Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần cuối


Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg: Liệu châu Âu có thể duy trì khuôn khổ?

Steven Blockmans, nghiên cứu viên cao cấp và Daniel Gros, Giám đốc, Trung tâm nghiên cứu chính sách châu Âu (Brussels, Bỉ)

Các nhà lãnh đạo tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg sẽ cố gắng dựa vào kết quả của hội nghị thượng dỉnh G7 gần đây tại Taormina, Italy, và tìm kiếm sự thống nhất về 3 nhóm vấn đề: các ưu tiên kinh tế, bao gồm tăng trưởng, thương mại, số hóa, việc làm, tài chính, thuế và tham nhũng; các ưu tiên bền vững, bao gồm phát triển, khí hậu, năng lượng, sức khỏe và giới; và các ưu tiên an ninh, bao gồm chống khủng bố, di cư và dòng người tị nạn.

Hội nghị thượng đỉnh G20 có tầm quan trọng đặc biệt đối với Thủ tướng Đức Angela Merkel, người, với tư cách chủ tịch hội nghị, sẽ có một cơ hội cuối cùng để tỏa sáng trên sân khấu quốc tế trước thềm cuộc bầu cử liên bang Đức vào tháng 9. Nhưng một thành công chưa được đảm bảo, nhất là đối với nhóm vấn đề thứ 2, khi xét tới việc Tổng thống Donald J. Trump rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris lịch sử về biến đổi khí hậu. Một tuyên bố của 19 nhà lãnh đạo G20 khác về cam kết kiên định của họ đối với Thỏa thuận Paris dường như là có thể thực hiện được và nên được chào đón. Điều không may là đạt được sự đồng thuận về nhóm vấn đề thứ 1 và thứ 3 cũng sẽ không dễ dàng khi xét tới việc Mỹ rút khỏi cách tiếp cận đa phương mang tính lịch sử đối với thương mại và sự không thỏa hiệp của Nga – và ở mức độ nào đó, của Trung Quốc – về an ninh mạng, tham nhũng và pháp trị.

Hội nghị thượng đỉnh này cũng sẽ đem lại một bài kiểm tra về việc liệu Brexit có mở ra một vai trò mới cho Anh trên sân khấu quốc tế hay không. Nhìn bề ngoài, chủ nghĩa song phương của Mỹ có thể nâng cao vai trò toàn cầu của Anh, do nước này là một đối tác đáng tin cậy của Mỹ. Nhưng chủ nghĩa đơn phương của Mỹ đang khiến các khuôn khổ đa phương như G20 trở nên ít phù hợp hơn để phục vụ các mục tiêu tìm kiếm ảnh hưởng toàn cầu của nước Anh thời Brexit. Hơn nữa, 27 nước thành viên của EU (EU27) sẽ giám sát chặt chẽ mức độ Anh, hiện vẫn là một thành viên, tiếp tục trung thành với các lập trường của EU.

Hội nghị thượng đỉnh Hamburg đem lại một cơ hội cho Merkel và đối tác mới có của bà, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, đặt EU27 vào vị trí điểm tham chiếu cho những nước muốn đầu tư vào chủ nghĩa đa phương hiệu quả. Trong một thế giới dễ thay đổi, sự ổn định và tính có thể dự báo là một phần thưởng mà Thủ tướng Merkel và những nhà lãnh đạo tiên phong của EU dựa trên nguyên tắc có thể đem lại. Sự lãnh đạo của họ có thể đưa hội nghị thượng đỉnh Hamburg trở nên thành công ở mức độ nào đó là một câu hỏi mở mà sẽ định hình không chỉ tương lai của G20, mà cả vai trò của EU và Đức trên thế giới.

Các thách thức và cơ hội phía trước đối với G20

Tom Bernes, nghiên cứu viên danh dự kiêm cựu Giám đốc Trung tâm Đổi mới quản trị quốc tế (Waterloo, Canada)

Hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg, Đức, sẽ phải đối mặt với những thách thức mới khi lần đầu tiên có sự xuất hiện của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump. Diễn đàn này, vốn được các nhà lãnh đạo quốc gia thúc đẩy với tư cách nền tảng chủ yếu của họ cho việc hợp tác kinh tế quốc tế, sẽ phải đương đầu với một vị Tổng thống Mỹ mà mục tiêu chính sách “nước Mỹ trước tiên” được ông tuyên bố tương phản trực tiếp với mục tiêu cốt yếu của G20. Khi xem xét lịch sử của hội nghị thượng đỉnh G20, người ta nhận thấy niềm tin của các thành viên của nó, rằng câu trả lời cho các thách thức toàn cầu phải được tìm thấy thông qua sự hợp tác tích cực. Điều này có khả năng sẽ bị thử thách ở Hamburg. Như những gì được chứng kiến ở các hội nghị thượng đỉnh G7 và NATO vào tháng 5, những bất ngờ có khả năng xảy ra.

Kể từ thành công bước đầu của mình trong việc hình thành một phản ứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, G20 đã phải rất vất vả để xác định rõ một chương trình trung hạn tạo được tiếng vang trong cộng đồng toàn cầu. Một số nhà quan sát thậm chí đã đặt câu hỏi liệu G20 có thể tiếp tục đóng vai trò một diễn đàn hữu ích gắn kết các nhà lãnh đạo quan trọng nhất thế giới hay không.

Hai trong số những thành tích lớn nhất của G20 sẽ thu hút sự xem xét kỹ lưỡng ở Hamburg khi mà Mỹ đã trực tiếp thách thức chúng. Thứ nhất là vấn đề biến đổi khí hậu: Dưới sự dẫn dắt của Mỹ và Trung Quốc, G20 đã ủng hộ Hiệp định Paris. Vào tháng 6, Mỹ đã tuyên bố ý định của nước này rút khỏi thỏa thuận. Thứ hai là vấn đề chủ nghĩa bảo hộ, điều mà trong mỗi hội nghị, G20 đều đã cam kết chống lại. Một lần nữa, Mỹ đã bày tỏ thái độ phản đối của nước này đối với một cam kết như vậy và những quyết định sắp được Chính quyền Trump đưa ra đối với ngành thép và ngành nhôm có nguy cơ khơi mào một cuộc chiến tranh thương mại. Một lĩnh vực nữa có tiềm năng gây lo ngại là những cải cách mà G20 tiếp nhận nhằm đảm bảo sự ổn định lớn hơn cho tài chính toàn cầu. Quyết định của Mỹ rút lại phần lớn các quy định trong đạo luật Dodd-Frank vốn được thiết lập sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đẩy những thành tựu đã đạt được kể từ khi cuộc khủng hoảng gây chấn động nền kinh tế thế giới này vào chỗ nguy hiểm

Các nhà lãnh đạo sẽ phản ứng ra sao ở Hamburg trước những vấn đề này? Một sự bác bỏ mạnh mẽ những lập trường của Mỹ của các thành viên khác trong G20 có thể đem lại sức mạnh mới cho những nỗ lực của họ nhằm thúc đẩy một nền kinh tế toàn cầu có sức chống đỡ, bền vững và công bằng hơn. Nhưng nó cũng sẽ dẫn tới những căng thẳng gia tăng với Mỹ. G20 sẽ có được động lực mới thông qua cảm giác về mục đích được khôi phục để phản ứng (và phản đối) trước thái độ của Mỹ, hay sẽ chứng kiến một sự sụt giảm tính thích đáng bằng việc cố gắng lấp liếm những khác biệt cơ bản này?

