Tranh chấp Biển Đông tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh mới?


KB Teo

Những bất đồng về thương mại và đặc biệt là cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông có nguy cơ tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh mới.

Bất chấp việc Trung Quốc phản đối phán quyết của Tòa trọng tài ở La Haye (Hà Lan) năm 2016 đối với yêu cầu lãnh hải của mình, căng thẳng tại Biển Đông đã phần nào giảm bớt. Tuy vậy, Biển Đông vẫn là nơi tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn. Giữa tháng 10/2018, một vụ va chạm suýt xảy ra giữa khu trục hạm Decatur của Mỹ và tàu chiến Lữ Dương của Trung Quốc. Theo đó, khu trục hạm Decatur của Mỹ đang trên đường thực hiện chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) tại Biển Đông nhằm khẳng định quyền tự do đi qua các vùng biển quốc tế đã bị tàu chiến Lữ Dương của Trung Quốc tiếp cận, ngăn chặn. Trước đó, hôm 4/10, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đã có một bài phát biểu công kích chính sách đối ngoại bành trướng của Trung Quốc.

Ảnh hưởng lớn nhất và bao trùm đối với hòa bình hay căng thẳng tại Biển Đông chính là Trung Quốc và Mỹ. Thêm vào đó, Nhật Bản, một cường quốc khu vực, hiện đang nổi lên là một nhân tố có thể tác động tới tình hình Biển Đông bởi mối lo ngại của nước này về kinh tế bị ảnh hưởng do những căng thẳng tại khu vực Biển Đông gây ra.

Vậy mục tiêu của 3 cường quốc này tại Biển Đông là gì?

Mục tiêu của Trung Quốc là giành quyền thống trị Biển Đông. Điều này giúp Trung Quốc đạt được 2 lợi thế:

Thứ nhất, là kiểm soát toàn bộ các nguồn tài nguyên dầu, khí và thủy sản rộng lớn tại đây nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hàng năm của nước này, vốn đã giảm từ 10% (sau chính sách mở cửa của Đặng Tiểu Bình từ 40 năm trước) xuống chỉ còn 6,5%. Theo ước tính, 1/3 hoạt động vận chuyển toàn cầu đi qua khu vực Biển Đông.

Thứ hai, kiểm soát Biển Đông sẽ giúp Trung Quốc ngăn chặn các đối thủ tiếp cận khu vực này. Kể từ năm 2005, Bắc Kinh đơn phương tiến hành các hoạt động quân sự hóa tại đây với việc triển khai máy bay chiến đấu và tên lửa tầm xa trên các thực thể tại Biển Đông. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như xem Biển Đông là lợii ích cốt lõi của Trung Quốc, ngang bằng với các khu vực khác như Đài Loan, Tân Cương hay Tây Tạng. Tháng 6/2018, trong chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, Tập Cận Bình đã tuyên bố Trung Quốc sẽ “không nhượng bộ dù chỉ là một tấc đất”. Trên thực tế, Bắc Kinh đã xây dựng một học thuyết nhằm thống trị châu Á. Đây là một phần trong tham vọng thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa” được Tập Cận Bình đưa ra năm 2013.

Chiến lược răn đe của Tập Cận Bình?

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình từng nhiều lần hô hào quân đội nước này sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trong điều kiện hiện nay. Đây là một tham chiếu đến những ký ức của Bắc Kinh về “một thế kỷ sỉ nhục” của nước này trong giai đoạn 1839 – 1849.

Ông Tập cũng nhìn thấy việc Mỹ đang tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của nước này với việc Mỹ sử dụng liên minh Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines để kiềm tỏa Trung Quốc. Do vậy, nước này mong muốn có quan hệ tốt với Mỹ. Phát biểu tại một hội chợ được tổ chức trong tháng 11/2018, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phát biểu rằng Trung Quốc sẽ mở cửa hơn nữa cho việc nhập khẩu hàng hóa. Một tuyên bố tương tự cũng được Phó Chủ tịch Trung Quốc Vương Kỳ Sơn đưa ra trong chuyến thăm Singapore hồi đầu tháng 11/2018.

Cũng trong tháng 11/2018, Trung Quốc và Mỹ đã nối lại các cuộc đàm phán cấp cao, ngay trước thềm diễn ra hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) tại Singapore. Tiếp đó, Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gặp nhau bên lề hội nghị G20 tại Argentina. Trong khi các vấn đề tranh chấp thương mại giữa hai bên là chủ đề chính của cuộc họp thì không có bất cứ một đề cập nào về vấn đề Biển Đông được đưa ra.

Nhật Bản ngày càng quan tâm vấn đề Biển Đông?

Nhật Bản không có tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông, nhưng nước này quan ngại sâu sắc trước những hoạt động của Trung Quốc tại đây.

Theo thống kê, tất cả lượng dầu và khí đốt Nhật Bản nhập khẩu đều vận chuyển qua khu vực Biển Đông và eo biển Malacca. Do vậy, Trung Quốc kiểm soát Biển Đông sẽ đe dọa trực tiếp đến huyết mạch kinh tế của Nhật Bản. Điều này rõ ràng là không thể chấp nhận được đối với Tokyo. Hai nước có sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng tại khu vực. Bên cạnh đó, Nhật Bản và Trung Quốc cũng có tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư tại khu vực Biển Hoa Đông. Chính vì vậy, thời gian qua, Nhật Bản đã bán tàu tuần tra bờ biển cho Việt Nam và Philippines. Tháng 10/2018, Nhật Bản đã cử tàu khu trục và tiến hành diễn tập tầu ngầm lần đầu tiên tại khu vực Biển Đông, đưa ra thông điệp đối với Bắc Kinh về quyền tự do đi lại tại vùng biển quốc tế. Điều này giống với thông điệp mà Mỹ đưa ra khi tiến hành các chiến dịch FONOP.

Nhưng giữa sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, cả Nhật Bản và Trung Quốc đều cố gắng hạn chế sự cạnh tranh giữa hai bên. Điều này lý giải vì sao thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tiến hành chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 10/2018 nhằm thúc đẩy mối quan hệ song phương. Đây là chuyến thăm cấp cao đầu tiên được tiến hành trong 7 năm qua.

Mỹ sẽ cứng rắn hơn?

Về phần mình, Washington cực lực phản đối các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Năm 2017, Tổng thống Trump đã gọi Trung Quốc là đối thủ cạnh tranh xứng tầm và Mỹ sẽ không chấp nhận việc Bắc Kinh tìm kiếm sự bá quyền. Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La tổ chức tại Singapore hồi tháng 6/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã công khai yêu cầu Trung Quốc chấm dứt việc quân sự hóa Biển Đông. Ông cảnh báo Bắc Kinh sẽ phải gánh chịu những hậu quả khôn lường. Đô đốc Philip S. Davidson, Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ trong phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ hồi tháng 10/2018 đã cho rằng Mỹ đã mất quyền kiểm soát Biển Đông bởi nước này “thiếu chiến tranh với Trung Quốc”.

Liệu có hình thành một cuộc chiến tranh lạnh mới?

Trung Quốc đã có một cách tiếp cận cứng rắn nhưng thực dụng đối với các tranh chấp tại Biển Đông. Và không có dấu hiệu nào cho thấy Bắc Kinh sẽ từ bỏ các yêu sách của mình tại Biển Đông. Kết quả là một cuộc Chiến tranh Lạnh mới giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang hình thành.

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 33 vừa kết thúc tại Singapore, tranh chấp Biển Đông đã được thảo luận. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long hy vọng mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được duy trì ổn định bởi ASEAN không muốn phải lựa chọn giữa một trong hai cường quốc thế giới.

