Đông Nam Á năm 2019 – Phần II


Liên minh kinh tế Đông Á (EAEC) sẽ hồi sinh?

Các cuộc thảo luận về cấu trúc khu vực đã trở nên hấp dẫn hơn với việc Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad trở lại cầm quyền, người rất muốn phục hồi đề xuất của mình về một EAEC cho sự hội nhập chặt chẽ hơn giữa ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc). Gần 1/2 số người tham gia khảo sát (49,2%) cho rằng “đề xuất này không còn phù hợp vì EAEC đã được thay thể bởi Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và RCEP trong tương lai”. Những nước có quan điểm dè dặt nhất đối với EAEC là Singapore (65,6%), Indonesia (56,7%), Philippines (55,1%), Thái Lan (57,2%) và Việt Nam (52,1%).

Đồng thời, đứa con tinh thần của Mahathir đã tìm thấy lực kéo ở 5 nước thành viên khác. Những người tham gia khảo sát từ Brunei (55,6%), Malaysia (50,7%), Campuchia (50%), Lào (50%) và Myanmar (47,2%) cho rằng EAEC sẽ “tăng cường hơn nữa mối quan hệ của ASEAN với Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc”. Toàn diện hơn những người tham gia khảo sát dường như không quan tâm đến tư cách thành viên hẹp của EAEC, mà loại trừ Australia, Ấn Độ và New Zealand. Chỉ 1/5 số người tham gia khảo sát (20,6%) quan tâm đến việc 3 nước này không gia nhập EAEC. Có thể thấy rõ mối quan tâm này ở Singapore (29,7%) và Việt Nam (27,7%).

Bất ổn chính trị trong nước, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, và biến đổi khí hậu là những thách thức hàng đầu về an ninh của Đông Nam Á

Cuộc khảo sát này đưa ra 6 lựa chọn – suy thoái kinh tế, khủng bố, những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, những căng thẳng quân sự gia tăng từ những điểm bùng phát tiềm tàng trong khu vực, bất ổn chính trị trong nước và sự biến đổi khí hậu – để những người tham gia khảo sát xác định 3 mối quan ngại về an ninh hàng đầu của họ. Hơn 50% người được khảo sát đưa ra 4 lựa chọn là sự bất ổn chính trị trong nước (53,7%), những căng thẳng sắc tộc và tôn giáo (52,9%), sự biến đổi khí hậu (51,6%) và suy thoái kinh tế (51,1%). Khủng bố xếp ở thứ tự thấp nhất với chỉ 37,2% số người tham gia khảo sát lựa chọn.

Điều thú vị là các mối đe dọa từ “các sự kiện thời tiết dữ dội và diễn ra thường xuyên hơn do biến đổi khí hậu” đứng thứ ba, xếp trên vấn đề suy thoái kinh tế, khủng bố và những căng thẳng quân sự khu vực. Biến đổi khí hậu là mối quan ngại an ninh hàng đầu ở Lào (62,1%, cùng với suy thoái kinh tế), Philippines (62,2%, cùng với những căng thẳng quân sự trong khu vực) và Singapore (61,2%).

Mối quan ngại an ninh hàng đầu đối với các nước thành viên ASEAN lần lượt là: Brunei (suy thoái kinh tế, 80%), Campuchia (bất ổn chính trị trong nước, 75%), Indonesia (nhữung căng thẳng dân tộc và tôn giáo, 67,8%), Lào (suy thoái kinh tế và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,1%), Malaysia (suy thoái kinh tế, 63,7%), Myanmar (căng thẳng sắc tộc và tôn giáo, 67,1%), Philippines (những căng thẳng quân sự trong khu vực và biến đổi khí hậu, tương ứng 62,2%), Singapore (biến đổi khí hậu, 61,2%), Thái Lan (bất ổn chính trị trong nước, 78,3%), Việt Nam (những căng thẳng quân sự khu vực, 78,2%).

Người Đông Nam Á lo ngại điều gì về ASEAN

Mối lo ngại chính về ASEAN là nhận thức rằng ASEAN đã không “thực hiện đúng lời hứa” với 650 triệu dân của nó. Gần 3/4 số người tham gia khảo sát (72,6%) bày tỏ họ thất vọng vì “không nhận thấy những lợi ích rõ ràng của ASEAN”. Những người tham gia khảo sát từ 7 nước thành viên ASEAN (ngoại trừ Campuchia, Lào và Việt Nam) lựa chọn đây là mối quan ngại hàng đầu của họ. Định hình 3 mối quan ngại hàng đầu là nỗi lo sợ rằng ASEAN đang trở thành đấu trường cạnh tranh nước lớn (62%) và ASEAN “không có khả năng đối phó với những diễn biến chính trị và kinh tế hay thay đổi” (61,9%). Cảm nhận của Đông Nam Á về “sự mất kết nối” không cao (35,3%). 44% số người tham gia khảo sát chia sẻ họ quan ngại về việc ASEAN ngày càng trở nên mất  đoàn kết. Đây là mối quan ngại hàng đầu của những người tham gia khảo sát ở Việt Nam (69,4%).

Về những diễn biến ở Bán đảo Triều Tiên và vấn đề Rohingya

Cuộc gặp thượng đỉnh Trump – Kim ở Singapore vào ngày 12/6/2018 là một trọng tâm chính trị của năm 2018, một minh chứng cho vị thế ngoại giao của Singapore, cũng như cho thấy ASEAN là một môi trường thân thiện và không có kẻ thù. Thực tế là chỉ 26,8% số người tham gia khảo sát cho rằng “việc ASEAN làm gì không quan trọng vì có vai trò rất nhỏ” cho thấy đa số người tham gia khảo sát mong muốn tổ chức khu vực này tiếp tục can dự vào vấn đề này.

Rất ít người tham gia khảo sát trả lời câu hỏi nhiều lựa chọn này xem xét “cách tiếp cận củ cà rốt và cây gậy” của ASEAN với chỉ 28,5% đồng ý rằng ASEAN nên “đưa ra những sự khích lệ về kinh tế cho Triều Tiên để nước này duy trì cam kết phi hạt nhân hóa” và 24,9% ủng hộ “duy trì các biện pháp trừng phạt cho đến khi Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc dỡ bỏ chúng”. Phần lớn (60,8%) ủng hộ cách tiếp cận ngoại giao “tiếp tục can dự với Triều Tiên một cách song phương và thông qua Diễn đàn khu vực ASEAN”. Sự can dự ngoại giao là phản ứng hàng đầu ở tất cả các nước thành viên ASEAN ngoại trừ Campuchia, nơi 75% số người tham gia khảo sát muốn ASEAN “có vai trò tích cực với tư cách là một nhà trung gian hòa giải trung thực”.

Gần hơn, vấn đề Rohingya tiếp tục ảnh hưởng khắp khu vực và xa hơn nữa. ASEAN đã bị chỉ trích vì giấu mình đằng sau bức màn “không can thiệp” khi một cuộc khủng hoảng nhân đạo tiếp tục gây thiệt hại cho hơn 500.000 người Rohingya phải di cư. Kết quả khảo sát cho thấy ASEAN cần có cách tiếp cận chủ động hơn khi lựa chọn “không làm gì vì đây là vấn đề trong nước của Myanmar” có số lượng phản hồi thấp nhất (14,6%). Ngya cả trong số những người tham gia khảo sát ở Myanmar, thì “việc không làm gì” không phải là cách tiếp cận ưa thích.

Nhìn chung, 66,5% số người tham gia khảo sát lựa chọn “làm trung gian hòa giải giữa Chính phủ Myanmar, cộng đồng quốc tế và cộng đồng người Rakhine và Rohingya” là cách tốt nhất để đạt được tiến triển. Quan điểm này được chia sẻ bởi 59,2% số người tham gia khảo sát ở Myanmar và 79,1% 73 Indonesia. Câu trả lời ưa thích thứ hai (50,9%) là “tăng cường viện trợ nhân đạo cho người Rohingya ở các trại bên ngoài Myanmar”, sau đó là “gia tăng áp lực ngoại giao đối với Myanmar” (38%).

Phản ánh thực trạng trên thực địa, ASEAN bị chia rẽ giữa lựa chọn giúp đỡ nhân đạo “an toàn hơn” và một hành động hòa giải tương đối mang tính thâm nhập hơn. Hầu hết những người tham gia khảo sát từ Brunei (77,8%), Philippines (71,2%) và Singapore (66,1%) chọn hỗ trợ nhân đạo làm phản ứng chính của họ, trong khi hòa giải là lựa chọn hàng đầu cho người tham gia khảo sát từ Indonesia (79,1%), Lào (51,7%), Malaysia (72,4%), Thái Lan (66,1%), Việt Nam (67,2%) và Myanmar (59,2%). 62,5% số người tham gia khảo sát ở Campuchia lựa chọn cả viện trợ nhân đạo lẫn làm trung gian hòa giải là câu trả lời hàng đầu của họ.

II/ Các nước lớn và sự can dự của họ ở khu vực

Phân tích quan điểm về Mỹ của các nước Đông Nam Á

Cuộc khảo sát đã yêu cầu những người tham gia khảo sát chia sẻ nhận thức của họ về (a) Mỹ như một cường quốc và ảnh hưởng toàn cầu ngày  nay so với một năm trước; (b) sự can dự của Chính quyền Trump với khu vực; và (c) độ tin cậy của Mỹ với tư cách là một đối tác chiến lược và nhà cung cấp an ninh khu vực. Đối với cả ba câu hỏi này, quan điểm chung về Mỹ là cực kỳ tiêu cực.

