Liệu nguyên tắc không can thiệp có còn là rào cản đối với ASEAN?


Chang Jun Yan

Nhìn vào 3 vấn đề an ninh quan trọng nhất của khu vực châu Á – Thái Bình Dương mà ASEAN phải đối mặt năm vừa rồi: cuộc khủng hoảng người tị nạn Rohingya, vấn đề Biển Đông và cuộc khủng hoảng hạt nhân tại Triều Tiên – chỉ có thể nói cái cách ASEAN phản ứng đối mặt với vấn đề Triều Tiên là còn cho thấy sự thống nhất của khối này.

Đảm nhận vai trò chủ tịch ASEAN năm tới, Singapore sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong việc giúp ASEAN đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan giữa việc đạt được những mục tiêu và mong muốn trở thành một thể chế khu vực lớn mạnh mà vẫn phải giữ các nguyên tắc cơ bản như không can thiệp vào vấn đề nội bộ của các nước thành viên.

Điểm lại một số thành tựu được cho là nổi bật nhất của ASEAN cho đến nay. Thứ nhất, mặc dù không có một cuộc xung đột vũ trang nào giữa các quốc gia thành viên kể từ khi thành lập, ASEAN thực ra vẫn chưa phải là một Cộng đồng ổn định thật sự nơi mà xung đột vũ trang là điều không thể nghĩ tới. Thứ hai, cái cách mà ASEAN đã giúp Trung Quốc hòa nhập hơn với các chủ thể khu vực thực ra vẫn còn chưa hiệu quả khi mà Trung Quốc ngày càng có các hành động hiếu chiến hơn ở Biển Đông.

Ngay cả khi ASEAN đã dần trở thành một phần quan trọng của chủ nghĩa khu vực, đặc biệt khi đã thành công trong việc thiết lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) vào năm 1994 thì những thành tựu này vẫn chưa xứng so với chiều dài lịch sử của ASEAN, chưa nói đến việc ASEAN đã không đủ khả năng giải quyết một cách dứt khoát bất ổn trong khu vực phát sinh từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và sự gia tăng chia rẽ trong ARF.

Kỳ vọng về một Cộng đồng

Đã có nhiều kỳ vọng về một Cộng đồng ASEAN, một Cộng đồng có thể trở nên thịnh vượng cùng nhau; về việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo, là một trục liên kết trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Đây cũng là những vấn đề mà Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã nêu bật trong bài phát biểu của ông tại lễ bế mạc Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 31 vừa kết thúc. ASEAN Singapore 2018 cũng đã chính thức ra mắt logo với dòng chữ “Bền vững và Sáng tạo”.

Tuy nhiên, ngày càng có thể thấy rõ sự mâu thuẫn giữa nguyên tắc không can thiệp của ASEAN và kỳ vòng về một Cộng đồng ASEAN với việc ASEAN đóng vai trò chủ đạo. Như Bộ trưởng Ngoại giao Singapore Vivian Balakrishnan đã phát biểu gần đây, ASEAN hiện nay đang ở bước ngoặt khi việc phải đối mặt với những thách thức rất đa dạng của 10 quốc gia thành viên ngày càng đòi hỏi ASEAN phải ở một vị trí trung tâm.

Do có sự mâu thuẫn giữa việc lấy đồng thuận giữa các thành viên làm chính hay lấy ASEAN làm trung tâm, ASEAN có thể đứng trước nguy cơ tầm ảnh hưởng đang bị giảm sút. Nguyên tắc không can thiệp đã trói tay các thành viên của ASEAN. Ngay cả khi những vấn đề nhưc uộc khủng hoảng Rohingya làm ảnh hưởng tới quá trình dân chủ hóa tại Myanmar, các nước thành viên cũng chỉ lên tiếng chỉ trích mà thôi để tránh làm ảnh hưởng tới hình ảnh của một ASEAN ủng hộ Myanmar.

Thực tế thì không có một cơ chế chính thức nào để ASEAN có thể “can thiệp”, đó là chưa nói đến việc giám sát liệu các mục tiêu chung mà một cộng đồng thường đề ra có được thực thi hay không. Nếu vẫn giữ vững nguyên tắc không can thiệp, thật khó có thể hình dung ra một ASEAN đóng vai trò như một mạng lưới hỗ trợ hiệu quả, một cộng đồng thực sự cho người dân.

Khi Trung Quốc đang tiếp tục củng cố năng lực quân sự và quyền lực, việc ASEAN không thể thiết lập một quy tắc ràng buộc pháp lý cho Biển Đông thực sự là điều đáng để chỉ trích. Đây cũng là hệ quả của việc thiếu đồng thuận giữa các quốc gia thành viên. Mỗi quốc gia thành viên ASEAN đều phải đặt lợi ích riêng lên trên, đặc biệt là các nước tranh chấp. Kể cả khi có sự đồng thuận giữa các nước tranh chấp thì cũng không thể có một ràng buộc pháp lý vì quyết định đó không đại diện cho toàn bộ các nước ASEAN.

Chúng ta vẫn còn phải nói đến sự kiện năm 2012 tại Phnom Penh (Campuchia) khi các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN không thể đưa ra một thông cáo chung về vấn đề Biển Đông. Đây là lần đầu tiên các Bộ trưởng ASEAN đã thất bại trong việc đưa ra tuyên bố chung, một thất bại đáng kể cho một tổ chức luôn tự hào trong việc đưa ra các tuyên bố chính trị chung.

Nguyên tắc không can thiệp đã định hình ASEAN trong 50 năm qua. Tuy nhiên, những kỳ vọng về vị trí trung tâm của ASEAN và một Cộng đồng ASEAN là rất quan trọng. Không thể kỳ vọng về một ASEAN hoàn hảo, nhưng ASEAN sẽ phải lựa chọn giữa việc không can thiệp và tầm ảnh hưởng giảm sút hoặc tăng cường vai trò trung tâm để giải quyết các vấn đề của khu vực. Nói ngắn gọn, ASEAN cần phải không để các định kiến trước đây định hình tương lai của khu vực mà phải tìm ra cách thức mới để có thể giải quyết các vấn đề khu vực mà các nước thành viên vẫn còn có sự khác biệt.

Nhiều nhà phân tích đã đưa ra các ưu tiên khác nhau mà ASEAN cần phải giải quyết dưới sự lãnh đạo của Singapore với vai trò Chủ tịch trong năm 2018, trong đó bao gồm vấn đề Biển Đông, đẩy mạnh hội nhập kinh tế, tập trung hơn vào các cuộc khủng hoảng tại Triều Tiên hoặc tập trung vào hợp tác khu vực để chống lại các thách thức phi truyền thống như khủng bố.

ASEAN tuổi 50 phải hướng tới sự bền vững và sáng tạo để chứng minh tầm quan trọng của tổ chức này là không hề giảm sút.

Nguồn: channelnewasia

TKNB: 20/12/2017

Advertisements

Nhà máy điện hạt nhân nổi trên Biển Đông: Kế hoạch liều lĩnh của Trung Quốc


Nguyen Viet Phuong

Những nhà máy như vậy sẽ đem lại những rủi ro nghiêm trọng về tính an toàn đối với Trung Quốc và Đông Nam Á.

Vào ngày 28/4, tập đoàn hạt nhân Nga Rosatom tuyên bố Akademik Lomonosov, nhà máy điện hạt hân nổi trên mặt nước đầu tiên của họ, đã chính thức rời Saint Petersburg, nơi nó được xây dựng từ năm 2009, tới thị trấn Pevek ở huyện Chaunsky gần Bắc Cực. Tại thị trấn cực Bắc đó của Nga, Akademik Lomonosov sẽ được kết nối với lưới điện và cung cấp điện cho người dân địa phương thông qua hai lò phản ứng hạt nhân 35-MWe KLT-40S. Trong khi được Rosatom ca ngợi là một thành tựu lớn của ngành công nghiệp hạt nhân Nga và là một sản phẩm tiềm năng cho thị trường xuất khẩu hạt nhân, việc triển khai Akademik Lomonosov cũng gây quan ngại cho các nhà hoạt động môi trường. Họ nêu lên các rủi ro về tính an toàn do môi trường khắc nghiệt của Bắc Băng Dương, nơi các xà lan năng lượng hạt nhân sẽ được vận hành, và các tính năng bảo vệ hạn chế so với các nhà máy điện hạt nhân hiện đại đặt trên mặt đất. Mặc dù việc đặt tên các xà lan là “Chernobyl nổi” hay “Titanic hạt nhân”, như tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace đã làm, có thể là hấp tấp khi xét tới việc Nga có kinh nghiệm vận hành các tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân trong nhiều thập kỷ, nhưng các nước láng giềng của Nga và các tổ chức quốc tế như Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) vẫn sẽ phải theo dõi sát sao hoạt động của loại hình nhà máy hạt nhân mới này để bào vệ Akademik Lomonosov trươc bất kỳ sự cố an toàn hoặc an ninh nào với những hậu quả có khả năng vượt ra ngoài biên giới.

