Pháp: Lại một chiến dịch tranh cử tổng thống tồi tệ – Phần cuối


Làm thế nào để có sự đồng thuận?

Nhưng giới cầm quyền theo đường lối tân tự do vốn ủng hộ NATO và Liên minh châu Âu, tìm cách cản trở để việc đó không xảy ra. Trên tất cả các tạp chí cũng như trong các buổi tọa đàm trên truyền hình, các phương tiện thông tin đại chúng đã cho thấy lòng trung thành của họ đối với một ứng cử viên ôn hòa “Mới! Cải tiến!”, được quảng bá tới công chúng như một sản phẩm tiêu dùng. Trong đội ngũ của ứng cử viên này, có những thanh niên tình nguyện được huấn luyện kỹ càng và được đặt dưới ống kính máy quay, những tuyên bố của diễn giả ít được ghi hình nhất mà chủ yếu là những tiếng la hét cuồng nhiệt, cùng với hành động vẫy cờ và dằn từng tiếng “Macron! Tổng thống!”, sau đó, họ đi hộp đêm, tham gia buổi chiêu đãi thưởng công. Chưa bao giờ một ứng cử viên nghiêm túc tranh cử tổng thống lại giống một rôbốt đến vậy, theo ý nghĩa này thì đây là một sản phẩm nhân tạo được các chuyên gia đặc vụ nghĩ ra.

Emmanuel Macron từng là chuyên gia một ngân hàng thương mại hàng đầu, ngân hàng này đã kiếm tiền triệu nhờ vào làm dịch vụ cho ngân hàng Rothschild, khi đó, năm 2007, ông này đang ở tuổi 29. Nhà kinh tế trẻ tài năng đã được Jacques Attali, một bậc thầy tinh thần có ảnh hưởng rất lớn, mời vào sân chơi của các ông lớn. Từ những năm 1980, ý kiến của Attali đã giữ vai trò trung tâm trong sự chuyển đổi của Đảng Xã hội sang chủ nghĩa toàn cầu hóa tân tự do mới thân chủ nghĩa tư bản. Attali đã đưa Macron vào nhóm nghiên cứu riêng của mình, Ủy ban vì sự giải phóng sức tăng trưởng của Pháp, nó đã giúp xây dựng “300 đề xuất để làm thay đổi nước Pháp” và một năm sau đó, những đề xuất này đã được trình lên Tổng thống Sarkozy như là một dự án của chính phủ. Sarkozy đã thất bại trong việc thực hiện tất cả các đề xuất này do e ngại sự nổi dậy của giới công đoàn, song những đảng viên Xã hội được cho là thuộc cánh tả đã có thể tự cho phép các biện pháp mạnh chống lại công đoàn nhờ vào lời lẽ xoa dịu dư luận của họ. Lời lẽ xoa dịu này đã được ứng cử viên tổng thống Pháp François Hollande phát biểu năm 2012, khi đó, ông đã tạo ra sự hứng khởi khi tuyên bố trước công chúng: “Kẻ thù thực sự tôi chính là giới tài chính!” Cánh tả đã hoan nghênh và bầu cho ông. Cũng trong thời điểm đó, để đề phòng rủi ro, ông đã cử Macron tới London để làm yên lòng giới tinh hoa tài chính rằng đây chỉ là một bài diễn văn tranh cử.

Sau khi đắc cử, Hollande đã đưa Macron vào êkíp của mình. Tiếp đó, ông đã giao cho Macron một vị trí trong chính phủ là Bộ trưởng Kinh tế, Công nghiệp và Thông tin số vào năm 2014. Với vẻ lôi cuốn tẻ nhạt của một người mẫu trong các trung tâm thương mại lớn, Macron đã làm lu mờ đồng nghiệp nóng tính của mình kà Thủ tướng Manuel Valls, trong cuộc cạnh tranh thầm lặng để thay thế vị trí sếp của mình, Tổng thống Hollande. Macron đã giành được cảm tình của các doanh nghiệp lớn khi mang lại cho những cải cách chống lại giới công đoàn của ông một không khí trẻ trung, thích hợp và “tiến bộ” . Thực ra, Macron hầu như đã theo lộ trình vạch ra của Attali.

