Ấn Độ có thể thách thức Trung Quốc đến mức độ nào?


South China Morning Post dẫn ý kiến các chuyên gia cho rằng Ấn Độ đang tăng cường thách thức ảnh hưởng của Trung Quốc ở Biển Đông bằng cách tiếp cận với Nga và các cường quốc khác trong khu vực.

Tại Diễn đàn Kinh tế phương Đông (EEF) vừa được tổ chức ở Vladivostok, Ấn Độ và Nga đã đồng ý triển khai một tuyến đường hàng hải mà một phần sẽ đi qua vùng biển đang có tranh chấp gay gắt. Hai đồng minh an ninh truyền thống này cũng tăng cường hợp tác quân sự và công nghệ. Tuyến đường biển này là một phần sẽ đi qua Biển Đông nơi diễn ra nhiều tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong những năm qua.

Ngoài ra, Delhi và Moskva có thể tăng cường liên minh trong lĩnh vực quân sự và công nghệ. South China Morning Post dẫn tuyên bố chung cho biết quan hệ đối tác này có thể “bao gồm thiết lập phát triển chung và sản xuất thiết bị, phụ tùng và linh kiện quân sự cũng như cải thiện hệ thống dịch vụ hậu mãi”.

Thông báo về sự hợp tác quân sự giữa Ấn Độ và Nga được đưa ra một năm sau khi New Delhi đồng ý mua hệ thống tên lửa đất đối không S-400 do Nga sản xuất.

Luật sư Vũ Đức Khanh, Giáo sư Đại học Ottawa (Canada), đánh giá tuyến hải lộ mới này “nằm trong chính sách Hướng Đông của Ấn Độ để đảm bảo trục hàng hải của nước này”: “Đây là hướng đi tốt trong bối cảnh Trung Quốc đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong khu vực và có ý định độc chiếm tuyến đường hàng hải huyết mạch này của thế giới”.

Luật sư Khanh nói vai trò của Ấn Độ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương là “nằm trong tứ giác chiến lược (Bộ tứ Mỹ – Nhật Bản – Ấn Độ – Australia), có mối quan hệ tốt với Nga từ thời Liên Xô cũ và luôn giữa thái độ hợp tác với các bên để giữ vững quyền lợi chiến lược của họ trong khu vực”.

Tuy nhiên, ông không cho rằng trong giai đoạn này, Ấn Độ muốn thách thức tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc mà “chỉ muốn đóng vai trò quan trọng trong khu vực” để đảm bảo lợi ích kinh tế, thương mại và chiến lược về lâu dài.

Về vai trò của Ấn Độ đối với Việt Nam trên Biển Đông, ông Khanh cho rằng “Hà  Nội có thể đặt niềm tin nhất định vào Ấn Độ” và so với Nga thì Ấn Độ thậm chí còn là đối tác quan trọng hơn: “Quan hệ Ấn Độ – Việt Nam là quan hệ rất tốt, được cố Thủ tướng Nehru và Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng từ những năm 50 của thế kỷ trước và từ năm 2010 đến nay đã có sự tăng tốc cụ thể”.

Do giữa Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều hiềm khích và thậm chí đã từng xung đột trong lịch sử, ông Khanh cho rằng Ấn Độ là đối tác (của Việt Nam) có thể không nhượng bộ Trung Quốc trên rất nhiều phương diện: “Việt Nam có thể nương theo Ấn Độ để đảm bảo một số quyền lợi trên Biển Đông trong khi chờ đợi bước nhảy vọt trogn quan hệ Việt – Mỹ. Không có chuyện Ấn Độ sẽ đứng hẳn về phía Việt Nam mặc dù về hợp tác quốc phòng hai nước sẽ đi rất xa. Trên Biển Đông, Ấn Độ sẽ không đi xa đến mức tuyên bố ủng hộ bên này hay bên kia mà chỉ khẳng định sẽ bảo vệ quyền lợi của họ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Còn về Nga, nhà quan sát này cho rằng mặc dù Moskva ủng hộ Bắc Kinh trong vụ kiện Biển Đông của Philippines hồi năm 2016, nhưng nước này sẽ “không có quyền lợi về trung hạn và dài hạn nếu để Trung Quốc độc chiếm Biển Đông” và Moskva “muốn có tiếng nói trong khu vực”.

Ấn Độ cho thấy sự quan tâm trở lại đối với khu vực trong tuần qua khi tuyên bố chung của Ấn Độ và Nhật Bản công bố trong chuyến thăm Tokyo của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh nói rằng hai bên đã xem xét tình hình ở Biển Đông. Ấn Độ và Nhật Bản cũng cam kết chia sẻ hậu cần quân sự để có khả năng vận hành mang tính tương tác cao hơn.

Các quan chức của ONGC Videsh Ltd của Ấn Độ, chi nhánh hải ngoại của Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ, nói với hãng thông tấn PTI rằng họ đang muốn kéo dài thêm hai năm để thăm dò một lô dầu của Việt Nam trong vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Đây sẽ là lần gia hạn thứ 6 của công ty kể từ khi ký hợp đồng với Hà Nội vào năm 2006 để phát triển Lô 128 rộng 7058 km2 mặc dù cho đến nay không có bao nhiêu dầu được khai thác từ lô này.

Khi thương mại giữa Ấn Độ với Đông Á gia tăng, New Delhi có thể tìm cách tăng cường sự hiện diện ở khu vực để giảm bớt sự phụ thuộc vào các cường quốc lớn ở Tây Thái Bình Dương. Tuy nhiên, các nhà quan sát cho rằng Ấn Độ sẽ kiềm chế để không trực tiếp đối đầu với Bắc inh xung quanh tranh chấp trên Biển Đông.

Nguồn: TKNB – 13/09/2020.

Covid-19, “chất xúc tác” cho quan hệ kinh tế Ân Độ – Việt Nam


Trang Asean Today ngày 2/3 đăng bài nhận định Việt Nam và Ấn Độ nên tìm cách tăng cường xuất khẩu sang thị trường của nhau, thay vì trông chờ hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

Theo bài báo, xu hướng “dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc do chiến tranh thương mại” ban đầu được coi là cơ hội tiềm năng cho cả Ấn Độ và Việt Nam. Lao động giá rẻ dồi dào biến cả hai nền kinh tế thành một sự thay thế khả thi cho Trung Quốc, thúc đẩy xuất khẩu, tăng trưởng GDP và tạo việc làm trong lĩnh vực sản xuất.

Mặc dù ở vị thế thuận lợi, Ấn Độ và Việt Nam đã không thể tận dụng lợi thế của cuộc chiến thương mại.

Rào cản về chính sách cũng như các quy tắc nghiêm ngặt liên quan đến sản xuất quy mô lớn và thu hồi đất gây trở ngại cho các nhà sản xuất muốn chuyển sản xuất sang Ấn Độ. Ở Việt Nam, việc thiếu các kỹ năng sản xuất thiết yếu trong lực lượng lao động được xem là một thách thức.

Dù Ấn Độ và Việt Nam không hưởng lợi từ cuộc chiến thương mại như mong đợi, song mối quan hệ kinh tế sâu sắc hơn với nhau có thể mang lại một số lợi ích mà hai bên đã bỏ lỡ và thúc đẩy thương mại song phương.

Hiện trạng quan hệ kinh tế Ấn Độ – Việt Nam?

Quan hệ kinh tế giữa Ấn Độ và Việt Nam phát triển ổn định trong 2 thập kỷ qua. Năm 2000, thương mại song phương ở mức 200 triệu USD. Trong năm tài chính 2018 – 2019, thương mại song phương đạt 13,69 tỷ USD. Mục tiêu cho năm 2020 là 15 tỷ USD.

Thịt và cá là mặt hàng xuất khẩu chính của Ấn Độ sang Việt Nam. Thịt chiếm 27% tổng xuất khẩu của Ấn Độ sang Việt Nam trong khi xuất khẩu cá ở mức 17%. Thiết bị điện là mặt hàng Ấn Độ nhập khẩu chính từ Việt Nam, chiếm 49% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ.

Các nhà đầu tư Ấn Độ cũng tham gia rất nhiều vào lĩnh vực năng lượng, thăm dò khoáng sản và chế biến nông sản của Việt Nam. Ấn Độ cũng góp mặt vào 255 dự án với các khoản đầu tư vào nước này với tổng trị giá khoảng 922 triệu USD. Việt Nam đầu tư vào Ấn Độ khoảng 29 triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực dược phẩm và công nghệ thông tin.

