Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần cuối


Chính sách ngoại giao khôn khéo

Chuyên gia tại Viện nghiên cứu Takshashila Manoj Kewalramani cho rằng những điểm tương đồng này chỉ là bề nổi. Thực ra, phản ứng của Trung Quốc và Ấn Độ có nhiều khác biệt.

Nếu như Trung Quốc lên tiếng chỉ trích các biện pháp trừng phạt, đổ lỗi cho Mỹ và NATO gây ra cuộc khủng hoảng. Truyền thông của Bắc Kinh đưa thông tin sai lệch, ủng hộ các luận điểm của Moskva thì Ấn Độ tránh đề cập đến vai trò của NATO và muốn giảm thiểu tạo sự khác biệt lập trường với Mỹ. Thủ tướng Modi đã nói chuyện với tổng thống Ukraine Zelensky trong khi lãnh đạo Trung Quốc thì không.

Ấn Độ cũng tỏ ra gay gắt hơn với những cáo buộc tội ác chiến tranh của Nga. Đại sứ Ấn Độ tại Liên hợp quốc cho rằng thảm sát ở Bucha “đáng lo ngại” và kêu gọi mở điều tra. Đại sứ Trung Quốc thì lại kêu gọi các bên tránh đổ lỗi vô căn cứ.

Quan hệ Mỹ – Ấn phức tạp

Theo CNN, Mỹ nhận thấy rằng quan hệ giữa Nga và Ấn Độ đi theo một chiều hướng khác phương Tây. Ngoại trưởng Mỹ Blinken lưu ý rằng quan hệ này “đã phát triển trong nhiều thập kỷ vào thời điểm mà Mỹ không thể là đối tác của Ấn Độ”. Blinken  ám chỉ thời kỳ Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, dù Ấn Độ không chính thức tham gia.

Vào những năm 1970, Ấn Độ bắt đầu ngả về Liên Xô khi Mỹ bắt đầu hỗ trợ quân sự và tài chính cho láng giềng Pakistan. Đây cũng chính là thời điểm Liên Xô bắt đầu cung cấp vũ khí cho Ấn Độ. Cho đến nay, quốc gia Nam Á này vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Nga về thiết bị quân sự (50% vũ khí nhập khẩu từ Nga). Mặc dù Mỹ đã tăng cường hợp tác với Ấn Độ về an ninh và quân sự trong khuôn khổ nhóm “Bộ tứ” Quad (Nhật Bản – Mỹ – Australia – Ấn Độ), nhưng lại thua Nga khi Ấn Độ dùng vũ khí của Nga trong xung đột với Trung Quốc ở Himalaya.

Năm 2018, Ấn Độ đã ký một thỏa thuận vũ khí trị giá 5 tỷ USD với Nga, mua một hệ thống tên lửa phòng không, bất chấp thỏa thuận này có thể hiến New Delhi lãnh trừng phạt của Washington (theo một đạo luật trừng phạt đối thủ mà Mỹ đã áp dụng đối với Iran, Nga và Triều Tiên).

Do phụ thuộc vào vũ khí của Nga, Ấn Độ không dám lên tiếng tố cáo hành động xâm lược của Tổng thống Nga Vladimir Putin, mà thủ tướng Modi nhận là người bạn thân “đáng mến” (trong chuyến thăm của Putin tại Ấn Độ vào tháng 12/2021). Ngày 23/4, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ấn Độ không ngần ngại nói rằng, Ấn Độ muốn xây dựng tình hữu nghị với các nước phương Tây, nhưng cần một đối tác mạnh như Nga để bảo vệ đường biên giới và 1,3 tỷ dân của mình.

Theo tạp chí Foreign Policy, trong bối cảnh căng thẳng vẫn cao với Trung Quốc, Ấn Độ nhận thấy tầm quan trọng của Nga, không chỉ việc sẵn sàng cung cấp vũ khí mà mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc có thể giúp New Delhi kiềm chế Bắc Kinh hoặc Moskva có thể đứng ra làm trung gian hòa giải.

Thế trung lập của Ấn Độ

Tất cả những hành xử của Ấn Độ khiến quốc gia này nhận được ủng hộ từ tất cả các phe. Moskva vẫn muốn chơi với New Delhi và vẫn muốn bán dầu giá thấp cho Ấn Độ. Ngày 01/4/2022, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov đã gặp người đồng cấp ở New Delhi và hoan nghênh Ấn Độ không nhìn cuộc chiến Ukraine “một cách phiến diện”.

Mối quan hệ của chúng ta vẫn bền vững dù trải qua nhiều thời kỳ khó khăn trong quá khứ. Tôi không nghi ngờ về việc hai bên tôn trọng lẫn nhau và tìm kiếm sự cân bằng lợi ích, sẽ chiếm ưu thế trong quan hệ của hai nước trong tương lai.

Đối với phương Tây, quan hệ giữa hai bên ngày càng khăng khít từ khi Modi đắc cử năm 2014. Giao thương giữa Ấn Độ và Mỹ hằng năm đạt 110 tỷ USD, trong khi đó với Nga chỉ đạt 8 tỷ USD. Trong những năm gần đây, Ấn Độ cũng trở thành khách hàng lớn mua các thiết bị quân sự của Mỹ.

Ấn Độ cũng không muốn bị coi là đối tác nhỏ bé của phương Tây và tin rằng phương Tây cần mình hơn. Chính quyền New Delhi luôn nhắc nhở phương Tây rằng nước này dù sao thì cũng có Nga là đồng minh. Ấn Độ cho rằng dù nghiêng về phía nào cũng có được bảo đảm của phương Tây theo một mức độ nào đó. Ví dụ như, dưới thời chính quyền George W. Bush, Washington sẵn sàng chi mạnh tay cho một thỏa thuận hạt nhân để đáp ứng lợi ích của New Delhi, trong khi Ấn Độ đáp lại không đáng kể.

Qua cuộc chiến Ukraine, Ấn Độ nhận ra rằng phương Tây có thể thực hiện các cam kết đưa ra để giúp Kiev. Do vậy, sự ủng hộ của phương Tây rất quan trọng nếu xung đột Trung – Ấn xảy ra. Foreign Policy kết luận rằng canh bạc trung lập, bắt cá hai tay của Ấn Độ chỉ có thể mang lại lợi ích cho nước này trong ngắn hạn. Nếu tiếp tục nghiêng về phía Nga, đồng thời giữ quan hệ với phương Tây, Ấn Độ sẽ không nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ cả hai trong tình thế khó khăn.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Tại sao Ấn Độ “chơi thân” với Nga nhưng vẫn làm “bạn” với Mỹ? – Phần đầu


Theo đài RFI, bất chấp việc các nước phương Tây ve vãn kêu gọi nhập phe, trừng phạt Nga, Ấn Độ lại tăng gấp đôi lượng dầu thô mua từ Nga kể từ khi Nga xâm lược Ukraine, do giá thành rẻ. Là đồng minh với Liên Xô từ thời Chiến tranh Lạnh, Ấn Độ chơi quân bài “trung lập”, muốn duy trì quan hệ tốt với cả Nga và phương Tây, để đối phó với mối nguy Trung Quốc.

Ấn Độ là nước tiêu thụ dầu lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc, 80% trong số đó là nhập khẩu. Hãng Reuters cho biết, các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ đã đặt hàng ít nhất 40 triệu thùng dầu của Nga kể từ ngày 24/2, khai nào chiến tranh Ukraine, trong khi đó, tổng lượng dầu mà Ấn Độ thu mua từ Nga vào năm 2021 chỉ đạt 16 triệu thùng. Truyền thông nước này cho biết Nga đã giảm giá mua dầu cho Ấn Độ, thấp hơn 20% so với giá chuẩn toàn cầu. Chính quyền New Delhi không chỉ bỏ ngoài tai các lệnh trừng phạt từ phương Tây đánh vào nền kinh tế của Nga, mà còn từ chối lên án hành động xâm lược của Moskva.

Phương Tây đổ xô “thăm” Ấn Độ

Lập trường trung lập của quốc gia đông dân thứ hai châu Á làm vừa lòng điện Kremlin nhưng ngay lập tức htu hút sự chú ý của phương Tây. CNN nhận định Nhà Trắng gây áp lực, chỉ trích New Delhi “run sợ” và có thể tính đến việc trừng phạt Ấn Độ vì gần đây đã mua vũ khí từ Nga. Thế nhưng, ngay lập tức, Mỹ lại đổi giọng.

Trong cuộc gọi trực tuyến giữa Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Tổng thống Mỹ Joe Biden ngày 11/4, Biden tán dương quan hệ hợp tác song phương và ca ngợi những giá trị chung của hai nước. Ngay sau đó, các nước châu Âu dồn dập đến thăm Ấn Độ. Đầu tiên là chuyến thăm của Thủ tướng Anh Boris Johnson nhằm tăng cường hợp tác thương mại với Ấn Độ ngày 22/4, tiếp đến là chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Ursula von der Leyen ngày 25/4, rồi đến Ngoại trưởng Ba Lan ngày 26/4.

Và chiến tranh Ukraine là phần không thể thiếu trong bài phát biểu của các vị lãnh đạo, vừa ve vãn lôi kéo, vừa gây áp lực cho New Delhi. Nguyên thủ Mỹ kêu gọi Ấn Độ chọn phe:

“Tôi rất hoan nghênh việc Ấn Độ viện trợ nhân đạo cho Ukraine – quốc gia đang phải hứng chịu những đợt tấn công kinh hoàng, bao gồm cả vụ đánh bom tại nhà ga vào tuần trước, đã khiến hàng chục phụ nữ và trẻ em và thường dân vô tội thiệt mạng, khi đang cố chạy lánh nạn. Mỹ và Ấn Độ tiếp tục hợp tác chặt chẽ và tham vấn về cách kiểm soát những tác động gây bất ổn từ cuộc chiến giữa Nga và Ukraine. Điều này bảo đảm mối quan hệ tiếp tục phát triển sâu rộng hơn giữa hai bên, mang lại lợi ích cho người dân của hai nước và toàn cầu. Tất cả chúng ta đều cố gắng kiểm soát (khủng hoảng) và vai trò của Ấn Độ rất quan trọng đối với thế giới”.

Về phần mình, Ấn Độ cho biết tình hình ở Ukraine “đáng lo ngại” và kêu gọi cả hai bên đàm phán hòa bình. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn chọn giữ im lặng, bỏ phiếu trắng tại Đại hội đồng Liên hợp quốc để loại Nga ra khỏi Hội đồng Nhân quyền, từ chối suy giảm quan hệ song phương với Nga.

CNN nhận định “Ấn Độ đã dạy cho phương Tây một bài học về ngoại giao”. Vị trí của nước này ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế khi Mỹ coi Ấn Độ là một “đối tác” cần săn sóc để chống lại Trung Quốc – mối đe dọa tiềm tàng với hòa bình thế giới, thậm chí còn l1o7n hơn cả Nga.

Cùng chung một kẻ thù Bắc Kinh

Cả Washington và New Delhi đều “khó chịu” trước sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc (về hải quân, vũ khí chiến đấu công nghệ cao, vũ khí hạt nhân) hay mạng lưới ảnh hưởng đối với kinh tế toàn cầu mà Bắc Kinh đang xây dựng.

Điều này thể hiện rõ trong cuộc họp Mỹ – Ấn ngày 11/4, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin cảnh báo Trung Quốc đang tìm cách “thiết lập lại khu vực và hệ thống quốc tế” và cho biết Mỹ và Ấn Độ cùng nhau mở rộng phạm vi hoạt động quân sự chung.

Ấn Độ cũng có mối lo riêng với Trung Quốc khi cả hai có chung 3488 km đường biên giới. Cuộc xung đột quân sự dọc theo biên giới chung trên dãy Himalaya đã cướp đi sinh mạng của không ít người trong vài năm qua, đặc biệt là vào năm 2020, gần 100 binh sĩ Ấn Độ bỏ mạng tại thung lũng Galwan – có diện tích rộng bằng nước Thụy Sỹ, nơi mà Trung Quốc chiếm đóng từ 1962.

Phương Tây chỉ trích Trung Quốc nhưng im lặng với Ấn Độ

Mối lo Trung Quốc giải thích tại sao phương Tây mạnh mẽ chỉ trích sự im lặng của Bắc Kinh đối với hành động xâm lược của Nga nhưng lại không to tiếng với New Delhi. Trong khi đó, Ấn Độ và Trung Quốc dường như có chung quan điểm về cuộc chiến ở Ukraine.

Cả hai đều tự nhận là trung lập và chọn thế “tọa sơn quan hổ đấu”. Cả hai đều kêu gọi hòa bình và từ chối lên án cuộc xâm lược. Hơn nữa, cả hai có mối quan hệ chiến lược với Nga và không muốn gặp rủi ro tạo hiềm khích với Nga.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Ấn Độ đang thể hiện điều gì trong vấn đề Biển Đông?