Gần 6/10 người tham gia khảo sát (59,1%) cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trên vũ đài toàn cầu đã suy giảm (45,6%) hoặc suy giảm đáng kể (13,5%). Ngược lại, chỉ có 19,7% cho rằng sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu của Mỹ đã tăng lên (15,4%) hoặc tăng lên đáng kể (4,3%). 21,2%  rằng địa vị của Mỹ là không thay đổi. Để đưa ra cái nhìn về bức tranh lớn hơn này, số người tham gia khảo sát giữ quan điểm rằng Mỹ đang suy yếu nhiều gấp 3 lần số người nghĩ rằng sức mạnh của Mỹ tăng lên hoặc tăng lên đáng kể. Các nước có mức độ quan ngại cao nhất về sự suy giảm của Mỹ là Philippines (75,7%), Singapore (72,7%), Brunei (68,2%) và Malaysia (67,6%). Đi ngược lại xu hướng bi quan này là Việt Nam, nước duy nhất có quan điểm tích cực (47,1%) vượt xa quan điểm hoài nghi (31,7%).

(còn tiếp) 

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Advertisements

Đông Nam Á năm 2019 – Phần I


Trung tâm nghiên cứu ASEAN tại Viện ISEAS-Yusof Ishak đã thực hiện cuộc khảo sát trực tuyến về “Tình trạng Đông Nam Á: 2019” từ 18/11 đến 5/12/2018 để tìm kiếm những quan điểm của người Đông Nam Á về các vấn đề khu vực. Cuộc khảo sát đã sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích, thu thập những quan điểm từ tổng số 1008 người Đông Nam Á là các chuyên gia khu vực và những người có lợi ích liên quan từ các cộng đồng chính sách, nghiên cứu, kinh doanh, xã hội dân sự và truyền thông. Do đó, kết quả của cuộc khảo sát này không có nghĩa là mang tính đại diện. Thay vào đó, nó nhằm mục đích trình bày một quan điểm chung về thái độ phổ biến giữa những người ở vào vị thế đưa ra thông tin hoặc gây ảnh hưởng đến chính sách đối với các vấn đề và các mối quan ngại chính trị, kinh tế và xã hội khu vực.

Cộng đồng học giả và tư vấn tạo thành nhóm người tham gia khảo sát lớn nhất với tỷ lệ 42%. Gần 1/3 số người tham gia khảo sát (32,9%) đến từ chính phủ, nhóm tổ chức liên chính phủ và quốc tế, mà mang lại một cơ hội hiếm hoi để tiếp cận các quan điểm từ các giới thường kín tiếng này. Cộng đồng doanh nghiệp và tài chính (10,4%), xã hội dân sự và các tổ chức phi chính phủ (NGO) (8%), và giới truyền thông (6,7%) tạo thành 25,1% số người tham gia khảo sát còn lại.

1008 người tham gia khảo sát đã là những người ở tất cả 10 nước thành viên ASEAN nhằm đảm bảo rằng cuộc khảo sát phản ánh chính xác quan điểm khu vực. Các nước có tỷ lệ trả lời cao nhất là Myanmar (16,9%), tiếp theo là Malaysia (14,5%), Singapore (12,7%), Việt Nam (12,3%), Indonesia (11,4%), Thái Lan (11,4%), Philippines (11%), Brunei  Darussalam (4,5%), Lào (2,9%) và Campuchia (2,4%).

I/ Các quan điểm và tiến triển khu vực

Bức tranh lớn

Tâm trạng chung của khu vực là bi quan với 42,5% số người tham gia khảo sát dự đoán khu vực này sẽ gặp phải một giai đoạn không chắc chắn và một tỷ lệ nhỏ (2,2%) tỏ ra có những quan ngại về một năm đầy biến động ở phía trước. Mặt khác, 32,3% cho rằng khu vự này “ổn định” (30,3%) hoặc “rất ổn định” (2%). Gần 1/4 số người tham gia khả sát (23%) cho rằng các nguyên tắc cơ bản của khu vực “không thay đổi”. Lạc quan nhất là Lào với 68,9% người tham gia khảo sát cho rằng khu vực “ổn định” hoặc “rất ổn định”, trong khi người Singapore thì bi quan nhất, với 66,9% dự đoán năm 2019 sẽ được đánh dấu bởi những sự không chắc chắn và thậm chí là rối loạn.

Những triển vọng kinh tế

Ở tất cả các nước thành viên ASEAN, quan điểm tích cực (55,4%) về nền kinh tế khu vực vượt xa các phản ứng tiêu cực (21,3%). Hơn một nửa số người tham gia khảo sát (55,4%) mong đợi rằng khu vực này sẽ có sự tăng trưởng, dù ở mức vừa phải (49,9%) hay mạnh mẽ (5,5%). Gần 1/4 (23,3%) dự đoán một năm ổn định ở phía trước. Sự khẳng định mạnh mẽ về kinh tế có phần đáng ngạc nhiên khi có những trở ngại hiện tại từ cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung đang diễn ra.

Mặt khác, 21,3% số người tham gia khảo sát nhận thấy khu vực này đang hướng tới sự suy giảm vừa phải (19,9%) hoặc suy giảm mạnh (1,4%). Có thể thấy những quan điểm lạc quan nhất (tăng trưởng vừa phải đến mạnh) là ở Lào (86,2%), Campuchia (66,7%) và Brunei (64,4%). Ở Malaysia (34,9%), Singapore (33,5%) và Thái Lan (32,2%) là những quan điểm bi quan nhất (giảm vừa phải đến giảm mạnh) trong khu vực.

Sự không chắc chắn về việc ký kết RCEP và tác động của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung

Các quan điểm tích cực về khả năng phục hồi của nền kinh tế khu vực không tiếp nối tới Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Khi được hỏi về quan điểm của họ về việc kết thúc các cuộc đàm phán RCEP, “47,1% cho rằng không thể bình luận”. Điều này có thể được hiểu là không có đủ thông tin để đưa ra ý kiến, cho thấy cần phải nỗ lực nhiều hơn để đưa các bên lợi ích liên quan tham gia cuộc thảo luận này.

Nhìn chung, 29,2% số người tham gia khảo sát trả lời “tin tưởng” (27%) hoặc “rất tin tưởng” (2,2%) rằng RCEP sẽ được ký vào năm 2019. Ngược lại, 23,7% cho rằng các cuộc đàm phán RCEP là một vấn đề kéo dài mà “không có khả năng” (21,3%) hoặc “rất không có khả năng” (2,4%) được hoàn tất trong năm 2019. Những người tham gia khảo sát ở Campuchia là những người lạc quan nhất với 45,8% bỏ phiếu “tin tưởng” đối với một kết thúc nhanh chóng và cuối cùng, tiếp theo là Thái Lan (34,8%) và Indonesia (33,4%). Mức độ hoài nghi cao nhất là từ Singapore (35,2%), Việt Nam (30,7%) và Malaysia (30,1%) – 3 trong số 4 nước ASEAN ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

Cũng có rất nhiều sự không chắc chắn xoay quanh những rối loạn (và lợi ích) có thể xảy ra do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung khi 39,7% số người tham gia khảo sát không rõ về tác động cảu cuộc chiến tranh thương mại đối với các nước tương ứng của họ. Tuy nhiên, nhiều người tham gia khảo sát hơn nghĩ rằng đất nước của họ sẽ phải chống chọi lại những tổn thất do cuộc chiến tranh thương mại này thay vì gặt hái được bất kỳ lợi ích nào. Gần 1/5 số người tham gia khảo sát (19,9%) chia sẻ rằng “nền kinh tế của nước họ sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực vì cuộc chiến tranh thương mại sẽ phá vỡ chuỗi cung ứng trong khu vực”. Những người tham gia khảo sát ở Singapore có cảm giác mạnh mẽ nhất về điềm gở này với 29,7% có quan điểm tiêu cực. Cảm giác lo lắng này cũng xuất hiện ở Thái Lan (27,2%) và Indonesia (21,8%). Đồng thời 13,7% số người tham gia khảo sát nhận thấy đất nước của họ “được hưởng lợi từ sự chuyển hướng đầu tư và thương mại sang khu vực này”, với Campuchia dẫn đầu sự lạc quan (29,2%), tiếp theo là Malaysia (19,9%) và Việt Nam (17%).

Một số ít người tham gia khảo sát (8,5%) cho rằng cuộc chiến thương mại sẽ dẫn đến chủ nghĩa bảo hộ và chống thương mại gia tăng trong khu vực. Chỉ có 18,2% số người tham gia khảo sát thực tế coi Cộng đồng kinh tế ASEAN, RCEP và CPTPP là những nơi trú ẩn an toàn để vượt qua được cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung.

CPTPP có thể mở rộng?

CPTPP có hiệu lực từ ngày 30/12/2018, sau khi được 7 thành viên – Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand, Singapore và Việt Nam – đảm bảo thông qua, 4 nước ký kết còn lại – Brunei Darussalam, Chile, Malaysia và Peru – dự kiến sẽ làm theo đúng trình tự. Cuộc khảo sát đã nêu lên những quan điểm của những người tham gia khảo sát từ 6 nước thành viên ASEAN không tham gia CPTPP (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar, Philippines và Thái Lan) về việc nước họ có thể gia nhập hiệp định thương mại này hay không. Trong câu hỏi nhiều câu trả lời này, phần lớn số người tham gia khảo sát (53,6%) cho rằng “tốt hơn là nên áp dụng cách tiếp cận chờ xem để xác định khả năng tồn tại của CPTPP”.