Chủ đề là “Năng lực cạnh tranh”. Trong một thế giới toàn cầu hóa, một quốc gia cần phải thu hút vốn đầu tư để có khả năng cạnh tranh và để có điều đó, cần phải hạ giá nhân công. Có một cách thức cổ điển để thực hiện điều này, đó là khuyến khích nhập cư. Với sự trỗi dậy của chính sách duy trì bản sắc (nhấn mạnh việc bảo vệ dòng giống người da trắng châu Âu – ND), cánh tả được đề cao hơn cánh hữu để chứng minh việc nhập cư ào ạt vì lý do đạo đức, được xem là một biện pháp nhân đạo. Đây chính là lý do theo đó, Đảng Dân chủ tại Mỹ và Đảng Xã hội tại Pháp đã trở thành đối tác chính trị của chủ nghĩa toàn cầu hóa tân tự do. Nhìn chung, họ đã thay đổi triển vọng của cánh tả chính thức từ các biện pháp cấu trúc, thúc đẩy bình đẳng kinh tế bằng các biện pháp đạo đức, thúc đẩy bình đẳng của nhóm thiểu số và nhóm đa số. Chỉ trong năm ngoái, Macron đã lập ra (hoặc người ta đã lập ra cho ông) một phong trào chính trị, lấy tên là “Tiến bước!” (En Marche!) và nó thường có các buổi họp công khai với các nhóm thanh niên cổ động mang trên mình những chiếc áo phông Macron. Sau ba tháng, Macron mong muốn lãnh đạo đất nước và ông đã thông báo ứng cử tổng thống. Nhiều nhân vật quan trọng đã rời bỏ “Con thuyền xã hội” và tham gia phong trào của Macron, sự rất giống nhau về chính sách của phong trào này với chính sách của bà Hillary cho thấy chính Macron có thể chỉ ra con đường để tạo ra một Đảng Dân chủ kiểu Pháp theo mô hình Mỹ. Bà Hillary hẳn là đã thua, nhưng bà vẫn là người ủng hộ NATO. Và dĩ nhiên, truyền thông Mỹ khẳng định điều này. Trong bài báo rất hay của mình đăng trên Foreign Policy, Robert Zaretsky đã chào mừng điều này khi viết rằng “chính trị gia Pháp nói tiếng Anh và thân Đức là điều mà châu Âu chờ đợi”, cho thấy không còn gì nghi ngờ nữa: Macron chính là chính trị gia con cưng của giới tinh hoa toàn cầu hóa xuyên Đại Tây Dương.

Hiện nay, Macron là nhân vật theo sát Marine Le Pen trong các cuộc thăm dò dư luận, điều này cũng cho thấy ông có thể sẽ chiến thắng không khó khăn gì ở vòng hai. Tuy nhiên, sự lôi cuốn được tạo dựng kỹ càng của ông cũng có điểm yếu do nhiều thông tin công khai về mối quan hệ mật thiết của ông với giới tinh hoa kinh tế.

Lỗi của người Nga

Trước tình huống có thể xảy ra này, có một cuộc tấn công phòng ngừa trực tiếp từ nước Mỹ: Đó là lỗi của người Nga!

