Nhìn lại 2020 – Tình hình Mỹ Latinh: Chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch


Giang Thời Học

Mỹ Latinh là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch COVID-19. Theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO), tính đến giữa tháng 11/2020, số người nhiễm virus SARS-CoV-2 ở khu vực này đã lên tới hơn 12 triệu, trong đó Brazil là 6 triệu, đứng thứ 3 thế giới (chỉ sau Mỹ và Ấn Độ).

Sức mạnh tổng hợp của Brazil khá mạnh ở khu vực Mỹ Latinh. Nhưng trước sự tấn công của dịch COVID-19,Chính quyền Bolsonaro không coi trọng đầy đủ vấn đề này trong giai đoạn đầu. Tổng thống Jair Bolsonaro thường nói rằng dịch COVID-19 chỉ là “cảm cúm nhẹ”, không cần phải ầm ĩ, không cần đeo khẩu trang. Ông thậm chí cho rằng khả năng miễn dịch của người Brazil cao, cho dù bơi trong cống nước thải thì cũng không bị nhiễm bệnh. Thái độ tiêu cực khi chống dịch của ông về khách quan khiến Brazil chịu thiệt hại lớn. Xét từ tính cách của người Mỹ Latinh, họ ưa thích giao tiếp, không muốn đeo khẩu trang, ở mức độ nhất định không có lợi cho sự kiểm soát dịch bệnh. Ngoài ra, khu vực kinh tế phi chính thức của các quốc gia này khá lớn, giữa kiếm tiền và sinh mạng, người lao động làm trong khu vực phi chính thức không thể có lựa chọn đúng đắn, từ đó cũng đẩy nhanh sự lan rộng của virus SARS- CoV-2. Sau khi dịch bệnh lan rộng, nguồn nhân lực y tế của Brazil có khiếm khuyết nhất định, tuy chính quyền của một số bang đã thành lập một số bệnh viện dã chiến tạm thời, nhưng vẫn có một số người bệnh bị chết do thiếu bác sĩ và thuốc men.

Những chuyên gia về Mỹ Latinh nêu rõ dịch bệnh đã bộc lộ sự yếu kém và khiếm khuyết về mô hình phát triển của khu vực này. Do đó, chính phủ các quốc gia thuộc khu vực này cần tăng cường năng lực quản lý đất nước, tuân thủ nguyên tắc lấy dân làm gốc.

Năm 2020, tình hình chính trị của đa số các nước Mỹ Latinh khá ổn định. Trong vài tháng cuối cùng năm 2019, nhiều nước bùng phát biểu tình chống chính phủ với quy mô lớn. Sau khi bước vào năm 2020, do chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19, ngoài một số ít quốc gia, Mỹ Latinh cơ bản chưa bùng phát các cuộc biểu tình lớn, cục diện chính trị khá ổn định.

Nhưng cuộc khủng hoảng Venezuela vẫn chưa được giải quyết. Tháng 01/2020, quốc hội tổ chức bầu lãnh đạo, Luis Parra và Juan Guaido đều tuyên bố mình là chủ tịch mới. Tổng thống Nicolas Maduro công nhận Luis Parra đắc cử, nhưng Guiado lại tiếp tục gọi mình là “chủ tịch quốc hội đắc cử” và “tổng thống lâm thời” của Venezuela. Các quan chức của Chính phủ Mỹ cũng nêu rõ sẽ tiếp tục ủng hộ Guaido và chống lại Tổng thống Mudaro.

Ngày 10/11/2019, do yêu cầu của phe đối lập và quân đội, Tổng thống Bolivia Evo Morales bị ép phải từ chức, sau đó ông phải sống lưu vong. Trong cuộc bầu cử tổng thống Bolivia ngày 18/10/2020, ứng cử viên của đảng Phong trào tiến lên chủ nghĩa xã hội (MAS) do Evo Morales lãnh đạo, Luis Arce giành thắng lợi. Ngày 09/11/2020, Morales chấm dứt cuộc sống lưu vong, trở về Bolivia.

Từ khi Tổng thống Venezuela Hugo Chavez mất năm 2013 đến nay, lực lượng cánh tả của khu vực Mỹ Latinh dường như đã mất ưu thế. Do đó, một số chuyên gia phân tích trên thế giới cho rằng việc Arce giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống chứng tỏ phe cánh tả của khu vực này vẫn có hy vọng trỗi dậy trở lại.

Điều bất ngờ là ngày 9/11. Quốc hội Peru đã bỏ phiếu thông qua việc luận tội Tổng thống Martin Vizcarra. Phe đối lập cáo buộc ông nhận hối lộ để giúp một số doanh nghiệp giành được gói thầu công trình của chính phủ trong thời gian làm thống đốc tỉnh Moquegua năm 2014. Cục diện chính trị rối ren đó bất lợi cho việc chống dịch COVID-19 của Peru.

Năm 2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ Latinh giảm mạnh. Ảnh hưởng của dịch bệnh đối với kinh tế khu vực không thể xem nhẹ. Theo một báo cáo nghiên cứu công bố ngày 6/10/2020 của Ủy ban kinh tế Mỹ Latinh và Caribe của Liên hợp quốc (CEPAL), dự báo kinh tế khu vực này sẽ giảm 9,1% trong năm nay, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 13,5%, tỷ lệ nghèo đó tăng lên 37,3%, bình quân thu nhập đầu người giảm xuống mức năm 2010, hiện tượng phân phối thu nhập không công bằng cũng ngày càng nghiêm trọng. CEPAL còn cho rằng tình hình kinh tế Mỹ Latinh là điều đáng lo ngại nhất trong khu vực này mấy chục năm qua.

Để kích thích phục hồi kinh tế, một số nước Mỹ Latinh đã bắt đầu sử dụng chính sách tài khóa và tiền tệ. Nhưng một mặt giữa kích thích phục hồi kinh tế và kiểm soát dịch bệnh có mâu thuẫn khó giải quyết, không dễ xác định nhân tố nào quan trọng hơn; mặt khác, mức độ suy thoái của kinh tế thế giới có thể lớn hơn 5%, điều kiện bất lợi ỏ trong và ngoài nước khiến các nền kinh tế Mỹ Latinh khó đi trên con đường tăng trưởng tốt đẹp về ngắn hạn.

Năm 2020, Chính quyền Trump tiếp tục thực hiện biện pháp cả mềm dẻo lẫn cứng rắn đối với các quốc gia Mỹ Latinh. Sau khi ông bước vào Nhà Trắng, Mỹ liên tục đưa ra “cây gậy” của chủ nghĩa bá quyền và bắt nạt, gia tăng trừng phạt Venezuela và Cuba. Đồng thời, Chính quyền Trump cũng cung cấp “củ cà rốt” để cải thiện quan hệ với các nước Mỹ Latinh. Ngày 2/2/2018, tại một hội thảo về quan hệ giữa Mỹ và các nước Mỹ Latinh do Trung tâm nghiên cứu chiến lược và vấn đề quốc tế (CSIS) tổ chức, Thứ trưởng Bộ Tài chính Mỹ phụ trách vấn đề quốc tế khi đó là David Malpass cho biết để tăng cường phát triển quan hệ với các nước Mỹ Latinh, liên tục thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dân chủ và pháp trị của khu vực này, Chính quyền Washington đã đưa ra một số sáng kiến có lợi cho tăng trưởng khu vực. Ông còn nêu rõ những sáng kiến này có thể được coi là “sáng kiến tăng trưởng châu Mỹ”. Ngày 17/12/2019, Lễ khởi động sáng kiến “Tăng trưởng châu Mỹ” đã được tổ chức ở Washington, nhưng Cuba, Venezuela và Nicaragua bị gạt ra ngoài lề. Đến nay, Mỹ đã ký văn bản thực hiện sáng kiến này với hơn 10 nước Mỹ Latinh.

Ngày 1/7/2020, Hiệp định thương mại Mỹ-Mexico-Canada (USMCA) được ký. Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đã bị xóa bỏ. Mexico đương nhiên là nước hưởng lợi từ USMCA, nhưng hiệu ứng “chuyển dịch thương mại” của hiệp định này đối với nước Mỹ Latinh khác dần xuất hiện.

Năm 2020, quan hệ Trung Quốc với khu vực Mỹ Latinh tiếp tục được thúc đẩy ổn định. Năm nay, Chủ tịch Tập Cận Bình đã điện đàm với nhà lãnh đạo của hơn 10 nước thuộc khu vực này, hai bên đã trao đổi quan điểm về chống dịch bệnh và một số vấn đề khác. Ngày 23/7/2020, Ủy viên Quốc vụ kiêm Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị cùng với hơn 10 ngoại trưởng các nước Mỹ Latinh tổ chức hội nghị trực tuyến đặc biệt về ứng phó với dịch COVID-19. Tuyên bố chung của hội nghị nêu rõ: “Trung Quốc và khu vực Mỹ Latinh được dẫn dắt bằng tình hữu nghị sâu sắc và tinh thần hợp tác, từ khi dịch COVID-19 bùng phát đến nay đã triển khai hợp tác chống dịch hiệu quả cao. Trung Quốc cám ơn sự hỗ trợ của các nước Mỹ Latinh và Caribe, ca ngợi thái độ cởi mở triển khai hợp tác quốc tế chống dịch bệnh của họ. Các nước Mỹ Latinh khẳng định Trung Quốc thực hiện biện pháp chống dịch quyết đoán và giành được hiệu quả nổi bật, cảm ơn sự hợp tác và ủng hộ mạnh mẽ của Trung Quốc”.

Ngoài ra, Trung Quốc còn cùng với một số nước Mỹ Latinh tổ chức các hội nghị trực tuyến giữa các chuyên gia chống dịch bệnh. Những hội nghị này đã đem đến kinh nghiệm quý báu của Trung Quốc cho vấn đề chống dịch của những quốc gia tại khu vực này.

Năm 2020, Trung Quốc lần lượt tổ chức Hội chợ thương mại dịch vụ quốc tế Trung Quốc và Triển lãm nhập khẩu quốc tế Trung Quốc. Các nước Mỹ Latinh đã tích cực tham gia hai sự kiện này, đóng góp cho việc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ thương mại song phương trong thời kỳ dịch bệnh.

Cần phải quan tâm đến thái độ của Washington đối với sự hiện diện của Bắc Kinh ở khu vực ngày càng đáng lo ngại và đề phòng. Ví dụ như vì sức ép của Mỹ, một số quốc gia Mỹ Latinh do dự trong việc có cho phép Công ty Huawei của Trung Quốc tham gia đấu thầu mạng công nghệ 5G hay không. Về vấn đề này, Trung Quốc cần phải tỉnh táo.

* * *

Giang Thời Học, Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Mỹ Latinh, Đại học Thượng Hải.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) – số 24/2020. TLTKĐB – 26/12/2020

Tác động của dịch COVID-19 ở Mỹ Latinh và Caribe


Hầu như không nước nào thoát khỏi những tác động mạnh mẽ của đại dịch toàn cầu COVID-19. Mỹ Latinh và Caribe cũng không ngoại lệ. Cuộc khủng hoảng xảy ra tại thời điểm khu vực này tương đối ổn định nhưng mong manh. Vì vậy, chế độ dân chủ, hệ thống quản trị và điều kiện kinh tế, cũng như các động lực khu vực và quan hệ quốc tế với Mỹ và các bên tham gia ngoài bán cầu cũng sẽ trải qua những thay đổi đáng kể. Ở Tây bán cầu, đại dịch mang lại cơ hội lẫn thách thức cho tầm ảnh hưởng của nước Mỹ, và điều này sẽ tác động lâu dài đến trật tự thế giới.

Các đối tác Mỹ Latinh và Caribe tương đối ổn định nhưng mong manh

Đầu năm 2020, mối quan hệ của Mỹ với các nước Mỹ Latin và Caribe trên đà phát triển mạnh mẽ, và các thể chế dân chủ trong khu vực dường như đã được cải thiện. Phong trào “Thủy triều hồng”, hay hiện tượng một nhóm các nước trong khu vực (như Brazil, Argentina, Ecuador và Bolivia) theo sự dẫn dắt của nhà lãnh đạo Venezuela Nicolás Maduro lạnh nhạt với Mỹ bằng việc thực hiện chính sách và cải cách ngày càng thiếu dân chủ, bắt đầu suy yếu. Trong 5 năm qua, những nước này đã bầu ra các nhà lãnh đạo thông qua các quá trình bầu cử dân chủ và tìm cách nối lại hoặc thắt chặt quan hệ ngoại giao, kinh tế và quân sự với Mỹ.

Kinh tế Mỹ Latinh và Caribe trong tháng 12/2019 và tháng 1/2020 tăng trưởng chậm, với việc nhiều nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng rơi xuống mức thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009. Triển vọng này không có gì đáng chú ý, nhưng vẫn khả quan hơn so với những dự báo trước đó. Bất chấp những xu hướng tích cực trong lĩnh vực quản lý dân chủ và tăng trưởng kinh tế, tình trạng hỗn loạn trong khu vực thể hiện sự thất vọng và bất mãn của người dân về việc chính phủ không có năng lực đáp ứng được những kỳ vọng đang gia tăng. Việc nâng cao các chỉ số kinh tế không cải thiện được điều kiện sống của đại bộ phận người dân. Khả năng chịu đựng tình trạng bất bình đẳng và nghèo đói vẫn tiếp diễn, các thể chế yếu kém và các vụ bê bối tham nhũng trên toàn khu vực (nhiều vụ được tiết lộ nhờ việc cải thiện tính minh bạch và quy định) dường như đã đạt đến giới hạn vào nửa cuối năm 2019. Bất ổn ở nhiều nước – không chỉ Venezuela, Nicaragua và Bolivia mà còn cả những nước ổn định hơn như Ecuador, Peru, Colombia và Chile – là nguyên nhân gây lo ngại về tình hình dân chủ trong khu vực này, làm suy yếu niềm tin của các nhà đầu tư và dẫn đến suy thoái kinh tế. Tình trạng bất ổn ở Chile, chủ yếu do người dân phản đối việc tăng giá vé tàu điện ngầm, là điều đặc biệt đáng chú ý, vì nước này thường được xem là hình mẫu của sự ổn định dân chủ trong khu vực. Các mối lo ngại khác liên quan đến chế độ độc tài vẫn tiếp diễn ở Venezuela, cuộc khủng hoảng nhân đạo do sự di cư của gần 5 triệu người tị nạn Venezuela (trong đó có 1,7 triệu người tập trung ở Colombia) gây ra, và sự hiện diện cũng như ảnh hưởng đang gia tăng nhanh chóng của các bên tham gia phi dân chủ ngoài bán cầu như Trung Quốc và Nga.

