Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần cuối


Đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, Trung Quốc cần ứng phó thận trọng, nhưng không cần phải đánh giá cao mối đe dọa mà chiến lược này gây ra. Liên minh 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia được coi là hòn đá tảng của chiến lược này cho dù không phải là “đồng sàng dị mộng”, cũng không phải là đồng tâm nhất trí, không thể có việc 4 quốc gia này đều có thể nhất trí trong mỗi vấn đề liên quan đến Nam Hải, càng không thể liên kết với nhau để “bóp nghẹt” Trung Quốc. Từ sự kiện va chạm Doklam vào năm 2017 đến nay, quan hệ Trung – Ấn xuống mức thấp nhất đang dần ấm lên. Năm 2018, Ấn Độ lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), quan hệ với Trung Quốc ngày càng chặt chẽ. Mặc dù quan hệ Trung – Nhật còn bị hạn chế bởi rất nhiều nhân tố phức tạp, nhưng giai đoạn hiện nay về tổng thể ổn định tốt hơn, hai nước đều căm giận cuộc tranh chấp thương mại mà Trump dấy lên. Cho dù Australia là nước tích cực nhất khởi xướng chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thường xuyên cao giọng muốn đóng vai trò tiên phong, nhưng cũng lại có giấc mộng cường quốc trung bình của mình, có nhu cầu cùng với Trung Quốc phát triển quan hệ mạnh mẽ và mang tính xây dựng. Xét cho cùng, Trung Quốc luôn là đối tác thương mại lớn nhất của Australia kể từ năm 2010 đến nay. Ngoài ra trong 10 nước thành viên của ASEAN, chỉ có Việt Nam và Indonesia thể hiện sự ủng hộ rõ ràng đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, các nước khác thì thể hiện thái độ thận trọng, không muốn lựa chọn “đứng về một bên” làm mất lòng Trung Quốc.

Quan hệ hợp tác quân sự và phòng vệ giữa Mỹ và Việt Nam thường xuyên được tăng cường. Cùng với sự thay đổi không ngừng của môi trường địa chiến lược Nam Hải và sự thường xuyên điều chỉnh chính sách của Việt Nam, Mỹ và Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi bóng đen của cuộc chiến tranh Việt Nam, quan hệ hợp tác quốc phòng và an ninh không ngừng gia tăng, quan hệ Mỹ – Việt trở thành một tổ hợp mới mang tính tiêu biểu nhất trong thời kỳ tái cân bằng sức mạnh Đông Á. Năm 2011, Mỹ và Việt Nam đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng song phương. Năm 2015, Mỹ và Việt Nam ký “Tuyên bố chung triển vọng quan hệ hợp tác quốc phòng”. Năm 2016, hai nước đã ký “Kế hoạch hành động hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018 đến 2020”. Tháng 5/2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đi thăm Việt Nam, tuyên bó xóa bỏ toàn bộ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, Việt Nam trở thành quốc gia châu Á cuối cùng mà Obama đi thăm trước khi hết nhiệm kỳ. Tháng 5/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm Mỹ, trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên trong khối ASEAN được Tổng thống Trump tiếp đón sau khi lên nắm quyền. Đầu tháng 3/2018, tàu sân bay Mỹ Carl Vinson và 2 tàu hộ vệ, 1 tàu tuần tra, 1 tàu khu trục tổ chức đã đến Đà Nẵng trong chuyến thăm 4 ngày. Đây là sự kiện mang tính cột mốc của hợp tác quân sự Mỹ – Việt, cũng là lần đầu tiên tàu sân bay Mỹ trở lại Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam năm 1975. Việt Nam mở cửa Đà Nẵng đối với tàu sân bay của Mỹ, nước đã xâm lược Việt Nam trong quá khứ. 43 năm sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, họ lại vẫy cờ chào đón tàu sân bay Mỹ. Việt Nam có thể ngả hoàn toàn sang Mỹ hay không? Mỹ và Việt Nam có thể thiết lập đồng minh quân sự mới hay không? Các cuộc thảo luận về chủ đề này rất sôi nổi. Nhưng các quốc gia ASEAN như Việt Nam ít nhất sẽ vẫn thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn và tăng cường vị trí trung tâm của ASEAN, chứ không phải là ngả sang Mỹ. Chính phủ Indonesia cũng hoan nghênh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhưng đề xuất phải xây dựng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở, hòa bình và bao dung. Các quốc gia Đông Nam Á vừa không muốn thấy sự đối đầu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, vừa kỳ vọng Trung Quốc và Mỹ sẽ đối trọng với nhau, ràng buộc lẫn nhau nhằm thúc đẩy nhu cầu lợi ích của mỗi nước ASEAN. Lựa chọn chiến lược quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ của những quốc gia Đông Nam Á trên thực tế cũng làm gia tăng tính phức tạp của cuộc đọ sức Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ.

Kết luận

Những năm gần đây, tuy Mỹ đã tăng cường can dự ngoại giao, quân sự và chiến lược ở Nam Hải, song chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump chưa hoàn toàn định hình, đang ở vào thời kỳ không ngừng quan sát và điều chỉnh. Tuy nhiên “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải không ngừng mở rộng, hoạt động trinh sát bầu trời và dưới biển có tần suất cao, việc định kỳ tập trận chung Mỹ – Nhật và việc đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều chứng tỏ chính sách Nam Hải của Mỹ ngày càng ngả sang hướng chiến lược như phô trươong sức mạnh quân sự, tăng cường hiện diện quân sự và răn đe quân sự đối với Trung Quốc… Cuộc đọ sức chiến lược ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ không có xu hướng yếu đi vì hoạt động duy trì ổn định Nam Hải chung giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngược lại, cùng với hoài nghi chiến lược của Mỹ đối với việc xây dựng đảo nhân tạo và sự hùng mạnh của lực lượng hải quân, không quân Trung Quốc không ngừng gia tăng, Trung Quốc cần duy trì sự cảnh giác cao và quan tâm nhiều đến xu hướng chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump. Tình hình Nam Hải có thể xuất hiện cục diện căng thẳng về chính trị, quân sự và chiến lược mới trong vài năm tới. Thế đọ sức ở Nam Hải hình thành giữa Trung Quốc và Mỹ cũng trở thành nhân tố khó lường lớn nhất thách thức xu hướng quan hệ quân sự và chiến lược song phương.

Mỹ không nên coi thường quyết tâm bảo vệ chủ quyền hải đảo và quyền lợi biển của Trung Quốc, đối với Trung Quốc, hàm nghĩa chiến lược của vấn đề Nam Hải có thể ngày càng vượt qua phạm trù đơn giản của việc bảo vệ chủ quyền và ổn định ở Nam Hải. Cùng với công tác quản lý Nam Hải, việc bảo vệ chủ quyền và ổn định một cách hiệu quả ở Nam Hải cũng là nhu cầu thực tế của Trung Quốc khi thúc đẩy “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Nhưng mục tiêu xây dựng chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc chỉ có thể thông qua phương thức hòa bình để thực hiện, cũng có thể thông qua phương thức hợp tác với các cường quốc biển của thế giới như Mỹ, Nhật Bản… để thực hiện. Trong tương lai lâu dài, Trung Quốc không thể thực hiện phương thức thách thức địa vị thực lực siêu cường và ưu thế đại chiến lược trên biển và trên không của Mỹ ở châu Á – Thái BÌnh Dương để hiện thực hóa giấc mơ cường quốc biển. Giới chiến lược Mỹ cần có lòng tin đối với lựa chọn chiến lược mà Trung Quốc đã có và đang thể hiện. Trung Quốc và Mỹ đều mong muốn duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Nam Hải, mong muốn tuyến đường Nam Hải có thể thông suốt và không bị cản trở.

Điều đáng tiếc là Trung Quốc và Mỹ vốn đi cùng một hướng, hợp tác cùng tiến lên, hiện nay lại dần xa rời nhau. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là cùng với việc duy trì sự kiềm chế và kiên nhẫn chiến lược với nước còn lại, nhanh chóng khởi động lại đàm phán chiến lược cấp cao giữa quân đội hai nước, đi sâu vào tiến trình xây dựng biện pháp tăng cường lòng tin ở khu vực Nam Hải giữa hai quốc gia, nắm chắc những giải pháp kiểm soát khủng hoảng, tránh xung đột quân sự mang tính sự cố, nhanh chóng nâng cấp quy tắc an ninh trên biển nhằm giảm thiểu và tránh để xung đột xuất hiện và nâng cấp. Đồng thời từng bước xây dựng cơ chế cùng giữ gìn ổn định và an ninh Nam Hải giữa hai nước. Tuy nhiên, tính phức tạp của quan hệ quốc tế là ở chiến lược và chính sách của các nước, không phải xem đối phương nói gì, mà hãy xem đối phương làm gì. Giảm bớt tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ ở Nam Hải, không phải là bày tỏ nguyện vọng, mà là ở hành động hướng về nhau. Trung Quốc và Mỹ cần nhận thức đầy đủ sức mạnh động viên của vấn đề Nam Hải trong hệ thống phát ngôn của riêng mình, duy trì kết nối chiến lược chặt chẽ và kiềm chế chiến lược, đây là điều then chốt để tránh tình hình an ninh Nam Hải tiếp tục leo thang.

