Thỏa thuận lịch sử của Anh và EU – Phần cuối


Ở Mỹ, chiến thắng của Biden trước Tổng thống Trump trong cuộc bầu cử tháng 11/2020 đã làm thay đổi tính toán của Thủ tướng Johnson. Là một người nhiệt tình ủng hộ Brexit, Trump hứa hẹn trước Mỹ sẽ đàm phán một thỏa thuận thương mại có lợi cho Anh sau khi nước này rời khỏi EU.

Tuy nhiên, Biden lại phát biểu rằng ông coi Brexit là một sai lầm và loại trừ khả năng đàm phán các thỏa thuận thương mại với bất kỳ nước nào cho tới khi Mỹ nâng cao khả năng cạnh tranh của họ ở trong nước. Điều đó đã khiến Johnson mất đi một trong những lợi thế hàng đầu để kết thúc tiến trình Brexit.

Biden cũng là người kiên quyết ủng hộ Ireland và Thỏa thuận thứ Sáu tốt lành, hòa ước giúp giải quyết tình trạng bạo lực giáo phái kéo dài nhiều thập kỷ qua ở Bắc Ireland. Đàm phán thương mại Brexit không thành có thể đe dọa nền hòa bình đó vì thất bại này sẽ làm tăng nỗi lo ngại thường trực về sự xuất hiện trở lại của đường “biên giới cứng” trên đảo Ireland.

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ, Biden đã lưu ý với Johnson rằng Anh không nên hủy hoại thỏa thuận này. Và kể từ cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, giới chức Anh đã nỗ lực chứng tỏ họ sẵn sàng hợp tác với Chính quyền Biden trong những vấn đề như biến đổi khí hậu và hỗ trợ Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Lộ trình dài tiến tới thỏa thuận cơ bản này bắt đầu vào năm 2016, khi Thủ tướng Anh khi đó, David Cameron, lên kế hoạch cho một cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên của Anh trong EU như một cách để giải quyết tình trạng chia rẽ kéo dài nhiều thập kỷ trong nội bộ đảng Bảo thủ của ông về vấn đề Anh hội nhập với các đồng minh lục địa. Điều bất ngờ là người dân nước này bỏ phiếu ủng hộ Anh rời khỏi EU.

Tuy nhiên, với mong muốn Anh ở lại trong khối, Cameron đã ngăn cản các quan chức lên kế hoạch cho Brexit. Nhiệm vụ không ai muốn đó đã rơi vào tay Theresa May, người tiếp quản vị trí của Cameron sau khi ông từ chức vì quá sốc trước kết quả bỏ phiếu.

Trong gần 3 năm tại nhiệm, Thủ tướng May đã nỗ lực vận dụng mọi chiêu bài để giành được sử ủng hộ của Quốc hội đối với một thỏa thuận nhằm chấm dứt quyển sinh sống và làm việc của người châu Âu ở Anh và giúp nước này thoát khỏi “vòng kim cô” kinh tế của EU. Tuy nhiên, những nỗ lực của bà không đem lại kết quả gì.

Giải pháp của bà cho vấn đề hóc búa Bắc Ireland là hứa hẹn đàm phán một thỏa thuận thương mại nhưng vẫn duy trì quan hệ tương đối chặt chẽ với hệ thống thương mại châu Âu nhằm ngăn chặn sự hình thành một đường “biên giới cứng” ở Ireland.

Mặc dù giải pháp này hẳn sẽ có lợi cho các doanh nghiệp, vốn lo lắng về nguy cơ đàm phán Brexit sụp đổ, nhưng lại đòi hỏi họ phải tiếp tục tuân thủ nhiều quy tắc của châu Âu – điều mà những người ủng hộ một “Brexit cứng” ghét cay ghét đắng. Những người phản đối Brexit cũng không ủng hộ hay thúc giục việc tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai để lật ngược kết quả.

Kết cục là tình trạng đình trê bế tắc kéo dài nhiều tháng trong bầu không khí giận dữ và các cuộc bỏ phiếu lặp đi lặp lại tại Quốc hội nhưng không mại lại kết quả gì. Tình trạng này chỉ chấm dứt khi Thủ tướng May từ chức, Johnson giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử sau đó.

Mặc dù Johnson lựa chọn một mối quan hệ xa cách hơn nhiều với EU – và chỉ tìm kiếm một thỏa thuận cơ bản với khối này – nhưng ngay cả điều đó cũng tỏ ra khó khả thi trong bối cảnh đàm phán Brexit đối mặt với những cuộc tranh cãi gay gắt và nguy cơ sụp đổ kéo dài trong nhiều tháng.

Các cuộc đàm phán giữa hai bên thường rơi vào tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”. Đối với Johnson và êkip ủng hộ Brexit của ông, việc tái khẳng định chủ quyền, thoát khỏi các quy tắc kinh tế của châu Âu và khôi phục nền kinh tế Anh là những mục tiêu then chốt.

Đối với EU, việc bảo vệ sự toàn vẹn của thị trường chung là mục tiêu tối quan trọng. Khuynh hướng “đơn thương độc mã” của Anh đồng nghĩa với việc Brussels có nguy cơ phải trao quyền ưu tiên tiếp cận thị trường thống nhất của mình cho một đối thủ áp dụng các tiêu chuẩn bớt nghiêm ngặt hơn đối với hàng hóa xuất khẩu.

Phần lớn các cuộc đàm phán xoay quanh các vấn đề ít người nắm rõ là hỗ trợ của nhà nước và cơ chế giải quyết xung đột nhưng gần như đều đi đến thất bại bởi một vấn đề nếu không quan trọng về mặt kinh tế thì cũng có ý nghĩa về mặt chính trị – đó là quyền đánh bắt cá.

Ở Anh chỉ có 12.000 ngư dân với 6000 tàu thuyền tham gia đánh bắt cá và đóng góp chưa đến 0,5% sản lượng kinh tế của nước này – thấp hơn so với đóng góp của Harrods, cửa hàng bách hóa tổng hợp nổi tiếng ở London. Tuy nhiên, đánh bắt cá là hoạt động kinh tế có ý nghĩa sống còn đối với các thị trấn và làng mạc ở hai bờ eo biển Manche.

Trong suốt chiến dịch vận động cho cuộc trưng cầu dân ý năm 2016, Johnson hứa hẹn với ngư dân Anh rằng Brexit sẽ giúp Anh giành lại quyền kiểm soát các vùng biển quốc gia, vốn cũng là ngư trường của các đội đánh bắt cá của Pháp và các quốc gia châu Âu khác trong nhiều thập kỷ hoặc, trong một số trường hợp là, nhiều thế kỷ qua.

Tuy nhiên, đánh bắt cá cũng là hoạt động kinh tế quan trọng ở Pháp, nhất là với Tổng thống Emmanuel Macron, người sẽ phải đối mặt với cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2022. Các đội tàu của Pháp phụ thuộc nhiều vào lượng cá đánh bắt được ở một ngư trường ngàoi khơi bờ biển nước Anh thuộc về Pháp, trong khi Anh chỉ chiếm 9% số đó.

Những ngày cuối hối hả của tiến trình “ly hôn” kéo dài giữa Anh và EU được đánh dấu bằng cuộc tranh cãi về một vấn đề chung của hai bên hàng thế kỷ qua: cá tuyết.

Nguồn: The New York Times – 24/12/2020

TLTKĐB – 27/12/2020.

Thỏa thuận lịch sử của Anh và EU – Phần đầu


Thỏa thuận thương mại được đưa ra sau nhiều tháng đàm phán và vẫn còn những chi tiết quan trọng cần được làm rõ.

Anh và Liên minh châu Âu (EU) vừa đạt được một thỏa thuận thương mại sau nhiều tháng đàm phán vô cùng khó khăn, giải quyết “cuộc ly hôn nhiều cay đắng” kéo dài hơn 4 năm và đặt ra các điều khoản cho một tương lai hậu Brexit khi những người hàng xóm thân thiết không còn chung sống bên nhau.

Thỏa thuận này, phải được Quốc hội Anh và Nghị viện châu Âu phê chuẩn, được ký kết tại Brussels sau 11 tháng đàm phán cam go, với đỉnh điểm là cuộc tranh cãi vào phút chót về quyền đánh bắt cá kéo dài đến tận đêm Giáng sinh, chỉ cách thời hạn cuối năm mà hai bên đề ra một tuần.

Mặc dù dài tới hàng nghìn trang nhưng thỏa thuận này vẫn bỏ ngỏ những phần quan trọng trong mối quan hệ giữa hai bên. Nó cũng không ngăn cản được tình trạng gián đoạn thương mại qua eo biển Manche, vì hàng xuất khẩu của Anh vẫn sẽ phải trải qua thủ tục hải quan ở biên giới, làm tăng thêm chi phí cho các công ty và có khả năng gây ra tình trạng chậm trễ tại các cảng.

Tuy nhiên, đó vẫn là một bước ngoặt trong bộ phim truyền hình nhiều tập mang tên “Brexit” – đánh dấu Anh rời khỏi EU vào tháng 1 tới và vạch ra kế hoạch chi tiết về cách hai bên sẽ chung sống với nhau sau khi cắt đứt quan hệ sâu sắc được xây dựng trong suốt 47 năm qua. Việc không đạt được thỏa thuận có thể khiến Anh và EU rơi vào thế bế tắc đầy cay đắng, gây tổn hại đến quan hệ giữa hai bên trong nhiều năm tới.

Ursula von der Leyen, Chủ tịch Ủy ban châu Âu, cơ quan điều hành của khối này, cho biết: “Đó là một con đường dài và quanh co, nhưng chúng tôi cuối cùng cũng đạt được thỏa thuận. Đây là khoảnh khắc đánh dấu sự kết thúc của một hành trình dài”.

Brexit khởi đầu là một dự án nhằm khẳng định chủ quyền của Anh và phá vỡ những ràng buộc của Brussels. Được thúc đẩy bởi tâm lý chống nhập cư và niềm tin rằng một nước Anh độc lập sẽ thành công hơn trong một thế giới đang thay đổi, Brexit đôi khi trở thành một câu đố không có lời giải cho việc làm thế nào để chấm dứt mối quan hệ kéo dài hơn 40 năm mà không gây ra tình trạng hỗn loạn.

Khi cuộc tranh luận nổ ra, thế giới xoay chuyển quanh nước Anh. Những người theo chủ nghĩa dân túy như Tổng thống Trump dựng lên các rào cản đối với thương mại; đại dịch COVID-19 dồn chủ nghĩa toàn cầu vào thế thủ và chiến thắng của Joe Biden trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ làm dấy lên những nghi ngờ về đặc tính “đơn thương độc mã” của Brexit.

Để có đủ thời gian đối mặt với những vấn đề này, Anh đã nhất trí tiếp tục tuân thủ hầu hết các quy tắc và quy định của EU cho đến cuối năm 2020, trong khi các nhà đàm phán đưa ra những thỏa thuận mới nhằm quản lý hoạt động thương mại xuyên eo biển Manche, có trị giá hơn 900 tỷ USD/năm.

Nếu được thông qua, thỏa thuận này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021, 4 năm rưỡi sau khi đa số người dân Anh bỏ phiếu rời EU, khiến nước này rơi vào cuộc tranh luận gay gắt và những chia rẽ về chính trị.

Đối với Thủ tướng Anh Boris Johnson, người đã giành chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử năm 2019 với cam kết hoàn thành tiến trình Brexit, thỏa thuận này cho phép ông thực hiện lời hứa đó. Ông tỏ vẻ đắc thắng khi phát biểu ngay sau thông báo về thỏa thuận này: “Chúng ta đã giành lại quyền kiểm soát luật pháp và vận mệnh của mình. Lần đầu tiên kể từ năm 1973, chúng ta sẽ là một quốc gia ven biển độc lập với toàn quyền kiểm soát vùng biển của mình”.

Nhưng để đạt được điều đó, Thủ tướng đã phải đưa ra những nhượng bộ đáng kể, đặc biệt là về các quy tắc hỗ trợ của nhà nước cho các doanh nghiệp và quyền đánh bắt cá của châu Âu trong những vùng biển đó.

Anh sẽ tuân thủ các nguyên tắc “sân chơi bình đẳng”, tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn và quy định của EU trong tương lai gần. Nếu nảy sinh tranh chấp, thì chúng sẽ được giải quyết thông qua tòa trọng tài thay vì các hình phạt tự động mà EU đã yêu cầu. Tòa án Công lý châu Âu, vốn bị những người ủng hộ Brexit tẩy chay, sẽ không có vai trò gì.

