Liệu Donald Trump có phải điềm gở đối với Cuba?


Phản ứng của Cuba trước chiến thắng của tỷ phú Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ là đăng trên tin chính trang nhất của nhật báo Granma – cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Cuba – về cuộc diễn tập quân sự Bastión 2016 trên phạm vi toàn quốc. Theo bình luận của mạng tin Cartas desde Cuba, dù cuộc tập trận này là một hoạt động định kỳ, nhưng việc hai sự kiện trên cùng xuất hiện trên trang bìa của nhật báo chính thống có lượng phát hành lớn nhất cả nước chắc chắn là một hành động có tính toán.

Bộ Các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba (Minfar) nhấn mạnh mục tiêu của cuộc diễn tập là huấn luyện các cấp tư lệnh “trong công tác tổ chức, nâng cao tính sẵn sàng phòng thủ và chuẩn bị cho quân đội và nhân dân đương đầu với nhiều loại hình hoạt động của kẻ thù”. Có thể có ai đó cho rằng đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng trong nền chính trị Cuba không có gì là tình cờ cả và chẳng có bài viết nào xuất bản trên cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, đặc biệt lại trong số ra ngay sau ngày bầu cử Mỹ, lại chưa được bộ máy lãnh đạo chính trị xét duyệt.

Đó dường như là một thông điệp cho ông chủ sắp tới của Nhà Trắng, người trong chiến dịch trnha cử vừa qua của mình đã tăng dần mức độ cứng rắn trong quan điểm đối với Cuba, mà cao trào điểm cuối là tại bang Florida với lời khẳng định sẽ đảo ngược mọi biện pháp mà tổng thống Barack Obama đã áp dụng với “hòn đảo tự do”. Rõ ràng, điểm yếu lớn nhất “di sản” của tổng thống sắp mãn nhiệm Obama chính là việc người kế vị của ông có thể tung hê chúng mà không phải trải qua quá nhiều thủ tục. Để đẩy lùi tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước, ông Trump có được sự ủng hộ và sức ép từ những chính trị gia gốc Cuba hiếu chiến trong Quốc hội, trong đó có Thượng nghị sĩ vừa tái đắc cử Marco Rubio.

Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng tổng thống đắc cử Mỹ là một doanh nhân và trong vai trò này ông từng gửi đặc sứ tới Cuba để tìm hiểu khả năng đầu tư tại đây, rất lâu trước khi tổng thống Obama áp dụng chính sách mở cửa đối với Havana và thậm chí đi ngược lại chính sách cấm vận. Hơn nữa, trong quá trình tranh cử sơ bộ trong Đảng Cộng hòa, ông Trump đã khẩu chiến dữ dội với hai ứng cử viên gốc Cuba, Ted Cruz và Marco Rubio, và khó có thể yêu cầu ông áp dụng chiến lược chống Havana của hai nhân vật diều hâu này.

Dẫu sao, giữa các nhân vật cộm cán của Đảng Cộng hòa vẫn có một số điểm chung: quan điểm bài nhập cư của Donald Trump có thể kết nối với những nỗ lực của Marco Rubio trong việc loại bỏ Luật Điều chỉnh Cuba – trong đó cho phép mọi công dân Cuba đặt chân lên lãnh thổ Mỹ đều được quyền cư trú tại quốc gia này.

Chính phủ Cuba đã tỏ ra thận trọng, Nhật báo Granma đã bình luận khá dè dặt rằng ông Trump thắng “nhờ vào những lá phiếu của hàng triệu cử tri Mỹ, trong đó đa số là người da trắng và cư dân nông thôn, những người không hài lòng với hướng đi của đất nước họ và ngán ngẩm hình ảnh của những chính trị gia truyền thống tại Washington”.

Còn trên đường phố, những người dân thường Cuba tỏ rõ vẻ thất vọng hơn, khi họ từng hi vọng với Hillary Clinton, Mỹ sẽ chấm dứt cuộc bao vây cấm vận chống quốc đảo nhỏ bé này trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, với mục tiêu công khai là tạo ra đói nghèo và tuyệt vọng trong dân chúng. Người Cuba lo sợ một chính sách mới của Mỹ có thể ảnh hưởng tới hàng nghìn thợ thủ công tự do, các chủ nhân và nhân viên của những nhà hàng, nhà trọ, quán cà phê tư nhân, những người được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ mức tăng trưởng du lịch mà quá trình tan băng giữa Cuba và Mỹ mang lại.

Trên thực tế, đối với các quan chức Cuba, đối phó với một Trump “thẳng tính” còn có phần dễ dang hơn với một Hillary Clinton lão luyện trong chính trị và ngoại giao. Nữ ứng cử viên Dân chủ là sự nối tiếp chính sách của ông Obama, một chiến lược nhuần nhuyễn va bài bản để chinh phục trái tim người dân Cuba – điều khiến Havana luôn phải đề phòng. Một nghịch lý là chính ông Trump có thể đóng góp cho sự đoàn kết của giới lãnh đạo cách mạng Cuba, từng có nhận định khác nhau về cách thức đối phó với chính sách của Obama. Giờ đây, dù tốt dù xấu, tất cả sẽ rõ rànghơn và không có nhiều thời gian cho những phán đoán suy luận hay thậm chí tưởng tượng.

Tất nhiên, Donald Trump là một nhân vật hữu khuynh, nhưng khác với George W. Bush, ông không “mắc nợ” với bang Florida trong chiến thắng bầu cử của mình và ông cũng chẳng có cảm tình đặc biệt gì với những chính trị gia chống Castro hay cộng đồng người Cuba – một phần của làn sóng nhập cư Mỹ Latinh mà tỷ phú này vẫn phản đối quyết liệt.

Vẫn còn quá sớm để biết được đối sách mà Donald Trump sẽ chọn lựa đối với Cuba, nhưng dường như Havana đã gửi cho tổng thống đắc cử Mỹ 2 thông điệp: Cuba đã chuẩn bị cho kịch bản tồi tệ nhất nhưng không bắt đầu cuộc khẩu chiến và trao cho ông chủ kế tiếp của Nhà Trắgn quyền “đi trước” quân cờ.

Nguồn: TKNB – 14/11/2016

Quan hệ Cuba – Mỹ sẽ đi về đâu sau khi cựu Chủ tịch Fidel Castro qua đời?


Trước khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Cuba bế mạc, nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro được người dân trìu mến gọi là vị Tổng tư lệnh đã nói: “Có lẽ đây là lần cuối cùng tôi phát biểu tại đây. Tôi cuối cùng sẽ ra đi, nhưng lý tưởng của người Cộng sản Cuba sẽ mãi trường tồn”. Người từng tuyên bố mình là người theo chủ nghĩa Marx – Lenin, nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ, nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc Cách mạng Cuba, người xây dựng nhà nước XHCN do Đảng Cộng sản Cuba lãnh đạo, cựu Chủ tịch Fidel Castro đã qua đời vào đêm 25/11/2016. Sau khi Chủ tịch Raul Castro công bố tin tức này trên truyền hình quốc gia, truyền hình các nước đã lập tức phát đi thông tin này.

Theo sự sắp xếp tang lễ được Cuba công bố: Cả nước để quốc tang 9 ngày, thi hài của Fidel Castro sẽ được hỏa táng, tro cốt của ông được rước qua các khu vực trên cả nước Cuba trong 4 ngày, cuối cùng được đưa về mai táng tại Santiago – thành phố lớn thứ hai, ở bến cảng phía Đông, từng được gọi là cái nôi cách mạng của Cuba, đó cũng là nơi an nghỉ của nhiều liệt sĩ cách mạng Cuba, tên của họ đã được khắc trên bia tưởng niệm liệt sỹ cách mạng.

Vì sao nhà cựu lãnh đạo của “một quốc gia nhỏ bé” qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Ngay sau khi Fidel Castro qua đời, rất nhiều người cánh tả và ủng hộ cuộc Cách mạng Cuba của Tây Ban Nha nằm ở châu Âu đã tới đặt bó hoa tưởng niệm tại cửa đại sứ quán Cuba ở nước này. Tổng tống Mexico Enrique Pena Nieto đọc lời điếu văn: “Fidel Castro không những là lãnh tụ cách mạng của Cuba mà còn là biểu tượng của thế kỷ 20”. Tờ The Mirror của Anh đăng bài viết của Tổng thống Ấn Độ Modi: “Vào thời khắc bi thương này, chúng ta đứng về phía chính phủ và người dân Cuba”. Ông nói: “Fidel Castro là nhân vật mang tính biểu tượng của thế kỷ 20, nhân dân Ấn Độ bày tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của nhân vật kiệt xuất này. Tôi xin bày tỏ lời chia buồn sâu sắc nhất đối với chính phủ và người dân Cuba, mong linh hồn của ông an giấc ngàn thu”. Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro cho biết: “Chúng tôi muốn tiếp tục di sản của ông và ngọn cờ độc lập của ông”.

