Điều gì tiếp theo sau cuộc bầu cử xã, phường ở Campuchia


Cuộc bầu cử xã, phường ngày 4/6 ở Campuchia kết thúc tốt đẹp. Tỷ lệ cử tri đi bầu vượt xa hầu hết các dự đoán của giới phân tích. Tỷ lệ bỏ phiếu cao đi kèm với thay đổi hành vi bỏ phiếu khi một lượng lớn cử tri chuyển từ ủng hộ trưởng xã thuộc Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền sang bỏ phiếu cho ứng cử viên của Đảng Cứu nguy Dân tộc (CNRP) đối lập. Rõ ràng, sự ủng hộ của cử tri dành cho CPP vẫn cao, nhưng sự ủng hộ của cử tri đối với CNRP cũng trên đà tăng.

Dù cuộc bầu cử diễn ra khá yên bình nhưng vẫn có một việc bất thường. Ông Koul Panha, Giám đốc Ủy ban vì Bầu cử Tự do và Công bằng ở Campuchia (COMFREL) trả lời tờ Phnom Penh Post: “Tại Loeuk Dek [tỉnh Kandal], 12 chuyên gia giám sát của chúng tôi phải từ bỏ công việc giám sát ở 2 xã: Prek Tonloap và Prek Dach… Nếu có vấn đề nghiêm trọng ở 2 xã này, chúng tôi sẽ yêu cầu Ủy ban Bầu cử Quốc gia (NEC) điều tra’. Ngoài ra, tổ chức Minh bạch Quốc tế ở Campuchia cũng cho rằng 25% số điểm bỏ phiếu có sự hiện diện của những người không được phép: Trưởng lành và cảnh sát đôi khi xuất hiện trái phép ở các điểm bỏ phiếu. Tuy nhiên, tình hình chính trị tổng thể sau bầu cử dường như vẫn khá yên bình.

Cùng với chiến thắng ngày càng lớn ở nhiều xã, phường, các trưởng làng đắc cử của CNRP sẽ cần giải quyết nhiều thách thức lớn ở phía trước. Một trong những thách thức này là loại bỏ tâm lý tự mãn vì điều đó chỉ dẫn đến sự tự hủy diệt. Các trưởng xã đắc cử cần thừa nhận rằng một trong những lý do người dân quay sang bỏ phiếu cho CNRP là họ hy vọng chứng kiến sự chuyển biến tích cực trong hệ thống hiện nay – nhất là việc đảng này sẽ thự chiện dịch vụ công nhanh hơn và tốt hơn trên địa bàn của họ.

Các trưởng xã đắc cử cũng phải chấp nhận thực tế rằng họ sẽ cần tư vấn và hướng dẫn từ cựu trưởng xã. Campuchia đã bị phân cực thành những người ủng hộ CPP và những người ủng hộ CNRP. Việc tiếp cận cựu trưởng xã, thậm chí là của đảng khác, với ý định hoàn toàn thân thiện là xin tư vấn và chỉ dẫn, có thể xây dựng lòng tin và là yếu tố cần thiết để thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng diễn ra ở mỗi xã. Việc này căn cứ vào thực tế rằng cựu trưởng xã ở vị trí này trong nhiều năm và biết vấn đề gì là khẩn cấp và nhạy cảm cần được giải quyết. Hơn nữa, các trưởng xã đắc cử của CNRP cần trấn an các quan chức xã của CPP rằng sẽ không có sự phân hóa nào chống lại họ. Sự tham gia của các lãnh đạo xã thuộc CPP trong quá trình ra quyết định là cần thiết cho sự thịnh vượng của xã. Thái độ này không những có thể xây dựng niềm tin mà còn giành được sự ủng hộ từ những người ủng hộ CPP, xây dựng lộ trình cho sự hợp tác lâu dài.

Ngoài ra, vấn đề tham nhũng tràn lan, thâm căn cố đế vẫn là thách thức quan trọng đối với CNRP. Tham nhũng có nhiều hình thức như bỏ trốn mang theo ngân quỹ, nhận hối lộ để đổi lấy dịch vụ được thực hiện nhanh hơn và bảo vệ lợi ích của ai đó… Về vấn đề này, các trưởng xã đắc cử cần thể hiện bản thân là những lãnh đạo kế nhiệm tốt hơn, sẵn sàng đấu tranh chống tham nhũng. Các dịch vụ công của Campuchia bị mang tiếng là chậm trễ và hầu hết người dân, nhất là doanh nhân, có xu hướng tiếp tay cho tham nhũng để đẩy nhanh công việc. Họ có thể làm như vậy với các trưởng xã đắc cử – đưa hối lộ để được chính phủ phản hồi nhanh hơn hoặc để bảo vệ lợi ích kinh doanh. Cách thức các trưởng xã đắc cử đối mặt với tình trạng này sẽ quyết định hình ảnh của họ trước công chúng và đảng chính trị trong cuộc bầu cử quốc hội 2018.

Các vấn đề khác gồm có việc đưa người dân nông thôn tiếp cận với điện và nước sạch và các trưởng xã đắc cử cần góp phần ngăn chặn đánh bắt cá trái phép ở hồ Tonle Sap và đốn gỗ trái phép trên địa bàn xã. Để giải quyết các vấn đề này ở cấp địa phương, cả CPP và CNRP pah3i đặt sự phối hợp có hệ thống và thiện chí chính trị từ cả hai bên lên hàng đầu.

