Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần II


Theo Ionin, quá trình định hình bản sắc của các cá nhân trong dạng thức văn hóa mới đồng thời cũng là quá trình nó hình thành, khai triển từ trạng thái chồi non. Bắt đầu cùng với sự giới thiệu đối tượng và hành vi ứng xử, và nó hoàn tất bằng sự hình thành của lợi ích xã hội.

Tác giả hệ quan niệm này từ bỏ các khái niệm phong cách văn hóa, phong cách sống, hình thức sống là những khái niệm được coi là có thể thay thế cho nhau. Dưới dạng chung nhất, “phong cách” có thể hiểu là phương thức đặc thù của hành động, của cách thể hiện, của lối thức sinh hoạt. Phong cách, theo Ionin, đối lập với quy thức (canon) truyền thống hiểu như là cái có thể lựa chọn với cái không được lựa chọn.

Khái niệm dạng thức sinh hoạt (forma vivendi) là phương thức đặc trưng cho một tập nhóm người nào đó để thỏa mãn các nhu cầu, các định chế xã hội, các quy phạm hành vi ứng xử và… Vào sơ kỳ thời Trung cổ, khái niệm này được dùng để miêu tả các đặc điểm của đời sống các tu sĩ, sau này thì miêu tả sinh hoạt của các dân tộc khác.

Khái niệm phong cách sinh hoạt (Lebensfuring) thường gặp ở M. Weber dùng để chỉ phương thức xử sự, phương cách tổ chức cuộc sống. T. Weblen gắn khái niệm phong cách sống với sự tiêu dùng theo chỉ định là nét biểu trưng cho tính sở thuộc một tập nhóm hay một giai cấp xác định (Weblen, 1984). Trong xã hội học phân chia giai tầng Anh quốc những năm 1960 và 1970, khái niệm phong cách sống (life-style) hiểu như là tổng hòa các hình mẫu quan hệ xã hội, tiêu dùng phúc lợi vật chất và văn hóa đã từng được sử dụng để phân tích các khác biệt giai cấp. Những khác biệt kể trên được hiểu như là các chỉ số rõ ràng của vị thế giai tầng, còn phong cách sinh hoạt thì được coi là một trong các phương thức thể hiện về mặt xã hội của các giai cấp kinh tế. Trong xã hội học Mỹ, khái niệm phong cách sống được sử dụng để phân biệt các dạng thức sinh hoạt xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa nội và ngoại (ven) đô. Gần đây nó được áp dụng với hàm nghĩa rộng hơn, để chỉ sở thích, phương châm, phúc lợi vật chất hoặc phương thức hành xử của một tập nhóm xã hội bấy kỳ, khu biệt nó với các tập nhóm khác (Aberkrombi, Hill, Terner, 2004).

Khái niệm lối sống được sử dụng phổ biến hơn trong tranh luận xã hội học ở Nga tập trung sự chú ý vào các dạng thức (loại hình, phương thức, đặc tính) xác định của hoạt động sống có chủ thể riêng của mình (cá thể, tập nhóm, xã hội) và có tính tất định bởi điều kiện nhất định (Butenko, 1978; Lối sống, 1983). Tương ứng, rõ ràng là đặc thù của lối sống đô thị (các dạng thức đô thị) một mặt là những điều kiện đô thị, và mặt khác là cư dân đô thị với tính cách là chủ thể tương ứng (Kobjak, 2003).

Nếu trong các định nghĩa kể trên vấn đề được đề cập chủ yếu là các đặc điểm quan sát được một cách khách quan thì dạng thức văn hóa trong sự tồn tại danh nghĩa của nó đúng hơn là cấu thể lý tưởng. Ionin xuất phát từ cách giải thích của F. Tenbruk về văn hóa là cái mang tính chất đặc trưng tiêu biểu: Văn hóa là một hiện tượng xã hội vì nó là cái mang tính đại diện, tức là đề ra các ý tưởng, ý nghĩa, giá trị có hiệu lực do chúng được công nhận trên thực tế. Do đó, văn hóa này bao gồm các xác tín (niềm tin), ý kiến đánh giá, bức tranh thế giới, các tư tưởng và hệ tư tưởng, tác động tới cách hành xử xã hội ở mức độ mà các thành viên xã hội hoặc tích cực chia sẻ, hoặc thừa nhận một cách thụ động (dẫn theo Ionin, 2004: 224). Theo Ionin, “văn hóa đại diện là cái tiêu biểu đại diện trong ý thức của các thành viên xã hội tất thảy mọi sự kiện thực tế, chỉ một cái gì đó đối với các cá nhân hành động. Và những hành vi đó, với họ, mang chính cái được coi là tiêu biểu về mặt văn hóa. Chỉ cái đó là tồn tại đối với các thành viên xã hội và chỉ như thế, tức là đại diện văn hóa, xã hội mới (có thể) tồn tại” (Ionin, 2004: 680). Nói cách khác, có thể diễn đạt tư tưởng cơ bản thế này: các hành động, quan hệ, định chế xã hội… là cái đại diện, tiêu biểu, tức là thể hiện các quan niệm xác định đằng sau nó – chính đó, trong cách tiếp cận này, mới là những điều kiện có tính tất định.

Logic định hình bản sắc trong quá trình đến với một dạng thức văn hóa thông qua sàn diễn văn hóa gồm các giai đoạn sau:

+ Có các thuộc tính bề ngoài của dạng thức văn hóa.

+ Xxx – cảm thụ những hình dung về thế giới đưa ra lời giải thích chỗ đứng của cá nhân và tập nhóm của nó, các tập nhóm khác ứng xử với nhau, vai trò, những điểm khác biệt, lịch sử… của chúng. Các quan niệm này cũng là cơ sở để định hình bản sắc hiểu theo nghĩa “kết nạp” cá nhân vào bức tranh thế giới của dạng thức văn hóa đó. Chẳng hạn, P. Berger và Th. Lukman nhấn mạnh rằng cá nhân đồng chất nhất mình với các tập nhóm xã hội này hay khác hay với các lập trường nào đó là dự trên các quan niệm của anh ta về toàn bộ cấu trúc các lập trường. (Berger, Lukman, 1995).

+ Đề ra trạng thái tình cảm – cảm xúc tương ứng với dạng thức văn hóa. Ionin viết: “Các phương châm đạo đức cũng giả định bản thân nội hàm của lý thuyết. Thực tế thì mọi thứ lý thuyết thường ngày đều vẽ nên một hình ảnh thế giới với hai màu đen – trắng, chia người ta ra thành hai: mình và họ (những người khác mình)… Tuy nhiên, các quy phạm hành vi ứng xử đối với người mình và người khác trong lý thuyết lại khác nhau. Chúng tùy thuộc vào lợi ích của bên mình và bên những người khác kia được quan niệm trong lý thuyết xung khắc đến mức nào, không thể dung hợp, trái ngược, đối lập nhau đến mức nào. Việc giảng dạy lý thuyết đồng thời cũng là giảng dạy các quy phạm đó và bồi bổ đạo đức và tình cảm” (Ionin, 2004: 284).

Khi xét rằng đa số dân cư hiện thời là người đô thị thì khó có thể nói rằng việc có bản sắc đô thị cũng giống như là nói về sàn diễn văn hóa (trừ những trường hợp nói về quá trình hội nhập bản sắc với đô thị mới hay di chuyển nơi cư trú từ nông thôn ra thành phố). Tuy nhiên, giải thích đô thị như là một dạng thức văn hóa tạo điều kiện để phân biệt các yếu tố của nó: môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường bên ngoài, lợi ích (Ionin, 2004: 285 – 286).

Hiện có cả một loạt công trình kinh điển cho phép nghiên cứu đặc trưng đô thị như một dạng thức văn hóa. Nếu theo danh mục các yếu tố mà Ionin đã liệt kê thì có thể nêu những cách miêu tả sau đây về các yếu tố đó:

Lợi ích. Lợi ích xã hội – đó là việc ý thức được các điều kiện tồn tại khách quan của một tập nhóm. Trong trường hợp đô thị thì lợi ích chung trước hết gắn với việc đảm bảo khả năng hiện thực hóa các lợi ích và các mục tiêu riêng khác nhau của người dân sống ở thành phố (Zimmel, 2002: Park, 2002; Mumford, 1996). Điều này được đảm bảo bởi tính chất duy lý luận của tổ chức đời sống chung của dân đô thị, đặc biệt là về phương diện xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng cần thiết. Nói cách khác, ở đây nói về lợi ích dựa trước hết trên chức năng vận hành. Đây chính là khía cạnh cơ bản khi nói về sự hình thành “cộng đồng người đô thị” hay “các cộng đồng đô thị địa phương” được hiểu theo tinh thần một “cộng đồng dân sự” với tính cách một “cộng đồng trách nhiệm hữu hạn” (Janowitz, 1961) nhằm bảo vệ quyền (đối với) đô thị của mình (Lefebvre, 1996).