Du lịch, thương mại điện tử và thực phẩm là những ngành có nhiều tiềm năng nhất thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa Ấn Độ và Việt Nam. Tuy nhiên, việc thiếu đường bay thẳng giữa hai nước làm hạn chế cơ hội đẩy mạnh hợp tác du lịch. Việc ra mắt các chuyến bay trực tiếp giữa Ấn Độ và Việt Nam vào năm 2019 được cho là sẽ giúp du lịch giữa hai nước phát triển hơn nữa.

Lĩnh vực thương mại điện tử và thực phẩm cũng có nhiều cơ hội phát triển. Ấn Độ hiện cho phép 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực thực phẩm, đồ uống và thương mại điện tử. Điều này sẽ là động lực để các công ty Việt Nam đầu tư nhiều hơn vào Ấn Độ.

Covid-19 – “chất xúc tác” cho quan hệ kinh tế Ấn Độ – Việt Nam

Việt Nam đã yêu cầu Ấn Độ nới lỏng rào cản thương mại đối với nông sản kể từ khi dịch Covid-19 bùng phát. Xuất khẩu nông sản Việt Nam phụ thuộc vào nhu cầu của Trung Quốc. Các đơn đặt hàng từ Trung Quốc giảm do dịch Covid-19 khiến Việt Nam phải tìm kiếm nhà tiêu thụ thay thế. Hiện tại, Ấn Độ có một số hạn chế đối với hạt tiêu đen và hạt điều của Việt Nam. Nếu được dỡ bỏ, các nhà xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam có thể “mở khóa” một thị trường mới trong khu vực.

Đồng thời, Ấn Độ đang yêu cầu Việt Nam mở cửa thị trường dược phẩm, cho phép nhập thuốc gốc. Dược phẩm là một trong những ngành phát triển nhanh nhất của Ấn Độ. Xuất khẩu dược phẩm chiếm gần 6% tổng xuất khẩu hàng hóa của Ấn Độ. Công nghiệp dược phẩm trong nước Việt Nam cũng đang phát triển, nhưng hiện tại mới chỉ đáp ứng 53% nhu cầu trong nước. Việt Nam muốn các công ty dược phẩm Ấn Độ sản xuất tại Việt Nam thay vì tăng mua từ Ấn Độ.

Việc Ấn Độ và Việt Nam tăng nỗ lực phối hợp nhằm tăng cường quan hệ kinh tế song phương sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước và có thể tạo cơ sở để Ấn Độ kết nối sâu hơn về kinh tế với toàn khối ASEAN.

Nguồn: TKNB – 03/03/2020.

Sự chuyển đổi trong can dự về phía Đông của Ấn Độ – Phần cuối


Khi Ấn Độ phản đối Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện, gọi đó là không công bằng và phân biệt đối xử, không như những nước khác, ASEAN đã không phản đối nhiều. Hơn nữa, vào năm 1998, khi Ấn Độ tiến hành một loạt các thử nghiệm hạt nhân, phản ứng của ASEAN rất ôn hòa, bất chấp thực tế rằng ASEAN là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới đã làm việc hướng tới một “khu vực không có vũ khí hạt nhân”. Nhìn nhận lại vấn đề, có thể người ta cho rằng nhiều nước trong khu vực ASEAN coi việc Ấn Độ sở hữu vũ khí hạt nhân là một diễn tiến tích cực, vì họ chắc chắn rằng dù thế nào đi nữa Ấn Độ sẽ không sử dụng chúng để chống lại các nước Đông Nam Á. Thêm vào đó, nó sẽ ngầm giúp đối trọng với Trung Quốc, cường quốc hạt nhân duy nhất trong khu vực, nước mà nhiều thành viên ASEAN có bất hòa do các tranh chấp trên Biển Đông.

Tuy nhiên, năng lực hạt nhân không đủ để khiến Ấn Độ trở thành “một cường quốc quan trọng” khi thỉnh cầu gia nhập APEC của nước này bị từ chối năm 1997. Thú vị là trong khi nền kinh tế Ấn Độ không được cho là đủ mạnh để đóng vai trò chủ chốt trong tổ chức kinh tế khu vực này, Nga và Việt Nam đã gia nhập nhóm này. Ấn Độ vẫn chưa trở thành một thành viên của APEC. Trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, mặc dù Ấn Độ rất cảm thông, nhưng không giống như Trung Quốc, nó không thể cung cấp nhiều hỗ trợ cho các nước thành viên ASEAN đang lâm vào khủng hoảng. Mặc dù sự bất lực của Ấn Độ có tác động rất nhỏ đến quan hệ Ấn Độ – ASEAN, sáng kiến ASEAN + 3 tại Chiang Mai đã cải thiện quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN đến một mức đáng kể.

Gần như cùng lúc đó, Ấn Độ đã nhận ra tầm quan trọng sống còn của sức mạnh kinh tế và quân sự trong chính sách đối ngoại. Khi những cải cách kinh tế của nước này bắt đầu cho thấy hiệu quả, thì những cam kết mới của nó với các cường quốc lớn bao gồm cả Mỹ cũng vậy. Điều đó đã mở ra những con đường cho hợp tác lớn hơn với ASEAN. Đặc biệt, Singapore và Việt Nam đã cảm nhận được tiềm năng của Ấn Độ để trở thành một “cường quốc quan trọng” trong khu vực. Sự thay đổi trong thái độ với Ấn Độ rất dễ thấy trong năm 2005, khi EAS đang được thành lập. Ấn Độ, Australia và New Zealand đang được coi như những thành viên sáng lập; tuy nhiên Trung Quốc và Malaysia không quan tâm tới lời đề nghị này và thay vào đó, muốn ASEAN + 3 là những thành viên duy nhất. Bắc Kinh cũng đề nghị chủ trì cuộc họp EAS. Lo ngại bởi các kế hoạch của Trung Quốc nhằm giành quyền lãnh đạo EAS, ASEAN và Nhật Bản đã từ chối đề nghị của Turng Quốc và tiếp tục kế hoạch cảu ASEAN dành cho EAS, mà theo lẽ tự nhiên lấy ASEAN làm trung tâm.

Việc Ấn Độ gia nhập EAS đã chứng tỏ là một thành tựu lớn trong việc quảng bá hình ảnh của mình. Tăng trưởng kinh tế ấn tượng và năng lực quân sự của nó đã củng cố lời đề nghị làm thành viên của nước này. Thêm vào đó, các hoạt động HADR (hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa) hậu sóng thần kịp thời của nước này tại vùng biển Đông Nam Á đã chứng tỏ năng lực hải quân của nó. Việc đó cũng đã chứng minh Ấn Độ là một cường quốc cần tính đến xét về cách giải quyết các mối đe dọa an ninh phi truyền thông xuyên quốc gia trong khu vực. Ấn Độ đã giúp Myanmar rấ tnhie62u trong suốt các hoạt động HADR hậu Nargi.

Những nỗ lực chống nạn cướp biển đáng chú ý của Ấn Độ cũng khiến nước này dễ dàng chiếm một ghế trong ADMM+. Năm 2004, trong khi các nước duyên hải thuộc Eo biển Malacca phản đối mạnh mẽ đề xuất do hải quân Mỹ đưa ra đối với một sáng kiến khu vực để chống lại chủ nghĩa khủng bố, cướp biến,… họ sẵn lòng chấp nhận hỗ trợ từ Ấn Độ để cải thiện an toàn hàng hải của eo biển này. Thái Lan và các nước Đông Nam Á khác hoan nghênh sự hiện diện của Ấn Độ trong khu vực. Quyết định của Indonesia và Malaysia không phản đối các hoạt động hộ tống của hải quân Mỹ và Ấn Độ ở Eo biển Malacca năm 2001 và 2002 đã khẳng định sự chấp nhận ngày càng tăng đối với Ấn Độ trong khu vực. “Là một phần của các hoạt động mới của mình trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương rộng hơn và “Chính sách hướng Đông” nhằm tăng cường ảnh hưởng của mình tại Đông Nam Á, Ấn Độ cũng đã trở nên ngày càng gắn chặt vào an ninh hàng hải Đông Nam Á”. Vì vậy, trong thời đại ngày nay, Ấn Độ được xem như một nhà cung cấp an ninh tiềm năng cho một số nước ASEAN.

