Về tiềm năng hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ


Panaj Jha

Ngoại giao quốc phòng đóng vai trò như một cơ chế hỗ trợ để duy trì các cấu trúc hợp tác trong không gian chiến lược, bảo vệ không gian chiến lược và khám phá hợp tác song phương trong lĩnh vực quốc phòng. Điều này được hiểu là sự răn đe mềm đối với đối thủ. Quan hệ quốc phòng giữa Ấn Độ và Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh Trung Quốc tiến hành các hoạt động xây dựng đảo ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), mở rộng căn cứ tầu ngầm ở Tam Á (đảo Hải Nam) và thường xuyên triển khai tàu ngầm ở Ấn Độ Dương khiến Ấn Độ hết sức quan ngại. Đề cập đến mối quan hệ của Ấn Độ với Việt Nam, ông K. Subramanyam nói: “Ấn Độ có lợi ích lớn trong việc duy trì sức ép. Đó là chính sách cơ bản của Ấn Độ từ những năm 1950. Với tiềm lực lớn nhất trong khu vực, Việt Nam là quốc gia duy nhất có thể làm được điều này. Đó là lý do tại sao Ấn Độ và Việt Nam có lợi ích chiến lược trùng khớp nhau”.

Mối quan hệ quốc phòng giữa 2 quốc gia thường được nhìn nhận từ 4 khía cạnh khác nhau. Thứ nhất, liệu đã có mối quan hệ lâu dài nào giữa bên cung cấp và bên mua, như trường hợp của Ấn Độ và Nga, hay chưa? Thứ hai, liệu đã có các sản phẩm thích hợp có thể tăng cường khả năng chiến đấu và triển khai thông tin tình báo vốn rất quan trọng trong thời chiến hay chưa? Thứ ba, liệu hai nước đã tham gia một liên doanh có thể giúp tìm hiểu thị trường quốc tế và thu được lợi ích của một liên doanh như vậy hay chưa? Thứ tư, liệu hai nước có mối đe dọa chung nào cần phải ngăn chặn và do đó có mục tiêu chiến lược xác định nào hay chưa? Trong trường hợp quan hệ quốc phòng Ấn Độ – Việt Nam, mối đe dọa chung – Trung Quốc – được coi là lý do cho sự phát triển của mối quan hệ như vậy. Tuy nhiên, rõ ràng đây không phải là trường hợp như vậy vì Việt Nam sẽ không chiến đấu chống lại Trung Quốc ở Ấn Độ Dương cũng như Ấn Độ sẽ không chiến đấu chống lại Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa; tuy nhiên, việc thu thập thông tin tình báo trước bất kỳ cuộc chiến nào là cách thức thông minh để chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp trong chiến lược quốc phòng và quân sự của mọi quốc gia.

Việc đánh giá quan hệ quốc phòng Ấn Độ – Việt Nam giúp đưa ra những lý do khác nhau giải thích cho sự xuất hiện và phát triển của một mối quan hệ như vậy. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều sử dụng vũ khí của Nga, và trước đó là của Liên Xô, và cần bảo trì và bảo dưỡng chúng. Do đó, thông thường người mua sẽ tìm kiếm các linh kiện theo bất kỳ cách nào có thể. Điều thú vị là trong khi các đồng minh Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có một kho dự trữ các linh kiện, hệ thống vũ khí và quân sự thời Liên Xô lại không có một cơ sở như vậy. Do đó, trong khi Ấn Độ tìm kiếm linh kiện thay thế cho các máy bay Mig già cỗi của mình, Việt Nam tìm kiếm các linh kiện thay thế cho các tàu lớp Petya. Ấn Độ trước đó đã cung cấp 5000 tấn linh kiện cho các tàu lớp Petya của Việt Nam và Việt Nam lại một lần nữa yêu cầu linh kiện cho những con tàu này.

Hơn nữa, bất kỳ quốc gia nào cũng phải chuẩn bị cho việc khấu hao và loại bỏ các hệ thống vũ khí sau khi vòng đời của chúng kết thúc, kể cả sau khi được nâng cấp và bảo trì thông thường. Do đó, mọi quốc gia đều có mối quan tâm chung là tìm kiếm các hệ thống mới. Trong trường hợp đó, một quốc gia sử dụng các hệ thống giống hệt hoặc tương tự nhau theo truyền thống sẽ là điểm tham chiếu thông tin về chi phí vòng đời, hiệu quả hoạt động của các hệ thống như vậy cũng như việc đào tạo nhân lực và kỹ thuật viên. Việt Nam tìm kiếm sự hỗ trợ cả Ấn Độ trong kịch bản đó. Chẳng hạn, Ấn Độ đã sử dụng tàu ngầm lớp Kilo khá lâu và khi Việt Nam muốn đánh giá 2 tầu ngầm lớp Kilo khác nhau do Nga cung cấp (636-M và 877-EKM), Việt Nam đã tìm đến Ấn Độ để tìm kiếm thông tin. Ấn Độ đang sử dụng tàu ngầm 877-EKM, được nâng cấp và đưa vào dự án 08773 vào năm 2010. Do đó, sau khi xem xét chi phí hoạt động và các khía cạnh khác của tàu 877-EKM, Việt Nam đã quyết định mua tàu 636-M hiện đại và linh hoạt hơn so với 877-EKM. Lợi ích ở đây là Ấn Độ là một quốc gia thân thiện và sẽ hỗ trợ đào tạo và bảo trì bất cứ khi nào Việt Nam có yêu cầu đối với các tàu ngầm mới này.

Việt Nam đã lo ngại việc Trung Quốc xâm nhập khu vực gần vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình. Sách Trắng quốc phòng Việt Nam năm 2009 đã đề cập gián tiếp đến chiến lược quân sự cũng như chính sách tăng cường chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc. Sách Trắng liệt kê các hệ thống vũ khí, thu thập tình báo và giám sát tiên tiến của Trung Quốc và bày tỏ mối quan ngại về khoảng cách ngày càng lớn về khả năng quốc phòng giữa các cường quốc và các quốc gia như Việt Nam. Với thực tế là tài liệu tham khảo này đã được đưa ra từ 1 thập kỷ trước, việc tìm hiểu danh sách mua sắm của Việt Nam và cách thức Việt Nam chuẩn bị hiện đại hóa và phát triển khả năng của họ là điều cần thiết.

Theo dữ liệu mua sắm vũ khí và chi tiêu quân sự của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), từ năm 2009, Việt Nam đã mua radar giám sát trên không, tên lửa đất đối không, tàu tuần tra, máy bay đa năng, máy bay trực thăng vận tải, tên lửa dẫn đường, tên lửa đất đối không để phòng bờ biển, tên lửa không đối không có điều khiển ngoài tầm nhìn (BVRAAM), máy bay huấn luyện, tàu khu trục Gepard-3, tàu ngầm lớp kilo E-Project, máy bay chiến đấu Su 30MK2, ngư lôi tác chiến chống tàu ngầm, tàu hộ tống và tàu tuần tra xa bờ. Điều thú vị là trong khi hầu hết các hệ thống này có nguồn gốc từ Nga, Belarus, Romania và Slovakia, Việt Nam cũng đã bắt đầu mua các hệ thống vũ khí từ Mỹ, Pháp, Israel và Hàn Quốc. Điều này rõ ràng có nghĩa là VIệt Nam đang đa dạng hóa giỏ vũ khí quân sự của mình. Hầu hết các giao dịch mua sắm đã được thực hiện là để bảo vệ bờ biển và tài sản của Việt Nam ở biển Nam Trung Hoa. Việc hải quân Trung Quốc sát hại 64 binh sĩ Việt Nam trong một cuộc đụng độ hải quân ở biển Nam Trung Hoa vào năm 1988 vẫn còn lưu lại trong tâm trí người Việt Nam. Để ngăn chặn sự tái diễn của một sự cố như vậy, binh lính và thủy thủ Việt Nam muốn xây dựng tiềm lực mạnh và có khả năng răn đe.

