Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần cuối


Trong khi Điện Kremlin dường như không muốn cung cấp cho Venezuela các khoản vay mới – một dấu hiệu cho thấy tia hi vọng của nước này về sự phục hồi kinh tế đã tắt ngấm – thi khía cạnh địa chính trị trong mối quan hệ này đã trở nên có lợi hơn cho cả hai bên, ngay cả khi những lợi ích này vẫn tương đối hạn chế. Caracas rất cần có đồng minh. Chế độ Maduro đã quan trọng hóa sự hỗ trợ của Moskva khi khiến cho những tuyên bố của nước này về các khoản đầu tư mới và những sự cải thiện về kinh tế – xã hội trở nên đáng tin. Đối với Điện Kremlin, mối quan hệ này phù hợp với câu chuyện kể của họ về việc chống lại bá quyền của Mỹ. Nó cũng cho phép Nga thể hiện mình như một cường quốc quân sự toàn cầu sẵn sàng bảo vệ các đồng minh chống lại các mối đe dọa của Mỹ, cả thực tế và tưởng tượng – mặc dù trong trường hợp của Caracas, rất có thể đây là những mối đe dọa có thực.

Một ví dụ rõ nét cho những dấu hiệu này là chuyến thăm vào tháng 12/2018 của 2 chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolev-160 của Nga, thu hút các tiêu đề báo trên toàn thế giới. Tuy nhiên, so sánh với các khoản vay mới, động thái này thể hiện một tín hiệu ủng hộ ít tốn kém hơn và mờ nhạt hơn. Đây không phải lần đầu tiên Nga cho thấy những dấu hiệu như vậy. Tháng 9/2008, hai chiếc máy bay cùng loại đã tới Venezuela chỉ một tháng sau khi cuộc chiến tranh Nga – Gruzia làm suy yếu quan hệ Mỹ – Nga. Vào thời điểm đó, những sự thể hiện ít tốn kém nhưng mang ý nghãi biểu tượng cho sức mạnh vĩ đại của Nga rất phổ biến ở Điện Kremlin. Việc Bộ Quốc phòng Nga công bố đoạn băng ghi hình của chuyến bay gần đây nhất tới Venezuela cho thấy họ không chỉ lường trước, mà có lẽ còn muốn được đưa tin như vậy trên khắp toàn cầu.

Quả thực, những tin tức đầy khoa trương và hời hợt mà giới truyền thông phương Tây nói về mối quan hệ Nga – Venezuela là một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nó. Ngày 17/12/2018, tờ báo lá cải lớn nhất của Anh, tờ Daily Mail, đã chạy tiêu đề: “Nga công bố kế hoạch thành lập căn cứ quân sự đầu tiên tại Caribean – sự hiện diện lớn nhất của nước này trong khu vực kể từ Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962”. Moskva không hề làm điều đó. Ngày hôm sau, quan chức cấp cao của Venezuela là Diosdado Cabello đã bác bỏ tin này, mặc dù tờ Daily Mail không rút lại hay cập nhật. Lời bác bỏ của Cabello gần như không nhận được sự chú ý. Về bề ngoài, mối quan hệ Nga với Venezuela đã phục vụ tốt cho lợi ích của Điện Kremlin.

Mối quan hệ này không hoàn toàn giới hạn ở bề ngoài, cho dù nó có tác động rất ít tới địa chính trị Mỹ Latinh. Vào giữa những năm 2000, sự hỗ trợ của Nga đối với Venezuela đã mở ra cơ hội cho khu vực Mỹ Latinh khi chính phủ cánh tả ủng hộ nhà nước Bolivar lên nắm quyền, nhưng trong những năm gần đây, phần lớn các nhà lãnh đạo này đã mất đi quyền lực.

Tuy nhiên, Sechin đã mở ra một cách cửa mới trong năm 2017 khi ông mua số cổ phần lớn của nhà máy lọc dầu Essar của Ấn Độ, sau đó đổi tên thành Nayara. Nayara là một trong những bên lớn nhất mua dầu thô của Venezuela, cũng như bên mua dầu đáng kể của Iran. Thỏa thuận này chủ yếu nhằm bảo vệ các lợi ích của Rosneft tại Venezuela, nhưng nó có một khía cạnh địa chính trị. Thương vụ của Sechin đã mang lại cho Rosneft tầm ảnh hưởng đối với nguồn cung dầu của Ấn Độ, và do đó ảnh hưởng tới sự sẵn sàng của nước này trong việc chống lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Quyền lưu giữ đối với Citgo mang lại cho Rosneft cổ phần của nhà máy lọc dầu này của Mỹ trong tương lai, ngay cả khi các chính trị gia hàng đầu của Mỹ thề sẽ ngăn Rosneft nắm giữ số cổ phần đó. Hiện Nga có vị thế để thảo luận về bất kỳ hành động nào nhằm tái cơ cấu các khoản nợ của Venezuela, ngay cả nếu chính phủ Bolivar cuối cùng cũng sụp đổ. Khả năng của Rosneft gây thêm nhiều rắc rối cho Citgo sẽ giúp họ bảo đảm các tài sản năng lượng mà họ đã nhận được từ chế độ của Chávez và Maduro. Washington chắc chắn sẽ ưu tiên tương lai của Citgo hơn là lợi ích của Rosneft tại Venezuela.

Khía cạnh địa chính trị cuối cùng trong mối quan hệ của Nga với Venezuela là việc song trùng lợi ích với Trung Quốc. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, tam giác địa chính trị này có thể suy yếu khi Caracas tiếp tục đi xuống và những nghi ngờ nổi lên về việc liệu họ có thể tiếp tục trả nợ cho cả Moskva và Bắc Kinh hay không. Trái ngược với chuyến thăm vô ích của Maduro tới Moskva vào tháng 12/2018, Tổng thống Venezuela đã giành được khoản vay 5 tỷ USD từ Bắc Kinh sau chuyến thăm của ông vào tháng 9/2018. Trong khi giới truyền thông phương Tây ít đưa tin một cách cường điệu hóa về mối quan hệ Venezuela – Trung Quốc, Bắc Kinh – trước đây vốn đã giảm mức rủi ro tín dụng của họ đối với Caracas – dường như đã sẵn sàng tiếp tục cho vay hơn so với Moskva. Số phận của nhà nước Venezuela và ngành dầu mỏ của họ do đó có thể là một bài kiểm tra sớm đối với Nga và liên minh thực tế gần đây với Trung Quốc.

Một tương lai u ám

Sức ép ngày càng tăng xung quanh mối quan hệ giữa Nga và Venezuela tạo ra ảo tưởng về một liên minh thịnh vượng. Trong khi gần đây đã có nhiều diễn tiến, nhưng đây là kết quả của những nỗ lực mang tính cứu vãn. Đó là, cùng với Trung Quốc và các bên nắm giữ trái phiếu năm 2020 của PDVSA, Nga là một trong số ít chủ nợ mà chế độ Venezuela đã cố gắng duy trì tới nay. Nhưng rõ ràng là mối quan hệ này đang phải đối mặt với các thách thức – từ những thỏa thuận mua bán vũ khí bị tham nhũng gây tổn hại và các kho bạc bị phá sản của Caracas cho đến sự cộng tác thất bại của Evrofinance Mosnarbank và nguy cơ Rosneft sẽ không nhận được số dầu được cam kết đúng hạn. Những thách thức này không mới, nhưng chúng cho thấy các nỗ lực của Nga nhằm duy trì hoạt động kinh doanh sinh lời ở Venezuela đã không thể đạt được các mục tiêu của chúng.

Eric Farnsworth, Phó chủ tịch Hội đồng các quốc gia châu Mỹ, gần đây đã nói với tờ Whasington Post rằng “việc thiết lập một tiền đồn chính trị ở Tây bán cầu sẽ mang lại một chiến thắng chiến lược (cho Nga)… nếu họ chỉ mất vài tỷ USD, điều đó có thể vẫn chấp nhận được”. Nhưung về mặt địa chính trị, quan hệ này chỉ dừng lại ở bề ngoài, và Moskva vẫn có nguy cơ thua Bắc Kinh nếu Trung Quốc sẵn sàng cung cấp cho chế độ Venezuela các khoản vay trong khi Mosva đã không còn hào phóng. Moskva đã áp dụng một chiến lược – như được minh chứng trong quyền lưu giữ đối với Citgo – nhằm mục tiêu bảo vệ các lợi ích của Nga ngay cả nếu chế độ Maduro sụp đổ. Điều này không đảm bảo sẽ thành công; Nga có thể sẵn sàng chi vài tỷ USD để bảo đảm một tiền đồn chiến lược, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng họ đã thành công trong việc này. Chừng nào Caracas vẫn còn vận chuyển dầu và Rosneft vẫn còn quyền kiểm soát đối với các tài sản của họ ở Venezuela, thì mối quan hệ này sẽ mang lại điều tích cực thực sự cho Rosneft – ngay cả nếu các mối quan hệ cộng tác kinh doanh khác không thể mang lại lợi nhuận như dự định. Các lợi ích địa chính trị vẫn sẽ chỉ dừng lại ở bề ngoài trừ phi Moskva tăng cường cam kết của họ đối với Caracas như đã làm với chế độ Syria.

Những tuyên bố rằng Nga sẽ xây dựng một căn cứ tại Venezuela cùng lắm chỉ nên coi là ảo tưởng. Trong khi tin đồn về một căn cứ của Nga có thể lan nhanh khi Washington tăng cường giọng điệu chống Maduro – và đặc biệt là nếu Washington công nhận quốc hội do phe đối lập kiểm soát là chính phủ hợp pháp duy nhất của Venezuela – thì Moskva vẫn gần như không hứng thú với dự án này. Những tin tức ban đầu về một căn cứ tiềm năng không đến từ các uqan chức Nga, mà từ tờ báo cánh tả Nezavisimaya Gazeta. Bài báo lưu ý rằng ý tưởng bắt đầu được lan truyền vào năm 2009 – thời điểm mà quan hệ Nga – Venezuela đang tốt đẹp nhất, các thỏa thuận kinh doanh mới thường xuyên được tiến hành, và quan hệ giữa Nga và phương Tây đã suy yếu sau cuộc chiến tranh của Nga với Gruzia vào tháng 8/2008 – bởi một vị tướng Nga, người mà ngay cả khi đó cũng cho rằng dự án này thiếu quyết tâm chính trị cần thiết.

