Vương quốc Anh trong thế giới hậu Brexit – Phần cuối


Từ tham vọng toàn cầu hóa đến chủ nghĩa duy ý chí ngoại giao

Với Brexit, Vương quốc Anh được kỳ vọng sẽ lại trở thành một nhân tố hàng đầu, có sức nặng ngoại giao. Tóm lại, nước này sẽ tạo ra một tiếng nói mới trên trường quốc tế, tiếng nói của “Nước Anh toàn cầu”. Sự tái định hướng chiến lược này dẫn đến việc đổi mới các thể chế của Anh. Ngay từ năm 2016, Thủ tướng Anh Theresa May đã thành lập Bộ Thương mại quốc tế, trong khi vào năm 2020, Bộ Ngoại giao Vương quốc Anh đã sáp nhập với Bộ Phát triển quốc tế của nước này. Một cơ quan mới được hình thành, mang tên Văn phòng Đối ngoại, Khối thịnh vượng chung và phát triển (FCDO), nhằm tối đa hóa ảnh hưởng toàn cầu của Vương quốc Anh, kết hợp ngoại giao với hỗ trợ phát triển. Về phía Bộ Quốc phòng, tuy không có sự cải tổ về cơ cấu, nhưng có một sự gia tăng đáng kể ngân sách được phân bổ, – tháng 11/2020, Thủ tướng Anh Boris Johnson đã tuyên bố chi thêm 24 tỷ bảng Anh dành cho quốc phòng trong 4 năm tiếp theo.

Đối với Vương quốc Anh hậu Brexit, chiến lược “Nước Anh toàn cầu” lúc này là một mong muốn hơn là một chính sách hiệu quả. Mùa Hè 2021, việc Taliban trở lại cầm quyền ở Afghanistan đã thử thách tham vọng toàn cầu hóa của Anh. Trước giờ Kabul bị đánh chiếm, Thủ tướng Anh Boris Johnson, và Bộ trưởng Ngoại giao Anh Dominic Raab còn đang nghỉ hè. Sân bay bay Kabul tràn ngập những người đang cố chạy trốn khỏi cuộc khủng bố sắp tới, nhưng Raab thì bặt vô âm tín. Ông ủy quyền, trì hoãn, cuối cùng quay trở lại London và từ chức vào tháng 9, do không theo kịp tình hình. Tháng 11, Raphael Marshall, người phụ trách bộ phận xử lý khủng hoảng của Bộ Ngoại giao Anh trong quá trình sơ tán khỏi Kabul, đã cung cấp cho Quốc hội Anh một bằng chứng không thể chối cãi: sự hỗn loạn và vô số những quyết định thiếu sáng suốt trong những ngày tháng 8 nước sôi lửa bỏng đã khiến hàng nghìn người có thể trông cậy vào sự bảo vệ của Anh đã bị bỏ rơi.

Từ khát vọng thống nhất đến một đất nước bị chia rẽ

Cuộc bỏ phiếu về việc Anh “đi” hay “ở lại” EU, và việc tổ chức cuộc trưng cầu ý dân trước đó đã không thể dẫn tới một tính toán hợp lý nhằm đưa nước Anh vào một tiến trình chinh phục các thị trường trên thế giới. Người đứng sau cuộc trưng cầu ý dân này, cựu Thủ tướng David Cameron, đã coi đây là cơ hội để chấm dứt hoàn toàn sự chia rẽ giữa những người ủng hộ và những người bài châu Âu trong đảng Bảo thủ Anh. Những căng thẳng giữa Scotland và Anh không phải là mới, nhưng Brexit đã khiến chúng trở nên nghiêm trọng hơn, bởi phần lớn người dân Scotland đã bỏ phiếu chọn “ở lại” trong cuộc trưng cầu ý dân năm 2016.

Về phía Bắc Ireland, người dân không mấy thích nghi với tình hình hiện tại. Boris Johnson đã không giữ lời hứa mà ông đã đưa ra ở Belfast rằng việc “ly hôn” với EU sẽ không bao giờ gây thiệt hại cho sự đoàn kết giữa Anh và Bắc Ireland. Thế nhưng, chính Nghị định thư Ireland và Bắc Ireland, một phần của thỏa thuận Brexit giữa Anh và EU, lại là nguồn gốc gây rắc rối. Để duy trì tính toàn vẹn của thị trường chung châu Âu, mà Cộng hòa Ireland là thành viên, và các hiệp định hòa bình Ireland, theo đó hai miền Ireland không thể tách rời nhau, hàng hóa quá cảnh giữa Anh và Bắc Ireland phải chịu các hạn chế, khai báo và kiểm tra giống như các sản phẩm đến một quốc gia EU. Nói tóm lại, ở Bắc Ireland, Brexit vẫn chưa kết thúc.

Brexit: một vương quốc tan rã?

Cùng với thời gian, những vấn đề khác đã được đặt ra trong đời sống chính trị và xã hội của Anh. Đặc biệt, vào tháng 12/2021, thất bại của đảng Bảo thủ trong cuộc bầu cử lập pháp tại North Shropshire cho thấy những cái buộc tham nhũng liên quan đến chính phủ đảng Bảo thủ được quan tâm hơn so với sự phân cực của Vương quốc Anh vì Brexit. Những bất bình đẳng kinh tế-xã hội sẽ không mất đi sau Brexit trừ khi chúng được giải quyết bằng con đường chính trị.

Đối với những người ủng hộ “rời khỏi EU”, lựa chọn này đồng nghĩa với việc Anh có thể lấy lại sự tự do, vượt qua được những rào cản đối với thương mại phi điều tiết, nêu cao bản sắc nước Anh. Tuy nhiên, kể từ ngày 31/01/2020, việc rời khỏi EU, các hiệp ước và các quy tắc hậu Brexit đã khiến những rắc rối xuất hiện, thay vì khiến chúng biến mất. Mọi thứ cần được xây dựng lại: các chuẩn mực thương mại, các mối quan hệ đa phương, sự thống nhất quốc gia. Brexit đã được định hình, sự giải phóng của Anh dường như không chỉ là một chiến lược, một khát vọng, mà là một giấc mơ về quyền lực, tự do, thống nhất được nuôi dưỡng không phụ thuộc vào thực trạng của thế giới ngày nay. Cùng với thời gian, Vương quốc Anh có thể biến giấc mơ này thành hiện thực. Với tất cả những điểm yếu của nó, đất nước này vẫn là một cường quốc kinh tế – đứng thứ 6 thế giới – và có một quyền lực mềm mạnh hơn mức trung bình. Nhưng trước mắt, sự hứa hẹn mà Brexit mang lại vẫn còn xa vời thực tế.

Nguồn: TLTKĐB – 29/07/2022

Advertisement

Vương quốc Anh trong thế giới hậu Brexit – Phần đầu


Sáu năm sau cuộc trưng cầu ý dân, 2 năm sau khi chính thức rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) và 1 năm sau khi kết thúc giai đoạn chuyển tiếp, Vương quốc Anh hiện ra sao?

Brexit là một sự hứa hẹn về tự do. Vượt ra khỏi vòng kiềm tỏa của châu Âu, Vương quốc Anh sẽ có sự tự do trong thương mại quốc tế, chính sách đối ngoại và chính sách đối nội. Đất nước này sẽ tìm lại chủ quyền và bản sắc của mình. Tuy nhiên, Brexit bị giằng xé giữa những hứa hẹn khiến nó tồn tại và những hậu quả cụ thể đang tiếp diễn hay đôi khi mới chỉ bắt đầu bộc lộ.

Từ hy vọng đến thực tế

Những người ủng hộ Brexit coi EU và hoạt động của liên minh này là một trở ngại cho thương mại tự do. Quan điểm này có thể gây bất ngờ với Pháp, vì cánh tả nước này vẫn bảo vệ quan điểm cho rằng EU về cơ bản là “cực kỳ tự do”. Nhưng theo quan điểm của London, EU thực sự là một trở ngại cho thị trường tự do. Thứ nhất, thị trường châu Âu phải tuân theo một số biện pháp quản lý, đặc biệt là các tiêu chuẩn chất lượng đối với các sản phẩm mà châu Âu nhập khẩu. Tiếp theo, theo “Vote Leave” (chiến dịch vận động bỏ phiếu ủng hộ việc Anh rời khỏi EU – ND), EU không có khả năng và cũng không mong muốn ký kết các hiệp định thương mại tự do mới. Theo Boris Johnson, nhà lãnh đạo đầu tiên của Anh ủng hộ Brexit, rời khỏi EU đồng nghĩa với sự bừng tỉnh sau một “giấc ngủ đông kéo dài hàng thập kỷ”.

Năm 1973, khi Vương quốc Anh gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu, 21% trao đổi thương mại của Anh được thực hiện với một trong sáu quốc gia thành viên (Pháp, Đức, Italy, Bỉ, Hà Lan và Luxembourg). Tỷ trọng này tăng lên 44% trong 20 năm, và vào đầu những năm 2000, còn đạt mức cao nhất khi vượt trên 50%. Trước cuộc trưng cầu ý dân vào năm 2016, 42% hàng hóa xuất khẩu và 53% hàng hóa nhập khẩu của Anh được thực hiện với EU. Do vậy, Vương quốc Anh sẽ gặp khó khăn khi không còn là thành viên của EU. Đặc biệt vì đẳng sau những con số nói trên, toàn bộ nền kinh tế của Vương quốc Anh được định hình bởi và cho các trao đổi thương mại này.

Nền kinh tế Vương quốc Anh đã có sự hội nhập sâu rộng với 27 nước thành viên EU. Thị trường chung của EU được xây dựng từ năm 1992, dựa trên sự di chuyển tự do của hàng hóa, con người, dịch vụ và vốn. Do vậy, không chỉ các hàng hóa, ô tô Đức và rượu whisky của Scotland, mà còn rất nhiều người đi qua biên giới Anh-châu Âu: biên giới quốc tế giữa Vương quốc Anh và Cộng hòa Ireland ghi nhận hơn 30 triệu lượt người qua lại mỗi năm, và đường hầm qua eo biển Manche có 20 triệu lượt người qua lại mỗi năm – vì nó kết nối trực tiếp London với ba thủ đô của châu Âu: Paris, Brussels và Amsterdam.

