Quân đội Cuba có thực sự kiểm soát 60% nền kinh tế?


Quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump cấm các doanh nghiệp nước này giao dịch với các đối tác Cuba do quân đội kiểm soát đã một lần nữa làm nổi bật vai trò của các lực lượng vũ trang trong nền kinh tế Cuba.

Vai trò của các lực lượng vũ trang Cuba là rất rộng, vươn tới nhiều lĩnh vực khác nhau và lớn mạnh trong vài năm qua, cùng với đà tăng trưởng của ngành du lịch, các doanh nghiệp quân đội có mức độ tập trung cao nhất.

Những doanh nghiệp này do Tập đoàn quản lý doanh nghiệp (GAESA) thuộc Bộ Các lực lượng vũ trang Cuba (MINFAR) kiểm soát. Tuy nhiên, giả thuyết được lan truyền rộng rãi trong báo chí phương Tây ngay sau tuyên bố của Tổng thống D. Trump rằng quân đội Cuba kiểm soát tới 60% nền kinh tế liệu có chính xác?

Chỉ cần rà soát sơ bộ tỷ trọng của các lĩnh vực kinh tế trong Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Cuba cũng có thể thấy lời khẳng định “chắc nịch” trên là một sai lầm thô thiển: những lĩnh vực mà quân đội không tham gia hoặc tham gia không đáng kể đã chiếm tới hơn nửa giá trị GDP, và trong những lĩnh vực có doanh nghiệp quân đội tham gia, vẫn có tỷ trọng rất lớn của các doanh nghiệp dân sự (Thống kê biên niên Cuba 2015). Vậy tỷ trọng thực sự của các doanh nghiệp quốc phòng trong nền kinh tế Cuba là bao nhiêu và con số 60% bắt nguồn từ đâu?

Nhìn chung, chính phủ Cuba không thông tin về thu nhập của các doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng từ số liệu chính thức được công bố của một vài tập đoàn lớn có thể đưa ra những ước tính hợp lý: thu nhập chung của các doanh nghiệp do quân đội quản lý đạt giá trị 970 triệu USD năm 1997, đa phần của số thu nhập này đến từ ngành du lịch, giả sử rằng chỉ số tổng thu nhập này tăng cùng tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch Cuba trong những năm qua.

Năm 1997, Cuba đón 1,2 triệu lượt khách quốc tế (theo Biên niên số liệu Cuba năm 2004). Năm 2016, Cuba đón 4,1 triệu lượt khách, tăng 249%, và nếu cách tính theo tỷ lệ thuận này, tổng thu nhập của các doanh nghiệp “dính líu tới quân đội” – như định nghĩa của Washington – trong năm 2016 sẽ ở mức khoảng 3,4 tỷ USD.

Có thể kiểm chứng tính khả tín của phép ước lượng này bằng những số liệu của 3 doanh nghiệp quân đội lớn nhất là các tập đoàn Gaviota, Cimex và TRD. Gaviota – thể chế kinh doanh lớn nhất do quân đội quản lý – tập trung chủ yếu vào lĩnh vực du lịch: doanh thu của ngành công nghiệp không khói của Cuba vào năm 2015 là 2,8 tỷ USD (Biên niên thống kê Cuba 2015); trong khi dù là công ty có tỷ trọng lớn nhất trong ngành này, Gaviota còn xa mới là công ty độc quyền, và họ kiểm soát khoảng 40% tổng số các phòng khách sạn có trong cả nước (mặc dù tỷ lệ này ở các khách sạn sang trọng nhất cao hơn và các khách sạn thấp cấp là thấp hơn), bên cạnh các dịch vụ như cho thuê xe, taxi du lịch và nhà hàng. Như vậy, có thể doanh thu của Gaviota chiếm 60% ngành du lịch Cuba hay khoảng 1,7 tỷ USD.

Cimex có doanh thu 740 triệu USD vào năm 2004. Nếu sử dụng đúng biện pháp tăng doanh thu theo tỷ lệ thuận của tăng trưởng du lịch (mặc dù tập đoàn này ít tập trung vào du lịch hơn so với Gaviota) thì doanh thu ước tính của Cimex trong năm 2016 có thể đạt khoảng 1,3 tỷ USD. Nhóm Tư vấn La Habana, có Chủ tịch Emilio Morales từng là lãnh đạo của Cimex ước tính thu nhập của tập đoàn này ở mức 1,2 tỷ USD. TRD – chuỗi cửa hành được thành lập nhằm thu hút ngoại tệ lưu thông trong lãnh thổ Cuba – đạt doanh số bán hàng 250 triệu USD năm 2004. Nếu sử dụng cùng biện pháp đã nêu, doanh số năm 2016 của TRD sẽ ở mức 442 triệu USD.

Theo cách tính này, tổng doanh thu ước tính của 3 công ty trụ cột của GAESA sẽ ở mức 3,45 tỷ USD năm 2016, rất gần với mức 3,4 tỷ USD đã nêu ở phần trên dựa vào những số liệu thu nhập tổng thể của MINFAR. Emilio Morales sử dụng các số liệu tập hợp được trong 15 năm qua, thì ước tính tổng doanh thu của GAESA ở mức khoảng 3,8 tỷ USD.

Ngay cả khi sử dụng số liệu của Morales, tức là số liệu lớn nhất trong 3 mức ước tính, thì doanh thu của GAESA cũng mới tương đương 21% tổng thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp nhà nước và thành phần kinh tế tư nhân. 8% của tổng thu nhập các doanh nghiệp nhà nước và chỉ tương đương 4% GDP của Cuba (Biên niên thống kê Cuba 2015). Vẫn còn một khoảng cách rất dài từ con số này tới giả thuyết “60% nền kinh tế”, cho dù có dùng thước đo nào.

Vậy con số 60% từ đâu ra? Nó được tờ Miami Herald đưa ra lần đầu vào tháng 2/2004, trích dẫn số liệu Dự án Diễn biến Cuba (CTP), thuộc Viện Nghiên cứu Cuba và Cuba – Mỹ (IECC) của Đại học Miami, một dự án được chính phủ Mỹ tài trợ và luôn có quan điểm chống La Habana cực đoan. Giám đốc IECC Jaime Suchlicki sau đó đã nhiều lần lập lại nhận định này và từng viết trong biên bản một hội nghị của CTP tháng 11/2004 rằng “Hiện tại, hơn 65% các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước chính nằm trong tay các sĩ quan quân đội tại ngũ hoặc đã xuất ngũ”.

Mặc dù không bao giờ dẫn chứng những con số hay bằng chứng làm cơ sở, công thức mà Suchlicki đưa ra chí ít vẫn có chút khả năng thực tế, cho dù mang xu hướng lừa gạt, bởi vì nó không chỉ bao gồm các doanh nghiệp do quân đội nắm giữ mà cả mở rộng sang cả các tổ chức, công ty dân sự hoặc cả một cơ quan cấp bộ nào đó do quân nhân tại ngũ hoặc đã xuất ngũ nắm giữ. Xu hướng lừa gạt ở đây nằm ở hàm ý rằng tất cả các tổ chức và doanh nghiệp loại này đều do quân đội kiểm soát, dù không có chút cơ sở nào cho kết luận này. Ngược lại, do các thể chế quân đội Cuba luôn nằm trong số những thể chế có hiệu quả nhất, việc quân đội “xuất khẩu” các nhà quản lý và lãnh đạo sang ngạch dân sự là một truyền thống có từ những năm 1970 chưa kể tới việc do đặc điểm học thuyết quốc phòng (“chiến tranh nhân dân”) và cơ chế tuyển quân của Cuba, tỷ lệ người dân, đặc biệt là nam giới tại quốc đảo này từng kinh qua quân ngũ là khá cao.

Theo thời gian, giả thuyết trên dần dần được “rút gọn” lại thành MINFAR thông qua GAESA kiểm soát hơn 60% nền kinh tế Cuba và trở nên phổ biến khi xuất phát từ một cơ quan nghiên cứu và các nguồn “uy tín” như The Wall Street Journal hay quỹ Trao quyền vì dân chủ (National Endowment for Democracy, do chính phủ Mỹ cấp ngân sách) trích dẫn. Một lần nữa, có thể thấy sức mạnh bóp méo thông tin đáng sợ của bộ máy truyền thông nhằm mục đích chính trị, mà lần này là việc tô vẽ một sự “kiểm soát thái quá” của giới quân sự tại Cuba.

