Barkhane – sự thất bại của Pháp tại Mali – Phần cuối


Viện trợ phát triển

Từ năm 2017, lực lượng vũ trang Pháp cũng phải làm quen với một nhân vật mới tại Điện Elysée: Emmanuel Macron. Tổng thống Pháp không còn coi vấn đề loại bỏ các chiến binh Hồi giáo là giải pháp hiệu quả cho xung đột tại Mali. Chính trong hoàn cảnh đó, đã xuất hiện ý tưởng kết nối chặt chẽ Cơ quan phát triển Pháp (AFD) với các hoạt động của chiến dịch Barkhane. Rémy Rioux, Tổng giám đốc AFD, là người thân cận với Tổng thống Macron. Kết hôn với em gái của một sĩ quan lục quân, Rioux có một ưu điểm mà Chính phủ Macron không thể bỏ qua: Ông là một nhà hoạt động nhân đạo có thái độ thân thiện với hoạt động quân sự.

Từ năm 2018, một cố vấn AFD đã được biệt phái thường trực cho chiến dịch Barkhane, nhằm hỗ trợ tối đa mọi hoạt động đảm bảo an ninh của quân đội Pháp thông qua một dự án phát triển. Pháp phải có khả năng chứng minh rằng họ đang giúp đỡ chính quyền Mali bằng nhiều cách chứ không chỉ bằng cách truy lùng các nhóm vũ trang Hồi giáo. Nhưng sự thay đổi này lại xung đột với tôn chỉ hoạt động của AFD, nơi theo truyền thống vẫn coi cách hành động duy nhất có hiểu quả là “phòng ngừa xung đột”. Các mệnh lệnh của tổng thống cũng phải đối mặt với hai khó khăn: Một là, tiến trình viện trợ phát triển luôn diễn ra rất chậm, mặt khác là nỗi lo lắng của đội ngũ nhân sự tại Mali, khi nhiều người trong số này không hề dấn thân vào công việc vì nghĩ rằng mối liên hệ của họ với chiến dịch Barkhane sẽ khiến họ gặp nhiều nguy hiểm hơn.

Do đó, Pháp chưa bao giờ công khai rằng trong những năm gần đây, Pháp đã viện trợ hàng trăm triệu euro cho toàn bộ chương trình điện khí hóa ở miền Nam Mali và xây dựng mạng lưới vệ sinh ở Bamako. Tại Điện Elysée và trong nội bộ AFD, nhiều người biết rất rõ rằng các nhóm thánh chiến đã hưởng lợi từ các khoản viện trợ được phân bổ cho một số dự án ở xa hơn về phía Bắc, mà việc nghiệm thu không thể được thực hiện một cách chặt chẽ. Cuối cùng, Pháp chưa bao giờ thực sự thành công trong việc áp đặt các điều kiện viện trợ nghiêm túc đối với chính quyền Mali, đặc biệt là do lo ngại rằng nước này sẽ bị cáo buộc áp đặt chủ nghĩa thực dân mới.

Những khó khăn về lực lượng

Những gì không được nói ra cũng được tích tụ dần trong lĩnh vực quân sự. Các lực lượng vũ trang chung Sahel, được cho là sẽ đóng góp tích cực cho các nỗ lực tại Mali kể từ năm 2017 trong khuôn khổ lực liên quân, vẫn rất yếu về mặt cơ cấu và thường xuyên bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh. Ngay cả việc phân công nhiệm vụ chiến đấu cho lực lượng này cũng là một vấn đề. Được EU cung cấp tài chính, lực lượng này phải chịu sự giám sát của Liên hợp quốc trước mỗi chiến dịch nhằm tránh tình trạng biển thủ công quỹ xảy ra như cơm bữa. Quy trình này khiến việc triển khai nhiệm vụ bị chậm lại hoặc không thực hiện được. Hơn nữa, lực lượng cũng phải dựa vào nguồn lực ít ỏi của không quân mỗi quốc gia tham gia, tức là chỉ có vài máy bay trực thăng tấn công và máy bay trinh sát của mỗi nước.

Lực lượng vũ trang Mali, nhờ hỗ trợ huấn luyện của EU và yêu cầu hỗ trợ chiến đấu cho chiến dịch Barkhane, đã bắt đầu phát triển, từ 7000 binh sĩ vào năm 2013 lên 34.000 hiện nay. Nhưng lực lượng này vẫn chưa đủ độ tin cậy trong mắt người dân Mali vốn luôn cho rằng quân đội của họ thường xuyên biển thủ công quỹ, và chiến dịch Barkhane có thể tạo điều kiện cho họ làm vậy. Theo thời gian, cảm giác ngờ vực này lớn dần, đặc biệt đối với những binh sĩ tham gia phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Mali (Minusma), với hơn 13.000 người trên khắp đất nước. Do thiếu trực thăng chiến đấu, không được huấn luyện đầy đủ và chủ yếu làm nhiệm vụ phòng thủ, lực lượng này thường đóng vai trò khán giả chứng kiến những hành động tàn bạo, và rồi lại trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công thánh chiến. Hơn 260 binh sĩ Minusma đã thiệt mạng kể từ năm 2013. Cuối cùng, các nhà ngoại giao, quân đội và các nhà hoạt động nhân đạo của Pháp đã phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng môi trường, đó là tình trạng khô hạn ngày càng xuất hiện nhiều. Đi kèm với đó là sự thiếu hụt các nguồn lực, trong khi các căng thẳng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện cho các nhóm thánh chiến có thể dễ dàng kết nối với nhau.

Sự ra đời của lực lượng đặc nhiệm Takuba

Năm 2019 là năm kinh hoàng cho chiến dịch Barkhane theo như nhìn nhận của một số người. Thời điểm đó, binh sĩ Pháp được trang bị máy bay không người lái vũ trang, khiến hiệu quả của chiến dịch tăng lên gấp bội. Tuy nhiên, số binh lính Pháp bị thương hoặc hy sinh hằng năm trong chiến dịch Barkhane cũng ở mức tương đối, với tổng cộng 53 người từ năm 2013 – 2022. Nhưng con số này không hẳn là vấn đề nếu xét theo mức độ nguy hiểm trên chiến trường Mali. Cái chết của 13 binh sĩ hồi tháng 11/2019 do tai nạn máy bay trực thăng xảy ra trong một chiến dịch ở Liptako là tổn thất nghiêm trọng nhất về người của Pháp kể từ khi Paris bắt đầu can dự quân sự ở Mali năm 2013. Sau tai nạn này, tháng 01/2020, Tổng thống Macron đã có một quyết định chấn động: tăng quân số Pháp tham gia chiến trường Mali.

Dự kiến số quân này sẽ được duy trì đến khi chiến dịch Barkhane kết thúc. Từ con số 4800, lực lượng Pháp được tăng lên 5100 binh sĩ. Và Lực lượng vũ trang chung Sahel cũng được khuyến khích tăng cường nỗ lực chiến đấu. Tương tự, các nỗ lực viện trợ phát triển cũng được thúc đẩy và cú hích này được đánh giá rất cao ở châu Phi. Đặc biệt, 5 quốc gia châu Âu gồm Bỉ, Đan Mạch, Estonia, Hà Lan và Bồ Đào Nha đã thực hiện một bước đi chưa từng có khi nhất trí thành lập một liên minh các lực lượng đặc biệt, mà mô hình dựa trên những thành công ở khu vực biên giới Iraq-Syria. Đó chính là lực lượng đặc nhiệm Takuba dưới sự lãnh đạo của Pháp, với một lực lượng gọn nhẹ hơn so với các đơn vị thông thường, nhưng chính xác hơn và tiết kiệm chi phí hơn.

Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thánh chiến, Paris vẫn muốn tập trung nỗ lực vào một khu vực duy nhất là tam giác nằm giữa Niger, Mali và Burkina Faso, đóng vai trò là hậu cứ của các chiến binh thánh chiến, mà chiếm chủ yếu là các phần tử thuộc tổ chức Nhà nước Hồi giáo đại sa mạc Sahara (EIGS), vốn phát triển rất mạnh mẽ kể từ khi được thành lập vào mùa Xuân năm 2015. Lý do giải thích cho sự tập trung nỗ lực của Pháp vào tam giác này là sự bánh trướng của các phần tử thánh chiến ở Mali dường như đang vượt ngoài tầm kiểm soát. Do đó, Pháp muốn dồn toàn lực sẵn có để ngăn chặn nguy cơ khủng bố phát triển sang các nước láng giềng về Vịnh Guinea, nơi có các lợi ích kinh tế được coi là quan trọng hơn.

Sự sụp đổ chính trị của Mali

Một số chuyên gia cho rằng chính trong bối cảnh đó, Pháp đã bỏ lỡ một khả năng để đưa chiến dịch Barkhane kết thúc theo một cách vinh quang hơn so với những gì được thấy. Tháng 6/2020, khi mà mọi con mắt đều đổ dồn về tam giác Niger-Mali-Burkina Faso, các lực lượng Pháp đã tiêu diệt Abdelmalek Droukdel, kẻ sáng lập tổ chức thánh chiến al-Qaeda tại Maghreb Hồi giáo (AQIM), ở gần Tessalit, một thành phố nằm ở phía Đông Bắc Mali. Thành công hiếm có đó cho thấy sự hiện diện tiềm ẩn của các cơ quan đặc biệt Pháp, trong đó có Tổng cục An ninh đối ngoại (DGSE). Nhưng vì nhiều lý do, Điện Elysée đã không nắm bắt cơ hội này để thúc đẩy chiến dịch, có thể là vì nước Pháp đã phải vật lộn với giai đoạn đầu của đại dịch COVID-19.

Hai tháng sau, vào tháng 8/2020, điều mà ai cũng lo ngại cuối cùng đã xảy ra: sự sụp đổ chính trị ở Mali. Một cuộc đảo chính quân sự khiến chính quyền của Tổng thống Keïta đi vào dĩ vãng. Trớ trêu là ban đầu, phe đảo chính đã nhận được sự ủng hộ của các nhà ngoại giao và binh lính Pháp. Khi đó, Paris muốn tin rằng những sĩ quan đảo chính sẽ hiểu rõ thực trạng an ninh của đất nước họ và có thể kiểm soát được tình hình. Nhưng rồi khó khăn chồng chất khó khăn. Tháng 4/2021, cái chết đột ngột của Idriss Deby, nhà lãnh đạo của nước láng giềng Cộng hòa Chad và là người hỗ trợ đắc lực về mặt quân sự cho Pháp ở khu vực Sahel trong suốt 30 năm qua, đã khiến tình trạng bất ổn ở khu vực trở nên trầm trọng thêm. Tại Mali, sự chia rẽ ngày càng nặng nề trong nội bộ chính quyền chuyển tiếp, mà đỉnh điểm là một cuộc xung đột mới xảy ra vào tháng 5/2021, dẫn đến việc Mali đưa ra đường lối chiến lược mới hướng tới Nga.

Vậy là quan hệ giữa Paris và Bamako liên tục rơi vào trạng thái căng thẳng. Hợp tác quân sự bị đình chỉ trong sự thờ ơ của chính quyền. Tháng 7/2021, Điện Elysée thông báo muốn “tổ chức lại” chiến dịch Barkhane và cắt giảm số binh sĩ tham gia. Bamako tiếp tục không có ý kiến. Mọi nỗ lực của phía Pháp hòng tìm kiếm một lối thoát trong danh dự lần lượt bị chối bỏ. Từ tháng 12/2021, theo nhiều nhà quan sát, sự xuất hiện của các chuyên gia Nga và hàng trăm lính đánh thuê của tổ chức bán quân sự Nhóm Wagner đã gây nhiều tranh cãi. Việc Pháp tuyên bố tiêu diệt lãnh đạo EIGS là Abou Walid Al-Sahraoui vào tháng 9/2021 dường như đã rơi vào quên lãng.

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022

Barkhane – sự thất bại của Pháp tại Mali – Phần đầu


Báo Le Monde mới đây có bài viết về chiến dịch Barkhane, chiến dịch chống nổi dậy của quân đội Pháp chống lại các tay súng Hồi giáo ở khu vực Sahel của châu Phi. Sau 9 năm chiến đấu chống chủ nghĩa thánh chiến ở Sahel, ngày 17/2/2022, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã phải ngậm ngùi thông báo quyết định rút quân đội Pháp khỏi Mali. Tuyên bố này được nhiều nhà quan sát coi là sự kết thúc của một chu kỳ chiến lược của Pháp tại châu Phi. Nội dung bài viết này như sau:

Có những thất bại đau đớn hơn những thất bại khác, đặc biệt là khi xem xét nguyên nhân dẫn đến thất bại của cả một quá trình lâu dài. Câu chuyện về 9 năm can dự của Pháp ở Mali trong khuôn khổ chiến dịch Serval từ tháng 01/2013, sau đó đến chiến dịch Barkhane từ tháng 8/2014, vẫn sẽ còn được viết. Nhưng theo như ý kiến của nhiều nhân tố trên thực địa và những binh sĩ tại ngũ hoặc đã nghỉ hưu, thì thông báo rút quân của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trước hết là sự kết thúc của một chu kỳ, hay cái chết của một điều không tưởng về chính trị, ngoại giao và quân sự.

