Vụ Lockheed – Phần VIII


“Tính hợp thời” của vụ bê bối ở Italy đã hoàn toàn trùng hợp với chiến lược trung lập hóa hoặc loại trừ “đường lối Bilderberg”, tức là của cánh hữu, cực kỳ bảo thủ và thân châu Âu của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo. Bạn đọc sẽ thấy tại sao vụ này sẽ không bao giờ được kết thúc và các nhân vật phải bị “loại trừ” sẽ thoát nạn, hoặc bằng cách nhanh chóng chuyển sang theo các lý thuyết của Ba bên, hoặc bị đẩy ra ria một cách kín đáo và êm thấm mặc dầu những yếu tố bằng chứng do ủy ban điều tra của Nghị viện Italy nắm được đã quá đủ.

Nhân vật được bàn cãi nhiều nhất – tuy lúc đầu không bị những sự buộc tội nhằm vào – là thủ tướng Andreotti, người đã vượt lên mọi trở lực để xây dựng những “thỏa hiệp lịch sử” nhỏ, có lợi cho các cuộc bầu cử. Có lẽ vì lý do này mà, rất nhanh chóng, người ta thấy xuất hiện nhiều tài liệu (không thuyết phục lắm) trình bày ông ta như “người hưởng lợi” về những sự rộng rãi của Lockheed. Đó là một cách kín đáo để nhắc nhở về tính dễ tổn thương của ông ta cũng như về những rủi ro của một sự mở ra về phía tả mà ủy ban Ba bên không kiểm soát được.

Nạn nhân đầu tiên của vụ này chắc chắn là cựu chủ tịch Hội đồng Mariano Rumor, thủ lĩnh trào lưu đa số của Đảng dân chủ Cơ đốc giáo, người nắm giữ nhiều bí mật của Cộng hòa Italy, nhất là tất cả những gì có liên quan tới những tội trạng của Mafia Italy (cũng như tới sự thông đồng của nó với giai cấp chính trị Italy) và tới “chiến lược gây căng thẳng”. Ta hãy nhớ rằng Rumor là kẻ khởi xướng ra chiến thuật cát bồi (ensablement), phân tán các hồ sơ tư pháp, các quỹ đen,…

Đây là những yếu tố được các tài liệu của Church đưa ra:

Thứ nhất là tài liệu đề ngày 28 tháng Ba 1969 tại Grand Hote ở Rome. Đó là một bức thư gửi cho ông Valentine, người lãnh đạo Lockheed, do đại diện doanh nghiệp này ở châu Âu (đóng trụ sở tại Paris) viết. Người đại diện này, ông Roger Bixby Smith, vừa có một cuộc họp với anh em Lefebvre, những trung giang Lefebvre, những trung gian của Lockheed ở Italy, và đã trình bày những kết quả đàm phán cho ban lãnh đạo công ty này.

Một đoạn trong bức thư ấy cho Lefebvre yêu cầu trả “Cumshaw” một số tiền 120.000 USD cho mỗi máy bay được bán (tất cả 14 chiếc) “một con số tuy cao nhưng thích hợp với tầm quan trọng của vụ mua bán này: không được quên rằng chúng ta đang muốn chiến thắng những kẻ cạnh tranh Pháp và Đức đang dùng những chiến thuật tương tự (…). Tuy Lefebvre không thể tham gia các cuộc thương lượng chính thức, nhưng ông ta nhờ có Antelope Cobbler (anh hãy dùng cuốn sách đen nhỏ của anh đi, cuốn của tôi đề ngày 15 tháng Mười 1965) đã biết rõ những đòi hỏi kinh tế của những người bảo hộ chúng ta (…). Ngoài Cobbler và Pun ra, còn nhiều nhân vật rất quan trọng khác mà con số và tên tuổi của họ sẽ được trực tiếp cung cấp cho người phụ trách nào của công ty có thể đến Italy được để thu thập những tin tức này, với điều kiện không chuyển chúng qua đường bưu điện”…

Bức thư ấy kết thúc bằng một lời yêu cầu giữ kín hoàn toàn, “nhất là về những khoản tiền thưởng cho những người thứ ba. Đó chính là thuốc nổ đấy! Vụ này có những ảnh hưởng và hệ quả đáng buốn ở những nơi khác nữa”…

Tài liệu tiếp theo, đề tháng Tư 1970, được ban lãnh đạo Lockheed gửi cho công ty Tezorefo, đóng ở Panama và thuộc về Lefebvre. Tài liệu này thông báo cho Lefebvre rằng Lockheed đã đưa Tezorefo “tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ Italy”, tham dự những cuộc thương lượng của nó với chính phủ rõ ràng các khoản tiền trả – mỗi chiếc 140.000 USD – phải được thực hiện như sau:

1/ Khi nhận được thư bày tỏ ý định của Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

2/ Khi ký hợp đồng dứt khoát với Bộ Quốc phòng… 500.000 USD.

3/ Khi Tòa án về các tài khoản chấp thuận… 456.000 USD.

Tổng cộng… 1.456.000 USD

“Yêu cầu trả lại cho chúng tôi một bản hợp đồng đã ký hợp thức…”.

Tài liệu thứ ba (số 093007086, “Italian C-130, Contracts problems) là một thông báo nội bộ của Lockheed, do đại diện của nó ở châu Âu ký, trong đó nói về những khó khăn gặp phải trong việc tài trợ cho hợp đồng đã ký giữa công ty và chính phủ Italy (việc tài trợ này phải được Eximbank Mỹ và IMI Italy tán thành), và đó là nguyên nhân của việc – chậm trả tiền cho đợt thù lao và tiền thưởng thứ hai như đã được dự tính trong hợp đồng”.

Tài liệu này cũng nhắc lại rằng người ta vừa mới đi tới một thỏa thuận sửa đổi về những chi phí “chào hàng” và những chi phí này phải được trả thành hai đợt, đợt thứ nhất khi nhận được thư bày tỏ ý định, đợt thứ hai khi ký hợp đồng dứt khoát. Còn về các khoản thanh toán “đặc biệt”, tài liệu nói rõ ràng “số tiền 78.000 trả thêm sẽ được dùng để đền bù cho bộ trưởng (Quốc phòng – ghi chú của tác giả) trước đây cũng như cho một số người trong văn phòng ông ta”. Một khoản tiền thưởng riêng 50.000 USD “phải được đưa cho bộ trưởng để cảm ơn hành động của ông ta vì đã tăng thêm giá may bay vừa mới thỏa thuận”.

Tóm lại, sơ đồ thanh toán là như sau:

Chi phí chào hàng: 1.680.000 USD

Chi phí cộng thêm: 128.000 USD

Thù lao cho Lefebvre: 210.000 USD

Cộng thêm 85% số tiền này cho đảng chính trị của bộ trưởng hiện nay và của tổng thống (sic)”.

Tức là, theo tài liệu này, 128.000 USD được dành cho bộ trưởng là đã ký hợp đồng và đã “giúp tăng thêm giá máy bay” và đại bộ phận số tiền 1.680.000 USD được trả cho các đảng của bộ trưởng trước đây và bộ trưởng hiện thời, tức là Đảng Dân chủ Cơ đốc giáo và Đảng Xã hội – Dân chủ, các đảng của các ông Gui và Tanasi.

Theo tài liệu này, “bộ trưởng đã than phiền về sự chậm trả tiền đợt hai, ông ta tưởng rằng chúng ta đang chờ đợi một cuộc đảo chính để khỏi phải trả số tiền đó”.

Tài liệu kết thúc bằng sự cam đoan rằng, sau khi thanh toán đợt hai, những thể thức khác cũng sẽ được thực hiện nhanh chóng, “phù hợp theo lịch trình sau đây”:

“Bộ trưởng sẽ ký hợp đồng và gửi nó kèm theo ý kiến tán thành cho Bộ trưởng Ngân khố ngày 22 tháng Ba.

