Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần cuối


Kết luận

Có ba bài học có thể rút ra từ các cuộc luận bàn này của Trung Quốc về Nhật Bản và “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Trước hết, đa số áp đảo các tư liệu học thuật, các phát ngôn chính thống và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều không đề cập đến Nhật Bản khi xét đến tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Điều này chứng tỏ ý niệm của Trung Quốc dành rất ít không gian cho các quốc gia hàng đầu châu Á như Nhật Bản, và người Trung Quốc xem mối quan hệ Trung – Mỹ là khác biệt so với các mối quan hệ cường quốc khác trong khu vực. Mỹ nên lưu tâm tới thực tế này, cũng nên xem xét tầm nhìn của mình về trật tự châu Á – Thái Bình Dương liệu có phù hợp với ý niệm của Trung Quốc.

Thứ hai, ở tất cả các tài liệu của Trung Quốc có bàn đến Nhật Bản trong bối cảnh “quan hệ cường quốc kiểu mới”, các quan điểm về Nhật Bản đều được hiểu một cách hết sức hẹp hòi Nhật Bản được mô tả lần lượt là một cường quốc đang suy yếu và là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia mà bản thân sự trỗi dậy quyền lực kiểu gây hấn của họ là một điểm đối sánh tiêu cực với tương lai trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia có quan hệ song phương không ngang tầm với Mỹ, và vì vậy là một mẫu hình kém thuyết phục cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ; cũng là một quốc gia ngày càng quân phiệt và cánh hữu, đang nỗ lực kích động tình trạng bất ổn ở khu vực trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thấy rất ít sự tích cực trong những mô tả này về Nhật Bản. Hơn thế, những quan điểm này lại hoàn toàn trái ngược với những gì người Trung Quốc nhận thức về Nhật Bản ở những giai đoạn trước trong lịch sử. Chứng cứ lưu trữ hiện thời của Trung Quốc cho thấy, trong những năm 1950 – 1960, giới chức Trung Quốc đã mô tả Nhật Bản không chỉ là một kẻ xâm lược thời chiến, mà còn là một mẫu hình quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa và đầy quyền lực, cũng là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc. Mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao, song các quan chức hàng đầu Trung Quốc như Thủ tướng Chu Ân Lai và Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Nam Hán Thần đã hoan nghênh rất nhiều nhóm các nhà tư bản công nghiệp và doanh nghiệp Nhật Bản đến Trung Quốc hồi những năm 1950, 1960 và 1970 để tư vấn giải pháp cho nền kinh tế thời hậu chiến đang phát triển của Trung Quốc. Cuối những năm 1980, vai trò của Nhật Bản với tính cách là một đối tác kinh tế đã trở nên quan trọng hơn, nhưng Trung Quốc cũng lo ngại về sức mạnh trỗi dậy của Nhật Bản, một mối lo ngại sớm muộn cũng không còn được giảm thiểu bởi bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản cùng sát cánh chống lại mối đe dọa Xô Viết. Sự hẹp hòi trong các quan điểm của Trung Quốc về Nhật Bản càng trở nên sâu sắc hơn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, khi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình “tái ghi nhớ” những hành động tàn bạo của người Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai. Đến giữa những năm 1990, nghị trình chính thống đã đặt trọng tâm lớn vào những sai phạm chết người trong lịch sử của Nhật Bản, và chỉ trích cao độ việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mối quan hệ Nhật Bản – Đài Loan. Nghị trình này cổ vũ cho tinh thần chống Nhật mạnh mẽ trogn số đông dân chúng, dẫn đến những cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu những năm 2000 liên quan đến những vấn đề như việc Nhật Bản được đề nghị một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, ngay tại cao trào của những tình huống căng thẳng này, nghị trình của Trung Quốc về Nhật Bản hồi đầu những năm 2000 vẫn hàm chứa rất nhiều quan điểm khác nhau. Minh chứng đáng chú ý nhất ở đây là sự hiện diện của “các nhà tư tưởng mới” – như Shi Yinhong và Ma Licheng – những người thẳng thắn nêu tranh luận cho rằng, Trung Quốc không thể hy vọng Nhật Bản mãi mãi là một quốc gia “phi chuẩn” không có quyền lực quân sự.