Theo asiatimes.com, hiện tại không có quốc gia nào trong khu vực có thể ngăn cản bước tiến của Trung Quốc ở Biển Đông. Khi Mỹ bận rộn ở châu Âu, các bên tranh chấp ở Biển Đông sẽ phải vạch ra chiến lược của riêng mình để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực. Là một trong những nền kinh tế lớn nhất và nền dân chủ hàng đầu ở khu vực châu Á và cũng sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự bành trướng của Trung Quốc trong khu vực, Ấn Độ không thể đơn thuần chỉ “khoanh tay ngồi nhìn” trước những hoạt động xâm lấn chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Đã đến lúc Ấn Độ cần đi đầu trong việc xây dựng một cơ chế an ninh tập thể mới trong khu vực.

Ấn Độ đã áp dụng chính sách “Vùng lân cận mở rộng” và chính sách “Hành động phía Đông” để củng cố phạm vi ảnh hưởng của mình trong khu vực. Trái ngược với chính sách của Trung Quốc sử dụng đe dọa vũ lực để giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực, Ấn Độ đang thúc đẩy một trật tự dựa trên luật lệ, bao gồm việc duy trì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) – một khuôn khổ luật biển quốc tế mà Trung Quốc không thừa nhận.

Hiện nay, Hải quân Ấn Độ ngày càng tăng cường hiện diện trong khu vực và thường xuyên thực hiện các chuyến thăm hữu nghị khi cập cảng các nước như Việt Nam, Philippines, Nhạt Bản, Hàn Quốc và Malaysia. Gần đây, để thể hiện sự tự tin ngày càng tăng của mình, Hải quân Ấn Độ bắt đầu triển khai tàu thuyền về phía Đông đến Tây Thái Bình Dương. Hồi năm 2021, Hải quân Ấn Độ đã điều 4 tàu, gồm một tàu khu trục tên lửa dẫn đường và một tàu khu trục tên lửa, tới Đông Nam Á, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương. Hải quân Ấn Độ cũng tiến hành các cuộc tập trận (PASSEX) với các lực lượng hải quân của các nước khác trong khu vực để khẳng định chủ quyền của họ đối với những vùng lãnh hải này. Các nước trong khu vực như Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam và Singapore là đối tác chủ chốt của Ấn Độ trong các cuộc tập trận này. Trong nỗ lực mở rộng đối tác, Ấn Độ cũng đã mời Hàn Quốc tham gia các cuộc tập trận hải quân đa phương trong năm 2022. Một lợi thế của New Delhi trong công tác tiến hành giám sát và theo dõi tình hình ở Biển Đông là nước này sở hữu những cảng nước sâu ở Vịnh Campbell thuộc quần đảo Nicobar.

Khi xung đột xảy ra ở châu Âu, Ấn Độ hiện phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trước những hành động ngày càng bạo trợn của Trung Quốc, mức độ hiện diện hải quân hiện tại của Ấn Độ có thể không đủ mạnh để bảo vệ tuyến giao thương hàng hải của New Delhi trên Biển Đông. Ngoài ra, Ấn Độ cũng phải lo lắng xoay xở cách thức bảo vệ và thúc đẩy an ninh ở Đông Ấn Độ Dương trước sự hiện diện quy mô lớn của Hải quân Trung Quốc ở các vùng biển lân cận.

Vì vậy, Ấn Độ phải thể hiện chủ nghĩa tích cực to lớn hơn nữa, cả về mặt ngoại giao và quân sự, mà không gây phương hại đến khả năng ứng phó của các nước trong khu vực và không kích động Trung Quốc đáp trả ở Nam Á. Việc tìm cách xây dựng các cơ chế giải quyết xung đột đa phương nhằm xử lý các tranh chấp biên giới, đồng thời tránh để xảy ra xung đột ở Biển Đông và đảm bảo rằng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hoàn toàn phù hợp với các công ước liên quan của Liên hợp quốc là những thách thức to lớn đối với Ấn Độ. New Delhi cũng đang cố gắng đảm bảo các cuộc đàm phán khu vực về COC không gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia không tham gia vào các cuộc đàm phán này.

Xét đến thực tế là không một quốc gia nào trong khu vực có đủ năng lực quân sự để chống lại Trung Quốc, Ấn Độ cần phải xây dựng và thông qua một cơ chế an ninh tập thể với các nước trong khu vực, đồng thời xác lập một cơ chế răn đe mạnh mẽ đối với Trung Quốc nhằm ngăn chặn bước tiến của Bắc Kinh đến Ấn Độ Dương. Đã qua rồi cái thời của chủ nghĩa hòa bình và các chính sách hòa hoãn đối với Trung Quốc. Việc New Delhi tăng cường hợp tác hải quân với các nước khu vực là đáng khích lệ, song chưa đủ để ngăn chặn Bắc Kinh khi xét đến việc Trung Quốc nỗ lực uy hiếp các nước trên nhiều lĩnh vực. Vì vậy, đã đến lúc Ấn Độ cần tập trung hơn nữa vào việc liên kết chính sách quốc phòng và an ninh với các nước trong khu vực ngoài các chính sách về tập trận hải quân.

Những quyết định của New Delhi trong việc cung cấp công nghệ và hệ thống vũ khí hiện đại nhất dựa trên những tính toán kinh tế đơn thuần. Ấn Độ cần thay đổi tư duy này, theo đó, cần bắt đầu tính toán đến những lợi ích an ninh và chiến lược của mình.

Nguồn: TKNB – 14/03/2022

Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Cách tiếp cận của Ấn Độ và lợi ích của Nga – Phần cuối


Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ

Có thể nhận thấy rằng điểm hội tụ quan trọng trong các phương pháp tiếp cận của cả 4 quốc gia được nêu ở trên đều là vấn đề an ninh. Ấn Độ lo ngại về tranh chấp biên giới với Trung Quốc, quốc gia tuyên bố chủ quyền với một trong số các bang của họ – Arunachal Pradesh, được Bắc Kinh gọi là Nam Tây Tạng và coi là lãnh thổ Trung Quốc bị thực dân Anh chiếm giữ trái phép – cũng như với một số vùng lãnh thổ biên giới. Trong khi đó, New Delhi cho rằng Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép một phần lãnh thổ của Ấn Độ ở Aksai Chin. Nhật Bản cũng có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc về quần đảo Điếu Ngư (Senkaku). Australia lo ngại trước sự bành trướng về kinh tế, và tương lai là chính trị và quân sự của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương. Về phần mình, Mỹ đang cố gắng duy trì vị thế bá chủ của mình, mà theo Washington là đang bị Trung Quốc tranh giành.

Các lợi ích chung trong lĩnh vực an ninh đã thúc đẩy 4 quốc gia này hình thành một diễn đàn đối thoại không chính thức, được gọi là Bộ tứ. Phiên bản đầu tiên của nhóm Bộ tứ ra đời vào năm 2007 và đã không còn tồn tại một năm sau đó do các nhà chức trách mới của Australia không muốn phá hoại quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, những lo ngại kéo dài về sự bành trướng của Trung QUốc, sự trở lại nắm quyền của ông Shinzo Abe ở Nhật Bản – một trong những người đưa ra sáng kiến nhóm Bọ tứ, và sự chuyển đổi chính sách của Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump theo hướng cứng rắn hơn đối với Trung Quốc đã giúp hồi sinh sáng kiến này vào năm 2017.

Không thể đánh đồng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với nhóm Bộ tứ, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là điều kiện cần thiết cho hoạt động của Bộ tứ, vạch ra khuôn khổ địa lý cho hoạt động của nhóm này tồn tại. Nhưng Bộ tứ lại không phải là điều kiện cho sự tồn tại của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Là một cấu trúc, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể được giải thích theo các cách khác nhau và có thể bao hàm nhiều tổ chức không chính thức tương tự. Ở một mức độ nhất định, “trục” Pakistan – Trung Quốc là một cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tương tự như Bộ tứ. Sự không đồng nhất của các khái niệm về “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và “Bộ tứ” là rõ ràng, do tồn tại tầm nhìn và cách hiểu riêng về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của các quốc gia không là thành viên và không có ý định tham gia Bộ tứ, ví dụ như Pháp, Đức và châu Âu nói chung hay các nước ASEAN. Số lượng các quốc gia này sẽ còn tăng lên nhiều trong tương lai gần ở cả châu Á, châu Âu và các quốc gia Nam Mỹ hay châu Phi.

Rõ ràng, có thể nhận thấy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ đều có lợi cho Mỹ, cho phép Mỹ áp đặt tầm nhìn về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đối với các quốc gia quan tâm đến các dự án hội nhập khu vực lớn và lôi kéo họ tham gia các sáng kiến chống lại Trung Quốc.

Từ châu Á  – Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Có một số khu vực ảnh hưởng tới lợi ích và an ninh quốc gia của Nga. Bất cứ vấn đề nào trong các khu vực này đều ảnh hưởng tới Moskva, vì bằng cách này hay cách khác chúng đe dọa an ninh kinh tế hoặc quân sự của Nga. Không gian Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) và Bắc Cực là các khu vực như vậy. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hướng tới các đại dương và các chính thể ven biển nên không liên quan đến SNG, nhưng lại liên quan trực tiếp đến Bắc Cực.

Bắc Cực được liên kết địa lý với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua eo biển Bering. Điều này có nghĩa là việc đảm bảo an ninh cho Bắc Cực nên được bắt đầu từ phía Bắc Thái Bình Dương, khu vực vốn do Hạm đội Thái Bình Dương của Nga chịu trách nhiệm.

Sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Bắc Cực chỉ có thể thực hiện được khi thu hút được các khảon đầu tư và công nghệ từ các công ty châu Á. Nếu Tuyến đường biển phía Bắc (NSR) được định hướng trở thành tuyến đường trung chuyển hàng hóa chính, hàng hóa châu Á sẽ được vận chuyển đến châu Âu qua tuyến đường này. Nếu Bắc Cực vẫn chủ yếu là nguồn cung cấp dầu khí thì các nền kinh tế châu Á đang phát triển nhanh chóng chắc chắn sẽ trở thành nơi tiêu thụ chính lượng dầu khí này trong bối cảnh phương Tây ngày càng quan tâm tới năng lượng xanh. Như vậy, công nghệ, đầu tư và thương mại với các nước châu Á đang trở thành yếu tố then chốt trong sự phát triển của Bắc Cực và Nga phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn: đảm bảo thu hút công nghệ và đầu tư mà không làm ảnh hưởng đến lợi ích chủ quyền của mình.

Không giống như ở Bắc Cực, Nga không có lợi ích chính trị và kinh tế ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Do vậy, các phản ứng của Nga có thể dự đoán được và điều này cho phép các quốc gia khác lợi dụng điểm yếu này của Nga vì các mục đích khác nhau. Việc không có lợi ích ở đây khiến Nga có thể hoạt động ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tích cực nhất có thể, tăng cường sự hiện diện của mình trong một khu vực quan trọng về mặt chiến thuật và chiến lược đối với nước này, và nếu cần thiết, họ có thể rời bỏ khu vực này như cách họ đến. Điều này có liên quan tới việc triển khai sức mạnh biển ở Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương cũng như việc mở rộng các cơ quan đại diện ngoại giao.

Nga có kinh nghiệm tích cực trong việc sử dụng các khái niệm được phát triển ở nước ngoài vì lợi ích riêng – cụ thể là khái niệm khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Lịch sử của khái niệm châu Á – Thái Bình Dương tương đối giống với khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thuật ngữ “châu Á – Thái Bình Dương” được Ngoại trưởng Nhật Bản Miki Takeo sử dụng rộng rãi từ năm 1967. Ông Miki khi đó mong muốn khẳng định ý tưởng rằng Nhật Bản là quốc gia thuộc về châu Á, bao gồm Đông Nam Á và Đông Á, và Thái Bình Dương, từ đó muốn chứng minh rằng Tokyo đóng vai trò quan trọng (chủ yếu là kinh tế, bởi các chính trị gia Nhật Bản luôn né tránh vấn đề an ninh) ở cả 2 khu vực.