Trung Quốc và Mỹ hiện là hai đối tác thương mại lớn nhất của các nước ASEAN. Nếu Bắc Kinh và Washington leo thang xung đột, ASEAN sẽ không tránh khỏi bị ảnh hưởng tiêu cực.

Tại Hội nghị thượng đỉnh APEC vừa kết thúc tại Papua New Guinea, thế giới lại chứng kiến sự khác biệt lớn về thương mại và an ninh giữa Mỹ và Trung Quốc. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử, APEC kết thúc mà không ra được tuyên bố chung bởi chia rẽ về thương mại giữa hai cường quốc, nhưng dường như đó không phải chỉ đơn thuần là bất đồng về thương mại giữa hai nước. Mỹ nhận thấy Bắc Kinh đang cố gắng thiết lập một trật tự thế giới theo kiểu Trung Quốc để thay thế cho trật tự thế giới kiểu Mỹ. Kết quả dẫn tới dường như sẽ là một cuộc chiến tranh lạnh mới.

Nguồn: Trường Nghiên cứu quốc tế RSIS – Đại học công nghệ Nam Dương (Singapore)

TKNB – 11/12/2018

Advertisements

Trung Quốc tìm cách trấn an các nước Đông Nam Á


Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nhất trí ủng hộ việc thăm dò dầu khí chung với Brunei, một kế hoạch có khả năng sẽ diễn ra tại một lô khai thác hình chữ nhật ở biển Hoa Nam (Biển Đông), kéo dài từ bờ biển đảo Borneo (phần thuộc về Brunei). Khu vực này nằm trong Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Brunei, song Bắc Kinh cho rằng một phần thuộc lãnh thổ chủ quyền của mình.

Nhiều chuyên gia cho rằng thỏa thuận kể trên nếu thành công sẽ giúp Trung Quốc thể hiện với những người hoài nghi ở Malaysia, Philippines và Việt Nam rằng quan hệ với Bắc Kinh sẽ mang lại lợi ích, bất chấp các tranh chấp chủ quyền. Carl Thayer, Giáo sư danh dự của trường Đại học New South Wales (Australia), nói: “Trung Quốc nói rằng chúng tôi đang thúc đẩy việc cùng phát triển, chúng tôi sẵn sàng hợp tác, đó là chiến thắng cho tất cả mọi người”. Hiện Trung Quốc đã đầu tư khoảng 4,1 tỷ USD vào Brunei.

Cuối tháng 11 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gặp Quốc vương Brunei Haji Hassanal Bolkiah tại thủ đô Bandar Seri Begawan. Theo tin chính thức từ Tân Hoa xã ngày 20/11, hai nhà lãnh đạo đã nhất trí “ủng hộ các doanh nghiệp liên quan của hai nước hợp tác trong lĩnh vực tài nguyên dầu khí trên biển”.

Dân số của Brunei chỉ ở vào khoảng 430.000 người, song theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, trữ lượng dầu thô của quốc gia này là 1,5 tỷ thùng, cộng với gần 425 tỷ mét khối khí tự nhiên dưới đáy biển. Vấn đề đặt ra là liệu các nước khác có tin tưởng Trung Quốc với tư cách là một đối tác thăm dò năng lượng hay không sẽ phụ thuộc vào cách hình thành thỏa thuận Trung Quốc – Brunei. Giới phân tích cho rằng mọi thỏa thuận đều phải được xây dựng căn cứ trên nền tảng luật pháp của cả hai nước và các thỏa thuận quốc tế. Nhà nghiên cứu Termsak Cahlermpalanupap, hiện đang làm việc tại Viện Yusok Ishak ở Singapore, bình luận: “Người ta sẽ phải cân nhắc về các luật và các quy định liên quan đến việc thăm dò chung. Trong quá khứ, mọi chuyện thường được diễn ra theo luật của Trung Quốc, theo quan điểm của Trung Quốc, vốn cho rằng mọi thứ ở Biển Đông thuộc về họ”.

Carl Baker, Giám đốc phụ trách các chương trình của Viện Chính sách Diễn đàn Thái Bình Dương thuộc Viện nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) ở Honolulu, cho rằng một thỏa thuận với Brunei, được xây dựng đồng điệu với Bộ quy tắc ứng xử mà Trung Quốc và các nước ASEAN đang thúc đẩy có thể giúp ích rất nhiều cho Bắc Kinh. Theo ông, bộ quy tắc vẫn đang trong quá trình đàm phán, có thể trở thành cơ chế để tránh xung đột bất chấp những mâu thuẫn về chủ quyền, và nhờ vào thực tế này, Trung Quốc rất có thể sẽ cân nhắc kiềm chế các tuyên bố chủ quyền. Ông nói thêm: “Nếu Trung Quốc có thể thuyết phục Brunei tiến hành một thỏa thuận thăm dò chung tại vùng biển tranh chấp, họ rất có thể sẽ tạo ra một tiền lệ”. Tại Biển Đông, Malaysia dẫn đầu với trữ lượng 5 tỷ thùng dầu thô và gần 2,3 nghìn tỷ mét khối khí đốt. Trong khi đó, nhiều khả năng Philippines có thể sẽ là đối tác tiếp theo của Trung Quốc. Tháng 11/2018, Manila và Bắc Kinh đã ký một biên bản ghi nhớ để thiết lập quy trình hợp tác thăm dò dầu khí ngoài khơi.

Phó Giáo sư Eduardo Araral – làm việc tại trường Chính sách Công thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore – nhận định rằng mọi thỏa thuận mà Trung Quốc có với ASEAN sẽ “được coi là một hình mẫu tốt”. Ông bình luận: “Nó giống như việc Trung Quốc bóc từng lớp củ hành tây và thuyết phục các quốc gia khác trong vấn đề thương mại, ngầm khẳng định rằng Trung Quốc quan tâm đến khía cạnh thương mại của vấn đề”. Ông nói thêm: “Đối với Brunei, điều có lợi là ở chỗ họ không phải chống đỡ Trung Quốc”.

Trên thực tế, Brunei thường im lặng về vấn đề chủ quyền với Trung Quốc ngay cả khi các quốc gia Đông Nam Á khác như Việt Nam và Malaysia (dưới thời Thủ tướng Mahathir Mohammed), mạnh mẽ lên tiếng. Trung Quốc coi sự im lặng của Brunei là một thiện chí cũng như là phiếu thuận cho mối quan hệ với Trung Quốc”.

Trung Quốc đang đứng trước rủi ro phải chịu nhiều áp lực hơn từ một liên minh bao gồm Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ. Các quốc gia này có sức mạnh quân sự lớn hơn nhiều so với Trung Quốc nếu gộp thành một khối này muốn Bắc Kinh từ bỏ việc bành trướng tại vùng biển có tranh chấp trước sự phản đối từ các nước châu Á nhỏ hơn vốn có EEZ chồng lấn khu vực mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Nguồn: voanews.com

TKNB – 11/12/2018

“Vành đai và con đường” của Trung Quốc sẽ gây ngập nợ cho Lào


Trang mạng rfa.org (tiếng Lào) mới đây dẫn báo cáo của Bloomberg, viện dẫn thông tin từ Trung tâm nghiên cứu vì sự phát triển trên thế giới, rằng “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc sẽ tạo ra những khoản nợ không đáng có cho nhiều quốc gia nghèo khó trên thế giới mà “Vành đai và Con đường” đi qua. Bắt đầu từ Cộng hòa Djibouti ở châu Phi cho đến CHDCND Lào thuộc ASEAN và nhiều quốc gia khác như Mông Cổ và Cộng hòa Kyrgyzstan.

