Dữ liệu là quyền lực: Hoa Kỳ cần xây dựng các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số – Phần II


Chắp nối các quy tắc

Các thể chế quốc tế hiện nay chưa được trang bị để xử lý sự gia tăng nhanh của dữ liệu. Họ cũng chưa chuẩn bị để giải quyết những đứt gãy đang xuất hiện trong việc làm thế nào để tiếp cận dữ liệu. Khuôn khổ thể chế áp dụng cho thương mại quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới và tổ chức tiền nhiệm của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và mậu dịch, được xây dựng vào thời điểm mà chủ yếu là hàng hóa nông nghiệp và sản xuất được vận chuyển qua biên giới và các luồng dữ liệu chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết hư cấu. Khuôn khổ của WTO phụ thuộc vào hai cách thức phân loại chính: xem là một thứ gì đó là hàng hóa hay dịch vụ và xem là nó xuất xứ từ đâu. Hàng hóa được kiểm soát bằng các quy tắc thương mại khác với các dịch vụ, và xuất xứ của một sản phẩm xác định các loại thuế hoặc các hạn chế thương mại được áp dụng.

Dữ liệu thách thức kiểu phân loại cơ bản này vì nhiều lý do. Thứ nhất là do lượng lớn dữ liệu – chẳng hạn như hoạt động duyệt trực tuyến của một người trước khi đặt mua quần áo – là những hệ quả không thể định giá của việc sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ khác. Thứ hai là thường khó xác định nơi dữ liệu được tạo ra và lưu trữ. Dữ liệu về hiệu suất kỹ thuật của một chuyến bay quốc tế bắt nguồn từ quốc gia nào? Công ty đa quốc gia lưu trữ dữ liệu trên đám mây của khách hàng ở quốc gia nào? Hơn nữa, không có phân loại thống nhất về việc định giá dữ liệu. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại, các nước thành viên của WTO có thể tìm biện pháp pháp lý và yêu cầu tổ chức này sửa một lần, nhưng các bản sửa lỗi đó không giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản giữa khuôn khổ của WTO và bản chất của dữ liệu.

Việc thiếu một khuôn khổ quản lý dữ liệu được thế giới chấp nhận tạo ra những câu hỏi lớn chưa được giải đáp về nền kinh tế toàn cầu và an ninh quốc gia.

Liệu các quốc gia có chủ quyền có thể giới hạn vị trí và việc sử dụng dữ liệu công dân của họ trong biên giới quốc gia đó không? Khái niệm này thậm chí còn có ý nghĩa gì khi đám mây và dữ liệu của nó được phân phối trên Internet? Liệu các chính phủ có thể đánh thuế sự xuất hiện của dữ liệu từ các quốc gia khác, giống như việc họ đánh thuế nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ? Điều này sẽ hoạt động như thế nào khi bản thân các luồng dữ liệu thường không được định giá, ít nhất là trong các công ty thu thập dữ liệu? Quốc gia có chủ quyền có thể áp đặt những biện pháp kiểm soát nào đối với dữ liệu nhập vào quốc gia của họ? Họ có thể yêu cầu dữ liệu được lưu trữ cục bộ hoặc họ được cấp quyền truy cập vào dữ liệu đó không?

VIệc không có một khuôn khổ quốc tế cũng đe dọa quyền riêng tư của mọi người dân. Ai sẽ đảm bảo rằng các chính phủ hoặc các tác nhân khác không lạm dụng dữ liệu của mọi người và vi phạm các quyền kinh tế, chính trị và quyền con người của họ?

Làm cách nào để các chính phủ có thể bảo vệ quyền riêng tư của công dân trong khi vẫn cho phép dữ liệu di chuyển xuyên biên giới? Hiện nay, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu không nhất trí về câu trả lời cho những câu hỏi này, gây ra mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến hợp tác thương mại, đầu tư và an ninh quốc gia.

Về phần mình, Trung Quốc thể hiện rất ít cam kết về quyền riêng tư. Nếu không có các phương pháp phổ biến và có thể xác minh để ẩn danh dữ liệu nhằm bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, thì khả năng đổi mới sáng tạo từ dữ liệu cá nhân sẽ bị mất, hoặc các quyền cơ bản sẽ bị vi phạm.

Trong trường hợp không có câu trả lời thống nhất và mang tính tập thể cho những câu hỏi này, thì các quốc gia và các khối thương mại đang tự ứng biến. Điều này vô hình trung tạo ra một tập hợp các quy định thiếu nhất quán, mơ hồ và chắp vá. Các thỏa thuận thương mại khu vực gần đây đã bao gồm một số điều khoản liên quan đến dữ liệu và thương mại điện tử. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (không bao gồm Hoa Kỳ) không cho phép các yêu cầu lưu trữ dữ liệu trong một quốc gia nhất định và cấm áp dụng thuế đối với các luồng nội dung điện tử xuyên biên giới. Hiệp định này cũng thừa nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật số, và cấm các nước tham gia Hiệp định không được yêu cầu quyền truy cấp vào mã nguồn phần mềm của các công ty. Hiệp định Hoa Kỳ – Mexico – Canada (USMCA) cũng đặt ra các điều khoản tương tự.

Cả hai hiệp định thương mại tự do đều nhằm mục đích cho phép các luồng dữ liệu không bị cản trở, nhưng phần lớn chúng chưa được kiểm định và bị hạn chế, do có tính chất khu vực.

Liên minh châu Âu làm rõ các quy định dữ liệu về quyền riêng tư trong Quy định chung về Bảo vệ dữ liệu, bằng cách này cố gắng trao quyền cho các cá nhân tự quyết định cách thức các công ty có thể sử dụng dữ liệu của họ. Tuy nhiên, nhiều người bày tỏ lo ngại rằng Quy định này đã thiết lập thành công các rào cản thương mại đối với các công ty nước ngoài đang hoạt động tại các quốc gia thành viên EU với những yêu cầu về các biện pháp tuân thủ tốn kém và tăng rủi ro trách nhiệm pháp lý của thị trường châu Âu. Hơn nữa, các quy tắc của EU là chủ đề tranh cãi và kiện tụng liên tục.

Mối quan tâm lớn hơn đối với Hoa Kỳ là hệ sinh thái kỹ thuật số khác biệt của Trung Quốc. Hơn một thế hệ trước, Trung Quốc đã bắt đầu thiết lập “Vạn lý hỏa tường” – một sự kết hợp giữa luật pháp và công nghệ nhằm hạn chế luồng dữ liệu ra vào Trung Quốc, một phần bằng cách ngăn chặn các trang web nước ngoài. Kể từ đó, Trung Quốc đã áp dụng mô hình quốc gia công nghệ bắt buộc phải cho phép chính phủ truy cập vào dữ liệu được tạo ra ở trong nước. Số lượng dữ liệu tuyệt đối đó thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo của Trung Quốc nhưng cũng cho phép hoạt động kiểm soát và giám sát chặt chẽ của quốc gia này, và với chi phí là các luồng dữ liệu quốc tế mở.

Hiện Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng mô hình này với kế hoạch rõ ràng là sử dụng ngành công nghệ bản địa để thống trị các nền tảng kỹ thuật số quản lý dữ liệu, mới nhất là các mạng lưới viễn thông 5G. Để đạt được mục tiêu đó, Trung Quốc đã công bố một kế hoạch táo bạo Tiêu chuẩn Trung Quốc 2035 nhằm thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu về các công nghệ mới nổi. Và thông qua cái gọi là Con đường tơ lụa kỹ thuật số và Sáng kiến Vành đai và Con đường rộng lớn hơn, Trung Quốc đang nỗ lực truyền bá mô hình quản trị dữ liệu và mở rộng quyền truy cập và dữ liệu bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng Internet ở nước ngoài và thúc đẩy thương mại kỹ thuật số.

Còn Hoa Kỳ thì sao? Ở cấp độ liên bang, quốc gia này không giải quyết theo bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào. Ngoài Hiệp định thương mại USMCA, họ cũng không tham gia vào bất kỳ thỏa thuận xuyên biên giới có ý nghãi nào về các luồng dữ liệu. Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa đáp lại những nỗ lực của Trung Quốc bằng một kế hoạch mạch lạc nhằm định hình các tiêu chuẩn công nghệ hoặc đảm bảo các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư trên diện rộng. Các phản ứng đặc biệt của Hoa Kỳ và các nỗ lực có mục tiêu nhằm khuyến khích các quốc gia khác từ chối công nghệ 5G của công ty Trung Quốc Huawei có thể sẽ phát huy tác dụng trong thời gian tới. Nhưng chúng không tạo thành một kế hoạch dài hạn hiệu quả để khai thác sức mạnh của dữ liệu.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Nguyễn

Nguồn: Matthew J. Slaughter & David H. McCormik – Data is Power: Washington needs to craft new rules for the digital age – Foreign Affairs – May/June 2021, p54-62

TN 2021 – 74

Các nhóm vũ trang sắc tộc Myanmar thời hậu đảo chính


Ở các vùng biên giới của Myanmar, những hành động tàn bạo của quân đội không phải là điều gần đây mới xảy ra. Do đó, cư dân thuộc các nhóm sắc tộc sinh sống ở các khu vực này đã phải đối mặt với kết quả của cuộc đảo chính tháng 2/2021 với các mức độ can dự khác nhau và với những chiến lược riêng biệt. Họ cũng đã phải đối mặt với những hậu quả theo những cách không giống nhau.

Những tuần gần đây đã chứng kiến những nỗ lực mới nhằm cùng nhau đoàn kết dưới một ngọn cờ, trong khi cùng lúc chính quyền quân sự đã mời các nhóm vũ trang tham gia đàm phán. Cơ hội cho một Myanmar được giải phóng với nhiều quyền tự trị hơn cho các nhóm sắc tộc và vai trò của Chính phủ Thống nhất Quốc gia (NUG) trong một Myanmar như vậy sẽ như thế nào? Yawd Serk, thủ lĩnh của một trong những nhóm vũ trang sắc tộc có ảnh hưởng nhất ở Myanmar, trước đây đã kịch liệt chỉ trích chế độ sát hại gần 2000 thường dân. Ngày nay, ông được nhà lãnh đạo của chính quyền quân sự tiếp đón trong cung điện. Ngay sau cuộc đảo chính, Yawd Serk tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo của hội đồng quân đội “phải chịu trách nhiệm”, đồng thời “10 nhóm vũ trang kiên quyết đứng lên bảo vệ người dân”. Nhóm vũ trang sắc tộc Quân đội Nhà nước Shan-miền Nam (SSA-S) của Yawd Serk là một trong số 10 nhóm vũ trang trước đây đã ký Thỏa thuận ngừng bắn trên toàn quốc (NCA), nhưng sau khi quân đội tiếp quản, họ tuyên bố ủng hộ Phong trào Bất tuân dân sự (CDM) – một phong trào nhằm tìm cách làm tê liệt cơ quan hành chính, lĩnh vực năng lượng của chính quyền quân sự và khuyến khích quân đội đào ngũ.

