Con sông – Phần VI


Một cách khác để giảm tần suất và quy mô của bong bóng tài chính là hạn chế số lượng tiền sẵn có bơm vào bong bóng. Nguồn tiền từ nước ngoài đã góp phần vào khủng hoảng tài chính châu Á cuối thập niên 1990 và bong bóng nhà ở Mỹ, nên cùng với chính sách kiểm soát ngành tài chính, đã có những đề xuất hạn chế dòng vốn di chuyển xuyên biên giới ở cấp độ quốc gia. Kiểm soát dòng vốn là biện pháp quen thuộc hồi kỷ nguyên hội nhập kinh tế thế giới thứ hai từ năm 1945 đến 1990, thời vốn bị coi là một loại thuốc cần kê đơn: với liều lượng phù hợp nó có thể cứu mạng người, nhưng nếu dùng quá liều thì sẽ hết sức nguy hiểm. Mặc dù sau năm 1990 có sức ép đòi giải phóng nguồn vốn, nhưng nhiều nước không thuộc bộ ba phương Tây vẫn duy trì quy định kiểm soát.

Khác với rào cản thương mại, kiểm soát dòng vốn không bị các nhà kinh tế học đồng loạt phản đối. Nguyên tắc lợi thế cạnh tranh của David Ricardo, với hàm ý can thiệp chính trị vào thương mại sẽ làm giảm tổng phúc lợi của các bên, lại không phù hợp với dòng vốn quốc tế. Vì quá nhiều tiền có thể phá hủy nền kinh tế, các can thiệp chính trị cản trở dòng vốn có khi lại làm các nước giàu mạnh hơn bằng cách tránh để chúng rơi vào tình trạng xấu.

Chính sách kiểm soát dòng vốn đóng vai trò ngăn không cho bong bóng tài chính hủy diệt hình thành lần nữa, nhưng cũng như các quy định kiểm soát ngành tài chính, nó cũng có nhược điểm. Nếu một số nước áp dụng biện pháp chặt hơn thì dòng vốn lớn nguy hiểm đơn giản là sẽ bị đẩy chệch sang các nước khác, những nơi có chính sách theo hướng lạc quan chứ không phải ngăn chặn. Ở đây, một lần nữa, việc thiếu vắng những quy định ở quy mô toàn cầu đã gây ra sự khác biệt.

Hơn nữa, kiểm soát vốn còn làm giảm tăng trưởng kinh tế. Có bằng chứng thuyết phục cho thấy ở trạng thái cân bằng thì nước nào nhận được nhiều vốn hơn sẽ thịnh vượng hơn. Vì vậy, cho dù có nguy cơ đe dọa nhưng trong tương lai, các quốc gia sẽ tiếp tục cạnh tranh để thu hút vốn nước ngoài như trước kia, thay vì cản trở nó; tương tự như việc họ vẫn luôn cạnh tranh để thu hút thêm nhiều công ty tài chính đến hoạt động trong nước mình.

Thêm nữa, giống như hạn chế nhập khẩu dịch vụ từ nước ngoài, thực thi kiểm soát dòng vốn cũng không dễ. Trong thời đại giao tiếp toàn cầu tức thời này, tiền tồn tại dưới cả dạng điện tử, có thể gửi vòng quanh thế giới chỉ bằng một cú kích chuột máy tính thì hạn chế dòng lưu thông vốn, nếu có thể, là việc cũng không dễ dàng.

Bong bóng có thể hình thành ở bất cứ đâu, nhưng lý do chính khiến bong bóng bất động sản khổng lồ xuất hiện ở Mỹ là vì Mỹ nhận được dòng vốn nước ngoài khổng lồ do mất cân đối tài chính quốc tế. Mỹ có thâm hụt tài khoản vãng lai rất lớn, tiết kiệm ít hơn đầu tư, tiêu dùng nhiều hơn sản xuất. Các nước khác lại có thặng dư lớn, và họ sử dụng một phần số thặng dư để bù đắp cho thâm hụt của Mỹ. Cứ thế cho đến khi Mỹ nhận được 70% phần thặng dư mà thế giới tiết kiệm được. Một phần số tiền này đi vào bong bóng nhà ở, gián tiếp thông qua việc giữ cho lãi suất của Mỹ luôn ở mức thấp, hoặc trực tiếp thông qua đầu tư vào các tài sản có liên quan đến bất động sản,

Nếu không tái cân đối lại thặng dư và thâm hụt của các nước, thế giới không chỉ đối mặt với rủi ro sẽ có nhiều bong bóng hơn mà còn có thể gặp phải một cú sốc kinh tế rất lớn nếu người cho vay hoảng sợ trước tình trạng thâm hụt quá lớn thường xuyên của Mỹ và từ chối tiếp tục bù đắp, hoặc nếu chính phủ Mỹ giải quyết số nợ khổng lồ bằng cách in tiền bừa bãi. Nhưng nếu ngược lại, Mỹ giảm vay nợ, nhưng các nước khác không tăng chi tiêu thì nền kinh tế thế giới sẽ bị thiếu cầu và tăng trưởng chậm lại, hoặc thậm chí không tăng trưởng nữa. Tái cân đối thặng dư và thâm hụt toàn cầu, trong đó các nước thâm hụt (quan trọng nhất là Mỹ) tiêu dùng ít đi, còn các nước thặng dư tiêu dùng nhiều hơn là việc cần thiết để chống lại những cú sốc tài chính nghiêm trọng. Một lần nữa, có thể thấy nói cho cùng đây là nhiệm vụ chính trị, và nó không hề dễ dàng.

Với Mỹ, con nợ lớn nhất thế giới thì việc quan trọng là phải giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu và cắt giảm thâm hụt ngân sách. Hầu hết mọi người đều hiểu sự cấp thiết về mặt kinh tế của hai nhiệm vụ này, nhưng hệ thống chính trị Mỹ khó mà thực hiện được chúng vì một lý do rất đơn giản: cả hai đều làm nền kinh tế đau đớn. Khi giảm phụ thuộc vào đầu nhập khẩu, người tiêu dùng phải trả nhiều tiền hơn; còn khi cắt giảm thâm hụt ngân sách, những người được hưởng trợ cấp từ các chương trình cảu chính phủ sẽ nhận được ít hơn. Cả hai nhóm người – và tất nhiên đa phần người dân Mỹ là thuộc một trong hai nhóm – đều không thích các giải pháp nói trên, nên trong suốt thập niên đầu thế kỷ 21, giới chính trị gia không thể và trong bất cứ tình huống nào cũng sẽ không thắng cử được với đề xuất – chứ chưa nói đến hiện thực – những chính sách khiến người dân mất nhiều tiền hơn và được hưởng ít phúc lợi hơn. (Tăng sản xuất năng lượng trong nước – kết quả của tiến bộ công nghệ khai thác dầu và khí tự nhiên – có vẻ là giải pháp hứa hẹn giảm được sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu). Các nước thặng dư giải quyết tình trạng mất cân bằng có vẻ dễ dàng hơn vì chỉ cần người dân nước họ làm nhiều hơn cái việc mà người Mỹ đang quá tích cực, cũng là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động kinh tế, đó là tiêu dùng. Khi thực hiện nhiệm vụ của mình, chính phủ Mỹ phải đóng vai trò lão hà tiện, còn chính phủ các nước có thặng dư thương mại phải làm như mình là ông già Noel phát quà khắp nơi. Nhưng giảm thặng dư thương mại hóa ra cũng khó không kém gì cắt giảm thâm hụt, vì nó không chỉ đơn giản là tiêu tiền. Nó đòi hỉo phải xem xét nhiều chính sách trong dài hạn, thay đổi thái độ vốn đã có gốc văn hóa và lịch sử lâu đời của mỗi nước, và vượt qua được những sức ép chính trị nặng nề.

Khi xảy ra khủng hoảng kinh tế năm 2008, ba quốc gia có thặng dư thương mại lớn nhất không phải từ xuất khẩu dầu là Nhật Bản, Đức và Trung Quốc đã có hàng chục năm theo đuổi chiến lược tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Họ có các ngành công nghiệp, hệ thống tài chính, chính sách kinh tế, thói quen, trình độ của người lao động và giới chủ phù hợp với việc sản xuất hàng hóa để bán ra nước ngoài. Không thể nhanh chóng, dễ dàng thay đổi tất cả những thứ đó theo hướng khuyến khích nhập khẩu, tiêu dùng trong nước nhiều hơn. Hơn nữa, ở cả ba nước, ý chí thay đổi của giới chính trị còn yếu, vì chiến lược kinh tế hướng đến xuất khẩu đã từng đem lại mức tăng trưởng ấn tượng nên các quốc gia cũng như người dân trong nước chỉ muốn thay đổi cái dở chứ không ai muốn bỏ đi cái hay.

Cả ba nước thặng dư thương mại nói trên đều có lý do – chủ yếu bắt nguồn từ chính trị – để tiếp tục con đường từng đem lại thặng dư. Xã hội Nhật Bản đang già hóa. Với mức sinh thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu lao động và chính sách an sinh xã hội không rộng rãi như châu Âu, người Nhật tự nhận thấy phải tiết kiệm, bất kể tình hình thế giới như thế nào. Xã hội Đức cũng già hóa, và người Đức thì có kiểu dè dặt khác trước yêu cầu giảm tiết kiệm, tăng chi tiêu: cả hai hành động này đều đi ngược lại giá trị lâu đời của họ. Truyền thống Đức là tiết kiệm, còn hơn cả Nhật. Từ bỏ tính tiết kiệm, chăm chỉ đã ăn sâu vào mỗi người để chuyển sang tiêu dùng, hưởng thụ rõ ràng không phải là thói quen của người Đức.