Nhiều năm trôi qua có thể khiến chiến dịch Barkhane bị lãng quên, nhưng nếu thế cũng nên nhắc lại rằng chiến dịch này ban đầu được sinh ra từ một chiến thắng. Đó là chiến thắng của chiến dịch Serval, một thành công chớp nhoáng, gần như hoàn hảo, như những gì được học tại các học viện quân sự. Sau đó, vào tháng 01/2013, một phong trào thánh chiến bắt đầu thế chỗ cho cuộc nổi dậy của người Tuareg tại Mali và bắt đầu lan rộng ra ngoài miền Bắc Mali, mà người ta từng hy vọng nó sẽ vẫn bị giới hạn ở đó. Khi các cơ quan tình báo Pháp nhận ra rằng thánh chiến đã tới gần Mopti, thành phố nằm trên một trục dẫn tới thủ đô Bamako của Mali, quyết định ngăn chặn mới được đưa ra.

Tổng thống Pháp khi đó là François Hollande (2012 – 2017) là người chịu trách nhiệm. Sau khi nỗ lực tìm kiếm đồng minh bằng cách để không thấy mình đơn độc trong sa mạc Mali, ông đã ráp nối các kế hoạch được đệ trình. Kết luận được đưa ra thời điểm đó như sau: Thứ nhất, phải xóa bỏ ngành công nghiệp bắt cóc con tin giúp thu lời cho các nhóm thánh chiến. Hiện có 12 người phương Tây, trong đó có một số người Pháp, đang bị các nhóm thánh chiến giam giữ. Thứ hai, hoạt động này có chỗ dựa là vùng núi Adrar des Ifoghas, một căn cứ để chuẩn bị cho các cuộc tấn công đe dọa toàn bộ tiểu vùng. Một cựu sĩ quan cho biết: “Trong vòng hai tháng, với 2000 binh sĩ và chi phí 200 triệu euro, người ta dự báo rằng chiến dịch quân sự là điều khả thi”.

Kết quả đáng khích lệ

Với sự ra đời của chiến dịch Serval, “điều không tưởng về tác chiến”, theo cách nói của viên sĩ quan này, đã trở thành hiện thực. Khoảng 6000 binh sĩ Pháp được điều động tham gia chiến dịch. Sau vụ bắt giữ một nhóm thánh chiến vào ngày 11/01/2013 và giành lại quyền kiểm soát sân bay Gao sau đó 15 ngày, tới tháng 04/2013, vấn đề khủng bố ở miền Bắc được cho là tạm thời đã được kiểm soát ở góc độ quân sự. Các kho hậu cần đã được triển khai để cung cấp nước cho các binh sĩ tham chiến, những người cần từ 10 – 12 lít nước/ngày. Hơn 600 chiến binh thánh chiến đã bị tiêu diệt, 100 tay súng bị bắt giữ. Tóm lại, đây là một chiến dịch với thành tích xuất sắc, đáng để lưu giữ trong biên niên sử.

Việc chuyển từ chiến dịch Serval sang chiến dịch Barkhane được thực hiện trong tâm lý lạc quan này. Tướng Didier Castres, khi đó là chỉ huy Trung tâm lập kế hoạch và chỉ đạo chiến dịch quân sự ngoài nước, cho biết: “Thời điểm đó, tôi có nói rằng chúng ta phải thay đổi trạng thái hoặc dừng lại”. Để duy trì cam kết của Pháp và hy vọng vào một kết quả lâu dài, Tướng Castres khẳng định cần đạt được bốn điều kiện tiên quyết: “Chặn đứng mọi hoạt động buôn lậu vũ khí từ Libya, đạt được một thỏa thuận hòa bình thực chất giữa miền Bắc và miền Nam Mali, đảm bảo sự ủng hộ thực sự của Algeria và giải quyết các vấn đề quản trị”. Tuy nhiên, tất cả các điều kiện này chưa bao giờ đạt được.

Phải nói vào thời điểm đó, một sự kết hợp bất ngờ của nhiều nhân tố đã thúc đẩy Pháp thúc đẩy một chiến dịch quân sự mới. Trước nguy cơ phải chứng kiến Bamako bị nhấn chìm bởi các nhóm thánh chiến, các quốc gia láng giềng của Mali đã tự huy động lực lượng, điều nằm ngoài mong đợi của Pháp. Chad điều động 2500 binh sĩ, Burkina Faso điều động cả một tiểu đoàn, Niger tham gia các hoạt động quân sự trên không. Theo yêu cầu của Paris, ngay cả Liên minh châu Âu (EU) cũng lao vào cuộc. Ngay từ tháng 2/2013, EU đã triển khai một sứ mệnh huấn luyện (EUTM) mà chỉ huy đầu tiên là tướng François Lecointre, người sau này trở thành Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Pháp (2017 – 2021). Về phần mình, tháng 4/2013, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã xác nhận thành lập một sứ mệnh gìn giữ hòa bình và cử lực lượng mũ nồi xanh đến thực địa.

Khó khăn xuất hiện

Động lực chính trị-quân sự được củng cố nhờ tiến trình dân chủ. Tháng 7/2013, Mali tổ chức bầu cử tổng thống, chấm dứt hơn một năm bất ổn chính trị kể từ khi Bamako trải qua một cuộc đảo chính quân sự vào mùa Xuân năm 2012. Tổng thống đắc cử Ibrahim Boubacar Keïta, vốn thân Pháp nhưng không quyết đoán, trở thành người đồng hành quan trọng trong chiến dịch Barkhane cho đến khi ông bị lật đổ vào mùa Hè năm 2020. Một sĩ quan quân đội Pháp đã mô tả chặng đường 7 năm đồng hành của Tổng thống Keïta như một “đường hầm dài”. Đặc biệt từ năm 2014, chiến lược của Pháp đã bị đảo lộn. Giữa lúc chiến dịch Barkhane được phát động, Libya bắt đầu chìm trong cuộc nội chiến. Những tác động của việc Pháp can thiệp vào đất nước này hồi năm 2011 nhằm lật đổ Đại tá Muammar Gaddafi cuối cùng cũng không mang lại kết quả tốt hơn. Chốt khóa Libya lật tung, dẫn đến việc không thể thực hiện điều kiện thứ nhất mà tướng Castres đã nêu.

Năm 2015, mối đe dọa thánh chiến bùng nổ ở Pháp và châu Âu dưới sức ép của các cuộc tấn công khủng bố được lên kế hoạch từ khu vực Iraq và Syria. Thomas Gassilloud, nghị sĩ Quốc hội Pháp và thành viên Ủy ban quốc phòng và các lực lượng vũ trang, cho biết: “Bối cảnh này có thể đã dẫn đến việc tăng cường cuộc chiến chống khủng bố lên một mức cao hơn”. Và Pháp vẫn hy vọng sẽ thực hiện được điều kiện thứ hai: thúc đẩy chính quyền trung ương Mali và một phần các nhóm nổi dậy Tuareg ở miền Bắc ký kết một hiệp định hòa bình.

Tuy nhiên, mục tiêu này gặp nhiều trở ngại. Hiệp định Algiers, được đàm phán dưới sự bảo trợ của Algeria, được coi là một trong những công cụ để loại bỏ các chiến binh thánh chiến. Tuy nhiên, vấn đề là hiệp định này lại là một trong những nguồn gây hiểu lầm ngày càng tăng giữa Pháp và Mali. Cụ thể, Mali luôn cho rằng hiệp định Algiers đã tạo điều kiện cho một hình thức phân chia lãnh thổ nước này, với thành phố Kidal bị rơi vào tay phiến quân Tuareg.

Lực lượng thánh chiến giành ưu thế

Kể từ năm 2016, Chiến dịch Barkhane ở Mali bắt đầu vấp phải nhiều thách thức. Một cựu binh từng tham gia chiến dịch nhận xét: “Giống như trong tất cả các cuộc chiến chống nổi dậy, nguy cơ đối với chiến dịch Barkhane luôn xuất phát từ lực lượng nổi dậy”. Cứ một phần tử thánh chiến thiệt mạng thì lập tức có 10 kẻ khác gia nhập lực lượng thánh chiến.

Do những hạn chế về năng lực, Pháp chưa bao giờ muốn triển khai binh lính ở miền Trung Mali ngoại trừ một vài chiến dịch hiếm hoi. Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Pháp cũng lo ngại bị cuốn vào vòng xoáy xung đột nguy hiểm đã tồn tại từ lâu giữa hai cộng đồng sắc tộc Fulani và Dogon. Dần dần, các chiến binh thánh chiến đã giành được lợi thế ở miền Trung Mali. Trước áp lực từ các chiến binh thánh chiến, cuối cùng Mali đã phải khuyến khích thành lập các nhóm dân quân cộng đồng, đặc biệt là trogn cộng đồng người Dogon. Nhưng quyết định này lại khơi dậy ngọn lửa bạo lực và khuyến khích các nhóm thánh chiến tuyển mộ lực lượng. Đến nỗi năm 2015, ở miền Trung đã xuất hiện Mặt trận giải phóng Macina (FLM), một tổ chức thánh chiến với thành phần chủ yếu là người Fulani. Kể từ đó, tổ chức này đã trở thành một trong những nhánh nòng cốt của Nhóm hỗ trợ đạo Hồi và người Hồi giáo (GSIM), hiện được cho là hiện thân rõ nhất của mạng lưới khủng bố al-Qaeda ở khu vực Sahel.

Việc GISM ra đời vào tháng 3/2017, hai tháng trước khi Emmanuel Macron đắc cử Tổng thống Pháp, đã hoàn tất quá trình gia tăng sức mạnh của các nhóm thánh chiến. Để giành lợi thế, các nhóm khủng bố vũ trang đang thúc đẩy Hồi giáo hóa xã hội Mali. Từng làng một bắt đầu buộc các trường học truyền thống chuyển thành trường học kinh Koran, phụ nữ phải mang khăn che mặt, công lý được thiết lập dựa trên các quy tắc của luật Hồi giáo và các liên kết hành chính với nhà nước trung ương bị phá bỏ. Nhiều người dân tỏ thái độ phản đối, nhưng cũng nhiều người khác nhượng bộ, cho rằng có thể được nhiều hơn mất trong cuộc chuyển đổi chống lại một nhà nước Mali ngày càng yếu ớt. Việc các nhóm này cùng với các chi nhánh của chúng gặm nhấm dần lãnh thổ Mali cũng là tín hiệu dự báo một quá trình Hồi giáo hóa sâu rộng xã hội Mali, bao gồm cả giới tinh hoa và một bộ phận giới trẻ ở Bamako. Điều này giải thích tại sao chính quyền Mali hiện có khuynh hướng tìm cách đối thoại với các nhóm thánh chiến.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022

Lý do AfCFTA có lợi nhất cho Trung Quốc – Phần cuối


Để đổi lấy đầu tư của Bắc Kinh, nhiều quốc gia châu Phi đã đưa ra một số nhượng bộ về kinh tế để các công ty Trung Quốc thiết lập hoạt động kinh doanh tại các nước này. Chẳng hạn, Zimbabwe cho phép các công ty Trung Quốc khai thác than ở Công viên quốc gia Hwange. Năm 2008, công ty khai khoáng quốc gia của Cộng hòa dân chủ Congo đã có những nhượng bộ tương tự cho các thợ mỏ Trung Quốc. Nhưng các thỏa thuận này làm giảm năng lực của địa phương và bỏ qua thực tế: Người dân châu Phi đang gặp khó khăn khi hoạt động kinh doanh ở chính quốc gia của họ.

Với điều kiện kinh tế kém phát triển của nhiều quốc gia, các công ty châu Phi thực sự không có khả năng mở rộng quy mô đến mức họ sẽ được hưởng lợi từ khối thương mại mới. Thay vào đó, các công ty sản xuất thuộc sở hữu của Trung Quốc sẽ tiếp tục thống trị lĩnh vực sản xuất của lục địa – và thu lợi nhuận từ AfCFTA.

Các doanh nghiệp Trung Quốc hiện đóng vai trò quan trọng trong các ngành sản xuất và chế tạo của châu Phi. Năm 2017, hơn 10.000 công ty do Trung Quốc làm chủ hoạt động trên khắp lục địa. Tập đoàn Transsion Holdings của Trung Quốc hiện có khoảng 40% thị phần trên thị trừng điện thoại di động Đông Phi. StarTimes, một công ty khác của Trung Quốc, đã phát triển thành một trong những nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền lớn nhất châu Phi và hiện có hơn 10 triệu người đăng ký thuê bao trên 30 quốc gia châu Phi.

Một số thương vụ kinh doanh của Trung Quốc tại châu Phi đi kèm với cái giá phải trả: các nhà máy do Trung Quốc làm chủ thường trả dưới mức lương tối thiểu, đặc biệt là ở nhiều nước châu Phi thiếu luật lao động chặt chẽ. Ở Nigeria và một số quốc gia khác, cũng có ý kiến cho rằng Bắc Kinh đang biến châu Phi thành một kiểu “thuộc địa mới”. Một số biển báo trên đường tại châu Phi hiện được viết bằng tiếng Trung và ngôn ngữ này cũng đang được dạy trong các trường học trên khắp lục địa.

