NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần cuối


Kết quả chắc chắn sẽ mang đến nhiều xáo trộn mới về kinh tế và lao động ở Mexico, và nếu kết hợp với một tổng thống Mexico mới vốn đã chỉ trích Mỹ, thì quan hệ song phương có khả năng sẽ gặp nhiều rắc rối hơn bất kỳ thời điểm nào trong những thập kỷ gần đây. Nó sẽ đi ngược lại bố cảnh gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn, vốn từ lâu đã được Mỹ coi là một điều kiện gần như vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự thay đổi nào về tình trạng biên giới đó cũng được xem như là một mục tiêu cơ hội rất hấp dẫn cho các đối thủ của Mỹ, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đúng như ông đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, ông chắc chắn coi một vùng biên giới phía Nam của Mỹ bất ngờ rơi vào tình trạng hỗn loạn như là một món quà bất ngờ đối với Moskva. Lý do cốt lõi xuất phát từ hiểu biết của ban lãnh đạo Nga rằng trong mối quan hệ cạnh tranh của họ với Mỹ, Nga không thể đọ được với Mỹ trong bất kỹ lĩnh vực nào khác ngoài quân sự. Kết quả là một nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại Nga, như trong thời đại Xô viết, là thu hẹp và giảm đến mức thấp nhất mọi biểu hiện cho thấy sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ – nhằm “hạ thấp tầm quan trọng của Mỹ”.

Trong những năm trước, mục tiêu đó được phản ánh trong các nỗ lực của Liên Xô nhằm mục đích nhấn mạnh và lợi dụng những khuyết điểm và nỗi đau trong xã hội và nền chính trị Mỹ, nổi bật nhất là bằng việc nhấn mạnh các điều luật Jim Crow (gồm các quy định hà khắc đối với người da đen – ND) và hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đen. Trong hoàn cảnh đã thay đổi và khác biệt hiện nay, Moskva chú trọng vào việc làm suy yếu sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với hệ thống chính trị của nước này, chẳng hạn như thúc đẩy quan điểm cho rằng các cuộc bầu cử của Mỹ là “gian lận”. Yếu tố phổ biến và trung tâm trong cách tiếp cận này là để Nga khẳng định sự tương đương về mặt đạo đức với Mỹ, cụ thể là đưa ra ý kiến cho các rằng các giá trị và thông lệ của Mỹ và phương Tây không tốt đẹp hơn các giá trị và thông lệ của Nga. Với những người Nga vốn có giao thiệp với phương Tây thì đ1o là một chiến thuật phổ biến, như John F. Kennedy đã hoang mang khi nhận thấy trong cuộc gặp đầu tiên của ông với Khrushev. Chính Putin cũng đã thể hiện một cách chính xác phương pháp này vào năm 2013 khi được một phóng viên Anh hỏi về cảm nhận của mình về Stalin và những tội ác của ông ta. Như Nikita Petrov gần đây đã viết trên tờ Foreign Affairs, “Putin đáp lại: ‘Cromwell thì có gì tốt đẹp hơn?’”.

Cách đối đáp đầy kinh nghiệm đó phản ánh một sự hiểu biết rõ về lịch sử của Mỹ và phương Tây, điều hữu ích hơn hẳn các chiến thuật tranh luận của Nga. Nó phản ánh nhận thức rằng trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ – Mexico vốn đã bị tổn hại bởi các vấn đề thương mại và biên giới, sự sụp đổ của NAFTA sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu mà một lần nữa sẽ dễ bị lợi dụng. Tính dễ bị tổn thương mới có này sẽ đại diện cho một sự thay đổi về tình trạng: từ một vùng biên giới phía Nam trước đó vốn yên ổn trong nhiều thập kỷ thành một khu vực mà sẽ đòi hỏi tối thiểu một sự chuyển hướng và tái phân phối các nguồn lực an ninh quốc gia của Mỹ, và nhiều hơn thế nếu các mối quan hệ trở nên tồi tệ thêm.

Dĩ nhiên, khu vực biên giới phía Bắc của Mỹ với Canada chưa bị hỗn loạn ở mức độ gần như tương tự với khu vực phía Nam, và có một lịch sử rất khác và thuận lợi hơn. Nhưng vấn đề NAFTA thật sự đã khiến cho mối quan hệ Mỹ – Canada bị xáo trộn hơn bao giờ hết trong những năm gần đây, và trong một trường hợp gần đây, Canada đã lựa chọn một chính sách chủ yếu được biện minh bởi sự cần thiết phải tránh làm cho mối quan hệ với Washington trở nên tồi tệ thêm nữa. Điều đó xảy ra vào tháng 12/2017, khi nhiều người biết rằng Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu với kết quả 128 phiếu thuận và 9 phiếu chống nhằm chỉ trích quyết định của Washington công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Điều rất bất ngờ là Canada không gia nhập đa số gồm 128 nước – bao gồm hầu hết các đồng minh của Mỹ trong Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – đã bỏ phiếu chống lại Mỹ. Thay vào đó, Canada đã bỏ phiếu trắng, và lời giải thích được đưa ra công khai là với những mối quan hệ vốn đã quá căng thẳng do vấn đề NAFTA, Thủ tướng Trudeau muốn né tránh bất kỳ điều gì mà sẽ làm cho Tổng thống Trump thất vọng hơn nữa. Ngay dù vậy, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland dường như bị thuyết phục rằng các cuộc đàm phán NAFTA hiện nay sẽ thất bại, và Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận này. Khi đó, Canada sẽ đẩy nhanh các bước để mở rộng các thị trường xuất khẩu của họ vượt ra ngoài Mỹ, nới lỏng các mối quan hệ mà trong 1/4 thế kỷ qua đã trở nên thân thiết hơn bao giờ hết.

Ít nhất có 1 vấn đề khác có tiềm năng làm cho mối quan hệ Mỹ – Canada trở nên tồi tệ thêm và do đó được coi là một mục tiêu cơ hội có lợi cho đối thủ của Mỹ. Nó xuất phát từ sự kết hợp giữa chế độ liên bang đôi khi hỗn loạn của Canada và lịch sử phong trào độc lập Quebec của nước này. Đây là một chủ đề đặc biệt có liên quan trong kỷ nguyên của chủ nghĩa ly khai mang màu sắc dân túy và chủ nghĩa dân tộc được khôi phục hiện nay, thường bắt nguồn từ những sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (như ở Quebec). Vấn đề này bắt đầu được chú ý vào cuối những năm 1960, khi Quebec ngày càng trở thành nơi diễn ra phong trào ly khai sôi động. Khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đến thăm Montreal vào năm 1967 và được nhiều người biết đến là đã hô to “Quebec tự do muôn năm”, đám đông đã reo hò tán thành và phong trào độc lập của Quebec được phục hưng. Tuy nhiên, phản ứng của Chính phủ Canada là ngay lập tức phủ nhận, vì một Quebec độc lập, tỉnh lớn nhất Canada về diện tích và đứng thứ hai về dân số, làm dấy lên nỗi ám ảnh về một đất nước bị chia rẽ hoàn toàn. Không ngạc nhiên, chuyến thăm của De Gaulle đã nhanh chóng bị rút ngắn và quan hệ với Pháp đã bị tổn hại trong một vài năm.