Trong khi đó, sự ủng hộ dành cho CPTPP không phải là không đáng kể với hơn 1/3 số người tham gia khảo sát (36,4%) có khuynh hướng tích cực đối với hiệp định thương mại. Trong nhóm này, 26,6% ủng hộ nước họ tham gia CPTPP khi hiệp định được thiết lập như hiện tại và 9,8% muốn nước họ tham gia lại “chỉ khi Mỹ tham gia hiệp định thương mại này”. Nước ủng hộ CPTPP dưới hình thức hiện nay mạnh mẽ nhất là Campuchia (39,1%), Philippines (38,1%) và Thái Lan (33,6%). Một số ít người tham gia khảo sát (10%) cho rằng đất nước của họ “tốt hơn hết là không gia nhập CPTPP”.

Trong câu hỏi rộng hơn về CPTPP, bao gồm các câu trả lời từ cả 10 nước thành viên ASEAN, hầu hết những người tham gia khảo sát (46,1%) đồng ý rằng CPTPP là “quan trọng trong việc giữ đà hướng tới một chế độ thương mại khu vực dựa trên quy tắc và có chất lượng cao”. 20,2% số những người tham gia khảo sát đều ủng hộ tính hữu ích của RCEP so với CPTPP; mức độ ủng hộ cao hơn dành cho RCEP so với CPTPP đến từ Lào (39,3%) và Indonesia (35,1%). Nhìn chung, 28,4% số người tham gia khảo sát nghĩ rằng CPTPP sẽ có tác động hạn chế vì không bao gồm Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ; những người tham gia khảo sát ở Campuchia tỏ ra bi quan hơn với 43,5% số người tham gia khảo sát cùng có quan điểm này.

(còn tiếp)

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019

Bầu cử, điểm tới hạn cho “Nền dân chủ kiểu Thái”


Titipol Phakdeewanich

Về danh nghĩa chính thức, việc thực hiện đăng ký ứng cử viên vào ngày 4/2 vừa qua không phải là một cột mốc quan trọng đối với nền dân chủ Thái Lan. Tuy nhiên, sự phấn khích mà nó tạo ra giữa những người Thái ủng hộ dân chủ, các đảng chính trị và các ứng cử viên của các đảng này đã làm dấy lên lo lắng cho lực lượng chống dân chủ của vương quốc.

Cuộc bầu cử năm năm chắc chắn sẽ rất quan trọng cho tương lai của nền dân chủ ở Thái Lan, mặc dù kết quả là trong thực tế khá dễ đoán. Hiến pháp do quân đội soạn thảo năm 2017 kết hợp các cơ chế pháp lý được thiết kế để cho phép Hội đồng quốc gia vì hòa bình và trật tự (NCPO) và các tướng lĩnh vẫn nắm giữ quyền lực sau cuộc bầu cử. Trước khi NCPO rốt cuộc phải chấp nhận tổ chức cuộc thăm dò, đã có những tranh cãi chính trị đang diễn ra – cả trong thế giới thực và trên mạng truyền thông xã hội – về giá trị của các cuộc bầu cử so với sự cai trị tiếp tục của quân đội. Những tranh luận này sẽ tiếp diễn trước cuộc bầu cử vào tháng tới, ết quả sẽ cho thấy người Thái muốn có một nền dân chủ tự do, hay còn gọi là nền dân chủ kiểu Thái, trong đó tính phổ quát của quyền con người bị chối bỏ.

Tuần trước, Thủ tướng Paryut Chan-o-cha đã phát biểu với quốc gia về những thành tựu của ông trong gần 5 năm nắm quyền và tuyên bố rằng ông đã có những đóng góp đáng kể cho Thái Lan. Đảng Phalang Pracharat thân chính quyền quân sự hy vọng sẽ tận dụng được các chương trình dân túy của Tướng Prayut, như thẻ phúc lợi vốn bị chỉ trích nhiều cho người nghèo, để giành phiếu bầu. Thành tựu kinh tế của Prayut, sẽ khó thuyết phục người dân nông thôn và nhiều cử tri Thái Lan khác, nhưng tuyên bố của ông đã mang lại sự ổn định chính trị, thông qua sự đàn áp quân sự, vẫn khá thuyết phục mọi người trên tổng thể diễn đàn chính trị. Điều này sẽ không, tuy nhiên, dễ dàng chuyển thành phiếu bầu.

Ngày nay, người Thái Lan ở vùng nông thôn đưa ra quyết định bỏ phiếu phức tạp hơn so với các mường tượng từ trước tới giờ về việc mua phiếu bầu. Trong khi đó, sự ám ảnh dai dẳng của nỗi căm ghét gia tộc Shinawatra vẫn tiếp tục phục vụ lợi ích của Phalang Pracharat, Đảng Dân chủ và Đảng Ruam Palang Prachachart Thai, đặc biệt là trong các cử tri thuộc tầng lớp trung lưu thành thị. Ở nông thôn miền Bắc, bức tranh vẫn rất khác.

“Tôi tin tưởng Thaksin vì đảng của ông ấy đã thực hiện những gì họ hứa với chúng tôi: chúng tôi có thể đến bệnh viện khi chúng tôi ốm. Chúng tôi thấy vấn đề ma túy đã được xử lý mạnh khi Thaksin làm thủ tướng”, một dân làng giấu tên nói, ông này muốn đề cập đến cuộc chiến chống ma túy của Thủ tướng Thaksin Shinawatra, với những vụ giết người phi pháp bị chỉ trích là vi phạm nhân quyền. Đảng Pheu Thai đã giành được gần 16 triệu phiếu trong cuộc bầu cử năm 2011, giành thắng lợi áp đảo ở miền Bắc và Đông Bắc (Issan), dưới sự lãnh đạo của bà Yingluck Shinawatra. Mặc dù nhờ vào di sản của anh trai, bà đã giành được 265 trong số 500 ghế tại Hạ viện, Yingluck cũng đã đem đến sức sống mới cho thương hiệu Shinawatra bằng các áp dụng chính sách trợ cấp gạo (một chính sách cuối cùng đã khiến bà sụp đổ) và các chính sách khác được người dân nông thôn hoan nghênh, đặc biệt là ở Issan.

Lịch sử thành công của Pheu Thai trong khu vực đã nhấn mạnh trung thành cảm thấy đối với đảng này của các cử tri nông thôn. Tuy nhiên, lòng trung thành của cử tri sẽ không phải là yếu tố duy nhất đóng góp vào chiến thắng của đảng. Mạng lưới bảo trợ thâm căn – đặc biệt là ở các làng nông thôn nơi các chính trị gia có xu hướng thể hiện mình là người bảo trợ hào phóng hơn là các công chức – cũng sẽ là chìa khóa. Hậu quả là, Pheu Thai có thể phải thất bại ở những khu vực mà các cựu nghị sĩ của họ đã bị Phalang Prachart lôi kéo. Tuy nhiên, sự tin tưởng ở công chúng vào khả năng đưa ra lời hứa của Pheu Thai vẫn còn cai so với các đối thủ chính trị của nó, đặc biệt là Đảng Dân chủ và Phalang Pracharat.

Cuộc bầu cử sẽ khôi phục nền dân chủ?

NCPO có thể sẽ duy trì quyền lực của mình, với Prayut hoặc một người thay thế khác làm thủ tướng tiếp theo. Quyền biểu quyết của 250 thượng nghị sĩ do NCPO chỉ định, được ghi trong Hiến pháp 2017, đảm bảo điều đó. Vì vậy, câu hỏi đặt ra, tại sao phải có cuộc bầu cử? Cuộc bỏ phiếu sẽ là một phong vũ biểu quan trọng về việc Thái Lan có tiến lên hay không. Từng là một ngọn hải đăng khu vực cho dân chủ và phát triển trong những năm 1990 và đầu những năm 2000, tiến bộ dân chủ Thái Lan đã đột ngột dừng lại và đảo ngược bởi các cuộc đảo chính quân sự năm 2006 và 2014. Sự suy yếu của nền dân chủ và sự ăn sâu của chủ nghĩa độc tài hầu như không mới, đó là một khía cạnh của chính trị Thái Lan kể từ cuộc cách mạng không đổ máu năm 1932. Kể từ đó, một nhóm người Thái bảo thủ trong số các cơ sở chính trị vẫn tin rằng đất nước này còn sớm để trở thành một nền dân chủ theo kiểu phương Tây hay Hồi giáo. Theo thời gian, nhóm này đã thực thi cái gọi là nền dân chủ kiểu Thái Lan, điều này hạn chế quyền tự do ngôn luận và phủ nhận tính phổ quát của quyền con người. Lịch sử Thái Lan trong thập kỷ qua cũng đi theo xu hướng toàn cầu của sự giảm dân chủ.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của những người mới như Đảng Tương lai mới không chỉ khuyến khích một thế hệ mới tham gia chính trị mà còn ảnh hưởng đến các đảng cũ như Đảng Dân chủ, mang đến không gian cho những người mới chính trị. Tất nhiên, cuộc diễu hành của những gương mặt trẻ, tươi trẻ sẽ không biến đổi nền chính trị Thái Lan chỉ sau một đêm. Lực lượng chính trị bảo thủ có nguồn gốc xâu sa và bền chắc, nhưng những người mới tham gia chính trị có thể mang lại những ý tưởng mới cho phong trào dân chủ của Thái Lan trong thời gian dài.