Ý tưởng này ban đầu được các chuyên gia và chính trị gia Mỹ, Australia và châu Á đón nhận khá nhiệt tình. Họ bắt đầu quan tâm đến ý tưởng này vào những năm 1970, khi Mỹ và Australia bắt đầu phát triển các hình thức hiện diện mới trong khu vực sau thất bại trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ban đầu những hình thức này khá mâu thuẫn với chủ nghĩa khu vực của các nước Đông Nam Á: cụ thể, vào năm 1974, Thủ tướng Australia khi đó là Gough Whitlam đã đưa ra đề xuất thành lập Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương như một đối trọng của ASEAN vừa được thành lập. Đến những năm 1980, các quốc gia ASEAN đã sử dụng thuật ngữ “châu Á – Thái Bình Dương”, thay đổi hoàn toàn không chỉ nội dung mà cả tên gọi (đổi từ cách gọi quen thuộc với những người nói tiếng Anh là “Asian Pacific” sang “Asia – Pacific”), đồng thời thu hẹp phạm vi của khái niệm này: Trong khi Mỹ tích cực quảng bá khu vực châu Á – Thái Bình Dương như một khái niệm bao trùm toàn bộ khu vực Thái Bình Dương về mặt địa lý, bao gồm cả Canada, Mỹ và Chile, thì các chính trị gia châu Á chủ yếu cho rằng khu vực này gồm các vùng lãnh thổ và vùng biển Đông Nam Á, Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Ví dụ, nhà kinh tế Nhật Bản Toshio Watanabe đã tuyên bố về sự khởi đầu của “Thời đại Tây Thái Bình Dương”.

Cần lưu ý rằng các chuyên gia và chính trị gia Liên Xô đã không ngần ngại sử dụng thuật ngữ “châu Á – Thái Bình Dương” trong suốt thời kỳ tồn tại của Liên Xô, bất chấp thực tế rằng khái niệm này được phát triển bởi một đồng minh của Mỹ và sau đó được Washington sử dụng để biện minh cho sự hiện diện của mình ở châu Á. Điều này không khiến chính sách của Liên Xô ở Thái Bình Dương thất bại, và bất cứ ai sử dụng thuật ngữ này, bao gồm cả ban lãnh đạo Liên Xô, đều không được coi là sự thừa nhận các yêu sách của Mỹ.

Quá trình định hình lại khái niệm châu Á – Thái Bình Dương là ví dụ về cách thức sử dụng các khái niệm do các nước đối thủ thúc đẩy để phục vụ cho mục đích của riêng mình. Điều tương tự có lẽ đã diễn ra đối với khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Sự xuất hiện của khái niệm này ở Nga sẽ giúp cải thiện quan hệ của Nga với Ấn Độ và ASEAN và cách diễn giải về nó sẽ giúp duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc. Hơn nữa, Nga và Trung Quốc hoàn toàn có thể hình thành cách tiếp cận chung đối với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Sự xuất hiện mang tính xây dựng, chứ không phải đối đầu, của một khái niệm như vậy sẽ tạo ra một sự lựa chọn thay thế cho chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ vốn nhằm chia rẽ khu vực này.

Khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Nga

Khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Nga có thể dựa trên các quy tắc sau:

1/ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cùng với Bắc Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương là bộ phận cấu thành của một tổ hợp Đại Á – Âu thống nhất, đại diện cho vùng biển bờ phía Nam và phía Đông của lục địa Á – Âu. Trong lịch sử tuyến đường biển đi qua eo biển Malacca và Ấn Độ Dương đã bổ sung cho Con đường Tơ lụa Á – Âu. Đồng thời, đặc trưng của lục địa Á – Âu không chỉ là một tuyến đường, mà là một cấu trúc mạng lưới các tuyến đường thương mại không chỉ trải rộng qua nhiều vĩ tuyến mà còn trải qua nhiều kinh tuyến. Như vậy, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một phần của hệ thống kinh tế-văn hóa toàn cầu của Cựu thế giới, nơi sinh ra tất cả các nền văn minh tại thời điểm hiện tại. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Đại Á – Âu không phải là những khái niệm đối lập nhau mà là những khái niệm bổ trợ cho nhau.

2/ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với tư cách là không gian hợp tác văn hóa, thương mại và tôn giáo trong suốt quá trình lịch sử, là một hiện tượng bao trùm, cho phép con người, hàng hóa và tư tưởng di chuyển tự do trong toàn bộ không gian từ Đông Á sang châu Âu. Tính kết nối của khu vực này không thể bị phá vỡ. Tất cả những nỗ lực loại bỏ các bên tham gia hoặc hạn chế sự kết nối này thông qua các biện pháp phong tỏa hay trừng phạt đều không thể biện minh và mâu thuẫn với bản chất của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

3/ Việc tạo ra các khối quân sự ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và biến nó thành chiến trường thời Chiến tranh Lạnh là không thể chấp nhận được. Đồng thời, sẽ là hợp lý nếu thiết lập một mạng lưới linh hoạt, bao gồm các tổ chức an ninh không chính thức, để chống lại các thách thức và mối đe dọa trong khu vực và hợp tác với nhau để tạo ra một hệ thống an ninh chung dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc. Tất cả các xung đột trong khu vực cần được giải quyết giữa các bên tham gia trên cơ sở song phương. Sự can thiệp của một thế lực bên ngoài cố gắng châm ngòi cho một cuộc xung đột cần bị lên án vô điều kiện. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể là không gian cạnh tranh lành mạnh, nhưng không phải là không gian đối đầu, là không gian hợp tác chứ không phải là không gian đấu tranh.

4/ Ý tưởng về “trật tự dựa trên quy tắc” cần được bổ sung. Nếu “các quy tắc” bao gồm các chuẩn mực lâu đời của luật pháp quốc tế thì Nga hoàn toàn hoan nghênh một trật tự như vậy. Nếu trật tự này được thiết lập để củng cố một cách giả tạo cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho các quốc gia riêng lẻ, thì đối với Nga, điều đó hoàn toàn không thể chấp nhận được. Trật tự dựa trên quy tắc là trật tự được thiết lập trên cơ sở các chuẩn mực  nhận thức chung của luật pháp quốc tế và không thể được hiểu theo cách khác.

5/ Trung tâm của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là khu vực Đông Nam Á và các quốc gia của khu vực hiện đang là thành viên của ASEAN, chính vì thế mà Nga ủng hộ ý tưởng về vai trò trung tâm của ASEAN ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, kêu gọi chuyển đổi tất cả các khái niệm của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo quan điểm này.

6/ Nga là một phần không thể tách rời của cả khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lẫn khu vực Bắc Băng Dương – Thái Bình Dương. Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương bổ sung cho Bắc Băng Dương – Thái Bình Dương. Tùy thuộc vào sự biến đổi của khí hậu hay các thực tế địa lý và xã hội, hai tuyến đường biển đi qua khu vực này, ở mức độ nào đó sẽ đóng vai trò tuyến đường huyết mạch thương mại biển Á – Âu quan trọng.

Các nguyên tắc nêu ở trên hoàn toàn phù hợp với quan điểm được Nga nhiều lần nhắc tới về tính thượng tôn của luật pháp quốc tế, phù hợp với vai trò trung tâm của ASEAN và thể hiện mong muốn ngăn chặn sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc leo thang và nguy cơ về một cuộc chiến tranh toàn diện trong tương lai. Việc thông qua và công khai khẳng định các nguyên tắc này cho thấy Nga đã sẵn sàng đề xuất một khái niệm thay thế cho khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, dựa trên ý tưởng về sự phát triển toàn cầu và cuộc chiến chung chống lại các thách thức và mối đe dọa hàng hải phi truyền thống. Khái niệm này đồng thời cũng phù hợp với tầm nhìn về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà các chính trị gia, chuyên gia Ấn Độ và ASEAN đang thúc đẩy.

Nguồn: TLTKĐB – 14/12/2021

Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: Cách tiếp cận của Ấn Độ và lợi ích của Nga – Phần đầu


Tạp chí “Đời sống quốc tế” (Nga) số tổng kết tháng 11/2021, có bài viết cho rằng cấu trúc địa chính trị là một hiện tượng tương đối mới trong thực tiễn chính trị thế giới. Cho đến nay, việc hình thành nên các cấu trúc này thường mang tính tự phát. Một trong những cấu trúc địa chính trị phức tạp, mâu thuẫn và gây tranh cãi nhất là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này xuất hiện trong lý luận chính trị thế giới từ năm 2007 với việc xuất bản bài viết của Gurpreet Khurana về tuyến đường biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Gần đây, thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” đã trở nên ngày càng thông dụng khi được nhiều chính trị gia và các nhà khoa học chính trị sử dụng trong các bài phát biểu của mình để cho thấy rằng họ đang bắt kịp xu hướng hiện đại và đồng thời việc này cũng làm cho ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng lan rộng.

Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khái niệm ngày càng trở nên phổ biến và cần thiết hơn. Chính giới Bắc Kinh và Moskva luôn cảnh giác với khái niệm này, nhưng giới chuyên gia cũng như chính trị gia Trung Quốc và Nga thì lại thường xuyên sử dụng thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” trong các công trình của mình. Trong cộng đồng khoa học đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận tích cực về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có thể thường xuyên bắt gặp khẳng định cho rằng đây là sáng kiến của Mỹ nhằm cô lập Nga và Trung Quốc, một sản phẩm nhân tạo – và do đó không khả thi – nhằm chống lại khái niệm Đại Á – Âu của Nga.

Về nguyên tắc, phản ứng như vậy là khá dễ hiểu và có phần hợp lý: Trung Quốc là đối tác chiến lược của Nga và việc thể hiện sự chấp thuận một cách chính thức hay thậm chí là sự quan tâm đến một khái niệm đang được Mỹ sử dụng như một phần của chiến lược kiềm chế Trung Quốc một cách toàn diện là không có lợi cho việc thúc đẩy quan hệ Nga – Trung. Mặt khác, Ấn Độ – quốc gia khởi xướng và rất ủng hộ cho sáng kiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – cũng là đối tác chiến lược của Nga, vì vậy việc Moskva phản đối hay có một số tuyên bố tiêu cực về ý tưởng này sẽ góp phần làm xấu đi mối quan hệ giữa Moskva và New Delhi.

Bài viết này nhằm xó tan những cách hiểu chưa đúng trong lý luận chính trị ở Nga và phân tích kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc hình thành nên cấu trúc địa chính trị mới.

Nguồn gốc Ấn Độ của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Trái ngược với những tuyên bố thường thấy, khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương không phải là một sáng kiến của Mỹ. Thuật ngữ này đã có từ hơn 1,5 thế kỷ trước. Vì vậy, vào giữa thế kỷ XIX, nhà bác học người Anh J. Logan đã đề xuất gọi quần đảo Malaysia là quần đảo Ấn Độ – Thái Bình Dương. Nhà khoa học, chuyên gia địa chính trị nổi tiếng người Đức Karl Haushofer đã đưa ra ý nghĩa địa chính trị cho thuật ngữ này. Nhưng sau thất bại của Đức và Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chỉ còn tồn tại trong lý luận chính sách đối ngoại của Australia. Đồng thời, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã xuất hiện trong hệ thống thuật ngữ của các nhà hải dương học và nhà sinh vật biển, những người đã phát hiện ra rằng nhiều loài cá và động vật biển sống ở cả Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương nhưng không có ở Đại Tây Dương.

Thuật ngữ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương còn được khái niệm hóa bởi hai thủy thủ Ấn Độ: Đại tá Grupreet Khurana và Phó Đô đốc Premvir Das, những người gần như đồng thời sử dụng thuật ngữ này. Vào thời điểm đó, khái niệm này đã được giới chuyên gia Ấn Độ thảo luận kín trong nhiều tháng, chính vì vậy mà ý tưởng của các ông Das và Khurana nêu ra không có gì bất ngờ đối với Ấn Độ: Vì Ấn Độ và Nhật Bản đều quan tâm đến việc xích lại gần nhau, trong khi tuyến đường vận chuyển hàng hóa chính giữa Nhật Bản với châu Âu và tuyến đường vận chuyển dầu khí cho Nhật Bản từ các quốc gia vùng Vịnh Persian đều đi qua Ấn Độ Dương, nên Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương có thể được xem là không gian thống nhất trong các cuộc thảo luận về vấn đề an ninh.

Thuật ngữ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” cũng được biết đến nhiều hơn thông qua phát biểu của cựu Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Quốc hội Ấn Độ trong chuyến thăm nước này, trong đó đề cập đến “sự kết hợp của hai đại dương”. Theo cách hiểu ban đầu của người Ấn Độ, cách nói này chỉ liên quan đến việc đảm bảo an ninh cho tuyến đường thương mại của Nhật Bản (mặc dù sau đó Gurpreet Khurana thừa nhận rằng khi nói về tàm quan trọng của Ấn Độ đối với việc bảo vệ tuyến đường cung cấp của Nhật Bản, ông đã ngầm ngụ ý về tầm quan trọng của Ấn Độ đối với các tuyến đường cung cấp của Trung Quốc, quốc gia theo cách này hay cách khác cũng phải tính toán tới ý kiến của New Delhi trong các vấn đề quốc tế), nhưng trong bài phát biểu của mình, ông Abe đã khéo léo lồng ghép khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với ý tưởng về “tứ giác an ninh” và “liên minh dân chủ”.