Người Nga đã làm điều gì kinh khủng vậy? Nhìn chung, họ đã bày tỏ là muốn có những người bạn hơn là những kẻ thù, như ở đây là những người đứng đầu chính phủ. Việc này không khó! Giới truyền thông Nga chỉ trích, hoặc phỏng vấn những người chỉ trích, các ứng cử viên thù địch với Moskva. Điều này một lần nữa không có gì là đặc biệt cả. Được ví như sự can thiệp khó chấp nhận và được cho là có nguy cơ phá hỏng nền cộng hòa Pháp và các giá trị phơng Tây, Hãng Thông tấn Nga Sputnik đã phỏng vấn một thành viên cộng hòa của nghị viện Pháp, Nicolas Dhuicq, ông này đã dám nói rằng Macron có thể là “điệp viên của hệ thống tài chính Mỹ”. Điều này còn chưa rõ ràng. Nhưng sự phẫn nộ của công chúng đã được định hướng bỏ qua chi tiết này để tố cáo truyền thông nhà nước Nga “bắt đầu lan truyền tin đồn theo đó, Macron đã có vụ ngoại tình đồng giới” (Tờ Observer, ngày 13/2/2017). Thực sự, “sự vu khống giới tính” này đã lan truyền, đặc biệt trong giới đồng tính Paris, theo họ, vụ bê bối này không phải là ở định hướng giới tính gán cho Macron, mà là việc ông phủ nhận giới tính đó. Cựu thị trưởng thành phố Paris, Bertrand Delanoe, công khai là người đồng giới; cánh tay phải của Marine Le Pen, Florian Philippot, là người đồng giới; tại Pháp, là người đồng giới không phải là một vấn đề.

Dhuicq đã khẳng định, Macron được một “Nhóm vận động hành lang đồng giới rất giàu có” ủng hộ. Tất cả mọi người biết đó là ai: Pierre Bergé, người giàu có và có ảnh hưởng, là giám đốc thương mại của Yves Saint Laurent, hiện thân của giới giàu có cấp tiến, ủng hộ nhiệt thành cho việc mang thai hộ (đẻ thuê), một chủ đề nóng tại Pháp và là cuộc tranh luận có thật sau sự phản đối bất thành đối với hôn nhân đồng giới.

Thế lực ngầm lộ diện

Tại Pháp, việc ủng hộ lạ lùng đối với chiến dịch chống Nga của Mỹ cho thấy một cuộc đối đầu lớn trong kiểm soát “bài viết dạng tường thuật” – bài viết về thực tế quốc tế được nhiều người đọc, trong khi họ không có phương tiện tiến hành nghiên cứu của chính mình. Sự kiểm soát này là trọng tâm quan trọng mà Washington mô tả là “sức mạnh mềm” của họ. Sức mạnh cứng có thể mang tới những cuộc chiến và lật đổ các chính phủ. Sức mạnh mềm giải thích cho người ta tại sao đó là điều tốt phải làm. Nước Mỹ hoàn toàn có thể tự cho phép từ lâu tường thuật lịch sử theo hướng có lợi cho họ mà không bị nói trái lại. Liên quan tới những điểm nhạy cảm trên thế giới, như Iraq, Lybia hay Ukraine, sự kiểm soát dư luận được thực hiện qua sự phối hợp giữa cơ quan tình báo và giới truyền thông. Cơ quan tình báo viết lịch sử và giới truyền thông lớn thì kể lại nó.

Nhìn chung, các nguồn giấu tên của “quyền lực ngầm” và các phương tiện thông tin đại chúng có thói quen kiểm soát những nội dung được cung cấp cho công chúng. Họ không muốn từ bỏ quyền lực này. Và chắc chắn họ không muốn chứng kiến quyền lực đó bị những người ngoài cuộc đưa ra tranh cãi – đặc biệt là truyền thông Nga, vốn đang kể một câu chuyện khác. Đây là một trong những lý do của chiến dịch khác thường đang diễn ra để tố cáo truyền thông Nga và giới truyền thông tương tự khác đã phổ biến “những tin giả” nhằm làm mấ tuy tín các nguồn tin của đối phương. Thậm chí sự tồn tại của kênh thông tin quốc tế của Nga RT đã tạo ra một sự thù địch tức thì: Vì lẽ gì mà người Nga lại dám làm rối thực tại của chúng ta! Hillary Clinton đã cảnh báo RT khi bà còn là Ngoại trưởng và người thay thế bà, John Kerry, đã tố cáo kênh này là “một loa tăng âm tuyên truyền”. Điều chúng ta nói là sự thật; còn điều họ nói chỉ có thể là tuyên truyền.