Cuba là một quốc đảo Caribe với dân số 10 triệu người, rộng hơn 100.000 km2. Tại sao việc nhà cựu lãnh đạo của quốc gia này qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Năm 1959, anh em nhà Castro đã lãnh đạo nhân dân Cuba lật đổ chế độ độc tài Fulgencio Batista, tuyên bố Cách mạng Cuba giành thắng lợi. Cuba chỉ cách Mỹ 200 hải lý về phía Bắc, phía Nam hướng về lục địa Mỹ Latinh, phía Tây là Mexico, phía Đông giáp các quốc đảo Caribe. Cuba có ý nghĩa địa chính trị quan trọng đối với Mỹ: phía Nam của Mỹ không có cảng tự nhiên, trong khi đó Cuba lại có các cảng tự nhiên lớn như La Habana, San Diego. Ngoài ra, Mỹ và Mỹ Latinh bị ngăn cách bởi Cuba, hòn ngọc Caribe luôn bị Mỹ coi là lá chắn của Mỹ Latinh.

Trong lịch sử, Mỹ đã chiếm được Cuba thông qua cuộc Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, sau khi kế thừa Tây Ban Nha lại thực hiện chế độ thuộc địa tại đây. Sau khi Cuba giành độc lập, Mỹ đã gửi lính đánh thuê đến tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng Cuba (Mỹ gọi đó là sự kiện Vịnh Con lợn), đến nay Mỹ vẫn thuê dài hạn căn cứ Guantanamo, vẫn rất thèm muốn đối với Cuba.

Tin tức về người đã xây dựng đất nước XHCN ở một nơi rất gần trung tâm của CNTB, qua đời dường như đã mang theo một câu chuyện huyền thoại phiên bản thực tế. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng nói: Khi tôi học tiểu học, trung học, đại học, đi làm, làm tổng thống, tái đắc cử tổng thống, kết thúc nhiệm kỳ, ông ấy (Fidel Castro) vẫn luôn là nhà lãnh tụ Cuba. Câu nói này quả thực có mang sắc thái chính trị, nhưng cũng là sự khẳng định của đối thủ chính trị đối với nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ này.

Quan hệ Cuba – Mỹ đi về đâu?

Trong thời gian Fidel Castro nắm quyền, ông không những đã thực hiện chuyển giao quyền lực mà con đưa ra kiến nghị trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Cuba từ sau khi Chủ tịch Raul Castro kế nhiệm đã thực hiện sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế và xã hội ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên điều không thể phủ nhận là hiện ay Cuba vẫn phải đối mặt với sự thiếu hụt nguyên vật liệu trong một số lĩnh vực, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao mức sống của người dân. Cuba cần tăng tốc đẩy mạnh “cập nhật” đã trở thành một vấn đề hết sức quan trọng, việc duy trì thành quả của cuộc cách mạng không thể tách rời sự phát triển vật chất của nền kinh tế, xã hội đất nước.

Cùng với việc Cuba đẩy mạnh hơn nữa việc cập nhật hóa mô hình kinh tế, sau Đại hội 7, tầng lớp lãnh đạo của nước này cũng đã xuất hiện xu thế trẻ hóa. Mặc dù Bộ Chính trị đã được đổi máu, nhưng vấn đề hầu hết các thành viên có độ tuổi tương đối cao vẫn chưa được giải quyết. Nhà lãnh đạo Cuba Raul Castro hiện nay đã 84 tuổi. Trong số 12 ủy viên Bộ Chính trị, 8 người sinh trước năm 1950. Việc nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro qua đời cũng khiến mọi người quan tâm nhiều hơn tới vấn đề quá độ ổn định giữa thế hệ lãnh đạo già và trẻ của nước này.

So với các công việc nội bộ của Cuba, sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ trong tương lai có lẽ thu hút nhiều hơn sự chú ý của mọi người. Việc Fidel Castro qua đời e rằng khó tránh khỏi tăng thêm các nhân tố bất ổn cho sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ. Năm 2015, hai nước chính thức nối lại quan hệ ngoại giao, năm 2016, quan hệ Cuba – Mỹ có phần ấm lên hơn, điều này phù hợp với mong muốn liệt kê thêm thành tích cho Chính phủ Mỹ, Obama chắc chắn sẽ được ghi vào sử sách lịch sử ngoại giao Mỹ. Song hiện thực luôn không giống như sách vở: Các cuộc đàm phán về những vấn đề thực chất giữa hai nước không có tiến triển, hơn 1 năm sau khi Tổng thống Obama tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại, các phương tiện truyền thông Cuba cho biết tình hình chưa có thay đổi gì. Pháp lệnh đòi hỏi Quốc hội Mỹ dỡ bỏ này khó có thể được thực hiện trong thời gian ngắn.

Mỹ chỉ đơn giản là đã thay đổi chiến lược đối với Cuba, sự cải thiện mối quan hệ về mặt hình thức lớn hơn các hành động thực tế. Mặc dù năm nay Tổng thống Obama đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Cuba, nhưng mối quan hệ giữa hai nước vẫn đang trong giai đoạn bước đầu, các cuộc đàm phán về tiền đền bù đối mặt với nhiều khó khăn pháp lý, chính trị và kỹ thuật (liên quan đến thời kỳ cải cách ruộng đất, thu hồi quốc hữu hóa các công ty Mỹ và các lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Cuba), đều là các yếu tố quan trọng gây trở ngại đáng kể cho việc cải thiện quan hệ hai nước.

Tháng 11, Donald Trump – xuất thân là một doanh nhân – đã được bầu làm tổng thống Mỹ, khiến khả năng tạo ra một cấp độ mới trong quan hệ song phương thời gian tới giảm đi. Trong chiến dịch tranh cử, Donald Trump từng bày tỏ ủng hộ việc Chính quyền Obama nối lại quan hệ ngoại giao với Cuba, nhưng đồng thời nói rằng nếu ông là người chủ trì các cuộc đàm phán thì ông sẽ xem xét nhiều hơn tới lợi ích của Mỹ. Mặc dù một số học giả cho rằng những phát ngôn này là để thu hút các cử tri khu vực Miami, nhưng Donald Trump thuộc đảng chính trị khác rất khó tiếp tục đường lối chính sách đối ngoại của chính phủ hiện hành. Hiện nay, liên minh do các công ty Mỹ hình thành và các lực lượng chính trị gốc Cuba trong Quốc hội Mỹ vẫn đang tồn tại bất đồng về việc phát triển quan hệ Cuba – Mỹ.

Ngoài ra, ở Cuba cũng có nhiều người hoài nghi về sự phát triển của mối quan hệ giữa Cuba và Mỹ. Về ngoại giao, trước và sau khi quan hệ được phá băng, Chính phủ Cuba luôn giữ thái độ đối thoại cởi mở, nhưng người dân có quan điểm khác nhau về tốc độ phát triển của quan hệ song phương kể từ khi nối lại quan hệ ngoại giao cũng như sự phát triển thực sự trong quan hệ hai nước. Một số người Cuba muốn quan hệ phát triển nhanh chóng, nhưng lại lo ngại Mỹ thay đổi chính sách nhập cư đặc biệt đối với Cuba; những người Cuba giữ quan điểm truyền thống lo ngại chính sách thù địch của Mỹ đối với Cuba không bao giờ thay đổi, nối lại quan hệ ngoại giao chỉ là sự chuyển biến về mặt sách lược, nối lại quan hệ với Mỹ quá nhanh hoặc quá chậm đều không có lợi cho sự phát triển độc lập mà Cuba vẫn duy trì kể từ khi giành thắng lợi trong cuộc cách mạng đến nay.

Những biến số có ảnh hưởng lớn tới quan hệ Cuba – Mỹ nằm ở Nội các sau khi Donald Trump lên cầm quyền. Những trình bày có liên quan đến Cuba trong chiến dịch tranh cử của Donald Trump bao gồm nâng cao địa vị của Mỹ, chèn ép hơn nữa sự phát triển của Cuba cũng như từ chối dỡ bỏ cấm vận thương mại. Tháng 3/2016, Trump từng nói với phóng viên CNN: “Tôi nghĩ rằng ở Cuba có một tiềm năng nhất định”, “xem xét lại vấn đề Cuba là một việc làm đúng đắn”, và cho biết ông đang xem xét việc mở khách sạn ở Cuba. Đồng thời, ở Mỹ cũng có những tiếng nói yêu cầu đóng cửa đại sứ quán của hai nước. Lực lượng chính trị gốc Cuba phản đối chính quyền Cuba hiện nay sẽ tiếp tục giữ quan điểm đó sau khi Trump lên cầm quyền thời gian tới. Không thể phủ nhận một điều rằng đảng Cộng hòa không muốn kế thừa di sản ngoại giao của đảng Dân chủ, khi không thể vượt qua những thành tựu ngoại giao mà Obama đã thực hiện được, lựa chọn vứt bỏ hoàn toàn những thành tựu của người tiền nhiệm hoặc thay đổi thái độ có lợi đối với Cuba đều vẫn có thể xem là con đường Trump sẽ lựa chọn sau khi lên nắm quyền vào năm tới.

