Venezuela – Phát súng đầu tiên trong kế hoạch tái định hình Mỹ Latinh của Mỹ


Mục tiêu rộng hơn của Chính quyền Trump là giành ưu thế trước Cuba và chặn đứng các bước xâm nhập khu vực gần đây của Nga, Iran và Trung Quốc.

Theo chia sẻ của một số quan chức Mỹ, nỗ lực của Chính quyền Trump nhằm loại bỏ Tổng thống Venezuela đánh dấu điểm khởi đầu của một chiến lược mới nhằm xác lập ảnh hưởng lớn hơn của Mỹ tại Mỹ Latinh.

Mục tiêu chính không chỉ là Nicolas Maduro của Venezuela mà còn là Cuba, một nước thù địch đã chi phối sự chú ý của Mỹ đến khu vực này trong hơn 50 năm qua, cũng như những bước xâm nhập gần đây của Nga, Trung Quốc và Iran.

Maduro và người tiền nhiệm Hugo Chavez luôn bị Washington lên án, nhưng Chính quyền Trump tập trung nhiều quan chức lâu nay vẫn tin rằng Cuba là mối đe dọa an ninh quốc gia nghiêm trọng hơn. Họ viện dẫn các chiến dịch tình báo của Cuba ở Mỹ, cũng như nỗ lực của La Habana nhằm truyền bá quan điểm chống Mỹ sang nhiều nước Mỹ Latinh khác. Theo suy tính của chính quyền, mục tiêu của chiến lược mà Mỹ theo đuổi là cắt đứt mối liên hệ giữa Venezuela và Cuba, đánh sập thể chế ở cả hai nước này. Thái độ hiếu chiến mới có của Mỹ bắt nguồn từ việc Nhà Trắng mong muốn đảo ngược một phần xu thế Chính quyền Obama xích lại gần hơn với La Habana thông qua việc giảm cấm vận và mời gọi đầu tư của Mỹ vào Cuba.

Chính sách mà Chính quyền Trump phát triển trong hai năm qua được thúc đẩy một phần bởi thế lực chỉ trích Cuba, nổi bật là Mauricio Claver-Carone, một quan chức trong Hội đồng an ninh quốc gia, người đã giành cả đời để loại trừ Fidel Castro. Chính sách đó cũng được định hình bởi hoạt động vận động hành lang của một số quan chức được bầu, như Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Marco Rubio và Hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Diaz-Balart – đều là những nhân vật đại diện cho các khu vực bầu cử có mối liên hệ với Venezuela.

Tình báo Cuba đã can dự sâu vào guồng máy quân sự, an ninh của Chính quyền Maduro. Đổi lại, Venezuela cung cấp cho Cuba dầu mỏ với mức giá gần bằng không và khối lượng có thời điểm đạt ngưỡng 100.000 thùng/ngày. Khi cả hai đều bị cô lập nhiều hơn, Venezuela và Cuba đã tìm cách củng cố quan hệ với Moskva, Bắc Kinh và Tehran. Sau Venezuela và Cuba, quan chức Mỹ đang để mắt tới Nicaragua. Bộ Ngoại giao Mỹ liên tục cảnh báo quốc gia Trung Mỹ này đang chuyển hướng sang chế độ độc tài, đàn áp và bạo lực. Người dân Nicaragua đang gia nhập dòng người di cư ồ ạt đến khu vực biên giới Mỹ – Mexico.

Cố vấn an ninh quốc gia John Bolton trong bài phát biểu hồi tháng 11/2018 phác họa bản chiến lược mới nổi cho rằng: “Mỹ mong muốn tất cả các góc trong tam giác – La Habana, Caracas và Managua – đều sụp đổ”. Ông mô tả ba nước này là “bộ ba độc tài” và nói rằng “bộ ba đó sẽ vỡ vụn”. Cùng ngày chính quyền công bố lệnh cấm vận mới đối với Cuba và Venezuela, nhằm vào hơn 20 thực thể do cơ quan tình báo, quân sự Cuba kiểm soát hoặc sở hữu, cũng như ngành công nghiệp khai thác vàng của Venezuela.

Chiến lược của Mỹ tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn. Nếu sự ủng hộ của Mỹ dành cho thủ lĩnh đối lập Juan Guaido ở Venezuela không đủ sức lật đổ Maduro hoặc Mỹ thất bại trong việc làm suy yếu sợi dây liên kết giữa Caracas và Havana, thì tình cảnh tuyệt vọng ở Venezuela có thể xấu đi, đẩy Mỹ lún sâu hơn vào khủng hoảng. Theo ước tính, có khoảng 3 triệu người Venezuela đã rời bỏ đất nước.

Thất bại cũng mang lại cho Cuba và Venezuela một chiến thắng ngoại giao kiểu David tí hon đánh bại gã khổng lồ Goliath, có khả năng củng cố ảnh hưởng của Trung Quốc, Nga và Iran tại khu vực. Obama theo đuổi cách tiếp cận mềm mỏng với Cuba chủ yếu bởi chính quyền ông rút ra được một điều: Nhiều thập kỷ thực thi các biện pháp mạnh đã không thể lật đổ được Chính quyền Castro để mở đường cho một chọn lựa dân chủ.

Có vẻ như Mỹ cũng khó có thể lôi kéo, tập hợp các nước khác tham gia các đòn chống lại Cuba. Venezuela luôn là ung nhọt đối với nhiều đồng minh của Mỹ, nhưng một số nước trong đó có Canada và Pháp giờ lại có lợi ích kinh doanh rộng mở tại Cuba.

Mục tiêu đầu tiên

Một trong những việc làm đầu tiên của Chính quyền Trump sau khi thắng cử là dùng lại bản kế hoạch có từ thời Obama nhưng chưa được thực thi về việc cấm vận Phó Tổng thống Venezuela Tareck El Aissami. Giới thực thi luật pháp của Mỹ cho biết họ có bằng chứng cho thấy Maduro chỉ đạo dùng các nguồn lực nhà nước để lập ra cái được cho là một trong những tổ chức chuyên thực hiện các chiến dịch buôn bán ma túy khét tiếng thế giới và có mối liên hệ với Hezbollah, nhóm vũ trang của Liban bị Mỹ liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố. Một trong những lý do khiến nhiều quan chức Mỹ bày tỏ quan ngại về ảnh hưởng của Iran trong khu vực chính là việc Iran là người chống lưng chủ yếu cho Hezbollah và các chiến dịch của cánh vũ trang này tại Nam Mỹ để mang lại nguồn thu tiền mặt lớn.

El Aissami, người vận hành các chiến dịch thị thực dưới thời Chính quyền Chavez đã phát hành hàng nghìn tên và hộ chiếu mới cho người Liban và Iran. Theo hai quan chức thực thi pháp luật của Mỹ, ông đã ký hợp đồng với một nhân vật chóp bu của Hezbollah cho phép các thành viên của cánh vũ trang này thực hiện các chiến dịch rửa tiền giúp đế chế buôn bán ma túy. Vào ngày tuyên thệ nhậm chức Bộ trưởng Tài chính Mỹ tháng 2/2017, Steven Mnuchin đã áp lệnh cấm vận nhằm vào El Aissami, với cáo buộc cho rằng nhân vật này dính dáng đến buôn bán ma túy.

Nổi bật trong số những quan chức đầu tiên phác thảo các lựa chọn chính sách cho Chính quyền Trump là Fernando Cutz, một nhân viên của Cơ quan hỗ trợ phát triển quốc tế Mỹ (USAID), người từng tham gia tiến trình đưa Mỹ xích lại gần với Cuba dưới thời Chính quyền Obama. Trong một bài trả lời phỏng vấn, ông Cutz, người hiện đang làm việc cho Nhóm Cohen tiết lộ Tổng thống Trump đã yêu cầu tổ chức buổi thông báo ngay tình hình trong ngày thứ hai lên nắm quyền, để tìm ra cách thức đảo ngược chính sách của kỷ nguyên Obama đối với Cuba. Ông Cutz đưa ra những lựa chọn về leo thang sức ép nhằm và Chính quyền Maduro, trong đó có đòn tài chính đánh vào xuất khẩu dầu mỏ của Venezuela. Lúc đầu, chính quyền do dự, vì lo sợ việc làm đó sẽ tạo điều kiện cho Maduro đổ vấy những khó khăn của đất nước là do Washington gây ra.

Bolton, người được chọn làm Cố vấn an ninh quốc gia năm 2018, từ lâu đã mang tư tưởng cứng rắn chống lại Cuba và Venezuela. Bolton sau đó có thêm cộng sự là Claver-Carone, người phụ trách các vấn đề Tây bán cầu tại Hội đồng an ninh quốc gia và có cùng quan điểm với Bolton. Claver-Carone, một cố vấn trong chiến dịch tranh cử của Trump, nổi bật trong guồng máy chính sách đối ngoại là nhờ vào việc vận hành một blog có tên gọi “Những người Cuba ở Đồi Capitol”.

Dữ liệu trên blog này cho thấy Claver-Carone là đồng sáng lập kiêm giám đốc Ủy ban hoạt động chính trị dân chủ Mỹ – Cuba, một phương tiện quyên góp tài chính cho các nghị sĩ ở Thượng viện và Hạ viện. Quỹ này được thành lập vào năm 2003 nhằm “thúc đẩy tiến trình chuyển đổi vô điều kiện tiến tới nền dân chủ, pháp trị và tự do thị trường ở Cuba”.

Số liệu cho thấy ủy ban này đã quyên góp và giải ngân được 4,7 triệu USD từ khi mở chiến dịch từng đóng góp 20.000 USD cho chiến dịch tranh cử vào Thượng viện của Rubio từ tháng 6/2016, cũng như mức hỗ trợ 5000 USD hồi tháng 2/2018 cho chiến dịch tranh cử vào Hạ viện của Diaz-Balart.

Ngoài ra, từ năm 2004 đến năm 2017, Claver-Carone còn là người điều hành tổ chức phi lợi nhuận Nhóm ủng hộ dân chủ Cuba. Ông này cũng điều hành một công ty vận động hành lang cỡ nhỏ có tên gọi Tập đoàn ủng hộ công khai dân chủ Cuba, hoạt động trong khoảng 10 năm và chấm dứt vào năm 2016. Vài tháng sau khi Claver-Carone gia nhập Chính quyền Trump vào mùa Hè năm 2018, Bolton đã đưa ra bài phát biểu về “bộ ba độc tài”.

Tạo lập sân khấu

Quyết định hơn một năm trước của hai đảng đối lập lớn ở Venezuela và cũng là đối thủ của nhau trong quá khứ, đảng Công lý trước tiên và đảng Ý nguyện toàn dân về việc hợp sức cùng nhau đã lần đầu tiên tạo ra một lựa chọn tiềm tàng có thể thay thế Chính quyền Maduro. Guaido là thành viên đảng Ý nguyện toàn dân và là nhân vật mà giới chức Mỹ giữ mối liên hệ chặt chẽ. Theo Francisco Monaldi, chuyên gia nghiên cứu về Venezuela và là nhà phân tích ngành dầu mỏ tại Đại học Rice, bước hợp lực này tạo uy tín cho cả hai bên trước cộng đồng quốc tế. Monaldi nhận định: “Lâu nay vẫn có sự khinh thường lớn đối với lực lượng đối lập, nhưng bước đi này tạo ra một cấp độ đủ để Nhà Trắng tin rằng có thể đặt cược được”. Sân khấu hành động đã được tạo dựng trong cuộc bầu cử mùa Xuân năm 2018, với việc hơn 60 nước, trong đó có Mỹ, coi tuyên bố chiến thắng của Maduro là nỗi hổ thẹn. Ông Maduro có thêm 6 năm cầm quyền sau khi đọc tuyên thệ tại lễ nhậm chức hôm 10/01/2019.

