Đừng quá kỳ vọng vào Indonesia trong vấn đề Biển Đông


Indonesia, nền kinh tế lớn nhất khu vực Đông Nam Á, đang có nhiều hoạt động để bảo vệ chủ quyền hàng hải tại khu vực Biển Đông có nhiều tranh chấp. Động thái này được coi là nhằm chống lại các hành động gây hấn của Trung Quốc.

Vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia cũng nằm trong phạm vi “Đường 9 đoạn” mà Trung Quốc đơn phương vạch ra. Tuy nhiên, không giống nhiều nước láng giềng, Indonesia chưa từng vướng vào những xung đột âm ỉ đang xói mòn quan hệ nội bộ các nước châu Á hiện nay. Những hành động gần đây của Jakarta cho thấy họ đang khẳng định và củng cố các cam kết bảo vệ chủ quyền trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng bành trướng trong khi vực.

Ngày 14/7 vừa qua, chính quyền của Tổng thống Joko Widodo đã đổi tên vùng biển phía Bắc EEZ nơi có trữ lượng dầu mỏ và khí đốt dồi dào, thành Biển Bắc Natura. Cùng ngày, quân đội Indonesia cũng ký một biên bản ghi nhớ với Bộ Năng lượng và Tài nguyên Khoáng sản để đảm bảo an ninh cho các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển và đất liền. Tờ Jakarta Post dẫn lời Tướng Gatot Nurmantyo khẳng định rằng các hoạt động khai thác ngoài khơi thường xuyên bị “tàu có gắn cờ nước ngoài” làm phiền. Theo CNBC, các tàu mà ông Murmantyo ám chỉ chính là tàu của Trung Quốc.

Ian storey, nhà nghiên cứu kỳ cựu tại Viện Nghiên cứu Chiến lược ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore, được CNBC dẫn lời nói: “Đây rõ ràng là hành động nhằm đảo bảo chủ quyền của Indonesia tại các vùng lân cận quần đảo Natuna khỏi sự xâm lược của Trung Quốc, mặc dù Jakarta chưa bao giờ công khai lên án quốc gia này… Hải quân Trung Quốc ngày càng lớn mạnh và hạm đội đánh cá của họ tiến sâu hơn về phía Nam để tìm kiếm nguồn cá. Bởi vậy, Jakarta ngày càng lo ngại, càng quyết tâm bảo vệ nguồn tài nguyên biển của mình”. Theo ông Storey, những thông tin về hoạt động của Indonesia được công bố ngày 14/7 chủ yếu là để trấn an các doanh nghiệp khai thác dầu mỏ và khí đốt đang hoạt động tại các vùng biển ngoài khơi.

Cũng theo CNBC, Trung Quốc có “bảng thành tích” khá dài những lẫn gây cản trở hoạt động của các nước láng giềng ở Biển Đông. Nhà nghiên cứu Collin Koh Swee Lean, hiện làm việc tại Đại học Kỹ thuật Nanyang, bình luận: “Trung Quốc cũng đã nhiều lần gây nhiễu các chiến dịch thực thi luật pháp của Indonesia”. Tuy nhiên, Trung Quốc có lẽ không phải là mối lo ngại duy nhất của Jakarta. Ông Lean nói thêm: “Bản ghi nhớ được ký ngày 14/7 vừa qua là một lời cảnh báo đối với mọi toan tính can thiệp của nước ngoài đối với hoạt động khai thác dầu mỏ và khí đốt của Indonesia, chứ không chỉ nhằm vào một mình Trung Quốc… Indonesia chia sẻ các biên giới hàng hải với nhiều quốc gia ASEAN khác… Tại biển Celebes, Indonesia cũng đang có những tranh chấp chưa giải quyết được với Malaysia về chủ quyền tại vùng Ambalat, nguyên nhân chính dẫn đến những cuộc đối đầu vào năm 2002 và 2009”.

Trang mạng của tờ Straitimes cũng nhận định việc Jakarta công bố bản đồ mới không công nhận “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc đang khiến mối quan hệ vốn không mấy bằng phẳng này tiếp tục trở nên căng thẳng. Straitimes dẫn lời nhà nghiên cứu Evan Laksmana, hiện làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, nói: “Bóng đang ở trong sân của Trung Quốc, Indonesia đã tìm cách khẳng định quan điểm của mình thông qua tấm bản đồ, dựa trên sự nhất trí về ranh giới với Singapore, Philippines và nhất là với phán quyết của Tòa trọng tài hồi tháng 7/2016”.

Chuyên gia về luật Hikmahanto Juwana, thuộc trường Đại học Indonesia, cũng đồng tình với quan điểm này và cho rằng tấm bản đồ mới mà Indonesia công bố là cách để họ khẳng định chủ quyền của mình, và nhấn mạnh rằng Indonesia không hề công nhận “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, điều cũng từng bị Tòa Trọng tài bác bỏ hồi năm ngoái. Ông Euan Graham, Giám đốc An ninh của Viện chính sách Quốc tế Lowy ở Sydney (Australia), cho rằng động thái này có giá trị biểu tượng lớn, bởi Indonesia đang khéo léo “thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài”. Ông nhấn mạnh: “Các sự kiện gần đây có thể là thông điệp gửi tới Trung Quốc rằng các nước Đông Nam Á sẽ không buông xuôi chào thua theo cách mà Trung Quốc trông đợi”.

Nhiều chuyên gia cho rằng những diễn biến gần đây có thể xem là điểm sáng trong nỗ lực kiềm chế sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Tuy nhiên, không hẳn ai cũng có cái nhìn lạc quan như vậy. Trang mạng của Viện Lowy ngày 19/7 vừa đ8ang bài viết của chuyên gia Aaron L. Connelly phân tích về ý nghĩa việc Indonesia đổi tên một vùng biển thuộc EEZ của mình. Theo ông Connelly, dù nhiều người cho rằng những động thái gần đây của Indonesia, trong đó những chuyến thăm căn cứ quân sự của Tổng thống Jokowi, hay những công bố ngày 14/7, cho thấy quốc gia này đang có cách tiếp cận cứng rắn hơn trong vấn đề Biển Đông, song “những động thái này chỉ cho thấy sự cương quyết hơn của Indonesia trên khía cạnh bảo vệ lợi ích kinh tế và chủ quyền xung quanh Natuna, chứ không hẳn là trong cả vấn đề Biển Đông và các hành vi của Trung Quốc”.

Ông cho rằng Indonesia không thực sự muốn nắm vai trò lãnh đạo khu vực bằng việc có những hành động này, bởi bản thân Tổng thống Jokowi cũng không mấy mặn mà với việc thừa kế trọng trách từ người tiền nhiệm Susilo Bambang Yudhoyono, và cũng bởi ông Jokowi hiểu được rằng việc đối đầu trực diện với Trung Quốc sẽ khiến ông khó có thể thu hút các nguồn vốn đầu tư từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đối với các dự án cơ sở hạ tầng mà ông đang thúc đẩy. Theo chuyên gia Australia, phản ứng có phần “nhẹ nhàng” của Bắc Kinh sau khi Jakarta tiết lộ tin đổi tên ở biển ở vùng Natuna, cho thấy là Trung Quốc đã thừa biết là việc làm của Indonesia chỉ có ý nghĩa hạn chế.

Theo chuyên gia Aaron L. Connelley, nhà lãnh đạo Indonesia và các cố vấn của mình tin rằng với việc lựa chọn một hướng đi riêng trong vấn đề Biển Đông, họ có thể vừa bảo vệ các lợi ích của mình, vừa tránh làm tổn hại tới triển vọng đầu tư trong nước. Cách tiếp cận này có thể bảo vệ chủ quyền và quyền hàng hải của Indonesia trong ngắn hạn, song thực tế lại không phải là một phương án hiệu quả lâu dài, nhất là khi so sánh quy mô và năng lực ngày càng phát triển của Quân đội Giải phóng Nhân dân và Lực lượng Tuần duyên Trung Quốc với thực lực các hạm đội Indonesia. Hơn thế nữa, ông Connelly nhấn mạnh cách hành xử của Jakarta cũng khó có thể ngăn chặn các hành vi hung hãn của Trung Quốc, điều dường như chưa có điểm dừng khi họ ngày càng trỗi dậy mạnh mẽ.

Ông Connelly cho rằng thay cho rằng thay vì dấn thân vào những cuộc mạo hiểm mới, Indonesia và các nước Đông Nam Á khác cần tập trung vào các biện pháp thực tế, như xây dựng một mặt trận ngoại giao mạnh mẽ để phản đối các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, nhằm đảo bảo tự do và hòa bình cho khu vực. Không chỉ vậy, các nhà quan sát quốc tế cũng không nên quá vội vã ca ngợi những thay đổi trong việc đặt tên của Indonesia là tín hiệu cho thấy sự cứng rắn và cương quyết của quốc gia này.

