Nhận thức hiểm họa, một bước tới đáp trả thích đáng – Phần VI


PUTIN VÀ MÙA XUÂN ARAB: GIAO NỘP CHỦ QUYỀN HAY KỊCH BẢN CỨNG

Nước Nga đang kết nối ngày càng chặt chẽ vào thế giới toàn cầu hóa vun vút này, dù muốn hay không muốn điều đó. Không hiểu chúng ta có cần (toàn cầu hóa – ND) đến thế hay không, nhưng dẫu sao từ lâu nó đã là một sự kiện. Chính vì thế mà chúng ta cần xem xét những gì diễn ra ở Nga trong mối quan hệ với những quá trình khởi phát theo ý muốn của châu Âu toàn cầu, vào mùa xuân năm 2011 ở Trung Đông, bởi rõ ràng những gì diễn ra ở khu vực này sẽ không bỏ qua chúng ta.

Chiến tranh “từ trong ra ngoài”

Chiến tranh mạng lưới hiện đang tiến hành chống Nga có nguồn gốc quân sự, trong chiến lược quân sự Hoa Kỳ có một (chiến lược) tương tự được các lực lượng vũ trang Mỹ thực hiện, có tên chiến tranh mạng lưới trung tâm. Tại sao hai cách tiếp cận kỹ thuật này được chúng tôi liệt vào các chiến lược quân sự? Bởi vì kết quả đạt được là chiến thắng quân sự thật sự, tức ở trường hợp này hay trường hợp kia đều là việc chiếm đoạt lãnh thổ và thiết lập kiểm soát. Trong quan hệ đó, việc hiểu những thực tiễn mới đòi hỏi phải xem lại cách tiếp cận để tiến hành các hoạt động quân sự và đạt được kết quả quân sự mà chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn sau. Trong kỷ nguyên công nghiệp, các hoạt động quân sự được tiến hành với việc sử dụng các khái niệm như mặt trận và quân đội. Theo đúng nghĩa của nó, đụng độ quân sự diễn ra trực tiếp, các đối thủ tiếp cận nhau trực tiếp, và chiến thắng phụ thuộc vào việc ai có vũ khí và thiết bị hoàn hảo hơn, ai có nhân lực vượt trội hơn. Bản thân chiến thắng được đo bằng số lượng tổn thất của phe này hay phe kia và sự thiết lập kiểm soát trực tiếp, thể lý trên lãnh thổ bị chiếm đóng, dựa trên hiệu ứng của sự hiện diện. Đó là các phạm trù chiến tranh kỷ nguyên hiện đại.

Với sự ra đời của kỷ nguyên thông tin, được biết trong ý nghĩa mô hình kỷ nguyên hậu hiện đại, các tiếp cận trên đã thay đổi. Để thấy rõ, có thể hình dung theo sơ đồ: quốc gia dân tộc hiện đang là cơ sở của trật tự thế giới được các nhà chiến lược chiến tranh mạng xem xét dưới hình thức những vòng tròn đồng tâm. Ở trung tâm là người đứng đầu quốc gia, theo nguyên tắc, là nguyên thủ, chung quanh ông ta là giới thượng lưu chính trị. Các vòng tròn tiếp theo là cộng đồng chuyên gia, những người tạo ra mục đích chính trị và cách diễn giải, và không gian truyền thông chuyển tất cả thông tin sang ngôn ngữ của quần chúng. Lớp áp chót chính là quần chúng – xã hội, nhân dân nước đó. Còn từ bên ngoài là quân đội, các lực lượng vũ trang như phương tiện bảo vệ tất cả cấu trúc đồng tâm đó.Sơ đồ này trong một hình thức hơi khác lần đầu tiên đã được nhà chiến lược Hoa Kỳ, một trong những nhà phát triển học thuyết chiến tranh mạng lưới trung tâm, đại tá quân đội Hoa Kỳ John Gordon đưa ra. Tiếp theo nó được các nhà công nghệ của các chuyển đổi xã hội nhân văn vay mượn, rồi bản thân nó cũng tự chuyển đổi.

Cơ sở của các chiến lược có tên gọi là effects-bases operations (các chiến dịch dựa trên hiệu ứng, EBO) là cuộc tấn công theo mô hình vào một quốc gia, được thực hiện không phải từ bên ngoài, tức không phải chống lại các lực lượng vũ trang trực diện, không phải trực tiếp. Hiệu quả hơn là quan điểm tiến hành chiến tranh “từ trong ra ngoài”. Cú tấn công đầu tiên sẽ nằm ở trung tâm hệ thống này, tức vào nhà lãnh đạo. Bởi vì cấu trúc này có nhiều lớp bảo vệ, nên cuộc tấn công không phải lúc nào cũng theo nghĩa đen, tức tấn công quân sự, mặc dù từng lúc có thể áp dụng phương án này – lật đổ lãnh đạo một cách thực thể, nhưng ít hiệu quả và ấn tượng hơn. Ở đây diễn ra tác động lên tư tưởng, lên ý thức hệ nhân vật số một quốc gia, cài đặt lại ông ta, và trong trường hợp có cơ hội tác động, thay đổi hoàn toàn ông ta thành người trung thành với phương Tây về ý thức hệ.

Lịch sử đáng buồn của Liên Xô – thành công của EBO

Để hiểu cụ thể điều đang nói, hãy nhớ lại các quá trình diễn ra ở Nga cuối những năm 1980 đầu 1990. Các chính khách và giới lãnh đạo Mỹ làm việc trực tiếp với lãnh đạo đất nước chúng ta, lúc đó là Mikhail Gorbachev, tích cực chỉnh lý ông ta, kết quả là dẫn tới tan rã Liên bang Xô viết. Giờ đây người ta hiểu ra Mikhail Sergeyevich lên nắm quyền không phải không có sự tham gia của người Mỹ. Vòng tròn bảo thủ quanh Gorbachev đã cố gắng một cách yếu ớt chống lại việc mất chủ quyền và tan rã Liên Xô (Ủy ban quốc gia về tình trạng khẩn cấp) nhưng đã thua cuộc. Kết quả là một lãnh đạo thân phương Tây, có khuynh hướng Đại Tây Dương đã lên nắm quyền – Boris Yeltsin. Và cả trong trường hợp trước lẫn sau hướng tác động chính vẫn là “từ trong ra ngoài”. Yeltsin tính tới sai lầm của Gorbachev, đã hình thành một nhóm lãnh đạo tương thích với ông ta hơn về mặt thế giới quan mà quả nhiên sau đó ông ta có thể dựa vào.

Theo sau nguyên thủ quốc gia, từ các ý tưởng và ý chí của ông ta, đồng thời cũng dưới sự tác động của giới thượng lưu chính trị đã được cải biến, cộng đồng truyền thông và chuyên gia nằm ở những tầng tiếp theo cũng được tích cực xử lý và định dạng lại. Tất cả các cố vấn, những đấu thủ chính của các quá trình chính trị trong nước đều có xu hướng Đại Tây Dương, nghiêm ngặt thân Mỹ. Cộng đồng truyền thông thì hoàn toàn tương thích với cái nhìn phương Tây tự do của cộng đồng chuyên gia.

Bước tiếp theo là dân chúng, sản phẩm của những tác động từ không gian truyền thông. Dưới sức ép cảu việc nhào nặn hàng oạt của truyền thông, họ miễn cưỡng, đau khổ và xổ toẹt, nhưng dẫu sau vẫn kỷ luật chấp nhận những quan điểm và ý tưởng mà giới tinh hoa áp đặt. Nói một cách khác, theo ý của người lãnh đạo, giới tinh hoa của ông ta, các chuyên gia và báo chí của ông ta, dân chúng được tái lập trình theo tinh thần thân Mỹ, thân phương Tây. Họ được thấm nhuần tư tưởng rằng nước Nga phải tuân thủ một logic phát triển chung của các quá trình toàn cầu, và chúng ta phải từ bỏ chủ quyền của mình; rằng chúng ta phải hành động đồng bộ với các đối tác phương Tây của chúng ta, với các nước thế giới phương Tây. Và rằng quân đội chúng ta, vòng tròn cuối cùng, phân rã, tan vỡ, cũng là chuyện bình thường, bởi nó được quy định bằng mô hình mà theo đó chúng ta phải yếu để thế giới phương Tây có thể dễ điều hành, đưa chúng ta vào những quá trình toàn cầu. Theo đó, quân đội như một tầng lớp xã hội, bắt nguồn trực tiếp từ xã hội nên cũng phải chịu tác động của toàn bộ cấu trúc mà việc chuyển đổi chỉ xảy ra “từ trong ra ngoài”.

