phụ trách.

Tổng cảnh sát các Cảng và các Biên giới thuộc ban lãnh đạo An ninh Tây Ban Nha, « không được để chịu một sự kiểm soát nào của các chức trách này chỉ được phép theo dõi chặt chẽ các thiết bị bay và các chuyến đỗ lại của những máy bay ấy ». Nghĩa là những máy bay ấy, trong thời gian đỗ lại trên lãnh thổ Tây Ban Nha, không cho phép bất cứ một kiểu kiểm soát nào, mà trái lại phải được bảo trợ « kín đáo và hữu hiệu »…

Ở Pháp cũng vậy, de Borglie và vài « cố vấn » khác của Sodetex đã tham gia vào những công ty khác, mà vào lúc này hay lúc khác của sự tồn tại của chúng (nhiều công ty trong số đó thật ra không « tồn tại », vì chúng không bao giờ được khai báo chính thức, dù tất cả mọi người đều biết những hoạt động của chúng), đã thu hút sự chú ý của các cơ quan mật vụ Pháp và nước ngoài. Chẳng hạn, đó là trường hợp của Sofradec và Seccar (một trong những người lãnh đạo của nó, ông Arendt, đã bị ám sát ở Maroc năm 1973), của Intertrading và Bricom (một trong những người lãnh đạo của nó, ông Rahal, nhà kinh doanh Algeria, mới đây đã được nhắc tới trên báo chí vì đã tham gia những hoạt động bí ẩn và đáng ngờ).

Công ty này (ít ra theo sự khẳng định của ông Rahal) dường như đã cắt cầu từ năm 1973 với hoàng tử de Broglie, nhưng mấy ngày trước vụ ám sát viên bộ trưởng, nó đã trả cho ông ta 2.400.00 francs…

Để kết thúc vụ Matesa và những sự tiếp nối của nó, cuối cùng xin nói rằng một trong những người quản lý của Sodetex, ông Leclerc (chủ các ngân hàng thay nhau tài trợ cho Sodetex : Harpe và Ngân hàng Leclerc) đã trực tiếp gánh chịu những hậu quả của việc ám sát hoàng tử de Broglie vì đã bị phát hiện có một số tiền 395 triệu francs Thụy Sĩ. Hai người thân cận của ông ta đã tự sát : ông Charles Bouchard (cựu giám đốc Ngân hàng Leclerc) và ông Bertrand de Muralt, người hùn vốn với Leclerc. « Cha đỡ đầu » của Odetex sau khi nó thành lập (ông de Ribemotn, một trong những người bị kết tội trong vụ ám sát hoàng tử de Broglie, đã có thể khẳng định trong cuốn sách của mình nhan đề « Thất bại của các hoàng tử » rằng : « Chẳng phải ông ta là người thực sự lập ra Sodetex đó sao ? (…) Chẳng phải ở Thụy Sĩ ông ta đã bị coi là một trong những phụ trách địa phương của Opus Dei đó sao ? ») là bạn thân của hầu hết thành viên Opus Dei mà chúng tôi dẫn ra trên đây. Khốn thay như chúng tôi đã nói, vụ Matesa – Sodetex – de Broglie – Opus Dei đã không có một kết luận hợp pháp nào cả. Con số những « hội viên hùn vốn » tiềm tàng, khối lượng lợi tức chồng chéo trong vụ ấy, sức nặng và quyền lực cảu những lực lượng sử dụng chúng, đã tạo nên tình trạng hiện thời, mà không một ai quan tâm tới việc phát hiện ra sự thật cả.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Advertisements

Bàn về sự mất cân bằng cán cân quân sự quốc tế


Sau vụ ám sát cựu gián điệp Serguei Skripal, căng thẳng giữa Nga và phương Tây tăng dần. Vậy liệu Nga có phải là mối đe dọa lớn nhất không? Còn Trung Quốc thì như thế nào? Những cường quốc nào là cường quốc mạnh nhất hiện nay?

Tại một cuộc họp báo ở Brussels (Bỉ), vào trung tuần tháng 3/2018, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đã tuyên bố: “Nga đã hiện đại hóa vũ khí của họ trong suốt thập kỷ qua và đã phát triển vũ khí hạt nhân mới. Tuy nhiên, NATO sẽ không theo gương Nga, lấy xe tăng đấu xe tăng, tên lửa đấu tên lửa, hay máy bay không người lái đấu máy bay không người lái. Chúng tôi không muốn có một cuộc chiến tranh lạnh mới”.

Các nhà nghiên cứu chiến lược Bastian Giegerich và Lucie Beraud-Sudreau thuộc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS), London, đã có những trao đổi về thế tương quan lực lượng quân sự hiện nay.

Theo nhà nghiên cứu Bastian Giegerich, “lại một lần nữa, chúng ta đang tham gia một cuộc chạy đua giữa các siêu cường. Nga, Trung Quốc và Mỹ đang chuẩn bị cho xung đột. Điều đó không có nghĩa rằng chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, trò chơi “bàn tay sắt” mới này rõ ràng dẫn tới các chương trình hiện đại hóa quân sự”.

Trong Báo cáo cán cân quân sự hàng năm mới đây, IISS đã công bố về vũ khí quân sự của 171 quốc gia trên thế giới. Đây là nguồn tài liệu công khai tốt nhất trên thế giới về chủ đề này. Ông Giegerich và đồng nghiệp Lucie Beraud-Sudreau đã tham gia soạn thảo tài liệu tham khảo này và có chuyến công tác tới Brussels, theo lời mời của Viện Egmont (Viện quan hệ quốc tế hoàng gia Bỉ). Ông Giegerich giải thích: “Ưu thế về công nghệ của phương Tây tiếp tục bị xói mòn. Trong 30 năm trở lại đây, phương Tây đã không còn giữ vị thế thống trị của mình. Hiện họ đang gặp sức ép”. Sau đây là phần trả lời phỏng vấn của hai nhà nghiên cứu trên:

Báo Le Vif (-): Hai năm gần đây, người ta một lần nữa chứng kiến các tàu chiến Nga ngoài khơi bờ biển Bỉ. Liệu đây có phải là chuyện bình thường?

+ Bastian Giegerich: Đó thực sự là sự kiện có ý nghĩa. Vả lại, không phải một mình Nga, mà Trung Quốc cũng làm như vậy. Hiện có các cuộc tập trận chung Nga – Trung và các cuộc tập trận trên biển Baltic và Địa Trung Hải. Vì vậy, Trung Quốc cũng tới đây. Điều đó khiến chúng ta phải suy nghĩ. Tuy nhiên, không chỉ có điều này. Trung Quốc cũng xuất khẩu các máy bay không người lái sang Trung Đông và Trung Á. Lực lượng quân sự phương Tây hoạt động trong khu vực này nhận thấy đối phương sở hữu nhiều hơn loại vũ khí tối tân này. Máy bay không người lái thực sự làm thay đổi tình hình. Bỗng nhiên, người ta chứng kiến rõ ràng có thêm nhiều vũ khí giết người được sử dụng tại nhiều nơi ở khu vực này.

– Châu Âu phải e ngại nước nào nhất? Nga hay Trung Quốc?

+ Giegerich: Nga được coi là mối đe dọa về ngắn hạn. Moskva đã cho thấy nước này là một chủ thể xâm lược trong khu vực. Và năng lực quân sự của họ là đáng lo ngại. Về dài hạn – trong 20, 30 năm – Trung Quốc rõ ràng theo đuổi tham vọng thách thức sự bá chủ về quân sự trên thế giới. Nga và Trung Quốc đầu tư vào công nghệ hơn hẳn hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Như thiết bị phóng tên lửa có tốc độ siêu thanh sẽ được đưa vào sử dụng từ nay cho tới giữa những năm 2020. Đây là loại thiết bị phóng tên lửa rất nhanh, rất khó để đánh chặn. Người ta phóng chúng cùng với một tên lửa đạn đạo. Ngay cả khi không có đầu đạn hạt nhân, tên lửa này có sức phá hủy rất lớn.

