Tầm quan trọng của giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với hòa bình thế giới


Rajaram Panda

Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu như toàn bộ không gian Biển Đông và thậm chí đã bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế ở La Hay (Hà Lan) vào tháng 7/2016, trong đó khẳng định các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh không có bất cứ cơ sở pháp lý lịch sử nào. Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, cùng với Tây Tạng và Đài Loan. Trong những năm qua, Trung Quốc gia tăng các hoạt động như xây dựng đảo, tạo ra khu vực đánh bắt cá mới ở Biển Đông nhằm kiểm soát không gian đại dương này và loại bỏ các bên yêu sách khác.

Trung Quốc đã tức giận khi Tòa Trọng tài quốc tế bác bỏ hầu hết các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, người nhậm chức một tháng trước khi có phán quyết, đã hạ thấp phán quyết của tòa trọng tài nhằm cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bất chấp những nỗ lực của ông Duterte để xoa dịu mối quan hệ với Bắc Kinh, Trung Quốc đã phản đối khi các nhà lãnh đạo quân đội Philippines viếng thăm một hòn đảo đang tranh chấp ở Biển Đông. Chính phủ Philippines cho rằng họ sở hữu lãnh thổ nơi mà quân đội và người dân Philippines đã sống trong nhiều thập kỷ.

Để đạt được các mục tiêu của mình, Trung Quốc đã cố gắng tạo ra sự mất đoàn kết giữa các quốc gia ASEAN. Mặt khác, Trung Quốc đã sử dụng ngoại giao kinh tế để có được một số quốc gia thành viên nhất định của ASEAN vào nhóm của Trung Quốc. Chẳng hạn như, Trung Quốc đã tận dụng tối đa lợi thế của Philippines khi Tổng thống Duterte lên nắm quyền và cố gắng tiếp cận Bắc Kinh. Theo một báo cáo gần đây, Trung Quốc thậm chí đã lắp đặt các thiết bị phóng tên lửa trên Đá Chữ Thập ở Biển Đông, mặc dù Bắc Kinh tuyên bố các cơ sở này sẽ bị giới hạn trong các yêu cầu quốc phòng.

Hành động quân sự hóa của Trung Quốc

Giải quyết các tranh chấp về yêu sách chủ quyền lãnh thổ của một số quốc gia đối với Biển Đông là vô cùng quan trọng vì lợi ích của việc đảm bảo hòa bình và ổn định ở khu vực. Nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục đơn phương quân sự hóa vùng lãnh thổ đang tranh chấp mà không để ý đến sự nhạy cảm của các quốc gia nhỏ hơn có những yêu sách chính đáng của họ. Có bằng chứng cho thấy Trung Quốc đã hoàn thành gần hết các công trình nhằm mục đích trang bị các hệ thống tên lửa đất đối không trên 3 tiền đồn lớn nhất của mình trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông như là một phần của mô hình quân sự hóa ổn định. Các cấu trúc như vậy đã xuất hiện ở các đảo đá nhân tạo được nạo vét bởi Trung Quốc như Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Đá Xu Bi và nơi đây cũng đã có các sân bay quân sự. Trung Quốc bắt đầu xây dựng những cấu trúc này vào tháng 9/2016 và đến nay đã xây dựng 8 công trình trên 3 tiền đồn của mình.

Các hành động của Trung Quốc có phải là để đối phó với những nỗ lực của Mỹ trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Bắc Kinh ở Biển Đông hay không là điều không quan trọng. Vấn đề đáng quan tâm hơn là các hành động trên là một phần chiến lược quân sự hóa có hệ thống được xác định rõ ràng bởi Trung Quốc để tăng cường vị thế vững chắc của nó trong không gian đại dương này. Trung Quốc đã đưa tên lửa HQ-9 SAM với tầm bắt lên đến 200km tới tiền đồn trên quần đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Việc triển khai các tên lửa là nhằm mở rộng khả năng phòng thủ của Trung Quốc trong cái gọi là tuyên bố “đường 9 đoạn”. Năm 2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không “quân sự hóa” các đảo, nhưng Bắc Kinh đã đi trước một bước để bổ sung các hệ thống tên lửa phòng không trên các hòn đảo nhân tạo. Bắc Kinh tuyên bố những biện pháp này là phù hợp với yêu cầu an ninh quốc gia và là quyền hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền.

Như dự đoán, các hoạt động của Trung Quốc gây ra sự báo động ở các thủ đô khác ở châu Á, những nước này có tuyên bố tương tự trên các vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Trong khi không có bên tuyên bố yêu sách nào ở trong tình trạng đối đầu quân sự của Trung Quốc, họ lại nhìn Washington và các bên khác không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, nhưng tôn trọng các nguyên tắc toàn cầu để đối phó với cách tiếp cận hung hăng của Bắc Kinh. Trong bất kỳ trường hợp nào, không thể có thay thế nào tốt hơn bằng việc theo đuổi các cuộc đối thoại và được coi là lựa chọn duy nhất để giải quyết vấn đề. Cho dù vậy, sự sẵn sàng của quân đội để đối đầu với Trung Quốc cũng không thể bỏ qua Một Bộ quy tắc ứng xử (COC) phải là chìa khóa để giải quyết tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế.

Mỹ phản ứng bằng việc tiến hành các hoạt động quân sự của mình để gửi thông điệp rõ ràng tới Trung Quốc. Mỹ đã cử nhóm tàu chiến gồm tàu sân bay lớp Nimitz USS Carl Vinson tới Biển Đông tham gia “hoạt động thường lệ” trên biển đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống D. Trump. Mặc dù không đề cập đến hoạt động tuần tra “tự do hàng hải” ở Biển Đông nhưng việc cử các tàu chiến tới khu vực là minh chứng cho ý định của Mỹ nhằm hạn chế các tuyên bố chủ quyền biển quá mức của Bắc Kinh. Bắc Kinh cho thấy động thái của Mỹ là mối đe dọa quân sự lớn hơn đối với hòa bình trên biển. Trung Quốc nhận thức việc triển khai của Mỹ như một mối đe dọa quân sự trực tiếp.

Trong khi Washington nhận thức được rằng cần phải thể hiện cam kết của mình với các đồng minh trong những tình huống nguy kịch. Bắc Kinh luôn hoang tưởng với sự hiện của quân sự của Mỹ và cho rằng các hành động đó chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực. Chính quyền của Tổng thống Trump dường như không thể nới lỏng sự quản lý của nó khi Trung Quốc tiếp tục xây dựng các khu phức hợp quân sự lớn ở giữa Biển Đông. Đáng chú ý, trong động thái mới nhất hồi tháng 5 vừa qua, 2 máy bay chiến đấu J-10 của Trung Quốc đã ngăn chặn hoạt động của một máy bay P-3 của hải quân Mỹ trong khu vực không phận quốc tế ở Biển Đông. Tình huống tương tự đã xảy ra với một tàu khu trục của Mỹ trong hoạt động tự do hàng hải đầu tiên dưới thời Tổng thống D. Trump ở khu vực Biển Đông, gần đảo nhân tạo được Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Lập trường của Việt Nam

Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc và ủng hộ một giải pháp hòa bình cho giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng sẽ không ngần ngại phản công nếu Bắc Kinh áp dụng các biện pháp đơn phương nhằm chống lại các lợi ích an ninh quốc gia của Việt Nam. Trong lịch sử, Việt Nam đã đứng vững và đánh bại người Pháp à sau đó là Mỹ. Nhưng Việt Nam không muốn bị ảnh hưởng bởi cái bóng của lịch sử vì họ muốn hòa bình, đó là lý do tại sao chính quyền Obama quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam đã được thực hiện trong một thời gian dài. Việt Nam phản đối khi Bắc Kinh tìm cách thay đổi hiện trạng ở Biển Đông.

Thật không may, không có sáng kiến của bất kỳ nước láng giềng nào của Trung Quốc cho đến nay đã thành công trong việc thuyết phục Bắc Kinh thay đổi vấn đề. Điều này khiến Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tăng cường năng lực quốc phòng, thông qua việc thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các nước thân thiện như Nhật Bản và Ấn Độ. Trong khi tìm kiếm một giải pháp cho các tranh chấp Biển Đông theo luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, Việt Nam gắn liền chính sách xây dựng liên minh với các nước nhưng không phải để chống lại bất kỳ quốc gia nào. Việt Nam đã phải chịu đựng rất nhiều trong cuộc Chiến tranh Lạnh và không muốn lặp lại một điều tương tự. Đó là điều dễ hiểu.