Putin và chủ quyền: trong vòng tròn tinh hoa

Với việc Vladimir Putin lên nắm quyền đã diễn ra sự thay đổi nguyên thủ – trung tâm của cấu trúc, kéo theo nó sự thay đổi triệt để đường lối ít nhất liên quan tới khái niệm chủ quyền. Công lao chính của Putin là đã biến chủ quyền nước Nga thành một giá trị và đòi hỏi chúng ta phải phục hồi và bảo vệ nó. Ông thể hiện điều đó triệt để nhất là trong quá trình cuộc chiến Chechnya lần thứ hai, công khai tuyên bố điều đó trong diễn ngôn Munich nổi tiếng. Tức ở trung tâm của cấu trúc này là người đã phần nào thay đổi dấu hiệu phát triển về hướng trái ngược với lãnh đạo tiền nhiệm ông ta, ít ra trong vấn đề đối ngoại. Và từ đây bắt đầu những quá trình đối nghịch. Sự điều chỉnh “từ trong ra ngoài” được bắt đầu theo tinh thần yêu nước, khởi nguồn giờ đây từ phía Putin. Kết quả là những cơ chế phản ứng – các tiến trình sửa chữa “hỏng hóc hệ thống” ấy – bắt đầu hoạt động: khắc phục sai lầm, bản thân hệ thống đã bắt đầu tác động trước nhất lên nguyên thủ, người thay đổi dấu hiệu. Kết nối vào quá trình hiệu chỉnh đầu tiên là giới tinh hoa chính trị vây quanh Putin lúc ấy: Alexandre Voloshin, Mikhail Kasyanov, Vladislav Surkov và nhiều người khác – vòng thân cận đã hình thành từ trước khi Putin lên nắm quyền. Họ là những cán bộ được chọn lọc, có xu hướng tự do theo tinh thần phương Tây vốn đã hình thành từ giai đoạn trước, dưới thời Yeltsin. Họ đưa vòng tròn tiếp theo vào “việc chỉnh lý Putin” – đó là cộng đồng chuyên gia, những người vội vã hình thành những hệ số điều chỉnh suy nghĩ, phủ nhận những thông điệp thế giới quan chính yếu của nguyên thủ quốc gia mới: đó là Pavlosky, Gelman, Diskin, Yurgens, Gontmakher. Một số họ đến nay vẫn còn tiếp tục sản xuất ra số lượng lớn rác tư tưởng đến nỗi đơn giản là nhấn chìm diễn ngôn yêu nước của Putin trong biển nước bẩn của chủ nghĩa tự do, pha trộn nó với luồng chất thải mô phỏng suy nghĩ trước đó.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Advertisements

Bàn về cơ cấu một cuộc xâm lược Đài Loan của PLA – Phần I


Rick Joe

Mối đe dọa xảy ra tình huống bất ngờ ở Đài Loan là cuộc đối đầu quân sự dai dẳng và có khả năng xảy ra nhất mà quân đội Trung Quốc (Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc – PLA) phải đối mặt, và phần lớn sự hiện đại hóa của PLA trong vài thập kỷ qua đã được thiết kế cho một kịch bản như vậy. Nhiều bài viết, bình luận, và thậm chí các video trong những năm qua đã tìm hiểu cách một cuộc xâm lược Đài Loan của PLA có thể diễn ra và mức độ thành công hay thất bại của mỗi bên.

Bài viết này gồm 3 phần thảo luận về các phương pháp chính mà PLA có thể sử dụng để theo đuổi một cuộc xâm lược Đài Loan trong khung thời gian cuối năm 2019. Phần một viết về sức mạnh không quân PLA; phần hai tìm hiểu các lực lượng tên lửa, hải quân và mặt đất của PLA; phần ba đánh giá việc mua sắm và chiến lược của các lực lượng vũ trang Đài Loan (ROCArF) nhằm chống lại các lợi thế của PLA, cũng như xem xét quỹ đạo tương lai của PLA và các năng lực cụ thể của Đài Loan mà họ có thể tìm cách có được.

Không quân

PLA sẽ sử dụng sức mạnh không quân của mình như thế nào trong một cuộc xâm lược ở Đài Loan vào cuối năm 2019?

Chuẩn bị sẵn sàng, các “lá bài tẩy”, các từ viết tắt

Ngay cả quy trình tạo ra cuộc xung đột ban đầu cũng không thể được tiến hành mà không có các mục tiêu chính trị và chiến lược cũng như môi trường dẫn đến cuộc xung đột. Với mục đích của loạt bài viết này, các tác giả sẽ mô tả môi trường địa chính trị như một kịch bản Đài Loan độc lập tiêu chuẩn, trong đó đảng nắm giữ quyền lực ở Đài Bắc có các động thái chính trị công khai hướng tới giành độc lập (bao gồm phát ngôn chính trị và các biểu hiện mang tính tượng trưng trước công chúng) bằng việc tăng cường đưa ra những lời cảnh báo chống Trung Quốc liên quan đến những giới hạn đỏ chính trị. Việc này tiếp diễn trong thời gian 2 tháng khi căng thẳng chính trị và quân sự trên eo biển Đài Loan leo thang, đỉnh điểm là việc chính quyền Đài Loan tuyên bố độc lập chính trị chính thức và việc Trung Quốc phản ứng quân sự ngay lập tức bằng cách tuyên bố bắt đầu lại Nội chiến Trung Quốc, tuyên bố mục tiêu chính trị là “tái thống nhất” và mục tiêu quân sự là một cuộc xâm lược quân sự và dẹp tan sự kháng cự của ROCArF.

Bài viết này giả định PLA sẽ tìm cách đạt được mục tiêu của họ nhanh nhất có thể, một phần để giảm thời gian có thể để Mỹ ra quyết định can thiệp quân sự. Bài viết này sẽ đề cập đến một kịch bản liên quan đến 2 tuần chuẩn bị tích cực và một tuần xung đột chủ động, trong đó Mỹ không trực tiếp tham gia. Tuy nhiên, PLA cũng sẽ không thể đảm bảo dốc toàn lực cho cuộc xung đột này, vì các lực lượng bổ sung sẽ được giữ dự phòng trong trường hợp có sự can thiệp của Mỹ cũng như cho các chỉ thị chiến lược then chốt ở phía Tây và Đông Bắc, nơi Trung Quốc phải đối mặt với Ấn Độ và bán đảo Triều Tiên. Do đó, theo chủ định của bài viết, chỉ khoảng 1/3 tổng phương tiện cơ động của PLA như máy bay chiến thuật và lực lượng hải quân sẽ được bố trí để sử dụng trong tình huống bất ngờ này. Mục tiêu quân sự của ROCArF sẽ là phòng thủ và khiến PLA càng chịu nhiều thương vong càng tốt bằng việc sử dụng các lực lượng sẵn có và tồn tại bằng sự gắn kết về quân sự và chính trị càng lâu càng tốt với hy vọng Mỹ sẽ can thiệp.

Trong bất kỳ kịch bản xung đột nào cũng có các “lá bài tẩy” khác nhau có lợi cho phe này hoặc phe kia. Huấn luyện quân sự và năng lực cơ bản của quân đội và các sĩ quan có lẽ là các yếu tố gây xáo trộn trực tiếp nhất đối với việc đánh giá hiệu quả chiến đấu. Tinh thần quân sự và tinh thần dân sự có thể ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quyết tâm và sự sẵn sàng chiến đấu của một quốc gia, và đặc biệt quan trọng đối với ROCArF do phòng thủ của Đài Loan có thể sẽ phụ thuộc đáng kể vào lính nghĩa vụ và quân dự phòng. Các yếu tố khác như ám sát, phá hoại, những đột phá chiến lược về gián điệp, và các cuộc tấn công mạng, cũng có thể làm thay đổi đáng kể sự gắn kết chính trị và quân sự và năng lực của một bên nếu thành công trong một kịch bản xung đột như vậy. Theo chủ đích của bài viết này, các “lá bài tẩy” như đào tạo, tinh thần, các vụ ám sát và phá hoại, gián điệp và tấn công mạng sẽ không được tính đến và PLA hoặc ROCArF sẽ không có lợi thế ngay từ khi bắt đầu xung đột.

Từ “T-day” sẽ được sử dụng để mô tả ngày khởi phát xung đột.