Thái độ tương tự không tồn tại ở Trung Quốc, nơi có hằng trăm triệu người tiêu dùng tiềm năng khiến đất nước có khả năng tiêu dùng hơn nhiều. Tình trạng nghèo đói còn phổ biến ở đây đã góp phần đáng kể vào thặng dư thương mại vì người nghèo không mua hàng nhập khẩu. Thặng dư của Trung Quốc tiếp tục tăng là do họ tiêu dùng một phần khá nhỏ trong tổng sản phẩm họ làm ra và đầu tư rất lớn. Và người Trung Quốc cũng rất tiết kiệm vì an sinh xã hội của họ rất hạn chế. Hệ thống an sinh xã hội ra đời từ thời Mao Trạch Đông gặp rất nhiều vấn đề và cần thời gian để thay mới.

Hệ thống chính trị Trung Quốc cũng đóng vai trò đáng kể . Doanh nghiệp thuộc các ngành xuất khẩu đã gây ảnh hưởng lên chính phủ để theo đuổi những chính sách có lợi cho họ, bao gồm (không chỉ) duy trì tỷ giá thấp. Vì vậy, nền chính trị Trung Quốc, giống như dân số Nhật Bản và truyền thống Đức, đang gây khó khăn cho việc tái cân đối nền kinh tế thế giới để giảm nguy cơ khủng hoảng tài chính sâu sắc hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Con sông – Phần V


Từ năm 2008 trở về sau, các chính phủ trên thế giới đi theo cả hai. Những nước có hệ thống ngân hàng bị kiểm soát chặt chẽ thì đều nới lỏng chính sách tiền tệ để đối phó với khủng hoảng tín dụng. Ngoài ra, hầu hết các nước đều giảm thuế, vay tiền và chi tiêu để đạt mục tiêu tăng cầu. Đầu năm 2009, Quốc hội Mỹ phê chuẩn gói kích thích trị giá 780 tỷ USD (trong đó một phần ba là cắt giảm thuế). Chính sách tương tự ở châu Âu không bằng Mỹ nếu xét về tỷ lệ so với tổng sản phẩm nền kinh tế; nhưng hầu hết các nước châu Âu đều làm như vậy, và tổng chi tiêu của họ còn tăng lên vì khủng hoảng làm các chương trình an sinh xã hội vốn rất rộng rãi ở đây càng tốn thêm tiền. (Kết quả là châu Âu và Anh đều phải chọn những chính sách khắc khổ hơn Mỹ, một phần vì số nợ lũy kế từ an sinh xã hội).

Các nước châu Á đa phần không bị khủng hoảng tài chính bao vây nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi suy giảm kinh tế toàn cầu. Nên họ tập trung vào các giải pháp chống khủng hoảng và nhìn chung cũng chi tiêu nhiều hơn với tỷ trọng so với tổng sản phẩm nền kinh tế còn lớn hơn cả các nước châu Âu. Trung Quốc hành động từ rất sớm và thực hiện kích thích nền kinh tế rất mạnh với tổng chi tiêu ước tính 585 tỷ USD.

Việc chính phủ quyết đdịnh không nên làm gì cũng quan trọng không kém việc chính phủ nên làm gì để chống lại căn bệnh cúm kinh tế. Giống như những năm 1930, các chính phủ không dựng nên các rào cản thuế quan hoặc đơn phương giảm mạnh giá trị đồng nội tệ. Dòng hàng hóa, tiền tệ và lao động di chuyển xuyên biên giới có giảm từ cuối năm 2008, nhưng đó là vì hoạt động kinh tế nhìn chung bị suy giảm chứ không phải do tác động của chính sách. Trong suốt thời kỳ suy thoái, thương mại, đầu tư và di cư trong nội bộ các quốc gia đều giảm, vì vậy giữa các quốc gia cũng giảm theo.

Khi các nước dần dần phục hồi sau cú sốc tài chính nghiêm trọng năm 2008 và áp ụng các biện pháp với hy vọng thúc đẩy nhanh quá trình này thì các chính phủ lại phải đối mặt với một nhiệm vụ khác mà về dài hạn thì không kém phần quan trọng. Đó là ngăn chặn những cú sốc tiếp theo.

Phòng bệnh [hơn chữa bệnh]

Với thảm họa mà bong bóng nhà ở Mỹ gây ra thì việc ngăn chặn một thảm họa tương tự trở thành cấp thiết. Hơn nữa, hậu quả của cuộc khủng hoảng năm 2008 là bất kỳ hiện tượng giá trị tài sản phình lên nào cũng trở nên nguy hiểm đối với nền kinh tế toàn cầu. Ở Mỹ và các nước khác thuộc bộ ba phương Tây, khi các ngân hàng nhỏ ngã xuống bên vệ đường thì toàn ngành tài chính sẽ củng cố lại bản thân. Sẽ chỉ còn một số ít các tổ chức tài chính rất lớn kết nối với nhau và khi chúng phá sản thì hậu quả sẽ gần như cú sốc năm 2008: cả hệ thống sụp đổ.

Những tổ chức tài chính lớn được coi là “quá lớn, không thể đổ vỡ”, có nghĩa là chính phủ không cho phép họ phá sản, đồng nghĩa với việc khuyến khích họ có những hành vi tìm kiếm lợi nhuận cao đi kèm rủi ro rất lớn. Có một thuật ngữ để chỉ những tình huống dễ sinh ra khủng hoảng tài chính kiểu như vậy: “rủi ro đạo đức. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cũng như phản ứng của chính phủ đã làm tăng rủi ro loại này.

Rủi ro đạo đức xảy ra khi lợi ích thu được từ hoạt động kinh tế là thuộc về cá nhân, nhưng thiệt hại nếu có lại do xã hội gánh chịu. Tức là một cá nhân hoặc một công ty kiếm được tiền thì họ giữ, còn nếu họ lỗ thì chính phủ lại bỏ tiền ra đền bù. Khi không gặp rủi ro, họ lãi rất lớn; còn nếu rủi ro xảy ra, họ lại chẳng mất gì. Nói cách khác, rủi ro đạo đức đã khiến hoạt động kinh tế của họ không còn rủi ro nữa. Chủ nghĩa tư bản mà không có phá sản thì không khác gì Cơ đốc giáo không có địa ngục. Rủi ro đạo đức khuyến khích các hành vi tệ hại vì nó giúp hành vi tệ hại không phải trả giá.

Trong những năm trước khi xảy ra bong bóng nhà ở, chính phủ Mỹ đã có những bước tạo điều kiện cho rủi ro đạo đức. Khi xảy ra một loạt các sự kiện tệ hại của ngành tài chính – như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, quỹ đầu cơ khổng lồ Quản lý vốn dài hạn của Mỹ sụp đổ năm 1998, giá cổ phiếu công nghệ cao giảm mạnh năm 2000 và 2001 – thì ban giám đốc Cục dự trữ Liên bang Mỹ, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Alan Greenspan đã giảm lãi suất để giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực lên giới đầu tư. Chính sách này được gọi là “quyền chọn bán Greenspan” (Greenspan put) – cụm từ thể hiện niềm tin rằng Cục Dự trữ Liên bang dưới thời Greenspan sẽ bảo vệ nhà đầu tư khi thị trường xuống dốc. Chính niềm tin này đã góp phần khiến bong bóng nhà ở càng phình to.

Cuộc giải cứu các tổ chức tài chính sau khi bong bóng nổ tung cũng mang thông điệp tương tự. Sự thực là những biện pháp đặc biệt mà chính phủ áp dụng để ngăn chặn cơn hoảng loạn trong ngành ngân hàng đã không hề giúp hàng triệu người tránh được thiệt hại. Chúng cũng không giúp gì cho các cổ đông của tổ chức tài chính lớn hay thậm chí chính bản thân các tổ chức tài chính – một số trong đó đã phải ngừng hoạt động mà Lehman là ví dụ tiêu biểu nhất nhưng không phải duy nhất. Nhưng với sự sụp đổ của Lehman, khi chính phủ quyết định giải cứu những tổ chức tài chính lớn nhất còn sống sót, họ đã đặt ra một tiền lệ có thể khiến chính những hành vi sai trái khiến họ buộc phải ra tay lại diễn ra lần nữa. Một di sản lớn của những sự kiện năm 2008 là sự cần thiết phải cải tổ hệ thống tài chính thế giới nhằm giảm tối đa cơ hội lặp lại những hành vi sai trái.

Chính phủ Mỹ và các nước châu Âu chuyển sang tái cấu trúc hệ thống tài chính nhằm bảo đảm bong bóng không hình thành. Họ đề xuất một chuỗi các hành động cải cách: tăng dự trữ bắt buộc của các công ty tài chính; đưa tất cả các tổ chức gần giống ngân hàng vào khuôn khổ quản lý của nhà nước, hạn chế quy mô của các tổ chức này; đưa ra quy định pháp lý điều chỉnh các công cụ tài chính mới từng góp phần tạo ra bong bóng bất động sản; thành lập các cơ quan quản lý mới để giám sát hoạt động tài chính và xử lý hậu quả sụp đổ của các tổ chức tài chính quan trọng với cả hệ thống; ngăn chặn bất cứ tổ chức tài chính nào thực hiện cả hai nghiệp vụ: nhận tiền gửi như ngân hàng thương mại và giao dịch chứng khoán như ngân hàng đầu tư.