Điểm có vẻ khác biệt trong nghị trình hiện thời của Trung Quốc về Nhật Bản chính là sự thiếu vắng của số nhiều các quan điểm. Thay vì thế, ta sẽ nhận ra một sự thu hẹp đáng lo ngại những ý niệm của Trung Quốc về Nhật Bản. Đôi khi vẫn có những tham chiếu đến mối quan hệ kinh tế trọng yếu ràng buộc Trung Quốc và Nhật Bản, như sự kiện hồi tháng 9/2012, ở thời điểm cao trào của những cuộc biểu tình phản kháng và tẩy chay chống Nhật đang lan rộng ở Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhắc nhở độc giả của mình rằng “bất cứ một sự đổ vỡ nghiêm trọng nào trong quan hệ thương mại song phương [giữa Trung Quốc và Nhật Bản] đều có thể gây tổn hại cho cả hai quốc gia”. Song những tham chiếu như vậy đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, những nhãn mác đáng chú ý nhất trong nghị trình học thuật và chính thống của Trung Quốc về Nhật Bản là những thuật ngữ kiểu như “quyền lực suy giảm”, “xâm lược lịch sử”, “cánh hữu” và “chủ nghĩa thân tộc”, cùng với những biểu trưng của tiến trình giải trừ quân bị của Nhật Bản từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai như các Phiên tòa Tokyo, Tuyên bố Cairo, và Tuyên bố Potsdam. Những nhãn mác này đã mô tả một hình ảnh hết sức phiến diện về Nhật Bản. Dù là công cụ hay là gì khác nữa, chúng đều tạo thành quan điểm cho rằng Nhật Bản thua kém Trung Quốc, rằng lịch sử xâm lược đã khiến Nhật Bản không đủ tư cách nắm giữ vai trò cường quốc “quy chuẩn”, và hành vi “phi pháp” và “dân tộc chủ nghĩa” của Nhật Bản – chứ không phải là bất cứ hành động nào từ phía Trung Quốc – đang thách thức hiện trạng ở châu Á. Quan trọng không kém, những nhãn mác này cũng giúp giới chức và các nhà khoa học Trung Quốc đặt tương lai của Trung Quốc bên cạnh quá khứ của Nhật Bản; họ cho rằng, bởi lẽ Trung Quốc không quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa như Nhật Bản, nên thế giới không cần phải e sợ và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sau cùng, nghị trình này về Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề quan trọng sống còn đối với việc trị lý hòa bình tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Như Evelyn Goh mới đây đã nhận định, “bước chuyển tiếp trật tự đang diễn ra đòi hỏi một sự tính toán cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản về những điều kiện để Nhật Bản tái hòa nhập với cộng đồng khu vực hiện thời” ở châu Á. Song, như đã thấy rõ từ phân tích này, những quan niệm của Trung Quốc vẫn là những quan điểm nhận thức hẹp hòi về Nhật Bản với tính cách là một thế lực gây hấn, quân phiệt và bất hợp pháp. Mọi sự tính toán cho nhau đều có vẻ như bất khả thi. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ tiếp tục là một “nhân tố trung lập” giữa một Trung Quốc đầy năng lực cạnh tranh và Nhật Bản, từ đó dần phong hóa những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tạo dựng một trật tự mới ở châu Á, trong đó sức mạnh và uy quyền được chia sẻ ngang bằng hơn giữa Mỹ và Trung Quốc. Tháng 10/2013, ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã tổ chức một hội nghị công tác quan trọng về vấn đề ngoại giao khu vực, một hội nghị có vẻ nhằm tìm cách tái thiết và phục hồi các mối quan hệ trong khu vực của Trung Quốc sau một thời kỳ khó khăn kéo dài 3 – 4 năm. Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc củng cố “mối quan hệ bạn hữu” với các quốc gia láng giềng, nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương là đủ lớn để tất cả các quốc gia cùng phát triển”, đồng thời thúc giục Trung Quốc thực hiện những bước tiến tiên phong để tăng cường an ninh khu vực. Nghị trình mới này của Trung Quốc tuy có liên quan đến Nhật Bản song vẫn chưa rõ ràng. Từ trước đến nay, ta vẫn chỉ có chút ít dẫn chứng từ Trung Quốc chứng minh tư duy sáng tạo về vai trò mà một Nhật Bản đầy quyền năng có thể nắm giữ bên cạnh một Trung Quốc đầy quyền năng. Trong khi một số người, như Yuan Peng, đã thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường mối quan hệ ba bên Trung – Nhật – Mỹ với tính cách là một “điều kiện tiên quyết” để đạt được “quan hệ cường quốc kiểu mới”, thì cách tư duy kiểu này vẫn là hiếm thấy. Trừ khi Trung Quốc suy xét lại vai trò của Nhật Bản ở châu Á, và việc làm thế nào để quá trình chuyển tiếp quyền lực có thể diễn ra theo cách chấp nhận được cho cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, bằng không ta sẽ khó có thể chứng kiến thành tựu lớn từ “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần III


Họ nói thêm rằng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ hiện thời là một mối quan hệ cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, cả Trung Quốc và Mỹ đều không tính đến việc thực thi một sự cạnh tranh kinh tế tương tự vốn đã đẩy Đức và Nhật Bản đến bờ vực chiến tranh. Song điều quan trọng là, các tác giả này và cả các học giả Trung Quốc khác đều không thừa nhận mối quan hệ kinh tế cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng có thể tạo thành nền tảng cho một “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa hai quốc gia này. Thay vì thế, những học giả như Liu Jiangyong chỉ đơn thuần nhấn mạnh, quan hệ kinh tế Trung – Nhật đã phải chịu nhiều tổn thất bởi tình trạng căng thẳng về an ninh và chính trị trong quan hệ song phương.

Theo Yang Lu-hui (Dương Lỗ Tuệ), mối quan hệ của Nhật Bản với Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh chính là một mẫu hình “tiêu cực” buộc phải ngăn ngừa trong tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” không thể học theo mối quan hệ đó, vốn được ông mô tả như là một “liên minh quân sự giữa hai cường quốc” “không đối xứng” (buduichen), “không cân sức” (feijunhengxing), và một trong số hai quốc gia này không thỏa mãn với vị thế ngang bằng (buduideng). Vì mối quan hệ không ngang bằng ấy mà Yang Lu-hui kết luận rằng, “kiểu quan hệ cường quốc Nhật – Mỹ rõ ràng không phải là một lựa chọn chiến lược cho quan hệ cường quốc kiểu mới Trung – Mỹ”.

Trật tự thời hậu Thế chiến thứ hai: Chúng ta không thể để Nhật Bản đảo ngược trật tự quốc tế thời hậu chiến

Trong các cuộc luận bàn về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, người Trung Quốc cũng thường xuyên tham chiếu đến trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến thứ hai (zhanhou guoji zhixu) cùng với vị thế của Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Những tham chiếu này nhằm hai mục đích. Trước hết, chúng cho phép các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản vì hành vi mà họ xem là nỗ lực lật đổ trật tự thời hậu chiếu: những chuyến viếng thăm của Thủ tướng Shinzo Abe đến Đền Yasukuni, các kế hoạch xét lại Hiến pháp thời hậu chiến, và thái độ không sẵn sàng chính thức thừa nhận sự tồn tại của một cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Chẳng hạn, ở một trong những bài phát biểu mới đây về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã chỉ rõ, Nhật Bản đang đe dọa lật đổ trật tự quốc tế thời hậu chiến được hình thành từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai.