Hiện nay, phong trào ly khai của Quebec đã yên ắng, nhưng tro tàn của nó thì chưa biến mất; như gần đây đối với Chính quyền Clinton vào giữa những năm 1990, chúng là nguyên nhân dẫn đến những quan ngại về chính sách đối ngoại của Mỹ. Như trong trường hợp biên giới của Mỹ với Mexico, và trong bối cảnh quan hệ căng thẳng hiện nay của Canada với Mỹ liên quan đến NAFTA, những ký ức đó là một điểm yếu tiềm tàng trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà dễ bị lợi dụng. Nếu điều đó dường như không có khả năng xảy ra, thì hãy nhắc lại việc Nga gần đây đã – và trong một số trường hợp là đang – tiến hành đưa thông tin sai lệch và các hoạt động có liên quan đến tình hình nội chính của Pháp, Anh và Đức, mà không đề cập đến Phần Lan, Estonia, Gruzia và Ukraine. Những hành động đó của Nga là đề tài của một báo cáo của Ủy ban đối ngoại Thượng viện dài 200 trang vừa được công bố, có tựa đề “Cuộc tấn công bất cân xứng của Putin vào nền dân chủ ở Nga và châu Âu”.

19 quốc gia mà báo cáo này bao trùm không mở rộng sang bán cầu Tây, nhưng nếu các hành động chính thức của Mỹ khiến NAFTA sụp đổ, như nhiều người lo sợ, thì các tàn tích đau thương ở những vùng biên giới phía Nam và phía Bắc của Mỹ hiện đang âm ỉ sẽ lại bùng cháy do các phương pháp tương tự của Nga. Gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn vốn được coi là điều đương nhiên sẽ trở thành các vùng biên giới một lần nữa dễ có khả năng phải chịu sự phá hoại khéo léo của một đối thủ được chứng minh là có năng lực và cam kết làm suy yếu Mỹ. Hậu quả đối với an ninh quốc gia đó hoàn toàn chưa tính đến những tổn thất lớn về kinh tế mà nó sẽ đem lại cho người nông dân và người lao động trong ngành công nghiệp ô tô của Mỹ, cũng như thiệt hại nó có thể mang đến cho chính đảng của tổng thống. Từ quan điểm hoàn toàn mang tính phe phái đó, như Karl Rove gần đây đã viết, “việc hủy bỏ NAFTA sẽ gây tổn hại cho các thành viên đảng Cộng hòa ở các bang nông nghiệp, sản xuất ô tô và gần biên giới… Ngài Tổng thống, điều này là không đáng”.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Advertisements

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần đầu


Bernard K. Gordon

Sự sụp đổ của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu một lần nữa dễ bị khai thác.

Tháng 4/2005, Vladimir Putin được nhiều người biết đến là mô tả sự tan rã của Liên Xô vừ là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, vừa là một “bi kịch” đối với Nga. Đối với người Mỹ trong thế kỷ này, một thảm họa có quy mô thậm chí còn lớn hơn đang hình thành: sự chấm dứt vị thế độc tôn của Mỹ là nước lớn duy nhất có biên giới yên ổn. Không một nước lớn nào khác ở bất kỳ đâu được hưởng hay đã được hưởng sự xa xỉ đó. Ở châu Âu, Pháp, Đức, Nga, Anh và các nước khác đều đã phải sống chung với các nước thù địch ở biên giới của họ, đôi khi nổ ra xung đột công khai. Điều tương tự đang diễn ra ở Nam Á hiện nay, nơi người ta biết rõ về thái độ thù địch lẫn nhau giữa Ấn Độ và Pakistan, thêm vào đó là sự kình địch ngày càng gia tăng của Ấn Độ với nước láng giềng Trung Quốc. Và điều đó đương nhiên cũng diễn ra ở Đông Á, nơi sự thù địch lâu dài và sâu sắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản chỉ là một trong nhiều ví dụ về những khu vực biên giới đáng lo ngại mà hai nước này phải đối mặt. Đối với Nhật Bản, biên giới phía Bắc với Nga từ lâu đã là một vấn đề gây bất đồng hiện vẫn tiếp diễn, và Trung Quốc có hơn một chục khu vực biên giới, bao gồm một vài nơi mà trong những năm gần đây đã dẫn tới xung đột vũ trang.

Trải nghiệm của Mỹ thì hoàn toàn khác biệt. Nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, vớ đại dương ở cả hai phía, Mỹ đã truyền đi một hình ảnh cũng như một thực tế rất đáng thèm muốn. Với một Canada dân cư thưa thớt ở phía Bắc và một nền kinh tế Mexico thường phải vật lộn ở phía Nam, sự kết hợp giữa diện tích rộng bằng cả lục địa, dân số lớn và một nền kinh tế sôi động của Mỹ đồng nghĩa với việc hầu như không có mối lo ngại nào ở những vùng biên giới. Điều này đã làm gia tăng đáng kể sức mạnh địa chính trị của nước này, và trong ngữ cảnh là bài viết về “cường quốc đang trỗi dậy”, so sánh cường quốc lâu đời là Mỹ với cường quốc đang trỗi dậy là Trung Quốc, Joseph Nye thuộc Đại học Harvard gần đây đã viết rằng vị trí địa lý có lợi cho Mỹ vì nước này có các nước láng giềng “có khả năng vẫn thân thiện”.

Nhưng giờ đây tình thế đã thay đổi. Khả năng NAFTA sụp đổ đã làm thay đổi tình trạng biên giới yên ổn lâu dài đó. Không có thay đổi đột ngột nào sắp diễn ra, nhưng đồng thời, điều mà Mỹ từ lâu đã coi là đương nhiên không còn có thể được thừa nhận một cách chắc chắn như trước nữa. Lý do là quan hệ của cả Mexico lẫn Canada với Mỹ đã trở nên rất bất ổn, đáng chú ý là vì một lập trường mới và chính thức của Mỹ về thương mại đối với cả 2 nước láng giềng này. Theo quan điểm mới này, cả Mexcio lẫn Canada hầu như đều không có ảnh hưởng đòn bẩy trong thương lượng và Washington về cơ bản có thể định hình mối quan hệ. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross là rõ nhất về điều này. Vào tháng 12/2017, ông nói rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ “gây tổn hại đến nền kinh tế Mexico” và là một “vấn đề lớn đối với Canada”. Điều đó là đúng: Cả 2 nước này đều phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ nhiều hơn là theo chiều ngược lại, điều đã khiến Ross dự đoán rằng 2 nước sẽ “bắt đầu suy nghĩ thấu đáo và đưa ra một thỏa thuận hợp lý”.

Tình hình khó mà được như vậy. 5 vòng đàm phán NAFTA trong năm 2017 phản ánh cả một thực tế thương mại khác biệt lẫn một môi trường chính trị đã thay đổi. Về các vấn đề thương mại, Canada và Mexico đã nhanh chóng hành động để mở rộng các mối quan hệ của họ vượt ra ngoài Mỹ, cụ thể là tới châu Âu và Trung Quốc, nhưng hậu quả rõ ràng nhất là ở thực tế chính trị đã thay đổi rõ rệt của Mexico. Mexico sẽ tổ chức tổng tuyển cử và bầu cử tổng thống vào tháng 7/2018, và, lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, một ứng cử viên bài Mỹ công khai là ông López Obrador có khả năng chiến thắng. Là cựu Thị trưởng Mexico City, ông từng ra ứng cử 2 lần và thua với kết quả rất suýt soát trong lần thứ 2. López Obrador nổi tiếng là một nhà cải cách chống tham nhũng cũng như một người chỉ trích mạnh mẽ nước Mỹ, và các cuộc thăm dò gần đây cho thấy ông dẫn trước các đối thủ của mình từ 5% – 20%.

