Doanh nghiệp logistics – Phần cuối


2/ Môi trường kinh tế vĩ mô

Môi trường kinh tế vĩ mô là yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp logistics nói riêng. Các chỉ số kinh tế vĩ mô có thể tác động đến hoạt động của doanh nghiệp logistics và sự phát triển của dịch vụ logistics là tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, cán cân thương mại, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái, lãi suất tiền gửi, tiền cho vay, tỷ lệ thất nghiệp, dòng vốn đầu tư nước ngoài… Các yếu tố này tác động đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, đồng thời ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics; do đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics.

Diễn biến của các chỉ số kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến phương thức và cách thức kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Sự tăng, giảm, tốc độ thay đổi, chu kỳ thay đổi của các chỉ số này có khả năng tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thậm chí còn có thể dẫn đến điều chỉnh mục tiêu, phương hướng và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.

3/ Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển ngành kinh tế và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đó. Đặc điểm điều kiện tự nhiên có thể tạo thuận lợi hoặc gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, sự phát triển kinh tế của một tỉnh, một quốc gia. Các yếu tố điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics có thể kể đến vị trí địa lý, thời tiết, khí hậu, tài nguyên…

Yếu tố vị trí địa lý có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Vị trí địa lý tạo thuận lợi, thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics trên địa bàn phát triển khi địa phương có những đặc điểm sau: nằm gần các tuyến giao thông xuyên quốc gia (đường cao tốc, đường sắt, cảng biển, sân bay), các hành lang kinh tế, các cửa khẩu quốc tế; gần các trung tâm chính trị, văn hóa, gần các vùng kinh tế trọng điểm, các khu vực phát triển kinh tế năng động, các trung tâm khoa học, công nghệ cao; gần các nguồn nguyên liệu phục vụ các ngành sản xuất, gần các khu công nghiệp sản xuất hàng hóa, gần các thị trường tiêu thụ tiềm năng.

Mặt khác, vị trí địa lý có thể ảnh hưởng tiêu cực, cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của ngành logistics khi có những đặc điểm sau: nằm trong khu vực, địa phương có những bất ổn về chính trị, an ninh, quốc phòng, xung đột về sắc tộc, tôn giáo; khu vực thường có thời tiết khắc nghiệt, thường xảy ra thiên tai (lũ lụt, hạn hán, động đất); không thuận tiện về hệ thống giao thông và xa các trung tâm kinh tế, trung tâm thương mại.

4/ Cơ sở hạ tầng logistics

Cơ sở hạ tầng logistics là tổng hợp các điều kiện cơ bản phục vụ cho sự phát triển của hoạt động logistics. Cơ sở hạ tầng logistics thông thường được chia thành hai nhóm: Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải và cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải là hệ thống những công trình vật chất kỹ thuật, các công trình kiến trúc và các phương tiện về tổ chức cơ sở hạ tầng mang tính nền móng cho sự phát triển của ngành giao thông vận tải và nền kinh tế, bao gồm hệ thống cầu, đường, cảng biển, cảng sông, nhà ga, sân bay, bến bãi và hệ thống trang thiết bị phụ trợ; thông tin tín hiệu, biển báo, đèn đường. Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông là hệ thống thông tin được sử dụng để quản lý các quá trình lưu thông hàng hóa và thông tin trong một công ty và các thiết bị sử dụng cho mục đích này như máy tính, máy quét mã vạch…

Cơ sở hạ tầng logistics ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến hiệu suất, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, có tính kết nối cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy hiệu suất hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, giao nhận hàng hóa do các doanh nghiệp logistics cung cấp cho khách hàng. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics đòi hỏi cơ sở hạ tầng luôn được đầu tư nâng cấp, mở rộng theo thời gian. Hạ tần giao thông tốt giúp thúc đẩy liên kết và hợp tác chặt chẽ trong vùng, kết nối thị trường đại phương với thị trường quốc gia, quốc tế, góp phần giảm chi phí, tiết kiệm thời gian giao hàng, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

5/ Nhân lực của doanh nghiệp logistics

Nhân lực là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển ngành dịch vụ logistics nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics nói riêng. Đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ sẽ là tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp logistics Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thúc đẩy ngành dịch vụ logistics phát triển. Ngoài ra, chất lượng đội ngũ nhân sự là một torng những tiêu chí để khách hàng đánh giá, lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics bên cạnh các tiêu chí khác như chất lượng, giá cả dịch vụ. Ngành dịch vụ logistics Việt Nam mới phát triển trong những năm gần đây nên nguồn nhân lực có đặc điểm là trẻ, năng động, ưa mạo hiểm và sẵn sàng chịu đựng thử thách cũng như rủi ro. Doanh nghiệp logistics hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay và chịu sự tác động của môi trường cạnh tranh cao và đối mặt với nhiều thách thức; do đó để tồn tại và phát triển đòi hỏi phải phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng.

Phát triển nhân lực vừa là động lực, vừa là mục tiêu của hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics. Tầm quan trọng của nhân lực không chỉ dừng lại ở nhận thức lý thuyết, ở tư duy của nhà quản lý, hoạch định chiến lược kinh doanh mà còn thể hiện ở trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng trong kinh doanh. Nhân lực là yếu tố vật chất quan trọng nhất, quyết định năng lực của lực lượng sản xuất xã hội, sử dụng khoa học công nghệ trong kinh doanh, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Nhân lực có trình độ cao sẽ tạo ra nền khoa học công nghệ hiện đại, có khả năng khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng ra nhiều ngành, lĩnh vực hiện đại, tạo ra nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường, phục vụ sự phát triển mạnh mẽ của dịch vụ logistics. Do đó, thúc đẩy doanh nghiệp logistics phát triển cần phải đầutư nâng cao chất lượng nhân lực cho các bộ phận của hoạt động logistics, từ các nhà quản lý cấp cao nhất đến phát triển đội ngũ quản lý doanh nghiệp, người lao động.

6/ Hệ thống doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics

Quá trình hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ, các doanh nghiệp logistics cần phải có tiềm lực tài chính để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống kho tàng bến bãi, mua sắm trang thiết bị, phương tiện vận chuyển, đầu tư xây dựng mạng lưới kinh doanh, ứng dụng công nghệ… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần liên kết, hợp tác với nhau để tạo thành chuỗi cung ứng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu tốt nhất cho khách hàng; từ đó làm tăng doanh thu, lợi nhuận, uy tín và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những yếu tố cần xem xét là quá trình phát triển về số lượng, quy mô về vốn, nhân lực của doanh nghiệp.

7/ Thị trường cho các doanh nghiệp logistics

Doanh nghiệp logistics hoạt động chủ yếu trong lĩnh vục phân phối và lưu thông. Do đó thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp logistics là những khu vực tiếp giáp với các hành lang kinh tế, cửa khẩu quốc tế. Hoạt động logistics luôn gắn liền với đặc trưng của từng loại hàng hóa. Vì vậy, các sản phẩm đa dạng, có tính chất, đặc điểm khác nhau yêu cầu phải có hoạt động logistics tương ứng. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics cần tìm hiểu, nghiên cứu danh mục hàng hóa sản xuất và tiêu thụ trên địa bàn, từ đó xây dựng kế hoạch kinh doanh, đầu tư trang thiết bị phù hợp. Các sản phẩm hàng hóa khác nhau yêu cầu hình thành các hoạt động logistics đặc thù như logistics hàng tiêu dùng, logistics xăng dầu, logistics hóa chất…

Bên cạnh đó, những thói quen, tập quán trong kinh doanh cũng ảnh hưởng đến nhu cầu dịch vụ logistics. Các doanh nghiệp logistics cần tìm hiểu nhu cầu thị trường để cung cấp dịch vụ phù hợp, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và mang lại hiệu quả kinh doanh cao.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần VIII


iii/ Lợi nhuận:

Lợi nhuận của doanh nghiệp logistics được tính như sau:

Rdvlog = Sdvlog – Cdvlog

Trong đó:

Rdvlog: Lợi nhuận từ dịch vụ logistics doanh nghiệp thực hiện được trong kỳ.

Sdvlog: Doanh thu từ dịch vụ logistics của doanh nghiệp trong kỳ.

Cdvlog: Chi phí bỏ ra trogn quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics trong kỳ.

Lợi nhuận là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, là nguồn gốc của tái sản xuất mở rộng kinh doanh và là đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao hiệu quả kinh doanh trên cơ sở của chính sách phân phối lợi nhuận hợp lý.

