Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần III


Do có các phản ứng đối với những cuộc xung đột quân sự thỉnh thoảng lại xảy ra ở Biển Nam Trung Hoa trong những năm gần đây, tất cả các bên có lý do để tỏ ra thận trọng với những cơ hội nhằm theo đuổi sự tiến bộ trong vấn đề Trường Sa. Những cố gắng xây dựng lòng tin giữa các bên có thể là bước đệm cho sự gia tăng căng thẳng về sau. Việc Trung Quốc chiếm giữ đảo Vành Khăn (Bãi đá ngầm Meijijiao) nằm trong đặc khu kinh tế của Philipines hồi tháng 2 năm 1995 làm người ta chú ý nhiều hơn tới việc tranh chấp này. Việc làm này cũng đã gây phản ứng của ASEAN. Trung Quốc phản ứng lại một cách thận trọng và có vẻ hòa giải, và nó đã thúc giục chính quyền Mỹ đưa ra tuyên bố về chính sách đối với vấn đề này và đã được các nước ASEAN hoan nghênh.

Vào cuối năm 1995, Trung Quốc đã đồng ý trên nguyên tắc thiết lập “các quy tắc quản lý” tay đôi ở quần đảo Trường Sa với Việt Nam và Philippines bao gồm những cam kết giải quyết tranh chấp ở Trường Sa bằng biện pháp hòa bình, mặc dù Trung Quốc đã phớt lờ yêu cầu của Philippines đòi trả lại đảo Vành Khăn (Bãi đá ngầm Meijijiao).

Những tiến triển mới trong cuộc tranh chấp này có thể mở cửa cho những tiến bộ về sau. Hiện tại vì không có quân đội của nước nào trong khu vực có khả năng đủ mạnh để khẳng định những đòi hỏi của mình, cho nên những mối quan hệ trong khu vực nhìn chung là mang tính hợp tác và không đe dọa, và những đánh giá về tiềm năng tài nguyên trong khu vực cho thấy chỉ sau một thời gian dài nó mới bộc lộ những lợi ích quan trọng. Tất cả những nhân tố tích cực này có thể thay đổi, nhưng cũng có thể có cơ hội mở ra sự tiến bộ thông qua những cuộc đàm phán chính trị để ngăn chặn trước sự leo thang về quân sự.

Mặt khác, việc quá nhấn mạnh tầm quan trọng về nguồn tài nguyên hiện nay và tiềm năng chiến lược của Biển Nam Trung Hoa có thể đẩy việc tranh chấp Trường Sa tới chỗ bế tắc. Việc xem xét kỹ lưỡng những vấn đề tâm lý gắn với Trường Sa đã làm những vấn đề về việc làm thế nào để nhận biết một cách đúng đắn đâu là “người thắng, kẻ bại” trong cuộc tranh chấp này. Sự bận tâm của Trung Quốc đối với giai đoạn chuyển tiếp chính trị ở trong nước cùng những ý thức về chủ nghĩa dân tộc ngày càng tăng trong khu vực cũng là những nhân tố phức tạp làm tăng thêm tiềm năng xung đột.

Bản chất và quan hệ pháp lý của những yêu sách chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa

Câu hỏi ai là chủ nhân của 400 hòn đảo, dải đá ngầm và những mỏm đá (được gọi là quần đảo Trường Sa) nằm rải rác trong khu vực 800 nghìn km2 trên Biển Nam Trung Hoa cho mãi đến những năm 70 vẫn không được đặt ra. (Khu vực Biển Nam Trung Hoa rộng lớn bao gồm cả những dãy đảo khác đã là chủ đề của những cuộc tranh chấp, gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Bãi đá ngầm Macclesfield). Đến những năm 70, khu vực này trở thành mục tiêu cho những cuộc thăm dò của các công ty dầu khí đa quốc gia. Ngoài ra, khả năng xung đột đã tăng lên khi Luật biển quốc tế được soạn thảo và được thể chế hóa sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Tham vọng mở rộng quyền kiểm soát nguồn tài nguyên biển đã thúc đẩy các quốc gia trong khu vực đi đến chỗ có những cuộc khẩu chiến và thậm chí thỉnh thoảng xảy ra cuộc đối đầu quân sự về chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa.

Trong những năm 1980 – 1990, phần lớn các quốc gia đã lao vào cuộc chạy đua tìm cách củng cố cho những đòi hỏi chủ quyền hợp pháp của mình bằng việc chiếm giữ các hòn đảo hoặc dựng những cột mốc trên các hòn đảo nếu đóng quân không được tiện lợi. Trong một số trường hợp các bên đòi hỏi chủ quyền thậm chí còn xây dựng các công trình kiến trúc tại các điểm chủ chốt, những công trình kiến trúc này hoàn toàn bị ngập chìm dưới nước lúc thủy triều cao, nhằm duy trì sự có mặt của con người trên những hòn đảo này trong những điều kiện khó khăn gian khổ. Hiện tại, Việt Nam chiếm giữ hơn 20 hòn đảo hoặc bãi đá, Trung Quốc chiếm giữ 8, Đài Loan 1, Philippines 8 và Malaysia chiếm từ 3 đến 6 hòn đảo.

Cuộc chạy đua chiếm đóng quần đảo Trường Sa đã làm tăng khả năng xung đột, dẫn đến 3 trường hợp đe dọa sử dụng quân sự trong những năm gần đây, một trong những trường hợp ấy là cuộc xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam ở đảo Chữ Thập (đảo Song Tử) năm 1988, trong cuộc xung đột này, Trung Quốc đã bắn chìm 3 tàu của Việt Nam và giết hại 72 người. Năm 1992, việc Trung Quốc loan báo nhượng hợp đồng thăm dò dầu khí cho công ty Crestone của Mỹ cùng với việc chiếm giữ dải đá ngầm Dalac và việc triển khai theo sau đó 3 tàu ngầm thông thường loại Romeo để tuần tra khu vực này đã làm thức tỉnh mối lo ngại từ các nước ASEAN – những quốc gia vừa mới kêu gọi không sử dụng vũ lực trong việc giải quyết những tranh chấp ở quần đảo Trường Sa trong tuyên bố Manila về Biển Nam Trung Hoa. Thứ ba, việc phát hiện ra rằng người Trung Quốc đã chiếm đóng đảo Vành Khăn nằm trong việc phát hiện ra rằng người Trung Quốc đã chiếm đóng đảo Vành Khăn nằm trong vùng độc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines đã dẫn đến các cuộc đụng độ giữa tàu chiến của Philippines và Trung Quốc tháng 3, 4 năm 1995. Cuộc đối đầu ở đảo Vành Khăn càng làm cho thế giới chú ý và quan tâm tới cuộc tranh chấp Trường Sa trong thời gian gần đây, và sự quan tâm đó càng được gia tăng bởi áp lực quân sự của Trung Quốc chống lại Đài Loan.

Các điều luật quốc tế xác đáng và mối quan hệ của chúng với cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa

Các tài liệu làm cơ sở cho những yêu sách lãnh thổ khác nhau ở Biển Nam Trung Hoa có quá ít và thường hay mâu thuẫn về lịch sử. Không có một quốc gia đòi hỏi chủ quyền nào đưa ra được các yêu sách không thể chối cãi về mặt pháp lý và lịch sử. Theo luật quốc tế, những suy xét đầu tiên để đánh giá tính pháp lý của các yêu sách lãnh thổ các đảo bao gồm việc “chiếm đóng thật sự”, việc phát hiện ra đảo, việc đảo đó có nằm trong thềm lục địa của nước đó không, hay, có nằm trong khu vực kinh tế độc quyền (EEZ) chiếu theo luật của công ước Luật biển hay không. (Luật biển cho phép các quốc gia mở rộng EEZ ra 200 hải lý kể từ đường ranh giới của lãnh thổ cùng với các quyền mở rộng thềm lục địa ra 350 hải l1y kể từ đường ranh giới của lãnh thổ).