Bất chấp các chỉ trích trong nước và quốc tế, chính quyền quân sự đã tiếp tục nhấn mạnh khả năng đảm bảo “một cuộc bầu cử tự do và công bằng”, từ chối sự cần thiết phải có các nhà quan sát quốc tế từ Liên minh châu Âu (EU) hoặc Liên hợp quốc. Các hạn chế do NCPO áp đặt có thể dẫn tới việc buộc phải có các vận động “mang tính xây dựng” nhiều hơn nữa, đặc biệt là trong số các chính trị gia chống chính quyền quân sự Tại vùng Issan, nơi các cuộc biểu tình chiến dịch đang được theo dõi chặt chẽ, nhiều ứng cử viên Pheu Thai đã tránh chỉ trích NCPO. Thay vào đó, họ đang tập trung vào một bài diễn văn tích cực hơn, với các khẩu hiện như: “Anh em ơi, đó là tiếng nói, là quyền được bầu chọn trong cuộc bầu cử tháng 3” và “Anh em ơi, chúng ta có thể giành lại quyền lực của mình bằng cách đi bầu cử và bỏ phiếu chống lại họ”. Điều này giúp thấm nhuần một giá trị dân chủ cốt lõi trong tâm trí của cử chi – quyền lực của người dân.

Tuy nhiên, không có nghi ngờ gì về việc một đám mây sợ hãi và đe dọa lơ lửng trên cuộc bầu cử. NCPO đã không tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các bên. Thật vậy, các hạn chế có thể sẽ thưởng cho các đảng lâu đời vì sự trung thành của cử tri hiện tại, với những người mới đến phải chịu hậu quả. Cuối cùng, cuộc bầu cử chỉ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế nếu NCPO có lập trường trung lập. Không có tính trung lập đó, cuộc bỏ phiếu quốc gia không khác gì hơn là một phương tiện để hợp pháp hóa và kéo dài quyền lực chính trị của quân đội.

Nguồn: The Nation (TL)

TKNB – 12/02/2019

Vấn đề Biển Đông đặt liên minh Philippines – Mỹ vào thế khó


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tuyên bố “chia tay Mỹ” trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến Trung Quốc. Hai năm sau đó, Philippines đã chính thức kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ đồng minh lâu đời với Mỹ.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana – cựu tùy viên quốc phòng tại Washington – đã nhấn mạnh rằng Manila không loại trừ khả năng hủy bỏ Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951. Trong khi việc đánh giá này có thể giúp điều chỉnh quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines, vốn bị trục trặc bởi những bất đồng và những vấn đề về cam kết trong những năm gần đây, nhưng nó chẳng khác nào là “con dao hai lưỡi”.

Rút cục, những người đề xuất mối quan hệ nồng ấm hơn với Bắc Kinh có thể vận động hành lang để hạ thấp quan hệ liên minh Philippines – Mỹ nhằm ủng hộ sự trung lập về chiến lược, đặc biệt nếu hai bên không nhất trí các nâng cấp cần thiết.

Lời kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ Mỹ – Philippines đã gây sốc và hoài nghi cho nhiều nhà quan sát, họ kỳ vọng một sự cởi mở tức thì và duy trì quan hệ song phương sau khi Washington trả lại Bộ chuông Balangiga nổi tiếng cho Philippines. Ông Duterte đã hoan nghênh việc trả lại các vật phẩm lịch sử, vốn bị quân đội Mỹ lấy đi từ một nhà thờ Philippines trong thời kỳ thuộc địa và coi đó là kết thúc một chương đen tối trong lịch sử chung của hai nước. Thậm chí, người ta hi vọng rằng ông Duterte, người đã có 3 chuyến thăm chính thức đến Trung Quốc, cuối cùng sẽ nhận lời mời thăm Mỹ từ lâu của Nhà Trắng.

Tuy nhiên, ngay cả việc thiết lập phòng thủ chung, vốn là nền tảng trong quan hệ đồng minh song phương, Philippines dường như cũng đang thể hiện sự thất vọng ngày càng lớn trước sự mâu thuẫn chiến lược của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines đã công khai than vãn về lập trường “mâu thuẫn” của Washington trong việc thực hiện các cam kết với Philippines, đặc biệt trong tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông). Ông đặt câu hỏi liệu Hiệp ước phòng thủ chung có “còn liên quan đến an ninh của Philippines” hay chỉ phục vụ “lợi ích của các quốc gia khác”, cụ thể là Mỹ.

Vấn đề đầu tiên với liên minh chính là văn bản của hiệp ước. Theo Chương V của Hiệp ước phòng thủ chung, “một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một trong hai bên được coi bao gồm một cuộc tấn công vũ trang vào lãnh thổ đô thị của một trong hai bên, hoặc các vùng đảo thuộc thẩm quyền của mình ở Thái Bình Dương hoặc vào các lực lượng vũ trang, tàu hay máy bay của mình ở Thái Bình Dương”.

Tuy nhiên, Washington đã nói lập lờ, chưa xác định rõ về phần “đô thị” và “các vùng lãnh hải dưới thẩm quyền của mình của Philippines là gì. Do đó, đồng minh của Mỹ chỉ biết đứng nhìn khi Trung Quốc năm 1994 chiếm đóng Đá Vành Khăn mà Philippines tuyên bố chủ quyền, cũng như trong cuộc đối đầu hải quân Philippines – Trung Quốc kéo dài nhiều tháng ở Bãi cạn Scarborough hồi năm 2012.

Mỹ đã liên tục từ chối làm rõ liệu các cam kết của hiệp ước có áp dụng tại Biển Đông hay không, nơi Philippines đang mâu thuẫn với một số quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác.

Hơn nữa, có những hoài nghi liệu hiệp ước có cung cấp sự giúp đỡ quân sự thích hợp trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Philippines với bất kỳ bên thù địch thứ ba nào hay không. Theo Chương IV của hiệp ước, mỗi bên “sẽ hành động để đối phó các mối đe dọa chung (trong thẩm quyền khu vực của họ) phù hợp với các quy trình hiến pháp của nó”.

Điều này có nghĩa Quốc hội Mỹ, và rộng hơn là dư luận Mỹ, có thể trì hoãn và từ chối các nỗ lực can thiệp quân sự khẩn cấp bởi bất kỳ chính quyền Mỹ nào dưới danh nghĩa đồng minh Philippines.

Thậm chí tệ hơn, ví dụ Washington đã làm rõ Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật 1951 áp dụng cho tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku tại Biển Hoa Đông. Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật cũng quy định rằng quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản có thể được sử dụng để đóng góp… cho an ninh của Nhật Bản nhằm chống lại tấn công vũ trang từ bên ngoài”.

Vấn đề lớn khác nằm ở cách giải thích  hạn hẹp của Mỹ về hiệp ước phòng thủ chung. Khởi đầu với chính quyền Nixon vào những năm 1970 của thế kỷ trước, Washington đã tới hạn các cam kết của mình đối với bất kỳ “cuộc tấn công nào của các lực lượng (Philippines) được triển khai nhằm vào nước thứ ba”, nhưng không phải trong các tình huống “nơi việc triển khia nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ Philippines”.

Mỹ chính thức duy trì “sự trung lập” đối với hiện trạng chủ quyền của các đảo tranh chấp tại Biển Đông, nơi Philippines chiếm đóng 9 thực thể.

Manila lo lắng liệu họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ quân đội của Mỹ hay không nếu Trung Quốc các quốc gia đối thủ có tuyên bố chủ quyền khác trực tiếp đe dọa các tuyến đường cung ứng và quân đồn trú của mình tại khu vực này.

Bằng việc kêu gọi đánh giá lại quan hệ, việc thiết lập phòng thủ với Philippines có thể hy vọng hối thúc Mỹ xem xét lại nội dung và cách giải thích của Hiệp ước phòng thủ chung theo cách khiến hai bên thỏa mãn. Đổi lại, Manila có thể sẽ cho phép quân đội Mỹ mở rộng tiếp cận các cơ sở quân sự của họ, cụ thể là căn cứ không quân Bautista và Basa ở Biển Đông.

Dù vậy, quá trình đánh giá này cũng mở ra khoảng trống cho những chỉ trích cũng như những đề nghị cho các mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc nhằm kêu gọi Philippines chính thức chấp nhận một chính sách trung lập về chiến lược và, theo đó, hạ thấp quan hệ liên minh song phương Philippines – Mỹ.

Điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra nếu Washington vẫn giữ chính sách mơ hồ về chiến lược trước các cam kết của mình với Philippines tại Biển Đông. Ba năm trong nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte, quan hệ đồng minh Philippines – Mỹ đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử.

Nguồn: www.scmp.com

TKNB – 12/02/2019

Indonesia: Di sản lẫn lộn của chương trình cải cách – Phần cuối


Cải cách quân đội

Cải cách quân đội Indonesia mang lại kết quả lẫn lộn. Về phần tích cực, các lực lượng vũ trang chính thức nằm ngoài chính trị, sau khi đã gỡ bỏ tư tưởng dwifungsi (“chức năng kép”, trong tiếng Indonesia), điều hợp pháp hóa sự tham gia các vấn đề chính trị và an ninh. Quân đội cũng đã ngăn sĩ quan tại ngũ nắm giữ các vị trí dân sự trong bộ máy hành chính và các doanh nghiệp quân đội cũng đã ngừng hoạt động. Nhiều doanh nghiệp quân đội đã bị phá sản sau cuộc khủng hoảng tài chính trong khi phần còn lại phải chuyển nhượng cho chính phủ vào năm 2009 theo luật.