Nguồn: thepaper.cn – 27/11/2016

TLTKĐB – 01/12/2016

Tương lai nào cho Mỹ Latinh với Tổng thống đắc cử Trump


Ông Trump sẽ nắm quyền điều hành đất nước với nhiều thuận lợi bởi nắm trong tay cả Thượng viện cũng như Hạ viện, và nhiều khả năng trong nhiệm kỳ cầm quyền cũng sẽ nắm trong tay cả Tòa án Tối cao. Điều này sẽ cho phép những quyết định liên quan tới chính sách đối nội cũng như đối ngoại của ông Trump dễ được thực thi. Tuy nhiên, điều này cũng không đồng nghĩa với việc quyền lực tập trung tối đa vào tay ông Trump bởi sự đối trọng trong hệ thống chính trị Mỹ. Và lẽ đương nhiên, các thành viên Đảng Cộng hòa, đặc biệt là ông Macro Rubio, sẽ không giành cho ông Trump một tấm séc trắng.

Cho tới nay, ông Trump chỉ tìm cách công kích cộng đồng người Mỹ Latinh, làm tổn thương vấn đề di cư nhạy cảm của người Mexico và cam kết mạnh tay chống Cuba. Hơn nữa, ông này không có một êkíp cố vấn có kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về khu vực. Trước bầu cử các chuyên gia nhận định bất kể ai thắng đi chăng nữa thì gần như chắc chắn rằng Mỹ Latinh không phải là một ưu tiên đối với Mỹ. Nhà Trắng hiện không phải đối mặt với mối đe dọa khẩn cấp hay thách thức ở khu vực cũng chẳng phải là cơ hội nào đặc biệt, cũng như không quan tâm tới hội nhập khu vực. Bản thân các nước Mỹ Latinh cũng sẽ tiếp tục bị chia rẽ trong nhiều vấn đề và chính sách của Mỹ chủ yếu sẽ tập trung vào các mối quan hệ song phương. Mỹ Latinh đang phải đối mặt với một nhân vật không thể đoán trước và có thể đưa ra những quyết định bốc đồng, trong một vài hoàn cảnh bởi vì tính thực dụng và ở vào hoàn cảnh khác đơn giản chỉ là bởi chủ nghĩa dân túy thiển cận. Chủ nghĩa bảo hộ và những thông điệp bài ngoại đã đẩy ông Trump rời xa Mỹ Latinh. Ông này thậm chí đã phản đối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong đó Mỹ có tham gia cùng 11 quốc gia Thái Bình Dương, bao gồm Peru, Chile và Mexico. Phát biểu tại buổi bế mạc Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế châu Mỹ và Caribe lần thứ 8 vừa qua được tổ chức tại trụ sở của Ngân hàng Phát triển liên Mỹ (BID), Bộ trưởng Kinh tế Argentina Alfonso Prat-Gay tuyên bố “đương nhiên có nguy cơ” trong chính sách của ông Trump. Ngoài ra, những lời lẽ chống lại cộng đồng Mỹ Latinh của ông Trump càng đầo sâu thêm bờ vực ngăn cách vốn đã có từ trước bởi những đề xuất bảo hộ, đặc biệt là đối với các nhà lãnh đạo Mỹ Latinh. Chủ tịch Cơ quan đối thoại liên Mỹ Micheal Shifter nhận định nhãn quan của ông Trump đối với khu vực hoàn toàn không thể đoán trước cũng như rất nhiều vấn đề khác liên quan tới kế hoạch của ông này tại Nhà Trắng. Việc ông Trump giành chiến thắng khiến chính sách đối ngoại của Mỹ trở nên không chắc chắn và không thể đoán trước. Một vài tháng trước, ông ủng hộ chính sách của ông Obama đối với Cuba, nhưng chỉ cách đây một hai tuần, chính ông ta lại quay ra phản đối việc này. Trong trường hợp ông này thực hiện lời hứa của mình trong việc xây dựng một bức tường trị giá 20 hoặc 30 tỷ USD ngăn cách giữa biên giới Mỹ và Mexcio, cũng như phá vỡ Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sẽ khiến đồng minh và bạn hàng thương mại quan trọng nhất của Mỹ tại Mỹ Latinh thậm chí quan trọng nhất của nước này trên thế giới vô cùng tức giận. Cho dù ông Trump có đưa ra bất kỳ chính sách nào đi chăng nữa thì việc ông này thắng cử sẽ khiến quan hệ giữa Nhà Trắng với tất cả các nước Mỹ Latinh trở nên tồit ệ. Quan hệ bình thường giữa Mỹ và các nước Mỹ Latinh hầu như là không thể với một vị tổng thống đã xúc phạm thậm tệ khu vực và người dân của họ.

Nhưng dù sao đi nữa, một số chính phủ như chính phủ của Tổng thống Argentina Mauricio Macri và Mexico Enrique Pena Nieto đã lên phương án dự phòng, tiếp cận ông Trump đề phòng chiến thắng của Đảng Cộng hòa. Ông Carlos Pagni, chuyên gia của tờ La Nation (Argentina) nhận định “chủ trương bảo hộ mạnh mẽ của ông Trump sẽ khiến tình trạng cạnh tranh khốc liệt giữa các đồng tiền và rất nhiều đồng tiền sẽ bị phá giá, trong đó đồng peso của nước Nam Mỹ này cũng sẽ không bị loại trừ. Do đó, lạm phát sẽ gia tăng. Ông Trump sẽ rà soát lại các hiệp định thương mại với Trung Quốc và Mexico. Nhiều khả năng Mỹ sẽ tăng lãi suất, điều chẳng hề có lợi cho Chính phủ của ông Macri.

Mexico sẽ là nước bị tác động tiêu cực nhất với chiến thắng của ông Trump, bởi mối đe dọa về việc Nhà Trắng sẽ thương lượng lại Hiệp định tự do thương mại (FTA), thậm chí còn có khả năng văn bản này bị hủy bỏ. Ông Trump cho rằng NAFTA là thỏa thuận thương mại “tồi tệ nhất” mà nước Mỹ từng ký kết và đề xuất áp tới 35% thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng của Mexico. Trong ngắn hạn, đồng peso Mexico sẽ chịu áp lực rất lớn và chắc chắn sẽ tiếp tục bị phá giá hơn nữa so với hiện tại. Chỉ riêng trong ngày 9/11, đồng peso đã bị mất giá 8%, sau khi bị phá giá tới 25% tính từ đầu năm. Mọi dự báo cho thấy xu hướng này tiếp tục gia tăng từ nay tới cuối năm, và điều này cũng sẽ khiến lạm phát tăng đáng kể. Nhiều chuyên gia cho rằng đồng peso Mexico hiện đang mất giá ở mức kỷ lục 20,74 peso/USD sẽ giảm xuống tới 22 peso. Một vấn đề khác trong mối quan hệ Mỹ và Mỹ Latinh có thể sẽ có sự thay đổi đáng kể từ tháng Một tới là quan hệ với Cuba. Ông Trump đã công bố rằng nếu thắng cử, sẽ điều chỉnh thỏa thuận thiết lập lại quan hệ với Cuba. Ứng cử viên Đảng Cộng hòa cho rằng sẽ chỉ tiếp tục theo đuổi chính sách hiện nay đối với quốc đảo Caribe nếu Havana “đáp ứng đòi hỏi của chúng ta về tự do tôn giáo và chính trị đối với tất cả người dân Cuba. Tổng thống kế nhiệm có thể thay đổi chính sách này và đó là những gì tôi sẽ làm, trừ khi chế độ Castro làm theo yêu cầu của chúng ta… chúng ta sẽ ủng hộ nhân dân Cuba trong cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp của cộng sản. Giao ước của ông Obaam chỉ có lợi cho chế độ Castro”.

Cũng có thể Nhà Trắng sẽ cứng rắn hơn trong những tuyên bố với Venezuela và Nicaragua nhưng liên quan đến các nước khác ở khu vực, chính sách của ông Trump hiện là một câu hỏi lớn. Còn trong nội bộ các nước Mỹ Latinh, chiến thắng của ông Trump sẽ để lại 2 hậu quả.

Thứ nhất, gia tăng sự phản đối chủ nghĩa đế quốc và phản đối Mỹ. Chuyên gia người Argentina Andrés Oppemnheimmer nhận định “chiến thắng của ông Trump trong cuộc bầu cử ngày 8/11 sẽ làm đóng băng quan hệ giữa Mỹ và Mỹ Latinh, và đẩy các Tổng thống thân Mỹ xa rời Washington… Nếu ngay cả các Tổng thống Mỹ Latinh thân cận Mỹ lo ngại về chính sách của ông Trump, thì lẽ đương nhiên sức ép từ trong nước, người dân sẽ phản đối trong trường hợp ông Trump thắng cử và sẽ chỉ thực hiện một phần rất nhỏ những cam kết trong chiến dịch tranh cử. Các chế độ mất uy tín của Venezuela và Cuba sẽ ăn mừng và thậm chí có htể lấy lại một số ảnh hưởng chính trị của mình.

