Thượng nguồn sông Mekong – Mỹ mở mặt trận mới chống Trung Quốc


Nhà phân tích Piotr Tsvetov của Sputnik cho biết, trong cuộc họp của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Bangkok vào tuần trước, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã đưa ra loạt chỉ trích kế tiếp nhắm vào Trung Quốc. Ông Pompeo chỉ trích kế hoạch của Trung Quốc về xây dựng các công trình thủy lực ở thượng nguồn sông Mekong. Ngoại trưởng Mỹ cho rằng chương trình của Trung Quốc với dòng sông này, bao gồm nổ mìn và nạo vét lòng sông, là “xu hướng đáng lo ngại”.

Lập luận yếu ớt của Trung Quốc

Trong những ngày này, Trung Quốc bị điểm danh là thủ phạm của tình trạng hạn hán ở Thái Lan. Một số nhà báo và chính trị gia chỉ ra nguyên nhân của thảm họa này là các con đập và nhà máy điện xây dựng ở thượng nguồn sông Mekong trên lãnh thổ Trung Quốc. Ở Bangkok, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị phản bác cáo buộc trên. Ông Vương lý giải là hạn hán cũng ảnh hưởng đến cả vùng bờ sông Mekong của Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng biết rằng có thể tăng lượng nước chảy xuống sông Mekong để giúp các nước ở khu vực hạ lưu. Bắc Kinh từng mở cửa xả lũ để cứu các nước láng giềng Đông Nam Á khỏi cảnh hạn hán vào năm 2016.

Tuy nhiên, đây cũng là chủ đề chỉ trích rộng rãi về quan điểm của Bắc Kinh. Một thực tế hiển nhiên: Trung Quốc là thế lực có khả năng quyết định số phận của hàng triệu con người. Nhiều con sông bắt nguồn từ lãnh thổ Trung Quốc, cả những con sông kỳ vĩ như Mekong và Sông Hằng. Do đó, Ấn Độ, nơi Sông Hằng chảy qua, cũng như Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam – các nước nằm ven bờ sông Mekong, đều cảm thấy bất an khi hiểu rằng chìa khóa nguồn nước chính của họ nằm trong tay nhà chức trách Bắc Kinh. Và không ai biết người Trung Quốc sẽ sử dụng chìa khóa này như thế nào.

Thêm một khía cạnh không thể làm các nước Đông Nam Á yên tâm. Một cách khách quan, sự phát triển kinh tế nhanh chóng như vũ bão của Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đòi hỏi phải tăng nguồn cung năng lượng cho các quốc gia này. Vì vậy, đã sản sinh nhiều dự án về xây dựng trạm thủy điện trên sông Mekong. Một số công trình đã được xây dựng trên lãnh thổ Trung Quốc, và bắt đầu ảnh hưởng đến hệ sinh thái của khu vực, kể cả gây phương hại đến dự trữ sinh học cốt yếu của dòng sông Mekong. Điều này xảy ra vì nguyên nhân việc xây dựng luôn tiến hành vội vàng, không có nền tảng kỹ thuật và biện pháp môi trường cần thiết.

Xung đột của hai dự án

Những chỉ trích gay gắt của ông Pompeo là bước đi tiếp theo để phục vụ lợi ích chính trị và thương mại của người Mỹ. Cả chục năm nay, người Mỹ cùng với 5 nước ASEAN (Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan) hợp tác trong khuôn khổ của “Sáng kiến hạ lưu sông Mekong (The Lower Mekong Initiative – LMI). Dự án có sự hỗ trợ của Mỹ cho các nước trên trong việc đảm bảo an ninh lương thực và môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giáo dục.

Trung Quốc cùng các nước thành viên ASEAN cũng có dự án riêng, được gọi là “Cơ chế hợp tác trong khu vực Lan Thương – Mekong”. Bắt đầu từ năm 2016, cứ 2 năm một lần, diễn ra các cuộc họp của các nhà lãnh đạo 6 nước châu Á nằm dọc theo bờ sông Mekong. Trong khuôn khổ của cơ chế, trọng tâm nhấn vào các dự án cơ sở hạ tầng, Trung Quốc đã phân bổ hàng tỷ USD với tư cách là các khoản vay cho các dự án này.

Khoản chi tiêu của Mỹ để hỗ trợ cho các nước trong lưu vực thấp hơn nhiều so với các khoản chi của Trung Quốc. Có lẽ đây là lý do tại sao Ngoại trưởng Mỹ quyết định hạ thấp Trung Quốc trong con mắt đại diện cấp cao của các quốc gia ASEAN. Một năm trước, tại sự kiện tương tự, phái đoàn Mỹ đã chỉ trích sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc.

Ai quyết định số phận của Mekong?

Lời giải đáp cho câu hỏi này rất đơn giản – đó là những người đang sống bên bờ dòng sông này. Tất nhiên, mọi việc cần được thực hiện theo thỏa thuận của các bên, mà không chịu sự chỉ đạo hay mệnh lệnh của bất kỳ ai khác. Không có gì đáng ngạc nhiên hay trái đạo lý kkhi các nước ASEAN tiếp nhận sự giúp đỡ để giải quyết vấn đề của lưu vực sông Mekong rộng lớn.

Nhưng như vậy hoàn toàn không có nghĩa là Bắc Kinh hay Washington có thể ra lệnh ép buộc các nước phải tuân thủ theo ý muốn của họ.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Advertisements

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần IV


Từ khi Donald Trump đắc cử, quan điểm của Mỹ đối với châu Á – Thái Bình Dương hiện vẫn không thay đổi. Đối phó với cuộc khủng hoảng Triều Tiên, lực lượng cảu Mỹ được tăng cường tại Đông Bắc Á, và các tàu chiến của Mỹ tiếp tục hoạt động tại phía Nam. Tuy nhiên, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte cho rằng người Mỹ không có vai trò tại Biển Đông, và do dự giữa phản ứng hoặc im lặng trước những yêu sách của Trung Quốc. Trong một cuộc họp báo tại Indonesia vào cuối tháng 4/2017, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đã tuyên bố rằng Mỹ sẽ tiếp tục đảm bảo tự do hàng hải trong khu vực.

Thách thức chính nằm ở sự không ổn định của các tuyến đường biển, vì vậy mỗi chủ thể quốc gia, khu vực hoặc quốc tế cần tiếp tục chú ý tới các biện pháp do Trung Quốc thực hiện, cũng như tính khí bất thường của các Tổng thống Philippines và Mỹ. ASEAN và Liên hợp quốc cho thấy hạn chế của họ, ngay cả ở vai trò trung gian hòa giải. Nếu như việc thực hiện luật quốc tế vấp phải quan điểm của Trung Quốc về quyền chủ quyền, thì ASEAN và Liên hợp quốc cần cùng nhau suy nghĩ về một Bộ quy tắc ứng xử mới tại Biển Đông, với sự tập hợp tất cả các tác nhân (trong đó có Mỹ và Nhật Bản), chứ không chỉ bằng một cuộc đối thoại Trung Quốc – ASEAN.

Không gian quân sự là trọng tâm của các chiến lược gây ảnh hưởng

Các thách thức an ninh của thế kỷ XXI tại Biển Đông không giới hạn ở riêng mặt biển. Thực tế, cần phải xem xét tổng thể không gian nơi đây, các không gian khác nhau: không gian trên biển, không gian biển và không gian dưới biển. Lăng kính theo khía cạnh quân sự của những không gian này cho thấy rõ các khía cạnh gây ảnh hưởng chiến lược mà mỗi nước trong khu vực tiến hành. Việc quân sự hóa những không gian khác nhau này khiến cộng đồng quốc tế lo ngại khi 80% các thương lộ của thế giới nằm trên biển.