– Sức mạnh quân sự của Nga ra sao?

+ Giegerich: Nga sử dụng Syria là nơi thử nghiệm công nghệ, chiến thuật và triển khai lực lượng vũ trang của họ. Hiện họ đã gặt hái được kết quả từ đó. Đây là một sự khác biệt quan trọng so với Trung Quốc, vốn tham gia các sứ mệnh gìn giữ hòa bình, nhưng thật ra lại không thực sự có được kinh nghiệm chiến đấu.

Nga không phải không thể bị tổn thương. Chúng tôi cũng không quá phóng đại năng lực của Nga, nhưng trong một số lĩnh vực, như pháo phản lực và tác chiến điện tử, họ thực sự mạnh. Ngoài ra, họ sử dụng hiệu quả các phương tiện phi quân sự để gây ảnh hưởng về chính trị. Hãy nghĩ về các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng năng lượng, sự hỗ trợ cho các phong trào chính trị tại châu Âu và việc sử dụng các công cụ mạng.

– Chương trình hiện đại hóa quân đội Nga bị chậm trễ.

+ Giegerich: Điều đó chủ yếu là do hoạt động sản xuất vũ khí: Đối với động cơ tên lửa và các bộ phận của một số hệ thống quân sự, Nga bị phụ thuộc vào Ukraine. Và còn có các vấn đề về ngân sách.

+ Lucie Beraud-Sudreau: Từ năm 2010 tới năm 2015, chi tiêu quân sự Nga đã tăng không dưới 50%, tuy nhiên, sau khi sáp nhập Crimea, đã xuất hiện các lệnh trừng phạt của phương Tây chống Nga. Ngoài ra, giá nguyên liệu, vốn là một trong những nguồn thu chính của Nga, đã giảm. Từ đó, kinh tế Nga thêm khó khăn, và nước này đã phải tiết kiệm, kể cả trong lĩnh vực quốc phòng. Năm 2016, ngân sách quốc phòng đã giảm 10%, năm 2017 giảm thêm 9%. Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng kinh tế Nga bắt đầu hồi phục, điều này giúp ổn định ngân sách quốc phòng.

– Về phần mình, Trung Quốc thông báo họ sẽ có một quân đội “đẳng cấp thế giới” vào năm 2050.

+ Giegerich: Điều thú vị là qua phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trung Quốc cho thấy rõ tham vọng gia nhập các quốc gia lãnh đạo quân sự của thế giới. Tập Cận Bình đã kiểm soát chặt chẽ quân đội. Những năm gần đây, Trung Quốc đã đầu tư nhiều vào việc hiện đại hóa. Riêng các loại tàu chiến do Trung Quốc đóng trong 4 năm gần đây , có trọng tải lớn có thể so sánh với lực lượng hải quân của Pháp. Trung Quốc cũng đầu tư vào máy tính lượng tử, nước này đang sở hữu nhiều siêu máy tính nhất thế giới. Thách thức đối với Trung Quốc là ở chỗ tập hợp các yếu tố khác nhau: công nghệ, học thuyết, đào tạo, kinh nghiệm tác chiến, nhân công. Họ đã chưa thành công.

– Chiến tranh hiện địa đã bị công nghệ xử lý dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo chi phối ở mức độ nào?

+ Giegerich: Phân tích lực lượng dữ liệu lớn đã được sử dụng trong tình báo quân sự. Giai đoạn tới, người ta sử dụng các thuật toán và trí tuệ nhân tạo để phân tích các hình ảnh vệ tinh và những động thái quân sự trên thực địa chẳng hạn. Liệu có tới lúc máy móc sẽ thay thế các quyết định của con người. Nhìn từ quan điểm đạo đức, thì thật đáng lo ngại.

– Năm 2017, chi phí về quân sự trên thế giới đã giảm. Ông bà giải thích thế nào về điều này?

+ Lucie Beraud-Sudreau: Đây là sự suy giảm rất nhỏ, ở mức 0,2%. Trong sự suy giảm này, một nửa là thuộc về 2 quốc gia: Nga và Saudi Arabia. Có những dấu hiệu cho thấy chi phí quân sự thế giới sẽ lại tăng trong những năm tới. Hầu như tất cả các quốc gia châu Âu có ý định chi phí nhiều hơn cho quốc phòng. Mỹ cũng muốn tăng thêm 7% ngân sách quốc phòng nữa cho quân đội vào năm 2018 và 2019, trong khi họ đã có ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới.

– Năm 2017, châu Âu là khu vực có mức tăng chi tiêu quốc phòng cao nhất thế giới. Có phải đây là hậu quả nào từ sức ép của Washington?

+ Lucie Beraud-Sudreau: Có ba yếu tố giải thích việc gia tăng chi phí quốc phòng này tại châu Âu. Tăng trưởng kinh tế đã trở lại. Sau khi Nga sáp nhập Crimea, một số quốc gia Đông Âu đã lo ngại về quốc gia hàng xóm lớn của mình. Và cuối cùng, thực tế là do sức ép từ Washington đòi hỏi châu Âu tăng chi phí nhiều hơn cho quốc phòng. Sức ép này đã có dưới thời Obama, nhưng Donald Trump đã truyền tải nó một cách rõ hơn.

– Năm 2014, các quốc gia thành viên NATO đã cam kết dành 2% GDP của họ cho quốc phòng từ nay tới 2024.

+ Lucie Beraud-Sudreau: Đây là một mục tiêu chính trị. Nó không thực sự đưa ra hình ảnh chính xác của việc sử dụng hiệu quả nguồn tiền này.

+Giegerich: Tôi e rằng tỉ lệ 2% này khó trở thành lá bùa hộ mệnh. Đây không phải là tiêu chí duy nhất. Nó chỉ đề cập đến đầu vào: Người ta dành bao nhiêu tiền cho quốc phòng? Chứ không nói tới đầu ra: Đổi lại người ta đạt được gì? Như ở Bỉ, người ta chi 33% ngân sách quốc phòng cho lương hưu – thay vì khoảng 15% – nên còn ít tiền cho nghiên cứu và phát triển, đổi mới và mua sắm trang bị. Vì vậy, nước này có quá ít phương án để hiện đại hóa lực lượng vũ trang của mình. Đây là một vấn đề. Điều đó gây khó khăn hơn cho Bỉ – và các quốc gia lâm vào tình huống tương tự – khi đương đầu với các thách thức trong tương lai.

– Tại hội nghị an ninh Munich tháng 2/2018, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đã cảnh báo Liên minh châu Âu (EU) không làm điều mà NATO đã làm.

+ Giegerich: Tôi ngạc nhiên vì cách tiếp cận tiêu cực của Stoltenberg. Cuối những năm 1990, khi EU đưa ra vấn đề hợp tác quốc phòng, người ta nói điều tương tự: “Đừng cạnh tranh với NATO”. Tôi không thấy điều đó mang tính hợp tác. Điều này cho thấy sự lo lắng của Mỹ về điều mà EU dự định làm. Hai năm gần đây, quan hệ giữa NATO và EU có tính xây dựng nhiều hơn so với điều mà Stoltenberg đã nói.

– Tháng 12/2017, Hội đồng châu Âu đã thành lập PESCO, một thỏa thuận hợp tác cấu trúc thường trực về quốc phòng gồm 25 quốc gia thành viên. Sáng kiến này có tiềm năng không?

+ Giegerich: Tôi nghĩ là có. Lời hứa lớn của EU trở thành một chủ thể quân sự, luôn có khả năng tập hợp các nguồn lực quân sự và dân sự dưới một mái nhà. Hiện nay, nó không còn thực tế. Nếu PESCO có thể đóng góp vào việc này, thì đây là một điều tốt đẹp. Phần lớn các quốc gia thành viên EU cũng là thành viên của NATO. Chúng ta không thể rơi vào cái bẫy khi nghĩ rằng NATO và EU cạnh tranh với nhau. Đây là việc hỗ trợ và làm việc cùng nhau.