Tất cả những đề xuất này đều nhạy cảm, nhưng rõ ràng chúng đều gặp phải sự phản đối từ ngành tài chính, những người cho rằng hạn chế hoạt động của họ tức là ngăn cản tăng trưởng kinh tế nói chúng – và cũng có thể họ đúng. Ngành tài chính nghĩ rằng cải tổ sẽ làm giảm lợi nhuận của họ, một điều hiển nhiên. Mặc dù bị phản đối, nhưng một số biện pháp cải cách vẫn được thực hiện. Tuy nhiên, vì là rào cản ngăn không cho bong bóng hình thành và phình to, chúng cũng có một nhược điểm phổ biến vốn xuất phát từ sự khác biệt quen thuộc giữa kinh tế và chính trị.

Vì bộ máy chính trị thực sự có quyền lực chỉ tồn tại ở cấp quốc gia chứ không phải cấp quốc tế nên chỉ có thể tiến hành cải cách tài chính chung trên cơ sở chính sách của từng nước, và các nước khác nhau có chính sách cải tổ rất khác nhau. Nhờ vậy, các công ty tài chính lớn nhất vốn hoạt động theo rất nhiều quy định khác nhau của các nước trên cả thế giới có cơ hội “lợi dụng kẽ hở pháp luật” – tập trung hoạt động kinh doanh ở những nơi có quy định pháp luật “thoáng” nhất và họ có thể chấp nhận rủi ro tối đa để thu được lợi nhuận lớn nhất.

Do các nước phải cạnh tranh với nhau để thu hút hoạt động trong ngành tài chính là cái đem lại việc làm và doanh thu thuế cho một nước, các chính phủ có lý do để xây dựng cơ chế sao cho hấp dẫn nhất. Các công ty có xu hướng bị hấp dẫn bởi những nơi có chính sách lạc quan hơn là chính sách “tối ưu” trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính. Để hạn chế tình trạng này thì các nước cần áp dụng chung một loạt các chính sách cũng như cần một bộ máy để thực hiện. Các quy định phải có hiệu lực trên toàn cầu thì mới đạt hiệu quả tối đa, tức là cần phải có một chính phủ quốc tế. Nhưng ngay cả vào những thời điểm khó khăn nhất về kinh tế tính từ thời Đại Khủng hoảng, các quốc gia độc lập cũng không đặt ra vấn đề này.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Con sông – Phần IV


Hơn nữa, các ngân hàng châu Âu ngày càng mắc sâu hơn vào tấm lưới không chỉ của các tổ chức tài chính Mỹ mà còn của lẫn nhau. Chỉ cần một bộ phận của cái gọi là hệ thống tài chính xuyên Đại Tây Dương gặp rắc rối là nó sẽ nhanh chóng lan sang tất cả các bộ phận khác sau khi Lehman sụp đổ. Một vài ngân hàng châu Âu, nổi bật nhất là Northern Rock của Anh còn phá sản trước cả thời điểm 15/9/2008. Sau đó, khủng hoảng ngân hàng cũng tương tự như ở Mỹ đã bùng nổ trên khắp châu lục.

Các nước châu Á đã tránh được thảm họa tài chính của châu Âu và Mỹ. Về tổng thể, các ngân hàng ở đây vẫn đi theo chính sách vay và cho vay kiểu cổ điển, thận trọng. Lý do chính khiến họ đi theo chủ nghĩa thận trọng tương đối là tấm gương tệ hại của cuộc khủng hoảng cuối những năm 1990 khiến các ngân hàng châu Âu đột ngột rút vốn, tỷ giá tăng cao làm chi phí nợ tăng, và suy thoái nghiêm trọng xảy ra. Thực tế là khủng hoảng châu Á có đóng góp vào bong bóng nhà ở Mỹ. Bị thiệt hại do các nhà đầu tư tháo chạy khỏi đồng nội tệ, các nạn nhân của cuộc khủng hoảng – trong đó có Trung Quốc, quốc gia có đồng tiền không thể chuyển đổi nên không bị ảnh hưởng, nhưng vẫn sợ hãi ở một mức độ nhất định – đã quyết định phải tích trữ một lượng lớn các ngoại tệ mạnh để tự bảo vệ mình. Đây là lý do chính khiến các nước châu Á, nhất là Trung Quốc có thặng dư thương mại và tiền để quay lại đầu tư vào Mỹ.

Mặc dù các nước châu Á đã hành động thận trọng về tài chính, nhưng họ cũng không hoàn toàn thoát được tác động của khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Mỹ. Như những người đang đứng gần một vụ tai nạn ô tô, họ cũng bị những mảnh vụn văng ra làm bị thương. Họ phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu, phần lớn trong số hàng hóa xuất khẩu này là đến bộ ba phương Tây, nhất là Mỹ. Khi các nước phương Tây lâm vào khủng hoảng, cầu hàng nhập khẩu từ châu Á giảm mạnh, làm châu Á cũng bị khủng hoảng theo. Người tiêu dùng phương Tây nghèo hơn, bắt đầu tiết kiệm thay vì chi tiêu. Công nhân châu Á sản xuất các sản phẩm giày, đồ chơi, thiết bị điện tử không bán được cho người phương Tây nên bị thất nghiệp. Với cuộc khủng hoảng này, cầu hàng hóa sản phẩm trên toàn thế giới cũng như thu nhập của các nước phụ thuộc vào xuất khẩu, đặc biệt là dầu mỏ đều sụt giảm mạnh.

Tương tự nguyên nhân và hậu quả, phản ứng của các chính phủ trước thảm họa kinh tế, tài chính cuối năm 2008 cũng có tính toàn cầu. Các quốc gia bị ảnh hưởng nhận thấy quy mô của khó khăn trước mắt, nên đã thay nhóm G8 gồm các nước lớn nhất trong bộ ba phương Tây, Nga và đại diện của Liên minh châu Âu, họ thường niên từ năm 1974 đến nay để thảo luận các vấn đề Kinh tế quốc tế bằng nhóm G20, với các thành viên đại diện từ châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latin cũng như các nước Bắc Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản.

G20 đã có một cuộc hội nghị thượng đỉnh đột xuất ở Washington vào tháng 11/2008, hai hội nghị khác vào năm 2010 và 2011 và sau đó là nhất trí họp hàng năm. Thông cáo chung của hội nghị khẳng định các nước đoàn kết với nhau để đối phó với những khó khăn về kinh tế mà họ cùng đối mặt. Thực tế đa phần là các chính phủ có các chính sách độc lập hơn là phối hợp với nhau. Tuy nhiên, phản ứng của họ trước cơn nhồi máu cơ tim tài chính và cúm kinh tế có nhiều điểm chung vì họ đều rút ra bài học từ các cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trong quá khứ. Bài học là những đơn thuốc chính trị cho căn bệnh kinh tế đều thể hiện dưới hình thức can thiệp của chính phủ.

Để giải quyết khủng hoảng tài chính, các nước đều dựa và quan điểm của các tác giả người Anh thế kỷ 19 Walter Bagehot, một trong những biên tập viên đầu tiên của tạp chí The Economist. Trong cuốn sách Lombard Street xuất bản năm 1873, Bagehot lập luận rằng để ngăn cản sự hoảng loạn trong lĩnh vực ngân hàng, ngành mà nền kinh tế thị trường tự do từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 21 đều rất nhạy cảm, thì chính phủ cần đóng vai trò “người cho vay cuối cùng” và tạo lập đủ nguồn vốn để các ngân hàng có thể đảo ngược được tâm lý tháo chạy là cái luôn đe dọa phá sập cả hệ thống.

Vì vậy, chính phủ Mỹ đã áp dụng những biện pháp mạnh chưa từng có tiền lệ để dập tắt ngọn lửa hoảng loạn trong ngành tài chính. Ngân hàng trung ương Mỹ, tức Cục Dự trữ Liên bang đã làm cho nền kinh tế ngập trong tiền bằng cách hạ lãi suất xuống gần mức 0 và bằng chính sách tạo tiền có tên là “nới lỏng định lượng”. FED mở cửa sổ chiết khấu không chỉ với các ngân hàng thương mại như mọi khi mà còn cả với các tổ chức tài chính khác, thậm chí cả các ngân hàng nước ngoài.

Khi các quỹ thị trường tiền tệ khổng lồ và vốn được coi là tuyệt đối an toàn ở Mỹ rơi vào nguy hiểm, họ cũng được chính phủ bảo lãnh. Các quỹ này đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày: họ cung cấp vốn đầu tư ngắn hạn cho các công ty. Vì lo ngại dòng vốn này sẽ bị ngắt quãng nên một mặt chính phủ Mỹ cung vốn, mặt khác lần đầu tiên họ mua thương phiếu – giấy nhận nợ ngắn hạn – của các công ty trong nước.

Xa hơn, chính phủ Mỹ còn kiểm soát một số công ty tài chính lớn, không phải tất cả đều là ngân hàng, trong đó có Fannie Mae, Freddie Mac và người khổng lồ trong lĩnh vực bảo hiểm AIG. Quốc hội Mỹ đồng ý chi 700 tỷ USD cho Chương trình giải cứu tài sản xấu (TARP), vốn có mục đích ban đầu là mua lại các khoản nợ xấu làm ảnh hưởng đến bảng cân đối kế toán, giảm khả năng cho vay của các ngân hàng. Chính phủ quyết định bơm tiền trực tiếp vào ngân hàng, buộc các ngân hàng lớn nhất phải nhận số vốn này và đổi lại bằng cổ phần, qua đó, quốc hữu hóa một phần hệ thống ngân hàng. Các biện pháp nói trên đã khiến chính phủ Mỹ có vai trò và quyền kiểm soát đối với hệ thống tài chính cũng như nền kinh tế trong nước lớn chưa từng có trong lịch sử thời bình.