Không có gì ngạc nhiên khi trong những điều kiện này, việc rời bỏ thị trường chung châu Âu sẽ gây ra những tác động kinh tế ở mọi cấp độ. Ở cấp độ kinh tế vĩ mô, việc rời khỏi EU làm giảm 15% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Vương quốc Anh. Nhưng còn hơn thế nữa, khi nhìn kỹ vào nền kinh tế, chúng ta thấy được những tác động của Brexit. Các odanh nghiệp vừa và nhỏ của Vương quốc Anh chiếm một nửa lĩnh vực thương mại. Các doanh nghiệp này chắc hẳn phải chịu những tác động của Brexit “cứng” thông qua Thỏa thuận thương mại hậu Brexit, vốn được ký kết vài ngày trước thời hạn kết thúc đàm phán ngày 31/12/2020. Phải thừa nhận rằng thỏa thuận này, như Boris Johnson đã chỉ ra, bao gồm các miễn trừ thuế hải quan đối với các trao đổi thương mại giữa 27 nước thành viên EU, nhưng chỉ áp dụng đối với các sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ từ những nước này. Đặt vấn đề thuế quan này sang một bên, còn phải kể đến việc xây dựng lại tất cả các luật, tập quán, nghề nghiệp và vấn đề kèm theo như hộ chiếu bắt buộc, khai báo xuất nhập khẩu, nộp thuế VAT và các thủ tục ít nhiều tốn kém khác. Kết quả là theo khảo sát của Phòng Thương mại Anh, một nửa doanh nghiệp, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, báo cáo hoạt động xuất khẩu hàng hóa của họ gặp khó khăn kể từ sau Brexit. Theo những người ủng hộ Brexit, Brexit cho phép giảm bớt thủ tục giấy tờ và sự quan liêu – vốn được coi là “đặc trưng” của EU. Do vậy, khi Chính phủ Anh làm phiếu khảo sát lấy ý kiến của doanh nghiệp về trở ngại đối với thương mại tự do cản trở sự thịnh vượng của Vương quốc Anh, người ta sẽ viết từ “Brexit”.

Nhưng ngoài những phức tạp không thể tránh khỏi này, “canh bạc kinh tế” của Brexit dựa trên những ý tưởng đi ngược lại tinh thần của thời đại, nếu không muốn nói là sai lầm. Sau tất cả, việc định hướng lại nền kinh tế Anh sang các đối tác thương mại khác là một chiến lược có tính thuyết phục và hiện đang mang lại những thành quả, mặc dù còn chậm. Mỹ, thị trường thứ hai cảu Vương quốc Anh sau EU, có vị trí ngày càng quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của Anh, chiếm 21% lượng hàng hóa xuất khẩu của nước này vào năm 2020. Australia, Albania và Việt Nam là một số quốc gia đã ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với Anh kể từ Brexit. Tuy nhiên, mong muốn bằng mọi giá phát triển các thỏa thuận thương mại trong khi bỏ qua khoảng cách địa lý dường như hết sức lỗi thời.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 29/07/2022

Sức hút của Việt Nam với châu Âu, nhìn từ trường hợp các công ty Đan Mạch


Theo trang mạng dw.com của Đức ngày 7/9, các công ty Đan Mạch đang gia tăng sự hiện diện tại Việt Nam khi Hà Nội nhanh chóng gia tăng giá trị và trở thành trung tâm sản xuất công nghệ quan trọng. Kể từ khi Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA) có hiệu lực vào tháng 8/2020, thương mại và đầu tư từ châu Âu đã tăng mạnh.

Năm 2022, Đan Mạch trở thành nhà đầu tư lớn tại Việt Nam khi Tập đoàn đồ chơi LEGO của nước này cam kết đầu tư trị giá 1 tỷ USD (1,01 tỷ euro) để xây dựng nhà máy đầu tiên tại Việt Nam. Đây sẽ là nhà máy trung hòa carbon đầu tiên của tập đoàn LEGO.

Cùng với việc nhanh chóng trở thành trung tâm sản xuất công nghệ cao khi các tập đoàn công nghệ như Apple và Samsung gần đây đã công bố mở rộng hoạt động tại Việt Nam, Việt Nam cũng đang đầu tư mạnh vào năng lượng tái tạo để tiến tới không phát thải ròng vào năm 2050. Việt Nam có tốc độ tăng trưởng sản xuất năng lượng tái tạo nhanh nhất Đông Nam Á.

Tập đoàn năng lượng lớn nhất của Đan Mạch, Orsted, đã cam kết đầu tư tới 13,6 tỷ USD cho trang trại điện gió 3,9 gigawatt (GW) ở các tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận. Một đại diện của tập đoàn Orsted cho biết các dự án đầu tiên liên quan đến khoản đầu tư này sẽ sản xuất điện vào năm 2030. Tháng 8/2022, tập đoàn Orsted ký thỏa thuận với công ty con của tập đoàn PetroVietnam nhằm hợp tác trong một số dự án năng lượng tái tạo.

Sức hút của Việt Nam

Trưởng phòng Thương mại tại Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội, ông Troels Jakobsen cho biết: “Đan Mạch và Việt Nam có mối quan hệ rất chặt chẽ và năm 2021, hai nước đã kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, vì vậy, Việt Nam luôn là điểm đến đầu tư quan trọng của các công ty Đan Mạch. Số công ty Đan Mạch ở Việt Nam nhiều gấp hai lần số công ty của các nước Bắc Âu khác cộng lại… Ngày càng có nhiều công ty đang hướng tới đa dạng hóa chuỗi cung ứng, và tại đây, Việt Nam xếp top đầu trong danh sách các công ty Đan Mạch mong muốn mở rộng ở châu Á”.

Đầu tháng 8/2022, Đại sứ quán Việt Nam tại Đan Mạch đã xuất bản cuốn cẩm nang tiếng Việt cho các doanh nghiệp về thị trường Scandinavia. Vài ngày sau, một phái đoàn nông sản Đan Mạch đã đến thăm Việt Nam để thúc đẩy mối quan hệ giữa các ngành. Trong tháng 9/2022, Đại sứ quán cũng tổ chức diễn đàn về chuyển đổi xanh và kỹ thuật số của Việt Nam, torng khi Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Đan Mạch diễn ra tại Copenhagen vào ngày 5/9.

Đầu tháng 11/2022, các công ty Đan Mạch sẽ tháp tùng Thái tử Frederik trong chuyến thăm thương mại Việt Nam.

Việt Nam ngày càng hấp dẫn

Thế giới đang tồn tại các xu hướng sản xuất “offshoring” (hoạt động ra nước ngoài) và “nearshoring” (đưa sản xuất về gần chính quốc). Chuyên gia kinh tế cấp cao phụ trách khu vực châu Á mới nổi tại ngân hàng đầu tư và doanh nghiệp Pháp Natixis, bà Trịnh Nguyễn cho rằng, những năm gần đây, Việt Nam ngày càng hấp dẫn với tư cách là một trung tâm sản xuất. Việt Nam đã nhanh chóng thăng hạng giá trị gia tăng và đang nhanh chóng trở thành trung tâm quan trọng cho sản xuất công nghệ.

Tháng 8/2022, tập đoàn Apple thông báo sẽ bắt đầu sản xuất các sản phẩm đồng hồ Apple Watch và máy tính MacBook tại Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Tập đoàn Samsung là nhà đầu tư và xuất khẩu nước ngoài lớn nhất của Việt Nam. Bà Trịnh Nguyễn cho rằng Việt Nam cũng tiếp tục thu thút đầu tư khi nước láng giềng Trung Quốc kiên trì với chính sách “Zero COVID” và khi các công ty quốc tế tìm cách rời khỏi Trung Quốc trong bối cảnh Bắc Kinh căng thẳng địa chính trị với phương Tây.

Hơn hết, VIệt Nam có vị trí thuận lợi, gần với Trung Quốc và các thị trường khác, đồng thời cũng đang nâng cấp cơ sở hạ tầng kết nối.

Năng lượng là yếu tố then chốt

Yếu tố then chốt cho các nhà đầu tư châu Âu và EVFTA, thỏa thuận này cắt giảm gần như toàn bộ thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam vào các thị trường châu Âu.

Một điểm hấp dẫn khác đối với các doanh nghiệp Đan Mạch là Việt Nam thúc đẩy năng lượng tái tạo. Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Đan Mạch gần đây, Thứ trưởng Ngoại giao Đan Mạch phụ trách thương mại và bền vững toàn cầu Lina Hansen lưu y rằng năng lượng là yếu tố quyết định chính cho đầu tư vào VIệt Nam.

Việt Nam hiện nằm trong số 10 nhà sản xuất điện mặt trời hàng đầu thế giới, tạo ra hơn 11% nhu cầu điện từ năng lượng mặt trời. Với bờ biển dài 3.260 km, Việt Nam cũng đang đầu tư rất nhiều vào năng lượng gió. Hiện tại, Việt Nam có công suất điện mặt trời và gió lần lượt vào khoảng 16,6 GW và 0,6 GW, nhưng chính phủ muốn nâng tổng công suất lên 20 GW vào năm 2030.

Ông Sebastian Hald Buhl, Giám đốc quốc gia của Tập đoàn Orsted (đang đầu tư hàng tỷ USD xây dựng các cơ sở điện gió tại Việt Nam) cho biết: “Việt Nam có lợi thế tự nhiên đẳng cấp thế giới về gió ngoài khơi. Với 3000 km đường bờ biển, độ sâu mực nước nông và tốc độ gió ổn định cao, Việt Nam có các điều kiện tuyệt vời để phát triển các dự án gió ngoài khơi ổn định và có chi phí cạnh tranh”.

Nguồn: TKNB – 09/09/2022

Giải mã tâm lý chống Nga ở châu Âu – Phần cuối


Cuộc xung đột trên lãnh thổ Ukraine về cơ bản đã khiến các nước EU quan tâm hơn tới việc đảm bảo an ninh của chính họ. Tuy nhiên, các quyết định trong lĩnh vực này chủ yếu được đưa ra trong khuôn khổ NATO và do đó nằm ngoài phạm vi phân tích của bài viết này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong Tuyên bố Versailles, các nhà lãnh đạo EU rất chú trọng đến việc phát triển tiềm lực quốc phòng, nhất trí về sự cần thiết phải tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng và đẩy mạnh đầu tư vào các dự án chung và mua sắm quốc phòng chung. Trong bối cảnh các hành động của EU trong lĩnh vực quốc phòng, “La bàn chiến lược” được thông qua tại cuộc họp của Hội đồng EU vào ngày 21/3 cũng nên được đề cập tới. Văn kiện này trình bày tầm nhìn chiến lược tổng thể của EU trong 5 – 10 năm tới. Dự thảo văn kiện đã được soạn thảo trong một thời gian khá dài, nhưng tất nhiên cũng đã có những thay đổi đáng kể trong tháng qua. Người ta cho rằng Nga là mối đe dọa chính trong dài hạn được xác định trong “La bàn chiến lược”. Văn kiện này đưa ra một số biện pháp ngắn hạn và trung hạn để nâng cao năng lực quốc phòng và hành động của EU. Để thực hiện các biện pháp này, các quốc gia thành viên dự kiến sẽ tăng chi tiêu quốc phòng và đưa ra lộ trình tương ứng vào tháng 5/2022. Nhìn chung, “La bàn chiến lược” dánh dấu sự thay đổi và lâu dài trong quan điểm của EU đối với Nga, đối đầu với quốc gia này giờ đây trở thành nhiệm vụ quan trọng nhất của Chính sách an ninh và quốc phòng chung của EU.