Nguồn: TKNB – 24/07/2017

Advertisements

Aung San Suu Kyi vẫn là niềm hi vọng tốt nhất của Myanmar – Phần cuối


Một vấn đề tồi tệ

Sự bị động của Aung San Suu Kyi trong vấn đề Rohingya, hơn bất cứ điều gì khác, đã khiến bà phải nhận sự chỉ trích từ cộng đồng quốc tế. Người Rohingya, trong nhiều thập kỷ phải chịu sự đàn áp của nhà nước ở bang Rakhine ở phía Tây Myanmar, được nhiều người cho là một trong những dân tộc thiểu số bị ngược đãi nhất trên thế giới. Trong những tháng gần đây, tình hình của họ đã và đang xấu đi: Tháng 10/2016, 9 cảnh sát bị sát hại, được cho là bởi phiến quân Rohingya. Cuộc đàn áp của quân đội diễn ra sau đó đã dẫn đến các báo cáo về giết người hàng loạt, cưỡng đoạt và những tội ác chống nhân loại khác, và hơn 70.000 người Rohingya đã chạy trốn khỏi Myanmar.

Không có quyền kiểm soát đối với các hoạt động của quân đội và dân chúng theo chủ nghĩa dân tộc một cách nhiệt thành, đặc biệt là ở Rakhine, Aung San Suu Kyi đã bị đẩy vào một tình thế chênh vênh. Bà nỗ lực nhẹ nhàng xoa dịu tất cả các bên, thừa nhận tình cảnh khốn khó của người Rohingya và những người theo đạo Phật tại địa phương trong khi cũng lên án các cuộc tấn công nhằm vào quân đội. Bà đã thành lập một ủy ban đặc biệt, do cựu Tổng thư ký Liên hợp quốc Kofi Annan chỉ đạo, để điều tra vấn đề này. Quả thật, chính quyền của bà đã hoan nghênh những đề xuất trong báo cáo tạm thời của ủy ban này bao gồm việc cải thiện sự tiếp cận của truyền thông và những nhà hoạt động nhân đạo đối với bang Rakhine, nơi mà hầu hết người Rohingya sinh sống, một con đường tiến tới quyền công dân cho người Rohingya (Myanmar hiện coi họ là người nước ngoài), và một cuộc điều tra “độc lập và công bằng” về cuộc đàn áp của quân đội. Và kể từ báo cáo đó, chính quyền của bà đã cho phép các nhân viên cứu trợ quốc tế tiếp cận khu vực này nhiều hơn. Tuy nhiên, bà đã tránh phát biểu công khai về cuộc xung đột này, tiếp tục hạn chế các chuyến thăm của truyền thông quốc tế đến bang Rakhine, và tách mình ra khỏi phái đoàn tìm kiếm sự thật do Liên hợp quốc chỉ đạo đến khu vực chịu tác động này với lý do rằng điều đó sẽ gây chia rẽ.

Các biện pháp nửa vời này đã khiến nhiều nhà quan sát bên ngoài, những người từng yêu cầu Aung San Suu Kyi dứt khoát, lên tiếng chống lại quân đội và cho phép truyền thông và các nhân viên cứu trợ nước ngoài toàn quyền tiếp cận Rakhine, tức giận. Tuy nhiên, sẽ là không khôn ngoan nếu bà lên án hoặc tách khỏi quân đội mà không có bất cứ quyền kiểm soát thực tế nào về mặt chính trị hoặc thể chế đối với họ. Myanmar chỉ mới thoát khỏi chế độ độc tài quân sự được vài năm, và một cuộc đảo chính đủ để kéo đất nước này trở lại chế độ đó. Lịch sử chính trị của Myanmar đầy những cuộc tiếp quản thù địch, và với tư cách là một nhà hoạt động dân chủ từ lâu từng chứng kiến những thành động tàn bạo trong quá khứ – bao gồm cả vụ thảm sát hàng nghìn người biểu tình chống chính phủ do nhà nước chỉ đạo vào năm 1988 – Aung San Suu Kyi hiểu được tầm quan trọng của việc duy trì ngay cả phần dân sự không hoàn chỉnh trong chính quyền.

Đây không chỉ là một sự tính toán mang tính yếm thế: Aung San Suu Kyi cần quân đội đứng về phía bà để theo đuổi những cuộc đàm phán hòa bình với các nhóm dân tộc thiểu số (bao gồm cả người Rohingya) đã xung đột với chính phủ trung ương của Myanmar trogn nhiều thập kỷ. Trong khi làm vậy, bà hy vọng khôi phục tầm nhìn của cha mình, người anh hùng của nền độc lập Aung San về một quốc gia thống nhất nhưng phân quyền, mà sẽ trao quyền tự trị cho các dân tộc thiểu số trên đất nước. Quân đội, liên tục tiến hành các cuộc giao tranh về lãnh thổ với các phiến quân ở vùng biên giới, ít nói về chính sách này. Quân đội sẽ không chỉ tiếp tục mất đi lợi nhuận mà hiện nay họ nhận được từ việc bòn rút và buôn bán các nguyên thô ở các vùng biên giới giàu tài nguyên mà còn không tin tưởng các nhóm dân tộc thiểu số về mặt chính trị, và sẽ muốn có một nhà nước tập quyền dựa trên chủ nghĩa dân tộc sắc tộc Bamar – Phật giáo. Việc tách khỏi quân đội trong vấn đề bang Rakhine sẽ có nguy cơ dập tắt các cuộc đàm phán hòa bình và cải cách hiến pháp, mà nếu đòi hỏi phải có sự hợp tác của quân đội. Tương tự như vậy, việc đưa những nhượng bộ công khai đối với người Rohingya có thể tiếp thêm sinh lực cho đa số theo chủ nghĩa dân tộc của nước này, thúc đẩy họ ủng hộ quân đội và các nhóm ủng hộ người bản xứ cứng rắn và bạo lực hơn.

Học thuyết điều tốt đẹp thứ hai

Sự thật là Chính quyền Aung San Suu Kyi đã mắc sai lầm, và thế giới không nên chấp nhận một cách mù quáng hoàn cảnh tồi tệ mà người Rohingya – và ở một mức độ ít hơn, các dân tộc thiểu số khác của Myanmar – nhận thấy họ đang ở trong đó. Nhưng các nhà quan sát cần có một cách nhìn đa sắc thái hơn. Sự lên án không ngừng trong bối cảnh tồi tệ có nguy cơ làm xói mòn sự cai trị của Aung San Suu Kyi – hy vọng lớn nhất của nước này về chế độ dân chủ trong hàng thập kỷ – nó cũng làm giảm trách nhiệm của quân đội, mà chịu phần lớn trách nhiệm về cuộc khủng hoảng nhân đạo ở bang Rakhine. Bản chất méo mó của dư luận quốc tế về chủ đề này đã được nhấn mạnh vào cuối tháng 4/2017, khi Thống tướng Min Aung Hlaing, Tổng tư lệnh quân đội Myanmar, đến thăm Áo và Đức, mà ở đó ông nhận được sự tiếp đón nồng ấm. Ngược lại, chuyến công du gần đây của Aung San Suu Kyi đến châu Âu đã vấp phải những sự phản đối.

Thay vì thúc đẩy những kỳ vọng lạc quan quá mức về hòa bình và dân chủ ở Myanmar và sau đó chỉ trích Aung San Suu Kyi vì không đạt được, các nhà bình luận quốc tế cần thừa nhận rằng nước này đang ở trong tình trạng bất ổn. Quân đội vẫn là lực lượng chi phối việc bổ nhiệm những chức vụ quan trọng, và dù sao đi nữa việc một nhà lãnh đạo có thể giải quyết sự cai trị độc đoán kéo dài hàng thập kỷ, xung đột sắc tộc, và tình trạng kém phát triển chỉ trong một năm chưa vao giờ là điều đáng tin. Đối với bất kỳ chính phủ nào có tư tưởng dân chủ ở Myanmar, cải cách sẽ là một cuộc đấu tranh liên tục.

