Chuyên gia Bangladesh lý giải sự “hùng mạnh” của ngành may mặc Việt Nam


Trang The Daily Star của Bangladesh ngày 19/03 đăng bài so sánh sự phát triển của ngành may mặc Việt Nam với Bangladesh, qua đó nêu bật các lợi thế của Việt Nam như: thời gian sản xuất ngắn, chất lượng vải tốt và sự tập trung vào thị trường cao cấp. Nội dung bài viết như sau:

Nếu tình cờ thấy những chiếc áo phông được bày bán ở Mỹ hoặc Liên minh châu Âu (EU), rất có thể những chiếc áo phông của Việt Nam đã vượt qua Bangladesh, đảm bảo giá xuất khẩu cao gấp 2 lần.

Một nghiên cứu của Trung tâm đối thoại chính sách (CPD) tháng 2 vừa qua dẫn một ví dụ tại thị trường EU vào năm 2020, theo đó, Việt Nam thu về 2157,90 USD cho mỗi 100 kg áo phông, trong khi doanh thu tương ứng của Bangladesh chỉ là 1091,50 USD. Điều này không gây ngạc nhiên vì năm 2019, mức doanh thu của mỗi nước lần lượt là 2099,70 USD và 1097,50 USD.

Câu chuyện tương tự cũng lặp lại ở Mỹ, một điểm đến xuất khẩu lớn khác của cả 2 quốc gia.

Một trong những nguyên nhân dễ thấy nhất là chất lượng vải Việt Nam, về cơ bản, tốt hơn đáng kể và một bộ phận người tiêu dùng có sở thích dùng hàng cao cấp. Khondaker Golam Moazzem, giám đốc nghiên cứu của CPD, lý giải: “Việc sử dụng vải chất lượng cao hơn giúp các nhà sản xuất Việt Nam có giá tốt hơn. Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều thương hiệu và nhà bán lẻ sản phẩm cao cấp hơn”.

Theo ông Moazzem, điều này có được là nhờ Việt Nam có một vị thế tốt và xếp hạng cao hơn trên bảng Chỉ số môi trường kinh doanh do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố và xu hướng hướng tới việc tuân thủ các quy định, tiêu chuẩn về nhân quyền và bảo vệ môi trường.

Ông Moazzem cũng cho rằng các công ty may mặc Việt Nam chủ trương tập trung vào thị trường cao cấp, dù quy mô còn hạn chế. Do đó, ông khuyến nghị các nhà sản xuất Bangladesh cần cho ra đời hàng loạt mặt hàng may mặc cao cấp để có giá tốt hơn và xuất khẩu số lượng lớn hơn.

Dù là nước đi sau trong lĩnh vực kinh doanh hàng may mặc toàn cầu, song Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một nhân tố lớn do vị trí địa lý gần Trung Quốc, quốc gia dẫn đầu toàn cầu trong lĩnh vực kinh doanh hàng may mặc.

Ông AK Azad, Giám đốc điều hành Tập đoàn Ha-Meem – một trong những đơn vị xuất khẩu may mặc hàng đầu Bangladesh, cho rằng thành công hiện tại của Việt Nam có được là nhờ sự chuyển hướng đầu tư liên kết từ Trung Quốc. Do đó, Việt Nam có thời gian sản xuất ngắn hơn, cho phép vận chuyển hàng may mặc đến EU chỉ trong 30 ngày, trong khi Bangladesh phải mất tới 90 ngày. Ông nói thêm, Việt Nam cũng có khoảng cách địa lý gần với châu Âu, nơi hàng hóa Việt Nam được các nhà bán lẻ và thương hiệu quốc tế ưu tiên thứ hai sau Trung Quốc. Ngoài ra, theo ông Azad, “Việt Nam sử dụng tốt nguồn nguyên liệu có sẵn với chất lượng hàng đầu”.

Azad nhấn mạnh, các nhà cung cấp hàng may mặc của Bangladesh gặp khó khăn do thiếu cảng biển nước sâu, trong khi cảng biển có thể làm giảm chi phí hoạt động kinh doanh và thời gian giao hàng.

KM Rezaul Hasanat, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Viynticx Group- một nhà xuất khẩu may mặc hàng đầu khác của Bangladesh, nhận định hình ảnh đất nước là yếu tố rất quan trọng khi ấn định giá các mặt hàng may mặc. Hơn nữa theo ông Hasanat, nhiều đơn vị sản xuất hàng may mặc cao cấp của Trung Quốc đã chuyển đến Việt Nam. Đây là nguyên nhân quan trọng trong việc đảm bảo giá cao hơn cho hàng may mặc Việt Nam.

Việt Nam có thế mạnh về sản xuất áo khoác ngoài cho người dân sống ở vùng có khí hậu lạnh, cùng với đó là áo blazer chất lượng cao, áo sơmi dệt công sở và quần tây cho thị trường EU và Mỹ. Trong khi đó thế mạnh của Bangladesh là hàng may mặc cơ bản, dù hiện nước này đang dần chuyển hướng sang các mặt hàng cao cấp có giá trị gia tăng.

Giám đốc một công ty bán lẻ châu Âu tại Bangladesh cho biết, các nhà cung cấp Việt Nam tập trung sản xuất các sản phẩm phức tạp, khó có thể sản xuất hàng loạt, trong khi Bangladesh lại chuyên các mặt cơ bản như áo phông và quần tây. Như vậy, có thể hiểu rất đơn giản tại sao giá các mặt hàng may mặc phức tạp lại cao hơn các mặt hàng cơ bản. Ông lưu ý: “Bangladesh chỉ có 8 nhà máy sản xuất áo blazer, trong khi Việt Nam có vô số”. Việt Nam cũng sản xuất rất nhiều quần áo thể thao mà giá của các sản phẩm này rất cao. Do đó, giá trung bình của các mặt hàng may mặc Việt Nam ở mức cao. Nhà quản lý này nói thêm, hầu hết các thương hiệu và nhà bán lẻ quần áo thể thao nổi tiếng toàn cầu đều tìm nguồn sản phẩm từ Việt Nam.

Giá cao hay thấp còn phụ thuộc thương hiệu mà sản phẩm được gắn mác. Việt Nam xuất khẩu một khối lượng lớn các mặt hàng may mặc cao cấp cho các thương hiệu. Hơn nữa, nhiều thương hiệu nước ngoài có các công ty và nhà máy sản xuất các sản phẩm như vậy tại Việt Nam.

Kazi Iqbal, một nhà nghiên cứu cao cấp tại Viện nghiên cứu phát triển Bangladesh, đồng quan điểm rằng giá của sản phẩm may mặc phụ thuộc nhiều vào chất lượng vải, hình ảnh đất nước và việc giao hàng đúng hạn.

Bài viết kết luận: với chi phí sản xuất ngày càng tăng (tăng 30% trong 5 năm qua), Bangladesh không thể cạnh tranh với Việt Nam, nước xếp thứ 70 trên 190 nền kinh tế được Ngân hàng Thế giới khảo sát về mức độ dễ dàng kinh doanh. Bangladesh xếp thứ 168.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

Lựa chọn vị trí của Hạm đội 1 trong mối tương quan Mỹ – Ấn


Trang mạng moderndiplomacy.eu ngày 12/12/20 đăng bài phát biểu gần đây của Bộ trưởng Hải quân Mỹ Kenneth Braithwaite kêu gọi thiết lập một hạm đội được đánh số ở khu vực Ấn Độ Dương. Vị bộ trưởng này cho rằng Hạm đội 1 như đã đề xuất sẽ được điều động trên “khắp” Thái Bình Dương để đến các vị trí mà các đồng minh và đối tác của Mỹ cho rằng hạm đội này có thể hỗ trợ tốt nhất cũng như hỗ Mỹ hiệu quả nhất”.

Dựa trên bài phát biểu của Braithwaite, một số nhà phân tích phán đoán rằng hạm đội này dự kiến sẽ được đồn trú ở miền Tây Australia, thay vì ở Singapore. Mặc dù New Delhi vẫn chưa có phản hồi chính thức về đề xuất của Kenneth Braithwaite, song bài bình luận này sẽ giải thích vì sao việc đặt hạm đội Mỹ ở Singapore với những điều kiện hoạt động nhất định, thay vì ở phía Tây Australia, sẽ giúp cải thiện vị thế Mỹ – Ấn hiện nay ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Sự hiện diện của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Sự hiện diện của Hải quân Mỹ ở khu vực này hiện đang được duy trì nhờ các hoạt động của Hạm đội 5 dưới quyền Bộ Chỉ huy Trung tâm của Mỹ (CENTCOM), Hạm đội 6 dưới quyền Bộ Chỉ huy châu Phi (AFRICOM) và Hạm đội 7 dưới quyền Bộ Chỉ huy  Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (INDOPACOM).

Hạm đội 5 – đồn trú tại Bahrain – có nhiệm vụ thực hiện các chiến dịch oanh kích, đột kích và viễn chinh tại phía Bắc Biển Arab với trọng tâm là Eo biển Hormuz và Vịnh Persian. Hạm đội 6 – đặt tại thành phố Naples của Italy – có các nhiệm vụ tương tự và hoạt động trên một khu vực trải dài từ Bắc Băng Dương tới bờ biển của châu Nam Cực với trọng tâm là Bắc Phi, Địa Trung Hải và các vùng biển của châu Âu.

Tuy nhiên, tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, chính Hạm đội 7 mới là lực lượng chủ đạo của Mỹ có nhiệm vụ ngăn chặn các mối đe dọa đối với quốc gia này cũng như đối với các đồng minh và đối tác khu vực. Hạm đội 7 hoạt động trong phạm vi từ đường đổi ngày quốc tế cho tới biên giới Ấn Độ – Pakistan. Mặc dù hạm đội 6 giám sát một khu vực rộng 36 triệu km2, song khu vực thuộc trách nhiệm của Hạm đội 7 lên tới 124 triệu km2. Do đó, Hạm đội 7, đặt tại thành phố Yokosuka của Nhật Bản – là hạm đội triển khai tiến công “hỗn hợp” quy mô lớn nhất của Mỹ, đồng thời duy trì tần suất hoạt động cao nhất trong số các tàu chiến của Hải quân Mỹ. Cũng bởi vì quy mô hoạt động rộng lớn, Hạm đội 7 sẽ được củng cố sức mạnh nhờ việc bổ sung các nhóm tác chiến tàu sân bay khi cần thiết, giống như việc tăng cường lực lượng hạm đội này vào đầu năm 2020. Sau vụ đụng độ tại Thung lũng Galwan giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ tháng 6/2020, INDOPACOM dđã triển khai thêm 3 nhóm tác chiến tàu sân bay tại Thái Bình Dương. Vào những thời điểm khủng hoảng hoặc các cuộc xung đột quy mô trung bình, kế hoạch đối phó với tình huống bất ngờ sẽ là sự kết hợp lực lượng tại Biển Arab với lực lượng tại Thái Bình Dương để hình thành nên một lực lượng tác chiến quy mô lớn hơn.