Cuối cùng, các từ viết tắt liên quan sẽ được đưa ra, có thể áp dụng trong toàn bộ bài viết:

+ AEW&C: Cảnh báo sớm và kiểm soát trên không

+ APAR: Radar mảng pha quét điện tử chủ động

+ ASW: Chiến tranh chống tàu ngầm

+ C4I: Hệ thống Chỉ huy, kiểm soát, truyền tin, máy tính, tình báo

+ CAS: Hệ thống yểm trợ không chiến tầm gần

+ DAM: Đạn tấn công trực tiếp

+ DDG: Tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường

+ DEAD: Phá hủy hệ thống phòng không của kẻ thù

+ E/S/C/W/NTC: Bộ tư lệnh chiến trường Đông/Nam/Trung/Tây/Bắc

+ ECM: Các phương tiện gây nhiễu điện tử

+ ELINT: Trí thông minh điện tử

+ EW: Chiến tranh điện tử

+ FFG: Khinh hạm trang bị tên lửa dẫn đường

+ UAV HALE/MALE: Phương tiện bay không người lái có khả năng hoạt động trong thời gian dài với độ cao lớn/độ cao trung bình

+ I/SRBM: Tên lửa đạn đạo tầm trung/tầm ngắn

+ IADS: Hệ thống phòng không tích hợp

+ ISR: Hệ thống tình báo, giám sát, trinh sát

+ LACM: Tên lửa hành trình tấn công mặt đất

+ MPA: Máy bay tuần tra hàng hải

+ PLA: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLAAF: Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ LAMC: Thủy quân lục chiến Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLAN: Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ PLARF: Lực lượng Tên lửa Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

+ ROCA: Lục quân Đài Loan

+ ROCAF: Không quân Đài Loan

+ ROCArF: Lực lượng Vũ trang Đài Loan

+ ROCN: Hải quân Đài Loan

+ SAM: Tên lửa đất đối không

+ SAR: Radar khẩu độ tổng hợp

+ SEAD: Áp chế hệ thống phòng không của kẻ thù

+ SIGINT: Tình báo tín hiệu

+ SOM: Đạn bắn tự động từ xa.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2019/04/anatomy-of-a-taiwan-invasion-the-air-domain/

TLTKĐB – 04 & 05/06/2019

11 câu hỏi quanh khả năng Việt Nam kiện Trung Quốc về Bãi Tư Chính – Phần đầu


Dương Danh Huy

Việt Nam đang đứng trước tình trạng “hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau” và Bắc Kinh lại uốn tấc lưỡi bảo Việt Nam phải “ứng xử cho đúng”, “tôn trọng chủ quyền Trung Quốc” và “đừng làm phức tạp tình hình”.

Chúng ta may mắn được sống trong một thế giới có những biện pháp hòa bình để bảo vệ quyền lợi của đất nước. Qua các câu hỏi và trả lời, bài viết này cố gắng cung cấp thông tin về một trong những biện pháp văn minh nhất, bình đẳng nhất, đó là kiện Trung Quốc.

1/ Kiện Trung Quốc về điều gì?

Việt Nam cần kiện Trung Quốc vi phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

2/ Nếu Trung Quốc không chấp nhận ra tòa?

Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), trong Phần XV và các Phụ lục liên quan, quy định về một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc cho các quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Cơ chế này cho phép các thành viên kiện nhau về các tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng Công ước, trong đó có tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Với cơ chế này, dù Trung Quốc không chấp nhận ra tòa cũng không ngăn được vụ kiện. Trung Quốc cố ý không giải quyết tranh chấp một cách công bằng, và mục đích của cơ chế này chính là để cho các thành viên UNCLOS có thể thoát khỏi những sự cố ý tồi tệ như thế.

Tuy cơ chế này cần hội tụ đủ một số điều kiện và có một số hạn chế, ví dụ như trong Điều 297 và 298, việc vụ kiện Philippines – Trung 2013 – 2016 được thụ lý cho thấy khả năng nếu Việt Nam kiện và Trung Quốc không chấp ra tòa thì tòa cũng sẽ thụ lý.

3/ Sao không kiện Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Trường Sa?

Bản chất của tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa là tranh chấp chủ quyền, không phải là diễn giải và áp dụng UNCLOS. Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS không bao gồm những tranh chấp mà bản chất là tranh chấp chủ quyền. Tòa án Công lý Quốc tế cũng không có thẩm quyền để xử lý tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa cho đến khi mọi bên trong tranh chấp đã chấp nhận thẩm quyền của Tòa bằng một trong những hình thức trong Điều 36 và 37 của Quy chế của Tòa, và hiện nay điều kiện đó chưa được đáp ứng.

4/ Tòa nào sẽ xử?

Điều 287 của UNCLOS cho phép các bên trong tranh chấp tuyên bố chọn phương tiện phân xử, ví dụ như Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), nhưng phương cách mặc định là một Hội đồng Trọng tài (HĐTT) lâm-cấp thời (ad hoc) được thiết lập theo Phụ lục vii của UNCLOS.

Hội đồng bao gồm 5 trọng tài: mỗi bên được chọn một và các bên cùng nhau chọn số còn lại. Nếu không đủ 5 trọng tài vì các bên không đồng ý với nhau, hay có bên không chọn, thì Chủ tịch Tòa Trọng tài Quốc tế về Luật Biển sẽ chọn. Chính một HĐTT như thế (đã phân xử vụ kiện Trung Quốc – Philippines) chọn 1 trọng tài, nhưng Trung Quốc không tham gia, và Chủ tịch ITLOS Shunji Yanai chọn 4 trọng tài còn lại.

5/ HĐTT không phải Tòa án Công lý Quốc tế, phán quyết của họ có ý nghĩa gì không?

Phán quyết của HĐTT được thiết lập theo Phụ lục VII của UNCLOS hoàn toàn có tính ràng buộc giữa các quốc gia trong vụ kiện, đối với các quốc gia này thì không khác gì Tòa án Công lý Quốc tế đã xử. Thí dụ, phán quyết 2016 có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc, dù Trung Quốc không công nhận. Tuy nhiên, phán quyết đó không có tính ràng buộc giữa các quốc gia đó và các bên thứ ba.

6/ Phán quyết 2016 đã bác bỏ “đường 9 đoạn” rồi, kiện nữa làm gì?

Phán quyết đó chỉ có tính ràng buộc giữa Philippines và Trung Quốc. Nếu Việt Nam muốn có một phán quyết có tính ràng buộc giữa mình và Trung Quốc, Việt Nam phải kiện Trung Quốc.

7/ Kiện có ích gì khi Trung Quốc sẽ không tuân thủ?

Chắc chắn Trung Quốc sẽ không tự nguyện tuân thủ phán quyết, cũng như họ đã không tuân thủ phán quyết 2016 về vụ kiện Philippines – Trung Quốc. Tuy nhiên, một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, sẽ vô cùng hữu ích trong việc tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. Các nước khác, đặc biệt là Mỹ, có thể ủng hộ Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận, không thể bị cho là thiên vị một bên trong tranh chấp và sự ủng hộ của họ sẽ có nhiều trọng lượng hơn.

Trung Quốc sẽ không thể ngụy biện rằng họ đang giải quyết và quản lý tranh chấp với các nước nhỏ một cách tốt đẹp, các nước ngoài khu vực không nên xen vào. Các nước khác có thể lên tiếng bảo vệ các công ty dầu khí của họ khi các công ty này làm việc với Việt Nam, Trung Quốc không thể yêu cầu họ rút khỏi “vùng tranh chấp”.

Trong tương lai, Việt Nam phải đưa tranh chấp ra Liên hợp quốc, vì chắc chắn Trung Quốc sẽ leo thang lấn lướt. Nếu có trong tay một phán quyết xác nhận Việt Nam đúng, Trung Quốc sai, Việt Nam sẽ được nhiều phiếu ủng hộ hơn.

Ngoài ra, phán quyết của HĐTT UNCLOS sẽ xứng đáng với chính nghĩa của Việt Nam hơn là cử người phát ngôn bộ ngoại giao, thậm chí cử ngoại trưởng, ra “đôi co” với các tương nhiệm Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh càng ngày càng lấn tới.

8/ Lập luận của Việt Nam sẽ là gì?

Lập luận của Việt Nam có thể là:

Các lô 05, 06, 07, 130, 131, 132, 133, 154, 155, 156, 157 và một phần của Bãi Tư Chính nằm trong EEZ tính từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam. Các khu vực này nằm dưới mặt nước, do đó không nước nào có thể tuyên bố chủ quyền đối với chúng. Bất cứ nước nào, tối đa cũng chỉ có các loại quyền chủ quyền và quyền tài phán (khác với chủ quyền), dựa trên nguyên tắc thống trị biển và UNCLOS.

Các khu vực này không thể nằm trong EEZ hay thềm lục địa của bất cứ đảo nào đang bị tranh chấp (tức là các đảo thuộc quần đảo Trường Sa). (Lý do là theo Điều 121(3) UNCLOS không đảo nào được hưởng quy chế vùng EEZ hay thềm lục địa, như HĐTT 2016 đã khẳng định).

Trung Quốc không thể có quyền lịch sử đối với vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Việt Nam. (Lưu ý HĐTT 2016 đã khẳng định rằng Trung Quốc vừa không hề có quyền lịch sử đối với vùng biển và đáy bên bên ngoài lãnh hải 12 hải lý, vừa không thể bắt cá hai tay, một mặt thì đòi tự do tiền-UNCLOS trong việc họ khai thác bên trong EEZ của các nước khác, một mặt thì không chấp nhận tự do tiền-UNCLOS của các nước khai thác bên trong EEZ của họ. Việc phê chuẩn UNCLOS có nghĩa phải bỏ cả hai sự tự do này).