81 năm trước, Nhật Bản đã khiến thế giới sửng sốt với “Biến cố Thẩm Dương”. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản không chỉ gây ra những đớn đau khôn xiết cho người dân Trung Quốc, mà còn gây ra những tổn thương to lớn cho các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nước Mỹ. Một số thế lực chính trị ở Nhật Bản hông những không truy vấn lương tâm mà còn làm sâu sắc thêm những thương tích chiến tranh đã gây ra cho các nước láng giềng và các nước châu Á – Thái Bình Dương, và đang lặp lại những sai lầm tương tự, đang diễn hài kịch “mua lại các đảo”, công khai nghi ngờ tính hợp pháp quốc tế của “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam”, làm căng thẳng thêm các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, và vân vân. Cộng đồng quốc tế không cần tính đến nỗ lực của Nhật Bản nhằm phủ nhận các hệ quả của cuộc Chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa phát xít, hay nhằm thách thức trật tự quốc tế thời hậu chiến. Nhật Bản nên dừng lại trước khi quá muộn, nên ngừng lại việc gây tổn hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc với những phát ngôn và hành động hoàn toàn sai lầm của mình”.

Tuyên bố này của Chủ tịch Tập Cận Bình cũng như những tuyên bố và văn bản chính thống khác ở Trung Quốc thời gian gần đây đều tham chiếu phổ rộng đến các biểu trưng của trật tự thời hậu chiến, như Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam. Những văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế này đã được “ba đồng minh lớn” – Mỹ, Anh và Trung Quốc – vận dụng để soạn thảo các điều kiện đầu hàng của Nhật Bản, để ghi nhận vai trò vô cùng đặc biệt thời hậu chiến của Nhật Bản với tính cách là một quyền lực phi quân sự miễn cưỡng và “phi chuẩn”. Những tuyên bố như phát ngôn của Chủ tịch Tập Cận Bình về hồi chuông cảnh tỉnh từ phía Trung Quốc trước những gì họ xem là lời luận giải tiềm tàng cho một trật tự thời hậu chiến đã đóng vai trò là “nền tảng của các quan hệ quốc tế”. Trật tự quốc tế theo tính toán của Trung Quốc là một trật tự kiềm chế không cho Nhật Bản mở rộng tự do vị thế đặc biệt thời hậu chiến, ngăn giữ Nhật Bản thực thi các bước tiến quân sự chống phá sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc.

Thứ hai, người Trung Quốc coi trọng trật tự thời hậu chiến không chỉ bởi cách thức trật tự này giúp giải trừ quân bị ở Nhật Bản, mà còn bởi cách nó gán cho Trung Quốc (dẫu là Trung Hoa dân quốc) một vị thế đặc biệt với tính cách là một trong những cường quốc dẫn đầu trong hệ thống quốc tế. Viện dẫn những hình tượng và biểu trưng của trật tự quốc tế thời hậu chiến, như các Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, các nhà lãnh đạo đã khôn khéo nhắc nhở nước Mỹ rằng Trung Quốc nên được nhìn nhận là một cường quốc ngang sức ngang tài và là “một điểm trong quá khứ, chứ không phải là quá khứ lâu dài, khi Trung Quốc đã sát cánh cùng các thế lực cấp tiến chống chủ nghĩa phát xít”. Thay vì nhấn mạnh những điểm khác biệt với nước Mỹ, các tài liệu của Trung Quốc chú trọng lịch sử và những giá trị chung này, như đã ca ngợi những nỗ lực của nước Mỹ hồi tháng 9/2012:

Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ hai, sức mạnh Mỹ là một đóng góp quan trọng để đánh bại Nhật Bản. Đóng góp lịch sử của nước Mỹ đối với người dân châu Á, trong đó có Trung Quốc, cần được đánh giá cao và tôn trọng hết mức. Nước Mỹ từ sau chiến tranh đã mang trọng trách “tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật”.

Những ý niệm về sự ngang bằng, vị thế cường quốc và đóng góp chung cho trật tự quốc tế – xuất phát từ trải nghiệm và hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai – đã giúp Trung Quốc vững tin kêu gọi một “quan hệ cường quốc kiểu mới” với nước Mỹ.

Song vấn đề là ở chỗ giới chức Trung Quốc chỉ muốn duy trì một số khía cạnh nhất định của trật tự quốc tế thời hậu chiến: vị thế cường quốc của Trung Quốc và sự giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản. Còn những khía cạnh khác của trật tự thời hậu chiến – nhất là liên minh Mỹ – Nhật – thì lại là vấn đề xa vời đối với Bắc Kinh. Các tư liệu và phát ngôn chính thống của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” đã để lộ thái độ lo ngại về cách thức liên minh Mỹ – Nhật cho phép Mỹ “chuyển giao trái phép” chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư cho Nhật Bản hồi những năm 1970, về kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản trong nội bộ liên minh Mỹ – Nhật, và về cách thức hiện trở thành một nguyên tắc quan trọng cốt yếu của liên minh này trong kế hoạch “tái cân bằng” sức mạnh quân sự Mỹ ở châu Á. Đây là thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc: cơ chế thời hậu chiến cho phép giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản – liên minh Mỹ – Nhật – hiện đang tạo điều kiện cho kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản và có thể được khai thác để chống phá sự trỗi dậy của Trung Quốc. Mặc dù mong muốn duy trì trật tự quốc tế thời hậu chiến, nhưng nghị trình Trung Quốc về trật tự này lại không thừa nhận bất cứ một động thái nào trong liên minh Mỹ – Nhật. Người Trung Quốc muốn liên minh Mỹ – Nhật duy trì nguyên trạng, chỉ để khóa chốt Nhật Bản vào vị thế “phi chuẩn” thời hậu chiến. Đây là một yêu cầu quan trọng, thậm chí đã trở nên quan trọng hơn bởi thực tế là bản thân sự trỗi dậy của Trung Quốc đang làm biến đổi trật tự chiến lược ở châu Á, chắc hẳn đang thôi thúc những cường quốc như Mỹ và Nhật Bản phải đáp lời.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần đầu