Trong lĩnh vực đánh bắt cá, vấn đề cuối cùng cần được giải quyết và cũng là vấn đề nhạy cảm nhất về mặt chính trị, hai bên đã nhất trí rằng các quốc gia EU từng bước giảm 25% hạn ngạch trong giai đoạn chuyển tiếp kéo dài hơn 5 năm rưỡi. Trước đó, Anh đề xuất quá trình chuyển tiếp kéo dài 3 năm, trong khi EU muốn có một giai đoạn kéo dài 14 năm.

Thỏa thuận này không bao trùm các lĩnh vực dịch vụ, chẳng hạn như khu vực tài chính lớn mạnh của London, chiếm khoảng 80% nền kinh tế Anh.

Trong một đòn giáng xuống những người trẻ tuổi ở Anh và khắp châu Âu, Johnson cho biết nước này sẽ không còn tham gia chương trình trao đổi Erasmus, một chương trình có quy mô toàn châu Âu cho phép khoảng 200.000 sinh viên mỗi năm ra nước ngoài để học tập, tích lũy kinh nghiệm làm việc và học nghề từ năm 1987. Tháng 6/2020, Boris Johnson đã từ chối cơ hội kéo dài thời gian chuyển tiếp thêm một năm và cảnh báo rằng Anh sẵn sàng rời đi ngay cả khi không có thỏa thuận nào nếu Brussels không đem lại cho nước này đủ không gian để tự do phát triển kinh tế và không chịu ảnh hưởng gì từ các quy tắc của châu Âu. Trước khi thỏa thuận được ký kết, ông còn khẳng định rằng nước Anh sẽ phát triển thịnh vượng một cách mạnh mẽ khi ra đi mà không có thỏa thuận.

Khẳng định đó đã sớm được thử nghiệm trong tuần qua khi một biến thể mới của virus SARS-Cov-2 với tốc độ lây lan nhanh chóng đã gây ra đợt bùng phát mới ở Anh, khiến Pháp phải tạm dừng các chuyến hàng vận chuyển trong hai ngày. Điều đó dẫn đến một lượng lớn xe tải ùn tắc gần cảng Dover ở Anh và Calais ở Pháp, làm dấy lên lo ngại về tình trạng khan hiếm thực phẩm và các kệ hàng trống trơn trong các siêu thị ở Anh.

Ngay từ đầu, Boris Johnson đã coi các cuộc đàm phán là cơ hội để khẳng định chủ quyền của Anh trong một thế giới hậu Brexit. Tuy nhiên, quy mô và sức mạnh kinh tế lớn hơn nhiều của EU chắc chắn đem lại cho các nhà đàm phán của họ khả năng nhấn mạnh rằng Anh phải liên ết với khối này ở một số khía cạnh quan trọng.

Von der Leyen cho biết thỏa thuận này sẽ đảm bảo cạnh tranh công bằng và việc tôn trọng các quy tắc và tiêu chuẩn của EU. Bà nói: “Không có thỏa thuận nào trên thế giới có thể thay đổi thực tế và trọng lực trong thế giới ngày nay. Chúng tôi là một trong những kẻ khổng lồ của thế giới”.

Mặc dù động chạm đến nhiều lợi ích to lớn và đối mặt với nguy cơ sụp đổ trong nhiều tuần qua, nhưng các cuộc đàm phán thương mại phần lớn diễn ra trong không khí ít kịch tính và ít minh bạch hơn so với cuộc tranh cãi chính trị trước đó. Đó là động thái phần nào có chủ đích. Chính quyền Johnson muốn giảm bớt sự chú ý của dư luận đến Brexit để nêu bật nghị trình phát triển vùng công nghiệp phía Bắc nước Anh.

Tuy nhiên, các sự kiện bên ngoài cũng làm thay đổi động lực đàm phán. Đại dịch hoành hành khắp châu Âu khiến các nhà lãnh đạo bận rộn đối phó đến mức không còn tâm trí để nghĩ đến Brexit cho đến tận cuối năm nay. Đại dịch cũng làm tăng sức ép buộc họ phải hoàn tất thỏa thuận, vì hai bên đều không muốn gây thêm tổn thất cho nền kinh tế của mình sau những gián đoạn do tình trạng phong tỏa trong nhiều tháng gây ra.

(còn tiếp)

Nguồn: The New York Times – 24/12/2020

TLTKĐB – 27/12/2020.

EVFTA: Cơ hội cho Việt Nam và ASEAN


Báo The Business Times ngày 11/08/2020 đánh giá Hiệp định thương mại Tự do EU- Việt Nam (EVFTA), là dấu mốc lịch sử quan trọng về kinh tế với Việt Nam. Hiệp định này sẽ cắt giảm đáng kể các thuế quan giữa hai đối tác thương mại, và cuối cùng sẽ loại bỏ 99% tất cả các thuế trong tương lai.

Thỏa thuận này đạt được sau hiệp định thương mại tựdo EU-Singapore vào năm ngoái – hiệp định thương mại tự do song phương đầu tiên của EU với một quốc gia Đông Nam Á, cũng như sau Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) bao gồm các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là Malaysia, Singapore và Việt Nam cùng 8 quốc gia tham gia ký kết khác. Chỉ sau hơn một năm thực hiện, CPTPP đã đóng góp hơn 3,9 tỷ USD cho thặng dư thương mại của Việt Nam.

Những thỏa thuận thương mại như vậy có thể là một lợi ích kinh tế đối với các quốc gia ASEAN. Trong trường hợp Việt Nam, FTA mới này sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng đáng kể trong thương mại và đầu tư. Dù vậy, theo nghiên cứu gần đây nhất của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 71% doanh nghiệp nước này không biết, hoặc chỉ mới nghe nói về CPTPP và 77% doanh nghiệp không biết, hoặc chỉ mới nghe nói về EVFTA.

Mặc dù vậy, thực tế này không phải là chỉ có ở Việt Nam: Nhiều doanh nghiệp không biết về các thỏa thuận thương mại mà đất nước họ là một phần trong đó để có thể giúp họ phát triển EVFTA là một nghiên cứu trường hợp xuất sắc về việc các thỏa thuận thương mại hiện nay và trong tương lai có ý nghĩa hết sức cần thiết để định hướng cho các doanh nghiệp.

Tăng cường các tuyến thương mại sinh lời

EU vốn là điểm đến xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Xuất khẩu của Việt Nam sang Khu vực đồng euro (Eurozone) đã không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, tổng cộng đạt 42,5 tỷ USD vào năm 2018, với tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 11%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm thiết bị viễn thông, điện tử, dệt may và các sản phẩm lương thực như cà phê, gạo và hải sản.

Trong vài năm qua, do chi phí sản xuất gia tăng ở Trung Quốc, Việt Nam đã nổi lên là một địa điểm sản xuất thay thế hấp dẫn. Khi các nước trên toàn thế giới bắt đầu thận trọng mở cửa trở lại nền kinh tế sau thời gian phong tỏa do dịch bệnh COVID-19, nhiều công ty hơn sẽ tìm cách tạo sự phục hồi mới trong các chuỗi cung ứng của họ – và vị trí có giá trị của Việt Nam được tăng cường hơn nữa bởi EVFTA. Với việc Việt Nam là một trong những thị trường đầu tiên trong khu vực nới lỏng hạn chế phong tỏa, nước này đang ở vị trí hết sức thuận lợi để nắm bắt những cơ hội từ nhu cầu đầu tư đang bị dồn nén và những xu hướng sản xuất toàn cầu đang thay đổi.

Ba vấn đề then chốt cần biết về các FTA

1/ Các FTA giảm bớt các loại thuế và đơn giản hóa thủ tục thông quan

Với EVFTA có hiệu lực, 70% hàng hóa của Việt Nam giờ đây sẽ được miễn thuế khi xuất khẩu sang 26 nước thành viên của EU. Các hạng mục vẫn còn bị áp thuế sẽ được giảm dần trong 7 năm. Các chủ doanh nghiệp cần phải duy trì cho tới ngày các mức thuế ưu đãi được áp dụng cho các ngành của họ để tận dụng giá cả cạnh tranh. Hiệp định này cũng đơn giản hóa các thủ tục thông quan hàng hóa vào EU. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng cần phải biết rõ những yêu cầu về hải quan như nguồn gốc sản phẩm, an toàn thực phẩm và những đòi hỏi về kỹ thuật.

Về cơ bản, những quy định của EVFTA là nhất quán và có thể dự đoán, đem lại cho các doanh nghiệp trong khu vực sự tự tin lớn hơn để mở rộng vào thị trường mới này. Ngoài EVFTA, những lợi của sự gắn kết dựa trên nguyên tắc là đặc biệt đáng chú trong các FTA đa phương, bởi chúng cùng một lúc thống nhất các nguyên tắc về thương mại trên một số thị trường, và mang lại cho các quốc gia ký kết những sự lựa chọn rộng rãi hơn cho việc mở rộng ra quốc tế.

2/ Các FTA thúc đẩy đa dạng hóa chuỗi cung ứng

Với EVFTA, cùng với các thị trường như Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore, Việt Nam trở thành thành viên của câu lạc bộ FTA EU riêng biệt có quyền tiếp cận ưu đãi với 26 nước. Ngoài ra, do những quy định đặc biệt về nguồn gốc, hàng hóa Việt Nam được sản xuất từ những nguyên liệu đầu vào có nguồn gốc từ các nước trên sẽ giúp các doanh nghiệp đạt được tiêu chuẩn hơn nữa để được hưởng các ưu đãi thuế. Hiệp định này là đặc biệt kịp thời sau những sự gián đoạn về chuỗi cung ứng và hàng rào thuế quan. Nhiều doanh nghiệp giờ đây tìm kiếm các cơ hội để đa dạng hóa hay định hình lại các chuỗi cung ứng của họ nhằm đối phó với những vấn đề hiện nay, hay đề phòng những rủi ro trong tương lai.

Những quy định đặc biệt về nguồn gốc là có giá trị đối với cả các doanh nghiệp Việt Nam cũng như với các công ty có trụ sở ở các nước khác trên toàn khu vực muốn sử dụng Việt Nam như một phần trong chuỗi cung ứng của họ để xâm nhập vào thị trường EU. Chẳng hạn, với EVFTA, vải cotton và sợi có nguồn gốc từ Hàn Quốc được xử lý cuối cùng ở Việt Nam được coi là có nguồn gốc từ Việt Nam, cho phép các sản phẩm đó đủ tiêu chuẩn được hưởng các mức thuế suất thấp hơn khi xuất sang EU. Sự linh hoạt được EVFTA đưa ra ở đây cũng có thể được tìm thấy trong các FTA khác, và điều quan trọng là các doanh nghiệp nhận thấy những hiệp định này có thể biến các thị trường cụ thể thành những trung tâm chế tạo sản xuất lý tưởng như thế nào, hay chúng có thể đem lại cho họ nhiều sự lựa chọn hơn trong việc tăng cường và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng của họ.

3/ Tính bền vững có vai trò trung tâm để đạt được thành công

Một khía cạnh khác biệt của EVFTA là sự tập trung của hiệp định này vào thương mại bền vững, và một tầm nhìn chung về lao động, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường của công ty. Những giá trị này sẽ có tiềm năng sâu rộng để nâng cao tính cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam và thương hiệu của họ.

Tuy nhiên, những quy định này không phải chỉ EVFTA mới có – nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới đều có những quy định về tính bền vững. Một mặt, những quy định như thế này có thể giúp đem lại những kết quả tốt hơn ở những nước chưa đưa ra những quy định xung quanh những vấn đề này. Tuy nhiên, mặt khác, chúng cũng giúp đảm bảo một sân chơi bình đẳng hơn cho tất cả các bên liên quan – đặc biệt là trong các thỏa thuận thương mại đa phương. Trong những hoàn cảnh này, những quy định đảm bảo rằng không bên nào có thể gây phương hại cho các bên khác bằng việc nới lỏng các tiêu chuẩn về môi trường hay lợi dụng người lao động, cuối cùng tạo ra những sự khích lệ về tài chính để giúp thực hiện những giá trị quan trọng.

Loại bỏ các rào cản, thúc đẩy tăng trưởng khu vực

EVFTA đánh dấu một chương mới trong quan hệ Việt Nam – EU và cùng với FTA EU – Singapore mở đường cho nhiều hiệp định thương mại tự do hơn với các nước thành viên khác của ASEAN và EU, hoặc thậm chí một FTA đa phương ASEAN – EU. “Vở kịch” đã bắt đầu, nhưng cách doanh nghiệp phải thực hiện tốt vai diễn của mình. Một phần lớn thành công của những hiệp định này là tùy thuộc vào các doanh nghiệp. Khi nhiều nước hơn hướng tới việc gia nhập CPTPP,và khi các cuộc đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) tiếp tục diễn ra, các doanh nghiệp cần bắt đầu đưa các thỏa thuận thương mại này vào chuỗi cung ứng và việc lập kế hoạch kinh doanh của họ – đặc biệt khi chúng ta chuẩn bị khởi động lại nền kinh tế.