Những biện pháp ứng phó với dịch COVID-19 ở Mỹ Latinh và Caribe

Mối quan ngại về dịch COVID-19 dần xuất hiện ở Mỹ Latinh và Caribe sau khi đại dịch đã lan tới châu Âu và Bắc Mỹ. Sự ứng phó ban đầu của các nước khác nhau về tốc độ và phạm vi, từ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và giảm thiểu nghiêm ngặt ngay từ đầu đến việc hoàn toàn xem nhẹ những hậu quả nghiêm trọng của đại dịch. Các nhà phân tích đã đối chiếu các biện pháp trước đó của El Salvador nhằm hạn chế các chuyến bay vào ngày 25/1 trước khi có bất kỳ ca nhiễm nào được phát hiện ở nước này với hành động của các nhà lãnh đạo ở Nicaragua, Mexico và Brazil. Tại Nicaragua, Tổng thống Daniel Ortega kêu gọi người dân tuần hành chống lại dịch COVID-19. Tại Mexico, Tổng thống Andes Manuel Lopez Obrador vẫn tổ chức và tham dự các cuộc tụ họp nơi công cộng. Ở đó, ông vẫn ôm hôn những người tham dự, coi thường các khuyến nghị của chuyên gia y tế quốc tế. Tại Brazil, Tổng thống Jair Bolsonaro công khai cho rằng đại dịch là một trò lừa bịp, cho dù một nhân viên thân cận của ông đã có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2. Đến giữa tháng 3, hầu hết các nước trong khu vực đã bắt đầu áp dụng các biện pháp được các chuyên gia y tế khuyến nghị, bao gồm việc cấm các chuyến bay từ các nước then chốt, cấm các cuộc tụ họp đông người nơi công cộng và tạm thời đóng cửa trường học. Không những không đưa ra được các chính sách và phản ứng đồng nhất mà các chính phủ trong khu vực còn thiếu sự hợp tác đáng kể trong việc giải quyết đại dịch, khiến gần 45.000 người mắc bệnh trong khu vực này (vốn có thể tiến hành xét nghiệm).

Tác động khu vực

Tác động của dịch COVID-19 đối với nền kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tồi tệ hơn tác động của cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, và ở Mỹ Latinh và Caribe, nơi 30% dân số sống dưới mức nghèo và gần 12% sống trong cảnh nghèo đó cùng cực, tác động sẽ rất thảm khốc. Cuộc khủng hoảng này sẽ đặt ra thách thức lớn nhất trong lĩnh vực y tế, nơi mà phạm vi và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế vẫn còn hạn chế, đặc biệt đối với những người dân nghèo ở nông thôn. Giống như những nơi khác, số giường bệnh và máy thở khó có thể đáp ứng nhu cầu trong đợt dịch bệnh này. Ở Venezuela, Haiti và Honduras, tỷ lệ giường bệnh/bệnh nhân còn chưa đến 1/1000. Tỷ lệ này ở Colombia, Peru và Mexico chưa đến 2/1000. Ở Venezuela, cuộc khủng hoảng nhân đạo hiện tại và tình trạng thiếu thốn dịch vụ y tế ngày một tồi tệ hơn – tới mức Chính quyền Maduro phải đưa ra đề nghị hợp tác với Tổng thống phe đối lập Juan Guaido để đối phó với đại dịch. Cuộc khủng hoảng nhân đạo ở Venezuela sẽ đặc biệt gay gắt vì kinh tế toàn cầu đang suy thoái, giá dầu giảm và nguồn nhân lực của các nước láng giềng dành cho việc tiếp tục hỗ trợ và tiếp nhận những người nghèo nhất và những người đang tìm kiếm sự chăm sóc y tế vốn không thể thấy ở Venezuela là có hạn.

Nền kinh tế của khu vực này không những phải chịu tác động sâu rộng và kéo dài của đại dịch mà có thể sẽ còn cần đến sự hỗ trợ từ bên ngoài khu vực để hồi phục. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) dự kiến sẽ giảm ít nhất 1,8%. Xuất khẩu hàng hóa và du lịch, hai trong số các nguồn thu nhập chính của Mỹ Latinh và Caribe, sẽ trải qua những cú sốc đáng kể. Ngành công nghiệp du lịch, sản xuất và chế tạo sẽ bị gián đoạn. Giá cả hàng hóa v à nhu cầu từ các nước như Trung Quốc, Saudi Arabia và Nga sẽ giảm và đồng tiền sẽ mất giá. Các chuyên gia kinh tế cảnh báo về khả năng số người trong tình trạng nghèo đói cùng cực sẽ tăng từ 57,4 triệu người lên 90 triệu người. Với tình trạng bất bình đẳng và nghèo đói đã đạt đến mức cao, tỷ lệ nợ trên GDP cao hơn so với năm 2008 và khả năng ứng phó theo chu kỳ bị hạn chế, sự không chắc chắn về thời gian đại dịch kéo dài và cú sốc nhu cầu trong khu vực sẽ đẩy Mỹ Latinh và Caribe vào một cuộc khủng hoảng kinh tế. Khu vực này sẽ không thể hồi phục nhanh chóng sau cuộc khủng hoảng nhân đạo và khủng hoảng kinh tế nếu không có sự trợ giúp từ bên ngoài.

Các tác động lâu dài đối với Mỹ

Mặc dù Mỹ là nước tài trợ cũng như đối tác truyền thống của khu vực này trong các cuộc khủng hoảng ở Tây Bán cầu, nhưng dường như họ đã tập trung mọi nguồn lực để đối phó với đại dịch COVID-19 ở trong nước. Cảnh tượng các tàu bệnh viện của Hải quân Mỹ neo đậu ở thành phố New York và Los Angeles – trước đây là biểu tượng cho viện trợ của Mỹ dành cho các nước yếu kém hơn trong giai đoạn khủng hoảng – truyền đi thông điệp rằng Mỹ không thể giúp gì cho khu vực này. Mặc dù Đạo luật viện trợ, cứu trợ và an ninh kinh tế trong đại dịch COVID-19 (CARES) có đề cập đến việc cung cấp ngân sách cho các chương trình viện trợ nước ngoài và ủy quyền cho các thể chế tài chính quốc tế hỗ trợ các biện pháp ứng phó quốc tế, nhưng nó bị lu mờ trước nỗ lực của Mỹ trong việc tập trung ứng phó với cuộc khủng hoảng trong nước. Khu vực này có thể cho rằng Mỹ không có khả năng giúp đỡ họ. Hơn nữa, việc Chính quyền Mỹ phát đi những thông điệp mâu thuẫn nhau đến người dân đã tạo cơ hội cho các thế lực nhà nước thâm hiểm tiến hành các chiến dịch tuyên truyền những thông tin sai lệch và phát tán những câu chuyện bịa đặt nhằm làm giảm uy tín của Mỹ như: 1) Mỹ không còn là nhà lãnh đạo toàn cầu; 2) Mỹ là nguồn phát tán virus SARS-CoV-2 gây ra dịch COVID-19; và 3) Trung Quốc giỏi hơn Mỹ trong việc xử lý cuộc khủng hoảng y tế và đề nghị cung cấp viện trợ nhân đạo, trong đó có khẩu trang và máy thở, điều mà trước đây thường thấy ở Mỹ.

Ví dụ, cuối tháng 3/2020, Đại sứ Trung Quốc đã diện kiến Tổng thống Argentina Alberto Fernandez để thảo luận về đề nghị viện trợ nước này và được Chính quyền Fernandez nhiệt liệt hoan nghênh. Trung Quốc hiện đang tận dụng khả năng sản xuất thiết bị y tế và kinh nghiệm đối phó với dịch COVID-19 như một công cụ để có được sức mạnh mềm ở các khu vực như Nam Mỹ, nơi mà họ đã có được ảnh hưởng ngày càng lớn so với Mỹ. Một báo cáo nhận xét: “Các nước Mỹ Latinh, từ Argentina đến Mexico, từ Brazil đến Peru, đều đã chấp nhận đề nghị hỗ trợ từ Trung Quốc vì số ca nhiễm trên toàn khu vực đã tăng lên, trong bối cảnh lo ngại về tình trạng hệ thống y tế của họ đang gia tăng… Sự viện trợ của Trung Quốc đối với Mỹ Latinh phản ánh một xu hướng toàn cầu lớn hơn, khi Bắc Kinh tìm cách lèo lái câu chuyện theo hướng nước này không phải là nơi phát tán virus và cũng không phải là nước ban đầu đã xem nhẹ đại dịch này. Thay vào đó, Trung Quốc muốn được nhìn nhận là nước đi đầu trong cuộc chiến toàn cầu chống lại đại dịch.

Mặc dù Mỹ đã dành sẵn khoản viện trợ nước ngoài trị giá gần 274 triệu USD cho các nước có nguy cơ bị tác động nhiều nhất, nhưng vẫn chưa tập trung nỗ lực trong việc phối hợp với chính phủ các nước trong khu vực, và dường như Mỹ cũng không có phản ứng gì trước thông điệp của Trung Quốc.

Để có thể giải quyết cuộc khủng hoảng y tế và hồi phục sau đó, Mỹ Latinh và Caribe sẽ cần đến sự hỗ trợ và viện trợ từ nhiều nước. Mỹ luôn là nước duy nhất cung cấp viện trợ đáng kể và dẫn đầu các nỗ lực đa quốc gia trong việc ứng phó với các cuộc khủng hoảng ở Tây bán cầu. Lần đầu tiên kể từ thế kỷ 19, các cường quốc ngoài bán cầu đã xuất hiện và thách thức đáng kể ảnh hưởng cũng như sức mạnh của Mỹ khi đề nghị tiếp nhận vai trò lãnh đạo này. Thách thức này đối với vị thế và ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực bán cầu của chính họ có thể gây ra những tác động lâu dài đáng kể nhất đối với Mỹ trong vai trò một cường quốc toàn cầu.

Nguồn: www.fpri.org – 10/04/2020

TLTKĐB – 17/04/2020

Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng tại sân sau của Mỹ


Theo đài RFI, bảo vệ thương mại đa phương là vỏ bọc che đậy rạn nứt trong nội bộ Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS). Theo chuyên gia kinh tế Julien Marcilly thuộc cơ quan bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Pháp (COFACE), Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi cũng áp dụng các biện pháp bảo hộ và điều đó cản trở khối BRICS đạt được mục tiêu làm đối trọng với phương Tây.

Nhóm BRICS vừa kết thúc thượng đỉnh lần thứ 11 tại Brazil hôm 14/11. Các bên khẳng định quyết tâm “vượt qua mọi khó khăn đang thách thức mô hình mậu dịch đa phương”, cùng nhau “củng cố và cải tổ” để mô hình đó “hoạt động hiệu quả hơn, mở rộng hơn” tránh mọi “quyết định đơn phương và mang tính bảo hộ”. Theo giới quan sát, những khẩu hiệu chung chung này đều gián tiếp nhắm vào Mỹ và chính sách bảo hộ của Tổng thống Trump và không có gì mới so với thượng đỉnh năm 2018 ở Johannesbourg (Nam Phi).

Trong bối cảnh Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai toàn cầu, trước một nước Mỹ đi theo con đường “Nước Mỹ trước tiên” và một Liên minh châu Âu (EU) đang bị suy yếu vì Brexit, vì một số khó khăn của nước Đức, đầu tàu kinh tế châu Âu, BRICS tưởng chừng có nhiều cơ hội hơn bao giờ hết để khẳng định thêm tiếng nói của mình.

Với 40% dân số toàn cầu, tạo ra tới 1/4 tài sản của nhân loại, trong hơn 10 năm liên tiếp, các thành viên BRICS liên tục thu hẹp sự cách biệt kinh tế với các nước công nghiệp phát triển nhất trên thế giới.

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nhìn tới các thành tích kinh tế, chỉ có Ấn Độ và Trung Quốc thực sự vẫn “tiếp tục trỗi dậy”, trong lúc Brazil, Nga và Nam Phi đều đã bị hụt hơi. Jim O’Neill, cha đẻ ra cụm từ BRIC để chỉ nhóm các nền kinh tế đang trỗi dậy, (ban đầu gồm có 4 nước tham gia, mãi tới năm 2011 các bên mới mời thêm Nam Phi tham dự, để BRIC có thêm được chữ S), trong một cuộc phỏng vấn gần đây được đài Deutsche Welle của Đức trích dẫn, e rằng, trong 10 hay 15 năm nữa BRICS sẽ bị thu hẹp lại với vỏn vẹn hai thành viên là Ấn Độ và Trung Quốc.

Tuy nhiên, trước mắt, Brazil và Nam Phi, sau nhiều năm khủng hoảng về chính trị, vẫn là các đối tác quan trọng trong khu vực ở châu Mỹ Latinh và châu Phi. Còn Nga tuy là yếu kém về kinh tế nhưng lại là một “thế lực quân sự” trên thế giới.