Việc triển khai Akademik Lomonosov cũng là một lời nhắc nhở tới các nước Đông Nam Á rằng Trung Quốc cũng đã lên kế hoạch xây dựng và vận hành các phương tiện điện hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Vào năm 2016, hai nhà cung cấp hạt nhân chính thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc là Tập đoàn hạt nhân quốc gia Trung Quốc (CNNC) và Tập đoàn điện hạt nhân Trung Quốc (CGN) đã công bố kế hoạch cùng phát triển xà lan điện hạt nhân đầu tiên của Trung Quốc để triển khai trên biển Nam Trung Hoa vào năm 2020, lò phản ứng đầu tiên trong số 20 lò phản ứng như vậy theo kế hoạch. Các lò phản ứng này sẽ không chỉ cung cấp điện hoặc nước đã khử muối mà các đảo do Trung Quốc kiểm soát rất cần, mà còn hỗ trợ hoạt động thăm dò dầu khí của Tổng công ty dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC), chủ sở hữu giàn khoan dầu nước sâu Hải Dương 981. Năm 2014, việc triển khai giàn khoan này tới vùng biển tranh chấp đã gây ra một xung đột chính trị lớn giữa Trung Quốc và Việt Nam. Gần đây, việc các phương tiện truyền thông nhà nước như tờ Nhân dân Nhật báo xác nhận các kế hoạch như vậy đã dẫn tới các mối quan ngại rằng những phương tiện điện hạt nhân nổi này, một khi được hạ thủy trên biển Nam Trung Hoa, có thể giúp Trung Quốc đẩy nhanh hoạt động cải tạo đất và xây dựng đảo nhân tạo của nước này tại đó.

Gạt sang một bên khía cạnh pháp lý và quân sự tiềm tàng của việc triển khai các nhà máy điện hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa, mà đã được đề cập tới ở các nơi khác và xứng đáng có một cuộc thảo luận riêng, bài viết này tập trung vào một vấn đề ít biết đến hơn: rủi ro về tính an toàn đối với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á nằm quanh biển Nam Trung Hoa từ các xà lan điện hạt nhân tại vùng biển tranh chấp.

Các rủi ro vận hành

Thứ nhât, có những thách thức nghiêm trọng của riêng hoạt động quản lý an toàn vận hành cho các nhà máy điện hạt nhân nổi do tính mới lạ của công nghệ, các điều kiện vận hành khó khăn và các hạn chế an toàn cố hữu của các nhà máy này (khoang chứa nhỏ hơn và khả năng xảy ra sự cố cao hơn do nguy cơ lật tàu hay va chạm). Về khía cạnh này, các chuyên gia đã lên tiếng bày tỏ quan ngại về năng lực của các cơ quan quản lý an toàn hạt nhân của Trung QUốc torng việc theo kịp sự mở rộng nhanh chóng về số lượng và tính đa dạng của công nghệ trong chương trình hạt nhân dân sự của Trung Quốc. Trung Quốc hiện có 39 nhà máy điện hạt nhân trên mặt đất đang hoạt động, thuộc 3 loại hình công nghệ khác nhau (lò phản ứng nước nhẹ áp lực, lò phản ứng nước nặng áp lực và lò phản ứng nhanh tái sinh) từ nhiều bên cung cấp trong nước và nước ngoài, và 18 nhà máy khác đang được xây dựng.

Năm 2011, Văn phòng nghiên cứu của Quốc vụ viện Trung Quốc đã kết luận Cơ quan an toàn hạt nhân quốc gia (NNSA), cơ quan giám sát hạt nhân chính của Trung Quốc, không có đủ nhân lực khi so sánh với các cơ quan tương tự tại các cường quốc hạt nhân khác, và mức lương của các nhà quản lý hạt nhân Trung Quốc nhìn chung thấp hơn so với những người đồng cấp của họ làm việc cho ngành công nghiệp hạt nhân. Hơn nữa, Trung Quốc có một kế hoạch đầy tham vọng là xây dựng các kiểu lò phản ứng tiên tiến mới, bao gồm các lò phản ứng module nhỏ được sử dụng cho các phương tiện hạt nhân nổi, và xuất khẩu chúng sang các nước láng giềng, điều sẽ đòi hỏi cơ quan giám sát của Trung Quốc kéo căng lực lượng lao động của mình hơn nữa. Do đó, NNSA và các tổ chức liên quan sẽ phải đối mặt với một thách thức đáng kể trong việc đảm bảo an toàn cho đội tàu hạt nhân nổi của Trung Quốc trước thời tiết khắc nghiệt và rủi ro va chạm từ giao thông hàng hải rộng lớn trên biển Nam Trung Hoa – đặc biệt là khi xét tới thực tế là khác với Nga, Trung Quốc chưa bao giờ chế tạo một tàu phá băng chạy bằng năng lượng hạt nhân và vì vậy không có đủ kinh nghiệm trong xây dựng, vận hành hoặc giám sát các phương tiện hạt nhân nổi.

Như cựu Tổng giám đốc IAEA Mohamed ElBaradei từng nhận xét: “Một tai nạn hạt nhân ở bất cứ đâu là một tai nạn ở khắp mọi nơi”. Nếu bất kỳ điều gì xảy ra với các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc – cho dù đó là một vụ tràn phóng xạ ra biển, hay hư hại khoang chứa do các cơn bão nhiệt đới, hay một vụ va chạm vô tình với các tàu đi qua – đều có tác động nghiêm trọng về kinh tế và tâm lý không chỉ đối với các nước trong khu vực như Việt Nam, Philippines hay Singapore, mà còn cả với các nước như Nhật Bản hay Hàn Quốc vốn phụ thuộc nhiều vào dầu mỏ và khí đốt được cung cấp qua các tuyến đường vận tải đi qua biển Nam Trung Hoa.

Hợp tác an toàn hạt nhân đang lâm nguy

Thứ hai, kế hoạch của Trung Quốc vận hành các nhà máy hạt nhân nổi trên biển Nam Trung Hoa cũng sẽ tạo ra các vấn đề về hợp tác an toàn hạt nhân với các nước ven biển ở Đông Nam Á. Thông thường, để chứng minh thành tích an toàn của chương trình hạt nhân dân sự của mình trước cộng đồng quốc tế, một quốc gia cần phê chuẩn Công ước về an toàn hạt nhân và tham gia quá trình đánh giá của Công ước này bằng cách gửi một báo cáo quốc gia tới cuộc họp đánh giá được IAEA tổ chức 3 năm một lần. Sau khi đã bắt đầu thực thi Công ước kể từ năm 1996, Trung Quốc thường xuyên gửi báo cáo quốc gia về an toàn hạt nhân của mình tới các cuộc họp đánh giá, trong đó gần đây bao gồm một bản đồ với các tuyên bố chủ quyền của  Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa. Do các báo cáo này thường được công bố, các bên thứ ba như các quốc gia Đông Nam Á có thể xác minh liệu Trung Quốc có thực thi các biện pháp an toàn cần thiết cho các cơ sở hạt nhân dân sự của nước này hay không.

Tuy nhiên, họ sẽ không thể xem xét những thành tích như vậy về tính an toàn để đánh giá đội tàu hạt nhân nổi trong tương lai của Trung Quốc, do Công ước về an toàn hạt nhân chỉ áp dụng với các nhà máy điện hạt nhân trên đất liền. Mặc dù các quốc gia xung quanh biển Nam Trung Hoa vẫn có thể yêu cầu Trung Quốc cung cấp thông tin trong trường hợp xảy ra bất kỳ tai nạn nào đối với các phương tiện nổi của nước này (phù hợp với quy định của Công ước về thông báo sớm một tai nạn hạt nhân, áp dụng với tất cả các loại lò phản ứng hạt nhân, và đã được tất cả các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc phê chuẩn), rõ ràng sẽ là quá muộn để các nước có thể bị ảnh hưởng thực hiện bất kỳ phản ứng nào trong trường hợp khẩn cấp hoặc có kế hoạch giảm nhẹ thiệt hại nào một khi tai nạn đã xảy ra.

