Bí mật an ninh mạng – Phần XXVII


Đọc, Ghi, Thực thi

ĐỌC, GHI, THỰC THI: trong điện toán, những hoạt động này được gọi là quyền hạn. Về mặt chức năng, chúng xác định phạm vi thẩm quyền của bạn trong một máy tính hoặc mạng máy tính, xác định chính xác những gì bạn có thể và không thể làm. Quyền đọc cho phép bạn truy cập vào nội dung của tập tin, trong khi quyền ghi cho phép bản sửa đổi tập tin. Trong khi đó, thực thi có nghĩa là bạn có khả năng cho vận hành một tập tin hoặc chương trình, để xúc tiến các hoạt động mà nó được thiết kế để thực hiện.

Đọc, Ghi, Thực thi: Đây là kế hoạch ba bước đơn giản của tôi [Snowden]. Tôi muốn đào sâu vào trung tâm của hệ thống mạng được bảo mật nhất thế giới để tìm ra sự thật, tạo một bản sao, và đưa nó ra công chúng. Và tôi đã phải làm tất cả những điều này sao cho không bị phát hiện – không ai biết tôi đọc, ghi và thực thi những gì.

Hầu hết mọi việc bạn làm trên máy tính, trên bất kỳ thiết bị nào, đều để lại một mục ghi nhận. Không nơi nào mà điều này lại đúng cho bằng ở NSA. Mỗi lần đăng nhập và đăng xuất sẽ tạo ra một mục nhật ký truy cập. Mỗi quyền hạn tôi sử dụng đều để lại dấu vết chứng cớ của nó. Mỗi lần tôi mở một tập tin, mỗi lần tôi sao chép một tập tin, hoạt động ấy được ghi nhận hết. Mỗi lần tôi tải xuống, dời đi, hoặc xóa một tập tin cũng đều được ghi nhận, và nhật ký bảo mật sẽ được cập nhật để phản ánh hoạt động này. Có những mục ghi nhận dòng lưu thông tin dữ liệu trong hệ thống mạng, có những mục ghi nhận mã xác minh kỹ thuật số – mọi người thậm chí còn nói đùa về các camera giấu trong phòng tắm, trong các buồng vệ sinh. NSA có không ít các chương trình phản gián chuyên do thám những người đang theo dõi người khác, và thậm chí nếu có ai phát hiện tôi đang làm gì ngoài quyền hạn của mình, thì hậu quả sẽ không chỉ là một tập tin bị xóa.

May mắn thay, sức mạnh của các hệ thống này cũng chính là điểm yếu: Vì chúng phức tạp cho nên ngay cả những người vận hành cũng không nhất thiết phải biết chúng hoạt động như thế nào. Không ai thực sự hiểu chúng chồng chéo ở đâu và những kẽ hở của chúng ở đâu. Tức là không một ai, ngoại trừ các quản trị viên hệ thống. Nói cho cùng, những hệ thống giám sát tinh vi mà bạn có thể tưởng tượng ra – những hệ thống có cái tên đáng sợ như MINDNIGHTRIDER – thì ngay từ đầu cũng phải được một ai đó cài đặt chúng vào hệ thống. NSA có thể đã trả tiền cho hệ thống mạng này, nhưng những người quản trị hệ thống như tôi mới là người thực sự làm chủ nó.

Giai đoạn Đọc sẽ liên quan đến việc nhảy múa qua mạng lưới cạm bẫy kỹ thuật số giăng khắp các tuyến đường kết nối NSA với mọi cơ quan tình báo khác, trong và ngoài nước. Trong số đó có nước Anh đối tác, Tổng bộ Thông tin Chính phủ (Government Communications Headquarters – GCHQ), nơi đang thiết lập những hệ thống càn quét thông tin như OPTICNERVE, chương trình cứ mỗi năm phút lại lưu một bản sao nội dung thu đượctừ camera cảu những người nói chuyện qua video trên các nền tảng như Yahoo Messenger, và PHOTONTORPEDO, chương trình thâu tóm địa chỉ IP của người dùng MSN Messenger. Bằng cách sử dụng Heartbeat để lấy về các tài liệu mong muốn, tôi có thể “thu thập đại trà” để chống lại những người đã “thu thập đại trà” chống lại công chúng, một hành động thực tế đã biến Cộng đồng Tình báo Mỹ thành con quái vật Frankenstein. Các công cụ bảo mật của NSA vẫn theo dõi xem ai đã đọc những gì, nhưng điều này không thành vấn đề: Bất kỳ ai bận tâm kiểm tra nhật ký truy cập của họ thì đến bây giờ đều đã quen với hệ thống Heartbeat của tôi. Sẽ không hề có báo động. Đó là vỏ bọc hoàn hảo.

Nhưng cho dù Heartbeat hoạt động như một cách thu thập các tập tin – quá nhiều tập tin – nó chỉ đưa chúng về máy chủ ở Hawaii, một máy chủ lưu giữ nhật ký truy cập mà ngay cả tôi cũng không thể tránh né được. Tôi cần một cách nào đó để làm việc với các tập tin này, tìm kiếm trong đó, và loại bỏ những thứ không liên quan và không thú vị, cùng với những tập tin nào chứa đựng những bí mật chính đáng mà tôi sẽ không cung cấp cho các nhà báo. Vào thời điểm này, vẫn trong giai đoạn Đọc của tôi, khả năng rủi ro lại rất cao, chủ yếu là do các giao thức mạng mà tôi gặp phải đã không còn hướng đến việc giám sát nữa mà là để ngăn chặn. Nếu tôi chạy các tìm kiếm của mình trên máy chủ Heartbeat này, nó sẽ nháy sáng một dấu hiệu điện tử báo động HÃY BẮT TÔI.

Tôi mất một thời gian suy nghĩ điều này. Tôi không thể cứ sao chép các tập tin trực tiếp từ máy chủ Heartbeat vào một thiết bị lưu trữ cá nhân và tung tăng ra khỏi Đường hầm mà không bị bắt. Dù vậy, những gì tôi có thể làm là đưa các tập tin này đến gần hơn, hướng chúng đến một trạm phụ trung gian.

Tôi không thể chuyển chúng đến một trong những máy tính thông thường của chúng tôi, bởi vì đến năm 2012, toàn bộ máy tính cá nhân trong Đường hầm đã được nâng cấp lên loại mới là “máy khách phụ thuộc” (thin client): Những máy tính bất lực với ổ đĩa và CPU bị hạn chế, không thể tự nó lưu trữ hoặc xử lý dữ liệu mà thực hiện mọi việc lưu trữ và xử lý trên đám mây. Nhưng ở một góc bị lãng quên của cơ quan này, có một chồng cao các máy tính để bàn không còn sử dụng – những chiếc máy đời cũ, bỏ không, đã được xóa sạch ổ đĩa rồi phế thải. Khi tôi nói “cũ”ở đây là tôi muốn nói “còn mới” theo tiêu chuẩn của những ai không sống bằng ngân sách khổng lồ cỡ NSA. Chúng là các máy tính Dell khoảng năm 2009 hoặc 2010,những khối chữ nhật lớn màu xám có trọng lượng khá nhẹ, có thể tự lưu trữ và xử lý dữ liệu mà không cần kết nối với đám mây. Tôi thích các máy cũ này ở điểm dù chúng không bị theo dõi chặt, miễn là tôi không kết nối chúng vào các hệ thống mạng trung tâm.

Tôi có thể dễ dàng biện minh việc cần phải sử dụng các thùng máy lạnh lùng, đáng tin cậy này bằng cách tuyên bố rằng tôi đang cố gắng làm cho Heartbeat hoạt động được với các hệ điều hành cũ. Nói cho cùng, đâu phải tất cả mọi người ở mọi cơ sở của NSA đều đã được trang bị một “máy khách” đời mới. Và nếu hãng Dell muốn triển khai một phiên bản dân sự của phần mềm Heartbeat thì sao? Hoặc nếu CIA, hoặc FBI, hoặc một cơ quan khác cũng lạc hậu về công nghệ như vậy muốn sử dụng Heartbeat thì sao? Với cái cớ kiểm tra khả năng tương thích, tôi có thể chuyển các tập tin sang các máy tính cũ này, nơi tôi có thể tìm kiếm, chọn lọc và sắp xếp chúng tùy ý, miễn là tôi cẩn thận. Tôi đang vác một trong những cái thùng máy cũ kềnh càng đó trở lại bàn làm việc cảu mình thì đi ngang qua một trong những giám đốc CNTT của Đường hầm, người này đã ngăn tôi lại và hỏi tôi cần nó để làm gì – chính ông ta là người đề xuất việc loại bỏ các thứ này. “Đánh cắp bí mật”, tôi đáp, và cả hai cùng cười vang.

Giai đoạn Đọc kết thúc với các tập tin mong muốn đã được sắp xếp gọn gàng thành các thư mục. Nhưng chúng vẫn nằm trong một chiếc máy tính không phải của tôi, vẫn ở trong Đường hầm dưới lòng đất. Bắt đầu giai đoạn Ghi, một giai đoạn trong ý đồ của tôi đồng nghĩa với một quá trình chậm chạp, nhàm chán nhưgn cũng rất đáng sợ, để sao chép các tập tin từ chiếc máy Dell cũ vào phương tiện nào đó mà tôi có thể lén mang ra khỏi tòa nhà này.

Các dễ dàng nhất và an toàn nhất để sao chép tập tin từ bất kỳ máy trạm nào của Cộng đồng IC cũng là cách lâu đời nhất: máy ảnh. Smartphone tất nhiên là bị cấm trong các tòa nhà của NSA, nhưng nhân viên vẫn luôn vô tình mang chúng vào mà không ai biết. Họ để chúng trong túi đựng đồ tập thể dụng hoặc trong túi áo gió. Nếu họ bị bắt gặp mang điện thoại trong một cuộc kiểm tra ngẫu nhiên và thộn mặt ra ngạc nhiên chứ không hoảng loạn la hét tiếng Tàu vào chiếc đồng hồ đeo tay của mình, thì họ sẽ chỉ bị nhắc nhở, nhất là khi mới vi phạm lần đầu. Nhưng đưa một chiếc smartphone chứa đầy bí mật NSA ra khỏi Đường hầm là một nước cờ thí nguy hiểm hơn. Điều lạ lùng là không hề có ai chú ý – hoặc quan tâm – nếu tôi đi ra ngoài với chiếc smartphone. Nó có thể là một công cụ thích hợp cho một nhân viên đang toan tính sao chép một bản báo cáo tra tấn duy nhất, nhưng tôi không điên tới mức toan tính dùng điện thoại để chụp hàng ngàn bức ảnh màn hình máy tính của mình ngay giữa một cơ sở tối mật. Ngoài ra, chiếc điện thoại ấy sẽ phải được cấu hình theo cách nào đó mà ngay cả các chuyên gia điều tra hàng đầu thế giới nếu có thu giữ và lục soát trong đó cũng không tìm thấy bất cứ thứ gì lẽ ra không nên có.

Tôi sẽ không công bố phương cách chính xác mà tôi đã tiến hành giai đoạn Ghi của mình – sao chép và mã hóa tài liệu – để cho NSA ngày mai vẫn còn đứng vững. Tuy vậy, tôi sẽ đề cập đến công nghệ lưu trữ tôi đã sử dụng cho các tập tin sao chép này. Quên ở đĩa USB đi; chúng rất cồng kềnh mà dung lượng lưu trữ lại khá nhỏ. Thay vào đó, tôi đã sử dụng các thẻ SD – từ viết tắt của Secure digital. Trên thực tế, tôi đã đi mau nhiều thẻ mini-SD và micro-SD.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần III


Là một nước hết thời đế chế và vẫn đang trong quá trình xác định lại bản sắc của mình, Thổ Nhĩ Kỳ bị kéo căng ra ba hướng. Phái hiện đại muốn nước này trở thành một nhà nước châu Âu và do vậy họ hướng về phía Tây; phái Hồi giáo ngả về Trung Đông và một cộng đồng Hồi giáo, do vậy họ hướng về phía Nam; còn phái chủ nghĩa dân tộc suy nghĩ về lịch sử thấy các dân tộc Thổ của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á có một nhiệm vụ mới là xây dựng một nước Thổ Nhĩ Kỳ thống soái trong khu vực và do vậy hướng về phía Đông. Mỗi góc nhìn này đều định ra một trục chiến lược khác nhau, và sự va chạm giữa chúng, lần đầu tiên kể từ sau cuộc cách mạng của người Keman sẽ tạo ra sự bất ổn ở mức độ nào đó đối với vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực.

