Tại sao lập trường của Ấn Độ về Biển Đông lại quan trọng?


Abhijit Singh

Trong chuyến thăm New Delhi mới đây, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã có các cuộc thảo luận sâu rộng với Thủ tướng nước chủ nhà Narendra Modi và Ngoại trưởng Sushma Swaraj. Chương trình nghị sự được cho là bao gồm cả một số vấn đề song phương gai góc – việc Trung Quốc phản đối Ấn Độ gia nhập Nhóm các nhà cung cấp hạt nhân (NSG), Bắc Kinh phản đối Liên hợp quốc trừng phạt thủ lĩnh mạng lưới Jaish-e-Mohammed (JeM) Masood Azhar và vấn đề hành lang kinh tế Trung Quốc – Pakistan. Tuy nhiên, trong danh sách này lại thiếu vắng vấn đề biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) – chủ đề Bắc Kinh dường như đã ngăn cản thảo luận trong bất kỳ hoàn cảnh hay hình thức nào.

Nhưng kỳ cục thay, một ngày sau khi ông Vương Nghị trở về Bắc Kinh, phương tiện truyền thông Trung Quốc đã ca ngợi Ấn Độ là “nước trung lập về vấn đề Biển Đông” – như thể Ngoại trưởng Trung Quốc đã có được một sự bảo đảm từ Ấn Độ rằng nếu vấn đề này từng được đưa ra thảo luận trong một diễn đàn quốc tế thì New Delhi hứa sẽ không đứng về bên nào. Trong khi đó, báo chí Ấn Độ đã chỉ ra rằng mặc dù chưa bao giờ đề cập đến Biển Đông trong các cuộc thảo luận chính thức của mình, Ngoại trưởng Trung Quốc đã đưa vấn đề này ra một cách không chính thức với giới truyền thông. Trả lời câu hỏi của một phóng viên, ông Vương Nghị đã trịnh trọng tuyên bố Ấn Độ cần phải quyết định “lập trường của nước này về vấn đề Biển Đông” – một dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự ủng hộ đối với các tranh chấp lãnh thổ đang gây tranh cãi ở Đông Nam Á có lẽ là mục đích thực sự trong chuyến thăm của ông này.

Điều thú vị là, trước chuyến thăm Ấn Độ của ông Vương Nghị, tờ “Thời báo Hoàn Cầu”, một tờ báo khổ nhỏ được nhiều người xem là cơ quan ngôn luận của Chính phủ Trung Quốc, cảnh báo New Delhi rằng tình trạng không thân thiện ở bề ngoài này về vấn đề Biển Đông đang có khả năng gây tổn hại cho các mối quan hệ song phương và có thể tạo ra những trở ngại cho các doanh nghiệp Ấn Độ tại Trung Quốc. Tờ báo viết: “Thay vì có những vướng mắc không cần thiết với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông trong chuyến thăm của ông Vương Nghị, Ấn Độ cần phải tạo ra một bầu không khí tốt đẹp cho hợp tác kinh tế, trong đó có giảm thuế… trong bối cảnh các cuộc đàm phán về thương mại tự do đang diễn ra”.

Rõ ràng, Trung Quốc vẫn lo lắng rằng Ấn Độ có thể cùng các nước khác nêu vấn đề gây tranh cãi này ra tại Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G20) được tổ chức tại Hàng Châu vào tháng tới. Với việc Mỹ chắc chắn sẽ khơi lại việc Tòa Trọng tài bác bỏ những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về “đường 9 đoạn”, Bắc Kinh quyết tâm tập hợp sự ủng hộ cho lập trường của mình về vấn đề này. Chuyến thăm Ấn Độ của ông Vương Nghị được nhiều người coi là nằm trong nỗ lực vận động hành lang của Trung Quốc nhằm đảm bảo New Delhi sẽ không tham gia cùng Washington và những nước ủng hộ Washington trong việc đẩy Bắc Kinh vào thế phải phòng thủ bằng cách đưa vấn đề Biển Đông ra hội nghị G20.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể tuyên bố rằng bằng cách tránh đề cập đến Biển Đông trong các cuộc thảo luận với ông Vương Nghị, Bắc Kinh có thể kết luận một cách an toàn rằng New Delhi đồng ý với lập trường của Trung Quốc về vấn đề này. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc phải biết rằng trong khi New Delhi tôn trọng quan điểm của Trung Quốc thì Ấn Độ lại chọn một lập trường trên nguyên tắc về những tranh chấp ở Biển Đông. Vì ba lý do, Đông Nam Á và vùng ven biển đang tranh chấp của khu vực này có tầm quan trọng đối với lợi ích của Ấn Độ.

Đầu tiên, những kết nối về thương mại và kinh tế của Ấn Độ ở Thái Bình Dương đang trở nên mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Không chỉ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các khu vực mục tiêu chủ chốt ở vùng Viễn Đông Thái Bình Dương trong chính sách “Hành động phía Đông”, những khu vực chung ở Đông Á ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng cho phát triển kinh tế của Ấn Độ. Với việc ngày càng phụ thuộc vào eo biển Malacca cho các luồng hàng hóa và dịch vụ, vấn đề kinh tế đang ngày càng là một yếu tố quan trọng trong chính sách Thái Bình Dương của Ấn Độ. Trung Quốc phải biết rằng các cuộc xung đột lãnh thổ ở Biển Đông đe dọa xu hướng phát triển kinh tế của Ấn Độ trong tương lai, tạo ra một trở ngại không thể chấp nhận được đối với thương mại khu vực.

Thứ hai, Ấn Độ tin rằng các tranh chấp ở những khu vực ven biển Đông Nam Á là một phép thử đối với luật biển quốc tế. Sau khi Tòa Trọng tài ra phán quyết về Biển Đông, New Delhi cảm thấy bắt buộc phải có một lập trường nguyên tắc về vấn đề tự do hàng hải và tiếp cận thương mại như đã ghi trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Bắc Kinh phải biết rằng dù họ tìm kiếm những đảm bảo từ Ấn Độ về lập trường trung lập đối với vấn đề Biển Đông thì New Delhi khó có thể bỏ qua sự xâm lược của các tàu hải quân, máy bay và tàu ngầm có vũ trang của Trung Quốc trong khu vực này.

Bất kể sau đó có các nhượng bộ mà Bắc Kinh sẵn sàng đưa ra với Ấn Độ về vấn đề NSG và các vấn đề song phương, New Delhi có lý do để tiếp tục quan sát các cuộc diễn tập trên biển của Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương với sự nghi ngờ. Với tất cả sự vui vẻ thể hiện trong chuyến thăm của ông Vương Nghị, Bắc Kinh vẫn chưa giải thích sự hiện diện trên biển đang phát triển nhanh chóng của mình trong vùng duyên hải Nam Á. Lý do yếu ớt là vì các hoạt động chống cướp biển để biện minh cho việc triển khai các tàu ngầm Trung Quốc ở Ấn Độ Dương khiến nhiều nhà phân tích hàng hải của Ấn Độ tin rằng Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công chiến lược lớn hơn ở Ấn Độ Dương.

Cuối cùng, Bắc Kinh phải biết rằng New Delhi thừa nhận mối đe dọa do sự gây hấn của Trung Quốc gây ra cho các khu vực chung ở châu Á rộng lớn hơn – đặc biệt là sự mất tính đối xứng nghiêm trọng của cán cân quyền lực hiện có. Để góp phần cho một trật tự hàng hải khu vực công bằng, New Delhi sẽ có một lập trường khôi phục sự cân bằng chiến lược trong khu vực biển châu Á.

Tất nhiên, có những điều mà New Delhi không phải ở vị trí để có thể chính thức truyền đạt với Bắc Kinh. Ví dụ, mối tương quan mà các nhà phân tích hàng hải Ấn Độ nhận thấy giữa việc tuần tra hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông và những triển khai gia tăng ở khu vực Ấn Độ Dương; hoặc sự nghi ngờ trong giới chiến lược của Ấn Độ rằng Trung Quốc có thể sử dụng các căn cứ ở Biển Đông của mình như một bàn đạp cho sự tích cực thể hiện sức mạnh ở Ấn Độ Dương.

Bắc Kinh có thể ngạc nhiên khi biết rằng nhiều nhà phân tích và hoạch định chính sách của Ấn Độ coi phản ứng hung hăng của Trung Quốc đối với phán quyết của Tòa Trọng tài như một phần của một chiến lược rộng lớn hơn để thể hiện quyền lực trong các không gian biển rất quan trọng của châu Á. Tuy nhiên, các chuyên gia Ấn Độ nhận ra rằng Trung Quốc lại thể hiện lập trường sức mạnh ở Biển Đông, nơi nước này sở hữu một số đảo rất quan trọng.

Những gì mà New Delhi thực sự lo ngại là về hoạt động xây dựng và quân sự hóa các cấu trúc mà Bắc Kinh sở hữu – đặc biệt là việc triển khai các tên lửa, máy bay chiến đấu và thiết bị giám sát ở quần đảo Trường Sa, cho phép Hải quân Quân giải phóng nhân dân Trung QUốc (PLAN) giám sát hiệu quả toàn bộ các hoạt động trên biển ở Biển Đông.

Các chuyên gia Ấn Độ cũng thừa nhận vai trò quan trọng của lực lượng dân quân Bắc Kinh trong việc đạt được các mục tiêu trong khu vực. Ấn Độ biết rõ rằng mối đe dọa chính đối với an ninh hàng hải ở châu Á không phải đến nhiều từ PLAN mà là từ các lực lượng không chính quy của Trung Quốc.

Các tàu giám sát, tàu bảo vệ bờ biển và tàu đánh cá của Trung Quốc là lực lượng thực sự đằng sau sự thống trị không gian biển của Bắc Kinh.

Với sự mở rộng các hoạt động hàng hải của Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương, New Delhi lo ngại việc gia tăng sự hiện diện của các tàu không phải là tàu thân xám (tàu hải quân) ở phía Đông Ấn Độ Dương. Hiện tại, hạm đội tàu đánh cá xa bờ của Trung Quốc là lớn nhất thế giới và là một thực thể thương mại hàng hải được bao cấp là chủ yếu.

Trong khi việc gia tăng sự hiện diện của các tàu này không phải luôn gây ra một mối đe dọa về an ninh nhưng Ấn Độ vẫn cảnh giác với hoạt động hàng hải phi quân sự của Trung Quốc ở phía Đông Ấn Độ Dương.