Từ nay trở đi, người dân sẽ chú ý đến các trường xã hội mới của CNRP. Theo nhà xã hội học chính trị nổi tiếng Max Weber viết trong bài luận nổi tiếng “Chính trị như một nghề nghiệp”, có hai kiểu chính trị gia: những người “sống vì chính trị” – biến chính trị thành cuộc sống của họ và những người “sống dựa vào chính trị” – biến chính trị thành nghề nghiệp của họ. Các trưởng xã mới sẽ thuộc về kiểu chính trị gia nào vẫn cần được xem xét. Điều thú vị là trước bầu cử, đa số các chuyên gia phân tích coi cuộc bầu cử này là phép thử đối Thủ tướng tại vị lâu năm Hun Sen. Tuy nhiên, hậu bầu cử lại là phép thử quan trọng đối với các lãnh đạo hàng đầu của CNRP. Một số người lập luận rằng người dân bỏ phiếu trong cuộc bầu cử xã, phương chủ yếu dựa vào tính cách và trình độ của đại diện cá nhân, chứ không phải chính đảng. Dù là gì đi nữa, nếu các trưởng xã đắc cử của CNRP được hướng dẫn và đào tạo cẩn thận và họ có thể giành thêm sự ủng hộ và tin tưởng từ người dân địa phương nhờ vào những thành tựu tích cực mà họ hứa sẽ mang lại thì có khả năng có thể nghĩ đến sự thành công của CNRP trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2018. Vấn đề chuyển giao quyền lực trong hòa bình dường như ông Hun Sen khó có thể từ chức một cách hòa bình nếu đảng của ông bị thua trong cuộc bầu cử Quốc hội năm tới. Thủ tướng liên tục nói về khả năng xảy ra chiến tranh, điều này ngày càng được củng cố bởi quân đội đứng về phía ông. Phó Tư lệnh Chea Dara nói: “Quân đội sẽ ủng hộ ông Hun Sen, Chủ tịch CPP, Thủ tướng của Vương quốc Campuchia trong cuộc bầu cử sắp tới và mãi mãi”.

Điều này không có nghĩa mọi thứ là vô vọng. Ông Hun Sen từng đề xuất soạn thảo luật bảo vệ thủ tướng sắp mãn nhiệm nếu cuối cùng, đảng của ông thua trong cuộc bầu cử. Tuy nhiên, đề xuất này gây nhiều tranh cãi và không đạt được sự đồng thuận. Về mặt tâm lý, mọi người có xu hướng chiến đấu trước mọi mối đe dọa cho đến phút cuối khi sự sống sót bị đe dọa. Các lãnh đạo hàng đầu của CNRP cần ghi nhớ điều này khi bắt đầu các cuộc đàm phán hòa bình. Cuối cùng, liệu hy vọng của người Campuchia về một tương lai tốt đẹp hơn có thành hiện thực hay không, phụ thuộc vào cách thức các nhà chính trị giải quyết sự chia rẽ. Hãy hy vọng cho những điều tốt đẹp hơn!

Nguồn: The Diplomat – 08/06/2017

TKNB: 09/06/2017

Advertisements

Biển Đông và sự đoàn kết ASEAN


Neha Surwade

Trung Quốc và một số quốc gia láng giềng gồm Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines, Brunei và Đài Loan tham gia vào tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và hàng hải ở Biển Đông, nơi chứa đựng số lượng lớn các mỏ dầu, khí và khoáng sản. Trong những năm gần đây với sự trỗi dậy mạnh mẽ như một cường quốc kinh tế và quân sự, Trung Quốc đã trở nên quyết đoán hơn ở Biển Đông, nơi có hơn 5 nghìn tỷ USD thương mại quốc tế đi qua tuyến đường chiếm tới 82% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc. Tranh chấp giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng quanh khu vực Biển Đông đã diễn ra trong 6 thập kỷ. Tuyên bố của ASEAN về Biển Đông năm 1992 đã giúp các thành viên tuyên bố chủ quyền đối với các khu vực tranh chấp. Sau 25 năm, sức mạnh hiện nay của Trung Quốc đã áp đảo ASEAN và tổ chức khu vực này trở nên suy yếu khi một số thành viên bỏ qua tư cách thành viên để theo đuổi những lợi ích chiến lược riêng. Sự thiếu ổn định của ASEAN xuất phát từ những hành động của Trung Quốc và được xem xét ở một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, cần phân tích tại sao sự đoàn kết của các nước ASEAN bị ảnh hưởng bởi tranh chấp Biển Đông?

ASEAN được tạo ra như một tổ chức khu vực để thúc đẩy hợp tác liên chính phủ và tạo thuận lợi cho quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên. ASEAN không được tạo ra để đàm phán tranh chấp và tuyên bố chủ quyền. Vì vậy, để tạo ra tiếng nói chung cho các quốc gia ASEAN, hiến chương và vai trò của ASEAN cần được xem xét lại.

Gần đây một số quốc gia trong ASEAN như Việt Nam, Philippines và Malaysia đã tuyên bố về lợi ích của họ ở Biển Đông. ASEAN như là tổ chức được hội nhập để tăng cường sự cân bằng quyền lực và đối phó với Trung Quốc trong các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo tranh chấp ở Biển Đông.

Thứ hai, trong thế giới hỗn loạn hiện nay, mỗi nước đều hướng tới đảm bảo lợi ích quốc gia của riêng mình. Trong ASEAN, 10 nước thành viên hội tụ với nhau để trước hết thúc đẩy mọt chiến lược đảm bảo các lợi ích quốc gia và có lúc vượt qua lợi ích của tổ chức. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Philippines tuyên bố chủ quyền ở eo biển Luzon, khu vực đảo Nutona và khu vực biển Bắc Borneo nơi Malaysia và Đài Loan cùng tuyên bố chủ quyền. Lào luôn chọn ủng hộ Trung Quốc do nước này phụ thuộc lớn vào thương mại với Bắc Kinh. Xung đột lợi ích giữa các quốc gia ASEAN là nguyên nhân chính dẫn đến sự mất đoàn kết trong ASEAN.