“Bộ trưởng Ngân khố sẽ phê chuẩn và gửi nó cho Tòa án về các tài khảon ngày 29 tháng Ba.

“Cuối cùng, việc đăng ký chính thức bản hợp đồng sẽ được thực hiện ngày 30 tháng Tư…”

(Hãy chú ý tới tầm quan trọng của những sự thông đồng chính thức để có thể định ra một lịch cụ thể cho những hành vi thuộc về các cơ quan chính thức khác nhau như thế.

Cuối cùng, tài liệu thúc ép ban lãnh đạo Lockheed giảm bớt thời hạn trả tiền đợt hai, “do tính bất ổn của chính phủ Italy…”.

Tài liệu thứ tư là một bức thư do Chủ tịch công ty Ikaria (đóng ở Vaduz, Liechtenstein). Ông Melka, tửi cho ông Lefebvre và chính phủ Italy khi thương lượng với Lockheed. Tài liệu này chỉ rõ rằng “780.000 USD tiền hoa hồng phải được trả cho tài khoản số 5052 thuộc Ngân hàng thương mại Israel – Thụy Sĩ ở Geneva”. Như vậy, theo tài liệu số 3, 78.000 USD “dành cho bộ trưởng” lẽ ra được trả trực tiếp thì lại được đưa vào vào một hợp đồng phụ ký với một công ty đóng tại thiên đường thuế khóa, và phải được gửi vào một ngân hàng nước ngoài…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Advertisements

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần cuối


Những đồng minh này đang dần rời xa Mỹ cũng là điều chắc chắn. Ngày 6/11/2018, Tổng thống Pháp Macron hô hào trên Đài phát thanh Europe 1 rằng châu Âu nên xây dựng một quân đội riêng của mình để giảm bớt phụ thuộc quốc phòng vào Mỹ. Trump ngay sau đó lập tức công kích Macron trên Twitter: “Tổng thống Pháp vừa kiến nghị châu Âu xây dựng quân đội riêng để đề phòng Mỹ, Trung Quốc và Nga. Thật xúc phạm! Nhưng có lẽ châu Âu trước hết nên chi trả thỏa đáng phần chi phí quân sự của NATO, Mỹ đã bù vào đó khá nhiều rồi”. Có thể thấy quan hệ giữa châu Âu với Mỹ ngày một sứt mẻ, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc ngày càng gần gũi hơn, lệnh trừng phạt Iran lần này sẽ một lần nữa làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng xa rời.

Thứ ba, chia rẽ giữa Mỹ và châu Âu có thể là xu thế dài hạn. Kể từ khi Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu ngày càng xấu đi. Tuy nhiên hầu hết người dân đều thiếu nhận thức về điều này, thường cho rằng đó chỉ là cạnh tranh anh em giữa các nước Âu – Mỹ, về đối ngoại vẫn phải đoàn kết để đối phó với Nga và Trung Quốc. Hoặc cho rằng đây chỉ là phong cách cầm quyền của Trump, chỉ là hành vi nhất thời.

Nhưng tình hình hiện tại dường như không hoàn toàn như vậy. Một mặt, giá trị quan giữa Mỹ và châu Âu là nhất quán, chắc chắn vẫn mang nhiều lợi ích chung, không gian hợp tác tương đối lớn; nhưng mặt khác, nếu đúng như Trump coi EU là kẻ địch lớn hơn cả Nga và Trung Quốc thì châu Âu cũng ngày càng coi Mỹ là mối đe dọa lớn hơn, và kêu gọi Nga, Trung Quốc liên kết để chống lại sức ép từ Mỹ.

Hơn nữa, nhìn vào hiện tại, sự lạnh nhạt trong quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chỉ là vấn đề của cá nhân Trump, mà là kết quả tất yếu của sự thay đổi tình hình quốc tế nói chung, thực lực Mỹ tương đối suy giảm cũng như sự thay đổi của lực lượng Âu – Mỹ. Cục diện liên minh Âu – Mỹ hiện nay được xây dựng trên nền tảng là châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng do sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và Mỹ trở thành nước lớn độc tài, do đó cùng với việc Mỹ có quyền lãnh đạo châu Âu thì cũng phải gánh vác nghĩa vụ lớn hơn. Nhưng cùng với việc kinh tế châu Âu hồi phục tương đối và kinh tế Mỹ có phần suy thoái thì cục diện này ngày càng khó duy trì.

Ngoài ra, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mong muốn chi trả nhiều chi phí hơn cho phương Tây để duy trì địa vị lãnh đạo của mình là bởi vì Mỹ cho rằng mình có thể đạt được lợi ích từ địa vị chủ đạo này. Hiện nay có vẻ Mỹ xác định được lợi ích từ địa vị này là không ít, nhưng lợi ích này phân phối không đồng đều ở trong nước.

Người sáng lập kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của Quỹ quản lý đầu tư Bridgewater Associates Mỹ, Ray Dalio trong bài phát biểu “The Two Economies: The Top 40% and the Bottom 60%” hồi tháng 10/2017 đã chỉ ra rằng, sự chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng của xã hội Mỹ khó mà duy trì lâu dài. Theo Dalio, của cải của 0,1% dân số tầng lớp cao nhất hiện nay của Mỹ tương đương với của cải của 90% dân số tầng lớp thấp, tương đương với khoảng cách giàu nghèo trong giai đoạn 1935 đến 1940. “Từ năm 1980 đến nay, thu nhập thực tế của các hộ gia đình trung lưu về cơ bản vẫn giữ nguyên, trong khi thu nhập bình quân của 40% hộ gia đình tầng lớp cao đã nhiều gấp 4 lần so với 60% hộ gia đình tầng lớp thấp”. “Tỷ lệ tử vong của 60% dân chúng tầng lớp thấp đang gia tăng, sức khỏe về tinh thần và thể chất đều đang xấu đi”.

Trong hoàn cảnh này, một bộ phận người Mỹ mà đại diện là Donald trump đã không còn muốn duy trì trật tự quốc tế này nữa.

IV/ Kết luận

Lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây cho rằng: không có tình hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Không chỉ vậy, mà đôi khi ngay cả lợi ích chung cũng có thể tranh giành. Nếu lợi ích của việc phản bội lớn hơn lợi ích mà các đồng minh có thể có được thì sao không làm?

Quả thực, giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu tồn tại nhiều điểm chung, đặc biệt  là sự nhất trí về giá trị quan, nhưng điều này không có nghĩa là họ không trở mặt với nhau. Trong các cuộc Thập Tự Chinh từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, các nước Tây Âu và Đế quốc Byzantine là đồng minh, còn có chung tín ngưỡng, nhưng trong cuộc Thập Tự Chinh thứ tư (1202 – 1204), quân Thập Tự đã quay lại đánh úp và tiêu diệt Byzantine. Trong lịch sử, các nước Trung – Đông Âu thường duy trì sự nhất trí cao độ về ý thức hệ và lợi ích quốc gia, nhưng kể từ khi ký Hòa ước Versailles năm 1919, trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước phương Tây về chính trị đã nhiều lần bán rẻ các nước đồng minh Trung Âu và Đông Âu. Hiện tượng này xảy ra nhiều lần đến mức lịch sử quan hệ quốc tế đã xuất hiện một cụm từ là “sự phản bội của các đồng minh phương Tây”.

Do đó, ngày nay, sự trở mặt giữa Mỹ và các nước Tây Âu cũng phù hợp với tác phong của họ. Ví dụ như khi thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 2015, các nước Anh, Pháp, Đức nhìn thấy lợi ích to lớn trong đó nên đã làm trái ý Mỹ để tham gia AIIB. Các nước châu Âu cũng đều phản ứng tích cực đối với đề xướng “Vành đai và Con đường” mà Mỹ phản đối.