Năm 2019, Yawd Serk cũng từng phát biểu rằng “đầu tiên, hệ thống quản trị của chúng ta phải là một hệ thống dân chủ liên bang. Tất cả chúng ta đều biết rằng chế độ độc tài quân sự là hoàn toàn không tốt”. Vào thời điểm đó, nhà lãnh đạo của SSA-S đã chỉ ra sự cần thiết phải thay đổi Hiến pháp năm 2008 và “tập trung thảo luận về việc quân đội Myanmar sẽ làm thay đổi vấn đề an ninh như thế nào”. Tuy nhiên, đến giữa năm 2022, sau một năm chiến đấu và hàng nghìn người trên khắp bang Shan, bang Kayah và các nơi khác trên đất nước bị mất nhà cửa, Yawd Serk là đại diện đầu tiên của các nhóm vũ trang sắc tộc bắt tay với chế độ để tiến hành các cuộc đàm phán hòa bình. Yawd Serk cho biết các cuộc đàm phán đã diễn ra “suôn sẻ” và hai bên không có nhiều khác biệt.

Trong khi đó, thông tin về các cuộc tấn công của các lực lượng của chế độ quân sự, chẳng hạn như vụ phóng hỏa hơn 40 ngôi nhà ở bang Shan, vẫn tiếp tục xuất hiện. Nhiều người bày tỏ sự phẫn nộ trước việc Yawd Serk giúp chính quyền quân sự củng cố tính hợp lệ, trong khi đối với những người khác, đó là một lời nhắc nhở rất rõ ràng về thực tế rằng tất cả những người nắm giữ vũ khí ở Myanmar đều không có tính hợp pháp dân chủ. Những diễn biến này diễn ra sau khi có các thông tin căng thẳng ngày càng tăng giữa các cư dân của bang Shan – vùng lãnh thổ lớn nhất của Myanmar. Tháng 3/2022, người đứng đầu của một tổ chức sắc tộc khác – Đảng Quốc gia Ta’ang – đã bị sát hại cùng với gia đình của mình. Nhiều người đổ lỗi cho SSA-S về hành động đó nhưng nhóm này bác bỏ cáo buộc, nói rằng vụ việc này nhằm cố ý gây thiệt hại cho SSA-S. Tuy nhiên, sự kiện đã gieo rắc nghi ngờ vào các mối quan hệ thân tình giữa các nhóm sắc tộc khác nhau ở bang Shan. Do Myanmar thời hậu đảo chính không tiến hành một cuộc điều tra đáng tin cậy, các lời cáo buộc lẫn nhau càng tăng lên gấp bội.

Trước đây, những nỗ lực nhằm đoàn kết các nhóm vũ trang sắc tộc ở bang Shan do các nhóm tôn giáo khởi xướng đều đã thất bại. Điều đó xảy ra bất chấp những chỉ trích về cuộc đấu đá giữa các nhóm sắc tộc mà theo nhiều nhà bình luận địa phương, có đặc điểm của các cuộc chiến tranh ủy nhiệm được tiến hành vì lợi ích của quân đội, Trung Quốc, hoặc cả hai, hơn là vì người dân. Tình hình luôn phức tạp, phản ánh tính phức tạp của các vấn đề nội bộ ở các khu vực khác. Thành lập một liên minh quân sự giữa các nhóm vũ trang sắc tộc và Lực lượng Phòng vệ Nhân dân (PDF), các lực lượng đứng về phía NUG, chính phủ lưu vong của Myanmar, trên thực tế là một “cuộc đàm phán bất khả thi” – một nhiệm vụ không thể hoàn thành.

Sự chia rẽ đã tồn tại và sẽ còn tiếp tục kéo dài. Mặc dù nhiều nhóm vũ trang đã thực hiện cách tiếp cận chờ đợi và quan sát ngay sau khi cuộc đảo chính diễn ra, song chính quyền quân sự đã có thể động viên hoặc lấy lòng được một số lãnh đạo của các nhóm vũ trang này trong những tháng gần đây. Điều này đã được chứng minh bằng danh sách những người tham gia các cuộc đàm phán hòa bình do các tướng lĩnh dẫn dắt. Theo tuyên bố của phát ngôn viên hội đồng quân sự, Thiếu tướng Zaw Min Tun, Myanmar có 21 tổ chức vũ trang sắc tộc, 10 trong số đó đã chấp nhận lời mời tham gia các cuộc đàm phán. Gần đây, 7 nhóm đã nhận được danh hiệu danh tự từ chính quyền quân sự, tạo tiền đề cho quá trình đàm phán hòa bình diễn ra suôn sẻ. Tuy nhiên, một số nhóm – chẳng hạn như Liên minh Quốc gia Karen, Quân đội Độc lập Kachin, Đảng Tiến bộ Quốc gia Karenni và Mặt trận Quốc gia Chin – đang tích cực tham gia đấu tranh vũ trang chống lại chế độ độc tài, phản đối cuộc đàm phán, cho rằng cuộc đàm phán này không có phổ quát sau khi NUG và PDF bị loại trừ.

Trước tình hình đó, nhiều người tin rằng các cuộc hòa đàm sẽ không mang lại một nền hòa bình lâu dài, do chế độ quân sự lâu nay luôn có “truyền thông” phá vỡ các cam kết của chính họ và rằng các cuộc gặp chỉ là cái cớ để kích động chia rẽ và thuyết phục các nhóm vũ trang rời xa NUG. Nhìn bề ngoài, những sự kiện gần đây là một đòn giáng mạnh vào NUG. NUG đã tìm cách tự định vị mình là đại diện hợp pháp duy nhất của nhân dân Myanmar với chiêu bài thống nhất và dân chủ. Nhưng nhìn sâu hơn, thành công PR của chính quyền quân sự được xây dựng trên địa hình không ổn định vì rất khó có khả năng họ sẽ trao quyền tự quyết dưới bất kỳ hình thức nào cho các cộng đồng sắc tộc như hy vọng của các nhà lãnh đạo được mời. Các nhà lãnh đạo cuộc đảo chính gần đây đã tái khẳng định sự cần thiết phải duy trì Hiến pháp năm 2008, loại bỏ cơ hội sẽ có bất kỳ quyền tự trị thực sự nào.

Vì chế độ quân sự có kế hoạch tổ chức một cuộc tổng tuyển cử vào năm tới, các cuộc đàm phán về chế độ liên bang sẽ bị hoãn lại cho đến khi đó. Tuy nhiên, những người chỉ trích nghi ngờ rằng nếu không thay đổi hiến pháp, một quốc gia liên bang có thể được xây dựng trong tương lai hay không. Do đó, rất có thể, trong những tháng tới, chúng ta sẽ chứng kiến cuộc đấu tranh vũ trang giữa các bên cạnh tranh với nhau sẽ còn kéo dài, với nhiều phe nhóm sẽ đứng về phía chính quyền, hoặc ít nhất là đứng ngoài cuộc chiến này. Trong bối cảnh đó, một thành viên của chính phủ lưu vong gần đây đã gặp bộ trưởng ngoại giao Malaysia. Việc bộ trưởng Ngoại giao Malaysia kêu gọi các thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mở các kênh không chính thức với NUG làm dấy lên câu hỏi họ đã sẵn sàng và quyết tâm tới mức nào để thay đổi tình trạng của Myanmar và cuộc xung đột nội bộ của quốc gia này.

Tuy nhiên, với sự hậu thuẫn của Trung Quốc và Nga, chính quyền quân sự Myanmar không phải lo lắng nhiều. Sức ép của quốc tế đã mang lại kết quả rất hạn chế và các nhóm kháng chiến vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh của họ, yêu cầu phương Tây cung cấp vũ khí sau khi chứng kiến những gì đã xảy ra ở Ukraine. Nhìn vào quốc gia châu Áu đó, nhiều người tự hỏi liệu Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và các nước khác có làm mọi thứ có thể để hỗ trợ các lực lượng ủng hộ dân chủ hay không. Sức mạnh của sự phản kháng chống lại cuộc chiến của Putin đã khiến nhiều nhà quan sát choáng váng, chưa nói đến chính bản thân Putin, người đã tính toán quá kỹ các cơ hội của mình.

Với việc “Myanmar phải hứng chịu tình trạng sự chú ý của các phương tiện thông tin đại chúng hay bị thay đổi” như James Rodehaver của Liên hợp quốc đã nói, cuộc khủng hoảng ở Đông Nam Á này có thể đang rơi vào khu vực bị sao nhãng, thờ ơ và im lặng. Myanmar được chú ý ít hơn nhiều so với Ukraine.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Liệu Trung Quốc có sáp nhập Đài Loan vào năm 2030?


Theo đài BBC, tình báo Mỹ cho biết, Trung Quốc đang xây dựng năng lực quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030, nhưng liệu điều này có khả thi?

Đầu tháng 5/2022, Avril Haines, Giám đốc tình báo quốc gia Mỹ, cho biết mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra đối với Đài Loan đến năm 2030 là “cực kỳ nghiêm trọng”. Trung Quốc hiện không đủ năng lực để xâm lược Đài Loan, nhưng Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030.

Đó là một suy đoán dựa trên các nghiên cứu về việc mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của Trung Quốc.

Ông Sean King, chuyên gia của công ty tư vấn Park Strategies ở New York (Mỹ), cho rằng khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan trong tương lai gần là rất thấp. Liên minh 3 bên Mỹ, Australia và Nhật Bản đã họp bàn về việc làm sao cùng nhau giải quyết mối đe dọa tiềm tàng với Đài Loan. Tập Cận Bình sẽ suy tính kỹ lưỡng trước khi đẩy chế độ của mình vào nguy hiểm.