Hệ tư tưởng. Nhà kinh điển nghiên cứu đô thị Louis Maumford trong công trình “Đô thị là gì?” (Mumford, 1996) viết rằng đô thị là một tổng hòa các tập nhóm người có chung một mục đích. Quan điểm này được nhiều tác giả ủng hộ; họ coi một trong những mục tiêu chủ yếu là nhiệm vụ có cá tính riêng và không phải chịu sự chi phối của các cộng đồng bản địa (Zimmel, 2002; Park 2002). Hiểu theo nghĩa này, đô thị tất nhiên là biểu tượng tính duy lý của thời đại là điều đã được cả các nhà kinh điển của xã hội học lẫn các đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại nhận định chẳng qua chỉ là công cụ để đạt đến những mục tiêu riêng, cá biệt của mình, một cái mà xét về nguyên tắc, đã mất hết tính chất thiêng liêng. Như R. Park đã viết về đô thị: “Đô thị là cái không mang tính tự nhiên và tính thiêng, mà có tính thực dụng và thể nghiệm. Do sức ép cần thiết thực tiễn, cấu thể nay đã không còn chỉ là một hình thức nghi lễ xã hội, chính sách đã trở nên thực dụng, đức tin tôn giáo giờ đây, nói cho đúng, là một quá trình tìm kiếm chứ không còn là truyền thống, là cái đáng ra là phải mất công mới có, chứ không phải đơn giản là nhận (Park, 2004: 4). Đô thị ở đây là điều kiện, là sân chơi, là vật mang các cơ hội để đạt được các mục tiêu – nó có giá trị vì nếu thiếu nó thì hoàn toàn không thể đạt được những mục tiêu (mà đôi khi là do người ta tự đề ra) kia. Tức là cái giá trị không chỉ là ở hạ tầng cơ sở (vật chất), mà còn là tính không thuần về nguyên tắc của người dân đô thị – đó là nhận định đã được thể hiện, chẳng hạn, trong tư tưởng của Z. Bauman (Bauman, 2008).

Yếu tố thể hiện rõ nhất về hệ tư tưởng trong trường hợp này là những khả năng (cơ hội) đa dạng (bao gồm cả khả năng tiếp xúc với cái mới), sự tự thể hiện, tính duy lý, và cả sự bình đẳng nhờ đó mà có, theo tinh thần của Durkheim, như là sự thể hiện “tính đoàn kết gắn bó hữu cơ” một mối phụ thuộc nhau trong hoạt động (thực hiện chức năng), thể hiện cả trong việc công nhận “quyền đối với thành phố” là bình đẳng đối với tất cả mọi người. Định hướng của hệ tư tưởng đô thị vào việc đạt mục đích cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các giá trị năng nổ, thành công, tiến bộ, phát triển, và như vậy cũng có nghĩa là góp phần vào tính hiện đại, cơ động, năng động và… Chính các giá trị này, thường được sử dụng để thiết kế nên các mô hình “tiêu dùng đô thị” như là sự thể hiện “lối sống đô thị” được quảng cáo với mục đích thương mại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa – Phần I


Aleksej Musiezdov

Giới thiệu

Bài viết này giải thích đô thị như một dạng thức văn hóa. Những biến đổi xã hội nhanh chóng dẫn đến tính xác định cá nhân trở thành một vấn đề; nhằm xác định bản sắc riêng của mình người ta tìm đến những cách phân loại rạch ròi nhất, kể cả phân loại theo vùng lãnh thổ. Điều này, đến lượt mình, càng khiến hệ vấn đề về bản sắc đô thị càng có tính chất thời sự hơn. Đặc điểm của đô thị như một cấu thể xã hội là không có một cộng đồng thành thị thống nhất với tính cách là nguồn hình mẫu đơn nghĩa (rõ ràng) để xác định tính đồng chất (bản sắc). “Xã hội thông tin” hiện nay chỉ ngày càng thúc đẩy mạnh hơn tính đa dạng của dân đô thị và các cộng đồng thành thị. Vì vậy, thay cho cách giải thích truyền thống về định hình tính đồng chất/bản sắc là đề xuất nên xem xét bản sắc đô thị theo logic khái niệm “cộng đồng tưởng tượng”. Các quan niệm cơ sở của bản sắc trong trường hợp này là quan niệm về đô thị chứ không phải về cộng đồng. Khi đi tìm một bộ máy lý luận để miêu tả nội dung các quan niệm này, tác giả đã đến với khái niệm “dạng thức văn hóa”. Nó đã được L. Ionin sử dụng trong quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Mô hình xã hội học cổ điển, đặc biệt là trong phiên/dị bản marxist của nó, có khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan, được ý thức, trình bày như một học thuyết rồi sau đó trở thành cơ sở nền tảng cho hành vi ứng xử tương ứng. Trong một xã hội đang trải qua bước chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình bản sắc quen thuộc đã mất ý nghĩa của mình, và “lợi ích” được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó mà phát huy tác dụng. Qua niệm “sàn diễn văn hóa” đưa ra cách giải thích sự hình thành nên các bản sắc như là sự khai triển các hình mẫu văn hóa trong một khoảng thời gian nào đó là có tính danh nghĩa, tức là không thể hiện trong thực tiễn xã hội. Các hình mẫu đó chính là các “dạng thức văn hóa”.

Những chuyển biến xã hội nhanh chóng (dù là do nguyên nhân nào) cũng khiến người ta đặt dấu hỏi không chỉ đối với trật tự xã hội như một hệ thống quy phạm và quy tắc, mà cả hệ thống ý nghĩa của thế giới xã hội và chỗ đứng của con người trong đó. Sự thay đổi các trị nghĩa đang dẫn đến chỗ làm cho tính xác định nhân cách trở thành vấn đề, buộc mỗi người phải đưa ra một lời giải mới cho câu hỏi: mình là ai. Khi muốn xác định bản sắc riêng của mình, người ta thường tìm đến những cách phân loại có vẻ là rạch ròi nhất – họ định vị bản thân chủ yếu bằng cách quy về gia đình, các cộng đồng sắc tộc và cộng đồng lãnh thổ… (Jadov, 1994). Trong cách phân loại theo cộng đồng vùng lãnh thổ thì chiếm tỷ lệ cao nhất là cộng đồng đô thị.

Thế những câu hỏi thuộc về một cộng đồng đô thị nghĩa là thế nào – là một người dân thành phố, người đại diện cho thành phố hay đô thị nói chung – thì vẫn đang là điều hết sức mơ hồ cả trong thực tiễn lẫn về mặt lý thuyết. Đối với một người bình thường thì nói thế cũng có nghĩa là anh ta thuộc về những người mà ông đã quen biết đến từ khi còn nhỏ và/hoặc đến hiện thời vẫn giữ quan hệ và tiếp xúc là để có thể thỏa mãn nhu cầu này khác, và định hướng vào nhóm tham chiếu những “người đô thị đích thực” với các giá trị, quan điểm, lối sống của họ và chỉ đơn giản là nếp quen sinh hoạt trong những điều kiện đó… Dù sao thì quan hệ sở thuộc (danh tính) và/hay mối liên hệ đó cũng cần được khái quát trong lý thuyết xã hội học, là lĩnh vực nó thường được định danh là “bản sắc”.

Việc luận bàn về bản sắc đô thị theo chìa khóa truyền thống ngay lập tức sẽ vấp phải nhiều trở ngại. Chẳng hạn, nếu bản sắc là kết quả của quá trình định hình tính đồng chất với một tập nhóm thì “cộng đồng đô thị” về nguyên tắc rất khó giải thích với tính cách một tập nhóm. Đô thị, theo “đúng định nghĩa” vốn là tâm điểm của các cộng đồng khác nhau, với cơ cấu của mình, văn hóa của mình và… – là tư tưởng phổ biến về “lối sống đô thị” (Virt, 2005) tuy không phải hoàn toàn là ảo tưởng, nhưng nói cho đúng, không phải là nguyện vọng từ việc quảng bá văn hóa đại chúng. Rất nhiều công trình nghiên cứu về các cộng đồng đô thị chỉ xác nhận rằng đặc trưng của đô thị là nó không chỉ có một, mà có nhiều lối sống (Fischer, 1982; Gans, 1962; Wellman, Leighton, 1979). Các nghiên cứu về đô thị hiện nay chỉ ra rằng do sự phổ biến rộng rãi các công nghệ thông tin và truyền thông, các cộng đồng đô thị ngày càng trở nên “khép kín” hơn, thiết lập ranh giới chia cắt với nhau và giữa mình với các cộng đồng khác (Davids, 1998; Architecture of Fear, 1997; Cennet, 2008). Nếu vậy thì bản sắc đô thị và cộng đồng đô thị là gì, bản sắc của nó và của những cộng đồng khác được định hình như thế nào?