Điều này cho thấy không có gì khiến Ấn Độ âu lo nhiều như viễn cảnh của các căn cứ hải quân Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương. Sự hoài nghi Trung Quốc của Ấn Độ được thuyết phục bởi kế hoạch tiến hành các chiến dịch hàng hải của Bắc Kinh ở Ấn Độ Dương liên quan đến việc xây dựng nhiều cơ sở hậu cần.

Thỏa thuận 10 năm của Trung Quốc với Djibouti năm 2015 về việc thành lập một cơ sở hậu cần hải quân ở khu vực Obock ở phía Bắc được nhiều chuyên gia Ấn Độ xem là minh chứng cho các tham vọng chiến lược của PLAN ở khu vực Ấn Độ Dương.

Điều này không có nghĩa là New Delhi sẽ tham gia với Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc. Ngược lại các nhà hoạch định chính sách của Ấn Độ rõ ràng nhận ra rằng các cuộc tập trận hải quân ở Biển Đông nhấn mạnh đến “tự do hàng hải” là sự gợi ý nguy hiểm. Trong khi Ấn Độ muốn chứng kiến tất cả các bên hành động phù hợp với luật pháp, New Delhi sẽ không đứng về bên nào trong các tranh chấp lãnh thổ này.

Mặc dù vậy, khả năng Trung Quốc có thể làm lu mờ Ấn Độ trong “sân sau” của mình sẽ tiếp tục thúc đẩy một sự đáp trả an ninh ở New Delhi, ngay cả khi nước này tìm cách tăng cường sự hiện diện hải quân Ấn Độ trong các vùng biển gần và mở rộng của mình.

Tất nhiên, các nhà lãnh đạo Ấn Độ không thể nói lên toàn bộ những lo lắng của mình đối với các chiến dịch hàng hải của Trung Quốc ở châu Á. Bất chấp những nhượng bộ dành cho New Delhi, Bắc Kinh phải biết rằng Ấn Độ sẽ không đồng ý với một thỏa thuận mang tính thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông.

Nguồn: Viện nghiên cứu và phân tích quốc phòng (IDSA) – Ấn Độ

TLTKĐB – 31/08/2016

Advertisements

Sự thúc đẩy bất ngờ của Thủ tướng Modi đối với quan hệ Ấn – Mỹ: Phần cuối


Không gian của Modi dành cho hoạt động ngoại giao cao hơn đáng kể so với người tiền nhiệm của ông, Manmohan Singh, mà sự thiếu quyền lực chính trị của ông này và sự thiếu khả năng chính sách đối ngoại của đảng ông đã kìm hãm ông mạnh mẽ. Trong khi đảng Quốc đại bị tê liệt bởi một nỗi sợ hãi gần như vô cớ là gây khó chịu cho những sự nhạy cảm của Trung Quốc và trong quá trình đi đến hủy hoại các mối quan hệ của New Delhi với các đối tác của nó (như Nhật Bản và Mỹ), Modi đã có một vị thế chắc chắn hơn từ chính lúc ông đảm nhận chức vụ.

Trong khi Modi công khai nói về “chủ nghĩa bành trướng” của Trung Quốc và bắt đầu có các biện pháp cụ thể để bảo vệ Ấn Độ khỏi các tác động tiêu cực của công cuộc hiện đại hóa quân sự nhanh chóng của Trung Quốc, Modi cũng đã nói rõ rằng ông sẽ làm việc để tranh thủ đầu tư của Trung Quốc vào Ấn Độ. Hoạt động ngoại giao mạnh mẽ của Modi trong những tháng đầu nắm quyền của ông dường như đã khiến Trung Quốc nhận thấy rằng New Delhi không có sự lựa chọn nào trong một bối cảnh địa chiến lược toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng. Điều này đã làm gia tăng không gian chiến lược của Ấn Độ, điều Modi hi vọng sẽ có tác dụng đòn bẩy trong sự can dự của ông với Bắc Kinh. Quả thực, Modi đã bắt đầu quá trình tái can dự với các láng giềng gẫn gũi của Ấn Độ và đưa ra một chí hướng mới cho các quan hệ của Ấn Độ với các quốc gia có cùng tư tưởng chẳng hạn như Australia, Nhật Bản và Việt Nam.

Ở thời điểm khi Trung Quốc làm cho các nước láng giềng của mình trở nên xa lánh bằng giọng điệu và các hành động gây hấn của nước này, Ấn Độ có một cơ hội duy nhất để mở rộng vị thế của mình ở khu vực châu Á rộng lớn và chủ động làm việc với các quốc gia có cùng tư tưởng khác để đảm bảo một trật tự khu vực ổn định. Trung Quốc rõ ràng là quá lớn và quá mạnh khiến các nước trong khu vực không thể phớt lờ. Nhưng hiện nay các nước ở vùng phụ cận của Trung Quốc đang tìm cách mở rộng không gian chiến lược của họ bằng cách vươn tay đến các cường quốc khu vực và toàn cầu khác. Các nước nhỏ hơn trong khu vực này hiện giờ trông đợi Ấn Độ hành động như một nước cân bằng do ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc và khoảng trống lãnh đạo đang mở rộng hơn ở khu vực, trong khi các nước lớn hơn xem Ấn Độ là một động cơ hấp dẫn đối với tăng trưởng khu vực.

Để phát huy trọn vẹn tiềm năng của mình và đáp ứng những kỳ vọng của khu vực, Ấn Độ sẽ phải thực hiện một công việc thuyết phục hơn, đó là nổi lên như một đối tác chiến lược đáng tin cậy của khu vực. Ấn Độ, về phần mình, sẽ không chỉ muốn hội nhập kinh tế hơn nữa với khu vực phát triển nhanh nhất thế giới, mà còn muốn thách thức Trung Quốc ở ngoại vi của nước này. Khi cán cân sức mạnh khu vực ở châu Á thay đổi và khi chính sự cố kết của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) bị hoài nghi, Ấn Độ sẽ trải qua những đòi hỏi mới. New Delhi sẽ cần phải đảm bảo với các quốc gia khu vực về sự đáng tin cậy của nước này không chỉ như là một đối tác kinh tế và chính trị mà còn như là một bên đem lại an ninh, với sự tập trung vào hợp tác quốc phòng, các cuộc tập trận chung, và tăng cường sự hiện diện của Hải quân Ấn Độ ở khu vực.

Trong bối cảnh này, các mối quan hệ của Ấn Độ với Nhật Bản dưới thời Modi có vẻ sẽ thú vị để theo dõi. Modi có một mối quan hệ thân thiết với Shinzo Abe, là một trong số chỉ ba người mà Thủ tướng Nhật Bản theo dõi trên mạng Twitter. Các công ty Nhật Bản đã đầu tư mạnh vào bang Gujarat. Tại cuộc Đối thoại Shangri-La thường niên tại Singapore hồi tháng 5/2014, Abe đã quả quyết về một vai trò an ninh lớn hơn của Nhật Bản ở châu Á bằng cách trợ giúp các quốc gia như Philippines đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, gợi ý rằng “Nhật Bản sẽ đem lại sự trợ giúp tối đa của mình cho nỗ lực của các quốc gia ASEAN khi họ làm việc để đảm bảo an ninh của các vùng biển và vùng trời”. Ông đã tiếp tục nhấn mạnh sự hợp tác giữa Mỹ – Nhật Bản – Ấn Độ như là một động lực thúc đẩy cho an ninh khu vực và sự thịnh vượng của khu vực “Ấn Độ – Thái Bình Dương”.

Không phải không đáng chú ý là chuyến thăm nước ngoài thứ hai của Modi sau Bhutan là đến Nhật Bản vào tháng 9/2014. Nhật Bản cũng đã trải thảm đỏ chào đón Modi, chuyến thăm song phương đầu tiên của ông ra khỏi tiểu lục địa này kể từ khi trở thành Thủ tướng. Mặc dù Ấn Độ và Nhật Bản đã không thể ký kết một thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự mà sẽ cho phép Ấn Độ được trang bị hạt nhân nhập khẩu công nghệ của Nhật Bản cho các nhà máy điện nguyên tử của nước này, Nhật Bản có kế hoạch đầu tư 35 tỷ USD vào các dự án của khu vực tư nhân và công cộng ở Ấn Độ trong 5 năm tới. Trong chuyến thăm của Modi, Ấn Độ và Nhật Bản đã ký kết 5 hiệp ước bao gồm các trao đổi quốc phòng và hợp tác trong năng lượng sạch, đường bộ và đường cao tốc, và chăm sóc sức khỏe, trong số các vấn đề khác. Nhật Bản cũng đã dỡ một lệnh cấm đối với 6 thực thể của Ấn Độ, gồm cả Hindustan Acronautics Limited (HAL), tập đoàn đã bị áp đặt lệnh cấm sau các vụ thử hạt nhân hồi năm 1988. Hứa hẹn với các nhà đầu tư Nhật Bản rằng “sẽ không có tệ quan liêu mà chỉ có thảm đỏ chờ các bạn ở Ấn Độ”, Modi đã mời gọi các nhà đầu tư Nhật Bản trong khi ca ngợi Ấn Độ như một điểm đến có lợi cho kinh doanh, đặc biệt là cho lĩnh vực sản xuất.

Sự vươn xa ngoại giao chủ động của Modi ở khu vực hẳn cổ vũ cho Washington, mà phần lớn vẫn ủng hộ những khát vọng toàn cầu của Ấn Độ bao gồm cả một sự hiện diện mạnh mẽ hơn của Ấn Độ ở châu Á. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó là Leon Panetta đã gọi Ấn Độ là một “đinh chốt” của sự tái cân bằng mang tính chiến lược của Washington sang châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2012, và Phó Tổng thống Joe Biden đã miêu tả chính sách “Hướng đông” của Ấn Độ là đáng ca ngợi đối với chiến lược “tái cân bằng sang châu Á” của Mỹ. Với một sức mạnh mãnh liệt nhiều hơn một chút được truyền vào sự can dự song phương, Mỹ có thể được nhắc nhở rằng Ấn Độ vẫn là một trong số ít các quốc gia  Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có chung các lợi ích chiến lược trọng yếu. Quả thực, điều này dường như đúng với những gì mà Thủ tướng Modi đang nỗ lực thực hiện trong những tháng đầu tiên cầm quyền của ông.

Đem lại sức sống mới cho Ấn Độ và các mối quan hệ của nước này

Kể từ khi Chính quyền Modi lên nắm quyền ở New Delhi, có một nỗ lực được nối lại cả ở Ấn Độ lẫn Mỹ nhằm củng cố các mối quan hệ. Modi đã là một ẩn số ở Washington, ngoại trừ cuộc tranh luận về vai trò của ông trong các cuộc bạo loạn ở Gujarat hồi năm 2002 – mà đã dẫn đến một câu chuyện một chiều về người đàn ông này. Sự nổi lên của ông đã biến đổi các hoạt động chính trị trong nước của Ấn Độ theo một số cách cơ bản. Tương tự trên mặt trận chính sách đối ngoại, ông có cơ hội để xa rời khỏi sự bất đồng trong quá khứ. Một trong những nhiệm vụ chính của ông là tìm cách đem lại sức đà mới cho các mối quan hệ Mỹ – Ấn đang suy giảm.