Có điều giới quan sát nhận thấy rằng, lần này, 5 nguyên thủ của nhóm BRICS đã tập hợp về Brazil với những tính toán quá khác nhau: Đối với Tập Cận Bình, hội nghị tại Brazil lần này là một cơ hội mới để Trung Quốc chỉ trích chủ nghĩa bảo hộ. Tổng thống Jair Bolsonaro, trong cương vị chủ nhà, được mệnh danh là một “Donald Trump của châu Mỹ Latinh”. Nguyên thủ Nga thì đặt trọng tâm vào hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực từ dược phẩm đến công nghệ không gian. Moskva muốn giảm nhẹ áp lực do các biện pháp trừng phạt của châu Âu đè nặng lên nghiên cứu và kinh tế của Nga. Về phần Thủ tướng Narendra Modi, ông tuyên bố ưu tiên của Ấn Độ là “mở rộng thương mại với 4 đối tác còn lại trong khối BRICS”.

Đó là chưa kể, về mặt chính trị, cả 5 nhà lãnh đạo trong nhóm BRICS đều đang khơi dậy niềm tự hào dân tộc để củng cố quyền lực của chính mình. Do vậy, giới phân tích cho rằng “thái độ ích kỷ” đó có nguy cơ làm tan rã khối BRICS.

Trong cuộc phỏng vấn với đài RFI tiếng Việt, Julien Marcilly, chuyên gia kinh tế Pháp thuộc COFACE, nhắc lại hai tham vọng ban đầu đã được Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chính thức nêu bật nhân thượng đỉnh cách đây 5 năm cũng tại Brazil. Trước tiên, chuyên gia Julien Marcilly nhận định rằng: “Năm 2014, lần đầu tiên, nhân một cuộc họp thượng đỉnh, 5 nền kinh tế đang trỗi dậy trong nhóm BRICS chính thức đề ra hai mục tiêu cốt lõi. Thứ nhất, các bên cho rằng với trọng lượng kinh tế và cả chính trị, 5 quốc gia này không có một chỗ đứng xứng tầm trong các định chế đa quốc gia, như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng Thế giới (WB). Từ đó, nhóm BRICS có tham vọng thành lập ra những định chế riêng biệt để làm đối trọng với các cơ quan đa quốc gia vốn có của phương Tây. Thứ hai, vào thời điểm 2014, hầu hết các nước trong khối này đang gặp khó khăn cả về kinh tế lẫn tài chính, đặc biệt là Ấn Độ, Brazil và Nga bị thất thoát tư bản. Từ đó các bên mới nảy ra sáng kiến thành lập một ngân hàng phát triển của riêng nhóm BRICS để hỗ trợ lẫn nhau. Thành thực mà nói, thì Trung Quốc là nguồn đóng góp lớn nhất cho ngân hàng của nhóm BRICS. Còn Ấn Độ, Brazil hay Nam Phi thường trông chờ vào định chế này để có được ngoại tệ”.

Hiện tham vọng của nhóm BRICS có còn tính thời sự hay không trong bối cảnh mỗi thành viên đều bị phân tán đầu óc vì những hồ sơ nóng bỏng khác và các hiềm khích giữa 5 nước trong khối này có khuynh hướng gia tăng? Thí dụ như Brazil một mực tuyên bố đi theo đường lối của Donald Trump ở Mỹ, còn quan hệ giữa Ấn Độ và Trung Quốc đang căng thẳng. Ông Julien Marcilly cho rằng, vào thời  điểm này, chính sách bảo hộ đang là điểm nóng gây căng thẳng, cũng như là chiến tranh thương mại Mỹ – Trung. Tại thượng đỉnh vừa qua ở Brazil, các bên đồng thanh tuyên bố chống các biện pháp bảo hộ và BRICS chủ trương một thế giới cởi mở hơn cho các luồng giao thương. Tuy nhiên, đó chỉ là tuyên bố chung kết thúc thượng đỉnh.

Thực tế cho thấy hiện nhóm 5 nền kinh tế đang trỗi dậy này còn đang có quá nhiều những bất đồng, và như vậy sẽ chưa đạt được tham vọng tái tạo một mô hình mới để làm đối trọng với mô hình phương Tây. Chuyên gia giải thích: “Cho đến hiện tại, tôi không nghĩ là các bên đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu bởi nhiều yếu tố. Trước hết, liên quan tới vế dự trữ ngoại tệ: cho tới nay, ngân hang của nhóm BRICS không đáp ứng đúng nhu cầu, và cũng không được sử dụng đúng mức. Kế tới là tuyên bố ủng hộ mậu dịch của khối này chỉ là những lời nói suông. Bản thân mỗi nước trong nhóm đều đi theo chủ nghĩa bảo hộ, từ Brazil cho đến Trung Quốc.

Đây là yếu tố gây trở ngại rất lớn cho sự phát triển chung của Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi. Năm nền kinh tế đang trỗi dậy này không thực sự đạt được những mục tiêu như mong muốn”.

Theo chuyên gia Julien Marcilly, để có được hơi thở mới các bên cần phải đàm phán để có được những thỏa thuận về thương mại với nhiều tham vọng hơn. Chúng ta thấy rõ là Trung Quốc cần nông phẩm, cần lương thực chế biến của Brazil, cần năng lượng của Nga, cần nguyên liệu của Nam Phi… Vậy đổi lại, Bắc Kinh cũng có trách nhiệm bảo vệ các đối tác của mình trước một số rủi ro, đặc biệt là trước rủi ro tài chính… Có rất nhiều hướng hợp tác mà 5 nền kinh tế này có thể cùng nhau khai phá.

Liệu BRICS phải chăng là một phương tiện để Bắc Kinh mở rộng thêm nữa ảnh hưởng? Chuyên gia trên đưa ra giải thích: “Đây là một khả năng và cũng là một hướng đi của Bắc Kinh.

Trung Quốc tiếp tục củng cố ảnh hưởng với phần còn lại của thế giới như chúng ta đã thấy qua dự án “Vành đai và Con đường”. Như trong tất cả các kế hoạch, Trung Quốc luôn theo đuổi hai mục tiêu. Một là, về chính trị, có nghĩa là mở rộng quyền lực mềm. Hai là, về kinh tế, Bắc Kinh luôn luôn tìm kiếm mối đối tác có lợi cho cả đôi bên, tức là Trung Quốc cần mua nông phẩm, cần nguyên và nhiên liệu của các bạn hàng. Đổi lại thì Bắc Kinh có tiền giúp 4 thành viên còn lại trong nhóm BRICS giảm bớt áp lực của thị trường tài chính”.

Nguồn: TKNB – 21/11/2019

Mối đe dọa thuế quan của Mỹ đối với Mexico vẫn hiện hữu


Tóm tắt

+ Nguy cơ Mỹ áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Mexico hiện đã được đưa ra khỏi bàn đàm phán, nhưng Mexico vẫn phải thỏa mãn yêu cầu của Washington thực hiện thỏa thuận hạn chế tình trạng nhập cư trái phép vào Mỹ qua lãnh thổ nước này.

+ Tuy nhiên, sự bất ổn do động cơ chính trị ở Honduras, cũng như tình trạng tội phạm bạo lực trên diện rộng và hạn hán dai dẳng trên toàn khu vực Tây Bắc Trung Mỹ, sẽ tạo ra nhiều động lực thúc đẩy người dân mạo hiểm nhập cư trái phép vào Mexico, bất chấp việc an ninh biên giới được tăng cường.

+ Mặc dù Mexico sẽ tìm cách đảm bảo an ninh biên giới phía Nam với Guatemala, nhưng kế hoạch này có thể thất bại vì nó phụ thuộc phần lớn vào lực lượng Vệ binh quốc gia còn non trẻ và vì các yếu tố ở Trung Mỹ có thể làm tăng lượng người di cư qua biên giới.

Một thỏa thuận của Mexico nhằm tăng cường nỗ lực ngăn chặn dòng người nhập cư từ Trung Mỹ vào Mỹ đã làm chệch hướng nguy cơ Nhà Trắng áp đặt mức thuế lên tới 25% đối với hàng hóa xuất khẩu của nước này. Tuy nhiên, sự không chắc chắn xung quanh kế hoạch trừng phạt Mexico vì đã không thực hiện cam kết của mình theo thỏa thuận nhằm chiều lòng Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn tiếp tục tồn tại. Và sự không chắc chắn đó sẽ có những tác động thực sự đối với vấn đề mấu chốt của Mexico, cũng như nỗ lực củng cố quyền lực của chính quyền nước này. Chi tiết về thỏa thuận ngày 7/6/2019 với Chính phủ Mexico nhằm hạn chế tình trạng di cư bất hợp pháp về phía Bắc qua biên giới Mexico-Guatemala bao gồm cả cam kết của Chính phủ Mexico điều 6000 binh lính thuộc lực lượng Vệ binh quốc gia đến biên giới làm nhiệm vụ củng cố an ninh ở khu vực này. Những binh lính này sẽ được bổ sung vào lực lượng gồm hàng nghìn cảnh sát liên bang, binh lính và cảnh sát bang đã và đang làm nhiệm vụ ở đó. Mexico cũng đã nhất trí về việc tiếp nhận những người di cư xin tị nạn ở Mỹ trong khi chờ đơn xin tị nạn của họ được xem xét.

Một báo cáo riêng biệt chưa được xác nhận để khẳng định Mỹ sẽ dẫn đầu nỗ lực cải cách luật tị nạn ở Mexico cũng như giữa các nước Trung Mỹ để đưa người di cư trở lại quốc gia đầu tiên họ đặt chân đến trên hành trình di cư về phía Bắc. Trên thực tế, chính sách này sẽ buộc Mexico và Guatemala phải chịu trách nhiệm đối với hàng chục nghìn người nước ngoài. Nhưng cả hai nước đều không có sự chuẩn bị để đối phó với làn sóng nhập cư này, và việc cung cấp chỗ ở cho người di cư trong điều kiện nhân đạo sẽ đòi hỏi phải có nguồn vốn tài trợ nhiều hơn mức mà chính phủ nước họ hiện đang đóng góp cho việc kiểm soát tình trạng nhập cư.

Một vài khía cạnh của thỏa thuận này, như việc Mexico triển khai lực lượng Vệ binh quốc gia và tiếp nhận thêm người tị nạn, dường như đã được thảo luận trước đó. Ngày 10/6, Trump tuyên bố những khía cạnh khác của thỏa thuận sẽ sớm được tiết lộ và thỏa thuận này có thể bao gồm cả những nỗ lực nhằm thuyết phục Quốc hội Mexico phê chuẩn đề xuất để Mexico tham gia các “hoạt động trên quy mô lớn” chống lại nạn di cư. Lượng người di cư – đặc biệt là từ Trung Mỹ – qua Mexico vào Mỹ đã tăng lên đáng kể trong 18 tháng qua. Tháng 5/2019, hơn 100.000 người đã bị nhà chức trách Mỹ bắt giữ tại biên giới với Mexico, con số lớn nhất tính theo tháng trong gần 1 thập kỷ qua. Các cuộc đàm phán dẫn đến tuyên bố về thỏa thuận này dường như đã làm rõ ràng Nhà Trắng sẽ chỉ cho rằng Mexcio tuân thủ nghiêm chỉnh thỏa thuận nếu số lượng các vụ bắt giữ người di cư qua biên giới Mỹ – Mexico giảm xuống còn 20.000 vụ/tháng, con số được thấy lần cuối cùng xung quanh thời điểm Trump nhậm chức tổng thống vào năm 2017. Trong những thập kỷ trước khi có sự sụt giảm này sau khi Trump nhậm chức, con số người nhập cư trái phép luôn lớn hơn nhiều.

Trọng tâm di chuyển về phía Nam

Chính quyền Trump và Mexico đều tập trung vào việc củng cố biên giới phía Nam của Mexico với Guatemala, điểm nút đối với những người từ Trung Mỹ di cư về phía Bắc, thay vì hành động dọc biên giới Mỹ – Mexico còn dài hơn nhiều. Những kẻ buôn lậu đưa người di cư dọc theo các tuyến quốc lộ từ Guatemala, trong khi đó những người di cư thường di chuyển thành nhóm, gọi nôm na là các đoàn lữ hành, với số lượng lớn đến mức giới chức trách khó mà kiểm soát một cách hiệu quả. Mặc dù Mexico có thể điều thêm binh lính tới biên giới để tăng cường an ninh ở khu vực này, nhưng họ thay vào đó lại điều Vệ binh quốc gia – lực lượng an ninh gồm các quân nhân dưới sự chỉ huy của Bộ trưởng Nội vụ. Điều đó có lẽ là vì việc sử dụng các lực lượng quân sự để bắt giữ và xua đuổi người Trung Mỹ sẽ vấp phải sự chỉ trích ở trong nước và đối mặt với những thách thức pháp lý.

Lực lượng Vệ binh quốc gia Mexico hiện đã triển khai được khoảng 6000 binh lính, nhưng đã có các kế hoạch luân chuyển đủ quân số từ lực lượng lục quân và hải quân của nước này để xây dựng một lực lượng gồm 80000 quân vào năm 2020. Đợt triển khai này đến Guatemala có thể sẽ đòi hỏi một lực lượng đáng kể mà Mexico dự định triển khai trong thời gian còn lại của năm, và có thể tranh giành sự quan tâm với các ưu tiên an ninh trong nước khác. Chính số lượng các nhân tố ảnh hưởng tới lượng người di cư từ Mexico vào Mỹ khiến việc đáp ứng các yêu cầu của Nhà Trắng trở thành một nhiệm vụ nguy hiểm đối với Mexico.