Người ta có thể lập luận rằng vấn đề liên lạc về chủ đề an toàn có thể được cải thiện thông qua việc phát triển các thỏa thuận song phương hoặc đa phương riêng rẽ giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á. Vấn đề quả thực đã được cải thiện khi Trung Quốc và Việt Nam ký một biên bản ghi nhớ (MoU) về hợp tác an toàn hạt nhân vào tháng 11/2017 tập trung vào trao đổi thông tin, sự sẵn sàng và phản ứng trong trường hợp khẩn cấp, trong số các chủ đề khác. MoU này xuất hiện không lâu sau khi Việt Nam tìm kiếm sự liên lạc tốt hơn với Trung Quốc liên quan tới tính an toàn của các nhà máy điện hạt nhân Trung Quốc đã được xây dựng và vận hành gần biên giới Việt – Trung, bao gồm Fangchenggang, Yangjiang và Changjiang, trong đó nhà máy Fangchenggang chỉ cách biên giới hai nước 50 km. Nhưng khi các nhà máy điện hạt nhân nổi được Trung Quốc triển khai đến một vùng biển cũng được các nước Đông Nam Á như Việt Nam hay Philippines tuyên bố chủ quyền, việc ký kết các thỏa thuận song phương hay đa phương tương tự cho các phương tiện nổi này khó có thể xay ra. Các quốc gia này sẽ không hy sinh tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của họ cho một MoU về an toàn hạt nhân.

Tuy nhiên, nếu không có bất kỳ kênh trao đổi thông tin nào, thì các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa sẽ không thể đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ duy trì các tiêu chuẩn an toàn cao nhất cho các nhà máy điện hạt nhân nổi của mình, trong khi chính nước này cũng không có một bộ phận quan trọng trong hệ thống giám sát nghiêm ngặt về an toàn hạt nhân – tức là hết sức cần có khảo cứu đồng đẳng của các nước khác trong khu vực.

Khi xét tới những thách thức tiềm tàng như vậy về tính an toàn mà các nhà máy điện hạt nhân nổi của Trung Quốc phải đối mặt trong tương lai và các vấn đề khác như trách nhiệm pháp lý dân sự trong trường hợp xảy ra tai nạn với các phương tiện này, hoặc rủi ro an ninh từ cướp biển hoặc các nhóm khủng bố trong khu vực, kịch bản tốt nhất cho khu vực sẽ là Trung Quốc xem xét lại nguồn cung cấp điện cho các đảo mà nước này kiểm soát, hoặc ít nhất trì hoãn triển khai đội tàu. Nhưng theo các nguồn tin của Trung Quốc, nguyên mẫu trình diễn đầu tiên cho một lò phản ứng hạt nhân nổi do Trung Quốc sản xuất nhiều khả năng sẽ được thử nghiệm trên biển Bột Hải ngoài khơi bờ biển phía Bắc của Trung Quốc “trước năm 2020”. Sự phát triển nhanh chóng của chương trình tàu hạt nhân nổi của Trung Quốc khiến cho một kịch bản tốt như vậy khó có thể xảy ra.

Điều đó có nghĩa là các nước Đông Nam Á – với sự hỗ trợ của ASEAN và Mạng lưới các cơ quan quản lý hạt nhân ở khu vực Đông Nam Á (ASEANTOM), các tổ chức và diễn đàn khu vực như Hội đồng hợp tác an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương (CSCAP) và các đối tác quốc tế khác có lợi ích trong khu vực như Mỹ, Nhật Bản hay Hàn Quốc – nên sớm tìm kiếm ít nhất một kênh liên lạc với Trung Quốc về cách thức trao đổi thông tin về sự an toàn của đội tàu và việc quản lý hoạt động của nó, trong khi không làm tổn hại đến tuyên bố chủ quyền của mỗi quốc gia đối với các đảo ở biển Nam Trung Hoa. Như cuộc thảo luận ở trên đã cho thấy, sẽ không có giải pháp dễ dàng nào cho vấn đề về tính an toàn của các nhà máy điện hạt nhân nổi, nhưng việc tìm ra một giải pháp như vậy là điều cần thiết cho một biển Nam Trung Hoa trong tương lai không có rủi ro an toàn hạt nhân.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/05/chinas-risky-plan-for-floating-nuclear-power-plants-in-the-south-china-sea/

TLTKĐB – 18/05/2018

Tiếp sau việc Trung Quốc triển khai tên lửa đến quần đảo Trường Sa là gì? – Phần cuối


Aleksey Leonkov, chuyên gia quân sự và là biên tập viên tạp chí Kho vũ khí Quốc gia, bình luận: “Trước kia, Mỹ hành xử rất ngổ ngáo trên Biển Đông, họ tiến hành nhiều cuộc tập trận với Australia và các nước châu Á – Thái Bình Dương kể cả Ấn Độ. Giờ đây, nhiều khả năng là họ không còn cơ hội đó nữa”. Ngoài ra theo chuyên gia này, sự hiện diện của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo khiến cho việc Mỹ đổ quân đến bán đảo Triều Tiên không còn bí mật được nữa. Ông Leonkov nói thêm: “Bằng cách đó, Trung Quốc tạo nên một vùng đệm an ninh, vạch ra ranh giới cho hệ thống phòng thủ quân sự của mình. Mối đe dọa chính đối với Trung Quốc đến từ phía Thái Bình Dương, nơi Mỹ có khá nhiều tàu hải quân”.

Xét từ góc độ chiến lược quân sự, hành động của Trung Quốc hoàn toàn dễ hiểu vì ranh giới phòng vệ càng mở rộng “quân đội Trung Quốc tại lục địa càng có thêm thời gian để vào tư thế sẵn sàng chiến đấu và tấn công”. Chuyên gia Leonkov chỉ ra rằng ngoài các hệ thống tên lửa, Trung Quốc còn xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng để sửa chữa và neo đậu tàu thuyền với mục tiêu là sánh ngang với Hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Căn cứ gần Biển Đông nhất của Mỹ nằm ở Okinawa, phía Nam Nhật Bản. Theo ông Leonkov, căn cứ này cũng không còn an toàn như người ta tưởng bởi hiện nó đã nằm trong “tầm với” của tên lửa hành trình Trung Quốc, cho phép Trung Quốc có một lợi thế quân sự trước Mỹ. Theo chuyên gia quân sự người Nga, lựa chọn duy nhất của Mỹ hiện nay là tăng số lượng hạm đội tàu chiến, song phương án này đòi hỏi nhiều thời gian và chi phí tốn kém. Ông Leonkov cho rằng ít có khả năng Mỹ công khai xung đột với Trung Quốc vì “họ phải xem lại số lượng tàu ở châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ưu thế gấp ba lần mà Mỹ có cho đến gần đây đã thay đổi theo hướng đồng đẳng”.

Liệu Mỹ có hành động gì?

Mỹ đã nêu quan ngại với Trung Quốc về hoạt động quân sự hóa mới nhất của nước này ở Biển Đông và sẽ có những hậu quả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, phát ngôn viên Nhà Trắng Sarah Sanders không nói những hậu quả đó có thể là gì.

Ngày 4/5, ông Joseph Felter, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách Nam Á và Đông Nam Á, cho biết thông tin về việc Trung Quốc bố trí tên lửa trên các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa trên Biển Đông “hoàn toàn giống âm mưu quân sự hóa những thực thể tranh chấp”.

Quan chức này nêu rõ: “Chúng tôi không ủng hộ điều đó. Chúng tôi muốn một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp này”, đồng thời nhắc lại lập trường phản đối của Mỹ đối với hành động bồi đắp và quân sự hóa các thực thể, gồm đảo san hô và đảo nhỏ, tại các khu vực tranh chấp.

Ông Felter nhấn mạnh: “Mỹ sẽ tiếp tục điều máy bay, tàu và hoạt động bất kỳ đâu mà luật pháp quốc tế cho phép. Chúng tôi khuyến khích các nước khác thực thi quyền tương tự trong khuôn khổ luật pháp quốc tế… Chúng tôi duy trì cam kết vững vàng ủng hộ đồng minh hiệp ước thân cận của chúng tôi, Philippines”.

Theo atime.com, Trung Quốc đã tận dụng việc nước này giúp đỡ Mỹ trong các cuộc đàm phán về vấn đề Triều Tiên để trang bị 2 hệ thống tên lửa là HQ-9B và YJ-12B cho 3 hòn đảo trên Biển Đông.