Hơn nữa, bản thân Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành nạn nhân của các cuộc xung sắc tộc trong khu vực. Tuy dân số vào khoảng 65 triệu mà chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 80%), còn lại là các sắc tộc như Circassia, Albani, Bosnia, Bulgaria và Arab và khoảng 20% là người Kurd. Sống tập trung ở các khu vực phía Đông đất nước, người Kurd ở đây ngày càng bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh độc lập dân tộc mà người Kurd ở Iran và Iraq đã khơi dậy. Những mối căng thẳng trong nội bộ Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến hướng đi chung của đất nước rõ ràng sẽ khuyến khích người Kurd gây sức ép mạnh mẽ hơn đòi vị thế dân tộc riêng.

Định hướng tương lai của Iran cũng còn nhiều vấn đề. Cuộc cách mạng của phái Shiite theo trào lưu chính thống từng chiến thắng vào cuối thập kỷ 70 vừa qua có thể đang bước vào giai đoạn lụi tàn, và điều đó làm tăng sự bất ổn cho vai trò địa chính trị của Iran. Một mặt, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vô thần đã mở cửa các nước láng giềng phương Bắc mới độc lập của Iran để tôn giáo hóa họ; mặt khác, sự thù địch của Iran đối với Mỹ đã đưa Iran đến chỗ đi theo hướng thân Nga. Điều này cũng vì Iran lo ngại về tác động mà nền độc lập mới của Azerbaijan có thể gây ra đối với sự liên kết của chính họ.

Mối lo ngại đó phát sinh từ việc Iran không có khả năng giải quyết những căng thẳng về sắc tộc. Trong số 65 triệu dân của Iran thì chỉ có trên một nửa là người Ba Tư. Khoảng gần 1/4 người Azeri, số còn lại bao gồm cả người Kurd, Baluchi, Turkmen, Arab… Ngoài người Kurd và người Azeri, các tộc người khác hiện nay không có khả năng đe dọa sự toàn vẹn quốc gia của Iran, nhất là khi dân Ba Tư luôn có ý thức cao về quốc gia và đế chế. Những tình thế này có thể thay đổi nhanh chóng nếu có một cuộc khủng hoảng chính trị mới trên chính trường Iran.

Hơn nữa, việc tồn tại một số “công xã” Stanr mới độc lập trong khu vực và ngay cả 1 triệu dân Chechen cũng có thể khẳng định khát vọng chính trị của họ sẽ lan sang người Kurd cũng như sang cả những sắc tộc thiểu số khác của Iran. Nếu Azerbaijan thành công trong công cuộc phát triển kinh tế và chính trị ổn định thì người Azeri gốc Iran có thể sẽ ngày càng đi theo ý tưởng một nước Azerbaijan lớn hơn. Do đó, sự bất ổn chính trị và chia rẽ ở Iran có thể phát triển lên thành yếu tố thách thức sự thống nhất của nhà nước này.

2/ Cuộc đấu đa phương

Các nước Balkans cổ truyền ở châu Âu đã cuốn hút cuộc cạnh tranh trực diện giữa ba đế chế địch thủ là đế chế Ottoman, đế chế Áo – Hung và đế chế Nga. Còn ba thành viên nữa gián tiếp tham gia trận đấu, đó là Đức, Pháp và Anh. Đức sợ thế lực của Nga, Pháp chống Áo – Hung và Anh muốn một đế chế Ottoman kiểm soát vùng eo biển Dardanelles. Trong suốt thế kỷ XIX, những cường quốc này tìm cách kiềm chế các cuộc xung đột ở vùng Balkans, nhưng họ đã không làm được điều đó, mà chỉ gây hậu quả tai hại cho tất cả.

Ngày nay, cuộc cạnh tranh trong các nước Balkans Âu – Á cũng lôi kéo trực tiếp ba nước láng giềng: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, mặc dù Trung Quốc cũng có thể trở nên một nước chủ đạo quan trọng. Tham gia vào cuộc cạnh tranh ở tầm xa còn có Ukraine, Pakistan, Ấn Độ và Mỹ.

Ba đối thủ chính tham dự vào cuộc đấu không chỉ vì tham vọng những món lợi kinh tế và địa chính trị mà còn vì những xung đột lịch sử mãnh liệt. Những nước này đã từng giữ địa vị thống soái về chính trị hoặc văn hóa trong vùng. Mỗi nước đều nhìn các nước khác bằng con mắt nghi ngờ. Tuy khó xảy ra chiến tranh trực diện giữa họ, nhưng tác động của những kình địch giữa họ có thể góp phần gây rối loạn khu vực.

Thái độ thù địch của Nga đối với Thổ gần như một nỗi ám ảnh. Báo chí Nga mô tả người Thổ có xu hướng kiểm soát khu vực, và là những kẻ xúi giục người địa phương chống Nga (vụ Chechnya cũng phần nào chứng minh điều đó), và đe dọa nền an ninh chung của Nga. Sự mô tả này vượt quá sự thật.

Người Thổ cũng có một thái độ như vậy Nga. Họ coi mình có vai trò giải phóng những cho những người anh em khỏi sự đàn áp đã kéo quá dài của Nga. Người Thổ và Iran (ba Tư) trong lịch sử đã là những đối thủ trong khu vực. Sự kình địch đó trong những năm gần đây đã sống lại.

Có thể nói, mỗi nước trong ba nước đều tìm kiếm một khu vực ảnh hưởng. Tham vọng của Nga có tầm quan trọng hơn, vì họ vẫn còn những hồi ức tương đối mới về quyền kiểm soát đế chế, sự hiện diện của hàng triệu người Nga và ý muốn đưa Nga trở lại vị trí một đại cường toàn cầu. Những tuyên bố trong chính sách đối ngoại của Nga đã chứng minh việc họ nhìn toàn bộ không gian Liên Xô cũ là khu vực lợi ích địa chiến lược đặc biệt của họ, và do đó cần phải loại trừ ảnh hưởng chính trị, và thậm chí lợi ích kinh tế của bên ngoài.

Trái lại, khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ muốn giành ảnh hưởng khu vực vẫn mang dấu ấn của một quá khứ đế chế xa xưa. Song, những khát vọng đó có cội nguồn từ nhận thức về một sự đồng nhất sắc tộc và ngôn ngữ với các dân tộc Thổ trong khu vực. Do sức mạnh quân sự và chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có hạn nên họ không thể đạt được một khu vực ảnh hưởng chính trị đặc quyền. Trái lại, Thổ Nhĩ Kỳ tự coi mình như một lãnh tụ tiềm tàng của một cộng đồng lỏng lẻo những người nói tiếng Thổ, và tận dụng trình độ tương đối hiện đại, tính tương đồng về ngôn ngữ và các biện pháp kinh tế của mình để đưa nước này lên địa vị có ảnh hưởng nhất trong quá trình xây dựng quốc gia đang diễn ra trong vùng.

Tuy khát vọng của Iran vẫn chưa rõ ràng, nhưng về âu dài cũng chẳng kém phần nguy hiểm hơnt ham vọng của Nga. Đế chế Ba Tư là một ký ức xa xôi hơn. Vào lúc hoàng kim nhất, khoảng 500 trước Công nguyên, đế chế này bao gồm lãnh thổ hiện tại của ba nước vùng Kavkaz (Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan). Tuy những khát vọng địa chính trị hiện tại của Iran ở mức độ thấp hơn Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chủ yếu nhằm vào Azerbaijan và Afghanistan, nhưng toàn bộ dân Hồi giáo (kể cả trên lãnh thổ Nga) là mục tiêu trong mối quan tâm tôn giáo của Iran. Thực ra sự hồi sinh của đạo Hồi ở Trung Á đã trở thành một bộ phận hữu cơ của những khát vọng trong giới lãnh đạo hiện tại của Iran…

Ở giai đoạn này, vai trò của Trung Quốc bị hạn chế và mục tiêu của họ không rõ ràng, vì Trung Quốc chú ý đến một tập hợp những nước tương đối độc lập ở phía Tây hơn là một đế chế Nga. Trung Quốc lo rằng, dân thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ ở Tân Cương có thể tìm thấy ở các nước Trung Á mới độc lập những ví dụ đầy hấp dẫn đối với họ, và vì vậyTrung Quốc đã tìm cách tranh thủ sự bảo đảm của Kazakhstan rằng họ sẽ trấn áp hoạt động vượt biên của dân thiểu số. Về lâu dài, những nguồn năng lượng của khu vực sẽ là điều mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm với mục tiêu là trực tiếp tiếp xúc các nguồn năng lượng đó mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nga. Do vậy, lợi ích địa chính trị chung của Trung QUốc có xu hướng va chạm với lợi ích đại chính trị chung của Nga.

Đối với Ukraine, các vấn đề Trung tâm là đặc điểm tương lai của cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và khả năng tiếp cận tự do hơn với các nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm sự phụ thuộc củ Ukraine vào Nga. Ở khía cạnh này, những mối quan hệ thân thiết hơn với Azerbaijan, Turkmenistan, Uzbekistan đã trở nên quan trọng đối với Ukraine và việc Ukraines ủng hộ các nước này độc lập với Nga. Do đó, Ukraine cũng đã ủng hộ cố gắng của Gruzia vươn lên địa vị làm chủ một tuyến đường chạy theo hướng Tây phục vụ cho xuất khẩu dầu Azeri. Ukraine còn hợop tác với Thổ Nhĩ Kỳ để làm suy yếu ảnh hưởng của Nga ở Biển Đen và đã ủng hộ những cố gắng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển lưu lượng dầu từ Trung Á tới các trạm cuối của Thổ.

Hiện nay cả Pakistan và Ấn Độ đều đang quan tâm tới các nước Balkans Âu – Á mới này. Đối với Pakistan, lợi ích chính của họ là đạt chiều sâu địa chiến lược thông qua ảnh hưởng địa chính trị ở Afghanistan và không để Iran có ảnh hưởng như vậy ở Afghanistan cũng như ở Tajikistan và cuối cùng thu lợi từ việc xây dựng đường dẫn dầu nối Trung Á với biển Arab. Nhằm chống lại Pakistan và ảnh hưởng lâu dài của Trung Quốc ở khu vực này, Ấn Độ xem xét ảnh hưởng của Iran và Afghanistan là sự hiện diện lớn hơn của Nga trong không gian Liên Xô cũ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Nhật Bản sẽ đấu tranh pháp lý như thế nào với Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc?


Theo JB Press ngày 19/2, trước việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh mới cho phép sử dụng vũ khí trong “trường hợp cần thiết”, Nhật Bản cần điều chỉnh tiêu chí sử dụng vũ khí của lực lượng chức năng được quy định trong luật, tương ứng với tiêu chí của thế giới. Nếu không sẽ khó có thể ngăn chặn được hành vi xâm lược của phía Trung Quốc.

Ngày 1/2, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc chính thức có hiệu lực, trong đó quy định thẩm quyền cho phép sử dụng vũ khí đối với lực lượng Hải cảnh nước này. Điều này thu hút sự chú ý của giới truyền thông Nhật Bản và thế giói. Nội dung cụ thể quy định trong Điều 22 Luật Hải cảnh mới nêu rõ: “Khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán Trung Quốc bị các cá nhân và tổ chức nước ngoài xâm phạm phi pháp hoặc đối diện mối nguy cấp bách bị xâm phạm phi pháp, theo luật này và các luật liên quan khác, lực lượng Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, gồm sử dụng vũ khí, để chặn đứng hành vi xâm phạm và loại trừ mối nguy”.