Sự cần thiết của COC

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có ý nghĩa chiến lược rất lớn đối với nhiều quốc gia. Bên cạnh những khu vực đánh bắt cá phong phú và tiềm năng giàu có về dầu, khí đốt và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác dưới đáy đại dương, ước tính khoảng 5 nghìn tỷ USD thương mại toàn cầu hàng năm đi qua Biển Đông. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp gồm tự do và an ninh hàng hải, các quy tắc của luật pháp, các tiêu chuẩn toàn cầu về thương mại quốc tế và COC. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã đồng ý một dự thảo khung về COC nhằm tránh xung đột trong các khu vực tranh chấp Biển Đông. 15 năm trước, Trung Quốc và ASEAN đã cam kết soạn thảo COC, nhưng không thể có kết quả vì những khác biệt.

Tuy nhiên, sau khi dự thảo COC được thông qua có những mối quan ngại trong khối ASEAN về việc liệu Trung Quốc có thành thật hay liệu ASEAN có đủ đòn bẩy để buộc Bắc Kinh cam kết với loạt quy tắc hay không. Dự kiến, khuôn khổ dự thảo sẽ được đệ trình lên cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Manila vào tháng 8 tới để xem xét. Philippines tổ chức các cuộc họp của ASEAN vào năm nay và bắt đầu tham vấn lần đầu tiên với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Philippines đã chọn một lập trường chủ động sau khi bắt đầu quan hệ nồng ấm với Bắc Kinh. Tuy nhiên, các nhà phân tích bày tỏ sự thất vọng khi cho rằng các quốc gia ASEAN đã khá mềm yếu đối với các hoạt động hiếu chiến của Trung Quốc trên biển. Họ lo ngại rằng Bắc Kinh có thể sẽ đẩy mạnh cuộc tấn công vào khu vực và điều này có thể làm suy yếu trung tâm của ASEAN. Việc không đưa ra được tuyên bố chung trong cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc tại Côn Minh tháng 6/2016 được trích dân như là kết quả của một áp lực mà Trung Quốc áp dụng đối với các nhà lãnh đạo ASEAN.

Kể từ thời điểm La Hay ra phán quyết, nhóm ASEAN đã khôi phục lại các cuộc đối thoại và tham vấn với Trung Quốc với sự tự tin, nhưng không phải là “mở ra trang mới” về giải quyết vấn đề Biển Đông. Việc ngư dân Philippines được tiếp cận bãi cạn Scarborough sau nhiều năm bị các tàu Trung Quốc ngăn chặn phần nào đã làm giảm căng thẳng quan hệ song phương. Nhưng sự thiếu tin tưởng đã không biến mất. Phải mất 15 năm để đạt được một dự thảo, tuy nhiên, COC vẫn chưa được hoàn thiện, dẫn đến sự mở rộng những khác biệt khi Trung Quốc cứng rắn hơn. Trong khi đó, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đóng vai trò là một điểm tham chiếu khi xuất hiện vấn đề và căng thẳng và là cơ sở để đàm phán một COC chính thức.

Philippines sẽ tổ chức cuộc họp cấp cao lãnh đạo lần thứ hai vào tháng 11 tới cùng với các đối tác đối thoại ASEAN như Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ. Nó được kỳ vọng sẽ đạt được sự nhất trí và tìm thấy hướng mới cho giải quyết vấn đề Biển Đông. Mặc dù bản dự thảo COC đến nay vẫn được giữ kín, nhưng COC sẽ không hoàn chỉnh nếu không có cơ chế giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, thiếu tính hợp pháp và cam kết của Trung Quốc về phi quân sự hóa các đảo tranh chấp. COC chính thức và có tính ràng buộc nên được thảo luận và hoàn tất khi Manila tổ chức cuộc họp các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN vào tháng 8 tới.

Nguồn: Eurasia Review (Ấn Độ) – 31/5/2017

TKNB – 02/06/2017

Sai lầm lớn của Donald Trump ở Biển Đông


Cho tới tận năm ngoái, Biển Đông vẫn là vấn đề chiến lược quan trọng nhất tại châu Á – Thái Bình Dương và là 1 trong 5 điểm nóng hàng đầu thế giới.

Lý do rất rõ ràng, Trung Quốc không ngừng phô trương sức mạnh ở Biển Đông với tham vọng bá chủ vùng biển đặc biệt quan trọng với thương mại quốc tế này, nơi mỗi năm trung chuyển khối lượng hàng hóa trị giá 5,3 nghìn tỷ USD, và cũng là nơi có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên vô cùng lớn. Điều này khiến căng thẳng trong khu vực không ngừng leo thang. Thực tế sau khi Bắc Kinh “thua” trong phiên tòa quốc tế mà Philippines là nguyên đơn, theo đó mọi tuyên bố về chủ quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông đều bị Tòa Trọng tài (La Hay) bác bỏ, khu vực đã phải chứng kiến một cuộc đối đầu căng thẳng giữa các cường quốc. ở mức độ chưa từng có từ sau Chiến tranh Lạnh. Một quan chức Lầu Năm Góc thậm chí còn nói rằng “nếu Chiến tranh Thế giới lần thứ ba bùng phát trong thập kỷ tới, Biển Đông chắc chắn sẽ là nơi chứng kiến phát súng đầu tiên”.

Trong gần một năm sau đó, mọi chuyện dường như lại đang đi theo một chiều hướng khác. Điều này có được là nhờ rất nhiều yếu tố, từ sự kiềm chế của Trung Quốc sau phán quyết hồi tháng 7 của Tòa Trọng tài, nỗ lực của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhằm xích lại gần với Bắc Kinh vì lý do kinh tế, hay sự chuyển giao quyền lực tại Nhà Trắng khiến Biển Đông đã không còn là một trong những ưu tiên chính sách đối ngoại hàng đầu của Washington.

Tuy nhiên, đây lại là một sai lầm rất lớn của Chính quyền Donald Trump. Mặc dù rõ ràng ưu tiên hàng đầu trong vấn đề an ninh của Mỹ phải là Triều Tiên, song Mỹ không nên để Trung Quốc có cơ hội từng bước thao túng tuyến đường biển quan trọng này. Trung Quốc hiện đã xây dựng 7 hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và triển khai trên đó nhiều hạ tầng cơ sở quân sự hiện đại. Việc quốc gia này đưa hàng loạt tàu chiến, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu tới khu vực có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Điều đáng tiếc hơn là Chính quyền Trump lại dùng cách cũ mà người tiền nhiệm từng sử dụng để đối phó với điểm nóng này, đó là đưa tàu tới gần các hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc để thách thức các tuyên bố chủ quyền của họ, với mục đích là thực hiện các chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trong khu vực. Mọi chuyện có thể dẫn đến những tính toán sai lầm và trở thành kẽ hở để Trung Quốc tận dụng nhằm phục vụ các mục đích của mình.

Để nhấn mạnh thông điệp rằng Mỹ sẽ đưa máy bay, tàu biển và “hoạt động ở bất kỳ đâu mà luật pháp quốc tế cho phép” tại Biển Đông. Chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama đã thực hiện các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không (FONOP) trong khu vực. Mục đích của các chiến dịch này là nhằm thể hiện rằng Mỹ không hề công nhận các quyền phi lý mà Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác tuyên bố. Tuy nhiên, thực tế là chiến lược này trước đây không hiệu quả, và giờ cũng vậy. Mặc dù một cuộc tuần tra FONOP có thể thể hiện rằng Mỹ đang nỗ lực phản đối các tuyên bố bành trướng của Trung Quốc và gây thiện cảm với dư luận trong bối cảnh Chính quyền Trump phải đối mặt với không ít chỉ trích, song hoạt động này không hề có tác dụng trong việc hạn chế tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Mọi chuyện thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn. Nhiều nguồn tin cho biết Bắc Kinh đang phát triển mạng lưới radar dưới nước để vô hiệu hóa khả năng do thám của các tàu ngầm Mỹ và các quốc gia khác hoạt động trong khu vực. Điều này có nghĩa, nếu Mỹ cứ chỉ đơn thuần đưa tàu tới tuần tra ở Biển Đông thì Bắc Kinh sẽ càng tìm cách triển khai các khí tài quân sự hiện đại. Các hòn đảo nhân tạo và hạ tầng cơ sở cùng các trang thiết bị mà Trung Quốc lắp đặt trên đó là một sự hiện diện thường trực trong khi các chiến dịch hải quân của Mỹ chỉ là nhất thời.