Sau khi Mỹ công nhận nhà lãnh đạo phe đối lập của Venezuela, Juan Guaido, là tổng thống lâm thời vào ngày 23/1/2019, có thể Điện Kremlin đánh giá  sự ủng hộ quân sự này là phương pháp duy nhất để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga tại Venezuela không bị phá hỏng từ bên trong. Hãng tin Reuters nhanh chóng đưa tin rằng một nhóm quân đội bí ẩn của Nga có lẽ đã được triển khai tới Venezuela để bảo vệ chế độ Maduro, mặc dù đại sứ Nga đã bác bỏ thông tin này. Tình trạng tham nhũng, các khoản đầu tư thất bại, và những lợi ích địa chính trị hạn chế đồng nghĩa với việc Điện Kremlin rõ ràng đã không còn sẵn sàng ném tiềm vào nhà nước đang sụp đổ này. Đặc biệt, Sechin có thể đang thúc đẩy một đường hướng lạc quan, nhưng ngay cả Rosneft cũng không sẵn sàng gia hạn mức tín dụng mới cho Maduro, và như đã lưu ý trước đó, ông phải bay tới Venezuela vào tháng 11/2018 để gây sức ép buộc chế độ này phải tăng cường nỗ lực nhằm tôn trọng các cam kết cũ. Một giải pháp tại Venezuela để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga, đặc biệt là của Rosneft, có thể hấp dẫn ngay cả nếu Nga phải tiếp tục giữ Caracas làm một đồng minh chính trị; ít nhất một nguồn tin theo phe cực hữu của Nga cũng bóng gió rằng đây có thể là một con đường tiềm năng để tiến về phía trước.

Kết quả của các cuộc phiêu lưu của Nga tại Venezuela có thể tác động tới tương ai của chính Igor Sechin xét tới sự gắn bó mật thiết của ông với nỗ lực này. Cho đến nay, ông đã hành động mà không bị trừng phạt, nhưng chuyến thăm của Storchak và việc chấm dứt các khảon cho vay mới đã làm dấy lên khả năng rằng ngay cả Sechin cũng có thể buộc phải ngừng hoạt động có thể gây thiệt hại cho Nga. Tất nhiên, tác động của chính sách của Nga đối với Venezuela sẽ không chỉ giới hạn trong không gian hoạt động của Điện Kremlin. Nó vốn đã có tác động đáng kể đến ngành dầu mỏ, và các vụ kiện sau đó từ phía các chủ nợ của Venezuela và PDVSA có thể sẽ diễn ra trong sự không chắc chắn về tương lai của Citgo. Cuối cùng, Venezuela sẽ cần phải dàn xếp với các chủ nợ và các đối tác quốc tế khác của họ. Nga sẽ có một vị thế và sẽ ưu tiên bảo vệ các lợi ích kinh tế trong tương lai ngay cả nếu các bên liên quan khác khiến cho Sechin không còn có mong muốn hay đủ khả năng chấp nhận những rủi ro này. Nhưng chắc chắn vẫn còn quá sớm để gọi cuộc phiêu lưu của Điện Kremlin tại Venezuela là một lợi ích địa chính trị. Mà ngược lại, đó là một rủi ro về kinh tế.

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Advertisements

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần III


Quan hệ Rosneft – PDVSA không phải chỉ trải đầy hoa hồng

Rosneft, như được nhiều người biết đến, cho đến nay đã xoay xở để tránh được những tổn thất khổng lồ có liên quan đến tham nhũng. Vai trò của nó trong nền kinh tế Venezuela và mối liên hệ của nó với PDVSA đơn giản là đã ăn quá sâu dẫn đến những “trò bịp bợm” như đã thấy trong các vụ bê bối của Kalashnikov và Gazprombank. Rosneft sở hữu khoảng 26 – 40% cổ phần trong một số mỏ dầu lớn ở Venezuela. Công ty này cũng nắm giữ 40% cổ phần trong nhà máy nâng cấp dầu thô Petromonagas, cho phép Venezuela pha loãng dầu thô siêu nặng làm tăng lượng sản phẩm xuất khẩu thêm 150.000 thùng/ngày. Cơ chế điều tiết này chính là chìa khóa vì Venezuela chỉ sản xuất 1,46 triệu thùng/ngày vào cuối năm 2018. Rosneft tiếp tục công bố các thỏa thuận mới với PDVSA bất chấp những thách thức của công ty này. Tháng 11/2016, chỉ 1 tháng sau khi PDVSA cơ cấu lại trái phiếu trị giá hàng tỷ USD của họ trong năm 2017 để đổi lấy trái phiếu năm 2020, Rosneft đã cho PDVSA vay 1,5 tỷ USD. Để thế chấp, tập đoàn dầu mỏ lớn của Nga đã nhận 49,9% cổ phần của công ty năng lượng – dầu khí Citgo của Mỹ (Citgo sở hữu 3 nhà máy lọc dầu lớn và một số đường ống dẫn dầu quan trọng). Trái phiếu duy nhất mà Venezuela hiện còn giữ kể từ tái cơ cấu là trái phiếu năm 2020 của PDVSA, mà các trái chủ chỉ đồng ý nhận sau khi được trao quyền lưu giữ hơn 50,1% của Citgo. PDVSA tiếp tục thanh toán cho trái phiếu này vì tầm quan trọng của Citgo vừa là điểm đến cho hàng xuất khẩu vừa là nguồn dầu thô nhẹ hơn để pha trộn với dầu thô nặng của Venezuela. Sự chênh lệch về giá đối với các khoản cho vay được Citog bảo đảm này – Rosneft phải trả 1,5 tỷ USD để có quyền lưu giữ, chỉ hơn một nửa số trái phiếu trị giá 2,8 tỷ USD được tái cơ cấu thành trái phiếu năm 2020 – cho thấy mối quan hệ giữa hai bên sâu sắc đến mức nào.

Tất nhiên, mối quan hệ này không phải là không có vấn đề. Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đã tác động đến cả Rosneft lẫn PDVSA, mặc dù những biện pháp áp đặt cho PDVSA thì hạn chế hơn. Rosneft phải chịu cái gọi là “biện pháp trừng phạt theo ngành”, điều không cho phép công ty này tìm kiếm nguồn tài trợ lớn từ các thị trường phương Tây và cấm Mỹ hỗ trợ cho các kế hoạch ở nước ngoài và kế hoạch khai thác dầu bằng công nghệ thủy lực. Cơ chế trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela thì mới hơn, nhưng thậm chí còn nhức nhối hơn. Venezuela không được phép tìm kiếm nguồn vốn ở các thị trường phương Tây và hầu hết giới tinh hoa chính trị và kinh tế nước này đều có tên trong danh sách đen. Trong khi điều này trong một chừng mực nào đó đã đẩy Caracas và Moskva lại gần nhau hơn, nó vẫn không ngừng khiến cả hai nước đau đầu. Chẳng hạn, các kế hoạch sửa chữa nhà máy nâng cấp dầu Petromonagas đã liên tục bị trì hoãn trong suốt năm 2018 khi các lệnh trừng phạt cản trở việc vận chuyển linh kiện thay thế.

Một thách thức còn lớn hơn nhiều đối với mối quan hệ này là sự đổ vỡ của nhà nước Venezuela. Ngành sản xuất dầu mỏ – cụ thể là sản lượng của PDVSA – đã sụp đổ trong những năm gần đây, trong khi các cá nhân cướp bóc và phá hoại các cơ sở của PDVSA. Sau khi phe đối lập giành quyền kiểm soát Quốc hội Venezuela vào tháng 12/2015, Tổng thống Nicolás Maduro đã thay thế cơ quan này bằng một “quốc hội lập hiến” mới và hướng dẫn họ soạn thảo một bộ hiến pháp mới. Động thái này đã đẩy Venezuela rơi vào tình trạng hỗn loạn đang diễn ra. Với tình trạng bất ổn lan rộng và một cuộc khủng hoảng người tị nạn chưa từng có trong lịch sử Nam Mỹ hiện đại, tình hình này có thể sẽ không được cải thiện trong tương lai gần.

Tháng 11/2017, Phó chủ tịch Rosneft Pavel Fedorov tuyên bố công ty này không có kế hoạch cho Venezuela vay thêm nữa. Báo cáo tài chính quý I năm 2018 của Rosneft nêu chi tiết các khoản thanh toán từ PDVSA, một nỗ lực nhằm xoa dịu sự lo ngại của các nhà đầu tư và các chủ nợ về các khoản nợ của chính Rosneft, vốn đã mở rộng đáng kể trong năm 2017.

Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, PDVSA và Rosneft đã kín đáo nhất trí một “kế hoạch khắc phục” để điều chỉnh thỏa thuận “đổi khoản cho vay lấy dầu” sau khi PDVSA không thể duy trì việc vận chuyển dầu thô. Thậm chí thỏa thuận này cũng bị phá vỡ khi thiệt hại đối với cảng xuất khẩu dầu chính của Venezuela, Jose, cũng cản trở việc giao hàng tới Rosneft. Các báo cáo hàng quý của Rosneft do đó phản ảnh các khảon thanh toán từ PDVSA giảm từ 600 triệu USD torng quý I/2018 xuống còn 400 triệu USD trong quý II, trước khi tăng lên 500 triệu USD vào quý III. Những con số này không phản ánh đúng lời khẳng định của Sechin vào tháng 1/2018 rằng “không có rủi ro đáng kể” trong các giao dịch kinh doanh của Rosneft ở Venezuela.

