Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần cuối


Hủy hoại nhà nước – quốc gia

Nhà nghiên cứu chính trị Igor Collazos từng chỉ ra nhiều cách thức để hủy hoại một nhà nước – quốc gia: từ chiến thuật cắm chốt đến can thiệp, chia cắt, kích động chủ nghĩa địa phương, truyền bá tư tưởng thần phục, thâm nhập và làm tha hóa nội bộ, phân hóa kinh tế và kích động xung đột.

Cắm chốt là chiếm giữ và củng cố những điểm chiến lược, nhỏ bé về quy mô nhưng có vị trí then chốt trong việc kiểm soát, đặc biệt là đối với các mạng lưới truyền thông và giao thông; can thiệp là hành động quân sự chống lại một hoặc nhiều nhà nước – quốc gia; chia cắt là ly khai một hay nhiều phần lãnh thổ quốc gia; kích động chủ nghĩa địa phương là tuyên truyền những bản sắc, nhiều khi là giả tạo nhằm đào sâu cách biệt và rạn nứt với những nguyên nhân trên danh nghĩa thuộc về văn hóa.

Thâm nhập và làm tha hóa là gia tăng không kiểm soát các điểm “cắt chốt” bên trong bộ máy nhà nước của một quốc gia; truyền bá tư tưởng thần phục là tập trung hỗ trợ một địa phương cụ thể nhằm tăng cường ảnh hưởng và sự phụ thuộc một phần của đia phương đó vào cường quốc bên ngoài; phân hóa kinh tế là thúc đẩy sự phát triển quá mức của một hoạt động kinh tế chuyên môn hóa cao và riêng lẻ tại một địa phương hoặc thậm chí của cả một quốc gia để làm gia tăng sự phụ thuộc và làm suy yếu khả năng thương lượng của địa phương hay quốc gia đó, chiến lược hiện đang được áp dụng trong các hệ thống toàn cầu; và kích động xung đột là ủng hộ, cả về vật chất lẫn tinh thần, các cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm làm sâu sắc thêm các xu hướng ly khai và tạo ra các vết thương không thể hàn gắn.

Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo sau Venezuela?

Washington rõ ràng đã triển khai chiến lược “Balkan hóa” tại Venezuela. Đầu tiên, họ âm mưu tạo ra một “vùng giải phóng” tại biên giới phía Nam thuộc bang Táchira, tiếp giáp bang Bắc Santander của Colombia, với hành động vận chuyển “viện trợ nhân đạo” do Mỹ cố tình thực hiện chứ không phải theo yêu cầu của Venezuela, một hình thức ngụy trang cho một cuộc xâm lược cục bộ mà trong đó, những người Colombia đóng vai trò then chốt.

Hiện tại, họ đang tạo dư luận và những “điều kiện khách quan” để biến bang Zulia thành một địa phương không có chính quyền, một vùng đất không có luật pháp và “không của ai cả”, từ đó tạo cớ cho một cuộc can thiệp quân sự đa quốc gia “vì mục đích nhân đạo”, để một khi giành được quyền kiểm soát Zulia sẽ tạo ra một nhà nước Venezuela tự do và lập ra một chính phủ bù nhìn thân Mỹ.

Những ai chỉ đạo mô hình chiến tranh đa hình thái và đa chiều chống lại Venezuela hiện tại từ Washington hẳn phải cho rằng việc chiếm đóng quân sự và chuyển “hàng viện trợ” cho riêng bang Zulia sẽ khả thi hơn nhiều so với việc thực hiện trên toàn lãnh thổ quốc gia Nam Mỹ này. Zulia là một vùng có trữ lượng dầu khí lớn, đồng thời có hoạt động chăn nuôi và tiếp giáp với Colombia, những điều kiện khiến địa phương này mang tính chiến lược về mặt địa chính trị.

Giờ đây Mỹ đang cố gắng chia tách 2 bang biên giới là Táchira và/hoặc Zulia khỏi Venezuela để lập ra một “nền cộng hòa” bù nhìn mới. Tại Mỹ Latinh, người ta không thể quên được việc Panama cũng từng là một phần lãnh thổ Colombia trước khi bị Mỹ chia tách vào năm 1903. Luận thuyết “Balkan hóa”, cho dù dưới bất kỳ danh nghĩa nào, đã, đang và sẽ luôn nằm trong tâm trí của những kẻ thống trị ở Mỹ.

Những tuyên bố vừa qua của Tổng thống Mỹ Donald Trump, về danh nghĩa nhằm vào người đồng cấp Colombia Iván Duque, có thể hiểu là một sự bảo đảm về việc đưa Colombia trở lại thời kỳ nội chiến, tại thời điểm tỷ lệ ủng hộ chính phủ bảo thủ cực đoan đang rơi tự do với những xung đột nội bộ liên miên một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ngày càng lan rộng, tình trạng mất niềm tin của dân chúng vào giới cầm quyền và thất bại nặng nề của Nghị viện trong nỗ lực thúc đẩy những nội dung thiết yếu nhất của thỏa thuận hòa bình với nhóm du kích Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC, hiện đang giải giáp và trở thành chính đảng Lực lượng lựa chọn thay thế cách mạng của chung) – đặc biệt là về cơ chế pháp lý trong giai đoạn chuyển giao quyền lực.

Ông Trump “chỉ trích” người đồng nghiệp Colombia về việc không ngăn chặn được dòng ma túy vào Mỹ từ quốc gia Nam Mỹ này khi nói rằng “thật không may là hoạt động buôn bán ma túy đã tăng 50% kể từ khi ông Duque lên cầm quyền”, và lên án Colombia cùng với Guatemala, El Salvador và Honduras là những nước Mỹ Latinh đã gửi những tên tội phạm và băng đẳng” tới Mỹ. Lời đáp trả của Duque khá yếu ớt: “Những nước có tỷ lệ tiêu thụ ma túy cao cần phải đối mặt với hiện tượng đó; trong khi đó chúng tôi đang làm những việc cần thiết tại Colombia để đấu tranh chống lại các băng đảng và nạn trồng cây coca trái phép. Trong khi chúng tôi thực hiện nhiệm vụ này, các nước khác cũng cần phải đối phó với nạn buôn bán các tiền chất”.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng đây là một sự công kích của Trump nhằm vào đồng minh Duque. Trái lại, những tuyên bố này tạo ra công cụ để vị tổng thống hữu khuynh của Colombia gây áp lực lên công luận, các tổ chức chính trị và thể chế trong nước, đặc biệt Tòa án Hiến pháp, tái sử dụng các biện pháp mạnh tay chống lại người nông dân và bác bỏ thỏa thuận hòa bình, vì nếu không có các biện pháp cực đoan này thì Kế hoạch Colombia mà Washington tài trợ cho Bogota không có lý do để tồn tại.

Đó là một kế hoạch nhằm vào hai mục tiêu: một mặt để quốc gia Nam Mỹ này không phải từ bỏ hoạt động khai khoáng cùng kiệt, độc canh cây cọ châu Phi và thậm chí là chính hoạt động trồng cây coca; mặt khác để tiếp tục thu lợi từ chiến tranh, và rõ ràng là tiếp tục “Balkan hóa” hay tạo ra tình trạng vô chính phủ ở nhiều vùng rộng lớn của quốc gia Nam Mỹ này. Mỹ rõ ràng không muốn Colombia thoát khỏi vai trò là nguồn cung cấp cocaine và ma túy tổng hợp rẻ mạt cho tầng lớp thượng lưu, trung lưu và các khu ổ chuột tại các đô thị của Mỹ, vì đây vẫn là một công cụ kiểm soát xã hội hữu hiệu.

Hiện có 2 mô hình đang cạnh tranh nhau trong giới cầm quyền tại Colombia: Một bên là một bộ phận giới tư sản, do cựu Tổng thống Juan Manuel Santos cầm đầu, theo đuổi dự án ổn định kinh tế và đa dạng hóa sản xuất: một bên là phái Uribe, do cựu Tổng thống cực hữu Álvaro Uribe sáng lập, đặt cược vào việc quay trở lại tình trạng nội chiến, từng mang lại cho họ nhiều lợi lộc trong suốt 6 thập kỷ qua.