Ngoài ranh giới vấn đề về quyền sở hữu đảo ra còn có vấn đề là liệu các đảo này “có duy trì được sự sống và đảm bảo cho mình có đời sống kinh tế riêng không”, đây là tiêu chuẩn tối thiểu của một đảo để tạo cho nó có vùng độc quyền kinh tế của riêng nó. Ngay cả khi sự sống ở trên đảo được đảm bảo thì các đảo cũng không có đủ điều kiện bằng khu vực tiếp giáp lục địa để phát sinh EEZ chiếu theo Luật biển hiện hành. Các đảo nhân tạo có các công trình xây dựng được phép nằm trong khu vực an toàn 500 m nhưng không được phép phát sinh EEZ. Nếu các bên tranh chấp thừa nhận các điều khoản của Luật biển đang thịnh hành ở Biển Nam Trung Hoa thì sẽ có khả năng làm giảm phạm vi của những đòi hỏi chồng lấn, bởi vì có một số quốc gia đòi hỏi chủ quyền đã cho rằng các đảo được phân định, thì vấn đề về việc xác định các EEZ như thế nào chính là vấn đề phải xác định được phạm vi và quy mô của những khu vực mà ở đó cần phải có việc thương lượng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ.

Luật biển quy định rằng những khu vực có các yêu sách chủ quyền chồng lấn nhau có thể được giải quyết thông qua thương lượng hòa bình giữa các bên liên quan, hoặc các bên có thể tình nguyện chấp nhận một bên thứ ba hòa giải hoặc xem xét bằng pháp lý thông qua một tòa án quốc tế (ICJ).

Hiện đang có nhiều tiền lệ pháp lý trong việc đánh giá hiệu lực của các yêu sách chủ quyền dựa trên Luật biển, và có nhiều bên tranh chấp (ví dụ Hiệp định Timor năm 1989 giữa Australia và Indonesia hay sự dàn xếp chia sẻ quyền tài phán đối với các khu vực đánh cá tranh chấp giữa Malaysia và Thái Lan) đã tìm được các cách sáng tạo để né tránh các vấn đề chủ quyền nhạy cảm thông qua các chương trình phối hợp khai thác tài nguyên song phương có hạn.

Điểm qua các yêu sách chủ quyền của từng nước

Các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Nam Trung Hoa đều dựa trên các tuyên bố có tính chất lịch sử về sự phát hiện và chiếm đóng. Trường hợp của Trung Quốc đưa ra nhiều tài liệu nhất, nhưng phạm vi các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc (và đặc biệt tuyên bố “đường chín gạch nối” mang tính bành trướng và không xác định của CHND Trung Hoa được thể hiện trên một số bản đồ bao gồm cả các vùng lãnh hải mà các nước khác thường không coi là thuộc Biển Nam Trung Hoa hư đảo Natuna) vẫn không rõ ràng và mâu thuẫn. Nhật Bản chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa trong Chiến tranh Thế giới thứ II và sử dụng đảo Ita Aba (Đảo Thái Bình) để che đậy các hoạt động do thám và như một cơ sở hậu cần, nhưng yêu sách chủ quyền của Nhật đã mất hiệu lực cùng với thất bại của họ trong Chiến tranh Thế giới thứ II. Các tuyên bố chủ quyền của Đài Loan về quyền sở hữu của người Trung Quốc đối với Biển Nam Trung Hoa hoàn toàn giống với các tuyên bố của CHND Trung Hoa và đã có một số dấu hiệu rõ ràng về sự phối hợp lập trường trong yêu sách của người Trung Quốc tại Hội thảo Indonesia về Biển Nam Trung Hoa. Tuyên bố chủ quyền của Philippines dựa trên “sự phát hiện” ra quần đảo không bị tranh chấp “Kalayaan” (Freedomland) bởi một nhà thám hiểm tên là Tomas Cloma năm 1956. Mặc dù Philippines có thể tuyên bố chủ quyền đối với một phần của vùng này theo Luật biển trên cơ sở khu vực độc quyền kinh tế 200 hải lý của họ, nhưng đây là điểm mập mờ nhất của các tuyên bố chủ quyền đã công bố và cam kết an ninh Mỹ – Philippines vẫn thường được phía Mỹ diễn giải như là loại trừ yêu sách chủ quyền của Philippines đó với quần đảo Kalayaan. Tuyên bố chủ quyền của Malaysia dựa trên tuyên bố của họ về thềm lục địa. Tuyên bố chủ quyền của Brunei cũng dựa trên việc xác định đường giới hạn vùng độc quyền kinh tế như quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Advertisements

Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần II


Bối cảnh và tầm quan trọng của cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa

Cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa về tài nguyên và chủ quyền lãnh hải có thể báo trước một kiểu thách thức an ninh mới giữa các quốc gia châu Á. Ở Biển Nam Trung Hoa, các đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield cũng là nơi tranh chấp, song khu vực đảo Trường Sa hiện đang là nơi tranh chấp của 6 quốc gia đã gây ra sự chú ý và xung đột tiềm tàng lớn nhất. Căng thẳng gần đây giữa Triều Tiên và Nhật Bản đối với đảo Takeshima/Tokdo (cũng như sự tái diễn tranh chấp có từ lâu đối với đảo Senkaku/Diaoyutai giữa Nhật, Trung Quốc và Đài Loan) đang thể hiện tính phức tạp của việc tranh chấp về chủ quyền và nguồn tài nguyên biển như là những tiềm năng đối đầu trong tương lai giữa các quốc gia bạn hữu và đồng minh của Mỹ. Cũng không khó hình dung ra các cuộc tranh chấp về nguồn tài nguyên biển khác đang trở thành sự chú ý ở châu Á vào thời điểm bùng nổ vấn đề năng lượng toàn cầu hoặc do các nguồn dự trữ cả của thế giới bị suy giảm.

Vấn đề chưa được giải quyết là liệu Biển Nam Trung Hoa có phải là một nguồn năng lượng và tài nguyên đang trở thành trọng tâm của một cuộc khảo nghiệm các căng thẳng gần đây. Người ta đã có những đánh giá mâu thuẫn nhau về tiềm năng của Biển Nam Trung Hoa với tư cách là nguồn dầu mỏ và khí thiên nhiên chưa được thăm dò. Một tài liệu nghiên cứu năm 1995 của Viện Nghiên cứu Địa lý nước ngoài của Nga cho thấy ở khu vực Trường Sa có khoảng 6 tỷ thùng dầu mà 70% là khí thiên nhiên. Còn các báo chí của Trung Quốc coi Biển Nam Trung Hoa là “Vịnh Persian thứ hai”, và một số chuyên gia Trung Quốc đã khẳng định rằng Biển Nam Trung Hoa có trữ lượng 130 tỷ thùng dầu và khí đốt thiên nhiên. Mặc dù có các đánh giá lạc quan đó, song chi phí cho việc khoan dầu ở vùng Biển Nam Trung Hoa cùng các đánh giá về địa hóa của Trường Sa vào lúc này cho thấy giá khoan thăm dò rất cao và khả năng thấp trong việc tìm ra các mỏ dầu để khai thác và có năng suất sẽ vẫn là các yếu tố hạn chế đáng kể. Trong bất kỳ trường hợp nào việc khu vực này đang còn là nơi tranh chấp có lẽ đã trở thành yếu tố chính ngăn cản phần lớn các công ty dầu mỏ bỏ tiền ra để tiến hành khoan thăm dò khả năng dầu thương mại của khu vực.

Tầm quan trọng của Biển Nam Trung Hoa với tư cách là một hành lang chiến lược là điều không thể nghi ngờ. Đây là một đường biển trọng yếu vận chuyển dầu và các nguồn tài nguyên thương mại khác từ Trung Đông và Đông Nam Á tới Nhật, Triều Tiên và Trung Quốc. An toàn hàng hải và tự do giao thông đường biển là các quyền lợi chiến lược trọng yếu của Mỹ, vì Mỹ coi Biển Nam Trung Hoa như một điểm chuyển tiếp của Hải quân Mỹ nằm giữa các căn cứ quân sự ở châu Á, ở Ấn Độ Dương và ở khu vực Vịnh Ba Tư. Bất kỳ cuộc xung đột quân sự nào ở Biển Nam Trung Hoa đe dọa đến quyền lợi chiến lược của Mỹ hoặc những quyền lợi về an ninh và kinh tế của Nhật đều có thể được xem như là dù làm mất ổn định để kéo Mỹ can thiệp vào nhằm bảo vệ tự do hàng hải qua những con đường biển này.

Tuy có những đòi hỏi về chủ quyền chồng lấn nhau trong cuộc tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, song phần lớn khu vực rộng lớn này chưa được phân định. Trong số những hậu quả của việc thiếu vắng quyền tài phán rõ ràng trong khu vực có việc thoái hóa môi trường một cách nhanh chóng, có việc thiếu những thủ tục cấp thiết đối phó với những trường hợp cấp bách về môi trường và hàng hải, và có sự suy giảm về nguồn cá – bao gồm cả nguồn cá ngừ di cư về Nam Thái Bình Dương.

