Sự thay đổi trong quan hệ Mỹ – EU: Nguyên nhân và triển vọng – Phần đầu


Sau khi Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ, giới học thuật quốc tế đổ lỗi sự xấu đi của quan hệ Mỹ – Liên minh châu Âu (EU) cho chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” mà ông thực hiện. Tuy quan điểm này là chính xác, nhưng cũng không hoàn toàn như vậy. Vì sau khi trở thành nước lớn có thực lực hùng mạnh nhất và bị tổn thất ít nhất trên thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ luôn tìm cách bảo vệ địa vị số một toàn cầu của mình. Cho dù đến thời Tổng thống Barack Obama, khi phát biểu tại Học viện Quân sự Mỹ tại West Point tháng 5/2014, ông còn nhấn mạnh: “Tôi không thể chấp nhận việc Mỹ trở thành nước đứng thứ hai thế giới, Mỹ là quốc gia không thể thiếu, đây là điểm giới hạn của chúng ta, Mỹ phải luôn đứng ở vị trí lãnh đạo, nếu chúng ta không lãnh đạo, thì không có ai có thể lãnh đạo. Trong 100 năm tới, Mỹ vẫn phải là nước đứng đầu thế giới”. Trên thực tế, việc quan hệ Mỹ – EU liên tục thay đổi trong hơn 70 năm sau chiến tranh phụ thuộc vào cán cân sức mạnh giữa hai bên.

Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và EU hiện nay được bắt nguồn từ liên quan các nước như Mỹ, Anh… để đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của phát xít Đức, Italy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc Pháp khôi phục đất nước và được xác định là một trong năm nước chiến thắng, cũng như việc Pháp khởi xướng khởi động tiến trình nhất thể hóa châu Âu bao gồm cả các nước thua trận như Đức, Italy…, để cùng vươn lên, bảo vệ nền hòa bình của châu Âu sau chiến tranh, trong tình hình cùng đối diện với mối đe dọa từ Liên Xô, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – EU dần được hình thành.

Trong thời kỳ diễn ra Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, quan hệ đồng minh Mỹ – EU do Mỹ đứng đầu trở thành chỗ dựa chủ yếu để Mỹ tranh giành quyền chủ đạo thế giới với Liên Xô, tìm cách chủ đạo trật tự kinh tế – chính trị thế giới. Các nước trng lục địa châu Âu như Pháp, Đức, Italy… đều bị tổn thất nặng nề do chiến tranh, để nhanh chóng khôi phục, buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của Mỹ về kinh tế, sự bảo vệ của Mỹ về an ninh, hình thành quan hệ song phương “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”. Do luôn kề vai sát cánh cùng Mỹ tác chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nên Anh có công lao rất lớn, và Vương quốc Anh ngăn cách biển với lục địa châu Âu, tuy cùng chịu nhiều tổn thất, nhưng về tổng thể vẫn tương đối nhỏ. Thủ tướng Anh khi đó Winston Churchill tuyên bố: “Tuy Anh ở cùng với châu Âu, nhưng không thuộc châu Âu”. Điều này không những trở thành “chuẩn mực” của các nhiệm kỳ Chính phủ Anh sau này trong chính sách đối với châu Âu, mà còn là cơ sở để Mỹ và Anh xây dựng quan hệ đối tác đặc biệt.

Đầu những năm 1990, cùng với việc Liên Xô tan rã, tình hình khu vực Trung – Đông Âu thay đổi đột ngột, quan hệ Mỹ – EU cũng bắt đầu xuất hiện thay đổi do cán cân sức mạnh tạo ra. Với tư cách là siêu cường duy nhất, trong nhiệm kỳ Bush (cha), Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy chiến lược toàn cầu để cố gắng ngăn chặn việc lại xuất hiện các quốc gia hay tập đoàn các nước giống như Liên Xô trước đây, có thể tạo thành thách thức hoặc mối đe dọa đối với địa vị lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, với mục đích là độc chiếm thế giới, kéo dài cho đến ngày nay. Cái gọi là “tập đoàn các nước” thực chất là chỉ EU. Tháng 9/2001, khi thực hiện Kế hoạch thế kỷ mới do Chính quyền Bush (con) vạch ra, các phần tử có tư tưởng chủ nghĩa bảo thủ mới của Mỹ đã tuyên bố một cách trắng trợn rằng: “Mỹ nên khuyên ngăn tất cả các nước phát triển không nên thừa nhận địa vị lãnh đạo của Mỹ, cũng đừng hy vọng phát huy vai trò quan trọng ở khu vực”.

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình thúc đẩy nhất thể hóa châu Âu và sự thống nhất của nước Đức, sức mạnh của EU tăng lên, trở thành khối có sức mạnh tổng hợp lớn nhất, mức độ nhất thể hóa cao nhất trên thế giới, phát huy vai trò ngày càng lớn trong các công việc của thế giới. Tổng lượng kinh tế của EU đã đuổi kịp Mỹ, về chính trị, tổ chức này cũng không cam chịu địa vị “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”, tìm kiếm địa vị ngang bằng với Mỹ. Cho dù Mỹ xâm lược Iraq hay mở rộng chức năng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Mỹ cổ xúy thế giới không có hạt nhân hay rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, EU do Đức đứng đầu đều có quan điểm trái ngược với Mỹ.

Mục tiêu chiến lược của Mỹ và EU – một bên muốn độc chiếm thế giới, bá quyền bền vững; một bên muốn thể hiện năng lực, mở rộng thế lực – là khác nhau, làm cho mâu thuẫn và xung đột giữa lợi và hại của hai bên ngày càng gay gắt. Tuy “đồng minh” tồn tại trên danh nghĩa, nhưng hai bên đã chuyển hóa từ đồng minh thành đối thủ cạnh tranh, đều đặt lợi ích của mình lên trên quan hệ đồng minh. Hai bên vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình liên kết để chủ đạo trật tự quốc tế.

Việc quan hệ Mỹ – EU xuất hiện cục diện mâu thuẫn gay gắt, bất đồng nổi rõ, chỉ trích lẫn nhau, đối lập công khai sau khi Donald Trump lên làm tổng thống là do ân oán tích lũy trong nhiều năm qua tạo thành. Từ ý nghĩa nhất định, cũng là ảnh hưởng còn sót lại của việc Anh rời khỏi EU và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Xuất phát từ lợi ích cá nhân, trước tiên Chính quyền Obama cùng các nước EU do Đức, Pháp giữ vai trò chủ đạo, tích cực can dự vào cuộc trưng cầu ý dân của Anh, ngăn cản nước này rời khỏi EU; sau khi không thành công, lại cùng với các nước EU ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ Hillary Clinton. Khi Donald Trump thắng cử, Obama đích thân thuyết phục Angela Merkel tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ thủ tướng Đức tiếp theo, còn nói rằng thế giới tự do của phương Tây cần có bà, ông không thể tìm được đối tác nào ổn định hơn và đáng tin cậy hơn Merkel. Nhiều năm qua, Donald Trump luôn nhận định các nước đồng minh như Đức đã lợi dụng Mỹ, và trong bài phát biểu nhậm chức có nói sẽ quyết tâm lấy lại tất cả, điều này đang càng thúc đẩy Donald Trump quyết định đi con đường phản đối Obama. Khi vừa lên cầm quyền, ông đã ủng hộ Anh rời khỏi EU, tập trung công kích Đức, mỉa mai chính sách của EU đối với châu Âu.

Việc quan hệ đồng minh Mỹ – EU liên tục căng thẳng, sắp đi đến rạn nứt có những yếu tố chính sau:

1/ Mối đe dọa an ninh chung tan biến, làm cho cơ sở tồn tại của liên minh quân sự Mỹ – EU bị tác động

Ngày 13/11/2016, trước khi Donald Trump đắc cử và trở thành tổng thống, cựu Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger từng nói với phóng viên của tờ Sankei Shimbun (Nhật Bản) rằng: “Rất nhiều quan hệ đồng minh được tạo ra trong thời Liên Xô được coi là mối đe dọa rất lớn. Hiện nay đã tiến vào thời đại mới, nội dung của mối đe dọa đã khác. Chỉ từ điểm này có thể thấy cần phải xem xét lại tất cả các quan hệ đồng minh”. Ông đặt lợi ích thực tế của Mỹ lên trên quan hệ đồng minh có cùng quan niệm giá trị, xem xét quan hệ Mỹ – EU dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá. Từ trước đến nay, Mỹ luôn áp dụng sách lược “chia để trị” đối với EU, khi vừa lên cầm quyền Donald Trump đã chĩa mũi dùi công kích vào Đức, phê phán Merkel đã phạm phải sai lầm rất lớn trong vấn đề người nhập cư. EU đã trở thành công cụ của Đức, Đức không tăng ngân sách quốc phòng nhưng lại đầu tư vào đường ống khí đốt Dòng chảy Phương Bắc 2 của Nga… Mục đích của những hành động này là muốn lôi kéo một số nước ở Trung-Đông-Âu, thậm chí là Nam Âu vốn bất mãn với Đức trong các công việc của châu Âu, cơ bản là không hài lòng đối với công việc quan trọng của EU do Đức chủ đạo. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là cố gắng kiềm chế tình hình Đức tái trỗi dậy, một lần nữa trở thành nước đứng đầu châu Âu. Trong bài phát biểu gần đây của mình, Thủ tướng Merkel cho rằng “Thời gian để chúng ta có thể hoàn toàn dựa vào người khác đã kết thúc ở mức độ nào đó, người châu Âu phải nắm lấy vận mệnh của mình”. Đây không phải là điều ngẫu nhiên, nó cho thấy sự biến mất của mối đe dọa chung, quan hệ đồng minh cũng khó có thể tiếp tục.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cfisnet.com – 14/05/2019

TLTKĐB – 05/06/2019

Advertisements

Truyền thông Mỹ – Phần cuối


4/ Các vụ bê bối VOA

Tuyên truyền thiên lệch và thường xuyên bóp méo, xuyên tạc tin tức. VOA bị phản đối khắp nơi chứ không chỉ ở Nga.