Thứ ba, căng thẳng giữa Trung Quốc với các quốc gia thành viên ASEAN như Việt Nam, Philippines, và Malaysia sẽ tăng lên trong những năm tới đây do vấn đề tranh chấp Biển Đông xuất phát từ các hành động quân sự hóa các đảo tranh chấp. Gần đây, Việt nam tăng ngân sách quốc phòng lên tới 111%, Philippines tuyên bố chi 883 triệu USD để nâng cấp sức mạnh hải quân, Malaysia tăng ngân sách quốc phòng lên 10% trong năm 2014. Ngoài ra, Việt Nam và Philippines cùng với Mỹ và Nhật Bản thường xuyên tiến hành các cuộc tuần tra chung ở Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc. Trong khi đó, Trung Quốc đã triển khai 8 bệ phóng tên lửa và một hệ thống radar ở đảo Phú Lâm (Woody) hoặc đảo Vĩnh Hưng ở quần đảo Hoàng Sa, hệ thống phóng rocket chống người nhái CS/AR-1 ở đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa và phóng thử tên lửa liên lục đại DF-41 gần Biển Đông. Đây chỉ là một trong số các khí tài quân sự được Trung Quốc triển khai ở Biển Đông.

Thứ tư, không có phương pháp chung đàm phán giữa các nước ASEAN và Trung Quốc. Trong khi ASEAN muốn giải quyết tranh chấp đa phương và tiến tới cuộc đàm phán có lợi cho tất cả các thành viên, Trung Quốc đã bác bỏ phương pháp này và hối thúc các cuộc đàm phán song phương với các quốc gia liên quan. Sự mất cân bằng quyền lực và thiếu đoàn kết trong ASEAN đã tạo ra gánh nặng không công bằng cho một số nước.

Thứ năm, Trung Quốc có khả năng làm sụp đổ toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia nhỏ hơn trong ASEAN như Lào, Campuchia và trong thời gian gần đây Turng Quốc đã gia tăng ảnh hưởng tại Brunei và Singapore. Do lo sợ bị trừng phạt nghiêm khắc từ Trung Quốc, Lào và Campuchia luôn chọn phương án ủng hộ Trung Quốc. Điều này đã tạo ra mối đe dọa tới sự đoàn kết của ASEAN.

Tóm lại, cho dù có sự đoàn kết trong ASEAN hay không, mỗi nước thành viên đều phải quan tâm đến sự phát triển của Bắc Kinh ở Biển Đông. Khi Trung Quốc tiếp tục gia tăng sự quyết đoán ở Biển Đông, nhanh chóng xây dựng năng lực hải quân và phát triển các khu vực Trung Quốc kiểm soát bao gồm trang bị các tàu sân bay, tàu ngầm hạt nhân mới và phát triển công nghệ vũ trụ bản địa, sự đoàn kết của ASEAN trong tương lai là một thách thức. Tình hình hiện nay ở Biển Đông là di sản của trò chơi cường quốc trong lịch sử giữa Mỹ và các nhân tố khác ở khu vực. Cho đến nay, các nước ASEAN đã thể hiện lợi ích quốc gia riêng của mình trong sự hợp tác với các nước khác và hướng tới thiết lập quan hệ đa cực, điều này đang tạo khó khăn cho ASEAN trong việc đạt được một thỏa thuận cụ thể để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Cuối cùng, thách thức đối với ASEAN là tiếp tục di sản của nó để cung cấp sự an toàn cho các công dân ASEAN. Nếu không đảm bảo được điều này, không có lý do cho sự tồn tại của ASEAN.

Nguồn: Mạng tin Quốc phòng Ấn Độ

TKNB – 09/06/2017

Bảo vệ và hợp tác môi trường biển: Liệu có một khung thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc?


Julius Cesar Trajano

Trong bối cảnh ASEAN đang kỷ niệm 50 năm thành lập, xung đột trên Biển Đông tiếp tục là một vấn đề an ninh nghiêm trọng và là phép thử hiệu quả đối với sự đoàn kết và vai trò trung tâm của tổ chức này. Với mong muốn hạn chế sự gia tăng các xung đột trên biển, vào tháng 5/2017, Trung Quốc và ASEAN đã hoàn tất một dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Bất chấp những nỗ lực chung của ASEAN và Trung Quốc để làm giảm các căng thẳng, môi trường biển trong các vùng nước tranh chấp tiếp tục là một vấn đề khó giải quyết, hoàn toàn không có một hiệp định khung bao quát về vấn đề này. Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc đã ghi nhận sự tàn phá không thể hồi phục hệ sinh thái các rạn san hô do khai thác trái phép san hô, đánh bắt cá quá mức, hoạt động cải tạo đất và đánh bắt cá trái phép trên Biển Đông. Tuy vậy, bảo vệ môi trường biển (MEP) vẫn tiếp tục là một khía cạnh bị bỏ qua nhiều nhất trong các xung đột trên biển của khu vực. MEP có thể trở thành khởi đầu của các cuộc đối thoại có tính xây dựng về hợp tác giữa các nước có tuyên bố chủ quyền với ASEAN là người dẫn dắt chính.

Tại sao ASEAN và Trung Quốc nên hợp tác về vấn đề bảo vệ môi trường biển?