Hai cuộc bầu cử năm 2018 với chiến thắng của Tổng thống Iván Duque ở Colombia và nhà lãnh đạo mới Jair Bolsonaro ở Brazil làm xoay chuyển cục diện chính trị. Đây đều là hai nước láng giềng của Venezuela và đều phải vật lộn với dòng người di cư ồ ạt từ Venezuela. Trong chuyến thăm vào dịp năm mới tới Nam Mỹ, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã gặp những người đồng cấp Brazil và Colombia và thảo luận kế hoạch hành động với Duque.

Lễ nhậm chức ngày 10/1 của Maduro kích hoạt guồng chuyển động trong Quốc hội Venezuela và ở cả Nhà Trắng. Ngày 22/1, các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ, trong đó có Ngoại trưởng Pompeo, Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross, Bolton và Mnuchin đã thảo luận các lựa chọn chính sách. Trump đưa ra quyết định sẵn sàng ủng hộ thay đổi thể chế.

Tối hôm đó, Phó Tổng thống Mike Pence gọi điện cho Guaido, thông báo Washington sẵn sàng ủng hộ ông này. Hôm sau Guaido tuyên bố là tổng thống của Venezuela. Ngay lập tức, Mỹ cùng với Canada và hầu hết các nước Nam Mỹ lên tiếng công nhận Guaido là nhà lãnh đạo mới của Venezuela. Một quan chức Bộ Tài chính Mỹ cho biết: “Chúng tôi đã nhận thấy sự đoàn kết thực sự trong khu vực về mục tiêu trong vài tuần gần đây. Thật khó để nói về Venezuela mà không nhắc tới Cuba”. Quyết định áp lệnh cấm vận đối với Tập đoàn dầu khí quốc gia PDVSA được đưa ra ngày 28/1 có thể trị giá khoảng 11 tỷ USD về doanh thu dầu mỏ tại Mỹ.

Về bước đi tiếp theo, quan chức Mỹ cho biết nhiều biện pháp mới đang được thảo luận và đề xuất chống lại La Habana, đơn cử như việc Cuab trở lại danh sách các nước tài trợ khủng bố. Quyết định đó có thể giáng một đòn tài chính và đầu tư nhằm vào các cá nhân, thực thể bên ngoài nước Mỹ hiện có hoạt động kinh doanh ở Cuba, cũng như làm suy giảm nguồn thu ngoại tệ từ khách du lịch quốc tế. Trong danh sách còn có các lệnh cấm vận mới nhằm vào quan chức Cuba cũng như mạng lưới của họ, chấm dứt miễn trừ theo Điều 3 Đạo luật Helms-Burton, vốn được tất cả các chính quyền Mỹ ký gia hạn kể từ khi Mỹ áp đặt biện pháp đơn phương từ năm 1996.

Việc chấm dứt miễn trừ cũng sẽ cho phép công dân Mỹ khởi kiện các cá nhân và công ty ra tòa án Mỹ, đòi lại phần tài sản bị Chính phủ Cuba chiếm giữ. Biện pháp này sẽ tạo ra tác động lan tỏa, khiến hàng tỉ USD vốn đầu tư nước ngoài ở Cuba, trong đó có các khoản tiền đổ vào khách sạn, sân golf và các dự án khác, nhiều khả năng bị đóng băng.

Trong vài tuần tới, Chính quyền Trump có khả năng công bố các biện pháp mới chống lại Cuba, với mục tiêu cắt đứt mọi khả năng La Habana hỗ trợ Chính quyền Maduro.

Nguồn: The Wall Street Journal – 30/01/2019

TLTKĐB – 13/02/2019

Advertisements

Khủng hoảng Venezuela: Cựu phúc trình viên UN nói rằng lệnh cấm vận của Mỹ là tội ác chống lại loài người


Phúc trình viên Thứ nhất của Liên Hiệp Quốc đến thăm Venezuela trong 21 năm qua nói với với tờ Độc Lập(Independent) của Anh rằng các lệnh cấm vận của Mỹ đối với nước này là bất hợp pháp và có thể coi đó là “tội ác chống loài người” theo luật pháp quốc tế.

Cựu Phúc trình viên đặc biệt Alfred de Zayas, người vừa kết thúc nhiệm kỳ tại Liên Hiệp Quốc hồi tháng Ba, chỉ trích Mỹ đã xách động cuộc chiến thương mại làm tổn thương nền kinh tế và giết chết Venezuela.

Các bình luận được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng ở nước này ngày càng tồi tệ khi Mỹ, Anh lên tiếng bảo kê Juan Guaidó, kẻ tự xưng là “Tổng thống lâm thời” của Venezuela. Còn lãnh đạo EU kêu gọi cuộc bầu cử “tự do và công bằng” trong khi Nga và Thổ ủng hộ Tổng thống đương nhiệp Nicolás Maduro.

Ông De Zayas, cựu thư ký Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc(HRC) đồng thời là chuyên gia về luật quốc tế cho tờ Độc lập biết sau khi trình bày báo cáo về Venezuela cho HRC hồi tháng Chín nhưng đã bị LHQ phớt lờ thay vì tổ chức một cuộc tranh luận công khai mà đáng ra phải có.

Trao đổi với tờ Độc lập ông cho biết “Cấm vận là giết người” khi nó đẩy người dân vào cảnh bần cùng hóa, gây ra cái chết một cách tàn nhẫn do thiếu lương thực và thuốc men, đó là bằng chứng vi phạm nhân quyền nhằm mục đích cưỡng bức thay đổi kinh tế trong cái gọi là “chị em dân chủ”

Trong chuyến đi thực tế hồi cuối năm 2017, ông nhận thấy sự phụ thuộc quá mức vào dầu mỏ, quản trị kém và tham nhũng đã ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế Venezuela, nhưng cho biết cuộc chiến kinh tế do Mỹ, EU và Canada xách động là nhân tố quyết định thúc đẩy khủng hoảng.

Trong báo cáo, ông Zayas đề nghị Tòa Hình sự Quốc tế cần điều tra các biện pháp trừng phạt kinh tế chống Venezuela có thể được xem là tội ác chống loài người theo Điều 7 Công ước Rome.

Các biện pháp trừng phạt của Mỹ là bất hợp pháp theo luật pháp quốc tế vì chúng không được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua.

Ông de Zayas chuyên gia về luật quốc tế và là cựu luật sư cấp cao của Ủy ban Nhân quyền LHQ cho còn cho biết thêm các lệnh trừng phạt và phong tỏa kinh tế mà Mỹ áp đặt với Venezuela có thể so sánh với các cuộc bao vây các thị trấn thời trung cổ.

Sự trừng phạt trong thế kỷ 21 không chỉ ở quy mô một thị trấn mà nó đang tìm cách khuất phục một quốc gia độc lập có chủ quyền, ông Zayas nhấn mạnh trong báo cáo.

Kho bạc Mỹ từ chối lời yêu cầu bình luận về cáo buộc của ông Zayas, về những ảnh hưởng của chương trình cấm vận.

Các biện pháp trừng phạt của Mỹ cấm các giao dịch tiền tệ do Chính phủ Venezuela ban hành. Họ cũng nhắm vào các cá nhân và ngăn chặn các công ty hoặc người dân ở Mỹ mua hay bán các khoản nợ mới do Tập đoàn dầu khí quốc gia Venezuela(PDVSA) hoặc Chính phủ phát hành.

Biện hộ cho các biện pháp cấm vận Venezuela trước đây, một quan chức cấp cao của Mỹ năm 2018 cho biết “Thực tế lệnh trừng phạt nặng nề nhất là nhắm vào dầu và ngành sản xuất dầu được gọi là Nicolas Maduro và sự không hiệu quả của PDVSA” khi đề cập đến sự điều hành của Nhà nước đối với PDVSA.

Phát hiện của ông De Zayas trong lần đến Venezuela công tác hồi cuối năm 2017. Ông đã phỏng vấn 12 thợ mỏ, chính trị gia đối lập, 35 tổ chức phi chính phủ, các học giả, quan chức nhà thờ, nhà hoạt động, phòng thương mại và các cơ quan Liên Hiệp Quốc.

Mỹ áp đặc các lệnh trừng phạt mới đối với Venezuela từ ngày 09/03/2015, khi Obama ban hành sắc lệnh 13692, tuyên bố nước này là mối đe dọa anh ninh quốc gia đối với Mỹ.

Các lệnh trừng phạt đã được tăng cường dưới thời Trump đồng thòi đe dọa xâm lược quân sự và thảo luận về một cuộc đảo chính.

Sau khi công khai ủng hộ Guaidó ngày 23/01 Trump nói “Tôi sẽ tiếp tục sử dụng toàn bộ sức mạnh ngoại giao kinh tế của Mỹ để gây sức ép cho việc khôi phục nền dân chủ Venezuela”

Venezuela cũng mô tả lệnh trừng phạt của Mỹ là bất hợp pháp. Năm 2018, Bộ trưởng Ngoại giao Jorge Arreaza đã bức xúc: bọn họ(ám chỉ Mỹ) là những kẻ “khùng điên, dã man và hoàn toàn mâu thuẫn với luật pháp quốc tế”

Kể từ 2015, khoảng 1,9 triệu người đã rời bỏ nhà cửa. Ngày 23/10/2018 lạm phát lên tới 60.324% trong khi số dân thường thiệt mạng vẫn chưa có thống kê.

Mặc dù là quan chức đầu tiên của LHQ thăm và làm việc tại Venezuela trong 21 năm, nhưng ông De Zayas cho biết nghiên cứu của ông về nguyên nhân khủng hoảng kinh tế tại Venezuela phần lớn bị LHQ và giới truyền thông bỏ qua, và nguyên nhân đến từ các tranh cải trong Hội đồng Nhân quyền.

Ông tin rằng báo cáo của đã ông bị bỏ qua vì nó đi ngược lại với dòng định hướng dư luận rằng Venezuela cần phải thay đổi chế độ.

Khi tôi đến và nói rằng sự di cư một phần do cuộc chiến kinh tế chống lại Venezuela và một phần do các lệnh trừng phạt, mọi người không muốn nghe điều đó. Đơn giản họ đã bị định hướng rằng Chủ nghĩa Xã hội đã thất bại và nó đã thất bại với người dân Venezuela, ông Zayas nói với tờ Độc lập.

Khi tôi trở lại, LHQ và truyền thông không quan tâm. Vì tôi không hòa cùng một giọng với họ, nên tôi bị xem như không tồn tại. Và báo cáo của tôi, như đã nói, đã được trình bày chính thức, nhưng không có cuộc thảo luận nào. Nó đã bị xếp xó.

Ông De Zayas còn cho biết, Ủy viên cao cấp LHQ Zeid Raad Al Hussein đã từ chối gặp ông sau chuyến thăm và bộ phận phụ trách Nhân quyền Venezuela ở Hội đồng Nhân quyền cũng từ chối giúp đỡ công việc sau khi ông trở về mặc dù đó là nhiệm vụ ông được LHQ giao phó.

Trao đổi với tờ Độc lập ông cho biết các quan chức LHQ tỏ ra lạnh nhạt vì họ lo ngại báo cáo của ông khi được xuất bản nó sẽ quá thẳng thắng.