Nhiều điểm yếu của ban lãnh đạo hiện tại của Mexico đã giúp ông trở thành ứng cử viên, nhưng có 2 thành tố chính liên quan đến Mỹ giải thích cho sự vươn lên vững chắc của ông. Một mặt là lập trường cứng rắn của Đại diện thương mại Mỹ Lighthizer và Bộ trưởng Thương mại Mỹ Ross trong các cuộc đàm phán NAFTA; mặt khác là những sự chỉ trích gay gắt đối với Mexico và người dân Mexico thường được bày tỏ trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Donald Trump. Việc ông mô tả người Mexico là những kẻ cưỡng hiếp và buôn bán ma túy đã làm sống lại tư tưởng bài Mỹ vốn âm ỉ nhưng đã có từ lâu ở Mexico. Tư tưởng đó đã giảm bớt trong những năm kể từ khi có NAFTA, và những sự cải thiện mà nó đã giúp mang lại cho nền kinh tế Mexico, nhưng tư tưởng đó vốn ăn sâu bám rễ và bắt nguồn từ thất bại của Mexico trong cuộc chiến tranh 1847 – 1848 với Mỹ. Cuộc chiến đó đã khiến Mexico phải nhượng cho Mỹ một nửa lãnh thổ của mình, một vùng rộng lớn mà giờ đây là Utah, Nevada và California, toàn bộ New Mexico và nhiều vùng ở Arizona, Colorado và Wyoming. Những ký ức về thất bại đó khó có thể mất đi, như Hạ nghị sĩ bang Texas Henry Cuellar gần đây đã nhắc lại trước cử tọa ở Washington, và trong khi hầu như không có người Mỹ nào nhớ được nhiều đều về James K. Polk, tổng thống Mỹ khi đó, thì chỉ có Donald Trump mới cạnh tranh được với Polk về mức độ bị phản đối ở Mexico hiện nay.

Đó là điều đặc biệt không may vì khả năng chiến thắng của López Obrador vào tháng 7 cần được nhìn nhận trong bối cảnh ảnh hưởng của việc NAFTA sụp đổ đối với chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Mỹ – ngoài thiệt hại mà nó gây ra cho nền kinh tế Mỹ. Đó không phải là trọng tâm chính ở đây, nhưng có một vài con số đang gợi lại. Chỉ trong ngành nông nghiệp, Canada và Mexico đã chiếm 1/3 giá trị nông sản xuất khẩu của Mỹ (18 tỷ USD sang Mexcio và 23 tỷ USD sang Canada), và các nhà lãnh đạo ngành ô tô Mỹ thường xuyên cảnh báo rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ làm mất đi công ăn việc làm được tạo ra nhờ các chuỗi cung ứng mà họ đã xây dựng giữa 3 nước thành viên NAFTA này. Các quan chức Canada cho biết rằng thêm 9 triệu việc làm của Mỹ phụ thuộc vào thương mại và đầu tư ở Canada, và rằng hơn 2/3 số tiểu bang của Mỹ coi Canada là thị trường hàng đầu của họ. Tháng 1/2018, các nhà lãnh đạo ngành nông nghiệp, chế tạo và kinh doanh của Mỹ (bao gồm cả một số người đến từ Canada và các tiểu bang của Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề) đã trực tiếp đưa phần lớn những bằng chứng này ra để cá nhân tổng thống xem xét. Kết quả là có một số dấu hiệu cho thấy ông đã làm dịu bớt cam kết chấm dứt NAFTA của mình, nhưng cũng có các báo cáo cho rằng ông đơn giản có thể trì hoãn việc rút khỏi NAFTA cho tới sau các cuộc bầu cử vào tháng 7 của Mexico. Điều không thay đổi là các tuyên bố công khai đã có từ lâu của một số người trong chính quyền của ông rằng việc chấm dứt NAFTA không chỉ là chấp nhận được mà còn là đáng mong muốn, điều đã khiến các nhân vật trong giới ngân hàng và tài chính ở cả Canada và Mexico kết luận rằng các quan điểm của chính tổng thống là không thay đổi, và rằng phải chấp nhận sự sụp đổ của NAFTA.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Một cuộc can thiệp của Mỹ và Venezuela sẽ như thế nào?


Frank O. Mora

Đây sẽ là cuộc can thiệp mạo hiểm, tốn kém và phản tác dụng

Vào tháng 8/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Mỹ đang xem xét sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc khủng hoảng ở Venezuela. Tuyên bố của ông nhanh chóng bị các đồng minh của Mỹ ở Mỹ Latinh và vùng Caribe lên án là khinh suất và phản tác dụng. Tuy nhiên, có một số người, phần lớn là ở cộng đồng người Venezuela sống lưu vong, vẫn khăng khăng rằng một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ để loại bỏ chế độ độc tài của Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro sẽ là đáng giá.

Kể từ khi Mỹ xâm lược Panama vào năm 1989, không có một tổng thống Mỹ nào đe dọa sử dụng vũ lực vì mục đích chính trị ở châu Mỹ, và vì lý do hợp lý. Không còn có bất kỳ thách thức quân sự nào đối với Mỹ trong khu vực này. Hiện nay, Lầu Năm Góc tập trung vào việc giúp đỡ các chính phủ Mỹ Latinh phá bỏ những mạng lưới buôn bán ma túy, đối phó với các cuộc nổi loạn và ứng phó với các thảm họa thiên nhiên. Họ không có kế hoạch cho các cuộc can thiệp quân sự trong khu vực, mặc dù họ chắc chắn có thể làm như vậy nếu được yêu cầu.

Nếu quân đội đưa ra các kế hoạch như vậy đối với Venezuela, thì các hoạch định chính sách sẽ cần phải trả lời một vài câu hỏi chiến lược quan trọng. Thứ nhất, họ sẽ cần phải đưa ra các mục tiêu chính trị của cuộc can thiệp. Khi các nhà nước sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, các mục tiêu của họ thường là rõ ràng: Họ thường tìm kiếm một sự thay đổi hoặc về chính sách hoặc chế độ. Trong trường hợp Venezuela, điều đó có thể đồng nghĩa với việc gây áp lực buộc Chính quyền Maduro phải tái cam kết pháp trị và bước vào một cuộc đối thoại nghiêm túc với phe đối lập, hoặc tước bỏ hoàn toàn quyền lực của họ. Nhưng liệu việc đạt được các mục tiêu đó bằng vũ lực có làm xói mòn các mục tiêu quan trọng hơn của Mỹ ở châu Mỹ và bên ngoài khu vực này hay không?

Câu trả lời ngắn gọn là “có”. Việc chiến đấu ở Venezuela có thể nhanh chóng leo thang, lôi kéo Mỹ vào một cuộc chiếm đóng tốn kém, kéo dài. Ngay cả nếu điều đó không xảy ra, thì một cuộc can thiệp cũng sẽ khiến cho mối quan hệ của Mỹ với các đối tác của họ ở Tây bán cầu trở nên tồi tệ và thu hẹp tầm ảnh hưởng của Washington ở đó. Điều làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn là việc sử dụng vũ lực chống lại Venezuela sẽ làm xói mòn các cam kết khác của quân đội Mỹ, gây căng thẳng tài chính của họ và hướng các tài sản của họ ra khỏi những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ. Không có khả năng Trump và những người ủng hộ một cuộc can thiệp hiểu được các phí tổn này.