Đài Loan khác với Ukraine

Cuộc tấn công của Nga ở Ukraine cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng Trung Quốc sẽ thôn tính Đài Loan trong tương lai gần.

Trong chuyến thăm Đông Bắc Á vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden cảnh báo rằng Trung Quốc đang “vờn với mối nguy” xung quanh vấn đề Đài Loan, đồng thời tuyên bố sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ hòn đảo này nếu bị tấn công.

Liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan về mặt quân sự nếu như Trung Quốc xâm lược? Ông Biden khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là “không thay đổi” và thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”.

Ông Sean King nhận định việc Mỹ hiện diện mạnh mẽ ở khu vực sẽ khiến cho Bắc Kinh phải kiêng dè nếu muốn thử bất kỳ điều gì.

Mỹ có 50.000 quân đóng ở Nhật Bản, 28.500 quân ở Hàn Quốc và vài trăm thủy quân lục chiến ở Đài Loan với mục đích tập luyện. Nhiều người cho rằng, Đài Loan và Ukraine có tình cảnh khá giống nhau vì cả hai đều là vùng lãnh thổ độc lập nằm bên cạnh quốc gia có sự tương đồng về mặt văn hóa, nhưng quyền lực hơn nhiều.

Tuy nhiên, ông Sean King lại dẫn chứng, không giống như Ukraine vốn nằm sát Nga với đường biên giới chung dài khoảng 2000 km, Trung Quốc và Đài Loan cách nhau eo biển với khoảng cách gần nhất giữa lãnh thổ Trung Quốc và hòn đảo là khoảng 130 km.

Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng vẫn bán vũ khí cho hòn đảo này như một phần của Đạo luật Quan hệ với Đài Loan – tức Mỹ phải cung cấp cho Đài Bắc các phương tiện để tự vệ.

Ông Sean King nhấn mạnh Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát Đài Loan, chưa có lực lượng quân đội nào đặt chân đến hòn đảo.

Tầm quan trọng cảu Đài Loan

Đài Loan là hòn đảo nằm cách bờ biển phía đông nam của Trung Quốc khoảng 100 hải lý. Hòn đảo nằm trong chính sách gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” có ý nghĩa quan trọng với chính sách ngoại giao của Mỹ từ những năm 1950, bao gồm các vùng lãnh thổ thân thiện với Mỹ.

Trong khi đó, sự tiếp cận tự do ra vùng biển lớn hơn của Trung Quốc lại bị kiềm hãm bởi “chuỗi đảo thứ nhất” – bao gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ kéo dài từ Quần đảo Nhật Bản, Okinawa và Philippines, đến đảo Borneo, Sumatra.

Những nhóm đảo này được goi là “tuyến phòng thủ đầu tiên” vì chúng nằm ở vị trí án ngữ, có thể kiểm soát chuyển động của Hải quân Trung Quốc. Mỹ có sức ảnh hưởng đến những quốc gia nằm trong “chuỗi đảo đầu tiên” này.

Chuyên gia Sean King cho rằng, Đài Loan đóng vai trò quan trọng với một số quốc gia vì các nước đó đều có chương trình nghị sự của riêng mình, đặc biệt với Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh chiếm được Đài Loan, sẽ phá vỡ cái gọi là “Chuỗi đảo đầu tiên” – để cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể tiếp cận tự do và phát triển sức mạnh ở các phần rộng lớn của Thái Bình Dương, thậm chí có thể đe dọa các căn cứ quân sự ở xa của Mỹ như Guam và Hawaii.

Đây sẽ là bước lật ngược thế cờ, với chiến lược “chống tiếp cận/chống xâm nhập”, Bắc Kinh có thể chặn đứng sự tiếp cận và đẩy lực lượng Mỹ lẫn Nhật Bản vào khu vực Biển Đông. Đây sẽ là điều tồi tệ với Việt Nam.

Bên cạnh đó, sáp nhập thành công Đài Loan là một trong những tham vọng chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông nhấn mạnh việc hiện thực hóa sự thống nhất hoàn toàn Trung Quốc là sứ mệnh lịch sử và là cam kết không gì lay chuyển được của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bài học từ Nga

Ông Sean King cho biết không nhìn thấy mối liên kết giữa Ukraine và Đài Loan vì đó là hai trường hợp rất hác biệt. Tập Cận Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc xem mình là một cường quốc đang trở lại, trong khi họ coi Nga là cường quốc chết dần chế mòn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể rút ra cho mình bài họ từ Nga. Trung Quốc đang học hỏi từ sự bành trướng của Nga, nghiên cứu kỹ lưỡng sai lầm, kinh nghiệm của Nga cũng như cách phản ứng của thế giới tự do đối với cuộc chiến, để tìm cho mình lối thoát nếu rơi vào thế bí.

Theo suy đoán của ông Sean King, trong ngắn và trung hạn, Trung Quốc sẽ gây sức ép khiến Đài Loan bị cô lập trên trường quốc tế và làm cho người Đài Loan cảm thấy vô vọng như thể chỉ còn có cách duy nhất là hợp nhất với Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Hợp tác Anh, Australia và ASEAN nhằm tăng cường an ninh mạng trong lĩnh vực hàng hải – Phần I


Tóm tắt

+ Lĩnh vực hàng hải Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương an toàn và đảm bảo là rất quan trọng đối với sự thịnh vượng quốc gia của Anh, Australia và các quốc gia Đông Nam Á. Mặc dù có những mục tiêu chung, khả năng và lĩnh vực thế mạnh khác nhau.

+ Đông Nam Á và Australia cùng các đối tác quan trọng khác, đã có lịch sử hợp tác đa phương lâu dài. Trong bối cảnh hậu Brexit và Chính phủ Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, London sẽ được hưởng lợi trong việc phối hợp hài hòa các cam kết hàng hải của mình với các đồng minh như Australia và sắp xếp các đồng minh như Australia và sắp xếp các hoạt động của mình cho phù hợp với ưu tiên của các đối tác Đông Nam Á.

+ Mặc dù hợp tác an ninh trên biển có xu hướng bị chi phối bởi các hoạt động, chương trình và chiến dịch hải quân, nhưng các bên nên có cách tiếp cận toàn diện đối với hợp tác an ninh hàng hải, bao gồm quan hệ đối tác với các chủ thể phi quân sự và xem xét các khía cạnh an ninh hàng hải có liên quan đến dân sự.

+ Trong việc tìm kiếm một vai trò làm gia tăng giá trị trong không gian hợp tác an ninh hàng hải và xây dựng năng lực, vốn đã có nhiều bên tham gia, nhóm tác giả khuyến nghị các bên thăm dò hợp tác Anh – Australia – ASEAN về các vấn đề công nghệ, an ninh mạng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số trên biển. Đó là những khía cạnh có khả năng biến đổi tình hình và sẽ xác định tương lai của các hoạt động hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ảnh hưởng đến an toàn, an ninh, sinh kế và khả năng cạnh tranh kinh tế trong khu vực của Đông Nam Á.

+ Báo cáo đánh giá này khuyến nghị Anh, Australia và ASEAN hợp tác để nâng cao và đẩy mạnh việc khám phá mối quan hệ an ninh mạng – hàng hải.

Giới thiệu: Hiểu về an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Các khái niệm chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được ban hành bởi Nhật Bản (tái khẳng định vào năm 2016), Mỹ (2017), Australia (2017), Ấn Độ (2018), Đức (2020), Hà Lan (2020), Liên minh châu Âu (EU) (2021), Pháp (tái khẳng định vào năm 2021), Anh (2021) và các nước khác cho thấy ý nghĩa địa chiến lược của khu vực. Mặc dù các khái niệm này khác nhau đáng kể về phạm vi, bản chất và chiến lược, nhưng chúng có một điểm chung: ý tưởng về các đại dương kết nối, trong đó các quốc gia Đông Nam Á nằm ở trung tâm và tạo thành tâm điểm của sự canh tranh nước lớn, vốn đã trở thành đặc trưng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này đã trở nên “tấp nập” hơn khi các bên tham gia trong dài hạn cũng như các bên tham gia mới đẩy mạnh các sáng kiến can dự.

Nhưng Đông Nam Á không chỉ là một đấu trường cạnh tranh: Khu vực này còn hàm chứa sức mạnh, dù dưới dạng một thể thống nhất hay tập hợp các nền kinh tế riêng lẻ. Các quốc gia ASEAN có thể thúc đẩy các đối thủ cạnh tranh và đối tác hướng tới việc đáp ứng các ưu tiên của riêng họ. Họ cũng đã có có thể hướng sự can dự toàn cầu tới nghị trình chính trị – quân sự, kinh tế, cơ sở hạ tầng và môi trường. Mặc dù lợi ích bao trùm của họ có sự hội tụ, nhưng Anh, Australia và các đồng minh thân cận nhất nên nhận thức được rằng đôi khi giữa họ và các nước ASEAN có thể sẽ có sự khác biệt trong cách tiếp cận, hoạt động và giá trị cơ bản.

Trong Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2019, 10 quốc gia thành viên đã công nhận lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực hợp tác hàng đầu. Tuy nhiên, ý nghĩa chính xác của “an ninh hàng hải” vẫn chưa được xác định rõ ràng. Các cuộc thảo luận về an ninh hàng hải chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải (SLOC), quản lý nghề cá và tài nguyên ngoài khơi đúng mức và duy trì biên giới chủ quyền trên biển. Nhìn chung, các vấn đề an ninh hàng hải có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực an ninh khu vực, hoạt động tội phạm xuyên quốc gia, quản lý kinh tế và tài nguyên, môi trường biển và an toàn hàng hải.

Nghị trình hàng hải được ASEAN và các đối tác chia sẻ trong thể chế tập trung vào cơ chế đối thoại về an ninh sâu rộng có số lượng thành viên lớn nhất, đó là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), bao gồm Australia, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ cùng với các quốc gia thành viên ASEAN.

Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Theo văn kiện “Nước Anh toàn cầu trong thời đại cạnh tranh: Đánh giá tích hợp về an ninh, quốc phòng, phát triển và chính sách đối ngoại” của Chính phủ Anh, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khu vực có tầm quan trọng địa chính trị và kinh tế ngày càng cao trong thập kỷ tới. Văn kiện này đồng thời cho rằng sự cạnh tranh sẽ diễn ra trong bối cảnh “quân sự hóa khu vực, căng thẳng hàng hải và cạnh tranh về các quy tắc và chuẩn mực liên quan đến thương mại và công nghệ”. Do đó, việc tìm cách can dự chặt chẽ hơn với các quốc gia ở Đông Nam Á là một phần thiết yếu của chiến lược nhằm đưa Anh vào vị thế của một bên tham gia toàn cầu trong kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược.