Những nhân tố khác mà các bên đòi hỏi chủ quyền phải tính đến là: việc gia tăng chủ nghĩa dân tộc và những thách thức phức tạp về quyền cai trị đã diễn ra cùng với sự thịnh vượng kinh tế trong khu vực. Khi các quốc gia chuyển từ chủ nghĩa độc quyền sang đa nguyên chính trị rộng mở hơn thì việc chậm trễ về mặt chính trị trong việc giải quyết những tranh chấp phức tạp có liên quan đến những vấn đề về chủ quyền có thể bị thúc bách, làm cho người ta khó tránh khỏi một sự đối đầu quốc tế. Hai là thách thức về ý thức dân tộc chủ nghĩa và về việc duy trì tính hợp pháp chính trị là những nhân tố thúc bách chủ yếu mà quá trình đa nguyên hóa chính trị chiếm vai trò to lớn hơn ở trong khu vực đã làm tăng thêm tầm quan trọng.

Những đòi hỏi của Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa

Dù đúng hay sai, các phương tiện thông tin quốc tế và một số tác giả công luận đã nhấn mạnh Trường Sa như một thử thách trọng yếu về thái độ của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu ở châu Á vào thế kỷ 21. Một số nhà phân tích và các chuyên gia về an ninh trong khu vực đã coi cuộc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa như là một thứ “thuốc thử màu” cho việc Trung Quốc nổi lên như một bá quyền ở Đông Nam Á trong thế kỷ tới.

Đặc biệt nhiều nhà phân tích ASEAN lo lắng rằng Trung Quốc từ cuối những năm 1980 đã cố gắng để có được một lực lượng hải quân thường trực ngoài khơi và các khả năng triển khai lực lượng tấn công như các loại máy bay hoạt động tầm xa, khả năng tiếp dầu trên không và kỹ thuật phát hiện tàu ngầm hiện đại, với những liên can tiềm tàng có hại cho lợi ích an ninh của các quốc gia láng giềng ở Đông Nam châu Á. Hải quân của quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã tuân thủ học thuyết chiến lược “phòng thủ tích cực từ ngoài khơi”. Học thuyết này vạch ra khả năng vươn ra đại dương của Hải quân Trung Quốc trong khoảng trung hạn (từ 10 – 15 năm), trong đó Hải quân Trung Quốc sẽ có khả năng “kiểm soát có hiệu quả các vùng biển trong dãy đảo đầu tiên”, như vậy có thể cho là bao gồm cả Đài Loan và Biển Nam Trung Hoa. Dù rằng Hải quân Trung Quốc đang còn bị hạn chế về khả năng hoạt động ngoài khơi và rằng việc phát triển khả năng sản xuất trong nước bị chậm trễ, song những mối lo lắng của các quốc gia Đông Nam Á về việc phát triển các khả năng triển khai lực lượng quân đội Trung Quốc trong tương lai đã làm tăng thêm độ nhạy cảm của các nước ASEAN trước những hành động của Hải quân Trung Quốc ở khu vực Biển Nam Trung Hoa. Việc Trung Quốc tự mua sắm kỹ thuật quân sự của nước ngoài như SU-27, tàu ngầm cao cấp và các trang thiết bị quân sự khác của Ng hòng gia tăng tốc độ phát triển quân sự của Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của các nước láng giềng của Trung Quốc; tuy nhiên thời gian cần thiết để học hỏi và áp dụng kỹ thuật mới vào cơ cấu lực lượng hiện có của Trung Quốc nhằm cho chúng có khả năng tác chiến cho thấy bất kỳ sự gia tăng tiềm tàng nào về khả năng của quân đội Trung Quốc sẽ chỉ là việc củng cố lực lượng chứ chưa đến mức gây ấn tượng. Đối lại, một số quốc gia ở Đông Nam Á đã bắt đầu thực hiện những bước hiện đại hóa quân đội nhất định để tăng cường khả năng kiểm soát và chỉ huy của họ, bằng cách đó họ thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang ở Biển Nam Trung Hoa. Chẳng hạn Indonesia, Singapore và Thái Lan, tất cả đã nâng mức độ mua sắm trang thiết bị cho hải quân và không quân, với việc Thái Lan đang cân nhắc mua một tàu sân bay là một bước tâm lý quan trọng nhằm tăng khả năng triển khai quân đội để bảo vệ quyền lợi về hàng hải trong khu vực. Hiện đang có một sự phân tích mâu thuẫn về chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc trong việc theo đuổi những đòi hỏi chủ quyền của họ ở Biển Nam Trung Hoa. Do khả năng hạn chế của Trung Quốc trong việc chiếm giữ và giữ những hòn đảo mà Trung Quốc cho là của họ, một số người nhận ra kiểu chiến thuật vừa rắn vừa mềm của Trung Quốc nhằm làm cho những bên đòi hỏi chủ quyền bị hoang mang cho đến khi Trung Quốc có khả năng đòi được chủ quyền bằng việc hăm dọa hoặc sử dụng vũ lực. Các nhà phân tích cho rằng “chiến thuật lạp xưởng” của người Trung Quốc là nhằm thử thách các nước đòi hỏi chủ quyền qua hành động xâm lược sau đó rút lui nếu gặp phải sự chống cự đáng kể. Sự nhập nhằng của Trung Quốc về quy mô và bản chất của việc Trung Quốc đì hỏi chủ quyền dược xem như là một thủ đoạn chiến thuật để ngăn cản hoặc trì hoãn bất kỳ cố gắng nào muốn đạt được một giải pháp thông qua thương lượng, cho đến khi Trung Quốc đã chuẩn  bị đủ để chiếm giữ những gì họ muốn bằng sức mạmh quân sự.

Các nhà phân tích khác lại nhấn mạnh rằng vấn đề chủ quyền là một vấn đề đặc biệt nhạy cảm trong giai đoạn chuyển tiếp về chính trị ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Mục đích tối cao của giới lãnh đạo Trung Quốc cho một tương lai có thể dự đoán trước là duy trì môi trường ổn định có lợi cho sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc. Các nhà phân tích này cho rằng chiến lược “phòng thủ tích cực” của Trung Quốc vẫn tập trung trước hết vào việc phòng thủ trong nước và khả năng phản ứng với những cuộc xung đột địa phương. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa chủ yếu được xem như là phòng thủ, nhằm duy trì quan điểm của Trung Quốc trước những quốc gia đòi hỏi chủ quyền khác khi công ước của Liên hợp quốc về luật biển trở nên có hiệu lực. Ngoài ra, một số chuyên gia cũng cho rằng việc tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa không thể giải quyết tách rời khỏi những tranh chấp về lãnh hải khác của Trung Quốc ở Biển Đông Trung Hoa và Biển Hoàng Hải. Các chuyên gia này cho rằng Trung Quốc có thể cảm thấy mình bị các nước láng giềng bao vây và do đó bị “bất lợi về địa lý”. Một điều kiện như vậy có thể làm cho những cuộc tranh chấp về lãnh hải trở nên khó giải quyết hơn do những quyền lợi chiến lược dành cho một nước Trung Quốc bị vây quanh bởi những lãnh hải riêng rẽ là quá lớn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Tranh chấp biển Nam Trung Hoa: Các triển vọng ngoại giao phòng ngừa – Phần I


Scott Snyder

Từ tháng 3 năm 1995 đến nay Viện Hòa bình Mỹ đã tổ chức một loạt 7 cuộc họp của nhóm nghiên cứu về xung đột lãnh thổ tiềm ẩn ở Biển Nam Trung Hoa. Các cuộc họp này được triệu tập là một phần trong hàng loạt các hoạt động về xung đột ở châu Á và về những mối liên quan tới chính sách của Mỹ. Các chuyên gia cao cấp và những người được hưởng trợ cấp của Viện có nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này đã được mời đến để trình bày những kết quả nghiên cứu mới nhất của họ về các khía cạnh của cuộc tranh chấp Biển Nam Trung Hoa cho một nhóm khoảng 40 đến 50 chuyên gia ở thủ đô Washington.