VOA bị đòi bồi thường $150 triệu vì tuyên truyền bịa đặt phản tự do

Larry Klayman, người sáng lập trang mạng Judicial Watch và FreedomWatch USA đã kiện VOA năm 2010 đòi bồi thường 150 triệu USD cùng với nguyên đơn Persian News Network (PNN). Vụ việc bị media Mỹ ỉm đi nên không mấy ai biết đến.

Điều trớ trêu, theo tuyên bố của Larry Klayman và cũng là nguyên nhân theo kiện, VOA đã “tuyên truyền chống Mỹ” theo tu chính Hiến pháp 1, 4, 5 và 14. Hậu quả làm nguy hại cho giới bất đồng Iran khi đối kháng chế độ và mở rộng tự do ở đó. Ms. Sataki, một nữ chủ chốt của PNN đã bị Iran trừng phạt vì quan điểm cá nhân khiến tổn hại sức khỏe. PNN thực chất là vỏ bọc của VOA để phát tin tức ở Iran.

Dĩ nhiên Klayman chẳng bao giờ thắng kiện, nhưng vụ kiện đã làm sáng tỏ vai trò của VOA trong các bạo loạn ở Iran, đám cháy dân chủ bùng lên ở đó, nhiều người đối lập đã phải tháo chạy trong suốt 31 năm và giờ sống ở Mỹ.

VOA bị cấm phát sóng ở Campuchia vì ‘bịa đặt’

Hoạt động VOA nhộn nhạo dịp bầu cử Quốc hội Campuchia 2013 đã bị ngăn chặn. Không có trạm phát sóng ở đây nhưng VOA được chuyển tiếp qua 1 số đài địa phương. Giới chức Cam thẳng thắn nói VOA đã vi phạm luật báo chí, và “tất cả các Đài phát thanh FM phải dừng các chương trình chuyển tiếp các Đài phát thành quốc tế tiếng Khmer trong thời gian 31 ngày, tính từ trước ngày bầu cử.”

Lệnh cấm bao gồm cả VOA, RFA, RFI và đài Úc.

Lãnh đạo BBG, Jeffrey Shell phủ nhận thông tin của họ là xuyên tạc, bịa đặt, rằng họ đang làm tốt việc đăng tải “tin tức trung thực” cho nhân dân Cambodia.

Nhưng ông ta khó phủ nhận, bạo lực bùng lên từ các phe phái chống đối như đảng Giải cứu dân tộc thành lập từ đảng Sam Rainsy và đảng nhân quyền, hàng ngày nghe ngóng tin tức loan truyền trên VOA và RFA. Đài Beehive ở đây đã tăng cường phát sóng VOA và RFA trong những ngày bạo loạn.

Chính phủ Cam cho biết: Những tuyên bố bịa đặt đã làm gia tăng căng thẳng, họ là công cụ chính trị phục vụ lợi ích phe đối lập và rất nhiều tin tức của họ là giả mạo và nhào nặn. Phe chống đối đảng Giải cứu dân tộc “được chống lưng bởi truyền thông nước ngoài, đặc biệt là VOA và RFA… Trước và sau bầu cử, 2 đài này, với sự ủng hộ trực tiếp của CP nước ngoài đã phát sóng bịa đặt tin tức, vi phạm đạo đức truyền thông.”

VOA bị tấn công ở Azerbaijan

Năm 2014, VOA ở Azerbaijan bị cảnh sát lục soát trụ sở và đóng cửa. Biện hộ cho mình, tổng biên tập VOA chi nhánh Azerbaijan Nenad Pejic nói chính quyền sở tại đàn áp báo chí, đánh đập phóng viên của họ và lục soát văn phòng không có lý do.

Tuy nhiên, phát biểu với báo giới, ngoại trưởng Azerbaijan, Hikmet Hajiyev cho biết: VOA đã “cổ vũ chủ nghĩa ly khai, xâm lược và chiếm đóng khu vực Nagorno-Karabakh”.

Đó là VOA đã tung tin hoàn toàn bịa đặt về việc chuyển giao khu vực đầy bất ổn này, cũng như trục xuất người tị nạn, tái định cư người bản xứ. Bạo loạn đã bùng phát ở Bacu.

Hikmet Hajiyev: VOA luôn luôn trung thành với nguyên tắc khách quan và công bằng phải đưa tin 1 cách khách quan về tình hình người tị nạn Azerbaijan và tái định cư!

Một số phóng viên đưa tin bịa đặt đã bị bắt giữ và đánh đập. Cũng như ở Iran, tự VOA đặt phóng viên của họ vào tình trạng nguy hiểm.

5/ Vấn đề chính phủ Mỹ cấp tiền cho các media “độc lập”!

Trong khi buộc tội các quốc gia không có tự do báo chí. Thì CP Mỹ công khai cấp tiền cho các MSM “độc lập”, cho báo chí tự do, biến họ thành vật lệ thuộc, cái loa tuyên truyền cho Mỹ.

Radio Liberty (RL) là 1 ví dụ. Đài tự do này có trụ sở tại Praha CH Czech sau khi chuyển đến đây từ Munich và tự tuyên bố mình là tổ chức phi lợi nhuận, tự do, trung thực và khách quan. Liberty không quan tâm khối phương Tây, họ chỉ nhằm vào đông Âu, Trung Á và Trung Đông.

Trên trang web của họ công khai nguồn tài trợ từ Mỹ: RL được cấp tiền bởi QH Mỹ qua BBG… ngoài RL còn có cả VOA, RFA, Alhurra, Radio Sawa, và Radio Marti.

Không ngạc nhiên khi vị chủ tịch BBG, Jeffrey Shell cũng là chủ tịch ban giám đốc Liberty.

Và như vậy mọi biện hộ tự do, trung thực, khách quan hay phi lợi nhuận… đều vô nghĩa! Điển hình ở sự kiện Ukraina, Liberty tự do xuyên tạc, nhào nặn, bóp méo tin tức theo lối bài Nga rõ rệt. Không ai nghi ngờ Radio Liberty có 1 lịch sử dài chống Cộng hung hăng và cuồng tín. Còn ngày nay là “phổ biến dân chủ, tự do và phát triển truyền thông độc lập” – đó là chính sách của chính phủ Mỹ.

Là khôi hài khi chỉ trích MSM các nước được cấp kinh phí ngân sách, thì chính CP Mỹ và QH cấp kinh phí ngân sách không chỉ cho VOA, RFA, RL mà rất nhiều đài báo, các nhà báo “độc lập”, cho đến các trang mạng đối lập khắp thế giới.

Tuy nhiên, trường hợp công khai như Liberty là hiếm, hầu hết các khoản tiền Mỹ cung cấp cho các media nước ngoài đều đi theo đường vòng, qua tay các tổ chức NGO. Một khoản lớn khác dưới hình thức HĐ quảng cáo mà có thể là trá hình. Ai cũng biết điều này, nhưng không thể ngăn chặn.

Trong minh họa về kênh TV tư nhân đối lập đình đám ở Nga “Mưa” từng được nhắc đến ở đây; dưới là minh họa 2 nguồn thu chính của Mưa. Không có chúng, Dozhd đã không thể tồn tại, thậm chỉ là không thể ra đời.

Vấn đề chính phủ Mỹ cấp tiền cho các media “độc lập”! Bài báo của Russia Insider cho biết thêm chi tiết của vấn đề Mỹ cung cấp tiền cho truyền thông đối lập hải ngoại dưới vỏ bọc phát triển truyền thông tự do, độc lập.

Freedom House và NED là đối tác lâu đời của CIA, như Robert Parry giải thích, “Freedom House và NED nhấn mạnh cam kết của họ về tự do tư tưởng và dân chủ, nhưng cả 2 lại hợp tác với hoạt động tuyên truyền do CIA tổ chức thập kỷ 1980, theo tài liệu công bố bởi thư viện Ronald Reagan.”

NED có truyền thống quan hệ với các “nhà hoạt động” đối lập nước ngoài theo cách thay thế vai trò của CIA. Trên trang web NED tự bạch: Các nhà làm chính sách Mỹ phải viện đến các phương tiện bí mật, ngấm ngầm gửi các cố vấn, thiết bị và cấp tiền hỗ trợ báo chí và các đảng phái bị bao vây ở châu Âu. Khi nó bị phát giác vào cuối những năm 1960 rằng một số “tổ chức tự nguyện tư nhân Mỹ” (American PVO) đã nhận được tài trợ bí mật từ CIA để tiến hành cuộc chiến tư tưởng trên các diễn đàn quốc tế, chính quyền Johnson đã kết luận rằng các tài trợ như thế phải chấm dứt và đề xuất thiết lập “một cơ chế công – tư” để tài trợ cho các hoạt động ở nước ngoài một cách công khai.” Tuy vậy, không vì thế mà CIA dừng tuyên truyền.