Điểm tựa cho sự can dự mới của Anh với Đông Nam Á về an ninh hàng hải

Anh đã trở thành đối tác đối thoại mới nhất của ASEAN vào năm 2021 – dấu mốc đầu tiên sau khi chính phủ nước này tuyên bố “ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong bối cảnh Anh rời khỏi EU, London đã và đang xem xét các lý do đúng đắn để giải thích cho các ưu tiên của mình và tìm cách để thực sự tách mình khỏi, cũng như phối hợp khi có thể với các cách tiếp cận Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà EU, Pháp, Đức và Hà Lan đã khởi xướng song song.

Mặc dù xu hướng ngả về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là mới mẻ, nhưng sự hiện diện của Anh trong khu vực, đặc biệt là sự hiện diện trên biển, thì không. London duy trì sự hiện diện ở mức hạn chế ở Đông Nam Á sau khi Anh rút lui vào những năm 1960 và 1970 dưới hình thức các đợt triển khai quy mô nhỏ nhằm duy trì cam kết song phương với một số quốc gia nhất định. Trong hai thập kỷ qua, Anh cũng đã tham gia các cuộc tập trận đa phương lâu đời có sự tham gia của các nước ASEAN, chẳng hạn như cuộc tập trận Bersama Lima và SEACAT. Những cuộc tập trận này liên quan đến một số lượng lớn các quốc gia ASEAN và các đối tác bên ngoài, tập trung vào việc xây dựng năng lực trong các lĩnh vực hàng hải khác nhau. Các hoạt động này nhằm mục đích giải quyết nhiều vấn đề, bao gồm các mối quan ngại hiện nay về sự ổn định và an ninh khu vực, cũng như các nỗ lực lâu dài trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR). Việc triển khai tàu HMS Tamar và Spey gần đây đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là những ví dụ về sự can dự của Anh với Thái Bình Dương. Việc theo dõi xem liệu điều này có thể trở thành phương án khả thi cho việc mở rộng phạm vi trong tương lai tới toàn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn hơn hay không là một vấn đề thú vị.

Nỗ lực an ninh hàng hải mới của Anh nhằm thu hút các quốc gia ASEAN đã và đang xoay quanh chiến dịch Fortis, với sự tham gia của Nhóm tác chiến tàu sân bay số 21 (CSG-21), để tiến hành một loạt cuộc tập trận trong và xung quanh Đông Nam Á từ tháng 6 đến tháng 12/2021. Khuôn khổ này bao gồm các cuộc tập trận song phương (PASSEX) với Thái Lan, Malaysia và Việt Nam theo đó các tàu chiến đi qua biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vào năm 2021.

Một yếu tố trong nỗ lực này là khả năng của Anh trong việc duy trì tính bền vững và sự hiện diện thường xuyên trên biển. Hoạt động ngoại giao ban đầu của London và các hoạt động theo xu hướng ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn cần phải được hiệu chỉnh. Tuy nhiên, với các sáng kiến mới, London cũng cần phải nhạy cảm với nhận thức của các bên và thậm chí là những rủi ro về danh tiếng trong khu vực. Một phần sự hoài nghi về vai trò của Anh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương xuất phát từ thực tế là khát vọng “nước Anh toàn cầu” có trọng tâm chủ yếu là châu Âu – Đại Tây Dương. Các lập luận cũng nhấn mạnh sự phụ thuộc mạnh mẽ hơn của Anh vào Mỹ để bù đắp cho việc từ bỏ sự kết nối với châu Âu.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Chính sách chiến lược Australia

CVĐQT – số 5/2022

Campuchia “qua mặt” Việt Nam khi cho Trung Quốc đặt căn cứ hải quân


Theo đài RFA, Việt Nam thất bại trong việc ngăn chặn Trung Quốc đặt căn cứ quân sự ở sát vách, cách Phú Quốc chỉ 30 km.

Báo Washington Post ngày 7/6 đăng thông tin cho biết Trung Quốc sẽ tổ chức khởi công dự án xây dựng cơ sở hải quân tại Campuchia vào ngày 9/6 tới. Tờ báo cũng cho biết một phần căn cứ quân sự mới sẽ dành riêng cho quân đội Trung Quốc.

Tờ The Guardian (Anh) ngày 7/6 nhận định rằng sự hiện như vậy sẽ đánh dấu sự mở rộng đáng kể về khả năng tiếp cận quân sự của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Một quan chức phương Tây cho rằng các kế hoạch mở rộng được chốt lại hồi năm 2020 có điều khoản về việc quân đội Trung Quốc “sử dụng độc quyền phần phía Bắc của căn cứ, tuy nhiên, sự hiện diện không được công khai”.

Washington Post cho biết một quan chức Bắc Kinh xác nhận quân đội Trung Quốc sẽ sử dụng “một phần” căn cứ, nhưng phủ nhận rằng họ sẽ sử dụng độc quyền. Quan chức này cho biết Trung Quốc không tham gia bất kỳ hoạt động nào trên phần thuộc Campuchia ở căn cứ này.

Người phát ngôn chính phủ Campuchia Phay Siphan xác nhận rằng hai nước Campuchia và Trung Quốc sẽ động thổ 2 dự án liên quan đến cảng tại căn cứ này. Tuy nhiên, ông bác bỏ tuyên bố cho rằng Trung Quốc sẽ có bất kỳ quyền tiếp cận độc quyền nào ở đó.

Theo Bloomberg, Phay Siphan cho rằng lễ động thổ ngày 8/6 liên quan đến việc xây dựng một xưởng sửa chữa tàu và một đường trượt ở ụ tàu. Bất kỳ việc sử dụng quân sự độc quyền nào đối với căn cứ sẽ vi phạm hiến pháp của quốc gia.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên cho biết việc cải tạo căn cứ Ream là nhằm tăng cường khả năng của hải quân của Campuchia trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ hàng hải và chống lại tội phạm hàng hải.

Triệu Lập Kiên nhấn mạnh sự hợp tác trên diện rộng là công khai, minh bạch, hợp lý và công bằng, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho hai quốc gia, mà còn là tấm gương về xây dựng một kiểu quan hệ quốc tế mới và cộng đồng với một tương lai chung cho nhân loại.

Ông Sam Roggeveen, Giám đốc chương trình an ninh quốc tế của Viện Lowy nhận định giá trị thực tế của căn cứ này đối với Bắc Kinh sẽ là cho phép Trung Quốc triển khai các tàu chiến và tàu tuần duyên đến xung quanh khu vực một cách dễ dàng hơn và đơn thuần là có nhiều sự hiện diện hơn.

Ý định đặt căn cứ hải quân ở Campuchia của Trung Quốc đã bị báo chí phương Tây tiết lộ từ năm 2019, tuy nhiên, giới chức của cả Campuchia và Trung Quốc liên tiếp phủ nhận. Tờ Washington Post đăng thông tin cho thấy những lời phủ nhận trên chỉ là đòn đánh lạc hướng.

Việt Nam nên làm gì?

Là nước đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Việt Nam được cho là đã cố gắng thuyết phục Campuchia chọn vị trí trung lập và không để Trung Quốc đặt căn cứ hải quân trên đất của mình, nhưng giờ đây, những nỗ lực trên đã thất bại.

Căn cứ Hải quân Ream của Campuchia là vị trí mà Trung Quốc chọn để thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài đầu tiên ở một quốc gia Đông Nam Á và là tiền đồn quân sự hải ngoại thứ 2 của Trung Quốc sau khi đã xây dựng một căn cứ tại Djibouti ở vùng Sừng châu Phi. Điều đáng chú ý là căn cứ này chỉ cách đảo Phú Quốc của Việt Nam chưa đầy 30 km.

Trước đó, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới xứ Chùa tháp hồi tháng 12/2021, hai bên đã ra Tuyên bố chung, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không cho phép bất cứ lực lượng thù địch nào sử dụng lãnh thổ của nước mình để phương hại đến an ninh của nước kia.

Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales (Australia) cho biết phía Việt Nam từng tin tưởng rằng Campuchia sẽ không để Trung Quốc đặt căn cứ quân sự: “Phía Việt Nam cho biết là họ đã đạt được đồng thuận với Campuchia về việc sẽ không để bên thứ ba thiết lập sự hiện diện quân sự và gây tổn hại đến lợi ích của bên còn lại”.

Bình luận về việc Campuchia “nói một đằng, làm một nẻo”, Giáo sư Carl Thayer cho rằng cả Campuchia và Trung Quốc trước đó đều “chơi chữ” với các nước trong khu vực.

Ngoài căn cứ hải quân, Trung Quốc được cho là đang xây dựng một sân bay với vỏ bọc dân sự, nhưng có thể được chuyển sang mục đích quân sự trong tình huống khẩn cấp.

Với hai cơ sở trên, Giáo sư Thayer cho rằng, trong tình huống căng thẳng với Việt Nam, Trung Quốc có thể huy động cả hải quân và không quân để đối phó: “Trung Quốc sẽ có đủ năng lực thực địa để chuẩn bị cho tình huống căng thẳng với Việt Nam. Rất nhanh chóng, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc sẽ xuất hiện ở sau lưng Việt Nam”.

Theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam có rất ít khả năng để đảo ngược tình huống, thay vào đó, Việt Nam nên tập trung nghiên cứu hậu quả của việc bị Trung Quốc đặt căn cứ hải quân sát với phần lãnh thổ phía Nam của nước mình: “Trước hết, Việt Nam cần phải huy động lực lượng tình báo để tìm hiểu xem Trung Quốc đang thực sự xây cái gì ở Campuchia và phân tích xem lợi ích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng ra sao, cả trong trường hợp xấu nhất, nhưng Việt Nam hiện không có khả năng để đe dọa hoặc đưa Campuchia trở lại quỹ đạo của mình”.

Giáo sư Carl Thayer đồng thời cho rằng, ở thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa bị đe dọa, nhưng về lâu dài thì tình hình có thể thay đổi.