“Họ chỉ hứng thú với những kẻ đến để lên án Chính phủ và yêu cầu thay đổi chế độ. Và tôi đến đó để lắng nghe và tìm hiểu cái gì đang thực sự diễn ra”

Phát ngôn viên của Văn phòng Ủy viên Cao cấp LHQ cho biết “Có đến 56 bản Phúc trình và Alfred de Zayas chỉ là một trong số đó – tất cả đều độc lập và đa dạng vậy nên không có đặc quyền dành cho Alfred de Zayas để được gặp riêng Cao ủy LHQ để thảo luận về báo cáo. Về lý anh không thể làm được việc đó”

Người phát ngôn cho biết bàn phụ trách về Venezuela có nhiều vấn đề “phức tạp” và theo Zayas mô tả họ không quan tâm “kêu gọi thay đổi chế độ không phải là việc của tôi”.

Ivan Briscoe giám đốc chương trình Mỹ Latin và Caribbean của Crisis Group, một tổ chức phi chính phủ quốc tế nói với tờ Độc lập rằng Venezuela là một chủ đề gây tranh cãi và chia rẽ giữa những người ủng hộ Chính phủ Xã hội Chủ Nghĩa và những người muốn thấy một chế độ biết nghe lời Mỹ hơn, thân thiện với doanh nghiệp Mỹ hơn lên thay thế.

Briscoe chỉ trích báo cáo của de Zayas vì nó nhấn mạnh cuộc chiến kinh tế của Mỹ, bởi theo ông này de Zayas đã bỏ qua việc đề cập đến tác động của môi trường kinh doanh khó khăn mà ông tin là có nguyên nhân từ sự ảnh hưởng của tư tưởng Chavez, và một Chính phủ Xã hội Chủ nghĩa thất bại.

Ông nói ngay cả khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ, Venezuela cũng không thể phục hồi theo các chính sách hiện tại của Chính phủ, thêm vào đó báo cáo của Zayas là kết quả của “một luật sư đang cố gắng tìm hiểu bản chất cung cầu của kinh tế thị trường, và nó đã thất bại”

Nhưng khi đề cập về những nỗ lực đảo chính của Guaidó, Briscoe thừa nhận căng thẳng đang gia tăng và khả năng có nhân viên Mỹ đang hoạt động ngầm ở nước này.

Đúng là có gì đó đang diễn ra. Và câu trả lời là có khi nói về khả năng can thiệp quân sự. Đó là một ý tưởng tồi. Nhưng thực tế kế hoạch được hình thành trong bối cảnh khủng hoảng nhân đạo.(ý ông này muốn biện hộ rằng sự can thiệp của Mỹ là vì lý do nhân đạo chứ không phải vì dầu mỏ – lời người dịch)

Eugenia Russian, chủ tịch FUNDALATIN một tổ chức phi Chính phủ lâu đời nhất ở Venezuela, được thành lập từ 1978 trước Chính phủ Chavez và Maduro và với tư cách là tư vấn đặc biệt tại LHQ, đã nói với tờ Độc lập về ý đồ của lệnh trừng phạt.

Tiếp xúc với các cộng đồng phổ biến, chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước này là hậu quả của các biện pháp trừng phạt đơn phương được áp đặt vào nền kinh tế, đặc biệt là từ Chính quyền Mỹ, cô Russian cho biết.

Cô cho biết có thể có nguyên nhân từ những sai sót nội bộ, nhưng cho biết có lẽ rất ít quốc gia trên thế giới phải chịu một cuộc bao vây kinh tế trên đất liền giống người dân Venezuela đang trải qua.

Các biện pháp trừng phạt là một phần trong nổ lực của Mỹ nhằm lật đổ Chính phủ Venezuela và tạo ra một chế độ thân Mỹ hơn, như đã từng thực hiện ở Chile năm 1973 và các nơi khác trong khu vực, ông de Zayas cho biết.

“Tôi đã thấy điều đó xảy ra trong Hội đồng Nhân quyền, cách Mỹ vặn vẹo và lôi kéo các nước bỏ phiếu theo ý đồ của họ hoặc sẽ có hậu quả kinh tế, và những điều này không được phản ánh trên báo chí”, cựu quan chức cấp cao LHQ nói với tờ Độc lập.

“Những hiểm họa to lớn nhất đối với Venezuela đến từ nguồn tài nguyên dồi dào của họ. Tôi nhận ra rằng nếu Venezuela không có tài nguyên thiên nhiên thì sẽ không ai nói xấu về Chavez hay Maduro hay bất kỳ ai khác ở đó”, ông Zayas nói thêm.

Venezuela có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới và rất nhiều tài nguyên thiên nhiên khác bao gồm vàng, bauxite và coltan(dùng chế tạo thiết bị điện tử – lời người dịch). Nhưng dưới chính quyền Maduro, các tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ không dễ gì tiếp cận các nguồn tài nguyên này.

Các công ty dầu mỏ của Mỹ đã đầu tư lớn vào Venezuela vào đầu thế kỷ 20, nhưng đã bị phong tỏa sau khi người Venezuela bỏ phiếu quốc hữu hóa ngành công nghiệp này vào năm 1973.

“Nếu bạn giật sập Chính phủ này và dựng lên một Chính phủ mới sẽ tư hữu hóa mọi thứ, sẽ bán hết mọi thứ thì sẽ có nhiều nhiều tập đoàn thu lợi kếch xù và Chính quyền Mỹ sẽ vận hành các tập đoàn này”, cựu Phúc trình viên LHQ cho tờ Độc lập biết.

Với doanh nghiệp Mỹ thì chỉ có kinh doanh. Và đó là những gì mà Mỹ quan tâm. Còn hiện tại thì họ không thể làm ăn tại Venezuela.

Trong báo cáo của mình ông de Zayas bày tỏ lo ngại rằng những kẻ gọi tình hình này là “khủng hoảng nhân đạo” thực chất là đang tìm cách thay đổi chế độ và nhân quyền đang bị vũ khí hóa hòng làm mất uy tín Chính phủ và bùng phát bạo lực.

Còn theo tổ chức Ân xá quốc tế Amnesty Chính phủ Maduro phải chịu trách nhiệm cho “cuộc khủng hoảng Nhân quyền tồi tệ nhất trong lịch sử đất nước”

“Venezuela đang trải qua một trong những cuộc khủng khoảng nhân quyền tồi tệ nhất trong lịch sử. Danh sách các tội ác theo luật quốc tế chống Dân chúng đang gia tăng”, ông Erika Guevara-Rosas, giám đốc Tổ chức Ân xá Châu Mỹ, cho biết vào cuối năm 2018.

“Một điều đáng báo động là, thay vì áp dụng chính các chính sách công hiệu quả để bảo vệ người dân và giảm mức độ bất an, Chính quyền Venezuela đang sử dụng ngôn ngữ chiến tranh để hợp pháp hóa việc sử dụng bạo lực quá mức của sỹ quan và binh lính và trong nhiều trường hợp việc sử dụng vũ lực với ý định gây chết người.” – Erika Guevara-Rosas

Ông De Zayas đề nghị đối thoại giữa cộng đồng quốc tế và Venezuela để làm cho Chính phủ của họ tốt hơn, thay vì siết chặt đất nước bằng cấm vận và đảo chính. Ông đề xuất Venezuela vốn đã giàu tài nguyên thiên nhiên, tự nó có thể phục hồi một khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ.

“Chìa khóa cho giải pháp của cuộc khủng hoảng là đối thoại và hòa giải. Không gì phi dân chủ hơn một cuộc đảo chính và không gì làm xói mòn luật pháp quốc tế và sự ổn định quốc tế hơn một cuộc can thiệp của một Chính phủ vào các vấn đề nội bộ của các quốc gia khác.”, ông De Zayas nói với tờ Độc lập.

“Chỉ có người dân Venezuela mới có quyền quyết định, không phải Mỹ, không phải Anh. Chúng tôi không muốn một cuộc đảo chính lập lại chế độ độc tài Pinochet như năm 1973. Điều khẩn cấp là giúp người dân Venezuela thông qua tình đoàn kết quốc tế – viện trợ nhân đạo chân chính và dỡ bỏ sự phong tỏa tài chính để Venezuela có thể mua bán như bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới – những vấn đề có thể được giải quyết với thiện chí và lẽ thường”

Ông De Zayas đã ký một bức thư ngõ gửi tới Noam Chomsky và hơn 70 học giả cùng chuyên gia khác lên án nổ lực đảo chính do Mỹ cầm đầu chống lại Chính phủ Venezuela.

Ông gọi những diễn biến gần đây là “hoàn toàn phi thực tế”

Cô Russian, nói về cuộc khủng hoảng kinh tế cho biết: Sẽ là phiếm diện nếu chỉ nhìn thấy những sai lầm hoặc thiếu sót của Chính phủ mà bỏ qua môi trường quốc tế nhiều áp lực mà người dân nước này đang sống”

Nguồn bài dịch: https://www.facebook.com/consect/posts/2529179423762903

Nguồn: https://www.independent.co.uk/news/world/americas/venezuela-us-sanctions-united-nations-oil-pdvsa-a8748201.html?

Canada hưởng lợi gì từ CPTPP?


Canada là một trong 11 quốc gia ký Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Khi chính thức được đưa vào thực hiện, thỏa thuận này sẽ mở ra nhiều thị trường mới cho các doanh nghiệp Canada, bao gồm Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Việt Nam… Với dân số 495 triệu người và GDP 13500 tỷ USD (chiếm 13,5% kinh tế thế giới), CPTPP với quy mô tương tự Hiệp định kinh tế và thương mại toàn diện (CETA) giữa Canada với Liên minh châu Âu (EU). Không chỉ thể, CPTPP còn có các điều khoản tiến bộ quy định rõ trong các chương về môi trường và lao động.

Vậy CPTPP sẽ mang lại cho Canada những lợi ích gì? Trong loạt bài “CPTPP – Các doanh nghiệp hưởng lợi từ thỏa thuận thương mại mới nhất của Canada” đăng trên trang web của Cơ quan xúc tiến xuất khẩu Canada (EDC), cơ quan này cho rằng về mặt kinh tế, CPTPP sẽ bổ sung thêm cho nền kinh tế Canada 4,2 tỷ CAD nhờ việc nước này được quyền tiếp cận phi thuế quan và/hoặc ưu đãi thuế với thị trường của 10 nước thành viên còn lại. CPTPP cũng sẽ mang lại cho Canada cơ hội đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và đầu tư.

Theo lời của nhà kinh tế học Motria Savaryn-Roy thuộc Trung tâm tình báo kinh tế và chính trị EDC, với việc tham gia CPTPP, Canada hầu như đã có chân trong hầu hết các thỏa thuận thương mại chính của thế giới. Cụ thể, Canada đã có thỏa thuận thương mại tự do với Mỹ và Mexico (thông qua NAFTA), với EU (thông qua CETA), Hàn Quốc (thông qua Hiệp định thương mại tự do (ETA) song phương) và với phần lớn khu vực châu Á – Thái Bình Dương (thông qua CPTPP). Ngoài ra, Canada cũng đang tiến hành các cuộc thảo luận thăm dò với Trung Quốc và Ấn Độ về ETA song phương. Ông Savaryn-Roy nói: Điều này sẽ giúp Canada phần nào giảm bớt phụ thuộc vào thị trường Mỹ, đồng thời nhấn mạnh thêm rằng CPTPP sẽ thực sự mở ra các cơ hội mới cho Canada ở châu Á.