Chuyến thăm của Modi tới Mỹ hồi tháng 9/2014 đã truyền một động lực mới cho các mối quan hệ Mỹ – Ấn. Đường hướng của ông không theo lệ thường, khi ông tiếp cận các khu vực cử tri nằm ngoài cấp độ chính phủ chẳng hạn như người Mỹ gốc Ấn và khu vực doanh nghiệp của Mỹ. Modi đã tiếp cận cộng đồng Ấn – Mỹ gồm 2,8 triệu người bằng một cách thức chưa từng có tiền lệ – bằng việc có một bài diễn văn như một ngôi sao nhạc rock trước đám đông khán giả gồm hơn 18.000 người tại quảng trường Madison Square Garden ở New York và xuất hiện tại Global Citizen Festival ở Central Park, nơi ông được diễn viễn Hollywood Hugh Jackman giới thiệu.

Trong một lần đầu tiên khác, ông đã cùng viết một bài xã luận với Tổng thống Obama, trong đó hai nhà lãnh đạo đã cho rằng đã đến lúc để “thiết lập một chương trình nghị sự mới, một chương trình nghị sự hiện thực hóa những lợi ích cụ thể cho người dân của chúng ta”. Trong chuyến thăm của Modi tới Washington, hai nước không chỉ đã gia hạn thỏa thuận hợp tác quốc phòng năm 2005 thêm 10 năm nữa, mà còn mở rộng phạm vi của thỏa thuận này bằng việc tuyên bố rằng hai nước sẽ “đối đãi với nhau ở cùng một mức độ như những đối tác thân thiết nhất của mình” về các vấn đề bao gồm “công nghệ quốc phòng, thương mại, nghiên cứu, cùng sản xuất và cùng phát triển”. Cả hai nước đã bày tỏ sự ủng hộ đối với tự do hàng hải ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trong tuyên bố chung của hai nước, báo hiệu rằng Chính quyền Modi không do dự nêu bật sự tương đồng của New Delhi với Washington về các vấn đề khu vực. Mỹ cũng đã bày tỏ sự sẵn sàng của mình trong việc tăng cường quan hệ đối tác công nghệ với Hải quân Ấn Độ.

Về việc Ấn Độ phủ quyết Thỏa thuận tạo thuận lợi thương mại (TFA) tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cả hai bên đã thừa nhận rằng, khi họ tiến tới, họ sẽ cần phải cân nhắc quan điểm của nhau. Các mối quan hệ chống khủng bố và tình báo song phương đã có bước nhảy vọt với việc tuyên bố chung đề cập đến “các nỗ lực chung và phối hợp” để triệt phá những nơi trú ẩn an toàn của các mạng lưới khủng bố và tội phạm như LeT, Jaish-e-Mohamed, D-Company, mạng lưới Haqqani, và al-Qaeda.

Modi đã đưa ra một tầm nhìn về các mối quan hệ Mỹ – Ấn như là một mối quan hệ giữa những người ngang hàng: ông lập luận, nếu Mỹ có một khả năng độc nhất vô nhị là thu hút người dân từ khắp các nơi của thế giới, Ấn Độ cũng phải có một khả năng riêng biệt để trở thành một phần không thể tách rời của các xã hội khác nhau mà họ di cư đến, đóng góp cho các xã hội này theo các cách thức vật chất. Chính sự tint ưởng của Modi vào tương lai kinh tế của Ấn Độ và sự tin tưởng của khu vực doanh nghiệp Mỹ vào cương vị quản lý nền kinh tế Ấn Độ của Modi đã dẫn đến các khoản đầu tư trị giá 41 tỷ USD vào Ấn Độ trong 3 năm tới – và đây chỉ là 20% những gì được trông đợi từ Mỹ.

Khi Mỹ bố trí lại sự lãnh đạo của nước này trong một bối cảnh chiến lược ngày càng phức tạp của châu Á, và khi Ấn Độ bắt đầu có hành động kinh tế và quân sự đồng thời, hai nước cần nhau hơn bao giờ hết. Modi đã ra hiệu một cách dứt khoát rằng ông không bị sa lầy bởi những sự ưa thích hệ tư tưởng của những người tiền nhiệm của mình và rất mong muốn tiếp sức sống cho các mối quan hệ song phương. Ông đã sẵn sàng can dự một cách tự tin với các cường quốc toàn cầu, gồm cả Mỹ, nhằm thúc đẩy các mục tiêu phát triển của Ấn Độ hơn nữa.

Về phần mình, Washington chắc chắn cần phải chủ động tiếp cận Modi và đảm bảo với ông rằng dù quá khứ không thể bị xóa bỏ, tương lai của các mối quan hệ Mỹ – Ấn có thể sẽ sáng sủa nếu hiện tại được xử lý một cách hiệu quả. Không cần đến những dự đoán reo rắc sợ hãi – nếu quá khứ của ông là bất kỳ sự chỉ dẫn nào thì Modi là người ở vị trí thích hợp nhất để thay đổi chiều hướng của mặt trận song phương Mỹ – Ấn. Và nếu căn cứ vào chuyến thăm của ông đến Mỹ hồi tháng 9/2014, ông có thể đã làm điều đó.

Nguồn: The Washington Quartely

CVĐQT số 4/2016

Sự thúc đẩy bất ngờ của Thủ tướng Modi đối với quan hệ Ấn – Mỹ: Phần IV


Modi ở trong và ngoài Nam Á

Washington hẳn cũng hoan nghênh sự vươn tay của Ấn Độ đến Pakistan dưới thời Modi. Bóng ma của những căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan – tại một thời điểm khi Mỹ đang bắt đầu giảm sự hiện diện quân sự khu vực của nước này – đã làm dấy lên những quan ngại về sự ổn định của khu vực. Vài ngày trước chuyến thăm của Thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif đến buổi lễ tuyên thệ vào ngày 26/4/2014 của Modi, lãnh sự quán Ấn Độ tại Herat, nằm ở miền Tây Afghanistan, đã bị các chiến binh của nhóm khủng bố Lashkar-e-Taiba (LeT) tấn công. Đây là cuộc tấn công thứ 8 nhằm vào các phái bộ và nhân viên của Ấn Độ ở Afghanistan kể từ năm 2001, tất cả các cuộc tấn công này đều được thực hiện bởi mạng lưới Haqqani hay LeT, cấu kết với tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS).

Có những mối nguy hiểm về tình hình an ninh khu vực đang hiện ra khi các lực lượng phương Tây rút khỏi Nam Á. Ngoài Afghanistan, thậm chí là tương lai của Pakistan cũng đang bị đe dọa bởi tình trạng bạo lực lan tràn ở các thành phố của Pakistan. Bằng việc đi đến thỏa thuận với phe Taliban, quân đội và các đơn vị tình báo của Pakistan đã tạo ra một lực lượng đang tấn công chính các công dân của mình. New Delhi sẽ phải khẳng định vai trò của mình để đảm bảo sự ổn định của khu vực. Đây là một đòi hỏi đã có từ lâu của Washington, và những lời đề nghị ban đầu của Modi đối với các nước láng giềng cần đem lại sự tái đảm bảo. Mặc dù hiện nay Mỹ sẵn sàng hơn chấp nhận vai trò hai mang của Pakistan là đòi hỏi viện trợ của Mỹ trong khi đồng thời ngăn cản các hoạt động chống khủng bố của Mỹ ở Afghanistan, điều này chưa biến thành sự phối hợp chặt chẽ hơn với Ấn Độ, một điều gì đó mà Chính quyền Modi hi vọng sửa chữa.

Modi cũng đã đưa ra những dấu hiệu mạnh mẽ rằng an ninh trong nước sẽ đóng vai trò là một ưu tiên, khi những sự bất tương xứng tồn tại từ lâu trong các thể chế tình báo và chống khủng bố cần phải được sửa đổi. Việc bổ nhiệm A.K. Doval – một cựu lãnh đạo của Cục Tình báo, cơ quan tình báo trong nước của Ấn Độ – làm Cố vấn An ninh Quốc gia nêu bật ưu tiên này. Doval am hiểu sâu sắc cả về các hoạt động chính trị khu vực lẫn các vấn đề an ninh trong nước và có thể sẽ tỏ ra có ích trong việc định hình cấu trúc thể chế tình báo và chống khủng bố.

Ấn Độ dưới thời Modi cũng sẽ hướng đến việc khẳng định lại vai trò của mình là một nước cân bằng khu vực ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương một cách có ý nghĩa hơn. Khi các mối liên kết kinh tế của Ấn Độ với các nước khác nhau ở khu vực trở nên rộng mở hơn, các đòi hỏi cũng sẽ tăng lên để dần củng cố các mối quan hệ an ninh tại thời điểm mà uy thế của Trung Quốc trong trật tự toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng. Quả thực, việc đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể sẽ trở thành thách thức chính sách đối ngoại đáng kể nhất đối với New Delhi trong những năm tới. Trong khi Modi có thể thấy một sự mở cửa kinh tế dành cho Ấn Độ trong sự phát triển của Trung Quốc, Trung Quốc cũng đặt ra thách thức chiến lược nghiêm trọng nhất dưới hình thức phát triển kinh tế và quân sự ngoạn mục cũng như ảnh hưởng đang tăng lên của nước này ở vùng phụ cận của Ấn Độ. Mặc dù Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Ấn Độ, thâm hụt thương mại song phương của Ấn Độ đã lên tới hơn 40 tỷ USD từ chỉ 1 tỷ USD trong năm 2001 – 2002. Bất chấp sự ám ảnh trong giới tinh hoa chính sách đối ngoại của Ấn Độ với mọi thứ về Trung Quốc, chưa hoàn toàn rõ ràng liệu New Delhi có học được cách tư duy chiến lược về Trung Quốc và tất cả những gì mà uy thế đang tăng lên nhanh chóng của nước này trong hệ thống toàn cầu bao hàm đối với Ấn Độ không.