Biển Đông là một trong những khu vực có hệ sinh thái biển đa dạng nhất thế giới, chiếm tới 76% các chủng loại san hô thế giới và 37% các loại cá sinh sống trong các rạn san hô. Theo Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), mỗi thập kỷ sẽ có 30% cỏ mọc dưới đấy biển, 16% cây đước và 16% các rạn san hô sống mất đi do việc khai thác tận diệt thiếu bền vững của hơn 270 triệu người sinh sống dọc theo các bờ biển.

Các nhà khoa học biển ước tính rằng các hoạt động của con người đã phá hủy 16.200 ha các rạn san hô, chiếm gần 10% tổng số các rạn san hô trên Biển Đông. Nhà khoa học biển của Philippines, giáo sư Edgado Gomez ước tính rằng với mức độ phá hủy san hô hiện tại sẽ khiến các quốc gia ven biển trong khu vực Đông Nam Á phải gánh chịu thiệt hại 5,7 tỷ USD/năm. Tác động tiêu cực xuyên biên giới của việc làm suy giảm hệ thống sinh thái biển trên Biển Đông như vậy rõ ràng không nên được coi nhẹ.

Chắc chắn, khi mà một quốc gia của khu vực tiến hành triển khai các MEP trên Biển Đông có thể gặp nhiều khó khăn do các cuộc xung đột, thì một chiến lược hợp tác khu vực nhằm định hình hướng đi cho các hoạt động là rất cần thiết. Có lẽ trước hết nên dựa trên nhận thức đạt được trong Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002: “Trong khi chờ đợi một giải pháp bền vững và toàn diện đối với các xung đột, các bên liên quan có thể khai thác hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm: a) bảo vệ môi trường biển; b) nghiên cứu khoa học biển…”.

Thứ hai, Kế hoạch chi tiết Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAn 2025 khuyến khích các nước thành viên tiến hành “thúc đẩy hợp tác đối với việc bảo vệ, khôi phục và khai thác bền vững môi trường biển và bờ biển, ứng phó và giải quyết nguy cơ ô nhiễm và các mối đe dọa tới hệ thống sinh thái biển và môi trường ven biển…”.

Các khu vực biển được bảo vệ của ASEAN

ASEAN cùng với Trung Quốc có thể xem xét, cân nhắc thành lập các khu vực bảo vệ bờ biển (MAPs) và mạng lưới các MAPs thông qua việc lên sơ đồ chung của tất cả các nguồn lợi tự nhiên, các loài sinh vật và hoạt động của con người trên Biển Đông. Một MPA có liên quan đến việc quản lý bảo vệ các rạn san hô, các rừng đước và các loại cỏ mọc dưới biển, bao gồm các động vật hoang dã biển. MPA không phải là một khái niệm mới trong ASEAN. Nói riêng, từ những năm 1990, các nước Đông Nam Á đã chỉ rõ các khu vực MPA dọc theo các đường bờ biển của họ, nhưng không một nước nào mở rộng các MPA này đến các vùng biển trên Biển Đông. ASEAN đã ký Tuyên bố ASEAN về các Công viên Kỳ quan và Bảo tồn vào năm 1984, và nhất trí thiết kế 11 khu vực bảo vệ được ghi nhận là các Công viên Kỳ quan ASEAN vốn bao gồm các rạn san hô và các khu vực bảo vệ bờ biển. Các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc có thể củng cố việc bảo vệ hệ thống sinh thái biển hiện tại thông qua các MPAs, nhưng cần phải mở rộng ra ngoài các khu vực ven biển và nội thủy tiến tới các vùng biển trong Biển Đông. Nhưng các nước tham gia nên có nhận thức chung rằng việc thành lập các MPA trên Biển Đông là không liên quan đến việc có định kiến về đòi hỏi chủ quyền của một nước nào đó.

Các mạng lưới khu vực được chuyên biệt hóa

Có khá nhiều các vùng nước của ASEAN được sử dụng với mục đích chuyên biệt mà có thể được dùng làm cơ sở, nền tảng cho việc đề xuất các hiệp định khung hợp tác MPAs. Với hy vọng có thể nâng cao sự bảo vệ bờ biển trong khu vực, Nhóm làm việc của ASEAN về môi trường biển và bờ biển vừa đề xuất việc kết hợp tất cả các nỗ lực bảo vệ môi trường khu vực trên cả hệ sinh thái đất liền và trên biển, với giả thuyết là hai hệ sinh thái này có sự kết nối với nhau.

Nhóm làm việc có thể là diễn đàn phù hợp để lôi kéo hơn nữa sự tham gia của Trung Quốc và các Đối tác đối thoại khác để góp phần chia sẻ nguồn lực và kiến thức chuyên gia trong quản lý hệ sinh thái biển trên Biển Đông.

Cũng nên có sự hợp tác ở mức độ cao hơn nữa giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển và các cơ quan thực thi hàng hải trong khu vực, với việc tập trung hơn nữa vào vấn đề ngăn ngừa các hoạt động của con người phá hủy môi trường biển khu vực Biển Đông.

Diễn đàn Hàng hải ASEAN và Diễn đàn bảo vệ bờ biển ASEAN (ACGF) hiện nay hoạt động như là nền tảng cho các cuộc đối thoại giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển ASEAN và các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, tuy vậy, một hiệp định khung đối với hợp tác MPA giữa họ vẫn chưa có. Nếu các cơ quan hàng hải của Trung Quốc được mời tham gia vào ACGF, thì đây có thể trở thành một diễn đàn mà Trung Quốc có thể tham gia một cách xây dựng với ASEAN nhằm thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn nữa về các MEP và quản lý đánh bắt cá bền vững. ASEAN và Trung Quốc cũng có thể xem xét thành lập một mạng lưới khu vực các nhà khoa học biển và chia sẻ các dữ liệu khoa học. Đã có những cố gắng để làm việc này thông qua dự án Bảo vệ Môi trường Biển Đông của Liên hợp quốc: “Đảo ngược việc hủy hoại môi trường trong Biển Đông và Vịnh Thái Lan” được triển khai từ năm 2002 và kết thúc năm 2008. Dự án này đạt được những kết quả tích cực, đặc biệt là việc tăng cường hợp tác, phối hợp giữa các nhà khoa học của các nước tham gia, nhưng những căng thẳng địa chính trị gia tăng đã ngăn cản động lực hợp tác khoa học được chuyển hóa thành các chính sách khu vực rõ ràng về MEP trên Biển Đông.