Là một cường quốc lớn về không gian, Ấn Độ đã giúp Nhật Bản (SEEDS, CUTE 1.7, PROITERES), Indonesia (LAPAN-TUBAT), và Singapore (VELOX-I, VELOX-III, TeLEOS-1, X-SAT) phóng các vệ tinh của họ với giá cạnh tranh. EOSAT của Mỹ đã đặt trạm mặt đất đầu tiên của Ấn Độ bên ngoài Ấn Độ tại Norman, Oklahoma. Tháng 10/1993, Ấn Độ đã ký một hợp đồng lớn với EOSAT của Mỹ để tiếp nhận và phân phối dữ liệu IRS (thăm dò độc giả Ấn Độ) trên toàn thế giới, việc này đã dẫn đến sự thành lập của hơn 18 trung tâm tiếp nhận dữ liệu IRS tại nhiều nướoc bao gồm Thái Lan, Đức và Brazil. Trong khu vực Ấn Độ Dương, vùng đất cám dỗ Andaman Sumatra, Vịnh Bengal là một trong hai khu vực nguồn sinh ra sóng thần. Trung tâm cảnh báo sóng thần sớm 24×7 (ITEWC) đã liên tục giám sát, phát hiện sóng thần và đưa ra tham vấn. ITEWC cũng đóng vai trò như một trong những nhà cung cấp dịch vụ tư vấn sóng thần trong khu vực cho khu vực Ấn Độ Dương. Các quốc gia như Việt Nam phụ thuộc vào Ấn Độ về theo dõi thời tiết và cảnh báo thiên tai. Ấn Độ cũng cung cấp thông tin miễn phí về lốc xoáy cho các nước Nam Á và Đông Nam Á.

Kết luận

Những sự chuyển tiếp được mang đến như là kết quả của những thay đổi tích lũy dần đã xảy ra trong một khoảng thời gian. Việc chuyển đổi từ Giai đoạn I của “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ sang Giai đoạn II, và dường như sang “Chính sách hành động hướng Đông” là một ví dụ thích hợp. Khi Ấn Độ đang tăng tốc cho “Chính sách hành động hướng Đông”, tiến trình chuyển đổi tự nó sẽ có một số biểu thị, cả tiềm tàng và rõ ràng. Việc đưa ra hình ảnh một cường quốc chủ yếu có trách nhiệm, một cường quốc quan trọng ôn hòa, cần đến sự tham gia chủ động, có hệ thống và toàn diện vào khu vực trên mọi cấp độ vì Ấn Độ đã tụt lại đằng sau các cường quốc chủ yếu khác, như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ. Nỗi ám ảnh không ngừng của Ấn Độ về tiểu lục địa Ấn Độ đã phá hoại quan hệ đối ngoại của mình một cách đáng kể. Ấn Độ gần như nắm chắc chắn trong tay những quân bài tốt nhất trong khu vực, nhưng, đáng buồn là, họ đã sử dụng chúng rất kém. Việc Ấn Độ thiếu một cam kết kinh tế và chiến lược toàn diện với khu vực là trở ngại lớn nhất cho việc triển khai sức mạnh của mình. Bất chấp việc ký kết một số thỏa thuận, tổng khối lượng thương mại vẫn rất hạn chế, điều này sẽ không đưa Ấn Độ tiến xa trong nền chính trị khu vực. Về mặt đó, cả FTA cho Hàng hóa và Dịch vụ giữa Ấn Độ – ASEAN và RCEP cũng sẽ là những thử nghiệm có tính quyết định cho Ấn Độ. Với chiến dịch “Sản xuất tại Ấn Độ” của mình, Chính quyền Modi đã bơm một lực đẩy mới vào chính sách này. Tuy nhiên, bất chấp quyết tâm và bản năng của ông Modi, New Delhi có nhiều việc phải làm trước khi “Chính sách hành động hướng Đông” của nó giành được tín nhiệm tại châu Á – “từ việc tạo ra một môi trường thân thiện cho kinh doanh đến thực hiện nhanh các dự án xuyên biên giới; từ tự do hóa thị thực cho đến mở rộng hợp tác quốc phòng…” – Rõ ràng là Ấn Độ cần “thực hiện lời nói của mình” để trở thành một “cường quốc quan trọng”.

Có một số vấn đề cần được giải quyết để khiến “Chính sách hành động hướng Đông” thành công: Trước hết, Ấn Độ cần “Hành động hướng Đông” “từ bên trong”, tức là trong khu vực Đông Bắc của mình. Kết nối giữa vùng Đông Bắc và các bang khác của Ấn Độ vẫn chưa hoàn thiện. Trong khi Myanmar là cửa ngõ của Ấn Độ vào Đông Nam Á, vùng Đông Bắc của Ấn Độ là cửa ngõ của họ vào Myanmar. Một trở ngại lớn trong đó là ngay cả thủ phủ của các bang vùng Đông Bắc cũng chưa được kết nối hoàn chỉnh thông qua đường bộ, đường sắt, và hàng không, với nhau và cả với phần còn lại của Ấn Độ. Guwahati và Kolkata là hai kết nối chung duy nhất tới các thành phố vùng Đông Bắc. Với việc thiếu những yếu tố cấu thành như vậy bên trong Ấn Độ, việc thiếu kết nối với các quốc gia Đông Nam Á trở nên còn khó khăn hơn. Kết nối với Đông Nam Á chỉ có thể thực hiện sau khi kết nối trong khu vực được đảm bảo bên trong Ấn Độ.

Thứ hai, phát triển cơ sở hạ tầng là một thành phần quan trọng của “Chính sách hàng động hướng Đông”. Về vấn đề này, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á đã đề xướng một số dự án; tuy nhiên, việc thực hiện là chậm một cách đau đớn. Chẳng hạn, Dự án Cảng  biển Chennai-Dawei vẫn đang trong giai đoạn ban đầu. Tương tự là đường cao tốc ba bên giữa Ấn Độ – Myanmar – Thái Lan. Chính phủ gần đây đã gia hạn cho dự án này từ năm 2016 tới năm 2018. Một dự án lớn khác để thúc đẩy kết nối giữa Ấn Độ và Đông Nam Á và Dự án Vận tải Quá cảnh đa phương thức Kaladan. Một khi đi vào hoạt động hoàn toàn, nó sẽ kết nối bang Kolkata của Ấn Độ với cảng Sittwe ở Myanmar và sẽ được kéo dài tới bang Mizoram của Ấn Độ. Kết nối hàng hải với Indonesia cũng đóng góp hơn nữa cho các kế hoạch kết nối của Ấn Độ. Đây là việc quan trọng, bởi tỉnh Aceh của Indonesia chỉ cách các đảo cực Nam của Ấn Độ hơn 90 dặm.

Thứ ba, kết nối giữa người dân với người dân nằm trong cốt lõi của “Chính sách hành động hướng Đông”. Đại học Quốc tế Nalanda, kế hoạch “ngày yoga” của ông Modi, và một cuộc tuần du theo bước chân Đức Phật có thể đóng góp to lớn cho “Hành động hướng Đông”, nếu những dự án này được thực hiện một cách nghiêm ngặt.

Thứ tư, bất chấp tầm vóc kinh tế được cải thiện ở cấp quốc tế, Ấn Độ trước sau vẫn bị từ chối quyền thành viên APEC, điều không phải là một điềm tốt cho nước này. Từ phía Ấn Độ, cần thiết phải thuyết phục các nước thành viên ASEAN thúc đẩy quyền thành viên của nước này tại Hội nghị thượng đỉnh APEC tiếp theo được tổ chức ở Manila. Hơn nữa, Ấn Độ phải nỗ lực hết mình để đạt được vị trí chủ chốt trong Ngân hàng BRICS mới thành lập.

Mặc dù “Chính sách hành động hướng Đông” có vẻ như đang cung cấp lực đẩy cần thiết cho việc can dự vào phía Đông của Ấn Độ, Ấn Độ đã ngừng giữ lập trường trung lập về các vấn đề có tầm quan trọng chiến lược trong khu vực. Sản xuất quốc phòng chung và hợp tác phát triển sản phẩm quốc phòng sẽ giúp Ấn Độ làm vững chắc hơn năng lực của mình và cũng tìm kiếm các quan hệ đối tác lâu dài trong khu vực. Indonesia, Nhật Bản, Singapore và Việt Nam là những đối tác tiềm năng trong lĩnh vực đó. Liên lạc mạnh mẽ giữa người dân với người dân và cam kết quân sự và kinh tế mạnh hơn với khu vực là chìa khóa cho mục tiêu của Ấn Độ để trở thành một “cường quốc quan trọng” ôn hòa. “Chính sách hành động hướng Đông” không có nghĩa là rơi vào xung đột và đối đầu; nó có nghĩa là tạo ra một môi trường thuận lợi cho hòa bình và thịnh vượng.