Vào thời điểm đó, nền kinh tế Ấn Độ đang cho thấy tốc độ tăng trưởng kỷ lục (hơn 9%/năm). Chính yếu tố này đã thôi thúc New Delhi mở rộng ảnh hưởng chính trị ở cả khu vực Ấn Độ Dương cũng như Thái Bình Dương, nơi mà giới tinh hoa chính trị ở New Delhi cho rằng nhận thức về Ấn Độ không tương xứng với vai trò thực sự của quốc gia này trong khu vực. Khái niệm mới này rất phù hợp để thể hiện tham vọng và mong muốn của Ấn Độ trở thành một trong những quốc gia đóng vai trò quan trọng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trong những năm sau đó, ý tưởng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tiếp tục được củng cố trong lý luận chính trị của Ấn Độ.

Có một nghịch lý là vào thời điểm đó, cộng đồng chuyên gia chính trị Mỹ không quan tâm đến ý tưởng về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Washington ưu tiên sử dụng cấu trúc đã được kiểm chứng – đó là châu Á – Thái Bình Dương. Ông Barack Obama, người đắc cử Tổng thống Mỹ năm 2009, đã cố gắng giải quyết mâu thuẫn Mỹ – Trung bằng cách thiết lập cái gọi là “Big Two”, trong đó, Bắc Kinh và Washington tạo ra một chế độ toàn cầu phân chia phạm vi và các khu vực ảnh hưởng. Trong một thế giới mà tất cả những vấn đề quan trọng đều sẽ được giải quyết giữa giới tinh hoa Mỹ và Trung Quốc, không có chỗ cho lợi ích của các nước lớn và các nước trung bình khác, bao gồm Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và Australia. Do vậy, vào thời điểm đó, khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được coi là mâu thuẫn với lợi ích của Washington.

Tuy nhiên, thất bại trong nỗ lực tạo nên “Big Two” đã gây thất vọng sâu sắc cho giới tinh hoa Mỹ và nước này muốn chuyển hướng sang kiềm chế Trung Quốc thay vì cố gắng đàm phán với nước này. Vào năm 2012, cộng đồng chuyên gia Mỹ cuối cùng đã chú ý tới khái niệm do Ấn Độ và Nhật Bản đưa ra và quyết định sử dụng khái niệm này cho mục đích riêng của họ, coi đây là không gian địa chính trị để thực thi chiến lược kiềm chế Trung Quốc.

Vào thời điểm đó, Nhật Bản và Ấn Độ đã đi trước rất nhiều trong việc phát triển các khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương như một cơ sở để mở rộng ảnh hưởng về phía Đông và hiện thực hóa tuyên bố tham gia vào châu Á – Thái Bình Dương với tư cách một trong những bên quan trọng. Để làm được điều này, họ đã sử dụng các công cụ “sức mạnh mềm”, đặc biệt là sức hấp dẫn của lịch sử và văn học, các câu chuyện nhấn mạnh rằng Đông Nam Á trong hàng nghìn năm là một phần của không gian Ấn Độ cả về văn hóa và tôn giáo. Chiến lược này đã được củng cố bởi nhiều chuyến thăm của Thủ tướng Narendra Modi đến khu vực này.

Do đó, trong số các quốc gia đã đưa khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vào lý luận chính trị của mình, có hai quan điểm khác nhau cơ bản: Nếu Mỹ coi Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khuôn khổ địa lý cho hình thức an ninh riêng của mình, phục vụ cho chiến lược kiềm chế Trung Quốc, Ấn Độ coi đây là một khuôn khổ nền văn minh, cho phép họ khẳng định vai trò quan trọng của mình ở Tây Thái Bình Dương.

Theo đó, quan điểm của các quốc gia này đối với vai trò của các bên tham gia khác cũng khác nhau. Nếu trong khuôn khổ chiến lược của Mỹ, Ấn Độ dường như là một đối tác “dưới cơ” đầy triển vọng và là một tường thành chống Trung Quốc, thì vấn đề xung đột với Trung Quốc trong không gian Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhìn chung không mang tính sống còn đối với Ấn Độ. Hoàn toàn có thể hình dung ra tình huống mà theo đó cả Trung Quốc và Ấn Độ cùng thừa nhận các lợi ích đặc biệt của nhau trong lĩnh vực an ninh ở Ấn Độ Dương và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Khi đó, cuộc đối đầu giữa hai quốc gia này nếu không chấm dứt thì sẽ bị đóng băng trong một khoảng thời gian không xác định. Nếu đối với Mỹ, Trung Quốc là kẻ thù tranh đoạt quyền bá chủ, thì đối với Ấn Độ, Trung Quốc là nước láng giềng cần phải phân chia phạm vi ảnh hưởng, đồng thời đảm bảo lợi ích của chính mình càng nhiều càng tốt.

Nếu tưởng tượng hai quan điểm này là hai điểm trên một đường thẳng, có thể thấy quan điểm của Nhật Bản và Australia nằm ở khoảng giữa. Nhật Bản liên hệ chặt chẽ với cả Trung Quốc và Mỹ về mặt kinh tế, đang cố gắng duy trì vai trò là một trong những nhà lãnh đạo khu vực, một nguồn cung cấp công nghệ và đầu tư. Đồng thời, Nhật Bản cũng nhận thấy điểm yếu của mình trước sức mạnh quân sự vượt trội của Trung Quốc, nên họ quan tâm đến việc tăng cường hợp tác với Mỹ trong lĩnh vực an ninh. Về phần mình, Australia thể hiện vai trò bá chủ khu vực ở Nam Thái Bình Dương. Mặc dù Trung Quốc không trực tiếp đe dọa Australia nhưng giới tinh hoa nước này muốn chứng tỏ lòng trung thành với Mỹ nhưng đồng thời cũng không muốn biến nước này thành chư hầu của Mỹ. Tất cả các yếu tố này, thường mâu thuẫn với nhau, tạo nên quan điểm của Tokyo và Canberra về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những quan điểm này độc đáo và phức tạp hơn so với Ấn Độ và Mỹ, bởi các quốc gia này vừa muốn duy trì quan hệ thương mại với Trung Quốc, vừa muốn có sự đảm bảo an ninh từ Mỹ.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 14/12/2021

Vì sao Ấn Độ là ưu tiên của Nga?


Tờ The Economic Times đăng bài viết của phóng viên chuyên mảng ngoại giao Ấn Độ Dipanjan Roy Chaudhury về chuyến thăm của Tổng thống Nga Vladimir Putin, qua đó cho thấy lý do tại sao Ấn Độ là ưu tiên của Moskva.

Chuyến thăm Ấn Độ của Tổng thống Putin hôm 6/12, trong khuôn khổ chuyến công du ngắn ngày nhưng quan trọng để tham dự Hội nghị thượng đỉnh thường niên Nga – Ấn, không chỉ khẳng định tính đa cực trong lĩnh vực địa chính trị mà còn thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc tự chủ chiến lược địa chính trị. Đây là cuộc gặp song phương đầu tiên của ông kể từ khi đại dịch bùng phát. Đầu năm 2021, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã có mặt tại Geneva để tham dự hội nghị thượng đỉnh với người đồng cấp Mỹ Joe Biden, nhưng cuộc gặp song phương này lại diễn ra ở một nước thứ ba. Về cơ bản, Tổng thống Nga tuyên bố Nga ưu tiên Ấn Độ hơn nhiều đối tác khác. Dưới đây là những yếu tố chi phối chủ trương này của Nga.

Trung Quốc và bối cảnh địa chính trị

Chuyến thăm của Tổng thống Putin diễn ra vào thời điểm quan hệ Ấn – Trung rơi xuống mức thấp sau hành động hiếu chiến của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) tại thung lũng Galwan và khu vực gần Đường kiểm soát thực tế (LAC) trong năm 2020. Thay vì có những hành động giảm leo thang căng thẳng, Trung Quốc vẫn đang cố gắng nâng cao lợi thế thông qua các cuộc xâm lược. Mặc dù Nga, dưới sự hối thúc của phương Tây, đã xây dựng cầu nối với Trung Quốc và cùng nước này tiến hành một số hoạt động liên quan đến các vấn đề địa chính trị, nhưng một liên minh quân sự Nga – Trung có thể không thành công trong bối cảnh Nga thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ và Việt Nam – hai quốc gia đều có tranh chấp biên giới với Trung Quốc. Yếu tố này tiếp tục chi phối quan điểm của Nga và được thể hiện rõ ràng ở việc nước này quyết định tiếp tục cung cấp vũ khí cho Ấn Độ cũng như thực hiện các nghĩa vụ khi cuộc khủng hoảng Galwan đang ở giai đoạn đỉnh điểm. Việc cung cấp hệ thống phòng không S-400 đầu tiên là minh chứng cho mối quan hệ đối tác quốc phòng kéo dài hàng thập kỷ giữa Nga và Ấn Độ. New Delhi và Moskva kiên định trong việc ủng hộ chủ quyền lãnh thổ của nhau. Các nhà bình luận thường bỏ qua thực tế rằng Nga không muốn đóng vai trò là đối tác cấp dưới trong quan hệ với Trung Quốc. Sự khác biệt về di sản và sức mạnh quân sự, quy mô lãnh thổ của Nga và các khu vực bảo tồn thiên nhiên khổng lồ với trữ lượng lớn tài nguyên chưa được khám phá, bao gồm cả ở Bắc Cực, thường định hướng cho những dự báo về sức mạnh của Moskva. Nga đang hiện diện ở Tây Á, bên cạnh các khu vực của châu Phi, và có kế hoạch riêng đối với ASEAN. Nga tiếp tục là thế lực chính trị chiếm ưu thế ở Trung Á và Á – Âu. Nga chiếm thị phần lớn hơn cả trong lĩnh vực quốc phòng của Ấn Độ và việc hợp tác sản xuất AK-203 là dự án “Make in India” lớn nhất cho đến nay gợi nhớ đến tên lửa BrahMoS. Hiệp ước quốc phòng 10 năm và Hiệp ước hậu cần là bằng chứng về quan hệ đối tác quốc phòng Nga – Ấn đáng tin cậy và đã được thử thách qua thời gian với điểm mốc là sự chuyển giao công nghệ.

Vấn đề Afghanistan

Quan hệ đối tác của Ấn Độ với Liên Xô và sau đó với Nga là nhân tố tạo nên sự ổn định địa chính trị trong 7 thập kỷ qua. Và khi thế giới một lần nữa phải đối mặt với nhiều thách thức từ việc Mỹ rút khỏi Afghanistan, mối đe dọa từ các nhóm cực đoan và khủng bố, cũng như căng thẳng gia tăng giữa Bắc Kinh với Washington, quan hệ đối tác chiến lược Nga – Ấn có thể giúp duy trì sự ổn định. Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Nga cũng ủng hộ quyết định của Ấn Độ về việc không gia hạn miễn thị thực 90 ngày cho các thủ lĩnh Taliban, bác bỏ đề xuất của Trung Quốc về việc cấp giấy miễn thị thực 180 ngày cho những nhân vật này. Cơ chế tham vấn cấp cao thường trực Ấn – Nga về Afghanistan là cơ chế duy nhất mà Nga tạo ra sau khi Taliban tiếp quản Kabul, trên cơ sở nhận thức chung về các mối đe dọa. Hai bên đang phối hợp chặt chẽ với nhau để chống lại các mối đe dọa phổ biến liên quan đến Afghanistan, và điều này được thể hiện rõ qua hai chuyến thăm của Cố vấn an ninh quốc gia Nga tới Ấn Độ hồi tháng 9. Quan điểm cho rằng Nga mềm mỏng với Taliban và Pakistan là sai lầm vì kết luận như vậy thường bỏ qua tính thực tế và khái niệm về các dàn xếp chiến thuật trong lĩnh vực địa chính trị. Người ta thường bỏ qua thực tế rằng Liên Xô trước đây đã can dự nhiều vào vấn đề Afghanistan. Hiện tại, Nga tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với tương lai của Kabul và đã đứng chung hàng với Ấn Độ khi không chính thức công nhận Taliban.