Nguồn: TKNB – 09/06/2022

Sáng kiến hàng hải của “Bộ tứ” thúc đẩy quân sự hóa Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương


Trang CNBC của Mỹ ngày 8/6, đăng bài nhận định sáng kiến của nhóm “Bộ tứ” (gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản) sử dụng vệ tinh để theo dõi chuyển động của tàu ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể dẫn đến gia tăng nỗ lực quân sự hóa trong khu vực.

Thiếu tướng Dhruv Katoch của Quân đội Ấn Độ nói: “Dù hiện tại không phải là một tổ chức an ninh, song “Bộ tứ” có khả năng nhanh chóng biến thành một tổ chức như vậy. Nếu sự hiếu chiến của Trung Quốc đe dọa các nước ASEAN, có lẽ các nước Đông Nam Á sẽ có xu hướng tham gia một nhóm như “Bộ tứ””.

Lý do sáng kiền này gây quan ngại về mặt quân sự là vì chương trình được điều khiển bởi lực lượng hải quân của bốn quốc gia gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Chương trình “Đối tác Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhận thức trong lĩnh vực hàng hải” (IPMDA), được công bố tại hội nghị thượng đỉnh nhóm “Bộ tứ” ở Tokyo vào tháng 5 càng khiến tình trạng cảnh giác được nâng cao.

An ninh hàng hải Ấn Đô Dương – Thái Bình Dương

IPMDA sẽ chia sẻ dữ liệu vệ tinh thương mại có sẵn và cảnh báo các quốc gia Đông Nam Á khi có hành vi xâm phạm lãnh thổ, đánh bắt trái phép, buôn lậu hoặc cướp biển trong vùng biển thuộc ranh giới hàng hải của các nước này. Tuyên bố của Nhà Trắng nêu rõ: “Sáng kiến này sẽ chuyển đổi khả năng của các đối tác ở quần đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương trong việc giám sát đầy đủ vùng bên bờ, đồng thời duy trì một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”.

Theo Nhà Trắng, dữ liệu về chuyển động của tàu sẽ được chia sẻ với các bên tham gia tại 4 “trung tâm tổng hợp thông tin” ở Ấn Độ, Singapore, Quần đảo Solomon và Vanuatu – một quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương. Thiếu tướng Katoch nhấn mạnh: “Quyết định của “Bộ tứ” cung cấp dữ liệu từ các vệ tinh thương mại cho các quốc gia trên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ mang lại giá trị to lớn cho khu vực. Ở Biển Đông, sáng kiến này giúp tăng cường hợp tác giữa một số nước ASEAN và “Bộ tứ””.

Cơ chế hoạt động của IPMDA

Nhà Trắng cho biết IPMDA sẽ theo dõi các tàu muốn tránh bị phát hiện bằng cách tắt bộ phát truyền dữ liệu nhận dạng và vị trí. IPMDA cũng sẽ xác định các hoạt động cấp chiến thuật khác như vận chuyển trái phép vũ khí bị cấm hoặc đánh cá bất hợp pháp. Dữ liệu sẽ tích hợp ba khu vực quan trọng – quần đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – trong tổng thể khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chaitanya Giri, nhà tư vấn hệ thống thông tin tại New Delhi, phân tích: “Hài quân Trung Quốc đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng trên các chuỗi đảo thứ nhất, thứ hai và thứ ba. Họ di chuyển về phía Đông, hướng tới bờ biển nước Mỹ, có được sự hiện diện nhiều hơn ở Guam và đến cả Hawaii. “Bộ tứ” sẽ theo dõi sát sao điều đó”.

Ba chuỗi đảo là một phần của khái niệm an ninh địa lý được các nhà hoạch định quân sự sử dụng. Họ mô tả ba đường liên tiếp của khối đất liền trải dài từ các đảo gần Trung Quốc, ví dụ như Đài Loan, gồm Philippines và Indonesia và kết thúc với Hawaii ở đầu kia của Thái Bình Dương.

Theo Giri, dữ liệu cũng sẽ hỗ trợ quá trình thực thi pháp luật. Kho dữ liệu gần thời gian thực có sẵn trong chương trình sẽ bao gồm số nhận dạng tàu hoặc biển báo cuộc gọi, vị trí và đường đi tiềm năng, cảng xuất phát và điểm đến cuối cùng của tàu: “Đây là những phương tiện cần thiết để theo dõi việc vận chuyển trong đêm và thông tin tình báo từ các nguồn mặt đất có thể được kết hợp với dữ liệu vệ tinh để xác định ngay cả hàng hóa đang được vận chuyển trên những con tàu như vậy”.

Đối phó với Trung Quốc

Theo Chỉ số đánh cá IUU, Trung Quốc xếp hạng cao về chỉ số theo dõi đánh bắt bất hợp pháp. Tướng Katoch cho rằng sáng kiến của “Bộ tứ” sẽ được hoan nghênh ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: “Từ góc độ thương mại thuần túy, thông tin miền hàng hải này là điều mà các quốc gia nhỏ hơn vô cùng mong muốn. Sáng kiến này cũng có thể xác định và chống lại nạn cướp biển cũng như các mối đe dọa khủng bố”.

Pavan Choudary, Chủ tịch Blue Circle – tổ chức tư vấn địa chính trị ở New Delhi, nhận định mục tiêu của “Bộ tứ” có phạm vi rộng hơn: “Mục đích thực sự của sáng kiến trong lĩnh vực hàng hải là chiến lược, nhằm kiểm tra “đánh bắt bất hợp pháp”, song đó cũng thực sự là phương tiện để “Bộ tứ” thúc đẩy các sáng kiến an ninh”.

Không phải ai cũng đồng quan điểm rằng việc quân sự hóa sẽ là kết quả cuối cùng.

Gregory Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á và Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS – Mỹ), đánh giá: “Sáng kiến này thực sự không mang tính chất quân sự nhiều như thực thi pháp luật. Nó sẽ giúp các quốc đảo nhỏ và các quốc gia đang phát triển ven biển ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương giám sát và thực thi luật pháp trong vùng biển của chính họ. Bằng cách giúp cung cấp những hàng hóa công cộng như thế này, “Bộ tứ” còn có thể cạnh tranh với Trung Quốc nhiều hơn là áp dụng các biện pháp chống Trung Quốc một cách rõ ràng”.

Trong một báo cáo mới đây, trang tiếng Anh của tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc cho rằng dù sáng kiến này không đề cập đến tên quốc gia, song rõ ràng nhắm vào Trung Quốc: “Cơ chế này biến Trung Quốc thành trung tâm bằng cách thổi phồng “mối đe dọa” của Bắc Kinh và dù họ có đưa ra mục tiêu kiềm chế Trung Quốc như thế nào đi chăng nữa, thì sẽ rất ít quốc gia trong khu vực bị lừa”.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Quan hệ NATO-Nga: Đã đến lúc đình chỉ Đạo luật sáng lập


Theo thehill.com trong giai đoạn sự kỳ vọng lớn hơn đối với Nga suy giảm do những bất ổn, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tìm cách mở rộng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa liên minh này với Moskva. “Đạo luật Sáng lập về các quan hệ, hợp tác và an ninh giữa NATO với Liên bang Nga” được thông qua năm 1997 đã chính thức hóa mối quan hệ NATO-Nga và trong đó bao gồm những đảm bảo an ninh cho Moskva.

Mặc dù Đạo luật sáng lập đã tạo ra những kết quả hữu hình trong những năm đầu, nhưng giờ đây châu Âu lại đang phải đối mặt với một nước Nga hiếu chiến và theo chủ nghĩa xét lại. Hành động của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phá hủy cơ sở cho sự hợp tác. NATO nên đình chỉ đạo luật sáng lập này và đặc biệt là chấm dứt sự bảo đảm liên quan đến sự đồn trú của các lực lượng thông thường trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên mới.

Các nhà lãnh đạo của NATO và Nga đã gặp nhau vào tháng 5/1997 – hai tháng sau trước khi liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương thông báo mở rộng lần đầu tiên sau Chiến tranh Lạnh bằng việc kết nạp các thành viên mới gồm Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech – và ký kết Đạo luật sáng lập. Văn kiện này đặt ra các mục tiêu và nguyên tắc “tham vấn, hợp tác, ra quyết định chung và hành động chung” giữa NATO và Nga. Khuôn khổ đầy tham vọng của đạo luật này phản ánh một tầm nhìn chung rằng NATO và Nga có thể cùng hợp tác “để xây dựng một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt, toàn vẹn và tự do”, xây dựng thói quen hợp tác, làm giảm bớt lo ngại của Moskva về tác động về mặt quân sự của việc mở rộng NATO.

Đạo luật sáng lập có 2 đảm bảo chính cho thấy sự mở rộng của NATO không gây ra mối đe dọa quân sự nào đối với Nga. Thứ nhất, các quốc gia thành viên NATO nhắc lại rằng họ “không có ý định, không có kế hoạch và không có lý do gì để triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của các nước thành viên mới” (được gọi là nguyên tắc “Ba không”). Thứ hai, NATO tuyên bố rằng “trong môi trường an ninh hiện tại và trong tương lai gần”, lực lượng phòng thủ của NATO không yêu cầu “triển khai thường trực các lực lượng chiến đấu” ở các quốc gia thành viên mới. Nga cam kết thực hiện các biện pháp kiềm chế tương tự.

Thật không may, môi trường an ninh châu Âu đã không phát triển như các nhà lãnh đạo NATO hy vọng. Phương Tây không phải không có lỗi, nhưng phần lớn trách nhiệm làm cho tình trạng xấu đi này thuộc về Putin và Điện Kremlin. Nga đã liên tiếp thể hiện một loạt hành động hung hăng, bao gồm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa quân sự quy mô lớn, tiến hành các cuộc tấn công mạng, các chiến dịch thông tin sai lệch và có lập trường ngày càng thù địch đối với phương Tây. Năm 2014, Moskva đã vi phạm các cam kết trong Hiệp ước Helsinki 1975 và Đạo luật sáng lập khi chiếm giữ Crimea một cách bất hợp pháp và làm gia tăng xung đột ở miền Đông Ukraine. Tháng 2 vừa qua, Nga tái xâm lược Ukraine trên nhiều mặt trận, khơi mào cuộc chiến lớn nhất mà châu Âu từng chứng kiến kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Các hành động của Nga đã vi phạm các cam kết trong Đạo luật sáng lập và phớt lờ các mục tiêu và nguyên tắc đã thống nhất cách đây 25 năm.