Nguồn: Asan Forum

CVĐQT số 1 – 2016

Sự chuyển đổi trong can dự về phía Đông của Ấn Độ – Phần III


Kết thúc của Chiến tranh Lạnh, gắn liền với sự nổi lên của toàn cầu hóa và chủ nghĩa khu vực trong nền chính trị quốc tế, đã ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của các quốc gia trên toàn thế giới. Ấn Độ không phải là ngoại lệ. Trong khi nước này phục hồi cam kết của mình với các nước Đông Nam Á, những nước này đã tự nhóm họp thành một tổ chức trên một mức độ lớn, bỏ lại những hành trang lịch sử trong quá trình đó. Với sự khởi xướng của “Chính sách hướng Đông” năm 1992, Ấn Độ cũng đã vượt qua những xích mích ngoại giao bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng Campuchia và nền chính trị Chiến tranh Lạnh. Khi Ấn Độ bắt đầu dịch chuyển về khu vực ASEAN thông qua “Chính sách hướng Đông”, nó được giải thích như sau:

…Không đơn thuần là một chính sách kinh tế đối ngoại, nó còn là một sự thay đổi chiến lược trong tầm nhìn của Ấn Độ về thế giới và vị trí của Ấn Độ trong nền kinh tế toàn cầu đang phát triển. Trên hết, đó là việc tiếp cận các nước láng giềng châu Á văn minh trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á”.

ASEAN cũng đã mang lại vô số các cơ hội thông qua nhiều diễn đàn, điều này dẫn đến việc tăng cường đối thoại và hiểu biết lẫn nhau giữa các nước trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý các mối quan hệ trong khu vực Đông Á. Từ Đối tác Đối thoại trên từng lĩnh vực năm 1992, Ấn Độ đã tiến tới vị thế Đối tác Đối thoại toàn diện vào tháng 12/1999. Năm 2002, quan hệ này tiếp tục được nâng cao với việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ – ASEAN năm 2002 tại Phnom Penh. Năm 2005, Ấn Độ gia nhập EAS bất chấp những nghi ngại của Trung Quốc. Năm 2012, nhân dịp kỷ niệm Hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ – ASEAN lần thứ 10, hai bên đã ký thỏa thuận Quan hệ đối tác Chiến lược mà đã tăng cường hơn nữa quan hệ này.

Thương mại Ấn Độ – ASEAN đạt 79 tỷ USD vào năm 2013 với mục tiêu 200 tỷ USD vào năm 2020. Việc hoàn tất hiệp định thương mại tự do (FTA) về hàng hóa giữa Ấn Độ và ASEAN là một bàn đạp hướng tới hội nhập kinh tế Ấn Độ vào khu vực ASEAN. Sau nhiều vòng đàm phán, Ấn Độ và 10 nước thành viên ASEAN đã ký một FTA về dịch vụ và đầu tư vào ngày 8/9/2014. Việc thực thi hiệp định này được kỳ vọng sẽ đem lại sự thúc đẩy cần thiết cho quan hệ thương mại và đầu tư. Chính phủ Liên minh Tiến bộ Thống nhất (UPA) đã bị chỉ trích vì việc ký kết một FTA không hoàn chỉnh (chỉ về hàng hóa, không có dịch vụ), điều được chứng minh phương hại cho các lợi ích kinh doanh của Ấn Độ. Kết quả là trong vài năm qua, trong khi xuất khẩu của Ấn Độ vẫn không đáng kể, nhập khẩu từ các nước ASEAN đã tăng đáng kể.

Trong FTA về dịch vụ, Indonesia, Philippines và Thái Lan đã dành vài tháng để ổn định trong nước. Thực tế, Philippines vẫn chưa thông qua thỏa thuận này, lo sợ rằng lĩnh vực dịch vụ của Ấn Độ có thể lấn át lĩnh vực dịch vụ của ASEAN. Tuy nhiên, khi thỏa thuận này đi vào thực hiện, thị phần của Ấn Độ trong tổng thương mại sẽ tăng, biến FTA giữa Ấn Độ – ASEAN thành “một tình huống hai bên cùng có lợi”. Đối với Ấn Độ, FTA về dịch vụ giữa vai trò nổi bật vì nó bao gồm một phụ lục về sự di chuyển của các cá thể hay lực lượng lao động. Phụ lục này xác định các khách hàng doanh nghiệp và các nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng – những vấn đề cực kỳ quan trọng đối với Ấn Độ. Các vấn đề chủ chốt khác như các quy định trong nước, sự công nhận, tiếp cận thị trường, đối xử quốc gia, tính minh bạch, sự tham gia của các nước đang phát triển, các ủy ban chung về dịch vụ, cách giải quyết tranh chấp và từ chối quyền lợi cũng được bao gồm trong hiệp định.

Việc hoàn thành FTA giữa Ấn Độ và ASEAN sẽ mở đường cho Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), bao gồm các thành viên ASEAN và 6 nước đối tác của nó. Với việc thực hiện nó, Ấn Độ có thể giành được quyền tiếp cận thị trường ưu đãi với 15 nước và thu được đáng kể từ sự cạnh tranh về giá. Đối với Ấn Độ, RCEP là một công cụ để đạt được mục tiêu của nước này trong việc hội nhập vào các nền kinh tế Đông Á và giành quyền tiếp cận tới một thị trường khu vực rộng lớn từ Nhật Bản tới Australia. Điều này là rất quan trọng, vì Ấn Độ không phải thành viên của APEC hay TPP. RCEP có tiềm năng đẩy mạnh khối lượng thương mại của Ấn Độ với các nước trong khu vực, kể cả Trung Quốc và Nhật Bản. Lĩnh vực dịch vụ của Ấn Độ, công nghệ thông tin, viễn thông, Thuê ngoài quy trình kinh doanh (BPO), Thuê ngoài quy trình nghiên cứu phân tích (KPO) và các dịch vụ cần kỹ năng khác, chẳng hạn như nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt có thể tích lũy lợi nhuận từ RCEP.

Do thành tích kinh tế nổi bật và sự hiện diện chiến lược của Ấn Độ trong khu vực, và tiềm năng ngầm của nước này để cân bằng Trung Quốc, ASEAN đã bắt đầu nhìn nhận Ấn Độ như một đối tác với các chủ thể khu vực được đặt cạnh tình trạng bất an khu vực đang gia tăng khi đứng trước Trung Quốc đã cho thấy quan điểm chiến lược của Delhi về Đông Nam Á hòa hợp với quan điểm của Mỹ và ASEAN về môi trường an ninh khu vực. Điều này đã thúc đẩy đáng kể tính hiệu quả của Ấn Độ như một cường quốc quan trọng tiềm năng trong khu vực.

ASEAN: Không còn đóng vai trò thứ yếu đối với Ấn Độ

Trong nhiều năm qua, khu vực ASEAN chỉ ở bậc ưu tiên thứ hai của Ấn Độ. Điều này đặc biệt dễ thấy sau cuộc khủng hoảng Campuchia. Trong một mức độ lớn, Ấn Độ vẫn chỉ phản ứng đáp lại. Đối với khu vực ASEAN cũng vậy, Ấn Độ cũng chỉ ở mức thứ hai. Tuy nhiên hiện nay, với sự can dự ngày càng sâu hơn của Ấn Độ, khu vực Đông Nam Á không còn là một sân chơi thứ yếu nữa. Khi Trung Quốc đang tiến gần hơn tới những nước Nam Á, cũng là hợp lý đối với Ấn Độ để biến Đông Nam Á thành một phần trong sân chơi chủ yếu của mình. Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc đã cho Ấn Độ một cơ hội hoàn hảo để can dự vào những nước Đông Nam Á, cả về kinh tế và quân sự.

Đối với ASEAN, Ấn Độ không còn là một nước láng giềng xa lạ. Các dự án kết nối như Dự án Công nghiệp và Cảng biển sâu Dawei, Đường cao tốc ba bên Ấn Độ, Myanmar và Thái Lan, và Dự án Vận tải Quá cảnh đa phương thức Kaladan đều là những nhân tố chủ chốt trong việc biến “Chính sách hướng Đông” thành “Hành động hướng Đông”. Về thực chất, những dự án này là kết quả của nơi giao nhau giữa “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ và “Chính sách hướng Tây” của Thái Lan (và của hầu hết các nước ASEAN một cách hiệu quả). Khu vực ASEAN không còn là một “sân chơi thứ yếu” cho Ấn Độ và Ấn Độ cũng không còn là “cường quốc thứ yếu” đối với khu vực.

