Điểm quan trọng giúp tăng tốc quan hệ quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ


Trong năm 2018, đã có tới 6 chuyến thăm qua qua lại giữa các giới chức cấp cao Việt Nam và Ấn Độ. Đó là chưa kể sự kiện tàu chiến Ấn Độ và tàu chiến Việt Nam tập trận chung tại vùng biển Việt Nam vào tháng 5/2018, một đơn vị quân đội Việt Nam lần đầu tiên tập trận với lục quân Ấn Độ tại miền Trung Ấn Độ vào tháng 1 (cuộc tập trận chung đầu tiên trong lịch sử quan hệ hai nước). Ngoài ra, Ấn Độ cũng cho tàu chiến thăm các cảng của Việt Nam liên tục từ năm 2016 đến nay.

Có những sự kiện hoàn toàn không được báo chí trong nước nhắc đến, như chuyến thăm Ấn Độ của Tướng Nguyễn Chí Vịnh, hay cuộc tập trận lục quân vào tháng 1/2018. Theo nhà nghiên cứu độc lập Hà Hoàng Hợp tại Singapore, những sự kiện trên là sự tiếp nối chuyến đi Việt Nam của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi vào năm 2016.

Tác giả Saurav Jha, chuyên gia về năng lượng và quốc phòng người Ấn Độ, có bài phân tích về việc New Delhi cung cấp vũ khí cho Hà Nội. Theo những thông tin từ tác giả này, hả năng cung cấp vũ khí và những dịch vụ quốc phòng của Ấn Độ cho Việt Nam là rất rộng, từ những tên lửa BrahMos, Akash, cho đến các hệ thống radar, điện tử phòng thủ, từ việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm loại Kilo mà hai bên cùng mua của nước Nga cho đến nâng cấp tàu chiến loại Petya, huấn luyện phi công cho máy bay chiến đấu Sukhoi.

Một điểm thuận lợi cho quan hệ mua bán vũ khí này là cả hai nước cùng có nguồn cung cấp chung trước đây là Liên Xô cũ. Trong mối quan hệ quốc phòng này, một số nhà nghiên cứu Việt Nam nhấn mạnh việc hợp tác hải quân, nhất là trong bối cảnh Việt Nam bị sức ép trên biển từ Trung Quốc.

Thạc sĩ Hoàng Việt, một chuyên gia nghiên cứu Biển Đông, nói: “Hai quốc gia đều có biên giới trực tiếp với Trung Quốc và hai quốc gia này trong quá khứ đã từng có chiến tranh biên giới với Trung Quốc. Cho nên, trước sự hung hăng ngày càng tăng của Trung Quốc trên những khu vực mà họ cho là có chủ quyền, trên biển lẫn trên bộ, Việt Nam cần có một quốc gia đủ mạnh chống lại tham vọng của Trung Quốc. Quốc gia đó là Ấn Độ, vì Ấn Độ cũng là một cường quốc không thua kém gì Trung Quốc và về mặt hải quân còn có thể là hơn Trung Quốc một phần”.

Nếu mối quan hệ quốc phòng này được Việt Nam dùng để răn đe mối đe dọa từ Trung Quốc, thì ngược lại, phía Ấn Độ cũng có thể dựa vào quan hệ  với Việt Nam để đối trọng với Trung Quốc. Theo Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, chuyên gian quan hệ quốc tế đang làm việc tại Singapore, Ấn Độ đang tìm cách quân bình sức ép từ Trung Quốc bằng cách đẩy mạnh sự hiện diện của họ tại Biển Đông và khu vực Đông Nam Á nói chung. Chính sách này về mặt nào đó đối trọng với sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương bao quanh Ấn Độ.

Theo ông Saurav Jha, mối quan hệ quốc phòng với Việt Nam cũng cho phép New Delhi đặt tai mắt của mình đến gần Trung Quốc hơn, nhất là nếu các gói thiết bị điện tử phòng thủ và radar chuyển giao cho Việt Nam được suôn sẻ.

Tuy nhiên, vì cả hai quốc gia có chung mối quan ngại về Trung Quốc, nên sự gia tăng quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ quốc phòng không khỏi làm cho Trung Quốc cảnh giác. Ngay từ năm 2016, Bắc Kinh đã lên tiếng lo ngại về việc chuyển giao tên lửa đất đối không Akash của Ấn Độ cho Việt Nam.

Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp cho rằng Ấn Độ cũng đang bị phân tâm, do những vấn đề khác nhau về an ninh nội địa, cũng như sức ép của Trung Quốc trên biên giới giữa hai nước, nên có thể sẽ không hoàn toàn tập trung đẩy “chính sách Hướng Đông” và quan hệ Việt – Ấn đi nhanh hơn.

Từ phía Việt Nam, cũng có những tín hiệu cho thấy Hà Nội đã đánh tiếng không tham gia liên minh quân sự 4 quốc gia gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia. Tuy nhiên, ông Hà Hoàng Hợp lại cho rằng quan hệ Việt – Ấn không gặp trở ngại nào: “Tôi không thấy trở ngại gì cả. Nhưng nếu nói Việt Nam tiếp cận khối bốn quốc gia đó thuần túy về mặt quân sự thì không phải. Việt Nam tiếp cận toàn diện cả bốn quốc gia và khối đó còn có ý nghĩa toàn diện về chính trị, quốc phòng, an ninh”.

Theo ông Saurav Jha, các viên chức Ấn Độ tin rằng Việt Nam sẽ vẫn duy trì sự phát triển quan hệ quốc phòng Việt – Ấn như hiện nay, bất kể những tín hiệu lo ngại đưa ra từ Bắc Kinh. Tuy nhiên, ông cho rằng sự thành công của Ấn Độ trong việc chuyển giao vũ khí cho Việt Nam sẽ là điều quan trọng để tăng tốc quan hệ đó.

Nguồn: RFA

TKNB – 11/12/2018

Advertisements

Ấn Độ cần tận dụng tối đa quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam


P.K. Chakravorty

Trong bài bình luận được Viện nghiên cứu và phân tích quốc phòng công bố mới đây, thuật ngữ “quan hệ đối tác chiến lược” đã được thảo luận. Quan hệ đối tác chiến lược là sự tương tác lâu dài giữa hai nước dựa trên các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh và lịch sử. Ấn Độ đã ký quan hệ đối tác chiến lược với hơn 30 quốc gia, trong đó Pháp là nước đầu tiên ký năm 1998 và Việt Nam ký năm 2007. Dù quan hệ đối tác chiến lược không phải là một liên minh, nhưng có nhiều khía cạnh cho phép các nước tương tác chặt chẽ. Việt Nam là quốc gia có quan hệ thân thiết với Ấn Độ từ rất lâu. Giống như Ấn Độ, Việt Nam có biên giới với Trung Quốc và đã nhiều lần chiến đấu chống sự xâm lược của quốc gia láng giềng này, gần đây nhất là năm 1979. Điều quan trọng là phải đánh giá nhân tố Trung Quốc với quan điểm đối tác chiến lược mạnh mẽ của chúng ta.

Nhân tố Trung Quốc

Trong thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc đóng vai trò tích cực ở Đông Nam Á. Việt Nam từng nằm dưới quyền cai trị của người Hán từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên. Trung Quốc cung cấp các hỗ trợ thiết yếu cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như Mỹ. Tuy nhiên, trước khi Việt Nam thống nhất, Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974. Việc Việt Nam lật đổ chính phủ Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn vào tháng 1/1978 đã làm tổn thương người Trung Quốc. Ngày 17/2/1979, Trung Quốc tấn công vào biên giới phía Bắc Việt Nam. Cuộc xung đột kéo dài đến ngày 06/3/1979 mà Trung Quốc không giành được thắng lợi lớn nào. Cần lưu ý rằng Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ (sau đó trở thành Thủ tướng Ấn Độ) Atal Bihari Vajpayee đang ở thăm Trung Quốc khi cuộc tấn công xảy ra và ông đã kết thúc chuyến thăm sớm hơn kế hoạch.

Sau đó, Trung Quốc bắt đầu quan hệ song phương với tất cả các quốc gia ASEAN và cung cấp viện trợ cho Việt Nam. Trung Quốc nhất trí giải quyết vấn đề biên giới với Việt Nam bằng giải pháp hòa bình. Hai nước đã giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trên biển ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, tranh chấp về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn chưa được giải quyết. Năm 1988, đã có những cuộc đụng độ lớn giữa Hải quân Trung Quốc và Việt Nam dẫn đến thương vong nặng nề. Sau đó, hai nước đã thiết lập các đội quân ở một số khu vực của các đảo này.

Năm 1995, Trung Quốc chiếm bãi đá Vành Khăn do Philippines tuyên bố chủ quyền. Tháng 5/2011, Trung Quốc cắt cáp của một tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam dẫn đến căng thẳng giữa hai nước tăng cao. Ấn Độ tham gia thăm dò dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Trung Quốc cảnh báo Ấn Độ về vấn đề nay, nhưng Ấn Độ đã có bước đi táo bạo khi tuyên bố hoạt động thương mại sẽ được tiếp tục tại vùng biển quốc tế.