Điều may mắn là Chính quyền Trump có những lựa chọn khả thi để đối phó với thực tế này và một trong những cơ hội lớn là chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tới Mỹ trong tuần này. Việt Nam là một trong những nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc và mạnh mẽ phản đối các hành vi bành trướng của người láng giềng phương Bắc. Sự kiện này sẽ là “cơ hội vàng” để Chính quyền Donald Trump xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với Hà Nội nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề Biển Đông.

Chính quyền Trump sẽ phải làm rất nhiều việc, từ phát triển một chiến lược toàn diện nhằm đảm bảo rằng Trung Quốc không thể biến Biển Đông thành “ao nhà” – điều mà người tiền nhiệm đã thất bại; cho tới răn đe Bắc Kinh rằng nếu muốn thay đổi hiện trạng khu vực, họ sẽ phải đối mặt với những hệ quả không mong muốn, chẳng hạn như việc Mỹ có thể trao cho Đài Loan gói viện trợ vũ khí lớn mà Đài Bắc từng yêu cầu.

Washington có những lựa chọn để đối phó với các tuyên bố chủ quyền và tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, song chỉ đơn thuần đưa tàu biển tới gần các hòn đảo nhân tạo rõ ràng không phải là một biện pháp nên làm.

Nguồn: The Week – 01/06/2017

TKNB – 02/06/2017

Vấn nạn tham nhũng và công tác phòng chống tham nhũng của Lào


Sau khi nắm quyền điều hành đất nước, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith đã đưa ra một loạt biện pháp nhằm quản lý đất nước một cach hiệu quả nhất. Một trong số đó là Nghị định về phòng chống tham nhũng, căn bệnh “mãn tính” từng tồn tại nhiều năm nay tại Lào.

Trước đó, chính phủ khóa mới nào cũng đề ra mục tiêu diệt trừ tận gốc nạn tham nhũng, nhưng chưa có khóa nào hoàn thành được mục tiêu đề ra. Ban Kiểm tra Trung ương Đảng và Thanh tra nhà nước đều cho rằng cán bộ làm công tác thanh – kiểm tra ở mọi cấp cần phải làm việc thật nghiêm túc, quyết tâm và thường xuyên liên tục nhằm ngăn chặn tình trạng cán bộ, Đảng viên làm việc tắc trách, gây thất thoát tài sản quốc gia.

Phát biểu tại Hội nghị thường niên về công tác thanh – kiểm tra của Bộ Thông tin, Văn hóa và Du lịch Lào vừa diễn ra, Phó Ban Kiểm tra Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Daobualapha Baovongphet cho biết kể từ năm 2001 cho tới nay, Trung ương Đảng đã giải tán 2 tổ chức Đảng và 4 tổ chức cơ sở Đảng, thi hành kỷ luật đối với trên 2700 đảng viên, trong đó có 1440 đảng viên liên quan tới tham nhũng gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước trên 5000 tỷ kíp (gần 650 triệu USD), 92 triệu USD và 42 triệu bath (khoảng 1,2 triệu USD) và chính phủ mới chỉ lấy lại được 20% trong tổng số thiệt hại trên. Công tác thanh – kiểm tra phần lớn chỉ được thực hiện sau khi tham nhũng đã xảy ra, vì vậy rất khó có thể thu hồi hết được tài sản thiệt hại do tham nhũng gây ra. Hơn thế nữa, công tác kiểm tra mới chỉ tiến hành đối với lãnh đạo ở cấp trung và cấp thấp, cán bộ cấp cao chưa có ai bị điều tra, ngoài duy nhất một trường hợp cựu lãnh đạo Bộ Tài chính là ông Phuphet Khamphunvong.

Theo báo cáo của Thanh tra Nhà nước ngày 19/1 vừa qua, trong suốt nhiều năm qua, tham nhũng của cán bộ nhà nước từ cấp Trung ương tới địa phương đã gây thất thoát rất lớn cho ngân sách nhà nước. Như tại tỉnh Salavan, một số cán bộ Sở Nông nghiệp đã giả mạo giấy tờ nhằm biển thủ công quỹ nhà nước với số tiền lên tới 11,4 tỷ kíp (khoảng 1,4 triệu USD). Hay như tại tỉnh Savannakhet, một số cán bộ ngành thuế đã tham ô tiền thuế của nhà nước lên tới 5,8 tỷ kíp (gần 800 nghìn USD) và cán bộ Phòng Lao động và Phúc lợi xã hội tham ô trên 200 triệu kíp (khoảng 25.000 USD). Còn tại Thủ đô Viên Chăn, năm 2016, cán bộ ngành thuế thuộc Bộ Tài chính tham ô 6,9 tỷ kíp (gần 900 nghìn USD). Ngoài ra, còn rất nhiều cán bộ nhà nước thuộc nhiều bộ ngành, bao gồm cả cán bộ cấp tỉnh, huyện tham ô trong nhiều trường hợp khác nhau.

Tham nhũng tại Lào tồn tại dưới nhiều hình thức và nhiều dàng, có những trường họp tham nhũng kiểu tập thể hoặc theo nhóm, có những trường hợp coi thường pháp luật, không sợ bị bắt do có thế lực chống lưng. Tình trạng này đã tồn tại từ lâu và đã lan rộng trên địa bàn cả nước nên rất khó có thể sớm giải quyết được. Chỉ sau khi Thủ tướng Thongloun Sisoulith nắm quyền điều hành đã ban hành Nghị định về phòng chống tham nhũng, vì vậy, công tác điều tra nhiều cán bộ nhà nước liên quan tới tham nhũng mới được tiến hành.

Năm 2016 có tổng cộng 71 cán bộ bị điều tra tham nhũng, trong đó có 9 trường hợp thuộc Bộ Tài chính, 30 trường hợp thuộc tỉnh Udomxay, 3 trường hợp thuộc Bộ Bưu chính và Vận tải, 27 trường hợp thuộc tỉnh Savannakhet, 1 trường hợp thuộc Salavan và 1 trường hợp thuộc Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội. Qua điều tra đã tiến hành xét xử 25 trường hợp trong tổng số 71 trường hợp bị điều tra, trong đó có nhiều cá nhân bị phạt tù và nhiều khác bị buộc phải rời khỏi chức vụ, ngoài ra, cũng còn nhiều đối tượng sẽ tiến hành điều tra thêm.

Nhằm thực hiện triệt để Nghị định về phòng chống tham nhũng, Thủ tướng Lào Thongloun Sisoulith và Tổng Bí thư Chủ tịch nước Lào Bounhang Volachith đã chỉ thị cho tất cả các cán bộ nhà nước phải công khai tài sản của mình. Cho đến thời điểm hiện tại, đã có trên 1900 cán bộ nhà nước, 98000 cán bộ công quyền thuộc các bộ và các cơ quan ban ngành và trên 140.000 cán bộ địa phương trên địa bàn cả nước đã công khai tài sản cá nhân của mình. Tuy nhiên, công tác phòng chống tham nhũng mới chỉ tiến hành điều tra đối với cán bộ từ cấp trung trở xuống, nhiều cán bộ và lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước chưa từng bị điều tra và chưa từng thấy ai bị bắt giữ. Chính điều này khiến cho công tác diệt trừ tận gốc nạn tham nhũng khó đi đến thành công.

Theo truyền thông nước ngoài, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là một đất nước nhỏ bé, nhưng nạn tham nhũng tồn tại tràn lan. Phương cách diệt trừ tham nhũng mà chính phủ Lào đang tiến hành giống với cách diệt trừ tham nhũng tại các nước có chỉ số tham nhũng cao nhất là Trung Quốc và Việt Nam. Chính phủ Lào cho rằng công cuộc phòng chống tham nhũng là nhằm lấy lại lòng tin của người dân đối với chế độ Cộng sản, do xuất hiện tình trạng nhiều cán bộ cấp cao giàu có một cách bất bình thường, khiến người dân ngày càng mất đi niềm tin vào chế độ Cộng sản. Thủ tướng Thongloun Sisoulith được xã hội coi là nhà lãnh đạo cải cách, ông đã tiến hành công cuộc phòng chống tham nhũng kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 4/2016 cho đến nay. Sau Đại hội Đảng lần thứ X hồi tháng 1/2016, đã có nhiều cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước về nghỉ hưu, như ông Chummaly Xayasone và ông Thongsing Thammavong, nhằm làm tiền lệ cho các thế hệ lãnh đạo tiếp theo.

