Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần cuối


Một thách thức khác từ trong nước đối với việc duy trì trật tự mở liên quan đến vấn đề can thiệp. Trong thời đại khủng bố xuyên quốc gia, một số mức độ can thiệp là không thể tránh khỏi, và Trung Đông có thể gặp phải bất ổn chính trị trong nhiều thập kỷ, giống như Đức trong thế kỷ XVII. Những khủng hoảng này sẽ tạo ra những cám dỗ để can thiệp; nhưng trong thời đại của chủ nghĩa dân tộc và dân số được xã hội huy động, sự chiếm đóng của nước ngoài gây ra sự phẫn nộ, và các giai đoạn vượt lố theo chủ nghĩa tối đa gây nhiều thiệt hại hơn là chính sách thu hẹp đối với sự đồng thuận trong nước cần thiết để ủng hộ một trật tự quốc tế mở. Sự leo thang của cuộc chiến tranh Việt Nam thời kỳ Kennedy và Johnson đã tạo ra một thập kỷ hướng nội vào những năm 1970; cuộc xâm lược của Tổng thống Bush vào năm 2003 cũng có kết quả tương tự trong những năm tiếp theo.

Sự phân cực chính trị có thể sẽ tiếp tục, và xu hướng sử dụng các chiến thuật mị dân liên quan đến các vấn đề chính sách đối ngoại để hạn chế khả năng của Mỹ trong việc củng cố các thể chế, tạo ra các mạng lưới và thiết lập các chính sách để đối phó với môi trường xuyên quốc gia mới. Chủ nghĩa dân túy bài ngoại làm suy giảm cả vốn quý của nước Mỹ với vai trò trung tâm của mạng lưới và sức mạnh mềm của Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự suy giảm sức hấp dẫn của Hoa Kỳ kể từ năm 2017. Bế tắc chính trị trong nước thường chặn lại các quan điểm dài hạn về lợi ích quốc gia. Ngya trước thời kỳ của Trump, Thượng viện Hoa Kỳ đã thất bại trong việc phê chuẩn Công ướng về Luật Biển mặc dù có sự chứng thực của Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng rằng cần phải tăng cường tự do hàng hải. Và Nixon, chứ không phải Trump, là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tìm cách giành được các lá phiếu trong nước bằng cách đơn phương áp thuế đối với các đồng minh và phá vỡ các quy tắc của hệ thống Bretton Woods. Về vấn đề dẫn tới biến đổi khí hậu, vốn đã có sự phản kháng mạnh mẽ với việc đặt giá khí thải carbon từ rất lâu trước khi Trump bước vào Nhà Trắng.

Ngoài những xu hướng xã hội ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi quyền lực nói trên, sự không chắc chắn về vị trí của nước Mỹ hiện nay trên thế giới còn tăng lên do tính cách độc nhất khác thường của vị Tổng thống thứ 45. Các nhà khoa học xã hội có xu hướng giải thích sự thay đổi trong nền chính trị thế giới về khía cạnh các lực lượng xã hội hoặc cấu trúc rộng; nhưng, như tôi đã chỉ ra trong một nghiên cứu trước đó, mỗi thành tố riêng lẻ cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự trỗi dậy của nước Mỹ như một cường quốc thế giới. Gautam Makunda đã chỉ ra rằng một số nhà lãnh đạo được sang lọc qua quá trình hoạt động chính trị, và họ thường dễ đoán hơn. Những người khác thì không được sàng lọc như vậy và phạm vi             hoạt động của họ rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, Abraham Lincoln là một lựa chọn tương đối không được sàng lọc và thường được coi là một trong những tổng thống tốt nhất của Mỹ. Donald Trump tham gia chính trị với nền tảng từ một nhà đầu tư bất động sản ở New York và nhân vật truyền hình thực tế, và vị trí “tổng thống” là công việc đầu tiên của ông trong chính phủ. Ông đã chứng tỏ là có kỹ năng phi thường trong việc làm chủ phương tiện truyền thông hiện đại và thách thức hiểu biết thông thường, và được trao cho sự đổi mới đột phá. Mặc dù một số người tin rằng điều này có thể tạo ra kết quả tích cực đáng ngạc nhiên, những người khác (bao gồm cả tác giả bài viết này) vẫn còn hoài nghi. Trong mọi trường hợp, nhiệm kỳ của ông vẫn chưa kết thúc.

Vào giữa nhiệm kỳ năm 2018, trong số bốn thành phần chính của cái gọi là trật tự tự do được xác định ở trên – an ninh, kinh tế, dân chúng toàn cầu, nhân quyền và các giá trị tự do – thành tích được trộn lẫn vào nhau. Cho đến nay, mặc dù chính quyền Trump đã làm suy yếu các liên minh của nước Mỹ, nhưng nó đã không phá hủy chúng. Và các chế độ an ninh để kiềm chế sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bị thách thức nhưng vẫn được duy trì. Thiệt hại cho các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các tổ chức liên quan đến thương mại, dường như lớn hơn so với trật tự tiền tệ (nơi đồng USD vẫn chiếm ưu thế). Về các vấn đề chung toàn cầu, chính quyền Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp định khí hậu Paris, nhưng việc căn cứ vào thị trường thay thế khí đốt tự nhiên cho than đá vẫn tiếp tục. Về giá trị, trái ngược với những người tiền nhiệm, Trump tỏ ra ít quan tâm đến nhân quyền và sẵn sàng đi theo các nhà lãnh đạo độc đoán, nhưng ít bị can thiệp hơn. Một số người bảo vệ chính quyền này cho rằng phong cách không chính thống và sẵn sàng thoát ra khỏi các quy tắc của ông sẽ tạo ra lợi ích lớn cho các vấn đề như vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hoặc thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến chuyển giao sở hữu trí tuệ. Nhưng ngay cả như vậy, như tờ The Economistlập luận, chi phí bộ máy khi sử dụng cách tiếp cận có tính phá hủy có thể làm giảm sức mạnh của Mỹ trong việc đối phó với các vấn đề xuyên quốc gia mới như biến đổi khí hậu. Nếu điều đó đúng, nó sẽ là sự minh chứng tốn kém cho vị trí của nước Mỹ trên thế giới.

Kết luận

Hoa Kỳ sẽ vẫn là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới trong những thập kỷ tới và lực lượng quân sự sẽ vẫn là một thành phần quyền lực quan trọng trong nền chính trị toàn cầu. Như Stephen Brooks và Williams Wohlforth lập luận, “sự phân phối khả năng giữa các quốc gia không thay đổi nhiều hay nhanh như người ta vẫn thường tin”. Nhưng họ cũng chỉ ra rằng hiểu biết uyên thâm thông thường về những gì Hoa Kỳ nên làm với sức mạnh của mình đã trải qua sự thay đổi to lớn ngay trong nước Mỹ. Tính phổ biến mới đây của cách tiếp cận chiến lược tổng thể được gọi là cân bằng ngoài khơi, thu hẹp, rút lui hoặc kiềm chế đã có sự thay đổi trong dư luận Mỹ sau Chiến tranh Lạnh. Ngay cả trước khi chính quyền Trump bắt đầu năm 2017, đã có phản ứng chống lại chủ nghĩa can thiệp của Wilson và một số người hoài nghi đã đặt câu hỏi về trật tự hậu 1945. Những người theo chủ nghĩa hiện thực như John Mearsheimer lập luận rằng mặc dù nền dân chủ tự do là hệ thống chính trị tốt nhất ở trong nước, thì trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chủ nghĩa tựdo lại là nguồn gốc của những rắc rối vô tận… Các quốc gia hùng mạnh đi theo bá quyền tự do luôn gặp rắc rối nghiêm trọng cả trong và ngoài nước… Nguồn gốc của vấn đề là chủ nghĩa tự do có một tinh thần năng động được đan cài vào cốt lõi của nó. Niềm tin rằng tất cả mọi người đều có một tập hợp các quyền không thể xâm phạm hay bác bỏ và việc bảo vệ các quyền này quan trọng hơn các mối quan tâm khác, tạo ra động cơ mạnh mẽ để các quốc gia tự do hành động can thiệp.

Những cuộc thập tự chinh và bá quyền tự do đã lỗi thời

Đồng thời, một Trung Quốc đang trỗi dậy và một nước Nga đang suy tàn khiến các nước láng giềng sợ hãi, và các đảm bảo an ninh của Mỹ ở châu Á và châu Âu mang lại sự bảo đảm then chốt để củng cố sự ổn định làm nền tảng cho thịnh vượng. Tuy nhiên, lực lượng quân sự là một công cụ cùn. Việc cố gắng thâm nhập và kiểm soát nền chính trị của những dân tộc theo chủ nghĩa quốc gia trong các cuộc cách mạng ở Trung Đông là một công thức cho sự thất bại mà sẽ cho thấy sự phản tác dụng. Và đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, bao gồm biến đổi khí hậu, ổn định tài chính hoặc các chuẩn mực để kiểm soát Internet, lực lượng quân sự không phải là câu trả lời. Sức mạnh hải quân không tạo ra sức mạnh trong không gian mạng. Duy trì mạng lưới, làm việc với các tổ chức, tạo ra các chuẩn mực cho các lĩnh vực mới như không gian mạng  và biến đổi khí hậu tạo ra sức mạnh mềm cần thiết để bổ sung cho các nguồn lực cứng của Mỹ. Tuy nhiên, đây là loại quyền lực bị thách thức bởi các chính sách đơn phương của Trump.

Các thuật ngữ “trật tự quốc tế tự do” hay “hòa bình của Mỹ” đã trở nên lỗi thời như những mô tả về vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới, nhưng nhu cầu đối với các nước lớn cung cấp hàng hóa công cộng thì vẫn còn. Một trật tự quốc tế mở bao gồm các vấn đề quân sự-chính trị; quan hệ kinh tế; quan hệ sinh thái; và quyền con người, dù trực tiếp hay gián tiếp. Vẫn còn phải xem xét về mức độ phụ thuộc lẫn nhau của những vấn đề này và những gì sẽ còn lại khi khối trật tự quốc gia năm 1945 được tháo dỡ. Còn di sản của Wilson – 1918 thì đã mất từ lâu. Thúc đẩy dân chủ có thể là một nguồn sức mạnh mềm, nhưng chỉ khi tiềm lực còn khiêm tốn. Sự can thiệp thái quá để thúc đẩy dân chủ trong quá khứ đã gây ra một phản ứng phản tác dụng. Bộ phận tân bảo thủ của chủ nghĩa Wilson không có khả năng thành công. Các cuộc thập tự chinh vì các giá trị tự do sẽ không được ủng hộ từ cả trong hay ngoài nước.

Mặt khác, di sản của Wilson về phát triển các tổ chức quốc tế tiếp tục có ý nghĩa. Sự lãnh đạo không giống như sự thống trị, và nó sẽ cần phải được chia sẻ. Trong suốt bảy thập kỷ đứng ở vị trí vượt trội sau năm 1945, Mỹ luôn ở vai trò lãnh đạo và có ảnh hưởng. Hiện nay, với sự vượt trội ít hơn và trong một thế giới phức tạp hơn, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ nên tập trung vào việc chia sẻ cung cấp hàng hóa công cộng toàn cầu, đặc biệt là những lĩnh vực đòi hỏi phải thực thi “quyền lực” với những quốc gia khác Những hiểu biết từ thế kỷ cũ của Wilson về các thể chế quốc tế và một trật tự dựa trên các quy tắc sẽ vẫn rất quan trọng; nhưng vị trí của Mỹ trong thế giới đó có thể bị đe dọa nhiều hơn bởi sự trỗi dậy của quan điểm chính trị dân túy ở chính trong nước hơn là sự trỗi dậy của các cường quốc khác ở bên ngoài.

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần V


Khi Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế khác phát triển, thị phần của Mỹ trong nền kinh tế thế giới sẽ ít hơn so với đầu thế kỷ này và sự trỗi dậy của các quốc gia khác sẽ khiến Mỹ gặp khó khăn hơn trong việc triển khai hành động. Nhưng không có quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc, sắp sửa thay thế vị trí của Mỹ trên thế giới về sức mạnh tổng thể. Nước Nga đang suy giảm nhân khẩu học và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng; Ấn Độ và Brazil (mỗi nước có nền kinh tế trị giá 2 nghìn tỷ USD) vẫn là các nước đang phát triển. Cũng không phải là một liên minh thực sự tin cậy của những nền độc tài, với sự ngờ vực tiềm ẩn giữa Nga và Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh của châu Á cũng có nghĩa là một sự thay đổi quyền lực trong khu vực, nhưng tại châu Á, sức mạnh của Trung Quốc được cân bằng bởi Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, trong số những quốc gia khác. Hoa Kỳ sẽ vẫn rất quan trọng đối với cán cân sức mạnh châu Á này. Nếu Hoa Kỳ duy trì các liên minh trong khu vực, có rất ít triển vọng để Trung Quốc có thể dồn đẩy Mỹ từ phía tây Thái Bình Dương và ít triển vọng hơn nữa trong việc thống trị thế giới.