Trung Quốc dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình ngày càng quyết đoán hơn và đã triển khai một dàn khoan dầu tới Biển Đông vào tháng 5/2014. Trong khi đó, Philippines đã đưa vấn đề ra Tòa Trọng tài thường trực ở La Hague (Hà Lan). Ấn Độ và Việt Nam đều tuyên bố tôn trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 và tự do hàng hải ở Biển Đông. Với thái độ kiên quyết của Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ và tất cả các bên bị ảnh hưởng đều đang quan sát tình hình và sẽ hành động nếu được yêu cầu.

Mối quan hệ chiến lược

Việt Nam và Ấn Độ đều có nhu cầu đối đầu với Trung Quốc, nên hai nước đã tiến gần hơn trong quan hệ đối tác chiến lược. Bản ghi nhớ đầu tiên được ký vào năm 1994, Nghị định thư chính thức về quốc phòng ký năm 2000 và Quan hệ đối tác chiến lược đạt được năm 2007. Quan hệ đối tác chiến lược được nâng cấp lên Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2016. Trước đó, Việt Nam chỉ có mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện như vậy với Nga và Trung Quốc.

Việt Nam và Ấn Độ đã trao đổi nhiều chuyến thăm cấp cao. Chuyến thăm Việt Nam gần đây nhất là của Tổng thống Ram Nath Kovin từ ngày 18 – 21/11 và của Tư lệnh lục quân từ 22 – 25/11. Trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Narendra Modi năm 2016, 12 thỏa thuận đã được ký kết – gồm hiệp định về không gian vũ trụ, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, tránh đánh thuế 2 lần, an ninh mạng, công nghệ thông tin, trao đổi thông tin về tàu dân sự và hợp đồng mua sắm tàu tuần tra ngoài khơi.

Liên quan đến vấn đề quốc phòng, hai nước đều tôn trọng phán quyết của tòa thường trực và nhất trí về tự do hàng hải tại vùng biển chung. Để tăng cường hơp nữa quan hệ quốc phòng, Ấn Độ đã cấp cho Việt Nam khoản tín dụng 500 triệu USD để mua sắm thiết bị quốc phòng. Các thiết bị mua sắm không được công bố nhưng nhiều khả năng là khinh hạm, tàu ngầm hoặc tên lửa Brahmos. Việt Nam đã ký hợp đồng với công ty Larsen & Turbo để mua 4 tàu tuần tra ngoài khơi. Ngoài ra, Ấn Độ đã cấp một khảon viện trợ trị giá 5 triệu USD để xây dựng Công viên phần mềm quân sự tại Nha Trang. Hai nước cũng hợp tác về tăng cường khả năng giám sát để cung cấp các hình ảnh thời gian thực về các hoạt động tại khu vực lợi ích của Việt Nam.

Kinh tế cũng là hía cạnh quan trọng của chuyến thăm. Thúc đẩy quan hệ kinh tế song phương là mục tiêu chiến lược. Hai nước sẽ làm hết sức để tăng kim ngạch thương mại song phương lên 15 tỷ USD vào năm 2020. Điều này đòi hỏi nỗ lực to lớn, nhưng có thể đạt được nếu cả hai nước tăng cường tương tác kinh doanh và phạm vi hoạt động thương mại. Thủ tướng Modi đặc biệt mong muốn được tạo điều kiện thuận lợi cho hợp đồng của công ty Tata nhằm sớm xây dựng nhà máy điện 1320 MW tại Sóc Trăng. Cả hai nước sẽ cố gắng hết sức để thúc đẩy thăm dò dầu khí trong các lô mới được phân bổ. Kết nối giữa 2 quốc gia như nhu cầu về đường bay thẳng, kết nối vận tải biển và kết nối trên đất liền… cần phải được tối ưu hóa. Điều này sẽ tự động thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai nước.

Hai nước đã thể hiện mức độ hợp tác cao nhất trong các diễn đàn khu vực và quốc tế. Việt Nam liên tục ủng hộ Ấn Độ ứng cử vị trí ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngược lại, Ấn Độ cũng ủng hộ Việt Nam ứng cử vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020 – 2021 trong khi Việt Nam ủng hộ Ấn Độ vào vị trí nhiệm kỳ 2021 – 2022. Nhìn chung, quan hệ 2 nước đã chuyển sang quỹ đạo cao hơn qua chuyến thăm.

Con đường phía trước

Kể từ khi trở thành đối tác chiến lược, 2 nước đã thiết lập đối thoại chiến lược quốc phòng thường niên. Xem xét mức độ của mối quan hệ Ấn Độ – Việt Nam, việc nâng cấp các cuộc đàm phán lên cấp bộ trưởng là cần thiết.

Vịnh Cam Ranh thường được mô tả là một trong những hòn ngọc của Việt Nam. Bán đảo dài hướng ra biển có khả năng phòng thủ, trong khi các cảng sông và cảng biển tự nhiên tạo nên cảng nước sâu tốt nhất trên thế giới. Ngoài ra, còn có một căn cứ không quân với đường băng hoàn hảo. Việc hải quân và không quân Ấn Độ sử dụng những cơ sở hạ tầng này sẽ giúp 2 nước tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và cho phép Ấn Độ tiến hành các hành động nhằm bảo vệ tài sản nước này ở Biển Đông. Vấn đề này đang được 2 nước xem xét.

Dựa trên yêu cầu của Hà Nội, Ấn Độ có thể cung cấp cho Việt Nam máy bay giám sát Dornier, thiết bị không người lái mini (UAV), xe tăng T-72 của Liên Xô được nâng cấp và thiết bị pháo do Ấn Độ sản xuất sau khi thử nghiệm, cũng như một số tàu cũ của Hải quân Ấn Độ. Việt Nam hiện đang mua các tàu tuần tra ngoài khơi bằng gói tín dụng của Ấn Độ. Việt Nam cũng ấn tượng với tiến bộ về tên lửa của Ấn Độ và mong muốn mua tên lửa siêu thanh BrahmMos có thể sử dụng cả trên đất liền và trên biển. Đây là vấn đề đáng được xem xét nghiêm túc vì không vấp phải sự phản đối từ Nga. Việt Nam cũng quan tâm đến cơ hội đào tạo các nhà khoa học trong lĩnh vực công nghệ tên lửa và vận hành các lò phản ứng hạt nhân.

Sau đây là các kháo đào tạo của quân đội Ấn Độ:

+ Không quân Ấn Độ đào tạo chuyển đổi cho phi công SU-30 của Không quân Việt Nam.

+ Hải quân Ấn Độ đào tạo thủy thủ tàu ngầm cho Hải quân Việt Nam.

+ Cùng huấn luyện với Lục quân Ấn Độ về chống nổi dậy và tác chiến trong rừng.

+ Đào tạo tiếng Anh.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam và Thủ tướng Việt Nam đã thẳng thắn trong việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Ấn Độ. Việt Nam muốn hợp tác trong lĩnh vực đào tạo cũng như bổ sung kiến thức về lĩnh vực pháo và tên lửa. Việc khai thác và hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực chiến lược để ngăn các sai lầm của Trung Quốc là lợi ích của Ấn Độ.

Việt Nam đang tìm kiếm hợp tác với Ấn Độ trong các lĩnh vực không gian vũ trụ. Việt Nam đã phóng 2 vệ tinh và đang có kế hoạch phóng các vệ tinh định vị riêng. Hợp tác với Ấn Độ sẽ có lợi cho cả hai nước. Ấn Độ cũng đang thiết lập các trạm tiếp nhận để cho phép Việt Nam tải các hình ảnh vệ tinh trinh sát của Ấn Độ trên Biển Đông.

Kết luận

Việt Nam là trụ cột mạnh nhất trong chính sách “Hành động hướng Đông” của Ấn Độ. Việt Nam mong muốn Ấn Độ hỗ trợ trong lĩnh vực công nghệ quân sự mà Ấn Độ phải cung cấp bằng mọi giá. Trung Quốc đã cung cấp vũ khí cho tất cả các nước láng giềng của Ấn Độ và sẽ chấp nhận quan hệ hữu nghị Ấn Độ – Vệt Nam. Ấn Độ phải tận dụng tối đa mối quan hệ đối tác chiến lược này.

Nguồn: Indian Defence Review

TKNB – 11/12/2018

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần cuối


Con đường tơ lụa nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây

Ở Trung Quốc người ta đang nhiều lần kêu gọi, tái lập con đường tơ lụa thời xưa theo kiểu thời đại ngày nay nối liền Trung Quốc với Trung Á và phương Tây. Thoạt đầu nghe ra nó có vẻ lãng mạn, cũng tựa như mô hình một phi thuyền từng gây ấn tượng mạnh đối với mọi người, song dầu sao đi nữa “hào ngôn tráng ngữ” của Trung Quốc vẫn rất có ý nghĩa. Trung Quốc nhìn thấy một con đường tơ lụa mới cùng các tuyến đường sắt, đường bộ hiện đại có thể đưa giàu sang và ảnh hưởng của nó ra xa mãi tới phương Tây, không chỉ qua Trung Á, mà còn đi nữa, đến Iran và Trung Đông. Hầu hết các cuộc tranh cãi về các mối liên hệ cụ thể có hình thù trong tương lai của Trung Á với thế giới bên ngoài cho đến nay đều tập trung vào những liên hệ bắc – nam mà bỏ qua logic của mối liên hệ đông – tây. Mắt xích liên hệ này có thể bao gồm việc thiết lập tuyến đường sắt hiện đại, nối trực tiếp vùng Trung Á với thị trường Trung Quốc rộng lớn và đang phát triển, rồi sau cùng đi đến các cảng biển nước sâu ven biển phía đôngg của Trung Quốc. Một con đường tơ lụa mới với đường sắt, đường bộ hiện đại chắc chắn tạo cho Trung Quốc một tuyến đường lục địa xa mãi tới phương Tây, sau hết đến châu Âu và Iran trên vịnh Persian và sẽ đem lại những kết quả có tính chiến lược rất lớn. Người ta có thể tin rằng nó có thể sánh được với ảnh hưởng từng có của Kênh đào Suez và Panama lúc mới ra đời.