Các diễn biến kể từ khi đó đã cho thấy mối quan ngại về những rủi ro như vậy chắc chắn tồn tại trong giới lãnh đạo Rosneft. Giữa tháng 11/2018, Sechin đã bất ngờ tới thăm Caracas để thảo luận về những lần chậm thanh toán. Có tin cho biết ông đã mang đến những tài liệu cho thấy PDVSA đang trả nợ cho Trung Quốc theo đúng lịch trình, nhưng với Rosneft thì không. Trung Quốc sẵn sàng tham gia các cuộc giao hàng giữa các tàu mạo hiểm hơn để tránh những thách thức tại cảng Venezuela, nhưng sản lượng suy giảm và cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra tại Venezuela đồng nghĩa với việc nước này sẽ không thể duy trì thanh toán đúng hạn cho cả Trung Quốc và Nga trong những năm sắp tới.

Cuối cùng, đáng lưu ý là một số phe phái ở Điện Kremlin đã bắt đầu phản đối chiến lược của Nga đối với Venezuela. Chẳng hạn. Bộ Tài chính đã nhiều lần bác bỏ tuyên bố của Caracas rằng các dàn xếp giữa hai nước có thể chuyển sang dùng đồng “Petro”, đồng tiền “ảo” được mã hóa của Venezuela. Gần đây nhất, vào tháng 10/2018, Thứ tưởng Bộ Tài chính Nga Sergei Storchak đã tới thăm Venezuela và từ chối yêu cầu của Caracas về việc có một đại diện thường trực của Bộ Tài chính Nga tại thủ đô của Venezuela.

Sự xuất hiện của Storchak ở đây cũng đáng lưu ý. Trong năm 2017 – 2018, Storchak – một đồng minh của cố vấn kinh tế tự do thân cận nhất của Putin, Alexey Kudrin – đã phải ở 11 tháng trong tù vì cáo buộc tham nhũng. Nhiều người đồn đoán rằng Sechin cũng nhúng tay vào vụ bắt giữ Storchak, trong khi Kurdin tán thành việc trả tự do cho Storchak. Căng thẳng giữa các đồng minh của Kudrin và Sechin vẫn tiếp diễn cho tới hiện nay.

Ngay cả nếu chuyến đi của Storchak cho thấy nhiều người khác đang sẵn sàng chống lại chiến lược của Sechin ở Venezuela, thì CEO của Rosneft rõ ràng vẫn có nhiều quyền hành hơn so với hồi năm 2007 – 2008. Trong năm 2016, Bộ trưởng Kinh tế khi đó là Alexei Ulyukayev – một đồng minh khác của Kudrin  bị bắt giữ vì tội tham nhũng, điều mà nhiều người cho là ông bị vu khống. Ulyukayev bị buộc tội đòi hối lộ từ Sechin, bề ngoài là để ủng hộ Rosneft tiếp quản một công ty dầu khí khác mà Ulyukayev đã công khai chỉ trích. Khi Ulyukayev bị kết án 8 năm tù vào tháng 12/2017, Kudrin đã lớn tiếng cho rằng phán quyết này là một “bản án khủng khiếp và vô lý”, cảnh báo rằng “nhiều người hiện đang phải đối mặt với sự bất công như vậy”. Bất chấp những tổn thất do nạn tham nhũng gây ra và sự sụp đổ của ngành công nghiệp Venezuela, vòng kìm kẹp của Sechin đối với chính sách của Nga về Venezuela có khả năng vẫn duy trì vững chắc ngay cả khi nhiều người khác rõ ràng tỏ ra quan ngại.

Địa chính trị hạn chế

Như Sechin vẫn công khai tỏ ra thờ ơ trước nguy cơ của các khoản thanh toán trước của PDVSA, ông khẳng định rằng các hành động của Rosneft không chịu tác động của địa chính trị. Sechin giải thích: “Đó chỉ là kinh doanh, và là một ngành kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận”. Cùng lắm thì điều đó chỉ đúng phần nào. Mối quan hệ này đúng là có một khía cạnh địa chính trị liên quan đến quan hệ của Nga với Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ. Nhưng địa chính trị xuất phát từ quan hệ kinh doanh. Khi cuộc khủng hoảng và tình trạng vỡ nợ của Venezuela đã nêu bật những rủi ro của mối quan hệ với chế độ Maduro, khía cạnh địa chính trị đã giành được nhiều sự quan tâm. Đổi lại, nó làm chệch hướng sự chú ý ra khỏi tình trạng kinh doanh yếu kém.

Kể từ khoản nợ năm 2016 của Rosneft do Citgo bảo đảm, Nga đã ngừng cho Venezuela vay tiền bất chấp những yêu cần khẩn thiết từ Caracas. Tháng 12/2018, Maduro đã tới Moskva và khoe khoang về các khoản đầu tư mới trị giá 6 tỷ USD vào lĩnh vực dầu mỏ và khai khoáng của Venezuela. Ông cũng đề xuất với Nga một thỏa thuận cung cấp cho Venezuela 600.000 tấn ngũ cốc trong năm 2019. Tuy nhiên, sau đó không có tuyên bố nào như vậy từ phía Nga, và các quan chức Nga giấu tên đã bày tỏ nghi ngờ về tuyên bố của Maduro trên tờ Financial Times ngay sau đó. Đại sứ Nga tại Venezuela là Vladimir Zaemsky sau đó tuyên bố Nga vốn đã chuyển 600.000 tấn ngũ cốc cho Venezuela trong năm 2018. Ông khẳng định các thảo thuận khai thác vàng mới đã được đề xuất, nhưng không được nhất trí thông qua. Vì thế các tuyên bố của Maduro tại Moskva chỉ là một nỗ lực “bình cũ rượu mới”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần II


Evrofinance Mosnarbank có trụ sở đặt tại Nga – trong đó 50,1% cổ phần do các ngân hàng nhà nước của Nga là VTB và Gazprombank nắm giữ, phần còn lại thuộc sở hữu của FONDEN, quỹ phát triển quốc gia Venezuela – đã trở thành công cụ phục vụ cho nỗ lực chính sách này. Năm 2011, ngân hàng này đã trở thành nhà bảo trợ lớn nhất cho trái phiếu của Venezuela, đạt doanh thu 3,6 tỷ USD, tăng từ con số 0 trong năm 2010. Các chiến lược của Sechin dường như là thành công nối tiếp thành công.

Sechin cũng ủng hộ bản chất bài xích phương Tây của Chính phủ Venezuela, mặc dù thu nhập quá cao của chính ông khiến nhiều người nghi ngờ về ý tưởng rằng ông cũng có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa như chính phủ này. Tuy nhiên, trong bài tán dương năm 2014 – phát biểu bằng tiếng Tây Ban Nha – đối với người sáng lập ra nhà nước Venezuela hiện đại, Sechin đã khen ngợi Hugo Chávez là một chính trị gia xuất chúng, một trong những người sáng lập nên ý tưởng về thế giới đa cực”. Ông so sánh tầm quan trọng của Chávez với nhà lãnh đạo độc lập Mỹ Latinh Simon Bolivar và kết thúc bằng câu nói nổi tiếng của Che Guevara: “hasta la victoria, siemprél” (Hẹn ngày toàn thắng!) để nhấn mạnh thêm.

Ngược lại với Sechin, Bộ Ngoại giao Nga dường như ít lên tiếng về mối quan hệ này. Ngoại trưởng Sergei Lavrov hiếm khi bình luận về Venezuela. Các chuyên gia từ Viện các vấn đề Mỹ Latinh thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga được yêu cầu đưa ra bình luận cho giới truyền thông nhà nước, nhưng dường như họ không được chú ý đến. Khi Rusoro, một công ty khai khoáng Canada với cái tên cho thấy nguồn gốc Nga của nó, vướng vào một tranh chấp trọng tài trị giá hàng tỷ USD với Caracas, Điện Kremlin dường như đã giữ khoảng cách. Thị trường tài chính Venezuela sụp đổ vào giữa năm 2017, và mặc dù Điện Kremlin đã tái cơ cấu một số khoản nợ của Venezuela vào tháng 11/2017, nhưng gần một năm đã trôi qua trước khi một phái đoàn của Bộ Tài chính Nga tới thăm nước này. Chuyến thăm đó, cùng với các diễn biến khác gần đây, cho thấy những nhân tố mới có thể đang giành được tiếng nói trong mối quan hệ Nga – Venezuela.

Sechin, người cũng đang phải chịu các biện pháp trừng phạt của Mỹ, có thể sẽ hoan nghênh việc Evrofinance Mosnarbank cuối cùng cũng trở thành một công cụ để tránh né các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela. Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh thực sự của ngân hàng này không sinh lợi trong một khoảng thời gian, khi Venezuela không có đợt phát hành trái phiếu nào mới để bảo lãnh hay các dự án chung để cấp vốn. Ngân hàng này hẳn đã có thể hỗ trợ cho sự phát triển của hai mỏ khí đốt ngoài khơi của Venezuela mà Rosneft được tặng thưởng – có vẻ không mất phí – vào tháng 12/2017, nhưng dường như không có hoạt động này diễn ra trong dự án này.

Tháng 11/2018, giám đốc điều hành ngân hàng VTB Andrei Kostin tuyên bố VTB sẽ bán cổ phần của mình trong Evrofinance Mosnarbank. Kostin nói Chính phủ Nga trước đây đã đề nghị mua số cổ phần này, nhưng sau đó đã đổi ý. Đây chắc chắn không phải mối quan hệ kinh doanh duy nhất giữa Nga và Venezuela tuột khỏi đỉnh cao một thời của họ.

Các tuyên bố về tình trạng tham nhũng

Sự sụp đổ của nền kinh tế Venezuela đã dẫn đến một loạt tiết lộ về việc nạn tham nhũng đã lan tràn đến mức nào tại đất nước này. Quả thực, lợi ích của Nga ở Venezuela đã bị ảnh hưởng. Mặc dù một số vụ bê bối tham nhũng đã cho thấy các dự án kinh doanh của Nga tại Venezuela, ngàoi các thỏa thuận của Rosneft, thường chỉ là phương tiện để các quan chức tích trữ tiền của nhà nước tại các tài khoản ngân hàng của Thụy Sĩ và Andorra.