Vị trí của Hoa Kỳ và hàng hóa công cộng toàn cầu

Quy mô kinh tế và quân sự là một nguồn giải thích khác cho chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ và nếu Hoa Kỳ vẫn là cường quốc mạnh nhất, có một trường hợp cho quốc gia lớn nhất dẫn đầu trong việc tổ chức sản xuất hàng hóa chung toàn cầu. Tuy nhiên, vai trò đó đòi hỏi một định nghĩa rộng về lợi ích quốc gia thay vì tập trung hẹp vào việc hưởng thụ miễn phí (free-riding). Trong một số lĩnh vực về hàng hóa quân sự và kinh tế, vai trò lãnh đạo của Mỹ đã cung cấp khá nhiều. Chẳng hạn, Hải quân Hoa Kỳ rất quan trọng trong việc kiểm soát Luật Biển và bảo vệ tự do hàng hải, và trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, Cục Dự trữ Liên bang đem đến sự tự tin từ việc có người cho vay cho phương sách cuối cùng.

Về các vấn đề xuyên quốc gia mới, mặc dù vai trò lãnh đạo của Mỹ vẫn quan trọng, nhưng để thành công sẽ cần sự hợp tác của nhiều quốc gia khác. Theo nghĩa này, quyền lực trở thành một trò chơi có tổng lợi ích là số dương. Sẽ là không đủ khi nghĩ về quyền lực Mỹ áp đặt lên những quốc gia khác. Người ta cũng phải suy nghĩ về quyền lực để hoàn thành các mục tiêu chung liên quan đến việc thực thi quyền lực cùng với nhau. Đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, việc trao quyền cho nước khác có thể giúp Hoa Kỳ hoàn thành các mục tiêu của riêng mình. Nước Mỹ sẽ được hưởng lợi nếu Trung Quốc cải thiện hiệu quả năng lượng và thải ra lượng carbon dioxide ít hơn. Trong thế giới ngày nay và tương lai dự đoán được, mạng lưới và kết nối là nguồn sức mạnh quan trọng. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, các quốc gia kết nối nhiều nhất là mạnh nhất. May mắn thay, Hoa Kỳ đứng đầu trong bảng xếp hạng các quốc gia của Viện Lowy của Australia dựa theo số lượng đại sứ quán, lãnh sự quán và phái bộ. Washington cũng có khoảng 60 đồng minh hiệp ước; trong khi Trung Quốc có ít hơn.

Trong quá khứ, sự cởi mở của Hoa Kỳ đã tăng cường năng lực xây dựng mạng lưới, duy trì các thể chế và các liên minh. Liệu sự cởi mở và sẵn sàng tham gia với phần còn lại của thế giới sẽ chứng minh sự bền vững trogn nền chính trị nội tại của nước Mỹ, hay chúng ta sẽ thấy một thế kỷ XXI tương tự với những năm 1930? Ngay cả khi Hoa Kỳ sở hữu nhiều tài nguyên về quân sự, kinh tế và quyền lực mềm hơn bất kỳ quốc gia nào khác, họ có thể không chọn cách chuyển đổi các tài nguyên đó thành hành vi quyền lực hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu – như họ đã không làm trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với phản ứng theo chủ nghĩa biệt lập trước sự vượt quá của người theo chũ nghĩa Wilson. Cựu Ngoại trưởng Medeleine Albright gần đây đã chú ý tới mối nguy hiểm: “Tôi lo sợ sự trở lại với bầu không khí quốc tế mà đã tồn tại trong những năm 1920 và 1930 đó”.

Nếu chìa khóa cho vị trí tương lai của nước Mỹ trên thế giới là sự tiến triển thái độ hợp tác và học hỏi tầm quan trọng của “quyền lực cùng với” cũng như “quyền lực áp đặt”, thì nó không được cổ vũ trong những năm đầu của chính quyền Trump. “Nước Mỹ trên hết” ở một cấp độ chỉ là một khẩu hiệu mà mọi quốc gia đều đặt lợi ích của mình lên hàng đầu: câu hỏi quan trọng là những lợi ích đó được định nghĩa rộng hay hẹp như thế nào. Nhưng Trump đã cho thấy một xu hướng nghiêng về các giải thích theo nghĩa hẹp, tổng bằng không. Có lẽ mối đe dọa lớn đối với vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong tương lai không phải từ bên ngoài mà từ bên trong?

Chuyển đổi quyền lực và các mối đe dọa từ bên trong

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 được ghi dấu bằng những phản ứng dân túy từ cả hai đảng đối với toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại. “Chủ nghĩa dân túy” là một thuật ngữ khá mơ hồ có thể liên quan tới ý thức hệ của cả cánh tả và cánh hữu. Nó thường biểu thị sự phản kháng đối với giới tinh hoa bao gồm cả các kiểu thể chế và các nhà bình luận đã ủng hộ trật tự quốc tế tự do trong bảy thập kỷ qua. Chủ nghĩa dân túy không phải là mới, và nó rất Mỹ cũng giống như bánh bí ngô vậy. Một số phản ứng dân túy có lợi cho dân chủ (liên hệ tới Andrew Jackson hoặc William Jenning Bryant); các cá nhân và phong trào dân túy khác, chẳng hạn như phong trào KnowNothing chống người nhập cư vào thế kỷ XIX, hay Thượng nghị sĩ Joe McCarthy và Thống đốc George Wallace trong thế kỷ XX, nhấn mạnh đến tính bài ngoại và tính thiển cận. Hiện tượng Trump phần nhiều rơi vào nhóm những người theo chủ nghĩa địa phương (ưu đãi dân bản xứ hơn dân nhập cư).

Các phản ứng dân túy bắt nguồn cả từ kinh tế và văn hóa, và là chủ đề của những nghiên cứu khoa học xã hội quant rọng. Những cử tri bị mất việc do sự cạnh tranh từ nước ngoài có xu hướng ủng hộ Trump, nhưng cũng có cả các nhóm như nam giới da trắng lớn tuỏi, những người bị mất địa vị trong cuộc chiến văn hóa bắt nguồn từ những năm 1970 và liên quan đến sự thay đổi các giá trị liên quan đến chủng tộc, giới tính và khuynh hướng tình dục. Abramowitz chỉ ra rằng, “nỗi oán giận về chủng tộc là yếu tố dự báo mạnh nhất đối với hiện tượng Trump trong số các cử tri chính của đảng Cộng hòa”, nhưng các giải thích về kinh tế và văn hóa không loại trừ lẫn nhau và Trump “rõ ràng kết nối các vấn đề này bằng cách cho rằng những người nhập cư bất hợp pháp đang cướp việc làm của công dân Mỹ”.

Ngay cả khi không có toàn cầu hóa kinh tế, thì những thay đổi văn hóa và nhân khẩu học này sẽ tạo ra chủ nghĩa dân túy ở một mức độ nào đó. Chủ nghĩa dân túy có thể sẽ tiếp tục khi công việc bị mất vào tay người máy cũng như đối với thương mại, và sự thay đổi văn hóa đang tiếp tục gây chia rẽ. Sự phân cực chính trị ở Hoa Kỳ đã bắt đầu từ trước thời kỳ của Trump và cuộc bầu cử thắng lợi của ông là một triệu chứng cũng như là nguyên nhân của nó. Bài học cho giới tinh hoa làm chính sách – những người ủng hộ toàn cầu hóa và nền kinh tế mở là họ sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề bất bình đẳng kinh tế cũng như điều chỉnh sự hỗ trợ cho những người bị suy sụp bởi thay đổi kinh tế. Thái độ đối với vấn đề nhập cư được cải thiện khi nền kinh tế được cải thiện, nhưng nhập cư vẫn là một vấn đề mang tính cảm xúc đối với một số người. Trong một cuộc khảo sát năm 2015 của Pew, 51% người Mỹ trưởng thành cho biết người nhập cư đã tăng cường cho đất nước trong khi 41% tin rằng họ là một gánh nặng; so sánh con số này với tỷ lệ 50% nhìn nhận họ như một gánh nặng vào giữa năm 2010, khi những ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái đang ở đỉnh điểm. Các nhà lãnh đạo sẽ phải chứng minh rằng họ có thể quản lý được đường biên giới quốc gia nếu họ muốn chống lại các cuộc tấn công từ phe dân túy, đặc biệt là trong những thời điểm và đại điểm căng thẳng về kinh tế.

Đồng thời, sẽ là một sai lầm khi nghiên cứu quá nhiều về các xu hướng dài hạn trong dư luận Mỹ từ cuộc bầu cử năm 2016 hoặc cách Trump sử dụng phương tiện truyền thông một cách thông minh để kiểm soát tin tức. Dù Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, nhưng đã không giành được đa số phiếu phổ thông, và cuộc thăm dò tháng 9 năm 2016 của Hội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago cho thấy 65% người Mỹ nói rằng toàn cầu hóa hầu hết là tốt cho Hoa Kỳ, bất chấp lo ngại về việc làm. Mặc dù các cuộc thăm dò ý kiến luôn dễ bị đóng khung bằng cách thay đổi các câu hỏi, nhãn “biệt lập” không phải là sự mô tả chính xác về thái độ hiện tại của người Mỹ.

Một số người Mỹ nghi ngờ về việc Hoa Kỳ có đủ khả năng để duy trì một trật tự quốc tế mở. Trên thực tế, nước này hiện dành khoảng 3,5% GDP cho quốc phòng và đối ngoại, tính theo tỷ lệ GDP, chưa bằng một nửa so với những gì họ đã làm vào thời kỳ đỉnh điểm của những năm Chiến tranh Lạnh. Các liên minh không quá tốn kém như vậy. Vấn đề không phải là súng đối chọi với bơ, mà là súng đối chọi với bơ và với thuế. Trừ khi ngân sách được mở rộng bằng cách sẵn sàng tăng thuế, chi tiêu quốc phòng bị phong tỏa trong một cuộcc đánh đổi có tổng số bằng zero với các lĩnh vực đầu tư quan trọng như cải tạo hệ thống giáo dục trong nước và cơ sở hạ tầng khác, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Hoa Kỳ vẫn là một trong những quốc gia phát triển bị đánh thuế nhẹ nhất, với mức thuế thu nhập năm 2012 thấp hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của các nước OECD.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Căng thẳng Mỹ – Trung và gợi ý chính sách cho Việt Nam


Trần Thiên Hùng

Cuộc đối thoại Mỹ – Trung đầu tiên kể từ khi Biden nhậm chức đã kết thúc trong sự căng thẳng, cáo buộc lẫn nhau và không đưa ra được tuyên bố chung.

Rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về kết quả của cuộc đối thoại này. Tiến sĩ Phạm Sỹ Thành – một chuyên gia tốt nghiệp ở Trung Quốc nhận định rằng, với cuộc gặp mặt này, Trung Quốc muốn nhắm tới ba nhóm đối tượng chủ yếu, bao gồm: Mỹ, đồng minh của Mỹ và nội bộ Trung Quốc. Tiến sĩ Thành cũng kết luận: “…trong bài kiểm tra của Mỹ, Trung Quốc đã giành được quyền chủ động. Đừng nghĩ rằng cuộc họp không có kết quả. Trung Quốc đã có được điều họ cần”.

Viết trên Twitter của mình, Elbridge Colby – chuyên gia chiến lược của Mỹ viết rằng: “Những gì rút ra được từ cuộc gặp ở Alaska không phải là các vấn đề tranh luận mà là sự tự tin và quyết đoán của Trung Quốc. Rõ ràng họ “biết” họ mạnh”.

Marsin Przychodniak – chuyên gia về Trung Quốc của Ba Lan, làm rõ thêm: “Giọng điệu tự tin của Trung Quốc chủ yếu là bởi lý do chính trị nội bộ, chứ không phải là sự ngạo mạn thực sự của kẻ mạnh. Dương Khiết Trì và Vương Nghị có cách để đáp trả lại phía Mỹ như vậy. Bất kỳ sự phản ứng yếu ớt nào sẽ bị xem như là thiếu nhất quán với những gì Trung Quốc đã tuyên truyền”.

Mối đe dọa từ Trung Quốc và phản ứng của khu vực

Trong hai thập kỷ, Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn đến gần như mọi tranh chấp trong khu vực. Từ dãy Himalaya, Đông Nam Á, Biển Đông đến biển Hoa Đông, Trung Quốc trở thành mối đe dọa chính ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Theo đánh giá độc lập của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), chi tiêu quốc phòng của Bắc Kinh hiện tăng hơn 6 lần so với hồi đầu thiên niên kỷ Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã vươn từ vị trí thứ 6 lên vị trí thứ 2 trên thế giới về tổng chi tiêu quốc phòng. Đây là mức tăng ngoạn mục thể hiện sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Cộng với các hành vi và thái độ hung hăng của Trung Quốc, điều này khiến các nước láng giềng của Trung Quốc lo lắng.

Tuy nhiên, nhìn xung quanh biên giới Trung Quốc, có thể thấy, từ mọi phía, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải đối mặt với các đối thủ quân sự vốn có và mới nổi. Ngay cả khi giả định có được thỏa thuận giữa Nga và Trung Quốc (một viễn cảnh luôn có khả năng xảy ra trong tương lai so với thực tại), Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức trên khu vực gọi là vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những nước này, trải dài từ Ấn Độ ở phía Tây Nam đến Nhật Bản ở phía Đông Bắc, sẽ hợp thành bức tường hiệu quả chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ không khuyến khích và ủng hộ rõ ràng.

Vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mạnh nhất ở điểm cuối và yếu nhất ở điểm giữa. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản có nhiều danh tiếng về công nghệ và khả năng sẵn sàng. Để đối phó với chương trình đóng tàu sân bay của Trung Quốc, Nhật Bản đang chuyển đổi hai tàu sân bay trực thăng trực thăng hiện có thành tàu sân bay cánh cố định. Dù các tàu sân bay của Nhật Bản nhỏ hơn nhiều so với tàu của Trung Quốc, nhưng các máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 5 F-35 cất cánh từ tàu sân bay của Nhật Bản sẽ có sức mạnh lớn hơn nhiều. Trong khi đó, máy bay Shenyang J-15 của Hải quân Trung Quốc là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 kém tiên tiến hơn, từng gặp sự cố kỹ thuật nghiêm trọng.

Nhật Bản chắc chắn có các nguồn lực và bí quyết công nghệ để tự bảo vệ nước này. Ở đầu bên kia của vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Ấn Độ thường được xem là yếu thế hơn so với Trung Quốc. Tuy nhiên, những nhận định này đã lỗi thời từ lâu dù thực tế đã từng đúng. Năm 1962, Trung Quốc chiếm giữ những vùng núi rộng lớn thuộc lãnh thổ Ấn Độ trong cuộc tấn công chớp nhoáng, kéo dài 5 tuần. Tuy nhiên, chiến thắng này là kết quả của cuộc tấn công bất ngờ trong thời bình chống lại một thân thiện, đáng tin.

Các điểm yếu trong vòng cung Ấn Độ Dương – Thái bình Dương là các đảo Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte vốn ủng hộ liên minh tiềm năng của Trung Quốc, đã trở thành một quân bài bí ẩn. Tuy nhiên, sau 4 năm với những tuyên bố chống Mỹ, Duterte đối mặt với những phản ứng ngày càng dữ dội từ người dân ủng hộ Mỹ. Các lực lượng vũ trang của Philippines có lẽ cũng ủng hộ duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ. Giống như Việt Nam, Hải quân Philippines cũng muốn mua tên lửa chống hạm BrahMos trong một thỏa thuận nhiều khả năng thành công hơn so với thỏa thuận giữa Ấn Độ và Việt Nam. Trong chiến lược A2/AD khác, mục tiêu thực tế duy nhất của những tên lửa này là Hải quân Trung Quốc đang hoạt động ở Biển Đông.

Sự đáp trả mạnh mẽ của Mỹ

Không chỉ thể hiện thái độ không khoan nhượng trước Bắc Kinh, chính quyền Biden còn có những lời lẽ gay gắt với Nga. Với sự thể hiện quan điểm mạnh mẽ trước Nga và Trung Quốc, chính quyền Biden muốn cùng lúc đáp trả quan điểm chung của Moskva và Bắc Kinh, cho rằng Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung đang đến hồi suy tàn. Ngoài ra, một thông điệp quan trọng khác của Biden, chính là: “Chính sách đối ngoại phục vụ cho đối nội”. Tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc, Nhà Trắng muốn trấn an những tầng lớp cử tri cánh hữu và một bộ phận cánh tả cũng như là nhiều nhà chiến lược đảng Dân chủ thường hay chỉ trích chủ nghĩa tân tự do đã tạo đà tiến cho Trung Quốc trên trường quốc tế, gây tổn hại cho việc làm của tầng lớp trung lưu trong các ngành công nghiệp Mỹ. Đây cũng chính là lý do dẫn đến thắng lợi bầu cử của Donald Trump trước đây.

Ngoài ra, thái độ cứng rắn này của chính quyền Biden còn nhằm bảo đảm với các đồng minh tại vùng châu Á – Thái Bình Dương như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, rằng đã qua rồi cái thời chính sách hỗn loạn của Donald Trump ngông cuồng trước những kẻ chuyên quyền ở Bắc Kinh và Moskva. Như vậy, có thể nói rằng, mặc dù không có tuyên bố chung nào đưa ra, hai bên vẫn “khẩu chiến” với nhau gay gắt, song mỗi bên đều đạt được những kết quả nhất định cho mình.

Việt Nam tránh nhu nhược

Với các nước Đông Nam Á như Việt Nam, lúc này cần phải hoạch định một chính sách đối ngoại tuy uyển chuyển nhưng phải quyết đoán rõ ràng. Một ví dụ cụ thể như Philippines dưới thời của Duterte, mặc dù thực hiện chính sách “Hướng về Trung Quốc”, tuy nhiên “tình thân ái” đó vẫn không ngăn cản được việc Trung Quốc tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Philippines. Mới đây, ngày 20/01, báo chí Philippines đã đưa thông tin hơn 200 tàu của Trung Quốc bao quanh khu vực đảo Sinh Tồn Đông (thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền) và sau đó, quân đội Philippines đã ra thông báo phản đối sự đe dọa này của Trung Quốc. Chính vì vậy, mềm dẻo và tránh đối đầu với Trung Quốc là điều cần làm đối với các quốc gia có tranh chấp biển với Trung Quốc như Việt Nam. Tuy nhiên, nhu nhược trước Trung Quốc như Duterte đã làm thì không thể tránh khỏi được họa xâm lăng từ Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần IV


“Trật tự quốc tế tự do”

“Trật tự quốc tế tự do” – cụm từ thường được sử dụng để mô tả thời kỳ nước Mỹ đứng đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có vài phần sai lệch, vì trật tự đó không bao giờ mang tính toàn cầu và không phải lúc nào cũng rất tự do. Những gì nổi lên sau năm 1945 là một khuôn khổ an ninh và một loạt các thể chế đa phương. Các đồng minh yếu hơn đã được trao quyền truy cập vào việc thực thi quyền lực Mỹ thông qua các tổ chức và Hoa Kỳ cung cấp hàng hóa công cộng và hoạt động trong một hệ thống các quy tắc và thể chế đa phương lỏng lẻo. Theo lời của John Ikenberry, Hoa Kỳ đã cung cấp các dịch vụ toàn cầu – như bảo vệ an ninh và hỗ trợ cho các thị trường mở, khiến các quốc gia khác sẵn sàng hợp tác thay vì chống lại vị trí đứng đầu của Mỹ”.

Trật tự Mỹ này là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do Wilson và chủ nghĩa hiện thực cân bằng quyền lực, và nó có bốn cấu thành chính. Theo niên đại, cấu thành kinh tế xuất hiện đầu tiên. Các thể chế kinh tế tự do theo hệ thống Bretton Woods được thiết lập vào năm 1944, trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra và ký ức về cuộc Đại suy thoái vẫn còn nguyên trong tâm trí của các nhà lãnh đạo. Cấu thành an ninh xuất hiện kế tiếp, với tổ chức Liên Hợp Quốc được thành lập khi cuộc chiến gần kết thúc ở châu Âu. Đây rõ ràng là sự kế thừa của Liên minh Wilson, nhưng với sự bổ sung quan trọng của Franklin D. Roosevelt là có bốn (sau là năm) thành viên thường trực có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Sau chiến tranh, khi các quốc gia khác tỏ ra quá nghèo hoặc yếu không thể tự bảo vệ mình, chính quyền Truman đã viện trợ đáng kể và thành lập liên minh NATO vào năm 1949 để kiềm chế sức mạnh của Liên Xô. Một năm sau, Truman buộc lực lượng Liên hợp quốc áp dụng nguyên tắc an ninh tập thể của Wilson để đối phó với hành động gây hấn ở Triều Tiên. Hành động tập thể này chỉ có thể xảy ra vì Liên Xô đã sai lầm trong việc tẩy chay cuộc họp của Hội đồng Bảo an vào tháng 6 năm 1950, và điều này không lặp lại cho đếnnăm 1990 khi Gorbachev quyết định không phủ quyết nghị quyết Chương VII để trục xuất Iraq ra khỏi Kuwait.

Cấu thành thứ ba của trật tự Mỹ nhấn mạnh đến nhân quyền và các giá trị chính trị tự do: điều này được đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc và được hệ thống hóa trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948. Mặc dù – ngược lại với hiểu biết thông thường – vai trò lãnh đạo về vấn đề này căn bản không phải là Mỹ, người Mỹ dẫn đầu trong quá trình dân chủ hóa quan trọng sau chiến tranh của các cường quốc bị đánh bại là Đức và Nhật Bản. Cấu thành thứ tư, bảo vệ dân chúng toàn cầu, vốn chủ yếu là di sản vai trò của Anh liên quan đến quyền tự do trên biển; ngay cả ở đây, Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng hoàn toàn tự do, bằng chứng là việc mở rộng hoạt động khoan dầu của Tổng thống Truman trên thềm lục địa vượt quá giới hạn lãnh hải mười hai dặm. Cuối cùng, các nỗ lực ngoại giao đã đưa đến Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc, mà Thượng viện Hoa Kỳ đã từ chối phê chuẩn nhưng dù sao cũng coi đó là luật quốc tế được chấp nhận. Các thỏa thuận “dân chúng” khác liên quan đến không gian, Nam Cực và cuối cùng là biến đổi khí hậu. Trong cấu thành về an ninh, các thỏa thuận quan trọng sau đó đã được đàm phán với Liên Xô và các quốc gia khác để kiểm soát vũ khí, hạn chế sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và tên lửa.

Trong khuôn khổ này, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, xã hội và sinh thái toàn cầu gia tăng. Đến năm 1970, nền kinh tế toàn cầu đã phục hồi bằng mức mà nó đã đạt được trước khi bị Chiến tranh thế giới thứ nhất phá vỡ năm 1914. Một trong những câu hỏi quan trọng hiện nay là liệu các quốc gia khác, như Trung Quốc, được hưởng lợi từ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc này có duy trì được khuôn khổ thể chế này không ngay cả khi vị trí của Hoa Kỳ trong đó đã thay đổi.

Chủ nghĩa tự do của trật tự này có thể được phóng đại. Washington có thể đã thể hiện sự ưu tiên chung cho dân chủ và mở cửa, nhưng lại thường ủng hộ các nhà độc tài trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đồng thời, việc tạo ra các chế độ dân chủ ở các cường quốc bị đánh bại như Đức và Nhật Bản là vô cùng quan trọng đối với sự cân bằng toàn cầu. Nếu Hitler chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai hoặc Stalin thắng trong Chiến tranh Lạnh, trật tự quốc tế hiện tại sẽ rất khác. Người Mỹ đã có những cuộc tranh luận cay đắng trong nước và sự khác biệt giữa các đảng phái đối với các can thiệp và nỗ lực quân sự trong nhiều năm để áp đặt nền dân chủ ở những nơi như Việt Nam và Iraq, và nhiều nỗ lực như vậy đã thất bại. Tuy nhiên, hệ thống các liên minh và các tổ chức đa phương của Mỹ đã giúp bảo đảm và ổn định thế giới, và có một sự đồng thuận rộng rãi trong dư luận Hoa Kỳ rằng việc bảo vệ và mở rộng trật tự này là vì lợi ích quốc gia cho đến năm 2016, khi sự đồng thuận đó bị thách thức lần đầu tiên bởi một ứng cử viên tổng thống của một đảng lớn.

Hiện tại nhiều nhà quan sát tin rằng trật tự Mỹ này sắp kết thúc, và vì là như vậy nên một sự thay đổi lớn về vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới đang diễn ra. Ví dụ, Martin Wolf lập luận rằng: chúng ta đang ở thời kỳ cuối của giai đoạn mà về kinh tế là sự toàn cầu hóa của phương Tây, còn về địa chính trị là thời điểm đơn cực thời kỳ hậu chiến tranh lạnh của một trật tự toàn cầu do Mỹ dẫn đầu. Câu hỏi đặt ra là liệu những gì tiếp theo sẽ là sự tách ra của kỷ nguyên hậu thế chiến thứ hai trở thành thời kỳ giải toàn cầu hóa và xung đột giống như nửa đầu thế kỷ XX, hay trở thành một thời kỳ mới mà các cường quốc ngoài phương Tây, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, đóng vai trò lớn hơn trong việc duy trì một trật tự toàn cầu hợp tác.

Liệu Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ?

Nhiều nhà quan sát tin rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên Mỹ; nhưng trái với hiểu biết thông thường hiện nay, Trung Quốc sẽ không thay thế Hoa Kỳ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nếu đo lường bằng “sức mua ngang giá” (PPP), nền kinh tế Trung Quốc đã trở nên lớn hơn nền kinh tế Mỹ trong năm 2014, nhưng sức mua ngang giá là thước đo của các nhà kinh tế để so sánh các ước tính về phúc lợi, mà không tính toán tới sức mạnh tương đối. Ví dụ, động cơ dầu và động cơ máy bay phản lực được nhập khẩu theo cùng tỷ giá hối đoái và theo thước đo đó, Trung Quốc có nền kinh tế 12 nghìn tỷ USD so với nền kinh tế 20 nghìn tỷ USD của Hoa Kỳ. Một số nhà kinh tế dự đoán Trung Quốc cuối cùng sẽ vượt qua Hoa Kỳ với tư cách là nền kinh tế lớn nhất thế giới (tính bằng USD), nhưng thời điểm ước tính cho sự kiện đó thay đổi từ năm 2030 đến năm 2040 tùy thuộc vào những gì người ta giả định về tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc (hiện đang chậm lại). Và ngay cả khi Trung Quốc một ngày nào đó vượt qua Mỹ về tổng quy mô nền kinh tế, đó không phải là thước đo duy nhất về tầm quan trọng địa chính trị.

