Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN+3 – Phần I


Giới thiệu

Gần đây, dịch viêm đường hô hấp do chủng mới của virus corona (COVID-19) bùng phát ở Vũ Hán, Trung Quốc và sau đó lây lan ra bên ngoài nước này đã làm gia tăng rủi ro đối với tăng trưởng của Trung Quốc và khu vực. Ngày 31/12/2019, các nhà chức trách Trung Quốc thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về một vài trường hợp mắc bệnh viêm phổi ở Vũ Hán, và đã thực hiện những hành động chính sách chưa từng có để khống chế virus này, nhưng dịch bệnh bắt đầu lây lan sang các nền kinh tế khác trong khu vực. Ngày 30/01/2020, WHO tuyên bố dịch COVID-19 là tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Giờ đây, cuộc tranh luận xoay quanh mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh này và tác động có khả năng của nó đối với nền kinh tế trong nước và các nước khác.

Dịch bệnh tác động đến hoạt động kinh tế trên nhiều mặt trận khác nhau:

+ Ở Trung Quốc, dịch bệnh này tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống y tế, khiến tiền lương sụt giảm và năng suất thấp hơn do người lao động nghỉ ốm và nghỉ làm. Nỗi lo sợ bị lây bệnh và nỗ lực hạn chế tình trạng lây lan có thể dẫn đến những gián đoạn về giao thông vận tải, chuỗi cung ứng trong ngành chế tạo, việc cung cấp hầu hết các dịch vụ, đóng cửa các trường học và doanh nghiệp. Do đó, việc chống lại dịch bệnh có thể có tác động đáng kể đến kinh tế.

+ Bên ngoài Trung Quốc, khả năng lây lan đã gia tăng đáng kể do sự hội nhập và kết nối trong khu vực tăng cao. Ngoài việc lây lan bệnh do lưu lượng di chuyển quốc tế khổng lồ, ngành công nghiệp hàng không, lĩnh vực du lịch và dịch vụ khách hàng, cũng như thương mại, trong đó có các chuỗi cung ứng toàn cầu là những ngành tiêu biểu cảm nhận được tác động của nó.

+ Hành vi tránh lây nhiễm của người dân và các biện pháp nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan có thể gây ra thêm sức ép lớn đối với các nền kinh tế khu vực. Ngoài ra, cảm giác bất trắc và nỗi sợ hãi tràn ngập khắp nơi sẽ làm giảm niềm tin của doanh nghiệp và người tiêu dùng, và gia tăng tâm lý sợ rủi ro trong các thị trường tài chính và hàng hóa tiêu dùng.

Dịch bệnh bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 (gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và 3 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới. Những ước tính về tác động của dịch bệnh này sẽ phụ thuộc vào thời gian kéo dài, tính độc hại và khả năng lây nhiễm. Các dịch bệnh do virus trước đây, đáng chú ý là Hội chứng suy hô hấp cấp tính (SARS) vào năm 2003, có thể đưa ra gợi ý về những thiệt hại kinh tế tiềm tàng đối với Trung Quốc, mà sau đó có thể được sử dụng để ước tính tác động đối với các nền kinh tế khác trong khu vực:

+ Tăng trưởng GDP của Trung Quốc trong năm 2020 sẽ giảm nhiều nhất là 0,5%, xét tới các biện pháp hỗ trợ của chính phủ.

+ Sự giảm tốc của Trung Quốc sẽ khiến tăng trưởng của các nước ASEAN+3 giảm 0,2%. Các kênh tác động chính đối với khu vực này sẽ là thông qua (1) lưu lượng đi lại và du lịch ra nước ngoài của Trung Quốc giảm mạnh; (2) sự sụt giảm trong hoạt động đi lại và du lịch của khu vực phản ánh nỗi lo sợ lây lan dịch bệnh; (3) sụt giảm hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc qua chuỗi cung ứng khi hoạt động chế tạo bị gián đoạn và nhu cầu trong nước bị ảnh hưởng: và (4) tình trạng lây lan dịch bệnh sang các nền kinh tế khu vực.

Tác động đối với nền kinh tế Trung Quốc

Trong số các dịch bệnh lớn trong 2 thập kỷ qua, dịch SARS có thể đưa ra chỉ dẫn nào đó về tác động tiềm tàng của COVID-19. Dịch SARS bùng phát vào quý IV/2002, nhưng hầu hết các ca nhiễm bệnh được ghi nhận vào quý I và quý II/2003. Hơn 8000 người nhiễm SARS, chủ yếu ở Trung Quốc, ngoài ra còn ở các nơi khác trong khu vực – tương tự như COVID-19 tính đến nay. Tại thời điểm này, số lượng người nhiễm COVID-19 đã vượt xa tổng số người nhiễm SARS, và con số này dự kiến còn tăng cao hơn nữa. Tỷ lệ tử vong trung bình do SARS là gần 10% so với mức chỉ 2% của COVID-19 cho đến nay. Tuy nhiên, những ước tính ban đầu cho thấy SARS có tỷ lệ lây nhiễm thấp hơn nhiều, có khả năng là vì virus này không lây trong thời gian ủ bệnh. Một kịch bản có khả năng xảy ra là COVID-19 sẽ lây lan trong khoảng 4 tháng, tương tự như SARS; có tỷ lệ tử vong thấp hơn SARS; lây lan rộng hơn SARS, các vùng lây nhiễm chính là những trung tâm kinh tế chính của Trung Quốc.

Tác động của dịch bệnh này đối với Trung Quốc dự kiến sẽ lớn nhưng không kéo dài. Tăng trưởng trong quý I/2020 dự kiến sẽ giảm mạnh, ở cả lĩnh vực chế tạo lẫn dịch vụ. Trong ngắn hạn, những hạn chế đối với hoạt động đi lại của người dân gây tổn hại đến hoạt động sản xuất và nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các địa phương tuyên bố kéo dài kỳ nghỉ Tết Âm lịch thêm khoảng 7 ngày, điều này đồng nghĩa rằng các nhà máy và doanh nghiệp sẽ phải trì hoãn hoạt động sản xuất.

AMRO dự báo COVID-19  sẽ khiến GDP trong năm 2020 của Trung Quốc giảm 0,5%. Các kịch bản sau đây giả định rằng:

+ Trong lĩnh vực chế tạo, chuỗi cung ứng toàn cầu tập trung ở các khu vực chịu ảnh hưởng sẽ bị gián đoạn đáng kể. Tuy nhiên, sau đó, các công ty có khả năng sẽ tìm ra cách để bù đắp hầu hết (dù không phải toàn bộ) hoạt động sản xuất mất đi để đáp ứng nhu cầu, do lĩnh vực chế tạo tương đối ít bị hạn chế bởi năng lực sản xuất hơn. Do đó, lĩnh vực chế tạo có khả năng sẽ phục hồi mạnh mẽ.

+ Trong lĩnh vực dịch vụ, các công ty có khả năng hạn chế trong việc bù đắp lại những ngày nghỉ. Nhu cầu đối với một vài loại hình dịch vụ như du lịch sẽ không phục hồi đáng kể, và việc cung cấp dịch vụ không thể tăng mạnh trong giai đoạn ngắn. Do đó, quá trình phục hồi về mức trước khi xảy ra dịch bệnh sẽ chậm hơn.

Tác động ước tính bao gồm: (1) lĩnh vực chế tạo khiến tăng trưởng giảm 0,15%; và (2) lĩnh vực dịch vụ khiến tăng trưởng giảm 0,35%, cao hơn một chút so với dịch SARS. Những ước tính này đã tính đến giả định của AMRO về sự hỗ trợ của chính quyền đối với nền kinh tế.

Tác động đối với Trung Quốc sẽ diễn ra trên nhiều lĩnh vực, đến việc làm và có khả năng cả sự ổn định tài chính. Với hơn 200 triệu người lao động di cư trên toàn quốc trở về quê nhà nghỉ ết Âm lịch, và nhiều thành phố (gồm khoảng 50 triệu dân) bị cách ly, hầu hết các lao động này không thể quay trở về thành phố nơi họ làm việc như họ thường làm sau khi nghỉ Tết – đặc biệt là những người ở khu vực miền Trung, khu vực chịu nhiều tác động nhất. Khu vực tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sẽ chịu tác động nhiều nhất, điều có thể khiến nợ xấu của ngân hàng gia tăng. Ngoài ra, vụ bùng phát dịch bệnh này có thể khiến giá cả hàng hóa ở địa phương gia tăng trong tương lai gần.