Một nghị trình G20 tập trung vào châu Phi

Elizabeth Sidiropoulos, Giám đốc điều hành Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Nam Phi

Năm nay, Đức đã đưa châu Phi vào trọng tâm nhiệm kỳ chủ tịch G20 của nước này. Sáng kiến mấu chốt của nước này là “Hợp nhất với châu Phi” với mục đích tập hợp các thể chế tài chính quốc tế, các đối tác song phương và các quốc gia châu Phi nhằm tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư tư nhân. Đã có 7 quốc gia châu Phi tham gia: Côte d’Ivoire, Ethiopia, Ghana, Maroc, Rwanda, Senegal và Tunisia. Được thúc đẩy bởi Bộ Tài chính Đức, sáng kiến này đã nhận được sự ủng hộ về chính trị của các bộ trưởng tài chính G20 ở Baden-Baden vào tháng 3 năm nay.

Trong khi cam kết này của G20 đối với châu Phi nên được nhìn nhận dưới góc độ tích cực, ở châu Phi đã dấy lên những mối quan ngại về mức độ mà nó có thể cạnh tranh với, thay vì bổ sung cho, các sáng kiến châu lục của chính châu Phi. Ngoài ra, các quy định về chính sách của nó có thể bị chỉ trích vì chúng chú trọng các cách tiếp cận chính thống đối với sự phát triển kinh tế, điều không phải lúc nào cũng đạt được những kết quả mong muốn. Nó cũng được coi là đang chuyển trách nhiệm hỗ trợ phát triển từ khu vực công sang khu vực tư nhân. Tuy nhiên, nếu sự ủng hộ về chính trị của G20 có thể tạo lực đòn bẩy đầu tư tư nhân ở các quốc gia đã quyết định tham gia, đây sẽ là một bước đi quan trọng theo hướng tạo ra các nền kinh tế năng suất có khả năng đem lại sinh kế thỏa đáng cho công dân các nước này.

Nhưng các vấn đề G20 không đặc trưng cho châu Phi cũng có tầm quan trong không kém đối với các châu lục này. Một cam kết rõ ràng đối với thương mại cởi mở, mặc dù đã có sự quay trở lại các biện pháp theo chủ nghĩa bảo hộ trong một vài năm, sẽ là then chốt đối với châu Phi, đặc biệt khi châu lục này cố gắng tăng cường khả năng chế tạo của mình. Không thể đạt được sự tăng trưởng mang tính dung nạp với các nền kinh tế khép kín.

Đức cũng đã tập trung vào nhu cầu về một khuôn khổ các chỉ tiêu và tiêu chuẩn cho nền kinh tế kỹ thuật số và thương mại điện tử. Tuy nhiên, điều này có thể có hậu quả không dự đoán được là đặt gánh nặng lớn hơn lên các nước châu Phi, khiến họ càng gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua khoảng cách kỹ thuật số. Các giải pháp thường phản ánh nhiều hơn những điều kiện của thế giới công nghiệp hóa và không xem xét thích đáng những hậu quả không dự đoán được ở các quốc gia đang phát triển. Đây là thách thức đối với các quốc gia đang phát triển trong G20 khi động lực giữa các nước G7 thay đổi. G20 về bản chất không mang tính dung nạp: tuy nhiên, nó có thể xây dựng tính hợp pháp, với điều kiện sự lãnh đạo của nó trong việc đặt ra các nghị trình và chỉ tiêu phải phản ánh những thực tế không chỉ ở các quốc gia công nghiệp hóa mà còn ở các nền kinh tế đang nổi lên và đang phát triển.

Điều chỉnh trật tự quốc tế tại G20

Carlos Ivan Simonsen Leal, Chủ tịch Quỹ Getulio Vargas

“Định hình một thế giới kết nối” là khẩu hiệu thích hợp cho hội nghị thượng đỉnh G20 ở Hamburg. Nó nêu bật thách thức của thời đại chúng ta: Làm thế nào để tạo ra sự hợp tác giữa các nước có chủ quyền nhằm giải quyết các vấn đề chung xuyên quốc gia. Việc hội nghị diễn ra ở Đức là rất thích hợp trong những năm gần đây, nước này đã thúc đẩy nhằm hòa giải những căng thẳng cố hữu giữa một bên là các nhà nước – dân tộc đang tìm kiếm an ninh và sự thịnh vượng của mình và bên kia là những thách thức bất chấp biên giới quốc gia.

G20 nhóm họp vào thời điểm mà ở đó có một cảm giác kiệt sức trên toàn cầu đối với trật tự quốc tế trong 70 năm qua. Các thể chế và thủ tục đã đưa chúng ta đến nơi ta đang đứng không thể phản ứng trước những cuộc vật lộn về kinh tế, chính trị và xã hội mà thế hệ hiện nay phải đối mặt.

Việc điều chỉnh trật tự quốc tế để đương đầu với những cuộc vật lộn này sẽ là một nhiệm vụ không tầm thường. Không có sự đồng thuận về điều cần làm, và các nguồn lực vẫn khan hiếm. Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách vốn dĩ có khuynh hướng níu giữ những mô hình cũ. Việc điều chỉnh lại thái độ chung của chúng ta đối với các nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền hạn và an ninh của các nước sẽ cần tới sự lãnh đạo và rất nhiều hoạt động khôn khéo.

G20 có thể đóng một vai trò trung tâm trong tiến trình này, và hội nghị thượng đỉnh Hamburg là một cơ hội có một không hai để làm điều đó. Những thách thức của việc quản trị toàn cầu sẽ không được giải quyết bởi bất kỳ nỗ lực nào nhằm quay trở lại thế giới trước toàn cầu hóa. Chỉ thông qua hành động phối hợp, G20 mới có thể tiến triển hướng tới tăng trưởng kinh tế cân bằng, bền vững và mang tính dung nạp mà giảm bớt những sự không chắc chắn về kinh tế, xã hội và chính trị ngày nay. Trong việc hoàn thành nhiệm vụ này, G20 sẽ củng cố sự ổn định và khả năng phục hồi của nền kinh tế toàn cầu và gia tăng an ninh cho tất cả.