Ngày 16/1/2019, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách vấn đề kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế Andrea Thompson cho biết do không đạt được bất cứ tiến triển nào trong đàm phán với Nga nên Mỹ bắt đầu rút khỏi Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) kể từ ngày 2/2/2019, thời gian có hiệu lực là 6 tháng. Theo đó, việc Mỹ rút khỏi INF có thể gây nên những tác động tiêu cực sau đây:

Một là có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang với cường độ cao. INF được Mỹ và Liên Xô ký kết vào năm 1987 để ngăn chặn chiến tranh xảy ra đột ngột, hiệp ước quy định Mỹ và Liên Xô phá hủy các tên lửa tầm ngắn có tầm bắn từ 500 – 1000 km và các tên lửa tầm trung có tầm bắn từ 1000 – 5500 km, bao gồm cả các tên lửa thông thường và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân cũng như các bệ phóng tên lửa trên mặt đất. Theo giới truyền thông, tính đến nay hai bên đã phá hủy gần 2700 tên lửa. Mặc dù hiệp ước này là di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng nó đã ngăn chặn khả năng Mỹ và Liên Xô cũng như NATO và khối Vacsava xảy ra chiến tranh, thậm chí là chiến tranh hạt nhân. Các tên lửa tầm ngắn và tầm trung đều được phóng từ xe đặc chủng, cơ động linh hoạt, bố trí thuận lợi, thời gian chuẩn bị ngắn, khả năng ngụy trang và yếu tố bất ngờ rất mạnh, được Mỹ và Liên Xô và các nước khác ưa chuộng. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô chạy đua nghiên cứu, lắp đặt, Đông Tây Âu đã trở thành khu vực bố trí tập trung của hệ thống tên lửa tầm ngắn và tầm trung, làm cho tình hình an ninh thế giới lúc bấy giờ, đặc biệt là an ninh củ khu vực châu Âu vô cùng căng thẳng, cơ bản ở trong trạng thái chiến tranh. Trên thực tế, cả Mỹ và Liên Xô đều nhận thức rõ một khi xảy ra chiến tranh thì hậu quả là không thể tưởng tượng được. Để ngăn chặn phán đoán sai làm dẫn đến chiến tranh, hai nước đã trải qua 6 vòng đàm phán gian khổ kéo dài trong 7 năm, tổng cộng tổ chức 110 cuộc họp, sau cùng mới đạt được thỏa thuận và ký kết INF. Hiệp ước này đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình của khu vực châu Âu và thế giới.

Phát biểu của Thompson đã dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ của Nga. Tổng thống Putin cảnh báo Tổng thống Mỹ Donald Trump không nên rút khỏi hiệp ước, nếu không Mỹ và Nga sẽ quay trở lại thời kỳ đối đầu một mất một còn thay phiên nhau bố trí các thiết bị vũ khí tối tân. Không những Mỹ và Nga sẽ quay trở lại việc bố trí các tên lửa tầm ngắn và tầm trung hiện đại hơn, mà hai nước sẽ còn chạy đua phát triển và bố trí các loại trang thiết bị vũ khí tối tân hơn, đọ sức toàn diện trên lĩnh vực quân sự. Để thể hiện khả năng răn đe, Nga có thể sẽ nhanh chóng hồi sinh các loại tên lửa đạn đạo như SS-20, SS-23, SS-26…, hơn nữa cấy ghép những vật liệu và công nghệ tiên tiến hơn để nâng cao tính năng của các tên lửa. Đồng thời Nga cũng sẽ tăng cường xây dựng năng lực răn đe hạt nhân chiến lược “3 trong 1”, tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa để tạo thành mối đe dọa đối với Mỹ, chẳng hạn như kéo dài thời gian phục vụ của tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền “Bạch Dương M” (RS-12), tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền Yars và tên lửa phóng từ tàu ngầm Blava, nhanh chóng triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa hạng nặng Sarmar (RS-28) vừa mới nghiên cứu phát triển; thúc đẩy toàn diện việc đầu tư các trang thiết bị mới như tên lửa siêu siêu thanh Kinzhal, Avangard… và hệ thống laser chiến đấu Peresvet cũng như thiết bị lặn không người lái Poseidon có thể mang đầu đạn thông thường hoặc đầu đạn hạt nhân; đẩy nhanh bước đi nghiên cứu chế tạo và triển khai trước thời hạn tên lửa hành trình Calibre M; tiếp tục cải tiến máy bay ném bom chiến lược Tu-160, Tu-95MS… Ngược lại, Mỹ cũng không chịu lép vế, sẽ hồi phục và sử dụng công nghệ tối tân nhất để cải tiến tên lửa đạn đạo tầm trung Persing II; đồng thời phát triển mạnh tên lửa đạn đạo liên lục địa Military 3 và tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ tàu ngầm Trident, cải tiến và nghiên cứu phát triển tên lửa hành trình tầm xa của các căn cứ hải quân, không quân; tiếp tục thử nghiệm, hoàn thiện và bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa, đặc biệt là hệ thống phòng thủ tên lửa ở khu vực châu Âu sẽ được tăng cường và triển khai sớm hơn dự kiến.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô (Nga) chiếm ưu thế hơn Mỹ trên các phương diện số lượng đầu đạn hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tầm bắn và khả năng xuyên thủng… Mỹ xé bỏ INF, Nga sẽ tiếp tục chiếm ưu thế vượt trội trên phương diện này, khi đó Mỹ buộc phải nhanh chóng đuổi theo, đồng thời có thể khởi động lại kế hoạch Chiến tranh giữa các vì sao, thách thức Nga từ không gian. Cuối năm 2018, tại hội thảo nghiên cứu không gian, Mỹ cho rằng việc triển khai vũ khí hạt nhân trong không gian sẽ khiến vấn đề diễn biến nghiêm trọng và phức tạp hơn. Ngoài ra, Mỹ và Nga đều đang tích cực phát triển máy bay ném bom chiến lược tàng hình, loại vũ khí này có thể chứa một lượng lớn tên lửa, khả năng ngụy trang tốt, có thể thự chiện tấn công hạt nhân, khả năng răn đe cao. Những biện pháp tiếp cận của Mỹ và Nga nhất định sẽ gây ra cuộc đối đầu toàn diện trên lĩnh vực quân sự, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới. Việc Mỹ và Nga chạy đua vũ trang sẽ khiến cả thế giới không được hòa bình. Các nước, đặc biệt là châu Âu, đồng minh và các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga ở khu vực Trung Đông có thể sẽ lần lượt làm theo, tích cực phát triển sức mạnh quân sự.