Ngày nay, vì cả Mỹ và châu Âu đều cho rằng quan hệ đồng minh giữa họ đã làm tổn hại đến lợi ích cơ bản của mỗi bên, nên các liên minh như vậy khó mà tiếp tục duy trì. Trong khi Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran, vì lợi ích bản thân mà tổn hại các đồng minh châu Âu, lại sẽ từng bước làm trầm trọng thêm quá trình này. Có lẽ trong tương lai không xa, Mỹ và châu Âu sẽ không còn coi nhau là đồng minh thân thiết.

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần II


Thứ hai, Mỹ trừng phạt Iran đã làm tổn hại đến lợi ích của các đồng minh châu Âu.

Các lệnh trừng phạt Iran hiện nay của Mỹ đã từng bước gây tổn hại cho lợi ích của các nước đồng minh châu Âu. Mỹ sở dĩ đưa ra các lệnh trừng phạt đơn phương đối với Iran là vì xác định Iran là mối đe dọa lớn đối với an ninh, ngoại giao và kinh tế của Mỹ, nhưng các nước châu Âu lại không nghĩ như vậy. Cân nhắc đến tầm quan trọng của Iran trên thị trường khí đốt và dầu mỏ quốc tế, các nước châu Âu lại không muốn thực hiện lệnh trừng phạt đối với Iran, mà chủ trương thông qua con đường ngoại giao và chính trị để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran.

Trước khi ký kết Thỏa thuận hạt nhân Iran năm 2015, các nước châu Âu cùng với Mỹ đã tiến hành các biện pháp trừng phạt đối với Iran, mặc dù gây thiệt hại lớn nhưng không ngăn được sự phát triển kinh tế cũng như ngoại thương của Iran, rất nhiều nước đạt được lợi ích lớn nhờ vào quan hệ thương mại với Iran. Ví dụ, quy mô thương mại của Trung Quốc đối với Iran tăng lên trong kẽ hở của các lệnh trừng phạt của Mỹ, chỉ trong năm 2017, kim ngạch thương mại Trung Quốc – Iran đã tăng khoảng 20%. Ngoài Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Nga… cũng không cắt đứt quan hệ thương mại thông thường với Iran, ngược lại những nước châu Âu theo Mỹ trừng phạt Iran lại chịu tổn thất kinh tế không đáng có do không tiến được vào thị trường Iran. Sau khi lệnh trừng phạt Iran được nới lỏng, các doanh nghiệp châu Âu mong muốn có được thị trường Iran lâu nay đã nhanh chóng thâm nhập thị trường này.

Lần này, Mỹ làm trái với mong muốn của đồng mình châu Âu, tự ý rút khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran và áp đặt lệnh trừng phạt với Iran, điều này có nghĩa là Thỏa thuận hạt nhân Iran rất khó khăn mới đạt được vào năm 2015 và kéo dài trên 9 năm giữa EU với 7 nước bao gồm cả Iran đã tan thành mây khói. Mặc dù các nước châu Âu cực lực phản đối, nhưng cuối cùng không giải quyết được vấn đề. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận này và thực hiện trừng phạt Iran khả năng lớn sẽ khiến cho giá dầu tăng, ngành sản xuất dầu của Mỹ hiện nay tự đủ cung cấp và có thể bán dầu để thu lợi, còn đa số các nước EU lại không thể mua dầu giá cao. Dưới sự ép buộc của Mỹ, một số công ty đa quốc gia của châu Âu, không thể không gián đoạn hoạt động tại Iran và buộc phải rút khỏi thị trường Iran.

Mỹ trừng phạt Iran tương đương với việc buộc các đồng minh châu Âu phải trả tiền cho lợi ích của Mỹ, điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước châu Âu có liên quan, càng khiến những nước này bất mãn đối với Mỹ.

III/ Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran có thể làm tăng thêm sự chia rẽ của phe cánh phương Tây

Hàng loạt hành động gây tổn hại đến lợi ích đồng minh châu Âu của Mỹ đương nhiên sẽ chịu hậu quả.

Trước tiên là các đồng minh châu Âu ngày càng rời xa Mỹ.

Cùng với việc sau khi lên nắm quyền thái độ của Trump đối với các đồng minh châu Âu xấu đi, các nước châu Âu cũng ngày càng thiếu đoàn kết. Tại Hội nghị thượng đỉnh G7 vào tháng 6/2018, Mỹ và 6 nước còn lại công khai đối địch. Trong phương diện quan hệ với Nga, châu Âu cũng đã nhiều lần bày tỏ không hài lòng đối với Mỹ. Ngày 11/7/2018, tại Hội nghị thượng đỉnh NATO Trump đã chỉ trích rằng người Đức không nên nhập khẩu năng lượng của Nga, trở thành nô lệ cho Nga. Nhưng bản thân ông quay lại bày tỏ tình hữu nghị với nước Nga cũng như Putin trong “cuộc gặp Trump – Putin”, tăng cường hợp tác với Nga về năng lượng. Điều này đã gây ra nhiều sự nghi ngờ của châu Âu.

Đầu tháng 5/2018, theo một cuộc khảo sát của Đức với tên gọi là “Young Europe 2018” cho thấy đa số những người trẻ tuổi ở Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Italy, Ba Lan, Tây Ban Nha đều không ủng hộ lập trường của chủ nghĩa dân túy, 57% trong số người được phỏng vấn coi Tổng thống Trump là “mối đe dọa”, chỉ có 11% coi ông là một “cơ hội”.

Ngày 16/7/2018, Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas nói rằng, châu Âu “không thể hoàn toàn trông chờ” vào Mỹ, cần phải đoàn kết lại, phát triển quan hệ với Mỹ theo cách mới. Chủ tịch Hội đồng châu Âu – cơ quan ra quyết sách tối cao của EU, Donald Tusk cảnh cáo rằng, Mỹ dường như không có đồng minh. Thậm chí Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng công khai chỉ trích Donald Trump là “phá hủy niềm tin vào trật tự quốc tế”.

Thứ hai, các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ có thể làm tăng sự chia rẽ của phe cánh phương Tây.

Sau khi Mỹ tuyên bố khởi động lại lệnh trừng phạt đối với Iran, một số nước châu Âu kiên quyết phản đối. Pháp, Đức, Anh và EU cùng lên án hành vi của Mỹ, và tuyên bố sẽ bảo vệ các công ty châu Âu kinh doanh “hợp pháp” với Tehran.

Hiện tại, phần lớn các giao dịch toàn cầu đều thông qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế), Mỹ có thể dựa vào hệ thống này để giám sát và điều khiển một cách hiệu quả các giao dịch toàn cầu, và dựa vào đó để thực hiện trừng phạt các nước khác. Đó cũng là một trong những trụ cột quan trọng trong việc xây dựng quyền lực tài chính của Mỹ. Tuy nhiên, các nước khác không chấp nhận như vậy, ví dụ như Trung Quốc và Nga đã xây dựng hệ thống thanh toán của riêng mình.