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Advertisements

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần VII


Trên thực tế, Trung Quốc và Mỹ có lợi ích an ninh và chiến lược chung ở Nam Hải, Mỹ cần giảm bớt tần suất của “hoạt động tự do hàng hải”, nhanh chóng ngừng “hoạt động tự do hàng hải” mang tính khiêu khích. Đối với việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc, Mỹ cần có thái độ tích cực hơn, không nên đơn thuần nhận định rằng cơ sở phòng ngự cần thiết và hạn chế của Trung Quốc trên đảo nhân tạo chứng tỏ Trung Quốc muốn chèn ép Mỹ, độc chiếm Nam Hải. Về tranh chấp chủ quyền Nam Hải, Mỹ cũng phải có lòng tin đối với việc đàm phán và hoạt động duy trì ổn định giữa Trung Quốc và ASEAN. Hoạt động duy trì tự do qua lại trên biển vừa có lợi cho Mỹ, vừa có lợi cho Trung Quốc, vấn đề hiện nay là Trung Quốc và Mỹ có thể đầu tư nhiều nguồn lực chính trị hơn cho hợp tác và đối thoại của quân đội hai nước hay không, dùng phương thức hợp tác để bảo vệ sự lưu thông và an ninh trên biển ở Nam hải, khu vực châu Á – Thái Bình Dương và phạm vi toàn cầu. Trong vấn đề an ninh biển của Nam Hải, cũng như trong các vấn đề như tấn công cướp biển và khủng bố, bảo vệ sự thông suốt và lưu thông của tuyến đường…, Trung Quốc và Mỹ còn có không gian hợp tác, bởi vì mục tiêu của hai nước trong những lĩnh vực là hoàn toàn giống nhau. Trong vấn đề tự do qua lại trên biển Nam Hải, Mỹ luôn lôi kéo các nước lớn bên ngoài khu vực như Anh, Pháp, Australia… tham gia “hoạt động tự do hàng hải”, liên kết với hệ thống đồng minh của mình để gây sức ép với Trung Quốc ở Nam Hải, đây là nguyên nhân quan trọng nhất khiến Nam Hải hiện nay xuất hiện tình hình quân sự hóa. Năm 2018, Anh tuyên bố thiết lập 3 lãnh sự quán mới ở khu vực Thái Bình Dương. Tháng 1/2018, hải quân hoàng gia Anh đã điều động 3 tàu chiến vào Nam Hải lần đầu tiên sau 5 năm. Ngày 6/9/2018, một tàu vận tải của hải quân Anh đã công khai thực hiện “hoạt động tự do hàng hải” ở vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, thách thức chủ quyền và an ninh của Trung Quốc, gây tác động đến quan hệ Trung – Anh. Về vấn đề Đài Loan, Mỹ coi thường 3 tuyên bố chung Trung – Mỹ, không ngừng thách thức giới hạn đỏ của Trung Quốc, cố tình tạo ra bầu không khí căng thẳng ở eo biển Đài Loan. Năm 2018, cuộc tập trận “”Vành đai Thái Bình Dương” do Mỹ tổ chức đã diễn ra ở Hawaii, việc làm hoàn toàn trái ngược với lời nói, nhằm chia rẽ quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN, làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc. Hành động này chắc chắn trái ngược với mục tiêu duy trì và bảo vệ hòa bình, ổn định khu vực Nam Hải. Trong vấn đề biển, Trung Quốc và Mỹ ít nhất cũng sẽ tiếp tục đối đầu nhau trong tương lai gần.

Gần 10 năm qua, sự phát triển sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng hải quân Trung Quốc khiến cho Mỹ, Nhật Bản và một số quốc gia ASEAN lo ngại Trung quốc có thể ngày càng có hành động cứng rắn trong tranh chấp chủ quyền các đảo, cũng ngày càng lo ngại nếu Trung Quốc kiểm soát phần lớn các đảo ở Nam Hải, có thể giúp lực lượng quân sự của Trung Quốc nhanh chóng chuyển dịch xuống hướng Nam, tiến tới kiểm soát toàn bộ khu vực Nam Hải. Nếu hình thành cục diện như vậy thì không những cục diện hạm đội Mỹ vốn bá chủ vùng trời và vùng biển châu Á – Thái Bình Dương trong 74 năm qua kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc bị phá vỡ, mà còn có thể giúp Trung Quốc có năng lực quân sự kiểm soát Nam Hải, khu vực Đông Nam Á có thể bị đặt trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc. Chuyên gia nghiên cứu địa chính trị của Mỹ Robert Kaplan nêu rõ sự bành trướng mang tính chiến lược do sự phát triển sức mạnh Trung Quốc gây ra chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc coi Nam Hải là khu vực có khả năng nhất để sử dụng sức mạnh hải quân của mình. Trung Quốc tranh giành Nam Hải với Mỹ và các quốc gia ASEAN là điều khó tránh khỏi về mặt địa chính trị Đông Á, đây là khâu yếu nhất trong chuỗi lực lượng ưu thế của quân đội Mỹ trên toàn khu vực phía Tây Thái Bình Dương. Cạnh tranh sức mạnh trên biển và phát triển lực lượng quân sự trên biển đã tạo thành tiền đồn mới cho cuộc đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ, có người trong giới hoạch định chiến lược và giới học thuật Mỹ đưa ra quan điểm “Mỹ có thể đã mất Nam Hải”, liên tục có người chủ trương thực hiện hành động cứng rắn hơn, mang tính can hiệp và kiềm chế đối với Trung Quốc, thậm chí là tấn công quân sự.

Cựu tư lệnh Hạm đội 7 của Mỹ Robert Thomas cho rằng từ năm 2009 đến nay, lực lượng quân đội Mỹ đã rút lui ở khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Hoover thuộc Đại học Stanford, cựu Tư lệnh Hải quân Mỹ, Gary Roughead cũng cho rằng tại khu vực biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa, Mỹ chỉ triển khai Hạm đội 7 là không đủ, là thiếu thận trọng, không phù hợp với nhu cầu phát triển của thời đại. Khi điều trần tại Quốc hội Mỹ vào ngày 14/2/2018, cựu Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Harry Harris nêu rõ sự gia tăng nhanh chóng lực lượng quân sự Trung Quốc trong tương lai gần có thể cạnh tranh với quân đội Mỹ trong tất cả các lĩnh vực, tiến bộ then chốt của Trung Quốc biểu hiện ở hệ thống tên lửa cải thiện rõ rệt, đã nghiên cứu và chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, quy mô và thực lực của hải quân không ngừng gia tăng. Trung Quốc đã xây dựng căn cứ quân sự tại nước ngoài đầu tiên ở Djibouti… Harris khẳng định nếu Mỹ không bám sát được Trung Quốc, Bộ chỉ huy Thái Bình Dương sẽ khó cạnh tranh với Trung Quốc trên chiến trường tương lai. Tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Philip Davidson còn phóng đại nhiều hơn về mối đe dọa quân sự từ Trung Quốc, cho rằng nếu Mỹ không tiến hành chiến tranh với Trung Quốc thì Trung Quốc chắc chắn sẽ kiểm soát Nam Hải, muốn ngăn chặn Trung Quốc, chỉ có con đường duy nhất là xung đột vũ trang.

Những năm gần đây, Mỹ đang không ngừng tăng cường hiện diện quân sự và thực hiện hoạt động quân sự mang tính khiêu khích. Ngày 6/6/2018, máy bay ném bom B-52 bay qua vùng biển của Việt Nam, đây là hành động quân sự hiếm có kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay. Hiện nay, quan đội Mỹ triển khai điều chỉnh toàn diện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương theo khái niệm tập hợp linh hoạt “Thời bình phân bổ rộng khắp, thời chiến nhanh chóng tập trung”. Mỹ có kế hoạch sẽ triển khai 60% lực lượng hải quân và không quân của họ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đầu tư 37 tỷ USD để khởi công xây dựng căn cứ có quy mô lớn nhất sau Chiến tranh Lạnh, ra sức xây dựng thế trận khu vực nhiều trung tâm, nhiều điểm đoạn “địa lý phân tán hơn, tác chiến bền bỉ hơn, chính trị bền vững hơn”. Cường độ hoạt động thu thập thông tin tình báo và giám sát đối với các vùng biển của Trung Quốc, đặc biệt là ở Đông Hải (biển Hoa Đông) và Nam Hải đang không ngừng tăng lên, phạm vi và tần suất tuần tra chung và tập trận chung của quân đội Mỹ và đồng minh của Mỹ ở Nam Hải cũng không ngừng gia tăng. Những giải pháp tích cực thiết lập cơ chế bốn bên ở vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có khởi động đối thoại quan chức quốc phòng cấp cao của 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia nhằm xây dựng “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” tạo ra sự chia rẽ và đối đầu địa chính trị mới ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những ý tưởng của “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” chứng tỏ các nước như Mỹ, Nhật Bản… muốn lợi dụng tranh chấp Nam Hải và việc xây dựng lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc để lãnh đạo điều chỉnh lại lực lượng chiến lược ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm hình thành ý tưởng cơ bản của vòng vây chiến lược có mục tiêu chĩa vào Trung Quốc. Ngày 30/5/2018, tại Trân Châu cảng thuộc quần đảo Hawaii, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis chính thức tuyên bố Bộ chỉ huy Thái Bình Dương đổi tên thành Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trong bối cảnh đó, ảnh hưởng của vấn đề Nam Hải đối với tương lai quan hệ Trung – Mỹ đang tiếp tục tăng. Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã trở thành nhân tố quan trọng làm gia tăng tình hình căng thẳng quân sự ở Nam Hải, có thể gây chia rẽ thành các phe nhóm mới khác nhau về địa chính trị của khu vực Ấn Độ Dương, cạnh tranh ảnh hưởng trên biển đã trở thành động lực mới trong tổ chức lực lượng địa chiến lược.