Về phần tiêu cực là những dấu vết của cách làm theo Trật tự mới. Một mặt, hệ thống địa hạt phổ biến của quân đội vẫn giữ nguyên, được cho là một phần cốt yếu để giám sát xung đột tiềm tàng nhưng theo giáo sư Marcus Mietzner, là “nền tảng quyền lực của quân đội từ những năm 1950”. Ở cấp địa phương, quân đội cũng tham gia phát triển, như hỗ trợ an ninh lương thực thông qua việc phân phát gạo và xây dựng đường sá. Đối với các cộng đồng vùng xa, sự hỗ trợ của quân đội là chính đáng. Tuy nhiên, một số nhà phân tích lập luận rằng hệ thống này chỉ củng cố vai trò an ninh nội địa của quân đội thay vì cải cách, và hạn chế sự phát triển năng lực của các cơ quan dân sự. Kết quả là một lời tiên đoán tự chứng minh là đúng: Một số cộng đồng càng phụ thuộc nhiều vào dịch vụ của quân đội, quân đội sẽ càng lập luận chức năng cung cấp dịch vụ của họ là thiết yếu.

Thế hệ lãnh đạo quân đội hiện nay không mang vết nhơ vi phạm nhân quyền như các chỉ huy trong thời kỳ chiếm đóng Timor Leste. Nhiều người đã trải qua phần lớn sự nghiệp của họ trong kỷ nguyên hậu Trật tự mới. Do đó, đã có những sự thay đổi trong thái độ và niềm tin của quân đội về vai trò của mình trong chính trị và việc sử dụng bạo lực.

Đồng thời, nhiều nhân vật kỳ cựu của Trật tự mới có ảnh hưởng trong các vị trí dân sự. Cựu lãnh đạo Các lực lượng vũ trang quốc gia Indonesia (TNI) từ năm 1998 đến 1999, Tướng Wiranto, hiện nắm một vị trí quan trọng trong nội các của Jokowi với tư cách là Bộ trưởng điều phối các vấn đề chính trị, tư pháp và an ninh. Bên cạnh đó là cựu chỉ huy các lực lượng đặc nhiệm kiêm doanh nhân, tướng Luhut Panjaitan, với tư cách Bộ trưởng điều phối các vấn đề hàng hải và cựu chỉ huy lục quân, tướng Ryamizard Ryacudu, với tư cách Bộ trưởng Quốc phòng. Mô hình này đã tiếp tục thậm chí với các sĩ quan thuộc thế hệ trẻ hơn. Tướng Moeldoko, tư lệnh quân đội từ năm 2013 đến 2015, hiện là Bộ trưởng nội các.

Jokowi cũng đã tìm cách xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn với quân đội vì sự ủng hộ chính trị của quân đội vẫn được coi là không thể thiếu cho thành công trong bầu cử. Ông là tổng thống đầu tiên không có lý lịch tinh hoa và mặc dù có sự ủy nhiệm mạnh mẽ để lãnh đạo, ông biết rõ rằng các khả năng phi quân sự của ông cần vốn chính trị của các lực lượng vũ trang.

Vẫn có một cách hiểu, chủ yếu của các nhóm nhân quyền và các nhà hoạt động dân chủ, rằng bất chấp cải cách, quân đội tránh được trừng phạt nghiêm khắc vì vi phạm nhân quyền. Năm 2013, các binh sĩ đeo mặt nạ của lực lượng đặc nhiệm lục quân (Kopassus) đã bố ráp một nhà tù ở Nam Java, bắn chế 4 người bị tạm giữ. Cái chế của những người bị tạm giữ, được gọi là preman hay gangster, là đòn trả đũa vì họ được cho là giết hại một binh sĩ Kopassus khác trong một vụ gây lộn ở quán bar. Khi các binh sĩ bị kết án vì giết người mà không qua xét xử, cộng đồng địa phương đã biểu tình để ủng hộ hành động của họ, lập luận rằng nhờ những cái chết này mà xã hội đã bớt đi một tai ương. Nói cách khác, cộng đồng ủng hộ quân đội, thay vì cảnh sát, thực thi luật pháp. Người dân còn bảo vệ các binh sĩ hơn nữa vì các thành viên Kopassus đã hỗ trợ nhân đạo sau một vụ phun trào núi lửa nghiêm trọng nhiều năm trước. Trong mắt cộng đồng, quân đội là người bảo vệ thực sự của họ.

Hai thập kỷ sau khi chịu tai tiếng đen đủi, quân đội Indonesia vẫn là một trong những thể chế đáng tin cậy nhất đất nước, theo các cuộc thăm dò. Mặt khác, cảnh sát là một trong những thể chế ít đáng tin cậy nhất. Những cách hiểu tích cực này đã góp phần gia tăng vai trò của quân đội trong chống khủng bố, được ghi vào những bản sửa đổi mới nhất luật chống khủng bố. Bất chấp Trật tự mới đã kết thúc, có một điều rõ ràng: Quân đội duy trì ảnh hưởng thông qua những hình thức tham gia chính trị phức tạp và khôn khéo hơn, trái ngược lại những kỳ vọng về quy tắc quan hệ quân sự – dân sự.

Xã hội dân sự phần lớn vẫn tỏa sáng

Điểm sáng trong kỷ nguyên hậu Trật tự mới của Indonesia là xã hội dân sự. Trong đó có những tổ chức Hồi giáo như Muhammadiyah và Nahdlatul Ulama, đều được thành lập vào đầu nhữmg năm 1990 và đóng một vai trò quan trọng ủng hộ các nhà hoạt động sinh viên vào năm 1998. Các nhóm khác bao gồm xã hội dân sự ngày nay đại diện cho một loạt rộng lớn của các tôn giáo, lợi ích, bản sắc và quyền lợi. Trong khi Trật tự mới đã bóp nghẹt tự do chính trị, nó cho phép công chúng tham gia vào các vấn đề dân sự, dù thông qua các chương trình do nhà nước quản lý để hỗ trợ cho các giá trị dân tộc. Khi có sự thay đổi, không khó để năng lượng của các nhóm hoạt động này được chuyển sang các mục tiêu mới để hỗ trợ mục đích dân chủ.

Dù lớn mạnh trong 2 thập kỷ, quyền tự do lập hội và biểu đạt hơn này có một số giới hạn. Chẳng hạn, những hoạt động ngày càng lớnt iếng của các nhóm Hồi giáo theo đường lối cứng rắn hơn ở một nước Indonesia dân chủ đã gây kinh ngạc. Tháng 7/2017, chính phủ đã đề xuất một quy định cho phép Bộ Tư pháp cấm những tổ chức quần chúng nhất định mà không cần đến tòa án. Trước đây các nhóm bị cảnh cáo 3 lần trước khi bị giải tán thông qua quá trình pháp lý. Bộ trưởng điều phối các vấn đề chính trị, an ninh và pháp lý Wiranto giải thích rằng quy định “không nhằm giới hạn tự do lập hội, nó đơn thuần nhằm duy trì đoàn kết và bảo vệ sự tồn tại của đất nước”. Kể từ đó chính phủ đã sử dụng quy định này để cấm Hizbut Tahrir Indonesia, một tổ chức Hồi giáo bị cáo buộc là phá hoại hệ tư tưởng dân tộc Pancasila. Những người chỉ trích nói việc cấm Hizbut Tahrir Indonesia, vốn cũng bị cấm ở một số nước Hồi giáo, đặt ra một tiền lệ nguy hiểm về cách dùng sai nguyên tắc này trong tương lai.

Một bước tiến, hai bước lùi

Trong khi các chính trị gia người Java vẫn nắm độc quyền các chức vụ chính trị hàng đầu, các nhóm sắc tộc khác được trao quyền nhiều hơn để đại diện chính trị bên ngoài thủ đô. Sự phi tập trung hóa đã dẫn đến “sự phục hưng của các bản sắc địa phương”, trái ngược với các chính sách “đồng nhất hóa” của Trật tự mới, vốn đưa các quan chức người Java và người Sunda vào chính quyền địa phương. Hiện nay, cử tri có thể chọn ứng cử viên địa phương làm đại biểu cho họ, với quan hệ cộng đồng của các ứng cử viên (cùng với chiến thuật bảo trợ) được coi là sống còn cho thành công. Để hấp dẫn nhiều cử tri nhất có thể trong một khu vực nhất định, nhiều ứng cử viên được khuyến khích chọn đối tác tranh cử thuộc sắc tộc hay tôn giáo khác. Hiệu ứng chung là có sự ổn định lớn hơn cũng như sự hợp tác giữa các nhóm trên khắp quốc đảo.

Tuy vậy, sự sụp đổ thu hút nhiều chú ý của thị trưởng Jakarta và cựu cấp phó của Jokowi, Basuki Tjahaja Purnama (còn được gọi là Ahok), một người Hoa theo đạo Cơ đốc, vào năm 2016 điển hình cho những cách thức trong đó sự thiếu bao dung sắc tộc và tôn giáo có thể bị thổi bùng vì mục đích chính trị. Một người dùng truyền thông mạng xã hội đã đăng tải một đoạn video đã biên tập có hình Ahok đọc một đoạn kinh Koran. Các đối thủ chính trị nắm lấy lời của Ahok, gọi đó là báng bổ, một tội theo luật Indonesia, kêu gọi bắt giữ ông và huy động các cuộc tuần hành quần chủ để bảo vệ đạo Hồi. Mặc dù không phải tất cả người biểu tình đều phản đối gốc gác dân tộc của ông, tình cảm bài Hoa theo bản năng trong sự bàn luận công khai gợi nhớ lại làn sóng thù ghét của năm 1998. Ám ảnh với bạo lực của kỷ nguyên đó, cộng đồng người Hoa ở Jakarta lo sợ bị trả thù và có thể bị ngăn cản leo lên những đỉnh cao chính trị như vậy vì sợ rằng sắc tộc sẽ một lần nữa được sử dụng làm một thứ vũ khí.