2/ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (ROE)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, thể hiện một trăm đồng vốn kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.

ROE = R/E x 100%

Trong đó:

ROE: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh (%)

R: Lợi nhuận từ dịch vụ logistics doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.

E: Tổng vốn kinh doanh trong kỳ.

3/ Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí kinh doanh (ROC)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ, thể hiện một trăm đồng chi phí kinh doanh mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

ROC = R/C x 100%

Trong đó:

ROC: Mức danh lợi từ chi phí kinh doanh trong kỳ (%)

R: Lợi nhuận từ dịch vụ logistics doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.

C: Tổng chi phí kinh doanh trong kỳ.

4/ Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA)

Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả sử dụng từ giá trị tài sản đầu tư của doanh nghiệp, thể hiện 100 đồng giá trị tài sản mang lại bao nhiều đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

ROA = R/A x 100%

ROA: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (%)

R: Lợi nhuận từ dịch vụ logistics doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.

A: Tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.

5/ Năng suất lao động bình quân của một lao động

Chỉ tiêu này cho thấy trung bình một loa động của doanh nghiệp thực hiện được bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ hoặc bao nhiêu đồng thu nhập trong kỳ.

W = DT/LĐbq hoặc W = TN/LĐbq

Trong đó:

W: Năng suất lao động bình quân một lao động trong kỳ

DT: Doanh thu (doanh số bán) thực hiện trong kỳ.

TN: Tổng thu nhập

LĐbq: Tổng số lao động bình quân của doanh nghiệp trong kỳ.

6/ Thu nhập bình quân của lao động

Là mức thu nhập bình quân hàng tháng của lao động trong doanh nghiệp, được tính dựa trên tổng thu nhập cả năm và chia cho 12 tháng.

7/ Dịch vụ logistics tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics

Những yếu tố được đánh giá là doanh thu, lợi nhuận, chất lượng dịch vụ khách hàng, khả năng tiêu thụ hàng hóa, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đảm bảo yếu tố đúng thời gian và địa điểm.

8/ Dịch vụ logistics tác động đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn lực, giảm thiểu chi phí của các doanh nghiệp

Đánh giá mức giảm chi phí khi sử dụng dịch vụ logistics thuê ngoài so với việc doanh nghiệp tự thực hiện.

9/ Dịchv vụ logistics tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics

Các chỉ tiêu được đánh giá là khả năng ảnh hưởng đến ROS, ROE, ROC, ROA, năng suất lao động, thu nhập của người lao động.

5.4/ Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Logistics

1/ Thể chế pháp luật

Thể chế pháp luật là yếu tố khách quan để hình thành và phát triển của bất cứ ngành kinh doanh nào. Khi kinh doanh trên một lãnh thổ, địa phương, doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ các quy định pháp luật của khu vực đó, doanh nghiệp logistics hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ logistics, bao gồm nhiều hoạt động và các hoạt động này chịu sự quản lý của nhiều bộ ngành liên quan. Các doanh nghiệp logistics tham gia vào quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm, liên quan đến lĩnh vực thương mại và các lĩnh vực sản xuất. Ngoài ra, doanh nghiệp logistics thực hiện dịch vụ vận tải, giao nhận, kho bãi, liên quan đến ngành giao thông vận tải. Sự liên quan của nhiều bộ ngành khác nhau đòi hỏi phải có thể chế, quy định pháp luật thuận lợi, chính sách phát triển đồng bộ nhằm hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, thể chế pháp luật là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Trong giai đoạn Việt Nam đang mở cửa thị trường dịch vụ logistics theo lộ trình cam kết, các cơ chế, chính sách về kinh doanh dịch vụ logistics, phát triển doanh nghiệp logistics cần phải bổ sung, hoàn thiện. Thể chế pháp luật, bao gồm các quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng, các chính sách thể hiện sự quan tâm, ủng hộ của Nhà nước đối với doanh nghiệp logistics là điều kiện để thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics phát triển.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần VII


Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics cũng có thể đánh giá theo các nhóm chỉ tiêu về tài chính, về khách hàng, về quy trình kinh doanh nội bộ và đào tạo, phát triển (Chia và các tác giả, 2009). Các chỉ tiêu đánh giá được thể hiện như sau:

i/ Nhóm chỉ tiêu về tài chính bao gồm lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI), tổng doanh thu, lợi nhuận trước thuế và mức giảm chi phí.

ii/ Nhóm chỉ tiêu về khách hàng, bao gồm thị phần, số lượng khách hàng giữ lại và sự hài lòng của khách hàng.

iii/ Nhóm chỉ tiêu về quy trình kinh doanh nội bộ bao gồm chất lượng của dịch vụ, dịch vụ mới được triển khai, giao hàng đúng hạn và mức giảm chất thải.

iv/ Nhóm chỉ tiêu về đào tạo và phát triển bao gồm sự hài lòng của nhân viên, thu nhập của nhân viên, số lượng sáng kiến được thực hiện trên mỗi nhân viên và tiền đầu tư vào đào tạo nhân viên.

Chất lượng dịch vụ logistics cung cấp cho khách hàng có thể được đánh giá bằng mô hình SERVQUAL (Parasuraman và các tác giả, 1991). Theo đó, các chỉ tiêu đánh giá gồm:

i/ Tài sản hữu hình (Tangibles): Thể hiện bởi hình thức và chất lượng của các thiết bị, công cụ, nhân lực.

ii/ Độ tin cậy (Reliability): Thể hiện khả năng đáp ứng đầy đủ và chính xác các cam kết dịch vụ.

iii/ Sự nhiệt tình (Responsiveness): Thể hiện sự sẵn lòng để giúp các thành viên của chuỗi cung ứng (nhà cung cấp và khách hàng) và cung cấp dịch vụ nhanh chóng.

iv/ Sự bảo đảm (Assurance): Có đủ năng lực về kiến thức và nhã nhặn để tạo niềm tin và sự tự tin.

v/ Sự đồng cảm (Empathy): Quan tâm và chăm sóc riêng biệt cho khách hàng.

Chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng cũng có thể được đánh giá theo các chỉ tiêu: Giá mục tiêu (Tp); Tỷ lệ hàng bị từ chối (Lr); Tỷ lệ hàng chậm (Ld); Khiếu nại nội bộ trong quá trình tạo sản phẩm (Lc); Khiếu nại của khách hàng (Cc) và Dịch vụ khiếu nại (Cs) (Chen, 2008).

Từ những cơ sở khoa học về nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics như trên và dựa trên số liệu sơ cấp, thứ cấp thu thập được, trong khuôn khổ bài này tác giả sử dụng mô hình đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics như sau:Các chỉ tiêu được xác định cụ thể như sau:

1/ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng doanh thu từ cung cấp dịch vụ logistics thực hiện mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp trong kỳ.

ROS – R/S x 100%

Trong đó:

ROS: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu từ dịch vụ logistics của doanh nghiệp trong kỳ (%)

R: Lợi nhuận từ dịch vụ logistics doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.

S: Doanh thu dịch vụ logistics thực hiện của doanh nghiệp trong kỳ.

Ở đây, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp logistics được xác định như sau:

i/ Doanh thu

Doanh thu từ hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics là toàn bộ tiền thu được từ hoạt động cung ứng dịch vụ logistics trên thị trường sau khi đã trừ khi các khoản chiết khấu, giảm giá.

Doanh thu từ kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện trong kỳ được xác định bằng cách nhân giá bán dịch vụ với khối lượng dịch vụ cụ thể:Trong đó:

Sdv: Là tổng doanh thu từ hoạt động thực hiện dịch vụ logisitcs trong kỳ.

Pi: Là giá cả một đơn vị dịch vụ logistics thứ i.

Qdvi: Là khối lượng dịch vụ logistics thứ i thực hiện trong kỳ.

n: Là số loại dịch vụ logistics mà doanh nghiệp thực hiện.

ii/ Chi phí:

Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu thì chi phí logistics có thể vượt quá 25% chi phí sản xuất. Nên nếu quản trị logistics tốt có thể tiết kiệm chi phí rất đáng kể, góp phần tăng lợi nhuận của công ty. Từ đó có thể thấy tổng chi phí là chỉ tiêu rất quan trọng của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics để đánh giá hiệu quả kinh doanh logistics của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh được hình thành từ chi phí của các hoạt động trong quá trình. Các loại chi phí chủ yếu tham gia vào quá trình cung ứng dịch vụ logistics:

+ Chi phí dịch vụ khách hàng: Chi phí phục vụ khách hàng bao gồm các chi phí để hoàn tất những yêu cầu của đơn đặt hàng (chi phí phân loại, kiểm tra, bao bì đóng gói, dán nhãn…), chi phí để cung cấp dịch vụ phụ tùng, chi phí để giải quyết tình huống hàng bị trả lại… chi phí dịch vụ khách hàng liên quan mật thiết với các khoản chi phí vận tải, chi phí dự trữ và chi phí công nghệ thông tin.