Tác động đối với khu vực ASEAN+3

Hầu hết các nước trong khu vực ASEAN đã bị lây nhiễm do dịch bệnh lây lan, và tăng trưởng của họ cũng có thể bị ảnh hưởng như đang diễn ra ở Trung Quốc. Kênh tác động chính là thông qua vận chuyển hành khách, du lịch và các ngành công nghiệp phụ trợ, cũng như hoạt động sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm trung gian có liên quan đến sản xuất thành phẩm tiêu dùng trong các khu vực chịu nhiều ảnh hưởng ở Trung Quốc. Ngoài ra, các biện pháp trong nước nhằm khống chế dịch bệnh có thể làm gián đoạn sản xuất cũng như đầu tư và tác động đến tiêu dùng. Tác động này có quy mô và cường độ lớn đến mức nào có khả năng sẽ phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của dịch này. Tuy nhiên, nếu trong năm 2020 nền kinh tế Trung Quốc giảm tốc hơn so với dự kiến, thì những tác động đối với các nền kinh tế khu vực có thể là khốc liệt.

(còn tiếp) 

Nguồn: Văn phòng nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) – 12/02/2020

TLTKĐB – 18/02/2020

Việt Nam làm được gì trong vấn đề sông Mekong khi là Chủ tịch ASEAN?


Đài RFA dẫn bài viết của báo mạng VnExpress, vào đầu tháng 3 đăng bài viết “Chung một dòng sông”, của nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương.

Trong bài viết vừa nêu,  tác giả đề cập đến ghi nhận của các tổ chức và giới chuyên gia gắn bó với vùng đồng bằng sông Cửu Long cho rằng tình trạng xâm nhập mặn, nguồn nước bị suy thoái khiến sạt lở, mùa màng thất bát trong năm 2020 có thể gây thiệt hại cao hơn mọi năm. Giới chuyên gia cảnh báo tình trạng khô hạn, xâm mặn, lún sụt tiếp tục kéo dài thì kinh tế đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, càng bị đe dọa nghiêm trọng. Và như một hệ quả, phần lớn người dân địa phương đã và đang phải di cư đến nơi khác để tìm kế sinh nhai.

Qua ghi nhận thực tế này, nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương đề ra một kế hoạch với tầm nhìn ngắn, trung và dài hạn. Trong đó, ông nhấn mạnh tầm nhìn xa trên 10 năm thì phải bắt đầu từ bây giờ và cần nỗ lực đi đến một “Hiệp định ứng xử cho toàn lưu vực với 6 quốc gia đang chia sẻ nguồn nước giống như Hiệp định khai thác và phát triển lưu vực sông Rhine ở châu Âu”.

Nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương cho rằng Hiệp định ứng xử này là chìa khóa của vấn đề, bởi vì nguyên nhân quan trọng của khó khăn hiện nay với đồng bằng sông Cửu Long là do những đập nước thượng nguồn sông Mekong gây ra. Nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương kết thúc bài viết với lập luận nếu như Việt Nam không dám lên tiếng mạnh mẽ và kêu gọi, thúc đẩy cho ra đời một hiệp định quốc tế được tôn trọng bằng tầm nhìn xa và những kiến thức khoa học thì không ai cứu được đồng bằng sông Cửu Long, cũng như nếu không tạo ra một nguyên tắc ứng xử chung văn minh, nhất quán thì liệu rằng các quốc gia trong lưu vực sông Mekong “còn dòng nước chung mà uống mãi được không”.

Bài viết của nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương được nhiều độc giả quan tâm và lo ngại cho viễn cảnh không xa khi có ngày đồng bằng sông Cửu Long bị “bức tử”. Một số độc giả lên tiếng rằng giải pháp dài hạn cho một Hiệp định ứng xử chung mà nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương đề xuất sẽ có thể rất khó để thực hiện, vì thực tế, các nước trên thượng nguồn sông Mekong xây dựng hàng loạt đập thủy điện mà chính nhà nghiên cứu Chung Hoàng Chương cho là “tham lam ích kỷ”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Biến đội Khí hậu, Đại học Cần Thơ, cho biết, trong nhiều năm qua, 6 quốc gia trên lưu vực sông Mekong đã nhiều lần thảo luận về việc sẽ có những hợp tác chia sẻ nguồn nước và thúc đẩy sự phát triển trên hệ thống sông Mekong. Tuy nhiên, những kêu gọi đó mang tính chung chung và mang tính ngoại giao nhiều hơn là thực tế.

Liên quan đề xuất về giải pháp dài hạn cho một Hiệp định ứng xử của 6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong của nhà nghiên cứu Chung Hoang Chương, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn trình bày thêm: “Lời kêu gọi này cũng không có gì là mới. Vấn đề là các nước trên lưu vực sông Mekong có thực tâm cùng nhau hợp tác và cùng chia sẻ những rủi ro hoặc những lợi ích trên sông Mekong hay không? Ngoài ra, còn thêm một vấn đề nữa là Trung Quốc cũng muốn khống chế nguồn nước ở phía dưới thượng nguồn nên họ không có thực tâm chia sẻ nguồn nước phía trên của sông Mekong, tức là khu vực mà họ gọi là Lan Thương.

Trung Quốc đã không tham gia Ủy ban sông Mekong từ ban đầu và họ cứ lặng lẽ xây dựng một loạt đập thủy điện ở Vân Nam. Bây giờ, các chuỗi thủy điện của họ gần như là hoàn tất. Đồng thời, Trung Quốc đau7 ra một đề xuất gọi là thực hiện “Lan Thương-Mekong Cooporation”, tức là một sự hợp tác Lan Thương-Mekong, kết nối giữa phần trên và phần dưới của sông Mekong. Tuy nhiên, Trung Quốc phải có vai trò chính yếu trong sự hợp tác này. Qua đó cho thấy Trung Quốc bộc lộ ý đồ muốn sử dụng nguồn nước Mekong như là một công cụ để kiểm soát dòng chảy ở các nước hạ lưu. Điều này cũng là thử thách và gây khó khăn cho những nước bên dưới. Cộng thêm yếu tố Lào muốn trở thành một “bình diện” của khu vực này để phát triển và điều này làm cho việc sử dụng nước ở hạ lưu ngày càng khó khăn.

Tôi cho rằng với những lợi thế mà Trung Quốc hay Lào đang nắm thì đòi hỏi 6 quốc gia thuộc lưu vực sông Mekong xây dựng một hiệp ước mới mà có lợi hơn cho những nước hạ lưu thì rất là khó”.

Tận dụng vị thế Chủ tịch ASEAN trong thúc đẩy hợp tác?

Dưới góc độ ngoại giao, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, hiện đang là Phó Viện trưởng Viện Các vấn đề Phát triển thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), cho rằng trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt Nam cần phải: “Luôn ý thức được tác hại của những đập nước ở thượng nguồn, phải nhấn mạnh hơn nội dung về Mekong trong 2 cuộc họp cấp cao ASEAN, vào tháng 4 và tháng 11 tới đây, về “những quả bom nước” đe dọa 5 quốc gia hạ nguồn. Việt Nam không một phút nào được lãng quên tiến độ suy thoái của sông Mekong và nhiều nhánh sống của nó đang tàn phá sức khỏe, kinh tế và môi trường của vùng hạ lưu sông Mekong, đại bàn của khoảng 20 triệu nông dân và ngư dân”.

Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng lưu ý Việt Nam đảm nhiệm chức Chủ tịch ASEAN chỉ có 1 năm, cho nên về dài hạn: “Làm sao sau một năm nữa, Việt Nam vẫn là nước đồng dẫn dắt, cùng với Mỹ, Nhật thúc đẩy ưu tiên cao nhất các dự án hiện nay, đặc biệt là “Sáng kiến Hạ nguồn Mekong” (LMI) của Mỹ. Cam kết của Nhật Bản hỗ trợ các nước lưu vực Mekong 7 tỷ USD nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng. Trong quá trình thúc đẩy các dự án Mekong, phải luôn ý thức, dù là vấn đề Mekong, hay vấn đề Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC),, tất cả phải được đặt trong cuộc đấu tranh chống lại chính sách mở rộng ảnh hưởng một cách thái quá như một lời nguyền về địa lý đối với Đông Nam Á của Trung Quốc. Do đó, Ủy ban sông Mekong Việt Nam phải xây dựng tầm nhìn dài hạn để dẫn dắt, phối hợp để thúc đẩy các hoạt động tại Ủy hội sông Mekong (MRC)”.

Nguyên đại sức VIệt Nam tại Hà Lan nhấn mạnh rằng Việt Nam phải cảnh báo về các hệ lụy nhãn tiền trong việc xây dựng các đập thủy điện nhằm tập trung kiểm soát dòng chảy, các kế hoạch mở rộng và nạo vét lòng sông, các cuộc tuần tra trên sông ngoài biên giới và áp lực của một số bên trong việc đưa ra các quy định nhằm quản trị dòng sông theo cách làm suy yếu vai trò của các thể chế quốc tế.

Việc khẩn trương cần làm trước mắt

Tuy  nhiên, theo quan điểm cá nhân, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng đề cập đến công trình nghiên cứu của nhà nghiên cứu – bác sĩ Ngô Thế Vinh qua hai cuốn sách “Cửu Long cạn dòng – Biển Đông dậy sóng” và “Mekong – Dòng sông nghẽn mạch”. Chuyên gia về sông Mekong Ngô Thế Vinh với cơ sở khoa học, viễn kiến và tính xác thực của dự báo đã chỉ ra nguyên nhân chủ yếu của tình trạng sông Mekong đang hấp hối cũng như những tác hại mà đồng bằng sông Cửu Long đang gánh chịu chính là hệ thống đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong. Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng cho rằng: “Tôi nghĩ quan trọng nhất và khẩn trương nhất là Việt Nam phải tính toán lại việc bỏ vốn đến 38% cùng xây dựng một con đập Luang Prabang khổng lồ trên sông Mekong, có công suất 1400 MW, tháng 4 tới đây khởi công (do PV Power, công ty con của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) tham gia trong dự án này). Đập thủy điện Luang Prabang trị giá 2,3 tỷ USD. Ở đây có 3 vấn đề phải xem lại: Nó sẽ ảnh hưởng tiếng nói của Việt Nam sau này. Bởi vì, Việt Nam đã có ý kiến về việc Trung Quốc và 1 nước xây dựng quá nhiều đập trên Mekong, mà Việt Nam cùng Lào xây đập này thì tự tước quyền của mình trong vấn đề bảo vệ sông Mekong. Thứ hai, việc làm này tạo tiền lệ nguy hiểm. Thứ ba, đối với trong nước cần phải có sự chấp thuận của Quốc hội, chứ không thể tự quyết định như thế được”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho biết mặc dù có lập luận đưa ra rằng Việt Nam không tham gia đầu tư thì Lào vẫn xây dựng đập thủy điện Luang Prabang và PV Power đầu tư 38% trong dự án này nhằm để có thể có những quyết định điều tiết dòng chảy của sông Mekong tốt hơn hoặc có những ý kiến để khai thác nguồn sông đó, nhưng: “Theo tôi, việc Việt Nam tham gia thì cái hại sẽ lớn hơn cái lợi rất nhiều và tôi cho rằng đây là một sự bất cập vì lợi ích chưa rõ ràng. Cái hại rất rõ là làm cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục bị thiếu phù sa, thiếu nguồn cát và bị nguy cơ sạt lở, sụt lún hoặc bị giảm dinh dưỡng, giảm nguồn cá cho các vùng hạ lưu càng ngày càng rõ ràng hơn. Cộng thêm các yếu tố tự nhiên như biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long càng phát triển rõ hơn, gây ra thêm khó khăn hơn”.

Trong một cuộc phỏng vấn với RFA hồi trung tuần tháng 11/2019, nhà nghiên cứu – bác sĩ Ngô Thế Vinh, thành viên của Viet Ecology Foundation quả quyết rằng Lào đã có những hành xử đơn phương và độc đoán, bất chấp mọi mối quan tâm của các quốc gia thành viên khác trong MRC, qua các dự án xây dựng đập thủy điện Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng, Pak Lay và Luang Prabang sắp tới đây. Chuyên gia sông Mekong Ngô Thế Vinh khẳng định Việt Nam có nghĩa vụ bảo vệ Hiệp định Mekong 1995, buộc Lào phải tuân thủ những điều khoản cam kết trong Hiệp định này vì sự sống còn của đồng bằng sông Cửu Long với 20 triệu cư dân và cũng là bảo vệ an ninh lương thực cho toàn vùng.

Nhà nghiên cứu Ngô Thế Vinh cảnh báo Chính phủ Việt Nam rằng Trung Quốc rất muốn phân hóa chia rẽ giữa các quốc gia Mekong và hiện trạng 3 nước Đông Dương thì đã có Lào và Campuchia đang tách ra khỏi Việt Nam để rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc. Bác sĩ Ngô Thế Vinh cho rằng việc Hà Nội cần làm ngay và phải làm là hủy dự án Luang Prabang và hoãn thêm 10 năm tới 2030 tất cả các con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào.

Nguồn: TKNB – 11/03/2020.

Suy nghĩ lại về thế giới không biên giới: Bài học từ Biển Đông


I Made Andi Arsana

Hơn 3 thập kỷ trước, bức tường Berlin – vốn từng được coi là một trong những đường biên giới quốc tế mạnh nhất ngăn cách các quốc gia – đã sụp đổ. Sau sự kiện này, Kenichi Ohmae – còn được gọi là “Ngài chiến lược” – tuyên bố rằng chúng ta đang sống trong một thế giới không biên giới. Song ở thời điểm hiện nay, chúng ta có thể hỏi liệu điều đó có đúng không?

Vào những ngày cuối cùng của năm 2019, Indonesia một lần nữa vật lộn với vấn đề hoạt động đánh bắt cá của Trung Quốc ở phía Bắc quần đảo Natuna, giáp với Biển Đông. Thậm chí trước đó, Trung Quốc còn tuyên bố vùng lãnh hải này là ngư trường truyền thống của họ.

Trong khi đó, Indonesia khẳng định khu vực này là một phần vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Qua phân tích không gian địa lý một cách nghiêm túc, trên thực tế, Indonesia được hưởng quyền EEZ đối với khu vực hàng hải này theo UNCLOS, trong đó quy định rằng mọi quốc gia ven biển đều được hưởng EEZ trong phạm vi 200 hải lý (370 km) tính từ đường cơ sở/bờ biển của mình.

Câu hỏi tiếp theo là: Cơ sở nào để Trung Quốc cử ngư dân đến đánh bắt cá ở khu vực nói trên? Trung Quốc có sử dụng UNCLOS làm cơ sở cho yêu sách của mình không?

Sẽ là ngẫu nhiên nếu Trung Quốc nêu yêu sách hàng hải của mình dựa vào UNCLOS vì quốc gia này là một bên tham gia Công ước. Song điều đáng ngạc nhiên là không phải vậy. Yêu sách của Trung Quốc vượt xa những gì mà UNCLOS cho phép đối với một quốc gia ven biển. Yêu sách hàng hải của Trung Quốc tại Biển Đông được thể hiện bằng các nét gạch thể hiện trên bản đồ được ban hành năm 1940 – điều bị cộng đồng quốc tế chối bỏ.

Dù bạn có tin hay không, 3 thập kỷ sau khi bức tường Berlin sụp đổ, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với các vấn đề liên quan đến biên giới. Có một câu chuyện đùa giữa các học giả chuyên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Họ nói rằng nếu chúng ta in và chồng tất cả các bài báo khoa học về Biển Đông, thì chồng giấy này có thể cao tới mặt trăng.