Bất chấp những cảnh báo nguy hiểm này, nhiều quốc gia vẫn xem Bắc Kinh là một đối tác ưa thích. Trung Quốc đã và đang cung cấp cơ sở hạ tầng quan trọng cần thiết để đô thị hóa và thúc đẩy thương mại. Đối với nhiều nhà lãnh đạo châu Phi, những con đường mới và các dự án cơ sở hạ tầng sáng bóng quan trọng hơn các chỉ số tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là trong các kỳ bầu cử. Bắc Kinh cũng sẵn sàng thực hiện các thỏa thuận ngầm mà các nước phương Tây phản đối, chẳng hạn như xây dựng các tòa nhà văn phòng trị giá hàng tỷ USD cho các tổng thống của Uganda và Mozambique.

Ngoài sự tham dự của Bắc Kinh, việc thành lập AfCFTA không phải là không có những thách thức nội bộ. Đại dịch COVID-19 đã khiến thời điểm AfCFTA chính thức có hiệu lực bị trì hoãn đến ngày 01/01/2021. Những luận điệu theo chủ nghĩa bảo hộ ở một số nền kinh tế lớn hơn của châu Phi sau đó càng làm trì hoãn tiến trình này. Tiếp theo, khi phần còn lại của lục địa đã ký kết AfCFTA, Nigeria và Nam Phi – hai nền kinh tế lớn nhất của châu Phi – vẫn từ chối tham gia.

Trong khi Nam Phi tuyên bố nước này cần tuân thủ các thủ tục lập pháp, Chính phủ Nigeria lo ngại thỏa thuận này sẽ dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh và gây bất ổn cho nền kinh tế vốn đã mong manh của họ – mặc dù về mặt lý thuyết, nước này sẽ được hưởng lợi khi tiếp cận thị trường tự do toàn lục địa. Cuối cùng, cả hai quốc gia này đã ký kết AfCFTA.

Về lâu dài, nhiều vấn đề sẽ có thể phát sinh. Các quốc gia châu Phi đã phải vật lộn với tham nhũng và trong lịch sử thường được điều hành bởi những nhà lãnh đạo độc tài, với các chương trình nghị sự chính trị rõ ràng và coi thường các thể chế độc lập mà có thể làm suy giảm quyền lực của họ. Trong nhiều trường hợp, các nhà lãnh đạo này phớt lờ các điều khoản thương mại và thỏa thuận ngoại giao để theo đuổi các mục tiêu riêng của họ, bao gồm cả việc trục xuất các nhà lãnh đạo đối lập.

Trong các trường hợp khác, các nhà lãnh đạo đã vi phạm các thỏa thuận được ký kết để thúc đẩy các chương trình nghị sự kinh tế riêng. Chẳng hạn vào năm 2019, Chính phủ Nigeria đã đóng cửa biên giới nước này nhằm hạn chế hoạt động buôn bán gạo bất hợp pháp của các nước láng giềng. Việc đóng cửa này vi phạm Nghị định thư về thương mại tự do của Cộng đồng kinh tế các quốc gia Tây Phi (ECOWAS).

Đó cũng là một dấu hiệu cho thấy những gì có thể xảy ra với AfCFTA. Trong quá khứ, các nhà lãnh đạo châu Phi đã sử dụng biện pháp đóng cửa biên giới như một hình thức của chủ nghĩa bảo hộ, ngay cả khi việc đóng cửa này vi phạm các thỏa thuận thương mại khu vực. Họ có thể thực hiện các hành vi tương tự với AfCFTA, mặc dù điều đó có thể làm tổn hại đến một trong những cơ hội tốt nhất mà châu Phi có được để xây dựng một chương trình nghị sự thương mại trên toàn lục địa.

Mặc dù châu Phi thường được coi là mặt trận tiếp theo đối với phát triển, nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của lục địa này thực sự chậm hơn dự kiến. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo rằng trong năm 2021, khu vực phía Nam sa mạc Sahara châu Phi sẽ là khu vực tăng trưởng chậm nhất thế giới và ít nhất cho đến cuối năm 2025, tỷ lệ GDP bình quân đầu người của nhiều quốc gia dự kiến sẽ không thể đạt mức trước đại dịch COVID-19.

Khi điều kiện kinh tế của lục địa xấu đi, đầu tư nước ngoài về lý thuyết là một lý tưởng tồi – nhưng các công ty sản xuất của Trung Quốc dường như ngày càng quan tâm đến việc đầu tư vào châu Phi. Các nhà máy mới do Bắc Kinh hậu thuẫn đang được thành lập hàng ngày, bất chấp những cáo buộc vi phạm luật lao động và nhân quyền.

Giờ đây, một nước Anh hậu Brexit đang hy vọng tái gia nhập thị trường châu Phi với tư cách là một đối tác thương mại và bên thụ hưởng từ khu vực thương mại tự do – nhưng London không thể cạnh tranh với mức đầu tư của Bắc Kinh, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ mà Anh đang để mắt tới. Tháng 6/2021, các quan chức Chính phủ Nigeria được cho là đã gặp các thành viên của Cục quản lý không gian mạng Trung Quốc về việc xây dựng một bức tường lửa lớn trên mạng Internet cho quốc gia Tây Phi.

Gần 10 năm trước, AfCFTA được kỳ vọng sẽ thống nhất lục địa và xoay chuyển vận mệnh kinh tế của châu lục. Bằng cách tạo điều kiện thuận lợi các thương nhân và nhà sản xuất châu Phi tự do buôn bán xuyên biên giới, AfCFTA có thể tạo tiền đề cho một kỷ nguyên mới của thương mại và tăng trưởng kinh tế châu Phi

Nhưng điều này đã không xảy ra. Thay vào đó, các công ty Trung Quốc đã thống trị các dự án giao thông và cơ sở hạ tầng của lục địa này và thụ hưởng nhiều lợi ích của AfCFTA. Cùng với các chính sách bảo hộ mà các nhà lãnh đạo châu Phi đã thực hiện trong lịch sử, thỏa thuận thương mại này có thể sẽ bị phá vỡ bởi các quốc gia trong tương lai.

AfCFTA vẫn đang trong những tháng vận hành đầu tiên, và nhiều cuộc tranh luận sẽ nảy sinh về thỏa thuận và bản chất của quan hệ Trung Quốc – châu Phi. Cho đến lúc đó, Trung Quốc – chứ không phải châu Phi – sẽ là bên hưởng lợi lớn nhất từ AfCFTA.

Nguồn: TLTKĐB – 25/09/2021

Lý do AfCFTA có lợi nhất cho Trung Quốc – Phần đầu


Trang mạng Foreign Policy mới đây đăng bài phân tích việc các doanh nghiệp Trung Quốc đã và đang chuẩn bị những điều kiện và hoạt động trên thực địa để hưởng lợi nhiều nhất từ Khu vực thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA).

Khi AfCFTA lần đầu tiên được đề xuất tại hội nghị thượng đỉnh của Liên minh châu Phi (AU) vào năm 2012, thỏa thuận này hướng tới hai mục tiêu. Thứ nhất, xây dựng một chương trình nghị toàn châu Phi về thương mại và hợp tác. Thứ hai, đưa một tỷ lệ lớn người dân châu Phi thoát khỏi đói nghèo bằng cách thực hiện các thay đổi về cơ cấu kinh tế và hợp tác về pháp luật.

Việc thành lập AfCFTA đánh dấu sự thay đổi lớn trong thương mại và phát triển của châu Phi Trong nhiều năm, thương mại châu Phi hầu như chỉ giới hạn trong các lục địa này có hoạt động giao thương quốc tế nhiều hơn so với giao thương trong phạm vi châu lục. Với AfCFTA – một khối kinh tế trị giá 3400 tỷ USD với dân số khoảng 1,3 tỷ người và được kỳ vọng sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất thế giới – vận mệnh của châu Phi hứa hẹn sẽ thay đổi.

Nhưng giờ đây, khi AfCFTA bước vào những tháng đầu tiên của quá trình vận hành, các quốc gia châu Phi không phải là những chủ thể sẽ gặt hái được những lợi ích lớn nhất của thỏa thuận, mà bên được lợi nhiều nhất chính là Bắc Kinh.

Trung Quốc hiện là đối tác thương mại nổi bật nhất – và thậm chí có thể là lớn nhất – đối với khu vực phía Nam sa mạc Sahara châu Phi, một vai trò đặt cường quốc châu Á này vào vị trí có thể định hình chính sách trên khắp lục địa. Thông qua các đợt giải ngân vốn, Bắc Kinh đang thay đổi chính sách của châu Phi theo hướng có lợi cho nước này. Sau cam kết đầu tư 40 tỷ USD của Trung Quốc cho Nigeria, Chính phủ Nigeria đã hạ cấp quan hệ ngoại giao với Đài Loan và yêu cầu phái đoàn thương mại của Đài Bắc rời khỏi Abuja (phái đoàn thương mại của Đài Loan phải quay lại trung tâm thương mại Lagos như trước đó). Cũng có thể nhận thấy ảnh hưởng của Trung Quốc tại Liên hợp quốc. Tháng 6/2020, 25 quốc gia châu Phi đã ủng hộ Bắc Kinh trong cuộc bỏ phiếu về Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong.

Bắc Kinh tự mô tả mình như một siêu cường đang phát triển, câu chuyện thường xuyên được sử dụng để “giới thiệu” nước này là chống phương Tây và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển bình đẳng. Khi ảnh hưởng của phương Tây ở châu Phi suy yếu, Trung Quốc, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đã mở rộng mạng lưới trên khắp lục địa với các khoản vay, thỏa thuận thương mại và thỏa thuận quân sự mới. Không giống như Mỹ và Anh, nhiều thỏa thuận của 3 nước trên được thực hiện mà không có các quy định nghiêm ngặt gắn liền với quyền con người, khiến những nước này trở thành những đối tác rất được ưa chuộng tại châu Phi.

Với những thỏa thuận này, Trung Quốc – chứ không phải châu Phi – được coi là bên hưởng lợi lớn nhất từ AfCFTA. Các công ty Trung Quốc đã thống trị các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và giao thông của lục địa này, đặc biệt là ở khu vực phía Nam sa mạc Sahara châu Phi. Năm 2018, nguồn tài trợ của Trung Quốc chiếm 1/4 trong số hơn 100 tỷ USD được cam kết cho phát triển cơ sở hạ tầng ở châu Phi. Năm 2017, các công ty Trung Quốc ước tính đã giành được 50% các hợp đồng kỹ thuật, mua sắm và xây dựng của lục địa này.

Sự hiện diện của Trung Quốc ở châu Phi mang tính chiến lược: Để đổi lấy các khoản đầu tư và giao dịch không ràng buộc, Bắc Kinh có thể có được các đồng minh mới và mở rộng ảnh hưởng toàn cầu để cạnh tranh với Mỹ.

Học giả về luật kinh tế quốc tế Efraim Chalamish đánh: “Trung Quốc đang tự quảng cáo mình như nhân tố thúc đẩy tăng trưởng thông qua cơ sở hạ tầng, đặc biệt là ở những nơi có vấn đề về năng lực địa phương”.

Đây là một đề xuất đặc biệt hấp dẫn ở châu Phi – lục địa này đã bỏ lỡ một cuộc cách mạng công nghiệp và do đó phụ thuộc vào thương mại quốc tế để đảm bảo phần lớn nguồn cung hàng hóa thành phẩm. Ngày nay, châu Phi vẫn là một thị trường chủ yếu dựa vào khai khoáng, dồi dào tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu thô và hàng hóa sơ cấp. Nhưng với giá trị sản xuất thấp của những mặt hàng này và điểm yếu về cơ sở hạ tầng của châu lục, ngành công nghiệp không đủ sinh lợi để tạo việc làm tại địa phương và duy trì hoạt động sản xuất ở trong nước. Thay vào đó, những nguyên liệu thô này được chuyển đến Trung Quốc để xử lý và sau đó được nhập khẩu trở lại dưới dạng thành phẩm.

Thay vì tạo ra quan hệ đối tác kinh tế bình đẳng mà Bắc Kinh đã và đang đề xuất, những thỏa thuận thương mại này có xu hướng có lợi cho Trung Quốc. Hiện nay, các nước châu Phi nhập khẩu nhiều loại hàng hóa và công nghệ từ Trung Quốc, trong khi chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng như than đá, dầu mỏ, vàng và ngũ cốc.

Kể từ năm 2000, cán cân thương mại của châu Phi với Trung Quốc có xu hướng giảm, có nghĩa là nhập khẩu của châu lục này vượt quá xuất khẩu, và nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong tương lai. Năm 2019, thâm hụt thương mại của châu Phi với Trung Quốc là hơn 17 tỷ USD. Quy mô thâm hụt này đã chuyển sự phụ thuộc kinh tế của các quốc gia châu Phi từ các đối tác thuộc địa cũ sang Bắc Kinh.

Khi lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc trong sản xuất hàng gia dụng suy yếu, nước này tăng cường đưa hoạt động sản xuất ra ngoài lãnh thổ và củng cố hoạt động kinh tế của mình ở châu Phi. Bị thu hút bởi nguồn nguyên liệu thô và chi phí lao động rẻ hơn của lục địa này, Bắc Kinh đã tích cực xây dựng các nhà máy và mở rộng sản xuất ở châu Phi.

