Nhiều vấn đề quan trọng còn mơ hồ


Ngày 4/2, trang mạng Channel News Asia đăng bài cho rằng vẫn có sự không chắc chắn, mơ hồ, chưa được định hình về một số vấn đề chính liên quan đến dịch bệnh do virus corona (nCoV) gây ra, cụ thể như: phạm vi lây lan rộng đến như thế nào mà loại virus này có thể gây ra bên ngoài Trung Quốc; tác động của sự lây lan mà nó gây ra sẽ là gì, nhất là tại các nước có hệ thống y tế yếu kém, và ch1inh xác thì sự nguy hiểm của căn bệnh viêm phổi này là gì…?

Những gì chúng ta biết cho đến nay là việc loại virus này dường như có nguy cơ gây ra cái chết thấp hơn so với dịch SARS, nhưng khả năng lây nhiễm của nó lại cao hơn. Trong số những ca bệnh được đưa tới bệnh viện tại Trung Quốc, khoảng 2% – 3% đã tử vong, con số này là 10% tử vong do bệnh SARS gây ra. Cũng có bằng chứng ngày càng nhiều cho thấy rằng nCoV có thể được lây truyền từ người qua người kể cả từ những người có ít hoặc không có triệu chứng nhiễm bệnh.

Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Đức công bố trên Tạp chí Thuốc nước Anh Mới vào ngày 31/1 cho thấy một số ca nhiễm bệnh từ Trung Quốc và Đức có hiện tượng lây lan trước khi người nhiễm bệnh có triệu chứng biểu hiện ra bên ngoài. Do đó, số người bị nhiễm có thể sẽ nhiều hơn do không được thống kê chính thức.

Một nghiên cứu công bố trên tạp chí y khoa The Lancet ước tính rằng có hơn 75.800 người đã bị lây nhiễm chỉ riêng tại thành phố Vũ Hán. Tạp chí này cũng cho rằng đỉnh điểm của dịch bệnh này sẽ rơi vào tháng 4 hoặc tháng 5/2020.

Một ước tính có tính “cẩn trọng” hơn được Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Trung Quốc đưa ra cho thấy khoảng 25.000 người đã bị lây nhiễm và dự đoán con số những trường hợp bị lây nhiễm sẽ tăng gấp đôi sau cứ khoảng thời gian 6 ngày. Tình trạng này gây ra những thách thức trong việc kiểm soát, khoanh vùng sự lây lan của dịch bệnh, nếu virus có thể lây từ người mang virus qua người khác, trước khi họ biết họ đã nhiễm bệnh và trước khi họ có thể được cách ly.

Đối với những người có sức khỏe tốt, nguy cơ tử vong do lây nhiễm nCoV là thấp, tuy vậy, cũng cần quan tâm, chú ý tới những người có vấn đề về sức khỏe. Các nghiên cứu cho thấy, những trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên phần lớn là những người nằm trong độ tuổi từ 50 trở lên.

Theo ông Vineet Menachery, chuyên gia các bệnh truyền nhiễm tại Khoa Dược, Đại học Texas, dịch SARS đã có tỷ lệ tử vong trung bình là 10%, nhưng con số này tăng lên tới 50% đối với những người trên 50 tuổi. Theo chuyên gia này, người cao tuổi có nguy cơ lây nhiễm cao hơn do hệ miễn dịch của họ yếu đi theo độ tuổi. Sự bùng nổ phát triển các thành phố có thể giải thích cho sự lây truyền dịch bệnh từ động vật tới con người. Việc chúng ta đang tìm cách giải quyết, làm sáng tỏ những điều chưa chắc chắn về cơ chế sinh học của chủng virus mới này, thì điều quan trọng cũng cần lưu ý rằng các dịch bệnh có yếu tố, khía cạnh xã hội quan trọng liên quan đến sự phát triển của con người.

Trong số 6 dịch bệnh đã được công bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu trước đây, có 5 dịch bệnh liên quan đến các chủng virus bắt nguồn từ các loài động vật, bao gồm cả chủng virus Corona đang hoàn thành. Các chủng virus thông thường lây nhiễm giữa các loài động vật với nhau, khó xảy ra hơn giữa người với người. Tuy nhiên, như các đại dịch SARS hay dịch Ebola cho thấy các loại virus này xuất hiện tại các thành phố có mật độ dân cư đông đúc, chúng có thể lan truyền với tốc độ rất nhanh và gây ra những hậu quả có tính chất hủy diệt, tàn phá. Đây thực sự là tin xấu khi hiện tại có khoảng 600 thành phố với dân số hơn 1 triệu người. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc đã chứng kiến tỷ lệ đô thị hóa gia tăng ở mức độ bùng nổ – 60% dân số Trung Quốc ngày nay sống tại các khu vực thành thị và con số này được dự báo sẽ tăng lên tới 70% trong thập kỷ tới.

Cùng với việc xâm lấn ngày càng gia tăng của con người tới các khu vực sinh sống của các loài động vật và sự gia tăng mạnh mẽ các thực phẩm có nguồn gốc động vật, sự trỗi dậy của các chủng virus trên động vật có khả năng gây ra các tình hình khẩn cấp toàn cầu tương tự có thể trở thành “sự bình thường mới”.

Trong khi đó, cũng phải cẩn thận với nỗi sợ và sự hoang mang bùng phát.

Đi cùng với tốc độ lây lan nhanh chóng của 2019-nCoV là tốc độ lây lan kinh hoàng của các loại thông tin sai lệch. Hiện tại, yếu tố tích cực của các mạng xã hội trong việc tạo điều kiện cho sự trao đổi, giao tiếp nhanh chóng các kiến thức khoa học thì những thông tin y tế về thảm họa dịch bệnh này đang bị thách thức bởi chính việc sử dụng các công cụ này để gây ra các sự hoang mang, lo sợ và tâm lý thù địch. Các thuyết âm mưu, các phần mềm độc hại, các tin đồn vô căn cứ và các ý kiến sai lệch, quan điểm mù quáng đã không ngừng nảy nở và phát triển. Một ví dụ rõ nét là sự lan truyền rộng rãi trên mạng Twitter và các nền tảng mạng xã hội khác các bức ảnh cửa hàng và quán ăn tại Hàn Quốc và Nhật Bản với các tấm biển ghi rõ “Cấm người Trung Quốc”.

Rất nhiều trong số các hiện tượng tiêu cựu nói trên đã kích động căng thẳng xã hội, làm giảm sút lòng tin vào các chính phủ, các cơ quan chức năng về y tế và các cơ sở, luận cứ khoa học; thể hiện sự phán xét khó chịu và cực đoan trên cơ sở chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc gia.

Trong bối cảnh các quốc gia áp dụng các biện pháp cấm đi lại nghiêm ngặt hơn và các biện pháp cách ly xã hội trong nỗ lực nhằm đối phó với sự lan rộng của thảm họa dịch bệnh, thực sự cũng có một mối nguy cơ mà trên thực tế “một xã hội” có thể đang ủng hộ cho sự lan truyền dịch bệnh “hoảng loạn” và “sự thù ghét”.

Khi thảm họa dịch bệnh kết thúc, hàng nghìn người sẽ bị cách ly và hàng triệu người sẽ phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ trong việc đi lại, mặc dù họ không làm gì sai. Họ sẽ bị truy vấn hoặc bị ra lệnh tạm từ bỏ sự tự do nhằm để cộng đồng lớn hơn được an toàn. Rõ ràng, chúng ta không nên xem những người này với nỗi lo sợ, tâm lý thù địch và sự thiếu tin tưởng, mà thay vào đó nên là lòng tốt và sự cảm thông. Nhân loại sẽ tìm cách kiểm soát dịch bệnh này và làm giảm nhẹ những tác động tiêu cực của nó tới con người, nhưng trong khi làm như vậy, chúng ta không được đánh mất những gì được xem là dấu hiệu nhân văn chỉ riêng của con người.