Việt Nam đã tìm kiếm các nhà sản xuất vũ khí tư nhân ở Ấn Độ. Việt Nam đã đặt hàng 2 tàu tấn công nhanh của công ty Larsen & Toubro (L&T). Việc mua tàu tuần tra nhanh của Ấn Độ do L&T sản xuất phục vụ 2 mục đích cho hai nước: mở ra thị trường quốc phòng cho các nhà sản xuất tư nhân và thể hiện năng lực của ngành công nghiệp tư nhân trong lĩnh vực quốc phòng của Ấn Độ. Ở Ấn Độ, các tập đoàn và công ty như Mahindra & Mahindra, Tata và L&T đã đáp ứng các yêu cầu của ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ về hệ thống vũ khí không sát thương, radar và các thiết bị liên quan đến quốc phòng nhưng quy mô thị trường rất hạn chế. Nhà đóng tàu Garden Reach đã ký một đơn hàng 2 tàu với Philippines nhờ đưa ra giá thấp nhất nhưng họ đã không thể đáp ứng hầu hết các yêu cầu tài chính của đơn hàng. Chính phủ Ấn Độ muốn các công ty tư nhân trong ngành công nghiệp quốc phòng chứng tỏ hiệu quả trên trường quốc tế trước khi đặt các đơn hàng lớn hơn cho lực lượng quốc phòng Ấn Độ.

Có những khía cạnh khác của mối quan hệ được xem xét ở 2 lĩnh vực khác nhau. Trước tiên là việc chi tiêu quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam. Điều này sẽ cung cấp hiểu biết về các giao dịch mua sắm mà Việt Nam đã và đang thực hiện trên thị trường quốc tế và việc liệu ngành công nghiệp quốc phòng của Việt Nam có khả năng phục vụ lợi ích của mình trong dài hạn hay không. Ngay trong nội bộ Việt Nam, việc triển khai hoạt động mua sắm cấp chính phủ đang chịu sức ép, như đã xảy ra gần đây đối với Ấn Độ do sự vận động hành lang của nhiều cá nhân và nhóm trung gian quốc phòng. Các nhà máy đóng tàu Việt Nam đã phát triển năng lực đóng tàu cũng như đã xuất khẩu tàu lớn (30000 đến 50000 DWT) và tàu container (100000 DWT) sang Hàn Quốc, Australia và các nước châu Âu, nhưng chủ yếu là cần cẩu, tàu chở dầu hoặc tàu container. Ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam cũng đã tham gia sản xuất súng bộ binh và thiết bị liên lạc quân sự. Điều này cho thấy rõ ràng rằng Việt Nam cần phát triển công nghiệp quốc phòng trên quy mô lớn để đáp ứng yêu cầu và chuẩn bị cho tương lai. Vũ khí quốc phòng của Việt Nam chủ yếu có nguồn gốc từ Liên Xô và Nga, và trong một kịch bản như vậy, Ấn Độ đóng vai trò là đối tác khả thi để thiết lập cơ sở công nghiệp quốc phòng vì họ có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất vũ khí và máy bay cấp quyền từ Nga.

Về những hạn chế, có một vài vấn đề liên quan đến chính sách xuất khẩu quốc phòng của Ấn Độ và khả năng hạn chế của Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng. Tên lửa Brahmos và các thiết bị quan trọng khác là vấn đề gây bất đồng giữa hai nước. Thông tin từ hai phía là khác nhau. Ấn Độ đã tuyên bố rằng có những bảo lưu từ phía Nga vì họ cảm thấy Việt Nam quan tâm đến tên lửa Yakhont (P-800 Oniks), loại tên lửa nền tảng để phát triển Brahmos; trong khi đó, Nga tuyên bố Ấn Độ trì hoãn việc bán tên lửa cho Việt Nam cho đến khi phiên bản Brahmos siêu thanh được phát triển.

Ấn Độ đã cung cấp gói tín dụng 500 triệu USD cho Việt Nam để nâng cấp ngành công nghiệp quốc phòng, nhưng Việt Nam đã không thể sử dụng số tiền này và trên thực tế đã yêu cầu Ấn Độ đa dạng hóa khoản tín dụng trên cho cả mục đích dân sự. Doanh số bán thiết bị quốc phòng như radar và các thiết bị không sát thương khác sẽ tạo ra thị trường cho Ấn Độ, nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa thể vạch ra một kế hoạch và quy trình ngân sách hoàn chỉnh để sử dụng các gói tín dụng này. Việt Nam cũng đã mở ra khả năng hợp tác với Ấn Độ trong việc phóng các vệ tinh quân sự và dân sự để giám sát các hoạt động của Trung Quốc và bảo vệ nhân sự của mình trên các đảo ở biển Nam Trung Hoa. Dự án vẫn đang trong giai đoạn đầu và có khả năng đẩy mối quan hệ lên một mức độ hợp tác cao hơn nhiều. Mặc dù không thể phủ nhận thực tế là hợp tác quốc phòng giữa hai nước đang phát triển, nhưng cần phải có một tầm nhìn chiến lược và một tư duy rõ ràng để đưa nó vào một quỹ đạo cao hơn.

Nguồn: Diễn đàn an ninh và khoa học công nghệ (stsfor.org)

TLTKĐB – 05/06/2019

Advertisements

Việt Nam cần cho Ấn Độ tiếp cận cảng Cam Ranh


Mạng tin EurAsian Times (Ấn Độ) vừa đăng bài nhận định về việc liệu Ấn Độ có thể đặt căn cứ quân sự của nước này tại cảng Cam Ranh hay không, sau khi đảm bảo được việc tiếp cận cảng Sabang của Indonesia.

Theo bài viết, nhiều quốc gia đang rất muốn lập căn cứ quân sự ở Việt Nam, và tiếp sau Mỹ và Nga, đang có đồn đoán rằng Ấn Độ có khả năng đặt căn cứ quân sự ở cảng Cam Ranh dù Hà Nội đã nói rõ không muốn có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ.

Trong những năm gần đây, quan hệ song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam phát triển đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh khu vực và thương mại. Cảng quốc tế Cam Ranh là một trong những cảng nước sâu tốt nhất ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thích hợp cho việc neo đậu tầu ngầm cũng như các tàu sân bay lớn và các tàu hải quân khác. Việt Nam có quan hệ tốt đẹp với Ấn Độ, nên đã trao cho các tàu Hải quân Ấn Độ quyền tiếp cận độc quyền để sử dụng cảng ở Nha Trang này. Theo Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam (RSIS – thuộc Đại học Công nghệ Nam Dương của Singapore), Hải quân Ấn Độ đang thực hiện những cuộc thăm viếng thường xuyên đến cảng Cam Ranh và Việt Nam thậm chí đã đề nghị Ấn Độ phát triển cơ sở hải quân này. Mỹ là nước có quan hệ gần gũi với Việt Nam, nhưng cũng không được tham vấn về đặc quyền này. Điều đó cho thấy Việt Nam xem hợp tác quốc phòng với Ấn Độ cấp thiết như thế nào.

Năm 2010, Thủ tướng Việt Nam đã ký với Ấn Độ thỏa thuận cho phép tàu Hải quân Ấn Độ sử dụng các cơ sở tại những hải cảng của Việt Nam và New Delhi đồng ý giúp Hà Nội mở rộng năng lực hậu cần hải quân cũng như huấn luyện lục quân tác chiến trong rừng.

Ấn Độ và Việt Nam đều muốn đảm bảo an ninh của các tuyến đường biển và chia sẻ quan ngại về sự hiện diện của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương và Biển Đông. Việt Nam coi Ấn Độ là đối tác nhằm chống lại Trung Quốc ở vùng Biển Đông nhiều rắc rối.

Tuy nhiên, sự đối đầu còn vì một yếu tố lớn hơn cả tranh giành lãnh thổ. Theo một nghiên cứu của EurAsian Times, ước tính có khoảng 700 tỷ m3 khí đốt tự nhiên được kiểm chứng và 4,4 tỷ thùng dầu đang chờ khai thác trong vùng Biển Đông mà Việt Nam có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc.

Các chuyên gia cho rằng Việt Nam đang rất muốn tìm những quốc gia sẵn sàng đầu tư vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình và không bỏ đi vì lo sợ sức mạnh của hải quân Trung Quốc.

Mối quan hệ và hợp tác ngày gia tăng giữa Ấn Độ và Việt Nam chắc chắn khiến Trung Quốc khó chịu. Các chuyên gia an ninh châu Á lưu ý rằng Bắc Kinh đã từng nhiều lần phản đối các hoạt động khai thác dầu mỏ chung giữa Ấn Độ và Việt Nam ở Biển Đông trong gần một thập kỷ qua, song New Delhi vẫn từ chối ngừng hợp tác.