Trước những hành động cô lập ngày càng nghiêm trọng của Mỹ, các nước châu Âu cũng cố gắng thiết lập hệ thống thanh toán của riêng mình. Ngày 2/11/2018, EU cùng với Anh, Pháp, Đức đã ra tuyên bố chung rằng phải duy trì “kênh tài chính hiệu quả với Iran”, tiếp tục mua dầu và khí đốt của Iran. Còn phải nỗ lực hợp tác với Trung Quốc và Nga – là những bên cũng ký kết thỏa thuận hạt nhân Iran. Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas, trong một bài viết hồi tháng 8/2018, đã đề xuất châu Âu nên lập nên một hệ thống thanh toán mới độc lập với Mỹ để cứu vãn Thỏa thuận hạt nhân Iran và tăng cường quyền tự chủ của châu Âu. Nếu điều này thành hiện thực, quyền lực tài chính của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

Ngày 5/11/2018, ngay sau khi Mỹ chính thức khôi phục lại lệnh trừng phạt đối với Iran, đồng thời tuyên bố 8 nước hoặc khu vực được miễn trừ, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Italy, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ mà không bao gồm các nước cốt lõi của EU như Pháp, Đức và Anh, điều này chắc chắn càng làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu. Tuy lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Iran của Anh và Đức tương đối ít, trong khi quy mô nhập khẩu từ Iran của Pháp là 5%, Italy 7% và Nhật Bản 5%. Xét về địa vị và tầm ảnh hưởng của Pháp trong các nước châu Âu có thể khẳng định rằng đây là một sách lược trừng phạt mang tính xúc phạm đối với các đồng minh châu Âu truyền thống, thể hiện rất rõ ràng thái độ không tin tưởng các đồng minh châu Âu.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Vụ Lockheed – Phần VII


Một tài liệu thứ hai, mang số 007570800101, đề ngày 3 tháng Mười một 1972, là một sự yêu cầu “cho phép trả số tiền 8000 USD cho ông Steinrucke, nhân viên ở Đức phụ trách phân phối số tiền này cho hai đảng chính trị để tạo dễ dàng cho việc bán một Jet Star thứ 4 cho GMOD Đức”. Tài liệu này nói, vì những phí tổn của việc chào hàng này (không có những phí tổn về trưng bày) là khoản tương đối thấp, nên cơ quan tiếp thị cho rằng khoản chi phí 8000 USD xứng đáng. Ngoài ra, trong trường hợp bán được chắc chắn, phải rút 43.000 USD để trả tiền hoa hồng. “Sẽ thuận tiện nếu những quỹ này được giao cho Steinrucke quyết định trong thời hạn 10 ngày…”.

Tài liệu này đã được các ông Dobbins, Crockett, Cochram và Kalember… tán thành. Những sự cho phép như vậy cho thấy rằng Lockheed không phung phí tiền của mình và nó có cả một bộ máy quan liêu thuộc hệ thống bán ra và tiền thưởng… 8000 USD nói trên được gửi bằng séc vào đúng ngày đặt hàng, tức là 13 tháng Mười một…

Một tài liệu khác (số 3572/German File), đề ngày 9 tháng Bảy 1973, có liên quan tới một cuộc họp giữa đại diện Lockheed và đô đốc Đức Khunlle, “tư lệnh Hải quân Đức”. Nó được ký bởi N.S. Orwat và gửi cho ông Egan, người lãnh đạo Lockheed. Giống như trong trường hợp trước, tài liệu này có nhiều đoạn bị kiểm duyệt. Trong phần sao lại dưới đây, chúng tôi nhấn mạnh những chỗ bị kiểm duyệt như đã có thể dựng lại.

“Ngày 3 tháng Bảy, Margaret và tôi được mời tới ăn tối ở gia đình Steinrucke, mà như ông biết, họ có một ngôi nhà tuyệt đẹp ở khu ngoại ô Dusseldorf, nơi họ có thói quen mời khách đến “theo phong cách cũ”. Chúng tôi gồm 16 người dự bữa ăn tối và bà vợ ông ta đã nổi bật lên vì những sự quan tâm và sự quyến rũ” (Charme, bằng tiếng Pháp trong nguyên bản) của mình (…).

“Ông Momsenn và vợ ông ta nằm trong số khách mời (xin nhớ rằng Momsenn đã từng là thứ trưởng Bộ Quốc phòng của Smith và hiện nay đang đứng đầu một trong những doanh nghiệp công nghiệp lớn nhất, Thyssen), trong đó có những nhà công nghiệp quan trọng khác, một quan chức cao cấp của bộ Tài chính và phó đô đốc Khunle, tư lệnh Hải quân Đức, có vợ ông ta đi theo.

Sau bữa ăn, tôi đã có thể chuyện trò riêng tư trong vườn với đô đốc Khunle vừa lưu lại ở Mỹ, do đô đốc Zumwalt, cục trưởng tác chiến của Hải quân Mỹ, mời sang…

Buld, vốn là một trong những bạn đồng học cũ của tôi ở Trường quân sự, đã mở cửa cho tôi để tôi làm bạn với đô đốc Khunle, một người rất khâm phục Zumwalt về sự khôn khéo trong việc giành được những ngân quỹ đủ để có thể hiện đại hóa Hải quân, mặc dầu có những hạn chế về ngân sách. Đề tài này đã cho phép tôi đặt ra những câu hỏi với Khunle về những vấn đề tương tự trong Hải quân Đức mà, theo ông ta, đó là những vấn đề to lớn.

“Khunle tỏ ra rất lo lắng (…) vì, theo chương trình đã dự tính, các nguồn tài chính hiện có là rất thiếu, khiến ông ta gặp trở ngại trong việc mua máy bay, tàu thủy hay mọi loại trang bị khác…

“(…) về MRCA tôi không có ấn tượng rằng đô đốc là một người hăng hái bảo vệ chương trình này (…) khi nói tới sự cần thiết phải thay thế bốn phi đội F-104 của Hải quân, đô đốc tỏ ra tán thành ASW “một thứ máy bay đáng có và đã được thử nghiệm, trái với MRCA vẫn đang trong giai đoạn hoài thai”… Nhưng quyết định này bị quy định bởi những lý do chính trị và “ở đó, ông ta nói, cánh nhà binh chúng tôi không có tiếng nói…”.

“Khi tôi nói với ông ta về S-3, ông ta tỏ ra lúng túng. Câu trả lời của ông ta không rõ ràng lắm: “Chúng tôi cần đến một thứ máy bay do thám có bán kính hoạt động thật dài…”.

“Khi chúng tôi trở lại với những vị khách khác, một lần nữa tôi lấy làm kinh ngạc về những tiếp xúc của Steinrucke với các nhà chính khác, các nhà tài chính và các nhà công nghiệp hàng đầu. Mọi cái dường như cho thấy rằng ông ta có những phẩm chất mà chúng ta đang mong chờ ở một đại diện địa phương ở nước ngoài. Không lợi dụng những năng lực của ông ta trong chiến dịch ủng hộ ASW ở Đức thì đó sẽ là bỏ mất một cơ hội vô giá. Cá nhân tôi, tôi hoàn toàn tin cậy ở ông ta và nhờ ông ta, chúng ta sẽ có thể tiếp xúc được với những nhân vật mà chúng ta muốn có quan hệ…

“Hơn nữa, Steinrucke gắn bó với đô đốc Karl Hetz, cựu tư lệnh Hải quân Đức. Hetz không phải là một phi công, nhưng với tư cách người chỉ huy các khu trục hạm, ông ta có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực hoạt động của ASW. Tôi tin rằng ông ta, cũng như K. Có thể tỏ ra rất có ích…!

Một tài liệu khác về nước Đức, đề ngày 22 tháng Ba 1974 (số 00757090955) thông báo cho các nhà lãnh đạo Lockheed về việc ký kết một thỏa thuận giữa công ty và Steinrucke, và ông ta sẽ nhận một số tiền 100 nghìn USD cho mỗi chiếc máy bay S-3 bán cho Hải quân Đức. Nếu là bán những bộ phận rời, thiết bị… thì ông ta được nhận thêm 0,5% tổng số tiền.

Tài liệu số 00757090961, cũng về vấn đề này và đề ngày 1 tháng Tư 1974, nói rằng:

“Tiếp theo telex của tôi NSO/123 ngày 15 tháng Ba về việc thỏa thuận với Christian Steinrucke và xét rằng một thỏa thuận thuộc loại gốc có thể bị coi là bất hợp pháp ở Đức (gạch dưới trong bản gốc), tôi yêu cầu ông rằng những bản sao thỏa thuận ấy phải được hạn chế và chỉ thông báo cho những người tuyệt đối cần biết tới nó.

“Vì những lý do an ninh, Steinrucke yêu cầu tôi phải soạn thảo thỏa thuận này một cách khác để tránh ghi loại máy bay nào trong hợp đồng (…).