Modi đã tới thăm Trung Quốc 5 lần, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào, và ông rõ ràng đã bị ấn tượng bởi sự thành công về kinh tế của Trung Quốc. Về phần mình, Trung Quốc dường như cũng hứng thú với Modi. Chẳng hạn, tờ Thời báo Hoàn cầu (Global Times) do nhà nước điều hành đã lập luận rằng “các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ có thể trở nên gần gũi hơn dưới sự lãnh đạo của Modi”. Tờ báo này tiếp tục cho rằng “phương Tây đã thích ứng với Ấn Độ với một chính quyền trung ương yếu kém trong các thập kỷ trước”, và giờ với Modi việc đang nắm quyền “phương Tây lo sợ rằng một người hùng như Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ làm cho Ấn Độ trở nên thực sự mạnh mẽ và xây dựng đất nước này trở thành một kẻ thách thức phương Tây về mặt kinh tế và chính trị”. Modi đã được miêu tả là “Nixon” của Ấn Độ, người sẽ đưa các mối quan hệ Trung – Ấn lên các tầm cao mới, thậm chí còn nhấn mạnh rằng “phong cách và triết lý quản trị của Modi rất sát với thực tiễn của Trung Quốc”. Một số học giả Trung Quốc cũng đã cho rằng Modi sẽ phá vỡ thế bế tắc ở các cuộc đàm phán về biên giới khi ông “không mang gánh nặng lịch sử” về vấn đề mà “đã nảy sinh dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu đảng Quốc đại khi đó là Jawaharlal Nehru”.

Bắc Kinh không mất thời gian để tiếp cận Modi. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị, người đã đến thăm New Delhi hồi tháng 6 với tư cách là Đặc phái viên của Chủ tịch Trung Quốc để gặp gỡ ban lãnh đạo mới của Ấn Độ và thúc đẩy các mối quan hệ song phương, đã hoan nghênh chính phủ mới của Modi vì “truyền sức sống mới vào một nền văn minh cổ xưa”. Trong một nỗ lực để ve vãn New Delhi – tại thời điểm khi các mối quan hệ của Trung Quốc với Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á, gồm cả Việt Nam và Philippines, trở nên ngày một xấu đi – ông đã nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã sẵn sàng cho một giải pháp cuối cùng về các tranh chấp biên giới với Ấn Độ và sẵn sàng đầu tư nhiều hơn vào Ấn Độ.

Một sự tiếp cận sớm đối với Modi được xem là thiết yếu trong việc đảm bảo rằng New Delhi không nhanh chóng bị hút về một liên minh chống Trung Quốc đang nổi lên ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lớn hơn khi Mỹ thực hiện sự tái cân bằng mang tính chiến lược của mình sang khu vực này. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đặt chân đến Ấn Độ hồi tháng 9 và được Chính quyền Modi tiếp đón nồng nhiệt. Tập Cận Bình đã hứa hẹn rằng các công ty và sản phẩm của Ấn Độ – đặc biệt là gồm cả những sản phẩm do các ngành công nghiệp dược phẩm, nông nghiệp và chất đốt tạo ra – sẽ được trao quyền tiếp cận lớn hơn đối với các thị trường của Trung Quốc, trong một nỗ lực nhằm khắc phục tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng lớn giữa hai nước. So với 400 triệu USD mà Trung Quốc đầu tư vào Ấn Độ trong vòng 14 năm qua, nước này đã cam kết đầu tư 20 tỷ USD trong 5 năm tới. Đây là một phần của một thỏa thuận hợp tác thương mại và kinh tế kéo dài 5 năm với Trung Quốc với ý định cải thiện cán cân thương mại. Hai nước cũng đã ký kết một thỏa thuận trí giá 6,8 tỷ USD để thiết lập hai khu công nghiệp nhằm giảm bớt sự bất cân bằng thương mại.

Nhưng ngay cả khi Modi và Tập Cận Bình thảo luận về kinh tế và thương mại, các vấn đề an ninh đã nảy sinh khi hơn 200 binh sỹ Trung Quốc xâm nhập lãnh thổ tranh chấp tại khu vực Chumur ở vùng Ladakh và bắt đầu xây dựng một con đường dài 2 km, buộc quân đội Ấn Độ phải gấp rút tăng viện. Khoảng cùng thời điểm, Trung Quốc đã phản đối việc một kênh đào tưới nước đang được xây dựng tại Demchock, cách đó 80 km, và đưa hàng trăm thường dân đến để phản đối công việc mà người dân Ấn Độ đang làm.

Cách hành xử của Trung Quốc trong những năm gần đây đã và đang gây băn khoăn cho Ấn Độ, và thận trọng có thể là một dấu hiệu của sự vươn tay của Modi đến Trung Quốc, mặc dù Modi vẫn là một người theo chủ nghĩa dân tộc mong muốn nâng cao vị thế của Ấn Độ trên đấu trường quốc tế. Đề cập đến một đại hội bầu cử ở bang Arunachal Pradesh, bang có biên giới với Trung Quốc, Modi đã nhấn mạnh rằng Bắc Kinh sẽ phải từ bỏ “các chính sách theo chủ nghĩa bành trướng của nước này và tạo dựng các mối quan hệ song phương với Ấn Độ vì hòa bình, phát triển, và thịnh vượng của cả hai nước”.

Trong một động thái mang tính tượng trưng cao, một cựu tư lệnh lục quân Ấn Độ, Tướng V.K. Singh, được bầu làm một bộ trưởng trong nội các của Modi, nắm giữ cả hai nhiệm vụ là quản lý các vấn đề của các bang ở phía Đông Bắc Ấn Độ tiếp giáp với Trung Quốc và đồng thời là Quốc vụ khanh Bộ các vấn đề đối ngoại. Mặc dù Ấn Độ đã nỗ lực tăng cường phòng thủ biên giới với Trung Quốc trong một khoảng thời gian cho đến nay, quá trình đó đã thiếu sự chỉ đạo. Singh muốn ưu tiên phát triển ở khu vực Đông Bắc để thu hẹp khoảng cách với phát triển cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở phía bên kia biên giới. Trung Quốc cũng đưa ra yêu sách đối với hơn 90.000 km2 lãnh thổ có tranh chấp với New Delhi ở khu vực phía Đông dãy Himalaya, bao gồm phần lớn bang Arunachal Pradesh mà Trung Quốc gọi là Nam Tây Tạng.

Lần đầu tiên, một thành viên trẻ của quốc hội từ bang Arunachal Pradesh, Kiren Rijiju, đảm nhận chức vụ bộ trưởng chủ chốt trong nội các – Bộ trưởng Nội vụ – nhấn mạnh ý định của Chính quyền Modi là biến khu vực Đông Bắc đầy bất ổn của Ấn Độ thành một ưu tiên. Than vãn về thực tế rằng Ấn Độ, thậm chí sau 68 năm độc lập, đã không thể đảm bảo sự liên kết ở các khu vực biên giới của nước này và do đó đem lại cho Ấn Độ một lợi thế mang tính chiến lược, Rijiju đã lên tiếng về sự cần thiết phải tăng cường các lực lượng bảo vệ biên giới Ấn – Trung.

Modi cũng không do dự ve vãn các láng giềng của Trung Quốc. Chẳng hạn, ông đã mời thủ lĩnh chính trị của Chính quyền Tây Tạng đang sống lưu vong, Lobsang Sangay, tới buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của ông; Trung Quốc đã phản ứng lại bằng một động thái chính trị. Tương tự, Bhutan là lựa chọn của Modi cho chuyến thăm nước ngoài đầu tiên sau khi tuyên thệ với tư cách là Thủ tướng, không chỉ bởi vì ông muốn phát triển các mối liên kết kinh tế mạnh mẽ giữa các láng giềng của Ấn Độ, mà còn để kiểm tra sức hấp dẫn của Thimpu đối với Bắc Kinh. Chuyến thăm của Modi tới Nepal và sự vươn tay của chính quyền ông đến Myanmar và Sri Lanka cho thấy khao khát của ông muốn nắm lấy thế chủ động từ Trung Quốc ở vùng phụ cận của Ấn Độ.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Washington Quartely

CVĐQT số 4/2016

Thủ tướng Modi thăm Việt Nam khi chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ hướng sang Biển Đông – Phần cuối


Thăm dò dầu của Ấn Độ

Ấn Độ bị cuốn vào cuộc tranh chấp ở Biển Đông khi Việt Nam trao hai lô dầu ở ngoài khơi cho ONGC Videsh năm 2006. Một trong những lô dầu này đã bị bỏ trong khi ONGC Videsh vẫn tìm kiếm ở lô 128 mặc dù chưa có hy vọng tìm thấy dầu. Năm 2012, Công ty dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã mời thầu quốc tế 9 lô dầu, tất cả đều nằm trong EEZ của Việt Nam. Trong số này, có hai lô là 152 và 153 do CNOOC vẽ ra chồng lấn tới hơn một nửa lô 128 của ONGC.

Mặc dù ONGC Videsh từng bày tỏ ý định rút lui nhưng Việt Nam thúc giục Ấn Độ cần phải giữ chân ở khu vực này bất chấp sự phản đối của Trung Quốc. Kể từ đó, ONGC Videsh đã xin và định kỳ gia hạn hàng năm để giữ lô 128.

Trong cuốn sách ra năm 2014 về Biển Đông, cựu nhà báo Bill Hayton viết rằng chính dầu đã khiến chính quyền miền Nam Việt Nam chính thức sáp nhập 10 đảo ở Trường Sa vào tháng 9/1973 để các công ty dầu mỏ phương Tây an toàn khai thác quyền lợi ở ngoài khơi của mình. Lập trường này tiếp tục được Chính phủ Việt Nam thống nhất thừa hưởng khi tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa.

Thật thú vị, một bước điện ngoại giao năm 1978 do WikiLeaks tiết lộ cho thấy Ấn Độ đã bày tỏ quan tâm tới các nguồn tài nguyên hydrocarbon ở biển sâu của Việt Nam 4 thập niên trước. Bức điện tín ngoại giao từ Đại sứ quán Mỹ ở New Delhi viết: “Chúng tôi khẳng định với một quan chức cấp cao của Chính phủ Ấn Độ làm việc trong Bộ xăng dầu nước này về việc Ấn Độ đề nghị giúp Chính phủ Việt Nam khai thác các mỏ dầu ở ngoài khơi”. Đề nghị này rõ ràng là “một đề nghị không chính thức” của Bộ trưởng xăng dầu Ấn Độ K.D. Malaviya đối với đại sứ Việt Nam.