Địa chính trị và Môi trường biển

Sự “phi chính trị hóa” của MEP vốn được xem là một “vấn đề nhẹ nhàng hơn” so với sự phát triển chung về dầu khí, có thể nắm vai trò quan trọng trong việc xây dựng sự tin cậy và tin tưởng chung giữa các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Thay vì việc tiến hành quân sự hóa mạnh hơn nữa trong các vùng biển có xung đột, ASEAN và Trung Quốc có thể thành lập một khung thỏa thuận quản lý hợp tác trên Biển Đông với việc bảo vệ môi trường biển là một trong những trụ cột chính.

Trong bối cảnh môi trường biển trên Biển Đông đang ngày càng bị hủy hoại nhanh chóng, yếu tố ngày càng trở nên cấp thiết hơn đối với các quốc gia có liên quan chính là việc phân định rạch ròi giữa địa chính trị, các đòi hỏi chủ quyền với nhu cầu hợp tác hàng hải dân sự quan trọng về những vấn đề an ninh phi truyền thống, trước hết là MEP. Sự cấp thiết của việc tăng cường bảo tồn biển trên Biển Đông như vậy là không thể bị cường điệu, thổi phồng được.

Nguồn: RSIS (Đại học Công nghệ Nam Dương – Singapore)

TKNB – 09/06/2017

Đông Nam Á – Quân bài mặc cả của Trung Quốc với Mỹ


Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) đã tạm dừng xuất khẩu xăng dầu sang Triều Tiên. Động thái này là do CNPC không nhận được tiền thanh toán, bên cạnh đó còn do Bắc Kinh bị ép buộc phải kiềm chế Bình Nhưỡng phát triển vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo. Washington muốn Bắc Kinh gây áp lực buộc Bình Nhưỡng ngừng phát triển vũ khí hạt nhân, đổi lại Mỹ sẽ để yên cho Trung Quốc thống trị khu vực Đông Nam Á. Liệu đòi hỏi này của Bắc Kinh có thực hiện được không?

Việc bị cắt nguồn cung nhiên liệu hàng đầu trong thời gian dài có thể buộc Triều Tiên phải tìm kiếm giải pháp thay thế, trong bối cảnh quan hệ thương mại Triều – Trung ngày càng bị gián đoạn. Hai nguồn tin khác đã khẳng định thông tin CNPC tạm dừng bán dầu diesel cho Triều Tiên, nhưng không biết có quyết định dừng bán xăng hay không. Năm 2016, Trung Quốc xuất khẩu hơn 96.000 tấn xăng và gần 45.000 tấn dầu diesel – trị giá tổng cộng 64 triệu USD – sang Triều Tiên.

Trong những tháng gần đây, giá nhiên liệu ở Triều Tiên đã tăng mạnh, điều đó chứng tỏ nguồn cung cấp nhiên liệu cho nước này bị thắt chặt. Việc Triều Tiên ra sức thử tên lửa đạn đạo và hạt nhân đã khiến cho Trung Quốc tăng sức ép lên Bình Nhưỡng. Tuy nhiên, các nguồn tin ở Trung Quốc cho biết không thấy dấu hiệu chứng tỏ Bắc Kinh giảm lượng dầu thô bán cho Bình Nhưỡng. Gần như toàn bộ nhu cầu xăng dầu của Triều Tiên đều do Trung Quốc cung cấp. Nga chiếm một lượng nhỏ hơn nhiều.

Nhà bình luận Tom Rogan cho biết, theo quan điểm của Trung Quốc, đây là một cơ hội bởi vì không có gì là miễn phí. Bằng cách lấn át và dần thay thế các hoạt động đầu tư dựa trên quy tắc luật pháp quốc tế mà Mỹ bảo trợ, Trung Quốc sẽ giành được độc quyền ảnh hưởng chính trị trong khu vực. Họ liên tục xây dựng đảo nhân tạo và quân sự hóa chúng trên các vùng biển tranh chấp. Việc này giúp Trung Quốc kiểm soát mọi tàu thuyền vận tải qua khu vực này.

Nhà bình luận Tom Rogan nhận định rằng việc Mỹ phải chấp nhận rút ảnh hưởng của mình khỏi Đông Nam Á để nhường sân cho Trung Quốc nhằm đổi lấy sức ép của Bắc Kinh lên Bình Nhưỡng e rằng khó có tính thuyết phục. Turng Quốc có chơi trò “không gì là miễn phí” trong đàm phán với Mỹ, thì hai nước có thể đánh đổi một số lợi ích nhất định. Cạnh tranh giữa hai siêu cường này là không chỉ đơn thuần là về địa – chính trị, địa – quân sự hay chiến lược, mà còn là sự cạnh tranh về sức mạnh của hai nền kinh tế và khả năng điều hành cũng như kiểm soát tình hình. Tuy nhiên, thế và lực của Trung Quốc chưa cho phép nước này đòi hỏi Mỹ phải đánh đổi lợi ích chiến lược và phải chấp nhận nhường địa vị của mình ở Đông Nam Á cho Trung Quốc.