Theo đánh giá của ông Gustavo Galvis, Trưởng đại diện EDC tại vùng Andes và Trung Mỹ, CPTPP là một thỏa thuận đầy tham vọng. “Với một số lượng lớn khách hàng tiềm năng và quy mô các nền kinh tế thành viên, sẽ có rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Canada khai thác, nhất là ở khu vực vành đai Thái Bình Dương”. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội có được từ tiếp cận ưu đãi với các thị trường mới, CPTPP cũng sẽ đem lại những thách thức cho các doanh nghiệp Canada trước sự cạnh tranh của các đối thủ đến từ 10 quốc gia thành viên. Ông Galvis nói: “Các doanh nghiệp Canda sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng và tăng cường hiệu quả để có thể bảo vệ thị trường trong nước. Sẽ luôn có cho – nhận, được – mất mỗi khi có một thỏa thuận mới được ký kết”.

CPTPP hiện có 11 nước thành viên và được hình thành sau 12 năm đàm phán ròng rã. Mốc khởi điểm bao đầu của thỏa thuận này là Thỏa thuận đối tác kinh tế chiến ược xuyên Thái Bình Dương, được ký năm 2006 giữa 4 nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (còn gọi là nhóm P4). Đầu năm 2010, thỏa thuận này được nâng cấp thành Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) khi có thêm 4 nước tham gia là Australia, Peru, Việt Nam và Mỹ. Cuối năm 2010, Malaysia đặt chân lên chiếc thuyền TPP. Hai năm sau, danh sách thành viên tham gia đàm phán mở rộng thêm 2 nước là Canada và Mexico. Một năm sau đó, Nhật Bản cũng chính thức nhập cuộc sau những tranh cãi gay gắt ở trong nước, nâng tổng số thành viên đàm phán lên con số 12. Tháng 2/2016, các nước chính thức ký TPP ở New Zealand, nhưng chỉ một năm sau, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố rút khỏi thỏa thuận này ngay khi vừa nhậm chức. Sự rút lui của Mỹ đã buộc 11 nước thành viên còn lại phải tiến hành đàm phán lại và sửa đổi các nội dung của TPP, tiền đề cho việc đổi tên lần thứ hai thành CPTPP. Tới ngày 23/1/2018, các nước mới đạt được nhất trí về nội dung phiên bản sửa đổi cuối cùng của CPTPP. Ngày 11/3 vừa qua, các bộ trưởng của 11 nước thành viên chính thức ký CPTPP tại thủ đô Santiago của Chile, chính thức hình thành một trong những khối thương mại tự do lớn nhất và tham vọng nhất thế giới hiện nay.

CPTPP bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp, ô tô, văn hóa, thủy sản đến lâm nghiệp… Theo đánh giá của Quỹ Tây Canada, những ngành và tiểu ngành của Canada được hưởng lợi nhiều nhất là nông sản, thực phẩm chế biến, các sản phẩm gỗ, máy móc công nghiệp, kim loại và khoáng sản, nhôm, nikel, các sản phẩm từ dầu mỏ…), Canada sẽ được hưởng lợi lớn khi hầu hết các hảon thuế sẽ được dỡ bỏ. Hiện tại, mỗi năm Canada xuất khẩu khoảng 6,8 tỷ CAD kim loại và khoáng sản sang các nước CPTPP với mức thuế 20% ở Malaysia, 40% ở Việt Nam, 6,3% ở Nhật Bản và 5% ở Australia. Theo thỏa thuận trong CPTPP, Malaysia, Việt Nam, Nhật Bản và một số nước khác sẽ phải dỡ bỏ các loại thuế này trong vòng 10 năm, riêng Australia chỉ có thời gian 4 năm.

Ngành thịt bò và thịt lợn của Canada cũng được cho là sẽ hưởng lợi lớn. Theo nhà quản lý quan hệ công chúng của Hội đồng thịt lợn Canada, ông Gary Stordy, CPTPP tạo ra một trong những thị trường chính cho các nhà xuất khẩu thịt lợn của Canada. Hội đồng này ước tính CPTPP sẽ giúp tăng tổng số thịt lợn xuất khẩu thêm 600 triệu CAD mỗi năm nhờ có lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ Mỹ và Anh trong việc tiếp cận ưu đãi với thị trường Nhật Bản và một số thị trường khác trong khối. Phó Chủ tịch Hội đồng thịt bò Canada Ron Glaser cũng bày tỏ hy vọng vào triển vọng xuất khẩu thịt bò sang các nước CPTPP. Ông Glaser khẳng định: “Chỉ một thay đổi nhỏ về tỷ lệ phần trăm cũng sẽ làm tăng mạnh doanh số bán”, trước khi cho biết thêm rằng Nhật Bản, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường mục tiêu chính của thị bò Canada.

Ngành hàng không cung nhìn thấy nhiều dư địa phát triển trong CPTPP bởi, theo nhận định của Chủ tịch kiêm CEO Hiệp hội công nghiệp hàng không Csanada Jim Quick, các nền kinh tế trong CPTPP đều là “những thị trường hàng không đang nổi”. Việt Nam và Singapore là hai ví dụ điển hình và điều này sẽ cho phép ngành hàng không Canada đặt một chân vào những thị trường này, bên cạnh việc tiếp tục củng cố thị trường truyền thống là Nhật Bản.

Với ngành công nghệ thông tin, trước mắt Canada đặt mục tiêu vào các thị trường Nhật Bản, Malaysia và Australia. Đây đều là những thị trường khó tính ở châu Á, nhưng có giá trị toàn cầu và triển vọng phát triển tốt.

Trong khi đó, do phải cân bằng với các điều kiện và quy định trong NAFTA nên ngành sản xuất ô tô và phương triện vận tải của Canada được dự báo chỉ đạt tăng trưởng nhẹ. Con số ước tính cho ngành sản xuất ô tô là 206 triệu CAD.

Riêng đối với ngành sữa, Chính phủ Canada ước tính doanh số nhập khẩu sẽ tăng vượt trội so với xuất khẩu. Cụ thể, tổng giá trị nhập khẩu có thể sẽ tăng khoảng 135,1 triệu CAD do phải mở cửa thị trường cho các nước khác, trong khi giá trị xuất khẩu chỉ tăng khiêm tốn khoảng 3,5 triệu CAD. Tuy nhiên, Chính phủ Canada đã cam kết sẽ hỗ trợ và bảo vệ chuỗi quản lý nguồn cung trong ngành này.

So sánh với các thỏa thuận thương mại tự do khác, CPTPP được coi là một “hiệp định hiện đại”, đặc biệt là các chương về lao động và môi trường. Chương lao động được thiết kế để bảo vệ quyền lợi người lao động và đảm bảo rằng họ sẽ được hưởng lợi, chứ không phải trả giá cho sự tiến bộ kinh tế. CPTPP thúc đẩy các quyền và nguyên tắc lao động đã được quốc tế công nhận. Chương này cũng cam kết loại bỏ lao động trẻ em và lao động cưỡng bức. Vì thế, các nước thành viên CPTPP phải “tái khẳng định tầm quan trọng của việc thúc đẩy trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp, tôn trọng văn hóa và đa dạng văn hóa, bảo tồn và bảo vệ môi trường, thúc đẩy bình đẳng giới, đảm bảo quyền của người bản địa, các quyền lao động, thương mại toàn diện, phát triển bền vững, phong tục truyền thống cũng như bảo lưu quyền ra quyết định bảo vệ các lợi ích công cộng”. Trong khi đó, chương về môi trường được xem là tham vọng nhất, được thiết kể để đảm bảo rằng tất cả các bên tham gia đều phải bảo vệ môi trường và đề ra quy trình thực hiện việc này.

Bên cạnh hai chương mang tính hiện đại trên, những quy định trong CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận được thị trường với sức tiêu thụ khoảng nửa triệu dân, tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ ở nước ngoài, mua hàng hóa, dịch vụ phi thuế quan hoặc thuế thấp… Vấn đề đặt ra là CPTPP sẽ giúp các doanh nghiệp Canada tiếp cận với khách hàng mới ở châu Á như thế nào?

Như đã phân tích ở trên và nhiều ý kiến nhận định khác của các chuyên gia, Nhật Bản, Malaysia, Việt Nam và Singapore sẽ là những thị trường ưa chuộng thịt lợn và thịt bò của Canada, khi những hạn chế thương mại được dỡ bỏ, nông dân Canada và các doanh nghiệp chế biến thực phẩm ở nước này sẽ được đối xử tương tự như các doanh nghiệp địa phương. Theo Mark Agnew, Giám đốc chính sách quốc tế của Phòng thương mại Canada, tiếp cận với thị trường châu Á là điều thú vị nhất của CPTPP. Nhật Bản sẽ là thị trường nhiều hứa hẹn hấp dẫn nhất, đáp ứng mong muốn lâu nay của các doanh nghiệp Canada.

Bên cạnh đó, các thị trường đang phát triển như Malaysia và Việt Nam cũng mang lại nhiều hứa hẹn. Dưới con mắt cảu Agnew, một trong những cơ hội hấp dẫn cho các doanh nghiệp Canada là được tham gia các hợp đồng mua sắm chính phủ. Các công ty của Canada trong lĩnh vực từ tư vấn, xây dựng đến kỹ thuật, đều có thể công khai, đấu thầu với các doanh nghiệp địa phương. Không chỉ thế, dù kinh doanh mặt hàng gì, các doanh nghiệp Canada cũng sẽ có cơ hội mở rộng thị trường hoạt động nhờ có những thỏa thuận thương mại tự do như CPTPP, một phần do có sự minh bạch hơn về đầu tư và các quy tắc thương mại.

Tất nhiên, sẽ luôn có những quan điểm trái chiều (chống đối hay ủng hộ) trong bất kỳ một thỏa thuận thương mại tự do nào. Các doanh nghiệp kinh doanh những mặt hàng quốc tế sẽ có cơ hội phát triển tốt hơn nhờ có thỏa thuận thương mại tự do. Tuy nhiên cùng với đó, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải chịu cạnh tranh khốc liệt hơn với các đối tác thương mại nước ngoài. Thế nhưng, cạnh tranh sẽ khiến giá cả hàng hóa giảm xuống và làm tăng thêm năng lực cho các doanh nghiệp Canada, nhất là những doanh nghiệp chế biến thực phẩm, nông nghiệp, máy móc và thiết bị.

Nguồn: TLTKĐB – 18/04/2018

Một số nội dung chính trong dự thảo hiến pháp mới của Cuba


Nhật báo Granma của Cuba lần đầu tiên đăng tải chi tiết về bản Dự thảo sơ khởi Hiến pháp mới của quốc đảo Caribe này, văn bản được chờ đợi sẽ là khung pháp lý cho những cải cách về kinh tế – xã hội tại Cuba. Theo lịch trình, các đại biểu Quốc hội Cuba thảo luận bản Dự thảo sơ khởi này trong phiên họp toàn thể từ 21 – 23/7, sau đó đưa ra tham khảo ý kiến nhân dân trước khi hoàn thiện văn bản này trở thành Dự thảo chính thức để trình Quốc hội thông qua thành Hiến pháp, dự kiến sớm nhất là vào tháng 2/2019.