Hiểu được việc chuyển đổi

Không như Trung Quốc, nước luôn được coi là một “cường quốc quan trọng” đối với các nước thành viên ASEAN, theo truyền thống, ấn tượng về Ấn Độ vẫn luôn là một “cường quốc ôn hòa”. Thông qua “Chính sách hướng Đông”, Ấn Độ đã nỗ lực để trở thành một “cường quốc quan trọng” đối với khu vực. “Chính sách hành động hướng Đông” dường như đã làm vững thêm ý tưởng rằng Ấn Độ có tiềm năng này. Vị thế của Trung Quốc như một “cường quốc quan trọng” đã được chứng kiến trong các xung đột về quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa với Việt Nam, sự dính líu vào chính trị nội bộ của Indonesia trong những năm 1960, những vụ đụng độ lúc có lúc không với Philippines, và các biện pháp trừg phạt kinh tế đối với Philippines theo sau những căng thẳng dâng cao về vấn đề Biển Đông. Sự trỗi dậy về kinh tế và sự nâng cấp năng lực quân sự phi thường của Trung Quốc đã khiến nước này trở thành một cường quốc vượt trội trong khu vực đặt trong mối bất hòa với thế bá chủ của Mỹ. Ngược lại, ASEAN và các nước thành viên đã dành tình cảm cho hình ảnh của Ấn Độ như một “cường quốc ôn hòa”. Quan hệ qua lại về văn hóa của Ấn Độ, chính sách không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước khác và thành tích chưa bao giờ có xung đột với bất kỳ thành viên ASEAN nào đã thiết lập nên hình ảnh này; tuy nhiên, nó đã khiến Ấn Độ thiếu đi hình ảnh về một “cường quốc quan trọng”.

Những năm hình thành nên chính sách đối ngoại của Ấn Độ, khi New Delhi cương quyết giữ chính sách “không liên kết” và đoàn kết châu Á, đã chứng kiến những nỗ lực của nước này để khẳng định vai trò lãnh đạo trong khu vực, mặc dù chỉ về mặt ý thức hệ. Điều này đã mờ đi khi ASEAN  xích lại gần hơn với Mỹ. Thậm chí trong cuối những năm 1970 và 1980, nền kinh tế hướng nội của Ấn Độ và mối bận tâm của nước này về tiểu lục địa Ấn Độ hầu như không cho ASEAN cơ hội để tìm hiểu các ưu tiên chính sách đối ngoại của nước này. Trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, khi Ấn Độ mở cửa nền kinh tế và bắt đầu vươn tới các đối tác mới, ASEAN hiện ra như một trong những khu vực hấp dẫn nhất. Dù tích cực, ban đầu ASEAN cũng không thể hiện nhiều hứng thú với Ấn Độ. Chẳng hạn, khi Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) được thành lập chủ yếu để phòng ngừa về mặt thể chế chống lại những bất ổn phát sinh từ sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ được cho là không xứng đáng để được chấp nhận tham gia. Ấn Độ đã ứng cử làm thành viên ARF tại cuộc họp đầu tiên của nó vào năm 1994. Đề xuất này đã bị bác bỏ, vì người ta tin rằng Ấn Độ không có gì nhiều để đóng góp cho sự cân bằng an ninh khu vực.

(còn tiếp) 

Nguồn: Asan Forum

CVĐQT số 1 – 2016

Sự chuyển đổi trong can dự về phía Đông của Ấn Độ – Phần II


Quan hệ hữu nghị với Myanmar có tính quyết định với hòa bình và phát triển của các bang phía Đông Bắc Ấn Độ, vốn đang bị quân nổi dậy quấy phá. Việc chuyển đổi chính trị đang diễn ra và những bất ổn trong nước, đặc biệt liên quan đến cuộc tổng tuyển cử 2015, đã đặt ra nhiều thách thức mới cho Myanmar cũng như các nước láng giềng của nó, trong đó có Ấn Độ và Thái Lan. Ấn Độ cần có một kế hoạch để đối phó với những bất ngờ, khi bất ỳ sự bất ổn nào ở Myanmar cũng sẽ ảnh hưởng đến các bang Ấn Độ láng giềng cùng chung biên giới và quan hệ sắc tộc với các bang Kachin, Sagaing và Chin của Myanmar. Các cuộc gặp của công Modi với Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi cho thấy Ấn Độ đang tích cực can dự với cả Chính quyền Thein Sein và NLD (Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ) do phe đối lập dẫn đầu để đảm bảo hòa bình và ổn định ở Myanmar. Cách tiếp cận cân bằng của Ấn Độ có khả năng tăng cường hình ảnh một cường quốc ôn hòa và lợi ích ngoại giao tích lũy của nó trong tương lai. Không như người tiền nhiệm của mình, Tiến sĩ Manmohan Singh, ông Modi đã gặp nhà lãnh đạo ủng hộ dân chủ Aung San Suu Kyi tại Myanmar và đánh giá cao những nỗ lực của bà trong việc đưa Myanmar trở lại con đường dân chủ.

Chuyến thăm 4 ngày của ông Modi tới Nhật Bản vào đầu tháng 9/2014, chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của ông với tư cách là Thủ tướng tới một nước bên ngoài tiểu lục địa Ấn Độ, cũng được nêu bật trong các tuyên bố và thỏa thuận lớn. (Chuyến thăm của ông Modi theo sau chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của ông Tập Cận Bình). Trong suốt chuyến thăm này, quan hệ Ấn Độ – Nhật Bản đã nâng lên từ “quan hệ đối tác chiến lược” sang “quan hệ đối tác chiến lược và toàn cầu đặc biệt”. Các kết quả lớn khác bao gồm: Nhật Bản tuyên bố tăng gấp đôi đầu tư công và tư nhân vào Ấn Độ lên tới 34 tỷ USD; và các nhận xét của ông Modi về tranh chấp trên biển Hoa Nam (Biển Đông). Nhắc tới khuynh hướng “bành trướng” trong một số quốc gia, trong đó có việc “xâm lấn” vùng biển của các nước khác, ông đã hướng phản ứng của mình vào một Trung Quốc ngày càng quyết đoán đang bị khóa trong một tranh chấp trên biển với Nhật Bản.

Chỉ trong vài tháng nhậm chức, ông Modi đã bắt đầu điều chỉnh lại “Chính sách hướng Đông” để biến nó thành “Chính sách hành động hướng Đông” mà không làm suy yếu bản chất và những thành tựu của chính sách trước. Trong bài diễn văn của mình tại Hội nghị thượng đỉnh Ấn Độ – ASEAN, ông Modi nói: “Một kỷ nguyên mới của phát triển kinh tế, công nghiệp hóa và thương mại đã bắt đầu ở Ấn Độ. Về bề ngàoi, “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ đã trở thành “Chính sách hành động hướng Đông””. Về vấn đề đó, tuyên bố của bà Sushma Swaraj trong chuyến thăm của bà tới Việt Nam ngày 26/8/2014 cũng đáng lưu ý. Bà nêu lên các mục tiêu nhiệm vụ của Ấn Độ và nói rằng Ấn Độ không chỉ “hướng Đông” mà còn phải “Hành động hướng Đông”. Chuyến thăm Việt Nam của bà là chuyến đi thứ ba tới một nước Đông Nam Á kể từ khi bà đảm nhận chức Bộ trưởng Ngoại giao, việc này đã cho thấy ưu tiên cao của Chính quyền Modi đối với khu vực này.

Để tăng cường vai trò lớn hơn của Ấn Độ trong cấu trúc an ninh khu vực, bà nhắc lại ý tưởng của ông Modi rằng “5 T” là rất cần thiết để biến Ấn Độ thành một siêu cường. Đó là: truyền thống, tài năng, du lịch, thương mại, và công nghệ. Bà cũng nhấn mạnh những liên kết lớn hơn trên đất liền, trên biển và trên không giữa Ấn Độ và các nước Đông Nam Á bên cạnh việc đàm thoại về các liên kết giữa thể chế với thể chế và giữa người dân với người dân. Trong bài diễn văn khai mạc của bà tại Hội thảo bàn tròn Mạng lưới chuyên gia tư vấn chính sách ASEAN – Ấn Độ tại Hà Nội, bà nhấn mạnh sự nổi bật của các liên kết thương mại và đầu tư lớn hơn giữa Ấn Độ và ASEAN, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy nhanh quá trình hội nhập không gian kinh tế đang diễn ra giữa Ấn Độ và các nước trong khu vực.

Hợp tác quốc phòng sâu sắc hơn với Việt Nam, Singapore và Indonesia đang giành được vị thế nổi bật trong chính sách của Ấn Độ. Chẳng hạn, các cuộc tuần tra phối hợp giữa Ấn Độ và Indonesia (IND-INDO-CORPAT) hiện đang được nâng lên thành diễn tập song phương chung, và như đã lưu ý ở trên, Ấn Độ và Australia sẽ tổ chức các cuộc tập trận hải quân song phương lần đầu tiên vào năm 2015. Trong chuyến thăm của mình tới Việt Nam, bà Swaraj đã tổ chức các cuộc thảo luận về hợp tác quốc phòng lớn hơn với các nhà lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, mà đã được nâng lên tầm cao hơn với chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee tới Việt Nam trong tháng 9/2014. Việt Nam đang quan tâm đến việc mua tên lửa Brahmos, do Ấn Độ và Nga đồng sản xuất. Ấn Độ đang ngày càng được xem như nhà cung cấp an ninh tiềm năng trong khu vực, và việc cung cấp Brahmos cho Việt Nam có thể là một bàn đạp hướng tới củng cố vai trò đó. Tầm nhìn của ông Modi về nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực quốc phòng, bản địa hóa ngành công nghiệp quốc phòng, thu hút thêm FDI vào lĩnh vực quốc phòng, và hợp tác với Nhật Bản, Israel, Singapore, Mỹ và Việt Nam, tất cả sẽ đặt Ấn Độ vào trong liên minh các cường quốc quân sự lớn trong khu vực. Khoản cho vay tín dụng 100 triệu USD của Ấn Độ dành cho Việt Nam là một bước phát triển quan trọng khác trong lĩnh vực quốc phòng.