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần II


G20 đứng giữa ngã tư đường

Sunjoy Joshi, Giám đốc, và Samir Saran, Phó Chủ tịch, Quỹ nghiên cứu người quan sát (New Delhi, Ấn Độ)

Bất chấp những thay đổi địa chính trị rõ ràng trên khắp thế giới và tình trạng rối loạn chính trị trong số các nước thành viên, G20 vẫn là một trong số các tổ chức quan trọng trong cấu trúc quản trị toàn cầu. Các tiến triển toàn cầu gần đây đem lại cả cơ hội lẫn thách thức đối với G20 nếu tổ chức này vẫn muốn duy trì ảnh hưởng của mình.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của G20 là đảm bảo rằng tổ chức này tiếp tục trung thành với sự ủy nhiệm cốt lõi của nó, đó là duy trì sự ổn định tài chính toàn cầu và quản lý các cải cách cơ cấu trong một thế giới được hội nhập chặt chẽ. G20 dựa trên nền tảng và được thúc đẩy bởi nhận thức rằng cách tiếp cận “một quốc gia, một lá phiếu” của Liên hợp quốc không phải cách thức hữu hiệu nhất để đối phó với các vấn đề then chốt mà đòi hỏi những phản ứng thời gian thực. Cuộc khủng hoảng tín dụng 2007 – 2008 cho thấy một số thách thức quốc tế nhất định cần được giải quyết một cách hiệu quả và nhanh chóng, mà trên thực tế đã làm chất xúc tác cho tính vượt trội về mặt thể chế của G20.

Vào một thời điểm khi mà nhiều thành viên G20 thấy bản thân đang bị mắc kẹt bởi các áp lực trong nước mà đang buộc các nước này phải xem xét lại sự ủy nhiệm cốt lõi của G20, người ta cần phải kháng cự lại sức cám dỗ của G20 duy trì tính thích đáng của mình bằng cách bám chặt vào một nghị trình khác.

Nền kinh tế toàn cầu hầu như chưa thoát khỏi khó khăn. G20 là một diễn đàn chính sách có mục tiêu đặc biệt được thành lập để đối phó với các vấn đề thảm họa toàn cầu bởi các quốc gia có năng lực và nguồn lực. Đây hoàn toàn không phải là lúc G20 mở rộng số thành viên của mình bằng cách kêu gọi có các quan hệ đối tác mới, chẳng hạn với các quốc gia châu Phi. Mở rộng các quan hệ đối tác của nhóm vào thời điểm này sẽ chỉ tạo ra một G77 khác – và cho mục đích gì?

Cũng đã đến lúc phải thừa nhận rằng một vài trong số các thách thức cơ bản về cơ cấu mà G20 đang nỗ lực giải quyết không thể được xử lý thỏa đáng trừ phi các vấn đề nhỏ hơn nhiều cũng được giải quyết. Các vấn đề nhỏ hơn này, chẳng hạn như sự biến đổi đang diễn ra trong các hệ thống năng lượng toàn cầu, sự ổn định của không gian mạng trong các cấu trúc tài chính, và tác động của công nghệ đối với công ăn việc làm, trong số các vấn đề khác, cần xuất hiện trên bàn hội nghị, nhưng người ta phải kháng cự lại sức hút của việc biến mọi vấn đề mà thế giới quan ngại trở thành một phần trong nghị trình của G20. Việc này sẽ chỉ làm giảm khả năng của G20 phục vụ mục tiêu khi thành lập của tổ chức này. Các vấn đề tốt nhất nên được đưa ra tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và tại các thể chế đa phương khác không nên nằm trong phạm vi ảnh hưởng của G20.

Thay vào đó, G20 nên thu hẹp phạm vi của mình xuống những lĩnh vực tác động tới các hệ thống thương mại và tài chính toàn cầu, và ngoài ra chỉ tập trung vào các vấn đề có liên quan tới những xu hướng gây gián đoạn về chính trị trên toàn cầu.

G20 đang đứng giữa ngã tư đường. Nhóm này nên chọn con đường mà sẽ cho phép nó tiếp tục trung thành với mục tiêu cốt lõi, mục tiêu đã khiến các nước thành viên trước hết tập hợp lại.

Các kỳ vọng của Trung Quốc đối với G20

Ye Yu, Trợ lý giám đốc, Viện nghiên cứu kinh tế thế giới tại Thượng Hải thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế (Thượng Hải, Trung Quốc)

Kể từ khi Trung Quốc lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh G20 vào năm 2008, các mối quan tâm của nước này về diễn đàn và quản trị toàn cầu đã mở rộng từ các vấn đề mang tính thủ tục sang các vấn đề thực chất hơn: thúc đẩy sự bình đẳng giữa các nước thành viên, tái phân bổ quyền lực bỏ phiếu trong các thể chế tài chính quốc tế, và các thách thức toàn diện mà toàn cầu hóa phải đối mặt, chẳng hạn như biến đổi khí hậu và chủ nghĩa cực đoan.

Trung Quốc muốn thấy các nước G20 làm việc với nhau để kiềm chế tình cảm chống toàn cầu hóa. Một liên minh toàn cầu chống Mỹ không phải là lựa chọn tốt nhất. Thay vào đó, Trung Quốc kỳ vọng G20 sẽ kéo Mỹ quay trở lại tìm kiếm một lợi ích cho bản thân được khai sáng, hơn là theo đuổi một lập trường “Nước Mỹ trước hết” với thiệt hại dành cho tất cả các nước còn lại. Như tạp chí Economist đã lưu ý, các chính sách kinh tế của Trump là thiển cận, lỗi thời, coi “thương mại công bằng” đồng nghĩa với việc giảm thâm hụt ngành chế tạo là điều đương nhiên, và phớt lờ những thách thức tàn phá mà thế giới sẽ phải đối mặt khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển. G20 nên truyền tải một thông điệp toàn diện hơn về những xu hướng của toàn cầu hóa và định hình sự luận bàn của công chúng về những hạn chế của các biện pháp bảo hộ thương mại.

Trung Quốc cũng sẽ muốn thấy các nước thành viên G20 ủng hộ nhiều hơn sáng kiến của nước này để kích thích sức đẩy của toàn cầu hóa. Được khuyến khích bởi thành công lớn của nước này khi khởi động Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) năm 2013 và tổ chức hội nghị thượng đỉnh G20 năm 2016, Trung Quốc đã tự tin hơn trong quản trị toàn cầu, cho dù không phải bởi bản thân nước này, Trung Quốc đã khởi động sáng kiến “Vành đai và Con đường” năm 2013, cùng với AIIB, để đem lại một cách tiếp cận thay thế cho toàn cầu hóa. Khác với một cách tiếp cận từ trên xuống đối với đàm phán tự do hóa thương mại, sáng kiến “Vành đai và Con đường” đặt trọng tâm được làm mới vào sự kết nối cơ sở hạ tầng trong khu vực và trên toàn cầu. Trung Quốc nhấn mạnh tính cởi mở của sáng kiến và kêu gọi tất cả các nước tham gia tùy theo các chiến lược phát triển của riêng họ. Cơ sở hạ tầng đã là một ưu tiên của G20 trong nhiều năm, nhưng Trung Quốc muốn thấy sự hợp tác cụ thể hơn về các dự án và ít sự ngờ vực hơn về các ý đồ của nước này.