Bản báo cáo này đề cập đến những cuộc thảo luận đó cũng như đến các biên bản của một số cuộc hội thảo và hội nghị về vấn đề Biển Nam Trung Hoa đã được tổ chức trong hai năm qua. Nội dung của bản báo cáo không nhất thiết phải đại diện cho các quan điểm của Viện Hòa bình Mỹ, vì Viện này không bênh vực bất cứ chính sách riêng biệt nào trong khu vực.

Các điểm then chốt

Những yêu sách tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa là một nguồn xung đột tiềm ẩn nguy hiểm khi thiếu các biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn chặn một cuộc khủng hoảng quân sự hoặc chính trị. Ba giai đoạn căng thẳng cao độ ở Trường Sa trong 10 năm qua là dấu hiệu báo trước nguy cơ xảy ra cuộc đối đầu trong tương lai nếu các vấn đề trọng tâm vẫn không được giải quyết. Các bên yêu sách nên tích cực tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề tranh chấp thông qua thương lượng chính trị nhằm tránh đối đầu trong tương lai. Tất cả các bên yêu sách đều có quyền lợi trong việc tham gia vào một giải pháp ngoại giao phòng ngừa đối với vấn đề Biển Nam Trung Hoa để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trong tương lai đang không ngừng leo thang hơn là dựa vào một cách thức giải quyết tốn kém và tiêu cực nhằm ngăn chặn xung đột.

+ Vì xung đột quân sự sẽ không đem lại lợi ích cho bất cứ một bên tranh chấp nào nên vẫn có thể tìm ra một giải pháp chính trị “các bên cùng có lợi”. Nếu có sáng kiến chính trị xuất hiện nhằm tiến tới một giải pháp bằng thương lượng, nó sẽ mở ra cơ hội để đạt được tiến bộ cho việc giải quyết tranh chấp này. Hiện nay, trong khu vực không có một biện pháp quân sự nào có thể giúp khẳng định và duy trì những đòi hỏi chủ quyền của mỗi nước, các quan hệ trong khu vực nói chung là mang tính hợp tác, không đe dọa lẫn nhau và chưa có một bên tranh chấp nào phát hiện ra số lượng dầu mỏ hoặc khí đốt thiên nhiên có khả năng khai thác về mặt thương mại. Tuy nhiên, tất cả các yếu tố đó đều có thể thay đổi. Có lẽ ít nhất là Trung Quốc, và có thể có cả các nước tranh chấp khác, có thể đủ mạnh để áp đặt yêu sách của mình bằng vũ lực.

+ Không có một bên tranh chấp nào có được yêu sách có căn cứ về quần đảo Trường Sa. Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển và các điều khoản khác của luật hàng hải hiện đại có thể thực sự làm tăng thêm khả năng xung đột vì những điều luật này được sử dụng để biện hộ cho những đòi hỏi về chủ quyền mà không giải quyết các tranh chấp có tính lịch sử. Do bản chất và tính phức tạp của các yêu sách về mặt pháp lý đối với các đảo và do có các mối quan tâm đến sự cân bằng lực lượng trong khu vực, nên có lẽ sẽ không có tiến trình thuần túy pháp lý nào có thể thành công: Giải pháp chính trị là cách thực tế duy nhất để giải quyết các vấn đề phức tạp đó.

+ Mức độ chú ý ngày càng tăng tới những đòi hỏi tranh chấp chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa là do có các đánh giá về tiềm năng phát triển tài nguyên của khu vực.  Trước những năm 60 và 70, khi có các công ty dầu mỏ quốc tế bắt đầu thăm dò khu vực này, thì người ta ít chú ý tới vấn đề chủ quyền ở Biển Nam Trung Hoa. Do có những tính toán về khả năng nguồn hydrocarbon ngày càng lớn nên các nước đòi hỏi chủ quyền càng củng cố các đòi hỏi của mình làm cho tình hình thêm căng thẳng và dẫn đến xung đột thường xuyên. Cho đến nay, mặc dù tiềm năng hydrocarbon là trọng tâm của các cuộc tranh chấp, song ngoài ra còn có nghề cá và các nguồn tài nguyên biển khác, còn vấn đề an toàn hàng hải cùng các mối quan tâm về chiến lược và môi trường cũng có thể trở thành các vấn đề trọng yếu trong tương lai.

+ Các cơ chế ngoại giao phòng ngừa và các phương pháp khác có thể được sử dụng nhằm giảm căng thẳng, phòng ngừa xung đột trên Biển Nam Trung Hoa và đưa ra cơ sở cho việc giải quyết chính trị. Các cuộc gặp không chính thức về vấn đề Biển Nam Trung Hoa tại Indonesia đã tạo ra những cơ hội quan trọng cho hành động hợp tác về các vấn đề kỹ thuật, song Trung Quốc đã cản trở mọi cuộc thảo luận quan trọng về vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên, hiện tại vẫn có thể thuyết phục được Trung Quốc, nước vốn đang bận tâm về vấn đề Đài Loan, tiến hành nâng cấp các cuộc hội nghị không chính thức này để thảo luận về các vấn đề chủ quyền hoặc về các cơ chế phối hợp cùng khai thác nguồn tài nguyên.

+ Một loạt biện pháp bổ sung cho các cuộc Hội thảo ở Indonesia cũng cần được xem xét – ví dụ như việc gợi ý thành lập một Nhóm các Nhân vật Nổi tiếng, có thể bao gồm các đại diện cao cấp của những nước ASEAN không có yêu sách chủ quyền nhằm xúc tiến các cuộc thảo luận chính trị và tạo ra các kênh chính trị mới để đi tới đàm phán. Hoặc có thể có một bên hòa giải thứ ba thông qua một tòa án đặc biệt hay một bên thứ ba không chính thức, nếu các quốc gia đòi hỏi chủ quyền sẵn sàng chấp nhận một cuộc đàm phán như vậy nhằm tạo thuận tiện để giải quyết những yêu sách về lãnh thổ. Nếu các bên thỏa thuận gác lại vấn đề chủ quyền thì có thể thiết lập một cơ quan chuyên trách về vấn đề cùng hợp tác phát triển đa phương nhằm khai thác nguồn tài nguyên tại khu vực tranh chấp. Tình hình phát triển mới đây cho thấy có khả năng giải quyết các khiếu nại song phương tại khu vực Biển Nam Trung Hoa trước khi giải quyết những khu vực có nhiều quốc gia cùng đòi hỏi chủ quyền. Vấn đề quan trọng là liệu các bên tranh chấp có thể tìm ra phương hướng chính trị để đi tới giải pháp lâu dài hay không.

+ Trong khi duy trì một lập trường trung lập theo đó các quốc gia đòi hỏi chủ quyền cần giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại Biển Nam Trung Hoa thông qua biện pháp hòa bình phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, Mỹ nên khuyến khích các cố gắng ngoại giao giữa các quốc gia đòi hỏi chủ quyền để tìm ra một giải pháp hòa bình lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Nam Trung Hoa. Do quan hệ Trung – Mỹ hiện nay đang gặp trở ngại, vai trò lãnh đạo của Mỹ trong nỗ lực nhằm giải quyết cuộc tranh chấp Trường Sa chắc chắn sẽ không có kết quả do Trung Quốc không sẵn sàng giải quyết nếu vấn đề đó bị Mỹ hóa. Tuy nhiên, Mỹ có nhiều quyền lợi quan trọng đang bị đe dọa trong cuộc tranh chấp này, kể cả việc duy trì tự do hàng hải, khuyến khích việc củng cố nguyên tắc pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải quốc tế và bảo vệ uy tín của các lực lượng Mỹ được xem như là một sự hiện diện cân bằng và ổn định ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong khi giữ một lập trường trung lập trước các quốc gia đòi hỏi chủ quyền, Mỹ vẫn có thể duy trì khả năng và thiện ý của mình để khuyên can bất cứ quốc gia đòi hỏi chủ quyền nào không nên sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp bởi vì xung đột có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho tình hình an ninh của khu vực. Công việc ngoại giao thầm lặng của Mỹ nhằm hỗ trợ cho các cuộc thương lượng hòa bình và khẩn trương có thể tạo đà cho các quốc gia đòi hỏi chủ quyền mà không lôi kéo Mỹ vào cuộc tranh chấp. Mỹ nên tiếp tục khuyến khích tất cả các quốc gia đòi hỏi chủ quyền tìm kiếm một giải pháp thương lượng phù hợp với Công ước Quốc tế về Luật biển mà không làm phương hại đến chủ quyền của các quốc gia tranh chấp khác.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Thuộc

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Scott Snyder – The South China sea dispute: prospets for preventive diplomacy – Báo cáo đặc biệt của Viện Hòa bình (Mỹ) – Tháng 05/1996.