Nguồn: TKNB – 06/02/2020

Đảng Cộng sản Trung Quốc lo ngại bất ổn xã hội


Trước tình trạng số người chết tăng kỷ lục mỗi ngày, chính quyền Trung Quốc thừa nhận “những thiếu sót trong phản ứng đối với khủng hoảng dịch tễ”. Ban Thường trực của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu lực lượng phản ứng nhanh trong tình huống khẩn cấp phải được cải thiện sau “những bất cập và khó khăn nảy sinh trong thời gian xử lý nạn dịch”.

Cũng trong cuộc họp ngày 03/02 của Ban Thường trực của Bộ Chính trị, đích thân Chủ tịch, kiểm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình, đã yêu cầu các quan chức phải khẩn trương phối hợp để khống chế nạn dịch. Một cuộc họp do đích thân người đứng đầu Trung Quốc tham gia chỉ đạo, được hãng ti Bloomberg của Mỹ ngày 4/2 đánh giá là một sự kiện hiếm hoi, đồng thời phản ánh tính chất nghiêm trọng của nạn dịch, có nguy cơ tác động đến ổn định trong nước.

Ngoài Vũ Hán và Ôn Châu bị cách ly hoàn toàn, chính quyền thành phố Thái Châu (tỉnh Giang Tô) và ba quận ở thành phố Hàng Châu (tỉnh Chiết Giang) chỉ cho phép mỗi gia đình chỉ được một người ra khỏi nhà để đi chợ hai ngày một lần. Tổng cộng có khoảng 9 triệu người phải thực hiện biện pháp mới được công bố ngày 4/2. Dù nằm cách ổ dịch và trăm km, nhưng chính quyền vẫn áp dụng các biện pháp hạn chế di chuyển để ngăn ngừa dịch lan rộng.

Và cũng nhằm ngăn ngừa dịch bệnh lây lan, công nghệ được áp dụng rộng rãi tại Trung Quốc như dùng thiết bị bay không người lái để đo thân nhiệt và nhắc nhở những người bất cẩn, hoặc đồng hồ theo dõi người mắc virus corona (nCoV) mới.

“Ổn định xã hội” Trung Quốc chắc chắn sẽ bị tác động nếu siêu vi viêm phổi chủng mới không được ngăn chặn. Đây là lời cảnh báo nghiêm trọng do đích thân Tập Cận Bình đưa ra. Hai tháng sau khi xuất phát từ Vũ Hán, siêu vi corona bị xem là vấn đề sinh tử của chế độ.

Theo đài RFI, trong những tuần qua, Tập Cận Bình đích thân theo dõi các biện pháp chống dịch triệt để nhất. Tuy nhiên dịch vẫn lây lan, người vẫn chết, hoạt động kinh tế ngưng trệ, người nước ngoài di tản, người dân Trung Quốc hoang mang và cộng đồng quốc tế lo ngại về khả năng đối phó của chính quyền Trung Quốc.

Nếu dịch kéo dài, ác mộng của giới lãnh đạo Bắc Kinh không chỉ là số nạn nhân tử vong mà còn là tỉ lệ GDP tăng trưởng hiện được dự báo xuống dưới 6%. Cách nay 15 năm, Thủ tướng Ôn Gia Bảo (2003 – 2013) cho rằng với mức tăng trưởng dưới 10%, Trung Quốc không đủ sức tạo công ăn việc làm cho dân. Nếu xuống đến 8% có nguy cơ đại loạn.

Dịch viêm đường hô hấp cấp do nCoV xảy ra ngay dịp Tết, mùa của mua sắm và du ịch làm doanh nhân, trong vòng tuần ế ẩm, “thủng túi” 140 tỷ USD doanh thu. Lòng dân còn có lý do nữa để bất mãn thêm: Virus “dịch tả lợn châu Phi” trong những tháng cuối năm đã làm cho nông dân bị thiệt hại hơn 140 tỷ USD. Trong khi đó, xung đột thương mại với Mỹ chưa kết thúc. Phải đối đầu với các tai họa dồn dập, khả năng đối phó của Bắc Kinh do vậy rất hạn chế.

Tuy nhiên, với dự trữ ngoại tệ dồi dào, 3000 tỷ USD, Đảng Cộng sản Trung QUốc sẽ không thụ động để cho kinh tế lâm vào bế tác dẫn đến “bất ổn”. Tuy nhiên, uy tín của chế độ sẽ sứt mẻ nhiều. Chính Tập Cận Bình đã cảnh báo.

Cũng như Le Monde, tờ La Croix của Pháp bình luận: Chế độ Cộng sản Trung Quốc đang làm mọi việc để Đảng và nhà lãnh đạo được nhìn nhận là đảng cứu thế. Trong khi người dân thể hiện nỗi giận dữ trên các mạng xã hội về các biện pháp y tế, chính quyền lại lo ngại về hậu quả của dịch bệnh đối với hình ảnh của đất nước trong mắt quốc tế.

Nhiều đảng viên cấp cao nghĩ rằng Tập Cận Bình đã điều hành đất nước không tốt từ nhiều năm nay. nCoV càng khiến ông ta bị chỉ trích, nhưng ít ai dám lên tiếng công khai, vì họ đều sợ bị đàn áp. Chính vì thế, theo nhà nghiên cứu về Trung Quốc Minxin Pei thuộc trường Claremont McKenna tại California, Mỹ, cho dù nỗi giận dữ đang dâng lên trong các mạng xã hội, nhưng chắc chắn thảm họa corona sẽ không thể làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Tập Cận Bình.

Tuy nhiên, La Croix cũng khẳng định, nếu như trong nước, bộ máy tuyên truyền có thể giúp giữ gìn hình ảnh của Tập Cận Bình và đảm bảo tính chính đáng cho đảng Cộng sản, nhưng trên trường quốc tế, thách thức đặt ra choo Tập Cận Bình sẽ lớn hơn rất nhiều.

Theo La Croix, Trung Quốc đang bị tấn công từ mọi phía: bị chỉ trích mạnh mẽ việc trấn áp hai triệu người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương, bị tổ chức nhân quyền Human Rights Watch nêu tên trong tổng kết thường niên về vi phạm nhân quyền, bị người Hong Kong phản kháng từ suốt 8 tháng nay, lại đang trong tâm cuộc chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ. Thế giới coi người đầu tiên phải chịu trách nhiệm về tình trạng nói trên không ai khác chính là Tập Cận Bình. Tập Cận Bình ngày càng bị so sánh với Mao Trạch Đông, mà chính sách từ năm 1949 đến năm 1976 đã gây ra cái chết của ít nhất 60 triệu người Trung Quốc. Sự so sánh này không phải là vô cớ.

Nguồn: TKNB – 06/02/2020

Những tác động kinh tế – chính trị – xã hội của dịch bệnh đối với Trung Quốc


Những bất ổn xã hội

Quốc tế tiếp tục di tản công dân và cấm du khách Trung Quốc. Doanh nghiệp nước ngoài ngừng hoặc giảm hoạt động. Tác hại tới nền kinh tế đã rõ. Ngày 2/2, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc loan báo đầu tư kích hoạt kinh tế 1000 tỷ NDT. Tạp chí kinh tế Caixin đưa tin siêu vi viêm phổ chủng mới corona đã làm cho các ngành dịch vụ từ quán ăn, du lịch hco đến giải trí bị thiệt hại 143 tỷ USD ngay trong tuần nghỉ lễ đầu tiên của Tết Nguyên Đán.

