Hợp tác Anh, Australia và ASEAN nhằm tăng cường an ninh mạng trong lĩnh vực hàng hải – Phần I


Tóm tắt

+ Lĩnh vực hàng hải Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương an toàn và đảm bảo là rất quan trọng đối với sự thịnh vượng quốc gia của Anh, Australia và các quốc gia Đông Nam Á. Mặc dù có những mục tiêu chung, khả năng và lĩnh vực thế mạnh khác nhau.

+ Đông Nam Á và Australia cùng các đối tác quan trọng khác, đã có lịch sử hợp tác đa phương lâu dài. Trong bối cảnh hậu Brexit và Chính phủ Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, London sẽ được hưởng lợi trong việc phối hợp hài hòa các cam kết hàng hải của mình với các đồng minh như Australia và sắp xếp các đồng minh như Australia và sắp xếp các hoạt động của mình cho phù hợp với ưu tiên của các đối tác Đông Nam Á.

+ Mặc dù hợp tác an ninh trên biển có xu hướng bị chi phối bởi các hoạt động, chương trình và chiến dịch hải quân, nhưng các bên nên có cách tiếp cận toàn diện đối với hợp tác an ninh hàng hải, bao gồm quan hệ đối tác với các chủ thể phi quân sự và xem xét các khía cạnh an ninh hàng hải có liên quan đến dân sự.

+ Trong việc tìm kiếm một vai trò làm gia tăng giá trị trong không gian hợp tác an ninh hàng hải và xây dựng năng lực, vốn đã có nhiều bên tham gia, nhóm tác giả khuyến nghị các bên thăm dò hợp tác Anh – Australia – ASEAN về các vấn đề công nghệ, an ninh mạng và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số trên biển. Đó là những khía cạnh có khả năng biến đổi tình hình và sẽ xác định tương lai của các hoạt động hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, ảnh hưởng đến an toàn, an ninh, sinh kế và khả năng cạnh tranh kinh tế trong khu vực của Đông Nam Á.

+ Báo cáo đánh giá này khuyến nghị Anh, Australia và ASEAN hợp tác để nâng cao và đẩy mạnh việc khám phá mối quan hệ an ninh mạng – hàng hải.

Giới thiệu: Hiểu về an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Các khái niệm chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được ban hành bởi Nhật Bản (tái khẳng định vào năm 2016), Mỹ (2017), Australia (2017), Ấn Độ (2018), Đức (2020), Hà Lan (2020), Liên minh châu Âu (EU) (2021), Pháp (tái khẳng định vào năm 2021), Anh (2021) và các nước khác cho thấy ý nghĩa địa chiến lược của khu vực. Mặc dù các khái niệm này khác nhau đáng kể về phạm vi, bản chất và chiến lược, nhưng chúng có một điểm chung: ý tưởng về các đại dương kết nối, trong đó các quốc gia Đông Nam Á nằm ở trung tâm và tạo thành tâm điểm của sự canh tranh nước lớn, vốn đã trở thành đặc trưng của Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khu vực này đã trở nên “tấp nập” hơn khi các bên tham gia trong dài hạn cũng như các bên tham gia mới đẩy mạnh các sáng kiến can dự.

Nhưng Đông Nam Á không chỉ là một đấu trường cạnh tranh: Khu vực này còn hàm chứa sức mạnh, dù dưới dạng một thể thống nhất hay tập hợp các nền kinh tế riêng lẻ. Các quốc gia ASEAN có thể thúc đẩy các đối thủ cạnh tranh và đối tác hướng tới việc đáp ứng các ưu tiên của riêng họ. Họ cũng đã có có thể hướng sự can dự toàn cầu tới nghị trình chính trị – quân sự, kinh tế, cơ sở hạ tầng và môi trường. Mặc dù lợi ích bao trùm của họ có sự hội tụ, nhưng Anh, Australia và các đồng minh thân cận nhất nên nhận thức được rằng đôi khi giữa họ và các nước ASEAN có thể sẽ có sự khác biệt trong cách tiếp cận, hoạt động và giá trị cơ bản.

Trong Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương năm 2019, 10 quốc gia thành viên đã công nhận lĩnh vực hàng hải là lĩnh vực hợp tác hàng đầu. Tuy nhiên, ý nghĩa chính xác của “an ninh hàng hải” vẫn chưa được xác định rõ ràng. Các cuộc thảo luận về an ninh hàng hải chủ yếu tập trung vào việc thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ các tuyến giao thông hàng hải (SLOC), quản lý nghề cá và tài nguyên ngoài khơi đúng mức và duy trì biên giới chủ quyền trên biển. Nhìn chung, các vấn đề an ninh hàng hải có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực an ninh khu vực, hoạt động tội phạm xuyên quốc gia, quản lý kinh tế và tài nguyên, môi trường biển và an toàn hàng hải.

Nghị trình hàng hải được ASEAN và các đối tác chia sẻ trong thể chế tập trung vào cơ chế đối thoại về an ninh sâu rộng có số lượng thành viên lớn nhất, đó là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), bao gồm Australia, Canada, Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Nga và Mỹ cùng với các quốc gia thành viên ASEAN.

Anh ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Theo văn kiện “Nước Anh toàn cầu trong thời đại cạnh tranh: Đánh giá tích hợp về an ninh, quốc phòng, phát triển và chính sách đối ngoại” của Chính phủ Anh, Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khu vực có tầm quan trọng địa chính trị và kinh tế ngày càng cao trong thập kỷ tới. Văn kiện này đồng thời cho rằng sự cạnh tranh sẽ diễn ra trong bối cảnh “quân sự hóa khu vực, căng thẳng hàng hải và cạnh tranh về các quy tắc và chuẩn mực liên quan đến thương mại và công nghệ”. Do đó, việc tìm cách can dự chặt chẽ hơn với các quốc gia ở Đông Nam Á là một phần thiết yếu của chiến lược nhằm đưa Anh vào vị thế của một bên tham gia toàn cầu trong kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược.

Điểm tựa cho sự can dự mới của Anh với Đông Nam Á về an ninh hàng hải

Anh đã trở thành đối tác đối thoại mới nhất của ASEAN vào năm 2021 – dấu mốc đầu tiên sau khi chính phủ nước này tuyên bố “ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Trong bối cảnh Anh rời khỏi EU, London đã và đang xem xét các lý do đúng đắn để giải thích cho các ưu tiên của mình và tìm cách để thực sự tách mình khỏi, cũng như phối hợp khi có thể với các cách tiếp cận Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà EU, Pháp, Đức và Hà Lan đã khởi xướng song song.

Mặc dù xu hướng ngả về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là mới mẻ, nhưng sự hiện diện của Anh trong khu vực, đặc biệt là sự hiện diện trên biển, thì không. London duy trì sự hiện diện ở mức hạn chế ở Đông Nam Á sau khi Anh rút lui vào những năm 1960 và 1970 dưới hình thức các đợt triển khai quy mô nhỏ nhằm duy trì cam kết song phương với một số quốc gia nhất định. Trong hai thập kỷ qua, Anh cũng đã tham gia các cuộc tập trận đa phương lâu đời có sự tham gia của các nước ASEAN, chẳng hạn như cuộc tập trận Bersama Lima và SEACAT. Những cuộc tập trận này liên quan đến một số lượng lớn các quốc gia ASEAN và các đối tác bên ngoài, tập trung vào việc xây dựng năng lực trong các lĩnh vực hàng hải khác nhau. Các hoạt động này nhằm mục đích giải quyết nhiều vấn đề, bao gồm các mối quan ngại hiện nay về sự ổn định và an ninh khu vực, cũng như các nỗ lực lâu dài trong hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai (HADR). Việc triển khai tàu HMS Tamar và Spey gần đây đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là những ví dụ về sự can dự của Anh với Thái Bình Dương. Việc theo dõi xem liệu điều này có thể trở thành phương án khả thi cho việc mở rộng phạm vi trong tương lai tới toàn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương rộng lớn hơn hay không là một vấn đề thú vị.

Nỗ lực an ninh hàng hải mới của Anh nhằm thu hút các quốc gia ASEAN đã và đang xoay quanh chiến dịch Fortis, với sự tham gia của Nhóm tác chiến tàu sân bay số 21 (CSG-21), để tiến hành một loạt cuộc tập trận trong và xung quanh Đông Nam Á từ tháng 6 đến tháng 12/2021. Khuôn khổ này bao gồm các cuộc tập trận song phương (PASSEX) với Thái Lan, Malaysia và Việt Nam theo đó các tàu chiến đi qua biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vào năm 2021.

Một yếu tố trong nỗ lực này là khả năng của Anh trong việc duy trì tính bền vững và sự hiện diện thường xuyên trên biển. Hoạt động ngoại giao ban đầu của London và các hoạt động theo xu hướng ngả sang Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vẫn cần phải được hiệu chỉnh. Tuy nhiên, với các sáng kiến mới, London cũng cần phải nhạy cảm với nhận thức của các bên và thậm chí là những rủi ro về danh tiếng trong khu vực. Một phần sự hoài nghi về vai trò của Anh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương xuất phát từ thực tế là khát vọng “nước Anh toàn cầu” có trọng tâm chủ yếu là châu Âu – Đại Tây Dương. Các lập luận cũng nhấn mạnh sự phụ thuộc mạnh mẽ hơn của Anh vào Mỹ để bù đắp cho việc từ bỏ sự kết nối với châu Âu.

(còn tiếp)

Nguồn: Viện Chính sách chiến lược Australia

CVĐQT – số 5/2022

Quan hệ NATO-Nga: Đã đến lúc đình chỉ Đạo luật sáng lập


Theo thehill.com trong giai đoạn sự kỳ vọng lớn hơn đối với Nga suy giảm do những bất ổn, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tìm cách mở rộng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa liên minh này với Moskva. “Đạo luật Sáng lập về các quan hệ, hợp tác và an ninh giữa NATO với Liên bang Nga” được thông qua năm 1997 đã chính thức hóa mối quan hệ NATO-Nga và trong đó bao gồm những đảm bảo an ninh cho Moskva.

Mặc dù Đạo luật sáng lập đã tạo ra những kết quả hữu hình trong những năm đầu, nhưng giờ đây châu Âu lại đang phải đối mặt với một nước Nga hiếu chiến và theo chủ nghĩa xét lại. Hành động của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phá hủy cơ sở cho sự hợp tác. NATO nên đình chỉ đạo luật sáng lập này và đặc biệt là chấm dứt sự bảo đảm liên quan đến sự đồn trú của các lực lượng thông thường trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên mới.

Các nhà lãnh đạo của NATO và Nga đã gặp nhau vào tháng 5/1997 – hai tháng sau trước khi liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương thông báo mở rộng lần đầu tiên sau Chiến tranh Lạnh bằng việc kết nạp các thành viên mới gồm Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech – và ký kết Đạo luật sáng lập. Văn kiện này đặt ra các mục tiêu và nguyên tắc “tham vấn, hợp tác, ra quyết định chung và hành động chung” giữa NATO và Nga. Khuôn khổ đầy tham vọng của đạo luật này phản ánh một tầm nhìn chung rằng NATO và Nga có thể cùng hợp tác “để xây dựng một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt, toàn vẹn và tự do”, xây dựng thói quen hợp tác, làm giảm bớt lo ngại của Moskva về tác động về mặt quân sự của việc mở rộng NATO.

Đạo luật sáng lập có 2 đảm bảo chính cho thấy sự mở rộng của NATO không gây ra mối đe dọa quân sự nào đối với Nga. Thứ nhất, các quốc gia thành viên NATO nhắc lại rằng họ “không có ý định, không có kế hoạch và không có lý do gì để triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của các nước thành viên mới” (được gọi là nguyên tắc “Ba không”). Thứ hai, NATO tuyên bố rằng “trong môi trường an ninh hiện tại và trong tương lai gần”, lực lượng phòng thủ của NATO không yêu cầu “triển khai thường trực các lực lượng chiến đấu” ở các quốc gia thành viên mới. Nga cam kết thực hiện các biện pháp kiềm chế tương tự.