Việc đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể coi là ví dụ điển hình cho thấy cạnh tranh ảnh hưởng trên biển đã trở thành động lực mới để tổ chức lực lượng địa chiến lược. Căn cứ vào ý tưởng ban đầu, 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia cùng xây dựng “tứ giác an ninh dân chủ”, xây dựng liên minh chiến lược giữa những quốc gia cảm thấy lo ngại sức mạnh hải quân của Trung Quốc ngày càng tăng, bảo vệ vùng biển quốc tế từ Ấn Độ Dương đến phía Tây Thái Bình Dương. Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có thể phối hợp từ xa với kế hoạch “Đại châu Á” của Nhật Bản với ý đồ nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, phối hợp với ý tưởng của Australia “coi trọng trở lại châu Á – Thái Bình Dương về an ninh” và “Chính sách hướng Đông” của Ấn Độ, hình thành thế bao vây đối với Trung Quốc. Đồng thời, việc thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã tăng thêm mức độ can dự vào Nam Hải của các nước lớn bên ngoài khu vực, thúc đẩy vấn đề Nam Hải phát triển theo hướng đa phương hóa, quốc tế hóa và phức tạp hóa, gây rắc rối lớn đối với việc Trung Quốc và các nước ASEAN cùng gánh vác trách nhiệm duy trì ổn định ở Nam Hải.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần VI


Quân đội Mỹ triển khai rất nhiều thiết bị lặn ở khu vực Nam Hải, trinh sát và giám sát hoạt động lực lượng trên biển của Trung Quốc, đã gây ra mối đe dọa to lớn đối với an ninh quốc gia Trung Quốc. Theo tin ngày 25/8/2015 của trang mạng Hải quân Trung Quốc, một ngư dân của tỉnh Hải Nam đã trục vớt được một thiết bị điện tử khả nghi ở bãi Nhất Thiên thuộc thành phố Tam Á, qua giám định của ngành an ninh quốc gia và các cơ quan kỹ thuật có uy tín của Trung Quốc, đã xác nhận đó là một thiết bị lặn không người lái có chức năng như chụp ảnh dưới nước và truyền tải sợi quang, thông tin vệ tinh… Bản tin cho biết điều này có nghĩa là thiết bị đó vừa có thể thu thập các loại số liệu về môi trường ở vùng biển quan trọng của Trung Quốc, vừa có khả năng do thám động thái hoạt động của hạm đội hải quân Trung Quốc, thực hiện nhiệm vụ trinh sát và thu thập thông tin tình báo ở khoảng cách gần.

Ngày 24/11/2016, tin của The Washington Post cho biết cùng với phương tiện không người lái trở thành bộ phận quan trọng của quân sự hiện đại, cuộc chiến tranh lớn ứng dụng phương tiện không người lái đã lan tới không gian biển, hải quân Mỹ đang nghiên cứu thiết bị lặn không người lái được triển khai với quy mô lớn dưới đáy biển. Quân đội Mỹ cho rằng thế giới đáy biển sẽ có một ngày trở thành nơi tranh chấp của quân đội các nước giống như mặt biển, bầu trời và vũ trụ. Do đó, họ phải tìm kiếm ưu thế của người đi trước trong cuộc chiến chiếm lĩnh đáy biển và chống tàu ngầm Hải quân Mỹ đã đề xuất ý tưởng triển khai thiết bị lặn không người lái và trạm dịch vụ dưới nước tương ứng ở đáy biển của 7 đại dương lớn, hình thành “mạng lưới đường cao tốc đáy biển Eisenhower”. Hải quân Mỹ có kế hoạch phóng thiết bị lặn không người lái từ tàu ngầm có người lái và tàu lặn không người lái cỡ lớn, giống như máy bay chiến đấu cất và hạ cánh ở tàu sân bay. Hiện nay, hải quân Mỹ đang thử nghiệm một số hệ thống tàu lặn không người lái làm các nhiệm vụ như vẽ bản đồ dưới đáy biển, tìm thủy tôi, tìm tàu ngầm, thậm chí phát động tấn công… Vụ nghiên cứu cấp cao thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ có kế hoạch triển khai tàu không người lái cao 15 feet (khoảng 4,6m) ở đáy biển. Một chiếc tàu không người lái có thể ẩn nấp nhiều năm dưới đáy biển, một khi tiếp nhận tín hiệu báo động, có thể nổi trên mặt nước, điều động tàu không người lái, thực hiện các nhiệm vụ như trinh sát đường bờ biển. Có thể trong tương lai, tranh chấp giữa Trung Quốc và Mỹ giống như sự kiện tàu USS Impeccable và sự kiện tàu lặn không người lái sẽ không ngừng xuất hiện.

Đồng thời, Chính quyền Trump cũng tăng cường triển khai lực lượng hải quân và không quân nhằm vào Trung Quốc ở vùng biển rộng lớn hơn tại châu Á – Thái Bình Dương. Ngoài việc tăng trưởng triển khai luân chuyển lực lượng thủy quân đánh bộ và gia tăng triển khai lực lượng không quân mới ở cảng Darwin, phía Bắc của Australia, bắt đầu từ tháng 8/2018, lực lượng thủy quân đánh bộ của hải quân Mỹ bắt đầu quay trở lại quần đảo Guadalcana ở phía Tây Nam Thái Bình Dương. Trong thời gian diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai, quân đội của Mỹ và Nhật Bản đã triển khai cuộc chiến khốc liệt ở quần đảo này. Vùng biển của quần đảo này có hàng nghìn đảo san hô, một số tuyến đường quan trọng cũng đi qua quần đảo và ở đây có nguồn cá phong phú. Quân đội Mỹ nêu rõ lực lượng quân sự Mỹ quay trở lại quần đảo này vì muốn ứng phó với sự hiện diện thương mại của Trung Quốc ở khu vực Nam Hải mở rộng và bày tỏ cam kết kiên định đối với các đồng minh của Mỹ trong khu vực.

Thách thức mới đối với quan hệ Trung – Mỹ từ cuộc đọ sức chiến lược giữa hai nước ở Nam Hải

Những năm gần đây, theo quan điểm của Mỹ, sự phát triển của lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc, hoạt động bảo vệ chủ quyền ở Nam Hải, Đông Hải (biển Hoa Đông) và phạm vi các cuộc tập trận, tuần tra không ngừng mở rộng của lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc đã đe dọa địa vị ưu thế tuyệt đối của Mỹ ở phía Tây Thái Bình Dương. Tính chất nghiêm trọng của sự va chạm ngoài ý muốn trên biển giữa Trung Quốc và Mỹ cũng không ngừng gia tăng, từ sự kiện USS Impeccable năm 2009 đến sự cố va chạm tàu Coppens năm 2013, tiếp đó là sự kiện trục vớt được thiết bị lặn không người lái ở Nam Hải vào tháng 12/2016. Khi phía Tây Thái Bình dương “ngày càng chật chội”, khả năng xảy ra xung đột trên biển giữa Trung Quốc và Mỹ đang gia tăng. Vấn đề an ninh biển trở thành chủ thể mới nhạy cảm nhất và tính đe dọa tiềm ẩn trong quan hệ quân sự và quốc phòng song phương.

Chính phủ, quân đội của Trung Quốc và Mỹ nhiều năm nay cố gắng tránh va chạm ngoài ý muốn giữa hai nước ở trên biển và trên không, cố gắng giảm mạnh, loại bỏ hoạt động nguy hiểm và va chạm không cần thiết giữa hải quân và không quân hai nước khi thực hiện nhiệm vụ trên biển và trên bầu trời ở phía Tây Thái Bình Dương. Đây là nỗ lực quan trọng để Trung Quốc và Mỹ quản lý kiểm soát tranh chấp, quản lý và kiểm soát quan hệ song phương mỏng yếu. Do đó, hai quốc gia đã ký “Bộ quy tắc tránh va chạm ngoài ý muốn trên biển” (CUES) khi đàm phán và đề xuất trong Diễn đàn hải quân phía Tây Thái Bình Dương và ký bản ghi nhớ tránh va chạm bất ngườ giữa quân đội hai nước, tăng cường quy tắc hoạt động của hải quân và kh6ong quân, tăng cường quan hệ giữa các tàu chiến trên biển. Những văn bản này nhằm tránh hành động nguy hiểm, tránh hiểu lầm và xử lý ổn thỏa các sự kiện khủng hoảng khi hai nước va chạm và xây dựng quy tắc về cơ chế liên lạc giữa các quân nhân ở tuyến đầu. Đây là tiến trình quan trọng để chính phủ và quân đội hai nước tăng cường hợp tác và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác thiết thực giữa hai quân đội. Nhưng sau khi Trump lên nắm quyền, ý đồ thù địch của Mỹ trong chính sách Nam Hải không ngừng tăng lên đã gây rắc rối nghiêm trọng cho giao lưu quân đội hai nước. Tháng 7/2018, Mỹ hủy bỏ lời mời hải quân Trung Quốc tham gia cuộc tập trận chung với nhiều nước ở vành đai Thái Bình Dương năm 2018, quan hệ quân sự Trung – Mỹ có xu hướng lạnh nhạt hơn. Xung quanh sự gia tăng căng thẳng trong cuộc đọ sức trên biển ở Nam Hải giữa hai nước, hành động này khó đáp ứng nhu cầu xây dựng và thực hiện quy tắc va chạm ngoài ý muốn trên biển ở Nam Hải và khu vực Tây Thái Bình Dương rộng lớn hơn.