Trong khi đó, thiếu thốn dụng cụ – thiết bị y tế, các hoạt động kinh tế bị đình trệ, Trung Quốc giờ có nguy cơ đối mặt với bùng nổ xã hội. Việc các nhà xưởng phải kéo dài ngày nghỉ buộc chính quyền Bắc Kinh theo dõi sát sao tỷ lệ thất nghiệp do lo ngại bất ổn xã hội. Ông Samuel Franҫois, giảng viên Y khoa, Đại học Vũ Hán nhận định hiện tại, người dân Vũ Hán vẫn còn “giữ nụ cười”, chưa tỏ ra hoảng loạn, bất chấp tình trạng bị cách ly. Tuy nhiên, nếu kéo dài, “tình hình có nguy cơ thay đổi”.

Trong bài “Giám sát tất cả, trừ sức khỏe”, tờ Minh Báo của Hong Kong nhận định virus corona là thất bại của hệ thống giám sát Trung Quốc. Theo tời báo, tuy vụ này bề ngoài không có vẻ gì là chính trị, nhưng đã làm gia tăng sự hoài nghi của các nước láng giềng, chính quyền Trung Quốc đã thua một ván trên trường quốc tế. Câu hỏi đặt ra là tại sao một cuộc khủng hoảng dịch tễ với tầm vóc như vậy lại có thể xảy ra vào lúc Bắc Kinh sở hữu hệ thống giám sát ngày càng hoàn hảo. Chính quyền không ngần ngại tung tiền vào công nghệ thông tin, và đã trở thành một siêu cường về khoa học và công nghệ. An ninh quốc gia được đặt lên trên hết, tự do cá nhân không là gì cả. Lẽ ra, chính quyền có thể nhanh chóng theo dõi trên cả nước.

Cho đến nay, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhận ra tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng dịch bệnh và khả năng gây bất ổn đối với Đảng, và đang huy động mọi nguồn lực để giải quyết khủng hoảng. Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của giới lãnh đạo, người dân Trung Quốc có thể vẫn chỉ trích gay gắt họ trong việc kiểm soát thông tin.

Theo tờ L’Obs của Pháp, quyền lực của Tập Cận Bình đã lung lay. Bắc Kinh nay đã ý thức được dịch corona có nguy cơ làm xấu đi hình ảnh của đảng, và rất có thể, các quan chức địa phương sẽ trở thành vật tế thần. Tuy nhiên, chính sự độc tài cảu Tập Cận Bình đã đóng vai trò quan trọng trong thảm họa. Nhà sử học Chương Lập Phàm (Zhang Lifan) giải thích: “Vì tại Trung Quốc, không có gì được tiến hành nếu không có đèn xanh của Tập Cận Bình? Cán bộ các cấp đều thu mình chờ đợi, chỉ thi hành lệnh trên cho khỏi rắc rối. Tuy nhiên, đôi khi cần phải biết hành động”.

The Economist nhận định: Đối với Tập Cận Bình, cuộc khủng hoảng virus corona lần này là thách thức lớn nhất trong sự nghiệp của ông. Và nếu trở thành đại dịch,các đối thủ đang âm thầm phản đối việc thâu tóm mọi quyền hành của ông Tập, có thể hành động chống lại ông. Trong khi đó, Adam Ni, một nhà nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Macquarie (Australia) cho rằng dù uy tín của Tập Cận Bình có khả năng bị ảnh hưởng, nhưng ông cũng sẽ “tắm trong vinh quang” nếu mọi việc được giải quyết suôn sẻ.

Tương tự, tờ New York Times (Mỹ) cho rằng dịch bệnh mà thế giới đang gánh chịu hiện nay cho thấy sự nguy hiểm mà mô hình chuyên chế của Tập Cận Bình mang lại cho Trung Quốc và thế giới. Nguyên nhân chính quyền thời gian đầu che giấu dịch bệnh là do Trung Quốc đã chà đạp một cách có hệ thống các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, các tổ chức phi chính phủ, các luật sư và những thể chế khác. Về mặt xã hội dân sự, Tập Cận Bình đã kéo Trung Quốc lùi lại một chặng dài, dập tắt hầu hết mọi hy vọng về tự do và giám sát (đối với chính quyền). Cũng vì lý do này mà một Trung Quốc ngày càng độc đoán của Tập đã tỏ ra lúng túng trong việc đối phó với sự bùng phát của virus Corona, đồng thời không thể xử lý ổn thỏa dịch tả lợn châu Phi bắt đầu từ năm 2018, vốn giết chết gần 1/4 số đàn lợn của toàn thế giới.

Trung Quốc phải hoãn kỳ họp Lưỡng hội vì dịch bệnh?

Kỳ họp lưỡng hội Trung Quốc, bao gồm kỳ họp Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội) và Hội nghị hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc (Mặt trận Tổ quốc) mỗi năm một lần thường được tiến hành vào đầu tháng 3 tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, lần này lại đúng vào lúc dịch bệnh viêm đường hô hấp do virus Corona chủng mới xuất hiện, tình hình dịch bệnh lại lan rộng khắp Trung Quốc với tốc độ chóng mặt. Tính đến nay, Lưỡng hội cấp tỉnh của 8 tỉnh như Vân Nam, Thiểm Tây, Sơn Đông… đã tuyên bố lùi ngày họp. Lưỡng hội toàn quốc liệu có thay đổi thời gian hay không đã trở thành đề tài nóng được thảo luận của các đại biểu Đại hội.

Tờ Tín báo (Hong Kong) vừa đăng bài phân tích cho rằng mặc dù tạm thời chưa có bất kỳ công bố chính thức nào, nhưng một số đại biểu Hong Kong dự đoán xác suất Lưỡng hội hoãn ngày họp là rất cao. Có Ủy viên Chính hiệp tin rằng nếu tình hình dịch bệnh tiếp tục xấu đi, một số Ủy viên Chính hiệp hoặc đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cao tuổi có thể sẽ xin phép nghỉ.

Mặc dù nhiều đại biểu Đại hội nhân dân toàn quốc và Ủy viên Chính hiệp chưa nghe nói Chính quyền Bắc Kinh dự tính lùi ngày họp Lưỡng hội, chỉ có các đại biểu dự đoán xác suất dời ngày họp Lưỡng hội cao đến 30%, hơn nữa tỉ lệ này không ngừng gia tăng, đặc biệt sau khi hết kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán, dịch bệnh viêm phổi do virus corona xuất hiện làn sóng bùng phát đợt hai, khi đó Bắc Kinh khó tránh khỏi thế khó.

Có Ủy viên Chính hiệp còn cho rằng còn 1 tháng nữa mới đến thời điểm diễn ra kỳ họp Lưỡng hội, tình hình dịch bệnh vẫn còn tồn tại biến số tương đối lớn. Trong giai đoạn hiện nay, tuyên bố dời ngày họp Lưỡng hội dường như là quá sớm, huống hồ, Lưỡng hội là việc đại sự quốc gia, vừa có Thủ tướng đọc “Báo cáo công tác chính phủ” đưa ra mục tiêu GDP, vừa có không ít các chính sách quốc gia được công bố. Nếu như dời ỳ họp sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc và cũng gián tiếp phản ánh sự bất lực trong việc phòng chống dịch bệnh cảu chính quyền Bắc Kinh.