“Chân thành, Orwat…”

Chúng tôi cho rằng mình đã chứng minh để bạn đọc thấy những văn bản của các thông báo, các nghị quyết và những cải chính chính thức không trả lời được một câu hỏi nào có thể được đặt ra khi đọc những tài liệu này. Người ta sẽ không ngạc nhiên nếu đến một ngày nào đó, hồ sơ Lockheed lại xuất hiện cùng với những tài liệu bổ sung. Cũng không ngạc nhiên nếu, vào lúc này, do một sự trùng hợp thuần túy nào đó, vị trí chính trị của Câu lạc bộ Bilderberg và ủy ban Ba bên ở Cộng hòa liên bang Đức lại làm cho vụ này “nổi lên lại” để tiến hành một sự thanh toán mới nào đó.

Italy

Chương Italy về vụ Lockheed gồm một số chương nhỏ mỗi lúc một thú vị hơn. Ngoài kịch bản cổ điển trong đó nạn hối lộ làm nhục các bộ trưởng, các chính khách, các đảng và các nhân vật “khác nhau”, ở đây người ta thấy xuất hiện một vụ tình báo công nghiệp mà những nhánh của nó lan ra tới chức vụ tổng thống nước Cộng hòa, cũng như những trường hợp “can thiệp” với các chính phủ hay các bộ tham mưu nước ngoài.

Hãy nhớ rằng các vụ bê bối này nổ ra lúc đang chuẩn bị các cuộc bầu cử có tầm quan trọng hàng đầu đối với Italy. Đó là những điều kiện chính trị giống như của Đức và Nhật lúc xảy ra các vụ Lockheed riêng của các nước này. Trong trường hợp Italy, cuộc bỏ phiếu sẽ đưa tới một kiểu thỏa hiệp lịch sử giữa Đảng dân chủ Cơ đốc giáo và Động Cộng sản. Đảng này cuối cùng không tham gia chính phủ, nhưng nó giữ một thái độ “không ngờ vực” (sic) đối với chính phủ Andreotti.

Từ những tài liệu của ủy ban Church, người ta thấy rằng ở Italy, qua trung gian một “nhân viên” của Lockheed, người có thể len sâu vào các giới chính trị, và bằng cách tạo ra những công ty “màn chắn” đóng trụ sở ở nước ngoài, đã bán được 14 máy bay kiểu C-130 trong khi người ta chỉ cần có 4 chiếc. Những tài liệu đã dẫn cho thấy rõ có những sự đồng lõa ở cấp cao nhất, được trả thù lao bằng những số tiền khổng lồ. Ngoài ra các quỹ của CIA được chi ở khắp nơi, nhờ những sự giúp đỡ của Lockheed làm màn chắn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần I


Tháng 5/2018, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran, đồng thời yêu cầu các nước trên thế giới ngừng nhập khẩu dầu của Iran, nếu không các nước và các doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với các lệnh trừng phạt kinh tế. Tháng 8/2018, Mỹ khởi động lại các lệnh trừng phạt đối với Iran trong hàng loạt lĩnh vực phi năng lượng như tài chính, kim loại, khoáng sản, xe hơi… Ngày 5/11, Mỹ chính thức khôi phục lệnh trừng phạt đơn phương trong lĩnh vực năng lượng và tài chính đối với Iran.

Các lệnh trừng phạt là vũ khí quan trọng của Mỹ, lâu nay luôn phát huy vai trò quan trọng trong việc xử lý các công việc quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện trừng phạt Iran lần này của Mỹ chưa có đủ các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa kết quả chưa chắc đã như mong đợi, mà có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ nội bộ của phe cánh phương Tây.

I/ Quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và các nước đồng minh

Quan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh phương Tây là một kiểu quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Các nước đồng minh này dĩ nhiên cần phải dựa vào sự bảo vệ của Mỹ, Mỹ cũng cần phải dựa vào sự hỗ trợ của các đồng minh.

Trước hết, hệ thống đồng minh là chỗ dựa quan trọng cho sức mạnh của Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ có hơn 800 căn cứ quân sự tại hơn 70 nước trên toàn thế giới, nhưng để chống lại các đối thủ với bảo vệ lợi ích toàn cầu của mình, chỉ có sức mạnh quân sự là chưa đủ. Mỹ có thể trở thành thủ lĩnh thế giới, giành được thắng lợi trong nhiều cuộc đấu tranh quốc tế bao gồm cả Chiến tranh Lạnh, ngoài việc dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, cũng phụ thuộc nhiều vào ý thức hệ của mình và các mối quan hệ đồng minh đã dày công gây dựng lâu nay.

Mỹ cũng hiểu sâu sắc đạo lý “chính nghĩa thì được ủng hộ, phi nghĩa thì không”, “dùng mưu kế quân sự đánh bại địch, dùng thủ đoạn ngoại giao gây chia rẽ địch”, đã xây dựng hệ thống đồng minh rộng rãi và hiệu quả trên toàn cầu. Ví dụ, tại Trung Đông, Israel và Saudi Arabia là những điểm tựa chiến lược quan trọng của Mỹ, còn tại Đông Á, Nhật Bản và Hàn Quốc là tiền tuyến chiến lược trong việc chống lại Liên Xô trước đây và sau này là Trung Quốc và Nga. Tại Đông Nam Á, Mỹ và Singapore vẫn hợp tác vui vẻ. Tại khu vực Nam Á, Mỹ lại thay đổi các nước trụ cột khác nhau dựa theo những thay đổi của tình hình.

Trong hai cuộc chiến tranh thế giới và trong nhiều hành động chính trị và quân sự lớn của quốc tế trong thời kỳ hậu chiến tranh, Mỹ đều rất hiếm khi hành động một mình, mà thường chọn cách hợp tác tập thể. Ví dụ trong Chiến tranh Triều Tiên, Mỹ sử dụng chiêu bài “quân đội Liên hợp quốc”, đã tổ chức liên quân 17 nước tham chiến. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, các đồng minh tham gia đã đạt con số kỷ lục với 40 nước, trong đó có 34 nước có cống hiến thực sự vào việc giải phóng Kuwait. Nếu không có sự phối hợp của các đồng minh, địa vị lãnh đạo của Mỹ cho dù về mặt lý lẽ hay là hiệu quả thực tế đều bị giảm đáng kể.

Thứ hai, trong tất cả các đồng minh của Mỹ, đồng minh châu Âu là trụ cột quan trọng nhất. Có thể thấy các nước châu Âu với Mỹ tương đồng về văn hóa và thể chế chính trị, vị trí địa lý quan trọng, hơn nữa đều có sức mạnh về kinh tế và công nghệ, vì vậy, lâu nay các đồng minh châu Âu không những là đồng minh thân cận mà còn là đồng minh có sức mạnh nhất của Mỹ. NATO và Liên minh châu Âu (EU) tiền thân là Cộng đồng châu Âu không những là công cụ quan trọng để chống lại Liên Xô khi đó, cũng là cái cớ quan trọng nhất để sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Mỹ tiếp tục chống lại Nga cũng như lựa chọn hành động, quán triệt chiến lược, theo đuổi lợi ích lớn nhất tại Đông Âu và Trung Đông đồng thời đẩy mạnh địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, các nước lớn châu Âu lần lượt tham gia lực lượng đa quốc gia do Mỹ dẫn đầu bao gồm quân đội của hơn 10 nước đồng minh châu Âu. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (2003 – 2010) không được Liên hợp quốc cho phép, hầu hết các nước đều phản đối. Khi Mỹ quyết tâm xâm chiếm Iraq, cũng muốn lôi kéo cả Anh cùng hành động.