Ngoài hoạt động “tự do hàng hải” có tần suất ngày càng tăng, tính chất khiêu khích quân sự ngày càng nghiêm trọng. Mỹ không ngừng tăng cường trinh sát quân sự, tàu chiến đi tuần tra, tập trận chung Mỹ – Nhật ở khu vực Nam Hải và lôi kéo các đồng minh phương Tây như Australia, Pháp, Anh… tăng cường hành động diễu võ giương oai nhằm vào Trung Quốc cũng có nguyên nhân căn bản. Hơn nữa, cùng với việc hoàn thành xây đảo nhân tạo của Trung Quốc, cũng như việc vận hành các chức năng của đảo nhân tạo, các hoạt động trinh sát và răn đe quân sự đối với các cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở Nam Hải liên tục tăng, thậm chí không loại trừ khả năng Mỹ nhanh chóng leo thang hoạt động quân sự mang tính đối đầu ở Nam Hải. Quân đội Mỹ đã nhiều lần cho biết họ muốn thực hiện hoạt động quân sự mạnh mẽ ở Nam Hải, ngăn chặn việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc và đem lại lòng tin cho các đồng minh và đối tác an ninh của Mỹ ở châu Á. Hiện nay, về mặt nhu cầu hợp tác quân sự ở Nam Hải, Trung Quốc và Mỹ đã có đột phá nhiều hơn trong hành động tránh va chạm và tránh hiểu lầm, cần nâng cao kịp thời và toàn diện biện pháp xây dựng lòng tin giữa Trung Quốc và Mỹ cũng như quân đội hai nước ở Nam Hải. Việc làm này không những giảm bớt sự hoài nghi chiến lược lẫn nhau, có thể kiềm chế hiều hơn việc xuất hiện xung đột quân sự do cuộc đọ sức chiến lược giữa hai nước ở Nam Hải. Đồng thời, Trung Quốc và Mỹ khởi động lại đối thoại và đàm phán giữa quân đội hai nước ở Nam Hải, cũng nhằm thông qua hợp tác để giảm thù địch, tăng đồng thuận chiến lược, tránh việc hoài nghi lẫn nhau về chiến lược Nam Hải có thể tiếp tục gia tăng. Điều có thể khẳng định là tình hình Nam Hải hiện nay, cộng thêm với gia tăng đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ trong vấn đề Đài Loan, đang trở thành biến số quan trọng nhất thử thách xu hướng quân sự và chiến lược song phương trong tương lai.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần V


Kể từ tháng 8/1979 đến nay, “hoạt động tự do hàng hải” của Mỹ được triển khai trên phạm vi thế giới, là biện pháp chủ yếu để Mỹ theo đuổi mục tiêu chiến lược bảo vệ tự do biển theo tiêu chuẩn của họ. Hải quân Mỹ đã thông qua các phương thức như tập trận theo kế hoạch, điều động tàu chiến “đi qua vô hại”, máy bay chiến đấu bay qua bầu trời… tại vùng biển mục tiêu nhằm thách thức “chủ trương quyền lợi biển thái quá” đối với quốc gia được Mỹ coi là mục tiêu, bảo vệ quyền tự do đi lại trên biển được quy định trong luật biển quốc tế. Mỹ là nước tự coi là “hiệp sĩ bảo vệ Luật biển quốc tế”, nhưng lại chưa ký UNCLOS. Cái gọi là “chủ trương quyền lợi biển thái quá” mà Mỹ dấy lên, chỉ căn cứ trên quan điểm của Bộ Quốc phòng và nước Mỹ trong vấn đề luật biển, bất chấp tính chất đa dạng của các nước trên thế giới thực hiện tiến trình thực tiễn trong nguyên tắc pháp lý của UNCLOS. Trong buổi họp báo với phóng viên Trung Quốc và nước ngoài vào ngày 12/5/2016, Vụ trưởng Vụ pháp chế Bộ Ngoại giao Trung Quốc Từ Hoằng nêu rõ sai lầm về mặt pháp lý khi Mỹ thực hiện “hoạt động tự do hàng hải”: Trước hết, Mỹ coi vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế… ngang hàng với vùng biển quốc tế. Thứ hai, Mỹ coi “tự do hàng hải” đồng nghĩa với tự do tuyệt đối không bị bất kỳ hạn chế nào, hoàn toàn xa rời các hạn chế về “tự do hàng hải” mà UNCLOS quy định, đồng thời cũng không hù hợp với nguyên tắc sử dụng biển một cách hòa bình, nguyên tắc hợp tác trên biển của các nước và nguyên tắc quan tâm một cách thích hợp đến quyền lợi của quốc gia khác. Ngoài ra, quy định của các quốc gia khác yêu cầu tàu chiến Mỹ trước khi tiến vào vùng biển của họ thì phải thông báo trước và phải được phép, đồng thời không hạn chế hoặc gây thiệt hại đến quyền đi qua không gây hại, điều hạn chế chỉ là “quyền đi qua không gây hại” mà Bộ Quốc phòng Mỹ áp đặt cho nước khác. Nhưng mỗi lần thực hiện “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải, Mỹ đều không thông báo trước, coi nhẹ quy định của pháp luật Trung Quốc. “Hoạt động tự do hàng hải” của Mỹ, về bản chất chỉ nhằm đảm bảo lực lượng hải quân và không quân của Mỹ không bị hạn chế, được tự do điều chuyển lực lượng và hành động.

Với sự thúc đẩy trực tiếp từ chính sách can dự quân sự tại Nam Hải của Washington, Nam Hải đã trở thành khu vực triển khai nhiều “hoạt động tự do hàng hải” của Mỹ. Bắt đầu từ tháng 10/2015, để hỗ trợ hành động đơn phương của một số quốc gia có chủ quyền công nhận phán quyết về Nam Hải của Tòa Trọng tài, khuyến khích sự đối đầu về chủ quyền và quyền lợi biển ở Nam Hải của những nước đó với Trung Quốc, Mỹ đã bắt đầu thực hiện “hoạt động tự do hàng hải” bị ngưng trệ trong 3 năm ở khu vực Nam Hải. Trong thời kỳ Obama nắm quyền, Mỹ tổng cộng đã triển khai 4 “hoạt động tự do hàng hải” nhằm vào Trung, đe dọa nghiêm trọng chủ quyền và an ninh các đảo của Trung Quốc ở Nam Hải. Sau khi Chính quyền Trump lên nắm quyền, Mỹ tiếp tục khởi động “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải vào tháng 5/2017, tần suất lại tăng lên, trong vòng hơn 1 năm tiếp theo đã triển khai tổng cộng 7 lần “hoạt động tự do hàng hải”, bình quân 2 tháng 1 lần. Không những thế, lộ trình “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải dưới thời Trump đã có bước tiến sâu vào vùng nước gần các đảo của Trung Quốc, ngày càng có tính khiêu khích và tính đe dọa hơn về quân sự.

Từ khi UNCLOS được thông qua đến nay, Trung Quốc lâu nay không có bất kỳ hành động nào, hạn chế tự do đi lại ở Nam Hải hoặc vùng biển khác. Nam Hải là tuyến đường thương mại quốc tế nhộn nhịp nhất thế giới, duy trì tuyến đường biển tự do và tuyến đường biển an toàn của khu vực Nam Hải, bản chất chính là phù hợp ở mức tối thiểu với lợi ích của Trung Quốc. Gần 70% tổng lượng hàng hóa vận chuyển ở vùng biển quốc tế đi  qua Nam Hải hàng năm là ra vào Trung Quốc. Trung Quốc coi trọng quyền tự do đi lại ở Nam Hải hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đặc biệt là từ khi Trung Quốc khởi xướng “Vành đai và Con đường” vào tháng 10/2013, thông qua Nam Hải kết nối Nam Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, là quy hoạch và ý tưởng quan trọng để xây dựng con đường tơ lụa trên biển, cũng là đảm bảo quan trọng để Trung Quốc tăng cường sự nghiệp cùng kết nối và hợp tác cùng có lợi. Ý nghĩa chiến lược để xây dựng Nam Hải trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác liên tục tăng lên đối với Trung Quốc. Duy trì tự do qua lại ở Nam Hải là mục tiêu chiến lược căn bản của Trung Quốc. Mỹ chỉ trích việc xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc là để “kiểm soát toàn bộ Nam Hải”, là chiến lược “chèn ép và bắt nạt” của Trung Quốc đối với các nước láng giềng, lấy lý do đó để kiếm cớ triển khai “hoạt động tự do hàng hải” là vô căn cứ, cũng là điều mà Trung Quốc không thể chấp nhận được.