+ Chi phí vận tải: là một trong những khoản lớn nhất trong chi phí logistics. Chi phí vận tải chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: Loại hàng hóa, quy mô sản xuất, tuyến đường vận tải… Chi phí cho một đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch đối với khối lượng vận tải và tỷ lệ thuận đối với quãng đường vận chuyển.

+ Chi phí quản lý kho và chi phí dự trữ:

Chi phí quản lý kho: Chi phí quản lý kho nhằm đảm bảo cho các nghiệp vụ kho được diễn ra suôn sẻ, bao gồm các chi phí khảo sát, chọn địa điểm và xây dựng kho. Chi phí quản lý kho tỷ lệ thuận với số lượng kho hàng.

Chi phí dự trữ: Hoạt động logistics tạo ra chi phí dự trữ. Chi phí này tăng giảm tùy theo số lượng hàng dự trữ.

Chi phí giải quyết đơn hàng và hệ thống thông tin: Để hiệu quả hơn trong kinh doanh thì chi phí cho hoạt động hỗ trợ dịch vụ khách hàng và kiểm soát là một chi phí không nhỏ để trao đổi với khách hàng và các bộ phận có liên quan để giải quyết đơn đặt hàng, để thiết lập các kênh phân phối, dự báo nhu cầu thị trường.

Chi phí sản xuất, thu mua, chuẩn bị hàng: Khoản chi phí này để thu mua, sản xuất, chuẩn bị hàng để cung cấp cho khách hàng. Chi phí gồm rất nhiều khoản chi phí nhỏ. Ví dụ: Xây dựng cơ sở, lắp đặt máy móc thiết bị, tìm nhà cung cấp nguyên vật liệu, mua và tiếp nhận nguyên vật liệu…

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần VI


Các mục tiêu trên có thể phụ thuộc lẫn nhau hoặc cũng có thể mâu thuẫn với nhau. Ví dụ chất lượng dịch vụ khách hàng, khả năng sinh lợi và sự thỏa mãn nhân viên là những mục tiêu phụ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, sự mâu thuẫn xuất hiện nếu doanh nghiệp chậm tăng lương cho nhân viên nhằm mục đích tăng kết quả tài chính ngắn hạn, điều đó sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thu hút và giữ chân nhân viên giỏi có khả năng mang lại dịch vụ khách hàng chất lượng cao cho mục tiêu lợi nhuận dài hạn. Một ví dụ khác là doanh nghiệp có thể có lợi thế ngắn hạn khi sử dụng nhiều vật liệu đóng gói dưới chuẩn thân thiện môi trường nhưng có khả năng sẽ đối mặt với quy định pháp lý nghiêm khắc, tốn nhiều chi phí tuân thủ và giảm lợi nhuận trong dài hạn (Chow, 1994).

Theo các mục tiêu nêu trên, hiệu quả kinh doanh logistics có thể được đo lường, đánh giá theo các nhóm chỉ tiêu sau:

Các chỉ tiêu thống kê về tài chính (doanh thu, lợi nhuận);

Các chỉ tiêu thống kê về chi phí (chi phí vận tải, chi phí nhân công);

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu ra và chi phí đầu vào hoặc chỉ số đo lường hiệu quả (số lượt hàng vận chuyển/giờ);

Các chỉ tiêu định tính (chất lượng dịch vụ, thời gian vòng quay (nhanh/chậm)).

Mục tiêu của logistics và SCM là nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng, do đó nhiều nhà khoa học đã chú trọng đến đánh giá hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Croom (2000) cho rằng nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics cần chú trọng đến đo lường hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng, bao gồm sáu lĩnh vực: quản trị chiến lược, dịch vụ logistics, marketing, quan hệ khách hàng, mô hình tối ưu, hành vi tổ chức.

Mục tiêu của logistics là nâng cao hiệu suất và hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Do đó, hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics cần được đánh giá thông qua hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng. Theo quan điểm này, Keebler và Plank (2009) cho rằng hiệu quả kinh doanh dịch vụ logistics cần được đánh giá theo các nhóm chỉ tiêu đánh giá.

Thứ nhất, hiệu quả trong doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đo lường gồm sự chính xác kiểm hàng tồn kho, thời gian vòng quay tiền, sự chính xác trong xử lý hàng, đáp ứng các yêu cầu đặt hàng.

Thứ hai, hiệu quả đối với các thành viên giao dịch trong chuỗi cung ứng. Các chỉ tiêu đo lường gồm số lần phản ánh của khách hàng, sự giao hàng đúng hạn, sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa, hàng trả lại, thời gian vòng quay đặt hàng, sự hài lòng của khách hàng, sự chính xác trong dự báo, sự chính xác của hóa đơn, thời gian trả lời khiếu nại.

Thứ ba, hiệu quả về chi phí. Các chỉ tiêu đánh giá gồm chi phí vận chuyển hàng, chi phí hàng tồn kho, chi phí dự trữ hàng ở kho của bên thứ ba, chi phí logistics trên từng đơn vị sản phẩm.

Thứ tư, hiệu quả về năng suất sản xuất sản phẩm. Các chỉ tiêu đánh giá gồm số lượng hàng hoàn thành tồn kho, số lượng đơn hàng được thực hiện, số lượng sản phẩm thực hiện trên một nhân công, số lượng sản phẩm thực hiện trên giờ, số lượng sản phẩm thực hiện trên một đơn vị vận tải.

Thứ năm, hiệu quả tối ưu hóa. Các chỉ tiêu đánh giá gồm khả năng sử dụng trang thiết bị hiệu quả, khả năng sử dụng kho bãi tối ưu, khả năng sử dụng nhân lực tối ưu.

5.3/ Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp Logistics

Những nghiên cứu về đặc điểm của doanh nghiệp logisitcs cho thấy doanh nghiệp logistics là loại hình doanh nghiệp đặc thù, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Do đó, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics không chỉ xem xét trong phạm vi doanh nghiệp mà còn tính đến hiệu quả lan tỏa đến doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics thông qua chất lượng dịch vụ (Chow, 1994). Khi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics chất lượng, hiệu quả cho khách hàng là các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics thì sẽ mang lại uy tín, danh tiếng cho doanh nghiệp logistics, từ đó doanh nghiệp logistics sẽ có nhiều hợp đồng cung cấp dịch vụ hơn, mang lại doanh thu cao hơn và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics thể hiện ở hiệu quả hoạt động nội bộ của doanh nghiệp logistics và hiệu quả của các đối tác trong chuỗi cung ứng cũng như các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics thông qua chất lượng các dịch vụ logistics cung cấp cho khách hàng. Theo quan điểm này, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics.

Theo Yuen (2006), hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics được đo lường theo năm tiêu chí:

i/ Hiệu quả tài chính và thị phần (Financial performance and market share). Đo lường bởi các chỉ số lợi nhuận biên, tỷ suất lợi nhuận trên đầu tư, doanh số trên một nhân viên, giá trị cổ phần so với năm trước và so với đối thủ cạnh tranh. Phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác trong chuỗi cung ứng góp phần nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Quá trình điều phối các hoạt động trong chuỗi cung ứng có tác động lớn lên tổng chi phí. Ví dụ, hãng sản xuất xe ô tô Ford Motor thiết lập mối quan hệ dài hạn để đạt được lợi thế cạnh tranh trong ngành công nghiệp ô tô. Theo chính sách quản lý chất lượng tổng thể (TQM) do Ford Motor áp dụng, mối quan hệ với các thành viên mua-bán được chuyển từ đối thủ sang đối tác. Thành công của Motor là bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp có thể tăng năng lực cạnh tranh nhờ vào các mối quan hệ hợp tác. Các doanh nghiệp cũng cần linh động để đáp ứng các nhu cầu và kỳ vọng khác nhau trên thị trường, không chỉ là yêu cầu thay đổi để phù hợp nhu cầu mà còn phải thay đổi nhanh chóng. Mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp 3PL, cần phải có sự thay đổi, điều chỉnh nhanh chóng, năng động để tăng thị phần.