Báo cáo của Bloomberg chỉ rõ, dự án kinh tế mới trong thập kỷ tiếp theo sẽ bắt đầu từ việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong dự án đường sắt cao tốc của Trung Quốc, với mục đích để kết nối kinh tế tơ lụa giữa châu Âu, châu Á và châu Phi, sẽ khiến cho các quốc gia nghèo khó cùng tham gia xây dựng con đường với Trung Quốc phải mắc nợ Trung Quốc nhiều hơn, bắt đầu từ Cộng hòa Djibouti ở châu Phi cho đến Cộng hòa Kyrgyzstan, Lào, Mông Cổ, Montenegro, Pakistan và Tajikistan.

Theo John Hurley, một chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên cứu vì sự phát triển trên thế giới, dự án “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc được hưởng ứng là do nó đáp ứng mọi điều kiện mà các quốc gia nghèo khó có nhu cầu, như vay vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, chuyên gia nghiên cứu thuộc Bộ Tài chính Mỹ chỉ ra rằng những khoản tiền vay kiểu này là những khoản cho vay không có mục đích tốt, nó chỉ phục vụ cho mục tiêu của dự án của Trung Quốc.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc cho vay đối với hàng trăm dự án tại nhiều quốc gia mà “Vành đai và Con đường” đi qua, nơi mà các nhà đầu tư từ nhiều quốc gia trên thế giới sợ không dám đầu tư.

Theo Bloomberg, có 68 quốc gia trên thế giới tham gia “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, trong đó có 27 quốc gia được xem là mạo hiểm trong việc vay vốn.

John Hurley và nhóm nghiên cứu của ông đã kiến nghị chính phủ Trung Quốc cho vay vốn trong dự án “Vành đai và Con đường” phải giống với hình thức mà Ngân hàng Thế giới (WB) cho vay trong các dự án phát triển. Theo John Hurley, Trung Quốc là người sáng lập dự án, việc cho vay vốn phát triển đối với các quốc gia tham gia dự án phải tránh việc cho vay theo kiểu thương mại, cho vay để phát triển đất nước, việc cho vay kiểu lãi suất cao sẽ khiến các nước nghèo khó mắc nợ ngày càng nhiều mà không thể thanh toán được.

Việc Trung Quốc cho vay vốn trong dự án “Vành đai và Con đường” chỉ khiến cho các quốc gia nghèo khó trở thành con nợ của Trung Quốc nhiều hơn, trong khi dự án mang lại lợi ích cho Trung Quốc nhiều hơn các nước tham gia. Trong dài hạn, “Vành đai và Con đường” giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng về thương mại, kinh tế và đầu tư, ngoài ra, nó còn giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng cả về chính trị và quân sự ra thế giới trong tương lai.

Dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung, từ Côn Minh đến thủ đô Viêng Chăn dài 409 km, với vốn đầu tư xây dựng khoảng 6,7 tỷ USD, Trung Quốc góp vốn 70% và Lào góp vốn 30%. Số vốn 30% mà Lào góp sẽ được vay từ chính phủ Trung Quốc và chính phủ Lào sẽ trả nợ bằng khoáng sản và tiền mặt, việc này sẽ khiến Lào đã thiếu ngân sách càng thêm thiếu và ngày càng mắc nợ nhiều thêm, đưa mức nợ nước ngoài của Lào vượt quá ngưỡng GDP. Trong khi đó, hiện tình hình tài chính của Lào đang báo động và chỉ nhờ vào viện trợ và vay vốn nước ngoài. Trung Quốc cũng biết rõ vấn đề này của Lào nhưng vẫn cho vay để dự án được triển khai.

Do việc góp vốn cổ phần của Trung Quốc 70% và Lào 30% nên sau khi dự án đường sắt cao tốc xây dựng xong và được đưa vào vận hành, công ty Trung Quốc sẽ vận hành khai thác trong 50 năm. Một số người sợ rằng Lào sẽ lỗ vì có ít người đi đường sắt và chính phủ Lào sẽ lấy nguồn thu từ đâu để trả nợ Trung Quốc.

Năm 2012, GDP của Lào chỉ khoảng 9,5 tỷ USD, đến năm 2014, chính phủ Lào thiếu nguồn thu trầm trọng và trong những năm tiếp theo lại càng không có nguồn thu dẫn đến ngân sách dành cho xây dựng và phát triển đất nước càng thiếu.

Tháng 10/2012, Quốc hội Lào thông qua và cho phép triển khai dự án xây dựng đường cao tốc và đề nghị vay vốn của Trung Quốc để xây dựng. Chính phủ Lào viện dẫn rằng tuyến đường sắt cao tốc Lào – Trung rất cần thiết để phục vụ cho nhu cầu phát triển đất nước và giúp kết nối kinh tế của Lào với khu vực.

Theo Hiệp định vay vốn, chính phủ Lào phải lấy hai mỏ khoáng sản đảm bảo cho việc trả nợ. Dự án xây dựng đường sắt cao tốc vượt quá khả năng của kinh tế Lào, tạo sự lo lắng cho các quốc gia viện trợ và giúp đỡ cho Lào. Tháng 10/2013, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã cảnh báo dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung sẽ khiến cho nợ nước ngoài của Lào nhảy vọt từ mức 32,5% của GDP lên 125%.

IMF cho rằng khoản nợ mà dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung mang lại cho chính phủ Lào vượt trên những gì mà kinh tế Lào có thể nhận được sau khi hoàn thành, nó khiến cho đất nước Lào có thể rơi vào tình trạng yếu kém. Một điều mạo hiểm nữa là nếu Trung Quốc gặp khủng hoảng tài chính, hoặc giá khoáng sản tụt xuống thấp, sẽ ảnh hưởng nặng nề tới việc trả nợ của chính phủ Lào. Nguồn tài nguyên mà chính phủ Lào sử dụng để đảm bảo tiền vay của Trung Quốc sẽ rơi vào tình trạng yếu kém, nguy hiểm hơn là khả năng Lào sẽ gặp phải khủng hoảng về tài chính và có thể dẫn đến phá sản.

Ở cùng thời điểm, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cũng cho rằng dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung là một dự án vượt quá khả năng của nền kinh tế Lào, việc trả lãi hàng năm cũng chiếm gần 20% tổng ngân sách chi thường niên của chính phủ Lào.

Chính phủ Lào hy vọng rằng dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung sẽ giúp Lào có cơ hội phát triển kinh tế đất nước, giảm nghèo và giúp kết nối cơ sở hạ tầng giao thông trong khu vực. Tuy nhiên, theo giới chuyên gia kinh tế, hầu hết các dự án lớn ở Lào được triển khai là do nhà đầu tư mua chuộc cán bộ cấp cao ở chính phủ và Quốc hội. Với dự án đường sắt cao tốc Lào – Trung, chính phủ Lào phải mất hàng chục năm cũng chưa chắc đã trả hết nợ, nó cũng không thể giúp giảm nghèo như mong ước của chính phủ khi nào mà khoản nợ từ dự án chưa trả xong, vì nguồn thu từ việc vận hành khai thác sẽ phải đem đi trả nợ hết.

Giới chuyên gia Lào cho rằng chính phủ Lào đang đánh cược với sự mạo hiểm khi viện dẫn rằng Lào không muốn mất cơ hội trở thành quốc gia kết nối về đường bộ trong khu vực, giúp tăng cường vị thế của Lào trên chính trường quốc tế, đưa Lào trở thành điểm đến của nhà đầu tư trong khu vực và trên thế giới, giúp phát triển kinh tế Lào trong tương lai. Chính phủ Lào không hề lo lắng về khoản nợ vì cho rằng nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Lào rất dồi dào, tuy nhiên, nó có thể duy trì được đến thế hệ con cháu hay không, đó vẫn còn là một câu hỏi ngỏ.