Nguồn: The Huffinfton Post (Mỹ)

TKNB – 06/07/2017

Advertisements

Sứ mệnh của Canada khi gia tăng căng thẳng ở Biển Đông


Dẫn lời chuyên gia Đại học Tổng hợp Bristish Columbia (UBC) cho biết, Canada sẽ gặp phải nhiều khó khăn nếu có nổ súng ở Biển Đông.

Theo giáo sư chuyên nghiên cứu về quan hệ quốc tế đến từ trường UBC Micheal Byers, hải quân Canada tốt nhất nên lên kế hoạch dự phòng nếu có sai sót khi cử 2 chiến hạm tới Đông Nam Á qua Biển Đông. Sau khi chứng kiến quan điểm của các quan chức Mỹ và sự căng thẳng ở khu vực Biển Đông, ông cho rằng Canada cần một kế hoạch ứng phó nếu tình hình trở nên tồi tệ.

Canada đã điều 2 chiến hạm HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa tới khu vực Biển Đông từ đầu tháng 3 theo chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương được mệnh danh là POSEIDON CUTLASS 17. Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền của mình đối với phần lớn diện tích Biển Đông, tuy nhiên các quốc gia lân cận tố cáo Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ khi nước này liên tục vượt quá hải phận. Philippines – một trong những quốc gia có xung đột với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông – đã thắng kiện tại tòa án tại La Hay (Hà Lan) về phần lãnh thổ mà cả hai nước cùng khẳng định chủ quyền. Mặc dù đã phê chuẩn thỏa thuận đưa ra bởi tòa án cách đây 20 năm, Trung Quốc tuyên bố sẽ không tuân theo quyết định này. Malaysia và Việt Nam, Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan và các nước khác trong khu vực đều có xung đột tương tự với Trung Quốc.

Sứ mệnh của hải quân Canada lần này là đưa 2 chiến hạm tới khu vực Đông Nam Á qua Biển Đông. Theo tóm lược nhiệm vụ, HMCS Winnipeg và HMCS Ottawa cũng sẽ dừng chân tại Trung Quốc và các quốc gia khác như Ấn Độ, Hàn Quốc và Philippines… Giáo sư Byers cho biết trong tình hình ổn định đây không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn nhưng khu vực này lại đang trong tình trạng căng thẳng tăng cao. Mỹ từng hiện diện tại khu vực này với mục đích kiểm Trung Quốc . Tuy nhiên, nhà nước của ông Tập Cận Bình đã xây dựng các hòn đảo nhân tạo trong khu vực mà nước này tự tuyên bố chủ quyền.

Trong khi đó, những thông điệp trên Twitter của Tổng thống Donald Trump về Trung Quốc, ví dụ như lời cáo buộc chính quyền Tập Cận Bình thao túng tiền tệ đã đổ thêm dầu vào lửa. Tháng Giêng vừa qua, Ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra những tuyên bố ngụ ý rằng Mỹ có thể sẽ sử dụng đến quân đội để đối phó với Trung Quốc. Cựu cố vấn chiến lược của Trump, ông Steve Bannon từng tuyên bố rằng chiến tranh với Trung Quốc đang tới gần. Tất cả những điều này đã làm gia tăng căng thẳng trong khu vực.

Ông Byers cho biết trong tình hình này, nếu chiến tranh thực sự xảy ra, Canada sẽ buộc phải lựa chọn ủng hộ đồng minh số một là Mỹ, hoặc rời khỏi khu vực (đồng nghĩa với việc đứng về phía Trung Quốc). “Trong tình huống đó, chính phủ Canada phải nhanh chóng đưa ra một quyết định rất khó khăn. Đây không phải là điều Canada muốn, đó là lý do tại sao tôi hết sức quan ngại khi chính phủ cử chiến hạm vào khu vực Biển Đông tại thời điểm này”.

Bộ trưởng Quốc phòng Canada tuyên bố sẽ không tiết lộ bất cứ kế hoạch dự phòng nào trong trường hợp khu vực xảy ra xung đột do những mối đe dọa về an ninh. Tuy nhiên, trả lời phỏng vấn, chỉ huy Hải quân Hoàng gia Canada – Phó đô đốc Ron Lloyd cho hay “sẽ rất khó để có thể đến Trung Quốc nếu không đi qua Biển Đông”. Đồng thời, ông cũng cho biết tàu của Canada sẽ tránh các khu vực xung đột. Bộ trưởng Quốc phòng Harjit Saijan cũng khẳng định rằng Canada không có kế hoạch tiến gần các khu vực tranh chấp ở Biển Đông vì mục đích ngoại giao. “Tại sao chúng ta lại muốn đi qua khu vực xung đột? Đó không phải là mục đích. Mục đích của chuyến đi lần này là để tăng cường quan hệ với những đối tác lớn”.

Nguồn: thetyee.ca – 16/03/2017

TKNB – 06/07/2017

Chế độ độc tài – giải pháp cứu vãn Brazil?


Người dân Brazil cảm thấy bị xúc phạm và vô cùng bối rối trước hàng loạt tin tức về thế giới chính trị ngầm ở trong nước, từ các vụ bê bối hối lộ tham nhũng, các mưu đồ chính trị đến quyết định bác bỏ việc phế truất Tổng thống Michel Temer của Tòa án tối cao hôm 10/6 vừa qua. Tuy nhiên, nạn tham nhũng công khai tràn lan không phải là mối đe dọa duy nhất đối với nền dân chủ của Brazil. Nó cũng chẳng phải là mối đe dọa nguy hiểm nhất.

Brazil là một trong những “thủ phủ chết chóc” trên thế giới, với dân số gần 208 triệu người nhưng có đến 60.000 vụ giết người mỗi năm. 10% số nạn nhân bị giết trên thế giới mỗi năm là người Brazil. Sau hàng loạt cuộc nổi loạn trong nhà tù và các cuộc tấn công cảnh sát đẫm máu ở Espirito Santo và Rio de Janeiro, nhà chức trách nước này dường như đã “đầu hàng”.

Một số sáng kiến về an toàn cộng đòng đã được áp dụng thành công trong thập kỷ qua. Lực lượng cảnh sát đã đưa ra những cải tổ và sáng kiến chống bạo lực ở Rio de Janeiro và Pernambuco nhằm giúp giảm thiểu tỷ lệ các vụ giết người lên đến 50%, song mới chỉ mang tính tạm thời. Tại những địa điểm này, tỷ lệ các vụ án mạng vẫn đang gia tăng.

Theo một nghiên cứu của Quỹ Xã hội Mở (OSF), gần 50 triệu người Brazil từ 16 tuổi trở lên – chiếm gần 1/3 số người trưởng thành – biết về một nạn nhân bị sát hại: Gần 5 triệu người bị thương bởi súng đạn và khoảng 15 triệu người biết về một nạn nhân bị cảnh sát giết hại. Cũng bởi lẽ đó, cảnh sát Brazil được coi là lực lượng giết người nguy hiểm nhất trên thế giới.

Tại các khu ổ chuột nghèo nàn của thành phố Rio de Janeiro, các hoạt động trấn áp của cảnh sát theo phong cách quân sự và việc cảnh sát chiến đấu với các băng đảng là điều thường xuyên xảy ra. Mỗi ngày trôi qua, người dân địa phương đều phải sống trong cảnh sợ hãi tột cùng. Sự kích động xã hội gây ra bởi cuộc khủng hoảng giết người tại đây kết hợp với niềm tin vào nền chính trị dần dần bị vỡ vụn, đang làm sản sinh một khuynh hướng chính trị phi dân chủ. Hiện nay, các quan chức đang lợi dụng những bài diễn văn về chủ nghĩa phân biệt đối xử, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và khuynh hướng bài ngoại để biện minh cho những chính sách trừng phạt nhắm đến một lượng lớn các thành phần trong xã hội, bao gồm các thành viên băng đảng tội phạm, những người sử dụng ma túy và đồng bào dân tộc thiểu số.