ii/ Năng suất (Productivity). Thể hiện mối quan hệ giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra trong quá trình cung cấp dịch vụ. Năng suất của nhà cung cấp dịch vụ chuỗi cung ứng được thúc đẩy nhờ chất lượng dịch vụ 3PL. Việc áp dụng công nghệ thông tin và tri thức là những nhân tố góp phần nâng cao năng suất. Chiến lược phát triển kinh doanh bao gồm phát triển sản phẩm mới và tối ưu hóa nguồn lực. Doanh nghiệp phải hiểu rõ mối tương tác giữa quy trình kinh doanh khác nhau, từ đó xác định trọng tâm và có điều phối hài hòa các quy trình phát triển sản phẩm, nghiên cứu thị trường, phân phối nguồn lực, thiết lập và triển khai chiến lược kinh doanh.

iii/ Thời gian chu kỳ (Cycle Time): Giảm tối thiểu thời gian đưa sản phẩm mới ra thị trường, hay còn gọi là thời gian chu kỳ, là điều rất cần thiết. Trong thời đại công nghệ, doanh nghiệp chậm trên thị trường sẽ không bù đắp được chi phí phát triển sản phẩm trước khi loại sản phẩm đó trở nên lỗi thời. Điều này đặc biệt chính xác với ngành công nghiệp năng động chẳng hạn điện tử, nơi mà chu kỳ sản phẩm như máy tính thường ngắn hơn 12 tháng. Trong dịch vụ 3PL, công ty với thời gian chu kỳ ngắn có thể thường xuyên nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ với công nghệ tiên tiến nhất. Điều này sẽ phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo thương hiệu mạnh. Nó cũng giúp đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ trên thị trường.

iv/ Dịch vụ khách hàng (Customer Service): Dịch vụ khách hàng là vũ khí chiến lược để thu hút, duy trì khách hàng và đây là một trong những nhân tố quan trọng nhất dẫn đến thành công cảu nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ.

v/ Uy tín và danh tiếng (Reputation and Goodwill): Uy tín và danh tiếng của doanh nghiệp là tài sản vô hình thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 3PL.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần V


4.4/ Phân loại doanh nghiệp logistics theo khả năng tài chính

+ Các doanh nghiệp sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải, nhà kho… và sử dụng chúng để quản lý tất cả hay một phần các hoạt động logistics cho khách hàng của mình.

+ Các doanh nghiệp logistics không sở hữu tài sản hoạt động như người hợp nhất các dịch vụ logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể phải đi thuê phương tiện vận tải, nhà kho, bến bãi,… Việc thuê ngoài các dịch vụ logistics gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là Logistics Outsourcing.

4.5/ Phân loại doanh nghiệp logistics theo phạm vi lãnh thổ hoạt động

Các doanh nghiệp được phân loại thành doanh nghiệp Logistics toàn cầu (Global Logistics), doanh nghiệp Logistics quốc gia (National Logistics và doanh nghiệp Logistics Thành phố (City Logistics).

5/ Hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp Logistics

5.1/ Khái niệm hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp logistics

Mục tiêu của doanh nghiệp là hợp lý hóa mọi quá trình nhằm đạt được kết quả và hiệu quả tối ưu với nguồn lực sẵn có. Có rất nhiều định nghĩa về hiệu quả của các học giả trong và ngoài nước.

Theo một số học giả nước ngoài, hiệu quả có thể được định nghĩa là mối quan hệ giữa đầu ra của một hệ thống và nguồn đầu vào tương ứng dùng trong sản xuất (M. English và các tác giả, 1993). Trong kinh tế, hiệu quả là kết quả cao nhất có thể đạt được đối với mức đầu vào nhất định (Kwan and Eisenbeis, 1995). Trong công nghệ, hiệu quả được định nghĩa là việc sử dụng mức đầu vào tối thiểu để sản xuất một lượng đầu ra nhất định. Doanh nghiệp có thể đã đạt được hiệu quả công nghệ nhưng vẫn có thể nâng cao sản lượng bằng cách mở rộng sản xuất (Coelli và các tác giả, 2005).

Hiệu quả của một doanh nghiệp bao gồm hai thành phần: hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối nguồn lực. Hiệu quả kỹ thuật thể hiện khả năng doanh nghiệp đạt được sản lượng tối đa với mức đầu vào nhất định. Hiệu quả phân phối thể hiện khả năng doanh nghiệp sử dụng đầu vào với tỷ lệ hợp lý nhất cho sản lượng và giá thành tương ứng. Kết hợp hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối tạo ra hiệu quả kinh tế tổng thể (Coelli và các tác giả, 2005).

Theo Từ điển thuật ngữ Tài chính (Ngô Thế Chi, 2011), hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả đầu ra (giá trị sản xuất, doanh thu, lợi nhuận) với yếu tố đầu vào (chi phí kinh doanh) thể hiện dưới dạng phân số.

Tác giả Đặng Đình Đào (1998) tổng hợp và đưa ra bốn quan niệm về hiệu quả kinh doanh. Thứ nhất, “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Ở đây hiệu quả được đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng do tăng chi phí mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng có cùng hiệu quả. Quan niệm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan niệm này đã biểu hiện được quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí đã tiêu hao. Sản xuất kinh doanh là một quá trình trong đó các yếu tố tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có. Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi. Theo quan điểm này tính hiệu quả kinh doanh chỉ được xét tới phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Theo quan niệm thứ ba, hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Nó đã gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên quan điểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Để phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải cố định 1 trong 2 yếu tố hoặc kết quả đạt được hoặc chi phí bỏ ra nhưng theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin thì các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn biến đổi và vận động. Quan niệm thứ tư cho rằng hiệu quả kinh doanh là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tính cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong các doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Song khó khăn ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó. Đời sống nhân dân nói chung và mức sống nói riêng rất đa dạng phong phú, nhiều hình, nhièu vẻ phản ánh trong các chỉ tiêu mức độ thỏa mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống là điều kiện khó khăn.

Xét một cách chung nhất, hiệu quả kinh doanh dịch vụ phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của xã hội trong lĩnh vực dịch vụ thông qua ngưỡng chỉ tiêu hoặc đặc trưng kinh tế kỹ thuật được xác định bằng tỉ lệ so sánh giữa các đại lượng phản ánh kết quả đạt được về kinh tế với các đại lượng phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặc nguồn lực vật tư đã được huy động vào trong lĩnh vực kinh doanh (Đặng Đình Đào, 1998).

Từ đó cho ta thấy hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra:

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào

Xét trên góc độ khác, hiệu quả kinh doanh dịch vụ không tồn tại biệt lập với sản xuất. Những kết quả do thương mại mang lại tác động nhiều mặt đến nền kinh tế, chúng được đánh giá và đo lường trên cơ sở các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế liên quan tới toàn bộ quá trình sản xuất. Chỉ tiêu đó chính là năng suất lao động xã hội, là sự tiết kiệm lao động xã hội trên quy mô toàn nền kinh tế quốc dân.

Xét trên góc độ lý luận, hiệu quả kinh doanh dịch vụ là hoạt động thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần tăng năng suất lao động xã hội, là sự tiết kiệm lao động xã hội và tăng thu nhập quốc dân, qua đó tạo thêm nguồn tích lũy cho sản xuất và nâng cao mức sống, mức hưởng thụ của người tiêu dùng ở trong nước.

Trong công tác quản lý, hiệu quả kinh doanh được biểu hiện ở những dạng khác nhau, mỗi dạng thể hiện những đặc trưng, ý nghĩa cụ thể của hiệu quả. Việc phân loại hiệu quả kinh doanh theo những tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và mức hiệu quả kinh doanh, đồng thời đề ra các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp logistics.