Tuy nhiên, bức điện tín trên cũng dẫn lời một quan chức giấu tên cho biết đề nghị này có thể không trở thành hiện thực vì Hà Nội đã “mở rộng lời mời tới các công ty dầu mỏ đa quốc gia trở lại Việt Nam”. Phải mất 10 năm sau để Ấn Độ tham gia vào lĩnh vực dầu mỏ của Việt Nam khi họ có lô 6.1 ở ngoài khơi bờ biển phía Nam, khi phía Ấn Độ nắm giữ 45% quyền lợi tham gia và phần còn lại là do 2 công ty dầu khí nhà nước Việt Nam nắm giữ. Hoạt động sản xuất bắt đầu năm 2002, trong đó phần của ONGC là 2,023 tỷ m3 khí. Giờ đây, sự hiện diện của Ấn Độ không chỉ là việc tiếp cận với nguồn cung dầu mỏ mà còn là một bên có lợi ích trong khu vực nhằm giữ cho các tuyến đường biển luôn mở khi mà 55% lưu lượng thương mại của Ấn Độ đi qua khu vực này.

Quan điểm của Ấn Độ về tranh chấp ở Biển Đông

Lập trường của Ấn Độ về tranh chấp ở Biển Đông đã trở nên có chút thay đổi trong những năm qua, nhưng nước này luôn tìm kiếm giải pháp theo luật pháp quốc tế và theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), rõ ràng là cũng giống lập trường của Việt Nam và Philippines khi muốn tìm một giải pháp đa phương. Lập trường của Trung Quốc là muốn tuyên bố tranh chấp này chỉ đơn thuần là tranh chấp song phương.

Trước khi tòa ra phán quyết, truyền thông chính thức của Trung Quốc đã liệt kê Ấn Độ vào trong danh sách 60 – 70 nước ủng hộ Bắc Kinh. Trung Quốc rõ ràng đã suy diễn lập trường của Ấn Độ dựa trên một câu duy nhất trong khuôn khổ 21 của thông cáo chung ngày 18/4 do ngoại trưởng các nước Nga, Ấn Độ và Trung Quốc đưa ra như sau:

“Nga, Ấn Độ, Trung Quốc cam kết duy trì một trật tự pháp lý trên biển và đại dương dựa trên các nguyên tắc luật pháp quốc tế, như phản ánh đặc biệt trong UNCLOS. Tất cả các tranh chấp liên quan nên được giải quyết thông qua các cuộc thương lượng và thỏa thuận giữa các bên liên quan. Trong khía cạnh này, các bộ trưởng đã kêu gọi tôn trọng hoàn toàn tất cả các quy định của UNCLOS cũng như Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những hướng dẫn trong việc thực hiện DOC”.

Một quan chức Bộ ngoại giao Ấn Độ nhận định: “Trung Quốc chỉ tiện thể đọc dòng giữa về các cuộc thương lượng “giữa các bên” mà phớt lờ câu đầu tiên và câu cuối cùng”. Mặc dù phán quyết trên được đưa ra sau khi Trung Quốc phản đối Ấn Độ gia nhập Nhóm các nhà cung cấp hạt nhân (NSG), tuyên bố của Ấn Độ không làm tăng tông lập trường truyền thống của Ấn Độ về Biển Đông. Tuyên bố đơn thuần chỉ “ghi nhận” phán quyết, kêu gọi kiềm chế và “tôn trọng triệt để” UNCLOS. Tuy nhiên, tuyên bố này lại không nói rõ Trung Quốc phải tuân thủ phán quyết này.

Sau khi tìm ra trật tự cân bằng tốt sau phán quyết của Tòa ở La Hay, các nguồn tin cho rằng New Delhi rõ ràng đang quan tâm tới việ thúc đẩy hợp tác với Việt Nam.

Từ không gian tới dệt may

Ngoài quan hệ quốc phòng, dự án chiến lược khác của Ấn Độ có thể ảnh hưởng tới khả năng của Việt Nam trong việc giám sát những diễn tiến trên Biển Đông là việc xây dựng một trung tâm theo dõi và xử lý hình ảnh vệ tinh của Tổ chức nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO). Ấn Độ đã đề xuất dự án này để thành lập một trạm tiếp nhận, theo dõi xử lý dữ liệu ở Việt Nam trong khuôn khổ ASEAN chứ không phải theo bối cảnh song phương. Một bản tin của hãng Reuters hồi tháng 1 cho rằng dự án này sẽ cho phép Việt Nam tiếp cận các hình ảnh vệ tinh về khu vực lân cận không ổn định của mình, vốn có thể phục vụ cho mục đích quân sự. Tại cuộc họp các ngoại trưởng ASEAN – Ấn Độ tại Lào hôm 25/7, Quốc vụ khanh Bộ Ngoại giao Ấn Độ V.K. Singh cho hay ISRO đã xác định được địa điểm cho “dự án còn trứng nước này”. Ông nói: “Tôi đề nghị Việt Nam xúc tiến việc giao đất và cung cấp các cơ sở hạ tầng khác tại địa điểm đã được lựa chọn để việc xây dựng trạm này có thể được tiến hành vào thời gian sớm nhất”.

Khi Ấn Độ lần đầu tiên bắt đầu cân nhắc nghiêm túc Việt Nam trong những năm đầu của chính sách “Hướng Đông” vào đầu những năm 1990, thì chủ yếu là qua lăng kính kinh tế khi quốc gia Cộng sản này – nước đã bắt đầu quá trình đổi mới – đang từ từ bắt đầu mở cửa cho các cơ hội từ bên ngoài. Hiện nay, khối lượng thương mại song phương đạt 8 tỷ USD và đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam trị giá hơn 1 tỷ USD. Thậm chí trong lĩnh vực kinh tế, Việt Nam cũng đang coi Ấn Độ sẽ thay thế sự chi phối của Trung Quốc về nguồn cung nguyên liệu thô cho ngành công nghiệp dệt may đang phát triển bùng nổ của mình. Trong chuyến thăm năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh rằng Ấn Độ “đã đồng ý hỗ trợ Việt Nam đa dạng hóa các nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may và may mặc”.

Tại một sự kiện thương mại diễn ra hồi tháng 8 năm ngoái, Đại sứ Việt Nam cho biết nước ông muốn “giảm sự phụ thuộc nặng nề vào nguồn cung sợi và bông từ Trung Quốc”.

Các quan chức cho rằng một chủ đề nữa trong chuyến thăm Việt Nam của ông Modi sẽ là nhấn mạnh đến các sợi chỉ liên kết văn hóa chung, đặc biệt là đạo Phật. Mặc dù là chế độ Cộng sản, tất cả các chuyến thăm cấp cao của Việt Nam đều có chuyến hành hương về Bodhgaya.

Nguồn: Defence News (Ấn Độ) – 08/08/2016

TKNB 09/08/2016

Sự thúc đẩy bất ngờ của Thủ tướng Modi đối với quan hệ Ấn – Mỹ: Phần III


Lập trường của Ấn Độ về các vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt là liên quan đến Trung Đông, cũng đã làm cho một bộ phận quan trọng trong bộ máy hành chính quan liêu của Mỹ trở nên xa lánh. Khi tình hình ở Afghanistan được tháo gỡ và khi sự trỗi dậy của Trung Quốc làm đảo lộn cán cân sức mạnh ở châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã trông đợi Ấn Độ sẽ giúp đem lại sự ổn định. Tuy nhiên, Ấn Độ đã không thể nổi lên như một nước cân bằng đáng tin cậy của khu vực – bất chấp ảnh hưởng quân sự và kinh tế của nước này. Ấn Độ vẫn là một cường quốc miễn cưỡng ngay cả ở trong vùng phụ cận của chính nước này và hầu như không cho thấy sự khao khát muốn được dẫn dắt các vấn đề an ninh khu vực. Đại chiến lược của Ấn Độ vẫn rất khó hiểu ngay cả đối với các bạn bè của nước này; chính sách quân sự của nước này bị sa lầy trong ngôn ngữ quan liệu. Bị các vấn đề quản trị trong nước làm cho tê liệt, Chính quyền Manmohan Singh đã không thể đưa ra một phản ứng chính sách thích đáng đối với các thách thức mà Ấn Độ đang gặp phải.

Với việc Mỹ từ từ rút khỏi Afghanistan, New Delhi đã lo lắng nhiều hơn không chỉ về việc Taliban trở lại nắm quyền. New Delhi cũng lo lắng về khát khao của một số người ở Washington muốn nhượng bộ Pakistan khiến gây bất lợi cho Ấn Độ và Afghanistan, ngay cả vì Mỹ thất vọng về việc Ấn Độ từ chối đảm nhận một vai trò tích cực hơn trong việc huấn luyện các lực lượng an ninh của Afghanistan. Việc Mỹ từ chối dẫn độ David Coleman Headley, một công dân Mỹ đã giúp lên kế hoạch tấn công khủng bố ở Mumbai hồi năm 2008, và quyết định của nước này cho phép quyền bất khả xâm phạm đối với hai cựu tướng lĩnh của Pakistan được cho là liên quan đến âm mưu này được xem là một phần của một sự thay đổi lớn hơn trong chính sách Nam Á của Washington. Đối với nhiều ở New Delhi, Chính quyền Obama dường như đã cho phép mối quan hệ với Ấn Độ trở nên mang tính giao thương hơn, nhưng cũng ít mang tính chiến lược hơn. Washington hầu như không dành thời gian cho các ưu tiên của Ấn Độ, với những điều gây khó chịu liên quan đến thương mại và các hạn chế thị thực đối với các chuyên gia công nghệ thông tin có vai trò không cân xứng trong ma trận Mỹ – Ấn lớn hơn.

Khi các mâu thuẫn song phương tăng lên, chẳng có ý tưởng lớn nào thúc đẩy mối quan hệ Mỹ – Ấn. Không bên nào sẵn sàng thực hiện bước đột phá về niềm tin giống với bước đột phá của George Bush về thỏa thuận hạt nhân dân sự. Mối quan hệ này dường như bị bế tắc ở một trạng thái ổn định. Thực tế là thỏa thuận này đã và đang bị bỏ mặc do thiếu sự chỉ đạo chính trị cùng với tình trạng quan liêu ở Washington và New Delhi, khiến gần như không thể có một triển vọng toàn diện. Cả Obama lẫn Manmohan Singh đều có các ưu tiên khác.

Cuộc bầu cử của Narendra Modi có lẽ là tin tức tốt nhất mà Washington có thể hi vọng trong các mối quan hệ Mỹ – Ấn. Trong khi cựu Thủ tướng Manmohan Singh có thể là một người bạn tốt của Obama, khả năng mà ông bộc lộ luôn tỏ ra có phần hạn chế. Và cho dù Modi có thể không có nhiều cảm tình dành cho Washington tầm nhìn chính sách và sự ủy thác mang tính quyết định của ông đã biến ông thành một đối tác hấp dẫn. Chắc chắn có những lý đáng tin để lo ngại về mối quan hệ đối tác Mỹ – Ấn trong tương lai, nhưng Modi với tư cách là Tân thủ tướng Ấn Độ không phải là một trong những lý do đó.