– Cặp đội Merkel-Macron liệu có thể thúc đẩy hình thành một quân đội châu Âu thực sự?

+ Giegerich: Bạn muốn tới lực lượng hoàn toàn nằm dưới sự chỉ huy của châu Âu? Chúng ta còn có nhiều ý kiến trái ngược nhau, tuy nhiên, điều đó không còn quan trọng nữa. Chúng ta có thể đã tiến xa qua kênh hợp tác giữa các quốc gia thành viên EU. Năm 2017, Pháp và Đức đã xác định một tham vọng chung, bao gồm các chương trình về máy bay chiến đấu tương lai. Tiếp theo, Pháp còn đưa ra các sáng kiến, có khả năng vận hành hơn. Tuy nhiên, Merkel chưa trả lời, vì ở Đức bà phải mất rất nhiều thời gian để thành lập chính phủ mới.

Nguồn: Le Vif (Bỉ)

TLTKĐB – 11/04/2018

Vụ Matesa – Phần IV


Là người chỉ huy, de Broglie hoạt động qua trung gian một mạng lưới công ty rất lớn, mà trung tâm là chi nhánh được biết tới rộng rãi của Matesa : Sodetex. Là một chi nhánh ở Brelic (mà ngân hàng của nó là Harpe, tài sản của ông Leclerc, một trong những người quản trị của Sodetex) phụ thuộc vào holding Holtex do Matesa lập ra ở Liechtenstein, Sodetex được thiết lập tại Luxembourg không xa với Ngân hàng quốc tế. Những « chủ nhân » chính thức của nó là chủ tịch – tổng giám đốc của ngân hàng nói trên (nắm 9946 cổ phần được nhượng sau đó cho « người quản lý », theo lối cổ điển về loại kinh doanh này) và bốn nhân viên của ông ta. Điều lệ của công ty quy định ở điều 3 :

« Công ty tiến hành tất cả những hành động có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với những sự tham gia – dưới bất cứ hình thức nào – vào tất cả các công ty hay doanh nghiệp ở Luxembourg hay ở nước ngoài, cũng như việc quản trị, quản lý, kiểm soát và thực hiện những sự tham gia ấy. Công ty sẽ quản lý những sự tham gia của mình để làm cho chúng sinh lợi bằng những nghiên cứu của nó và bằng việc kiểm soát các doanh nghiệp mà nó có quyền lợi, cũng như bằng bất cứ cách nào ».

« Công ty có thể đặc biệt dùng các quỹ của mình vào việc thành lập, quản lý, làm sinh lợi và xóa bỏ một cặp giấy phiếu gồm có tất cả các chứng thư, bằng cấp và giấy phép thuộc mọi nguồn gốc, tham gia vào việc thành lập, phát triển và kiểm soát mọi doanh nghiệp, kiếm tất cả các chứng thư và văn bằng bằng cách hùn vốn, quyên góp, mua đứt hay có lựa chọn và bằng mọi cách khác, bán những chứng thư và văn bằng ấy bằng cách bán, nhượng, trao đổi… làm cho chúng sinh lợi bằng bất cứ cách nào, cấp cho các công ty mà nó có quyền lợi tất cả mọi sự giúp đỡ, cho vay, ứng trước, hoặc bảo đảm ».

« Công ty sẽ áp dụng tất cả mọi biện pháp để bảo vệ các quyền của mình và thực hiện tất cả mọi hành động nào gắn với đối tượng của mình hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho nó ». Cùng ngày đó, các cổ đông nhất trí bổ nhiệm ba người quản lý của công ty : ông Jean de Broglie nghiệp chủ cư trú tại Broglie, chủ tịch Paris. Một nhân viên Ngân hàng quốc tế, ông Théo Schartz, được bổ nhiệm làm chủ tài khoản. Đại hội đồng cho phép « hội đồng quản trị ủy thác tất cả mọi quyền hạn của nó về quyền hạn của nó về quản lý hằng ngày cho ông Jean de Broglie, người quản lý – ủy thác ».

Sodetex (những người cộng tác với nó không biết hay có biết ?) bắt đầu mở rộng « đế chế » của nó qua một loạt công ty mà từ khi mới thành lập đã nhúng tay vào những hoạt động mờ ám của các cơ quan mật vụ và buôn lậu đủ mọi loại. Một vài hoạt động đáng được nêu ra :

+ Infico (International Financiera y Comercial) do đô đốc Caereo Blanco lập ra ở Madrid để che đậy và bảo đảm sự tự tài trợ của các công ty mật vụ Tây Ban Nha. Nó được dùng làm trạm chuyển tiếp để bán vũ khí và vật liệu chiến tranh cho các nước hay các phong trào không thể buôn bán hợp pháp. Infico Sodetex bảo đảm cho tới năm 1963 những việc chuyển tiền ra nước ngoài (tư bản lọt ra ngoài) của các cơ quan mật vụ hay của các nhân vật của chế độ. Năm 1963, de Broglie qua Infico can thiệp với chính phủ Algeria để thu hồi nhiều chuyến vũ khí gửi cho FLN, đó là những chuyến vũ khí được cất giấu ở lãnh thổ Tây Ban Nha vào lúc ký hiệp định Ecian.

+ Mundialexport (Italy), một công ty vào lúc đầu của chiến lược gây căng thẳng đã dính vào một loạt những vụ buôn lậu vũ khí cho các nước « bị cấm » như Bồ Đào Nha hay Nam Phi. (Bồ Đào Nha, thành viên của NATO, không thể mua những vũ khí « có thể được dùng vào một cuộc chiến tranh thuộc địa »). Những người chủ hợp pháp của nó là những kẻ rõ ràng có liên hệ với SID (Cơ quan thông tin quân sự, mà những người lãnh đạo của nó đã bị buộc tội « đồng lõa » trong cả một loạt sự kiện của chiến lược gây căng thẳng : những mưu toan đảo chính, các vụ mưu sát,…), họ có liên quan với Aginterpress khét tiếng (cơ quan báo chí được lập ra ở Bồ Đào Nha dưới sự bảo trợ của cảnh sát chính trị thời Salazar, bởi một người Pháp : Gúerin-Serac) và với « cơ quan Paladin » khét tiếng không kém (được lập ra ở Tây Ban Nha với sự đồng ý và bảo vệ của các cơ quan mật vụ bởi cựu đại tá quốc xã von Schubert). Khác với những trung gian khác phát đạt vì bán vũ khí, Mundialexport chủ yếu bán vật liệu mới. Trong những năm 60, nó đã bán 500.000 khẩu Mauser hoàn toàn mới, nhận từ một kho vũ khí chính thức của một nước châu Âu.

+ Merex (Mertens exportations) được cựu đại tá quốc xã Gehard Mertens (cộng tác viên cũ của Otto Skorzeny) lập ra năm 1963. Được bao che bởi Harald Quandt (người lãnh đạo Mauser và kiểm soát khoảng một trăm doanh nghiệp rải rác trên thế giới, trong đó có ba nhà máy sản xuất vũ khí và đạn dược), Mertend đã được Verberg chính thức cho phép làm trung gian giữa chính phủ liên bang và các khách hàng của nó.

Trong những cuộc điều tra về « chiến lược gây căng thẳng » : nó nhiều lần được nhắc tới như « kẻ bảo trợ » cho các giới nòng cốt của phái cực hữu. Nghị viện Đức mở một cuộc điều tra về vấn đề này và mới đây đã dẫn ra Merex trong số những công ty được Nam Phi và một số nước Mỹ Latinh sử dụng để vi phạm những cấm vận quốc tế.

Năm 1966, Merex đã lộ diện khi bán cho Ấn Độ 30 máy bay khu trục ném bom « Sea Hawk », bất chấp việc cấm cung cấp vũ khí « cho những nước hay những khu vực có xung đột ». Để làm điều đó, Merex đã nhờ tới sự thông đồng của công ty Italy Ultramar, mà về mặt chính thức, nó đứng ra làm người mua những máy bay ấy.