TĐB 97 – 01 & 02

Bộ trưởng Quốc Mỹ thăm Indonesia và Việt Nam, cơ hội thực thi chiến lược quốc phòng mới


Chỉ vài ngày sau khi ra mắt Chiến lược an ninh quốc gia mới của Lầu Năm Góc đặt trọng tâm vào sự cạnh tranh địa chính trị với Trung Quốc, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đang có cơ hội để bắt đầu thực thi chiến lược mới.

Ông Mattis có chuyên thăm Indonesia và Việt Nam trong vòng 1 tuần. Cả Việt Nam và Indonesia đều đang hiện đại hóa quân đội và tìm cách chống lại các tuyên bố chủ quyền có tính lấn át của Trung Quốc ở Biển Đông.

Chiến lược an ninh quốc gia mới của Mỹ phác họa một nỗ lực mới của nước này nhằm chuyển trọng tâm sự chú ý từ cuộc chiến chống khủng bố sang “cạnh tranh nước lớn” với Trung Quốc và Nga. Bộ trưởng Mattis nêu rõ: “Điều mà chúng tôi tìm kiếm là một thế giới, trong đó chúng ta có thể giải quyết những vấn đề không hủy hoại niềm tin của nhau, một thế giới, trong đó chúng ta không xâm phạm lãnh thổ của các nước khác, như trong trường hợp Nga”.

Chính phủ của Tổng thống B. Obama trước đây đã tìm cách tái cân bằng lực lượng và cổ vũ hợp tác kinh tế để “xoay trục” sang Thái Bình Dương, rõ ràng là để đương đầu với một nước Trung Quốc hùng mạnh và hung hăng hơn.

Tuy nhiên, chiến lược “xoay trục” trở nên phức tạp với sự trỗi dậy của nhà nước Hồi giáo và mối đe dọa do các chương trình hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên trong khi vẫn phải đương đầu với những thách thức toàn cầu còn lại.

Bộ trưởng Mattis xác nhận Triều Tiên sẽ là vấn đề được nêu lên trong các cuộc thảo luận của ông tại Việt Nam và Indonesia.

Nỗ lực chống khủng bố và chống nhà nước Hồi giáo (IS) chắc chắn sẽ vẫn là trọng tâm tại Indonesia, nước Hồi giáo đông dân nhất thế giới. Nước này sẽ phải đương đầu với hiểm họa đặt ra bởi hàng trăm công dân Indonesia từng cầm súng chiến đấu bên cạnh IS ở Syria và Iraq, nay có thể trở về nước.

Một trọng tâm quan trọng khác trong chuyến đi của Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis là Biển Đông, nơi Bắc Kinh đã xây dựng nhiều căn cứ quân sự và phương tiện khác, bất chấp tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng nhỏ hơn.

Bộ trưởng Quốc phòng Mattis nói: “Các nước nhỏ lẽ ra phải được tôn trọng, và được đối xử giống như các nước lớn. Sự tồn tại của mỗi quốc gia là quan trọng bởi vì không nên để diễn ra bất cứ hành vi hiếp đáp nào, hoặc xé bỏ niềm tin của các nước khác… Điều mà chúng tôi muốn ở đây là một châu Á hòa bình, thịnh vượng và tự do, với một trật tự khu vực tự do và cởi mở, dựa vào pháp quyền”.

Việt Nam có lẽ là nước hay lên tiếng chống đối các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc nhất. Trong mấy năm gần đây, Việt Nam nhiều lần đối đầu với tàu bè Trung Quốc.

Mặc dù Indonesia ít ồn ào hơn và không coi mình là một nước tranh chấp chủ quyền, thế nhưng Jakarta cũng đã có những động thái nhằm chống lại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Năm ngoái, Jakarta đổi tên một vùng biển trong Biển Đông, làm Bắc Kinh giận dữ.

Ông Joseph Felter, giới chức quốc phòng Mỹ hàng đầu đặc tránh Đông Nam Á nêu rõ: “Chúng tôi hoan nghênh các nỗ lực của bất cứ nước nào nhằm bảo vệ chủ quyền và vùng đặc quyền kinh tế của họ, quyền tự do hàng hải và tự do hàng không, cũng như quyền được hoạt động ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép”.

Ông Felter nói: “Trong năm qua, vấn đề Biển Đông không xuất hiện trên các hàng tít lớn nhờ sự phối hợp của nhiều yếu tố: một chính phủ mới ở Philippines dường như ít cứng rắn hơn trong lập trường đố đầu với Bắc Kinh; một nước Mỹ tập trung nhiều hơn vào việc thuyết phục Trung Quốc hợp tác để tránh một cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên; và những công trình xây đảo nhân tạo của Trung Quốc chậm lại, mặc dù lý do có thể là vì Bắc Kinh đã hoàn tất xây đảo.

Trung Quốc áp dụng một chiến lược dài ngày trong khu vực, và chúng ta cũng cần phát triển một chiến lược để thể hiện sự chân thành của chúng ta trong tư cách một đối tác đáng tin cậy, có thể cung cấp những sự lựa chọn cho các nước khác.

Một trong những lựa chọn đó là tiếp tục cuộc đối thoại 4 bên về an ninh, một liên minh không chính thức giữa Hoa Kỳ, Ấn Độ, Australia và Nhật Bản được hình thành từ năm 2007.

Nỗ lực này nhanh chóng bị mất đà một phần do những lo sợ của Trung Quốc là liên minh này nhằm mục đích kìm hãm Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nước trong liên minh 4 bên đã nhóm họp vào tháng 11, lần đầu kể từ khi được hình thành, và một số nhà bình luận đặt câu hỏi: liệu có phải các đối tác đang thảo luận việc hình thành một liên minh “NATO – châu Á” hay không.

Ông Alexander Vuving, giáo sư thuộc Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á – Thái Bình Dương ở Hawaii nhận định: “Cơn ác mộng lớn nhất đối với Trung Quốc là một liên minh giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia. Câu hỏi lớn là làm thế nào để 4 quốc gia này nối kết các nỗ lực của họ với một số đối tác địa phương mới nổi, như Việt Nam và Indonesia”.

Giáo sư Vuving nói liên minh 4 bên không phải là trọng tâm chính. Ông nói: “Các nước đó không muốn khích Trung Quốc để gióng lên một hồi chuông báo động ở Bắc Kinh về một chiến lược kìm hãm mới. Vì vậy, tôi nghĩ không nên quá ồn ào với liên minh 4 bên, và duy trì nó trong tình trạng không chính thức”.

Tuy nhiên, lên tiếng hồi tuần trước cùng các đối tác 4 bên tại một diễn đàn ở New Delhi, Đô đốc harry Harris, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ mạnh mẽ công kích Trung Quốc là một nước “dễ thay đổi, có tính cách phá hoại tại vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.

Đô đốc Harris nhấn mạnh: “Chúng ta phải sẵn sàng đưa ra những quyết định khó khăn trong năm 2018, chống lại những hành động đơn phương thay đổi hiện trạng bằng quyền tự do hàng hải dựa trên luật pháp quốc tế”.

Nguồn: VOA

TKNB – 24/01/2018

Singapore: Tại sao dân chủ không dành cho tất cả mọi người?


Michelle Toh

Khi Lý Quang Diệu qua đời trong năm nay (ngày 23 tháng 3 năm 2015 – ND), khắp nơi trên thế giới người ta đều hỏi: một kỷ nguyên đã kết thúc? Cụ thể hơn, đây sẽ là sự cáo chung của cách quản lí mà mọi người từng biết ở Singapore?

Những người phê phán tỏ ra phấn khởi. PN Baljiii, cựu Tổng biên tập tờ The Straits Times khẳng định: “Đây là mong muốn chân chính, mãnh liệt của những người thích đa nguyên chính trị. Tương tự như vị thần bị giữ trong cái chai và bây giờ vị thần đã thoát ra ngoài rồi”.

Từ London, Tan Wah Piow, một cựu tù nhân chính trị và luật sư đang sống lưu vong, tuyên bố rằng ông Lý chết thì “dân chúng sẽ được tự do”.

Nhưng những người đang kêu gọi nhiều tự do dân sự hơn không được nuôi quá nhiều hi vọng, và nguyên nhân chủ yếu là bởi tự do sẽ không thể tái sinh ở Singapore vì trước hết người ta không cho rằng nó đã chết.