Giống như Tổng thống Mỹ Donald Trump, chính trị gia người Pháp Marine Le Pen và chính trị gia người Hà Lan Geert Wilders, những người đều sử dụng mối đe dọa khủng bố để kích động sự sợ hãi và không khoan dung trong dân chúng, các nhà lãnh đạo Brazil cũng xác định rằng việc áp đặt trật tự xã hội quan trong hơn trong việc xây dựng một xã hội mạnh mẽ. Do đó, nỗi sợ hãi đã được kích động bởi tính bạo lực không ngừng và sự thiếu năng lực rõ ràng của các cơ quan an ninh công cộng trong việc giải quyết vấn đề. Theo một cuộc khảo sát của Quỹ Getuli Vargas, 36% dân số Brazil cảm thấy hài lòng với cảnh sát và chỉ có 25% nói rằng họ tin tưởng lực lượng này. Chính sự ngờ vực này đang làm trầm trọng thêm những nhận thức về mối nguy hiểm.

Trong bối cảnh đó, người Brazil có thể tìm ra những nhà lãnh đạo phản đối bạo lực. Họ dường như có xu hướng muốn làm sụp đổ chế độ luật lệ thời hậu độc tài theo Hiến pháp năm 1988, được ký kết sau khi nền dân chủ được khôi phục. Theo một cuộc điều tra quốc gia chưa được công bố của Diễn đàn Phi chính phủ Brazil về An toàn công cộng, 69% số người Brazil (trong tổng số 2087 người được hỏi) từ 16 tuổi trở lên đồng ý rằng “Những gì đất nước này cần, trước hết, không phải là pháp luật hay các kế hoạch chính trị, mà là những nhà lãnh đạo dũng cảm, những người không biết mệt mỏi và luôn tận tụy để người dân có thể đặt cược niềm tin của họ”.

Jair Bolsonaro, một cựu đội trưởng quân đội từ bang Rio de Janeiro, người có ý định chạy đua chức Tổng thống Brazil năm 2018, đã ủng hộ việc đưa đất nước theo hướng lãnh đạo độc tài. Ông Bolsonaro đã công khai kêu gọi Brazil quay trở lại chế độ “thiết quân luật” và nhận được sự quan tâm đông đảo của người dân. Trong khi đó, cảnh sát – lực lượng mà trên lý thuyết, nên là những người bảo vệ luật pháp hiện hành – cũng đang thể hiện sự ủng hộ dành cho ông Bolsonaro.

Có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi một quốc gia mà đạo Cơ đốc theo phái Phúc âm đang bùng nổ rộng rãi như Brazil, đã có đến 64% người được hỏi tin rằng “tất cả chúng ta phải có một niềm tin tuyệt đối với quyền lực siêu nhiên, nơi mà mọi phán quyết đưa ra đều phải được chúng ta tuân thủ”. Khi tôn giáo xâm nhập vào nền chính trị của nước này, “niềm tin” dường như đang hình thành một trật tự mới, tạo ra sự cộng sinh phức tạp giữa nhà nước và tôn giáo, điều sẽ ảnh hưởng cơ bản đến quan điểm của công chúng và việc hoạch định các chính sách.

Trong bối cảnh có đến 53% người dân Brazil được hỏi tin rằng “cảnh sát là một chiến binh của Chúa – vị thần có trách nhiệm áp đặt trật tự và bảo vệ người dân lương thiện”, điều này biện minh cho 2 hành vi đang gây tổn hại cho đất nước. Thứ nhất, nó bỏ qua hành động bạo lực đang lan rộng của lực lượng cảnh sát, và thứ hai, nó “phớt lờ” các tổ chức tội phạm trong các luật lệ địa phương.

Truyền tải tính trật tự xã hội vào quan điểm đạo đức cá nhân để biện minh cho chủ nghĩa độc tài là một cách vừa tinh tế, vừa mạnh mẽ. Người Brazil đã chiến đấu để giành lại quyền dân sự và nhân quyền sau 2 thập niên trải qua một chế độ độc tài quân sự đẫm máu. Sau 30 năm, đất nước hiện đang bị tê liệt bởi tội ác và bạo lực, người dân lại muốn quay lại “ve vãn” chủ nghĩa độc tài và sự thẳng tay trừng trị.

Trong quá trình “ăn mòn” này, tỷ lệ tội phạm có tổ chức đã tăng gấp đôi, tình trạng tham nhũng tăng lên gấp bội, và sự bất ổn cũng như những mối nguy hiểm đã làm xáo trộn nền chính trị quốc gia. Để cứu vãn nền dân chủ, Brazil cần khẩn trương tìm ra một giải pháp mới để đảm bảo sự an toàn cho xã hội. Nếu không, sự sợ hãi, tội phạm và tình trạng giết người sẽ thống trị đất nước.

Nguồn: theconversation.com – 16/06/2017

TKNB – 19/06/2017

Liệu Donald Trump có phải điềm gở đối với Cuba?


Phản ứng của Cuba trước chiến thắng của tỷ phú Donald Trump trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ là đăng trên tin chính trang nhất của nhật báo Granma – cơ quan phát ngôn của Đảng Cộng sản Cuba – về cuộc diễn tập quân sự Bastión 2016 trên phạm vi toàn quốc. Theo bình luận của mạng tin Cartas desde Cuba, dù cuộc tập trận này là một hoạt động định kỳ, nhưng việc hai sự kiện trên cùng xuất hiện trên trang bìa của nhật báo chính thống có lượng phát hành lớn nhất cả nước chắc chắn là một hành động có tính toán.

Bộ Các lực lượng vũ trang cách mạng Cuba (Minfar) nhấn mạnh mục tiêu của cuộc diễn tập là huấn luyện các cấp tư lệnh “trong công tác tổ chức, nâng cao tính sẵn sàng phòng thủ và chuẩn bị cho quân đội và nhân dân đương đầu với nhiều loại hình hoạt động của kẻ thù”. Có thể có ai đó cho rằng đây chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng trong nền chính trị Cuba không có gì là tình cờ cả và chẳng có bài viết nào xuất bản trên cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, đặc biệt lại trong số ra ngay sau ngày bầu cử Mỹ, lại chưa được bộ máy lãnh đạo chính trị xét duyệt.

Đó dường như là một thông điệp cho ông chủ sắp tới của Nhà Trắng, người trong chiến dịch trnha cử vừa qua của mình đã tăng dần mức độ cứng rắn trong quan điểm đối với Cuba, mà cao trào điểm cuối là tại bang Florida với lời khẳng định sẽ đảo ngược mọi biện pháp mà tổng thống Barack Obama đã áp dụng với “hòn đảo tự do”. Rõ ràng, điểm yếu lớn nhất “di sản” của tổng thống sắp mãn nhiệm Obama chính là việc người kế vị của ông có thể tung hê chúng mà không phải trải qua quá nhiều thủ tục. Để đẩy lùi tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước, ông Trump có được sự ủng hộ và sức ép từ những chính trị gia gốc Cuba hiếu chiến trong Quốc hội, trong đó có Thượng nghị sĩ vừa tái đắc cử Marco Rubio.

Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng tổng thống đắc cử Mỹ là một doanh nhân và trong vai trò này ông từng gửi đặc sứ tới Cuba để tìm hiểu khả năng đầu tư tại đây, rất lâu trước khi tổng thống Obama áp dụng chính sách mở cửa đối với Havana và thậm chí đi ngược lại chính sách cấm vận. Hơn nữa, trong quá trình tranh cử sơ bộ trong Đảng Cộng hòa, ông Trump đã khẩu chiến dữ dội với hai ứng cử viên gốc Cuba, Ted Cruz và Marco Rubio, và khó có thể yêu cầu ông áp dụng chiến lược chống Havana của hai nhân vật diều hâu này.