Phái Uribe, hiện do Duque thừa kế, tìm cách khơi lại xung đột xã hội và tình trạng chiến tranh: Vượt qua được cuộc xung đột nghĩa là xóa bỏ được tình trạng phân cực chính trị – xã hội ở nước này, dẫn tới việc chấm dứt sự tồn tại của phái Uribe luôn theo đuổi tư tưởng hữu khuynh, cực đoan, cũng như những ưu đãi và sự bảo hộ của họ đối với những kẻ buôn lậu ma túy, sĩ quan quân đội tha hóa biến chất và những nhóm bán quân sự cực hữu.

Duque muốn sử dụng trở lại thuốc diệt cỏ glyphosate phun từ máy bay để diệt trừ các cánh đồng coca, cùng các biện pháp cưỡng chế khác, để bỏ qua các sáng kiến đã thỏa thuận với giới nông dân và các dân tộc thiểu số bản địa.

Cựu Tổng thống Juan Manuel Santos từng chỉ ra rằng Colombia đã mất 40 năm cố gắng vô ích trong việc xóa bỏ cây coca “bởi chúng ta chưa bao giờ tiếp cận được với người nông dân để trao cho họ những lựa chọn khả thi khác. Ngày nay với nền hòa bình, chúng ta có thể làm được điều đó, và do vậy tôi hi vọng rằng cách tiếp cận này không bị điều chỉnh”. Ông nói thêm: “Phải trao cho những người dân trồng coca những lựa chọn hợp pháp và khả thi chứ không thể đầu độc (bằng việc sử dụng glyphosate) hay tống họ vào tù”.

Tại Brazil – quốc gia rộng lớn và đông dân nhất Mỹ Latinh, tình trạng cũng đáng buồn không kém với những tuyên bố giật gân và cực đoan của Tổng thống Jair Bolsonaro, người mới đây đã đưa ra giả thuyết về một cuộc xâm lược vào Venezuela, trong đó Brazilia và Washington sẽ làm việc cùng nhau để chia rẽ và gây rạn nứt trong Quân đội Venezuela nhằm lật đổ Chính quyền Nicolás Maduro. Vị tổng thống này phát biểu rằng: “Brazil có thể làm gì? Chúng ta hãy giả sử rằng có một cuộc xâm lược quân sự của Mỹ vào Venezuela… Chúngta sẽ phải lôi kéo Quân đội Venezuela, không còn con đường nào khác, bởi người quyết định liệu đất nước sống trong một nền dân chủ hay một nền độc tài chính là các lực lượng vũ trang… Quyết định đó sẽ là của tôi, nhưng tôi sẽ lắng nghe Hội đồng Quốc phòng và sau đó là Nghị viện Brazil trước khi đưa ra quyết định”. Thế nhưng ngay cả khi giới tướng lĩnh trong chính nội các của ông ngăn cản việc “giao nộp” căn cứ không gian chiến lược Alcántara cho Mỹ, thì vị nguyên thủ cực hữu này vẫn đưa ra cam kết trên trong chuyến công du Washington, chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị tổng thống, và sắp tới rất có thể tới lượt các tập đoàn nhà nước và khu rừng Amazon khổng lồ cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát bằng lợi ích của Mỹ.

Những kế hoạch và chiến lược theo luận thuyết “Balkan hóa” luôn nằm trong số các lựa chọn của chính sách chiến tranh đa hình thái và đa chiều đang được Mỹ thúc đẩy tại Mỹ Latinh, nhằm biến khu vực này trở lại thành “sân sau” của mình. Trong bối cảnh đó, các cuộc tổng tuyển cử sắp tới tại Uruguay, Argentina và Bolivia có vai trò then chốt không chỉ đối với mỗi quốc gia này, mà còn cả với hướng đi của toàn bộ khu vực.

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Advertisements

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần đầu


Aram Aharonian

Chiến lược không đổi của các chính phủ kế tiếp nhau tại Mỹ là chia cắt vĩnh viễn lãnh thổ Mỹ Latinh-Caribe, bao gồm trong đó những nỗ lực hiện đang khá thành công của họ trong việc phá hoại các tiến trình hội nhập tự chủ của khu vực như Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Unasur) và Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe (Celac).

Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh là một đặc trưng của cuộc tranh giành địa chính trị hiện tại và ngày càng dễ nhận ra tại tất cả các không gian hội nhập. Washington đang tìm cách làm thay đổi logic liên kết khu vực nhằm tạo ra một trật tự địa chính trị mới tại Mỹ Latinh, một bước xoay trục mang tính quyết định trong vài năm tới khi người ta thấy rõ hơn những chuyển biến của khu vực này không chỉ trong nội tại mà còn cả trong quan hệ đối ngoại. Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh thể hiện ở việc Mỹ đang sử dụng mọi loại “vũ khí” của hình thái chiến tranh đa hình thái và đa chiều (còn được gọi là chiến tranh thế hệ thứ 5), từ đe dọa can thiệp vũ trang, hay chiến tranh tâm lý thường trực qua các phương tiện thông tin đại chúng đa quốc gia và các mạng xã hội, đến gây sức và đặt điều kiện đối với việc vay mượn tín dụng của các tổ chức đa phương, luôn theo sát những mong muốn chính trị của Washington như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới hay Ngân hàng phát triển liên Mỹ.

Một ví dụ điển hình cho xu hướng này là việc cựu Ngoại trưởng Ecuador Eduardo Patiño mới đây tố cáo rằng đương kim Tổng thống nước này Lenín Moreno đã cam kết tuân thủ các điều kiện mà Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đặt ra: thứ nhất, đứng vào hàng ngũ các nước tấn công Venezuela; thứ hai, đoạn tuyệt với các chương trình hội nhập nội khối Mỹ Latinh; và thứ ba, giao nộp nhà sáng lập Wikileaks Julian Assange. Tất cả chỉ để “đổi lấy một khoản tín dụng nghèo nàn của IMF”; trong khi đó, bước đi tiếp theo rất có thể là việc tái kích hoạt căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại Manta.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý trong trường hợp của Venezuela hướng tới việc tạo ra những sắc thái chính trị không chỉ đối lập và phân cực cao độ, mà còn loại trừ lẫn nhau, xét từ cả khía cạnh chính trị lẫn khía cạnh xã hội. Đây cũng là thông lệ đang diễn ra tại một số nước trong khu vực.

Những kế hoạch “Balkan hóa” trong quá khứ

Trong thế kỷ trước, giới phân tích theo thuyết âm mưu từng đề cập nhiều tới kế hoạch Andinia, nhằm chia cắt vùng Patagonia (vùng đất cực Nam châu Mỹ) của Chile và Argentina để lập ra một nhà nước Do Thái. Kế hoạch này bao gồm cả việc bạo hành và quấy rối liên tục cộng đồng thổ dân bản địa Mapuche từ cả 2 phía biên giới, cũng như việc chia cắt Brazil thành nhiều nước để xóa sổ siêu cường duy nhất trong khu vực, trong khi đó Colombia, Venezuela, Ecuador và Bolivia cũng sẽ mất một phần lãnh thổ của mình hoặc bị chia cắt thành những nước nhỏ.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Mỹ không quan tâm lắm tới dầu thô của Venezuela, và nguồn tài nguyên khổng lồ này chỉ là một trong những phương tiện để Washington đạt được mục tiêu thực sự của mình là chia cắt thế giới thành 2 khối lớn: Một bên là tập hợp của các quốc gia toàn vẹn, trật tự và ngăn nắp, và một bên là thế giới “vô pháp vô thiên” với những quốc gia “què cụt”, nơi các vụ xung đột và tình trạng hỗn loạn diễn ra hàng ngày. Để đạt được điều đó, Mỹ phải phá hủy các thể chế nhà nước – quốc gia và các phong trào vận động củng cố tính tự chủ của các bộ máy này.

Chiến lược chính là “Balkan hóa”, hay chia tách có hệ thống một nhà nước – quốc gia thành những quốc gia nhỏ hơn thù địch lẫn nhau, khái niệm bắt nguồn từ những cuộc chiến tranh trên bán đảo Balkan, nhất là từ cuộc tàn phá hủy diệt Liên bang Nam Tư, kèm theo những cuộc thảm sát kinh hoàng, trong những năm 1990 dưới bàn tay của Mỹ và Liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ý tưởng chủ đạo của chiến lược này là “tô đậm những khác biệt ở những nơi đã có chúng và tạo ra những khác biệt ở những nơi chưa có”. Rõ ràng, chỉ có thể khuyến khích tư tưởng ly khai khi có sự can thiệp của các lực lượng ngoại bang, sự đồng lõa của giới cầm quyền mại bản và những thế lực cơ hội gặp thời tại các khu vực này.