Phương án giải đáp mà chúng ta sẽ xem xét rất khác với cách giải thích về cộng đồng đô thị như là một cộng đồng tưởng tượng, tức là dựa trên tổng hòa các quan niệm chung (Anderson, 2001). Trong trường hợp này, ta có thể nói không hẳn là về các quan niệm về người dân đô thị, mà chính là về đô thị. Chính đô thị là vật mang các ý nghĩa có thể bằng cách này hay khác “vượt qua” hiểu theo nghĩa biểu trưng, những khác biệt giữa những người dân đô thị và các đô thị cụ thể là rất khác nhau. Nói cách khác, đơn vị của bản sắc đô thị là đô thị chứ không phải là cộng đồng đô thị. Logic này về nguyên tắc phù hợp với quan niệm đang phổ biến trong khoa học xã hội vai trò của trí tưởng tượng trong hoạt động của xã hội (hậu) hiện đại (Maffsoli, 1991; Kastoriadis, 2003).

Tư tưởng của A. Anderson về cộng đồng tưởng tượng rất giống với cách giải thích của Durkheim về tôn giáo, coi tôn giáo là hệ thống “các tín ngưỡng và nghi lễ tập hợp lại thành một cộng đồng đạo đức gọi là Nhà thờ tất cả những ai tin theo nó” (dẫn lại theo Garadz, 2005: 118). Quan trọng là phải nhấn mạnh rằng ở đây không chỉ nói đơn thuần một “hệ quỹ đạo” cho phép “…” không gian xã hội, mà là về một học thuyết xác định, ngoài các yếu tố khác, đưa ra một thước đo giá trị (Ban’kovskaja, 2001), tức là về một văn hóa chung.

Ở đây chúng ta không chuyên sâu xem xét “khía cạnh nghi thức” của văn hóa đô thị (các hoạt động thực hành nhằm thực hiện và trình diễn tượng trưng danh tính đô thị), mặc dù nó, rõ ràng là có xảy ra và liên quan chủ yếu với tiêu dùng (Zukin, 1995), – đề tài này là đối tượng độc lập của các nghiên cứu riêng. Chúng ta chỉ quan tâm đến khía cạnh lý thuyết, cho phép miêu tả bản sắc đô thị như là một thứ tính sở thuộc “văn hóa”, mà trong trường hợp này “đô thị với tính cách là một văn hóa”; phương tiện để biểu đạt nội dung của nền văn hóa đó. Mục đích của bài viết này là xem xét khái niệm dạng thức văn hóa như là một công cụ được sử dụng trong khuôn khổ “phép phân tích văn hóa”, – cách tiếp cận xã hội học đã được L. Ionin phát triển (Ionin, 2004).

* * *

Khái niệm dạng thức văn hóa được Ionin sử dụng trong hệ quan niệm “sàn diễn văn hóa” của ông. Ông tập trung chú ý vào vấn đề: để tái sản xuất các quan hệ xã hội, nó cần phải được các cá nhân quán triệt trong quá trình xã hội hóa là quá trình trước hết được hiểu như là đồng chất hóa/định hình bản sắc với một số hình mẫu văn hóa. Hệ quan niệm của ông giải thích sự hình thành các bản sắc như là sự triển khai các mẫu văn hóa mà trong suốt một thời đoạn nào đó có tính chất danh nghĩa, tức là không được thể hiện trong thực tiễn xã hội.

Mô hình xã hội học “cổ điển”, đặc biệt là ở phiên bản marxist của nó, khẳng định rằng các mẫu văn hóa được hình thành các mẫu văn hóa được hình thành trên cơ sở lợi ích xã hội khách quan được ý thức, trình bày như một học thuyết và sau đó trở thành nền tảng của cách ứng. Ionin cho rằng trong xã hội đang trải qua giai đoạn chuyển hóa sâu sắc, nơi các mô hình quen thuộc của quá trình định hình tính đồng chất/bản sắc đã mất đi ý nghĩa của mình, “lợi ích được quy về tất yếu sống còn thì một mô hình như vậy khó thể phát huy tác dụng. Muốn ý thức được lợi ích và “trình bày” các mẫu văn hóa cần phải có thời gian, mà hình ảnh mới của thế giới với tính cách là nền tảng của quá trình định hình bản sắc thì ngay lúc này đã rất thời sự.

“Mặt khác, ta đều biết có cả một tập hợp các dạng thức văn hóa có sẵn, giả định các phương án đồng bản sắc có sẵn. Các dạng thức này tồn tại ở dạng phôi thai, nhưng “chồi non” ấy đã chứa sẵn hầu như tất cả những gì cần có để triển khai một dạng thức văn hóa có đầy đủ giá trị. “…Chỉ thiếu có một yếu tố – đó là lợi ích xã hội trực tiếp, cái có thể coi như là cơ sở để một dạng thức văn hóa xuất hiện và dần định hình từ lâu trước khi nó chuyển sang trạng thái là một cái chồi non. Có thể gọi đó là các dạng thức bay lượn tự do: chúng không gắn với nhau như trong trạng thái hiện nay của chúng với các lợi ích xã hội và thông qua đó, gắn với các tầng lớp và tập nhóm xác định… Chúng thấm vào mỗi người đang bận tâm tìm kiếm bản sắc, cố gắng có được một hình ảnh hoàn chỉnh mới về cái thế giới trong đó có thể ghi nhận chính xác chỗ đứng của bản thân mình” (Ionin, 2004: 276 – 277).

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Quá trình hình thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – Phần cuối


Sự hình thành và phát triển của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế cần có những điều kiện gì?

Một thành phố sở dĩ có thể nổi bật lên trong một quần thể thành phố để trở thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, đó là vì, ngoài những điều kiện phát triển ưu việt hơn hẳn các thành phố khác, điều quan trọng là phải có những nhân tố thúc đẩy mạnh mẽ. Nhân tố đó bao gồm: cơ cấu kinh tế của thành phố, trình độ phát triển kinh tế – xã hội, chính sách điều hành vi mô của chính phủ.

Điều kiện phát triển ưu việt là nói về vị trí địa lý của thành phố. Trên con đường chuyển dịch của trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới, vị trí địa lý của mọi thành phố thường có ảnh hưởng quan trọng đối với một thành phố muốn trở thành trung tâm kinh tế quốc tế. Kể từ thập niên 50, đi đôi với sự hình thành mạng lưới tiền tệ toàn cầu, vị trí địa lý của thành phố trở thành một trong những điều kiện để thành phố trở thành trung tâm giao dịch tiền tệ quốc tế. Mặt khác, những thành phố trung tâm kinh tế quốc tế nổi tiếng, phần lớn đều là những thành phố hải cảng. Một số thành phố hải cảng nằm trên tuyến hàng hải quan trọng, nó trở thành đầu mối hàng hải quốc tế, do đó, trở thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế.

Việc xem xét trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một thành phố, có thể phân tích 3 điểm sau đây:

1 – Thực lực kinh tế hùng hậu. Hiện nay, phần lớn các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế thường thuộc về các nước phát triển hoặc khu vực phát triển. Đó là vì những nơi này có thực lực kinh tế rất hùng mạnh; bản thân thành phố trung tâm kinh tế quốc tế cũng có thực lực kinh tế rất mạnh, giá trị GDP bình quân đầu người của thành phố thường cao hơn bình quân đầu người cả nước. Tại London, Tokyo, Paris, GDP bình quân đầu người đều cao vượt trên 50% so với bình quân đầu người cả nước, con số vượt này ở các thành phố nói trên như sau: 18%, 18,6%, 26%. Ngoài ra, trên một chừng mực nhất định, số lượng công ty xuyên quốc gia loại ớn có ảnh hưởng đến vai trò của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế.

2 – Cơ cấu sản xuất của thành phố trong thời kỳ hậu công nghiệp. Trong giai đoạn hậu công nghiệp, trong cơ cấu sản xuất của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, khu vực sản xuất I (nông nghiệp) rất nhỏ bé, số người trong khu vực sản xuất II (công nghiệp) cũng không nhiều, riêng khu vực sản xuất III (dịch vụ) là có sự phát triển mạnh nhất. Trong khu vực sản xuất III, các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất có tốc độ phát triển nhanh hơn, bao gồm các ngành tiền tệ, quản lý, pháp luật, nghiên cứu và phát triển, giao thông, thông tin, quảng cáo, bán buôn, kho tàng: đó cũng là những ngành kinh tế chủ yếu; trong khi các ngành dịch vụ về kinh doanh phát triển chậm hơn một cách tương đối.