Truyền thông nước ngoài đưa tin, trong thời kỳ ông Thongsing Thammavong làm Thủ tướng và ông Chummaly Sayasone làm Chủ tịch nước, tệ nạn tham nhũng tại Lào tràn lan, khiến cho các tổ chức nước ngoài phải thốt lên rằng Lào là khu vực điển hình tồn tại nhiều vấn đề  bất cập về kinh tế và tài chính. Bộ trưởng Tài chính thời kỳ đó là ông Phuphet Khamphumvong, đồng thời là cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương Lào, đã bị điều tra và bắt giữ với tội danh tham nhũng hồi tháng 12/2015 cùng với 4 cán bộ tham gia phê duyệt các dự án “ma”, bao gồm các dự án xây dựng đường giao thông tại một vài tỉnh thành, nhằm lấy cắp tài sản nhà nước để chia nhau.

Thanh tra nhà nước báo cáo trước Quốc hội Lào hồi năm 2015 rằng trong khoảng thời gian từ năm 2012 – 2014, tham nhũng đã gây thất thoát cho ngân sách nhà nước khoảng 123 triệu USD.

Theo các nhà phân tích, công cuộc diệt trừ tệ nạn tham nhũng của Thủ tướng Thongloun Sisoulith là một kế hoạch tốt, nhưng muốn kế hoạch này hiệu quả hơn cần phải tiến hành điều tra tham nhũng đối với cả hàng ngũ cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước, không loại trừ bất cứ ai, làm giống như Trung Quốc từng làm, diệt cả “hổ” lẫn “ruồi”. Tuy nhiên, Thủ tướng Thongloun có thể không dám làm điều này, vì có thể ảnh hưởng tới Thủ tướng và chính phủ của Thủ tướng. Trung Quốc việc đả “hổ”, là hàng ngũ lãnh đạo cấp cao, còn truy bắt cả các bộ nhà nước tham ô rồi bỏ trốn ra nước ngoài và điều tra cả các cán bộ đã nghỉ hưu. Chính phủ Lào nên tiến hành điều tra đối với những cán bộ nhà nước tham nhũng nhưng đã nghỉ hưu, nhằm thu hồi lại tài sản do tham nhũng mà có về cho ngân sách nhà nước.

Nguồn: Tin tham khảo TTX Lào – 23/3/2017

TKNB – 24/03/2017

Thành công của Singapore là rất đáng nể nhưng không dễ bắt chước


Singapore chưa bao giờ thiếu người hâm mộ. Nhiều lãnh đạo các nước đang phát triển kính nể Lý Quang Diệu, người sáng lập và dẫn dắt quốc đảo này từ thế giới thứ ba lên thế giới thứ nhất trong khi vẫn quay lưng với lời kêu gọi tự do hóa chính trị hơn nữa của phương Tây. Paul Kagame, vị tổng thống bàn tay sắt của Rwanda hy vọng rằng đất nước của ông ta sẽ trở thành “Singapore của châu Phi”. Các fan hâm mộ của tổng thống Philippine Rodrigo Duterte thì so sánh ông ta với Lý Quang Diệu vì ý chí mạnh mẽ và không khoan nhượng đối với tội phạm và tham nhũng.

Gầy đây, thế giới các nước giàu cũng bắt đầu tăm tia hòn đảo này. “Muốn loại bỏ Obamacare ư? Vậy thì hãy cóp-py mô hình chăm sóc y tế kỳ diệu của Singapore”, một bài ý kiến trên trang web của hãng truyền thông bảo thủ Mỹ Fox News líu lo ngay sau khi Donald Trump thắng cử. Ý kiến này cho rằng “sự thần kỳ” nằm ở hai đặc tính mà phe Cộng hòa thiết tha cổ súy – “trao quyền cho người tiêu dùng và ươm dưỡng sự cạnh tranh”. Một số người ủng hộ Brexit to tiếng hơn còn mơ về việc biến Anh quốc thành “Singapore trên dòng sông Thames”: nơi kinh doanh thuận lợi, ít bị ràng buộc luật lệ và thuế thấp cho các doanh nghiệp sẵn sàng giao thương với châu Âu. Giống như câu chuyện mấy ông mù sờ voi và tả con vật theo đúng bộ phận mà họ sờ tới, những fan hâm mộ này có nhận xét đúng về Singapore nhưng lại không thể nhìn ra toàn cục.

Bắt đầu với phe ủng hộ Brexit. So với Singapore, Anh có 65 triệu dân, nhiều hơn 12 lần, và rải đều trên lãnh thổ lớn hơn Singapore 337 lần. Thuế ở Anh vốn đã nhẹ và được điều tiết theo chuẩn châu Âu, nhưng so với Singapore thì An vẫn là con voi ma mút. Suất thuế thu nhập cao nhất của Anh là 45%, gấp đôi của Singapore, chi tiêu của chính phủ chiếm khoảng 38% GDP, gấp đôi hệ thống nhà nước tinh gọn của Singapore. Việc tinh giản hơn nữa có nghĩa phải giảm mạnh chi tiêu nhà nước và định hình lại toàn diện Dịch vụ Y tế Quốc gia. Cử tri Anh sẽ chắc chắn trừng phạt bất kỳ đảng phái nào manh nha thực hiện điều này.

Ngay cả khi giả định rằng EU sẽ cho phép nước Anh có thuế thấp dễ dàng tiếp cận thị trường chung của mình, thì bối cảnh láng giềng cũng khác hẵn. Đông Nam Á là khu vực đang bùng nổ với 630 triệu dân, đa số sống ở các nước có tình hình không ổn định, tham nhũng, hay cơ sở hạ tầng yếu kém. Một Singapore hiệu quả cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận lực lượng người tiêu dùng này trong khi tối thiểu hóa rủi ro. Ngược lại, châu Âu có thể trì trệ, dù mang những nguy cơ dân túy, nhưng vẫn ổn định về mặt chính trị và hầu như được quản trị tốt. Khó có thể hình dung một doanh nghiệp sẽ chọn đầu tư vào Anh để phục vụ thị trường Tây Ban Nha thay vì thiết lập hoạt động ở Singapore để phục vụ khách hàng Indonesia – và càng khó hình dung hơn điều này sẽ xảy ra khi Anh không còn hưởng quyền tiếp cận không hạn chế vào thị trường châu Âu, điều rất có thể xảy ra khi Brexit hoàn tất.

Về phần phe bảo thủ Mỹ, họ đã đúng khi cho rằng hệ thống chăm sóc y tế của Singapore đạt được những kết quả tốt đẹp bằng cách chú trọng vào trách nhiệm cá nhân, cạnh tranh và hạn chế chi tiêu công. Dân Singapore tự trả hầu hết chi phí chăm sóc y tế từ túi riêng và tận hưởng tuổi thọ thuộc loại cao nhất và tỉ lệ tử vong sơ sinh thấp nhất thế giới. Nước này chi tiêu chỉ 5% GDP cho chăm sóc y tế, trong đó khoảng 2% là từ túi tiền người dân. Mỹ chi hơn rất nhiều, với tỉ lệ tương ứng là 17% và 8%, nhưng dân chúng lại kém xa về sự khỏe mạnh.

Tuy nhiên, hệ thống của Singapore cũng thể hiện sự cưỡng ép và can thiệp của nhà nước nhiều hơn hẵn những gì mà người Mỹ có thể chấp nhận. Đa số bệnh viện là của nhà nước. Hầu hết các các viện hay nhà chăm sóc cuối đời là của tư nhân nhưng được chính phủ cấp ngân sách. Chính phủ trợ cấp mạnh cho chăm sóc đặc biệt. Họ khuyến khích cạnh tranh thông qua công khai hóa đơn bệnh viện; các tổ chức dịch vụ y tế của Mỹ, ngược lại cố gắng che dấu viện phí để bệnh nhân không thể dò giá. Chính phủ Singapore buộc người dân phải chuyển 10,5% tiền lương của mình vào tài khoản “Medisave” (chủ lao động cũng phải đóng góp vào đây). Chính phủ cũng trợ giá cho những loại thuốc “thiết yếu và hiệu quả chi phí”; những loại thuốc không được duyệt, nếu có, sẽ vô cùng tốn kém.