Các mục tiêu của Trung Quốc tại Trung Á được phô diễn vào tháng 4/1994 khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng thăm chính thức Turmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan và Kyrgyzstan. Việc đón tiếp Lý Bằng tại 4 nước Cộng hòa, theo diễn tả của một nhà quan sát độc lập diễn ra “cực kỳ thân mật”. Tổng thống Uzbekistan Islam  Karimov hoan nghênh Lý đúng nghi thức, nói “ghi nhận Trung Quốc là một nước lớn và đóng góp tiềm năng lớn cho ổn định của Trung Á”. Thủ tướng Lý gợi lên con đường tơ lụa, đạt thỏa thuận với Tổng thống Turmenistan, Sarparmurad Niyarov, về nghiên cứu “khả thi” đối với tuyến đường sắt mới chạy qua Trung Á và một đường ống dẫn dầu, sẽ đưa dầu từ khu vực này đến Trung Quốc. Lý gọi đường ống dẫn dầu ước tính 20 tỷ USD này là “Công trình thế kỷ”.

Tham vọng của Trung Quốc đối với Trung Á – nhất là một đường ống dẫn dầu như thế sẽ có ý nghĩa chiến lược lớn – không tránh khỏi sẽ mâu thuẫn với quan điểm về sở hữu của Nga đối với các nước Cộng hòa Trung Á một thời thuộc Liên Xô. Mâu thuẫn sẽ đẩy một Trung Quốc sôi động về kinh tế chống một nước Nga đang suy thoái nhưng vẫn còn có một đòn bẩy quân sự quan trọng tại Trung Á. Rõ ràng trước mắt Nga vẫn còn thế mạnh nhưng vì kinh tế ốm yếu, nên vị trí của nó tại khu vực này không được vững chắc về lâu dài.

Lúc này Nga đang bảo vệ chặt chẽ những đặc quyền về chính trị và quân sự của mình tại khu vực Trung Á. Thí dụ, đài phát thanh Almaty cuối năm 1992 đưa tin “người ta chờ đón một Hiệp ước về hợp tác và viện trợ quân sự giữa Kazakhstan và Trung Quốc sẽ được ký trong tương lai gần”. Nhưng rồi người ta không còn nghe thấy nói gì hơn về một hiệp ước như thế. Lời giải thích là, Nga hiển nhiên đòi quyền phê chuẩn bất kỳ quan hệ quân sự nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á. Thí dụ, khi Trung Quốc thảo luận với các nước Cộng hòa Trung Á về việc xác định đường biên giới, giảm số quân và các biện pháp xây dựng lòng tin, thì Nga khăng khăng đòi được có mặt. Thế là Trung Quốc phải gặp một đoàn đại biểu hỗn hợp bao gồm cả ba nước láng giềng Trung Á lẫn Nga mà thực tế nước Nga là nước dẫn đầu đoàn đại biểu và có thể ngăn cản bất kỳ thỏa thuận nào giữa Trung Quốc với các nước Cộng hòa Trung Á mà họ phản đối. Đó là thông lệ từ 1993 cho tới gần đây nhất vào tháng 3/1994. Chỉ mãi đến tháng 1/1994 Bộ trưởng Quốc phòng Kazakhstan mới thu xếp được việc viếng thăm Trung Quốc.

Theo các phương tiện thông tin tiếng Nga thì, lo lắng của nước Nga về vai trò của Trung Quốc ở Trung Á đang tăng lên. Trong mấy tháng vừa qua đã có nhiều bài viết công kích sự có mặt gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt tại Kazakhstan. Hầu hết những công kích đó dường như xuất phát từ phía người Nga chứ không phải từ phía người Kazakh. Các bài viết vẫn mang giọng văn kiểu cũ, một kiểu tuyên truyền về chủng tộc da vàng. Điển hình có một bài, trừ một điều là nó được đăng trên tạp chí tiếng Kazakh, tuyên bố: “Không còn là điều bí mật, những người Trung Quốc đang tràn vào Kazakhstan như trở về nhà tương lai của họ và đang mua… đàn bà Kazakh… Người Trung Quốc… đặc biệt quỷ quyệt, khách sáo giả dối, (và)… đang thận trọng thực hiện các kế hoạch đã được định ra cho hàng bao thế kỷ. Mọi dấu hiệu đều cho thấy là Trung Quốc sẽ rất thận trọng làm sao không hành động quá tay hoặc sử dụng ồn ào đòn bẩy kinh tế nhằm đạt tới những lợi ích chính trị hoặc chiến lược rõ ràng. Thay vào đó, họ dường như sẵn sàng để mặc cho mâu thuẫn giữa sức mạnh kinh tế của Trung Quốc với yếu kém về kinh tế của Nga diễn tiến theo trình tự của nó. Thí dụ, đề nghị của Trung Quốc về xây dựng đường ống dẫn dầu để đưa dầu từ Trung Á vào Trung Quốc hầu như chắc chắn sẽ bị cản lại bởi một nước Nga lo ngại Trung Quốc và từ lâu vẫn coi dự trữ dầu lửa Trung Á là sở hữu của mình. Nhưng nếu Nga cản trở việc này cũng như các dự án khác về “con đường tơ lụa” thì sẽ làm cho các nhà lãnh đạo Trung Á xa lánh hơn nữa, vì đương nhiên họ ủng hộ bất kỳ dự án nào có thể thúc đẩy kinh tế trong nước của họ tăng trưởng. Bởi vậy cho dù các dự án được đề xuất có được thực hiện hay không thì Trung Quốc vẫn cứ cải thiện được vị trí của họ ở Trung Á và Liên Xô dường như sẽ thua.

Kết luận

Tháng 9/1993 có cuộc họp của những người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính quyền thuộc năm đơn vị cấp tỉnh vùng Tây Bắc trung Quốc, được tổ chức ở Urumchi. Tin tức cho biết các nhà lãnh đạo được thúc giục bởi hàng loạt cơ hội tại tiền duyên Tây Bắc Trung Quốc: phát triển thương mại và giao thông quốc tế, ký kết các hợp đồng dự án và lao động tại các nước láng giềng và lập doanh nghiệp cũng như phát triển các phương tiện du lịch ở nước ngoài. Có báo cáo nói rằng, “các nhà lãnh đạo nhất trí rằng khu Tây Bắc cần phát huy hết lợi thế vị trí địa lý của nó, thực hiện mở cửa đối với các nước, các khu vực phía Tây cảu miền Tây Bắc Trung Quốc, liên kết xây dựng một hành lang quốc tế vĩ đại tại miền Tây Bắc và liên kết tiến về phía Tây”. Đó là tư thế lạc quan, có khát vọng và hướng ngoại đồng thời cũng tiêu biểu cho những biện pháp tiếp cận của một Trung Quốc ngày thêm hung mạnh đối với các nước láng giềng, không riêng ở Trung Á, mà gồm cả Nam và Đông Nam Á.

Kết quả cho thấy Trung Quốc đang gia tăng nhanh chóng ảnh hưởng của nó đối với cả ba khu vực láng giềng. Và điều đặc biệt đáng ghi nhận là những bước tiến của Trung Quốc ở cả ba khu vực đều mang tính hòa bình, kinh tế, không cưỡng chế. Thực vậy, các nước láng giềng nhiệt thành với thành quả mà Trung Quốc thu được trong phát triển kinh tế nhiều khi còn tỏ ra hăng hái hơn so với bản thân Trung Quốc trong việc xúc tiến xu thế này. Vào thời điểm hiện thời, các phần tử quân sự của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc trong các khu vực nói trên chỉ là thấp thoáng, không lộ mặt. Trước hết, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ với các nước như Myanmar và Thái Lan thông qua việc bán cho họ trang thiết bị quân sự với điều kiện rất thuận tiện. Hai là, Trung Quốc tiếp tục công cuộc phát triển nhanh chóng về quân sự, nhằm giúp vào việc ngăn cản các nước khác thự chiện phản ứng  bằng quân sự đối với sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc.

Điều chúng ta có thể được chứng kiến là những giai đoạn đầu của bước chuyển phần lớn lục địa châu Á về với một trạng thái “tự nhiên” hơn đã từng thịnh hành qua các thế kỷ trước. Vào lúc cực thịnh, các triều đại thống trị Trung Quốc trị vì một hệ thống các quốc gia chư hầu. Dưới chế độ đó, các nước láng giềng cơ bản là độc lập và không có quân lính Trung Quốc chiếm đóng vẫn phải dâng “cống vật” lên Bắc Kinh để thừa nhận bá quyền của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần VI


Hơn nữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc thở phào nhẹ nhõm vào đầu năm 1992 khi đi đến kết luận rằng chủ nghĩa dân tộc đại Turkic cũng như Hồi giáo hiếu chiến xem chừng đều không thể lan tràn khắp các nước Cộng hòa Trung Á. Như vậy có nghĩa không còn lực lượng nào là mối đe dọa nghiêm trọng và trực tiếp đối với Tân Cương. Tầng lớp lãnh đạo chóp bu “thế tục” của năm nước Cộng hòa đã tỏ rất rõ thái độ thù địch đối với Hồi giáo hiếu chiến.