Dẫu sao, giữa các nhân vật cộm cán của Đảng Cộng hòa vẫn có một số điểm chung: quan điểm bài nhập cư của Donald Trump có thể kết nối với những nỗ lực của Marco Rubio trong việc loại bỏ Luật Điều chỉnh Cuba – trong đó cho phép mọi công dân Cuba đặt chân lên lãnh thổ Mỹ đều được quyền cư trú tại quốc gia này.

Chính phủ Cuba đã tỏ ra thận trọng, Nhật báo Granma đã bình luận khá dè dặt rằng ông Trump thắng “nhờ vào những lá phiếu của hàng triệu cử tri Mỹ, trong đó đa số là người da trắng và cư dân nông thôn, những người không hài lòng với hướng đi của đất nước họ và ngán ngẩm hình ảnh của những chính trị gia truyền thống tại Washington”.

Còn trên đường phố, những người dân thường Cuba tỏ rõ vẻ thất vọng hơn, khi họ từng hi vọng với Hillary Clinton, Mỹ sẽ chấm dứt cuộc bao vây cấm vận chống quốc đảo nhỏ bé này trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, với mục tiêu công khai là tạo ra đói nghèo và tuyệt vọng trong dân chúng. Người Cuba lo sợ một chính sách mới của Mỹ có thể ảnh hưởng tới hàng nghìn thợ thủ công tự do, các chủ nhân và nhân viên của những nhà hàng, nhà trọ, quán cà phê tư nhân, những người được hưởng lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ mức tăng trưởng du lịch mà quá trình tan băng giữa Cuba và Mỹ mang lại.

Trên thực tế, đối với các quan chức Cuba, đối phó với một Trump “thẳng tính” còn có phần dễ dang hơn với một Hillary Clinton lão luyện trong chính trị và ngoại giao. Nữ ứng cử viên Dân chủ là sự nối tiếp chính sách của ông Obama, một chiến lược nhuần nhuyễn va bài bản để chinh phục trái tim người dân Cuba – điều khiến Havana luôn phải đề phòng. Một nghịch lý là chính ông Trump có thể đóng góp cho sự đoàn kết của giới lãnh đạo cách mạng Cuba, từng có nhận định khác nhau về cách thức đối phó với chính sách của Obama. Giờ đây, dù tốt dù xấu, tất cả sẽ rõ rànghơn và không có nhiều thời gian cho những phán đoán suy luận hay thậm chí tưởng tượng.

Tất nhiên, Donald Trump là một nhân vật hữu khuynh, nhưng khác với George W. Bush, ông không “mắc nợ” với bang Florida trong chiến thắng bầu cử của mình và ông cũng chẳng có cảm tình đặc biệt gì với những chính trị gia chống Castro hay cộng đồng người Cuba – một phần của làn sóng nhập cư Mỹ Latinh mà tỷ phú này vẫn phản đối quyết liệt.

Vẫn còn quá sớm để biết được đối sách mà Donald Trump sẽ chọn lựa đối với Cuba, nhưng dường như Havana đã gửi cho tổng thống đắc cử Mỹ 2 thông điệp: Cuba đã chuẩn bị cho kịch bản tồi tệ nhất nhưng không bắt đầu cuộc khẩu chiến và trao cho ông chủ kế tiếp của Nhà Trắgn quyền “đi trước” quân cờ.

Nguồn: TKNB – 14/11/2016

Quan hệ Cuba – Mỹ sẽ đi về đâu sau khi cựu Chủ tịch Fidel Castro qua đời?


Trước khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Cuba bế mạc, nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro được người dân trìu mến gọi là vị Tổng tư lệnh đã nói: “Có lẽ đây là lần cuối cùng tôi phát biểu tại đây. Tôi cuối cùng sẽ ra đi, nhưng lý tưởng của người Cộng sản Cuba sẽ mãi trường tồn”. Người từng tuyên bố mình là người theo chủ nghĩa Marx – Lenin, nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ, nhà lãnh đạo chủ chốt của cuộc Cách mạng Cuba, người xây dựng nhà nước XHCN do Đảng Cộng sản Cuba lãnh đạo, cựu Chủ tịch Fidel Castro đã qua đời vào đêm 25/11/2016. Sau khi Chủ tịch Raul Castro công bố tin tức này trên truyền hình quốc gia, truyền hình các nước đã lập tức phát đi thông tin này.

Theo sự sắp xếp tang lễ được Cuba công bố: Cả nước để quốc tang 9 ngày, thi hài của Fidel Castro sẽ được hỏa táng, tro cốt của ông được rước qua các khu vực trên cả nước Cuba trong 4 ngày, cuối cùng được đưa về mai táng tại Santiago – thành phố lớn thứ hai, ở bến cảng phía Đông, từng được gọi là cái nôi cách mạng của Cuba, đó cũng là nơi an nghỉ của nhiều liệt sĩ cách mạng Cuba, tên của họ đã được khắc trên bia tưởng niệm liệt sỹ cách mạng.

Vì sao nhà cựu lãnh đạo của “một quốc gia nhỏ bé” qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Ngay sau khi Fidel Castro qua đời, rất nhiều người cánh tả và ủng hộ cuộc Cách mạng Cuba của Tây Ban Nha nằm ở châu Âu đã tới đặt bó hoa tưởng niệm tại cửa đại sứ quán Cuba ở nước này. Tổng tống Mexico Enrique Pena Nieto đọc lời điếu văn: “Fidel Castro không những là lãnh tụ cách mạng của Cuba mà còn là biểu tượng của thế kỷ 20”. Tờ The Mirror của Anh đăng bài viết của Tổng thống Ấn Độ Modi: “Vào thời khắc bi thương này, chúng ta đứng về phía chính phủ và người dân Cuba”. Ông nói: “Fidel Castro là nhân vật mang tính biểu tượng của thế kỷ 20, nhân dân Ấn Độ bày tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của nhân vật kiệt xuất này. Tôi xin bày tỏ lời chia buồn sâu sắc nhất đối với chính phủ và người dân Cuba, mong linh hồn của ông an giấc ngàn thu”. Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro cho biết: “Chúng tôi muốn tiếp tục di sản của ông và ngọn cờ độc lập của ông”.

Cuba là một quốc đảo Caribe với dân số 10 triệu người, rộng hơn 100.000 km2. Tại sao việc nhà cựu lãnh đạo của quốc gia này qua đời lại được cả thế giới quan tâm?

Năm 1959, anh em nhà Castro đã lãnh đạo nhân dân Cuba lật đổ chế độ độc tài Fulgencio Batista, tuyên bố Cách mạng Cuba giành thắng lợi. Cuba chỉ cách Mỹ 200 hải lý về phía Bắc, phía Nam hướng về lục địa Mỹ Latinh, phía Tây là Mexico, phía Đông giáp các quốc đảo Caribe. Cuba có ý nghĩa địa chính trị quan trọng đối với Mỹ: phía Nam của Mỹ không có cảng tự nhiên, trong khi đó Cuba lại có các cảng tự nhiên lớn như La Habana, San Diego. Ngoài ra, Mỹ và Mỹ Latinh bị ngăn cách bởi Cuba, hòn ngọc Caribe luôn bị Mỹ coi là lá chắn của Mỹ Latinh.

Trong lịch sử, Mỹ đã chiếm được Cuba thông qua cuộc Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, sau khi kế thừa Tây Ban Nha lại thực hiện chế độ thuộc địa tại đây. Sau khi Cuba giành độc lập, Mỹ đã gửi lính đánh thuê đến tìm cách lật đổ chính quyền cách mạng Cuba (Mỹ gọi đó là sự kiện Vịnh Con lợn), đến nay Mỹ vẫn thuê dài hạn căn cứ Guantanamo, vẫn rất thèm muốn đối với Cuba.

Tin tức về người đã xây dựng đất nước XHCN ở một nơi rất gần trung tâm của CNTB, qua đời dường như đã mang theo một câu chuyện huyền thoại phiên bản thực tế. Cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng nói: Khi tôi học tiểu học, trung học, đại học, đi làm, làm tổng thống, tái đắc cử tổng thống, kết thúc nhiệm kỳ, ông ấy (Fidel Castro) vẫn luôn là nhà lãnh tụ Cuba. Câu nói này quả thực có mang sắc thái chính trị, nhưng cũng là sự khẳng định của đối thủ chính trị đối với nhà lãnh đạo kiệt xuất của thế kỷ này.