NED ra đời từ “cơ chế công-tư” như vậy. Họ tự mô tả mình là NGO mặc dù “được cấp nhiều tiền từ QH Mỹ” để phân phối cho các tổ chức, cá nhân vì mục đích thúc đẩy dân chủ hải ngoại. Người ta biết rõ, suốt 1 thời kỳ dài Mỹ chuyên tổ chức và tài trợ các cuộc lật đổ chính phủ dân chủ được bầu cánh tả, dựng các thể chế độc tài khắp thế giới, cho đến “Mùa xuân Arab” hiện nay, gió mới đổi chiều. Do vậy mà cái gọi là “thúc đẩy dân chủ” rất lố bịch.

Trung tâm hỗ trợ truyền thông quốc tế (Center for International Media Assistance – CIMA) của NED từng công bố 1 số báo cáo về tài trợ “truyền thông độc lập” nước ngoài. Báo cáo bao gồm cả ai tài trợ, nhằm vào lĩnh vực nào: hỗ trợ xuất bản, đào tạo phóng viên, chiến dịch truyền thông, cải thiện môi trường hợp pháp cho truyền thông, quản trị truyền thông… Ví dụ báo cáo năm 2007:

– Tài trợ Mỹ cho phát triển truyền thông quốc tế 2006… vượt quá $142 triệu;
– Tài trợ chính phủ Mỹ có tổng gần $69 triệu;
– Tài trợ từ NGO NED và Viện hòa bình Mỹ – tổng $13 triệu.

Ba tổ chức chính phủ Mỹ đóng vai trò quan trọng nhất trong tài trợ nước ngoài là:

– Cơ quan phát triển quốc tế – U.S. Agency for International Development (USAID);
– Văn phòng dân chủ – Department of State/Bureau of Democracy;
– Nhân quyền và lao động – Human Rights and Labor;

Năm 2006, 2 tổ chức đầu tài trợ $49,684 triệu và Nhân quyền lao động tài trợ $11,8 triệu. Cùng năm Viện xã hội mở tài trợ $40 triệu, quĩ John S. & James L. Knight $7 triệu.

Theo Bộ ngoại giao Mỹ, kế hoạch chiến lược của USAID 2007-2012 là để “phát triển truyền thông tự do bằng cách giúp đỡ để thành lập và phát triển truyền thông độc lập…”

USAID đóng vai trò chính trong việc cấp tiền cho truyền thông độc lập hải ngoại, đặc biệt trong khối cựu XHCN: “Như 1 kết quả của các nỗ lực trong các nước hậu Xô Viết để chuyển đổi truyền thông nhà nước kiểm soát thành truyền thông độc lập, châu Âu và Á-Âu là chỉ một trong bốn văn phòng địa lý của USAID với chuyên gia phát triển truyền thông được chỉ định.” (Ibid.)

Các tu từ sử dụng trong báo cáo của họ là thuần túy tuyên truyền và thậm chí không bận tâm đến tính hợp lý. Nó nói rõ ràng rằng nhà nước Mỹ đang đầu tư tiền bạc và nguồn lực “để chuyển đổi truyền thông nhà nước kiểm soát thành truyền thông độc lập”. Nếu nó được tài trợ bởi nhà nước Mỹ, thì làm thế nào để gán cho chúng là độc lập?

Có 1 số lý do để báo cáo tương tự như thế năm 2010, tu từ “độc lập” đã bị bỏ đi khi nói đến truyền thông. Báo cáo này cho thấy, các khoản tiền được cung cấp trong giai đoạn 2005-2010 đã tăng đáng kể:

“Trong 5 năm qua, Bộ Ngoại giao Mỹ, USAID đã dành hơn một nửa tỷ đô la để hỗ trợ phát triển truyền thông quốc tế… Ngân sách Bộ Ngoại giao và USAID cho đến năm tài chính 2010 đạt tổng cộng hơn $47,9 tỷ. Trong số tiền này, ít hơn 0,3% hay $140,7 triệu đã được chi cho những nỗ lực phát triển truyền thông. Tuy nhiên, đó là gia tăng chi tiêu 36% hay $37,3 triệu vào truyền thông so với trước hay chi là $68,9 triệu 5 năm trước.”

Chính phủ Mỹ đã cấp trực tiếp vào truyền thông Nga, năm 2011-2012, ví dụ từ USAID $2,54 triệu trong cái gọi là “Báo in độc lập ở Nga”, các khách hàng là FNE và Finformpolicy Dvl.

Có vẻ là ít ỏi, nhưng nên nhớ USAID là cơ quan chính phủ. Hầu hết tiền đã được cấp qua các tổ chức phi chính phủ để che giấu nguồn gốc. NED và Freedom House, các tổ chức NGO Mỹ khác chịu trách nhiệm về công tác tuyên truyền và lật đổ chính trị. Các tổ chức này chắc chắn không bao giờ bỏ tiền trợ cấp cho các hãng tin phản đối truyền thông chính thống phương Tây.

Báo cáo năm 2012 của NED, cho thấy đã cấp trên $4,6 triệu vào Nga trong chương trình “tự do thông tin” bên cạnh những khoản khác.

Ở các quốc gia bị xâm lược, chiếm đóng như Afghanistan, Iraq, Libya. Tiền của Mỹ bỏ vào “truyền thông tự do, độc lập” là rất đáng kể. Khi tiền của họ đến sau khi đã gây chiến bất hợp pháp, giết chóc và hủy hoại đất nước. Một ví dụ nữa, nếu không phải là tuyên truyền và kiểm soát truyền thông, thì người Mỹ có thể giải thích như thế nào về “thúc đẩy dân chủ”?

Người dịch: Thời Thổ Tả

Nguồn: CIMA 2010 report

Truyền thông Mỹ – Phần đầu


1/ Giới thiệu

Chúng ta nghe nói nhiều đến truyền thông Mỹ. Tuy nhiên, khó hình dung cỗ máy khổng lồ và phức tạp này có cấu trúc ra sao. Đó là đề cập đến Truyền thông đại chúng (Mainstream media-MSM hay Mass media) – sau đây gọi là MSM.

Trong truyền thông Mỹ, có cả truyền thông nhà nước, chính phủ và truyền thông tư nhân. Sẽ là sai lầm khi cho rằng truyền thông tư nhân là khách quan, là trung thực, v, v. Đơn giản nhất, bất cứ ai đều có những ràng buộc và ít nhất, hãng tin tư nhân phải nuôi sống bộ máy của họ, phóng viên phải có tiền trang trải đời sống… Do vậy, không phân biệt tư nhân hay nhà nước, bên cạnh việc đưa tin thông thường, tất cả truyền thông Mỹ đều là công cụ truyền bá ý tưởng, phục vụ lợi ích Mỹ, nuôi dưỡng ý tướng nhân quyền dân chủ Mỹ, định hình lối sống Mỹ: TV, phim Hollywood, nhạc jazz, blue, rock và rap, xe hơi, đồ ăn nhanh, gà rán, fast-food, Coca-Cola, thẻ tín dụng, quần jeans và internet – đó là tất cả trào lưu văn hóa hiện đại. Có vô vàn ví dụ về việc truyền thông tư nhân Mỹ hợp tác để phổ biến chính sách xâm lược Mỹ, hay nhào nặn, xuyên tạc và bịa đặt tin tức để vừa thuận chính sách Mỹ.

Người Mỹ có nhiều nét đặc biệt, quần chúng Mỹ sẵn sàng tin tưởng vào bất cứ thứ gì được đưa ra trên MSM, ngay cả khi có vỡ lở, họ cũng chẳng quan tâm. Họ tự hào là quốc gia tiên tiến, xuất xứ đa dạng. Bất cứ ai, thuộc chủng tộc nào, văn hóa nào được ném vào cái lò này cũng đều biến thành công dân tự do, bình đẳng của quốc gia vĩ đại, thịnh vượng, đầy năng động và sức mạnh.

Tuy nhiên, niềm tự hào “được Chúa chọn” này chẳng qua là tự trào. Trong tất cả các đánh giá theo tiêu chuẩn phương Tây, Mỹ lại không đứng đầu rất nhiều tiêu chí quan trọng, kể cả tự do dân chủ. Sau vụ khủng bố 911, hầu hết người Mỹ đều sẵn sàng đánh đổi tự do dân chủ lấy an ninh an toàn. Ngân sách an ninh quốc phòng tăng vù vù kể từ đó.

Quyền lực Mỹ vẫn tiếp tục vẽ ra hình ảnh nước Mỹ và thế giới theo cách “biệt lệ” của họ. Để làm được điều này, dĩ nhiên, vai trò chính vẫn là truyền thông.

2/ Truyền thông Mỹ

Truyền thông Mỹ là 1 cấu trúc đồ sộ, độc nhất trên thế giới về số lượng, tính đa dạng hay khả năng kỹ thuật. Nhưng chỉ có 3 hãng tin lớn là Associated Press (AP), United Press International (UPI), Bloomberg Business News (BBN) và vài chục hãng nhỏ ít biết khác.

Phim ảnh: Gần như cả thế giới xem phim Mỹ đủ các thể loại: phiêu lưu, hài hước, ca nhạc, hoạt hình hay kịch nghệ “xà phòng”. Họ hầu như độc chiếm vị trí quan trọng khắp mọi nơi trên các chương trình TV toàn thế giới hay địa phương.