Thật không may, môi trường an ninh châu Âu đã không phát triển như các nhà lãnh đạo NATO hy vọng. Phương Tây không phải không có lỗi, nhưng phần lớn trách nhiệm làm cho tình trạng xấu đi này thuộc về Putin và Điện Kremlin. Nga đã liên tiếp thể hiện một loạt hành động hung hăng, bao gồm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa quân sự quy mô lớn, tiến hành các cuộc tấn công mạng, các chiến dịch thông tin sai lệch và có lập trường ngày càng thù địch đối với phương Tây. Năm 2014, Moskva đã vi phạm các cam kết trong Hiệp ước Helsinki 1975 và Đạo luật sáng lập khi chiếm giữ Crimea một cách bất hợp pháp và làm gia tăng xung đột ở miền Đông Ukraine. Tháng 2 vừa qua, Nga tái xâm lược Ukraine trên nhiều mặt trận, khơi mào cuộc chiến lớn nhất mà châu Âu từng chứng kiến kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Các hành động của Nga đã vi phạm các cam kết trong Đạo luật sáng lập và phớt lờ các mục tiêu và nguyên tắc đã thống nhất cách đây 25 năm.

Các nhà lãnh đạo NATO sẽ nhóm họp tại Madrid vào ngày 29 – 30/6 để thông qua chiến lược mới của liên minh và các biện pháp nhằm củng cố thế trận phòng thủ và răn đe của NATO trước cuộc chiến của Nga chống Ukraine. Liên minh có thể tiếp tục tuân thủ nguyên tắc “Ba không” để ngăn chặn các mối đe dọa hạt nhân từ Nga. Tuy nhiên, NATO nên từ bỏ cam kết hạn chế đóng quân thường trực bổ sung cho các lực lượng tác chiến. Từ năm 1997 đến năm 2014, NATO không triển khai quân đồn trú tại các quốc gia thành viên mới. Mỹ đã rút bớt lực lượng của họ ở châu Âu và từ năm 2013, nước này không còn xe tăng đóng thường trực ở châu lục này.

Sau các cuộc tấn công đầu tiên của Nga vào Ukraine hồi năm 2014, NATO đã triển khai luân phiên các nhóm chiến đấu cỡ tiểu đoàn ở các quốc gia Baltic và Ba Lan, và Mỹ đã đưa một lữ đoàn thiết giáp đến Ba Lan trên cơ sở luân phiên. Năm nay, khi Nga chuẩn bị và bắt đầu mở chiến dịch quân sự vào Ukraine, NATO đã tạm thời bố trí các lực lượng bổ sung ở sườn phía Đông của họ, bao gồm các đội quân chiến đấu luân phiên mới ở Romania, Bulgaria, Hungary và Slovakia, nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Nga có thể lan sang lãnh thổ NATO.

Bất kể cuộc chiến Nga – Ukraine kết thúc như thế nào, các quốc gia thành viên NATO phải chấp nhận rằng họ sẽ phải đối mặt với mối đe dọa quân sự lâu dài từ phía Đông. Để đảm bảo rằng Điện Kremlin không cố chống lại một quốc gia thành viên NATO, liên minh phải triển khai các lực lượng chiến đấu thường trực mạnh mẽ hơn ở Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan và Romania. Để ngăn chặn nước Nga ngày nay, các lực lượng này không chỉ đóng vai trò như tuyến phòng thủ đầu tiên mà còn nhiều hơn thế, và có đủ khả năng trên bộ và trên không để ngăn chặn các lực lượng tấn công cho đến khi quân tiếp viện của Đồng minh tới. Tất nhiên, Moskva sẽ không thích điều đó, nhưng NATO không còn lý do gì để phải tính đến các phản đối của Điện Kremlin một cách nghiêm túc.

Đạo luật sáng lập là cơ hội để xây dựng một châu Âu mới bằng cách thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa Nga và NATO. Thật không may, điều đó đã không thành công. Việc đình chỉ đạo luật sẽ để ngỏ khả năng nó có thể được khôi phục trong tương lai, khi Nga tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, việc đó chỉ có thể xảy ra sau khi Putin rời nhiệm sở và một thế hệ lãnh đạo mới của Nga chứng minh rằng nước Nga một lần nữa chia sẻ mục tiêu về một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Các biện pháp của Nga chống lại sự mở rộng NATO


Tờ Thời báo Hoàn Cầu ngày 01/06 đăng bải viết của nhà nghiên cứu Vương Hiến Cử (Wang Xianju) – Phó Giám đốc Trung Tâm Nga học, Đại học Nhân dân Trung Quốc cho biết, Tổng thư ký NATO Stoltenberg mới đây thông báo nếu Phần Lan và Thụy Điển không thể đáp ứng được yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ, họ khó có thể trở thành ứng cử viên gia nhập NATO tại Hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra vào ngày 28/6 tới. Một số người cho rằng lá phiếu quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ có thể cản trở vòng mở rộng mới của NATO. Tuy nhiên, xét cho cùng, việc Moskva đặt cược toàn bộ vào “quyền phủ quyết” của Thổ Nhĩ Kỳ là điều không thể, vậy Nga còn có những biện pháp nào để đối phó?

Theo dõi các động thái gần đây, có thể thấy rằng Moskva đang thông qua các hành động song phương và đa phương chống lại vòng mở rộng thứ sáu của NATO.

Thứ nhất, cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả nghiêm trọng từ vòng mở rộng mới của NATO. Một mặt, Moskva nhắc nhở Phần Lan và Thụy Điển không được đánh giá sai tình hình, chỉ ra rằng “quyết định sai lầm” lần này sẽ làm gia tăng căng thẳng khu vực và an ninh của hai nước và sẽ không vì gia nhập NATO mà được củng cố; mặt khác, nhấn mạnh rằng sự mở rộng cơ sở hạ tầng của NATO trên lãnh thổ hai nước này chắc chắn sẽ dẫn đến một phản ứng từ Nga. Nga sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh hải – lục – không quân ở khu vực Biển Baltic, và “tình trạng phi hạt nhân hóa của khu vực Biển Baltic sẽ không được bàn nữa”.

Thứ hai, tăng cường hơn nữa vai trò của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO). Vào giữa tháng 4, CSTO do Nga đứng đầu đã tổ chức một cuộc họp của ủy ban quân sự để “trao đổi quan điểm về tình hình quân sự và chính trị và đã đồng ý phối hợp các hành động chung để loại bỏ các mối đe dọa quân sự”. Cuộc họp đã quyết định tổ chức các cuộc tập trận chung CSTO tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan vào mùa Thu năm nay. Ngày 16/5, các nhà lãnh đạo của 6 quốc gia thành viên CSTO đã tổ chức cuộc họp tại Điện Kremlin để thảo luận các vấn đề như củng cố hợp tác giữa các quốc gia thành viên và hoàn thiện hệ thống an ninh tập thể. Hơn nữa, phía Nga cũng đưa ra một thông điệp quan trọng rằng “CSTO cần tăng cường hợp tác với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các đối tác tự nhiên của SNG (các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô cũ) hiện nay”, đồng thời đề xuất cung cấp cho SNG tư cách quan sát viên của CSTO.

Thứ ba, quan tâm hơn đến hợp tác với SCO. Khi Nga đảm nhận chức vụ chủ tịch luân phiên của SCO năm 2020, nước này đã chủ trương tổ chức cuộc họp chung giữa các bộ trưởng quốc phòng của các quốc gia thành viên SCO, SNG và CSTO. Tháng 9/2020, 3 tổ chức lần đầu tiên tiến hành cuộc tập trận chống khủng bố chung “Caucasus-2020”. Sau khi Mỹ và lực lượng NATO rút hoàn toàn khỏi Afghanistan, ngày 17/9/2021, người đứng đầu các quốc gia thành viên SCO và CSTO lần đầu tiên tổ chức cuộc họp chung để trao đổi về tình hình Afghanistan. Mới đây, Tổng thư ký CSTO Zass đã gặp Tổng thư ký Trương Minh (Zhang Ming) của SCO và bàn về “tầm quan trọng của việc xây dựng một không gian an ninh thống nhất”. Một số nhà phân tích cho rằng trong bối cảnh xung đột giữa Nga với Mỹ và châu Âu ngày càng gia tăng và sự mở rộng hơn nữa của NATO, CSTO có thể sẽ hợp tác với SCO trên nhiều lĩnh vực hơn trong tương lai.

Thứ tư, làm sâu sắc thêm Liên minh kinh tế Á – Âu. Trước các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính chưa từng có từ các nước phương Tây. Nga càng coi trọng vai trò của Liên minh Kinh tế Á – Âu. Ngày 25/2, Thủ tướng các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu đã họp bàn về tình hình kinh tế và tăng cường hợp tác, đồng thời đưa ra một loạt biện pháp nhằm ổn định thị trường nội khối. Cuộc họp của Hội đồng tối cao của Ủy ban kinh tế Á – Âu, cơ quan quyền lực cao nhất của Liên minh kinh tế Á – Âu, được tổ chức ngày 27/5, đã ra thông điệp “Liên minh kinh tế Á – Âu nên tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế của mình”.

Tất nhiên, trong khi tận dụng tối đa các biện pháp đối phó này, Moskva cũng phải đối mặt với những hạn chế.

Thứ nhất, Mỹ đang cố gắng hết sức lôi kéo các nước Trung Á. Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt chống lại Ukraine, hôm 01/3, Mỹ đã tổ chức cuộc họp trực tuyến cấp ngoại trưởng “C5+1” với 5 nước Trung Á. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh, nhất là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng, khoa học và công nghệ. Ngoại trưởng Mỹ Blinken thậm chí còn đưa ra khả năng thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ ở Trung Á, nhưng không nhận được phản hồi. Bên cạnh những tương tác thường xuyên trong lĩnh vực ngoại giao, Mỹ và các nước Trung Á đã tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Uzbekistan và Mỹ có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp và y tế, hai bên gần đây quan tâm đến việc cùng xây dựng tuyến đường sắt “Mazar-e Sharif-Kabul-Peshawar”. Năm 2021, đầu tư của Mỹ vào Kazakhstan đã tăng 45% và hơn 700 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Kazakhstan.

Thứ hai, EU và Nhật Bản cũng đang làm công việc của các nước Trung Á. EU sẽ cung cấp cho Uzbekistan 83 triệu euro viện trợ không hoàn lại trong giai đoạn 2021 – 2024 cho các dự án hợp tác cùng phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển xã hội dân sự và nhân quyền. Ngày 15/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Hayashi Yoshimasa đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với Bộ trưởng Ngoại giao 5 nước Trung Á. Với tư cách là những đồng minh quan trọng của Mỹ, EU và Nhật Bản tăng cường hợp tác với Trung Á vào thời điểm này, mục đích là rõ ràng.

Thứ ba, có sự khác biệt giữa CSTO và các nước Á – Âu về xung đột giữa Nga và Ukraine. Tại cuộc bỏ phiếu ủng hộ dự thảo nghị quyết lên án Nga tại phiên họp đặc biệt khẩn cấp lần thứ 11 của Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 2/3, Gruzia và Moldova bỏ phiếu thuận, Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan bỏ phiếu trắng. Trong khi đó, Kazakhstan và các nước khác phản đối việc CSTO gửi quân đến Ukraine. Phía Kazakhstan nói với báo chí r8a2ng nước này sẽ không tham gia các lệnh trừng phạt cũng như không giúp Nga trốn tránh các lệnh trừng phạt. Với những khác biệt này, Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã kêu gọi CSTO “nên đoàn kết”.