Tìm kiếm tình đoàn kết giữa các nước lớn tại G20

Sook Jong Lee, Chủ tịch, Viện nghiên cứu Đông Á (Seoul, Hàn Quốc)

Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Hamburg là một địa điểm đúng lúc cho các nhà lãnh đạo của các nước lớn thể hiện cam kết của họ đối với trật tự quốc tế tự do. Theo sau sự nhiễu loạn toàn cầu do Brexit gây ra, chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump có khả năng làm suy yếu quản trị toàn cầu. Việc Trump khôi phục các biện pháp bảo hộ thương mại, giảm sự sẵn sàng hỗ trợ an ninh tập thể và quyết định rút Mỹ khỏi Thỏa thuận Paris về khí hậu đang đe dọa tới trật tự tự do và cởi mở. giờ đã đến lúc các cường quốc khác đóng vai trò lãnh đạo bổ sung để đối phó với nhiều thách thức xuyên quốc gia, bao gồm hòa bình và an ninh, khủng bố, người tị nạn và các vấn đề môi trường.

Trước bối cảnh này, Thủ tướng Đức Angela Merkel cam kết chớp lấy cơ hội bằng việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh, với hy vọng củng cố nền kinh tế thế giới và nâng cao sự ổn định và sự chống chịu của nó thông qua hợp tác đa phương. 15 mục trong nghị trình mà nằm dưới các mục tiêu rộng hơn là xây dựng một nền kinh tế có sức chống đỡ, cải thiện tính bền vững và đảm nhận trách nhiệm đối với an ninh vật chất và con người, đều xứng đáng được xem xét nghiêm túc và đòi hỏi nỗ lực tập thể để đạt được tiến bộ có ý nghĩa. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được trông đợi đảm nhận một vai trò lớn hơn bằng việc lấp đầy khoảng trống do hành động rút lui của Mỹ bỏ lại. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nhiều khả năng sẽ đem đến một tinh thần của chủ nghĩa tiến bộ tự do gắn với mục tiêu hiện nay của G20 là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và mang tính toàn diện. Để hội nghị thượng đỉnh này thành công, điểu then chốt là các nhà lãnh đạo phải thể hiện tình đoàn kết và sự sẵn sàng cùng nhau hành động chống lại các mối đe dọa kinh tế và chính trị xã hội. Đồng thời, các nhà lãnh đạo nên phát triển các khuôn khổ hợp tác có sức chống chịu mà có thể đem lại cho các thành viên sự linh hoạt lớn hơn khi xem xét các lựa chọn chính sách đối nội.

Với 7 quốc gia châu Á trong G20, Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản được chờ đợi tăng cường vai trò của họ bằng cách đảm nhận các trách nhiệm phù hợp với các lợi thế tương đối tương ứng của từng nước. Các cường quốc bật trung như Hàn Quốc và Indonesia cũng có thể thúc đẩy các mục tiêu của G20 bằng cách tích hợp chúng vào các sáng kiến đa phương trong khu vực của họ. Các quốc gia châu Á đã và đang được cách ly tương đối khỏi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy cực đoan và tin rằng tương lai của họ nằm ở một thế giới mở và kết nố hơn. Các thành viên châu Á nên đóng góp nhiều hơn cho G20 để củng cố hơn nữa diễn đàn này.

G20 được thành lập để đưa quan trị kinh tế toàn cầu trở nên dân chủ và hiệu quả hơn. Các nước lớn nên đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn trong việc khiến thế giới trở nên an toàn hơn, cũng như toàn diện hơn về kinh tế và hòa hợp hơn về chính trị. Mỗi nước thành viên phải nhớ rằng sức mạnh và vị thế quốc tế mà họ có được không chỉ là do các thành tựu quốc gia, mà còn nhờ vào thế cộng đồng quốc tế. Do không có quốc gia riêng lẻ nào có thể thay thế Mỹ, nước đã đem lại điều tốt đẹp chung trong 25 năm qua, tất cả các thành viên G20 nên đảm nhận phần trách nhiệm của họ để quản lý các thách thức toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Điều gì đe dọa tại Hội nghị thượng đỉnh G20? – Phần I


Các nhà lãnh đạo tập trung tại Hamburg (Đức) tìm kiếm sự đồng thuận đối với các vấn đề kinh tế cấp bách toàn cầu? Các chuyên gia từ nhiều nước thành viên của nhóm này đưa ra những đánh giá về triển vọng.

G20 nằm trong số những diễn đàn toàn cầu quan trọng nhất đối với sự hợp tác và phối hợp kinh tế quốc tế. Năm nay, Đức, nước chủ nhà, đưa ra các vấn đề nguyên tắc tài chính, chống tội phạm xuyên quốc gia và các mối quan hệ với châu Phi làm ưu tiên cho chương trình nghị sự khi có những khả năng về sự bất đồng rộng lớn hơn giữa các quốc gia về thương mại, khí hậu và người tị nạn. Về hội nghị lần này, các chuyên gia từ các nước thành viên G20 có những đánh giá về tính thích đáng của nhóm và những triển vọng cho sự thành công.

Bầu không khí không dễ chịu cho G20

Heribert Dieter, nghiên cứu viên cao cấp, Viện các vấn đề quốc tế và an ninh Đức (Berlin, Đức)

G20 đặt ra những mục tiêu cao cho bản thân nó trong những giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu năm 2008, nhưng bất chấp những tuyên bố lớn lao, nó đã đạt được tương đối ít thành tựu. Những rủi ro trên các thị trường tài chính đã tăng lên chứ không hề giảm đi, và các nước G20 không có chiến lược cố kết. Cho đến nay, Mỹ tiếp tục có cách tiếp cận đơn phương, không tính đến những ưu tiên của các nước G20 khác. Liên minh châu Âu đang theo đuổi chính sách tài chính của riêng mình, không có sự phối hợp với chính sách của các nước G20 khác.

Ban đầu, theo sau những tuyên bố kiên quyết của G20 chỉ là những nỗ lực miễn cưỡng nhằm điều tiết thị trường tài chính một cách nghiêm ngặt hơn. Giữa cuộc khủng hoảng, có những sự trông đợi rằng sẽ có một sự giám sát quốc tế phối hợp với các thị trường tài chính. Khái niệm đó vẫn chưa được thực hiện. Hiện nay, các chính phủ G20 không thể nhất trí về các nguyên tắc chung. Những hi vọng cho một cấu trúc tài chính toàn cầu mới đã tan vỡ.

Có nhiều lý do giải thích tại sao G20 đã không thành công trong việc đưa ra một bộ nguyên tắc tài chính chung. Những ưu tiên của các nước G20 là khác nhau; bởi vậy, nhóm này đã không thể hoàn thành sứ mệnh cốt lõi của mình.

Thành tích của G20 trong việc thúc đẩy cơ chế tự do cho thương mại toàn cầu cũng nghèo nàn. Các tuyên bố của các hội nghị thượng đỉnh trước chưa bao giờ đi kèm với một chính sách thương mại tự do giữa các nước thành viên G20. Nhiều nền kinh tế quan trọng đã chứng tỏ sự quan tâm mạnh mẽ về thương mại “công bằng” chứ không phải “tự do”. Tinh thần của chủ nghĩa bảo hộ đã là đặc điểm chính sách thương mại của một số nước G20, và việc Chính quyền Trump bắt đầu rời khỏi một hệ thống thương mại đa phương cởi mở trở nên rõ ràng hơn trước đây. Sự phân biệt đối xử và chủ nghĩa bảo hộ một lần nữa là đặc điểm của các chính sách thương mại của các nước G20.