Quả vậy, đã có vô số bài báo được xuất bản liên quan đến các vấn đề Biển Đông trên nhiều tạp chí có uy tín bằng các ngôn ngữ khác nhau. Tương tự, hàng trăm luận văn cũng đã được các học giả hoàn thành lúc tốt nghiệp tại nhiều tổ chức học thuật. Tuy nhiên, giải pháp cuối cùng và toàn diện vẫn chưa được tìm thấy.

Vậy cần làm gì liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông? Ở đây tôi không giả vờ mình là một chuyên gia. Khi hàng trăm học giả đã nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua và vẫn không có giải pháp cuối cùng nào được đưa ra, tốt nhất tôi không nên quá lạc quan về bất kỳ giải pháp thực dụng nào.

Tuy nhiên, tôi có quan điểm của riêng mình. Tôi nhớ mình đã từng được hỏi về vấn đề này khi trình bày tham luận tại Tế Nam – Trung Quốc năm 2016. Một đại biểu là giáo sư đã hỏi liệu Trung Quốc có sai hay không khi giữ yêu sách không thân thiệ với UNCLOS vốn được công bố trước cả khi UNCLOS ra đời. Ông ta ói thêm rằng chúng ta không nên sử dụng một luật hiện hành để đánh giá tính hợp pháp của một hành động đã được thực hiện trước khi luật đó có hiệu lực.

Thành thật mà nói, đó là một câu hỏi rất hay song không dễ trả lời. Đó là còn chưa đề cập đến việc tôi được mời tham gia hội nghị này nhờ sự hỗ trợ của Trung Quốc.

Để trả lời câu hỏi đó, tôi đã sử dụng trường hợp tương tự của Philippines. Trước khi có UNCLOS, yêu sách hàng hải của Philippines là một hình vuông/hình hộp bao quanh toàn bộ quần đảo. Yêu sách này dựa vào HIệp ước Paris năm 1898 và đã được ghi trong hiến pháp của Philippines. Do vậy, có thể nói rằng yêu sách này rất mạnh về tính pháp lý. Tuy nhiên, sau khi phê chuẩn UNCLOS, Philippines đã tự nguyện điều chỉnh yêu sách hàng hải của mình theo hướng tuân thủ Công ước này.

Tôi cho rằng đây là điều mà Trung Quốc cũng có thể xem xét làm theo. UNCLOS được đưa ra chủ yếu nhằm “dọn dẹp” các yêu sách hàng hải đơn phương, lộn xộn của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, thật hợp lý nếu sau khi phê chuẩn UNCLOS, một quốc gia thay đổi và điều chỉnh yêu sách hàng hải của mình, đặc biệt là khi các yêu sách cũ đi ngược lại UNCLOS.

Ý kiến của tôi không phải là viễn cảnh duy nhất có thể đạt được liên quan đến vấn đề Biển Đông rất phức tạp. Tuy nhiên, tôi chắc chắn rằng đây là cái gì đó có thể chấp nhận được về mặt logic.

Bất cứ ai cũng có thể có ý kiến và chúng ta phải cởi mở với mọi khác biệt. Điều chúng ta phải đảm bảo là tất cả các quốc gia trong khu vực tiếp tục nói chuyện với nhau. Hội thảo “Quản lý các cuộc xung đột tiềm năng tại Biển Đông” do các giáo sư Hasjim Djalal của Indonesia và Ian Townsend-Gault của Canada khởi xướng là điều mà chúng ta cần tiếp tục thảo luận.

Sau khi nắm được những gì đã xảy ra tại Biển Đông, chúng ta có thể nói rằng các chủ đề liên quan đến biên giới có vấn đề và vẫn gây ra sự tương tác quốc tế ngày nay.

Bây giờ, tôi có một nhận thức mới rằng không phải là chúng ta không cần biên giới. Biên giới là điều quan trọng phải giải quyết nhằm phân định rõ quyền và trách nhiệm của chúng ta. Như Robert Frost đã từng nói “hàng rào tốt tạo ra những người hàng xóm tốt”. Thuật ngữ “thế giới không biên giới” ở đây có nghĩa là chúng ta cần các đường biên giới không phải là một bức tường mà là một cánh cửa. Biên giới không nên loại trừ lẫn nhau mà cần thúc đẩy sự tương tác vì chúng ta đang sống trong thời đại hợp tác, chứ không phải là thời đại cạnh tranh.

Nguồn: The Jakarta Post – 09/03/2020

TKNB – 11/03/2020

ASEAN trước cuộc tấn công của COVID-19


Evawangi, bác sĩ của một bệnh viện công ở ngoại ô Jakarta, mỗi ngày một lo lắng hơn. Bệnh viện của cô đã tiếp nhận ngày càng nhiều ca nghi nhiễm SARS-CoV-2 trong 2 tuần qua, những trang bị bảo hộ cho nhân viên y tế ở đây đang cạn đi nhanh chóng. Nhiều người đã phải mặc những chiếc áo mưa rẻ tiền để bảo vệ mình. Evawangi cho biết: “Chúng tôi ưu tiên khẩu trang N95 và khẩu trang y tế, quần áo bảo hộ và mũ chắn giọt bắn cho khoa cấp cứu và khu vực cách ly. Nguồn cung thiết bị của chúng tôi có hạn, chúng tôi chỉ có thể bổ sung từng ngày. Hiện chúng tôi chỉ có khoảng 40 – 50 bộ đồ bảo hộ, trong khi nhu cầu thực tế là 80 bộ mỗi ngày”.

Câu chuyện của Evawangi không hề hiếm. Trên khắp các phương tiện truyền thông xã hội và các kênh tin tức của Indonesia, nhiều hình ảnh và các đoạn băng ghi hình cho thấy các bác sỹ và y tá phải mặc những bộ áo mưa. Cho đến ngày 6/4, khoảng một nửa trong số 2.491 ca bệnh được xác nhận của nước này đều ở Jakarta, trong khi các ca bệnh khác rải rác trên gần như toàn bộ 34 tỉnh.

Điều tồi tệ nhất có lẽ vẫn chưa xảy ra. Trong khi số ca nhiễm mới ở Trung Quốc chậm lại, châu Âu và Bắc Mỹ lại trở thành những tâm dịch mới của cuộc khủng hoảng COVID-19. Số ca nhiễm ở Đông Nam Á cũng đã gia tăng nhanh chóng, làm dấy lên những quan ngại rằng khu vực 650 triệu dân này có thể trở thành tâm dịch tiếp theo. Những nước có hệ thống chăm sóc y tế nghèo nàn, chẳng hạn như Indonesia và Philippines, được đánh giá là có nguy cơ cao nhất.

Hiệp hội bác sỹ Indonesia đã hối thúc chính phủ nước này đảm bảo an toàn cho đội ngũ y tế, khuyến nghị  họ tránh điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19 mà không có đầy đủ trang bị bảo hộ. Cho đến nay, ít nhất 18 thành viên hiệp hội đã tử vong trong đợt bùng phát này, bên cạnh đó, gần 100 nhân viên y tế ở Jakarta đã nhiễm virus SARS-CoV-2. Chính phủ Indonesia cho biết đã phân phối hàng trăm nghìn thiết bị bảo hộ trên khắp cả nước, nhưng tình trạng khan hiếm vẫn còn, buộc nhiều bệnh viện phải kêu gọi quyên góp các vật dụng như găng tay và nước rửa tay. Một bệnh đã đăng trên Twitter rằng “hãy biến cuộc chiến này thành một chiến thắng chứ không phải là một sứ mệnh cảm tử”.

Do các mối liên kết chặt chẽ với Trung Quốc, một nửa các quốc gia Đông Nam Á – gồm Thái Lan, Malaysia, Singapore và Việt Nam – đã báo cáo những ca nhiễm đầu tiên vào cuối tháng 1/2020. Tuy nhiên, số ca nhiễm ban đầu ở những nước này tăng tương đối chậm. Hà Nội thậm chí đã chuẩn bị tuyên bố hết dịch vào đầu tháng 3. Sau đó làn sóng thứ hai đã ập đến với số ca nhiễm mới tăng nhanh.