Quyền lực – khả năng ảnh hưởng đến người khác để đạt được những gì bạn muốn – có ba cách chính: thông qua ép buộc, dùng tiền bạc hoặc tạo ra sự thu hút. Sức mạnh kinh tế chỉ là một phần của phương trình địa chính trị, và thậm chí là về quyền lực kinh tế, mặc dù Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ về tổng quy mô song vẫn sẽ tụt hậu về thu nhập bình quân đầu người (thước đo mức độ tinh vi của một nền kinh tế). Trong khi đó, về chỉ số sức mạnh quân sự và quyền lực mềm, Trung Quốc cũng đứng sau Hoa Kỳ. Chi tiêu quân sự của Mỹ hiện gấp bốn lần Trung Quốc. Mặc dù khả năng quân sự của Trung Quốc đang gia tăng trong những năm gần đây, các nhà phân tích xem xét kỹ về cân bằng quân sự cũng kết luận rằng Trung Quốc không thể loại trừ Hoa kỳ khỏi phía tây Thái Bình Dương. Tập đoàn RAND ước tính rằng dù chiến tranh giữa hai cường quốc sẽ gây tốn kém cho cả hai bên, song Hoa Kỳ sẽ thắng thế. Về quyền lực mềm, một chỉ số gần đây do công ty tư vấn Portland công bố, đã xếp Trung Quốc ở vị trí thứ 26 trong khi Hoa Kỳ được xếp trong nhóm ba quốc gia đứng đầu.

Khi sức mạnh của Trung Quốc gia tăng, một số nhà quan sát lo ngại rằng nó sẽ không đóng góp cho một trật tự quốc tế mà nó không giúp kiến tạo. Nhưng họ đã nói quá lên về vấn đề “không kiến tạo” ở đây. Như Rosemary Foot lập luận trong bài viết của mình về vấn đề này, Trung Quốc đã được hưởng lợi từ trật tự quốc tế sau năm 1945, nhưng câu hỏi vẫn là liệu họ có hợp tác trong việc sản xuất hàng hóa công cộng hay không. Trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Trung Quốc là một trong năm quốc gia có quyền phủ quyết. Họ hiện là nhà tài trợ lớn thứ hai của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và đã tham gia các chương trình của Liên hợp quốc liên quan đến dịch bệnh Ebola và biến đổi khí hậu. Trung Quốc cũng đã được hưởng lợi rất nhiều từ các tổ chức kinh tế như Tổ chức Thương mại Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nhưng mặt khác, Trung Quốc đã không thực hiện đầy đủ đặc quyền là một nền kinh tế thị trường, và việc bác bỏ phán quyết của tòa án Luật Biển Hague năm 2016 cũng đã đặt ra những câu hỏi nghiêm túc.

Nhìn chung, hành vi của Trung Quốc cho đến nay không cho thấy ý định lật đổ trật tự thế giới đang thịnh hành mà họ được lợi từ đó, mà đúng hơn là gia tăng ảnh hưởng của họ trong trật tự đó; tuy nhiên, điều này có thể thay đổi khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên. Như một nghiên cứu của RAND kết luận, “sẽ là không hoàn toàn phù hợp khi nói về sự tương tác giữa Trung Quốc với “trật tự quốc tế” này, cách nhìn của họ đã có sự phân biệt lớn tùy thuộc vào cấu thành của trật tự này”. Trong mọi trường hợp, khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, trật tự thế giới tự do kiểu Mỹ sẽ phải thay đổi. Trước tiên, quyền lực sẽ phải được chia sẻ, và Trung Quốc thì ít quan tâm đến chủ nghĩa tự do hay sự thống trị của Mỹ. Các nhà phân tích sẽ là khôn ngoan khi loại bỏ các thuật ngữ về “tự do” và “người Mỹ” và thay vào đó đề cấp đến triển vọng của một “trật tự quốc tế mở” hoặc một “trật tự dựa trên quy tắc”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80. TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần III


Chính sách liên minh bị Trump đánh giá thấp bắt nguồn từ các quyết định của Franklin Roosevelt và Harry Truman đã đưa Hoa Kỳ tham gia vào Thế chiến thứ hai và dẫn đến sự hiện diện quân sự lâu dài của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Khi Vương quốc Anh quá yếu không thể hỗ trợ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1947, Hoa Kỳ đã thế chỗ. Mỹ đã đầu tư rất nhiều vào Kế hoạch Marshall năm 1948, thành lập NATO vào năm 1949 và lãnh đạo một liên minh của Liên hợp quốc chiến đấu tại Hàn Quốc vào năm 1950 theo chiến lược ngăn chặn quyền lực của Liên Xô.

Từ năm 1945 đến năm 1991, cán cân quyền lực toàn cầu là lưỡng cực, mặc dù Hoa Kỳ rõ ràng mạnh hơn Liên Xô, với tỷ lệ không cân xứng về nguồn lực và hơn về số đồng minh quan trọng. Tuy nhiên, hai siêu cường đã cạnh tranh để giành lợi thế trong một thế giới không liên kết và tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Nhưng sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào năm 1989 vốn chia cắt châu Âu và sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991 (chủ yếu vì lý do nội bộ), Hoa Kỳ trở thành siêu cường thế giới duy nhất. Các nhà lý luận gọi đây là một thế giới đơn cực bởi vì ở thời điểm này Hoa Kỳ đang là nhà nước duy nhất có thể triển khai sức mạnh quân sự trên quy mô toàn cầu. Ngân sách quân sự của Mỹ chiếm gần một nửa tổng ngân sách của toàn cầu và các quốc gia khác không thể cân bằng được sức mạnh quân sự của Mỹ. Nhưng tính đơn cực đã chứng minh sự lầm lẫn về mặt kiểm soát các sự kiện trong nền chính trị thế giới. Nó góp phần tạo ra tính ngạo mạn không chỉ dẫn đến những tham vọng quá mức của Mỹ trong cuộc xâm lược Iraq mà còn cho những nỗ lực chính trị của Nga và Trung Quốc nhằm phá vỡ nền ngoại giao của Mỹ. Như Kishore Mahbubani đã viết, một số người Mỹ đã lầm tưởng rằng lịch sử đã kết thúc và nền dân chủ theo phong cách Mỹ là lựa chọn thực sự duy nhất cho thế giới.

Khoảnh khắc đơn cực tạo cơ hội cho sự hồi sinh của chủ nghĩa Wilson trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Tony Smith mô tả trật tự của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh là “chủ nghĩa tự do bá quyền”, nhưng lập luận rằng sau khi Liên Xô sụp đổ, “chủ nghĩa tân Wilson” đã trở thành một hình thức của chủ nghĩa đế quốc. “Trong quá trình chuyển đổi từ tư tưởng bá quyền sang tư tưởng đế quốc trong những năm 1990, chủ nghĩa quốc tế tự do đã trở thành mối nguy hiểm cho chính những giá trị mà nó thừa nhận là vô địch”. Lý thuyết hòa bình dân chủ, lý thuyết quá độ dân chủ và trách nhiệm bảo vệ quyền lực lấn át chủ quyền lên đến đỉnh điểm trong cuộc tranh cãi của những người bảo thủ mới về cuộc xâm lược Iraq. Như nhà lý luận tân bảo thủ Robert Kagan giải thích, “một trật tự thế giới tự do, giống như bất kỳ trật tự thế giới nào, là một cái gì đó bị áp đặt, và chúng ta ở phương Tây có thể muốn trật tự đó bị áp đặt bởi ưu thế vượt trội, nó thường được áp đặt bởi sức mạnh vượt trội”. Monica Toft đã chỉ ra rằng trong khi Hoa Kỳ tham gia vào 46 vụ can thiệp quân sự từ 1948 đến 1991, thì từ năm 1992 đến 2017, con số đó tăng gấp bốn lần lên 188 vụ.

George H.W. Bush là một người thực tế và thực dụng, nhưng ông đã sử dụng ngôn ngữ của Wilson về an ninh tập thể và “một trật tự thế giới mới”, để giải thích về Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Người kế nhiệm của ông, Bill Clinton, theo đuổi cái mà ông ta gọi là chính sách dân chủ “mở rộng và cam kết”, và Cố vấn An ninh Quốc gia của ông, Anthony Lake, tự gọi mình là một người theo chủ nghĩa Wilson thực dụng. Ban đầu, George W. Bush vận động tranh cử như một người thực tế phản ứng chống lại sự can thiệp nhân đạo và xây dựng quốc gia của Clinton ở những nơi như Bosnia và Kosovo, nhưng các cuộc tấn công của Al-Qaeda ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã làm thay đổi quan điểm của công chúng, thay đổi cả chính sách cũng như những lời khoa trương của Bush.

Có nhiều nguyên nhân góp phần vào cuộc xâm lược Iraq của George W. Bush, năm 2003. Động cơ khác nhau của các nhóm trong chính quyền khi phát động cuộc xâm lược bao gồm một nỗ sợ thực rằng Saddam Hussein có thể phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân, một mong muốn hiện thực để tăng quyền bá chủ của Mỹ ở Trung Đông (“con đường đến Jerusalem nằm vắt qua Baghdad”), mối lo ngại của những người tân bảo thủ đối với các vi phạm nhân quyền của Saddam và niềm tin của họ rằng dân chủ hóa có thể phá hủy gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố. Hầu hết những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ là những người trước đây theo chủ nghĩa tự do và họ tôn trọng chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ của Wilson và đặt niềm tin vào việc truyền bá nền dân chủ, dù không phải là chủ nghĩa đa phương của ông. Khi chiến tranh bị sa lầy và không được lòng công chúng Hoa Kỳ cũng như các đồng minh của Mỹ, Bush ngày càng chuyển sang các tuyên bố đạo đức theo phong cách Wilson để biện minh. Diễn văn nhậm chức lần thứ hai của ông vào tháng 01 năm 2005 đã tuyên bố một “chương trình nghị sự tự do” đối với chính sách đối ngoại của Mỹ; và, trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp của Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point) vào tháng 5 năm 2006, ông khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ “không ngừng nghỉ cho đến khi lời hứa tự do đến với mọi người ở mọi quốc gia”.

Có những điểm tương đồng kỳ lạ giữa George W. Bush và Woodrow Wilson. Cả hai đều là những người rất sùng đạo và đề cao đạo đức, những người ban đầu được bầu vào vị trí tổng thống với không phải đa số phiếu phổ thông, và vào thời kỳ đầu họ tập trung vào các vấn đề trong nước mà không có bất kỳ tầm nhìn nào về chính sách đối ngoại. Cả hai ban đầu đều thành công với các chương trình nghị sự chuyển đổi trong nước tại Quốc hội. Cả hai đều có xu hướng miêu tả thế giới bằng màu đen và trắng thay vì những gam màu xám. Cả hai đều tự tin, phản ứng với khủng hoảng với một tầm nhìn táo bạo và bị mắc kẹt với tầm nhìn đó. Như Ngoại trưởng Robert Lansing đã mô tả Wilson vào năm 1917, “ngay cả những sự thật chắc chắn cũng bị bỏ qua nếu chúng không phù hợp với ý thức trực giác, thứ quyền lực bán thiêng liêng này để lựa chọn điều đúng đắn”. Và Bộ trưởng Ngoại giao của Bush là Colin Powell đã mô tả Tổng thống biết “những gì ông ấy muốn làm, và những gì ông ấy muốn nghe là làm thế nào để hoàn thành nó”. Bush không thiếu sự thông minh, nhưng hiếm khi ra ngoài phạm vi thoải mái của mình. Như Tony Blair, Thủ tướng Anh trong nhiệm kỳ Tổng thống của Bush, đã nhận xét, “George Bush là người thẳng thắn và cởi mở. Và rất thông minh… George có trực giác tuyệt vời. Nhưng trực giác của ông không thiên về chính trị nhiều bằng những gì ông ta nghĩ là đúng và sai. Điều này không phải thể hiện qua phân tích hay trí tuệ. Nó chỉ là được biểu hiện tự nhiên”.

Mặc dù Wilson bắt đầu với tư cách là một người duy tâm và Bush là một người duy thực, cả hai đều nhấn mạnh đến việc thúc đẩy dân chủ và tự do ở phần còn lại của thế giới như là tầm nhìn biến đổi của họ. Và cả hai tầm nhìn được tán thành đó đã thất bại trong việc nhận thức một khoảng cách lớn giữa những lý tưởng được thể hiện và năng lực quốc gia. Nhiều bài phát biểu của Bush, đặc biệt là bài phát biểu nhậm chức lần thứ hai của ông về một “chương trình nghị sự tự do”, nghe có vẻ như chúng có thể đã được Wilson nói ra. Cả Wilson và Bush đều cố gắng phổ biến cho công chúng để chấp nhận tầm nhìn biến đổi của họ; cả hai đều thất bại, và trong cả hai trường hợp kết quả là phản ứng đối với chính sách thu hẹp, ngày nay nó biểu hiện trong nhiệm kỳ tổng thống Trump.