3 – Trình độ phát triển xã hội tiên tiến. Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế cũng đồng thời là trung tâm giáo dục, trung tâm khoa học – kỹ thuật, trung tâm văn hóa, nghệ thuật, trung tâm y tế và sức khỏe và trung tâm lữ hành du lịch.

Về xây dựng và bố cục của đô thị, có thể nêu hai lĩnh vực chủ yếu sau đây

1 – Cơ sở hạ tầng tốt, điều kiện sinh sống thuận lợi. Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phải có cơ sở hạ tầng hiện đại. Về mặt giao thông, tỷ lệ đường giao thông tính theo đầu người phải cao, hệ thống giao thông lập thể phải phát triển, đường tàu điện ngầm và đường ôtô ray phải trở thành hệ thốn giao thông công cộng chủ yếu. Trong quan hệ đối ngoại, phải phát triển đường hàng không, thành phố trung tâm kinh tế quốc tế thường là đầu mối hàng không quốc tế. Tại đó, phải có cảng nước sâu, đường cao tốc và đường sắt để qua lại với các nước trên thế giới. Ngoài ra, thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phải hết sức chú ý bảo vệ môi trường sinh thái.

2 – Bố cục đô thị hợp lý. Bố cục không gian của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế hiện đại được thực hiện theo hai hướng sau. Thứ nhất, khai thác hoặc tái khai thác đất đai hiện có trong nội thành để phát triển Khu vực sản xuất III. Hai là, khai thác vùng ngoại thành và vùng phụ cận để dãn dân cư và công nghiệp. Những biện pháp đó đáp ứng nhu cầu của xã hội hậu công nghiệp.

Cuối cùng, chúng ta xét về sự đổi mới, sáng tạo và điều hành vĩ mô của chính phủ

Từ thập kỷ 50 thế kỷ XX đến nay, một số thành phố trung tâm kinh tế quốc tế lâu đời ở châu Âu và Bắc Mỹ vẫn tiếp tục giữ được vị thế phát triển hàng đầu, trong khi đó, lại có thêm một số thành phố trung tâm kinh tế quốc tế mới được hình thành ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong tất cả các quá trình vừa kể đều có vai trò tích cực của việc đổi mới, sáng tạo và điều hành vĩ mô của chính phủ.

1 – Đổi mới và sáng tạo là gì? Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phải là trung tâm của sự đổi mới, sáng tạo và tiếp nhận cái mới. Đó là vì tại đây có sự tập trung cao về dân cư và về sản xuất, sự giao tiếp giữa con người diễn ra ở nhịp độ cao nhất, lượng thông tin nhiều nhất, do đó, rất dễ nảy sinh những tư tưởng mới, sản phẩm mới, sản xuất mới, lối sống mới, tổ chức mới. Đồng thời, người dân ở đây có xuất xứ từ khắp nơi, màu sắc rất đa dạng và phong phú, rất có khả năng tiếp thu những cái mới của các nơi khác.

2 – Việc điều hành vĩ mô của chính phủ. Việc điều hành vĩ mô và sự can thiệp thích đáng của chính phủ có vai trò thúc đẩy có hiệu quả đối với sự hình thành và phát triển của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế. Tokyo, Singapore từ chỗ là thành phố khu vực châu Á trở thành trung tâm tiền tệ quốc tế là ví dụ điển hình nói lên vai trò của chính phủ. Chính phủ và chính quyền thành phố đã tham gia việc quy hoạch và xây dựng thành phố. Những năm gần đây, ngay tại một số thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phương Tây, nơi mặc dù trong một thời kỳ dài trước đây người ta chủ trương không để chính phủ trực tiếp can thiệp vào lĩnh vực kinh tế, nay đã bắt đầu thực hiện một số biện pháp như xây dựng các khu công nghiẹp, khu khai thác giống như ở Trung Quốc, qua đó thu hút các nguồn vốn, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thái Lai Hưng (cb) – Quá trình hình thành những thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – NXB CTQG 1998.

Quá trình hình thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – Phần II


Cơ chế định hướng

Sự chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới là có định hướng rõ rệt. Hai nhân tố cơ bản tạo nên định hướng là: lợi thế so sánh và dung lượng của thị trường tiềm tàng.

Lợi thế so sánh bao gồm: thế mạnh về sức lao động, thế mạnh về đất và tài nguyên tự nhiên, vai trò của tư bản và của tiến bộ kỹ thuật. Nơi nào có lợi thế so sánh tốt, nơi đó có thể thu hút và dung nạp tư bản và kỹ thuật tiên tiến của toàn thế giới, do đó, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao; đồng thời, cũng làm cho lợi thế so sánh của mình được nâng cao hơn, từ đó, có thể tiếp nhận sự chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới.

Nhu cầu gia tăng và mở rộng thị trường là sức mạnh quan trọng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng. Nơi nào có thị trường tiềm tàng với dung lượng lớn, nơi đó tất yếu sẽ trở thành trung tâm thu hút tư bản và kỹ thuật; kinh tế nơi đó sẽ tăng trưởng cao, trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ chuyển dịch đến đó, bởi lẽ sự hình thành trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới bao giờ cũng gắn liền với sự mở rộng dung lượng thị trường.

Cơ chế chuyển tiếp

Sự dịch chuyển trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới được thực hiện thông qua sự chuyển dịch liên tục của các yếu tố kinh tế như sản xuất, tư bản, kỹ thuật, thương mại, cuối cùng đưa đến sự chuyển dịch sức mạnh tổng thể.

Trước hết là chuyển dịch các ngành sản xuất. Trong quá trình chuyển dịch sản xuất, vốn và kỹ thuật cũng được chuyển dịch. Quá trình này diễn ra như sau: tại khu vực trọng tâm tăng trưởng cũ, giá thành sản xuất ngày càng cao, lợi thế so sánh dần dần mất đi, các ngành sản xuất di chuyển dần sang khu vực có lợi thế so sánh tốt hơn và dung lượng thị trường lớn hơn, và khu vực mới trở thành địa bàn sản xuất tập trung mới và trở thành trung tâm sản xuất mới của kinh tế thế giới.

Trong quá trình chuyển dịch sản xuất, đầu tư trực tiếp của thế giới có vai trò hết sức quan trọng. Đầu tư trực tiếp khác với sự di chuyển tư bản thông thường. Đầu tư trực tiếp có nghĩa quốc gia có vốn đầu tư đem những nguồn tài nguyên knh tế tổng hợp của mình như tư bản, kỹ thuật, quản lý kinh doanh chuyển sang quốc gia được đầu tư. Đầu tư trực tiếp còn có nghĩa là sự chuyển giao kỹ thuật, điều này làm tăng giá trị hàm số sản xuất của quốc gia được đầu tư.

Thứ hai là chuyển dịch thương mại. Sự chuyển dịch sản xuất làm cho thương mại cũng biến đổi, và trọng tâm của thương mại thế giới cũng chuyển dịch đến khu vực trọng tâm sản xuất mới. Quá trình chuyển dịch thương mại cũng diễn ra song song với quá trình chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế.

Cuối cùng là sự chuyển dịch sức mạnh tổng thể – thực lực tổng hợp. Đi đôi với sự chuyển dịch sản xuất, kỹ thuật, vốn, thương mại, thực lực kinh tế tổng hợp của khu vực mới không ngừng tăng cường, dần dần đuổi kịp, thậm chí vượt quá thực lực tổng hợp của khu vực trọng tâm cũ, do đó, khu vực mới có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với tăng trưởng kinh tế thế giới, dần dần trở thành khu vực có quy mô sản xuất lớn nhất, có nhu cầu cuối cùng nhiều nhất, có tốc độ tăng trưởng thương mại cao nhất, năng lực đổi mới kỹ thuật nhanh nhất, khả năng thu hút tư bản quốc tế mạnh nhất; cuối cùng trở thành trọng tâm tăng trưởng kinh tế quốc tế mới.

Sau khi phân tích quá trình chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới và quy luật cơ bản của sự chuyển dịch, chúng ta thử phân tích quy luật hình thành các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế.

Với tính cách là trung tâm chi phối và điều hòa hoạt động kinh tế toàn cầu, sự hình thành các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có mối liên hệ nội tại với sự chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế quốc tế. Tại khu vực được coi là trọng tâm tăng trưởng kinh tế quốc tế mới, tốc độ đô thị hóa tăng, từ đó xuất hiện một số quần thể thành phố, trong quần thể thành phố đó tất yếu nổi lên thành phố có tầm quan trọng toàn cầu, trở thành trung tâm kinh tế quốc tế. Thành phố London thế kỷ XIX, New York đầu thế kỷ XX, Tokyo hồi thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX là 3 thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có tính tiêu biểu nhất. Ba thành phố này đã dần dần hình thành trong quá trình chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới.

