Một cuộc can thiệp của Mỹ và Venezuela sẽ như thế nào?


Frank O. Mora

Đây sẽ là cuộc can thiệp mạo hiểm, tốn kém và phản tác dụng

Vào tháng 8/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Mỹ đang xem xét sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc khủng hoảng ở Venezuela. Tuyên bố của ông nhanh chóng bị các đồng minh của Mỹ ở Mỹ Latinh và vùng Caribe lên án là khinh suất và phản tác dụng. Tuy nhiên, có một số người, phần lớn là ở cộng đồng người Venezuela sống lưu vong, vẫn khăng khăng rằng một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ để loại bỏ chế độ độc tài của Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro sẽ là đáng giá.

Kể từ khi Mỹ xâm lược Panama vào năm 1989, không có một tổng thống Mỹ nào đe dọa sử dụng vũ lực vì mục đích chính trị ở châu Mỹ, và vì lý do hợp lý. Không còn có bất kỳ thách thức quân sự nào đối với Mỹ trong khu vực này. Hiện nay, Lầu Năm Góc tập trung vào việc giúp đỡ các chính phủ Mỹ Latinh phá bỏ những mạng lưới buôn bán ma túy, đối phó với các cuộc nổi loạn và ứng phó với các thảm họa thiên nhiên. Họ không có kế hoạch cho các cuộc can thiệp quân sự trong khu vực, mặc dù họ chắc chắn có thể làm như vậy nếu được yêu cầu.

Nếu quân đội đưa ra các kế hoạch như vậy đối với Venezuela, thì các hoạch định chính sách sẽ cần phải trả lời một vài câu hỏi chiến lược quan trọng. Thứ nhất, họ sẽ cần phải đưa ra các mục tiêu chính trị của cuộc can thiệp. Khi các nhà nước sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, các mục tiêu của họ thường là rõ ràng: Họ thường tìm kiếm một sự thay đổi hoặc về chính sách hoặc chế độ. Trong trường hợp Venezuela, điều đó có thể đồng nghĩa với việc gây áp lực buộc Chính quyền Maduro phải tái cam kết pháp trị và bước vào một cuộc đối thoại nghiêm túc với phe đối lập, hoặc tước bỏ hoàn toàn quyền lực của họ. Nhưng liệu việc đạt được các mục tiêu đó bằng vũ lực có làm xói mòn các mục tiêu quan trọng hơn của Mỹ ở châu Mỹ và bên ngoài khu vực này hay không?

Câu trả lời ngắn gọn là “có”. Việc chiến đấu ở Venezuela có thể nhanh chóng leo thang, lôi kéo Mỹ vào một cuộc chiếm đóng tốn kém, kéo dài. Ngay cả nếu điều đó không xảy ra, thì một cuộc can thiệp cũng sẽ khiến cho mối quan hệ của Mỹ với các đối tác của họ ở Tây bán cầu trở nên tồi tệ và thu hẹp tầm ảnh hưởng của Washington ở đó. Điều làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn là việc sử dụng vũ lực chống lại Venezuela sẽ làm xói mòn các cam kết khác của quân đội Mỹ, gây căng thẳng tài chính của họ và hướng các tài sản của họ ra khỏi những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ. Không có khả năng Trump và những người ủng hộ một cuộc can thiệp hiểu được các phí tổn này.

Tin tốt lành là Mỹ và các đối tác của nước trong khu vực vẫn chưa sử dụng các các lựa chọn ngoại giao của họ. Giải pháp cho cuộc khủng hoảng của Venezuela nằm bên trong đất nước đó – và Mỹ có thể giúp đỡ, mà không dùng đến quân đội của mình.

“Tự làm tự chịu”

Mỹ có thể sử dụng vũ lực chống lại Venezuela theo 3 cách: thông qua cưỡng ép một cuộc can thiệp chính xác hoặc một sự chiếm đóng. Mỗi cách đều mở đường cho sự leo thang, và mỗi cách đều có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được. Các xung đột hiếm khi diễn ra theo cách mà những người lên kế hoạch cho chúng kỳ vọng.

Sự cưỡng ép bao gồm việc thực hiện một sự phô trương sức mạnh nhằm đe dọa một nhà nước phải thay đổi cách hành xử của họ. Sự phô trương sức mạnh đó phải đáng tin cậy, thuyết phục mục tiêu rằng họ sẽ bị trừng phạt nếu họ không hành động khác đi. Trong trường hợp Venezuela, việc đưa một tàu khu trục Mỹ đến vùng biển phía Nam Caribe sẽ không làm được điều này, vì Caracas có thể sẽ nhìn nhận đây chỉ như là một sự đe dọa mang tính tượng trưng đối với chế độ này. Để thuyết phục Chính quyền Maduro đàm phán với phe đối lập của Venezuela và khôi phục pháp trị, Washington có thể sẽ phải triển khai một tàu sân bay và 1 hoặc 2 tàu khu trục đến khu vực này – có thể cũng là các tàu đã phóng tên lửa vào một sân bay của Chính phủ Syria hồi tháng 4/2017.

Rồi một lần nữa, điều đó có thể không có tác dụng. Nếu nó không có hiệu quả, thì Washington sẽ phải theo đuổi hành động đe dọa của mình, ít nhất để họ không giống như một “con hổ giấy”. Bằng việc tấn công các trung tâm an ninh và thông tin liên lạc then chốt từ trên không, có thể bằng các máy bay ném bom B-1, Mỹ có thể hủy hoại khả năng của Chính quyền Maduro liên lạc và trấn áp người dân của nước này. Điều này sẽ đòi hỏi thêm nhân lực của Mỹ, trong các lĩnh vực từ tình báo đến hậu cần. Một mục đích của các cuộc tấn công chính xác như vậy có thể là thuyết phục. Chính quyền Maduro thay đổi cách hành xử của họ. Nhưng các cuộc tấn công này cũng có thể tìm cách kích động một cuộc đảo chính quân sự chống lại Maduro, do các sĩ quan muốn tránh một sự can thiệp quân sự lớn của Mỹ lãnh đạo.

Các cuộc tấn công chính xác sẽ gieo rắc sự hỗn loạn ở Venezuela, gây ra các cuộc đụng độ bạo lực giữa các khối đang cạnh tranh của đất nước này và có thể dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước. Washington khi đó sẽ chỉ có một sự lựa chọn: Một cuộc xâm lược toàn diện, nhằm thiết lập một chính phủ mới và khôi phục sự ổn định. Việc chế ngự những người trung thành với Maduro và kiểm soát hậu quả sẽ cần một lực lượng khoảng 200.000 người – nhiều hơn 20.000 người so với liên minh do Mỹ lãnh đạo đã được đưa đến Iraq ngay sau khi họ xâm lược đất nước này. Binh lính Mỹ sẽ phải ở lại Venezuela cho đến khi sự ổn định quay trở lại và nhà lãnh đạo hợp pháp, có năng lực lên nắm quyền. Nếu Mỹ tiêu diệt Chính phủ Venezuela, thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm xây dựng lại đế nước này, và điều đó sẽ cần thời gian dài.