Như Stephen Sestanovich đã chỉ ra, chính sách đối ngoại của Mỹ luôn dao động giữa chủ nghĩa tối đa thái quá và chính sách thu hẹp. Trong chu kỳ cắt giảm bắt đầu trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2016, Chiến lược An ninh Quốc gia của Trump (NSS) tháng 12 năm 2017 đã thể hiện sự hoài nghi về lợi ích của các tổ chức đa phương và thương mại toàn cầu, thay vào đó là tái tập trung vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc và Nga. Vào tháng 01 năm 2018, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis tuyên bố rằng “cạnh tranh cường quốc, không phải là khủng bố, mà hiện là trọng tâm chính của Hoa Kỳ”. Ngược lại, Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2006 của George Bush đã thúc đẩy tự do và sự phát triển cộng đồng dân chủ, lãnh đạo thay vì chủ nghĩa biệt lập, và thị trường mở vượt trên chủ nghĩa bảo hộ. NSS của Obama năm 2015 đã khiển trách Bush vì đã đi quá xa và kêu gọi nước Mỹ chỉ hành động một mình khi lợi ích quốc gia bị đe dọa, và gương mẫu đi đầu ở trong nước. Theo quan điểm của tờ The Economist, “Trump dường như bác bỏ cả hai học thuyết của Bush và Obama”, và cả “tinh thần trò chơi tổng bằng zero đang kiệt sức” của chiến lược này.

Các nhà phê bình tân bảo thủ nhìn thấy sự tương đồng nhiều hơn là khác biệt trong các chiến lược của Trump và Obama. Theo quan điểm của họ, mặc dù có phong cách khác nhau, cả hai đều phản ứng sai lầm đối với các yêu cầu trong nước về chính sách thu hẹp. Thomas Donnelly và William Kristol lập luận rằng “sự đồng thuận Obama – Trump đang dẫn đến một thế giới nguy hiểm hơn. Nó cũng đang xác định lại giá trị đích thực của Hoa Kỳ. Chúng ta là một quốc gia được xây dựng dựa trên sự mở rộng – không chỉ mở rộng lãnh thổ và địa chính trị, mà còn là mở rộng sự tự do và thịnh vượng. Hoa Kỳ tồn tại không chỉ đơn thuần là để bảo vệ những gì đang có mà còn nhận ra những gì có thể”. Tod Lindberg đã mô tả hai sự khác biệt lớn giữa chiến lược NSS của Trump và hai người tiền nhiệm. Điểm đầu tiên, “đối với cả Bush và Obama, Hoa Kỳ là một phần của một tổng thể lớn hơn, một quốc gia tự do (được thừa nhận rất mạnh mẽ) trong số các quốc gia tự do tạo nên một trật tự quốc tế tự do”. Sự khác biệt thứ hai nằm ở sự cự tuyệt của Trump đối với quan điểm của những người tiền nhiệm về một vòng cung lịch sử tiến tới chủ nghĩa tự do phổ quát. “Một lần nữa, Bush và Obama, dù rất khác nhau về nhiều mặt, cùng chia sẻ quan điểm của đảng Whig về lịch sử về sự tiến tới của chủ nghĩa tự do phổ quát”. Ngược lại, đối với Trump, các tiêu chuẩn có liên quan là chủ nghĩa hiện thực Hobbes, quan điểm về tổng bằng không và một định nghĩa hẹp về lợi ích quốc gia. Hiện tại, chủ nghĩa Wilson không được áp dụng và tương lai của trật tự Mỹ sau năm 1945 là không chắc chắn.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần II


Quan điểm của người Mỹ về cuộc chiến ban đầu bị chia rẽ. Wilson đã tìm cách thiết lập một cách tiếp cận trật tự toàn cầu phù hợp hơn với các nguyên tắc đạo đức của Mỹ. Vào năm 1915, sau khi những tàu ngầm U của Đức đánh chìm tàu Lusitania làm nhiều người Mỹ thiệt mạng, ông tuyên bố rằng “có một thứ mà một cá nhân tự hào để chiến đấu vì nó… và một quốc gia ở phía lẽ phải không cần phải dùng vũ lực để thuyết phục các nước khác rằng họ đúng”. Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên, ông khăng khăng đòi trung lập và phái trợ lý của ông là Đại tá House tới châu Âu để cố gắng hòa giải một nền hòa bình mà không có người chiến thắng. Trong thời gian đó, Teddy Roosevelt đã chỉ trích Wilson vì cách tiếp cận đạo đức và vì sự không thấu hiểu tầm quan trọng của vũ lực và thấy được quyền lợi của nước Mỹ đối với một chiến thắng của quân Đồng minh.

Ngay sau khi tái đắc cử trong cuộc bầu cử trong hòa bình vào tháng 11 năm 1916, Wilson đã phải đối mặt với việc Đức nối lại chiến tranh tàu ngầm không giới hạn (cũng như điện tín Zimmerman đang cố gắng khuấy động rắc rối ở Mexico). Ông xem xét kỹ ba lựa chọn chính: tiếp tục trung lập; trung lập vũ trang để cố gắng bảo vệ tàu trên biển; và đứng về phe Đồng minh tham gia đầy đủ vào cuộc chiến tranh. Thay vì theo đuổi lựa chọn trung gian thận trọng, Wilson đã chọn sự táo bạo nhất (như Roosevelt đã thúc giục), nhưng sau đó ông đã làm một việc mà Roosevelt sẽ không làm. Thay vì giải thích lý do tham chiến là do sự cân bằng quyền lực như Roosevelt ưa thích, Wilson đã phủ lên lựa chọn của mình chủ nghĩa đạo đức kiểu Mỹ. Khi trình bày 14 điểm của mình trước Quốc hội về thế giới, ông đã phác thảo một bộ nguyên tắc mới, bao gồm một liên minh các quốc gia, để có một trật tự đạo đức hơn trong chính trị thế giới phù hợp với quan điểm của ông về các giá trị Mỹ. Wilson có hai mục tiêu chuyển đổi: thay đổi chính sách đối ngoại của Mỹ và thay đổi bản chất của chính trị thế giới; và ông ta đã liên kết hai mục tiêu đó lại với nhau.

Wilson cũng là người sớm nhất đề xuất ngoại giao công chúng để thúc đẩy quyền lực mềm của Mỹ và ông đã thành lập một Ủy ban về Thông tin công cộng dưới sự điều hành của nhà báo George Creel.

Đối với Wilson, truyền bá phúc âm Mỹ và giành được sự ủng hộ dư luận thế giới về phe của Hoa Kỳ là mục tiêu chiến tranh cốt yếu. Theo ông, sứ mệnh của nước Mỹ để thay đổi các quan hệ quốc tế, chỉ có thể thành công nếu những người khác tin rằng một sự chuyển đổi là cần thiết và đáng ao ước: “mọi thứ tác động đến dư luận thế giới về chúng ta”, tổng thống nói với bộ trưởng ngoại giao, “sẽ tác động đến ảnh hưởng của chúng ta đối với những điều tốt đẹp”.

Điểm Wilson thất bại, dĩ nhiên, là trong việc thay đổi thái độ của các nhà lãnh đạo thế giới khác và cuối cùng là công chúng Mỹ về trật tự thế giới mới mà ông đã vạch ra. Ban đầu, Wilson được công chúng châu Âu đối xử như một anh hùng, nhưng khi sự mặc cả ở Versailles kéo dài, những người ủng hộ phe dân tộc của Clemenceau, Lloyd George và Orlando tỏ ra hiệu quả hơn. Tại Versailles, Wilson đã thỏa hiệp nhiều điểm trong số 14 điểm của mình để đạt được thỏa thuận về Giao ước của Liên minh các quốc gia với nghĩa vụ bảo đảm tập thể, theo đó các nước cam kết liên minh với nhau chống lại bất kỳ kẻ xâm lược nào hơn là để cân bằng các quyền lực khác. Nhưng khi trở về Hoa Kỳ, ông đã từ chối thỏa hiệp với Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Henry Cabol Lodge (một đồng minh của Roosevelt), thậm chí còn chỉ dẫn những người ủng hộ đảng Dân chủ bỏ phiếu chống lại hiệp ước thay vì thỏa hiệp Wilson nghĩ rằng phong cách truyền cảm hứng của ông ta sẽ chiến thắng công chúng, nhưng chuyến vận động tại miền Tây của ông vào mùa thu năm 1919 đã bị rút ngắn do bệnh tật.

Đến thời điểm đàm phán cuối cùng, khi Wilson ngoan cố không chịu thỏa hiệp và Thượng viện phủ định hiệp ước, ông đã là một người rất ốm yếu. Trớ trêu thay, nếu cơn đột quỵ năm 1919 có thể làm ông thiệt mạng chứ không chỉ làm ông suy nhược, Thượng viện có thể đã phê chuẩn hiệp ước, và Hoa Kỳ có thể sẽ gia nhập Liên minh các quốc gia mới, mặc dù vớ icác điều kiện của Lodge. Liệu sự tham gia của người Mỹ có thể ngăn chặn được các sự kiện ở Mãn Châu và ở đế quốc Abyssinia đã góp phần phá hủy kiến trúc an ninh tập thể của Wilson vào đầu những năm 1930 hay không có lẽ cần phải thảo luận. Nhưng cùng lúc đó là sự thỏa hiệp mà Wilson đã thực hiện tại Versailles để đạt được nguyên tắc lớn khác của ông về quyền tự quyết bằng cách thiết lập các quả bom hẹn giờ về chính trị, dưới hình thức các nhóm thiểu số Đức ở Tiệp Khắc và Hành lang Danzig ở Ba Lan, mà Hitler sẽ kích nổ vào năm 1938 và 1939. Đến lúc đó, mục tiêu của Wilson là biến thế giới thành nơi “an toàn cho dân chủ” rõ ràng đã thất bại.

Ngoài ra, những nỗ lực của Wilson trong việc sử dụng chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ để giành ủng hộ của dư luận Mỹ cho cách tiếp cận mới đối với chính sách đối ngoại cũng đã thất bại trong hai thập kỷ tiếp theo. Trớ trêu thay, phản ứng của công chúng vào những năm 1930 đối với thành tựu biến đổi của Wilson khi đưa Hoa Kỳ vào Thế chiến thứ nhất đã dẫn đến một làn sóng cô lập mạnh mẽ làm phức tạp tình hình mà Franklin Roosevelt phải đối mặt khi ông cố gắng đối phó với mối đe dọa từ sự gia tăng sức mạnh cảu Hitler sau hội nghị Munich. Chủ nghĩa lý tưởng thái quá của Wilson cũng đã tạo ra phản ứng đối với chính sách thu hẹp trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến. Các mục tiêu chuyển đổi quá tham vọng, kết hợp với sự tự tin thái quá vào sức mạnh truyền cảm hứng của chính mình, cuối cùng đã phản tác dụng với một chính sách đối ngoại hiệu quả hoặc có đạo đức của Mỹ.

Điểm Wilson thành công về mặt đạo đức không phải như một nhà lãnh đạo chính sách đối ngoại, mà là một nhà lãnh đạo tư tưởng. Năm 1919 khi ông được thần tượng hóa, và một thập kỷ sau đó, ông là biểu tượng của một loại quan hệ quốc tế mới. Ý tưởng của Wilson về một tổ chức quốc tế đã không được đồng bào của ông thực hiện trong hơn hai thập kỷ sau thời điểm then chốt đó, và sau đó cũng chỉ có một phần ý tưởng đó. Tuy nhiên, Wilson đã có ảnh hưởng sâu sắc đến những người kế vị ông, đặc biệt là Franklin Roosevelt và Harry Truman, những người đã phát động một trật tự quốc tế tự do thịnh hành sau năm 1945. Cả hai vị đều coi mình là những người theo chủ nghĩa Wilson, và Liên Hợp Quốc – vốn giúp hạn chế lý do khiến các quốc gia có thể đi tới xung đột – là hậu duệ của Liên minh Wilson. Như Henry Kissinger đã lưu ý, ngay cả người có óc thực tế cơ bản như Richard Nixon cũng bị Wilson ảnh hưởng và treo ảnh của ông trong Nhà Trắng.

Một thế kỷ sau

Lễ kỷ niệm một trăm năm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất là thời điểm đặc biệt khó khăn để đánh giá vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới và di sản tự do của Wilson, không chỉ vì sự trỗi dậy của Trung Quốc mà còn vì sự phân cực chính trị trong nước vốn đang ảnh hưởng đến dư luận Mỹ. Cuộc bầu cử năm 2016 với một tổng thống tập trung vào chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ, từ chối các đồng minh của quốc gia đã cho thấy một sự thay đổi lớn trong chính sách sau 70 năm liên tục Chẳng hạn, trong tuần thứ hai của tháng 6 năm 2018, cùng thời điểm Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang tổ chức hội nghị của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải với lời kêu gọi “một nền kinh tế thế giới mở hơn”, Tổng thống Donald Trump đã từ chối một thông cáo của G7 kêu gọi “trật tự quốc tế dựa trên quy tắc”, áp đặt thuế quan đối với các đồng minh của Mỹ và xúc phạm chủ nhà Canada. Dịp kỷ niệm này đã được coi là khoảnh khắc chống Wilson.