Lịch sử đã chứng minh rằng từ những năm 1860, khi Tổng thống Bolivia lúc đó Mariano Malgarejo trục xuất đại sứ Anh, Nữ hoàng Victoria đã ra sắc lệnh “Bolivia không tồn tại” và cho xuất bản bản đồ Nam Mỹ mà trong đó, lãnh thổ Bolivia bị chia cắt và sáp nhập vào các nước láng giềng. Đây không chỉ là một hành động biểu trưng nhất thời vì quốc gia Nam Mỹ này sau đó đã phải gánh chịu tới 3 cuộc chiến tranh và mất tới hơn 50% lãnh thổ của mình vào tay Brazil, Paraguay và Chile.

Việc xóa sổ Bolivia được chính phủ nhắc lại một lần nữa trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Hernán Siles Suazo, khi tạp chí Time của Mỹ đề xuất việc “Ba Lan hóa” hay phân chia lãnh thổ Bolivia cho các nước láng giềng, với lời biện hộ rằng quốc gia này thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn và nền kinh tế đã bị sụp đổ do việc cải cách nông nghiệp và quốc hữu hóa các mỏ khoáng sản, buộc phải nhận viện trợ quốc tế để tồn tại, và do đó không nên duy trì nước này như một quốc gia độc lập khi điều này “gây nguy hại cho chính người dân Bolivia”.

Luận điểm tương tự cũng từng được nhà độc tài quân sự Chile Augusto Pinochet sử dụng khi khẳng định Bolivia thiếu khả năng để trở thành một quốc gia và giải pháp tốt nhất là phân chia lãnh thổ của họ được Chile, Peru, Brazil, Argentina, giống như Hiệp ước Hitler – Stalin phân chia Ba Lan cho Đức và Liên Xô năm 1940.

Những kế hoạch này được lập lại trong những tình thế khác nhau bởi các chính trị gia theo tư tưởng tự do mới như Tổng thống diệt chủng Gonzalo Sánchez de Lozada, người cũng từng khẳng định Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại. Trong những năm chủ nghĩa tự do mới chiếm thế thượng phong và tình trạng chảy máu tài nguyên diễn ra thường nhật, luận điểm dối trá này được các chính trị gia lặp lại nhiều lần tới mức người ta tin rằng việc Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại là sự thật.

Năm 2008, một kế hoạch theo định hướng “Balkan hóa” đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa chính phủ quốc gia với chủ trương bảo vệ các dân tộc bản địa yếm thế rất được lòng dân của Tổng thống Evo Morales và các nhà cầm quyền thủ cựu tại các địa phương giàu có trong khu vực địa lý được gọi là Trăng Khuyết (gồm các bang Santa Cruz, Tarija, Beni và Pando, cùng một phần Chuquisaca), giữa khu vực rừng núi Andes giàu khoáng sản ở miền Tây và các khu vực miền Đông, nơi tập trung giới địa chủ, doanh nhân lớn và tư sản thủ cựu, nắm giữ phần lớn các mỏ khí đốt và sản lượng nông nghiệp của đất nước. Tuy nhiên, kế hoạch chia rẽ này sau đó đã thất bại.

Trong trường hợp của Colombia, từng có âm mưu lập ra một “liên bang Antioquia”, hay nói nôm na là tách một trong những bang giàu có nhất ra thành một nhà nước tự chủ, độc lập, với Chính quyền Bogota. Nhưng định hướng “Balkan hóa” thực tế đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, với việc tách Đại Colombia thành 2 quốc gia kình địch là Colombia và Venezuela, và sau đó vào năm 1903, Mỹ chia cắt Panama khỏi Colombia để nắm giữ kênh đào huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với biển Caribe (thuộc Đại Tây Dương).

Về phần mình, Ecuador cũng chiếm mất phần lớn các tỉnh ven biển và Guayaquil – bang giàu có nhất của “đất nước xích đạo” – cũng hơn một lần suýt bị tách thành một quốc gia riêng.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Venezuela vì đâu nên nỗi? – Phần cuối


Lời giải thích cho thảm kịch Venezuela chủ yếu là từ nội tại: một nền kinh tế bị trật bánh (lạm phát 1 triệu % trong năm 2018), một sự suy mòn xã hội tới mức thảm họa (62% dân nghèo đói theo tính toán của một số trường đại học), tỷ lệ án mạng cao nhất nhì Mỹ Latinh (89 vụ/100.000 dân mỗi năm) và một xã hội đang phân rã (khoảng 2 triệu người di cư trong 2 năm qua, bao gồm gần như toàn bộ tầng lớp trung lưu). Bất chấp điều đó, Tổng thống Maduro vẫn duy trì được quyền lực, cơ bản nhờ 3 điểm tựa. Thứ nhất là quyền kiểm soát theo trục dọc đối với Lực lượng vũ trang Bolivar, vốn không phải là đồng minh của chính phủ mà thực ra là thành phần nòng cốt của nhánh hành pháp. Thứ hai là những tàn dư của tính hợp hiến và hợop lý còn sót lại như là kết quả của những tiến bộ xã hội đáng kể mà Chính quyền Tổng thống Hugo Chávez từng đạt được, cùng với sự phản cảm mà phe đối lập tạo ra trong các bộ phận quần chúng lao động, điều giải thích vì sao những người dân nghèo “không rời ổ chuột để xuống đường” theo những lời kêu gọi biểu tình của phe đối lập. Bổ sung vào sự ủng hộ xã hội ở mức tương đối này đối với chính phủ là các chương trình trợ cấp, dù thiếu trật tự và kém hiệu quả nhưng bao gồm một mạng lưới cung ứng lương thực cơ bản khổng lồ, được phân phối căn cứ theo Thẻ căn cước ái quốc (đồng thời có thể dùng để bầu cử) và thực tế rằng các dịch vụ công như điện, nước, tàu điện ngầm, và Internet, gần như miễn phí, dù đây là kết quả của tình trạng lạm phát phi mã hơn là do chính sách điều hành kinh tế của chính phủ. Và điểm tựa thứ 3 là sự tồn tại của chính quyền theo tư tưởng Bolivar được đảm bảo nhờ sự ủng hộ địa chính trị của các cường quốc như Nga và Trung Quốc và của các nước mới nổi như Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, những nước hỗ trợ tài chính, năng lượng và quân sự trong thời điểm tồi tệ nhất. Điều này chứng tỏ rằng chính phủ của phái Chávez không bị cô lập hoàn toàn, mặc dù phải chịu cái giá là khối nợ khổng lồ và phải thế chấp phần lớn tài nguyên mỏ và dầu khí của đất nước.

Trong bối cảnh đó, lối thoát khả thi duy nhất hiện tại là một cuộc đàm phán giữa 2 bên đối đầu tại Venezuela, điều mà trong quá khứ tứng có lúc khả thi nhưng hiện tại gần như bị loại bỏ. Trong một bối cảnh phân cực tới mức người chiến thắng sẽ giành tất cả, một trong những khó khăn lớn nhất chính là vấn đề miễn trừ cho các quan chức phái Chávez trong trường hợp họ từ bỏ quyền lực. Khi mà phe đối lập vẫn tỏ thái độ “thề chết trả thù” như hiện tại, phái Chávez vẫn có lý khi nghi ngờ rằng việc rời bỏ chính phủ không hàm ý bước đi hòa bình với phe đối lập trong Quốc hội mà sẽ đồng nghĩa với tù chung thân hay lưu vong cả đời. Nói tóm lại, những gì họ đang chật vật níu giữ không chỉ là quyền lực mà còn là sinh mạng của chính mình.