Không gian trên biển

Năm 2013, Trung Quốc đã tuyên bố một Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên một vùng rộng lớn của biển Hoa Đông, xung quanh quần đảo Điếu ngư/Senkaku, gây ra những căng thẳng nghiêm trọng với Nhật bản và khiến Mỹ bất bình. Như vậy, Trung Quốc đã cho truyền thông phương Tây cơ hội bày tỏ sự lo lắng của họ trước “Sự trỗi dậy về sức mạnh của Trung Quốc” theo cách nói thông thường. Ngay lập tức, Mỹ đã điều hai máy bay ném bom B52 tới ADIZ của Trung Quốc để chứng tỏ không tôn trọng biện pháp của Trung Quốc và thực hiện một sự khiêu khích quân sự.

Sau phán quyết của Tòa trọng tài thường trực ngày 12/7/2016, Bắc Kinh đã thông báo chuẩn bị thiết lập một ADIZ thứ hai trên Biển Đông trong trường hợp có sự khiêu khích và tranh chấp chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực. Ngày 25/3/2017, một máy bay ném bom B-1B của không quân Mỹ, khi đang bay diễn tập với quân đội Hàn Quốc và Nhật Bản, đã bị yêu cầu rời khỏi “không phận” của Trung Quốc trong khi máy bay này cách đảo Jeju 130 km về phía Tây Nam, cách Thượng Hải 440 km, giới hạn phía dưới của ADIZ Trung Quốc. Ngày 08/02/2017, phía trên bãi cạn Scarborough, nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Philippines, một máy bay tuần tra biển của Trung Quốc KJ-200 đã bay sát máy bay tuần thám P3-C Orion của Mỹ, chỉ cách 300 m. Để tạo thuận lợi cho sự thao túng trên không phận Biển Đông, ngày 26/4/2017, Trung Quốc đã hạ thủy tàu sân bay thứ hai. Một tàu sân bay khác cùng chủng loại đang được đóng và cả hai tàu này sẽ phối hợp với tàu Liêu Ninh đang có mặt trong khu vực.

Là nước đầu tiên tuyên bố về một ADIZ vào năm 1950 nhằm làm giảm bớt các nguy cơ của một cuộc tấn công bất ngờ từ Liên Xô, Mỹ hoan nghênh các ADIZ khi chúng được thiết lập trong sự tuân thủ luật pháp quốc tế: không xâm phạm các đường biên giới, không can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia. Chính quyền mới của Mỹ muốn tăng cường sự hiện diện quân sự của mình (tuyên bố của John Mattis) và không công nhận ADIZ của Trung Quốc. Hải quân Mỹ và Bộ chỉ huy Thái Bình Dương đã yêu cầu Chính quyền Trump cho phép tiến hành các Chiến dịch tuần tra bảo vệ quyền tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông.

Để khẳng định sự kiên quyết của mình trước điều Mỹ coi là những khiêu khích của Trung QUốc, bản thân Washington cũng tiến hành những khiêu khích. Tháng 12/2016, Trung Quốc đã thu giữ một tàu ngầm điều khiển từ xa của hải quân Mỹ, ngay sau khi Trump đe dọa chấm dứt việc công nhận một “Trung Quốc duy nhất” bằng cách xích lại gần Đài Loan. Sự can dự ngày càng tăng của Washington có thể là một yếu tố bổ sung gây bất ổn tại Biển Đông.

Đài Loan giữ một lập trường cứng rắn và không chấp nhận ADIZ mà Trung Quốc, đồng thời muốn giữ quyền kiểm soát cũng như tiếp tục bảo vệ không phận của mình. Họ đã triển khai hệ thống phòng không trên các đảo Đông Sa và Ba Bình để tăng cường sự phòng vệ này.

Các nước khác trong khu vực dường như chấp thuận các ADIZ hiện có và ủng hộ sự tuân thủ luật quốc tế theo hướng này. Chỉ riêng Trung Quốc có tham vọng tuyên bố một ADIZ trên Biển Đông mà không có sự tán thành của các nước khác trong khu vực, kể cả Mỹ. Là nguồn gốc của những căng thẳng, không phận là một không gian mà những can thiệp có thể diễn ra nhanh và có những hậu quả lớn về mặt ngoại giao, như một sự leo thang về hành động đáp trả của quốc gia.

Không gian biển

Không gian biển là nơi trưng bày sức mạnh hải quân của mỗi nước. Cũng như đối với không phận, Trung Quốc khao khát thống trị không gian biển bằng cách tuyên bố đó là không gian lãnh thổ của họ. Tuy nhiên, điều này ảnh hưởng đến sự tự do đi lại ở đây.

Việc chiếm đóng các khu vực là nguyên nhân của những căng thẳng thực sự. Việt Nam và Trung Quốc cũng đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã chiếm đóng quần đảo này sau một đợt tấn công quân sự năm 1974. Đối với Scarborough, bãi cạn này là nguyên nhân căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines, với một bầu không khí đầy căng thẳng. Tình hình tại Quần đảo Trường Sa diễn ra phức tạp, khi Trung Quốc mưu toan bồi đắp để tạo ra các đảo nhân tạo kể từ mùa Xuân 2015, với sự hiện diện quân sự. Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. Tuy nhiên, hai nước này cuối cùng không thực hiện chiếm đóng quân sự.

Các đảo nhỏ, đảo san hô vòng, bãi cạn ít có thể sinh sống và nguồn tài nguyên cạn kiệt (phốt phát) từ một thế kỷ nay, điều thách thức là buộc mọi người thừa nhận ưu thế của mình trên các quần đảo này và mở rộng đáng kể vùng đặc quyền kinh tế. Độc quyền khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài khơi trở thành một mục tiêu.

Vì vậy, dự hiện diện quân sự trên biển là cách thức chủ yếu cảu các quốc gia để hỗ trợ quyết tâm bảo vệ chủ quyền khu vực của họ. Các đường ranh giới có thể không rõ ràng nên sự hiện diện quân sự và bán quân sự gây ảo tưởng về tính hợp pháp của khu vực. Về điểm này Trung Quốc đang gây căng thẳng với hầu như toàn bộ các quốc gia trong khu vực như Philippines, Nhật Bản, Việt Nam, và cùng còn cả với Mỹ. Vì vậy, ngày 11/5/2016, tàu khu trục USS William P. Lawrence đã tiến sát bãi đá Chữ Thập nơi Trung Quốc xây dựng một đường băng cho máy bay. 3 máy bay tiêm kích và 3 tàu Trung Quốc đã xua đuổi tàu khu trục Mỹ ra khỏi khu vực. Trung Quốc đảm bảo sự hiện diện của mình tại Biển Đông bằng lực lược hải quân cùng với 5 đơn vị bán quân sự bảo vệ bờ biển. Ngoài ra, các tàu cá Trung Quốc, tạo thành một hạm đội gần 200.000 tàu được vũ trang, cũng góp phần duy trì sự hiện diện của Trung Quốc.

Mặc dù không ký kết Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, hải quân Mỹ hành động dựa trên luật lệ theo tập quán, bằng việc đảm bảo tự do hàng hải cho các tàu dân sự và quân sự trong khu vực. Trung Quốc cũng tán thành tự do hàng hải, nhưng phân biệt quyền tự do của các tàu thương mại với quyền tự do của các tàu quân sự. Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, các tàu quân sự nước ngoài được tự do tiến hành các hoạt động thông thường, kể cả giám sát và diễn tập trong Vùng đặc quyền kinh tế, nhưng bị hạn chế hơn trong vùng lãnh hải của một quốc gia ven biển.

Mỹ không muốn xác định lập trường của mình về các vấn đề chủ quyền và chỉ muốn làm rõ các quyền dànhh cho tất cả các nước căn cứ theo luật pháp quốc tế, bằng cách phản đối những yêu sách thái quá. Mỹ không phân biệt giữa đồng minh, đối tác và đối thủ khi khẳng định quyền tự do hàng hải căn cứ theo luật quốc tế.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Việt Nam có thể trông đợi gì từ Nga và các “đồng minh” khác?


Trong khi căng thẳng tiếp tục leo thang tại Bãi Tư Chính, một số nhà quan sát cho rằng Việt Nam đang thực hiện chiến lược mới: Bắt tay với các “đồng minh” mạnh  hơn, trong trường hợp này là Nga, thông qua hợp tác khai thác dầu khí tại các khu vực tranh chấp trên Biển Đông.

Trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 21/8, Benne Murray, nhà báo Mỹ hiện đang làm việc cho Thông tấn xã Đức tại Việt Nam, bình luận: ““Đồng minh” là một từ mạnh. Tôi hiểu tại sao từ này lại được sử dụng, tôi sẽ không hiểu theo nghĩa đen là Nga và Việt Nam là “đồng minh” trong vấn đề Biển Đông. Một điều hoàn toàn chắc chắn là Nga đã không công khai ủng hộ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, và trên thực tế, Putin thậm chí dường như còn công khai hỗ trợ Bắc Kinh. Tuy nhiên, tất cả những điều này cần phải được đặt trong bối cảnh của nó”.

Thái độ của Nga

Tranh chấp khởi đầu từ năm 2017 khiến vào năm 2018, Việt Nam phải ngừng dự án thăm dò dầu khí trị giá hàng trăm triệu USD với tập đoàn năng ượng Respol của Tây Ban Nha dưới sức ép của Trung Quốc. Tuy nhiên, giới quan sát cho rằng, lần này, Việt Nam ở vị thế khác khi có đối tác “rắn hơn”: Tập đoàn dầu khí quốc gia Rosneft của Nga.

Theo ông Bennet Murray, cả Kremlin và các đối tác Trung Quốc đều ghét các thể chế quốc tế, đặc biệt là các thể chế mà họ cho là thiên vị phương Tây, khi mà các thể chế này luôn muốn bảo họ phải làm gì. Ví dụ, đối với Nga, rõ ràng nhất là trong việc sáp nhập bán đảo Crimea của Ukraine năm 2014. Khi đó, Mỹ và gần như toàn bộ châu Âu nói rằng Nga chống lại luật pháp quốc tế, sau đó áp dụng lệnh trừng phạt với Nga. Nga đã quyết định rằng chơi theo những quy tắc đó là trái với lợi ích của Nga.

Trung Quốc luôn cảm thấy như vậy về Biển Đông, đặc biệt là vào năm 2016, khi các thẩm phán của Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế tại La Hay phán quyết bác bỏ “đường 9 đoạn”.

Putin và Tập Cận Bình đều hiểu rằng mối quan tâm chung của họ là cùng nhau chống lại các thể chế quốc tế đang nói với họ rằng họ không thể có những gì họ muốn về địa chính trị và cả hai đều xem phương Tây là những kẻ đạo đức giả, những kẻ phá vỡ các quy tắc phù hợp với Trung Quốc và Nga.

Tuy nhiên, Putin và Tập không công khai đứng lên chống lại lợi ích của nhau không có nghĩa là họ không xung đột về lợi ích. Các mối quan hệ đối tác của Tập đoàn dầu khí Rosneft, Gazprom và Vietsopetro với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam hiện đều nằm trong khu vực “đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Tương tự như vậy, chúng ta có thể thấy Trung Quốc đã đầu tư hàng tỷ USD vào Ukraine, nơi từ năm 2014 đã ở trong tình trạng chiến tranh không công khai nhằm chống lại Nga.

Bennet Murray nói: “Lần này, tôi ngờ rằng Trung Quốc sẽ muốn Nga phải làm gì đó để đổi lấy việc Trung Quốc đã nhắm mắt làm ngơ cho Nga khoan thăm dò tại Bãi Tư Chính. Những cuộc đàm phán liên quan đến màn trao đổi lợi ích đó có thành công hay không là một vấn đề khác. Nhưng chúng chắc chắn sẽ không bao giờ được công khai.

Riêng đối với việc tàu khảo sát Trung Quốc quay trở lại Bãi Tư Chính thật khó để lý giải lý do thật sự. Có thể đó là một thông điệp được Trung Quốc tính toán kỹ lưỡng hoặc cũng có thể chỉ là lý do kỹ thuật. Mặc dù sự hiện diện của con tàu này rõ ràng là mối nguy cho lợi ích của Việt Nam, miễn là Tập đoàn Dầu khí Rosneft và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam vẫn tiếp tục các dự án dầu khí tại đây thì Việt Nam vẫn chưa mất Bãi Tư Chính”.

Trong khi đó, viết trên Asia Times, nhà báo Mỹ David Hutt cũng cho rằng một trong những lý do khiến lần này Việt Nam cứng rắn hơn trước Trung Quốc là do Việt Nam đã có các đồng minh mạnh hơn. Ngoài Mỹ, Nhật, Pháp, Liên minh châu Âu, Việt Nam còn có Nga: “Trong một diễn biến mới, Nga đã ám chỉ rằng họ cũng có thể ủng hộ Hà Nội thông qua hợp tác thăm dò dầu khí với Việt Nam trên khu vực Biển Đông nơi Bắc Kinh cũng khẳng định chủ quyền”.

Cây bút Panos Mourdoukoutas bình luận trên Forbes: “Sự hiện diện của Nga ở vùng biển tranh chấp có thể là yếu tố giúp thay đổi cuộc chơi của Việt Nam. Sẽ vô cùng khó khăn để Bắc Kinh đối đầu với hải quân Nga – lực lượng sẵn sàng bảo vệ lợi ích của Moskva trong khu vực. Và điều đó có thể giúp làm giảm tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông, và cứu vãn hòa bình trong khu vực”.

Các “đồng minh” khác

Ngoài Nga, “đồng hành” với Việt Nam còn có Mỹ, nước vốn im tiếng khi Trung Quốc gây hấn với Việt Nam trên Biển Đông năm 2018.

Theo Asia Times, năm nay, Mỹ lên tiếng cáo buộc Trung Quốc có hành động “bắt nạt” nước láng giềng. Mỹ cũng ngỏ ý “muốn củng cố mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Hà Nội, mặc dù Việt Nam vẫn tỏ ra thận trọng và vẫn duy trì các chính sách ngoại giao không cam kết”.

Mới đây, Liên minh châu Âu (EU) công khai cho hay “hoàn toàn ủng hộ quan điểm và lo ngại của Việt Nam về tình hình và căng thẳng gia tăng ở Biển Đông” – và rằng Việt Nam Việt Nam “có thể trông cậy vào EU để không những hướng tới việc giảm căng thẳng, mà còn, trước tiên, là bảo vệ việc tôn trọng luật pháp quốc tế một cách đầy đủ”.

EU cũng sẽ sớm ký Hiệp định hợp tác quốc phòng, an ninh với Việt Nam.

Trước đó, hồi tháng 9/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp và Việt Nam đã ký kết Tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018 – 2028. Sau đó, tại hội nghị quốc phòng thường niên Shangri-La 2019 tổ chức tại Singapore, đại diện Pháp đã hứa sẽ “ít nhất hai năm một lần điều tàu tới Biển Đông” và tiếp tục ủng hộ việc tuân thủ luật pháp quốc tế liên quan.

Việt Nam mới đây cũng tuyên bố kéo dài thời gian hoạt động của giàn khoan Hakuryu-5 thuộc Công ty Khoan Nhật Bản (JDC) tại Khu vực lô 06.1 bể Nam Côn Sơn đến hết ngày 15/9 giữa bối cảnh bị tàu Trung Quốc quấy rối.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần III


Cuộc chiến bản đồ: Các nguồn lịch sử và khảo cổ học được nhiều tác nhân khác nhau sử dụng để chứng minh đường biên giới của họ.

Để chứng minh những yêu sách lãnh thổ và vùng biển của mình, các nước liên quan (Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Malaysia và Brunei) đã sử dụng những nghiên cứu khoa học trên và trong khu vực.

Được đưa ra tại Liên hợp quốc năm 2009 như một đòi hỏi về chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông và biển Hoa Đông, “đường 9 đoạn” là một chứng cứ dối trá do Trung Quốc đơn phương tạo ra và không có giá trị pháp lý. Đặc biệt, “đường 9 đoạn” này đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei. Vì vậy, nó bị tất cả các quốc gia liên quan phản đối và là nguồn gốc chính của những bất đồng và căng thẳng.