Quan hệ Cuba – Mỹ đi về đâu?

Trong thời gian Fidel Castro nắm quyền, ông không những đã thực hiện chuyển giao quyền lực mà con đưa ra kiến nghị trẻ hóa đội ngũ lãnh đạo. Cuba từ sau khi Chủ tịch Raul Castro kế nhiệm đã thực hiện sự phát triển trong lĩnh vực kinh tế và xã hội ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên điều không thể phủ nhận là hiện ay Cuba vẫn phải đối mặt với sự thiếu hụt nguyên vật liệu trong một số lĩnh vực, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nâng cao mức sống của người dân. Cuba cần tăng tốc đẩy mạnh “cập nhật” đã trở thành một vấn đề hết sức quan trọng, việc duy trì thành quả của cuộc cách mạng không thể tách rời sự phát triển vật chất của nền kinh tế, xã hội đất nước.

Cùng với việc Cuba đẩy mạnh hơn nữa việc cập nhật hóa mô hình kinh tế, sau Đại hội 7, tầng lớp lãnh đạo của nước này cũng đã xuất hiện xu thế trẻ hóa. Mặc dù Bộ Chính trị đã được đổi máu, nhưng vấn đề hầu hết các thành viên có độ tuổi tương đối cao vẫn chưa được giải quyết. Nhà lãnh đạo Cuba Raul Castro hiện nay đã 84 tuổi. Trong số 12 ủy viên Bộ Chính trị, 8 người sinh trước năm 1950. Việc nhà cựu lãnh đạo Cuba Fidel Castro qua đời cũng khiến mọi người quan tâm nhiều hơn tới vấn đề quá độ ổn định giữa thế hệ lãnh đạo già và trẻ của nước này.

So với các công việc nội bộ của Cuba, sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ trong tương lai có lẽ thu hút nhiều hơn sự chú ý của mọi người. Việc Fidel Castro qua đời e rằng khó tránh khỏi tăng thêm các nhân tố bất ổn cho sự phát triển của quan hệ Cuba – Mỹ. Năm 2015, hai nước chính thức nối lại quan hệ ngoại giao, năm 2016, quan hệ Cuba – Mỹ có phần ấm lên hơn, điều này phù hợp với mong muốn liệt kê thêm thành tích cho Chính phủ Mỹ, Obama chắc chắn sẽ được ghi vào sử sách lịch sử ngoại giao Mỹ. Song hiện thực luôn không giống như sách vở: Các cuộc đàm phán về những vấn đề thực chất giữa hai nước không có tiến triển, hơn 1 năm sau khi Tổng thống Obama tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại, các phương tiện truyền thông Cuba cho biết tình hình chưa có thay đổi gì. Pháp lệnh đòi hỏi Quốc hội Mỹ dỡ bỏ này khó có thể được thực hiện trong thời gian ngắn.

Mỹ chỉ đơn giản là đã thay đổi chiến lược đối với Cuba, sự cải thiện mối quan hệ về mặt hình thức lớn hơn các hành động thực tế. Mặc dù năm nay Tổng thống Obama đã thực hiện chuyến thăm lịch sử tới Cuba, nhưng mối quan hệ giữa hai nước vẫn đang trong giai đoạn bước đầu, các cuộc đàm phán về tiền đền bù đối mặt với nhiều khó khăn pháp lý, chính trị và kỹ thuật (liên quan đến thời kỳ cải cách ruộng đất, thu hồi quốc hữu hóa các công ty Mỹ và các lệnh cấm vận thương mại của Mỹ đối với Cuba), đều là các yếu tố quan trọng gây trở ngại đáng kể cho việc cải thiện quan hệ hai nước.

Tháng 11, Donald Trump – xuất thân là một doanh nhân – đã được bầu làm tổng thống Mỹ, khiến khả năng tạo ra một cấp độ mới trong quan hệ song phương thời gian tới giảm đi. Trong chiến dịch tranh cử, Donald Trump từng bày tỏ ủng hộ việc Chính quyền Obama nối lại quan hệ ngoại giao với Cuba, nhưng đồng thời nói rằng nếu ông là người chủ trì các cuộc đàm phán thì ông sẽ xem xét nhiều hơn tới lợi ích của Mỹ. Mặc dù một số học giả cho rằng những phát ngôn này là để thu hút các cử tri khu vực Miami, nhưng Donald Trump thuộc đảng chính trị khác rất khó tiếp tục đường lối chính sách đối ngoại của chính phủ hiện hành. Hiện nay, liên minh do các công ty Mỹ hình thành và các lực lượng chính trị gốc Cuba trong Quốc hội Mỹ vẫn đang tồn tại bất đồng về việc phát triển quan hệ Cuba – Mỹ.

Ngoài ra, ở Cuba cũng có nhiều người hoài nghi về sự phát triển của mối quan hệ giữa Cuba và Mỹ. Về ngoại giao, trước và sau khi quan hệ được phá băng, Chính phủ Cuba luôn giữ thái độ đối thoại cởi mở, nhưng người dân có quan điểm khác nhau về tốc độ phát triển của quan hệ song phương kể từ khi nối lại quan hệ ngoại giao cũng như sự phát triển thực sự trong quan hệ hai nước. Một số người Cuba muốn quan hệ phát triển nhanh chóng, nhưng lại lo ngại Mỹ thay đổi chính sách nhập cư đặc biệt đối với Cuba; những người Cuba giữ quan điểm truyền thống lo ngại chính sách thù địch của Mỹ đối với Cuba không bao giờ thay đổi, nối lại quan hệ ngoại giao chỉ là sự chuyển biến về mặt sách lược, nối lại quan hệ với Mỹ quá nhanh hoặc quá chậm đều không có lợi cho sự phát triển độc lập mà Cuba vẫn duy trì kể từ khi giành thắng lợi trong cuộc cách mạng đến nay.

Những biến số có ảnh hưởng lớn tới quan hệ Cuba – Mỹ nằm ở Nội các sau khi Donald Trump lên cầm quyền. Những trình bày có liên quan đến Cuba trong chiến dịch tranh cử của Donald Trump bao gồm nâng cao địa vị của Mỹ, chèn ép hơn nữa sự phát triển của Cuba cũng như từ chối dỡ bỏ cấm vận thương mại. Tháng 3/2016, Trump từng nói với phóng viên CNN: “Tôi nghĩ rằng ở Cuba có một tiềm năng nhất định”, “xem xét lại vấn đề Cuba là một việc làm đúng đắn”, và cho biết ông đang xem xét việc mở khách sạn ở Cuba. Đồng thời, ở Mỹ cũng có những tiếng nói yêu cầu đóng cửa đại sứ quán của hai nước. Lực lượng chính trị gốc Cuba phản đối chính quyền Cuba hiện nay sẽ tiếp tục giữ quan điểm đó sau khi Trump lên cầm quyền thời gian tới. Không thể phủ nhận một điều rằng đảng Cộng hòa không muốn kế thừa di sản ngoại giao của đảng Dân chủ, khi không thể vượt qua những thành tựu ngoại giao mà Obama đã thực hiện được, lựa chọn vứt bỏ hoàn toàn những thành tựu của người tiền nhiệm hoặc thay đổi thái độ có lợi đối với Cuba đều vẫn có thể xem là con đường Trump sẽ lựa chọn sau khi lên nắm quyền vào năm tới.

Nguồn: thepaper.cn – 27/11/2016

TLTKĐB – 01/12/2016

Tương lai nào cho Mỹ Latinh với Tổng thống đắc cử Trump


Ông Trump sẽ nắm quyền điều hành đất nước với nhiều thuận lợi bởi nắm trong tay cả Thượng viện cũng như Hạ viện, và nhiều khả năng trong nhiệm kỳ cầm quyền cũng sẽ nắm trong tay cả Tòa án Tối cao. Điều này sẽ cho phép những quyết định liên quan tới chính sách đối nội cũng như đối ngoại của ông Trump dễ được thực thi. Tuy nhiên, điều này cũng không đồng nghĩa với việc quyền lực tập trung tối đa vào tay ông Trump bởi sự đối trọng trong hệ thống chính trị Mỹ. Và lẽ đương nhiên, các thành viên Đảng Cộng hòa, đặc biệt là ông Macro Rubio, sẽ không giành cho ông Trump một tấm séc trắng.