Môi trường thương mại quốc tế thuận lợi sẽ là nhân tố thúc đẩy sự phục hồi kinh tế và điều có ý nghĩa sống còn là chúng ta phải có sẵn các công cụ cần thiết để đảm bảo tiến trình phục hồi này diễn ra càng suôn sẻ càng tốt.

Nguồn: TKNB – 14/08/2020.

Những kỳ vọng về mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương


Trang mạng dw.de mới đây đăng bài viết có tựa đề “Khởi đầu mới trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương dưới thời Joe Biden”, nội dung như sau:

Hiện nay, nhiều người ở Đức – quốc gia đồng minh thân cận của Mỹ – đang mong chờ những thay đổi lớn trong quan hệ Mỹ – Đức khi Joe Biden lên nắm quyền Tổng thống Mỹ. Liệu điều đó có thực tế không? Trong những tuần gần đây, nếu chú ý quan sát và cảm nhận hơi thở chính trị từ Berlin, người ta dễ dàng nhận thấy những hy vọng mới tràn ngập về mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Từ khi kết quả bầu cử tổng thống Mỹ hồi tháng 11/2020 được công bố, trong đó đương kim Tổng thống Donald Trump đã thấy bại, dường như cây cầu bắc qua Đại Tây Dương sẽ được nối nhịp trở lại và cánh cửa hợp tác đa phương lại được mở ra. Tuy nhiên, theo Peter Beyer – người phụ trách điều phối các mối quan hệ của Đức với Mỹ – không phải là hoàn toàn không có các giới hạn trong các cơ hội, nhất là từ góc độ Mỹ. Ông nói: “Các vấn đề tồn tại giữa hai bên sẽ không tự động biến mất. Tuy nhiên, chúng ta đang có một cơ hội rất tốt, giờ đây chúng ta có thể thảo luận thẳng thắn với nhau thông qua sự tôn trọng và mang tính xây dựng, cũng như đàm phán theo hướng tìm các giải pháp”.

Thomas Kleine-Brockhoff, Giám đốc Viện nghiên cứu German Marshall Fund (GMF) ở Mỹ, đã bình luận về quan điểm trên của chính trị gia Đức Peter Beyer như sau: “Một người dân tộc chủ nghĩa đã được thay thế bằng một người theo chủ nghĩa quốc tế. Nhưng điều đó không có nghĩa là có thể quay ngược được thời gian”. Theo chuyên gia Kleine-Brockhoff, những “lỗ hổng về niềm tin từng được tạo ra không thể được lấp đầy chỉ bằng câu nói đơn giản “Chúng tôi đã trở lại””. Trong các mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, có rất nhiều thứ cần phải khôi phục và xây dựng lại. Joe Biden đã thông báo rằng ông sẽ đưa nước Mỹ gia nhập trở lại Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu và cũng muốn Mỹ trở lại Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Thậm chí, ông sẽ hủy bỏ lệnh rút quân Mỹ đang đồn trú tại Đức mà Donald Trump đã công bố hồi năm ngoái. Đối với châu Âu, vấn đề thương mại cũng đặc biệt quan trọng và cần được thảo luận lại. Hiện tại, Mỹ và EU chiếm tới 30% GDP toàn cầu.

Các mức thuế trừng phạt bị loại bỏ

Chuyên gia Peter Beyer tin rằng thay vì nói, các hành động thực tế sẽ có thể lấp đầy trở lại những lỗ hổng niềm tin bấy lâu nay. Vì nếu quan sát kỹ, có thể thấy rằng ở Berlin không chỉ có niềm hy vọng, mà còn là thái độ kỳ vọng lớn. Ông nói: “Người châu Âu nên tập hợp một loạt chủ đề có liên quan đến kinh tế, trong đó có việc yêu cầu Mỹ cần phải loại bỏ các mức thuế trừng phạt”. Theo Peter Beyer, việc Mỹ tăng thuế nhập khẩu đối với nhôm và thép từ châu Âu đã ảnh hưởng nặng nề đến Đức và Liên minh châu Âu (EU) trong những năm qua. Sự yếu đuối là hoàn toàn sai lầm, cần phải có “một hiệp định thương mại tự do xuyên Đại Tây Dương rộng rãi, thứ sẽ đảm bảo sự thịnh vượng của chúng ta trong tương lai”.

Chuyên gia Kleine-Brockhoff tỏ ra thận trọng hơn và cũng đồng quan điểm rằng một thỏa thuận thương mại rộng lớn hơn sẽ gửi đi một tín hiệu quan trọng cho mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, nhưng tình hình chính trị thực tế tại Mỹ cho thấy điều đó sẽ rất khó đạt được. Ông nói: “Joe Biden đang bị áp lực về việc không nên thiết lập thỏa thuận thương mại tự do, đặc biệt là từ phe cánh tả trong đảng Dân chủ của ông và các liên đoàn lao động. Họ mong đợi từ chính quyền của Biden một chính sách kinh tế không nhất thiết phải thiên về thương mại tự do”.

Ở Đức cũng vậy, một phiên bản mới của hiệp định thương mại lớn như Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) đang phản tác dụng. Theo các cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew có trụ sở tại Washington và Quỹ Kӧrber, phần lớn người Đức có thiên hướng không coi Mỹ là đối tác khi nói đến việc bảo vệ nền thương mại tự do quốc tế. Các diễn đàn nhỏ hơn có thể trở thành một giải pháp thay thế trong những năm tới để định hình các tiêu chuẩn chung. Hội đồng công nghệ và thương mại chung do EU đề xuất hồi tháng 12/2020 là một ví dụ.

Tranh cãi về dự án đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Bắc 2

Ngoài vấn đề thuế quan, các vấn đề khác sẽ vẫn tồn tại ngay cả dưới thời Tổng thống Joe Biden. Một dự án làmcho Quốc hội Mỹ cảm thấy khó chịu là dự án đường ống dẫn khí Dòng chảy phương Bắc 2, đưa khí đốt trực tiếp từ Nga tới Đức. Vừa qua, Quốc hội Mỹ đã áp đặt các biện pháp trừng phạt mới đối với dự án này. Trong trường hợp này, theo chuyên gia Peter Beyer, “cuộc họp thảo luận tại Mỹ là hoàn toàn thừa vì chúng ta đang nói về đường ống thứ hai trong một hệ thống đường ống dẫn khí đang hoạt động”. Ông nói thêm rằng có nhiều vấn đề xuyên Đại Tây Dương cấp bách hơn, “chẳng hạn như thương mại, an ninh, số hóa và y tế, đặc biệt là trong thời điểm đại dịch”. Tuy nhiên, chuyên gia Kleine-Brochkoff lại nhìn nhận hoàn toàn khác. Ông cho rằng Dòng chảy phương Bắc 2 là “một đánh giá sai lầm chiến lược lớn của Đức”.Nó không chỉ gây tổn hại cho mối quan hệ Đức – Mỹ, mà còn gây tổn hại đặc biệt cho mối quan hệ của Đức với các nước Đông Âu – những đồng minh quan trọng của Đức tại châu Âu.

Tách rời hay liên kết chặt chẽ

Về vấn đề Trung Quốc, dường như những điểm chung giữa hai bên rất ít. Đối phó với sự trỗi dậy của cường quốc mới nổi này sẽ là bài kiểm tra khó khăn cho mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương trong những năm tới. Rõ ràng, đối với người Mỹ, một sự “tách rời” hoàn toàn khỏi Trung Quốc phải được thực hiện. Trong khi đó, mặc dù coi Trung Quốc là “đối thủ mang tính hệ thống” nhưng EU, đặc biệt là Đức, không thể chấm dứt quan hệ thương mại với Trung Quốc. Thậm chí, giá trị xuất khẩu của Đức sang Trung Quốc năm 2020 đã tăng 14% so với năm 2019. Chuyên gia Kleine-Brockhoff cho rằng phải tìm ra một chính sách chung với Trung Quốc. Theo ông, có thể kết hợp giữa việc vừa hợp tác, vừa đặt ra các ranh giới với Trung Quốc. Mỹ và châu Âu có thể thỏa thuận với nhau theo hướng người Mỹ từ bỏ “tư tưởng tách rời” hoàn toàn khỏi Trung Quốc, con người châu Âu cần coi trọng hơn các mối quan ngại của Mỹ về an ninh và công nghệ khi hợp tác với Trung Quốc, chẳng hạn như khi nói đến việc xây dựng mạng không dây thế hệ mới 5G. Việc cải tổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được mong đợi từ lâu cũng sẽ là một điểm tựa để đưa Trung Quốc vào dòng chảy chung trong các vấn đề thương mại.

Trong những tuần qua ở Berlin, sự thấu hiểu rằng Mỹ cần châu Âu và ngược lại đang truyền cảm hứng cho những người ủng hộ quan điểm xuyên Đại Tây Dương. Cả hai chuyên gia Peter Beyer và Kleine-Brockhoff đều nhất trí rằng nỗ lực này cần phải mang tính phi đảng phái, cả ở Đức cũng như ở Mỹ. Trong 4 năm tới, Tổng thống Joe Biden sẽ phải đưa ra những lời đề nghị mới với đảng Cộng hòa. Trên thực tế, Biden không có nhiều thời gian. Vào năm tới, khi diễn ra cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, chúng ta sẽ thấy rõ có bao nhiêu dự định thực sự có thể thực hiện được trong nhiệm kỳ của ông.

Nguồn: TKNB – 26/01/2021.

Lý do Thủ tướng Anh cân nhắc một Brexit không thỏa thuận – Phần cuối


Phố Downing khẳng định họ không muốn Anh trở thành một chế độ chú trọng trợ cấp. Các cuộc đàm phán đang được tiến hành với Brussels về việc những cam kết như vậy có thể có được hiệu lực pháp lý như thế nào đối với một cơ quan quản lý độc lập.

Tuy nhiên, mọi việc đang hoàn toàn trái ngược với những gì mà nhiều người ở Brussels lo ngại sẽ xảy ra sau Brexit. Các cuộc tranh luận ban đầu tập trung vào việc liệu Anh có trở thành một nền kinh tế nước ngoài “kiểu Singapore”, cạnh tranh với EU bằng các mức thuế thấp và quy định lỏng lẻo hay không. Tuy nhiên, vì cần tăng thuế trong giai đoạn hậu đại dịch nhằm chi trả cho các chương trình chi tiêu ở các khu vực bầu cử phía Bắc vốn từng ủng hộ Công đảng, nên Johnson đã rút lại các kế hoạch cắt giảm thuế doanh nghiệp trước đó và thuế suất được dự kiến sẽ gia tăng.

Còn về việc giảm bớt quy định, công chúng không mặn mà với một nghị trình như vậy – quả thật, Thủ tướng đã hứa hẹn sẽ đặt ra những tiêu chuẩn cao hơn. Hy vọng của Johnson về việc đàm phán một thỏa thuận thương mại với Mỹ đã vấp phải khó khăn khi công chúng và nông dân Anh phản đối ý tưởng nhập khẩu thịt bò được xử lý hormone hay thịt gà ngâm trong clo.

“Xoay trục sang chủ quyền”

Những vấn đề gặp phải khi tìm cách đạt được các thỏa thuận thương mại mới và đầy tham vọng với Mỹ – hay với bất kỳ nền kinh tế lớn nào khác – đã giáng thêm một đòn vào giấc mơ hậu Brexit của những người hoài nghi châu Âu. Những nỗ lực nhằm đạt được thỏa thuận thương mại với Nhật Bản đã cho thấy Tokyo sẽ không mang lại cho Anh một thỏa thuận tốt hơn những gì họ đang được hưởng nhờ tư cách thành viên EU. Liz Truss, Bộ trưởng Thương mại Anh, đã tìm cách giành được đãi ngộ đặc biệt cho các nhà sản xuất phô mai Anh – đáng chú ý là Stilton – để có thể ghi dấu ấn của nước này lên bản sao không chỉnh sửa của thỏa thuận hiện có giữa EU và Nhật Bản.

Luận điệu về thương mại tự do của Johnson hồi tháng 2/2020 đã bắt đầu trở nên lỗi thời. Trong bài phát biểu tại trường Cao đẳng Hải quân Hoàng gia ở Greenwich, ông đã dẫn lời Richard Cobden, một nhà vận động ủng hộ thương mại tự do thế kỷ XIX: “Thương mại tự do là ngoại giao của Thiên Chúa”. Thủ tướng than vãn về việc thương mại tự do đang bị những trở ngại mới bóp nghẹt. Đổ lỗi cho Brussels, Washington và Trung Quốc, ông nói: “Người ta lấy thuế quan ra đe dọa như thể đó là một chiếc dùi cui”.