Thứ hai, các chính phủ Mỹ Latinh sẽ đổi mới các cam kết để mị dân. Chủ nghĩa dân túy, của cánh hữu hoặc cánh tả, tưởng chừng đã bị chết ở Mỹ Latinh giờ đây một lần nữa lại xuất hiện và được ông Trump sử dụng trong chiến dịch tranh cử. Và ông Trump đã cho thấy chiến thuật gây oán giận để thu hút phiếu bầu, kích động sự giận dữ và phản đối giai cấp chính trị truyền thống đã đem lại kết quả. Việc dương cao ngọn cờ chủ nghĩa bảo hộ, chối bỏ ai đó hay tạo ra một vật tế thần (giới chính trị truyền thống) có thể đã gây nên những ảnh hưởng nhất định tại những quốc gia đang xảy ra tình trạng bất mãn với hệ thống hay các đảng phái chính trị như ở Chile, Brazil, Colombia và Mexico.

Nguồn: Infolatam (Argentina) – 10/11/2016

TKNB – 11/11/2016

Trung Quốc với món nợ ở Venezuela


Tình hình kinh tế và xã hội bế tắc và bất trắc tại Venezuela khiến lãnh đạo Bắc Kinh khá lúng túng. Họ vừa lo mất khoản tiền cho vay lên tới 60 tỷ USD, lại vừa sợ kiều dân của họ bị sát hại ở đất nước mà tỷ lệ tội ác và lạm phát đang dẫn đầu thế giới.

Diễn đàn Kinh tế đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa để tìm hiểu về cuộc phiêu lưu thất bại của Trung Quốc tại một quốc gia thuộc loại giàu nhất lục địa Nam Mỹ, nay sắp vỡ nợ vì chủ trương xã hội chủ nghĩa với màu sắc cộng sản…

Nguyên nhân vì đâu?

Nền Cộng hòa Boliviar Venezuela đang bị khủng hoảng trong tất cả các lĩnh vực và vẫn chưa tìm thấy lối thoát sau 16 năm theo đuổi con đường xã hội chủ nghĩa do cố Tổng thống Hugo Chávez đề xướng từ năm 1999. Là quốc gia giàu tài nguyên nhất lục địa Nam Mỹ, ngày nay, Venezuela lại dẫn đầu thế giới về suy thoái kinh tế với đà tăng trưởng có thể sụt 10%, về mức lạm phát lên tới 100%, về nạn khan hiếm lương thực khiến người ta cướp thức ăn trong trường học, và nhất là tỷ lệ tội ác tính theo đầu người. Trong khu cảnh đó, thế giới mới nói tới sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh vì họ đã đầu tư nhiều nhất vào đất nước này, nay kiều dân của họ có thể bị sát hại nên đã lánh nạn sang hai nước láng giềng là Colombia và Panama.

Trả lời câu hỏi vậy nguyên nhân của điều đó là do đâu, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết ông nghĩ câu trả lời sẽ gồm có hai phần. Thứ nhất, vì đâu mà một quốc gia giàu có như vậy lại bị phá sản và trở nên tan hoang như vậy? Thứ hai, vì sao Trung Quốc trút tiền và người vào đó và hiện chưa biết phải làm thế nào để thu hồi lại vốn và bảo vệ mạng sống cho kiều dân của họ?

Về phần thứ nhất, trên diễn đàn này từ hơn 3 năm trước, khi ông Hugo Chávez tạ thế, chúng ta cũng đã đề cập và tiên báo các vấn đề ngày nay của Venezuela. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa cập nhật lại các chi tiết mới. Sau khi giành được nền độc lập từ Đế quốc Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ XIX nhờ có ông Simon Bolivar, Venezuela có 2 “đặc sản” là nạn độc tài và vỡ nợ. Trong phạm vi của chương trình kinh tế, chúng ta phải nói đến nạn vỡ nợ. Tính bình quân từ năm 1825 – 1900, cứ 12,5 năm lại vỡ nợ một lần. Trong 30 năm gần đây, đã xảy ra 4 lần vỡ nợ, bình quân cứ 7 năm/lần, lần gần đây nhất là năm 2004 và hiện lại sắp tới lần thứ 5 với 100 tỷ USD trái phiếu sẽ đáo hạn.

Trả lời câu hỏi vì sao trước đây người ta vẫn tin rằng nước này giàu tài nguyên và thuộc loại trù phú của lục địa Nam Mỹ? Chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết câu trả lời ngắn gọn là sự hồ hởi vì tài nguyên quan trọng là bộ não trên đầu chứ không phải là mỏ quặng dưới đất! Tìm hiểu kỹ ta thấy nạn lạc quan tếu vì tài nguyên phong phú khiến giới đầu tư vay tiền và thổi bong bóng chả khác nào hiện tượng bể bọt sóng tại vùng biển Nam Mỹ nổi tiếng của Đế quốc Anh vào thế kỷ XVIII được gọi là “South Sea Bubble”. Sang thế kỷ XX, người ta lại hồ hởi hơn khi tìm thấy dầu mỏ tại Venezuela từ năm 1922. Nước này có trữ lượng khoảng 300 tỷ thùng dầu thô, đứng thứ hai thế giới và trở thành trụ cột của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và cũng bị hoạn nạn chính vì nguồn tài nguyên đó.

Hơn 30 năm về trước, Venezuela đã có dân chủ và tương đối thịnh vượng nhờ kho dầu này. Tuy nhiên, bất ổn kinh tế vì dầu thô sụt giá và nạn tham ô đã gây bất mãn. Sau khi đảo chính không thành, Hugo Chávez đành bơi trên làn sóng phẫn nộ của quần chúng để tham gia bầu cử và đã thắng lớn. Ông lập ra một chế độ quyến rũ là “độc tài mị dân”. Mị dân nghèo để tập trung quyền lực vào phe đảng của mình, trên cùng là bản thân, tới khi gần chết mới buông. Có tài hùng biện và khẩu hiệu cách mạng của anh hùng Bolivar, tinh thần độc lập chống Hoa Kỳ và chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa cho dân nghèo… Hugo Chávez đã thắng và cầm quyền trong 14 năm nhờ đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela và lực lượng dân quân với 125 nghìn tay súng, nằm ngoài quân đội mà trong hệ thống quyền lực của mình. Ông Chávez cũng lập ra mạng lưới liên hội cộng đồng với cái vỏ của “dân chủ từ cơ sở” mà thực chất là thu vén quyền hành và quyền lợi của các địa phương vào tay những kẻ thân tín của lãnh tụ.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa cũng cho biết về chính sách kinh tế, vì ỷ vào dầu khí là nguồn thu chính nên chế độ Chávez đã quốc hữu hóa khu vực năng lượng, không phát triển các khu vực sản xuất khác vì vậy nền kinh tế bị mất cân đối, phải nhập khẩu lương thực, bị lạm phát và công nghiệp dầu khí lại tụt hậu và mắc nợ vì nạn bao cấp nên càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Nói chung, Venezuela nay đã cạn tiền và thành phần nghèo khổ bắt đầu thất vọng nhưng chế độ dân chủ nửa vời của Hugo Chávez lại tiêu diệt mọi lực lượng và giải pháp khác nên giờ đây, các đảng phái đối lập mới phải chật vật đối phó.

Vì sao Trung Quốc sa lầy?

Trả lời câu hỏi vì đâu Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn như hiện nay ở Venezuela? Chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng về đại thể, thứ nhất, Trung Quốc là nước đói ăn khát dầu nên cần bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và lương thực lâu dài. Thứ hai, ưu tiên là khi tiến hành việc đó, lãnh đạo Bắc Kinh quan tâm đến yêu cầu phát triển thế lực ngoại giao với các nước, bất kể bản chất của chế độ sở tại. Sở dĩ họ thi hành được là nhờ hệ thống tư bản nhà nước với sức huy động và phối hợp phương tiện mà các nền kinh tế tự do khó cạnh tranh nổi. Từ đó, Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng đến châu Á, châu Phi và Nam Mỹ qua 2 mũi tấn công là Ngân hàng Phát triển Quốc gia, được gọi tắt theo Anh ngữ là CDB, và các tập đoàn nhà nước. Ngắn gọn thì ngân hàng CDB cho các nước có tài nguyên vay tiền để thực hiện dự án do doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc tiến hành nhằm bảo đảm nguồn tiếp vận tài nguyên và qua đó củng cố thế lực ngoại giao của Bắc Kinh với các nước đang phát triển, nhất là các nước độc tài.