Cùng với sự tiếp diễn của xung đột giữa Nga và Ukraine, để siết chặt hơn nữa không gian an ninh chiến lược và phạm vi ảnh hưởng của Nga, Mỹ chắc chắn sẽ tăng cường lôi kéo các nước Trung Á. Các nước Trung Á sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách đối ngoại đa dạng và cân bằng dựa trên lợi ích của chính họ. Tuy nhiên nhìn chung, trong cuộc chơi ở Trung Á, Nga vẫn có những lợi thế rõ ràng và tầm ảnh hưởng của họ vượt xa các cường quốc phương Tây. Điều này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau như lịch sử, địa chính trị, lợi ích quốc gia, cơ chế khu vực và điều này sẽ khó thay đổi trong thời gian dài trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần cuối


Các nước Baltic: Đã sớm thực hiện chính sách “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (23%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (20%), năng lượng khác (14%).

Từng thuộc Liên Xô trước đây, mặc dù về chính trị đối đầu đến cùng với Chính quyền Putin, nhưng về nguồn cung năng lượng 3 nước Baltic vẫn khó tách rời hoàn toàn khỏi Nga. Về mặt địa lý, các quốc gia Tây và Bắc Âu có đường ống dẫn khí đốt đến thẳng các nước cung ứng chủ yếu như Na Uy, cũng như nhiều trạm nhập khẩu LNG, ngược lại, các quốc gia Đông Âu, Baltic và bán đảo Balkan rất khó thoát khỏi sự phụ thuộc vào đường ống vận chuyển khí đốt của Nga.

Trong đó, Litva là một trong những quốc gia châu Âu phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn năng lượng của Nga. Năm 2021, Litva nhập khẩu dầu, khí đốt và điện của Nga lên đến 3 tỷ euro, tỷ trọng nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga lần lượt chiếm 69% và 42%.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (2%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (37%), năng lượng khác (2%).

Kết cấu năng lượng cơ bản của Estonia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (60%), dầu mỏ (4%), khí đốt tự nhiên (8%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (24%), năng lượng khác (4%).

Trong những năm qua, Ủy ban châu Âu (EC) đã phân bổ tổng cộng 1,6 tỷ euro chia thành nhiều đợt khác nhau để hỗ trợ các nước Baltic tách khỏi lưới điện của Nga, kết nối vào EU. Ngoài lưới điện sẵn sàng “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”, sau sự kiện Crimea năm 2014, ba quốc gia nhỏ bé sống dưới cái bóng của Liên Xô đã bắt đầu triển khai kế hoạch giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng của Nga. Chẳng hạn, trạm LNG nổi Klaipeda được đưa vào vận hành từ năm 2014 đã cung cấp một nửa nhu cầu thị trường khí đốt tự nhiên của các nước Baltic và Phần Lan.

Còn về Litva, năm 2021, 90% khí đốt tự nhiên nhập khẩu vẫn đến từ Nga, tuy nhiên chính phủ nước này cho biết việc nhập khẩu khối lượng lớn khí đốt tự nhiên của Nga là do giá rẻ và tiện lợi, không phải không có sự lựa chọn khác. Chỉ cần có kế hoạch phù hợp, dựa vào trạm LNG Kalipeda đã đủ đáp ứng nhu cầu của ba nước Baltic. Ngoài ra, vừa qua Estonia cũng tuyên bố thúc đẩy kế hoạch dự án năng lượng 10 năm – trạm tiếp nhận LNG nổi. Theo tính toán của các cơ quan chức năng, giá mua một tàu LNG khoảng 300 triệu euro.

Bốn nước Trung Âu: Czech, Slovakia, Áo, Hungary đều có lập trường riêng

Kết cấu năng lượng cơ bản của Czech: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (34%), dầu mỏ (23%), khí đốt tự nhiên (17%), năng lượng hạt nhân (18%), năng lượng tái tạo (11%).

Chính phủ Czech vẫn chưa thể hiện lập trường về việc EU có thể cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga, Thủ tướng Petr Fiala nhiều lần cho biết EU cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch của Nga, nhưng không ủng hộ lệnh cấm nhập khẩu. Khoảng 90% khí đốt tự nhiên và 50% dầu mỏ của Czech được nhập khẩu từ Nga, nước này có các mỏ than của mình và nguồn than đá nhập khẩu thêm chủ yếu đến từ Ba Lan. Các chuyên gia kinh tế của Czech cho rằng mặc dù việc cấm nhập khẩu khí đốt từ Nga là vấn đề nguy hiểm đối với nền kinh tế Czech, nhưng vẫn có thể ứng phó một cách dễ dàng với lệnh cấm nhập khẩu dầu.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Slovakia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (17%), dầu mỏ (21%), khí đốt tự nhiên (24%), năng lượng hạt nhân (13%), năng lượng tái tạo (13%), năng lượng khác (1%).

Thủ tướng Slovakia Eduard Heger cho biết nước này ủng hộ tất cả các lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, bao gồm dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. 87% lượng tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Slovakia được nhập khẩu từ Nga. Bộ trưởng Kinh tế Slovakia Richard Sulík cảnh báo lệnh cấm có thể mang lại hậu quả đối với ngành công nghiệp của Slovakia và châu Âu. Hiện nay, một trong những chính sách của Slovakia là nhập khẩu LNG thông qua các tàu chở dầu, dự kiến cuối tháng này tàu chở dầu đầu tiên sẽ về đến, đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Slovakia trong một tuần. Thủ tướng Eduard Heger nói: “Đương nhiên, chi phí sử dụng tàu chở dầu để vận chuyển khí đốt tự nhiên từ Mỹ đắt hơn so với sử dụng đường ống từ Nga, nhưng đây chính là cuộc sống, chúng tôi phải học cách chấp nhận”.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Áo: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (10%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (30%), năng lượng khác (1%).

Tương tự như Đức, Áo phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch của Nga. Tân Thủ tướng Karl Nehammer cam kết ủng hộ lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, nhưng cảnh báo điều này có thể gây nên hậu quả cho Áo. 80% khí đốt tự nhiên của Áo nhập khẩu từ Nga, ngoài ra nước này còn nhập khẩu của Na Uy (10%) và Đức (5%), do đó với tỷ lệ trên, mức độ lệ thuộc của Áo vào Nga còn cao hơn cả Đức. Hiện nay, Chính phủ Áo đang xây dựng kế hoạch nhanh chóng mở rộng năng lượng tái tạo, đồng thời tìm kiếm nguồn khí đốt tự nhiên thay thế ở Trung Đông, cũng như nguồn cung LNG, trong đó bao gồm việc vận chuyển từ bờ biển phía Bắc biển Adriatic của Italy về Áo thông qua tuyến đường ống Adria-Vienna.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Hungary: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (8%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (32%), năng lượng hạt nhân (15%), năng lượng tái tạo (11%), năng lượng khác (4%).

Hungary nhập khẩu phần lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga. Thủ tướng Viktor Orban cho biết sẽ phản đối lệnh trừng phạt năng lượng của EU, ông nói: “Mặc dù chúng tôi lên án hành động xâm lược của Nga và cũng lên án chiến tranh, nhưng chúng tôi sẽ không để cho các gia đình ở Hungary phải gánh chịu hậu quả”. Năm 2021, Hungary và tập đoàn năng lượng nhà nước Gazprom của Nga đã ký một thỏa thuận cung ứng khí đốt tự nhiên mới với thời hạn 15 năm. Mặc dù vậy, những năm gần đây, Budapest đã bắt đầu thực hiện đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, trong đó có được nguồn cung LNG từ trạm LNG của Croatia.

Anh: Tự chủ hơn về năng lượng sau khi rời khỏi EU (Brexit)

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (36%), năng lượng hạt nhân (6%), năng lượng tái tạo (15%).

Anh đã rời khỏi EU nên không còn chịu sự ràng buộc của EU về việc có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, hơn nữa trên thực tế mức độ phụ thuộc của Anh vào nhập khẩu năng lượng của nước ngoài khá thấp, tỷ lệ phụ thuộc năm 2019 chỉ 35%. Đầu tiên, một nửa nguồn cung khí đốt tự nhiên Anh đến từ trong nước, nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Na Uy và Qatar. Về dầu mỏ, nhập khẩu từ Nga chiếm 8% tổng nhu cầu dầu mỏ của Anh, nhưng bản thân Anh cũng là nước sản xuất quan trọng các sản phẩm dầu mỏ và dầu thô, hơn nữa cũng có thể tăng cường nhập khẩu dầu mỏ từ Hà Lan, Saudi Arabia và Mỹ.

Theo Cục quản lý thương mại quốc tế Mỹ (ITA), xét từ tình hình chung của thị trường và số liệu giao dịch, ngành công nghiệp năng lượng là ngành có triển vọng nhất của Anh. Anh có thị trường năng lượng hùng hậu, ngành năng lượng đã tạo ra các hoạt động kinh tế trị giá 130 tỷ USD. Lĩnh vực năng lượng cung cấp 730.000 việc làm cho nước Anh – tương đương cứ 49 việc làm trên thị trường thì có 1 việc làm trên lĩnh vực năng lượng. Chính quyền Boris Johnson thúc đẩy Anh phát triển theo hướng là một nền kinh tế carbon thấp, năm 2019, Anh trở thành nền kinh tế chủ chốt đầu tiên ban hành đạo luật để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phát triển toàn diện năng lượng tái tạo.

Do đó, về khía cạnh Anh loại bỏ năng lượng của Nga, có thể nói Johnson rất tự tin khi tuyên bố: Chính quyền Putin xâm lược phi pháp Ukraine, chúng ta sẽ giáng một đòn kinh tế đối với họ – việc Anh sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc năng lượng vào Nga trong năm nay sẽ tăng thêm một đòn trừng phạt quốc tế cứng rắn với Nga.

Các nước nhỏ của châu Âu: Chỉ có thể chờ đợi EU cứu trợ?

Một số quốc gia tương đối nhỏ ở châu Âu phụ thuộc hoàn toàn vào khí đốt tự nhiên của Nga, bao gồm Slovenia, Serbia, Bắc Macedonia, Bosnia và Heszegovina, Moldova, Romania, Bulgaria…, đây phần lớn là các nước thành viên của Nam Tư cũ hoặc Liên Xô trước đây, hầu hết không phải là các nước thành viên EU, do đó chắc chắn các nước này sẽ tiếp tục nhập khẩu năng lượng từ Nga.

Liên quan đến các thành viên EU như Romania và Slovenia, tạm thời chưa có động thái tán thành có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, giai đoạn hiện nay đang tập trung thảo luận mở rộng nhập khẩu từ các nguồn khác để làm giảm mức độ phụ thuộc vào Nga.

Mặt khác, sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, từ năm 2015 đến nay Ukraine đã ngừng mua khí đốt tự nhiên từ Nga, chuyển sang mua khí đốt tự nhiên của EU, tuy nhiên điều này cũng chỉ đồng nghĩa với việc Ukraine thông qua EU để tái nhập khẩu khí đốt của Nga, đồng thời phản ánh thực trạng không ít nước châu Âu không nhập khẩu từ Nga về mặt số liệu sổ sách, nhưng trên thực tế năng lượng vẫn có nguồn gốc từ Nga.

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần II


Pháp: Nước lớn về năng lượng hạt nhân của châu Âu

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (4%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (14%), năng lượng hạt nhân (41%), năng lượng tái tạo (11%).

Pháp là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai châu Âu, chỉ xếp sau Đức, chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu do trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ít. Đồng thời, Pháp cũng là nước sản xuất năng lượng hạt nhân lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ, là nước xuất khẩu ròng điện. Phần lớn điện năng của Pháp đến từ năng lượng hạt nhân, tiếp đó là thủy điện, về cơ bản có thể tự cung tự cấp năng lượng.