Thụy Điển và Phần Lan đang nhanh chóng thay đổi quan điểm về khả năng trở thành thành viên NATO. Ở cả hai nước đều diễn ra các cuộc thảo luận chính trị sôi nổi về vấn đề này. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy ngày nay phần lớn dân số các nước này ủng hộ việc gia nhập Liên minh. Ví dụ, Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin phát biểu tại Đại hội Đảng Dân chủ Xã hội ngày 2/4: “Nga không phải là nước láng giềng như chúng ta đã thấy”, do đó, điều quan trọng cơ bản là phải “cẩn thận nhưng nhanh chóng” nghiên cứu vấn đề gia nhập NATO.

Các sự kiện trong tháng 2 – 3/2022 đảm bảo sự thống nhất cao của các nước EU cả về đánh giá tình hình và chiến lược đối với Nga, cũng như về hành động thực tế. Như bà Ursula von der Leyen lưu ý, Moskva “không lường trước được sự đoàn kết, tốc độ hành động và sự quyết đoán của chúng ta”. Để hiểu được tình cảm chống Nga đang thống trị ngày nay ở EU và trong cộng đồng các nước phương Tây nói chung, cần xem xét ý tưởng của Thủ tướng Canada Justin Trudeau, được ông này bày tỏ trong bài phát biểu tại Nghị viện châu Âu hôm 23/3. Theo ông, Moskva nghĩ rằng dân chủ là yếu kém, nhận thấy sự bất đồng giữa các nước phương Tây và cho rằng đó là điểm yếu, nhưng chính cường độ các cuộc thảo luận của các nước này, sự tham gia của xã hội dân sự (trong các cuộc thảo luận này) đã làm cho họ trở nên mạnh mẽ; phương Tây đã có lúc không duy trì được trạng thái tốt nhất trong những năm gần đây, và Moskva nghĩ rằng phương Tây đang bị chia rẽ, rằng Nga có thể làm suy yếu EU và NATO, nhưng Moskva đã tính toán sai và giờ đây đã nhận được câu trả lời. Sự thống nhất của các nước phương Tây trên cơ sở chống Nga đồng nghĩa với việc đưa thế đối đầu về ý thức hệ, kinh tế và quân sự-chính trị lên một tầm cao mới.

Phản ứng của EU đối với cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy sự phối hợp tốt một cách bất thường giữa hành động của nhiều bên. Điều này cho phép chúng ta kết luận rằng sự đoàn kết của phương Tây đã được khôi phục. Chính sách trừng phạt của EU có liên quan mật thiết đến các quyết định của Mỹ. Các hành động của EU và NATO trong lĩnh vực an ninh ngày càng đồng bộ với nhau. Việc điều phối chung được tiến hành trong khuôn khổ G7. Một ví dụ điển hình là các hội nghị thượng đỉnh của EU, NATO và G7 diễn ra gần như đồng thời (24 – 25/3). Các đối tác thân thiết thường xuyên được mời tham gia các cuộc họp của EU và NATO ở cấp cao nhất và cấp bộ trưởng. Ví dụ, đại diện của Ukraine, Gruzia, Phần Lan, Thụy Điển, Australia, New Zealand, Nhật Bản và Hàn Quốc đã được mời tham dự cuộc họp của các ngoại trưởng NATO vào ngày 6 và 7/4.

Nhiều quốc gia, vốn kiềm chế không thực hiện các biện pháp trừng phạt chống Nga vào những năm trước, thì gần đây đã bắt đầu tham gia. Tiêu biểu phải kể đến Thụy Sỹ, quốc gia đã áp dụng các biện pháp trừng phạt dù có quan điểm trung lập, cùng với đó là Na Uy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia và New Zealand. Hiện danh sách các quốc gia không thân thiện được chính phủ Liên bang Nga phê duyệt đã bao gồm 48 quốc gia.

Vì vậy, cuộc đối đầu không còn là giữa Nga và phương Tây, mà là giữa Nga và phương Bắc, bao gồm hầu hết tất cả các nước có nền kinh tế phát triển, đoàn kết với nhau bởi sự thấu hiểu chung về các giá trị dân chủ và cam kết với trật tự thế giới phương Tây và sự lãnh đạo của Mỹ.

Đồng thời, một bộ phận đáng kể của cộng đồng quốc tế cũng tránh xa các hành động chống Nga. Trong số này phải kể đến Trung Quốc, Ấn Độ và các nước OPEC quan trọng. Trong tương lai, điều này có thể sẽ chia cắt thế giới một cách có hệ thống thành hai nửa Tây Bắc và Đông Nam. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, đối với các quốc gia nói trên (bao gồm cả Trung Quốc), quan hệ kinh tế với phương Tây vẫn có tầm quan trọng chiến lược. Do đó, sự hỗ trợ mà Nga có thể nhận được từ họ là rất hạn chế, đặc biệt là trong các hoạt động kinh tế có thể làm giảm tác dụng của các lệnh trừng phạt.

Tất nhiên, xung đột đang diễn ra có liên quan đến sự hình thành trật tự thế giới trong tương lai. Trong 15 năm qua, Moskva đã xây dựng chính sách đối ngoại của mình trên cơ sở xu hướng hình thành hệ thống quốc tế đa trung tâm và giảm thiểu cơ hội thống trị của phương Tây. Đồng thời, các nước phương Tây nhất quán thúc đẩy mô hình toàn cầu hóa của phương Tây và dựa vào mô hình an ninh lấy NATO làm trung tâm, phớt lờ lời kêu gọi của Moskva về xây dựng mối quan hệ trên cơ sở nguyên tắc an ninh không chia tách. Việc các nước phương Tây không muốn thảo luận nghiêm túc về những mối quan tâm cơ bản của Nga đã thúc đẩy Moskva theo đuổi đường lối chính sách đối ngoại ngày càng cứng rắn.

Hồi năm 2015, Chủ tịch Hội đồng Đối ngoại Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC), cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nga Igor Ivanov đã lưu ý về sự tồn tại của “những khác biệt cơ bản trong quan điểm về thế giới hiện đại, về các xu hướng thống trị trong nền chính trị thế giới, về các đặc trưng đáng mong muốn và cần thiết của trật tự thế giới trong tương lai”. Việc giải quyết những khác biệt về lợi ích địa chính trị của các bên đã trở nên phức tạp hơn do yếu tố ý thức hệ, vốn được phương Tây hiểu là sự cạnh tranh giữa cộng đồng các nước dân chủ và các cường quốc chuyên chế.

Trong nhiều năm, các nước phương Tây tin rằng họ sẽ có thể duy trì sự cân bằng giữa việc kiềm chế Nga và hợp tác thiết thực mang tính xây dựng. Rõ ràng, họ đã đánh giá thấp khả năng Moskva sẵn sàng từ bỏ cuộc chơi chiến thuật để chuyển sang lựa chọn chiến lược.

Ngày nay, các quốc gia EU và rộng hơn là các nước phương Tây/phương Bắc không nhận thấy cơ hội trong trung hạn để trở lại sự cân bằng của thập kỷ trước. Một bộ phận giới chính trị và doanh nhân ở các quốc gia hàng đâu châu Âu (Đức, Pháp, Italy), vốn từng áp dụng cách tiếp cận thực dụng đối với Nga, đã buộc phải xem xét lại lập trường của mình. Quan điểm chung là đối đầu có hệ thống lâu dài với Nga đồng thời giảm thiểu thiệt hại về kinh tế của chính họ và hạn chế sự suy thoái trong lĩnh vực quân sự-chính trị. Hiện tại, các cuộc tiếp xúc với Nga chỉ giới hạn trong vấn đề ngừng bắn trên lãnh thổ Ukraine. Điều này được thể hiện rõ nét trong các hoạt động của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.

Động thái của các lệnh trừng phạt và áp lực khác từ EU đối với Nga sẽ liên quan trực tiếp đến diễn biến của các sự kiện trên lãnh thổ Ukraine. VIệc ra quyết định về các biện pháp trừng phạt mới sẽ tính đến sự cân bằng giữa tác động tiềm tàng đối với Nga và tác động tiêu cực tiềm tàng đối với các nước EU. Trong trường hợp xảy ra leo thang, các biện pháp rất có thể sẽ bao gồm việc loại bỏ cơ chế tối huệ quốc trong thương mại, cấm tàu Nga vào các cảng châu Âu và cấm/hạn chế cung cấp than và dầu (quyết định này có thể được thực hiện trên phạm vi EU, hoặc bởi một số lượng đáng kể các quốc gia thành viên trong trường hợp không có sự đồng thuận). Cùng với việc đạt được một lệnh ngừng bắn kéo dài trên lãnh thổ Ukraine, các biện pháp trừng phạt riêng lẻ có thể được gỡ bỏ trong khi áp lực kinh tế và tài chính chiến lược đối với Nga vẫn được duy trì.

Dù các điều kiện cụ thể để giải quyết cuộc khủng hoảng Ukraine là gì, thì về lâu dài, khả năng bảo vệ các lợi ích quốc gia quan trọng của Nga cũng sẽ phụ thuộc vòa khả năng tạo động lực cho sự phát triển bền vững trong nước.

Nguồn: Trang mạng Hội đồng Đối ngoại Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC)

CVĐQT – số 5/2022

Giải mã tâm lý chống Nga ở châu Âu – Phần II


Chiến lược truyền thống của châu Âu là thụ hưởng các lợi ích về an ninh dưới sự bảo trợ của Mỹ đã trở thành chuyện của quá khứ. Tất nhiên, việc thực hiện nhiều kế hoạch đã công bố sẽ mất thời gian và không phải điều gì cũng sẽ suôn sẻ như kế hoạch, nhưng những thay đổi uan trọng nhất về tư tưởng đã diễn ra.

Vào những ngày cuối tháng 2, hướng hành động chính của các nước EU đã trở nên rõ ràng hơn: hỗ trợ tài chính và nhân đạo cho Ukraine, các biện pháp trừng phạt quy mô lớn và linh hoạt chống lại Nga, hỗ trợ quân sự-kỹ thuật cho Ukraine, cũng như các nỗ lực ngoại giao trung gian nhằm giải quyết các vấn đề nhân đạo và ngừng bắn.

Vào ngày 28/2, EU đã khởi động Cơ chế bảo vệ dân sự để hỗ trợ nhân đạo. Đến ngày 15/3, các nước EU, cũng như Thổ Nhĩ Kỳ và Na Uy, đã cung cấp cho Ukraine khoảng 2000 tấn hàng viện trợ nhân đạo (viện trợ y tế, thiết bị cứu hỏa, máy phát điện, nhiên liệu…).