Đối với phe Kiến chế (ủng hộ chính quyền) trong Hội đồng lập pháp Hong Kong, việc dời ngày họp Lưỡng hội không phải là tin xấu, liên quan đến việc hàng năm vào thời gian này đều có rất nhiều nghị sĩ kiêm nhiệm đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy viên Chính hiệp phải lên Bắc Kinh dự kỳ họp Lưỡng hội, khiến các cuộc họp tại Hội đồng lập pháp phải tạm hoãn. Tuy nhiên, hiện nay môi trường chính trị Hong Kong thay đổi nhanh chóng, nhiều nghị sĩ quan trọng thuộc phe “Kiến chế” đi Bắc Kinh dự họp hơn 10 ngày, đến lúc đó tình hình đặc khu e rằng đã có sự chuyển hướng 180 độ. Do vậy, nhiều nghị sĩ phe “Kiến chế” kiêm nhiệm Đại biểu hoặc Ủy viên Chính hiệp đều muốn ở lại Hong Kong để phòng chống dịch bệnh còn hơn là đi Bắc Kinh “khoanh tay đứng nhìn”.

Nguy cơ đối với các dự án ở nước ngoài của Trung quốc

Theo Global Times, bệnh dịch virus corona bùng phát chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến các dự án ở nước ngoài của Trung Quốc trong ngắn hạn và các hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng ồ ạt của Trung Quốc trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể sẽ chịu tác động lớn.

Theo một tờ báo của Pakistan, trên thực tế, một vài dự án trong Hành lang Kinh tế Trung – Pakistan đã bị trì hoãn do dịch bệnh bùng phát, mặc dù chưa có trường hợp nào được xác nhận ở nước này. Với những trường hợp nhiễm virus corona mới được thông báo ở các nước như Nepal, Sri Lanka và Campuchia, những lo ngại về loại virus này là điều dễ hiểu ở các nước láng giềng. Tuy nhiên, bất chấp sự kiện này, việc các công ty tiếp tục thực hiện các dự án BRI là rất cần thiết để cố gắng bảo đảm hoạt động trơn tru của dự án. Tất cả các dự án đều liên quan đến các khoản đầu tư khổng lồ, và bất kỳ sự chậm trễ nào cũng có thể dẫn tới rủi ro gia tăng và gây tổn thất lớn về tài chính.

Cần phải nói rõ rằng dịch bệnh này chỉ là một yếu tố ngắn hạn, có thể phá vỡ một số quy trình hoạt động bình thường, nhưng nó sẽ không làm thay đổi bản chất cùng có lợi của các dự án BRI. Và trong những thời điểm khó khăn này, điều cần thiết hơn bao giờ hết đối với Trung Quốc và các nước liên quan là phải tăng cường hợp tác để vượt qua những trở ngại. Trong khi đó, các công ty Trung Quốc cần chuẩn bị những kế hoạch dự phòng để làm thế nào tăng cường liên lạc với các quan chức và doanh nghiệp ở các nước dọc theo tuyến đường BRI để giải quyết mọi vấn đề nhanh nhất có thể. Nếu cần, chính phủ Trung Quốc cũng nên cung cấp một số hỗ trợ để giúp các doanh nghiệp nước này trấn an các đối tác nước ngoài rằng các dự án không bị ảnh hưởng nhiều.

Nguồn: TKNB – 04/02/2020.

Nhiều nước Đông Nam Á thất bại trong dập dịch virus corona


Mặt trái của sự liên kết sâu rộng với Trung Quốc

Các quốc gia Đông Nam Á có liên kết về thương mại, giao thông và biên giới rộng mở với Trung Quốc. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi khu vực này là một trong những nơi đầu tiên bên ngoài Trung Quốc Đại lục và Hong Kong đối mặt với các trường hợp nhiễm virus corona.

Mọi sự chuẩn bị của khu vực đều ít có khả năng ngăn chặn được sự lây lan của virus.

Đông Nam Á lllà một trong những điểm đến du lịch lớn nhất của du khách Trung Quốc và vì kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, nhiều người đã rời Vũ Hán, tâm dịch virus corona trước khi thành phố bắt đầu đóng cửa.

Rõ ràng, chính quyền Trung Quốc không thể viện lý do này để biện minh cho việc chậm trễ thông báo tình hình dịch bệnh cho các quốc gia khác.

“Gương sáng” Singapore

Tuy nhiên, ngay cả khi phía Trung Quốc đã thận trọng hơn, thực tế vẫn có một số chính phủ Đông Nam Á phản ứng yếu kém với đại dịch. Và chính điều đó làm tăng nguy cơ bùng phát dịch lớn hơn ở các nước này.

Trên thực tế, trừ Singapore, nhiều chính phủ Đông Nam Á đã không có phản ứng hiệu quả. Tuy nhiên, diện tích Singapore chỉ cỡ một thành phố và quốc đảo này còn rất giàu có so với tất cả các nước láng giềng. Ngoài ra, Singapore có thành tích đáng nể trong các chiến dịch y tế công cộng có tổ chức.

Những “người anh em” nghèo

Không phải tất cả các quốc gia “anh em” trong khu vực của Singapore đều thực sự “có lỗi”. Một số quốc gia trong khu vực, như Campuchia và Việt Nam, có nguồn lực y tế công cộng khá hạn chế.

Về bản chất, các khu vực lục địa Đông Nam Á gần biên giới với Trung Quốc có rất “nhiều lỗ hổng” để những “dòng người” “chảy qua”. Hơn nữa, trong một số trường hợp như biên giới Myanmar – Trung Quooốc, thậm chí có những khu vực không nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền trung ương. Tuy nhiên, Myanmar cho đến nay may mắn chưa có trường hợp nào xác nhận dương tính với virus corona, trong khi Campuchia và Việt Nam đã có báo cáo về ca nhiễm bệnh.

Những “người anh em” giàu có

Ngay cả các quốc gia Đông Nam Á giàu có cũng phản ứng chậm chạp và thiếu hiệu quả trước đại dịch virus corona. Indonesia là một ví ụ.

Bộ trưởng Y tế nước này Terawan Agus Putranto thậm chí rất “bình thản” khi trấn an người dân: “Đừng quá lo lắng. Hãy tận hưởng”. Ông cũng khuyên người dân Indonesia cầu nguyện và suy nghĩ tích cực.

“Sự thất bại” của Thái Lan

Thái Lan là ví dụ điển hình của một chính phủ Đông Nam Á thất bại trong nỗ lực kiểm soát virus corona.

Ngành du lịch Thái Lan phụ thuộc nhiều vào du khách Trung Quốc và các công ty lớn nhất nước này cũng có liên kết thương mại và đầu tư rộng mở với Trung Quốc. Thái Lan hiện là quốc gia có nhiều trường hợp nhiễm virus corona nhất bên ngoài Trung Quốc. Mặc dù tất cả những ca dương tính với virus đều là du khách Trung Quốc, song virus này hoàn toàn có thể bùng phát tại Thái Lan. Vương quốc này chần chừ trong việc tạm “ngắt” các liên kết với Trung Quốc có lẽ vì sợ làm tổn thương mối quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh và làm suy giảm lợi nhuận từ du lịch.

Chính phủ Thái La cũng chậm trễ trong việc thiết lập các trung tâm thông tin để phổ biến cho người dân về virus corona, đồng thời không có các biện pháp phù hợp để bảo vệ sức khỏe của người dân.

Thông tin sai lệch

Khi thông báo cho người dân, chính phủ Thái Lan thường đưa ra thông tin sai lệch, gây nhầm lẫn và khiến dư luận đánh giá thấp virus corona. Các quan chức chính phủ nước này còn tức giận khi phải minh bạch về cách họ xử lý ổ dịch. Hệ quả thật đáng sợ. Chính quyền Thái Lan đang cảnh báo nguy cơ bùng phát virus ở các trung tâm du lịch lớn, như Bangkok và Phuket, dẫn đến tăng đột biến ca nhiễm. Khi virus lây lan, Thái Lan có thể phải trả giá đắt.