Với việc Bắc Kinh tiếp tục đầu tư vào ngành công nghiệp khai khoáng, một số công đoạn của quá trình tinh chế và chế biến thường được thực hiện ở Trung Quốc có thể sẽ quay trở lại châu Phi trong những năm tới. Mặc dù các quy trình này có thể vẫn sẽ bị các công ty Trung Quốc chi phối, nhưng đây sẽ là một sự thay đổi tích cực đối với các nước châu Phi. Tuy nhiên, về lâu dài, có quan ngại rằng việc này sẽ không giúp tạo ra việc làm mới ở châu Phi như mong đợi. Hiện tại, Bắc Kinh đang chuyển hoạt động gia công sản xuất các mặt hàng tiêu dùng giá rẻ sang châu Phi và coi các hàng hóa này là do mình sản xuất – hành động sẽ chỉ gây tổn hại cho các quốc gia châu Phi mong muốn cạnh tranh trên toàn cầu.

Khi AfCFTA lần đầu tiên được đề xuất, AU lập luận rằng khối này sẽ chophép các quốc gia thành viên phát triển năng lực sản xuất địa phương lớn hơn – từ đó châu Phi có thể sử dụng năng lực này cho giao thương toàn cầu với các điều khoản lớn hơn và thuận lợi hơn. Bằng cách thay thế các mặt hàng nhập khẩu và hoạt động kinh doanh của Trung Quốc bằng thế hệ mới gồm các nhà sản xuất địa phương, lý tưởng nhất là AfCFTA sẽ cho phép châu Phi có được năng lực tự chủ về kinh tế.

Nhưng hiện thực không giống như lý tưởng. Bắc Kinh cung cấp cho các nước châu Phi các khoản vay để xây dựng cơ sở hạ tầng, giúp cải thiện kết nối trong lục địa. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng này thường được xây dựng bởi các doanh nghiệp, kỹ sư và lao động Trung Quốc, nên các các dự án này trên thực tế kết nối các doanh nghiệp Trung Quốc với các thị trường châu Phi đang phát triển.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 25/09/2021

Châu Phi hậu đại dịch COVID-19 và sự thoái trào của chủ nghĩa toàn cầu – Phần cuối


Bốn là việc tiếp tục sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Có thể Trung Quốc sẽ tăng cường hỗ trợ thương mại và hỗ trợ phát triển sau đại dịch COVID-19. Cường quốc này đã tiến hành chiến dịch ngoại giao công chúng bằng cách cung cấp thiết bị y tế cho các nước châu Âu bị dịch COVID-19 tàn phá và chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh. Ngày 27/3, kênh Africanews đưa tin Jack Ma, nhà sáng lập Alibaba, đã góp phần vào nỗ lực đó bằng cách tặng châu Phi 1,1 triệu bộ dụng cụ xét nghiệm, 6 triệu khẩu trang và 60.000 bộ quần áo bảo hộ. Hợp tác Nam – Nam theo kiểu Trung Quốc có thể được đẩy nhanh và là mấu chốt quyết định việc châu Phi “xoay trục” sang Trung Quốc – kết quả của sự kết hợp giữa việc Trung Quốc nỗ lực đổi hướng dư luận về dịch COVID-19 và việc phương Tây đang mải miết tập trung đối phó với bệnh dịch trong nước. Tuy nhiên, liệu Trung Quốc sẽ giảm/xóa nợ cho các quốc gia chịu ảnh hưởng của COVID-19 hay né tránh vấn đề là điều còn chưa rõ.

Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là một trong những ví dụ điển hình. Sự bội ước của Tổng thống Donald Trump tưởng chừng như là nhát kiếm định mệnh đối với thỏa thuận này, nhưng châu Âu và Trung Quốc vẫn kiên trì ủng hộ thỏa thuận này. Việc hiện thực hóa các mục tiêu của Hiệp định Paris luôn là nhiệm vụ khó khăn, cho dù  những mục tiêu đó chưa đáp ứng kỳ vọng của các nhà hoạt động chống biến đổi khí hậu và các nhà khoa học. Với viễn cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu đang dần hiện ra và giá dầu thô ở mức dưới 30 USD/thùng, các nhà lãnh đạo có thể trì hoãn việc cắt giảm lượng nhiên liệu hóa thạch được tiêu thụ cho đến khi tình hình sáng sủa hơn. Điều này cũng có thể xảy ra với châu Phi, bởi nhiều nước ở châu lục này sẽ phải dựa vào Quỹ khí hậu xanh để hộ trợ các biện pháp giúp thích ứng và giảm thiểu. Mặc dù EU đã đưa ra cam kết quan trọng về chống biến đổi khí hậu trong Thỏa thuận xanh mới, cũng như thỏa thuận hợp tác về chuyển đổi xanh và tiếp cận năng lượng được nêu ra trong chiến lược toàn diện đối với châu Phi mới được công bố gần đây, nhưng dịch COVID-19 đã gây ra nhiều bất đồng về vấn đề ngân sách trong EU vốn đang được đàm phán tại thời điểm này.

Hơn nữa, các biện pháp hà khắc hơn chỉ làm trầm trọng thêm các xung đột mang tính hệ thống liên quan đến các chủ nghĩa cực đoan bạo lực ở khắp khu vực Sahel, Bắc Phi và Sừng châu Phi. Thỏa thuận mà các nước châu Âu đạt được tại Hội nghị thượng đỉnh Valetta về việc tài trợ phát triển cho các nước Sahel để đổi lấy sự kiểm soát tốt hơn vấn đề di dân đã phần nào phát huy hiệu quả trong việc ổn định dòng người di cư, nhưng không giải quyết được những bất bình tiềm ẩn vốn là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng các cuộc nổi dậy.

Năm là câu hỏi được đặt ra: Châu Phi nên đối phó với những thách thức trên như thế nào? Các nhà lãnh đạo châu Phi đã bắt đầu huy động nguồn lực để đưa ra biện pháp chung nhằm đối phó với dịch COVID-19. Cuộc họp của các bộ trưởng tài chính châu Phi giữa tháng 3 vừa qua đã khẳng định sự cần thiết của các giải pháp tập trung vào việc bảo đảm công ăn việc làm, đặc biệt là trong các ngành dịch vụ như hàng không và du lịch. Các nước châu Phi cũng cần phối hợp trong việc mua sắm, phân phối vật tư y tế và dược phẩm thiết yếu. Theo nguồn tin từ Văn phòng Tổng thống Nam Phi, sau cuộc họp của các bộ trưởng tài chính, Tổng thống Nam Phi Cyril Ramaphosa, với tư cách là Chủ tịch AU năm 2020, đã triệu tập cuộc họp của Văn phòng AU (với sự tham dự của Chủ tịch Ủy ban AU và tổng thống các nước Ai Cập, Congo, Kenya và Mali – nhóm các chủ tịch tiền nhiệm, đương nhiệm và kế nhiệm của AU) hôm 26/3 để đưa ra phản ứng chung của châu Phi đối với đại dịch COVID-19. Cụ thể, các đại biểu tham dự cuộc họp trên đã quyết định thành lập Quỹ phòng chống dịch COVID-19 châu Phi và đã thu về 20 triệu USD tiền ủng hộ sau 30 phút công bố. Châu Phi cũng sẽ phát động chiến dịch trên quy mô rộng lớn hơn để huy động mọi nguồn lực hỗ trợ các nước, đặc biệt là những nước nghèo đang phải đối mặt với những thách thức về cơ sở hạ tầng. Tại Hội nghị thượng đỉnh trực tuyến nhóm G20, Tổng thống Ramaphosa đã kêu gọi G20 và các tổ chức quốc tế miễn trừ nghĩa vụ thanh toán lãi cho các khoản vay song phương và đa phương trong thời gian diễn ra đại dịch COVID-19 (một phần ba các nước thuộc khu vực châu Phi hạ Sahara đang hoặc có nguy cơ phải chịu sức ép từ nợ) cũng như đóng góp vào Quỹ phòng chống dịch COVID-19 châu Phi.

Các quốc gia đã thực hiện các biện pháp nhằm giảm bớt khó khăn cho những người dễ bị tổn thương nhất cũng như giúp đỡ người lao động và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ủy ban AU, Ngân hàng phát triển châu Phi (AfDB) và Chủ tịch AU năm 2020 nên thường xuyên triệu tập các cuộc họp trong vài tuần tới để chia sẻ thông tin về tình hình, các biện pháp can thiệp và những đánh giá về tiến độ thực hiện các hành động chính sách. Các cuộc họp đó có thể diễn ra giữa các bộ trưởng tài chính, thống đốc ngân hàng trung ương, cũng như bộ trưởng y tế.

Các ngân hàng phát triển đa phương phục vụ các nước châu Phi cũng cần chung tay giảm nhẹ thiệt hại thông qua việc hỗ trợ các chính phủ bị hạn chế về tài chính. AfDB nên ủng hộ sáng kiến đáng tin cậy của các nhà tài trợ mới thuộc Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) do Na Uy dẫn đầu nhằm hỗ trợ hệ thống y tế tại các nước đang phát triển. Mặc dù thông tin cụ thể về Quỹ phòng chống dịch COVID-19 ở châu Phi chưa được công bố, nhưng AfDB có thể sẽ đóng một vai trò quan trọng trong đó. Ngày 23/3/2020 WB cho biết trong vòng 15 tháng tới, họ sẽ dành 150 tỷ USD để củng cố mạng lưới an ninh xã hội và cải cách cơ cấu nhằm khôi phục niềm tin của người dân ở những nước nghèo nhất.

Đại dịch COVID-19 đã làm đình trệ các cuộc đàm phán thương mại nhằm khởi động AfCFTA vào ngày 1/7/2020 như dự kiến. Trong ngắn hạn, điều này là có thể chấp nhận bởi tất cả các nguồn lực phải huy động để đối phó với đại dịch. Tuy nhiên, những thách thức dài hạn đối với thương mại toàn cầu được đề cập ở trên cho thấy không nên để tiến trình thực hiện AfCFTA chỉ dừng lại ở những cuộc vận động hành lang. Đây không chỉ là một minh chứng cho chủ nghĩa khu vực và hợp tác tự thân mà còn là điều kiện cần thiết để châu Phi thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nền kinh tế khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa đến mức thế giới sẽ bị thu hẹp lại. Giờ không phải là lúc từ bỏ AfCFTA.

Việc nhanh chóng triển khai cơ sở hạ tầng từ lâu đã là ưu tiên hàng đầu của AU. Trong cuộc khủng hoảng thanh khoản sắp tới, châu Phi không thể cắt giảm chi phí phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng có thể đó vai trò quan trọng trong việc kích thích các nền kinh tế. Ngoài ra, dịch COVID-19 đã cho thấy rõ tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng Internet, và nếu không thu hẹp khoảng cách về cơ sở hạ tầng giữa các nước thì tình trạng bất bình đẳng sẽ gia tăng. Đại dịch COVID-19 sẽ đẩy nhanh việc sử dụng công nghệ, nhưng chỉ ở những nơi băng thông rộng đã trở nên phổ biến và có giá cả phải chăng. Việc thiết lập kết nối băng thông rộng trong khu vực nên là ưu tiên hàng đầu của mỗi nước và của cả châu Phi.

Ngoài ra, sau đại dịch COVID-19, các chính phủ và các tổ chức châu Phi nên tiếp tục chú trọng đến vấn đề biến đổi khí hậu trong khi lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực. Châu Phi không có lượng phát thải lớn, nhưng khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu mới là rất quan trọng. Các nước châu Phi cần xem xét một số vấn đề liên quan đến  biến đổi khí hậu trong khi hoạch định chính sách – từ vấn đề tài chính đến nông nghiệp, nước và y tế. Châu Phi sẽ phải thực hiện điều đó, cho dù những cam kết về các khoản tài trợ từ các nước bên ngoài có được thực hiện hay không. Điểm mấu chốt là tình trạng khí hậu khẩn cấp sẽ tác động tài chính công ở mọi quốc gia châu Phi trong tương lai gần. Sau đại dịch COVID-19, các chính phủ châu Phi nên xem xét việc thành lập một quỹ riêng để giải quyết các vấn đề về khí hậu. Ngân hàng phát triển Nam Phi (DBSA) hoặc các tổ chức tài chính phát triển khác ở châu Phi có thể giúp huy động tối đa sự đóng góp cho lục địa này.

Cuối cùng, việc ứng phó thế nào với các thể chế toàn cầu không còn thực sự hiệu quả cho dù các thể chế đó đã góp phần hình thành trật tự thế giới hiện tại là vấn đề ai cũng biết nhưng thường né tránh. Đại dịch COVID-19 khiến việc đáp ứng yêu cầu cải tổ các thể chế đó càng trở nên khó khăn hơn, bởi chính châu Âu, vốn luôn tự cho là người ủng hộ và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, đã mất khá nhiều thời gian để đưa ra phản ứng chung. Tuy nhiên, châu Âu nên là đối tác tự nhiên của châu Phi trong việc hỗ trợ hệ thống đa phương. Châu Phi cần chủ động hơn không chỉ trong việc đưa ra các đề xuất thiết thực và khả thi về cải cách hệ thống quản trị toàn cầu mà còn trong việc xây dựng liên minh nhằm đạt được mục tiêu đó. Điều không kém phần quan trọng là các nước châu Phi không nên thu mình vào vỏ ốc của chủ nghĩa dân tộc biệt lập. Một lần nữa, đại dịch COVID-19 đã cho thấy rằng các thách thức xuyên quốc gia không thể được giải quyết thông qua việc dựng lên các rào cản nhân tạo. Thế giới cần có hành động tập thể và chủ quyền chung.