Các nhà lãnh đạo NATO sẽ nhóm họp tại Madrid vào ngày 29 – 30/6 để thông qua chiến lược mới của liên minh và các biện pháp nhằm củng cố thế trận phòng thủ và răn đe của NATO trước cuộc chiến của Nga chống Ukraine. Liên minh có thể tiếp tục tuân thủ nguyên tắc “Ba không” để ngăn chặn các mối đe dọa hạt nhân từ Nga. Tuy nhiên, NATO nên từ bỏ cam kết hạn chế đóng quân thường trực bổ sung cho các lực lượng tác chiến. Từ năm 1997 đến năm 2014, NATO không triển khai quân đồn trú tại các quốc gia thành viên mới. Mỹ đã rút bớt lực lượng của họ ở châu Âu và từ năm 2013, nước này không còn xe tăng đóng thường trực ở châu lục này.

Sau các cuộc tấn công đầu tiên của Nga vào Ukraine hồi năm 2014, NATO đã triển khai luân phiên các nhóm chiến đấu cỡ tiểu đoàn ở các quốc gia Baltic và Ba Lan, và Mỹ đã đưa một lữ đoàn thiết giáp đến Ba Lan trên cơ sở luân phiên. Năm nay, khi Nga chuẩn bị và bắt đầu mở chiến dịch quân sự vào Ukraine, NATO đã tạm thời bố trí các lực lượng bổ sung ở sườn phía Đông của họ, bao gồm các đội quân chiến đấu luân phiên mới ở Romania, Bulgaria, Hungary và Slovakia, nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Nga có thể lan sang lãnh thổ NATO.

Bất kể cuộc chiến Nga – Ukraine kết thúc như thế nào, các quốc gia thành viên NATO phải chấp nhận rằng họ sẽ phải đối mặt với mối đe dọa quân sự lâu dài từ phía Đông. Để đảm bảo rằng Điện Kremlin không cố chống lại một quốc gia thành viên NATO, liên minh phải triển khai các lực lượng chiến đấu thường trực mạnh mẽ hơn ở Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan và Romania. Để ngăn chặn nước Nga ngày nay, các lực lượng này không chỉ đóng vai trò như tuyến phòng thủ đầu tiên mà còn nhiều hơn thế, và có đủ khả năng trên bộ và trên không để ngăn chặn các lực lượng tấn công cho đến khi quân tiếp viện của Đồng minh tới. Tất nhiên, Moskva sẽ không thích điều đó, nhưng NATO không còn lý do gì để phải tính đến các phản đối của Điện Kremlin một cách nghiêm túc.

Đạo luật sáng lập là cơ hội để xây dựng một châu Âu mới bằng cách thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa Nga và NATO. Thật không may, điều đó đã không thành công. Việc đình chỉ đạo luật sẽ để ngỏ khả năng nó có thể được khôi phục trong tương lai, khi Nga tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, việc đó chỉ có thể xảy ra sau khi Putin rời nhiệm sở và một thế hệ lãnh đạo mới của Nga chứng minh rằng nước Nga một lần nữa chia sẻ mục tiêu về một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Dữ liệu là quyền lực: Hoa Kỳ cần xây dựng các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số – Phần I


Matthew J. Slaughter & David H. McCormick

Hiện nay, dữ liệu là trọng tâm của thương mại toàn cầu. Trong nhiều thập kỷ, thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ xác định tốc độ của quá trình toàn cầu hóa. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tăng trưởng về thương mại đã đạt trạng thái ổn định và duy trì ở đoạn bằng trên đồ thị phát triển, và tại đó bùng nổ các luồng dữ liệu xuyên biên giới, được đo lường bằng băng thông, đã tăng lên gần gấp 112 lần từ năm 2008 đến năm 2020.

Nền kinh tế toàn cầu đã trở thành một động cơ vĩnh cửu về dữ liệu: nền kinh tế đó tiêu thụ, xử lý và sản xuất ra nhiều dữ liệu hơn bao giờ hết. Các công nghệ kỹ thuật số buôn bán trái phép dữ liệu hiện nay hỗ trợ, thậm chí ở một số nơi đã thay thế thương mại truyền thống về hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, phim điện ảnh trước đây chủ yếu bán đĩa DVD, nay được chiếu trên các nền tảng kỹ thuật số, các tin tức, sách báo và bài viết nghiên cứu cũng được phát hành trực tuyến. Ngay cả những hàng hóa vật chất cũng chứa đầy các thành phần kỹ thuật số. Những chiếc xe ô tô không còn đơn thuần là thùng máy được chế tạo bao quanh các động cơ đốt trong; mà ngược lại chúng cũng chứa đựng các thiết bị điện tử phức tạp và phần mềm lưu trữ những dữ liệu khổng lồ. Thương mại hàng hóa vật chất cũng xuất hiện cùng với các công cụ hỗ trợ kỹ thuật số (digital enablers), chẳng hạn như các thiết bị và chương trình theo dõi việc giao nhận container, và tương tự như vậy, chúng lại tạo ra dữ liệu và cải thiện năng suất. HIện nay, đại dịch COVID-19 đã làm tăng tốc sự biến đổi kỹ thuật số của các doanh nghiệp, thậm chí đẩy mạnh nhiều hoạt động thương mại vào điện toán đám mây hơn.

Thương mại kỹ thuật số và luồng dữ liệu xuyên biên giới không có dấu hiệu chậm lại. Năm 2018, 330 triệu người thực hiện mua bán trực tuyến từ những quốc gia khác, mỗi một người đều liên quan tới việc truyền dữ liệu xuyên biên giới, giúp thương mại điện tử đạt 25,6 nghìn tỷ USD doanh số, ngay cả khi chỉ có 60% dân số thế giới hoạt động trực tuyến. Hãy tưởng tượng xem dữ liệu phát triển đến thế nào khi việc tiếp cận băng thông rộng lan tới bộ phận dân số tăng trưởng nhanh ở thế giới đang phát triển, công nghệ không dây 5G thậm chí cho phép truyền tải lượng dữ liệu khổng lồ hơn nữa với tốc độ ánh sáng, và cái gọi là Internet vạn vật (IoT) làm gia tăng đáng kể hoạt động trao đổi thông tin giữa các thiết bị, máy móc.

Những thay đổi to lớn này không chỉ đơn thuần làm biến đổi thương mại, mà còn lật ngược chính trị toàn cầu. Thậm chí hơn cả những yếu tố khác của nền kinh tế toàn cầu, dữ liệu gắn với quyền lực. Dữ liệu với tư cách là phần đầu vào ngày càng cần thiết cho sự đổi mới sáng tạo, là yếu tố thương mại quốc tế ngày càng mở rộng nhanh chóng, là thành phần sống còn đối với thành công của doanh nghiệp, và là khía cạnh trọng yếu của an ninh quốc gia, đã đang và sẽ mang đến những lợi thế khó tin cho tất cả những ai có được dữ liệu. Dữ liệu cũng dễ dàng bị lạm dụng. Các quốc gia và các doanh nghiệp tìm kiếm những lợi thế hạn chế cạnh tranh cố gắng kiểm soát dữ liệu. Và cả những người muốn phá hoại quyền tự do và riêng tư.

Tuy nhiên, ngay cả khi luồng dữ liệu xuyên biên giới ngày càng lớn mạnh và chính bản thân dữ liệu trở thành một thứ quyền lực quan trọng, thì phần lớn dữ liệu không được kiểm soát. Thương mại quốc tế hiện tại và khuôn khổ đầu tư đã được thiết kế cách đây 75 năm, trong một giai đoạn rất khác, đã thúc đẩy sự thịnh vượng và an ninh, giúp hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo và là một phần của trật tự kinh tế quy mô rộng hơn, nó cổ vũ cho nền dân chủ, thương mại và nhân quyền. Nhưng hệ thống này không đáp ứng đủ cho thực tiễn thương mại toàn cầu hiện nay. Những sự mơ hồ, lẫn lộn về giá trị và quyền sở hữu dữ liệu trở nên phổ biến, và các cường quốc lớn trên thế giới tranh cãi về những viễn cảnh quản lý hệ thống này.

Nếu Hoa Kỳ không xác định các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số, thì các nước khác sẽ làm điều đó. Chẳng hạn, Trung Quốc đang đưa ra mô hình toàn trị công nghệ của riêng họ, thừa nhận rằng việc xác định các quy tắc cho quyền lực kỹ thuật số là một thành phần then chốt trong cạnh tranh địa chính trị. Hoa Kỳ nên đề xuất phương án thay thế. Cùng với một liên minh gồn các đối tác thiện chí, Hoa Kỳ nên thiết lập một khuôn khổ mới mà có thể giải phóng tiềm năng của dữ liệu để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo ra quyền lực kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia.

Đổi mới sáng tạo mãi mãi

Các nhà kinh tế học từ lâu đã công nhận rằng năng suất lao động là chỉ số tốt nhất để đo lường mức sống trung bình và quyền lực kinh tế tổng thể của một quốc gia.

Năng suất lao động của một quốc gia càng cao, thu nhập hộ gia đình trung bình càng cao, và đời sống vật chất của người dân cũng ngày càng cao. Hơn thế nữa, năng suất lao động của một quốc gia càng cao, cơ sở thuế tổng thể của quốc gia đó càng lớn, từ đó cấp ngân sách nhiều hơn cho chính phủ thực hiện chính sách quốc phòng quốc gia và các lợi ích khác.

Một quốc gia có thể tăng năng suất bằng cách nào? Họ có thể đầu tư vào vốn được dùng để tạo ra mọi thứ, ví dụ các tòa nhà, máy móc, phần mềm, và những thứ tương tự. Hoặc họ có thể sáng tạo ra các ý tưởng mới, các phát minh, các sáng kiến cho phép công nhân nâng cao năng suất hơn nữa của các sản phẩm hiện có hoặc là sản xuất ra những sản phẩm hoàn toàn mới. Thật vậy, đổi mới sáng tạo từ lâu nay đã thúc đẩy năng suất gia tăng của Hoa Kỳ – chiếm hơn một nửa tăng trưởng GDP trên đầu người của Hoa Kỳ trong thế kỷ qua.