Sự tố cáo đối với truyền thông Nga và việc cho là có “sự can thiệp của Nga vào bầu cử của chúng ta” là một sự bịa đặt lớn của chiến dịch Clinton, nó đã tiếp tục lây lan qua các bài diễn văn trước công chúng tại Tây Âu. Sự cáo buộc này là một ví dụ hiển nhiên về tiêu chuẩn kép, vì hoạt động gián điệp của Mỹ được tiến hành với mọi đối tượng, bao gồm cả liên minh, và sự can thiệp của Mỹ trong các cuộc bầu cử ở nước ngoài là rõ ràng, mọi người đều biết. Chiến dịch tố cáo “những tin giả” do Moskva phá đi, đang diễn ra sôi nổi tại Pháp cũng như tại Đức ở thời điểm gần tới bầu cử. Cáo buộc này đầu độc chiến dịch tranh cử tại những nước này chứ không phải là truyền thông Nga. Sự cáo buộc rằng Marine Le Pen là “ứng cử viên của Moskva” không chỉ được cho là làm hỏng cơ may của bà, mà còn là cái cớ để tạo nên một “cuộc cách mạng màu” nếu như bà Le Pen giành chiến thắng trong cuộc bầu cử vòng hai ở Pháp ngày 7/5. Sự can thiệp của CIA trong các cuộc bầu cử ở nước ngoài không chỉ dừng ở những bản tin gây tranh cãi. Do thiếu mối đe dọa xác thực của Nga tại châu Âu, nên việc khẳng định rằng truyền thông Nga “lấn át nền dân chủ của chúng”, dẫn tới việc chỉ rõ Nga là một kẻ thù hiếu chiến, cũng như biện bạch cho sự tăng mạnh tiềm năng quân sự của NATO tại khu vực Đông Bắc châu Âu, điều này làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt của Đức và hướng đầu tư nguồn lực quốc gia cho ngành công nghiệp vũ khí.

Về mặt nào đó, bầu cử Pháp là một sự mở rộng của bầu cử Mỹ, theo đó, thế lực ngầm đã bị mất ứng cử viên yêu thích, nhưng chưa mất đi quyền lực. Vẫn lực lượng này đang thực thi quyền lực ở đây, ủng hộ Marcon như một Clinton của Pháp, nhưng sẵn sàng lên án mọi sự chống đối như một công cụ của Moskva. Những gì xảy ra trong những tháng gần đây đã khẳng định về sự tồn tại của một thế lực ngầm kiểm soát nhà nước, nó không chỉ mang tầm quốc gia mà là xuyên Đại Tây Dương và khao khát trở thành thế lực toàn cầu. Chiến dịch chống Nga là một phát hiện về vấn đề này. Nó tiết lộ cho nhiều người thấy rằng thực sự có một thế lực ngầm kiểm soát nhà nước, có ảnh hưởng xuyên Đại Tây Dương. Thuật ngữ “thế lực ngầm kiểm soát nhà nước” thậm chí xuất hiện bất ngờ trong lời lẽ của những người trung thành với chế độ, như một thực tế không phủ nhận, cho dù khó xác định chính xác. Thay vì gọi là tổ hợp công nghiệp quân sự, có lẽ người ta có thể phải gọi nó là tổ hợp truyền thông – tình báo – công nghiệp quân sự. Quyền lực của nó là quá lớn, nhưng cần biết sự tồn tại của nó là bước đầu tiên để giải phóng chúng ta khỏi ảnh hưởng của nó.