Tin tốt lành là Mỹ và các đối tác của nước trong khu vực vẫn chưa sử dụng các các lựa chọn ngoại giao của họ. Giải pháp cho cuộc khủng hoảng của Venezuela nằm bên trong đất nước đó – và Mỹ có thể giúp đỡ, mà không dùng đến quân đội của mình.

“Tự làm tự chịu”

Mỹ có thể sử dụng vũ lực chống lại Venezuela theo 3 cách: thông qua cưỡng ép một cuộc can thiệp chính xác hoặc một sự chiếm đóng. Mỗi cách đều mở đường cho sự leo thang, và mỗi cách đều có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được. Các xung đột hiếm khi diễn ra theo cách mà những người lên kế hoạch cho chúng kỳ vọng.

Sự cưỡng ép bao gồm việc thực hiện một sự phô trương sức mạnh nhằm đe dọa một nhà nước phải thay đổi cách hành xử của họ. Sự phô trương sức mạnh đó phải đáng tin cậy, thuyết phục mục tiêu rằng họ sẽ bị trừng phạt nếu họ không hành động khác đi. Trong trường hợp Venezuela, việc đưa một tàu khu trục Mỹ đến vùng biển phía Nam Caribe sẽ không làm được điều này, vì Caracas có thể sẽ nhìn nhận đây chỉ như là một sự đe dọa mang tính tượng trưng đối với chế độ này. Để thuyết phục Chính quyền Maduro đàm phán với phe đối lập của Venezuela và khôi phục pháp trị, Washington có thể sẽ phải triển khai một tàu sân bay và 1 hoặc 2 tàu khu trục đến khu vực này – có thể cũng là các tàu đã phóng tên lửa vào một sân bay của Chính phủ Syria hồi tháng 4/2017.

Rồi một lần nữa, điều đó có thể không có tác dụng. Nếu nó không có hiệu quả, thì Washington sẽ phải theo đuổi hành động đe dọa của mình, ít nhất để họ không giống như một “con hổ giấy”. Bằng việc tấn công các trung tâm an ninh và thông tin liên lạc then chốt từ trên không, có thể bằng các máy bay ném bom B-1, Mỹ có thể hủy hoại khả năng của Chính quyền Maduro liên lạc và trấn áp người dân của nước này. Điều này sẽ đòi hỏi thêm nhân lực của Mỹ, trong các lĩnh vực từ tình báo đến hậu cần. Một mục đích của các cuộc tấn công chính xác như vậy có thể là thuyết phục. Chính quyền Maduro thay đổi cách hành xử của họ. Nhưng các cuộc tấn công này cũng có thể tìm cách kích động một cuộc đảo chính quân sự chống lại Maduro, do các sĩ quan muốn tránh một sự can thiệp quân sự lớn của Mỹ lãnh đạo.

Các cuộc tấn công chính xác sẽ gieo rắc sự hỗn loạn ở Venezuela, gây ra các cuộc đụng độ bạo lực giữa các khối đang cạnh tranh của đất nước này và có thể dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước. Washington khi đó sẽ chỉ có một sự lựa chọn: Một cuộc xâm lược toàn diện, nhằm thiết lập một chính phủ mới và khôi phục sự ổn định. Việc chế ngự những người trung thành với Maduro và kiểm soát hậu quả sẽ cần một lực lượng khoảng 200.000 người – nhiều hơn 20.000 người so với liên minh do Mỹ lãnh đạo đã được đưa đến Iraq ngay sau khi họ xâm lược đất nước này. Binh lính Mỹ sẽ phải ở lại Venezuela cho đến khi sự ổn định quay trở lại và nhà lãnh đạo hợp pháp, có năng lực lên nắm quyền. Nếu Mỹ tiêu diệt Chính phủ Venezuela, thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm xây dựng lại đế nước này, và điều đó sẽ cần thời gian dài.

Vì việc phô trương sức mạnh sau cùng có thể dẫn đến sự chiếm đóng quân sự kéo dài nhiều năm, các quan chức Mỹ thậm chí không được xem xét đến việc đe dọa Venezuela trừ khi họ sẵn sàng tiếp tục hành động. Nếu Washington tỏ ra không sẵn sàng leo thang, thì những người bạn và kẻ thù của họ sẽ coi đó là một dấu hiệu cho thấy rằng họ không nên tin tưởng cũng không nên lo sợ Mỹ.

Cái giá của sự can thiệp

Khó có thể nói có bao nhiêu sinh mạng và tiền bạc sẽ mất đi trong một cuộc can thiệp của Mỹ. Nhưng những con số không phải là không quan trọng, đặc biệt là nếu Mỹ xâm lược Venezuela và sau đó tìm cách ổn định nước này.

Toàn bộ điều này cũng vậy. Việc sử dụng vũ lực ở Venezuela sẽ lại hướng sự chú ý và sức mạh của Mỹ ra khỏi những vấn đề quan trọng hơn đối với an ninh của nước này và đặt một gánh nặg không cần thiết lên quân đội vốn đã bị kéo căng quá mức của họ. Ngân sách quốc phòng của Mỹ có thể sẽ chỉ tăng ở mức không đáng kể trong năm tới, và Lầu Năm Góc bận rộn với việc xử lý những hoạt động trong các khu vực từ Iraq và Syria đến Tây Phi và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Khi một cuộc xung đột trên bán đảo Triều Tiên ngày càng có khả năng diễn ra hơn, Mỹ sẽ chỉ càng trở nên bận rộng. Nếu Triều Tiên hay Iran tin rằng Mỹ đang bận tâm với một hoạt động ở Nam Mỹ, thì những nhà nước đó có thể liều lĩnh, mà nếu không thì họ sẽ không làm, đe dọa các lợi ích của Mỹ ở Đông Bắc Á và Trung Đông. Hơn nữa, bằng việc phá hoại ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela, một cuộc can thiệp của Mỹ sẽ làm tăng giá cả toàn cầu và làm suy yếu chính phủ của các nước phụ thuộc vào năng lượng ở châu Phi và Caribe.

Cuối cùng, một cuộc can thiệp quân sự sẽ mang lại một phí tổn rất cao cho ảnh hưởng của Mỹ ở Tây bán cầu. Colombia, Peru và một số nước khác đã nhanh chóng lên án đề xuất của Trump rằng một lựa chọn quân sự đang được đặt lên bàn. Việc sử dụng vũ lực sẽ châm ngòi cho một phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều, thậm chí là từ các đối tác thân thiết nhất của Washington. Bằng việc các nước khác trong khu vực nhớ lại lịch sử nước Mỹ đã can thiệp vào công việc của họ, Washington sẽ đánh mất thiện chí của các nhà nước này – và cùng với đó là cơ hội để làm việc với họ về các vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi người trên bán cầu này, từ việc đối phó với tội phạm xuyên quốc gia đến việc hợp nhất cơ sở hạ tầng năng lượng của châu Mỹ.

Một cách thức tốt hơn

Lịch sử đã cho thấy rằng những sự chuyển tiếp dân chủ thành công thường là công việc nội bộ. Việc khôi phục nền dân chủ của Venezuela là một công việc dành cho công dân của nước này. Các chính phủ nước ngoài có thể giúp đỡ nhưng họ chỉ có thể đóng một vai trò hỗ trợ. Tuy nhiên, cho đến nay, những sự chia rẽ bên trong phe đối lập của Venezuela đã làm suy yếu những nỗ lực của họ đảm bảo sự ủng hộ của quốc tế đối với việc khôi phục quy tắc dân chủ.