Do đó, những người mong muốn ủng hộ công cuộc dân chủ hóa ở Myanmar cần điều chỉnh những kỳ vọng của họ. Bất chấp những sai lầm của bà, Aung San Suu Kyi cũng đã hiến dân toàn bộ cuộc đời mình cho dân chủ và các giá trị tự do, và sau 15 năm bị quản thúc tại gia vì các hoạt động tích cực của mình, bà hiểu rằng việc cải cách đất nước mình sẽ là một cuộc đấu tranh lâu dài. Và bà đang chiến đấu gần như một mình và chịu những sự kiềm chế lớn. Các tổ chức quốc tế, các nhà hoạt động, và truyền thông cần ủng hộ nỗ lực này bằng cách gây áp lực lên quân đội Myanmar khi thích hợp trong khi cố gắng tránh kích động tình hình này khi theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn phi thực tế.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/burma-myanmar/2017-05-19/aung-san-suu-kyi-still-myanmars-best-hope

TLTKĐB – 17/08/2017

Aung San Suu Kyi vẫn là niềm hi vọng tốt nhất của Myanmar – Phần đầu


Tej Parikh

Kể từ tháng 04/2016, khi biểu tượng nhân quyền quốc tế Aung San Suu Kyi trở thành nhà lãnh đạo dân chủ đầu tiên của Myanmar, các nhà hoạt động, các nhà báo và các nhà hoạch định chính sách khắp thế giới đã bày tỏ sự sửng sốt và thất vọng trước thành tích của bà. Ngoài việc nêu lên những câu hỏi về vai trò lãnh đạo của bà đối với các cải cách kinh tế và chính trị, mà bà phần lớn đã không thể thực hiện được, những người chỉ trích bà đã buộc tội bà vì làm ngơ trước những tội ác chống nhân loại do quân đội nước này thực thực chống lại dân tộc thiểu số Hồi giáo Rohingya. Đại sứ dưới thời cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, Keith Harper, đã buộc tội Aung San Suu Kyi không thể sử dụng địa vị của mình để lên tiếng chống lại những hành động tàn bạo. Những người khác đã thẳng thắn hơn – một bài báo đăng trên The Intercept vào tháng 4/2017 đã gọi bà là “người biện hộ cho tội diệt chủng chống lại người Hồi giáo”.

Những đánh giá khắc nghiệt như vậy về sự chính trực và năng lực của Aung San Suu Kyi ít liên quan đến vai trò lãnh đạo của bà và liên quan nhiều hơn đến những kỳ vọng thái quá của cộng đồng quốc tế đối với bà. Tương tự như vậy, những người chỉ trích thường quá chú trọng vai trò của những đặc điểm cá nhân của bà Aung San Suu Kyi trong khi giảm đến mức tối thiểu các nhân tố mang tính cấu trúc và tình huống ảnh hưởng đến những quyết định của bà. Đặt trong bối cảnh môi trường chính trị, lịch sử và thể chế của nước này bị hiểu sai, Aung San Suu Kyi không phải là vị cứu tinh như bà từng được cho là vậy, cũng không phải là nhân vật phản diện trong những bức tranh biếm họa hiện nay.

Một công việc khó khăn

Tháng 11/2015, đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ (NLD) của người đoạt giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi bất ngờ lên cầm quyền trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Myanmar sau những thập kỷ dưới sự cai trị của quân đội. Quả thật đó là thời khắc đáng chúc mừng. Nhưng truyền thông quốc tế, phớt lờ tiến trình lâu dài xây dựng nhà nước và dân chủ hóa vẫn còn ở phía trước, đã bán rẻ chiến thắng của NLD như hồi kết trong một câu chuyện đơn giản và lạc quan quá mức về sự tiến bộ ở Myanmar. Chẳng hạn, một bài viết đăng trên tạp chí Time vào tháng 1/2016 đã chúc mừng “bình minh của một kỷ nguyên dân chủ mới” ở Myanmar. Một đoạn video của Liên hợp quốc đã tuyên bố một cách đơn giản: “Chế độ dân chủ giành chiến thắng”.

Sau khi lên nắm quyền, Aung San Suu Kyi đã thông qua một cách tiếp cận hòa bình trước tiên. Bà đã ngay lập tức thả hàng chục tù nhân chính trị và bắt đầu theo đuổi các cuộc đàm phán ngừng bắn với vô số nhóm phiến quân sắc tộc của quốc gia này. Nhưng tiến trình hòa bình vẫn thiếu sự đối thoại có ý nghĩa, với một số cuộc xung đột thậm chí còn gay gắt hơn, trong khi những hạn chế quyền tự do ngôn luận trong kỷ nguyên quân đội cai trị vẫn còn đó. Trên mặt trận kinh tế, các biện pháp trừng phạt làm tê liệt của Mỹ đã được dỡ bỏ, và Myanmar đã thông qua một đạo luật mới về đầu tư được tạo ra nhằm mở cửa nền kinh tế của mình. Tuy nhiên, hầu như không có mấy dấu hiệu của sự phát triển thực sự ở mức độ cơ bản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm mạnh, tham nhũng vẫn lan tràn khắp nơi, và các kế hoạch cho nền kinh tế của NLD vần còn mơ hồ.

Do đó, thành tích của Aung San Suu Kyi là đáng thất vọng. Nhưng bà sẽ luôn bị cản trở bởi một số thực tế khắc nghiệt. Thứ nhất, Myanmar là một quốc gia có tình trạng bất bình đẳng trầm trọng về kinh tế, một trong các cuộc nội chiến kéo dài nhất thế giới, và những sự chia rẽ thâm căn cố đế về sắc tộc, tín ngưỡng và địa lý, với một chính quyền trung ương từ lâu đã phải chật vật để kiểm soát các khu vực dân tộc thiểu số ở vùng ngoại vi. Hơn nữa, phần lớn những sự chia rẽ trong xã hội này đều theo các đường lối về sắc tộc và tôn giáo, đi ngược lại với sự phát triển dân chủ và xây dựng hòa bình hiệu quả. Tức là ngay cả trong những hoàn cảnh tốt nhất, đất nước này cũng bị chia rẽ và khó quản lý.

Thứ hai, ngoài những chia rẽ trong xã hội, Myanmar còn có các thể chế vận hành kém và một bộ máy quan liêu kỹ năng kém và tham nhũng. Những hạn chế này khiến cho nhà lãnh đạo mới của đất nước này có thể hoạch định chính sách, chưa nói gì đến việc thực hiện những hứa hẹn của bà trong chiến dịch tranh cử là mang lại sự phát triển về mặt kinh tế cho đất nước này, một trong những nước nghèo nhất châu Á. Và để khắc phục tình trạng bất lực của Myanmar trong việc đưa ra quyết định phân quyền, vai trò chính của bà là cố vấn nhà nước – một vai trò được tạo ra xung quanh những hạn chế về hiến pháp ngăn cản bà trở thành tổng thống. Điều này vừa là gánh nặng quá sức đối với bà vừa dẫn đến những cáo buộc về sự độc đoán ngày càng tăng của bà. Sự vận hành bất thường của các thể chế đủ để giải thích cho sự trì trệ trong chính sách của NLD.

Thứ ba và quan trọng không kém, quân đội Myanmar, Tatmadaw, vẫn có quyền lực đáng kể. Hiến pháp, được dự thảo vào năm 2008, trước thời kỳ chuyển tiếp dân chủ, dành 25% số ghế trong Quốc hội cho quân đội và trao cho quân đội quyền kiểm soát các bộ phận quan trọng về nội vụ, biên giới và quốc phòng, nghĩa là các lực lượng vũ trang của Myanmar có thể hành động độc lập với nhà lãnh đạo được bầu của nước này. Trong khi đó, các cải cách về hiến pháp vẫn bị cản trở bởi yêu cầu rằng những sửa đổi được thông qua với đa số phiếu là 75% trong Quốc hội, mang lại quyền phủ quyết hiệu quả cho quân đội. Những hy vọng giảm bớt sự kiểm soát của quân đội đã bị cản trở hơn nữa vào tháng 1/2017, khi vị cố vấn của NLD được giao nhiệm vụ tạo ra một hiến pháp mới, luật sư ưu tú người Hồi giáo U Ko Ni bị bắn chết trong một tình huống đáng ngờ. Các cựu sĩ quan bị chỉ đích danh là những kẻ tình nghi trong cuộc điều tra.