Bài viết kết luận: Là một nước nhỏ, Việt Nam luôn đối mặt với nguy cơ trở thành tốt thí trên bàn cờ chính trị quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc. Do đó, Việt Nam đã quay sang Ấn Độ để được định hướng và hỗ trợ. Cảng Cam Ranh gần với Eo biển Malacca và Trung Quốc, nên là nơi lý tưởng để kiềm chế Bắc Kinh trong một cuộc xung đột tiềm tàng. Bởi vậy, nếu Việt Nam cho Ấn Độ tiếp cận hải cảng chiến lược này, Hà Nội có thể đảm bảo được tất cả các lợi ích kinh tế của mình cũng như ngăn ngừa mọi mối đe dọa tiềm tàng từ “kẻ hung hăng” Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 12/12/2018

Điểm quan trọng giúp tăng tốc quan hệ quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ


Trong năm 2018, đã có tới 6 chuyến thăm qua qua lại giữa các giới chức cấp cao Việt Nam và Ấn Độ. Đó là chưa kể sự kiện tàu chiến Ấn Độ và tàu chiến Việt Nam tập trận chung tại vùng biển Việt Nam vào tháng 5/2018, một đơn vị quân đội Việt Nam lần đầu tiên tập trận với lục quân Ấn Độ tại miền Trung Ấn Độ vào tháng 1 (cuộc tập trận chung đầu tiên trong lịch sử quan hệ hai nước). Ngoài ra, Ấn Độ cũng cho tàu chiến thăm các cảng của Việt Nam liên tục từ năm 2016 đến nay.

Có những sự kiện hoàn toàn không được báo chí trong nước nhắc đến, như chuyến thăm Ấn Độ của Tướng Nguyễn Chí Vịnh, hay cuộc tập trận lục quân vào tháng 1/2018. Theo nhà nghiên cứu độc lập Hà Hoàng Hợp tại Singapore, những sự kiện trên là sự tiếp nối chuyến đi Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vào năm 2016.

Tác giả Saurav Jha, chuyên gia về năng lượng và quốc phòng người Ấn Độ, có bài phân tích về việc New Delhi cung cấp vũ khí cho Hà Nội. Theo những thông tin từ tác giả này, hả năng cung cấp vũ khí và những dịch vụ quốc phòng của Ấn Độ cho Việt Nam là rất rộng, từ những tên lửa BrahMos, Akash, cho đến các hệ thống radar, điện tử phòng thủ, từ việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm loại Kilo mà hai bên cùng mua của nước Nga cho đến nâng cấp tàu chiến loại Petya, huấn luyện phi công cho máy bay chiến đấu Sukhoi.

Một điểm thuận lợi cho quan hệ mua bán vũ khí này là cả hai nước cùng có nguồn cung cấp chung trước đây là Liên Xô cũ. Trong mối quan hệ quốc phòng này, một số nhà nghiên cứu Việt Nam nhấn mạnh việc hợp tác hải quân, nhất là trong bối cảnh Việt Nam bị sức ép trên biển từ Trung Quốc.

Thạc sĩ Hoàng Việt, một chuyên gia nghiên cứu Biển Đông, nói: “Hai quốc gia đều có biên giới trực tiếp với Trung Quốc và hai quốc gia này trong quá khứ đã từng có chiến tranh biên giới với Trung Quốc. Cho nên, trước sự hung hăng ngày càng tăng của Trung Quốc trên những khu vực mà họ cho là có chủ quyền, trên biển lẫn trên bộ, Việt Nam cần có một quốc gia đủ mạnh chống lại tham vọng của Trung Quốc. Quốc gia đó là Ấn Độ, vì Ấn Độ cũng là một cường quốc không thua kém gì Trung Quốc và về mặt hải quân còn có thể là hơn Trung Quốc một phần”.

Nếu mối quan hệ quốc phòng này được Việt Nam dùng để răn đe mối đe dọa từ Trung Quốc, thì ngược lại, phía Ấn Độ cũng có thể dựa vào quan hệ  với Việt Nam để đối trọng với Trung Quốc. Theo Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, chuyên gian quan hệ quốc tế đang làm việc tại Singapore, Ấn Độ đang tìm cách quân bình sức ép từ Trung Quốc bằng cách đẩy mạnh sự hiện diện của họ tại Biển Đông và khu vực Đông Nam Á nói chung. Chính sách này về mặt nào đó đối trọng với sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương bao quanh Ấn Độ.

Theo ông Saurav Jha, mối quan hệ quốc phòng với Việt Nam cũng cho phép New Delhi đặt tai mắt của mình đến gần Trung Quốc hơn, nhất là nếu các gói thiết bị điện tử phòng thủ và radar chuyển giao cho Việt Nam được suôn sẻ.

Tuy nhiên, vì cả hai quốc gia có chung mối quan ngại về Trung Quốc, nên sự gia tăng quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ quốc phòng không khỏi làm cho Trung Quốc cảnh giác. Ngay từ năm 2016, Bắc Kinh đã lên tiếng lo ngại về việc chuyển giao tên lửa đất đối không Akash của Ấn Độ cho Việt Nam.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp cho rằng Ấn Độ cũng đang bị phân tâm, do những vấn đề khác nhau về an ninh nội địa, cũng như sức ép của Trung Quốc trên biên giới giữa hai nước, nên có thể sẽ không hoàn toàn tập trung đẩy “chính sách Hướng Đông” và quan hệ Việt – Ấn đi nhanh hơn.

Từ phía Việt Nam, cũng có những tín hiệu cho thấy Hà Nội đã đánh tiếng không tham gia liên minh quân sự 4 quốc gia gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia. Tuy nhiên, ông Hà Hoàng Hợp lại cho rằng quan hệ Việt – Ấn không gặp trở ngại nào: “Tôi không thấy trở ngại gì cả. Nhưng nếu nói Việt Nam tiếp cận khối bốn quốc gia đó thuần túy về mặt quân sự thì không phải. Việt Nam tiếp cận toàn diện cả bốn quốc gia và khối đó còn có ý nghĩa toàn diện về chính trị, quốc phòng, an ninh”.

Theo ông Saurav Jha, các viên chức Ấn Độ tin rằng Việt Nam sẽ vẫn duy trì sự phát triển quan hệ quốc phòng Việt – Ấn như hiện nay, bất kể những tín hiệu lo ngại đưa ra từ Bắc Kinh. Tuy nhiên, ông cho rằng sự thành công của Ấn Độ trong việc chuyển giao vũ khí cho Việt Nam sẽ là điều quan trọng để tăng tốc quan hệ đó.

Nguồn: RFA

TKNB – 11/12/2018

Ấn Độ cần tận dụng tối đa quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam


P.K. Chakravorty

Trong bài bình luận được Viện nghiên cứu và phân tích quốc phòng công bố mới đây, thuật ngữ “quan hệ đối tác chiến lược” đã được thảo luận. Quan hệ đối tác chiến lược là sự tương tác lâu dài giữa hai nước dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh và lịch sử. Ấn Độ đã ký quan hệ đối tác chiến lược với hơn 30 quốc gia, trong đó Pháp là nước đầu tiên ký năm 1998 và Việt Nam ký năm 2007. Dù quan hệ đối tác chiến lược không phải là một liên minh, nhưng có nhiều khía cạnh cho phép các nước tương tác chặt chẽ. Việt Nam là quốc gia có quan hệ thân thiết với Ấn Độ từ rất lâu. Giống như Ấn Độ, Việt Nam có biên giới với Trung Quốc và đã nhiều lần chiến đấu chống sự xâm lược của quốc gia láng giềng này, gần đây nhất là năm 1979. Điều quan trọng là phải đánh giá nhân tố Trung Quốc với quan điểm đối tác chiến lược mạnh mẽ của chúng ta.

Nhân tố Trung Quốc

Trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đóng vai trò tích cực ở Đông Nam Á. Việt Nam từng nằm dưới quyền cai trị của người Hán từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên. Trung Quốc cung cấp các hỗ trợ thiết yếu cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như Mỹ. Tuy nhiên, trước khi Việt Nam thống nhất, Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc Việt Nam lật đổ chính phủ Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn vào tháng 1/1978 đã làm tổn thương người Trung Quốc. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc tấn công vào biên giới phía Bắc Việt Nam. Cuộc xung đột kéo dài đến ngày 06/3/1979 mà Trung Quốc không giành được thắng lợi lớn nào. Cần lưu ý rằng Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ (sau đó trở thành Thủ tướng Ấn Độ) Atal Bihari Vajpayee đang ở thăm Trung Quốc khi cuộc tấn công xảy ra và ông đã kết thúc chuyến thăm sớm hơn kế hoạch.