Nguồn: https://saiia.org.za/research/africa-after-covid-19-and-the-retreat-of-globalism/

TLTKĐB – 11/04/2020

Châu Phi hậu đại dịch COVID-19 và sự thoái trào của chủ nghĩa toàn cầu – Phần đầu


Elizabeth Sidiropoulos

Đại dịch COVID-19 đã đẩy nền kinh tế thế giới vào tình trạng bế tắc. Đại dịch này cũng cho thấy  rõ những yếu kém trong các thể chế toàn cầu và hợp tác quốc tế, đồng thời bộc lộ mảng tối ẩn sau cam kết toàn cầu hóa. Thời điểm diễn ra đại dịch COVID-19 có vẻ như hoàn hảo, với một nước bá quyền tự cho mình là trung tâm, một cường quốc đối thủ đang trỗi dậy, một hiệp định liên quốc gia hậu hiện đại chịu sự tấn công liên tục của các cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội trong thập kỷ qua, cũng như sự chú ý ngày càng tăng đối với các nhà lãnh đạo cứng rắn (và tỏ ra là những người hùng) và chủ nghĩa dân tộc thượng đẳng. Mặt khác, những công dân thức tỉnh đang huy động các phong trào xã hội chống lại sự phân biệt đối xử (chủng tộc, giới tính, nghèo đói, bất bình đẳng) và phản ứng yếu ớt của giới tinh hoa chính trị trước thực trạng biến đổi khí hậu. Liệu đây có phải là cơn bão hoàn hảo đối với thế giới?

Sự xuất hiện và lan rộng của đại dịch COVID-19 cũng có thể đồng nghĩa với sự suy thoái của trật tự quốc tế tự do. Hay như Campbell và Doshi đã trìanh bày trong một bài viết đăng trên tạp chí Foreign Affairs ngày 18/3/2020, đó là thời điểm kênh đào Suez đối với Mỹ – thời điểm chứng tỏ rằng Mỹ không còn là thế lực thống trị, như đã xảy ra với Anh và Pháp vào năm 1956. Theo Emma Grahm-Harrison và các tác giả khác trong một bài viết đăng trên tờ The Guardian ngày 6/2/2020, Trung Quốc với chính sách ngoại giao công chúng hiện nay đang giành chiến thắng trước một nước Mỹ dường như chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề nội bộ, cho dù trước đó họ đã tìm cách che đậy và kiểm soát sự bùng phát và mức độ lây lan của dịch bệnh. Branko Milanovic trong một bài viết đăng trên tạp chí Foreign Affairs ngày 19/3/2020 cho rằng các nước trên thế giới có thể đang đối mặt với nguy cơ phải quay về với tự nhiên, trở thành các nền kinh tế tự cung tự cấp. Thế giới toàn cầu hóa vốn đã quen thuộc với chúng ta hiện không còn nữa.

Sự suy yếu của các quy tắc toàn cầu và hợp tác quốc tế sẽ dẫn đến một thế giới dễ bị tổn thương và nguy hiểm hơn đối với các quốc gia nhỏ bé, ít có ảnh hưởng và không được bảo vệ đúng mức. Hơn nữa, nếu các chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, thì hoạt động sản xuất lương thực và y tế sẽ trở nên biệt lập hơn, các quốc gia sẽ chú trọng đến thương mại nhiều hơn, sự di chuyển của con người sẽ bị hạn chế và các tổ chức quốc tế dường như sẽ rơi vào tình trạng “lực bất tòng tâm”. Điều đó sẽ dẫn đến một trật tự thế giới mà ở đó kẻ mạnh là kẻ quyết định – một bài học khác từ nhà sử học vĩ đại Thucydides. Nhiều quốc gia phản đối trật tự trên, nhưng thời gian và mức độ nghiêm trọng của đại dịch COVID-19 có thể thay đổi tính toán của họ.

Điều này có ý nghĩa gì với châu Phi?

Châu Phi phải đối mặt với những tác động trực tiếp và những hậu quả lâu dài hơn nhiều. Không khó để nhận ra các tác động trực tiếp: Dịch COVID-19 là phép thử đối với các hệ thống quản lý của châu Phi. Khủng hoảng y tế cũng là khủng hoảng về quản lý như đánh giá của cựu Tổng thống Liberia Ellen Johnson-Sirleaf trong cuộc trao đổi với phóng viên tạp chí The Africa Report hôm 21/3 về cuộc khủng hoảng Ebola ở Tây Phi năm 2014 – 2015. Những yếu kém dai dẳng về cơ sở hạ tầng y tế và năng lực điều hành của chính phủ bị phơi bày, và những công dân vốn đã chán ngấy với giới tinh hoa chính trị có thể sẽ tham gia các cuộc phán kháng xã hội bởi các lệnh phong tỏa kéo dài khiến họ mất đi sinh kế vốn là thứ dễ bị ảnh hưởng nhất. Điều này sẽ trở nên trầm trọng hơn ở những nơi không có các mạng lưới an ninh xã hội hay các gói kích thích – và đó là một thực tế ở phần lớn châu Phi với tình trạng các chính phủ hiện đang thiếu tiền mặt và không có cách nào để tiếp tục cứu trợ bất kỳ thực thể nào. Thực trạng đó cũng có thể dẫn đến các cuộc phản kháng xã hội nhằm vào giới tinh hoa không có phản ứng thỏa đáng.

Theo ước tính của Viện phát triển hải ngoại (ODI), Anh hôm 20/3/2020, kinh tế châu Phi có thể sẽ chịu thiệt hại 100 tỷ USD, tương đương 5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của lục địa này, do đại dịch COVID-19. Suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ tác động mạnh đến Lục địa Đen, đặc biệt là các lĩnh vực xuất khẩu chính của châu Phi – như xuất khẩu hoa từ Kenya sang châu Âu hay khoáng sản sang Trung Quốc. Không chỉ sản lượng xuất khẩu cảu châu Phi sang Trung Quốc – đối tác thương mại lớn nhất của nhiều nước châu Phi – bị sụt giảm mà tình trạng hoạt động sản xuất ở Trung Quốc đình trệ cũng khiến lượng hàng dự trữ của châu Phi thấp dần, ảnh hưởng đến chi tiêu của người tiêu dùng ở châu lục này. Dịch COVID-19 kéo dài có thể làm cạn kiệt nguồn lực của các gia đình, nhất là ở những cộng đồng đã chịu sự tàn phá của HIV/AIDS hoặc bệnh lao – các bệnh làm tổn hại hệ thống miễn dịch và khiến người nhiễm bệnh này dễ mắc COVID-19 hơn.

Theo nhận định của Viện Brookings hôm 17/3/2020, một mạng lưới an ninh tài chính toàn cầu tương xứng hiện là yếu tố quan trọng để giúp các chính phủ châu Phi đối phó với những tình huống này, nhất là nâng cao năng lực tài chính của họ. Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) mới đây đã cùng nhau đưa ra đề xuất giảm nợ cho các nước nghèo. Tại hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của nhóm G20 hôm 26/3/2020, WB kêu gọi các nước thành viên lập tức ngừng đòi nợ các nước nghèo. Tuyên bố chung của nhóm G20 đã bày tỏ mối quan tâm đối với các nước nghèo, cam kết đẩy mạnh việc xây dựng năng lực, hỗ trợ kỹ thuật, huy động viện trợ phát triển và viện trợ nhân đạo cho các cộng đồng có nhiều nguy cơ chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19. Tuy nhiên, các nước G20 cần cụ thể hóa cam kết tài chính của họ.

Mặc dầu vậy, tác động dài hạn của dịch  COVID-19 đối với châu Phi sẽ nghiêm trọng hơn nhiều. Tôi muốn nhấn mạnh 5 khía cạnh nổi bật nhất.

Một là việc khôi phục chủ nghĩa đa phương. Hệ thống đa phương toàn cầu đã được thiết lập cách đây 70 năm và đang bộc lộ nhiều điểm yếu. Hệ thống này, dù xét ở khía cạnh các thể chế hay các quy tắc và chuẩn mực, đang trở nên phức tạp, cản trở những nước đang phát triển. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng các thể chế đa phương như Liên hợp quốc đã giúp gìn giữ nền hòa bình toàn cầu trong phần lớn thời gian 70 năm đó, đồng thời tạo ra ngày càng nhiều quy tắc và chuẩn mực, cho dù chưa thật sự mang tính kịp thời hay có khả năng chi phối nhiều bên liên quan. Trong những năm gần đây, các thể chế và quy tắc của trật tự này đã phải chịu áp lực ngày càng tăng bởi người bảo vệ nó – nước Mỹ – đã bắt đầu cho rằng trách nhiệm này gây quá nhiều tốn kém cho họ. Đến nay, phản ứng của Mỹ trước dịch COVID-19 chứng thực điều này. Mặt khác, nước được cho là bá chủ toàn cầu – Trung Quốc – chưa sẵn sàng đưa ra một hệ thống mới, cho dù vẫn đang tìm cách lấy lòng các nước thân hữu cũ và mới vốn đã bị Mỹ từ chối. Xét cho cùng, dịch COVID-19 có thể là thời điểm kênh đào Suez của Trung Quốc tương tự như điều đã xảy ra vào năm 1956, khi cuộc khủng hoảng Suez báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ trong vai trò thống trị toàn cầu.

Một hệ thống quy tắc toàn cầu mang tính ràng buộc đối với tất cả các nước sẽ chứng minh nhận định của Thucydides rằng kẻ mạnh là kẻ quyết định. Mặc dù châu Phi cho rằng hệ thống này cần phải được cải cách một cách nghiêm túc, nhưng lục địa này vẫn cam kết ủng hộ chủ nghĩa đa phương. Nếu dịch COVID-19 đóng vai trò là chất xúc tác đẩy nhanh tốc độ suy thoái của hệ thống đa phương đó, thì châu Phi sẽ là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, đặc biệt là trong các lĩnh vực như gìn giữ hòa bình và viện trợ nhân đạo. Ngoài ra, dịch COVID-19 cũng làm nổi bật sự cần thiết phải có hành động tập thể để giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia, cho dù sự sợ hãi khiến các nước coi đó là những chướng ngại vật.

Hai là sự kỳ vọng vào thương mại. Thương mại toàn cầu vốn đã chịu tác động cảu cuộc chiến thuế quan (hay đúng hơn là cuộc chiến công nghệ) Mỹ – Trung và sự tê liệt của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), có thể bị ảnh hưởng hơn nữa trước sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ. Điều này có thể ảnh hưởng đến mặt hàng dược phẩm và thiết bị y tế trong ngắn hạn – cho dù G20 tuyên bố ngược lại – sẽ dẫn đến sự sụt giảm các chuỗi cung ứng toàn cầu trong dài hạn. Tình trạng này diễn ra đúng vào thời điểm châu Phi đang có những bước tiến đáng kể hướng tới việc thành lập một khu vực thương mại tự do ở lục địa này, dự kiến sẽ khởi động vào tháng 7 năm nay. Hội nghị thượng đỉnh bất thường của Liên minh châu Phi (AU) được Tổng thống Cyril Ramaphosa – Chủ tịch AU năm 2020 – triệu tập vào tháng 5 tới hiện đã bị hoãn lại và ngày bắt đầu thực thi Hiệp định thương mại tự do lục địa châu Phi (AfCFTA) cũng sẽ bị lùi xa hơn. Một yếu tố quan trọng để đảm bảo thành  công của AfCFTA là tạo ra các chuỗi giá trị khu vực, cho phép tăng cường thương mại hàng hóa và dịch vụ nội khối vốn còn yếu kém do rất ít nước châu Phi có năng lực sản xuất đáng kể và nhiều nước chưa thực hiện mở cửa thương mại dịch vụ. Thế nhưng, những động thái trên sẽ có ý nghĩa gì nếu phần còn lại của thế giới thu mình vào vỏ ốc của chủ nghĩa bảo hộ? Điều đó khiến việc xây dựng các dây chuyền sản xuất trong nước hay khu vực càng trở nên cấp thiết hơn, nghĩa là châu Phi cần tăng cường đầu tư trong khi phần lớn nguồn đầu tư vào châu lục hiện đến từ nước ngoài. Nghiên cứu của Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển cuối tháng 3 vừa qua cho thấy mức sụt giảm của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể dao động từ 30% – 40% trong giai đoạn 2020 – 2021.