Cả hai phe tả hữu đều thấy có nhiều điều đáng nể từ hệ thống chăm sóc y tế của Singapore. Nhưng bất kỳ ai có quan điểm cho rằng việc Michelle Obama khuyến khích trẻ em ăn nhiều táo là kiểu vú em ép trẻ ăn, sẽ khó chấp nhận hệ thống này. Như Hiệu trưởng Kishore Mahbubani của Trường Chính sách công Lý Quang Diệu giải thích: “ý thức hệ dẫn dắt Lý Quang Diệu không phải là kiểu Ayn Rand.”

Một mô thức tương tự – trách nhiệm cá nhân được hỗ trợ bởi sự cưỡng ép và mạng lưới an sinh tinh gọn và mạnh mẽ, được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế của Singapore. Hơn 90% dân Singapore sở hữu nhà riêng, nhưng đa số là căn hộ do chính phủ xây, chính phủ định giá, và cũng chính phủ cho vay mua nhà. Nơi cư ngụ của dân Singapore một phần phụ thuộc vào sắc tộc của họ: để tránh hình thành những khu ghetto sắc tộc, Singapore bắt buộc các khu nhà do nhà nước xây là đa thành phần để phản ánh nền tảng đa chủng tộc của đất nước.

Cuộc mặc cả khó khăn

Hình thức thiết kế xã hội này sẽ khiến cử tri phương tây kinh hãi và tòa án phương tây sẽ gạt bỏ ngay. Nhưng dân Singapore lại chấp nhận. Chủ nghĩa gia trưởng đã áp đặt được sự ôn hòa sắc tộc. Người gốc Hoa đa số ở đây đã tránh được sự thù hằn mà những Hoa kiều ở nơi khác như Malaysia và Indonesia gặp phải. Quan trọng hơn là sự đánh đổi mà Lý Quang Diệu đưa ra vẫn còn giá trị: nền chính trị phi tự do đổi lại một chính phủ tốt và mức sống cao.

Các lãnh đạo Singapore bảo vệ một cách quyết liệt uy tín của mình bằng cách đưa ra tòa tội bôi nhọ, và dàn xếp cử tri để duy trì tính đa số của đảng cầm quyền. Nhưng ngược lại họ cung cấp đường xá an toàn, chăm sóc y tế hạng nhất, giao thông công cộng tốt và một nền hành chính công sạch và nhạy bén. Trong một hình thái không hoàn chỉnh, các cuộc bầu cử vẫn cho phép cử tri tác động lên chính sách: sau khi đảng cầm quyền gánh chịu kết quả bỏ phiếu tệ hại nhất năm 2011, “chỉ” được 60% số phiếu ủng hộ, thì họ đã chuyển theo hướng dân túy hơn và giành thắng lợi vẻ vang 4 năm sau đó.

Thỏa thuận của Lý Quan Diệu khó có thể bắt chước. Cả hai vế đánh đổi đều quan trọng đối với sự thành công của Singapore. Tuy nhiên, những fan hâm mộ như ông Duterte và Hun Sen, người đàn ông cứng của Campuchia, chỉ chăm học phần chuyên quyền độc đoán, mà quên phần chính phủ sạch hay việc kiến tạo sự thịnh vượng. Còn với các fan của Singapore từ thế giới giàu có, thì lại thiếu nền chính trị bị thuần hóa đã cho phép các nhà cầm quyền Singapore đề ra chính sách mà không phải lo lắng quá nhiều về đợt bầu cử tiếp theo – hay quá lo về quyền tự do dân sự của công dân.

Người dịch: https://www.facebook.com/tamnq?fref=mentions

Nguồn: http://www.economist.com/news/asia/21722865-city-states-success-offers-much-admire-little-emulate-how-foreigners-misunderstand

Quan hệ Trung Quốc – Philippines chưa thể lạc quan – Phần cuối


Philippines vừa muốn viện trợ quân sự vừa muốn viện trợ kinh tế

Giới phân tích Trung Quốc nghi ngờ rốt cuộc liệu Philippines có thực sự thay đổi, chia tay với đồng minh lâu đời của mình là Mỹ hay không? Trong suốt hành trình của chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte luôn bày tỏ thái độ xa rời Mỹ, khiến người ta có cảm giác Philippines đang “phản bội” lại Mỹ, điều cũng khiến mọi người ngạc nhiên. Thế nhưng như đã nói ở trên, sau khi nhận được phần quà hậu hĩnh từ Trung Quốc, ngay sau khi trở về Philippines, Rodrigo Duterte đã vội vàng đính chính rằng ý tứ trong cách nói chia tay với Mỹ, hoàn toàn không phải là cắt đứt quan hệ với Mỹ. Thậm chí Rodrigo Duterte còn tuyên bố hiện có rất nhiều kiều dân Philippines đang sinh sống ở Mỹ, duy trì quan hệ với Mỹ phù hợp lợi ích quốc gia của Philippines. Vì thế, giới phân tích Trung Quốc lý giải chẳng qua Mỹ đang trong giai đoạn bầu cử tổng thống, chưa biết ai sẽ lên nắm quyền nước Mỹ, cho nên tuyên bố của Rodrigo Duterte trong thời điểm này cơ bản không ảnh hưởng nhiều đến quan hệ Philippines – Mỹ trong tương lai. Ngay cả việc Rodrigo Duterte lăng mạ Tổng thống Obama sắp mãn nhiệm cũng không ảnh hưởng nhiều đến hướng đi chính trị của mình trong thời gian tới. Nếu nước Mỹ không ở trong hoàn cảnh bầu cử tổng thống mới, có thể Rodrigo Duterte đã không có những phát ngôn mạnh miệng như vậy.

Như vậy, cái gọi là xa Mỹ, thân Trung Quốc chỉ là sự giải thích phiến diện, Trung Quốc không cần thiết phải coi đó là thực tế. Suy cho cùng Philippines cần có sự bảo hộ quân sự từ Mỹ, quan hệ đồng minh giữa hai nước suốt 75 năm qua không thể nói là cắt đứt. Ngay cả khi Rodrigo Duterte tuyên bố không còn nghe theo Mỹ trong mọi việc, cần phải thông qua tăng cường quan hệ với Trung Quốc để thực thi chính sách ngoại giao độc lập hơn. Trên thực tế, tính toán của Rodrigo Duterte chính là “nghiêng bên này, ngả bên kia”, đi trên dây giữa Mỹ và Trung Quốc, một mặt mong muốn có được “sức mạnh” của Mỹ làm ô bảo hộ an ninh quốc gia của Philippines, mặt khác tranh thủ tiền của Trung Quốc để cải thiện kinh tế, dân sinh.

Giới phân tích Trung Quốc phần đông cho rằng cái gọi là “xa Mỹ, thân Trung Quốc” của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte là sách lược thuận theo thời thế, giống như kiểu “gió chiều nào che chiều đấy”, dù gì thì Mỹ cũng lên ánh hành động giết sạch tội phạm ma túy của Rodrigo Duterte. Vậy thì quay sang Trung Quốc tìm kiếm viện trợ kinh tế là cách làm đúng kiểu của “kẻ không bỏ lỡ thời cơ là tuấn kiệt”. Hơn thế, nhấn mạnh quan hệ với Trung Quốc còn tạo ra lợi thế để Rodrigo Duterte mặc cả trong quan hệ với Mỹ, dọn đường để Rodrigo Duterte thuận lợi trong “giao dịch” với tổng thống mới của Mỹ. Trung Quốc cũng thừa hiểu quan hệ thâm căn cố đế Philippines – Mỹ, mỗi nước đi một hướng là điều không thực tế. Hơn thế, chính khách mạnh mồm như Rodrigo Duterte sẽ không thể tin cậy tuyệt đối. Có điều, xuất phát từ tầm cao chiến lược, để phá vỡ chính sách bao vây của Mỹ, Trung Quốc luôn có nhu cầu lôi kéo Philippines về bên mình. Hơn thế năm 2017, Philippines sẽ đảm nhận chức chủ tịch luân phiên ASEAN, lợi dụng chủ trương thân Trung Quốc của Rodrigo Duterte, Trung Quốc sẽ thuận lợi hơn trong việc “ổn định” các nước ASEAN, nhất là vấn đề liên quan đến tranh chấp chủ quyền biển Hoa Nam, đồng thời hạn chế ảnh hưởng của Mỹ đối với các nước ASEAN.