Về khía cạnh nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nguồn cung của Pháp đa dạng hơn so với Đức. Năm 2020, Pháp nhập khẩu xăng nhiều hơn dầu thô, trong đó dầu thô chủ yếu có nguồn gốc từ Kazakhstan (16%), Mỹ (16%) và Saudi Arabia (13%); sản phẩm xăng chủ yếu nhập khẩu từ Nga (18%) và Bỉ (13%). Nhìn chung, Nga vẫn là nước cung ứng lớn nhất các sản phẩm dầu thô và xăng của Pháp, các nhà cung ứng chủ yếu còn lại bao gồm Mỹ, Saudi Arabia, Algeria, Kazakhstan, các khu vực cung ứng khác nắm 50% nhu cầu của Pháp.

Nguồn cung khí đốt tự nhiên lớn nhất của Pháp là Na Uy (36%), tiếp đó là Nga (17%) và Algeria (8%). Trong khi đó, khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Pháp chủ yếu đến từ Algeria (21%), Nga (21%), Nigeria (20%), tổng nguồn cung của Mỹ và Qatar chiếm khoảng 10%.

Do đó, so với Đức, sức ép trả đũa từ Nga mà Pháp đối diện không quá lớn, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc gia tăng các biện pháp trừng phạt năng lượng đối với Nga. Hơn nữa, có “sức mạnh” từ năng lượng hạt nhân, Chính phủ Pháp sẽ dốc toàn lực thúc đẩy các biện pháp giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Sau khi xảy ra xung đột Nga – Ukraine, một mặt Pháp nhanh chóng yêu cầu các nước cung ứng khác gia tăng nguồn cung dầu và khí đốt, mặt khác đưa ra các biện pháp cải cách năng lượng ở trong nước: giữa tháng 3 vừa qua, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố sẽ ngừng trợ cấp cho việc lắp đặt mới các lò sưởi khí đốt tự nhiên trong khu dân cư, đồng thời tăng cường hỗ trợ đối với việc sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo, tăng trợ cấp 1000 euro cho các hộ lắp hệ thống sưởi bơm nhiệt và sinh khối. Chính phủ sẽ cung cấp 150 triệu euro để hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ quan chức năng ở các thành phố chuyển sang sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo.

Italy: “Ngồi chung một con thuyền” với Đức

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (5%), dầu mỏ (36%), khí đốt tự nhiên (39%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (19%), năng lượng khác (2%).

Sau thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine năm 1987, Italy quyết định ngừng phát triển điện hạt nhân bằng một cuộc trưng cầu dân ý với số phiếu áp đảo, trở thành nền kinh tế lớn nhất không sử dụng năng lượng hạt nhân ở châu Âu, đồng thời đến nay cũng là quốc gia Tây Âu có tỷ lệ phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng cao nhất (77,5% vào năm 2019).

Hiện nay, khí đốt tự nhiên đáp ứng 40% nhu cầu năng lượng của Italy, tuy nhiên 40% khí đốt tự nhiên nhập khẩu của nước này đến từ Nga, tương đương với 3 tỷ m3/năm, muốn thoát khỏi phụ thuộc vào Nga có thể nói là khó khăn chẳng thua kém Đức. Ngoài việc tìm cách mở rộng nguồn cung từ hai nước cung ứng lớn thứ hai và thứ ba là Algeria (23%) và Na Uy (11%) thì Italy đang có kế hoạch xây dựng hai kho chứa LNG nổi (FSRU) để tăng cường nhập khẩu LNG.

Hai tàu vận chuyển LNG có tổng dung lượng hơn 10 triệu m3 sẽ được bố trí ở biển Tyrrhenus và biển Adriatic, gần các cảng hiện có cơ sở hạ tầng đường ống của Italy, tìm cách nhập khẩu LNG từ các nơi như Qatar, Mỹ, Mozambique… Đầu tháng 3, Bộ trưởng chuyển đổi năng lượng Italy Roberto Cingolani cho biết ít nhất cần phải mất 3 năm mới có thể hoàn thành việc thay thế nhập khẩu khí đốt tự nhiên của Nga, tuy nhiên thông qua việc tăng cường nhập khẩu LNG có thể thay thế 2 tỷ m3 trong trung hạn.

Năm 2020, lượng sản xuất điện bằng năng lượng tái tạo (38%) của các nước EU đã lần đầu tiên vượt qua nhiên liệu hóa thạch (34%), tuy nhiên tỷ trọng của năng lượng tái tạo ở Italy lại khá thấp, thấp hơn mức bình quân 22% của châu Âu. Cùng với chiến tranh Ukraine và cuộc chiến trừng phạt diễn ra, Chính phủ Italy đã nhanh chóng phê chuẩn nhiều dự án năng lượng tái tạo lớn, tuy nhiên để làm được điều này cần phải có thời gian. Mặc dù Thủ tướng Italy Mario Draghi tạm thời chưa thể hiện lập trường về việc liệu có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, nhưng nhiều khả năng là chỉ đồng ý cấm nhập khẩu dầu. Đối với Italy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay luôn là tìm kiếm nguồn cung thay thế, nhưng điều không may là đây không phải là điều có thể khắc phục trong một sớm một chiều.

Hà Lan: “Kẻ thừa kế giàu có” cũng gặp rắc rối về năng lượng

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (11%), dầu mỏ (35%), khí đốt tự nhiên (38%), năng lượng hạt nhân (3%), năng lượng tái tạo (8%), năng lượng khác (5%).

Như đã đề cập ở trên, trữ lượng năng lượng hóa thạch của châu Âu ít nhất toàn cầu, nhưng trong đó có một “kẻ thừa kế giàu có”, chính là Hà Lan. Một mặt nước này cùng Anh, Na Uy, Đan Mạch chia sẻ các giếng dầu ở Bắc Hải, mặt khác lại có giếng khí đốt Groningen lớn nhất EU, nên Hà Lan không thiếu năng lượng. Tuy nhiên, do khai thác quá mức giếng khí đốt Groningen từ thập niên 1960 đến nay đã khiến mặt đất của tỉnh này chìm xuống, cường độ và tần suất động đất của khu vực phía Bắc trong mấy thập niên trở lại đây không ngừng tăng lên, đe dọa an toàn tính mạng của người dân bản địa. Trước sự phản đối mạnh mẽ của người dân, năm 2019 cơ quan quản lý chức năng quyết định đóng cửa giếng khí đốt vào năm 2022, sớm hơn 8 năm so với dự kiến vào năm 2030. Kể từ năm 2018, Hà Lan đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng khí đốt tự nhiên.

So với năm 2000, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu của Hà Lan chỉ là 38%, nhưng năm 2019 đã tăng vọt lên 64%, chỉ đứng sau Đức ở châu Âu, hiện nay ngay cả công ty Shell cũng phải dựa vào nhập khẩu dầu và khí đốt của Nga để duy trì hoạt động, trong đó khí đốt của Nga chiếm tới 30% lượng khí đốt tự nhiên nhập khẩu của Hà Lan.

Hiện nay, Hà Lan chỉ có một nhà máy điện hạt nhân và một trạm LNG. Hai năm qua, các cơ quan chức năng của Hà Lan gấp rút theo đuổi phát triển năng lượng tái tạo, hy vọng từng bước giảm thiểu việc sử dụng khí đốt tự nhiên. Số liệu mới nhất của năm 2020 cho thấy tỷ trọng năng lượng tái tạo của Hà Lan đã đạt 11,1%.

Kể từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga – Ukraine đến nay, giá khí đốt tự nhiên ở châu Âu tăng lên mức chưa từng có, mặc dù vậy Chính phủ Hà Lan vẫn hết sức thận trọng đối với việc khai thác lại giếng khí đốt Groningen. Cuối tháng 2, Thủ tướng Mark Rutte cho biết: không thể để 100.000 – 200.000 người dân phải đối diện với rủi ro động đất lớn hơn vì giảm giá khí đốt. Tuy nhiên, Mark Rutte không loại trừ khả năng thay đổi lập trường liên quan, ông nói “Đây là tình huống cuối cùng, cũng là kịch bản cuối cùng nếu đột nhiên không có khí lưu chuyển từ các đường ống trong nhà”.

Mark Rutte cũng phản đối việc EU trừng phạt năng lượng của Nga. Trước khi xảy ra tình huống và kịch bản cuối cùng nêu trên, về cơ bản Hà Lan vẫn có khuynh hướng dựa vào nhập khẩu để giải quyết nhu cầu, và Nga đang là nhà cung cấp không thể thiếu.

Ba Lan: Than đá, khí đốt, đều dựa hoàn toàn vào Nga, liệu có thực sự ổn định?

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (42%), dầu mỏ (30%), khí đốt tự nhiên (15%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (12%), năng lượng khác (1%).

Là nước láng giềng tốt của Ukraine, Ba Lan có phản ứng mạnh mẽ nhất đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine, hàng triệu người tị nạn đã tràn vào nước này và được các gia đình mở rộng vòng tay chào đón. Chính phủ Ba Lan đứng ở “tuyến đầu chống Nga”, yêu cầu mạnh mẽ EU cấm nhập khẩu toàn bộ năng lượng của Nga. Tuy nhiên, là quốc gia có dân số đông thứ 5 của EU, sự tự tin về năng lượng của Nga dường như không đủ. Một đặc trưng trong kết cấu năng lượng của Ba Lan là tỷ lệ sử dụng than đá vẫn khá cao, chiếm 42% vào năm 2019, chỉ đứng sau Estonia (60%) trong số các nước thành viên EU. Nguồn cung điện lực của Ba Lan phụ thuộc đến 70% vào than đá.

Hiện nay, khí đốt tự nhiên của Nga chiếm khoảng 55% tổng lượng nhập khẩu của Ba Lan, hơn nữa dầu mỏ và than đá của Nga lại chiếm đến 67% và 75% khối lượng nhập khẩu của nước này, đủ thấy nhu cầu cơ bản về năng lượng của Ba Lan cũng phụ thuộc vào Nga rất nhiều. Để theo đuổi mục tiêu giảm phát thải carbon do EU đưa ra, Ba Lan luôn tìm cách nhập khẩu nhiều khí đốt tự nhiên hơn để thay thế than đá trong thập kỷ này. Cùng với việc hợp đồng dài hạn của Ba Lan với tập đoàn năng lượng nhà nước khổng lồ Gazprom của Nga sẽ hết hạn vào cuối năm nay, Ba Lan đã có sự chuẩn bị nhất định: ngoài tăng cường nhập khẩu LNG của Mỹ, tuyến đường ống dẫn khí đốt tự nhiên nối với Na Uy sẽ được đưa vào sử dụng vào tháng 11 năm nay.

Trong chương trình cải cách năng lượng dài hơi, điện hạt nhân sẽ là trụ cột. Chính quyền Warsaw có kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trong năm tới, đồng thời dự kiến Ba Lan có thể sản xuất 6 – 9 GW điện hạt nhân vào năm 2043, chiếm 10% tổng sản lượng điện, tổng kinh phí đầu tư xây dựng các lò phản ứng hạt nhân ước tính lên đến 22,5 tỷ euro.