Bắc Kinh đã xây dựng quan hệ với chế độ Chávez tại Caracas từ lâu nhưng bành trướng mạnh nhất là từ sau năm 2008. Một phần ba các khoản tín dụng của ngân hàng CDB ra hỉa ngoại được trút vào Venezuela, nay khoản tiền đó lên tới hơn 60 tỷ USD. Song song với điều đó, doanh nghiệp nhà nước Bắc Kinh cũng được ngân hàng này cho vay để thực hiện các dự án được gọi là “thuộc diện chính sách”, trong đó, nhiều dự án được hoàn thành tại Venezuela. Nhờ tín dụng của CDB, tập đoàn quốc doanh Venezuela còn đầu tư ngược vào Trung Quốc làm người dân càng tin vào uy thế của Chávez trên còn đường xây dựng chủ nghĩa gọi là Chavismo của ông ta.

Năm 2007, sau khi quốc hữu hóa khu vực năng lượng và đuổi doanh nghiệp Âu – Mỹ ra ngoài, ông Chávez tuyên bố rằng tài nguyên của Venezuela là tài sản của toàn dân. Thật ra, nguồn tài nguyên ấy vẫn do nhà nước Trung Quốc thống nhất quản lý nhờ vai trò của ngân hàng CDB và doanh nghiệp Bắc Kinh. Đây là điều mỉa mai mà truyền thông Venezuela hay quốc tế khó phanh phui vì chừng ấy nghiệp vụ là bí mật an ninh của Trung Quốc! Tới khi Venezuela lâm vào khủng hoảng, Bắc Kinh sợ mất cả chì lẫn chài nên đang cố mồi chài giải pháp khác.

Có lẽ vì vậy mà quốc tế mới loan tin Bắc Kinh đã tiếp xúc với các nhân vật đối lập và doanh gia Venezuela để chuẩn bị giải pháp thay thế chế độ hiện hành của Tổng thống Nicolás Maduro và nhất quyết không cho chế độ này vay thêm một đồng nào nữa. Nhưng liệu Bắc Kinh có hy vọng thành công hay không?

Về điều đó, chuyên gia Nghĩa nói chúng ta không quên là sinh thời, Hugo Chávez rất phục Mạo Trạch Đông và sau khi ông mất ngày 5/3/2013, chính quyền kế nhiệm của Phó Tổng thống Nicolás Maduro quyết định cho ướp xác Hugo Chávez để toàn dân chiêm bái ông. Ngày nay, thế giới bên ngoài còn nhiều người mắc bệnh sùng bái Chávez khi ca tụng di sản của ông là chế độ cho dân nghèo vì thiếu am hiểu kinh tế, họ không hiểu dân nghèo mới là nạn nhân. Cho nên, chưa chắc họ đã ưa thích gì chủ nợ của Venezuela là chính quyền Bắc Kinh. Vì vậy, Hoa kiều tại Venezuela mới bị bắt cóc và sát hại hàng loạt.

Nếu có thay đổi chính trị tại Venezuela, liệu Bắc Kinh có thu lại được các món nợ của mình không vì số tiền 60 tỷ USD cũng tương đối lớn.

Chuyên gia Nghĩa giải thích thêm vài chi tiết chuyên môn để ta hiểu được tương lai.

Thứ nhất, khi cho vay, Bắc Kinh vẫn có thể nắm dao đằng chuôi. Trong quan hệ với các nước giàu tài nguyên, họ nhấn mạnh đến khẩu hiệu mà họ gọi là “song doanh” theo lối nói “win-win” của giới kinh tế, tức là đôi bên cùng có lợi. Thật ra, Bắc Kinh lời gấp đôi vì họ vừa nắm nguồn cung cấp, vừa tìm ra nhiều hợp đồng cho doanh nghiệp của mình. Venezuela đi vay mà trả bằng dầu, mỗi ngày trả 430 nghìn thùng mới đủ. Nguồn dầu ấy lại do các tập đoàn dầu khí Trung Quốc như Sinopec hay CNPC khai thác để xuất khẩu ra ngoài. Chi tiết ly kỳ là sự sai biệt giữa lượng dầu chở từ Venezuela để trả nợ so với số dầu nhập khẩu vào Trung Quốc, vốn là những số liệu được đôi bên giữ kín. Các chuyên gia quốc tế tìm mãi mới hiểu được khúc mắc bên trong.

Do đặc tính địa chất, dầu Venezuela thuộc loại “nặng” và “chua” chứ không “nhẹ” và “ngọt” như dầu của Saudi Arabia nên khó lọc thành xăng vì cần đến kỹ thuật mà Trung Quốc chưa có.

Thứ hai dù mua với giá rẻ thì việc vận chuyển từ Venezuela về Trung Quốc cũng rất tốn kém. Vì vậy, doanh nghiệp Trung Quốc lặng lẽ đem dầu Venezuela bán cho các nhà máy lọc dầu ở châu Mỹ để trung gian kiếm lời. Điều ấy mới giải thích vì sao thống kê Hải quan về số dầu nhập vào Trung Quốc lại thấp hơn số dầu xuất khẩu từ Venezuela. Tức là nhờ Chávez, Trung Quốc trở thành tay buôn dầu đáng kể trên các thị trường Bắc Mỹ khi giá dầu còn cao! Nay họ than là đã cho Venezuela vay 60 tỷ USD vậy ta nên tính lại. Và chế độ Venezuela sau này chắc chắn sẽ đòi tính lại.

Chuyên gia Nghĩa cho rằng Bắc Kinh cũng có thể bị rủi ro mất nợ tại Venezuela. Venezuela có truyền thống bốc đồng vì dầu và nhờ dầu mà xây dựng hệ thống chia chác quyền lợi nên mới gặp bất ổn chính trị. Đó là một rủi ro cho Trung Quốc ở bên ngoài. Trường hợp ấy từng xảy ra tại các nước được Bắc Kinh viện trợ mà bị động loạn và nội chiến nên càng dễ xảy ra tại Venezuela. Vả lại, dân bản xứ không tin vào thiện chí của Bắc Kinh và lề lối giao tế trịnh thượng của các doanh nghiệp Trung Quốc. Nếu Venezuela thay đổi thì sẽ có ngày, dân chúng nước này nêu vấn đề về các “món nợ khó đòi”, là điều mà dân Việt Nam chúng ta nên biết. Vì trên thế giới có nhiều trường hợp trong đó, quần chúng, phe đối lập hay chế độ mới đòi điều tra và hủy bỏ các món nợ do chế độ cũ cam kết với nước khác. Người ta gọi đó là “món nợ khó đòi” vì chế độ cũ nhân danh quốc gia đi vay nước khác để trục lợi riêng cho tay chân hay thân tộc rồi bắt người dân phải trả. Chúng ta sẽ còn thấy điều đó trong những năm tới.

Nguồn: RFA

TKNB – 16/09/2016

Cuba trong hồ sơ Panama – Phần cuối


Sự liều lĩnh của Mossack Fonseca

Trong đa số các trường hợp, Mossack Fonseca cũng đóng vai trò là pháp nhân đăng ký của các công ty hoạt động tại Cuba hoặc các thành viên trong ban giám đốc và hội đồng quản trị của hãng luật này là lãnh đạo danh nghĩa trong các công ty có trụ sở tại Cuba – nước đang gánh chịu một chương trình trừng phạt nặng nề và rộng lớn của Mỹ.

Sổ sách ở Mossack Fonseca cho thấy nhân viên doanh nghiệp này cũng thường xuyên kiểm tra danh tính một số lãnh đạo của các công ty đối tác có trụ sở tại Cuba nhưng không tìm thấy tên tuổi của các lãnh đạo có danh tiếng của La Habana. Thông thường, các thành viên hội đồng quảnt rị của các công ty trách nhiệm hữu hạn thực chất là của Cuba này thường chỉ là các luật sư hoặc viên chức của các doanh nghiệp nhà nước, và chỉ đôi khi là cán bộ cấp cao.

Cho tới gần đây, Mossack Fonseca mới chú ý hơn tới các công ty có liên quan tới Cuba và tiến hành rà soát kỹ càng hơn như tháng 2/2015, họ phát hiện một trong những giám đốc của công ty Curtdale & Arpoint, ông Hermán Aguilar Parra, trên thực tế là đại biểu Quốc hội Cuba hay năm 2011 họ cũng tìm thấy giám đốc của Corporación Panamericana nhưng tới đây mới phát hiện một giám đốc của công ty này José L. Fernández de Cossío Domínguez cũng là một đại biểu Quốc hội.

Việc Mossack Fonseca gần đây thay đổi chính sách với các khách hàng Cuba đã lâu năm của mình có thể xuất phát từ sự lo ngại trước các động thái mạnh tay của OFAC trong nhiệm vụ rà soát mức độ tuân thủ các luật liên quan tới cấm vận. Bất chấp quá trình xích lại gần nhau giữa hai chính phủ Cuba và Mỹ, OFAC lại trở nên “dữ tợn” hơn trong việc truy đuổi những pháp nhân vi phạm chương trình trừng phạt của Washington chống La Habana, đặc biệt là với các ngân hàng, điển hình là khoản phạt lên tới 8,8 tỷ USD đối với ngân hàng BNP Paribas của Pháp tuyên bố ngày 1/7/2015 do thực hiện giao dịch tài chính với Cuba, Iran và Sudan.