Nguồn: contre-la-pensee-unique.org

TLTKĐB – 24/03/2017

Pháp: Lại một chiến dịch tranh cử tổng thống tồi tệ – Phần đầu


Dường như chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ đã chưa đủ khó chịu thì lại có một cuộc bầu cử khác tại Pháp.

Hệ thống ở Pháp rất khác với hệ thống ở Mỹ, với nhiều ứng cử viên cạnh tranh ở hai vòng, phần lớn ứng cử viên có khả năng diễn thuyết rất tốt, thậm chí đôi khi đề cập tới những vấn đề chính trị thực sự. Thời gian họ xuất hiện trên truyền hình là miễn phí, vì vậy giảm ảnh hưởng can thiệp của tiền bạc. Vòng một bầu cử tổng thống Pháp vào ngày 23/4 sẽ chọn ra hai ứng cử viên cuối cùng cho cuộc bầu cử vòng hai ngày 7/5, điều này cho phép có nhiều sự lựa chọn hơn so với ở Mỹ. Và mặc dù có ưu thế về hệ thống bầu cử, nhưng những người đứng đầu tầng lớp chính trị vẫn muốn lặp lại thói quen của đế quốc, tới mức lặp lại chủ đề nổi bật nhất năm 2016 ở Mỹ: Người Nga hiểm độc đang tấn công nền dân chủ tuyệt vời của chúng ta. Mô phỏng hệ thống bầu cử của Mỹ bắt đầu với “vòng bầu cử sơ bộ” do hai đảng chính tổ chức, những đảng này mong muốn trở thành những thành phần tương đương với Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa ở Mỹ trong một hệ thống hai đảng. Đảng cánh hữu của cựu Tổng thống Nicolas Sarkozy đã đổi tên thành đảng Những người Cộng hòa và những nhà lãnh đạo của Đảng Xã hội Pháp chỉ chờ dịp để đổi tên là đảng Những người Dân chủ. Tuy nhiên, trong cuộc đấu lần này, dường như hkông một ai dám chắc giành chiến thắng. Vì chính phủ do Đảng Xã hội kiểm soát của Tổng thống sắp mãn nhiệm François Hollande không hợp lòng dân, nên đảng Những người Cộng hòa từ lâu được coi như lực lượng đương nhiên có ưu thế để đánh bại Marine Le Pen. Với triển vọng đầy hứa hẹn như vậy, cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Những người Cộng hòa đã huy động được số cử tri tự nguyện (tham gia đóng góp tài chính và thực hiện sự ủng hộ đối với “những giá trị” của Đảng để có thể bỏ phiếu) cao gấp đôi so với Đảng Xã hội. Sarkozy bị loại, nhưng ngạc nhiên hơn, nhân vật được ưa thích, thị trưởng đáng tin cậy của thành phố Bordeaux, Alain Juppé cũng là người bị loại, ông đã đứng đầu trong các cuộc thăm dò dư luận và bài xã luận của báo chí.