Cho tới nay, ông Trump chỉ tìm cách công kích cộng đồng người Mỹ Latinh, làm tổn thương vấn đề di cư nhạy cảm của người Mexico và cam kết mạnh tay chống Cuba. Hơn nữa, ông này không có một êkíp cố vấn có kinh nghiệm và hiểu biết sâu rộng về khu vực. Trước bầu cử các chuyên gia nhận định bất kể ai thắng đi chăng nữa thì gần như chắc chắn rằng Mỹ Latinh không phải là một ưu tiên đối với Mỹ. Nhà Trắng hiện không phải đối mặt với mối đe dọa khẩn cấp hay thách thức ở khu vực cũng chẳng phải là cơ hội nào đặc biệt, cũng như không quan tâm tới hội nhập khu vực. Bản thân các nước Mỹ Latinh cũng sẽ tiếp tục bị chia rẽ trong nhiều vấn đề và chính sách của Mỹ chủ yếu sẽ tập trung vào các mối quan hệ song phương. Mỹ Latinh đang phải đối mặt với một nhân vật không thể đoán trước và có thể đưa ra những quyết định bốc đồng, trong một vài hoàn cảnh bởi vì tính thực dụng và ở vào hoàn cảnh khác đơn giản chỉ là bởi chủ nghĩa dân túy thiển cận. Chủ nghĩa bảo hộ và những thông điệp bài ngoại đã đẩy ông Trump rời xa Mỹ Latinh. Ông này thậm chí đã phản đối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), trong đó Mỹ có tham gia cùng 11 quốc gia Thái Bình Dương, bao gồm Peru, Chile và Mexico. Phát biểu tại buổi bế mạc Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế châu Mỹ và Caribe lần thứ 8 vừa qua được tổ chức tại trụ sở của Ngân hàng Phát triển liên Mỹ (BID), Bộ trưởng Kinh tế Argentina Alfonso Prat-Gay tuyên bố “đương nhiên có nguy cơ” trong chính sách của ông Trump. Ngoài ra, những lời lẽ chống lại cộng đồng Mỹ Latinh của ông Trump càng đầo sâu thêm bờ vực ngăn cách vốn đã có từ trước bởi những đề xuất bảo hộ, đặc biệt là đối với các nhà lãnh đạo Mỹ Latinh. Chủ tịch Cơ quan đối thoại liên Mỹ Micheal Shifter nhận định nhãn quan của ông Trump đối với khu vực hoàn toàn không thể đoán trước cũng như rất nhiều vấn đề khác liên quan tới kế hoạch của ông này tại Nhà Trắng. Việc ông Trump giành chiến thắng khiến chính sách đối ngoại của Mỹ trở nên không chắc chắn và không thể đoán trước. Một vài tháng trước, ông ủng hộ chính sách của ông Obama đối với Cuba, nhưng chỉ cách đây một hai tuần, chính ông ta lại quay ra phản đối việc này. Trong trường hợp ông này thực hiện lời hứa của mình trong việc xây dựng một bức tường trị giá 20 hoặc 30 tỷ USD ngăn cách giữa biên giới Mỹ và Mexcio, cũng như phá vỡ Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sẽ khiến đồng minh và bạn hàng thương mại quan trọng nhất của Mỹ tại Mỹ Latinh thậm chí quan trọng nhất của nước này trên thế giới vô cùng tức giận. Cho dù ông Trump có đưa ra bất kỳ chính sách nào đi chăng nữa thì việc ông này thắng cử sẽ khiến quan hệ giữa Nhà Trắng với tất cả các nước Mỹ Latinh trở nên tồit ệ. Quan hệ bình thường giữa Mỹ và các nước Mỹ Latinh hầu như là không thể với một vị tổng thống đã xúc phạm thậm tệ khu vực và người dân của họ.

Nhưng dù sao đi nữa, một số chính phủ như chính phủ của Tổng thống Argentina Mauricio Macri và Mexico Enrique Pena Nieto đã lên phương án dự phòng, tiếp cận ông Trump đề phòng chiến thắng của Đảng Cộng hòa. Ông Carlos Pagni, chuyên gia của tờ La Nation (Argentina) nhận định “chủ trương bảo hộ mạnh mẽ của ông Trump sẽ khiến tình trạng cạnh tranh khốc liệt giữa các đồng tiền và rất nhiều đồng tiền sẽ bị phá giá, trong đó đồng peso của nước Nam Mỹ này cũng sẽ không bị loại trừ. Do đó, lạm phát sẽ gia tăng. Ông Trump sẽ rà soát lại các hiệp định thương mại với Trung Quốc và Mexico. Nhiều khả năng Mỹ sẽ tăng lãi suất, điều chẳng hề có lợi cho Chính phủ của ông Macri.

Mexico sẽ là nước bị tác động tiêu cực nhất với chiến thắng của ông Trump, bởi mối đe dọa về việc Nhà Trắng sẽ thương lượng lại Hiệp định tự do thương mại (FTA), thậm chí còn có khả năng văn bản này bị hủy bỏ. Ông Trump cho rằng NAFTA là thỏa thuận thương mại “tồi tệ nhất” mà nước Mỹ từng ký kết và đề xuất áp tới 35% thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng của Mexico. Trong ngắn hạn, đồng peso Mexico sẽ chịu áp lực rất lớn và chắc chắn sẽ tiếp tục bị phá giá hơn nữa so với hiện tại. Chỉ riêng trong ngày 9/11, đồng peso đã bị mất giá 8%, sau khi bị phá giá tới 25% tính từ đầu năm. Mọi dự báo cho thấy xu hướng này tiếp tục gia tăng từ nay tới cuối năm, và điều này cũng sẽ khiến lạm phát tăng đáng kể. Nhiều chuyên gia cho rằng đồng peso Mexico hiện đang mất giá ở mức kỷ lục 20,74 peso/USD sẽ giảm xuống tới 22 peso. Một vấn đề khác trong mối quan hệ Mỹ và Mỹ Latinh có thể sẽ có sự thay đổi đáng kể từ tháng Một tới là quan hệ với Cuba. Ông Trump đã công bố rằng nếu thắng cử, sẽ điều chỉnh thỏa thuận thiết lập lại quan hệ với Cuba. Ứng cử viên Đảng Cộng hòa cho rằng sẽ chỉ tiếp tục theo đuổi chính sách hiện nay đối với quốc đảo Caribe nếu Havana “đáp ứng đòi hỏi của chúng ta về tự do tôn giáo và chính trị đối với tất cả người dân Cuba. Tổng thống kế nhiệm có thể thay đổi chính sách này và đó là những gì tôi sẽ làm, trừ khi chế độ Castro làm theo yêu cầu của chúng ta… chúng ta sẽ ủng hộ nhân dân Cuba trong cuộc đấu tranh chống lại sự đàn áp của cộng sản. Giao ước của ông Obaam chỉ có lợi cho chế độ Castro”.

Cũng có thể Nhà Trắng sẽ cứng rắn hơn trong những tuyên bố với Venezuela và Nicaragua nhưng liên quan đến các nước khác ở khu vực, chính sách của ông Trump hiện là một câu hỏi lớn. Còn trong nội bộ các nước Mỹ Latinh, chiến thắng của ông Trump sẽ để lại 2 hậu quả.