Trọng tâm của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Vị thế hiện nay của Ấn Độ và Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được quyết định bởi những lợi ích chung và lợi ích trước mắt trong việc đối đầu với Trung Quốc tại Biển Hoa Nam (Biển Đông) và khu vực Đông Nam Á cũng như việc xây dựng các biện pháp an ninh tập thể trong khu vực.

Yêu sách “đường 9 đoạn” trên Biển Đông, Sáng kiến “Vành đai và Con đường” và hoạt động quân sự hóa tiếp diễn trên các vùng biển của Bắc Kinh đang tiếp tục đe dọa chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền kinh tế của nhiều quốc gia Đông Nam Á, cũng như những “ô bảo trợ an ninh” của New Delhi và Washington, làm xói mòn cơ bản an ninh khu vực và chủ nghĩa đa phương cố hữu ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Việc Ấn Độ đầu tư nguồn lực để tăng cường chủ nghĩa đa phương trong khu vực này là do New Delhi thường xuyên phải đối đầu với một Trung Quốc hung hăng. Tình trạng đối đầu vẫn tiếp diễn hiện nay tại Đường kiểm soát thực tế (LAC) là một minh chứng cho điều này. Như một công cụ phát đi tín hiệu chiến lược sau vụ đụng độ tại thung lũng Galwan, New Delhi đã tổ chức hàng loạt cuộc tập trận hải quân chung với các đối tác chiến lược trong khu vực Ấn Độ Dương và ký nhiều thỏa thuận hậu cần, trao đổi với các đối tác chiến lược ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong số các cuộc tập trận này, cuộc tập trận Malabar năm 2020 có ý nghĩa quan trọng khi có sự tham gia của nhóm tác chiến tàu sân bay Nimitz.

Đặt Hạm đội 1 tại Singapore hay Australia?

Việc thiết lập Hạm đội 1 ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một lời giải tất yếu cho vấn đề này. Tuy nhiên, vị trí đóng quân cũng như giới hạn hoạt động của hạm đội là điều vẫn cần tính toán thêm để có thể nâng cao vị thế của Washington trong khu vực. Là một đối tác quan trọng tại khu vực, các ưu tiên an ninh hàng hải và những lợi ích địa chính trị của Ấn Độ cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi Mỹ quyết định vị trí bố trí Hạm đội 1.

Nếu Hạm đội 1 được đặt tại Singapore, chúng ta sẽ chứng kiến nỗ lực của Washington trong khu vực này tập trung vào việc đối phó với sự gây hấn của Trung Quốc tại Biển Đông cũng như đối với Đài Loan và Nhật Bản. Điều này phù hợp với vị thế của Mỹ và Ấn Độ hiện nay tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Trong khi đó, nếu Hạm đội 1 được đặt tại Australia, điều này sẽ làm thay đổi đáng kể vị thế của Mỹ và Ấn Độ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, do sự tăng cường hiện diện của Washington nằm trong khu vực lợi ích hàng đầu của New Delhi và có khả năng ở cả khu vực mà lợi ích của cả 2 quốc gia phân tán là khu vực Tây Ấn Độ Dương.

Trong khuôn khổ “hoán đổi chiến trường” mà New Delhi áp dụng đối với LAC, việc Hạm đội 1 đóng thường trực tại Singapore sẽ tăng cường đáng kể những ưu thế chiến lược của Ấn Độ tại Vịnh Bengal và trên khắp các eo biển thuộc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong dài hạn, sự can dự với Hạm đội 1 tại Singapore sẽ hỗ trợ tăng cường sự hiện diện của Hải quân Ấn Độ tại Biển Đông và Tây Thái Bình Dương.

Việc Hạm đội 1 của Mỹ đóng tại Australia sẽ làm gia tăng hữu hiệu sự hiện diện của Mỹ tại khu vực mà quốc gia này luôn coi là “sân sau của Ấn Độ”. Đây là khu vực Washington vẫn luôn vắng mặt và cách xa Biển Đông, trọng tâm địa chính trị hiện nay của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Phạm vi thuộc trách nhiệm của Hạm đội 1 của Mỹ ở Australia sẽ mở rộng ít nhất 5000 km về phía Đông Nam của Ấn Độ Dương, làm tăng cường sự hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực Ấn Độ có lợi ích an ninh hàng hải quan trọng.

Diện tích của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, 73 triệu km2, cũng làm dấy lên hoài nghi về mục đích hoạt động thực sự của Hạm đội 1. Hạm đội 1 của Mỹ đặt tại Australia sẽ không phải là công cụ răn đe hữu hiệu đối với các mối đe dạ trong khu vực này. Hạm đội 1 đặt tại Australia cần phải trở thành một lực lượng tác chiến toàn diện mới có thể giám sát hiệu quả toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Cho dù New Delhi đã từng hoan nghênh sự hiện diện chính trị ngày càng tăng của Washington tại Tây Ấn Độ Dương (ví dụ, Ấn Độ ủng hộ khuôn khổ quốc phòng gần đây giữa Mỹ và Maldives), song những ưu tiên của Mỹ tại các khu vực địa chính trị chiến lược, như Tây Á và phía Biển Bắc Arab, tính đến nhân tố Iran và Pakistan, lại khác biệt đáng kể so với những ưu tiên của Ấn Độ. Những tính toán này hiện vẫn chưa được thảo luận kỹ càng trong khuôn khổ quan hệ đối tác Mỹ – Ấn để có thể biết được chính xác tác động chính trị đối với mối quan hệ này nếu Hạm đội 1 của Mỹ đặt tại Australia.

Những đánh giá và phân tích trên cho thấy chỉ có tình huống Hạm đội 1 của Mỹ đặt tại Singapore được triển khai hoạt động theo giao thức “đối phó với những tình huống hiện nay của Mỹ và Ấn Độ. Vớiv iệc tập trung vào các hoạt động nhân đạo, cứu trợ thiên tai, phòng không, hoạt động hậu cần, hoạt động hàng hải và hoạt động phong tỏa biển, việc Hạm đội 1 đặt tại Singapore sẽ đáp ứng tốt hơn những lợi ích của New Delhi tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng như những ưu tiên an ninh hàng hải của Ấn Độ ở khu vực Ấn Độ Dương

Nguồn: TKNB – 17/12/20.

Mỹ giúp Ấn Độ “để mắt” đến Trung Quốc


Giới tướng lĩnh cấp cao của Mỹ hồi tháng 11/2020 tiết lộ rằng quân đội Mỹ đã hỗ trợ Ấn Độ “để mắt” đến các động thái của lực lượng Trung Quốc khi căng thẳng giữa New Delhi và Bắc Kinh leo thang trong những tháng vừa qua.

Tháng 6/2020, binh sĩ Ấn Độ và Trung Quốc đã đụng độ nghiêm trọng ở biên giới tranh chấp giữa 2 nước trên dãy Himalaya, khiến cả hai bên đều phải chịu thương vong. Kể từ đó, quân đội hai bên đã củng cố vị trí của mình tại khu vực này, và Ấn Độ đã nhận được sự hỗ trợ (của Mỹ) trong công tác giám sát các lực lượng Trung Quốc. Phát biểu tại một sự kiện diễn ra hồi tháng 11/2020, Tướng Kenneth Wilsbach – Tư lệnh Lực lượng Không quân Thái Bình Dương của quân đội Mỹ – tiết lộ: “Chúng tôi đã tạo dựng mối quan hệ gần gũi hơn với Ấn Độ trong năm nay, đặc biệt trong lĩnh vực chia sẻ thông tin tình báo, nhất là liên quan đến tình hình đang xảy ra ở biên giới phía Đông Bắc của họ với Trung Quốc”. Tướng Wilsbach nhấn mạnh cụm từ “chia sẻ khá nhiều thông tin tình báo nhất có thể”, đồng thời gọi New Delhi là “người bạn tuyệt vời”.

Việc chia sẻ thông tin tình báo nói trên có thể đã được thúc đẩy trong những tuần qua nhờ Hiệp định Hợp tác và Trao đổi Cơ bản (BECA) vừa được Mỹ và Ấn Độ ký hồi tháng 10/2020. Tại một sự kiện khác vào tháng 11/2020, Phó Đô đốc Robert Sharp – Giám đốc Cơ quan Tình báo Không gian Địa lý Quốc gia và là người đại diện Mỹ ký kết thỏa thuận – giải thích rằng BECA cho phép “Mỹ mở rộng đối tác và trao đổi thông tin cơ bản”. Trước khi ký hiệp định này, một nguồn tin thân cận với quốc phòng Ấn Độ chia sẻ với hãng tin Reuters rằng hiệp định nói trên cho phép New Delhi tiếp cận dữ liệu địa hình, hàng hải và hàng không, đồng thời cho phép Washington cung cấp các thiết bị điện tử và hỗ trợ hàng hải tiên tiến. Dữ liệu không gian địa lý được Mỹ cung cấp theo thỏa thuận này sẽ trao cho tên lửa của Ấn Độ “lợi thế sát thủ” khi nhắm bắn mục tiêu như cách miêu tả của một cơ quan báo chí quốc gia Nam Á này.

Vượt qua rào cản lớn

BECA là hiệp định thứ tư trong số 4 hiệp định nền tảng giữa Mỹ và Ấn Độ. Năm 2002, hai bên ký thỏa thuận cho phép chia sẻ thông tin quân sự mật. Tiếp đó, năm 2016, một thỏa thuận hậu cần cho phép quân đội hai bên sử dụng các cơ sở của nhau để sửa chữa hoặc tiếp tế. Thỏa thuận thứ ba vào năm 2018 đã cho phép Ấn Độ tiếp cận các thiết bị thông tin liên lạc an toàn, cho phép phối hợp chặt chẽ hơn với các lực lượng Mỹ. Đã có những minh chứng về hợp tác song phương theo tinh thần các thỏa thuận nói trên. Ví dụ, các tàu Mỹ đã tiếp nhiên liệu cho các tàu chiến của Ấn Độ. Gần đây, một máy bay tuần tra hàng hải của Mỹ đã tiếp nhiên liệu ở quần đảo Andaman và Nicobar ở phía Đông Ấn Độ Dương, một sự kiện mà chính phủ Mỹ gọi là “mang tính lịch sử”.