Nguồn: www.theglobalist.com

TKNB – 05/02/2020

Xung đột xã hội: Chiều cạnh triết học – Phần cuối


Kiểu xung đột thứ ba – giữa các tập đoàn xã hội ngay bên trong xã hội. Chủ nghĩa Marx đã chú ý đặc biệt tới kiểu này, vì xung đột giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, theo Marx, là cái mở đường dẫn tới sự thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội. Nếu như ở phương Tây, nhờ có siêu lợi nhuận do “thế giới thứ ba” đem lại và nhờ sự khôn ngoan của giai cấp tư sản bằng kinh nghiệm lịch sử, cuộc xung đột này đã chuyển sang các hình thức văn minh hơn, chỉ bùng ra thành các cuộc đình công riêng lẻ hay các cuộc biểu tình, thì ở các nước ngoại vi CNTB cuộc xung đột này gắn chặt với cuộc đấu tranh của giải cấp nông dân nghèo chống lại bọn điền chủ quyết định tình thế xã hội và nó bùng lên thành các cuộc nổi dậy có vũ trang (thí dụ như vào đầu năm 1994 ở bang Chiapas của Mexico chống lại nhà nước và các giai cấp cầm quyền).

Ở Nga và ở hàng loạt các nước SNG khác, đã bước vào con đường quá độ lên nền kinh tế thị trường theo các công thức của “trường phái Chicago”, các cuộc xung đột xã hội kiểu đó đang làm rung chuyển xã hội. Cuộc khủng hoảng nợ (15.000 tỷ rúp vào đầu tháng 2 năm 1994) đã dẫn tới sự đình trệ của hàng loạt ngành công nghiệp, ngoài ra không chỉ của các tổ hợp công nghiệp quân sự (VPK) không đủ vốn để chuyển hướng sản xuất, mà là toàn bộ tổ hợp các ngành năng lượng – nguyên liệu, chế tạo máy (những cơ sở sản xuất chính máy nông cụ do khủng hoảng về tiêu thụ, ở nông thôn không có tiền) công nghiệp dệt… Bãi công, tuyên bố sẵn sàng bãi công đã thành chuyện cơm bữa. Đứng về một phía đối lập là công nhân, viên chức, cán bộ, kỹ sư kỹ thuật, tức là bộ phận cơ bản người lao động làm thuê tập trung trong các xí nghiệp nhà nước và bán nhà nước (cách gọi tạm thời để chỉ cán bộ nghiên cứu khoa học các công ty cổ phần mới ra đời trong quá trình tư nhân hóa); còn phía kia là nhà nước và các chủ sở hữu mới. Trong các chủ sở hữu này – các công ty mua bán rất rẻ các túi cổ phiếu (ở Uralmasha từ trước việc bao mua với giá rẻ mạt của cư dân công ty Moscow “Bioprocess” đã có 18,5% toàn bộ các cổ phiếu, các thí dụ tương tự như vậy rất nhiều). Còn ban giám đốc và những người thân ông ta ấn định cho mình mức cao gấp hàng trăm lần so với mức lương trung bình của công nhân viên chức, ngoài ra “những kẻ chụp giật được” một món tiền cổ phiếu kếch xù trong thời gian tư nhân hóa và từ những người điều khiển quán lý đại diện cho xã hội, họ đã chuyển thành những chủ sở hữu vốn. Nếu lưu ý tới sự phụ thuộc hoàn toàn về tài chính của các xí nghiệp vào các ngân hàng thương mại và các thị trường chứng khoán (hàng hóa và vốn), vào thị trường chứng khoán trung gian, thì ở “mặt kia” chúng ta sẽ nhìn thấy một giai cấp tư sản mới đang được bổ sung bằng kiểu rất nhanh từ các nhóm elite kể trên, và liên kết với nó là giới quan chức cao cấp tham nhũng trong bộ máy hành chính ở cả trung ương lẫn địa phương.

Đó là ba lọa hình cơ bản xung đột xã hội trong thời đại chúng ta. Tính chất của các chủ thể tham gia xung đột là cái quyết định các phương thức giải quyết xung đột, các hình thức áp dụng bạo lực cũng như các tiêu chuẩn luật pháp làm cơ sở để các bên đối lập có thể bước vào thương lượng và đạt tới sự thỏa hiệp mà không cần phải dùng tới bạo lực đại trà. Những rắc rối riêng lẻ ở cấp  các nhóm nhỏ và cá nhân trên thực tế không thể tránh khỏi trong mọi trường hợp. Thậm chí các cuộc tranh cãi trong quốc hội, như ta đã biết thường có thể biến thành cuộc ẩu đả, dù là ở Nhật Bản hay nước Nga.

Có ý nghĩa hết sức quan trọng là câu hỏi mà chúng ta đặt ra khi bước vào thảo luận. Sự đụng độ về lợi ích tất yếu đi đôi với sự đụng độ về ý kiến đánh giá lập trường xuất phát đạt được trng tiến trình xung đột và các kết quả cuối cùng khi giải quyết xung đột. Những đánh giá này thường đối lập nhau, bởi vì thắng lợi của bên này tức là thất bại của bên kia và ngược lại. Chính vì vậy các phạm trù đánh giá loại công bằng – bất công ở đây không dùng được. Trong những điều kiện của một xã hội vận hành ổn định, tiêu chuẩn vai trò xã hội của xung đột có thể là tương quan giữa những cái được và những cái mất, hay nói cách khác, cái mà xã hội phải trả cho nó: những mất mát về vật chất, đạo đức, con người khi đối sánh chúng với những bước tiến đạt được và với những triển vọng được mở ra. Chính vì thế ngay cả với một hệ thống hoạt động ổn định, lập trường của thuyết cơ cấu chức năng coi xung đột xã hội là “sự sai lệch bệnh hoạn”, “giải chức năng”, là một quan điểm phiến diện và bởi vậy, không thể chấp nhận được. Các cuộc xung đột xung quanh dân quyền ở Mỹ không tránh khỏi những tổn thất, kể cả vụ sát hại L.M. King, nhưng đồng thời xung đột đã góp phần tạo nên một bước tiến căn bản về số phận của dân da đen ở Mỹ và nhìn chung chúng đã làm cho xã hội ngày càng lành mạnh hơn.

Phức tạp hơn là vấn đề về việc đánh giá các cuộc xung đột xã hội dẫn tới các chuyển biến về chất trong sự phát triển lịch sử của xã hội. Ở đây chúng ta không thấy tiêu chí khác hơn là đánh giá xung đột trên lập trường tiến bộ lịch sử (với tất cả cuộc tranh luận về sự giải thích khái niệm này!). Sự hình thành các nhà nước dân tộc ở châu Âu đã mang lại không gian tự do để khắc phục tình trạng phong kiến cát cứ và để phát triển chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành đó đã kéo theo nhiều cuộc xung đột và chiến tranh, việc đánh giá chúng rất không đơn giản, cần phải có cách tiếp cận ịch sử – cụ thể. Trong chủ nghĩa Marx bị giáo điều hóa thống trị ở nước trong suốt hàng chục năm, nguyên tắc này đã được nêu ra, nhưng không được tuân thủ. Phép biện chứng rất coi trọng ý nghĩa to lớn của vai trò mâu thuẫn trong sự phát triển xã hội, nhưng phải chăng như vậy mâu thuẫn nào và xung đột nào cũng tương ứng với tư cách là sự gay gắt của mâu thuẫn về thực chất, cũng là có lợi? Trong “Từ điển triết học” chúng ta đọc: “Mâu thuẫn là phạm trù, biểu hiện nguồn gốc bên trong của mọi sự phát triển, mọi vận độn”. Từ đó mà có sự đánh giá tích cực một chiều về xung đột xã hội, nhưng nếu áp dụng đối với các đụng độ của các quốc gia và các sắc tộc người ta có phần thận trọng, thì xung đột bên trong một xã hội hoàn toàn phù hợp với định nghĩa như vậy. Ngoài ra, xã hội Xô Viết trong giai đoạn chủ nghĩa xã hội, là trường hợp ngoại lệ của quy tắc chung; sự thống nhất xã hội được công nhận là không có mâu thuẫn bên trong mang tính chất xã hội, tức là giữa giai cấp các tập đoàn xã hội; nhiều lắm cũng chỉ nói về những khác biệt căn bản, và sau đại hội lần thứ XX – về các mâu thuẫn không đối kháng. Để biện minh cho sự khủng bố hàng loạt kéo theo sự hy sinh của hàng triệu người, người ta đã đặt ra công thức “kẻ thù của nhân dân” cần trấn áp vì đó là đại diện của các lực lượng thù địch bên ngoài, gián điệp hay tình báo của nước ngoài. Các mâu thuẫn và các xung đột bên trong đã được “chuyển ra ngoài”, đực xem như là sự biểu hiện của các mâu thuẫn và xung đột, bên ngoài.