Sau đó, Trung Quốc bắt đầu quan hệ song phương với tất cả các quốc gia ASEAN và cung cấp viện trợ cho Việt Nam. Trung Quốc nhất trí giải quyết vấn đề biên giới với Việt Nam bằng giải pháp hòa bình. Hai nước đã giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trên biển ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn chưa được giải quyết. Năm 1988, đã có những cuộc đụng độ lớn giữa Hải quân Trung Quốc và Việt Nam dẫn đến thương vong nặng nề. Sau đó, hai nước đã thiết lập các đội quân ở một số khu vực của các đảo này.

Năm 1995, Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn do Philippines tuyên bố chủ quyền. Tháng 5/2011, Trung Quốc cắt cáp của một tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam dẫn đến căng thẳng giữa hai nước tăng cao. Ấn Độ tham gia thăm dò dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Trung Quốc cảnh báo Ấn Độ về vấn đề nay, nhưng Ấn Độ đã có bước đi táo bạo khi tuyên bố hoạt động thương mại sẽ được tiếp tục tại vùng biển quốc tế.

Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng quyết đoán hơn và đã triển khai một dàn khoan dầu tới Biển Đông vào tháng 5/2014. Trong khi đó, Philippines đã đưa vấn đề ra Tòa Trọng tài thường trực ở La Hague (Hà Lan). Ấn Độ và Việt Nam đều tuyên bố tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 và tự do hàng hải ở Biển Đông. Với thái độ kiên quyết của Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ và tất cả các bên bị ảnh hưởng đều đang quan sát tình hình và sẽ hành động nếu được yêu cầu.

Mối quan hệ chiến lược

Việt Nam và Ấn Độ đều có nhu cầu đối đầu với Trung Quốc, nên hai nước đã tiến gần hơn trong quan hệ đối tác chiến lược. Bản ghi nhớ đầu tiên được ký vào năm 1994, Nghị định thư chính thức về quốc phòng ký năm 2000 và Quan hệ đối tác chiến lược đạt được năm 2007. Quan hệ đối tác chiến lược được nâng cấp lên Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2016. Trước đó, Việt Nam chỉ có mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện như vậy với Nga và Trung Quốc.

Việt Nam và Ấn Độ đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao. Chuyến thăm Việt Nam gần đây nhất là của Tổng thống Ram Nath Kovin từ ngày 18 – 21/11 và của Tư lệnh lục quân từ 22 – 25/11. Trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Narendra Modi năm 2016, 12 thỏa thuận đã được ký kết – gồm hiệp định về không gian vũ trụ, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, tránh đánh thuế 2 lần, an ninh mạng, công nghệ thông tin, trao đổi thông tin về tàu dân sự và hợp đồng mua sắm tàu tuần tra ngoài khơi.

Liên quan đến vấn đề quốc phòng, hai nước đều tôn trọng phán quyết của tòa thường trực và nhất trí về tự do hàng hải tại vùng biển chung. Để tăng cường hơp nữa quan hệ quốc phòng, Ấn Độ đã cấp cho Việt Nam khoản tín dụng 500 triệu USD để mua sắm thiết bị quốc phòng. Các thiết bị mua sắm không được công bố nhưng nhiều khả năng là khinh hạm, tàu ngầm hoặc tên lửa Brahmos. Việt Nam đã ký hợp đồng với công ty Larsen & Turbo để mua 4 tàu tuần tra ngoài khơi. Ngoài ra, Ấn Độ đã cấp một khảon viện trợ trị giá 5 triệu USD để xây dựng Công viên phần mềm quân sự tại Nha Trang. Hai nước cũng hợp tác về tăng cường khả năng giám sát để cung cấp các hình ảnh thời gian thực về các hoạt động tại khu vực lợi ích của Việt Nam.

Kinh tế cũng là hía cạnh quan trọng của chuyến thăm. Thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương là mục tiêu chiến lược. Hai nước sẽ làm hết sức để tăng kim ngạch thương mại song phương lên 15 tỷ USD vào năm 2020. Điều này đòi hỏi nỗ lực to lớn, nhưng có thể đạt được nếu cả hai nước tăng cường tương tác kinh doanh và phạm vi hoạt động thương mại. Thủ tướng Modi đặc biệt mong muốn được tạo điều kiện thuận lợi cho hợp đồng của công ty Tata nhằm sớm xây dựng nhà máy điện 1320 MW tại Sóc Trăng. Cả hai nước sẽ cố gắng hết sức để thúc đẩy thăm dò dầu khí trong các lô mới được phân bổ. Kết nối giữa 2 quốc gia như nhu cầu về đường bay thẳng, kết nối vận tải biển và kết nối trên đất liền… cần phải được tối ưu hóa. Điều này sẽ tự động thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nước.

Hai nước đã thể hiện mức độ hợp tác cao nhất trong các diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam liên tục ủng hộ Ấn Độ ứng cử vị trí ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngược lại, Ấn Độ cũng ủng hộ Việt Nam ứng cử vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020 – 2021 trong khi Việt Nam ủng hộ Ấn Độ vào vị trí nhiệm kỳ 2021 – 2022. Nhìn chung, quan hệ 2 nước đã chuyển sang quỹ đạo cao hơn qua chuyến thăm.

Con đường phía trước

Kể từ khi trở thành đối tác chiến lược, 2 nước đã thiết lập đối thoại chiến lược quốc phòng thường niên. Xem xét mức độ của mối quan hệ Ấn Độ – Việt Nam, việc nâng cấp các cuộc đàm phán lên cấp bộ trưởng là cần thiết.

Vịnh Cam Ranh thường được mô tả là một trong những hòn ngọc của Việt Nam. Bán đảo dài hướng ra biển có khả năng phòng thủ, trong khi các cảng sông và cảng biển tự nhiên tạo nên cảng nước sâu tốt nhất trên thế giới. Ngoài ra, còn có một căn cứ không quân với đường băng hoàn hảo. Việc hải quân và không quân Ấn Độ sử dụng những cơ sở hạ tầng này sẽ giúp 2 nước tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và cho phép Ấn Độ tiến hành các hành động nhằm bảo vệ tài sản nước này ở Biển Đông. Vấn đề này đang được 2 nước xem xét.

Dựa trên yêu cầu của Hà Nội, Ấn Độ có thể cung cấp cho Việt Nam máy bay giám sát Dornier, thiết bị không người lái mini (UAV), xe tăng T-72 của Liên Xô được nâng cấp và thiết bị pháo do Ấn Độ sản xuất sau khi thử nghiệm, cũng như một số tàu cũ của Hải quân Ấn Độ. Việt Nam hiện đang mua các tàu tuần tra ngoài khơi bằng gói tín dụng của Ấn Độ. Việt Nam cũng ấn tượng với tiến bộ về tên lửa của Ấn Độ và mong muốn mua tên lửa siêu thanh BrahmMos có thể sử dụng cả trên đất liền và trên biển. Đây là vấn đề đáng được xem xét nghiêm túc vì không vấp phải sự phản đối từ Nga. Việt Nam cũng quan tâm đến cơ hội đào tạo các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ tên lửa và vận hành các lò phản ứng hạt nhân.

Sau đây là các kháo đào tạo của quân đội Ấn Độ:

+ Không quân Ấn Độ đào tạo chuyển đổi cho phi công SU-30 của Không quân Việt Nam.

+ Hải quân Ấn Độ đào tạo thủy thủ tàu ngầm cho Hải quân Việt Nam.

+ Cùng huấn luyện với Lục quân Ấn Độ về chống nổi dậy và tác chiến trong rừng.

+ Đào tạo tiếng Anh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam và Thủ tướng Việt Nam đã thẳng thắn trong việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Ấn Độ. Việt Nam muốn hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cũng như bổ sung kiến thức về lĩnh vực pháo và tên lửa. Việc khai thác và hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực chiến lược để ngăn các sai lầm của Trung Quốc là lợi ích của Ấn Độ.

Việt Nam đang tìm kiếm hợp tác với Ấn Độ trong các lĩnh vực không gian vũ trụ. Việt Nam đã phóng 2 vệ tinh và đang có kế hoạch phóng các vệ tinh định vị riêng. Hợp tác với Ấn Độ sẽ có lợi cho cả hai nước. Ấn Độ cũng đang thiết lập các trạm tiếp nhận để cho phép Việt Nam tải các hình ảnh vệ tinh trinh sát của Ấn Độ trên Biển Đông.

Kết luận

Việt Nam là trụ cột mạnh nhất trong chính sách “Hành động hướng Đông” của Ấn Độ. Việt Nam mong muốn Ấn Độ hỗ trợ trong lĩnh vực công nghệ quân sự mà Ấn Độ phải cung cấp bằng mọi giá. Trung Quốc đã cung cấp vũ khí cho tất cả các nước láng giềng của Ấn Độ và sẽ chấp nhận quan hệ hữu nghị Ấn Độ – Vệt Nam. Ấn Độ phải tận dụng tối đa mối quan hệ đối tác chiến lược này.