Theo Granma, bản sơ thảo hiện tại là sự phát triển của tuyên bố của đồng chí Raul Castro Ruz trong Hội nghị toàn quốc của Đảng (không phải Đại hội Đảng) lần thứ nhất, ngày 28/1/2012, rằng: “Phải bỏ lại gánh nặng của tư duy xưa cũ và rèn rũa một xu hướng chuyển đổi cùng với nhạy cảm chính trị và tầm nhìn hướng về hiện tại và tương lai của Tổ quốc, mà không từ bỏ một phút giây nào di sản của Martí và học thuyết Marxist – Leninnist, nền tảng tư tưởng của tiến trình cách mạng của chúng ta”.

Dự thảo tái khẳng định tính chất xã hội chủ nghĩa của hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của Cuba, cũng như vai trò chủ đạo của Đảng Cộng sản Cuba, lực lượng lãnh đạo tối cao của xã hội và nhà nước. Những đề xuất cho Hiến pháp mới bắt nguồn từ tiến trình cải cách toàn diện dựa theo Điều 137 của Hiến pháp hiện hành, đồng thời chú trọng tới những thay đổi sâu sắc mà đất nước hướng tới.

Dự thảo xác định Nhà nước Cuba là nhà nước xã hội chủ nghĩa pháp quyền, dân chủ, độc lập và tự chủ, được tổ chức cùng với toàn dân và phục vụ lợi ích của toàn dân, như một nền cộng hòa nhất thể và không thể chia rẽ, dựa trên lao động, phẩm giá và đạo đức của công dân, hướng tới mục tiêu cơ bản là hưởng thụ tự do chính trị, tính tương xứng, công bằng và bình đẳng xã hội, đoàn kết, nhân văn, phúc lợi và thịnh vượng của cá nhân và tập thể.

Dự thảo cũng nêu bật quyền tối thượng của Hiến pháp trong trật tự tư pháp và tính chất bắt buộc tuân thủ toàn bộ các điều khoản của văn bản, cũng như tính thượng tôn của luật pháp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, các lãnh đạo và nhân dân.

Dự thảo bao gồm một Phần mở đầu và 224 điều, được chia vào 11 mục, 24 chương và 16 phần.

Các căn cứ chính trị của Nhà nước của xã hội chủ nghĩa và cách mạng vẫn được duy trì kiên định và được bổ sung thêm trong số các mục đích cốt lõi, việc khuyến khích phát triển bền vững có thể đảm bảo sự thịnh vượng của cá nhân và tập thể; lao động để đạt được mức độ tương xứng và công bằng xã hội lớn hơn; cũng như việc bảo vệ và nhân rộng các thành quả của cách mạng.

Dự thảo cũng ấn định nghĩa vụ cho các cơ quan nhà nước, các lãnh đạo, cán bộ và công nhân viên chức phải tôn trọng và lắng nghe nhân dân, duy trì liên hệ chặt chẽ với dân và đặt mình dưới sự kiểm soát của dân.

Về quan hệ quốc tế, dự thảo xác định tính hợp hiến của những nguyên tắc nền tảng cho chính sách đối ngoại của Cuba hiện tại, bổ sung thêm một số nội dung mới, trong đó có việc khuyến khích tôn trọng quyền quốc tế và tính đa cực giữa các nhà nước; lên án mọi hình thức khủng bố, đặc biệt là khủng bố nhà nước; phản đối việc phổ biến và sử dụng vũ khí hạt nhân, các hành vi mang tính diệt chủng; bảo vệ và bảo tồn môi trường và đấu tranh chống biến đổi khí hậu, cũng như việc bảo vệ quá trình dân chủ hóa không gian mạng và lên án việc sử dụng phương tiện này cho các mục đích lật đổ và gây bất ổn chống lại các quốc gia có chủ quyền.

Granma nhấn mạnh dự thảo này hướng tới việc củng cố và tiếp nối cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa, dân chủ, thịnh vượng và bền vững.

Hệ thống kinh tế được hướng tới trong dự thảo vẫn duy trì các nguyên tắc cơ bản của sở hữu xã hội chủ nghĩa toàn dân đối với các phương tiện sản xuất chủ chốt và kế hoạch hóa như thành tố chủ chốt trong chỉ đạo kinh tế; nhưng có bổ sung thêm việc công nhận vai trò của thị trường và của các hình thức sở hữu, trong đó có sở hữu tư nhân, phù hợp với văn kiện Quán triệt mô hình Phát triển kinh tế và xã hội xã hội chủ nghĩa của Cuba và văn kiện Chủ trương chính sách kinh tế và xã hội của Đảng và Cách mạng đã thông qua sau một cuộc tham vấn rộng rãi nhiều thành phần trong xã hội.

Dự thảo nêu bật doanh nghiệp nhà nước như chủ thể chính của nền kinh tế quốc gia và thừa nhận quyền tự chủ của các đơn vị này như nguyên tắc hoạt động cơ bản.

Tương tự, văn bản này cũng trao sự khẳng định bằng hiến pháp cho tầm quan trọng của đầu tư nước ngoài đối với phát triển kinh tế trong nước, với những bảo đảm cần thiết.

Về quyền tư hữu đất đai, dự thảo vẫn duy trì một chế độ đặc biệt như hiện tại, với những hạn chế về chuyển nhượng và quyền ưu tiên của Nhà nước trong việc thu mua lại bằng giá hợp lý.

Liên quan tới vấn đề quốc tịch, dự thảo đề xuất nguyên tắc chế độ quốc tịch thực tế với lập luận rằng: “Các công dân Cuba, trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, sẽ phải được xác định theo điều kiện này và không được sử dụng một quốc tịch nước ngoài khác”.

Dự thảo đặc biệt phản ánh đầy đủ một loạt quyền lợi công dân, hài hòa với những quy định và hiệp ước quốc tế mà Cuba là thành viên.

Theo đó, văn kiện này tái khẳng định quyền tiếp cận miễn phí của toàn dân Cuba đối với các dịch vụ y tế, từ phòng bệnh, chăm sóc tới phục hồi; cũng như đối với giáo dục, từ cấp mẫu giáo cho tới cấp đại học, đồng thời diễn giải rõ ràng cách thức vận hành các quyền cơ bản trên.

Theo văn kiện dự thảo, Hiến pháp mới Cuba sẽ công nhận các quyền cơ bản khác khác trong lĩnh vực tư pháp và tiến trình tố tụng, trong đó, có quyền mặc định vô tội; quyền tái hòa nhập xã hội của những người bị tước đoạt tự do; quyền được đối xử với sự tôn trọng phẩm giá và sự toàn vẹn tâm lý, thể xác và tinh thần; cũng như quyền được xét xử và kết án bởi một tòa án có đủ thẩm quyền, độc lập, công tâm và được luật pháp xác định trước.

Dự thảo duy trì các quyền về tự do tôn giáo hoặc phi tín ngưỡng, quyền chuyển đổi tôn giáo và thực hành tín ngưỡng với sự tôn trọng cần có đối với các tín ngưỡng khác và phù hợp với luật pháp.

Văn kiện này buộc nhà nước, xã hội và gia đình phải bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi, cũng như người khuyết tật và đảm bảo điều kiện phục hồi chức năng và cải thiện chất lượng sống của nhóm người này.

Phần nội dung liên quan tới sự bình đẳng đề ra mức yêu cầu cao hơn cho các tiêu chí liên quan, đồng thời đưa vào những tiêu chí mới, trong đó có việc không phân biệt đối xử giới tính, sắc tộc, và khuyết tật.

Dự luật ấn định rằng các quyền cá nhân chỉ bị giới hạn bởi các quyền của những người khác, an ninh của tập thể, lợi ích chung, và sự tuân thủ trật tự công cộng, hiến pháp và pháp luật.

Tương tự, văn kiện sơ thảo này cũng định rõ các cơ chế bảo vệ quyền lợi người dân trước các tòa án, trước hành động hay việc không thực hành các chức năng cần thiết từ các cơ quan, các lãnh đạo, quan chức và công nhân viên trong bộ máy nhà nước.

Đồng thời với việc công nhận các quyền lợi, dự thảo cũng xác định rõ các nghĩa vụ dân sự và chính trị của công dân, trong đó có việc đóng góp vào chi tiêu công; tôn trọng các nhà chức trách và nhân viên công quyền; bảo tồn và bảo vệ những tài sản và nguồn lực phục vụ toàn dân.

Về cấu trúc Nhà nước, có những điểm quan trọng sau đây:

Quốc hội quyền lực nhân dân vẫn giữ được tính chất là cơ quan tối cao của Nhà nước và là cơ quan duy nhất có chức năng lập hiến và lập pháp.

Hội đồng Nhà nước duy trì vai trò là cơ quan thường trực của Quốc hội, với đặc điểm riêng là Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Thư ký Quốc hội đồng thời cũng là thành viên Hội đồng Nhà nước, nhằm tạo ra sự tiếp nối và liên hệ mật thiết hơn giữa 2 thể chế này.

Các chức danh Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước sẽ được thể chế hóa. Theo đó, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, được Quốc hội bầu chọn từ một trong các đại biểu của mình, theo một nhiệm kỳ 5 năm, và có thể đảm nhiệm cương vị tối đa 2 nhiệm kỳ liên tiếp vào sau đó không được quyền ứng cử và nhận đề cử tiếp.

Hội đồng Bộ trưởng duy trì vai trò là cơ quan hành pháp và hành chính tối cao, làm thành Chính phủ cộng hòa và nằm dưới sự chỉ đạo của thủ tướng, chức danh mới được đề xuất lập ra trong Hiến pháp mới.

Về phía tòa án, nét mới lớn nhất là khả năng có thể tập hợp hoặc không bồi thẩm đoàn trong các hoạt động xét xử và việc không bắt buộc phải có trong thành phần bồi thẩm các quan tòa không chuyên.

Liên quan tới các tổ chức nhà nước trong ngành lập hiến, dự thảo đề xuất bổ sung thêm tính chất này cho cơ quan Tổng thanh tra Nhà nước và thể chế hóa Hội đồng bầu cử quốc gia, đơn vị phụ trách những vấn đề liên quan tới các tiến trình bầu cử trong nước.

Trong các cơ quan địa phương thuộc nhánh quyền lực nhân dân, đáng chú ý có đề xuất xóa bỏ các Hội đồng nhân dân tỉnh và cơ quan hành chính phụ thuộc của Hội đồng này, và thay thế bằng một Chính quyền tỉnh, gồm một Thống đốc và một Hội đồng cấp tương đương hợp thành, và thành viên của hội đồng này là các Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp huyện và các Quận trưởng (người đứng đầu Hội đồng hành chính huyện).

Ở cấp huyện, dự thảo đề xuất kéo dài nhiệm kỳ các ủy viên Hội đồng nhân dân từ 3 năm hiện tại lên 5 năm và công nhận tính tự chủ của cấp địa phương này trong việc quản lý hành chính, với mục đích tạo ra giải pháp nhanh và hiệu quả hơn cho các vấn đề và yêu cầu cấp bách của địa phương.

Đáng chú ý trong dự thảo còn đề cập tới những đảm bảo các quyền về đề đạt và tham gia của nhân dân tại cấp địa phương, trong đó có việc cho phép tổ chức tham khảo ý kiến quần chúng trong các vấn đề đáng quan tâm của địa phương, quyền của nhân dân được đề xuất đề tài thảo luận tại các Hội đồng nhân dân và nghĩa vụ phải tiếp nhận một cách đúng đắn các đề nghị, gợi ý, khiếu nại, tố cáo của công dân.