Hai là có thể khiến thế giới rơi vào trạng thái “Chiến tranh Lạnh lần thứ hai”. Tác động từ việc Mỹ rút khỏi INF không chỉ giới hạn ở sự đối đầu giữa Mỹ và Nga trên lĩnh vực quân sự, mà còn cả trong chính trị, ngoại giao, thậm chí lan tỏa đến cả kinh tế, hậu quả rất tai hại, INF bị phá vỡ, Mỹ và Nga không những muốn khôi phục sản xuất và bố trí các loại thiết bị vũ khí tối tân hơn. Theo đó, Nga sẽ ưu tiên bố trí các loại vũ khí trên ở khu vực biên giới phía Tây, Tây Bắc và phía Bắc của mình để đe dọa Mỹ và NATO. Trong khi đó Mỹ lại bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung và các hệ thống vũ khí tấn công và phòng thủ tiên tiến hơn ở châu Âu, đặc biệt là ở các quốc gia giáp với Nga. Hai bên sẽ rơi vào trạng thái đối đầu trong thời gian dài: răn đe lẫn nhau về quân sự, gây sức ép lẫn nhau về chính trị, chỉ trích lẫn nhau về ngoại giao, quan hệ Mỹ – Nga sẽ trở nên tồi tệ, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh khu vực và thế giới. Cùng với cuộc đọ sức giữa hai nước leo thang, đồng minh, thậm chí các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga đều có thể bị cuốn vào vòng xoáy này. Do đó, ở các khu vực điểm nóng như châu Âu, Trung Đông, châu Á… không thể tránh khỏi việc hình thành cục diện đối đầu giữa một bên là Mỹ với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt và một bên là Nga với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt, nghĩa là sức mạnh của Mỹ và Nga kéo dài đến đâu thì ở đó có thể xuất hiện sự đối đầu dưới hình thức tương tự như Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự đối đầu này sẽ không gay gắt như thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây, thấp hơn nhiều so với cường độ đối đầu giữa Mỹ – Liên Xô và NATO – Vacsava trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai bên có thể rơi vào trạng thái “chiến tranh lần thứ hai” vừa đối đầu vừa hợp tác. Tuy nhiên, đối đầu lớn hơn hợp tác, nghĩa là hai bên đối đầu, ngăn chặn, gây sức ép lẫn nhau về mặt quân sự, chính trị, ngoại giao và sẽ tiếp tục hợp tác về kinh tế, chẳng hạn như Nga không cắt đứt cung cấp năng lượng cho các nước châu Âu. Do xu thế phát triển không thể đảo ngược của thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa, nên đối đầu giữa Mỹ và Nga cũng sẽ không phát triển đến mức độ của chiến tranh thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần II


Các bài viết của Trung Quốc sau đó đều đề cập chi tiết thêm về ảnh hưởng của cuộc tranh chấp biển đảo đến “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Các bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo hồi cuối năm 2012 đầu năm 2013 đều nêu ra một lập luận rõ ràng rằng kiểu quan hệ này sẽ không thể đạt được nếu phía Mỹ không tôn trọng “các lợi ích cốt lõi” (hexin liyi) của Trung Quốc. Một bài xã luận còn cho rằng, việc “tôn trọng các lợi ích cốt lõi” chính là “mấu chốt” của “quan hệ cường quốc kiểu mới” đang được chung sức tạo dựng, và rằng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ chính là vấn đề mang tính căn bản đối với các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Một bài xã luận đăng hồi tháng 12/2012 thậm chí đã bày tỏ thái độ thẳng thắn hơn:

Lập trường của Mỹ liên quan đến việc ‘hoan nghênh một Trung Quốc cường lực, thịnh vượng và hòa bình’ cùng với quan niệm của Trung Quốc về ‘quan hệ cường quốc kiểu mới’ xứng đáng được xác nhận. Tuy nhiên, việc tạo thành một quan hệ cường quốc Trung – Mỹ kiểu mới sẽ không hiệu quả nếu các nước này chỉ nói mà không làm. Mỹ cần học cách tôn trọng các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, và hạn chế những việc làm thiếu khôn ngoan… Vấn đề quần đảo Điếu Ngư có liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc và Mỹ nên hiểu rõ tính nhạy cảm cao độ của vấn đề này; xuất phát từ triển vọng hòa bình và ổn định ở khu vực, Mỹ phải thận trọng, không nên can thiệp vào vấn đề chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư, và không [nên] có bất cứ hành động nào có thể làm sâu sắc thêm mâu thuẫn và khiến cho tình hình trở nên phức tạp hơn”.

Như Ren Xiao đã chỉ rõ, khái niệm về một “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc thừa nhận, con đường duy nhất để Mỹ và Trung Quốc phòng tránh tương lai đối đầu chính là việc tìm ra những cách thức thỏa hiệp trước những “vấn đề nhạy cảm” như các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, khi tiến hành khảo cứu sâu hơn câu hỏi Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong mối quan hệ này, chúng tôi tìm thấy được rất ít bằng chứng chứng minh Trung Quốc sẵn sàng thỏa hiệp trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản. Tháng 1/2013, một bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo đã lên tiếng cảnh báo nước Mỹ, rằng Trung Quốc đơn giản là không thể “nhượng bộ” (tuirang) trong các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, và đã “không từ một thủ đoạn nào” (meiyou renhe huixuan kongjiani), trong vấn đề Điếu Ngư/Senkaku. Theo đó chỉ rõ Mỹ phải học cách “phát ngôn và hành động một cách thận trọng” (jinyan shenxing) trong cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhưng Mỹ đã không làm như vậy khi chỉ trích động thái của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, chứ không chỉ trích hành động của Nhật Bản.