Quay trở lại với câu hỏi ban đầu, có thể nói Venezuela không phải là một nền độc tài theo nghĩa khắt khe. Đây không phải là một chế độ theo kiểu Stalin và cũng không phải là một hệ thống độc đảng: không có vi phạm nhân quyền đại trà diện rộng (mặc dù có trọng điểm và một chính sách về “vùng tự do” nơi các nhóm bán công khai thân chính phủ tung hoành trong một vài khu phố). Tự do báo chí vẫn hiện hữu, mặc dù bị giới hạn chủ yếu trên các phương tiện truyền thông số, nơi cánh tay của chính phủ không với tới. Maduro không phải là mẫu lãnh đạo tự phê bình và xã hội không thể bày tỏ thái độ qua các đợt bầu cử, với những vấn đề và “tiểu xảo” như đã trình bày. Đồng thời, tại Venezuela cũng có hiện tượng những người đối lập bị xua đuổi và lượng tù nhân chính trị ngày càng tăng, mặc dù đất nước quê hương của Simón Bolivar không phải là nơi duy nhất vướng phải vấn đề này trong khu vực như tô vẽ: Nếu tại Brazil, Lula da Silva (cựu tổng thống và là chính trị gia cánh tả có ảnh hưởng nhất) không thể ra tranh cử trong cuộc bầu cử vừa qua, thì tại Venezuela những nhân vật đối lập cốt cán nhất hoặc đang lưu vong (Manuel Rosales), bị bãi quyền tranh cử (Henrique Capriles, Corina Machado) hoặc bị tù (Leopoldo López); nếu tại Argentina, Mlilagro Sala (nữ thủ lĩnh phong trào người thiểu số và là nhà hoạt động xã hội – công đoàn có uy tín) là tù nhân chính trị dưới bất cứ góc độ quy chiếu nào, thì tại Venezuela cũng có tới hàng chục tù nhân chính trị, một vài trong số đó bị tống giam chỉ vì tổ chức những cuộc vận động hòa bình và đa số bị giam giữ trong những điều kiện vô nhân đạo tại các cơ sở do giới tình báo quản lý. Chủ nghĩa quân phiệt, ngay từ thời cố Tổng thống Hugo Chávez, đã là một trong những đặc điểm của chế độ Caracas. Và cuối cùng, như đang được thấy trong thời gian gần đây, hành động đàn áp trên đường phố Venezuela đã đạt tới mức tàn bạo hiếm thấy tại bất kỳ quốc gia nào khác tại Mỹ Latinh, ngoại trừ Nicaragua – nơi mà sự im lặng của cánh tả Mỹ Latinh trước cách hành xử của Chính quyền Daniel Ortega là rất đáng chú ý.

Không giống với bất cứ quốc gia nào khác tại Mỹ Latinh, Venezuela là một nền dân chủ độc tài, một kiểu nhà nước độc đoán, hỗn loạn và thậm chí là tham nhũng, một chế độ lai tạp những yếu tố dân chủ và độc đoán, biến đổi hình dạng theo bối cảnh thế giới, giá dầu thô, ngẫu hứng của nhà cầm quyền và tương quan lực lượng với phe đối lập. Chính những “dị dạng” mang tính hệ thống đó mới là vết thương chí mạng đối với Venezuela, tạo cơ hội cho Mỹ và các thế lực hữu khuynh bên ngoài nhòm ngó và làm khuynh đảo hơn nữa tình thế vốn đã bất ổn, và quốc gia Nam Mỹ này lại đi vào vết xe đổ hay “số phận không may” của nhiều quốc gia giàu có về tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ.

Nguồn: Tạp chí Revista Anfibia

TLTKĐB – 14/02/2019

Venezuela vì đâu nên nỗi? – Phần đầu


Tính tới tháng 12/2017, Venezuela đã lê bước qua một loạt bước hụt lớn về thể chế và cộng hòa. Tuy nhiên, quốc gia Nam Mỹ này vẫn tổ chức các cuộc bầu cử tương đối tự do và mang tính cạnh tranh, trong đó dù chính phủ không ngần ngại sử dụng các nguồn lực trong tầm tay để làm nghiêng cán cân bầu cử về phía mình, nhưng vẫn có sự hiện diện thực tế của phe đối lập và các kết quả bỏ phiếu được các thể có uy tín như Trung tâm Carter hay Liên hợp quốc kiểm định. Nếu có thể định nghĩa nền dân chủ như một kiểu chế độ trong đó không chỉ có các cuộc bầu cử mà còn có những khó khăn trong việc đoán định người thắng cử, hay nói cách khác nếu nền dân chủ được vận hành theo một cách nào đó không định trước, thì Venezuela vẫn là một nền dân chủ: Cho dù vẫn có nhiều hạn chế, nhưng xét cho cùng đây vẫn là một nền dân chủ (trên thực tế, người ta có thể chê trách phái Chávez cầm quyền về bất kỳ điều gì ngoại trừ việc không tổ chức bầu cử và không thừa nhận thất bại mà họ ít lần gặp phải, điều phe đối lập không bao giờ làm, và người ta đã quen thuộc tới mức phát chán việc họ cáo buộc gian lận mỗi khi thất cử, nhưng lại “quên” làm vậy trong trường hợp chiến thắng, dưới sự điều hành của cùng một hội đồng bầu cử quốc gia và một tòa án bầu cử).

Những thực tiễn đó đã dần thay đổi trong vài năm qua. Tháng 12/2015, phe đối lập bất ngờ giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử Quốc hội (yếu tố bất ngờ ở đây không phải việc họ chiến thắng mà ở quy mô của chiến thắng đó), và họ nắm được quyền kiểm soát 2/3 số ghế tại cơ quan lập pháp này, đủ để tiến hành cải cách hiến pháp và phong tỏa chính phủ, và ngay lập tức tuyên bố kế hoạch buộc Tổng thống Nicolás Maduro phải rời nhiệm sở trước kỳ hạn. Dự cảm được thất bại, phái Chávez cầm quyền, trong một lần hiếm hoi, đã tố cáo những bất thường trong bầu cử bất chấp việc họ kiểm soát toàn bộ tiến trình này, và sau khi kết quả được công bố đã trình một loạt đơn khiếu kiện về những bất thường đó. Tòa án tối cao, vẫn do phe cầm quyền kiểm soát, đã lựa chọn thụ lý một trong những khiếu kiện này và ra lệnh, với những lập luận đáng ngờ, tiến hành bỏ phiếu lại tại bang Amazonas và không cho 3 nghị sĩ đối lập đại diện bang này được tuyên thệ. Phe đối lập, trước nguy cơ bị mất đa số tuyệt đối (2/3) nếu mất 3 ghế nghị sĩ này, đã từ chối tuân thủ lệnh của tòa án. Tòa án tối cao, theo yêu cầu của chính phủ, đã đình chỉ chức năng của Quốc hội do bất tuân mệnh lệnh và chỉ ít lâu sau tuyên bố đảm nhiệm các chức năng của cơ quan lập pháp này, đã tiến hành một cuộc đảo chính – và bề ngoài dường như không được sự bảo đảm của chính Tổng thống Maduro – mà cuối cùng đã buộc phải lùi bước.

Thêm vào sự tê liệt thể chế do xung đột giữa các nhánh quyền lực là một loạt cuộc tuần hành và vận động trong tháng 4 và tháng 6/2016 khiến hơn 100 người thiệt mạng. Sự đàn áp của chính phủ, do bất kỳ lực lượng nào tiến hành từ chính thức đến bán chính thức như các nhóm dân quân có vũ trang đều là tàn bạo. Tuy nhiên, cũng có những người thuộc phái Chávez thiệt mạng trong tay những đám đông hiếu chiến và đầy bạo lực của phe đối lập, tới mức họ từng thiêu sống một người.