Hội nghị thượng đỉnh Hamburg sẽ không đem lại kết quả về bất kỳ sự nhất trí lớn nào đối với các chính sách kinh tế chung. Hiện nay, các chính phủ G20 bất đồng về những vấn đề cơ bản của sự cai trị toàn cầu. Cả về tài chính lẫn thương mại, chưa nói gì tới vấn đề biến đổi khí hậu, Hội nghị Hamburg sẽ không đưa ra được bất kỳ sự cải thiện có ý nghĩa nào đối với nguyên trạng. Tồi tệ hơn, có thể xung đột công khai đối với các biện pháp theo xu hướng bảo hộ mà Chính quyền Trump có thể thực hiện.

Đồng thời, vị trí của Đức, nước chủ nhà, đã bị suy yếu nghiêm trọng bởi việc Chính quyền Merkel không thừa nhận những thiệt hại thặng dư tài khoản vãng lãi khổng lồ của Đức gây ra cho các nền kinh tế khác. Sự thiếu thiện chí của Berlin trong việc thực hiện các biện pháp có thể làm giảm thặng dư – chẳng hạn, cắt giảm thuế tạm thời – làm xói mòn uy tín của những lời kêu gọi của nước này đối với sự hợp tác đa phương được khai sáng.

G20 và việc duy trì trật tự quốc tế tự do

Yasushi Kudo, người đứng đầu tổ chức tư vấn chiến lược The Genron NPO (Tokyo, Nhật Bản)

Chính quyền của Tổng thống Donald Trump được cho là sẽ làm hạn chế khả năng của G20 trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua hợp tác quốc tế. Chính sách “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Trump và ưu tiên của ông đối với các thảo thuận song phương sẽ tiếp tục làm xói mòn lý do tồn tại của G20, nhóm ủng hộ chủ nghĩa đa phương bằng việc chia sẻ gánh nặng lãnh đạo giữa các nước thành viên của nhóm. Hơn nữa, những động thái công khai và bí mật của các siêu cường nhằm tăng cường ảnh hưởng của họ bằng việc lợi dụng môi trường quốc tế mong manh có khả năng làm xói mòn nền tảng của các khuôn khổ đã được thiết lập mà cho đến nay đã duy trì trật tự quốc tế.

Thủ tướng Đức Angela Merkel rõ ràng có ý định đưa “thị trường mở cửa và thương mại tự do, công bằng, bền vững và mang tính bao hàm” là trọng tâm then chốt của hội nghị thượng đỉnh năm nay. Do sự bất ổn định của trật tự quốc tế, có thể không phải vô nghĩa để các nhà lãnh đạo của các nền kinh tế chủ yếu của thế giới cùng nhau đối thoại và gây ấn tượng cho thế giới rằng họ đang có những nỗ lực không ngừng vì sự tốt đẹp chung. Đáng tiếc là, không có ý nghĩa tích cực nào khác được nhận thấy trong tình trạng hiện nay của G20. Như được thể hiện bằng ngôn từ của thông cáo được đưa ra tại Hội nghị G7 ở Italy hồi tháng 5, G20 sẽ là một buổi trình diễn chính trị khác sử dụng giọng điệu tham vọng nhằm che giâu sự bất ổn định và đối đầu tiềm tàng.

Tuy nhiên, diễn đàn G20 vẫn có ý nghĩa quan trọng. Toàn cầu hóa, việc duy trì một trật tự quốc tế tự do và sự hợp tác đa phương có tầm quan trọng sống còn đối với những lợi ích chung của thế giới. Vào thời điểm khi mà việc sửa chữa tình trạng bất bình đẳng và bất ổn định là hết sức cần thiết, vai trò của G20 sẽ lớn hơn rất nhiều so với trước đây. Trong trường hợp này, điều trở nên cần thiết là củng cố sự hợp tác giữa các thành viên G7 và các nước dân chủ khác chia sẻ các giá trị chung nhằm đảm bảo rằng G20 có thể tiếp tục thực hiện vai trò của mình.

Sự hiện diện của G7, mà các thành viên chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do, dân chủ và sự hợp tác quốc tế dựa trên chủ nghĩa đa phương, có ý nghĩa sống còn đối với việc củng cố sự cai trị toàn cầu và duy trì một trật tự quốc tế tự do. Hơn nữa, sự quản lý kinh tế toàn cầu và hệ thống tài chính quốc tế do G7 khởi xướng hình thành nên những nền tảng của sự cai trị toàn cầu. Những nỗ lực thống nhất của G7 nhằm đưa ra sáng kiến trong lĩnh vực này về lâu dài có thể nắm giữa chìa khóa để duy trì sự ổn định toàn cầu. Quả thực, ý nghĩa của những nỗ lực phối hợp của các nền dân chủ G7 nhằm tăng cường sự cai trị toàn cầu không nên bị đánh giá thấp.

Không có lý do cho sự lạc quan tại Hội nghị G20 Hamburg

Fyodor Lykyanov, Chủ tịch Hội đồng chính sách đối ngoại và quốc phòng (Moskva, Nga)

Bất chấp những khác biệt chính trị rõ ràng giữa các nước thành viên, G20 có thể gửi đi một thông điệp tích cực về sự hợp tác toàn cầu kể từ khi nhóm này được thiết lập cách đây 20 năm. G20 đã được thành lập sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và được nâng cấp sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và thực tế rằng 20 nền kinh tế hùng mạnh nhất đã cùng nhau tìm kiếm những giải pháp cho tình trạng bất ổn định có tác động nhất định.

Nền kinh tế toàn cầu phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng về bản chất chính trị thuần túy. Năm 2008, người ta lo ngại rằng chủ nghĩa bảo hộ sẽ là phản ứng tự phát của một vài chính phủ; giờ đây nó là chính sách có chủ tâm và chính thức của thành viên hùng mạnh nhất của G20, nước Mỹ. Mặc dù người ta có thể lập luận rằng Chính quyền Trump không nhất quán trong lời nói và hành động, nhưng họ lớn tiếng và nhất quán trong vấn đề kinh tế. Nếu Mỹ tuyên bố “Nước Mỹ trước tiên”, việc phần còn lại của thế giới cũng sẽ quay sang lối tư duy theo xu hướng trọng thương hơn sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Các hội nghị thượng đỉnh G20 luôn luôn bị phủ bóng đen bởi các cuộc khủng hoảng khác nhau, nhưng số lượng các cuộc tranh cãi trong đó các nước thành viên giờ đây có liên quan là đáng kể. Sự leo thang gần đây ở vùng Vịnh đã thêm vào một sắc thái khác cho bức tranh vốn đã ảm đạm này. Đức, nước cam kết sâu sắc với sự cai trị tốt đẹp, chắn chắn sẽ làm hết sức mình để G20 tập trung trở lại với cam kết về sự hợp tác toàn cầu – đặc biệt là Hiệp định Paris – nhưng Thủ tướng Angela Merkel không có cây đũa thần.