Phẩm giá gia đình Fillon

Thể hiện sự thất vọng đối với giới chính trị, các cử tri đảng Những người Cộng hòa đã mang lại thắng lợi không mấy khó khăn cho cựu Thủ tướng François Fillon, một tín đồ Thiên Chúa giáo thực thi chính sách đối nội theo đường lối tân tự do mạnh mẽ: Giảm thuế thu nhập đối với các công ty, cắt giảm mạnh trợ cấp xã hội, bao gồm cả bảo hiểm y tế – tăng cường những thành quả mà các chính phủ trước đã thực hiện, nhưng mạnh mẽ hơn. Điều khác thường là Fillon chỉ trích mạnh mẽ chính sách chống lại Nga hiện nay. Ông cũng làm chệch hướng sự quyết tâm của chính phủ do Đảng Xã hội cầm quyền trong việc lật đổ Tổng thống Syria al-Assad bằng việc bày tỏ thiện cảm đối với những người Cơ đốc giáo đang bị quấy phá tại Syria và lực lượng bảo vệ họ, đó là Chính phủ al-Assad. Fillon có dáng vẻ đáng kính của một người mà người ta dễ dàng tin tưởng. Như trong chủ đề tranh cử, ông đã nhấn mạnh tới khả năng đạo đức của mình trong đấu tranh chống tham nhũng. Sự tồi tệ lại vận vào ông! Ngày 25/1, tuần báo trào phúng Le Canard enchaîné (Con vịt bị xiềng) đã mở đầu một chiến dịch truyền thông hiện vẫn đang diễn ra được hiểu để phá hủy hình ảnh của “Ngài trong sạch”, bằng việc tiết lộ, vợ ông, bà Penelope gốc Anh, đã nhận một khoản lương kỳ lạ nhờ vào việc làm trợ lý cho ông. Vì bà Penelope được biết đến là người nội trợ, ở nhà nuôi dạy con cái ở vùng quê, sự tồn tại công việc này tạo ra mối nghi ngờ thực sự. Ông Fillon cũng đã trả thù lao luật sư cho con trai ông vì những nhiệm vụ không định rõ, và cho con gái ông tự nhận là giúp đỡ ông trong việc viết một cuốn sách. Về mặt nào đó, những luận cứ này chứng minh sức mạnh giá trị gia đình của ứng cử viên bảo thủ. Tuy nhiên, chỉ số tín nhiệm của ông đã sụt giảm và ông có nguy cơ bị truy tố hình sự vì sự gian lận này. Sự việc diễn ra từ nhiều năm, và thời điểm tiết lộ của họ được tính toán kỹ càng để đảm bảo sự thất bại của ông Fillon. Ngoài ra, thậm chí ngay sau ngày tiết lộ của tờ Canard enchaîné, một cuộc điều tra tư pháp đã được tiến hành. So với tất cả những vụ việc gian dối không được tiết lộ và những tội ác gây đổ máu không được giải quyết do những chủ thể kiểm soát nhà nước Pháp phạm phải trong những năm qua, đặc biệt là trong suốt các cuộc chiến diễn ra ở nước ngoài, thì việc làm giàu cho gia đình của ông Fillon có vẻ như tương đối nhỏ. Nhưng công chúng lại không nhìn thấy được điều này.

Việc này có lợi cho ai?

Nhìn chung, rõ ràng là dù ứng cử viên của đảng Mặt trận quốc gia (FN), bà Marine Le Pen, luôn dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận, nhưng người nào về thứ hai sẽ là người thắng trong vòng hai bởi vì giới chính trị và các cơ quan báo chí sẽ liên minh với nhau theo tiếng gọi “Hãy cứu lấy nền cộng hòa!”. Nỗi lo sợ Mặt trận quốc gia như “mối đe dọa đối với nền cộng hòa” đã trở thành một công cụ gây sức ép cho cử tri phục vụ mục đích riêng cho các đảng. Trong quá khứ, hai đảng chính đã vờ vĩnh thông đồng với nhau nhằm làm mạnh hơn FN để lấy phiếu bầu của đối thủ.