Sự không khoan dung ngày càng tăng trong công luận cũng được nhằm vào cộng đồng LGBT của Indonesia. Các nhóm nhân quyền đã chỉ trích sự xói mòn dần dần việc bảo vệ cho các quyền thiểu số thông qua các vụ đàn áp của cảnh sát và các nhóm dân phòng. Các bộ trưởng trong nội các của Jokowi đã lên tiếng phản đối các hoạt động của LGBT, gọi chúng là những điều xấu xa của phương Tây nhằm để phá hoại sự gắn kết xã hội Indonesia. Như tác giả Sana Jafrey lưu ý mới đây, xu hướng hạn chế xã hội dân sự Indonesia không chỉ là về nhân rộng các quan điểm không bao dung mà còn là “đưa các lợi ích và nguồn lực của nhà nước trở lại vào không gian công cộng”.

Dẹp nạn tham nhũng

Tham nhũng vẫn là một đặc trưng của chính trị và xã hội Indonesia. Việc phi tập trung hóa các nguồn quỹ xuống các khu vực cũng có nghĩa là phân phối lại tham nhũng. Theo Chỉ số nhận thức tham nhũng 2017 của tổ chức Minh bạch Quốc tế, Indonesia xếp 96 trên 180. Việc thành lập các cơ chế giám sát, chịu trách nhiệm pháp lý và khởi tố tốt hơn, như Ủy ban diệt trừ tham  nhũng (KPK) thành lập năm 2002, là những nỗ lực mạnh mẽ để kiểm soát tham nhũng. Việc bổ sung “bài kiểm tra độ thích hợp” dành cho các đại biểu dân bầu cũng như các chỉ huy quân đội và cảnh sát nhằm đưa sự minh bạch nhiều hơn vào vị trí lãnh đạo. Tự do báo chí có nghĩa là các vụ án có tiếng được đưa lên trang nhất.

KPK là một ngọn đèn hy vọng, bất chấp những cuộc tấn công vào quyền lực và nhân viên của ủy ban này. Tháng 4/2017, nhà điều tra Novel Baswedan đã mù hẳn một mắt và mù một phần mắt kia khi bị tạt axit vào mặt. Đó là lần thứ 6 ông bị tấn công khi làm việc. Thành công của ông trong việc kết tội các chính trị gia và thậm chí chánh án Tòa án hiến pháp Indonesia, bị bắt trong một chiến dịch giăng lưới vì nhận hối lộ để phán quyết bầu cử, đã biến ông thành mục tiêu. Tuy thế, KPK tiếp tục chiến đấu chống tham nhũng, vào tháng 10/2017 đã bắt giam một trong những nghi can cao cấp nhất, chủ tịch Hạ viện Setya Novanto, người liên quan đến các khoản lỗ nhà nước trị giá 225 triệu USD trong một phần của kế hoạch làm thẻ căn cước công dân.

Indonesia đang hướng về đâu?

Trong bối cảnh đó, bất chấp sự gia tăng ngay lập tức tình trạng bạo lực, Indonesia đã không “Balkan hóa” như nhiều người đã dự đoán sẽ diễn ra vào năm 1998. Giới lãnh đạo thời ngay sau Trật tự mới, đặc biệt là Habibie, đã đi những bước dài tiến tới cải thiện khủng hoảng kinh tế mà nước này phải đối mặt trong khi đem lại các quyền tự to chính trị và sự chia sẻ quyền lực mà đem tới sự ổn định lớn hơn.

Khi Indonesia hướng tới thập kỷ dân chủ thứ 3 của mình, quả thực đã có những dấu hiệu đáng lo ngại về sự suy giảm một số chủ quyền và quyền tự do nhất định. Một số nhân vật chủ chốt từ Trật tự mới vẫn còn, thậm chí đảm nhận chức vụ trong nội các của Jokowi. Tuy nhiên họ hoạt động ở một nước Indonesia khác, một nơi mà người dân Indonesia kỳ vọng và sẽ vận dụng trách nhiệm của mình trong các cuộc bỏ phiếu. Trong khi Indonesia có thể không phải là một nền dân chủ tự do, các truyền thống dân chủ bầu cử, quy trình pháp lý, các nhóm nhân quyền, báo chí sôi động và xã hội dân sự của nước này mang đến một sức mạnh nội tại mà có lẽ không phải luôn được truyền tải bên cạnh những tít báo đau buồn. Bất chấp nhiều bất lợi, Indonesia đã sống sót qua sự chuyển giao dân chủ và tiếp tục phát triển.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/06/the-mixed-legacies-of-indonesias-reformasi/

TLTKĐB – 09/08/2018

Indonesia: Di sản lẫn lộn của chương trình cải cách – Phần đầu


Natalie Sambhi

Bất chấp nhiều bất lợi và một số khó khăn, Indonesia đã tồn tại qua quá trình chuyển giao dân chủ và tiếp tục phát triển.

Indonesia có một câu chuyện đầy ấn tượng. Thống nhất từ những vương quốc cổ đại trải qua thời kỳ thực dân và chiếm đóng, được khích lệ nhờ một cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài, được củng cố dưới thời độc tài, nước này đã nổi lên là một nền dân chủ sôi nổi, nhưng phức tạp. Mới chỉ kéo dài 2 thập kỷ, hệ thống chính trị của nước này đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân và Indonesia có một nền báo chí mạnh mẽ cũng như độc lập. Năm 1998, tình hình có vẻ thảm khốc và, như đã nhiều lần diễn ra, các nhà phân tích thời điểm đó lo sợ những rắc rối kinh tế và tình trạng bạo lực cộng đồng ngày càng nhiều của đất nước sẽ dẫn đến sự đổ vỡ của quốc đảo lớn nhất thế giới này. Cách Indonesia nổi lên từ đống tro tàn của kỷ nguyên Trật tự mới độc tài là một nghiên cứu quan trọng về tính kiên trì và chính sách.

Tình trạng của nền dân chủ Indonesia lại càng thích hợp hơn khi các nhà bình luận vội vã tuyên bố sự sụp đổ chung của dân chủ trên khắp thế giới. Người ta lập luận rằng trên thế giới và cụ thể là ở các nền dân chủ mới, quy chuẩn đang dần bị đẩy lùi về hướng quyền lực tập trung hơn trong tay các nhà lãnh đạo dân túy. Năm 2017, dân chủ đã đối mặt với “cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong nhiều thập kỷ”, theo tổ chức Freedom House, với 71  quốc gia đi xuống về quyền chính trị và quyền tự do và chỉ 34 nước đi lên. Tờ Time mới đây đã tuyên bố “kỷ nguyên của kẻ độc tài chính trị”, đưa lên trang bìa hình Vladimir Putin của Nga, Rodrigo Duterte của Philippines, Recep Tayyip Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ và Viktor Orban của Hungary. Trong vài năm qua, người dân Ấn Độ, Áo, Malaysia và Mỹ đã bầu lên một cách dân chủ các nhà lãnh đạo dân túy ở những nước mà sự khoan dung và tính đa nguyên đang bị đe dọa.

Nền chính trị và xã hội Indonesia chỉ chống lại được một số xu hướng toàn cầu này. Nhiệm kỳ của tổng thống đương nhiệm Joko “Jokowi” Widodo và sự kiên định của nền dân chủ Indonesia hiện phụ thuộc vào năm 20 năm hợp nhất. Nhưng vậy có đủ để ngăn sự trượt dài? Bao nhiêu điều đã thay đổi kể từ năm 1998?

Những đòi hỏi của năm 1998

Dù luôn có những rạn nứt trong thời nắm quyền của Suharto, những sự kiện của năm 1997 và 1998 đã đem đến một cái kết rõ ràng cho Trật tự mới, Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu vào giữa năm 1997 đã đẩy nền kinh tế vốn đã suy yếu vì tham nhũng và nợ nần vào rối loạn: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã giảm 14% và đồng rupiah Indonesia đã mất 30% giá trị vào tháng 10/1997, làm các công ty phá sản và khiến tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng. Giá thực phẩm và nhiên liệu tăng cao đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho người nghèo.

Đó cũng là một thời kỳ hỗn loạn và bạo lực, đặc biệt đối với cộng đồng người Hoa ở Jakarta, những người mà giới tinh hoa của họ có quan hệ kinh doanh lâu đời với sự giàu có của Suharto đã gây ra nỗi oán giận. Sự cay nghiệt cũng nhằm vào gia đình Suharto. Con cái ông có các dự án kinh doanh dựa trên những mối liên hệ chính trị của cha mình và thu được tài sản khổng lồ.