Khi Mexico gia tăng các hoạt động củng cố an ninh ở biên giới phía Nam, những kẻ buôn lậu có thể sẽ phản ứng bằng cách nâng giá đưa người di cư qua các trạm kiểm soát an ninh. Các nhóm tội phạm có tổ chức đưa người di cư qua các trạm kiểm soát sẽ điều chỉnh chiến thuật buôn lậu bằng việc tìm kiếm các lộ trình thay thế hoặc hối lộ các lực lượng an ninh để được đi qua. Những động thái của Mexico nhằm tăng cường an ninh biên giới có thể làm giảm dòng người di cư, ít nhất là tạm thời, nhưng khi những kẻ buôn lậu điều chỉnh chiến thuật của mình, những động thái bổ sung đó có lẽ vẫn sẽ không đủ để đáp ứng mục tiêu của Nhà Trắng là làm giảm đáng kể tình trạng nhập cư trái phép trong dài hạn. Sự bất ổn do động cơ chính trị ở Honduras trong vài tháng tới cũng có thể khiến nền kinh tế nước này rơi vào tình trạng suy thoái và làm gia tăng lượng người nhập cư vào Mexico trong thời gian còn lại của năm. Tình trạng phạm tội, hạn hán và đói nghèo đặc hữu ở khu vực còn lại của Trung Mỹ sẽ tiếp tục tạo ra động lực thúc đẩy người dân ở đây di cư.

Nếu Nhà Trắng có bất kỳ suy nghĩ nào cho rằng Mexico không đáp ứng được những yêu cầu của Mỹ, thì họ sẽ tiếp tục đe dọa áp thuế trong tương lai gần. Các cuộc đàm phán định kỳ về mức thuế mà Mỹ có thể áp đặt cho Mexico không chỉ khiến các doanh nghiệp và các chuỗi cung ứng của họ ở cả hai phía biên giới rơi vào tình trạng không chắc chắn, mà còn khiến cho tương lai chính trị của ban lãnh đạo Mexico trở nên mờ mịt. Mỹ đã làm rõ với Chính phủ Mexico rằng họ mong đợi được chứng kiến kết quả giải quyết vấn đề di cư trong vòng 90 ngày. Trong khi đó, Ngoại trưởng Mexico Marcelo Ebrard tuyên bố rằng Mỹ chỉ cho Mexico thời hạn 45 ngày để đưa ra kết quả. Dù thế nào đi nữa, sức ép về thời gian đồng nghĩa với việc vấn đề thuế suất có thể sớm xuất hiện trở lại.

Trong suốt tiến trình này, Mỹ sẽ duy trì lựa chọn biện pháp trừng phạt Mexico bằng thuế suất gần như bất kỳ lúc nào. Và cho dù cuối cùng hai bên có đạt được một thỏa thuận xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ áp thuế, thì sự không chắc chắn mà tình hình này gây ra sẽ có tác động khủng khiếp đến một số dự án đầu tư ở Mexico. Những công ty có các chuỗi cung ứng trải dài vào sâu bên trong lãnh thổ Mexico tạo ra sản phẩm cho thị trường của Mỹ sẽ thận trọng với việc đổ thêm tiền vào một nước mà hàng hóa của họ có thể sớm trở thành mục tiêu áp thuế ở mức lớn hơn rất nhiều.

Mối đe dọa đối với Tổng thống Mexico

Thuế quan của Mỹ gần như chắc chắn sẽ đẩy lùi các nỗ lực của Tổng thống Mexico Andres Manuel Lopez Obrador – thường gọi là AMLO – trong việc củng cố đảng Phong trào phục hưng dân tộc đang cầm quyền với tư cách là lực lượng chính trị mạnh nhất ở Mexico. Ở những bang như Chiapas, Guerrero, Michoacan và Oaxaca, nơi lao động không chính thức chiếm hơn 50% toàn bộ lực lượng lao động, mức thuế suất đáng kể dẫn tới tình trạng thất nghiệp sẽ gây ra bất ổn xã hội, chủ yếu dưới dạng các cuộc phản kháng của những người lao động bị sa thải yêu cầu được hỗ trợ thoát khỏi tình trạng khó khăn về kinh tế. Chính phủ Mexico có thể phản ứng bằng cách đưa ra gói hỗ trợ kinh tế ngắn hạn trị giá vài tỳ USD, nhưng điều đó sẽ đồng nghĩa với việc lấy đi nguồn vốn tài trợ dành cho các ưu tiên khác trong ngân sách năm 2020. Bộ máy quan liêu liên bang, vốn đã chịu ảnh hưởng nặng nề của các biện pháp thắt lưng buộc bụng của AMLO, sẽ bị cắt giảm hơn nữa và thậm chí còn trở nên kém hiệu quả.

Xét tới tổn thất chính trị và kinh tế mà thuế quan của Mỹ sẽ gây ra cho Mexico, chính phủ nước này gần như sẽ không có lựa chọn nào khác ngoài việc trả đũa nếu Nhà Trắng hiện thực hóa những lời đe dọa của mình. Nguồn nhiên liệu xuất khẩu của Mỹ, cung cấp phần lớn lượng xăng dầu được bán trên thị trường Mexico, sẽ là một mục tiêu rõ ràng của đòn trả đũa kinh tế này. Mexico cũng có thể áp thuế đáp trả đối với các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ như thịt bò, thịt gà, lúa mì và ngô. Nông nghiệp rõ ràng cũng có thể trở thành vấn đề mấu chốt lớn hơn trong tương lai nếu Nhà Trắng tiếp tục ép buộc Mexico phải mua thêm nông sản của Mỹ. Mặc dù Trump từng phát biểu rằng việc Mexico tăng nhập khẩu sẽ là một phần của thỏa thuận cuối cùng, nhưng các nhà đàm phán của Mexico đã thẳng thừng phủ nhận việc nông nghiệp được thảo luận trong 3 ngày đàm phán về thuế suất mà hiện giờ đã bị bãi bỏ. Hơn nữa, Mexico hầu như không có lý do gì để tăng nhập khẩu nông sản, đặc biệt là đối với các loại ngũ cốc như ngô và đậu nành, vì nước này đã đạt mức mua sắm kỷ lục trong quý đầu của năm.

Tình trạng nhập cư trái phép liên tục ở mức độ cao sẽ làm gia tăng sự bất mãn của Trump đối với Mexico và duy trì mối đe dọa về thuế trong thời gian trước khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào năm 2020. Yếu tố mạnh nhất cản trở Tổng thống Mỹ đưa ra quyết định áp thuế đối với Mexico sẽ là các lợi ích chính trị của việc duy trì tăng trưởng kinh tế liên tục. Việc hiện thực hóa lời đe dọa áp thuế đối với Mexico trên thực tế có thể khiến triển vọng kinh tế của Mỹ trở nên u ám đến mức – phụ thuộc vào thời điểm áp thuế – cản trở nỗ lực tái đắc cử của Trump. Nhưng bất chấp khả năng gây thiệt hại không lường trước được đối với nền kinh tế Mỹ, những khoản thuế suất như vậy sẽ gây tổn thất kinh tế thậm chí còn lớn hơn cho Mexico. Do đó, Chính quyền AMLO sẽ tiến tới ngăn chặn dòng người di cư từ Trung Mỹ, hy vọng tránh xa được mối đe dọa về thuế quan từ Mỹ.

Nguồn: Stratfor – 11/06/2019

TLTKĐB – 14/06/2019

Lựa chọn quân sự gián tiếp của Mỹ đối với Venezuela – Phần cuối


Cây hư, trái độc

Trong cuốn sách “Blackwater – sự trỗi dậy của đội quân đánh thuê hùng mạnh nhất thế giới”, nhà báo Jeremy Scahill đã mô tả Moyock là nơi mà mỗi năm “đào tạo hàng chục nghìn quân nhân thuộc các lực lượng cụ thể, gồm cả liên bang lẫn địa phương, cũng như binh lính các nước bạn bè”.

Theo mô tả của Scahill, cựu cộng tác viên của tờ The Nation và Democracy Now, tại tổng hành dinh của mình, Blackwater “có bộ phận tình báo riêng và nắm trong tay các cựu sĩ quan quân đội cao cấp từ lực lượng chính quy và các lực lượng bí mật khác giữa vai trò điều hành”. Theo thời gian, thị trường an ninh cung cấp cho Blackwater ngày càng nhiều đơn đặt hàng béo bở và đa dạng; và do đó, họ đã xây thêm cơ sở tại California, Illionis và trong rừng rậm Philippines.

Blackwater, cũng như các hãng an ninh tư nhân đang mở rộng khác, “không chỉ là những trái táo thối, mà còn là những trái táo của một cây táo độc”. Hệ thống này phụ thuộc vào sự kết hợp giữa quyền ưu đãi và quyền miễn trừ trách nhiệm. Theo Scahill, nếu chính phủ bắt đầu tấn công các doanh nghiệp đánh thuê này bằng những tội danh chính thức như gây ra tội ác chiến tranh, ám sát hay vi phạm nhân quyền (và không phải theo hình thức tượng trưng), thì rủi ro của họ là vô cùng lớn”.

Prince từng định nghĩa doanh nghiệp của mình là “bộ phận kéo dài mang tinh thần ái quốc của Lực lượng vũ trang Mỹ”. Trước 2 âm mưu nhắm vào tòa tháp đôi và Lầu Năm Góc tháng 9/2001, Chính phủ Mỹ đã được tạo điều kiện để thực hiện về mặt quân sự một “cú va chạm giữa các nền văn minh”, với dấu ấn của nhà chính trị học Samuel Huntington. Khi Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, Washington phải vội vã tìm kiếm cho mình những kẻ thù mới để chiến đấu.

Nếu chỉ ít năm trước đó, phong trào Taliban và Al-Qaeda còn hữu ích trong việc xua đuổi quân đội Nga khỏi Afghanistan, thì giờ đây chính các nhóm này đã trở thành thế lực đe dọa nền văn minh phương Tây. Ngoài các đơn vị chính quy, Bush đã nhấn chìm Afghanistan và Iraq bằng những đội lính đánh thuê của các công ty như DynCorp và Blackwater – doanh nghiệp đảm nhận việc bảo đảm an ninh cho nhân sự Mỹ tại 2 nước trên, huấn luyện binh sĩ và trở thành một phần cơ bản của quân đội chiếm đóng.

Trong số rất nhiều lợi ích mà những đội lính đánh thuê dưới quyền Prince được hưởng có quyền miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm về các hành động của họ, được xác định trong luật mà các nhà chức trách Mỹ tại Iraq đặt ra, cũng như quyền được hưởng lương cao gấp đôi so với binh lính Mỹ. Tạp chí Fortune tiết lộ: “Mức lương thông thường của binh lính chính quy nhận nhiệm vụ bảo vệ các cá nhân cho tới gần đây vẫn là khoảng 300 USD/ngày. Còn khi Blackwater bắt đầu tuyển dụng nhân viên làm công việc phổ thông là bảo vệ Paul Bremer – quan chức cao nhất của Mỹ tại Iraq, mức thù lao họ đưa ra là 600 USD/ngày.

Trong khi chi ra hàng triệu USD tuyển dụng các cựu sĩ quan quân đội Mỹ và Chile – tại ngũ trong thời kỳ độc tài quân sự Augusto Pinochet – để tăng cường hàng ngũ và thực hiện các yêu cầu mà Nhà Trắng giao phó, Blackwater cũng được Quốc hội Mỹ cho phép làm việc với các nghị sĩ. Một số cơ quan công quyền Mỹ từng kêu gọi Quốc hội phải thận trọng với bước đi này vì Chính phủ không giám sát doanh nghiệp này, trong khi trao cho họ quyền miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm trong các chiến dịch quân sự.

Công ty của Prince không ngừng lớn mạnh kể từ sau các vụ khủng bố năm 2001. Họ phát triển riêng bộ phận chuyên trách hàng không, tàu ngầm và công nghệ do thám tối tân, tuy nhiên vận may của họ có phần bị lu mờ do sự kháng cự của người Iraq. Tháng 3/2004, hình ảnh 4 người bị giết và bị treo xác trên một cây cầu của thành phố kháng chiến Faluya đã được phát tán ra toàn thế giới. Sau này người ta biết được rằng việc đó là do lính đánh thuê của Blackwater gây ra.

Sự kiện này phơi bày thực tế rằng doanh nghiệp quân sự trên không chỉ thực hiện các chiến dịch quân sự ngoài thỏa thuận, mà còn cử lực lượng của mình trên những phương tiện không bọc thép, với hỏa lực cực thấp thực hiện những nhiệm vụ gần như tự sát, như trường hợp của Faluya.

Năm 2007, tại quảng trường Nisur, thủ đô Baghdad, một đơn vị của Blackwater với 4 xe bọc thép trang bị đại liên 7,62 mm có khả năng húc đổ tường đã xả súng bừa bãi vào dân thường khiến 17 người thiệt mạng. Dân chúng Iraq lập tức biểu thị sự phẫn nộ của mình và đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động du kích có vũ trang chống lại lực lượng chiếm đóng nước ngoài.

Cho dù được bộ máy chính trị, tư pháp và truyền thông bao che nhưng những tên lính đánh thuê Dustin Heard, Evan Liberty, Paul Slough và Nicholas Slatten vẫn bị kết án 30 năm tù. Tháng 8/2018, kênh truyền hình Russia Today thông báo một tòa án phúc thẩm của Mỹ đã hủy bỏ phán quyết này và tổ chức một phiên xét xử mới.

Cuộc thảm sát tại quảng trường Nisur có tác động lớn tới mức cụu Tổng thống Barack Obam đã phải thu hồi các hợp đồng với Blackwater vào năm 2009, nhưng sau đó quay lại ký hợp đồng trị giá gần 10 tỷ USD với doanh nghiệp này vào năm 2001. Cựu Thủ tướng Qatar Abdula bin Hamad Al-Attiyah từng tiết lộ hàng nghìn lính đánh thuê của công ty này đã được huấn luyện tại Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) để tiến hành các cuộc xâm lược.