Vì việc phô trương sức mạnh sau cùng có thể dẫn đến sự chiếm đóng quân sự kéo dài nhiều năm, các quan chức Mỹ thậm chí không được xem xét đến việc đe dọa Venezuela trừ khi họ sẵn sàng tiếp tục hành động. Nếu Washington tỏ ra không sẵn sàng leo thang, thì những người bạn và kẻ thù của họ sẽ coi đó là một dấu hiệu cho thấy rằng họ không nên tin tưởng cũng không nên lo sợ Mỹ.

Cái giá của sự can thiệp

Khó có thể nói có bao nhiêu sinh mạng và tiền bạc sẽ mất đi trong một cuộc can thiệp của Mỹ. Nhưng những con số không phải là không quan trọng, đặc biệt là nếu Mỹ xâm lược Venezuela và sau đó tìm cách ổn định nước này.

Toàn bộ điều này cũng vậy. Việc sử dụng vũ lực ở Venezuela sẽ lại hướng sự chú ý và sức mạh của Mỹ ra khỏi những vấn đề quan trọng hơn đối với an ninh của nước này và đặt một gánh nặg không cần thiết lên quân đội vốn đã bị kéo căng quá mức của họ. Ngân sách quốc phòng của Mỹ có thể sẽ chỉ tăng ở mức không đáng kể trong năm tới, và Lầu Năm Góc bận rộn với việc xử lý những hoạt động trong các khu vực từ Iraq và Syria đến Tây Phi và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Khi một cuộc xung đột trên bán đảo Triều Tiên ngày càng có khả năng diễn ra hơn, Mỹ sẽ chỉ càng trở nên bận rộng. Nếu Triều Tiên hay Iran tin rằng Mỹ đang bận tâm với một hoạt động ở Nam Mỹ, thì những nhà nước đó có thể liều lĩnh, mà nếu không thì họ sẽ không làm, đe dọa các lợi ích của Mỹ ở Đông Bắc Á và Trung Đông. Hơn nữa, bằng việc phá hoại ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela, một cuộc can thiệp của Mỹ sẽ làm tăng giá cả toàn cầu và làm suy yếu chính phủ của các nước phụ thuộc vào năng lượng ở châu Phi và Caribe.

Cuối cùng, một cuộc can thiệp quân sự sẽ mang lại một phí tổn rất cao cho ảnh hưởng của Mỹ ở Tây bán cầu. Colombia, Peru và một số nước khác đã nhanh chóng lên án đề xuất của Trump rằng một lựa chọn quân sự đang được đặt lên bàn. Việc sử dụng vũ lực sẽ châm ngòi cho một phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều, thậm chí là từ các đối tác thân thiết nhất của Washington. Bằng việc các nước khác trong khu vực nhớ lại lịch sử nước Mỹ đã can thiệp vào công việc của họ, Washington sẽ đánh mất thiện chí của các nhà nước này – và cùng với đó là cơ hội để làm việc với họ về các vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi người trên bán cầu này, từ việc đối phó với tội phạm xuyên quốc gia đến việc hợp nhất cơ sở hạ tầng năng lượng của châu Mỹ.

Một cách thức tốt hơn

Lịch sử đã cho thấy rằng những sự chuyển tiếp dân chủ thành công thường là công việc nội bộ. Việc khôi phục nền dân chủ của Venezuela là một công việc dành cho công dân của nước này. Các chính phủ nước ngoài có thể giúp đỡ nhưng họ chỉ có thể đóng một vai trò hỗ trợ. Tuy nhiên, cho đến nay, những sự chia rẽ bên trong phe đối lập của Venezuela đã làm suy yếu những nỗ lực của họ đảm bảo sự ủng hộ của quốc tế đối với việc khôi phục quy tắc dân chủ.

Có một vài biện pháp mà Mỹ có thể tăng cường. Chẳng hạn, Chính quyền Barack Obama và Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đơn phương nhằm vào các quan chức Venezuela bị cáo buộc tham nhũng và vi phạm nhân quyền trong một nỗ lực nhằm tạo ra những sự rạn nứt bên trong chế độ này, điều có thể khiến họ sụp đổ hoặc thay đổi cách hành xử của họ. (Gần đây, Chính quyền Trump đã mở rộng và làm sâu sắc các biện pháp trừng phạt đó; cho đến nay, điều đó hầu như không có tác dụng). Nhưng một số người lập luận rằng các biện pháp trừng phạt đơn phương của Mỹ là phản tác dụng. Theo tư duy này, Maduro có thể chỉ ra các biện pháp này là những ví dụ cho thấy sự hung hăng của Mỹ, điều giúp ông tập hợp ít nhất là sự ủng hộ nào đó từ nước ngoài và trong số những người ủng hộ đã mệt mỏi của ông ở trong nước.

Đó là lý do giải thích tại sao Mỹ nên làm việc với các chính phủ châu Âu và Mỹ Latinh để áp đặt các biện pháp trừng phạt đa phương nhằm vào các quan chức chính phủ và một số nhóm mà chế độ Maduro phụ thuộc, như Trung tâm ngoại thương quốc gia, một cơ quan chính phủ quản lý việc trao đổi tiền tệ, và Camimpeg, một công ty về dịch vụ năng lượng được quân đội hậu thuẫn. Khi các nước đó làm như vậy, họ nên chắc chắn tránh những sự hạn chế gây tổn hại cho những người dân thường Venezuela, vốn đang chịu tác động của một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc. Các biện pháp trừng phạt đa phương này sẽ cô lập và gây áp lực cho chế độ Maduro, và các chính phủ áp đặt các biện pháp này sẽ có tính hợp pháp để siết chặt hơn nữa Chính quyền Maduro, nếu họ cần phải làm. Đây là một cách tiếp cận mà các nước láng giềng của Mỹ ở Tây bán cầu có thể tán thành – nhưng chỉ khi Washington kiềm chế nói đến can thiệp quân sự và làm việc nỗ lực hơn để thuyết phục các nước láng giềng của Venezuela cùng tham gia.

Đề xuất của Trump rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực ở Venezuela có thể là hấp tấp. Dù thế nào, các chính phủ và người dân ở châu Mỹ và ngoài khu vực này cũng đã chú ý đến thiệt hại của Washington. Điều cuối cùng Mỹ cần hiểu bây giờ là một cuộc can thiệp quân sự sẽ kéo căng quá mức các lực lượng của họ và khiến Washington xao lãng khỏi những mối đe dọa nguy hiểm hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/venezuela/2017-11-08/what-would-us-intervention-venezuela-look

TLTKĐB – 17/11/2017

Advertisements

Việt Nam – đối tác sẵn sàng của Canada


Nhân tham dự Hội nghị cấp bộ trưởng APEC về doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Stewart Beck, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Quỹ châu Á – Thái Bình Dương của Canada, đã có bài viết về mối quan hệ giữa Canada và Việt Nam:

Ký ức về cuộc Chiến tranh Việt Nam vẫn còn in đâm trong tâm trí nhiều người thuộc thế hệ của tôi và sẽ sớm được hồi sinh trong cuốn phim tài liệu cùng tên của Ken Burns. Trong cuộc chiến này, Canada – cùng với Ấn Độ và Ba Lan – giữ một vai trò quan trọng với tư cách là thành viên của Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Sau khi chiến tranh kết thúc, Canada đã tiếp nhận 60.000 người tị nạn Việt Nam trong giai đoạn 1979 – 1980, mở Đại sứ quán tại Hà Nội năm 1994 và Tổng lãnh sự ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1997.