Chính phủ các nước châu Âu cũng có động thái tương tự. Họ cũng bơm tiền vào nền kinh tế, cũng giành quyền kiểm soát các tổ chức tài chính lớn gặp khó khăn. Tương tự như ở Mỹ, chính phủ Anh thực hiện chính sách “nới lỏng định lượng”, buộc hai tổ chức tài chính lớn trong nước phải sáp nhập và bơm 87 tỷ USD vốn vào các ngân hàng lớn nhất. Vào chính tháng mà Lehman sụp đổ, chính phủ Đức và ba nước Bỉ, Hà Lan, Luxembourg đã giải cứu một phần hệ thống ngân hàng trong nước. Pháp, Tây Ban Nha, Ireland và Thụy Sĩ sau đó cũng tiếp bước.

Việc chính phủ áp dụng các chính sách nói trên cho thấy khi đối mặt với khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì can thiệp mạnh nhất vẫn dừng ở cấp quốc gia. Nhưng ở thời điểm xấu nhất của cuộc khủng hoảng tài chính, khi hệ thống tài chính rung chuyển bởi Lehman phá sản thì các chính phủ bắt đầu phối hợp hành động. Ngày 8/10/2008, người đứng đầu các ngân hàng trung ương Mỹ, Anh, Liên minh châu Âu, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Canada đều đồng thời cắt giảm lãi suất 0,5% còn Trung Quốc cắt giảm 0,27%.

Những chính sách đặc biệt đã cầm được máu – nếu nói theo ngôn ngữ y học. Hệ thống tài chính xuyên Đại Tây Dương không phục hồi ngay lập tức, nhưng cũng không sụp đổ. Cơn bão tiền chính phủ đổ vào các ngân hàng và các tổ chức tài chính đã giúp nền kinh tế tránh được cơn tai biến nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cũng là một trải nghiệm đáng sợ, tệ hại, chỉ là không đến mức hấp hối. Tính quyết đoán của giới chính trị đã thể hiện một cách không thể thuyết phục hơn. Các can thiệp chính trị đã giúp nền kinh tế thế giới tránh được thảm họa.

Những can thiệp quyết đoán của giới chính trị tuy không thể ngăn chặn nhưng cũng giảm thiểu nguy cơ xảy ra suy thoái tiếp sau khủng hoảng tài chính. Trong trường hợp này, các chính phủ cũng lại áp dụng giải pháp của một nhà kinh tế học nổi tiếng trước kia, John Maynard Keynes. Năm 1936, Keynes xuất bản cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, phần nào đó là cuốn sách phê phán chính sách kinh tế thời kỳ Đại Khủng hoảng. Ông cho rằng khi các hoạt động kinh tế sụt giảm nghiêm trọng, chính phủ không thể đơn giản là lười nhác chờ đợi nền kinh tế tự phục hồi trở lại – một quan điểm được chấp nhận là chuẩn mực vào những năm 1930. Theo Keynes, chính phủ nên vay tiền và chi tiêu để tạo cầu, dẫn tới tăng sản lượng và việc làm. Các nhà kinh tế học thời sau, nổi bật là nhà kinh tế người Mỹ được giải Nobel Milton Friedman cho rằng Đại Khủng hoảng xảy ra nghiêm trọng như vậy là do các ngân hàng trung ương quyết định cắt giảm cung tiền trong khu lẽ ra họ phải tăng cung tiền trong nước.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Con sông – Phần III


Sự sụp đổ của Lehman dẫn tới tình trạng hoảng loạn. Ngân hàng này đã thực hiện rất nhiều giao dịch với rất nhiều tổ chức tài chính khác đến mức khi nó phá sản, nó để lại hậu quả trên khắp nước Mỹ, cũng như toàn thế giới: tất cả các đối tác kinh doanh – các tổ chức tài chính mà nó hợp tác – đều bị thiệt hại. Hơn nữa, một công ty lâu đời, lớn mạnh và đáng kính trọng khi phá sản sẽ gây ra tâm lý lo lắng, bất an với câu hỏi: Nếu Lehman còn phá sản thì liệu còn công ty nào được an toàn Trong hoàn cảnh ấy, các tổ chức tài chính thông thường cung cấp nguồn vốn cho nền kinh tế Mỹ đều đóng cửa sổ choo vay. Họ không còn tin là người vay sẽ trả được nợ.

Những ngày sau khi Lehman sụp đổ, các kênh cho vay vốn đều đóng băng, và nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng hấp hối. May mắn là nó không chết. Hệ thống tài chính được chính phủ bơm vào một số tiền rất lớn, như một trái tim đã ngừng đập được máy kích lại, một chiếc ô tô được nối ắc quy để khởi động. Vốn lại bắt đầu lưu thông, tuy hơi dè dặt. Nhưng bong bóng nhà ở sụp đổ cộng với khủng hoảng tài chính nghiêm trọng đã tạo ra thảm họa thứ ba: suy thoái kinh tế, có thể so sánh với một cơn cảm cúm.

Giống như khi bắt đầu cúm, suy  giảm kinh tế theo chu kỳ với sản lượng giảm, thất nghiệp tăng sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thị trường tự do. Không nước nào thoát được suy thoái theo chu kỳ, cũng như gần như không ai sống cả đời mà không bị cảm cúm lần nào. Có nhiều mức độ cúm khác nhau, và các đợt suy thoái cũng khác nhau về tính nghiêm trọng. Suy thoái xảy ra do giá nhà giảm và trầm trọng hơn do khủng hoảng tài chính rõ ràng là vụ suy thoái tệ hại nhất trên mọi khía cạnh tính từ Đại Khủng hoảng.

Bong bóng bất động sản Mỹ phình to vì nhiều lý do. Một số lý do thuần túy là kinh tế. Bất động sản là một ngành lớn trong nền kinh tế Mỹ, đem lại rất nhiều cơ hội đầu tư. Khi bong bóng phình lên, lãi suất vẫn ở mức rất thấp, hấp dẫn mọi người vay tiền để đầu tư, và mọi cá nhân và tổ chức đều lún sâu vào nợ nần. Các tiêu chuẩn cho vay đều bị bỏ qua. Ngân hàng cho vay ngày càng nhiều cái gọi là các khoản vay nhà ở “dưới chuẩn” – với người vay có điểm số tín dụng thấp, thường không đủ tiêu chuẩn được vay. Sốc nhất là những khoản vay “ba không” cho những người không thu nhập, không nghề nghiệp, không tài sản. Những khoản vay kiểu này làm bong bóng lớn hơn nhưng cũng dễ vỡ hơn – và hai sản phẩm mới trong lĩnh vực tài chính cũng gây hậu quả tương tự.

Sản phẩm thứ nhất là trộn lẫn các khoản cho vay mua nhà với nhau, biến chúng thành trái phiếu, sau đó đem ra mua bán. Trái phiếu có nguồn gốc từ các khoản cho vay mua nhà rất thu hút các nhà đầu tư vốn không có thể để đầu tư vào thị trường nhà ở. Sản phẩm thứ ba cũng hút tiền vào bất động sản là các khoản bảo hiểm cho vay nhà ở, còn gọi là hợp đồng hoán đổi nợ xấu (CDS), được bán cho không chỉ người cho vay mà cả các cá nhân và tổ chức khác dưới dạng công cụ đầu tư. Cũng có thể đem CDS ra mua bán. Người ta nghĩ rằng những sản phẩm tài chính mới sẽ khiến thị trường nhà ở an toàn hơn và chúng giúp dàn trải rủi ro của các khoản nợ. Nhưng thực tế tác động của chúng ngược lại.

Bong bóng luôn làm giá tăng và lôi kéo nhà đầu tư nhảy vào. Chừng nào giá bất động sản còn tăng thì ngay cả những khoản vay đáng ngờ cũng an toàn vì người đi vay mua nhà dù không kiếm đủ tiền trả nợ thì vẫn bán được nhà với giá cao hơn giá mua, lấy tiền trả nợ và vẫn có lãi. Vì giá nhà ở Mỹ có xu hướng tăng trong suốt bảy mươi năm nên mọi người đều tin – và khi nhìn lại, có thể thấy đây là niềm tin sai lầm – rằng nó sẽ còn tiếp tục tăng nữa.

Những bong bóng sinh ra không chỉ bởi lý do kinh tế. Nếu tiền cứ liên tục chạy vào bất động sản thì nguyên là chính trị mở cánh cửa cho phép điều đó xảy ra. Chính sách công ở Mỹ luôn khuyến khích xây và bán nhà. Chính phủ khấu trừ thuế cho những người vay tiền để mua nhà, gây áp lực lên các tổ chức tín dụng để họ cho vay với ngay cả những người ít khả năng mua nhà nhất. Chính phủ thành lập hai “tổ chức do chính phủ tài trợ” liên quan đến nhà ở, gồm Hiệp hội vay thế chấp quốc gia, tên thường gọi là Fannie Mae, và Tập đoàn vay mua nhà trả góp liên bang (Freddie Mac), đóng vai trò trung gian và sở hữu các khoản vay thế chấp nhà ở. Mối quan hệ chặt chẽ với chính phủ cho phép họ vay tiền với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường.