Truyền hình: ABC, CBS, NBC, Fox, CNN, MTV, HBO; Ba hãng truyền hình phổ biến nhất và có ảnh hưởng nhất gồm 3 kênh quốc gia: ABC, CBS và NBC, 3 ông lớn này đã thống trị vài thập kỷ. Sau đó xuất hiện mạng lưới truyền hình cáp “Fox” cạnh tranh với hàng trăm kênh. Hầu hết các hãng truyền hình Mỹ đều sống bằng quảng cáo cho nên cũng thường xuyên có nhiều kênh ra đời và chết phụ thuộc vào lượng khán giả.

Phát thanh: Trái với nhận định TV sẽ giết chết loại hình radio cổ lỗ. Mạng lưới phát thanh Mỹ vẫn đồ sộ gồm 10 nghìn trạm phát thanh radio. Trong các thành phố lớn, họ đua tranh phục vụ lượng khán giả bình dân, phát sóng tin tức thời sự, thể thao và âm nhạc đủ các thể loại.

Viện dẫn tự do ngôn luận, nhiều đài radio phát các chương trình cực đoan quá khích và nặng quan điểm tôn giáo.

Không như TV phải tự kinh doanh và sống bằng quảng cáo, radio Mỹ một phần được cấp kinh phí từ chính phủ các bang. Nhưng cũng rất nhiều đài có tài trợ tư nhân. Hãng radio lớn nhất nhì Mỹ là đài National Public Radio có 600 trạm phát sóng khắp cả nước nhằm vào giới khán giả trẻ, nhưng chương trình của đài rất ít quảng cáo thương mại hóa.

– National Public Radio – đài phi lợi nhuận phát sóng tin tức, âm nhạc, chương trình văn hóa.
– Clear Channel- đài thương mại lớn nhất có 1200 trạm phát sóng.
– Infinity – 180 trạm.
– NBC có số lượng lớn các trạm radio dọc 2 bờ biển Atlantic và Pacific.

– VOA hay Voice of America là cơ quan phát thanh quốc tế của chính phủ Mỹ.
– Đài Liberty hay nhóm Châu Âu tự do, châu Á tự do (RFE, RFA) chủ yếu nhằm vào các nước cựu XHCN và Trung Đông. Đài này được cấp tiền từ Quốc hội Mỹ.

Báo chí: Không như châu Âu, Mỹ hầu như không có báo quốc gia. Mặc dù 1 số tờ như New York Times và Washington Post được biết đến trên toàn thế giới thì hầu hết trong số hơn 3500 tờ báo ngày chỉ phục vụ đọc giả ở 1 số bang và thành phố lớn, trong đó riêng AP đã là 1550 tờ.

Khi Internet trở thành phổ biến, hầu hết các tờ báo lớn cũng sớm tham gia loại hình truyền thông mạng, đó cũng là lúc nhiều hãng tin chuyển sang đa phương tiện. Cho đến năm 2003, 60% các báo lớn đã phổ biến trên World Wide Web và hiện nay là hơn 5000 trang mạng tin tức.

Có thể điểm tên các tờ báo nhiều đọc giả nhất: Washington Post, New York Times, USA Today, Christian Science Monitor, Wall Street Journal, Los Angeles Times, Boston Globe, New York Post, Philadelphia Inquirer, Baltimore Sun, Newsweek, Time magazine (tập san chính trị tuần).

3/ VOA ra đời và sứ mệnh

VOA: ra đời năm 1942 với mục đích ban đầu là chống tuyên truyền Đức quốc xã, sau WW-II, họ phát sóng đến 40 thứ tiếng và phủ sóng trên nhiều quốc gia.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh cũng như ngày nay, VOA chủ yếu tuyên truyền nhằm vào Liên Xô và khối XHCN, lúc này, nó bị cấm phát sóng trên đất Mỹ, là bởi người ta sợ công dân Mỹ bị ảnh hưởng vì chính những tin tức méo mó, lệch lạc của VOA. Đó là năm 1948, khi QH Mỹ đưa ra đạo luật Smith-Mundta cấm VOA, đài “tự do” và một số đài phát thanh khác phát sóng cho công dân Mỹ. Mãi đến năm 2003, đạo luật này mới bị bãi bỏ.

Trái với niềm tin phổ biến rằng VOA là tự do, đài này công khai phục vụ giới cầm quyền Mỹ và phổ biến chính sách Mỹ. Hơn 70 năm tồn tại, dù có nhiều thay đổi nhưng VOA chưa bao giờ thay đổi chính sách thông tin của họ, đó là:

– Cung cấp các tin tức hoạt động có chủ đề trong thế giới thứ 3.
– Định hình quan điểm công chúng phù hợp với quan điểm Mỹ.
– Giới thiệu Mỹ như quốc gia mẫu mực về đời sống xã hội, quyền công dân và các giá trị tự do dân chủ-nhân quyền.
– Gây ảnh hướng đến chính phủ và xã hội các quốc gia nhằm chuyển đổi họ thành ‘xã hội mở’.

Tuy nhiên, chương trình nghị sự VOA được che đậy khéo léo dưới nhiều hình thức. Tin tức của họ có vẻ vô hại, không thù địch nhưng tất cả đều nhằm phục vụ lợi ích Mỹ bởi đơn giản VOA nằm dưới sự cai quản của USIA. Nói cách khác, VOA không phải là tiếng nói độc lập mà bản chất là 1 cơ quan của chính phủ Mỹ thực hiện 1 số nhiệm vụ.

USIA: là Cơ quan thông tin truyền thông Mỹ (United States Information Agency). USIA có tiền thân là Ủy ban thông tin công chúng (Committee on Public Information) từ thời WW-I. Nó là tổ chức đầu tiên có công lao phổ biến tin tức của chính phủ Mỹ ra nước ngoài. Cùng với sự hợp tác của Ủy ban khoa học, năm 1942 VOA ra đời, muộn hơn USIA được lập năm 1953 dưới thời Eisenhower.

Với luật Trao đổi văn hóa giáo dục, sau đó USIA đổi tên thành Cơ quan quan hệ quốc tế Mỹ USIS. Năm 1982, Reagan đổi lại tên cũ USIA. USIA hiện có khoảng 4200 nhân viên, giám đốc điều hành do TT Mỹ bổ nhiệm. Nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động rất rộng:

– Thiết lập và phát triển quan hệ hợp tác Mỹ với các quốc gia, gồm cả dưới góc độ cá nhân và tổ chức chính phủ, phi chính phủ. Giữ gìn ổn định các quan hệ và hiểu biết song phương.
– Trợ giúp xây dựng dân chủ, thị trường tự do, xã hội mở.
– Giải thích chính sách Mỹ theo lối dễ hiểu để VOA phổ biến cho khán giả.
– Làm đại diện cho xã hội Mỹ đóng góp cho sự hiểu biết của thế giới về Mỹ cũng như chính sách đối ngoại Mỹ.
– Làm cố vấn cho TT Mỹ, bộ trưởng Ngoại giao, các thành viên Hội đồng an ninh quốc gia và các quan chức chính phủ khác về quan điểm đối ngoại để phát triển chính sách Mỹ.
– Xúc tiến trao đổi văn hóa, giáo dục vì lợi ích quốc gia.
– Đối thoại trao đổi thông tin, văn hóa giáo dục với các chính phủ.

International Broadcasting Bureau: Năm 1994 có sự thay đổi lớn khi Cơ quan phát thanh quốc tế ra đời (International Broadcasting Bureau-IBB) dưới quyền USIA, họ tập trung tất cả các tổ chức phát thanh của chính phủ về mình và lập ra Ủy ban phát thanh chính phủ để điều phối hoạt động (Broadcasting Board of Governors-BBG). Tám thành viên chủ chốt USIA, cũng như giám đốc IBB và BBG đều do tổng thống bổ nhiệm.

IBB giờ có trong tay đài Voice of America, đài Marty và TV Marti World Network, một số cơ sở làm phim, dịch vụ kỹ thuật phát sóng. RFE và RFA tuy không thuộc quyền IBB nhưng cũng hợp tác chặt chẽ và hoạt động dưới sự giám sát của BBG. Ủy ban BBG đảm bảo chu cấp ngân sách hàng năm và do Quốc hội Mỹ phân bổ cho các đài này.

VOA bắt đầu phát sóng vào Liên Xô bằng tiếng Nga năm 1947, sau đó là các thứ tiếng khác trong khối XHCN và muộn hơn là tiếng Việt.

Thời John Kennedy nắm quyền, phương pháp hoạt động của VOA bị Kennedy cho là tuyên truyền không hiệu quả. Lý do là VOA tuyên truyền thù địch thái quá nên bị hầu hết các nước XHCN tẩy chay, đặc biệt trong sự kiện Tên lửa Liên Xô ở Cuba. Kennedy ra lệnh VOA phải có giọng “bình tĩnh và thuyết phục”, phải lành mạnh và tình cảm để lôi kéo khán giả hơn là hoạt động theo bản năng.

Tuy nhiên, không vì thế mà VOA thay đổi, sự can thiệp vào nội bộ các quốc gia mục tiêu của VOA ngày càng trắng trợn và thô bạo. Đến giữa thập kỷ 1970, sự phản đối quốc tế khiến nhiều chính khách Mỹ đòi xem xét lại tính pháp lý của VOA, họ cho là nên để cho VOA độc lập hơn là thuộc chính phủ.

VOA vẫn thuộc chính phủ, nhưng đã đổi giọng “ôn hòa” hơn như Kennedy yêu cầu. Người làm VOA đổi giọng là giám đốc USIA J. Keogh: Các chương trình được cải tiến nâng cao chất lượng, loại bỏ giọng điệu chống Liên Xô theo lối hung hăng, sáo mòn. Các chương trình văn hóa, ca nhạc được tăng cường, khuếch trương lối sống Mỹ được đẩy mạnh.