Đáp lại, các quốc gia này (ngoại trừ Brunei) dùng các bản đồ để hỗ tcho sự phản đối của họ đối với “đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Các bản đồ địa lý và hải dương học của Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh và Pháp rất phong phú nói về sự phát triển các đường biên giới biển trong khu vực này, đã trở thành các bằng chứng phục vụ tuyên truyền. Các tài liệu của thực dân Anh là bằng chứng pháp lý của Singapore buộc Malaysia thừa nhận chủ quyền của nước này đối với Petra Branca. Hơn nữa, Chính phủ Philippines sử dụng các tài liệu lưu trữ của Tây Ban Nha và Mỹ làm bằng chứng nhận cho việc họ đã có trách nhiệm lịch sử bảo đảm an ninh cho bãi cạn Scarborough.

Bắc Kinh, Hà Nội và Manila cũng đã tìm cách chứng minh sự hiện diện trước đó của dân tộc bằng các hiện vật khảo cổ học được khai quật xung quanh các đảo nhỏ đang tranh chấp. Chính phủ Việt Nam khẳng định ngư dân Việt Nam thường hoạt động tại vùng lãnh hải của các đảo nhỏ nơi đây từ thế kỷ XVI. Vào cuối tháng 3/2017, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, Lê Hải Bình, đã đặc biệt tuyê bố rằng Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cuối cùng, đối chọi với Việt Nam, Chính phủ Trung Quốc thường dẫn công hàm ngoại giao ngày 14/9/1958, theo đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng thừa nhận quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh hải của Trung Quốc. Vốn do người Pháp chiếm đóng trong thời kỳ thực dân, người Việt Nam đã mất đi quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa sau trận chiến năm 1974 chống lại Trung Quốc.

Vì vậy, việc xác minh lịch sử của khu vực này diễn ra bằng một cuộc tranh đua về bản đồ và khảo cổ học, dường như không có hồi kết. Giai đoạn hai của việc xác minh này nằm ở cấp độ pháp lý. Nếu như nhận thức quốc tế về luật pháp đa số được các tác nhân bảo vệ, thì ngược lại nó bị suy yếu bởi nhận thức có sức nặng của Trung Quốc, luôn phải đối nó.

Vấn đề luật quốc tế trước di sản của đạo Khổng

Đối với Chính phủ Trung Quốc, các quyền lịch sử của Trung Quốc tồn tại một cách độc lập với Công ước về luật biển. Không gian biển mang tên của nước họ sẽ thuộc về họ một cách hợp pháp. Với việc không đưa những đòi hỏi chủ quyền của họ vào trong Công ước về luật biển, Bắc Kinh tự đặt mình đứng ngoài luật quốc tế. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã ký và phê chuẩn Công ước này, nhưng Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc được vẽ ra bao gồm một phần hải phận quốc tế và lấn vào các vùng biển của các nước láng giềng. Nguy hiểm là ở chỗ Trung Quốc tiếp tục triển khai sức mạnh tại Biển Đông và biển Hoa Đông.

Hơn nữa, một cách nhìn như vậy kéo theo sự leo thang những phản ứng tương tự của những quốc gia khác: chẳng hạn, Indonesia khẳng định chủ quyền của mình tại quần đảo Natuna bằng cách đặt tên một phần Biển Đông là “biển Natuna”.

Luật pháp quốc tế cho phép những đòi hỏi chủ quyền của “những quốc gia nhỏ bé ở châu Á” được thừa nhận bất chấp các hành động của Trung Quốc. Trường hợp của Đài Loan là cá biệt, vì hòn đảo này không được thừa nhận trên trường quốc tế, nên khó đạt được sự đồng thuận liên quan tới đảo Ba Bình (điều này không cản được Chính phủ Đài Loan tiếp tục lấn biển). Luật pháp quốc tế đã không có hiệu lực đối với Trung Quốc về bãi cạn Scarborough vào tháng 7/2016: Mặc dù Tòa Trọng tài thường trực lên án sự hiện diện của Trung Quốc tại Vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, nhưng Trung Quốc không tôn trọng quyết định này và tiếp tục hợp pháp hóa quyền của mình. Philippines và Việt Nam luôn chủ trương tuân thủ luật pháp quốc tế, tuy nhiên việc Trung Quốc không tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài có thể khiến họ không còn thụ động.

Chống lại quan điểm của Trung Quốc, các cường quốc bên ngoài là Mỹ và Nhật Bản khẳng định ưu thế của luật biển quốc tế. Mặc dù không ký kết Công ước Montego Bay, nhưng Mỹ khuyến khích việc tôn trọng luật biển và tự do hàng hải. Mỹ được xem như một lực lượng đảm bảo sự ổn định đối với khu vực. Do những căng thẳng với Trung Quốc tại biển Hoa Đông, Chính phủ Nhật Bản ủng hộ việc tuân thủ luật quốc tế tại Biển Đông. Nước này coi Công ước Liên hợp quốc về luật biển là một công cụ cần thiết để phán xử và giải quyết các cuộc khủng hoảng tại các vùng biển.

Quyền lực quốc gia, khu vực hay quốc tế nào có thể quyết định các đường biên giới?

Trung Quốc là quốc gia duy nhất tự tuyên bố chủ quyền của họ về các ranh giới ở Biển Đông. Tuy nhiên, Bắc Kinh chấp nhận thảo luận song phương và đa phương với các tác nhân trong khu vực, mà không chịu ảnh hưởng từ các quốc gia bên ngoài (đặc biệt là Mỹ). Các quốc gia ven biển trong khối ASEAN và các cường quốc bên ngoài đòi hỏi có sự trung gian hòa giải quốc tế của Liên hợp quốc, hoặc khu vực thông qua ASEAN.

Các quốc gia tiếp tục cầu viện Liên hợp quốc: Singapore và Malaysia đã thông qua Tòa án công lý quốc tế để giải quyết tranh chấp của họ về các bãi đá ngầm South Ledge và Middle Rocks. Tháng 5/2018, Tòa án công lý quốc tế đã khẳng định rằng Middle Rocks thuộc chủ quyền của Malaysia và Petra Branca thuộc chủ quyền của Singapore. Liên quan tới South Ledge, Singapore và Malaysia cần phải đàm phán song phương qua một Ủy ban kỹ thuật chung. Tới cuối năm 2016, việc giải mật các tài liệu lưu trữ của Anh cuối cùng đã đẩy Chính phủ Malaysia tới chỗ kêu gọi sự phán quyết của Tòa án công lý quốc tế năm 2008. Indonesia cũng đã đệ đơn khiếu nạu lên cơ quan pháp lý của Liên hợp quốc về đường 9 đoạn.

Những tranh cãi không được giải quyết này và việc không tuân thủ luật biển khiến người ta nghi vấn về vai trò của ASEAN. Trong năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, đưa tới các cuộc thảo luận về Bộ quy tắc ứng xử. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn không chấp nhận nó có tính bắt buộc. Ý định tốt là chưa đủ. Bực tức trước những yêu sách của các nước láng giềng và những cáo buộc quân sự hóa, dường như Trung Quốc tỏ ra sẵn sàng hơn đối với việc thảo luận các biện pháp bắt buộc. Tháng 5/2017, Tập Cận Bình và ASEAN phải thảo luận một thỏa thuận sơ bộ về một bộ quy tắc ứng xử.

Hơn nữa, ASEAN không thể đi tới một chính sách ngoại giao chung trước những thăng thẳng tại Biển Đông, điều này thúc đẩy các quốc gia giải quyết những tranh chấp của họ qua Liên hợp quốc hoặc song phương. Thật vậy, tổ chức này thực hiện một chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không giải quyết mọi tranh cãi trong khu vực, mà lựa chọn từng trường hợp. Trong trường hợp tranh chấp lãnh thổ, ASEAN thường để mỗi nước thảo luận song phương. Một mặt, Singapore và Malaysia đã thành công trong việc thảo luận về Petra Branca qua tòa án quốc tế hơn là qua ASEAN. Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN đã không cho phép việc hòa giải này. Mặt khác, Chính phủ Brunei đã giải quyết song phương các vụ tranh chấp về bãi đá ngầm Louisa với Malaysia bằng cách dựa vào luật quốc tế (theo điều 76 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển, bãi đã ngầm thuộc thềm lục địa của Brunei).