Kinh nghiệm đầu tiên của tôi với Việt Nam là vào năm 1994, khi tôi thường xuyên sang Việt Nam để giúp thành lập Đại sứ quán và mở Văn phòng thương mại của Canada ở Thành phố Hồ Chí Minh (hay còn được gọi là Sài Gòn), nơi vẫn chịu ảnh hưởng của Mỹ. Tại thời điểm đó, Việt Nam đang trong tiến trình Đổi Mới, giống như mô hình cải cách kinh tế của Trung Quốc để tạo ra một “nền kin tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Kể từ thời điểm đó, Việt Nam đã trở thành quốc gia lớn thứ 11 của Canada về lượng du học sinh quốc tế (năm 2011) và quan hệ thương mại song phương hàng năm đã tăng lên tới 5,5 tỷ CND (năm 2016). Với sự tăng trưởng kinh tế phi thường, nền kinh tế ngày càng tự do hóa, cam kết tham gia và hội nhập toàn cầu, và là một thành viên trong cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie) Việt Nam đang và sẽ tiếp tục là một đối tác hợp tác quan trọng trong ASEAN và Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC).

Năm ngoái, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP 6,2%, cao gấp 4 lần Canada. Việt Nam có 43,7 triệu công dân kết nối Internet và đạt được sự cân bằng kinh tế – xã hội lớn trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam cũng đang phát triển rất mạnh. So với khu vực, Việt Nam có hệ sinh thái phát triển tốt cho các vườn ươm và các doanh nghiệp lớn. Trên thực tế, sự phát triển thành công vượt bậc của cộng đồng khởi nghiệp ở Việt Nam đã tạo ra “sức hấp dẫn đối với các trí thức”, thu hút các doanh nhân trẻ từ nước ngoài trở về để thành lập hoặc làm việc tại các công ty mới khởi nghiệp, mang lại những tri thức và kỹ năng mới giúp thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển trong nhiều năm tiếp theo.

Với sự không chắc chắn của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP) sau khi Mỹ rút lui và sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ mậu dịch, giờ là thời điểm để Canada tham gia sâu hơn vào Việt Nam thông qua việc mở rộng vai trò đối tác của mình trong APEC và ASEAN. Cũng như nhiều nước khác, Canada coi các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (SME) là động lực thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới trong khu vực APEC.

Việt Nam hiện có khoảng 600.000 MSME đăng ký hoạt động và con số này không ngừng tăng lên ở mức trên 100.000 MSME mỗi năm. Chỉ trong 2 tháng đầu năm nay, đã có khoảng 14.500 MSME mới được thành lập với tổng số vốn đăng ký khoảng 8,2 tỷ USD. Vì thế, Canada có cơ hội vận dụng những kinh nghiệm về đổi mới công nghệ, kinh doanh và phát triển xanh trong việc thúc đẩy sự phát triển của các MSME ở Việt Nam cũng như khu vực APEC rộng lớn hơn. Dự án Thúc đẩy Đối tác Kinh doanh Canada – APEC là một minh chứng cho cam kết của Canada trong việc tham gia vào không gian MSME. Dự án kéo dài 4 năm với mục tiêu xây dựng và phát triển cộng đồng MSME trong khu vực APEC. Dự án do Bộ các vấn đề toàn cầu (Bộ Ngoại giao) Canada tài trợ và do Quỹ châu Á – Thái Bình Dương phối hợp với Ban thư ký APEC quản lý. Hiện dự án đã gần kết thúc năm hoạt động đầu tiên với trọng tâm được đặt ở Việt Nam.

Ngoài ra, Canada cũng có cơ hội kết nối các doanh nghiệp của mình với những đối tác tương đồng ở các nền kinh tế thành viên APEC như Việt Nam, nơi họ sẽ có cơ hội phát triển trong những lĩnh vực như nông nghiệp, giáo dục – đào tạo, công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sạch, tài chính và một số ngành dịch vụ khác. Canada có danh tiếng tốt ở Việt Nam và sẽ ngày càng tốt hơn với thực tế toàn cầu hiện nay. Giúp Việt Nam xây dựng và phát triển các MSME sẽ mang lại những lợi thế chiến lược cho Canada và nếu đủ khôn ngoan, chúng ta sẽ tham gia ngay từ đầu vào quá trình hình thành cộng đồng khởi nghiệp của Việt Nam, đưa ra những tư vấn và trợ giúp kỹ thuật. Chúng ta cũng nên cộng tác trong phát triển thương mại điện tử và giáo dục – đào tạo không chỉ vì lợi ích của Việt Nam mà còn cho chính chúng ta.

Đối với thế hệ của tôi, đôi khi rất khó để gạt bỏ ký ức về chiến tranh, về những chiếc trực thăng, binh lính Mỹ và đội quân Việt cộng. Nhưng Việt Nam đã mạnh mẽ vượt qua sự tàn phá của chiến tranh, trở thành một đối tác sẵn sàng và mong muốn hợp tác với Canada.

Nguồn: TKNB – 19/09/2017

Quân đội Cuba có thực sự kiểm soát 60% nền kinh tế?


Quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump cấm các doanh nghiệp nước này giao dịch với các đối tác Cuba do quân đội kiểm soát đã một lần nữa làm nổi bật vai trò của các lực lượng vũ trang trong nền kinh tế Cuba.

Vai trò của các lực lượng vũ trang Cuba là rất rộng, vươn tới nhiều lĩnh vực khác nhau và lớn mạnh trong vài năm qua, cùng với đà tăng trưởng của ngành du lịch, các doanh nghiệp quân đội có mức độ tập trung cao nhất.

Những doanh nghiệp này do Tập đoàn quản lý doanh nghiệp (GAESA) thuộc Bộ Các lực lượng vũ trang Cuba (MINFAR) kiểm soát. Tuy nhiên, giả thuyết được lan truyền rộng rãi trong báo chí phương Tây ngay sau tuyên bố của Tổng thống D. Trump rằng quân đội Cuba kiểm soát tới 60% nền kinh tế liệu có chính xác?

Chỉ cần rà soát sơ bộ tỷ trọng của các lĩnh vực kinh tế trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Cuba cũng có thể thấy lời khẳng định “chắc nịch” trên là một sai lầm thô thiển: những lĩnh vực mà quân đội không tham gia hoặc tham gia không đáng kể đã chiếm tới hơn nửa giá trị GDP, và trong những lĩnh vực có doanh nghiệp quân đội tham gia, vẫn có tỷ trọng rất lớn của các doanh nghiệp dân sự (Thống kê biên niên Cuba 2015). Vậy tỷ trọng thực sự của các doanh nghiệp quốc phòng trong nền kinh tế Cuba là bao nhiêu và con số 60% bắt nguồn từ đâu?

Nhìn chung, chính phủ Cuba không thông tin về thu nhập của các doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng từ số liệu chính thức được công bố của một vài tập đoàn lớn có thể đưa ra những ước tính hợp lý: thu nhập chung của các doanh nghiệp do quân đội quản lý đạt giá trị 970 triệu USD năm 1997, đa phần của số thu nhập này đến từ ngành du lịch, giả sử rằng chỉ số tổng thu nhập này tăng cùng tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Cuba trong những năm qua.

