Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32: Tự cường và sáng tạo – Phần cuối


Với việc Trung Quốc có thái độ hiếu chiến và quyết đoán, đối mặt với nước này có thể không phải là một lựa chọn tốt hơn là cùng tham gia. Làm thế nào để quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc trở nên ấm áp trong khi vẫn băng giá có thể là một thách thức lớn đối với ông Lý Hiển Long. Trong khi ASEAN nhận được sự ủng hộ của Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và các quốc gia khác tôn trọng luật lệ toàn cầu, ông Lý Hiển Long sẽ phải chịu áp lực đáng kể từ Trung Quốc và Mỹ khi họ tranh giành quyền kiểm soát chính trị tại khu vực. Việc ông Lý Hiển Long có thể thành công hay không trong việc cân bằng và vận động giữa Mỹ và Trung Quốc trong khi vẫn giữ lợi ích của khối ASEAN vừa là ưu tiên hàng đầu vừa có thể là một thử nghiệm quan trọng đối với ông.

Bắc Kinh thích giải quyết với từng quốc gia liên quan vấn đề Biển Đông. Hiện nay Trung Quốc e ngại rằng Singapore có thể cố gắng “quốc tế hóa” vấn đề này. Mỹ, cũng giống như các nước khác, muốn giải quyết vấn đề một cách hòa bình, phù hợp với các quy tắc quốc tế hiện hành và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Một thách thức khác đối với ông Lý Hiển Long có thể là nỗ lực tạo ra sự thống nhất trong khi Trung Quốc đang cố gắng tạo ra các rạn nứt trong ASEAN.

Trong quá khứ Bắc Kinh dường như đã thành công trong việc giành được sự ủng hộ từ Brunei, Campuchia, Lào và Philippines đối với lập trường của mình rằng các tranh chấp Biển đông nên được đàm phán bởi các nước liên quan trực tiếp. Mặc dù Philippines giành chiến thắng và lợi thế trong cuộc chiến pháp lý tại Tòa Trọng tài, nhưng dường như có sự thay đổi sau khi ông Duterte lên nắm quyền. Tuy nhiên, bằng việc ủng hộ Việt Nam phản đối mạnh mẽ Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, Mỹ đã góp phần ngăn chặn sự mất đoàn kết của ASEAN. Mặc dù Singapore không phải là một bên tham gia tranh chấp Biển Đông, nhưng nước này thường làm cho Bắc Kinh không hài lòng vì Singapore đứng về phía ASEAN. Với vai trò là chủ tịch ASEAN, trách nhiệm của Singapore bây giờ sẽ lớn hơn trước đây để bảo vệ quyền lợi của ASEAN. Sẽ là thách thức ngoại giao đối với Singapore để tranh luận trước Bắc Kinh rằng Singapore vẫn trung lập giữa Mỹ và Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông.

Mặc dù Singapore không có bất kỳ tuyên bố chủ quyền nào đối với khu vực đang tranh chấp, nhưng nước này ủng hộ một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Quan điểm này tương tự như đa số các quốc gia khác và điều này giúp duy trì hệ thống quốc tế hiện tại. Điều này cũng bao gồm việc thực thi phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế vào tháng 7/2016 chống lại các yêu sách của Trung Quốc mà Trung Quốc đã bác bỏ. Singapore ủng hộ nguyên tắc bảo vệ tự do hàng hải. Đối với Singapore, điều này có nghĩa là tự do thương mại, giúp Mỹ thể hiện vai  trò ngoại giao công cộng như lại làm Bắc Kinh tức giận.

Trong tuyên bố kết thúc hội nghị cấp cao, ông Lý Hiển Long đã công bố ba tài liệu: Tầm nhìn của các nhà lãnh đạo ASEAN về ASEAN tự cường và sáng tạo, Tuyên bố của các nhà lãnh đạo ASEAN về an ninh mạng và Mạng lưới các thành phố thông minh của ASEAN. Ông cũng tuyên bố hoàn thành Hiệp ước dẫn độ mẫu ASEAN, Quỹ thanh niên Singapore – ASEAN mới và thành lập Học viện Luật ASEAN, một chương trình đào tạo hàng năm tại Singapore.

Chủ đề khác nổi bật trong các cuộc thảo luận là những cách thức thúc đẩy hội nhập kinh tế và kết nối để xây dựng cuộc sống thịnh vượng cho các dân tộc ở Đông Nam Á. Ông Lý Hiển Long chú trọng tìm cách quản lý và khai thác công nghệ số và trang bị cho người dân những kỹ năng và khả năng để ASEAN trở thành một tổ chức năng động và sôi động. Trong khi dưới nhiệm kỳ chủ tịch của Philippines, chủ đề của ASEAN là “Đối tác vì thay đổi, tham gia vào thế giới” thì dưới vai trò chủ tịch của Singapore “Tự cường và sáng tạo” sẽ là trọng tâm.

Trước hội nghị cấp cao từ ngày 25 – 28/4, hội nghị tham vấn chung của các quốc gia thành viên ASEAN đã được tổ chức tại Singapore vào ngày 7 và 8/3 để thảo luận chương trình nghị sự. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Quốc Dũng đã dẫn đầu phái đoàn cấp cao Việt Nam (SOM) tham dự sự kiện này. Hội nghị tham vấn khuyến nghị rằng các nhà lãnh đạo ASEAN sẽ xem xét tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN và đưa ra các biện pháp bổ sung cho quá trình này.

Việc xây dựng Cộng đồng ASEAN đòi hỏi sự hợp tác ở mức cao nhất. Điều này bao gồm tăng cường năng lực của Ban thư ký ASEAN, thúc đẩy các liên kết và kết nối trong khu vực bên cạnh việc thực hiện có hiệu quả các nội dung liên ngành và kết nối các trụ cột cũng như định hướng quan hệ với các đối tác. Từ quan điểm này, Việt nam cam kết tích cực, chủ động và có trách nhiệm cùng các nước thành viên khác trong khối để xây dựng Cộng đồng ASEAN. Việt Nam tin tưởng rằng sự đoàn kết của tổ chức này và sự nhất trí về các vấn đề khu vực và toàn cầu có thể góp phần vào hòa bình và ổn định, qua đó phản ánh vai trò trung tâm của khu vực. Các bên liên quan hy vọng Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32 nhất trí về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông như một văn kiện mở dựa trên các nguyên tắc luật pháp quốc tế. Công ước Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 và các văn bản có liên quan khác giữa ASEAN và Trung Quốc.

Việt Nam có vai trò nổi bật tại hội nghị cấp cao. Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã tích cực tham gia các cuộc thảo luận và đưa ra ý kiến trong việc dự thảo các văn kiện. Về tình hình khu vực và quốc tế, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các nhà lãnh đạo hoan nghênh kết quả tích cực của Hội nghị thượng đỉnh liên Triều vào ngày 27/4 và cam kết tiếp tục đẩy mạnh các nỗ lực thúc đẩy hợp tác và đối thoại, xây dựng niềm tin trên cơ sở các nguyên tắc và nền tảng hiện có trên Biển Đông và làm việc hướng tới việc hình thành COC có hiệu quả và ràng buộc từ đó thúc đẩy hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông.