Trump và Wilson cùng chia sẻ một niềm tin vào chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ, nhưng có một chút khác biệt. Trong khi Wilson là một người theo chủ nghĩa lý tưởng tự do muốn tạo ra các thể đa phương và làm cho thế giới an toàn cho dân chủ, Trump lại là một người theo chủ nghĩa hiện thực theo bản tính, tập trung vào một định nghĩa hẹp về lợi ích quốc gia và coi thường nền dân chủ là nguồn sức mạnh mềm của Mỹ. Trong bài phát biểu nhậm chức vào ngày 20 tháng 01 năm 2017, Trump tuyên bố rằng “từ ngày này trở đi, sẽ là nước Mỹ trên hết. Nước Mỹ trên hết… Chúng tôi sẽ tìm kiếm bạn hữu và thiện chí với các quốc gia trên thế giới, nhưng chúng tôi làm như vậy với sự hiểu biết rằng đó là quyền của tất cả các quốc gia khi đặt lợi ích của mình lên hàng đầu”. Trong tầm nhìn này, sẽ không có cộng đồng quốc tế và các đồng minh – những người ăn theo đã được lợi từ Hoa Kỳ.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80. TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần I


Joseph S. Nye, JR.

Người Mỹ thường mô tả địa vị của họ trên thế giới là “ngoại lệ đặc biệt”. Như Stanley Hoffmann đã từng nói rằng, mọi quốc gia đều thích nghĩ mình là duy nhất, nhưng Pháp và Hoa Kỳ là hai nước nổi bật hơn hẳn với tuyên bố rằng giá trị của họ là phổ quát. Tuy nhiên, Pháp bị hạn chế bởi cán cân quyền lực ở châu Âu. Chỉ có Hoa Kỳ đã cố gắng triển khai các chính sách đối ngoại phản ánh chủ nghĩa biệt lệ đó, và đã có đủ sức mạnh rộng lớn để đi theo con đường nguyên bản trong các mối quan hệ quốc tế.

Có nhiều nguồn gốc giải thích khác nhau về chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ. Một nguồn là dựa trên những tư tưởng Khai sáng tự do của các nhà sáng lập. Như John F. Kennedy đã nói, “sức mạnh ma thuật” của chúng tôi là sự mong muốn tất cả mọi người được tự do, mọi quốc gia được độc lập. Đó là vì tôi tin rằng hệ thống của chúng tôi phù hợp hơn với các nguyên tắc cơ bản về bản chất con người mà tôi tin là cuối cùng chúng ta sẽ thành công”. Một điều cũng quan trọng nữa là nguồn gốc tôn giáo trong kinh sách về việc trở thành một dân tộc được chọn và tội lỗi của những người Thanh giáo đã trốn khỏi Anh để thờ phụng Chúa theo cách thuần khiết hơn trong một thế giới mới. Những khát vọng cao cả đó đã dẫn đến nỗi lo về việc liệu họ có đang sống theo những tiêu chuẩn không thể này hay không. Ngay cả các nhà sáng lập cũng lo lắng liệu nền cộng hòa mới của họ cũng sẽ suy giảm ưu điểm như tổ tiên La Mã cổ đại của nó.

Được bảo vệ bởi hai đại dương và giáp với các nước láng giềng yếu hơn, Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ của thế kỷ XIX chủ yếu tập trung vào việc mở rộng về phía Tây, và cố gắng không vướng vào cán cân quyền lực toàn cầu tập trung ở châu Âu. Vào đầu thế kỷ XX, nước Mỹ đã trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và sự can thiệp của Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm lệch cán cân quyền lực. Tuy nhiên, vào những năm 1930, Hoa Kỳ đã quay sang hướng nội và theo chủ nghĩa biệt lập độc hại. Với Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà lãnh đạo như Franklin Roosevelt, Harry Truman, Dwight Eisenhower và những người khác đã rút ra bài học rằng Hoa Kỳ không đủ khả năng để quay sang hướng nội lần nữa. Kết quả là hệ thống các liên minh an ninh, các tổ chức đa phương và các chính sách kinh tế tương đối cởi mở đã được gọi là trật tự quốc tế kiểu Mỹ hay trật tự quốc tế tự do và nó đã xác định vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong vòng 70 năm. Ngày nay, điều này đang bị nghi ngờ bởi sự trỗi dậy của các lực lượng mới như Trung Quốc trên trường quốc tế và sự trỗi dậy của một làn sóng chính trị dân túy mới trong các quốc gia dân chủ.

Những người theo chủ nghĩa hiện thực và tự do của thế kỷ XX

Trong thế kỷ XIX, nền cộng hòa tương đối yếu của nước Mỹ có thể là đế quốc đối với các nước láng giềng nhỏ bé, nhưng vẫn phải theo đuổi chính sách thực tế thận trọng đối với cán cân quyền lực toàn cầu ở châu Âu. Học thuyết Monroe khẳng định về việc tách tây bán cầu khỏi sự cân bằng châu Âu, mặc dù Hoa Kỳ khẳng định chỉ duy trì sự tách biệt đó vì lợi ích của Anh trong việc loại trừ các đối thủ châu Âu khỏi tây bán cầu và sự kiểm sát biển của Hải quân Hoàng gia.

Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XX, khi sức mạnh của nước Mỹ tăng lên, các lựa chọn toàn cầu của họ cũng tăng lên. Những nhân vật nổi trội trong sự bành trướng sức mạnh Mỹ vào đầu thế kỷ XX là Teddy Roosevelt và Woodrow Wilson, giống nhau về nền tảng học vấn cao và những quan điểm chính trị đối nội tiến bộ, nhưng thuộc đảng chính trị khác nhau và khác biệt về tính cách, quan điểm về chính trị thế giới. Cả hai đều là những nhà luân lý và tin vào sứ mệnh đặc biệt của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ; nhưng họ minh họa cho hai khía cạnh rất khác nhau của chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ và những truyền thống đạo đức tương ứng là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do.

Teddy Roosevelt tin vào sứ mệnh khai hóa văn minh của người Anglo-Saxon nói chung và Hoa Kỳ nói riêng. Ông là người cân bằng về quyền lực thực tế, người tin vào việc sử dụng vũ lực, nhưng ông kết hợp với niềm tin đạo đức rằng nước Mỹ có thể phục vụ nhân loại bằng cách kết hợp quyền lực với mục đích cao cả. Đồng thời, ông cũng tin rằng “cuộc sống là đấu tranh”, khinh miệt những người sợ chiến tranh và bực tức với những gì ông ta coi là chủ nghĩa lý tưởng phi thực tế của Woodrow Wilson.

Roosevelt được nhớ đến vì đã mở rộng ảnh hưởng của nước Mỹ thông qua việc hòa giải Chiến tranh Nga – Nhật (sự việc đã giúp ông đã giành thưởng Nobel); khởi công xây dựng kênh đào Panama; bổ sung Hệ luận Roosevelt cho Học thuyết Monroe khẳng định quyền can thiệp của Hoa Kỳ; và phát triển Hải quân Hoa Kỳ thành Bạch Đại hạm đội (Great White Fleet) với chuyến hành trình vòng quanh trái đất. Nhưng thẻ điểm đạ đức của Roosevelt còn xa mới được coi là hoàn hảo. Kể cả việc cho phép nạn phân biệt chủng tộc trở nên phổ biến trong nhiệm kỳ của mình, ông ta cũng không đạt được một số tiêu chuẩn đạo đức đương đại, ví dụ như tại Philippines, nơi quân đội Mỹ đã giết và tra tấn một số lượng lớn tù nhân để đàn áp một cuộc nổi dậy.

Giống như hầu hết các nhà lãnh đạo Mỹ đầu thế kỷ XX, Wilson cũng tự coi mình là một người hay lý tưởng hóa. Nhưng theo diễn giải của ông, ông đã tìm cảm hứng từ “một cái nhìn xa về bản chất con người bắt nguồn từ văn học hơn là từ sự biến động và hỗn độn của biên giới hay cuộc Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha” đã truyền cảm hứng cho Roosevelt. Wilson không tiến thành nhân quyền phổ quát. Ông đã chia sẻ những định kiến về chủng tộc và chủ nghĩa sô vanh Anglo-Saxon thịnh hành trong thời đại của mình, và không ngần ngại can thiệp vào Mexico và Caribbean để thúc đẩy nền dân chủ; nhưng tầm nhìn của ông về hệ thống quốc tế về cơ bản đã được định hình bởi chủ nghĩa tự do.

Quan điểm của Wilson về quyền tự quyết tập trung vào các quốc gia dân tộc ở châu Âu, chứ không phải các nước thuộc địa của châu Âu hay Mỹ, mặc dù những lời hùng biện của ông dù sao cũng có tác động mạnh mẽ nếu không lường trước được đối với các dân tộc thuộc địa. Mặc dù không hoàn hảo trong việc chấp nhận các thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc, song một truyền thống tự do đã phát triển ở Anh và lục địa châu Âu bắt nguồn từ các tác phẩm của Kant, Mill và những người khác, và một liên minh vì hòa bình cũng là một ý tưởng của châu Âu. Wilson không phải là một nhà tư tưởng đầu tiên trong các vấn đề quan hệ ngoại giao. “Đóng góp chủ yếu của ông cho sự náo động này là việc truyền bá và sự tổng hợp xuất sắc… Không gì khác hơn ngoài một hệ tư tưởng chính trị quốc tế mới”. Wilson không khởi xướng quan điểm tự do; nhưng ông đã tổng hợp chúng thành những gì ông coi là một cách tiếp cận đạo đức hơn của Mỹ đối với chính sách đối ngoại. ông không đặt ra thuật ngữ “tự quyết”, nhưng đã chấp nhận nó mà không hoàn toàn đối chất với tất cả các hàm ý của nó.

Wilson hiểu sự cân bằng quyền lực, nhưng ông nói rằng đó là vô đạo đức vì nó cắt nát các quốc gia vì sự thuận tiện của những quốc gia khác. Wilson tin rằng một liên minh các quốc gia dựa trên hiệp ước an ninh tập thể chống lại những kẻ xâm lược sẽ hòa hảo hơn và chỉ hơn các liên minh yếm thế cần có để cân bằng quyền lực. Cuối cùng, cả Wilson và Roosevelt đều ủng hộ sự can thiệp vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhưng vì những lý do khác nhau: Roosevelt ủng hộ sự can thiệp từ phía Anh vì lý do của sự cân bằng quyền lực, trong khi Wilson tìm kiếm một nền hòa bình mà không chiến thắng, không tin vào việc dùng vũ lực để giành lấy vật chất, và thấy sứ mệnh của nước Mỹ không phải là mở rộng sự hữu hình mà là việc dẫn dắt tất cả các quốc gia vào một cộng đồng quốc tế mới được tổ chức để đạt được mục đích đúng đắn. Mỹ là một đồng sự, không phải là đồng minh. Wilson lập luận rằng đây là kiểu hòa bình duy nhất có thể chứng minh để được người dân Mỹ chấp nhận trogn ngắn hạn và theo quan điểm đạo đức của thế giới trong dài hạn.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80. TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Mỹ trở lại dẫn đầu cuộc chiến khí hậu: Thách thức nào đối với tân chính quyền Biden


Theo đài RFI, nhiều người coi sự trở lại của nước Mỹ với Hiệp định khí hậu Paris, hướng tới cái đích không để nhiệt độ Trái đất tăng quá từ 1,5oC đến 2oC, vào đầu năm 2021 này là một tin mừng. Trở lại với Hiệp định khí hậu 2015 là một trong các sắc lệnh quan trọng nhất của tân chính quyền Joe Biden ngay trong ngày nhậm chức 20/01/2021, đảo ngược lại chính sách thời Donald Trump, vốn không thừa nhận biến đổi khí hậu là mối đe dọa hàng đầu của nhân loại, cũng như việc Trái Đất bị hâm nóng một phần cơ bản là do xã hội con người.

Tuy nhiên, tuyên bố trở lại với Hiệp định khí hậu Paris không đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ sớm trở lại nhóm các quốc gai dẫn đầu cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, như kỳ vọng. RFI giới thiệu một số phân tích của kinh tế gia về khí hậu, Giáo sư Christiande Perthuis thuộc trường Đại học Paris Dauphine, trên ideas4development.org, trang mạng chuyên về môi trường của chính phủ Pháp.

Xác định chỉ tiêu cắt giảm khí thải về trung hạn của chính nước Mỹ đúng tầm với đòi hỏi của cuộc chiến khí hậu?