Việc Aung San Suu Kyi nắm quyền – và khả năng bà theo đuổi các ưu tiên chính trị của riêng mình – là rất mong manh. Nó phụ thuộc vào khả năng của bà xoa dịu các nhóm lợi ích có quyền lực lớn ở trong nước, bao gồm quân đội, nhóm dân tộc Barmar theo đạo Phật chiếm đa số của nước này, và giới Phật tử có ảnh hưởng. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, sợ hãi Hồi giáo  và chống dân tộc thiểu số phổ biến trong cả 3 nhóm này, khiến cho bất cứ nỗ lực nào nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nhân đạo ở người Rohingya trở thành một nhiệm vụ bất ổn hơn rất nhiều so với những gì mà hầu hết những người ngoài cuộc đánh giá. Trên thực tế, những vụ bạo lực công cộng gây chết người trước đó giữa tín đồ Phật giáo và tín đồ Hồi giáo chính là do những tin đồn và sự kích động của truyền thông xã hội gây ra.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/burma-myanmar/2017-05-19/aung-san-suu-kyi-still-myanmars-best-hope

TLTKĐB – 17/08/2017

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần cuối


4/ Chạy đua vũ trang không có hiệp định hạn chế vũ trang

Tuy vào năm 1976 các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác và Tuyên ngôn Hài hòa ASEAN (Declaration of ASEAN Concord), tuyên bố dùng phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp, nhưng đối với việc xây dựng lực lượng quân sự của các nước thì nó lại giữ thái độ tự do, bởi vì lực lượng quân sự của các nước có sự khác nhau tương đối lớn, hơn nữa các loại vũ khí trang thiết bị hiện đại hóa quan trọng phần lớn lại nhập từ ngoài khu vực quan trọng (Trung Quốc và Nhật Bản) lại không phải là nước thành viên, bởi vậy ít có khả năng ASEAN ký các hiệp định hạn chế vũ trang. Chính vì vậy chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là một sự chạy đua nhằm theo đuổi cân bằng lực lượng quân sự, chỉ cần có một nước tăng cường lực lượng quân sự của nó thì sẽ có thể phá vỡ thế cân bằng lực lượng quân sự vốn có. Đặc biệt, quan hệ giữa các nước hạt nhân của ASEAN – Indonesia, Malaysia và Thái Lan -, trong tình hình không có hiệp định hạn chế vũ trang thì chúng chỉ có thể thông qua hợp tác quân sự hai bên để xây dựng tín nhiệm, nhằm ngăn ngừa chạy đua vũ trang vượt ra khỏi phạm vi hợp lý.

5/ Chạy đua vũ trang nhằm hiện đại hóa quốc phòng

Chạy đua vũ trang của ASEAN cũng nhằm hiện đại hóa nền quốc phòng vốn quá phụ thuộc vào sự bảo hộ an ninh của Mỹ, thậm chí nâng cấp nền công nghiệp quốc phòng vốn có của nó. Đặc biệt là Indonesia, Malaysia và Singapore, lợi dụng việc mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, đòi nước cung ứng đồng thời tiến hành chuyển giao (trao quyền) kỹ thuật hoặc mua linh kiện vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ấy, lấy đó là điều kiện giao dịch (trade-off). Điều quan trọng hơn là không phải các nước này chủ yếu dùng vũ khí và trang thiết bị quân sự của Mỹ, họ còn mở rộng ra các nước phương Tây khác, cho tới các nước thuộc nhóm cộng sản Liên Xô cũ. Việc Malaysia mua máy bay chiến đấu của Nga chính là bước đi tiên phong mở đường, làm cho các nguồn quân bị của ASEAN đa nguyên hóa, nắm quyền chủ đạo, lựa chọn các nước cung ứng có lợi để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng.

6/ Chạy đua vũ trang có xung đột ở cường độ thấp

Chạy đua vũ trang của ASEAN là chạy đua về vũ khí truyền thống (conventional weapons) chứ không phải về vũ khí hạt nhân, do đó tính phá hoại và tính hủy diệt của nó không đến mức quá lớn, mà hạn chế ở phạm vi “xung đột cường độ thấp” (Low intensity conflict). Hơn nữa ASEAN lại có kinh nghiệm thành công trong hợp tác về kinh tế, chính trị và ngoại giao, như Tuyên ngôn về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (Zone of Peace, Freedom and Newtrality) và Khu vực Phi Hạt nhân Đông Nam Á (Southeast Asia Nuclear weapons Free Zone) và các chiến lược an ninh khác, do đó chạy đua vũ trang giữa các nước thành viên ASEAN không đến mức gây ra xung đột quân sự nghiêm trọng. Mặt khác các nước ASEAN đều tương đối nhạy cảm với các công việc quân sự trong khu vực. Gần đây tập trận hai bên giữa các nước có tăng lên. Đó là tập trận có góp phần vào việc xây dựng các giá trị tín nhiệm. Do vậy chạy đua vũ trang tuy có thể gây ra căng thẳng trong quan hệ, nhưng không đến mức phá hoại đoàn kết của ASEAN. Trong thời gian trung và ngắn hạn, không có nhiều khả năng diễn ra đụng độ quân sự trong khu vực này.

Tính chất của chạy đua vũ trang của ASEAN không đến mức làm cho trật tự trị an ninh khu vực Đông Nam Á phải chịu tác động to lớn. Bởi vì trong khi duy trì an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN đóng vai trò hai tầng: tham gia đồng đều vào quyền lực khu vực và thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, và nó đã có đóng góp quan trọng; hơn nữa xét kỷ lục lịch sử là nó đã tồn tại gần 30 năm thì việc duy trì an ninh khu vực cũng là thành tựu cực kỳ nổi bật của nó. Quan trọng hơn là nó vẫn tiếp tục thuận theo thời kỳ sau chiến tranh lạnh mà từng bước thúc đẩy cơ chế an ninh nhiều bên, tăng cường phối hợp và giúp đỡ sự phát triển kinh tế của các nước vốn là mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực (như Việt Nam, Campuchia), mở rộng hơn nữa đồng minh, làm cho chúng trở thành đối tác, cùng giữ gìn an ninh khu vực. Đặc biệt là kế hoạch mở rộng sáu nước ASEAN thành mười nước ASEAN trong khu vực và xây dựng các loại cơ chế phi quân sự và phi quan phương nhiều bên ngoài khu vực, thu hút các nước hữu quan khác nhằm xây dựng ý thức tin cậy và nương tựa lẫn nhau, làm cho những xung đột mà ASEAN phải đương đầu có thể được hóa giải bằng phương thức đàm phán hòa bình. Hơn nữa ASEAN còn ra sức đẩy mạh đa phương hóa việc hợp tác quân sự, đưa ra đề nghị liên hợp mua vũ khí và trang thiết bị quân sự, cùng hợp tác sản xuất một phần linh kiện vũ khí và tiêu chuẩn hóa vũ khí. Trên cơ sở hợp tác quân sự hai bên đã có, dần dần tiến hành hợp tác quân sự nhiều bên. Chẳng hạn, tập trận chung giữa Mỹ và Thái Lan, vì cân nhắc đến ngân sách của Mỹ, đã kết hợp tập trận luôn với Singapore. Tương tự, tập trận giữa Mỹ và các nước ASEAN khác cũng có thể được gộp lại. Với sự giúp đỡ của Mỹ, ASEAN cũng có thể dần xây dựng quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên. Bởi vì trong báo cáo chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương có chỉ ra rằng: “Chiến lược của chúng ta (tức của Mỹ – BT) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tập trận chủ động hai bên và nhiều bên giữa quân đội Mỹ và quân đội các nước hữu nghị và các nước đồng minh”. Đương nhiên muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể thì vẫn cần một lộ trình và những thử thách cần khắc phục, cũng cần phải quan sát xem Trung Quốc có xử lý vấn đề Nam Hải bằng vũ lực quân sự hay không.

IV/ Kết luận

Thời kỳ sau chiến tranh lạnh bắt đầu, ASEAN có cảm giác không xác định và không an toàn ngày càng tăng do Mỹ rút giảm lực lượng quân sự ở châu Á – Thái Bình Dương. Nó có nhận thức mới về mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và việc nó nâng cấp lực lượng quân sự của mình cũng là biện pháp tự vệ đương nhiên. Đặc biệt, cảm giác về mối đe dọa Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quốc phòng những năm gần đây, sự suy giảm trong hoạt động phiến loạn của Hồi giáo và Cộng sản ở trong nước làm cho ASEAN cần phải nâng cấp việc hiện đại hóa quân sự quốc phòng. Hơn nữa kinh tế của các nước ASEAN cũng đang từng bước tăng trưởng nhanh chóng, các tổ hợp quân sự – công nghiệp của các nước ASEAN lại có sức ảnh hưởng và địa vị nhất định trong nền chính trị trong nước. Kinh tế tăng trưởng nhanh, lại có các nguồn của cải đầy đủ để tiến hành hiện đại hóa quốc phòng. Hơn nữa thời kỳ chiến tranh lạnh đã kết thúc, thị trường vũ khí trang thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Những điều đó làm cho ASEAN đứng trước sự thách đố là các nước thành viên của nó tích cực tiến hành chạy đua vũ trang. Nhưng do việc chạy đua vũ trang của các nước ASEAN là dựa trên thể chất của bản thân ASEAN nên có các tính chất là: không thể tránh khỏi, không có kẻ thù rõ ràng, mua vũ khí và trang thiết bị của nước ngoài, hiện đại hóa quốc phòng, xung đột cường độ thấp và không có hiệp định hạn chế vũ trang. Những tính chất đó làm cho bên cạnh xung đột vũ trang, giữa chúng cũng có quan hệ hợp tác quân sự. Đặc biệt là Mỹ vẫn có lợi ích và sức ảnh hưởng ở khu vực này. Có thể trên cơ sở kinh nghiệm thành công trước đây của ASEAN trong việc giữ gìn an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, giúp ASEAN để trong khi đương đầu với chạy đua vũ trang, nó vận dụng thành công các tổ chức an ninh nhiều bên, từ đó loại bỏ khả năng xảy ra xung đột quân sự hoặc chiến trnah, phá hoại trật tự an toàn khu vực.