Nguồn: TKNB – 28/03/2018

Quan hệ Việt Nam – Campuchia và kẻ hưởng lợi Trung Quốc


Tờ The Diplomat vừa đăng bài phân tích về quan hệ Việt Nam – Campuchia – Trung Quốc của Giáo sư Nayan Chanda, Đại học Ashoka (Ấn Độ), tổng biên tập tờ Far Eastern Economic Review và là người sáng lập trang tin trực tuyến YaleGlobal. Ông cho rằng 40 năm sau cuộc chiến của Việt Nam giúp lật đổ chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia, đến nay, bên chiến thắng cuối cùng lại là Trung Quốc.

Theo bài báo, Trung Quốc đã can dự vào cuộc chiến của Việt Nam lật đổ chế độ Pol Pot tại Campuchia, nhưng Bắc Kinh đã thất bại. Tác giả bài báo ghi nhận sự kiện tháng 11/1978, một quan chức cấp cao Trung Quốc đã tới Campuchia để tư vấn cho Pol Pot. Quan chức này đã “xúi” Pol Pot rằng khi bị phía Việt Nam và quân nổi dậy tấn công, hãy chạy khỏi thủ đô. Mục đích làm như vậy là để cho các nước láng giềng Đông Nam Á thấy “mưu đồ hung hăng” của Hà Nội, đồng thời, cuối cùng có thể đánh bại phe của Việt Nam bằng cách nhử họ “sa lầy” vào một cuộc chiến tranh du kích tốn kém.

Pol Pot không đồng ý với đề xuất này và sau đó thảm bại trong cuộc chiến tranh chớp nhoáng của Việt Nam vào cuối tháng 12/1978.

Khi đó, toàn bộ Đại sứ quán Trung Quốc tại Campuchia đã phải trốn chạy và sống chui lủi suốt 61 ngày trong khu rừng nhiệt đới phía Tây Campuchia. Sự tồn tại lưu động của Đại sứ quán Trung Quốc chỉ chấm dứt khi Việt Nam tập trung lực lượng để dọn sạch các khu rừng. Ngày 11/4/1979, Đại sứ Trung Quốc lấm lem bùn đất và đầm nước mắt cùng 7 cộng sự lặng lẽ vượt biên sang Thái Lan. Lần đầu tiên, đại diện ngoại giao của Trung Quốc chạy trốn trong sự ô nhục khỏi nơi từng là nước triều cống.

Tuy nhiên, đây chỉ là khởi đầu của một giai đoạn mới. Bắc Kinh đã có trò chơi mới, tốn thời gian, nhưng thành công.

Mở màn trò chơi, Trung Quốc phớt lờ chế độ diệt chủng đã cướp đi sinh mạng của khoảng 2 triệu người, giúp chế độ Khmer Đỏ “sống sót” như một chính phủ hợp pháp tại Liên hợp quốc và tập hợp ý kiến quốc tế chống lại Việt Nam. Mục đích của Bắc Kinh là cô lập Hà Nội về mặt ngoại giao, trừng phạt về mặt kinh tế, trong khi vũ trang cho lực lượng Khmer Đỏ để tiêu diệt lực lượng của Việt Nam.

Ieng Sary (Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng dưới thời Khmer Đỏ) đã trốn sang Thái Lan và đến Bắc Kinh. Nhân vật này từng có cuộc họp với Đặng Tiểu Bình và các lãnh đạo cấp cao khác của Trung Quốc vào ngày 15/1/1979. Khi đó, Đặng Tiểu Bình vừa trở về từ chuyến đi bí mật đến Thái Lan, nơi có tin ông đã sắp xếp xong với Thủ tướng Thái Lan Kriangsak Chomanan về kế hoạch cung cấp cho Khmer Đỏ các khoản viện trợ của Trung Quốc.

Trong khoản chi đầu tiên, Bắc Kinh đã gửi 5 triệu USD cho đại sứ quán Trung Quốc ở Bangkok để thanh toán chi phí cho Khmer Đỏ.

Trong suốt hàng chục năm đối đầu với Việt Nam trên cả mặt trận chiến trường và ngoại giao, Trung Quốc kiên trì theo đuổi đường hướng đã được vạch ra trong các cuộc họp bí mật ở Bắc Kinh và Thái Lan. Tháng 9/1990, Trung Quốc đã thu được thành quả khi các lãnh đạo cấp cao Việt Nam bí mật bay đến Thành Đô (Trung Quốc) để đạt được thỏa hiệp.

Quân đội Việt Nam rút khỏi Campuchia vào năm 1989 dưới áp lực ngoại giao căng thẳng, kể cả từ Liên Xô. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, từng kiên quyết không cho Khmer Đỏ trở lại nắm quyền, đã đồng ý chia sẻ quyền lực, mở đường tiến tới giải pháp hòa bình do Liên hợp quốc dẫn dắt vào năm 1991.

Cuối năm 1977, Việt Nam từng kết luận: Trung Quốc âm mưu siết chặt gọng kìm bóp nghẹt Việt Nam bằng cách kết cấu với lực lượng Khmer Đỏ hung hãn tấn công Việt Nam từ phía Tây Nam. Đó là lý do Hà Nội coi cuộc tấn công phủ đầu chống lại Campuchia là chính sách khôn ngoan nhất. Cuộc tấn công quy mô lớn này đã nhanh chóng khiến chính phủ Phnom Penh sụp đổ, nhưng với chiến lược đối đầu kiên nhẫn của Trung Quốc, Việt Nam đã thắng trong trận chiến, nhưng lại thua trong cuộc chiến.

Bốn thập kỷ sau khi Đại sứ quán Trung Quốc tại Phnon Penh thất thủ, các nhà ngoại giao Trung Quốc phải chạy trốn sang Thái Lan, Campuchia giờ đây được mệnh danh là “một tỉnh” của Trung Quốc. Gareth Evans, cựu Ngoại trưởng Australia từng tham gia đàm phán hòa bình cho Campuchia, đã gọi đất nước này là “một công ty con hoàn toàn thuộc sở hữu của Trung Quốc”.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen, người bị Trung Quốc coi là “con rối” của Việt Nam, đã nổi lên là đồng minh trung thành nhất của Trung Quốc. Hun Sen từng gọi Trung Quốc (khi còn ủng hộ Khmer Đỏ) là “gốc rễ của mọi thứ xấu xa”. Tuy nhiên, năm 2012, sự ủng hộ mạnh mẽ của Hun Sen đối với Trung Quốc đã khiến ASEAN không thể đưa ra tuyên bố chung có nội dung phê phán mạnh mẽ hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Từ các hãng hàng không tư nhân đến các sòng bạc, từ những bãi biển lớn đến các đồn điền mía, chưa kể một cảng nước sâu phục vụ cho sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc…, tài sản kinh tế của Campuchia ngày càng đan xen với Trung Quốc.

Campuchia đã nổi lên là nước nhận các khoản vay và tài trợ lớn nhất cảu Trung Quốc ở Đông Nam Á (hơn 10 tỷ USD) và là một trong những điểm đến quan trọng nhất của các khoản đầu tư từ Trung Quốc. 62% tổng nợ hiện tại của Campuchia là nợ Trung Quốc và đây là con số sống động nhấn mạnh mức độ Campuchia phụ thuộc vào Trung Quốc.

Chưa hết, theo cuộc điều tra của Financial Times, doanh nhân có ảnh hưởng nhất của Campuchia là Fu Xianting, cựu sĩ quan Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đã giúp trang bị vũ trang cho đơn vị vệ sĩ gồm 3000 người bảo vệ Hun Sen.