Lối thoát mà ông Maduro tìm ra, mang tính chính trị hơn thể chế, là phát động bầu cử Quốc hội lập hiến, được công bố ngày 1/52017. Phe cầm quyền đã thiết kế một hệ thống bầu cử lạ lẫm vừa mang tính tầng lớp vừa mang tính vùng miền, không nằm trong khuôn khổ Hiếp pháp hiện hành. Theo đó, một phần trong số 564 nghị sĩ lập hiến được bầu xuất thân từ các thành phần xã hội (nông dân, công nhân, người tàn tật, doanh nghiệp,…) và một phần khác là theo quận huyện. Tóm lại, đó là một hệ thống mang lại cho phái Chávez lợi thế không thể cưỡng lại: Họ sẽ vẫn giành đa số ghế ngay cả khi không nhận được đa số phiếu từ cử chi. Phep đối lập không tẩy chay cuộc bầu cử này, vốn được tiến hành lần đầu tiên mà không có các nhà quan sát độc lập. Theo Hội đồng bầu cử quốc gia, khoảng 40% cử tri tham gia bỏ phiếu, tuy nhiên công ty tư nhân cung cấp các máy kiểm phiếu tự động đã bác bỏ con số này. Nhưng điều quan trọng hơn là Maduro đã từ chối thực hiện một cuộc trưng cầu để người dân thể hiện quan điểm về việc soạn thảo hiến pháp mới, như cố Tổng thống Chávez từng thực hiện năm 1999. Sau đó, Quốc hội lập hiến chỉ tuyên bố các nguyên tắc cơ sở cho hiến pháp mới và thay vì tập trung vào soạn thảo văn bản này như đúng chức năng được lập ra, họ hoạt động như một dạng thể chế siêu quyền lực và đảm nhiệm hết mọi chức năng của Quốc hội.

Cảm thấy sức mạnh được củng cố, Tổng thống Maduro đã tiến hành một cuộc bầu cử địa phương (lựa chọn các thống đốc bang) vào ngày 15/12/2017, vốn bị phe cầm quyền trì hoãn tới hơn 1 năm mà không có bất kỳ lý lẽ thể chế nào ngoài khả năng thất bại lớn của họ. Lần này, phe đối lập đưa ra các ứng cử viên của mình, cuộc bầu cử diễn ra bình thường và phái Cháve, ngược lại với mọi dự đoán, đã giành chiến thắng áp đảo và chiếm được 18/23 ghế thống đốc bang, thậm chí còn đánh bại cả những thủ lĩnh hàng đầu của phe đối lập như Henri Falcón tại bang Lara hay người kế nhiệm cựu ứng viên tổng thống Henrique Capriles tại bang Miranda. Phe đối lập lại tố cáo gian lận, tuy nhiên chưa bao giờ đưa ra được các biên bản bỏ phiếu như họ đã rêu rao rộng rãi ban đầu.

Tương quan lực lượng giữa 2 bên do đó đã thay đổi. Chính phủ, mà trước đó từng trì hoãn các cuộc bầu cử địa phương, lần này quyết định tiến hành sớm cuộc bầu cử tổng thống. Viện cớ Hội đồng bầu cử quốc gia đã áp đặt một loạt hạn chế không công bằng, như việc yêu cầu mọi chính đảng phải đăng ký lại tên. Một bộ phận phe đối lập đã tẩy chay cuộc bầu cử này. Nhưng một bộ phận khác, đứng đầu là Henri Falcón (cựu thống đốc bang Lara) vẫn tham gia và bị đánh bại với cách biệt lớn. Ngày 10/1/2019, theo quy định của Hiến pháp, Maduro tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ mới.

Như vậy, với một quốc hội được thành lập một cách hợp pháp nhưng bị tước đi chức năng thực tế, một quốc hội lập hiến công khai phạm pháp và một tổng thống với tính hợp hiến ban đầu đã bị tổn thương, Venezuela bước tới tình trạng hiện tại. Quyết định lạ lùng của Chủ tịch Quốc hội Juan Guaidó tự phong là tổng thống lâm thời và quyết định còn lạ lùng hơn của Mỹ và khá nhiều nước Mỹ Latinh công nhận ông này đã làm gia tăng căng thẳng và làm sâu sắc thêm tính phân cực vốn đã rất nghiêm trọng trên chính trường Venezuela. Thế nhưng, bàn tay đen tối của đế quốc có thể vươn được tới đâu? Trên thực tế, nếu không có quyết định tiến hành một cuộc xâm lược quân sự từ các căn cứ của mình tại Caribe và/hoặc tại Colombia – lựa chọn sẽ dẫn tới một Việt Nam khác ở thời đại số và khó có thể tưởng tượng dưới thời một chính quyền Trump vừa thất bại tại Syria, thì khả năng can thiệp của Washington sẽ hạn chế ở các biện pháp trừng phạt tài chính và hỗ trợ phe đối lập. Do đó, dù có những mưu toan to lớn, hiệu ứng trên thực tế của các biện pháp này không quá lớn: Venezuela không phải là một hòn đảo và không dễ bị cô lập, cấm vận như Cuba; hơn nữa, quốc gia Nam Mỹ này tồn tại chủ yếu dựa vào hoạt động xuất khẩu dầu khí, một mặt hàng luôn có thể tìm được khách hàng trên thị trường thế giới (bao gồm trước hết là Mỹ, khách hàng lớn nhất của kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Venezuela). Rõ ràng là có sự can thiệp của Mỹ, nhưng sự can thiệp đó là không đủ để lật đổ phái Chávez cầm quyền.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Revista Anfibia

TLTKĐB – 14/02/2019

Châu Âu cần đóng vai trò tích cực hơn ở Venezuela


Liên minh châu Âu (EU) đã có những bước đi mang tính xây dựng nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng ở Venezuela, nhưng việc thiếu một lập trường chung châu Âu có thể đe dọa tiến trình hướng tới một cuộc chuyển giao quyền lực trong hòa bình.

Gần đây, nhiều nhà quan sát Venezuela đã bị giằng xé bởi những tình cảm trái ngược nhau. Khi Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaidó tuyên thệ “chính thức đảm nhận quyền quản lý đất nước với tư cách tổng thống Venezuela”, ông đã mang lại hy vọng hiếm hoi ở một đất nước từ lâu đã bị một cuộc khủng hoảng sâu sắc về chính trị, kinh tế và an ninh tàn phá. Nhưng quyết định của một vài nước ở châu Mỹ – trong đó có Mỹ và Canada, cùng với Colombia, Argentina, Brazil và các thành viên khác của Nhóm Lima – nhanh chóng công nhận ông là tổng thống lâm thời của Venezuela có vẻ vội vàng. Trong trường hợp của của Mỹ, điều này gợi lại những ký ức đáng lo ngại về chủ nghĩa can thiệp thời kỳ Chiến tranh Lạnh vào nơi mà Washington coi là sân sau của họ.

Thách thức trước mắt đối với các nước châu Âu là liệu có nên bắt chước các nước công nhận Guaidó, người đã trở thành quyền tổng thống hợp pháp theo hiến pháp, hay không. Nhiều nước trong số đó biết rằng họ cần thận trọng, khi xét tới sự hiện diện của các cộng đồng lớn công dân châu Âu ở Venezuela (đặc biệt là công dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Italy), một đặc tính phân biệt nước này với các nơi khác của Mỹ Latinh. Cùng với các lợi ích kinh tế quan trọng và các mối quan ngại về nhân quyền, nhân tố này đã mang lại cho châu Âu một vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng.

Cho đến nay, EU đã đối phó hiệu quả đến mức đáng ngạc nhiên với thách thức này. EU đã cho phép các thành viên của mình giao thiệp với Venezuela ở mức độ linh hoạt hợp lý. Berlin, Paris, London và Madrid đi đầu bằng việc tuyên bố rằng họ sẵn sàng công nhận Guaidó nếu Nicolás Maduro, nhà lãnh đạo thực tế của nước này, không kêu gọi được một cuộc bầu cử mới trong vòng 8 ngày. Khi thời hạn này qua đi, họ đã làm đúng như vậy. Tất cả các thành viên khác của EU ngoại trừ Italy, Slovakia, Hy Lạp và Cyprus cũng đã làm vậy (Áo ban đầu phản đối động thái này, nhưng sau đó lại thay đổi lập trường).

Sau một cuộc gặp không chính thức của các bộ trưởng ngoại giao EU cuối tháng 1/2019, Đại diện cấp cao EU Federica Mogherini đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Quốc hội, gọi đó là “cơ quan dân chủ hợp pháp của Venezuela. Bà không thể chính thức công nhận Guaidó vì thiếu sự nhất trí giữa các thành viên. Nhưng ít nhất thì bà cũng đã nhấn mạnh sự nhất trí của họ về một điểm then chốt: “Các cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức vào tháng 5/2018 tại Venezuela thiếu tính hợp pháp dân chủ”.