Dự thảo dành riêng 1 mục đề cập tới các khía cạnh liên quan tới quốc phòng và an ninh quốc gia, trong đó xác định rằng tư tưởng phòng thủ chiến lược của Cuba là học thuyết chiến tranh nhân dân.

Dự thảo nêu rõ rằng Hội đồng quốc phòng là một cơ quan cấp cao của Nhà nước và chịu trách nhiệm điều hành đất nước trong các trường hợp ngoại lệ và thảm họa.

Liên quan tới việc cải tổ Hiến pháp, dự thảo quy định rõ hơn những chủ để được phép thúc đẩy tiến trành này, đồng thời giữ nguyên các điều khoản về tính bất biến của chủ nghĩa xã hội và hệ thống chính trị, xã hội và kinh tế (hiện hành tại Cuba), cũng như việc cấm tiến hành thương lượng dưới đe dọa, áp lực hoặc cưỡng bức của một thế lực ngoại bang.

Để các nội dung sửa đổi và bổ sung này có hiệu lực đầy đủ, dự kiến sẽ có những giai đoạn và cấp độ áp dụng ở mức đặc biệt, quá độ và hoàn thành.

Granma kết luận đây là một dự thảo Hiến pháp nhằm củng cố và tiếp nối hệ thống xã hội chủ nghĩa, dân chủ, thịnh vượng và bền vững của Cuba.

Nguồn: TLTKĐB – 25/07/2018

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần cuối


Kết quả chắc chắn sẽ mang đến nhiều xáo trộn mới về kinh tế và lao động ở Mexico, và nếu kết hợp với một tổng thống Mexico mới vốn đã chỉ trích Mỹ, thì quan hệ song phương có khả năng sẽ gặp nhiều rắc rối hơn bất kỳ thời điểm nào trong những thập kỷ gần đây. Nó sẽ đi ngược lại bố cảnh gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn, vốn từ lâu đã được Mỹ coi là một điều kiện gần như vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự thay đổi nào về tình trạng biên giới đó cũng được xem như là một mục tiêu cơ hội rất hấp dẫn cho các đối thủ của Mỹ, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đúng như ông đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, ông chắc chắn coi một vùng biên giới phía Nam của Mỹ bất ngờ rơi vào tình trạng hỗn loạn như là một món quà bất ngờ đối với Moskva. Lý do cốt lõi xuất phát từ hiểu biết của ban lãnh đạo Nga rằng trong mối quan hệ cạnh tranh của họ với Mỹ, Nga không thể đọ được với Mỹ trong bất kỹ lĩnh vực nào khác ngoài quân sự. Kết quả là một nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại Nga, như trong thời đại Xô viết, là thu hẹp và giảm đến mức thấp nhất mọi biểu hiện cho thấy sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ – nhằm “hạ thấp tầm quan trọng của Mỹ”.

Trong những năm trước, mục tiêu đó được phản ánh trong các nỗ lực của Liên Xô nhằm mục đích nhấn mạnh và lợi dụng những khuyết điểm và nỗi đau trong xã hội và nền chính trị Mỹ, nổi bật nhất là bằng việc nhấn mạnh các điều luật Jim Crow (gồm các quy định hà khắc đối với người da đen – ND) và hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đen. Trong hoàn cảnh đã thay đổi và khác biệt hiện nay, Moskva chú trọng vào việc làm suy yếu sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với hệ thống chính trị của nước này, chẳng hạn như thúc đẩy quan điểm cho rằng các cuộc bầu cử của Mỹ là “gian lận”. Yếu tố phổ biến và trung tâm trong cách tiếp cận này là để Nga khẳng định sự tương đương về mặt đạo đức với Mỹ, cụ thể là đưa ra ý kiến cho các rằng các giá trị và thông lệ của Mỹ và phương Tây không tốt đẹp hơn các giá trị và thông lệ của Nga. Với những người Nga vốn có giao thiệp với phương Tây thì đ1o là một chiến thuật phổ biến, như John F. Kennedy đã hoang mang khi nhận thấy trong cuộc gặp đầu tiên của ông với Khrushev. Chính Putin cũng đã thể hiện một cách chính xác phương pháp này vào năm 2013 khi được một phóng viên Anh hỏi về cảm nhận của mình về Stalin và những tội ác của ông ta. Như Nikita Petrov gần đây đã viết trên tờ Foreign Affairs, “Putin đáp lại: ‘Cromwell thì có gì tốt đẹp hơn?’”.

Cách đối đáp đầy kinh nghiệm đó phản ánh một sự hiểu biết rõ về lịch sử của Mỹ và phương Tây, điều hữu ích hơn hẳn các chiến thuật tranh luận của Nga. Nó phản ánh nhận thức rằng trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ – Mexico vốn đã bị tổn hại bởi các vấn đề thương mại và biên giới, sự sụp đổ của NAFTA sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu mà một lần nữa sẽ dễ bị lợi dụng. Tính dễ bị tổn thương mới có này sẽ đại diện cho một sự thay đổi về tình trạng: từ một vùng biên giới phía Nam trước đó vốn yên ổn trong nhiều thập kỷ thành một khu vực mà sẽ đòi hỏi tối thiểu một sự chuyển hướng và tái phân phối các nguồn lực an ninh quốc gia của Mỹ, và nhiều hơn thế nếu các mối quan hệ trở nên tồi tệ thêm.

Dĩ nhiên, khu vực biên giới phía Bắc của Mỹ với Canada chưa bị hỗn loạn ở mức độ gần như tương tự với khu vực phía Nam, và có một lịch sử rất khác và thuận lợi hơn. Nhưng vấn đề NAFTA thật sự đã khiến cho mối quan hệ Mỹ – Canada bị xáo trộn hơn bao giờ hết trong những năm gần đây, và trong một trường hợp gần đây, Canada đã lựa chọn một chính sách chủ yếu được biện minh bởi sự cần thiết phải tránh làm cho mối quan hệ với Washington trở nên tồi tệ thêm nữa. Điều đó xảy ra vào tháng 12/2017, khi nhiều người biết rằng Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu với kết quả 128 phiếu thuận và 9 phiếu chống nhằm chỉ trích quyết định của Washington công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Điều rất bất ngờ là Canada không gia nhập đa số gồm 128 nước – bao gồm hầu hết các đồng minh của Mỹ trong Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – đã bỏ phiếu chống lại Mỹ. Thay vào đó, Canada đã bỏ phiếu trắng, và lời giải thích được đưa ra công khai là với những mối quan hệ vốn đã quá căng thẳng do vấn đề NAFTA, Thủ tướng Trudeau muốn né tránh bất kỳ điều gì mà sẽ làm cho Tổng thống Trump thất vọng hơn nữa. Ngay dù vậy, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland dường như bị thuyết phục rằng các cuộc đàm phán NAFTA hiện nay sẽ thất bại, và Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận này. Khi đó, Canada sẽ đẩy nhanh các bước để mở rộng các thị trường xuất khẩu của họ vượt ra ngoài Mỹ, nới lỏng các mối quan hệ mà trong 1/4 thế kỷ qua đã trở nên thân thiết hơn bao giờ hết.

Ít nhất có 1 vấn đề khác có tiềm năng làm cho mối quan hệ Mỹ – Canada trở nên tồi tệ thêm và do đó được coi là một mục tiêu cơ hội có lợi cho đối thủ của Mỹ. Nó xuất phát từ sự kết hợp giữa chế độ liên bang đôi khi hỗn loạn của Canada và lịch sử phong trào độc lập Quebec của nước này. Đây là một chủ đề đặc biệt có liên quan trong kỷ nguyên của chủ nghĩa ly khai mang màu sắc dân túy và chủ nghĩa dân tộc được khôi phục hiện nay, thường bắt nguồn từ những sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (như ở Quebec). Vấn đề này bắt đầu được chú ý vào cuối những năm 1960, khi Quebec ngày càng trở thành nơi diễn ra phong trào ly khai sôi động. Khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đến thăm Montreal vào năm 1967 và được nhiều người biết đến là đã hô to “Quebec tự do muôn năm”, đám đông đã reo hò tán thành và phong trào độc lập của Quebec được phục hưng. Tuy nhiên, phản ứng của Chính phủ Canada là ngay lập tức phủ nhận, vì một Quebec độc lập, tỉnh lớn nhất Canada về diện tích và đứng thứ hai về dân số, làm dấy lên nỗi ám ảnh về một đất nước bị chia rẽ hoàn toàn. Không ngạc nhiên, chuyến thăm của De Gaulle đã nhanh chóng bị rút ngắn và quan hệ với Pháp đã bị tổn hại trong một vài năm.

Hiện nay, phong trào ly khai của Quebec đã yên ắng, nhưng tro tàn của nó thì chưa biến mất; như gần đây đối với Chính quyền Clinton vào giữa những năm 1990, chúng là nguyên nhân dẫn đến những quan ngại về chính sách đối ngoại của Mỹ. Như trong trường hợp biên giới của Mỹ với Mexico, và trong bối cảnh quan hệ căng thẳng hiện nay của Canada với Mỹ liên quan đến NAFTA, những ký ức đó là một điểm yếu tiềm tàng trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà dễ bị lợi dụng. Nếu điều đó dường như không có khả năng xảy ra, thì hãy nhắc lại việc Nga gần đây đã – và trong một số trường hợp là đang – tiến hành đưa thông tin sai lệch và các hoạt động có liên quan đến tình hình nội chính của Pháp, Anh và Đức, mà không đề cập đến Phần Lan, Estonia, Gruzia và Ukraine. Những hành động đó của Nga là đề tài của một báo cáo của Ủy ban đối ngoại Thượng viện dài 200 trang vừa được công bố, có tựa đề “Cuộc tấn công bất cân xứng của Putin vào nền dân chủ ở Nga và châu Âu”.

19 quốc gia mà báo cáo này bao trùm không mở rộng sang bán cầu Tây, nhưng nếu các hành động chính thức của Mỹ khiến NAFTA sụp đổ, như nhiều người lo sợ, thì các tàn tích đau thương ở những vùng biên giới phía Nam và phía Bắc của Mỹ hiện đang âm ỉ sẽ lại bùng cháy do các phương pháp tương tự của Nga. Gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn vốn được coi là điều đương nhiên sẽ trở thành các vùng biên giới một lần nữa dễ có khả năng phải chịu sự phá hoại khéo léo của một đối thủ được chứng minh là có năng lực và cam kết làm suy yếu Mỹ. Hậu quả đối với an ninh quốc gia đó hoàn toàn chưa tính đến những tổn thất lớn về kinh tế mà nó sẽ đem lại cho người nông dân và người lao động trong ngành công nghiệp ô tô của Mỹ, cũng như thiệt hại nó có thể mang đến cho chính đảng của tổng thống. Từ quan điểm hoàn toàn mang tính phe phái đó, như Karl Rove gần đây đã viết, “việc hủy bỏ NAFTA sẽ gây tổn hại cho các thành viên đảng Cộng hòa ở các bang nông nghiệp, sản xuất ô tô và gần biên giới… Ngài Tổng thống, điều này là không đáng”.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần đầu


Bernard K. Gordon

Sự sụp đổ của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu một lần nữa dễ bị khai thác.