Năm 1997, Cuba đón 1,2 triệu lượt khách quốc tế (theo Biên niên số liệu Cuba năm 2004). Năm 2016, Cuba đón 4,1 triệu lượt khách, tăng 249%, và nếu cách tính theo tỷ lệ thuận này, tổng thu nhập của các doanh nghiệp “dính líu tới quân đội” – như định nghĩa của Washington – trong năm 2016 sẽ ở mức khoảng 3,4 tỷ USD.

Có thể kiểm chứng tính khả tín của phép ước lượng này bằng những số liệu của 3 doanh nghiệp quân đội lớn nhất là các tập đoàn Gaviota, Cimex và TRD. Gaviota – thể chế kinh doanh lớn nhất do quân đội quản lý – tập trung chủ yếu vào lĩnh vực du lịch: doanh thu của ngành công nghiệp không khói của Cuba vào năm 2015 là 2,8 tỷ USD (Biên niên thống kê Cuba 2015); trong khi dù là công ty có tỷ trọng lớn nhất trong ngành này, Gaviota còn xa mới là công ty độc quyền, và họ kiểm soát khoảng 40% tổng số các phòng khách sạn có trong cả nước (mặc dù tỷ lệ này ở các khách sạn sang trọng nhất cao hơn và các khách sạn thấp cấp là thấp hơn), bên cạnh các dịch vụ như cho thuê xe, taxi du lịch và nhà hàng. Như vậy, có thể doanh thu của Gaviota chiếm 60% ngành du lịch Cuba hay khoảng 1,7 tỷ USD.

Cimex có doanh thu 740 triệu USD vào năm 2004. Nếu sử dụng đúng biện pháp tăng doanh thu theo tỷ lệ thuận của tăng trưởng du lịch (mặc dù tập đoàn này ít tập trung vào du lịch hơn so với Gaviota) thì doanh thu ước tính của Cimex trong năm 2016 có thể đạt khoảng 1,3 tỷ USD. Nhóm Tư vấn La Habana, có Chủ tịch Emilio Morales từng là lãnh đạo của Cimex ước tính thu nhập của tập đoàn này ở mức 1,2 tỷ USD. TRD – chuỗi cửa hành được thành lập nhằm thu hút ngoại tệ lưu thông trong lãnh thổ Cuba – đạt doanh số bán hàng 250 triệu USD năm 2004. Nếu sử dụng cùng biện pháp đã nêu, doanh số năm 2016 của TRD sẽ ở mức 442 triệu USD.

Theo cách tính này, tổng doanh thu ước tính của 3 công ty trụ cột của GAESA sẽ ở mức 3,45 tỷ USD năm 2016, rất gần với mức 3,4 tỷ USD đã nêu ở phần trên dựa vào những số liệu thu nhập tổng thể của MINFAR. Emilio Morales sử dụng các số liệu tập hợp được trong 15 năm qua, thì ước tính tổng doanh thu của GAESA ở mức khoảng 3,8 tỷ USD.

Ngay cả khi sử dụng số liệu của Morales, tức là số liệu lớn nhất trong 3 mức ước tính, thì doanh thu của GAESA cũng mới tương đương 21% tổng thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân. 8% của tổng thu nhập các doanh nghiệp nhà nước và chỉ tương đương 4% GDP của Cuba (Biên niên thống kê Cuba 2015). Vẫn còn một khoảng cách rất dài từ con số này tới giả thuyết “60% nền kinh tế”, cho dù có dùng thước đo nào.

Vậy con số 60% từ đâu ra? Nó được tờ Miami Herald đưa ra lần đầu vào tháng 2/2004, trích dẫn số liệu Dự án Diễn biến Cuba (CTP), thuộc Viện Nghiên cứu Cuba và Cuba – Mỹ (IECC) của Đại học Miami, một dự án được chính phủ Mỹ tài trợ và luôn có quan điểm chống La Habana cực đoan. Giám đốc IECC Jaime Suchlicki sau đó đã nhiều lần lập lại nhận định này và từng viết trong biên bản một hội nghị của CTP tháng 11/2004 rằng “Hiện tại, hơn 65% các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước chính nằm trong tay các sĩ quan quân đội tại ngũ hoặc đã xuất ngũ”.

Mặc dù không bao giờ dẫn chứng những con số hay bằng chứng làm cơ sở, công thức mà Suchlicki đưa ra chí ít vẫn có chút khả năng thực tế, cho dù mang xu hướng lừa gạt, bởi vì nó không chỉ bao gồm các doanh nghiệp do quân đội nắm giữ mà cả mở rộng sang cả các tổ chức, công ty dân sự hoặc cả một cơ quan cấp bộ nào đó do quân nhân tại ngũ hoặc đã xuất ngũ nắm giữ. Xu hướng lừa gạt ở đây nằm ở hàm ý rằng tất cả các tổ chức và doanh nghiệp loại này đều do quân đội kiểm soát, dù không có chút cơ sở nào cho kết luận này. Ngược lại, do các thể chế quân đội Cuba luôn nằm trong số những thể chế có hiệu quả nhất, việc quân đội “xuất khẩu” các nhà quản lý và lãnh đạo sang ngạch dân sự là một truyền thống có từ những năm 1970 chưa kể tới việc do đặc điểm học thuyết quốc phòng (“chiến tranh nhân dân”) và cơ chế tuyển quân của Cuba, tỷ lệ người dân, đặc biệt là nam giới tại quốc đảo này từng kinh qua quân ngũ là khá cao.

Theo thời gian, giả thuyết trên dần dần được “rút gọn” lại thành MINFAR thông qua GAESA kiểm soát hơn 60% nền kinh tế Cuba và trở nên phổ biến khi xuất phát từ một cơ quan nghiên cứu và các nguồn “uy tín” như The Wall Street Journal hay quỹ Trao quyền vì dân chủ (National Endowment for Democracy, do chính phủ Mỹ cấp ngân sách) trích dẫn. Một lần nữa, có thể thấy sức mạnh bóp méo thông tin đáng sợ của bộ máy truyền thông nhằm mục đích chính trị, mà lần này là việc tô vẽ một sự “kiểm soát thái quá” của giới quân sự tại Cuba.

Nguồn: The Huffinfton Post (Mỹ)

TKNB – 06/07/2017

Sứ mệnh của Canada khi gia tăng căng thẳng ở Biển Đông


Dẫn lời chuyên gia Đại học Tổng hợp Bristish Columbia (UBC) cho biết, Canada sẽ gặp phải nhiều khó khăn nếu có nổ súng ở Biển Đông.

Theo giáo sư chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế đến từ trường UBC Micheal Byers, hải quân Canada tốt nhất nên lên kế hoạch dự phòng nếu có sai sót khi cử 2 chiến hạm tới Đông Nam Á qua Biển Đông. Sau khi chứng kiến quan điểm của các quan chức Mỹ và sự căng thẳng ở khu vực Biển Đông, ông cho rằng Canada cần một kế hoạch ứng phó nếu tình hình trở nên tồi tệ.

Canada đã điều 2 chiến hạm HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa tới khu vực Biển Đông từ đầu tháng 3 theo chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương được mệnh danh là POSEIDON CUTLASS 17. Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền của mình đối với phần lớn diện tích Biển Đông, tuy nhiên các quốc gia lân cận tố cáo Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ khi nước này liên tục vượt quá hải phận. Philippines – một trong những quốc gia có xung đột với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông – đã thắng kiện tại tòa án tại La Hay (Hà Lan) về phần lãnh thổ mà cả hai nước cùng khẳng định chủ quyền. Mặc dù đã phê chuẩn thỏa thuận đưa ra bởi tòa án cách đây 20 năm, Trung Quốc tuyên bố sẽ không tuân theo quyết định này. Malaysia và Việt Nam, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan và các nước khác trong khu vực đều có xung đột tương tự với Trung Quốc.