Những nguồn tin trong chính phủ cho biết Johnson giờ đây chấp nhận vấn đềnày và đang âm thầm thay đổi luận điệu hậu Brexit từ thương mại tự do sang những khái niệm về chủ quyền: một cách tiếp cận kiểu “nước Anh trước tiên”,”làm một mình” cộng hưởng vói thiên hướng dân túy và can thiệp chủ nghĩa của Cummings và tương đồng với nghị trình mà Tổng thống Mỹ Donald Trump ủng hộ.

Sự “xoay trục sang chủ quyền” này sẽ cho Cummings quyền tự do theo đuổi tầm nhìn về một nhà nước năng động thúc đẩy các công nghệ mới. Một người bạn của Cunnings cho biết: “Ông ấy chắc chắc coi trợ cấp nhà nước là một phần quan trọng của bộ công cụ”. Những nhân vật khác ở phố Downing cho biết vị cố vấn có thiên hướng đả phá những niềm tin lâu đời này đang thuyết phục Johnson rằng trợ cấp nhà nước và nguyên tắc chủ quyền có ý nghĩa quan trọng đến mức một Brexit không thỏa thuận là cái giá xứng đáng để có được những điều đó.

Tuy nhiên, Nick Macpherson, cựu lãnh đạo cấp cao Bộ Tài chính Anh, nhớ lại những vụ giải cứu các công ty lớn bằng ngân sách nhà nước vào những năm 1970, đã đăng dòng tweet: “Tin tôi đi, đây không phải là vấn đề đáng để bất chấp tất cả”.

Kể từ khi cuộc khủng hoảng COVID-19 tàn phá nền kinh tế Anh, khiến tổng sản phẩm quốc nội sụt giảm 22% trong nửa đầu năm 2020, một số người theo đường lối bảo thủ đã thúc đẩy một Brexit không thỏa thuận để Anh hoàn toàn tách khỏi EU, một phần vì tác động của nó sẽ là tương đối nhỏ so với cuộc khủng hoảng mà nền kinh tế Anh vừa phải trải qua. Họ có thể giành lại từ EU quyền kiểm soát hoàn toàn các sự kiện kinh tế, khi mà tác động của việc này sẽ bị COVID-19 lấn át.

Thomas Sampson, phó giáo sư thuộc trường Kinh tế London, cho rằng cách tính toán này là sai lầm nghiêm trọng vì phần lớn tổn thất kinh tế mà COVID-19 gây ra sẽ được phục hồi, nhưng những tổn thất do Brexit lại là vĩnh viễn. Ông nói: “COVID-19 có khả năng gây mất việc làm và gây bất ổn lớn về sản lượng, nhưng hậu quả mà Brexit gây ra cho nền kinh tế trong năm 2035 có thể sẽ lớn hơn COVID-19”.

Hầu hết các mô hình kinh tế vĩ mô đều cho thấy lợi ích lớn nhất của tư cách thành viên EU là làm giảm gánh nặng về quy định ở phía bên kia biên giới. Ngay cả với một thỏa thuận thương mại tự do kiểu Canada – tức là có các biện pháp kiểm soát hải quan nhưng miễn thuế – thì gánh nặng mới về quy định vẫn sẽ được đặt lên vai các công ty Anh.

Sự khác biệt so với kịch bản không thỏa thuận nằm ở chi phí thuế quan bổ sung, vốn có ý nghĩa quan trọng trong các ngành như nông nghiệp, chế biến thực phẩm và chế tạo ô tô, nhưng không đáng kể trong hầu hết các ngành khác. Xe ô tô do Anh sản xuất sẽ phải chịu thuế suất 10% do EU áp đặt, trong khi đó Michael Gove – giờ đây là bộ trưởng phụ trách việc lập kế hoạch cho tình huống không thỏa thuận – đã cảnh báo vào năm 2019 rằng thịt bò và thịt cừu Anh xuất khẩu sẽ phải chịu thuế suất ít nhất là 40%.

Lowe lập luận rằng kết quả không thỏa thuận có lẽ cũng gây phản ứng dây chuyền tiêu cực. Nó có thể khiến Anh gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đạt được thỏa thuận trong những lĩnh vực như dịch vụ và dữ liệu tài chính, hay trong việc nhất trí với các nước thế ba về những dàn xếp nới lỏng quy định song phương nhằm giảm bớt thủ tục ở biên giới.

Ông cho rằng một thỏa thuận sẽ tạo ra khuôn khổ hợp tác trong tương lai: “Nó có giá trị khá lớn và có thể dẫn tới sự hội nhập hơn nữa dưới thời một chính phủ khác trong tương lai”. Mặc dù Johnson gọi kết quả không thỏa thuận là một thỏa thuận “kiểu Australia”, nhưng Canberra đã phải tìm cách đàm phán thỏa thuận thương mại tựdo với EU trong 2 năm qua. Các chuyên gia thương mại cho rằng rốt cuộc Anh cũng sẽ trở lại với Brussels và tìm cách làm điều tương tự.

“Chúng tôi sẵn sàng cho việc hoàn toàn tách khỏi EU”

Trong Chính quyền Johnson đang xuất hiện tình trạng bất đồng quan điểm về việc Thủ tướng có sẵn sàng thỏa hiệp trong những vấn đề như nghề cá và trợ cấp nhà nước để có được một thỏa thuận hay không, hoặc những lời lẽ cứng rắn của ông về kịch bản không thỏa thuận có đi đôi với những hành động cứng rắn hay không. Một quan chức chính phủ nói: “Tình trạng này phần lớn chỉ là một màn kịch. Chúng ta vẫn chưa đi tới hồi kết, tức là khi đạt được một thỏa thuận”.

Một số người cho rằng Johnson vẫn chưa quyết định sẽ lựa chọn Brexit “cùng” theo lời khuyên của Cummings hay nhượng bộ để đạt được một thỏa thuận thương mại tự do. Một cựu bộ trưởng thuộc đảng Bảo thủ cho rằng EU đã đúng khi nhìn nhận mối đe dọa này một cách nghiêm túc: “EU rốt cuộc đã nhận thức được rằng chúng ta là một quốc gia độc lập và cuộc chơi đã thay đổi. Chúng ta đã chuẩn bị và sẵn sàng cho việc hoàn toàn tách khỏi EU”.

Việc không đạt được một thỏa thuận thương mại với EU cũng có thể làm dấy lên những câu hỏi khác về năng lực của Thủ tướng Anh và làm gia tăng sử ủng hộ đối với nền độc lập của Scotland, nơi mà đa số người dân đã bỏ phiếu phản đối Brexit. Tuy nhiên, Johnson đã khẳng định rằng ông muốn có một thỏa thuận vào giữa tháng 10, nếu không thì ông sẽ rời khỏi bàn đàm phán: “Nếu đến thời điểm đó chúng ta vẫn chưa thể nhất trí, thì tôi cho rằng một thỏa thuận thương mại tự do giữa hai bên là bất khả thi, và hai bên đều nên chấp nhận việc này”.

Một số quan chức EU không rõ Johnson đã suy nghĩ kỹ về vấn đề này hay chưa. Một quan chức nói: “Không phải vô duyên vô cớ mà Australia lại đàm phán thỏa thuận thương mại tự do với EU”. Phát biểu trước chuyến đi gần đây nhất tới London, Barnier nói đơn giản: “Ở Anh, đôi khi tôi nghe thấy người ta nói về cơ hội của kịch bản không thỏa thuận. Tôi xin chúc các vị may mắn”.

Nguồn: Financial Times – 08/09/2020

TLTKĐB – 16/09/2020.

Lý do Thủ tướng Anh cân nhắc một Brexit không thỏa thuận – Phần đầu


Để có được một nhà nước năng động hơn, Anh có nguy cơ làm tăng chi phí xuất khẩu hàng hóa tới thị trường lớ nhất của nước này.

Với một nền kinh tế chịu tác động tàn phá của đại dịch COVID-19, Anh chí ít có thể tự hào về một ngành mới phát triển bùng nổ: Đó là hải quan. Theo một số ước tính của ngành này (những ước tính không bị các bộ trưởng phản bác), thì số nhân viên hải quan có thể tăng thêm 50.000 người để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại giữa Anh và EU theo những dàn xếp Brexit mới. Đội quân những người điền biểu mẫu này có thể sẽ nhanh chóng cạnh tranh với Quân đội Anh về quy mô.

Đảng của Thủ tướng Margaret Thatcher hiện đang giám sát việc thực hiện một trong những dự án lớn nhất của bà: Hình thành một thị trường chung EU rộng lớn, nơi những dòng chảy hàng hóa và dịch vụ không hề bị cản trở khi đi qua biên giới các nước châu Âu. Các bãi tập kết hàng hóa và các điểm kiểm tra đang được xây dựng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông quan giữa Anh và EU. Hơn 350 triệu bảng Anh đã được chi cho việc hỗ trợ các công ty Anh hoàn thành các thủ tục hành chính rườm rà mà thỏa thuận Brexit của Boris Johnson tạo ra nhằm cho phép họ giao thương với Bắc Ireland, vốn cũng là một phần của Vương quốc Anh. Tất cả những điều này đang diễn ra nhằm chuẩn bị cho điều mà Thủ tướng Anh khẳng định là lựa chọn mà ông mong muốn về một thỏa thuận thương mại không có thuế quan với EU, khi giai đoạn chuyển tiếp Brexit chấm dứt vào ngày 31/12.

Tuy nhiên, ngay cả thỏa thuận thương mại có giới hạn này cũng không chắc chắn. Khi vòng đàm phán thương mại thứ 8 với EU, một vòng đàm phán quan trọng, diễn ra tại London, Johnson đang cân nhắc về việc có nên gây thêm xích mích về thương mại giữa Anh và thị trường lớn nhất của nước này bằng cách cắt đứt quan hệ với khối 27 quốc gia vào cuối năm 2020 mà không hề ký kết một thỏa thuận thương mại nào hay không.

Trước khi các cuộc đàm phán diễn ra, David Frost, trưởng đoàn đàm phán Anh, nói với Michel Barnier, trưởng đoàn đàm phán EU, rằng Anh dù miễn cưỡng nhưng sẽ bắt đầu cuộc sống mới bên ngoài EU mà không có một thỏa thuận thương mại nào giữa hai bên, trừ phi Brussels tôn trọng tư cách “một nước có chủ quyền” của Anh – tức là cho nước này quyền tự do quyết định vận mệnh kinh tế của mình. Frost nói: “Nếu họ không thể làm như vậy trong khoảng thời gian rất hạn chế còn lại, thì hai bên sẽ giao dịch dựa trên những điều khoản tương tự như giữa EU và Australia. Chúng tôi đang tăng cường chuẩn bị cho thời điểm năm 2020 kết thúc”.

Thỏa thuận “kiểu Australia” là cách diễn đạt mà Chính quyền Johnson ưa thích nhằm mô tả mối quan hệ với EU trong đó không bao gồm thỏa thuận thương mại tự do. Khác với thỏa thuận “kiểu Canada”, theo đó thuế quan được bãi bỏ nhưng vô vàn giấy tờ bổ sung và các cửa kiểm tra hải quan tại biên giới thương mại mới lại nảy sinh, một Brexit không thỏa thuận sẽ kéo theo thuế quan và hạn ngạch đối với hàng hóa của cả Anh, khiến hàng xuất khẩu Anh trở nên đắt đỏ hơn.

Johnson không muốn nhắc tới thiệt hại kinh tế nếu làm theo phương án này. Khi được hỏi vì sao các lựa chọn của chính phủ về thương mại gần đây không được đưa ra để đánh giá tác động, số 10 phố Downing trả lời: “Tác động kinh tế của thỏa thuận thương mại của Anh và EU đã được tranh luận rất nhiều trong 4 năm qua và đã có nhiều nghiên cứu kinh tế về vấn đề này”.

Theo ước tính chính thức gần đây nhất vào năm 2018, Anh sẽ mất 4,9% thu nhập trong 15 năm tới nếu rời khỏi EU với một thỏa thuận thương mại cơ bản. Theo kịch bản không thỏa thuận, con số này sẽ lên tới 7,7% trong cùng kỳ, so với việc ở lại khối. Sam Lowe, một chuyên gia thương mại thuộc Trung tâm cải cách châu Âu và là cố vấn của Chính phủ Anh, cho biết việc rời khỏi EU mà không có thỏa thuận nào cũng sẽ làm phức tạp thêm các phương diện khác trong các giao dịch của Anh với EU, làm hoen ố quan hệ giữa hai bên trong nhiều năm tới.