EU đã đưa ra các biện pháp trừng phạt mạnh mẽ bất ngờ nhằm vào Nga. Các biện pháp này được thông qua nhanh chóng và có sự phối hợp cao giữa các quốc gia. Trong số đó phải kể đến lệnh cấm giao dịch với một loạt ngân hàng chủ chốt của Nga, đóng băng tài khoản của Ngân hàng Trung ương Nga, đóng cửa không phận, hạn chế chuyển giao công nghệ và nhiều vấn đề khác. Đồng thời, các nước EU cho thấy sự đoàn kết bất ngờ. Theo thủ tướng Thụy Điển Magdalena Anderson, gói trừng phạt đầu tiên (ngày 24/2) được thông qua trong vòng chưa đầy 20 phút. Ngay cả những quốc gia luôn tìm cách duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng với Moskva như Hungary, Hy Lạp và Cộng hòa Cyprus cũng ủng hộ tất cả các quyết định trừng phạt vào tháng 2 và tháng 3 của EU.

Đúng như dự đoán, bất đồng về lập trường đã xuất hiện trong vấn đề năng lượng. Vấn đề này xuất hiện từ tháng 2, khi EU quyết định loại 7 ngân hàng lớn của Nga khỏi hệ thống SWIFT. Trong khi đó, Đức, Italy và Hungary khẳng định không nên áp dụng các biện pháp này đối với Sberbank và Gazprombank, vì các ngân hàng này là kênh thanh toán chính cho các nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga.

Theo đánh giá của Eurostat, nguồn nhập khẩu từ Nga năm 2021 chiếm khoảng 40% khí đốt, 27% dầu và 46% than được tiêu thụ. Đồng thời, ở một số nước Đông Âu (ví dụ như Hungary, Bulgaria, Slovakia), mức độ phụ thuộc còn cao hơn nhiều; do đó, việc từ bỏ các nguồn năng lượng của Nga trong những năm tới về cơ bản là không thể thực hiện. Và ở nhiều nước EU khác (bao gồm cả Đức, và ở mức độ thấp hơn là Italy), việc cắt đứt nguồn cung từ Nga sẽ không chỉ gây ra một cú sốc về giá mà còn hạn chế nguồn cung cho một nhóm nhà tiêu dùng công nghiệp. Trước tình hình đó, lời kêu gọi áp đặt lệnh cấm vận đối với mặt hàng năng lượng từ Nga, như dự đoán, đã không nhận được sự ủng hộ.

Tuy nhiên, cần hiểu rằng hiện nay, sự đồng thuận chiến lược đã được hình thành trong EU: Liên minh này không thể dựa vào một nhà cung cấp công khai đe dọa họ. Trong Tuyên bố Versailles, các nhà lãnh đạo EU đã bày tỏ ý định “loại bỏ sự phụ thuộc vào khí đốt, dầu mỏ và nhập khẩu than từ Nga càng sớm càng tốt”. Cần lưu ý rằng trong tình hình mới, họ không nói đến việc giảm bớt, mà là loại bỏ sự phụ thuộc.

Vào đầu tháng 3, Ủy ban châu Âu đã trình bày kế hoạch hành động dài hạn theo 3 hướng: đa dạng hóa nguồn cung khí đốt, chủ yếu thông qua việc tạo cơ hội mới cho nhập khẩu LNG; đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình tiết kiệm năng lượng; và phát triển hơn nữa năng lượng tái tạo. Theo ước tính của Ủy ban châu Âu, mà nhiều chuyên gia cho là lạc quan quá mức, trong vòng 1 năm, nhập khẩu từ Nga có thể giảm tới 2/3.

Tuy nhiên, diễn biến của các sự kiện, đặc biệt là trong bối cảnh Điện Kremlin yêu cầu chuyển tiền thanh toán khí đốt bằng đồng ruble, đã khiến nguy cơ cắt đứt nguồn cung từ Nga trong ngắn hạn (chủ yếu là nguồn cung khí đốt) hoàn toàn có cơ sở thực tế. Để nhanh chóng đối phó với rủi ro này, vào cuối tháng 3, EU đã thay đổi các quy tắc quản lý các cơ sở lưu trữ khí đốt và đưa ra một số biện pháp nhằm đảm bảo tỷ lệ dự trữ ở mức 80% trước ngày 01/11/2022. Theo quy định này, nhiều nước EU đã bắt đầu thực hiện các biện pháp khẩn cấp. Cụ thể, ngày 20/3, Đức tuyên bố đưa ra kế hoạch khẩn cấp trong lĩnh vực khí đốt. Về vấn đề này, Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habek cho biết: “HIện nay, mỗi KWh không sử dụng đều rất quan trọng. Tôi kêu gọi người tiêu dùng tư nhân và các công ty tiết kiệm khí đốt và các nguồn năng lượng khác để giúp chúng tôi, giúp nước Đức và giúp Ukraine”. Hiệp hội các tổ chức công đoàn và đại diện doanh nghiệp Đức lưu ý rằng việc ngừng cung cấp khí đốt từ Nga ngay lập tức sẽ dẫn tới những hậu quả kinh tế và xã hội nghiêm trọng, làm tăng giá cả gây ảnh hưởng tất cả các hộ gia đình ở Đức, và gây ra thiệt hại không thể khắc phục được đối với chuỗi cung ứng.

Tâm lý tương tự cũng được ghi nhận ở Italy, Áo và một phần đáng kể các nước Đông Âu thuộc EU. Về vấn đề này, EU nhiều khả năng sẽ không thể đưa ra bất kỳ biện pháp phối hợp ngắn hạn nào để cấm nguồn cung khí đốt từ Nga. Và mặc dù các nước EU, cùng với các đối tác G7, đã nhất trí tuyên bố từ chối thanh toán khí đốt của Nga bằng đồng ruble, nhưng hầu hết các nước thành viên vẫn muốn giảm thiểu nguy cơ Điện Kremlin ra quyết định cắt đứt nguồn cung.

Đồng thời, một số nước EU kiên quyết áp dụng các biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn trong lĩnh vực năng lượng. Nhóm này gồm Ba Lan và các nước Baltic, những nước đề nghị cấm tàu Nga (bao gồm tàu chở dầu) vào các cảng của EU. Quan điểm này cũng được Đan Mạch, Ireland và Slovenia ủng hộ. Trong các cuộc thảo luận chính trị – xã hội, các khoản thanh toán cho các tàu vận chuyển năng lượng của Nga ngày càng được hiểu theo cảm tính là “tài trợ chiến tranh”, “oxy cho cỗ máy quân sự Nga”. Một số nước EU (Ba Lan và Litva) đang chuyển sang hành động ở cấp quốc gia. Việc đưa ra lệnh cấm vận khí đốt có vẻ khó tin, nhưng nếu EU cảm thấy cần thiết phải ứng phó với căng thẳng leo thang ở Ukraine (đương nhiên là đổ lỗi cho Nga về sự leo thang này) thì không thể loại trừ việc áp đặt những hạn chế nhất định đối với việc cung cấp dầu mỏ hoặc than.

Lượng mua dầu mỏ, than đá và khí đốt từ Nga dự kiến sẽ giảm đáng kể ngay từ năm 2023. Trong vài năm tới, xu hướng này sẽ phát triển song song với sự gia tăng nguồn cung năng lượng từ các khu vực khác, và các hợp đồng cung cấp khí đốt hiện có sẽ hết hạn. Sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga hiện không chỉ được coi là mối đe dọa đối với an ninh năng lượng ở EU, mà còn là mối đe dọa an ninh trong lĩnh vực chính trị và thậm chí là quân sự – chính trị. Có lý do để tin rằng các nước EU sẽ nỗ lực hết sức để thực hiện các quyết định đã được đưa ra trong tháng 3, và sẵn sàng trả giá đáng kể cho việc này. Đồng thời, phải hiểu rằng các lệnh trừng phạt khó có thể tác động đến đường lối chính trị của Moskva.

Ngoài các biện pháp trừng phạt kinh tế mạnh mẽ chống lại Nga, EU đã có một bước đi mà trước đây dường như hoàn toàn bất khả thi. Vào ngày 28/2, EU thông báo cung cấp vũ khí phòng thủ sát thương cho Ukraine trị giá 450 triệu euro, và vào cuối tháng 3, EU thông báo phân bổ thêm 500 triệu euro cho mục đích này. Lần đầu tiên trong lịch sử, EU quyết định gửi vũ khí sát thương tới một quốc gia ngoài EU. Về vấn đề này, ông Joseph Borrell lưu ý: “Điều ày đã không còn là cấm kỵ nữa. Chúng tôi làm như vậy bởi cuộc chiến này đòi hỏi chúng tôi hỗ trợ cho quân đội Ukraine”. Điều này về cơ bản đã thay đổi mức độ tham gia của các quốc gia châu Âu vào cuộc xung đột và làm giảm khả năng đóng vai trò hòa giải mang tính xây dựng họ.

Tính đến ngày 22/3, 14 quốc gia châu Âu đã gửi vũ khí sát thương tới Ukraine, bao gồm: Bỉ, Cộng hòa Czech, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Đức, Hy Lạp, Latvia, Litva, Luxembourg, Hà Lan, Italy, Tây Ban Nha và Thụy Điển; một số quốc gia khác gửi vũ khí không mang tính sát thương. Pháp không công khai thông tin về việc cung cấp vũ khí. Cần lưu ý rằng sự thay đổi cơ bản trong quan điểm của Đức đã cho phép EU bắt đầu cung cấp vũ khí.

Đồng thời, một số nước EU cũng có lập trường đặc biệt. Trong đó, đáng lưu ý nhất là Hungary, vì quốc gia này không hỗ trợ quân sự cho Ukraine và thậm chí cấm vận chuyển vũ khí qua lãnh thổ của họ. Giải thích về lập trường của mình, Ngoại trưởng Hungary Peter Sziijarto ngày 31/3 cho biết: “Chúng tôi sẽ bảo vệ Hungary và nhân dân Hungary, và sẽ cố gắng hết sức để không bị lôi kéo vào cuộc chiến”.

(còn tiếp)

Nguồn: Trang mạng Hội đồng Đối ngoại Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC)

CVĐQT – số 5/2022

Giải mã tâm lý chống Nga ở châu Âu – Phần I


Cuộc khủng hoảng Ukraine là sự phản ánh những mâu thuẫn mang tính hệ thống đã tích tụ trong nhiều năm giữa Nga và phương Tây. Những mâu thuẫn này gắn liền với quá trình biến đổi của trật tự thế giới và xu hướng hình thành hệ thống quốc tế đa trung tâm. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ quan trọng là phải đánh giá một cách toàn diện và khách quan lập trường và hành động của Liên minh châu Âu (EU) với tư cách là một trong những cơ cấu then chốt của phương Tây, và những hành động mà EU có thể thực hiện trong ngắn và trung hạn.