Việc phân tích các tác phẩm của Marx và Engels cho thấy rằng không phải xung đột xã hội nào cũng được xem là “động lực của tiến bộ”. Câu danh ngôn của Marx “bạo lực là bà đỡ của bất kỷ xã hội cũ nào, khi nó đang thai nghén cái mới” được dành để nói tới các cuộc cách mạng xã hội, thí dụ Cuộc cách mạng Pháp năm 1789 – 1793. Xin lưu ý rằng, ngay hiện nay vẫn có những người ca ngợi không phải cuộc các mạng vĩ đại này, mà cuộc nổi dậy ở Vandea, cái được coi là biểu tượng của phản cách mạng. Nhân loại kỷ niệm 200 năm cuộc Cách mạng Pháp, bởi vì tiến trình lịch sử của châu Âu và của toàn thế giới đã xác nhận rằng, Cách mạng Pháp đã thúc đẩy tiến bộ xã hội. Điều này, tất nhiên không biện minh cho mọi tham vọng được thực hiện nhân danh nó.

Cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã làm dấy lên trận cuồng phong những phản ứng hân hoan và hằn học, cũng giống như những hoạt động nhân danh những lý tưởng của nó và những hoạt động nhằm mục đích “bóp chết” cuộc cách mạng này “ngay khi còn trong nôi”, như cách của W. Churchill. Ở nước Nga, cuộc cách mạng tháng Mưỡi vĩ đại đã được nghiên cứu xem xét trong nhiều năm, nói theo cách nói của Stalin, nó như là “bước ngoặt căn bản trogn lịch sử toàn thế giới của nhân loại” theo hướng giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Sau đó, khi những kỳ vọng về một cuộc cách mạng vô sản toàn thế giới không còn nữa nổi lên hàng đầu là việc đánh giá ý nghĩa dân tộc của cuộc cách mạng tháng Mười, cái đã nâng đất nước trong một thời hạn lịch sử ngắn ngủi thoát khỏi nạn mù chữ và cảnh khốn cùng của phần lớn dân cư, lên mức sống khá đầy đủ trên cơ sở những đảm bảo xã hội, tiến tới đỉnh cao của tiến bộ khoa học – kỹ thuật, tình hữu nghị giữa các dân tộc. Không có các thành tưu của những năm 20 – 30, đất nước chắc chắn đã không thể đương đầu nổi sự tấn công ồ ạt của quân xâm lược Đức, và nếu không đạt được thế cân bằng về tên lửa hạt nhân, thì chắc đã không thể đứng vững được trước sự bành trước của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, kẻ đã trù tính sự tấn công bằng hạt nhân vào Liên Xô trong những năm 50. Khuynh hướng tâng bốc các thành tựu của mình và chủ nghĩa lạc quan sáo rỗng sống rất dai dẳng ngay cả khi tình hình bắt đầu ngày càng xấu đi, và sự tụt hậu so với phương Tây đã gia tăng. Để làm ví dụ có thể dự báo của viện sĩ A.G. Agenbegjan – vào năm 1988 cho rằng đến dịp kỷ niệm 100 năm cách mạng tháng Mười, tức là vào năm 2017, Liên Xô sẽ vượt Mỹ và Nhật trên tất cả các chỉ tiêu, sẽ đứng vị trí hàng đầu thế giới. “Những dự báo” tương tự càng làm sâu sắc hơn sự không tin tưởng không chỉ đối với chính quyền, mà cả với khoa học bởi vì vào thời gian này đã có một “dự báo” có tính chất toàn cầu – lời hứa của Cương lĩnh của Đảng về việc xây dựng cơ sở của chủ nghĩa cộng sản tới năm 1980 – đã hoàn toàn bị sụp đổ.

Hiện nay đang dâng lên làn sóng ngược lại nảy sinh do sự phá sản của cuộc cải tổ. Liên bang tan rã do sự bần cùng hóa của nhân dân. Thí dụ S.S. Alekseev xem mọi cuộc cách mạng đều là “điều ác tuyệt đối”. Chúng tôi cho rằng đây là hiện tượng nhất thời. Vai trò của cuộc Cách mạng Tháng Mười trogn sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân, trong sự hình thành một chính sách nhằm tập trung vào việc kết hợp các nguyên tắc thị trường và kế họach trong việc quản lý nền kinh tế ở phương Tây và phương Đông là điều  hiển nhiên. Thiết nghĩ rằng trước khi đến ngày lễ kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười, nước ta, dựa vào thành quả được tạo ra sau cuộc cách mạng, sẽ khôi phục lại sức mạnh là một cường quốc của mình và rút ngắn về căn bản khoảng cách ngày tăng (tạm thời là thế) về nền kinh tế và điều kiện sống của nhân dân so với các cường quốc đã tiến theo hướng của xã hội hậu công nghiệp trên thế giới. Vai trò tiến bộ của xung đột xã hội mà xét về quy mô là mang tính chất toàn cục này sẽ được lịch sử chiếu rọi sáng không kém gì vai trò của cuộc cách mạng Pháp.

Người dịch: Triệu Thị Ánh

TĐB 94 – 24 & 25

Đóng cửa biên giới và tác động đến kinh tế Việt Nam


Đài RFI ngày 3/2 cho rằng dịch viêm đường hô hấp cấp do virus corona mới đã bắt đầu ảnh hưởng đến nền kinh tế của các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nếu Việt Nam buộc phải đi đến quyết định đóng cửa hoàn toàn biên giới với Trung Quốc, chắc chắn tác hại sẽ còn nặng nề hơn, vì nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế của nước láng giềng phía Bắc. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan phân tích:

Việc Việt Nam có nên đóng cửa biên giới với Trung Quốc, như một số nước đã làm, hay không – điều này sẽ tùy thuộc vào việc Trung Quốc kiểm soát được dịch bệnh ở nước họ như thế nào và các biện pháp phòng ngừa cảu Việt Nam chặt chẽ đến đâu. Hiện nay, số nước đóng cửa biên giới với Trung Quốc còn rất ít và người Trung Quốc thì đang đi du lịch khắp nơi, chứ không phải chỉ ở những nước lân cận như Việt Nam. Khả năng lây nhiễm sang Việt Nam có thể cao hơn các nước khác, bởi vì người Trung Quốc đi lại Việt Nam khá dễ dàng. Chính phủ đã có biện pháp khẩn cấp là thành lập mộ tủy ban để chống dịch bệnh này, cũng như trước đây đã giải quyết dịch SARS từ Hong Kong. Nếu tình hình quá cần thiết, chính phủ cũng sẽ phải đóng cửa biên giới vì tính mạng của người dân Việt Nam vẫn là quan trọng hàng đầu. Cần phải tránh việc lây lan và qua Việt Nam, dịch bệnh có thể tiếp tục đi sang các nước khác nữa Việc nghiêm túc bằng mọi cách để tránh du lịch là điều hết sức cần thiết và Việt Nam sẵn sàng trả giá, kể cả về kinh tế và thương mại, nếu như cần phải thực hiện biện pháp quan trọng nhất và cũng kh1o nhất là đóng cửa biên giới với Trung Quốc.