Nhưng muốn làm cho ASEAN trở thành một “cộng đồng quốc phòng” đơn nhất, triển khai lực lượng quân sự tập thể, thì vẫn phải có một lộ trình và những thử thách cần khắc phục. Bởi vì khác biệt giữa các nước thành viên bên trong ASEAN là rất lớn. Cũng cần quan sát vai trò lực lượng quân sự của Trung Quốc trong khu vực này. Đặc biệt là trong việc xử lý các vấn đề ở Nam Hải, đương nhiên vấn đề Đài Loan cũng là một giác độ tốt để ASEAN quan sát lực lượng quân sự của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần IV


7/ Tăng trưởng kinh tế liên tục

Nhân tố chủ yếu nhất làm cho các nước ASEAN tích cực tiến hành mau vũ khí và trang thiết bị quân sự không có gì hơn là sự tăng trưởng kinh tế nhanh của các nước đó trong những năm gần đây. Ngoài Philippines, năm nước khác đều duy trì mức tăng trưởng kinh tế tương đối cao, có tương đối nhiều vốn để mua vũ khí và trang thiết bị quân sự. Khoản chi cho quốc phòng và ngân sách quốc phòng tăng lên, việc mua vũ khí trang thiết bị quân sự của nước ngoài cũng tăng lên. Do kinh tế tăng trưởng với tốc độ nhanh nên tỉ lệ chi phí quốc phòng và ngân sách quốc phòng trong tổ sản phẩm quốc dân giảm xuống, nhưng tổng kim ngạch ngân sách quốc phòng vẫn khá lớn. Các nhà khoa học đã phân tích và chỉ ra rằng giữa mức tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN và chi phí uốc phòng của các nước đó có quan hệ tỉ lệ thuận với nhau. Theo thống kê tư liệu của Viện Nghiên cứu chiến lược Quốc tế ở London (Anh) thì tổng sản phẩm trong nước (GDP), tỉ lệ tăng trưởng kinh tế (Rate of Economic Growth, EG), ngân sách quốc phòng (Defense Budget, BG) và chi quốc phòng (Defense Expending, EP) những năm gần đây của các nước ASEAN là như Biểu 3.

Nhờ kinh tế tăng trưởng, ASEAN tích lũy được của cải, trong khi đó thị trường bán vũ khí quốc tế lại tiêu điều. Là thị trường người mua, sẵn có kinh phí, lợi dụng thời cơ, ASEAN đã tiến hành mua vũ khí, trang thiết bị quân sự và xây dựng quân sự. Nhưng các nước ASEAN cũng không muốn ngân sách xây dựng quân sự ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mình. Họ cũng từng bước tiến hành cắt giảm ngân sách quốc phòng và tái giảm quân bị, nhưng chỉ với tiền đề là lực lượng quân sự của các nước đó đã dần dần hiện đại hóa.

III/ Tính chất và tác động của chạy đua vũ trang

Biểu 3: Thống kê tổng sản phẩm trong nước, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, ngân sách quốc phòng và chi phí quốc phòng những năm gần đây của các nước ASEAN

Nước Năm GDP (100 triệu USD) EG BG (100 triệu USD) BE (100 triệu USD)
Brunei 1993 50,0 4,0%   2,12
1994 53,0 4,0%   2,39
1995     0,48  
Malaysia 1993 644,0 8,3%   26,4
1994 699,0 8,5% 20,5  
1995     24,1  
Indonesia 1993 1447,0 6,5%   20,3
1994 1548,0 7,0% 23,2  
1995     25,7  
Singapore 1993 543,9 2,1%   7,49
1994 638,8 4,3% 8,75  
1995     10,04  
Thái Lan 1993 1220,0 7,8%   31,2
  1994 1324,0 8,5% 36,2  
  1995     40,0  

Nguồn: The International Institute for Strategic Studies, the Military Balance 1995 – 1996 (London: Oxford University Press, 1995), pp 174-195.

Duy trì an ninh khu vực, về mặt chính trị, ngoại giao và kinh tế, các nước ASEAN đều có thể xúc tiến lợi ích của các nước thành viên, nhưng về mặt quân sự thì lại tiến hành với phương thức chạy đua vũ trang. Điều đó tác động như thế nào tới an ninh khu vực? Tính chất chạy đua vũ trang của ASEAN không giống với của châu Âu, làm cho một số học giả không thừa nhận có hiện tượng chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tính chất việc chạy đua của ASEAN có thể quy thành mấy đặc điểm sau:

1/ Chạy đua vũ trang không thể tránh khỏi

Vừa mới thành lập, ASEAN đã kiên trì lập trường loại trừ việc trở thành một liên minh quân sự, cũng loại trừ các quan hệ hợp tác quân sự theo liên minh quân sự nhiều bên, nhưng cho phép các thành viên kết thành liên minh quân sự theo phương thức hợp tác quân sự song phương với các nước trong và ngoài khu vực, nhưng duy trì tính co giãn và tính lựa chọn. Thứ quan hệ hợp tác quân sự hai bên như vậy có tác dụng quan trọng đối với chính trị và an ninh của toàn ASEAN, góp phần vào việc tạo ra sự tín nhiệm lẫn nhau. Đặc biệt trong tập trận, chủ yếu là dùng không quân và hải quân, như vậy sẽ tránh được sự nghi kị của đối phương. Nhưng đối với các kiến nghị hợp tác quân sự nhiều bên, nó vẫn giữ thái độ cự tuyệt. Indonesia, Malaysia và Singapore đều có các quan hệ hợp tác quân sự hai bên với nhau, vì vậy kiến nghị thành lập Ủy ban Hợp tác Quân sự ba nước (Three Country Military Cooperation Committee) hoặc Ủy ban Hợp tác Quốc phòng (Defense Cooperation Committee) đã gây ra tranh cãi nên phải chuyển sang tiến hành theo phương thức phi chính thức. Ngay cả mối quan hệ hợp tác quân sự nhiều bên lớn nhất – Hiệp định Hợp tác Quân sự Năm nước (Five power Defense Arrangement) – cũng là sự hợp tác giữa Singapore và Malaysia với các nước ngoài khu vực là Anh, New Zealand và Australia; Indonesia thậm chí coi hiệp định này là nhằm vào mình. Có thể thấy, hình thành một liên minh quân sự đơn nhất bên trong ASEAN là điều không thể được. Đặc biệt, việc tranh chấp lãnh thổ và nghi kị giữa các thành viên bên trong nó đã làm cho các nước ASEAN tiến hành chạy đua vũ trang nhằm tự vệ.

2/ Chạy đua vũ trang không có kẻ thù rõ rệt

Đúng như đã trình bày ở trên, có thể hiểu “kẻ thù” tiềm tàng của ASEAN cũng là “đồng minh” quan trọng (như Mỹ, Nhật Bản Trung Quốc) để nó duy trì an ninh khu vực; còn một số “đồng minh” bên trong của nó lại là “kẻ thù” tiềm tàng của nó (như Malaysia và Singapore, Thái Lan, Philippines và Malaysia). Điều này làm cho việc chạy đua vũ trang của ASEAN không có sự đe dọa của một kẻ thù rõ ràng nhưng khắp nơi lại đều có sự đe dọa của kẻ thù. ASEAN lo ngại vì chiến tranh lạnh kết thúc mà an ninh khu vực, sự cân bằng và ổn định quyền lực vốn có bị phá vỡ, do đó cần phải chuẩn bị chiến tranh trước, đặc biệt là cần phải hiện đại hóa vũ khi và thiết bị quân sự vốn dùng để đối phó với lật đổ bên trong, biến thành vũ khí và thiết bị quân sự (như trang bị hải quân và không quân) dùng để đối phó với chiến tranh xâm phạm lãnh thổ. Hơn nữa, kết thành liên minh quân sự cũng chẳng ích gì cho việc ngăn chặn các mối đe dọa, lại có thể gây ra bạo loạn vì yêu sách dân tộc và sự đối kháng của các cường quốc khác (Trung Quốc và Việt Nma). Do vậy mà có hiện tượng các nước ASEAN tự tiến hành mua vũ khí, thậm chí Malaysia và Singapore còn cạnh tranh lẫn nhau trong việc này. Điều đó nói lên rằng “kẻ thù giả định” trong chạy đua vũ trang của ASEAN vừa là kẻ thù vừa là đồng minh của nó, “kẻ thù” hoàn toàn không rõ ràng.