Đối tác Viễn Đông và ASEAN

Nga hết sức quan tâm đến việc Ấn Độ gia tăng ảnh hưởng ở vùng Viễn Đông giàu tài nguyên của Nga, nơi đã chứng kiến sự xâm nhập của nước láng giềng Trung Quốc. Vùng Viễn Đông Nga mang đến cơ hội to lớn cho Ấn Độ trên các lĩnh vực – từ cơ sở hạ tầng đến khai thác các mặt hàng quan trọng, khách sạn, nông nghiệp và đóng tàu. Quan hệ đối tác ở khu vực Bắc Cực đáp ứng nhu cầu của Ấn Độ, bao gồm cả nhu cầu về năng lượng. Vùng Viễn Đông và Bắc Cực thuộc Nga sẽ là những trụ cột quan trọng trong quan hệ đối tác của Ấn Độ với Nga ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Quan hệ đối tác Ấn – Nga trong lĩnh vực kinh tế không tương xứng với quan hệ hợp tác song phương trong các lĩnh vực quốc phòng, hạt nhân, vũ trụ và năng lượng. Khu vực tư nhân Nga chưa đủ lớn, cũng như chưa khám phá hết thị trường và các lĩnh vực của Nga. Việc các doanh nghiệp Ấn Độ tham khảo ý kiến từ các chuyên gia kinh doanh châu Âu ở Đức, Italy và Pháp có liên doanh thành công ở Nga là động thái thận trọng. Cần sớm theo dõi hoạt động của Hành lang giao thông vận tải quốc tế Bắc – Nam (INSTC) và sự hồi sinh của tuyến vận tải Vladivostok-Chennai. Quan hệ giữa nhân dân hai nước đang nở rộ và cần được khuyến khích phát triển. Mọi con mắt đều đổ dồn vào Hội nghị thượng đỉnh thường niên Nga – Ấn ngày 6/12, với mục đích nâng tầm quan hệ đối tác giữa hai nước. Sự ủng hộ của Ấn Độ gần đây đã giúp Nga trở thành đối tác đối thoại của Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương. Ấn Độ đang hối thúc Nga đảm nhận một vai trò lớn hơn ở khu vực Ấn Độ Dương trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường sự hiện diện và xúc tiến cuộc họp cấp bộ trưởng 2+2 (về ngoại giao và quốc phòng) để thăm dò mối quan hệ đối tác trong khu vực. Tháng 8/2021, trong khi Trung Quốc cử đại diện cấp thấp, thì Tổng thống Nga là nguyên thủ quốc gia duy nhất có mặt tại cuộc họp an ninh hàng hải của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc do Ấn Độ chủ trì. Nga gần đây đã thông qua lộ trình 5 năm tập trung vào hợp tác thương mại và đầu tư, nền kinh tế kỹ thuật số và sự phát triển bền vững với ASEAN. Vaccine Sputnik V do Nga phát triển đang tạo thêm động lực thúc đẩy các quốc gia ASEAN mở rộng quan hệ với nước này. Gần đây, một đội tàu chiến và tàu ngầm đã tiến vào Ấn Độ Dương trên đường triển khai thường trực như một phần của Hạm đội Thái Bình Dương của Nga. ASEAN gần đây đã cùng Nga tham gia cuộc tập trận hải quân.

Quan hệ năng lượng

Nga có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới và phần trữ lượng này nằm ở vùng Viễn Đông của Nga. Tại Diễn đàn kinh tế phương Đông (EEF) tháng 9/2021, Thủ tướng Ấn Độ Modi đã tỏ ra lạc quan khi cho rằng Ấn Độ và Nga có thể cùng nhau mang lại sự ổn định cho thị trường năng lượng toàn cầu. Ông cho rằng Vladivostok là một trung tâm của Á – Âu và Thái Bình Dương, đồng thời nhấn mạnh vị trí địa chiến lược xét về khả năng kết nối của khu vực này. Các công ty dầu khí của Ấn Độ đang muốn tiếp tục mở rộng đầu tư vào các mỏ dầu khí của Nga, bao gồm cả ở vùng Viễn Đông và Bắc Cực. Đầu tư tích lũy của Ấn Độ vào các dự án dầu khí ở Nga đã vượt quá 15 tỷ USD. Đây là điểm lớn nhất của đầu tư Ấn Độ trong lĩnh vực dầu khí. Năm 2017, tập đoàn dầu khí khổng lồ Rosneft của Nga và đối tác đã mau Essar Oil với giá 12,9 tỷ USD và đổi tên công ty này thành Nayara Energy. Tại Vladivostok, hai nước đã khởi động dự án hợp tác đóng tàu thương mại và tìm hiểu các cơ hội mới trong ngành nông nghiệp, gốm sứ, kim cương và khoáng sản chiến lược, đất hiếm. Năm 2020, Tập đoàn dầu khí Ấn Độ (IOC) đã ký thỏa thuận mua 2 triệu tấn dầu thô/năm từ Rosneft. Đây là thương vụ mua bán dầu hàng năm đầu tiên giữa hai nước. Ấn Độ cũng đang nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) từ Nga và đang tìm kiếm cơ hội để các công ty của họ có thể tham gia các dự án phát triển cơ sở hạ tầng ở vùng Siberia và Bắc Cực. Ấn Độ cũng đang muốn đầu tư vào dự án Vostok Oil của Rosneft. Đây là một trong những dự án sản xuất dầu tiềm năng nhất trên thế giới, bao gồm 52 khu vực được cấp phép với trữ lượng hơn 6 tỷ tấn dầu. Chính phủ Ấn Độ quan tâm đến việc phối hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển cơ sở hạ tầng và đầu tư vào cùng Viễn Đông của Nga. Một dự án ba bên gồm Ấn Độ, Nhật Bản và Nga đang được triển khai. Tầm nhìn của Nga – từ Lisbon đến Jakarta – giúp Ấn Độ mở rộng phạm vi tiếp cận Đông Nam Á và Đông Á, đồng thời đóng góp vào chính sách Viễn Đông theo Đạo luật Ấn Độ liên quan đến vai trò và đầu tư của New Delhi vào vùng Viễn Đông giàu tài nguyên của Nga.

Hợp tác Bắc Cực

Theo ước tính của Nga, trữ lượng dầu khí của Nga ở Bắc Cực có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng của nước này trong nhiều thập kỷ và thậm chí là nhiều thế kỷ. Đồng thời, Bắc Cực đang mở ra cơ hội mới cho việc khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên tiềm năng khác chưa được khám phá bên dưới lớp băng. Nga vẫn giữ vị trí thống trị ở Bắc Cực và coi khu vực này là sân sau chiến lược của mình. Trong thời gian gần đây, Bắc Cực đã mở ra cơ hội mới cho sự hợp tác giữa Ấn Độ và Nga. Khu vực Barents ở Bắc Cực có một số mỏ khoáng sản nổi tiếng và một số bến cảng nước sâu thuận lợi cho việc vận chuyển. Khu vực này giàu quặng sắt. Các dự án phát triển dầu khí của Nga ở Bắc Cực đang được ưu tiên hàng đầu. Tuyến đường biển phía Bắc (NSR) qua Bắc Cực là tuyến đường ngắn nhất giữa các cảng Đông Á và Tây Âu. Ước tính khoảng cách từ Thượng Hải đến Rotterdam qua NSR sẽ ngắn hơn 30% so với tuyến đường qua kênh đào Suez, giảm thời gian vận chuyển từ 10 – 12 ngày. Tương tự, khoảng cách từ Yokohama đến Rotterdam sẽ ngắn hơn 40%.

Nguồn: TLTKĐB – 13/12/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần cuối


Nói một cách đơn giản, cách tiếp cận của Bộ tứ hướng tới việc ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng chiến lược ra toàn châu Á và khu vực bên ngoài. Trước việc Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển trong thập kỷ mới, các cường quốc dân chủ ở châu Á coi Bộ tứ là liên minh để đối trọng với bá chủ mới nổi ở châu Á. Như đã đề cập trước đó, cả Ấn Độ và Nhật Bản đều coi Bộ tứ là cơ chế để gắn kết và điều phối các mối quan hệ an ninh giữa các cường quốc trong khu vực. Trong những năm gần đây, các đối tác của Bộ tứ đã chứng kiến sự hội nhập quân sự ngày càng tăng, cũng như sự phát triển của một cơ chế đối thoại mạnh mẽ và được thể chế hóa. Tất cả những nước này đều đã ký hiệp ước về hậu cần quân sự, cho phép họ triển khai sức mạnh bên ngoài phạm vi lãnh thổ. Việc thường xuyên tham gia các cuộc tập trận chung cũng như chia sẻ các thiết bị quân sự trong tương lai cũng sẽ nâng cao khả năng tương tác. Hơn nữa, việc các thành viên Bộ tứ phối hợp chính sách hỗ trợ kinh tế và quân sự với các nuóc thứ ba cũng giúp nhóm này gia tăng nguồn lực kinh tế chung sẵn có. Các nước thành viên Bộ tứ tin rằng bằng việc mở rộng sự hỗ trợ như vậy, họ có thể giúp các nước ngoài nhóm có được năng lực để trở nên linh hoạt hơn và giảm thiểu những thách thức bắt nguồn từ sự xâm nhập của Trung Quốc. Do đó, tất cả các nước Bộ tứ đều đang cố gắng chuyển các thiết bị quân sự và phương tiện tuần duyên đến các nước ven biển Nam Trung Hoa. Việc cung cấp các năng lực đảm bảo an ninh cho khu vực có thể là một bước để xây dựng khả năng răn đe trước sự ép buộc của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nhỏ hơn.

Ngoài ra, các nước thành viên Bộ tứ cũng đang điều phối khoản viện trợ kinh tế dàn cho các nước khác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vốn dễ bị ảnh hưởng bởi chính sách ngoại giao kinh tế bẫy nợ của Trung Quốc. Trung Quốc đã giới thiệu một BRI đầy tham vọng trị giá 1000 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng kết nối Á – Âu. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại các dự án trong khuôn khổ BRI có thể làm phát sinh các khoản nợ khó đòi ở các nền kinh tế nhỏ hơn, điều mà Trung Quốc có thể tận dụng để tạo ra ảnh hưởng chiến lược đáng kể. Bộ tứ đang cân nhắc việc sử dụng sức nặng kinh tế tổng hợp để chống lại các hoạt động như vậy của Trung Quốc thông qua việc cung cấp các nguồn đầu tư thay thế.

Cuối cùng, Bộ tứ hy vọng sự can dự theo cách thức này sẽ mang lại một trật tự khu vực bền vững hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo của các nước thành viên Bộ tứ đều đã cố gắng thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế đến các hành vi hiếu chiến của Trung Quốc tại các diễn đàn khu vực. Điều này đòi hỏi các nước phải tuân thủ nguyên tắc tự do và cởi mở trong hoạt động kinh tế, cũng như tôn trọng các quy định và luật pháp chi phối các quyền hàng hải. Như đã đề cập ở trên, Nhật Bản (cùng với Mỹ và Australia) đang cố gắng thực hiện các hướng dẫn về đầu tư trong khu vực. Những hành động như vậy có thể sẽ trở thành các chuẩn mực chi phối hành vi của các nước, cho dù đó là trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ hay đầu tư kinh tế. Khi các tiêu chuẩn trở nên phổ biến trong khu vực, người ta hy vọng trật tự này có thể ngăn ch8a5n sự hiếu chiến của Trung Quốc và định hình hành vi của họ.

Cách tiếp cận của ASEAN nhằm kiềm chế sự quyết đoán của Trung Quốc dựa vào sức mạnh quy chuẩn và một mạng lưới các thể chế. Bản thân ASEAN với tư cách là một thể chế cũng đã phát triển từ một tiến trình không ngừng thay đổi mà trong đó, cả bản sắc và chuẩn mực hành vi đều trở thành quy phạm xã hội. Các quy phạm này vừa hợp lý về mặt pháp lý vừa mang tính văn hóa-xã hội. Các quy chuẩn ràng buộc các thành viên ASEAN với nhau và đã được chuyển giao cho các cơ quan tiểu vùng. Như đã đề cập trước đó, hầu hết các thể chế của ASEAN đều được thúc đẩy bởi hai khái niệm – vai trò trung tâm của ASEAN và phương thức ASEAN. Vị trí trung tâm của ASEAN ám chỉ việc ASEAN là điểm tựa cho tất cả các thể chế ngoài khu vực, nghĩa là các thể chế này được xây dựng xung quanh ASEAN và chủ yếu do ASEAN lãnh đạo. Phương thức ASEAN ám chỉ cơ chế hoạt động của các thể chế trên nguyên tắc đồng thuận ở mức độ cao. Hai đặc điểm này được thể hiện rõ ở hầu hết các thể chế do ASEAN lãnh đạo, trong đó có ARF và EAS.