Các thỏa thuận nói trên là một dấu hiệu cho thấy Ấn Độ đã “làm mềm” lập trường không liên kết cứng rắn mà nước này lâu nay duy trì từ thời Chiến tranh Lạnh. Động thái này của New Delhi phần nào được thúc đẩy vì hành động quyết đoán của Trung Quốc trong bối cảnh nhận được những đề nghị giúp đỡ gần đây từ Mỹ. Jeff Smith, chuyên gia nghiên cứu tại Heritage Foundation, nhận định: “Hai tác động nói trên đang đẩy Ấn Độ tiến hành những hoạt động cân bằng sức mạnh một cách công khai hơn và tự tin hơn trong việc thiết lập một mối quan hệ đối tác chiến lược có ý nghĩa với Mỹ”. Hervé Lemahieu, giám đốc Chương trình Quyền lực và Ngoại giao tại Viện nghiên cứu Lowy của Australia, bình luận rằng sự thay đổi này cho thấy “một cuộc cách mạng trong cách Ấn Độ nhìn nhận các vấn đề thế giới và liên kết các đí6 tác ở châu Á”. Chia sẻ riêng với tờ Business Insider, ông Lemahieu nói thêm rằng Ấn Độ “đã chọn cách liên kết với Mỹ một cách quyết đoán hơn nhiều và với các quốc gia khác như Australia, những nước mà New Delhi không thực sự có nhiều mối quan hệ truyền thống”.

Vấn đề tranh chấp biên giới trên bộ với Pakistan và Trung Quốc có thể sẽ vẫn là mối quan tâm chính của quân đội Ấn độ. Việc New Delhi đang ngày càng tích cực hoạt động ở Ấn Độ Dương, nơi sự hiện diện quân sự và ngoại giao của Trung Quốc ngày càng tăng, giúp củng cố các lực lượng của chính New Delhi cũng như củng cố mối quan hệ của họ với các nước khác. Bên cạnh đó, tin tức cho biết cuộc họp chứng kiến việc ký kết BECA cũng bao gồm việc ký kết một thỏa thuận chia sẻ thông tin hàng hải, cho phép Ấn độ theo dõi tốt hơn những hoạt động diễn ra tại Ấn Độ Dương. Trung tâm chia sẻ thông tin về khu vực Ấn Độ Dương, được thành lập từ năm 2016 tại Ấn Độ, hiện đã có 21 quốc gia tham gia chia sẻ thông tin về hoạt động hàng hải trong khu vực.

Trong khi đó, nhằm đối trọng với chính sách “ngoại giao tiền tệ” của Bắc Kinh, New Delhi cũng triển khai chính sách hỗ trợ vốn cho các nước khác bất chấp những khó khăn kinh tế trong nước trong thời gian qua. Rani Mullen, Giáo sư của trường Đại học William & Mary đồng thời là chuyên gia về Nam Á, nhận định tại một sự kiện gần đây: “Chính sách hỗ trợ vốn cho nước ngoài của Ấn Độ cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng những mối quan hệ với các nước bên ngoài trong việc hỗ trợ New Delhi đối trọng lại với Trung Quốc trong khu vực”.

Nhận định về đường hướng đối ngoại hiện nay của Ấn Độ, ông Lemahieu cho rằng nước này đang “làm sâu sắc kênh ngoại giao quốc phòng của mình” và “đang tỏ ra tham vọng hơn” với những mối quan hệ đối tác này. Tuy nhiên, vẫn có những quan ngại về cách thức Ấn Độ sẽ áp dụng những hiệp định mà nước này đã mất 20 năm qua để đàm phán với Mỹ.

Ông Ashley Tellis, chuyên gia về an ninh quốc tế tại Tổ chức Carnegie vì Hòa bình Quốc tế, cho rằng phía Mỹ đã mất nhiều năm đàm phán về những vấn đề chi tiết nhất và ở một vài góc độ thì việc vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất trong đàm phán là điều tốt đẹp. Tuy nhiên, câu hỏi hiện nay là hai bên sẽ thực sự triển khai những thỏa thuận đó như thế nào. Đây chính là vấn đề mà Ấn Độ vẫn còn phải suy tính nhiều.

Trong khi đó, chuyên gia Smith dẫn chứng rằng torng những tuần sau khi ký BECA, Ấn Độ đã triển khai hai thiết bị bay không người lái MQ-9B do Mỹ sản xuất để giám sát những khu vực biên giới trên biển và trên bộ. Hành động này được thúc đẩy bởi những thay đổi chính sách ở cả hai nước. Do đó, những trao đổi này và những hoạt động trao đổi khác theo tinh thần các hiệp định cơ bản nói trên sẽ có thể khích lệ sự tin tưởng hơn nữa giữa hai bên, và cứ như vậy sẽ hậu thuẫn hơn nữa cho “vòng tuần hoàn” về sự tin cậy song phương. Ông giải thích với Business Insider: “Trong nhiều trường hợp, Ấn Độ hưởng lợi nhiều hơn Mỹ từ những hiệp định hợp tác quân sự này”.    

Nguồn: www.businessinsider.com

TKNB – 25/12/2020

Nhà đầu tư Nhật Bản giải bài toàn chọn Việt Nam hay Ấn Độ thay thế Trung Quốc


Trang eurasiareview.com ngày 24/08/2020 đăng bài nhận định rằng kể từ khi Thủ tướng Nhật Bản tuyên bố dành 2,2 tỷ USD hỗ trợ các nhà đầu tư nước này rút khỏi Trung Quốc để chuyển về Nhật Bản hoặc sang các quốc gia đang phát triển khác, giới truyền thông và các nhà nghiên cứu đã “xôn xao” về việc Ấn Độ và Việt Nam sẽ là những điểm đến hứa hẹn thay thế Trung Quốc.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư Nhật Bản lại rơi vào tình thế khó xử khi kết quả khảo sát không cho thấy kết quả đồng nhất và khó có thể kết luận Ấn Độ hay Việt Nam là lựa chọn tốt hơn. Trong khi một số khảo sát cho rằng Việt Nam là điểm đến hứa hẹn hơn, một số khác lại chọn Ấn Độ. Trong khi khảo sát của NNA Japan Co (tiến hành vào tháng 01/2020) đánh giá Việt Nam là điểm đến tiềm năng nhất cho các nhà đầu tư Nhật Bản, khảo sát của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) lại đưa Ấn Độ lên vị trí hàng đầu về điểm đến đầu tư.

Trong cuộc khảo sát lần thứ 31 được thực hiện vào tháng 11/2019, JBIC kết luận Ấn Độ là điểm đầu tư hấp dẫn nhất năm 2019, trong khi Trung Quốc và Việt Nam lần lượt xếp thứ hai và thứ ba. Cuộc khảo sát cho thấy sự gia tăng thứ hạng của Ấn độ là do tỷ lệ tham gia khảo sát ở Trung Quốc giảm. Nói cách khác, sự sụt giảm của Trung Quốc đã mở đường để Ấn Độ vươn lên dẫn đều về điểm đến đầu tư.

Tuy nhiên, khảo sát ý kiến chỉ là một chỉ dẫn độ tin cậy của công cụ này phụ thuộc vào mức độ bao quát của các luồng ý kiến chủ đạo. Trong khi đó, dữ liệu nhiều khi không nói lên xu hướng.

Theo METI, năm 2019, Ấn Độ nổi lên là nước nhận đầu tư lớn thứ 5 của Nhật Bản ở châu Á, bỏ xa Việt Nam ở vị trí thứ 6. Đáng chú ý, cũng trong năm này, đầu tư của Nhật Bản vào Ấn Độ cao gấp 2 lần so với đầu tư vào Việt Nam và tăng gấp 4 lần trong vòng 3 năm (từ 1,6 tỷ USD năm 2017 lên 5,1 tỷ USD năm 2019). Trong khi đó, đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam chỉ nhích nhẹ từ 2 tỷ USD năm 2017 lên 2,5 tỷ USD năm 2019. Xu hướng này cho thấy sự phụ thuộc của Nhật Bản vào tiềm năng của Ấn Độ.

Tại sao Ấn Độ lại bị Việt Nam “lật đổ” trong cuộc khảo sát của NNA 2 tháng sau cuộc khảo sát của JBIC? Về mức độ phổ biến và độ tin cậy, JBIC được đánh giá cao hơn vì ngân hàng này thực hiện cuộc khảo sát trong 3 thập kỷ. Điều đó ám chỉ gì? Nên tin vào khảo sát của JBIC hay NNA khi xác định Nhật Bản sẽ lựa chọn điểm đến đầu tư nào thay thế Trung Quốc.

Không nghi ngờ gì nữa, Việt Nam có nhiều đặc điểm hấp dẫn: chi phí đầu vào rẻ, chính trị ổn định, chính sách thương mại và đầu tư ngày càng tự do hóa và sở hữu hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản và các nước khác. Tuy nhiên, Việt Nam cũng có những hạn chế – đó là sự phụ thuộc quá lớn vào nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và xuất khẩu, có ít lĩnh vực cho đầu tư, thoái lui của toàn cầu hóa sau COVID-19 và dân số ít hơn nhiều.

Sự phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài hạn chế việc mở rộng công suất, ẩn chứa rủi ro nếu xảy ra đối đầu chính trị, trong khi sự thoái lui của toàn cầu hóa làm suy giảm cường độ nhập khẩu trong sản xuất và xuất khẩu. Dân số nhỏ cũng hạn chế nhu cầu trong nước.

Thứ nhất, Trung Quốc là nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào chính của Việt Nam. Hơn 1/3 hàng nhập khẩu của Việt Nam đến từ Trung Quốc. Do quá phụ thuộc nhiều vào đầu vào nước ngoài, xuất khẩu của Việt Nam bao gồm nhiều hàng hóa trung gian của Trung Quốc hơn là các sản phẩm nội địa. Điều này làm tăng rủi ro cho tăng trưởng bền vững trong xuất khẩu, đặc biệt trong trường hợp có biến động chính trị.

Ấn Độ là một trường hợp điển hình. Sự phụ thuộc quá mức của Ấn độ vào linh kiện và bộ phận sản xuất điện thoại di động của Trung Quốc đã khiến chính phủ Ấn Độ phải “đau đầu”. Dù điều này giúp xây dựng một ngành công nghiệp mới, song quan hệ chính trị gay gắt giữa hai nước trong bối cảnh thường xuyên xảy ra xung đột biên giới buộc chính phủ Ấn Độ phải đặt ra các rào cản đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.

Thứ hai, việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng Việt Nam hội nhập với các quốc gia châu Á khác. Hàng hóa nhập khẩu từ các nước này vào Việt Nam giảm trong khi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc lại tăng. Điều này vẫn có lợi nếu quan hệ chính trị vẫn bình thường. Tuy nhiên, Trung Quốc đã đánh mất hình ảnh một đối tác thương mại tốt với chính sách bành trướng của họ. Sau khi Trung Quốc phớt lờ phán quyết của tòa trọng tài ở La Hay về vấn đề Biển Đông, chủ quyền của Việt Nam rơi vào thế nguy hiểm.