Vì vậy, các khu vực này hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam (Lưu ý đây là những quyền có hạn chế được UNCLOS quy định, khác với chủ quyền mà không nước nào có thể có).

Trung Quốc đã vi phạm các quyền này của Việt Nam và phải ngưng vi phạm.

(còn tiếp) 

Nguồn: BBC

TKNB – 08/08/2019

Nhận thức hiểm họa, một bước tới đáp trả thích đáng – Phần V


Giới lãnh đạo Hoa Kỳ theo đuổi một mục tiêu cụ thể – chia cắt nước Nga và tách các phần lãnh thổ của nó ra. Như đã biết, trong địa chính trị nhân tố quan trọng nhất là không gian và sự rộng lớn của nó. Vì thế một đất nước lớn như nước Nga sẽ luôn là hiểm họa đối với Hoa Kỳ. Nó xác định những nhiệm vụ cụ thể mà người Mỹ đặt ra. Đó là – chuẩn  bị và biện giải cho sự mở rộng nhằm vào lãnh thổ chúng ta. Với Hoa Kỳ, những biên giới từng được ghi trong thỏa thuận Yalta cũng như những gì xuất hiện sau thất bại của Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh, đã mất đi tính thời sự. Hiện nay chúng ta đang đứng trước ngưỡng những cuộc tấn công phủ đầu từ phía Mỹ vào lãnh thổ Nga và những miền đất liền kề với nó. Để biện minh cho những đòn tấn công này, cần phải làm xấu hình ảnh nước Nga, đồng thời xem lại các kết quả Thế chiến thứ hai. Công cụ để giải quyết nhiệm vụ này chính là đặt chế độ bolshevik ngang hàng với quốc xã. Mà để làm điều đó, để cả thế giới hiểu điều đó có nghĩa là gì, ở Hoa Kỳ đã khai trương tượng đài các nạn nhân của sự đàn áp cộng sản.

Chúng ta không nên trấn an mình bằng ý nghĩ về những quan hệ tốt đẹp giữa các lãnh đạo Nga và Hoa Kỳ. Giới lãnh đạo Hoa Kỳ đã hình thành hàng thế kỷ qua, vốn luôn xuất phát từ một logic địa chính trị trong tất cả mọi việc. Không ai chấp nhận sự hồi phục ảnh hưởng địa chính trị của Nga. Cùng lúc áp lực lên nước Nga của phương Tây từ những hình thái mềm đã dần chuyển sang cứng rắn hơn. Nó đã bắt đầu diễn ra trong thuật ngữ quân sự. Đến khi nào chúng ta còn chưa hiểu và chưa bắt đầu hành động một cách thích hợp, chúng ta sẽ luôn nằm dưới mối đe dọa bị chia cắt và tiêu diệt.

Nếu nước Nga không bắt đầu việc bành trướng đáp lại, một kiểu phản công địa chính trị, chúng ta sẽ tiếp tục mất vị thế của mình trên thế giới, bởi địa chính trị không chấp nhận dừng lại. Ít nhất Nga cần tuyên bố về lợi ích địa chính trị của mình, đồng thời thể hiện khả năng đáp trả. Bất cứ quốc gia vĩ đại nào, kể cả khi nó ốm đau hay chỉ mới bắt đầu lại sức, cũng phải vươn tới sự hùng cường. Nước Nga đã giữ vị thế phòng thủ nhiều năm. Trong suốt những năm 90 chúng ta đơn giản đã đầu hàng, còn Yeltsin thường xuyên tư vấn với “Ủy ban vùng Washington” về việc chúng ta nên nhanh chóng đầu hàng ra sao. Và họ đáp: đợi đã, chúng tôi còn chưa kịp tiêu hó những gì các ông dâng tặng. Chúng ta đã đầu hàng với tốc độ khủng khiếp, vì thế khi đó không cần cuộc phô trương những hành vi sỉ nhục chúng ta mà chúng ta đang thấy hiện nay từ phía “bộ sáu” của Hoa Kỳ. Ngược lại, họ tiếp nhận chúng ta vào “bộ tám”, cho chúng ta một số nhượng bộ hình thức, ném cho chúng ta một ít của bố thí, hứa hẹn khen thưởng. Chúng ta đã đầu hành nhanh chóng, thật điên rồ.

Khi Putin vừa mới bắt đầu dừng sự hàng phục này lại, chúng ta biết thế nào là “cách mạng màu”. Trên những lãnh thổ chiến lược liền kế với chúng ta bắt đầu những quá trình mà chúng ta chưa sẵn sàng đón nhận. Tiếp theo, khi Putin tiến một bước ngược lại, tức là về phía phục hồi địa chính trị thì chúng ta có cơ hội quan sát một cách đầy đủ toàn bộ nanh vuốt hung dữ của Mỹ và chính sách gây hấn của nó trên toàn thế giới. Đầu tiên là cuộc tấn công của Basayev vào Daghestan, vụ “Dubrovka”, “Beslan”, rồi tiếp đến là nhiều hơn, cuộc tấn công của chế độ Saakashivili bù nhìn của Mỹ vào Tskhinvali, những vụ nổ ở Domoyedovo, trong metro Moskva, một loạt vụ tấn công ở Volgograd… Những hành động của chúng ta sẽ càng nhất quan bao nhiêu nhắm vào việc phục hồi lại chủ quyền và ảnh hưởng chính trị đối ngoại, thì phản ứng của phía Mỹ sẽ còn khắc nghiệt bấy nhiêu. Đáp lại việc củng cố và vũ trang lại quân đội Nga, Mỹ trả đũa bằng “những cuộc chiến thế hệ thứ sáu”.

Trong lúc này họ chỉ gợi ý, ra dấu bằng những câu hỏi về việc tách một phần lãnh thổ khỏi các cựu đồng minh Đông Âu của chúng ta, gia tăng áp lực lên Kavkaz. Nếu tiếp theo các người không dừng lại, chúng tôi sẽ đặt các thành phần của hệ thống phòng thủ tên lửa ở châu Âu. Và bước tiếp theo… Chúng ta chẳng còn xa mấy khỏi việc tấn công quân sự vào lãnh thổ Nga, dù cho chúng ta có cảm thấy nó ngớ ngẩn, điên rồ hay khó tin đến đâu đi nữa. Và nếu chúng ta còn kéo lê câu chuyện, còn phỏng tính xem có đáng “làm hỏng quan hệ” với Mỹ hay không, thì chúng ta sẽ đánh mất thời điểm lịch sử. “Chúng ta sẽ bị nghiền nát”.

Nước Nga không có và không thể có bất kỳ mối quan hệ nào với Mỹ, ngoài quan hệ đối thủ, bởi logic địa chính trị không xem xét điều đó. Tất cả những cái cúi chào của Putin với Bush và của Obama với Putin, những cái vỗ vai, những cuộc viếng thăm các trang trại và cùng ăn humberger không cho chúng ta bất cứ điều gì. Chỉ có chiến lược, con đường mà Hoa Kỳ đang đi trong hai thập niên qua mà không ai có thể dừng họ lại. Họ sẽ sử dụng tất cả, quan tâm tới tất cả những ai có một chút vấn đề nào đó với Nga, để kết sổ chúng ta. Mà đó thật sự là tất cả các nước Đông Âu, nơi nào có cho dẫu chỉ là một chút tia thù hận nước Nga, ganh tị, ác ý nhỏ nhen – tất cả sẽ được người Mỹ sử dụng để chống lại chúng ta.

Vùng Baltic và những cựu đồng minh Đông Âu cũ ngày nay là một phần của hàng rào cách ly, nơi không cho phép đặt liên minh chiến lược với châu Âu không hài lòng với sự thống trị của Mỹ và đã bắt đầu nghĩ về sự độc lập của Nga. Bởi vì một mình châu Âu hay một mình nước Nga không thể tham gia vào chính trị thế giới trên cơ sở ngang hàng với Mỹ. Chính vì thế mà người Mỹ đã rất sợ trục Paris – Berlin – Moskva từng hình thành vào đầu chiến dịch Iraq. Bởi liên minh chiến lược châu Âu với Nga – không ai có thể cho là nhỏ. Chính vì thế mà những không gian, như vùng Baltic phải thực hiện sứ mệnh địa chính trị quan trọng: ngấm ngầm gây hại chống Nga và châu Âu nhưng có lợi cho Mỹ khi truyền đi ý tưởng, chẳng hạn cho rằng Đức và Liên Xô là những kẻ xâm lược, họ nói, cả hai chế độ đều là toàn trị, xâm chiếm các lãnh thổ châu Âu, đàn áp các dân tộc châu Âu. Đấy, toàn bộ sứ mệnh được hào phóng trao cho những ngộ nhận địa chính trị ngày nay mang tên là các “quốc gia” vùng Baltic.