Ban giám đốc của Mossack Fonseca cũng phản ứng rất nhanh và ngày 9/7/2015 đã thông qua chính sách mới trong đó tách dần khỏi các công ty liên quan tới các nước chịu trừng phạt của mỹ, đặc biệt trong trường hợp thành viên nào đó của đoàn luật sư này xuất hiện trong ban giám đốc hay đại diện đăng ký.

Một bức thư điện tử của một nữ luật sự của Mossack Fonseca gửi ngày 13/7 thông báo cho các thành viên khác của hãng luật quyết định “rút đi những giám đốc của chúng ta tại 35 công ty có hoạt động tại các nước trong danh sách cấm của OFAC”, trong đó có nêu 3 công ty hoạt động tại Cuba. Sau đó nữ luật sư này có chỉ thị bán hoặc sáp nhập các công ty có thành viên Mossack Fonseca đứng ra làm giám đốc “nếu các công ty này hoạt động tại các nước trong danh sách trừng phạt của OFAC, bất kể là loại hình trừng phạt nào”. Ban lãnh đạo của Mossack Fonseca cũng chỉ đạo công ty không nên “cung cấp dịch vụ đại diện đăng ký cho các doanh nghiệp hoạt động tại các nước chịu trừng phạt toàn diện” như Cuba, Sudan và Iran.

Nhưng cho dù có chỉ đạo này, Mossack Fonseca cũng không chấm dứt ngay lập tức quan hệ với một vài công ty trong số trên, có thể là do được khích lệ từ quá trình xích lại gần nhau giữa Mỹ và Cuba và hai niềm hy vọng rằng sau các bước nới lỏng, Mỹ rốt cục cũng sẽ tiến tới xóa bỏ cấm vận cho Cuba.

Điển hình là trường hợp của doanh nhân người Tây Ban Nha Víctor Moro Suárez, đứng đầu công ty Vima World và các công ty hoạt động ngoài nước khác như Mundicompras S.A, chuỗi Nhà hàng Caribe và Vima Caribe. Sau đợt rà soát ban đầu, đơn vị nghiên cứu về tuân thủ pháp luật của Mossack Fonseca đã khuyến nghị nên chấm dứt dịch vụ đại diện đang ký cho doanh nhân này do e ngại các hoạt động của các doanh nghiệp do ông sở hữu tại Cuba. Tuy nhiên giám đốc văn phòng Mossack Fonseca tại Thụy Sĩ Adrian H. Simon đã can thiệp bảo vệ vị khách hàng có 21 năm gắn bó này với lập luận: “Công ty Vima World hoàn toàn minh bạch. Trong những năm qua khách hàng này không thể tham gia gây dựng một công ty của Cuba vì họ không được phép, họ không làm gì trái luật hay gian lận cả. Họ chỉ cung cấp hàng hóa cho một vài tập đoàn khách sạn danh tiếng đang hoạt động tại Cuba, Cộng hòa Dominica và Tây Ban Nha” và “tất cả chúng ta đều biết Cuba sẽ được gỡ bỏ cấm vận, tất cả đều biết về những động thái theo xu hướng này và Mỹ đã mở lại Đại sứ quán tại Cuba”. Quá trình trao đổi thư điện tử sau đó đã kết thúc với quyết định tiếp tục cung cấp dịch vụ cho Moro “với ý thức về hiện trạng của lệnh cấm vận chống Cuba và loại hình hoạt động mà Vima World tiến hành, cũng như thời gian quan hệ đối tác giữa hai bên”. Cho tới nay, Vima World vẫn tiếp tục hoạt động tại Cuba với Moro là đại diện.

Hiện tại Mossack Fonseca vẫn chưa đưa ra bình luận cụ thể về việc cung cấp dịch vụ cho các doanh nhân liên quan tới Cuba. Nhưng trong một tuyên bố liên quan tới vụ việc Hồ sơ Panama, đoàn luật sư này khẳng định “thường xuyên từ chối tiếp tục dịch vụ với các khách hàng khi các danh sách trừng phạt cập nhật định kỳ cho thấy một phần của công ty mà Mossack Fonseca cung cấp dịch vụ bị truy tố hay xuất hiện trong danh sách trừng phạt của cơ quan chức năng Mỹ.

Chiến thuật của Cuba

Các thông tin vẫn còn khá rời rạc trong “Hồ sơ Panama” liên quan tới Cuba chưa thể thấy toàn bộ chiến lược mà chính phủ đảo quốc Caribean này áp dụng trong việc sử dụng, chủ yếu là gián tiếp, dịch vụ của Mossack Fonseca để tránh vòng kiềm tỏa cấm vận của Mỹ, nhưng mạng tin Excelsior nhận định từ đây cũng có thể rút ra một số chi tiết quan trọng.

Một số tài liệu cho thấy La Habana đã tạo ra một mạng lưới chằng chịt các công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài nước chủ yếu phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu và dẫn dắt vốn đầu tư theo đường đi zigzag nhằm tránh sự trừng phạt của Mỹ vào họ. Các tài liệu này cũng cho thấy Chính phủ Cuba đã rất cẩn thận che đậy sự kiểm soát của mình đối với các công ty ngoài nước bằng việc đi qua các công ty trách nhiệm hữu hạn khác trong vai trò cổ đông. Đơn cử như công ty Racuza S.A, đăng ký kinh doanh tại Quần đảo Virgins, từng thực hiện đa phần các giao dịch mua bán lương thực của Cuba.

Những tài liệu này cũng cho thấy Cuba chiếm vị trí khá trung tâm trong hoạt động xuất khẩu dầu thô của Nga sang Mỹ Latinh, thông qua một doanh nghiệp đăng ký tại Panama của gia đình Bassatne, gia đình kiểm soát tập đoàn BB Energy có nguồn gốc từ Liban.

Một trong những người đứng đầu khối doanh nghiệp “ma” dưới sự kiểm soát hoặc liên quan chặt chẽ tới Cuba này là Guillermo Rodríguez López Calleja, khi ông này đứng tên đại diện ít nhất 7 công ty nước ngoài có đặt văn phòng tại La Habana. Ông Guillermo là em trai ruột của vị tướng kinh tế đầy quyền lực Luis Alberto Rodríguez Lopéz Calleja, cựu con rể của Chủ tịch Raúl Castro Ruz và đứng đầu Tập đoàn quản lý doanh nghiệp (GAESA) của quân đội, đơn vị được cho là nắm tới 60% nền kinh tế của đảo quốc Caribean này.

Nguồn: Tổng hợp từ El Nuevo Herald và El Excelsior

TLTKĐB 19/06/2016

Cuba trong hồ sơ Panama – Phần đầu


Những văn bản mới tìm thấy trong “Hồ sơ Panama” cho biết văn phòng luật Mossack Fonseca đã cung cấp dịch vụ cho các công ty có thể đã vi phạm luật cấm vận của Mỹ chống Cuba hoặc liên quan tới các doanh nghiệp cụ thể bị Bộ Tài chính Mỹ cấm giao dịch.

Một số công ty bí mật của Cuba do Mossack Fonseca hỗ trợ thành lập có kết nối với các tổ chức hoặc cá nhân bị Washington đưa vào danh sách cấm giao dịch đối với doanh nghiệp Mỹ và các chi nhánh, do “liên quan tới chủ nghĩa khủng bố, buôn ma túy hoặc các chương trình trừng phạt một quốc gia nào đó”.

Trong số các công ty “ma” của Cuba thành lập tại các thiên đường thuế khóa, có 3 công ty là Miramar Investment Corporation; Mercaria Trading và Caribbean Sugar Traders, có chung 1 thành viên ban giám đốc là Porfirio Medero Paiva, người trước đó từng tham gia điều hành công ty CRYMSA có trụ sở tại Madrid và bị Văn phòng quản lý tài sản ngoài nước (OFAC), thuộc Bộ Tài chính Mỹ, liệt kê trong danh sách “những cá nhân và tổ chức phải đặc biệt chú ý”.

Tương tự, công ty Acepex Management S.A., đăng lý tại Quần đảo Virgins thuộc Anh và hoạt động trong thập kỷ trước trong lĩnh vực xuất khẩu hải sản. Một trong số các thành viên ban giám đốc của công ty này là René Besteiro Bauta, cựu Thứ trưởng Bộ Thủy sản Cuba. Thật “ngẫu nhiên” khi ACEPEX (viết tắt tiếng Tây Ban Nha của Hiệp hội xuất khẩu thủy sản) cũng là cơ quan phụ trách công tác xuất nhập khẩu hải sản trong Bộ Thủy sản Cuba; thậm chí tập đoàn nhà nước CARIBEX (Tổng công ty cá và hải sản Cuba) – đơn vị bị Mỹ liệt kê trong danh mục các doanh nghiệp Cuba bị trường phạt – còn có địa chỉ email là acepex@ceniai.inf.cu.