Khi thế giới kỷ niệm 40 năm ngày lật đổ chế độ Khmer Đỏ, đây là dịp thích hợp để thừa nhận rằng: quyết tâm tàn nhẫn và sự kiên trì của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc đã giúp Bắc Kinh biến thất bại thành chiến thắng.

Nguồn: TKNB – 05/12/2018

Quan hệ Việt Nam – Campuchia với chuyến thăm của Hun Sen


Bác bỏ thông tin về việc Trung Quốc đặt căn cứ quân sự tại Campuchia

Theo hãng tin AP, ngày 7/12, tại Hà Nội, Thủ tướng Hun Sen tuyên bố chính phủ của ông không cho phép bất ỳ căn cứ quân sự nước ngoài nào đóng trên lãnh thổ Campuchia, đồng thời khẳng định thông tin Trung Quốc tìm cách xây dựng căn cứ hải quân tại Campuchia là “thông tin giả”.

Trong cuộc họp báo chung với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sau chuyến công du 3 ngày tại Hà Nội, Thủ tướng Hun Sen nói: “Tôi muốn nhấn mạnh với các bạn rằng Hiến pháp Vương quốc Campuchia không cho phép bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Campuchia… Tháng vừa rồi, có thông tin xuyên tạc rằng có sự chuẩn bị để nước ngoài xây dựng cơ sở quân sự tại Campuchia. Tôi đã nói với Thủ tướng Việt Nam rằng đó là thông tin giả và không có chuyện này xảy ra ở Campuchia”.

Thủ tướng Campuchia lên tiếng về việc này trước Thủ tướng Việt Nam vì ông cho rằng các nước láng giềng cũng lo lắng khi có thông tin xuyên tạc về căn cứ quân sự nước ngoài ở Campuchia: “Thông tin giả này, nếu tiếp tục được lan truyền, sẽ không chỉ gây lo ngại đối với Campuchia mà còn đối với các quốc gia láng giềng cũng như sự ổn định của khu vực”.

Tháng trước, hãng tin Asia Times tiết lộ Trung Quốc đã vận động hành lang Campuchia từ năm 2017 để được đặt một căn cứ quân sự ở Koh Kong trong Vịnh Thái Lan. Căn cứ hải quân được đồn đoán của Trung Quốc là một phần trong chương trình phát triển du lịch có tên Khu nghỉ dưỡng bên bờ biển Dara Sakor do một công ty Trung Quốc dẫn đầu. Dự án này được cho là bao gồm một cảng nước sâu, một sân bay quốc tế và các cơ sở sản xuất. Căn cứ này được đặt tại Vịnh Thái Lan, nhưng có thể tiếp cận trực tiếp với Biển Đông.

Tại cuộc họp báo chung với Thủ tướng Campuchia hôm 7/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết hai bên đã khẳng định tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ chính trị, thắt chặt hợp tác quốc phòng, an ninh nhằm bảo vệ vững chắc môi trường hòa bình, an ninh và ổn định của mỗi nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực.

Ngoài ra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc còn cho biết ông đã bàn thảo vấn đề biên giới với Thủ tướng Hun Sen. Hai thủ tướng cũng giao các cơ quan liên quan tiếp tục xử lý các vấn đề tồn tại về biên giới, Việt kiều tại Campuchia trên tinh thần hữu nghị. Hai bên phấn đấu vào giữa năm 2019 sẽ ký lại văn kiện để pháp lý hóa kết quả hoàn thành 84% công tác phân giới cắm mốc và sớm hoàn thành 16% còn lại. Hai nước sẽ hợp tác để tạo điều kiện cho cộng đồng người gốc Việt ở Campuchia sinh sống ổn định, bảo đảm địa vị pháp lý, góp phần phát triển kinh tế Campuchia và là cầu nối của hai bên.

Lãnh đạo hai nước thống nhất sẽ củng cố tổ chức các hoạt động trọng thể tại hai nước để kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng chế độ diệt chủng Khmer Đỏ (7/1/1979 – 7/1/2019).

Thời kỳ mới trong các ưu tiên chính sách đối ngoại của Campuchia

Tờ Khmer Times ngày 9/12 đăng bài cho rằng chuyến thăm của Thủ tướng Hun Sen đến Lào và Việt Nam cho thấy một thời kỳ mới trong các ưu tiên chính sách đối ngoại của Campuchia, trong đó tập trung nhiều hơn vào các nước láng giềng và bạn bè truyền thống ở Đông Dương, trong bối cảnh gia tăng những bất ổn địa chính trị trong khu vực. Thành tựu chính của chuyến thăm không chỉ thể hiện qua số lượng các thỏa thuận song phương được ký kết, mà quan trọng hơn là sự trấn an đối với tình bạn truyền thống và vun đắp mối quan hệ cá nhân giữa các nhà lãnh đạo.

Các nhà lãnh đạo đã trấn an lẫn nhau về khả năng phục hồi và duy trì niềm tin, quan hệ đối tác chiến lược, dù thừa nhận không thể đoán trước được viễn cảnh địa chính trị thay đổi nhanh chóng trong khu vực và thế giới nói chung. Các nhà lãnh đạo có niềm tin chắc chắn rằng sự đoàn kết sẽ giúp 3 nước hỗ trợ lẫn nhau để từ đó có thể vượt qua những thời điểm không chắc chắn phía trước, phát triển vì lợi ích chung.

Vấn đề nổi bật và phức tạp nhất giữa Campuchia và hai nước láng giềng là những bất đồng trong đàm phán và phân định biên giới – mà đôi khi dẫn đến căng thẳng biên giới. Campuchia yêu cầu lấy căn cứ là bản đề biên giới từ Pháp để giải quyết các vấn đề biên giới còn tồn tại với cả Lào và Việt Nam. Quan điểm của Campuchia là sớm đạt được thỏa thuận về việc phân định biên giới chung để biến các khu vực biên giới thành các khu vực hòa bình, hữu nghị, trung lập và phát triển.

Nếu thế hệ lãnh đạo hiện tại không thể hoàn thành việc phân định biên giới, đó sẽ là gánh nặng lớn cho thế hệ lãnh đạo tương lai. Các nhà lãnh đạo tương lai của 3 nước không có chung ký ức cách mạng, chung niềm tin sâu sắc và tình bạn như các nhà lãnh đạo hiện tại. Vì vậy, sẽ khó duy trì sức mạnh của mối quan hệ 3 bên được các nhà lãnh đạo hiện tại gây dựng và nuôi dưỡng. Do đó, các nhà lãnh đạo hiện tại nên mở đường, tăng cường các cơ chế đa tầng và xây dựng cầu nối niềm tin giữa ba nước.

Sắp tới, Campuchia sẽ tiếp tục duy trì tình hữu nghị truyền thống mạnh mẽ với các nước láng giềng để hiện thực hóa một cộng đồng ASEAN thực sự vì các lợi ích chung. Các quốc gia nhỏ ở Đông Nam Á nhận thức đầy đủ về những rủi ro phát sinh từ sự cạnh tranh địa chính trị. Các nước sẽ tăng cường đoàn kết trong đại gia đình ASEAN để chống lại ý định của các cường quốc can thiệp vào các vấn đề nội bộ của ba nước Đông Nam Á và sử dụng các quốc gia nhỏ làm công cụ cạnh tranh quyền lực.

Campuchia, Lào và Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ hơn để tăng cường các quy tắc luật pháp quốc tế của ASEAN trong việc giải quyết các khác biệt, cùng nhau tiến tới hiện thực hóa một cộng đồng ASEAN. Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia là cơ chế hợp tác tiểu vùng quan trọng ở khu vực sông Mekong và ASEAN. Hoàn thành các mục tiêu đặt ra trong các chương trình và kế hoạch hành động của Khung tam giác phát triển này sẽ không chỉ phục vụ lợi ích của 3 quốc gia mà cả cộng đồng ASEAN.