Thí dụ, người Latvia từ đầu thập niên 90 đã cố chỉ ra “bản chất hung dữ” giống nhau của hai chế độ: họ nói cả nước này lẫn nước kia đều đàn áp người dân địa phương. Để làm ví dụ họ bắt đầu so sánh danh sách những người bị đàn áp. Nhưng chỉ cần họ bắt đầu in (danh sách), ngay lập tức họ phải bảo mật, bởi những đoàn xe lửa đầu tiên sau khi Latvia sáp nhập vào Liên Xô đi qua Serbia đã chỉ mang tới đó người Liên Xô và Do Thái. Nếu tiếp tục đề tài diệt chủng và chiếm đóng, thì sau Thế chiến thứ hai người Mỹ đã thực hiện diệt chủng dân Nhật và chiếm đóng nước này. Rồi sau đó cũng với sự thành công như thế họ đã thực hiện diệt chủng ở Việt Nam, chiếm đóng Serbia và Iraq, cướp phá Afghanistan và Libya… Khi nói về những lợi ích chiến lược, những đấu thủ địa chính trị lớn, các đối thủ toàn cầu viết về lịch sử bằng những nét bút lớn, kết nối và liên minh toàn bộ các nhân dân, các quốc gia và những không gian lớn. Mặc dù Liên Xô, so với nước Đức của châu Âu, cũng như với kinh nghiệm du nhập chủ nghĩa tự do và “sự tự do” từ phía Mỹ, dẫu sao cũng đạt được các mục tiêu của mình một cách đạo đức hơn. Truyền thống chính thống giáo của chúng ta, văn hóa Nga và đạo đức Nga nói chung trong lịch sử đã thanh nhã hơn. Ở mức độ nhân tố con người, những người lính Xô viết, các chính ủy, các cán bộ chính trị đã hành động nhân đạo hơn người Đức hay thậm chí người Mỹ.

Tất cả cơn kích động chống Nga, được khiêu khích bởi giới lãnh đạo mới của vùng Baltic là nỗ lực dẫu chỉ để hợp pháp hóa tối thiểu sự tồn tại riêng của họ với tư cách các quốc gia “độc lập”. Nhưng họ không chỉ đòi được hợp pháp hóa, mà còn yêu sách những đền bù nào đó. Bởi nếu được công nhận, như các lãnh đạo vùng Baltic đang muốn điều đó, rằng Liên Xô đã chiếm đóng vùng Baltic vào năm 1940 hay 1944, thì tiếp đó sẽ là những yêu sách đòi chi trả để nâng cao lòng tự trọng của những quốc gia – ngộ nhận này, thích hợp để tạo ra những khó chịu nho nhỏ cho nước Nga nhưng làm hài lòng Mỹ. Bởi nếu nói về nước Nga, thì đối thủ chủ yếu của chúng ta chính là nước Mỹ. Và ngày nay chúng ta ngày càng rõ rằng giai đoạn tiếp theo sau khi Nga thất bại trong Chiến tranh Lạnh và mất các nước Đông Âu và SNG, sẽ là sự chia cắt chính nước Nga, tách nó khỏi những mảng lớn để giảm thiểu quy mô và, tương ứng với đó, sự hùng mạnh địa chính trị của nó. Một nước Nga rộng lớn sẽ là mối đe dọa với Hoa Kỳ. Và trong mọi tình huống, việc xét lại lịch sử chính là để chuẩn bị và biện giải cho sự bành trướng giờ đây đang trực tiếp lấn vào lãnh thổ chúng ta. Chúng ta đã đánh mất không gian hậu Xô viết, ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở hình thái này hay khác hầu như đã được thiết lập mọi nơi. Xuất phát từ logic địa chính trị nền tảng của Mỹ, phải hiểu: các biên giới không thể tĩnh mà phải dịch chuyển. Không có sự mở rộng thì sẽ bắt đầu sự đình trệ và thu nhỏ. Chúng ta phải bắt đầu dịch chuyển đến biên giới của lục địa, và tiếp đó, ra khỏi giới hạn của nó, tới đại dương Thế giới.

Những biên giới được cố định bởi thỏa thuận Yalta ngày nay đã mất bất cứ tính thời sự nào. Vấn đề hiện tại chỉ là sao cho hợp pháp hóa sự bành trướng cảu Mỹ trên lãnh thổ Nga. Chính vì điều đó mà người ta đang bóp méo hình ảnh Nga bằng tay của những bù nhìn Mỹ ở Đông Âu, xét lại các kết quả Thế chiến thứ hai và đặt chế độ bolshevik ngang hàng với chế độ phát xít.

Đã không còn ai tranh cãi về sự kiện hệ thống phòng thủ tên lửa của Hoa Kỳ ở châu Âu được đặt để chống lại Nga. Người ta cũng hiểu là tại sao người Mỹ không muốn sử dụng cơ sở ở Azerbaijan, bởi điều đó vô nghĩa, do lẽ dĩ nhiên chẳng Iran lẫn Triều Tiên nào là mục tiêu chính của họ. Tất cả những gì diễn ra ở vùng Baltic và Đông Âu là thời kỳ chuẩn bị cho giai đoạn hiện nay đã nghiêm trọng hơn, nóng hơn: giai đoạn tấn công. Địa chính trị đối với Hoa Kỳ là yếu tố số một khi đưa ra bất cứ quyết định nào, còn chiến tranh mạng lưới là phương tiện hiệu quả nhất để đạt được những mục tiêu địa chính trị. Nếu chúng ta còn chưa hiểu và chưa hành động thích hợp, chúng ta sẽ luôn nằm dưới nguy cơ bị chia cắt và tiêu diệt.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần cuối


3/ Xu thế phát triển của tình hình bán đảo

Hiện nay, Mỹ và Triều Tiên đang đàm phán về thỏa thuận từ bỏ hạt nhân, việc thực hiện từ bỏ hạt nhân cuối cùng phụ thuộc vào sự thành công của thỏa thuận. Như đã nói ở trên, một mặt, Mỹ và Triều Tiên bất đồng nghiêm trọng trong các vấn đề như hình thức từ bỏ hạt nhân, nội dung từ bỏ hạt nhân và xây dựng cơ chế hòa bình…, việc đạt được thỏa thuận là tương đối khó khăn, mấu chốt của việc đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân là Mỹ phải đưa ra quyết định chính trị (giống như việc xử lý vấn đề hạt nhân Iran trong thời kỳ Obama); Mặt khác, trong trường hợp Mỹ và Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân (Mỹ và Triều Tiên hai lần đạt được thỏa thuận liên quan đến hạt nhân vào năm 1994 và 2005), nhân tố then chốt của sự phát triển tình hình tiếp theo là Mỹ liệu có thực thi thỏa thuận một cách trung thực hay không, điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn chiến lược của Mỹ chứ không chỉ ở nhân tố cá nhân Trump. Đương nhiên, trong việc thực thi thỏa thuận một cách cụ thể còn sẽ đối mặt với vấn đề mang tính kỹ thuật phức tạp, như các vấn đề nhạy cảm liên quan đến an ninh quốc gia như kê khai (nội dung và phạm vi kê khai), xác minh (tính xâm phạm của xác minh), tiêu hủy (bảo vệ bí mật vũ khí)…, một chút sơ suất sẽ nảy sinh bất hòa nghiêm trọng thậm chí dẫn đến đảo ngược tình hình.

Mặc dù vấn đề từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên tạm thời chưa thể thực hiện, thì cục diện tình hình bán đảo trong tương lai tiếp tục theo chiều hướng tốt và ổn định hòa bình và tổng thể vẫn có thể duy trì, điều không chỉ vì sự điều chỉnh đáng kể và chuyển hướng phát triển của chính sách quốc gia Triều Tiên, mà cũng phụ thuộc vào nhận thức chung và nỗ lực hành động của các nước liên quan đối với việc duy trì sự ổn định của tình hình bán đảo. Trong số đó, tác dụng và vai trò của Hàn Quốc vô cùng quan trọng. Là một bên của cộng đồng vận mệnh lợi ích Hàn – Triều của bán đảo, cũng là một bên của quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, Hàn Quốc vừa có thể chủ động lựa chọn hành động với Triều Tiên, chi phối quan hệ liên Triều, lại có thể kiềm chế hành động quân sự của Mỹ – Hàn, gây ảnh hưởng đối với tình hình an ninh bán đảo. Mặc dù Hàn Quốc không phải bên chi phối trong quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – Hàn, nhưng có ảnh hưởng quan trọng đối với hành động quân sự thậm chí là địa vị đóng quân của Mỹ – Hàn. Hàn Quốc nên làm rõ một đạo lý: trong cục điện bán đảo hiện nay, bảo đảm an ninh cho Hàn Quốc là mục tiêu cao nhất đặt trên tất cả, các lựa chọn chiến lược chính trị khác bao gồm đồng minh quân sự với Mỹ…, chỉ là biện pháp để thực hiện mục tiêu cao nhất này chứ không phải là mục đích. Nếu bằng cách cải thiện quan hệ với Triều Tiên, xoa dịu tình hình bán đảo để có thể từng bước thực hiện mục tiêu này, mà việc tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ dẫn đến việc Triều Tiên đẩy mạnh xây dựng vũ lực, nâng cao mức độ chuẩn bị chiến đấu ngược lại còn làm suy yếu mục tiêu này, như vậy, Hàn Quốc phải có lựa chọn đúng đắn. Trong tình hình hiện nay, Hàn Quốc không chỉ cần phải tiếp tục cải thiện quan hệ với Triều Tiên, đồng thời cùng phải kiềm chế các hành vi gây xáo trộn, tổn hại đến tình hình bán đảo của Mỹ (như tăng cường các biện pháp trừng phạt, diễn tập quân sự…), để ủng hộ Triều Tiên tiếp tục con đường hòa dịu, từ bỏ hạt nhân, bảo đảm rằng tình hình bán đảo tiếp tục phát triển theo hướng tốt lên.