Tháng 10/2018, cựu giám đốc tài chính của PDVSA, ông Abraham Edgardo Ortega, đã nhận tội tại tòa án Miami trước những cáo buộc rằng ông đã nhận hối lộ và có âm mưu rửa tiền từ PDVSA. Gazprombank trả cho một trong những khoản hối lộ này, với bề ngoài là ngân hàng được chọn cấp vốn cho dự án liên doanh với Petrozamora, trong đó Gazprombank nắm giữ 40% và PDVSA nắm 60% còn lại. Một cuộc điều tra kéo dài một năm trời được tiến hành bởi trang mạng Infodio vốn tập trung vào Venezuela tiết lộ hàng trăm triệu USD đã bị “đánh tráo” giữa Gazprombank và PDVSA thông qua một dự án liên doanh với một thực thể Venezuela có tên gọi Hiệp hội Derwick.

Derwick và Gazprombank là đối tác của Petrozamora, mặc dù sự tham gia của Derwick rất mờ nhạt. Tháng 11/2013, Gazprombank đã trực tiếp cho dự án này vay 1 tỷ USD, trả cho dầu mỏ trước khi được vận chuyển, theo một cấu trúc được gọi là khoản vay thanh toán trước. Chỉ 5 năm sau, trang mạng infodio và một trang tin tức của Brazil là Estadão đã phát hiện đó thực ra chỉ là một khoản hối lộ. Theo infodio, các giám đốc của Derwick thu lợi với số tiền gần 800 triệu USD. Đối với Gazprombank, nguồn tin cho biết kế hoạch rửa tiền này phần nào đã thúc đẩy cơ quan điều tiết tài chính Thụy Sĩ FINMA ra quyết định vào tháng 2/2018 về việc cấm Gazprombank tiếp nhận khách hàng tư nhân mới. Nhưng điều này chỉ bắt đầu chạm tới bề nổi của bản chất đáng ngờ trong mối quan hệ giữa Gazprombank và Petrozamora.

Một tài liệu được PDVSA trình lên Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch Mỹ (SEC) trong năm 2016 tiết lộ rằng khoản vay 1 tỷ USD ban đầu được tiếp nối bằng một khoản vay lớn khác chỉ một tháng sau đó. Khoản vay thứ hai, được cấp vào tháng 12/2013, đến từ công ty con GPB Global Resources, một nhánh của Gazprombank. Thông qua GPB, Gazprombank đã cho Petrozamora vay một khoản 250 triệu USD khác và sẽ hoàn trả bằng dầu, với khả năng gia tăng mức trả trước lên 1 tỷ USD. PDVSA báo cáo với SEC rằng tính đến cuối năm 2015, khảon vay của GPB vẫn còn tồn đọng 73 triệu USD. Ngôn ngữ của báo cáo này cho thấy rõ rằng việc tăng thêm các khoản trả trước để mua dầu mỏ được thực hiện trong năm 2015 đã vượt quá 250 triệu USD ban đầu. Sau đó, trong quý III năm 2016, Gazprombank đã bán 83% cổ phần của GPB Global Resources với giá 249,4 triệu USD.

Không rõ bên nào đã mua lại GPB. Nhưng rõ ràng là người trong cuộc đã hưởng lợi; một tài liệu đăng trên trang mạng của GPB trong năm 2017 tiết lộ rằng GPB vẫn hoạt động tại những địa chỉ có liên quan tới Gazprombank ở Amsterdam, Moskva và Venezuela. Gazprombank đã chi 26,945 tỷ ruble, tương đương gần 450 triệu USD, cho Chính phủ Venezuela để xin cấp thêm giấy phép cho GPB chỉ 16 tháng trước khi GPB được bán. Những nỗ lực nhằm che đậy tình trạng của các khoản vay của họ và các bên liên quan đã củng cố mạnh mẽ những xác nhận rằng mối quan hệ giữa Gazprombank và Petrozamora có tham nhũng nặng nề.

Trong khi Infodio lập luận rằng các giám đốc của Derwick đã chuồn đi như những tên trộm, thì việc bán GPB cũng đồng nghĩa với số phận của khoản vay thứ hai sẽ biến mất khỏi sổ sách của Gazprombank. Tuy nhiên, ngay cả sự tham gia của một thực thể nhà nước của Nga cũng không đủ để bảo vệ kế hoạch này. Chính phủ Venezuela đã bắt giữ một số quan chức, trong đó có cựu Bộ trưởng Dầu khí Eulogio del Pino, về tội danh tham nhũng có liên quan đến Petrozamora vào tháng 11/2017. Ngoài các vụ bắt giữ này, lệnh trừng phạt hiếm hoi từ cơ quan điều tiết hoạt động ngân hàng của Thụy Sĩ và việc bán một lượng lớn cổ phần của GPB với mức giá thấp hơn nhiều so với những gì họ từng trả cho một phần tài sản của chính nó đã cho thấy rõ rằng mối quan hệ này không có lợi cho Gazprombank.

Một khía cạnh khác trong quan hệ Nga – Venezuela bị tham nhũng gây ảnh hưởng xấu là giao dịch vũ khí. Các thỏa thuận buôn bán vũ khí từng có giá trị lên tới 1 tỷ USD mỗi năm. Cơn sốt giao dịch ban đầu diễn ra trong giai đoạn 2005 – 2007, khi Điện Kremlin tuyên bố bán số vũ khí trị giá hơn 4,4 tỷ USD cho Caracas. Moskva sau đó tiếp tục cho vay 1 tỷ USD để mua thêm vũ khí vào năm 2008. Trong năm 2009, Chávez tuyên bố Nga tài trợ khoảng 2,2 tỷ USD cho hệ thống tên lửa S-300 và hàng chục xe tăng. Điện Kremlin sau đó nhất trí về một thỏa thuận đổi vũ khí lấy dầu trị giá 4 tỷ USD trong năm 2010.

Đương nhiên, phần lớn kho vũ khí hiện tại của Venezuela hiện có nguồn gốc từ Nga, mặc dù những con số này rõ ràng đã bị thổi phồng quá mức. Dù vậy – hay có lẽ là do đó – cuộc trao đổi này cũng khiến nhiều người trung gian và các quan chức trở nên tương đối giàu có. Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất đã được tiết lộ qua một cuộc điều tra của cơ quan truyền thông Nga RBC vào tháng 8/2018. Các quan chức Nga bị cáo buộc đã ăn bớt hàng triệu USD từ một thỏa thuận trị giá 474 triệu USD để xây dựng Kalashnikov và các nhà máy sản xuất đạn dược có liên quan. Lần đầu được công bố vào năm 2009 với kế hoạch dự kiến mở cửa vào năm 2012, hiện các nhà máy này được cho là sẽ mở cửa hoạt động trong năm 2019, chậm hơn nhiều so với kế hoạch.

Theo trang tin tức Al Navio của Venezuela, doanh số từ năm 2012 đến năm 2015 từ Nga sang Venezuela chỉ đạt trên 1 tỷ USD. Mặc dù con số này vẫn chiếm 66% lượng giao dịch vũ khí của Caracas, nhưng rõ ràng giao dịch này không còn được chào đón. Kể từ năm 2014, Nga không có thương vụ bán vũ khí mới nào cho Venezuela.

Moskva đã thua lỗ trong giao dịch vũ khí với Venezuela, tháng 11/2017 đã nhất trí tái cơ cấu lại các khoản nợ chính thức của Venezuela trị giá khoảng 3,15 tỷ USD. Giới truyền thông nhà nước Nga và Venezuela đã đưa ra các tuyên bố gần giống nhau vào tháng 12/2017 rằng đã hoàn thành việc giao hàng theo các thỏa thuận này. Dường như khó có thể có các giao dịch mới.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần I


Tóm tắt

Tháng 12/2018, Liên bang Nga đã phái hai chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolov-160 vượt nửa vòng trái đất để tới nước Cộng hòa Bolivar Venezuela. Ngày 23/01/2019, Mỹ và một loạt các nước Mỹ Latinh đã công nhận lãnh đạo phe đối lập của Venezuela Juan Guaido à tổng thống lâm thời, một động thái bị Moskva lên án kịch liệt vì Nga ủng hộ chế độ hiện thời của Tổng thống Nicolas Maduro. Những diễn biến này đã châm ngòi cho một loạt dồn dập các tít báo và những tiếng la ó về nguy cơ tái diễn cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba hoặc Venezuela có thể trở thành một Syria thứ hai.

Nhiều người tuyên bố Nga đang chi hàng tỷ USD để thành lập một căn cứ tiền tiêu mới nhằm thúc đẩy các lợi ích địa chính trị của nước, và quả thực, sự hỗ trợ của Nga dành cho Venezuela thực sự mang lại một số lợi ích địa chính trị. Tuy nhiên, sau gần hai thập kỷ quan hệ chặt chẽ, những lợi ích địa chính trị đối với Moskva chỉ dừng lại ở việc tỏ ra bài xích Mỹ và hỗ trợ uy thế của họ với tư cách là một cường quốc toàn cầu.

Một cái nhìn cận cảnh hơn vào quan hệ Nga – Venezuela cho thấy trước tiên và quan trọng nhất, mối quan hệ này hướng đến lợi ích. Mức chi tiêu của Moskva cho Venezuela hiện chỉ bằng một phần so với trước đây, khi các mối quan hệ kinh tế – từ các dự án chung trong lĩnh vực năng lượng, các thỏa thuận mua bán vũ khí, cho tới một ngân hàng phát triển tài chính – đều bị ảnh hưởng bởi nạn tham nhũng và sự sụp đổ của nhà nước. Các hoạt động sôi nổi của Nga gần đây chủ yếu nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng của Venezuela, thay vì củng cố thế mạnh địa chính trị. Thái độ huênh hoang về địa chính trị đã giúp che đậy các nỗ lực kinh tế thất bại của Điện Kremlin cho đến nay. Khi cuộc khủng hoảng ở Venezuela diễn ra, Moskva có khả năng sẽ ưu tiên bảo vệ các lợi ích kinh tế của họ tại Venezuela, đặc biệt là các khoản đầu tư của họ vào ngành dầu mỏ, hơn là các lợi ích địa chính trị.

Kinh tế hay địa chính trị?