Có một vài biện pháp mà Mỹ có thể tăng cường. Chẳng hạn, Chính quyền Barack Obama và Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đơn phương nhằm vào các quan chức Venezuela bị cáo buộc tham nhũng và vi phạm nhân quyền trong một nỗ lực nhằm tạo ra những sự rạn nứt bên trong chế độ này, điều có thể khiến họ sụp đổ hoặc thay đổi cách hành xử của họ. (Gần đây, Chính quyền Trump đã mở rộng và làm sâu sắc các biện pháp trừng phạt đó; cho đến nay, điều đó hầu như không có tác dụng). Nhưng một số người lập luận rằng các biện pháp trừng phạt đơn phương của Mỹ là phản tác dụng. Theo tư duy này, Maduro có thể chỉ ra các biện pháp này là những ví dụ cho thấy sự hung hăng của Mỹ, điều giúp ông tập hợp ít nhất là sự ủng hộ nào đó từ nước ngoài và trong số những người ủng hộ đã mệt mỏi của ông ở trong nước.

Đó là lý do giải thích tại sao Mỹ nên làm việc với các chính phủ châu Âu và Mỹ Latinh để áp đặt các biện pháp trừng phạt đa phương nhằm vào các quan chức chính phủ và một số nhóm mà chế độ Maduro phụ thuộc, như Trung tâm ngoại thương quốc gia, một cơ quan chính phủ quản lý việc trao đổi tiền tệ, và Camimpeg, một công ty về dịch vụ năng lượng được quân đội hậu thuẫn. Khi các nước đó làm như vậy, họ nên chắc chắn tránh những sự hạn chế gây tổn hại cho những người dân thường Venezuela, vốn đang chịu tác động của một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc. Các biện pháp trừng phạt đa phương này sẽ cô lập và gây áp lực cho chế độ Maduro, và các chính phủ áp đặt các biện pháp này sẽ có tính hợp pháp để siết chặt hơn nữa Chính quyền Maduro, nếu họ cần phải làm. Đây là một cách tiếp cận mà các nước láng giềng của Mỹ ở Tây bán cầu có thể tán thành – nhưng chỉ khi Washington kiềm chế nói đến can thiệp quân sự và làm việc nỗ lực hơn để thuyết phục các nước láng giềng của Venezuela cùng tham gia.

Đề xuất của Trump rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực ở Venezuela có thể là hấp tấp. Dù thế nào, các chính phủ và người dân ở châu Mỹ và ngoài khu vực này cũng đã chú ý đến thiệt hại của Washington. Điều cuối cùng Mỹ cần hiểu bây giờ là một cuộc can thiệp quân sự sẽ kéo căng quá mức các lực lượng của họ và khiến Washington xao lãng khỏi những mối đe dọa nguy hiểm hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/venezuela/2017-11-08/what-would-us-intervention-venezuela-look

TLTKĐB – 17/11/2017

Việt Nam – đối tác sẵn sàng của Canada


Nhân tham dự Hội nghị cấp bộ trưởng APEC về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Stewart Beck, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Quỹ châu Á – Thái Bình Dương của Canada, đã có bài viết về mối quan hệ giữa Canada và Việt Nam:

Ký ức về cuộc Chiến tranh Việt Nam vẫn còn in đâm trong tâm trí nhiều người thuộc thế hệ của tôi và sẽ sớm được hồi sinh trong cuốn phim tài liệu cùng tên của Ken Burns. Trong cuộc chiến này, Canada – cùng với Ấn Độ và Ba Lan – giữ một vai trò quan trọng với tư cách là thành viên của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, Canada đã tiếp nhận 60.000 người tị nạn Việt Nam trong giai đoạn 1979 – 1980, mở Đại sứ quán tại Hà Nội năm 1994 và Tổng lãnh sự ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997.

Kinh nghiệm đầu tiên của tôi với Việt Nam là vào năm 1994, khi tôi thường xuyên sang Việt Nam để giúp thành lập Đại sứ quán và mở Văn phòng thương mại của Canada ở Thành phố Hồ Chí Minh (hay còn được gọi là Sài Gòn), nơi vẫn chịu ảnh hưởng của Mỹ. Tại thời điểm đó, Việt Nam đang trong tiến trình Đổi Mới, giống như mô hình cải cách kinh tế của Trung Quốc để tạo ra một “nền kin tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Kể từ thời điểm đó, Việt Nam đã trở thành quốc gia lớn thứ 11 của Canada về lượng du học sinh quốc tế (năm 2011) và quan hệ thương mại song phương hàng năm đã tăng lên tới 5,5 tỷ CND (năm 2016). Với sự tăng trưởng kinh tế phi thường, nền kinh tế ngày càng tự do hóa, cam kết tham gia và hội nhập toàn cầu, và là một thành viên trong cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) Việt Nam đang và sẽ tiếp tục là một đối tác hợp tác quan trọng trong ASEAN và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).

Năm ngoái, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP 6,2%, cao gấp 4 lần Canada. Việt Nam có 43,7 triệu công dân kết nối Internet và đạt được sự cân bằng kinh tế – xã hội lớn trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam cũng đang phát triển rất mạnh. So với khu vực, Việt Nam có hệ sinh thái phát triển tốt cho các vườn ươm và các doanh nghiệp lớn. Trên thực tế, sự phát triển thành công vượt bậc của cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam đã tạo ra “sức hấp dẫn đối với các trí thức”, thu hút các doanh nhân trẻ từ nước ngoài trở về để thành lập hoặc làm việc tại các công ty mới khởi nghiệp, mang lại những tri thức và kỹ năng mới giúp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển trong nhiều năm tiếp theo.

Với sự không chắc chắn của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP) sau khi Mỹ rút lui và sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, giờ là thời điểm để Canada tham gia sâu hơn vào Việt Nam thông qua việc mở rộng vai trò đối tác của mình trong APEC và ASEAN. Cũng như nhiều nước khác, Canada coi các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SME) là động lực thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới trong khu vực APEC.

Việt Nam hiện có khoảng 600.000 MSME đăng ký hoạt động và con số này không ngừng tăng lên ở mức trên 100.000 MSME mỗi năm. Chỉ trong 2 tháng đầu năm nay, đã có khoảng 14.500 MSME mới được thành lập với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,2 tỷ USD. Vì thế, Canada có cơ hội vận dụng những kinh nghiệm về đổi mới công nghệ, kinh doanh và phát triển xanh trong việc thúc đẩy sự phát triển của các MSME ở Việt Nam cũng như khu vực APEC rộng lớn hơn. Dự án Thúc đẩy Đối tác Kinh doanh Canada – APEC là một minh chứng cho cam kết của Canada trong việc tham gia vào không gian MSME. Dự án kéo dài 4 năm với mục tiêu xây dựng và phát triển cộng đồng MSME trong khu vực APEC. Dự án do Bộ các vấn đề toàn cầu (Bộ Ngoại giao) Canada tài trợ và do Quỹ châu Á – Thái Bình Dương phối hợp với Ban thư ký APEC quản lý. Hiện dự án đã gần kết thúc năm hoạt động đầu tiên với trọng tâm được đặt ở Việt Nam.