Cho đến nay, những nước cờ chiến lược mà Tổng thống Mỹ Donald Trump sử dụng trong quan hệ với Trung Quốc đa phần đều phát huy hiệu quả. Mỹ vẫn sẽ tiếp tục đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc giữ gìn an ninh, hòa bình, ổn định và cân bằng lực lượng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa hai siêu cường, các quốc gia trong khu vực muốn giữ được độc lập tự chủ phải tự nâng cao nội lực và đoàn kết trong việc bảo vệ hòa bình, trật tự dựa trên luật pháp quốc tế.

Nguồn: apple.com.hk

TKNB – 06/07/2017

Những “cơn sóng ngầm” hậu bầu cử xã, phường ở Campuchia


Theo phóng viên TTXVN tại Campuchia, không lâu sau khi kết quả chính thức của cuộc bầu cử Hội đồng xã, phường được công bố (ngày 25/6) và lời cảnh báo của Thủ tướng Hun Sen được phát ra trong lễ kỷ niệm 66 năm ngày thành lập đảng Nhân dân Campuchia (CPP) cầm quyền (ngày 28/6), các cơ quan quyền lực nhà nước tại Campuchia do CPP kiểm soát đã nhanh chóng triển khai các hoạt động nhằm vào lực lượng đối lập tại nước này.

Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Campuchia sáng 3/7 đã giao cho Ủy ban VI của Quốc hội nghiên cứu, xem xét, tiếp tục sửa đổi Luật chính đảng vừa mới được sửa đổi, bổ sung hồi đầu năm. Trong khi đó, Bộ Nội vụ nước này cho biết sẽ tiến hành điều tra tính hợp pháp và xử lý các đối tượng chủ mưu thành lập cái gọi là “Phòng Tình huống”, nhóm đã có các phát biểu bị Thủ tướng Hun Sen và CPP cáo buộc là thiếu tích cực và phản ánh sai lệch tình hình cuộc bầu cử vừa qua; đồng thời tuyên bố Đô trưởng và các tỉnh trưởng có quyền can thiệp với Bộ Nội vụ, không để đảng Cứu nguy Dân tộc (CNRP) đối lập tự ý bố trí, sắp xếp các trưởng thôn mới tại các xã, phường mà đảng này thắng cử.

Bình luận về việc Quốc hội Campuchia tiếp tục xem xét sửa đổi Luật Chính đảng, ông sok Eysan, người phát ngôn của CPP cho biết đây là đề nghị của các nghị sĩ CPP, với mục tiêu không có gì khác ngoài việc loại bỏ phạm nhân Sam Rainsy ra khỏi đời sống chính trị Campuchia. Ông Sok Eysan nói: “Vì không một ngày nào phạm nhân Sam Rainsy để đất nước và nhân dân Campuchia được yên; Sam Rainsy có thể nhiễm gien di truyền phản quốc từ bố ông ta, sử dụng mọi thủ đoạn, moi móc, đâm chọc, liên tiếp gây rối loạn xã hội”.

Phản ứng về vấn đề này, ông Eng Chhay Eang, Phó Chủ tịch CNRP cho rằng ông Hun Sen nên soạn luật để các lãnh đạo Campuchia hòa hợp, tốt hơn là làm luật để loại bỏ nhau chỉ vì lo ngại ảnh hưởng của ông Sam Rainsy. Ông nhấn mạnh, sinh mệnh chính trị của ông Sam Rainsy không lệ thuộc vào luật và phụ thuộc vào nhân dân; uy tín của ông ấy dù bị luật cản trở cũng không thể cấm ông Sam Rainsy liên quan đến chính trị.

Đồng quan điểm một số luật gia và nhà phân tích khác có khuynh hướng ủng hộ đối lập cũng cho rằng việc Thủ tướng Hun Sen dự kiến sửa đổi Luật Chính đảng, không để phạm nhân can dự vào công việc chính đảng là vi phạm Hiến pháp và đi ngược lại Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Theo luật sư Hong Kim Suon, phạm nhân là người phạm tội bị giam giữ hoặc trốn chạy, nhưng không có nghĩa là họ không có quyền bày tỏ ý kiến hoặc liên quan đến chính đảng.

Trong khi đó, nhà phân tích chính trị Meas Ny cho rằng ông Hun Sen đang áp dụng trò chơi cũ để trừng trị ông Sam Rainsy. Mặt khác, việc sửa đổi luật này đặt ra câu hỏi liệu nó sẽ mang lại lợi ích gì cho đất nước và để ngăn cản ông Sam Rainsy có ảnh hưởng đối với đảng thì không biết ngăn bằng cách nào.

Liên quan đến vụ việc Bộ Nội vụ Campuchia tiến hành điều tra nhóm đối tượng thành lập “Phòng Tình huống”, một số Facebooker tại Campuchia đã đăng những thông tin cho rằng 3 thành viên có liên quan gồm Kol Panha (Chủ tịch tổ chức COMFREL), Moeun Tola (Giám đốc tổ chức Quyền lao động – CENTRAL) và Pan Nguon Teang (Giám đốc Tổ chức Trung Tâm Campuchia vì hệ thống truyền thông độc lập) đã chạy ra nước ngoài. Tuy nhiên, cả 3 người này đều khẳng định họ đang đi công tác ở nước ngoài và sẽ trở lại Campuchia trong 2 tuần tới. Theo ông Moeun Tola, “Phòng Tình huống” được các tổ chức phi chính phủ tại Campuchia thành lập trong thời gian ngắn, với mục đích tổng hợp thông tin có liên quan đến bầu cử, không phải là tổ chức mới nên không cần thiết phải làm đơn xin phép đăng ký tại Bộ Nội vụ Campuchia.