Thứ nhất, gia tăng sự phản đối chủ nghĩa đế quốc và phản đối Mỹ. Chuyên gia người Argentina Andrés Oppemnheimmer nhận định “chiến thắng của ông Trump trong cuộc bầu cử ngày 8/11 sẽ làm đóng băng quan hệ giữa Mỹ và Mỹ Latinh, và đẩy các Tổng thống thân Mỹ xa rời Washington… Nếu ngay cả các Tổng thống Mỹ Latinh thân cận Mỹ lo ngại về chính sách của ông Trump, thì lẽ đương nhiên sức ép từ trong nước, người dân sẽ phản đối trong trường hợp ông Trump thắng cử và sẽ chỉ thực hiện một phần rất nhỏ những cam kết trong chiến dịch tranh cử. Các chế độ mất uy tín của Venezuela và Cuba sẽ ăn mừng và thậm chí có htể lấy lại một số ảnh hưởng chính trị của mình.

Thứ hai, các chính phủ Mỹ Latinh sẽ đổi mới các cam kết để mị dân. Chủ nghĩa dân túy, của cánh hữu hoặc cánh tả, tưởng chừng đã bị chết ở Mỹ Latinh giờ đây một lần nữa lại xuất hiện và được ông Trump sử dụng trong chiến dịch tranh cử. Và ông Trump đã cho thấy chiến thuật gây oán giận để thu hút phiếu bầu, kích động sự giận dữ và phản đối giai cấp chính trị truyền thống đã đem lại kết quả. Việc dương cao ngọn cờ chủ nghĩa bảo hộ, chối bỏ ai đó hay tạo ra một vật tế thần (giới chính trị truyền thống) có thể đã gây nên những ảnh hưởng nhất định tại những quốc gia đang xảy ra tình trạng bất mãn với hệ thống hay các đảng phái chính trị như ở Chile, Brazil, Colombia và Mexico.

Nguồn: Infolatam (Argentina) – 10/11/2016

TKNB – 11/11/2016

Trung Quốc với món nợ ở Venezuela


Tình hình kinh tế và xã hội bế tắc và bất trắc tại Venezuela khiến lãnh đạo Bắc Kinh khá lúng túng. Họ vừa lo mất khoản tiền cho vay lên tới 60 tỷ USD, lại vừa sợ kiều dân của họ bị sát hại ở đất nước mà tỷ lệ tội ác và lạm phát đang dẫn đầu thế giới.

Diễn đàn Kinh tế đã có cuộc trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa để tìm hiểu về cuộc phiêu lưu thất bại của Trung Quốc tại một quốc gia thuộc loại giàu nhất lục địa Nam Mỹ, nay sắp vỡ nợ vì chủ trương xã hội chủ nghĩa với màu sắc cộng sản…

Nguyên nhân vì đâu?

Nền Cộng hòa Boliviar Venezuela đang bị khủng hoảng trong tất cả các lĩnh vực và vẫn chưa tìm thấy lối thoát sau 16 năm theo đuổi con đường xã hội chủ nghĩa do cố Tổng thống Hugo Chávez đề xướng từ năm 1999. Là quốc gia giàu tài nguyên nhất lục địa Nam Mỹ, ngày nay, Venezuela lại dẫn đầu thế giới về suy thoái kinh tế với đà tăng trưởng có thể sụt 10%, về mức lạm phát lên tới 100%, về nạn khan hiếm lương thực khiến người ta cướp thức ăn trong trường học, và nhất là tỷ lệ tội ác tính theo đầu người. Trong khu cảnh đó, thế giới mới nói tới sự lúng túng của lãnh đạo Bắc Kinh vì họ đã đầu tư nhiều nhất vào đất nước này, nay kiều dân của họ có thể bị sát hại nên đã lánh nạn sang hai nước láng giềng là Colombia và Panama.

Trả lời câu hỏi vậy nguyên nhân của điều đó là do đâu, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết ông nghĩ câu trả lời sẽ gồm có hai phần. Thứ nhất, vì đâu mà một quốc gia giàu có như vậy lại bị phá sản và trở nên tan hoang như vậy? Thứ hai, vì sao Trung Quốc trút tiền và người vào đó và hiện chưa biết phải làm thế nào để thu hồi lại vốn và bảo vệ mạng sống cho kiều dân của họ?

Về phần thứ nhất, trên diễn đàn này từ hơn 3 năm trước, khi ông Hugo Chávez tạ thế, chúng ta cũng đã đề cập và tiên báo các vấn đề ngày nay của Venezuela. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa cập nhật lại các chi tiết mới. Sau khi giành được nền độc lập từ Đế quốc Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ XIX nhờ có ông Simon Bolivar, Venezuela có 2 “đặc sản” là nạn độc tài và vỡ nợ. Trong phạm vi của chương trình kinh tế, chúng ta phải nói đến nạn vỡ nợ. Tính bình quân từ năm 1825 – 1900, cứ 12,5 năm lại vỡ nợ một lần. Trong 30 năm gần đây, đã xảy ra 4 lần vỡ nợ, bình quân cứ 7 năm/lần, lần gần đây nhất là năm 2004 và hiện lại sắp tới lần thứ 5 với 100 tỷ USD trái phiếu sẽ đáo hạn.

Trả lời câu hỏi vì sao trước đây người ta vẫn tin rằng nước này giàu tài nguyên và thuộc loại trù phú của lục địa Nam Mỹ? Chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho biết câu trả lời ngắn gọn là sự hồ hởi vì tài nguyên quan trọng là bộ não trên đầu chứ không phải là mỏ quặng dưới đất! Tìm hiểu kỹ ta thấy nạn lạc quan tếu vì tài nguyên phong phú khiến giới đầu tư vay tiền và thổi bong bóng chả khác nào hiện tượng bể bọt sóng tại vùng biển Nam Mỹ nổi tiếng của Đế quốc Anh vào thế kỷ XVIII được gọi là “South Sea Bubble”. Sang thế kỷ XX, người ta lại hồ hởi hơn khi tìm thấy dầu mỏ tại Venezuela từ năm 1922. Nước này có trữ lượng khoảng 300 tỷ thùng dầu thô, đứng thứ hai thế giới và trở thành trụ cột của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và cũng bị hoạn nạn chính vì nguồn tài nguyên đó.

Hơn 30 năm về trước, Venezuela đã có dân chủ và tương đối thịnh vượng nhờ kho dầu này. Tuy nhiên, bất ổn kinh tế vì dầu thô sụt giá và nạn tham ô đã gây bất mãn. Sau khi đảo chính không thành, Hugo Chávez đành bơi trên làn sóng phẫn nộ của quần chúng để tham gia bầu cử và đã thắng lớn. Ông lập ra một chế độ quyến rũ là “độc tài mị dân”. Mị dân nghèo để tập trung quyền lực vào phe đảng của mình, trên cùng là bản thân, tới khi gần chết mới buông. Có tài hùng biện và khẩu hiệu cách mạng của anh hùng Bolivar, tinh thần độc lập chống Hoa Kỳ và chủ trương xây dựng xã hội chủ nghĩa cho dân nghèo… Hugo Chávez đã thắng và cầm quyền trong 14 năm nhờ đảng Xã hội Chủ nghĩa Thống nhất Venezuela và lực lượng dân quân với 125 nghìn tay súng, nằm ngoài quân đội mà trong hệ thống quyền lực của mình. Ông Chávez cũng lập ra mạng lưới liên hội cộng đồng với cái vỏ của “dân chủ từ cơ sở” mà thực chất là thu vén quyền hành và quyền lợi của các địa phương vào tay những kẻ thân tín của lãnh tụ.

Ông Nguyễn Xuân Nghĩa cũng cho biết về chính sách kinh tế, vì ỷ vào dầu khí là nguồn thu chính nên chế độ Chávez đã quốc hữu hóa khu vực năng lượng, không phát triển các khu vực sản xuất khác vì vậy nền kinh tế bị mất cân đối, phải nhập khẩu lương thực, bị lạm phát và công nghiệp dầu khí lại tụt hậu và mắc nợ vì nạn bao cấp nên càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Nói chung, Venezuela nay đã cạn tiền và thành phần nghèo khổ bắt đầu thất vọng nhưng chế độ dân chủ nửa vời của Hugo Chávez lại tiêu diệt mọi lực lượng và giải pháp khác nên giờ đây, các đảng phái đối lập mới phải chật vật đối phó.

Vì sao Trung Quốc sa lầy?