Tháng 12/2018, Liên bang Nga đã phái hai chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolov-160 vượt nửa vòng trái đất tới nước Cộng hòa Bolivar Venezuela, châm ngòi cho một loạt tít báo dồn dập và những tiếng la ó về nguy cơ tái diễn cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba. Việc này diễn ra trong bối cảnh những tuyên bố xôn xao rằng Nga đang chi hàng tỷ USD tại Venezuela để  thành lập một căn cứ tiền tiêu mới nhằm thúc đẩy các lợi ích địa chính trị của mình. Tuy nhiên, một cái nhìn cận cảnh hơn vào mối quan hệ này cho thấy khoản chi của Moskva vào Venezuela hiện chỉ bằng một phần so với trước đây, tương tự như các thảo thuận kinh doanh liên quan. Quan hệ song phương Nga – Venezuela trước hết và trên hết là hướng đến lợi ích, và các mối quan tâm địa chính trị có ưu tiên thấp hơn.

Venezuela đang rơi vào một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng và nhức nhối: sản lượng dầu đạt mức thấp nhất trong vòng 50 năm, bị mắc kẹt trong nhiều tranh chấp giữa các nhà đầu tư và bị chặn quyền tiếp cận tới các thị trường tài chính phương Tây. Cuộc khủng hoảng này cũng mang tính chính trị, khi chính phủ phải dùng vũ lực để ngăn phe đối lập nắm quyền bằng cách tước bỏ toàn bộ quyền lực thực tế của Quốc hội sau cuộc bầu cử năm 2017. Hành động này có tác động to lớn đối với đất nước, trung bình một người Venezuela đã sụt 11kg trong năm 2017, đẩy hơn 90% dân số rơi vào tình trạng nghèo đói, và Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR) ước tính 3,3 triệu người Venezuela chạy khỏi quê hưởng kể từ năm 2015 và cảnh báo mỗi ngày có thêm hàng nghìn người cũng gia nhập số này. Các hoạt động sôi nổi gần đây của Nga chủ yếu nhằm bảo vệ các lợi ích kinh tế trong bối cảnh khủng hoảng chưa từng có này, thay vì là một nỗ lực nhằm củng cố sức mạnh địa chính trị của họ. Một lợi ích khác là những nỗ lực kinh tế thất bại cảu Điện Kremlin có thể dễ dàng được che đậy bằng sức mạnh địa chính trị.

Điều này không có nghĩa là sự hỗ trợ của Nga đối với Venezuela không mang lại lợi ích địa chính trị. Caracas đã công nhận nền độc lập của các bang ly khai chịu sự chi phối của Nga tại Gruzia và Venezuela cũng có chung nhiều chỉ trích với Điện Kremlin về trật tự quốc tế. Nhưng sau gần hai thập kỷ quan hệ chặt chẽ, những lợi ích địa chính trị của Moskva gần như rất ít; mối quan hệ với Caracas giúp Moskva tự thể hiện mình là một cường quốc toàn cầu nhưng gần nhưng không làm gì để biến hình ảnh này thành hiện thực. Điện Kremlin đã chú trọng đầu tư vào một loạt dự án kinh tế thay vì địa chính trị, nhưng cuộc khủng hoảng gần đây của Venezuela đồng nghĩa với việc các dự án này cùng lắm cũng chỉ mang lại các lợi ích mờ nhạt.

Khi Hugo Chavez làm Tổng thống Venezuela từ năm 1999 đến năm 2013, quan hệ giữa hai nước đặc biệt có lợi cho Moskva cả về kinh tế lẫn địa chính trị. Moskva có được một đồng minh kiên định ở Mỹ Latinh đồng thời đảm bảo một đối tác giao dịch vũ khí và dầu mỏ. Nga không phải nước duy nhất bị hấp dẫn trước vũ khí của Venezuela – cả Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) cũng cung cấp cho nước này một khoản vay khổng lồ. Ngay cả ngân hàng đầu tư Mỹ Goldman Sachs cũng nổi tiếng là kiếm lời từ mối quan hệ của họ với chính phủ xã hội chủ nghĩa của Venezuela.

Tuy nhiên, nhìn vào các nỗ lực của Nga, ta có thể thấy chiến lược của nước này tại Venezuela đã vấp phải nhiều thách thức – từ các dự án kinh doanh bị nạn tham nhũng quấy nhiễu, các quỹ tài trợ cho các dự án vũ khí đang dần biến mất, cho đến những chậm trễ trong việc thanh toán các khoản vay dầu của Rosneft. Chiến lược của Nga rất có thể sẽ thất bại – và hậu quả đối với Caracas, ngành dầu mỏ của Nga, và chính sách đối ngoại của Nga có thể rất lớn.

Quản lý mối quan hệ Nga – Venezuela

Nhìn bề ngoài, Nga đã phát triển một chính sách sâu rộng đối với Venezuela trong hai thập kỷ vừa qua. Moskva đã bán cho Caracas số vũ khí trị giá hàng tỷ USD, mua lại phần lớn lĩnh vực dầu mỏ của Venezuela, lên kế hoạch thành lập một căn cứ quân sự ở vùng biển Caribean, đầu tư vào các mỏ khai thác vàng của Venezuela và huấn luyện hàng nghìn binh lính Chavista. Hai nước dường như đang xây dựng một liên minh vững mạnh. Tuy nhiên, với nhiều bên tham gia đến thế, việc ra quyết định lại bị hạn chế một cách đáng ngạc nhiên. Thay vì bao gồm một tập hợp các tiếng nói có liên quan – đáng chú ý nhất là từ bộ quốc phòng, bộ tài chính và bộ ngoại giao – thì chính sách của Nga đối với Venezuela chỉ trực thuộc một thể chế, dưới quyền một người duy nhất.

Cốt lõi của mối quan hệ song phương này là những liên kết giữa Rosneft, tập đoàn dầu khí phần lớn thuộc sở hữu nhà nước, và đối tác phía Venezuela của họ là Petroleos de Venezuela (PDVSA). Rosneft đã cho PDVSA vay hơn 6 tỷ USD và đầu tư hàng tỷ USD khác vào các dự án chung. Quan hệ tài chính này chắc chắn đã mang lại cho Rosneft tầm ảnh hưởng lớn trong các sự vụ của Venezuela, nhưng có một người lại có tầm ảnh hưởng rất lớn tại Rosneft, đó chính là vị giám đốc điều hành độc đoán của họ, Igor Sechin. Sechin trở thành giám đốc điều hành của Rosneft vào năm 2012 và nhanh chóng đưa công ty này tham gia nền kinh tế Venezuela. Tuy vậy, ngay cả trước đó, ông đã chỉ đạo chính sách của Nga đối với đồng minh Mỹ Latinh đang phát triển nhanh này.

Ngay từ năm 2008, Sechin, khi đó là người đứng đầu Ủy ban cấp cao liên chính phủ Nga – Venezuela, đã được công nhận là “người quản lý mối quan hệ với Chávez”. Cho đến khi trở thành chủ tịch Rosneft được 4 năm, ông nói ông đã sẵn sàng đầu tư tới 30 tỷ USD vào các dự án chung về dầu khí. Trong năm 2011, ông đã thương thảo và ký kết một thỏa thuận với Bộ trưởng Kế hoạch khi đó của Venezuela là Jorge Giordani để thành lập một ngân hàng phát triển chung, một ý tưởng mà Sechin đề xuất lần đầu vào năm 2009.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Lý do Chính quyền Trump áp đặt biện pháp trừng phạt mới đối với Cuba – Phần cuối


Mỹ tức giận đồng minh?

Giới truyền thông Mỹ cho rằng những biện pháp trừng phạt này có thể dẫn đến hàng trăm nghìn vụ kiện tụng – trong đó 6000 vụ đã được các ủy ban liên quan của Bộ Tư pháp Mỹ xác nhận, giá trị 8 tỷ USD, nó sẽ kéo doanh nghiệp Mỹ và doanh nghiệp nước ngoài vào một trận chiến pháp lý và ngoại giao lâu dài. Hiện vẫn chưa rõ liệu Tòa án Mỹ có thụ lý những vụ án đòi bồi thường tài sản này hay không.

Cũng có quan điểm cho rằng biện pháp trừng phạt này nhằm thẳng vào Cuba, nhưng tấm bia hứng đạn thực sự lại là doanh nghiệp nước ngoài. The New York Times cho rằng nó sẽ khiến mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và châu Âu, Canada một lần nữa rạn nứt vì các doanh nghiệp của những nước này hoạt động tương đối sôi nổi ở Cuba. Đồng thời, đó cũng là Mỹ tự “tát” mình: không ít công ty hàng không và vận tải biển của Mỹ đã ký thỏa thuận thương mại với Cuba. Theo The Wall Street Journal, điều này một lần nữa sẽ mở ra một chiến tuyến mới trong bối cảnh sự rạn nứt kinh tế giữa Mỹ và châu Âu không ngừng mở rộng. Gần đây, các quan chức châu Âu luôn ra sức thuyết phục Mỹ, nhưng đều không đạt được kết quả. Mới đây, các quan chức châu Âu đã ngầm cảnh báo Mỹ rằng làm vậy có thể dẫn đến các quốc gia trong Khu vực đồng euro khởi kiện Mỹ lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đồng thời cũng có thể dẫn đến việc Tòa án châu Âu đưa ra phán quyết trừng phạt kinh tế đối với các công ty của Mỹ.

Trên thực tế, đây không phải là lần đầu tiên Chính quyền Donald Trump buộc châu Âu “thanh toán” theo ý mình. Tháng 5/2018, Mỹ tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran, áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt Tehran. Những động thái này buộc nhiều công ty châu Âu phải hủy bỏ việc kinh doanh với Iran hoặc chấm dứt kế hoạch đầu tư ở Iran.

Tình hình của châu Âu ở Cuba cũng giống như ở Iran. Dưới thời Obama, chính sách của Mỹ và châu Âu đối với Cuba có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau. Tháng 12/2016, châu Âu và Cuba ký khuôn khổ mới về hợp tác kinh tế và thương mại. Sau đó, các “ông lớn” của châu Âu như chuỗi khách sạn của tập đoàn Melia của Tây Ban Nha, công ty năng lượng Total của Pháp… đều công bố quyết định đầu tư hoặc ý định hợp tác của mình. Hiện nay, dưới sự đe dọa bằng “chính sách cứng rắn” của Chính quyền Donald Trump, rất nhiều công ty của châu Âu đã rút lui.