Nguồn: TKNB – 11/12/2018

Những giải pháp toàn diện về cuộc tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa: Một số lựa chọn – Phần cuối


Vì tất cả các bên tranh chấp đều nhất trí tìm kiếm một giải pháp hòa bình, do đó họ có ít cơ sở pháp lý để duy trì lực lượng quân sự trên các hòn đảo này. Vấn đề chính đối với việc phi quân sự hóa là “làm thế nào để chuyển từ bước này sang bước khác” mà không tạo ra một khoảng trống quyền lực để bắt đầu tiến trình này, các bên tranh chấp có thể thiết lập một ủy ban liên lạc. Ủy ban này có thể bàn bạc để thỏa thuận các quy tắc tiến hành các hoạt động bình thường trên các đảo. Đầu tiên có thể là một hiệp ước chính thức về việc không đe dọa dùng vũ lực hoặc không sử dụng vũ lực. Sau đó mức độ hoạt động quân sự có thể được hạn chế bằng các hiệp định và quy mô lực lượng hạn chế. Ủy ban này cần phải được thông báo trước về các cuộc tập trận và chuyển quân, và có thể thông báo thông tin này cho các chính phủ hữu quan khác. Khi lòng tin lẫn nhau tăng lên thì thành phần lực lượng trên quần đảo Trường Sa có thể đổi thành lực lượng không trực tiếp chiến đấu, như các đơn vị nghiên cứu khoa học kỹ thuật, cơ khí, xây dựng. Cuối cùng, các đơn vị quân đội có thể được chuyển hóa hoàn toàn và được thay thế bằng lực lượng dân sự. Trên đường tiến đến phi quân sự hóa này, không một khoảng trống quyền lực nào có thể được tạo ra và các thay đổi có thể sẽ diễn ra một cách từ từ.

ii/ Khu vực có khoảng cách cách đều và các công ty khai thác liên kết nhiều bên

Nếu có một cơ cấu ít chính thức hơn thì việc hợp tác có thể đạt được thông qua một tập hợp các mối quan hệ linh hoạt hơn. Một loạt 12 công ty khai thác liên kết (JDC) có thể được thành lập, ít nhất là trên giấy tờ, dưới sự điều hành của Cơ quan điều phối Trường Sa (SCA), trên cơ sở các khu vực chồng lấn theo các đòi hỏi chủ quyền trước đây. Trung Quốc/Đài Loan có thể là một thành viên của tất cả các công ty, trừ ba công ty khai thác ở những khu vực mà rõ ràng là Việt Nam không có tuyên bố chủ quyền. (Nếu Việt Nam không đòi hỏi chủ quyền đối với bất cứ khu vực nào thì Việt Nam có thể không trở thành một thành viên của bất kỳ một công ty khai thác liên kết nào). Cổ phần, lợi nhuận, chi phí, tiếng nói hoặc quyền biểu quyết về hoạt động của mỗi công ty khai thác liên kết có thể được chia đều sau khi dành 5% lợi nhuận cho Cơ quan điều phối Trường Sa (SCA) để có thể tạo điều kiện thuận lợi, phối hợp và điều hòa các hoạt động của các thỏa thuận khai thác liên ết nhiều bên trong việc khai thác tài nguyên tại khu vực hạt nhân. Có thể dành thêm 5% lợi nhuận cho các nước ở biển Nam Trung Hoa không có tranh chấp biển đảo. Mặt khác, còn có những phần đóng góp bằng nhau như đã quy định trong điều 82 Công ước về Luật Biển, đối với việc khai thác tài nguyên khu vực 200 hải lý; có nghĩa đây là các phần chi và phần đóng góp tương ứng với toàn bộ khối lượng sản xuất ở một khu vực sau 5 năm đầu sản xuất tại khu vực đó. Sang năm thứ 6, tỷ lệ phần chi hoặc phần đóng góp là 1% giá trị khối lượng sản xuất tại khu vực đó. Tỷ lệ này sẽ tăng thêm 1% mỗi năm tiếp theo cho tới năm thứ 12 và tiếp tục duy trì ở mức 7% trong những năm sau đó. Theo phương thức này, sản lượng sẽ không bao gồm những nguồn tài nguyên đã được sử dụng phục vụ cho quá trình khai thác.

Theo mô hình nói trên, SCA có thể có người lãnh đạo là người Trung Quốc vì Trung Quốc/Đài Loan có chân thành viên trong tất cả các công ty khai thác liên kết. Các thành viên có thể được chọn từ mỗi bên tranh chấp. Tuy một công ty khai thác liên kết có thể tồn tại trên giấy tờ đại diện cho mỗi khu vực trong số 12 khu vực nói trên, nhưng công ty đó chỉ có thể đi vào hoạt động thực sự khi nào có đa số các bên tranh chấp đối với khu vực đó đồng ý cho nó hoạt động. Cách làm này có thể là một bước tiến quan trọng dẫn đến việc đáp ứng được đòi hỏi của Trung Quốc rằng các vấn đề phải được giải quyết giữa Trung Quốc và mỗi bên tranh chấp khác, nhưng phải tạo cho các bên tranh chấp có cơ hội được ảnh hưởng đến các quyết định trong những khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền cùng với các bên tranh chấp khác.

iii/ “Giải pháp lựa chung cho quần đảo” bằng một cơ quan quản lý có đầy đủ quyền lực đối với quần đảo Trường Sa

Một cách lựa chọn khác là thành lập một cơ quan quản lý chung về quần đảo Trường Sa (SMA) để quản lý việc khai thác khí đốt và đánh cá, nhưng chỉ trong một phần khu vực nhỏ, được xác định bởi các đường nối giữa những bãi đá ngầm ở xa nhất. Nếu kinh phí và lợi nhuận được phân chia dựa trên phạm vi các yêu sách ban đầu đối với khu vực thì các bên tranh chấp có thể được hưởng theo các tỷ lệ: Trung Quốc/Đài Loan 37%; Philippines 28%; Việt Nam 20%; Malaysia 14%; và Brunei 1%. Nếu sự phân chia dựa trên độ dài của bờ biển Nam trung Hoa thì các phần chia sẽ là: Trung Quốc/Đài Loan 31%; Việt Nam 26%; Philippines 21%; Malaysia 20%; và Brunei 2%. Hơn nữa, 5% lợi nhuận từ các khoáng chất, khí đốt và đánh cá trong khu vực này sẽ được phân chia cho các nước không tranh chấp trong khu vực biển Nam Trung Hoa. 5% khác của khu vực này dành cho các chi phí hoạt động của SMA. Phần còn lại của lợi nhuận và chi phí sẽ được phân chia theo tỷ lệ nói trên. Khu vực được xác định này sẽ được SMA quản lý bằng các quyết định quan trọng, các quyết định phải được 3/5 số phiếu ủng hộ, trong đó mỗi nước được bỏ 1 phiếu (Trung Quốc và Đài Loan chỉ tính 1 phiếu) hoặc yêu cầu đạt được 2/3 số phiếu (tức là bao gồm 4 trong 6 nước, Trung Quốc và Đài Loan mỗi nước một phiếu). Cơ cấu tổ chức và việc quản lý đối với khu vực có thể giống như trong giải pháp i/, đó là các đảo hoặc các khu vực khác sẽ không có hoặc chỉ có một vùng biển rất hẹp, sẽ là vùng phi quân sự, và sẽ là vùng mở để các nước tranh chấp có thể tiếp cận Việc phát triển liên kết các khu vực ngoài phạm vi khu vực đã được khoanh vùng sẽ được đàm phán giữa các bên tranh chấp.