Mỹ thực hiện liên tục và với tần suất cao “hoạt động tự do hàng hải” ở vùng Nam Hải đã tạo ra sức ép chiến lược rất lớn đối với hợp tác an ninh biển Trung – Mỹ. Mỗi lần Mỹ thực hiện “hoạt động tự do hàng hải”, xuất phát từ duy trì và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh trên biển của Trung Quốc, hải quân Trung Quốc cần phải thực hiện hành động bám sát theo tàu chiến của Mỹ. Trong tình hình tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ liên tục ra vào Nam Hải và thỉnh thoảng cóa hành động khiêu khích “tự do hàng hải”, Trung Quốc và Mỹ đã xuất hiện tình trạng tàu chiến và máy bay hai nước “gặp nhau” liên tục tại vùng biển và bầu trời Nam Hải. Do việc định nghĩa và cách lý giải của hai nước đối với hoạt động tàu chiến và máy bay của mỗi bên ở Nam Hải khác nhau nên hai bên đã thực hiện mục tiêu và tiêu chuẩn hoạt động tuần tra khác nhau. Trung Quốc và Mỹ có sự đối lập nghiêm trọng khó có thể hòa giải về mặt nhận thức giá trị và mục tiêu kỳ vọng trong hoạt động ở Nam Hải, nếu không thận trọng, rất có thể dẫn đến vụ việc mang tính sự cố ở Nam Hải. Vấn đền này không những đang thử thách các quy tắc va chạm trên biển và trên không mà hai nước đã đạt được mà còn có thể gây rối và phá hoại hợp tác trên biển cần phải có giữa quân đội hai quốc gia. Điều đáng tiếc là không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy Mỹ có thể ngừng triển khai “hoạt động tự do hàng hải” trong tương lai. Các sĩ quan Mỹ bao gồm phát ngôn viên Hạm đội Thái Bình Dương Nicole Schwegman nhiều lần công khai tuyên bố Mỹ sẽ tiếp tục triển khai “hoạt động tự do hàng hải” theo thông lệ trong tương lai. Ngoài ra, tuy về lý luận, điều thách thức “hoạt động tự do hàng hải” của Mỹ trong những năm gần đây đều có mục tiêu là các đảo và vùng nước phụ cận quanh đảo mà Trung Quốc kiểm soát trong thực tế ở vùng biển Nam Hải, chứ chưa từng có quốc gia và vùng lãnh thổ nào như Việt Nam, Philippines, Đài Loan… đưa tin và tường thuật về “hoạt động tự do hàng hải” của Mỹ ở khu vực kiểm soát thực tế của họ khi chưa được họ cho phép.

Liên quan đến “tự do hàng hải” còn có vấn đề Mỹ thông qua tàu trinh sát và thiết bị lặn để trinh sát và đo đạc một cách phi pháp ở khu vực Nam Hải. Ngay từ năm 2009, Trung Quốc và Mỹ đã xung đột về vấn đề này, đó là vụ 5 tàu Trung Quốc va chạm với tàu USS Impeccable. Ngày 8/3/2009, tàu trinh sát chống ngầm USS Impeccable tiến hành hoạt động đo đạc và thu thập thông tin tình báo bất hợp pháp ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc tại Nam Hải, bị 5 tàu của Trung Quốc phát hiện và xua đuổi. Sau đó, Mỹ cũng thừa nhận tin tức tình báo do tàu này thu thập nhằm mục đích quân sự. Chuyên gia về vũ khí hạt nhân của Ủy ban khoa học Liên hợp quốc Christensen từng phân tích nêu rõ nhiệm vụ của tàu này ở Nam Hải có thể là tìm kiếm và giám sát tàu ngầm tấn công hạt nhân lớp Thương và tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo lớp Tấn mới được triển khai tại căn cứ hải quân Tam Á ở đảo Hải Nam.

Hoạt động trinh sát của Mỹ ở khu vực Nam Hải có thể nói rất đa dạng và luôn đổi mới. Ngày 15/12/2016, tàu cứu hộ của hải quân Trung Quốc đã bắt được một thiết bị lặn không người lái của quân đội Mỹ. Ngày 16/12/2016, quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ tuyên bố địa điểm xảy ra sự kiện là “vùng biển quốc tế” nằm cách vịnh Subic 80 km về phía Tây Bắc, hoạt động của thiết bị lặn không người lái của Mỹ ở “vùng biển quốc tế” tại Nam Hải là đo đạc quân sự hợp pháp, không liên quan đến chủ quyền. Mỹ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ nghĩa vụ của luật pháp quốc tế, trả ngay lập tức thiết bị lặn không người lái. Tối 17/12/2016, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Dương Vũ Quân xác nhận tin tức tàu cứu hộ của hải quân Trung Quốc phát hiện được một “thiết bị lạ” ở vùng biển Nam Hải, để ngăn chặn thiết bị này gây ra nguy hiểm đối với an toàn hàng hải và an toàn cho nhân viên trên tàu, tàu cứu hộ của Trung Quốc đã kiểm tra nhận biết đối với thiết bị này, đó là thiết bị lặn không người lái của Mỹ. Tuy sự kiện này đã kết thúc sau khi Trung Quốc trao lại thiết bị đó cho Mỹ, nhưng thực sự là cột mốc lớn leo thang đối đầu quân sự ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần IV


Còn thực hiện như thế nào ba mục tiêu chiến lược lớn trên, thì Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ đã đưa ra 4 kiến nghị chính sách mang tính then chốt.

Thứ nhất là tăng cường sự hiện diện lực lượng quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Mấy chục năm qua, lý do để Mỹ có thể lãnh đạo cục diện an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương là vì Mỹ có năng lực huy động lực lượng chiến đấu và quyền tự do hành động trên biển mà không có quốc gia nào sánh kịp. Những năm gần đây, cùng với các quốc gia trong khu vực, tiêu biểu là Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ công nghệ quân sự, tăng cường sức mạnh chống tiếp cận/xâm nhập khu vực, ưu thế này của Mỹ không ngừng bị suy yếu. Để duy trì địa vị chủ đạo, Mỹ cần can dự quân sự nhiều hơn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Thứ hai là tăng cường thực lực quân sự của đồng minh. Mỹ muốn tiếp tục đóng vai trò số một tại khu vực này, nhưng chỉ dựa vào sức mạnh của họ thì không đủ, còn phải có “đàn em” giúp đỡ. Do đó, Mỹ cần hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và hậu cần cần thiết cho các đối tác hợp tác trong khu vực này, tăng cường sức mạnh an ninh trên biển của đối tác, nâng cao kinh nghiệm chiến đấu trong thực tế, phát triển lực lượng trên biển bền vững, nhằm ứng phó với mối đe dọa an ninh và thách thức trên biển.

Thứ ba là quản lý và kiểm soát rủi ro, chính là sử dụng ngoại giao quốc phòng, giảm bớt hiểu lầm, tránh rủi ro xung đột. Báo cáo đã đề xuất xây dựng quan hệ quân đội Mỹ – Trung “lấy mục tiêu làm nền tảng” để tìm cách tránh và kiểm soát xung đột trên biển với Trung Quốc, tăng cường các biện pháp như cơ chế an ninh Mỹ – Trung, xây dựng cơ chế an ninh đa phương…

Thứ tư là xây dựng cơ chế an ninh khu vực và thúc đẩy xây dựng pháp chế. Mỹ thông qua tích cực tham gia cơ chế an ninh khu vực, lấy ASEAN làm khung cơ bản như Diễn đàn Đông Á (EAS), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn biển ASEAN,… một mặt có thể hiểu rõ chủ trương chủ quyền và đòi hỏi lãnh thổ trên biển của các bên trong khu vực, tăng cường kết nối và hiểu biết, xây dựng lòng tin lẫn nhau; mặt khác giúp xây dựng quy tắc đa phương, cơ chế tổ hợp sức mạnh do Mỹ đóng vai trò chủ đạo, đồng thời có thể xây dựng được cơ chế đồng minh đa phương. Báo cáo đã cho thấy sinnh động “chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” được Mỹ tiếp thu khi Nhật Bản khởi xướng, thông qua cơ chế 4 nước Mỹ – Nhật Bản – Ấn Độ – Australia để tăng cường xây dựng và phát triển cơ chế phối hợp an ninh mới trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, tiến tới có thể xây dựng ý tưởng chiến lược mới của hệ thống đồng minh quân sự đa phương.