VOA từ đây tập trung vào “tuyên truyền văn hóa-xã hội” – một chương trình được thiết kế để nhằm vào giới trẻ XHCN, làm nổi bật tư bản-XHCN như sáng với tối để lôi kéo họ vào lối sống Mỹ, theo nguyên tắc “thế giới tự do”. 70% thời lượng phát sóng của VOA thời kỳ này nhằm vào giới trẻ, với khoảng 40 chương trình kiểu: Du lịch đến Mỹ, Huyền thoại Mỹ, Nông trại Mỹ, Tiêu điểm Mỹ, Gia đình Mỹ, Sống ở Mỹ, Người Mỹ trong thế kỷ 20… Cùng lúc, lối sống híp-pi Mỹ bụi bặm, hoang dã, vô chính phủ và biến tất cả thành chống đối từ Mỹ lan rộng khắp châu Âu.

VOA rất chú trọng khuyếch trương “lối sống Mỹ” như 1 nguyên tắc của “thế giới tự do”: tự do tôn giáo, tự do tình dục, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do biểu tình. Nhưng kẻ hip-pi ăn mặc dị hợm, đầu tóc bù xù, lang thang bầy đàn và chống đối chính quyền xuất hiện khắp khối XHCN.

Liên Xô cũng đã thi hành nhiều biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng của VOA, kể cả làm nghẹt sóng nhưng không cản được tác hại lan rộng.

Chính sách Perestroyka của Gorbachev đã mở cửa cho VOA tự do phát sóng, thời Yeltsin cũng vậy. Thậm chí thứ nhạc jazz thịnh hành ở Nga ngày nay xuất phát từ “Voice of American music” trên VOA.

Năm 2005 là thời kỳ đỉnh cao của VOA ở Nga với hàng trăm giờ phát sóng mỗi tuần. Nhưng Putin, kể từ 2006 đã hạn chế thời lượng và cấm 1 số chương trình độc hại, năm 2008 thì VOA tự dừng phát sóng vì không hiệu quả (bởi mất kênh tuyên truyền quan trọng), giờ họ hoạt động như 1 tờ báo mạng. Lý do là thiếu kinh phí, nhưng thực chất là chuyển trọng tâm sang địa bàn sang Trung Đông.

Năm 2014, nỗ lực đàm phán với CP Nga để nối lại việc phát sóng VOA, cũng như Radio tự do (Liberty) không đi đến kết quả. Sau một hồi dài chửi bới vi phạm nhân quyền và tự do ngôn luận, Mỹ đành bằng lòng để VOA xuất bản tờ báo mạng như năm 2008.

Đại diện Nga, ông Dmitry Kiselev, giám đốc Russia Today từng gửi 1 bức thư ngắn gọn cho BBG: “Chúng tôi không hợp tác!”

Hiện nay, VOA đã lớn mạnh hơn trước rất nhiều, họ có chương trình đa dạng, phát sóng 990 giờ mỗi tuần, bằng hơn 50 ngôn ngữ tập trung chủ yếu trong địa bàn Trung Đông, khối cựu XHCN, kể cả Việt Nam, Lào và Campuchia. Họ có vệ tinh riêng và chương trình TV, 23 chi nhánh, 1100 trạm phát sóng trải rộng khắp thế giới.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thời Thổ Tả

Nguồn: CIMA 2010 report

Trung Quốc là mục tiêu tên lửa tầm trung của Mỹ


Theo đài RFI, một tháng sau khi hủy bỏ Hiệp định tên lửa hạt nhân INF với Nga, ngày 19/8, Mỹ thông báo thử nghiệm thành công một tên lửa quy ước tầm trung. Đâu là mục tiêu thực sự mà Mỹ đang theo đuổi và không nói ra? Nga chỉ trích hành động “leo thang quân sự”. Còn Trung Quốc lên án Mỹ “kích động chạy đua vũ trang dẫn đến xung đột quân sự”.

Tên lửa thử nghiệm được phóng từ đảo San Nicolas (bang California), từ hệ thống ống phóng Mark 41, đánh trúng mục tiêu cách xa 500 km trên biển Thái Bình Dương. Một viên chức Mỹ cho biết thêm “đây là tên lửa được chế tạo từ tên lửa hành trình Tomahawk”.

Mỹ đã được rảnh tay cải tiến và thử nghiệm tên lửa mới có tầm bay từ 500 – 5000 km sau khi hủy bỏ hiệp định giới hạn vũ khí hạt nhân tầm trung gọi tắt là INF ký kết từ thời Ronald Reagan và Mikhail Gorbachev.

Hai lý do được Washington chính thức đưa ra là nước Nga của Vladimir Putin không tôn trọng hiệp ước này, chế tạo vũ khí mới 9M729 hay SS C8, theo cách gọi của NATO. Lý do thứ hai là Trung Quốc đứng ngoài, thì tại sao Mỹ lại tự trói tay.

Về điểm thứ nhất, Nga biện minh, 9M729 chỉ có tầm bay tối đa 480 km. Về điểm thứ hai, trong quá trình đàm phán với Nga từ tháng 2/2019 cho đến lúc thất bại, Lầu Năm Góc lý giải là cần canh tân vũ khí để đối đầu với Trung Quốc đang bành trướng sức mạnh tại châu Á..

Tín hiệu quân sự nhắm vào Trung Quốc

Phải chăng Mỹ cố tình phát động một cuộc chạy đua vũ trang? Đúng! Nhưng với ai? Theo một chuyên gia chiến lược Pháp, Tướng Dominique Trinquand, nguyên chỉ huy trưởng phái bộ quân sự Pháp tại Liên hợp quốc, đối tượng của Mỹ không phải là Nga mà chính là Trung Quốc. Người ta bàn luận rất nhiều về mối đe dọa từ Nga nhưng Trung Quốc mới là mục tiêu cảnh báo. Lên án Nga “không tôn trọng INF” chỉ là cái cớ. Tổng thống Donald Trump “muốn rảnh tay để đối phó với Trung Quốc, một đại cường quân sự đang lên”.

Theo tướng Dominique Trinquand, “kho tên lửa của Trung Quốc tương đối ít” nhưng nếu Mỹ “như đã loan báo, trong một năm nữa, sẽ bố trí tên lửa trong vùng Thái Bình Dương trực tiếp đe dọa Trung Quốc, thì Bắc Kinh sẽ phải chạy đua vũ trang”.

Nhận định “Trung Quốc là mục tiêu của Mỹ” không phải là võ đoán.

Trung Quốc cũng thấy rõ và phản ứng qua người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cảnh Sảng “Hành động của Mỹ với mục tiêu duy nhất là bảo vệ thế thượng phong quân sự sẽ gây những hệ quả tiêu cực cho an ninh khu vực và quốc tế”.

Từ khi vào Nhà Trắng cách đây gần 3 năm, Tổng thống Donald Trump thường xuyên có những tuyên bố bốc đồng. Tuy nhiên, thái độ “sáng nắng chiều mưa” của Tổng thống thứ 45 của Mỹ tuân thủ một nguyên tắc xuyên sốt “làm cho nước Mỹ hùng mạnh”. Trong chiều hướng này, nhiều đồng minh truyền thống của Mỹ bị bạc đãi nhưng trong danh sách đối thủ của Mỹ, Trung Quốc bị xem là mục tiêu số một chứ không phải là Nga.

Chỉ trong vấn đề G7 hay G8 thôi, đã 2 lần Donald Trump đề xuất mời Nga trở lại, sau khi tư cách thành viên của Moskva (do vụ sáp nhập Crimea) bị Tổng thống Obama và giới lãnh đạo châu Âu “đình chỉ” năm 2014.

Trong khi đó, Trung Quốc đứng trước một cuộc chiến tranh thương mại gần như toàn diện: chính quyền bị lên án khuynh đảo đồng tiền, hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ bị áp thuế, các tập đoàn công nghệ bị tố cáo làm gián điệp, đánh cắp phát minh của đối tác…

Bằng mọi cách, phải bảo vệ thế áp đảo của Mỹ từ kinh tế, công nghệ cao cấp cho đến quân sự đang bị Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt với mục tiêu qua mặt nước Mỹ vào năm 2049, theo kế hoạch của Tập Cận Bình.

Gia tăng ngân sách quốc phòng, thành lập binh chủng không gian, chế tạo vũ khí mới vừa làm hài lòng phe quân đội, vừa tạo thêm công ăn việc làm, thúc đẩy kinh tế nhưng cũng để bảo vệ thế thượng phong quân sự.