Tất cả động thái gần đây của Trung Quốc gây nghi ngờ về công thức răn đe truyền thống của Washington, trong đó, Mỹ sử dụng sức mạnh chính trị và quân sự để duy trì trật tự tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Các hoạt động của Mỹ bao gồm các cuộc tập trận hải quân di chuyển tự do, vốn đang bị các máy bay và tàu chiến của Trung Quốc theo dõi chặt chẽ, và sự hiện diện của nhiều loại máy bay Mỹ, như máy bay ném bom B-52, máy bay tiêm kích, các chuyến bay do thám, cũng kéo theo những hành động đối phó của Trung Quốc. Việc triển khai máy bay tàng hình thế hệ mới J-20 tại Biển Đông là cách Bắc Kinh khẳng định sự hiện diện và năng lực của mình.

Vì vậy, để đạt hiệu quả, Mỹ phải tăng cường các nguồn lực và công tác huấn luyện cho hải quân, hiện đại hóa lực lượng không quân và năng lực phòng thủ tên lửa, đồng thời triển khai thêm nhiều căn cứ gần cả Biển Đông và Eo biển Đài Loan. Đây là nhiệm vụ nặng nề vì chi phí lớn và đòi hỏi sự cam kết và tầm nhìn trong dài hạn.

Ngoài ra, Mỹ phải củng cố sức mạnh cho các đồng minh khu vực là Nhật Bản và Đài Loan, bằng việc đẩy mạnh các cuộc tuần tra chiến lược và ủng hộ các thỏa thuận hợp tác quân sự, đặc biệt giữa Nhật Bản và Đài Loan.

Ý định của Philippines

Chính quyền Manila dường như đang lúng túng, không biết phản ứng ra sao trước sự việc Trung Quốc bố trí tên lửa.

Ngày 4/5, Phủ Tổng thống Philippines bày tỏ quan ngại về việc Trung Quốc triển khai tên lửa ở Trường Sa, đồng thời khẳng định “tin tưởng là các tên lửa này không trực tiếp nhằm vào chúng ta”.

Ngày 5/5, Phủ Tổng thống Philippines lại thông báo vẫn đang thẩm định thông tin về các tên lửa mới của Trung Quốc, ngay cả khi Bắc Kinh chính thức khẳng định đã triển khai tên lửa.

Trang mạng Philstar.com dẫn tuyên bố của Ngoại trưởng Philippines Alan Peter Cayetano ngày 6/5 cho biết nước này đang tìm kiếm cách tiếp cận đa phương, trong đó có sự tham gia của Mỹ và các cường quốc phương Tây, trong việc đươgn đầu với tình hình an ninh đang dần trở nên xấu hơn tại Biển Đông, sau khi Trung Quốc triển khai tên lửa trên các đảo nhân tạo tại vùng biển tranh chấp này.

Ông Cayetano phản bác mạnh mẽ những chỉ trích cho rằng chính quyền của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte không nỗ lực phản đối việc Bắc Kinh triển khai các tên lửa hành trình chống hạm và những hệ thống tên lửa đất đối không trên Đá Chữ thập, Đá Subi và Đá Vành Khăn trong những tuần qua. Ông nói: “Chúng tôi không phớt lờ những diễn biến này. Chỉ có Philippines và Trung Quốc thì không thể giải quyết được tình hình tại Biển Hoa Nam (Biển Đông)”.

Ngoại trưởng Philippines cho rằng các bên tuyên bố chủ quyền khác cũng có những cơ sở trên Biển Đông và hải quân phương Tây cũng cho tàu di chuyển qua khu vực này.

Theo ông Cayetano, cũng giống như các cuộc đàm phán phi hạt nhân hóa và hòa bình giữa Hàn Quốc – Triều Tiên, các cường quốc phương Tây cần phải tham gia đàm phán về vấn đề Biển Đông: “Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền như Malaysia, Việt Nam, Brunei cũng cần đối thoại với nhau… Khi bạn hỏi Trung Quốc, họ sẽ nói rằng hải quân các cường quốc phương Tây đang ngày càng khiêu khích nên họ cần bảo vệ đất nước. Khi bạn hỏi các cường quốc phương Tây, họ lại nói rằng họ đến bảo vệ chúng ta vì Trung Quốc ngày càng hung hăng. Chúng tôi hoan nghênh việc phương Tây hăng hái bảo vệ chúng tôi nhưng mà làm thế nào chúng ta mới có thể đi đến đàm phán đây?”.

Ngoại trưởng Cayetano nhận định, các nước ASEAN đang bị “kẹt giữa (cuộc đối đầu của) Trung Quốc và các cường quốc phương Tây”.

Ngày 5/5, CNN Philippines dẫn lời người phát ngôn của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte, ông Harry Roque cho biết chính phủ nước này sẽ sử dụng con đường ngoại giao và mọi biện pháp hòa bình để giải quyết vấn đề Trung Quốc triển khai các hệ thống tên lửa tại Biển Đông.

Trả lời báo giới ông Roque nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ sử dụng tất cả những quy định liên quan trong Hiến chương Liên hợp quốc, biện pháp ngoại giao và thậm chí là gửi công hàm phản đối nếu Bộ Ngoại giao cảm thấy phù hợp. Tuy nhiên, tất cả sẽ đều là những biện pháp giải quyết mâu thuẫn bằng con đường hòa bình”.

Trước đó, Tổng thống Duterte đã cho rằng người tiền nhiệm Benigno Aquino III và Mỹ phải chịu trách nhiệm về việc Trung Quốc tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông.

Trong bài phát biểu tại thành phố Davos, ông Duterte nhấn mạnh: “Không thể xây dựng một hòn đảo nhân tạo ở ngoài biển khơi. Điều này không được phép. Quốc gia duy nhất có thể ngăn chặn họ (Trung Quốc) là Mỹ”.

Theo ông Duterte, chính quyền cựu Tổng thống Aquino đã không thể đương đầu với Trung Quốc bằng phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye (Hà Lan).

Trong lúc chính quyền còn đang chần chừ, việc Trung Quốc bố trí hàng loạt tên lửa tại quần đảo Trường Sa vấp phải sự phản ứng trong dư luận Philippines.

Theo abs-cbn.com, ngày 6/5, cựu Cố vấn về pháp luật của Chính phủ Philippines Florin Hilbay cho rằng Tổng thống nước này Rodrigo Duterte nên ngừng đổ lỗi cho người khác về việc Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông.

Trong khi đó, Phó Tổng thống Philippines Robredo lên án Trung Quốc triển khai tên lửa tại Biển Đông, đồng thời hối thúc chính quyền Duterte gửi công hàm ngoại giao phản đối Trung Quốc để khẳng định các quyền của Philippines.

Cựu Cố vấn An ninh Roiko Golez khẳng định, nếu không có phản ứng chính thức trước một hành động như vậy, thế giới sẽ nghĩ rằng Philippines “nhân nhượng”, “chấp nhận điều này như một sự đã rồi”.

Nguồn: TKNB – 08/05/2018

Tiếp sau việc Trung Quốc triển khai tên lửa đến quần đảo Trường Sa là gì? – Phần đầu


Reuters CNBC đưa tin Trung Quốc đã triển khai hệ thống tên lửa chống hạm và tên lửa đất đối không tại 3 căn cứ tiền đồn ở Biển Đông.

Theo CNBC, các tên lửa hành trình chống hạm YJ-12B cho phép Trung Quốc tấn công các tàu trong bán kính 295 hải lý. Trong khi đó, các tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B có thể tấn công máy bay, máy bay không người lái và tên lửa hành trình trong bán kính 160 hải lý.

Một quan chức tình báo giấu tên của Mỹ cho biết trong suốt một tháng qua, những tên lửa này đã được chuyển đến Đá Chữ thập, Đá Subi và Đá Vành khăn.

Theo phóng viên TTXVN tại Hong Kong, Trung Quốc chưa từng đề cập đến việc triển khai tên lửa ở Biển Đông, chỉ tuyên bố rằng các công trình quân sự của Trung Quốc nằm ở quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa) phục vụ mục đích phòng thủ.