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Australia củng cố quan hệ với Việt Nam, nhưng tránh nhắc tới Trung Quốc


Lê Thu Hương

Thủ tướng Scott Morrison vừa hoàn thành chuyến thăm chính thức Việt Nam, một đối tác chiến lược và là quốc gia ưu tiên trong các mối quan hệ khu vực của Australia. Quan hệ song phương giữa hai nước đã ngày càng mạnh mẽ và có vẻ sẽ tiếp tục được mở rộng và thịnh vượng hơn.

Chuyến thăm này đã đưa tới các cam kết tăng cường quan hệ kinh tế, cũng như hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương và hướng tới hoàn thành Thỏa thuận Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Mối quan hệ giữa người dân Việt Nam – Australia cũng được thúc đẩy thông qua việc Australia nới rộng hạn ngạch thị thực việc làm kỳ nghỉ cho công dân Việt Nam từ 200 lên 1500 suất/năm.

Hai nước cùng cam ết tăng cường hợp tác trao đổi kiến thức, đổi mới và đào tạo lãnh đạo bằng cách thiết lập một trung tâm Việt Nam – Australia tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ở Hà Nội. Ông Morrison đã đến thăm bệnh viện dã chiến, đơn vị sẽ sớm trở thành một phần của Việt Nam tiếp tục đóng góp và sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Trong đó, có cả sự đóng góp không nhỏ của Australia, một điểm nổi bật trong mối quan hệ song phương gần đây.

Nhìn lại mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên, Hà Nội và Canberra đã thống nhất kế hoạch hành động cho giai đoạn 2020 – 2023, tập trung vào ba lĩnh vực ưu tiên: tăng cường kết nối kinh tế; làm sâu sắc hơn các hợp tác chiến lược, quốc phòng và an ninh; xây dựng đối tác kiến thức và đổi mới.

Đây đều là những phát triển rất tích cực và được hoan nghênh từ cả hai phía.

Nhưng thời điểm chuyến thăm của ông Morrison đã tạo ra sự chú ý về một vấn đề khác – vượt ra ngoài khuôn khổ của quan hệ song phương.

Tàu khảo sát Hải Dương 9 và các tàu của lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã nằm cố định trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, quanh khu vực Bãi Tư Chính ở Biển Đông, kể từ đầu tháng 7. Tàu khảo sát nhanh chóng rời khỏi khu vực này và sau đó quay trở lại, di chuyển gần hơn về phía bờ biển Việt Nam. Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra tuyên bố thứ hai, sau khi tàu này quay trở lại, lên án rõ cá chành động của Trung Quốc và ủng hộ hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí dài hạn của Việt Nam trong khu vực.

Mức độ nghiêm trọng của vụ việc được đánh giá cao trên toàn thế giới và Hà Nội hy vọng sẽ có thêm sự hỗ trợ ngoại giao từ cộng đồng quốc tế.

Trước chuyến thăm của ông Morrison, Ngoại trưởng Australia Marise Payne đã cùng người đồng cấp Mike Pompeo và Tara Kono ký một tuyên bố chung của Đối thoại chiến lược Australia – Nhật Bản – Mỹ. Vấn đề này cũng được đề cập tới trong tuyên bố chung từ cuộc họp cấp Bộ trưởng Australia – Mỹ (AUSMIN) vào đầu tháng này tại Sydney. Cả hai tuyên bố đều khẳng định các bên bày tỏ quan ngại về hoạt động gây rối liên quan tới các dự án dầu khí dài hạn ở Biển Đông. Nhưng Việt Nam hy vọng ngôn ngữ của Australia sẽ mạnh mẽ hơn trong chuyến thăm của ông Morrison.

Ông Morrison tránh nêu đích danh vụ việc quanh Bãi Tư Chính, cũng như các hành động của Bắc Kinh. Tại cuộc họp báo ở Hà Nội, Thủ tướng Australia được hỏi rõ ràng về việc cần thiết phải làm gì, nhưng lại trả lời bằng cách đề cập tới các quy tắc của luật pháp quốc tế.

Ông Morrison từ chối đứng về bất cứ phía nào, thay vào đó, ông thu hút tầm nhìn vào một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nơi chủ quyền và sự độc lập được tôn trọng và không có quốc gia nào bị ép buộc từ một quốc gia khác. Khi được yêu cầu xác định chính xác loại “cưỡng ép” mà ông đề cập tới, Thủ tướng Australia đã định nghĩa đó là “bất kỳ sự ảnh hưởng nào đến chủ quyền và độc lập của chính họ, ngăn cản bằng mọi cách từ việc theo đuổi hợp pháp các mục tiêu của họ”.

Sự cẩn thận của ông Morrison xung quanh vấn đề này là phù hợp với xu hướng của các quốc gia ASEAN khác, ví dụ, các nước thường tránh lên tiếng về vấn đề Biển Đông do các áp lực thường xuyên từ Bắc Kinh. Đó là một nỗ lực có chủ ý, khi tránh nêu tên Trung Quốc. Điều này có vẻ kỳ quặc khi tham chiếu tới thời gian của chuyến thăm và sự bảo vệ bằng lời nói của Australia về trật tự dựa trên quy tắc. Đối với chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên trong vòng 25 năm qua của Thủ tướng Australia, sự thể hiện của ông Morrison khá là thất vọng.

Bên cạnh những câu chữ cẩn trọng trong tuyên bố chính thức, chuyến thăm được cho là phục vụ mục đích khuyến khích Hà Nội tiếp tục đứng lên chống lại Trung Quốc. Ông Morrison đã đúng khi nhận ra tầm quan trọng chiến lược của Việt Nam và không nên chỉ đến thăm Trung Quốc. Nhưng trong khi nhấn mạnh việc nâng cấp mối quan hệ từ một trong số những người bạn trở thành “bằng hữu”, sự thận trọng của Thủ tướng Australia cũng là dấu hiệu cho thấy chính phủ Canberra sẽ càng do dự hơn trong việc lên tiếng về các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông.

Đã có sự phân nhánh trong cộng đồng quốc tế về vấn đề tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng EEZ của Việt Nam. Đây không phải là một sự cố xảy ra đơn độc và những phản ứng quốc tế “im lìm” sẽ chỉ củng cố cho những gì mà Bắc Kinh đang tìm kiếm – sự bình thường hóa dần dần nhưng nhất quán về các hành động của mình, nhằm giúp nước này kiểm soát Biển Đông. Trên thực tế, trong thời gian gần đây, mức độ hoạt động của Bắc Kinh tại khu vực đã cao bất thường. Cùng với tình huống ở Bãi Tư Chính, đã có các vụ thử tên lửa hạt nhân, diễn tập quân sự, tàu chiến được gửi tới Philippines, các hoạt động của tàu khảo sát và thường xuyên quấy rối ngư dân trong khu vực.

Mặc dù chính sách ngoại giao thông minh đòi hỏi Canberra phải xem xét cẩn trọng các tuyên bố của mình, đặc biệt khi ngoại giao lời nói mang lại nhiều kết quả hơn trong kỷ nguyên cạnh tranh quyền lực tuyệt đối căng thẳng, nhưng cũng cần phải cân bằng giữa việc lên tiếng và khéo léo giải quyết các vấn đề khó khăn. Ngoại giao hiệu quả bao gồm cả việc lên tiếng khi cần thiết.