Tuy nhiên, Johnson khẳng định rằng mặc dù vậy đây vẫn là “kết quả tốt đẹp”, lập luận rằng điều này sẽ cho phép Anh áp dụng các chính sách của riêng mình mà không phải chịu sự can thiệp của EU, vốn khăng khăng cho rằng anh phải tương đối tuân thủ các quy tắc của họ về việc giới hạn mức độ hỗ trợ của nhà nước dành cho ngành công nghiệp trong nước.

Tính toán quan trọng của Thủ tướng Anh trong thời gian tới là liệu kịch bản “không thỏa thuận” có xứng đáng với cái giá về chính trị và kinh tế của nó hay không – nhất là vào thời điểm nền kinh tế đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng lớn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai và vấn đề nền độc lập của Scotland đang quay trở lại nghị trình.

Một nhà ngoại giao EU nói: “Việc rời khỏi bàn đàm phán và lựa chọn phương án không thỏa thuận sẽ gây thiệt hại nặng nề hơn nhiều cho nền kinh tế và tình hình việc làm của Anh so với thiệt hại nó gây ra cho EU. Người ta có thể tự hỏi đây là một cuộc thương lượng thực sự hay không?

Nghề cá và trợ cấp

Bề ngoài, một thỏa thuận về hiệp định thương mại tự do hẳn nằm trong khả năng của Frost và Barnier khi họ đàm phán căng thẳng với nhau. Ngoại trưởng Anh Dominic Raab mới đây khẳng định rằng chỉ có 2 khúc mắc còn tồn tại: một vấn đề có liên quan tới việc phân phối hạn ngạch đánh bắt cá, vấn đề còn lại liên quan tới cơ chế kiểm soát trợ cấp của nhà nước.

Bầu không khí đã trở nên u ám khi Johnson quyết định sử dụng công cụ lập pháp để bắt đầu xóa bỏ một phần hiệp ước Brexit mà ông đã đàm phán với EU vào tháng 10/2019 – cái được gọi là giao thức Bắc Ireland, trong khi Frost và Barnier đang thảo luận về mối quan hệ tương lai.

Johnson đã tìm cách xoa dịu tình hình, trấn an Tổng thống Pháp Emmanuel Macron rằng những thay đổi mà ông nghĩ tới chỉ là thay đổi nhỏ, nhưng Barnier khăng khăng cho rằng một thỏa thuận tương lai phải bắt đầu từ việc tuân thủ hoàn toàn hiệp ước quốc tế mà Thủ tướng Anh đã thương thuyết và Quốc hội Anh đã phê chuẩn cách đây chưa đầy 1 năm.

Về bản chất, các quan chức của cả hai bên cho rằng vấn đề nghề cá mang tính biểu tượng quan trọng nhưng có thể giải quyết được. Barnier mới đây đã nhắc lại rằng Brussels đã thay đổi lập trường “tối đa hóa” trước đây trong vấn đề ngư trường và đang tìm cách đạt được sự thỏa hiệp: “Tôi cho rằng hai bên có thể đạt được một thảo thuận. Đó là vấn đề về thiện chí”.

Các quan chức EU cho biết đề xuất của Anh hiện nay trên thực tế sẽ khiến sản lượng đánh bắt của Anh tăng gấp đôi, một kết quả mà Brussels lập luận rằng sẽ tàn phá các cộng đồng ven biển của EU. Theo kế hoạch của Brussels, các cuộc thảo luận về nghề cá sẽ tập trung vào những dàn xếp của chính phủ về bất kỳ thỏa thuận nào trong tương lai khi xét tới những khó khăn hiện tại trong việc đạt được tiến bộ về quyền đánh bắt trên thực tế.

Điểm mấu chốt thực sự là vấn đề trợ cấp nhà nước, mà đáng chú ý là việc Johnson và cố vấn hàng đầu đầy quyền lực của ông, Dominic Cummings, khăng khăng cho rằng Anh phải được tự do cung cấp trợ cấp công cho các công ty để giúp việc vực dậy nền kinh tế sau cuộc khủng hoảng COVID-19, nhằm biến đổi các khu vực “bị bỏ lại phía sau” và biến nguồn lực nhà nước thành cú hích thúc đẩy ngành công nghệ Anh.

Các nhà ngoại giao kỳ cựu nhận thấy rõ điểm trớ trêu trong đòi hỏi này. Kim Darroch, cựu Đại sứ Anh tại Brussels và Washington, nhớ lại cách thức các quan chức Bộ Tài chính Anh dưới thời Chính quyền Thatcher vào những năm 1980 thiết kế các quy tắc thương mại với mục đích chính là thúc đẩy cạnh tranh công bằng và ngăn chặn các quốc gia châu Âu khác tham gia cuộc chạy đua trợ cấp.

Ông nói: “Chúng tôi là những người ủng hộ các quy định cứng rắn về trợ cấp nhà nước một cách nhiệt tình nhất trong toàn EU. Những người tham gia việc đề ra cơ chế đó hẳn sẽ vô cùng kinh ngạc – hoặc không thể yên nghỉ ở thế giới bên kia – khi thấy ý tưởng lớn của chính quyền Bảo thủ hiện nay là can thiệp nhằm tạo ra một Thung lũng Silicon phiên bản Anh”.

(còn tiếp)

Nguồn: Financial Times – 08/09/2020

TLTKĐB – 16/09/2020.

Nhìn lại 2020 – Châu Âu: Khủng hoảng chồng chéo, thách thức kéo dài


Thôi Hồng Kiến

Thách thức ở trong và ngoài khu vực mà châu Âu phải đối mặt trong năm 2020 tiếp tục kéo dài, tình hình tổng thể vẫn khá u ám. Châu Âu đang đối mặt với sự tấn công của làn sóng dịch COVID-19 thứ hai, phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh vẫn là vấn đề lớn hàng đầu hiện nay. So với làn sóng dịch bệnh lần thứ nhất vào đầu năm, sự chuẩn bị của các nước châu Âu đối với làn sóng thứ hai đầy đủ hơn, mức độ coi trọng cũng cao hơn, một số quốc gia thực hiện biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nghiêm ngặt, nhưng sức ép mà hệ thống y tế phải gánh chịu vẫn lớn. Điều có thể hài lòng là tiến triển nghiên cứu và phát triển vaccine phòng ngừa virus SARS-CoV-2 khiến các nước nhìn thấy hy vọng khắc phục dịch bệnh, Liên minh châu Âu (EU) đã bắt đầu mua nhiều vaccine và tuyên bố sẽ nhận lô vaccine đầu tiên vào cuối năm nay. Dịch COVID-19 còn ảnh hưởng nhiều đến tình hình châu Âu, mâu thuẫn cũ và mới chồng chéo lên nhau.

Rủi ro an ninh nội bộ của châu Âu như các vấn đề chống khủng bố, người di cư… mặc dù đã được kiềm chế nhất định do ảnh hưởng của dịch bệnh, song mảnh đất và môi trường tạo ra rủi ro đó vẫn tồn tại. Gần đây, các vụ tấn công khủng bố liên tục xảy ra ở Pháp và Áo chứng tỏ một mặt dịch bệnh giảm bớt tụ tập đông người, hạn chế hoạtđộng của các phần từ khủng bố, mặt khác nhu cầu phòng ngừa và kiểm soát dịch bệnh cũng làm phân tán nguồn lực chống khủng bố. Vấn đề dân tị nạn/dân nhập cư liên quan đến chống khủng bố lại chuyển hướng sang hướng hội nhập xã hội dưới tác động của dịch bệnh. Hiện pháp Pháp và Áo liên kết với các nước khác để nỗ lực thúc đẩy thúc đẩy EU hình thành biện pháp mang tính hệ thống chống cực đoan hóa tôn giáo, EU cũng đưa ra kế hoạch nhiều năm nhằm thúc đẩy dân nhập cư hội nhập vào xã hội châu Âu, những xu hướng này ảnh hưởng đến hình thái xã hội, tôn giáo và văn hóa của châu Âu trong tương lai. Ngoài ra, người dân châu Âu cảm thấy mệt mỏi ứng phó dịch COVID-19 và biện pháp phòng dịch, có thể dẫn đến mâu thuẫn xã hội gay gắt hơn.

Mức độ tấn công của dịch COVID-19 đối với kinh tế châu Âu sâu sắc và trên phạm vi rộng, khiến tình hình kinh tế từ năm 2009 đến nay chưa kịp phục hồi ngày càng gặp khó khăn. Sự lan rộng kéo dài của dịch bệnh làm tổn hại đến nền kinh tế châu Âu, đặc biệt là các quốc gia với trụ cột là ngành du lịch và dịch vụ. Thống kê cho thấy GDP của EU năm 2020 dự báo giảm khoảng 10%, triển vọng phục hồi năm 2021 không mấy lạc quan. Để giúp phục hồi kinh tế sau dịch bệnh, EU khắc phục trở ngại nội bộ bằng việc thúc đẩy quỹ phục hồi kinh tế trị giá 750 tỷ euro, nhưng những mâu thuẫn nội bộ như va chạm vốn có giữa các nước ở phía Đông, phía Tây, phía Nam và phía Bắc trong quá trình thực hiện cụ thể sẽ lại tiếp diễn, làm hạn chế kết quả đạt được, làm gia tăng chi phí thực hiện kế hoạch này.

Dịch COVID-19 gây rối loạn cơ cấu chính trị và thiết kế chính sách của châu Âu. 2020 là một năm mà những nhà lãnh đạo mới của các tổ chức EU chuẩn bị kế hoạch đầy tham vọng sau khi lên nắm quyền, trước khi bị dịch COVID-19 tấn công. EU đã đưa ra hàng loạt quy hoạch và chiến lược thượng tầng liên quan đến phát triển công nghiệp và địa chính trị. Dịch COVID-19 và ảnh hưởng tiêu cực của nó không những ép EU điều chỉnh chính sách của họ, mà còn làm suy yếu hơn nữa nguồn lực và năng lực thực hiện các chiến lược và quy hoạch của họ, sẽ làm gia tăng khoảng cách giữa nguyện vọng chính trị và năng lực thực tế của châu Âu.

Trước vô số mâu thuẫn nội bộ, châu Âu vẫn buộc phải ứng phó với môi trường bên ngoài ngày càng phức tạp. Do cạnh tranh nước lớn gia tăng, vùng đệm nằm giữa các “khu vực ảnh hưởng” lớn trước kia đang trở thành thách thức bên ngoài chủ yếu của châu Âu hiện nay. Ngoài thách thức an ninh ở phía Đông từ Ukraine và Nga, phía Nam từ Tây Á, Bắc Phi, cuộc khủng hoảng phía Đông Địa Trung Hải giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và đảo Cyprus, trở thành điểm nóng mới về an ninh của châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ can dự mạnh vào xung đột khu vực Bắc Phi và tranh chấp Nagorny-Karabakh giữa Azerbaijan và Armenia, càng làm gia tăng căng thẳng khu vực. Khủng hoảng không những có rủi ro lan rộng sang khu vực Địa Trung Hải, mà còn có thể làm leo thang mâu thuẫn tôn giáo và sắc tộc ở châu Âu và bên ngoài. Thổ Nhĩ Kỳ bị châu Âu coi là quốc gia gây rắc rối mới tiếp sau Nga, làm thế nào xử lý tốt quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ trong lĩnh vực an ninh, dân tị nạn và chính trị trở thành vấn đề nan giải mà châu Âu phải đối mặt.

Trong bối cảnh không mấy lạc quan, Biden giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 là một tin tốt đối với châu Âu. Từ khi Trump lên nắm quyền đến nay, quan hệ đồng minh truyền thống xuyên Đại Tây Dương giữa châu Âu và Mỹ chịu tác động lớn. Đa số các quốc gia châu Âu mong muốn Biden đắc cử có thể khởi động tiến trình phá bỏ di sản của Trump. Việc Biden đắccử cũng khiến châu Âu có kỳ vọng quan hệ Âu – Mỹ quay lại “thời kỳ Obama”. Do đó, ngay sau khi kết thúc cuộc bầu cử, đa số các nước châu Âu nhanh chóng chúc mừng Biden. Sau khi lên nắm quyền, nếu Biden điều chỉnh chính sách ngoại giao của Mỹ, hiệu quả thu được trực tiếp và nhanh nhất sẽ là chính sách đối với châu Âu. Trong cương lĩnh chính sách đối ngoại mà nhóm giúp việc cho Biden công bố, các cam kết như coi trọng trở lại quan hệ đồng minh, quay trở lại chủ nghĩa đa phương, sử dụng công cụ thương mại… đều phù hợp với yêu cầu của các nước châu Âu.