Trong khi Nga không phải là nhân vật thúc đẩy lớn nhất của thương mại tự do và sự mở cửa, nước này giờ đây lo ngại bởi chủ nghĩa bảo hỗ đang dần hiện ra và muốn duy trì một hệ thống kinh tế toàn cầu tự do vừa phải. Moskva cũng sẽ sử dụng cơ hội này để trao đổi với nhiều nhà lãnh đạo quốc tế tham dự.

(còn tiếp) 

Nguồn: Council on foreign relations – 05/07/2017

TLTKĐB – 08/07/2017

Năm 2017 và những nguy cơ đến từ đồng USD mạnh


Giá trị của đồng USD đang đứng ở mức cao kỷ lục trong một thập niên qua, và những bối cảnh của nền kinh tế thế giới có vẻ sẽ khiến đồng bạc xanh còn tăng giá trị hơn nữa. Khi đồng tiền dự trữ của thế giới quá mạnh, không nước nào tránh được sự tác động. Và đối với nhiều nền kinh tế mới nổi, vốn vay nợ rất nhiều bằng đồng USD, thì năm 2017 có thể là một năm đầy khó khăn.

Ngày nay, đồng USD cản trở thế giới giống như chiếc vòi bạch tuộc thời hiện đại. Những quốc gia gắn giá trị đồng nội tệ với đồng USD sản xuất 1/3 sản lượng của toàn cầu, và đồng USD hiện là sự lựa chọn của hầu hết giao dịch hàng hóa. Đồng bạc xanh có mặt trong 85% giao dịch ngoại hối và hiện là đồng tiền của 39% tổng số nợ của toàn cầu, 63,4% kho dự trữ tiền tệ công khai của thế giới.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, một số nhà phân tích đã viện dẫn thâm hụt thương mại của Mỹ như là bằng chứng cho thấy thời hoàng kim của đồng USD sắp lụi tàn và đồng thời đưa ra dự đoán rằng đồng USD sẽ bị “ruồng bỏ”. Tuy nhiên, họ đã sai bởi các luồng vốn đổ vào ồ ạt chỉ càng củng cố vị thế của đồng USD như là “nơi trú ẩn” an toàn bất chấp tương lai đầy bấp bênh của chính đồng tiền này. Điều tưởng chừng như rất nghịch lý này lại đặc biệt chính xác bởi nước Mỹ là “thủ phạm chính” gây ra cuộc khủng hoảng tài chính 2008.

Để đối phó với các khủng hoảng của năm 2008, chính phủ của các thị trường đã triển khai những chính sách ngăn chặn sự tái diễn “tình trạng đình đốn” như Phố Wall từng gây ra hồi những năm 1930. Các ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ cực kỳ lỏng lẻo, khiến thị trường tràn ngập tiền mặt bằng cách ấn định lãi suất thấp kỷ lục và những chính sách nới lỏng định lượng, trong đó Mỹ là nước đi đầu trào lưu này. Kết quả là đồng USD đổ vào thị trường toàn cầu do các nhà đầu tư ở thế giới phát triển nhận thấy các thị trường nội địa của họ không để đem lại đủ lợi nhuận. Các thị trường mới nổi nhận được lượng vốn lớn và hầu hết là dưới hình thức nợ công ty. Do các nhà đầu tư không muốn cấp các khoản vay bằng đồng nội tệ đối với những thị trường mới nổi có tỷ lệ lạm phát cao, nên các khoản cho vay tính bằng đồng USD lại được “lạm dụng”.

Hiện tại, những quốc gia gánh nhiều rủi ro nhất từ đồng USD mạnh là những nước đang có những món nợ chồng chất tính bằng đồng USD. Kho dự trữ ngoại hối dồi dào có thể phần nào giúp giải cứu vấn đề này bởi có thể được dùng để củng cố đồng nội tệ hay thanh toán nợ công ty. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lãi sẽ khiến đồng USD tự khắc “chảy ra” khỏi những nước này.

Trong thời gian tới, đồng USD sẽ tiếp tục mạnh lên và có thể khiến nhiều nước phải “đau đầu” Một trong số những “nạn nhân lớn nhất” là Trung Quốc. Trong suốt 18 tháng qua, đồng NDT đã mất giá so với đồng USD,d ẫn đến tình trạng tẩu tán vốn. Điều này có nguy cơ trở thành một tiến trình rối loạn và Trung Quốc đã phải chi một lượng khá lớn dự trữ ngoại tệ để kiểm soát tình hình. Kho dự trữ của nước này hiện là 3,1 nghìn tỷ USD, một con số vẫn được coi là “khổng lồ”, song giảm 25% so với năm 2014. Đồng USD mạnh sẽ gây áp lực hơn nữa lên Bắc Kinh buộc họ phải tiêu số dự trữ ngoại tệ còn lại ở tốc độ thậm chí còn nhanh hơn nữa, làm hao mòn khối tài sản mà nước này tích cóp suốt 2 thập niên qua.

Tuy nhiên, những quốc gia “dễ bị tổn thương” nhất là những nước (chủ yếu có các thị trường mới nổi) đang phải “cõng” gánh nặng nợ tính bằng đồng USD và không có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào để “chống lưng”. Đồng USD mạnh lên khiến các quốc gia này khó có thể thanh toán hay trả lãi cho các khoản nợ, nhất là khi chi phí trao đổi đồng USD trên thị trường tăng. Đồng USD mạnh lên là “điềm báo” cho thấy 2017 sẽ là một năm đầy khó khăn cho các thị trường mới nổi.

Nguồn: Strator – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Trung Quốc đã sẵn sàng thay thế Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương


Winarno Zain

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ có chính sách đối ngoại với khu vực châu Á – Thái Bình Dương khác người tiền nhiệm là ông Barack Obama. Điều đó thể hiện qua việc ông cam kết sẽ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) xem lại chính sách quan hệ với các đồng minh chủ chốt của mình ở khu vực… Chính những điều này đang tạo cho Trung Quốc một cơ hội lớn để khẳng định mình như một cường quốc sẵn sàng thay thế cho vị trí của Mỹ ở khu vực.

Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump dường như sẽ không tiếp tục thực hiện chính sách “xoay trục” của Mỹ hướng về khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng việc cam kết sẽ rút khỏi TPP. Trong bối cảnh đó, các nước ở khu vực này đang phải vật lộn để tìm một thỏa thuận tự do thương mại thay thế.

Trong chiến dịch vận động tranh cử của mình, ông D. Trump đã nói rằng TPP là một “thỏa thuận thương mại khủng khiếp” và rằng ông sẽ rút khỏi TPP ngay trong ngày đầu tiên chính thức làm tổng thống Mỹ.

TPP là một hiệp định thương mại được Tổng thống Barack Obama tâm huyết muốn nó trở thành hiện thực nhằm đối trọng với Trung Quốc ở khu vực. Hiệp định này bao gồm 12 quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà không bao gồm Trung Quốc.