Dữ liệu luôn là đầu vào cần thiết để khám phá những ý tưởng mới. Benjamin Franklin cần dữ liệu về các vụ sét đánh để nâng cao hiểu biết của con người về dòng điện; Gregor Mendel cần dữ liệu về cây đậu để phát hiện ra quy luật di truyền. Nhưng khoảng một thập kỷ qua, dữ liệu đã trở nên quan trọng hơn nhiều đối với sự đổi mới sáng tạo, nhờ vào những tiến bộ chính về sức mạnh điện toán, lưu trữ đám mây và học máy. Các thuật toán trọng tâm của trí tuệ nhân tạo được hưởng lợi đặc biệt từ lượng dữ liệu khổng lồ chất lượng cao mà chúng dùng để tìm hiểu và đạt được hiệu quả. Những đổi mới sáng tạo này và cả những đổi mới khác dựa trên dữ liệu sẽ ngày càng định hình đời sống cá nhân và nghề nghiệp của con người, cải thiện mọi thứ từ các phương tiện tự động tới các ứng dụng thể thao và các mạng lưới xã hội.

Việc tăng cường sử dụng dữ liệu mang lại tiềm năng kinh tế to lớn vì một lý do có tầm ảnh hưởng lớn nhưng đơn giản: dữ liệu là thứ mà các nhà kinh tế học gọi là “không có tính cạnh tranh”. Gần như tất cả các hàng hóa và dịch vụ kinh tế đều có tính “cạnh tranh”, nghĩa là việc một người hay một công ty sử dụng chúng sẽ loại trừ cơ hội một người hay một công ty khác sử dụng chúng. Chẳng hạn, một thùng dầu sẽ có tính cạnh tranh. Nhưng dữ liệu không có tính cạnh tranh: dữ liệu có thể được nhiều người hoặc nhiều công ty sử dụng đồng thời và lặp lại mà không sợ bị suy giảm. Khái niệm phổ biến rằng “dữ liệu là một loại dầu mỏ mới” đã bỏ qua sự khác biệt kinh tế căn bản này giữa hai loại hàng hóa. Dữ liệu có thể tiếp sức cho sự đổi mới sáng tạo hết lần này đến lần khác mà không bị cạn kiệt – giống như nguồn cung cấp ánh nắng mặt trời vô hạn hơn là nguồn cung cấp dầu mỏ hữu hạn.

Bởi dữ liệu không có tính cạnh tranh, nên sự đổi mới sáng tạo và sau đó là sức mạnh kinh tế, ngày càng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng dữ liệu sẵn có đối với mọi người, mọi doanh nghiệp và mọi quốc gia. Dữ liệu có thể được sử dụng và tái sử dụng, vì thế luồng dữ liệu càng tự do, thì nó càng thúc đẩy sáng tạo ra những ý tưởng mới. Lấy ví dụ về cuộc chiến toàn cầu chống đại dịch COVID-19. Vào ngày 10/01/2020, hơn một tháng sau khi những ca nhiễm bệnh đầu tiên xuất hiện, các nhà khoa học Trung Quốc công bố chuỗi gen của virus corona trên mạng. Khi có những dữ liệu cần thiết này, các nhà khoa học thuộc Công ty Modernan của Hoa Kỳ chỉ mất hai ngày để tạo ra bản thiết kế (blueprint) làm cơ sở sản xuất loại vaccine COVID-19 của công ty này. Moderna cũng đã nghiên cứu một loại vaccine dựa trên công nghệ mRNA; tất cả những gì họ cần để sáng tạo một thứ gì đó giá trị từ ý tưởng mới này chính là dữ liệu.

Việc tiếp cận dữ liệu cũng đang tạo ra cuộc cách mạng trong các lĩnh vực khác của các ngành khoa học sự sống. Chỉ sau 13 năm, Dự án Human Genome, một sáng kiến cộng đồng quốc tế do Hoa Kỳ dẫn đầu, đã ghép cặp và công bố dữ liệu về ba tỷ cặp base DNA tạo nên hệ gen người. Một nghiên cứu tính rằng từ năm 1988 đến năm 2010, dự án này đã dẫn đến tổng mức tác động kinh tế là 796 tỷ USD – bao gồm hơn 244 tỷ USD thu nhập cá nhân thêm từ hơn 300.000 công việc mới.

Dữ liệu ngày càng thúc đẩy những thành công về thương mại. Những công ty đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tổng hợp, phân tích và sử dụng dữ liệu đã giành được những vị trí đứng đầu thị trường trên toàn thế giới. Mười năm trước đó, bất kỳ danh sách mười công ty có giá trị thương mại cao nhất đều gồm có các công ty khai thác dầu khí, các hãng sản xuất hàng hóa tiêu dùng và ngân hàng. Hiện nay, các công ty công nghệ hoạt động bằng dữ liệu đang chiếm lĩnh các danh sách này. Các tập đoàn BHP Group, Chevron và ExxonMobil nhường chỗ cho các tập đoàn Alphabet, Amazon và Facebook. Nguồn thu hiện tại của các nhà lãnh đạo công nghệ ngày một lớn bởi họ biến lượng dữ liệu khổng lồ từ hàng tỷ cá nhân và tổ chức thành giá trị kinh tế mới cho khách hàng của họ.

Dữ liệu cũng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia, giúp thúc đẩy năng suất và sau đó là sức mạnh kinh tế tạo nên lợi thế quân sự của Hoa Kỳ. Đó cũng là lĩnh vực chính trong cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để giành ưu thế kinh tế và địa chính trị, chẳng hạn như cuộc chiến giữa hai quốc gia về công nghệ 5G. Các công nghệ mới đem lại những lợi thế to lớn về kinh tế và chiến lược. Theo lời của cựu Tổng giám đốc Google Eric Schmidt va cựu Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Rober Work, trí tuệ nhân tạo được thúc đẩy nhờ dữ liệu “sẽ là công cụ mạnh mẽ nhất trong nhiều thế hệ để mang lại lợi ích cho nhân loại”, nhưng nó cũng sẽ được “sử dụng để theo đuổi quyền lực”.

Những quốc gia nào có thể khai thác dữ liệu để đổi mới sáng tạo nhanh hơn sẽ đạt được những lợi thế to lớn. Và do đó, sự thịnh vượng và sức mạnh địa chính trị của Hoa Kỳ trong tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào các quy tắc quản lý quyền truy cập vào dữ liệu.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Nguyễn

Nguồn: Matthew J. Slaughter & David H. McCormik – Data is Power: Washington needs to craft new rules for the digital age – Foreign Affairs – May/June 2021, p54-62

TN 2021 – 74

Tâm điểm của Đối thoại Shangri-La 2022


Trang mạng của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược quốc tế (IISS) (Anh) mới đây đăng bài viết của chuyên gia James Crabtree, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của IISS, cho biết các đại biểu đang tập trung tại Singapore để tham dự Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (còn được biết đến với tên gọi Đối thoại Shangri-La), và đây sẽ là cơ hội hiếm có để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về một danh sách dài các bất đồng cũng như các chủ đề cùng quan tâm.

Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 – 12/6 (Đối thoại Shangri-La bị tạm hoãn trong năm 2020 và 2021 do dịch COVID-19), bắt đầu với bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida. Tuy nhiên, các đại biểu chắc chắn sẽ tập trung nhiều hơn vào các bài phát biểu của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa 2 siêu cường này ngày càng xấu đi. Có 5 khía cạnh quan trọng sẽ được chú trọng trong đối thoại năm nay.

Thứ nhất, bối cảnh của cuộc chiến ở Ukraine càng củng cố vai trò của Mỹ và Trung Quốc như những nhà lãnh đạo của các khối địa chính trị đối địch. Mặc dù không công khai ủng hộ các hành động của Nga ở Ukraine, song Bắc Kinh đã từ chối lên án Moskva. Ngay trước cuộc xung đột Nga – Ukraine, Nga và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhấn mạnh sự hợp tác, đồng thời khẳng định “tình hữu nghị giữa hai quốc gia không có giới hạn và không có vùng cấm”. Đã có những dấu hiệu cho thấy sự hợp tác này đang diễn ra trên thực tế. Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đến Tokyo để gặp gỡ những người đồng cấp trong nhóm Bộ tứ – đó là các nhà lãnh đạo của Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Đáp lại, Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tuần tra chung với các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang hạt nhân là Xian H-6 (của Trung Quốc) và Tu-95 (của Nga).

Thứ hai, căng thẳng Mỹ – Trung về “điểm nóng” Đài Loan ngày càng sâu sắc. Tổng thống Biden đã gửi tín hiệu sai về vấn đề “Đài Loan độc lập”, điều này rất nguy hiểm. Mối quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan trong tương lai vẫn rất bấp bênh, không loại trừ khả năng Trung Quốc dùng vũ lực để thu phục hòn đảo này. Mặc dù về mặt chính thức, Mỹ cho biết các chính sách lâu nay của nước này đối với Đài Loan không thay đổi; song rõ ràng Bắc Kinh khó có thể yên tâm khi nghe những tuyên bố lặp đi lặp lại của ông Biden về vấn đề này. Gần đây nhất, trong chuyến công du Nhật Bản, ông Biden đã nói rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan trước sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc, khiến các quan chức Mỹ phải nhanh chóng nói rõ rằng điều này không thể hiện sự thay đổi quan điểm của Mỹ.

Thứ ba, các đời bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần đây đã sử dụng các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La để khẳng định các cam kết của họ ở châu Á. Các quan chức Lầu Năm Góc nhiều lần cho biết Mỹ có ý định rút khỏi Trung Đông và các nơi khác để dành nhiều nguồn lực quân sự hơn cho châu Á. Tuy nhiên, tiến độ này diễn ra rất chậm chạp, ngay cả trước các sự kiện ở Ukraine. Các đại biểu đến từ các nước trong khu vực sẽ theo dõi chặt chẽ bất kỳ tín hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ tăng tốc đầu tư vào các sáng kiến về vị thế khu vực – một chủ đề được đề cập sâu hơn trong chương mở đầu của Đánh giá An ninh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IISS năm nay. Các động thái an ninh ngày càng được tăng cường của Trung Quốc tại khu vực cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ, trong bố cảnh có những thông tin về thỏa thuận an ninh giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon cũng như việc Trung Quốc đang xây dựng một cơ sở hải quân ở Campuchia.