Ngoài ra, Canada cũng có cơ hội kết nối các doanh nghiệp của mình với những đối tác tương đồng ở các nền kinh tế thành viên APEC như Việt Nam, nơi họ sẽ có cơ hội phát triển trong những lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục – đào tạo, công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sạch, tài chính và một số ngành dịch vụ khác. Canada có danh tiếng tốt ở Việt Nam và sẽ ngày càng tốt hơn với thực tế toàn cầu hiện nay. Giúp Việt Nam xây dựng và phát triển các MSME sẽ mang lại những lợi thế chiến lược cho Canada và nếu đủ khôn ngoan, chúng ta sẽ tham gia ngay từ đầu vào quá trình hình thành cộng đồng khởi nghiệp của Việt Nam, đưa ra những tư vấn và trợ giúp kỹ thuật. Chúng ta cũng nên cộng tác trong phát triển thương mại điện tử và giáo dục – đào tạo không chỉ vì lợi ích của Việt Nam mà còn cho chính chúng ta.

Đối với thế hệ của tôi, đôi khi rất khó để gạt bỏ ký ức về chiến tranh, về những chiếc trực thăng, binh lính Mỹ và đội quân Việt cộng. Nhưng Việt Nam đã mạnh mẽ vượt qua sự tàn phá của chiến tranh, trở thành một đối tác sẵn sàng và mong muốn hợp tác với Canada.

Nguồn: TKNB – 19/09/2017

Quân đội Cuba có thực sự kiểm soát 60% nền kinh tế?


Quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump cấm các doanh nghiệp nước này giao dịch với các đối tác Cuba do quân đội kiểm soát đã một lần nữa làm nổi bật vai trò của các lực lượng vũ trang trong nền kinh tế Cuba.

Vai trò của các lực lượng vũ trang Cuba là rất rộng, vươn tới nhiều lĩnh vực khác nhau và lớn mạnh trong vài năm qua, cùng với đà tăng trưởng của ngành du lịch, các doanh nghiệp quân đội có mức độ tập trung cao nhất.

Những doanh nghiệp này do Tập đoàn quản lý doanh nghiệp (GAESA) thuộc Bộ Các lực lượng vũ trang Cuba (MINFAR) kiểm soát. Tuy nhiên, giả thuyết được lan truyền rộng rãi trong báo chí phương Tây ngay sau tuyên bố của Tổng thống D. Trump rằng quân đội Cuba kiểm soát tới 60% nền kinh tế liệu có chính xác?

Chỉ cần rà soát sơ bộ tỷ trọng của các lĩnh vực kinh tế trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Cuba cũng có thể thấy lời khẳng định “chắc nịch” trên là một sai lầm thô thiển: những lĩnh vực mà quân đội không tham gia hoặc tham gia không đáng kể đã chiếm tới hơn nửa giá trị GDP, và trong những lĩnh vực có doanh nghiệp quân đội tham gia, vẫn có tỷ trọng rất lớn của các doanh nghiệp dân sự (Thống kê biên niên Cuba 2015). Vậy tỷ trọng thực sự của các doanh nghiệp quốc phòng trong nền kinh tế Cuba là bao nhiêu và con số 60% bắt nguồn từ đâu?

Nhìn chung, chính phủ Cuba không thông tin về thu nhập của các doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng từ số liệu chính thức được công bố của một vài tập đoàn lớn có thể đưa ra những ước tính hợp lý: thu nhập chung của các doanh nghiệp do quân đội quản lý đạt giá trị 970 triệu USD năm 1997, đa phần của số thu nhập này đến từ ngành du lịch, giả sử rằng chỉ số tổng thu nhập này tăng cùng tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Cuba trong những năm qua.

Năm 1997, Cuba đón 1,2 triệu lượt khách quốc tế (theo Biên niên số liệu Cuba năm 2004). Năm 2016, Cuba đón 4,1 triệu lượt khách, tăng 249%, và nếu cách tính theo tỷ lệ thuận này, tổng thu nhập của các doanh nghiệp “dính líu tới quân đội” – như định nghĩa của Washington – trong năm 2016 sẽ ở mức khoảng 3,4 tỷ USD.

Có thể kiểm chứng tính khả tín của phép ước lượng này bằng những số liệu của 3 doanh nghiệp quân đội lớn nhất là các tập đoàn Gaviota, Cimex và TRD. Gaviota – thể chế kinh doanh lớn nhất do quân đội quản lý – tập trung chủ yếu vào lĩnh vực du lịch: doanh thu của ngành công nghiệp không khói của Cuba vào năm 2015 là 2,8 tỷ USD (Biên niên thống kê Cuba 2015); trong khi dù là công ty có tỷ trọng lớn nhất trong ngành này, Gaviota còn xa mới là công ty độc quyền, và họ kiểm soát khoảng 40% tổng số các phòng khách sạn có trong cả nước (mặc dù tỷ lệ này ở các khách sạn sang trọng nhất cao hơn và các khách sạn thấp cấp là thấp hơn), bên cạnh các dịch vụ như cho thuê xe, taxi du lịch và nhà hàng. Như vậy, có thể doanh thu của Gaviota chiếm 60% ngành du lịch Cuba hay khoảng 1,7 tỷ USD.

Cimex có doanh thu 740 triệu USD vào năm 2004. Nếu sử dụng đúng biện pháp tăng doanh thu theo tỷ lệ thuận của tăng trưởng du lịch (mặc dù tập đoàn này ít tập trung vào du lịch hơn so với Gaviota) thì doanh thu ước tính của Cimex trong năm 2016 có thể đạt khoảng 1,3 tỷ USD. Nhóm Tư vấn La Habana, có Chủ tịch Emilio Morales từng là lãnh đạo của Cimex ước tính thu nhập của tập đoàn này ở mức 1,2 tỷ USD. TRD – chuỗi cửa hành được thành lập nhằm thu hút ngoại tệ lưu thông trong lãnh thổ Cuba – đạt doanh số bán hàng 250 triệu USD năm 2004. Nếu sử dụng cùng biện pháp đã nêu, doanh số năm 2016 của TRD sẽ ở mức 442 triệu USD.

Theo cách tính này, tổng doanh thu ước tính của 3 công ty trụ cột của GAESA sẽ ở mức 3,45 tỷ USD năm 2016, rất gần với mức 3,4 tỷ USD đã nêu ở phần trên dựa vào những số liệu thu nhập tổng thể của MINFAR. Emilio Morales sử dụng các số liệu tập hợp được trong 15 năm qua, thì ước tính tổng doanh thu của GAESA ở mức khoảng 3,8 tỷ USD.

Ngay cả khi sử dụng số liệu của Morales, tức là số liệu lớn nhất trong 3 mức ước tính, thì doanh thu của GAESA cũng mới tương đương 21% tổng thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân. 8% của tổng thu nhập các doanh nghiệp nhà nước và chỉ tương đương 4% GDP của Cuba (Biên niên thống kê Cuba 2015). Vẫn còn một khoảng cách rất dài từ con số này tới giả thuyết “60% nền kinh tế”, cho dù có dùng thước đo nào.

Vậy con số 60% từ đâu ra? Nó được tờ Miami Herald đưa ra lần đầu vào tháng 2/2004, trích dẫn số liệu Dự án Diễn biến Cuba (CTP), thuộc Viện Nghiên cứu Cuba và Cuba – Mỹ (IECC) của Đại học Miami, một dự án được chính phủ Mỹ tài trợ và luôn có quan điểm chống La Habana cực đoan. Giám đốc IECC Jaime Suchlicki sau đó đã nhiều lần lập lại nhận định này và từng viết trong biên bản một hội nghị của CTP tháng 11/2004 rằng “Hiện tại, hơn 65% các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước chính nằm trong tay các sĩ quan quân đội tại ngũ hoặc đã xuất ngũ”.