Nguồn: Indian Defence Review

TKNB – 11/12/2018

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần cuối


Con đường tơ lụa nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây

Ở Trung Quốc người ta đang nhiều lần kêu gọi, tái lập con đường tơ lụa thời xưa theo kiểu thời đại ngày nay nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây. Thoạt đầu nghe ra nó có vẻ lãng mạn, cũng tựa như mô hình một phi thuyền từng gây ấn tượng mạnh đối với mọi người, song dầu sao đi nữa “hào ngôn tráng ngữ” của Trung Quốc vẫn rất có ý nghĩa. Trung Quốc nhìn thấy một con đường tơ lụa mới cùng các tuyến đường sắt, đường bộ hiện đại có thể đưa giàu sang và ảnh hưởng của nó ra xa mãi tới phương Tây, không chỉ qua Trung Á, mà còn đi nữa, đến Iran và Trung Đông. Hầu hết các cuộc tranh cãi về các mối liên hệ cụ thể có hình thù trong tương lai của Trung Á với thế giới bên ngoài cho đến nay đều tập trung vào những liên hệ bắc – nam mà bỏ qua logic của mối liên hệ đông – tây. Mắt xích liên hệ này có thể bao gồm việc thiết lập tuyến đường sắt hiện đại, nối trực tiếp vùng Trung Á với thị trường Trung Quốc rộng lớn và đang phát triển, rồi sau cùng đi đến các cảng biển nước sâu ven biển phía đôngg của Trung Quốc. Một con đường tơ lụa mới với đường sắt, đường bộ hiện đại chắc chắn tạo cho Trung Quốc một tuyến đường lục địa xa mãi tới phương Tây, sau hết đến châu Âu và Iran trên vịnh Persian và sẽ đem lại những kết quả có tính chiến lược rất lớn. Người ta có thể tin rằng nó có thể sánh được với ảnh hưởng từng có của Kênh đào Suez và Panama lúc mới ra đời.

Các mục tiêu của Trung Quốc tại Trung Á được phô diễn vào tháng 4/1994 khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng thăm chính thức Turmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Việc đón tiếp Lý Bằng tại 4 nước Cộng hòa, theo diễn tả của một nhà quan sát độc lập diễn ra “cực kỳ thân mật”. Tổng thống Uzbekistan Islam  Karimov hoan nghênh Lý đúng nghi thức, nói “ghi nhận Trung Quốc là một nước lớn và đóng góp tiềm năng lớn cho ổn định của Trung Á”. Thủ tướng Lý gợi lên con đường tơ lụa, đạt thỏa thuận với Tổng thống Turmenistan, Sarparmurad Niyarov, về nghiên cứu “khả thi” đối với tuyến đường sắt mới chạy qua Trung Á và một đường ống dẫn dầu, sẽ đưa dầu từ khu vực này đến Trung Quốc. Lý gọi đường ống dẫn dầu ước tính 20 tỷ USD này là “Công trình thế kỷ”.

Tham vọng của Trung Quốc đối với Trung Á – nhất là một đường ống dẫn dầu như thế sẽ có ý nghĩa chiến lược lớn – không tránh khỏi sẽ mâu thuẫn với quan điểm về sở hữu của Nga đối với các nước Cộng hòa Trung Á một thời thuộc Liên Xô. Mâu thuẫn sẽ đẩy một Trung Quốc sôi động về kinh tế chống một nước Nga đang suy thoái nhưng vẫn còn có một đòn bẩy quân sự quan trọng tại Trung Á. Rõ ràng trước mắt Nga vẫn còn thế mạnh nhưng vì kinh tế ốm yếu, nên vị trí của nó tại khu vực này không được vững chắc về lâu dài.

Lúc này Nga đang bảo vệ chặt chẽ những đặc quyền về chính trị và quân sự của mình tại khu vực Trung Á. Thí dụ, đài phát thanh Almaty cuối năm 1992 đưa tin “người ta chờ đón một Hiệp ước về hợp tác và viện trợ quân sự giữa Kazakhstan và Trung Quốc sẽ được ký trong tương lai gần”. Nhưng rồi người ta không còn nghe thấy nói gì hơn về một hiệp ước như thế. Lời giải thích là, Nga hiển nhiên đòi quyền phê chuẩn bất kỳ quan hệ quân sự nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á. Thí dụ, khi Trung Quốc thảo luận với các nước Cộng hòa Trung Á về việc xác định đường biên giới, giảm số quân và các biện pháp xây dựng lòng tin, thì Nga khăng khăng đòi được có mặt. Thế là Trung Quốc phải gặp một đoàn đại biểu hỗn hợp bao gồm cả ba nước láng giềng Trung Á lẫn Nga mà thực tế nước Nga là nước dẫn đầu đoàn đại biểu và có thể ngăn cản bất kỳ thỏa thuận nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á mà họ phản đối. Đó là thông lệ từ 1993 cho tới gần đây nhất vào tháng 3/1994. Chỉ mãi đến tháng 1/1994 Bộ trưởng Quốc phòng Kazakhstan mới thu xếp được việc viếng thăm Trung Quốc.

Theo các phương tiện thông tin tiếng Nga thì, lo lắng của nước Nga về vai trò của Trung Quốc ở Trung Á đang tăng lên. Trong mấy tháng vừa qua đã có nhiều bài viết công kích sự có mặt gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt tại Kazakhstan. Hầu hết những công kích đó dường như xuất phát từ phía người Nga chứ không phải từ phía người Kazakh. Các bài viết vẫn mang giọng văn kiểu cũ, một kiểu tuyên truyền về chủng tộc da vàng. Điển hình có một bài, trừ một điều là nó được đăng trên tạp chí tiếng Kazakh, tuyên bố: “Không còn là điều bí mật, những người Trung Quốc đang tràn vào Kazakhstan như trở về nhà tương lai của họ và đang mua… đàn bà Kazakh… Người Trung Quốc… đặc biệt quỷ quyệt, khách sáo giả dối, (và)… đang thận trọng thực hiện các kế hoạch đã được định ra cho hàng bao thế kỷ. Mọi dấu hiệu đều cho thấy là Trung Quốc sẽ rất thận trọng làm sao không hành động quá tay hoặc sử dụng ồn ào đòn bẩy kinh tế nhằm đạt tới những lợi ích chính trị hoặc chiến lược rõ ràng. Thay vào đó, họ dường như sẵn sàng để mặc cho mâu thuẫn giữa sức mạnh kinh tế của Trung Quốc với yếu kém về kinh tế của Nga diễn tiến theo trình tự của nó. Thí dụ, đề nghị của Trung Quốc về xây dựng đường ống dẫn dầu để đưa dầu từ Trung Á vào Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ bị cản lại bởi một nước Nga lo ngại Trung Quốc và từ lâu vẫn coi dự trữ dầu lửa Trung Á là sở hữu của mình. Nhưng nếu Nga cản trở việc này cũng như các dự án khác về “con đường tơ lụa” thì sẽ làm cho các nhà lãnh đạo Trung Á xa lánh hơn nữa, vì đương nhiên họ ủng hộ bất kỳ dự án nào có thể thúc đẩy kinh tế trong nước của họ tăng trưởng. Bởi vậy cho dù các dự án được đề xuất có được thực hiện hay không thì Trung Quốc vẫn cứ cải thiện được vị trí của họ ở Trung Á và Liên Xô dường như sẽ thua.

Kết luận

Tháng 9/1993 có cuộc họp của những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính quyền thuộc năm đơn vị cấp tỉnh vùng Tây Bắc trung Quốc, được tổ chức ở Urumchi. Tin tức cho biết các nhà lãnh đạo được thúc giục bởi hàng loạt cơ hội tại tiền duyên Tây Bắc Trung Quốc: phát triển thương mại và giao thông quốc tế, ký kết các hợp đồng dự án và lao động tại các nước láng giềng và lập doanh nghiệp cũng như phát triển các phương tiện du lịch ở nước ngoài. Có báo cáo nói rằng, “các nhà lãnh đạo nhất trí rằng khu Tây Bắc cần phát huy hết lợi thế vị trí địa lý của nó, thực hiện mở cửa đối với các nước, các khu vực phía Tây cảu miền Tây Bắc Trung Quốc, liên kết xây dựng một hành lang quốc tế vĩ đại tại miền Tây Bắc và liên kết tiến về phía Tây”. Đó là tư thế lạc quan, có khát vọng và hướng ngoại đồng thời cũng tiêu biểu cho những biện pháp tiếp cận của một Trung Quốc ngày thêm hung mạnh đối với các nước láng giềng, không riêng ở Trung Á, mà gồm cả Nam và Đông Nam Á.