Những quyết định giúp Đài Loan tăng cường vũ trang, đưa các hải đội tác chiến vào vùng biển Đông Nam Á nơi Trung Quốc tranh giành chủ quyền, dự án bố trí tên lửa tầm trung ở châu Á – Thái Bình Dương và củng cố mặt trận ở Nam Thái Bình Dương với Australia và các tiểu quốc đảo cũng cùng mục đích là “Trung Hoa lục địa”.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019

Hong Kong: Làm thế nào để “vá” lỗ hổng an ninh quốc gia? – Phần cuối


Mặc dù phong trào “Chiếm trung tâm” thất bại, nhưng nó được coi là một phong trào xã hội hoàn toàn mới theo phong cách Hong Kong, và được phe đối lập thấu hiểu, đồng thuận làm theo. Cuộc biểu tình ngày 9/6 chứng minh rằng sự kế thừa và học theo này đã thành công. Tất nhiên, thời điểm khó khăn và nguy hiểm nhất không phải là ngày 9/6, mà là ngày 28/6, thời điểm quyết định việc sửa đổi luật dẫn độ. Vì vậy, lần “Chiếm trung tâm” thứ hai có thể diễn bei61n thành chiếm Hội đồng lập pháp. Phong trào Hoa hướng dương biểu tình và chiếm đóng tòa nhà Quốc hội của Đài Loan năm 2014 là nguồn cảm hứng và có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào “Chiếm trung tâm” của Hong Kong. Năm 2019, nếu phe đối lập của Hong Kong chiếm Hội đồng Lập pháp và thành công trong việc làm tê liệt hệ thống lập pháp, thì có thể lập nên một kỷ lục lịch sử của phong trào xã hội ở đặc khu này. Nếu thực sự như vậy, Điều 23 trong Luật cơ bản và điều lệ giáo dục quốc dân không thể được thông qua một cách thuận lợi. Tuy nhiên, mọi thứ có thể không xảy ra. Hành vi tùy tiện leo thang đối kháng chính trị, đứng về phía Mỹ trong cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ của phe đối lập có thể vấp phải thất bại lớn về chính trị, chính quyền trung ương sẽ càng không tin tưởng, và con đường đến với nền dân chủ của Hong Kong sẽ càng khó khăn hơn.

(-) Ngoài những khó khăn của con đường đi tới dân chủ, thách thức thực tế hơn vào lúc này là những khó khăn của việc hòa hợp giữa Hong Kong và Đại lục cũng như những khó khăn về cơ cấu quản lý của Hong Kong.

(+) Đúng vậy, hơn nữa những khó khăn về cơ cấu này chủ yếu được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc Hong Kong không có lòng tin đối với thể chế và pháp luật của Đại lục đã ăn sâu bám rẽ, khó mà thay đổi. Điều này không chỉ bắt nguồn từ hệ thống pháp trị Hong Kong khá giống với phương Tây cũng như cảm giác vượt trội về chế độ của người Hong Kong, mà còn xuất phát từ tiến trình hiện đại hóa quản lý và pháp luật của Đại lục vẫn chưa hoàn thiện về mặt cơ cấu, thậm chí hiện tượng “chuyển sang cánh tả” xuất hiện tại Đại lục những năm gần đây càng làm tăng thêm sự hoài nghi của người dân Hong Kong trong việc hài hòa với Đại lục.

Thứ hai, cuộc biểu tình phản đối dự luật dẫn độ đã phơi bày những điểm không hoàn hảo và yếu kém của chính quyền trung ương ở Hong Kong. Quyền tự tri cao của “Một nước, hai chế độ” ban đầu được chính quyền trung ương trao cho Hong Kong dựa trên sự tin tưởng, nhưng bị phe đối lập Hong Kong và các thế lực bên ngoài lạm dụng để chống lại lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Một câu nói của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo thậm chí còn ảnh hưởng hơn nhiều lần lời kêu gọi của chính quyền trung ương, tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của Mỹ đối với Hong Kong và “sự cai trị trong bóng tối” là điều không được phép xem nhẹ.

Thứ ba, quyền hạn của trưởng đặc khu và cơ chế quản lý hành chính chịu nhiều tác động hơn. Luật cơ bản mặc dù không phải là cơ chế quản lý hành chính điển hình nhất, nhưng có khuynh hướng nghiêng về cơ chế quản lý hành chính, đặc biệt là cơ chế trách nhiệp kép của trưởng đặc khu đối với cả đặc khu lẫn đất nước, nhưng kể từ khi Hong Kong trở về Trung Quốc, thể chế này đang phải đối mặt với “4 ngọn núi lớn” và đang dần suy yếu: thủ tục câu giờ của Hội đồng lập pháp, phúc thẩm tư pháp, phong trào xã hội, sự phản kháng mang tính bảo thủ của công chức. Ngay cả Trưởng đặc khu Lâm Trịnh Nguyệt Nga vẫn phải đối mặt với những tình huống khó xử về cơ cấu như vậy.

Thứ tư, sự hòa nhập của Vùng vịnh lớn Quảng Đông – Hong Kong – Macau phải đối mặt với nhiều rào cản về chế độ và văn hóa. Vùng vịnh Quảng Đông – Hong Kong – Macau đã trải ra một con đường đúng đắn trong tương lai cho “Một nước, hai chế độ” và sự phát triển của Hong Kong, nhưng giới tinh hoa Hong Kong vẫn hoài nghi về điều đó, sợ “bị quy hoạch”, sợ mất đi bản sắc và sự tự chủ, lo sợ Hong Kong sáp nhập với vùng vịnh Quảng Đông – Hong Kong – Macau sẽ bị hạ thấp địa vị quốc tế, sợ một sự tích hợp hệ thống mạnh mẽ hơn vào thể chế và pháp luật của Đại lục. Đằng sau những nỗi sợ hãi này vẫn là sự lưu luyến vốn có đối với phương Tây và sự mất lòng tin vào thể chế và triển vọng phát triển của đất nước.

Thứ năm, không thể xem nhẹ sự bôi nhọ của Đài Loan đối với “Một nước, hai chế độ” cũng như sự hỗ trợ chính trị của phe đối lập Hong Kong. Sau khi xảy ra biểu tình, Ủy ban Đại lục của Đài Loan và Thái Anh Văn thừa cơ “đục nước béo cò”, một mặt, từ góc độ giá trị chung của tự do dân chủ, ra sức ủng hộ phe đối lập của Hong Kong, mặt khác lại bêu xấu “Một nước, hai chế độ”, đe dọa sẽ cản trở nguyện vọng và không gian của dân chúng Đài Loan đối với phương án Đài Loan “Một nước, hai chế độ” cũng như thỏa thuận dân chủ giữa hai bờ eo biển.

Thứ sáu, công nghệ tổ chức huy động xã hội của phe đối lập đã có nhiều tiến bộ trong lần biểu tình này, phe cầm quyền tiến thoái lưỡng nan, hình thức vẫn như cũ, sức chiến đấu không đủ mạnh, cần phải xem xét lại và cải thiện. Năng lực huy động truyền thông xã hội, nắm bắt đề tài thảo luận và chương trình nghị sự, cập nhật và hệ thống hóa ngôn ngữ tuyên truyền cũng như năng lực tương tác chính xác với sự nhạy cảm của dư luận… của phe sáng lập đều kém hơn nhiều so với phe đối lập. Làm thế nào để tăng cường khả năng kết nối giữa thảo luận, hành động và dư luận của phe cầm quyền là một vấn đề quan trọng trong việc kiểm điểm chính trị của phe cầm quyền sau khi điều lệ được thông qua.

Tóm lại, cuộc biểu tình ngày 9/6 đã đánh dấu sự trở lại của mô hình “Chiếm trung tâm”, cũng đánh dấu sự nóng lên của “quân bài Hong Kong” trong cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, còn phản ánh những khó khăn thực tại của cơ chế quản lý hành chính Hong Kong cũng như điểm yếu mang tính cơ cấu về năng lực quản lý của chính quyền trung ương tại Hong Kong. Nói một cách cụ thể, sau khi điều lệ được chính quyền đặc khu sửa đổi, đã hoàn thiện về cơ bản các yêu cầu chính trị của phe đối lập đã vượt quá phạm vi hợp lý, chính quyền không có đường lui, trung ương cũng không thể lùi, điều lệ được th6ong qua cũng không còn là vấn đề lớn.

Nhìn từ góc độ quản lý lâu dài, cuộc biểu tình đã phơi bày sự thất bại của phe đối lập Hong Kong trong việc chuyển đổi thành “phe đối lập trung thành”, cũng cho thấy tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của “sự cai trị trong bóng tối” của Mỹ tại Hong Kong, từng bước lộ ra “lỗ thủng an ninh quốc gia” đang tồn tại ở đặc khu này. Những “chứng bệnh” này là thách thức thực sự mà cơ chế “Một nước, hai chế độ” phải đối mặt, cũng là kết quả tất yếu phải tính đến sự phức tạp trong vấn đề Hong Kong cũng như những thay đổi nanh chóng của trật tự chính trị quốc tế. Kinh nghiệm cho thấy từ các cuộc chiếm trung tâm trong lịch sử, chính quyền đặc khu và trung ương đều trưởng thành hơn nhiều về chính trị và pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, hệ thống nhà nước và trật tự pháp lý đang được điều chỉnh, tái thiết hợp lý và chặt chẽ hơn. Những tranh luận về dự luật dẫn độ lần này cũng như kinh nghiệm đấu tranh chính trị tương ứng cũng có thể từng bước nâng cao năng lực quản lý tổng hợp của đất nước để đối phó với những thách thức của cơ chế “Một nước, hai chế độ” cũng như sức ép toàn diện của Mỹ.