EU đã phản ứng trước chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga trên lãnh thổ Ukraine một cách nhanh chóng, đoàn kết và tiêu cực. Trong hội nghị thượng đỉnh ngày 24/2, Hội đồng châu Âu đã mô tả đây là “một hành động xâm lược quân sự vô cớ và phi lý”. Kể từ sau đó, cụm từ nay được lặp lại thường xuyên, kể cả trong khuôn khổ nhóm các nước G7, qua đó xác định rằng Nga đã hành động dựa trên “những đòi hỏi viển vông và những tuyên bố vô căn cứ”. Trong các bài phát biểu của mình, một số nhà lãnh đạo các nước EU thậm chí còn đưa ra những đánh giá gay gắt hơn.

Tuyên bố Versailles, được đưa ra sau cuộc họp không chính thức của các nhà lãnh đạo EU vào ngày 10 – 11/3, đã ghi nhận quan điểm đồng thuận rộng rãi rằng hành động của Nga “dẫn đến sự thay đổi rất lớn trong lịch sử châu Âu”. Hội nghị thượng đỉnh NATO ngày 24/3 đánh giá hành động của Nga là nỗ lực “phá hủy nền tảng an ninh và ổn định quốc tế”. Quan điểm này được nhiều nước châu Âu chia sẻ, bao gồm cả những nước không nằm trong khối NATO.

Đã xuất hiện những điểm tương đồng với Chiến tranh thế giới thứ hai, khiến nhiều người bị sốc và không thể chấp nhận được. Quyết định của hai bang Bavaria và Hạ Saxony của Đức (được đưa vào hạ tầun tháng 3) hình sự hóa việc sử dụng công khai chữ “Z” như một biểu tượng của “sự xâm lược Nga” đối với Ukraine có ý nghĩa biểu tượng rõ ràng, giống như việ Đức cấm biểu tượng của Quốc xã trước đây. Tâm lý này đã trở nên bị kích động vào đầu tháng 4. Trong khi đó, các hành động bất hợp pháp, xét trên phương diện hợp tác quốc tế, của NATO trên lãnh thổ Nam Tưv à các nước phương Tây ở nhiều khu vực xung đột khác nhau không hề được đề cập đến trong các cuộc thảo luận công khai.

Phản ứng cực kỳ gay gắt đối với các hành động của Nga có liên quan đến một thực tế là Ukraine được người châu Âu coi như thành viên gia đình, và hành động gây hấn chống lại Ukraine bị coi là một cuộc tấn công nhằm vào một trong số họ. Chính vì lẽ đó mà Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen đã nhiều lần phát biểu: “Người dân Ukraine rất dũng cảm bảo vệ các giá trị châu Âu của chúng ta và là một phần của gia đình châu Âu”. Những tình cảm này hiện là đặc trưng của dư luận các nước EU và phần lớn giới tinh hoa chính trị. Ví dụ, Thủ tướng Italy Mario Draghi đã nói hôm 22/3: “Ngày nay, Ukraine đang bảo vệ hòa bình, tự do và an ninh của chúng ta. Họ bảo vệ trật tự đa phương dựa trên các quy tắc và luật pháp mà chúng ta đã dày công xây dựng nên trong thời kỳ hậu chiến. Italy vô cùng biết hơn các bạn”. Những tình cảm này phù hợp với quan điểm cho rằng Ukraine “chống Nga” và là tuyến đầu của cuộc đối đầu chiến lược.

Sự thay đổi thái độ đối với Ukraine đã tạo điều kiện cho một cuộc thảo luận thực chất về đề nghị gia nhập EU của nước này. Một số quốc gia EU – Ba Lan, Estonia, Latvia, Litva, Slovakia, Slovenia, Bulgaria, Cộng hòa Czech và Hungary – trong một tuyên bố chung đưa ra ngày 28/2 lưu ý r8àng triển vọng để Ukraine trở thành thành viên EU xứng đáng được xác nhận ngay lập tức. Hầu hết các nước EU nhất trí nên đưa ra “một tín hiệu chính trị mạnh mẽ” rằng Ukraine là một phần của gia đình châu Âu, nhưng thủ tục để nước này gia nhập EU cần được xem xét kỹ lưỡng. Trên thực tế, mọi thủ tục chỉ có thể thực hiện được sau khi kết thúc chiến tranh, và công tác chuẩn bị kết nạp thành viên sẽ mất nhiều thời gian. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, khi phát biểu bế mạc Hội nghị thượng đỉnh Versailles ngày 11/3, đã đưa ra lập trường thỏa hiệp như sau: “Hiện giờ chúng ta cần gửi một tín hiệu mạnh mẽ tới Ukraine, nhưng chúng ta phải có lý trí. Chúng ta có thể bắt đầu thủ tục kết nạp một quốc gia đang có chiến tranh hay không? Tôi không nghĩ vậy. Chúng ta có nên nói “không bao giờ” và gạt bỏ vấn đề này hay không? Như vậy sẽ là không công bằng”.

Phép thử đối với nhận thức về Ukraine ở châu Âu là thái độ đối với người tị nạn Ukraine. Theo Tổ chức Di cư Quốc tế, tính đến ngày 29/3, 4 triệu người tị nạn đã rời Ukraine, phần lớn là tới các nước EU. Trong số đó có khoảng 90% là phụ nữ và trẻ em. Ngya trong những ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng, một phong trào tình nguyện giúp đỡ người tị nạn đã xuất hiện ở nhiều nước EU. Việc người dân châu Âu để người tị nạn sốn gtrong căn hộ và nhà riêng của họ đã trở thành một thông lệ phổ biến. Thái độ của người dân châu Âu đối với người Ukraine về cơ bản khác với thái độ dè dặt đối với người tị nạn từ Syria và các nước châu Á, châu Phi khác trong những năm gần đây, bởi người châu Âu coi người Ukraine là “người nhà mình”. Cũng có thể nhận thấy điều này trong phản ứng chính thức của một số quốc gia Đông Âu từng không thể hiện sự đoàn kết  như vậy đối với người tị nạn trong cuộc khủng hoảng di cư năm 2015 cũng như trong những năm tiếp theo.

Vào ngày 3/3, Hội đồng châu Âu đã thông qua việc kích hoạt cơ chế bảo vệ tạm thời cho người tị nạn. Quyết định đã được thông qua dựa trên sự nhất trí, điều cực kỳ khác thường đối với EU liên quan đến một vấn đề gây bất đồng như di cư. Cơ chế này được thành lập vào năm 2001, sau cuộc chiến trên lãnh thổ Nam Tư cũ, nhưng chưa bao giờ được đưa vào vận hành. Chế độ bảo vệ tạm thời quy định rằng những người tị nạn từ Ukraine sẽ được cung cấp nhà ở, có quyền làm việc với điều kiện như công dân EU, cũng như được tiếp cận đầy đủ các hệ thống bảo trợ xã hội, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Để hiểu rõ hơn về thái độ của công chúng, cần lưu ý rằng Liên hiệp công đoàn châu Âu đã ủng hộ quyết định này và kêu gọi cho phép người tị nạn tiếp cận đầy đủ thị trường lao động, không bận tâm đến những nguy cơ có thể xảy đến với việc làm của công dân EU.

Thái độ của công chúng bị ảnh hưởng bởi một chiến dịch thông tin và tuyên truyền mạnh mẽ về tiến trình của chiến dịch quân sự đặc biệt trên lãnh thổ Ukraine. Theo số liệu của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về nhân quyền, tính đến ngày 25/3, tại Ukraine đã có 1.081 dân thường thiệt mạng và 1.707 người khác bị thương. Những khẳng định nhất quán của chính quyền Nga rằng các cuộc không kích chỉ được thực hiện vào các mục tiêu quân sự đang bị phớt lờ.

Cần lưu ý rằng chiến dịch thông tin và tuyên truyền này diễn ra trên nền các giá trị nhân văn đã ăn sâu vào ý thức cộng đồng của những người dân châu Âu bình thường. Ngay cả sau khi chiến sự chấm dứt, tình cảm ủng hộ mà người dân châu Âu dành cho những người bị coi là “nạn nhân của sự xâm lược” vẫn sẽ tồn tại trong một thời gian dài. Đây sẽ là một yếu tố quan trọng trong các động lực chính trị-xã hội, hạn chế không gian hành động đối với các chính trị gia, đại diện giới doanh nghiệp có chủ trương khôi phục quan hệ với Nga ở mức hạn chế. Ở châu Âu, “văn hóa loại bỏ Nga” đang phát triển mạnh mẽ.

Chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine là một sự chuyển dịch to lớn làm thay đổi hoàn toàn hệ thống quan hệ quốc tế của cả châu Âu và trên thế giới nói chung. Những sự kiện này sẽ có ý nghĩa lâu dài đối với cấu trúc an ninh ở châu Âu, không chỉ về quân sự mà còn về an ninh năng lượng, thậm chí an ninh lương thực. Phản ứng trước những sự kiện này, các chính trị gia EU gần như ngay lập tức nhận ra rằng an ninh, mà họ hiểu là “an toàn trước Nga”, sẽ không còn “miễn phí”. Và họ sẵn sàng trả giá vì điều này.

Phát biểu tại Quốc hội Đức ngày 27/2, Thủ tướng Olaf Scholz nói: “Chúng ta đang chứng kiến một bước ngoặt lịch sử. Chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa vào an ninh của đất nước để bảo vệ tự do và nền dân chủ của chúng ta”. Trong số các biện pháp thực tế có tính chất quân sự-chính trị do ông Scholz đề xuất, đáng chú ý là đề xuất tăng chi tiêu quốc phòng lên 2% GDP ào năm 2024.

Luận điểm về việc sẵn sàng trả giá cao cho an ninh còn xuất hiện trong các bài phát biểu của nhiều chính trị gia khác. Chủ tịch EuroGroup, Paschal Donohoe nói: “Chúng tôi biết rằng sẽ có những phí tổn kinh tế”. Đại diện cấp cao của EU về đối ngoại và chính sách An ninh Josep Borrell phát biểu: “Chúng ta phải chuẩn bị trả cái giá này ngay bây giờ, nếu không chúng ta sẽ phải trả một cái giá cao hơn nhiều trong tương lai”. Thay vì nhìn nhận gốc rễ của cuộc xung đột nằm ở thái độ không sẵn sàn giải quyết các vấn đề tồn đọng trong lĩnh vực an ninh, các chính trị gia châu Âu giải thích xung đột theo cách truyền thống của họ, tức là sự đối đầu ý thức hệ giữa “dân chủ” và “độc đoán”.

(còn tiếp)

Nguồn: Trang mạng Hội đồng Đối ngoại Nga về các vấn đề quốc tế (RIAC)

CVĐQT – số 5/2022

Quan hệ giữa Italy và Nga


Theo trang mạng CEPA ngày 8/6, những nỗ lực của Nga nhằm làm xói mòn ý chí của châu Âu đang cho thấy sự tiến, đặc biệt là Italy.

Chuyến thăm gần đây của Thủ tướng Italy Mario Draghi đến Washington đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương trong việc tìm ra lập trường chung về cuộc chiến ở Ukraine. Hai bên đã tập trung vào sự đoàn kết, nhưng rạn nứt đang gia tăng trong liên minh phương Tây.