Trong các chuyến thăm của Swaraj và Mukherji, hai bên đã thảo luận các bước tiếp theo liên quan đến các lô dầu khí của Việt Nam, như Việt Nam đã đề xuất với Ấn Độ trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào tháng 11/2013. Nếu kế hoạch của họ thành công, New Delhi và Hà Nội sẽ tiến tới hợp tác năng lượng sau khi OVL thuộc sở hữu nhà nước của Ấn Độ (Công ty TNHH ONGC Videsh) trình một báo cáo nghiên cứu tính khả thi cho Chính phủ Ấn Độ. Việc hợp tác năng lượng Ấn Độ – Việt Nam đang tăng cường được minh chứng bởi quyết định của Việt Nam trong việc gia hạn hợp đồng cho Ấn Độ thuê hai lô dầu khí trên Biển Đông thêm một năm nữa.

Trong suốt các cuộc họp ASEAN và EAS tại Myanmar, các sắc thái trong chính sách của ông Modi về vấn đề Biển Đông cũng đã được nhấn mạnh; Ấn Độ dường như đang lớn tiến hơn về lập trường của mình đối với tranh chấp trên Biển Đông. Việc thuê được thêm các lô dầu khí ngoài khơi Việt Nam là dấu hiệu cho thấy niềm tin vững chắc của nước này rằng Biển Đông là vùng biển quốc tế, và ngoại giao năng lượng của nước này tại Đông Nam Á sẽ được dẫn dắt bởi “lợi ích bản thân được khai sáng” mà không bị ảnh hưởng bởi “nỗi lo sợ” hay “sự thiên vị”. Bằng cách nhằm vào các dự án cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tại vùng tranh chấp Kashmir bị Pakistan chiếm đóng (PoK), Ấn Độ đã làm rõ rằng Trung Quốc trước tiên cần tuân theo quan điểm của mình về một bên thứ ba không dính líu trong vùng lãnh thổ bị tranh chấp trước khi khuyên Ấn Độ tránh xa khỏi các lô dầu khí của Việt Nam. Ấn Độ vẫn cho rằng giải pháp hòa bình cho tranh chấp trên biển là lựa chọn duy nhất dành cho Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN, và rằng “vấn đề như vậy không nên giải quyết thông qua xung đột và chiến tranh mà phải qua đối thoại và hòa bình”. Trong bài diễn văn của mình tại EAS lần thứ 9, ông Modi nhận xét:

Trong một thế giới toàn cầu hóa và phụ thuộc lẫn nhau, không có lựa chọn nào ngoài việc tuân thủ các quy chuẩn và luật pháp quốc tế. Điều này cũng áp dụng cho an ninh hàng hải. Vì lý do này, việc tuân theo các quy chuẩn và luật pháp quốc tế cũng rất quan trọng đối với hòa bình và ổn định trên Biển Đông. Trong đó cũng  bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, bộ quy ước này nên là nền tảng để giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình. Chúng tôi cũng hy vọng rằng những nỗ lực để ký kết một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông bởi một tiến trình đồng thuận sẽ sớm thành công”.

Tuyên bố của ông Modi là dấu hiệu cho thấy giống như Mỹ, Ấn Độ cũng chung quan điểm rằng Trung Quốc cần tuân theo các chuẩn mực quốc tế, qua đó đóng góp cho hệ thống quốc tế hiện hành. Đáng chú ý là, các bên yêu sách chính trong tranh chấp này như Philippines và Việt Nam coi Ấn Độ như một đối trọng hiệu quả khác chống lại các động thái quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông. Do đó, Ấn Độ được công nhận rộng rãi như một cường quốc chính và một trong những chủ thể then chốt trong các động lực an ninh Đông Á đang nổi lên. Điều này bổ sung rất tốt cho “Chính sách hành động hướng Đông” đang tiến triển. Mỹ cũng đang thúc giục Ấn Độ tham gia tích cực hơn vào các động lực an ninh Đông Á.

Từ “Hướng Đông” tới “Hành động hướng Đông”

Mặc dù sự can dự toàn diện của Ấn Độ trong khu vực đã bắt đầu với “Chính sách hướng Đông”, các bằng chứng lịch sử, cả truyền miệng và văn bản, đều cho thấy Ấn Độ không chỉ “Hướng Đông” trong 2 thiên niên kỷ qua, nước này còn can dự vào phương Đông trong suốt giai đoạn này, dù không liên tục. Trong cuộc tranh đấu vì tự do, các nhà lãnh đạo Ấn Độ đã tích cực thông cảm và can dự với các nước Đông Nam Á đang chiến đấu chống lại các cường quốc thực dân. Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, Jawaharlal Nehru đã tổ chức và ăn mừng “Ngày Đông Nam Á” tại Lucknow vào 24/10/1945 và bày tỏ tình đoàn kết với Indonesia. Sau đó, quan hệ này đã lấy được đà, với Nehru đóng một vai trò chủ chốt trong việc phát triển tình đoàn kết châu Á. Tuy nhiên, sự gần gũi về địa lý và các liên kết văn hóa không thể chống đỡ trước những áp lực mang tính hệ thống và cận hệ thống từ nền chính trị quốc tế. Do đó, sự tương tác mạnh mẽ ngay sau thời kỳ hậu thuộc địa đã phai mờ theo thời gian, dẫn đến nhiều thập kỷ bỏ mặc lẫn nhau. Ấn Độ đã không tìm hiểu được nhiều về radar chiến lược của ASEAN và ngược lại.

(còn tiếp) 

Nguồn: Asan Forum

CVĐQT số 1 – 2016

Sự chuyển đổi trong can dự về phía Đông của Ấn Độ – Phần I


“Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ, được Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đổi tên thành “Chính sách hành động hướng Đông”, đã được tán dương như là sáng kiến chính sách đối ngoại thành công nhất được thực hiện trong 2 thập kỷ vừa qua của nước này. Ông Modi đã mở rộng trọng tâm và phạm vi của nó sau khi cảm nhận được rằng Giai đoạn I và Giai đoạn II của “Chính sách hướng Đông” không thể đạt tiềm năng tối đa của chúng, bất chấp những câu chuyện thành công. Thông qua “Chính sách hành động hướng Đông”, Ấn Độ không chỉ đang cố gắng lôi kéo các nước thành viên ASEAN, mà còn cả các nước thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương rộng lớn hơn vào các lĩnh vực chính trị, chiến lược, văn hóa và kinh tế. Điều này đã được thể hiện trong các nỗ lực đang được thực hiện nhằm tăng cường quan hệ với Australia, Nhật Bản và Hàn Quốc trong số các nước khác. Chuyến đi tới Australia và Nhật Bản của ông Modi có thể được xem như những bước theo hướng đó.

Các động lực an ninh đang thay đổi nhanh chóng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương có tầm ảnh hưởng bao trùm đối với các nước trong khu vực, và Ấn Độ đã không còn xa lạ với họ. Sự vươn lên sân khấu thế giới một cách khác thường của Trung Quốc và sự cạnh tranh ngày càng dữ dội của nước này với Mỹ và Nhật bản đã dẫn tới những bước chuyển có tính kiến tạo trong nền chính trị châu Á – Thái Bình Dương. Các chính sách “Tái cân bằng hướng tới châu Á” của Mỹ, “Kim cương An ninh Dân chủ” của Nhật Bản và “Con đường tơ lụa trên biển” của Trung Quốc, tất cả đều có thiết kế vĩ đại về chính trị – chiến lược để định hình cấu trúc khu vực theo cách riêng của họ. Trong  bối cảnh đó, sự tham gia và vai trò lớn hơn của Ấn Độ trong việc ổn định cấu trúc an ninh của khu vực mang tính then chốt.

Các chuyến thăm cấp cao và những tuyên bố mạnh mẽ

Mặc dù ông Modi mới chỉ nhậm chức vào tháng 5/2014, ông đã mau chóng thực hiện các chuyến thăm ngoại giao để nêu bật những khía cạnh chủ chốt trong chính sách đối ngoại của chính phủ Liên minh Dân chủ Quốc gia (NDA). Chuyến  thăm thành công của ông tới Mỹ và cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Barack Obama, các chuyến thăm Nhật Bản, Myanmar, Australia và Fiji, và các chuyến thăm của Thủ tướng Australia Tony Abbott và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Ấn Độ, tất cả được coi như những điểm sáng trong chính sách đối ngoại của Chính quyền Modi hướng tới khu vực này.