Theo vị quan chức này, UAE đã thuê các dịch vụ của Blackwater để tiến hành chiến dịch xâm lược Yemen, do Saudi Arabia cầm đầu. Tuy nhiên, lực lượng đánh thuê đã phải chịu một số thất bại về mặt quân sự và buộc phải rời khỏi quốc gia nghèo nhất Trung Đông này. Chính phủ Qatar cũng xác nhận Blackwater từng huấn luyện 15.000 quân nhân, “phần lớn trong số họ mang quốc tịch Colombia hay một quốc gia Nam Mỹ nào khác”, tại căn cứ quân sự Liwa của UAE.

Theo thông tin từ kênh truyền hình HispanTV, tháng 7/2017, Chính quyền Donald Trump từng có ý định đưa đội quân của Prince trở lại Afghanistan. Kênh này còn nêu rõ: “Jared Kushner, cố vấn và là con rể của tổng thống Mỹ, và Steve Bannon, một trong những chiến lược gia chủ chốt của Nhà Trắng, đã xem xét lại sáng kiến này và đề xuất ứng cử viên thực hiện kế hoạch của Trump: Prince và Stephen Feinberg, chủ sở hữu công ty DynCorp International”.

Scahill chỉ rõ rằng “chiến tranh là một hoạt động kinh doanh rất có lãi. Cần phải điều tra, công  bố và xét xử không chỉ hoạt động của Blackwater mà cả hoạt động của toàn bộ hệ thống này”. Rõ ràng điều đó sẽ không diễn ra trong nhiệm kỳ của Donald Trump.

Nguồn: www.estrategia.la

Trung tâm phân tích chiến lược Mỹ Latinh

TLTKĐB – 05/06/2019

Lựa chọn quân sự gián tiếp của Mỹ đối với Venezuela – Phần đầu


Ý thức được rằng Quốc hội Mỹ khó lòng cho phép tiến hành một cuộc phiêu lưu quân sự có thể khiến nhiều công dân Mỹ thiệt mạng, trong khi giới quân sự Colombia và Brazil phản đối đe dọa vũ trang đối với Venezuela, đội ngũ của Tổng thống Mỹ Donald Trump dường như đã nghiêng về phương án tài trợ một phần cho đội quân đánh thuê.

Cuối tháng 4/2019, hãng Reuters đưa tin Erick Prince, giám đốc doanh nghiệp quân sự Mỹ Blackwater, từ vài tháng trước đã lên kế hoạch thành lập một đội quân tư nhân nhằm mục đích lật đổ Tổng thống Nicolás Maduro. Lực lượng quân sự này sẽ có từ 4000 – 5000 lính đánh thuê được tuyển mộ nhân danh Juan Guaido từ các nhóm bán quân sự cực hữu ở Colombia và một vài quốc gia khác trong khu vực.

Theo trích dẫn của Reuters, đối với các chuyên gia an ninh, kế hoạch của Prince là “trái khoáy về mặt chính trị và nguy hiểm về tiềm năng”, cũng như “có thể gây ra một cuộc nội chiến”. Prince tìm kiếm nguồn tài trợ và sự ủng hộ cho sáng kiến này từ Tổng thống Mỹ Donald Trump và các nhà tài phiệt Venezuela lưu vong, tại các cuộc họp kín được tổ chức tại Mỹ và châu Âu.

Một trong số những cuộc họp này diễn ra vào giữa tháng 4/2019, vài ngày trước cuộc đảo chính thất bại của phe đối lập cực hữu Venezuela ngày 30/4. Cùng ngày, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, khi phát biểu trên kênh Fox Business Network, không loại trừ khả năng xảy ra một “hành động quân sự tại Venezuela” nếu như “tình thế bắt buộc”.

Prince hiện đang tập hợp một lực lượng gồm những người Peru, Ecuador và Colombia – những người Latinh nói tiếng Tây Ban Nha – vì họ dễ được giới chính trị chấp nhận hơn so với một lực lượng toàn lính Mỹ, khi Mỹ vẫn còn lưu giữ ký ức về những chiếc túi đen đựng xác binh lính thiệt mạng ở Việt Nam. Pompeo đưa ra tuyên bố này sau khi tung ra một lời dối trá khác – hay tin tức giả – với kênh CNN. Thay vì thừa nhận cuộc đảo chính do Mỹ giật dây đã thất bại, người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ khẳng định Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đã chuẩn bị sẵn một lối thoát ra khỏi đất nước và trốn sang Cuba, nhưng Nga đã thuyết phục ông ở lại; lời nói dối lố bịch đến mức sau đó chính Tổng thống Trump đã phải phủ nhận và biện minh rằng đó chỉ là một “lời đồn”.

Người phát ngôn của Guaido, Edward Rodríguez, đã phủ nhận việc phe đối lập Venezuela duy trì đám phán với Prince về các hoạt động của nhóm này, còn người phát ngôn của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Garrett Marquis né tránh đưa ra bình luận khi được hỏi về “sáng kiến” này.

Một trong những lập luận của Prince là Venezuela cần có một động thái để phá vỡ tình trạng bế tắc của mình bắt đầu từ tháng 1/2019, khi Guaido tự xung là tổng thống lâm thời và tuyên bố cươong vị của tổng thống Maduro là vi hiến. Giờ đây, ông ta lại đưa ra một lập luận nữa: Nếu chỉ có những người Venezuela, họ không thể làm điều đó.

Theo một số nguồn tin, để trang trải cho kế hoạch của mình, Prince đang tìm kiếm khoảng 40 triệu USD từ các nhà đầu tư tư nhân và muốn chiếm đoạt các quỹ trị giá hàng tỷ USD của nhà nước Venezuela đã bị đóng băng tại nhiều nơi trên thế giới do tác động của các biện pháp trừng phạt của Mỹ. Ông muốn cướp lại mọi thứ từ tay những kẻ cướp.

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu phe đối lập Venezuela có thể tiếp cận các tài sản này một cách hợp pháp hay không. Theo tường thuật của Reuters, Prince từng nói trong các cuộc họp rằng ông tin tưởng Guaido có đủ quyền hạn cần thiết để thành lập lực lượng quân sự riêng vì đã được “quốc tế” công nhận là tổng thống hợp hiến của Venezuela.

Blackwater – tập đoàn tội phạm đa quốc gia

Blackwater, do Erick Prince và Al Clari thành lập năm 1997, là một doanh nghiệp quân sự đa quốc gia. Đây là doanh nghiệp an ninh hùng mạnh nhất thế giới, “tích lũy” hàng chục lời cáo buộc về các tội ác tại Trung Đông, lạm dụng quyền hạn, thực thi những nhiệm vụ “bẩn” của Lầu Năm Góc, và các vụ tham nhũng tại Mỹ. Phạm vi kinh doanh của Blackwater liên tục được mở rộng với sự hậu thuẫn của Nhà Trắng. Trong 2 thập kỷ qua, với “kim bài miễn trừ” và đội lính đánh thuê được trang bị vũ khí tối tân đến từ nhiều nước, Blackwater đã vươn lên trở thành một trong những doanh nghiệp an ninh có quy mô lớn nhất thế giới.

Thành lập dưới sự bảo trợ của giới cực hữu theo đạo Tin lành Mỹ và từng mang tên Academi, Blackwater đã tham gia các cuộc chơi lớn dưới thời Chính quyền Bill Clinton trong các cuộc chiến tại bán đảo Balkan vào những năm 1990 và sau đó nổi lên cùng phe tân bảo thủ trong Chính quyền Mỹ dưới thời cựu Tổng thống George W. Bush (2001 – 2009).

Những kẻ tân bảo thủ, bén rễ quyền lực từ các nhiệm kỳ tổng thống của Ronald Reagan và Bush (cha) đã tìm thấy trong chính quyền phe Cộng hòa của doanh nhân dầu mỏ Bush (con) mảnh đất màu mỡ để vun đắp và ứng dụng Dự án tân thế kỷ Mỹ (PNAC) nhắm vào những mục tiêu khác nhau, trong đó có việc xóa bỏ hoàn toàn vai trò điều tiết của nhà nước và chĩa mọi mũi dùi vào chủ nghĩa khủng bố, một khái niệm mơ hồ nhưng được xác định rõ ràng tại Trung Đông và giữa cộng đồng Hồi giáo.

Một báo cáo của tạp chí Sudestada (Argentina) chỉ ra rằng tại thời điểm đó, Blackwater đã đặt những bước chân đầu tiên vào công việc kinh doanh an ninh cá nhân, sẵn sàng cung ứng cho Washington những đội quân mà trong chiến dịch năm 2001 tại Afghanistan và chiến dịch năm 2003 tại Iraq đã trở thành một lực lượng đánh thuê với quân số tương đương lực lượng chính quy của Mỹ đóng quân trên lãnh thổ Iraq.

Nhưng Prince, cựu thành viên đặc nhiệm SEAL với quan điểm bảo thủ cực đoan và là nhà tài trợ cho các nhóm thiểu số Tin lành cực đoan, không nghĩ tới doanh nghiệp của mình chỉ là một lực lượng thuần túy hậu thuẫn các cuộc chiếm đóng của Mỹ tại các khu vực khác trên thế giới, mà ngay tại chính nước Mỹ, cụ thể là tại đầm lầy Moyock, bang Bắc Carolina, ông đã lập ra cơ sở quân sự tư nhân lớn nhất thế giới, với tổng diện tích lên tới 2800 ha.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

Trung tâm phân tích chiến lược Mỹ Latinh

TLTKĐB – 05/06/2019

Lý do Trung Quốc giận dữ với Canada, chứ không phải Mỹ, liên quan vụ Huawei


Theo các nhà phân tích, liên quan tới vụ việc một giám đốc cấp cao của Huawei bị bắt giữ, Trung Quốc đã quyết định gây chiến với Canada do nước này không muốn gia tăng đối đầu với Mỹ trong bối cảnh các cuộc đàm phán nhằm giải quyết cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung vẫn đang diễn ra.

Bắc Kinh hiện đang tăng cường sức ép với Canada nhằm buộc nước này phải thả bà Mạnh Vãn Chu, Giám đốc tài chính của Huawei, đồng thời là con gái của Nhậm Chính Phi – người sáng lập tập đoàn viễn thông khổng lồ này.

Tối 8/12, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lạc Ngọc Thành (Le Yucheng) đã triệu tập Đại sứ Canada tại Bắc Kinh, ông John McCallum để gửi thông điệp “phản đối mạnh mẽ” và chính thức yêu cầu ngay lập tức thả bà Mạnh Vãn Chu.

Truyền thông chính thức của Trung Quốc, gồm Tân Hoa Xã Nhân dân Nhật báo là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản cũng như Thời báo Hoàn cầu, một tờ báo nhỏ do nhà nước hậu thuẫn, đều đồng loạt lên án việc Canada bắt giữ bà Mạnh Vãn Chu, và cho rằng “những hậu quả nghiêm trọng” có thể xảy ra nếu bà này không được trả tự do.

Tối 9/12, Trung Quốc cũng đã triệu tập Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh là Terry Branstad để gửi thông điệp “phản đối mạnh mẽ” vụ việc nói trên. Bộ Ngoại giao Trung Quốc yêu cầu Mỹ rút lệnh bắt giữ bà Mạnh Vãn Chu song không hề đề cập tới “những hậu quả nghiêm trọng” như đã làm với phía Canada. Thay vào đó, theo một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Lạc Ngọc Thành đã nói với ông Branstad rằng “Trung Quốc sẽ có những hành động tiếp theo tùy vào hành động của Mỹ”.

Một tòa án quận ở New York đã yêu cầu các nhà chức trách Canada cần phải bắt giữ và dẫn độ bà Mạnh Vãn Chu, người bị cáo buộc che giấu những mối quan hệ của Huawei với một công ty cung cấp thiết bị cho Iran – động thái vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran.

Bà Mạnh Vãn Chu bị bắt ngày 1/12, đúng thời điểm Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau tại Argentina. Wang Yiwei, giáo sư chuyên ngành quan hệ quốc tế tại trường Đại học Nhân dân Trung Quốc, nhận định rằng một phe phái trong Chính phủ Mỹ đã gây ra vụ việc này nhằm phá hoại các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc. Theo ông Wang, sẽ thật thiếu khôn ngoan nếu Trung Quốc để vụ bắt giữ này gây tổn hại tới thỏa thuận “đình chiến” thương mại trong 90 ngày mà hai nhà lãnh đạo hai nước vừa đạt được nhằm có thêm thời gian  để đi tới một thỏa thuận cuối cùng. Ông nói: “Chúng ta cần phải nhìn vào bức tranh lớn và biết được đâu là ưu tiên hàng đầu của chúng ta. Các cuộc đàm phán thương mại đã được lãnh đạo hai nước nhất trí không nên bị gián đoạn”.

Bộ Ngoại giao và Bộ Thương mại Trung Quốc hiện vẫn chưa đề cập tới mối quan hệ giữa việc bà Mạnh Vãn Chu bị bắt và các cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung.

Trái ngược với những cảnh báo và đe dọa trực tiếp nhằm vào Canada, Bắc Kinh lại tỏ ra tích cực và đặt hy vọng và các cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung. Chen Fengying, một nhà nghiên cứu cấp cao của Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, nói rằng vụ việc của bà Mạnh Vãn Chu không liên quan đến các cuộc đàm phán thương mại Mỹ – Trung, vì cách tốt hơn là giải quyết vấn đề này “thông qua các kênh ngoại giao”. Theo nhà nghiên cứu này, Bắc Kinh không nên “làm phức tạp các vấn đề kinh tế”, và đưa ra lập luận rằng nếu vấn đề bắt giữ giám đốc tài chính của Huawei được thêm vào chương trình nghị sự của các cuộc đàm phán thương mại thì vấn đề này có thể sẽ trở thành cái cớ để gây sức ép nhằm buộc Bắc Kinh phải nhượng bộ.