Do đó, điều có thể dự báo là sau khi Biden lên nắm quyền, châu Âu và Mỹ trong ngắn hạn sẽ tăng cường phối hợp chính trị và ngoại giao, tăng cường màu sắc ý thức hệ. Cùng với việc làm dịu va chạm thương mại song phương, hai bên sẽ tăng cường hợp tác về thiết lập quy tắc thương mại và vấn đề cải cách Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nội bộ châu Âu hiện nay có bất đồng về xu hướng tương lai của quan hệ Âu – Mỹ, phe thân Mỹ hy vọng “trở lại vòng tay của Mỹ”, nhưng cũng có “phe tự chủ” kiên trì muốn thoát khỏi một cách thích hợp sự phụ thuộc vào Washington. Về lĩnh vực thương mại, cho dù “phe Đại Tây Dương” trong nội bộ châu Âu mong muốn hai bên có thể trở lại Hiệp định đối tác thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) dưới thời Obama, nhưng trong thời kỳ Trump nắm quyền, mâu thuẫn mang tính cơ cấu về thương mại giữa hai bên lộ rõ, sau khi Biden lên nắm quyền, ông cũng không thể từ bỏ một số chủ trương chính sách của Trump, ví dụ như làm cho ngành chế tạo lớn mạnh để gia tăng khả năng cạnh tranh của Mỹ…, do đó về ngắn hạn đàm phán thương mại tự do và đầu tư có thể có phương án thỏa hiệp. Châu Âu và Mỹ cũng có thể tăng cường hợp tác trong lĩnh vực biến đổi khí hậu, nhưng về lĩnh vực năng lượng, chiến lược chuyển đổi mô hình năng lượng mới và đa dạng hóa nguồn năng lượng chiếm vị thế chủ đạo ở châu Âu sẽ tiếp tục xung đột với phương hướng chính sách của Mỹ về khai thác năng lượng hóa thạch truyền thống như coi trọng dầu và khí đá phiến…

Việc thay đổi tình hình châu Âu và quan hệ Âu – Mỹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ Trung Quốc – châu Âu. Con đường của EU kiên trì “tự chủ chiến lược”, tuyên bố “chủ quyền châu Âu” mà khu vực này khởi xướng thể hiện ở việc tăng cường bảo hộ thị trường, phần nào thoát khỏi “sự phụ thuộc kinh tế” vào Trung Quốc. Cùng với bất đồng chính trị khó giải quyết, châu lục này cũng không thể dễ dàng từ bỏ hợp tác thiết thực với Trung Quốc trong lĩnh vực cụ thể, quan hệ song phương sẽ bước vào thời kỳ phức tạp vừa hợp tác vừa cạnh tranh, đồng thuận và bất đồng cùng tồn tại. Trong 4 năm tới, tương tác 3 bên Trung Quốc, châu Âu và Mỹ cũng sẽ phức tạp và thay đổi nhiều hơn. Bất đồng và mâu thuẫn về chính trị và ngoại giao giữa Trung Quốc với châu Âu và Mỹ sẽ tiếp tục lộ rõ và tăng lên, nhưng hợp tác trong các vấn đề đa phương như biến đổi khí hậu và lĩnh vực thương mại như bảo vệ môi trường xanh, công nghệ số… cũng sẽ có không gian hợp tác lớn hơn, quan hệ 3 bên sẽ xuất hiện cục diện phức tạp dễ mắc sai lầm. Điều đáng chú ý là xu hướng của một quốc gia châu Âu theo đuôi Mỹ thực hiện chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng lộ rõ, ý đồ “cân bằng” với ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương thể hiện rõ. Trong tương lai, sự vận hành của quan hệ Trung Quốc – châu Âu cần triển khai cùng với cấp độ song phương, ba bên, khu vực và toàn cầu, đòi hỏi Trung Quốc có tầm nhìn và tư duy chiến lược rộng lớn hơn.

* * *

Thôi Hồng Kiến, Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu châu Âu, Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) – số 24/2020

TLTKĐB – 26/12/2020.

Quan hệ châu Âu – Trung Quốc sau đại dịch – Phần cuối


Châu Âu giờ đây cần đánh giá lại cách tiếp cận này. Xét tới sự thúc đẩy hướng tới đa dạng hóa hơn nữa và thậm chí tách rời khỏi Trung Quốc ở mức độ có kiểm soát, vẫn chưa rõ lý do tại sao EU cần tiếp tục nỗ lực đến vậy và tận dụng phần lớn lợi thế đòn bẩy của họ nhằm cố gắng đạt được những nhượng bộ mà có lẽ sẽ trở thành gánh nặng trong một số trường hợp. Hội nhập kinh tế sâu rộng hơn với Trung Quốc có thể là một mong muốn trong dài hạn, nếu các điều kiện phù hợp và thị trường Trung Quốc vẫn quan trọng đối với các công ty châu Âu. Tuy nhiên, việc tiếp tục đi theo quỹ đạo hiện tại mà không nghiêm túc đánh giá lại bối cảnh kinh tế mới hậu đại dịch không nên là ưu tiên trong ngắn hạn.

Các vấn đề chính trị liên quan đến những lựa chọn thậm chí còn phức tạp hơn. Mặc dù EU đã cải thiện đáng kể các yếu tố trong cuộc cạnh tranh kinh tế với Trung Quốc, nhưng cách tiếp cận của họ đối với các vấn đề dựa trên giá trị vẫn mang tính thăm dò. Tuy vậy, do Bắc Kinh ngày càng có xu hướng hành động như một đối thủ mang tính hệ thống đang thúc đẩy các mô hình quản trị thay thế như theo cách gọi của EU – kể cả việc gây phương hại cho chính khối này – giọng điệu thận trọng của các nhà lãnh đạo châu Âu về các vấn đề như Hong Kong, Tân Cương, Đài Loan và nhân quyền không còn có ý nghĩa.

Nếu không bị đẩy vào thế đối đầu, EU và chính phủ các nước thành viên có thể bắt đầu gỡ bỏ một số hạn chế về ngôn từ và lập trường của họ trong những vấn đề từ vị thế quốc tế của Đài Loan cho đến nền dân chủ ở Hong Kong. Việc EU công khai bày tỏ sự biết ơn đối với Đài Loan sau khi được nước này cung cấp vật tư y tế trong cuộc khủng hoảng đã hé lộ đôi chút về hình thái của cách tiếp cận này. Sự ủng hộ mạnh mẽ của châu Âu đối với sự tham gia của Đài Loan trong những thể chế đa phương thiết yếu của ngành y tế và an ninh toàn cầu sẽ định hình cách tiếp cận này trên thực tế.

Một cách tiếp cận đơn giản hơn đối với vấn đề các giá trị sẽ là theo sát sự quan tâm ngày càng lớn của người dân, quốc hội và các phương tiện truyền thông châu Âu đối với những vấn đề liên quan đến Trung Quốc vốn thường được các chính phủ giải quyết một cách kín đáo. Cuộc tranh luận về mạng 5G – vốn đụng chạm đến rất nhiều vấn đề nhạy cảm về mặt chính trị đối với các cử tri châu Âu – đã khiến cho mô hình cũ khó có thể được duy trì, khi các chính phủ nhận thấy việc biện hộ cho các quyết định của họ là điều khó khăn đến mức đáng xấu hổ. Những thỏa hiệp mà họ đưa ra – do lợi ích của các nhà mạng viễn thông châu Âu hoặc mối đe dọa trả đũa kinh tế từ Bắc Kinh – có một logic nhất định trong các cuộc họp kín, nhưng lại không thể đứng vững trước sự giám sát của công chúng.

Đại dịch giờ đây đã mở rộng phạm vị quan tâm của người dân đối với Trung Quốc. Các vấn đề từ sự minh bạch trong hệ thống chính trị của Trung Quốc cho đến các thông lệ kinh tế mang tính cưỡng ép của Bắc Kinh giờ đây tác động đáng kể đến đời sống và sinh kế của cử tri châu Âu. Người dân kỳ vọng chính phủ của họ sẽ trình bày một cách rõ ràng và công khai hơn về cách thức giải quyết các vấn đề này. Trong khi đó, các phương thức cũ để thảo luận và quản lý mối quan hệ với Trung Quốc sẽ chịu sức ép chính trị. Gần đây, bài xã luận dễ dãi một cách khó chịu của đại sứ EU tại Bắc Kinh, và việc quyết định cho phép tờ Trung Hoa Nhật báo đăng tải bài viết này sau khi kiểm duyệt, hẳn đã có thể được cho qua một cách êm thấm. Thay vào đó, nó đã hứng chịu một cơn bão chỉ trích gay gắt.

Việc đẩy mạnh can dự dân chủ với chính sách Trung Quốc của các nước châu Âu sẽ có những hậu quả đáng chú ý. Có một số ý kiến cho rằng dư luận châu Âu sẽ thay đổi theo hướng ủng hộ Bắc Kinh hậu khủng hoảng – nhất là sau một cuộc thăm dò đáng chú ý ở Italy được tiến hành trong giai đoạn đỉnh dịch. Tuy vậy, điều này dường như khó có thể xảy ra. Tại hầu hết các nước châu Âu, cử tri nhìn chung ngày càng chỉ trích Trung Quốc – một xu hướng đã được củng cố trong nhiều trường hợp do kiểu ngoại giao hiếu chiến mà Chính phủ Trung Quốc đã cho thấy trong thời gian gần đây. Sự thực không thể chối cãi về trách nhiệm của Bắc Kinh đối với đại dịch sẽ ảnh hưởng xấu đến nhận thức của công chúng về Trung Quốc, bất chấp các chuyến viện trợ khẩu trang. Và cũng không nên kỳ vọng câu chuyện của phe dân túy sẽ ngả theo hướng có lợi cho Trung Quốc: Mỗi Di Maio đều có một Matteo Salvini –  mà cánh Lombardy trong đảng của ông đã yêu cầu Chính phủ Trung Quốc phải bồi thường do cách xử lý yếu kém khi dịch bệnh bùng phát.

Nói như vậy không có nghĩa là châu Âu thống nhất trong cách nghĩ về Trung Quốc. Tuy vậy, việc mặc nhiên đi tới kết luận rằng các quan điểm của châu Âu đang bị chia rẽ đã trở nên không mấy hữu ích khi đánh giá các cuộc tranh luận đang diễn ra – thường là yếu tố cản trở đối thoại không đáng có chứ không phải là một phương thức dự đoán kết quả.

Nếu chính sách đối với Trung Quốc chủ yếu chỉ là về việc thống nhất giọng điệu chỉ trích trong các tuyên bố chung về các vấn đề chính sách đối ngoại, thì những quốc gia gây cản trở sẽ có ảnh hưởng đáng chú ý. Tuy nhiên, Trung Quốc hiện là nhân tố đứng đằng sau một loạt lựa chọn chiến lược lớn hơn. Tất nhiên, nếu các nước thân Bắc Kinh hơn cùng nhau phản đối sự thay đổi trong cách tiếp cận của châu Âu đối với việc thực thi chính sách thương mại, chiến lược công nghiệp, sàng lọc đầu tư, chính sách chống độc quyền và cấp vốn cho cơ sở hạ tầng do trung thành với Trung Quốc, thì ảnh hưởng sẽ là đáng kể. Tuy nhiên, tình hình thực tế rõ ràng vẫn không phải như vậy. Điều này vẫn đúng trong các vấn đề về chuỗi giá trị, các điểm dễ bị tổn thương trong chuỗi cung ứng, các thể chế đa phương, việc đưa thông tin sai lệch, sự cạnh tranh gia tăng tại thị trường các nước thứ ba và nhiều vấn đề nổi cộm khác.

Mỗi một vấn để trong số đó đều sẽ được đưa ra tranh luận gay gắt. Các chính đảng quốc gia và các hiệp hội doanh nghiệp của châu Âu sẽ không thống nhất quan điểm. Nhưng trọng tâm thay đổi sẽ kéo theo ngày càng nhiều khả năng cho chính sách của EU – và những kết quả từ đó nảy sinh. Những đề xuất đã lỗi thời về các công cụ có qua có lại đã có được cơ hội mới nhờ Trung Quốc. Các quan điểm về sàng lọc dự án đầu tư hoặc chính sách cạnh tranh mà cách đây vài năm nhiều người từng cho là cực đoan một cách vô lý đã nhanh chóng biến thành xu hướng chủ lưu. Đại dịch đang gây ra sự thay đổi thậm chí còn lớn hơn.