Quần thể thành phố là sự biểu hiện tập trung trên bình diện không gian tiềm năng thuộc khu vực trọng tâm tăng trưởng kinh tế Xem xét mặt lịch sử, ta thấy các quần thể thành phố thường xuất hiện tại khu vực trọng tâm tăng trưởng kinh tế.

Giữa thế kỷ XIX, khu vực trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới là nước Anh. Thời kỳ này, tại khu vực trải rộng từ London đến Liverpool, xuất hiện một quần thể thành phố. Sau đó, đi đôi với sự phát triển hưng thịnh của lục địa châu Âu, một quần thể thành phố mới xuất hiện tại các khu vực như Paris, sông Rhine, hạt Ruhr, Hà Lan, Bỉ. Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đi đôi với việc chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới sang Hoa Kỳ, tại các khu vực Boston – Baltimore ở ven biển đông bắc Mỹ và khu vực 5 hồ lớn hình thành những quần thể thành phố. Sau chiến tranh, trọng tâm tăng trưởng kinh tế Mỹ chuyển sang miền Trung thuộc bờ biển phía Tây, ở đây lại xuất hiện quần thể thàn phố trong đó nòng cốt là Los Angeles – San Francisco. Thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ XX, trong quá trình phục hưng kinh tế, ở Nhật Bản cũng xuất hiện các quần thể thành phố ở bờ biển phía Đông. Do đó có thể thấy, quần thể thành phố là sản phẩm của sự chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế.

Trong một quần thể thành phố có nhiều thành phố với đẳng cấp khác nhau, đẳng cấp cao nhất là thành phố trung tâm. Thành phố trung tâm có sức thu hút và sức khuếch tán rất mạnh. Sở dĩ thành phố trung tâm có sức thu hút là do nó có những điều kiện có lợi về tự nhiên, kinh tế, xã hội, nó không ngừng thông qua mạng lưới giao thông để thu hút vật tư, vốn, dân cư và thông tin từ các vùng chung quanh, và nó trở thành trung tâm hoạt động kinh tế xã hội khu vực.

Sức khuếch tán của thành phố trung tâm được hình thành sau khi quá trình tích tụ năng lượng đạt tới một trình độ nhất định. Sức khuếch tán của thành phố trung tâm lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào cấp độ năng lượng cao hay thấp. Năng lượng cao, sức khuếch tán sẽ mạnh, phạm vi tác động sẽ rộng lớn, và dựa vào sức khuếch tán không ngừng lớn mạnh đó để thúc đẩy toàn bộ quần thể thành phố phát triển. Tóm lại, đi đôi với quá trình phát huy vai trò vừa thu hút và vừa khuếch tán, thành phố trung tâm không ngừng phát triển, lớn mạnh, và thúc đẩy toàn bộ quần thể thành phố phát triển.

Trong nhiều quần thể thành phố trên thế giới, có sự phân biệt về cấp độ năng lượng cao thấp khác nhau. Quần thể có cấp độ cao về năng lượng thường xuất hiện tại vùng trọng tâm tăng trưởng kinh tế. Đó là vì tại những nơi này tốc độ đô thị hóa cao, quy mô kinh tế lớn, các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển và tập trung.

Trong quần thể thành phố có cấp độ tiềm năng cao nhất, thành phố trung tâm của nó rất có khả năng trở thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế. Trong quần thể thành phố có cấp độ tiềm năng cao nhất, thành phố trung tâm của quần thể thường có một khu vực ngoại vi làm chỗ dựa, khu vực ngoại vi này thường có thực lực kinh tế mạnh; thị trường của thành phố trung tâm có dung lượng lớn; thông qua sự tác động qua lại giữa thành phố trung tâm và quần thể thành phố, sức tác động của thành phố trung tâm không ngừng tăng lên, vượt ra ngoài phạm vi quần thể, ảnh hưởng đến toàn quốc, thậm chí vượt ra ngoài, trở thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thái Lai Hưng (cb) – Quá trình hình thành những thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – NXB CTQG 1998.

Quá trình hình thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – Phần I


Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế là như thế nào?

Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế trước hết là một thành phố lớn đặc biệt, là sản phẩm của đô thị hóa đến giai đoạn cao. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật mới mà nội dung tiêu biểu là kỹ thuật vi điện tử, quy mô của nền sản xuất thế giới ngày cảng mở rộng, trình độ chuyên môn hóa và phân công, hiệp tác hóa trong sản xuất không ngừng được nâng cao, mức độ quốc tế hóa trong kinh tế thế giới ngày càng gia tăng, một số thành phố lớn được phát triển theo hướng chuyển thành thành phố trung tâm kinh tế quốc tế. Từ đó, trong phạm vi toàn cầu, hình thành một số lượng khá lớn những thành phố trung tâm kinh tế quốc tế với những đẳng cấp khác nhau, vai trò và chức năng khác nhau.

Về vấn đề như thế nào là thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, giới nghiên cứu đưa ra nhiều ý kiến khác nhau và nhiều tên gọi khác nhau, nhưng đều tương đối nhất trí cho rằng thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có sự khác nhau về bản chất so với khái niệm “đại đô thị” thường được tính bằng số dân nhiều hay ít. Trong giới nghiên cứu hiện đang lưu hành một số khái niệm như thành phố thế giới, thành phố toàn cầu, đại đô thị quốc tế… Những khái niệm này có nội dung tương đối gần với khái niệm thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, nhất là khái niệm: Thành phố thế giới.

Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế trong nền kinh tế hiện đại có 3 đặc trưng chủ yếu:

1 – Đó là trung tâm tiền tệ quốc tế. Trong hệ thống trao đổi tiền tệ toàn cầu, tại một số khâu nào đó, lưu lượng tiền tệ rất lớn, sự trao đổi của tư bản quốc tế diễn ra rất tập trung, khâu đó chính là trung tâm tiền tệ quốc tế; và nói chung, những trung tâm tiền tệ quốc tế đó đều nằm trong các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế. Các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có hàng loạt tổ chức tiền tệ, nhất là các ngân hàng lớn xuyên quốc gia: tại đây tập trung một khối lượng rất lớn tài sản và tiền vốn, từ đó xuất hiện hoạt động nghiệp vụ về tiền tệ có vai trò chi phối thị trường tiền tệ toàn cầu. Và, như vậy, hoạt động tiền tệ trở thành ngành kinh tế chủ yếu của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế.

2 – Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế là trung tâm chi phối và trung tâm quyết sách về hoạt động chính trị và kinh tế quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều tổ chức chính trị quốc tế xuất hiện và phát huy vai trò ngày càng quan trọng trên vũ đài chính trị quốc tế. Những tổ chức quốc đó đa phần nằm ở các thành phố trung tâm kinh tế quố tế, khiến những thành phố này có vai trò ngày càng lớn như là trung tâm quyết sách chính trị quốc tế. Mặt khác, đi đôi với tiến trình nhất thể hóa kinh tế quốc tế ngày càng được đẩy nhanh, ảnh hưởng của các công ty xuyên quốc gia và các ngân hàng xuyên quốc gia đối với kinh tế thế giới ngày càng lớn. Phần lớn hoạt động sản xuất, thương mại, đổi mới kỹ thuật và đầu tư đều bị các công ty xuyên quốc gia chi phối. Lúc này, các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế trở thành nơi tập trung và là đại bản doanh của các công ty xuyên quốc gia, chúng phát huy ảnh hưởng của mình đối với kinh tế toàn cầu như là một đầu mối chi phối và quyết sách.

3 – Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế là trung tâm thông tin quốc tế và trung tâm văn hóa quốc tế. Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế là nơi tập trung nhiều cơ quan phát thanh, truyền hình, xuất bản hiện đại: nơi có nhiều trường đại học, các viện và cơ quan nghiên cứu khoa học; nơi diễn ra nhiều hội nghị quốc tế quy mô lớn; nơi có ngành bưu chính viễn thông và thông tin rất phát triển, và là nơi phát đi hàng loạt thông tin về chính trị, kinh tế, văn hóa. Vì vậy, các thành phố này trở thành trung tâm thông tin quốc tế và trung tâm văn hóa quốc tế quan trọng.

Tóm lại, do có những đặc trưng cơ bản nói trên, cho nên các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có sức thu hút rất lớn, đồng thời cũng có khả năng khuếch tán mạnh, do đó có vai trò chi phối và điều hòa nền kinh tế toàn cầu.