Tuy nhiên, giữa Mỹ và các nước đồng minh châu Âu khác không hẳn là thân mật, mà là đồng thời với việc duy trì sự hợp tác chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau cùng tồn tại nhiều xung đột về lợi ích. Trong phạm vi toàn cầu, Mỹ và các đồng minh vừa là đối tác hợp tác vừa là đối thủ cạnh tranh. EU vừa phản đối chủ nghĩa đơn phương của Mỹ, vừa lại lo lắng chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa dân tộc của Mỹ; một mặt dựa vào sự bảo vệ quân sự của Mỹ, mặt khác lại hy vọng nâng cao địa vị quốc tế của minh. Do đó EU ngày càng tích cực tham gia vào các vấn đề gây tranh cãi của quốc tế, từ Triều Tiên đến khu vực Trung Đông, EU đều cố gắng phát huy hết sức vai trò của mình. Trong một số khu vực, sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể bổ sung cho nhau, nhưng ở một số khu vực khác, lợi ích của Mỹ và những nước này có thể nảy sinh xung đột. Nói tóm lại, về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, Mỹ và các đồng minh châu Âu có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại rắc rối phức tạp.

Nói một cách đơn giản, tuy giữa Mỹ và châu Âu luôn tồn tại xung đột lợi ích nhất định, nhưng nhìn về dài hạn, quan hệ Mỹ – châu Âu tương đối thân thiết và ổn định, tạo thành nền tảng quan trọng cho an ninh của châu Âu cũng như địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ.

II/ Các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ làm tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu

Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu đã có sự thay đổi lớn. Ông khởi xướng “Nước Mỹ trước tiên”, “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, kiên trì đường lối có lợi cho Mỹ nhưng gây tổn hại cho nước khác, kể cả các nước đồng minh, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đồng minh ngày càng sâu sắc, nội bộ ngày càng lục đục.

Trước tiên, chính sách ngoại giao của Trump gây tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu. Thời gian qua, Mỹ đã tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và Thảo thuận hạt nhân Iran, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại, di dời đại sứ quán ở Israel…, những việc làm này đã làm hao mòn lòng tin của các nước châu Âu đối với Mỹ. Đặc biệt là gần đây Mỹ tự ý rút khỏi “Hiệp ước Các lực lượng tên lửa tầm trung” đã ký kết cùng Liên Xô năm 1987, điều này gây tổn hại lớn đến an ninh khu vực châu Âu, khiến họ khó mà chấp nhận.

Tháng 6/2018, sau khi tiếp tục từ chối ủng hộ thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh G7 tổ chức tại Canada, Trump liên tục công kích Thủ tướng Canada Trudeau trên Twitter về vấn đề thương mại. Truyền thông phương Tây bình luận rằng, sau Hội nghị Thượng đỉnh G7, quan hệ giữa Mỹ và đồng minh phương Tây “trượt xuống hố sâu”.

Đặc biệt khiến thế giới phải choáng váng là, sau khi Trump lên nắm quyền, ông bất ngờ lựa chọn đường lối “liên kết với Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc”, muốn lôi kéo Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc. Tháng 7/2018, trước cuộc hội đàm với người đồng cấp Nga Putin, Trump công khai phát biểu chỉ trích châu Âu, gọi châu Âu là kẻ thù lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc thứ 2, Nga chỉ có thể đứng thứ 3. Trump cũng buộc các nước châu Âu phải tăng chi phí quốc phòng. Ngoài ra, Trump rất bất mãn với thâm hụt trong thương mại giữa Mỹ với châu Âu (thâm hụt thương mại của Mỹ với EU năm 2017 là 173,8 tỷ USD). Theo tờ The Washington Post nói về người châu Âu, Trump nói: “Họ muốn bóp chết chúng ta trong những việc khác nữa… quan trọng nhất là, họ dùng NATO để giết chúng ta…”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Vụ Lockheed – Phần VI


Mọi cái bắt đầu từ một vụ ăn trộm “thông thường” xảy ra tại văn phòng đại sứ Nam Phi ở Đức. Những kẻ “ăn trộm” không nhận dạng được đã lọt vào sứ quán – một trong những sứ quán có canh gác cẩn thận, như sư quán của Israel -, lẻn vào văn phòng đại sứ và đánh cắp một loạt hồ sơ để trong hòm khóa. Một số tài liệu bị “đánh cắp” ấy bắt đầu lưu hành. Ở Brussels trước tiên, rồi Bonn, người ta buộc tội tướng Gunther Rall – người đứng đầu trước đây của chương trình F-104, sau đó là thanh tra Không quân và đại diện của Đức bên cạnh ủy ban quân sự NATO – là đã làm một chuyến du hành chính thức vào tháng Mười 1974 sang Nam Phi nhằm “xây dựng các chương trình hạt nhân giữa nước này và nước Đức”. Bộ trưởng Quốc phòng Đức, ông Geoorg Leber, và quốc vụ khanh ông Berkhan, ngay lập tức chống lại điều đó bằng một sự cải chính kiên quyết đối với thông tin này, mà theo họ, đó chỉ là sự vu khống. Bản thân Rall cũng bác bỏ tính chất “chính thức” của chuyến đi của mình: “Đây chỉ là một chuyến đi nghỉ với mục đích viếng thăm một người bạn cũ, ông Dahlmann”.

Mọi cái dường như đều ổn cả, nhưng bỗng nhiên African National Congress, đảng đối lập bí mật với chế độ chủng tộc chủ nghĩa ở Nam Phi, mà ban lãnh đạo lưu vong của nó đang ở Lusaka, thuộc Zambia, cho công bố những tài liệu khác… Những tài liệu này chứng minh rằng, trái với những sự khẳng định chính thức, chuyến đi cảu Rall rõ ràng có một sứ mệnh mà ông ta đã thực hiện dưới một cái tên giả là ông Ball. Ông ta đã gặp một loạt nhân vật khoa học và nhân vật cầm quyền ở Nam Phi. Phần lớn có liên hệ với công ty hạt nhân. Ngay cả trung tâm hạt nhân Pelindaba, nơi có nhiều nhà khoa học Đức làm việc, cũng đã đón tiếp ông ta đến thăm.

Trong số những tài liệu nằm trong tay ANC, có nhiều bức thư trao đổi giữa tướng Rall và đại sứ Nam Phi, ở Bonn. Ông Sole, cũng như giữa tướng Rall và chính phủ Nam Phi. Trong một bức thư đó, với tất cả sự hớ hênh, Rall báo trước cho đại sứ Sole rằng “để tránh những sự giải thích lúng túng, nếu người ta hỏi tôi chuyện này, tôi sẽ trả lời rằng chuyến đi của tôi chỉ có tính chất riêng tư. Việc gặp một số nhân vật nào đó chỉ là một điều ngẫu nhiên…”.

Nghiêm trọng hơn nữa, những tài liệu khác còn chứng minh rằng chuyến đi của Rall và những sự tiếp xúc “về hạt nhân” của ông ta không phải là một ngoại lệ. Từ nhiều năm rồi, Đức và Nam Phi tiến hành một sự cộng tác chặt chẽ trong lĩnh vực hạt nhân. Ngay cả khi người ta nói ở Đức rằng những tiếp xúc đó là một sự cộng tác giữa các công ty tư nhân mà không phải là một sự cộng tác giữa các nhà bác học của hai nước là rất chặt chẽ trong lĩnh vực này. Nếu một ngày kia Nam Phi có vũ khí nguyên tử (trong con mắt phần lớn các nhà quan sát, điều đó đã là một thực tế rồi) thì đó là nhờ có sự cộng tác “dân sự” kia… Có lẽ đến một ngày nào đó, người ta sẽ biết rõ rằng sự cộng tác này cũng đem lại cho Đức cơ hội nắm giữ vũ khí hạt nhân mà nó bị cấm bởi các hiệp ước quốc tế. Những lúc này, một điều đã rõ ràng: những cải chính chính thức do một số viên tướng và bộ trưởng đưa ra rõ ràng không phải là những lời Phúc Âm…