Việc đánh ngã Fillon giúp tăng thêm vận may cho ứng cử viên của Đảng Xã hội hiện hoàn toàn mất hết uy tín, có thể về vị trí thứ hai khi phép màu xuất hiện, và như một hiệp sĩ chống lại con rồng Le Pen. Nhưng chính xác ai là ứng cử viên theo đường lối xã hội? Không rõ. Có ứng cử viên chính thức của Đảng Xã hội, ông Benoît Hamon. Nhưng ứng cử viên độc lập tách ra từ Chính quyền Hollande, Emmanuel Macron, “không thuộc cánh hữu cũng không phải cánh tả”, nhận được sự ủng hộ của cánh trung hữu trong Đảng Xã hội cũng như phần lớn giới tinh hoa theo đường lối tân tự do toàn cầu. Marcon là người thắng cuộc được lập trình. Nhưng trước tiên, hãy quan sát sự phản đối của ông này đối với cánh tả. Với tỷ lệ tín nhiệm dưới 10%, François Holland đã phải miễn cưỡng nhận sự trách cứ từ các cộng sự của ông nhằm tránh sự nhục nhã của một thất bại thảm hại nếu ông tuyên bố tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Bầu cử sơ bộ được ít người tham gia của Đảng Xã hội có thể buộc phải chọn nhân vật rất thân Israel, Thủ tướng Manuel Valls. Hoặc nếu không, là Arnaud Montebourg, một hình mẫu Warren Beatty của chính trị Pháp, nổi tiếng với những mối quan hệ lãng mạn của ông và sự biện hộ của ông trong ủng hộ tái công nghiệp hóa nước Pháp.

Tuy nhiên, một lần nữa, thật ngạc nhiên! Người chiến thắng lại là một nhân vật mờ nhạt và ít được biết đến, cần cù nhưng không có sáng kiến trong đảng, Benoît Hamon, người đã cưỡi lên ngọn sóng bất bình của dân chúng để xuất hiện như một sự chỉ trích và một giải pháp thay thế của “cánh tả” cho một chính phủ do Đảng Xã hội cầm quyền vốn đã phản bội mọi lời hứa của ông Hollande trong đấu tranh tài chính, và thay vì điều đó, đã nhắm vào quyền của người lao động. Là người thuộc cánh tả, ông Hamon đã tăng thêm yêu sách khi giới thiệu một mánh khóe đang là thời thượng ở những nơi khác tại châu Âu nhưng lại là yếu tố mới trong tư duy chính trị của Pháp: “Thu nhập cơ bản phổ thông”. Ý tưởng trợ cấp cho mỗi công dân, thậm chí cho tất cả mọi người, dường như hấp dẫn đối với giới trẻ, vốn gặp khó khăn trong tìm việc làm. Nhưng ý tưởng này được Milton Friedman và những người truyền bá khác của chủ nghĩa tư bản tài chính phóng túng, ủng hộ, thật ra lại là một cái bẫy. Dự án này hiển nhiên giữ cho tình trạng không có việc làm trở nên thường xuyên, trái với những dự án nhằm tạo ra việc làm hoặc chia sẻ việc làm. Nó dự kiến được tài trợ bằng việc thay thế mọi loại trợ cấp xã hội nhân danh “loại bỏ chế độ quan liêu” và “tự do tiêu dùng”. Dự án có thể làm suy yếu giai cấp công nhân vốn được xem như một lực lượng chính trị, bằng việc phá hủy nguồn lực xã hội chung với các dịch vụ công là đại diện, và bằng việc chia sẻ các tầng lớp phụ thuộc giữa những người lao động được trả công và người tiêu dùng nhàn rỗi. Ít có cơ may thu nhập phổ thông trở thành một vấn đề nghiêm túc trong chương trình nghị sự của chính trị nước Pháp. Hiện nay, yêu sách cực đoan của Hamon dùng để quyết rũ các cử tri của ứng cử viên cánh tả độc lập Jean-Luc Mélenchon. Các ứng cử viên này đang cạnh tranh nhau để giành sự ủng hộ của Đảng Xanh và các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, đảng đã đánh mất mọi khả năng xác định rõ quan điểm của chính mình.