Mặc dù không bao giờ dẫn chứng những con số hay bằng chứng làm cơ sở, công thức mà Suchlicki đưa ra chí ít vẫn có chút khả năng thực tế, cho dù mang xu hướng lừa gạt, bởi vì nó không chỉ bao gồm các doanh nghiệp do quân đội nắm giữ mà cả mở rộng sang cả các tổ chức, công ty dân sự hoặc cả một cơ quan cấp bộ nào đó do quân nhân tại ngũ hoặc đã xuất ngũ nắm giữ. Xu hướng lừa gạt ở đây nằm ở hàm ý rằng tất cả các tổ chức và doanh nghiệp loại này đều do quân đội kiểm soát, dù không có chút cơ sở nào cho kết luận này. Ngược lại, do các thể chế quân đội Cuba luôn nằm trong số những thể chế có hiệu quả nhất, việc quân đội “xuất khẩu” các nhà quản lý và lãnh đạo sang ngạch dân sự là một truyền thống có từ những năm 1970 chưa kể tới việc do đặc điểm học thuyết quốc phòng (“chiến tranh nhân dân”) và cơ chế tuyển quân của Cuba, tỷ lệ người dân, đặc biệt là nam giới tại quốc đảo này từng kinh qua quân ngũ là khá cao.

Theo thời gian, giả thuyết trên dần dần được “rút gọn” lại thành MINFAR thông qua GAESA kiểm soát hơn 60% nền kinh tế Cuba và trở nên phổ biến khi xuất phát từ một cơ quan nghiên cứu và các nguồn “uy tín” như The Wall Street Journal hay quỹ Trao quyền vì dân chủ (National Endowment for Democracy, do chính phủ Mỹ cấp ngân sách) trích dẫn. Một lần nữa, có thể thấy sức mạnh bóp méo thông tin đáng sợ của bộ máy truyền thông nhằm mục đích chính trị, mà lần này là việc tô vẽ một sự “kiểm soát thái quá” của giới quân sự tại Cuba.

Nguồn: The Huffinfton Post (Mỹ)

TKNB – 06/07/2017

Sứ mệnh của Canada khi gia tăng căng thẳng ở Biển Đông


Dẫn lời chuyên gia Đại học Tổng hợp Bristish Columbia (UBC) cho biết, Canada sẽ gặp phải nhiều khó khăn nếu có nổ súng ở Biển Đông.

Theo giáo sư chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế đến từ trường UBC Micheal Byers, hải quân Canada tốt nhất nên lên kế hoạch dự phòng nếu có sai sót khi cử 2 chiến hạm tới Đông Nam Á qua Biển Đông. Sau khi chứng kiến quan điểm của các quan chức Mỹ và sự căng thẳng ở khu vực Biển Đông, ông cho rằng Canada cần một kế hoạch ứng phó nếu tình hình trở nên tồi tệ.

Canada đã điều 2 chiến hạm HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa tới khu vực Biển Đông từ đầu tháng 3 theo chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương được mệnh danh là POSEIDON CUTLASS 17. Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền của mình đối với phần lớn diện tích Biển Đông, tuy nhiên các quốc gia lân cận tố cáo Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ khi nước này liên tục vượt quá hải phận. Philippines – một trong những quốc gia có xung đột với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông – đã thắng kiện tại tòa án tại La Hay (Hà Lan) về phần lãnh thổ mà cả hai nước cùng khẳng định chủ quyền. Mặc dù đã phê chuẩn thỏa thuận đưa ra bởi tòa án cách đây 20 năm, Trung Quốc tuyên bố sẽ không tuân theo quyết định này. Malaysia và Việt Nam, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan và các nước khác trong khu vực đều có xung đột tương tự với Trung Quốc.

Sứ mệnh của hải quân Canada lần này là đưa 2 chiến hạm tới khu vực Đông Nam Á qua Biển Đông. Theo tóm lược nhiệm vụ, HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa cũng sẽ dừng chân tại Trung Quốc và các quốc gia khác như Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines… Giáo sư Byers cho biết trong tình hình ổn định đây không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn nhưng khu vực này lại đang trong tình trạng căng thẳng tăng cao. Mỹ từng hiện diện tại khu vực này với mục đích kiểm Trung Quốc . Tuy nhiên, nhà nước của ông Tập Cận Bình đã xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong khu vực mà nước này tự tuyên bố chủ quyền.

Trong khi đó, những thông điệp trên Twitter của Tổng thống Donald Trump về Trung Quốc, ví dụ như lời cáo buộc chính quyền Tập Cận Bình thao túng tiền tệ đã đổ thêm dầu vào lửa. Tháng Giêng vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra những tuyên bố ngụ ý rằng Mỹ có thể sẽ sử dụng đến quân đội để đối phó với Trung Quốc. Cựu cố vấn chiến lược của Trump, ông Steve Bannon từng tuyên bố rằng chiến tranh với Trung Quốc đang tới gần. Tất cả những điều này đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Ông Byers cho biết trong tình hình này, nếu chiến tranh thực sự xảy ra, Canada sẽ buộc phải lựa chọn ủng hộ đồng minh số một là Mỹ, hoặc rời khỏi khu vực (đồng nghĩa với việc đứng về phía Trung Quốc). “Trong tình huống đó, chính phủ Canada phải nhanh chóng đưa ra một quyết định rất khó khăn. Đây không phải là điều Canada muốn, đó là lý do tại sao tôi hết sức quan ngại khi chính phủ cử chiến hạm vào khu vực Biển Đông tại thời điểm này”.

Bộ trưởng Quốc phòng Canada tuyên bố sẽ không tiết lộ bất cứ kế hoạch dự phòng nào trong trường hợp khu vực xảy ra xung đột do những mối đe dọa về an ninh. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn, chỉ huy Hải quân Hoàng gia Canada – Phó đô đốc Ron Lloyd cho hay “sẽ rất khó để có thể đến Trung Quốc nếu không đi qua Biển Đông”. Đồng thời, ông cũng cho biết tàu của Canada sẽ tránh các khu vực xung đột. Bộ trưởng Quốc phòng Harjit Saijan cũng khẳng định rằng Canada không có kế hoạch tiến gần các khu vực tranh chấp ở Biển Đông vì mục đích ngoại giao. “Tại sao chúng ta lại muốn đi qua khu vực xung đột? Đó không phải là mục đích. Mục đích của chuyến đi lần này là để tăng cường quan hệ với những đối tác lớn”.

Nguồn: thetyee.ca – 16/03/2017

TKNB – 06/07/2017

Chế độ độc tài – giải pháp cứu vãn Brazil?


Người dân Brazil cảm thấy bị xúc phạm và vô cùng bối rối trước hàng loạt tin tức về thế giới chính trị ngầm ở trong nước, từ các vụ bê bối hối lộ tham nhũng, các mưu đồ chính trị đến quyết định bác bỏ việc phế truất Tổng thống Michel Temer của Tòa án tối cao hôm 10/6 vừa qua. Tuy nhiên, nạn tham nhũng công khai tràn lan không phải là mối đe dọa duy nhất đối với nền dân chủ của Brazil. Nó cũng chẳng phải là mối đe dọa nguy hiểm nhất.