Như vậy, tàu tuần tra của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào các tàu nước ngoài (tàu ngầm Mỹ hoặc tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản). Điều này dẫn đến lo ngại về khả năng phát sinh xung đột vũ trang trên biển. Việc lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sủ dụng vũ khí tại “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và “lãnh hải Trung Quốc” có thể xem là tương ứng với tiêu chuẩn sử dụng vũ khí của thế giới. Tuy nhiên, các điều khoản liên quan của Luật này lại không xác định rõ đâu là khu vực thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”, đây chính là vi phạm luật pháp quốc tế.

Về mặt lý thuyết, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản có trách nhiệm vụ đối phó với các hoạt động xâm phạm lãnh hải của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (còn gọi là “vùng xám”). Trong trường hợp Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản không thể kiểm soát đuọc tình hình, Thủ tướng Nhật Bản có quyền điều động Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản phối hợp đảm bảo an ninh. Tuy nhiên, hiện vẫn có một số hạn chế về tiêu chuẩn sử dụng vũ khí đối với các lực lượng này theo Hiến pháp Nhật Bản.

Theo đó, Điều 7 của Luật thực thi nhiệm vụ của sỹ quan cảnh sát quy định sử dụng vũ khí gây hại cho đối phương trong các trường hợp: (i) Phòng vệ chính đáng hoặc cứu nạn khẩn cấp; (ii) Trấn áp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (iii) Thi hành lệnh bắt. Như vậy, có thể thấy quy định này đã hạn chế nhất định trong việc triển khai ứng phó của lực lượng chức năng Nhật Bản trước hành động xâm phạm chủ quyền của tàu Hải cảnh Trung Quốc tại khu vực “vùng xám”.

Tác giả bài viết cho rằng, Nhật Bản cần nghiên cứu để sửa đổi Luật An ninh lãnh hải nhằm tăng quyền hạn cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản và cho phép sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ trên Biển Nhật Bản, trong đó quy định tiêu chí được phép sử dụng vũ khí phải tương ứng với tiêu chí của thế giới hiện nay.

Một số ý kiến cho rằng, Nhật Bản không nên củng cố các thể chế liên quan để tránh bị Trung Quốc tạo cớ nhằm củng cố lập trường cứng rắn đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ dẫn đến một chính sách mang tính “xoa dịu” đối với Trung Quốc hay còn gọi là chính sách ứng phó “kiểu thỏa hiệp”. Lịch sử đã chứng minh chính sách “xoa dịu” của cựu Thủ tướng Anh Chamberlain đối với Đức trong những năm 1930 là một thất bại. Chính vì vậy, Nhật Bản nên cho thấy quyết tâm cao, sẵn sàng đương đầu với xung đột vũ trang với một quốc gia đã bộc lộ ý đồ xâm phạm chủ quyền một cách phi pháp. Tất nhiên, không nên cố đẩy việc leo thang căng thẳng không cần thiết vì vẫn còn giải pháp ngoại giao. Trước mắt, cần liên hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, nhất là Mỹ để kiềm chế hành vi phi pháp và thái độ ngạo mạn của phía Trung Quốc.

Sau khi thông tin trên được đăng tải, nhiều cư dân mạng Mỹ đã viết trên mạng xã hội: “Hãy nhìn xem, đây là thế giới thực tế mà Donald Trump đã gây ra sau 4 năm nhậm chức. Đây là hậu quả xấu xa mà ông ta gieo rắc”. Ngoài ra, một số cư dân mạng Iran bình luận trên các mạng xã hội rằng “cái này gọi là “gậy ông đập lưng ông”, “lấy độc trị độc”. Từ trước tới nay, Mỹ luôn thích dùng “tập trận chung” để gây rối tình hình ở Biển Đông và Đông Âu. Bây giờ thì đến lượt chúng ta”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Vì sao tin tặc Trung Quốc nhằm vào chính phủ, quân đội Việt Nam


Trang hackernews ngày 6/4 dẫn báo cáo của Công ty chuyên về bảo mật Kaspersky cho biết  một nhóm gián điệp mạng có quan hệ với Trung Quốc đã tham gia chiến dịch gián điệp trên không gian mạng nhắm và các tổ chức chính phủ và quân đội Việt Nam. Bình luận về những “động cơ” khiến nhóm gián điệp mạng có liên hệ với Trung Quốc thời gian gần đây gia tăng các chiến dịch tấn công mạng nhằm vào Việt Nam, ngày 8/4, đài VOA dẫn lời một nhà phân tích cho rằng có thể có 3 nguyên nhân tiềm tàng mà một trong số đó là vấn đề Biển Đông.

Theo báo cáo của Kaspersky, nhóm tin tặc Trung Quốc Cycldek, còn được gọi là “Goblin Panda và Conimes”, đứng đằng sau các hoạt động gián điệp mạng nhằm vào chính phủ và quân đội Việt Nam. Hoạt động ít nhất từ năm 2013, nhóm này vốn được biết tiếng là nhóm chuyên tấn công vào các chính phủ ở Đông Nam Á và mục tiêu tấn công ưa thích là Việt Nam. Nhóm này ngày càng thể hiện sự tinh vi trong một loạt các cuộc tấn công gần đây.

Trong báo cáo của Kaspersky, các chuyên gia tập trung phân tích về vấn đề kỹ thuật của hoạt động gián điệp này. Thủ thuật tấn công của nhóm Cycldek là DLL SideLoading với mục tiêu cài đặt mã độc, và sau đó triển khai Trojan (RAT) truy cập từ xa tên là FoundCore để cung cấp cho kẻ tấn công toàn quyền kiểm soát các máy tính bị xâm nhập.

Điểm nguy hiểm trong chiến dịch tấn công gần đây là phương pháp mà nhóm tin tặc Trung Quốc sử dụng để bảo vệ mã độc khỏi bị phân tích – điều này choo thấy “một bước tiến lớn” về độ tinh vi của hoạt động tấn công. Hàng chục tổ chức đã bị ảnh hưởng, 80% trong số đó có trụ sở tại Việt Nam và thuộc về chính phủ hoặc quân đội, bên cạnh các mục tiêu khác có liên quan đến y tế, ngoại giao, giáo dục hoặc chính trị.

Trong email trả lời đài VOA, Kaspersky nói rằng, theo quy định, họ không được phép tiết lộ tên của các tổ chức bị chiến dịch tấn công này nhắm vào, mà chỉ có thể cung cấp thông tin kỹ thuật và lĩnh vực mà các tổ chức này hoạt động. Tuy nhiên những hoạt động tấn công này “có lẽ là để làm gián điệp”.

TS. Hà Hoàng Hợp thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á trụ sở tại Singapore cho biết ông không ngạc nhiên về các hoạt động tấn công của tin tặc Trung Quốc: “Từ sau tháng 3/2000 đến cuối năm 2020, tần suất các vụ tấn công có giảm một chút, nhưng lại tăng lên từ khoảng giữa tháng 12/2020 cho đến nay, vào khoảng 45.000 – 47.000 cuộc tấn công mỗi tuần”.

Mục tiêu tấn công ưa thích của tin tặc Trung Quốc là các cơ quan thuộc các bộ như ngoại giao, công an, nội vụ, tài chính, kế hoạch và đầu tư, thông tin và truyền thông, Văn phòng Chính phủ.

TS Hà Hoàng Hợp nói: “Việc họ dùng các tin tặc để tấn công vào các cơ quan đầu não của Đảng và gần như xảy ra hàng giờ. Thông qua chuyện này, giới lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Nhàn ước Việt Nam cũng phải hiểu bản chất của Trung Quốc. Họ làm như thế nhằm phá hoại”. Theo thống kê của Việt Nam, vào tháng 3/2021, Cục An toàn Thông tin của Bộ Thông tin – Truyền thông đã ghi nhận 491 sự cố tấn công mạng vào các hệ thống tại Việt Nnam, tăng 8,15% so với tháng 2/2021. Cục này cho rằng đại dịch COVID-19 đã làm gia tăng đáng kể nguy cơ mất an toàn an ninh mạng và đưa ra cảnh báo về các cuộc tấn công lừa đảo trực tuyến “phức tạp, gia tăng về số lượng và phương thức” trong năm 2021.

Nhận định về nguyên nhân đằng sau chiến dịch gián điệp mạng từ Trung Quốc, nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp chỉ ra 3 nguyên nhân tiềm tàng, bao gồm vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, các vấn đề liên quan đến đại dịch COVID-19 và kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam: “Biển Đông thì liên quan đến vấn đề phòng thủ của Việt Nam. Việt Nam sử dụng cách gì, chính sách gì bên ngoài việc phòng thủ? Còn việc chống COVID-19 hay phát triển kinh tế cũng có các chủ đề nhỏ, đặc biệt là sự liên quan giữa chống COVID-19 và việc phát triển kinh tế của Việt Nam. Trong năm 2021, Việt Nam phải tiêm vaccine đầy đủ cho 100 triệu người. Vậy có khả năng tìm được vaccine hay không và có đủ hay không? Từ đâu ra? Tất cả những thông tin đó người Trung Quốc rất muốn biết để có thể tác động vào?”.

Tháng 6/2020, Microsoft công bố báo cáo cho biết Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ gặp phải mã độc (malware) và mã độc tống tiền (ransomware) cao nhất châu Á – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Hà Hoàng Hợp, tỷ lệ tấn công thànhc ông của gián điệp mạng Trung Quốc đối với Việt Nam là “không cao” vì hiện tại Việt Nam “không có nhiều bí mật để ở trên mạng” và khả năng công nghệ của Việt Nam so với Trung Quốc là “không hơn không kém”.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.

Bí mật an ninh mạng – Phần XXVI


Khi thu hẹp danh sách các đối tác tiềm năng, tôi [Snowden] nhận ra mình là thế là hoàn toàn sai, hoặc chỉ phí công sức. Thay vì cố gắng tự mình chọn các nhà báo, tôi nên để cho hệ thống mà tôi đang cố gắng tố cáo chọn thay tôi. Tôi xác định những đối tác tốt nhất sẽ là những nhà báo đã trở thành mục tiêu của tình trạng an ninh quốc gia này.

Tôi biết Laura Poitras là một nhà làm phim tài liệu, chủ yếu quan tâm đến chính sách đối ngoại của Mỹ sau ngày 11/9. Bộ phim My Country, My Country (Đất nước tôi, đất nước tôi) của bà mô tả những cuộc bầu cử quốc gia ở Iraq năm 2005 được tiến hành trong (và bị phá hỏng bởi) sự chiếm đóng của Hoa Kỳ. Bà cũng làm bộ phim The Program (Chương trình) về chuyên gia mật mã của NSA là William Binney – người đã lên tiếng phản đối thông qua các kênh chính thức về chương trình TRAILBLAZER, tiền thân của STELLARWIND, để rồi bị buộc tội rò rỉ thông tin mật, bị sách nhiễu liên tục, và bị bắt giữ trước họng súng ngay tại nhà riêng, mặc dù không bao giờ bị buộc tội. Bản thân Laura thường xuyên bị chính quyền sách nhiễu vì công việc của bà, liên tục bị các nhân viên biên phòng giữ lại thẩm vấn bất cứ khi nào bà ra vào nước Mỹ.

Còn tôi biết Glenn Greenwald là một luật sư chuyên về các quyền tự do dân sự đã trở thành cây bút bình luận, ban đầu là viết cho tờ Salon – nơi ông là một trong số ít người viết về phiên bản công khai của Báo cáo Tổng thanh tra NSA hồi năm 2009 – và sau đó là viết cho ấn bản tại Mỹ của tờ Guardian. Tôi thích Greenwald bởi vì ông ta hay hoài nghi và tranh cãi, mẫu người chiến đấu với quỷ dữ, và khi quỷ dữ không có xung quanh thì chiến đấu với chính mình. Dù Ewen McAskill của ấn bản Guardian tại Anh, và Bart Gellman của tờ Washington Post sau này sẽ tỏ ra là các đối tác kiên cường (và là những người dẫn đường nhẫn nại trong cõi hoang dã báo chí), ngay từ đầu tôi thấy mình có cảm tình với Laura và Glenn, có lẽ vì họ không chỉ quan tâm đến việc tường thuật về Cộng đồng Tình báo Mỹ mà bản thân họ còn cố công tìm hiểu về thể chế đó.

Khó khăn duy nhất là làm sao liên lạc.