EU nhất trí thành lập Nhóm liên lạc quốc tế do Uruguay dẫn dắt với các nước Mỹ Latinh chưa công nhận Guaidó nhưng lại không muốn tỏ ra thờ ơ trước cuộc khủng hoảng này, và đã tìm kiếm đối thoại và một cuộc bầu cử mới. Nhóm này, bao gồm 8 nước thành viên EU và 4 nước Mỹ Latinh, đã tổ chức cuộc họp đầu tiên của họ tại Montevideo vào đầu tháng 2/2019.

Trong khi đó, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết không mang tính ràng buộc Guaidó là tổng thống lâm thời hợp pháp của Venezuela. Và mới đây, một phái đoàn EU đã tới thăm Caracas để tìm cách thuyết phục Maduro tổ chức một cuộc bầu cử. Tựu trung lại, châu Âu phân biệt họ với Mỹ với tư cách một bên tham gia có tính xây dựng ở Venezuela vốn đagn xây dựng một kế hoạch dự phòng cho sự thay đổi chính trị ở nước này, trong trường hợp sức ép ngoại giao và kinh tế thuần túy tỏ ra không hiệu quả. Tuy nhiên, có những giới hạn rõ ràng về thành tựu mà EU có thể đạt được nếu không xác lập một lập trường chung về Venezuela. Họ đã không làm được điều này, chủ yếu là do sự phủ quyết của Italy.

Bản chất của cuộc khủng hoảng Venezuela đã thay đổi trong thời gian gần đây. Trước hết Guaidó đã kiên quyết khẳng định mình là nhà lãnh đạo của phe đối lập Venezuela, không chỉ lôi kéo được sự ủng hộ từ những thành phần hác nhau của các đảng chống lại Chavista mà còn chìa tay ra với những người bất đồng quan điểm trong nội bộ chế độ. Đồng thời, tình trạng cô lập về mặt ngoại giao của Maduro là chưa có tiền lệ (như nhà sử học Carlos Malamud thuộc Viện hoàng gia Elcano tại Madrid nhận xét trong một ấn phẩm sắp phát hành), và nó dường như đã trở nên không thể đảo ngược.

Trong bối cảnh này, việc EU thiếu một lập trường thống nhất đang trở thành một trở ngại nghiêm trọng trên thực tế và trong ngoại giao. Các nước thành viên riêng rẽ có thể áp đặt các biện pháp trừng phạt có giới hạn đối với chế độ Maduro, chẳng hạn như lệnh cấm đi lại và đóng băng tài sản. Nhưng họ khó mà áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế có ý nghĩa đối với Venezuela khi xét tới sự tồn tại của thị trường chung EU.

Những biện pháp như vậy có ý nghĩa then chốt đối với các nỗ lực của châu Âu nhằm đặt Maduro dưới sức ép thực sự. Là một khối, EU hiện chỉ áp đặt lệnh cấm vận vũ hí và các biện pháp trừng phạt có giới hạn đối với các thành viên của chế độ này. Nhưng họ sẽ có thể đóng băng tất cả các tài sản của Chính phủ Venezuela tại châu Âu, trước khi giao chúng cho Guaidó. EU cũng nên hạn chế khả năng các công ty châu Âu ký hợp đồng ở Venezuela mà không được sự phê chuẩn của Guaidó và Quốc hội. Và khối này cần kêu gọi bàn giao trực tiếp các quỹ viện trợ lương thực và quỹ khẩn cấp cho Quốc hội.

Nếu EU c1o thể chứng tỏ sự đoàn kết, thì họ sẽ thấy dễ dàng hơn nhiều trong việc giữ vai trò dẫn dắt trong các nỗ lực ngoại giao quốc tế về cuộc khủng hoảng Venezuela. Chừng nào điều này còn thiếu, thì Tổng thống Mỹ Donald Trump và những người ủng hộ ông sẽ có thể ra mặt với tư cách là “các nhà lãnh đạo thế giới tự do” (như Phó Tổng thống Mike Pence đã phát biểu tại Hội nghị an ninh Munich mới đây). Họ sẽ tuyên bố là những người ủng hộ thực sự cho dân chủ và nhân quyền, khiến họ trái ngược với một châu Âu bị chia rẽ mà theo câu chuyện của họ thì thường nói toàn điều hay lẽ phải nhưng lại gây thất vọng khi đến thời điểm quyết định.

Đây là lý do khác giải thích vì sao EU phải thống nhất lập trường của mình. Họ cần phải tìm ra cách để thuyết phục Italy đồng hành – có lẽ là đàm phán với nước này về các vấn đề nội bộ EU (như Khuôn khổ tài chính đa niên sau 2020) hay về chính sách đối ngoại mà trong đó Rome thường cần đền sự ủng hộ của các nước EU khác (chẳng hạn như trong việc giải quyết xung đột Libya). EU và các nước thành viên của khối này cũng có thể thuyết phục các bên bất đồng quan điểm khác thay đổi lập trường của họ.

Đồng thời, khối này phải tiếp tục phối hợp lập trường của họ với một loạt rộng lớn hơn các đối tác, từ những người theo đường lối cứng rắn ở Mỹ và những người ủng hộ Guaidó trong nhóm Lima đến các thành viên của Cơ chế Montevideo (gồm Uruguay, Mexico và các nước khác nhau trong khu vực Caribe), vốn hy vọng có một cuộc đối thoại nhưng lại không thích sức ép quốc tế, đến các thành viên của Nhóm liên lạc quốc tế. EU cũng nên tham vấn Na Uy và Vatican, khi xét tới vai trò tiềm tàng của họ là các bên trung gian hòa giải.

Châu Âu nên thúc ép việc thành lập một chính phủ chuyển tiếp. Mặc dù họ sẽ không còn có thể tuyên bố là công bằng, nhưng động thái này sẽ cho phép họ làm việc với các bên khác hướng tới một sự chuyển tiếp hòa bình.

Đề nghị đàm phán về một sự chuyển tiếp sẽ thiếu sự tin tưởng từ phía Maduro, khi xét tới việc ông không thực hiện một vài hứa hẹn về việc đối thoại trong những năm gần đây. Các chế độ độc tài thường cho thấy sức bền bỉ cao đến mức đáng ngạc nhiên trong việc đối phó với tình trạng bất ổn trong nước, đặc biệt là khi họ có thể dựa vào quân đội nước mình và sự ủng hộ bên ngoài theo kiểu mà Madur nhận được từ Nga, Trung Quốc, Iran, Cuba và Thổ Nhĩ Kỳ. Vì vậy, EU vẫn cần phải mở lòng trước lựa chọn về một sự chuyển tiếp thông qua đàm phán.

Để điều này có thể xảy ra, Guaidó sẽ cần phải hội đàm không chỉ với những người ủng hộ ông mà cả với Maduro. Ông cũng sẽ phải thuyết phục quân đội chấp nhận tiến trình này – như ông đã thử bằng cách thông báo rằng ông sẽ tha thứ cho quân đội vì những hành vi lạm dụng của họ dưới thời Maduro (cho dù đề xuất của ông kể từ đó trở đi đã vấp phải sự kháng cự từ phía những người theo đường lối cứng rắn thuộc phe đối lập và các phong trào nhân quyền). Một sự chuyển tiếp thông qua đàm phán cũng sẽ có 2 yêu cầu nữa mà EU có thể tạo ra sự khác biệt. Một là thành lập liên minh quốc tế rộng lớn ủng hộ các cuộc đàm phán về quá trình chuyển tiếp. Hai là sự chấp thuận của Trung Quốc. Châu Âu có thể tìm cách thay đổi tính toán của Bắc Kinh về Venezuela bằng việc tập trung vào vấn đề này trong thời gian trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh EU – Trung QUốc dự kiến vào đầu tháng 4/2019.

Cũng có một lựa chọn khác thường và cấp tiến hơn: thảo luận về cuộc khủng hoảng Venezuela với Cuba, vốn vẫn duy trì quan hệ rất mật thiết với chế độ Maduro. Đương nhiên, điều này đi ngược với hy vọng của nhiều người ở Mỹ và những nơi khác, những người cho rằng sự kết thúc của Maduro vốn dĩ sẽ dọn đường cho sự kết thúc của nhà lãnh đạo Cuba Raúl Castro. Nhưng sự ủng hộ từ La Habana có thể tỏ ra là thiết yếu trong việc đạt được mục tiêu tương đối khả thi là một sự chuyển tiếp hòa bình ở Venezuela. Xét tới sự gần gũi về ý thức hệ giữa La Habana và Caracas, cũng như mối quan hệ kinh tế và an ninh mật thiết của họ, một sự sụp đổ ở Venezuela sẽ không nằm trong mối quan tâm của Cuba.