Kết quả cho thấy Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng của nó đối với cả ba khu vực láng giềng. Và điều đặc biệt đáng ghi nhận là những bước tiến của Trung Quốc ở cả ba khu vực đều mang tính hòa bình, kinh tế, không cưỡng chế. Thực vậy, các nước láng giềng nhiệt thành với thành quả mà Trung Quốc thu được trong phát triển kinh tế nhiều khi còn tỏ ra hăng hái hơn so với bản thân Trung Quốc trong việc xúc tiến xu thế này. Vào thời điểm hiện thời, các phần tử quân sự của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc trong các khu vực nói trên chỉ là thấp thoáng, không lộ mặt. Trước hết, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ với các nước như Myanmar và Thái Lan thông qua việc bán cho họ trang thiết bị quân sự với điều kiện rất thuận tiện. Hai là, Trung Quốc tiếp tục công cuộc phát triển nhanh chóng về quân sự, nhằm giúp vào việc ngăn cản các nước khác thự chiện phản ứng  bằng quân sự đối với sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.

Điều chúng ta có thể được chứng kiến là những giai đoạn đầu của bước chuyển phần lớn lục địa châu Á về với một trạng thái “tự nhiên” hơn đã từng thịnh hành qua các thế kỷ trước. Vào lúc cực thịnh, các triều đại thống trị Trung Quốc trị vì một hệ thống các quốc gia chư hầu. Dưới chế độ đó, các nước láng giềng cơ bản là độc lập và không có quân lính Trung Quốc chiếm đóng vẫn phải dâng “cống vật” lên Bắc Kinh để thừa nhận bá quyền của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần VI


Hơn nữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc thở phào nhẹ nhõm vào đầu năm 1992 khi đi đến kết luận rằng chủ nghĩa dân tộc đại Turkic cũng như Hồi giáo hiếu chiến xem chừng đều không thể lan tràn khắp các nước Cộng hòa Trung Á. Như vậy có nghĩa không còn lực lượng nào là mối đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp đối với Tân Cương. Tầng lớp lãnh đạo chóp bu “thế tục” của năm nước Cộng hòa đã tỏ rất rõ thái độ thù địch đối với Hồi giáo hiếu chiến.

Ngay cả lúc nỗi lo của Trung Quốc đối với Trung Á lên cao vào thời kỳ 1989 – 1991, thì các nhà chức trách Tân Cương cũng đã phát triển từ từ và vững chắc mậu dịch biên giới cùng các quan hệ khác với các nước Cộng hòa Trung Á, lúc ấy còn là một bộ phận không thể chia cắt của Liên Xô. Nhưng một khi các nước Cộng hòa đó hoàn thành độc lập và chủ quyền có tính pháp lý vào cuối năm 1991, thì một giai đoạn đã mở ra cho Bắc Kinh thiết lập mối quan hệ nhà nước với nhà nước và hình thành một chính sách Trung Á có tham vọng hơn và tiến xa hơn. Tin tưởng rằng vào lúc này Trung Quốc không còn gáip mặt với bất kỳ mối nguy nghiêm trọng và trực tiếp nào đến từ Trung Á, Trung Quốc nhận định rằng dầu sao đi nữa họ vẫn có lợi ích quốc gia trong việc gia tăng ổn định lâu dài và phát triển kinh tế của các nước Cộng hòa Trung Á. Bắt đầu vào thập kỷ 90, sau hơn một thập kỷ kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao, Trung Quốc giờ đây đã có thể cung cấp cho các nước Cộng hòa Trung Á yếu kém về kinh tế, các cơ may về thương mại lớn cũng như các số lượng vừa phải về vốn và công nghệ. Với cách làm đó Trung Quốc đang tăng cường nền kinh tế của các nước Cộng hòa và đáp ứng điều mà các nhà lãnh đạo Trung Á coi là nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tầng lớp thượng lưu Trung Á không khao khát viện trợ văn hóa, ngôn ngữ hoặc tôn giáo mà cần phát triển kinh tế, Trung Quốc rõ ràng cũng đồng ý rằng phát triển kinh tế tạo cho khu vực cơ hội tốt nhất để hạn chế xung đột sắc tộc và tôn giáo trong tương lai.

Đương nhiên Trung Quốc có ý định xử sự tốt bằng cách làm lợi. Gia tăng mậu dịch và đầu tư ở Trung Á cũng có nghĩa gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc. Hơn nữa, do lợi ích chung vốn sẵn có ở trong giao dịch thị trường cho nên tất cả những cái đó đều có lợi cho inh tế nội địa Trung Quốc, nhất là cho Tân Cương ở kề bên. Thật vậy nhà cầm quyền trung ương nhận định rằng Tân Cương với vị trí chiến lược của nó là một trung tâm phát triển quan trọng. Tháng 9/1992, Thủ tướng Lý Bằng chủ trì lễ khai mạc Hội chợ thương mại lớn tại Urumchi, thủ phủ Tân Cương. Tuy thu hút 10000 nhà doanh nghiệp của 38 nước nhưng Hội chợ tập trung vào việc phát triển mậu dịch và các mối quan hệ khác giữa Tân Cương với các nước láng giềng Trung Á.

Tân Cương đang hấp dẫn sự quan tâm của cả các nhà đầu tư Hong Kong và Đài Loan. Có tin cho hay là một nhà doanh nghiệp Hong Kong đã xây dựng ở Horgos, thị trấn biên giới của Tân Cương, một trung tâm thương mại Quốc tế, trị giá 55 triệu USD, khoản đầu tư đó là một thí dụ nữa về lợi thế Trung Quốc sẵn có đối với Trung Á: Nó không chỉ có thể lợi dụng tài nguyên của kinh tế phồn vinh của đại lục, mà còn tiếp cận được vốn, công nghệ, và nguồn lực kinh doanh của Hong Kong và Đài Loan. Và không chỉ có thế, giới kinh doanh Hong Kong và Đài Loan còn có thể là cái cầu nối liền với thị trường tư bản thế giới và các công ty đa quốc gia.

Biện pháp tiếp cận lấy kinh tế làm cơ sở mới có của Trung Quốc có thể được người ta hiểu được đúng hơn, bằng cách trước hết xem xét những phát triển mạnh mẽ trong mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và Kyrgyzstan, kể từ năm 1991. Chúng ta cũng sẽ xem qua mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với nước láng giềng Trung Á trực tiếp thứ ba là Tajikistan. Mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và với Kyrgyzstan đang được mọi người chú ý sát sao, không chỉ vì đó là mối quan hệ tiến bộ và rộng rãi nhất, mà còn vì các mối quan hệ đó cung cấp cho chúng ta những minh họa sâu rộng về toàn bộ phương pháp tiếp cận của Trung Quốc đối với Trung Á.

Kazakhstan

Tuy các số liệu thống kê còn xa mới gọi là đạt yêu cầu, song không còn gì khiến người ta nghi ngờ việc mậu dịch song phương của Trung Quốc với Kazakhstan đã tăng cao kể từ đầu năm 1992. Mặc dầu kinh tế của Kazakhstan vẫn còn suy thoái nhưng buôn bán song phương với Trung Quốc đã tăng trong năm 1993 từ 360 triệu USD năm 1992 lên 434 triệu USD và được gọi là năm cất cánh. Hãng Xinhua (Tân Hoa xã) đưa tin rằng cuối năm 1992, 50% hàng tiêu dùng nhập khẩu của Kazakhstan – chủng loại rộng rãi bao gồm thực phẩm, quần áo và đồ dùng gia đình – đều từ Trung Quốc đến (Mùa Xuân năm 1993 phương tiện thông tin của Nga có những xác nhận bực dọc đối với sự kiện này). Những mặt hàng cơ bản nhất của Trung Quốc – như xà phòng, diêm, nồi nấu ăn được người dân châu Á nghèo ưa thích vì chất lượng và giá tiền.