Bắt đầu bằng một thực tế là những lí tưởng tự do được công nhận ở Phương Tây chưa từng và dường như sẽ không bao giờ trùng hợp với những lí tưởng của người Singapore. Trong suốt 56 năm, kể từ ngày được Lý Quang Diệu thành lập, Đảng Hành động Nhân dân (PAP) đã giành được quyền tự quyết dân tộc; thành công lớn nhất trong sự lãnh đạo của ông thường được gắn với sự thúc đẩy trật tự chính trị bằng cách liên kết trật tự với thịnh vượng.

Cho đến nay, người Singapore không thể mua một cách hợp pháp kẹo cao su hoặc biểu tình phản đối bên ngoài những khu vực do nhà nước qui định, nhưng họ có mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới và mức sống tốt hơn bất cứ nơi nào khác – nhiều cư dân ở đây sẽ nói với bạn rằng đấy là ưu tiên quan trọng hơn hẳn, đặc biệt là khi bạn biết rằng đa số người dân trên thế giới vẫn bị coi là có “thu nhập thấp” – theo một công trình nghiên cứu mới đây của Pew. Một người Singapore được tờ New York Times phỏng vấn ngay tại đài tưởng niệm vị cựu thủ tướng đã nói một cách rõ ràng: “Khi người ta khá giả về kinh tế, có nhà ở, có đồ ăn thức uống, ai còn quan tâm tới chính trị làm gì? Tôi thích sống ở một đất nước như thế này hơn là sống ở nơi có mọi quyền tự do nhưng mà đói”.

Xu hướng tách tự do chính trị ra khỏi tính năng động về kinh tế được khuyến khích, nhưng không phải do Lý Quang Diệu khơi mào. Suốt nhiều thế hệ, ở khắp châu Á, người ta luôn luôn nói rằng phải biết nghe lời, nhất là ở những nước mới thoát khỏi ách thống trị thực dân hay vừa thoát khỏi chế độ độc tài. Một công trình nghiên cứu các cuộc phản đối của sinh viên châu Á đã rút ra kết luận rằng hoạt động của họ thường bị thất bại vì không kiên định, chuyển từ những “ý tưởng cao cả” sang “không liên quan”. Khi các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ diễn ra ở Hồng Kông, đặc khu hành chính thường được so sánh với Singapore vì phong cách quản trị tân-tự do, một sinh viên xuất thân từ thành phố này tuyên bố rằng niềm tin của anh ta, theo đó “dân chủ là thứ không dành cho tất cả mọi người”, hiện đang lớn dần.

“Trong bài luận Gov. 20 tôi sẽ chế giễu những sinh viên duy tâm mù quáng tin vào dân chủ hóa”, sinh viên này viết trong mục quan điểm của nhật báo The Harvard Crimson. “Tôi luôn luôn đánh giá cao tính hiệu quả và đặc quyền của chính quyền lớn và chính phủ không bị cản trở bởi những ồn ào đi kèm chu kỳ bầu cử”.

Ngay cả với sự ra đi của một trụ cột đáng sợ như Lý Quang Diệu, bối cảnh chính trị của Singapore dường như cũng sẽ không thay đổi – một ví dụ nhãn tiền là Amos Yee,  16 tuổi vừa bị bỏ tù 53 ngày vì chỉ trích chính phủ và những tín đồ Ki-tô giáo. Mặc dù cuối cùng tòa án đã phải lùi bước trước áp lực quốc tế, nhưng điều này vẫn không ngăn được một số người Singapore công khai nói rằng họ coi anh ta là “nỗi nhục”.

Từ quan điểm khu vực, hoàn toàn không khó khăn để hiểu được logic của sự hài lòng của dân Singapore. Ở những nơi khác trong vùng Đông Nam Á, khu vực này đang tiếp tục gặp những thất bại lớn hơn hẳn trong cái mà Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations) gọi là “thụt lùi về dân chủ” với những cuộc bầu cử gian lận ở Malaysia, đảo chính quân sự ở Thái Lan và xung đột triền miên trên vùng biên giới Miến Điện-Trung Quốc. Ở Trung Hoa đại lục, một quốc gia ít nhất cũng được tôn trọng vì tăng trưởng kinh tế không thể chối cãi,  người dân tiếp tục phải đối mặt với những hạn chế thường nhật như cấm Facebook, trong khi các nước như Philippines, được coi là “chế độ dân chủ lâu đời nhất ở châu Á”, thì phát triển kinh tế vẫn chưa được như ý. Đối với nhiều người Singapore, dường như khó mà có cả hai thứ, và khả năng là trong cuộc bầu cử tiếp theo, họ sẽ gắn bó với những thứ đã quen thuộc với mình.

Phạm Nguyên Trường (dịch)

Nguồn bài viết Why Democracy Isn’t for Everyone, at Least in Singapore

Michelle Toh là cộng tác viên cao cấp ở Đại học Nam California (University of Southern California), chuyên nghiên cứu về truyền thông kỹ thuật số và báo in. Bà thường viết cho các tờ USA Today, The South China Morning Post và Harper’s Bazaar.

Ảnh hưởng của Trung Quốc tại Lào và vị thế của Việt Nam


Khi Quốc hội Lào thông qua chức Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ hồi năm 2016, phần lớn giới chuyên gia phân tích cho rằng có thể có sự thay đổi về chính trị. Ban lãnh đạo khóa mới của Lào có thể sẽ cố gắng đưa Lào tránh xa Trung Quốc và xích lại gần Việt Nam như trước đây.

Tuy nhiên, ngược lại với các dự đoán của giới chuyên gia, ảnh hưởng của Trung Quốc tại Lào ngày càng gia tăng trong 2 năm trở lại đây. Dự án đường sắt Lào – Trung không những đang được triển khai mà tiến độ công việc còn đạt tốc độ ấn tượng. Không những thế, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đã thăm chính thức Lào trong tháng 11/2017 vừa qua.

Trước đó, một vị lãnh đạo của Lào không muốn nêu tên nói rằng các dự án lớn của Trung Quốc tại Lào, ngoài các lĩnh vực như xây đập thủy điện, khai thác quặng và đặc khu kinh tế Boten  Denkham Tam Giác Vàng ở huyện Tonphong, dự án Đầm Thatluang ở thủ đô Viêng Chăn được mọi người xem là thành phố mới của Trung Quốc.

Mặc dù giới lãnh đạo Lào không thể hiện rõ ràng rằng bản thân họ ngày càng gần gũi với Trung Quốc hơn, nhưng do những ảnh hưởng về mặt tài chính của Trung Quốc, Lào cần sự giúp đỡ từ Trung Quốc để xây dựng và phát triển đất nước. Cho dù các dự án đầu tư lớn của Trung Quốc có thể mang lại lợi ích, nhưng cũng là vấn đề mạo hiểm, vì không ai biết được những gì có thể xảy ra trong nhiều năm tới.

Là một nước không có biên giới biển và tiếp giáp với 5 quốc gia, Lào từ lâu vẫn tìm cách giữ cân bằng giữa các nước láng giềng của mình. Lào có văn hóa và ngôn ngữ gần giống Thái Lan, quốc gia nằm ở phía Tây, và Lào cũng vẫn giữ mối quan hệ chính trị đã có từ lâu đời với quốc gia này. Giống như với Việt Nam, Lào càng có mối quan hệ gần gũi đặc biệt, do có lịch sử cùng là cộng sản và cùng từng nhau chiến đấu chống thực dân. Kể từ ngày thành lập nước Lào từ những năm 1975, sự liên kết chặt chẽ giữa các lãnh đạo chính trị và lãnh đạo quân đội của Lào và Việt Nam vẫn được tiếp tục giữ gìn. Tuy nhiên, khi có sự mở rộng về kinh tế vào cuối những năm 1980 và sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ, Lào cũng bắt đầu nhìn rộng và xa hơn và dần dần giảm sự phụ thuộc vào Việt Nam. Điều này giúp Lào có nhiều không gian trong việc củng cố quan hệ với Trung Quốc, quốc gia láng giềng to lớn nằm ở phía Bắc và Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất của Lào.