Sự phục hồi đúng cách

Trong thời gian gần đây, sự tương tác giữa châu Âu và Trung Quốc đang xấu đi nhưng đã dần trở nên rạch ròi. Những giả định đã có từ lâu về hành vi và ý đồ của Bắc Kinh đối với châu Âu đang lung lay dưới sức ép và hiện đã sụp đổ hoàn toàn. Các quan chức và các nhà phân tích châu Âu đã đưa ra những giả thuyết vững chắc hơn về các vấn đề từ nguy cơ Trung – Nga phối hợp chặt chẽ hơn cho đến việc đảng-nhà nước Trung Quốc sẵn sàng sử dụng quyền lực của mình để thúc đẩy một nghị trình ý thức hệ mâu thuẫn với các giá trị của châu Âu.

Châu Âu sẽ chỉ có thể đánh giá lại tình hình địa chính trị và địa kinh tế một cách quyết đoán sau khi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ diễn ra vào tháng 11/2020. Tuy nhiên, trước đó, các nhà lãnh đạo châu Âu phải đưa ra một số quyết định quan trọng. Trong ngắn hạn, các ưu tiên của châu Âu trong mối quan hệ với Bắc Kinh sẽ vẫn phụ thuộc nhiều vào đại dịch. Việc cần phải đáp ứng các nhu cầu trước mắt về y tế và chỉnh đốn tình hình kinh tế sẽ phủ bóng lên các động lực song phương từ giờ cho đến cuối năm 2020. Sự phục hồi của Trung Quốc sau cuộc suy thoái do dịch bệnh gây ra chắc chắn sẽ tác động đến các tính toán của châu Âu. Nghị trình hợp tác trong những lĩnh vực như biến đổi khí hậu vẫn có vai trò thiết yếu.

Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo châu Âu cần nhận thức được những nguy cơ của việc làm trầm trọng hơn những vấn đề trong quan hệ với Trung Quốc được thể hiện rõ qua cuộc khủng hoảng. Họ đang tranh luận rằng liệu các kế hoạch phục hồi kinh tế của EU có đáp ứng một cách thỏa đáng các mục tiêu về khí hậu, kỹ thuật số, công nghiệp cũng như các mục tiêu chính trị lâu dài hay không. Những câu hỏi này có thể áp dụng tương tự cho Trung Quốc. Cách đây vài năm, nếu các nước châu Âu bị chấn động bởi một cuộc khủng hoảng kép về y tế và kinh tế, hẳn họ sẽ duy trì hoãn những vấn đề này. Tuy nhiên, trì hoãn giờ đây là bất khả thi, do Trung Quốc đang tham gia quá sâu vào hầu hết những lựa chọn quan trọng nhất của họ về kinh tế và chính trị.

Nguồn: Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu – 05/2020

CVĐQT số 05/2020

Quan hệ châu Âu – Trung Quốc sau đại dịch – Phần IV


Điều này càng trở nên thách thức hơn trong bối cảnh trước cuộc khủng hoảng nợ vốn đang ảnh hưởng đến phần lớn các nước đang phát triển. Dòng vốn từ các dự án BRI trong những năm gần đây đã gây bất lợi cho hoạt động của nhiều công ty châu Âu tại thị trường các nước đang phát triển, khi các công ty này bắt đầu vấp phải chính những khó khăn về trợ cấp, tình trạng tham nhũng, đặc ân chính trị và các thỏa thuận mua sắm ngầm mà họ từng phải đối mặt ở Trung Quốc.

Đại dịch sẽ làm trầm trọng thêm những vấn đề này. Bắc Kinh đang chịu nhiều sức ép để buộc phải đi đến một thỏa thuận toàn diện về việc gia hạn và xóa nợ chứ không chỉ miễn cưỡng tán thành quyết định tạm thời hoãn thanh toán nợ của hội nghị G20. Tuy nhiên, ngay cả nếu Trung Quốc cuối cùng cũng đồng ý tham gia một gói miễn trừ nợ lớn hơn, thì nước này cũng sẽ tận dụng bất kỳ lợi thế đòn bẩy nào mà họ có đối với vấn đề này tại các cuộc đàm phán song phương riêng lẻ. Quả thực, trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đôi lú đã yêu cầu phải có tài sản thế chấp thì mới chấp nhận hoãn nợ.

Tuy nhiên, việc Trung Quốc mua lại các mỏ đồng của Zambia có thể không đáng chú ý bằng khả năgn nước này lợi dụng việc các quốc gia khác đang phải cầu cạnh họ nhằm giành được sự nhượng bộ trong các vấn đề có giá trị chiến lược lâu dài, chẳng hạn như củng cố vị thế nhà xây dựng hạ tầng kỹ thuật số cho các nước đang phát triển. Các công ty cung cấp dịch vụ giám sát và điện toán đám mây của Trung Quốc hiện đang triển khai các công cụ theo dõi và các ứng dụng về sức khỏe khác có thể đồng bộ với năng lực giám sát hiện có của “đô thị an toàn” và các gói viễn thông phủ sóng rộng hơn. Khi các nước đang phát triển lâm vào tình trạng khó khăn kinh tế nghiêm trọng đến mức phải đàm phán các thỏa thuận tài chính mới với Bắc Kinh và việc cần có các cơ chế thỏa đáng về mặt công nghệ nhằm ứng phó với đại dịch trở nên cấp thiết, họ sẽ nhận thấy việc từ chối các đề xuất công nghệ của Trung Quốc là điều khó khăn hơn bao giờ hết.

EU đang ở thế bất lợi trong vấn đề này ngay cả trước khi đại dịch diễn ra. Họ đã vạch ra một nghị trình kết nối đầy tham vọng trong năm cuối nhiệm kỳ của Ủy ban châu Âu tiền nhiệm, đưa ra các kế hoạch huy động hàm trăm tỷ USD để tài trợ cho các cơ sở hạ tầng mới, thực hiện các nỗ lực ngoại giao mới để hỗ trợ cho các kế hoạch này cũng như ký kết các hiệp định đối tác với các nước như Nhật Bản. Tuy vậy, Ủy ban châu Âu mới vẫn chưa nghiêm túc dành ác nguồn lực hoặc nỗ lực chính trị cấp cao cho sáng kiến này. Đây dường như là một sơ suất từ trước khi cuộc khủng hoảng bắt đầu. Châu Âu sẽ khó có thể thực hiện nghị trình xanh của mình khi Trung Quốc đang xây dựng các nhà máy nhiệt điện than trên khắp các nước đang phát triển; thực hiện nghị trình kỹ thuật s61 trong khi các nước đang phát triển ngày càng áp dụng các tiêu chuẩn mạng Internet, giám sát và viễn thông của Trung Quốc; hoặc theo đuổi chiến lược công nghiệp khi các công ty lớn của châu Âu đang bị các đối thủ cạnh tranh Trung Quốc đẩy ra khỏi các thị trường mới nổi.

Đại dịch làm gia tăng nhu cầu phải xây dựng các chuỗi cung ứng đa dạng hơn và tìm kiếm động lực tăng trưởng mà không làm sâu sắc thêm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc trong bối cảnh ngày càng mang tính thách thức tại các nước đang phát triển. Những người ủng hộ các nỗ lực kết nối của châu Âu đã vạch ra các kế hoạch nhằm lý giải tại sao các biện pháp này cần có vị trí nổi bật hơn nhiều trong chiến lược toàn cầu của châu Âu.

Châu Âu không nên chỉ lo lắng về nợ của các nước đang phát triển. Các xu hướng này cũng sẽ tác động đến tình hình các khu vực lân cận hơn. Các cơ chế sàng lọc đầu tư khắt khe hơn sẽ không mang lại lợi thế nếu những nước châu Âu bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ cuộc khủng hoảng phải vật lộn để huy động đủ nguồn lực hoặc sau đó phải sớm đối mặt với sức ép buộc họ phải hợp nhất nợ.

Bối cảnh chính trị đã thay đổi đáng kể từ đợt tăng chi tiêu gần đây nhất của Trung Quốc vào cơ sở hạ tầng ở châu Âu, thể hiện qua cả sự cảnh giác của châu Âu lẫn sự thận trọng của Trung Quốc trong việc tài trợ. Tuy vậy, ngay cả trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra, các chính phủ châu Âu thiếu tiền mặt đã cảm nhận rõ sức cảm dỗ của việc chuyển sang các nguồn lực bên ngoài như Trung Quốc – và vẫn có một số vụ mua lại mà Bắc Kinh sẽ thực hiện nếu điều kiện cho phép. Do đó, những tranh cãi hiện nay về phản ứng kinh tế của Khu vực đồng euro sẽ có những tác động quan trọng khiến Trung Quốc không thể dễ dàng thâm nhập môi trường châu Âu. Và các nước Bắc Âu cần nhận thức được những rủi ro khi dồn cá nước láng giềng của họ vào chân tường.

Những người cuối cùng ủng hộ chủ nghĩa đa phương

Châu Âu cũng phải đối mặt với thế cân bằng mới giữa cơ hội và rủi ro trong việc đối phó với Trung Quốc trong các thể chế đa phương. Dù hành vi của Tổ chức y tế thế giới (WHO) là đúng hay sai, thì niềm tin vào sự chính trực và độc lập của các cơ quan đa phương chắc chắn đã bị lung lay. Điều này củng cố thêm lập luận của châu Âu về các hậu quả tiềm tàng khi Mỹ nhượng các thể chế này cho Trung Quốc – dù bằng cách rút khỏi các thể chế đó do không đạt được thỏa hiệp với các đồng minh về ứng cử viên cho các vị trí chủ chốt, hay lơ là công tác xây dựng liên minh giữa các thành viên thể chế. Do đó, sẽ dễ dàng tránh được kiểu thất bại đã xảy đến với Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) năm 2019,khi việc Mỹ không sẵn lòng ủng hộ ứng viên đáng tin cậy duy nhất của châu Âu cho vị trị hàng đầu đãdẫn đến chiến thắng của ứng cử viên Trung Quốc.

Cách Mỹ tiếp cận cuộc cạnh tranh trong các cơ quan đa phương đã thay đổi từ trước khi cuộc khủng hoảng bắt đầu. Washington đã đảm trách thành công nhiệm vụ ngoại giao nặng nề trong một cuộc cạnh tranh tương tự tại Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới vào đầu năm 2020. Hiện nay, trong các lĩnh vực từ an ninh lương thực, hàng không dân dụng cho đến các tiêu chuẩn về trí tuệ nhân tạo, cuôc chiến của các quan chức châu Âu trong những thể chế này sẽ càng trở nên nổi bật.

Tuy vậy, như có thể thấy qua những lời đe dọa của MỸ về việc ngừng tài trợ cho WHO, châu Âu cũng sẽ phải đối phó với lập luận cho rằng nhiều tổ chức toàn cầu đã bị Trung Quốc bào mòn đến mức về lâu dài, hướng đi khả thi duy nhất là xây dựng các phương án thay thế đ phương giữa các đối tác cùng chí hướng. Các nước châu Âu đã quen vớic ác động lực song song trong lĩnh vực thương mại, nơi cam kết không gì lay chuyển của EU về việc duy trì hoạt động của WTO không lại trừ việc liên minh này bắt tay vào thúc đẩy toàn diện các hiệp định thương mại tựdo song phương. Tuy nhiên, ngày cả sau khi vòng đàm phán Doha thất bại, đây vẫn là một bước ngoặt lớn khi EU quyết định áp dụng cách tiếp cận song song này.

Câu hỏi đặt ra là liệu đại dịch có đóng vai trò xúc tác cho sự suy xét lại toàn diện hơn hay không: Ngay cả khi châu Âu đẩy mạnh đấu tranh để buộc các tổ chức đa phương thực hiện bổ phận của họ một cách hiệu quả, thì châu lục này vẫn phải chịu sức ép xây dựng các giải pháp thay thế đáng tin cậy dựa trên giá trị để chuẩn bị cho những tình huống mà trong đó, các thể chế này không còn vậy hành như mục tiêu thành lập ban đầu.

Các lợi ích cốt lõi

Mặc dù nhiều vấn đề mà châu Âu đang chật vật giải quyết liên quan đến một đánh giá rộng hơn về tác động của Trung Quốc đối với bối cảnh chiến lược, thì các vấn đề khác lại liên quan đến cốt lõi của mối quan hệ song phương. Về nguyên tắc, trước khi cuộc khủng hoảng diễn ra, EU vẫn đặt mục tiêu tằng cường quan hệ kinh tế với Trung Quốc miễn là có thể khiến mối quan hệ đó công bằng hơn và có qua có lại. Lý tưởng mà nói, điều này đồng nghĩa với việc đầu tư nhiều hơn vào Trung Quốc, mở rộng sự hiện diện kinh tế tại nước này và tăng cường thương mại song phương.