Không ngạc nhiên, các cuộc biểu tình sinh viên, bắt đầu vào tháng 1/1998, đòi hỏi chấm dứt nạn tham nhũng, nạn thông đồng và ưu ái cho người tân (viết tắt thông thường trong tiếng Indonesia là “KKN”) trong chính trị và kinh doanh. Sự kết thúc của Trật tự mới cũng có nghĩa gỡ bỏ vai trò rộng khắp của quân đội trong chính trị và sự kiểm soát chặt chẽ của họ với quyền tự do biểu đạt. Trong số những tấm hình gây ấn tượng mạnh của kỷ nguyên đó là những người biểu tình, sau khi tràn vào nhà quốc hội, chiếm nóc tòa nhà một cách đầy thách thức. Bất chấp sự đe dọa trả đũa bạo lực của quân đội (6 sinh viên đã bị lực lượng vũ trang bắn chết tại trường Đại họoc Trisakti ở Jakarta vào ngày 12/5), vào giữa tháng 5 các sinh viên đã tuần hành trên đường phố và đáng kinh ngạc là binh sĩ đã không kháng cự. Thay vào đó nhiều người đã gia nhập họ trong sự đoàn kết.

Khi các cuộc tuần hành và sau đó là nổi loạn lên đến đỉnh điểm, các đồng minh của Suharto đã nhảy khỏi con tàu đắm. Chỉ những người thân cận nhất với ông mới tiếp tục trung thành, như tổng tư lệnh quân đội và cựu sĩ quan phụ tá của ông, Wiranto. Hành động của các nhà hoạt động và người biểu tình là cú thúc đẩy cuối cùng cho sự thay đổi: Ngày 21/5, Suharto từ chức tổng thống.

18 tháng sau đó mang tính then chốt để gieo hạt giống dân chủ hóa, Phó tổng thống và là người kế nhiệm Suharto, B.J. Habibie, đã xây dựng một chương trình cải cách tham vọng, cay đắng tổ chức bầu cử vào năm 1999 (3 năm trước thời hạn), đem lại tự do cho các đảng chính trị và sự chia sẻ quyền lực với các tỉnh của Indonesia. Sự phân phối tài chính và các quyền tự quyết lớn hơn dành cho các cấp chính quyền này đã giúp tăng sự tham gia và ổn định. Ở một nước Indonesia giàu tài nguyên thiên nhiên, các cộng đồng cảm thấy tài sản của họ bị hút về thủ đô đã có cơ hội tốt hơn để đầu tư trở lại vào cộng đồng địa phương của họ so với dưới thời chế độ Suharto.

Nhưng Habibie không dừng ở đó. Ông đã thả các tù nhân chính trị và tự do hóa báo chí. Habibie thậm chí đã đề xuất tổ chức trưng cầu dân ý cho người dân Đông Timor (hiện là Timor Leste). Sự chiếm đóng tàn bạo nước này đã gây nhức nhối cho danh tiếng quốc tế của Indonesia trong hơn 2 thập kỷ. Khi thế kỷ 20 sắp sửa kết thúc, một ánh bình minh mới đã xuất hiện ở Indonesia.

Cải cách bầu cử

Về nền chính trị, nền dân chủ đa đảng của Indonesia đầy mạnh mẽ, dù vẫn có một số khó khăn.

Theo tổ chức Freedom House, hệ thống chính trị và các quyền tự do dân sự của Indonesia được đánh giá là “tự do một phần” trong năm 2018. Phải cho tới năm 2013, Indonesia mới được tổ chức theo dõi này coi là “tự do”. Tuy nhiên, những diễn biến lập pháp tiến bộ kể từ năm 1998 đã tạo ra một quá trình tự do và công bằng hơn. Trong các nhiệm kỳ tổng thống của Wahid (1999 – 2001) và Megawati (2001 – 2004), hiến pháp đã được sửa đổi, trong đó có việc thành lập một tòa án hiến pháp và bầu cử tổng thống trực tiếp. Kể từ năm 1998, Indonesia đã tổ chức các cuộc bầu cử tự do và công bằng vào các năm 1999, 2004, 2009 và 2014. Cuộc tổng tuyển cử sắp tới được dự kiến diễn ra vào tháng 4/2019. Năm 2005, sau cuộc bầu cử người đứng đầu khu vực trực tiếp đã được giới thiệu, làm tăng sự tham gia của công chúng và nền dân chủ non trẻ.

Tăng trưởng kinh tế lâu dài đã củng cố tính hợp pháp của giới cầm quyền dân sự. Trong kỷ nguyên Yudhoyono (2004 – 2014), phần lớn được coi là một thập kỷ ổn định và củng cố, GDP đã tăng trưởng khoảng 6%/năm, giúp đất nước không bị cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009 tàn phá. Indonesia đã gia nhập G20 vào năm 2008, trở thành nước ASEAN đầu tiên làm điều đó.

Bất chấp một giai cấp trung lưu đang bùng nổ và sự củng cố dân chủ, vẫn còn những thông lệ chính trị không ai muốn. Chẳng hạn, một nghiên cứu lớn đã cho thấy rằng các ứng cử viên chính trị cấp dưới quận trên khắp quốc đảo này phần lớn đã sử dụng hệ thống bảo trợ và thân hữu làm phương thức giành sự ủng hộ chính trị chủ yếu. Sự ăn sâu bám rễ của tiền bạc vào chính trị và “chi tiều rổ thịt” không báo trước cho một sự quản lý nhà nước minh bạch và hiệu quả. Trong những trường hợp ngấm ngầm hơn, như ở Blora, Trung Java, botoh (con bạc địa phương có liên hệ với thế giới ngầm) đã tiến hành mua phiếu vào năm 2014 để tác động đến kết quả của ứng cử viên mà họ đặt cược vào, không phải vì lý do chính trị mà hoàn toàn chỉ để thắng độ.

Trong khi chất lượng của nền dân chủ bầu cử của Indonesia vẫn tốt, các đặc tính tự do của nó lại đang xói mòn. Chẳng hạn, những thay đổi lập pháp đang giúp các nhà lập pháp khỏi bị kiểm soát thật sự. Được đề xuất vào tháng 3/2018, luật MD3 mới có thể hình sự hóa hành vi chỉ trích ngành lập pháp hoặc các nghị sĩ. Một điều luật nữa liên quan đến các hành động có khả năng “hạ thấp danh dự” – một cụm từ được định nghĩa tồi một cách mơ hồ – của Nghị viện có vẻ nhắc lại ý tưởng rằng chính trị gia là không thể chỉ trích. Luật này gây tranh cãi tới mức ngay cả Tổng thống Jokowi đã từ chối ký, bất chấp biết rằng nó sẽ có hiệu lực mà không cần sự thông qua của ông.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/06/the-mixed-legacies-of-indonesias-reformasi/

TLTKĐB – 09/08/2018

Liệu Đông Nam Á có thực sự đối trọng được với Trung Quốc? – Phần cuối


Về mặt chiến thuật, Bắc Kinh nhận thức sâu sắc rằng quy tắc sống còn đầu tiên của ASEAN là việc đưa ra quyết định dựa trên sự đồng thuận giữa 10 nước thành viên; không có sự đồng thuận, không có ASEAN. Kết quả thực tế của mô hình độc đáo đưa ra quyết định này của ASEAN là ưu tiên hình thức hơn bản chất. Thấu hiểu được sự thật hiển nhiên này, Trung Quốc đã nhận ra rằng chỉ cần một nước thành viên ASEAN không đồng tình, ASEAN sẽ không bao giờ có thể gây ra sự tổn thương đáng kể nào tới Bắc Kinh. Quả thực vào tháng 7/2012, hiệp hội này đã trải nghiệm sự thất bại hoàn toàn về mặt ngoại giao lớn nhất trong lịch sử 45 năm của mình khi mà ASEAN đã không đưa ra được một tuyên bố chung của các ngạoi trưởng bởi vì Campuchia, nước ủng hộ trung thành của Trung Quốc và giữ ghế chủ tịch ASEAN năm đó, đã không đồng ý về ngôn từ sử dụng trong tuyên bố dự thảo, đặc biệt liên quan đến các tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa. Kiểm soát được Campuchia, Bắc Kinh thỏa mãn với thành công về chiến thuật trong việc giới hạn được khả năng gây thiệt hại của ASEAN.

Thế tiến thoái lưỡng nan của ASEAN được minh họa rõ bằng mong muốn thương lượng về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) với Trung Quốc. Ưu tiên có thể hiểu được của ASEAN là một văn bản ràng buộc về mặt pháp lý, giống như một thỏa thuận với một cơ chế giải quyết tranh chấp để kiềm chế hành vi của Trung Quốc bằng sức mạnh của luật pháp. Tuy nhiên, các quan chức của nó biết, và dự thảo khung COC được nhất trí vào tháng 5/2017 cho thấy, rằng ưu tiên của Trung Quốc đối lập hoàn toàn: một văn bản không ràng buộc phần lớn để thúc đẩy niềm tin và kiểm soát các sự cố. Trong lúc đó, Trung Quốc tiếp tục củng cố sự hiện diện của mình trên biển, tạo ra các điều kiện vật chất thuận lợi hơn cho các giải pháp về tranh chấp trong tương lai. Bắc Kinh hiện đi đến được giai đoạn mà tại đây Trung Quốc chỉ có thể bị kiềm chế bởi chính nước này. Tại sao ASEAN sử dụng các nguồn lực ngoại giao khá lớn để thương lượng về một thỏa thuận không ràng buộc, điều không phù hợp với phong cách của ASEAN? Bởi ASEAN không còn lựa chọn nào khác. Trung Quốc một lần nữa dồn ASEAN vào thế khó khi đề xuất các cuộc thương lượng về COC. Đề xuất khó từ chối bởi ban đầu COC là ý tưởng của ASEAN. Sẽ nguy hiểm nếu từ chối bởi vì nếu không Trung Quốc sẽ đi theo cách riêng của họ ở biển Nam Trung HOa, và mối quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN sẽ bị tổn hại nghiêm trọng, với các tác động bất lợi đối với vai trò trung tâm của ASEAN trong trật tự khu vực. Vì lợi ích của trật tự khu vực, đi thẳng cùng với Trung Quốc tốt hơn đi ngang một mình. Một số quan chức Trung Quốc hiện có thể suy nghĩ: “Chính ASEAN xin chúng ta thương lượng về COC, chứ không phải ngược lại”.