Về chức năng, có thể phân chia làm 3 loại thành phố trung tâm kinh tế quốc tế: Loại thứ nhất làm chức năng trung tâm chính trị, có thể được xác định bằng 2 tiêu chí: phải là thủ đô của một nước và là đầu não chính trị quốc gia. Loại thứ hai là chức năng trung tâm kinh tế, có thể được xác định bằng 4 tiêu chí: trung tâm tiền tệ quốc tế; trung tâm của ngành chế tạo; hải cảng quốc tế quan trọng; cảng hàng không quốc tế quan trọng. Loại thứ ba là chức năng trung tâm văn hóa, những tiêu chí này về mặt này khá phức tạp, chủ yếu là số sinh viên đại học và cao đẳng từ 100.000 người trở lên, có trên 20 viện bảo tàng, trên 20 nhà hát vũ kịch.

Trong 9 tiêu chí nói trên, hiện có 4 thành phố đạt 8 tiêu chí trở lên, đó là: Tokyo, New York, London, Paris. Có thể gọi các thành phố này là thành phố trung tâm kinh tế quốc tế có tính chất tổng hợp hoặc thành phố thế giới tổng hợp.

Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, về mặt khách quan, có sự phâ biệt về đẳng cấp. Căn cứ vài vai trò của thành phố trung tâm kinh tế quốc tế trong hệ thống tổ chức tiền tệ quốc tế, đồng thời kết hợp xem xét các yếu tố về số lượng dân cư, chức năng của đô thị, có thể phân chia thành phố trung tâm kinh tế quốc tế làm 3 đẳng cấp. Cấp thứ nhất: thành phố thế giới tổng hợp hoặc thành phố trung tâm kinh tế quốc tế toàn cầu. Cấp này có New York, London, Tokyo. Cấp thứ hai: thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phạm vi khu vực. Cấp này có: Paris, Chicago, Los Angeles, Hong Kong, Osaka, Singapore. Cấp thứ ba: thành phố trung tâm kinh tế quốc tế phạm vi địa phương. Cấp này có: San Francisco, Toronto, Milan, Frankfurt, Zurich, Sidney.

Thành phố trung tâm kinh tế quốc tế hình thành và phát triển như thế nào?

Lịch sử phát triển các thành phố lớn trên thế giới trong gần 200 năm qua cho thấy, sự hình thành và phát triển các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế mang tính quy luật rất rõ. Sự hình thành của các thành phố này gắn liền với sự dịch chuyển của trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới, và đó là kết quả trự citếp của sự chuyển dịch đó. Vì vậy, muốn nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các thành phố trung tâm kinh tế quốc tế, trước hết phải tìm hiểu quy luật chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế.

Trong quá trình lịch sử, kể từ khi xã hội loài người chuyển sang thời kỳ văn minh công nghiệp, trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới đã chuyển dịch nhiều lần. Trước hết, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trung tâm tăng trưởng kinh tế thế giới nổi lên ở Anh. Sau đó, vào giữa thế kỷ XIX, chuyển sang châu Âu. Đến thời kỳ giữa của nửa đầu thế kỷ XX, chuyển đến miền ven biển Đại Tây Dương của Bắc Mỹ và khu vực 5 hồ lớn. Từ thập kỷ 70 đến nay, bắt đầu chuyển dịch sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đó là con đường lịch sử chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới trong lịch sử.

Có thể xem xét 3 mặt sau đây để tìm hiểu quy luật chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới: động lực, định hướng và sự chuyển tiếp.

Cơ chế động lực

Xem xét toàn bộ quá trình chuyển dịch trọng tâm tăng trưởng kinh tế thế giới từ thời kỳ văn minh công nghiệp đến nay có thể thấy có mối liên hệ nội tại giữa sự dịch chuyển đó với những biến động chu kỳ dài của kinh tế thế giới: có thể cho rằng sự chuyển dịch trọng tâm đó đã xuất hiện trong sự biến động chu kỳ dài của kinh tế thế giới, trong khi sự biến động chu kỳ dài lại là động lực căn bản đã làm bùng nổ cách mạng khoa học – kỹ thuật. Kể từ cuộc cách mạng công nghiệp đến nay, kinh tế thế giới đã có 4 lần biến động chu kỳ dài. Trong lần thứ nhất, nước Anh trở thành trọng tâm tăng trưởng kinh tế và kéo dài cho đến thời kỳ đang lên của lần biến động chu kỳ dài thứ hai. Kể từ thời kỳ giữa của lần biến động thứ hai, trọng tâm tăng trưởng chuyển sang Hoa Kỳ. Trong lần biến động chu kỳ dài thứ tư, Hoa Kỳ vẫn là trọng tâm tăng trưởng, nhưng dần dần chuyển dịch sang bờ biển phía Tây và sang Nhật Bản, Đông Á.

Trong quá trình chuyển dịch nói trên, cách mạng khoa học – kỹ thuật là động lực chủ yếu. Cách mạng khoa học – kỹ thuật là cách mạng công nhiệp đã tạo nên những ngành sản xuất mới, chủ lực; các ngành sản xuất chủ lực mới này đã thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ cao. Đồng thời, chỉ khi nào một thành phố trở thành trung tâm mới của khoa học – kỹ thuật, thành phố đó mới trở thành trung tâm tăng trưởng kinh tế thế giới. Những thành phố đi đầu trong cách mạng khoa học – kỹ thuật, nhờ có những phát minh đầu tiên và ứng dụng đầu tiên những kỹ thuật mới, do đó, thiết lập được những ngành sản xuất chủ lực đầu tiên, thúc đẩy được toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng cao và từ đó tác động đến kinh tế thế giới, làm cho kinh tế thế giới cũng tăng trưởng với tốc độ cao. Như vậy, thành phố nói trên trở thành trung tâm của biến động chu kỳ dài.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Thái Lai Hưng (cb) – Quá trình hình thành những thành phố trung tâm kinh tế quốc tế – NXB CTQG 1998.

Không gian công cộng và ‘Thành phố của tập đoàn’


TS. Michael DiGregorio

Không dễ tìm định nghĩa chính thức về không gian công cộng.

Theo nghĩa rộng nhất, Bộ Xây dựng (1) coi không gian công cộng là mọi không gian do nhà nước quản lý, bao gồm: đường phố, vỉa hè, bờ sông, bờ đê, hay thiết bị công cộng như bãi đổ rác, công trình công cộng, tượng đài. Nhưng bên cạnh đó, một số diện tích chung trong một số khu vực tư nhân, như nhà chung cư, khu ở biệt lập cũng được coi như một dạng không gian công cộng.

Do đó, trong thực tế, nhiều loại không gian khác nhau ở Việt Nam được nhìn nhận như là không gian công cộng (2), bao gồm: các không gian “bán công cộng” như khoảng sân trước đình chùa, quán cà phê, hay tượng đài; các không gian công cộng chính thức như công viên công cộng; hay các diện tích chung trong các công trình tư nhân như nhà chung cư hay trung tâm mua sắm dịch vụ..

Tại các khu vực đông dân cư trong thành phố, nơi người dân sống nhiều thế hệ trong các căn nhà chật hẹp, người ta càng cần không gian công cộng hơn cả. Với họ, không gian công cộng không chỉ giúp đi lại, mà còn là những không gian hiếm hoi để giao tiếp xã hội, chơi, nghỉ ngơi, và tạo ra thu nhập kinh tế. Đồng thời, đó cũng lại là không gian mà các thành viên phải cùng nhau chia sẻ, điều chỉnh nhu cầu và hoạt động của mình, cho tương thích với nhau.

Sự giao tiếp xã hội, thương lượng và điều chỉnh các hoạt động cá nhân(3) tạo ra cuộc sống sinh động trong không gian công cộng: với các hoạt động đa dạng, tự điều chỉnh, thay đổi liên tục trong ngày. Không gian công cộng mở, sôi động, tự quản, đáp ứng người sử dụng đa dạng được coi là một trong nhưng biểu hiện lành mạnh của đời sống đô thị. Nhưng không gian công cộng cũng là không gian xung đột giữa một bên là các cơ quan nhà nước và bên kia là các biểu hiện đời sống sinh hoạt kinh tế xã hội hàng ngày của người dân.

Vấn đề nằm ở chỗ không gian công cộng là không gian do nhà nước chính thức quản lý, thông qua bộ máy quản lý(4), các quy định, chính sách, và quyết định về những vấn đề như: ai được phép sử dụng, ai cho phép ai, với phí tổn thế nào. Mục đích của chính quyền là nhằm buộc người dân Hà Nội, nhất là người mới nhập cư, sống “cuộc sống văn minh”(5) – định nghĩa theo các khía cạnh kỷ luật xã hội, vệ sinh và thẩm mỹ.

Sự khác biệt giữa thực tế hàng ngày và quan điểm của các cơ quan nhà nước khiến không gian công cộng trở thành nơi diễn ra và giải quyết các xung đột, trong đó mỗi phía (người dân và cơ quan nhà nước) phát triển riêng cho mình các thủ thuật để thuận tiện trong việc kiểm soát và chiếm lĩnh không gian công cộng.