Sứ mệnh của hải quân Canada lần này là đưa 2 chiến hạm tới khu vực Đông Nam Á qua Biển Đông. Theo tóm lược nhiệm vụ, HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa cũng sẽ dừng chân tại Trung Quốc và các quốc gia khác như Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines… Giáo sư Byers cho biết trong tình hình ổn định đây không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn nhưng khu vực này lại đang trong tình trạng căng thẳng tăng cao. Mỹ từng hiện diện tại khu vực này với mục đích kiểm Trung Quốc . Tuy nhiên, nhà nước của ông Tập Cận Bình đã xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong khu vực mà nước này tự tuyên bố chủ quyền.

Trong khi đó, những thông điệp trên Twitter của Tổng thống Donald Trump về Trung Quốc, ví dụ như lời cáo buộc chính quyền Tập Cận Bình thao túng tiền tệ đã đổ thêm dầu vào lửa. Tháng Giêng vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra những tuyên bố ngụ ý rằng Mỹ có thể sẽ sử dụng đến quân đội để đối phó với Trung Quốc. Cựu cố vấn chiến lược của Trump, ông Steve Bannon từng tuyên bố rằng chiến tranh với Trung Quốc đang tới gần. Tất cả những điều này đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Ông Byers cho biết trong tình hình này, nếu chiến tranh thực sự xảy ra, Canada sẽ buộc phải lựa chọn ủng hộ đồng minh số một là Mỹ, hoặc rời khỏi khu vực (đồng nghĩa với việc đứng về phía Trung Quốc). “Trong tình huống đó, chính phủ Canada phải nhanh chóng đưa ra một quyết định rất khó khăn. Đây không phải là điều Canada muốn, đó là lý do tại sao tôi hết sức quan ngại khi chính phủ cử chiến hạm vào khu vực Biển Đông tại thời điểm này”.

Bộ trưởng Quốc phòng Canada tuyên bố sẽ không tiết lộ bất cứ kế hoạch dự phòng nào trong trường hợp khu vực xảy ra xung đột do những mối đe dọa về an ninh. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn, chỉ huy Hải quân Hoàng gia Canada – Phó đô đốc Ron Lloyd cho hay “sẽ rất khó để có thể đến Trung Quốc nếu không đi qua Biển Đông”. Đồng thời, ông cũng cho biết tàu của Canada sẽ tránh các khu vực xung đột. Bộ trưởng Quốc phòng Harjit Saijan cũng khẳng định rằng Canada không có kế hoạch tiến gần các khu vực tranh chấp ở Biển Đông vì mục đích ngoại giao. “Tại sao chúng ta lại muốn đi qua khu vực xung đột? Đó không phải là mục đích. Mục đích của chuyến đi lần này là để tăng cường quan hệ với những đối tác lớn”.

Nguồn: thetyee.ca – 16/03/2017

TKNB – 06/07/2017

Chế độ độc tài – giải pháp cứu vãn Brazil?


Người dân Brazil cảm thấy bị xúc phạm và vô cùng bối rối trước hàng loạt tin tức về thế giới chính trị ngầm ở trong nước, từ các vụ bê bối hối lộ tham nhũng, các mưu đồ chính trị đến quyết định bác bỏ việc phế truất Tổng thống Michel Temer của Tòa án tối cao hôm 10/6 vừa qua. Tuy nhiên, nạn tham nhũng công khai tràn lan không phải là mối đe dọa duy nhất đối với nền dân chủ của Brazil. Nó cũng chẳng phải là mối đe dọa nguy hiểm nhất.

Brazil là một trong những “thủ phủ chết chóc” trên thế giới, với dân số gần 208 triệu người nhưng có đến 60.000 vụ giết người mỗi năm. 10% số nạn nhân bị giết trên thế giới mỗi năm là người Brazil. Sau hàng loạt cuộc nổi loạn trong nhà tù và các cuộc tấn công cảnh sát đẫm máu ở Espirito Santo và Rio de Janeiro, nhà chức trách nước này dường như đã “đầu hàng”.

Một số sáng kiến về an toàn cộng đòng đã được áp dụng thành công trong thập kỷ qua. Lực lượng cảnh sát đã đưa ra những cải tổ và sáng kiến chống bạo lực ở Rio de Janeiro và Pernambuco nhằm giúp giảm thiểu tỷ lệ các vụ giết người lên đến 50%, song mới chỉ mang tính tạm thời. Tại những địa điểm này, tỷ lệ các vụ án mạng vẫn đang gia tăng.

Theo một nghiên cứu của Quỹ Xã hội Mở (OSF), gần 50 triệu người Brazil từ 16 tuổi trở lên – chiếm gần 1/3 số người trưởng thành – biết về một nạn nhân bị sát hại: Gần 5 triệu người bị thương bởi súng đạn và khoảng 15 triệu người biết về một nạn nhân bị cảnh sát giết hại. Cũng bởi lẽ đó, cảnh sát Brazil được coi là lực lượng giết người nguy hiểm nhất trên thế giới.

Tại các khu ổ chuột nghèo nàn của thành phố Rio de Janeiro, các hoạt động trấn áp của cảnh sát theo phong cách quân sự và việc cảnh sát chiến đấu với các băng đảng là điều thường xuyên xảy ra. Mỗi ngày trôi qua, người dân địa phương đều phải sống trong cảnh sợ hãi tột cùng. Sự kích động xã hội gây ra bởi cuộc khủng hoảng giết người tại đây kết hợp với niềm tin vào nền chính trị dần dần bị vỡ vụn, đang làm sản sinh một khuynh hướng chính trị phi dân chủ. Hiện nay, các quan chức đang lợi dụng những bài diễn văn về chủ nghĩa phân biệt đối xử, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và khuynh hướng bài ngoại để biện minh cho những chính sách trừng phạt nhắm đến một lượng lớn các thành phần trong xã hội, bao gồm các thành viên băng đảng tội phạm, những người sử dụng ma túy và đồng bào dân tộc thiểu số.

Giống như Tổng thống Mỹ Donald Trump, chính trị gia người Pháp Marine Le Pen và chính trị gia người Hà Lan Geert Wilders, những người đều sử dụng mối đe dọa khủng bố để kích động sự sợ hãi và không khoan dung trong dân chúng, các nhà lãnh đạo Brazil cũng xác định rằng việc áp đặt trật tự xã hội quan trong hơn trong việc xây dựng một xã hội mạnh mẽ. Do đó, nỗi sợ hãi đã được kích động bởi tính bạo lực không ngừng và sự thiếu năng lực rõ ràng của các cơ quan an ninh công cộng trong việc giải quyết vấn đề. Theo một cuộc khảo sát của Quỹ Getuli Vargas, 36% dân số Brazil cảm thấy hài lòng với cảnh sát và chỉ có 25% nói rằng họ tin tưởng lực lượng này. Chính sự ngờ vực này đang làm trầm trọng thêm những nhận thức về mối nguy hiểm.