Ba là các trung tâm hợp tác phát triển. Châu Phi là nơi tập trung nhiều nhất các quốc gia thu nhập thấp và phụ thuộc vào sự hỗ trợ phát triển từ phía Bắc. Suy thoái kinh tế ở các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch COVID-19 – châu Âu và Mỹ – chắc chắn sẽ tác động đến các dòng viện trợ và danh sách ưu tiên viện trợ trong trung hạn. Đã có một sự thay đổi trong EU liên quan đến viện trợ sau cuộc khủng hoảng di cư, và dịch COVID-19 sẽ khiến cho xu hướng đó trở nên rõ ràng hơn ở mức độ tùy thuộc vào thời gian kéo dài dịch bệnh. Theo tạp chí Forbes ngày 24/3/2018, Chương trình nghị sự 2030 đầy tham vọng của Liên hợp quốc với 17 mục tiêu đòi hỏi một khoản tài trợ rất lớn mà phần lớn sẽ xuất phát từ các nguồn thu ngoài quốc doanh, đặc biệt là từ khu vực tư nhân. Trong điều kiện bình thường, đó là đòi hỏi khó đáp ứng; trong điều kiện đại dịch COVID-19, điều này gần như là không thể. Chương trình nghị sự 2063 của châu Phi cũng đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng tương tự. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) ước tính rằng dịch COVID-19 sẽ khiến tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 giảm 1,5%. Do đó, nhiều người sẽ bị bỏ lại phía sau và tương lai của các mục tiêu phát triển bền vững, vốn rất có ý nghĩa đối với thế giới, có thể bị ảnh hưởng đáng kể.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://saiia.org.za/research/africa-after-covid-19-and-the-retreat-of-globalism/

TLTKĐB – 11/04/2020

Biển Đỏ, nơi đọ sức mới giữa hai “siêu cường” – Phần cuối


Báo cáo của Lầu Năm Góc công bố năm ngoái cho biết, căn cứ tại Djibouti, cùng với các chuyến thăm thường xuyên của tàu chiến Trung Quốc tới các cảng nước ngoài, đã cho thấy ảnh hưởng của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, Trung Quốc gần đây đã tăng cường tuần tra hải quân gần Vịnh Oman và Aden.

Một dấu hiệu khác về tham vọng toàn cầu của Trung Quốc là việc Bắc Kinh tổ chức khánh thành căn cứ ở Djibouti cùng lúc với lễ kỷ niệm di sản của nhà hàng hải Trịnh Hoa đầu thế kỷ 15, người đã chỉ huy chuyến thám hiểm từ Biển Đông, qua Ấn Độ Dương tới Đông Phi, trở thành biểu tưởng của sức mạnh Trung Quốc trong quá khứ và tham vọng của Trung Quốc nhằm xây dựng một trật tự thế giới mới do Trung Quốc lãnh đạo. Không phải ngẫu nhiên mà các tàu Trung Quốc cập cảng Djibouti vào ngày 11/7/2017 cũng là ngày mà nhà hàng hải Trịnh Hòa thực hiện chuyến hành trình lịch sử của mình hơn 600 năm trước.

Do đó, tầm nhìn của Trung Quốc về một con đường tơ lụa trên biển mới có liên quan mật thiết đến lễ kỷ niệm di sản của Trịnh Hòa, người đã mang lại danh tiếng và sức mạnh cho Trung Quốc từ các thế kỷ trước. Trong các ấn phẩm của Trung Quốc những năm gần đây, các đội tàu của Trịnh Hòa được mô tả là công cụ tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu khoa học, trao đổi văn hóa hòa bình và tình hữu nghị. Những chuyến đi của ông được xem là biểu tượng của một trật tự toàn cầu dựa trên thương mại hơn là xung đột.

Tham vọng của Mỹ

Chỉ cách vài km từ các cơ sở của Trung Quốc, căn cứ quân sự của Mỹ ở Djibouti có tên gọi Trại Lemonier, là nơi đồn trú của khoảng 4000 binh sỹ.

Căn cứ này giữ vai trò hỗ trợ cho cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Mục tiêu hàng đầu là tổ chức Al-Qaeda ở Bán đảo Arab tại Yemen. Quân đội Mỹ thường xuyên tiến hành các hoạt động bí mật và thực hiện các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào tổ chức khủng bố này từ căn cứ ở Djibouti, cũng như chống lại nhóm Hồi giáo cực đoan Al-Shabab ở Somalia, vốn thường xuyên thực hiện các vụ đánh bom liều chết ở thủ đô Mogadishu.

Ngoài việc hỗ trợ hậu cần và tình báo cho liên minh do Saudi Arabia dẫn đầu trong cuộc chiến chống lại phiến quân Houthi ở Yemen kể từ tháng 3/2015, quân đội Mỹ ở khu vực Sừng châu Phi đã giúp đảm bảo cho hoạt động di chuyển tự do qua eo biển Bab Al-Mandab. Một lượng lớn dầu mỏ xuất khẩu từ vùng Vịnh sang phương Tây được vận chuyển qua eo biển này, cũng như hầu hết các tàu chiến của Mỹ, bao gồm cả tàu sân bay và tàu ngầm, đi qua Địa Trung Hải đến Ấn Độ Dương. Các tàu chiến của Mỹ, Nga và Trung Quốc, cũng đã thực hiện các cuộc tuần tra ở Vịnh Aden kể từ năm 2008 để chống cướp biển ngoài khơi Somalia.

Bất chấp sự hiện diện quân sự và ảnh hưởng chính trị lâu nay của Mỹ tại khu vực, Washington đã bị bất ngờ khi Djibouti chấp thuận việc triển khai căn cứ hải quân của Trung Quốc vào năm 2016. Susan Rice, cố vấn an ninh quốc gia của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama, từng đến Djibouti để ngăn chặn một thỏa thuận tương tự giữa Nga và Djibouti. Tuy nhiên, Washington đã không thể làm gì để ngăn cản Trung Quốc thiết lập căn cứ hải quân ở Djibouti, do mối quan hệ kinh tế vững chắc và đang phát triển giữa hai nước.

Động thái thành lập căn cứ quân sự của Trung Quốc ở vùng Sừng châu Phi, và cũng là căn cứ đầu tiên bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc, có ý nghĩa tiêu cực đối với Mỹ và đe dọa tới sự thống trị lâu dài của Mỹ trong khu vực. Ngay sau quyết định năm 2016 của Djibouti dành cho Trung Quốc, Nhà Trắng tuyên bố gia hạn hợp đồng thuê căn cứ của Mỹ ở quốc gia Đông Phi này thêm 20 năm nữa và tăng gấp đôi số tiền thanh toán hàng năm cho Djibouti lên 63 triệu USD, cũng như kế hoạch hiện đại hóa căn cứ này với kinh phí trên 1 tỷ USD.

Lầu Năm Góc lo ngại rằng việc triển khai một cơ sở của Trung Quốc ở Djibouti chỉ cách Trại Lemonier vài km sẽ cho phép Bắc Kinh dễ dàng theo dõi hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực, cũng như các phương tiện được Mỹ sử dụng trong việc triển khai các chiến dịch.

Ngoài ra, hồi tháng Ba năm ngoái, chỉ huy Bộ Tư lệnh châu Phi của Mỹ Thomas Wadhaser đã cảnh báo Quốc hội nước này rằng Trung Quốc có thể đe dọa các lợi ích của Mỹ ở “lục địa Đen”, đặc biệt là ở Biển Đỏ, nếu được phép tiếp quản cảng biển chủ chốt Doraleh ở Djibouti. Cảng này từng được Dubai Ports World (DP World), một công ty thuộc sở hữu của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), vận hành kể từ năm 2006, song chính phủ Djibouti đã phá vỡ thỏa thuận với công ty này và quốc hữu hóa cảng vào tháng Hai năm ngoái.

Dù Djibouti đã đảm bảo với Mỹ rằng họ sẽ không cho Trung Quốc thuê lại cảng này, song ông Waldhauser vẫn cảnh báo Mỹ không thể đứng trước rủi ro khi cảng biển quan trọng này có khả năng rơi vào tầm kiểm soát của Trung Quốc, vì điều đó có thể ảnh hưởng đến hoạt động tiếp tế căn cứ quân sự Mỹ ở Djibouti cũng như hoạt động tiếp nhiên liệu của các tàu hải quân Mỹ.

Trong bối cảnh Trung Quốc đang đầu tư kinh tế mạnh mẽ vào Djibouti, Washington dường như đang tìm kiếm một giải pháp thay thế cho chiến lược của mình tại nước láng giềng Eritrea, nơi cũng sở hữu một vị trí chiến lược ở phía Nam Biển Đỏ. Một số nhà phân tích cho rằng Eritrea sẽ là nơi Mỹ tổ chức căn cứ quân sự mới trong tương lai và quốc gia này có thể cho phép Mỹ tiếp cận các cảng biển của mình, mặc dù điều đó có thể xảy ra, trước tiên Eritrea sẽ phải bình thường hóa quan hệ với Ethiopia.

Để hiện thực hóa điều này, năm ngoái, Mỹ đã phát động một chiến dịch vận động lãnh đạo hai nước gặp gỡ và giải quyết bất đồng. Tháng 4/2018, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề châu Phi Donald Yamamoto đã đến thăm Eritrea, chuyến thăm đầu tiên trong hơn một thập kỷ, trước khi đi đến Ethiopia và gặp Thủ tướng nước này Abiy Ahmed. Điều đó thể hiện mối quan tâm của Mỹ trong nỗ lực làm “tan băng” quan hệ giữa Eritrea và Ethiopia.

Ông Yamamoto trước đó đã tổ chức các cuộc họp giữa các quan chức cấp cao hai nước ở Washington và thiết lập các kênh sau ngoại giao, nhằm đặt nền móng cho một hiệp định hòa bình giữa hai nước. Washington cũng khuyến khích hai đồng minh Saudi Arabia và UAE, những nước có lợi ích quan trọng ở khu vực Sừng châu Phi, giữ vai trò hòa giải giữa Addis Ababa và Asmara nhằm chấm dứt tình trạng xung đột giữa hai nước. Nỗ lực này đã thành công một phần nhờ vào sự hỗ trợ tài chính của Saudi Arabia và UAE. Kết quả là, tháng 7/2018, Thủ tướng Ethiopia Abiy Ahmed và Tổng thống Eritrea Isaias Afwerki đã ký một thỏa thuận hòa bình ở Saudi Arabia nhằm chấm dứt hai thập kỷ thù hận sau cuộc xung đột biên giới kéo dài 20 năm.

Đối mặt với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đỏ, khu vực Sừng châu Phi và trên “lục địa Đen” nói chung, Mỹ đã quyết tâm chống lại tham vọng của Bắc Kinh. Trong Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2017, chính quyền Tổng thống Donald Trump đã mô tả Trung Quốc là một cường quốc “xét lại” và một đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ, khi luôn tìm cách làm suy yếu sức mạnh, ảnh hưởng, an ninh và thịnh vượng của Mỹ. Giống như Nga, Trung Quốc hiện được coi là đối trọng thách thức quyền lực, tầm ảnh hưởng và lợi ích của Mỹ.

Mỹ nhận ra rằng họ có thể không sánh được về quy mô đầu tư của Trung Quốc tại châu Phi, ngay cả khi Bắc Kinh tuyên bố sẽ giảm ảnh hưởng kinh tế trong khu vực. Washington đặc biệt lo ngại về khía cạnh an ninh khi Trung Quốc tăng cường kiểm soát các nguồn lực chiến lược trên thế giới, bắt nguồn từ các khoản vay giá rẻ mà nước này dành cho các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là ở châu Phi. Chiến lược của Mỹ do đó sẽ dựa một phần vào việc khuyến khích các công ty nội địa đầu tư nhiều hơn vào “lục địa Đen”, cũng là nguyên nhân lý giải vì  sao các khoản vay của Mỹ dành cho châu Phi thời gian gần đây tăng lên đáng kể. Những diễn biến này được coi là phương sách tiếp cận nhằm chống lại sự “vung tay” hào phóng của Trung Quốc ở châu Phi và tại các thị trường mới nổi khác.

Một nghiên cứu gần đây của công ty luật quốc tế Baker McKenzie đã chỉ ra rằng cuộc chiến giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ còn gia tăng trong thập kỷ tới. Trung Quốc đã chi 8,7 tỷ USD cho các dự án cơ sở hạ tầng ở khu vực cận Sahara châu Phi năm 2017 và quyết định của Tổng thống Trump hồi tháng 10 năm ngoái nhằm điều chỉnh Tập đoàn đầu tư tư nhân nước ngoài (OPIC) của Chính phủ Mỹ trở thành Tập đoàn tài chính phát triển quốc tế (IDFC) và tăng gấp đôi khoản cho vay lên đến 60 tỷ USD dành cho các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Phi, nhằm chống lại ảnh hưởng đang gia tăng nhanh chóng của Trung Quốc. Quyết định này sẽ tăng tốc đáng kể cuộc đua không khoan nhượng nhằm tranh giành ảnh hưởng ở “lục địa Đen”, đặc biệt là ở khu vực Sừng châu Phi, giữa hai “siêu cường” thế giới này.

Nguồn: Mạng tin Ahram – 01/2019

TKT – 560/2019

Biển Đỏ, nơi đọ sức mới giữa hai “siêu cường” – Phần đầu


Eo biển Bab Al-Mandeb từ lâu đã được coi là “huyết mạch” kiểm soát tuyến hàng hải nối giữa Biển Đỏ và Vịnh Aden thông ra Ấn Độ Dương và không có gì bất ngờ khi một số cường quốc thế giới đã quyết định thành lập các căn cứ hải quân tại khu vực này.