Thứ ba, Việt Nam còn hạn chế về các lĩnh vực thu hút đầu tư. Các ngành công nghiệp mũi nhọm của Việt Nam là điện tử, da giày và dệt may. Điều này có nghĩa là các công ty đang tìm cách chuyển dịch khỏi Trung Quốc sẽ chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của họ. Các nhà đầu tư sẽ có nhiều cơ hội hơn ở Ấn Độ, quốc gia có nhiều lĩnh vực đầutư. Từ sản xuất thiết bị điện tử, ô tô và thiết bị quốc phòng đến xây dựng, bao gồm đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng, Ấn Độ có thể cung cấp phạm vi lớn hơn cho đầu tư của Nhật Bản vào Ấn Độ.

Thứ tư, nhu cầu trong nước là một thông số quan trọng khác giúp Ấn Độ vượt xa Việt Nam. Dân số Ấn Độ lớn gấp 10 lần Việt Nam. Trong khi các nhà đầu tư ở Việt Nam phải tìm kiếm lợi nhuận thông qua xuất khẩu, thì ở Ấn Độ, nhu cầu nội địa trở thành yếu tố quyết định doanh số bán hàng.

Nhiều ý kiến cho rằng Việt Nam là một giải pháp thay thế Trung Quốc về chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, COVID-19 đã đặt rủi ro cho chuỗi cung ứng với sự gián đoạn sản xuất trên khắp thế giới. Khó khăn này buộc các quốc gia phải cân nhắc về sự phụ thuộc vào nhập khẩu trong mô hình chuỗi giá trị toàn cầu và quay về phát triển chuỗi cung ứng trong nước.

Nguồn: TKNB – 25/08/2020.

Tham vọng của Ấn Độ ở Biển Đông


Mạng Asia Sentinel ngày 25/11 đăng bài viết của nhà báo kỳ cựu Neeta Lal cho rằng Ấn Độ gần đang trở thành trở thành một đối trọng với Trung Quốc ở Đông Á, với việc tăng cường các mối quan hệ quốc phòng và thúc đẩy hợp tác chiến lược, đặt ra thách thức ngày càng tăng đối với Bắc Kinh.

Động thái mới nhất của New Delhi diễn ra vào đầu tháng này khi tại một cuộc họp trực tuyến cấpcao, Ấn Độ đạt được một thỏa thuận với Chính phủ Philippines nhằm “tăng cường can dự quốc phòng và hợp tác hàng hải… đặc biệt trong huấn luyện và đào tạo, nâng cao năng lực, các chuyến thăm hữu nghị định kỳ và mua sắm thiết bị quốc phòng”. Manila và Delhi cũng đã tổ chức các cuộc tập trận hải quân ở Biển Đông cùng với Mỹ, để củng cố quyền tự do hàng hải trên vùng Biển Đông cùng với Mỹ, để củng cố quyền tự do hàng hải trên vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố toàn bộ chủ quyền. Cùng với mục đích tương tự, Ấn Độ cũng đã đưa các hệ thống radar giám sát ven biển tới Manila để nâng cao nhận thức hàng hải cho quốc gia Đông Nam Á.

Sự can dự như vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi cả New Delhi và Manila đều đang vướng vào các cuộc xung đột lãnh thổ với Trung Quốc, quốc gia dường như đang tìm cách bẻ cong các quy tắc giao kết quốc tế bằng mọi giá nhằm trục lợi cho bản thân. Trong khi các lực lượng vũ trang Ấn Độ đang tham gia vào một cuộc đối đầu kéo dài với Trung Quốc tại khu vực biên giới Ladakh, Philippines mới đây đã thức tỉnh trước sự nguy hiểm trong các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Sự tương tác ngày càng tăng của Ấn Độ với Manila cũng la một phần trong Chính sách Hành động hướng Đông, vốn đã nổi lên như một nền tảng trong chính sách đối ngoại của Thủ tướng Narendra Modi kể từ khi ông nhậm chức vào năm 2014. Chính sách này cũng đã thúc đẩy Ấn Độ làm sâu sắc đáng kể quan hệ với Nhật Bản, Australia và Mỹ thông qua nhóm “Bộ tứ”, hay Đối thoại An ninh Tứ giác, một diễn đàn chiến lược không chính thức đã bắt đầu trở nên sôi động sau nhiều năm trầm lắng. Ấn Độ cũng đã vươn tới Fiji và các đảo quốc Thái Bình Dương khác cũng như Hàn Quốc và Mông Cổ.

Cần lưu ý rằng Ấn Độ hiện nay rõ ràng chưa đủ sức thách thức Trung Quốc. Bắc Kinh đang triển khai Sáng kiến “Vành đai và Con đường” trị giá hàng nghìn tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng ở hàng chục quốc gia trên thế giới, trái ngược với con số khiêm tốn 1,3 tỷ USD của Ấn Độ, mà hầu hết trong số đó là dành cho các nước láng giềng trong khu vực như Buhtan và Nepal. Theo Viện Nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, chi tiêu quốc phòng hàng năm của Ấn Độ (ở mức 71 tỷ USD) chỉ bằng một phần nhỏ của Trung Quốc (261 tỷ USD), và con số của Bắc Kinh có thể lớn hơn nhiều khi giới phân tích quân sự cho rằng Trung Quốc đang che giấu các khoản chi tiêu đáng kể cho các doanh nghiệp nhà nước và những nơi khác.

Mặc dù vậy, sự hợp tác của Ấn Độ với Nhật Bản chẳng hạn, đã dẫn đến mối quan hệ đối tác chiến lược, kinh tế và công nghệ ngày càng phát triển, trong đó Tokyo đã cam kết đầu tư 35 tỷ USD vào Ấn Độ trong 5 năm cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng và thành phố thông minh; tàu cao tốc giữa Mumbai và Ahmadabad. Nhật Bản cũng dự kiến sẽ đầu tư vào Hành lang Công nghiệp Delhi-Mumbai và cũng sẽ tăng cường hợp tác quốc phòng, tham gia cuộc tập trận hải quân Malabar với Ấn Độ và Mỹ.

Sự liên kết của Ấn Độ với các tổ chức như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được coi là một phần không thể tách rời trong sự can dự của nước này ở Đông Á. Kim ngạch thương mại và đầu tư giữa ASEAN và Ấn Độ đã tăng từ 12,1 tỷ USD năm 2003 lên 77,05 tỷ USD vào năm 2019. ASEAN và Ấn Độ cũng đang nỗ lực tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân thông qua việc tái kích hoạt Hội đồng kinh doanh ASEAN – Ấn Độ và Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh ASEAN – Ấn Độ. Ấn Độ hiện đã thiết lập một phái bộ thường trực tại trụ sở ASEAN ở Jakarta và Trung tâm Ấn Độ ASEAN ở New Delhi. Tại Hội nghị Cấp cao Đông Á lần thứ 14 ở Bangkok năm 2019, Ấn Độ đã thúc đẩy Sáng kiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để tăng cường an ninh hàng hải.

Các nhà phân tích cho rằng sự trỗi dậy về kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã thúc đẩy Ấn Độ tìm kiếm một kiến trúc an ninh châu Á mới. Rohan Mukherjee, Giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Yale-NUS, Singapore viết: “Khi sức mạnh của Trung Quốc ngày càng gia tăng ở Đông Á có sự hiện diện thường xuyên hơn tại Nam Á, quan hệ chặt chẽ với ASEAN có thể giúp Ấn Độ chống lại sức ép vào thời điểm và ở nơi cần thiết”. Ví dụ, các cuộc tập trận hải quân, thăm viếng cảng và đối thoại an ninh biển đang diễn ra của New Delhi với các nước ven Biển Đông nhằm nhắc nhở Bắc Kinh rằng Ấn Độ có khả năng và sẵn sàng làm gia tăng mức độ thiệt hại mà Trung Quốc phải gánh chịu do chủ nghĩa đơn phương của mình. Theo ông Mukherjee, một chiến lược ăn miếng trả miếng với mức độ thấp với Trung Quốc – mang tính thử thách nhau như đã thấy – cùng với quan hệ kinh tế mạnh mẽ với ASEAN, chắc chắn sẽ giúp tạo thế cân bằng có lợi cho Ấn Độ về trung hạn.

Theo một bài báo của Viện Nghiên cứu Quốc tế Lowy, việc chính phủ Modi tăng cường tập trung về hướng Đông phản ánh cả sự cạnh tranh của Ấn Độ với Trung Quốc lẫn tham vọng của New Delhi về một vai trò toàn cầu lớn hơn. Ấn Độ muốn thấy một trật tự đa cực ở châu Á, nhưng động lực của Ấn Độ trong việc tương tác với khu vực này đứng độc lập với mối quan hệ với Trung Quốc. Ấn Độ đã thể hiện mong muốn đóng một vai trò lớn hơn ở châu Á, kể cả với tư cách là một bên cung cấp an ninh.

Nguồn: TKNB – 27/11/2020.

Ấn Độ, Việt Nam tăng cường quan hệ năng lượng, quốc phòng bất chấp phản đối của Trung Quốc


Tờ Times of India mới đây đăng bài viết của nhà báo Sachin Parashar cho rằng bất chấp việc Trung Quốc phản đối Ấn Độ đầu tư vào lĩnh vực dầu khí của Việt Nam, Ấn Độ và Việt Nam vẫn đang tìm cách mở rộng mối quan hệ năng lượng, đồng thời tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh.

Trước thềm hội nghị cấp cao trực tuyến giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và người đồng cấp Narendra Modi vào tuần tới, Việt Nam cho biết họ mong đợi công ty thăm dò dầu khí Essar Exploration (Ấn Độ) mở rộng quy mô đầu tư vào quốc gia Đông Nam Á này lên mức 11 tỷ USD.

Hội nghị cấp cao trực tuyến vào tuần tới, vốn sẽ là một dấu hiệu về mối quan hệ quốc phòng song phương ngày càng sâu sắc, cũng có khả năng trùng với thời điểm hạ thủy tàu tuần tra cao tốc đầu tiên do công ty L&T (Ấn Độ) đóng cho Việt Nam bằng gói tín dụng quốc phòng trị giá 100 triệu USD mà Ấn Độ đã công bố trước đó cho Việt Nam. Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Phạm Sanh Châu cho biết: “Essar đã bày tỏ quan tâm đến việc mở rộng dự án đầu tư của họ tại Việt Nam lên 11 tỷ USD. Nếu điều đó diễn ra, dự án này sẽ là khoản đầu tư lớn nhất của một công ty Ấn Độ tại Việt Nam. Chúng tôi rất mong đợi quyết định của họ và rất lạc quan về điều đó”. Essar và ONGC Videsh là 2 công ty dầu khí lớn đang hoạt động tại Việt Nam vào thời điểm hiện tại.