5.2/ Phạm vi hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp Logistics

Logistics không phải là hoạt động đơn lẻ, mà bao gồm một chuỗi các hoạt động bao trùm quá trình sản phẩm được sản xuất và chuyển tới khách hàng. Do đó, hiệu quả kinh doanh logistics cần xem xét rộng hơn phạm vi doanh nghiệp và cần xem xét trên nhiều mục tiêu: tăng trưởng doanh thu, đảm bảo việc làm và điều kiện làm việc, làm hài lòng khách hàng, sự sẵn có sản phẩm, hiệu quả chi phí, khả năng sinh lợi, trách nhiệm xã hội, giao hàng đúng hạn, giữ cam kết, giảm thiểu hư hỏng và mất, giá thành hợp lý và sự linh hoạt (Chow, 1994).(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần IV


Thứ ba, doanh nghiệp logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà quản trị doanh nghiệp luôn phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm để bổ sung hiệu quả nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, thời gian giao nhận và kho bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm,… Để giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì nó cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh, bảo đảm hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thứ tư, doanh nghiệp logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp thông qua việc thực hiện các dịch vụ lưu thông bổ sung (các dịch vụ tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu phân phối lưu thông). Logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ các nhà phân phối, các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và rất phong phú.        Người vận tải giao nhận ngày nay phải triển khai thực hiện nhiều dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế ngày càng tăng của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (Logistics service providers) và dịch vụ logistics chất lượng đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp logistics.

4/ Phân loại doanh nghiệp Logistics

Dịch vụ logistics bao gồm một chuỗi các dịch vụ từ khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất cho đến khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Tùy theo khả năng, quy mô, các doanh nghiệp logisitcs có thể một hoặc một vài, thậm chí tất cả các khâu trong chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh đó, có nhiều cách để phân loại doanh nghiệp logistics như phân loại theo hình thức logistics, phân loại theo phạm vi lãnh thổ, phân loại theo lĩnh vực hoạt động, phân loại theo tính chuyên môn hóa.

4.1/ Phân loại doanh nghiệp logistics theo hình thức logistics

a/ Doanh nghiệp logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics)

Là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng mà chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm các hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường hàng không, các công ty kinh doanh kho bãi, khai thuê hải quan, trung gian thanh toán.

b/ Doanh nghiệp logistics bên thứ ba (3PL)

Là doanh nghiệp thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics, có thể bao gồm toàn bộ quá trình quản lý logistics hoặc một số hoạt động có chọn lọc. Ví dụ, thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất khẩu và vận chuyển nội địa, hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển hàng tới địa điểm quy định… Doanh nghiệp 3PL cung cấp nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. So với doanh nghiệp 2PL thì các doanh nghiệp 3PL cung cấp nhiều dịch vụ hơn, các dịch vụ mang tính chiến thuật hơn và tích hợp vào chuỗi cung ứng của khách hàng; do đó đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn về mặt thời gian và giảm chi phí.

c/ Doanh nghiệp logistics bên thứ tư (4PL)

4PL là khái niệm phát triển trên nền tảng 3PL. Doanh nghiệp 4PL là đơn vị tích hợp, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp toàn diện cho chuỗi cung ứng, trong đó bao gồm cả việc sử dụng dịch vụ của một số nhà cung cấp dịch vụ logistics 3PL khác nhau. Như vậy, trong khi doanh nghiệp 3PL thực hiện một chức năng logistics cụ thể nào đó thì doanh nghiệp 4PL hướng đến quản trị cả quá trình logistics thông qua việc sử dụng nguồn lực và khả năng của mình để quản lý dòng lưu chuyển vật tư, hàng hóa, cung cấp giải pháp chuỗi cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics…

d/ Doanh nghiệp logistics bên thứ năm (5PL)

Hình thức 5PL phát triển nhằm phục vụ cho sự phát triển nhằm phục vụ cho sự phát triển của thương mại điện tử. Doanh nghiệp 5PL quản lý và điều phối hoạt động của các doanh nghiệp 3PL, 4PL thông qua các giải pháp thông tin liên quan đến cung và cầu trên thị trường dịch vụ logistics điện tử. Như vậy, các doanh nghiệp 5PL hoạt động trên nền tảng hoàn thiện dòng chu chuyển của nguyên vật liệu trong toàn bộ chuỗi cung ứng với mục đích ứng dụng và phát triển các chuỗi cung ứng linh hoạt, nhằm thỏa mãn nhu cầu tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng.

4.2/ Phân loại doanh nghiệp logistics theo tính chuyên môn hóa

a/ Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải

Gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải đường sắt, đường bộ, đường thủy, hàng không, đường ống, dịch vụ vận tải đa phương thức, dịch vụ môi giới vận tải.

b/ Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phân phối

Gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phân phối bán buôn, bán lẻ, dịch vụ bưu chính, chuyển phát.

c/ Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kho bãi

Gồm các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa.

d/ Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics chuyên ngành

Gồm các doanh nghiệp CNTT, các doanh nghiệp viễn thông, các doanh nghiệp cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo.

4.3/ Phân loại doanh nghiệp logistics theo đối tượng hàng hóa phục vụ

+ Doanh nghiệp logistics hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn – Fast Moving Consumer Goods (FMCG) logistics: Là loại hình logistics áp dụng đối với những mặt hàng có thời hạn sử dụng ngắn như thực phẩm, quần áo, giày dép. Đối với những mặt hàng này thì yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng.

+ Doanh nghiệp logistics ngành ô tô (Automotive Logistics): Đối với ngành hàng này, cần đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ phận sản xuất, các chi tiết, phụ tùng riêng lẻ sao cho thời điểm cuối của công đoạn này là thời điểm đầu của công đoạn tiếp theo. Một khâu đặc biệt quan trọng trong loại hình logistics này là việc dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế.

+ Doanh nghiệp logistics của nhiều ngành khác như Logistics ngành hóa chất (Chemical Logistics); Logistics hàng điện tử (Electronic Logistics); Logistics ngành dầu khí (Petroleum Logistics); Logistics hàng tư liệu sản xuất; Logistics hàng nông sản phẩm; Logistics hàng công nghiệp tiêu dùng…

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần III


f/ Do logistics là chuỗi các dịch vụ nhằm tối ưu hóa quá trình chu chuyển, dự trữ hàng hóa từ điểm đầu cho đến điểm cuối. Cho nên nhà quản trị logistics cần tính toán, cân đối chi phí ở từng hoạt động riêng lẻ và tìm cách giảm tổng chi phí xuống mức thấp nhất.

Tổng chi phí của hệ thống logistics được hình thành từ các khoản chi phí thành phần và được tính theo công thức:

CFLOG = Fv + Ftk + Flk + Fdt + Fdh

Trong đó:

CFLOG: Tổng chi phí hệ thống Logistics;

Fv: Cước phí vận chuyển hàng hóa;

Ftk: Chi phí hàng tồn kho;

Flk: Chi phí lưu kho;

Fdt: Chi phí xử lý đơn hàng và hệ thống thông tin;

Fdh: Chi phí đặt hàng

Để giảm được tổng chi phí phải có biện pháp tối ưu hóa các chi phí thành phần. Bên cạnh đó, phải xác định phương án kinh doanh hợp lý nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng dịch vụ khách hàng. Theo kết quả điều tra của các nhà nghiên cứu thì chi phí logistics có thể vượt quá 25% chi phí sản xuất (Đoàn Thị Hồng Vân, 2010), do đó nếu quản trị logistics tốt có thể tiết kiệm được một khoản chi phí đáng kể, góp phần tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó có thể thấy tổng chi phí là chỉ tiêu rất quan trọng của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics để đánh giá hiệu quả kinh doanh logistics của doanh nghiệp.

3/ Vai trò của doanh nghiệp Logistics

Vai trò của doanh nghiệp logistics được đánh giá trên cả hai cấp độ, vĩ mô và vi mô. Ở góc độ vĩ mô – nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp logistics có vai trò quan trọng sau đây:

Thứ nhất, thông qua quá trình lưu thông, cung ứng hàng hóa, doanh nghiệp logistics góp phần gắn kết nền kinh tế của các địa phương, khu vực và quốc gia trong một tổng thể thống nhất, đưa quốc gia trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu, gắn nền kinh tế quốc dân với nền kinh tế thế giới. Doanh nghiệp logistics cung cấp chuỗi dịch vụ về giao nhận, phân phối, lưu thông hàng hóa góp phần liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu (GVC – Global Value Chain). Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, dịch vụ logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp. Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp. Sự phát triển logistics làm cho nền kinh tế quốc dân gắn với nền kinh tế khu vực và thế giới.