Mặc dù nỗi ám ảnh của Ba Lan về thảm họa hạt nhân Chernobyl trong những năm 1980 sâu đậm hơn nhiều quốc gia châu Âu, nhưng phát triển điện hạt nhân dường như là con đường tất yếu, chính phủ hiện tại coi năng lượng hạt nhân là một khâu then chốt để thoát khỏi sự phụ thuộc vào than đá. Trong đó, Ba Lan có ý định đặt nhà máy điện hạt nhân ở khu vực sông Oder gần biên giới Đức – Ba Lan. Là quốc gia đang có kế hoạch loại bỏ điện hạt nhân, Đức cảm thấy lo ngại đối với các nhà máy điện hạt nhân. Trong chuyến thăm Ba Lan gần đây, Bộ trưởng Môi trường Đức Steffi Lemke – người thuộc đảng Xanh chủ trương loại bỏ năng lượng hạt nhân đã phát biểu rằng không loại trừ khả năng sử dụng công cụ pháp lý: theo quan điểm của Berlin, năng lượng hạt nhân vừa không tốt vừa không an toàn. Nếu các lò phản ứng hạt nhân được xây dựng ở Ba Lan, chúng tôi sẽ sử dụng các văn bản pháp lý thích hợp để theo đuổi đến cùng… Ở cấp độ châu Âu, điều này không cần nói”.

(còn tiếp)

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần I


Theo trang mạng hk01.com mới đây, chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine đã kéo dài hơn 1 tháng, Mỹ đã tuyên bố áp đặt lệnh trừng phạt năng lượng đối với Nga, cấm nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của Nga. Tuy nhiên, do các đồng minh châu Âu luôn phụ thuộc sâu sắc vào nguồn năng lượng của Nga, hơn nữa mức độ phụ thuộc của các nước khác nhau, nên Liên minh châu Âu (EU) vẫn chưa đạt được đồng thuận về mức độ trừng phạt.

Các nước thành viên EU đều có toan tính riêng trong vấn đề trừng phạt toàn diện năng lượng của Nga, cấm nhập khẩu dầu mỏ nhưng không cấm nhập khẩu khí đốt tự nhiên. Đặc biệt là trong bối cảnh châu Âu thúc đẩy cắt giảm phát thải carbon, nhập khẩu khí đốt thiên nhiên vẫn là trụ cột quan trọng trong kết cấu năng lượng của nhiều nước, các nước đang chạy đua với thời gian để tìm kiếm phương án thay thế, nhưng liệu điều này có dễ dàng thực hiện nay không?

Khái quát tình hình năng lượng của EU

Năm 2019, EU chỉ tự sản xuất được 39% trong tổng mức năng lượng đã sử dụng của mình, 61% còn lại được nhập khẩu từ nước thứ ba, kết cấu năng lượng chủ yếu được hình thành từ 5 nguồn lớn, bao gồm 36% sản phẩm dầu mỏ (xăng, dầu diesel, dầu FO (dầu mazut)…), 22% khí đốt tự nhiên, 15% năng lượng tái tạo, 13% năng lượng hạt nhân và 13% nhiêu liệu hóa thạch thể rắn.

Trong kết cấu năng lượng nhập khẩu của EU, sản phẩm dầu mỏ chiếm 2/3, sau đó là khí đốt tự nhiên (27%) và nhiên liệu hóa thạch thể rắn (6%). Hơn nữa, Nga là nước cung ứng lớn duy nhất của ba loại năng lượng này. Lấy số liệu năm 2019 làm ví dụ, tỷ lệ dầu thô là 27%, khí đốt tự nhiên là 41% và nhiên liệu hóa thạch thể rắn (chủ yếu là than đá) là 47%. Nước mà EU có mức độ phụ thuộc tiếp sau chính là dầu thô và khí đốt tự nhiên của Na Uy.

EU phụ thuộc như thế nào vào năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài? Tỷ lệ phụ thuộc là tỷ lệ nhập khẩu ròng trong tổng mức tiêu thụ năng lượng. Trong 20 năm qua, mức độ phụ thuộc của EU đối với năng lượng bên ngoài đã tăng lên đáng kế, tỷ lệ phụ thuộc tăng từ 56% năm 2000 lên 61% vào năm 2019. Hơn nữa, mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài của 27 quốc gia thành viên EU cũng khác nhau.

Ngoại trừ các nước nhỏ như Malta, Luxembourg, Cyprus có tỷ lệ phụ thuộc rất cao (nhập khẩu trên 90% năng lượng), những nước có tỷ lệ nhập khẩu năng lượng cao bao gồm Italy (77%), Bỉ (77%), Litva (75%), Tây Ban Nha (75%), Hy Lạp (74%), Bồ Đào Nha (74%), tỷ lệ liên quan của Áo, Slovakia, Hungary, Ireland, Đức và Hà Lan cũng đều trên 64%. Bản thân Na Uy ở khu vực Bắc Âu là nước xuất khẩu ròng năng lượng, tỷ lệ sử dụng năng lượng tái tạo cua Thụy Điển đạt đến 40%, cộng thêm 30% sử dụng năng lượng hạt nhân nên mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu khá thấp.

Hơn nữa tỷ trọng năng lượng giữa các nước thành viên có sự khác biệt rất lớn. Một số nước phụ thuộc nhiều vào sản phẩm dầu mỏ, chẳng hạn như Cyprus (90%), Malta (87%) và Luxembourg (65%). Trong khi đó, khí đốt tự nhiên lại chiếm hơn 1/3 trong kết cấu năng lượng của Italy và Hà Lan. Tỷ lệ nhiên liệu hóa thạch thể rắn được sử dụng ở Estonia và Ba Lan lần lượt chiếm 60% và 43%. Pháp và Thụy Điển là những cường quốc về năng lượng hạt nhân, năng lượng hạt nhân là nguồn điện lớn nhất. Ở EU, Thụy Điển và Latvia là hai nước sử dụng năng lượng tái tạo khá sớm, tỷ lệ lần lượt chiếm 41% và 37%.

Để bước trên con đường tự chủ năng lượng là vấn đề không dễ dàng đối với châu Âu. Châu Âu có thể gọi là “vốn liếng nghèo nàn” so với các khu vực khác về năng lượng hóa thạch. Theo số liệu của công ty dầu mỏ (BP) của Anh, tính đến năm 2020, trong trữ lượng năng lượng hóa thạch đã thăm dò được trên toàn cầu, trữ lượng năng lượng hóa thạch của châu Âu thấp nhất thế giới, tỷ trọng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên chỉ lần lượt chiếm 1% và 2% toàn cầu. Ngược lại, trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên cảu khu vực Trung Đông lần lượt chiếm 46% và 40%, trong khi trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của khu vực Bắc Mỹ cũng lần lượt chiếm 15% và 8% toàn cầu.

Trong những năm gần đây, để theo đuổi mục tiêu trung hòa carbon của EU, các nước tích cực phát triển năng lượng tái tạo, cam kết từng bước loại bỏ phát điện bằng than đá, bên cạnh việc hai nguồn năng lượng tăng giảm trái chiều, trong giai đoạn hiện nay dầu mỏ và khí đốt tự nhiên trở thành “trụ cột” trong kết cấu năng lượng của các nước. Hơn nữa, các nước có quan điểm khác nhau đối với việc sử dụng năng lượng hạt nhân, ngoài Pháp và Thụy Điển được mệnh danh là cường quốc năng lượng hạt nhân, chỉ có 10 nước thành viên khác của EU vẫn còn sử dụng năng lượng hạt nhân (phần lớn là các nước Đông Âu), trong đó một số nước có chủ trương sẽ loại bỏ trong thời gian tới. Tuy nhiên, cuộc xung đột Nga – Ukraine lần này có thể làm đảo lộn kế hoạch năng lượng của châu Âu, làm xoay chuyển xu thế chung về xóa bỏ điện hạt nhân trước đó.

Do đó, trong cuộc khủng hoảng Ukraine lần này, e rằng bên bị tổn thất không chỉ có Ukraine, mà còn có châu Âu từ lâu luôn phụ thuộc sâu sắc vào nguồn năng lượng của Nga.

Đức: Phụ thuộc hoàn toàn vào Nga

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (20%), dầu mỏ (36%), khí đốt tự nhiên (24%), năng lượng hạt nhân (6%), năng lượng tái tạo (14%).

Than đá, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên chiếm 80% trong kết cấu năng lượng của Đức, tầm quan trọng của ba loại năng lượng này tương đương nhau, hơn nữa Nga là nhà cung ứng lớn nhất ba loại năng lượng này của Đức, trong đó các sản phẩm dầu mỏ chiếm 30% và khí đốt tự nhiên chiếm đến 66%.

Những năm gần đây, Đức liên tiếp chịu tác động của thời tiết cực đoan và lũ lụt nghiêm trọng, nên giảm phát thải carbon và biến đổi khí hậu nhận được nhiều sự quan tâm của người dân. Chính phủ Đức vốn đã thiết kế mục tiêu loại bỏ sản xuất điện từ than đá vào năm 2030, cộng thêm tác động của thảm họa hạt nhân Fukushima ở Nhật Bản năm 2011, tiếng nói phản đối hạt nhân ở Đức tăng cao, vậy nên tháng 5/2011 Chính quyền Angela Markel tuyên bố sẽ đóng cửa tất cả các nhà máy điện hạt nhân trước tháng 12/2022.

Do đó, trong 10 năm qua, tăng cường nhập khẩu khí đốt tự nhiên, phát tiển năng lượng tái tạo đã trở thành phương hướng chuyển đổi kết cấu năng lượng tái tạo đã trở thành phương hướng chuyển đổi kết cấu năng lượng của Đức. Dự án Dòng chảy phương Bắc 2 hợp tác với Nga dự kiến đi vào hoạt động trong năm nay sẽ giúp lượng nhập khẩu khí đốt tự nhiên có hy vọng tăng gấp đôi, hai mục tiêu lớn là loại bỏ năng lượng hạt nhân và than đá đều có khả năng thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề Ukraine lại đã làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch triển khai của Chính phủ Đức.

Cần biết rằng 60% khí đốt tự nhiên của Đức do Nga cung cấp, hai nhà cung ứng lớn thứ hai và thứ ba là Na Uy (21%) và Hà Lan (12%) cộng lại cũng chỉ bằng một nửa nguồn cung của Nga, muốn mở rộng nguồn cung là điều vô cùng khó khăn, bởi vì nếu Nga trả đũa EU, thì Na Uy và Hà Lan phải tăng cường hỗ trợ cho toàn châu Âu. Hiện nay, ba nhà cung ứng này nắm 99% nhu cầu khí đốt tự nhiên của Đức, muốn thay thế khí đốt tự nhiên e rằng phải phát triển nguồn cung mới. Đảng Xanh, một lần nữa tham gia liên minh cầm quyền sau nhiều năm vốn chủ trương năng lượng xanh, liệu có tạm thời nhượng bộ đối với điện hạt nhân và than đá hay không?

(còn tiếp)

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Barkhane – sự thất bại của Pháp tại Mali – Phần cuối


Viện trợ phát triển

Từ năm 2017, lực lượng vũ trang Pháp cũng phải làm quen với một nhân vật mới tại Điện Elysée: Emmanuel Macron. Tổng thống Pháp không còn coi vấn đề loại bỏ các chiến binh Hồi giáo là giải pháp hiệu quả cho xung đột tại Mali. Chính trong hoàn cảnh đó, đã xuất hiện ý tưởng kết nối chặt chẽ Cơ quan phát triển Pháp (AFD) với các hoạt động của chiến dịch Barkhane. Rémy Rioux, Tổng giám đốc AFD, là người thân cận với Tổng thống Macron. Kết hôn với em gái của một sĩ quan lục quân, Rioux có một ưu điểm mà Chính phủ Macron không thể bỏ qua: Ông là một nhà hoạt động nhân đạo có thái độ thân thiện với hoạt động quân sự.