Không thể tiết lộ tên thật của mình, tôi đã liên lạc với các nhà báo này dưới nhiều danh tính, những mặt nạ dùng tạm trong một thời gian và sau đó loại bỏ. Mặt nạ đầu tiên trong số này là “Cincinnatus”, theo tên của người nông dân huyền thoại đã trở thành quan chấp chính La Mã và rồi tự nguyện từ bỏ quyền lực. Tiếp theo là “Citizenfour”, một danh tính mà một số nhà báo cho rằng tôi tự coi mình là nhân viên bất đồng thứ tư trong lịch sử gần đây của NSA, sau Binney và hai đồng nghiệp đã cùng tố cáo chương trình TRAILBLAZER: J. Kirk Wiebe và Ed Loomis – mặc dù bộ ba trong tâm trí tôi lại là Thomas Drake, người đã tiết lộ sự tồn tại của TRAILBLAZER cho các nhà báo, và Daniel Ellsberg và Anthony Russo, hai người đã tiết lộ Hồ sơ Lầu năm góc, giúp vạch trần những sự lừa dối của Chiến tranh Việt Nam và đưa cuộc chiến này đi đến kết thúc. Cái tên cuối cùng tôi chọn cho thư từ liên lạc của mình là “Verax”, tiếng La-tinh có nghĩa là “người nói sự thật”, với hy vọng đưa ra một kiểu mẫu hacker thay thế cho “Mendax” (người nói dối) – biệt hiệu của chàng trai trẻ sau này lớn lên trở thành Julian Assange của WikiLeaks.

Bạn không thể thực sự đánh giá được cái khó khăn của việc ẩn danh trên mạng cho đến khi nào bạn thử hoạt động như thể cuộc đời bạn phụ thuộc vào điều đó. Hầu hết các hệ thống thông tin liên lạc được thiết lập trong Cộng đồng IC đều có một mục tiêu cơ bản duy nhất: không cho phép người nào theo dõi thông tin liên lạc lại có thể phân biệt được danh tính của những ai liên quan, hoặc có thể có bất kỳ cách nào đó truy ra được nguồn gốc của liên lạc này là một cơ quan của IC. Đây là lý do tại sao IC gọi các trao đổi này là “không dấu vết”. Tình trạng ẩn danh của nghề gián điệp trước thời Internet rất nổi tiếng, chủ yếu là nhờ TV và điện ảnh: ví dụ như một địa chỉ nhà an toàn được mã hóa bằng hình vẽ bậy trong buồn tắm, hay xáo trộn thành những chữ viết tắt của một mẩu rao vặt đăng báo. Hay là những “hộp thư mật” thời Chiến tranh Lạnh, những vệt phấn trên các thùng thư báo hiệu rằng một gói bí mật đang chờ đợi bên trong một thân cây rỗng nào đó ở một công viên. Phiên bản hiện đại có thể là những tài khoản giả mạo để tán chuyện giả mạo trên một website hẹn hò, hoặc, thông thường hơn, chỉ là một ứng dụng có vẻ vô hại để lại các tin nhắn có vẻ vô hại trên một máy chủ Amazon có vẻ vô hại do CIA bí mật kiểm soát. Tuy nhiên, điều tôi muốn là một phương cách còn tốt hơn thế – một phương cách gì đó không yêu cầu phải phô trương ra như vậy và không tốn ngân khoản nào.

Tôi quyết định sử dụng đường kết nối Internet của người khác. Tôi ước gì đó chỉ đơn giản là đi đến một tiệm McDonald hoặc Starbucks và đăng nhập vào Wifi của họ Nhưng những nơi đó có camera quan sát, và biên lai tính tiền, và nhiều người khác – những bộ nhớ biết đi. Hơn nữa, mọi thiết bị không dây, từ điện thoại đến máy tính xách tay, đều có một mã nhận dạng riêng biệt trên toàn cầu được gọi là MAC (Machine Address Code – Mã địa chỉ máy), được lưu lại trong mọi điểm truy cập mà thiết bị đó kết nối – một chỉ dấu chứng cớ về các hoạt động của người dùng.

Cho nên tôi đã không đến McDonald hay Starbucks – tôi cứ lái xe đi không ngừng. Cụ thể là tôi biến chiếc xe của mình thành một máy dò Wifi lưu động. Muốn làm việc này, bạn cần một máy tính xách tay, một ăng-ten công suất cao và một bộ cảm biến GPS có nam châm, có thể gắn trên nóc xe. Điện được cung cấp bởi xe hơi hoặc pin di động, hoặc bằng chính chiếc máy tính xách tay. Tất cả mọi thứ bạn cần có thể bỏ gọn trong một chiếc ba-lô.

Tôi đã mang theo một chiếc máy tính xách tay giá rẻ chạy TAILS, đó là một hệ điều hành “mất trí nhớ trên nền Linux – có nghĩa là nó sẽ quên hết mọi thứ khi bạn tắt nguồn, và lại chạy như mới khi bạn khởi động máy, không hề có nhật ký truy cập hay dấu vết bộ nhớ của bất cứ công việc gì đã thực hiện trên chiếc máy đó. TAILS cho phép tôi dễ dàng “giả mạo”, hay ngụy trang địa chỉ MAC của máy tính xách tay: bất cứ khi nào có nối mạng, nó để lại bản lưu địa chỉ MAC của một máy tính khác, hoàn toàn không liên quan đến máy tính của tôi. Rất được việc, TAILS còn tích hợp tính năng hỗ trợ kết nối với mạng Tor ẩn danh.

Vào ban đêm và ngày cuối tuần,tôi lái xe vòng vòng gần như là toàn bộ đảo Oahu, để cho ăng-ten của tôi bắt xung của từng mạng Wifi. Cảm biến GPS của tôi đã tên từng điểm truy cẩm với vị trí tọa độ mà nó đã được thông báo, nhờ vào một chương trình lập bản đồ mà tôi sử dụng có tên là Kismet. Kết quả là một bản đồ của các hệ thống mạng vô hình mà ta đi qua mỗi ngày không hề hay biết, trong đó có một tỷ lệ cao kinh khủng những mạng không hề có bảo mật gì cả hoặc có bảo mật nhưng tôi có thể vượt qua dễ như chơi. Một số mạng đòi hỏi phải hack tinh vi hơn.Tôi thường nhanh chóng gây nghẽn một hệ thống mạng, khiến những người dùng hợp pháp của nó bị mất kết nối; trong lúc họ đang cố gắng kết nối lại, họ đã tự động phát lại trên mạng các “gói xác thực” (authentification packets) mà tôi có thể chặn được và dễ dàng giải mã thành các mật khẩu cho phép mình đăng nhập giống như bất kỳ người dùng “được cấp quyền” nào khác.

Với bản đồ mạng này trong tay, tôi đãláy xe quanh Oahu như một kẻ điên, cố gắng kiểm tra email của mình để xem có nhà báo nào trả lời tôi chưa. Sau khi liên lạc với Laura Poitras, tôi đã dành phần lớn thời gian buổi tối để viết thư cho bà ấy – lúc ngồi sau tay lái ở bãi biển, lấy trọng sóng wifi từ một khu resort gần đó. Với một số nhà báo đã chọn, tôi cần phải thuyết phục họ sử dụng email mã hóa, một chuyện khổ sở vào năm 2012. Trong một số trường hợp, tôi phải chỉ cho họ cách làm, nên tôi đã đưa lên mạng các hướng dẫn từng bước – lúc ngồi trong chiếc xe vẫn nổ máy trong một bãi đậu xe, tận dụng hệ thống mạng của một thư viện. Hay của một trường học. Hay của một trạm xăng. Hay của một ngân hàng- một nơi bảo mật kém kinh khủng. Vấn đề là không bất kỳ dạng thức lặp lại nào.

Trên gara đỗ xe của một trung tâm thương mại, vững tin khi biết rằng ngay lúc đóng nắp máy tính xách tay lại, bí mật của mình vẫn an toàn, tôi đã thảo ra những bản tuyên ngôn giải thích lý do tôi đứng ra tố cáo công khai, nhưng sau đó tôi lại xóa đi. Và tôi đã thử viết những email gửi cho Lindsay để rồi cũng xóa. Tôi không sao viết được thành lời.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần II


Trong năm nước mới độc lập ở Trung Á, Kazakhstan và Uzbekistan có vị trí quan trọng nhất. Trong khu vực này, Kazakhstan là lá chắn còn Uzbekistan là linh hồn thúc đẩy mức độ thức tỉnh dân tộc khác nhau. Tầm cỡ và vị trí địa lý của Kazakhstan che chở cho các nước khác khỏi bị sức ép tự nhiên trực tiếp của Nga, vì chỉ có Kazakhstan là giáp giới với Nga. Tuy nhiên, trong số 18 triệu dân của nước này có khoảng 36% là người Nga (dân số Nga trong toàn khu vực đang giảm dần) và thêm 20% nữa cũng không phải là dân Kozak. Thực tế này khiến các nhà cai trị Kozak mới gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia trên cơ sở sắc tộc và ngôn ngữ. Những người Nga sinh sống ở đây cũng căm ghét tập đoàn lãnh đạo người Kozak. Đa phần trong số họ thuộc tàng lớp thực dân thống trị trước đây, có trình độ văn hóa và cương vị bởi vậy họ sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những người này nhìn chủ nghĩa dân tộc Kozak mới với sự miệt thị lộ liễu. Do cả hai vùng Kozak Tây Bắc và Đông Bắc Kazakhstan đều bị đế chế Nga khống chế nặng nề, nên nước này đứng trước nguy cơ ly khai về lãnh thổ nếu quan hệ Kozak – Nga xấu đi. Đồng thời có nhiều người Kozak sống ở nước Nga nằm bên kia đường biên giới quốc gia và ở nước Uzbekistan về phía Đông Bắc, mà người Kozak coi là đối thủ chính tranh quyền lãnh đạo vùng Trung Á với họ.

Trong thực tế, Uzbekistan là ứng cử viên hàng đầu vào địa vị lãnh đạo khu vực ở Trung Á. Là nước nhỏ hơn, ít tài nguyên thiên nhiên hơn Kazakhstan, nhưng dân số nước này lại đông hơn (gần 25 triệu) và một điều quan trọng hơn hẳn là nước này có sự đồng nhất về sắc tộc hơn. Do tỷ lệ sinh của người bản xứ cao hơn và sự ra đi dần dần của người Nga, nên không bao lâu nữa, 75% dân số sẽ là người Uzbek và chỉ còn một thiểu số người Nga chủ yếu ở thủ đô Tashken.

Giới lãnh đạo chính trị của Uzbekistan tự cho rằng mình là hậu duệ trực tiếp của đế chế Tamerlane rộng lớn thời Trung cổ (1336 – 1404) với thủ đô Samakhan vốn là một trung tâm nổi tiếng trong khu vực về phục vụ nghiên cứu tôn giáo, chiêm tinh học và nghệ thuật. Mối liên hệ này làm cho nước Uzbekistan hiện đại có ý thức sâu sắc về tính kế thừa lịch sử và về nhiệm vụ của họ đối với khu vực hơn là các nước láng giềng. Ngay cả dân thường cũng ngày càng có ý thức tham gia vào những hoạt động xây dựng một nhà nước dân tộc hiện đại, quyết tâm không bao giờ trở lại địa vị thuộc địa bất chấp mọi khó khăn trong nước. Tinh thần này cao hơn ở bất kỳ nước Trung Á nào.

Điều kiện này làm cho Uzbekistan vừa trở thành người đi đầu trong việc nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau những chia rẽ sắc tộc và cũng vừa là đối tượng rất đáng lo ngại cho các nước láng giềng. Dù cho các lãnh tụ Uzbek bắt đầu khởi sắc trong xây dựng quốc gia và trong chủ trương tự lực khu vực, nhưng việc nước này có sự đồng nhất dân tộc và giác ngộ dân tộc sâu sắc lại khơi lên nỗi lo sợ trong các nhà lãnh đạo Turkmenistan, Tajikistan và Kazakhstan. Họ lo sợ rằng, sự lãnh đạo trong khu vực của người Uzbek sẽ phát triển lên thành sự thống trị khu vực. Nỗi lo ngại này cản trở hợp tác khu vực trong các nước mới có chủ quyền và kéo dài điểm yếu của khu vực.