Trong bối cảnh đó, người Brazil có thể tìm ra những nhà lãnh đạo phản đối bạo lực. Họ dường như có xu hướng muốn làm sụp đổ chế độ luật lệ thời hậu độc tài theo Hiến pháp năm 1988, được ký kết sau khi nền dân chủ được khôi phục. Theo một cuộc điều tra quốc gia chưa được công bố của Diễn đàn Phi chính phủ Brazil về An toàn công cộng, 69% số người Brazil (trong tổng số 2087 người được hỏi) từ 16 tuổi trở lên đồng ý rằng “Những gì đất nước này cần, trước hết, không phải là pháp luật hay các kế hoạch chính trị, mà là những nhà lãnh đạo dũng cảm, những người không biết mệt mỏi và luôn tận tụy để người dân có thể đặt cược niềm tin của họ”.

Jair Bolsonaro, một cựu đội trưởng quân đội từ bang Rio de Janeiro, người có ý định chạy đua chức Tổng thống Brazil năm 2018, đã ủng hộ việc đưa đất nước theo hướng lãnh đạo độc tài. Ông Bolsonaro đã công khai kêu gọi Brazil quay trở lại chế độ “thiết quân luật” và nhận được sự quan tâm đông đảo của người dân. Trong khi đó, cảnh sát – lực lượng mà trên lý thuyết, nên là những người bảo vệ luật pháp hiện hành – cũng đang thể hiện sự ủng hộ dành cho ông Bolsonaro.

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một quốc gia mà đạo Cơ đốc theo phái Phúc âm đang bùng nổ rộng rãi như Brazil, đã có đến 64% người được hỏi tin rằng “tất cả chúng ta phải có một niềm tin tuyệt đối với quyền lực siêu nhiên, nơi mà mọi phán quyết đưa ra đều phải được chúng ta tuân thủ”. Khi tôn giáo xâm nhập vào nền chính trị của nước này, “niềm tin” dường như đang hình thành một trật tự mới, tạo ra sự cộng sinh phức tạp giữa nhà nước và tôn giáo, điều sẽ ảnh hưởng cơ bản đến quan điểm của công chúng và việc hoạch định các chính sách.

Trong bối cảnh có đến 53% người dân Brazil được hỏi tin rằng “cảnh sát là một chiến binh của Chúa – vị thần có trách nhiệm áp đặt trật tự và bảo vệ người dân lương thiện”, điều này biện minh cho 2 hành vi đang gây tổn hại cho đất nước. Thứ nhất, nó bỏ qua hành động bạo lực đang lan rộng của lực lượng cảnh sát, và thứ hai, nó “phớt lờ” các tổ chức tội phạm trong các luật lệ địa phương.

Truyền tải tính trật tự xã hội vào quan điểm đạo đức cá nhân để biện minh cho chủ nghĩa độc tài là một cách vừa tinh tế, vừa mạnh mẽ. Người Brazil đã chiến đấu để giành lại quyền dân sự và nhân quyền sau 2 thập niên trải qua một chế độ độc tài quân sự đẫm máu. Sau 30 năm, đất nước hiện đang bị tê liệt bởi tội ác và bạo lực, người dân lại muốn quay lại “ve vãn” chủ nghĩa độc tài và sự thẳng tay trừng trị.

Trong quá trình “ăn mòn” này, tỷ lệ tội phạm có tổ chức đã tăng gấp đôi, tình trạng tham nhũng tăng lên gấp bội, và sự bất ổn cũng như những mối nguy hiểm đã làm xáo trộn nền chính trị quốc gia. Để cứu vãn nền dân chủ, Brazil cần khẩn trương tìm ra một giải pháp mới để đảm bảo sự an toàn cho xã hội. Nếu không, sự sợ hãi, tội phạm và tình trạng giết người sẽ thống trị đất nước.

Nguồn: theconversation.com – 16/06/2017

TKNB – 19/06/2017

Liệu Donald Trump có phải điềm gở đối với Cuba?


Phản ứng của Cuba trước chiến thắng của tỷ phú Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ là đăng trên tin chính trang nhất của nhật báo Granma – cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Cuba – về cuộc diễn tập quân sự Bastión 2016 trên phạm vi toàn quốc. Theo bình luận của mạng tin Cartas desde Cuba, dù cuộc tập trận này là một hoạt động định kỳ, nhưng việc hai sự kiện trên cùng xuất hiện trên trang bìa của nhật báo chính thống có lượng phát hành lớn nhất cả nước chắc chắn là một hành động có tính toán.

Bộ Các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba (Minfar) nhấn mạnh mục tiêu của cuộc diễn tập là huấn luyện các cấp tư lệnh “trong công tác tổ chức, nâng cao tính sẵn sàng phòng thủ và chuẩn bị cho quân đội và nhân dân đương đầu với nhiều loại hình hoạt động của kẻ thù”. Có thể có ai đó cho rằng đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng trong nền chính trị Cuba không có gì là tình cờ cả và chẳng có bài viết nào xuất bản trên cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, đặc biệt lại trong số ra ngay sau ngày bầu cử Mỹ, lại chưa được bộ máy lãnh đạo chính trị xét duyệt.

Đó dường như là một thông điệp cho ông chủ sắp tới của Nhà Trắng, người trong chiến dịch trnha cử vừa qua của mình đã tăng dần mức độ cứng rắn trong quan điểm đối với Cuba, mà cao trào điểm cuối là tại bang Florida với lời khẳng định sẽ đảo ngược mọi biện pháp mà tổng thống Barack Obama đã áp dụng với “hòn đảo tự do”. Rõ ràng, điểm yếu lớn nhất “di sản” của tổng thống sắp mãn nhiệm Obama chính là việc người kế vị của ông có thể tung hê chúng mà không phải trải qua quá nhiều thủ tục. Để đẩy lùi tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước, ông Trump có được sự ủng hộ và sức ép từ những chính trị gia gốc Cuba hiếu chiến trong Quốc hội, trong đó có Thượng nghị sĩ vừa tái đắc cử Marco Rubio.

Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng tổng thống đắc cử Mỹ là một doanh nhân và trong vai trò này ông từng gửi đặc sứ tới Cuba để tìm hiểu khả năng đầu tư tại đây, rất lâu trước khi tổng thống Obama áp dụng chính sách mở cửa đối với Havana và thậm chí đi ngược lại chính sách cấm vận. Hơn nữa, trong quá trình tranh cử sơ bộ trong Đảng Cộng hòa, ông Trump đã khẩu chiến dữ dội với hai ứng cử viên gốc Cuba, Ted Cruz và Marco Rubio, và khó có thể yêu cầu ông áp dụng chiến lược chống Havana của hai nhân vật diều hâu này.

Dẫu sao, giữa các nhân vật cộm cán của Đảng Cộng hòa vẫn có một số điểm chung: quan điểm bài nhập cư của Donald Trump có thể kết nối với những nỗ lực của Marco Rubio trong việc loại bỏ Luật Điều chỉnh Cuba – trong đó cho phép mọi công dân Cuba đặt chân lên lãnh thổ Mỹ đều được quyền cư trú tại quốc gia này.

Chính phủ Cuba đã tỏ ra thận trọng, Nhật báo Granma đã bình luận khá dè dặt rằng ông Trump thắng “nhờ vào những lá phiếu của hàng triệu cử tri Mỹ, trong đó đa số là người da trắng và cư dân nông thôn, những người không hài lòng với hướng đi của đất nước họ và ngán ngẩm hình ảnh của những chính trị gia truyền thống tại Washington”.