Duy trì hòa bình ổn định của bán đảo cũng phù hợp với lợi ích chung của các nước Đông Bắc Á khác như Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, các nước Đông Bắc Á có trách nhiệm và nghĩa vụ cùng nỗ lực bảo vệ cục diện tốt đẹp đang nảy sinh trên bán đảo, cần phải có sự đồng thuận cao độ về vấn đề này. Để làm được điều này, trước hết, các nước cần phải phản ứng một cách tích cực sự điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, thông qua ngoại giao chính trị ủng hộ hành động từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên, ủng hộ nỗ lực xoa dịu quan hệ giữa Hàn Quốc và Triều Tiên, thúc giục Mỹ với Triều Tiên đạt được thỏa thuận từ bỏ hạt nhân và thực hiện thỏa thuận một cách chân thực, thúc đẩy tiến trình phi hạt nhân hóa bán đảo; Thứ hai, nỗ lực tìm cách phát triển quan hệ song phương với Triều Tiên, cải thiện môi trường quốc tế của Triều Tiên, khuyến khích Triều Tiên theo con đường mở cửa đối ngoại, hội nhập với thế giới; Cuối cùng, dựa trên những hành động đóng băng và từ bỏ hạt nhân mà Triều Tiên chủ động thực hiện, dưới tiền đề Hội đồng Bản an Liên hợp quốc thúc đẩy nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên và không vi phạm nghị quyết của Hộ đồng Bảo an Liên hợp quốc, nỗ lực hỗ trợ Triều Tiên xây dựng kinh tế, đồng thời đặt Triều Tiên vào sự phát triển kinh tế khu vực Đông Bắc Á, thúc đẩy nhất thể hóa kinh tế Đông Bắc Á, từ đó có thể phát huy vai trò quan trọng.

Kết luận

Năm 2018 là một năm quan trọng của sự phát triển tình hình bán đảo Triều Tiên, bán đảo đối mặt với vấn đề lựa chọn chiến tranh hay hòa bình. Năm 2019 này lại đối mặt với một vấn đề quan trọng, là liệu có nắm bắt được cơ hội phi hạt nhân bán đảo và phát triển bán đảo theo chiều hướng tốt hay không. Về việc này, một mặt, vấn đề là thực hiện phi hạt nhân hóa chủ yếu phụ thuộc vào Mỹ liệu có thể đưa ra quyết sách chiến lược hay không; mặt khác, việc duy trì cục diện bán đảo theo hướng tích cực sẽ phụ thuộc vào các bên đặc biệt là sự phát huy via trò của Hàn Quốc, sự nỗ lực và đồng thuận của Trung Quốc, Nga, Nhật Bản cũng rất quan trọng.

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019

Nhận thức hiểm họa, một bước tới đáp trả thích đáng – Phần IV


Bạo động chống bất bạo động: rơi khỏi vùng hợp pháp

Không thể hiểu quá trình chính trị hiện đại nếu không có kiến thức về những nguyên tắc cơ bản của công nghệ mạng lưới Giới tinh hoa chính trị Nga mất hết bến bờ này đến bến bờ khác chính vì đã bỏ qua hình thái tiên phong này của tổ chức và sự bành trướng. Có một số khoảnh khắc bất biến của công nghệ này mà luôn phải chú ý đến nó, cho đến nhuần nhuyễn khi ra các quyết định chiến lược ở cấp độ ban lãnh đạo chính trị Nga. Khái niệm trung tâm trong cuộc đối kháng toàn cầu chính là mạng lưới. Thành viên của mạng lưới này có thể là con người hay một nhóm người, liên kết với nhau theo bất kỳ dấu hiệu nào. Mạng lưới Hoa Kỳ cố gắng bao phủ đầy đủ các biểu hiện của việc tổ chức xã hội. Có những nhà dân tộc và cộng sản, cả những người tự do và Cơ đốc giáo, tín đồ Hồi giáo và thậm chí Phật tử. Mục tiêu chính của mạng lưới này – sao chép xã hội dân sự, bao quát tất cả những biểu hiện tích cực của nó để mô phỏng giả tạo này luôn có thể đối đầu với chọn lựa chính trị của xã hội công dân thật sự.

Mạng lưới tạo ra sự thay thế xã hội dân sự để chống lại chính quyền của nó vốn không tham gia mạng lưới này. Ở ý nghĩa nào đó mạng lưới là sự mô phỏng tính đa cực, bởi chính trên cơ sở đa cực mà những nhà Á – Âu xây dựng mạng lưới thay thế của họ, hình thành một liên minh cách mạng Toàn cầu chống lại sự toàn cầu hóa đơn cực. Bởi mạng lưới không quan tâm những yếu tố tham gia vào nó có thật sự là cộng sản, Cơ đốc giáo hay Tollkienist. Nó chỉ quan tâm sao cho mỗi thành viên cụ thể liên kết quanh nó những người tích cực và thành viên đó có khả năng thực hiện nhiệm vụ phá hoại đối với kẻ thù của mạng lưới.

Kẻ thù của mạng lưới chính là những chế độ phủ nhận xã hội dân sự theo khái niệm phương Tây, bởi chỉ trên cơ sở đó mạng lưới có thể tồn tại. Những đất nước cản đường đi của mạng lưới, thường là sau một thời gian sẽ quan sát thấy sự tích cực của những thế lực “cam” thân phương Tây, và có lúc cả cuộc can thiệp quân sự vào đất nước mình. Tối thiểu là các cuộc cấm vận kinh tế nghiêm trọng, nếu, ví dụ, họ tranh thủ được sự hỗ trợ của nước Nga và ngăn chặn được cuộc xâm lược trực tiếp chống lại chính mình.

Và bởi vì mạng lưới là sao chép, làm giả xã hội dân sự, nên tất cả những hành động của nó là vờ vịt. Như thế, đầu tàu chính của tất cả những cuộc “cách mạng nhung” là luận đề về tính bất hợp pháp của chính quyền, về sự xa rời của nó với xã hội dân sự đã bầu chọn nó. Cái gọi là “cộng đồng thế giới” không quan tâm liệu có khoảng cách thực sự giữa chính quyền và nhân dân hay không. Trong những kết luận của mình nó sử dụng nhuần nhuyễn việc mô phỏng xã hội dân sự Mỹ. Chính vì thế mà Putin, theo ý kiến của phe đối lập, trở thành kẻ độc tài, còn những thế lực thân phương Tây hay trung lập trở thành “nạn nhân của chế độ độc tài toàn trị”.

Gene Sharp, trong công trình Từ độc tài tới dân chủ được nhắc nhiều lần ở trên, đã mô tả một số các phương pháp để giả hình tính bất hợp pháp của chính quyền chống phương Tây. Ở đây là những chiếc áo trắng của các cô gái phản kháng, mà trên đó màu máu cũng như dấu vết tấn công của dùi cui cảnh sát sẽ rõ hơn; là việc làm giả hộ chiếu và tiền, là các hoạt động phá hoại công khai, bất tuân chính quyền. Mạng lưới Mỹ đang hoạt động chống Nga, phần nà vận dụng các phương pháp của Sharp. Hùng biện chống độc tài của các nhà tự do đã định trước việc phải lựa chọn nhà lãnh đạo phù hợp – một người yếu ớt, tầm thường, không có gì đặc biệt, dễ bị bên ngoài tác động để phương Tây có thể dễ bề thao túng.

Học thuyết chính của Gene Sharp là yếu tố phi bạo lực của đối kháng, thâm hiểm hơn nhiều – bởi nó đùa cợt với tính hợp pháp khác, khác với phương pháp bạo lực tác động lên sự hợp pháp và vì thế dễ tổn thương hơn. Khi mạng lưới tấn công vào luật pháp, chính quyền có toàn quyền ngăn chặn hành động của nó, quyền họ đang tích cực sử dụng, còn khi mạng lưới không tấn công, chính quyền tự rơi khỏi vùng hợp pháp.