Bộ Quốc phòng Trung Quốc không đưa ra bình luận gì, trong khi Bộ Ngoại giao nước này không đề cập đến việc triển khai tên lửa, song nói rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với quần đảo Trường Sa và rằng việc triển khai thiết bị quốc phòng cần thiết là nhằm phục vụ nhu cầu an ninh quốc gia chứ không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh nói: “Những ai không có ý định gây hấn thì không việc gì phải lo lắng hoặc sợ hãi”.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên CNBC, ông Greg Poling, chuyên gia về Biển Đông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington, nhận định: “Có thể xem Trung Quốc đã có một bước tiến quan trọng. Các dàn tên lửa đó rõ ràng là một mối đe dọa tấn công đối với các bên tranh chấp khác, đồng thời đưa Trung Quốc gần thêm đến mục tiêu kiểm soát hoàn toàn vùng biển và vùng trời ở Biển Đông”.

Chuyên gia Poling nhấn mạnh giờ đây mọi tàu bè hay máy bay hoạt động tại khu vực Trường Sa đều nằm trong tầm bắn của tên lửa Trung Quốc. Hiện vẫn chưa rõ Bắc Kinh sẽ triển khai bao nhiêu tên lửa trong khu vực song với hệ thống vũ khí này, quân đội Trung Quốc không chỉ đủ sức tự vệ mà còn có khả năng tấn công các thực thể mà các quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác kiểm soát.

Nhiều ý kiến nhận định Bắc Kinh sẽ không dừng ở đó.

Theo dự báo của Bonnie Glaser, cố vấn cao cấp về châu Á của CSIS, sau tên lửa, bước kế tiếp của Trung Quốc sẽ là triển khai máy bay chiến đấu, tương tự những gì đã diễn ra tại quần đảo Hoàng Sa.

Nhà nghiên cứu Collin Koh, hiện làm việc cho Chương trình An ninh Hàng hải, thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore), cho rằng việc triển khai tên lửa ở Trường Sa sẽ giúp Trung Quốc nâng cao khả năng triển khai lực lượng ở Biển Đông. Cùng với các phương tiện di động như máy bay và tàu chiến, Trung Quốc đã tự tạo một vùng an ninh bao phủ toàn bộ vùng Biển Đông, kể cả tại những vùng biển và vùng trời mà họ không nắm giữ. Theo ông Collin Koh, vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc có một khái niệm về “quân sự hóa” rất khác các nước khác.Bắc Kinh khẳng định những hoạt động nói trên không phải là quân sự hóa, mà chỉ là những biện pháp mang tính phòng thủ, tự vệ, trong khi họ xem những hoạt động tương tự của các nước khác là quân sự hóa!

Câu hỏi đang được đặt ra hiện nay là Trung Quốc sẽ tuyên bố thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Đông hay không. Theo một số nhà phân tích, sau việc triển khai tên lửa ở Trường Sa, việc thiết lập ADIZ có thể là bước kế tiếp để Trung Quốc thật sự thao túng Biển Đông.

Tháng 4/2018, tân Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của quân đội Mỹ, Thượng tướng hải quân Philip Davidson khẳng định: Căn cứ tác chiến tiền phương của Trung Quốc ở Biển Đông có vẻ đã hoàn chỉnh. Ông bình luận: “Điều duy nhất còn thiếu hiện nay là triển khai các lực lượng trên bộ”. Tướng Davidson chỉ rõ Trung Quốc có thể sử dụng các căn cứ này để thách thức sự hiện diện của quân đội Mỹ ở khu vực, và “về quân lực có thể dễ dàng áp đảo bất cứ một bên nào khác có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông”.

Chuyên gia Steven Stashwick viết trên tạp chí The Diplomat rằng việc Trung Quốc triển khai các tên lửa này là hành động khiêu khích nghiêm trọng. Ông nhận định: “Không thể có bất kỳ tuyên bố nào về mặt ngoại giao đủ để xoa dịu sự tức giận của các nước ở Biển Đông và các cường quốc bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản và Australia nếu những hệ thống tên lửa này được duy trì tại các căn cứ của Trung Quốc ở Trường Sa… Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ cân nhắc phản ứng của dư luận trước hành động này để tính toán thời điểm và tốc độ phù hợp khi triển khai thêm các hệ thống phòng thủ trong khu vực, chẳng hạn như máy bay chiến đấu, máy bay ném bom, và các tên lửa đạn đạo truyền thống có khả năng tấn công cả các tàu bè và căn cứ ở xa, thậm chí là ở ngoài khu vực Biển Đông”.

Trung Quốc tạo thách thức lớn mới đối với quân đội Mỹ?

Phóng viên TTXVN tại Moskva dẫn lời giới chuyên gia quân sự Nga nhận định Trung Quốc đã chặn đứng tuyến đường hoạt động của tàu chiến Mỹ, cũng như tạo ra một vùng đệm an ninh, thiết lập nên ranh giới cho toàn hệ thống quốc phòng trên biển của mình. Nói cách khác, Bắc Kinh đã tìm ra cách bảo vệ an toàn cho khu vực dễ tổn thương nhất của mình trước nguy cơ tấn công của Mỹ. Theo phân tích của Mỹ, Trung Quốc đã xây dựng khoảng 27 tiền đồn tại Biển Đông. Như vậy, thực chất Trung Quốc đã xây dựng một kiểu tam giác chiến lược trong khu vực, đảm bảo quyền kiểm soát đối với tất cả các lãnh thổ nằm bên trong cái gọi là “Đường 9 đoạn”.

Tạp chí National Interest cho rằng việc Trung Quốc triển khai tên lửa YJ-12B có thể tạo ra thách thức rất lớn với quân đội Mỹ. Theo nhận định của tổ chức Liên minh Ủng hộ Phòng thủ Tên lửa (MDAA), loại vũ khí này được xem là “tên lửa chống hạm nguy hiểm nhất mà Trung Quốc sản xuất từ trước tới nay”.

Sự nguy hiểm của YJ-12B tới từ “tầm bắn lên tới 400 km, khiến nó trở thành tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có tầm bắn xa nhất và có tốc độ cao nhất”. Bởi vậy, theo MDAA, hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis và các tên lửa đất đối không SM-2 vốn được triển khai để bảo vệ các hạm đội tàu sân bay của Mỹ khó có thể phát hiện hoặc đánh chặn loại tên lửa này nếu nó được phóng từ khoảng cách ngoài tầm ngắm của chúng, điều có thể khiến Hải quân Mỹ gặp bất lợi về mặt thời gian. Hơn thế nữa, các hệ thống phòng thủ cũng khó có thể chống đỡ YJ-12 do quỹ đạo bay theo đường xoắn của loại tên lửa này. MDAA kết luận: “Việc Trung Quốc triển khai YJ-12 và các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa khác cho thấy ý đồ thiết lập khả năng chống tiếp cận và chống xâm nhập trong trường hợp xảy ra xung đột”.

Trong khi đó, tên lửa đất đối không tầm xa HQ-9B, dù không thể sáng bằng các tên lửa S-300 và S-400 của Trung Quốc, song cũng là hệ thống tên lửa cực kỳ tối tân. Chuyên gia vũ khí Carlo Kopp viết trên tạp chí Air Power của Australia: “Tính cơ động của các mẫu tên lửa HQ-9 tương tự khả năng đánh chặn và phá hủy tên lửa đối phương của các mẫu SA-10, SA-20 và SA-21…”. Ông cũng nhấn mạnh rằng khả năng của các loại tên lửa này là điều “không nên đánh giá thấp”.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 08/05/2018

Mỹ hời hợt trong việc trấn an các nước ở Biển Đông


Washington không biến những gì đã nói thành hành động, sau khi Bắc Kinh ép Hà Nội từ bỏ dự án khoan dầu trên biển Hoa Nam (Biển Đông). Hàm ý của động thái này rất nghiêm trọng và làm suy yếu những nỗ lực của Mỹ và các đối tác dân chủ đang muốn xây dựng một khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Hồi tháng 7/2017, các giám đốc điều hành của tập đoàn Repsol cho biết Trung Quốc đe dọa xung đột quân sự với Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, nếu tập đoàn Tây Ban Nha xúc tiến các hoạt động khoan thăm dò theo kế hoạch ở lô khoan dầu riêng biệt. Tháng 3 năm nay, Trung Quốc cũng làm tương tự với quyết định của tập đoàn Repsol.

Đến nay, vài tuần sau quyết định của Việt Nam, Trung Quốc dường như hoàn toàn thành công trong việc dọa nạt một nước ven biển Hoa Nam tránh xa việc tiếp cận nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Diễn biến này cho thấy rõ rằng những lời trấn an mà Mỹ có thể đưa ra đối với các nước trong khu vực nhìn chung là hời hợt.

Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Mỹ tăng tiến độ hoạt động tự do hàng hải ở gần các thực thể tranh chấp trên biển Hoa Nam. Nói chung, cứ hai tháng lại diễn ra một hoạt động tự do hàng hải, thay vì khoảng mỗi quý một lần như dưới thời chính quyền Obama.

Trong khi đó, Hải quân Mỹ cũng mở rộng đáng kể sự hiện diện trên biển Hoa Nam và gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương.

Những tuần gần đây, đội tàu tấn công gồm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt tiến hành tập trận để thể hiện với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc rằng kinh nghiệm và khả năng của Mỹ vượt trội Trung Quốc.

Tuy nhiên, dù có hành động quân sự như vậy, cũng như việc Washington và các nước châu Á dân chủ khác những tháng gần đây đưa ra những cam kết hỗ trợ bằng lời nói, thì chưa một nước nào trong số này lên tiếng khi Việt Nam bị đe dọa bằng vũ lực và bị tước quyền tiếp cận tài nguyên trên biển Hoa Nam.

Ngay cả khi cử đội tấn công gồm tàu sân bay USS Carl Vinson tiến hành chuyến thăm lịch sử tới Đà Nẵng hồi tháng 3 vừa qua, Washington vẫn ở ngoài cuộc khi Trung Quốc ép Việt Nam.

Trong 5 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Washington đã cải thiện đáng kể. Đỉnh điểm là trong năm cầm quyền cuối cùng của chính quyền Obama, Mỹ đã dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí kéo dàng hàng thập kỷ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, là một trong những nước tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Nam quyết liệt  nhất, hiện Việt Nam có vẻ như bị bỏ mặc.

Thay vì dựa vào luật pháp quốc tế, gồm phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye hồi tháng 7/2016 trong vụ kiện Trung Quốc của Philippines, Hà Nội đã phải chấp nhận thực tế là mình ở thế yếu khi xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Năm 2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Washington để gặp ông Trump, hai nhà lãnh đạo nhất trí với tuyên bố “quan ngại trước những tác động gây mất ổn định mà việc hạn chế bất hợp pháp quyền tự do trên biển gây ra đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Gần đây, Đô đốc Harry Harris, Chỉ huy Tư lệnh Thái Bình Dương sắp mãn nhiệm, mô tả Việt Nam là “đối tác táo bạo nhất của Mỹ trong khu vực chống lại hành vi khiêu khích của Trung Quốc trên biển Hoa Nam”.

Không “thể hiện sức mạnh” khi Việt Nam bị dồn vào chân tường, Washington đã thất bại trong việc thúc đẩy các giá trị mà nước này tuyên bố ủng hộ, liên quan đến tương lai của kiến trúc an ninh khu vực ở châu Á.

“Không có công ty nước ngoài nào muốn đầu tư vào dự án ngoài khơi Việt Nam”

Theo đài VOA, sau 2 lần Repsol bị Việt Nam yêu cầu ngừng các dự án khoan dầu trên vùng biển có tranh chấp với Trung Quốc, các chuyên gia cảnh báo sẽ không có công ty nước ngoài nào còn muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi của Việt Nam.

Đây là nhận định của hai chuyên gia Mỹ về Biển Đông: Gregory Poling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), và Alexander Vuving của Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương, Daniel K. Inouye. Họ cho rằng Việt Nam “không biết phải tiến lên phía trước như thế nào”.

Theo ông Gregory Poling, việc Việt Nam 2 lần yêu cầu Repsol ngừng các dự án khoan dầu cho thấy: “Việt Nam thừa nhận họ không có vùng đặc quyền kinh tế”. Ông nói: “Repsol đã phải 2 lần ngừng dự án và mất hàng trăm triệu USD đầu tư vào việc thăm dò mà không được báo trước chỉ vì áp lực của Trung Quốc. Điều này có thể làm hỏng nhiều kế hoạch thăm dò ngoài khơi của Việt Nam. Không giống bất cứ nước nào khác trên thế giới, Việt Nam không thể dễ dàng và có quyền khai thác các nguồn dầu khí trên biển một cách độc lập”.

Theo báo cáo tài chính năm 2017 của Repsol, hãng này đã chi khoảng 41 triệu USD cho hoạt động thăm dò dầu khí ở Việt Nam trong năm 2017. Nguồn tin của BBC cho biết Repsol mất khoảng 200 triệu USD cho dự án Cá Rồng Đỏ vừa bị ngừng lại trong tháng 3 vừa qua. Ông Poling nhận định: “Tôi không biết (Việt Nam) sẽ tiếp tục thế nào với các dự án thăm dò ngoài khơi, vì không có công ty nước ngoài nào sẽ muốn đầu tư vào bất kỳ một dự án ngoài khơi nào của Việt Nam trên Biển Đông nữa”.

Chuyên gia Vuving có cùng quan điểm với ông Poling khi cho rằng “việc ngưng dự án Cá Rồng Đỏ rõ ràng đã gửi đi một thông điệp ớn lạnh tới các công ty dầu khí muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi Việt Nam”. Ông nghĩ rằng Việt Nam đang lúng túng trong việc “làm thế nào để tiến lên phía trước”.

Trong lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần dùng sức ép để ngăn cản việc khai thác dầu khí trên các vùng biển có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam và nhiều nước khác. Việt Nam chưa bao giờ công khai thừa nhận đã phải dừng các dự án thăm dò dầu khí với Repsol vì sức ép của Trung Quốc. Tuy nhiên, tập đoàn dầu khí quốc gia Petro Vietnam đầu tháng này đã lên tiếng thừa nhận tình hình căng thẳng trên Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí của họ trong năm nay.

Theo Công ty Cổ phần CNG Việt Nam, hiện Việt Nam đang xem xét rút lại một dự án hợp đồng thăm dò khí đốt trị giá 4,6 tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ ở ngoài khơi bờ biển miền Trung.

Giáo sư Vuving cho biết Trung Quốc cũng đã gây áp lực buộc Việt Nam trì hoãn dự án khí đốt nhiều tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ.

Nguồn: The South China Morning Post – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Nghiên cứu xây dựng cơ chế hóa hợp tác Biển Đông – Phần cuối


5/ Xem xét thúc đẩy cơ chế hóa hợp tác Nam Hải

Từ trước đến nay, vấn đề Nam Hải luôn bị vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ các đảo đá và quyền lợi biển chi phối, tiến triển của hợp tác chậm chạp, hợp tác biển của các nước ven biển thể hiện trạng thái hỗn loạn, nguồn tài nguyên chưa được khai thác có hiệu quả. Tăng cường hiệp thương trao đổi, thúc đẩy hợp tác Nam Hải luôn là nhận thức chung của các nước liên quan, vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào để thúc đẩy và tăng cường hợp tác. Tại Hội thảo về Nam Hải thường niên ở Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2017, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã trình bày rõ ràng ý tưởng cảu Trung Quốc đối với cơ chế hợp tác liên quan: “Các nước ven biển Nam Hải nên tích cực làm theo kinh nghiệm thành công của các khu vực khác trên thế giới, với tiền đề không ảnh hưởng đến chủ trương của các bên, có thể khởi xướng và xây dựng cơ chế hợp tác liên quan, xây dựng một diễn đàn hiệu quả để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, tăng cường hợp tác và chia sẻ lợi ích.

Trong điều kiện có lợi – tình hình căng thẳng của Nam Hải hạ nhiệt, cơ hội hợp tác trong khu vực lớn hơn thách thức, các nước nên nắm bắt cơ hội, thúc đẩy hợp tác Nam Hải, xuất phát từ sự quan tâm chung và lợi ích chung của các nước ven bờ Nam Hải, nghiên cứu tính khả thi và con đường thực hiện của việc xây dựng cơ chế hợp tác. Trong quá trình xây dựng cơ chế hợp tác, các nước ven bờ có thể tăng cường quản lý chung đối với Nam Hải, khai phá tiềm lực hợp tác, đồng thời tăng thêm sự minh bạch và tính có thể dự đoán của chính sách, thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau đi vào chiều sâu, tạo ra môi trường có lợi cho các nước thông qua đàm phán để giải quyết hòa bình tranh chấp Nam Hải.