Còn trên đường phố, những người dân thường Cuba tỏ rõ vẻ thất vọng hơn, khi họ từng hi vọng với Hillary Clinton, Mỹ sẽ chấm dứt cuộc bao vây cấm vận chống quốc đảo nhỏ bé này trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, với mục tiêu công khai là tạo ra đói nghèo và tuyệt vọng trong dân chúng. Người Cuba lo sợ một chính sách mới của Mỹ có thể ảnh hưởng tới hàng nghìn thợ thủ công tự do, các chủ nhân và nhân viên của những nhà hàng, nhà trọ, quán cà phê tư nhân, những người được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ mức tăng trưởng du lịch mà quá trình tan băng giữa Cuba và Mỹ mang lại.

Trên thực tế, đối với các quan chức Cuba, đối phó với một Trump “thẳng tính” còn có phần dễ dang hơn với một Hillary Clinton lão luyện trong chính trị và ngoại giao. Nữ ứng cử viên Dân chủ là sự nối tiếp chính sách của ông Obama, một chiến lược nhuần nhuyễn va bài bản để chinh phục trái tim người dân Cuba – điều khiến Havana luôn phải đề phòng. Một nghịch lý là chính ông Trump có thể đóng góp cho sự đoàn kết của giới lãnh đạo cách mạng Cuba, từng có nhận định khác nhau về cách thức đối phó với chính sách của Obama. Giờ đây, dù tốt dù xấu, tất cả sẽ rõ rànghơn và không có nhiều thời gian cho những phán đoán suy luận hay thậm chí tưởng tượng.

Tất nhiên, Donald Trump là một nhân vật hữu khuynh, nhưng khác với George W. Bush, ông không “mắc nợ” với bang Florida trong chiến thắng bầu cử của mình và ông cũng chẳng có cảm tình đặc biệt gì với những chính trị gia chống Castro hay cộng đồng người Cuba – một phần của làn sóng nhập cư Mỹ Latinh mà tỷ phú này vẫn phản đối quyết liệt.

Vẫn còn quá sớm để biết được đối sách mà Donald Trump sẽ chọn lựa đối với Cuba, nhưng dường như Havana đã gửi cho tổng thống đắc cử Mỹ 2 thông điệp: Cuba đã chuẩn bị cho kịch bản tồi tệ nhất nhưng không bắt đầu cuộc khẩu chiến và trao cho ông chủ kế tiếp của Nhà Trắgn quyền “đi trước” quân cờ.

Nguồn: TKNB – 14/11/2016

Quan hệ Cuba – Mỹ sẽ đi về đâu sau khi cựu Chủ tịch Fidel Castro qua đời?


Trước khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Cuba bế mạc, nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro được người dân trìu mến gọi là vị Tổng tư lệnh đã nói: “Có lẽ đây là lần cuối cùng tôi phát biểu tại đây. Tôi cuối cùng sẽ ra đi, nhưng lý tưởng của người Cộng sản Cuba sẽ mãi trường tồn”. Người từng tuyên bố mình là người theo chủ nghĩa Marx – Lenin, nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ, nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc Cách mạng Cuba, người xây dựng nhà nước XHCN do Đảng Cộng sản Cuba lãnh đạo, cựu Chủ tịch Fidel Castro đã qua đời vào đêm 25/11/2016. Sau khi Chủ tịch Raul Castro công bố tin tức này trên truyền hình quốc gia, truyền hình các nước đã lập tức phát đi thông tin này.

Theo sự sắp xếp tang lễ được Cuba công bố: Cả nước để quốc tang 9 ngày, thi hài của Fidel Castro sẽ được hỏa táng, tro cốt của ông được rước qua các khu vực trên cả nước Cuba trong 4 ngày, cuối cùng được đưa về mai táng tại Santiago – thành phố lớn thứ hai, ở bến cảng phía Đông, từng được gọi là cái nôi cách mạng của Cuba, đó cũng là nơi an nghỉ của nhiều liệt sĩ cách mạng Cuba, tên của họ đã được khắc trên bia tưởng niệm liệt sỹ cách mạng.

Vì sao nhà cựu lãnh đạo của “một quốc gia nhỏ bé” qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Ngay sau khi Fidel Castro qua đời, rất nhiều người cánh tả và ủng hộ cuộc Cách mạng Cuba của Tây Ban Nha nằm ở châu Âu đã tới đặt bó hoa tưởng niệm tại cửa đại sứ quán Cuba ở nước này. Tổng tống Mexico Enrique Pena Nieto đọc lời điếu văn: “Fidel Castro không những là lãnh tụ cách mạng của Cuba mà còn là biểu tượng của thế kỷ 20”. Tờ The Mirror của Anh đăng bài viết của Tổng thống Ấn Độ Modi: “Vào thời khắc bi thương này, chúng ta đứng về phía chính phủ và người dân Cuba”. Ông nói: “Fidel Castro là nhân vật mang tính biểu tượng của thế kỷ 20, nhân dân Ấn Độ bày tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của nhân vật kiệt xuất này. Tôi xin bày tỏ lời chia buồn sâu sắc nhất đối với chính phủ và người dân Cuba, mong linh hồn của ông an giấc ngàn thu”. Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro cho biết: “Chúng tôi muốn tiếp tục di sản của ông và ngọn cờ độc lập của ông”.

Cuba là một quốc đảo Caribe với dân số 10 triệu người, rộng hơn 100.000 km2. Tại sao việc nhà cựu lãnh đạo của quốc gia này qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Năm 1959, anh em nhà Castro đã lãnh đạo nhân dân Cuba lật đổ chế độ độc tài Fulgencio Batista, tuyên bố Cách mạng Cuba giành thắng lợi. Cuba chỉ cách Mỹ 200 hải lý về phía Bắc, phía Nam hướng về lục địa Mỹ Latinh, phía Tây là Mexico, phía Đông giáp các quốc đảo Caribe. Cuba có ý nghĩa địa chính trị quan trọng đối với Mỹ: phía Nam của Mỹ không có cảng tự nhiên, trong khi đó Cuba lại có các cảng tự nhiên lớn như La Habana, San Diego. Ngoài ra, Mỹ và Mỹ Latinh bị ngăn cách bởi Cuba, hòn ngọc Caribe luôn bị Mỹ coi là lá chắn của Mỹ Latinh.

Trong lịch sử, Mỹ đã chiếm được Cuba thông qua cuộc Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, sau khi kế thừa Tây Ban Nha lại thực hiện chế độ thuộc địa tại đây. Sau khi Cuba giành độc lập, Mỹ đã gửi lính đánh thuê đến tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng Cuba (Mỹ gọi đó là sự kiện Vịnh Con lợn), đến nay Mỹ vẫn thuê dài hạn căn cứ Guantanamo, vẫn rất thèm muốn đối với Cuba.

Tin tức về người đã xây dựng đất nước XHCN ở một nơi rất gần trung tâm của CNTB, qua đời dường như đã mang theo một câu chuyện huyền thoại phiên bản thực tế. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng nói: Khi tôi học tiểu học, trung học, đại học, đi làm, làm tổng thống, tái đắc cử tổng thống, kết thúc nhiệm kỳ, ông ấy (Fidel Castro) vẫn luôn là nhà lãnh tụ Cuba. Câu nói này quả thực có mang sắc thái chính trị, nhưng cũng là sự khẳng định của đối thủ chính trị đối với nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ này.