Mục tiêu quan trọng hơn cả của châu Âu cần phải là ngăn chặn đổ máu và tạo điều kiện cho một sự chuyển tiếp tiến tới một chính phủ dân chủ ổn định và hợp pháp mà sẽ được “tạo ra ở Venezuela”. Chỉ riêng sức ép quốc tế thôi là chưa đủ để đạt được mục tiêu này, một thực tế mà Chính phủ Mỹ dường như bỏ qua. Quan trọng hơn, sẽ là nguy hiểm khi tạo ra suy nghĩ trên khắp Mỹ Latinh rằng một sự chuyển tiếp chính trị là do bá chủ được khôi phục của khu vực này áp đặt đối với Venezuela. Điều này sẽ chỉ xác nhận lập luận của Tổng thống Nga Vladimir Putin cho rằng ông chẳng làm gì sai ở Crimea và miền Đông Ukraine.

Cuộc khủng hoảng Venezuela thử thách khả năng của EU trong việc theo đuổi một chính sách đối ngoại không chỉ mang tính can dự và đầy tham vọng mà còn nhất quán và thống nhất, tại thời điểm có sự bất hòa đáng kể về chính trị giữa các nước thành viên của khối – sự bất hòa mà có thể gia tăng sau cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm nay. Châu Âu phải chứng tỏ rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt trong một thế giới mà ở đó Mỹ, Trung Quốc, Nga và các nước khác đang ngày càng ủng hộ hoạt động chính trị sử dụng sức mạnh thô bạo.

Nguồn: Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu (Anh)

TLTKĐB – 02/03/2019

Đâu là quyền lực thực sự của “Tổng thống lâm thời” Venezuela Juan Guaido?


Thủ lĩnh phe đối lập Venezuela Juan Guaido, người bất ngờ nổi lên trên chính trường quốc gia Nam Mỹ này sau khi được Quốc hội do phe đối lập kiểm soát bầu làm Chủ tịch Quốc hội vào đầu năm 2019 và tự tuyên thệ làm “Tổng thống lâm thời” hôm 23/1 với mục tiêu thành lập chính phủ chuyển tiếp và tiếp đó là triệu tập một cuộc bầu cử tự do. Hành động này của ông Guaido đã bị chính phủ Venezuela cáo buộc là một âm mưu đảo chính khi trước đó vào ngày 10/1, Tổng thống Nicolas Maduro đã chính thức tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ 2 sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử vào tháng 5/2018, sự kiện mà phe đối lập trong nước cùng với nhiều chính phủ nước ngoài không thừa nhận vì cho rằng không dân chủ và có sự gian lận.

Những diễn biến liên tiếp đã tạo ra một sự hỗn loạn trên chính trường Venezuela trong những tuần vừa qua khi có sự xung đột quyền lực giữa hai chính phủ cùng song song tồn tại và mỗi bên đều có sự ủng hộ riêng mình. Vấn đề chính được đặt ra là quyền lực của “Tổng thống lâm thời” Juan Guaido mạnh đến đâu và liệu nhân vật này có thể thực hiện được điều mà nhiều thủ lĩnh đối lập trong những năm trước đây không thể làm được là lật đổ chính quyền cánh tả tại Venezuela?

Theo mạng tin BBC Mundo, trước tiên sức mạnh của ông Guaido được thể hiện rõ nhất ở sự ủng hộ của người dân Venezuela vốn đã chán nản với những gì đang diễn ra ở quốc gia giàu dầu mỏ này. Kể từ khi thủ lĩnh phe đối lập tự phong làm “Tổng thống lâm thời”, các cuộc mít tinh, biểu tình mà ông Guaido kêu gọi luôn thu hút được sự tham gia của hàng trăm nghìn cho tới hàng triệu người ủng hộ. Ông Benigno Alarcon, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính trị của trường Đại học Tôn giáo Andres Bello, nhận định từ lâu nay số người phản đối chính phủ của Tổng thống Nicolas Maduro ngày càng gia tăng và nhiều người khát khao có sự thay đổi chính trị triệt để. Có thể không phải tất cả những người phản đối ông Maduro đều ủng hộ ông Guaido, song nhân vật đối lập này là đại diện ở một khía cạnh nào đó cho sự bất mạn với chính quyền hiện nay, cũng như là sự lựa chọn cho một sự thay đổi. Giờ đây, người ta không coi Venezuela là một quốc gia bị chia rẽ giữa hai phe ủng hộ và phản đối như trước đây mà là đa phần không muốn Tổng thống Maduro tiếp tục tại vị.

Một thế mạnh nữa của ông Guaido trong cuộc chiến quyền lực hiện nay là sự ủng hộ và công nhận của cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ, một bộ phận lớn các nước Mỹ Latinh và một số nước châu Âu. Những nước này đang gây sức ép mạnh mẽ, yêu cầu Tổng thống Maduro phải từ bỏ quyền lực, đồng thời cho rằng Quốc hội do phe đối lập kiểm soát là thể chế hợp pháp duy nhất hiện nay. Các nước công nhận ông Guaido đều lý giải rằng nhân vật đối lập này với tư cách là Chủ tịch Quốc hội khi tuyên thệ “Tổng thống lâm thời” là phù hợp với Hiến pháp do có “khoảng trống quyền lực” sau khi nhiệm kỳ của ông Maduro kết thúc vào ngày 10/1.

Mặc dù vậy, chuyên gia phân tích chính trị Angel Alvarez cho rằng sự ủng hộ của các chính phủ nước ngoài trên thực tế không hẳn đã là một thế mạnh quyền lực của Guaido bởi vì đó không phải là những gì ông ta có thể kiểm soát được trực tiếp. Khả năng huy động số lượng lớn quần chúng, sự ủng hộ của khoảng 40 nước trên thế giới, cũng như tính hợp pháp có thể có được với tư cách là người đứng đầu Quốc hội khi lý giải cách mà ông ta dựng lên chính phủ lâm thời, song điều đó không đồng nghĩa với quyền lực thể chế hiệu quả. Và điều này có thể thấy rõ khi các quyết định của ông Guaido trong những tuần vừa qua không được Tòa án Tối cao, quân đội và tất cả các cơ quan công quyền khác trong chính phủ công nhận.

Trong khi đó, rõ ràng là Tổng thống Maduro vẫn giữ được quyền kiểm soát đối với cơ quan hành pháp, cũng như nhận được sự trung thành của các thể chế nhà nước khác. Ông Alvarez khẳng định Guaido có rất ít quyền lực để thực thi các biện pháp mà ông ta đưa ra và hầu như không có quyền để áp đặt bằng sức mạnh đối với những quyết định do Quốc hội thông qua bởi vì ông ta không có được sự ủng hộ của tòa án, quân đội lẫn cảnh sát. Venezuela đang đứng trước một thực tế hết sức kỳ lạ: Một chính phủ kiểm soát hoạt động của các thể chế nhà nước và chính phủ còn lại thì nhận được sự ủng hộ của người dân và đang tìm cách mở rộng các hoạt động của mình nhưng lại không thể thực hiện được đầy đủ những quyền hạn của mình.

Thủ lĩnh phe đối lập Guaido cũng không có được nguồn lực tài chính để hoạt động mặc dù vẫn có khả năng một số nguồn lực của Venezuela ở nước ngoài, như trường hợp của chi nhánh dầu khí Citgo tại Mỹ, có thể sẽ được chuyển giao cho chính phủ lâm thời của ông Guaido quản lý. Rõ ràng, việc thực thi quyền lực của phe đối lập Venezuela hiện nay vẫn chỉ thể hiện được ở nước ngoài với các hoạt động như bổ nhiệm đại diện ngoại giao tại một số nước công nhận chính phủ lâm thời hay huy động viện trợ nhân đạo để tìm cách đưa vào Venezuela.

Ông Alarcon kết luận, Venezuela đang trở nên hết sức mong manh với hai chính phủ cùng tồn tại nhưng không bên nào có được đầy đủ quyền lực để loại bỏ bên còn lại. Và đặc biệt đối với “Tổng thống lâm thời” Guaido nếu muốn thúc đẩy mục tiêu chuyển tiếp chính trị thì ông ta cần phải tiếp tục tích lũy nhiều hơn nữa sự ủng hộ, cả trong và ngoài nước.