Thực chất không phải Uzbekistan đã hoàn toàn thoát khỏi những căng thẳng sắc tộc. Nhiều nơi ở phía Nam Uzbekistan, nhất là quanh các trung tâm quan trọng về lịch sử và văn hóa như Samakhan và Bukhara có nhiều dân Tajik vẫn mang hận thù với các đường biên giới do Nga vẽ nên. Một yếu tố nữa làm cho vấn đề càng thêm phức tạp là sự hiện diện của người Uzbek ở phía Tây Tajikistan, sự hiện diện của người Uzbek tẫn Tajik ở thung lũng Fegana quan trọng về kinh tế (ở nơi này trong những năm gần đây đã xảy ra bạo lực sắc tộc đẫm máu). Đó là chưa kể đến sự hiện diện của người Uzbek ở Bắc Afghanistan.

Trong ba nước Trung Á vừa thoát khỏi ách thống trị của Nga (Kyrgystan, Tajikistan, Turkmenistan), chỉ có nước thứ ba là tương đối liên kết về sắc tộc. Khoảng 75% trong số 4,5 triệu dân là người Thổ còn người Uzbek và người Nga chỉ chiếm dưới 20% dân số. Được che chắn bởi Turkmenistan nên tương đối cách xa Nga, trong khi đó về mặt địa lý, Uzbekistan và Iran lại có liên quan lớn hơn đến tương lai của nước này. Một khi đường ống dẫn dầu đến vùng này được xây dựng thì các trữ lượng khí đốt thực sự khổng lồ của Turkmenistan báo hiệu một tương lai phồn vinh của nhân dân nước này.

Với con số 5 triệu dân, Kyrgystan đa dạng hơn nhiều. Chính dân Kyrgystan chỉ chiếm 55% tổng số, và dân Uzbek chiếm 13%, còn số dân Nga thì gần đây giảm từ 20% xuống trên 15%. Trước khi nước này độc lập, đa số trong thành phần trí thức kỹ thuật của nước này là dân Nga và sự ra đi ồ ạt của họ đã gây tổn thất cho nền kinh tế. Tuy giàu về khoáng sản và có cảnh quan thiên nhiên khiến một số người ví nước này là Thụy Sĩ của Trung Á, và do vậy có thể sẽ trở thành một miền đất mới cho khách du lịch. Do vị trí địa chính trị của Kyrgystan, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan, khiến nước này hầu như bị phụ thuộc vào việc Kazakhstan có thành công hay không trong việc duy trì nền độc lập.

Tajikistan có phần đồng nhất hơn về sắc tộc. Trong số 6,5 triệu dân, có chưa đầy 2/3 là dân Tajik, hơn 25% là người Uzbek, trong khi đó số người Nga chỉ còn lại 3%. Nhưng cũng như ở nơi khác, ngay cả cộng đồng sắc tộc thống trị cũng chia rẽ rất rõ rệt theo bộ lạc, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại chủ yếu chỉ giới hạn trong giới lãnh đạo chính trị ở thành phố. Do vậy, nền độc lập không chỉ tạo ra nội chiến mà còn tạo cớ cho Nga tiếp tục triển khai quân đến nước này. Tình hình sắc tộc càng phức tạp hơn do ở ngay bên kia biên giới trên vùng Đông Bắc Afghanistan nơi có một số đông người Tajik sinh sống. Thực ra, ở cả hai nước Afghanistan và Tajikistan số dân thuộc sắc tộc Tajik ngang nhau. Đây cũng là một nhân tố góp phần làm mất ổn định khu vực.

Tình trạng lộn xộn hiện tại của Afghanistan cũng là một di sản của Liên Xô cũ, tuy nước này không phải là một nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Sự chiếm đóng của Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích kéo dài chống lại họ đã khiến Afghanistan chỉ là một nhà nước dân tộc trên danh nghĩa. Hai mươi hai triệu dân của nước này chia rẽ gay gắt theo bộ lạc, trong đó sự bất đồng lớn giữa các sắc tộc Pashtun, Tajik và Hazara ngày càng lớn. Đồng thời, phong trào Thánh chiến (jihat) chống quân Nga chiếm đóng đã làm cho tôn giáo trở nên một khía cạnh bao trùm trong đời sống chính trị của đất nước, làm cho những mối bất đồng vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt. Do vậy, phải nhìn nhận Afghanistan không chỉ là bộ phận trong vấn đề sắc tộc hóc búa ở Trung Á, mà còn là bộ phận quan trọng về chính trị của các nước Balkans Âu – Á.

Tuy các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ cũng như Azerbaijan có đa số dân là Hồi giáo, nhưng tầng lớp tinh hoa chính trị của họ (chủ yếu vẫn là sản phẩm của Liên Xô cũ), đều mang quan điểm phi tôn giáo. Có thể nói, các nước này về hình thức là vô thần. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ bản sắc thị tộc hoặc bộ lạc truyền thống sang nhận thức dân tộc hiện đại hơn thì có thể họ sẽ ngày càng giác ngộ thêm về đạo Hồi. Trong thực tế, một sự hồi sinh của đạo Hồi có thể trở thành xung lực thúc đẩy những thứ chủ nghĩa dân tộc mới ngày càng lan tràn, quyết tâm chống lại việc một lần nữa đưa họ vào vòng kiểm soát của Nga, và cũng là một sự kiểm soát vô thần.

Thực ra, quá trình Hồi giáo hóa có thể lây lan sang cả dân Hồi giáo vẫn tiếp tục sinh sống ở đất Nga. Số dân này là 20 triệu – gấp hơn hai lần số người Nga bất mãn (khoảng 9,5 triệu) vẫn tiếp tụcsinh sống dưới chế độ thống trị ngoại quốc ở các nước Trung Á độc lập. Người Hồi giáo Nga chiếm khoảng 13% dân số Nga và đều muốn đòi được quyền mang bản sắc chính trị và tôn giáo rõ rệt. Dù cho yêu sách này không mang hình thức một cuộc tìm kiếm độc lập hoàn toàn như ở Chechnya thì nó cũng phải đối mặt với những bế tắc ở Trung Á vì hành động dính líu kiểu đế quốc gần đây của họ.

Có một thực tế đã làm tăng sự bất ổn ở các nước Balkans Âu – Á và làm cho tình hình sẽ có thể dễ bùng nổ hơn, đó là việc hai nhà nước sát nhau là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều rất dễ thay đổi về xu hướng địa chính trị. Nếu hai nước này mất ổn định thì rất có thể toàn bộ khu vực sẽ bị đẩy vào rối loạn lớn và khi đó những cuộc xung đột sắc tộc và lãnh thổ đang tiếp diễn sẽ tuột ra khỏi tầm kiểm soát và thế cân bằng lực lượng trong vùng vốn đã mỏng manh lại càng bị phá hoại nặng. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran không những là những nhân tố quan trọng về địa chiến lược, mà còn là những trung tâm địa chính trị. Điều kiện nội bộ của chính họ lại có tầm cực kỳ quan trọng đối với số phận của khu vực. Tuy hai nước đều ở tầm cỡ trung bình, nhưng khát vọng khu vực lại rất mãnh liệt và luôn tự ý thức về tầm quan trọng lịch sử của họ. Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn về định hướng địa chính trị tương lai cũng như về sự liên kết quốc gia của cả hai nước.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Bí mật an ninh mạng – Phần XXV


Khi thu hẹp danh sách các đối tác tiềm năng, tôi [Snowden] nhận ra mình là thế là hoàn toàn sai, hoặc chỉ phí công sức. Thay vì cố gắng tự mình chọn các nhà báo, tôi nên để cho hệ thống mà tôi đang cố gắng tố cáo chọn thay tôi. Tôi xác định những đối tác tốt nhất sẽ là những nhà báo đã trở thành mục tiêu của tình trạng an ninh quốc gia này.

Tôi biết Laura Poitras là một nhà làm phim tài liệu, chủ yếu quan tâm đến chính sách đối ngoại của Mỹ sau ngày 11/9. Bộ phim My Country, My Country (Đất nước tôi, đất nước tôi) của bà mô tả những cuộc bầu cử quốc gia ở Iraq năm 2005 được tiến hành trong (và bị phá hỏng bởi) sự chiếm đóng của Hoa Kỳ. Bà cũng làm bộ phim The Program (Chương trình) về chuyên gia mật mã của NSA là William Binney – người đã lên tiếng phản đối thông qua các kênh chính thức về chương trình TRAILBLAZER, tiền thân của STELLARWIND, để rồi bị buộc tội rò rỉ thông tin mật, bị sách nhiễu liên tục, và bị bắt giữ trước họng súng ngay tại nhà riêng, mặc dù không bao giờ bị buộc tội. Bản thân Laura thường xuyên bị chính quyền sách nhiễu vì công việc của bà, liên tục bị các nhân viên biên phòng giữ lại thẩm vấn bất cứ khi nào bà ra vào nước Mỹ.

Còn tôi biết Glenn Greenwald là một luật sư chuyên về các quyền tự do dân sự đã trở thành cây bút bình luận, ban đầu là viết cho tờ Salon – nơi ông là một trong số ít người viết về phiên bản công khai của Báo cáo Tổng thanh tra NSA hồi năm 2009 – và sau đó là viết cho ấn bản tại Mỹ của tờ Guardian. Tôi thích Greenwald bởi vì ông ta hay hoài nghi và tranh cãi, mẫu người chiến đấu với quỷ dữ, và khi quỷ dữ không có xung quanh thì chiến đấu với chính mình. Dù Ewen McAskill của ấn bản Guardian tại Anh, và Bart Gellman của tờ Washington Post sau này sẽ tỏ ra là các đối tác kiên cường (và là những người dẫn đường nhẫn nại trong cõi hoang dã báo chí), ngay từ đầu tôi thấy mình có cảm tình với Laura và Glenn, có lẽ vì họ không chỉ quan tâm đến việc tường thuật về Cộng đồng Tình báo Mỹ mà bản thân họ còn cố công tìm hiểu về thể chế đó.

Khó khăn duy nhất là làm sao liên lạc.

Không thể tiết lộ tên thật của mình, tôi đã liên lạc với các nhà báo này dưới nhiều danh tính, những mặt nạ dùng tạm trong một thời gian và sau đó loại bỏ. Mặt nạ đầu tiên trong số này là “Cincinnatus”, theo tên của người nông dân huyền thoại đã trở thành quan chấp chính La Mã và rồi tự nguyện từ bỏ quyền lực. Tiếp theo là “Citizenfour”, một danh tính mà một số nhà báo cho rằng tôi tự coi mình là nhân viên bất đồng thứ tư trong lịch sử gần đây của NSA, sau Binney và hai đồng nghiệp đã cùng tố cáo chương trình TRAILBLAZER: J. Kirk Wiebe và Ed Loomis – mặc dù bộ ba trong tâm trí tôi lại là Thomas Drake, người đã tiết lộ sự tồn tại của TRAILBLAZER cho các nhà báo, và Daniel Ellsberg và Anthony Russo, hai người đã tiết lộ Hồ sơ Lầu năm góc, giúp vạch trần những sự lừa dối của Chiến tranh Việt Nam và đưa cuộc chiến này đi đến kết thúc. Cái tên cuối cùng tôi chọn cho thư từ liên lạc của mình là “Verax”, tiếng La-tinh có nghĩa là “người nói sự thật”, với hy vọng đưa ra một kiểu mẫu hacker thay thế cho “Mendax” (người nói dối) – biệt hiệu của chàng trai trẻ sau này lớn lên trở thành Julian Assange của WikiLeaks.