Cũng lưu ý rằng sự ủng hộ của Trung Quốc đối với vai trò trung tâm của ASEAN không phải không có điều kiện. Công nhận vai trò độc nhất của ASEAN trong hệ thống thể chế Đông Á và đánh giá cao sự hỗ trợ của ASEAN cho sự hội nhập của Trung Quốc đối với khu vực sau những năm 1990 chắc chắn đã đóng một vai trò. Tuy nhiên, thái độ của Trung Quốc ngày càng được thúc đẩy bởi một đánh giá thực dụng rằng cho đến nay Trung Quốc thiếu tính hợp pháp rộng khắp khu vực để lãnh đạo quá trình hợp tác được thể chế hóa ở Đông Á. Nhiều nước trong khu vực, và đặc biệt là Mỹ, sẽ coi những nỗ lực xây dựng xây dựng thể chế khu vực mà trong đó Trung Quốc đi đầu như là sự cố gắng loại bỏ Mỹ và triệt tiêu ảnh hưởng của Mỹ khỏi khu vực. Hiện nay, ASEAN là bên tham gia duy nhất trong khu vực có thể chấp nhận được đối với tất cả các bên để đóng một vai trò lãnh đạo quan trọng trong hợp tác khu vực. Trung Quốc đã thu được lợi từ vai trò trung tâm của ASEAN trong quá khứ và có thể sống cùng với ASEAN miễn là ASEAN đáp ứng lợi ích của Trung Quốc. Điểm cuối cùng này là quan trọng: Trung Quốc đã cố gắng hạn chế vai trò trung tâm của ASEAN trong những lĩnh vực mà lợi ích chiến lược quan trọng của nước này bị đe dọa. Do đó, trên biển Nam Trung Hoa, nước này không muốn hành vi của mình bị tiết chế bởi chủ nghĩa đa phương về an ninh lấy ASEAN làm trung tâm như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) hay Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Trong một cuộc gặp không dễ chịu vào tháng 6/2016, một cựu quan chức Trung Quốc thẳng thừng nói với các bộ trưởng ngoại giao ASEAN rằng ASEAN không có vai trò trung tâm trong vấn đề biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên, trong các lĩnh vực có “tính chính trị thấp” như kinh tế, tài chính, phát triển và an ninh phi truyền thống Trung Quốc vẫn để ASEAN đóng vai trò trung tâm, các quan chức Trung Quốc phàn nàn ngày một nhiều về việc ASEAN không có năng lực để thúc đẩy sự hợp tác Đông Á, đặc biệt là trong diễn đàn ASEAN + 3.

Cuối cùng, nhưu sử gia nổi tiếng Wang Gungwu nói: “Bắc Kinh muốn một ASEAN thống nhất theo Trung Quốc, chứ không phải đối đầu với Trung Quốc”. Nếu khéo léo, Trung Quốc có thể đặt mình ở trung tâm của việc xây dựng trật tự khu vực trong dài hạn. Trung Quốc thậm chí không cần đẩy Mỹ ra khỏi châu Á để tuyên bố mình là trung tâm thay cho ASEAN. Nếu Trung Quốc có thể đạt được một sự thỏa hiệp chiến lược với Mỹ ở châu Á, nước này sẽ thành công trong việc loại bỏ vị trí trung tâm của ASEAN. Bắc Kinh khó có thể chống lại kết luận rằng nước này có nhiều lựa chọn hơn ASEAN để định hình trật tự khu vực trong tương lai.

Câu hỏi lớn

Sự trỗi dậy nhanh chóng của sức mạnh Trung Quốc và sự mau lẹ mà với nó nước này đã thực hiện chiến lược mới là tái đảm bảo có điều kiện đã khiến câu hỏi lớn về mối quan hệ trong tương lai giữa Đông Nam Á và Trung Quốc ngày càng rõ ràng: Sau khi chấp nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc như là một thực tế địa chính trị, liệu các nước Đông Nam Á có ủng hộ hơn nữa vai trò thống trị của Trung Quốc trong việc công nhận một trật tự có tính quy chuẩn mới hay không? Liệu Bắc Kinh có cố gắng “tái tạo một hệ thống thứ bậc khu vực mà Trung Quốc giữ vị trí đầu, như Kausikan của Singapore nói không?

Hiện nay, tìm kiếm bằng chứng từ ban lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc về một cuộc điều tra về một hệ thống thứ bậc có tính quy chuẩn như vậy chỉ mang lại ít kết quả. Nhưng các nhà phân tích có ảnh hưởng của Trung Quốc đã bắt đầu thảo luận về các quan hệ nước ngoài, như là quan hệ giữa Trung Quốc và Singapore, theo các điều kiện thứ bậc. Mặc dù thứ bậc chưa phải là nguyên tắc chủ đạo trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, và chắc chắn nó sẽ không là vậy, nhưng thứ bậc có một truyền thống mạnh mẽ trong lịch sử Trung Quốc. Một câu hỏi mở là liệu ban lãnh đạo của Trung Quốc trong tương lai sẽ có thể kháng cự lại sức hấp dẫn của việc thiết lập một hệ thống thứ bậc có tính quy chuẩn ở châu Á song song với hệ thống thứ bậc hữu hình hiện đang được thiết lập không. Các nước Đông Nam Á, tất cả đều “nhỏ” so với Trung Quốc, sẽ cần suy nghĩ về câu hỏi không mấy thoải mái này trong một thời gian dài sắp tới.

Về phần mình, Trung Quốc sẽ đánh cược rằng chiến lược tổng hợp của nước này về sự tái đảm bảo có điều kiện – sự tái đảm bảo đang được kết hợp với sự ép buộc theo kiểu biện chứng của nước này – sẽ có thể quản lý căng thẳng và củng cố ảnh hưởng của nước này ở Đông Nam Á. Trung Quốc có thể đúng, nếu nước này có thể thừa nhận sự thiết yếu của quy tắc chiến lược khác từ truyền thống của Trung Quốc: cần duy trì một cán cân thích hợp giữa các mục tiêu và cáh tiếp cận đối lập nhau (nhu). “Nhu” được miêu tả theo nhiều cách là sự cân bằng, sự thích hợp, hay trung dung, là chủ nghĩa biện chứng của Trung Quốc ở mức cao nhất.  Khái niệm phổ biến về triết lý âm dương Trung Quốc là một sự phản ánh chính xác vai trò trọng tâm của “nhu” trong suy nghĩ của người Trung Quốc. Khổng Tử, nhà tư tưởng vĩ đại nhất mọi thời đại của Trung Quốc, cũng là hình mẫu xuất sắc nhất về “nhu”. Những đồ đệ của ông đã miêu tả ông “luôn hòa nhã nhưng nghiêm túc, uy nghiêm nhưng không khắt khe, tôn trọng nhưng thoải mái”. Quả thực, các chiến lược gia Trung Quốc ngày nay có thể hiểu “uy nghiêm nhưng không khắt khe” như chứng tỏ ranh giới ngoại giao hiệu quả và thiết lập nó như một nguyên tắc căn bản của chiến lược.

Trong khi giới tinh hoa ở Bắc Kinh than phiền rằng Trung Quốc đã quá rộng lượng đối với Đông Nam Á bởi gần như làm ngơ trước những nỗ lực của các nước yêu sách trong khu vực trong việc tăng cường vị thế của họ ở biển Nam Trung Hoa bị tranh chấp trước năm 2009, do vậy vi phạm đến quy tắc “nhu”, họ cũng có thể nghĩ rằng các mục tiêu quá cao và sự ép buộc quá đáng sẽ gặp rủi ro tương tự bởi việc khởi động một liên minh đối trọng chống lại Trung Quốc. Một kết quả như vậy vẫn chưa xảy ra, ít nhất không phải theo một cách công khai hay máy móc – trước sự hài lòng của họ, trái với một dự đoán theo chủ nghĩa hiện thực cơ bản.

Nhưng nếu họ muốn tiếp tục chứng minh sự hiểu biết vượt trội của Trung Quốc so với lý thuyết của phương Tây, họ phải nâng “nhu” lên thành một quy tắc vàng không thể xâm phạm. Nghịch lý là, bản chất của “nhu” là khẳng định tầm quan trọng của sự kiềm chế chiến lược. Nếu Trung Quốc có thể duy trì “nhu” và thực hiện sự tự kiềm chế được đòi hỏi, thì nỗi sợ hãi trong khu vực trước chi phối hệ thống thứ bậc của Trung Quốc sẽ giảm xuống, và Trung Quốc sẽ có thể có được một mức độ cai trị và ảnh hưởng cao hơn mà có thể đạt được nhờ sự chi phối hệ thống thứ bậc.

Nguồn: Feng Zhang – Is Southeast Asia really balancing against China? – The Washington Quaterly, Vol 41, 2018 – Issue 3.

TLTKĐB – 31/10/2018 & 01/11/2018