Điểm bất lợi của giải pháp này là nó tập trung vào một trong những khu vực nhỏ nhất. Vì vậy khả năng phát hiện hydrocarbon bị giảm đi và khu vực được đem ra thương lượng bởi các bên tuyên bố chủ quyền sẽ được mở rộng đáng kế, để lại nhiều vấn đề chưa được giải quyết bao gồm việc quản lý đánh bắt cá xuyên khu vực, vấn đề bảo vệ môi trường. Sự minh chứng này cho ta thấy rằng nếu chỉ giải quyết riêng vấn đề tranh cãi về các hòn đảo thì sẽ không giải quyết được những tranh chấp khác.

Những phương án nói trên chỉ là những điểm trong một chuỗi các phương án. Sẽ còn nhiều điều rắc rối, và những ví dụ trên đây chỉ có giá trị minh họa. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng chúng sẽ khơi dậy một cuộc thảo luận mang tính xây dựng về một giải pháp tạm thời, đa phương và toàn diện cho những tranh chấp nguy hiểm và khó giải quyết này.

Nhìn chung, người ta luôn gặp khó khăn và nguy hiểm trong việc dự đoán về tương lai cho những cuộc tranh chấp quốc tế như thế. Tuy nhiên, sẽ có một số dự đoán có nhiều khả năng xảy ra hơn. Bước đầu phải xây dựng một nguyên tắc xử sự cho tất cả các bên tranh chấp, bao gồm các nguyên tắc chung cùng tồn tại hòa bình và các biện pháp cụ thể để ngặn chặn các cuộc đụng độ không lường trước về quân sự và đánh bắt cá. Trung Quốc có thể sẽ không có khả năng để duy trì hoặc thực hiện được yêu sách chủ quyền của họ đối với hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa. Hơn nữa, họ có thể phải chấp nhận rằng hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các hòn đảo trong khu vực sẽ không bao gồm quyền hạn đối với những vùng ở ngoài vùng lãnh hải hẹp và có thể cả những vùng nằm gần kề, và sẽ không ảnh hưởng tới việc xác định các đường hải phận. Thay vào đó chúng có thể bị bao bọc bởi những vùng biển của các quốc gia khác, hoặc sẽ được xác định là khu vực có vùng lãnh hải hạn chế. Vấn đề địa chất và hình thái địa chất cũng sẽ có ít ảnh hưởng tới việc xác định phạm vi. Ngoài ra việc xác định các đường hải phận có thể bước đầu sẽ dựa trên yếu tố địa lý về bờ biển của các quốc gia duyên hải và về cá đảo lớn, và các đường cách đều sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định bước đầu các đường hải phận này. Nhưng việc xác định này sẽ chịu ảnh hưởng bởi độ dài của các bờ biển tương ứng, bởi các hoạt động khai thác tài nguyên và có thể bởi cả các lý do chức năng khác. Cuối cùng, toàn bộ khu vực có thể sẽ nằm trong các khu độc quyền kinh tế của các quốc gia duyên hải, và các hoạt động hàng hải và chuyến bay qua vùng trời khu vực này sẽ được bảo vệ. Theo chế độ, các quốc gia duyên hải sẽ có một số quyền nhất định, bao gồm quyền khai thác tài nguyên sinh vật biển và độc quyền khai thác nguồn tài nguyên không sinh vật dưới đáy biển và trên bề mặt đáy biển trong khu vực của họ, cũng như có trách nhiệm bảo vệ môi trường và quản lý các nguồn tài nguyên. Kết quả sẽ tạo ra một hệ thống phức tạp các đường biên giới biển, đi đến chỗ không cho phép quản lý các nguồn tài sinh vật và hệ sinh thái Vì vậy, cuối cùng các quốc gia duyên hải có thể sẽ phải chấp nhận những cơ chế hợp tác quản lý, ít nhất là để phục vụ những mục đích này.

Người dịch: Khánh Toàn

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Mark J. Valencia & Jon M. Van Dyke – Comprehensive solutions to the South China Sea disputes: some Options – Trong cuốn The Sea unite: Maritime Cooperation in the Asia Pacific Region. Strategic Study Center, Australian National University 12/96, Pp 224 – 260.

TĐB 97 – 10 & 11, 12

Những giải pháp toàn diện về cuộc tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa: Một số lựa chọn – Phần VII


Bỏ phiếu áp đặt với những lá phiếu thông thường và những lá phiếu đặc biệt

Đối với nhữg vấn đề cơ bản ảnh hưởng tới Cơ quan điều hành hoặc toàn bộ khu vực, thì một phương pháp để đưa ra những quyết định là phân bổ lá phiếu thông thường và lá phiếu đặc biệt cho mỗi bên tranh chấp như Tổ chức Cà phê quốc tế, Cơ quan Năng lượng quốc tế và Ngân hàng Phát triển châu Á đã làm. Mỗi quốc gia tranh chấp sẽ có 5 “lá phiếu thông thường” cộng với những “lá phiếu đặc biệt” dựa trên tỷ số phần trăm tranh chấp của khu vực nằm trong đường phân giải cách đều hoặc của chiều dài đường bờ biển trên biển Nam Trung Hoa. Nếu số lá phiếu đặc biệt được dựa vào vùng tranh chấp hiện nay, thì tổng số phiếu sẽ là 125, trong đó 57 cho Trung Quốc/Đài Loan, 33 cho Việt Nam, 16 cho Philippines, 13 cho Malaysia và 6 cho Brunei. Nếu những lá phiếu đặc biệt được phân bổ dựa trên chiều dài bờ biển, thì tổng số phiếu sẽ là 125: 36 giành cho Trung Quốc/Đài Loan, 31 cho Việt Nam, 26 cho Philippines, 25 cho Malaysia và 7 cho Brunei. Trong cả hai phương thức này, Trung Quốc/Đài Loan sẽ không thể tự họ thông qua hoặc cản trở những quyết định, ngay cả khi họ có số phiếu đa số chưa quá bán và vì thế họ phải có sự hợp tác với ít nhất một bên tranh chấp khác để làm điều đó. Mặt khác, bốn bên tranh chấp khác cũng không thể hình thành một đa số trừ khi cả 4 quốc gia này nhất trí được với nhau khi bỏ phiếu (trong hệ thống chiều dài đường biển duyên hải, thì Việt Nam, Malaysia và Philippines cộng lại sẽ có một đa số). Những vấn đề thủ tục tại Hội đồng có thể được quyết định theo đa số chưa quá bán của phiếu bầu. Nhưng những quyết định cơ bản của Hội đồng có ảnh hưởng tới toàn bộ khu vực thì đòi hỏi có số phiếu đa số 2/3. Trong phương thức dựa trên vùng tranh chấp ban đầu thì Trung Quốc và Việt Nam cộng lại sẽ có thể thông qua bất kỳ một vấn đề nào đòi hỏi 2/3 số phiếu vượt trội (85 phiếu), thế nhưng vẫn chưa được 3/4 số phiếu áp đảo (94), số phiếu có thể được gọi là ngưỡng quyết định.