Chuyển đổi ý thức, thể hiện nguyện vọng chính trị của hợp tác. Hiện nay, Nam Hải tồn tại thực tế vì thiếu hụt lòng tin mà làm cho nguyện vọng hợp tác của các bên trong khu vực tương đối thấp, nhưng sự khác biệt về chế độ chính trị, ý thức hệ và tranh cãi về chủ quyền không phải là nhân tố cản trở hợp tác, mấu chốt vẫn nằm ở việc tìm kiếm sự quan tâm chung của các bên ở Nam Hải, lấy lợi ích chung để triển khai và thúc đẩy hợp tác đi vào chiều sâu. Từ kinh nghiệm hợp tác trên các vùng biển khác cho thấy trong tình hình thiếu hụt lòng tin chính trị, tranh chấp vẫn chưa được giải quyét, các bên cũng có thể triển khai hợp tác an ninh phi truyền thống, điều quan trọng nhất là đưa ra nguyện vọng chính trị của hợp tác. Hiện nay, điều mà phần lớn các nước xem xét nhiều hơn khi đề cập đến vấn đề Nam Hải là các vấn đề an ninh phi truyền thống như chủ quyền lãnh thổ… mà xem nhẹ tầm quan trọng của an ninh phi truyền thống đối với tình hình Nam Hải và quản lý biển. Các nước cần phải hội tụ nhận thức chung, chủ trương một cách hợp lý quyền lợi biển, thực hiện một cách có thiện chí nghĩa vụ theo UNCLOS, đồng thời tránh làm cho tinh thần dân tộc trong nước trở thành trở ngại của hợp tác, từ đó tạo bầu không khí chính trị tốt đẹp cho hợp tác Nam Hải.

Thúc đẩy hợp tác từ lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và nghề cá. Xét thấy tình trạng phức tạp của điều kiện địa lý và tranh chấp quyền tài phán trên Nam Hải, trong tình hình các bất đồng lớn vẫn chưa được giải quyết, phải thúc đẩy từ dễ đến khó hợp tác ở khu vực này, bắt đầu tư các lĩnh vực ít nhạy cảm hoặc có nhận thức chung cao như bảo vệ môi trường biển, quản lý tài nguyên nghề cá, cứu trợ nhân đạo…, hoàn thành mục tiêu hợp tác theo từng giai đoạn, cuối cùng xây dựng cơ chế hợp tác hoàn thiện trên các lĩnh vực liên quan. Sự hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm có thể sẽ nảy sinh hiệu ứng lan tỏa, thúc đẩy sự hợp tác trong các lĩnh vực khác. Như trên lĩnh vực hợp tác nghề cá, mục tiêu gần có thể là hợp tác điều tra hiện trạng tài nguyên cá và lượng cho phép được đánh bắt, vạch ra phương án căn bản quản lý hợp tác nghề cá trong khu vực; mục tiêu xa là khi điều kiện thích hợp thiết lập ủy ban quản lý hợp tác khu vực, phụ trách việc hoạch định chính sách nghề cá chung ở Nam Hải. Các nước ven biển Nam Hải vẫn có thể hiệp thương xây dựng cơ chế hợp tác giải quyết vấn đề đánh bắt cá bất hợp pháp, các cơ quan thực thi pháp luật giữa các nước cần phải phối hợp, cùng hành động với các quan chức ngoại giao và chuyên gia pháp luật.

Phát huy vai trò diễn đàn của cơ chế hiện nay. Khu vực Nam Hải có một số cơ chế hợp tác liên quan, như cuộc họp các quan chức cấp cao Trung Quốc – ASEAN về thực hiện DOC và cơ chế nhóm công tác chung, dưới cơ chế này đã thành lập Ủy ban kỹ thuật bảo vệ môi trường và nghiên cứu khoa học biển. Ngoài ra, còn có một số diễn đàn hợp tác biển của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, nhưng chức năng tương đối phân tán và ảnh hưởng thì có hạn. Các nước ven biển Nam Hải có thể xem xét thúc đẩy và đạt được công ước khung về hợp tác trên lĩnh vực ít nhạy cảm, đưa hợp tác đơn phương và đa phương hiện nay vào trong hệ thống kết cấu hợp tác khu vực. Có học giả ở khu vực Đông Nam Á cho rằng Trung Quốc đề xuất xây dựng cơ chế hợp tác giữa các nước ven biển Nam Hải là sáng kiến rất tốt, nhưng kiến nghị không nên đi theo con đường khác, mà nên lựa chọn cơ chế hiện nay của Nam Hải để kế thừa và mở rộng.

Coi việc xây dựng Hội đồng hợp tác Nam Hải làm mục tiêu nỗ lực. Trên thực tế có không ít sáng kiến về cơ chế hợp tác an ninh môi trường ở Nam Hải được đưa ra, nhưng điều đáng tiếc là phần lớn những sáng kiến này đều chưa thể trở thành thực tế. Có thể xem xét việc thành lập hội đồng hợp tác Nam Hải là mục tiêu lâu dài, xây dựng hội đồng này thành diễn đàn liên chính phủ do các nước ven biển Nam Hải thông qua hiệp thương hữu nghị để thúc đẩy và tăng cường hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực như kinh tế, bảo vệ môi trường… trong khu vực, đồng thời tích cực tiến hành đối thoại và hợp tác với các quốc gia hoặc tổ chức ngoài khu vực. Cơ cấu tổ chức của hội đồng hợp tác Nam Hải nên chủ yếu bao gồm nước chủ tịch, nước thành viên và nước quan sát. Nước chủ tịch có thể do các nước thành viên đảm nhận luân phiên trong 2 năm. Nước thành viên là các nước ven biển chủ yếu của Nam Hải (Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Brunei, Philippines và Indonesia). Khi mới thành lập, nước chủ tịch hội đồng hợp tác Nam Hải sẽ thành lập ban thư ký, đến thời điểm thích hợp thiết lập ban thư ký lâu dài, cũng có thể xem xét bố trí các nhóm công tác như bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên nghề cá, phát triển bền vững, xây dựng lòng tin… Hội đồng còn thiết lập quỹ hợp tác và phát triển Nam Hải, cung cấp bảo đảm nguồn vốn mang tính cơ chế cho sự vận hành và công tác của hội đồng. Về hoạt động cụ thể của hội đồng hợp tác Nam Hải, giai đoạn đầu có thể làm theo kinh nghiệm thành công của Hội đồng Bắc Cực, với cơ sở là luật mềm, ký tuyên bố hoặc bản ghi nhớ trước. Các nước thành viên là nòng cốt cảu hội đồng hợp tác Nam Hải, mọi quyếtt định của hội đồng phải do hội nghị quan chức cấp cao quyết định, đồng thời tất cả các nước thành viên đạt được sự nhất trí mới có thể thông qua. Nếu điều kiện cho phép, trên cơ sở hiệp thương thống nhất các nước thành viên có thể cho các nước ngoài khu vực xin gia nhập hội đồng hợp tác Nam Hải với vị thế nước quan sát viên lâu dài, quan sát viên chính thức hoặc nước quan sát đặc biệt, nước quan sát không có quyền bỏ phiếu quyết sách.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 17 & 18/04/2018

Nghiên cứu xây dựng cơ chế hóa hợp tác Biển Đông – Phần III


Ba là sự lôi kéo và gây chia rẽ của các nước lớn bên ngoài như Mỹ, Nhật Bản… đối với các nước tuyên bố chủ quyền. Mỹ coi Nam Hải là công cụ quan trọng để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, tích cực tăng cường hợp tác an ninh chính trị với các nước tuyên bố chủ quyền như Việt Nam, Philippines, Indonesia…, Mỹ không những là nước viện trợ chiến lược của những quốc gia này, mà trong các trường hợp đa phương còn đề cập đến vấn đề Nam hải, phê phán Trung Quốc. Mục đích của việc Mỹ liên tục triển khai hoạt động tự do hàng hải ở Nam Hải là muốn động viên tinh thần cho những quốc gia trong khu vực. Tháng 1/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đến thăm Indonesia và Việt Nam, đề xuất Mỹ muốn tham gia tuần tra chung với 3 nước Indonesia, Malaysia, Philippines ở Nam Hải. Ngày 5/3/2018, Mỹ cử tàu sân bay USS Carl Vinson đến thăm Đà Nẵng. Những động thái này cho thấy Mỹ sẽ tiếp tục can dự có chiều sâu vào vấn đề Nam Hải. Nhật Bản tích cực phối hợp với Mỹ trong vấn đề Nam Hải, thúc đẩy quốc tế hóa, tư pháp hóa vấn đề Nam Hải, đồng thời viện trợ trang thiết bị hoặc đào tạo cho các nước như Philippines, Việt Nam… Mỹ và Nhật Bản còn lôi Ấn Độ thúc đẩy sự trao đổi kết nối trong khu vực, như Mỹ đưa ra ý tưởng Hành lang kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương kết nối Ấn Độ và Đông Nam Á, Nhật Bản và Ấn Độ đưa ra kế hoạch Hành lang tăng trưởng Á – Phi, với mục đích là cạnh tranh với sáng kiến “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc.