Tại Việt Nam, nước áp dụng các biện pháp cách ly nghiêm ngặt đối với cả công dân của mình lẫn du khách nước ngoài trong tháng 2 vừa qua, làn sóng mới này có liên quan đến dòng người đổ vào đất nước, trong đó có hàng nghìn công dân trở về nước sau khi các quốc gia khác áp dụng lệnh phong tỏa.

Tại Thái Lan, các nhóm gây lây nhiễm trong cộng đồng bắt đầu tăng nhanh ở Bangkok vào tháng 3, gồm một nhóm người tại một hộp đêm và một trận đấu Muaythai được tổ chức tại sân vận động Boxing Lumpinee do quân đội sở hữu vào ngày 6/3. Cho đến ngày 6/4, hơn một nửa trong số 2.220 ca nhiễm được xác nhận là ở Bangkok và vùng phụ cận. Tại Malaysia, 16.000 người tụ tập tại nhà thờ Hồi giáo Sri Petaling ở ngoại ô Kuala Lumpur có lẽ đã tạo ra một ổ dịch lớn. Một lượng lớn du khách từ Thái Lan và Indonesia đã tham gia sự kiện trên.

Trong một diễn biến khác, Indonesia đang chuẩn bị tiếp nhận một làn sóng lao động di trú trở về từ Malaysia, cũng như gần 12.000 thuyền viên từ khắp nơi trên thế giới. Một nguy cơ đáng lo ngại khác là tháng ăn chay Ramadan của người Hồi giáo sẽ bắt đầu từ cuối tháng 4/2020 với hàng triệu người Indonesia trở về quê hương.

Ban đầu, một số người hy vọng rằng khí hậu nhiệt đới của Đông Nam Á sẽ là một lợi thế, bởi vì dịch SARS năm 2003 đã dần biến mất sau khi thời tiết ấm lên. Một số yếu tố khác được đánh giá là lợi thế là mặt bằng dân số ở khu vực này tương đối trẻ so với Italy hoặc Mỹ, những nước mà dịch COVID-19 tác động mạnh nhất đến những người lớn tuổi.

Nhưng những quan niệm này đã bị đặt câu hỏi. Indonesia là một trường hợp điển hình. Số ca nhiễm được xác định ở nước này thấp hơn rất nhiều so với Mỹ và Italy, nhưng tỷ lệ tử vong là 9%, một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới. Pandu Riono, một nhà dịch tễ học thuộc Đại học Indonesia cho biết: “Tuổi tác không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến tỷ lệ tử vong cao. Ngay cả khi nước này có dân số trẻ, nhưng nhiều người hút thuốc hoặc có các bệnh lý nền như cao huyết áp và tiểu đường. Điều này làm cho việc nhiễm virus trở nên nguy hiểm hơn”. Sự thiếu chuẩn bị có lẽ đã làm cho tình trạng trở nên ngày càng tồi tệ. Các nhà chức trách Indonesia đã coi nhẹ mối đe dọa này trước khi nước này phát hiện những ca bệnh đầu tiên vào ngày 2/3. Năng lực xét nghiệm yếu kém đã làm chậm quá trình chẩn đoán và việc các bệnh nhân được đưa đến bệnh viện quá muộn có lẽ cũng là nguyên nhân giải thích cho tỷ lệ tử vong cao ở nước này. Riono cho biết thêm: “Hệ thống chăm sóc y tế ở Indonesia vẫn còn hạn chế. Nhiều người bệnh cần được chăm sóc y tế nhưng không được chữa trị và do đó chính hệ thống này đã khiến họ tử vong. Đó chẳng phải là một điều đáng buồn hay sao? Chúng ta rất có thể sẽ trở nên giống như Italy”.

Phép mô hình hóa bằng toán học gần đây của Riono và các đồng sự đã chỉ ra rằng số người nhiễm bệnh trên thực tế ở Indonesia có thể đã chạm mốc 1 triệu người, nhưng chỉ có 2% được phát hiện. Số người tử vong cũng có thể cao hơn nhiều so với con số mới nhất được đưa ra là 209 người. Nhiều người tử vong ở Jakarta và những nơi khác bị nghi là do mắc COVID-19 nhưng không thể xác nhận do sự chậm trễ trong khâu xét nghiệm. So với các nền kinh tế lớn khác ở khu vực, Indonesia có mức chi tiêu y tế bình quân đầu người thấp nhất, với số bác sĩ ít nhất – chỉ 3 bác sĩ trên 10.000 người dân. Hơn nữa, Chính phủ Indonesia có lẽ là chính quyền miễn cưỡng nhất trong việc áp đặt các biện pháp cứng rắn nhằm hạn chế việc di chuyển của người dân.

Philippines đã áp đặt lệnh phong tỏa kéo dài một tháng trên hòn đảo chính Luzon với 60 triệu dân, trong đó, quân đội được huy động để hỗ trợ thực thi lệnh phong tỏa này. Malaysia đã đóng cửa biên giới và tạm dừng các hoạt động kinh doanh không cần thiết vào giữa tháng 3, đồng thời phạt nặng những người vi phạm. Từ lệnh cách ly 14 ngày đối với du khách đến từ các nước láng giềng và các nơi khác trên thế giới, Singapore đã thi hành biện pháp cấm nhập cảnh toàn bộ đồng thời ra lệnh đóng cửa trường học và các nơi làm việc từ ngày 7/4.

Thái Lan đã đưa ra những chính sách thậm chí còn nghiêm khắc hơn như lệnh giới nghiêm và hạn chế phát ngôn. Thủ tướng Prayut Chan-o-cha cho rằng đây là thời điểm phải đặt sức khỏe lên trên các quyền tự do. Campuchia dường như cũng đi theo đường hướng tương tự hạ cánh.

Tuy nhiên, Indonesia chỉ cấm các chuyến bay quốc tế hạ cánh từ ngày 2/4. Hơn nữa, trong khi hầu hết các văn phòng, trung tâm thương mại và các khu vực công cộng ở Jakarta và vùng phụ cận bị đóng cửa từ vài tuần trước, giới chức nước này chỉ kêu gọi người dân hạn chế đi lại mà không có một động thái áp đặt nào. Tổng thống Joko Widodo đã tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp quốc gia nhưng vẫn lưỡng lự trong việc thắt chặt nền kinh tế hơn nữa. Ông Widodo cho biết: “Chúng tôi không thể chỉ bắt chước các nước khác vì mỗi nước có bẳn sắc của riêng mình”.

Công ty tư vấn TS Lombard có trụ sở tại London đã so sánh phản ứng của Indonesia, Philippines và Thái Lan trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát, đánh giá nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á này là nước “có sự chuẩn bị kém nhất trong việc ngăn chặn virus”. Chuyên gia phân tích Krzystof Halladin nhận định rằng có sự kết hợp giữa các biện pháp giãn cách xã hội thiếu quyết liệt và dịch vụ chăm sóc y tế yếu kém làm cho Indonesia trở thành nước kém cỏi nhất trong ba quốc gia nói trên trong việc chặn đứng sự lây lan của virus thời gian tới.

Tuy nhiên, thậm chí cả những nước có trang bị tốt hơn cũng có thể sớm bị quá tải nếu số ca nhiễm tiếp tục gia tăng với tốc độ như hiện nay. Halladin lưu ý rằng tỷ lệ tử vong tương đối cao ở Philippines – khoảng 4% – phản ánh năng lực hạn chế của nước này trong việc xét nghiệm và điều trị cho bệnh nhân. Cho đến ngày 1/4, Philippines mới chỉ xét nghiệm được 4.700 trường hợp. Để so sánh, cho đến ngày 5/4, Indonesia đã xét nghiệm được cho 11.200 người, Malaysia là 52.000 người, Hàn Quốc là 460.000 người và Mỹ là 1,76 triệu người. Hiệp hội y tế Philippines cho biết trong số 100 ca tử vong ở nước này có 17 người là bác sĩ. Chính phủ đã tuyên bố sẽ tăng cường công tác xét nghiệm sau khi tiếp nhận 100.000 bộ xét nghiệp từ Trung Quốc, nước vốn cam kết cử các chuyên gia y tế đến hỗ trợ Manila chống dịch.