Kể từ năm 2013, thương mại song phương Lào – Trung đã có sự phát triển, đặc biệt tại các tỉnh Bắc Lào, nơi Trung Quốc đã đầu tư nhiều vào các lĩnh vực như du lịch, khoáng sản, nông nghiệp và đập thủy điện. Việc đầu tư trị giá 5 tỷ USD tại 745 dự án cho thấy tầm quan trọng trong việc mở rộng địa chính trị của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc coi Lào là cánh cổng vào Đông Nam Á, bao gồm cả đường sá, nhằm đạt được mục tiêu về chính trị tại khu vực. Về vấn đề này, một lãnh đạo của Lào nói rằng: “Về chính trị, hiện Việt Nam vẫn có vai trò và vẫn còn ảnh hưởng về mặt chính trị. Đối với Trung Quốc là những ảnh hưởng về thương mại, kinh tế. Tuy nhiên, trong tương lai, cũng có thể Trung Quốc sẽ dẫn đầu”.

Điều quan trọng nhất là Lào sẽ giúp Trung Quốc tiếp cận thị trường lớn tại Thái Lan bằng việc đầu tư xây dựng đường sắt cao tốc Côn Minh – Viêng Chăn trị giá 6 tỷ USD. Trung Quốc đặt mục tiêu sẽ kết nối đường sắt từ Lào qua Thái Lan sang Malaysia và Singapore.

Dự án trên hoàn tất sẽ tạo thuận lợi cho Trung Quốc tiếp cận cảng thương mại nước sâu trong Vịnh Andaman và Ấn Độ Dương. Việc vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt sẽ rẻ hơn và nhanh hơn việc vận chuyển bằng đường bộ, vì vận chuyển bằng đường bộ phải đi qua nhiều đồi núi, thời gian vận chuyển lâu hơn.

Khi Đảng Nhân dân Cách mạng Lào bầu lãnh đạo khóa mới hồi tháng 7/2016, phần lớn các chuyên gia phân tích đều dự đoán về sự thay đổi đường hướng chính trị, thoe đó sẽ xa rời Trung Quốc, xích lại gần Việt Nam và các nước phương Tây. Cựu Thủ tướng Lào Thongsing Thammavong, vốn bị coi là thân thiện với Trung Quốc, đã được thay thế bằng ông Thongloun Sisulith, trong khi Tổng Bí thư Bounnhang Volachith làm Chủ tịch nước. Cả hai người này đều được xem là gần gũi với Việt Nam. Đồng thời, có sự sắp xếp, lựa chọn những người có cảm tình và thân thiện với Việt Nam vào Bộ Chính trị nhiều hơn.

Trên thực tế, cả ông Bounnhang và ông Thoungloun vẫn giữ mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, việc ông Bounnhang đi thăm Việt Nam trước rồi mới sang thăm Trung Quốc là tín hiệu cho thấy trong số 2 quốc gia gần gũi của Lào, Việt Nam quan trọng hơn Trung Quốc.

Mặc dù sự cố gắng của lãnh đạo Lào trong việc cân bằng quan hệ và hợp tác với hai nước sẽ khó thành công, nhưng ảnh hưởng của Trung Quốc tại Lào vẫn sẽ tiếp tục được củng cố với bước tiến vững chắc, thông qua dự án đường sắt cao tốc Côn minh – Viêng Chăn hiện đang được xây dựng.

Nguồn: RFA (tiếng Lào)

TKNB – 12/01/2018

Về Hội nghị Hợp tác Lan Thương – Mekong lần thứ hai


Theo đài VOA, một chuyên gia Mỹ nhận định rằng Việt Nam có thể đạt được thế đối đẳng với Trung Quốc trong các cuộc đàm phán về phát triển sông Mekong trong tương lai, trong khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cùng Thủ tướng Trung Quốc và các nhà lãnh đạo Đông Nam Á khác tham dự cuộc họp cấp cao về dòng sông này tại Phnom Penh.

Sông Mekong, khởi nguồn từ Trung Quốc, được gọi là Lan Thương, chảy qua các nước Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hơn 60 triệu người lệ thuộc vào dòng sông này và những phụ lưu của nó vì đây là nguồn cung cấp thực phẩm, nước, giao thông… phục vụ đời sống thường nhật của họ.

Trung Quốc đang gia tăng đầu tư dọc theo dòng sông thông qua việc xây dựng những đập thủy điện siêu lớn. Điều này khiến quan chức chính phủ các nước, bao gồm cả Việt Nam , các nhà vận động vì môi trường, lo ngại.

Theo một chuyên gia hàng đầu về sông Mekong và hợp tác kinh tế của Trung Quốc với Đông Nam Á, việc Việt Nam đạt được đồng thuận với Trung Quốc và các nước khác về dự thảo “Kế hoạch 5 năm”, bao gồm xây dựng các đập thủy điện và các dự án khác, cho thấy các dự án gây tranh cãi nhất đã được loại bỏ, và Việt Nam có thể tận dụng vị thế của mình trong cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong để thương thuyết ở thế đối đẳng với Trung Quốc.

Ông Brian Eyler, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, một viện nghiên cứu chính sách ở Washington nói: “Đó là một nền tảng mà ở đó, Việt Nam có thể đạt được sự đối đẳng trong các cuộc thảo luận chung. Bởi vì trái ngược với Ủy hội sông Mekong, nơi Trung Quốc không tham gia, đây là một nền tảng đa phương mà ở đó, Việt Nam có vị thế ngang bằng với Trung Quốc. Nó có thể được dùng để lên kế hoạch và phục vụ những nghiên cứu phân tích mang tính kỹ thuật, có thể có lợi cho các nước ở hạ nguồn so với mục tiêu hiện nay là xây đập thủy điện trên sông vì lợi ích thương mại”.

Khi Việt Nam hứng chịu đợt hạn hán nghiêm trọng nhất trong 90 năm qua vào năm 2016, các chuyên gia nói Trung Quốc phần nào chịu trách nhiệm về tình trạng này vì các đập chứa nước của Trung Quốc đã làm tăng tỉ lệ bốc hơi nước ở thượng nguồn.

Theo ông Eyler, cơ hội của Việt Nam trong cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong là coi nó như một nền tảng để đàm phán và tham gia vào các nghiên cứu về năng lượng và năng lượng nước phù hợp với lợi ích cũng như nhu cầu của Việt Nam.

Tuy nhiên, chuyên gia về khu vực Mekong của Trung tâm Stimson nói rằng điều ông lo ngại nhất về nền tảng này là nó được nhắm mục tiêu và định hướng theo cách sẽ mang về nhiều lợi ích cho Trung Quốc hơn là cho các nước ở hạ nguồn:

Nó sẽ tận dụng nhu cầu cấp thiết của Trung Quốc để xuất khẩu nguồn lao động và vật liệu dư thừa thông qua Kế hoạch “Vành đai và con đường”.

Ông Eyler nhắc tới chiến lược phát triển đầy tham vọng của Trung Quốc liên kết chấu Á với châu Âu, “hoặc thông qua những dự án riêng biệt sẽ làm lợi cho Trung Quốc một cách không đồng đều so với các nước ở hạ nguồn, và việc này có thể khiến các nước hạ nguồn bị cuốn vào vòng nợ nần”.

Ông Eyler dẫn khoản vay 6,5 tỷ USD của Trung Quốc cho Lào để điện khí hóa một số nơi ở thủ đô Viêng Chăn và Nam Lào. Ông đặt nghi vấn liệu Lào có đủ sức gánh nổi khoản nợ này dù công nhận số tiền giúp trên đáp ứng một nhu cầu quan trọng cho quốc gia thuộc hàng nghèo nhất Đông Nam Á này.

Tuy nhiên, là một nước hạ nguồn, Việt Nam sẽ chịu thiệt thòi nếu hoàn toàn không tham gia vào cơ chế do Trung Quốc dẫn đầu. Ông Eyler nói:

Việt Nam có một số năng lực nhất định để huy động các nguồn lực và đi đầu về một số vấn đề nhất định mà thậm chí Trung Quốc còn không dẫn đầu được. Một trong số đó là thúc đẩy việc phát triển bền vững dòng sông. Tôi nghĩ thành tích của Việt Nam trong lĩnh vực này có nhiều điều đáng được nêu ra. Trung Quốc nói rất nhiều về chuyện này, nhưng thành tích trong quá khứ của họ hoàn toàn thảm hại”.

Diễn đàn Lan Thương – Mekong vì lợi ích của Trung Quốc?