+ Technomotor. Công ty này được ông Otto Skorzeny khét tiếng thành lập ở Madrid, nhằm thúc đẩy những việc mua bán ngoài pháp luật của các công ty mật vụ Tây Ban Nha và một số nước Mỹ Latinh. Năm 1963 – 1964, nó được Carreo sử dụng vào một « hành  động » ở Guineé xích đạo, nhằm vũ trang cho một « mặt trận giải phóng » mà, do những hành động của nó, đã biện minh cho sự đàn áp của các giới chức trách Tây Ban Nha.

Sau đó, Technomotor dính líu vào cả một loạt những kế hoạch can thiệp của Mỹ và châu Âu vào châu Phi : ở Cabinda (thuộc địa bàn cũ của Bồ Đào Nha giàu dầu mỏ), ở Bénin (nơi mới xẩy ra những mưu toan đảo chính, mà các giới chức trách địa phương buộc tội – không có bằng chứng, dường như vậy ! – Marocco, Gabon và Pháp đã tham gia vào), ở Angola (cung cấp vũ khí cho du kích Unita và FLNA – thân phương Tây – để đánh nhau với chính phủ hợp pháp)…

+ MGM (Material de Guera de Modena). Trung gian trong việc bán vũ khí cho nhiều nước châu Phi (Ghana, Congo,…) và tài trợ các phong trào khủng bố Italy bằng những tiền lãi lấy được từ những việc mua bán này. Những người lãnh đạo của nó đã bị bỏ tù ở Italy vì bị buộc tội « âm mưu chống lại an ninh quốc gia ». Nhiều máy bay Mirage và xe tăng chiến đấu, đại bác nằm trong những danh mục quảng cáo của nó : chỉ trong năm 1974, nó đã bán được trên 100 triệu USD.

+ Racoin. Chúng tôi đã nhắc tới công ty này khi nói tới Hội tam điểm theo nghi thức Scotland. Được những phần tử cực hữu sử dụng, chúng đã từng tham gia tích cực vào cả một loạt hành vi tội phạm (và thảm hại) ở Italy cũng như ở Tây Ban Nha.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Vụ Matesa – Phần III


Đối với tòa án tối cao (được giao xử vụ này vì các chức vụ bộ trưởng của các bị cáo), rõ ràng là năm 1971, vụ bê bối Matesa đang lẽ không xảy ra nếu không có một sự đồng lõa (thụ động hoặc chủ động) của một loạt nhân vật hàng đầu ; các bộ trưởng, các chủ tịch các Viện tín dụng, thống đốc Ngân hàng Tây Ban Nha.

Theo những yêu cầu (một lần nữa !) của bộ trưởng « bảo trợ » Opus Dei, đô đốc Carrero Blanco, Franco đã cho kết thúc mọi ý định buộc tội công khai vào ngày 1 tháng Mười 1971, hơn nữa còn để ngỏ cho việc áp dụng điều đó sau này có « những nhân vật mới » sẽ bị phạm tội.

Ngày 9 tháng Năm 1975, vụ Matesa, được kết thúc hợp pháp với việc kết án Vila Reyes và vài người cấp dưới của ông ta. Tuy nhiên sự phán quyết được công bố đã cho phép biết nhiều chi tiết lý thú :

Một bộ trưởng Giáo dục và Nghiên cứu khoa học, luật sư chuyên nghiệp, ông Villar Palasi, được Matesa thưởng công gián tiếp.

Tổng thư ký Ngân hàng tín dụng công nghiệp, ông Pellicer, cũng đồng thời được Matesa sử dụng.

Ông Calleja, phó giám đốc Ngân hàng tín dụng (tự biến mình thành thầy cãi cho việc cấp tín dụng cho Matesa đến mức đã xuyên tạc các « báo cáo » bằng cách nêu lên rằng « tại hội chợ Basel, họ đã bán 6000 máy dệt với tổng số tiền 60 triệu USD và đã ký hợp đồng để bán 12.000 chiếc khác với tổng số tiền 100 triệu USD), đã nhận được các khoản tiền thưởng của Matesa…

Sau khi Franco chết, lúc Tây Ban Nha hướng tới dân chủ, công luận chờ đợi để biết rõ sự kết thúc thật sự của vụ Matesa và để xem những người từng là tác giả thật sự của vụ biển thủ thế kỷ này rốt cuộc bị trừng phạt như thế nào…

Nhọc công vô ích… Với sự trở lại với dân chủ và sự trở lại của Opus Dei trong các công việc (khoảng từ 50 đến 60 nghị sỹ, trong đó có các chủ tịch Thượng viện, việc kiểm soát Banco de la Exporttacion, TV, 12 giám đốc chính quyền trung ương, ban thư ký của nữ hoàng…, từ nay tổ chức này liên minh với những kẻ thù cũ của mình, mà kẻ đầu têu cũng là kẻ đã « làm rõ ra vụ bê bối » Fraga Iribarne) thì những khả năng mở lại hồ sơ Matesa trên thực tế đã bị biến mất…

Vụ ám sát hoàng tử Broglie trên một đường phố Paris đã đẩy vào sự im lặng kẻ đáng lẽ có thể là nah6n chứng chủ yếu trong trường hợp mở lại thẩm vấn pháp lý : đó là chủ tịch Sodetex, người được Broglie biết rất rõ.

Về vụ ám sát chủ tịch – tổng giám đốc Sodetex, một công ty được lập ra nhờ có những tư bản của Matesa lọt ra ngoài nước, tác giả đã viết trong số 15 (tháng Giêng 1977) của tạp chí Opinion rằng :

Hôm trước ngày Noel, quá chín giờ sáng, trước nh2 số 2 phố Dardanelles, Jean de Broglie đã bị giết chết chỉ bằng một phát đạn là một người cộng hòa độc lập, đại biểu của quận Eure tại Quốc hội, cựu bộ trưởng, cố vấn thị chính, thị trưởng một thành phố mang tên ông ta, địa chủ gần như phong kiến, thành viên của trên 50 hội đồng quản tri, nhà thương thuyết hay đại sức đặc biệt của nhiều chính phủ khác nhau, hậu duệ của ba nguyên soái, bốn viện sỹ và một giải Nobel, anh em họ với tổng thống hiện nay của nước cộng hòa, ông ta không thể là nạn nhân của những kẻ lưu vong và đáng nghi ngờ như những nhân vật khác của tấn kịch này, những khách nợ của ông ta.

Ít lâu sau khi ông ta chết, một ủy viên của lữ đoàn tội phạm tuyên bố : Tất cả mọi giả thuyết đều có thể, điều đó đã gây ra sự hoảng hốt trong xã hội thượng lưu Paris.

Người ta đã thẩm vấn một Patrick Allenet de Ribemont nào đó, một người ở cùng phố, bạn của nạn nhân và giám đốc một văn phòng tư pháp, cũng như một trong những cộng tác viên của ông ta, Piere de Varga, cũng ở trong ngôi nhà mà Broglie bị ám sát trước mặt.

Cảnh sát viên tuyên bố rằng những sự tìm kiếm được hướng vào những liên hệ kinh doanh của Broglie. Một người con gái cảu Piere de Varga đã chứng minh sự có mặt của hoàng tử trên phố Dardanelles : « Hoàng tử có một cuộc hẹn gặp làm việc với chúng tôi và thường có mặt ở đây như các lần khác. Cảnh sát đã bác bỏ những động cơ tình ái hay chính trị (mặc dầu câu lạc bộ Charles Martel đòi nhận mình là tác giả tội ác, bằng cách gán việc ám sát này cho quá khư « Algerie » của nạn nhân), và hướng tới những động cơ lợi ích kinh tế.

« Trong một cuộc họp báo ngày 29 tháng Chạp, Michel Poniatowski, bộ trưởng Nội vụ, « đã giải thích » mọi cái nhóm tội phạm, được « giới tài phiệt » và cơ quan « chống băng đảng » giúp đỡ đã bắt giữ tất cả những nhân vật dính líu vào vụ ám sát : hai kẻ xúi giục (Ribemont và Varga), một người tổ chức (cảnh sát viên Simoné), một kẻ thừa hành (Gérard Frêche, tức « Gérard nhỏ »), một người đồng lõa (Serge Tessedre) và Simon Kolkowicz, kẻ đã coi nạn nhân có quan hệ với người tổ chức ra vụ này.