Khi nhìn lại, bong bóng phình ra không gây lo ngại nhiều bằng đáng lẽ phải lo cho giới chính trị: họ có một quan điểm kinh tế đã trở nên phổ biến, trong đó có cả những quan chức chịu trách nhiệm kiểm soát nền kinh tế Mỹ trong kỷ nguyên toàn cầu hóa thứ ba. Theo họ, thị trường có thể tự hoạt động một cách hiệu quả mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Những người tham gia thị trường – nhất là giới đầu tư – luôn luôn hành động hợp lý và thận trọng, vì họ đang lo cho đồng tiền của mình. Do đó, thị trường có khả năng tự điều tiết, tự chỉnh sửa. Với quan điểm này, một số quy định điều chỉnh hệ thống tài chính đã được dỡ bỏ, một số không có hiệu lực, và các cơ quan quản lý bình thản để cho các tổ chức tín dụng không bị quản lý – “hệ thống ngân hàng song hành” – tiếp tục tăng trưởng. Giống như nhận định giá nhà luôn tăng, niềm tin rằng mọi thứ đều ổn hóa ra lại không đúng.

Bất động sản hấp dẫn đầu tư, lãi suất thấp, tiêu chuẩn cho vay lỏng lẻo, hệ thống tài chính với cấu trúc cho phép nhân rộng các kênh đầu tư vào bất động sản, sự hỗ trợ chính thức của chính phủ dành cho lĩnh vực nhà ở, và niềm tin rằng thị trường tự do không thể sai lầm – tất cả kết hợp với nhau tạo thành một đống khổng lồ những khoản nợ xếp thành hình kim tự tháp ngược trên bất động sản Mỹ. Và chúng cũng đều bắt nguồn từ nước Mỹ. Bong bóng bất động sản vĩ đại này là của nước Mỹ, nhưng chưa đủ. Nó còn là sản phẩm của toàn cầu hóa. Nền kinh tế toàn cầu đã góp phần thổi bong bóng to hơn, và nền kinh tế toàn cầu cũng bị ảnh hưởng khi bong bóng vỡ.

Hội nhập kinh tế toàn cầu tăng mạnh vào kỷ nguyên toàn cầu hóa thứ ba cũng góp phần thổi to hơn bong bóng nhà ở với cả tỷ công nhân mà phần lớn là kỹ năng thấp tham gia vào lực lượng lao động trên toàn thế giới. Đặc biệt là ở Trung Quốc, rất nhiều người đến làm việc ở các nhà máy sản xuất hàng tiêu dùng với số lượng lớn để xuất khẩu với giá rẻ. Ở Mỹ, làn sóng hàng nhập khẩu từ các cơ sở sản xuất Trung Quốc vừa làm ảnh hưởng tiêu cực đến công nhân cùng ngành trong nước, vừa làm giá hàng hóa không thể tăng. Khi không có dấu hiệu lạm phát thì ngăn chặn lạm phát thường trở thành ưu tiên hàng đầu. Ban giám đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ duy trì lãi suất thấp nên chi phí vay vốn mua nhà thấp. Cơn lũ hàng Trung Quốc và nhiều nước nữa làm bong bóng phình to theo cách khác. Chính phủ Trung Quốc tái xuất phần lớn tiền thu được sang Mỹ, thường là bằng cách mua trái phiếu chính phủ Mỹ. Nguồn cung vốn mở rộng làm giá giảm – tức là lãi suất giảm. Nếu không có dòng vốn khổng lồ chảy vào trong nước, lãi suất ở Mỹ chắc chắn sẽ cao hơn, có thể đủ để khiến đầu tư vào nhà ở chỉ nằm trong giới hạn thận trọng. Ngoài dùng sức ép giảm chi phí vốn, một số quỹ nước ngoài ở Mỹ còn trực tiếp đầu tư vào các tài sản liên quan đến nhà ở, ví dụ, trái phiếu của Fannie Mae và Freddie Mac – vốn được coi là hoàn toàn an toàn và do đó có tỷ lệ sinh lời hấp dẫn.

Một số nước cũng đi theo con đường của Mỹ (có khi chính do các quan chức Mỹ thúc giục) trong việc xóa bỏ bớt các quy định đối với hệ thống tài chính, dỡ bỏ các rào cản dòng di chuyển vốn xuyên biên giới. Khi nguồn vốn đầu tư sẵn có ở mọi nơi đều tăng, giá nhà ở Mỹ cũng bị đẩy lên.

Hậu quả của cơn nhồi máu cơ tim tài chính và cúm kinh tế ở Mỹ cũng mang tính toàn cầu giống như nguyên nhân sinh ra chúng. Thiệt hại kinh tế lan từ Mỹ đi khắp nơi qua hai kênh: sang châu Âu thông qua mạng lưới tài chính toàn cầu xuyên Đại Tây Dương và sang châu Á thông qua mối quan hệ thương mại giữa Mỹ và châu Á xuyên Thái Bình Dương.

Hệ thống tài chính châu Âu cũng chịu cú sốc giống như cú sốc đã khiến hệ thống tài chính của Mỹ suýt sụp đổ, nhưng ở các mức độ khác nhau. Các ngân hàng châu Âu cũng có nhược điểm giống như các ngân hàng Mỹ. Một vài ngân hàng, nhất là của Thụy Sĩ và Đức – là những nước cực kỳ bảo thủ về mặt kinh tế – đều có hệ số đòn bẩy, tức là tỷ lệ giữa số tiền đầu tư và số tiền họ có là rất cao. Ở một số nước các ngân hàng đều tham gia tài trợ cho bong bóng bất động sản ở mức tương tự như Mỹ. Rất nhiều ngân hàng đã mua các loại trái phiếu liên quan đến nhà ở Mỹ, thứ công cụ tài chính mà họ sẽ không mua bán nếu nó chỉ là các khoản vay thế chấp mua nhà thông thường. Họ còn mua lại các khoản nợ của hai tổ chức được chính phủ tài trợ – vốn được coi là an toàn ngang với trái phiếu chính phủ Mỹ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Con sông – Phần II


Tương tự hành vi bầy đàn của giới đầu tư khi có bong bóng, người gửi tiền vào ngân hàng cũng hành động với nỗi sợ có khả năng trở thành thực tế. Nếu người gửi tiền sợ rằng tiền của mình đang không được an toàn và họ rút tiền ra, và những người khác cũng làm theo, thì tiền họ gửi thực sự sẽ không còn an toàn, vì tại một thời điểm, ngân hàng chỉ có thể trả tiền cho một vài người gửi và nhìn chung không thể nhanh chóng thu lại được thêm tiền từ những khoản vay. Sự sụp đổ của một ngân hàng cũng tương tự như khi bong bóng kinh tế phát nổ. Như người ta nói: Nếu bạn thấy một dòng người xếp hàng trước ngân hàng bạn gửi tiền thì hãy đứng ngay vào cùng họ.

Tất nhiên, ngân hàng sụp đổ làm các cổ đông và người gửi tiền gặp rắc rối, nhưng hậu quả kinh tế còn có thể lớn hơn rất nhiều. Đó là vì các tổ chức tài chính thường có liên kết qua lại với nhau: một ngân hàng sụp đổ có thể khiến nhiều ngân hàng khác cũng sụp đổ theo. Sự sụp đổ trên diện rộng của các ngân hàng, đến lượt nó, có thể kéo đổ toàn bộ nền kinh tế vì với nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thường đóng vai trò trung tâm.

Vai trò của hệ thống ngân hàng với toàn bộ nền kinh tế giống như vai trò của trái tim đối với toàn bộ cơ thể: đều giúp lưu thông một thứ mà cơ quan nào cũng cần để tồn tại và hoạt động – với cơ thể người thì là máu, còn với nền kinh tế thì là tiền dưới hình thức các khoản nợ. Khi tim bị suy thì toàn bộ cơ thể sẽ chết. Còn khi ngân hàng sụp đổ, toàn bộ nền kinh tế cũng đổ vỡ theo. Chính sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng Mỹ và châu Âu hồi đầu thập niên 1930 đã dẫn đến cuộc Đại Khủng hoảng – đòn đánh ác liệt nhất vào nền kinh tế toàn cầu tính từ đầu thế kỷ 19, nếu không kể hai cuộc chiến tranh thế giới.

Vì nếu gặp sự cố sẽ gây ra thiệt hại nghiêm trọng nên từ những năm 1930, hầu như ở đâu, ngành tài chính cũng là đối tượng điều chỉnh của pháp luật nhằm ngăn chặn thảm họa xảy ra. Kết quả là tự ngành tài chính cũng có mạng lưới đảm bảo an toàn cho riêng mình. Ví dụ, ở Mỹ, chính phủ liên bang bảo hiểm tiền gửi cho các ngân hàng với số tiền gửi lên đến 250.000 USD để tránh cho người gửi tiền tham gia rút tiền hàng loạt theo tâm lý bầy đàn, làm sụp đổ hệ thống ngân hàng. Khi các tổ chức tài chính lớn và cả hệ thống tài chính rung chuyển thì chính phủ sẽ có mặt để giải cứu. Đó là thực tế đã xảy ra vào năm 2008 ở Mỹ và châu Âu.