EAS mang lại cho ASEAN một số lợi thế để kiềm chế sức ép từ các cường quốc. Thể chế này cung cấp cho ASEAN khả năng ràng buộc Trung Quốc vào các chuẩn mực trong khi cân bằng các khuynh hướng bá quyền của một cường quốc bên ngoài là Mỹ. Hơn nữa, ASEAN tin rằng sự gia tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế sẽ hạn chế các cường quốc hiếu chiến như Trung Quốc. ASEAN tận dụng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng và hy vọng điều này sẽ giảm thiểu xung đột. Do đó, tổ chức này đã tiến tới thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN vào năm 1992. Đồng thời, ASEAN cũng tìm cách tăng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc thông qua việc thiết lập FTA của ASEAN – Trung Quốc, có hiệu lực vào năm 2010.

Như đã lưu ý ở trên, cả Ấn Độ và Nhật Bản đều không còn coi ASEAN là phương tiện tiên quyết để kiềm chế khuynh hướng xét lại của Trung Quốc. Từ chỗ nhiệt tình ủng hộ các cơ chế do ASEAN lãnh đạo, Ấn Độ và Nhật Bản đã chuyển sang áp dụng cách tiếp cận cân bằng quyền lực thông qua Bộ tứ. Nỗ lực này có xu hướng loại trừ và có thể không tính đến lợi ích của ASEAN khi các cường quốc thương lượng với nhau. Do đó, các nước thành viên ASEAN đã cố gắng gắn kết khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với vị trí trung tâm và các thể chế của ASEAN. Tuy nhiên, các cách tiếp cận trái ngược nhau tạo ra một số thách thức đối với Bộ tứ trong việc can dự ASEAN.

Thứ nhất, sự suy giảm vai trò trung tâm của ASEAN kéo theo sự suy giảm lợi ích của tổ chức này. Xu hướng quân sự của Bộ tứ làm dấy lên lo ngại về an ninh trong khu vực và do đó tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh sẽ ngày càng gia tăng. Xung đột có thể xảy ra ở biển Nam Trung Hoa, trung tâm của Đông Nam Á. Tất cả các thành viên Bộ tứ đều đang tăng cường sự hiện diện quân sự trong khu vực. Trước việc các hành vi khiêu khích của Trung Quốc ngày càng lộ liễu, nguy cơ leo thang do vô tình hoặc ngẫu nhiên là khá cao.

Thứ hai, hình ảnh ban đầu của Bộ tứ như một liên minh các nền dân chủ tạo ra lo ngại rằng các vấn đề về nhân quyền và dân chủ có thể thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế. Điều này sẽ làm giảm nhẹ nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ và tôn trọng chủ quyền mà hầu hết các nước Đông Nam Á coi trọng. Mặc dù đã nhắc lại cam kết duy trì trật tự dựa trên quy tắc, nhưng Bộ tứ và ASEAN đều sẽ trì hoãn những việc họ nên làm và có thể làm. Phương thức ASEAN tập trung vào các cơ chế đối thoại không chính thức và xây dựng đồng thuận giữa các thành viên. Bộ tứ cũng nhắm tới mục tiêu thực thi các quy tắc này nhưng bằng cách thách thức các hành vi vi phạm và khẳng định trật tự thông qua lực lượng quân sự. Các hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở biển Nam Trung Hoa và các hoạt động quân sự của đồng minh trong khu vực không hoàn toàn phù hợp với cách tiếp cận của ASEAN. Tuy nhiên, chúng phục vụ một mục đích quan trọng: thể hiện quyết tâm ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng và sự quyết đoán của Trung Quốc.

Cuối cùng, ASEAN lo ngại rằng sự xuất hiện của Bộ tứ có thể buộc tổ chức này phải chọn phe trong cuộc xung đột địa chính trị đang nổi lên. Thực vậy, việc phải lựa chọn giữa Trung Quốc và liên minh do Mỹ dẫn dắt sẽ gây chia rẽ trong nội bộ ASEAN. Các thành viên ASEAN có xu hướng can dự với nhiều bên để tối đa hóa lợi ích. Trung Quốc đã nổi lên như một đối tác kinh tế quan trọng trong thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư. Tuy nhiên, các thành viên Bộ tứ không chỉ là những đối tác kinh tế quan trọng mà còn là những nhà hỗ trợ truyền thống cho các thành viên ASEAN trong lĩnh vực chính trị và an ninh. Việc lựa chọn một trong hai bên có thể khiến các thành viên ASEAN rơi vào tình thế nguy hiểm về kinh tế hoặc mở ra thời kỳ bất ổn chính trị trong khi vực.

Bất chấp những thách thức này, ASEAN và Bộ tứ vẫn có một số điểm tương đồng. Thứ nhất, nếu Bộ tứ có thể điều chỉnh cách tiếp cận của mình sao cho phù hợp với các chiến lược phòng ngừa rủi ro của ASEAN, thì ASEAN và Bộ tứ có thể có được sự đồng thuận đáng kể. Các nước Bộ tứ đã biến việc mang lại các dự án cơ sở hạ tầng và kết nối cho khu vực là tâm điểm của nhóm. Điều này đã được thể hiện ở một số sáng kiến đang được các thành viên của nhóm triển khai thực hiện. Các nước thành viên ASEAN có thể sẽ hoan nghênh các sáng kiến như vậy. Điều này được phản ánh trong AOIP. Thứ hai, việc tập trung vào các vấn đề an ninh “mềm” như viện trợ nhân đạo và cứu trợ giảm thiểu hậu quả thiên tai, chống cướp biển và khủng bố có thể gia tăng sự đồng thuận trong các hoạt động quân sự giữa Bộ tứ và ASEAN. Điều này có thể dẫn tới các cuộc đàm phán về những vấn đề liên quan đến thể chế như thành lập một nhóm chuyên gia về chương trình nghị sự an ninh phi truyền thống giữa hai bên.

Hiện tại, mối quan hệ giữa Bộ tứ và ASEAN vẫn chưa chắc chắn. Có nhiều thách thức hơn là các điểm chung. Các thành viên Bộ tứ, những nước đã nhiệt tình ủng hộ khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, vẫn đang phát triển các chiến lược để kiềm chế Trung Quốc. Trong bối cảnh không ngừng thay đổi này, ASEAN đã áp dụng cách tiếp cận “chờ đợi và thận trọng”. Tuy nhiên, sự hợp tác về thể chế giữa Bộ tứ và ASEAN đã và đang diễn ra. Mọi việc phần lớn sẽ phụ thuộc vào diễn biến của trò chơi cân bằng quyền lực ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nếu Trung Quốc thành công trong việc phá vỡ trật tự do Mỹ dẫn đầu trong khu vực, thì việc Bộ tứ hy vọng ASEAN có thể đứng vững trước sức mạnh của Trung Quốc sẽ là điều vô ích. Nếu Bộ tứ thành công trong việc giải quyết những mâu thuẫn nội bộ và kiềm chế sự quyết đoán của Trung Quốc về mặt quân sự, thì ASEAN không thể khổng để mắt đến Bộ tứ. Cuộc chiến giữa các thể chế ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chỉ mới bắt đầu.

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần VII


Bất chấp sự gia tăng của các hoạt động hợp tác kinh tế, các nước Đông Nam Á vẫn nhận thức sâu sắc về sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực an ninh giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực. Vì vậy, một số quốc gia chủ chốt ở Đông Nam Á đã tìm cách thu hút sự tham gia của Mỹ và các nước trong khu vực nhằm giảm thiểu rủi ro khi can dự với Trung Quốc.

Ví dụ, Việt Nam đã nỗ lực cải thiện quan hệ với Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh. Năm 2013, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Mỹ Barack Obama khi đó đã ký Hiệp định đối tác toàn diện Việt – Mỹ, nâng tầmquan hệ giữa hai nước. Tháng 6/2015, hai nước đã ký Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng, cam kết tăng cường hơn nữa quan hệ quốc phòng song phương. Mỹ cũng thông báo sẽ hỗ trợ Việt Nam 18 triệu USD để cải thiện khả năng phòng thủ trên biển. Năm 2016, Tổng thống Obama đã dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam. Việt Nam cũng duy trì quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Ấn Độ và Nga (ngoài Trung Quốc). Nga là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu của Việt Nam và có lợi ích đáng kể trong lĩnh vực năng lượng quốc gia Đông Nam Á này. Việt Nam cũng đã sở hữu các phương tiện ngăn chặn xâm nhập khu vực như tàu ngầm lớp Kilo, máy bay chiến đấu Su-30MK2 và tên lửa chống tiếp cận. Thông qua các thương vụ mua bán vũ khí, Việt Nam muốn cảnh báo Trung Quốc về những thách thức mà nước này sẽ phải đối mặt nếu có xung đột quân sự Việt Nam.

Những hành động tương tự cũng diễn ra ở Philippines. Mặc dù Tổng thống Duterte đã đầu tư công sức đáng kể vào việc thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, nhưng chính quyền của ông vẫn không từ bỏ Mỹ. Do ngày càng thất vọng về Trung Quốc, Chính quyền Philippines đã bắt đầu tái can dự với Mỹ và âm thầm mở rộng quan hệ quốc phòng với nước này. Cuộc tập trận thường niên BALIKATAN đã chứng kiến sự gia tăng quân số từ 5000 người trong năm 2017 lên 8000 người vào năm 2018 và 7500 người vào năm 2019. Hơn nữa, Philippines dự kiến là nước hưởng lợi nhiều nhất từ Tài trợ quân sự nước ngoài cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trị giá 300 triệu USD. Mỹ cũng đã tăng cường hỗ trợ kinh tế cho Philippines trong khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thông qua Mạng lưới hỗ trợ giao dịch cơ sở hạ tầng, được thực hiện thông qua Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ, nước này đang cố gắng hiện thực hóa khoản đầu tư trị giá 5 tỷ USD vào Philippines. Bất chấp những lời kêu gọi trước đó về việc hủy bỏ Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng với Mỹ, tháng 11/2020, Tổng thống Duterter vẫn quyết định gia hạn thỏa thuận này cho đến khi có thể đàm phán lại.

Philippines cũng đã cố gắng đa dạng hóa đối tác bằng cách tiếp cận Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác quốc phòng giữa Hàn Quốc và Philippines đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Mới đây, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ về việc mua bán một tàu hộ tống cỡ nhỏ. Thông qua Đạo luật hiện đại hóa lực lượng vũ trang, Philippines cũng đang tìm cách mua máy bay FA-50 từ Hàn Quốc, ngoài Gripen hoặc F-16. Hàn Quốc cũng đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược với Nhật Bản vào năm 2011 và hiện là nhà cung cấp viện trợ phát triển lớn nhất của Philippines. Hợp tác quốc phòng của nước này với Nhật Bả cũng đang gia tăng với thỏa thuận chuyển giao các máy bay giám sát hàng hải và tàu tuần tra. Cuối cùng, Ấn Độ và Philippines đang tìm cách tăng cường quan hệ song phương. Đối thoại chính trị và quốc phòng giữa hai nước đang gia tăng và Ấn Độ đang đàm phán về việc xuất khẩu tên lửa hành trình Brahmos sang Philippines. Về mặt kinh tế, hai nước đang đàm phán một hiệp ước đầu tư song phương mới. Các công ty Wipro và GMR của Ấn Độ đã đầu tư đáng kể vào Philippines.

Sự xuất hiện của Bộ tứ có thể làm suy yếu vai trò và vị trí trung tâm của ASEAN trong khu vực và đây là mối quan tâm chung của tất cả các thành viên của tổ chức này. Hầu hết các nước tiếp tục giữ im lặng trước khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Việt Nam và Indonesia là hai quốc gia đã ủng hộ và đề cập đến khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” trong các phát ngôn chính sách chính thức. Tuy nhiên, cả hai quốc gia cũng nhận thức được khả năng ASEAN đánh mất vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh khu vực. Do đó, hai nước đã lựa chọn cách tiếp cận cân bằng trong việc can dự – vừa để duy trì vai trò trung tâm của ASEAN vừa để tránh mọi động thái có thể làm đảo lộn mối quan hệ với Trung Quốc.