Singapore khởi xướng ý tưởng sáng tạo nhằm kết nối các thành phố trong ASEAN, thúc đẩy đô thị hóa thông minh thông qua áp dụng các công nghệ mới và cải thiện kỹ năng quản lý đô thị để nâng cao điều kiện sống cho người dân khu vực. Phát triển đô thị thông minh sẽ thực hiện dựa trên các khía cạnh giao thông, quản lý tài nguyên nước, năng lượng, sức khỏe, giáo dục, dịch vụ công và công nghệ thông tin. Mỗi thành phố tham gia mạng lưới sẽ xây dựng kế hoạch hành động của mình và thúc đẩy các dự án khả khi phù hợp với nhu cầu và lợi ích riêng của mình, trên cơ sở hỗ trợ lẫn nhau. 23 thành phố ở ASEAN, bao gồm 3 thành phố của Việt Nam – Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng – đã đăng ký tham gia mạng lưới. Tóm lại, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tới Singapore và dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32 đã thành công ở nhiều khía cạnh khác nhau.

Nhìn chung, hội nghị cấp cao kết thúc vào ngày 28/4 là một thành công trên nhiều góc độ. Các nhà lãnh đạo đã thông qua các văn kiện phù hợp với các ưu tiên của ASEAN vào năm 2018 nhằm tăng cường khả năng tự cường và sáng tạo của tổ chức này. Các cam kết khác của ASEAN đối với khu vực và quốc tế cũng được thảo luận.

Mặc dù là một câu chuyện thành công, trong nhiệm kỳ chủ tịch của mình, Singapore có thể phải đối mặt với tình huống khó khăn và cần phải điều chỉnh lập trường một cách cẩn trọng. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Singapore.

Một số nhân vật có ảnh hưởng ở Singapore cho rằng Singapore có thể phải chịu hậu quả tiêu cực do công khai phản đối lợi ích của Trung Quốc. Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long không bị thuyết phục bởi lý lẽ như vậy. Singapore sẽ thực hiện chính sách của mình khéo léo như thế nào để không những duy trì sự đoàn kết trong ASEAN mà còn tạo ra môi trường thuận lợi bằng các biện pháp chính sách phù hợp để làm cho ASEAN mạnh mẽ?

Nguồn: Eurasia Review – 01/05/2018

TLTKĐB – 06/05/2018

Advertisements

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 32: Tự cường và sáng tạo – Phần đầu


Rajaram Panda

Hội nghị cấp cao lần thứ 32 những người đứng đầu nhà nước và chính phủ các quốc gia thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được tổ chức tại Singapore từ ngày 25 đến ngày 28/04/2018 để thảo luận các vấn đề khu vực và quốc tế  đã thành công tốt đẹp. Mặc dù ASEAN bao gồm 10 quốc gia thành viên (AMS) trong một khu vực đa dạng về văn hóa và nguồn gốc, nhưng nó chia sẻ lợi ích chung trong việc thúc đẩy hòa bình, ổn định và an ninh vì lợi ích của các dân tộc trong khu vực. Hội nghị cấp cao ASEAN lần này là một sự kiện đặc biệt được tổ chức tại Istana và khách sạn Shangri-La, nơi mà Singapore giới thiệu với thế giới làm thế nào mà 10 quốc gia thành viên với nền văn hóa đa dạng và các thể chế khác biệt được lại có thể thống nhất với nhau khi đề cập đến các vấn đề khu vực. Singapore chính thức tiếp nhận vị trí chủ tịch luân phiên của ASEAN từ Philippines vào ngày 14/11/2017 khi Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 31 kết thúc. Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã tiếp nhận vị trí này từ Thủ tướng Lào Thongoun Sisoulith vào năm trước đó và sẽ trở lại vị trí chủ nhà của hội nghị cấp cao vào năm 2027.

Ngay sau khi đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã khẳng định rằng ASEAN sẽ vẫn là động lực năng động dưới vai trò chủ tịch của Singapore. Ông Lý Hiển Long tiếp tục nhận thấy rằng tự cường và sáng tạo sẽ là trọng tâm trong một thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Ông gọi ASEAN là “phao cứu sinh” của các quốc gia Đông Nam Á. Trong bài phát biểu tại lễ bế mạc hội nghị cấp cao ngày 14/7/2017 ở Manila, ông Lý Hiển Long nhắc lại quyết tâm của ASEAN nhằm “thúc đẩy và duy trì trật tự khu vực dựa trên luật lệ” để “những thách thức an ninh mới nổi như an ninh mạng, tội phạm xuyên quốc gia và khủng bố” được giải quyết tốt hơn. Một trật tự khu vực ổn định có thể tạo ra môi trường thích hợp cho khu vực phát triển kinh tế và mở rộng thị trường. Do đó nắm bắt cơ hội vào thời điểm này là cấp thiết hơn bao giờ hết.

Dưới vai trò chủ tịch của ông Lý Hiển Long, tại Singapore các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua các văn kiện với ưu tiên thúc đẩy tự cường và sáng tạo trong khối.

Sức mạnh và sự quyết đoán của Trung Quốc đối với các vấn đề khu vực đã tạo ra lo ngại ở nhiều quốc gia trong khu vực. Biển Đông đã nổi lên như một điểm nóng chính. Khu vực biển này được cho là có lượng nguyên liệu quý và tài nguyên thiên nhiên khổng lồ. Nửa tá các quốc gia tuyên bố vùng biển này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình. Trong khi Việt Nam, Philippines, Brunei, Đài Loan và Malaysia tuyên bố chủ quyền là vùng biển liền kề với lãnh thổ đất liền của họ, Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Để củng cố và hợp thức hóa các tuyên bố của mình, Trung Quốc đã bắt đầu các hoạt động xây dựng đảo và từng bước tăng cường quân sự hóa, đe dọa tới các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực có không gian biển liên quan.

Biển Đông có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thương mại hàng hải. Giá trị hàng hóa đi qua khu vực này hàng năm đạt tới 5000 tỷ USD. Bất kỳ hành động đơn phương bởi một quyền lực nào bỏ qua và không tôn trọng các quy tắc toàn cầu đều là không thể chấp nhận đối với các quốc gia tuân thủ luật pháp. Các quốc gia thành viên ASEAN đang nỗ lực xây dựng một sự đồng thuận về việc thiết kế một Bộ quy tắc ứng xử (COC) của các bên ở Biển Đông. Lý Hiển Long rất nghiêm túc đối với vấn đề này trong nhiệm kỳ nước ông làm chủ tịch ASEAN.

Tuyên bố của Lý Hiển Long trong phát biểu kết thúc hội nghị thượng đỉnh đã đề cập đến các mối quan ngại được thể hiện bởi một số nhà lãnh đạo về tình hình ở Biển Đông, nơi Trung Quốc đã đơn phương xây dựng các căn cứ quân sự. Thuật ngữ “quan ngại” về tình hình Biển Đông đã được hồi sinh sau khi bị loại bỏ trong tuyên bố của chủ tịch ASEAN vào ngày 31/11/2017. Tuyên bố của ông Lý Hiển Long lần này được đánh giá đã nâng cao mối quan tâm đối với các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và việc xây dựng các căn cứ quân sự của nước này trong khu vực biển. Những hoạt động trên của Trung Quốc đã xói mòn lòng tin và sự tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng và có thể làm suy yếu hòa bình. Khi xem xét Trung Quốc, tuyên bố cũng đề cập đến quá trình xây dựng “bộ quy tắc ứng xử” với Bắc Kinh để ngăn chặn các tranh chấp trên Biển Đông.