Những năm gần đây, thực lực quân sự của Trung Quốc, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng không quân và hải quân ở khu vực Nam Hải là điều ai cũng thấy rõ. Căn cứ vào “Báo cáo cân bằng sức mạnh quân sự mới nhất thế giới năm 2018” do Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế Anh công bố, trong 10 năm từ năm 2007 đến 2017, số lượng tàu khu trục phục vụ lực lượng hải quân Trung Quốc đã tăng từ 6 lên 16, số lượng tàu hộ vệ từ 2 tăng lên 27, tàu hộ vệ cỡ nhỡ từ chưa có chiếc nào lên tới 37 chiếc, trong năm 2018 hải quân Trung Quốc còn có thêm 13 tàu chiến, tổng số tàu có thể lên tới 93 chiếc. So với các quốc gia khác, về tổng tải trọng của các tàu ngầm, tàu khu trục, tàu hộ vệ và tàu hộ vệ hạng nhẹ mà hải quân Trung Quốc đóng mới trong 17 năm qua đã vượt trên tổng tải trọng của tất cả các tàu của hải quân Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại. Ngoài ra, 4 năm gần đây, tổng số tàu chiến mà Trung Quốc hạ thủy gần bằng toàn bộ số tàu của hải quân Hoàng gia Anh, đã vượt trên hải quân Pháp. Đồng thời, thực lực không quân Trung Quốc cũng nhanh chóng phát triển, từ tên lửa thông thường tầm xa đến máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, bước tiến về sức mạnh và năng lực công nghệ của không quân Trung Quốc cũng xuất sắc. Báo cáo này cho rằng máy bay tàng hình của Trung Quốc có thể được trang bị tên lửa không đối không có chất lượng ngang bằng chất lượng vũ khí của phương Tây. Từ năm 2015 đến 2016, Trung Quốc đã nghiên cứu và chế tạo tên lửa không đối không tầm ngắn PL-10 thế hệ mới. Năm 2018, Trung Quốc cũng đã trang bị loại tên lửa không đếoi không PL-15 thế hệ mới.

Mặc dù lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc có sự phát triển to lớn trong mấy năm gần đây, nhưng trật tự an ninh trên biển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương không có sự thay đổi căn bản. Mỹ vẫn là bá chủ trên biển và trên bầu trời của khu vực này. Căn cứ vào nghiên cứu của giáo sư Lục Bác Bân thuộc Đại học Boston, ở vùng biển ven bờ, tàu chiến trên mặt nước của Trung Quốc có khả năng răn đe và được hỗ trợ từ tên lửa đất đối không ven bờ cùng với máy bay chiến đấu hiện đại, có khả năng to lớn trong tác chiến chống tiếp cận/xâm nhập khu vực. Tuy nhiên, ngoài vùng biển gần bờ, hải quân Trung Quốc còn lâu mới có thể hình thành thế cân bằng với hải quân Mỹ. Hơn nữa, ở vùng biển càng xa bờ, vượt quá năng lực hỗ trợ trên không ven biển, năng lực của hải quân Trung Quốc cũng giảm mạnh. Cụ thể, máy bay, tàu khu trục, tàu ngầm và sức mạnh chống tàu ngầm của Mỹ đều ưu việt hơn nhiều so với vũ khí hiện đại của Trung Quốc, cả về số lượng lẫn chất lượng, thực lực về thông tin và tác chiến điện tử của hải quân và không quan Mỹ cũng mạnh hơn Trung Quốc, tàu mặt nước của Trung Quốc dễ dàng bị máy bay và tên lửa gắn trên tàu chiến của Mỹ tấn công, tên lửa trên tàu tuần tra của hải quân cũng dễ dàng bị kỹ thuật tác chiến điện tử của Mỹ liên tục trinh sát và định vị. Ngoài vũ khí, so với quân đội Mỹ thường xuyên được kiểm chứng từng trải trong thực tiễn chiến đấu, quân đội Trung Quốc cũng không chiếm ưu thế về trình độ huấn luyện và kinh nghiệm tác chiến.

Ngoài ra, vê mục tiêu và tôn chỉ cơ bản để xây dựng cường quốc biển Trung Quốc ngoài bảo vệ chủ quyền hải đảo và quyền lợi biển, công việc trung tâm là khoa học công nghệ biển, môi trường biển và sinh thái biển. Ngày 11/2/2018, tờ Nhân dân nhật báo của Trung Quốc đã đăng toàn bộ một chuyên đề, nhấn mạnh Trung Quốc đón nhận cơ hội lịch sử để xây dựng cường quốc biển, phải xây dựng một lực lượng trên biển tương đương với địa vị quốc tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước, tham gia các hoạt động quốc tế quan trọng như tấn công cướp biển, tiêu diệt khủng bố…, tạo ra sản phẩm công ích về an ninh biển nhiều hơn cho cộng đồng quốc tế. Đồng thời, Trung Quốc xây dựng cường quốc biển có trọng tâm là nâng cao sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền và an ninh biển, đảm bảo quyền lợi biển và an ninh biển của Trung Quốc không bị xâm phạm, điều động quân đội ra vùng biển xa xôi cũng là để khai thác và sử dụng biển tốt hơn. Trung Quốc không muốn thách thức sự hiện diện mang tính lịch sử của Mỹ về ảnh hưởng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, càng không muốn thay đổi hệ thống đồng minh đông đảo của Mỹ ở khu vực này, hoặc thay thế Mỹ để trở thành quốc gia nắm vai trò chủ đạo trên biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc mong muốn Mỹ có thể tôn trọng và thấu hiểu chủ quyền hải đảo và chủ trương về quyền lợi biển của Trung Quốc, tôn trọng lợi ích biển và sự hiện diện trên biển của nhau.

Tình hình Nam Hải và cục diện cạnh tranh chiến lược mới của quan hệ Trung – Mỹ

Từ khi Chính quyền Trump lên nắm quyền đến nay, Mỹ đã tăng cường “hoat động tự do hàng hải” ở khu vực Nam Hải, gia tăng tần xuất tàu chiến Mỹ tiến vào Nam Hải, tăng cường tập trận chung định kỳ với Nhật Bản ở vùng biển này. Tháng 11/2017, trong chuyến công du châu Á đầu tiên, Trump đã đề xuất chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Những hành động đó của Chính quyền Trump không những liên tục khiêu khích chủ quyền và an ninh của Trung Quốc, mà còn gia tăng căng thẳng quân sự trong cục diện Nam Hải. Đặc biệt là từ tháng 5/2018 đến nay, hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Nam hải đã từ một tàu chiến duy nhất phát triển thành một cặp tàu chiến đi tuần tra, từ tập trung ở quần đảo Nam Sa đã mở rộng sang quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Cộng thêm với cuộc tập trận chung trên biển hàng năm ở Nam Hải giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia… lại có sự xúi giục và hỗ trợ của các nước Mỹ, Nhật Bản…, những quốc gia như Anh, Pháp… cũng tuyên bố muốn tham gia “hoạt động tự do hàng hải” tại Nam Hải, tình trạng căng thẳng quân sự ở vùng biển này không ngừng gia tăng.

(còn tiếp)

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần III


Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và rất nhiều học giả của Trung Quốc lâu nay đã bác bỏ quyết liệt đối với những cáo buộc của của Mỹ, quan điểm chủ yếu như sau:

Thứ nhất, việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Nam Hải là công trình về cơ sở hạ tầng được tiến hành trên lãnh thổ của nước họ, hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế có liên quan. Rất nhiều học giả và báo chí nước ngoài nhiều lần nhấn mạnh xây đảo nhân tạo không thể thay đổi thuộc tính của đảo san hô, không thể căn cứ và đảo san hô được mở rộng xây dựng để đưa ra chủ trương về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà thường coi nhẹ quyền lợi cơ bản của nước ven biển xây đảo nhân tạo xuất phát từ các mục đích như cải thiện điều kiện sinh sống và làm việc của nhân viên trên đảo, phòng thủ, nghiên cứu khoa học, nghề cá, bảo vệ môi trường… Hoạt động xây dựng đảo nhân tạo trên các đảo san hô thuộc lãnh thổ Trung Quốc vừa cải thiện cuộc sống của binh sĩ sống trên đảo, vừa tạo ra sản phẩm công ích cho toàn bộ kkhu vực tiến hành nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên, nuôi dưỡng và bảo vệ nguồn cá ở khu vực Nam Hải, đồng thời cũng có lợi cho hoạt động giảm nhẹ thiên tai, cứu trợ nhân đạo… Cho dù Trung Quốc triển khai hệ thống vũ khí mang tính phòng thủ ở các đảo nhân tạo tại Nam Hải thì cũng xuất phát từ nhu cầu khách quan bảo vệ chủ quyền quốc gia, vừa là nhu cầu tất yếu, vừa là giải pháp cần thiết, hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, không chỉ riêng Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Nam Hải. Philippines và Việt Nam đã bắt đầu hoạt động xây dựng tại các đảo san hô ở Nam Hải vào những năm 1970 và 1980, họ tiến hành lấp biển xây đảo với quy mô lớn, xây dựng các cơ sở hạ tầng cố định như sân bay, thậm chí triển khai các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa… Philippines đã xây dựng các công trình như sân bay, cảng biển ở biển đảo Trung Nghiệp (đảo Thị Tứ) thuộc quần đảo Nam Sa, xây dựng các địa điểm du lịch tại các đảo san hô như đảo Trung Nghiệp, đảo Mã Hoan (đảo Vĩnh Viễn), đảo Phí Tín (Bình Nguyên), còn có ý đồ cho tàu chiếm đóng bãi Nhân Ái (bãi Cỏ Mây). Việt Nam thực hiện lấp biển xây đảo với quy mô lớn tại hơn 20 đảo san hô thuộc quần đảo Nam Sa, đồng thời đã xây dựng rất nhiều công trình kiên cố như cảng biển, đường băng, trận địa tên lửa, phòng làm việc, doanh trại quân đội, nhà nghỉ, ngọn hải đăng…, họ còn xây dựng rất nhiều nhà cao tầng và bãi đỗ máy bay trực thăng tại các đảo san hô như bãi Vạn An (bãi Tư Chính), bãi Tây Vệ (bãi Phúc Nguyên), bãi Lý Chuẩn (bãi Quế Đường), bãi Áo Nam Ám (bãi Đất)… Đương nhiên so với các nước khác, quy mô xây đảo nhân tạo của Trung Quốc lớn hơn một chút, tốc độ cũng nhanh hơn ít nhiều, nhưng những khác biệt trên thực tế đó là thể hiện sự chênh lệch về sức mạnh kinh tế. Do Mỹ đã coi nhẹ thực thế khách quan, luôn chỉ trích việc xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc là hoạt động quân sự hóa, sử dụng vũ lực và đe dọa để giải quyết tranh chấp Nam Hải, đó là thái độ thiên lệch.