Bằng chứng thêm nữa về mối quan hệ thương mại của Trung Quốc phát triển đối với Kazakhstan đã xuấ hiện trong một bản báo cáo 5/1992 cho biết “một mạng lưới các cửa hàng Trung Quốc đã được khai trương tại Kazakhstan”. Tháng 4 năm 1993, hãng Xinhua đưa tin rằng Trung Quốc đã thiết lập tại Kazakhstan 150 liên doanh nhỏ. Tháng 6/1992, người ta chứng kiến đoàn tầu đầu tiên chạy suốt chiều dài tuyến đường sắt nối Urumchi, thủ phủ Tân Cương với Alma Ata, thủ đô Kazakhstan. Việc xây dựng tuyến đường sắt đó đã bắt đầu từ năm 1956! Tháng 11 năm 1993 Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev nói rằng năm ngoái đã có 15.000 đoàn tàu (có thể là 15.000 toa tàu) đã chạy từ Kazakhstan tới Trung Quốc và ngược lại. Có nghĩa là khoảng 2 triệu tấn hàng và tổng số 670.000 hành khách. Cũng trong lần trả lời phỏng vấn đấy ông còn nói một cách sôi nổi về một tuyến gồm hai làn đường nối Trung Quốc qua Kazakhstan tới phương Tây.

Hiển nhiên có nhiều cử tri ở cả Trung Quốc lẫn ở Kazakhstan ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai nước trên hầu hết các lĩnh vực. Bằng chứng về việc này xuất hiện sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Lý Bằng và Thủ tướng Kazakhstan Tereshchenko tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 1992. Thông cáo chung ghi nhận rằng các Hiệp nghị đã được ký thuộc các lĩnh vực mậu dịch, hợp tác khoa học và công nghệ, giao thông và vận tải, trao đổi nhân sự và thành lập ủy ban liên hợp phát triển hơn nữa các mối quan hệ.

Kyrgyzstan

Sự hiện diện về kinh tế của Trung Quốc ở Kyrgyzstan còn lớn hơn nữa. Kyrgyzstan cũng có chung biên giới với Tân Cương. Bốn tháng sau khi Trung Quốc và Kyrgyzstan thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 1/1992, Tổng thống Askar Akayev thăm Bắc Kinh. Hiện nay Trung Quốc đã có sứ quán chính thức ở Bishkek. Mùa hè năm 1993 các quan chức cấp cao Trung Quốc và Kyrgyzstan viếng thăm thủ đô của nhau.

Nhưng chính bình diện kinh tế mới là nơi có các mối quan hệ giữa hai bên phát triển mạnh mẽ. Thực vậy có thể nhận định rằng nền kinh tế Kyrgyzstan sẽ do Trung Quốc chi phối vào trước cuối thập kỷ này. Trung Quốc đã thiết lập một khu thương mại tự do tại thành Naryn. Tại thủ đô Bishkek, người Trung Quốc mua một số lượng đáng kể bất động sản. Trung Quốc cũng cử chuyên gia nông nghiệp và các ngành khác làm việc tại Kyrgyzstan.

Mậu dịch giữa hai nước phát triển mạnh. Các mặt hàng tiêu dùng cơ bản của Trung Quốc – như thực phẩm, quần áo và hàng điện tử đơn giản – tràn vào Kyrgyzstan. Nhằm khích lệ xu thế này, Trung Quốc đã cho vay tín dụng 5,7 triệu USD. Có thời kỳ Trung Quốc nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp như thép cán, thép tấm, phân bón và đồng. Số các phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Nga tại Moscow, buộc tội rằng có nhiều thứ trong số các mặt hàng đó thực tế là các mặt hàng tái xuất, vốn mua được với giá hạ tại một nơi nào trong cộng đồng các quốc gia độc lập, rồi sau đó bán lại cho Trung Quốc với giá thị trường thế giới. Trung Quốc cũng mua điện của Kyrgyzstan.

Tháng 8/1992, Trung Quốc đề nghị thăm dò khả năng khai thác bốn con song mà Tân Cương với Kyrgyzstan cùng chia nhau nguồn nước. Tới tháng 1/1993 hai nước đạt Hiệp nghị cùng xây dựng công trình chứa nước trên song Horgos dọc biên giới. Văn kiện có ý nói, cần phải theo đuổi mọi lợi ích tiềm tang của dòng song – tưới, thủy điện, kiểm soát lũ và vận chuyển. Tất cả các đề nghị đó đều phải được xem xét kỹ lưỡng về các mặt có liên quan đến chính trị. Nước là nguồn quý hiếm, cốt tử tại Trung Á và mâu thuẫn giữa những người sử dụng trên thượng nguồn và hạ lưu luôn là vấn đề nghiêm trọng. Trên thực tế vào lúc đó chỉ tồn tại một vấn đề tức thời, Trung Quốc có thể mâu thuẫn với một hoặc hơn trong số các nước Trung Á. Các nhà phân tích tin rằng một căn nguyên mâu thuẫn có thể xuất phát từ một thỏa thuận phát triển dòng song giữa Trung Quốc và Kazakhstan hoặc Kyrgyzstan, vì nó sẽ làm tổn hại lợi ích cảu những người sử dụng ở hạ lưu như Uzbekistan.

Tajikistan

Tuy một phần đất của Tajikistan vẫn đang còn trong rối loạn, buôn bán với Trung Quốc từ điểm khởi đầu ít ỏi đã được gia tăng nhanh chóng. Tổng doanh số buôn bán hai chiều năm 1992 chỉ vỏn vẹn 2,7 triệu USD nhưng bốn tháng đầu năm 1993 tăng tới 4,4 triệu USD. Có thể hiểu được, khi người lãnh đạo cấp cao của Tajikistan – Emmamali Rakhmanov thăm chính thức Trung Quốc tháng 3/1993, rằng hầu như hết thảy những tham khảo chính thức về mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đều được viết ở thể tương lai. Trung Quốc cho Tajikistan vay một khoản nhân dân tệ trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan vay một khoản NDT trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan thực phẩm nhân đạo và viện trợ y tế trị giá xấp xỉ 500.000 USD. Khoảng thời gian 1992 – 1993 hai nước đã ký 10 Hiệp định hợp tác. Trong số các điều khoản của hiệp định có điều khoản đề nghị thành lập các liên doanh Tajik – Trung Quốc chế biến bông. Có một hiệp định được k1y về việc thành lập một xưởng nhuộm Trung Quốc tại một nhà máy dệt của Tajikistan.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần V


Hiệp định đưa đến một số bất trắc mới. Một số quan chức và trí thức tại hai nước kêu gọi Trung Quốc và Ấn Độ hãy phát triển lập trường chung đối với các vấn đề quốc tế, hàm ý trong hầu hết trường hợp sẽ chống chính sách của Mỹ. Tuy nhiên do lịch sử nghi kỵ lâu dài giữa Trung Quốc và Ấn Độ, triển vọng trông chừng cũng chỉ vừa phải.

Hiệp định Trung Quốc – Ấn Độ gây nỗi lo lắng cho các nước láng giềng của Ấn Độ. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham viếng thăm ba nước láng giềng Nam Á quan trọng nhất của Ấn Độ – Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka – vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1994 trong một hành trình bao gồm cả Iran và Maldives. Hiển nhiên mục đích đầu tiên của ông nhằm làm yên lòng ba nước láng giềng trực tiếp của Ấn Độ là hòa giải của Trung Quốc với Ấn Độ không có nghĩa Trung Quốc ủng hộ bá quyền của Ấn Độ đối với Nam Á. Việc này hiển nhiên cũng thúc giục Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ, Dinesh Singh, hối hả đến Tehran, gặp Tiền vào trước lúc ông này quay trở về Bắc Kinh. Tóm lại, dường như Trung Quốc đang ở vào địa vị có thế lực được mọi nước Nam Á lấy lòng!

Hiệp định Trung – Ấn tháng 9 có thể bao gồm một số giao dịch phụ không công bố. Chẳng hạn, Ấn Độ dường như chấp thuận ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng ở Nepal, một điểm gay cấn từ nhiều năm nay. Một tháng sau Hiệp định, người ta thông báo: Trung Quốc mở thêm ba cửa khẩu tại biên giới Tây Tạng – Nepal, nhằm phát triển mậu dịch biên giới và du lịch. Trước đó ở đấy chỉ có một cửa khẩu như vậy, Tây Tạng, trong một động tác cũng có thể có liên quan, trước thời điểm đó đã mở một văn phòng liên lạc thương mại tại Kathmandu.