Với việc đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông dựa trên “đường 9 đoạn” gây tranh cãi, Trung Quốc từng nhiều lần bày tỏ lo ngại trước việc Việt Nam mời các công ty Ấn Độ thăm dò dầu khí ngoài khơi, cho rằng không nên lấy sự phát triển của quan hệ song phương là cái cớ để xâm phạm “các quyền và lợi ích hợp pháp” của Trung Quốc tại Biển Đông.

Cả Ấn Độ và Việt Nam đều coi quan hệ quốc phòng và an ninh là một trong những trụ cột chính của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tuy nhiên dù có tranh chấp với Trung Quốc, Việt Nam vẫn hết sức thận trọng trong nỗ lực xây dựng quan hệ quốc phòng với Ấn Độ. Việc triển khai gói tín dụng quốc phòng trị giá 500 triệu USD mà Ấn Độ công bố với Việt Nam năm 2016 đang bị trì hoãn đáng kể, vì Hà Nội muốn sử dụng khoản tiền này vào việc phát triển cơ sở hạ tầng thay vì mua sắm quốc phòng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hai bên không ký kết thỏa thuận khung (về việc triển khai gói tín dụng trên) trong chuyến thăm Việt Nam năm 2018 của Tổng thống Ram Nath Kovind, được cho là do Hà Nội đang nỗ lực cải thiện quan hệ với Bắc Kinh. Phát biểu tại một sự kiện đánh dấu 75 năm Quốc khánh Việt Nam, Đại sứ Phạm Sanh Châu cho biết hai nước đang thảo luận việc sử dụng gói tín dụng này. Ông mô tả việc mua tàu tuần tra từ Ấn Độ trong khuôn khổ gói tín dụng 100 triệu USD trước đó là một “ví dụ cụ thể” về hợp tác quốc phòng song phương.

Các thủ tướng của Ấn Độ và Việt Nam gần đây đã đồng chủ trì Hội nghị cấp cao ASEAN-Ấn Độ lần thứ 17, trong đó hai bên đã nêu rõ những lợi ích chung trong việc duy trì trật tự khu vực dựa trên luật lệ với ASEAN đóng vai trò trung tâm. Đại sứ Phạm Sanh Châu nêu rõ: “Các nhà lãnh đạo đã đánh giá hiện trạng của quan hệ Đối tác Chiến lược ASEAN – Ấn Độ cũng như những tiến bộ đã đạt được trong các lĩnh vực chủ chốt như kết nối, hợp tác hàng hải, trao đổi thương mại, giáo dục và nâng cao năng lực. Nhờ sự hỗ trợ và hợp tác của Ấn Độ, Việt Nam đã hoàn thành vai trò chủ tịch ASEAN với nhiều thành tựu. Một số lượng kỷ lục 80 hiệp định đã được ký kết và thông qua”.

Đại sứ mô tả cuộc họp thượng đỉnh sắp tới là rất hứa hẹn với hàng chục kết quả có thể đạt được về quan hệ song phương. Một trong số đó là việc hai bên đã quyết định chọn địa điểm đặt tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở New Delhi và tượng lãnh tụ Mahatma Gandhi ở Thành phố Hồ Chí Minh. Đại sứ bày tỏ hy vọng cuộc họp cấp cao quan trọng này sẽ đề ra một tầm nhìn và kế hoạch cụ thể cho việc tăng cường hơn nữa quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.

Nguồn: TKNB – 21/12/2020.

Liên minh quân sự Việt Nam – Ấn Độ “đối chọi” liên minh Trung Quốc – Pakistan?


Trang South China Morning Post của Hong Kong ngày 27/8 đăng bài nhận định Trung Quốc tăng cường phô trương sức mạnh ở Biển Đông đang trở thành một trong những nhân tố khiến Việt Nam và Ấn Độ xích lại gần nhau trong một quan hệ đối tác mà nhiều chuyên gia cho là nhằm chống lại Trung Quốc theo cách Trung Quốc và Pakistan liên minh chống lại Ấn Độ.

Chung lợi ích

Việt Nam phẫn nộ khi hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc vừa triển khai ít nhất một máy bay ném bom mang tên lửa H-6J đến Đảo Phú Lâm ở Biển Đông.

Bộ Ngoại giao Việt Nam tuần trước cảnh báo sự hiện của các máy bay ném bom trên đảo Phú Lâm không chỉ vi phạm chủ quyền của Việt Nam mà còn “gây nguy hiểm cho hòa bình” khu vực.

Hôm 21/8, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Phạm Sanh Châu đã có cuộc gặp Ngoại trưởng Ấn Độ Harsh Vardhan Shringla để trình bày về căng thẳng leo thang ở Biển Đông.

Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales (Australia) cho biết đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc triển khai máy bay ném bom đến Hoàng Sa. Họ từng điều một số máy bay ném bom tầm xa H-6K đến đó vào năm 2018. Tuy nhiên, sự cởi mở của Việt Nam về cuộc gặp của Đại sứ Phạm Sanh Châu rất đáng lưu ý. Giáo sư Thayer nhấn mạnh động thái công khai lần này cho thấy “có khả năng Việt Nam đang nỗ lực về mặt ngoại giao với mục đích tìm kiếm sự ủng hộ chính trị nhằm lên án các hành động của Trung Quốc”.

Giảng viên quan hệ quốc tế Huỳnh Tâm Sáng từ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) cho rằng cách Việt Nam tiếp cận Ấn Độ không chỉ thể hiện qua quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước mà còn ở sự ủng hộ của Việt Nam đối với quyền tự do hàng hải và hàng không cảu Ấn Độ ở Biển Đông. Ông Huỳnh Tâm Sáng nói: “Ấn Độ và Việt Nam đang ở điểm hội tụ địa chiến lược. Cả hai bên đều phản đối việc Trung Quốc coi Biển Đông là “sân sau” của mình. Hai nước có chung lợi ích trong việc gìn giữ hòa bình và ổn định ở vùng biển này”.

Các động thái ngoại giao của Việt Nam sẽ khuyến khích Ấn Độ can dự vào Biển Đông. Theo ông Huỳnh Tâm Sáng, việc Việt Nam tăng cường hợp tác quốc phòng với Ấn Độ sẽ gửi “một thông điệp kịp thời” tới Bắc Kinh.

Chuyên gia Mohan Malik từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược NESA (một trung tâm khu vực của Bộ Quốc phòng Mỹ) ví quan hệ đối tác Việt – Ấn tương tự quan hệ của Trung Quốc với Pakistan: “Tương tự cách Islamabad và Bắc Kinh phối hợp chặt chẽ và ủng hộ nhau trong các động thái quân sự chống Ấn Độ, New Delhi và Hà Nội đã bắt đầu trao đổi và ủng hộ nhau đối phó với Bắc Kinh. Và giống như Pakistan ủng hộ sự hiện diện mạnh mẽ của hải quân Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, Việt Nam cũng ủng hộ sự hiện diện của hải quân Ấn Độ ở Biển Đông. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều coi Trung Quốc là cường quốc theo chủ nghĩa bành trướng, bất cần và không bao giờ thỏa mãn về lãnh thổ. Đây rõ ràng là một mối nguy hiểm. Ấn Độ đang tìm cách đối xử với Trung Quốc như cách Trung Quốc đã làm với Ấn Độ, đó là ngăn chặn và bao vây”.

“Anh em như thể tay chân”

Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng cấp cao tại RAND Corporation (Mỹ), cho rằng Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ với Ấn Độ để giải quyết những lo ngại chung về sự quyết đoán ngày càng gia tăng của Trung Quốc trên khắp khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Ông cho biết: “Điều này có thể liên quan đến việc chia sẻ thông tin, huấn luyện quân sự và có lẽ là cả mua sắm vũ khí”. Theo ông Gorssman, quân đội Việt Nam và Ấn Độ có tính tương trợ cao vì cả hai bên đều chủ yếu dựa vào thiết bị từ thời Liên Xô hoặc mua của Nga.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích cũng lưu ý những rào cản đối với việc tăng cường quan hệ quân sự Việt – Ấn.

Chuyên gia Malik của NESA cho rằng vì quân đội Ấn Độ đang trong tư thế sẵn sàng chiến đấu nếu xảy ra xung đột trên cả hai mặt trận với Trung Quốc và Pakistan, khả năng hỗ trợ quân sự kịp thời cho Việt Nam sẽ bị hạn chế. Dẫu vậy, theo ông Malik, “hiệp ước chia sẻ thông tin tình báo của hai bên sẽ có ích cho việc giám sát sự di chuyển của các tàu nổi và tàu ngầm của hải quân Trung Quốc”.

Giáo sư Thayer chỉ ra rằng, dù quan hệ quốc phòng Việt – Ấn kéo dài 13 năm, Ấn Độ chỉ có một thương vụ bán vũ khí cho Việt Nam (ghi lại trên cơ sở dữ liệu chuyển giao vũ khí từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm), theo đó New Delhi bán cho Hà Nội 4 tàu tuần tra biển dài 35 mét, trị giá 100 triệu USD.

Năm 2014 và 2016, Việt Nam bắt đầu thương thảo với Ấn Độ về việc mua tên lửa Brahmos và Akash, song vì tên lửa Brahmos do Ấn Độ và Nga hợp tác sản xuất nên loại vũ khí này không được bán cho Việt Nam vì sợ “chọc giận” Trung Quốc.

Giáo sư Thayer nhận định: “Sự hiếu chiến có kiểm soát của Trung Quốc đối với cả Ấn Độ và Việt Nam có thể dẫn đến việc New Delhi và Hà Nội củng cố, và nhiều khả năng là tăng cường quan hệ quốc phòng song phương. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều không muốn làm trầm trọng thêm quan hệ với Trung Quốc…

Tóm lại, không nên nhìn nhận việc Trung Quốc triển khai máy bay ném bom H-6J đến đảo Phú Lâm là một yếu tố thay đổi cuộc chơi về mặt chiến lược, đòi hỏi quan hệ quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ phải đột ngột tăng tốc”.

Hợp tác dầu khí

Tại cuộc gặp hôm 21/8, Đại sứ Phạm Sanh Châu và Ngoại trưởng Shringla cũng thảo luận về khả năng Ấn Độ tham gia nhiều hơn vào hoạt động thăm dò dầu khí ngoài khơi Việt Nam.

Chi nhánh quốc tế của Tập đoàn Dầu khí Tự nhiên Ấn Độ ONGC Videsh đã có nhiều năm hoạt động tại vùng biển mà cả Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh.