Trong nhiệm kỳ chủ tịch của Philippines, khung COC đã được hoàn thành, Philippines ủng hộ COC không ràng buộc về pháp lý mà chỉ là “thỏa thuận của các quý ông”. Với vai trò là điều phối viên về đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Singapore cho rằng trong tình hình ổn định hơn hiện nay chúng ta không thể coi tiến bộ này là điều hiển nhiên. Để không làm Trung Quốc tức giận, ông Lỹ Hiển Long hy vọng sẽ giữ quan hệ ASEAN và Trung Quốc trên quỹ đạo tích cực hiện nay. Trước đó Philippines đã giành được thắng lợi pháp lý tại Tòa Trọng tài ở La Hay với phán quyết tuyên bố của Trung Quốc đối với chủ quyền tại Biển Đông là không có cơ sở pháp lý. Tuy nhiên Tổng thống Philippines Duterte đã lựa chọn gạt lợi thế này sang một bên dù trong cuộc gặp song phương với Tổng thống Mỹ Donald Trump, hai nhà lãnh đạo đã chỉ trích việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông.

Bắc Kinh vẫn không chần chừ và tiếp tục khẳng định các quyền của họ đối với Biển Đông, coi đây là chủ quyền lịch sử. Với việc Tập Cận Bình tiếp tục tại nhiệm kỳ 2 và việc giới hạn nhiệm kỳ được dỡ bỏ, ông có triển vọng lãnh đạo Trung Quốc đến khi nào ông muốn. Điều này càng cổ vũ ông củng cố các tuyên bố của Trung Quốc đối với khu vực này. Thị sát hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), ông Tập Cận Bình lưu ý nhu cầu xây dựng một lực lượng hải quân mạnh mẽ chưa bao giờ cấp thiết hơn hiện nay. Việc thể hiện sức mạnh hải quân ở Biển Đông là nhằm hăm dọa các nước nhỏ hơn có tuyên bố chủ quyền tại khu vực này. Trung Quốc đã xây dựng hải quân lớn nhất kể từ khi thành lập nước năm 1949 đến nay trong nỗ lực xây dựng lực lượng hải quân hạng nhất. Trong lần tập trận gần đây, Trung Quốc đã triển khai hơn 10.000 nhân viên, 48 tàu và 76 máy bay, bao gồm tàu sân bay Liêu Ninh và tàu ngầm, tàu biển và máy bay chiến đấu mới nhất. Hơn một nửa trong số 48 tàu trên được đưa vào hoạt động sau Đại hội XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2012.

(còn tiếp) 

Nguồn: Eurasia Review – 01/05/2018

TLTKĐB – 06/05/2018

Tổng thống Philippines “sập bẫy” Trung Quốc


Năm 2016, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte bắt đầu sưởi ấm quan hệ với Trung Quốc để có được đầu tư. Bắc Kinh từng hứa cung cấp 24 tỷ USD tín dụng để Manila nâng cấp hạ tầng cơ sở. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chỉ có một số rất ít được thực sự chỉ ra.

Chuyến công du Philippines đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong 2 ngày 20 – 12/11 vừa qua cũng không làm thay đổi toàn cảnh đó, trong lúc ông Duterte bị cáo buộc đã bị lừa khi “dâng” trước chủ quyền Biển Đông của Philippines cho Trung Quốc.

Trong bài phân tích ngày 23/11 mang tựa đề “Quyết định của Philippines xoay trục qua Trung Quốc vẫn chưa mang lại lợi quả. Manila vẫn ngóng trông các khoản tiền cam kết”, kênh truyền thông CNBC của Mỹ đã nêu bật phản ứng của công luận Philippines phê phán chính quyền Duterte đã vội vã nhượng bộ Trung Quốc về địa chính trị ở Biển Đông để đánh đổi lấy hư không.

Theo nhà báo Nyskha Chandran của CNBC, sau khi tuyên bố “bỏ Mỹ, theo Trung”, năm 2016, ông Duterte đã được chính quyền Tập Cận Bình cam kết 24 tỷ USD đầu tư và tín dụng để nâng cấp hạ tầng cơ sở tại Philippines. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như Manila vẫn chưa thấy tăm hơi những khoản cam kết đó.

Bắc Kinh đã hứa với Manila đến 10 dự án hạ tầng cơ sở to lớn, nhưng theo nhà chính trị học Richard Heydarian, thuộc Đại học La Salle ở Philippines, chỉ mới có một dự án là đã đi vào thực hiện. Trong khi đó, ông Duterte đã “giảm nhẹ hẳn việc tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, và đi theo đường lối của Bắc Kinh”.

Cựu Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã đưa vấn đề tranh chấp lãnh thổ Trung Quốc – Philippines ở Biển Đông ra trước Tòa trọng tài quốc tế ở La Haye (Hà Lan), năm 2016, tòa án đã ra phán quyết thuận lợi cho Manila, vô hiệu hóa yêu sách của Bắc Kinh. Trung Quốc đã bác bỏ phán quyết đó. Nhiều người đã chỉ trích ông Duterte là đã không làm gì để yêu cầu Bắc Kinh tôn trọng phán quyết.

Chẳng những thế, chỉ vài tháng sau phán quyết nói trên, ông Duterte lại thay đổi chính sách đối ngoại, tuyên bố chia tay với đồng minh Mỹ để quay sang đồng hành với Bắc Kinh.

Quyết định trên đã khiến nhiều người Philippines giận dữ. Họ cho rằng ông Duterte đã nhượng bộ ở Biển Đông để có được tiền từ Trung Quốc, nhưng lại chẳng thấy gì.

Gần một nửa trong số 75 dự án hạ tầng cơ sở của ông Duterte – trụ cột của chiến lược kinh tế “Xây dựng, xây dựng và xây dựng”, trị giá 180 tỷ USD, dự trù dùng tiền của Trung Quốc, nhưng đến nay mới chỉ có 3 đề án là nhận được tài trợ. Bộ trưởng Tài chính Philippines Benjamin Diokno ngày 19/11 đã thừa nhận rằng đầu tư Trung Quốc đến rất chậm.

Mặc dù Tổng thống Duterter hiện vẫn còn được sự ủng hộ của dân chúng, nhưng các cuộc thăm dò cho thấy người Philippines rất dè dặt về chính sách của ông đối với Trung Quốc. Theo kết quả cuộc thăm dò dư luận do viện Social Weather Station công bố ngày 19/11, hơn 80% số người được hỏi cho rằng Philippines nên chống lại việc Trung Quốc quân sự hóa các đảo nhân tạo đã bồi đáp ở Biển Đông.