Quan hệ Cuba – Mỹ đi về đâu?

Trong thời gian Fidel Castro nắm quyền, ông không những đã thực hiện chuyển giao quyền lực mà con đưa ra kiến nghị trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Cuba từ sau khi Chủ tịch Raul Castro kế nhiệm đã thực hiện sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế và xã hội ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên điều không thể phủ nhận là hiện ay Cuba vẫn phải đối mặt với sự thiếu hụt nguyên vật liệu trong một số lĩnh vực, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao mức sống của người dân. Cuba cần tăng tốc đẩy mạnh “cập nhật” đã trở thành một vấn đề hết sức quan trọng, việc duy trì thành quả của cuộc cách mạng không thể tách rời sự phát triển vật chất của nền kinh tế, xã hội đất nước.

Cùng với việc Cuba đẩy mạnh hơn nữa việc cập nhật hóa mô hình kinh tế, sau Đại hội 7, tầng lớp lãnh đạo của nước này cũng đã xuất hiện xu thế trẻ hóa. Mặc dù Bộ Chính trị đã được đổi máu, nhưng vấn đề hầu hết các thành viên có độ tuổi tương đối cao vẫn chưa được giải quyết. Nhà lãnh đạo Cuba Raul Castro hiện nay đã 84 tuổi. Trong số 12 ủy viên Bộ Chính trị, 8 người sinh trước năm 1950. Việc nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro qua đời cũng khiến mọi người quan tâm nhiều hơn tới vấn đề quá độ ổn định giữa thế hệ lãnh đạo già và trẻ của nước này.

So với các công việc nội bộ của Cuba, sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ trong tương lai có lẽ thu hút nhiều hơn sự chú ý của mọi người. Việc Fidel Castro qua đời e rằng khó tránh khỏi tăng thêm các nhân tố bất ổn cho sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ. Năm 2015, hai nước chính thức nối lại quan hệ ngoại giao, năm 2016, quan hệ Cuba – Mỹ có phần ấm lên hơn, điều này phù hợp với mong muốn liệt kê thêm thành tích cho Chính phủ Mỹ, Obama chắc chắn sẽ được ghi vào sử sách lịch sử ngoại giao Mỹ. Song hiện thực luôn không giống như sách vở: Các cuộc đàm phán về những vấn đề thực chất giữa hai nước không có tiến triển, hơn 1 năm sau khi Tổng thống Obama tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại, các phương tiện truyền thông Cuba cho biết tình hình chưa có thay đổi gì. Pháp lệnh đòi hỏi Quốc hội Mỹ dỡ bỏ này khó có thể được thực hiện trong thời gian ngắn.

Mỹ chỉ đơn giản là đã thay đổi chiến lược đối với Cuba, sự cải thiện mối quan hệ về mặt hình thức lớn hơn các hành động thực tế. Mặc dù năm nay Tổng thống Obama đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Cuba, nhưng mối quan hệ giữa hai nước vẫn đang trong giai đoạn bước đầu, các cuộc đàm phán về tiền đền bù đối mặt với nhiều khó khăn pháp lý, chính trị và kỹ thuật (liên quan đến thời kỳ cải cách ruộng đất, thu hồi quốc hữu hóa các công ty Mỹ và các lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Cuba), đều là các yếu tố quan trọng gây trở ngại đáng kể cho việc cải thiện quan hệ hai nước.

Tháng 11, Donald Trump – xuất thân là một doanh nhân – đã được bầu làm tổng thống Mỹ, khiến khả năng tạo ra một cấp độ mới trong quan hệ song phương thời gian tới giảm đi. Trong chiến dịch tranh cử, Donald Trump từng bày tỏ ủng hộ việc Chính quyền Obama nối lại quan hệ ngoại giao với Cuba, nhưng đồng thời nói rằng nếu ông là người chủ trì các cuộc đàm phán thì ông sẽ xem xét nhiều hơn tới lợi ích của Mỹ. Mặc dù một số học giả cho rằng những phát ngôn này là để thu hút các cử tri khu vực Miami, nhưng Donald Trump thuộc đảng chính trị khác rất khó tiếp tục đường lối chính sách đối ngoại của chính phủ hiện hành. Hiện nay, liên minh do các công ty Mỹ hình thành và các lực lượng chính trị gốc Cuba trong Quốc hội Mỹ vẫn đang tồn tại bất đồng về việc phát triển quan hệ Cuba – Mỹ.

Ngoài ra, ở Cuba cũng có nhiều người hoài nghi về sự phát triển của mối quan hệ giữa Cuba và Mỹ. Về ngoại giao, trước và sau khi quan hệ được phá băng, Chính phủ Cuba luôn giữ thái độ đối thoại cởi mở, nhưng người dân có quan điểm khác nhau về tốc độ phát triển của quan hệ song phương kể từ khi nối lại quan hệ ngoại giao cũng như sự phát triển thực sự trong quan hệ hai nước. Một số người Cuba muốn quan hệ phát triển nhanh chóng, nhưng lại lo ngại Mỹ thay đổi chính sách nhập cư đặc biệt đối với Cuba; những người Cuba giữ quan điểm truyền thống lo ngại chính sách thù địch của Mỹ đối với Cuba không bao giờ thay đổi, nối lại quan hệ ngoại giao chỉ là sự chuyển biến về mặt sách lược, nối lại quan hệ với Mỹ quá nhanh hoặc quá chậm đều không có lợi cho sự phát triển độc lập mà Cuba vẫn duy trì kể từ khi giành thắng lợi trong cuộc cách mạng đến nay.

Những biến số có ảnh hưởng lớn tới quan hệ Cuba – Mỹ nằm ở Nội các sau khi Donald Trump lên cầm quyền. Những trình bày có liên quan đến Cuba trong chiến dịch tranh cử của Donald Trump bao gồm nâng cao địa vị của Mỹ, chèn ép hơn nữa sự phát triển của Cuba cũng như từ chối dỡ bỏ cấm vận thương mại. Tháng 3/2016, Trump từng nói với phóng viên CNN: “Tôi nghĩ rằng ở Cuba có một tiềm năng nhất định”, “xem xét lại vấn đề Cuba là một việc làm đúng đắn”, và cho biết ông đang xem xét việc mở khách sạn ở Cuba. Đồng thời, ở Mỹ cũng có những tiếng nói yêu cầu đóng cửa đại sứ quán của hai nước. Lực lượng chính trị gốc Cuba phản đối chính quyền Cuba hiện nay sẽ tiếp tục giữ quan điểm đó sau khi Trump lên cầm quyền thời gian tới. Không thể phủ nhận một điều rằng đảng Cộng hòa không muốn kế thừa di sản ngoại giao của đảng Dân chủ, khi không thể vượt qua những thành tựu ngoại giao mà Obama đã thực hiện được, lựa chọn vứt bỏ hoàn toàn những thành tựu của người tiền nhiệm hoặc thay đổi thái độ có lợi đối với Cuba đều vẫn có thể xem là con đường Trump sẽ lựa chọn sau khi lên nắm quyền vào năm tới.

Nguồn: thepaper.cn – 27/11/2016

TLTKĐB – 01/12/2016