Indonesia ủng hộ khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm nâng cao lợi thế của ASEAN. Nước này đã tích cực thuyết phục các thành viên khác của ASEAN áp dụng cách tiếp cận này và coi đó là lập trường chính thức của ASEAN. Cách tiếp cận được trình bày trong “Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (AOIP)” theo đề xuất của Indonesia đã được thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 hôm 23/6/2019. Theo chuyên gia Hoàng Thị Hà đến từ Viện nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, AOIP tuân thủ nguyên tắc về vai trò trung tâm của ASEAN thông qua các cơ chế do ASEAN dẫn đầu, dựa trên đối thoại và hợp tác, đồng thời hướng tới mục tiêu xây dựng một trật tự khu vực mang tính cởi mở và bao trùm. AOIP tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN giữa bối cảnh cạnh tranh nước lớn liên quan đến sự nổi lên của cấu trúc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ngoài ra, chuyên gia Hoàng Thị Hà cũng lưu ý: “AOIP chuyển hướng sự chú ý từ cạnh tranh chiến lược sang hợp tác kinh tế – chức năng”. Do đó, AOIP được Indonesia ủng hộ nhằm mục tiêu tái khẳng định vai trò trung tâm của ASEAN cũng như việc phương thức ASEAN là phương tiện hợp tác chính trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Khi can dự với các thành viên Bộ tứ, Indonesia đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc kết hợp và hài hòa giữa khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và các nguyên tắc cơ bản của ASEAN. Thông cáo báo chí chúng của Ấn Độ và Indonesia năm 2018 nêu rõ: “Khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cũng phải được phát triển một cách minh bạch và toàn diện trên tinh thần cởi mở, tôn trọng luật pháp quốc tế và đề cao vai trò trung tâm của ASEAN”. Tương tự, Đối thoại 2+2 Indonesia – Nhật Bản đã ra tuyên bố: “Bốn bộ trưởng đều nhất trí rằng Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có nhiều điểm chung về nguyên tắc cơ bản với Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Phát biểu tại Ấn Độ vào tháng 3/2018, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khi đó đã gọi khu vực này là Ấn Độ Dương – châu Á – Thái Bình Dương. Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Ấn Độ can dự với ASEAN và duy trì vai trò trung tâm của ASEAN thông qua chính sách “Hành động Hướng Đông”. Năm 2019, khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chính thức đi vào kho từ vựng tiếng VIệt khi nó xuất hiện trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Mặc dù văn bản này được xem là lời cảnh báo đối với Trung Quốc, nhưng nó cũng thể hiện sự thận trọng của Việt Nam trong cách tiếp cận khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nó củng cố vai trò trung tâm của ASEAN khi nêu rõ: “VIệt Nam đã sẵn sàng tham gia các cơ chế hợp tác an ninh, quốc phòng phù hợp với khả năng và lợi ích của mình, trong đó có các cơ chế an ninh và quốc phòng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương… Việt nam ủng hộ việc mở rộng hợp tác giữa ASEAN và các đối tác bên ngoài trong khuôn khổ các cơ chế an ninh đa phương do ASEAN dẫn dắt trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc, tiêu chuẩn và quy định cơ bản của ASEAN”.

Do đó, cách tiếp cận của ASEAN đối với Bộ tứ là cố gắng duy trì vai trò trung tâm trong cấu trúc an ninh mới nổi, thông qua việc nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp các khái niệm và cách tiếp cận khác nhau về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với các khái niệm như “vai trò trung tâm của ASEAN” và “phương thức ASEAN”. Điều này sẽ cho phép các quốc gia Đông Nam Á duy trì cách tiếp cận theo hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh phải chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính mới xuất hiện.

Kết luận: Hợp lực và chia rẽ

Các nước thành viên của cả ASEAN và Bộ tứ đều lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Sự lo lắng này xuất phát từ việc Trung Quốc có những hành vi ngày càng hiếu chiến, vi phạm các quy tắc và chuẩn mực quốc tế. Mặc dù có những mối quan ngại chung, nhưng ASEAN và Bộ tứ có thể phải đối mặt với những thách thức khi họ nỗ lực hợp tác trong một không gian khu vực chung. Đó là vì hai thể chế có cách tiếp cận khác nhau trong việc kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cách tiếp cận của Bộ tứ dựa trên sự cân bằng quyền lực và là sự đúc rút kinh nghiệm từ chiến lược ngăn chặn của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh, trong khi cách tiếp cận của ASEAN dựa trên việc tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau về thể chế và kinh tế giữa các thành viên và đối tác khu vực nhằm giảm thiểu xung đột. Mặc dù một số nước thành viên Bộ tứ, đặc biệt là Nhật Bản tiếp tục hợp tác kinh tế với Trung Quốc, nhưng hai cách tiếp cận này xét về nguyên tắc không tương thích với nhau. Nếu không có sự can dự đáng kể giữa ASEAN và Bộ tứ, thì ASEAN thì ASEAN có thể cảm thấy bị coi là thứ yếu trong bối cảnh an ninh không ngừng thay đổi ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong khi Bộ tứ vẫn bị cho là hoạt động kém hiệu quả. Các thành viên của hai nhóm sẽ cần phải phát triển các liên kết thể chế và cơ chế đối thoại để phối hợp phương pháp tiếp cận với nhau. Điều này sẽ giúp xây dựng lòng tin và trấn an các nước rằng hành động của nhóm này không làm suy yếu lợi ích của nhóm kia.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần VI


Thứ hai, Bộ tứ cho phép Nhật Bản tăng cường các nguồn lực hiện có để cạnh tranh với Trung Quốc thông qua việc thúc đẩy sự phối hợp giữa các cường quốc hiện diện ở châu Á. Như đã được lưu ý trong cuộc thảo luận về nhận thức của Ấn Độ về Bộ tứ, Nhật Bản và Ấn Độ đã ký một cam kết kinh tế sâu rộng. Sự can dự của Nhật Bản không chỉ nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của Ấn Độ vào kinh tế Trung Quốc mà còn nhằm hỗ trợ sự trỗi dậy của nước này, mở đường cho một châu Á đa cực hơn. Không phải vô cớ mà Ấn Độ là một trong những nước nhận được nhiều ODA nhất của Nhật Bản trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đang phối hợp với Australia và Mỹ hỗ trợ tài chính cho khu vực trong việc đối phó với những thách thức về kết nối, cơ sở hạ tầng và quản trị. Từng nước cũng đang đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng. Năm 2018, Mỹ đã thông qua Đạo luật sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển (BUILD), cam kết đầu tư ra nước ngoài gần 60 tỷ USD. Mỹ cũng đã thông qua đạo luật sáng kiến tái trấn an châu Á, cam kết tài trợ 1,5 tỷ USD/năm trong 5 năm tới cho các hoạt động quân sự, ngoại giao và kinh tế. Australia cũng đã dành 3 tỷ USD để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Thái Bình Dương. Một số sáng kiến ba bên cũng đang được tiến hành. Tháng 11/2019, các tập đoàn tài chính phát triển của Mỹ, Nhật Bản và Australia đã khởi động Mạng lưới Điểm xanh với mong muốn thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức để phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước thứ ba. Những nước này cũng đã tài trợ cho các dự án ở Nam Thái Bình Dương. Họ đang cân nhắc việc đầu tư 1 tỷ USD vào một dự án khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở Papua New Guinea và sẽ tài trợ cho việc phát triển một tuyến cáp quang biển tới đảo quốc Palau ở Thái Bình Dương.

Quan điểm của ASEAN về Bộ tứ

Tại Đối thoại Shangri-La năm 2019, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã có bài phát biểu thể hiện sự cân nhắc kỹ càng của nhà lãnh đạo “đảo quốc sư tử”. Mặc dù ca ngợi các khoản đầu tư của Trung Quốc thông qua BRI, nhưng Thủ tướng Lý Hiển Long cũng hoan nghênh các sáng kiến khác như sáng kiến đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông nói: “Chúng tôi ủng hộ các sáng kiến hợp tác khu vực, vốn là những nền tảng rộng mở và bao trùm để các nước có thể hợp tác trên tinh thần xây dựng và tăng cường hội nhập khu vực”. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng những sáng kiến này nên hướng tới việc tăng cường các thỏa thuận hợp tác tập trung vào ASEAN hiện có, chứ không phải làm suy yếu các thỏa thuận đó, tạo ra các khối đối địch, khắc sâu thêm những rạn nứt hay buộc các nước phải chọn phe. Các quốc gia Đông Nam Á thường xuyên lo ngại rằng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ sẽ làm suy yếu thể chế ASEAN và vai trò trung tâm của tổ chức này trong cấu trúc an ninh khu vực, khiến họ phải lựa chọn giữa Mỹ hoặc Trung Quốc.

Mong muốn duy trì vai trò trung tâm của ASEAN gắn liền với mong muốn duy trì quyền tự chủ và tự do hành động của Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á đã thể hiện xu hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh công khai liên kết với các cường quốc. Việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN cho phép họ duy trì quan hệ hữu hảo với cả Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có được ảnh hưởng nhất định đối với cuộc cạnh tranh địa chính trị mới xuất hiện trong khu vực. Điều này cũng sẽ giúp các nước không phải đưa ra lựa chọn khó khăn giữa đối trọng và đi theo các cường quốc mà vẫn được lợi từ họ.

Hiện tại, chưa có công thức chính xác cho chính sách phòng ngừa rủi ro trong giới học thuật về quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đó là một chính sách hỗn hợp. Theo lưu ý của Evan Mederois, chính sách phòng ngừa rủi ro bao gồm các hành động mâu thuẫn nhau, kể cả việc can dự với các đối thủ để thu lợi trong khi vẫn phát triển các phương án dự phòng để đảm bảo an ninh nếu hành động này thất bại. Ông đã phân tích cách tiếp cận chính sách phòng ngừa rủi ro trong quan hệ Mỹ – Trung trong giai đoạn cuối những năm 1990 – đầu những năm 2000. Trong khi đó, những người khác lại cho rằng đây là cách tiếp cận để quản lý rủi ro liên quan đến việc liên kết với một hoặc nhiều cường quốc. Quan điểm này chú trọng đến các rủi ro an ninh và cách thức tốt nhất để giảm thiểu những rủi ro đó. Phó Giáo sư John Ciorciari, Giám đốc Trung tâm Chính sách quốc tế thuộc Trường Ford, ủng hộ việc Đông Nam Á áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro này. Trong một nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Malaysia và Singapore, phó giáo sư Kuik Cheng-Chwee, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á thuộc Viện nghiên cứu Malaysia và quốc tế (IKMAS) của D(ại học quốc gia Malaysia (UKM), để xuất một khuôn khổ để phân tích chiến lược phòng ngừa rủi ro và các lựa chọn chính sách đi kèm. Ông chia các chiến lược phòng ngừa rủi ro thành hai nhóm – nhóm chiến lược phòng ngừa rủi ro và nhóm chiến lược tối đa háo lợi nhuận. Kuik giải thích: “Tối đa hóa lợi nhuận – thông qua việc phát huy chủ nghĩa thực dụng kinh tế, cam kết ràng buộc và giới hạn phạm vi – cho phép các nước áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro thu được nhiều nhất có thể lợi ích trong lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và chính sách đối ngoại từ các cường quốc khi mọi thứ ổn định. Trong khi đó, phòng ngừa rủi ro, thông qua việc chống lại sự chi phối và gián tiếp đối trọng, nhằm mục đích giảm thiểu tổn thất khi mọi thứ trở nên tồi tệ”.

Đây là cách tiếp cận chính sách đối ngoại phổ biến ở Đông Nam Á. Hầu hết các quốc gia can dự với Trung Quốc, nước nắm giữ bá quyền ở châu Á, chủ yếu vì lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng đang can dự với một số thế lực khác ở bên ngoài nhằm đa dạng hóa quan hệ. Tuy Mỹ là đối tác quan trọng nhất, nhưng Ấn Độ, Nhật Bản và Australia cũng duy trì các mối quan hệ song phương có ý nghĩa quan trọng với Đông Nam Á.