Thách thức quan hệ Trung Quốc – Philippines đang ở phía trước

Theo giới phân tích Trung Quốc, với nước này, bản thân chuyến thăm cấp nhà nước trong vòng 4 ngày của Tổng thống Philippines Duterte đã có thể coi là thành công, thậm chí là sự khởi đầu cải thiện toàn diện quan hệ hai nước. Thế nhưng, cần phải nhận thấy rằng quan hệ hai nước phát triển chưa hẳn là thuận buồm xuôi gió, vẫn còn rất nhiều trở ngại phải vượt qua. Không thể phủ nhận rằng thay đổi trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc năm 2016 này. Bởi vì nó làm thay đổi cục diện bị động của Trung Quốc trong vấn đề biển Hoa Nam, đồng thời quyền chủ động của Mỹ trong vấn đề biển Hoa Nam bị tấn công. Thế nhưng, Trung Quốc cũng cần tỉnh táo nhận thấy việc cải thiện quan hệ Trung Quốc – Philippines hoàn toàn dựa vào một mình ông Rodrigo Duterte là không tưởng, nếu như bất kỳ sự cố nào xảy ra với Duterte, quan hệ Trung Quốc – Philippines đều có thể bất ngờ thay đổi.

Giới phân tích Trung Quốc nêu rõ quan hệ Mỹ – Philippines nhất thời bị ảnh hưởng, nhưng nền tảng cảu quan hệ hai nước không dễ gì lay chuyển. Hiện nay, chính khách thuộc phái thân Mỹ của Philippines có mặt trong mọi cơ quan công quyền của Philippines. Thẩm phán Tòa án tối cao Philippines Antonio Carpio từng cảnh báo, quyền lợi chủ quyền của Philippines ở vùng biển còn tồn tại tranh chấp trên biển Hoa Nam có thể trở thành ngòi nổ tiềm ẩn cho hành động luận tội Tổng thống Rodrigo Duterte. Điều đáng chú ý là những chính khách thuộc phái thân Mỹ trong thời gian Aquino III nắm quyền đều là tầng lớp được lợi. Giờ đây họ bị Rodrigo Duterte gạt ra bên lề, với oán hận trong lòng, việc họ mưu đồ tập hợp lực lượng, đợi Rodrigo Duterte mắc sai lầm để tiến hành tấn công chính trị là khả năng hoàn toàn có thể xảy ra.

Bên cạnh đó, sau khi lên nắm quyền tại Philippines, Rodrigo Duterte rầm rộ triển khai chiến dịch chống tội phạm ma túy và nhanh chóng thay đổi chính sách ngoại giao, điều này khiến mọi người có thể cảm hận chiến lược này là nóng vội và đem lại hậu họa khôn lường, ngay cả sự an toàn của bản thân Rodrigo Duterte cũng tồn tại rủi ro lớn. Truyền thông Philippines từng đưa tin một số người dân Philippines nhận được tin nhắn bí hiểm, kêu gọi mọi người vào tháng 1/2017 tiến hành biểu tình chống Rodrigo Duterte, thực hiện kế hoạch B thay thế tổng thống, đưa phó tổng thống lên nắm quyền.

Quan hệ Trung Quốc – Philippines chưa thể lạc quan quá sớm

Phân tích kỹ các thảo thuận mà hai bên đạt được khi Rodirgo Duterte thăm Trung Quốc có thể thấy còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm hai bên còn tồn tại bất đồng. Ví như vấn đề hợp tác nghề cá, do phía Philippines không chấp nhận được những điều kiện cụ thể của Trung Quốc, nên hai bên đã không đạt được nhận thức chung. Ngoài ra, Trung Quốc cũng không chấp nhận tuần tra chung tại vùng biển bãi cạn Scarborough…

Còn về những tuyên bố của Rodrigo Duterte tại Bắc Kinh như “chia tay với Mỹ cả về quan hệ kinh tế lẫn quân sự”, phía Mỹ cho biết cho đến nay nước này vẫn chưa nhận được bất cứ văn bản yêu cầu nào từ phía Chính phủ Philippines liên quan đến việc kết thúc quan hệ an ninh và kinh tế giữa hai nước. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ John Kirby từng bày tỏ, Mỹ vẫn tin tưởng và tuân thủ hiệp ước đã ký với Philippines. Mỹ không chỉ có quan hệ chặt chẽ với chính phủ mà còn với cả nhân dân Philippines. Mỹ hy vọng quan hệ này sẽ tiếp tục được duy trì. Chuyên gia khách mời của Viện Nghiên cứu tài chính Trung Dương thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc, Trương Kính Vĩ phân tích, chuyến thăm Trung Quốc lần này của Rodrigo Duterte chỉ khiến quan hệ Trung Quốc – Philippines hạ cánh mềm. Để biết tương lai quan hệ hai nước phát triển như thế nào, vẫn cần đợi quan sát hành động và phát ngôn tiếp theo của Chính quyền Rodrigo Duterte. Dù sao, kể cả khi điều chỉnh chiến lược châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ cũng không dễ gì vứt bỏ cứ điểm chiến lược Philippines. Quan hệ Trung Quốc – Philippines vẫn chịu sự ràng buộc bởi những thay đổi của quan hệ Philippines – Mỹ cũng như sự phát triển quan hệ 3 bên Trung Quốc – Mỹ – Philippines.

Giới phân tích Trung Quốc thừa nhận tương lai phát triển quan hệ Trung Quốc – Philippines tồn tại nhiều nhân tố không xác định. Một là việc Chính quyền Rodrigo Duterte “xa Mỹ” chỉ là tạm thời, cùng lắm cũng chỉ là trong nhiệm kỳ tổng thống của Rodrigo Duterte, Philippines duy trì quan hệ “hữu hảo” với Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng phải đối mặt với sự cản trở của thế lực thân Mỹ tại Philippines. Nếu như tình cảm chống Trung Quốc trong Philippines dâng cao, Rodrigo Duterte sẽ buộc phải thay đổi thái độ trong quan hệ với Trung Quốc. Hai là việc Rodrigo Duterte “thân thiện” với Trung Quốc xuất phát từ sự bất bình trước việc Mỹ can dự vào công việc nội bộ của Philippines, phản đối lập trường chống ma túy, tấn công tội phạm ma túy của Rodrigo Duterte, và cũng xuất phát từ những toan tính kinh tế của Philippines. Ba là cùng với tình hình kinh tế, chính trị trong nước của Philippines và sự can thiệp của các nước ngoài vào khu vực, hai nước Trung Quốc và Philippines trong vấn đề biển Hoa Nam vẫn tồn tại bất đồng nghiêm trọng, đây là nhân tố không xác định nhất trong tương lai quan hệ Trung Quốc – Philippines.

Nguồn: Nguyệt san “Quảng Giác kính” (Hong Kong) – 15/12/2016

TLTKĐB – 07/01/2017

Quan hệ Trung Quốc – Philippines chưa thể lạc quan – Phần đầu


Chuyến thăm được dư luận coi là “phá băng” tới Trung Quốc của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte hồi cuối tháng 10/2016 dường như đã có được thành công nhất định. Trung Quốc và Philippines mỗi bên đều được lợi. Philippines có được khoản tiền lớn hàng chục tỷ USD, còn Trung Quốc hóa giải được cục diện khó khăn trong vấn đề biển Hoa Nam (Biển Đông), tạo bước đột phá trong vòng vây của Mỹ. Điều đáng tiếc là ngay sau khi kết thúc chuyến thăm Trung Quốc về nước, Tổng thống Philippines, Rodrigo Duterte đã giải thích rõ tuyên bố “chia tay với Mỹ” do chính ông đưa ra tại Bắc Kinh chỉ bó hẹp trong phạm vi lĩnh vực ngoại giao, tức Philippines không còn đi theo sau Mỹ, chứ không có nghĩa cắt đứt quan hệ với Mỹ.

Thắng lợi của Trung Quốc trong ngoại giao xung quanh

Bài học với Trung Quốc vẫn còn nguyên giá trị, mới chỉ 5 năm trước, cựu Tổng thống Philippines Aquino III, rầm rộ thăm Trung Quốc, cũng có được món quà lớn, nhưng sau đó đã trở mặt với Trung Quốc. Từ đó có thể thấy quan hệ Trung Quốc – Philippines vừa chịu ảnh hưởng bởi tình hình chính trị của Philippines, cũng chịu tác động bởi môi trường quốc tế, nhất là thái độ của các nước khác xung quanh biển Hoa Nam, hoàn toàn không có nghĩa chỉ một chuyến thăm Trung Quốc và những thỏa thuận hợp tác có giá trị hàng chục tỷ USD là có thể cải thiện triệt để. Vì thế, xu thế phát triển của quan hệ Trung Quốc – Philippines chưa thể lạc quan quá sớm, còn nếu cho rằng quan hệ Trung Quốc – Philippines “mưa đã tạnh, trời đã sáng”, rõ ràng là không đủ cơ sở.