Từ năm 2018, một cố vấn AFD đã được biệt phái thường trực cho chiến dịch Barkhane, nhằm hỗ trợ tối đa mọi hoạt động đảm bảo an ninh của quân đội Pháp thông qua một dự án phát triển. Pháp phải có khả năng chứng minh rằng họ đang giúp đỡ chính quyền Mali bằng nhiều cách chứ không chỉ bằng cách truy lùng các nhóm vũ trang Hồi giáo. Nhưng sự thay đổi này lại xung đột với tôn chỉ hoạt động của AFD, nơi theo truyền thống vẫn coi cách hành động duy nhất có hiểu quả là “phòng ngừa xung đột”. Các mệnh lệnh của tổng thống cũng phải đối mặt với hai khó khăn: Một là, tiến trình viện trợ phát triển luôn diễn ra rất chậm, mặt khác là nỗi lo lắng của đội ngũ nhân sự tại Mali, khi nhiều người trong số này không hề dấn thân vào công việc vì nghĩ rằng mối liên hệ của họ với chiến dịch Barkhane sẽ khiến họ gặp nhiều nguy hiểm hơn.

Do đó, Pháp chưa bao giờ công khai rằng trong những năm gần đây, Pháp đã viện trợ hàng trăm triệu euro cho toàn bộ chương trình điện khí hóa ở miền Nam Mali và xây dựng mạng lưới vệ sinh ở Bamako. Tại Điện Elysée và trong nội bộ AFD, nhiều người biết rất rõ rằng các nhóm thánh chiến đã hưởng lợi từ các khoản viện trợ được phân bổ cho một số dự án ở xa hơn về phía Bắc, mà việc nghiệm thu không thể được thực hiện một cách chặt chẽ. Cuối cùng, Pháp chưa bao giờ thực sự thành công trong việc áp đặt các điều kiện viện trợ nghiêm túc đối với chính quyền Mali, đặc biệt là do lo ngại rằng nước này sẽ bị cáo buộc áp đặt chủ nghĩa thực dân mới.

Những khó khăn về lực lượng

Những gì không được nói ra cũng được tích tụ dần trong lĩnh vực quân sự. Các lực lượng vũ trang chung Sahel, được cho là sẽ đóng góp tích cực cho các nỗ lực tại Mali kể từ năm 2017 trong khuôn khổ lực liên quân, vẫn rất yếu về mặt cơ cấu và thường xuyên bị cáo buộc phạm tội ác chiến tranh. Ngay cả việc phân công nhiệm vụ chiến đấu cho lực lượng này cũng là một vấn đề. Được EU cung cấp tài chính, lực lượng này phải chịu sự giám sát của Liên hợp quốc trước mỗi chiến dịch nhằm tránh tình trạng biển thủ công quỹ xảy ra như cơm bữa. Quy trình này khiến việc triển khai nhiệm vụ bị chậm lại hoặc không thực hiện được. Hơn nữa, lực lượng cũng phải dựa vào nguồn lực ít ỏi của không quân mỗi quốc gia tham gia, tức là chỉ có vài máy bay trực thăng tấn công và máy bay trinh sát của mỗi nước.

Lực lượng vũ trang Mali, nhờ hỗ trợ huấn luyện của EU và yêu cầu hỗ trợ chiến đấu cho chiến dịch Barkhane, đã bắt đầu phát triển, từ 7000 binh sĩ vào năm 2013 lên 34.000 hiện nay. Nhưng lực lượng này vẫn chưa đủ độ tin cậy trong mắt người dân Mali vốn luôn cho rằng quân đội của họ thường xuyên biển thủ công quỹ, và chiến dịch Barkhane có thể tạo điều kiện cho họ làm vậy. Theo thời gian, cảm giác ngờ vực này lớn dần, đặc biệt đối với những binh sĩ tham gia phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Mali (Minusma), với hơn 13.000 người trên khắp đất nước. Do thiếu trực thăng chiến đấu, không được huấn luyện đầy đủ và chủ yếu làm nhiệm vụ phòng thủ, lực lượng này thường đóng vai trò khán giả chứng kiến những hành động tàn bạo, và rồi lại trở thành nạn nhân của các cuộc tấn công thánh chiến. Hơn 260 binh sĩ Minusma đã thiệt mạng kể từ năm 2013. Cuối cùng, các nhà ngoại giao, quân đội và các nhà hoạt động nhân đạo của Pháp đã phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng môi trường, đó là tình trạng khô hạn ngày càng xuất hiện nhiều. Đi kèm với đó là sự thiếu hụt các nguồn lực, trong khi các căng thẳng ngày càng gia tăng, tạo điều kiện cho các nhóm thánh chiến có thể dễ dàng kết nối với nhau.

Sự ra đời của lực lượng đặc nhiệm Takuba

Năm 2019 là năm kinh hoàng cho chiến dịch Barkhane theo như nhìn nhận của một số người. Thời điểm đó, binh sĩ Pháp được trang bị máy bay không người lái vũ trang, khiến hiệu quả của chiến dịch tăng lên gấp bội. Tuy nhiên, số binh lính Pháp bị thương hoặc hy sinh hằng năm trong chiến dịch Barkhane cũng ở mức tương đối, với tổng cộng 53 người từ năm 2013 – 2022. Nhưng con số này không hẳn là vấn đề nếu xét theo mức độ nguy hiểm trên chiến trường Mali. Cái chết của 13 binh sĩ hồi tháng 11/2019 do tai nạn máy bay trực thăng xảy ra trong một chiến dịch ở Liptako là tổn thất nghiêm trọng nhất về người của Pháp kể từ khi Paris bắt đầu can dự quân sự ở Mali năm 2013. Sau tai nạn này, tháng 01/2020, Tổng thống Macron đã có một quyết định chấn động: tăng quân số Pháp tham gia chiến trường Mali.

Dự kiến số quân này sẽ được duy trì đến khi chiến dịch Barkhane kết thúc. Từ con số 4800, lực lượng Pháp được tăng lên 5100 binh sĩ. Và Lực lượng vũ trang chung Sahel cũng được khuyến khích tăng cường nỗ lực chiến đấu. Tương tự, các nỗ lực viện trợ phát triển cũng được thúc đẩy và cú hích này được đánh giá rất cao ở châu Phi. Đặc biệt, 5 quốc gia châu Âu gồm Bỉ, Đan Mạch, Estonia, Hà Lan và Bồ Đào Nha đã thực hiện một bước đi chưa từng có khi nhất trí thành lập một liên minh các lực lượng đặc biệt, mà mô hình dựa trên những thành công ở khu vực biên giới Iraq-Syria. Đó chính là lực lượng đặc nhiệm Takuba dưới sự lãnh đạo của Pháp, với một lực lượng gọn nhẹ hơn so với các đơn vị thông thường, nhưng chính xác hơn và tiết kiệm chi phí hơn.

Trước sự bành trướng của chủ nghĩa thánh chiến, Paris vẫn muốn tập trung nỗ lực vào một khu vực duy nhất là tam giác nằm giữa Niger, Mali và Burkina Faso, đóng vai trò là hậu cứ của các chiến binh thánh chiến, mà chiếm chủ yếu là các phần tử thuộc tổ chức Nhà nước Hồi giáo đại sa mạc Sahara (EIGS), vốn phát triển rất mạnh mẽ kể từ khi được thành lập vào mùa Xuân năm 2015. Lý do giải thích cho sự tập trung nỗ lực của Pháp vào tam giác này là sự bánh trướng của các phần tử thánh chiến ở Mali dường như đang vượt ngoài tầm kiểm soát. Do đó, Pháp muốn dồn toàn lực sẵn có để ngăn chặn nguy cơ khủng bố phát triển sang các nước láng giềng về Vịnh Guinea, nơi có các lợi ích kinh tế được coi là quan trọng hơn.

Sự sụp đổ chính trị của Mali

Một số chuyên gia cho rằng chính trong bối cảnh đó, Pháp đã bỏ lỡ một khả năng để đưa chiến dịch Barkhane kết thúc theo một cách vinh quang hơn so với những gì được thấy. Tháng 6/2020, khi mà mọi con mắt đều đổ dồn về tam giác Niger-Mali-Burkina Faso, các lực lượng Pháp đã tiêu diệt Abdelmalek Droukdel, kẻ sáng lập tổ chức thánh chiến al-Qaeda tại Maghreb Hồi giáo (AQIM), ở gần Tessalit, một thành phố nằm ở phía Đông Bắc Mali. Thành công hiếm có đó cho thấy sự hiện diện tiềm ẩn của các cơ quan đặc biệt Pháp, trong đó có Tổng cục An ninh đối ngoại (DGSE). Nhưng vì nhiều lý do, Điện Elysée đã không nắm bắt cơ hội này để thúc đẩy chiến dịch, có thể là vì nước Pháp đã phải vật lộn với giai đoạn đầu của đại dịch COVID-19.

Hai tháng sau, vào tháng 8/2020, điều mà ai cũng lo ngại cuối cùng đã xảy ra: sự sụp đổ chính trị ở Mali. Một cuộc đảo chính quân sự khiến chính quyền của Tổng thống Keïta đi vào dĩ vãng. Trớ trêu là ban đầu, phe đảo chính đã nhận được sự ủng hộ của các nhà ngoại giao và binh lính Pháp. Khi đó, Paris muốn tin rằng những sĩ quan đảo chính sẽ hiểu rõ thực trạng an ninh của đất nước họ và có thể kiểm soát được tình hình. Nhưng rồi khó khăn chồng chất khó khăn. Tháng 4/2021, cái chết đột ngột của Idriss Deby, nhà lãnh đạo của nước láng giềng Cộng hòa Chad và là người hỗ trợ đắc lực về mặt quân sự cho Pháp ở khu vực Sahel trong suốt 30 năm qua, đã khiến tình trạng bất ổn ở khu vực trở nên trầm trọng thêm. Tại Mali, sự chia rẽ ngày càng nặng nề trong nội bộ chính quyền chuyển tiếp, mà đỉnh điểm là một cuộc xung đột mới xảy ra vào tháng 5/2021, dẫn đến việc Mali đưa ra đường lối chiến lược mới hướng tới Nga.

Vậy là quan hệ giữa Paris và Bamako liên tục rơi vào trạng thái căng thẳng. Hợp tác quân sự bị đình chỉ trong sự thờ ơ của chính quyền. Tháng 7/2021, Điện Elysée thông báo muốn “tổ chức lại” chiến dịch Barkhane và cắt giảm số binh sĩ tham gia. Bamako tiếp tục không có ý kiến. Mọi nỗ lực của phía Pháp hòng tìm kiếm một lối thoát trong danh dự lần lượt bị chối bỏ. Từ tháng 12/2021, theo nhiều nhà quan sát, sự xuất hiện của các chuyên gia Nga và hàng trăm lính đánh thuê của tổ chức bán quân sự Nhóm Wagner đã gây nhiều tranh cãi. Việc Pháp tuyên bố tiêu diệt lãnh đạo EIGS là Abou Walid Al-Sahraoui vào tháng 9/2021 dường như đã rơi vào quên lãng.

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022

Barkhane – sự thất bại của Pháp tại Mali – Phần đầu


Báo Le Monde mới đây có bài viết về chiến dịch Barkhane, chiến dịch chống nổi dậy của quân đội Pháp chống lại các tay súng Hồi giáo ở khu vực Sahel của châu Phi. Sau 9 năm chiến đấu chống chủ nghĩa thánh chiến ở Sahel, ngày 17/2/2022, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã phải ngậm ngùi thông báo quyết định rút quân đội Pháp khỏi Mali. Tuyên bố này được nhiều nhà quan sát coi là sự kết thúc của một chu kỳ chiến lược của Pháp tại châu Phi. Nội dung bài viết này như sau:

Có những thất bại đau đớn hơn những thất bại khác, đặc biệt là khi xem xét nguyên nhân dẫn đến thất bại của cả một quá trình lâu dài. Câu chuyện về 9 năm can dự của Pháp ở Mali trong khuôn khổ chiến dịch Serval từ tháng 01/2013, sau đó đến chiến dịch Barkhane từ tháng 8/2014, vẫn sẽ còn được viết. Nhưng theo như ý kiến của nhiều nhân tố trên thực địa và những binh sĩ tại ngũ hoặc đã nghỉ hưu, thì thông báo rút quân của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron trước hết là sự kết thúc của một chu kỳ, hay cái chết của một điều không tưởng về chính trị, ngoại giao và quân sự.