Nguồn: Viện Chính sách Chiến lược Australia – 28/08/2019

TKNB – 29/08/2019

Những thách thức an ninh tại Biển Đông – Phần II


Mỹ xây dựng chiến lược của họ đối lập với chiến lược của Trung Quốc nhằm kiểm soát không gian biển này. Ngay từ năm 2010, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chỉ ra sự cần thiết trang bị cho quân đội các phương tiện để chống lại những khả năng từ “Cấm tiếp cận”, như đã được nêu trong báo cáo quốc phòng 4 năm một lần của Mỹ. Đặc biệt, khái niệm này đã được ông Jan Van Tol cựu chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương, cựu thành viên của Trung tâm đánh giá chiến lược và ngân sách và Trung tâm nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ, mô tả và nêu chi tiết. Trong một bài viết của mình, Van Tol chỉ rõ mục đích của khái niệm đó là vô hiệu hóa các khả năng thù địch, ngăn cấm việc đi vào vùng biển và vùng trời trên đó.

Sự hiện diện truyền thống của Mỹ trong khu vực đi kèm với một tác nhân truyền thống khác cũng muốn gia tăng ảnh hưởng tại đây: đó là Nhật Bản. Thật vậy, nội các Thủ tướng Shinzo Abe đã coi trọng các vấn đề quốc phòng ngang với các vấn đề về kinh tế. Bước chuyển từ một chính sách thụ động sang một chính sách cam kết hơn và tập trung vào vấn đề an ninh đã có tác động trực tiếp tới Biển Đông. Tokyo ngày càng hiện diện hơn và tiến hành một chiến dịch hợp tác phòng thủ với các nước thành viên ASEAN kể từ khi ông được bầu làm thủ tướng. Theo đó, Nhật Bản dựa vào 3 tác nhân lớn trong khu vực, là Việt Nam, Indonesia và Philippines thông qua việc cugn cấp cho họ các trang thiết bị bảo vệ bờ biển hoặc trực tiếp là các tàu tuần tra hay các máy bay hải giám.

Bên cạnh 3 tác nhân lớn này, bản thân các quốc gia ven Biển Đông cũng tham gia vào sự leo thang căng thẳng tại đây, đặc biệt vì họ lo ngại rằng nước láng giềng Trung Quốc thao túng trong lãnh thổ đương nhiên thuộc về họ. Hầu hết các nước lao vào hiện đại hóa hải quân và không quân nhằm tăng cường khả năng kiểm soát không gian biển của mình. Chẳng hạn, Việt Nam vừa trang bị một hạm đội tàu ngầm, mua từ Nga.

Nhận thức về chiến tranh

Một cuộc xung đột công khai cũng có thể nổ ra do tinh thần chiến binh của một số dân tộc. Đó là trường hợp của Việt Nam và Indonesia, người dân những nước này có ý chí chống Trung Quốc mạnh mẽ. Vả lại, các cuộc bạo động tại Việt Nam năm 2014 đã kết thúc bi thảm với cái chết của nhiều người nước ngoài. Cũng vậy, tại Philippines, dân chúng phần lớn gắn bó với Washington do những nguyên nhân thuộc về lịch sử. Ngoài ra, theo một cuộc điều tra năm 2004 của Rémi Scoccimarro, 64% người Trung Quốc được hỏi khẳng định họ không thích Nhật Bản. Ngược lại, 60% người Nhật Bản không thích Trung Quốc. Vì vậy nhận định về một cuộc xung đột hoặc những căng thẳng giữa các dân tộc khác nhau bên bờ Biển Đông là có thực và bám rễ vào ý thức của họ.

Mặc dù có sự ngờ vực lẫn nhau, đặc biệt đối với gã khổng lồ Trung Quốc, các nước thành viên ASEAN nhìn chung thực hiện một chính sách mềm dẻo hơn so với vẻ bên ngoài. Chính phủ của các nước ASEAN mắc một chứng tâm thần phân liệt nào đó trước tình hình phức tạp qua phân tích dưới đây. Vụ Benham Rise giữa Philippines và Trung Quốc cho thấy rõ quan điểm này. Thực vậy, tháng 4/2017, Trung Quốc đã đưa một tàu thăm dò vào vùng biển của Philippines, trên thềm lục địa Benham Rise. Manila bị chia rẽ giữa một tổng thống tỏ ra mềm mỏng với Bắc Kinh và người dân nước này phần lớn gắn bó với Washington và nghi ngờ các hành động của Trung Quốc gần đảo quốc này. Đây cũng là trường hợp của Jakarta, vốn dao động giữa một chính sách mềm dẻo đối với Bắc Kinh và một đường lối cứng rắn hơn dựa trên sự hiện đại hóa hải quân và không quân của nước này. Chính sách truyền thống này được biết đến hơn tại Indonesia dưới cái tên bebas-aktif. Như vậy, tất cả các quốc gia trong khu vực không có bất cứ lợi ích gì trong việc phát động một cuộc xung đột công khai, nhưng luôn thận trọng trước một Trung Quốc ngày càng hiện diện hơn trong khu vực.

Hơn nữa, để đối phó với chiến lược của Trung Quốc duy trì một ngưỡng căng thẳng để dấn thêm các quân cờ của mình. Lâm Trung Bân, Giáo sư tại Đại học Quốc phòng Đài Loan, đã vạch trần thủ đoạn của Đặng Tiểu Bình với khái niệm “Đấu tranh mà không tàn phá/hủy diệt”, nhằm dồn đối thủ vào cuối chiến hào tới giới hạn của sự chịu đựng để ngăn chặn ngay xung đột trong khi chờ đợi một cơ hội khác. Chiến lược này ra đời năm 1982, sau khi nước Mỹ dưới thời chính phủ Reagan, đã bán vũ khí cho Đài Loan, và Trung Quốc của Đặng Tiểu BÌnh phản đối mạnh mẽ việc này. Nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó đã xác định một đường lối ứng xử: “Để đấu tranh với Mỹ, chúng ta cần phải không sợ hãi. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhấn mạnh một chiến lược đó là kiên trì các nguyên tắc của chúng ta đồng thời chú ý không để cắt đứt quan hệ với đối phương”.

Tập Cận Bình có chiến lược khác, đó là tập hợp các khả năng mới của Trung Quốc về kinh tế, quân sự và ngoại giao. Vì vậy, chính phủ mới hiện nay thừa nhận quy chế mới của Trung Quốc trong khu vực như là tác nhân chủ chốt cùng với Mỹ. Chiến lược này, được nhận thấy thông qua khái niệm “các quan hệ mới giữa các siêu cường”, đề xuất thêm một hệ thống 2 cực tại châu Á giữa Bắc Kinh và Washington. Quan hệ mới này giữa các siêu cường được thiết lập trên nguyên tắc: “Hợp tác, cạnh tranh nhưng không xung đột”.

Hạ nhiệt những căng thẳng: Cuộc chiến của những con tàu sơn trắng và không gian đối thoại

Tuy nhiên, thực tế của một cuộc xung đột tại Biển Đông cần phải được hạ nhiệt. Thật vậy, toàn bộ các nước sử dụng lực lượng bảo vệ bờ biển khi căng thẳng leo thang hoặc để chặn các tàu cá nước ngoài. Các tác nhân khác nhau, bao gồm cả Trung Quốc, vẫn thận trọng đối với khả năng xung đột và việc triển khai các tàu hải giám có lẽ không thể được cho là một hành động chiến tranh. Khi xảy ra những sự cố, đụng độ hoặc để kiểm soát trên biển, các nước có xu hướng cử các con tàu sơn trắng, tức là các tàu hải giám hơn là các tàu chiến Vả lại, phần lớn các lực lượng bảo vệ bờ biển thuộc các bộ khác nhau chứ không thuộc Bộ Quốc phòng. Như trường hợp của Nhật Bản, các lực lượng này trực thuộc Bộ lãnh thổ. Các quốc gia trong khu vực vẫn cực kỳ thận trọng trước khả năng xảy ra một cuộc xung đột công khai. Vì vậy, cần phải hạ nhiệt những căng thẳng lặp đi lặp lại này dù rằng chúng đang ngày càng nhiều hơn tại Biển Đông.