« Những điều đó chẳng giải quyết được gì hết, vì năm ngày sau vụ ám sát, bộ trưởng Poniatowski đã khẳng định dứt khoát rằng « vụ Broglie » đã khép lại… « Chết vì bốn triệu francs ư ? – James Sarazin đã tự hỏi trên những trang báo Le Monde, thật ra là muốn nói tới cách giải thích cuói cùng theo con mắt cảnh sát về vụ này : de Broglie đã đi tới một thỏa thuận về tài chính với Ribemont và Varga để mua hiệu ăn la Reine Pédauque, một năm trước đó. Công ty này thường xuyên cần tiền và de Broglie đã bảo đảm cho vay 4 triệu francs lấy từ BNP. Bản hợp đồng dự trù trả một khoản hoa hồng 600.000 francs cho chính khách đã bị ám sát và có một điều khoản nói rằng, trong trường hợp bất trắc, những cổ phần của de Broglie sẽ được chuyển sang tay hai người khác cùng công ty. Cảnh sát còn đi xa hơn : « Cái chết của Broglie đã miễn cho những người chủ hiệu ăn mọi khoản nợ ». Vẫn theo cảnh sát, tất cả những điều đó đã làm cho có thể chấp nhận được là hoạt động sau đó trở thành nguồn gốc của tội ác.

« Nhưng chuyện hiệu ăn không là cái gì mấy trong vô số những vụ có sự xuất hiện của de Broglie. Một trong những vụ này là vụ công ty Sodetex, trụ sở đóng tại Luxembourg, một chi nhánh của công ty Tây Ban Nha Matesa ».

Và, sau khi nói tới một vài khía cạnh chưa được biết rõ của vụ Matesa, tác giả khẳng định để kết thúc bài viết : « Không những vụ de Broglie chưa chấm dứt, mà nó mới chỉ bắt đầu… ».

Ngày nay, chúng ta thấy rằng, trên thực tế vụ này « chưa chấm dứt » thật, như các giới chính khách Pháp đã khẳng định có lẽ hơi vội vã, nhưng có nhiều khả năng để cho hồ sơ de Broglie sẽ lại bị đút vào ngăn kéo những vụ không giải quyết.

Tác giả không có tham vọng đưa ra một câu trả lời cho câu hỏi về việc giết chết hoàng tử, và đó chính là vì « có thể có những tên ám sát khác nhau, hay nói đúng hơn những kẻ có thể được tên ám sát ủy thác) được hưởng lợi về cái chết của « nhà kinh doanh » này.

Lướt qua danh sách những công ty hay doanh nghiệp trong đó hoàng tử có quyền lợi, hoặc có ông ta tham gia hoặc do ông ta lãnh đạo, cũng như những công ty ông ta có liên hệ, người ta thấy rằng « những kẻ hưởng lợi » về tội ác này có thể là :

+ Một số nhân vật của Opus Dei, họ sợ rằng những sự bại lộ có thể xảy ra sẽ làm cho « sự trong trắng » của họ vừa mới được sơn phết bị vẩn đục đi ;

+ Một số nước, vì run sợ về những cuộc buôn bán vũ khí hay ngoại tệ, hoặc những sự can thiệp của họ vào các nước « bạn »,… sẽ bị phát hiện ;

+ Một số cơ quan mật vụ chính thức (hay, ít ta là một số bộ phận của những cơ quan này, do sự tồn tại rõ rệt của các nhóm tranh chấp nhau bên trong) đã sử dụng hoàng tử và các công ty của ông ta để che đậy những hành động bất hợp pháp của họ ;

+ Những kẻ buôn lậu vũ khí, những tên cướp, những phong trào cách mạng hay những phong trào phát xít mới…

Tất cả đều có những lý do quá đủ để mong muốn sự biết mất cảu « người chỉ huy » là hoảng tử de Broglie…. Chỉ nhìn qua một vài hoạt động của ông ta, bạn đọc cũng có thể hiểu rõ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Tại sao IMF vẫn đóng vai trò quan trọng?


Ricardo Hausmann

Tại nhiều nơi, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) là tổ chức mà mọi người đều căm ghét. Theo một số người, IMF không mang lại gì tốt đẹp cho người nghèo, phụ nữ, ổn định kinh tế và môi trường. Joseph Stiglitz, người có tầm ảnh hưởng được nhân rộng bởi giải thưởng Nobel, đổ lỗi cho IMF vì đã gây ra và sau đó càng làm tồi tệ hơn các cuộc khủng hoảng kinh tế mà IMF được yêu cầu giải quyết. IMF được cho là làm như vậy để giải cứu các nhà tư bản và chủ ngân hàng chứ không phải người dân bình thường. Mặc dù không đúng sự thật nhưng niềm tin này sẽ gây hại rất lớn và hạn chế tiềm năng những điều tốt đẹp mà IMF có thể mang lại.

Trước tiên, hãy xem xét cách thế giới giải quyết cuộc khủng hoảng người tị nạn, chẳng hạn như khủng hoảng người tị nạn Syria, và cách thế giới giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính. Như tên gọi của nó cho thấy, Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Người tị nạn là một cá nhân, không phải là một tổ chức. Ông ta hoặc bà ta đứng đầu một “văn phòng”, không phải là một tổ chức hoàn chỉnh. Điểm yếu này là điều đã buộc Thủ tướng Đức Angela Merkel phải ép buộc các đối tác Liên minh châu Âu có phản ứng thống nhất hơn đối với dòng người tị nạn.

Ngược lại, hệ thống ngăn chặn và giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính được trao cho một tổ chức hoàn chỉnh: IMF. Nó có thể không hoàn hảo, nhưng so với các lĩnh vực như người tị nạn, nhân quyền, hoặc môi trường, thì nó đang đi trước hàng năm ánh sáng.

Rất dễ hiểu sai những gì mà IMF làm. Phần lớn những nỗ lực của IMF là dành cho việc phòng ngừa khủng hoảng. Như Franklin D. Roosevelt phát biểu tại Hội nghị Bretton Woods năm 1944, nơi thành lập IMF và Ngân hàng Thế giới (WB), “những căn bệnh kinh tế rất dễ lây lan. Do đó, sức khỏe kinh tế của mỗi quốc gia là vấn đề thích hợp đáng để quan tâm đối với tất cả các nước láng giềng, dù gần hay xa”.

Đó là lý do tại sao 44 quốc gia tham dự, và hiện nay là 188 quốc gia thuộc IMF, đã đồng ý “tham vấn và đạt thỏa thuận về những thay đổi tiền tệ quốc tế có tác động lẫn nhau … và họ nên giúp đỡ nhau vượt qua các khó khăn ngắn hạn về ngoại hối”. Về mặt hoạt động, điều này được thể hiện trong các tham vấn được quy định tại Điều IV (của Điều lệ IMF). Những cuộc thảo luận chính sách chính thức giữa IMF và chính phủ các nước thành viên thường diễn ra hàng năm, và được ghi nhận, xem xét bởi Ban Giám đốc Điều hành của Quỹ (đại diện cho toàn bộ 188 chính phủ), đồng thời công bố cho mọi người đọc trực tuyến. Đây là tiêu chuẩn giám sát tập thể và minh bạch mà các tổ chức về các vấn đề khác nên noi theo.

IMF đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các công cụ để các nước đo lường, đánh giá và cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay của họ, bao gồm chính sách tài khóa và tiền tệ, cũng như ổn định tài chính, tiền tệ và giá cả. Nó giúp các nước tìm ra cách tốt hơn để thực hiện các biện pháp trong tất cả các lĩnh vực này, và xác định những bài học lớn từ kinh nghiệm của nhiều nước, qua đó có thể làm sáng tỏ các lựa chọn mà một quốc gia cụ thể bất kỳ có thể có.