Việt Nam đang khuyến cáo công dân ở nước ngoài xem xét lại quyết định trở về nước. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thanh Phong cảnh báo thành phố này sẽ mất kiểm soát nếu số bệnh nhân tăng lên 1.000 người do thiếu y bác sĩ, giường bệnh và máy thở. Đáp lại lời kêu gọi hỗ trợ chính phủ, ngày 3/4 tập đoàn Vingroup cho biết sẽ sản xuất máy thở và thiết bị đo thân nhiệt.

Malaysia có một nền kinh tế tương đối phát triển và tiến hành số xét nghiệm nhiều nhất nhưng nguồn lực cũng bị dàn trải. Chính phủ nước này đang cố gắng huy động thêm bác sĩ, y tá và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm, kể cả những người đã nghỉ hưu. Thiết bị bảo hộ cũng là một vấn đề. Các đoạn phim được chia sẻ trên mạng cho thấy các nhân viên y tế đang làm việc bằng túi đựng rác, nylon gói hàng và túi nhựa. Một số công ty đã quyên góp thiết bị, đồng thời Trung Quốc đã gửi vài trăm nghìn khẩu trang y tế đến nước này.

Khi các bệnh viện trong khắp khu vực quá tải, một số nước đang lập các bệnh viện dã chiến. Thái Lan đã quyết định tận dụng một ký túc xá đại học và một số khách sạn. Malaysia cũng làm tương tự với một trung tâm triển lãm và có kế hoạch tận dụng cả các sân vận động trong nhà. Indonesia đã mở một khu căn hộ vốn từng dành cho vận động viên tham dự Đại hội thể thao châu Á năm 2018 và đang chuẩn bị một hòn đảo hoang làm khu vực cách ly.

Trong khi đó, một mối đe dọa chưa xác định đang bao trùm lên các quốc gia có nguồn lực y tế kém hơn và có đường biên giới lỏng lẻo với Trung Quốc – như Lào và Myanmar – những nước mới chỉ ghi nhận một số ít ca nhiễm bệnh kể từ khi công bố ca bệnh đầu tiên vào cuối tháng 3. Và ở cấp độ khu vực, cuộc khủng hoảng trên đã khiến nhiều người nghi ngờ lý do tồn tại của ASEAN.

Singapore đã áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn virus từ sớm và có một hệ thống y tế tiên tiến. Nước này đã ghi nhận 6 ca tử vong vì virus SARS-CoV-2 trên tổng số khoảng 1.300 ca nhiễm bệnh. Nhưng ngay cả Chính phủ Singapore cũng đang ở trong tình trạng báo động trước thực trạng số ca nhiễm bệnh gia tăng tiếp tục gây hạn chế cho hoạt động kinh tế, nhấn mạnh thêm những thách thức đang chờ đợi các quốc gia láng giềng kém thịnh vượng hơn của nước này.

Nguồn: Nikkei Asian Review – 07/04/2020

TLTKĐB – 10/04/2020

Sau Brexit, Anh nhắm tới Việt Nam để mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á


Theo đài RFI, ngày 12/2, Nghị viện châu Âu đã phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) với Việt Nam. Một thành công mà London không được hưởng vì đã chính thức chia tay với EU từ ngày 31/1. Tuy nhiên, trong thời gian đàm phán Brexit, Anh đã từng bước tăng cường mối quan hệ với Việt Nam về chính trị và kinh tế.

Năm 2019, London đưa ra chính sách “All of Asia” (Toàn châu Á) nằm trong khuôn khổ chiến lược “Globa Britain” (tạm dịch: Chiến lược toàn cầu của Anh), mà một trong những trọng tâm là khu vực Đông Nam Á. Anh có thể thông qua Thái Lan, một kênh trao đổi truyền thống giữa Đông Nam Á và phương Tây, hoặc Malaysia và Singapore, hai nước nằm trong Hiệp ước phòng thủ ngũ cường (Five Power Defence Arragements), để tăng cường hợp tác với khối ASEAN. Tuy nhiên, theo phân tích của nhà báo David Hutt trên Asia Times hôm 4/2, có lẽ sẽ khôn ngoan hơn nếu như Anh hướng sang Việt Nam.

Thứ nhất, năm 2020 có lẽ là thời điểm thuận lợi. Việt Nam giữ chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Như vậy, Việt Nam có thể giành nhiều thời gian trao đổi với Anh hơn. Ngoài ra, năm 2020 cũng đánh dấu kỷ niệm 10 năm đối tác chiến ược giữa 2 nước Anh – Việt Nam. Chính vì vậy, trong chuyến công u Hà Nội từ 15 – 17/1, bà Heather Wheeler, Thứ trưởng Ngoại giao Anh phụ trách châu Á – Thái Bình Dương, khẳng định: “Chúng tôi quyết tâm duy trì và tăng cường mối quan hệ với ASEAN, đặc biệt là với Việt Nam”.

Thứ hai, trên lĩnh vực thương mại, Anh và Việt Nam có thể sẽ dễ dàng ký được thỏa thuận tự do trao đổi mậu dịch, dựa trên nền tảng những điều kiện được xác định trong thỏa thuận ký giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU). Cả Hà Nội và London đều được lợi khi mở cửa thị trường cho nhau. Nền kinh tế Việt Nam dựa vào xuất khẩu, vì vậy, mở rộng sang thị trường Anh là một ưu tiên của Hà Nội sau khi Anh không còn là thành viên của EU. Về phía London, sau Brexit, cần phải đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường thông qua một loạt các hiệp định song phương, trong lúc quá trình đàm phán một thỏa thuận thương mại mới với Brussels được cho là khó khăn và phức tạp hơn.

Thứ ba, Việt Nam trở thành một đối tác quan trọng về mặt địa chính trị đối với Anh trong khu vực Đông Nam Á và rộng hơn là ở vùng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong vài năm gần đây, sau Pháp, Anh đóng vai trò năng động trong việc bảo vệ tự do lưu thông hàng hải ở Biển Đông, khu vực mà Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền hơn 80% diện tích. Năm 2018, chiến hạm HMS Albion của Anh từng tham gia chiến dịch “tự do hàng hải” gần quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Vấn đề an ninh tại Biển Đông tiếp tục được Thứ trưởng Ngoại giao Anh Heather Wheeler nhấn mạnh khi trả lời báo chí tại Hà Nội hôm 17/1, là “phải được giải quyết dựa trên luật lệ và việc có lực lượng hoạt động có hiệu quả trên biển là điều quan trọng”.

Việc Hà Nội hướng theo chính sách “thêm bạn bớt thù”, đa dạng hóa và giữ cân bằng giữa các đối tác quân sự cũng là một lợi thế cho Anh. Việt Nam là nước Đông Nam Á đầu tiên ký một thỏa thuận khung về hợp tác an ninh với EU. Bên cạnh đó, Nga vẫn luôn là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Hà Nội. Anh, với tư cách là một thành viên của EU, từng hợp tác với quân đội Việt Nam để đào tạo lực lượng gìn giữ hòa bình và tham gia các nhiệm vụ của Liên hợp quốc ở Nam Sudan. Nếu như London muốn tăng cường hiện diện tại Đông Nam Á, Việt Nam có lẽ sẽ quan tâm đến một nước đối tác mới có thể giúp Hà Nội giữa cân bằng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Theo nhà báo David Hutt, có lẽ London nên khôn khéo tập trung nhiều hơn vào quan hệ an ninh với Việt Nam, ví dụ một liên minh chặt chẽ hơn với Hà Nội có thể sẽ giúp Anh nhanh chóng can thiệp vào vấn đề nóng nhất hiện nay trong khu vực, đó là tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Đây là một cơ hội để London chứng minh “chiến lược toàn cầu” của mình thông qua sức mạnh hàng hải trong việc duy trì an toàn cho tuyến đường biển huyết mạch của thương mại thế giới.

Nguồn: TKNB – 18/02/2020.

Liệu Việt Nam, Philippines và Malaysia có đoàn kết chống Trung Quốc?


Trung Quốc lợi dụng dịch COVID-19 gây căng thẳng ở Biển Đông. Liệu Việt Nam, Philippines và Malaysia có cùng nhau đoàn kết chống lại chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông?