Chúng ta cũng cần không nên coi sự khó khăn của việc thiết lập đối thoại với Trung Quốc như là nguồn gốc của một cuộc xung đột. Quả thực, Bắc Kinh ưa thích những giải pháp song phương với các quốc gia khác hơn, nhằm duy trì khả năng gây ảnh hưởng của mình tại các diễn đàn khu vực lớn. Tuy nhiên, Trung Quốc còn lâu mới từ chối đối thoại và cho thấy quyết tâm của họ muốn làm dịu những căng thẳng với các nước láng giềng. Chẳng hạn DOC hay còn gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, được thông qua năm 2002, mang lại khả năng giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình tại Biển Đông. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng muốn trấn an cường quốc hàng đầu thế giới là Mỹ, vốn luôn tìm cách giữ quyền bá chủ của mình trong khu vực. Bằng chứng là trong diễn văn tại Hội nghị thượng đỉnh ở Palm Spring năm 2013, ông Tập Cận Bình đã nói một cách hoa mỹ rằng Thái Bình Dương tương đối rộng chỗ cho 2 cường quốc.

Mặc dù căng thẳng gia tăng, với sự hiện đại hóa sức mạnh quân đội của mỗi nước trong khu vực và sự ngờ vực của nước này với nước kia, Biển Đông vẫn chưa phải là hiện trường của một cuộc xung đột công khai. Tuy nhiên, mức độ căng thẳng đang được duy trì bởi một Trung Quốc muốn nắm vai trò lãnh đạo khu vực và kiểm soát không gian kế cận và một nước Mỹ muốn đảm bảo tự do hàng hải trong các vùng biển ngày càng rối ren này. Vì vậy, Biển Đông và biển Hoa Đông là nơi diễn ra những căng thẳng lặp đi lặp lại.

Cuộc chiến các ranh giới trên Biển đông: Những hạn chế của luật pháp quốc tế

Ranh giới hoặc biên giới là đường phân chia 2 chủ quyền. Đây là “yếu tố quyết định quy chế hình thành điều kiện thực thi danh nghĩa lãnh thổ”. Trong luật pháp quốc tế, nó quyết định không gian chủ quyền của một quốc gia. Trung Quốc đang xét lại sự xác định này bằng sự giải thích của riêng họ về các đường ranh giới và các quyền của họ tại Biển Đông. “Biển của Trung Quốc”. Các đường lãnh hải của các quốc gia trong khu vực, cùng chia sẻ vùng biển này, bị sửa đổi đi ngược lại ý chí của họ. Để phản ứng, những quốc gia này kêu gọi áp dụng luật pháp quốc tế và tìm cách lấy lại hoặc áp đặt chủ quyền của họ. Mỹ, Nhật Bản, Liên hợp quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là trọng tài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược (Pháp)

CVĐQT – số 4/2018

Tại sao quan hệ Việt Nam – Australia quan trọng hơn bao giờ hết?


Báo chí Australia đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyến thăm Việt Nam lần này của Thủ tướng Scott Morrison. Trang tin acb.net.au ngày 22/8 đăng bài tựa đề “Chuyến thăm của Thủ tướng Morrison và lý do tại sao quan hệ Việt Nam – Australia quan trọng hơn bao giờ hết”. Trang tin 9news.com.au ngày 21/8 viết: Chuyến thăm đánh dấu động thái quan trọng trong nỗ lực tăng cường quan hệ ngoại giao song phương, trong bối ảnh căng thẳng bùng lên tại Biển Đông. Chuyến thăm của Thủ tướng Morrison – nhà lãnh đạo đầu tiên của Australia thực hiện chuyến công du song phương chính thức trong một phần tư thế kỷ qua – dự kiến sẽ cân nhắc rất nhiều về các cơ hội thương mại và kinh tế, nhưng cũng thử nghiệm các vấn đề ngoại giao và chiến lược cần chú ý. Trong khi đó, skynews.com.au, transcontinental.com.aucanberratimes.com.au đăng loạt bài bình luận về những nội dung lãnh đạo hai bên sẽ tập trung bàn thảo nhân dịp này.

Tại sao quan trọng?

Theo abc.net.au, khi đặt chân đến Việt Nam, Thủ tướng Morrison sẽ nhận thấy mình đang hiện diện ở một quốc gia phải chống chọi với chủ nghĩa bành trướng ngày càng hung hăng của Trung Quốc.

Việt Nam được biết đến như một địa điểm du lịch thoải mái, nơi du khách nước ngoài có thể thưởng thức bia hơi và một ổ bánh mì với giá chỉ vài USD. Quốc gia 95 triệu dân đang nhanh chóng thu hút sự chú ý của các thương hiệu lớn nhất thế giới. Hiện tại, Việt Nam được coi là một trong những nước hưởng lợi nhất từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung. Các công ty công nghệ như Samsung, Nokia và Olympus đã chuyển nhà máy sang Việt Nam, trong khi các “đại gia” đồ thể thao như Adidas và Nike đang tính đến việc biến Việt Nam thành một trung tâm sản xuất giá rẻ.

Thương mại hai chiều giữa Australia và Việt Nam trị giá 14,5 tỷ USD. Mặc dù vẫn tiếp tục phát triển, quan hệ thương mại song phương chưa lọt được vào top 10. Dẫu vậy, hai bên có cơ hội lớn để thúc đẩy thương mại vì Việt Nam có một tầng lớp trung lưu phát triển nhanh chóng, người dân có tiền để chi tiêu và họ tin tưởng vào các thương hiệu của Australia. Một số công ty, trong đó có ANZ, Austal và Linfox, đã hiện diện tại Việt Nam. Australia cũng đang tìm kiếm cơ hội để cung cấp khí hóa lỏng và giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tuy nhiên, chuyến thăm của Thủ tướng Morrison không chỉ tập trung vào vấn đề thương mại. Trong bối cảnh chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông liên tục bị thách thức, nhà lãnh đạo Australia được cho là sẽ bày tỏ quan ngại về các hành động gây hấn của Trung Quốc và việc Bắc Kinh quân sự hóa các đảo ở Biển Đông.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc đang vô tình đưa các đối thủ cũ xích lại gần nhau. Dù Việt Nam và Australia từng ở hai chiến tuyến và có hệ thống chính trị rất khác nhau, song hai nước có chung lợi ích khi cùng duy trì một khu vực châu Á – Thái Bình Dương hòa bình và ổn định. Do đó, Australia và Việt Nam đã củng cố mối quan hệ an ninh ngày càng chặt chẽ và tăng cường hợp tác quốc phòng. Năm 2018, quân đội Australia đã huấn luyện và giúp chuyển quân nhân Việt Nam tới Nam Sudan để thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Việt Nam đang gây dựng hình ảnh một nhà kiến tạo hòa bình khu vực (với việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều năm 2018), song các nước không nên đánh giá thấp Việt Nam.

Việt Nam đã học được cách chung sống dưới cái bóng của người hàng xóm khổng lồ. Trong lịch sử, Việt Nam từng đánh bại tới 3 trong số 5 quốc gia hiện là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Biến Việt Nam trở thành đồng minh là khó khả thi, song Australia hy vọng Việt Nam có thể trở thành “rào chắn” chế ngự tham vọng ngày càng lớn của Trung Quốc.

Không có lý do khiến Canberra không lên tiếng về vấn đề Biển Đông

Hiệp hội báo chí Australia AAP ngày 21/8 dẫn lời các chuyên gia nhận định, trong chuyến công du Việt Nam từ ngày 22/8, Thủ tướng Australia Scott Morrison sẽ bàn về vấn đề Trung Quốc hành động hung hăng và bắt nạt ở Biển Đông với giới lãnh đạo Hà Nội.

Các vấn đề ngoại giao và chiến lược trong khu vực hiện nay như vấn đề liên quan đến tàu thăm dò địa chất và tàu hộ tống của Trung Quốc đi vào Bãi Tư Chính ở Biển Đông mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền sẽ là một chủ đề nhiều khả năng ông Morrison sẽ nêu với các nhà lãnh đạo Việt Nam.