Chuyến thăm Ấn Độ của ông Tony Abbott và chuyến thăm tới Australia của ông Modi để tham dự Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Brisbane được cho là các sự kiện bước ngoặt trong quan hệ của Ấn Độ với khu vực láng giềng đối cực của mình. Hội nghị thượng đỉnh G20 cũng mang lại cho Ấn Độ một cơ hội để ngồi vào chiếc bàn cao kinh tế. Ông Abbott đã thăm Ấn Độ từ 4 – 5/9/2014. Đổi lại, ông Modi đã tới Australia từ 14 – 18/11, trở thành vị thủ tướng Ấn Độ đầu tiên làm như vậy trong 28 năm. Thỏa thuận hợp tác hạt nhân dân sự, gây nhiều tranh cãi tại Austrlia và rất được mong chờ ở Ấn Độ, là một cú thúc lớn cho những nỗ lực của Ấn Độ để đáp ứng nhu cầu về năng lượng của nước này trong những năm tới. Trong bản tuyên bố chung được ký vào tháng 9/2014, hai bên đã hoan nghênh lễ ký kết bản thỏa thuận như một “biểu tượng cụ thể” của quan hệ song phương. Ngoài thỏa thuận hạt nhân dân sự có khả năng đi vào hoạt động năm 2015 các công ty Ấn Độ đang làm việc hướng tới các dự án hợp tác năng lượng ở Australia, tập trung vào khai thác than đá, khai thác dầu và khí đốt. Năm bản kế hoạch hành động được ký vào tháng 11/2008 với các Bộ Năng lượng điện, Bộ Than đá, Bộ Dầu mỏ và Khí đốt tự nhiên, Bộ Khai khoáng, Bộ Năng lượng mới và Năng lượng tái tạo là những trụ cột để thúc đẩy cam kết song phương trong lĩnh vực năng lượng.

Trong suốt chuyến thăm Australia của ông Modi, “Khuôn khổ Hợp tác An ninh giữa Ấn Độ và Australia” cũng đã được ký kết. Khuôn khổ tham vọng này có 32 điểm có thể đưa thành hành động được xếp dưới 7 đề mục. Hai bên đã cam kết tổ chức các hội nghị thượng đỉnh thường niên với sự có mặt của cả hai thủ tướng và các cuộc đối thoại thường xuyên ở cấp bộ trưởng. Họ cũng thường nhất trí tổ chức các cuộc tập trận hàng hải song phương thường xuyên và hợp tác chặt chẽ trong các thỏa thuận chống khủng bố, đi đôi với cam kết của Ấn Độ với Nhật Bản. Đáng lưu ý là cuộc tập trận hải quân song phương đầu tiên của Ấn Độ – Australia sẽ được tổ chức vào năm 2015. Trong khi hai nước phân loại nó như một cuộc diễn tập chống lại các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, thì không ngạc nhiên rằng, một số người trong giới truyền thông Australia hiểu điều này như “một sự phòng ngừa chống lại sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc”. Theo tờ The Age:

Khuôn khổ” an ninh này được đặt ngang hàng với quan hệ “gần như liên minh” ngày càng sâu sắc của Australia  với Nhật Bản; quan hệ quân sự đang thắt chặt nhanh chóng của Nhật Bản với Ấn Độ, và hợp tác đang tăng cường của cả ba nước với Mỹ. Đây là nền tảng thứ tư và cũng là cuối cùng của “viên kim cương” an ninh dân chủ lấy Mỹ làm điểm tựa, sử dụng cách diễn đạt cũ của người Nhật về một ý tưởng đã nổi lên và sụp đổ cách đây 6 năm khi đối mặt với sức ép từ Trung Quốc, nhưng đã được phục hồi một cách hiệu quả”.

Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để xác định rằng quan hệ Ấn Độ – Australia và Ấn Độ – Nhật Bản đang nổi lên được nhằm để chống lại bất kỳ nước thứ ba nào, hoặc liệu những cuộc diễn tập trên có thể củng cố năng lực quân sự chung của họ chống lại cái được nhận thức như là “mối đe dọa từ Trung Quốc” hay không.

Là “cửa ngõ vào Đông Nam Á” của Ấn Độ, Myanmar luôn chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Ấn Độ. Không có gì đáng ngạc nhiên rằng Chính quyền Modi đã tìm mọi cách có thể để chứng minh quan điểm này. Trong suốt chuyến thăm của bà Sushma Swaraj tới Myanmar để tham dự ba cuộc họp đa phương – Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị Ngoại trưởng thuộc Hội nghị thượng đỉnh Đông Á – vào tháng 8/2014, người ta đã chứng kiến sức sống được hồi sinh của Ấn Độ trong việc tạo dựng quan hệ gần gũi với khu vực này Vì Myanmar là chủ tịch ASEAN năm 2014, ông Modi đã tới thăm nước này từ 14 – 15/11 để tham dự Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) tại Naypidaw. Đó kh6ng chỉ là can dự đa phương được ASEAN thúc đẩy đầu tiên của ông với tư cách Thủ tướng, mà còn là chuyến thăm đầu tiên của ông tới khu vực ASEAN. Ông Modi đã có một cuộc gặp song phương với Tổng thống Myanmar Thein Sein, người đã gọi Ấn Độ và Myanmar là “hai nước anh em”. Một thuật ngữ tương tự, Pauk Phaw (anh chị em), đã được sử dụng cho quan hệ Trung Quốc – Myanmar trong quá khứ khi Trung Quốc đã ra tay giải cứu Myanmar khi nước này đối mặt với một cuộc tẩy chay ngoại giao quốc tế sau vụ rắc rối 8888 và việc đàn áp dã man của phong trào dân chủ.

Việc tăng cường kết nối là đặc biệt quan trọng với Ấn Độ bởi Myanmar có vị trí chiến lược trong ngã ba Trung Quốc, Ấn Độ và Đông Nam Á, và có chung biên giới hơn 1600 km với Ấn Độ. Chính phủ Modi đang cố gắng đẩy nhanh việc hoàn tất đường cao tốc ba bên Ấn Độ – Myanmar  – Thái Lan, một phần của Đường cao tốc ASEAN 1, con đường nhằm mục đích kết nối Ấn Độ với tiểu vùng sông Mekong để tạo điều kiện thuận lợi cho tiếp xúc giữa người dân với người dân và cải thiện các mối quan hệ thương mại và đầu tư. Các chuyến bay thẳng Delhi-Bodh, Gaya-Yangon sẽ sớm được bắt đầu, cũng như dịch vụ xe buýt Imphal-Mandalay. Khởi hành từ Delhi, một chuyến bay thẳng Mumbai tới Thành phố Hồ Chí Minh là một bước đột phá mới trong kết nối với Việt Nam. Tuy nhiên, một số thủ đô Đông Nam Á vẫn chưa được kết nối trực tiếp với các thành phố lớn của Ấn Độ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Asan Forum

CVĐQT số 1 – 2016

“Vòng ngọc bích” đối phó với “Chuỗi ngọc trai” của Trung Quốc – Phần cuối


Tây Tạng

Tây Tạng là một vấn đề nhức nhối đối với Trung Quốc. Vị thế của Tây Tạng thay đổi theo những thăng trầm của Trung Quốc. Đáng chú ý là nó chưa bao giờ bất biến. Nếu Trung Quốc suy yếu, Tây Tạng có thể có quyền tự trị lớn hơn. Ngược lại, nếu Tây Tạng có quyền tự trị, Trung Quốc sẽ bắt đầu suy yếu. Nếu chính quyền lưu vong Tây Tạng tiếp tục điều hành từ Ấn Độ, Trung Quốc sẽ không hài lòng. Đây là cơ hội mà Ấn Độ có thể tận dụng. Vào thời điểm hiện tại, cơ hội này cần phải được mở rộng thêm chút nữa.

Tân Cương

Tây Tạng và Tân Cương tạo thành cửa sau đầy bất ổn của Trung Quốc. Thế giới đang quan sát điểm nóng nằm sâu trong nội địa này của Trung Quốc và cách thức. Trung Quốc giam hãm người Duy Ngô Nhĩ. Liệu có cần phải hỗ trợ người Duy Ngô Nhĩ hay không? Câu trả lời tất nhiên là có.