29 thỏa thuận ký kết, nhưng chỉ là thứ yếu

Trong bối cảnh những cam kết tài trợ của Trung Quốc cho ông Duterte rõ ràng chưa thành hiện thực, đồng thời chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Philippines bị chỉ trích là không mang lại lợi ích mong muốn, nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc Kinh sẽ phải cố buông ra một cái gì nhân chuyến công du Philippines của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Nhân chuyến thăm Philippines của ông Tập Cận Bình, Manila và Bắc Kinh đã ký đến 29 thỏa thuận trên nhiều lĩnh vực, từ hợp tác giáo dục cho đến xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, theo chuyên gia Heydarian, khi xem xét kỹ thì giá trị các văn kiện đó chẳng là bao.

Đại đa số các văn bản được ký kết chỉ là những biên bản ghi nhớ và những khuôn khổ hợp tác mơ hồ, hầu như có rất ít thỏa thuận có liên quan đến việc thực hiện các dự án hạ tầng cơ sở quan trọng.

Trong một bản thông cáo công bố ngày 21/11, Phó Tổng thống Philippines, bà Leni Robredo, một trong những chính khách đối lập với Tổng thống Duterte, đã lên tiếng rằng “tình hữu nghị song phương không được quyền ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và dân tộc”. Theo Phó Tổng thống Robredo, “Chủ quyền của Philippines không thể bị tác động bởi bất kỳ thỏa thuận nào với bất kỳ quốc gia nào”.

Trung Quốc không cần giữ lời hứa

Khái niệm chủ quyền được bà Robredo nhắc đến được cho là liên quan đến Biển Đông. Trong chuyến thăm Philippines của ông Tập Cận Bình, hai bên đã cam kết quản lý đúng đắn các bất đồng ở Biển Đông.

Điều làm giới quan sát thắc mắc là không rõ Tổng thống Duterte có đề cập đến phán quyết cả Tòa Trọng tài La Haye năm 2016 hay không? Thế nhưng, hai bên đã ký một thỏa thuận chung khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp, cho dù theo phán quyết nói trên, Trung Quốc không có quyền hạn gì ở vùng này.

Theo chuyên gia Malcolm Cook, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak tại Singapore, “Tổng thống Duterte đang ở trong thế yếu trước Trung Quốc và chính ông đã tự đặt mình trong thế đó”. Chuyên gia này giải thích:

Ông Duterte đã xích lại gần Trung Quốc quá nhanh, quá toàn diện ngay sau khi lên cầm quyền, đồng thời đã cho Trung Quốc tất cả những gì họ muốn trước khi Bắc Kinh đền đáp lại. Cho nên, không mấy ngạc nhiên khi thấy những lợi lộc kinh tế mà Trung Quốc hứa cho Philippines lại đến ít và chậm hơn là cam kết”.

Theo giới quan sát, có nhiều lý do khiến Trung Quốc tài trợ chậm trễ cho các đề án hạ tầng cơ sở của Philippines. Các đề án như tuyến đường tàu hỏa Mindanao Railway chẳng hạn, một phần của Con đường Tơ lụa mới, mang tính chất chính trị nhiều hơn là thương mại, do đó các ngân hàng Trung Quốc do dự trong việc chi tiền. Theo chuyên gia Cook, Sáng kiến “Vành đai và Con đường” đã bắt nhiều ngân hàng phải gánh những khoản cho vay về hạ tầng cơ sở mà hiệu quả rất đáng ngờ.

Theo Heydarian, ở một khía cạnh khác, “Bắc Kinh không cảm thấy cần phải gấp rút đầu tư vì họ đã đạt được những nhượng bộ mà họ muốn từ Manila”.

Nguồn: TKNB – 28/11/2018

Lập trường của Việt Nam về COC


Lê Hồng Hiệp

Về phạm vi địa lý, Việt Nam luôn tìm kiếm một COC áp dụng cho cả Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông. Điều này là do Việt Nam muốn coi Hoàng Sa (một nửa đã bị Trung Quốc chiếm giữ vào năm 1974) là lãnh thổ tranh chấp (Trung Quốc không coi như vậy). Hơn nữa, các cơ quan thực thi pháp luật của Trung Quốc đã thường xuyên quấy rối hoặc tấn công ngư dân Việt Nam tại vùng biển xung quanh Hoàng Sa. Ví dụ gần đây nhất là vụ việc hôm 06/03/2019: một tàu cá Việt Nam neo đậu gần đảo Đá Lồi ở Hoàng Sa đã bị tàu hải giám của Trung Quốc rượt đuổi, khiến tàu cá Việt Nam đâm vào đá và bị chìm. Do đó, theo quan điểm của Hà Nội, COC cần phải bao gồm cả Hoàng Sa để ngăn chặn các sự cố tương tự xảy ra và làm gia tăng căng thẳng hàng hải giữa Trung Quốc và các quốc gia khác.

Về khía cạnh pháp lý của COC, trong những năm 1990, Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác không nêu ra vấn đề này vì các nước ASEAN lúc đó chủ yếu coi COC là công cụ để xây dựng lòng tin chủ yếu nhằm thúc đẩy các quốc gia đòi hỏi chủ quyền cần tự kiềm chế. Hơn nữa, về bản chất, COC là “luật mềm”, không yêu cầu đưa ra các cơ chế thực thi mạnh mẽ. Việc thực hiện COC như vậy dựa trên thiện chí của các nước tham gia. Tuy nhiên, thực tế trong hai thập kỷ qua, việc các quốc gia ký kết liên tục vi phạm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) cho thấy niềm tin đó đã bị đặt nhầm chỗ và một COC không ràng buộc ít có tác dụng trong việc thực hiện mục đích dự định là duy trì hòa bình và ổn định Biển Đông.

Do đó, khoảng thời gian này, Việt Nam có xu hướng nhấn mạnh đến một COC bị ràng buộc về mặt pháp lý, bằng cách đề xuất rằng các quốc gia ký kết cần được ràng buộc bằng một COC đầy đủ. Đồng thời, Việt Nam yêu cầu COC phải được phê chuẩn bởi các bên phê chuẩn theo thủ tục nội bộ mỗi nước – có nghĩa là Việt Nam coi COC là “luật cứng”, dù mới chỉ có trên văn bản.

Tương tự như vấn đề pháp lý, trong những năm 1990, Việt Nam không nêu vấn đề giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực hiện COC. Điều này là do – như đã đề cập ở trên, Việt Nam và các thành viên ASEAN khác đã không hình dung được COC tương lai sẽ ràng buộc về mặt pháp  lý, do vậy không cần thiết phải đưa ra các cơ chế để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc thực thi pháp lý. Hiện tại, vì Việt Nam muốn có COC ràng buộc, nên đã đề xuất các biện pháp giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC, như đàm phán thân thiện, điều tra, điều đình, hòa giải hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp theo các điều khoản liên quan của Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (TAC).