Bạn không thể thực sự đánh giá được cái khó khăn của việc ẩn danh trên mạng cho đến khi nào bạn thử hoạt động như thể cuộc đời bạn phụ thuộc vào điều đó. Hầu hết các hệ thống thông tin liên lạc được thiết lập trong Cộng đồng IC đều có một mục tiêu cơ bản duy nhất: không cho phép người nào theo dõi thông tin liên lạc lại có thể phân biệt được danh tính của những ai liên quan, hoặc có thể có bất kỳ cách nào đó truy ra được nguồn gốc của liên lạc này là một cơ quan của IC. Đây là lý do tại sao IC gọi các trao đổi này là “không dấu vết”. Tình trạng ẩn danh của nghề gián điệp trước thời Internet rất nổi tiếng, chủ yếu là nhờ TV và điện ảnh: ví dụ như một địa chỉ nhà an toàn được mã hóa bằng hình vẽ bậy trong buồn tắm, hay xáo trộn thành những chữ viết tắt của một mẩu rao vặt đăng báo. Hay là những “hộp thư mật” thời Chiến tranh Lạnh, những vệt phấn trên các thùng thư báo hiệu rằng một gói bí mật đang chờ đợi bên trong một thân cây rỗng nào đó ở một công viên. Phiên bản hiện đại có thể là những tài khoản giả mạo để tán chuyện giả mạo trên một website hẹn hò, hoặc, thông thường hơn, chỉ là một ứng dụng có vẻ vô hại để lại các tin nhắn có vẻ vô hại trên một máy chủ Amazon có vẻ vô hại do CIA bí mật kiểm soát. Tuy nhiên, điều tôi muốn là một phương cách còn tốt hơn thế – một phương cách gì đó không yêu cầu phải phô trương ra như vậy và không tốn ngân khoản nào.

Tôi quyết định sử dụng đường kết nối Internet của người khác. Tôi ước gì đó chỉ đơn giản là đi đến một tiệm McDonald hoặc Starbucks và đăng nhập vào Wifi của họ Nhưng những nơi đó có camera quan sát, và biên lai tính tiền, và nhiều người khác – những bộ nhớ biết đi. Hơn nữa, mọi thiết bị không dây, từ điện thoại đến máy tính xách tay, đều có một mã nhận dạng riêng biệt trên toàn cầu được gọi là MAC (Machine Address Code – Mã địa chỉ máy), được lưu lại trong mọi điểm truy cập mà thiết bị đó kết nối – một chỉ dấu chứng cớ về các hoạt động của người dùng.

Cho nên tôi đã không đến McDonald hay Starbucks – tôi cứ lái xe đi không ngừng. Cụ thể là tôi biến chiếc xe của mình thành một máy dò Wifi lưu động. Muốn làm việc này, bạn cần một máy tính xách tay, một ăng-ten công suất cao và một bộ cảm biến GPS có nam châm, có thể gắn trên nóc xe. Điện được cung cấp bởi xe hơi hoặc pin di động, hoặc bằng chính chiếc máy tính xách tay. Tất cả mọi thứ bạn cần có thể bỏ gọn trong một chiếc ba-lô.

Tôi đã mang theo một chiếc máy tính xách tay giá rẻ chạy TAILS, đó là một hệ điều hành “mất trí nhớ trên nền Linux – có nghĩa là nó sẽ quên hết mọi thứ khi bạn tắt nguồn, và lại chạy như mới khi bạn khởi động máy, không hề có nhật ký truy cập hay dấu vết bộ nhớ của bất cứ công việc gì đã thực hiện trên chiếc máy đó. TAILS cho phép tôi dễ dàng “giả mạo”, hay ngụy trang địa chỉ MAC của máy tính xách tay: bất cứ khi nào có nối mạng, nó để lại bản lưu địa chỉ MAC của một máy tính khác, hoàn toàn không liên quan đến máy tính của tôi. Rất được việc, TAILS còn tích hợp tính năng hỗ trợ kết nối với mạng Tor ẩn danh.

Vào ban đêm và ngày cuối tuần,tôi lái xe vòng vòng gần như là toàn bộ đảo Oahu, để cho ăng-ten của tôi bắt xung của từng mạng Wifi. Cảm biến GPS của tôi đã tên từng điểm truy cẩm với vị trí tọa độ mà nó đã được thông báo, nhờ vào một chương trình lập bản đồ mà tôi sử dụng có tên là Kismet. Kết quả là một bản đồ của các hệ thống mạng vô hình mà ta đi qua mỗi ngày không hề hay biết, trong đó có một tỷ lệ cao kinh khủng những mạng không hề có bảo mật gì cả hoặc có bảo mật nhưng tôi có thể vượt qua dễ như chơi. Một số mạng đòi hỏi phải hack tinh vi hơn.Tôi thường nhanh chóng gây nghẽn một hệ thống mạng, khiến những người dùng hợp pháp của nó bị mất kết nối; trong lúc họ đang cố gắng kết nối lại, họ đã tự động phát lại trên mạng các “gói xác thực” (authentification packets) mà tôi có thể chặn được và dễ dàng giải mã thành các mật khẩu cho phép mình đăng nhập giống như bất kỳ người dùng “được cấp quyền” nào khác.

Với bản đồ mạng này trong tay, tôi đãláy xe quanh Oahu như một kẻ điên, cố gắng kiểm tra email của mình để xem có nhà báo nào trả lời tôi chưa. Sau khi liên lạc với Laura Poitras, tôi đã dành phần lớn thời gian buổi tối để viết thư cho bà ấy – lúc ngồi sau tay lái ở bãi biển, lấy trọng sóng wifi từ một khu resort gần đó. Với một số nhà báo đã chọn, tôi cần phải thuyết phục họ sử dụng email mã hóa, một chuyện khổ sở vào năm 2012. Trong một số trường hợp, tôi phải chỉ cho họ cách làm, nên tôi đã đưa lên mạng các hướng dẫn từng bước – lúc ngồi trong chiếc xe vẫn nổ máy trong một bãi đậu xe, tận dụng hệ thống mạng của một thư viện. Hay của một trường học. Hay của một trạm xăng. Hay của một ngân hàng- một nơi bảo mật kém kinh khủng. Vấn đề là không bất kỳ dạng thức lặp lại nào.

Trên gara đỗ xe của một trung tâm thương mại, vững tin khi biết rằng ngay lúc đóng nắp máy tính xách tay lại, bí mật của mình vẫn an toàn, tôi đã thảo ra những bản tuyên ngôn giải thích lý do tôi đứng ra tố cáo công khai, nhưng sau đó tôi lại xóa đi. Và tôi đã thử viết những email gửi cho Lindsay để rồi cũng xóa. Tôi không sao viết được thành lời.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.

Hệ lụy từ việc trì hoãn ngân sách đối với Lầu Năm Góc


Hãy coi đề xuất ngân sách của Tổng thống Mỹ là “phát súng lệnh” cho quy trình ngân sách liên bang. Một khi tổng thống đề xuất, Quốc hội có thể tiếp tục “định đoạt”.

Khi tổng thống chậm công bố đề xuất ngân sách, điều này sẽ khiến Quốc hội rơi vào tình trạng khó khăn về mặt thời gian và cũng không có lợi cho việc đưa ra quyết định sáng suốt. Nếu Quốc hội sau đó không đáp ứng được thời hạn chót phê chuẩn dự luật ngân sách của chính họ. Quốc hội có thể đặt các cơ quan liên bang vào tình trạng bế tắc cho năm tài chính mới. Điều này đặc biệt gây vấn đề nghiêm trọng cho Lầu Năm Góc và đối với an ninh quốc gia của Mỹ.

Theo luật, tổng thống phải đệ trình đềxuất ngân sách lên Quốc hội “vào hoặc sau ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Một,nhưng không muộn hơn ngày thứ Hai đầu tiên của tháng 2 hàng năm”. Năm nay, việc chuyển giao chiếc ghế tổng thống khiến việc không kịp thời hạn cuối để đưa ra đề xuất ngân sách là điều không thể tránh khỏi. Câu hỏi giờ đây là: Khi nào sẽ đệ trình đề xuất ngân sách.. và thiệt hại do sự chậm trễ này sẽ lên tới mức độ như thế nào?

Một phân tích mới đây của Viện Nghiên cứu Lập pháp Quốc hội cho thấy trong 4 lần chuyển giao tổng thống gần đây nhất, thời gian chậm nộp ngân sách trung bình là 65 ngày. Trong số đó, chính quyền Donald Trump là nhanh nhất, chỉ nộp đề xuất ngân sách muộn 38nga2y. Chính quyền Obama là chậm nhất, khi quá hạn tới hơn 3 tháng (94 ngày).

Đồng hồ bắt đầu điểm đối với chính quyền Biden từ ngày 1/2 vừa qua. Giả sử thời gian chậm trình đề xuất ngân sách ở mức trung bình, Tổng thống Biden sẽ công bố dự thảo ngân sách của ông vào ngày 7/4 tới. Rõ ràng, đây là mức tối ưu. Mỗi ngày đề xuất ngân sách bị trì hoãn càng hạn chế thời gian Quốc hội thảo luận, một quá trình mà bản thân nó đã ngày càng trở nên chậm chạp. Theo luật, Quốc hội có khoảng 8 tháng, kể từ thời điểm dự kiến trình dự thảo ngân sách của tổng thống vào đầu tháng 2 đến ngày 1/10, để điều chỉnh các nguồn lực cho phù hợp cho tài khóa mới.

Quốc hội không thể bắt đầu tiến trình thảo luận sớm, vì ngay cả các nhà lập pháp dày dạn kinh nghiệm cũng không thể dự đoán những gì được đề cập trong đề xuất ngân sách của tổng thống. Sự giám sát của Quốc hội chủ yếu tập trung vào những thay đổi nào được đề xuất so với ngân sách năm ngoái, điều này chỉ được biết rõ khi Quốc hội có trong tay bản đề xuất.

Vậy, khi nào chính quyền Biden sẽ phân bổ ngân sách của mình?

Trong phiên điều trần bổ nhiệm, tân Thứ trưởng Quốc phòng Kathleen Hicks đã báo hiệu rằng điều này có thể xảy ra muộn hơn. Theo bà, việc đệ trình ngân sách sẽ là một thách thức đối với chính quyền mới, cần có sự hỗ trợ và thông cảm.

Tuy nhiên, dù thách thức ở mức độ nào, đó cũng là một trong những thách thức mà Bộ Quốc phòng phải đối mặt. Một số quan chức Lầu Năm Góc đã lên tiếng về những thiệt hại do việc phân bổ ngân sách không được đưa ra đúng thời hạn.

Phân bổ ngân sách nhiều đợt khiến quân đội mất nhiều thời gian quý báu. Nhiều quỹ do Lầu Năm Góc kiểm soát chỉ có thể được chi tiêu trong năm tài chính mà chúng được phân bổ. Do đó, nếu việc giải ngân không diễn ra trước tháng 4 của tài khóa thì chỉ còn 8 tháng để phân bổ các nguồn lực đó. Điều này làm giảm thời gian đưa ra các quyết định chi tiêu.

Hơn nữa, do Lầu Năm Góc không thể bắt đầu các hoạt động mới theo các quyết định phân bổ ngân sách liên tục, các hoạt động mới được lên kế hoạch cho tài khóa sẽ bị trì hoãn cho đến khi có đủ các khoản dự phòng cho cả năm. Do đó, bất kỳ chương trình mới nào mà việc thực thi phụ thuộc vào thời gian đều sẽ bị ảnh hưởng.

Đây là một phần lý do tại sao các nhà lãnh đạo quân đội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có phân bổ ngân sách trước khi bắt đầu tài khóa Họ đã học được bài học này từ kinh nghiệm cay đắng trong quá khứ.

Từ năm 2010 – 2018, ngay cả những năm không có chuyển giao tổng thống hay sự chậm trễ trong việc đệ trình ngân sách, Lầu Năm Góc đều bước vào tài khóa mới với ngân sách hoạt động tạm thời chứ không có dự luật phân bổ ngân sách quốc phòng cuối cùng. Rõ ràng, việc tổng thống đệ trình ngân sách kịp thời không đảm bảo rằng Quốc hội sẽ đápứng các nghĩa vụ ngân sách của họ, nhưng việc đệ trình muộn sẽ khiến các nhà lập pháp càng khó đáp ứng đúng thời hạn.