3/ Chạy đua vũ trang chủ yếu bằng cách mua của nước ngoài

Cùng với tăng trưởng kinh tế từng bước và thuận theo thời cơ của thị trường bán vũ khí quốc tế, ASEAN đã mua ào ạt thiết bị và kỹ thuật quân sự hiện đại để bổ sung vào chỗ thiếu hụt và hạn chế trong năng lực công nghiệp quốc phòng trong nước. Vũ khí trang thiết bị quân sự mà ASEAN mua phần nhiều là vũ khí tiên tiến hiện đại hiện nay (như chiến xa chủ lực T-69 và M60A1; máy bay chiến đấu F-16, Mirage-2000, FXA-18, MiG-29; đạn pháo AIM-9). Đặc biệt là Indonesia với Bộ trưởng Habibie đóng vai trò chủ đạo đã mua hàng loạt vũ khí và kỹ thuật của Nga, Đức, nâng cấp công nghiệp quốc phòng Indonesia. Bởi vậy gia tăng mua từ nước ngoài là con đường ngắn vừa nhanh vừa rẻ để nâng cấp lực lượng quân sự quốc phòng. Ngoài ra lại có thể cải thiện quan hệ ban đầu với các nước Cộng sản (như Nga và Trung Quốc), bởi vì chạy đua vũ trang giữa các nước ASEAN chủ yếu là mua của nước ngoài.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần III


3/ Sự suy giảm hoạt động của chủ nghĩa phục hưng Hồi giáo (Islamic Revivalism) và hoạt động gây rối của đảng Cộng sản ở trong nước

Các nước ASEAN đều có một dân số Hồi giáo nhất định, đặc biệt là dân số Hồi giáo ở Indonesia, Malaysia, Brunei còn chiếm đa số, Thái Lan cũng có 5%, Philippines có 10%, Singapore có 17%. Tín đồ Hồi giáo có sức ảnh hưởng vượt trên tỉ lệ dân số của nó ở ASEAN. Đặc biệt là tổ chức phiến loạn Hồi giáo “mặt trận giải phóng dân tộc Moro” (Moro National Liberation Front) ở miền Nam Philippines luôn dùng lực lượng vũ trang thách thức sự thống trị của chính phủ, đòi độc lập; các tín đồ Hồi giáo dũng mãnh (Shia militants) của Thái Lan cũng chống lại chính sách đồng hóa của chính phủ, cuối cùng chính phủ đã phải đồng ý dựng đền Hồi giáo ở miền Nam để tránh xung đột. Từ những năm 1970 các tín đồ Hồi giáo trong khu vực ASEAN càng có ý đồ xây dựng “hiệp hội các nước Hồi giáo” (Muslim Commonwealth). Đứng trước sự đe dọa nền an ninh trong nước, đặc biệt là yêu sách lập nước hoặc khối tự trị độc lập bắt nguồn từ cuồng nhiệt tôn giáo, ngoài việc đàm phán, tăng cường lực lượng quân sự cũng là biện pháp không thể thiếu. Đặc biệt Philippines đã tăng cường mua vũ khí và trang thiết bị quân sự nhằm đối kháng bằng vũ lực với lực lượng phiến loạn Hồi giáo.

Hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản trong các nước ASEAN từ những năm 1960 đã bắt đầu khá mạnh, đặc biệt là ở Indonesia và Malaysia, tạo ra trở ngại rất lớn cho quan hệ giữa các nước ASEAN và Trung Quốc, bởi vì Trung Quốc đứng đằng sau ủng hộ và chỉ đạo lực lượng này. Hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản được chi viện của Trung Quốc về lực lượng quân sự. Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore đều từng phải đương đầu với sự thách thức của các cuộc bạo loạn vũ trang của đảng Cộng sản. Bởi vậy nâng cấp lực lượng quân sự là góp phần khống chế hoạt động phiến loạn ở trong nước.

Nhưng cùng với sự kết thúc của chiến tranh lạnh, hòa đàm được dùng thay thế cho đối kháng. Đặc biệt là trong sự giao thiệp giữa ASEAN và Trung Quốc, Trung Quốc càng cố gắng trút cái gánh nặng lịch sử trước đây, tức là gánh nặng ủng hộ các hoạt động phiến loạn của đảng Cộng sản. Điều đó làm cho hoạt động phiến loạn bên trong các nước ASEAN suy giảm đi, cũng là cho lực lượng vũ trang vốn chủ yếu là chống chiến tranh lật đổ của các nước đó chuyển thành lực lượng vũ trang hiện đại hóa nhằm phối hợp ngăn chặn chiến tranh xâm phạm lãnh thổ và giữ gìn an ninh khu vực. Điều đó cũng làm cho các nước ASEAN tăng lượng mua vũ khí và thiết bị quân sự hiện đại của nước ngoài.

4/ Ảnh hưởng của tổ hợp quân sự – công nghiệp (militaray – industrial complex)

Trong số các nước ASEAN, trừ Brunei không có công nghiệp quốc phòng, còn lại năm nước đều tích cực tiến hành công nghiệp hóa quốc phòng, đặc biệt là Singapore và Indonesia càng đi đầu so với các nước kia. Indonesia chủ yếu có các ngành sản xuất quốc phòng như hàng không vũ trụ, đóng tàu, vũ khí cỡ nhỏ và thuốc nổ… Đặc biệt là máy bay tầm vừa và máy bay lên thẳng của công nghiệp hàng không vũ trụ là khá nổi tiếng trên thị trường quốc tế. Ở Singapore, chủ yếu là các công ty do nhà nước khống chế cổ phần đảm đương các ngành sản xuất công nghiệp quốc phòng, chủ yếu sản xuất các loại vũ khí hạng nhẹ, sản xuất và sửa chữa các linh kiện và phụ kiện tàu và máy bay cỡ nhỏ. Philippines, Thái Lan và Malaysia thì mới có những mầm mống, cũng sản xuất các loại vũ khí cỡ nhỏ, máy bay lên thẳng, tàu thuyền. Tiến hành sản xuất công nghiệp quốc phòng, ngoài mục đích kinh tế, chủ yếu các nước ASEAN nhằm mục đích chính trị: tự cung tự cấp, giảm bớt độ phụ thuộc vào nước ngoài. Bởi vậy các nhà doanh nghiệp trong công nghiệp quốc phòng phần lớn là các nhân vật chính trị có quyền thế lớn mạnh, như Bộ trưởng Nghiên cứu và Kỹ thuật Indonesia B.J. Habibie và Gah Keng Swee, là nhân vật then chốt của công nghiệp quốc phòng nước này. Năm 1992 Habibie đã từng đóng vai trò chủ chốt trong việc Indonesia mua vũ khí và trang thiết bị hải quân của Đông Đức. Ông ta nắm thực quyền mua vũ khí, làm cho phái quân đội khá lúng túng.

Việc quân sự hóa (militarization) ở các nước ASEAN đã là hiện tượng lịch sử nhiều năm. Quân đội có sức ảnh hưởng nhất định trong nền chính trị đối nội ở các nước này. Thậm chí sự phát triển an ninh và ổn định của những nước này cũng có quan hệ quan trọng với giới quân sự đặc biệt là Thái Lan, Myanmar, Indonesia và Philippines. Giới quân sự Thái Lan hiện nay vẫn can thiệp vào các quyết sách ngoại giao, các quan chức quân sự cao cấp cũng có người là giám đốc các xí nghiệp quốc doanh; giới quân sự Indonesia là cơ sở của sự ổn định chính trị ở nước này. Địa vị chuyên nghiệp của quân nhân trong các công việc an ninh quốc gia lại được cộng thêm với ảnh hưởng chính trị của họ. Trong số 270 nghị viên do Nhà Vua chỉ định trong thượng nghị viện Thái Lan thì phần lớn là các quân nhân tại ngũ và dự bị, họ có quyền phủ quyết nhất định đối với các nghị quyết của Hạ nghị viện dân cử, làm cho họ có nguồn phân phối khá lớn trong ngân sách nhà nước.

Bởi vậy, do quân nhân có sức ảnh hưởng trong chính phủ và quốc hội, họ lại liên kết với giới doanh nghiệp trong ngành công nghiệp quốc phòng trong nước và phối hợp với sự biến đổi của môi trường quốc tế bên ngoài, để tiến hành việc xây dựng quân sự và mua vũ khí trang thiết bị quân sự, làm cho việc mua vũ khí trang thiết bị quân sự ở các nước ASEAN thu hút sự chú ý và có hiện tượng chạy đua.