Chuyên gia Christian de Perthuis ghi nhận ông Biden, trong thời gian tranh cử tổng thống, khẳng định trước hết mục tiêu trung hòa về khí thải ở cái mốc 2050 (tức lượng khí thải ra tương đương với lượng khí thải hấp thu, đồng nghĩa với việc các hoạt động kinh tế sẽ không góp phần làm gia tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, khiến Trái đất nóng lên). Trên thực tế, đây cũng là mức phấn đấu về dài hạn đã nhận được sự đồng thuận của các quốc gia công nghiệp hóa, từ Liên minh châu Âu (EU), cho đến Anh, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Vấn đề hiện nay với tân chính quyền Joe Biden – Kamala Harris là xác định được mục tiêu phấn đấu trong trung hạn đủ tầm cỡ, từ đây đến năm 2030. Tân chính quyền Mỹ phải hoàn tất công việc này trước Thượng đỉnh về Khí hậu tại Glasgow (Anh) tháng 11 tới. Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, Thượng đỉnh Khí hậu COP 26 tháng 11 tới, được coi là cái mốc quan trọng nhất sau Thượng đỉnh COP 21 tại Paris, bởi đây sẽ là dịp các quốc gia công bố mức cam kết cắt giảm khí thải về trung hạn, được nâng cao, để hướng đến lộ trình không để nhiệt độ Trái Đất tăng quá từ 1,5oC đến 2oC so với thời tiền công nghiệp (tổng mức cam kết hiện nay dự kiến sẽ khiến Trái đất nóng lên từ ít nhất 3oC trở lên).

Các cam kết hiện nay của nước Mỹ, được đưa ra từ năm 2015 (trước khi bị chính quyền Donald Trump xóa bỏ), mới chỉ hướng đến mục tiêu khí thải vào năm 2025 sẽ phải giảm từ 26 đến 28% so với 2005. Đây là mục tiêu quá thấp. Theo kinh tế gia Nathaniel Keohane, nguyên là cố vấn về năng lượng – khí hậu thời Obama, nước Mỹ cần phải nâng mức phấn đấu, để vào năm 2030, khí thải phải giảm đến 50% so với 2005. Theo chuyên gia Đại học Paris Dauphine, có một yếu tố thuận lợi là mục tiêu trung hạn nói trên hoàn toàn không xa với cương lĩnh tranh cử của ông Biden, với một trong những cái đích hướng đến là loại bỏ hoàn toàn năng lượng hóa thạch trong việc sản xuất điện cũng như việc chấm dứt bán xe hơi chạy xăng, vào năm 2035.

Joe Biden có dễ nhận được sự hậu thuẫn của Quốc hội lưỡng viện Mỹ, hiện phe Dân chủ đã giành được đa số?

Giáo sư Christian de Perthuis nhấn mạnh đến việc, cho dù phe Dân chủ có được đa số tại Quốc hội lưỡng viện, sau cuộc bầu cử Thượng viện bổ sung vừa qua, chính quyền Biden – Harris vẫn phải cần đến sự ủng hộ của phe Cộng hòa, nếu muốn ra được các luật quan trọng liên quan đến khí hậu và môi trường. Chuyên gia Đại học Paris Dauphine dẫn lời kinh tế gia Robert Stavins, theo đó, cần phải có ít nhất 60 phiếu tại Thượng viện mới đủ để thông qua các luật về khí hậu có tầm cỡ, như mục tiêu của đảng Dân chủ, có nghĩa là phải có nhiều hơn 10 phiếu so với số phiếu mà đảng Dân chủ có tại Thượng viện hiện nay.

Nhà nghiên cứu Pháp lưu ý là có được sự đồng thuận của đảng Cộng hòa giờ đây là điều không hề dễ dàng. Kể từ thời Tổng thống Bush (2001 – 2009), vấn đề hâm nóng khí hậu đã trở thành chủ đề mang tính đối kháng, trong quan hệ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Tỉ phú địa ốc Donald Trump, sau này trở thành tổng thống (2016 – 2020), đã đẩy đối kháng này lên đến tột đỉnh.

Tân chính quyền Biden sẽ gặp phải những thách thức nào

Thách thức hiển nhiên trước hết sẽ là phe Cộng hòa. Cuộc đối đầu hứa hẹn sẽ quyết liệt. Trong hai nhiệm kỳ (2008 – 2016), Tổng thống Obama đã chỉ thành công trong việc khởi sự chính sách từ bỏ than đá (và đưa một số tiêu chuẩn về khí thải vào lĩnh vực xe hơi), nhưng chưa khởi sự được tiến trình từ bỏ dầu hỏa và khí đốt. Khi lên nắm quyền, Donald Trump đã khuyến khích than đá trở lại, cũng như ngành khai thác dầu đá phiến.

Mục tiêu của chính quyền Biden là thúc đẩy tiến trình từ bỏ than đá và tấn công vào hai ngành dầu mỏ và khí đốt. Theo chuyên gia Christian de Perthuis, cuộc chiến giữa hai phe sẽ diễn ra trên ba cấp độ hay ba trận địa.

Trên bình diện các quy định cấp liên bang, tổng thống Biden có thể sẽ ban hành một loạt sắc lệnh, từ cấm khai thác dầu khí tại các vùng được bảo vệ, cho đến siết chặt quy định về khí thải xe cộ, để giảm lượng tiêu thụ xăng dầu, năng lượng hóa thạch. Đối lập cộng hòa dự kiến sẽ phản công bằng hàng loạt vụ kiện, làm chậm lại tiến trình này. Cuộc chiến pháp lý hứa hẹn sẽ cam go, ông Donald Trump đã để lại cho tân chính quyền “món quà tẩm độc”, với việc bổ nhiệm hàng loạt thẩm phán phe “bảo thủ” vào tòa án các cấp, trong đó có ba thẩm phán “bảo thủ” vào Tòa án tối cao.

Trận địa thứ hai của cuộc chiến liên quan đến thuế đánh vào carbon, theo nguyên tắc, những người sử dụng năng lượng hóa thạch, gây ô nhiễm, sẽ phải chịu tổn phí cao hơn, bao gồm cả việc xem xét thiết lập thuế carbon ở biên giới, tương tự như dự án đang được thảo luận tại châu Âu. Đây là con đường được chuyên gia Christian de Perthuis đánh giá là “chắc chắn nhất” để từ bỏ năng lượng hóa thạch, do giá loại năng lượng này sẽ ngày càng cao. Tuy nhiên, để thông qua được luật về chuyện này là không dễ.

Những bế tắc hay chống đối gặp phải tại Quốc hội buộc những người muốn đưa ra các biện pháp thúc đẩy tiến trình thoái vốn khỏi năng lượng hóa thạch phải tìm sự ủng hộ tại các bang, các địa phương. Xu thế cần tiến hành là mở rộng các biện pháp đã sẵn có tại các bang đã ngả theo cuộc chiến vì khí hậu, như California, và các bang ven biển nói chung, cả bờ Đông cũng như bờ Tây của nước Mỹ. Đây chính là trận địa thứ ba. Chính quyền Donald Trump trước đây đã không cản trở được nhiều các nỗ lực của những bang vì khí hậu, cho dù đặt ra hàng loạt rào cản. Trở lực lớn nằm tại các bang phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch nhất, như Texas, Wyoming, Bắc Dakota, Tây Virginia hay Oklahoma, cũng thường là các thành trì của phe Cộng hòa.

Đâu là các thách thức với tân chính quyền Biden trong lĩnh vực khí hậu?

Theo kinh tế gia về khí hậu, Đại học Paris Dauphine, chính quyền Biden cần có một chính sách ngoại giao khí hậu phù hợp. Cam kết của các nước công nghiệp phát triển về cơ bản đã xác định và khá gần với tầm mức của thách thức khí hậu. Ẩn số lớn hiện nay là Trung Quốc, quốc gia phát thải hơn một phần tư tổng lượng toàn cầu và trong tương lai gần là các nền kinh tế đang trỗi dậy, có xu hướng ngả sang các nguồn năng lượng hóa thạch “rẻ tiền”.

Thách thức hàng đầu hiện nay là thúc đẩy Trung Quốc đề ra các chỉ tiêu cắt giảm khí thải về trung hạn đủ tầm cỡ, trước thềm thượng đỉnh COP 26 ở Glasgow. Cũng không thể coi nhẹ vai trò của các quốc gia khai thác và xuất khẩu năng lượng hóa thạch (như Saudi Arabia). Từ COP 1 (Berlin, 1995) cho đến nay, các nước này thường xuyên kìm hãm hay ngăn chặn các thương thuyết về khí hậu. Phải có biện pháp để hỗ trợ các quốc gia này hội nhập vào tiến trình chung, bởi việc từ bỏ sản xuất năng lượng hóa thạch buộc các quốc gia nói trên phải tái tổ chức lại toàn bộ nền kinh tế của mình.

Theo chuyên gia Christian de Perthuis, hai biện pháp cần làm khẩn cấp là giảm, xóa nợ và đầu tư mạnh vào năng lượng xanh tại các nước này. Chuyên gia kinh tế về khí hậu Pháp hy vọng là, nếu chính quyền Biden nỗ lực, cùng Trung Quốc và châu Âu, hướng theo lộ trình này, thì Thượng đỉnh COP 26 tại Glasgow sẽ trở thành một bước đột phá trong cuộc chiến vì khí hậu, rất được trông đợi.

Nguồn: TKNB – 26/01/2021.

Nhà Trắng chuyển trọng tâm chiến lược từ Trung Đông sang Trung Quốc


Trang Politico ngày 28/01 đăng bài phân tích cho rằng, tân Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuyển hướng sang châu Á, nhưng có thể ông không nói ra một cách rõ ràng.

Theo bài viết, Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan mới đây tiến hành tái cơ cấu đội ngũ nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC), tập trung vào hai tổng cục Trung Đông và châu Á, cụ thể là giảm bớt người chuyên trách về Trung Đông và tăng cường người ở bộ phận điều phối chính sách của Mỹ đối với châu Á, một khu vực rộng lớn trên thế giới trải dài từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. Politico nhận định rằng động thái này là dấu hiệu mới nhất cho thấy chính quyền mới của Mỹ sẽ ưu tiên châu Á trong các sáng kiến chính sách đối ngoại của họ.

Điều này cũng phản ánh sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua và mối quan tâm ngày càng tăng của các quan chức và nhà lập pháp thuộc cả hai đảng lớn ở Mỹ về cách thức các nhà lãnh đạo chuyên chế ở Bắc Kinh đang sử dụng sức mạnh cơ bắp mới của họ. Một phóng sự truyền hình của CNN dẫn lời ông Rory Medcalf, Hiệu trưởng trường cao đẳng an ninh quốc gia, Đại học Quốc gia Australia khẳng định rằng châu Á đang là tâm điểm của một cuộc cạnh tranh quyền lực: “Châu Á đang là đấu trường để tranh giành ưu thế cả về kinh tế lẫn chính trị có ảnh hưởng đến toàn cầu. Trung Quốc đang tìm cách có sức mạnh chi phối, thậm chí họ muốn có quyền lực như một đế quốc và nhiều nước trong khu vực không muốn thấy có sự thống trị như vậy”.

Theo CNN, nhà khoa học chính trị và tác giả sách Richard Heydarian ở Philippines chỉ ra rằng với sức mạnh ngày càng tăng, Trung Quốc đang lợi dụng điều đó để hăm dọa các nước láng giềng. Ông Heydarian nói: “Trung Quốc đối đầu với hầu hết các nước láng giềng, chỉ trừ Nga, điều đó nói lên rất nhiều về việc Trung Quốc đang thực hiện một chính sách đối ngoại không phù hợp trong quan hệ với các nước khác”.

CNN cho biết bản thân Trung Quốc đang dính líu đến một loạt những điểm nóng trong khu vực. Đó là lãnh thổ Đài Loan, vùng Hymalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Biển Đông và Biển Hoa Đông. Tất cả những nơi này đều có tiềm năng bùng nổ thành xung đột.

Politico dẫn lời một số quan chức hiện tại và cựu quan chức cho biết, theo cấu trúc mới của NSC, phạm vi của ông Kurt Campbell, điều phối viên về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đang mở rộng thêm, trong khi bộ phận dưới quyền điều phối viên về Trung Đông Brett McGurk sẽ thu hẹp lại.

Những thay đổi này về cơ bản làm đảo ngược cấu trúc của NSC dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, Tổng cục Trung Đông có quy mô lớn hơn nhiều so với hiện tại, còn bộ phận châu Á có số nhân viên ít hơn và cấp bậc của họ cũng thấp hơn.

Tổng thống Biden và đội ngũ của ông giờ đây tin rằng những thách thức an ninh lớn nhất sẽ xuất hiện từ cuộc cạnh tranh quyền lực lớn giữa Mỹ, Trung Quốc và Nga, do đó, bộ máy của ông Biden đang điều chuyển nguồn lực của họ sao cho phù hợp. Bộ máy của ông Biden muốn tránh chuyện lại có một vũng lầy nữa ở Trung Đông. Họ củng cố các liên minh cốt lõi ở châu Á và châu Âu mà họ cho rằng đã bị bỏ rơi hoặc bị hắt hủi dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump.