Ngay cả lúc nỗi lo của Trung Quốc đối với Trung Á lên cao vào thời kỳ 1989 – 1991, thì các nhà chức trách Tân Cương cũng đã phát triển từ từ và vững chắc mậu dịch biên giới cùng các quan hệ khác với các nước Cộng hòa Trung Á, lúc ấy còn là một bộ phận không thể chia cắt của Liên Xô. Nhưng một khi các nước Cộng hòa đó hoàn thành độc lập và chủ quyền có tính pháp lý vào cuối năm 1991, thì một giai đoạn đã mở ra cho Bắc Kinh thiết lập mối quan hệ nhà nước với nhà nước và hình thành một chính sách Trung Á có tham vọng hơn và tiến xa hơn. Tin tưởng rằng vào lúc này Trung Quốc không còn gáip mặt với bất kỳ mối nguy nghiêm trọng và trực tiếp nào đến từ Trung Á, Trung Quốc nhận định rằng dầu sao đi nữa họ vẫn có lợi ích quốc gia trong việc gia tăng ổn định lâu dài và phát triển kinh tế của các nước Cộng hòa Trung Á. Bắt đầu vào thập kỷ 90, sau hơn một thập kỷ kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao, Trung Quốc giờ đây đã có thể cung cấp cho các nước Cộng hòa Trung Á yếu kém về kinh tế, các cơ may về thương mại lớn cũng như các số lượng vừa phải về vốn và công nghệ. Với cách làm đó Trung Quốc đang tăng cường nền kinh tế của các nước Cộng hòa và đáp ứng điều mà các nhà lãnh đạo Trung Á coi là nhu cầu cơ bản nhất của họ. Tầng lớp thượng lưu Trung Á không khao khát viện trợ văn hóa, ngôn ngữ hoặc tôn giáo mà cần phát triển kinh tế, Trung Quốc rõ ràng cũng đồng ý rằng phát triển kinh tế tạo cho khu vực cơ hội tốt nhất để hạn chế xung đột sắc tộc và tôn giáo trong tương lai.

Đương nhiên Trung Quốc có ý định xử sự tốt bằng cách làm lợi. Gia tăng mậu dịch và đầu tư ở Trung Á cũng có nghĩa gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc. Hơn nữa, do lợi ích chung vốn sẵn có ở trong giao dịch thị trường cho nên tất cả những cái đó đều có lợi cho inh tế nội địa Trung Quốc, nhất là cho Tân Cương ở kề bên. Thật vậy nhà cầm quyền trung ương nhận định rằng Tân Cương với vị trí chiến lược của nó là một trung tâm phát triển quan trọng. Tháng 9/1992, Thủ tướng Lý Bằng chủ trì lễ khai mạc Hội chợ thương mại lớn tại Urumchi, thủ phủ Tân Cương. Tuy thu hút 10000 nhà doanh nghiệp của 38 nước nhưng Hội chợ tập trung vào việc phát triển mậu dịch và các mối quan hệ khác giữa Tân Cương với các nước láng giềng Trung Á.

Tân Cương đang hấp dẫn sự quan tâm của cả các nhà đầu tư Hong Kong và Đài Loan. Có tin cho hay là một nhà doanh nghiệp Hong Kong đã xây dựng ở Horgos, thị trấn biên giới của Tân Cương, một trung tâm thương mại Quốc tế, trị giá 55 triệu USD, khoản đầu tư đó là một thí dụ nữa về lợi thế Trung Quốc sẵn có đối với Trung Á: Nó không chỉ có thể lợi dụng tài nguyên của kinh tế phồn vinh của đại lục, mà còn tiếp cận được vốn, công nghệ, và nguồn lực kinh doanh của Hong Kong và Đài Loan. Và không chỉ có thế, giới kinh doanh Hong Kong và Đài Loan còn có thể là cái cầu nối liền với thị trường tư bản thế giới và các công ty đa quốc gia.

Biện pháp tiếp cận lấy kinh tế làm cơ sở mới có của Trung Quốc có thể được người ta hiểu được đúng hơn, bằng cách trước hết xem xét những phát triển mạnh mẽ trong mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và Kyrgyzstan, kể từ năm 1991. Chúng ta cũng sẽ xem qua mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với nước láng giềng Trung Á trực tiếp thứ ba là Tajikistan. Mối quan hệ của Trung Quốc với Kazakhstan và với Kyrgyzstan đang được mọi người chú ý sát sao, không chỉ vì đó là mối quan hệ tiến bộ và rộng rãi nhất, mà còn vì các mối quan hệ đó cung cấp cho chúng ta những minh họa sâu rộng về toàn bộ phương pháp tiếp cận của Trung Quốc đối với Trung Á.

Kazakhstan

Tuy các số liệu thống kê còn xa mới gọi là đạt yêu cầu, song không còn gì khiến người ta nghi ngờ việc mậu dịch song phương của Trung Quốc với Kazakhstan đã tăng cao kể từ đầu năm 1992. Mặc dầu kinh tế của Kazakhstan vẫn còn suy thoái nhưng buôn bán song phương với Trung Quốc đã tăng trong năm 1993 từ 360 triệu USD năm 1992 lên 434 triệu USD và được gọi là năm cất cánh. Hãng Xinhua (Tân Hoa xã) đưa tin rằng cuối năm 1992, 50% hàng tiêu dùng nhập khẩu của Kazakhstan – chủng loại rộng rãi bao gồm thực phẩm, quần áo và đồ dùng gia đình – đều từ Trung Quốc đến (Mùa Xuân năm 1993 phương tiện thông tin của Nga có những xác nhận bực dọc đối với sự kiện này). Những mặt hàng cơ bản nhất của Trung Quốc – như xà phòng, diêm, nồi nấu ăn được người dân châu Á nghèo ưa thích vì chất lượng và giá tiền.

Bằng chứng thêm nữa về mối quan hệ thương mại của Trung Quốc phát triển đối với Kazakhstan đã xuấ hiện trong một bản báo cáo 5/1992 cho biết “một mạng lưới các cửa hàng Trung Quốc đã được khai trương tại Kazakhstan”. Tháng 4 năm 1993, hãng Xinhua đưa tin rằng Trung Quốc đã thiết lập tại Kazakhstan 150 liên doanh nhỏ. Tháng 6/1992, người ta chứng kiến đoàn tầu đầu tiên chạy suốt chiều dài tuyến đường sắt nối Urumchi, thủ phủ Tân Cương với Alma Ata, thủ đô Kazakhstan. Việc xây dựng tuyến đường sắt đó đã bắt đầu từ năm 1956! Tháng 11 năm 1993 Tổng thống Kazakhstan Nursultan Nazarbayev nói rằng năm ngoái đã có 15.000 đoàn tàu (có thể là 15.000 toa tàu) đã chạy từ Kazakhstan tới Trung Quốc và ngược lại. Có nghĩa là khoảng 2 triệu tấn hàng và tổng số 670.000 hành khách. Cũng trong lần trả lời phỏng vấn đấy ông còn nói một cách sôi nổi về một tuyến gồm hai làn đường nối Trung Quốc qua Kazakhstan tới phương Tây.

Hiển nhiên có nhiều cử tri ở cả Trung Quốc lẫn ở Kazakhstan ủng hộ mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai nước trên hầu hết các lĩnh vực. Bằng chứng về việc này xuất hiện sau cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Lý Bằng và Thủ tướng Kazakhstan Tereshchenko tại Bắc Kinh vào tháng 2 năm 1992. Thông cáo chung ghi nhận rằng các Hiệp nghị đã được ký thuộc các lĩnh vực mậu dịch, hợp tác khoa học và công nghệ, giao thông và vận tải, trao đổi nhân sự và thành lập ủy ban liên hợp phát triển hơn nữa các mối quan hệ.

Kyrgyzstan

Sự hiện diện về kinh tế của Trung Quốc ở Kyrgyzstan còn lớn hơn nữa. Kyrgyzstan cũng có chung biên giới với Tân Cương. Bốn tháng sau khi Trung Quốc và Kyrgyzstan thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 1/1992, Tổng thống Askar Akayev thăm Bắc Kinh. Hiện nay Trung Quốc đã có sứ quán chính thức ở Bishkek. Mùa hè năm 1993 các quan chức cấp cao Trung Quốc và Kyrgyzstan viếng thăm thủ đô của nhau.

Nhưng chính bình diện kinh tế mới là nơi có các mối quan hệ giữa hai bên phát triển mạnh mẽ. Thực vậy có thể nhận định rằng nền kinh tế Kyrgyzstan sẽ do Trung Quốc chi phối vào trước cuối thập kỷ này. Trung Quốc đã thiết lập một khu thương mại tự do tại thành Naryn. Tại thủ đô Bishkek, người Trung Quốc mua một số lượng đáng kể bất động sản. Trung Quốc cũng cử chuyên gia nông nghiệp và các ngành khác làm việc tại Kyrgyzstan.