Tháng 4/2005, Vladimir Putin được nhiều người biết đến là mô tả sự tan rã của Liên Xô vừ là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, vừa là một “bi kịch” đối với Nga. Đối với người Mỹ trong thế kỷ này, một thảm họa có quy mô thậm chí còn lớn hơn đang hình thành: sự chấm dứt vị thế độc tôn của Mỹ là nước lớn duy nhất có biên giới yên ổn. Không một nước lớn nào khác ở bất kỳ đâu được hưởng hay đã được hưởng sự xa xỉ đó. Ở châu Âu, Pháp, Đức, Nga, Anh và các nước khác đều đã phải sống chung với các nước thù địch ở biên giới của họ, đôi khi nổ ra xung đột công khai. Điều tương tự đang diễn ra ở Nam Á hiện nay, nơi người ta biết rõ về thái độ thù địch lẫn nhau giữa Ấn Độ và Pakistan, thêm vào đó là sự kình địch ngày càng gia tăng của Ấn Độ với nước láng giềng Trung Quốc. Và điều đó đương nhiên cũng diễn ra ở Đông Á, nơi sự thù địch lâu dài và sâu sắc giữa Trung Quốc và Nhật Bản chỉ là một trong nhiều ví dụ về những khu vực biên giới đáng lo ngại mà hai nước này phải đối mặt. Đối với Nhật Bản, biên giới phía Bắc với Nga từ lâu đã là một vấn đề gây bất đồng hiện vẫn tiếp diễn, và Trung Quốc có hơn một chục khu vực biên giới, bao gồm một vài nơi mà trong những năm gần đây đã dẫn tới xung đột vũ trang.

Trải nghiệm của Mỹ thì hoàn toàn khác biệt. Nằm ở trung tâm lục địa Bắc Mỹ, vớ đại dương ở cả hai phía, Mỹ đã truyền đi một hình ảnh cũng như một thực tế rất đáng thèm muốn. Với một Canada dân cư thưa thớt ở phía Bắc và một nền kinh tế Mexico thường phải vật lộn ở phía Nam, sự kết hợp giữa diện tích rộng bằng cả lục địa, dân số lớn và một nền kinh tế sôi động của Mỹ đồng nghĩa với việc hầu như không có mối lo ngại nào ở những vùng biên giới. Điều này đã làm gia tăng đáng kể sức mạnh địa chính trị của nước này, và trong ngữ cảnh là bài viết về “cường quốc đang trỗi dậy”, so sánh cường quốc lâu đời là Mỹ với cường quốc đang trỗi dậy là Trung Quốc, Joseph Nye thuộc Đại học Harvard gần đây đã viết rằng vị trí địa lý có lợi cho Mỹ vì nước này có các nước láng giềng “có khả năng vẫn thân thiện”.

Nhưng giờ đây tình thế đã thay đổi. Khả năng NAFTA sụp đổ đã làm thay đổi tình trạng biên giới yên ổn lâu dài đó. Không có thay đổi đột ngột nào sắp diễn ra, nhưng đồng thời, điều mà Mỹ từ lâu đã coi là đương nhiên không còn có thể được thừa nhận một cách chắc chắn như trước nữa. Lý do là quan hệ của cả Mexico lẫn Canada với Mỹ đã trở nên rất bất ổn, đáng chú ý là vì một lập trường mới và chính thức của Mỹ về thương mại đối với cả 2 nước láng giềng này. Theo quan điểm mới này, cả Mexcio lẫn Canada hầu như đều không có ảnh hưởng đòn bẩy trong thương lượng và Washington về cơ bản có thể định hình mối quan hệ. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross là rõ nhất về điều này. Vào tháng 12/2017, ông nói rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ “gây tổn hại đến nền kinh tế Mexico” và là một “vấn đề lớn đối với Canada”. Điều đó là đúng: Cả 2 nước này đều phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ nhiều hơn là theo chiều ngược lại, điều đã khiến Ross dự đoán rằng 2 nước sẽ “bắt đầu suy nghĩ thấu đáo và đưa ra một thỏa thuận hợp lý”.

Tình hình khó mà được như vậy. 5 vòng đàm phán NAFTA trong năm 2017 phản ánh cả một thực tế thương mại khác biệt lẫn một môi trường chính trị đã thay đổi. Về các vấn đề thương mại, Canada và Mexico đã nhanh chóng hành động để mở rộng các mối quan hệ của họ vượt ra ngoài Mỹ, cụ thể là tới châu Âu và Trung Quốc, nhưng hậu quả rõ ràng nhất là ở thực tế chính trị đã thay đổi rõ rệt của Mexico. Mexico sẽ tổ chức tổng tuyển cử và bầu cử tổng thống vào tháng 7/2018, và, lần đầu tiên trong nhiều thập kỷ, một ứng cử viên bài Mỹ công khai là ông López Obrador có khả năng chiến thắng. Là cựu Thị trưởng Mexico City, ông từng ra ứng cử 2 lần và thua với kết quả rất suýt soát trong lần thứ 2. López Obrador nổi tiếng là một nhà cải cách chống tham nhũng cũng như một người chỉ trích mạnh mẽ nước Mỹ, và các cuộc thăm dò gần đây cho thấy ông dẫn trước các đối thủ của mình từ 5% – 20%.

Nhiều điểm yếu của ban lãnh đạo hiện tại của Mexico đã giúp ông trở thành ứng cử viên, nhưng có 2 thành tố chính liên quan đến Mỹ giải thích cho sự vươn lên vững chắc của ông. Một mặt là lập trường cứng rắn của Đại diện thương mại Mỹ Lighthizer và Bộ trưởng Thương mại Mỹ Ross trong các cuộc đàm phán NAFTA; mặt khác là những sự chỉ trích gay gắt đối với Mexico và người dân Mexico thường được bày tỏ trong chiến dịch tranh cử tổng thống của Donald Trump. Việc ông mô tả người Mexico là những kẻ cưỡng hiếp và buôn bán ma túy đã làm sống lại tư tưởng bài Mỹ vốn âm ỉ nhưng đã có từ lâu ở Mexico. Tư tưởng đó đã giảm bớt trong những năm kể từ khi có NAFTA, và những sự cải thiện mà nó đã giúp mang lại cho nền kinh tế Mexico, nhưng tư tưởng đó vốn ăn sâu bám rễ và bắt nguồn từ thất bại của Mexico trong cuộc chiến tranh 1847 – 1848 với Mỹ. Cuộc chiến đó đã khiến Mexico phải nhượng cho Mỹ một nửa lãnh thổ của mình, một vùng rộng lớn mà giờ đây là Utah, Nevada và California, toàn bộ New Mexico và nhiều vùng ở Arizona, Colorado và Wyoming. Những ký ức về thất bại đó khó có thể mất đi, như Hạ nghị sĩ bang Texas Henry Cuellar gần đây đã nhắc lại trước cử tọa ở Washington, và trong khi hầu như không có người Mỹ nào nhớ được nhiều đều về James K. Polk, tổng thống Mỹ khi đó, thì chỉ có Donald Trump mới cạnh tranh được với Polk về mức độ bị phản đối ở Mexico hiện nay.

Đó là điều đặc biệt không may vì khả năng chiến thắng của López Obrador vào tháng 7 cần được nhìn nhận trong bối cảnh ảnh hưởng của việc NAFTA sụp đổ đối với chính sách đối ngoại và an ninh quốc gia của Mỹ – ngoài thiệt hại mà nó gây ra cho nền kinh tế Mỹ. Đó không phải là trọng tâm chính ở đây, nhưng có một vài con số đang gợi lại. Chỉ trong ngành nông nghiệp, Canada và Mexico đã chiếm 1/3 giá trị nông sản xuất khẩu của Mỹ (18 tỷ USD sang Mexcio và 23 tỷ USD sang Canada), và các nhà lãnh đạo ngành ô tô Mỹ thường xuyên cảnh báo rằng sự sụp đổ của NAFTA sẽ làm mất đi công ăn việc làm được tạo ra nhờ các chuỗi cung ứng mà họ đã xây dựng giữa 3 nước thành viên NAFTA này. Các quan chức Canada cho biết rằng thêm 9 triệu việc làm của Mỹ phụ thuộc vào thương mại và đầu tư ở Canada, và rằng hơn 2/3 số tiểu bang của Mỹ coi Canada là thị trường hàng đầu của họ. Tháng 1/2018, các nhà lãnh đạo ngành nông nghiệp, chế tạo và kinh doanh của Mỹ (bao gồm cả một số người đến từ Canada và các tiểu bang của Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nề) đã trực tiếp đưa phần lớn những bằng chứng này ra để cá nhân tổng thống xem xét. Kết quả là có một số dấu hiệu cho thấy ông đã làm dịu bớt cam kết chấm dứt NAFTA của mình, nhưng cũng có các báo cáo cho rằng ông đơn giản có thể trì hoãn việc rút khỏi NAFTA cho tới sau các cuộc bầu cử vào tháng 7 của Mexico. Điều không thay đổi là các tuyên bố công khai đã có từ lâu của một số người trong chính quyền của ông rằng việc chấm dứt NAFTA không chỉ là chấp nhận được mà còn là đáng mong muốn, điều đã khiến các nhân vật trong giới ngân hàng và tài chính ở cả Canada và Mexico kết luận rằng các quan điểm của chính tổng thống là không thay đổi, và rằng phải chấp nhận sự sụp đổ của NAFTA.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Một cuộc can thiệp của Mỹ và Venezuela sẽ như thế nào?


Frank O. Mora

Đây sẽ là cuộc can thiệp mạo hiểm, tốn kém và phản tác dụng

Vào tháng 8/2017, Tổng thống Mỹ Donald Trump nói rằng Mỹ đang xem xét sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc khủng hoảng ở Venezuela. Tuyên bố của ông nhanh chóng bị các đồng minh của Mỹ ở Mỹ Latinh và vùng Caribe lên án là khinh suất và phản tác dụng. Tuy nhiên, có một số người, phần lớn là ở cộng đồng người Venezuela sống lưu vong, vẫn khăng khăng rằng một cuộc can thiệp quân sự của Mỹ để loại bỏ chế độ độc tài của Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro sẽ là đáng giá.

Kể từ khi Mỹ xâm lược Panama vào năm 1989, không có một tổng thống Mỹ nào đe dọa sử dụng vũ lực vì mục đích chính trị ở châu Mỹ, và vì lý do hợp lý. Không còn có bất kỳ thách thức quân sự nào đối với Mỹ trong khu vực này. Hiện nay, Lầu Năm Góc tập trung vào việc giúp đỡ các chính phủ Mỹ Latinh phá bỏ những mạng lưới buôn bán ma túy, đối phó với các cuộc nổi loạn và ứng phó với các thảm họa thiên nhiên. Họ không có kế hoạch cho các cuộc can thiệp quân sự trong khu vực, mặc dù họ chắc chắn có thể làm như vậy nếu được yêu cầu.

Nếu quân đội đưa ra các kế hoạch như vậy đối với Venezuela, thì các hoạch định chính sách sẽ cần phải trả lời một vài câu hỏi chiến lược quan trọng. Thứ nhất, họ sẽ cần phải đưa ra các mục tiêu chính trị của cuộc can thiệp. Khi các nhà nước sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, các mục tiêu của họ thường là rõ ràng: Họ thường tìm kiếm một sự thay đổi hoặc về chính sách hoặc chế độ. Trong trường hợp Venezuela, điều đó có thể đồng nghĩa với việc gây áp lực buộc Chính quyền Maduro phải tái cam kết pháp trị và bước vào một cuộc đối thoại nghiêm túc với phe đối lập, hoặc tước bỏ hoàn toàn quyền lực của họ. Nhưng liệu việc đạt được các mục tiêu đó bằng vũ lực có làm xói mòn các mục tiêu quan trọng hơn của Mỹ ở châu Mỹ và bên ngoài khu vực này hay không?