Cuối cùng, biến số chính trị trong nước của các nước xung quanh Nam Hải là rất lớn, không có lợi cho việc thúc đẩy lâu dài và sự ổn định hợp tác thiết thực của Nam Hải. Nội bộ các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia… đều có tiếng nói khác nhau đối với chính sách của chính phủ với Trung Quốc, tạo thành áp lực cho chính phủ khi hoạch định chính sách hợp tác hữu nghị. Ví dụ như Philippines, trong nước Philippines cũng có sự bất đồng đối với chính sách ngoại gio của Duterte. Tầng lớp tinh hoa chính trị và quân đội trong nước khó có thể thay đổi ý thức hệ thân Mỹ, tổng thống và bộ quốc phòng thỉnh thoảng lại xuất hiện mâu thuẫn về vấn đề Nam Hải. Cho dù Duterte tuyên bố muốn cắt đứt quan hệ đồng minh với Mỹ, tăng cường quan hệ với Trung Quốc, Nga, nhưng Mỹ vẫn là đối tác an ninh không thể thay thế của Philippines, tình hình chống khủng bố của Philippines cũng sẽ thúc đẩy hợp tác an ninh Mỹ – Philippines. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự thiện cảm của phần lớn người dân Philippines đối với Mỹ cao hơn Trung Quốc. Tình hình của Philippines không phải là trường hợp đặc biệt ở Đông Nam Á, các nước ASEAN vẫn kiên trì chính sách ngoại giao cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các nước trong khu vực đều dựa vào Trung Quốc về kinh tế, dựa vào Mỹ về an ninh, ngoại giao cân bằng nước lớn của những nước này cũng thường gây ra sự thay đổi thất thường của những nước này trong vấn đề hợp tác Nam Hải.

4/ Kinh nghiệm hợp tác của bên ngoài

Cơ chế hóa hợp tác khu vực Nam Hải do không có kinh nghiệm nên cần học hỏi. Kinh nghiệm hợp tác biển kín và biển nửa kín của các khu vực khác đều có thể được coi là bài học kinh nghiệm của sự hợp tác giữa các nước ven biển Nam Hải. Ví dụ như trong vấn đề bảo vệ môi trường biển, sự hợp tác liên quan của các nước ở biển kín và biển nửa kín có 3 mô hình hợp tác mang tính cơ chế: Một là mô hình phân lập, xây dựng cơ chế pháp luật độc lập đối với các vấn đề hợp tác biển khác nhau, như khu vực Biển Bắc; hai là mô hình tổng hợp, cùng nhau lập pháp để tạo ra quy chế cho mọi vấn đề môi trường biển, như vùng biển Baltic; ba là mô hình kết hợp tổng hợp và phân lập, đó là cơ chế bảo vệ môi trường biển của Công ước khung Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Nghị định thư Kyoto, như Địa Trung Hải và vùng biển Caribe. Tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2017, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân từng kêu gọi làm theo các cơ chế hợp tác giữa các nước ven biển kín hoặc biển nửa kín khác giống với Nam Hải, tiến hành hợp tác cụ thể, thiết thực, cơ chế hóa trên các lĩnh vực như đề phòng thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trên biển, bảo vệ môi trường biển và đa dạng hóa sinh vật biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh hàng hải trên biển…

Mô hình Bắc Cực có thể cung cấp bài học kinh nghiệm và kiểu mẫu cho hợp tác Nam Hải. Hội đồng Bắc Cực là diễn đàn liên chính phủ để các nước Bắc Cực xử lý các công việc ở Bắc Cực, với mục đích chung là bảo vệ môi trường, thúc đẩy các nước ở Bắc Cực tiến hành nghiên cứu và thảo luận hợp tác. Kinh nghiệm thành công của Hội đồng Bắc Cực chủ yếu bao gồm: Một là các nước Bắc Cực đã xây dựng ý thức khu vực, xây dựng quan niệm “Bắc Cực là của các nước ở Bắc Cực”. Tuy tồn tại tranh cãi và tranh chấp, sự tán thành về vị thế chung ở mức độ nhất định đã làm tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác. Hai là Hội đồng Bắc Cực đã loại bỏ đề tài an ninh và chính trị nhạy cảm, giới hạn trách nhiệm công việc trong việc thúc đẩy phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Ba là xây dựng dựa trên “luật mềm”, sử dụng ngôn ngữ khoa học, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường bằng phương pháp khoa học. Hội đồng Bắc Cực dựa vào khối cộng đồng khoa học của toàn thế giới, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học đến từ các nơi trên thế giới đã tham gia hợp tác Bắc Cực, có lợi cho việc làm giảm va chạm hoặc xung đột tiềm tàng. Bốn là hạn chế số nước thành viên, điều này có lợi cho việc xây dựng bầu không khí hợp tác tốt hơn, và việc các nước thành viên tham gia tương đối ít làm cho nguyện vọng của hội đồng khó bị chống đối công khai hơn. Học giả người Mỹ Scott J. Shackelford cho rằng cho dù quyền hạn của Hội đồng Bắc Cực có hạn, nhưng việc quản lý môi trường đã triển khai thành công, làm giảm tình hình căng thẳng của khu vực, cũng đã nâng cao ý thức Bắc Cực của các nước trong khu vực, nâng cao sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với Bắc Cực. Các nước cũng nên khuyến khích và thúc đẩy xây dựng Hội đồng Nam Hải.

Kinh nghiệm hợp tác về môi trường, nghề cá của các nước ven biển Địa Trung Hải cũng đáng làm theo. Đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, phần lớn các nước Địa Trung Hải đều không tuyên bố một cách vội vàng vùng đặc quyền kinh tế và vùng đánh cá của nước mình. Về tổng thể giữa các nước Địa Trung Hải tồn tại “hiệp định ngầm”, tức là tạm thời không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hoặc vùng biển có đặc thù khác. Về bảo vệ môi trường biển, giữa các nước Địa Trung Hải đã ký Công ước bảo vệ Địa Trung Hải tránh bị ô nhiễm vào năm 1976. Công ước này hoạt động trong khuôn khổ Kế hoạch hành động Địa Trung Hải của Chương trình môi trường Liên hợp quốc, đã hoạch định nguyên tắc và khuôn khổ tổ chức chung về bảo vệ môi trường Địa Trung Hải. Ủy ban nghề cá chung Địa Trung Hải (GFCM) được hình thành từ tổ chức nghề cá có tính kiến nghị, tính hành chính trước đây, tăng thêm năng lực thực hiện và tính quyết sách, chuyển tiếp thành công từ luật mềm sang luật cứng. GFCM có nhiều biện pháp quản lý hoàn thiện đủ để tấn công mạnh mẽ đối với các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo, không quản lý… Trong quá trình thúc đẩy hợp tác khu vực Địa Trung Hải, các nước như Pháp, Italy… đã phát huy vai trò quan trọng trong việc hoạch định quy tắc, pha 1vo74 khó khăn của hành động tập thể.

Từ kinh nghiệm hợp tác của các nước cho thấy trước tiên hợp tác biển nên tuân theo các luật pháp quốc tế như UNCLOS… Điều khoản biển kín hoặc biển nửa kín của UNCLOS là cơ sở pháp lý của sự hợp tác giữa các nước, nhưng trên thực tế hợp tác không nhất thiết phải ràng buộc đề tài không được nêu rõ trong điều khoản này, phải tìm kiếm ước số chung lớn nhất của hợp tác. Hai là hợp tác nên bắt đầu từ các lĩnh vực ít nhạy cảm. Cơ chế biển kín hoặc biển nửa kín mà UNCLOS quy định đưa hợp tác khu vực hướng đến 3 phương diện – hợp tác nghề cá, bảo vệ môi trường biển và nghiên cứu khoa học biển, ở mức độ nào đó cũng xem xét đến việc 3 phương diện này có sự nhạy cảm tương đối ít, là sự quan tâm chung của các nước ven biển, dễ đạt được chí hướng hợp tác.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 17 & 18/04/2018