Thứ tư, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai siêu cường đang tạo ra những vấn đề của riêng hai nước. Chính quyền Biden hiện gọi chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc là “cạnh tranh trong hàng rào an toàn” – nghĩa là Washington tìm cách cạnh tranh mạnh mẽ với Bắc Kinh, nhưng vẫn tránh nguy cơ làm suy thoái nghiêm trọng và gây tổn hại trong lĩnh vực an ninh. Tuy nhiên, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden, được công bố hồi tháng 2/2022, đã thẳng thừng đề cập đến mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho các lợi ích của Mỹ, cho rằng “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và tìm cách trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất thế giới”. Chính quyền Biden hiện phải đối mặt với những lựa chọn phức tạp về cách cạnh tranh với Trung Quốc. Mỹ nhận ra rằng Mỹ không thể cạnh tranh một mình, do đó Washington tập trung vào việc thắt chặt quan hệ với các “đồng minh  và đối tác”, như những gì Mỹ đã thể hiện trong các liên minh AUKUS (gồm Australia, Anh, Mỹ) và Bộ tứ (gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Mỹ). Trong khi đó, Trung Quốc cũng hành động tương tự, thể hiện ở Sáng kiến An ninh Toàn cầu được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động gần đây cho đến các kế hoạch của Trung Quốc về một “Tầm nhìn phát triển chung” mới với 10 quốc đảo Thái Bình Dương.

Thứ năm, vấn đề liên lạc giữa Bắc Kinh và Washington, hoặc việc thiếu kênh liên lạc, là thách thức cuối cùng. Tháng 4/2022, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có cuộc điện đàm lần đầu tiên để thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và các chủ đề khác. Cuộc điện đàm thu hút sự chú ý vì trước đó Lầu Năm Góc đã nỗ lực thiết lập các cuộc điện đàm với một quan chức cấp cao khác của Trung Quốc, Tướng Hứa Kỳ Lượng – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Một số quan chức cấp cao khác của Mỹ, trong đó có Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan, sau đó cũng đã có các cuộc điện đàm với các quan chức tương ứng của Trung Quốc. Nhưng nói chung, những cuộc đối thoại như vậy vẫn hiếm khi xảy ra trong một mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng những mối liên hệ ít ỏi. Sự thiếu thông tin liên lạc này sẽ là nguyên nhân gây lo lắng trong bất kỳ cuộc khủng hoảng khu vực nào trong tương lai.

Các sự kiện như Đối thoại Shangri-La sẽ tạo cơ hội để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về các vấn đề cùng quan tâm, với việc cả hai quốc gia đều đưa các phái đoàn quan trọng tới hội nghị. Tuy nhiên, khả năng cải thiện quan hệ giữa các siêu cường là rất nhỏ. Nguy cơ mối quan hệ Mỹ – Trung “lao dốc” hơn nữa đã thực sự được kiểm soát trong những năm gần đây do đại dịch COVID-19, với việc các nhà lãnh đạo của cả hai nước đều phải tập trung vào việc phục hồi trong nước. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong năm 2022 do Tổng thống Biden phải tập trung vào cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, còn Chủ tịch Tập Cận Bình phải tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, cả hai đều sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tuy nhiên, những rủi ro mà Kurt Campbell – điều phối viên của Mỹ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – gọi là “bất ngờ chiến lược” có thể xảy ra trong ngắn hạn sẽ khó có thể giảm bớt, và cùng với đó là nguy cơ rạn nứt quan hệ vẫn gia tăng

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần cuối


Sự đồng thuận giữa Mỹ và châu Âu cũng rất quan trọng. Trong vài chục năm qua, các nước châu Âu thỉnh thoảng vẫn theo đuổi đối thoại với Iran và đưa ra các gói hỗ trợ kinh tế với hy vọng điều tiết chính sách của Tehran trong 4 vấn đề: nhân quyền, vũ khí hạt nhân, khủng bố và hòa bình Trung Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đến nay vẫn chưa tạo ra kết quả nào đáng kể trong các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Iran. Trái lại, Iran còn đe dọa sử dụng chính sách khu vực để làm phức tạp thêm cuộc khủng hoảng di cư tại châu Âu, đồng thời tiếp tục bắt giữ công dân châu Âu làm con tin, thậm chí còn hành quyết một công dân Pháp trong năm 2020. Điều này phần nào khiến người dân châu Âu cũng có thái độ tiêu cực về Iran giống như người Mỹ.

Có thể nói lần duy nhất chính sách của châu Âu tác động tích cực tới hành vi của Iran là vào năm 2012, khi Liên minh châu Âu hợp tác với chính quyền Obama quyết định ngừng nhập khẩu dầu thô từ Iran, mở đường cho sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân 2015. Chính phủ Iran sẽ không nhượng bộ các yêu cầu của Mỹ nếu cảm thấy châu Âu đứng về phía mình, như trường hợp năm 2018, khi Tổng thống Mỹ Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân.

Mặc dù vậy, Mỹ còn cần phải tìm kiếm sự hợp tác ngoài châu Âu. Theo một số ước tính, xấut khẩu dầu thô của Iran sang Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần chỉ trong năm qua, khiến Tehran không còn cảm thấy nhất thiết phải quay lại thỏa thuận hạt nhân. Mọi nỗ lực nhằm thay đổi toan tính của Iran đều phải được Trung Quốc chấp thuận. Mặc dù quan điểm về Iran giữa Washington và Bắc Kinh có sự khác biệt, nhưng hai bên vẫn có điểm chung là không muốn Iran sở hữu bom hạt nhân và không muốn xung đột với Iran. Hơn nữa, Trung Quốc muốn Trung Đông ổn định để bảo đảm nguồn cung dầu dồi dào từ khu vực này. Các vụ Iran bắt giữ tàu chở dầu hoặc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào Saudi Arabia và UAE – hai đối tác mà giá trị thương mại của họ với Trung Quốc đều cao hơn với Iran – ảnh hưởng tới lợi ích của Bắc Kinh nhiều hơn lợi ích của Mỹ, do gần đây xuất khẩu năng lượng của Washington đã nhiều hơn nhập khẩu.

Cuối cùng, Mỹ cần phải giúp củng cố các quốc gia Arab đang bị Iran thao túng và nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết giữa họ. Các quốc gia này bị Iran lợi dụng do có chính quyền yếu kém, bất ổn hoặc xã hội chia rẽ. Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tộc là nhân tố quyết định để các nước thuộc địa chống lại các đế quốc phương Tây và Xô Viết. Tương tự, chủ nghĩa dân tộc ở các nước như Iraq, Liban, Syria và Yemen – hoặc một tinh thần dân tộc chung của khối Arab – sẽ là yếu tố không thể thiếu để chống lại sức ảnh hưởng của Iran và khôi phục chủ quyền của các quốc gia này. Tinh thần đoàn kết nội bộ trong khối Arab cũng vô cùng quan trọng. Mối bất hòa giữa các thành viên Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) dẫn đến việc Saudi Arabia và UAE cấm vận Qatar từ năm 2017 đến đầu năm 2021 đã làm suy yếu đáng kể tiếng nói của GCC về các mối quan ngại chung liên quan đến chương trình hạt nhân và các chính sách khu vực khác của Iran. Mặc dù Mỹ, châu Âu và Trung Quốc có các lợi ích khác nhau liên quan đến Iran, nhưng không bên nào muốn gây chiến với Tehran hoặc chứng kiến họ sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ từng đóng vai trò liên kết các cường quốc này trong vòng đàm phán dẫn đến sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân năm 2015, và hiện nên một lần nữa đứng ra nhận trách nhiệm này trong các cuộc thảo luận mới về an ninh Trung Đông. Không một quốc gia nào có lợi (có lẽ ngoại trừ Nga) nếu Trung Đông không tôn trọng pháp quyền, chủ quyền, quyền tự do cung cấp năng lượng, hoặc bị các lực lượng khủng bố hoành hành. Mỹ cần phải nỗ lực thuyết phục các đối tác về sự thật này, kêu gọi các bên cùng chống lại các hành vi ác ý của Iran và hạn chế cũng như chống lại các năng lực của nước này.

Vua bãi rác

Quyền lực của Iran ở Trung Đông đang lên, nhưng có thể sẽ sớm chấm dứt. Người Arab từng đối đầu với các thế lực bá quyền Thổ Nhĩ Kỳ và phương Tây trong nhiều thế kỷ sẽ không dễ dàng khuất phục trước ảnh hưởng của Iran. Ngay cả những người Arab được coi là có thiện cảm với Iran, chẳng hạn như cựu Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, người từng sống lưu vong nhiều năm ở Tehran trước khi bước chân vào chính trường, cũng oán hận Iran. Maliki từng nói với Đại sứ Mỹ ở Baghdad: “Ngài chưa hiểu thế nào là đau khổ, trừ phi ngài là một người Arab buộc phải sống chung với người Ba Tư”.

Đại chiến lược của Iran làm nước này kiệt quệ về nguồn lực và sa sút về uy tín như một cây nến cháy cả hai đầu. Nó mang sang các nước khác sự đàn áp chính trị, bức bối xã hội và khó khăn kinh tế mà người dân Iran trong nước từ lâu đã phải gánh chịu. Có thể Iran sẽ tiếp tục là “vua bãi rác” trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ nữa. Rất ít quốc gia trong khu vực hoặc thế giới mong muốn hoặc có đủ khả năng thách thức sự vượt trội của Iran tại Iraq, Liban, Syria và Yemen. Sau hai thập kỷ chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, chắc chắn Mỹ không điều quân đến Trung Đông nộp mạng. Vì vậy, giống như một tòa nhà cao tầng với nền móng đang xuống cấp, Iran dù lung lay dễ đổ nhưng sẽ tiếp tục phủ bóng đen lên một số nước Trung Đông trong tương lai.

Cũng có thể tòa nhà cao tầng này sẽ sụp đổ. Mỹ không thể thay đổi quyết tâm chống Mỹ và tiêu diệt Israel của Iran, nhưng với sự giúp đỡ của các nước khác, Mỹ có thể kiềm chế Tehran cho đến khi quốc gia này có một chính phủ mới với mong muốn làm những điều tốt cho Iran, thay vì hành động chỉ để chống phá các đối thủ về ý thức hệ. Rốt cuộc, đại chiến lược của Iran sẽ bị đánh bại, không phải bởi Mỹ hay Israel, mà bởi chính người dân Iran, những người đã phải trả cái giá đắt nhất cho chính sách này.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022