Chính các nhà chức trách Nga đã mắc phải sai lầm liên quan đến tính hợp pháp kkhi mang các nhân viên thực thi pháp luật đối phó với xã hội dân sự giả đó. Trong lúc, việc thành lập mạng lưới riêng theo chính những hình mẫu như thế, chẳng hạn như các tổ chức xã hội chính trị trẻ, hoàn toàn có thể mô phỏng một cách đối xứng xã hội dân sự, giống như mạng lưới của Hoa Kỳ vậy. Sử dụng mạng lưới riêng này, chuyển tải những suy nghĩ khác, đối trọng, chống lại hoạt động chính trị của những người tự do sẽ giúp bảo vệ tính hợp pháp của chính quyền và giúp hành động hiệu quả hơn.

Phương Tây tuyên chiến thông tin chống Nga

Chính những ý nghĩ, những nhấn mạnh ý thức hệ và sự diễn giải, xoay chuyển bất cứ sự kiện nào theo ý muốn là nền tảng cần thiết bảo đảm hiệu quả tối đa hoạt động mạng lưới. Các hệ tư tưởng phương Tây đã được sử dụng tích cực như thế, phá hủy những nền tảng cố kết xã hội tưởng không thể lay chuyển của chúng ta. Có vô số thí dụ cho việc này. Các cựu binh Chiến tranh vệ quốc còn chưa kịp vượt qua cuộc tấn công của chính quyền Estonia cho khai quật mộ tập thể các chiến sĩ vô danh và tháo dỡ tượng đài các chiến binh Xô viết ở trung tâm Tallinn, thì quốc hội Ba Lan đã thông qua dự thảo xem xét việc dỡ bỏ các tượng đài “chiếm đóng Xô viết”. Ngay sau đó ở Kiev đã khai trương “Bảo tàng chiếm đóng Xô viết”, còn ban lãnh đạo thành phố Salaspils của Latvia đưa ra sáng kiến biến quần thể tưởng nhớ các nạn nhân phát xít trên lãnh thổ trại tập trung cũ thành “tượng đài các nạn nhân chiếm đóng Xô viết”. Cũng chính quyền Estonia đã quyết định xây dựng tượng tài tưởng niệm “nạn nhân chiếm đóng Xô viết” ngay ở nơi trước kia từng là bức tượng Người lính đồng.

Rõ ràng loạt hành động đánh đúng vào một điểm không thể là sự trùng hợp đơn giản. Cũng không phải tình cờ khi tất cả chúng diễn ra cùng vòng đối đầu mới giữa Nga và phương Tây, được phản ánh qua phát biểu nổi tiếng của Vladimir Putin ở Munich, và sau đó trong phát biểu cũng không kém biểu tượng và điển hình hơn ở Valdai.

Kế hoạch triển khai các thành phần của hệ thống phòng thủ tên lửa Hoa Kỳ ở Đông Âu, phá vỡ thỏa thuận mới về quan hệ đối tác giữa Nga và EU, đồng thời những yêu sách về năng lượng của châu Âu đối với Nga và việc thúc đẩy đề tài hôn nhân đồng tính đã trở thành bối cảnh chính trị quốc tế, ít nhiều động viên những kẻ “thiện ý” từ các nước láng giềng với chúng ta viết lại lịch sử Thế chiến thứ hai. Thể hiện sự đồng ý ngầm với nó, phương Tây, theo ý kiến của nhiều nhà quan sát, đã nắm trong tay công cụ tác động chính trị, đạo đức lên nước Nga. Điều họ rất cần trong điều kiện phục hồi ảnh hưởng địa chính trị của chúng ta.

Từ quan điểm này, phản ứng quá mức của phương Tây trước sự phục hồi những khát vọng của Nga như một cường quốc vĩ đại có nghĩa chúng ta đã đi đúng con đường. Từ phía khác, nước Nga phải bằng cách nào đó phản ứng lại sự đối đầu ngày càng tăng của Hoa Kỳ và những vệ tinh châu Âu của họ. Bởi nếu để mọi việc như chính nó đang hiện hữu thì chỉ sau một thời gian, đất nước từng chiến thắng chủ nghĩa phát xít sẽ được “bình đẳng về quyền” với chính nước Đức quốc xã.

Khi đó thì chỉ còn một chút nữa sẽ đến các yêu cầu Nga phải bồi thường cho các nước “nạn nhân chiếm đóng Xô viết”. Trong đó chính chúng ta đã tự trao cho những kẻ gièm pha cái cớ để thực hiện những bịa đặt bẩn thỉu kiểu như khẳng định rằng nước Nga cộng sản và nước Đức Hitler – gần như là một. Một số những ẻ tự do đến nay vẫn kêu gọi ban lãnh đạo Nga công khai “hối lỗi về những tội ác Xô viết”. Chẳng khác nào chính đất nước chúng ta ném bom xuống những thành phố hòa bình như Hoa Kỳ đã làm với Nhật Bản, hay sử dụng vũ khí hóa học và vi trùng vào mục đích hủy diệt cả một đất nước như Hoa Kỳ từng làm với Việt Nam. Hoa Kỳ là kẻ khởi xướng chính trng việc viết lại các kết quả của Thế chiến thứ hai, bởi chính quốc gia này đang là đối thủ địa chính trị chủ yếu của nước Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Valeri Korovin – Thế chiến thứ ba, chiến tranh mạng lưới – NXB Trẻ 2017.

Những thay đổi lớn và triển vọng tình hình Bán đảo Triều Tiên – Phần V


Từ quan điểm của Triều Tiên, mặc dù hiện nay Triều Tiên một lần nữa khẳng định mục tiêu phi hạt nhân hóa, và chủ động thực hiện các biện pháp đóng băng hạt nhân vô điều kiện, thể hiện thành ý rất lớn trong việc từ bỏ hạt nhân, nhưng nhìn về mặt địa lý, lịch sử và tình hình thực tế thì Triều Tiên không thể từ bỏ hạt nhân trong ngắn hạn. Nguyên nhân chính là: Thứ nhất, việc phát triển sở hữu vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là mục tiêu chiến lược nước này kiên trì theo đuổi trong nhiều thập kỷ, sở hữu hạt nhân đã được đưa vào hiến pháp, Triều Tiên đã rất nỗ lực và cái giá phải bỏ ra là rất lớn để có được điều này, vì vậy khi đã sở hữu hạt nhân sẽ không dễ dàng từ bỏ, trừ khi các điều kiện bảo đảm an ninh cho Triều Tiên được đáp ứng một cách đáng tin cậy, mà điều này không dễ dàng có được từ Mỹ. Thứ hai, hiện nay Triều Tiên đã hoàn thành xây dựng “sự nghiệp lịch sử cường quốc hạt nhân”, nếu trong tình huống từ bỏ hạt nhân trong thời gian ngắn mà không có đượoc cam kết an ninh đáng tin cậy của Mỹ thì không chỉ quân bài an ninh bị phá hủy trong chốc lát, mà còn không thể bàn giao trong nội bộ. Triều Tiên tuyên bố rõ ràng trong báo cáo Hội nghị toàn thể lần thứ ba đảng Lao động khóa VII, “chỉ cần không bị đe dọa hạt nhân và khiêu khích hạt nhân, Triều Tiên tuyệt đối không sử dụng vũ khí hạt nhân, cũng sẽ không tiết lộ vũ khí hạt nhân và công nghệ hạt nhân”, rõ ràng là Triều Tiên đã công bố chính sách hạt nhân của mình, Triều Tiên đã tự cho mình là quốc gia hạt nhân. Thứ ba, nhìn vào thái độ của hàng loạt tuyên bố của Triều Tiên, Triều Tiên khẳng định rằng phi hạt nhân hóa là mục tiêu cuối cùng chứ không phải mục tiêu ngắn hạn, kiên trì phương án thực hiện phi hạt nhân hóa đồng bộ và chia giai đoạn, điều này báo hiệu việc từ bỏ hạt nhân của Triều Tiên không phải là một quá trình trong ngắn hạn; Thứ tư, lịch sử đã chứng minh, cho dù Triều Tiên cuối cùng có đạt được thỏa thuận hạt nhân với Mỹ thì quá trình thực hiện cũng tồn tại biến số rất lớn (thỏa thuận thực thi của Mỹ không đáng tin cậy, như hai lần thực hiện thỏa thuận từ bỏ hạt nhân Triều Tiên và Thỏa thuận hạt nhân Iran trước đây, uy tín của Mỹ đáng phải hoài nghi), Triều Tiên sẽ không hoàn thành từ bỏ hạt nhân cho đến khi đạt được mục tiêu an ninh đáng tin cậy, trong khi việc từ bỏ hoàn toàn hạt nhân của Triều Tiên lại là điều kiện tiên quyết để Mỹ trao cho Triều Tiên sự đảm bảo an ninh, đây chắc chắn sẽ là một quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn.