Brazil là một trong những “thủ phủ chết chóc” trên thế giới, với dân số gần 208 triệu người nhưng có đến 60.000 vụ giết người mỗi năm. 10% số nạn nhân bị giết trên thế giới mỗi năm là người Brazil. Sau hàng loạt cuộc nổi loạn trong nhà tù và các cuộc tấn công cảnh sát đẫm máu ở Espirito Santo và Rio de Janeiro, nhà chức trách nước này dường như đã “đầu hàng”.

Một số sáng kiến về an toàn cộng đòng đã được áp dụng thành công trong thập kỷ qua. Lực lượng cảnh sát đã đưa ra những cải tổ và sáng kiến chống bạo lực ở Rio de Janeiro và Pernambuco nhằm giúp giảm thiểu tỷ lệ các vụ giết người lên đến 50%, song mới chỉ mang tính tạm thời. Tại những địa điểm này, tỷ lệ các vụ án mạng vẫn đang gia tăng.

Theo một nghiên cứu của Quỹ Xã hội Mở (OSF), gần 50 triệu người Brazil từ 16 tuổi trở lên – chiếm gần 1/3 số người trưởng thành – biết về một nạn nhân bị sát hại: Gần 5 triệu người bị thương bởi súng đạn và khoảng 15 triệu người biết về một nạn nhân bị cảnh sát giết hại. Cũng bởi lẽ đó, cảnh sát Brazil được coi là lực lượng giết người nguy hiểm nhất trên thế giới.

Tại các khu ổ chuột nghèo nàn của thành phố Rio de Janeiro, các hoạt động trấn áp của cảnh sát theo phong cách quân sự và việc cảnh sát chiến đấu với các băng đảng là điều thường xuyên xảy ra. Mỗi ngày trôi qua, người dân địa phương đều phải sống trong cảnh sợ hãi tột cùng. Sự kích động xã hội gây ra bởi cuộc khủng hoảng giết người tại đây kết hợp với niềm tin vào nền chính trị dần dần bị vỡ vụn, đang làm sản sinh một khuynh hướng chính trị phi dân chủ. Hiện nay, các quan chức đang lợi dụng những bài diễn văn về chủ nghĩa phân biệt đối xử, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và khuynh hướng bài ngoại để biện minh cho những chính sách trừng phạt nhắm đến một lượng lớn các thành phần trong xã hội, bao gồm các thành viên băng đảng tội phạm, những người sử dụng ma túy và đồng bào dân tộc thiểu số.

Giống như Tổng thống Mỹ Donald Trump, chính trị gia người Pháp Marine Le Pen và chính trị gia người Hà Lan Geert Wilders, những người đều sử dụng mối đe dọa khủng bố để kích động sự sợ hãi và không khoan dung trong dân chúng, các nhà lãnh đạo Brazil cũng xác định rằng việc áp đặt trật tự xã hội quan trong hơn trong việc xây dựng một xã hội mạnh mẽ. Do đó, nỗi sợ hãi đã được kích động bởi tính bạo lực không ngừng và sự thiếu năng lực rõ ràng của các cơ quan an ninh công cộng trong việc giải quyết vấn đề. Theo một cuộc khảo sát của Quỹ Getuli Vargas, 36% dân số Brazil cảm thấy hài lòng với cảnh sát và chỉ có 25% nói rằng họ tin tưởng lực lượng này. Chính sự ngờ vực này đang làm trầm trọng thêm những nhận thức về mối nguy hiểm.

Trong bối cảnh đó, người Brazil có thể tìm ra những nhà lãnh đạo phản đối bạo lực. Họ dường như có xu hướng muốn làm sụp đổ chế độ luật lệ thời hậu độc tài theo Hiến pháp năm 1988, được ký kết sau khi nền dân chủ được khôi phục. Theo một cuộc điều tra quốc gia chưa được công bố của Diễn đàn Phi chính phủ Brazil về An toàn công cộng, 69% số người Brazil (trong tổng số 2087 người được hỏi) từ 16 tuổi trở lên đồng ý rằng “Những gì đất nước này cần, trước hết, không phải là pháp luật hay các kế hoạch chính trị, mà là những nhà lãnh đạo dũng cảm, những người không biết mệt mỏi và luôn tận tụy để người dân có thể đặt cược niềm tin của họ”.

Jair Bolsonaro, một cựu đội trưởng quân đội từ bang Rio de Janeiro, người có ý định chạy đua chức Tổng thống Brazil năm 2018, đã ủng hộ việc đưa đất nước theo hướng lãnh đạo độc tài. Ông Bolsonaro đã công khai kêu gọi Brazil quay trở lại chế độ “thiết quân luật” và nhận được sự quan tâm đông đảo của người dân. Trong khi đó, cảnh sát – lực lượng mà trên lý thuyết, nên là những người bảo vệ luật pháp hiện hành – cũng đang thể hiện sự ủng hộ dành cho ông Bolsonaro.

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một quốc gia mà đạo Cơ đốc theo phái Phúc âm đang bùng nổ rộng rãi như Brazil, đã có đến 64% người được hỏi tin rằng “tất cả chúng ta phải có một niềm tin tuyệt đối với quyền lực siêu nhiên, nơi mà mọi phán quyết đưa ra đều phải được chúng ta tuân thủ”. Khi tôn giáo xâm nhập vào nền chính trị của nước này, “niềm tin” dường như đang hình thành một trật tự mới, tạo ra sự cộng sinh phức tạp giữa nhà nước và tôn giáo, điều sẽ ảnh hưởng cơ bản đến quan điểm của công chúng và việc hoạch định các chính sách.

Trong bối cảnh có đến 53% người dân Brazil được hỏi tin rằng “cảnh sát là một chiến binh của Chúa – vị thần có trách nhiệm áp đặt trật tự và bảo vệ người dân lương thiện”, điều này biện minh cho 2 hành vi đang gây tổn hại cho đất nước. Thứ nhất, nó bỏ qua hành động bạo lực đang lan rộng của lực lượng cảnh sát, và thứ hai, nó “phớt lờ” các tổ chức tội phạm trong các luật lệ địa phương.

Truyền tải tính trật tự xã hội vào quan điểm đạo đức cá nhân để biện minh cho chủ nghĩa độc tài là một cách vừa tinh tế, vừa mạnh mẽ. Người Brazil đã chiến đấu để giành lại quyền dân sự và nhân quyền sau 2 thập niên trải qua một chế độ độc tài quân sự đẫm máu. Sau 30 năm, đất nước hiện đang bị tê liệt bởi tội ác và bạo lực, người dân lại muốn quay lại “ve vãn” chủ nghĩa độc tài và sự thẳng tay trừng trị.

Trong quá trình “ăn mòn” này, tỷ lệ tội phạm có tổ chức đã tăng gấp đôi, tình trạng tham nhũng tăng lên gấp bội, và sự bất ổn cũng như những mối nguy hiểm đã làm xáo trộn nền chính trị quốc gia. Để cứu vãn nền dân chủ, Brazil cần khẩn trương tìm ra một giải pháp mới để đảm bảo sự an toàn cho xã hội. Nếu không, sự sợ hãi, tội phạm và tình trạng giết người sẽ thống trị đất nước.

Nguồn: theconversation.com – 16/06/2017

TKNB – 19/06/2017