Mậu dịch giữa hai nước phát triển mạnh. Các mặt hàng tiêu dùng cơ bản của Trung Quốc – như thực phẩm, quần áo và hàng điện tử đơn giản – tràn vào Kyrgyzstan. Nhằm khích lệ xu thế này, Trung Quốc đã cho vay tín dụng 5,7 triệu USD. Có thời kỳ Trung Quốc nhập khẩu các mặt hàng công nghiệp như thép cán, thép tấm, phân bón và đồng. Số các phương tiện thông tin đại chúng bằng tiếng Nga tại Moscow, buộc tội rằng có nhiều thứ trong số các mặt hàng đó thực tế là các mặt hàng tái xuất, vốn mua được với giá hạ tại một nơi nào trong cộng đồng các quốc gia độc lập, rồi sau đó bán lại cho Trung Quốc với giá thị trường thế giới. Trung Quốc cũng mua điện của Kyrgyzstan.

Tháng 8/1992, Trung Quốc đề nghị thăm dò khả năng khai thác bốn con song mà Tân Cương với Kyrgyzstan cùng chia nhau nguồn nước. Tới tháng 1/1993 hai nước đạt Hiệp nghị cùng xây dựng công trình chứa nước trên song Horgos dọc biên giới. Văn kiện có ý nói, cần phải theo đuổi mọi lợi ích tiềm tang của dòng song – tưới, thủy điện, kiểm soát lũ và vận chuyển. Tất cả các đề nghị đó đều phải được xem xét kỹ lưỡng về các mặt có liên quan đến chính trị. Nước là nguồn quý hiếm, cốt tử tại Trung Á và mâu thuẫn giữa những người sử dụng trên thượng nguồn và hạ lưu luôn là vấn đề nghiêm trọng. Trên thực tế vào lúc đó chỉ tồn tại một vấn đề tức thời, Trung Quốc có thể mâu thuẫn với một hoặc hơn trong số các nước Trung Á. Các nhà phân tích tin rằng một căn nguyên mâu thuẫn có thể xuất phát từ một thỏa thuận phát triển dòng song giữa Trung Quốc và Kazakhstan hoặc Kyrgyzstan, vì nó sẽ làm tổn hại lợi ích cảu những người sử dụng ở hạ lưu như Uzbekistan.

Tajikistan

Tuy một phần đất của Tajikistan vẫn đang còn trong rối loạn, buôn bán với Trung Quốc từ điểm khởi đầu ít ỏi đã được gia tăng nhanh chóng. Tổng doanh số buôn bán hai chiều năm 1992 chỉ vỏn vẹn 2,7 triệu USD nhưng bốn tháng đầu năm 1993 tăng tới 4,4 triệu USD. Có thể hiểu được, khi người lãnh đạo cấp cao của Tajikistan – Emmamali Rakhmanov thăm chính thức Trung Quốc tháng 3/1993, rằng hầu như hết thảy những tham khảo chính thức về mối quan hệ kinh tế giữa hai nước đều được viết ở thể tương lai. Trung Quốc cho Tajikistan vay một khoản nhân dân tệ trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan vay một khoản NDT trị giá 5 triệu USD để mua các mặt hàng thực phẩm và tiêu dùng. Trung Quốc còn cho Tajikistan thực phẩm nhân đạo và viện trợ y tế trị giá xấp xỉ 500.000 USD. Khoảng thời gian 1992 – 1993 hai nước đã ký 10 Hiệp định hợp tác. Trong số các điều khoản của hiệp định có điều khoản đề nghị thành lập các liên doanh Tajik – Trung Quốc chế biến bông. Có một hiệp định được k1y về việc thành lập một xưởng nhuộm Trung Quốc tại một nhà máy dệt của Tajikistan.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần V


Hiệp định đưa đến một số bất trắc mới. Một số quan chức và trí thức tại hai nước kêu gọi Trung Quốc và Ấn Độ hãy phát triển lập trường chung đối với các vấn đề quốc tế, hàm ý trong hầu hết trường hợp sẽ chống chính sách của Mỹ. Tuy nhiên do lịch sử nghi kỵ lâu dài giữa Trung Quốc và Ấn Độ, triển vọng trông chừng cũng chỉ vừa phải.

Hiệp định Trung Quốc – Ấn Độ gây nỗi lo lắng cho các nước láng giềng của Ấn Độ. Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham viếng thăm ba nước láng giềng Nam Á quan trọng nhất của Ấn Độ – Pakistan, Bangladesh và Sri Lanka – vào cuối tháng 2 và đầu tháng 3 năm 1994 trong một hành trình bao gồm cả Iran và Maldives. Hiển nhiên mục đích đầu tiên của ông nhằm làm yên lòng ba nước láng giềng trực tiếp của Ấn Độ là hòa giải của Trung Quốc với Ấn Độ không có nghĩa Trung Quốc ủng hộ bá quyền của Ấn Độ đối với Nam Á. Việc này hiển nhiên cũng thúc giục Bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ, Dinesh Singh, hối hả đến Tehran, gặp Tiền vào trước lúc ông này quay trở về Bắc Kinh. Tóm lại, dường như Trung Quốc đang ở vào địa vị có thế lực được mọi nước Nam Á lấy lòng!

Hiệp định Trung – Ấn tháng 9 có thể bao gồm một số giao dịch phụ không công bố. Chẳng hạn, Ấn Độ dường như chấp thuận ảnh hưởng của Trung Quốc gia tăng ở Nepal, một điểm gay cấn từ nhiều năm nay. Một tháng sau Hiệp định, người ta thông báo: Trung Quốc mở thêm ba cửa khẩu tại biên giới Tây Tạng – Nepal, nhằm phát triển mậu dịch biên giới và du lịch. Trước đó ở đấy chỉ có một cửa khẩu như vậy, Tây Tạng, trong một động tác cũng có thể có liên quan, trước thời điểm đó đã mở một văn phòng liên lạc thương mại tại Kathmandu.

Tại Bangladesh vào năm 1994, Trung Quốc bày tỏ họ có nguồn lực kinh tế để xây dựng một dự án viện trở nước ngoài theo kiểu Nhật Bản. Và Trung Quốc sẽ bỏ ra 200 triệu USD để xây dựng ở Bangladesh một mỏ than được lắp đặt toàn bộ thiết bị khai thác mỏ của Trung QUốc. Đây là loại dự án mà người ta từng trông đợi ở người láng giềng kề bên Bangladesh là Ấn Độ tài trợ, giá như Ấn Độ đã có thể phát triển được một nền kinh tế mạnh mẽ và hướng ngoại

Mối quan hệ của Trung Quốc với Pakistan đã được người ta viết tới từ nhiều năm nay. Ở đây không cần thiết điểm lại lịch sử mối quan hệ đó, trải qua những thay đổi hay thăng trầm của chính trị hai quốc gia. À cũng sẽ chưa chin muồi để đánh giá tác động của Hiệp định Trung – Ấn ký tháng 9/1993 đối với Pakistan. Mối quan hệ về quân sự vẫn được duy trì chặt chẽ, mặc dầu chưa mang đặc trưng là một liên minh. Người ta có thể giả thiết, dựa trên những bằng chứng sẵn có cùng với những tố cáo của chính phủ Hoa Kỳ, Trung QUốc qua nhiều năm vẫn tiếp tục trợ giúp chương trình vũ khí hạt nhân và kỹ thuật tên lửa cho Pakistan. Bằng chứng cho thấy mối quan hệ quân sự giữa hai bên vẫn được duy trì chặt chẽ sau khi có Hiệp định Trung – Ấn là thông báo được công bố vào tháng 3/1994 về việc Trung Quốc thỏa thuận chuyển giao cho Pakistan “năng lực chế tạo xe tăng hiện đại như MBT-2000 và pháo tăng nòng trơn 125 mm”.

Trung Quốc và Pakistan vẫn phát triển từ từ một mối quan hệ kinh tế trong lĩnh vực quân sự. Trong hầu hết trường hợp, hợp tác của họ có ảnh hưởng cụ thể về chiến lược. Thí dụ, Trung Quốc cam kết chi 40 triệu USD để xây dựng trường trục tại Pakistan. Và người ta đưa tin rằng hai bên cùng cam kết phát triển đường trục Karakoram ở độ cao, nối liền Pakistan với Tân Cương (Trung Quốc) làm thành tuyến đường trong mọi thời tiết. Tuyến đường này tiềm tang ý nghĩa quân sự quan trọng.

Sau hết, Trung Quốc đưa ra đề nghị tham dự trong các liên doanh chế tạo hàng công nghiệp nhẹ tại Pakistan, sản xuất đồ điện, máy bơm và thực phẩm đóng gói. Trung Quốc “gợi ý” sản phẩm làm ra sẽ được xuất khẩu và ngoại tệ thu về sẽ được “đầu tư cho khu vực quốc phòng” – nói cách khác, để mua trang thiết bị quân sự hoặc công nghệ sản xuất của Trung Quốc. Một lần nữa điều đáng chú ý ở đây là Trung Quốc có cơ sở công nghiệp và của cải khiến các đề nghị kiểu như thế trở thành thực tế và có khả năng thực hiện.