Giới thạo tin cho rằng sau khi điều 3 của Đạo luật Helms-Burton có hiệu lực, do 50 nguyên đơn khởi kiện số tiền lớn nhất đều có tài sản ở Liên minh châu Âu, nên các công ty của châu Âu có thể trở thành mục tiêu đòi bồi thường của họ. Các quan chức châu Âu cho rằng “nếu chuỗi khách sạn của Mỹ khởi kiện chuỗi khách sạn của EU lên Tòa án Mỹ liên quan đến việc buôn lậu tài sản của Mỹ, chuỗi khách sạn của EU có thể đưa ra kháng cáo ở Tòa án châu Âu”. Tuy nhiên, quan chức Chính phủ Mỹ phản bác cho rằng một loạt kháng cáo của EU lên Tòa án châu Âu chắc chắn sẽ thất bại.

Peter Harrell – chuyên gia cao cấp ở Trung tâm an ninh Mỹ mới cho rằng mục tiêu của Chính quyền Donald Trump là thuyết phục các công ty của châu Âu và Canada rút hoạt động kinh doanh ra khỏi Cuba, nên đã tìm biện pháp khác thường để những công ty này chống lại việc kiện tụng của Mỹ.

Ngoài ra có bình luận cho rằng châu Âu sẽ không chịu khuất phục trước sức ép. Một là, châu Âu là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất và đối tác thương mại lớn thứ hai của Cuba; hai là, mối quan hệ hòa dịu với Cuba cũng là một thành quả ngoại giao quan trọng. Liệu châu Âu có dễ dàng từ bỏ chính sách tiếp cận với Cuba? Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Mỹ và châu Âu đã được xác định rõ – Washington dự định tăng thuế hàng hóa nhập khẩu từ châu Âu, đồng thời không hài lòng đối với việc châu Âu cung cấp các khoản trợ cấp cao cho Airbus, tranh chấp liên quan đến vấn đề Cuba sẽ khiến bầu không khí giữa hai bờ Đại Tây Dương càng căng thẳng hơn.

Theo Giang Thời Học, dù các nước khác có nghe theo lời Mỹ hay không, chắc chắn những biện pháp trừng phạt này rốt cuộc sẽ không có lợi đối với Cuba, có một số doanh nghiệp không bị tác động, nhưng một số doanh nghiệp khác có thể bị Mỹ “làm cho khiếp sợ”, không dám làm ăn với Cuba.

“Học thuyết Monroe” quay trở lại?

Thời gian gần đây, Mike Pompeo đã thực hiện ngoại giao con thoi tới 4 nước Nam Mỹ (Chile, Paraguay, Peru, Colombia), dường như ông đang phối hợp với Bolton. Trước đó ông cho biết Chính quyền Donald Trump đang “giúp đỡ nhân dân 3 nước”, hơn nữa sẽ tiếp tục làm như vậy, không những là ở Venezuela mà còn ở Nicaragua và Cuba (tìm kiếm sự thay đổi chế độ).

Có quan điểm cho rằng việc quan chức cấp cao của Mỹ có những phát ngôn như thế này dường như đang báo hiệu sự điều chỉnh lớn về chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh: dự định một lần nữa bắn vào các đối thủ của thời kỳ Chiến tranh Lạnh?

Từ Di Thông nhấn mạnh từ động thái của êkip Donald Trump và tình hình Mỹ Latinh gần đây có thể thấy điều này quả thực có liên quan đến sự điều chỉnh chính sách của Chính quyền Donald Trump đối với Mỹ Latinh, khuynh hướng của “học thuyết Monroe” ngày càng thể hiện rõ.

Nhìn lại lịch sử, Washington luôn có ý đồ thực hiện quyền phát ngôn sau cùng đối với các vấn đề ở Tây Bán cầu. “Học thuyết Monroe” được Tổng thống Mỹ công bố năm 1823 đã mô tả chi tiết chính sách này. Hơn 100 năm sau đó, Mỹ luôn xem Mỹ Latinh là sân sau của mình. Dưới thời Chính quyền Obama (tháng 11/2013), khi đó Ngoại trưởng John Kerry đã nói rằng thời kỳ của “học thuyết Monroe” đã kết thúc, Mỹ sẽ không nỗ lực can dự vào công việc của các quốc gia châu Mỹ khác.

Nhưng êkip Donald Trump rõ ràng không bận tâm. Tháng trước Bolton tuyên bố “trong nhiệm kỳ này, chúng tôi không có ý sử dụng từ “học thuyết Monroe”… xây dựng một bán cầu dân chủ hoàn toàn là mục tiêu bắt đầu theo đuổi từ thời kỳ “Tổng thống Reagan”.

Từ Di Thông cho rằng “học thuyết Monroe” đã có lịch sử gần 200 năm, không phải Chính quyền Obama nói chấm dứt thì sẽ chấm dứt”. Chính quyền Donald Trump tiếp tục lựa chọn nó, vừa có bối cảnh chính sách bên trong, vừa có liên quan đến quan niệm, nhận thức của êkip này. Có thể dự báo trong thời gian tới, thái độ cứng rắn của Mỹ đối với Cuba và các quốc gia tương tự sẽ được tăng cường hơn nữa, nhưng hiệu quả tương đối hạn chế. Phần lớn các nước Mỹ Latinh sẽ không thực sự quan tâm đến chính sách này, nhưng đương nhiên cũng không loại trừ một số nước nhỏ theo đuôi Mỹ.

Giang Thời Học nhấn mạnh chính sách của Donald Trump đối với Mỹ Latinh có tính hai mặt thay đổi và không thay đổi. Mặt không thay đổi là tiếp tục duy trì phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Mỹ ở Mỹ Latinh. Mặt thay đổi là mối quan hệ giữa Mỹ với các nước như Mexico, Cuba, Venezuela và Brazil… thực chất là Mỹ muốn sử dụng biện pháp mạnh để trấn áp những nước chống lại Mỹ.

William Leo Grande – chuyên gia các vấn đề Mỹ Latinh của Đại học Mỹ đã đưa ra quan điểm: “Có vẻ Mỹ đã trở lại hành trình của thế kỷ XX: Nếu không thích chính phủ của một quốc gia Mỹ Latinh nào thì chúng ta sẽ cho nước đó nếm thử mùi vị của pháo hạm và sự lật đổ của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ”. Tuy nhiên, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Kháng nói “Mỹ Latinh không phải là thuộc địa của một nước nào, cũng không phải là sân sau của một quốc gia nào”.

Nguồn: www.shobserver.com – 17/4/2019

TLTKĐB – 08/05/2019

Lý do Chính quyền Trump áp đặt biện pháp trừng phạt mới đối với Cuba – Phần đầu


Gần đây, Mỹ Latinh dường như đã trở thành điểm nóng trên bàn cờ ngoại giao của Mỹ. Ngày 17/4/2019, Chính quyền Donald Trump công bố lệnh trừng phạt mới nhất đối với Cuba. Cùng ngày, Cố vấn an ninh quốc gia Nhà Trắng John Bolton có bài phát biểu tại Miami về chính sách đối với 3 nước Mỹ Latinh (Cuba, Venezuela và Nicaragua). Dư luận đang đặc biệt quan tâm tới chính sách hòa dịu đối với Cuba của Mỹ từ năm 2015 đến nay sẽ có sự đảo ngược ra sao? Chính quyền Donald Trump muốn thực hiện “cách mạng màu” ở những quốc gia Mỹ Latinh nào?

Cho phép kiện tụng

Ngày 17/4, Chính quyền Donald Trump tuyên bố cho phép công dân Mỹ khởi kiện doanh nghiệp nước ngoài lên tòa án Mỹ. Theo lý giải của giới truyền thông nước ngoài, căn cứ pháp lý của chính sách này là điều 3 của Đạo luật Helms-Burton được Quốc hội Mỹ thông qua năm 1996. Phía Mỹ nhận định sau thắng lợi của cuộc cách mạng năm 1959, Cuba đã tịch thu một lượng lớn tài sản của người Mỹ, sau đó những tài sản này đã thay tên đổi chủ nhiều lần, amng lại lợi ích cho doanh nghiệp Cuba và doanh nghiệp nước ngoài. Do đó, người Mỹ nên yêu cầu những thực thể và cá nhân này bồi thường cho mình.

Năm 1996, sau khi được công bố, đạo luật này đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, châu Âu, Canada và Mexico đều ban hành điều khoản ngoài phạm vi để né tránh, Liên minh châu Âu (EU) còn đe dọa đệ trình đạo luật này lên các tổ chức quốc tế để điều tra. Chính quyền Clinton lúc đó bị ép phải đóng băng điều 3 của đạo luật, các nhiệm kỳ tổng thống sau đó (Bush con, Obama) đều học theo, cứ mỗi 6 tháng xem xét thay đổi miễn trừ một lần.

Ngày 4/3, Chính phủ Mỹ đã xóa bỏ một phần quyền miễn trừ này, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố tăng cường trừng phạt Cuba: cho phép công dân Mỹ khởi kiện và đòi bồi thường đối với khoảng 200 thực thể Cuba nằm trong danh sách đen của Mỹ, đồng thời đe dọa từ nay về sau có thể trừng phạt các công ty nước ngoài có liên quan.

Quan chức Nhà Trắng cho biết Bộ Ngoại giao Mỹ đã tuyên bố hủy bỏ hoàn toàn sự miễn trừ này và có hiệu lực từ ngày 17/4/2019. Theo Reuters, sau ngày 1/5, nhiều công ty và người nước ngoài không hiểu rõ vấn đề này sẽ rơi vào vòng xoáy kiện tụng đòi bồi thường của công dân Mỹ do có quan hệ trao đổi kinh tế và thương mại với Cuba. Một quan chức cấp cao khác của Mỹ tiết lộ rằng dưới thời Donald Trump, Chính phủ Mỹ cũng dự định thực thi điều 4 của Đạo luật Helms-Burton, nghĩa là không cho phép bất cứ công dân quốc gia nào vi phạm lệnh trừng phạt của Mỹ, sử dụng tài sản tịch thu cho mục đích thương mại để nhập cảnh Mỹ.