Các nguồn tin từ Trung Quốc thừa nhận, tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku chỉ là một trong số hàng loạt các cuộc tranh chấp chủ quyền, cùng với vấn đề Đài Loan và vấn đề Biển Đông, tất cả đều ẩn chứa tiềm năng làm trật bánh mối quan hệ Trung – Mỹ. Nhưng chính cuộc tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản mới là vấn đề nhận được sự chú tâm nhiều nhất trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” trong hơn 18 tháng qua. Một bài viết của Ruan Zongze – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quốc tế của Trung Quốc (CIIS) đã nêu bật ý nghĩa quan trọng của vấn đề này thông qua việc đề nghị Trung Quốc nên xem “các tuyên bố và hành động của Mỹ về các vấn đề liên quan đến Nhật Bản như một phép thử giấy quỳ sự ngay thật của Washington đối với Trung Quốc”. Tương tự, Yuan Peng (Viên Bằng) – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Các quan hệ quốc tế đương đại Trung Quốc (CICIR) cho rằng, tranh chấp biển đảo đã ảnh hưởng đến “ván cờ” (boyi) giữa Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, và rằng sự “can thiệp” (ganyu) của Mỹ vào cuộc tranh chấp đã làm tăng rủi ro hiện hữu một cuộc đụng độ quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc.

Thời kỳ chuyển giao quyền lực: đánh giá sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách tham chiếu đến Nhật Bản

Lý do thứ hai để Nhật Bản được quan tâm đặc biệt trong các cuộc luận bàn của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” chính bởi Nhật Bản là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc. Trong lúc khái niệm này được định hình để gán cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ, thì một số người đã xem việc Trung Quốc đang vượt hơn Nhật Bản chính là giải pháp chính yếu để Trung Quốc đạt được vị thế cường quốc của mình. Trong một bài viết có tiếng vang, Yuan Peng đã lập biểu đồ sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua việc đánh giá cán cân quyền lực đang thay đổi giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tập trung vào tiến trình chuyển giao quyền lực diễn ra hồi năm 2010 khi Trung Quốc thế chỗ Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Theo Yuan Peng, sự chuyển giao quyền lực về kinh tế này giữa Nhật Bản và Trung Quốc là “sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử châu Á kể từ [khi Nhật Bản chịu thua trận Trung Quốc trong] Cuộc chiến Trung – Nhật lần thứ nhất, và là sự kiện biểu trưng cho hiện thực trỗi dậy của Trung Quốc. Ông gắn kết sự kiện của những năm 2000 này với cuộc chiến giai đoạn 1894 – 1895 khi Trung Quốc chiếm giữ “vị thế dẫn đầu không thể bàn cãi” ở Đông Á thông qua chế độ triều cống của mình. Yuan Peng nhận định, bằng cách vượt qua nền kinh tế Nhật Bản, Trung Quốc đã hóa giải một “mâu thuẫn lớn” trong trật tự cấu trúc châu Á, vốn xem Trung Quốc là thế lực yếu hơn so với Nhật Bản.

Yuan Peng cũng chỉ ra việc đăng cai thành công Đại hội thể thao Olympic Bắc Kinh 2008, đại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hồi năm 2009, và Hội chợ Thương mại quốc tế năm 2010 với tính cách là những biểu trưng quyền lực và vị thế mới nổi của Trung Quốc. Trái lại, ông cho rằng sự suy yếu của Nhật Bản được biểu trưng bởi “hàng loạt những hiểm họa liên tiếp” mà quốc gia này phải gánh chịu hồi năm 2011; nhất là động đất, sóng thần và vụ rò rỉ hạt nhân ở Fukushima. Yuan Peng kết luận, do tiến trình chuyển giao quyền lực này giữa Trung Quốc và Nhật Bản, “trong khoảng 10 – 20 năm sau năm 2010, hai đối thủ cạnh tranh sẽ là Mỹ và Trung Quốc”.

Những bài học lịch sử: tương lai của Trung Quốc sẽ không phải là quá khứ của Nhật Bản

Khía cạnh nổi bật thứ ba trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” là quá khứ của Nhật Bản được dùng làm một điểm tương phản để luận bàn về tương lai của Trung Quốc. Một số học giả đã định hình một cách chuẩn xác khái niệm này bằng việc chỉ rõ sự đối lập giữa tương lai của Trung Quốc và quá khứ của Nhật Bản trong sự trỗi dậy về quyền lực. Theo Zun Zhe (Tôn Triết), “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc được kiến tạo để tránh bị lạc vào “cựu lộ” mà những cường quốc mới nổi như Nhật Bản (và Đức) đã tạo ra hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ý niệm này rất giống với cách diễn ngôn của Zheng Bijian (Trịnh Tất Kiên) – tác giả của khái niệm “sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”. Năm 2005, Zheng Bijian viết:

Trung Quốc sẽ không theo bước đường hướng của Đức để thắng thế trong Thế chiến thứ nhất hay đường hướng của Đức và Nhật Bản để thắng thế trong Thế chiến thứ hai, khi những nước này dùng bạo lực để cưỡng đoạt tài nguyên và theo đuổi bá quyền. Trung Quốc cũng sẽ không theo bước lộ trình của những cường quốc ganh đua nhau giành quyền thống trị toàn cầu trong Chiến tranh lạnh”.