Lợi ích của Trung Quốc tại Trung Á

Chính Trung Á là nơi hội tụ của hai sự kiện có tính lịch sử to lớn đang diễn ra tại Đại lục Á – Âu. Một là đế chế Nga và chế độ Cộng sản Xô viết tiếp tục sụp đổ, hai là kinh tế Trung Quốc cùng với lực lượng quân sự tăng trưởng nhanh chóng – một xu thế dường như chắc chắn biến Trung Quốc thành một siêu cường phát triển đầy đủ vào đầu thế kỷ tới. Ảnh hưởng của sự kiện thứ nhất đối với Trung Á được người ta thảo luận rộng rãi và xem xét kỹ càng. Trong khi đó, ảnh hưởng của sự kiện thứ hai đối với khu vực này chỉ mới đây mới được người ta nói đến. Quả thực, đợt phân tích thứ nhất về hậu quả quốc tế của sự xuất hiện “năm nước châu Á mới độc lập” chỉ mới được bàn đến qua loa, nếu không nói là không hề, trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nhưng giờ đây, rõ ràng một Trung Quốc năng động về kinh tế, đang lên về quân sự, cần phải được coi là một vai chính trong khu vực chỉ sau nước Nga.

Kể từ lúc Liên Xô bắt đầu tan rã, lợi ích của Trung Quốc ở Trung Á đã được người ta nhiều lần xác định đúng, như một nhà quan sát khái quát, “chủ yếu nhằm phòng ngừa, ngăn không cho sự bất ổn tràn vào vùng Turkestan của Trung Quốc”, là khu tự trị Uighur Tân Cương mà bất chấp tên gọi của nó, nó vẫn là một khu vực của Trung Quốc do Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ. Theo nghĩa hẹp thì việc miêu tả đặc điểm của mối quan tâm của Trung Quốc đối với Trung Á như đã được nêu là chính xác. Các nhà cai trị Trung Quốc qua các thế kỷ đều coi Tân Cương là một vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. Ngay trong thế kỷ này người ta đã chứng kiến nhiều lần những người Hồi giáo Turkic Tân Cương mưu toan giành độc lập thực sự khỏi Trung Quốc. Mới đây nhất từ 1989 đến 1991, tình trạng bất ổn thỉnh thoàng đạt tới mức nghiêm trọng, và đôi khi dẫn đến những cuộc khởi nghĩa, trong số các thành phần Hồi giáo Turkic.

Chỉ đến khi nhìn lại sự việc mới có thể thấy là nhà đương cục Trung Quốc cũng như các nhà phân tích có thể đã đánh giá quá mức ý nghĩa của những vụ bạo loạn đó. Hiện giời người ta không còn nghi ngờ nhiều về việc người dân Trung Quốc đã phản ứng quá mức. Nhưng nếu cộng với các sự kiện khác xảy ra đồng thời với các vụ bạo loạn, thì phản ứng của Trung Quốc lại là điều hoàn toàn có thể hiểu được. Mùa Xuân 1989, có một sự kiện nổi bật là các cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn và chúng kết thúc bằng bạo lực ngày 4 tháng 6. Và bây giờ chúng ta được biết, chỉ đến cuối 1991 lãnh đạo Trung Quốc mới thật sự khôi phục được thăng bằng và lòng tự tin. Đồng thời Liên Xô tiếp tục tan rã, dẫn tới các tiên đoán: chủ nghĩa Lenin bại vong khắp mọi nơi, kể cả ở Trung Quốc. Cùng với việc Liên Xô chính thức tan vỡ vào tháng 12/1991 tiếp theo thất bại của cuộc đảo chính do những người theo đường lối cứng rắn khởi sự vào tháng 8 trước đó, rồi 5 nước Cộng hòa Trung Á rút cuộc tách ra. Sự thể diễn ra như vậy khiến các nhà phân tích trong phạm vi thế giới có ý kiến cho rằng tình hình Trung Á không chỉ bất ổn mà còn biến hóa khôn lường. Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi bị tác động bởi tin tức đó, nhất là vào lúc bạo loạn ở Tân Cương ngầm cho thấy các lực lượng nhiễu loạn ở Liên Xô trước đây dầu sao cũng đã nhảy cóc, vượt sang biên giới. Quan chức Tân Cương công khai thừa nhận rằng họ lo ngại về ảnh hưởng của việc Liên Xô tan rã, vì vậy binh lính Trung Quốc được đưa lên tăng cường biên giới Tân Cương, lúc ấy còn là với Trung Á của Xô viết.

Đã có nhiều yếu tố cộng thêm sự việc những người ủng hộ công cuộc cải cách được phục hồi về chính trị đã giúp vào việc làm sáng tỏ lý do vì sao nhà cầm quyền Trung Quốc không kéo dài thêm nữa cảnh giác đề phòng trước tình hình Tân Cương và Trung Á. Một là làn sóng bạo loạn Hồi giáo giảm đi. Tình hình này có lẽ phần lớn nhờ ở Trung Quốc từng có chính sách lâu dài đối với vấn đề dân tộc thiểu số. Kể từ năm 1949, trừ thời kỳ cuộc đại nhảy vọt và cách mạng văn hóa, thì chính sách dân tộc thiểu số của Trung Quốc đã được người ta đưa ra thảo luận, xem như không phải là vấn đề êm dịu nhất mà thuộc số các vấn đề phức tạp nhất trên thế giới. Bắc Kinh một mặt cố tình không để ai nghi ngờ họ sẵn sàng sử dụng vũ lực dập tắt bất kỳ cái gì có hơi hướng ly khai dân tộc, mặt khác Bắc Kinh tiếp tục vận động người Hán di chuyển lên Tân Cương và các vùng dân tộc thiểu số khác, nhằm làm cho tỉ lệ số dân nghiêng về phía ngườI Hán. Tuy điều tra dân số chính thức của Trung Quốc công bố rằng người Hồi giáo Turkic chiếm 60% số dân, nhưng thực tế bây giờ họ chỉ bao gồm một nửa cư dân Tân Cương.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần IV


Việt Nam

Là nước duy nhất ở Đông Nam Á bán đảo có các đảo trong vùng Biển Nam Trung Hoa, Việt Nam do vậy phải đối mặt với mối quan hệ chưa được giải quyết với Trung Quốc một cách chính thức, năm 1993 quan hệ với Trung Quốc vẫn còn gây cấn, với vấn đề quần đảo ở vùng Biển Nam Trung Hoa thỉnh thoảng vài ba tháng lại nổi lên. Nhưng đồng thời quan hệ trao đổi kinh tế vãn tiếp tục tăng. Qua hơn một năm sau khi mở lại ba cửa khẩu biên giới vào cuối năm 1992, mậu dịch chính thức cũng như buôn lậu cả hai bên đều tăng lên. Tác động của việc gia tăng buôn bán của Trung Quốc mới chỉ tập trung vào miền Bắc, là nói một số nhà sản xuất hàng tiêu dùng Việt Nam đang bị cạnh tranh bởi các sản phẩm hàng hóa của Trung Quốc giá rẻ hơn mà chất lượng tốt hơn.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam đứng trước một điều nan giải là nếu họ tiếp tục tự do hóa và thị trường hóa nền kinh tế, thì sẽ dẫn đến một kết quả là làm tăng quyền lực của tầng lớp doanh nghiệp Việt Nam gốc Trung Quốc với các thành viên có lợi ích vật chất trong việc tăng cường quan hệ với Trung Quốc. Thực vậy, tính quả quyết tăng lên rõ rệt của giới các nhà kinh doanh và chính trị Việt Nam người gốc Trung Quốc có lẽ cũng là một dấu hiệu cho thấy ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc.

Trung Quốc không ngừng thực hiện mưu đồ nhắc nhở Việt Nam rằng giờ đây họ có sức mạnh kinh tế và quân sự để quyết định tiến trình quan hệ. Thí dụ, Trung Quốc cho phép thăm dò dầu khí ngay tại các khu vực đã có các nhà thăm dò khác được Việt Nam cho phép đang tiến hành công việc. Xem ra Trung Quốc cũng ngầm đồng tình với việc những người có vũ trang trên các con tàu Trung Quốc hoạt động trên vùng biển quốc tế tiến hành quấy rối các tàu chở hàng chạy trên tuyến Hong Kong – Việt Nam. Trên thực tế, vị trí chiến lược của Việt Nam quá yếu, đến mức khiến Trung Quốc có thể hành động từ từ, và nếu muốn, có thể khá nhẹ nhàng, trong mưu toan không thể ngăn cản được, thiết lập bá quyền đối với Việt Nam. Trung Quốc có thể tiếp tục chi cho việc phát triển lực lượng quân sự trên chiến trường biển Nam Trung Hoa, dựa vào kinh tế phồn vinh của mình và nguồn vốn quốc tế mà họ đang không ngừng được tiếp cận. Ngược lại, một Việt Nam bị cô lập gặp khó khăn bởi nền kinh tế eo hẹp và thiếu bảo trợ quốc tế, đang buộc phải xoay xở với một lực lượng quân sự đang giảm về quy mô và không thể mua sắm trang bị mới.