Cuối cùng cũng là điều quan trọng nhất, vậy định nghĩa như thế nào là “quân sự hóa” Nam Hải? Hoạt động trinh sát quân sự, tập trận chung và tuần tra ở Nam Hải với tần suất và mật độ cao của Mỹ và đồng minh khiến Nam Hải bị quân sự hóa hay là việc Trung Quốc triển khai vũ khí mang tính phòng ngự vừa hạn chế lại vừa cần thiết đã làm cho Nam Hải bị quân sự hóa? Trong bối cảnh Trung Quốc và các nước ASEAN hiện nay tích cực thúc đẩy hợp tác cùng có lợi và tình hình Nam Hải ổn định, tần suất và quy mô hoạt động quân sự của Mỹ tại Nam Hải và vùng biển xung quanh Nam Hải không hề giảm đi mà lại tăng lên, họ thực sự muốn bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực Nam Hải hay là bá quyền tại vùng biển này Tin rằng công lý luôn nằm trong trái tim của mọi người. Trong tương lai, Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục xây dựng một cách hợp lý và hợp pháp các đảo nhân tạo ở Nam Hải, Trung Quốc không bao giờ từ bỏ xây đảo nhân tạo, từ bỏ xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết trên biển do sự đe dọa của Mỹ, ý chí bảo vệ chủ quyền quốc gia của Trung Quốc vững như bàn thạch.

Bảo vệ thế trận an ninh biển do Mỹ nắm vai trò chủ đạo là mục tiêu chiến lược quan trọng của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Mỹ lo ngại kết quả chiến lược của sự trỗi dậy Trung Quốc, nhưng về quân sự lại tập trung sức vào vấn đề Nam Hải. Phần lớn hành động này liên quan trực tiếp đến logic bá quyền mà Mỹ vẫn duy trì. Địa vị bá chủ của lực lượng quân sự Mỹ trước hết thể hiện ở việc bá chủ trên biển, nó khiến Mỹ cùng với việc sở hữu năng lực phản ứng và tấn công nhanh trên toàn thế giới, đặc biệt là ở vùng biển của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, sẽ tiếp tục duy trì địa vị không bị thách thức. Hoạt động duy trì quyền lực và xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc đã khiến Mỹ bắt đầu quan tâm đến vấn đề cạnh tranh quyền lực thế kỷ 21 giữa hai nướoc, trở thành vấn đề ưu tiên trong cuộc đọ sức của hai quốc gia trong lĩnh vực an ninh và chiến lược. Trung Quốc cần phải rất coi trọng và cảnh giác với logic địa chiến lược “quyền lực trên biển là số một” và duy trì quyền chủ đạo kiểm soát biển trong phương thức tư duy chiến lược của Mỹ.

Vào tháng 8/2015, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố văn bản chưa từng có trong lịch sử với tiêu đề “Báo cáo chiến lược an ninh trên biển ở châu Á – Thái Bình Dương” (gọi tắt là Báo cáo), phân tích chi tiết mục tiêu chiến lược cơ bản của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Nam Hải. Nội dung chủ yếu có thể khái quát thành một số điểm:

Thứ nhất là bảo vệ tự do trên biển theo tiêu chuẩn của Mỹ. Trước đây Mỹ xuất phát từ tính toán về kinh tế và an ninh, ra sức bảo vệ tự do trên biển. Vùng biển Nam Hải là bộ phận quan trọng trong tuyến đường thương mại trên biển của thế giới, nên việc Mỹ mong muốn duy trì sự thông suốt của tuyến đường này để bảo vệ lợi ích kinh tế là điều dễ hiểu. Nhưng vấn đề là ở chỗ tự do trên biển mà Mỹ đề cập đến không chỉ là tự do đi lại trên tuyến đường biển quốc tế của tàu thương mại, mà còn bao gồm tự do sử dụng hợp pháp (mà pháp luật ở đây là luật quốc tế do Mỹ định nghĩa) toàn bộ vùng biển, vùng trời của tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ, cộng thêm việc tự do can dự đối với trường hợp có thể đe dọa đến lợi ích của Mỹ. Nói cách khác, đó là không gian tự do và quyền lợi của quân đội Mỹ triển khai hoạt động quân sự ở tất cả vùng biển trên thế giới, trong đó có Nam Hải.

Thứ hai là răn đe các cuộc xung đột và hành động ép buộc mang tính áp đặt. Mỹ cho rằng sự hiện diện quân sự của họ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong hơn 70 năm qua là một thành công lớn trong việc củng cố hòa bình, ổn định và an ninh khu vực. Sự hiện diện quân sự của Mỹ thúc đẩy sự phồn vinh mạnh mẽ và tăng trưởng kinh tế trên toàn bộ khu vực này, thúc đẩy sự vận chuyển các nguồn tài nguyên thông qua tuyến đường biển của châu Á và tuyến đường thương mại này không bị cản trở. Trong thế kỷ 21, Mỹ tiếp tục duy trì ưu thế quân sự tuyệt đối của họ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đảm bảo quyền kiểm soát tuyệt đối quyền lực biển tại Nam Hải, răn đe, kiềm chế xung đột và hành động mang tính áp đặt do cường quốc khu vực này dấy lên.

Thứ ba là thúc đẩy các bên tuân thủ luật quốc tế và quy tắc quốc tế. Báo cáo cho rằng kiên trì trật tự trên cơ sở quy tắc là rất quan trọng đối với thúc đẩy hòa bình, ổn định và phồn vinh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trật tự này mang lại căn cứ để cùng sử dụng tuyến đường trên biển và vận chuyển hàng hóa, đảm bảo vận hành an ninh trong lĩnh vực biển. Nhưng quy tắc và trật tự đó phải là quy tắc và trật tự của Mỹ do Mỹ thiết lập và nắm vai trò chủ đọa, duy trì trong hệ thống đồng minh và đối tác của Washington. Một số học giả cho rằng cách ứng phó với thách thức từ Trung Quốc đối với quy tắc do Mỹ đặt ra ở khu vực Nam Hải đã trở thành “hòn đá thử vàng” về năng lực và ý chí để Mỹ duy trì địa vị lãnh đạo thế giới và thực hiện cam kết đối với các đồng minh như Nhật Bản, Philippines…

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần II


Chiến lược tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương đã đồng hành với rất nhiều lĩnh vực như ngoại giao, kinh tế, chiến lược, mong muốn để Mỹ giành nhiều lợi ích kinh tế từ khu vực này và khiến thương mại của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trở thành điểm đột phá của chiến lược chấn hưng xuất khẩu Mỹ, từ đó chủ đạo phương hướng phát triển trong tương lai của hợp tác kinh tế khu vực này. Tuy nhiên, sự phát triển lực lượng quân sự trên biển của Trung Quốc không thay đổi thực chất cán cân sức mạnh quân sự giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực Nam Hải, càng không có ý đồ chiến lược gạt Mỹ ra khỏi khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Bởi vì hoạt động duy trì quyền lực và giữ ổn định của Trung Quốc ở khu vực Nam Hải lại khiến Trung Quốc bị coi là quốc gia theo “chủ nghĩa xét lại” muốn thay đổi hiện trạng lãnh thổ bằng vũ lực, đồng thời cố ý xem thường căn cứ lịch sử và pháp lý về sở hữu chủ quyền các quần đảo ở Nam Hải của Trung Quốc. Bản thân hành động này của Mỹ đã bộc lộ chủ nghĩa bi quan chiến lược đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Cụ thể về chính sách Nam Hải, đối với vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, Mỹ là một quốc gia nằm ngoài khu vực, xuất phát từ nhu cầu chiến lược và chính trị của mình, lại chuyển hướng lôi kéo các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền Nam Hải. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ vẫn tuyên bố họ không có ý kiến riêng đối với quyền sở hữu các đảo tranh chấp ở Nam Hải, nhưng trong hoạt động thực tế, Chính quyền Obama không những thuyết phục Australia thiết lập căn cứ quân sự mới ở Darwin, xây dựng quan hệ an ninh Mỹ – Việt, bán vũ khí hiện đại cho Indonesia, nhấn mạnh trách nhiệm phòng vệ đối với Philippines, đồng thời triển khai tàu hải quân tiên tiến nhất của Mỹ ở Singapore, cộng thêm với việc họ ra sức nhấn mạnh vấn đề “tự do hàng hải” ở Nam Hải, chứng tỏ trong tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, Mỹ đã thay đổi thực chất giải pháp không đứng về bên nào, thông qua vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Nam Hải để hoàn toàn đứng về phía các nước có tuyên bố chủ quyền Nam Hải ở Đông Nam Á, tạo lý do để Mỹ gia tăng can dự quân sự.