Vụ đâm chìm tàu cá Việt Nam chỉ là để Trung Quốc phô trương cơ bắp, thịu uys ức mạnh và khẳng định quyền bá chủ ở Biển Đông trong khi cả thế giới đang vật lộn chống lại đại dịch COVID-19. GS Carl Thayer của Đại học quốc gia Australia và PGS Batongbacal, Giám đốc Viện các vấn đề hàng hải và luật biển (Đại học Philippines), cho rằng với những động thái trong thời gian qua, Việt Nam đang đi đúng hướng và thậm chí có thắng nếu kiện Trung Quốc. Tuy nhiên, để chắc chắn thành công, Việt Nam cần có một chiến lược sâu rộng, kết hợp với sự ủng hộ từ các nhân tố khác. Việt Nam phải tiếp tục phản đối bất kỳ hành động nào trái với luật pháp quốc tế của Trung Quốc khi Bắc Kinh có những hành vi xâm phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặc dù vẫn còn đó những quan điểm khác biệt trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam, Philippines và Malayisa đều gắn kết nhau một cách tự nhiên trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế.

Sau sự kiện Trung Quốc sử dụng tuyên bố chủ quyền phi pháp ở Biển Đông để phản bác công hàm của hai nước Philippines và Malaysia, ngày 30/3, phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc đã gửi công hàm bác bỏ tuyên bố chủ quyền phi pháp của Bắc Kinh. PGS Batongbacal khẳng định: “Luật lệ dựa trên luật pháp sẽ có lợi cho Việt Nam, Philippines và Malaysia hơn nhiều so với luật rừng, nơi kẻ mạnh săn đuổi và chiến thắng kẻ yếu”.

Theo GS Carl Thayer, lý do mà nội đung đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đ6ng (COC) rất khó được thông qua cũng là vì bản thân Bộ Quy tắc này không định nghĩa được khu vực hàng hải ở Biển Đông mà nó sẽ áp đặt tính ràng buộc bởi ngay cả trong nội bộ ASEAN cũng chưa nhất trí về hiện trạng khu vực này. Dẫn chứng về vấn đề trên, GS Thayer cũng nhấn mạnh, trong công hàm ngày 12/12/2019, Malaysia liên tục khẳng định đó chỉ là bản đệ trình một phần, và nó “không ảnh hưởng tới việc phân định thềm lục địa” và “không ảnh hưởng tới lập trường của các nước liên quan tới tranh chấp lãnh thổ hoặc lãnh hải”.

GS Thayer nhận định: “Điều đó để ngỏ khả năng Malaysia, Philippines và Việt Nam có thể phân định khu vực chồng lấn để giải quyết tranh chấp. Philippines và Việt Nam hiện đang “cùng tông” trong vấn đề tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng tài và trong việc bác bỏ yêu sách của Trung Quốc. Một lập trường nhất trí của ba nước sẽ có ích cho việc cô lập Trung Quốc về chính trị, nhưng không làm thay đổi hiện trạng trên thực địa”.

Cũng đồng ý với quan điểm này, PGS Jay Batongbacal của Philippines cũng khẳng định, không phải Việt Nam, Philippines và Malaysia đang “đoàn kết” chống lại Trung Quốc nếu hiểu theo lẽ thông thường: “Mỗi nước vẫn hành động độc lập và không nhất thiết nhất trí với từng chi tiết khi đưa ra một lập trường đơn nhất khi đối mặt với Trung Quốc”.

PGS Batongbacal không cho rằng động thái của các nước trong thời gian qua là “đoàn kết” theo nghĩa 3 nước này đã “nhất trí một cách có ý thức” để nói lên tiếng nói duy nhất, hoặc đưa ra một lập trường chung nhất trong các tranh chấp. PGS Batongbacal nêu quan điểm: “Tôi nghĩ chúng ta chưa đến thời điểm cố ý và chủ động phối hợp cho các quyết định, chính sách và hành động về vấn đề này, nhưng tôi cho rằng cái chúng ta đang chứng kiến là một sự nhất quán tự nhiên, hợp logic trong lập trường của mỗi bên, vốn dĩ đang là kỳ vọng vì tất cả đều cam kết với quy định pháp luật và đang đặt trọng tâm sâu sắc vào luật pháp quốc tế”.

Theo ông Batongbacal, vì Việt Nam, Philippines và Malaysia đều là các nước nhỏ, đang phát triển với sức mạnh quân sự và chính trị còn hạn chế hơn các nước lớn nên việc chú trọng luật quốc tế là tinh thần phù hợp. Việc tuân thủ luật pháp, bảo vệ và lên tiếng theo lẽ phải là điều kiện và nhu cầu hiển nhiên để đảm bảo lợi ích quốc gia.

Nhiều học giả quốc tế nhận xét, công hàm ngày 30/3 của Việt Nam là động thái đúng đắn, phù hợp và cần thiết trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong vấn đề biển đảo. GS Thayer nhấn mạnh, Việt Nam phải tiếp tục phản đối bất kỳ hành động nào của Bắc Kinh khi nước này có những hành vi xâm phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Việc cung cấp “một dấu vết pháp lý trên giấy” là rất cần thiết để chứng minh tính nhất quán của Việt Nam trong lập trường về Biển Đông, đặc biệt là trong một thời gian dài.

GS Thayer và PGS Batongbacal đều cho rằng những động thái trong thời gian qua, Việt Nam đang đi đúng hướng và thậm chí có thể thắng nếu gửi đơn kiện Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 14/04/2020.

Việt Nam, Mỹ và hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN bất thành


Nguyễn Mạnh Hùng

Đáng lẽ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN dự kiến họp ở “thủ đô cờ bạc” Las Vegas, nhưng bị hoãn lại vì dịch virus corona. Một số ý kiến cho đây là điều đáng tiếc vì đánh mất cơ hội để ASEAN  và Mỹ hợp tác, phối hợp hành động nhằm phục vụ quyền lợi chung, như đối phó với dịch cúm hay với vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt ở Biển Đông.

Đối với riêng Việt Nam, một số nhà bình luận cho rằng Việt Nam cần tăng cường quan hệ chiến lược, thậm chí cần phải làm đồng minh với Mỹ để có thể “thoát Trung”. Một chuyên viên của RAND Corporation (Cơ quan nghiên cứu phát triển Mỹ) còn khuyến cáo lãnh đạo Việt Nam nên sang Mỹ gặp Tổng thống Trump càng sớm càng tốt để nâng quan hệ chiến lược giữa hai nước.

Hai vấn đề cần đặt ra: Một, việc hoãn cuộc họp thượng đỉnh có phải là “cơ hội bị bỏ lỡ” hay không? Hai, Việt Nam có nên là đồng minh của Mỹ trong lúc này?

Về câu hỏi thứ nhất, trong bài báo đăng trên trang rushfordreport.com ngày 5/3, nhà báo người  Mỹ Greg Rushford cho rằng dịch cúm chỉ là một cái cớ “che đậy” cho việc hủy bỏ một cuộc họp đáng bị hủy vì thiếu tổ chức, không có chương trình nghị sự rõ rệt, một số lãnh đạo ASEAN trước đó hoặc nói rõ sẽ không tham dự hoặc tỏ ra không mặn mà với hội nghị và có thể chỉ gửi đại diện tham dự như cách hành động của Tổng thống Trump đối với hội nghị thượng đỉnh ASEAN trong hai năm qua. Ngoài ra, hội nghị dự kiến chỉ có một phiên họp ngắn ngủi buổi chiều rồi sau đó chụp ảnh chung. Không có cuộc họp tay đôi giữa Mỹ với một quốc gia nào khác, ngoài Indonesia để bàn dự án dời thủ đô Indonesia khỏi Jakarta đến Borneo với kinh phí hơn 30 tỷ USD.