Một số nhà hoạch định chính sách châu Âu nhận thấy các công cụ mới mà EU đang áp dụng trong những lĩnh vực từ mua sắm cho đến chống độc quyền là các phương thức không đáng có nhưng tạm thời để Bắc Kinh thấy rằng châu Âu có thể áp dụng các biện pháp mạnh tay nếu cần. Gần như không ai kỳ vọng các biện pháp này sẽ mang lại những thay đổi sâu rộng thực sự trong các chính sách kinh tế của Trung Quốc, nhưng việc thuyết phục Trung Quốc cải thiện đáng kể quyền tiếp cận thị trường cho các công ty châu Âu gần như vẫn là mục tiêu chính trong các cuộc đàm phán của châu Âu. Ngay cả giờ đây, khi cơ hội đạt được thỏa thuận đã tiêu tan, Thỏa thuận toàn diện về đầu tư EU – Trung Quốc vẫn được cho là có vai trò trọng tâm trong nghị trình của hai bên cho đến cuối năm 2020 – và từng được dự kiến sẽ là kết quả chính của hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo tại Leipzig, điều ngày càng khó trở thành hiện thực.

(còn tiếp)

Nguồn: Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu – 05/2020

CVĐQT số 05/2020

Quan hệ châu Âu – Trung Quốc sau đại dịch – Phần III


Rõ ràng là chẳng những không đem lại cho chính phủ các nước châu Âu hay EU không gian hành động trong cuộc khủng hoảng này, mà Bắc Kinh còn nỗ lực toan tính lợi dụng tình hình của châu Âu. Theo đạo luật khẩn cấp mà Hungary đã ban hành để đối phó với đại dịch COVID-19, chính phủ nước này đã vội vã thông qua thỏa thuận đường sắt Belgrade-Budapest gây tranh cãi – do Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc tài trợ – với các chi tiết được bảo mật trong một thập kỷ. Một quỹ đầu tư mạo hiểm thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc đã tìm cách giành quyền kiểm soát đối với nhà sản xuất chip xử lý đồ họa lớn của Anh, Imagination Technologies, buộc Chính phủ Anh phải can thiệp khẩn cấp. Huawei và những người ủng hộ công ty này trong số các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông châu Âu đã công khai cho rằng cuộc khủng hoảng này đặt ra một yêu cầu thậm chí còn lớn hơn, đó là phải đẩy nhanh việc triển khai mạng 5G; những công ty như công ty viễn thông của Đức Deutsche Telekom thậm chí còn đẩy mạnh việc nâng cấp mạng sử dụng thiết bị Huawei. Việc Bắc Kinh sử dụng cuộc khủng hoảng này làm vỏ bọc cũng là một câu chuyện quen thuộc khác – dù là để che đậy việc bắt giữ hàng loạt nhân vật ủng hộ dân chủ hàng đầu ở Hong Kong hay các sự cố quân sự ngày càng tăng ở biển Nam Trung Hoa.

Bắc Kinh rõ ràng cũng đã gắn lợi ích chính trị của mình với các nhu cầu kinh tế và y tế của các quốc gia khác. Tháng 3/2020, một cơ quan truyền thông nhà nước Trung Quốc cho rằng cách Chính phủ Mỹ đối xử với Huawei có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cập thị trường khẩu trang của nước này. Người ta có thể gạt đi, coi đây chỉ là một quan điểm lệch lạc. Khó có thể bác bỏ những cảnh báo công khai của một đại sứ Trung Quốc rằng việc Australia yêu cầu điều tra nguồn gốc của virus SARS-CoV-2 có thể dẫn đến sự trả đũa kinh tế. Sau đó đến lượt châu Âu. Sau khi Hà Lan đổi tên văn phòng đại diện của mình tại Đài Loan, các cơ quan truyền thông nhà nước Trung Quốc cho rằng Bắc Kinh có thể phản ứng bằng cách dừng các nguồn cung cấp vật tư y tế thiết yếu.

Cuộc chiến của những câu chuyện

Chỉ trong một thời gian ngắn, các quan chức châu Âu đã vội vàng đáp trả. Nhà ngoại giao hàng đầu của EU Joseph Borrell đã lên án các chiến thuật hung hăng của Trung Quốc và việc nước này lạm dụng “ý nghĩa chính trị của sự rộng lượng”. Pháp đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc khi các nhà lập pháp nước này phẫn nộ trước các bài viết mà Đại sứ quán Trung Quốc công bố. Các quan chức và chính trị gia châu Âu đã phản ứng gay gắt tại các cuộc họp ngắn về cách hành xử của Trung Quốc và đưa ra các tài liệu chứng minh sự hỗ trợ lớn hơn của EU đối với các quốc gia như Italy. Châu Âu hiện đã sẵn sàng chống lại các chiến dịch thông tin của Trung Quốc. Một báo cáo gây tranh cãi của EU về chính điều này đã chịu sức ép ngoại giao mạnh mẽ từ phía Bắc Kinh ngay từ trước khi xuất bản. Mặc dù phần lớn những khẳng định đã được làm dịu đi, nhưng báo cáo này phơi bày rõ ràng những thuyết âm mưu và thông tin sai lệch của Trung Quốc, những chiến dịch ngầm của Trung Quốc trên mạng truyền thông xã hội và sự thúc đẩy có phối hợp từ các nguồn Trung Quốc nhằm làm chệch hướng mọi cáo buộc đối với sự bùng phát của đại dịch này.

Các nhà hoạch định chính sách châu Âu cũng đã chuyển sang đề cập đến những nỗ lực của Trung Quốc muốn thâu tóm tài sản với giá rẻ. Trong vài ngày, Cao ủy thương mại EU và Tổng thư ký NATO đã cảnh báo các chính phủ cần thận trọng hơn trong việc đối phó với những nỗ lực mua cơ sở hạ tầng và các công nghệ nhạy cảm, trong khi Ủy viên châu Âu phụ trách vấn đề cạnh tranh đề nghị các chính phủ nên cân nhắc việc mua cổ phần của các công ty quan trọng về mặt chiến lược. Đức, Pháp, Itally và Tây Ban Nha đều đã công bố các biện pháp bảo hộ mới. Thụy Điển, nơi không có quy trình xét duyệt đầu tư, đã tiến hành các kế hoạch tạm dừng khẩn cấp. Sức ép đang gia tăng đối với các quyết định về mạng 5G đã được đưa ra trước đó. Hiện đã có dấu hiệu cho thấy Anh sẽ phải xem xét lại kế hoạch cho phép Huawei tham gia các mạng 5G ở mức hạn chế sau những phản ứng dữ dội từ các nghị sĩ Quốc hội. Ngoại trưởng Anh cảnh báo rằng Bắc Kinh không nên kỳ vọng mọi việc trở lại như bình thường sau cuộc khủng hoảng này, trong khi một số nghị sĩ đã lập ra một nhóm để thúc đẩy việc đánh giá lại một cách toàn diện hơn cách tiếp cận của Anh đối với Trung Quốc.

Tất cả những điều này đang diễn ra trong một giai đoạn mà các chính phủ đang bị quá tải trước nhu cầu phải đối phó với đại dịch. Nhiều chính phủ cũng đang tạo điều kiện thuận lợi để tiếp nhận nguồn vật tư y tế quan trọng từ Trung Quốc. Không một quốc gia châu Âu nào muốn thực hiện những động thái mạnh mẽ trong ngắn hạn có thể làm hỏng triển vọng phục hồi kinh tế. Hơn nữa, Trung Quốc vẫn chưa áp dụng cách tiếp cận cứng rắn đối với tất cả các nước châu Âu – trong đó một số nước đã tránh được các cuộc tấn công, chưa kể đến các chiến dịch tuyên truyền. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã thể hiện khả năng đặc biệt trong việc nhắm mục tiêu vào những quốc gia và các thể chế có ảnh hưởng nhất trong việc định hình không chỉ chính sách mà cả nghị trình chiến lược lớn hơn của EU đối với Trung Quốc. Vì vậy, những tranh luận về hình hài của mối quan hệ trong tương lai với Trung Quốc đang diễn ra.

Chưa sẵn sàng tách khỏi Trung Quốc

Một số cân nhắc trong các cuộc tranh luận này phản ánh những phản ứng tức thì trước đại dịch. Từ Thụy Điển cho đến Đức, chính phủ các nước châu Âu nằm trong số những bên kêu gọi phải có sự minh bạch về nguồn gốc của virus SARS-CoV-2 trong bối cảnh Trung Quốc đang tiếp tục tung hỏa mù. Do Trung Quốc vẫn là điểm nóng của dịch bệnh mới xuất hiện, họ coi cách tiếp cận này là yếu tố thiết yếu nhằm buộc Chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm ứng phó với các cuộc khủng hoảng tương tự trong tương lai, chứ không chỉ là một trò chơi đổ lỗi. Việc phụ thuộc vào các nguồn cung vật tự quan trọng từ Trung Quốc cũng được coi là rủi ro hơn nhiều so với cách đây vài tháng. Đây không chỉ là vấn đề dự trữ vật tư y tế cần thiết trong tương lai. Khi các nhà máy của Trung Quốc đóng cửa và dòng sản phẩm thiết yếu bị chững lại, cuộc khủng hoảng đã cho thấy các chuỗi cung ứng châu Âu phụ thuộc đến mức nào vào các cơ sở sản xuất tại Trung Quốc.

Mathias Dӧpfner, một nhân vật bảo thủ nổi tiếng trong giới doanh nghiệp Đức, đã kêu gọi phải kiên quyết tách khỏi Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Pháp Bruno Le Maire cho rằng các nước châu Âu phải giảm sự phụ thuộc vào một số cường quốc, đặc biệt là Trung Quốc, về nguồn cung ứng một số sản phẩm nhất định và tăng cường quyền làm chủ trong các chuỗi giá trị chiến lược, chẳng hạn như trong lĩnh vực tự động hóa, hàng không vũ trụ và dược phẩm. Tuy nhiên, thuật ngữ được nhắc đến nhiều nhất hiện nay trong giới quan chức châu Âu là đa dạng hóa.

Mặc dù có thể có một số lĩnh vực chọn lọc mà trong đó việc đưa các cơ sở sản xuất trở lại trong nước là điều cần làm, nhưng không ai cho rằng chính sách tự cung tự cấp của châu Âu là khả thi hay thậm chí các quốc gia gần gũi về địa lý với châu Âu có thể đóng vai trò thay thế cho Trung Quốc. Tuy vậy, ưu tiên rõ ràng của châu Âu là tái cân bằng để phụ thuộc quá mức vào một nhà cung ứng duy nhất, đặc biệt là khi những nghi ngờ về tính minh bạch, mức độ đáng tin cậy và quan điểm của nhà cung cấp này về việc biến vị thế của mình thành lợi thế đã trở nên quá rõ ràng. Một số công ty châu Âu đã bắt đầu tái cân bằng theo hướng tách khỏi Trung Quốc do sự gia tăng về chi phí, sức ép thuế quan và các giới hạn đối với việc chuyển giao linh kiện và quyền sở hữu trí tuệ. Sự dịch chuyển ra xa hơn và nhanh chóng hơn chắc chắn cần phải được hỗ trợ. Tokyo đã phân bổ 2,2 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế sau đại dịch COVID-19 để giúp các nhà sản xuất Nhật Bản đưa dây chuyền sản xuất của họ ra khỏi Trung Quốc, trong khi Mỹ đang xem xét ưu đãi thuế và trợ cấp nhằm giúp các công ty nước này giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng và sức sản xuất của Trung Quốc.

Tuy nhiên, đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng. Một số lựa chọn thay thế hiển nhiên – chẳng hạn như Việt Nam, nước đã ký với EU một thỏa thuận thương mại tự do mở rộng – 9dang phải đối mặt với những hạn chế về năng lực, từ giá đất và chi phí logistic cho đến lực lượng lao động lành nghề sẵn có. Nếu các doanh nghiệp châu Âu muốn tránh các cuộc chiến đấu thầu trong bối cảnh Tokyo và Washington cũng đang có những nỗ lực tương tự, thì việc vội vàng chuyển dây chuyền sản xuất sang các địa điểm trong chiến lược “Trung Quốc + 1” sẽ là không đủ. Từ châu Phi cho tới Tây Balkan, chính phủ các nước châu Âu sẽ cần phối hợp các chiến lược của họ trong việc xây dựng các chuỗi cung ứng mạnh mẽ hơn với các đối tác cùng chí hướng, cũng như đưa ra các cam kết nghiêm túc về việc cung cấp nguồn lực nhằm xây dựng năng lực cần thiết bên ngoài Trung Quốc.

(còn tiếp)

Nguồn: Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu – 05/2020

CVĐQT số 05/2020