Tại Bangladesh vào năm 1994, Trung Quốc bày tỏ họ có nguồn lực kinh tế để xây dựng một dự án viện trở nước ngoài theo kiểu Nhật Bản. Và Trung Quốc sẽ bỏ ra 200 triệu USD để xây dựng ở Bangladesh một mỏ than được lắp đặt toàn bộ thiết bị khai thác mỏ của Trung QUốc. Đây là loại dự án mà người ta từng trông đợi ở người láng giềng kề bên Bangladesh là Ấn Độ tài trợ, giá như Ấn Độ đã có thể phát triển được một nền kinh tế mạnh mẽ và hướng ngoại

Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan đã được người ta viết tới từ nhiều năm nay. Ở đây không cần thiết điểm lại lịch sử mối quan hệ đó, trải qua những thay đổi hay thăng trầm của chính trị hai quốc gia. À cũng sẽ chưa chin muồi để đánh giá tác động của Hiệp định Trung – Ấn ký tháng 9/1993 đối với Pakistan. Mối quan hệ về quân sự vẫn được duy trì chặt chẽ, mặc dầu chưa mang đặc trưng là một liên minh. Người ta có thể giả thiết, dựa trên những bằng chứng sẵn có cùng với những tố cáo của chính phủ Hoa Kỳ, Trung QUốc qua nhiều năm vẫn tiếp tục trợ giúp chương trình vũ khí hạt nhân và kỹ thuật tên lửa cho Pakistan. Bằng chứng cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai bên vẫn được duy trì chặt chẽ sau khi có Hiệp định Trung – Ấn là thông báo được công bố vào tháng 3/1994 về việc Trung Quốc thỏa thuận chuyển giao cho Pakistan “năng lực chế tạo xe tăng hiện đại như MBT-2000 và pháo tăng nòng trơn 125 mm”.

Trung Quốc và Pakistan vẫn phát triển từ từ một mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực quân sự. Trong hầu hết trường hợp, hợp tác của họ có ảnh hưởng cụ thể về chiến lược. Thí dụ, Trung Quốc cam kết chi 40 triệu USD để xây dựng trường trục tại Pakistan. Và người ta đưa tin rằng hai bên cùng cam kết phát triển đường trục Karakoram ở độ cao, nối liền Pakistan với Tân Cương (Trung Quốc) làm thành tuyến đường trong mọi thời tiết. Tuyến đường này tiềm tang ý nghĩa quân sự quan trọng.

Sau hết, Trung Quốc đưa ra đề nghị tham dự trong các liên doanh chế tạo hàng công nghiệp nhẹ tại Pakistan, sản xuất đồ điện, máy bơm và thực phẩm đóng gói. Trung Quốc “gợi ý” sản phẩm làm ra sẽ được xuất khẩu và ngoại tệ thu về sẽ được “đầu tư cho khu vực quốc phòng” – nói cách khác, để mua trang thiết bị quân sự hoặc công nghệ sản xuất của Trung Quốc. Một lần nữa điều đáng chú ý ở đây là Trung Quốc có cơ sở công nghiệp và của cải khiến các đề nghị kiểu như thế trở thành thực tế và có khả năng thực hiện.

Lợi ích của Trung Quốc tại Trung Á

Chính Trung Á là nơi hội tụ của hai sự kiện có tính lịch sử to lớn đang diễn ra tại Đại lục Á – Âu. Một là đế chế Nga và chế độ Cộng sản Xô viết tiếp tục sụp đổ, hai là kinh tế Trung Quốc cùng với lực lượng quân sự tăng trưởng nhanh chóng – một xu thế dường như chắc chắn biến Trung Quốc thành một siêu cường phát triển đầy đủ vào đầu thế kỷ tới. Ảnh hưởng của sự kiện thứ nhất đối với Trung Á được người ta thảo luận rộng rãi và xem xét kỹ càng. Trong khi đó, ảnh hưởng của sự kiện thứ hai đối với khu vực này chỉ mới đây mới được người ta nói đến. Quả thực, đợt phân tích thứ nhất về hậu quả quốc tế của sự xuất hiện “năm nước châu Á mới độc lập” chỉ mới được bàn đến qua loa, nếu không nói là không hề, trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nhưng giờ đây, rõ ràng một Trung Quốc năng động về kinh tế, đang lên về quân sự, cần phải được coi là một vai chính trong khu vực chỉ sau nước Nga.

Kể từ lúc Liên Xô bắt đầu tan rã, lợi ích của Trung Quốc ở Trung Á đã được người ta nhiều lần xác định đúng, như một nhà quan sát khái quát, “chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn không cho sự bất ổn tràn vào vùng Turkestan của Trung Quốc”, là khu tự trị Uighur Tân Cương mà bất chấp tên gọi của nó, nó vẫn là một khu vực của Trung Quốc do Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ. Theo nghĩa hẹp thì việc miêu tả đặc điểm của mối quan tâm của Trung Quốc đối với Trung Á như đã được nêu là chính xác. Các nhà cai trị Trung Quốc qua các thế kỷ đều coi Tân Cương là một vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong thế kỷ này người ta đã chứng kiến nhiều lần những người Hồi giáo Turkic Tân Cương mưu toan giành độc lập thực sự khỏi Trung Quốc. Mới đây nhất từ 1989 đến 1991, tình trạng bất ổn thỉnh thoàng đạt tới mức nghiêm trọng, và đôi khi dẫn đến những cuộc khởi nghĩa, trong số các thành phần Hồi giáo Turkic.

Chỉ đến khi nhìn lại sự việc mới có thể thấy là nhà đương cục Trung Quốc cũng như các nhà phân tích có thể đã đánh giá quá mức ý nghĩa của những vụ bạo loạn đó. Hiện giời người ta không còn nghi ngờ nhiều về việc người dân Trung Quốc đã phản ứng quá mức. Nhưng nếu cộng với các sự kiện khác xảy ra đồng thời với các vụ bạo loạn, thì phản ứng của Trung Quốc lại là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Mùa Xuân 1989, có một sự kiện nổi bật là các cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn và chúng kết thúc bằng bạo lực ngày 4 tháng 6. Và bây giờ chúng ta được biết, chỉ đến cuối 1991 lãnh đạo Trung Quốc mới thật sự khôi phục được thăng bằng và lòng tự tin. Đồng thời Liên Xô tiếp tục tan rã, dẫn tới các tiên đoán: chủ nghĩa Lenin bại vong khắp mọi nơi, kể cả ở Trung Quốc. Cùng với việc Liên Xô chính thức tan vỡ vào tháng 12/1991 tiếp theo thất bại của cuộc đảo chính do những người theo đường lối cứng rắn khởi sự vào tháng 8 trước đó, rồi 5 nước Cộng hòa Trung Á rút cuộc tách ra. Sự thể diễn ra như vậy khiến các nhà phân tích trong phạm vi thế giới có ý kiến cho rằng tình hình Trung Á không chỉ bất ổn mà còn biến hóa khôn lường. Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi bị tác động bởi tin tức đó, nhất là vào lúc bạo loạn ở Tân Cương ngầm cho thấy các lực lượng nhiễu loạn ở Liên Xô trước đây dầu sao cũng đã nhảy cóc, vượt sang biên giới. Quan chức Tân Cương công khai thừa nhận rằng họ lo ngại về ảnh hưởng của việc Liên Xô tan rã, vì vậy binh lính Trung Quốc được đưa lên tăng cường biên giới Tân Cương, lúc ấy còn là với Trung Á của Xô viết.

Đã có nhiều yếu tố cộng thêm sự việc những người ủng hộ công cuộc cải cách được phục hồi về chính trị đã giúp vào việc làm sáng tỏ lý do vì sao nhà cầm quyền Trung Quốc không kéo dài thêm nữa cảnh giác đề phòng trước tình hình Tân Cương và Trung Á. Một là làn sóng bạo loạn Hồi giáo giảm đi. Tình hình này có lẽ phần lớn nhờ ở Trung Quốc từng có chính sách lâu dài đối với vấn đề dân tộc thiểu số. Kể từ năm 1949, trừ thời kỳ cuộc đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, thì chính sách dân tộc thiểu số của Trung Quốc đã được người ta đưa ra thảo luận, xem như không phải là vấn đề êm dịu nhất mà thuộc số các vấn đề phức tạp nhất trên thế giới. Bắc Kinh một mặt cố tình không để ai nghi ngờ họ sẵn sàng sử dụng vũ lực dập tắt bất kỳ cái gì có hơi hướng ly khai dân tộc, mặt khác Bắc Kinh tiếp tục vận động người Hán di chuyển lên Tân Cương và các vùng dân tộc thiểu số khác, nhằm làm cho tỉ lệ số dân nghiêng về phía ngườI Hán. Tuy điều tra dân số chính thức của Trung Quốc công bố rằng người Hồi giáo Turkic chiếm 60% số dân, nhưng thực tế bây giờ họ chỉ bao gồm một nửa cư dân Tân Cương.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09