Nhiều năm trôi qua có thể khiến chiến dịch Barkhane bị lãng quên, nhưng nếu thế cũng nên nhắc lại rằng chiến dịch này ban đầu được sinh ra từ một chiến thắng. Đó là chiến thắng của chiến dịch Serval, một thành công chớp nhoáng, gần như hoàn hảo, như những gì được học tại các học viện quân sự. Sau đó, vào tháng 01/2013, một phong trào thánh chiến bắt đầu thế chỗ cho cuộc nổi dậy của người Tuareg tại Mali và bắt đầu lan rộng ra ngoài miền Bắc Mali, mà người ta từng hy vọng nó sẽ vẫn bị giới hạn ở đó. Khi các cơ quan tình báo Pháp nhận ra rằng thánh chiến đã tới gần Mopti, thành phố nằm trên một trục dẫn tới thủ đô Bamako của Mali, quyết định ngăn chặn mới được đưa ra.

Tổng thống Pháp khi đó là François Hollande (2012 – 2017) là người chịu trách nhiệm. Sau khi nỗ lực tìm kiếm đồng minh bằng cách để không thấy mình đơn độc trong sa mạc Mali, ông đã ráp nối các kế hoạch được đệ trình. Kết luận được đưa ra thời điểm đó như sau: Thứ nhất, phải xóa bỏ ngành công nghiệp bắt cóc con tin giúp thu lời cho các nhóm thánh chiến. Hiện có 12 người phương Tây, trong đó có một số người Pháp, đang bị các nhóm thánh chiến giam giữ. Thứ hai, hoạt động này có chỗ dựa là vùng núi Adrar des Ifoghas, một căn cứ để chuẩn bị cho các cuộc tấn công đe dọa toàn bộ tiểu vùng. Một cựu sĩ quan cho biết: “Trong vòng hai tháng, với 2000 binh sĩ và chi phí 200 triệu euro, người ta dự báo rằng chiến dịch quân sự là điều khả thi”.

Kết quả đáng khích lệ

Với sự ra đời của chiến dịch Serval, “điều không tưởng về tác chiến”, theo cách nói của viên sĩ quan này, đã trở thành hiện thực. Khoảng 6000 binh sĩ Pháp được điều động tham gia chiến dịch. Sau vụ bắt giữ một nhóm thánh chiến vào ngày 11/01/2013 và giành lại quyền kiểm soát sân bay Gao sau đó 15 ngày, tới tháng 04/2013, vấn đề khủng bố ở miền Bắc được cho là tạm thời đã được kiểm soát ở góc độ quân sự. Các kho hậu cần đã được triển khai để cung cấp nước cho các binh sĩ tham chiến, những người cần từ 10 – 12 lít nước/ngày. Hơn 600 chiến binh thánh chiến đã bị tiêu diệt, 100 tay súng bị bắt giữ. Tóm lại, đây là một chiến dịch với thành tích xuất sắc, đáng để lưu giữ trong biên niên sử.

Việc chuyển từ chiến dịch Serval sang chiến dịch Barkhane được thực hiện trong tâm lý lạc quan này. Tướng Didier Castres, khi đó là chỉ huy Trung tâm lập kế hoạch và chỉ đạo chiến dịch quân sự ngoài nước, cho biết: “Thời điểm đó, tôi có nói rằng chúng ta phải thay đổi trạng thái hoặc dừng lại”. Để duy trì cam kết của Pháp và hy vọng vào một kết quả lâu dài, Tướng Castres khẳng định cần đạt được bốn điều kiện tiên quyết: “Chặn đứng mọi hoạt động buôn lậu vũ khí từ Libya, đạt được một thỏa thuận hòa bình thực chất giữa miền Bắc và miền Nam Mali, đảm bảo sự ủng hộ thực sự của Algeria và giải quyết các vấn đề quản trị”. Tuy nhiên, tất cả các điều kiện này chưa bao giờ đạt được.

Phải nói vào thời điểm đó, một sự kết hợp bất ngờ của nhiều nhân tố đã thúc đẩy Pháp thúc đẩy một chiến dịch quân sự mới. Trước nguy cơ phải chứng kiến Bamako bị nhấn chìm bởi các nhóm thánh chiến, các quốc gia láng giềng của Mali đã tự huy động lực lượng, điều nằm ngoài mong đợi của Pháp. Chad điều động 2500 binh sĩ, Burkina Faso điều động cả một tiểu đoàn, Niger tham gia các hoạt động quân sự trên không. Theo yêu cầu của Paris, ngay cả Liên minh châu Âu (EU) cũng lao vào cuộc. Ngay từ tháng 2/2013, EU đã triển khai một sứ mệnh huấn luyện (EUTM) mà chỉ huy đầu tiên là tướng François Lecointre, người sau này trở thành Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang Pháp (2017 – 2021). Về phần mình, tháng 4/2013, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã xác nhận thành lập một sứ mệnh gìn giữ hòa bình và cử lực lượng mũ nồi xanh đến thực địa.

Khó khăn xuất hiện

Động lực chính trị-quân sự được củng cố nhờ tiến trình dân chủ. Tháng 7/2013, Mali tổ chức bầu cử tổng thống, chấm dứt hơn một năm bất ổn chính trị kể từ khi Bamako trải qua một cuộc đảo chính quân sự vào mùa Xuân năm 2012. Tổng thống đắc cử Ibrahim Boubacar Keïta, vốn thân Pháp nhưng không quyết đoán, trở thành người đồng hành quan trọng trong chiến dịch Barkhane cho đến khi ông bị lật đổ vào mùa Hè năm 2020. Một sĩ quan quân đội Pháp đã mô tả chặng đường 7 năm đồng hành của Tổng thống Keïta như một “đường hầm dài”. Đặc biệt từ năm 2014, chiến lược của Pháp đã bị đảo lộn. Giữa lúc chiến dịch Barkhane được phát động, Libya bắt đầu chìm trong cuộc nội chiến. Những tác động của việc Pháp can thiệp vào đất nước này hồi năm 2011 nhằm lật đổ Đại tá Muammar Gaddafi cuối cùng cũng không mang lại kết quả tốt hơn. Chốt khóa Libya lật tung, dẫn đến việc không thể thực hiện điều kiện thứ nhất mà tướng Castres đã nêu.

Năm 2015, mối đe dọa thánh chiến bùng nổ ở Pháp và châu Âu dưới sức ép của các cuộc tấn công khủng bố được lên kế hoạch từ khu vực Iraq và Syria. Thomas Gassilloud, nghị sĩ Quốc hội Pháp và thành viên Ủy ban quốc phòng và các lực lượng vũ trang, cho biết: “Bối cảnh này có thể đã dẫn đến việc tăng cường cuộc chiến chống khủng bố lên một mức cao hơn”. Và Pháp vẫn hy vọng sẽ thực hiện được điều kiện thứ hai: thúc đẩy chính quyền trung ương Mali và một phần các nhóm nổi dậy Tuareg ở miền Bắc ký kết một hiệp định hòa bình.

Tuy nhiên, mục tiêu này gặp nhiều trở ngại. Hiệp định Algiers, được đàm phán dưới sự bảo trợ của Algeria, được coi là một trong những công cụ để loại bỏ các chiến binh thánh chiến. Tuy nhiên, vấn đề là hiệp định này lại là một trong những nguồn gây hiểu lầm ngày càng tăng giữa Pháp và Mali. Cụ thể, Mali luôn cho rằng hiệp định Algiers đã tạo điều kiện cho một hình thức phân chia lãnh thổ nước này, với thành phố Kidal bị rơi vào tay phiến quân Tuareg.

Lực lượng thánh chiến giành ưu thế

Kể từ năm 2016, Chiến dịch Barkhane ở Mali bắt đầu vấp phải nhiều thách thức. Một cựu binh từng tham gia chiến dịch nhận xét: “Giống như trong tất cả các cuộc chiến chống nổi dậy, nguy cơ đối với chiến dịch Barkhane luôn xuất phát từ lực lượng nổi dậy”. Cứ một phần tử thánh chiến thiệt mạng thì lập tức có 10 kẻ khác gia nhập lực lượng thánh chiến.

Do những hạn chế về năng lực, Pháp chưa bao giờ muốn triển khai binh lính ở miền Trung Mali ngoại trừ một vài chiến dịch hiếm hoi. Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Pháp cũng lo ngại bị cuốn vào vòng xoáy xung đột nguy hiểm đã tồn tại từ lâu giữa hai cộng đồng sắc tộc Fulani và Dogon. Dần dần, các chiến binh thánh chiến đã giành được lợi thế ở miền Trung Mali. Trước áp lực từ các chiến binh thánh chiến, cuối cùng Mali đã phải khuyến khích thành lập các nhóm dân quân cộng đồng, đặc biệt là trogn cộng đồng người Dogon. Nhưng quyết định này lại khơi dậy ngọn lửa bạo lực và khuyến khích các nhóm thánh chiến tuyển mộ lực lượng. Đến nỗi năm 2015, ở miền Trung đã xuất hiện Mặt trận giải phóng Macina (FLM), một tổ chức thánh chiến với thành phần chủ yếu là người Fulani. Kể từ đó, tổ chức này đã trở thành một trong những nhánh nòng cốt của Nhóm hỗ trợ đạo Hồi và người Hồi giáo (GSIM), hiện được cho là hiện thân rõ nhất của mạng lưới khủng bố al-Qaeda ở khu vực Sahel.

Việc GISM ra đời vào tháng 3/2017, hai tháng trước khi Emmanuel Macron đắc cử Tổng thống Pháp, đã hoàn tất quá trình gia tăng sức mạnh của các nhóm thánh chiến. Để giành lợi thế, các nhóm khủng bố vũ trang đang thúc đẩy Hồi giáo hóa xã hội Mali. Từng làng một bắt đầu buộc các trường học truyền thống chuyển thành trường học kinh Koran, phụ nữ phải mang khăn che mặt, công lý được thiết lập dựa trên các quy tắc của luật Hồi giáo và các liên kết hành chính với nhà nước trung ương bị phá bỏ. Nhiều người dân tỏ thái độ phản đối, nhưng cũng nhiều người khác nhượng bộ, cho rằng có thể được nhiều hơn mất trong cuộc chuyển đổi chống lại một nhà nước Mali ngày càng yếu ớt. Việc các nhóm này cùng với các chi nhánh của chúng gặm nhấm dần lãnh thổ Mali cũng là tín hiệu dự báo một quá trình Hồi giáo hóa sâu rộng xã hội Mali, bao gồm cả giới tinh hoa và một bộ phận giới trẻ ở Bamako. Điều này giải thích tại sao chính quyền Mali hiện có khuynh hướng tìm cách đối thoại với các nhóm thánh chiến.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 21/03/2022

EU triển khai công cụ bảo vệ an ninh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương


Theo scmp.com Liên minh châu Âu (EU) đang tìm cách gia tăng tầm ảnh hưởng về an ninh hàng hải tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua nền tảng “Chia sẻ Thông tin Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” (IORIS), cho phép hải quân và lực lượng tuần duyên của các nước thành viên liên lạc theo thời gian thực.

Phát biểu tại diễn đàn Hiệp hội phóng viên nước ngoài của Philippines về chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của EU, do Đại sứ quán Pháp đồng tài trợ ở Manila ngày 28/2, Chuẩn Đô đốc Ceasar Valencia thuộc Hải quân Philippines cho biết các thử nghiệm của IORIS đang được triển khai tại Philippines. Tại đây, IROIS được sử dụng để tiến hành các cuộc diễn tập chung về cứu trợ thảm họa. Ông cho rằng nền tảng này sẽ “góp phần duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực” nhờ cho phép các nước trở thành “tai mắt của nhau” – điều đặc biệt quan trọng khi triển khai tên lửa hành trình chống hạm siêu thanh.