Chính phủ Cuba thường ít công khai một cách minh bạch những công ty nhà nước hoạt động bên ngoài. Chỉ có 1 lần, trong Công báo tháng 12/2004, Cuba thông báo quyết định gia hạn giấy phép hoạt động “trong Hồ sơ Đăng ký Quốc giao về Chi nhánh và Đại diện thương mại nước ngoài, do Phòng Thương mại nước Cộng hòa Cuba đệ trình, đối với công ty Acepex Management S.A của Quần đảo Virgins”.

Lệnh cấm vận của Mỹ có thể đã bị vi phạm

Một số doanh nhân nước ngoài từng hoạt động tại Cuba cũng sử dụng những công ty ở ngoài nước để thực hiện các giao dịch với đảo quốc Caribe này, mà nếu bị công khai vào thời điểm đó, rất có thể các doanh nhân này đã bị Chính phủ Mỹ áp phạt tài chính.

Doanh nhân mang hai quốc tịch Peru – Tây Ban Nha Jorge Luis Fuchs, cư trú tại Costa Rica, nắm giữ một vài công ty trung gian chuyên phân phối các sản phẩm y tế của nhà sản xuất dụng cụ y tế hàng đầu thế giới Orthofix, có trụ sở tại Texas. Ông Fuchs từng là Phó chủ tịch phụ trách Mỹ Latinh của Orthofix vào thời điểm này ông sử dụng công ty M.I.S Technologies của mình, đăng ký tại Panama và do Mossack Fonseca điều hành, để đảm bảo một hợp đồng bán cho tập đoàn xuất nhập khẩu nhà nước Cuba CIMEX S.A đinh và ốc vít chỉnh hình, có trị giá 3,7 triệu euro (4,5 triệu USD theo thời giá lúc đó).

Một bản ghi nhớ của hãng luật Mossack Fonseca có ghi rõ: “Orthofix không thể bán trực tiếp sản phẩm cho Cuba, do đó MIS có chức năng trung gian và phân phối. Lượng hàng đã được gửi tới MIS tại Panama từ nhà cung cấp Orthofix từ nhiểu điểm sản xuất khác nhau và hiện tại đang nằm trong kho Khu Phi thuế quan Colón”. Được Bộ Nội vụ Cuba thành ;ập và hiện do giới tướng lĩnh quân đội kiểm soát, tập đoàn CIMEX S.A của Cuba, với văn phòng tại La Habana, Panama, Tây Ban Nha và Mexico, cũng nằm trong danh sách bị trừng phạt của OFAC. Hoạt động chuyển tiền thanh toán bắt đầu được thực hiện từ Ngân hàng Tài chính quốc tế của Cuba và chi nhánh tại Panama của ngân hàng BBVA. Từ đây, số tiền này tiếp tục được chuyển tới một tài khoản do Mossack Fonseca kiểm soát. Bản ghi nhớ nêu trên của công ty luật này cũng nói rõ: “Một khi tiền được chuyển từ BBVA sang tài khoản mới, khoảng 2,1 triệu USD phải được chuyển cho Orthofix, và khoảng 600.000 USD cho các nhà trung gian khác”. Hợp đồng của thương vụ này có chữ ký của Eduardo Bencomo Zurdos và Raúl Fuentes Gonzáles, Chủ tịch và Tổng giám đốc của CIMEX S.A, nhưng về phía MIS Technologies chỉ do một nhân viên của Mossack Fonseca – trong tư cách các giám đốc danh nghĩa của MIS – đứng ra ký tên.

Luật sư Peter Quinter, cựu Chủ tịch Phòng Luật Quốc tế của Hiệp hội Luật sư bang Florida và hiện đang đứng đầu bộ phận luật hải quan và thương mại quốc tế của Đoàn Luật sư GrayRobinson, nhận định rằng một giao dịch như được mô tả ở trên, trong đó một công ty có trụ sở tại Mỹ sử dụng một công ty nước ngoài để bán sản phẩm y tế cho một doanh nghiệp nhà nước Cuba đang bị OFAC trừng phạt, có thể sẽ bị Bô Tư pháp Mỹ điều tra với cáo buộc vi phạm lệnh cấm vận của Mỹ chống Cuba. Luật sư cũng từng có nhiều năm kinh nghiệm làm việc trong OFAC khẳng định “theo các luật và văn bản pháp quy về cấm vận, ngay cả sau khi chính quyền của Tổng thống Obama thay đổi chính sách từ ngày 17/12/2014, các doanh nghiệp và cá nhân trong quyền hạn pháp lý của Mỹ không được phép kinh doanh, trực tiếp hay gián tiếp, với các doanh nghiệp Cuba hay các cá nhân bị OFAC liệt kê trong danh sách những người bị cấm có giao dịch hay đặc biệt chú ý”. Cả các chi nhánh ngoài nước do các công ty Mỹ sở hữu cũng chịu sự hạn chế này và trong trường hợp các pháp nhân cố ý cùng một doanh nghiệp Cuba vi phạm các quy định trừng phạt trên, nhưng trường hợp của Orthofix, MIS và Mossack Fonseca, họ sẽ bị điều tra hình sự chứ không chỉ bị áp các hình phạt tài chính đối với các công ty vô tình vi phạm.

Nhật báo El Nuevo Herald dẫn lời một người phát ngôn của Bộ Tài chính Mỹ cho biết trong trường hợp trên, lẽ ra Orthofix có thể xin một giấy phép xuất khẩu đặc biệt các hàng hóa trên sang Cuba vì luật Mỹ vẫn cho phép xem xét các hoạt động xuất khẩu này đối với các sản phẩm y tế vì lý do nhân đạo. Tuy nhiên, nguồn tin này từ chối tiết lộ số lượng giấy phép đặc biệt mà chỉ cho biết thời gian xem xét còn tùy thuộc vào mức độ phức tạp của thương vụ, mức độ liên đới các cơ quan khác và khối lượng hàng hóa dự kiến giao dịch. Các giấy phép để xuất khẩu sản phẩm y tế sang Cuba do Văn phòng Công nghiệp và An toàn (BIS) của Bộ Thương mại Mỹ cấp thường mất từ 30 – 40 ngày và mỗi trường hợp đều được xem xét riêng rẽ, dù theo một bộ quy định chung.

John Kavulich, Chủ tịch Hội đồng thương mại Mỹ – Cuba, tổ chức chuyên tổng hợp thông tin và số liệu về xuất khẩu của Mỹ sang Cuba đã nhận xét “việc cấp giấy phép hiện tại có nới lỏng hơn với việc áp dụng Luật Dân chủ Cuba 1992 cho phép xuất khẩu trực tiếp các thiết bị và dụng cụ y tế, thuốc men và dược phẩm tới Cuba cho dù có nhiều hạn chế, trong đó có việc buộc phải thanh toán bằng tiền mặt trả trước và xác định điểm đến, ví dụ như là một tổ chức không liên quan tới giới quân sự Cuba” và các công ty Mỹ phải duy trì đăng ký kiểm soát điểm đến sản phẩm của mình trong đó “không được có bất cứ cáo buộc nào về việc sử dụng sai sản phẩm xuất khẩu”.

Số liệu của hội đồng này cho biết năm 2006, thời điểm ký kết hợp đồng giữa MIS và CIMEX, giá trị sản phẩm y tế Mỹ xuất khẩu sang Cuba theo giấy phép đạt giá trị 814.866 USD. Năm 2007, khi Orthofix thực hiện giao hàng có trị giá 4,5 triệu USD, giá trị sản phẩm y tế Mỹ xuất khẩu theo giấy phép sang Cuba tụt xuống mức 436.773 USD. Tuy nhiên, ông Kavulich cũng cảnh báo số liệu này có thể chưa đầy đủ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tổng hợp từ El Nuevo Herald và El Excelsior

TLTKĐB 19/06/2016

Tương lai nào cho Brazil?


Chính phủ lâm thời đang đề xuất một số cải cách.

Với những người thợ pha chế cà phê để râu và đồ nội thất được lắp ráp lại với nhau từ những chiếc thùng gỗ, quán cà phê Curto ở Rio de Jainero là một địa điểm đặc trưng cho bối cảnh tân thời của Brazil. Những người say mê cà phê hữu cơ của quán này không trả tiền theo giá cố định mà thay vào đó họ trả theo mức giá mà họ cho là hợp lý – hoặc theo mức mà họ có thể trả được. Gabriel, một trong số những người sáng lập quán cà phê Curto, chia sẻ rằng số tiền mà khách trả ngày càng ít đi. Giống như những người Brazil khác, người dân Rio đang lâm vào cảnh túng quẫn. Brazil đang trải qua cuộc suy thoái tồi tệ nhất của nước này kể những năm 1930, có lẽ là tồi tệ nhất từ trước cho đến giờ. Vào ngày 1/6, chính phủ đã thông báo rằng GDP của nước này đã sụt giảm 0,3% trong quý đầu năm nay; tức là thấp hơn 5,4% so với 1 năm trước đó. Ông Alberto Ramos của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs cho hay GDP tính theo đầu người trong khoảng thời gian này còn sụt giảm mạnh hơn so với “thập kỷ mất mát” siêu lạm phát từ năm 1981 đến năm 1992. Ông Ramos cho biết trong 2 năm số người Brazil thất nghiệp đã tăng từ 7 triệu người lên tới 11 triệu người.