Chuyến thăm Trung Quốc lần này của Rodrigo Duterte đã nhận được sự đón tiếp trọng thị một cách thái quá của các lãnh đạo tối cao Trung Quốc như Chủ tịch nước Tập Cận Bình, Thủ tướng Lý Khắc Cường, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại (Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc – Quốc hội) Trương Đức Giang và Phó Thủ tướng thường trực Trương Cao Lệ. Hai bên đã ký kết 13 thỏa thuận hợp tác với tổng trị giá 13,5 tỷ USD. Trung Quốc xóa bỏ cảnh báo du lịch nhằm vào Philippines, khôi phục nhập khẩu hoa quả của Philippines, đồng thời ngầm bày tỏ cho phép ngư dân Philippines đánh bắt tại vùng biển bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) đang tồn tại tranh chấp chủ quyền tại khu vực biển Hoa Nam. Nhìn từ phía Trung Quốc, việc Philippines đi đầu tạo ra vụ Tòa Trọng tài dường như đã quay trở lại quỹ đạo đàm phán và từ chối để Mỹ can dự vào vấn đề biển Hoa Nam, rõ ràng là thắng lợi trong ngoại giao xung quanh của Trung Quốc. Đặc biệt, trong năm 2017, Philippines sẽ giữ chức Chủ tịch luân phiên ASEAN, quan hệ Trung Quốc – Philippines được cải thiện với Trung Quốc càng có ý nghĩa hiện thực hơn.

Thế nhưng, khi đi sâu phân tích, trong chuyến thăm Trung Quốc lần này của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, vấn đề biển Hoa Nam luôn ảnh hưởng sâu rộng nhất tới quan hệ hai nước đã không có được đột phá quan trọng. Nhận thức chung duy nhất mà hai bên đạt được là quay trở về quỹ đạo đàm phán song phương, đồng thời cam kết duy trì kiềm chế khi hành động tại biển Hoa Nam. Phía Trung Quốc có thể cho phép ngư dân Philippines tiến vào vùng biển bãi cạn Scarborough đánh bắt hải sản, Philippines có thể sẽ mở cửa vùng biển bãi Cỏ Rong (Trung Quốc gọi là bãi Lễ Lạc), do Philippines đang kiểm soát trên thực tế, để hợp tác khai thác nguồn tài nguyên dầu khí tại đây. Điều này có thể thấy đây chỉ là biện pháp hai bên tạm thời né tránh vấn đề nhạy cảm nhất trong quan hệ song phương giữa hai nước.

Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng, hành động và phát ngôn “xa Mỹ thân Trung Quốc” của Duterte cần phải thông qua hiện tượng để xem bản chất. Những năm gần đây, phát triển kinh tế của Philippines tuy tốc độ nhanh, nhưng đang gặp phải nút thắt thiếu vốn. Hiện nay, GDP bình quân đầu người của Philippines đạt 2800 USD/năm, nhưng vẫn đứng ở vị trí ngoài vòng 100 nước đứng đầu thế giới. Vì thế, sau khi Rodrigo Duterte lên nắm quyền, chấn hưng kinh tế và cải thiện cơ sở hạ tầng là điểm mấu chốt. Các nước Mỹ và Nhật Bản mặc dù “chống lưng” cho Philippines trong vấn đề biển Hoa Nam, sẵn sàng cung cấp viện trợ quân sự, nhưng trên phương diện kinh tế lại không thể giúp gì được Philippines. Hơn thế, hiện Mỹ còn phê phán biện pháp mạnh tay chống tội phạm ma túy của Rodrigo Duterte là vi phạm nhân quyền. Tất cả những điều này là nguyên nhân khiến Rodrigo Duterte chuyển sang đề nghị Trung Quốc giúp đỡ.

Bài học lịch sử đáng để Trung Quốc suy ngẫm là năm xưa khi Aquino III lên nắm quyền tại Philippines cách đây không lâu, năm 2011 ông cũng từng dẫn đầu đoàn đại biểu khổng lồ với 200 người trong đó gồm 13 quan chức chính phủ, rầm rộ thăm Trung Quốc, thậm chí Aquino III còn đến tận quê mẹ của mình là Phúc Kiến để tìm cội nguồn, làm nổi bật huyết thống người Hoa của mình. Nhưng sau khi có được thỏa thuận hợp tác trị giá 7 tỷ USD đem về nước, Aquino III đã lập tức tuyên bố tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tại biển Hoa Năm. Năm 2012, sự kiện đối đầu giữa tàu cảnh sát biển của Trung Quốc và Philippines tại vùng  biển bãi cạn Scarborough bắt nguồn từ việc phía Philippines muốn bắt giữ tàu cá Trung Quốc. Năm 2013, Philippines đã kiện Trung Quốc lên Tòa Trọng tài có trụ sở tại La Hay (Hà Lan), phủ định quyền lợi của Trung Quốc tại biển Hoa Nam.

Ảnh hưởng Mỹ và Nhật Bản tớiq uan hệ Trung Quốc – Philippines

Với Trung Quốc, lấy bài học trong lịch sử để cảnh tỉnh hiện thực hôm nay là không thừa. Đối với thành quả chuyến thăm Trung Quốc của Rodrigo Duterte, Bắc Kinh vẫn cần thận trọng quan sát động thái của Rodrigo Duterte từ nay về sau, nhất là sau khi Tổng thống Mỹ đắc cử Donald Trump chính thức bước vào Nhà Trắng, để không giẫm phải vết xe đổ 5 năm trước.

Trước Aquino III, nữ Tổng thống Philippines Gloria Macaraeg Macapagal Arroyo được nhìn nhận là lãnh tụ hữu hảo nhất với Trung Quốc của Philippines. Trong khoảng thời gian cầm quyền từ năm 2001 – 2009, Gloria Arroyo đã thăm Trung Quốc tổng cộng 15 lần. Trong nhiệm kỳ 6 năm Tổng thống Gloria Arroyo nắm quyền, Philippines và Trung Quốc đã ký kết 65 thỏa thuận song phương, nhận thức chung giữa Trung Quốc và Philippines về thông qua đàm phán song phương giải quyết tranh chấp biển Hoa Nam chính là đạt được trong thời kỳ Gloria Arroyo làm tổng thống. Thế nhưng, thông tin về Gloria Arroyo và người nhà của mình tham nhũng đã khiến các dự án hợp tác Trung Quốc – Philippines chịu hậu quả. Khi đó, phe đối lập tại Philippines gắn liền hợp tác Trung Quốc – Philippines tại biển Hoa Nam với vấn đề tham nhũng của Gloria Arroyo, khiến cho các dự án hợp tác giữa hai nước tại Philippines cũng trở thành vấn đề “bán nước”. Bài học từ việc này với Trung Quốc là cần chú trọng nắm bắt hướng đi dân ý của Philippines đối với lãnh đạo đất nước, tránh gặp phải những tai nạn kiểu Gloria Arroyo.

Bên cạnh đó, sức ảnh hưởng hàng trăm năm của Mỹ tại Philippines cũng không thể đánh giá thấp. Hiện nay, có tới 3 triệu kiều dân Philippines đang sinh sống tại Mỹ, khoản kiều hối gửi về nước mỗi năm luôn đứng đầu lượng kiều hối kiều dân Philippines trên khắp thế giới gửi về nước, mà kiều hối luôn chiếm khoảng 10% GDP của Philippines. Trước khi Rodrigo Duterte thăm Trung Quốc, kết quả một cuộc điều tra tại Philippines cho thấy Mỹ vẫn là nước người dân Philippines tin cậy nhất. Càng không cần nói đến việc Mỹ vẫn có quân đội đồn trú tại Philippines, sức ảnh hưởng đối với quân đội Philippines là vô cùng sâu rộng. Tại Philippines hiện nay vẫn chưa xuất hiện một nguyên thủ chống Mỹ, trái lại từng có thông tin Philippines xảy ra chính biến khi Rodrigo Duterte muốn cắt đứt quan hệ với Mỹ, thông tin này không phải là không có cơ sở. Thực tế đã cho thấy sau khi Rodrigo Duterte vừa kết thúc chuyến thăm Trung Quốc, tàu chiến Mỹ đã lại tiến vào vùng biển quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Điều này đã phát đi tín hiệu: cục diện nghi ngờ chiến lược Trung – Mỹ không thay đổi, bất chấp quan hệ Trung Quốc – Philippines được cải thiện, theo đó tình hình biển Hoa Nma sẽ chưa thể bình lặng.