AAP dẫn lời Tiến sĩ Lê Thu Hương, nhà phân tích cấp cao của Viện Chính sách Chiến lược Australia, cho rằng chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Morrison rất có ý nghĩa và không có lý do gì mà Australia không thể nêu vấn đề này, cho dù mức độ không mạnh mẽ như tuyên bố của Mỹ.

Theo bà, có thể việc Mỹ lên án hành vi của Trung Quốc là “bắt nạt” và “cưỡng ép” trên Biển Đông chính là áp lực hối thúc Australia đưa ra tuyên bố mạnh mẽ. Điều mà Việt Nam mong đợi cộng đồng quốc tế – và Australia là một trong những quốc gia chính trong vấn đề này – là cùng lên tiếng và trực tiếp nêu các vấn đề này lên, giống như Mỹ đã nêu. Bà nói thêm: “Tất cả những tín hiệu chính trị và ngoại giao đó sẽ có ý nghĩa thật sự, ngoài các vấn đề song phương và các cuộc thảo luận về thương mại và kinh tế”.

Trả lời phỏng vấn AAP, Giáo sư danh dự của Trường Đại học New South Wales (UNSW) Carl Thayer cho rằng Australia sẽ không rập khuôn theo chính sách của Mỹ ở Biển Đông, bất cứ tuyên bố chính thức nào về Biển Đông cũng sẽ tập trung vào việc duy trì luật pháp quốc tế và kêu gọi ngừng các hành động cưỡng bức và bắt nạt, nhưng tránh nêu cụ thể tên Trung Quốc. Ông nói: “Tôi cho rằng Việt Nam sẽ rất thận trọng vì họ không muốn bị coi là một phần của liên minh chống Trung Quốc vĩnh viễn”.

Theo ông, chuyến thăm của Thủ tướng Australia diễn ra vào thời điểm Việt Nam và Trung Quốc đang có những căng thẳng leo thang tại Bãi Tư Chính. Việt Nam cũng đã tăng cường phòng vệ bằng cách đưa một tàu quân sự vào khu vực. “Quả bóng” đang trong sân nhà của Trung Quốc và Morrison sẽ đến Hà Nội trong bối cảnh trung tâm của căng thẳng. Việc Trung Quốc phô trương sức mạnh có thể nhằm mục đích đe dọa các quốc gia khác. Ông nêu câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra nếu Trung Quốc kích động một sự cố như là cách cảnh báo cả Australia và Việt Nam?”

Việt Nam sẽ là Chủ tịch ASEAN và đảm nhiệm vị trí không thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vào năm tới. Giáo sư Thayer cho rằng “Việt Nam sẽ cảm thấy hài lòng vì Australia cung cấp tư vấn và phản hồi riêng thông qua các kênh ngoại giao”.

Thúc đẩy đối tác chiến lược

Sydney Morning Herald dẫn ý kiến của Giám đốc dự án Đông Nam Á của Viện Lowy Ben Bland cho rằng tâm điểm của cuộc thảo luận giữa hai nhà lãnh đạo Việt Nam và Australia sẽ không phải là vấn đề Trung Quốc, mà là cách thức “làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa Việt nam và Australia nhằm cân bằng với sự trỗi dậy của Trung Quốc và lập trường ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh”.

Ông Bland nhấn mạnh: “Người Việt Nam muốn có nhiều đối tác quan tâm đến việc duy trì trật tự quốc tế hiện nay trong khu vực. Các đối tác này bao gồm Mỹ, Australia, EU và thậm chí cả Nga. Trung Quốc là một ẩn số. Đây không phải là một cuộc đối thoại quốc phòng. Thương mại và kinh tế là chủ đề được thảo luận công khai và cụm từ được sử dụng sẽ là (duy trì) trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc”.

Bất chấp căng thẳng với Trung Quốc, Việt Nam đã thu hút được 1,6 tỷ USD đầu tư của Trung Quốc thông qua sáng kiến “Vành đai và Con đường”. Về mặt chính trị, VIệt Nam vẫn cần “đồng minh” Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế, khi các vấn đề nhân quyền, việc duy trì án tử hình và giam giữ các blogger và nhà bất đồng chính kiến được nêu ra.

Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phòng thủ chiến lược, VIệt Nam đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược với Australia vào tháng 3/2018, nâng cấp quan hệ ngoại giao, quốc phòng và thương mại song phương. Việt Nam cũng xích lại gần hơn với Mỹ khi cho phép tàu sân bay USS Carl Vinson thăm cảng Việt Nam lần đầu tiên kể từ sau cuộc chiến với Mỹ.

Khác với nhiều quốc gia Đông Nam Á và châu Âu, Việt Nam tránh sử dụng công nghệ và thiết bị của công ty Huawei của Trung Quốc khi phát triển mạng 5G.

9news.com.au dẫn lời Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales cho rằng chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Morrison có thể mang lại cơ hội để hai nước thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược. Ông nói: “Hy vọng họ sẽ công bố kế hoạch hành động 3 năm hoặc cho thấy dấu hiệu kế hoạch này sẽ được hoàn tất”.

Giáo sư Thayer cũng kỳ vọng các nhà lãnh đạo sẽ nhất trí tiến hành các cuộc họp bên lề Hội nghị APEC và các hội nghị cấp cao khác.

Về quốc phòng, hợp tác hàng hải và an ninh mạng giữa hai nước là lĩnh vực đạt được nhiều tiến bộ.

Hợp tác gìn giữ hòa bình cũng là một lĩnh vực khác dự kiến nằm trong nội dung chương trình nghị sự hai bên, sau khi lực lượng không quân Australia giúp lực lượng không quân Việt Nam triển khai các nguồn lực tại Nam Sudan vào năm ngoái.

Giáo sư Thayer nhận định, Australia sẽ tiếp tục xem xét các yêu cầu của Việt Nam với nỗ lực mở rộng kỹ năng chiến đấu cho các sĩ quan đã được gửi tới quốc gia châu Phi đang bị tàn phá hồi đầu năm. Thủ tướng Australia sẽ đề cập tới việc thúc đẩy các cơ hội thương mại và kinh tế giữa hai quốc gia, với việc tham dự hai diễn đàn kinh doanh đầu tiên ngay sau khi ông hạ cánh tới Hà Nội.

Phát biểu tại Canberra ngày 21/8, ông Morrison nói: “Việt Nam là một trong những câu chuyện kinh tế thành công của khu vực trong thập kỷ vừa qua và phản ánh những bước đi quan trọng cần có để tự do hóa nền kinh tế đó. Mối quan hệ của chúng ta với Việt Nam chưa bao giờ mạnh mẽ hơn thế”.

Australia có quan hệ đối tác thương mại với Việt Nam, thông qua hiệp định ASEAN – Australia – New Zealand và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực 16 quốc gia (RCEP) cũng đang diễn ra. Thương mại hai chiều Australia – VIệt Nam hiện ở mức kỷ lục đạt 14,5 tỷ ADU (9,83 tỷ USD) trong năm 2018, tăng gấp đôi kể từ 2012. Giáo sư Thayer khẳng định: “Mối quan hệ thương mại đang diễn ra một cách hiệu quả”.

Dư luận quan tâm

Các chuyên gia cho rằng khu vực đang dõi theo diễn biến trong quan hệ Hà Nội – Canberra.

Theo Tiến sĩ Lê Thu Hương, các quốc gia Đông Nam Á sẽ quan sát kỹ xem liệu chiến lược “Bước lên Thái Bình Dương” của Australia có phải trả giá khi Canberra can dự vào vấn đề khu vực hay không. Bà nói: “Mọi tín hiệu chính trị và ngoại giao sẽ đều quan trọng, cũng như các vấn đề song phương và các cuộc thảo luận về thương mại, kinh tế… Tôi nghĩ rằng chuyến thăm của Thủ tướng Australia đến Việt Nam sẽ là một chuyến thăm quan trọng”.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019