Nguồn: Mạng Đa chiều – 11/06/2019

TLTKĐB – 14/06/2019

Tìm hiểu và ngăn ngừa các cuộc xung đột và chiến tranh mới – Phần cuối


Ngày nay chúng ta phải kế thừa học thuyết của Đặng Tiểu Bình và xác định cơ hội chiến lược và thậm chí triển khai chiến lược đối ngoại dài hạn của Trung Quốc. Tình hình thay đổi đòi hỏi phải có sự thay đổi về nhận thức và chiến lược. Chiến tranh lạnh đã kết thúc, các mối đe dọa chủ yếu đã thay đổi, và thế giới cũng đang thay đổi. Sau hai thập niên cải tổ, Trung Quốc đã chuyển từ một nước kém phát triển thành một nước đang phát triển với sức mạnh tổng thể quốc gia được tăng cường một cách đáng kể. Trung Quốc đang thay đổi các điều kiện quốc gia của mình. Thế giới đòi hỏi và trông đợi ở Trung Quốc nhiều hơn. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tham gia sâu hơn vào các vấn đề quốc tế và vai trò của nó ngày càng trở nên quan trọng. Mối quan hệ nhân quả của hai biến số đang dịch chuyển. Nghiên cứu sự trỗi dậy hòa bình là tìm hiểu cách thức đối phó với các mối đe dọa mới, duy trì hòa bình ở Trung Quốc, khu vực và thế giới, cũng như biến quan niệm an ninh mới thành sự đồng thuận toàn cầu.

Thứ hai, chúng ta cần phải đẩy mạnh nghiên cứu về cách thức Trung Quốc có thể đóng góp cho hòa bình và phát triển trong tình hình mới, để Trung Quốc và thế giới có thể cùng chia sẻ trong cuộc chiến chống lại mối đe dọa và cùng hưởng an ninh.

Trung Quốc đã ký hai công ước quốc tế về nhân quyền và đang xem xét ký công ước thứ ba, và đó là một giải pháp chính sách rất có ý nghĩa. Trung Quốc, giống như phần còn lại của thế giới, đề cao chủ quyền, và không nghi ngại hay do dự trong việc bảo vệ các quyền con người vì chủ quyền. Mặt khác, Trung Quốc phải có tư duy thực tế đối với lý thuyết và thực tiễn đang biến đổi về chủ quyền, và theo đó, điều chỉnh chiến lược và chính sách của mình. Trên thực tế, Trung Quốc đã bắt đầu với thực tiễn mới. Chẳng hạn, Trung Quốc đã nhượng bộ chủ quyền trong thời kỳ bùng nổ dịch SARS bằng cách chấp nhận sự giám sát và hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới. Trung Quốc đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố Ứng xử tại biển Nam Trung Hoa mang đậm màu sắc chia sẻ chủ quyền. Sự “nhượng bộ chủ quyền” và sự “chia sẻ chủ quyền” trở nên nổi bật khi Trung Quốc tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác đa phương ở khu vực và trên thế giới. Mặc dù không phải là không có khác biệt, nhưng hợp tác kinh tế thì dễ dàng được hòa giải. Còn hợp tác an ninh thì khó thực hiện hơn vì nhiều kiểu tư duy rập khuôn cản trở.

Trung Quốc đang chủ động hơn trong việc tham gia vào các tổ chức khu vực, thí dụ như cơ chế 10+1, 10+3, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN,… đánh dấu sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc. Phải thừa nhận rằng, lợi ích quốc gia của Trung Quốc và các nước láng giềng trong lĩnh vực an ninh có liên hệ chặt chẽ với nhau và cần phải được bảo vệ bằng các nỗ lực chung. Mức độ hợp tác hiện nay vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các quốc gia liên quan. Đây cũng chính là điều các nước phê phán và mong đợi. Ngoại giao phòng ngừa cần phải được trù tính với sự đầu tư nguồn nhân lực, vật chất và ngân sách để trở thành một thứ công cụ hiệu quả ngăn chặn xung đột và duy trì hòa bình. Điều cũng đáng được mong đợi là việc thiết lập các cơ chế quản lý khủng hoảng giúp giảm bớt tác động tàn phá có thể xảy ra của các biến cố bất ngờ.

Để đối phó với những mối đe dọa đã được phát hiện và tiềm ẩn, hành động can thiệp chung, bao gồm những hoạt động trước và sau can thiệp, có thể phải được cân nhắc ở mức độ những hành động đó phải được các tổ chức khu vực ủy quyền. Các hình thức can thiệp có diễn ra từ đối thoại cưỡng ép nhẹ nhàng đến mức can thiệp bằng phương thức truyền tin rộng rãi, đến cắt giảm viện trợ kinh tế, đến hành động quân sự cưỡng chế mạnh mẽ. Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đang thành lập một Đội quân phản ứng nhanh. Trung Quốc đã tổ chức một cuộc tập trận chung với các nước khác Kyrgizstan. Hợp tác an ninh Trung Quốc – ASEAN sẽ được nâng cấp từ mức thấp lên mức cao. Trung Quốc cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho sự hợp tác, không được quá trễ và không để trở thành nạn nhân.

Sẽ là một nhận thức sai nếu cho rằng trỗi dậy hòa bình là điều gì đó không cần nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự và không cần sử dụng vũ lực. Ngược lại, trong khi đối phó với những mối đe dọa, xung đột và chiến tranh mới, Trung Quốc phải chuẩn bị tất cả các phương tiện, bao gồm cả các lực lượng quân sự. Việc sử dụng vũ lực, chừng nào có lợi cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới, và được xác minh là chính đáng và hợp lý thì sẽ được đại đa số các quốc gia và dân tộc ủng hộ, và cũng là một nội dung quan trọng của trỗi dậy hòa bình.

Trong quá khứ, các quốc gia láng giềng lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc vào các vấn đề khu vực. Giờ đây, khi Trung Quốc lựa chọn trỗi dậy hòa bình và do đó “mối đe dọa Trung Quốc” đang giảm bớt, thì thay vào đó, các quốc gia láng giềng lại phàn nàn về hành động không can thiệp hoặc can thiệp không thỏa đáng của Trung Quốc. Chẳng hạn, thế giới mong đợi Trung Quốc có vai trò lớn hơn trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, và Trung Quốc đăng cai tổ chức một vòng đàm phán ba bên và hai vòng đàm phán sáu bên được thế giới khen ngợi. Hệ thống, các thể chế và cơ chế quốc tế đang không ngừng thay đổi, định hướng của chúng bị tác động bởi tất cả các quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia và đóng góp của họ. Tham gia càng sâu và đóng góp càng nhiều thì tiếng nói và vai trò của nước đó càng lớn.

Thứ ba, chúng ta phải thiết lập một khuôn khổ hợp tác rộng hơn, đa dạng hơn và toàn diện hơn, phải giải tỏa những mâu thuẫn phát sinh từ tâm lý chiến tranh lạnh, và phải tìm giải pháp an ninh cùng có lợi.

Rõ ràng là, một mặt, sức mạnh siêu cường của Mỹ đang thay đổi nhanh chóng để thích ứng với những mối đe dọa mới, mặt khác, tư duy chiến tranh lạnh của Mỹ vẫn ăn sâu và khó có thể vượt qua. Tình trạng lưỡng phân này sẽ còn tồn tại khá lâu và đôi khi được thể hiện cả trong các vấn đề an ninh châu Á – Thái Bình Dương và vấn đề Đài Loan. Trung Quốc sẽ ủng hộ và khuyến khích vai trò xây dựng, đồng thời ngăn cản và giảm thiểu vai trò tiêu cực của Mỹ. Đối với các liên minh quân sự và quan hệ hợp tác quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ thực hiện chính sách cam kết và đối thoại. Trung Quốc sẽ hợp tác với Mỹ đặc biệt là trong những vấn đề về các mối đe dọa chung. Những động thái này sẽ giúp xóa bỏ những nhận thức sai lầm, những điều nghi ngại và ác cảm, loại trừ sức cuốn hút của tâm lý chiến tranh lạnh đến hết mức có thể.

Việc xử lý vấn đề Đài Loan, tư duy chiến lược về trỗi dậy hòa bình cũng có thể được áp dụng. Bên cạnh nguyên tắc ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan bằng sức mạnh quân sự và thúc giục Mỹ kiềm chế khả năng độc lập của Đài Loan, Trung Quốc cần phải làm gì đó cụ thể để thu phục lòng dân Đài Loan trên cơ sở hiểu biết đầy đủ thực tế về vùng đảo này. Chiến lược trỗi dậy hòa bình đòi hỏi phải vượt lên trên nền chính trị nội bộ Đài Loan, và thậm chí vượt lên trên cả những mối quan hệ giữa hai bờ eo biển. Chỉ bằng cách đó Trung Quốc mới có thể giải quyết đúng đắn vấn đề Đài Loan và cuối cùng đạt đến mục tiêu thống nhất Tổ quốc.

Dành ưu tiên cho Mỹ không có nghĩa chúng ta cho rằng Mỹ có thể thay thế được vai trò của các nước khác. Trung Quốc chia sẻ các quan điểm gần gũi hơn và những lợi ích chung để hợp tác với các cường quốc khác. Do đó, quan hệ đối tác là điều thực sự quý giá đối với vấn đề an ninh của Trung Quốc. Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt và bất đồng với Nga, Nhật Bản, và các cường quốc châu Âu, nên đối với vấn đề này Trung Quốc cần theo đuổi lập trường tìm kiếm những điểm tương đồng trong khi vẫn duy trì sự khác biệt. Trung Quốc đã bắt đầu tham gia vào ngoại giao đa phương dù là với các tổ chức khu vực hay với các tổ chức thế giới. Một loạt các cơ chế an ninh đang cùng tồn tại, đặc biệt là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó một số bị các cường quốc chi phối, số khác không cần có sự chi phối nào hoặc thay vì thế có thể chỉ bị một quốc gia chi phối trong một vấn đề cụ thể nào đó. Vì đó là một hiện tượng đặc biệt nên đòi hỏi phải điều tra thêm và có sự đổi mới trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đến nay, Trung Quốc đã có thể bắt đầu với những vấn đề an ninh thực tiễn nhằm kích thích tính sáng tạo, củng cố hợp tác và tích lũy kinh nghiệm.