Cũng giống như các hiệp định thương mại tự do khác, TPP được cho là sẽ giúp tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập và đem lại cuộc sống thịnh vượng hơn cho người dân các quốc gia thành viên. TPP không chỉ xóa bỏ hàng rào thuế quan trong hợp tác thương mại giữa các quốc gia mà nó còn thiết lập các tiêu chuẩn về môi trường, quyền sở hữu trí tuệ và các điều kiện lao động…

Ngay sau khi tổng thống đắc cử của Mỹ tuyên bố không ủng hộ hiệp định này, các quốc gia thành viên còn lại của TPP đang xem Hiệp định Đối tác toàn diện khu vực (RCEP) mà các thành viên bao gồm 10 quốc gia ASEAN cùng với Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và New Zealand có thể là giải pháp thay thế.

RCEP hiện đang được 16 quốc gia đàm phán sẽ là sự thay thế hợp lý TPP và trở thành hiệp định thương mại quan trọng nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương về Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), kim ngạch thương mại cũng như quy mô dân số.

Lãnh đạo một số nước thành viên, trong đó có Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã thừa nhận rằng nếu TPP không thể ra đời, rất có thể RCEP sẽ lấp khoảng trống này.

Tuy nhiên, hiện nay, để quá trình đàm phán RCEP đi đến ký kết, vẫn còn phải mất một thời gian nữa. Hiện tại các quốc gia thành viên chưa thể thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, trong đó có những khía cạnh quan trọng về tự do thuế quan của hiệp định thương mại này.

ASEAN, Nhật Bản và Australia muốn việc cắt giảm thuế đối với nhiều loại sản phẩm, trong khi Trung Quốc cho rằng việc cắt giảm này chỉ tập trung ở một số mặt hàng, dựa trên các thỏa thuận thương mại song phương hiện đang tồn tại trong hợp tác của các quốc gia thành viên.

Điều đó có nghĩa là Trung Quốc chưa sẵn sàng mở cửa nền kinh tế một cách rộng khắp đối với các sản phẩm của mình.

Một số quốc gia đã có những kinh nghiệm xương máu trong hợp tác thương mại với Trung Quốc. Brazil là nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc, khi kinh tế Trung Quốc bị chững lại, các loại hàng hóa của Brazil xuất khẩu vào nước này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tình trạng Indonesia được cho là có khá hơn một chút so với Brazil khi quốc gia này rút ra bài học từ năm 2014, thời điểm kinh tế Trung Quốc bắt đầu suy giảm.

Tuy nhiên, thực tế thâm hụt thương mại của Indonesia với Trung Quốc đã xấu đi kể từ năm 2010 với mức thâm hụt 5,6 tỷ USD, con số này đã tăng vọt lên 16 tỷ USD vào năm 2015.

Trong khi giá của các mặt hàng như than đá, niken cũng như các mặt hàng khác của Indonesia xuất khẩu vào Trung Quốc đều bị giảm thì các sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu vào Indonesia vẫn được duy trì mức giá cũ. Các loại hàng hóa của Trung Quốc như thép xây dựng, máy móc, thiết bị điện tử, điện thoại thông minh, đồ chơi… vẫn đang tràn ngập thị trường Indonesia, điều đó cũng đã gây ra những khó khăn rất lớn cho nhà sản xuất trong nước.

Trong khi đó, hiện nay, chính phủ Indonesia đang cố gắng để thúc đẩy quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư của nước này, đặc biệt là đối với lĩnh vực cơ sở hạ tầng.

Năm 2016 đã có sự nhảy vọt về đầu tư của Trung Quốc vào Indonesia. Tính đến tháng 9/2016, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ Trung Quốc vào quốc gia này đã đạt 1,6 tỷ USD, gấp 3 lần so với tổng số vốn đầu tư của năm 2015. Thị phần tổng số vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc vào Indonesia đã tăng từ 2,1% lên đến 7,4%.

Đầu tư của Trung Quốc tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, cơ sở hạ tầng. FDI từ Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi chính phủ Indonesia tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi đối với Trung Quốc, trong đó bao gồm việc thiết lập một “Văn phòng tư vấn đầu tư” đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, trụ sở được đặt tại Ban Điều phối Đầu tư (BKPM) của Indonesia tại thủ đô Jakarta.

Vấn đề thứ hai mà các quốc gia đàm phán RCEP cần quan tâm, đó là tình trạng dư thừa các loại hàng hóa tại Trung Quốc. Các nhà đàm phán đã cảnh báo về việc Trung Quốc sẽ sử dụng RCEP để tuồn các loại hàng hóa dư thừa trong nước sang các nước thành viên khi hiệp định này trở thành hiện thực.

Điều này không có gì đáng ngạc nhiên khi trong vòng vài năm qua, các sản phẩm thép giá rẻ của Trung Quốc đã tràn sang thị trường các quốc gia ASEAN và làm cho thị trường thép của các nước này bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Tại Indonesia, việc nhập khẩu thép giá rẻ từ Trung Quốc đang làm cho tập đoàn PT Krakatau Steel và các doanh nghiệp sản xuất thép khác của nước này đứng trước nguy cơ thua lỗ nặng.

Khi RCEP trở thành hiện thực, với mức thuế nhập khẩu bị giảm, trong khi đó Bắc Kinh không có sự điều chỉnh giảm tương ứng, ngành công nghiệp sản xuất thép của Indonesia sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản.

Một điểm đáng lưu ý nữa cho thấy Trung Quốc đang muốn thiết lập vị trị thống trị của mình ở khu vực đó là vào tháng 10/2014, Trung Quốc đã cùng 20 quốc gia khác thành lập Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB). Ngân hàng này tập trung đầu tư vào các dự án hạ tầng ở khu vực châu Á. Khi AIIB được thành lập, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Mỹ và Nhật Bản bởi vì khi đi vào hoạt động nó sẽ cạnh tranh quyết liệt với Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Trung Quốc có thể sử dụng AIIB để mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á, khu vực trước kia luôn do Mỹ thao túng. Bên cạnh đó, việc cho ra đời ngân hàng này cũng sẽ giúp đồng NDT của Trung Quốc có giá trị hơn trong thanh toán toàn cầu.

Mặc dù Trung Quốc là nền kinh tế lớn nhất châu Á, Philippines hiện vẫn chủ yếu dựa vào nguồn vốn từ ADB. Thị phần đầu tư của Nhật Bản ở quốc gia này hiện vẫn gấp 2 lần Trung Quốc.

Đối với Indonesia, việc trở thành một trong những quốc gia sáng lập AIIB cũng giúp quốc gia này nhận được các khoản cho vay lớn từ ngân hàng này. AIIB được chính phủ Indonesia kỳ vọng sẽ là một nguồn bổ sung kinh phí đáng kể cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô của quốc gia này trong những năm tới.

Thông qua RCEP và AIIB, Trung Quốc đang dần khẳng định vai trò lãnh đạo không thể từ chối trong các vấn đề liên quan đến kinh tế, chính trị khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tuy nhiên, hiện nay, Trung Quốc không phải không có những vấn đề khiến các nước trong khu vực phải dè chừng cũng như e ngại về sức mạnh của họ. Trung Quốc cần phải thể hiện là một nước lớn, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, bình đẳng trong hợp tác, làm ăn với các quốc gia láng giềng cũng như các quốc gia ở khu vực, từ đó mới có thể tiếp quản vai trò lãnh đạo trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Nguồn: The Jakarta Post – 08/12/2016

TKNB – 09/12/2016

Tấn công Syria, Mỹ sẽ làm thay đổi thái độ của Triều Tiên?