Câu trả lời ngắn gọn là “có”. Việc chiến đấu ở Venezuela có thể nhanh chóng leo thang, lôi kéo Mỹ vào một cuộc chiếm đóng tốn kém, kéo dài. Ngay cả nếu điều đó không xảy ra, thì một cuộc can thiệp cũng sẽ khiến cho mối quan hệ của Mỹ với các đối tác của họ ở Tây bán cầu trở nên tồi tệ và thu hẹp tầm ảnh hưởng của Washington ở đó. Điều làm cho vấn đề trở nên tồi tệ hơn là việc sử dụng vũ lực chống lại Venezuela sẽ làm xói mòn các cam kết khác của quân đội Mỹ, gây căng thẳng tài chính của họ và hướng các tài sản của họ ra khỏi những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ. Không có khả năng Trump và những người ủng hộ một cuộc can thiệp hiểu được các phí tổn này.

Tin tốt lành là Mỹ và các đối tác của nước trong khu vực vẫn chưa sử dụng các các lựa chọn ngoại giao của họ. Giải pháp cho cuộc khủng hoảng của Venezuela nằm bên trong đất nước đó – và Mỹ có thể giúp đỡ, mà không dùng đến quân đội của mình.

“Tự làm tự chịu”

Mỹ có thể sử dụng vũ lực chống lại Venezuela theo 3 cách: thông qua cưỡng ép một cuộc can thiệp chính xác hoặc một sự chiếm đóng. Mỗi cách đều mở đường cho sự leo thang, và mỗi cách đều có thể dẫn đến những hậu quả không lường trước được. Các xung đột hiếm khi diễn ra theo cách mà những người lên kế hoạch cho chúng kỳ vọng.

Sự cưỡng ép bao gồm việc thực hiện một sự phô trương sức mạnh nhằm đe dọa một nhà nước phải thay đổi cách hành xử của họ. Sự phô trương sức mạnh đó phải đáng tin cậy, thuyết phục mục tiêu rằng họ sẽ bị trừng phạt nếu họ không hành động khác đi. Trong trường hợp Venezuela, việc đưa một tàu khu trục Mỹ đến vùng biển phía Nam Caribe sẽ không làm được điều này, vì Caracas có thể sẽ nhìn nhận đây chỉ như là một sự đe dọa mang tính tượng trưng đối với chế độ này. Để thuyết phục Chính quyền Maduro đàm phán với phe đối lập của Venezuela và khôi phục pháp trị, Washington có thể sẽ phải triển khai một tàu sân bay và 1 hoặc 2 tàu khu trục đến khu vực này – có thể cũng là các tàu đã phóng tên lửa vào một sân bay của Chính phủ Syria hồi tháng 4/2017.

Rồi một lần nữa, điều đó có thể không có tác dụng. Nếu nó không có hiệu quả, thì Washington sẽ phải theo đuổi hành động đe dọa của mình, ít nhất để họ không giống như một “con hổ giấy”. Bằng việc tấn công các trung tâm an ninh và thông tin liên lạc then chốt từ trên không, có thể bằng các máy bay ném bom B-1, Mỹ có thể hủy hoại khả năng của Chính quyền Maduro liên lạc và trấn áp người dân của nước này. Điều này sẽ đòi hỏi thêm nhân lực của Mỹ, trong các lĩnh vực từ tình báo đến hậu cần. Một mục đích của các cuộc tấn công chính xác như vậy có thể là thuyết phục. Chính quyền Maduro thay đổi cách hành xử của họ. Nhưng các cuộc tấn công này cũng có thể tìm cách kích động một cuộc đảo chính quân sự chống lại Maduro, do các sĩ quan muốn tránh một sự can thiệp quân sự lớn của Mỹ lãnh đạo.

Các cuộc tấn công chính xác sẽ gieo rắc sự hỗn loạn ở Venezuela, gây ra các cuộc đụng độ bạo lực giữa các khối đang cạnh tranh của đất nước này và có thể dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước. Washington khi đó sẽ chỉ có một sự lựa chọn: Một cuộc xâm lược toàn diện, nhằm thiết lập một chính phủ mới và khôi phục sự ổn định. Việc chế ngự những người trung thành với Maduro và kiểm soát hậu quả sẽ cần một lực lượng khoảng 200.000 người – nhiều hơn 20.000 người so với liên minh do Mỹ lãnh đạo đã được đưa đến Iraq ngay sau khi họ xâm lược đất nước này. Binh lính Mỹ sẽ phải ở lại Venezuela cho đến khi sự ổn định quay trở lại và nhà lãnh đạo hợp pháp, có năng lực lên nắm quyền. Nếu Mỹ tiêu diệt Chính phủ Venezuela, thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm xây dựng lại đế nước này, và điều đó sẽ cần thời gian dài.

Vì việc phô trương sức mạnh sau cùng có thể dẫn đến sự chiếm đóng quân sự kéo dài nhiều năm, các quan chức Mỹ thậm chí không được xem xét đến việc đe dọa Venezuela trừ khi họ sẵn sàng tiếp tục hành động. Nếu Washington tỏ ra không sẵn sàng leo thang, thì những người bạn và kẻ thù của họ sẽ coi đó là một dấu hiệu cho thấy rằng họ không nên tin tưởng cũng không nên lo sợ Mỹ.

Cái giá của sự can thiệp

Khó có thể nói có bao nhiêu sinh mạng và tiền bạc sẽ mất đi trong một cuộc can thiệp của Mỹ. Nhưng những con số không phải là không quan trọng, đặc biệt là nếu Mỹ xâm lược Venezuela và sau đó tìm cách ổn định nước này.

Toàn bộ điều này cũng vậy. Việc sử dụng vũ lực ở Venezuela sẽ lại hướng sự chú ý và sức mạh của Mỹ ra khỏi những vấn đề quan trọng hơn đối với an ninh của nước này và đặt một gánh nặg không cần thiết lên quân đội vốn đã bị kéo căng quá mức của họ. Ngân sách quốc phòng của Mỹ có thể sẽ chỉ tăng ở mức không đáng kể trong năm tới, và Lầu Năm Góc bận rộn với việc xử lý những hoạt động trong các khu vực từ Iraq và Syria đến Tây Phi và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Khi một cuộc xung đột trên bán đảo Triều Tiên ngày càng có khả năng diễn ra hơn, Mỹ sẽ chỉ càng trở nên bận rộng. Nếu Triều Tiên hay Iran tin rằng Mỹ đang bận tâm với một hoạt động ở Nam Mỹ, thì những nhà nước đó có thể liều lĩnh, mà nếu không thì họ sẽ không làm, đe dọa các lợi ích của Mỹ ở Đông Bắc Á và Trung Đông. Hơn nữa, bằng việc phá hoại ngành công nghiệp dầu mỏ của Venezuela, một cuộc can thiệp của Mỹ sẽ làm tăng giá cả toàn cầu và làm suy yếu chính phủ của các nước phụ thuộc vào năng lượng ở châu Phi và Caribe.

Cuối cùng, một cuộc can thiệp quân sự sẽ mang lại một phí tổn rất cao cho ảnh hưởng của Mỹ ở Tây bán cầu. Colombia, Peru và một số nước khác đã nhanh chóng lên án đề xuất của Trump rằng một lựa chọn quân sự đang được đặt lên bàn. Việc sử dụng vũ lực sẽ châm ngòi cho một phản ứng mạnh mẽ hơn nhiều, thậm chí là từ các đối tác thân thiết nhất của Washington. Bằng việc các nước khác trong khu vực nhớ lại lịch sử nước Mỹ đã can thiệp vào công việc của họ, Washington sẽ đánh mất thiện chí của các nhà nước này – và cùng với đó là cơ hội để làm việc với họ về các vấn đề quan trọng đối với tất cả mọi người trên bán cầu này, từ việc đối phó với tội phạm xuyên quốc gia đến việc hợp nhất cơ sở hạ tầng năng lượng của châu Mỹ.

Một cách thức tốt hơn

Lịch sử đã cho thấy rằng những sự chuyển tiếp dân chủ thành công thường là công việc nội bộ. Việc khôi phục nền dân chủ của Venezuela là một công việc dành cho công dân của nước này. Các chính phủ nước ngoài có thể giúp đỡ nhưng họ chỉ có thể đóng một vai trò hỗ trợ. Tuy nhiên, cho đến nay, những sự chia rẽ bên trong phe đối lập của Venezuela đã làm suy yếu những nỗ lực của họ đảm bảo sự ủng hộ của quốc tế đối với việc khôi phục quy tắc dân chủ.

Có một vài biện pháp mà Mỹ có thể tăng cường. Chẳng hạn, Chính quyền Barack Obama và Trump đã áp đặt các biện pháp trừng phạt đơn phương nhằm vào các quan chức Venezuela bị cáo buộc tham nhũng và vi phạm nhân quyền trong một nỗ lực nhằm tạo ra những sự rạn nứt bên trong chế độ này, điều có thể khiến họ sụp đổ hoặc thay đổi cách hành xử của họ. (Gần đây, Chính quyền Trump đã mở rộng và làm sâu sắc các biện pháp trừng phạt đó; cho đến nay, điều đó hầu như không có tác dụng). Nhưng một số người lập luận rằng các biện pháp trừng phạt đơn phương của Mỹ là phản tác dụng. Theo tư duy này, Maduro có thể chỉ ra các biện pháp này là những ví dụ cho thấy sự hung hăng của Mỹ, điều giúp ông tập hợp ít nhất là sự ủng hộ nào đó từ nước ngoài và trong số những người ủng hộ đã mệt mỏi của ông ở trong nước.

Đó là lý do giải thích tại sao Mỹ nên làm việc với các chính phủ châu Âu và Mỹ Latinh để áp đặt các biện pháp trừng phạt đa phương nhằm vào các quan chức chính phủ và một số nhóm mà chế độ Maduro phụ thuộc, như Trung tâm ngoại thương quốc gia, một cơ quan chính phủ quản lý việc trao đổi tiền tệ, và Camimpeg, một công ty về dịch vụ năng lượng được quân đội hậu thuẫn. Khi các nước đó làm như vậy, họ nên chắc chắn tránh những sự hạn chế gây tổn hại cho những người dân thường Venezuela, vốn đang chịu tác động của một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc. Các biện pháp trừng phạt đa phương này sẽ cô lập và gây áp lực cho chế độ Maduro, và các chính phủ áp đặt các biện pháp này sẽ có tính hợp pháp để siết chặt hơn nữa Chính quyền Maduro, nếu họ cần phải làm. Đây là một cách tiếp cận mà các nước láng giềng của Mỹ ở Tây bán cầu có thể tán thành – nhưng chỉ khi Washington kiềm chế nói đến can thiệp quân sự và làm việc nỗ lực hơn để thuyết phục các nước láng giềng của Venezuela cùng tham gia.

Đề xuất của Trump rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực ở Venezuela có thể là hấp tấp. Dù thế nào, các chính phủ và người dân ở châu Mỹ và ngoài khu vực này cũng đã chú ý đến thiệt hại của Washington. Điều cuối cùng Mỹ cần hiểu bây giờ là một cuộc can thiệp quân sự sẽ kéo căng quá mức các lực lượng của họ và khiến Washington xao lãng khỏi những mối đe dọa nguy hiểm hơn nhiều đối với an ninh của Mỹ.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/venezuela/2017-11-08/what-would-us-intervention-venezuela-look

TLTKĐB – 17/11/2017