Trước đó, hồi tháng 1 vừa qua, Manila đã đặt mua tên lửa BrahMos trị giá 375 triệu USD của Ấn Độ. Loại tên lửa này có thể di chuyển với tốc độ gấp 3 lần tốc độ âm thanh, có tầm bắn 290 km và được Ấn Độ hợp tác phát triển với Nga.

Ông Valencia cho biết các tên lửa sẽ “đóng góp đáng kể vào năng lực răn đe của đất nước” và được hỗ trợ qua việc sử dụng IORIS. Theo ông, điều này “sẽ cho phép chúng tôi (Philippines) tăng cường giám sát hàng hải và tối đa hóa các năng lực tương tự, trong bối cảnh vùng biển rộng lớn và có nhiều mối đe dọa an ninh tại cửa ngõ của chúng tôi”.

Năm 2021, EU đã công bố một chiến lược, trong đó đặt mục tiêu tăng cường các chuyến thăm cảng cũng như các cuộc tập trận tự do hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm “thúc đẩy một cấu trúc an ninh khu vực rộng mở và dựa trên luật lệ”.

Cũng tại diễn đàn hôm 28/02, ông Luc Véron – Đại sứ của EU tại Manila – cho biết Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có vai trò đặc biệt quan trọng vì 60% thương mại hàng hải của thế giới đi qua khu vực này và 1/3 trong số đó đi qua biển Hoa Nam (Biển Đông).

Một “nền tảng Facebook rất an toàn”

IORIS là một phần trong dự án CRIMARIO của EU. Giai đoạn đầu tiên của dự án, từ năm 2015 – 2019, tập trung vào các tuyến hàng hải quan trọng ở Ấn Độ Dương, trước khi được mở rộng đến Đông Nam Á vào năm 2020.

Phát biểu tại diễn đàn hôm 28/02, Giám đốc CRIMARIO – ông Martin Inglott – cho biết IORIS hoạt động giống một “nền tảng Facebook rất, rất an toàn” và không yêu cầu bất kỳ phần cứng hoặc phần mềm cụ thể nào để vận hành. Giấy phép IORIS trọn đời trị giá 134.000 USD.

Ông Inglott cho biết sau khi đăng ký, hải quân và lực lượng tuần duyên các nước thành viên có thể tạo hồ sơ riêng và kết hợp với những bên khác để tạo ra “một cộng đồng” tập trung theo dõi một sự cố cụ thể, chẳng hạn như một con tàu chở hàng hóa độc hại có nguy cơ bị chìm.

Thay vì sử dụng thư điện tử hoặc gọi điện thoại, các cơ quan có thể liên lạc, trao đổi dữ liệu và xác định tọa độ của máy bay và tàu thuyền trên biểu đồ hàng hải trong nền tảng IORIS. Ông Inglott ví IORIS như “một trung tâm hoạt động hoặc bảng trắng hoạt động trực tuyến”. Ông nói: “Tất cả được tích hợp trong một. Nó rất an toàn – nhờ được mã hóa đầu cuối”.

Cũng theo ông Inglott, nền tảng này cũng cho phép chia sẻ các thông tin khác như hình ảnh vệ tinh và tần số vô tuyến của các tàu đánh bắt cá trái phép đã tắt bộ phát đáp. Ông cho biết IORIS đặt mục tiêu “tăng cường an ninh và an toàn hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thông qua hợp tác liên ngành, liên cơ quan và liên khu vực”, bằng cách ngăn chặn các đối tượng buôn người, buôn ma túy, các hiểm họa môi trường và tình trạng đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU), cùng nhiều mối đe dọa khác.

Trung Quốc, quốc gia có đội tàu đánh cá bị cáo buộc có các hoạt động bất hợp pháp và không được kiểm soát tại Biển Đông, không phải là thành viên của IORIS. Tuy nhiên, ông Inglott nhấn mạnh rằng nền tảng chia sẻ thông itn này cũng như dự án CRIMARIO đều không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào, cho biết chúng “hoàn toàn trung lập và được sử dụng với những mục đích tốt đẹp”.

Trả lời câu hỏi liệu EU có cân nhắc mời Trung Quốc sử dụng IORIS hay không, ông Inglott cho biết: “Hiện tại, khuôn khổ xác định chương trình CRIMARIO được gọi là mô tả hành động. Và mô tả hành động này không bao gồm việc hợp tác với Trung Quốc”. Khi được yêu cầu làm rõ, ông Inglott cho biết đây là một “câu hỏi chính trị” và ông chỉ được giao nhiệm vụ triển khai CRIMARIO ở Đông Nam Á, nói thêm rằng EU và Trung Quốc đang tiến hành đối thoại an ninh hàng hải song phương.

Nguồn: TKNB – 04/03/2022

Khả năng Iran trở thành đối tác năng lượng mới của châu Âu


Báo Die Welt (Thế giới) của Đức ngày 6/4 có bài bình luận về khả năng thiết lập đối tác năng lượng mới giữa Liên minh châu Âu (EU) và Iran, nội dung chính như sau:

Iran có trữ lượng khí đốt khổng lồ. Một thỏa thuận hạt nhân mới giữa Iran và phương Tây có thể sắp được ký kết, qua đó giúp Tehran quay trở lại thành một đối tác thương mại và nhà cung cấp năng lượng hợp pháp. Tuy nhiên, phương Tây có nguy cơ lặp lại một sai lầm với quốc gia này.

Trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine, chủ đề cấm vận năng lượng đối với Nga ngày càng được tranh luận sôi nổi, cùng với đó là việc tìm kiếm các nhà cung cấp năng lượng thay thế. Đối với Đức – nền kinh tế đầu tàu châu Âu và là quốc gia phụ thuộc rất lớn và khí đốt và dầu mỏ từ Nga, Berlin vẫn chưa rõ quốc gia nào có thể là cung cấp năng lượng thay thế Nga. Câu trả lời ngắn gọn là không có nhà cung cấp nào. Do đó, Đức vẫn đang phải cố gắng đa dạng hóa nguồn cung với nhiều nhà cung cấp mới.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habeck đã tới Qatar với mục đích đó. Quốc gia nhỏ bé này có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn, được lưu trữ trong các mỏ khí dưới đáy biển ngoài khơi bờ biển Qatar. Tuy nhiên, khả năng để Qatar có thể đáp ứng ngay tất cả nhu cầu của Đức là không dễ dàng.

Iran cũng nhiều lần được nhắc đến như một nhà cung cấp năng lượng tiềm năng, nhất là khi tiến trình đàm phán một thỏa thuận hạt nhân mới giữa các nước phương Tây và nước này có tiến triển tốt. Theo thông báo chính thức từ cả hai bên, một thỏa thuận hạt nhân mới sắp hoàn thành. Iran cam kết giảm hoạt động làm giàu uranium và phương Tây sẽ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với quốc gia Hồi giáo này.

Iran có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai và là nhà sản xuất dầu lớn thứ tư trên thế giới. Nếu thỏa thuận hạt nhân mới được ký kết, Tehran một lần nữa sẽ trở thành đối tác thương mại hợp pháp và nhà cung cấp năng lượng tiềm năng. Điều này sẽ rất đáng chú ý, đặc biệt là trên thị trường dầu mỏ. Chuyên gia kinh tế Ali Vaez từ tổ chức International Crisis Group cho rằng việc công bố một thỏa thuận hạt nhân mới sẽ có tác động ngay lập tức đến tâm lý thị trường dầu mỏ.

Hiện giá dầu trên thị trường thế giới đang ở mức hơn 100 USD/thùng, mức rất cao trong vòng 10 năm qua, Iran có thể giúp tăng nguồn cung và do đó làm giảm giá dầu. Một khi các lệnh trừng phạt thương mại được dỡ bỏ, Tehran ngay lập tức có thể xuất xưởng hàng trăm nghìn tấn dầu mỗi ngày. Trong vòng vài tháng, Iran có thể tăng sản lượng từ 1 triệu lên đến 1,5 triệu tấn mỗi ngày. Mặc dù khối lượng đó vẫn không thể thay thế năng lực giao hàng khoảng 7 triệu tấn mỗi ngày của Nga, nhưng đó sẽ là một bước khởi đầu mới.

Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Javad Owji cũng nhấn mạnh rằng Tehran có “năng lực cần thiết” để cung cấp cả khí đốt cho các nước láng giềng và thậm chí cả châu Âu. Với khối lượng khí đốt tự nhiên ước tính vào khoảng 34.000 tỷ mét khối, Iran là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó chưa được khai thác. Iran xuất khẩu tối đa 25 tỷ mét khối mỗi năm. Để so sánh, lượng khí đốt xuất khẩu của Nga lên tới khoảng 180 tỷ mét khối/năm.

Chuyên gia kinh tế Ali Vaez cho rằng mặc dù Tehran có thể đáp ứng nhu cầu khí đốt của chính mình và cung cấp lượng khí dư thừa cho các nước láng giềng gần kề, nhưng hiện quốc iga này không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của châu Âu. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc vận chuyển khí đốt từ Iran tới châu Âu như các đường ống hoặc các cảng khí lỏng cũng không tồn tại.

Trước đây, đã có một số nỗ lực đưa khí đốt từ Iran đến châu Âu như nỗ lực của Thổ Nhĩ Kỳ – Iran đưa khí đốt từ Iran qua đường ống Nabucco (dự án đã thất bại) qua Thổ Nhĩ Kỳ tới châu Âu. Dự án này nhằm giảm sự phụ thuộc của châu Âu vào khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Mỹ và EU đã lên tiếng phản đối sự tham gia của Iran. Những tranh cãi về vấn đề hạt nhân với Iran và các lệnh trừng phạt của Mỹ khi đó đã ngăn cản Tehran trở thành một nhà cung cấp khí đốt quan trọng của thế giới. Hiện Iran không đủ tiềm lực đầu tư vào lĩnh vực khai thác khí đốt. Theo các số liệu chính thức, cần tới 160 tỷ USD để có thể biến Iran thành một nhà cung cấp dầu và khí đốt hàng đầu thế giới.

Với khoản đầu tư cần thiết, chuyên gia Ali Vaez cho rằng Iran có thể thay thế Nga trở thành nhà cung cấp khí đốt trong vòng 5 đến 7 năm. Thế nhưng, phương Tây đã rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng Ukraine rằng việc tự rằng buộc với một nhà cung cấp năng lượng không chia sẻ các giá trị chung với phương Tây là rất rủi ro. Châu Âu không sẵn sàng phạm sai lầm tương tự tại Iran.

Dưới góc độ nhân quyền, không có một giải pháp thực sự tốt nào ở Trung Đông để thay thế nguồn cung từ Nga. Tuy nhiên, chuyên gia Ali Vaez cho rằng với phương Tây, các quốc gia vùng Vịnh khác đáng tin cậy hơn Iran vì các quốc gia này hướng về phương Tây.

Saudi Arabia, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Israel đều cảnh báo về một khía cạnh quan trọng khác nếu lệnh trừng phạt kinh tế Iran được dỡ bỏ và Tehran có thể xuất khẩu dầu mỏ trở lại: việc Iran kiếm được nhiều tiền hơn từ dầu mỏ cũng đồng nghĩa với việc họ có thể cung cấp nhiều tiền hơn cho các hoạt động khủng bố. Mặc dù Iran không xâm lược các nước láng giềng lân cận, nhưng Tehran lại tài trợ cho các nhóm khủng bố và sử dụng các nhóm này để gây bất ổn cho các quốc gia láng giềng.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022