Chuyên gia Malik của NESA cho rằng có khả năng Việt Nam và Ấn Độ sẽ tăng cường hợp tác thăm dò dầu khí ở Biển Đông trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn và xây đập ở các khu vực tranh chấp phía Bắc Kashmir do Pakistan kiểm soát.

Chuyên gia Grossman của RAND Corporation nhận định quan hệ hợp tác lớn mạnh hơn là một chiến thắng cho cả 2 nước: Ấn Độ có cơ hội đa dạng hóa nguồn năng lượng, trong khi Việt Nam phải hành xử “đúng nghĩa là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình, chứ không phải là một tranh chấp chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc mà buộc Việt Nam phải xin phép Bắc Kinh trước khi tiến hành thăm dò”.

Josef Gregory Mahoney, giáo sư chính trị tại Đại học Sư phạm Đông Hoa (Thượng Hải, Trung Quốc) cho rằng, Việt Nam cần được giúp đỡ thăm dò dầu khí và lựa chọn của họ là Ấn Độ hoặc Trung Quốc: “Cách duy nhất trước mắt là giải quyết xung đột với Trung Quốc và sau đó tiến tới với Bắc Kinh, hoặc chọn phương án an toàn hơn là hợp tác với Ấn Độ”.

Giáo sư Thayer cảnh báo quan hệ hợp tác Việt – Ấn trong tương lai sẽ vấp phải thách thứ do những cân nhắc về thương mại và nguy cơ Trung Quốc quấy rối hoạt động khai thác dầu khí ở Biển Đông. Ông Huỳnh Tâm Sáng nhận định đột phát trong hợp tác thăm dò dầu khí giữa Ấn Độ và Việt Nam khó có thể đạt được trước thềm Đại họi XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, dự kiến diễn ra vào quý I/2021.

Ấn Độ được lợi gì?

Theo chuyên gia Malik, dù tự do hàng hải ở Biển Đông là trọng tâm trong tầm nhìn của Ấn Độ về một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do cởi mở, điều quan trọng hơn đối với New Delhi là phản bác những tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với phần lớn Biển Đông. Ông Malik cho rằng Ấn Độ không thể đứng ngoài vấn đề tranh chấp ở vùng biển này khi khối lượng thương mại trị giá hơn 200 tỷ USD của Ấn Độ đi qua Biển Đông.

Giáo sư Thayer cho biết dưới thời Thủ tướng Narendra Modi, khẩu hiệu của chính quyền tiền nhiệm là “Hướng về phía Đông” đã được chuyển thành chính sách “Hành động hướng Đông”, theo đó New Delhi tìm kiếm liên kết kinh tế và công nghệ với các quốc gia Đông Nam Á. Theo Giáo sư Thayer, Việt Nam là chìa khóa của chiến lược này, bắt nguồn từ quan hệ chống thực dân có từ những năm 1940.

Chuyên gia Grossman nhận định Ấn Độ cũng “có thể tìm cách giữ cho Trung Quốc bị phân tâm trong vấn đề Biển Đông nhằm hạn chế các hoạt động và kế hoạch của Bắc Kinh ở khu vực Ấn Độ Dương trong tương lai”.

Cái giá cho Việt Nam?

Dù cả Hà Nội và Delhi đều có thể nhìn thấy lợi ích từ quan hệ song phương đang nở rộ, các nhà phân tích vẫn cho rằng thận trọng sẽ là khôn ngoan, đặc biệt là với Việt Nam.

Giáo sư Mahoney cho rằng Việt Nam không thể để xảy ra xung đột diện rộng với Trung Quốc vì Bắc Kinh có “những đòn bẩy mạnh mẽ theo ý mình”, đặc biệt liên quan đến thương mại, an ninh nguồn nước và Biển Đông: “Việt Nam biết rằng các nhu cầu và lợi ích của Ấn Độ và Mỹ không hoàn toàn phù hợp với Hà Nội, và không nên mong đợi ở Washington hay New Delhi khi tình hình trở nên thực sự tồi tệ, hoặc nếu như một trong hai nước này có sự thay đổi ban lãnh đạo”.

Theo giáo sư Thayer, dù tranh chấp ở Biển Đông là nguyên nhân chính khiến Hà Nội và Bắc Kinh bất hòa, song “Việt Nam không muốn tranh chấp này trở thành tâm điểm duy nhất trong quan hệ đôi bên”. Và từ khi Việt Nam hoạt động dựa trên khuôn khổ đa dạng hóa và đa phương hóa, song song với việc thu hút các cường quốc khác như Nhật Bản, Nga và Mỹ, Hà Nội biết rằng họ có “đòn bẩy quan hệ” để có thể tìm kiếm trợ giúp “nếu Trung Quốc ngày càng quá đáng”.

Nguồn: TKNB – 31/08/2020.

Trung Quốc vươn tầm ảnh hưởng hải quân đến Ấn Độ Dương


Mạng Modern Diplomacy ngày 18/2 đăng bài viết bình luận về việc Trung Quốc vươn tầm ảnh hưởng hải quân đến khu vực Ấn Độ Dương và chỉ dấu về cách thức Bắc Kinh cư xử với các nước láng giềng trong tương lai.

Theo bài viết, Biển Đông tượng trưng cho một “đấu trường” nơi Trung Quốc phô trương sức mạnh hải quân của mình. Bắc Kinh đã thể hiện sự trơ tráo khi xâm nhập vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước có tuyên bố chủ quyền tại vùng biển này. Tuy nhiên, việc thực thi sức mạnh mang tính ép buộc như vậy không chỉ giới hạn ở các quốc gia ven biển Đông Nam Á, mà còn ở sân sau Ấn Độ tại biển Andaman.

Tháng 9 năm ngoái, Hải quân Ấn Độ đã xua đuổi các tàu nghiên cứu của Trung Quốc ra khỏi khu vực EEZ gần quần đảo Andaman và Nicobar. Những tàu nghiên cứu này tạo ra mối đe dọa đáng kể đối với các lợi ích chiến lược của Ấn Độ, bởi chúng có thể xác lập các đặc điểm của vùng biển để tăng cường khả năng tác chiến của tàu ngầm và khai thác dưới biển sâu. Nhận thức được lằn ranh đỏ của Ấn Độ, Trung Quốc đã sử dụng hành động hăm dọa tinh vi, không trực tiếp thách thức các tuyên bố chủ quyền của Ấn Độ, hoặc tiếp cận gần hơn với các bang ven biển Ấn Độ với ý đồ xấu.

Trung Quốc đã xâm nhập vào khu vực phía Đông Ấn Độ Dương thông qua việc phát triển cảng biển sâu Kyaukpyu chiến lược ở Myanmar, cho phép Bắc Kinh trực tiếp tiếp cận vịnh Bengal, cùng với dự án được cho là xây dựng một căn cứ hải quân bí mật ở Campuchia, và kênh đào dài 100 km ở Kra Isthmus thuộc Thái Lan giúp bỏ qua eo biển Malacca, một tuyến huyết mạch trọng yếu đối với nguồn cung cấp năng lượng của Trung Quốc.

Ngoài bao vây Ấn Độ, việc Trung Quốc mở rộng tầm ảnh hưởng của hải quân xa hơn quần đảo Andaman và Nicobar xuất phát từ nhu cầu của Bắc Kinh đa dạng hóa các tuyến cung cấp năng lượng, do hoạt động vận tải biển đến Eo biển Malacca phải đi qua biển Andaman, khiến nguồn cung năng lượng quan trọng của Trung Quốc dễ bị kẻ thù phong tỏa. Các đòn bẩy khác của Bắc Kinh là việc kiểm soát các cảng tại Pakistan, Maldives, Sri Lanka, Bangladesh và nay là Myanmar, trong vai trò điểm tiếp liệu và tiếp tế cho các tàu hải quân và tàu chiến Trung Quốc tuần tra các điểm kiểm soát quan trọng dẫn vào khu vực Ấn Độ Dương. Điều này sẽ đảm bảo hoạt động thông suốt cho các lực lượng hải quân Trung Quốc, cho phép triển khai lực lượng nhanh chóng trong bất kỳ sự kiện chiến tranh nào, mang lại cho Bắc Kinh lợi thế chiến lược trước các đối thủ.

Trong trò chơi tranh giành quyền lực giữa Ấn Độ và Trung Quốc, tốc độ hiện đại hóa hải quân nhanh chóng đã giúp Trung Quốc thống trị vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trung Quốc đã tăng gấp 3 số lượng khinh hạm tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu ngầm tên lửa dẫn đường và tàu ngầm tấn công hạt  nhân. Trung Quốc đã hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm và các tàu sân bay tự chế, và việc tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung ở khu vực Tây Ấn Độ Dương với Iran và Nga là minh chứng cho ưu thế vựt trội của Bắc Kinh trong khu vực. Trung Quốc cũng đang gây sức ép mạnh mẽ với Ấn Độ trong vấn đề Kashmir, gia nhập Nhóm cung cấp hạt nhân (NSG), đồng thời thách thức sự thống trị của Ấn Độ tại sân sau của quốc gia Nam Á này bằng cách thiết lập sự hiện diện vững chắc ở biển Andaman thông qua các tàu ngầm và tàu khảo sát nghiên cứu, thể hiện tầm ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

Hải quân Ấn Độ, hướng đến vai trò là lực lượng duy nhất đảm bảo an ninh trong khu vực Ấn Độ Dương và tăng cường xây dựng năng lực cho các bang ven biển, đang phải đối mặt với những thiếu hụt trong quá trình hiện đại hóa do các hạn chế về ngân sách, trì hoãn mua sắm, tham nhũng và quan liêu. Ngân sách quốc phòng ảm đạm được phân bổ cho Hải quân trong năm nay sẽ khiến lực lượng này phải rút lại các kế hoạch mở rộng năng lực để trở thành hạm đội 200 tàu vào năm 2025, và cũng sẽ cắt giảm việc mua sắm các tài sản hải quân cần thiết như tàu chống thủy lôi, máy bay trực thăng cảnh báo sớm, đội tàu hỗ trợ, các tàu sân bay. Điều này đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về khả năng của Hải quân Ấn Độ đối phó với mối đe dọa phổ biến nhất từ thủy lôi, vốn gây thiệt hại đáng kể cho các tàu lớn ngoài khơi.

Do đó, việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự đã buộc Ấn Độ dỡ bỏ biện pháp tự kiềm chế và khôi phục nhóm Bộ Tứ (Quad). Cùng với việc nâng cấp sự tương tác của Quad lên cấp ngoại trưởng, và Ấn Độ xem xét việc mời Australia tham gia cuộc tập trận Malabar ba bên với Nhật Bản và Mỹ trong năm nay, cho thấy New Delhi ngày càng nghiêm túc trong việc mang lại cho Quad hình hài một liên minh an ninh chính thức, khiến Trung Quốc nóng mặt.