Trong phần này chúng tôi chủ yếu tránh không đưa ra số lượng mậu dịch của Vân Nam với Đông Nam Á bán đảo. Bởi vì các số liệu lưu hành không đủ tin cậy và ở mức thấp hơn nhiều so với con số thực. Nguyên nhân vì phần đáng kể hàng xuất khẩu của Trung Quốc là theo đường bộ, gồm hàng buôn lậu hoặc khai bớt giá trị để trốn thuế Trung Quốc và thuế quan cao cùng các hàng rào thương mại khác do các nước nhập khẩu hàng định ra. Vân Nam mới đây đã đưa tin rằng mậu dịch biên giới hai chiều của họ với Myanmar, Lào và với Việt Nam năm 1993 là khoảng 400 triệu USD, tăng 27% so với 1992. Riêng con số đó cũng đã là đáng kể, nhưng con số thực rất có thể là 1 tỷ USD. Và “mậu dịch biên giới” theo định nghĩa của Trung Quốc vốn chỉ bao gồm một phần trong toàn bộ thương mại đi qua một biên giới cụ thể. Chẳng hạn, xấut khẩu, nhập khẩu do một Công ty thương mại nhà nước bảo trợ sẽ không bao gồm trong đó. Hơn nữa các thương nhân Trung Quốc tại Đông Nam Á vốn giữ bí mật về các hoạt động và của cải của họ – và chắc chắn cũng bao gồm cả đầu tư của họ ở nước ngoài. Tại Trung Quốc, các quan chức địa phương đồng tình, ủng hộ họ giữ gìn bí mật. Do vậy chúng tôi không dám chắc được số lượng vốn của Thái Lan dựa vào Trung Quốc là bao nhiêu.

Các mối quan hệ của Trung Quốc với Nam Á

Kinh tế đang trỗi dậy của Trung Quốc cũng được chứng minh là có ý nghĩa chiến lược đối với cả Nam Á. Tuy nhiên cho đến nay, ảnh hưởng của sức mạnh kinh tế Trung Quốc đối với Nam Á là rất khác về tính chất so với ảnh hưởng của nó đối với Đông Nam Á. Nói chung các mối quan hệ về mậu dịch và kinh tế khác giữa Trung Quốc với hầu hết Nam Á từ lâu nay tối đa chỉ đạt mức khiêm tốn. Đúng chú ý hơn cả là tình hình thiếu các mối quan hệ kinh tế lớn do hai nước khổng lồ châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ bị ngăn cách bởi dãy Himalayas và bởi ký ức cay đắng về cuộc chiến tranh năm 1962. Thực tế, trong tương lai gần vẫn chưa có triển vọng gì về bất kỳ một quốc gia Nam Á nào có năng lực phát triển sự trao đổi kinh tế sâu rộng giống như mối quan hệ hiện thời của Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á bán đảo. Mặc dầu có một số phát triển lý thú trong mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với Pakistan, Bangladesh (xem phần dưới) nhưng mối quan hệ này vẫn còn thua kém nhiều về tầm cỡ.

Tuy nhiên một Trung Quốc năng động về kinh tế với một Ấn Độ yếu kém về kinh tế được đặt nổi bật bên cạnh nhau tự nó đã trở thành cốt lõi của sự thay đổi lớn, có tính lịch sử trong mối quan hệ của Trung Quốc với Nam Á mới được bắt đầu. Ở đây chưa phải dịp điểm lại những lựa chọn chính sách kinh tế tai hại của Ấn Độ trong thời gian 40 năm qua, chưa kể những lựa chọn chính sách xã hội và đối ngoại cũng không kém phần tai hại. Nhưng khi Trung Quốc và Ấn Độ bước vào thế giới sau Chiến tranh Lạnh, thì cũng là lúc sự đối chọi ầm ĩ một thời gian giữa hai nước khổng lồ châu Á, từng tiêu biểu nổi bật cho các chiến lược chính trị, kinh tế khác nhau cũng qua đi. Trung Quốc thắng. Trung Quốc đã vượt trước Ấn Độ về mọi số đo phát triển kinh tế và xã hội. Và mặc dầu Ấn Độ có thể tự hào với nền Dân chủ tuyển cử của mình, song vẫn còn điều tranh luận: giữa một dân thường người Ấn Độ và một dân thường người Trung Quốc so với nhau thì ai được hưởng các quyền tự do hàng ngày nhiều hơn?

Tuy Trung Quốc không tuyên bố công khai thắng lợi, nhưng đối mặt với sự dẫn đầu của nó thì chưa ai vượt hơn được về mặt phát triển kinh tế cũng như về ưu thế quân sự. Trung Quốc bọc sườn Ấn Độ tại Myanmar (xem phần trên) và tại Pakistan là nơi Trung Quốc lâu nay vẫn cung cấp vũ khí cho kẻ thù chủ yếu của Ấn Độ. Thêm nữa, Ấn Độ còn bị giáng một đòn mạnh bởi sự sụp đổ của Liên Xô và chiến tranh lạnh kết thúc. Ấn Độ không còn được hưởng mọi lợi ích là đồng minh chiến lược trên thực tế với Liên Xô, như việc mua vũ khí hiện đại mà Ấn Độ được thanh toán bằng ngoại tệ yếu và hưởng một thị trường ưu tiên cho các mặt hàng xuất khẩu thiếu tính cạnh tranh của Ấn Độ. Và nó cũng không còn được trông mong ở Moscow là người bảo đảm tối hậu về an ninh cho mình đối với Trung Quốc. Tóm lại, Ấn Độ ở vào hoàn cảnh khó khăn cả về kinh tế, ngoại giao cũng như về quân sự, nên đã sững sờ khi được biết Trung Quốc tranh thủ được một khả năng mới: dựa vào kinh tế phát triển nhanh chóng của mình và nhân lúc Moscow thiếu hụt lớn về ngoại tệ, Trung Quốc mua được các hệ thống vũ khí chính xác của Xô viết, như máy bay quân sự Sukhoi-27 của Nga. Đồng minh trước kia của Ấn Độ cũng sẵn sàng bán các loại vũ khí đó cho Ấn Độ, hiềm nỗi Ấn Độ không có ngoại tệ mạnh.

Ấn Độ bị cô lập buộc phải tìm cách hòa giải với Trung Quốc – có lẽ “yêu sách hòa bình” mới là cách diễn tả chính xác hơn. Bởi vì người ta được biết trong một sự kiện có ý nghĩa mà nhiều người đã bỏ qua, đó là Ấn Độ rút cuộc ký một hiệp ước hòa bình vào tháng 9 năm 1993, chấp nhận thành quả lãnh thổ Trung Quốc thu được trong chiến tranh Trung – Ấn năm 1962. Ấn Độ thừa nhận trên thực tế họ không còn đủ sức mạnh kinh tế và quân sự để thách thức Trung Quốc. Không một quan chức nào của Ấn Độ cũng như của Trung Quốc tuyên bố công khai hoặc có lời nói bóng gió ám chỉ sự việc này. Ý kiến gần nhất với sự thật nghiệt ngã này là nhận xét của tờ India Today, một tập bán nguyệt san có tính độc lập và có uy tín, cho rằng: “Ấn Độ phải từ bỏ ảo tưởng duy trì một quân đội trên hai trận tuyến”.

Các nhà lãnh đạo Ấn Độ và Trung Quốc ngày 7/9/1993 ký tại Bắc Kinh một văn kiện có đầu đề: “Gìn giữ hòa bình và yên tĩnh dọc tuyến kiểm soát”. Văn kiện đề cập tới việc giảm quân số và tới các biện pháp xây dựng lòng tin dọc tuyến kiểm soát hiện tại ở các khu vực Aksai Chin và Arunachai Pradesh trên tiền duyên. Tuy hiệp định có một điều khoản, nhằm giữ thể diện, có nói tới các vòng đám phán trong tương lai, nhằm thiết lập một biên giới vững bền, nhưng một chuyên gia Ấn Độ có tiếng là thẳng thắn, tuyên bố Hiệp định đã thiết lập một biên giới thực tế nửa pháp lý và sẽ tồn tại ổn định không thời hạn. Công việc thương thuyết để phê chuẩn Hiệp định và làm rõ các chi tiết vẫn đang tiến hành, song cốt lõi của Hiệp định coi như không thay đổi.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09

Các mối quan hệ đang biến đổi của Trung Quốc với Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á – Phần III


Lào

Lào phần nhiều đi theo bước chân của Myanmar. Từ các thập kỷ trước, Trung Quốc đã khởi công làm đường ở Bắc Lào, chủ yếu nhằm mục đích quân sự, vào lúc Cộng sản Lào vẫn còn tranh chấp quyền lực. Nhưng đến nay các quan chức tỉnh Vân Nam khao khát tăng trưởng đang mưu tính thực hiện các bước đi dài, nhằm biến Lào thành mắt xích vận tải chủ yếu giữa Trung Quốc với Đông Nam Á bán đảo. Đúng như tờ Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (FEER) nhận thấy tháng 11 vừa qua, cách nhìn đó không phải của riêng Trung Quốc. Một số quan chức địa phương và các cơ quan như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá Lào đang hoàn thành vai trò là nhà ga đường trường và trung tâm dịch vụ giữa Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan trên các mặt, từ đường bộ, đường sắt và đường sông đến mạng lưới năng lượng và viễn thông. Tuy tác giả tờ FEER tiên đoán công cuộc này, nếu rút cuộc được thực hiện, cũng sẽ cần đến thời gian hàng thập kỷ, song các sự kiện mới đây cho thấy, tiên đoán của ông là quá thận trọng. Và sự chuyển biến mà ông diễn ta đang được triển khai.