Đáng chú ý, Việt Nam cũng nói rõ rằng sẽ không có gì trong COC có thể ngăn chặn các biện pháp giải quyết tranh chấp hòa bình khác, như giải quyết bằng trọng tài phân xử, tư pháp và viện đến các thỏa thuận khu vực. Điều này ngụ ý rằng Việt Nam muốn tiếp tục để ngỏ lựa chọn pháp lý trong xử lý với Trung Quốc liên quan đến tranh chấp lãnh thổ và hàng hải cũng như các tranh chấp phát sinh từ việc thực thi COC. Lập trường này có thể hiểu được khi Việt Nam không ngừng nỗ lực tích lũy các bằng chứng lịch sử và pháp lý để chuẩn bị cho một cuộc “đối đầu pháp lý”, trong đó Việt Nam sẽ dùng đến phán quyết quốc tế để hóa giải những bất bình với Trung Quốc ở Biển Đông, đặc biệt là về vụ Trung Quốc dùng vũ lực chiếm giữ Hoàng Sa vào năm 1974.

Cuối cùng, liên quan đến nghĩa vụ hợp tác, Việt Nam đã công bố danh sách các yêu cầu, phản ánh những gì Việt Nam cho là cần thiết để đạt được một COC thực chất và hiệu quả. Trong dự thảo COC trước đây, yêu cầu của Việt Nam cũng như các thành viên ASEAN khác không cụ thể. Tuy nhiên, yêu cầu của Hà Nội đối với COC hiện đang được đàm phán đã cụ thể hơn nhiều và căn cứ vào kinh nghiệm đối phó với Trung Quốc trong quá trình thực hiện DOC năm 2002. Ví dụ, yêu cầu của Việt Nam rằng “các bên tông trọng các khu vực hàng hải như được quy định và được thiết lập theo UNCLOS 1982” dường như xuất phát từ các cuộc xâm nhập trước đây của Trung Quốc vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam (ví dụ như cuộc khủng hoảng giàn khoan năm 2014) hoặc các hoạt động thăm dò dầu khí liên tục của Trung Quốc trong EEZ. Yêu cầu của Việt Nam về việc “không xây dựng trên các đảo nhân tạo hoặc không quân sự hóa các thực thể” được đưa ra trong bối cảnh Trung Quốc xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Biển Đông trong những năm gần đây…

Kết luận

Những phân tích trên cho thấy lập trường của Việt Nam về COC đã khá nhất quán trong 20 năm qua. Tuy nhiên, lập trường của Việt Nam đối với COC hiện đang được đàm phán đã cụ thể hơn và phần lớn xuất phát từ sự thất vọng của Việt Nam với những hạn chế của DOC năm 2002 trong việc kiềm chế các hành động quyết đoán của Trung Quốc trên biển. Một số quan chức Việt Nam có xu hướng tin rằng “thà không có thỏa thuận còn hơn là một thỏa thuận tồi”. Chính vì vậy, Việt Nam đã nói rõ COC nên bao gồm những gì để trở thành một thỏa thuận tốt.

Nói cách khác, những yêu cầu này tạo thành cốt lõi của những gì Việt Nam coi là một COC “thực chất và hiệu quả”. Trong các cuộc đàm phán, Việt Nam cũng như các bên khác có thể đưa ra một số nhượng bộ bằng cách bỏ hoặc thay đổi một số yêu cầu không cốt lõi. Tuy nhiên, từ tháng 3/2019, các bên vẫn đang trong quá trình hoàn thiện việc đọc và thảo luận nội dung văn bản đàm phán đầu tiên trong 3 lần đọc. Như vậy, vẫn còn quá sớm để biết liệu Việt Nam có sửa đổi bất kỳ điểm nào trong lập trường lúc đầu hay không.

Vai trò Chủ tịch ASEAN trong năm 2020 sẽ cung cấp cho Hà Nội cơ hội nêu bật vấn đề Biển Đông trong chương trình nghị sự ASEAN. Việt Nam cũng có thể cố gắng đẩy nhanh các cuộc đàm phán COC. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ thúc đẩy một COC thực chất và hiệu quả thay vì cố gắng đạt được thỏa thuận mang tính biểu tượng trong khung thời gian quy định. Các bên đàm phán khác, đặc biệt là Trung Quốc, rất có thể cũng sẽ có các yêu cầu cốt lõi. Do đó, các cuộc đàm phán COC sẽ là cuộc diễn tập đầy thách thức và tốn thời gian.

Nguồn: www.iseas.edu.sg – 08/04/2019

TKNB – 10/04/2019

Đông Nam Á sẽ phải hối tiếc vì từ bỏ các quyền chính trị để đổi lấy tăng trưởng kinh tế


Miguel Syjuco

ASEAN luôn tự coi mình là hình mẫu của sự đa dạng với các nền văn hóa, tôn giáo và hệ thống chính trị cùng tồn tại với nhau. Nơi đây cũng có rất nhiều cơ hội để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, không gian hoạt động cho những ai đang tìm kiếm nền chính trị đa nguyên tại khu vực này lại đang bị thu hẹp. Tại nhiều nước, nền chính trị bất ổn khiến người ta phải tự hỏi có phải Đông Nam Á đang mắc kẹt trong cái bẫy thỏa thuận với quỷ hay không, nơi mà các quyền công dân và quyền con người bị mang ra để đổi lấy sự tăng trưởng kinh tế.

ASEAN được thành lập vào năm 1967 với mục đích chống lại chủ nghĩa độc tài núp bóng chủ nghĩa cộng sản. Tổ chức này chưa bao giờ chứng minh là có nền tảng dân chủ, mặc dù thỉnh thoảng ASEAN cũng cho thấy là đang khao khát nền dân chủ. Những nhà lãnh đạo chuyên quyền như Ferdinand Marcos ở Philippines và Suharto ở Indonesia bị lật đổ trong tình thế khá ôn hòa, trong khi các nước láng giềng lại tổ chức bầu cử cho thấy sự ổn định, và ít nhất cũng giả vờ đồng ý với nền dân chủ đại diện và các quyền bình đẳng.

Hiện tại, nhà khoa học chính trị người Mỹ Larry Diamond xem ASEAN chính là ví dụ điển hình cho cái mà ông gọi là “sự suy thoái dân chủ” đang càn quét trên khắp thế giới. Bảy thành viên thuộc khối ASEAN đang bị cai trị bởi những nhà độc tài, chính quyền quân sự, chế độ cộng sản hoặc chế độ độc đảng đã thao túng tiến trình dân chủ suốt hàng thập kỷ qua. Tại Indonesia, Malaysia và Philippines, mặc dù nên dân chủ có tồn tại nhưng vô cùng bấp bênh.

Dưới thời tổng thống Joko Widodo, Indonesia đã chính trị hóa tôn giáo và kiềm chế quyền tự do hội họp. Nhiều thế hệ tại Philippines đã bị cai trị bởi chế độ độc tài – một dạng gia đình trị kiểm soát phần lớn các vị trí trong chính phủ. Hiện Malaysia là ví dụ điển hình cho sự đa nguyên, nhờ có chiến thắng trong cuộc bầu cử không mong muốn đã lật đổ được chính phủ độc tài của thủ tướng Najib Razak. Có điều, liên minh chính trị thắng cử được là nhờ ông Mahathir Mohamad, năm nay đã 93 tuổi, từng là cựu thủ tướng và được biến đến là người theo chủ nghĩa dân tộc, kiểm soát báo chí truyền thông và bỏ tù các đối thủ chính trị.