5/ Mối đe dọa, nghi kị và tranh chấp trong khu vực

Tuy tháng 9/1989 Việt Nam rút quân khỏi Campuchia nhưng lực lượng quân sự lớn mạnh của Việt Nam vẫn là mối lo ngại của các nước ASEAN. Họ sợ Việt Nam đe dọa tới an ninh của khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt Thái Lan coi Việt Nam là mối đe dọa an ninh chủ yếu của nó. Hơn nữa Việt Nam vẫn là nước Cộng sản lớn mạnh trong khu vực, hệ tư tưởng của nó hoàn toàn khác với hệ tư tưởng của các nước ASEAN, mà ASEAN trước nay lại dùng hệ tư tưởng chống cộng. Dù rằng năm 1992 Việt Nam đã ký Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác (Treaty of Amity and Cooperation) năm 1976 với ASEAN, tuyên bố sẽ giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình, và trong cùng năm đã trở thành quan sát viên của ASEAN, nhưng các nước vẫn có cảm giá về sự đe dọa không xác định của Việt Nam. Do vậy, ngoài việc từng bước đưa Việt Nam vào cơ chế an ninh khu vực, các nước ASEAN cũng không thể không “làm cho mình có cái gì đó để chống lại”.

Giữa các nước ASEAN lâu nay vẫn có sự tranh chấp về chủ quyền quản lý lãnh thổ và hải phận, đặc biệt, vùng biển kinh tế 200 hải lý (200 mile Exclusive Economic Zone) gây tranh chấp càng lớn hơn. Các vụ tranh chấp khác như giữa Malaysia và Philippines đối với Sabah; Malaysia và Singapore đối với Pedra Branca. Malaysia và Brunei đối với Limbang; Malaysia và Thái Lan cũng có tranh chấp về biên giới lãnh thổ. Tại Vịnh Thái Lan cũng có tranh chấp. Thái Lan và Philippines thậm chí nghi ngờ hoạt động gây rối của Hồi giáo ở miền Nam là do Mayalaysia ủng hộ. Đại sứ Indonesia tại Malaysia nói Singapore nôn nóng phát triển quan hệ mật thiết với Indonesia là cần chống lại Malaysia. Quan chức Malaysia cũng nói Singapore là “con sói đội lốt dê”. Những vụ tranh chấp lãnh thổ này cùng với những nghi kỵ lẫn nhau xuất hiện liên tục không dứt càng cho thấy vấn đề Nam Hải liên quan đến các nước Philippines, Malaysia, Brunei. Các nước tăng cường lực lượng quân sự quốc phòng của mình nhằm quán triệt chủ trương về lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Do vậy để tìm cách tự vệ, khi các nước khác thực hiện trước việc tăng cường năng lực quân sự thì các nước ASEAN cũng đua nhau tiến hành chạy đua vũ trang.

6/ Thị trường vũ khí và trang thiết bị quân sự quốc tế cung lớn hơn cầu

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, đối kháng Mỹ – Xô dịu đi, giao dịch về vũ khí và trang thiết bị quân sự quốc tế co giảm đi rất nhiều. Các hợp đồng bán vũ khí trước đây buộc phải thủ tiêu hoặc co giảm. Để tìm cách sống còn, giới doanh nghiệp quốc phòng của hai nước Mỹ – Xô phải mở rộng thị trường ở nước ngoài. Đặc biệt Nga càng hi vọng bằng việc bán vũ khí mà có được nguồn vốn cần thiết cho cải cách kinh tế. Bộ trưởng Quốc phòng Nga Pavel Grachev hi vọng năm 94 mức bán vũ khí sẽ tăng 40% và coi châu Á là khu vực ưu tiên để tích cực khai thác. Malaysia bỏ ra 550 triệu USD để mua 18 máy bay chiến đấu MiG-29. Do chiến tranh lạnh kết thúc, phần lớn các nước châu Á không còn phải sợ các nước phương Tây trả đũa, họ đã phát triển quan hệ chặt chẽ với Nga, đặc biệt là trong việc mua phương tiện quân sự của Nga, phá vỡ thị trường mua bán vũ khí của các nước ASEAN do Mỹ chi phối trước đây. Ngoài Nga, các nước Anh, Pháp, Đức cũng tích cực bán vũ khí cho các nước ASEAN, nhờ vậy các nước ASEAN có thể có được vũ khí và kỹ thuật quân sự trình độ cao với giá tương đối thấp, nâng cấp lực lượng quân sự quốc phòng của mình. Vì vậy ASEAN thích lợi dụng thời cơ này để mua vũ khí và thiết bị quân sự với giá rẻ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23

Chạy đua vũ trang của ASEAN và an ninh khu vực trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh – Phần II


Vả chăng thời kỳ chiến tranh lạnh kết thúc, thị trường vũ khí và thiết bị quân sự thế giới cung lớn hơn cầu, là thị trường người mua. Tất cả những nhân tố đó đã tạo thuận lợi cho các nước ASEAN tiến hành chạy đua vũ trang. Dù có kiến nghị biến ASEAN thành liên minh quân sự “cộng đồng quốc phòng” (defence community) cũng không thể nào ngăn chặn được xu thế chạy đua vũ trang đó. Việc chạy đua vũ trang cũng thể hiện những tính chất đặc biệt. Dưới đây trình bày mối quan hệ giữa những điều nói trên với việc thúc đẩy chạy đua vũ trang.

1/ Sự biến đổi chiến lược của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Các nước ASEAN coi Mỹ là một đồng minh nguy hiểm nhưng cần thiết (a risky but necessary alliance) – đó là một tâm trạng vừa trông đợi lại vừa sợ bị tổn thất. Tháng 5/1989 tổng thống Mỹ George Bush đưa ra chiến lược đối với Liên Xô là “bước ra ngoài tường vây” (move beyond containment), muốn chuyển từ việc ngăn chặn giản đơn trước kia đối với chủ nghĩa bành trướng của Liên Xô sang việc làm cho Liên Xô dung hợp vào trong cộng đồng quốc tế, hoan nghênh Liên Xô lại quay về với thời đại mới của trật tự thế giới và hợp tác quốc tế. Trong cuộc chiến tranh quốc tế thứ nhất ở thời kỳ sau chiến tranh lạnh – chiến tranh vùng Vịnh, tổng thống Bush đã công bố trước hội nghị liên tịch của Quốc hội Mỹ bài Tiến tới một trật tự thế giới mới (Toward a New World Order) nói về chiến tranh vùng Vịnh; tại Đại Hội đồng Liên hợp quốc, Bush đã công bố diễn từ tỏ ý muốn thiết lập một liên minh bầu bạn mới vượt ra ngoài khuôn khổ của chiến tranh lạnh, một thứ quan hệ bạn bè dựa trên thương lượng, hợp tác và hành động tập thể, thống nhất theo nguyên tắc và pháp trị, trong đó quan hệ dựa trên việc san sẻ một cách công bằng trách nhiệm và nghĩ vụ; mục đích của nó là thiết lập quan hệ bạn bè nhằm tăng cường dân chủ, thúc đẩy phồn vinh, đẩy tới hòa bình và cắt giảm vũ trang.

Với bối cảnh là quan điểm “trật tự thế giới mới” của Mỹ, khu vực châu Á – Thái Bình Dương cũng mong muốn dùng các biện pháp ngoại giao và quân sự để xây dựng nên “một trật tự khu vực mới” (A New Regional Order), mà theo đó thì nước Mỹ vẫn đóng vai trò quan trọng ở khu vực này, nhưg Mỹ không còn là người bảo vệ khu vực Đông Nam Á, Mỹ hy vọng giao thiệp với ASEAN theo quan điểm “dính líu” (engagement), để cho ASEAN đóng vai trò dẫn đầu (Let ASEAN take the lead!) và chia sẻ trách nhiệm ở khu vực này, đặc biệt là trong việc xử lý quan hệ với Trung Quốc. Đúng như cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu từng nói: “Nếu không có Mỹ thì giữa Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á khác khó hoặc không thể có sự cân bằng chiến lược”; “Nếu không có Mỹ, chúng ta sẽ có một sự cân bằng vô cùng lỏng lẻo tại Đông Á, điều đó bất lợi cho an ninh (khu vực)”. Trong Báo cáo về chiến lược của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương (United States Security Strategy for the East Asia – Pacific Region) công bố hồi tháng 2/1995 Bộ Quốc phòng Mỹ đã chỉ ra rằng lợi ích của Mỹ tại châu Á là hòa bình và an nình, thông thương mậu dịch, tự do vận tải và ngăn chặn sự trỗi dậy của bất kỳ quyền lực hay liên minh chúa tể nào. Ổn định và phồn vinh của khu vực Thái Bình Dương có liên quan mật thiết đến lợi ích của Mỹ, Mỹ cần liên tục sử dụng chiến lược “dính líu” và “khuếch trương” (enlargement) để xử lý. “Dính líu” là chỉ việc Mỹ hợp tác và giúp đỡ các đồng minh của mình hiện đại hóa và tăng cường tình hữu nghị lẫn nhau; “khuếch trương” là vượt qua phạm vi đồng minh truyền thống, đưa cả những “kẻ thù” trước đây (Nga, Trung Quốc, Việt Nam) vào cơ chế an ninh đối thoại nhiều bên. Tuy Mỹ vẫn giữ lại một lực lượng quân sự cần thiết để góp phần vào an ninh khu vực, nhưng đã cắt giảm nhiều lực lượng quân sự và chuyển thành “dính líu về quốc phòng” (defence engagement), tức là cử đại biểu lực lượng quân sự đồn trú, cho các nhân viên quân sự cấp cao thăm viếng lẫn nhau, mở các cuộc đối thoại và hội nghị quân sự, giáo dục và đào tạo, thăm hỏi lẫn nhau giữa các hải cảng để hỗ trợ và phối hợp với hiện đại hóa quân sự của các nước ASEAN và biểu đạt sự chấp nhận của Mỹ đối với an ninh khu vực Đông Nam Á. Bởi vì Mỹ cũng biết rằng các nước ASEAN cần lực lượng quân sự Mỹ để đối kháng với các cường quốc khác (như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản,…). Đương nhiên để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ cũng phải làm như vậy.