Mông Cổ

Mông Cổ chỉ là một vùng đệm giữa Nga và Trung Quốc. Kể từ khi Liên Xô sụp đổ, Mông Cổ buộc phải trở thành vệ tinh của Trung Quốc. Trung Quốc là đối tác thương mại chính của Mông Cổ. Cho đến gần đây, Mông Cổ vẫn tỏ ra hài lòng và vẫn buộc phải núp bóng Trung Quốc trong một chừng mực nào đó. Trong thập kỷ qua, nước này dường như đã có một sự thay đổi chiến lược, bao gồm cả việc quan hệ của họ với Ấn Độ đang ấm dần lên. Thương mại giữa Ấn Độ và Mông Cổ đã tăng gấp nhiều lần. Gần đây, Ấn Độ đã khánh thành một nhà máy hóa dầu ở nước này. Mông Cổ kiên quyết ủng hộ Ấn Độ ứng cử vị trí thành viên thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ấn Độ cần mở rộng hợp tác này tại sân sau của Trung Quốc.

Eo biển Malacca

Eo biển Malacca là điểm mấu chốt của chiếc “Vòng ngọc bích”. Ảnh hưởng của nó từ quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ – được mệnh danh là “tàu sân bay không thể chìm” đã làm trầm trọng thêm tình thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc.

Tuyến thứ hai – tuyến tạm thời

Dân chủ

Trung Quốc vô cùng lo lắng về vấn đề dân chủ. Điểm yếu của Trung Quốc ở Hong Kong đã rõ ràng. Trung Quốc không thể giải quyết vấn đề dân chủ và các quyền tự do đi kèm với nó. Trung Quốc hiểu rằng dân chủ là một loại virus làm bùng phát một cuộc cách mạng. Ấn Độ có thể cân nhắc việc cử những phái đoàn gồm các chính trị gia lớn tiếng tới Trung Quốc trong khuôn khổ các cuộc trao đổi giữa nhân dân hai nước. Họ sẽ làm những việc cần thiết để phát tán loại virus này.

Tôn giáo

Vấn đề tôn giáo đang quay trở lại Trung Quốc, nơi kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, tôn giáo là một linh hồn tự do và không thể bị kiểm soát. Phật giáo đang nổi lên như là tôn giáo chính và lan truyền ở Trung Quốc. Ấn Độ là cái nôi của Phật giáo trên toàn thế giới. Sức mạnh mềm của Bodh Gaya và Sarnath đang chờ để được khai thác. Bên cạnh Phật giáo là Hồi giáo với những tác động hoàn toàn về mặt tâm lý đối với Trung Quốc. Sự nhạy cảm và phản ứng thái quá của Trung Quốc được bộc lộ rõ ràng trên toàn thế giới thông qua cách nước này đối xử với người Duy Ngô Nhĩ và người theo đạo Hồi.

Tuyến thứ ba – tuyến tăng cường

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn

Quan hệ đối tác chiến lược Mỹ – Ấn ngày càng phát triển là công cụ trực tiếp để kiềm chế Trung Quốc. Khi quan hệ đối tác này phát triển, không gian hành động của Trung Quốc giảm đi. Tuy nhiên, nó sẽ kích hoạt một chu kỳ hợp tác và cạnh tranh giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Cách thức Ấn Độ lèo lái mối quan hệ đối tác này sẽ là một vấn đề đáng chú ý trong tương lai. Đây sẽ là một tuyến vô cùng quan trọng trong chiến lược “Vòng ngọc bích”. Nó sẽ củng cố và tăng cường chiến lược này.

Bộ tứ

Bộ tứ vẫn đang phát triển. Cho dù hình thức hoạt động là gì thì chỉ riêng quá trình tư duy và giai đoạn trước khi hình thành nhóm này cũng sẽ có tác động nhất định. Việc các bộ trưởng ngoại giao của các nước trong Bộ tứ nhóm họp bên lề chuỗi sự kiện của Đại hội đồngg Liên hợp quốc mới kết thúc gần đây là một bước đi đáng chú ý.

Tuyến thứ tư – tuyến thu hẹp không gian

ASEAN

Ấn Độ đã tiến một bước dài từ chỗ chỉ là nước đứng ngoài quan sát ASEAN. Việc các nhà lãnh đạo ASEAN trở thành khách mời danh dự tại Lễ diễu hành kỷ niệm 69 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Ấn Độ là sự kiện đáng chú ý. Quan hệ đối tác với ASEAN đã mở rộng sang các lĩnh vực như an ninh, kinh tế, thương mại, văn hóa và nông nghiệp. Sự mở rộng can dự như vậy đã làm thu hẹp không gian của Trung Quốc. Hơn nữa, có thể thấy rất rõ từ góc nhìn của nhân dân hai nước rằng cán cân đang nghiêng về phía một Ấn Độ không can thiệp thay vì một Trung Quốc hiện đang chi phối. Sức mạnh mềm rất có khả năng đem lại những kết quả đáng kể. Quan hệ đối tác này sẽ ngày càng phát triển.

Các quốc đảo Thái Bình Dương

Sự can dự gần đây của Thủ tướng Modi với đại diện của các quốc đảo Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng. Các quốc đảo Thái Bình Dương bao gồm Fiji, Cộng hòa Kiribati, Cộng hòa quần đảo Marshall, Nhà nước liên bang Micronesia, Cộng hòa Nauru, Cộng hòa Palau, Nhà nước độc lập Papua New Guinea, Nhà nước độc lập Samoa, quần đào Solomon, Vương quốc Tonga, Tuvalu và Cộng hòa Vanuatu. Việc đối thoại với các quốc gia – dân tộc nhỏ bé này ở Thái Bình Dương sẽ gia tăng ảnh hưởng của Ấn Độ và làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Thái Bình Dương.

Tuyến thứ năm – tuyến tấn công trực tiếp

BRI

Ấn Độ là một trong số ít các quốc gia đã công khai xa lánh và phản đối bộ đôi BRI – CPEC ngay từ khi mới hình thành. Giới chiến lược hiện đều công nhận rằng Ấn Độ không tham gia tất cả các diễn đàn BRI. Đây không phải một vấn đề nhỏ nhặt. Ngay cả Trung Quốc cũng đã tìm cách xoa dịu Ấn Độ trong vấn đề này bằng cách đề xuất các cơ chế thay thế. Cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức giữa Thủ tướng Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình là kết quả trực tiếp của lập trường này.

Chính sách “Một Trung Quốc”

Ấn Độ đã kiên quyết từ chối công nhận chính sách “Một Trung Quốc”. Chính sách này là giấc mơ thầm kín của Trung Quốc. Chỉ riêng sự tồn tại của Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ cũng là một sự phủ nhận đối với chính sách này. Đây là chính sách thâm hiểm mà giới chiến lược Ấn Độ thường không hiểu. Chắc chắn chính sách này sẽ tiếp tục trong tương lai và sẽ là một thành phần quan trọng trong ngoại giao Trung Ấn và thỏa thuận chiến lược giữa hai bên.

Kết luận

Trung Quốc muốn có một thế giới đa cực chứ không phải một châu Á đơn cực mà trong đó nước này là cực duy nhất. Học thuyết “Chuỗi ngọc trai” có lẽ do một nhà tâm lý học nào đó của Trung Quốc khởi xướng và được một vài người tin tưởng hoàn toàn, tiếp tục củng cố quan điểm này. Đã đến lúc phải ngăn chặn làn sóng đó. Nhiều nước ở châu Á thừa nhận sự tăng trưởng và vai trò đối trọng của Ấn Độ. Có nhiều không gian để kiềm chế Trung Quốc nếu chúng ta có được một chính sách. Từ đó khái niệm “Vòng ngọc bích” đã được đưa ra. Nhiều người sẽ bác bỏ nó và cho rằng một ý tưởng như vậy là quá tầm với Ấn Độ. Kể từ khi chính sách Hành động hướng Đông được đưa ra, nhiều yếu tố trong chiến lược “Vòng ngọc bích” đã xuất hiện. Hãy cân nhắc chúng. Nếu không phải vì tầm quan trọng của Ấn Độ trong kế hoạch của Trung Quốc thì Tập Cận Bình hẳn là sẽ không tới đây để tham dự một cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức. Đó cũng là bằng chứng cho thấy Trung Quốc rất coi trọng Ấn Độ. Chiến lược “Vòng ngọc bích” chỉ là tấm gương phản chiếu của “Chuỗi ngọc trai”. Nó là có thật. Nếu được thực hiện nghiêm túc, chiến lược này sẽ củng cố nỗ lực của Ấn Độ trong việc đối phó với Trung Quốc từ nhiều hướng. Đây là một trận đấu mà hai bên vừa tấn công vừa phòng thủ. Ấn Độ không nên đánh giá thấp bản thân.

Nguồn: www.sniwire.com – 12/10/2019

TLTKĐB – 22/10/2019