Vài tháng sau đó, tức là chỉ mới gần đây, một thông cáo của Bộ Tư pháp Đức cho biết rằng “sau khi nghiên cứu năm nghìn trang tài liệu do chính phủ Mỹ cung cấp, người ta có thể kết luận rằng không có bằng chứng về việc Lockheed trả những khoản tiền thưởng, trực tiếp hay gián tiếp, cho các nhân vật và các chính đảng ở Đức”… Tuy nhiên, những người được giao trách nhiệm về hồ sơ này ở Bộ Tư pháp không loại trừ rằng “có một vài viên chức có thể đã bị những cá nhân không rõ căn cước thúc đẩy tới chỗ vi phạm những nghĩa vụ giữ gìn mà họ phải tuân theo”… Mặt khác, bản thông cáo nói tiếp, có một người hoạt động trong ngành công nghiệp vũ khí dường như đã dùng một số tiền nào đó vào những mục đích khác với những mục đích dự tính… Đối với ông Vernet, nhà báo thuộc báo Le Monde, câu nói bí hiểm này có thể nhằm vào “đại diện của Lockheed ở Đức, người này đã thừa nhận rằng năm 1974 đã nhận số tiền 40000 Mark mà không phân phát theo chỉ dẫn của cấp trên anh ta”…

Theo Bộ trưởng Quốc phòng Đức, đó là trường hợp hết thời hạn hiệu lực… Còn theo Bộ Tư pháp thì đó là những sự việc không được chứng minh… Theo những nguồn gần gũi với ông Strauss, thì đó lại là những hoạt động bầu cử… Dù sao vẫn không có một sự “trả lời” nào đáp ứng rõ ràng và cụ thể với những câu hỏi công luận đặt ra cả. Nhất là càng không có sự trả lời nào cho những câu hỏi do các tài liệu đặt ra về hiệp thứ hai của vụ Lockheed ở Đức, nghĩa là những sự hối lộ đã có thể xảy ra gần đây hơn, vào những năm 1972 – 1974…

Thật ra, điều quan trọng đối với chúng ta là biết rõ nguyên nhân của những sự im lặng nào đó và những thay đổi thái độ nào đó hơn là biết xem những nhân vật Đức nào đã trực tiếp nhận tiền thưởng của Lockheed. Việc nhận những khoản tiền thưởng này chỉ có nghĩa là những nhân vật đó lợi dụng quyền lực chính trị của mình để giành những lợi ích: cho họ, cho bạn bè họ thay cho một đảng chính trị nào đó. Trái lại, khả năng “thay đổi thái độ” hay “lật lọng” của những nhân vật này có ý nghĩa hơn nhiều và nguy hiểm hơn nhiều. Cuối cùng, cần chú ý rằng những “phẩm chất đạo đức” của những kẻ tố cáo tỏ ra đặc biệt không có giá trị khi người ta thấy rõ cái cách mà họ có thể gắn bó với cùng một sự nghiệp thống trị thế giới, sau khi mục tiêu của họ đã được thực hiện (về mặt này, chính quyền cấp quốc gia chỉ là một sự tham gia sự nghiệp thống trị này), bên cạnh những kẻ mà chỉ cách đây vài tháng đã bị tố cáo khắp nơi như những chính khách tham nhũng và không xứng đáng. Một khi các cuộc bầu cử ở Đức đã xonng, rõ ràng rằng tính chất kịch liệt của những sự công kích ấy giảm đi rất nhiều. Thậm chí nó không còn để lại dấu vết nữa, và từ nay người ta chấp nhận một cách điềm nhiên việc miễn tố của các ủy ban điều tra…

Về phía mình, chúng tôi tin rằng công luận đã trưởng thành và, để có thể phán xét, nó phải nắm được tất cả các dữ kiện của một vấn đề. Đặc biệt, nó phải biết tới một số tài liệu trích ra từ cả khối tài liệu lớn, trong đó có hồ sơ rất dày về các công ty đa quốc gia và, cụ thể hơn, về công ty Lockheed.

Tài liệu thứ nhất trong số đó, đề tháng Tám 1972, giống hệ như phần lớn những tài liệu có liên quan tới vụ này, đã bị một bàn tay bí ẩn nào đó kiểm duyệt. Trong phần lớn các trường hợp, việc kiểm duyệt được thực hiện bằng cách dùng kéo cắt đi hoặc – dùng bút xóa đi, để làm biến mất những con số RF207 30 LAESA/1 GA, nó được gửi cho ông C.M. Kalember, trưởng phòng 69-50 của Lockheed ở Marietta (Mỹ):

“Viên tư vấn Đức đã cho tôi biết vào tuần trước rằng bản hợp đồng sẽ được ký vào tháng Chín tới đây. Ông ta cũng cho tôi biết rằng ông ta đã cam kết cung cấp 49 nghìn Mark cho các đảng chính trị, và số tiền này sẽ có biên nhận.

“Tỉ giá hối đoái là 1 USD/3,3 Mark, vì thế các số tiền ấy tương đương với 45.000 USD, tức là cao hơn 1,9% so với số tiền đã đưa, nhưng thấp hơn 3% so với số tiền được đòi.

“Xin các ông cho ý kiến về vấn đề này.

“Tôi chưa nhận được sự trả lời về tiếng Pháp…

Xin nói rõ với bạn đọc rằng ở tài liệu này, bàn tay người kiểm duyệt đã xóa đi một loạt chữ: vào chỗ bây giờ người ta đọc là german counsultant thì ban đầu đó là tên của người được bản thông cáo của Bộ Tư pháp dẫn ra như “kẻ khiếm nhã” đã từng chiếm đoạt các quỹ do Lockheed gửi tới. Xin chú ý về điểm này rằng, dù ông ta đã được biết rõ và đã mắc tội lên án các nhân vật chính trị, nhưng không một hành động pháp lý nào được trù tính, không một khiếu tố nào được nêu lên chống lại “kẻ khiếm nhã” này cả. Vì vậy, có thể tự hỏi xem ai là kẻ đã xóa tên ông ta đi và tại sao.

Từ “chính trị” (trong từ ngữ “các đảng chính trị” đã thay cho một từ khác trong ba bức thư đã bị xóa đi ở chỗ chúng ta đọc thấy “49 nghìn Mark” (tức là có bốn từ vì tổng số tiền được viết bằng chữ), thì có ba từ bị xóa… Cũng vậy, ở chỗ đọc thấy 100 nghìn Mark, cũng đã có những từ bị xóa…

Cuối cùng, có hơn 20 chỗ bị “sửa lại” sau khi tài liệu này được lấy từ văn phòng Lockheed ra. Ngay cả từ cuối cùng của tài liệu, French (tiếng Pháp) đã thay cho một từ khác gồm bốn chữ đã bị kiểm duyệt…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.

Vụ Lockheed – Phần V


Kissinger (cũng giống như trong trường hợp Saudi Arabia) đã can thiệp nhằm bảo vệ cho hoàng tử bằng cách cố trì hoãn việc gửi những tài liệu dược ủy ban điều tra Hà Lan đòi hỏi… Ủy ban này, gồm ba nhân vật Hà Lan về sau đến lượt họ cũng bị nghi ngờ, khi người ta phát hiện ra rằng một trong những thành viên của nó, ông Holtrop, giám đốc Ngân hàng Trung ương Hà Lan những năm 50, đã dính líu vào một hành động, mà lần này, hoàng tử đã đóng vai “người thưởng” chứ không phải là “người được thưởng”. Vào dịp ký kết một bản hợp đồng giữa chính phủ Argentina và công ty Hà Lan Werkspoor (xây dựng đường sắt), hoàng tử Bernard hồi đó đã ra lệnh trả cho tổng thống Peron số tiền 12 triệu USD cũng như nhiều nghìn USD bằng đồ trang sức dành cho vợ tổng thống, Evita Peron. Trong những cuộc điều tra khác nhau xung quanh trường hợp hoàng tử Bernard, người ta thấy xuất hiện khá sớm nhiều chỉ dấu phù hợp với những lời buộc tội của một số nhân viên Lockheed và Ủy ban Church. Ở cả hai nơi, người ta đều nói tới những sự tiếp xúc chặt chẽ giữa Bernard và nhà tài chính Mỹ Vesco. Nhân vật này hiện đang bị bắt giữ ở Mỹ. Dưới “triều đại” Nixon, người ta thường thấy ông ta bên cạnh tổng thống, điều đó thật dễ hiểu khi ông ta góp 1 triệu USD cho việc tài trợ chiến dịch bầu cử tổng thống của Nixon. Người ta cũng nói tới những quan hệ giữa Bernard và “nhà tài chính” Pakistan Ali Ahmed. Qua trung gian của các công ty Finance Intercontinental và Africania của mình, nhân vật này đã nhận những số tiền rất lớn từ nhiều chính phủ để thực hiện những dự án không bao giờ thực hiện cả. Vua Marocco, tổng thống Cộng hòa liên bang, Bộ trưởng Ngân khố Mỹ, các nhà ngân hàng – trong đó có ông Mertens, giám đốc Parisbas – Bỉ – đã mở rộng cánh tay đón “người bạn Bernard” này khi ông ta xuất hiện với những bức thư nồng nhiệt có chữ ký của hoàng tử…