Các nhà lãnh đạo ASEAN đã tấn công các hệ thống như tòa án độc lập bảo vệ các cá nhân chống lại sự lạm dụng quyền lực. Những hệ thống như vậy lại bị coi là của chủ nghĩa đế quốc phương Tây, gây trở ngại và luôn “là thế lực chống đối chính quyền” như lời tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nói.

Tinh thần này được biểu lộ rõ tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN được tổ chức tại Hà Nội hồi tháng 9 vừa qua, khi các nhà lãnh đạo thay phiên nhau khoe thành tích phát triển kinh tế và bày tỏ sự vui mừng về trật tự thế giới mới. Nhà lãnh đạo Hun Sen của Campuchia còn viện dẫn nguyên tắc sáng lập của ASEAN là không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên, lên tiếng bảo vệ chế độ cộng sản và chính quyền quân sự tại các nước Campuchia, Myanmar, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Ông Hun Sen phát biểu: “Đối với những quốc gia không hiểu rõ đất nước của chúng tôi, làm ơn để yên cho chúng tôi tự giải quyết các vấn đề của mình”.

Mặc dù vậy, thật là kỳ quặc khi vấn đề độc lập và chủ quyền lại thường được biện minh bởi những câu chuyện na ná nhau, nhấn mạnh vai trò của một nhà lãnh đạo độc tài nhân từ trong khi luôn lờ đi những thất bại về nạn tham nhũng và năng lực quản trị yếu kém.

Ví dụ, những chính trị gia Philippines rất hay tung hô Singapore, coi Singapore là nguồn cảm hứng và là minh chứng cho ảo tưởng rằng quản trị tốt đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ các thể chế độc lập. Tuy nhiên, sự thành công của ông Lý Quang Diệu, tổng thống đầu tiên và được ca ngợi nhiều nhất của Singapore, được dựa trên việc hoạch định những chính sách tốt chứ không phải là lựa chọn nền độc tài chuyên chế.

Câu chuyện thành công của một đất nước nhỏ bé với dân số chỉ vỏn vẹn 6 triệu người khiến cho nhà lãnh đạo của nước láng giềng với dân số nhiều gấp 40 lần coi đó là lý do để bảo vệc chính phủ độc tài mặc cho sự so sánh vô cùng kệch cỡm.

Ngày nay, chỉ cần hành động bề nổi là có thể minh chứng được tính chính danh. Và ASEAN đang thể hiện rất tốt điều này, với mức độ tăng trưởng kinh tế trung bình là 5,2%/năm từ 2018 đến 2022 – theo số liệu do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra trong một báo cáo về tình hình ở Đông Nam Á, Trung Quốc và Ấn Độ.

Khi một đất nước ngày càng trở nên giàu có hơn thì chủ nghĩa dân túy độc tài càng dễ được chấp nhận bởi tầng lớp trung lưu mới nổi. Đây là điều hoàn toàn dễ hiểu vì tầng lớp trung lưu thường bị các thể chế nhà nước gạt sang một bên và luôn có cảm giác bất an. Khi đời sống dần trở nên tốt hơn, tầng lớp này có xu hướng dễ dàng tha thứ cho chính quyền, đặc biệt là những tội ác chống lại người dân.

Nhưng lịch sử và thực tế – bao gồm cả tại ASEAN – đều cảnh báo rằng kiểu cai trị độc tài cuối cùng cũng dẫn đến thảm họa. Mấy hành động bề nổi đó hoàn toàn dựa trên làn sóng kinh tế. Khi những bất ổn ập đến, các nhà lãnh đạo độc tài sẽ ngay lập tức chuyển sang các lựa chọn chính sách kém bền vững – khiến đất nước rơi vào khủng hoảng – thậm chí là bạo lực.

Chúng ta đều nên nhớ rằng không phải chỉ có Singapore mới thành công trong việc phát triển kinh tế. Cả Philippines, Thái Lan, Malaysia và Indonesia đều phát triển kinh tế trong suốt vài thập kỷ qua dưới nền dân chủ còn nhiều thiếu sót nhưng có tính chính danh. Việc chấp nhận từ bỏ các quyền dân sự chính hiển nhiên để đổi lấy phát triển kinh tế giống như một phi vụ hối lộ và tất cả mọi người rồi sẽ phải hối tiếc vì đã chấp nhận điều đó.

Nguồn: https://asia.nikkei.com/Opinion/Southeast-Asians-will-regret-giving-up-political-rights-for-affluence

TKNB – 28/11/2018

Hun Sen đặt cược vào chủ nghĩa chuyên quyền kiểu Trung Quốc


Theo trang mạng atimes.com, tất cả bài viết và phát biểu của Chủ tịch Tập Cận Bình về quản lý Trung Quốc, chính xác là để giải thích “mô hình Trung Quốc” là rất khó hiểu và gây nhiều tranh cãi.

Ngày 30/7 vừa qua, người dân Campuchia cũng nhận ra điều tương tự như vậy.

Kết quả bầu cử quốc hội hôm 29/7 ở Campuchia đã được thông báo rộng rãi – một chiến thắng lớn “không có đối thủ” dành cho Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) của ông Hun Sen, người giữ chiếc ghế thủ tướng kể từ năm 1985. Đảng CPP cầm quyền tuyên bố giành được tất cả 125 ghế Quốc hội trong cuộc bầu cử lần này.

Người ta cho rằng Campuchia là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á tiến hành đàn áp vì lợi ích của một đảng cầm quyền, bày tỏ ủng hộ thế lực đang lên của Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, bao gồm viện trợ và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và cam kết nắm bắt cơ hội từ Sáng “Vành đai và Con đường” (BRI).

Theo hãng tin Bloomberg, “Trung Quốc thậm chí đã hỗ trợ Campuchia 20 triệu USD cho các thiết bị bầu cử bao gồm lều bạt, máy tính xách tay và máy tính để bàn… sau khi Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) rút tài trợ cho cuộc bầu cử lần này”.

Lâu nay, Campuchia cũng đã được hưởng lợi từ các khoản vay hào phóng của Trung Quốc, chiếm khoảng 70% số nợ song phương của Campuchia, theo báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2017. Đối với Trung Quốc, một Campuchia “ổn định” dưới thời Hun Sen sẽ tốt hơn so với bất kỳ sự thay đổi nào khác bởi vì Bắc Kinh có thể tiếp tục nhận được sự ủng hộ của nước này ở khu vực.

Trong bài viết bằng tiếng Anh một ngày sau cuộc bầu cử, Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc khẳng định: “Hun Sen đã từ chối đi theo Mỹ trong chính sách đối ngoại của mình và luôn công khai sẵn sàng tăng cường hợp tác với Trung Quốc. Ông phản đối sự can dự quá mức của ASEAN cũng như sự can thiệp bên ngoài vào vấn đề Biển Đông. Đương nhiên, Mỹ muốn lật đổ ông thông qua các cuộc bầu cử”.