Ngày 9/12, Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer phát biểu rằng các cuộc đàm phán Mỹ – Trung không nên bị tác động bởi vụ bắt giữ bà Mạnh Vãn Chu. Ông nói trong chương trình Đối mặt với Quốc gia (Face the Nation) trên kênh CBS rằng “Đây là một vấn đề tư pháp. Nó hoàn toàn không liên quan gì tới những việc tôi đang làm hay những người hoạch định chính sách thương mại trong chính quyền đang làm”.

Trong khi đó, Bắc Kinh tiếp tục gây sức ép với Canada. Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 9/12 có đoạn: “Nếu Canada định lấy lòng Mỹ bằng cách đối xử không công bằng với bà Mạnh Vãn Chu, thì điều này sẽ chẳng phục vụ gì cho lợi ích quốc gia của Canada. Trong trường hợp bà Mạnh Vãn Chu bị từ chối cho bảo lãnh tại ngoại và bị dẫn độ về Mỹ, Canada sẽ chỉ nhận được chút ít lòng biết ơn từ phía Mỹ, song phải đối mặt với sự phản đối gay gắt từ Trung Quốc. Người dân Trung Quốc sẽ coi trọng việc này và sẽ yêu cầu chính phủ áp đặt những biện pháp trừng phạt mạnh đối với Canada. Lợi ích của Canada chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nếu quan hệ Trung Quốc – Canada có nguy cơ trở nên căng thẳng”.

Một tòa án của Canada hiện đang tiến hành một phiên xét xử về việc liệu bà Mạnh Vãn Chu có được bảo lãnh tại ngoại hay không. Thời báo Hoàn cầu nói rằng việc đầu tiên tòa án này nên làm là cho bà Mạnh Vãn Chu được bảo lãnh tại ngoại và thậm chí là “trả tự do hoàn toàn” cho bà.

Roland Paris, một cựu cố vấn chính sách đối ngoại của Thủ tướng Canada Justin Trudeau, lập luận rằng những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm buộc Ottawa phải nhượng bộ sẽ không thành công. Trên trang Twitter cá nhân, ông viết: “Có thể bởi vì nhà nước Trung Quốc kiểm soát hệ thống tòa án, cho nên đôi khi Bắc Kinh khó có thể hiểu hoặc tin rằng các tòa án có thể hoạt động độc lập tại một quốc gia tôn trọng các nguyên tắc luật pháp. Việc gây sức ép với chính phủ Canada sẽ chẳng có tác dụng gì. Các thẩm phán sẽ là người quyết định”.

Shi Yinhong, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Mỹ thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc và là một cố vấn của Quốc vụ viện – nội các của Trung Quốc – đánh giá rằng ít có khả năng Canada sẽ bị khuất phục trước sức ép của Bắc Kinh yêu cầu trả tự do cho bà Mạnh Vãn Chu. Ông nói: “Nếu Trung Quốc trả thù Canada, sẽ có một số ý kiến phàn nàn từ các nước phương Tây về việc tại sao Trung Quốc không có hành động nào chống lại Mỹ – nguồn gốc gây ra vấn đề này”.

Henry Chang Hing Lee, làm việc tại Viện Đông Á thuộc Đại học Quốc gia Singapore, nói rằng các nhóm bảo thủ của Mỹ sẽ lợi dụng vụ việc này và vấn đề an ninh quốc gia làm lý do để thúc đẩy quan điểm cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh, và những người theo chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc cũng sẽ hành động tương tự để ngăn chặn một thỏa thuận với Mỹ”. Ông nói: “Các nhà cầm quyền rất thận trọng trong việc giải quyết tình hình vô cùng phức tạp này. Vấn đề sẽ trở nên rắc rối hơn nếu tình hình bế tắc với Washington kéo dài”.

Nguồn: www.scmp.com

TKNB – 12/12/2018

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần cuối


Trong khi Điện Kremlin dường như không muốn cung cấp cho Venezuela các khoản vay mới – một dấu hiệu cho thấy tia hi vọng của nước này về sự phục hồi kinh tế đã tắt ngấm – thi khía cạnh địa chính trị trong mối quan hệ này đã trở nên có lợi hơn cho cả hai bên, ngay cả khi những lợi ích này vẫn tương đối hạn chế. Caracas rất cần có đồng minh. Chế độ Maduro đã quan trọng hóa sự hỗ trợ của Moskva khi khiến cho những tuyên bố của nước này về các khoản đầu tư mới và những sự cải thiện về kinh tế – xã hội trở nên đáng tin. Đối với Điện Kremlin, mối quan hệ này phù hợp với câu chuyện kể của họ về việc chống lại bá quyền của Mỹ. Nó cũng cho phép Nga thể hiện mình như một cường quốc quân sự toàn cầu sẵn sàng bảo vệ các đồng minh chống lại các mối đe dọa của Mỹ, cả thực tế và tưởng tượng – mặc dù trong trường hợp của Caracas, rất có thể đây là những mối đe dọa có thực.

Một ví dụ rõ nét cho những dấu hiệu này là chuyến thăm vào tháng 12/2018 của 2 chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolev-160 của Nga, thu hút các tiêu đề báo trên toàn thế giới. Tuy nhiên, so sánh với các khoản vay mới, động thái này thể hiện một tín hiệu ủng hộ ít tốn kém hơn và mờ nhạt hơn. Đây không phải lần đầu tiên Nga cho thấy những dấu hiệu như vậy. Tháng 9/2008, hai chiếc máy bay cùng loại đã tới Venezuela chỉ một tháng sau khi cuộc chiến tranh Nga – Gruzia làm suy yếu quan hệ Mỹ – Nga. Vào thời điểm đó, những sự thể hiện ít tốn kém nhưng mang ý nghãi biểu tượng cho sức mạnh vĩ đại của Nga rất phổ biến ở Điện Kremlin. Việc Bộ Quốc phòng Nga công bố đoạn băng ghi hình của chuyến bay gần đây nhất tới Venezuela cho thấy họ không chỉ lường trước, mà có lẽ còn muốn được đưa tin như vậy trên khắp toàn cầu.

Quả thực, những tin tức đầy khoa trương và hời hợt mà giới truyền thông phương Tây nói về mối quan hệ Nga – Venezuela là một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nó. Ngày 17/12/2018, tờ báo lá cải lớn nhất của Anh, tờ Daily Mail, đã chạy tiêu đề: “Nga công bố kế hoạch thành lập căn cứ quân sự đầu tiên tại Caribean – sự hiện diện lớn nhất của nước này trong khu vực kể từ Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962”. Moskva không hề làm điều đó. Ngày hôm sau, quan chức cấp cao của Venezuela là Diosdado Cabello đã bác bỏ tin này, mặc dù tờ Daily Mail không rút lại hay cập nhật. Lời bác bỏ của Cabello gần như không nhận được sự chú ý. Về bề ngoài, mối quan hệ Nga với Venezuela đã phục vụ tốt cho lợi ích của Điện Kremlin.

Mối quan hệ này không hoàn toàn giới hạn ở bề ngoài, cho dù nó có tác động rất ít tới địa chính trị Mỹ Latinh. Vào giữa những năm 2000, sự hỗ trợ của Nga đối với Venezuela đã mở ra cơ hội cho khu vực Mỹ Latinh khi chính phủ cánh tả ủng hộ nhà nước Bolivar lên nắm quyền, nhưng trong những năm gần đây, phần lớn các nhà lãnh đạo này đã mất đi quyền lực.

Tuy nhiên, Sechin đã mở ra một cách cửa mới trong năm 2017 khi ông mua số cổ phần lớn của nhà máy lọc dầu Essar của Ấn Độ, sau đó đổi tên thành Nayara. Nayara là một trong những bên lớn nhất mua dầu thô của Venezuela, cũng như bên mua dầu đáng kể của Iran. Thỏa thuận này chủ yếu nhằm bảo vệ các lợi ích của Rosneft tại Venezuela, nhưng nó có một khía cạnh địa chính trị. Thương vụ của Sechin đã mang lại cho Rosneft tầm ảnh hưởng đối với nguồn cung dầu của Ấn Độ, và do đó ảnh hưởng tới sự sẵn sàng của nước này trong việc chống lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Quyền lưu giữ đối với Citgo mang lại cho Rosneft cổ phần của nhà máy lọc dầu này của Mỹ trong tương lai, ngay cả khi các chính trị gia hàng đầu của Mỹ thề sẽ ngăn Rosneft nắm giữ số cổ phần đó. Hiện Nga có vị thế để thảo luận về bất kỳ hành động nào nhằm tái cơ cấu các khoản nợ của Venezuela, ngay cả nếu chính phủ Bolivar cuối cùng cũng sụp đổ. Khả năng của Rosneft gây thêm nhiều rắc rối cho Citgo sẽ giúp họ bảo đảm các tài sản năng lượng mà họ đã nhận được từ chế độ của Chávez và Maduro. Washington chắc chắn sẽ ưu tiên tương lai của Citgo hơn là lợi ích của Rosneft tại Venezuela.

Khía cạnh địa chính trị cuối cùng trong mối quan hệ của Nga với Venezuela là việc song trùng lợi ích với Trung Quốc. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, tam giác địa chính trị này có thể suy yếu khi Caracas tiếp tục đi xuống và những nghi ngờ nổi lên về việc liệu họ có thể tiếp tục trả nợ cho cả Moskva và Bắc Kinh hay không. Trái ngược với chuyến thăm vô ích của Maduro tới Moskva vào tháng 12/2018, Tổng thống Venezuela đã giành được khoản vay 5 tỷ USD từ Bắc Kinh sau chuyến thăm của ông vào tháng 9/2018. Trong khi giới truyền thông phương Tây ít đưa tin một cách cường điệu hóa về mối quan hệ Venezuela – Trung Quốc, Bắc Kinh – trước đây vốn đã giảm mức rủi ro tín dụng của họ đối với Caracas – dường như đã sẵn sàng tiếp tục cho vay hơn so với Moskva. Số phận của nhà nước Venezuela và ngành dầu mỏ của họ do đó có thể là một bài kiểm tra sớm đối với Nga và liên minh thực tế gần đây với Trung Quốc.

Một tương lai u ám

Sức ép ngày càng tăng xung quanh mối quan hệ giữa Nga và Venezuela tạo ra ảo tưởng về một liên minh thịnh vượng. Trong khi gần đây đã có nhiều diễn tiến, nhưng đây là kết quả của những nỗ lực mang tính cứu vãn. Đó là, cùng với Trung Quốc và các bên nắm giữ trái phiếu năm 2020 của PDVSA, Nga là một trong số ít chủ nợ mà chế độ Venezuela đã cố gắng duy trì tới nay. Nhưng rõ ràng là mối quan hệ này đang phải đối mặt với các thách thức – từ những thỏa thuận mua bán vũ khí bị tham nhũng gây tổn hại và các kho bạc bị phá sản của Caracas cho đến sự cộng tác thất bại của Evrofinance Mosnarbank và nguy cơ Rosneft sẽ không nhận được số dầu được cam kết đúng hạn. Những thách thức này không mới, nhưng chúng cho thấy các nỗ lực của Nga nhằm duy trì hoạt động kinh doanh sinh lời ở Venezuela đã không thể đạt được các mục tiêu của chúng.

Eric Farnsworth, Phó chủ tịch Hội đồng các quốc gia châu Mỹ, gần đây đã nói với tờ Whasington Post rằng “việc thiết lập một tiền đồn chính trị ở Tây bán cầu sẽ mang lại một chiến thắng chiến lược (cho Nga)… nếu họ chỉ mất vài tỷ USD, điều đó có thể vẫn chấp nhận được”. Nhưung về mặt địa chính trị, quan hệ này chỉ dừng lại ở bề ngoài, và Moskva vẫn có nguy cơ thua Bắc Kinh nếu Trung Quốc sẵn sàng cung cấp cho chế độ Venezuela các khoản vay trong khi Mosva đã không còn hào phóng. Moskva đã áp dụng một chiến lược – như được minh chứng trong quyền lưu giữ đối với Citgo – nhằm mục tiêu bảo vệ các lợi ích của Nga ngay cả nếu chế độ Maduro sụp đổ. Điều này không đảm bảo sẽ thành công; Nga có thể sẵn sàng chi vài tỷ USD để bảo đảm một tiền đồn chiến lược, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng họ đã thành công trong việc này. Chừng nào Caracas vẫn còn vận chuyển dầu và Rosneft vẫn còn quyền kiểm soát đối với các tài sản của họ ở Venezuela, thì mối quan hệ này sẽ mang lại điều tích cực thực sự cho Rosneft – ngay cả nếu các mối quan hệ cộng tác kinh doanh khác không thể mang lại lợi nhuận như dự định. Các lợi ích địa chính trị vẫn sẽ chỉ dừng lại ở bề ngoài trừ phi Moskva tăng cường cam kết của họ đối với Caracas như đã làm với chế độ Syria.

Những tuyên bố rằng Nga sẽ xây dựng một căn cứ tại Venezuela cùng lắm chỉ nên coi là ảo tưởng. Trong khi tin đồn về một căn cứ của Nga có thể lan nhanh khi Washington tăng cường giọng điệu chống Maduro – và đặc biệt là nếu Washington công nhận quốc hội do phe đối lập kiểm soát là chính phủ hợp pháp duy nhất của Venezuela – thì Moskva vẫn gần như không hứng thú với dự án này. Những tin tức ban đầu về một căn cứ tiềm năng không đến từ các uqan chức Nga, mà từ tờ báo cánh tả Nezavisimaya Gazeta. Bài báo lưu ý rằng ý tưởng bắt đầu được lan truyền vào năm 2009 – thời điểm mà quan hệ Nga – Venezuela đang tốt đẹp nhất, các thỏa thuận kinh doanh mới thường xuyên được tiến hành, và quan hệ giữa Nga và phương Tây đã suy yếu sau cuộc chiến tranh của Nga với Gruzia vào tháng 8/2008 – bởi một vị tướng Nga, người mà ngay cả khi đó cũng cho rằng dự án này thiếu quyết tâm chính trị cần thiết.