Những thách thức lớn luôn chứa đựng những cơ hội lớn. Trung Quốc sẽ nắm bắt và tạo ra những cơ hội để ứng phó với những thách thức trên con đường trỗi dậy hòa bình và Trung Quốc sẽ hội nhập vào xu thế tiến bộ thế giới.

Người dịch: Mai Diên

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Yu Xintian – Understanding and Preventing New Conflicts and Wars. China’s Peaceful Rise as a Strategic Choic – Summer 2004 – p14.

TN 2006 – 48 & 49

Cách hành xử của Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông


Biển Đông là một trọng tâm của cuộc cạnh tranh quyền lực “cứng” và “mềm” giữa Trung Quốc và Mỹ trng khu vực. Trong giai đoạn sục sôi của cuộc tranh đấu này, Mỹ thường xuyên cáo buộc Trung Quốc thực hiện đủ các hành vi xấu tại đây. Đặc biệt, Mỹ gọi các hành động của Trung Quốc là “quân sự hóa”, là “hung hăng”, “quyết đoán”, thậm chí là “bắt nạt”… Đó là những lời cáo buộc nghiêm trọng với những hàm ý chính trị và pháp lý nghiêm trọng. Tuy nhiên, bản thân Mỹ cũng phải chịu trách nhiệm về những hành vi sai trái có thể được mô tả bằng những tính từ tương tự như trên.

Thực vậy, việc Mỹ rút khỏi hiệp ước của họ với Nga, theo đó cấm sử dụng tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo phóng từ đất liền dù là có hay không có năng lực hạt nhân, đồng thời còn tuyên bố sẽ sớm bố trí các tên lửa kiểu này tại châu Á, chỉ càng khiến cho sự “đạo đức giả” của họ trở nên rõ ràng hơn.

Mỹ cáo buộc Trung Quốc quân sự hóa ở Biển Đông khi triển khai máy bay chiến đấu phản lực và tên lửa tại các thực thể mà họ chiếm đóng. Từ “quân sự hóa” có thể được định nghĩa là tạo ra một đặc tính quân sự trên một vị trí hay một tình huống nào đó. Theo quan điểm của Trung Quốc cũng như một số nước Đông Nam Á, chính Mỹ mới đang quân sự hóa vùng biển này khi phô trương sức mạnh của mình tại đây một cách tích cực và hung hăng. Không giống như Trung Quốc, Mỹ từ lâu đã có các căn cứ hay các “vị trí” quân sự tại các quốc gia xung quanh Biển Đông – tại các nước đồng minh quân sự như Philippines và Thái Lan – và gần đây hơn là tại Malaysia, Singapore để bố trí các hệ thống săn lùng tàu ngầm Poseidon và các nền tảng chiến đấu điện tử nhắm vào các tài sản của Trung Quốc. Thêm vào đó, Mỹ còn vừa gia tăng đáng kể sự hiện diện của lực lượng hải quân và không quân, cũng như các chiến dịch ở trong và ngoài khu vực Biển Đông, bao gồm Chiến dịch Tự do Hàng hải (FONOP).

Các FONOP của Mỹ thách thức những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán của Trung Quốc bằng các máy bay chiến đấu và tàu chiến. Trung Quốc coi các FONOP này là “chính sách ngoại giao pháo hạm”, hay nói thẳng hơn là chính sách “bắt nạt”. Với thực tế là các FONOP của Mỹ trực tiếp nhắm vào các tuyên bố chủ quyền của hầu hết các nước ven Biển Đông, nhận thức này không chỉ hạn chế ở Trung Quốc, như điều một sĩ quan hải quân cấp cao của Mỹ từng nói, các hoạt động tự do hàng hải này đang “hiện diện ngay trước mũi các bạn, để mọi người thấy được ai mới là “ông chủ””.

Một hành động khác của Mỹ cũng khiến tình hình và khu vực mang tính quân sự là các hoạt động thăm dò tình báo quân sự thường xuyên của họ đối với các hệ thống phòng thủ trên đất liền của Trung Quốc ở dọc bờ Biển Đông của nước này. Trung Quốc coi những hoạt động do thám đó là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Tóm lại, quân sự hóa, cũng như các hành động “hung hăng”, “quyết đoán”, ngày càng phụ thuộc nhiều vào bối cảnh, những năng lực và tính chất dễ bị tổn thương, theo sự phán xét của những người chứng kiến. Cả Trung Quốc và Mỹ đều biện hộ rằng các hành động của họ chỉ mang mục đích phòng ngự, nghĩa là chỉ sự phản ứng với các hành động của bên khác. Ý đồ của Mỹ khi đặt các tên lửa tầm trung ở Đông Nam Á rõ ràng là nhắm vào các tên lửa trên đất liền của Trung Quốc có khả năng gây nguy hiểm cho các tàu của Mỹ hoạt động trên Biển Đông.

Những tuyên bố của Mỹ rằng việc Trung Quốc bố trí tên lửa và máy bay chiến đấu phản lực trên một vài trong số các đảo nhân tạo của họ là hành động tấn công quân sự. Tuy nhiên, Trung Quốc khẳng định các vũ khí này đều mang tính phòng thủ và việc triển khai chúng là để đối phó với các mối đe dọa quân sự ngày càng gia tăng từ Mỹ ở Biển Đông.

Dĩ nhiên là các vũ khí phòng thủ cũng có thể được sử dụng để tấn công. Thực vậy, sự đánh giá và phản ứng của Mỹ với các hành động của Trung Quốc có vẻ chỉ tập trung vào điều mà Trung Quốc có thể làm bằng các phương tiện quân sự của mình, và trên cơ sở đó họ thiết lập một thế phòng thủ “đánh phủ đầu”. Lý lẽ này có thể dẫn tới một hành động “tự vệ phủ đầu” thực sự (nghĩa là một nhà nước sử dụng sự áp bức vũ trang để ngăn ngừa một nước khác hoặc một nhân tố khác theo đuổi một chiến dịch hành động chưa gây nguy hiểm một cách trực tiếp, song nếu tiếp tục, thì đến một lúc nào đó có thể trở thành một hành vi tấn công).

Có rất nhiều tranh cãi xung quanh quan niệm này. Những người đề xuất nó thì trích dẫn Hiến chương Liên hợp quốc mà theo đó bảo vệ “quyền cố hữu về tự phòng vệ của cá nhân hoặc tập thể nếu một cuộc tấn công vũ trang xảy ra với một thành viên trong Liên hợp quốc” (Điều khoản 51). Tuy nhiên những người phản đối quan niệm này lại biện luận rằng “điều khoản này quy định rõ ràng rằng đó là một hành động phòng vệ trong trường hợp có một cuộc tấn công xảy ra trước, chứ không phải vì nhận thức về khả năng xảy ra một cuộc tấn công”. Mối quan ngại lớn nhất là việc Mỹ lợi dụng quan niệm này khá nhiều, chẳng hạn khi xâm lược Iraq và thực hiện các vụ tấn công bằng máy bay không người lái tại nhiều quốc gia.

Mỹ cũng có thể áp dụng quan niệm đó để tấn công mạng vào Trung Quốc từ Biển Đông. Những cuộc do thám của các mạng lưới nước ngoài có thể được thực hiện từ các tàu hay máy bay, như là thiết bị tấn công điện tử tối tân nhất của Mỹ (EA-18 Growler) đã được triển khai tại Căn cứ Không quân Clark ở Philippines. Một vấn đề pháp lý được đặt ra là liệu các hoạt động của thiết bị này ở trong và ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế có vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và các điều khoản hòa bình của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) hay không. Ít nhất, chúng cũng bị coi là “hung hăng”, “quân sự hóa” tình hình.

Luật Biển (Điều khoản 59) quy định rằng trong các trường hợp không đặc biệt liên quan đến các quyền hay tài phán của các nước ven biển hay các nước khác trong khu vực, mọi sự tranh chấp giữa các bên nhà nước nên được giải quyết trên nền tảng công bằng và chú trọng các điều kiện liên quan, có tính đến tầm quan trọng của các lợi ích liên quan đến các bên cũng như toàn cộng đồng quốc tế. Vì vậy, vấn đề với “cộng đồng quốc tế” là đánh giá xem “cái gì hợp tình hợp lý hơn, hay cái gì có giá trị hơn” – quyền “chuẩn bị chiến đấu” như cách mà Trung Quốc gọi hay là quyền cấm đoán những hành động như vậy tại các khu vực theo quyền tài phán của nước ven biển?

Điều khoản này vẫn được các nhà đàm phán UNCLOS bảo vệ trước một đề xuất hủy bỏ nó. Đề xuất này biện luận rằng “điều đó không cần thiết bởi Công ước rõ ràng chỉ cung cấp quyền tài phán tại EEZ cho nước ven biển”.

Điểm mấu chốt ở đây là điều gì sẽ cấu thành sự quân sự hóa với ý đồ “tấn công”, “sự hung hăng”, “sự quyết đoán”, và “bắt nạt” trong con mắt của những người chứng kiến, chứ không phải được định nghĩa bởi riêng một nước nào. Giống như một câu ngạn ngữ: “Những người sống trong các ngôi nhà bằng kính thì không nên ném đá”.

Nguồn: www.eurasiareview.com

TKNB – 23/08/2019