Việc Italy phản đối cuộc xâm lược của Nga là hành động mạnh mẽ hơn dự đoán của một số người, khi xem xét mối quan hệ chặt chẽ và những liên kết kinh tế mạnh mẽ giữa hai nước, cùng lịch sử thân Nga của một số nhân vật chính trị tại Italy, trong đó có những người đang nắm giữ chức vụ trong chính phủ hiện nay.

Sức ép đang gia tăng trong nội bộ Italy về việc phải tìm ra một giải pháp thương lượng cho cuộc chiến Ukraine. Cuộc đấu tranh giữa những người đang thúc đẩy Ukraine đổi lấy hòa bình bằng nhượng bộ và những người hy vọng duy trì chủ quyền của Ukraine và bảo vệ trật tự quốc tế đang bước vào giai đoạn quyết định trên toàn Liên minh châu Âu (EU), và Italy đang ở tuyến đầu.

Để theo đuổi hòa bình, các nhà hoạch định chính sách Italy, đặc biệt là các thành viên của hai đảng lớn nhất trong Quốc hội là Phong trào Năm sao (M5S) và Liên đoàn (Lega) sẵn sàng hy sinh lãnh thổ và an ninh của Ukraine để đổi lấy các bước tiến tới quan hệ kinh tế bình thường với Nga, Italy hầu như không đơn độc với lập trường này, khi những diễn biến ở Pháp, Đức và Hungary cho thấy sự suy yếu của tình đoàn kết chống Nga.

Có những áp lực đáng kể buộc Italy phải đóng vai trò nổi bật trong sự thay đổi này. Sau cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Draghi đã kêu gọi Nga và Ukraine ngừng bắn và tiến hành đàm phán. Cơ sở cho một động thái như vậy được Ngoại trưởng Italy Luigi Di Maio thuộc đảng M5S làm rõ một ngày sau đó, khi ông giới thiệu kế hoạch hòa bình 4 điểm với Tổng thư ký Liên hợp quốc (kế hoạch hòa bình này gần như ngay lập tức bị Điện Kremlin bác bỏ). Cùng ngày, Italy và Đức đã cho phép các công ty của họ mở tài khoản bằng đồng ruble để có thể tiếp tục mua dầu mỏ và khí đốt của Nga mà không vi phạm lệnh trừng phạt của EU đối với Nga.

Italy và Hungary, được các nước thành viên EU nhỏ hơn có quan hệ chặt chẽ với Nga ủng hộ, đã cố gắng (nhưng không thành công) đưa lời kêu gọi ngừng bắn chính thức của EU vào bản ghi nhớ của Hội nghị thượng đỉnh EU vào cuối tháng 5 vừa qua. Biện pháp kinh tế mới nhất của EU chống lại Nga, lệnh cấm nhập khẩu dầu thô của Nga, đã đưa ra các ngoại lệ đối với Hungary, Slovakia và Cộng hòa Czech (mặc dù hai nước sau rất ủng hộ Ukraine) và sẽ chỉ có hiệu lực vào cuối năm 2022. Có rất nhiều điều có thể xảy ra từ bây giờ đến lúc đó, và nhiều chính trị gia châu Âu hy vọng rằng chiến tranh sẽ kết thúc trước Giáng sinh năm nay.

Học thuyết hòa bình bằng mọi giá hầu như không phải là điều mới đối với châu Âu. Trước cuộc xâm lược của Nga vào tháng 2/2022, Tổng thống Ukraine Volodymyz Zelensky đã nhắc lại bóng ma của chính sách nhân hượng của Anh và Pháp đối với Đức quốc xã khi ông ở Munich.

Chắc chắn rằng người dân Ukraine mong muốn hòa bình. Nhưng tất cả các tín hiệu, bao gồm cả thăm dò dư luận, cho thấy họ sẵn sàng trả một cái giá cao hơn nhiều cho nền hòa bình đó so với người Italy hoặc người Hungary, những người không tham gia cuộc chiến. Người ta hiện không rõ tại sao Ukraine lại chấp nhận các đề xuất của Ngoại trưởng Di Maio về sự trung lập chính thức hoặc giao một dàn xếp thương lượng cho các cơ quan của Nga. Sự hoài nghi của người Ukraine được củng cố bởi thực tế là tiến trình hòa bình Minks, do Pháp và Đức thúc đẩy, đã hoàn toàn thất bại trong việc ngăn chặn cuộc chiến hiện nay.

Tất cả những diễn biến này khiến cho địa vị của Thủ tướng Draghi trở nên mong manh. Do nắm quyền với tư cách là một chính trị gia độc lập, ông thiếu sự hỗ trợ của một đảng chính trị truyền thống. Ở tuổi 74, ông cảm thấy mệt mỏi với bối cảnh chính trị phức tạp của Italy. Hơn nữa, ông phải đối mặt với tình trạng kinh tế bất ổn, mà đã trở nên quá quen thuộc ở nước này. Đồng thời, ông có lẽ là nguyên thủ châu Âu dễ bị tổn thương nhất.

Lập trường thân thiện của Italy đối với Nga không chỉ dựa trên các lợi ích kinh tế, mà còn bởi bản sắc dân túy, hoài nghi NATO và EU của hai đảng lớn nhất trong Quốc hội. Ngày 1/6, lãnh đạo đảng Liên đoàn Matteo Salvini, người ủng hộ Putin nhất trong số những người theo chủ nghĩa dân túy ở Italy, đã tuyên bố rằng ông muốn đến Moskva trong một sứ mệnh hòa bình, mà dường như không bận tâm đến việc phối hợp với chính phủ.

Thủ tướng Draghi phải tìm cách hợp tác với các thành viên của M5S và đảng Liên đoàn, hoặc Italy sẽ tiếp tục đi theo con đường hướng tới sự nhân nhượng, phá vỡ hơn nữa sự đồng thuận vốn đã dễ bị tổn thương của châu Âu để tìm cách buộc Putin và Nga phải chịu trách nhiệm về cuộc tấn công Ukraine.

Mong muốn khai thác những lỗ hổng này, Nga đang khiến công việc của Draghi trở nên khó khăn hơn. Điện Kremlin đã tiến hành một chiến dịch thông tin lớn tại Italy để giành được sự ủng hộ của công chúng và truyền bá sự hoang mang về cuộc chiến Ukraine. Đồng thời, Nga đã tiến hành một loạt các cuộc tấn công mạng nhằm vào Italy trong một nỗ lực tiếp tục làm suy yếu quyết tâm của Italy. Đáng buồn thay, việc này dường như có hiệu quả. Người Italy không hoàn toàn tin rằng Nga là nguyên nhân gây ra tình trạng bạo lực ở Ukraine. Một số người coi việc châu Âu và Mỹ ủng hộ Ukraine là một hành động leo thang nguy hiểm và đang ráo riết thúc đẩy Ukraine phải nhượng bộ để đổi lấy hòa bình. Chưa đầy một năm nữa, Italy sẽ tổ chức cuộc tổng tuyển cử. Nhiều khả năng nước này sẽ có một thủ tướng mới và một định hướng mới cho chính sách đối ngoại. Đường hướng mới đó sẽ được Điện Kremlin hoan nghênh và có thể xoa dịu một số nhân vật trong chính trường Italy, nhưng đó sẽ là một bước ngoặt đáng buồn cho Italy và cho sự đoàn kết xuyên Đại Tây Dương.

Nguồn: TLTKĐB – 25/06/2022

Quan điểm phức tạp của Italy về xung đột Nga-Ukraine – Phần cuối


Cuộc chiến thông tin sai lệch

Tuyên truyền của Nga trên các phương tiện truyền thông Italy đã khai thác những tình cảm chống Mỹ và/hoặc thân Nga ở nước này kể từ khi cuộc chiến Nga-Ukraine nổ ra hồi đầu năm nay. Bất chấp việc chính phủ Italy đã ngăn chặn phương tiện truyền thông nhà nước của Nga sau ngày 24/2, những nhân vật Nga ủng hộ Putin như Nadana Fridrikhson tiếp tục xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Italy với tư cách khách mời.

Tháng 5 vừa qua, Copasir đã mở một cuộc điều tra về việc Nga lan truyền thông tin sai lệch trên truyền thông Italy, trong bối cảnh có những nghi ngờ rằng một số chuyên gia Nga đã làm việc cho Điện Kremlin. Sự phẫn nộ đáng kể đã bùng nổ sau cuộc phỏng vấn ngày 1/5 của đài truyền hình Rete 4 với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov, trong đó Lavrov hầu như không bị người dẫn chương trình phản đối khi đưa ra những bình luận cực kỳ gây tranh cãi về bản sắc người Do Thái của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky.

Tại Italy, hiện đang có một cuộc tranh luận tế nhị về việc làm thế nào để giải quyết những thông tin sai lệch của Nga trên các phương tiện truyền thông mà không “chà đạp” lên quyền tự do ngôn luận. Trong khi đó, nhiều người Italy lo lắng về việc tuyên truyền của Điện Kremlin đã có ảnh hưởng như thế nào trong lập trường của giới truyền thông và giới học thuật, điều mà nhiều người Italy chỉ nhận ra sau ngày 24/2.

Tình huống khó xử

Việc Chính quyền Draghi ủng hộ mạnh mẽ sự đoàn kết của phương Tây chống lại hành động xâm lược của Nga ở Ukraine buộc Italy phải đưa ra những quyết định khó khăn. Nước này không có khả năng chấm dứt sự phụ thuộc vào năng lượng của Nga trong năm nay. Trong khi Rome nỗ lực để đảm bảo các nguồn cung khí đốt và dầu mỏ thay thế từ Algeria, Angola, Azerbaijan, Qatar, Cộng hòa Congo và các nước khác, Italy cần thời gian để điều chỉnh cơ sở hạ tầng năng lượng của mình. Theo chính phủ Italy, việc xây dựng các cảng bốc dỡ và đường ống dẫn khí đốt cần thiết sẽ phải mất từ 24 – 30 tháng. Rốt cuộc, Rome dễ bị tổn thương trước khả năng Nga sử dụng xuất khẩu năng lượng làm vũ khí chống lại châu Âu. HIện tại, nếu Moskva ngừng vận chuyển dầu và khí đốt, Italy sẽ phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế.

ISAB, một trong những nhà máy lọc dầu lớn nhất của Italy, hiện đang gặp khó khăn. Nhà máy lọc dầu ở Sicily này, thuộc sở hữu của tập đoàn Lukoil của Nga, hiện xử lý khoảng 20% lượng dầu thô nhập khẩu của Italy. Trớ trêu thay, tỷ lệ dầu thô của Nga mà ISAB xử lý lại tăng từ 15% lên 100%, hệ quả của việc các ngân hàng không muốn mạo hiểm cấp tín dụng cho nhà máy để mua dầu không phải của Nga do các lệnh trừng phạt trước đó.