Sau khi Mỹ công nhận nhà lãnh đạo phe đối lập của Venezuela, Juan Guaido, là tổng thống lâm thời vào ngày 23/1/2019, có thể Điện Kremlin đánh giá  sự ủng hộ quân sự này là phương pháp duy nhất để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga tại Venezuela không bị phá hỏng từ bên trong. Hãng tin Reuters nhanh chóng đưa tin rằng một nhóm quân đội bí ẩn của Nga có lẽ đã được triển khai tới Venezuela để bảo vệ chế độ Maduro, mặc dù đại sứ Nga đã bác bỏ thông tin này. Tình trạng tham nhũng, các khoản đầu tư thất bại, và những lợi ích địa chính trị hạn chế đồng nghĩa với việc Điện Kremlin rõ ràng đã không còn sẵn sàng ném tiềm vào nhà nước đang sụp đổ này. Đặc biệt, Sechin có thể đang thúc đẩy một đường hướng lạc quan, nhưng ngay cả Rosneft cũng không sẵn sàng gia hạn mức tín dụng mới cho Maduro, và như đã lưu ý trước đó, ông phải bay tới Venezuela vào tháng 11/2018 để gây sức ép buộc chế độ này phải tăng cường nỗ lực nhằm tôn trọng các cam kết cũ. Một giải pháp tại Venezuela để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga, đặc biệt là của Rosneft, có thể hấp dẫn ngay cả nếu Nga phải tiếp tục giữ Caracas làm một đồng minh chính trị; ít nhất một nguồn tin theo phe cực hữu của Nga cũng bóng gió rằng đây có thể là một con đường tiềm năng để tiến về phía trước.

Kết quả của các cuộc phiêu lưu của Nga tại Venezuela có thể tác động tới tương ai của chính Igor Sechin xét tới sự gắn bó mật thiết của ông với nỗ lực này. Cho đến nay, ông đã hành động mà không bị trừng phạt, nhưng chuyến thăm của Storchak và việc chấm dứt các khảon cho vay mới đã làm dấy lên khả năng rằng ngay cả Sechin cũng có thể buộc phải ngừng hoạt động có thể gây thiệt hại cho Nga. Tất nhiên, tác động của chính sách của Nga đối với Venezuela sẽ không chỉ giới hạn trong không gian hoạt động của Điện Kremlin. Nó vốn đã có tác động đáng kể đến ngành dầu mỏ, và các vụ kiện sau đó từ phía các chủ nợ của Venezuela và PDVSA có thể sẽ diễn ra trong sự không chắc chắn về tương lai của Citgo. Cuối cùng, Venezuela sẽ cần phải dàn xếp với các chủ nợ và các đối tác quốc tế khác của họ. Nga sẽ có một vị thế và sẽ ưu tiên bảo vệ các lợi ích kinh tế trong tương lai ngay cả nếu các bên liên quan khác khiến cho Sechin không còn có mong muốn hay đủ khả năng chấp nhận những rủi ro này. Nhưng chắc chắn vẫn còn quá sớm để gọi cuộc phiêu lưu của Điện Kremlin tại Venezuela là một lợi ích địa chính trị. Mà ngược lại, đó là một rủi ro về kinh tế.

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần III


Quan hệ Rosneft – PDVSA không phải chỉ trải đầy hoa hồng

Rosneft, như được nhiều người biết đến, cho đến nay đã xoay xở để tránh được những tổn thất khổng lồ có liên quan đến tham nhũng. Vai trò của nó trong nền kinh tế Venezuela và mối liên hệ của nó với PDVSA đơn giản là đã ăn quá sâu dẫn đến những “trò bịp bợm” như đã thấy trong các vụ bê bối của Kalashnikov và Gazprombank. Rosneft sở hữu khoảng 26 – 40% cổ phần trong một số mỏ dầu lớn ở Venezuela. Công ty này cũng nắm giữ 40% cổ phần trong nhà máy nâng cấp dầu thô Petromonagas, cho phép Venezuela pha loãng dầu thô siêu nặng làm tăng lượng sản phẩm xuất khẩu thêm 150.000 thùng/ngày. Cơ chế điều tiết này chính là chìa khóa vì Venezuela chỉ sản xuất 1,46 triệu thùng/ngày vào cuối năm 2018. Rosneft tiếp tục công bố các thỏa thuận mới với PDVSA bất chấp những thách thức của công ty này. Tháng 11/2016, chỉ 1 tháng sau khi PDVSA cơ cấu lại trái phiếu trị giá hàng tỷ USD của họ trong năm 2017 để đổi lấy trái phiếu năm 2020, Rosneft đã cho PDVSA vay 1,5 tỷ USD. Để thế chấp, tập đoàn dầu mỏ lớn của Nga đã nhận 49,9% cổ phần của công ty năng lượng – dầu khí Citgo của Mỹ (Citgo sở hữu 3 nhà máy lọc dầu lớn và một số đường ống dẫn dầu quan trọng). Trái phiếu duy nhất mà Venezuela hiện còn giữ kể từ tái cơ cấu là trái phiếu năm 2020 của PDVSA, mà các trái chủ chỉ đồng ý nhận sau khi được trao quyền lưu giữ hơn 50,1% của Citgo. PDVSA tiếp tục thanh toán cho trái phiếu này vì tầm quan trọng của Citgo vừa là điểm đến cho hàng xuất khẩu vừa là nguồn dầu thô nhẹ hơn để pha trộn với dầu thô nặng của Venezuela. Sự chênh lệch về giá đối với các khoản cho vay được Citog bảo đảm này – Rosneft phải trả 1,5 tỷ USD để có quyền lưu giữ, chỉ hơn một nửa số trái phiếu trị giá 2,8 tỷ USD được tái cơ cấu thành trái phiếu năm 2020 – cho thấy mối quan hệ giữa hai bên sâu sắc đến mức nào.

Tất nhiên, mối quan hệ này không phải là không có vấn đề. Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đã tác động đến cả Rosneft lẫn PDVSA, mặc dù những biện pháp áp đặt cho PDVSA thì hạn chế hơn. Rosneft phải chịu cái gọi là “biện pháp trừng phạt theo ngành”, điều không cho phép công ty này tìm kiếm nguồn tài trợ lớn từ các thị trường phương Tây và cấm Mỹ hỗ trợ cho các kế hoạch ở nước ngoài và kế hoạch khai thác dầu bằng công nghệ thủy lực. Cơ chế trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela thì mới hơn, nhưng thậm chí còn nhức nhối hơn. Venezuela không được phép tìm kiếm nguồn vốn ở các thị trường phương Tây và hầu hết giới tinh hoa chính trị và kinh tế nước này đều có tên trong danh sách đen. Trong khi điều này trong một chừng mực nào đó đã đẩy Caracas và Moskva lại gần nhau hơn, nó vẫn không ngừng khiến cả hai nước đau đầu. Chẳng hạn, các kế hoạch sửa chữa nhà máy nâng cấp dầu Petromonagas đã liên tục bị trì hoãn trong suốt năm 2018 khi các lệnh trừng phạt cản trở việc vận chuyển linh kiện thay thế.

Một thách thức còn lớn hơn nhiều đối với mối quan hệ này là sự đổ vỡ của nhà nước Venezuela. Ngành sản xuất dầu mỏ – cụ thể là sản lượng của PDVSA – đã sụp đổ trong những năm gần đây, trong khi các cá nhân cướp bóc và phá hoại các cơ sở của PDVSA. Sau khi phe đối lập giành quyền kiểm soát Quốc hội Venezuela vào tháng 12/2015, Tổng thống Nicolás Maduro đã thay thế cơ quan này bằng một “quốc hội lập hiến” mới và hướng dẫn họ soạn thảo một bộ hiến pháp mới. Động thái này đã đẩy Venezuela rơi vào tình trạng hỗn loạn đang diễn ra. Với tình trạng bất ổn lan rộng và một cuộc khủng hoảng người tị nạn chưa từng có trong lịch sử Nam Mỹ hiện đại, tình hình này có thể sẽ không được cải thiện trong tương lai gần.

Tháng 11/2017, Phó chủ tịch Rosneft Pavel Fedorov tuyên bố công ty này không có kế hoạch cho Venezuela vay thêm nữa. Báo cáo tài chính quý I năm 2018 của Rosneft nêu chi tiết các khoản thanh toán từ PDVSA, một nỗ lực nhằm xoa dịu sự lo ngại của các nhà đầu tư và các chủ nợ về các khoản nợ của chính Rosneft, vốn đã mở rộng đáng kể trong năm 2017.

Tuy nhiên, chỉ một tháng sau, PDVSA và Rosneft đã kín đáo nhất trí một “kế hoạch khắc phục” để điều chỉnh thỏa thuận “đổi khoản cho vay lấy dầu” sau khi PDVSA không thể duy trì việc vận chuyển dầu thô. Thậm chí thỏa thuận này cũng bị phá vỡ khi thiệt hại đối với cảng xuất khẩu dầu chính của Venezuela, Jose, cũng cản trở việc giao hàng tới Rosneft. Các báo cáo hàng quý của Rosneft do đó phản ảnh các khảon thanh toán từ PDVSA giảm từ 600 triệu USD torng quý I/2018 xuống còn 400 triệu USD trong quý II, trước khi tăng lên 500 triệu USD vào quý III. Những con số này không phản ánh đúng lời khẳng định của Sechin vào tháng 1/2018 rằng “không có rủi ro đáng kể” trong các giao dịch kinh doanh của Rosneft ở Venezuela.

Các diễn biến kể từ khi đó đã cho thấy mối quan ngại về những rủi ro như vậy chắc chắn tồn tại trong giới lãnh đạo Rosneft. Giữa tháng 11/2018, Sechin đã bất ngờ tới thăm Caracas để thảo luận về những lần chậm thanh toán. Có tin cho biết ông đã mang đến những tài liệu cho thấy PDVSA đang trả nợ cho Trung Quốc theo đúng lịch trình, nhưng với Rosneft thì không. Trung Quốc sẵn sàng tham gia các cuộc giao hàng giữa các tàu mạo hiểm hơn để tránh những thách thức tại cảng Venezuela, nhưng sản lượng suy giảm và cuộc khủng hoảng chính trị đang diễn ra tại Venezuela đồng nghĩa với việc nước này sẽ không thể duy trì thanh toán đúng hạn cho cả Trung Quốc và Nga trong những năm sắp tới.

Cuối cùng, đáng lưu ý là một số phe phái ở Điện Kremlin đã bắt đầu phản đối chiến lược của Nga đối với Venezuela. Chẳng hạn. Bộ Tài chính đã nhiều lần bác bỏ tuyên bố của Caracas rằng các dàn xếp giữa hai nước có thể chuyển sang dùng đồng “Petro”, đồng tiền “ảo” được mã hóa của Venezuela. Gần đây nhất, vào tháng 10/2018, Thứ tưởng Bộ Tài chính Nga Sergei Storchak đã tới thăm Venezuela và từ chối yêu cầu của Caracas về việc có một đại diện thường trực của Bộ Tài chính Nga tại thủ đô của Venezuela.

Sự xuất hiện của Storchak ở đây cũng đáng lưu ý. Trong năm 2017 – 2018, Storchak – một đồng minh của cố vấn kinh tế tự do thân cận nhất của Putin, Alexey Kudrin – đã phải ở 11 tháng trong tù vì cáo buộc tham nhũng. Nhiều người đồn đoán rằng Sechin cũng nhúng tay vào vụ bắt giữ Storchak, trong khi Kurdin tán thành việc trả tự do cho Storchak. Căng thẳng giữa các đồng minh của Kudrin và Sechin vẫn tiếp diễn cho tới hiện nay.

Ngay cả nếu chuyến đi của Storchak cho thấy nhiều người khác đang sẵn sàng chống lại chiến lược của Sechin ở Venezuela, thì CEO của Rosneft rõ ràng vẫn có nhiều quyền hành hơn so với hồi năm 2007 – 2008. Trong năm 2016, Bộ trưởng Kinh tế khi đó là Alexei Ulyukayev – một đồng minh khác của Kudrin  bị bắt giữ vì tội tham nhũng, điều mà nhiều người cho là ông bị vu khống. Ulyukayev bị buộc tội đòi hối lộ từ Sechin, bề ngoài là để ủng hộ Rosneft tiếp quản một công ty dầu khí khác mà Ulyukayev đã công khai chỉ trích. Khi Ulyukayev bị kết án 8 năm tù vào tháng 12/2017, Kudrin đã lớn tiếng cho rằng phán quyết này là một “bản án khủng khiếp và vô lý”, cảnh báo rằng “nhiều người hiện đang phải đối mặt với sự bất công như vậy”. Bất chấp những tổn thất do nạn tham nhũng gây ra và sự sụp đổ của ngành công nghiệp Venezuela, vòng kìm kẹp của Sechin đối với chính sách của Nga về Venezuela có khả năng vẫn duy trì vững chắc ngay cả khi nhiều người khác rõ ràng tỏ ra quan ngại.

Địa chính trị hạn chế

Như Sechin vẫn công khai tỏ ra thờ ơ trước nguy cơ của các khoản thanh toán trước của PDVSA, ông khẳng định rằng các hành động của Rosneft không chịu tác động của địa chính trị. Sechin giải thích: “Đó chỉ là kinh doanh, và là một ngành kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận”. Cùng lắm thì điều đó chỉ đúng phần nào. Mối quan hệ này đúng là có một khía cạnh địa chính trị liên quan đến quan hệ của Nga với Ấn Độ, Trung Quốc và Mỹ. Nhưng địa chính trị xuất phát từ quan hệ kinh doanh. Khi cuộc khủng hoảng và tình trạng vỡ nợ của Venezuela đã nêu bật những rủi ro của mối quan hệ với chế độ Maduro, khía cạnh địa chính trị đã giành được nhiều sự quan tâm. Đổi lại, nó làm chệch hướng sự chú ý ra khỏi tình trạng kinh doanh yếu kém.