Vì những lý do này, chính quyền Biden nên đặt mục tiêu phá kỷ lục do chính quyền Trump thiết lập trong việc đệ trình ngân sách cho tài khóa đầu tiên sau khi lên nắm quyền. Bằng cách công bố đề suất ngân sách vào hoặc trước ngày 11/3, chính quyền Biden sẽ loại bỏ phần lớn bất kỳ lý do nào mà Quốc hội có thể viện dẫn để không thông qua ngân sách quốc phòng trước đầu tài khóa 2022.

Chính quyền hiện đang xem xét dự thảo ngân sách quốc phòng đã được các cơ quan và Bộ Quốc phòng soạn thảotrong hơn một năm rưỡi qua. Tất nhiên, chính quyền mới phải cân nhắc kỹ nội dung của dự thảo này, đồng thời cũng cần nhận thức rõ rằng sự chậm trễ phát sinh không phải là không bị phạt.

Dự thảo ngân sách tốt được trình lên Quốc hội vào tháng 3 hoặc tháng 4 sẽ tốt hơn là một dự thảo hoàn hảo được đưa ra vào tháng 5.

Nguồn: TKNB – 03/03/2021.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần I


Ở châu Âu, ngôn từ “các nước Balkans” thường gợi lên những hình ảnh xung đột sắc tộc và những cuộc kình địch khu vực giữa các nước lớn. Khu vực lục địa Âu – Á cũng có “các nước Balkans”, nhưng đó là những nước lớn hơn, đông dân hơn, thậm chí còn hỗn tạp xét về mặt tôn giáo và sắc tộc. Những nước này nằm trong một khu vực hình thuôn rộng lớn, là trung tâm của những bất ổn trên thế giới. Hình thuôn này cũng trùm lên nhiều bộ phận thuộc Đông Nam Âu, Trung Á cũng như nhiều phần thuộc Nam Á, khu vực vịnh Ba Tư và Trung Đông.

Các nước Balkans Âu – Á nằm gọn bên trong của hình thuôn rộng đó. Các nước này khác với khu vực ngoài ở một điểm đặc biệt quan trọng: là một khoảng trống quyền lực. Tuy đa số các nước nằm ở vịnh Ba Tư và Trung Đông cũng mất ổn định, song ở đó lại có sự hiện diện của Mỹ với tư cách như một trọng tài. Do vậy, khu vực bất ổn ở vòng ngoài là một khu vực chỉ có một nước bá quyền và quyền lực của nó đã làm tình hình dịu đi. Trái lại, các nước Balkans Âu – Á lại gợi nhớ tới các nước Balkans cổ xưa hơn và quen thuộc hơn của Đông Nam Âu: Không chỉ những thực thể chính trị của vùng này bất ổn mà chúng còn như một miếng mồi hấp dẫn với ý đồ xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh. Mỗi nước láng giềng này đều quyết tâm chống nước khác đô hộ khu vực. Chính sự kết hợp của hai yếu tố khoảng trống và sức hút quyền lực đã làm cho “các nước Balkans Âu – Á” xứng với tên gọi này.

Trong cuộc đấu tranh giành địa vị thống trị châu Âu, các nước Balkans cổ truyền là một phần thưởng địa chính trị tiềm tàng. Do vị trí nằm án ngữ trên hệ thống đường vận tải hai cực Tây – Đông giàu nhất và cần cù nhất của lục địa Âu – Á nên các nước Balkan Âu – Á còn có tầm quan trọng về địa chính trị. Hơn nữa, ở khía cạnh an ninh và tham vọng lịch sử thì những nước này có tầm quan trọng đối với ít nhất ba trong số các nước láng giềng gần cận nhất và hùng mạnh nhất, đó là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Trung Quốc cũng ngày càng thể hiện sự quan tâm chính trị đối với khu vực này.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nước Balkans Âu – Á còn có tầm quan trọng hơn nhiều. Trong khu vực này tập trung nhiều khoáng sản quan trọng, nhiều dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, kể cả vàng. Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng rất nhiều. Bộ Năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu của thế giới sẽ tăng thêm hơn 50% trong khoảng từ năm 1993 đến năm 2015, và những nước tiêu thụ năng lượng sẽ tăng nhiều là ở Viễn Đông. Động lực phát triển kinh tế của châu Á hiện đang tạo ra nhiều sức ép lớn đòi thăm dò và khai thác những nguồn năng lượng mới. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của khu vực Trung Á và lòng chảo biển Caspian có khả năng vượt xa trữ lượng của Kuwait, vịnh Mexico hoặc Biển Bắc. Có được nguồn tài nguyên đó và chai sẻ sự giàu có tiềm tàng ở khu vực này là những mục tiêu và tham vọng của nhiều nước, làm sống lại những tham vọng đế quốc và thổi bùng lên những mối kình địch quốc tế. Tình hình này càng thêm biến động vì vùng này không chỉ là một khoảng trống quyền lực mà còn có bất ổn nội bộ. Mỗi nước ở đây đều phải chịu những khó khăn nội bộ nghiêm trọng. Tất cả các nước trên đều bị các nước láng giềng bá chủ hoặc đang có hận thù sắc tộc, chỉ có một số ít nước là đồng nhất về dân tộc. Một số nước đang chìm đắm trong xung đột lãnh thổ, sắc tộc hoặc tôn giáo.

1/ Lò nung sắc tộc

Vùng Balkans Âu – Á có 9 nước ít nhiều đang ở trong tình trạng trên. Chín nước đó là Kazakhstan, Kirgistan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Gruzia (tất cả đều là một phần của Liên Xô cũ) và Afghanistan. Bổ sung vào danh sách này trong tương lai có thể là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Cả hai nước này đều có sức sống chính trị và kinh tế, đều tích cực tranh giành ảnh hưởng khu vực trong số các nước Balkans, và do vậy, đều là những đấu thủ địa chính trị quan trọng trong khu vực. Bởi, cả hai nước đều dễ bị tổn thương vì những cuộc xung đột sắc tộc nội bộ, và nếu hai nước này mất ổn định thì những vấn đề nội bộ của khu vực sẽ trở nên rối ren. Đồng thời, từ đó những cố gắng nhằm hạn chế Nga chiếm địa vị bá chủ trong vùng có thể trở nên vô tác dụng.

Có thể nói ba nước vùng Kavkaz là Armenia, Gruzia và Azerbaijan dựa trên cơ sở dân tộc thực sự trong lịch sử. Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của họ vừa lan tỏa, vừa sâu sắc và những xung đột bên ngoài là thách thức chủ yếu đối với sự thịnh vượng của họ. Trái lại, có thể nói năm nước Trung Á mới thành lập đang trong giai đoạn xây dựng đất nước với đặc tính bộ lạc và sắc tộc còn mạnh, nên khó khăn lớn nhất của họ là sự bất đồng nội bộ. Cả hai kiểu nhà nước ấy đều có những điểm yếu để các láng giềng mạnh hơn và có tư tưởng đế quốc khai thác.

Các nước Balkans Âu – Á như một bức tranh đan xen các sắc tộc. Những nhà vẽ bản đồ độc đoán của Liên Xô những năm 1920 và 1930 đã vẽ đường biên giới của các nước thuộc khu vực này khi từng nước cộng hòa Xô viết được chính thức thành lập. (Afghanisatn là trường hợp ngoại lệ vì họ chưa bao giờ nằm trong Liên bang Xô viết). Các đường biên giới của họ chủ yếu được vạch ra theo nguyên tắc sắc tộc, nhưng cũng phản ánh ý đồ của Kremlin, nhằm làm cho khu vực Nam đế chế Nga trong tình trạng chia rẽ nội bộ để thuận lợi hơn cho việc thống trị.

Với mưu đồ đó, Nga bác bỏ đề nghị của các nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Á hòa nhập nhiều dân tộc Trung Á thành một đơn vị chính trị đơn nhất mang tên “Turkestan” hơn là tạo nên 5 “nước cộng hòa” riêng biệt. Có thể do một tính toán tương tự, Nga đã từ bỏ các kế hoạch thành lập một liên bang các nước Kavkaz. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên sau sự sụp đổ của Liên Xô, cả 3 nước vùng Kavkaz và 5 nước Trung Á đều không thật sẵn sàng cho vị thế độc lập mới cũng như chưa sẵn sàng thực hiện sự hợp tác khu vực cần thiết.

Ở vùng Kavkaz, chưa đầy 4 triệu dân Armenia và trên 8 triệu dân Azerbaijan đã nhanh chóng bị cuốn vào một cuộc chiến tranh công khai đòi vị thế cho vùng Nagorny-Karabakh, một vùng lõm với đa số dân Armenia trong lòng Azerbaijan. Cuộc xung đột gây ra những vụ tàn sát sắc tộc quy mô lớn, trong đó hàng trăm, hàng nghìn dân tha hương tháo chạy theo cả hai hướng. Do Armenia theo đạo Thiên chúa, còn Azerbaijan theo đạo Hồi, nên cuộc chiến tranh mang màu sắc của một cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh gây ra sự tàn phá về kinh tế, và việc xây dựng địa vị độc lập ổn định của cả hai nước đều rất khó. Armenia bị xô đẩy đến chỗ dựa nhiều hơn vào Nga, trong khi đó, Azerbaijan phải hi sinh vùng Nagorny-Karabakh để đổi lấy nền độc lập và ổn định nội bộ.

Vị trí của Azerbaijan đã khiến nước này trở thành một điểm then chốt địa chính trị. Có thể mô tả nó là chiếc “nút chai” có tầm quan trọng sinh tử, vì nó khống chế đường vào “chiếc chai” có chứa những tài nguyên giàu có của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á. Một nước Azerbaijan độc lập nói tiếng Thổ, có đường ống dẫn dầu chạy đến Thổ Nhĩ Kỳ, có quan hệ sắc tộc và ủng hộ về chính trị sẽ ngăn cản Nga độc quyền vào khu vực và do vậy khiến họ mất đi ảnh hưởng chính trị có tính quyết định đối với các chính sách của các nước Trung Á mới. Tuy vậy, Azerbaijan rất dễ bị tổn thương trước áp lực của nước Nga hùng mạnh ở phương Bắc và của Iran ở phương Nam. Ở Tây Bắc Iran có tới 20 triệu dân Azerbaijan, gấp đôi số sắc tộc này sống trên lãnh thổ Azerbaijan. Thực tế đó khiến Iran lo sợ về một chủ nghĩa ly khai tiềm tàng trong dân tộc Azerbaijan ở ngay Iran và do đó khiến họ lập lờ nước đôi đối với vị thế chủ quyền của Azerbaijan, mặc dù hai nước cùng theo đạo Hồi. Do vậy, Azerbaijan đã trở thành đối tượng để cả Nga và Iran cùng gây áp lực nhằm hạn chế họ làm ăn với phương Tây.

Khác với Armenia và Azerbaijan, 30% trong 6 triệu dân Gruzia là dân thiểu số. Hơn nữa những cộng đồng bé nhỏ này lâu nay vẫn căm ghét sự đô hộ của Gruzia. Do vậy, khi Liên Xô giải thể, các sắc tộc Osetia và Abkhazia đã lợi dụng sự ẩu đả chính trị nội bộ của Gruzia mưu toan ly khai chấp nhận sức ép của Nga buộc họ yên phận trong cộng đồng các quốc gia độc lập (lúc đầu Gruzia muốn hoàn toàn tách khỏi cộng đồng này), buộc phải chấp nhận các căn cứ quân sự Nga trên lãnh thổ của họ, tránh sự nhòm ngó của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về văn hóa và ngôn ngữ, bốn trong năm nước mới độc lập ở Trung Á là một phần của thế giới người Thổ. Tajikistan có ngôn ngữ và văn hóa thuộc vùng Ba Tư, còn Afghanistan (nằm ngoài Liên Xô cũ) thì có nhiều sắc tộc đan xen như Patha, Tajik, Pashtun và Ba Tư. Tất cả sáu nước này đều theo đạo Hồi và đã nhiều năm chịu ảnh hưởng của các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Tuy vậy, trải nghiệm đó không có tác dụng gắn kết họ cùng chung mối quan tâm khu vực. Trái lại, thành phần sắc tộc đa dạng đã khiến họ dễ bị tổn thất trước những cuộc xung đột bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này đã tạo ra sức hấp dẫn các nước láng giềng hùng mạnh hơn xâm lược.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Bí mật an ninh mạng – Phần XXIV


Tôi [Snowden] biết ít nhất hai điều về giới báo chí: họ cạnh tranh nhau để đưa tin trước, và họ biết rất ít về công nghệ. Chính sự thiếu môn hoặc thậm chí thiếu quan tâm đến công nghệ này đã khiến các nhà báo bỏ lỡ hai sự kiện khiến tôi sửng sốt trong suốt quá trình tôi thu thập dữ kiện về giám sát hàng loạt.