Trong khi đó, việc Hun Sen củng cố hệ thống độc đảng, cấm đảng đối lập hoạt động, đóng cửa tất cả các tờ báo địa phương “thiếu thân thiện” và trấn áp các Tổ chức phi chính phủ (NGO) – thường được viện cớ kiểm tra thuế – cũng như bỏ tù hoặc buộc các nhà chính trị đối lập phải sống lưu vong, tất cả làm theo “cuốn sách quản lý Nhà nước” của Trung Quốc.

Tuy nhiên, có những vấn đề khác mà những người theo dõi Trung Quốc sẽ nhận ra. Trong chuyên mục bình luận của hãng tin Reuters, nhà phân tích chính sách toàn cầu Tej Parikh nói: “CPP đã trực tiếp đầu tư lớn vào các dự án bất động sản và khu trung tâm thương mại, bề ngoài có vẻ phát triển, nhưng thực chất chỉ mang lại lợi ích cho một nhóm cầm quyền… Đối với đa số người dân Campuchia, chuyên quyền, bộ máy quan liêu yếu kém và giới lãnh đạo tham nhũng là mối lo ngại ngày càng tăng đối với họ”.

Nói cách khác, có hai câu chuyện có vẻ tương phản lẫn nhau, song những khác biệt này cũng có ý nghĩa và đây là trò chơi may rủi của Hun Sen.

Tập Cận Bình của Trung Quốc đã nuôi dưỡng sự “tôn thờ nhân cách” thông qua những chiến dịch “làm trong sạch đội ngũ lãnh đạo” và tầm nhìn “trẻ hóa Trung Quốc vì một quốc gia vĩ đại” – Giấc mơ Trung Hoa. Hun Sen không có tầm nhìn như vậy và ông ta cũng không tận tâm thờ cúng.

Ở Trung Quốc, ai lớn lên cũng muốn có các cuộc bầu cử tự do và công bằng. Nhưng gần 2/3 dân số Campuchia dưới tuổi 30, và đa số cử tri đủ tư cách ở đất nước này lớn lên trong giai đoạn hậu Cơ quan chuyển giao của Liên hợp quốc tại Campuchia (UNTAC).

UNTAC được thành lập năm 1992 và đánh dấu sự khởi đầu cho các cuộc bầu cử năm 1993. Các cuộc bầu cử sau đó không phải là không có tranh cãi, nhưng không công khai sắp đặt một kết quả biết trước. Tuy nhiên, thay đổi trò chơi dân chủ không phải là “ván bài may rủi Trung Quốc duy nhất của Hun Sen”.

Thương mại của Campuchia với Trung Quốc không thể quan trọng so với xuất khẩu của nước này sang các thị trường Mỹ và châu Âu, nơi Campuchia được hưởng quy chế miễn thuế và nay vấn đề đó đang được xem xét lại.

Tạp chí Nikkei Asian cho biết: “Nhờ có quy chế miễn thuế, 61,1% trong tổng hàng xuất khẩu của Campuchia năm 2016 là đến EU và Mỹ… Trung Quốc chỉ có 6%”. Đặc biệt, lĩnh vực may mặc chiếm 80% xuất khẩu của Campuchia và là động lực mạnh mẽ nhất của nền kinh tế, rất dễ bị tổn thương một khi phương Tây không áp dụng quy chế miễn thuế nữa.

Trong bối cảnh tranh luận gia tăng về rủi ro BRI và những mối đe dọa của các khoản nợ đổ dồn về các quốc gia “thụ hưởng” hợp tác với Trung Quốc, công bằng mà nói, tranh luận nóng lên là vấn đề mô hình quản lý của Trung Quốc.

Năm 2015, trong một hội thảo về chủ đề này, những người ủng hộ mô hình quản lý của Trung Quốc đã gây ra phản ứng “nghịch lý”, chẳng hạn như “chủ nghĩa độc đoán ngu dốt”, “chủ nghĩa tư bản độc tài” và “nền dân chủ độc đoán”.

Hệ thống độc tài của Trung Quốc đã phát triển đến mức nó “không thường xuyên vấp phải sự phản đối rộng rãi”. Hun Sen đã đảo ngược hệ thống Campuchia sau gần một đêm. Dường như ông ta dựa trên suy đoán rằng chủ nghĩa độc tài đơn giản sẽ hiệu quả.

Thời báo Hoàn cầu kết luận nó hiệu quả, tạo ra “những diễn biến tích cực trong quan hệ Trung Quốc – Campuchia. Các nước phương Tây nên ngẫm nghĩ về những lý do, thay vì ghen tị”.

Nguồn: TKNB – 03/08/2018

Đông Nam Á năm 2019 – Phần cuối


Phân tích “vấn đề niềm tin” trong người Đông Nam Á

Bảng xếp hạng “lòng tin” của các nước lớn dựa trên các yêu cầu trả lời tích cực của những người tham gia khảo sát như nhau: Nhật Bản (65,9%), EU (41,3%), Mỹ (27,3%), Ấn Độ (21,7%) và Trung Quốc (19,6%). Ngược lại, bảng xếp hạng “không tin tưởng” của các cường quốc như sau: Trung Quốc (51,5%), Mỹ (50,6%), Ấn Độ (45,6%), EU (35,2%) và Nhật Bản (17%). Bốn nhận xét bổ sung đáng để chỉ ra:

a/ Số lượng người trả lời “không tin tưởng” (58,3%) cao hơn đáng kể so với số người trả lời “tin tưởng” (20,9%) trong số những người Campuchia tham gia cuộc khảo sát về Trung Quốc, điều gây ngạc nhiên khi Campuchia vốn được cho là “gần gũi” với Trung Quốc;

b/ Số lượng người trả lời “tin tưởng” Nhật Bản trong số những người tham gia khảo sát ở Philippines (82,7%) là cao thứ hai trong số tất cả các quốc gia thành viên ASEAN, cho thấy rằng “những ký ức chiến tranh” không còn là gót chân Achilles trong quan hệ Philippines – Nhật Bản. Kết quả này, cùng với “những phản hồi tiêu cực” về Trung Quốc, cao thứ hai (66,6%) trong ASEAN, có thể đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ lại về sự hiểu biết của chúng ta đối với cái được hiểu là sự thay đổi của Manila hướng tới Bắc Kinh;

c/ Niềm tin vào Mỹ tương đối thấp ở 3 quốc gia thành viên ASEAN mà theo truyề thống có quan hệ gần gũi nhất với Washington. Thái Lan – là đồng minh hiệp ước phi NATO của Mỹ – có tỷ lệ bỏ phiếu tích cực cho Mỹ thấp thứ hai (14,1%). Các con số ở Philippines (45,4%) và Singapore (29,7%) tốt hơn nhiều, nhưng vẫn không thể che giấu sự thật rằng Mỹ không nhận được đa số phiếu tín nhiệm trog số những nước bạn bè thân nhất trong khu vực; và

d/ Trong khi Trung Quốc được coi là cường quốc chủ yếu có ảnh hưởng lớn nhất trong cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị – chiến lược và được mong đợi sẽ đảm nhận vai trò lãnh đạo lớn hơn trong khu vực, thì ảnh hưởng ngày càng mở rộng của nước này đã không mang lại cảm giác tin tưởng vào cách nước này xử lý các vấn đề toàn cầu. Ngược lại, Nhật Bản, không được đánh giá cao như Trung Quốc hay Mỹ về sức mạnh cứng và ảnh hưởng khu vực, được nhìn nhận rộng rãi là nước lớn đáng tin cậy nhất trong khu vực.