Đồng thời, từ quan điểm của Mỹ, việc Triều Tiên từ bỏ hạt nhân liên quan đến địa vị và địa chiến lược của Mỹ tại Đông Bắc Á. Nếu Triều Tiên thực hiện mục tiêu từ bỏ hạt nhân, sau đó Triều Tiên và Hàn Quốc hoàn toàn hòa giải, bán đảo xây dựng cơ chế hòa bình lâu dài, như vậy, cơ chế đồng minh quân sự giữa Mỹ và Hàn Quốc cũng như việc đóng quân tại Đông Bắc Á của Mỹ sẽ trở thành vấn đề, sự chủ đạo và kiểm soát của Mỹ đối với cục diện chiến lược Đông Bắc cũng sẽ phải đánh dấu một dấu hỏi, địa vị bá quyền của Mỹ sẽ bị ảnh hưởng lớn, e rằng trong giai đoạn hiện nay Mỹ sẽ không chấp nhận viễn cảnh này. Bây giờ Trump đưa ra yêu cầu với Triều Tiên về cái gọi là từ bỏ hạt nhân hoàn toàn trong thời gian ngắn, trong một lần, trên thực tế đây là một cái giá cao đối với Triều Tiên, Triều Tiên đương nhiên khó mà chấp nhận. Hơn nữa, trong tình hình hiện nay khi Triều Tiên đã thể hiện mong muốn phi hạt nhân hóa, Mỹ vẫn tuyên bố sẽ không từ bỏ các biện pháp gây áp lực như các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, sau cuộc gặp mặt đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo Nam – Bắc diễn ra tại Panmunjom Mỹ vẫn khăng khăng tiến hành diễn tập quân sự quy mô lớn và khiến cho Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều xuất hiện nhiều nghi vấn, đồng thời cử tướng lĩnh cứng rắn với Triều Tiên là Đô đốc Harris làm đại sứ Mỹ tại Hàn Quốc, vẫn khẳng định không nới lỏng lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên và nhấn mạnh các lệnh trừng phạt đối với Triều Tiên, chính sách và hành động của Mỹ đáng đặt nghi vấn.

Người ta có thể đặt ra một câu hỏi, nếu Mỹ không thực sự giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên, thì tại sao trong năm nay hai nước thù địch này thực hiện cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên và đưa ra tuyên bố chung, hai bên bắt đầu tương tác thường xuyên? Câu trả lời là, đó là hành động của cá nhân Trump, chứ không phải chiến lược của Mỹ. Là vị tổng thống phi truyền thống đầu tiên kể từ khi nước Mỹ thành lập hơn 200 năm nay, Trump thể hiện tư duy và hành động phi quy tắc, quyết định bất ngờ gặp gỡ Kim Jong-un của ông là quyết định cá nhân chứ không phải là kết quả khi đã thông qua quyết định của tầng quyết sách Nhà Trắng, nếu không sẽ không có chuyện một ngày trước đó Ngoại trưởng Tillerson vẫn kiên quyết điều kiện tiên quyết của cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều và sau đó đột nhiên từ chức, sau đó nhiều lần xuất hiện hiện tượng không bình thường là Trump bày tỏ quan điểm trong vấn đề Triều Tiên trước, sau đó Nhà Trắng mới bổ sung thêm. Tất nhiên đó là do tính cách độc đoán, tự kiêu, khác người của Trump. Nhưng hành vi và mục tiêu của Trump sau này không chỉ bị phê bảo thủ truyền thống kìm hãm, mà cũng sẽ bị cản trở bởi các cơ quan chính phủ (trong thực tế đã thể hiện điều đó). Điều này sẽ càng đem đến biến số lớn cho quan hệ Mỹ – Triều và vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo bởi tính bất ổn và khó đoán định của Chính quyền Trump.

2/ Hy vọng giải quyết tương lai của vấn đề hạt nhân Triều Tiên

Giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên sẽ là một quá trình phức tạp lâu dài đầy mâu thuẫn. Trong tình hình chiến lược toàn cầu và mục tiêu chiến lược Đông Á của Mỹ không thay đổi, Mỹ chắc chắn sẽ tiếp tục duy trì quyền chủ đạo và sự kiểm soát đối với an ninh chính trị Đông Bắc Á, vấn đề hạt nhân Triều Tiên về cơ bản khó mà giải quyết. Nhưng lịch sử luôn phát triển và sự vật luôn thay đổi, cùng với diễn biến của tình hình chiến lược thế giới và cục diện địa chính trị Đông Bắc Á, khi thực lực Mỹ khó mà duy trì mục tiêu chiến lược toàn cầu của nước này mà buộc phải rút khỏi Đông Bắc Á, vấn đề hạt nhân Triều Tiên mới có thể giải quyết triệt để thực sự.

Hiện nay, tình hình chiến lược thế giới và trật tự quốc tế đang ở vào giai đoạn điều chỉnh sâu sắc nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, thế giới đang hướng đến một bố cục và trật tự hoàn toàn mới trong tương lai, mà Mỹ chính là nguyên nhân đầu tiên của việc thay đổi này. Bố cục và trật tự quốc tế kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai mặc dù trải qua sự đối kháng cao độ giữa hai cực trong Chiến tranh Lạnh cũng như những tác động lớn của việc kết thúc Chiến tranh Lạnh nhưng về tổng thể vẫn giữ được sự ổn định cơ bản. Tuy nhiên, cùng với sự suy yếu của Mỹ, phương Tây thì chìm nghỉm, và sự trỗi dậy của các nền kinh tế mới nổi, diễn biến của tình hình quốc tế đang ở nút giao nhau lịch sử từ biến đổi về lượng đến biến đổi về chất, sau 10 năm nữa, tổng lượng kinh tế của các nước đang phát triển sẽ vượt qua tổng lượng kinh tế của các nước phát triển, cục diện quốc tế sẽ có sự thay đổi bước ngoặt mang tính lịch sử. Hiện nay Mỹ không chỉ thúc đẩy chủ nghĩa bảo hộ thương mại, mà còn thực hiện hàng loạt hành động đơn phương, liên tục rút khỏi nhiều cơ chế và thỏa thuận đa phương của quốc tế, điều này không chỉ có nghĩa là quyền lợi của Mỹ trong các cơ chế và thỏa thuận này bị suy yếu, cũng có nghĩa là sự thoái thác trách nhiệm và nghĩa vụ quốc tế của Mỹ, thậm chí ngay cả trách nhiệm bảo vệ những đồng minh quan trọng nhất để duy trì địa vị bá quyền của mình Mỹ cũng muốn giảm bớt, điều này cho thấy sự suy yếu của địa vị bá quyền cũng như sự “mệt mỏi” trong việc “lãnh đạo” thế giới của Mỹ. Sự phát triển của bố cục và tình hình này chắc chắn sẽ phản ánh trong cục diện địa chính trị. Cùng với việc cục diện này tiếp tục diễn biến, hy vọng về một giải pháp hòa bình vấn đề hạt nhân Triều Tiên cũng ngày càng lớn.

Đương nhiên, cho dù dưới cục diện địa chính trị Đông Á hiện nay, dưới sự tác động của các nhân tố tổng hợp như lịch sử, môi trường và thực tế… cùng với sự phát triển của tình hình, cũng có khả năng Triều Tiên chọn tự nguyện từ bỏ hạt nhân. Trong mục “Tình hình và triển vọng của bán đảo Triều Tiên” của “”Báo cáo chính trị và an ninh toàn cầu” năm 2018 đã nêu ra “một phương án khả thi khác để giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên trong hòa bình là Triều Tiên tự nguyện từ bỏ hạt nhân, điều kiên tiên quyết của phương án này là Triều Tiên đưa ra một lựa chọn chiến lược thay đổi đường lối phát triển quốc gia, đó là đi theo con đường cải cách mở cửa để thực hiện hội nhập với thế giới, tự bảo vệ an ninh và phát triển”. Năm 2018, Triều Tiên có sự điều chỉnh đáng kể về phương hướng phát triển và chính sách quốc gia, sự thay đổi và điều chỉnh này về tổng thể là không thể đảo ngược, như vậy, khả năng Triều Tiên tự nguyện từ bỏ hạt nhân trong tương lai càng trở nên thực tế hơn, đáng để kỳ vọng. Để làm cho khả năng này biến thành hiện thực, không chỉ phụ thuộc vào sự kiên định trong điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của các nước khác đặc biệt là các nước xung quanh đối với việc điều chỉnh chính sách của Triều Tiên, phải để Triền Tiên có cảm giác thắng lợi và cảm giác hài lòng đối với sự lựa chọn đường lối và chính sách này, khiến Triều Tiên tự tin tiếp tục đi trên con đường này, như vậy, khi tình hình phát triển đến một mức độ nhất định, Triều Tiên có khả năng sẽ lựa chọn con đường tự nguyện từ bỏ hạt nhân.

(còn tiếp)

Nguồn: www.iwep.org.cn

CVĐQT – số 03/2019