Trong bài viết của Politico, ông Sadjadpour Karim Sadjadpour, chuyên gia về Trung Đông tại Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, cho biết: “Việc điều chuyển các nguồn lực phục vụ chính sách từ Trung Đông sang châu Á phản ánh tốt hơn về hiện thực kinh tế Mỹ. Chính sách châu Á có liên quan trực tiếp đến các nông dân, các tập đoàn và các công ty công nghệ Mỹ, trong khi Trung Đông thì không, đặc biệt là xét đến tình hình về tài nguyên năng lượng nội địa của Mỹ. Sau 2 thập kỷ đau đớn ở Iraq và Afghanistan, giờ đây lưỡng đảng ở Mỹ cũng còn rất ít sự ủng hộ đối với chuyện cần làm nhiều hơn nữa ở Trung Đông”.

Các ưu tiên mới được thể hiện rõ ràng từ những hoạt động ban đầu của đội ngũ của ông Biden để tiếp xúc với các đồng minh châu Âu và châu Á quan trọng, đó là việc họ gọi điện chào hỏi với các nước bao gồm Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Mexico.

Ở thời điểm hiện tại, các công việc về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thuộc thẩm quyền của ông Campbell và ông có 3 cục trưởng thường trực, Laura Rosenberger là cục trưởng thường trực chuyên trách Trung Quốc, Sumona Guha là cục trưởng thường trực chuyên trách Nam Á và Andrea Kendall-Taylor là cục trưởng thường trực chuyên trách Nga và Trung Á.

Tuy nhiên, một cựu quan chức, người phục vụ cho chính quyền Obama, cho rằng trong NSC dưới thời ông Obama, bộ phận về Trung Quốc không có “cục trưởng thường trực”, còn bộ phận về châu Á không có tổng cục trưởng đứng đầu: “Về cơ bản đây là sự tiếp nối với chính sách “xoay trục” sang châu Á nhưng có lẽ người ta không nói công khai nhiều”.

Ông Campbell, hiện là tổng cục trưởng chuyên trách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, từng là một trong những nhân vật chủ chốt thúc đẩy cho chiến lược xoay trục sang châu Á dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, ông giữ chức Trợ lý Ngoại trưởng chuyên trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương trong chính quyền Obama. Tuy nhiên, mức độ thành công của chiến lược đó không được rõ ràng và nó đã bị các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông và châu Âu nhìn nhận một cách hoài nghi.

Vì vậy, cựu quan chức thời Obama mà Politico không nêu tên trên cho rằng việc chính quyền Biden tái cơ cấu một cách âm thầm, không phô trương hay ra tuyên bố rầm rộ, dường như là việc làm có chủ ý.

Sự chuyển đổi rõ rệt này không chỉ giới hạn ở NSC. Politico chỉ ra rằng các chuyên gia về châu Á cũng đang được đưa vào nhiều nơi trong chính quyền mới, bao gồm cả tại Bộ Quốc phòng Mỹ, ở đó, cựu phụ tá của ông Biden là Ely Ratner được bổ nhiệm làm cố vấn chính về Trung Quốc cho Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin: còn Kelly Magsamen, từng là phó trợ lý chính của Bộ trưởng Quốc phòng chuyên trách về an ninh châu Á và Thái Bình Dương cho đến năm 2017, đã được bổ nhiệm làm chánh văn phòng của ông Austin.

Ông Austin, một cựu tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (Centcom), nhận thức rõ ràng chính quyền Biden muốn chuyển trọng tâm của Lầu Năm Góc về phương Đông. Ông Austin nói trong phiên điều trần để được chuẩn thuận làm bộ trưởng rằng: “Trên bình diện toàn cầu, tôi hiểu rằng châu Á phải là trọng tâm trong nỗ lực của chúng ta. Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất trong tương lai bởi vì Trung Quốc đang đi lên”.

Một trong những động thái đầu tiên của ông Austin trong công việc mới là bổ nhiệm 3 cố vấn đặc biệt về các vấn đề chính là Trung Quốc, đại dịch COVID-19 và khí hậu. Có thể thấy Trung Đông đã vắng bóng trong nghị trình của ông.

Tại Bộ Ngoại giao Mỹ, chuyên gia châu Á – Thái Bình Dương Mira Rapp-Hooper được bổ nhiệm làm cố vấn cấp cao về Trung Quốc ở Vụ Hoạch định chính sách; còn tại Liên hợp quốc, Jeffrey Prescott, từng là phó cố vấn an ninh quốc gia và cố vấn cấp cao về châu Á cho Phó Tổng thống Biden trước đây, được đề cử làm phó đại sứ.

Việc Mỹ giờ đây nhấn mạnh rất nhiều vào châu Á là những gì tiếp nối chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020 mà trong đó Trung Quốc là vấn đề nổi bật, khi đó, cả hai ứng cử viên là ông Trump và ông Biden đều cố chứng tỏ mình cứng rắn hơn người kia trong việc xử lý quan hệ với Bắc Kinh.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

Nhật Bản công khai tài liệu về sự kiện Thiên An Môn – Phần đầu


Theo trang tin tức của đài NHK ngày 24/12/2020, tài liệu ngoại giao được công khai hôm 23/12 vừa qua đã tiết lộ thông tin rằng trong sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định đưa ra phản ứng mềm mỏng đối với Trung Quốc, trái ngược hoàn toàn với phản ứng của các nước phương Tây khi đó. Giới chuyên gia Nhật Bản chỉ trích lập trường yếu đuối của Chính phủ nước này – coi đây chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc và ủng hộ chính sách cải cách mở cửa cũng như quan điểm “một Trung Quốc” ổn định sẽ có lợi cho thế giới.

Tài liệu chỉ rõ Nhật Bản chia sẻ các giá trị phổ quát về tự do và dân chủ với các nước phương Tây, đồng thời cho rằng việc Chính phủ Trung Quốc đàn áp sinh viên và người dân bằng vũ lực gây thương vong lớn nhìn từ góc độ nhân đạo là điều không thể chấp nhận được.

Mặt khác, tài liệu cũng đề cập đến lập trường của Chính phủ Nhật Bản khi đó: Theo họ, sự việc này về cơ bản chỉ là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, nước có thể chế chính trị xã hội và quan điểm giá trị khác với Nhật Bản. Do đó, xét một cách tổng thể, việc các nước phương Tây có tạo ấn tượng rằng họ đoàn kết với nhau để theo đuổi chủ trương cô lập Trung Quốc về lâu dài không phải là một ý tưởng hay. Ngoài ra, chính các nước phương Tây cũng muốn Chính phủ Trung Quốc duy trì chính sách cải cách mở cửa. Do đó, họ cũng cần tạo điều kiện để Trung Quốc trở thành một quốc gia được cộng đồng quốc tế chấp nhận và từng bước khôi phục quan hệ với nước này.

Giáo sư Akio Takahara, chuyên gia nghiên cứu về chính trị Trung Quốc đương đại của Viện cao học chính sách công thuộc Đại học Tokyo, cho rằng việc phản đối mạnh mẽ các hoạt động vi phạm nhân quyền là điều nên làm nhưng câu hỏi đặt ra là: Làm vậy để được gì? Chính phủ Nhật Bản cho rằng nên ủng hộ Trung Quốc cải cách mở cửa và một Trung Quốc ổn định sẽ có lợi cho Nhật Bản, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và thế giới. Thế nhưng, Nhật Bản có thay đổi nhận thức này sau sự kiện Thiên An Môn?

Sau sự kiện này, Bộ Ngoại giao Nhật Bản vẫn giữ quan điểm đối lập với Mỹ là duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Tài liệu cho biết trước quan ngại từ phía Mỹ về việc Nhật Bản vẫn duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, một quan chức ngoại giao Nhật Bản khi đó đã phản biện: “Điều đó không có nghĩa là Nhật Bản phải cắt đứt một cách máy móc hoạt động hợp tác kinh tế với một nước phi dân chủ”.

Liên quan đến vấn đề hợp tác kinh tế với Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản đã quyết định ngừng cung cấp viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn tháng 6/1989, nhưng đến tháng 7/1990 lại nối lại nguồn viện trợ này.

Trong một tài liệu ngoại giao công bố ngày 23/6, tức 10 ngày sau sự kiện Thiên An Môn, một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong một cuộc hội đàm với Mỹ đã bác bỏ lo ngại của nước này khi Nhật Bản duy trì hợp tác kinh tế với Trung Quốc.

Về vấn đề này, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ khi đó, Robert Forber, chỉ rõ: “Việc Chính phủ Nhật Bản lần lượt thông qua các dự án hợp tác kinh tế với Trung Quốc có thể sẽ buộc Washington phải hành động”.

Đáp lại, Vụ phó Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Nhật Bản khi đó Katsuya Suzuki nói: “Chúng tôi cũng lấy làm tiếc về vụ bạo lực ở Thiên An Môn”. Đồng thời, ông khẳng định: “Tuy thế chính trị và quan niệm giá trị của các nước phương Tây khác với của Trung Quốc, nhưng điều đó không thể buộc Nhật Bản phải chấm dứt hợp tác kinh tế một cách máy móc với một quốc gia phi dân chủ”.

Cựu Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto cho rằng những người thuộc nhóm gọi là “phái cải cách” ở Trung Quốc đã phải hứng chịu sự chỉ trích của dư luận trong nước – họ vừa bắt tay vào cải cách mở cửa thì xảy ra sự kiện Thiên An Môn. Tuy vậy, cải cách mở cửa là một lựa chọn đúng đắn và không có lý do gì để ngừng cấp ODA.

Giáo sư Aiko Takahara cho biết mặc dù Mỹ luôn nhấn mạnh vấn đề nhân quyền và hạn chế trao đổi với Trung Quốc, nhưng cách doanh nghiệp Nhật Bản vẫn duy trì giao thương với nước này. Phải chăng Mỹ lo ngại Nhật Bản và Trung Quốc có thể bắt tay với nhau sau lưng mình?

Hội nghị thượng đỉnh ngay sau sự kiện Thiên An Môn: Nhật Bản nỗ lực tránh đề Trung Quốc bị cô lập

Tài liệu mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản vừa công khai cho thấy rõ rằng sau sự kiện Thiên An Môn, một hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo các nước phát triển đã được tổ chức nhằm thông qua một tuyên bố chính trị lên án gay gắt Trung Quốc. Khi đó, Chính phủ Nhật Bản đã đề xuất một tuyên bố với lời lẽ ôn hòa nhằm tránh việc Trung Quốc bị cô lập.

Theo đó, ngay sau sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6/1989, Hội nghị thượng đỉnh G7 đã được tổ chức ở ngoại ô thủ đô Paris,Pháp, với mục tiêu lớn nhất là bàn thảo cách thức phản ứng đối với Chính phủ Trung Quốc sau hành động đàn áp dã man sinh viên và người dân Trung Quốc biểu tình đòi dân chủ gây thương vong lớn.

Trong tài liệu được công bố có đề cập rằng khi lãnh đạo Pháp và các nước khác muốn thông qua một tuyên bố chính trị chỉ trích gay gắt Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản lại hướng tới một tuyên bố ôn hòa hơn để tránh cô lập Trung Quốc. Ban đầu, tuyên bố chính trị mà Pháp đề xuất mô tả phản ứng của Chính phủ Trung Quốc là đàn áp và hành quyết dã man, đồng thời kiến nghị các biện pháp trừng phạt như ngừng hoạt động trao đổi cấp cao và hợp tác quân sự và hoãn các khoản vay mới của Ngân hàng Thế giới dành cho Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản lại muốn dập tắt những chỉ trích đối với Trung Quốc và không đề cập đến các biện pháp trừng phạt, đồng thời tìm cách tiếp cận từng nước để đưa vào dự thảo tuyên bố chính trị quan điểm không để Trung Quốc bị cô lập và muốn Trung Quốc tự giải quyết vấn đề nội bộ của mình.

Cho dù vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nước nhưng Nhật Bản vẫn kiên trì phương châm loại bỏ nội dung cô lập Trung Quốc ra khỏi tuyên bố chính trị. Thủ tướng Nhật Bản khi đó Sosuke Uno đã tiếp cận thuyết phục Jacques Attali, người phụ trách đàm phán phía Pháp. Kết quả là, tuyên bố được đưa ra thể hiện phương châm của Nhật Bản là tạo điều kiện để Trung Quốc không bị cô lập và khôi phục quan hệ hợp tác với nước này trong thời gian sớm nhất có thể.

Nguyên Đại sứ Nhật Bản tại Trung Quốc Yuji Miyamoto, người đã tham gia các cuộc thảo luận về tuyên bố chính trị khi đó với tư cách nhân viên Bộ Ngoại giao, cho biết cô lập Trung Quốc là việc không nên làm vì hành động này có thể kích động Trung Quốc và khơi dậy tinh thần dân tộc của người dân nước này một cách không cần thiết.

Giáo sư Akio Takahara bình luận rằng nếu xét trong bối cảnh hiện nay, nhiều người có lẽ sẽ đặt câu hỏi vì sao Nhật Bản lại giúp Trung Quốc nhiều đến vậy. Việc ủng hộ chính sách cải cách mở cửa của Trung Quốc dường như sẽ khiến Nhật Bản phải đối mặt với nhiều khó khăn sau này. Lập trường của Nhật Bản khi đó nên bị coi là một quyết định đáng tiếc trong quá trình phát triển lâu dài.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 27/12/2020.