Thông qua đối thoại, nghiên cứu, tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, và đào tạo, IMF giúp tạo ra một cộng đồng toàn cầu các chuyên gia thực hành. Ngày nay, trở thành một chủ tịch ngân hàng trung ương hoặc bộ trưởng tài chính thì dễ hơn nhiều so với việc trở thành một bộ trưởng y tế hoặc tư pháp. Không phải là vì các thách thức trở nên dễ dàng hơn mà là vì cộng đồng quốc tế các chuyên gia thực hành, dẫn đầu bởi IMF, đã cung cấp một mức độ hỗ trợ mà đơn giản là không tồn tại trong các lĩnh vực khác.

Các hoạt động gây tranh cãi nhất của IMF xuất hiện trong thời gian quản lý và giải quyết khủng hoảng. Những nước yêu cầu hỗ trợ tài chính của IMF khi họ gặp rắc rối và mất hoặc lo sợ bị mất khả năng đi vay trên thị trường quốc tế. IMF có thể huy động hàng trăm tỷ đô la từ các quốc gia thành viên nhằm giúp các nước đi vay có thời gian để phục hồi. Nguồn lực của IMF lớn hơn nhiều số tiền mà cộng đồng quốc tế có thể huy động cho các vấn đề khác, bởi vì tiền này được cho các nước vay và họ phải có nghĩa vụ hoàn trả.

Để có được sự hỗ trợ tài chính này, IMF thường đòi hỏi các nước giải quyết sự mất cân đối ngân sách – nguyên nhân gây ra các vấn đề của họ, không chỉ để họ có thể hoàn trả tiền đã vay mà còn tốt cho chính họ, bởi vì qua đó họ có thể khôi phục mức độ tín nhiệm (và do đó là cả khả năng tiếp cận thị trường vốn). Nhưng thật dễ nhầm lẫn giữa cơn đau gây ra bởi chính cuộc khủng hoảng với cơn đau gây ra bởi các biện pháp khắc phục.

Đúng là IMF không tránh khỏi mắc sai lầm, một phần vì các câu hỏi và vấn đề mà IMF phải giải quyết thay đổi liên tục, vì vậy không bao giờ biết được tư duy hiện tại có đủ để đương đầu với thách thức mới hay không. Nhưng IMF là một tổ chức đủ cởi mở để có thể và buộc phải phản ứng trước những chỉ trích dành cho nó.

Bây giờ hãy xem xét phương án thay thế. Một thế giới không có IMF trông rất giống Venezuela ngày nay. Hugo Chávez đã trở thành nhân vật được yêu mến của những người phản đối IMF, bao gồm Stiglitz, khi ông hoãn các tham vấn theo quy định của Điều IV vào năm 2004. Kết quả là, người Venezuela mất cơ hội tiếp cận thông tin kinh tế cơ bản mà đất nước có nghĩa vụ phải chia sẻ với thế giới thông qua IMF. Sự vi phạm này đã ngăn cản cộng đồng quốc tế lên tiếng khi đất nước này thực hiện các chính sách thực sự vô trách nhiệm, chi tiêu trong năm 2012 như thể giá dầu ở mức 197 đô la Mỹ/ thùng chứ không phải 107 đô la Mỹ/thùng.

Với sự sụp đổ của giá dầu kể từ đó, nền kinh tế đã đi xuống nhanh chóng: GDP thu hẹp với tốc độ kỷ lục, lạm phát vượt quá 200%, đồng tiền đã giảm xuống còn dưới 10% giá trị trước đây, và thiếu hụt hàng hóa đã diễn ra trầm trọng.

Venezuela đã cố gắng có tiền chi tiêu với sự giúp đỡ của Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) , ngân hàng này không áp đặt loại điều kiện mà những người phản đối IMF không thích. Thay vào đó, CDB cho vay theo các điều khoản bí mật, cho những mục đích sử dụng bí mật và tham nhũng, đi kèm với các đặc quyền dành cho các công ty Trung Quốc trong những lĩnh vực như viễn thông (Huawei), thiết bị gia dụng (Haier), xe ô tô (Chery), và khoan dầu (ICTV). Trung Quốc đã không yêu cầu Venezuela thực hiện bất cứ điều gì nhằm tăng khả năng phục hồi mức độ tín nhiệm. Họ chỉ đòi hỏi nhiều dầu hơn để làm tài sản thế chấp. Dù IMF có lỗi gì đi nữa thì CDB vẫn là một điều đáng hổ thẹn.

Bi kịch là hầu hết người Venezuela (và nhiều công dân của các nước khác) tin rằng IMF tồn tại là nhằm gây tổn thương chứ không phải để giúp đỡ các nước. Kết quả là họ tránh các nguồn lực và vốn kiến thức khổng lồ mà cộng đồng quốc tế có thể cung cấp khi xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế nhằm giúp giảm các khó khăn và đẩy nhanh sự hồi phục. Điều đó đã khiến họ gặp khó khăn nhiều hơn so với những gì mà những người phản đối IMF dám thừa nhận.

Biên dịch: Nguyễn Hoàng Mỹ Phương | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Ricardo Hausmann, “Don’t Fear the IMF”, Project Syndicate, 28/09/2015.

Ricardo Hausmann là cựu Bộ trưởng Kế hoạch của Venezuela và cựu Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, và là Giáo sư ngành Thực hành Phát triển Kinh tế tại Đại học Harvard, nơi ông giữ chức Giám đốc Trung tâm Phát triển Quốc tế.

Vụ Matesa – Phần II


Nghe nói rằng hình như ủy ban bầu cử của Nixon đã nhận được một số trợ cấp qua Trung gian của American Iwer và, theo YnFantes, Opus Dei đã nhận được về những “công việc” của nó:

Trường Đại học Navarre 120.000.000 pesetas

Casa Generalicia ở Rome 270.000.000 pesetas

Các tổ chức xây dựng ở Mỹ 900.000.000 pesetas

Trường Đại học Piur (Peru) 1.200.000 pesetas

Tổng số lên tới 2.490.000.000 pesetas (khoảng 175 triệu francs hiện nay).

Ngày 21 tháng Bảy 1969, tuy ở các cấp khác nhau người ta đã nói tới « vụ biển thủ của Matesa », nhưng theo khuyến cáo của bộ trưởng Tài chính, ông Espinosa San Martin (ông ta nói : « mặc dầu tình hình thật tế nhị, Matesa vẫn phải được giúp đỡ »), hội đồng bộ trưởng vẫn quyết định cấp những khoản tín dụng mới cho công ty này.

Bất chấp cuộc « bỏ phiếu tín nhiệm » mới đó, một sự khiếu nại vẫn được gửi tới tòa án chống lại Vila Reyes và cuối cùng người ta phải ra lệnh bỏ tù ông ta cũng như vài cộng tác viên với ông ta.

Tháng Tám 1969, hội đồng bộ trưởng Tây Ban Nha đưa ra một « thông tri », trong đó nó giải thích vụ này như sau :

« Công ty Matesa, chủ yếu chuyên về xuất khẩu máy dệt theo một khuôn mẫu nhất định, qua Ngân hàng tín dụng công nghiệp, đã sử dụng những thể thức cấp tín dụng chính thức cho xuất khẩu theo những hình thức và điều kiện thông thường và phù hợp với luật pháp đang có hiệu lực (…). Tuy việc thanh toán phần chính và phần lãi là đúng hạn, Chính phủ đã biết có những khả năng xảy ra các điều bất thường (…) vi phạm pháp chế hiện hành về vấn đề tiền tệ (…). Nhiều máy dệt đã được gửi cho những công ty có liên hệ với Matesa, nhiều máy khác thì nằm trong kho hoặc đang được ký gửi ở nước ngoài (…) những máy này chưa được bán ra nhưng vẫn được khai đã bán, khi thì đã được miễn thuế, khi thì để được cấp tín dụng xuất khẩu (…). Từ đó có thể thấy rằng một phần tiền tín dụng chế tạo đã được sử dụng nhưng không hoàn toàn không phải để mua cổ phần ở nước ngoài và tham gia vào các công ty, doanh nghiệp và các tổ chức thương mại (…). Tổng số tín dụng đã cấp cho Matesa lên tới con số 9.978.893.924,59 pesetas… ».