Không cái nào trong số các xung đột về không gian công cộng này là mới(6) hay mang tính đặc trưng Việt Nam. Đã có bằng chứng cho thấy các xung đột tương tự đã từng diễn ra thời thuộc Pháp, trong thời gian đầu của chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong thời kinh tế bao cấp sau năm 1975, và tiếp diễn cho đến thời nay, thời kỳ di dân và đô thị hóa mạnh mẽ sau Đổi Mới. Có lẽ chỉ sự biến đổi về hình thể của thành phố là điều mới mẻ.

Tại Hà Nội, giống như nhiều nơi khác của Việt Nam, ranh giới giữa không gian công cộng và tư nhân rất mờ nhạt. Kết quả là đời sống xã hội, văn hóa, thậm chí đời sống làm ăn của người dân Hà Nội tràn cả ra ngoài những không gian công cộng chính thức, như vỉa hè, đường phố, công viên và tượng đài, theo nhiều cách khác nhau – và do đó tạo ra một đô thị mang sắc thái công cộng rất đậm nét.

Khách du lịch đến Hà Nội, trong khi phải thăm viếng nhiều thắng cảnh khách nhau, thường hay bị lôi cuốn bởi cuộc sống sinh động chảy xung quanh họ, từ luồng xe cộ náo nhiệt, đến hoạt động dày đặc khu phố cổ, cũng như các trình tự tập luyện hàng ngày của người dân tại các công viên. Dù có luật lệ, không dễ để thấy luật lệ được cả nhà nước hay người dân chấp hành. Nhìn từ xa, tất cả khá “hỗn độn” và “lộn xộn”.

Hỗn độn và lộn xộn không phải là điều mà cả nhà nước lẫn nhà phát triển mong muốn. Khi các dự án do nhà nước hay tư nhân làm chủ ngày càng có quy mô lớn hơn trong ba thập kỷ qua, xu hướng phát triển trên quy mô toàn cầu càng ngày càng hướng tới sự kiểm soát chặt chẽ hơn tới các ranh giới giữa một bên là không gian bên trong dự án và bên kia là không gian bên ngoài của không gian công cộng (như đường phố, vỉa hè).

Kết quả là các không gian đô thị mới càng ngày càng mang tính hướng nội, với điều hòa không khí, cảnh quan hoàn hảo, camera giám sát mọi nơi, người gác cổng và những quy định để kiểm soát khách cũng như người sử dụng. Những không gian đó có thể trở thành như những pháo đài(7) nhằm bảo vệ các không gian bên trong, chống lại các không gian bên ngoài của đường xá hay vỉa hè.

Chúng tôi gọi sự hình thành cảnh quan kiểu pháo đài như vậy là “thành phố tập đoàn” (corporate city).

Phần thành phố của các tập đoàn tại Hà Nội bao gồm trung tâm mua sắm, cao ốc văn phòng, khách sạn quốc tế, cao ốc chung cư và khu ở biệt lập. Càng ngày, sự kết hợp các dạng công trình đó càng xuất hiện trong các dự án mang tính tổng thể, nhằm tái phát triển cả khu phố hay phát triển mới các khu đất nông nghiệp lớn. Việc xây dựng các tổ hợp dự án đó thường xuất phát từ việc chuyển đổi chức năng đất nông nghiệp giá rẻ ở ngoại thành(8) và đất cơ quan nhà nước, thậm chí cả đất công cộng (như chợ và công viên) tại các khu đô thị cũ.

Việc chuyển đổi đất sở hữu nhà nước thành đất tư – bao gồm đất do cơ quan nhà nước quản lý, chợ, công viên, thậm chí vỉa hè(9) – được thực hiện thông qua các chính sách, thường được gọi là “xã hội hóa”. Trong bối cảnh Việt Nam, xã hội hóa là khái niệm nhằm chỉ sự chia sẻ chi phí đầu tư giữa nhà nước, khối tư nhân, các tổ chức và nhân dân nhằm tiến hành các hoạt động phát triển hay cung cấp các dịch vụ công.

Trong thực tế xã hội hóa thường mang hình thức dịch vụ trả tiền, cụ thể như trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Nhưng xã hội hóa còn có nhiều hình thức khác. Dùng thu nhập từ phí cầu đường trả cho đơn vị quản lý và tu bổ cầu đường, trong khi cầu đường được xây dựng bằng kinh phí nhà nước, cũng được coi là xã hội hóa. Khuyến khích phát triển tư nhân trên đất công bằng cách xây dựng đường tới các khu đất này cũng được coi là xã hội hóa. Khi dự án có quy mô nhỏ, chẳng hạn nhượng bộ cho tư nhân chỗ xây dựng công trình dịch vụ trong công viên, thì sự nhượng bộ đó không làm giảm đặc điểm công cộng cơ bản của không gian công cộng. Tuy nhiên, khi quy mô của dự án tăng lên, đặc điểm công cộng của các không gian đô thị bị suy giảm và bắt đầu mang các yếu tố của thành phố tập đoàn.

Xã hội hóa và tập đoàn hóa quá trình phát triển đô thị đang song hành với nhau để biến đổi Hà Nội.

Vậy, không gian công cộng, cũng như động lực đời sống công cộng của Hà Nội, mai này sẽ ra sao?

Nguồn: nguoidothi.net

——–

Chú thích: 

(1) http://www.moc.gov.vn/site/moc/legal?v=detail-doc&;id=29833
(2) http://en.wikipedia.org/wiki/Public_space
(3) http://www.ecoplan.org/carfreeday/EarthCFD/partners/writer-jacobs.htm
(4) http://usj.sagepub.com/content/early/2011/06/23/0042098011408934
(5) http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1548-744X.2009.01021.x/abstract
(6) http://davidharvey.org/media/public.pdf
(7) http://www.contemporaryurbananthropology.com/pdfs/Davis,%20City%20of%20Quartz.pdf
(8) http://liverpool.metapress.com/content/tl811938n7g17273/
(9) http://english.vietnamnet.vn/social/200911/HCMC-to-charge-sidewalk-business-fees-877575/

Và rồi có Bắc Kinh – Phần cuối


Tự do nổi lên và các câu chuyện không thể bị kiềm chế

Các hoàng đế Trung Hoa đã ban hành một lệnh cấm di cư vào thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19. Những ai coi thường lệnh này đều đối diện với án tử. Và trong suốt thời đại Mao, những người Trung Quốc bình thường bị hạn chế tiếp xúc với người nước ngoài. Những người làm việc đó có khả năng lôi kéo sự chú ý của cảnh sát.

Thời gian đã thay đổi, thế hệ trẻ của Trung Quốc rất hướng ngoại và không đâu hơn thế là tại Bắc Kinh. Internet chiếm vị trí quan trọng. Nó cho phép thanh niên Trung Quốc tiếp cận với các tin tức và thông tin vượt qua được sự kiểm duyệt của nhà nước. Nó cùng cung cấp cho họ một phương tiện để tiếp xúc với nhau hay với những người ở bên ngoài Trung Quốc. Ban liên lạc Thế giới của đài BBC cũng còn là một nguồn tin tức quan trọng đối với giới trí thức trẻ. Trong năm 1989, những vụ phản đối tại quảng trường Thiên An Mon, đài BBC là cách nhiều người có được thông tin về các biến cố.

Giới trẻ tại Trung Quốc vui khi được tham gia vào bất cứ đề tài nào ngày một nhiều. Tôi đã có nhiều cuộc nói chuyện với những người Trung Quốc trẻ tại Bắc Kinh, đặc biệt về biến cố tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989, việc viên chức tham nhũng tại Trung Quốc, về giáo phái Falun Gong hay cách đối xử của Trung Quốc với Tây Tạng.

Nói tóm lại, mỗi người tại Bắc Kinh tôi có dịp thảo luận về các việc phản đối tại quảng trường Thiên An Môn đã bảo cho tôi biết họ rất quan tâm đến những gì đã xảy ra, mặc dù ít người thấy được hình ảnh của cuộc biểu dương. Mỗi người đã bảo đảm với tôi là có “hàng trăm” sinh viên bị quân đội giết sau vụ phản đối, và phần lớn các vụ giết người không xảy ra tại quảng trường nhưng trên các đường phố xa nơi đó.

Những vụ phản đối tương tự như vụ Thiên An Môn có lại xảy ra hay không? Không, đó là quan điểm tiêu biểu. Chính quyền đã trở nên cởi mở hơn. Như một người đối thoại đã nói với tôi “mỗi vị lãnh tụ được Trung Quốc lựa chọn trở nên ôn hòa hơn người đi trước”. Và bên cạnh đó, nhân viên các trường đại học hiện nay được trả lương khá hơn và sinh viên được tiền trợ cấp nhiều hơn năm 1989. (Đó là điều đã dẫn đến việc phản đối hơn bất kỳ chuyện gì khác. Các sinh viên đã phản đối dưới chiêu bài “dân chủ”, nhưng những điều kiện sinh sống tốt hơn cho sinh viên và các viện sĩ là mối quan tâm hàng đầu của họ).