Nguồn: TKNB – 13/02/2019

Venezuela vật lộn với “gánh nặng đường xa”


Cộng đồng thổ dân Pemon ở Venezuela (sống dọc biên giới với Brazil) thề sẽ mở cửa cho các đoàn viện trợ quốc tế vào nước này. Điều đó đồng nghĩa với lời thách đấu của họ dành cho lực lượng an ninh Venezuela và chính phủ của Tổng thống Nicolas Maduro.

Trong bối cảnh siêu lạm phát khiến nền kinh tế gần như kiệt quệ, gây ra tình trạng đói kém, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi và cuộc khủng hoảng chính trị chưa có hồi kết, viện trợ nhân đạo đang trở thành “phao cứu đắm” đối với Venezuela. Tuần trước, lãnh đạo phe đối lập Juan Guaido cho biết một liên minh toàn cầu – trong đó có cả Mỹ – đã gửi thực phẩm và thuốc men đến các điểm tập kết ở Colomia, Brazil và một hòn đảo ở Caribbe (không được tiết lộ) trước khi chuyển hàng viện trợ vào Venezuela. Brazil theo chân Mỹ cũng như hầu hết các nước Mỹ Latin và châu Âu công nhận Guaido là nhà lãnh đạo lâm thời hợp pháp của Venezuela với lập luận rằng Maduro thắng cử trong một cuộc bỏ phiếu gian lận hồi tháng 5/2018. Tuy nhiên, Maduro phủ nhận và tuyên bố rằng đó là một phần trong âm mưu do Mỹ dẫn dắt nhằm phá hoại và lật đổ chính phủ của ông.

Sáu nhà lãnh đạo của cộng đồng thổ dân Pemon cư trú tại Gran Sabana (bang Bolivar, giáp biên giới với Brazil) nói rằng người dân chào đón bất kỳ sự viện trợ nhân đạo nào. Thị trưởng Gran Sabana Emilio Gonzalez nói: “Chúng tôi đã chuẩn bị – dù không có vũ khí – và sẵn sàng mở cửa biên giới để tiếp nhận viện trợ nhân đạo. Cả vệ binh quốc gia lẫn chính phủ đều không thể ngăn cản điều này”. Các cộng đồng thổ dân tự hào rằng họ có mức độ tự chủ cao hơn các cộng đồng khác ở Venezuela. Thống đốc bang Bolivar và chỉ huy quân sự khu vực Guayana, gồm các bang Bolivar và Amazonas chưa đưa ra bình luận. Jorge Perez, ủy viên hội đồng khu vực thổ dân, nói: “Chúng tôi là người bản địa của Gran Sabana và chúng tôi sẽ không cho phép một số tướng lĩnh từ bên ngoài quyết định thay cho chúng tôi. Chúng tôi có chính quyền hợp pháp”. Perez cho biết mỗi ngày ông đều đến thăm các bệnh viện địa phương và chứng kiến cảnh bệnh nhân cũng như các bác sĩ tuyệt vọng vì thiếu thuốc men.

Cách đây vài ngày, Mỹ cho biết đang gửi viện trợ cho Venezuela theo yêu cầu của Tổng thống  lâm thời tự xưng Juan Guaido. Động thái tự xưng là tổng thống lâm thời của Guaido hồi tháng trước nhận được sự ủng hộ nhanh chóng từ Mỹ và các nước khác, nhưng lại gây ra một cuộc đấu đá quyền lực trong nội bộ Venezuela. Maduro cáo buộc Guaido mưu toan đảo chính và tìm sự ủng hộ từ các nước thù địch với Venezuela. Ông bác bỏ đề nghị viện trợ của Mỹ, cho rằng đề nghị viện trợ của Mỹ chẳng qua chỉ là cái cớ để Washington can thiệp quân sự vào Venezuela.

Ngày 2/2, hàng nghìn người xuống đường ở thủ đô Caracas để biểu tình và bày tỏ sự ủng hộ đối với cả Maduro lẫn Guaido. Maduro hiện vẫn nhận được sự ủng hộ của quân đội. Tuy nhiên, Guaido cũng có thêm sức mạnh sau khi Tướng không quân Francisco Yanez trở thành quan chức quân sự cấp cao nhất của Venezuela tuyên bố ủng hộ nhà lãnh đạo phe đối lập. Guaido nói rằng ông đã tổ chức các cuộc họp bí mật với giới chức quân đội nhằm giành được sự ủng hộ của lực lượng này để lật đổ Maduro. Guaido cũng liên hệ với Trung Quốc, một trong những nước ủng hộ quan trọng nhất của Maduro. Guaido không kiểm soát bất kỳ lãnh thổ nào ở Venezuela, vì vậy, thay vào đó ông lên kế hoạch thành lập các trung tâm ở các nước láng giềng để tập hợp những người Venezuela bỏ nước ra đi. Ông cho biết ông muốn thành lập một liên minh quốc tế để thu thập viện trợ tại ba điểm và gây áp lực buộc quân đội Venezuela cho liên minh tiến vào nước này.

Trên trang cá nhân Twitter, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ John Bolton cho biết các kế hoạch sẽ được thực hiện vào cuối tuần này. Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rằng việc can thiệp quân sự vào Venezuela là một lựa chọn trong bối cảnh phương Tây gia tăng áp lực buộc Maduro phải từ chức. Chính quyền Trump tuần trước đã ban hành lệnh trừng phạt làm tê liệt công ty dầu mỏ quốc doanh Venezuela PDVSA, nguồn thu ngoại tệ chính của đất nước vốn đang thiếu thuốc men và thực phẩm này. Tuy nhiên, Nga đã lên tiếng cảnh báo rằng đâ là một sự can thiệp mang tính phá hoại”. Maduro hiện vẫn nhận được sự ủng hộ từ Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và sự trợ giúp quan trọng của quân đội Nga, chủ nợ lớn của Venezuela trong những năm gần đây, đã kêu gọi các bên kiềm chế. Alexander Shchetinin, trưởng bộ phận Mỹ Latinh của Bộ Ngoại giao Nga, nói với hãng tin Interfax: “Mục tiêu của cộng đồng quốc tế nên là giúp đỡ Venezuela chứ hông phải can thiệp mang tính phá hoại từ bên ngoài”.

Trong khi đó, Pháp và Áo cho biết họ sẽ công nhận Guaido nếu Maduro không phản hồi lời kêu gọi của Liên minh châu Âu (EU) đêm 3/2 về việc tổ chức một cuộc bầu cử tổng thống tự do và công bằng. Maduro nói trong cuộc trả lời phỏng vấn kênh truyền hình tiếng Tây Ban Nha Antena 3 được phát sóng ngày 3/2: “Chúng tôi không chấp nhận tối hậu thư từ bất kỳ ai. Tôi từ chối kêu gọi bầu cử ngay bây giờ – sẽ có cuộc bầu cử vào năm 2024. Chúng tôi không quan tâm đến những gì châu Âu nói”. Maduro nói với hãng tin Nga RIA rằng ông sẵn sàng đàm phán với phe đối lập “vì lợi ích của Venezuela” nhưng sẽ không chấp nhận tối hậu thư hay lời đe dọa nào. Trong bài phát biểu trước những người ủng hộ, Maduro cũng cho biết Quốc hội Lập hiến do chính phủ kiểm soát sẽ tranh luận về việc kêu gọi bầu cử Quốc hội trong năm nay. Ông nhấn mạnh: “Quý vị muốn bầu cử sớm? Chúng tôi sắp có cuộc bầu cử Quốc hội”. Thông cáo của nghị sĩ đối lập Armando Armas viết rằng đề xuất đưa ra cuộc bầu cử Quốc hội dự kiến vào năm 2020 chỉ là một hành động khiêu khích thêm nữa. Nhiều nước châu Âu ra thời hạn cho Maduro phải tuyên bố cuộc bầu cử mới trước ngày 17/2, nếu ông không đáp ứng, họ sẽ cùng các quốc gia khác công nhận Guaido là tổng thống tạm thời của Venezuela.

Nguồn: Reuters

TKNB – 12/02/2019