2/ Tác động của việc hiện đại hóa quốc phòng của Trung Quốc và của việc tăng cường quốc phòng của Nhật Bản

Đối với lãnh tụ của các nước ASEAN, Trung Quốc vừa là đồng minh vừa là kẻ thù. Hội nghị toàn thể III BCHTW khóa 11 ĐCS Trung Quốc năm 1978 đã xác định phương hướng cải cách, kiên trì bốn hiện đại hóa, trong đó hiện đại hóa quốc phòng là bộ phận quan trọng, cũng là bảo đảm đáng tin cậy của việc thực hiện bốn hiện đại hóa này. Qua hơn 10 năm nỗ lực, lực lượng quân sự quốc phòng của Trung Quốc đã có bước tiến bộ dài. Đặc biệt, sự phát triển quan hệ quân sự giữa Trung Quốc và Nga (Liên Xô cũ) cũng có ảnh hưởng to lớn tới an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc mua của Nga máy bay chiến đấu SU-27, MiG-31, máy bay oanh kích tầm vừa TU-22, hệ thống kiểm soát dự báo phòng không IL-76 và máy bay lên thẳng không kích tiến công, máy bay chiến đấu hải quân Yak-141 VSTOL, chiến xa chủ lực T-72M2, máy bay vận tải Varyag, đạn pháo không đối đất và đất đối đất; và dự định mua của Nga và Ukraine hàng không mẫu hạm và kí nhiều kế hoạch hợp tác quân sự. Những việc trên tuy trong một thời gian ngắn chưa gây ra sự đe dọa lập tức và rõ rệt đối với an ninh khu vực, nhưng các nước ASEAN lại lo ngại Trung Quốc sẽ dùng lực lượng quân sự hiện đại hóa của mình vào việc tranh chấp các đảo ở Hải Nam.

Tuy có học giả cho rằng việc hiện đại hóa quốc phòng của Trung Quốc là nhằm đổi mới và nâng cấp lực lượng quốc phòng vốn đã không đủ của Trung Quốc, ngoài việc có thể tạo ra chạy đua vũ trang ở khu vực, nó tuyệt nhiên không phá vỡ cân bằng lực lượng, cũng không dùng vũ lực để tranh chấp ở Hải Nam. Nhưng trong thực tế, “học thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc” đã ảnh hưởng rộng rãi tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương, dù rằng Trung Quốc không ngớt đề xướng “năm nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình” hay các quan chức cấp cao như Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Tiền Kì Tham không ngừng biểu thị rằng Trung Quốc sẽ mãi mãi là lực lượng tích cực của hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương; sẽ không tìm kiếm bá quyền ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc cố thuyết phục quốc tế và các nước trong khu vực về điều trên nhưng không ít học giả cho rằng Trung Quốc có ý trở thành một nước cường quyền ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Thượng tướng hải quân, Tư lệnh khu vực Thái Bình Dương của Mỹ là Richard C. Macke nói rằng các nước châu Á và phương Tây cần phải tiếp nhận một thực tế là Trung Quốc sẽ phát triển một hải quân hiện đại mạnh để bảo vệ lực lượng và lợi ích của nó ở nước ngoài, việc Trung Quốc tăng cường xây dựng quân sự là kết quả không thể tránh khỏi của sự tăng trưởng nhanh kinh tế của nó. Đứng trước lực lượng quân sự hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử của Trung Cộng, ngoài việc hợp tác về kinh tế, khoa học – kỹ thuật và văn hóa, thậm chí cả các cuộc hội nghị và đi thăm lẫn nhau của các quan chức quân sự, các nước ASEAN còn có nhiều tổ chức đối thoại hai bên hoặc nhiều bên về an ninh, chẳng hạn như “Diễn đàn khu vực ASEAN”, cho tới các “tổ chức phi chính phủ” (Non-Gorvernmental Organizations) như Hội đồng An ninh châu Á – Thái Bình Dương (the Council for Security Cooperation in the Asia Pacific), xây dựng sự tin cậy và tín nhiệm song phương hòng làm cho lực lượng quân sự lớn mạnh của Trung Quốc không đến nỗi phá vỡ trật tự khu vực. ASEAN cũng hi vọng việc cải cách kinh tế của Trung Quốc có thể phần nào giúp đỡ cho kinh tế của các nước ASEAN, nhưng ASEAN cũng không thể không lo ngại mà tiến hành chạy đua vũ trang, tăng cường năng lực của vũ khí truyền thống và hiện đại hóa. Điều đó làm cho số lượng mua vũ khí và thiết bị quân sự của các nước ASEAN tăng lên.

Do kinh nghiệm lịch sử, ASEAN trước sau vẫn mang tâm lý lo sợ trước việc Nhật Bản chỉnh đốn lại lực lượng quân sự. Nhật Bản tuy bị Hiến pháp chế ước, ngân sách quốc phòng không thể vượt quá 1% tổng sản phẩm trong nước, nhưng do lực lượng sản xuất kinh tế của Nhật Bản mạnh, tổng mức của nó cũng tương đối lớn, hơn nữa Nhật Bản vốn có công nghiệp quốc phòng lớn mạnh lâu đời trong lịch sử, làm cho ASEAN có phần nghi ngại đối với Nhật Bản. Nhưng an ninh và ổn định của khu vực Đông Nam Á rất có quan hệ với lợi ích quốc gia của Nhật Bản, bởi vì đối với nó, khu vực Đông Nam Á là khu vực nhập khẩu chủ yếu nguyên liệu và khu vực xuất khẩu thành phẩm, cũng là khu vực đầu tư quan trọng của nó. Đường hàng hải Đông Nam Á cũng là con đường xung yếu trong thương mại quốc tế của Nhật Bản, đặc biệt là dầu mỏ của Nhật Bản có tới khoảng 60% được nhập khẩu qua đây. Nhật Bản cũng biết rõ giao lưu với các nước ASEAN cần giới hạn trong phạm vi phi quân sự, như kinh tế chẳng hạn, nhưng cùng với việc Mỹ dần rút khỏi khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đòi hỏi Nhật Bản phải gánh vách một phần nghĩa vụ an ninh khu vực. Nhật Bản dần tăng chi phí quốc phòng của nó. Nhưng Nhật Bản cũng biết rõ mối lo ngại của các nước châu Á – Thái Bình Dương, nó luôn tỏ ra không có ý trở thành cường quốc quân sự. Lãnh đạo các nước ASEAN cũng có cách nhìn khác nhau về vai trò của Nhật Bản trong an ninh khu vực này, nhưng đều không đồng ý Nhật bản xuất hiện ở khu vực Đông Nam Á bằng lực lượng quân sự. Nhật Bản đã đưa quân đội tham gia duy trì hòa bình ở Campuchia là muốn chứng minh lực lượng phòng vệ của Nhật Bản không phải là đội quân của chủ nghĩa quân phiệt.

Nhưng đứng trước lực lượng quân sự quốc phòng lớn mạnh của Trung Quốc và Nhật Bản, các nước ASEAN không thể không cảm thấy có mối đe dọa. Đặc biệt trong vấn đề Nam Hải, sợ Trung Quốc sử dụng lực lượng quân sự để giải quyết tranh chấp, Malaysia, Thái Lan, Brunei và Philippines vì vậy mà tăng cường mua vũ khí và trang thiết bị không quân và hải quân, lấy đó làm biện pháp đối phó lại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Như

Nguồn: TĐB 96 – 22 & 23