Bạn đọc sẽ thấy rằng, trong thông tri chính thức đầu tiên ấy, người ta vẫn tiếp tục cho rằng Matesa đã nhận những khoản tín dụng này « một cách bình thường » và, tuy « một số điều bất thường » được nói lên, người ta vẫn không nói gì tới những số tiền bị mất đi không thể giải thích được.

Ngày 13 tháng chín 1969, dưới sự chủ trì của Franco, một ủy ban liên bộ (Các vấn đề kinh tế) đã quyết định quốc hữu hóa Matesa, sau những sự phê phán được tung ra bởi một « chiến dịch báo chí quá đáng » (sở dĩ có thể có chiến dịch này là do ý muốn tốt của bộ trưởng Thông tin Manuel Fraga Iribarne).

Tuy việc quốc hữu hóa này « được cho phép để thu hồi phần lớn những số tiền được các tổ chức tín dụng cấp », hội đồng bộ trưởng họp ngày 14 tháng Chín cùng năm đó, do sự can thiệp cũng của ông bộ trưởng Fraga Iribarne ấy, « vì những lý do rõ ràng có tính chất chính trị » đã chống lại việc quốc hữu hóa này. Trong số những biện pháp nhằm thu hồi một cách hợp lý và có thứ tự những khoản tín dụng đã cấp cho Matesa, hội đồng bộ trưởng đã quyết định rằng, Ngân hàng tín dụng công nghiệp có thể cấp những khoản tín dụng mới hay thực hiện những khoản thanh toán được Ngân hàng này coi là cần thiết, trong một số trường hợp được biện minh và vì lợi ích riêng của nó…

Ngày 15 tháng Mười cùng năm ấy, khi cuộc điều tra đang được tiếp tục, Carrero Blanco trình cho Franco một bảo báo cáo « cách chức » những bộ trưởng dính líu vào vụ Matesa, cũng như « cách chức » Fraga Iribarne vì « vụ bê bối xảy tới do ông ta ».

« Những nhận xét về tính hợp thời của một sự thay đổi chính phủ » :

« …Chúng tôi nhận thấy việc thay thế các bộ trưởng dính líu vào vụ Matesa cũng là cần thiết. Người ta đang nói tới một vụ rắc rối không may và nghiêm trọng mà, do được các phương tiện truyền thông loan truyền một cách khoái trá, đã gieo hoang mang trong dư luận nước này. Trong vụ Matesa, cần phải phân biệt khía cạnh kinh tế và khía cạnh chính trị, tức là giữa sự phá sản có quy mô chưa từng thấy ở Tây Ban Nha và vụ bê bối chính trị do một chiến dịch báo chí gây ra, làm tổn hại không những cho tín dụng bên ngoài của nền kinh tế chúng ta, mà còn cho cả tiếp tăm của chế độ do trình bày điều đó như bị nạn hối lộ hành chính phá hoại.

« Chiến dịch báo chí dữ dội và chưa từng thấy này có nguồn gốc và những kênh phổ biến chứng minh hoàn toàn rõ ràng là nó được các cơ quan báo chí chính thức thuộc bộ Thông tin (Cifra và Fiel) và ban tổng thứ ký Phong trào (Pyresa) chỉ huy, và nó được khuyến khích chủ yếu bởi tờ báo Pueblo, tổ chức công đoàn và một chuỗi báo của Phong trào (…). Tất cả những phương tiện này không ngừng làm hại tiếng tăm của hai bộ trưởng mà không một ai nghi ngờ ngờ về tính trung thực của họ cả (…). Từ những thông tin đã có về khía cạnh kinh tế của vụ này, không thể suy diễn rằng các quan chức cấp cao đang tại chức, nhất là những người phụ trách các bộ Tài chính và Thương mại, là thủ phạm của các tội trạng, mà đúng hơn, đó chỉ là những sai lầm đáng tiếc (…) nhưng không phải vì thế mà gạt bỏ những trực trặc hành chính, kể cả những trách nhiệm hình sự vì cẩu thả trong các cơ quan thuộc các bộ này…

« Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng ảnh hưởng xấu xa về mặt chính trị của vụ này thật quan trọng, do đó nên cần thay thế các bộ trưởng Tài chính và Thương mại, những người đã bị vấy bẩn trong vụ này, cũng như cần thay thế các bộ trưởng Thông tin và tổng thư ký Phong trào, mà trong trường hợp nhẹ nhất, cũng đã cho phép nổ ra một chiến dịch báo chí dữ dội và ác ý như thế, do sự cẩu thả của họ…

Ngày 29 tháng Mười, Franco thay đổi chính phủ. Các bộ trưởng bị Carrero Blanco nói tới trong tài liệu nói trên không có mặt trong chính phủ nữa…

Cuộc chiến giữa Phong trào và Opus Dei vẫn tiếp tục suốt cả năm 1970, năm mà Vila Reyes bị kết án lần thứ hai vì đã để cho tư bản lọt ra, ông ta bị ba năm tù và phải bồi thường 1.165.397.852 pesetas.

Về phần mình, phái Cortes trao cho Franco một bản báo cáo do « một ủy ban đặc biệt về nghiên cứu, thông tin và kiến nghị có liên quan tới những khoản tín dụng của các tổ chức chính thức cho Matesa » soạn thảo. Bản báo cáo này đặc biệt chú trọng tới các chi nhánh của Matesa, hay cụ thể hơn nữa, tới Sodetex do hoàng tử Broglie làm chủ tịch, người bị ám sát ở Paris sau này. Trong bản báo cáo do « các nghị sĩ » thuộc Phong trào soạn thảo này, các khía cạnh chính trị của vụ Matesa (tức là tới sức mạnh kinh tế mà những đầu tư của nó ở nước ngoài và mạng lưới chi nhánh của nó đã mang lại cho Opus Dei) được chú trọng nhiều hơn chính việc biển thủ công quỹ.

Ngày 14 tháng Bảy 1970, tòa án tối cao bằng bản án N.02/70 S/J của nó, đã xóa bỏ hoàn toàn những sự khẳng định của Carrero Blanco về « tính liêm khiết của các bộ trưởng hữu quan ». Người ta đọc thấy trong bản án đó :

« Nhận xét rằng tòa án cũng đánh giá giống như việc thẩm vấn về ứng xử của các ông Espinosa, San Martin, Garcia Monco và Navarro Rubio, các bộ trưởng Công nghiệp, Thương mại ; rằng trong khi những người này thực hiện chức vụ của mình đã xảy ra một sự biển thủ công quỹ lớn do những người lãnh đạo Matesa gian lận về tín dụng chính thức, vì những mục đích rất khác nhau và kèm theo một sự giúp đỡ không đáng có bằng cách miễn thuế không có cơ sở cho những hàng xuất khẩu giả, mà ba ông nói trên có thể và phải biết một cách dễ dàng vào lúc có ích (do đó mà tránh được những sự tính toán sai), và mặc dầu đã có những cảnh cáo lặp đi lặp lại cũng như những tiếng kêu báo động phát ra từ những tổ chức khác nhau (kể cả từ bộ của họ) và tuy cá nhân họ đã biết như thế, họ vẫn không chú ý và trong nhiều năm vẫn không có biện pháp hữu hiệu nào – cùng nhau hoặc từng người, theo quyền hạn và thẩm quyền của mình – mà họ có quyền làm như vậy, một biện pháp được đòi hỏi một cách hợp lý và phù hợp với sự cảnh giác ở mức tối thiểu, mà không cần phải đình chỉ hoặc bóp nghẹt sự gian lận diễn ra ngày càng nghiêm trọng về những việc gửi tiền bất hợp pháp ra nước ngoài, để cuối cùng bị lộ rõ cho công chúng biết, tới mức trở thành một sự vi phạm pháp lý (…). Một sự cẩu thả như vậy trong việc thực hiện những bổn phận sơ đẳng – ở mức độ cao cũng như với những hậu quả nặng nề – đã vi phạm điều 395 bộ luật hình sự về « những viên chức, do bỏ chức trách hoặc cẩu thả, tạo ra cơ hội cho người ta thực hiện, qua trung gian, một sự biển thủ quỹ công hay tài sản công cộng… ».