Quá trình liên tục ra luật và thi thoảng giải cứu của chính phủ đã biến tài chính trở thành một hoạt động kinh tế (tài chính là hoạt động kinh tế vì nó là kết quả của việc rất nhiều người ra quyết định sao cho có lợi nhuận) bị ảnh hưởng mạnh bởi chính trị, cũng giống như thương mại và nhập cư. Về mặt này, hệ thống tài chính còn tương đồng với con sông – một yếu tố tự nhiên bị con người kiểm soát ít nhất là một phần thông qua hệ thống đê điều, thông qua dự báo thời tiết và cảnh báo lũ và cho phép những người bị ảnh hưởng thực hiện các biện pháp phòng ngừa. Trong tình huống xấu nhất, con người có thể thất bại và thảm họa xảy ra, như cơn lũ tràn vào thành phố New Orleans năm 2005 khi cơn bão Katrina phá vỡ con đê ven sông Mississippi. Tương tự, khi các nỗ lực chính trị can thiệp vào ngành tài chính gặp thất bại thì sẽ xảy ra thảm họa kinh tế, ví dụ, hệ thống tài chính của Mỹ đã gần như sụp đổ vào tháng 9/2008, và tiếp sau đó là một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.

Bong bóng có thể xuất hiện và nổ tung trong phạm vi một nước. Nhưng tần suất và tính nghiêm trọng của nó sẽ tăng lên khi tài chính trở thành một hoạt động kinh tế toàn cầu – tức là tiền bắt đầu di chuyển xuyên biên giới – như suốt kỷ nguyên toàn cầu hóa bắt đầu vào thập niên 1990. Thêm nhiều nước gia nhập nền kinh tế toàn cầu, và khối lượng di chuyển xuyên biên giới đã tăng rất nhanh, trung bình 11%/năm trong giai đoạn từ giữa những năm 1990 đến giữa thập niên 2000. Kết quả là nơi nào cũng ngày càng sẵn tiền để đầu tư, và một phần trong số đó đã được dùng để đầu tư vào tài sản ở nước ngoài. Đồng thời, tài chính cũng trở nên bất ổn hơn – vốn dễ bị đột ngột tháo chạy hơn – vì các nhà đầu tư sẽ hào hứng hơn với những nơi có hệ thống chính trị và kinh tế khác lạ. Nhìn chung, đầu tư hoặc cho vay càng xa thì lòng tin vào nó càng mong manh dễ vỡ.

Ở Đông Á, số tiền đầu tư lớn hơn và xu hướng tháo chạy đột ngột khỏi tài sản nước ngoài gia tăng đã cùng nhau tạo ra cuộc đại khủng hoảng tài chính quốc tế đầu tiên của kỷ nguyên toàn cầu hóa thứ ba. Các ngân hàng phương Tây đã cho Thái Lan, Hàn Quốc và nhiều nước khác vay những khoản tiền lớn vào thập niên 1990, sau đó đòi tiền về khi các khoản đầu tư ở châu Á bắt đầu có vẻ rủi ro, làm cho thiệt hại càng nghiêm trọng. Và con số này còn tăng lên nhiều lần do cuộc khủng hoảng có hai đặc điểm khác xuất phát từ khía cạnh quốc tế. Phương Tây chủ yếu cho vay bằng đồng dollar, sau đó được các ngân hàng ở châu Á đổi thành đồng nội tệ để cho vay trong nước. Để trả được nợ, chính phủ các nước châu Á phải giảm giá đồng nội tệ của mình, làm giá hàng nhập khẩu tăng lên, hậu quả là các doanh nghiệp và người dân trong nước nghèo đi. Cuộc khủng hoảng đầu tiên lan rộng khắp các nước châu Á, rồi lan xa hơn sang Nga và Argentina như một căn bệnh lây nhiễm. Giới ngân hàng phương Tây do bị thiệt hại ở châu Á nên phải bán tài sản họ có ở khắp mọi nơi để bổ sung nguồn tiền. Và khi thấy đầu tư ở các nướoc không phải bộ ba phương Tây không hiệu quả, các ngân hàng và nhà đầu tư phương Tây bắt đầu lo ngại tài sản của họ nắm giữ ở các quốc gia tương tự cũng sẽ mất giá, họ liền vội vàng tìm cách bán chúng đi. Giống con linh dương đang uống ở một vũng nước chợt nhìn thấy một đàn khác đang ở một ốc đảo gần đó, nó liền chạy sang ngay.

Dòng vốn di chuyển trên phạm vi toàn thế giới làm tăng lượng vốn sẵn có để đầu tư, nhưng cũng góp phần đáng kể vào bong bóng kinh tế lớn nhất, gây thiệt hại nghiêm trọng nhất thời hậu thập niên 1990. Thực tế nó còn là bong bóng tài chính lớn nhất lịch sử, khi vỡ, nó làm cho nền kinh tế toàn cầu bị tổn thấ nhiều hơn tất cả các cuộc khủng hoảng trước đó – tính từ cuộc Đại Khủng hoảng 1930. Nó chủ yếu hình thành từ lĩnh vực bất động sản ở Mỹ, và là minh chứng rõ ràng nhất về nguy cơ mà tài chính quốc tế mang lại. Nó cũng cho thấy tầm quan trọng của các quyết định chính trị trong việc thúc đẩy hay ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại bong bóng gây ra.

Chè chén say sưa, nhồi máu cơ tim và cảm cúm

Bong bóng bất động sản Mỹ kéo dài từ giữa thập niên 1990 đến tận giữa thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Từ năm 1997 đến năm 2006, giá nhà ở Mỹ đã tăng 124%. Khi giá tăng, các nhà đầu tư vào bất động sản có lãi, còn những người không đầu tư thì mất cơ hội kiếm tiền. Giá nhà ngừng tăng và bắt đầu giảm vào năm 2005. Và nó tiếp tục tuột dốc ngày càng nhanh trong ba năm tiếp theo. Đến năm 2008, giá trung bình một ngôi nhà hoặc một căn hộ đã giảm 30% so với ba năm trước.

Như mọi bong bóng khác, sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng tài chính 2008 giống như ột vụ chè chén say sưa, khi những người tham gia uống ngày càng nhiều, cảm thấy ngày càng vui – phản ánh tâm trạng hưng phấn khiến các nhà đầu tư lao vào một thứ tài sản. Cuối cùng, tay bợm rượu đổ gục, mê man, và tỉnh dậy với cảm giác say cực kỳ khó chịu – giống như khi bị mất đi một khối tài sản khổng lồ khi bong bóng nổ. Tương tự một cuộc rượu say sưa, bong bóng kinh tế cũng kết thúc trong khổ sở đau đớn.

Nhưng bong bóng 2008 không chỉ hiến người mua nhà và giới đầu tư bất động sản Mỹ phải gánh chịu đau thương, dù thiệt hại của họ đã rất lớn. Vụ bong bóng vỡ này tạo nên mối đe dọa về mặt đạo đức cho người Mỹ và cho cả nền kinh tế toàn cầu vì nó làm tê liệt hệ thống tài chính cả ở Mỹ và trên toàn thế giới. Với vai trò trung tâm của nền kinh tế, sự tê liệt của hệ thống tài chính không khác gì một cơn nhồi máu cơ tim đe dọa đến tính mạng cơ thể.

Sự sụp đổ của bong bóng nhà ở nhanh chóng làm dòng tiền tín dụng ở Mỹ nhanh chóng bị xiết chặt vì có quá nhiều tổ chức tài chính lớn đầu tư quá nhiều vào nhà ở – cả dưới hình thức trực tiếp và gián tiếp. Một số công ty lớn đã vay rất nhiều tiền để đầu tư, đến mức khi tài sản đầu tư mất giá, họ mất sạch vốn và phải đóng cửa: Lúc đó bảo họ cho vay hay đầu tư không khác gì bảo người chết chạy marathon. Tháng 3/2008, ngân hàng đầu tư Bear Stearns rơi vào phá sản, và chính phủ liên bang buộc họ phải tự bán mình cho ngân hàng JP Morgan Chase với giá rất thấp. Bảy tháng sau, vào ngày 15/9, một ngân hàng đầu tư khác còn lớn hơn, lâu đời hơn là Lehman Brothers được phép phá sản.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Bàn cờ Á – Âu – Phần cuối


Trong không gian rộng lớn và biến động về chính trị ở Trung Âu – Trung Á, đang nổi lên một tình trạng bất trắc lớn mà khả năng dễ bị tấn công mà các điểm then chốt là Thổ Nhĩ Kỳ, Iran làm cho trầm trọng thêm. Từ Crimea ở Biển Đen chạy theo hướng Đông dọc biên giới mới của Nga ở phía Nam, đến tỉnh Tân Cương của Trung Quốc, xuống Ấn Độ Dương, vòng về phía Tây đến Hồng Hải, theo hướng Bắc đến Đông Địa Trung Hải và trở lại Crimea, có khoảng 400 triệu cư dân của khoảng 25 quốc gia, hầu hết hỗn tạp về chủng tộc, tôn giáo và thực tế không quốc gia nào ổn định về chính trị. Có một vài quốc gia trong số các quốc gia ấy có thể sắp có vũ khí hạt nhân.