Trước đó, ngày 25/6, “Phòng Tình huống” đã ra tuyên bố nói rằng các vấn đề gồm cả viện đàn áp chính trị, thiếu bộ máy tư pháp độc lập và tiếp tục đe dọa các nhóm xã hội dân sự cho thấy, cuộc bầu cử hội đồng xã – phường vừa qua ở Campuchia không thể “được coi là hoàn toàn tự do và công bằng”.

Liên quan đến khả năng CNRP bố trí, sắp xếp lại các trưởng thôn mới tại các xã – phương nơi đảng này thắng cử, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ Sar Kheng cho biết Đô trưởng và các Tỉnh trưởng có quyền can thiệp với Bộ Nội vụ về vấn đề này và các trưởng ghôn chỉ có thể bị thay đổi nếu có người có đơn xin nghỉ, từ trần, hoặc có vi phạm nghiêm trọng, đã bị nhắc nhở nhưng không sửa chữa.

Trong khi đó, ông Khuong Sreng, Tân Đô trưởng Phnom Penh ngày 28/6 cảnh báo sẽ có biện pháp cứng rắn đối với các đối tượng có ý định thông qua đấu tranh biểu tình để gây rối tình hình xã hội ở thành phố Phnom Penh, nơi CNRP giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Hội đồng xã, phường vừa qua.

Nguồn: TKNB – 06/07/2017

Sứ mệnh của Canada khi gia tăng căng thẳng ở Biển Đông


Dẫn lời chuyên gia Đại học Tổng hợp Bristish Columbia (UBC) cho biết, Canada sẽ gặp phải nhiều khó khăn nếu có nổ súng ở Biển Đông.

Theo giáo sư chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế đến từ trường UBC Micheal Byers, hải quân Canada tốt nhất nên lên kế hoạch dự phòng nếu có sai sót khi cử 2 chiến hạm tới Đông Nam Á qua Biển Đông. Sau khi chứng kiến quan điểm của các quan chức Mỹ và sự căng thẳng ở khu vực Biển Đông, ông cho rằng Canada cần một kế hoạch ứng phó nếu tình hình trở nên tồi tệ.

Canada đã điều 2 chiến hạm HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa tới khu vực Biển Đông từ đầu tháng 3 theo chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương được mệnh danh là POSEIDON CUTLASS 17. Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền của mình đối với phần lớn diện tích Biển Đông, tuy nhiên các quốc gia lân cận tố cáo Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ khi nước này liên tục vượt quá hải phận. Philippines – một trong những quốc gia có xung đột với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông – đã thắng kiện tại tòa án tại La Hay (Hà Lan) về phần lãnh thổ mà cả hai nước cùng khẳng định chủ quyền. Mặc dù đã phê chuẩn thỏa thuận đưa ra bởi tòa án cách đây 20 năm, Trung Quốc tuyên bố sẽ không tuân theo quyết định này. Malaysia và Việt Nam, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan và các nước khác trong khu vực đều có xung đột tương tự với Trung Quốc.

Sứ mệnh của hải quân Canada lần này là đưa 2 chiến hạm tới khu vực Đông Nam Á qua Biển Đông. Theo tóm lược nhiệm vụ, HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa cũng sẽ dừng chân tại Trung Quốc và các quốc gia khác như Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines… Giáo sư Byers cho biết trong tình hình ổn định đây không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn nhưng khu vực này lại đang trong tình trạng căng thẳng tăng cao. Mỹ từng hiện diện tại khu vực này với mục đích kiểm Trung Quốc . Tuy nhiên, nhà nước của ông Tập Cận Bình đã xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong khu vực mà nước này tự tuyên bố chủ quyền.

Trong khi đó, những thông điệp trên Twitter của Tổng thống Donald Trump về Trung Quốc, ví dụ như lời cáo buộc chính quyền Tập Cận Bình thao túng tiền tệ đã đổ thêm dầu vào lửa. Tháng Giêng vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra những tuyên bố ngụ ý rằng Mỹ có thể sẽ sử dụng đến quân đội để đối phó với Trung Quốc. Cựu cố vấn chiến lược của Trump, ông Steve Bannon từng tuyên bố rằng chiến tranh với Trung Quốc đang tới gần. Tất cả những điều này đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Ông Byers cho biết trong tình hình này, nếu chiến tranh thực sự xảy ra, Canada sẽ buộc phải lựa chọn ủng hộ đồng minh số một là Mỹ, hoặc rời khỏi khu vực (đồng nghĩa với việc đứng về phía Trung Quốc). “Trong tình huống đó, chính phủ Canada phải nhanh chóng đưa ra một quyết định rất khó khăn. Đây không phải là điều Canada muốn, đó là lý do tại sao tôi hết sức quan ngại khi chính phủ cử chiến hạm vào khu vực Biển Đông tại thời điểm này”.

Bộ trưởng Quốc phòng Canada tuyên bố sẽ không tiết lộ bất cứ kế hoạch dự phòng nào trong trường hợp khu vực xảy ra xung đột do những mối đe dọa về an ninh. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn, chỉ huy Hải quân Hoàng gia Canada – Phó đô đốc Ron Lloyd cho hay “sẽ rất khó để có thể đến Trung Quốc nếu không đi qua Biển Đông”. Đồng thời, ông cũng cho biết tàu của Canada sẽ tránh các khu vực xung đột. Bộ trưởng Quốc phòng Harjit Saijan cũng khẳng định rằng Canada không có kế hoạch tiến gần các khu vực tranh chấp ở Biển Đông vì mục đích ngoại giao. “Tại sao chúng ta lại muốn đi qua khu vực xung đột? Đó không phải là mục đích. Mục đích của chuyến đi lần này là để tăng cường quan hệ với những đối tác lớn”.