Trung Quốc bắt đầu can dự với Đông Nam Á từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996 – 1997. FTA ASEAN-Trung Quốc được ký kết vào tháng 11/2002 đánh dấu việc hai bên tiến tới tăng cường hợp tác kinh tế. Tính đến năm 2018, Trung Quốc chiếm 17,1% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của ASEAN. Hơn nữa, Trung Quốc cũng duy trì các thỏa thuận song phương nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước, cũng như ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia và Philippines nhằm hạn chế ảnh hưởng của đồng USD trong các giao dịch tiền tệ.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Đông Nam Á đã tìm cách tăng cường hợp tác kinh tế. Thông qua BRI, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn khu vực. Theo một báo cáo, những nước ASEAN nhận được nhiều đầu tư nhất của Trung Quốc liên quan đến sáng kiến trên là Indonesia (171 tỷ USD), Việt Nam (152 tỷ USD), Campuchia (104 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD) và Singapore (70 tỷ USD). Nhiều nước Đông Nam Á đã tham gia BRI bất chấp mối quan hệ an ninh căng thẳng của khu vực này với Trung Quốc. Năm 2004, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu hợp tác kinh tế trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” ở một số lĩnh vực bao gồm thương mại, du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng. Trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2017, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ để thăm dò cơ hội hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc. Đến năm 2019, Trung Quốc đã trở thành nguồn cung FDI lớn thứ hai, chiếm 15,5% tổng vốn FDI, vào Việt Nam năm 2019. Mặc dù Philippines vẫn áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với dự án xây đảo của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, nhưng Tổng thống Rodrigo Duterte đã bắt đầu tiếp cận Trung Quốc để tối đa hóa lợi ích kinh tế. Tuy Tòa trọng tài quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, nhưng nước này vẫn hết sức thận trọng trong lời lẽ đối với Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Duterte, Philippines đã nỗ lực giảm leo thang căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa và thể chế hóa Cơ chế tham vấn song phương vào năm 2016. Hai nước cũng đã nghiên cứu cơ hội cùng nhau thăm dò và khai thác tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa. Trong chính sách “xoay trục sang Trung Quốc”, Tổng thống Duterte cũng cân nhắc việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và đưa đầu tư của Trung Quốc vào Philippines. Năm 2016, sau chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Duterte đã tuyên bố quay trở lại với cam kết đầu tư có giá trị lên tới 24 tỷ USD. Tuy nhiên, cho đến nay, cam kết này nhìn chung vẫn chưa được thực hiện. Tại Malaysia, Trung Quốc đã đầu tư gần 35 tỷ USD vào các dự án xây dựng trong giai đoạn 2010 – 2016. Theo Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia, năm 2020, Trung Quốc đã đầu tư gần 4,4 tỷ USD. Tháng 3/2017, hai nước cũng đã khởi động Sáng kiến khu vực thương mại tự do kỹ thuật số. Câu chuyện tương tự diễn ra ở Indonesia. Trung Quốc là nguồn đầu tư lớn thứ hai của Indonesia. Năm 2020, đầu tư của Trung Quốc vào nước này đạt 8,4 tỷ USD.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021

Bộ Tứ và ASEAN: Quan điểm của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á – Phần V


Thứ hai, Bộ tứ cho phép Nhật Bản tăng cường các nguồn lực hiện có để cạnh tranh với Trung Quốc thông qua việc thúc đẩy sự phối hợp giữa các cường quốc hiện diện ở châu Á. Như đã được lưu ý trong cuộc thảo luận về nhận thức của Ấn Độ về Bộ tứ, Nhật Bản và Ấn Độ đã ký một cam kết kinh tế sâu rộng. Sự can dự của Nhật Bản không chỉ nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc của Ấn Độ vào kinh tế Trung Quốc mà còn nhằm hỗ trợ sự trỗi dậy của nước này, mở đường cho một châu Á đa cực hơn. Không phải vô cớ mà Ấn Độ là một trong những nước nhận được nhiều ODA nhất của Nhật Bản trong 2 thập kỷ qua. Tuy nhiên, Nhật Bản cũng đang phối hợp với Australia và Mỹ hỗ trợ tài chính cho khu vực trong việc đối phó với những thách thức về kết nối, cơ sở hạ tầng và quản trị. Từng nước cũng đang đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng. Năm 2018, Mỹ đã thông qua Đạo luật sử dụng hiệu quả hơn các khoản đầu tư phát triển (BUILD), cam kết đầu tư ra nước ngoài gần 60 tỷ USD. Mỹ cũng đã thông qua đạo luật sáng kiến tái trấn an châu Á, cam kết tài trợ 1,5 tỷ USD/năm trong 5 năm tới cho các hoạt động quân sự, ngoại giao và kinh tế. Australia cũng đã dành 3 tỷ USD để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ở Thái Bình Dương. Một số sáng kiến ba bên cũng đang được tiến hành. Tháng 11/2019, các tập đoàn tài chính phát triển của Mỹ, Nhật Bản và Australia đã khởi động Mạng lưới Điểm xanh với mong muốn thúc đẩy các tiêu chuẩn đạo đức để phát triển cơ sở hạ tầng ở các nước thứ ba. Những nước này cũng đã tài trợ cho các dự án ở Nam Thái Bình Dương. Họ đang cân nhắc việc đầu tư 1 tỷ USD vào một dự án khí đốt tự nhiên hóa lỏng ở Papua New Guinea và sẽ tài trợ cho việc phát triển một tuyến cáp quang biển tới đảo quốc Palau ở Thái Bình Dương.

Quan điểm của ASEAN về Bộ tứ

Tại Đối thoại Shangri-La năm 2019, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã có bài phát biểu thể hiện sự cân nhắc kỹ càng của nhà lãnh đạo “đảo quốc sư tử”. Mặc dù ca ngợi các khoản đầu tư của Trung Quốc thông qua BRI, nhưng Thủ tướng Lý Hiển Long cũng hoan nghênh các sáng kiến khác như sáng kiến đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông nói: “Chúng tôi ủng hộ các sáng kiến hợp tác khu vực, vốn là những nền tảng rộng mở và bao trùm để các nước có thể hợp tác trên tinh thần xây dựng và tăng cường hội nhập khu vực”. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng những sáng kiến này nên hướng tới việc tăng cường các thỏa thuận hợp tác tập trung vào ASEAN hiện có, chứ không phải làm suy yếu các thỏa thuận đó, tạo ra các khối đối địch, khắc sâu thêm những rạn nứt hay buộc các nước phải chọn phe. Các quốc gia Đông Nam Á thường xuyên lo ngại rằng khái niệm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Bộ tứ sẽ làm suy yếu thể chế ASEAN và vai trò trung tâm của tổ chức này trong cấu trúc an ninh khu vực, khiến họ phải lựa chọn giữa Mỹ hoặc Trung Quốc.

Mong muốn duy trì vai trò trung tâm của ASEAN gắn liền với mong muốn duy trì quyền tự chủ và tự do hành động của Đông Nam Á. Các nước Đông Nam Á đã thể hiện xu hướng phòng ngừa trong chính sách đối ngoại và tránh công khai liên kết với các cường quốc. Việc duy trì vai trò trung tâm của ASEAN cho phép họ duy trì quan hệ hữu hảo với cả Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có được ảnh hưởng nhất định đối với cuộc cạnh tranh địa chính trị mới xuất hiện trong khu vực. Điều này cũng sẽ giúp các nước không phải đưa ra lựa chọn khó khăn giữa đối trọng và đi theo các cường quốc mà vẫn được lợi từ họ.

Hiện tại, chưa có công thức chính xác cho chính sách phòng ngừa rủi ro trong giới học thuật về quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, hầu hết các học giả đều nhất trí rằng đó là một chính sách hỗn hợp. Theo lưu ý của Evan Mederois, chính sách phòng ngừa rủi ro bao gồm các hành động mâu thuẫn nhau, kể cả việc can dự với các đối thủ để thu lợi trong khi vẫn phát triển các phương án dự phòng để đảm bảo an ninh nếu hành động này thất bại. Ông đã phân tích cách tiếp cận chính sách phòng ngừa rủi ro trong quan hệ Mỹ – Trung trong giai đoạn cuối những năm 1990 – đầu những năm 2000. Trong khi đó, những người khác lại cho rằng đây là cách tiếp cận để quản lý rủi ro liên quan đến việc liên kết với một hoặc nhiều cường quốc. Quan điểm này chú trọng đến các rủi ro an ninh và cách thức tốt nhất để giảm thiểu những rủi ro đó. Phó Giáo sư John Ciorciari, Giám đốc Trung tâm Chính sách quốc tế thuộc Trường Ford, ủng hộ việc Đông Nam Á áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro này. Trong một nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Malaysia và Singapore, phó giáo sư Kuik Cheng-Chwee, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu châu Á thuộc Viện nghiên cứu Malaysia và quốc tế (IKMAS) của D(ại học quốc gia Malaysia (UKM), để xuất một khuôn khổ để phân tích chiến lược phòng ngừa rủi ro và các lựa chọn chính sách đi kèm. Ông chia các chiến lược phòng ngừa rủi ro thành hai nhóm – nhóm chiến lược phòng ngừa rủi ro và nhóm chiến lược tối đa háo lợi nhuận. Kuik giải thích: “Tối đa hóa lợi nhuận – thông qua việc phát huy chủ nghĩa thực dụng kinh tế, cam kết ràng buộc và giới hạn phạm vi – cho phép các nước áp dụng phương pháp phòng ngừa rủi ro thu được nhiều nhất có thể lợi ích trong lĩnh vực kinh tế, ngoại giao và chính sách đối ngoại từ các cường quốc khi mọi thứ ổn định. Trong khi đó, phòng ngừa rủi ro, thông qua việc chống lại sự chi phối và gián tiếp đối trọng, nhằm mục đích giảm thiểu tổn thất khi mọi thứ trở nên tồi tệ”.

Đây là cách tiếp cận chính sách đối ngoại phổ biến ở Đông Nam Á. Hầu hết các quốc gia can dự với Trung Quốc, nước nắm giữ bá quyền ở châu Á, chủ yếu vì lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, các quốc gia này cũng đang can dự với một số thế lực khác ở bên ngoài nhằm đa dạng hóa quan hệ. Tuy Mỹ là đối tác quan trọng nhất, nhưng Ấn Độ, Nhật Bản và Australia cũng duy trì các mối quan hệ song phương có ý nghĩa quan trọng với Đông Nam Á.

Trung Quốc bắt đầu can dự với Đông Nam Á từ sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996 – 1997. FTA ASEAN-Trung Quốc được ký kết vào tháng 11/2002 đánh dấu việc hai bên tiến tới tăng cường hợp tác kinh tế. Tính đến năm 2018, Trung Quốc chiếm 17,1% tổng kim ngạch thương mại hàng hóa của ASEAN. Hơn nữa, Trung Quốc cũng duy trì các thỏa thuận song phương nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước, cũng như ký hợp đồng hoán đổi tiền tệ với Indonesia, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia và Philippines nhằm hạn chế ảnh hưởng của đồng USD trong các giao dịch tiền tệ.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Đông Nam Á đã tìm cách tăng cường hợp tác kinh tế. Thông qua BRI, Trung Quốc đã đầu tư đáng kể vào phát triển cơ sở hạ tầng trên toàn khu vực. Theo một báo cáo, những nước ASEAN nhận được nhiều đầu tư nhất của Trung Quốc liên quan đến sáng kiến trên là Indonesia (171 tỷ USD), Việt Nam (152 tỷ USD), Campuchia (104 tỷ USD), Malaysia (98 tỷ USD) và Singapore (70 tỷ USD). Nhiều nước Đông Nam Á đã tham gia BRI bất chấp mối quan hệ an ninh căng thẳng của khu vực này với Trung Quốc. Năm 2004, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu hợp tác kinh tế trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai” ở một số lĩnh vực bao gồm thương mại, du lịch và phát triển cơ sở hạ tầng. Trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2017, hai nước đã ký biên bản ghi nhớ để thăm dò cơ hội hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc. Đến năm 2019, Trung Quốc đã trở thành nguồn cung FDI lớn thứ hai, chiếm 15,5% tổng vốn FDI, vào Việt Nam năm 2019. Mặc dù Philippines vẫn áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với dự án xây đảo của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa, nhưng Tổng thống Rodrigo Duterte đã bắt đầu tiếp cận Trung Quốc để tối đa hóa lợi ích kinh tế. Tuy Tòa trọng tài quốc tế tại La Haye đã ra phán quyết có lợi cho Philippines trong vụ kiện Trung Quốc về các tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa, nhưng nước này vẫn hết sức thận trọng trong lời lẽ đối với Trung Quốc. Dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Duterte, Philippines đã nỗ lực giảm leo thang căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa và thể chế hóa Cơ chế tham vấn song phương vào năm 2016. Hai nước cũng đã nghiên cứu cơ hội cùng nhau thăm dò và khai thác tài nguyên ở biển Nam Trung Hoa. Trong chính sách “xoay trục sang Trung Quốc”, Tổng thống Duterte cũng cân nhắc việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc và đưa đầu tư của Trung Quốc vào Philippines. Năm 2016, sau chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Duterte đã tuyên bố quay trở lại với cam kết đầu tư có giá trị lên tới 24 tỷ USD. Tuy nhiên, cho đến nay, cam kết này nhìn chung vẫn chưa được thực hiện. Tại Malaysia, Trung Quốc đã đầu tư gần 35 tỷ USD vào các dự án xây dựng trong giai đoạn 2010 – 2016. Theo Cơ quan phát triển đầu tư Malaysia, năm 2020, Trung Quốc đã đầu tư gần 4,4 tỷ USD. Tháng 3/2017, hai nước cũng đã khởi động Sáng kiến khu vực thương mại tự do kỹ thuật số. Câu chuyện tương tự diễn ra ở Indonesia. Trung Quốc là nguồn đầu tư lớn thứ hai của Indonesia. Năm 2020, đầu tư của Trung Quốc vào nước này đạt 8,4 tỷ USD.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện nghiên cứu Nam Á, Quỹ hòa bình Sasakawa, tháng 10/2021

CVĐQT – số 11/2021