Hiện nay, đã có một số địa phương tuyên bố ngừng tiếp nhận du khách Trung Quốc, như tại Lào Cai, Đà Nẵng, nơi có nhiều khách Trung Quốc đến. Đó là những bước đầu cần thiết, còn đóng cửa biên giới hoàn toàn sẽ là biện pháp cao hơn và khó hơn rất nhiều.

Liệu Việt Nam có đủ khả năng để đóng cửa hoàn toàn biên giới với Trung Quốc? Đối với các cửa khẩu sân bay thì có thể dễ, nhưng đối với các cửa khẩu trên bộ thì liệu có thể ngăn chặn được 100%, bà Phạm Chi Lan nói: “Tôi nghĩ là ngăn chặn được, vì hiện nay các cửa khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đều có các cơ quan liên quan làm việc ở đấy, kiểm soát người qua lại biên giới.

Tất nhiên vẫn có những tuyến đường buôn bán hàng lậu ở biên giới, có những người chui lủi qua các đường rừng, đường ven rừng, đường khe núi, để mang hàng hóa sang. Những đường đó có thể là khó kiểm soát. Nhưng nếu tăng cường kiểm soát thì có thể làm được, bởi vì người dân và chính quyền địa phương biết rõ có những ngõ ngách nào mà các nhóm buôn lậu thường lợi dụng để đi qua lại. Nhưng kiểm soát 100% thì cũng khó, vì có những người đã sang đây từ trước khi bệnh dịch được công bố ở Trung Quốc. Không thể kiểm soát được nguồn nhiễm bệnh mà họ đã có từ trước, khi họ đã qua đây rồi hoặc họ đã sang đây rồi quay trở lại Trung Quốc. Nhưng tôi cho là muốn kiểm soát thì vẫn có thể kiểm soát được”.

Tác động tới du lịch và thương mại

Theo bà Phạm Chi Lan, nếu chính phủ Việt Nam buộc phải đi đến quyết định đóng cửa hoàn toàn biên giới, điều này sẽ ảnh hưởng trước tiên chắc chắn là đến ngành du lịch, vì hiện tượng du khách Trung Quốc sang Việt Nam hàng năm chiếm đến 30 – 40% tổng số khách du lịch từ nước ngoài. Khách du lịch Trung Quốc đã là một nguồn rất lớn cho việc phát triển du lịch Việt Nam trong thời gian qua: “Có nhiều tour du lịch đã được đặt sẵn từ trước, bây giờ không nhận nữa và hợp đồng phải thay đổi, thì sẽ gây tổn hại cho các công ty du lịch Việt Nam, những cơ sở đã nhận hợp đồng tiếp nhận khách Trung Quốc.

Tôi mong là trong việc này Trung Quốc cũng sẽ có biện pháp ngăn chặn người Trung Quốc đi các nơi, với khả năng mang theo dịch bệnh rất lớn và như vậy gây tổn hại cho nước chủ nhà tiếp nhận, ảnh hưởng đến cả uy tín của Trung Quốc trong việc không có những biện pháp ngăn chặn cần thiết mà để nó lây lan sang các nước khác”.

Về thương mại, khi ngành du lịch bị tác hại như vậy, các giao thương khác chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng trong một thời gian nhất định, cho đến khi nào phía Trung Quốc ngăn chặn được hoàn toàn dịch bệnh này, không để cho nó lây lan sang nữa. Việt Nam đang có quan hệ kinh tế rất nhiều mặt với Trung Quốc, đặc biệt là về thương mại, về nhập khẩu từ Trung Quốc. Nguồn lây nhiễm cũng có thể là qua quan hệ giao thương, về xuất nhập khẩu, đầu tư, vì có những người vì công việc phải đi lại với nhau, chứ không chỉ có du khách. Tuy nhiên, bà Phạm Chi Lan nói: “Cho dù thế nào, cái giá phải trả cho tính mạng người dân thì không gì có thể tính được. Cho nên điều quan trọng nhất là phải làm sao chặn không để dịch bệnh xảy ra ở Việt Nam, ảnh hưởng đế người dân, bởi vì khi dịch bệnh xảy ra, cái giá phải trả về kinh tế, thương mại và các mặt khác sẽ còn cao hơn rất nhiều so với cái giá của việc đóng cửa biên giới với Trung Quốc”.

Trong trường hợp đóng cửa biên giới, thì lưu lượng hàng theo lẽ xuất sang Trung Quốc sẽ bị ứ đọng lại. Chưa rõ chính phủ chuẩn bị và tính đến các phương án nào, nhưng bà Phạm Chi Lan tin tưởng: “Vào thời điểm như thế này thì bản thân các nhà kinh doanh hay những nhà sản xuất của Việt Nam cũng sẽ phải đủ tỉnh táo để thấy là tự họ phải chuẩn bị cho họ rồi.

Khi Việt Nam buộc phải đóng cửa biên giới thì việc làm ăn của họ chắc chắn bị ảnh hưởng, họ cũng phải sẵn sàng chịu và chuẩn bị cho các tình huống khác nhau, chứ không thể chỉ trông chờ hoàn toàn vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Với tính năng động vốn có của họ, các doanh nghiệp phải tự tìm kiếm các thị trường khác thôi. Thật ra, trong những năm qua trong quan hệ Việt – Trung đã từng xảy ra những tình huống phức tạp, ví dụ như khi tàu bè Trung Quốc vào khu vực Bãi Tư Chính hoặc là khi quan hệ hai nước căng lên, các nhà kinh doanh phải tính các con đường để có thể xuất hàng của họ đi nơi khác, nếu Trung Quốc không mua, hoặc nhập khẩu từ các đường khác, nếu Trung Quốc không bán”.

Nông nghiệp bị tổn hại nặng

Theo dự đoán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thương mại nông, lâm, thủy sản của Việt Nam và Trung Quốc sẽ bị tác động theo hướng tiêu cực trước diễn biến phức tạp và khó lường của dịch viêm đường hô hấp cấp. Cả hai nước sẽ diễn ra tình trạng ùn tắc, dư cung cục bộ do hạn chế giao dịch tại các chợ biên giới hai nước. Hiện tại, theo kết quả báo cáo của Bộ NN & PTNT, ngành hàng đầu tiên chịu tác động là sản phẩm hoa quả, cụ thể hiện nay quả thanh long và dưa hấu. Ngoài ra, trong lĩnh vực chăn nuôi, việc xuất khẩu các sản phẩm sang Trung Quốc sẽ gặp khó khăn khi thông thương nội địa và quốc tế của Trung Quốc bị đình trệ.

Dưới góc nhìn chuyên môn, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế trình bày về những thiệt hại kinh tế mà dịch bệnh corona gây ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam: “Rất nhiều rau củ quả, hàng nông sản của Việt Nam bán sang Trung Quốc đang bị ảnh hưởng, cả chiều ngược lại cũng vậy, những hàng của Trung Quốc cũng bị hạn chế rất nhiều khi nhập vào Việt Nam. Nói chung, ngoại thương của Việt Nam đang bị ảnh hưởng bởi corona và nước hiện tại mình có ngoại thương rất lớn là Trung Quốc là trường hợp điển hình. Nhưng có thể sẽ lan tỏa sang những quốc gia khác vì mình không chỉ bán nông sản sang Trung Quốc mà nhiều nước khác nữa”.