Nguồn: thetyee.ca – 16/03/2017

TKNB – 06/07/2017

Dư luận quốc tế về dự án thủy điện Pakbeng của Lào


Các chuyên gia của Tổ chức Sông ngòi quốc tế (IR) lo lắng về những tác động có thể xảy ra nếu Lào phát triển dự án thủy điện Pakbeng. Đây là dự án thủy điện lớn nhất nằm trên dòng chính sông Mekong thuộc địa phận tỉnh Udomxay hiện đang bước vào giai đoạn cuối của quá trình tham vấn.

Theo các chuyên gia của IR, nếu đập thủy điện Pakbeng được triển khai sẽ tác động tới hệ sinh thái trên sông Mekong; sự phát triển; tồn tại của các loài cá và vấn đề định cư của người dân.

Ông Clenn Cada, Tiến sĩ sinh học chuyên về giống cá đồng thời là chuyên gia về năng lượng nước, cho biết thông tin sử dụng để nghiên cứu về sự di chuyển của loài cá chưa đầy đủ, chưa tính đến những tác động của con đập đối với dòng sông sau khi dự án được xây dựng, đặc biệt trong giai đoạn đầu của dự án, chưa tính đến các biện pháp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng đối với sự phát triển của loài cá trên sông Mekong.

Ông Matthew Baird, luật sư về môi trường đồng thời là chuyên gia thuộc Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), bày tỏ lo lắng về những tác động xuyên biên giới sẽ xảy ra từ việc xây dựng đập Pakbeng, đặc biệt là những tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá, lượng phù sa trên sông Mekong, chất lượng nước, biến đổi khí hậu.

Một chuyên gia trong lĩnh vực di tản người dân và tài nguyên thiên nhiên trên sông Mekong cho rằng “kế hoạch bố trí tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng mà Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) trình bày quá dàn trải và sử dụng mô hình bố trí tái định cư giống như các thủy điện lớn khác, trong khi việc triển khai mô hình tái định cư của các dự án thủy điện lớn trong thời gian qua đều không đạt hiệu quả.

Việc Tổ chức Sông ngòi quốc tế ra tuyên bố bày tỏ lo lắng sau khi MRC tổ chức hội nghị tham vấn trước mục đích là để các bên liên quan đề xuất ý kiến với các nhà thầu phát triển dự án, đề nghị nghiên cứu thêm về việ xây đập thủy điện Pakbeng.

Tiến trình tham vấn là để lắng nghe ý kiến của các bên, tuy nhiên, đối với chính phủ Lào, thủy điện Pakbeng là một trong những dự án phát triển bền vững của chính phủ. Hiện Dự án thủy điện Pakbeng đang trong giai đoạn tham vấn trước 6 tháng để nhà thầu phát triển dự án điều chỉnh thiết kế kỹ thuật và nghiên cứu về những tác động có thể xảy ra đối với người dân cũng như môi trường theo thỏa thuận của MRC năm 1945.

Người dân Thái Lan sẽ khởi kiện

Trang rfa.org (tiếng Lào) mới đây cho đăng bài viết một tổ chức xã hội dân sự Thái Lan sẽ khởi kiện các cơ quan liên quan của chính phủ về những tác động sẽ xảy ra từ dự án đập thủy điện Pakbeng, sau khi việc khảo sát về tác động xuyên biên giới cho thấy đập Pakbeng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Thái Lan sinh sống dọc bờ sông. Đại diện Nhóm những người yêu Chiangkhong cho rằng thời gian qua, chính phủ Thái Lan đã tiến hành đàm phán về việc mua điện của Lào từ đập thủy điện Pakbeng, trong khi dự án này chưa hoàn thành việc nghiên cứu về những tác động đối với môi trường, theo thỏa thuận của MRC. Tổ chức xã hội dân sự Thái Lan đề nghị, trên cơ sở là một quốc gia thành viên MRC, chính phủ Thái Lan phải công khai thông tin về những tác động xuyên biên giới cho người dân địa phương được biết, trước khi đập thủ điện Pakbeng của Lào được triển khai xây dựng.

Tuần qua, IR cũng đã ra tuyên bố bày tỏ lo ngại về những tác động từ đập Pakbeng, đặc biệt là những ảnh hưởng tới sinh kế của người dân hai nước Lào và Thái Lan.

Tương tự, các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam cũng bày tỏ lo lắng về những tác động từ dự án đập Pakbeng. Các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam đề nghị chính phủ Lào xem xét lại tất cả các dự án đập thủy điện xây dựng trên sông Mekong. Liên quan vấn đề này, Cục trưởng Cục chính sách và kế hoạch năng lượng thuộc Bộ Năng lượng và Mỏ của Lào , Daovong Phonkeo nói: “MRC cũng đã nghiên cứu chi tiết về thiết kế kỹ thuật. Về tác động, không chỉ có tác động của các con đập, mà còn nhiều thứ khác cũng ảnh hưởng đến dòng sông, nếu chỉ chỉ trích đập Pakbeng thôi thì không công bằng”.

Ông Daovong Phonkeo cho biết thêm MRC đã tổ chức hội nghị tham vấn trước để các bên liên quan đưa ra các ý kiến mang tính xây dựng đối với Dự án thủy điện Pakbeng và tiến trình tham vấn trước sẽ kết thúc vào ngày 19/6 tới.

Nguồn: Tin tham khảo (Lào)

TKNB – 19/06/2017