Hơn nữa, Ấn Độ có thể sẽ tận dụng sự thất vọng ngày càng tăng của Indonesia và Malaysia với hành vi du côn của Trung Quốc và tìm ra một lý do chung để tăng cường hợp tác quốc phòng. Trung Quốc đang tiếp tục những hành động ức hiếp bất chấp phản ứng đáp trả từ các nước láng giềng Đông Nam Á. Việc bắt nạt các quốc gia ven biển Đông Nam Á chính là điềm báo về việc Bắc Kinh sẽ đối xử ra sao với các nước láng giềng trong tương lai. Diễn biến tích cực duy nhất là những nỗ lực của Mỹ dưới hình thức các hoạt động tự do hàng hải ở eo biển Đài Loan và Biển Đông.

Washington càng khiến Bắc Kinh nổi giận bằng việc cung cấp viện trợ quốc phòng cho Việt Nam và Đài Loan. Mặc dù chúng ta có thể mong đợi sự hợp tác quốc phòng sâu sắc hơn nữa giữa các quốc gia ASEAN cốt lõi và các cường quốc bên ngoài như Mỹ, Australia, Nhật Bản, cam kết an ninh của Mỹ với khu vực sẽ phụ thuộc vào các hành động của Trung Quốc. Và trong cuộc cạnh tranh gay gắt giữa hai siêu cường này, cả hai bên sẽ sử dụng các đòn bẩy an ninh và kinh tế của các nước ASEAN để áp chế lẫn nhau. Hiện tại, Trung Quốc cần phải làm hòa, do việc nước này khát khao chinh phục các vùng biển có nguy cơ gây ra tình trạng bất cân xứng về sức mạnh theo hướng có lợi cho Mỹ, bởi các quốc gia ASEAN sẽ ngả về phía Washington để chống lại sự trỗi dậy của Bắc Kinh ở châu Á – Thái Bình Dương.

Với các rạn nứt địa chính trị trong khu vực sắp xuất hiện, ASEAN nay sẽ bị “soi xét” kỹ trong xử lý quan hệ giữa một bên là đồng minh chiến lực Mỹ và một bên là đối tác thương mại hàng đầu Trung Quốc. Cũng sẽ rất thú vị khi quan sát Việt Nam – quốc gia giữ chức Chủ tịch ASEAN trong năm nay – sẽ xử lý tranh chấp Biển Đông ra sao và cân bằng giữa các ưu tiên kinh tế và chiến lược của khối như thế nào

Nguồn: TKNB – 20/02/2020.

Con đường Tơ lụa: Giấc mơ của Trung Quốc, ác mộng của Ấn Độ


Theo đài RFI, quân đội Trung Quốc và Ấn Độ ngày 15/6 đã đụng độ nghiêm trọng ở khu vực Ladakh, trên dãy Himalaya. Hai bên đổ lỗi cho nhau đã xâm phạm đường kiểm soát thực tế (LAC). Tuy nhiên, tranh chấp biên giới chỉ là bề nổi, dự án “Vành đai và Con đường” (BRI) mới chính là nguyên nhân thực sự gây căng thẳng Ấn – Trung.

Gilles Boquérat – chuyên gia về Nam Á, làm việc tại Quỹ Nghiên cứu Chiến lược FRS – cho rằng cuộc đối đầu đẫm máu ngày 15/6 không đơn giản là một cuộc tranh chấp lãnh thổ, mà còn phản ánh rõ sự đối đầu sâu sắc giữa hai “gã khổng lồ” châu Á bởi vì giữa Ấn Độ và Trung Quốc còn có một cuộc đọ sức khác, có quy mô lớn hơn. Giáo sư Serge Granger, chuyên nghiên cứu về ngành chính trị học ứng dụng của trường Đại học Sherbrook (Canada), trong một bài viết đăng trên tạp chí Diplomat năm 2018 từng so sánh cuộc đối đầu Trung – Ấn ngày nay với giai đoạn  “Bàn cờ lớn” (1813 – 1907), thời kỳ đối đầu thực dân và ngoại giao giữa hai đế chế Anh Quốc và Nga nhằm giành quyền thống trị Trung Á.

Khi quan sát “Bàn cờ lớn” đó, nhà địa lý học người Anh Halford John MacKinder, người đi tiên phong trong ngành địa chính trị, năm 1909 từng đưa ra giả thuyết rằng ai thống trị được hành lang Á – Âu trên bộ thì sẽ thống trị được thế giới. Bốn mươi năm sau, ông Nicholas Spykman – nhà báo, giảng viên đại học và cũng là một trong những nhà sáng lập ngành địa chính trị học tại Mỹ – đưa ra khái niệm: Chính sự thống trị con đường giao thương hàng hải giúp bảo đảm uy thế cường quốc. Những học thuyết trên được Trung Quốc áp dụng triệt để trong dự án BRI. Giới quan sát Ấn Độ coi dự án những con đường tơ lụa đó như là một sự xác nhận ý muốn thống trị hành lang Á – Âu của Trung Quốc. Họ e ngại rằng dự án này có nguy cơ vây hãm, hạn chế khả năng của New Dehli tiến hành các hoạt động giao thương liên lục địa. Nghiêm trọng hơn nữa, sự gia tăng ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc tại Trung Á có lẽ sẽ còn đe dọa đến an ninh Ấn Độ. Theo ông Nirupama Rao, cựu Đại sứ Ấn Độ tại Trung Quốc và Mỹ, sáng kiến những con đường tơ lụa đó chính là một sự thể hiện quyền lực cứng ngày càng gia tăng của Bắc Kinh, cả ở những vùng biển lẫn trên lục địa châu Á.

Cụ thể trên bộ, Trung Quốc thiết lập 2 hành lang kinh tế: Thứ nhất là Trung Quốc – Pakistan nối liền Kashgar (Tân Cương, Trung Quốc) với cảng biển Gwadar (Pakistan); Thứ hai là BCIM (Bangladesh – Trung Quốc – Ấn Độ – Myanmar), nối thẳng Trung Quốc với Vịnh Bengal thông qua ngả Myanmar. Ngoài biển, Ấn Độ Dương không còn là đại dương của riêng Ấn Độ nữa. Bắc Kinh lần lượt thiết lập các cơ sở cảng biển của mình nằm rải rác như một chuỗi ngọc trai từ nhiều nước Nam Á đến tận vùng biển Tây Phi. Những cơ sở cảng biển và quân sự này cho phép Trung Quốc lắp đặt các hệ thống radar cảnh báo mọi chuyển động của hải quân Ấn Độ. Chuỗi ngọc trai đó còn giúp chống lại mọi ý đồ của Ấn Độ chặn đường tiếp tế nhiên liệu cũng như khoáng sản đến Trung Quốc. Đây thật sự là một mối đe dọa đối với Ấn Độ. Những con đường tơ lụa đó tạo lợi thế cho hoạt động giao thương Á – Âu của Trung Quốc. Những cơ sở hạ tầng này tạo thuận lợi cho Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa, một thế mạnh quan trọng của Bắc Kinh. Những con đường này còn cho phép Trung Quốc dễ dàng nhập khẩu nguyên nhiên liệu để rồi tái xuất khẩu dưới dạng các thành phẩm.

Ladakh: Chốt chặn cho cả Trung Quốc và Ấn Độ?

Chỉ có điều, những hành lang chiến lược này của Trung Quốc đã cản trở Ấn Độ kết nối thương mại với vùng Trung Á, có một tầm quan trọng cốt lõi đối với New Dehli, theo như nhận xét của ông Serge Granger. Con đường ngắn nhất để Ấn Độ đến với Trung Á là đi qua Paksitan và Afghanistan. Đây cũng chính là một trong những tâm điểm của mọi căng thẳng Trung – Ấn tại khu vực biên giới trên dãy Himalaya.

Vùng Ladakh, khu vực diễn ra cuộc xung đột Ấn – Trung có một vị thế chiến lược quan trọng đối với Trung Quốc. Khu vực này, dưới sự kiểm soát của Ấn Độ, nằm giữa Aksai Chin (Ấn Độ đòi chủ quyền, nhưng Trung Quốc kiểm soát) và thung lũng Shaksgam, thuộc vùng Baltistan (dưới sự kiểm soát của Pakistan). Đoạn biên giới có xung đột giữa Ấn Độ và Trung Quốc, gây trở ngại cho Trung Quốc, kết nối quân sự và tiếp cận vùng Kashmir của Pakistan, vốn là một mắt xích quan trọng trong dự án BRI. Việc chiếm đóng được vùng lãnh thổ phía bắc hồ Pangong hay chí ít là thung lũng Galwan không những bảo đảm cho Trung Quốc tiếp cận được Pakistan, mà còn có thể ngăn Ấn Độ thâm nhập vào Afghanistan và vùng Trung Á. Để thực hiện ý đồ này, Bắc Kinh cho tiến hành chiến thuật “gặm nhấm” dần từng thước đất một tại đường LAC, theo như ghi nhận của báo Le Monde.

Đọ sức bất cân xứng?

Về phần Ấn Độ, cảm thấy như bị vây hãm bởi ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương và châu lục, chính quyền New Dehli tiếp tục xây dựng cầu đường và các tuyến đường sắt chiến lược cho phép di chuyển quân dọc theo đường kiểm soát. Những động thái này khiến Bắc Kinh bực tức, xem đấy là một rào cản tiềm tàng cho “Hành lang Trung Quốc – Pakistan”, một trục chính cho con đường tơ lụa. Mặt khác, trong nỗ lực đối trọng với con đường tơ lụa trên bộ của Trung Quốc, Ấn Độ lần lượt cho ra đời hai dự án: Thứ nhất là con đường vận tải Bắc Nam, nối Mumbai với Saint-Petersbourg (Nga), qua ngả Teheran (Iran) và Baku, và thứ hai là trục xa lộ Ấn Độ – Myanmar – Thái Lan, nối vùng Đông Bắc Ấn Độ với các nước Đông Nam Á. Ở trên biển, cùng với Nhật Bản, chính quyền New Dehli khởi động dự án Asia Africa Growth Corridor (AAGC) nối Nhật Bản, Australia, Đông Nam Á, Ấn Độ và châu Phi. Câu hỏi đặt ra là liệu Ấn Độ có đủ thực lực để đọ sức lâu dài cùng với Trung Quốc hay không? Xung đột tại biên giới ít nhiều cho thấy nỗi lo âu của New Dehli trước đà đi lên thành cường quốc của Trung Quốc bởi vì cách biệt về tương quan lực lượng ngày một lớn. Cách đây 30 năm, mức ngân sách cho quân sự của hai nước là ngang nhau. Ngày nay Trung Quốc chi đến 260 tỷ USD cho quân sự, cao hơn 3,5 lần so với mức chi của Ấn Độ chỉ có 71 tỷ USD.