Vẫn theo Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, không chỉ riêng Việt Nam, mà nền kinh tế thế giới sẽ chịu tác động trong thời gian dài sắp tới do dịch virus corona; nhưng hiện tại còn quá sớm để đưa ra nhận xét: “Chúng ta phải chờ xem liệu dịch bệnh có kiểm soát trong vòng tháng 2 hay không. Nếu được kiểm soát, nền kinh tế thế giới sẽ trở lại bình thường, Việt Nam qua những hiệp định thương mại sẽ tiếp tục phát triển ngoại thương. Nhưng trong trường hợp dịch bệnh bùng phát mạnh mẽ trong tháng 2 ảnh hưởng cả thế giới thì dĩ nhiên kinh tế Việt Nam cũng bị tác động mạnh mẽ bởi dịch bệnh này. Những ngành nghề như du lịch, giao thông vận tải, nông nghiệp, nông sản, kể cả người lao động vì hiện tại Việt Nam tiếp nhận rất nhiều người lao động Trung Quốc đồng thời là người lao động Việt Nam làm ở các nước khác. Nếu dịch bệnh này lan tỏa sẽ ảnh hưởng đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam”.

Phát biểu ngày 3/2, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết nếu dịch bùng phát nhiều tháng, Bộ NN & PTNT sẽ phối hợp với các ban ngành thúc đẩy đưa hàng hóa nông sản vào tiêu thụ tại các hệ thống siêu thị lớn, ưu tiên thị trường nội địa.

Đồng ý với phương pháp của Bộ NN & PTNT vừa nêu, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiệu còn bổ sung thêm những giải pháp sau: “Trước nhất là chính phủ nên đi tìm những thị trường khác ngoài Trung Quốc để có thể bán nông sản của mình, có thể thay thế thị trường Trung Quốc. Điều thứ hai quan trọng là tất cả thông tin về dịch bệnh cần chính xác và minh bạch để tất cả mọi người trong nền kinh tế biết được dịch bệnh đang tác động thế nào ở Việt Nam cũng như trên thế giới, từ đó các nhà kinh doanh có phương án đối phó với dịch bệnh. Điều thứ ba tất cả chính sách tiền tệ cần phải có sự hỗ trợ nông nghiệp một cách mạnh mẽ hơn chẳng hạn cho vay lãi suất thấp, dồn lực vào vấn đề hỗ trợ nhà nông, nông nghiệp để vượt qua khó khăn trong lúc này”.

Nguồn: TKNB – 05/02/2020

Về vấn đề đóng cửa biên giới


Số liệu cập nhật cho thấy tính đến 5/2, dịch viêm đường hô hấp cấp do virus corona (nCOV) đã lây lan ra 28 nước và vùng lãnh thổ, với hơn 24.500 ca nhiễm bệnh và 493 ca tử vong. Dù số ca nhiễm nCOV trên thế giới không ngừng gia tăng, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày 4/2 nhấn mạnh đợt bùng phái hiện nay đang ở giai đoạn một dịch bệnh với nhiều ổ bệnh, chưa lên tới mức đại dịch, và vẫn còn có “cơ hội ngăn chặn” virus corona trước khi trở thành một cuộc khủng hoảng toàn cầu.

Khi thông tin về sự bùng phát của loại virus này lan truyền trên truyền thông trước Tết Nguyên đán, các quốc gia đã có các hành động phản ứng khác nhau. Một số quốc gia đã kiên quyết cấm nhập cảnh những du khách đã tới Trung Quốc trong thời gian gần đây. Điển hình là Mỹ. Mỹ đã cấm nhập cảnh các du khách đã ở Trung Quốc trong vòng hai tuần qua. Nhật Bản và Singapore cũng tương tự. Triều Tiên là quốc gia đóng cửa biên giới sớm nhất, nhờ vậy mà chưa thấy có người bị nhiễm virus Vũ Hán ở quốc gia này.

Ngày 3/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh đã chỉ trích đích danh Mỹ. Bà nhấn mạnh thay vì hỗ trợ cho Trung Quốc chống dịch, Mỹ lại tạo ra và gieo rắc nỗi sợ hãi trên thế giới: “Mỹ là quốc gia đầu tiên rút về nước một số nhân viên ngoại giao tại Trung Quốc và tại Vũ Hán – tâm dịch nCOV. Mỹ cũng là nước đầu tiên ra lệnh cấm nhập cảnh đối với toàn bộ công dân Trung Quốc”.

Theo đài RFA, ý tứ củ Bắc Kinh là dù virus nguy hiểm đến tính mạng người dân, nhưng chính phủ Mỹ không nên “chăm chăm bảo vệ người dân của mình”, mà phải giữ quan hệ đại cục với Trung Quốc”, muốn rút nhân viên về nước hay không phải được sự đồng ý của Trung Quốc. Như vậy, có thể suy luận được rằng, mặc dù dịch virus nguy hiểm vô cùng, nhưng chính quyền Bắc Kinh chỉ lo “giữ thể diện” của một cường quốc. Để “giữ mặt”, Trung QUốc cũng dùng sức ép để các quốc gia hác không được trái ý “thiên triều”. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng tương tự.

Mới đây, báo chí Ấn Độ đã cho biết, sau khi các nhà nghiên cứu Ấn Độ buộc phải từ bỏ nghiên cứu về mối liên hệ giữa virus Vũ Hán với virus HIV, nay nhà chức trách Ấn Độ thực hiện một cuộc điều tra xem xét việc Viện Nghiên cứu Virus của thành phố Vũ Hán có được phép thực hiện nghiên cứu các mẫu vật sống từ dơi và người hay không. Điều này cho thấy còn rất nhiều ngờ vực trng việc bỗng nhiên bùng phát loại virus đáng sợ này. Và một điều đáng nghi vấn là hầu hết các nạn nhân tử vong đều ở Trung Quốc.

Trên trang web của tạp chí GreatGameIndia chuyên về quan hệ quốc tế của Ấn Độ mới đây đã đăng bài phỏng vấn chuyên gia luật – Tiến sĩ Francis Boyle, người đã tham gia soạn thảo Đạo luật Vũ khí Sinnh học. Chuyên gia này khẳng định rằng virus Vũ Hán là sản phẩm của một cuộc tấn công bằng vũ khí sinh học và WHO biết điều đó.

Cuộc điều tra mới bắt đầu nên chưa thể có kết luận, nhưng những điều đó cũng cho thấy nghi vấn về nguồn gốc của loài virus này là một sản phẩm của quân đội Trung Quốc cũng không phải là hoàn toàn vô lý.

Thông itn mới nhất về các quy định hạn chế đi lại ở các quốc gia: Từ chối nhập cảnh với tất cả du khách nước ngoài gần đây đã đến Trung Quốc gồm Mỹ, Australia, Singapore; Từ chối nhập cảnh với người nước ngoài đến từ Trung Quốc đại lục gồm New Zealand, Israel (Nga cũng sẽ áp dụng những hạn chế này, nhưng không áp dụng tại sân bay quốc tế chính của Moskva là Sheremetyevo); Từ chối nhập cảnh với người nước ngoài đã đến tỉnh Hồ Bắc gồm Nhật Bản, Hàn Quốc. Đình chỉ tạm thời tất cả các chuyến bay đến Trung Quốc đại lục gồm Ai Cập, Phần Lan, Indonesia, Anh, Italy; Đóng cửa biên giới với Trung Quốc gồm Mông Cổ, Nga (một phần); Tổ chức đại diện cho các nhà khai thác tàu du lịch lớn nhất thế giới, Hiệp hội Quốc tế Cruise Lines, đã thông báo rằng hành khách và thủy thủ đoàn gần đây đã đến Trung Quốc sẽ không được lên tàu.

Nguồn: TKNB – 06/02/2020.