Modi và các mối quan hệ Mỹ – Ấn

Modi đưa ra một cơ hội cho cả New Delhi lẫn Washington để bắt đầu lại từ đầu. Sự nhấn mạnh của Modi đối với việc “sắp xếp lại các vấn đề trong nước đó thế giới sẽ bị thu hút bởi chúng ta” hẳn trở thành một sự thay đổi đáng mừng đối với Washington, cũng như quan điểm của ông rằng “sự hoạt động không đúng chức năng hiện nay ở New Delhi đã ngăn cản công cuộc hiện đại hóa quân đội thậm chí hết sức cần thiết và việc nâng cấp cơ sở hạ tầng quốc phòng của Ấn Độ”. Một Ấn Độ dựa trên quỹ đạo tăng trưởng kinh tế tích cực sẽ tự động truyền một động lực mới cho các mối quan hệ đang suy yếu. Modi đã nhanh chóng nhận ra rằng những thách thức mà Ấn Độ đang gặp phải với một Pakistan yếu ớt ở trong nước, tình trạng không chắc chắn về chính trị ở Afghanistan, bất ổn xung quanh ngoại vi của Ấn Độ, và một Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn bao giờ hết không thể được xử lý mà không có một mối quan hệ Mỹ – Ấn hiệu quả. Là một người theo chủ nghĩa thực dụng, Modi không thể phớt lờ vai trò mà các mối quan hệ mạnh mẽ với Mỹ sẽ đảm nhận trong việc duy trì tầm nhìn của ông về một Ấn Độ tiến xa về phương diện kinh tế và mạnh mẽ về phương diện quân sự. Các ưu tiên của ông chắc chắn là ở trong nước, nhưng một môi trường bên ngoài thuận lợi là một điều kiện thiết yếu để đạt được chương trình nghị sự trong nước đầy tham vọng của ông.

Ngay cả khi các cuộc tiếp xúc giữa hai chính phủ có thể cần thời gian để tập hợp sức kéo, khu vực doanh nghiệp của Mỹ sẽ không phải chờ đợi để tạo ra phần lớn những cơ hội mới ở Ấn Độ, đặc biệt là khi Modi đã công khai ve vãn các nhà đầu tư Mỹ trong quá khứ. Tham vọng của Mỹ đưa thương mại song phương từ mức 100 tỷ USD hiện giờ lên 500 tỷ USD chỉ có thể xảy ra nhờ một Thủ tướng Ấn Độ vẫn tập trung vào việc hồi sinh nền kinh tế. Không mấy ngạc nhiên, khu vực doanh nghiệp của Mỹ đã hoan nghênh sự ủy thác rõ ràng mà cử tri Ấn Độ trao cho BJP, cùng với sự trông đợi rằng nó sẽ mở đường cho việc New Delhi đưa ra quyết định có phần nhanh chóng mà không bị suy giảm dưới những sự thay đổi bất thường của các hoạt động chính trị liên minh.

Không giống như người tiền nhiệm của mình, Modi sẽ là chính mình, đưa ra những quyết định khó khăn và hoàn thành chúng. Nhiều người kỳ vọng rằng điều này sẽ cho phép chính phủ mới khởi đầu một thời đại những cải cách kinh tế lần hai hết sức cần thiết. Một số người đã miêu tả Ấn Độ là nước “gây thất vọng nhất” trong số 4 nước ban đầu của khối BRIC (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), chương trình cải cách kinh tế của nước này đang mất đi sức kéo dưới thời một chính phủ yếu kém và thiếu khả năng trong vòng 3 năm qua. Đồng rupee của Ấn Độ trong một khoảng thời gian nào đó từng là đồng tiền thể hiện kém nhất ở các thị trường đang nổi. Các cơ quan đánh giá tín dụng toàn cầu đã liên tục dọa dẫm trong 3 năm qua rằng sẽ hạ mức đánh giá tín dụng của Ấn Độ xuống 0 nếu nước này không thể tổ chức lại hệ thống tài chính (chẳng hạn, thâm hụt tài chính của ấn Độ đã ở mức 4,5% GDP trong năm 2013 – 2014). Nhấn mạnh sự suy thoái mạnh mẽ mà nền kinh tế Ấn Độ đã trải qua từ đầu năm 2011, khi thâm hụt tăng đến hơn 9%, tăng trưởng kinh tế của nước này đang ở trong thời kỳ đình trệ kéo dài nhất trong vòng 25 năm, sau khi đã tăng trưởng 4,7% trong năm tài khóa đã kết thúc vào tháng 3/2014.

Chính phủ UPA-II đã phải vật lộn để thúc đẩy thông qua các cải cách kinh tế nhằm thu hút vốn nước ngoài, nhưng sự phản đối đối với các cải cách thậm chí còn mạnh mẽ ngay ở bên trong đảng Quốc đại cầm quyền. Chỉ đến cuối năm 2012, Chính phủ Ấn Độ mới thông báo một số biện pháp cải cách, chẳng hạn như mở cửa các lĩnh vực siêu thị và hàng không cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm xua tan cảm giác về sự tê liệt chính sách ở New Delhi, nhưng nhiều người cho rằng đó là không đủ.

Hiện giờ có hi vọng rằng chính phủ mới sẽ đẩy nhanh việc đưa ra quyết định của chính phủ, giải quyết những tình trạng bế tắc về cơ sở hạ tầng, và đưa ra các chính sách thuận lợi cho doanh nghiệp để khôi phục lòng tin và kích thích đầu tư. Chính quyền Modi đã tiết lộ về một chương trình nghị sự chính sách đầy tham vọng nhằm mục đích kiểm soát lạm phát, xây dựng cơ sở hạ tầng, và thúc đẩy đầu tư. Hệ thống thuế không thể đoán trước và thất thường của Ấn Độ là một trong những trở ngại đáng kể nhất dối với đầu tư. Chính phủ UPA-II đã nỗ lực để thu lợi bằng cách làm cho các quy định về thuế mới có hiệu lực trở về trước, điều đã làm sụt giảm mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài. Chính quyền Modi đã hứa hẹn “hợp lý hóa và đơn giản hóa hệ thống thuế để khiến nó không gây hại và thuận lợi cho đầu tư, hoạt động kinh doanh và tăng trưởng”. Trong khoản ngân sách đầu tiên được đưa ra vào tháng 7/2014, Chính quyền Modi đã tập trung vào việc phát triển cơ sở hạ tầng, sắp xếp các khoản trợ cấp, và nới lỏng các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài. Mặc dù điều này được xem là thiếu tham vọng, một sự tăng cường đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực bảo vệ các công ty bảo hiểm trước việc khách hàng đòi trả tiền bảo hiểm quá cao lên tới 49%, trong số các khía cạnh khác, đã được nhiều người đánh giá cao.

Chương trình hiện đại hóa quốc phòng của Ấn Độ cũng sẽ được thúc đẩy dưới thời chính phủ mới này. A.K. Antony, bộ trưởng quốc phòng dưới thời Chính phủ UPA-II, được xem là bộ trưởng quốc phòng tồi tệ nhất trong lịch sử gần đây. Các kế hoạch hiện đại hóa của quân đội Ấn Độ đã gặp phải một số trở ngại lớn dưới thời chính phủ trước, với việc New Delhi không thể thể hiện ý chí chính trị để giải quyết sự tê liệt chính sách quốc phòng. New Delhi đang đẩy nhanh chương trình mua sắm vũ khí của mình, nhưng lại chưa đề cập đến những cải cách sẽ cần thiết để biến chúng thành những sự lựa chọn chiến lược được cải thiện. Đã không có sự đánh giá lại chiến lược dài hạn nào về môi trường an ninh của Ấn Độ, không có chiến lược quốc phòng toàn diện nào được đưa ra, và không có sự thay thế nào cho việc lên kế hoạch chiến lược cho quốc phòng. Không có nó, các chương trình mua sắm của các lực lượng quốc phòng Ấn Độ đã đã gặp phải khó khăn, và Ấn Độ sẽ không bao giờ có được kiểu sức mạnh quân sự mà sẽ tăng cường đòn bẩy khu vực và toàn cầu của nó.

Chính quyền Modi đã hứa hẹn “thực hiện các cải cách trong việc mua sắm quốc phòng để tăng cường hiệu suất và nền kinh tế”. Chính quyền này có kế hoạch “khuyến khích công nghiệp trong nước, gồm cả khu vực tư nhân để có phần đóng góp lớn hơn trong việc thiết kế và sản xuất các trang thiết bị quốc phòng” thông qua, trong số các việc khác, một chính sách được tự do hóa đối với đầu tư trực tiếp nước (FDI). Chính quyền đã cho phép FDI trong lĩnh vực quốc phòng lên tới 49% mà không có bất kỳ sự chuyển giao công nghệ bắt buộc nào. Mỹ đã hoan nghênh việc này, bởi vì Mỹ mong muốn biến mối quan hệ quốc phòng của nước này với Ấn Độ từ một mô hình người mua – kẻ bán thành một mô hình cùng sản xuất, cùng phát triển, và trao đổi công nghệ nhiều hơn.

Khi Chính quyền Modi làm việc theo hướng xây dựng lại sức mạnh của nền kinh tế Ấn Độ và theo đuổi chương trình hiện đại hóa quốc phòng của nước này với sự tập trung lớn hơn, các mối quan hệ Mỹ – Ấn có thể khôi phục sức sống đã mất của chúng.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Washington Quartely

CVĐQT số 4/2016

Thủ tướng Modi thăm Việt Nam khi chính sách Hành động hướng Đông của Ấn Độ hướng sang Biển Đông – Phần đầu


Trong khoảng 1 tháng nữa, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi sẽ thăm Việt Nam, một dấu hiệu cho thấy sự quan tâm của New Delhi đối với mối quan hệ mạnh mẽ hơn với một nước đối tác chủ chốt trong khu vực Đông Nam Á vào thời điểm khi khu vực này đang phải vật lộn với hệ quả từ phản ứng của Bắc Kinh đối với phán quyết gần đây của tòa án quốc tế liên quan tới vấn đề biển Hoa Nam (Biển Đông).

Thủ tướng Modi đã có kế hoạch tham dự các hội nghị cấp cap đa phương sẽ được tổ chức ở khu vực này. Vào ngày 4 – 5/9, ông sẽ tới thành phố Hàng Châu của Trung Quốc để tham dự hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20). Một ngày sau đó, hội nghị cấp cao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ bắt đầu ở thủ đô Viêng Chăn của Lào và hội nghị này diễn ra từ ngày 6 – 7/9.