Đầu tiên là thông báo của NSA về việc xây dựng một cơ sở lưu trữ dữ liệu mới rộng lớn ở Bluffdale, Utah. NSA gọi cơ sở ấy là Trung tâm Dữ liệu Toàn bộ (Massive Data Repository), cho đến khi ai đó có năng khiếu về PR nhận ra tên này có thể khó giải thích nếu thông tin bị lộ ra ngoài, vì vậy nó được được đổi tên thành Trung tâm Dữ liệu Nhiệm vụ (Mission Data Repository) – do cả hai tên gọi này đều viết tắt là MDR như nhau, bạn không phải thay đổi tất cả các trang báo tóm tắt liên quan. Trung tâm MDR dự kiến sẽ có tổng cộng bốn gian lớn, mỗi gian rộng hơn 2300 m2, chứa đầy các máy chủ. Nó có thể chưa một lượng dữ liệu khổng lồ, về cơ bản là một lịch sử trình tự về mô hình cuộc sống của toàn hành tinh, trong phạm vi mà khái niệm cuộc sống có thể được hiểu theo nghĩa là sự liên hệ giữa các khoản thanh toán trực tuyến với con người, con người với điện thoại, điện thoại với cuộc gọi, cuộc gọi với hệ thống mạng, và vô vàn hoạt động Internet lưu thông trên các tuyến mạng đó.

Nhà báo duy nhất có vẻ chú ý đến thông báo này là James Bamford, người đã viết về đề tài này cho tạp chí công nghệ Wired vào tháng 3/2012. Có một vài bài tiếp theo trên các tờ báo không chuyên về công nghệ, nhưng không có tờ nào trong số đó tiếp tục tường thuật. Không hề có ai nêu ra những câu hỏi cơ bản nhất, ít ra là đối với tôi: Tại sao một cơ quan chính phủ, chứ đừng nói đến một cơ quan tình báo, lại cần nhiều diện tích như vậy? Dữ liệu nào, và bao nhiêu dữ liệu, mà họ thực sự có ý định lưu trữ ở đó, và lưu trong bao lâu? Bởi vì đơn giản là không có lý do gì để xây dựng một công trình lớn cỡ này trừ khi bạn có kế hoạch lưu trữ hoàn toàn mọi thứ, và lưu trữ mãi mãi. Theo suy nghĩ của tôi, đây chính là bằng chứng của một tội ác nằm trong một boong-ke bê tông khổng lồ được bao quanh bởi dây thép gai và tháp canh, tiêu thụ một lượng điện bằng cả một thành phố từ lưới điện riêng của chính nó ở giữa của sa mạc Utah. Vậy mà không ai chú ý.

Sự kiện thứ hai xảy ra một sau đó, vào tháng 3/2013 – một tuần sau khi Clapper nói dối trước Quốc hội và Quốc hội đã bỏ qua. Một vài tờ báo đã tường thuật lời xác nhận đó, mặc dù họ chỉ đơn thuần lặp lại lời của Clapper phủ nhận việc NSA thu thập dữ liệu hàng loạt về công dân Mỹ. Nhưng hoàn toàn không một tờ báo nào trong cái gọi là báo chí chính thống tường thuật về sự xuất hiện công khai hiếm hoi của Ira “Gus” Hunt, giám đốc công nghệ của CIA.

Tôi có biết Gus đôi chút từ thời tôi ở hãng Dell và làm việc với CIA. Ông ta là một trong những khách hàng đầu tiên của chúng tôi, và mọi nhà cung cấp đều yêu thích cái tật không biết giữ bí mật của ông ta: Gus luôn nói nhiều hơn những gì cần nói. Đối với những người bán hàng, ông ta giống như một túi tiền to mồm. Lúc đó ông ta đã xuất hiện như một diễn giả khách mời đặc biệt tại một sự kiện công nghệ dân sự ở New York được gọi là hội nghị GigaOM Structure: Data. Bất cứ ai có 40 USD đều có thể tham dự. Các bài nói chuyện quan trọng, chẳng hạn như bài nói của Gus, được phát trực tuyến miễn phí.

Lý do mà tôi phải nghe cho được bài nói chuyện của ông ta là vì tôi đã đọc, thông qua các kênh NSA nội bộ, rằng CIA cuối cùng đã quyết định về việc chọn nhà thầu điện toán đám mây cho cơ quan này. CIA đã từ chối đội ngũ cũ của tôi tại Dell và từ chối cả hãng HP, và thay vào đó, ký một hợp đồng quản lý và phát triển đám mây trị giá 600 triệu USD trong 10 năm với Amazon. Tôi không hề có cảm xúc tiêu cực này về việc này – tại thời điểm đó, tôi thật sự vui vì công việc của mình không được CIA sử dụng. Tôi chỉ tò mò, từ góc độ chuyên môn, liệu Gus có thể nói bóng gió gì về thông báo này và có đưa ra bất kỳ giải thích nào về lý do chọn Amazon hay không, bởi vì nhiều tin đồn đang lan truyền là quy trình đề xuất dã được dàn dựng theo hướng có lợi cho Amazon.

Tôi đã có lời giải thích, hẳn rồi, nhưng lại là một kiểu giải thích bất ngờ. Tôi đã có cơ hội chứng kiến chuyên gia kỹ thuật cấp cao nhất của CIA đứng trên sân khấu trong bộ đồ vest nhàu nát và báo cáo trước một đám đông những người bình thường chen chúc – và qua Internet, trước một thế giới chen chúc – về tham vọng và năng lực của cơ quan này. Trong khi bài thuyết trình tiếp diễn, và Gus hết nói những câu bông đùa dở tệ lại điều khiển trình PowerPoint thậm chí còn dở tệ hơn, tôi càng lúc càng hoài nghi.

“Ở CIA”, ông ta nói, “về cơ bản, chúng tôi cố gắng thu thập mọi thứ và lưu giữ lại mãi mãi”. Làm như nói thế chưa đủ rõ ràng, ông ta tiếp tục: “Chúng tôi gần như đã nắm trong tay kỹ thuật tính toán tất cả những thông tin do con người tạo ra”. Phần nhấn mạnh là của riêng Gus. Ôngta đang đọc theo một nội dung trên bộ trình chiếu PowerPoint, những từ xấu xí với một phông chữ xấu xí được minh họa bằng một hình vẽ bốn màu đặc trưng của chính phủ.

Rõ ràng là có một vài nhà báo trong đám đông, dù có vẻ như họ hầu hết đều làm cho các ấn phẩm chuyên về công nghệ dành cho chính phủ như tuần báo Federal Computer Week. Tờ này tường thuật rằng Gus đã nán lại trả lời thắc mắc để kết thúc phần thuyết trình. Đúng hơn, phần này không phải là hỏi đáp mà giống như một bài thuyết trình phụ, dành riêng cho các nhà báo.Ông ta hẳn cố gắng trút bỏ một điều gì đó đang chất chứa trong lòng.

Gus nói với các nhà báo rằng CIA có thể theo dõi các smartphone của họ, ngay cả khi họ tắt nguồn – rằng CIA có thể giám sát từng thông tin liên lạc của họ. Đừng quên: đây là một đám đông các nhà báo trong nước. Nhà báo Mỹ. Và cách mà Gus nói “có thể” lại nghe như “đã”, “đang”, và “sẽ”. Một chức sắc cấp cao của CIA như Gus mà lại nói dông dài một cách bối rối thấy rõ, và khiến người nghe bối rối theo: “Công nghệ đang tiến triển nhanh hơn khả năng theo kịp của chính phủ hoặc pháp luật. Nó đang tiến triển nhanh hơn… hơn khả năng theo kịp của quý vị: quý vị nên đặt câu hỏi rằng quý vị có quyền gì và ai là người sở hữu dữ liệu của quý vị”. Tôi sửng sốt – bất kỳ ai có chức vụ thấp hơn Gus mà thuyết trình như thế này thì ở tù mọt gông ngay.

Chỉ có tờ Hutfington Post là tường thuật lại lời thú nhận của Gus. Nhưng bài thuyết trình vẫn còn trên YouTube, ít nhất là tại thời điểm tôi viết cuốn sách này, sáu năm sau đó. Lần cuối cùng tôi kiểm tra, nó có 313 lượt xem – hơn chục lượt là của tôi.

Bài học tôi rút ra từ sự việc này là: Nếu muốn những tiết lộ của mình có hiệu quả thì tôi không chỉ trao một số tài liệu cho một số nhà báo là xong – tôi phải làm nhiều hơn nữa, thậm chí còn hơn việc giúp họ diễn dịch các tài liệu này. Tôi sẽ phải trở thành người cộng tác của họ, huấn luyện và cung cấp các công cụ kỹ thuật cho họ để giúp họ tường thuật chính xác và an toàn. Chọn đường hướng này có nghĩa là tôi phải dấn thân hoàn toàn vào một trong những trọng tội của ngành tình báo: trong khi các điệp viên khác đi làm những gián điệp, xúi giục dấy loạn, và mưu phản, tôi lại giúp đỡ và tiếp tay cho công việc của báo chí. Sự thật éo le là, về mặt pháp lý, những tội đó hầu như không đồng nghĩa với nhau. Luật pháp Mỹ không phân biệt giữa việc cung cấp thông tin mật cho báo chí vì lợi ích chung với việc cung cấp hay thậm chí bán thông tin cho kẻ thù. Ý kiến duy nhất của tôi từng thấy là mâu thuẫn với điều này lại xuất phát từ bài truyền bá đầu tiên khi tôi gia nhập Cộng đồng IC: Ở đó, tôi được nghe dạy rằng việc rao bán bí mật cho kẻ thù thực tế còn có phần tốt hơn là cung cấp bí mật miễn phí cho phóng viên trong nước. Phóng viên sẽ loan báo với công chúng, trong khi kẻ thù không thể nào chia sẻ chiến lợi phẩm của họ ngay cả với các đồng minh.

Với những rủi ro mà tôi phải gánh chịu, tôi cần xác địnhnhững người tôi có thể tin tưởng cũng phải là những người được công chúng tin tưởng. Tôi cần những phóng viên cần mẫn nhưng kín đáo, độc lập nhưng đáng tin cậy. Họ sẽ phải đủ mạnh mẽ để thách thức tôi về những điểm khác biệt giữa điều tôi nghi ngờ và điều mà chứng đã chứng minh, và dám thách thức chính phủ khi công việc của họ bị cáo buộc sai trái là gây nguy hiểm đến tính mạng nhiều người khác. Hơn hết thảy, tôi phải chắc chắn rằng bất cứ nhà báo nào tôi chọn cuối cùng đều sẽ không nhượng bộ trước quyền lực khi phải chịu một áp lực mà chắc chắn là sẽ không hề giống như những gì họ, hoặc tôi, đã từng trải qua trước giờ.

Tôi đã quăng lưới không quá rộng để tránh gây nguy hiểm cho nhiệm vụ này, nhưng cũng đủ rộng để tránh gặp phải một điểm duy nhất gây sự cố – vấn đề như đã xảy ra ở tờ New York Times. Một nhà báo, một ấn phẩm, thậm chí một quốc gia công bố cũng sẽ không đủ, bởi vì chính phủ Hoa Kỳ đã chứng tỏ họ sẵn sàng bóp nghẹt những tường thuật như vậy. Lý tưởng nhất là tôi cùng lúc đưa cho mỗi nhà báo một bộ tài liệu riêng, không giữ lại gì cho mình Như thế việc theo dõi sẽ chuyển hướng sang họ, và bảo đảm rằng cho dù tôi có bị bắt thì sự thật vẫn không bị ngăn chặn.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Edward Snowden – Bị theo dõi, bí mật an ninh mạng – NXB ĐN 2020.