Trả lời câu hỏi vì đâu Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn như hiện nay ở Venezuela? Chuyên gia Nguyễn Xuân Nghĩa cho rằng về đại thể, thứ nhất, Trung Quốc là nước đói ăn khát dầu nên cần bảo đảm nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và lương thực lâu dài. Thứ hai, ưu tiên là khi tiến hành việc đó, lãnh đạo Bắc Kinh quan tâm đến yêu cầu phát triển thế lực ngoại giao với các nước, bất kể bản chất của chế độ sở tại. Sở dĩ họ thi hành được là nhờ hệ thống tư bản nhà nước với sức huy động và phối hợp phương tiện mà các nền kinh tế tự do khó cạnh tranh nổi. Từ đó, Bắc Kinh bành trướng ảnh hưởng đến châu Á, châu Phi và Nam Mỹ qua 2 mũi tấn công là Ngân hàng Phát triển Quốc gia, được gọi tắt theo Anh ngữ là CDB, và các tập đoàn nhà nước. Ngắn gọn thì ngân hàng CDB cho các nước có tài nguyên vay tiền để thực hiện dự án do doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc tiến hành nhằm bảo đảm nguồn tiếp vận tài nguyên và qua đó củng cố thế lực ngoại giao của Bắc Kinh với các nước đang phát triển, nhất là các nước độc tài.

Bắc Kinh đã xây dựng quan hệ với chế độ Chávez tại Caracas từ lâu nhưng bành trướng mạnh nhất là từ sau năm 2008. Một phần ba các khoản tín dụng của ngân hàng CDB ra hỉa ngoại được trút vào Venezuela, nay khoản tiền đó lên tới hơn 60 tỷ USD. Song song với điều đó, doanh nghiệp nhà nước Bắc Kinh cũng được ngân hàng này cho vay để thực hiện các dự án được gọi là “thuộc diện chính sách”, trong đó, nhiều dự án được hoàn thành tại Venezuela. Nhờ tín dụng của CDB, tập đoàn quốc doanh Venezuela còn đầu tư ngược vào Trung Quốc làm người dân càng tin vào uy thế của Chávez trên còn đường xây dựng chủ nghĩa gọi là Chavismo của ông ta.

Năm 2007, sau khi quốc hữu hóa khu vực năng lượng và đuổi doanh nghiệp Âu – Mỹ ra ngoài, ông Chávez tuyên bố rằng tài nguyên của Venezuela là tài sản của toàn dân. Thật ra, nguồn tài nguyên ấy vẫn do nhà nước Trung Quốc thống nhất quản lý nhờ vai trò của ngân hàng CDB và doanh nghiệp Bắc Kinh. Đây là điều mỉa mai mà truyền thông Venezuela hay quốc tế khó phanh phui vì chừng ấy nghiệp vụ là bí mật an ninh của Trung Quốc! Tới khi Venezuela lâm vào khủng hoảng, Bắc Kinh sợ mất cả chì lẫn chài nên đang cố mồi chài giải pháp khác.

Có lẽ vì vậy mà quốc tế mới loan tin Bắc Kinh đã tiếp xúc với các nhân vật đối lập và doanh gia Venezuela để chuẩn bị giải pháp thay thế chế độ hiện hành của Tổng thống Nicolás Maduro và nhất quyết không cho chế độ này vay thêm một đồng nào nữa. Nhưng liệu Bắc Kinh có hy vọng thành công hay không?

Về điều đó, chuyên gia Nghĩa nói chúng ta không quên là sinh thời, Hugo Chávez rất phục Mạo Trạch Đông và sau khi ông mất ngày 5/3/2013, chính quyền kế nhiệm của Phó Tổng thống Nicolás Maduro quyết định cho ướp xác Hugo Chávez để toàn dân chiêm bái ông. Ngày nay, thế giới bên ngoài còn nhiều người mắc bệnh sùng bái Chávez khi ca tụng di sản của ông là chế độ cho dân nghèo vì thiếu am hiểu kinh tế, họ không hiểu dân nghèo mới là nạn nhân. Cho nên, chưa chắc họ đã ưa thích gì chủ nợ của Venezuela là chính quyền Bắc Kinh. Vì vậy, Hoa kiều tại Venezuela mới bị bắt cóc và sát hại hàng loạt.

Nếu có thay đổi chính trị tại Venezuela, liệu Bắc Kinh có thu lại được các món nợ của mình không vì số tiền 60 tỷ USD cũng tương đối lớn.

Chuyên gia Nghĩa giải thích thêm vài chi tiết chuyên môn để ta hiểu được tương lai.

Thứ nhất, khi cho vay, Bắc Kinh vẫn có thể nắm dao đằng chuôi. Trong quan hệ với các nước giàu tài nguyên, họ nhấn mạnh đến khẩu hiệu mà họ gọi là “song doanh” theo lối nói “win-win” của giới kinh tế, tức là đôi bên cùng có lợi. Thật ra, Bắc Kinh lời gấp đôi vì họ vừa nắm nguồn cung cấp, vừa tìm ra nhiều hợp đồng cho doanh nghiệp của mình. Venezuela đi vay mà trả bằng dầu, mỗi ngày trả 430 nghìn thùng mới đủ. Nguồn dầu ấy lại do các tập đoàn dầu khí Trung Quốc như Sinopec hay CNPC khai thác để xuất khẩu ra ngoài. Chi tiết ly kỳ là sự sai biệt giữa lượng dầu chở từ Venezuela để trả nợ so với số dầu nhập khẩu vào Trung Quốc, vốn là những số liệu được đôi bên giữ kín. Các chuyên gia quốc tế tìm mãi mới hiểu được khúc mắc bên trong.

Do đặc tính địa chất, dầu Venezuela thuộc loại “nặng” và “chua” chứ không “nhẹ” và “ngọt” như dầu của Saudi Arabia nên khó lọc thành xăng vì cần đến kỹ thuật mà Trung Quốc chưa có.

Thứ hai dù mua với giá rẻ thì việc vận chuyển từ Venezuela về Trung Quốc cũng rất tốn kém. Vì vậy, doanh nghiệp Trung Quốc lặng lẽ đem dầu Venezuela bán cho các nhà máy lọc dầu ở châu Mỹ để trung gian kiếm lời. Điều ấy mới giải thích vì sao thống kê Hải quan về số dầu nhập vào Trung Quốc lại thấp hơn số dầu xuất khẩu từ Venezuela. Tức là nhờ Chávez, Trung Quốc trở thành tay buôn dầu đáng kể trên các thị trường Bắc Mỹ khi giá dầu còn cao! Nay họ than là đã cho Venezuela vay 60 tỷ USD vậy ta nên tính lại. Và chế độ Venezuela sau này chắc chắn sẽ đòi tính lại.

Chuyên gia Nghĩa cho rằng Bắc Kinh cũng có thể bị rủi ro mất nợ tại Venezuela. Venezuela có truyền thống bốc đồng vì dầu và nhờ dầu mà xây dựng hệ thống chia chác quyền lợi nên mới gặp bất ổn chính trị. Đó là một rủi ro cho Trung Quốc ở bên ngoài. Trường hợp ấy từng xảy ra tại các nước được Bắc Kinh viện trợ mà bị động loạn và nội chiến nên càng dễ xảy ra tại Venezuela. Vả lại, dân bản xứ không tin vào thiện chí của Bắc Kinh và lề lối giao tế trịnh thượng của các doanh nghiệp Trung Quốc. Nếu Venezuela thay đổi thì sẽ có ngày, dân chúng nước này nêu vấn đề về các “món nợ khó đòi”, là điều mà dân Việt Nam chúng ta nên biết. Vì trên thế giới có nhiều trường hợp trong đó, quần chúng, phe đối lập hay chế độ mới đòi điều tra và hủy bỏ các món nợ do chế độ cũ cam kết với nước khác. Người ta gọi đó là “món nợ khó đòi” vì chế độ cũ nhân danh quốc gia đi vay nước khác để trục lợi riêng cho tay chân hay thân tộc rồi bắt người dân phải trả. Chúng ta sẽ còn thấy điều đó trong những năm tới.

Nguồn: RFA

TKNB – 16/09/2016