Dù chưa có tuyên bố chính thức, nhưng các nguồn tin từ Văn phòng Thủ tướng Ấn Độ xác nhận nhận rằng Việt Nam sẽ là điểm dừng chân của ông Modi trong chuyến thăm.

Chuyến thăm trên cho thấy tầm quan trọng không chỉ bởi vì nó sẽ là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của một vị Thủ tướng Ấn Độ trong vòng 15 năm qua mà còn là vì ông Modi sẽ đến thăm Hà Nội sau khi có phán quyết của tòa án quốc tế bác bỏ những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tranh chấp trước tòa là giữa Philippines và Trung Quốc, nhưng phán quyết của tòa là động lực cho các nước có tranh chấp ở Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam.

Các nguồn tin ngoại giao cho biết các cuộc thảo luận vẫn đang diễn ra giữa Hà Nội và New Delhi để xác nhận những gì sẽ được công bố trong chuyến thăm của ông Modi nhằm đưa mối quan hệ đối tác chiến lược lên tầm cao mới. Các cuộc tham vấn ngoại giao có thể hoàn tất một số thỏa thuận dự kiến sẽ được ký kết chính thức.

Tăng cường quan hệ quốc phòng

Các chuyến thăm song phương chính gần đây nhất diễn ra trong tháng 9 và 10/2014, tương ứng với chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee và chuyến thăm Ấn Độ của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Trong chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cả hai bên đã kêu gọi sớm đưa vào thực hiện hạn mức tín dụng trị giá 100 triệu USD cho mua sắm quốc phòng. Khoản tín dụng này vẫn đang được sử dụng để cung cấp tàu tuần tra nhằm tăng cường sự hiện diện của hải quân Việt Nam trong vùng lãnh hải của mình. Tháng 6/2016, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Manohar Parrikar đã thăm Việt Nam và trong chuyến thăm, lực lượng biên phòng Việt Nam đã đề nghị tập đoàn Larsen & Toubro cho mua tàu đánh chặn cao tốc nhằm đảm bảo tuần tra ven biển và an ninh biển. Hợp đồng này nhiều khả năng sẽ được ký kết trong chuyến thăm của ông Modi. Trước đó trong chuyến thăm Ấn Độ của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam năm 2015, hai bên đã ký tuyên bố tầm nhìn chung 5 năm trong giai đoạn 2015 – 2020.

Năm 2014, ông Modi từng nói với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rằng hợp tác quốc phòng của Ấn Độ với Việt Nam là “nằm trong số những hợp tác quan trọng nhất của chúng tôi”. Ông còn cho biết thêm “Ấn Độ vẫn cam kết hiện đại hóa cho lực lượng quốc phòng và an ninh của Việt Nam”. Khi cuộc gặp diễn ra, Ấn Độ đã đào tạo hai khóa cho học viên hải quân Việt Nam, là những người sẽ vận hành 6 tầu ngầm lớp Kilo mua của Nga – qua đó giúp tăng cường khả năng tuần tra của Việt Nam ở Biển Đông.

Sau khi Ấn Độ gia nhập Cơ chế kiểm soát công nghệ tên lửa (MTCR), có một số tin nói về khả năng xuất khẩu tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Mặc dù tầm bắn chính thức của loại tên lửa do Ấn Độ và Nga cùng sản xuất này ở dưới ngưỡng cho phép của MTCR là 300 km, song các quan chức Ấn Độ cho rằng việc bán tên lửa BrahMos không được đưa ra bàn bạc, chủ yếu là vì Hà Nội chưa bày tỏ quan tâm tới việc mua bán này.

Trong khi BrahMos vẫn chưa được bàn thảo, Ấn Độ chắc chắn sẽ tìm kiếm các khách hàng tiềm năng cho “hệ thống tên lửa được phép bán này”. Theo Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), nhập khẩu quốc phòng của Việt Nam đã tăng 699% trong giai đoạn 2011 – 2015 so với giai đoạn 5 năm trước đó. Điều này có nghĩa Việt Nam là nước nhập khẩu vũ khí lớn thứ 8 trên thế giới trong 5 năm qua – một sự trỗi dậy nhanh chóng từ vị trí 43 trong giai đoạn trước đó. Việt Nam đang ngày càng tiến gần hơn tới Ấn Độ, sau khi Trung Quốc tăng cường các hoạt động ở Biển Đông từ năm 2011. Việt Nam và Trung Quốc có những tuyên bố chủ quyền chồng chéo ở khu vực này, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi những tuyên bố chủ quyền của Việt Nam cũng chồng chéo với các bên có tuyên bố chủ quyền khác như Philippines nhưng Bắc Kinh vẫn là đối thủ chính trong mắt Việt Nam. Hoạt động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc rồi những cuộc đụng độ giữa tàu hải quân Trung Quốc và tàu cá Việt Nam trên biển, việc mời thầu các lô dầu khí ở ngoài khơi trong vùng biển tranh chấp và đưa giàn khoan dầu khí vào vùng biển này đều khiến Hà Nội tức giận.

Quan điểm của Việt Nam về Ấn Độ

Với bề dày dân tộc chủ nghĩa lịch sử được hình thành qua sự oán hận đối với người láng giềng khổng lồ phương Bắc, các cuộc biểu tình công khai diễn ra trên các đường phố ở đất nước Cộng sản nhỏ bé hơn này đều là chống Trung Quốc. Khi những lo lắng của dư luận ở Việt Nam đối với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tăng lên, Nhật Bản và Ấn Độ ngày càng được nhắc đến nhiều hơn.

Trên thực tế, cuộc thăm dò dư luận năm 2015 do Pew Global tiến hành cho thấy 2/3 người dân Việt Nam, tương đương 66% dân số, đều có quan điểm nghiêng về Ấn Độ. Tỷ lệ này tăng lên 72% ở những người Việt Nam trong độ tuổi từ 18 – 29. Đây là tỷ lệ ủng hộ cao nhất mà New Delhi có được tại bất kỳ quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á, so với mức trung bình 51% trong khu vực. Trung Quốc chỉ nhận được tỷ lệ ủng hộ là 19% trong cuộc thăm dò trên, được tiến hành lấy mẫu với 1000 người Việt Nam.

Hơn nữa, theo cuộc thăm dò này, 56% người Việt Nam bày tỏ tin tưởng rằng Thủ tướng Modi “sẽ làm điều đúng đắn liên quan tới các vấn đề thế giới” so với mức chỉ 20% dành cho Chủ tịch Tập Cận Bình củ Trung Quốc. Với tỷ lệ 82%, Nhật Bản và Hàn Quốc cùng nằm ở vị trí dẫn đầu trong danh sách được người Việt Nam yêu mến. Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, với tỷ lệ ủng hộ là 68% cạnh tranh với ông Modi trên mặt trận cá nhân này. Nhật Bản có nguồn viện trợ nước ngoài hàng đầu cho Việt Nam trong những năm gần đây, với việc cả hai nước có sự đồng thuận chiến lược về chính sách của mình với Trung Quốc. Cuộc thăm dò trên còn cho thấy một tỷ lệ cao người dân Việt Nam – 60% – “rất quan ngại” về các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, so với mức 58% ở Philippines. Không có gì ngạc nhiên, Việt Nam tự thấy mình đang được các nước có chung quan ngại trước sự trỗi dậy của Trung Quốc săn đón. Trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng 5 vừa qua, Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí kéo dàng hàng thập niên, qua đó cho phép Việt Nam tiếp cận được các thiết bị giám sát và an ninh biển. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn rất cẩn trọng duy trì kiểm soát trước những kẻ diều hâu dân tộc chủ nghĩa sau phán quyết ngày 12/7 của tòa trọng tài về vấn đề Biển Đông, qua đó ủng hộ Philippines. Trung Quốc, nước từ chối tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp này, đã tuyên bố phán quyết của tòa là “vô hiệu”.

Với sự giúp đỡ của các đồng minh như Campuchia, Trung Quốc đã đảm bảo được rằng cuộc họp đầu tiên của các ngoại trưởng ASEAN diễn ra sau phán quyết trên đã không đề cập đến phán quyết của tòa án ở La Hay. Điều này thậm chí diễn ra khi Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ra một tuyên bố mạnh mẽ rằng Biển Đông đã trở thành “liều thuốc thử cho sự đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN”.

Về phần mình, Việt Nam đã “hoan nghênh” phán quyết của Tòa Trọng tài hôm 12/7, khi phán quyết này tuyên bố phần lớn các cấu trúc địa lý ở Trường Sa không đủ lớn để tuyên bố một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và bác bỏ “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc vì nó không có cơ sở pháp lý. Kể từ tháng 9/2013, Trung Quốc đã bắt đầu dự án xây đảo rầm rộ ở Trường Sa, mở rộng 7 cấu trúc đảo ở quần đảo này – một trong số đó đủ lớn để một máy bay quân sự hạ cánh trong tháng 4 vừa qua.

(còn tiếp) 

Nguồn: Defence News (Ấn Độ) – 08/08/2016

TKNB 09/08/2016

Sự thúc đẩy bất ngờ của Thủ tướng Modi đối với quan hệ Ấn – Mỹ: Phần II


Modi và lệnh cấm thị thực của Mỹ

Bất chấp sự ủy thác mạnh mẽ và những mục tiêu đầy ấn tượng của ông, quá khứ của Modi có liên quan đến việc thời gian ông nắm quyền có thể diễn ra như thế nào, đặc biệt là khi đề cập đến mối quan hệ của ông với Mỹ. Vào năm 2005, Mỹ đã từ chối cấp thị thực cho ông, trích dẫn một đạo luật không rõ ràng – Đạo luật Tự do Tôn giáo Quốc tế, cấm các chuyến thăm của các quan chức nước ngoài chịu trách nhiệm về những sự vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng. Việc này bắt nguồn từ các sự kiện của 3 năm trước, khi các cuộc nổi loạn gây chết người của số đông người theo đạo Hindu nổ ra nhằm chống lại thiểu số những người theo đạo Hồi ở bang Gujarat của Ấn Độ, đã khiến ít nhất 1000 người chết. Modi, một người theo chủ nghĩa dân tộc Hindu từ lâu và đồng thời là Thủ hiến bang Gujarat, đã bị buộc tội không thể ngăn chặn bạo lực. Trong vài năm, ông vẫn là người duy nhất bị cấm đến Mỹ theo đạo luật này. (Việc này bất chấp hệ thống tư pháp Ấn Độ không thể tìm được bất cứ điều gì chống lại Modi trong vòng vài năm qua trong bất kỳ vụ kiện nào được đưa ra nhằm chống lại ông).