Tháng Tám 1976, chương mục “Bernard của Hà Lan” đã được chính thức khép lại. Sauk hi từ chức chủ tịch Câu lạc bộ Bilderberg – mà cuộc họp hàng năm của nó lẽ ra được cử hành vào tháng ba, nhưng đã được “hoãn” lại do vụ bê bối này -, ông ta cũng từ chức luôn tất cả các cương vị chính thức do ông ta nắm giữ trong nước.

Ủy ban điều tra Hà Lan hồi đó đã soạn thảo một bản báo cáo, trong đó vừa khẳng định rằng “không có bằng chứng cụ thể về việc nhận tiền thưởng” để đổi lấy những sự “giúp đỡ” của ông ta, lại vừa nhận xét:

“Ủy ban cho rằng, Hoàng tử tin chắc vào địa vị của mình là không thể bị xâm phạm và việc xét xử mình có thể gây ảnh hưởng xấu, nên đã dính vào những giao dịch có thể đem lại ấn tượng là Hoàng tử cảm thấy có lợi cho mình ở mức độ nào đó. Vì thế Hoàng tử tỏ ra dễ tiếp nhận những gợi ý và những tặng phẩm có hại cho danh dự của mình (…). Rốt cuộc Hoàng tử đã cho phép mình có những sáng kiến tuyệt đối không thể chấp nhận được”.

Người đứng đầu chính phủ Hà Lan, ông Den Uyl, đã tuyên bố khi công khai trình bày những kết quả của cuộc điều tra rằng: “Chính phủ lấy làm tiếc vì hoàng tử Bernard đã có những liên hệ và những tình huống không thể chấp nhận được. Mặc dầu không thấy rõ ảnh hưởng trực tiếp của hàong tử đối với chính sách mua sắm máy bay của Hà Lan, nhưng cung cách hành động của ngài đã gây hại cho lợi ích quốc gia…”.

Cộng hòa liên bang Đức

Trong hồ sơ về nước Đức, hai hành động khá nổi bật đã hiện rõ:

Hành động thứ nhất bắt nguồn từ những năm 60 có liên quan tới việc mua gần một nghìn chiếc F-104. Như chúng tôi đã nói, những máy bay này đã được những doanh nghiệp của các nước mua về lắp ráp và cải tạo, trừ khoảng 100 chiếc đầu tiên, với 90 chiếc mẫu dành cho Hà Lan, đã được Fokker lắp ráp ở nước đó. Hợp đồng này ký vào tháng Tư 1960, “sau khi sự chống đối mạnh mẽ bên trong bộ tham mưu bị đánh bại” bởi Bộ trưởng Quốc phòng hồi đó, ông Franz Joseph Strauss.

Hành động thứ hai, gần đây hơn (1972 – 1974) có liên quan tới việc mua những mẫu máy bay khác của Lockheed.

Theo Wall Street Journal (tháng Giêng 1975), nhân vật then chốt của hành động thứ nhất đã “ước lượng những khoản tiền lãi lên tới nhiều triệu USD cho một chính đảng Đức do chính bản thân Strauss lãnh đạo, đảng CSU”. Ông ta là bạn lâu ngày của lãnh tụ phái hữu Đức và trong nhiều năm là đại diện của Lockheed ở Đức.

Ông Ernest Hauser, thành viên cũ của các cơ quan mật vụ Mỹ ở Đức, đã làm quen với Strauss từ năm 1945. Tình bạn giữa hai người này và gia đình họ trở nên mật thiết đến mức một đứa con trai của Hauser đã được đặt tên là Franz Joseph, vì chính Strauss là cha đỡ đầu cho đứa bé này.

Trong những cuộc thương lượng đầu tiên để mua những chiếc máy bay F-104, vào năm 1959 – 1960, trong một bức thư riêng gửi cho ông Hobert-Gross chủ tịch – tổng giám đốc của Lockheed, Strauss yêu cầu người bạn Hauser của mình đứng ra làm “người trung gian duy nhất” giữa công ty và ông ta.

Nhưng dần dà tình bạn giữa hai người trở nên lạnh giá đến mức vào năm 1976 Hauser đã không ngần ngại ra trước Ủy ban Church và trực tiếp buộc tội người bạn cũ của mình về việc hối lộ (người bị mất tín nhiệm phần nào do một vi phạm nhỏ về luật pháp ở Đức) đã trình bày cho ủy ban cuốn nhật ký cá nhân của mình vào những năm 1961 – 1962, trong đó ông ta ghi tỉ mỉ tất cả những hoạt động của mình. Trong nhật ký này, ông ta tiết lộ rằng: tuy Strauss không nhận riêng cho mình một xu nào trong số 10 triệu USD do Lockheed trả hoa hồng về việc mua 1000 chiếc F-104, nhưng các quỹ này đã được trả qua một tài khoản của ngân hàng Munich, do ông Schaeffler đứng tên (…). Theo những cuộc tìm hiểu đã thực hiện, vị này là chồng của bà Ermelinda Schaeffler, thư ký của lãnh tụ CSU, ông Strauss.

Vẫn theo những lời khai của Hauser, “các khoản hoa hồng được trả ở Hà Lan và Đức là rất xứng đáng, vì phải đánh bại những chống đối mạnh mẽ trong các bộ tham mưu ở các nước đó (sic)”. Mặt khác, Hauser khẳng định rằng “tướng Đức Rall, hồi đó là người đứng đầu chương trình F-104, cũng đã nhận những số tiền lớn về sự cộng tác của ông ta”…

Trước những lời tố cáo ít ra cũng cụ thể ấy, các bị cáo – Strauss và Rall – đã tuyệt đối phủ nhận rằng họ không nhận “một đồng xu nào của Lockheed cả”. Strauss bị những lời tố cáo này gây trở ngại lớn vào giữa thời kỳ bầu cử, không những đã bác bỏ chúng mà còn tự biến thành người công tố đối với Hauser bằng cách buộc tội ông ta đã làm việc cho các cơ quan mật vụ Xô viết”.

Cuối cùng Bộ trưởng Quốc phòng Đức tuyên bố rằng “những lời buộc tội này không thể là đối tượng của một cuộc điều tra, vì nếu các sự kiện này, đã có cách đây hơn 15 năm, thì bây giờ đã hết hiệu lực pháp lý”…

Bạn đọc không thiên vị chắc sẽ có thể thấy rằng những yếu tố do hồ sơ Lockheed cung cấp là có cơ sở và đáng tin cậy. Dù sao thì chúng cũng đáng tin hơn nhiều so với những cải chính của các nhân vật có liên quan. Ít ra đó cũng là ý kiến của chúng tôi, và ý kiến này càng vững chắc hơn với một sự kiện xảy ra cách vài tháng trước khi vụ Lockheed nổ ra công khai. Hai nhân vật đã được biết tới có dính líu vào: Bộ trưởng Quốc phòng Đức và tướng Gunther Rall.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Luis M. Gonzalez-Mata – Những ông chủ thực sự của thế giới – NXB CAND 2000.