James Williams – Chủ tịch của Engage Cuba, nhóm vận động hành lang Washington cho rằng đây là một chính sách gạt ra bên lề không chịu sự kiểm nghiệm của luật pháp, đánh dấu một pha “đốt lưới nhà” khác của Chính quyền Donald Trump đối với Cuba.

Là biện pháp trừng phạt mới nhất đối với Cuba?

Từ năm 1996 đến nay, Washington đã phong tỏa tấm thẻ “miễn trừ đòi bồi thường” 23 năm, tại sao bây giờ lại đảo lộn?

Giới truyền thông nước ngoài cho rằng từ cách nói của Nhà Trắng – trừng phạt nhằm vào các hành động vi phạm nhân quyền của Cuba và sự ủng hộ của nước này đối với Chính quyền Maduro của Venezuela – có thể thấy đây là cách trừng phạt mới nhất của Washington trước việc La Habana ủng hộ Maduro. Mỹ nhận định Cuba là chủ đầu tư của dầu thô Venezuela, xuất khẩu dầu thô lại là huyết mạch sống của Chính quyền Maduro. Do đó, Mỹ phải gây sức ép đến cùng để Cuba rút khỏi Venezuela. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cũng từng có phát ngôn tương tự.

Giang Thời Học – Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Mỹ Latinh, Đại học Thượng Hải – cho rằng phải đánh giá động thái này từ hai góc độ. Thứ nhất, nó có liên quan đến chiến lược chính trị của Donald Trump: ông muốn tham gia cuộc tranh cử tổng thống vào năm 2020, bang Florida (đặc biệt là thành phố Miami) có một lượng lớn người Mỹ gốc Cuba chống Fidel Castro và Cuba, Donald Trump muốn được họ ủng hộ thì phải thể hiện thái độ cứng rắn với Cuba. Giáo sư Richard Feinberg, Đại học California, San Diegeo – cho rằng lần trừng phạt này là thắng lợi của các đảng viên đảng Cộng hòa ở bang Florida. Lập trường cứng rắn của Donald Trump đối với Cuba và Venezuela nhận được phản ứng tích cực trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba và Venezuela. Họ là lực lượng bỏ phiếu rất quan trọng trong bầu cử Mỹ, bang Florida nơi họ sinh sống thậm chí được gọi là bang dao động chính trị mà hai đảng phải cạnh tranh.

Thứ hai, Venezuela là một nhân tố quan trọng khác. Giang Thời Học nhấn mạnh: “Hiện nay nhìn lại, tình hình Venezuela không phát triển như kỳ vọng của Mỹ, Donald Trump cho rằng Cuba đã ra sức hỗ trợ Venezuela, do đó ông muốn mang đến cho Cuba một chút sắc màu”. James Williams bình luận: “Điều trớ trêu là sau những nỗ lực trong nhiều năm trở lại đây của Tập đoàn Trump trong việc xây dựng khách sạn và sân golf ở Cuba, Chính quyền Trump lại đưa ra một quyết định cực đoan như vậy”.

Quan hệ trở lại mức thấp nhất?

Bộ Ngoại giao Cuba chỉ trích Mỹ dừng quyết định miễn trừ là “vi phạm luật phá quốc tế”. Chủ tịch Cuba Miguel Diáz-Canel Bermúdez chỉ trích Mỹ làm cho mối quan hệ Mỹ – Cuba quay trở lại mức thấp nhất.

Có bình luận cho rằng biện pháp trừng phạt mới nhất đánh dấu chính sách của Mỹ đối với Cuba đã xuất hiện sự đảo ngược lớn kể từ khi khôi phục quan hệ ngoại giao năm 2015. Trước đây, Chính quyền Barack Obama cho rằng lệnh cấm vận và cô lập kéo dài 60 năm đã thất bại, đã đến lúc thử áp dụng biện pháp khác. Tuy nhiên, Donald Trump luôn chỉ trích sự quá ngây thơ của chính quyền tiền nhiệm đối với Cuba.

Giang Thời Học nhấn mạnh “trên thực tế, năm 2018 chính sách của Donald Trump đối với Cuba đã có sự thay đổi rõ ràng”, ông từng phát biểu công khai ở bang Florida rằng không tán thành chính sách hòa dịu của Obama đối với Cuba.

Từ Di Thông – nguyên đại sứ Trung Quốc ở Cuba cho rằng “do những vướng mắc trong lịch sử, quan hệ Mỹ – Cuba tương đối căng thẳng”. Năm 1961 hai nước cắt đứt quan hệ ngoại giao, năm 1962 Mỹ thực hiện phong tỏa kinh tế, tài chính và cấm vận thương mại đối với Cuba. Hơn nửa thế kỷ sau, cho đến dưới thời Obama, quan hệ hai nước mới đón nhận sự khởi sắc.

Mặc dù Mỹ và Cuba đã khôi phục quan hệ ngoại giao, nhưng chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản. Quốc hội Mỹ chưa từng dỡ bỏ sự phong tỏa đối với Cuba. Kể từ năm 2017 tới nay, Chính quyền Donald Trump đã có thái độ phủ định hoàn toàn đối với chính quyền tiền nhiệm, từng bước thắt chặt chính sách đối với Cuba. Trong đó hai chính sách mấu chốt nhất chính là phong tỏa thương mại và hạn chế du lịch. Mặc dù Liên hợp quốc từng đưa ra nhiều nghị quyết kêu gọi Mỹ nới lỏng các biện pháp trừng phạt Cuba nhưng Mỹ luôn ngoan cố không thay đổi. Hiện nay Mỹ còn tăng cường trừng phạt Cuba, trong ngắn hạn quan hệ hai nước sẽ căng thẳng hơn. Tuy nhiên Chính phủ Cuba đã sớm “đi guốc trong buộc” đối với âm mưu lật đổ chính quyền của Mỹ và tiếp tục đi theo con đường của mình, sẽ không bị ảnh hưởng quá nhiều bởi sự gây rối từ các chính sách của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.shobserver.com – 17/4/2019

TLTKĐB – 08/05/2019

Các nước có lợi ích liên quan đến Venezuela điều chỉnh chiến lược


Tóm tắt

+ Nghi ngờ các sĩ quan quân đội Venezuela ủng hộ cuộc nổi dậy do phe đối lập dẫn dắt, Mỹ sẽ theo đuổi các biện pháp trừng phạt kinh tế nghiêm ngặt hơn đối với Venezuela như là chiến lược chính của họ nhằm ép buộc Tổng thống Nicolas Maduro phải từ chức.

+ Washington cũng có thể tìm cách tranh thủ sự trợ giúp của Colombia và Brazil để can thiệp trực tiếp vào Venezuela; tuy nhiên, hai nước này sẽ không muốn làm vậy vì lo ngại phản ứng dữ dội của giới chính trị và sự trả đũa của những kẻ nổi dậy ủng hộ Maduro.

+ Để ngăn cản Cuba ủng hộ Chính quyền Maduro, Mỹ cũng sẽ tăng cường sức ép đối với La Habana thông qua các biện pháp trừng phạt, nhưng khả năng là Chính phủ Cuba sẽ không nhượng bộ vì nước này phụ thuộc vào nguồn dầu thô của Venezuela.

+ Nga sẽ tập trung tăng cường sự hiện diện quân sự của mình ở Venezuela – tạo ra chỗ đứng chiến lược tại sân sau của Washington trong khi cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc đang diễn ra.

Sau cuộc nổi dậy không thành công của phe đối lập hôm 30/4 vừa qua, các quốc gia bên ngoài có lợi ích đáng kể phụ thuộc vào tương lai nền chính trị ở Venezuela như Mỹ, Colombia, Brazil, Nga, Trung Quốc và Cuba gần như chắc chắn đã bắt đầu điều chỉnh chiến lược của mình. Ba nước đầu tiên (Mỹ, Colombia, Brazil) vẫn là nhóm cốt lõi hậu thuẫn nhà lãnh đạo phe đối lập Juan Guaido lật đổ Maduro; tuy nhiên, Mỹ đóng vai trò chủ động hơn rất nhiều so với hai nước kia. Nhóm ba nước còn lại gồm Nga, Trung Quốc và Cuba có lý do để duy trì quyền lực của Maduro, hay một nhà lãnh đạo dễ phục tùng nào khác. Đối với Nga, đó là giành được một vị trí quân sự sân sau của Mỹ giữa lúc cuộc canh tranh giữa 2 nước lớn đang tiếp diễn; đối với Cuba, đó là duy trì nguồn cung cấp dầu thô và khí đốt từ Venezuela; đối với Trung Quốc, đó là đảm bảo Caracas thanh toán đầy đủ các khoản nợ khổng lồ của họ.

Những nước có lợi ích ở Venezuela này sẽ thúc đẩy việc thực hiện tầm nhìn của riêng họ đối với Caracas trong thời gian tới. Tuy nhiên, nỗ lực nổi dậy không thành của phe đối lập đã khiến cho việc thay đổi chế độ một cách nhanh chóng trở nên khó khăn hơn. Chính vì vậy, những nước có lợi ích ở Venezuela, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, nên chuẩn bị tinh thần đối phó với một loạt biện pháp trừng phạt mới của Mỹ vì Mỹ nóng lòng muốn thấy quân đội của Maduro phải quay lưng lại với ông. Tuy nhiên, nếu như những gì xảy ra trong thời gian vừa qua minh chứng cho một điều gì thì đó là các biện pháp trừng phạt của Mỹ chưa phát huy hiệu quả trong việc khiến các lực lượng vũ trang này đứng về phe đối lập và chính điều này đã làm tăng khả năng Maduro tiếp tục nắm quyền ở Venezuela.

Các đồng minh của Guaido: Mỹ, Colombia và Brazil

Nếu Guaido thất bại trong nỗ lực giành quyền kiểm soát thì Chính quyền Maduro sẽ bắt đầu thẳng tay đàn áp các đồng minh chính trị của ông trong giới quân sự. Những người bất đồng quan điểm sẽ bị hất ra khỏi vị trí quyền lực của họ và, trong một số trường hợp nhất định, sẽ bị bỏ tù hoặc giám sát chặt chẽ. Tới lúc đó, Mỹ hầu như không có khả năng tác động từ bên trong Venezuela để buộc Maduro phải nhanh chóng ra đi.