Trong khi đó, các quốc gia châu Âu, đã hành động để khôi phục các mối quan hệ của họ với người chẳng bao lâu sẽ trở thành Thủ tướng Ấn Độ. Trở lại năm 2008, Đan Mạch và Thụy Điển đã bất chấp lệnh cấm thị thực của Liên minh châu Âu (EU) để tiếp cận Modi, Thủ hiến bang Gujarat khi đó. Và vào năm 2012, để chấm dứt sự tẩy chay của Anh, Cao ủy của Anh là ông James Bevan đã tới Gandhinagar để gặp Modi, sau đó là những người đồng nhiệm Đức và Pháp của ông. Nhưng Mỹ vẫn miễn nhiễm một cách khác thường đối với những sự thay đổi chính sách của một số đồng minh thân cận nhất của nước này. Chỉ đến tháng 2/2014, Mỹ cuối cùng mới chấm dứt sự tẩy chay kéo dài cả thập kỷ của nước này, khi Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ khi đó là Nancy Powell đã có chuyến thăm Modi.

Với việc Modi lên lãnh đạo, đó có vẻ là một chặng đường khó khăn phía trước đối với các mối quan hệ Mỹ – Ấn. Một số người cho rằng sự nồng nhiệt của Modi sẽ chỉ dành cho những người đã nỗ lực điều chỉnh để thích nghi với ông khi ông được săn đón ở cả trong nước lẫn toàn cầu. Chẳng hạn, các quốc gia như Trung Quốc, Israel và Nhật Bản, đã hoan nghênh ông trong những năm tháng mà phương Tây hắt hủi ông. Sự suy đoán cũng chuyển sang tại sao ông Modi lại mất nhiều thời gian hơn để bày tỏ sự cám ơn vì cuộc điện thoại chúc mừng từ Tổng thống Obama, hay dòng nhắn trên mạng Tweeter từ Ngoại trưởng Mỹ John Kerry (“Chúc mừng Narendra Modi và đảng BJP. Rất mong đợi được làm việc cùng với ông và chia sẻ sự thịnh vượng và an ninh ngày càng phát triển với nền dân chủ lớn nhất của thế giới”). Những người có tiếng nói ở Ấn Độ cho rằng Modi hẳn không dễ dàng quên đi sự xúc phạm của Mỹ là việc từ chối cấp thị thực.

Tuy nhiên, Chính quyền Obama, đã nhanh chóng hành động để khôi phục phần nào trạng thái bình thường trong các mối quan hệ của nó với Modi. Như đã đề cập, Tổng thống Obama đã đích thân gọi điện chúc mừng Modi và mời ông tới thăm Washington, và Ngoại trưởng John Kerry sau đó đã đưa ra một tuyên bố nhấn mạnh sự sẵn sàng của Washington “làm việc chặt chẽ với Thủ tướng Modi và chính phủ mới để thúc đẩy thịnh vượng chung và củng cố an ninh của chúng ta”. Một số người thậm chí cho rằng cựu Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ, Nancy Powell, đã từ chức hồi tháng 3/2014 là phần nào của một nỗ lực lớn hơn của Washington nhằm sửa chữa tổn hại trong các mối quan hệ Ấn – Mỹ gây ra bởi việc Mỹ không thể tiếp cận Modi đúng lúc. Ở các nơi khác của Mỹ, các chính trị gia đã nhiệt liệt hoan nghênh việc bầu Modi: chẳng hạn, Thượng nghị sĩ Mark Warner (D-VA), đồng chủ tịch của tiểu ban Ấn Độ thượng viện, đã không chỉ thúc giục một sự xem xét lại đối với các chính sách thị thực của Mỹ mà còn không ngớt tán dương chiến dịch bầu cử của Modi.

Chính Modi đã khẳng định rằng “các mối quan hệ giữa hai nước không thể được xác định hay thậm chí là bị ảnh hưởng từ xa bởi các sự việc bất ngờ liên quan đến các cá nhân”. Hơn thế nữa, ông đã cho rằng lợi ích của cả Mỹ và Ấn Độ là thúc đẩy phát triển hơn nữa mối quan hệ song phương của hai nước, thậm chí còn miêu tả Mỹ như một đồng minh tự nhiên. Bất chấp những nhạy cảm cá nhân, khi một cơ hội tự thể hiện sau thắng lợi bầu cử của ông, Modi đã không mất thời giờ để tiếp cận Washington, nhất trí về một cuộc gặp thượng đỉnh song phương vào tháng 9/2014 với Tổng thống Obama ở Washington. Ông đã cho thấy sự quyết đoán mang thương hiệu của mình trong việc nỗ lực cải thiện các mối quan hệ Ấn – Mỹ, mà trước đó đã trở nên tồi tệ dưới thời người tiền nhiệm của ông, nhấn mạnh tầm quan trọng của Mỹ trong các ưu tiên chính sách đối ngoại của Ấn Độ.

Sự hỗn loạn trong các mối quan hệ Mỹ – Ấn

Mối quan hệ đối tác Mỹ – Ấn đã và đang dần đánh mất sức đà trong vài năm qua. Sau vụ bắt giữ và khám người hồi tháng 9/2013 đối với Devyani Khobragade, Phó tổng Lãnh sự của Ấn Độ tại New York, các mối quan hệ đã tuột dốc – Khobragade đã bị buộc tội lừa dối các quan chức Mỹ về các điều kiện trả lương cho một người lao động trong nước mà bà này đã đưa sang từ Ấn Độ để làm việc trong dinh thự của bà, nhằm lấy thị thực việc làm cho người phụ nữ này. Cả Mỹ và Ấn Độ gần đây đã phải vật lộn để đưa thực chất vào một mối quan hệ dường như đang mất đi sức kéo trong khi không có một ý tưởng xác định nào.

Cho đến gần đây vào năm 2008, mối quan hệ đối tác giữa hai nền dân chủ sôi động dường như đã nở rộ. Đối với Mỹ, Ấn Độ là đối trọng tự do đối với một Trung Quốc độc tài đang trỗi dậy. Đối với Ấn Độ, Mỹ là nhà lãnh đạo có thể giúp nước này giành được nhiều sự công nhận hơn của quốc tế và khả năng tiếp cận tốt hơn đối với các thị trường toàn cầu. Một thay đổi chính sách đã cổ vũ mối quan hệ này là thỏa thuận hạt nhân dân sự. Được hoàn tất vào năm 2008, thỏa thuận này đã đem lại sự công nhận trên thực tế đối với chương trình hạt nhân của Ấn Độ – cho đến nay được xem là bất hợp pháp – và tăng cường địa vị của Ấn Độ với tư cách là một cường quốc đang nổi và đối địch với Trung Quốc. Thỏa thuận này đã giúp xác định mối quan hệ Mỹ – Ấn và đưa hai nước xích lại gần nhau.

Tuy nhiên, kể từ đó, bầu không khí ở Washington đối với Ấn Độ đã trở nên xấu đi vì một số lý do. Nhiều người ở Mỹ cảm thấy một cảm giác bị phản bội là, sau khi đầu tư đáng kể vốn liếng ngoại giao để thỏa thuận hạt nhân được thông qua, Ấn Độ đã đáp lại bằng một đạo luật trách nhiệm hạt nhân vào năm 2010 khiến cho các nhà máy hạt nhân của Mỹ gần như không thể hoạt động được ở Ấn Độ. Đạo luật này không giới hạn trách nhiệm pháp lý đối với các nhà cung ứng hạt nhân, điều cho đến giờ đã ngăn cản ngành công nghiệp hạt nhân dân sự của Mỹ xâm nhập thị trường Ấn Độ.

Cũng trên mặt trận kinh tế, những sự bất đồng đã ngày càng lớn dần. Các doanh nghiệp Mỹ đã trở nên lớn tiếng về cái họ xem là sự phân biệt đối xử của Ấn Độ đối với một loạt các mặt hàng xuất khẩu của Mỹ, và các nhà lập pháp ở Washington đã công khai yêu cầu Chính quyền Obama gia tăng sức ép đối với New Delhi để thay đổi các chính sách thương mại của nước này. Chẳng hạn, hồi năm ngoái, một số thành viên của Ủy ban Tài chính thuộc Thượng viện Mỹ đã viết thư cho Chính quyền Obama chỉ trích việc Ấn Độ sử dụng “các giấy phép bắt buộc” và “lạm dụng luật sáng chế để chuyển giao tài sản trí tuệ của Mỹ cho các công ty Ấn Độ”.

Về phần mình, Ấn Độ đã đe dọa đưa ra Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nếu Washington ban hành dự luật nhập cư, mà bao gồm cả những điều khoản chặt chẽ nhằm vào các công ty công nghệ thông tin của Ấn Độ mà đã và đang đưa các công nhân đến Mỹ theo thị thực H1-B. Và New Delhi đã yêu cầu Chính phủ Mỹ phải tự giải thích việc bị phát giác (qua các tin tức được Edward Snowden tiết lộ) rằng Ấn Độ là quốc gia bị theo dõi nhiều thứ 5 trong chương trình khai thác thông tin toàn cầu của Mỹ.

Khi nền kinh tế Ấn Độ trở nên sa sút và Chính phủ UPA-II (Chính phủ Liên minh Tiến bộ Thống nhất dưới thời Manmohan Singh) hầu như không còn vốn liếng chính trị để cố gắng khôi phục nền kinh tế, các nhà đầu tư của Mỹ đã bắt đầu cho rằng môi trường đầu tư của Ấn Độ là không thuận lợi. Washington đã nỗ lực để đảo ngược chiều hướng này bằng một số cách thức. Chẳng hạn, Chính quyền Obama trong năm 2012 đã cho hay rằng chính quyền này sẽ mở cửa để cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng cho Ấn Độ, bất chấp thực tế rằng hai nước không có một Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), và dù cho Ấn Độ sẽ cần một ngoại lệ đặc biệt được thảo ra trong đạo luật của Mỹ trước khi nước này có thể nhận được khí đốt xuất khẩu. Nhưng xét lượng vốn chính trị cần có để đảm bảo một ngoại lệ như vậy, rõ ràng là một bước đột phá về khí đốt  tự nhiên hóa lỏng sẽ không sớm xảy ra. Và cho dù doanh thu quốc phòng từ Mỹ sang Ấn Độ đang tăng vọt, New Delhi sẽ muốn nhìn thấy một mức độ chuyển giao công nghệ cao hơn, điều rõ ràng là chưa sẵn sàng đối với Washington.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Washington Quartely

CVĐQT số 4/2016