Rõ ràng, Trump chỉ muốn có cơ hội chụp ảnh chung với các nguyên thủ ASEAN để xây dựng hình ảnh một lãnh đạo thế giới trong mắt cử tri Mỹ. Đêm 14/3 cũng là đêm Tổng thống Trump đến đọc diễn văn trước cuộc họp của Liên minh người Do Thái trong Đảng Cộng hòa, nơi ông sẽ gặp  Sheldon Adelson, một người nhiệt tình ủng hộ Trump và là một nhà tài trợ có thế lực của đảng Cộng hòa. Những diễn tiến này đều nhằm phục vụ nhu cầu chính trị cá nhân của ông Trump. Thế mà các nhà lãnh đạo ASEAN bị ép phải chấp nhận họp vào ngày 14/3 vì đó là “ngày duy nhất hợp với chương trình làm việc” của Tổng thống Trump.

Trong hoàn cảnh ấy, nếu không bị hủy, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN sẽ đặt các lãnh đạo ASEAN vào tình thế khó xử. Họ cần Mỹ nhưng bất mãn vì khác với các tổng thống tiền nhiệm, Trump coi thường ASEAN ra mặt bằng cách không những không tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN hai năm liền, và năm 2018 chỉ cử một đại diện cấp khá thấp. Họ miễn cưỡng tham dự nhưng hẳn không thể hài lòng với cách Mỹ ép họ phải sắp xếp chương trình riêng để thích ứng với một ngày do Mỹ ấn định. Chưa kẻ, họ còn phải cân nhắc có nên thuê phòng ở khách sạn của tổ hợp Trump để lấy lòng Trump hay ở chỗ khác nhằm giữ thể diện quốc gia. Chuyện này nhỏ mà không dễ.

Về câu hỏi thứ hai, Việt Nam có nên tăng cường quan hệ chiến lược với Mỹ, thậm chí phải là đồng minh của Mỹ, để chống lại áp lực của Trung Quốc?

Triển vọng đồng minh quân sự giữa Việt Nam và Mỹ trong lúc này là một ảo tưởng nguy hiểm. Mỹ không muốn đồng minh làm gánh nặng cho mình và sẵn sàng bỏ rơi đồng minh trong những cuộc đổi chác (gần đây nhất là trường hợp của người Kurd ở Syria và Iraq). Do đó, họ không muốn liên minh với Việt Nam để có khi phải giúp Việt Nam trong trường hợp Việt Nam có đụng độ với Trung Quốc. Ngoài ra, với chính sách “nước Mỹ trước tiên”, chính quyền Trump đã gây mâu thuẫn và làm suy yếu hệ thống đồng minh của họ ở nhiều nơi trên thế giới.

Có thể nói, Mỹ không có quyền lợi chiến lược để thành đồng minh của Việt Nam. Mặt khác, với chính sách “ba không”, Việt Nam cũng không chủ trương làm đồng minh của Mỹ. Người Việt đã có khá nhiều kinh nghiệm đau đớn khi làm đồng minh của Mỹ.

Đối với Việt Nam, sách lược dùng Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc là điều cần thiết nên làm, nhưng thời điểm này thì không phải lúc.

Việt Nam có thể thoải mái hơn trong quan hệ với ASEAN, Cộng đồng châu Âu và Nhật Bản, nhưng so sánh tương quan lực lượng với Trung Quốc, thì chỉ Mỹ mới có khả năng làm đối trọng đáng tin cậy của Việt Nam. Vì chữ “đáng tin cậy”, nên giờ không phải là thời điểm tốt để Việt Nam xúc tiến việc này. Nếu lãnh đạo Việt Nam thăm Mỹ sẽ có thể bị biến thành một phụ diễn miễn cưỡng trong màn “photoshop” của Tổng thống Trump khi ông này dùng cuộc họp báo chung cho nhu cầu chính trị nội bộ, như trường hợp của Tổng thống Ukraine Zelensky hay của Tổng thống Phần Lan Niinisto.

Về Biển Đông và thế chiến lược Việt – Mỹ – Trung, có một hố sâu khác biệt trong lối suy luận của một bên là những người quan tâm đến chiến lược và quyền lợi quốc gia, còn bên kia là lối suy luận của một Tổng thống thiếu hiểu biết chiến lược, tự phụ với tài buôn bán và thương lượng của mình, quan tâm nhiều đến quyền lợi cá nhân và thích có cơ hội tạo dáng qua những lần chụp ảnh.

Đối với các chiến lược gia Mỹ, mà đại diện là quân đội và các cơ quan nghiên cứu, thử thách chiến lược của Mỹ là Trung Quốc và nguy cơ bị Trung Quốc đẩy ra khỏi Biển Đông. Nếu để Trung Quốc chiếm được vị thế độc tôn ở đây thì Mỹ không có chỗ đứng trong một khu vực cực kỳ quan trọng về phương diện kinh tế và chiến lược trong nhiều năm tới. Quyền lợi chiến lược của Mỹ là tạo ra thế đa cực ở vùng này, nghĩa là phải khuyến khích hỗ trợ cho việc tăng cường khả năng và ý chí đề kháng Trung Quốc của một số quốc gia lớn, nhỏ ở trong vùng mà Việt Nam là con bài quan trọng, nhất là sau khi ông Duterte đắc cử Tổng thống Philippines với chính sách “xa Mỹ gần Trung Quốc”. Lối suy nghĩ này được thể hiện qua các văn bản chiến lược như “Chiến lược quốc phòng Mỹ” và những lời tuyên bố của giới quân sự. Nếu để ý, ta thấy các tuyên bố mang tính cứng rắn và thách thức với Trung Quốc phần lớn bắt nguồn từ các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ; họ hậu thuẫn và thúc đẩy các cuộc tuần tra bảo vệ an ninh hàng hải, các cuộc viếng thăm hải quân và trao đổi quân sự càng ngày càng nhiều hơn với các quốc gia trong vùng.

Ngược lại, vị Tổng chỉ huy của họ là Trump lại có những hành động làm suy yếu thế lực của Mỹ trong vùng châu Á – Thái Bình Dương bắt đầu bằng việc rút khỏi Hiệp ước đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thay thế các thỏa thuận đa phương bằng những cuộc thương lượng tay đôi mà ông nghĩ rằng ông có tài o ép các đồng minh và đối tác để thủ lợi cho Mỹ mà không cần biết hành động đó có làm tổn hại lòng tin và đẩy họ về phía Trung Quốc hay không.

Khuynh hướng chú trọng đến kinh tế thương mại và điều đình song phương dẫn đến mong muốn điều đình một “thương ước lớn nhất thế giới” với Trung Quốc qua một tổng hợp các biện pháp vừa đe dọa trừng phạt vừa ve vãn xoa dịu. Cuối cùng, vì nhu cầu chính trị cá nhân, Trump đã phải bằng lòng với một thỏa ước tạm thời mà không đòi được Trung Quốc phải thực hiện những nhượng bộ căn bản. Một người tự cao và thích chụp ảnh làm cho mình quan trọng như Tổng thống Trump, trong trường hợp này, đành phải ký kết tay đôi, không phải với Chủ tịch Tập Cận Bình hay Thủ tướng Lý Khắc Cường, mà với Phó Thủ tướng Lưu Hạc của Trung Quốc – điều này cho thấy Trump cần Trung Quốc đến mức nào.

Khi so sánh quyền lợi của Mỹ và đặc biệt là nhu cầu cá nhân của ông Trump, thì đi với Trung Quốc phải quan trọng hơn đi với Việt Nam. Đó là lý do tại sao trong khi các phụ tá của Trump, kể cả Ngoại trưởng Pompeo và Phó Tổng thống Pence, chỉ trích Trung Quốc, Trump vẫn gọi Tập là “người bạn tốt”, khen ôn này hành xử có trách nhiệm trước các cuộc biểu tình phản đối ở Hong Kong và dịch cúm ở Trung Quốc.

Vì lý do đó, tin tưởng vào lời hứa và cam kết của các chiến lược gia Mỹ và các phụ tá của ông Trump về vai trò và cam kết của Mỹ ở Biển Đông với một ông Tổng thống coi đồng minh không ra gì, không muốn gây gổ với Trung Quốc, tuyên bố và hành động bất nhất khó lường – là điều cần phải cân nhắc kỹ.

Nguồn: viet-studies.com – 16/03/2020

TKNB – 18/03/2020