Trước đây không lâu, Mekong vẫn được coi là một trong những dòng sông lớn thông thoáng nhất thế giới. Nhiều thập kỷ chiến tranh đã cản trở việc xây dựng đập hay các công trình quy hoạch sông. Thế nhưng, thời kỳ đó đã qua từ khi Trung Quốc và cả các nước vùng hạ lưu sông Mekong lao vào cuộc chạy đua khai thác dòng sông để đáp ứng nhu cầu phát triển năng lượng và giao thông.

Mekong đang bị băm nát bằng những công trình đập thủy điện gây ra những hậu quả tai hại không chỉ đối với chất lượng nước, đa dạng sinh học mà còn cả cuộc sống của hàng triệu người từ bao đời nay sống hai bên sông. Lãnh đạo chính phủ 6 nước có sông Mekong chảy qua ngày 10/1 đã tham dự diễn đàn hợp tác Lan Thương – Mekong tại Phnom Penh.

Tầm quan trọng của sông Mekong

Sông Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng có chiều dài gần 5000 km chảy qua 6 nước. Tổng diện tích lưu vực sông Mekong rộng gần 800.000 km2. Từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) cho đến vùng châu thổ cực Nam Việt Nam, con sông là nguồn sống, tạo dựng một nền tảng văn hóa của nhiều cộng đồng dân cư từ bao đời nay.

Ước tính, khoảng 60 triệu dân đang sống trong vùng hạ lưu sông Mekong tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Sông Mekong là nguồn cung cấp nước sạch, thực phẩm, giao thông vận tải và năng lượng không thể thiếu cho sự tồn tại của cộng đồng dân cư trên. Vùng lưu vực sông là nơi sinh sống của 1200 – 1700 loài cá. Sự đa dạng sinh học trên sông Mekong chỉ xếp sau Amazone và Congo.

Không thể đánh giá được hết tầm quan trọng về kinh tế của sông Mekong đói với khu vực hạ lưu, đặc biệt trong lĩnh vực an toàn lương thực. Riêng trong vùng đồng bằng Thái Lan, lưu vực sông Mekong đã chiếm một nửa diện tích đất canh tác. Ở Campuchia, biển hồ Tonle Sap luôn là nguồn cung cấp nước ngọt và thủy sản bảo đảm cung cấp một lượng lớn thực phẩm cho đất nước còn rất nghèo này.

Nghề đánh bắt thủy sản dọc con sông chiếm 3% tổng sản lượng tôm cá đánh bắt trên thế giới và 17% lượng cá nước ngọt, đủ để nuôi sống 70 triệu dân. Tại Việt Nam, châu thổ sông Mekong sản xuất ra 1/3 lượng gạo của cả nước. Từ Viêng Chăn đến Phnom Penh qua TPHCM, những thành phố lớn này không chỉ gắn bó mà còn lệ thuộc vào con sông này.

Đã có một thời gian dài, khác với các dòng sông lớn trên thế giới, Mekong là con sông trù phú và yên bình bởi không bị quy hoạch khai thác năng lượng. Đáng tiếc là chỉ trong vòng 1 – 2 thập kỷ trở lại đây, dòng sông Mekong đã có những thay đổi nhanh.

Hiện có hai mối đe dọa lớn đối với hệ sinh thái của dòng sông liên quan trực tiếp đến cuộc sống của hàng triệu con người: Xây dựng đập thủy điện và cải tạo các tuyến giao thông đường thủy mới trên thượng lưu (khai ngòi, nạo vét dòng chảy, đào kênh…).

Mekong và cơn khát năng lượng Trung Quốc

Theo số liệu của Tổ chức Sông ngòi quốc tế (International Rivers), Trung Quốc đã đẩy mạnh đầu tư dọc thượng nguồn dòng sông để xây dựng các con đập thủy điện và tuyến hàng hải. Hiện đã có 7 con đập lớn được hoàn thành và 20 dự án khác đang trong quá trình thực hiện hoặc nằm trong kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc tại Tây Tạng, Vân Nam hay Thanh Hải.

Các đập thủy điện của Trung Quốc xây dựng trên sông Mekong có khả năng ngăn giữ một nửa lưu lượng dòng chảy của toàn bộ sông. Việc thay đổi dòng chảy, lưu lượng của con sông lớn giờ đây không phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên mà phụ thuộc vào nhu cầu sản xuất năng lượng của các thành phố và khu công nghiệp Trung Quốc.

Trung Quốc đi đầu kéo theo các nước ở vùng hạ lưu cũng chạy theo. Trong bối cảnh bùng nổ kinh tế và giá năng lượng trong khu vực, các nước ở hạ lưu sông Mekong lại lôi ra những dự án thủy điện cũ, góp thêm phần đe dọa cuộc sống của những cộng đồng dân cư dọc dòng sông. Hiện có khoảng 11 dự án có thể đã và đang được triển khai trong vùng hạ lưu sông Mekong.

Năm 1995, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã thành lập Ủy ban sông Mekong để có thể trao đổi các dữ liệu, thông tin nhằm quản lý tốt hơn Mekong. Có điều là Trung Quốc vẫn từ chố tham gia Ủy ban này, cũng như họ đã phản đối Hiệp định khung của Liên hợp quốc về việc sử dụng các dòng sông vào mục đích khác ngoài giao thông đường thủy.

Trong khi đó, các hoạt động đơn phương khai thác sông Mekong trên thượng nguồn để phục vụ nhu cầu phát triển riêng của Trung Quốc ngày càng được đẩy mạnh, gây không ít lo ngại cho các nước hạ nguồn.

Các nhà bảo vệ sinh thái và nhiều chính phủ đã không ít lần bày tỏ lo ngại về những tác hại của việc Trung Quốc xây đập tràn lan trên thượng nguồn Mekong. Năm 2016, khi Việt Nam trải qua đợt hạn hán chưa từng có trong vòng 90 năm, nhiều chuyên gia khẳng định một phần trách nhiệm của tai họa đó là do các con đập và hồ chứa nước mà Trung Quốc đã xây ở đầu nguồn Mekong.

Bắc Kinh còn dự định mở tuyến đường thủy trên sông Mekong giữa Thái Lan và Lào cho phép các tàu lớn vận chuyển hàng hóa có thể qua lại. Kế hoạch này đã vấp phải sự phản đối gay gắt của cư dân ven sông và những tổ chức bảo vệ môi trường tại Thái Lan.

Lan Thương – Mekong phục vụ lợi ích Trung Quốc

Diễn đàn Hợp tác Lan Thương – Mekong được Bắc Kinh thành lập vào năm 2015. Cơ chế này được xem là đối thủ với Ủy hội sông Mekong vốn đã hiện diện từ hơn 60 năm nay, nhưng Trung Quốc và Myanmar không phải là thành viên.

Trong 2 năm kể từ khi cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong được thành lập, Trung Quốc đã tổ chức 3 hội nghị bộ trưởng ngoại giao và chi hàng tỷ USD để hỗ trợ 45 dự án thuộc cơ chế này, bao gồm các trung tâm nghiên cứu tài nguyên nước và hợp tác về các dự án kết nối, năng lực công nghiệp, thương mại biên giới, nông nghiệp và xóa đói giảm nghèo.

Trong một bài viết ngày 8/1 về những mối đe dọa sông Mekong từ các con đập Trung Quốc, AFP đã nhận định: Với sự kiểm soát ở đầu nguồn sông Mekong, Bắc Kinh có thể xây đập ngăn dòng ở đoạn sông chảy qua nước này trong khi những tác động từ việc này được cảm nhận rõ rệt ở hạ lưu.

Trung Quốc giờ đang muốn giành quyền kiểm soát thông qua Diễn đàn Hợp tác Lan Thương – Mekong, đồng thời cố gắng xoa dịu các nước ở hạ lưu dòng sông bằng những khoản đầu tư và viện trợ.

Chuyên gia Maureen Harris, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của tổ chức International Rivers, cảnh báo “Có một mối quan ngại lớn cho rằng vai trò dẫn dắt và ảnh hưởng tương đối của Trung Quốc sẽ khiến nước này đặt những lợi ích riêng của họ lên trên những hợp tác có ý nghĩa. Phần lớn lợi ích thuộc về các công ty, tập đoàn, trong khi các cộng đồng dân cư dọc theo dòng sông bị ảnh hưởng nặng nề nhất”.

Đến nay, các công ty Trung Quốc đã và đang đầu tư hàng triệu USD vào nhiều dự án đập thủy điện, nhưng không tién hành đánh giá các tác động môi trường và xã hội một cách toàn diện.

Nguồn: TKNB – 12/01/2018