Thứ hai, doanh nghiệp logistics tham gia vào quá trình lưu thông, cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu cảu sản xuất và đời sống, góp phần mở rộng thị trường trong thương mại quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất inh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Doanh nghiệp logistics là chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Doanh nghiệp logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, đặc biệt trong việc nâng cao mức hưởng thụ của người tiêu dùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Thứ ba, doanh nghiệp logistics giúp tiết kiệm và giảm chi phí trong quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa. Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development), chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10 – 15% giá FOB, hay 8 – 9% giá CIF (Đặng Đình Đào và Nguyễn Minh Sơn, 2011). Vì vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý…) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển (Đặng Đình Đào & cộng sự, 2011). Dịch vụ logistics phát triển sẽ làm giảm chi phí lưu thông trong hoạt động phân phối và từ đó tăng tính hiệu quả của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đối với nước ta, việc phát triển hệ thống logistics hiện đại theo hướng bền vững còn có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết ùn tắc và giảm tai nạn giao thông, nhất là ở các thành phố lớn, hiện đang là cản trở lớn đối với tái cơ cấu kinh tế, phát triển nhanh và bền vững.

Ở cấp độ vi mô, doanh nghiệp logistics có vai trò rất quan trọng. Cụ thể:

Thứ nhất, doanh nghiệp logistics góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Theo thống kê của nhiều tổ chức nghiên cứu về logistics cho thấy, chi phí cho hoạt động logistics chiếm tới khoảng 10 – 13% GDP ở các nước phát triển, con số này ở các nước đang phát triển thì cao hơn, khoảng 15 – 20% (Đặng Đình Đào & cộng sự, 2011). Trong điều kiện nguồn lực có giới hạn, logistics luôn được các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm nghiên cứu và phát triển. Tuy vậy, ở nước ta, nhận thức về vị trí và vai trò của dịch vụ logistics đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn rất hạn chế và chưa đầy đủ.

Thứ hai, doanh nghiệp logistics đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm yếu tố đúng thời gian, đúng địa điểm (just in time), nhờ đó đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra theo nhịp độ đã định, góp phần nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của các doanh nghiệp. Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn nhiều lần so với thời kỳ trước đây, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải và giao nhận. Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, ứng dụng doanh nghiệp phải tính toán để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất. Kết quả là hoạt động lưu thông nói chung và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu. Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần II


2/ Đặc điểm doanh nghiệp Logistics

a/ Doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực phân phối và lưu thông. Do đó, chịu chi phối của quy luật phân phối và lưu thông hàng hóa. Đây là đặc điểm cơ bản nhất quyết định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics, thể hiện các đặc điểm khác biệt so với doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp xây dựng, doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân.

Khác với doanh nghiệp sản xuất, xây dựng, công nghiệp lấy việc tạo ra sản phẩm theo nhu cầu tiêu dùng làm hoạt động chính, doanh nghiệp logistics hoạt động trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa, thực hiện các hoạt động dịch vụ nhằm vận chuyển hàng hóa từ nơi sản xấut đến nơi tiêu dùng một cách thuận lợi nhất. Doanh nghiệp logistics thực hiện các hoạt động giao nhận, vận chuyển, vận tải, lưu kho hàng hóa, làm thủ tục hải quan,… nhằm lưu chuyển hàng hóa đến tay người tiêu dùng, xét về bản chất là các hoạt động dịch vụ tiếp tục quá trình sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Kết quả của các hoạt động này nhằm đảm bảo sự liên tục của quá trình sản xuất với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Nhằm thực hiện tốt chức năng lưu thông, cung ứng hàng hóa, doanh nghiệp logistics cần tổ chức tốt quy trình cung ứng sản phẩm một cách kịp thời, đồng bộ cho các nhu cầu cụ thể của khách hàng, hay nói theo quan điểm 7 đúng (7 rights) là cung cấp đúng sản phẩm đến đúng khách hàng, một cách đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đúng thời gian với chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm. Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các đơn vị trong ngành kinh doanh, giữa trong ngành với ngoài ngành và với thị trường quốc tế trên một quy mô lớn và ngày càng khốc liệt. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp logistics phải là người “hậu cần” tốt của sản xuất và tiêu dùng, đem đến cho khách hàng những hàng hóa đủ về số lượng, tốt về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, kịp thời gian và giá cả hợp lý.

b/ Doanh nghiệp logistics thực hiện chức năng lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ nên cơ cấu vốn kinh doanh, chi phí khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất.

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp logistics tồn tại chủ yếu ở các tài sản là hàng hóa, là phương tiện để thực hiện hoạt động dịch vụ logistics, trong đó tài sản lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn (hơn 80%) trong tổng tài sản kinh doanh, tính chất chu chuyển tài sản lưu động nhanh hơn, đặc biệt là phần tài sản danh cho dự trữ hàng hóa. Ví dụ đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển, tài sản để kinh doanh là các con tàu vận chuyển hàng hóa trên biển có giá trị rất lớn. Do đó, việc sử dụng hiệu quả các trang thiết bị này quyết định kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc điểm này cần được tính đến khi quy định mức thuế theo từng loại vốn, từng ngành hàng kinh doanh.

Đặc điểm chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp logistics là chi phí lưu thông (logistics) trong đó chi phí khấu hao, chi phí nhiên liệu và tiền lương chiếm tỷ trọng lớn. Theo báo cáo tài chính năm 2015 của Công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam (VOSCO), chi phí khấu hao tài sản chiếm 17,3%, chi phí nhiên liệu chiếm 16,5% và chi phí tiền lương chiếm 8,2% trên tổng chi phí. Tùy đặc điểm, tính chất, quy mô, phạm vi kinh doanh khác nhau thì cơ cấu chi phí của doanh nghiệp cũng khác nhau, do đó cần phân tích cơ cấu chi phí, chú ý những khoản chi phí lớn, quan trọng để có biện pháp quản lý, giảm chi phí kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

c/ Thu nhập của doanh nghiệp logistics hình thành chủ yếu do cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà có

Sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp logistics là dịch vụ phục vụ khách hàng, đây là sản phẩm phi vật chất (phần mềm), khác với sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất là sản phẩm vật chất (phần cứng). Doanh nghiệp logistics tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ cho khách hàng nên phạm vi thị trường rộng lớn, bao gồm cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Khi đã hình thành chuỗi cung ứng toàn cầu, hoạt động của doanh nghiệp logistics có thể liên doanh với các đơn vị sản xuất, chế biến, đặt hàng, phân phối và chuyển giao cho khách hàng các sản phẩm ở dạng hoàn thiện nhất.

Việc xác định nhu cầu của khách hàng và cung cấp các dịch vụ theo những nhu cầu đó với chi phí hiệu quả tối đa là nhiệm vụ của doanh nghiệp logistics. Chất lượng dịch vụ khách hàng, từ những giao dịch ban đầu với khách hàng đến việc giải quyết hợp lý các vấn đề phát sinh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để giữ được khách hàng cũ và thu hút thêm khách hàng mới. Chất lượng dịch vụ khách hàng sẽ góp phần nâng cao mức độ thỏa mãn của khách hàng, đồng thời nâng cao uy tín của doanh nghiệp logistics.

d/ Thu nhập của doanh nghiệp logistics hình thành chủ yếu từ bộ phận lao động bổ sung, gắn với lưu thông bổ sung trong doanh nghiệp

Doanh nghiệp logistics thực hiện quá trình lưu thông bổ sung trong lĩnh vực cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho các nhu cầu của sản xuất và đời sống (các dịch vụ giá trị gia tăng). Doanh nghiệp logistics lưu chuyển hàng hóa do các doanh nghiệp sản xuất tạo ra và thêm vào các hoạt động dịch vụ làm hài lòng khách hàng như chuyển đưa hàng hóa đầy đủ, đồng bộ, kịp thời, đúng thời gian, địa điểm và đúng giá cả đã thỏa thuận trước. Dịch vụ không chỉ là phương tiện nâng cao chất lượng phục vụ tiêu dùng mà còn là phương tiện cạnh tranh hiệu quả với các đối thủ cạnh tranh để giành được khách hàng, mở rộng thị trường, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Muốn vậy, doanh nghiệp logistics phải định hướng khách hàng đổi mới mọi hoạt động kinh doanh, đặt khách hàng vào vị trí trung tâm trong hoạt động của mình, không ngừng nâng cao trình độ thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng bằng phương thức phục vụ, bằng giá cả hợp lý và bằng các hoạt động dịch vụ khách hàng. Để thực hiện tốt chức năng này doanh nghiệp logistics cần liên kết, phối hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… để cung ứng cho khách hàng dịch vụ hoàn hảo nhất. Do chuyên môn hóa thực hiện các hoạt động dịch vụ nên doanh nghiệp logistics có thể sử dụng tất cả các thế mạnh của mình trong việc giúp đỡ khách hàng lựa chọn các loại sản phẩm phù hợp với chất lượng và giá cả khác nhau, thiết lập các kênh phân phối để đưa hàng đến nơi tiêu dùng theo đúng yêu cầu.