Tây Tạng không phải là một vấn đề trong giới trẻ tôi đã nói chuyện. Ít người hiểu sự quan tâm của phương Tây vào Tây Tạng, và một thanh niên đã mô tả cho tôi biết người Tây Tạng như là những người “rất hung hăng” và xứng đáng với việc đối xử do Trung Quốc đưa ra đối với họ. Tôi đề cập đến một mối quan tâm tại phương Tây, vượt ra ngoài giới hạn nhân quyền, đó là văn hóa Hán Trung Quốc có vẻ đã làm mất tác dụng của văn hóa Tây Tạng. Đó là một điểm anh ta không quan tâm nhưng hiểu ngay tức khắc.

Giới trẻ Bắc Kinh tôi đã nói chuyện thống nhất với nhau trong việc bác bỏ giáo phái Pháp Luân Công. Phong trào được giữ bí mật và tổ chức tốt, giống như chính phủ Trung Quốc, dĩ nhiên đó là lý do tại sao chính phủ nhìn thấy phong trào này như là một mối đe dọa. Người Trung Quốc bình thường có vẻ ủng hộ việc đàn áp thẳng tay của chính phủ đối với Pháp Luân Công. Chính phủ đã thực hiện một chiến dịch tuyên truyền hữu hiệu về trường hợp của một nữ nhạc công đàn violon có triển vọng và thành viên của Pháp Luân Công đã tự thiêu tại quảng trường Thiên An Môn để phản đối việc đàn áp. Cô ta không chết nhưng gương mặt đã bị biến dạng một cách khủng khiếp. Không vô lý, việc này đã làm cho nhiều người tại Trung Quốc chuyển sang chống lại Pháp Luân Công, và vì thế hiện nay ảnh hưởng của phong trào tại Trung Quốc gần như không đáng kể.

Việc tham nhũng của các viên chức chính phủ là một đề tài khác được mọi người hình như đã chuẩn bị để thảo luận. Đa số giả định rằng những việc tham nhũng như thế là một phần không thể tránh được của chính phủ trong một quốc gia đang phát triển, và vì thế đó là điều được mong đợi. Một thanh niên trẻ đã bảo đảm với tôi rằng các viên chức chính phủ tại mọi quốc gia đều tham nhũng ì người dân ở khắp nơi cơ bản là “như nhau”. Tôi hỏi anh ta liệu việc tham nhũng có lan tràn khắp trong cuộc sống hàng ngày của anh ta không. “Ồ vâng”, anh ta nói. “Mọi lúc. Nó ở khắp nơi”. Anh ta đưa ra hai ví dụ. Khi anh ta đến kỳ hạn phải thi tốt nghiệp trung học, anh cần có một lời phê tốt của vị hiệu trưởng để anh ta có thể được thu dụng vào một công ty tốt trong khu vực nhà nước. Để bảo đảm được việc đó, anh ta phải hối lộ cho vị hiệu trưởng. Một khi anh ta đã được thu dụng vào công ty đó, anh ta đến thăm vị giám thị của công ty tại nhà riêng một buổi tối để đưa tiền hối lộ cho ông ta, để bảo đảm rằng anh sẽ được thu dụng vào một công việc tốt trong công ty. Những việc trả tiền như thế là “rất thông thường” anh ta nói.

Một thanh niên khác đã cho tôi biết lý do mà anh ta đã bị bắt sau khi lần đầu tiên anh ta đến Bắc Kinh. Anh ta không có giấy phép cư trú cần thiết để ở tại Bắc Kinh – một sự vi phạm bình thường. Anh ta bị bắt nhốt trong mười ngày và bị giữ trong một phòng giam không có tấm trải nhưng chỉ có một sàn phòng lót gỗ. Sàn ẩm ướt vì thế đêm đầu tiên anh ta đứng suốt đêm. Vào đêm thứ hai anh cũng lại đứgn suốt đêm hơn là nằm ngủ trên sàn phòng ướt. Nhưng vào đêm thứ ba, anh quá mệt mỏi để có thể đứng được, vì thế đành phải cam chịu ngủ trên sàn. Anh có thể làm cho mình được thả ra bằng cách trả 350 NDT để mua một bộ đồ tù cho anh được quyền làm các công việc trong nhà tù. Sau một tuần lễ làm việc, anh được thả ra. Anh ta tìm giấy phép cư trú thật để tránh phải bị rắc rối thêm. Việc này đơn giản chỉ yêu cầu anh trả một số tiền hối lộ.

Tôi hỏi một người Bắc Kinh trẻ tuổi liệu anh ta đã được nhìn thấy thi hài của Mao tại quảng trường Thiên An Môn, nơi người ta trưng bày nó hay chưa. Với vẻ rất chắc chắn anh ta nói:

Không, tôi sẽ không đi đến đó. Cuộc sống của cha mẹ tôi đã khác nếu không phải là do ông ta. Ông ta có làm một điều tốt cho Trung Quốc. Nhưng những năm sau cùng là một thảm họa. Cuộc Cách mạng Văn hóa là một thảm họa cho Trung Quốc. Ông ta đóng cửa trường học. Chúng đã bị đóng cửa trong mười năm. Cha mẹ tôi sẽ khác đi như thế nào, nếu họ đã được giáo dục tốt. Bởi vì ông ta, họ chẳng nhận được gì.

Ngày hôm trước tôi nối vào dòng người ở mộ Mao. Dòng người luôn trông rất dài nhưng nó di chuyển nhanh chóng. Tại sao người Trung Quốc lại xếp hàng để xem thi thể của người đàn ông đã giết quá nhiều người và tiêu diệt cuộc sống trí thức và văn hóa của Trung Quốc trong những năm đen tối của thời kỳ Cách mạng Văn hóa? Có lẽ đối với nhiều người du khách địa phương, chuyến đi được thực hiện phần nhiều do tò mò hơn là tôn kính, giống như một cuộc hành trình đến xem một chương trình quái dị trong một gánh xiếc.

Đối với những người khác, Mao đã trở nên như một vị thánh. Tôi đã nhận ra có một vài tài xế taxi giữ những bức hình nhỏ của Mao như thể là một vị thánh có tiềm năng cứu giúp. Trong lúc chúng tôi đi vào trong lăng, một vài người trong dòng người (nhưng không phải tất cả) dừng lại để mua một đóa hoa lụa ở một quầy bán chính thức. Một khi đã vào tới bên trong, họ đưa hoa lên cao trước một bức tượng đá cẩm thạch to lớn, rồi đặt hoa lại vào một chiếc xe đẩy, có lẽ khi đầy sẽ được kéo trở lại quầy bán hàng, và các đóa hoa được dân tặng sẽ được bán trở lại.

Cánh cửa bằng đồng thay to lớn ở lối vào của mộ đã được đánh bóng sạch sẽ ở tầm tay bởi hàng trăm khách thăm Trung Quốc đưa các ngón tay lên sở vào đó như thể họ đang viếng thăm một khu đền tôn giáo, với hy vọng rằng sự tiếp xúc vật lý có thể truyền vào người họ một vài loại năng lượng có lợi. (Tôi đã nhận thấy những người Công giáo đưa tay họ vào trong hang động tại khu hành hương ở Lourdes tại miền nam nước Pháp. Và rồi, lẽ dĩ nhiên, có tượng bằng đồng của thánh Peter tại Thánh đường St Peter tại Vatican. Việc vuốt ve và hôn của những người hành hương trong nhiều thế kỷ đã làm mòn các ngón chân của bàn chân phải bức tượng, làm cho nó có vẻ như bị cùi.

Phía sau bức tượng là căn phòng trong đó xác Mao nằm long trọng. Nó được giữ trong một cái hòm bằng thủy tinh, nơi có hai người lính đứng nghiêm đằng sau nó. Đám đông được giữ cho di chuyển suốt thời gian. Những người đi chậm bị xô đi tới trước thô bạo bởi những người đi cùng. Một phụ nữ trung niên đứng phía sau tôi dừng lại để nhìn vào gương mặt Mao. Bà đứng chôn chân tại chỗ mặc dù có tiếng người la bảo bà đi tới, bà vẫn tiếp tục đứng nhìn chằm chằm. Hình như bà ta không nghe thấy gì. Tôi đã có thể sai, nhưng bà trông có vẻ rất là giận.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Micheal Backman – Những kẻ giấu mặt trong nền kinh tế châu Á – NXB TN 2005 và Micheal Backman – The Asian Insider – Palgrave 2004.