Với việc chứng tỏ sẵn sàng sử dụng vũ lực, chính quyền Trump đã khiến Trung Quốc bất ngờ, gây hoang mang về cách thức mà Washington có thể sử dụng để đáp trả các khiêu khích của Bình Nhưỡng.

Thế giới đang chờ đợi các hành động của Triều Tiên. Từ trước đến nay, chế độ Bình Nhưỡng chưa bỏ lỡ bất cứ cơ hội nào để thách thức “chủ nghĩa đế quốc Mỹ” và “bè lũ tay sai” Hàn Quốc vào thời điểm hai đồng minh này tiến hành các cuộc diễn tập quân sự lớn. Được đặt tên là Đại bàng non và Giải pháp then chốt, hai cuộc tập trận thường niên của Mỹ – Hàn quy tụ và triển khai hàng chục nghìn quân tới các khu vực gần khu phi quân sự. Năm ngoái, miền Bắc đã không ngớt chỉ trích Washington và Seoul, đồng thời bắn thử bảy tên lửa đạn đạo.

Tuy nhiên, năm nay, sau vụ không kích của Mỹ xuống Syria, tình thế có vẻ thay đổi. Liệu Kim Jong-un sẽ thể hiện như thế nào? Nhà lãnh đạo Triều Tiên, thực tế ít phi lý hơn người ta tưởng rất nhiều, liệu có tiếp tục khiêu khích để Washington phải trừng phạt, thậm chí tấn công? Mấy tuần gần đây, Triều Tiên đã không bỏ lỡ cơ hội nào nhắc nhở Donald Trump: họ đã bắn hàng loạt tên lửa vào thời điểm Tổng thống Mỹ gặp thủ tướng Nhật và lặp lại một lần nữa trước cuộc gặp Donald Trump – Tập Cận Bình.

Cuộc không kích của Mỹ vào Syria có thể sẽ làm thay đổi các lá bài tại châu Á. “Đó là một tín hiệu gửi đến Trung Quốc và Triều Tiên”, từ Tokyo nhà phân tích Valérie Niquet, Giám đốc chương trình châu Á của Quỹ nghiên cứu chiến lược Pháp, nhận xét. “Trump đã tỏ ra là nhà lãnh đạo không thể lường turớc, không ngần ngại tấn công. Điều đó khiến cho Trung Quốc lo ngại, nước này từ trước đến nay vẫn có cảm tưởng rằng chính họ đang dẫn dắt cuộc chơi trước lãnh đạo các cường quốc thường hay tính toán hợp lý, như Barack Obama hay Shinzo Abe.

Hàn Quốc và Nhật Bản bị đe dọa

Liệu Triều Tiên có thể là mục tiêu sắp tới? “Tất cả các lựa chọn đều đang đặt trên bàn”, ngoại trưởng Rex Tillerson tuyên bố thẳng thường nhân chuyến công du Seoul tháng 3 vừa qua. Ông nói thêm rằng chính sách “kiên nhẫn chiến lược” của Barack Obama “đã chấm dứt”. Ông cảnh báo kịch bản xung đột quân sự sẽ xảy ra nếu như Bình Nhưỡng “nâng cấp đe dọa qua chương trình phát triển vũ khí” của họ. Tháng 01/2017, Kim Jong-un đã khoe khoang Triều Tiên đã “bước vào những giai đoạn cuối cùng trước khi phóng thử tên lửa hành trình liên lục địa” có khả năng bắn tới Mỹ. Trong một thông điệp đưa ra trên Twitter, Donald Trump đã bẻ lại “điều đó sẽ không thể xảy ra”, không nói thêm lời nào nữa. Khác với tình hình Syria, Washington không cần thiết phải phản ứng cấp bách với Triều Tiên: hiện tại chưa có diễn biến nào thôi thúc hoặc biện minh cho một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ.

Thực tế mở một cuộc tấn công ngăn chặn vào Triều Tiên là kịch bản rất nguy hiểm và phức tạp. Nếu nhắm tới các địa điểm nghi có chương trình hạt nhân, như lò phản ứng Yongbyon mà Tổng thống Bill Clinton đã dự định tấn công khi nổ ra cuộc khủng hoảng trầm trọng năm 1993 – 1994, Washington sẽ phải mạo hiểm gây ra một thảm họa hạt nhân. Mỹ cũng có thể nhằm các căn cứ phóng tên lửa Sohae (Tây Bắc) dùng để thử nghiệm tên lửa hành trình, hay Musudan-ri, còn được gọi là Tonghae (phía Đông).

Theo bà Valérie Niquet, các nước trong khu vực sẽ không ủng hộ. Bà nói: “Họ lo ngại Triều Tiên có khả năng trả đũa bằng cách tấn công các mục tiêu tại Hàn Quốc và Nhật Bản có đông dân. Nếu sử dụng tên lửa mang đầu đạn hóa học thậm chí các loại vũ khí pháo binh có phần lạc hậu, cũ kỹ của mình, họ có thể gây ra thiệt hại rất lớn”. Triều Tiên được cho là bố trí khoảng 200 tên lửa Rodong trên khắp lãnh thổ. Các vũ khí này có thể bắt từ các xe đặc chủng di động, làm cho việc phát hiện, đánh chặn gặp nhiều khó khăn.

Hàn Quốc và Nhật Bản có lý do lo ngại một vụ tấn công của Mỹ, còn phản ứng của Trung Quốc sẽ ra sao? Bình Nhưỡng và Bắc Kinh là “các chế độ anh em cùng chia sẻ ý thức hệ”, giữa hai nước có một hiệp ước hữu nghị và hợp tác ký năm 1961, trong đó có điều khoảng phòng thủ chung nếu như bị tấn công. “Trung Quốc rất tức giận về các vụ thử của Triều Tiên, nhưng họ không thể mạo hiểm để mất nước này nếu như Mỹ chiếm đóng toàn bộ bán đảo”, bà Niquet nhận xét. Trung Quốc nhận định Mỹ đóng vai trò nhất định làm leo thang căng thẳng, nhất là kế hoạch triển khai tại Hàn Quốc lá chắn tên lửa THAAD, được coi như một mối đe dọa.

Là nước ủng hộ về ngoại giao và kinh tế gần như duy nhất của Triều Tiên, Trung Quốc có đủ phương tiện để gây sức ép lên Kim Jong-un. Giữa tháng 3 vừa qua, Tổng thống Donald Trump đã than phiền rằng Bắc Kinh “làm quá ít để giúp đỡ” giải bài toán khó Triều Tiên. “Nếu Trung Quốc không muốn giải quyết vấn đề Triều Tiên, chúng tôi sẽ làm”, Tổng thống Mỹ tuyên bố trong bài phỏng vấn trên tờ Financial Times tuần trước. Đáng chú ý, bài báo này chỉ được ra vài ngày trước vụ tấn công bất ngờ vào Syria.

Nguồn: Liberation – 09/04/2017

TKNB – 11/04/2017