e/ Năng suất lao động trong các doanh nghiệp logistics khi tính toán, xác định có đặc thù riêng

Để tránh trùng lặp trong tính toán, phản ánh đúng năng suất lao động trong lĩnh vực logistics, khi xác định năng suất lao động trong lĩnh vực logistics cần phân tích các hoạt động kinh doanh trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, so sánh hiệu quả đầu ra với nguồn cung ứng đầu vào, ví dụ như chi phí vận chuyển tỷ lệ với doanh số bán, doanh số với mức chi phí dự trữ trung bình, lượng hàng chuyển vào kho tỷ lệ với thời gian lao động… Ngoài ra, việc đánh giá năng suất lao động đặc biệt có ý nghĩa khi hoạt động của doanh nghiệp logistics cần được so sánh với doanh nghiệp khác hoặc với toàn ngành. Bên cạnh đó, cần so sánh giữa các giai đoạn và thời gian khác nhau (so với kỳ trước, so với cùng kỳ của năm trước). Ví dụ về tính toán, so sánh năng suất các hoạt động logistics được thể hiện như sau:(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Doanh nghiệp logistics – Phần I


1/ Khái niệm doanh nghiệp logistics

Trên thế giới, nhiều học giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp logistics. Trong đó, định nghĩa tiêu biểu được nhiều học giả sử dụng trích dẫn trong các công trình nghiên cứu là của Coyle và các tác giả (1996), theo đó: doanh nghiệp logistics (LSP – Logistics Service Providers) là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, thực hiện một công đoạn hoặc toàn bộ chức năng logistics, bao gồm chuỗi dịch vụ về giao nhận hàng hóa như làm các thủ tục giấy tờ, tổ chức vận tải, đóng gói bao bì, ghi nhãn hiệu, lưu kho, lưu bãi, phân phối hàng hóa tới các đại lý phân phối hoặc nơi tiêu thụ khác nhau, chuẩn bị hàng luôn luôn ở tình trạng sẵn sàng theo yêu cầu của khách hàng.

Theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Theo khoản 7, Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2014) (Quốc hội, 2014). Quá trình kinh doanh thực hiện một cách liên tục, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích để sinh lợi.

Luật Thương mại 2005 (Quốc hội, 2005) quy định dịch vụ logistics là hoạt động thương mại. Để cụ thể hóa Điều 233 của Luật Thương mại, Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 05/09/2007 của Chính phủ phân loại dịch vụ logistics thành dịch vụ chủ yếu, dịch vụ liên quan đến vận tải và các dịch vụ liên quan khác. Giữa các loại dịch vụ này có mối quan hệ qua lại với nhau và chúng đòi hỏi phải đặt vào trong một chuỗi dịch vụ logistics thống nhất để hình thành nên giá trị trong nền kinh tế thị trường. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xây dựng bộ tiêu chuẩn để đánh giá thống nhất chất lượng của dịch vụ này trong điều kiện của Việt Nam và quốc tế.

Bảng 1: Phân loại dịch vụ logistics

Dịch vụ chủ yếu Dịch vụ liên quan đến vận tải Dịch vụ liên quan khác
a/ Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả HĐKD kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.

b/ Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng.

c/ Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.

a/ Dịch vụ vận tải hàng hải.

b/ Dịch vụ vận tải thủy nội địa.

c/ Dịch vụ vận tải hàng không.

d/ Dịch vụ vận tải đường sắt.

e/ Dịch vụ vận tải đường bộ.

f/ Dịch vụ vận tải đường ống

a/ Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật.

b/ Dịch vụ bưu chính.

c/ Dịch vụ thương mại bán buôn.

d/ Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng.

e/ Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

Như vậy, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh các dịch vụ logistics theo quy định của Luật Thương mại 2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP được gọi là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics (gọi tắt là doanh nghiệp logistics).

Từ các khái niệm về dịch vụ logistics, doanh nghiệp logistics của quốc tế và trong nước như trên, trong khuôn khổ ở đây, nhóm tác giả đưa ra định nghĩa doanh nghiệp logistics như sau: Doanh nghiệp logistics là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics, thực hiện mọi hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động logistics hoặc toàn bộ chức năng logistics, bao gồm chuỗi dịch vụ về giao nhận, phân phối hàng hóa tới các đại lý phân phối hoặc nơi tiêu thụ khác nhau, chuẩn bị hàng hóa luôn ở tình trạng sẵn sàng theo yêu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp logistics bao gồm các loại hình doanh nghiệp 2PL, 3PL, 4PL, 5PL.

+ Doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp rất linh hoạt cả ở quy mô lao động, quy mô tài chính và lĩnh vực hoạt động. Quy mô doanh nghiệp có thể co hẹp hay mở rộng phù hợp với biến động của môi trường.

+ Doanh nghiệp logistics không giới hạn điều kiện kinh doanh đối với chủ doanh nghiệp. Logistics ngành dịch vụ hậu cần với mức đóng góp vào GDP cao so với bình quân chung các ngành. Do vậy, ngày càng có nhiều doanh nghiệp logistics ra đời.

+ Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, nền kinh tế xã hội và đời sống con người thay đổi rõ nét, môi trường kinh doanh biến động liên tục. Sự phát triển của thương mại trong nước và ngoại thương chính là tiền đề kinh doanh logistics phát triển. Logistics phát triển song hành với sự gia tăng của lưu lượng hàng hóa, sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp và trung tâm thương mại.

+ Cảng biển với vai trò là điểm chuyển giao và kết nối các phương thức vận tải là nơi hội tụ nhiều doanh nghiệp logistics hoạt động. Năng lực thông qua của hệ thống cầu bến quyết định tải trọng và quốc tịch tàu cập cảng.

+ Vận tải được coi là huyết mạch của nền kinh tế, cũng có thể được coi là ngành xương sống của logistics.

+ Nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều ngành nghề khác nhau tham gia kinh doanh dịch vụ logistics, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp logistics rộng về địa lý và lĩnh vực kinh doanh.

+ Kết mảng trong kinh doanh bằng các mạng công việc nhằm có những liên kết dọc (liên kết ngoài ngành) và liên kết ngang (liên kết trong ngành) sẽ giúp doanh nghiệp logistics phát huy điểm mạnh và khắc phục những hạn chế về tiềm lực.

+ Sứ mệnh của doanh nghiệp logistics là đưa được đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, thời gian và hoàn cảnh yêu cầu, đồng thời phải đem lại những đóng góp lớn nhất cho doanh nghiệp (Ballou, 1992). Tiết kiệm thời gian và chi phí là lợi thế cạnh tranh chính của doanh nghiệp logistics. Đôi khi, tiết kiệm thời gian lại là năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Tiêu chí “JIT – vừa kịp giờ” nhằm tiết kiệm chi phí lưu kho cho khách hàng, tồn kho tiệm cận bằng 0.

+ Thời gian làm hàng logistics bao gồm thời gian xếp dỡ, vận chuyển, lưu kho và thời gian chờ làm thủ tục. Để giảm thời gian làm thủ tục chủ yếu cần có sự ủng hộ nhất định của một số cơ quan Nhà nước. Từ đó sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng tốc độ quay vòng vốn cho doanh nghiệp.

+ Khách hàng thường xuyên quan tâm đến thông tin truy vấn về hàng hóa của họ. Do vậy, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin được coi là thế mạnh của doanh nghiệp logistics.

+ Marketing dựa vào công nghệ thông itn là thế mạnh của doanh nghiệp logistics đặc biệt với đối tác nước ngoài. Tuy nhiên, mạng quan hệ công việc là điều kiện cần quan trọng khi kinh doanh logistics vì nó tạo niềm tin và uy tín trong kinh doanh logistics. Bên cạnh đó, nó giúp doanh nghiệp logistics giảm thời gian chờ đợi và làm hàng.

+ sự đổi mới trong công nghệ logistics chính là nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp logistics. Sự đổi mới công nghệ logistics gồm 3 thành tố: công nghệ, tri thức, mạng lưới quan hệ công việc. Do vậy, doanh nghiệp logistics chỉ có thể đạt được thành công khi quan tâm đến đổi mới công nghệ trong xây dựng chiến lược.