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: : Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Làm thế nào để chung sống với Trung Quốc? – Phần cuối


Theo cách tư duy như vậy, sự phát triển và lớn mạnh của Trung Quốc khiến Mỹ khá bối rối: Turng Quốc kiên trì cải cách mở cửa và phát triển hòa bình dưới hệ thống quốc tế do Mỹ thành lập và phát triển trong tiến trình toàn cầu hóa mà Mỹ thúc đẩy, đã trở thành một thành viên quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính trị, kinh tế và thương mại, Trung Quốc không có mưu đồ chiến lược thách thức thậm chí là thay thế Mỹ.

Mỹ trong quá khứ đã sử dụng các biện pháp như chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng, cô lập chính trị, chèn ép kinh tế để đối phó với Liên Xô, Nhật Bản, Đức, và bây giờ đang tìm cách đè bẹp Nga, tiếp tục chèn ép không gian chiến lược của Nga. Thắng lợi trong Chiến tranh Lạnh làm cho Mỹ trở nên kiêu ngạo, có thái độ khinh thị đối với thế giới, cho rằng nền văn minh phương Tây và chế độ chính trị, mô hình phát triển của mình không có đối thủ cạnh tranh, “lịch sử đã chấm dứt”, “ngọn hải đăng trên đồi” sẽ chiếu sáng mọi nơi.

Đây chính là cái gọi là “thời khắc Mỹ”. Đây có lẽ là thời khắc huy hoàng nhất trong hàng trăm năm bá chủ của Mỹ, song họ không biết rằng khoảnh khắc này là thoáng qua, sự phát triển của lịch sử có quy luật khách quan của nó. Mỹ vẫn là quốc gia bá chủ thế giới, nhưng toàn cầu hóa kinh tế và đa cực hóa thế giới vẫn tiếp tục di chuyển về phía trước, sự thay đổi của cục diện sức mạnh thế giới hướng tới cân bằng hơn, có lợi hơn cho các nước đang phát triển, thể hiện xu thế hướng tới cân bằng của sức mạnh phương Đông – phương Tây lần đầu tiên kể từ cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây. Mỹ phải đối mặt với những thay đổi to lớn trong quan hệ quốc tế và tình hình thế giới, các dây thần kinh trở nên “mong manh” hơn, nỗi lo ngại chiến lược đối với các nước trầm trọng hơn, sự hoài nghi trở nên sâu sắc hơn, một lần nữa đi tới thời khắc Mỹ phải đưa ra sự lựa chọn lịch sử.

Trên thực tế là Mỹ phải lựa chọn hai con đường: Một là cùng Trung Quốc thiết lập mối quan hệ nước lớn kiểu mới “không đối đầu, không xung đột, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và cùng thắng” mà Tập Cận Bình đề xuất, hai nước cùng chung sống hòa bình, cạnh tranh hòa bình, bảo vệ hệ thống quản lý toàn cầu hiện có, có những điều chỉnh thích hợp để duy trì sự ổn định lâu dài của thế giới; hai là tiếp nối con đường cũ đối phó với sự trỗi dậy của các nước lớn, vận dụng các biện pháp và ưu thế về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và dư luận xã hội để chèn ép, ngăn chặn, bao vây, để bảo vệ quyền bá chủ lâu dài của Mỹ.

Hiện nay, Mỹ vẫn chưa đưa ra sự lựa chọn, nhưng rất nhiều cách làm đã bị ảnh hưởng bởi tư duy cố hữu, quán tính, hành động theo bản năng, duy trì sự chèn ép và răn đe ở các phương diện quân sự, kinh tế, văn hóa, dùng áp lực thúc đẩy thay đổi, gây sức ép để kiếm lợi. Độ dao động trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc những năm qua cũng tăng, nóng lạnh thất thường, bị ảnh hưởng bởi “thói quen cũ”. Đặc điểm này thậm chí còn rõ ràng hơn khi Trump theo đuổi chính sách quốc gia hẹp hòi “Nước Mỹ trước tiên” sau khi lên cầm quyền.

Trên thực tế, ngay từ đầu thế kỷ này, nước Mỹ đã phải đối mặt với việc lựa chọn con đường chung sống như thế nào với Trung Quốc, sau đó vì “khủng bố toàn cầu” nên Mỹ phải diều chỉnh thứ tự các mối đe dọa chiến lược, mối đe dọa của nước lớn đã bị đặt sau danh sách các mối đe dọa chiến lược của Mỹ. Hiện nay mối đe dọa của nước lớn đã một lần nữa trở lại vị trí hàng đầu trong các mối đe dọa chiến lược của Mỹ. Trung Quốc lại xuất hiện trong danh sách các mối đe dọa chiến lược của Mỹ, đứng ngang vị trí với Nga.

Trên thực tế, sự lựa chọn đúng đắn chỉ có một, đúng như Tập Cận Bình đã nhấn mạnh nhiều lần, “hợp tác là lựa chọn duy nhất giữa Trung Quốc và Mỹ”. Đây là một sự lựa chọn lịch sử với tư cách Trung Quốc là nước lớn có trách nhiệm, hy vọng Mỹ sẽ đưa ra sự lựa chọn theo cùng huớgn trên cơ sở thảo luận sâu rộng và suy nghĩ nghiêm túc. Trong một thế giới mà toàn cầu hóa đi sâu phát triển, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước không ngừng tăng lên hiện nay, Trung Quốc và Mỹ có cả triệu lý do để tăng cường hợp tác, không có lý do cho một cuộc đối đầu bởi vì mối quan hệ Trung – Mỹ không chỉ ảnh hưởng đến bản thân họ, địa vị nước lớn thế giới của hai nước quyết định “hiệu ứng lan ra ngoài” sẽ tác động trực tiếp đế hòa bình và thịnh vượng của thế giới.

Thực tế là cả hai bên đều đã được hưởng lợi rất lớn từ sự hợp tác song phương. Sự phát triển của quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ kinh tế và thương mại trong nhiều thập kỷ hoàn toàn là cùng thắng. Nếu nói nước nào giành phần thắng hơn thì đó là sự nối dài của “tư duy được mất ngang nhau”. Một số người Mỹ nói Trung Quốc “đang làm xói mòn an ninh và thịnh vượng của nước Mỹ”, “sự phát triển của Trung Quốc đang chiếm mất lợi ích của Mỹ”, đó là những lời vô căn cứ.

Sự phát triển liên tục của Trung Quốc không thể bị bất kỳ lực lượng nào ngăn cản, đã được lịch sử chứng minh. Sự phát triển của Trung Quốc phù hợp với lợi ích của người dân Trung Quốc cũng như lợi ích của cộng đồng quốc tế và phù hợp với lợi ích lâu dài của Mỹ. Sự gia tăng quyền lực của Trung Quốc là sự gia tăng sức mạnh hòa bình và phát triển của thế giới, không phải là sự nổi lên của bá quyền khác. Lý luận và thực hành của chiến lược đối ngoại của Trung Quốc đều đã phủ định “bá quyền cường quốc”, vĩnh viễn không xưng bá là chính sách quốc gia, cam kết long trọng của Trung Quốc và thế giới. Chừng nào mà Mỹ có sự lựa chọn đúng đắn, triển vọng hợp tác Trung – Mỹ là không giới hạn, và triển vọng hòa bình và phát triển của thế giới là vô hạn.

Nguồn: Mạng Người quan sát (TQ) – 07/02/2018

TLTKĐB – 24/02/2018