Trên thực tế, Pháp đã duy trì sự hiện diện một căn cứ quân sự từ năm 1977 ở Cộng hòa Djibouti, quốc gia nằm tại khu vực Sừng châu Phi và có vị trí địa chiến lược rất quan trọng tại cửa ngõ Biển Đỏ. Tương tự, Mỹ đã thành lập một căn cứ tại đây vào năm 2002 sau vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001. Nhận thấy vị trí chiến lược và chế độ chính trị tương đối ổn định của Djibouti so với các nước láng giềng khác, các cường quốc như Italy, Nhật Bản và gần đây nhất là Trung Quốc cũng không bỏ qua cơ hội để giành được chỗ đứng tại Djibouti.

Một cường quốc khác đang đặt mục tiêu tiến vào khu vực Sừng châu Phi là Nga, khi quốc gia này tuyên bố hồi tháng Tám năm ngoái sẽ xây dựng một căn cứ hậu cần trên Biển Đỏ ở Eritrea. Dù không thông báo chính xác địa điểm hoặc khi nào dự án sẽ được triển khai, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói sau cuộc gặp với người đồng cấp Eritrea rằng Nga hướng tới mục tiêu thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng và thương mại song phương. Đây dự kiến sẽ là căn cứ đầu tiên của Nga ở châu Phi kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, sẽ cung cấp cho Moskva cơ hội để thúc đẩy sức mạnh của mình trên khắp Trung Đông và các tuyến vận chuyển giữa châu Á và châu Âu. Dự án này khẳng định quyết tâm của Tổng thống Nga Vladimir Putin nhằm khẳng định vai trò toàn cầu của Nga và đảm bảo vị trí của nước này trong cuộc đua giành ảnh hưởng với Mỹ và Trung Quốc.

Tháng 8/2017, Trung Quốc cũng đã khánh thành căn cứ hải quân của mình ở Djibouti với kinh phí 600 triệu USD và có sức chứa 10.000 binh sỹ. Theo chính phủ Trung Quốc, căn cứ này nhằm giúp Bắc Kinh thực thi các nhiệm vụ nhân đạo và sứ mệnh gìn giữ hòa bình ở châu Phi và Tây Á, cũng như phụ trách công tác cứu trợ khẩn cấp, bảo vệ và sơ tán công dân Trung Quốc đang sinh sống ở nước ngoài và tham gia hợp tác quân sự, bao gồm các cuộc diễn tập chung và chống cướp biển. Hiện có khoảng 2400 binh sĩ Trung Quốc đang được triển khai trên khắp “lục địa Đen”.

Căn cứ tại Djibouti sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho các tuyến đường biển quốc tế và chiến lược gần eo biển Bab Al-Mandeb, nhằm bảo vệ các lợi ích kinh tế lớn của Bắc Kinh tại châu Phi và Trung Đông. Nó cũng sẽ đóng vai trò một tuyến vận chuyển nguyên liệu thô từ các quốc gia ở khu vực Sừng châu Phi đến Trung Quốc và các sản phẩm điện tử từ Trung Quốc đến khu vực Sừng châu Phi.

Trung Quốc đã đầu tư hơn 30 tỷ USD vào Sudan và Nam Sudan. Ngoài ra, Bắc Kinh đã xây dựng một tuyến đường sắt dài 750 km nối từ thủ đô Addis Ababa của Ethiopia đến Biển Đỏ thông qua Djibouti. Căn cứ của Trung Quốc sẽ là điểm nút để mở rộng mạng lưới đường sắt tới các quốc gia thuộc khu vừng Sừng châu Phi nhằm hỗ trợ vẫn chuyển hàng hóa giữa các quốc gia này và Trung Quốc thông qua cảng Djibouti.

Việc thành lập căn cứ của Trung Quốc tại Djibouti cũng đánh dấu một bước đột phá trong chính sách đối ngoại truyền thống của Bắc Kinh vốn chủ yếu tập trung vào khu vực Đông Á. Đó là sự phản ánh về sức mạnh của Trung Quốc, thể hiện sự quan tâm ngày càng gia tăng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đối với khu vực châu Phi và Trung Đông, đặc biệt là trong khuôn khổ sáng kiến Vành đai và Con đường của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, nhằm thiết lập các tuyến đường bộ và đường biển nối Trung Quốc với châu Âu thông qua khu vực Á – Âu và Trung Đông.

Căn cứ là minh chứng cho tham vọng của Bắc Kinh nhằm xây dựng một con đường tơ lụa trên biển mới của Trung Quốc, kết hợp thành một “chuỗi ngọc trai” dựa trên các điểm nối liền từ Ấn Độ Dương, vùng Vịnh và Biển Đỏ, phục vụ cho sáng kiến Vành đai và Con đường được công bố năm 2015. Là một phần trong sáng kiến này, Trung Quốc có kế hoạch đầu tư 8000 tỷ USD vào cơ sở hạ tầng tại 68 quốc gia, trong đó có Djibouti, vốn là điểm neo rất cần thiết cho các tuyến đường từ châu Phi và châu Âu đến Trung Quốc.

Kế hoạch của Trung Quốc

Trong vài năm qua, Trung Quốc đã tích cực mở rộng vai trò kinh tế và thương mại của mình ở châu Phi và Trung Đông. Trung Quốc có kế hoạch vượt Mỹ để trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới vào thập niên 2030. Để đạt được mục tiêu này, Bắc Kinh đang thông qua căn cứ hải quân của mình ở Djibouti để bảo vệ lợi ích kinh tế đang phát triển của mình ở khu vực châu Phi. Trung Quốc cũng tìm cách bảo đảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để hỗ trợ phát triển kinh tế, trong bối cảnh một nửa số dầu mỏ mà Trung Quốc nhập khẩu được vận chuyển qua eo biển Bab Al-Mandeb và hầu hết hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang châu Âu đều được vận chuyển qua Vịnh Aden và Kênh đào Suez.

Để phục vụ lợi ích kinh tế và thương mại của mình ở châu Phi, Trung Quốc cũng đang đầu tư mạnh vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở phía Đông “lục địa Đen”. Minh chứng rõ ràng nhất là việc Bắc Kinh xây dựng một tuyến đường sắt nối giữa thủ đô Nairobi và cảng Mombasa của Kenya với tổng kinh phí 3,6 tỷ USD. Được khánh thành vào tháng 5/2017, tuyến đường sắt này là dự án cơ sở hạ tầng có kinh phí cao nhất được thực hiện ở nước này kể từ khi Kenya giành được độc lập vào năm 1964.

Ngoài các hoạt động hỗ trợ kinh tế, đầu tư và kinh doanh của Trung Quốc tại khu vực Sừng châu Phi và Trung Đông, khu vực này cũng là nơi có hàng nghìn công nhân Trung Quốc làm việc. Năm 2015, Bắc Kinh đã sơ tán 600 công nhân Trung Quốc khỏi Yemen khi xảy ra cuộc xung đột ở nước này. Trước đó, năm 2011, Trung Quốc đã cử một tàu chiến và một máy bay vận tải quân sự đến Libya để sơ tán khoảng 35.000 công dân Trung Quốc sau khi chính quyền của nhà lãnh đạo Libya Muammar Gaddafi bị lật đổ. Cuộc khủng hoảng Libya cũng là một nhân tố chính tác động tới quyết định thành lập căn cứ của Trung Quốc ở Djibouti.

Căn cứ của Trung Quốc được xây dựng trong bối cảnh quan hệ kinh tế giữa Bắc Kinh và Djibouti ngày càng phát triển. Trung Quốc cung cấp gần 40% nguồn tài chính cho các dự án đầu tư và cơ sở hạ tầng lớn ở Djibouti, bao gồm đường ống dẫn dầu Ethiopia-Djibouti và đường ống nước ngọt Ethiopia-Djibouti.

Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc đã chi 957 triệu USD để tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng khác, bao gồm tuyến đường sắt nối thủ đô Addis Ababa của Ethiopia đến thành phố Djibouti trên eo biển Bab Al-Mandeb. Tuyến đường sắt giúp Djibouti kết nối với một trong những nền kinh tế châu Phi có tốc độ tăng trưởng mạnh mè và sẽ biến Djibouti thành một trung tâm thương mại của Đông Phi.

Trên thực tế, Djibouti sẽ không có nhiều cơ hội để tăng trưởng kinh tế nếu không khai thác vị trí địa chiến lược gần eo biển Bab Al-Mandeb. Ngoài lợi ích tài chính trực tiếp từ việc cho thuê đất và các căn cứ nước ngoài, các căn cứ của Mỹ và Pháp ở nước này cung cấp cơ hội việc làm cho người dân Djibouti, đồng thời đóng góp đáng kể cho kinh tế đất nước. Hoạt động của cảng biển hiện chiếm 70% giá trị Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Djibouti.

Sự tham gia quân sự của Trung Quốc tại khu vực Sừng châu Phi bắt đầu vào năm 2008 với các nhiệm vụ chủ yếu là chống cướp biển. Ngày nay, cam kết của Bắc Kinh đã mở rộng tương ứng với việc tăng cường mối quan hệ kinh tế và thương mại với khu vực, và là một phần trong chính sách tăng cường sự hiện diện quân sự toàn cầu của Trung Quốc trải rộng và kéo dài từ châu Á đến châu Phi. Do đó, việc thành lập một lực lượng hải quân mạnh sẽ cho phép Trung Quốc triển khai sức mạnh cảu mình trên khắp thế giới và căn cứ hải quân ở Djibouti sẽ là điều kiện cần thiết để đạt được tham vọng này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng tin Ahram – 01/2019

TKT – 560/2019

Lý do khiến Dubai trở thành “Điểm đến lý tưởng” của vàng buôn lậu từ châu Phi


Trang mạng reuters.com ngày 24/4 có bài phân tích về tình trạng khai thác bất hợp pháp và buôn lậu vàng với quy mô rất lớn tới Dubai. Theo nội dung bài viết, một khối lượng vàng khổng lồ trị giá hàng tỷ USD đã bị buôn lậu mỗi năm từ châu Phi tới UAE ở Trung Đông – cửa ngõ vào các thị trường châu Âu, Mỹ và nhiều nơi khác.

UAE lên ngôi

Phần lớn vàng không được ghi nhận trong danh sách các mặt hàng xuất khẩu của các nước châu Phi. Kết quả phỏng vấn của hãng tin Reuters với 5 nhà kinh tế thương mại cho thấy, có một khối lượng vàng rất lớn đang bị buôn lậu ra khỏi châu Phi, gây thất thoát lớn về thuế đối với các nước sản xấut. Không ai có thể đưa ra con số chính xác về tổng giá trị vàng đang bị buôn lậu từ châu Phi, song phân tích của Reuters có thể phỏng đoán về quy mô khiến nhiều người kinh ngạc.

Hãng tin Reuters ước tính khối lượng vàng bị buôn lậu bằng cách so sánh tổng lượng vàng nhập khẩu vào UAE với lượng vàng xuất khẩu được các nước châu Phi ghi nhận một cách chính thức. Trao đổi với Reuters, các công ty khai thác vàng bằng phương pháp công nghiệp ở châu Phi cho hay vàng do các công ty này khai thác không được xuất khẩu sang UAE, nghĩa là lượng vàng nhập khẩu của UAE từ châu Phi đến từ các nguồn không chính thức khác.

Dữ liệu hải quan do chính phủ các nước cung cấp cho Trung tâm Dữ liệu thống kê thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Comtrade) cho thấy năm 2016, UAE đã nhập khẩu lượng vàng trị giá 15,1 tỷ USD từ châu Phi – mức nhập khẩu cao nhất thế giới, tăng hơn 11 lần so với mức 1,3 tỷ USD năm 2006. Trong năm 2016, tổng khối lượng vàng nhập khẩu của UAE là 446 tấn với nhiều mức độ tinh luyện khác nhau, trong khi năm 2006 nước này nhập 67 tấn.

Năm 2015, Trung Quốc – nước tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới – đã nhập khẩu nhiều vàng từ châu Phi hơn UAE. Nhưng năm 2016, năm gần nhất được thống kê, giá trị vàng nhập khẩu của UAE cao gần gấp đôi so với con số 8,5 tỷ USD giá trị nhập khẩu vàng của Trung Quốc. Thụy Sĩ, trung tâm tinh luyện vàng thế giới, đứng thứ 3 với giá trị nhập khẩu 7,5 tỷ USD. Hầu hết vàng được giao dịch tại Dubai – thủ phủ ngành công nghiệp vàng của UAE. Dữ liệu của UAE cũng cho thấy quốc gia Trung Đông này đã nhập khẩu nhiều vàng hơn, khoảng 67 tấn trị giá 3,9 tỷ USD.

Ông Frank Mugyenyi, cố vấn cấp cao về phát triển công nghiệp tại Liên minh châu Phi (AU) đồng thời là sáng lập viên cơ quan phụ trách khoáng sản của AU, cho rằng một lượng vàng rất lớn đã bị đưa ra khỏi châu Phi mà không được thống kê từ các cơ quan chức năng. UAE đang trục lợi từ môi trường kinh doanh không được kiểm soát ở châu lục này.