Kể từ khoản nợ năm 2016 của Rosneft do Citgo bảo đảm, Nga đã ngừng cho Venezuela vay tiền bất chấp những yêu cần khẩn thiết từ Caracas. Tháng 12/2018, Maduro đã tới Moskva và khoe khoang về các khoản đầu tư mới trị giá 6 tỷ USD vào lĩnh vực dầu mỏ và khai khoáng của Venezuela. Ông cũng đề xuất với Nga một thỏa thuận cung cấp cho Venezuela 600.000 tấn ngũ cốc trong năm 2019. Tuy nhiên, sau đó không có tuyên bố nào như vậy từ phía Nga, và các quan chức Nga giấu tên đã bày tỏ nghi ngờ về tuyên bố của Maduro trên tờ Financial Times ngay sau đó. Đại sứ Nga tại Venezuela là Vladimir Zaemsky sau đó tuyên bố Nga vốn đã chuyển 600.000 tấn ngũ cốc cho Venezuela trong năm 2018. Ông khẳng định các thảo thuận khai thác vàng mới đã được đề xuất, nhưng không được nhất trí thông qua. Vì thế các tuyên bố của Maduro tại Moskva chỉ là một nỗ lực “bình cũ rượu mới”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần II


Evrofinance Mosnarbank có trụ sở đặt tại Nga – trong đó 50,1% cổ phần do các ngân hàng nhà nước của Nga là VTB và Gazprombank nắm giữ, phần còn lại thuộc sở hữu của FONDEN, quỹ phát triển quốc gia Venezuela – đã trở thành công cụ phục vụ cho nỗ lực chính sách này. Năm 2011, ngân hàng này đã trở thành nhà bảo trợ lớn nhất cho trái phiếu của Venezuela, đạt doanh thu 3,6 tỷ USD, tăng từ con số 0 trong năm 2010. Các chiến lược của Sechin dường như là thành công nối tiếp thành công.

Sechin cũng ủng hộ bản chất bài xích phương Tây của Chính phủ Venezuela, mặc dù thu nhập quá cao của chính ông khiến nhiều người nghi ngờ về ý tưởng rằng ông cũng có khuynh hướng xã hội chủ nghĩa như chính phủ này. Tuy nhiên, trong bài tán dương năm 2014 – phát biểu bằng tiếng Tây Ban Nha – đối với người sáng lập ra nhà nước Venezuela hiện đại, Sechin đã khen ngợi Hugo Chávez là một chính trị gia xuất chúng, một trong những người sáng lập nên ý tưởng về thế giới đa cực”. Ông so sánh tầm quan trọng của Chávez với nhà lãnh đạo độc lập Mỹ Latinh Simon Bolivar và kết thúc bằng câu nói nổi tiếng của Che Guevara: “hasta la victoria, siemprél” (Hẹn ngày toàn thắng!) để nhấn mạnh thêm.

Ngược lại với Sechin, Bộ Ngoại giao Nga dường như ít lên tiếng về mối quan hệ này. Ngoại trưởng Sergei Lavrov hiếm khi bình luận về Venezuela. Các chuyên gia từ Viện các vấn đề Mỹ Latinh thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga được yêu cầu đưa ra bình luận cho giới truyền thông nhà nước, nhưng dường như họ không được chú ý đến. Khi Rusoro, một công ty khai khoáng Canada với cái tên cho thấy nguồn gốc Nga của nó, vướng vào một tranh chấp trọng tài trị giá hàng tỷ USD với Caracas, Điện Kremlin dường như đã giữ khoảng cách. Thị trường tài chính Venezuela sụp đổ vào giữa năm 2017, và mặc dù Điện Kremlin đã tái cơ cấu một số khoản nợ của Venezuela vào tháng 11/2017, nhưng gần một năm đã trôi qua trước khi một phái đoàn của Bộ Tài chính Nga tới thăm nước này. Chuyến thăm đó, cùng với các diễn biến khác gần đây, cho thấy những nhân tố mới có thể đang giành được tiếng nói trong mối quan hệ Nga – Venezuela.

Sechin, người cũng đang phải chịu các biện pháp trừng phạt của Mỹ, có thể sẽ hoan nghênh việc Evrofinance Mosnarbank cuối cùng cũng trở thành một công cụ để tránh né các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Venezuela. Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh thực sự của ngân hàng này không sinh lợi trong một khoảng thời gian, khi Venezuela không có đợt phát hành trái phiếu nào mới để bảo lãnh hay các dự án chung để cấp vốn. Ngân hàng này hẳn đã có thể hỗ trợ cho sự phát triển của hai mỏ khí đốt ngoài khơi của Venezuela mà Rosneft được tặng thưởng – có vẻ không mất phí – vào tháng 12/2017, nhưng dường như không có hoạt động này diễn ra trong dự án này.

Tháng 11/2018, giám đốc điều hành ngân hàng VTB Andrei Kostin tuyên bố VTB sẽ bán cổ phần của mình trong Evrofinance Mosnarbank. Kostin nói Chính phủ Nga trước đây đã đề nghị mua số cổ phần này, nhưng sau đó đã đổi ý. Đây chắc chắn không phải mối quan hệ kinh doanh duy nhất giữa Nga và Venezuela tuột khỏi đỉnh cao một thời của họ.

Các tuyên bố về tình trạng tham nhũng

Sự sụp đổ của nền kinh tế Venezuela đã dẫn đến một loạt tiết lộ về việc nạn tham nhũng đã lan tràn đến mức nào tại đất nước này. Quả thực, lợi ích của Nga ở Venezuela đã bị ảnh hưởng. Mặc dù một số vụ bê bối tham nhũng đã cho thấy các dự án kinh doanh của Nga tại Venezuela, ngàoi các thỏa thuận của Rosneft, thường chỉ là phương tiện để các quan chức tích trữ tiền của nhà nước tại các tài khoản ngân hàng của Thụy Sĩ và Andorra.

Tháng 10/2018, cựu giám đốc tài chính của PDVSA, ông Abraham Edgardo Ortega, đã nhận tội tại tòa án Miami trước những cáo buộc rằng ông đã nhận hối lộ và có âm mưu rửa tiền từ PDVSA. Gazprombank trả cho một trong những khoản hối lộ này, với bề ngoài là ngân hàng được chọn cấp vốn cho dự án liên doanh với Petrozamora, trong đó Gazprombank nắm giữ 40% và PDVSA nắm 60% còn lại. Một cuộc điều tra kéo dài một năm trời được tiến hành bởi trang mạng Infodio vốn tập trung vào Venezuela tiết lộ hàng trăm triệu USD đã bị “đánh tráo” giữa Gazprombank và PDVSA thông qua một dự án liên doanh với một thực thể Venezuela có tên gọi Hiệp hội Derwick.

Derwick và Gazprombank là đối tác của Petrozamora, mặc dù sự tham gia của Derwick rất mờ nhạt. Tháng 11/2013, Gazprombank đã trực tiếp cho dự án này vay 1 tỷ USD, trả cho dầu mỏ trước khi được vận chuyển, theo một cấu trúc được gọi là khoản vay thanh toán trước. Chỉ 5 năm sau, trang mạng infodio và một trang tin tức của Brazil là Estadão đã phát hiện đó thực ra chỉ là một khoản hối lộ. Theo infodio, các giám đốc của Derwick thu lợi với số tiền gần 800 triệu USD. Đối với Gazprombank, nguồn tin cho biết kế hoạch rửa tiền này phần nào đã thúc đẩy cơ quan điều tiết tài chính Thụy Sĩ FINMA ra quyết định vào tháng 2/2018 về việc cấm Gazprombank tiếp nhận khách hàng tư nhân mới. Nhưng điều này chỉ bắt đầu chạm tới bề nổi của bản chất đáng ngờ trong mối quan hệ giữa Gazprombank và Petrozamora.

Một tài liệu được PDVSA trình lên Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch Mỹ (SEC) trong năm 2016 tiết lộ rằng khoản vay 1 tỷ USD ban đầu được tiếp nối bằng một khoản vay lớn khác chỉ một tháng sau đó. Khoản vay thứ hai, được cấp vào tháng 12/2013, đến từ công ty con GPB Global Resources, một nhánh của Gazprombank. Thông qua GPB, Gazprombank đã cho Petrozamora vay một khoản 250 triệu USD khác và sẽ hoàn trả bằng dầu, với khả năng gia tăng mức trả trước lên 1 tỷ USD. PDVSA báo cáo với SEC rằng tính đến cuối năm 2015, khảon vay của GPB vẫn còn tồn đọng 73 triệu USD. Ngôn ngữ của báo cáo này cho thấy rõ rằng việc tăng thêm các khoản trả trước để mua dầu mỏ được thực hiện trong năm 2015 đã vượt quá 250 triệu USD ban đầu. Sau đó, trong quý III năm 2016, Gazprombank đã bán 83% cổ phần của GPB Global Resources với giá 249,4 triệu USD.

Không rõ bên nào đã mua lại GPB. Nhưng rõ ràng là người trong cuộc đã hưởng lợi; một tài liệu đăng trên trang mạng của GPB trong năm 2017 tiết lộ rằng GPB vẫn hoạt động tại những địa chỉ có liên quan tới Gazprombank ở Amsterdam, Moskva và Venezuela. Gazprombank đã chi 26,945 tỷ ruble, tương đương gần 450 triệu USD, cho Chính phủ Venezuela để xin cấp thêm giấy phép cho GPB chỉ 16 tháng trước khi GPB được bán. Những nỗ lực nhằm che đậy tình trạng của các khoản vay của họ và các bên liên quan đã củng cố mạnh mẽ những xác nhận rằng mối quan hệ giữa Gazprombank và Petrozamora có tham nhũng nặng nề.

Trong khi Infodio lập luận rằng các giám đốc của Derwick đã chuồn đi như những tên trộm, thì việc bán GPB cũng đồng nghĩa với số phận của khoản vay thứ hai sẽ biến mất khỏi sổ sách của Gazprombank. Tuy nhiên, ngay cả sự tham gia của một thực thể nhà nước của Nga cũng không đủ để bảo vệ kế hoạch này. Chính phủ Venezuela đã bắt giữ một số quan chức, trong đó có cựu Bộ trưởng Dầu khí Eulogio del Pino, về tội danh tham nhũng có liên quan đến Petrozamora vào tháng 11/2017. Ngoài các vụ bắt giữ này, lệnh trừng phạt hiếm hoi từ cơ quan điều tiết hoạt động ngân hàng của Thụy Sĩ và việc bán một lượng lớn cổ phần của GPB với mức giá thấp hơn nhiều so với những gì họ từng trả cho một phần tài sản của chính nó đã cho thấy rõ rằng mối quan hệ này không có lợi cho Gazprombank.

Một khía cạnh khác trong quan hệ Nga – Venezuela bị tham nhũng gây ảnh hưởng xấu là giao dịch vũ khí. Các thỏa thuận buôn bán vũ khí từng có giá trị lên tới 1 tỷ USD mỗi năm. Cơn sốt giao dịch ban đầu diễn ra trong giai đoạn 2005 – 2007, khi Điện Kremlin tuyên bố bán số vũ khí trị giá hơn 4,4 tỷ USD cho Caracas. Moskva sau đó tiếp tục cho vay 1 tỷ USD để mua thêm vũ khí vào năm 2008. Trong năm 2009, Chávez tuyên bố Nga tài trợ khoảng 2,2 tỷ USD cho hệ thống tên lửa S-300 và hàng chục xe tăng. Điện Kremlin sau đó nhất trí về một thỏa thuận đổi vũ khí lấy dầu trị giá 4 tỷ USD trong năm 2010.

Đương nhiên, phần lớn kho vũ khí hiện tại của Venezuela hiện có nguồn gốc từ Nga, mặc dù những con số này rõ ràng đã bị thổi phồng quá mức. Dù vậy – hay có lẽ là do đó – cuộc trao đổi này cũng khiến nhiều người trung gian và các quan chức trở nên tương đối giàu có. Có lẽ ví dụ rõ ràng nhất đã được tiết lộ qua một cuộc điều tra của cơ quan truyền thông Nga RBC vào tháng 8/2018. Các quan chức Nga bị cáo buộc đã ăn bớt hàng triệu USD từ một thỏa thuận trị giá 474 triệu USD để xây dựng Kalashnikov và các nhà máy sản xuất đạn dược có liên quan. Lần đầu được công bố vào năm 2009 với kế hoạch dự kiến mở cửa vào năm 2012, hiện các nhà máy này được cho là sẽ mở cửa hoạt động trong năm 2019, chậm hơn nhiều so với kế hoạch.

Theo trang tin tức Al Navio của Venezuela, doanh số từ năm 2012 đến năm 2015 từ Nga sang Venezuela chỉ đạt trên 1 tỷ USD. Mặc dù con số này vẫn chiếm 66% lượng giao dịch vũ khí của Caracas, nhưng rõ ràng giao dịch này không còn được chào đón. Kể từ năm 2014, Nga không có thương vụ bán vũ khí mới nào cho Venezuela.

Moskva đã thua lỗ trong giao dịch vũ khí với Venezuela, tháng 11/2017 đã nhất trí tái cơ cấu lại các khoản nợ chính thức của Venezuela trị giá khoảng 3,15 tỷ USD. Giới truyền thông nhà nước Nga và Venezuela đã đưa ra các tuyên bố gần giống nhau vào tháng 12/2017 rằng đã hoàn thành việc giao hàng theo các thỏa thuận này. Dường như khó có thể có các giao dịch mới.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019