Ngoài Mỹ, ảnh hưởng của các nước xung quanh đối với xu hướng phát triển của quan hệ Trung Quốc – Philippines cũng không thể xem nhẹ. Sau chuyến thăm Trung Quốc, Tổng thống Philippines tiếp tục có chuyến thăm tới Nhật bản. Điều khiến giới phân tích Trung Quốc quan tâm là Nhật Bản hiện đang là đối tác thương mại lớn nhất của Philippines. Đối với việc Trung Quốc và Philippines gác lại tranh chấp biển Hoa Nam, Nhật Bản đã ngầm bày tỏ có thể lên án bởi việc này tạo ra tiền lệ xem nhẹ luật pháp quốc tế. Thực tế cho thấy trong chuyến thăm Nhật Bản lần này của Rodrigo Duterte, Chính quyền Shinzo Abe đã áp dụng thái độ “mềm – rắn” kết hợp. Ngoài ra, các nước đóng vai trò quan trọng trong tranh cãi chủ quyền biển Hoa Nam như Việt Nam, Indonesia và thậm chí cả Singapore cũng sẽ không thể ngồi im trước sự thay đổi của quan hệ Trung Quốc – Philippines.

Giới phân tích Trung Quốc phần đông cho rằng, đối với lãnh tụ chính trị kiểu dân túy của Philippines như Rodrigo Duterte, Trung Quốc buộc phải quan sát hành động và lời nói, thận trọng trong giao dịch và suy tính kỹ càng trước khi hành động, tránh trở thành con rối trong trò chơi của Rodrigo Duterte.

(còn tiếp) 

Nguồn: Nguyệt san “Quảng Giác kính” (Hong Kong) – 15/12/2016

TLTKĐB – 07/01/2017

Ý nghĩa của thỏa thuận khung COC giữa Trung Quốc – ASEAN


Hiệp định này sẽ chỉ giúp Trung Quốc củng cố nắm giữ những gì họ đã có được, hạn chế tối đa việc bị bên ngoài khối can thiệp và để thể hiện họ là một nước tốt trong khu vực.

Từ lâu, tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước liên quan tại vùng biển Hoa Nam (Biển Đông) là cuộc xung đột lợi ích không thể giải quyết được. Không nước nào muốn xảy ra chiến tranh và cũng không nước nào chịu lùi bước. Để giảm bớt khả năng có thể xảy ra xung đột vũ trang và cũng để tất cả các bên tuyên bố chủ quyền tại vùng biển có nhiều tranh chấp này khỏi việc cảm thấy bị mất mặt, các nước liên quan đã tiến hành đàm phán về các quy định nhằm kiểm soát các hành vi gây căng thẳng ở khu vực trong nhiều thập kỷ qua. Ý tưởng này ban đầu do các nước ASEAN đề xuất vào cuối những năm 90 của thế kỷ 20, tuy nhiên, sau khi Trung Quốc chiếm giữ đảo Vành Khăn vốn thuộc quyền kiểm soát của Philippines năm 1995 đã khiến các cuộc đàm phán liên quan đến quy tắc ứng xử bị ngưng lại. Đến ngày 18/5 vừa qua, các quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc và các nước ASEAN đã nhất trí về bộ khung của COC. Dự thảo này sẽ được đệ trình lên cấp ngoại trưởng vào tháng 8 tới, và sẽ hình thành nền tảng cơ sở cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Cả hai bên đều đã chúc mừng lẫn nhau về tiến bộ đạt được này, tuy nhiên ý nghĩa thực sự của tiến bộ đạt được này là gì?

Nếu chiếu theo những gì đã từng xảy ra trong lịch sử thì rất có lý để cảm thấy bi quan. Trong Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã cam kết “hợp tác” và “kiềm chế”, thừa nhận “sự cần thiết để thúc đẩy môi trường hòa thuận, thân thiện và hòa bình”, và nói họ sẽ tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và tiến tới COC. Rồi 9 năm sau đó, hai bên đã nhất trí thông qua một loạt hướng dẫn mơ hồ để thực thi tuyên bố nói trên. Và đến tháng 7/2016, Trung Quốc đã đồng ý thúc đẩy các cuộc đàm phán về COC – một uyết định mà một số nước ngờ rằng sự đồng ý đó xuất phát từ việc ông Rodrigo Duterte được bầu lên làm Tổng thống Philippines thay người tiền nhiệm là ông Benigno Aquino, người đã đệ đơn kiện Trung Quốc về yêu sách “Đường 9 đoạn” trên Biển Đông lên Tòa Trọng tài quốc tế tại La Hay (Hà Lan), cáo buộc trung Quốc vi phạm UNCLOS.

Vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc bắt đầu từ tháng 1/2013, với nội dung nhắm đến các yêu sách về chủ quyền đối với Biển Đông mà Trung Quốc đưa ra, thể hiện rõ ràng nhất trong tấm bản đồ “Đường 9 đoạn” bao trùm tới 80% diện tích Biển Đông. Tháng 10/2015, Tòa Trọng tài tại La Hay ra phán quyết nghiêng về phía Philippines sau khi xem xét các vấn đề mà Manila khởi kiện. Theo đó, Tòa cho rằng vụ kiện của Manila là phù hợp với luật pháp, theo các điều khoản của UNCLOS, và việc Trung Quốc từ chối tham gia không ảnh hưởng tới phán quyết của Tòa. Tuy nhiên, ông Duterte, người có khuynh hướng thiên về Trung Quốc hơn người tiền nhiệm là ông Aquino, đã quyết định “gạt sang bên” phán quyết của Tòa.

Do vậy bộ khung COC đã được tính toán và lựa chọn vào đúng thời điểm này. Nội dung của bộ khung COC hiện chưa được tiết lộ. Theo bản dự thảo đưa ra hồi tháng 3/2017 thì đa phần đề cập đến “thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau”, hay “có nhiệm vụ hợp tác”, và “kiềm chế”. Tuyên bố hồi năm 2002 cũng có những từ tương tự như vậy, nhưng tuyên bố đó đã chẳng có tác dụng giúp các nước “kiềm chế”, nhất là Trung Quốc. Bắc Kinh vẫn xây dựng các đảo nhân tạo và hiện các đảo đã sẵn sàng trở thành căn cứ quân sự trong vùng biển đang có tranh chấp. Giống như DOC hồi năm 2002, bộ khung của COC dường như thiếu các cơ chế tăng cường hiệu lực hay chỉ ra những hậu quả của việc vi phạm các điều khoản của bộ quy tắc này. Điều dường như phù hợp với tất cả các bên, những nước tuyên bố muốn hòa bình và ổn định, nhưng không hạn chế tự do của họ. Bộ khung này cho phép Trung Quốc tìm kiếm sự hợp tác mà không phải kiềm chế các hành vi của mình và giúp giới chức ASEAN cảm giác như tiến trình mà họ đang thực hiện cũng đang đem lại kết quả.

Cho dù các ngoại trưởng của hai bên dự định thông qua bộ khung này vào tháng 8 tới thì chu trình vòng đàm phán mới đầy chông gai của hai bên sẽ lại bắt đầu. Nhưng lần này, Trung Quốc đã có một người bạn là nhà lãnh đạo Philippines, một trong những nước ASEAN có nhiều tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông với Trung Quốc. Bắc Kinh còn có cả Donald Trump, người có tính cách khó đoán định có thể sẽ làm Trung Quốc lo lắng, nhưng với bản tính của một thương gia, cách tiếp cận luôn là sự đổi trác đối với các vấn đề đối ngoại sẽ rất phù hợp với Trung Quốc hơn là so với nguyên tắc quốc phòng dựa trên nguyên tắc trật tự quốc tế của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama. Trung Quốc cũng biết cách làm vừa lòng các nước đối thủ có tranh chấp ở Biển Đông bằng Sáng kiến “Vành đai và con đường”, thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng, cộng với một nước Mỹ có chính sách thay đổi thất thường như hiện nay. Nói cách khác, thỏa thuận này giúp Trung Quốc củng cố được những gì mình đã có tại Biển Đông, giảm thiểu sự can thiệp từ bên ngoài các nước ASEAN vào vấn đề giữa Trung Quốc – ASEAN và tỏ ra mình là một “công dân tốt trong khu vực”.

Nguồn: The Economist – 30/05/2017

TKNB – 01/06/2017