Hệ thống chia lô kết hợp

Hệ thống chia lô kết hợp có thể được chấp nhận. Trong hệ thống này, những quyết định có ảnh hưởng tới toàn bộ chế độ hoặc chức trách quản lý sẽ dựa vào việc bỏ phiếu chia phần chiểu theo phạm vi tranh chấp ban đầu hoặc theo chiều dài đường duyên hải, trong khi những quyết định liên quan đến mọi hoạt động tại một vùng hoặc một “lô” nhất định nào đó dựa trên 12 khu vực địa lý riêng biệt được phân chia thành những vùng chồng lấn, phải được sự nhất trí của cả đa số phiếu trong Hội đồng lẫn của đa số các bên tranh chấp đối với vùng đó hay “lô” đó. Bởi vì Trung Quốc là thành viên của tất cả các “lô”, nên điều khoản này sẽ một phần đáp ứng được mối quan tâm của Trung Quốc rằng mọi vấn đề phải được giải quyết tya đôi hoặc qua việc hình thành sự dàn xếp chung nhiều bên để khai thác, mỗi cuộc dàn xếp này đều có sự liên quan đến Trung Quốc. Phương thức này cũng sẽ đòi hỏi các bên thỏa hiệp để hướng về phía trước.

Bản thân phương thức nói trên chính là một sự thỏa hiệp. Nó rất giống hiệp định quốc tế mới đây về khai thác đáy biển, trong đó, các quốc gia lớn cho phép sự tham gia và phân phối một số lợi ích cho những quốc gia nhỏ hơn trong khi vẫn duy trì một quyền hạn đáng kể. Phương thức này cũng mang lại lợi thế cho các quốc gia nhỏ hơn bằng việc mang lại cho họ quyền lợi và tiếng nói có trọng lượng trong những quyết định ảnh hưởng tới nhiều khu vực cụ thể mà họ tranh chấp với các quốc gia khác. Thông qua một sự thỏa thuận “của những người quân tử”, bất kỳ một công dân nào của Trung Quốc/Đài Loan có thể thường xuyên là Tổng thư ký của SMA.

Việc phân chia vị trí điều hành

Có lẽ quá trình thực hiện cũng không kém phần quan trọng như quá trình ra quyết định, vì vậy quá trình thành lập Ban quản lý hoặc “Ban điều hành” của SMA trở thành một vấn đề cốt yếu. Trên thực tế, và đôi khi cả về mặt pháp lý, nhiều tổ chức quốc tế có một hệ thống phân chia một số chức vụ cho những người thuộc một số quốc gia nhất định. Chẳng hạn như hệ thống này hoạt động khá tốt trong Ngân hàng Phát triển châu Á, ở đó theo truyền thống thì chủ tịch là người Nhật và ông Tổng luật sư là người Mỹ. Việc tồn tại của một hệ thống tương tự trong SMA có thể bảo đảm cho các quốc gia thành viên rằng mối quan tâm của họ phải được xem xét tới. Ông Tổng thư ký có thể luôn luôn là người Trung Quốc và có thể các ông Phó Tổng thư ký sẽ dành cho các quốc gia khác. Theo phương thức khác thì có thể quay vòng mỗi nước lần lượt thay nhau giữ các vị trí chủ chốt.

Gạt sang một bên những tranh chấp nhưng không phải là từ bỏ chúng

Một điều cần phải làm rõ là chủ quyền chính thức không bao giờ được nhân nhượng và SMA là một tổ chức được tạo ra chỉ tạo điều kiện cho việc thăm dò và quản lý nguồn tài nguyên, ngoài ra không có một mục đích nào khác. Nói một cách khác, luật pháp phải tách ra khỏi việc quản lý tài nguyên. Mặc dù chủ quyền hoạt động sẽ bị hạn chế song chủ quyền chính thức không bị ảnh hưởng. Vấn đề chủ quyền chính thức sẽ để cho thế hệ mai sau quyết định. Tuy nhiên, Trung Quốc và Đài Loan có thể lập luận rằng vì họ được trao phần lớn nhất trong SMA nên có nghĩa là các quốc gia tranh chấp khác đã công nhận tính pháp lý của vùng tranh chấp lãnh thổ chính thức của Trung Quốc và Đài Loan trong khu vực. Mặt khác, các quốc gia tranh chấp khác cũng có thể lập luận rằng sự nhất trí của họ đơn giản chỉ là để gác lại những tranh chấp về chủ quyền chính thức của họ và rằng họ vẫn chưa từ bỏ tuyên bố của họ.

Phi quân sự hóa vùng đảo nổi

Cùng với việc thành lập Cơ quan điều hành, khu vực hạt nhân có thể được tuyên bố là khu vực hòa bình cũng như là một phần của khu vực Đông Nam Á phi hạt nhân, do đó tạo ra cơ sở cho việc xây dựng một khu vực hòa bình, độc lập và trung lập rộng lớn hơn (ZOPFAN) bao gồm toàn bộ Đông Nam Á và như vậy sẽ giúp đạt được một trong các mục tiêu của ASEAN (và của Trung Quốc) đã đặt ra là loại bỏ các cơ hội để các nước lớn ngăn cản và can thiệp vào các vấn đề của khu vực.

Các yếu tố và chức năng khác

Theo chế độ hợp tác này, những yêu sách về chủ quyền có thể bị hạn chế và SMA có thể loại bỏ được xung đột, tạo thuận lợi cho việc thăm dò và khai thác tài nguyên khoáng sản, quản lý việc đánh bắt cá và duy trì chất lượng của môi trường. Khả năng đánh bắt cá đối với khu vực hạt nhân có thể dành cho tất cả các bên tranh chấp. Tuyến đường biển hợp pháp có thể được khai thông cho tàu thuyền qua lại. SMA cũng có thể khuyến khích hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và trong việc bảo vệ những hệ thống kinh tế dễ bị vi phạm, bao gồm xác định những vùng của khu vực này là “những khu vực biển được bảo hộ” như đã quy định trong Công ước về Luật biển.

Cùng với việc khu vực hạt nhân được đưa ra khỏi vòng tranh chấp, một số ít khu vực chồng lấn tranh chấp khác vẫn cần phải được các bên tranh chấp giải quyết, chẳng hạn có thể bằng cách thiết lập những vùng khai thác chung ở vùng phía tây nam ven quần đảo Trường Sa mà Indonesia và Việt Nam đang đòi hỏi chủ quyền và vùng phía nam ven Trường Sa mà Brunei và Malaysia đòi hỏi chủ quyền.

Một công ty nào đó đã được một trong các chính phủ trong khu vực danh cho quyền thăm dò khai thác tại một khu vực về mặt lịch sử đã được thừa nhận nằm trong khu vực tuyên bố chủ quyền của quốc gia đó, và công ty đó đã đầu tư có hiệu quả vào việc thăm dò và/hoặc khai thác tài nguyên khoáng sản tại khu vực đó để biến khu vực nhượng địa này thành khu vực “được trao quyền” thì công ty đó có thể được bảo hộ thích đáng cho các khoản đầu tư của họ.

Kết cục là chủ quyền đối với các đảo và bãi đá có thể được trao cho các bên chiếm đóng hiện tại, hoặc có thể được phân chia lại trên cơ sở bình đẳng khi xem xét đến việc chiếm đóng, trạng thái gần kề về địa lý, và chiều dài bờ biển tương đối ở biển Nam Trung Hoa. Nhưng các đảo này chỉ được mở rộng chủ quyền ra khu vực an toàn 500m, hoặc nhiều nhất là trong vùng lãnh hải hẹp (ví dụ trong phạm vi 3 hải lý). Các đảo này không được sử dụng cho các mục đích quân sự, và các bên tranh chấp khác được phép nghiên cứu khoa học và khai thác đối với bất cứ loại tài nguyên nào ở đây.

(còn tiếp)

Người dịch: Khánh Toàn

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Mark J. Valencia & Jon M. Van Dyke – Comprehensive solutions to the South China Sea disputes: some Options – Trong cuốn The Sea unite: Maritime Cooperation in the Asia Pacific Region. Strategic Study Center, Australian National University 12/96, Pp 224 – 260.

TĐB 97 – 10 & 11, 12