Những quan điểm tương tự cũng được Xue Litai (Tiết Lý Thái) và Feng Zheng (Phong Chính) lặp lại, những người đã lên tiếng cảnh báo rằng, do những thay đổi mạnh mẽ về bản chất các quan hệ kinh tế, quyền lực quân sự, ngoại giao, công nghệ và chính trị nội bộ, sẽ là thiếu khôn ngoan nếu “máy móc” chỉ ra những dẫn chứng và khái niệm xưa cũ trong lịch sử để lý giải tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Họ cho rằng, những khía cạnh “bản sắc dân tộc” (minzu xinge) Trung Hoa hàm nghĩa sự trỗi dậy của họ sẽ vô cùng khác biệt so với sự trỗi dậy của Nhật Bản, và lưu ý rằng Trung Quốc không chia sẻ “tham vọng ngông cuồng” (juda yexin) để mở rộng lãnh thổ mà Nhật Bản đã biểu lộ trong suốt những năm 1930 và 1940. Các tác giả này nhận định, sự gắn kết giữa “chủ nghĩa dân tộc cực đoan”, hành động kiểm soát quân sự của chính phủ Nhật Bản, với các nguồn lực đất đai và tự nhiên khan hiếm đã khiến nước Nhật phải theo đuổi chính sách bành trướng thuộc địa ở Bắc Á và Đông Nam Á để trở thành “bá chủ khu vực” (diqu baquan). Hơn thế, họ thừa nhận các tác nhân kinh tế đã khiến Nhật Bản và Đức theo đuổi các chính sách gây hấn trong suốt những năm 1920 và 1930. Đối với cả hai nước, quyền tiếp cận các nguyên liệu thô cấp thiết như dầu lửa, cao su, quặng sắt, và các nguyên liệu thực phẩm – cùng với tình trạng bất lực trong việc tiếp cận các nguyên liệu này trên thị trường thế giới – chính là chất xúc tác cho những quyết sách xâm lấn và thuộc địa hóa các quốc gia của Đức và Nhật bản. Theo các tác giả này, khác với Nhật Bản, Trung Quốc không có truyền thống bành trướng ra bên ngoài và đó chính là “nền văn minh hướng nội của Trung Quốc” (neixiangxing de Zhonghua wenming).

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần I


Amy King

Trong những năm gần đây, khái niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới” (new type of great power relations, xingxing daguo guanxi) đã xuất hiện như một luận đề chủ điểm trong nghị trình quan hệ quốc tế của Trung Quốc. Khái niệm này lần đầu tiên được ủy viên Hội đồng nhà nước Đới Bỉnh Quốc nêu ra trong cuộc Đối thoại Kinh tế và Chiến lược Trung – Mỹ năm 2010, và đã trở nên đặc biệt nổi trội sau chuyến thăm nước Mỹ của ông Tập Cận Bình hồi năm 2012 với tư các Phó Chủ tịch và sau đó là Chủ tịch Trung Quốc năm 2013. Tại Hội nghị thượng đỉnh Sunnylands với Tổng thống Barack Obam hồi tháng 6/2013, Chủ tịch Tập Cận Bình đã giải nghĩa nền tảng của “quan hệ cường quốc kiểu mới” trên cơ sở các nguyên tắc “không đối đầu hoặc xung đột”, “tôn trọng lẫn nhau” và “hợp tác cùng thắng”. Song tất cả những ngôn từ quả quyết về sự hợp tác và lợi ích chung này đều không thể che giấu sự thật là Mỹ và Trung Quốc đều đang phải đối mặt với không ít những thách thức chính trị, kinh tế và an ninh có khả năng lôi kéo họ vào tình trạng xung đột hơn là hợp tác. Một trong số những thách thức cấp bách nhất chính là mối quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản.

Bài viết này đặt ra một câu hỏi hết sức đơn giản: Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong nghị trình của Trung Quốc về một “quan hệ cường quốc kiểu mới”? Trả lời được câu hỏi này là một bước tiến quan trọng để xác định liệu Trung Quốc và Mỹ có khả năng tạo lập một mối quan hệ không đối đầu trong tương lai. Nhìn nhận gần đây của giới học giả về sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự chuyển hóa quyền lực đang diễn ra ở châu Á đã nhấn mạnh vai trò quan trọng mà Nhật Bản có thể nắm giữ trong việc định hình mối quan hệ Trung – Mỹ trong tương lai. Một học giả cho rằng Nhật Bản sẽ tăng cường khả năng đối đầu và xung đột giữa hai nước này: vị thế trung tâm của Nhật Bản trong quan điểm chiến lược của Mỹ ở châu Á và những lo ngại sợ bị nước Mỹ bỏ rơi của Nhật Bản đang đe dọa quá trình hình thành một “cơ chế” chia sẻ quyền lực Trung – Mỹ thực sự ở châu Á. Số khác dám chắc rằng Nhật Bản đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong việc kiềm chế sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc ở châu Á: liên minh Mỹ – Nhật là nền tảng cho sự hiện diện quân sự trong tương lai của Mỹ ở khu vực và là cán cân đối trọng với sức mạnh quân sự của Trung Quốc, trong khi sự hợp tác kinh tế với Trung Quốc và sự ủng hộ tích cực cho chủ nghĩa đa phương khu vực của Nhật Bản cũng đồng thời giúp xã hội hóa và nhất thể hóa một Trung Quốc hòa bình hơn vào khu vực. Bất chấp việc nhìn nhận Nhật Bản là nhân tố góp phần hay làm suy yếu mối quan hệ Trung – Mỹ ổn định, vẫn có rất ít người nghi ngờ Nhật bản, và mối quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản sẽ là tâm điểm của mọi mô thức “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc trong tương lai.