Khu vực mênh mông này bị tàn tạ bởi những mối hận thù dễ bùng nổ và bị các nước láng giềng hùng mạnh cạnh tranh nhau, có thể sẽ là một bãi chiến trường chính cho những cuộc chiến giữa các quốc gia dân tộc và tàng chứa nhiều khả năng của một cuộc chiến tranh về chủng tộc và tôn giáo kéo dài. Việc Ấn Độ khống chế hay tận dụng một cơ hội nào đó để áp đặt lên Pakistan sẽ ảnh hưởng lớn đến phạm vi của các cuộc xung đột có thể diễn ra ở khu vực. Những căng thẳng nội bộ của Thổ Nhĩ Kỳ và Iran ngày càng tồi tệ sẽ làm giảm đáng kể vai trò ổn định khu vực nóng bỏng này của các nước ấy. Tình hình này làm cho việc thu hút các nước Trung Á mới vào cộng đồng quốc tế thêm khó khăn, đồng thời cũng ảnh hưởng xấu đến nền an ninh do Mỹ chi phối ở vùng vịnh Ba Tư. Dẫu sao, cả Mỹ và cộng đồng quốc tế đều phải đứng trước một thách thức mà tầm vóc vượt xa cuộc khủng hoảng hiện nay ở Nam Tư cũ.

Một phần của vấn đề ở khu vực không ổn định này có thể là thách thức xuất phát từ chủ nghĩa toàn thống Hồi giáo đối với vị thế đứng đầu của Mỹ. Khai thác tính thù địch tôn giáo đối với lối sống Mỹ và lợi dụng cuộc xung đột Arab – Israel, đạo Hồi toàn thống có thể phá hoại một số chính phủ Trung Đông thân phương Tây và cuối cùng làm phương hại đến lợi ích khu vực của Mỹ, đặt biệt là ở vịnh Ba Tư. Tuy nhiên, không có sự thống nhất về chính trị, không có một nhà nước Đạo Hồi riêng lẻ thực sự đủ mạnh thì sự thách thức từ chủ nghĩa toàn thống Hồi giáo sẽ thiếu một cấu trúc nòng cốt địa chính trị, và do đó có thể có nhiều khả năng chỉ tự thể hiện thông qua bạo động tự do mà thôi.

Sự nổi lên như một cường quốc chính của Trung Quốc chứng minh vấn đề địa chiến lược có tầm quan trọng quyết định. Nên kết nạp một nước Trung Quốc dân chủ hóa và thị trường tự do vào khung hợp tác khu vực Á – Âu rộng lớn hơn. Nhưng tình hình sẽ đi đến đâu nếu Trung Quốc không dân chủ hóa mà tiếp tục tăng trưởng kinh tế và quân sự? Một “Đại Trung Hoa” có thể xuất hiện, bất chấp sự ảnh hưởng từ các nước láng giềng, cho dù điều đó có thể đưa đến một cuộc xung đột lớn. Cuộc xung đột ấy có thể làm căng thẳng mối quan hệ Mỹ – Nhật, vì khó dám chắc là Nhật Bản sẽ chịu theo Mỹ ngăn chặn Trung Quốc.

Tuy nhiên, hòa hợp với Trung Quốc cũng đòi hỏi phải trả giá. Chấp nhận Trung Quốc là một cường quốc khu vực không phải như việc tán thành một khẩu hiệu. Ưu thế khu vực nào cũng phải có thực chất. Có nghĩa là nếu Mỹ sẵn sàng chấp nhận Trung Quốc tham dự vào các công việc thế giới thì cũng phải chấp nhận phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc, và cũng phải xác định những khu vực nào hiện đang ngoài bán kính chính trị của Trung Quốc có thể phải nhượng lại cho “Vương quốc của Thiên Triều” tái xuất hiện?

Trong khung cảnh ấy, duy trì hiện diện của Mỹ ở Hàn Quốc trở nên đặc biệt nghiêm trọng. Không có sự hiện diện ấy, thì mọi dàn xếp phòng thủ Mỹ – Nhật khó tiếp tục ở hình thức hiện tại, vì Nhật sẽ phải ngày càng tự lập về quân sự. Mọi diễn tiến đi đến thống nhất Triều Tiên có thể sẽ xáo trộn, là cơ sở cho sự tiếp tục hiện diện quân sự của Mỹ ở Hàn Quốc. Một nước Triều Tiên thống nhất có thể không chọn sự bảo hộ quân sự lâu dài của Mỹ. Thực tế đó là cái giá mà Trung Quốc đòi hỏi cho việc quyết định hỗ trợ việc thống nhất bán đảo này. Tóm lại, việc Mỹ tăng cường mối quan hệ với Trung Quốc sẽ không khỏi có những tác động trực tiếp đến sự ổn định của mối quan hệ tam giác an ninh Mỹ – Nhật – Triều Tiên.

Cuối cùng, cần lưu ý một số tình huống bất ngờ có thể liên quan đến những sắp xếp chính trị trong tương lai. Trong quá khứ, những vấn đề quốc tế chủ yếu bị chi phối bởi những cuộc tranh chấp giữa các quốc gia riêng lẻ để giành quyền thống trị khu vực. Do đó, Mỹ sẽ phải đối phó ra sao với các liên minh khu vực đang tìm cách đẩy Mỹ ra khỏi lục địa Á – Âu, đe dọa vị thế cường quốc thế giới của Mỹ. Tuy nhiên, các liên minh ấy có nổi lên hay không để thách thức với ưu thế của Mỹ thực ra còn phụ thuộc rất nhiều vào việc Mỹ có đối phó được hay không với những tình thế khó xử như đã nêu trên đây.

Khả năng nguy hiểm nhất có thể là một đại liên minh bao gồm Trung Quốc, Nga và có thể cả Iran. Đó là liên minh “chống bá quyền” được hợp thành không phải trên cơ sở ý thức hệ, mà bởi những bất bình tích tụ lại. Về mặt quy mô và phạm vi liên minh có thể gợi nhớ lại thách thức mà khối Trung – Xô đã từng đặt ra, tuy lần này có thể Trung Quốc sẽ đứng đầu, Nga theo sau. Để ngăn chặn tình huống bất ngờ này, Mỹ phải tỏ ra có kỹ năng địa chiến lược thành thạo đồng thời trên cả ba rìa: Tây, Đông và Nam lục địa Á – Âu.

Một thách thức khác tuy có hạn chế hơn về địa lý nhưng về lâu dài có tầm quan trọng to lớn, đó là trục Trung Quốc – Nhật Bản sau khi Mỹ mất vị thế ở Viễn Đông và Nhật Bản có sự thay đổi trong cách nhìn về thế giới. Nó sẽ kết hợp sức mạnh của hai dân tộc có năng lực sản xuất phi thường, lợi dụng một dạng “chủ nghĩa Á – Âu” nào đó như một thứ học thuyết chung để chống Mỹ chẳng hạn. Tuy nhiên, khả năng này trước mắt chưa thấy xuất hiện, vì căn cứ vào kinh nghiệm lịch sử gần đây giữa hai nước và chính sách nhìn xa trông rộng của Mỹ ở Viễn Đông chắc chắn ngăn cản không cho nó hình thành.

Cũng rất xa vời, nhưng không loại trừ, là khả năng đưa tới hoặc một sự cấu kết Đức – Nga, hoặc một sự hợp tác thân thiện Nga – Pháp. Đã có những tiền lệ lịch sử cho cả hai sự sắp xếp lại đó, và khả năng này hay khả năng kia sẽ có thể diễn ra nếu như việc thống nhất châu Âu phải đình trệ, và nếu quan hệ châu Âu – Mỹ xấu đi nghiêm trọng. Thực vậy, trong trường hợp Pháp – Nga thân thiện, người ta có thể hình dung thấy một sự dàn xếp Âu – Nga để loại Mỹ ra khỏi lục địa này. Ở giai đoạn hiện nay thì mọi khả năng ấy đều không thể có. Những khả năng ấy chỉ xẩy ra khi Mỹ phạm sai lầm lớn trong thực hiện chính sách châu Âu của mình và các nước châu Âu chủ chốt có sự tái định hướng mạnh mẽ.

Dù tương lai thế nào đi nữa, cũng có thể kết luận một cách hợp lý rằng vị thế đứng đầu của Mỹ ở lục địa Á – Âu chí ít cũng vấp phải bạo động lẻ tẻ. Địa vị đứng đầu của Mỹ dễ bị tổn thương bởi những thách thức từ những đối thủ khu vực hoặc từ các nhóm nước mới. Hệ thống chế ngự toàn cầu hiện thời của Mỹ chỉ có thể ổn định ở những nơi có được sự chỉ đạo của một địa chiến lược dài hạn, những hệ thống chính trị xã hội tương đồng và thích hợp, được gắn liền với nhau trong những cấu trúc đa phương do Mỹ đứng đầu.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Con sông – Phần I


Tiền lỏng hơn nước, nhẹ hơn khí.

Heinrich Heine

Tài chính là cỗ máy vận hành nền kinh tế, nhưng là cỗ máy bất ổn và nguy hiểm.

Khó mà tin cậy được giới lãnh đạo ngân hàng và các tổ chức tài chính khác khi giao cho họ nhiệm vụ chặn đứng cơn hưng phấn của nhà đầu tư, còn các chính phủ thì cảm thấy bị ép buộc phải ném tiền qua cửa sổ.

Các quy định pháp luật ra đời, nói cho cùng, chính là do giới tài chính đã phạm sai lầm và tất cả mọi người phải trả giá.

Edward Carr

những vấn đề lớn liên quan đến bất ổn tài chính, mất cân đối cán cân thương mại thế giới… là những khó khăn mang tính toàn cầu, đòi hỏi phải có hợp tác quốc tế ở tầm cao mới.