Về lĩnh vực kinh tế, Ấn Độ vẫn thua xa Trung Quốc theo như ghi nhận của Pascal Boniface, chuyên gia địa chính trị, trên trang mạng của Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (IRIS). “Trung Quốc có thặng dự mậu dịch so với Ấn Độ khoảng từ 50 – 60 tỷ USD. Nhất là GDP của Trung Quốc (14000 tỷ USD/năm) cao hơn 4 lần của Ấn Độ (chưa tới 3000 tỷ USD/năm). Rõ ràng, Trung Quốc vượt xa hẳn Ấn Độ”. Cuộc tranh chấp này còn thêm phần gay gắt khi có bóng dáng của Mỹ. Chuyên gia Pascal Boniface nhắc lại rằng trong quá khứ, nhất là trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Liên Xô là đồng minh của Ấn Độ và là đối thủ của Trung Quốc. Còn bây giờ, nếu như Trung Quốc là đồng minh của Pakistan, kẻ thù của Ấn Độ, New Dehli đang có xu hướng ngả dần theo Washington. Ông nói: “Giờ đây, Ấn Độ dường như xích lại gần hơn với Mỹ. Thủ tướng Modi trở nên thân Mỹ hơn. Ông hy vọng điều đó có thể giúp Ấn Độ có được vị trí cường quốc thứ 6 mà Ấn Độ mong muốn từ bao lâu nay. Ấn Độ cũng tỏ ra ganh tỵ trước việc Trung Quốc là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mà Ấn Độ không có được. Trung Quốc là cường quốc chính thức, trong khi Ấn Độ chỉ là cường quốc không chính thức. Sự đối đầu là rất lớn”.

Căng thẳng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc dường như cũng có những tác động đến quan hệ song phương giữa Bắc Kinh và New Dehli. Trung Quốc cũng muốn lợi dụng cuộc khủng hoảng dịch bệnh COVID-19 để khẳng định thế mạnh như là nước này đã làm với Hong Kong, với Mỹ và đương nhiên là cả với Ấn Độ. “Bàn cờ lớn” giữa hai ông “khổng lồ” châu Á liệu có đi đến chiến tranh hay không? Về điểm này, giới chuyên gia đều nhất trí:: Cả Ấn Độ và Trung Quốc chẳng được lợi gì khi đối đầu trực diện. Sự việc cho thấy rõ thái độ nghi kỵ của Ấn Độ ngày càng lớn đối với Trung Quốc, rủi thay, Trung Quốc lại là một đối tác kinh tế không thể thiếu đối với chính quyền Thủ tướng Modi.

Nguồn: TKNB – 29/06/2020.

Mục đích Donald Trump thăm Ấn Độ – Phần cuối


Trong những năm qua, Mỹ hẳn đã tìm cách ngăn chặn Ấn Độ chuyển hướng sang chủ nghĩa bảo hộ, như những gì mà Chính quyền Mỹ dưới thời Bush và Obama đã làm. Tuy nhiên, Trump đã nhiều năm công kích thương mại tự do nói chung và trật tự thương mại quốc tế do Mỹ xây dựng nói riêng, nhiều lần sử dụng công cụ thuế quan của riêng mình để xoa dịu các ngành công nghiệp của Mỹ như ngành thép. Điều đó khiến cho chính quyền đương nhiệm đặc biệt không phù hợp với việc thuyết phục Ấn Độ hướng tới những chính sách thương mại mang tính xây dựng hơn. Tellis nhận định: “Mỹ đang rơi vào thế “gậy ông đập lưng ông” khi không còn là một nước thương mại tự do”.

Và suy nghĩ thiển cận như vậy trong thương mại không chỉ khuyến khích chủ nghĩa bảo hộ phát triển mà còn có thể dẫn tới những hậu quả lớn hơn: Nó cũng có thể gây nguy hiểm cho mối quan hệ chiến lược ngày càng gần gũi giữa Mỹ và quốc gia vốn là nhân tố cốt yếu trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc.

Theo Kashish Parpiani, một chuyên gia về châu Á – Thái Bình Dương thuộc Quỹ nghiên cứu của các nhà quan sát ở Mumbai, Chính quyền Mỹ trước đây, nhất là dưới Bộ trưởng Quốc phòng Ash Carter, đã cố tình bỏ qua những tranh chấp thương mại nhỏ để ưu tiên mối quan hệ chiến lược và quốc phòng quan trọng hơn; dưới thời Trump, những tranh chấp về sản phẩm y tế stent hay hạt óc chó lại chiếm vị trí trung tâm trong mối quan hệ song phương, về cơ bản chôn vùi Học thuyết Carter. Ông nói: “Trump đã đảo lộn mọi thứ”.

Căng thẳng thương mại gia tăng vẫn chưa hủy hoại mối quan hệ chiến lược, khi quan hệ quốc phòng với Ấn Độ vẫn phát triển ngay cả dưới thời Trump. Hai nước dự kiến sẽ công bố một thỏa thuận mua bán máy bay trực thăng của Mỹ trị giá 2,5 tỷ USD trong chuyến thăm của Trump, và sự hợp tác trong các vấn đề quan trọng như hậu cần hải quân và nhận thức về lĩnh vực hàng hải vẫn tiếp tục được đẩy nhanh. Điều đáng lo ngại là cách tiếp cận mang tính giao dịch của Trump đối với các mối quan hệ, ngay cả với đồng minh – chẳng hạn như đòi hỏi Hàn Quốc và Nhật Bản phải thanh toán hàng tỷ USD chi phí của binh lính Mỹ đóng quân trong khu vực – có thể được áp dụng cho cả mối quan hệ rộng lớn hơn với Ấn Độ. Parpiani nói: “Một số người lo ngại rằng Trump sẽ liên kết hai vấn đề với nhau: Nếu không có tiến triển gì về thương mại, thì ông ấy có thể sẽ trì hoãn việc đẩy mạnh hợp tác và mua bán hàng hóa quốc phòng”.

Vấn đề là mặc dù mối quan hệ chiến lược chặt chẽ hơn với Ấn Độ là một mục tiêu của Mỹ nhưng không rõ Trump có chia sẻ mục tiêu đó hay không, ngoài cái bắt tay xã giao nổi tiếng của ông với Modi. Ông đã chê bai Liên minh châu Âu (một trụ cột của an ninh xuyên Đại Tây Dương) vì những hành vi bị cáo buộc là lạm dụng thương mại, vòi thêm tiền từ các đồng minh châu Á, áp thuế với các đồng minh NATO và làm dấy mối nghi ngờ về những cam kết của Mỹ ở Trung Đông. Đối với Ấn Độ, ông dường như chỉ quan tâm nhiều đến việc buộc nước này mua thêm nông sản, các sản phẩm từ sữa và sản phẩm năng lượng của Mỹ – dù điều đó gây tổn hại ra sao tới mối quan hệ rộng lớn hơn với Ấn Độ.

Tellis nói: “Mỹ có một chính sách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà trong đó Ấn Độ là yếu tố then chốt, và mọi việc đang diễn ra khá suôn sẻ. Tuy nhiên, mức độ đầu tư của Trump vào chính sách này lại không rõ ràng”. Sự mâu thuẫn trong tư tưởng đó đã được thể hiện rõ ràng khi Tổng thống Rodrigo Duterte thông báo với Tổng thống Trump rằng ông sẽ chấm dứt một thỏa thuận kéo dài hàng thập kỷ cho phép các lực lượng Mỹ sử dụng Philippines như một căn cứ tiền tiêu ở Thái Bình Dương. Trong khi thông báo bất ngờ này gây choáng váng cho các quan chức quốc phòng Mỹ, những người mà giờ đây sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đẩy lùi Trung Quốc, thì Trump lại vui vẻ đón nhận sự khước từ này vì cho rằng điều này sẽ giúp tiết kiệm một khoản tiền. Theo Tellis, “Trump được cho là có một chính sách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vậy mà lại nói rằng Philippines cứ việc rút khỏi hợp tác quốc phòng”.

Cuối cùng, trong các cuộc đàm phán thương mại cũng như trong chuyến thăm của Trump, các quan chức của cả Mỹ và Ấn Độ đều có chung một mục tiêu: xoa dịu Trump bằng những động thái nho nhỏ mang tính biểu tượng trong các vấn đề như khả năng tiếp cận thị trường Ấn Độ cảu các sản phẩm từ sữa nhằm né tránh một quyết định khó lường và có nguy cơ gây hậu quả thảm khốc. Parpiani cho rằng Ấn Độ sẵn sàng hợp tác dù Washington hầu như không nhượng bộ gì trong những lĩnh vực mà New Delhi mong muốn là do Ấn Độ đã nhận thấy những dấu hiệu tiêu cực.

Được tuyên bố vô tội tại Thượng viện trong vụ luận tội và đã hoàn tất một số thỏa thuận thương mại mới có lợi cho Mỹ, Trump như được “tháo cũi sổ lồng”. Parpiani nói: “Đây là lúc cần xoa dịu Trump về mặt chính trị để ông ấy bớt hung hăng trong nhiệm kỳ thứ hai – đó là tính toán theo quan điểm của Ấn Độ”.

Hành động tạo thế cân bằng là tìm cách mang lại cho Trump những chiến thắng nho nhỏ nhằm tránh cơn thịnh nộ của ông đang trở thành sách lược chuẩn cho các quốc gia trên toàn thế giới. Trung Quốc hứa hẹn sẽ mua thêm đậu nành và dầu mỏ để đổi lấy hòa bình trong cuộc chiến thương mại; Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu đã đưa ra những nhượng bộ chiếu lệ nhằm tránh phải chịu các mức thuế gây kiệt quệ đánh vào ngành ô tô. Không có thỏa thuận nào trong số này giải quyết các mối quan ngại lâu dài và căn bản của Mỹ về thương mại hay thúc đẩy các lợi ích an ninh của Mỹ – chúng chưa từng nhằm những mục đích như vậy.

Tellis nói: “Nếu Tổng thống Mỹ thực sự có cái nhìn chiến lược về những gì ông muốn trong việc đàm phán lại các mối quan hệ kinh tế của Mỹ, thì Mỹ sẽ tiếp cận câu hỏi về cách thức đối xử với các quốc gia này theo một cách rất khác. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều hiểu rằng điều mà vị tổng thống này mong muốn không phải mang tính chiến lược: Có những điều nhỏ nhặt khiến ông ấy khó chịu. Những điều đó phải được xử lý và việc xử lý chúng không tiêu tốn quá nhiều công sức”.

Nguồn: Foreign Policy – 17/02/2020

TLTKĐB – 21/02/2020