Sự khác biệt trong dữ liệu được phân tích của Reuters không hẳn đã dẫn đến kết luận rằng vàng khai thác ở châu Phi bị buôn lậu tới UAE. Sự khác biệt nhỏ về số liệu có thể do nguyên nhân chi phí vận chuyển và thuế được khai báo khác nhau, độ trễ về thời gian giữa hàng hóa đến và đi, hoặc đơn giản là sai sót về số liệu. Các nhà phân tích thị trường vàng cho biết một số giao dịch, đặc biệt là từ Ai Cập và Libya, có thể bao gồm vàng đã được tái chế. Matthew Salomon, nhà kinh tế người Mỹ chuyên nghiên cứu sử dụng số liệu thống kê thương mại để xác định dòng tài chính bất hợp pháp, cho rằng vấn đề này đáng để xem xét kỹ lưỡng.

Cái giá của tình trạng khai thác vàng bất hợp pháp

Giá vàng cao làm bùng nổ tình trạng khai thác vàng trái phép. Hiện vàng đang được giao dịch ở mức hơn 40.000 USD/kg, thấp hơn mức đỉnh điểm của năm 2012 nhưng vẫn cao gấp 4 lần so với 2 thập kỷ trước.

Các phương thức khai thác vàng không chính thức, gồm khai thác thủ công ở quy mô nhỏ, vẫn đang phát triển trên toàn cầu. Tuy nhiên, phương pháp này đã và đang làm rò rỉ hóa chất ra môi trường. Trong thập kỷ qua, nhu cầu cao về vàng đã khiến cho những chủ thể khai thác không chính thức sử dụng thiết bị đào đãi và hóa chất độc hại nhằm tăng năng suất. Nước nhiễm bẩn từ khai thác vàng chảy xuống các dòng sông, âm ỉ đầu độc bộ phận dân cư phụ thuộc vào những nguồn nước này để sinh sống. Độc tố của thủy ngân, hóa chất dùng phổ biến trong khai thác vàng, có thể làm tổn thương thận, tim, gan, lá lách và phổi, gây ra các rối loạn thần kinh. Theo các nhà nghiên cứu và thợ mỏ Ghana, chất kịch độc xyanua và axit nitric cũng đang được sử dụng trong khai thác vàng.

Các công ty khai thác vàng bằng phương pháp công nghiệp cũng góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm, từ sự cố tràn xyanua đến các vấn đề hô hấp do bụi thải ra từ hoạt động khai thác. Nhiều chính phủ ở châu Phi như Ghana, Tanzania và Zambia cho rằng việc sản xuất và buôn lậu vàng qua biên giới ở các nước này đang diễn ra trên quy mô rộng lớn, đôi khi do các lực lượng phạm tội thực hiện và thường phải đánh đổi chi phí cao về môi trường và con người.

Burkina Faso đã cấm các hoạt động khai thác vàng quy mô nhỏ ở một số khu vực có các đối tượng liên quan đến nhóm khủng bố Al Qaeda đang hoạt động. Đầu tháng Tư vửa qua, Chính phủ Nigeria đã đình chỉ khai thác vàng ở bang Zamfara, phía Tây Bắc nước này, do các báo cáo tình báo chỉ ra rằng có sự “cấu kết rõ ràng và chặt chẽ” giữa những kẻ cướp có vũ trang và những người khai thác vàng bất hợp pháp.

Các nhà đầu tư phương Tây cần vàng để đa dạng hóa danh mục đầu tư. Ấn Độ và Trung Quốc cần vàng cho đồ trang sức. Nhưng hầu hết các công ty phương Tây cũng như các ngân hàng tài trợ những công ty này né tránh giao dịch trực tiếp với nguồn vàng ở châu Phi được khai thác bằng các biện pháp phi công nghiệp. Họ không muốn mạo hiểm khi mua bán nguồn vàng được khai thác phục vụ cho các cuộc xung đột hoặc có thể liên quan đến vi phạm nhân quyền, chẳng hạn như ở CHDC Congo hoặc Sudan.

Mọi con đường đều dẫn tới Dubai

Các quốc gia, bao gồm cả UAE, ít chú ý đến vấn đề buôn lậu vàng. Trong thập kỷ qua, vàng được khai thác từ châu Phi ngày càng trở nên quan trọng đối với Dubai. Dữ liệu của Comtrade cho thấy từ năm 2006 đến 2016, tỷ lệ vàng có nguồn gốc châu Phi nhập vào UAE tăng từ 18% lên gần 50%. Trung tâm Thương mại Dubai (DMCC) – thị trường vàng chính của UAE – tự công nhận là cửa ngõ giao dịch toàn cầu. Giao dịch vàng chiếm gần 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của UAE.

Tuy nhiên, theo Reuters, các “ông lớn” về kinh doanh vàng, bao gồm AngloGold Ashanti, Sibanye-Stillwater và Gold Field đều cho biết sẽ không xuất vàng tới thị trường này. Reuters đã liên hệ với 23 công ty khai thác vàng hoạt động ở châu Phi, trong đó công ty nhỏ nhất sản xuất khoảng 2,5 tấn năm 2018, và được biết 21/23 công ty này cho hay không gửi vàng đến Dubai để tinh chế.

Ông Neil Harby, Giám đốc kỹ thuật của Hiệp hội Thị trường Vàng thỏi London (LBMA) – cơ quan thiết lập tiêu chuẩn cho ngành khai thác vàng tại các thị trường phương Tây, cho biết LBMA không muốn giao dịch vàng với châu Phi do lo ngại về sự yếu kém trong hải quan, giao dịch tiền mặt, cũng như vàng được vận chuyển bằng hàng xách tay.

Các nhà điều tra và những người trong ngành công nghiệp vàng cho rằng thái độ dễ dãi đối với những kẻ buôn lậu vàng trong hành lý xách tay trên các chuyến bay xuất phát từ châu Phi khiến hàng hóa này bị đưa ra khỏi châu lục mà không bị phát hiện. Tình trạng hạn chế luật pháp liên quan của UAE đã cho phép vàng khai thác bất hợp pháp có thể được nhập khẩu hợp pháp, miễn thuế vào nước này.

Một số thương nhân châu Phi cho Reuters biết vàng có thể được nhập khẩu vào Dubai mà hầu như không cần có giấy tờ kèm theo. Reuters đã trao những phân tích thu thập được cho 14 chính phủ ở châu Phi. Có 5/14 nước cho biết phân tích của Reuters phản ánh đúng quan tâm của họ về tình trạng buôn lậu vàng hiện nay. Các nước còn lại đều không có phản ứng tích cực. Các chính phủ ở châu Phi đang cố gắng tìm ra biện pháp quản lý, bất kể rủi ro của lĩnh vực đó là gì, theo hướng mang lại sinh kế cho nhiều người dân cũng như nguồn thu cho đất nước.

Nguồn: TKT – 26/4/2019

Các nước vùng Vịnh tìm kiếm gì ở khu vực Sừng châu Phi?


Trang mạng economist.com có bài phân tích về sự cạnh tranh giữa các nước vùng Vịnh trong khu vực Sừng châu Phi khi các nước này tăng cường cả quan hệ chính trị và kinh tế tại khu vực Đông Bắc Phi bất ổn nhất thế giới này.

Nhiều bằng chứng ở khắp khu vực Sừng châu Phi cho thấy các nước vùng Vịnh đang tăng cường mối quan hệ với các quốc gia tại khu vực đầy bất ổn này. Tháng trước, đại diện Djibouti, Sudan và Somalia đã nhóm họp tại Riyadh (Saudi Arabia) để thảo luận về việc thành lập m65t liên minh an ninh mới ở Biển Đỏ.

Ba tháng trước đó, dưới sự bảo trợ của Saudi Arabia, Thủ tướng Ethiopia và Thủ tướng Eritrea đã ký một thỏa thuận hòa bình. Tại Addis Ababa, nhà thầu từ Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) đang thực hiện dự án lớn nhất với tổng mức đầu tư cao nhất từ trước tới nay ở thủ đô của Ethiopia.

UAE đã đưa vào hoạt động căn cứ quân sự đầu tiên của nước này ở Eritrea từ năm 2015 và đang xây dựng một căn cứ khác ở Somaliland – khu vực ly khai ở phía Bắc Somalia. Saudi Arabia có kế hoạch xây dựng một căn cứ quân sự ở Djibouti. Trong khi đó, Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ đang sửa chữa một cảng ở Sudan. Lý giải thế nào cho tất cả những động thái trên?

Giống như vùng Vịnh, Hồi giáo là tôn giáo chính ở khu vực Sừng châu Phi và vấn đề di cư cũng gắn kết hai khu vực này với nhau. Trong suốt những năm 1990, quan hệ kinh tế giữa hai khu vực này không có gì đáng kể. Tuy nhiên, sau khi giá lương thực tăng vọt vào năm 2008, các quốc gia vùng Vịnh giàu có đã để xô đi mua đất nông nghiệp ở Sudan và Ethiopia nhằm đảm bảo an ninh lương thực trong tương lai.

Theo nghiên cứu của Viện Clingendael, Hà Lan, từ năm 2000 đến năm 2017, các quốc gia vùng Vịnh đã đầu tư 13 tỷ USD vào khu vực Sừng châu Phi, chủ yếu ở Sudan và Ethiopia. Đối với các nước khu vực Sừng châu Phi nghèo tài nguyên, lợi ích kinh tế do đầu tư của các nước vùng Vịnh mang lại là rất rõ ràng.

Cả Sudan và Ethiopia đều thiếu hụt nghiêm trọng nguồn dự trữ các loại ngoại tệ mạnh. Một trong những động thái đầu tiên của Thủ tướng Ethiopia Abiy Ahmed khi nhậm chức vào tháng 4/2018 là bảo đảm 3 tỷ USD viện trợ và đầu tư từ UAE, trong đó khoản tiền gửi 1 tỷ USD vào Ngân hàng trung ương Ethiopia. Tháng 3/2018, UAE cũng đã gửi 1,4 tỷ USD vào Ngân hàng trung ương Sudan.

Tại các quốc gia vùng Vịnh, nguồn vốn ít khi thực sự là của tư nhân và doanh nghiệp có xu hướng phục vụ các mục tiêu chính sách đối ngoại. Đối với Saudi Arabia, sự quan tâm trở lại đối với khu vực Sừng châu Phi chủ yếu xuất phát từ cạnh tranh với Iran. Năm 2014, Saudi Arabia buộc cả Sudan và Eritrea phải cắt đứt quan hệ với Iran, trục xuất các nhà ngoại giao Iran.

Đối với UAE, một cường quốc về hậu cần, vận chuyển và trung chuyển, trọng tâm mới về an ninh hàng hải xuất phát từ mối đe dọa ngày càng tăng của cướp biển Somalia vào những năm 2000, cũng như tình hình chiến sự ở Yemen năm 2015. Chuỗi cảng và căn cứ của UAE dọc theo vành đai phía Nam của bán đảo Arab và kéo dài tới Biển Đỏ là một phần trong chiến lược nhằm gây ảnh hưởng trên toàn khu vực Sừng châu Phi (UAE sử dụng căn cứ ở Eritrea để tiến hành các cuộc tấn công ở Yemen).

Sự thù địch giữa một bên là Saudi Arabia, UAE và bên kia là Qatar, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã lan tới khu vực Sừng châu Phi. Khi Thổ Nhĩ Kỳ thâm nhập vào khu vực thông qua thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ Somalia và giành được các hợp đồng cho các công ty Thổ Nhĩ Kỳ, các quốc gia vùng Vịnh đã cố gắng đẩy lùi ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ. Saudi Arabia và UAE cũng cảm thấy bắt buộc phải thể hiện đường lối đối ngoại cứng rắn hơn trong bối cảnh ảnh hưởng của Mỹ ở “sân sau” của hai nước này đã suy yếu.

Quan hệ chặt chẽ hơn trên Biển Đỏ cũng có thể cải thiện các mối quan hệ nội bộ châu Phi. Cùng với việc bảo trợ đàm phán hòa bình giữa Ethiopia và Eritrea, các quốc gia vùng Vịnh đang cố gắng giảm bớt căng thẳng giữa Ethiopia và Ai Cập liên quan đến đập nước đang được Ethiopia xây dựng trên sông Nile.

Tuy nhiên, sự yếu kém của các quốc gia khu vực Sừng châu Phi đang gây ra nhiều vấn đề rắc rối. Tại Somalia, nguồn tài chính của UAE đã làm trầm trọng thêm sự tranh giành giữa chính phủ liên bang được quốc tế công nhận ở Mogadhishu và các khu vực ly khai.

Nhiều người dân Ethiopia đặt câu hỏi liệu có phải Thủ tướng Abiy Ahmed đã đánh đổi chủ quyền đất nước để có được đầu tư từ vùng Vịnh. Dù Ethiopia đã cố gắng giữ trung lập trong các mối quan hệ thù địch ở vùng Vịnh, nhưng giờ đây, có vẻ như nước này đang đứng về phía Saudi Arabia và UAE. Mặt khác, quan hệ của Ethiopia với Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar có thể đang nguội lạnh hơn.

Nguồn: TKT – 19/01/2019