Nhiệm vụ đưa đất nước Brazil thoát khỏi tình trạng rối ren này thuộc về Michel Temer, người đã tiếp quản chức vụ tổng thống lâm thời sau khi Thượng viện bỏ phiếu vào tháng 5 đưa ra các cáo buộc đối với Tổng thống Dilma Rousseff. Về mặt chính trị, chính phủ của Temer đã có một cuộc khởi đầu gian nan. Hai bộ trưởng trong nội các bao gồm toàn người da trắng và toàn nam giới của ông, bao gồm cả một bộ trưởng phụ trách công tác chống tham nhũng đã phải từ chức sau khi các đoạn băng ghi âm bị rò rỉ, trong đó họ dường như đã chỉ trích cuộc điều tra của bên nguyên về vụ bê bối tham nhũng lớn xung quanh công ty dầu khí nhà nước Petrobras. Họ nói rằng họ đã bị hiểu lầm.

Chương trình kinh tế của ông Temer khả quan hơn nhiều. Đội ngũ nặng ký của ông do cựu thống đốc Ngân hàng Trung ương Henrique Meirelles lãnh đạo, đã đề xuất một kế hoạch xem xét kỹ lưỡng công tác quản trị kinh tế của Brazil tham vọng vọng nhất trong hàng thập kỷ. Chi tiêu công, bao gồm cả hệ thống trợ cấp tốn kém sẽ bị cắt giảm trên thực tế, mặc dù chính phủ vẫn chưa cho biết sẽ tiến hành như thế nào. Các quy định chèn ép doanh nghiệp sẽ bị bãi bỏ, bắt đầu từ lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt. Ông Meirelles cho hay chính phủ sẽ cân nhắc cải cách các điều luật lao động có từ thời Moussolini và bộ luật thuết Byzantine. Tư hữu hóa, một điều cấm kỵ từ lâu, lần đầu tiên có khả năng xảy ra kể từ những năm 1990. Những ý tưởng như vậy là một sự thay đổi triệt để nhằm thoát khỏi chủ nghĩa can thiệp của phe cánh tả là do chính phủ của bà Rousseff tiến hành, mà phần lớn phải chịu trách nhiệm cho tình trạng rối ren kinh tế. Chúng đem đến cơ hội để thoát khỏi tình cảnh này.

Vấn đề trọng tâm trong kế hoạch của Temer là một sự sửa đổi hiến pháp để hạn chế chi tiêu công trên thực tế. Ngay cả chăm sóc y tế và giáo dục – các lĩnh vực tiêu tốn hơn 1/4 ngân sách của chính phủ mà không đem lại những lợi ích tương xứng – có thể sẽ không được miễn trừ. Chính phủ được cho là sẽ đưa ra một bản dự thảo cho Quốc hội trong thời gian tới.

Ý tưởng này sẽ khắc phục một trong những thiếu sót chính của chính phủ. Chi tiêu công đã tăng trung bình hàng năm 6% trong 20 năm qua, nhanh hơn nhiều so với GDP. Cân đối ngân sách cơ bản của chính phủ trung ương (trước khi phải trả lãi) từ mức thặng dư 2,2% GDP vào năm 2010 đã đi đến thâm hụt 2,3% tính đến tháng 4/2016, mức cao nhất cho đến nay. Điều này, cùng với viễn cảnh thâm hụt sẽ còn nới rộng hơn trong tương lai, khiến cho lãi suất luôn ở mức cao, điều làm cho tình trạng thâm hụt càng trở nên trầm trọng hơn. Tiền lãi suất mà chính phủ phải trả chiếm tới 7% GDP. Do đó, lãi suất cao của Brazil phải trả giá cho sự hoang phí trước đây thay vì sự quản lý hiệu quả.

Mức trần chi tiêu, nếu được đa số chiếm 3/5 ở cả Thượng viện lẫn Hạ viện thông qua, sẽ làm giảm thâm hụt ngay khi tăng trưởng và thu nhập từ thuế tăng trở lại. Ông Arthur Carvalho của ngân hàng đầu tư Morgan Stanley cho rằng quá trình này thậm chí có thể diễn ra nhanh hơn. Đó là do lòng tin rằng việc Brazil giảm số tiền nợ của nước này có thể hạ mức lãi suất dài hạn, giảm bớt số tiền phải trả lãi của chính phủ. Điều cũng quan trọng là mức trần chi tiêu sẽ buộc chính phủ phải tiến hành các cải cách khác, mặc dù về lâu dài việc duy trì có thể tỏ ra bất khả thi khi dân số gia tăng. Hiện tại, hiến pháp và các bộ luật khác bảo đảm 90% chi tiêu để không bị cắt giảm, bất kể chi tiêu không hiệu quả thế nào đi chăng nữa. Nếu chính phủ không phá vỡ mức trần do chính họ đặt ra, các điều luật này sẽ phải thay đổi.

Những viễn cảnh như vậy đã làm lóe lên những tia hi vọng cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư đang chán nản. Lợi tức trái phiếu đã giảm từ khoảng 17% vào tháng 1 xuống còn 13%; chi phí đảm bảo nợ đã bị cắt giảm 1/3 từ tháng 12/2015. Với hơn 1/3 công suất công nghiệp không dùng đến, sản xuất có thể hồi phục nhanh chóng nếu tinh thần cải thiện. Marcelo Carvalho của ngân hàng BNP Paribas nói: “Trong vòng 6 tháng chúng ta có thể nhìn lại ngày hôm nay như là một điểm chuyển biến”. Nhưng chỉ khi ông Temer thực hiện những gì ông đã hứa hẹn.

Bộ trưởng Tài chính Meirelles thừa nhận rằng “sẽ rất khó khăn”. Ông hy vọng sẽ ban hành một số cải cách, trong đó có mức trần chi tiêu, trước khi ngân sách của năm tới được trình lên Quốc hội vào ngày 31/8. Khi các cuộc bầu cử địa phương diễn ra vào tháng 10, các chính trị gia hầu như sẽ chẳng có tâm trạng nào để bỏ phiếu tán thành việc chi tiêu ít hơn cho trường học và bệnh viện.

Nhưng các thành viên của êkíp Temer, mà một vài người trong số họ đã từ bỏ các công việc sinh lợi của khu vực tư nhân để giúp giải cứu nền kinh tế, vẫn đang tranh luận về điều đó. Họ cho rằng cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế đã khiến cả cử tri lẫn các nghị sỹ quốc hội dễ đón nhận các đề xuất thay đổi triệt để hơn. Một tấm bảng hiệu do Liên đoàn công nghiệp quốc gia dựng lên tại sân bay ở thủ đô Brasilia viết rằng: “Cải cách trợ cấp ngay bây giờ!”.

Theo lý thuyết, ông Temer có thể có được 356 phiếu trong số 513 ghế ở Hạ viện, và 56 phiếu trong số 81 ở Thượng viện, nhiều hơn mức cần thiết để sửa đổi hiến pháp. Không giống bà Rousseff, người cũng giành được đa số phiếu ở Quốc hội, ông Temer biết cách dụ dỗ các đồng minh của mình. Không bị vướng bận với các cam kết trước kia, ông có nhiều đặc quyền và sự bảo trợ hơn để trao cho các chính trị gia, những người trước đây ủng hộ bà Rousseff.

Mặc dù phải chứng kiến hai bộ trưởng lún sâu vào vụ bê bối Petrobras, ông Temer vẫn có thể vận hành chính phủ của mình hoạt động đúng chức năng. Theo ông Renan Calheiros, chủ tịch Thượng viện và đồng thời là một thành viên của Đảng phong trào dân chủ Brazil của ông Temer, người cũng có tên trong các đoạn ghi âm bị rò rỉ, điều này phần nào có thể là do người dân Brazil kỳ vọng thấp. Nhưng cả Quốc hội lẫn các cử tri đều không đòi hỏi phải lật đổ chính phủ của ông Temer. Những tiếng la hét giận dữ từ bà Rousseff và các đồng minh của bà cho đến giờ hầu như không có ảnh hưởng gì.

Một cuộc điều tra về tính hiệu quả của chính phủ do trường kinh doanh IMD đưa ra mới đây xếp Brazil vào hạng chót trong số 61 quốc gia, sau cả Ukraine bị chiến tranh làm cho kiệt quệ và Venezuela bị phá sản và chuyên quyền. Người dân Brazil không trông đợi sự trong sạch về đạo đức từ chính phủ lâm thời của ông Temer, chính phủ có thể sẽ tiếp tục nắm quyền cho đến sau khi bầu cử được tổ chức vào năm 2018. Nhưng họ hy vọng tình cảnh khó khăn kinh tế sẽ giảm bớt. Những dấu hiệu ban đầu là ông Temer biết cách làm thế nào để làm điều đó.

Nguồn: The Economist – 4/6/2016

TLTKĐB 23/06/2016