ISAB là bằng chứng giải thích tại sao Italy là thành viên EU duy nhất tăng nhập khẩu dầu thô từ Nga sau này 24/2. Nói một cách dễ hiểu, nhập khẩu dầu thô Nga của Italy đã tăng gấp 4 lần kể từ khi cuộc chiến ở Ukraine nổ ra, với khoảng 400.000 thùng dầu/ngày đến từ Nga vào tháng 5 – hơn một nửa trong số đó được chuyển đến ISAB.

Do đó, với việc chính phủ của Draghi cam kết Italy sẽ cùng các thành viên EU cắt giảm nhập khẩu dầu thô của Nga vào năm tới, 3500 nhân viên nhà máy này đang chờ đợi một tương lai không chắc chắn. Do  ISAB và các hoạt động liên quan của nó chiếm tới một nửa tổng sản phẩm quốc nội của tỉnh Syracuse, miền Nam Sicily đang đứng trước nguy cơ suy giảm kinh tế. Đã có đề xuất về việc quốc hữu hóa ISAB, nhưng điều đó vẫn chưa xảy ra.

Các khía cạnh châu Phi

Tình trạng mất an ninh ở Bắc Phi và Sagel cũng có liên quan đến thế khó xử của Italy. Người dân Italy lo ngại về cách thức Nga có thể sử dụng vị trí của họ ở Libya để phá hoại an ninh quốc gia của Italy. Mặc dù còn có tranh cãi về cách thức nhóm Wagner, tổ chức bán quân sự của Nga, có thể dễ dàng đưa dòng người di cư từ Libya và các nước châu Phi khác vào Italy, nhưng điều này chắc chắn sẽ gây ra các vấn đề chính trị cho Rome, mà hiểu rõ rằng những người Italy có tâm lý bài ngoại sẽ đổ lỗi cho chính phủ của họ trong một cuộc khủng hoảng như vậy.

Chính phủ của Draghi sẽ tiếp tục tục nắm quyền cho đến cuộc bầu cử năm 2023. Người ta có lý do để mong đợi ban lãnh đạo hiện tại ở Rome tiếp tục liên kết chặt chẽ với các quốc gia EU khác và Mỹ trong vấn đề Ukraine. Tuy nhiên, mức độ mà cuộc chiến Ukraine làm bộc lộ những điểm dễ bị thương tổn của Italy có thể dẫn đến sự khác biệt lớn hơn giữa quan điểm của Rome và Washington. Với việc Italy được lợi nếu xung đột Ukraine kết thúc càng nhanh càng tốt, Rome sẽ thông cảm hơn với lập trường của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron rằng phương Tây không nên theo đuổi mục tiêu làm bẽ mặt Nga, mà thay vào đó hãy cởi mở hơn với các thỏa hiệp với Nga – những thỏa hiệp mà hầu như không quan chức nào ở Washington sẵn sàng xem xét vào thời điểm này.

Nguồn: TLTKĐB – 25/06/2022

Quan điểm phức tạp của Italy về xung đột Nga-Ukraine – Phần đầu


Trang mạng dailysabah.com của Thổ Nhĩ Kỳ ngày 9/6 đăng bài phân tích về tình thế khó xử của Italy trong cuộc xung đột Nga-Ukraine.

Theo nhiều cách khác nhau, Italy nhận thấy họ dễ bị tổn thương trước hậu quả của việc Nga xâm lược Ukraine. Là một đồng minh thân cận của Mỹ và là thành viên ban đầu của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên minh châu Âu (EU), đồng thời duy trì mối quan hệ sâu sắc với Nga trong ngành năng lượng và các lĩnh vực khác, Italy phải đối mặt với tình huống khó xử khi sự phân chia Đông-Tây ngày càng sâu sắc, buộc Rome phải lèo lái cẩn thận cuộc khủng hoảng an ninh nghiêm trọng nhất tại châu Âu kể từ sau năm 1945.

Thủ tướng Italy Mario Draghi, với tư cách là cựu Thống đốc Ngân hàng Trung ương châu Âu (EU) và là nhân vật hậu trường nổi bật của nền chính trị Italy thời Chiến tranh Lạnh, là người hết lòng tin tưởng vào liên minh xuyên Đại Tây Dương và các thể chế phương Tây như EU, NATO và Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7). Được thành lập vào tháng 2/2021, khi chính phủ kỹ trị của ông Draghi bắt đầu đưa Italy trở lại liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ, trong khi củng cố quan hệ với các nước EU khác – cụ thể là Pháp và Đức – trước ngày 24/2/2022. Thủ tướng Draghi có cách tiếp cận khác hẳn về Moskva so với người tiền nhiệm của mình, như việc ông chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Nga. Ông Draghi đề cập đến Nga như một quốc gia mà Italy phải can dự, chứ không phải là một đối tác.

Sau khi Nga xâm lược Ukraine, Italy đã cùng với các nước phương Tây khác áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Nga, cung cấp vũ khí cho Kiev và hỗ trợ nhân đạo cho người tị nạn Ukraine. Với chuyên môn cá nhân của mình, ông Draghi là kiến trúc sư quan trọng đằng sau các biện pháp trừng phạt tài chính làm tê liệt hệ thống ngân hàng Nga. Theo lời Draghi, Rome đã chọn việc đáp lại lời kêu gọi của chính phủ Ukraine về hỗ trợ quân sự vì “không thể chỉ đáp lại bằng sự khuyến khích suông” sau khi một quốc gia độc tài xâm lược nước láng giền dân chủ của mình.

Việc Rome dần xa lánh Moskva diễn ra sau 2 thập kỷ Italy nuôi dưỡng quan hệ với Nga, quốc gia cung cấp hơn 40% lượng khí đốt nhập khẩu của Rome. Trong phần lớn thời gian đó, giới lãnh đạo Italy đã tìm kiếm sự tự chủ lớn hơn khỏi Mỹ và NATO, đặc biệt là trong thời kỳ Donald Trump làm Tổng thống Mỹ.

Do mối quan hệ hợp tác năng lượng của Italy với Nga, Rome không thể dễ dàng lên án Moskva dù hỗ trợ cho Kiev. Mặc dù Nga chỉ chiếm 1,6% kim ngạch xuất khẩu của Italy, nhưng những người Nga giàu có đã có sự hiện diện đáng kể tại Italy trong các lĩnh vực đầu tư, du lịch và hàng hóa xa xỉ. Trong bối cảnh này, khi Thủ tướng Draghi đến thăm Washington vào tháng 5/2022, ông muốn chuyển đến Tổng thống Mỹ Joe Biden những quan ngại của chính phủ Italy về cách thức cuộc chiến tại Ukraine tiếp diễn có thể gây hại cho Italy.

Chính trường trong nước đầy nguy hiểm

Các quan chức ở Rome phải đối mặt với một chính trường phức tạp và thực tế là phần lớn công chúng Italy chỉ trích chính sách đối ngoại của Mỹ. Nhìn chung, Italy tự coi mình là một quốc gia thúc đẩy sự ổn định ở châu Âu và Địa Trung Hải, và nỗ lực tránh chiến tranh khi có thể. Những ký ức về thất bại ở Iraq năm 2003, mà chính phủ của cựu Thủ tướng Silvio Berlusconi đã đẩy Italy tham gia , khiến nhiều người Italy hoài nghi về những lợi ích của việc hợp tác với Washington trong bất kỳ cuộc chiến nào. Điều quan trọng nhất là mặc dù phần lớn người dân Italy coi Nga là kẻ xâm lược trong cuộc xung đột này, nhưng công chúng vẫn tranh luận nhiều về cái giá phải trả của một chính sách đối ngoại chống Nga.

Các thành phần ủng hộ Nga và hoài nghi châu Âu của phe cực hữu và cực tả trên chính trường Italy đang làm tăng thêm bất đồng và làm nóng cuộc tranh luận. Các chính trị gia của các đảng Forza Italia, Phong trào Năm sao (M5S) và Liên đoàn (Lega) đều ủng hộ “mối quan hệ đặc biệt” của Italy với Nga, được hình thành vào đầu thế kỷ này. Cùng với cựu Thủ tướng Berlusconi của đảng Forza Italia, chính quyền vùng Veneto đã công nhận việc Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 là một “sự thống nhất” hợp pháp.

Lãnh đạo đảng Liên đoàn Matteo Salvini, người từng giữ chức Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Nội vụ Italy trong các năm 2018/19, đã phản đối các lệnh trừng phạt của EU đối với Nga liên quan đến Crimea và đe dọa sẽ phủ quyết các lệnh trừng phạt đó. Vào năm 2015, ông đã đến Moskva và chụp ảnh trước Điện Kremlin, mặc chiếc áo có in hình Tổng thống Nga Vladimir Putin. Luận điệu ủng hộ Tổng thống Syria Bashar Assad của Salvini liên quan cuộc nội chiến Syria càng nhấn mạnh sự hiệp đồng của ông với Tổng thống Putin.

Hồi năm 2019, Salvini và đảng của ông bị cáo buộc là tìm kiếm sự ủng hộ tài chính của Nga dựa trên một số đoạn băng ghi âm, một hành vi bị cáo buộc là cố gắng hối lộ. Năm nay, một ủy ban phụ trách an ninh của Quốc hội Italy (Copasir) đã điều tra các cuộc gặp bị cáo buộc là trái phép của Salvini với các quan chức Nga sau khi chiến tranh bùng nổ ở Ukraine.

Giống như những người anh em cùng hệ tư tưởng ở những nơi khác ở châu Âu, các nhóm tân phát xít tại Italy như CasaPound đang phản đối trật tự tự do hiện đại và coi Putin là một chính khách đại diện cho trật tự trong một thế giới hỗn loạn. Trong số những người Italy thiên tả, đặc biệt thuộc thế hệ già, có một quan điểm lãng mạn coi Nga là bức tường thành chống lại chính sách đối ngoại của Mỹ, vốn là di sản của thời Xô viết. Lịch sử can thiệp vào các vấn đề của Italy của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) cách đây nhiều thập kỷ khi Đảng Cộng sản Italy là đảng cộng sản lớn nhất châu Âu bên ngoài Liên Xô và việc CIA nhắm vào các phong trào do sinh viên lãnh đạo tiếp tục thúc đẩy chủ nghĩa chống Mỹ trong đội ngũ cánh tả lớn tuổi.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 25/06/2022

“Đòn cân não khí đốt” của Nga và “chính trị thực dụng” của phương  Tây


Theo đài RFI, châu Âu sống sót như thế nào qua mùa Đông tới mà không có khí đốt của Nga? Đây là chủ đề được các báo Pháp chú ý nhiều nhất trong ngày 27/7. Nhật Báo Le Figaro tỏ ra bi quan với tựa trang nhất “Châu Âu khốn khổ trước lời đe dọa của Putin”. Châu Âu có thể sẽ chuẩn bị đối mặt với tình huống xấu nhất. Trong lúc 12 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã bị cắt toàn bộ hoặc một phần khí đốt của Nga, Tổng thống Vladimir Putin hôm 25/7 một lần nữa gia tăng áp lực với EU, khiến cho giả thuyết về một mùa Đông không có khí đốt của Nga có thể trở thành hiện thực và điều này sẽ là một thảm kịch đối với lục địa già.