Gordon Brown

Tiền và rắc rối của nó

Với mọi nền kinh tế, tiền là đồng xu hai mặt. Một mặt, tiền là thứ không thể thiếu. Nếu không có tiền thì không thể diễn ra hoạt động kinh tế dù là nhỏ nhất. Nó được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử kinh tế với ba mục đích lớn. Nó có đơn vị tính toán, và là phương tiện trao đổi mà nếu không có nó thì chúng ta chỉ có thể mua bán trực tiếp kiểu hàng đổi hàng. Nó là cái chứa đựng giá trị, nhờ nó mới có hoạt động kinh tế phục vụ tương lai, đặc biệt là đầu tư. Một nền kinh tế không có đồng tiền chẳng khác gì một chiếc máy tính thiếu hệ điều hành: năng lực hạn chế, ít ưu điểm. Mặt khác, tiền cũng gây ra thiệt hại cực kỳ to lớn, nghiêm trọng cho nền kinh tế. Tương lai của nền kinh tế toàn cầu phụ thuộc vào việc chúng ta có cảm nhận được những đặc tính quan trọng của tiền hay không, nếu có thì bao giờ, và chúng ta nhận định nó nguy hiểm đến mức nào. Ảnh hưởng hai mặt đối lập của tiền khiến nó giống như một con sông. Các con sông cung cấp phần lớn nước cho sự sống trên toàn thế giới. Chúng giúp con người trồng trọt để có lương thực. Trước đây, chúng còn là hệ thống giao thông đường dài rẻ hơn, dễ đi hơn, nhanh hơn so với đường bộ. Những nền văn minh đầu tiên của thế giới đều hình thành bên bờ sông. Mặc dù các con sông thường hiền hòa, và rất hào phóng nếu xét đến những gì chúng mang lại cho đời sống hàng ngày của con người, nhưng chúng cũng thường xuyên gây ra lũ lụt. Nước sông có thể tràn lên hai bờ, phá hủy mùa màng, thành phố mà nó từng nuôi dưỡng. Tiền cũng vậy, liên quan đến hai thuộc tính cố hữu của nó.

Tiền bao gồm tiền xu, tiền giấy, hoặc ngày càng phổ biến hiện nay là tiền điện tử vô hình; vì vậy, nó dễ di chuyển hơn nhiều so với hai nhóm “lữ khách” xuyên biên giới trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay là hàng hóa và con người. Khác với hàng hóa và con người, khối lượng tiền di chuyển có thể tăng rất nhanh và gần như không có giới hạn, đặc biệt là khi tồn tại dưới dạng vô hình. Ngoài tính dễ di chuyển, tiền còn có đặc tính liên quan đến tâm lý. Nằm ẩn sâu trong mỗi giao dịch kinh tế luôn là niềm tin. Từ “tín dụng” (credit) – nhiên liệu của hệ thống tài chính – xuất phát từ một từ Latin: credere, nghĩa là tin tưởng. Người bán hàng hóa và dịch vụ chấp nhận được thanh toán bằng tiền vì họ tin rằng những người khác cũng sẽ nhận đồng tiền mà họ trả khi chính họ muốn mua hàng hóa và dịch vụ. Người cho vay đưa tiền cho người vay vì họ tin rằng khoản nợ sẽ được hoàn trả. Nhà đầu tư đầu tư tiền vào một tài sản nhất định vì họ tin rằng giá trị của tài sản ấy sẽ tăng lên.

Tính dễ di chuyển kết hợp với đặc điểm tâm lý khiến tiền trở nên bất ổn. Nó có thể bất ngờ di chuyển với số lượng rất lớn, giống như khi nước sông tràn lên thành lũ. Khi đó, ảnh hưởng của tiền lên nền kinh tế sẽ giống như tác động của một cơn lũ lớn lên vùng đất mà nó tàn phá. Thực tế, từ chỉ hiện tượng dòng tiền chảy rất mạnh, phá hủy mọi thứ lại bắt nguồn từ ngành thủy văn: “bong bóng”.

Bong bóng hình thành khi nhà đầu tư định giá một tài sản quá cao và tin rằng giá của nó sẽ còn tăng nữa. Niềm tin này có cơ sở ở chỗ khi mọi người tin là giá một cổ phiếu, một bức tranh, hoặc một hợp đồng mua bán ngũ cốc tương lai sẽ tăng lên và họ sẵn lòng đầu tư vào chúng thì giá sẽ tăng lên thật. Việc nhiều người tin vào điều đó chính là lý do tốt để ta đầu tư: khi giá tăng, nhà đầu tư sẽ giàu có hơn, ít nhất là trên giấy tờ. Nhưng tiền cũng bất ổn, nghĩa là bong bóng có thể nổ hoặc phình to hơn. Giá tài sản có khả năng giảm rất nhanh. Khi nhà đầu tư quyết định số phận của nó là phải giảm giá (và đặc biệt khi nó giảm giá thật) thì họ sẽ bán, và niềm tin của họ cũng tự trở thành hiện thực. Thêm người bán tài sản sẽ làm giá tài sản giảm.

Mọi chuyện diễn ra rất nhanh. Bất cứ yếu tố nào cũng có thể làm nhà đầu tư mất niềm tin vào giá trị tương lai của tài sản và từ bỏ quyền sở hữu nó. Một khi họ đã bán tài sản, và dù lý do gì làm thay đổi tâm lý của họ thì cũng dễ hiểu tại sao những người khác cũng bán tài sản theo. Đó là vì khi giá giảm thì nhà đầu tư càng bán chậm sẽ càng bị thiệt hại nặng. Các nhà đầu tư sẽ hành động giống như bầy linh dương vùng savan châu Phi. Chúng luôn di chuyển cùng nhau. Khi một con nhận thấy có nguy hiểm và bỏ chạy thì cả đàn sẽ chạy theo, bất kể mối nguy hiểm có thật hay không. Bầy linh dương và nhà đầu tư đều đúng: là con linh dương cuối cùng đứng lại bên vũng nước sẽ nguy hiểm không kém gì nhà đầu tư cuối cùng sở hữu tài sản trong khi mọi người khác đều cố gắng điên cuồng để bán đi – nói cách khác, đây ít nhất cũng là công thức để mất sạch tiền.

Tiền kết hợp với thị trường tự do dẫn tới bong bóng hoàn toàn có thể hình thành và phát nổ, và thực tế nó đã diễn ra trong suốt lịch sử. Có lẽ vụ nổ bong bóng nổi tiếng nhất trước Cách mạng Công nghiệp là cơn sốt hoa tulip ở Hà Lan năm 1636. Người Hà Lan đã kiếm được rất nhiều tiền và cũng mất hết khi đầu cơ loại hoa này. Mặc dù trong lịch sử, bong bóng kinh tế diễn ra khá thường xuyên, nhưng không phải với tần suất liên tục, không thể tránh khỏi như các phong trào phản đối thương mại và nhập cư. Tuy nhiên, tổn thất do bong bóng kinh tế gây ra lại lớn hơn nhiều so với các phong trào chính trị thông thường phản đối dòng hàng hóa, con người xuyên biên giới. Thiệt hại có thể lên đến mức gây sụp đổ mái nhà chính trị bảo vệ nền kinh tế thế giới, đó là khi xảy ra đại chiến. Vì vậy, tần suất và quy mô của những vụ bong bóng tài chính sẽ góp phần tạo nên tương lai nền kinh tế thế giới.

Bong bóng gây ra thiệt hại cho rất nhiều người vì nó liên quan đến ngành ngân hàng. Ngân hàng, cũng giống tiền mà họ vay và cho vay, là một phần không thể thiếu của nền kinh tế hiện đại. Họ đóng vai trò kênh nguồn vốn, đưa số tiền mà mọi người tiết kiện đến với mục đích sử dụng hiệu quả nhất. Nhưng họ cũng góp phần làm bong bóng phình ra. Vay tiền ngân hàng để đầu tư vào một tài sản nhất định là rất hấp dẫn vì nó sẽ làm tăng lợi nhuận của nhà đầu tư lên nhiều lần khi giá tăng, nhưng đồng thời cũng làm thiệt hại gấp nhiều lần khi giá giảm. Ví dụ, nếu một người đầu tư 10 USD bằng tiền của mình và vay 90 USD để mua một tài sản trị giá 100 USD thì hi giá tài sản tăng lên 110 USD, nhà đầu tư đã có số tiền gấp đôi ban đầu. Còn nếu giá giảm xuống 90 USD thì nhà đầu tư mất hết. Tức là chỉ cần giá biến động 10% thôi là lợi nhuận của nhà đầu tư đã tăng hoặc giảm 100%. Vì vậy, vay nợ sẽ làm bong bóng kinh tế phình ra nhanh hơn, to hơn, làm giá tăng mạnh hơn, và vì vậy sẽ hủy hoại nền kinh tế nghiêm trọng khi bong bóng vỡ. Mà bong bóng thì hay vỡ hơn là đứng yên.

Ngân hàng không chỉ làm bong bóng phình ra, một yếu tố quan trọng nữa là nó cũng hoạt động giống như bong bóng. Ngân hàng có kiểu cấu trúc khiến nó rất nhạy cảm với tâm lý con người vốn là yếu tố làm vỡ bong bóng. Các ngân hàng hiện đại đều có “dự trữ bán phần”, tức là số tiền mà họ nắm giữ trong két tại một thời điểm bất kỳ thường chỉ chiếm một phần trong số tiền mà họ phải trả cho người gửi. Ngân hàng cũng hoạt động trong trạng thái tài sản (số tiền ngân hàng cho vay) và nguồn vốn (số tiền khách hàng gửi) không tương thích với nhau. Người gửi tiền có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào, nhưng ngân hàng thì ngược lại, không thể ngay lập tức đòi được số tiền họ cho vay.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.