Nguyên nhân căn bản nhất khiến Mỹ coi trọng vấn đề Nam Hải như vậy là lợi ích liên quan của họ. Giáo sư Phó Thái Lâm thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ) cho rằng Mỹ có hai lợi ích quan trọng ở Nam Hải: Quyền xâm nhập và tính ổn định. Quyền xâm nhập Nam Hải chỉ việc tàu Mỹ có thể tiến vào vùng biển Nam Hải mà không bị cản trở. Lý do quyền được tiến vào vùng biển này liên quan đến lợi ích của Mỹ bởi vì số hàng hóa mỗi năm vận chuyển qua vùng biển này lên tới trên 5000 tỷ USD, trong đó thương mại với Mỹ trên 1000 tỷ USD.

Thứ năm, Nam Hải là con đường tất yếu để tàu chiến Mỹ đi từ bờ biển phía Tây Thái Bình Dương đi sang Ấn Độ Dương và vịnh Persia, nếu quân đội Mỹ không thể tự do tiến vào vùng biển Nam Hải, chắc chắn có thể tác động nghiêm trọng đến năng lực di chuyển của lực lượng quân đội Mỹ trên toàn thế giới. Hơn nữa, tính ổn định là bản thân hòa bình và ổn định của Đông Á và khu vực Nam Hải có thể đem lại lợi ích to lớn cho Mỹ. Giáo sư Phó Thái Lâm cho rằng: “Giống như quyền tiến vào Nam Hải một cách rộng mở và không bị ngăn chặn, ổn định khu vực làm trụ cột cho sự phồn vinh của Đông Á và Mỹ, xung đột hoặc cạnh tranh an ninh quyết liệt có thể tác động đến nguồn lực ít ỏi được dùng để phát triển, mối đe dọa đến an ninh tuyến đường trên biển có thể làm giảm đầu tư và thương mại xuyên quốc gia, cho dù là khu vực Nam Hải hay là Thái Bình Dương thì cũng là như vậy.

Vụ kiện Nam Hải ở Tòa Trọng tài và trật tự trên cơ sở quy tắc

Năm 2013, Chính quyền Begino Aquino III đơn phương đưa tranh chấp có liên quan đến Nam Hải giữa Trung Quốc và Philippines ra Tòa Trọng tài. Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài tại La Hay đã ra phán quyết cuối cùng đối với vụ kiện này, Tòa đã phán quyết Philippines giành thắng lợi và phủ định “đường 9 đoạn” của Trung Quốc, còn tuyên bố Trung Quốc không có quyền sở hữu mang tính lịch sử đối với vùng biển Nam Hải. Đây là vụ kiện Nam Hải, một trong những sự kiện mang tính cột mốc trong tranh chấp chủ quyền trên biển Nam Hải trong những năm gần đây. Trong vở kịch ồn ào của vụ kiện này, Trung Quốc nhiều lần khẳng định lập trường nghiêm túc không chấp nhận, không tham gia, không thừa nhận và không chấp hành, chủ trương thông qua đàm phán song phương để giải quyết chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc là nguyên tắc cơ bản của ngoại giao Trung Quốc, không thể bị lung lay bởi phán quyết về Nam Hải của Tòa Trọng tài. Phán quyết này coi thường thực tế lịch sử và căn cứ pháp lý, đưa ra một cách hết sức vô lý và sai lầm.

Trong vụ kiện này, là quốc gia nằm ngoài khu vực Nam Hải, điều Mỹ quan tâm nhất không phải là kết quả phán quyết của Tòa Trọng tài. Vụ kiện này không những là một cuộc chiến pháp lý, mà còn là một cuộc chiến dư luận và một cuộc chiến ngoại giao cực kỳ khó khăn, là cuộc đấu tranh liên quan đến trật tự biển quốc tế mà Trung Quốc cần xây dựng như thế nào. Giới chính trị, học thuật và báo chí của phương Tây thường dựa vào tính chất thiêng liêng về trách nhiệm nước lớn và quy tắc quốc tế mà Trung Quốc cần phải có để ràng buộc Trung Quốc, thường lấy hình ảnh quốc tế mà Trung Quốc cần phải coi trọng để tấn công, buộc Trung Quốc phải chấp nhận ràng buộc của phán quyết này, mục đích là thúc đẩy xây dựng cái gọi là “trật tự trên cơ sở quy tắc”. Mặc dù Tổng thống Philippines Duterte hiện tại đã thực hiện sách lược “xa Mỹ thân Trung”, lựa chọn tạm thời gác lại kết quả phán quyết về Nam Hải của Tòa Trọng tài, song Mỹ vẫn nhắc đi nhắc lại những luận điểm cũ trong các diễn đàn quốc tế, yêu cầu Trung Quốc tuân thủ phán quyết này, cũng chính là xuất phát từ toan tính đó. Tại Đối thoại Shangri-La năm 2017, “trật tự trên cơ sở quy tắc” tiếp tục trở thành ngôn từ cốt lõi. Thủ tướng Australia Turnbull khẳng định trật tự trên cơ sở quy tắc, lấy Mỹ làm nền tảng, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nhắc lại cam kết sâu sắc và lâu dài của Mỹ về củng cố trật tự quốc tế trên cơ sở quy tắc.

Tuy quy tắc Nam Hải mà Mỹ đề cập thường nhắc đến Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), nhưng phần nhiều là trật tự quy tắc do Mỹ nắm vai trò chủ đạo, được Mỹ chấp nhận và có thể bảo vệ lợi ích của Mỹ, chủ thể vẫn là quy tắc do Mỹ thiết lập, “hoạt động tự do qua lại trên biển”. Ngoài ra, bản thân Mỹ cũng là điển hình không tuân thủ quy tắc và trật tự quốc tế. Năm 1986, Mỹ đã mở ra tiền lệ nổi tiếng phản đối quyền thụ lý vụ án của Tòa quốc tế, từ chối tuân thủ phán quyết của tòa án trong vụ Nicaragua kiện Mỹ. Thống kê cho thấy trong 60 năm Tòa Trọng tài được thành lập từ năm 1946 đến 2006, tỷ lệ phán quyết không được thực hiện đã lên tới 44%, còn tỷ lệ phán quyết cưỡng chế thực hiện chỉ có 33%, trong đó có hai vụ kiện liên quan tới Mỹ. Vì vậy, từ góc độ đó, Trung Quốc không chỉ thực hiện phán quyết không mang tính ràng buộc của Tòa Trọng tài vừa không mở ra một tiền lệ xấu, vừa không coi nhẹ luật pháp quốc tế và thách thức trật tự quốc tế. Hơn nữa, từ khi Trump lên làm tổng thống Mỹ đến nay, ông luôn khởi xướng “Nước Mỹ trước tiên” coi nhẹ quy tắc và tinh thần hiệp ước quốc tế, hành động tùy tiện rút khỏi các thỏa thuận và hiệp định của ông càng là sự giễu cợt đối với trật tự trên cơ sở quy tắc mà Washington nhấn mạnh.

Xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa Nam Hải

Xây dựng đảo nhân tạo và “quân sự hóa” cũng là một vấn đề điểm nóng của khu vực Nam Hải. Việc xây dựng đảo nhân tạo ngay từ đầu không được Mỹ quan tâm nhiều, đối với hành động lấp biển xây đảo, xây dựng sân bay của các quốc gia và vùng lãnh thổ như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Đài Loan ở quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…, Mỹ chưa bao giờ chỉ trích. Nhưng cùng với việc đi sâu xây dựng đảo nhân tạo ở quần đảo Nam Sa cảu Trung Quốc, bắt đầu từ tháng 2/2015, báo chí Mỹ đã bắt đầu tập trung đưa tin về tiến trình này, họ ngạc nhiên hô hoán về “tốc độ” và “quy mô” xây đảo nhân tạo của Trung Quốc. Từ khi Trump lên cầm quyền đến nay, Bộ Ngoại giao Mỹ nhiều lần yêu cầu Trung Quốc ngừng xây đảo nhân tạo, quân đội Mỹ luôn coi việc xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Nam Sa là hành động quân sự hóa. Tại Hội nghị Shangri-La năm 2018, Bộ trưởng James Mattis lại nhắc lại quan điểm cũ, chỉ trích hoạt động “quân sự hóa” của Trung Quốc ở Nam Hải, khẳng định Trung Quốc muốn hăm dọa và uy hiếp các nước láng giềng, hòn toàn trái ngược với chính sách cởi mở mà Trung Quốc khởi xướng.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019