Chưa đầy một tuần sau khi đường ống dẫn khí Nord Stream 1 hoạt động trở lại, Tập đoàn Gazprom đã thông báo sẽ giảm năng suất đường ống. Từ ngày 27/7, lưu lượng của đường ống vốn chỉ hoạt động 40% công suất, sẽ giảm xuống còn 20%. Theo Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen, hành động này của Moskva càng khiến mọi người nhận thấy rằng Nga không phải là một nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy.

Điện Kremlin đã hành động như vậy vào lúc châu Âu đang phải vật lộn để lấp đầy kho dự trữ khí đốt, vốn phải đạt 80% trước khi mùa Đông bắt đầu, so với mức 65% vào thời điểm hiện tại. Theo tính toán của EC, 2/3 lượng khí đốt dữ trữ sẽ chỉ đủ tiêu thụ trong vòng 46 ngày vào mùa Đông.

Trong khi đó, trả lời phỏng vấn nhật báo Libération, chuyên gia năng lượng Thierry Bros thuộc Trường Khoa học Chính trị Paris (Sceinces Po) cho rằng Nga sẽ không dại gì cắt toàn bộ khí đốt cung cấp cho châu Âu, bởi nếu làm vậy, Tổng thống Putin sẽ tự đánh mất thu nhập 100 triệu Euro mỗi ngày, một khoản tiền không hề nhỏ. Nhưng quan trọng nhất là điều đó sẽ chứng minh cho dự báo của EU, vốn đã lường trước một viễn cảnh như vậy.

Kể từ khi bắt đầu xâm lược Ukraine, Tổng thống Nga đã chơi trò “mèo vờn chuột” với những nguyên tắc bất định. Putin là bậc thầy của trò chơi này và đó là điều mà các nước châu Âu đã thấy, khi ông yêu cầu họ thanh toán khí đốt của Nga bằng đồng Ruble. Và nhiều nước do sợ bị cắt khí đốt đã đồng ý làm theo yêu cầu của Nga.

Cũng theo chuyên Bros, EU sẽ phải tìm cách giảm lượng tiêu thụ và tìm lượng khí đốt bổ sung. Châu Âu đang chuyển sang mua khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) từ các quốc gia châu Á như Ấn Độ, Bangladesh hay Pakistan. Các nước sản xuất khí đốt khác, như Na Uy, Azerbaijan hoặc Algeria cũng đang được châu Âu để ý và nhiều hợp đồng đã được ký kết trong những tuần gần đây, điển hình là việc bà Ursula von der Leyen đã ký một thỏa thuận ở Baku để tăng gấp đôi lượng khí đốt nhập khẩu từ Azerbaijan. Mỹ đã phần nào giúp EU vượt qua cuộc khủng hoảng này, cam kết sẽ cung cấp thêm 15 tỷ m3 cho châu Âu vào cuối năm nay.

“Chính trị thực dụng” của phương Tây

Vẫn về chủ đề khí đốt, xã luận của báo Libération nói về “chính trị thực dụng” của các nhà lãnh đạo phương Tây. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, các nhà lãnh đạo vốn bị chỉ trích về các hành động vi phạm nhân quyền hay tham nhũng nay đã trở thành những người bạn yêu quý của các nước phương Tây. Tổng thống Mỹ Joe Biden trong mấy tháng gần đây đã tay bắt mặt mừng với Thái tử Saudi Arabia Mohammed ben Salmane, vốn bị liệt vào danh sách đen kể từ sau vụ sát hại nhà báo Jamal Khashoggi, trong khi cựu Thủ tướng Italy Mario Draghi trước khi từ chức đã được Tổng thống Algeria Abdelmadjid Tebboune tiếp đón nồng hậu ở Alger.

Về phần mình, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã tiếp đón người đồng cấp Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) Mohammed ben Zayed Al Nahyane. Thực ra không phải phương Tây đã thay đổi đường lối chính trị, mà đây chỉ là “chính trị thực dụng”. Cuộc chiến ở Ukraine đã làm thay đổi hoàn toàn cục diện năng lượng thế giới. Phương Tây và châu Âu chợt nhận ra họ đã quá phụ thuộc vào Nga. Do mức độ phụ thuộc khí đốt Nga của các quốc gia thành viên EU không giống nhau, nhiều nước đã quyết định tự đàm phán với các nhà cung cấp khác. Liệu việc EU ký một hợp đồng 30 năm (một điều kiện do các nhà cung cấp yêu cầu) với các quốc gia như Algeria hoặc Saudi Arabia có hợp lý hay không khi mục tiêu cuối cùng là giảm việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch? Vì không lường trước được những gì sẽ xảy ra, châu Âu giờ đây sẽ chỉ có một lựa chọn là đoàn kết và giảm tiêu thụ năng lượng.

Vũ khí chiến lược để Putin phản công EU

Điều khiển đóng mở van cấp khí đốt cho châu Âu theo ý muốn như đòn cân não phương Tây, Tổng thống Nga Putin đang có trong tay thứ vũ khí chiến lược để phản công lại các lệnh trừng phạt kinh tế của EU. Sau 10 ngày ngừng hoạt động để bảo dưỡng, đường  ống dẫn khí đốt Nord Stream 1 đã trở lại hoạt động. Nhưng chỉ chưa đầy 5 ngày sau, ngày 25/7, Tập đoàn Gazprom, nhà cung cấp khí đốt duy nhất của Nga cho châu Âu, thông báo từ ngày 27/7 giảm 33 triệu m3 khí đốt cung cấp cho châu Âu, mỗi ngày qua đường ống này. Lý do là lệnh cấm vận ảnh hưởng đến turbin nén khí đang bảo trì. Tháng 6 vừa qua, Nga đã 2 lần cắt giảm khối lượng khí cung cấp cho châu Âu cũng với lý do tương tự. Các nước EU, giờ đây rơi vào cảnh không biết lúc nào bị Nga cắt hẳn nguồn cung cấp khí đốt, đang ráo riết tìm mọi giải pháp ứng phó, từ việc đổ xô tìm nguồn cung thay thế từ Azerbaijan, Algeria, đến các quốc gia Arab Vùng Vịnh, hay gần đây là quyết định cắt giảm tiêu thụ để tích trữ cho mùa Đông tới cũng như về lâu dài.

Trước cuộc chiến tranh ở Ukraine, hơn 40% nhiên liệu tiêu thụ tại châu Âu là do Gazprom cung cấp, giờ đây khối lượng này chỉ còn 20%. Con số giảm còn một nửa này không phải là nỗ lực của EU muốn thoát khỏi phụ thuộc vào khí đốt Nga, mà đó là do trò chơi đóng mở van cấp khí đốt cho các nước EU của chủ nhân Điện Kremlin để phản công các đòn trừng phạt kinh tế của phương Tây đối với Nga.

Trong cuộc đọ sức với phương Tây, Putin nhanh chóng hiểu rằng khí đốt Nga là thứ vũ khí hiệu quả để chống lại châu Âu, lúc này đang tìm cách cô lập, gây áp lực tối đa để Kremlin dừng cuộc phiêu lưu quân sự ở Ukraine. Điệm Kremlin tin rằng với lá bài khí đốt, Nga có thể đẩy châu Âu vào hoàn cảnh bất định về năng lượng. Kinh tế bất ổn tất sẽ dẫn đến bùng phát phong trào xã hội chống chính phủ, như kiểu phong trào “Áo vàng” ở Pháp. Mặt khác, rơi vào tình trạng bất an về năng lượng sẽ khiến các nước châu Âu bị chia rẽ, đặc biệt trong các chủ trương trừng phạt mới đối với Nga.

Theo giới quan sát, các nước EU đang rơi vào cái bẫy khí đốt Nga do chính họ giăng ra. Từ đầu cuộc chiến tranh xâm lược của Nga, Brussels đã nhiều lần dọa Moskva rằng EU sẽ chấm dứt hoàn toàn lệ thuộc vào khí đốt của Nga. Nhưng những hậu quả về kinh tế, xã hội nhãn tiền của một chính sách triệt để như vậy đã khiến một số nước, đặc biệt là Đức hay Hungary, ngăn cản hoặc do dự.

Với Nga, hậu quả tài chính không phải là lớn khi giảm hay không còn nguồn xuất khẩu khí đốt sang châu Âu. Trái lại, tạo ra tình trạng khan hiếm khí đốt sẽ đẩy giá khí đốt lên cao, bù đắp cho khối lượng xuất khẩu giảm. Theo đánh giá của giới chuyên gia, nhờ vào việc hạn chế cũng như đe dọa ngừng cấp khí đốt, năm nay Nga có thể sẽ tăng gấp đôi thu nhập từ khí đốt.

EU trước nguy cơ khủng hoảng, hơn bao giờ hết cần đoàn kết. Nhưng Putin đã sử dụng khí đốt là vũ khí để chia rẽ các nước trong liên minh. Chẳng hạn, ngay sau khi Brussels đề nghị các nước nhất trí cắt giảm 15% tiêu thụ khí đốt, lãnh đạo ngoại giao Hungary đã vội vàng có chuyến công du Moskva, mục đích chính là để mua thêm khí đốt của Nga. Budapest lâu nay luôn phản đối chủ trương trừng phạt của EU và dường như chưa bao giờ có ý định thoát khỏi lệ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt Nga. Trước khả năng kịch bản tồi tệ nhất có thể xảy ra là Nga cắt hoàn toàn khí đốt, chiến lược của châu Âu nhằm vào 3 hướng: Thay thế nguồn khí đốt Nga, đoàn kết và tiết kiệm năng lượng. Kịch bản tồi tệ đó sẽ đẩy châu Âu vào suy thoái kinh tế, khủng hoảng xã hội, rối ren chính trị và khiến EU suy yếu.

Putin giờ đây mất hướng về chiến trường miền Đông Ukraine, nhưng tay luôn đặt trên khóa van đường ống dẫn khí sang châu Âu, sẵn sàng ra đòn cân não với phương Tây. Chuyên gia về chính sách năng lượng châu Âu Simone Tagliapetra nhận định: “Châu Âu đang ở giữa cơn bão năng lượng và có thể sẽ không có đủ nguồn cung để đáp ứng nhu cầu cho mùa Đông này. Rõ ràng là chiến lược của Putin là làm suy yếu sự hậu thuẫn của châu Âu cho Ukraine bằng cách dùng khí đốt như một thứ vũ khí”.

Nguồn: TKNB – 29/07/2022