Tóm lại, logistics là một ngành luôn yêu cầu đổi mới, rất năng động, đòi hỏi nhiều tri thức, mối quan hệ công việc dựa trên nền tảng công nghệ phù hợp và hiện đại. Ngày nay, sự chuyên sâu về lao động dần chuyển sang chuyên sâu về tri thức sẽ là lợi thế của doanh nghiệp logistics trong thời đại công nghệ và hội nhập.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.

Tổng quan về logistics – Phần cuối


4/ Đặc điểm của Logistics

Từ các quan điểm về logistics, có thể thấy rằng logistics có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Logistics là một quá trình tổng hợp

Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ mà là một quá trình bao gồm một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên quan mật thiết và có tác động qua lại với nhau, được thực hiện một cách khoa học và có hệ thống thông qua các giai đoạn: nghiên cứu, hoạch định, tổ chức, quản lý, kiểm soát, điều chỉnh… Logistics là hệ thống luân chuyển các yếu tố vật chất và thông tin từ điểm xuất phát đến điểm kết thúc. Cấu trúc của hệ thống logistics bao gồm các điểm và các tuyến. Các cấu trúc điểm là các điểm cố định về không gian, nơi các yếu tố vật chất như nguyên liệu hay hàng hóa không lưu chuyển; thông thường là nơi chế biến/xử lý các yếu tố đầu vào, lưu kho nguyên vật liệu, lưu kho bán thành phẩm hay thành phẩm cuối trước khi đến với khách hàng. Các cấu trúc tuyến bao gồm các mạng lưới giao thông vận tải và kết nối các cấu trúc điểm trong toàn bộ hệ thống logistics.

+ Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp

Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu tố logisitcs tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu đi vào danh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.

+ Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận.

Logistics không chỉ liên quan đến các dòng vận động của các yếu tố vật chất (nguyên vật liệu, hàng hóa đầu vào, sản phẩm đầu ra…) mà còn liên quan đến các yếu tố và nguồn lực khác của quá trình kinh tế/kinh doanh như nhân lực, dịch vụ, thông tin, côn nghệ… Cùng với quá trình phát triển của mình, logisitcs đã làm đa dạng hóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống. Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan,… cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ khi đến khi (Door-to-Door). Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh. Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra… Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.

+ Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức

Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm. Tới những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức. Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO – Multimodal Transport Operator). MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế. Như vậy, MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics.

Mục tiêu của logistics là phục vụ những mục đích cụ thể của khách hàng với tiêu chí 7 đúng: “đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng chất lượng, đúng địa điểm, đúng điều kiện giao hàng, đúng chi phí”.

5/ Nội dung cơ bản của Logistics

Nội dung cơ bản của Logistics

1/ Dịch vụ khách hàng

Trong hoạt động logistics, dịch vụ khách hàng được hiểu là toàn bộ kết quả đầu ra, là thước đo chất lượng của toàn bộ hệ thống. Do đó muốn phát triển logistics phải có sự quan tâm thích đáng đến dịch vụ khách hàng. Theo quan điểm này, dịch vụ khách hàng là quá trình diễn ra giữa người mua và người bán và bên thứ ba là nhà thầu phụ. Kết quả của quá trình này tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm hay dịch vụ được trao đổi, được đo bằng hiệu số giá trị đầu ra và giá trị đầu vào của một loạt các hoạt động kinh tế có quan hệ tương hỗ với nhau và thể hiện qua sự hài lòng của khách hàng. Là thước đo chất lượng toàn bộ hệ thống logistics của doanh nghiệp, dịch vụ khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến thị phần, đến tổng chi phí bỏ ra và cuối cùng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Tùy theo từng lĩnh vực và sản phẩm kinh doanh mà giá trị cộng thêm vào sản phẩm và dịch vụ do hậu cần mang lại không giống nhau. Dữ liệu cho thấy sự chênh lệch đáng kể về giá trị gia tăng do logistics tạo ra ở một số mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh khác nhau.

2/ Hệ thống thông tin

Để quản trị logistics thành công, đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý được hệ thống thông tin phức tạp. Bao gồm thông tin trong nội bộ từng tổ chức (doanh nghiệp, nhà cung cấp, khách hàng), thông tin trong từng bộ phận chức năng của doanh nghiệp, thông tin giữa các khâu trong dây chuyền cung ứng (kho tàng, bến bãi, vận tải…) và sự phối hợp thông tin giữa các tổ chức, bộ phận và công đoạn ở trên. Trong đó, trọng tâm là thông tin xử lý đơn đặt hàng của khách, hoạt động này này được coi là trung tâm thần kinh của hệ thống logistics. Trong điều kiện hiện nay, những thành tựu của công nghệ thông tin với sự trợ giúp của máy vi tính sẽ giúp cho việc quản trị thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời. Nhờ đó doanh nghiệp có thể đưa ra những quyết định đúng đắn vào thời điểm nhạy cảm nhất. Điều này giúp cho logistics thực sự trở thành một công cụ cạnh tranh lợi hại của doanh nghiệp.

3/ Lập kế hoạch cung ứng vật tư và mua hàng hóa

Nếu dịch vụ khách hàng là đầu ra của hệ thống logistics thì vật tư, hàng hóa là đầu vào của quá trình này. Mặc dù không trực tiếp tác động vào khách hàng nhưng quản trị hàng hóa và vật tư có vai trò tạo tiền đề quyết định đối với chất lượng toàn bộ hệ thống. Hoạt động này bao gồm: Xác định nhu cầu vật tư, hàng hóa, tìm kiếm và lựa chọn nhà cung cấp; Tiến hành mua sắm; Tổ chức vận chuyển, tiếp nhận và lưu kho, bảo quản và cung cấp cho người sử dụng…

4/ Lập kế hoạch sản xuất

Trước khi tiến hành sản xấut, doanh nghiệp thường phải dự báo nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm do mình sản xuất ra, từ đó lập ra kế hoạch sản xuất tối ưu.

5/ Dự trữ

Dự trữ là sự tích lũy sản phẩm, hàng hóa tại các doanh nghiệp trong quá trình vận động từ điểm đầu đến điểm cuối của mỗi dây chuyền cung ứng, tạo điều kiện cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, nhịp nhàng, thông suốt. Dự trữ trong nền kinh tế còn cần thiết do yêu cầu cân bằng cung cầu đối với các mặt hàng theo thời vụ, để đề phòng các rủi ro, thỏa mãn những nhu cầu bất thường của thị trường dự trự tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Mặc dù rất cần thiết nhưng dự trữ rất tốn kém về chi phí, tại công ty Cambell Soup dự trữ chiếm đến 30% tài sản, và chiếm đến hơn 50% tài sản của tập đoàn Kmart. Vì vậy, việc quản lý dự trữ tốt sẽ giúp doanh nghiệp cân đối giữa vốn đầu tư với những cơ hội đầu tư khác.

6/ Kho hàng

Bao gồm việc thiết kế mạng lưới kho hàng (Số lượng, vị trí và quy mô). Tính toán và trang bị các thiết bị nhà kho; Tổ chức các nghiệp vụ kho. Quản lý hệ thống thông tin giấy tờ chứng từ. Tổ chức quản lý lao động trong kho… Giúp cho sản phẩm được duy trì một cách tối ưu ở những vị trí cần thiết xác định trong hệ thống logistics nhờ đó mà các hoạt động được diễn ra một cách bình thường.

7/ Vận tải

Là việc sử dụng các phương tiện chuyên chở để khắc phục khoảng cách về không gian của sản phẩm và dịch vụ trong hệ thống logistics theo yêu cầu của khách hàng. Nếu sản phẩm được đưa đến đúng vị trí mà khách hàng yêu cầu tức là giá trị của nó đã được tăng thêm. Mặt khác việc sử dụng phương thức và cách thức tổ chức vận chuyển còn giúp cho sản phẩm có đến đúng vào thời điểm khách hàng cần hay không? Điều này cũng tạo thêm giá trị gia tăng cho sản phẩm. Như vậy bằng cách quản trị vận chuyển tốt sẽ góp phần đưa sản phẩm đến đúng nơi và đúng lúc phù hợp với nhu cầu của khách hàng.

Những nội dung cơ bản trên cho thấy, logistics giải quyết vấn đề tối ưu hóa cả đầu ra lẫn đầu vào tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh logistics có thể giúp thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ nhờ đó tạo ra khả năng giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Dương Thị Tình, Lê Công Hội, Đỗ Thị Kim Dung (đcb) – Vai trò của logistics với phát triển kinh tế đất nước – NXB ĐHTN 2017.