IV/ Kiểu sức mạnh mềm nào nói với chúng ta về lập trường của các nước lớn trong khu vực?

Nhóm câu hỏi cuối cùng trong cuộc khảo sát xem xét việc áp dụng sức mạnh mềm trong khu vực, cụ thể là: (a) Nước nào sẽ là lựa chọ đầu tiên của bạn nếu bạn (hoặc con của bạn) được cấp học bổng học tại một trường đại học?’ (b) Nước nào là điểm đến yêu thích mà bạn ghé thăm hoặc muốn ghé thăm trong tương lai gần; và (c) Bạn nghĩ rằng ngoại ngữ nào là hữu ích và có lợi nhất cho công việc và sự phát triển nghề nghiệp của bạn? Nói chung ba câu hỏi này cung cấp một sự hiểu biết sâu sắc nào đó về sức mạnh của sức mạnh mềm.

Giáo dục đại học

Lựa chọn hàng đầu cho giáo dục đại học là Mỹ với khoảng 1/3 số người tham gia khảo sát (31,5%) chọn các trường đại học Mỹ là điểm đến ưa thích nhất của họ. Đứng sau Mỹ là EU (28,4%), Australia (21,2%) và Nhật Bản (12,4%). Có nhiều người Đông Nam Á hơn ưa thích học đại học tại một nước thành viên ASEAN (3,5%) so với tại Trung Quốc (2,7%). Ưu tiên dành cho các trường đại học Mỹ cao nhất là ở Singapore (48%), Việt Nam (41,9%), Thái Lan (35,4%). EU là lựa chọn ưa thích nhất ở Brunei (53,3%), Indonesia (41,7%), Malaysia (34,5%), Thái Lan (35,4%, cùng với Mỹ) và Philippines (30,9%). Nhật Bản là lựa chọn hàng đầu ở Myanmar (29,2%) trong khi Campuchia (50%) và Lào (31%) thích các trường đại học Australia.

Kỳ nghỉ mơ ước

Châu Âu là điểm đế kỳ nghỉ mơ ước của người Đông Nam Á với 34% số người tham gia khảo sát lựa chọn một nước châu Âu là địa điểm yêu thích của họ. Khoảng 1/4 số người tham gia khảo sát (26,2%) mong muốn được trải nghiệm du lịch ở Nhật Bản. Tạo thành 3 điểm đến du lịch hàng đầu là một nước thành viên ASEAN (11,7%). Thực tế, việc ASEAN được cho là vượt qua Mỹ (11,4%), Australia (10,7%), Trung Quốc (4,1%) và Ấn Độ (1,9%) trở thành điểm đến được ưa thích là một dấu hiệu lành mạnh cho thấy người Đông Nam Á đang đạt được ý thức về mối quan hệ khu vực và thể hiện sự quan tâm cao hơn đối với các nước láng giềng ASEAN. Châu Âu là điểm đến du lịch phổ biến nhất trong ố những người tham gia khảo sát ở tất cả các nước thành viên ASEAN trừ Singapore và Thái Lan, họ thích Nhận Bản hơn tất các nước khác.

Ngoại ngữ

Tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến nhất trong khu vực. Đa số áp đảo (91,3%) số người tham gia khảo sát cho rằng tiếng Anh là hữu ích và có lợi nhất cho công việc và sự phát triển sự nghiệp của họ. 44,7% coi tiếng Trung Quốc là “hữu ích và có lợi”, thấp hơn rất nhiều so với tiếng Anh nhưng không phải là một con số không đáng kể, nói lên ảnh hưởng kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng tăng của Trung Quốc và ngày càng nhiều người sử dụng tiếng Trung Quốc trong trao đổi, thương mại và du lịch trong khu vực. Các nước thừa nhận tầm quan trọng của tiếng Trung Quốc cao nhất là Singapore (71,1%), Brunei (62,2%), Malaysia (55,9%) và Indonesia (54%).

Dự đoán tương lai sức mạnh mềm

Nhìn chung, sức mạnh mềm của phương Tây vẫn thống trị ở Đông Nam Á. Nói chung, 81,1% số người tham gia khảo sát ủng hộ giáo dục phương Tây (tức là các tổ chức đại học của Mỹ, châu Âu và Australia); 56,1% lựa chọn châu Âu, Mỹ và Australia là điểm đến yêu thích của họ; tiếng Anh được đa số áp đảo coi là ngoại ngữ hữu ích và có lợi nhất ở khu vực này.

Nhật Bản là “quốc gia có sức mạnh mềm” châu Á không thuộc phương Tây/châu Á thành công nhất ở Đông Nam Á. Nước này đứng thứ tư (sau Mỹ, EU, Australia) với tư cách là lựa chọn ưu tiên cho giáo dục đại học. Đây là điểm đến ưa thích thứ hai để ghé thăm. Và tiếng Nhật là ngoại ngữ phổ biến thứ ba sau tiếng Anh và tiếng Trung Quốc.

Từ góc độ vi mô, kết quả của cuộc khảo sát này cho thấy sự thâm nhập của sức mạnh mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á lục địa (Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam) là thấp một cách đáng ngạc nhiên bất chấp niềm tin phổ biến rằng các nước này có mối quan hệ văn hóa gần gũi hơn với Trung Quốc. Đối với những người tham gia khảo sát từ Myanmar và Việt Nam, các trường đại học Trung Quốc là lựa chọn ít được ưu tiên nhất choo giáo dục đại học. Về sức hấp dẫn du lịch, Trung Quốc đứng thứ hai từ dưới lên, chỉ trước Ấn Độ. Công cụ sức mạnh mềm mạnh nhất của Trung Quốc là tiếng Trung Quốc. Ngay cả khi đó, số người tham gia khảo sát ở Đông Nam Á lục địa lựa chọn tiếng Trung Quốc là “ngoại ngữ hữu ích và có lợi nhất” thấp hơn đáng ngạc nhiên so với ở Đông Nam Á biển: Thái Lan (49,1%), Campuchia (37,5%), Lào (24,1%), Việt Nam (27,6%) và Myanmar (18,7%). Sức hấp dẫn thấp của các tổ chức giáo dục và du lịch của Trung Quốc và sự quan tâm vừa phải đối với quốc ngữ của nước này là những thách thức sức mạnh mềm quan trọng đối với Trung Quốc trong khu vực. Tuy nhiên, các tác giả báo trước cho độc giả suy nghĩ kỹ càng về những phát hiện này với lời cảnh báo rằng tư duy của giới tinh hoa có thể không nhất thiết phản ánh các quan điểm đại chúng.

Nguồn: Báo cáo của Viện nghiên cứu Đông Nam Á – ISEAS, số tháng 1/2019

TLTKĐB – 13 & 14/02/2019