Để tìm hiểu cách thức khớp nối của Nhật Bản với khái niệm mới của Trung Quốc, bài viết này đã khảo sát một loạt các bài báo và tạp chí khoa học của Trung Quốc, hầu hết đều được xuất bản từ năm 2012. Trong số 326 bài tạp chí tiếng Trung có đề cập đến “quan hệ cường quốc kiểu mới”, chỉ có 8 bài liên quan đến Nhật Bản, và chỉ có 5 bài bàn luận chi tiết đến Nhật Bản. Thêm vào đó, một cuộc tìm kiếm nội dung tương tự của tờ Nhân dân Nhật báo – một tờ báo lớn chính thống của Trung Quốc cũng cho biết, trong số hàng ngàn bài viết về vấn đề căn bản này, chỉ có 7 bài luận bàn chi tiết đến Nhật Bản. Việc phân tích nội dung này cho thấy một phát hiện quan trọng căn bản: đa số áp đảo giới khoa học hàn lâm và truyền thông Trung Quốc bao quát thông tin về khái niệm này đều ít hoặc không hề quan tâm đến Nhật Bản. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” rõ ràng đã được hình thành trong sự tham chiếu với quan hệ Trung – Mỹ, và số lượng ít ỏi các bài viết đề cập đến Nhật Bản cho thấy có rất ít học giả, quan chức, hoặc nhà báo Trung Quốc xem trọng vai trò của Nhật Bản hay quan hệ Trung – Nhật đối với tương lai của mối quan hệ Trung – Mỹ. Duy nhất có một bài nghiên cứu trực tiếp gắn khái niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới” vào bản thân mối quan hệ Trung – Nhật, và tác giả Liu Jiangyong (Lưu Giản Ưng) – một chuyên gia về mối quan hệ này, đã đề cập đến khái niệm chỉ bằng một câu diễn đạt hết sức ngắn gọn:

Trung Quốc và Nhật Bản, với tư cách là những nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới, dù có lâm vào những nghịch cảnh khốn khó hay tiến tới xây dựng một quan hệ cường quốc kiểu mới và quan hệ láng giềng tốt đẹp, đều chịu phụ thuộc chủ yếu vào việc liệu họ có thể nắm bắt cơ hội và nhiệt thành xây dựng các chính sách giúp cải thiện mối quan hệ của mình, đặc biệt đối với vấn đề quần đảo Điếu Ngư”.

Bất chấp việc thiếu một cái nhìn phổ quát chung như vậy, số ít các bài viết khoa học, các ý kiến rời rạc, và việc các phương tiện truyền thông có đưa tin về phát ngôn của giới quan chức Trung Quốc vẫn thể hiện rõ ràng sự lưu tâm đến Nhật Bản khi luận bàn chi tiết đến một “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Có bốn chủ điểm trọng yếu nổi bật sau đây. Trước tiên và có lẽ thông dụng nhất là lập luận cứng rắn cho rằng mọi mối “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc đều có thể dễ dàng bị phá vỡ do tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản đối với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thứ hai, giới quan chức và học giả Trung Quốc đang đánh giá quyền lực trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách tham chiếu đến quyền lực suy giảm của Nhật Bản. Thứ ba, họ đã định hình khái niệm mới này bằng cách chỉ rõ hình ảnh tương phản giữa sự trỗi dậy tương lai của Trung Quốc với sự trỗi dậy lịch sử của Nhật Bản về quyền lực. Sau cùng, giới học giả, báo chí và giới quan chức Trung Quốc đang nhìn nhận “quan hệ cường quốc kiểu mới” là một sự bành trướng cục bộ của trật tự quốc tế hậu Thế chiến thứ hai, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản được gán cho những vai trò vô cùng đặc biệt. Trật tự thời hậu chiến theo đó trở thành một điểm tham chiếu quan trọng trong tư duy về tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Dưới đây, tôi sẽ luận bàn về từng chủ điểm nêu trên trước khi xem xét những hàm nghĩa của nghị trình này đối với tương lai “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Tôn trọng các lợi ích cốt lõi: Tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku là một mối đe dọa đối với “quan hệ cường quốc kiểu mới”

Trong số tất cả những chủ điểm được xét đến ở đây, mẫu tham chiếu thường gặp nhất có liên quan đến Nhật Bản là khả năng đạt được một mối quan hệ Trung – Mỹ “kiểu mới” gắn kết hơn có thể được đánh liều bằng cuộc tranh chấp về vấn đề quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Quan hệ Trung – Nhật xấu đi là kết quả của việc chính phủ Nhật Bản quyết định “mua” ba hòn đảo thuộc quần đảo này hồi tháng 9/2012, và cũng bởi những cuộc tấn công trên không và trên biển ngày càng gia tăng của Trung Quốc vào khu vực tranh chấp xung quanh quần đảo. Tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản về vấn đề này do vậy ngày càng gia tăng, hoàn toàn đồng thời với việc giới quan chức và chuyên gia Trung Quốc định hình hệ tư tưởng về một “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Đối với nhiều nhà phân tích và giới chức Trung Quốc, những cuộc bàn luận về tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ không thể tách rời những cuộc bàn luận về quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.

Sự liên đới giữa các cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và “quan hệ cường quốc kiểu mới” Trung – Mỹ lần đầu tiên được nhấn mạnh vào ngày 20/9/2012, khi tờ Nhân dân Nhật báo đăng tải toàn văn nội dung cuộc hội đàm chung giữa Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta trong chuyến thăm mới đây tới Trung Quốc. Ông Tập Cận Bình đã giải nghĩa chi tiết về sự “đồng thuận quan trọng” có thể đạt được thông qua việc hình thành ý niệm “quan hệ cường quốc kiểu mới”, rồi sau đó lập tức trở lại cuộc tranh chấp với Nhật Bản, vốn đã bùng phát vì động thái mua ba hòn đảo thuộc quần đảo trong chuỗi sự kiện ngày 11/9. Phác họa sự liên đới của cuộc tranh chấp với tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ, ông Tập Cận Bình nêu rõ:

Chúng tôi hy vọng nước Mỹ, xuất phát từ quan điểm chú trọng hòa bình và ổn định ở khu vực, sẽ thận trọng, sẽ không can dự vào cuộc tranh chấp chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, và sẽ không thực thi bất cứ động thái nào có thể làm sâu sắc thêm mâu thuẫn và khiến cho tình hình trở nên phức tạp hơn”.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44