Năm 1992, tàu thuyền bắt đầu chuyên chở thường xuyên hàng thương mại từ Vân Nam xuôi dòng Mekong tới đồng bằng Việt Nam, thực hiện giấc mộng xưa bị bỏ dở của thực dân châu Âu. Trung Quốc hiện đang thương thuyết với Lào cũng như với Myanmar và Thái Lan, nhằm thiết lập một quyền lực đường song bốn bên để tạo thuận lợi cho giao thông thương thuyền và bè mảng đã gia tăng trên dòng Mekong. Tháng 4 năm 1994 đánh dấu việc khánh thành theo kế hoạch cầu Mittraphap (Hữu nghị) bắc ngang song Mekong, nối Lào với Thái Lan. Cầu này cho phép chạy xe từ Côn Minh (Vân Nam) qua Lào (phần lớn chạy trên các tuyến đường do Trung Quốc xây dựng) đi tới bất kỳ nơi nào tại Thái Lan. Tới năm 1996 người ta sẽ có thể hoàn toàn chạy xe được trên các tuyến đường lát đá từ Bắc Kinh tới Singapore. Trước kia, khi công sản kiểm soát nước Làoo, họ đã nghe theo Việt Nam trên các vấn đề quốc tế lớn. Lào mới bắt đầu tách xa khỏi Việt Nam vào năm 1989, khi Việt Nam bị bao vây về kinh tế, ngoại giao và quân sự đã phải rút hầu hết quân đội và cố vấn của họ ra khỏi nước này. Tháng 12 năm 1990 Trung Quốc tin chắc Lào đã chuyển biến không còn vâng theo Việt Nam nữa và Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng chính thức thăm nước này. Kể từ đó, thương mại giữa Trung Quốc với Lào gia tăng và giữa hai nước bắt đầu thực hiện nhiều dự án liên doanh về khách sạn, một nhà máy gạch và chế tạo hàng công nghiệp nhẹ như dệt, ắc quy và giầy dép.

Trong tương lai gần, Việt Nam sẽ thấy là hầu như họ không còn có khả năng tái khẳng định sự ảnh hưởng quan trọng của họ đối với Lào. Hãy loại sang một bên những hạn chế của họ về chính trị, ngoại giao và quân sự, đơn giản là Việt Nam không có tài sản kinh tế để cạnh tranh với Trung Quốc trong việc tài trợ kết cấu hạ tầng và công nghiệp ở Lào. Còn kinh tế của Trung Quốc và của Vân Nam đang gia tăng với nhịp độ cao đến mức họ có thể dễ dàng tài trợ các dự án ở Lào. Một dấu hiệu về mối quan hệ được thắt chặt giữa Trung Quốc với Đông Nam Á bán đảo là bản báo cáo tháng 8 năm 1993 nêu rõ là Vân Nam hiện có các dự án về xây dựng trị giá 1,6 tỷ USD đang được thực hiện, phần lớn trong đó là nhằm nối liên Vân Nam với các láng giềng.

Thái Lan

Trong số các bản báo cáo mới đây từ Lào có một bản báo cáo hấp dẫn nhất khẳng định rằng có một số quan chức tỉnh biên giới (của Lào) tỏ ra có quan hệ gắn bó với các tỉnh láng giềng Trung Quốc và Thái Lan hơn là so với quan hệ của họ với Vientiane. Đó có thể là một định nghĩa thực tế nhất mà người ta có thể tìm thấy về phạm vi ảnh hưởng. Và người ta có thể dùng nó để nhắc nhở rằng giờ đây Trung Quốc và Thái Lan xem chừng đã đạt tới một sự cảm thông đi vào hành động về phạm vi ảnh hưởng của họ tại Lào. Nếu chiều hướng hiện thời còn tiếp tục, Trung Quốc sẽ chi phối miền bắc Lào, còn ảnh hưởng của Thái Lan sẽ lấn át trên hầu hết phần còn lại của đất nước này. Trừ khu vực phía Bắc, ảnh hưởng của Thái Lan sẽ ngang bằng với ảnh hưởng của Trung Quốc, nhưng nó sẽ đạt mức lớn nhất ở Nam Lào cũng như đương nhiên trên phần lớn dọc theo biên giới Thái – Lào. Sự hợp tác trong một số nỗ lực sẽ rất chặt chẽ. Chẳng hạn, các nhà doanh nghiệp Thái và Trung Quốc hiện đang thảo luận việc xây dựng những tuyến đường thu lệ phí tại Lào và Myanmar.

Thực vậy, một sự thỏa thuận giữa Trung Quốc và Thái Lan dường như xuất hiện để bao quát cả Đông Nam Á bán đảo. Ngoài nước Lào và, trên một mức độ hạn chế ngoài Myanmar ra, Trung Quốc và Thái Lan cũng tỏ ra có sự thỏa thuận về Campuchia. Thái Lan giờ đây đang gây ảnh hưởng lớn đối với khu vực phía Tây Campuchia, tức giáp giới Thái Lan. Sự ảnh hưởng củ Trung Quốc đối với chính phủ Phnom Penh đã tạo ra một lợi ích có tính lịch sử cho Thái Lan trong việc duy trì Campuchia làm khu đệm giữa bản thân họ với Việt Nam.

Xem chừng Thái Lan hoàn toàn yên tâm với những nỗ lực không ngừng của Trung Quốc nhằm khuất phục Việt Nam vốn là kẻ thù lịch sử không chỉ của riêng Trung Quốc mà còn của Thái Lan nữa. Những lời tuyên bố của Thái Lan ngầm có ngụ ý rằng với việc tiếp tục tăng cường mối quan hệ với Trung Quốc, Thái Lan có thể tin tưởng rằng Việt Nam không bao giờ còn có thể trở thành mối đe dọa được nữa. Có bằng chứng cho thấy là các nhà chiến lược quân sự Thái Lan đã đi đến kết luận: mối uy hiếp đến từ phía Bắc và hoặc từ khu vực bên kia song Mekong, tức Việt Nam, và chính phủ Trung Quốc, lần đầu tiên từ nhiều thế kỷ nay đã lùi xa về cơ bản. Trên thực tế, Tổng tư lệnh quân đội Thái Lan tuyên bố vào năm 1993 rằng ông không còn lo ngại bất kỳ sự đe dọa nào về quân sự do Trung Quốc gây ra. Và các nhà phân tích chiến lược Malaysia lo lắng rằng phương thức Thái Lan mua sắm thiết bị quân sự mới đây cũng gợi cho người ta suy nghĩ như vậy. Lúc này Thái Lan tỏ ra ít quan tâm thật sự tới những ý đồ của Trung Quốc tại miền Nam Trung Hoa – những ý đồ khiến các thành viên bạn bè của Thái Lan trong ASEAN thuộc Đông Nam Á quần đảo phải bận tâm sâu sắc. gợi ý của tất cả những điều vừa nói đó là sự điều chỉnh lớn trong tư duy chiến lược của Thái Lan cũng tức là sự đánh giá mới: Thái Lan và Trung Quốc có lợi ích chung và lâu dài tại Đông Nam Á. Điều kiện khiến cho Trung Quốc – Thái Lan có thể trở nên thân thiện là những cơ hội làm giàu của giới kinh doanh cả ở Trung Quốc cũng như ở khắp Đông Nam Á bán đảo. Ở Thái Lan không có những cảm nghĩ phức tạp như vẫn có tại Đông Nam Á quần đảo đối với các công ty địa phương do các nhà kinh doanh địa phương gốc Trung Quốc kiểm soát, tiến hành đầu tư tại Trung Quốc. Các quan chức Thái Lan cho rằng họ vẫn khích lệ xu thế này. Nhiệt tình của báo chí Thái Lan đối với mối quan hệ khăng khít về kinh tế Trung Quốc – Thái Lan cũng tỏ ra thuần nhất. Tuy không có những con số thật sự đáng tin cậy về đầu tư của Thái Lan ở Trung Quốc, song tập đoàn Charoen Pokphand (CP) loan báo là năm ngoái, tài sản của họ đã được mức 1,3 tỷ USD. Tập đoàn CP có ít nhất 39 xưởng thức ăn gia súc cộng với các trại gà hoặc lợn, hai nhà máy xe máy và một “đại doanh nghiệp bất động sản rộng tại Trung Quốc”. Họ còn có kế hoạch đầy đủ xúc tiến các Công ty bách hóa, nhà máy xe cơ giới, nhà máy lọc hóa dầu. Thực tế tất cả các công ty Thái Lan đầu tư tại Trung Quốc cũng giống như Tập đoàn CP đều do các tập đoàn doanh nghiệp người gốc Trung Quốc tại Bangkok kiểm soát.

Và người ta vẫn tin rằng các tập đoàn doanh nghiệp ấy ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ Trung Quốc – Thái Lan sẽ tiếp tục phát triển gắn bó, ngay tại Thái Lan, yếu tố Trung Quốc cũng đã tạo thêm lạc quan và phấn khởi đối với triển vọng kinh tế tại vùng xa hơn về phía Bắc. Thái Lan cũng như Trung Quốc đều đề cao tư tưởng về một “tứ giác kinh tế” bao quát vùng phụ cận Bắc Thái Lan, Tây nam Vân Nam, Đông nam Myanmar và các phần đất của Lào. Khu vực này, không kể Trung Quốc, được người ta biết đến nhiều hơn, so với vùng Tam giác vàng cùng với tiếng xấu về ma túy. Cái tên gọi “Tứ giác” còn tượng trưng cho mục đích đoạn tuyệt với quá khứ đó, dễ tạo nên một khu vực phát triển kinh tế đặc biệt. Các nhà kinh doanh và quan chức chính phủ đều nhận thấy triển vọng Chiang Rai, thành phố cực bắc của Thái Lan sẽ là trung tâm của các tuyến đường đi tới Myanmar và Lào, và qua các nước đó tới Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: TĐB 97 – 08 & 09