Để tăng khả năng các sĩ quan quân đội quay ra chống lại Maduro sau vụ nổi dậy không thành, Washington sẽ một nữa gia tăng sức ép kinh tế đối với Caracas, điều có thể được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng thông qua Bộ Tài chính Mỹ. Bằng việc làm như vậy, Mỹ hy vọng bóp nghẹt nguồn doanh thu đáng kể duy nhất từ xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela. Đây gần như chắc chắn sẽ là biện pháp trừng phạt bổ sung nhằm vào các công ty quốc tế hiện đang có giao dịch tài chính với ngành năng lượng Venezuela.

Tuy nhiên, thiệt hại thực sự của ngành năng lượng Venezuela phụ thuộc chủ yếu vào việc Mỹ sử dụng các biện pháp trừng phạt kiểu gì và triển khai chúng với tốc độ ra sao. Ví dụ, Mỹ có thể hạn chế bán hóa chất dùng để pha loãng dầu mỏ cho Venezuela, góp phần làm giảm hơn nữa sản lượng dầu mỏ của Venezuela. Washington cũng có thể đe dọa trừng phạt các nhà máy nhận lọc dầu cho Venezuela, chẳng hạn như công ty Reliance của Ấn Độ, nếu họ không chịu giảm hoặc ngừng nhập dầu mỏ của Venezuela.

Những giải pháp trực tiếp nhằm làm suy yếu hoặc lật đổ Maduro giờ đây sẽ khó thực hiện hơn nhiều. Việc đàn áp các lực lượng an ninh và cả phe đối lập theo sự chỉ đạo của Maduro sẽ khiến Mỹ mất đi những lực lượng cần thiết để tạo ra sự thay đổi chính trị ở Venezuela. Giải pháp can thiệp quân sự nhằm trực tiếp lật đổ Maduro cũng không còn khả thi tại thời điểm này, vì nó sẽ phức tạp về mặt logistics, tốn kém và hầu như không mang lại lợi ích trực tiếp cho Mỹ. Tuy nhiên, Nhà Trắng nhìn chung vẫn chưa loại trừ khả năng này bởi giải pháp đó có tác dụng răn đe đối với Caracas.

Mỹ cũng có thể tìm cách can thiệp gián tiếp bằng việc tổ chức và tài trợ cho các lực lượng của Colombia và Brazil để tiến hành các cuộc tấn công chớp nhoáng vào nước láng giềng Venezuela. Tuy nhiên, hai nước này sẽ không sốt sắng làm vậy vì lo ngại phản ứng dữ dội của cử tri trong nước hoặc Chính phủ Venezuela. Colombia và Brazil là hai nước trong khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế ở Venezuela. Tuy nhiên, khả năng hai nước này trực tiếp thay đổi chế độ ở Venezuela là rất hạn chế. Mặc dù tổng thống của cả hai nước đều công khai lên tiếng ủng hộ sự thay đổi chính quyền ở Venezuela, nhưng mong muốn của họ về việc chuyển giao quyền lực không dễ gì biến thành hành động.

Với Colombia, việc tiến hành các động thái đe dọa trực tiếp hơn nữa Chính phủ Venezuela, chẳng hạn như chứa chấp các lực lượng du kích bất đồng chính kiến với chính phủ có thể vấp phải sự trả đũa của các đồng minh chính trị của Maduro trong lực lượng quân giải phóng quốc gia, dưới hình thức gia tăng các cuộc tấn công vào các cơ sở hạ tầng dầu mỏ ở chính nước này.

Trong khi đó, ở Brazil, sự bất đồng về chính sách đối ngoại giữa Tổng thống Bolsonaro và các quan chức có tư tưởng ôn hòa hơn như Phó Tổng thống Hamilton Maourao sẽ tiếp tục khiến Brazil  không thể đưa ra lập trường cứng rắn can thiệp nhiều hơn đối với Venezuela. Như vậy, với cả hai nước đồng minh này của Mỹ, cái giá phải trả nếu can thiệp sâu hơn vào tình hình Venezuela sẽ lớn hơn nhiều so với những lợi ích nhận được. Vì vậy, vai trò của họ trong cuộc khủng hoảng Venezuela sẽ tiếp tục mang tính bị động hơn là chủ động, nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi chứ không phải xúi bẩy Mỹ nỗ lực lật đổ Maduro.

Các đồng minh của Maduro: Nga và Cuba

Sau thất bại của cuộc nổi dậy, những hạn chế của Washington và hai đồng minh hàng đầu của họ rõ ràng sẽ mang lại lợi thế cho Nga và Cuba, hai nước bên ngoài dính líu nhiều nhất đến việc duy trì quyền lực của Maduro. Vì Cuba là đối tác an ninh chủ chốt của Venezuela, nên Chính quyền Trump sẽ tìm cách gây sức ép buộc La Habana phải ngừng hỗ trợ Chính quyền Maduro bằng việc đe dọa áp dụng các biện pháp trừng phạt nặng nề hơn. Chẳng hạn như Mỹ có thể thu hồi sắc lệnh hành pháp năm 2014 cho phép có thêm nhiều công dân Mỹ du lịch tới Cuba, nhờ đó thúc đẩy ngành du lịch của nước này. Tuy nhiên, một cách tiếp cận như vậy không thể mang lại kết quả nhanh chóng.

Sở dĩ Cuba quan tâm đến Venezuela chủ yếu là do đòi hỏi cấp thiết phải duy trì sự tồn tại của Chính quyền Maduro. Các nhà máy điện và các phương tiện đi lại ở La Habana chạy bằng dầu lửa và chất đốt do Caracas cung cấp. Cuba cũng nhập khẩu các sản phẩm tinh chế như xăng và dầu diesel từ quốc gia Nam Mỹ này. Nếu đồng ý với Mỹ cắt đứt nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu này, rồi đàm phán để giảm bớt sự hậu thuẫn với Caracas, thì Cuba sẽ lại có thể phải nhượng bộ thêm những yêu cầu không mong muốn khác từ phía Washington, chẳng hạn như từng bước tiến hành các cuộc bầu cử tự do. Kết quả là Chính phủ Cuba hầu như sẽ không có động lực để thay đổi phương hướng hành động trước mắt của họ đối với Venezuela, cho dù điều đó có nghĩa là phải đối mặt với nhiều biện pháp trừng phạt mới của Mỹ.

Trong khi đó, Nga sẽ nắm lấy cơ hội mà cuộc nổi dậy bất thành của phe đối lập tạo ra để củng cố lại vị trí của mình ở Venezuela, có lẽ bằng việc nỗ lực tư vấn cho Chính phủ Venezuela và cải thiện khả năng của các lực lượng quân sự và an ninh ở đây bất cứ khi nào có thể. Ngoài sự hiện diện của mình trong ngành năng lượng của Venezuela, yếu tố then chốt khiến Nga nỗ lực duy trì sự tồn tại của Chính quyền Maduro vẫn là cuộc cạnh tranh đang tiếp diễn giữa Nga và Mỹ. Như đã từng làm ở Syria và Ukraine, Chính phủ Nga sẽ tìm cách đẩy lùi những nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Mỹ bằng cách gia tăng sự hiện diện quân sự của họ ở Venezuela. Moskva có rất nhiều lựa chọn để làm được như vậy, kể cả việc gia tăng sự hiện diện của các phái đoàn hợp tác quân sự và bố trì gần như thường trực các máy bay ném bom chiến lược ở Venezuela. Những động thái này sẽ giúp Moskva xác lập được vị trí quân sự, dù còn hạn chế, gần lục địa nước Mỹ. Điều này sẽ buộc Washington phải chuyển sự chú ý và các nguồn lực của mình từ Nga sang mối đe dọa mới đang xuất hiện ở sân sau của chính họ.

Trung gian: Trung Quốc

Trung Quốc cũng có lợi ích nhất định trong tương lai chính trị ở Venezuela. Tuy nhiên, không giống Cuba và Nga, lợi ích của Trung Quốc ở Venezuela không phụ thuộc vào sự tồn tại của chế độ hay cuộc cạnh tranh địa chính trị. Khi nhắc đến Venezuela, mối quan tâm chính của Bắc Kinh là tái cơ cấu nợ của nước này để đảm bảo rằng bất kỳ chính quyền tương lai nào, bất kể ai là lãnh đạo, cũng sẽ thanh toán khoản tiền 23 tỷ USD mà Caracas đang nợ Trung Quốc.

Chính quyền non trẻ của phe đối lập vì lo sợ bị Trung Quốc – vừa là khách hàng vừa là nhà tài trợ củ Venezuela, xa lánh mà chắc chắn cũng sẽ chiều theo yêu cầu của Trung Quốc về việc tái cơ cấu nợ. Trung Quốc gần đây đã cử đại diện tới gặp các quan chức của Guaido, có lẽ để thảo luận về việc tái cơ cấu nợ dưới quyền của chính phủ đối lập. Tuy nhiên, nếu phe đối lập ít có khả năng lên cầm quyền thì Trung Quốc sẽ nóng lòng muốn thảo luận vấn đề đó với Chính quyền Maduro để bảo vệ các lợi ích cốt lõi của mình.

Đương nhiên vẫn có khả năng các chỉ huy quân đội ủng hộ nỗ lực nổi dậy vừa qua của Guaido sẽ tham gia một cuộc lật đổ khác, nhưng khả năng đó là không chắc chắn. Và việc Guaido không có được sự ủng hộ cần thiết của giới quân sự cho kế hoạch nổi dậy của ông cho thấy các quan chức cấp cao của Venezuela vẫn chưa sẵn sàng ủng hộ các nỗ lực của phe đối lập, khiến Mỹ hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục dựa vào các biện pháp trừng phạt kinh tế để thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Venezuela.

Nguồn: Stratfor – 03/05/2019

TLTKĐB – 09/05/2019