Cánh tả bị chia rẽ

Diễn giả truyền cảm hứng gây ấn tượng, Mélenchon được biết đến trong năm 2005 là người dẫn đầu trong phản đối đề xuất hiến pháp châu Âu, vốn bị người Pháp bác bỏ trong một cuộc trưng cầu ý dân, tuy nhiên, nó lại được quốc hội Pháp thông qua dưới một danh nghĩa khác. Như nhiều người cánh tả khác tại Pháp, Mélenchon là một cựu thành viên theo đường lối Trotsky từng tham gia Đảng Xã hội, ông rời đảng này năm 2008 để thành lập Đảng của Cánh tả. Đôi lần, ông lôi kéo Đảng Cộng sản đang mất phương hướng vào Mặt trận cánh tả, rồi tuyên bố là ứng cử viên tổng thống của một mặt trận độc lập mới với tên gọi “Nước Pháp không chịu khuất phục”. Mélenchon hiếu chiến với báo chí Pháp dễ bảo, trong khi ông bảo vệ các quan điểm phi chính thống, ví dụ bằng việc ca ngợi Chavez hay bác bỏ chính sách đối ngoại bài Nga của Pháp hiện nay. Trái với quan điểm thông thường của Hamon, vốn theo đường lối của Đảng Xã hội, Mélenchon muốn nước Pháp rời khỏi Khu vực đồng euro và NATO.

Có hai cá tính rất mạnh trong cuộc tranh đua này: Mélenchon ở cánh tả và đối thủ tuyệt vời của ông, Marine Le Pen ở phe cực hữu. Trong quá khứ, sự cạnh tranh của họ trong các cuộc bầu cử địa phương đã cản trở họ giành thắng lợi, thậm chí ngay cả khi bà Le Pen dẫn đầu. Quan điểm của họ về chính sách đối ngoại khó có thể phân xử phải trái: Chỉ trích Liên minh châu Âu, muốn rời khỏi NATO, quan hệ tốt với Nga.

Vì cả hai đều lèo lái đường lối được thiết lập của hai đảng, nên họ bị tố cáo là “những người theo chủ nghĩa dân túy”, một thuật ngữ muốn chỉ người gây sự chú ý nhiều hơn những gì mà người bình thường mong muốn.

Về chính sách xã hội, bảo vệ các dịch vụ xã hội và các quyền của người lao động, Le Pen rõ ràng theo quan điểm cánh tả của Fillon. Tuy nhiên, vết nhơ gắn với FN bị coi là đảng cực hữu vẫn còn đó, mặc dù với cố vấn thân cận là Florian Philippot, Marine Le Pen đã tách khỏi người cha, ông Jean-Marie, và điều chỉnh lại đường lối của đảng để thu hút các cử tri trong giai cấp công nhân. Di sản chính của FN lâu nay là sự thù địch đối với vấn đề nhập cư, hiện nay, nó tập trung vào sự sợ hãi liên quan đến những kẻ khủng bố Hồi giáo. Những cuộc thảm sát khủng bố tại Paris và Nice đã khiến các quan điểm được lòng dân hơn. Trong nỗ lực vượt qua tai tiếng bài Do Thái của người cha, Marine Le Pen đã làm hết sức mình để thu hút cộng đồng người Do Thái, được trợ giúp bởi sự bác bỏ Hồi giáo “phô trương”, dẫn tới việc yêu cầu cấm mang khăn che mặt của người Hồi giáo tại nơi công cộng. Một giả thuyết về vòng hai giữa Mélenchon và Le Pen sẽ là một cuộc gặp gỡ giữa một cánh tả được làm mới và một cách hữu được phục hưng, một sự thay đổi thực sự xa với tính chính thống chính trị, điều vốn đã làm mất đi sự ủng hộ của phần lớn cử tri. Điều đó một lần nữa có thể làm cho chính trị trở nên hấp dẫn. Trong khi sự bất bình của dân chúng đối với “hệ thống” lớn thêm, nguyệt san không theo trào lưu chính Causeur của Elizabeth Lévy đã cho rằng quan điểm phản hệ thống của Mélenchon có thể có cơ may nhất trong việc đánh bại quan điểm phản hệ thống của Le Pen bằng việc thu hút các lá phiếu của giai cấp công nhân.

(còn tiếp) 

Nguồn: contre-la-pensee-unique.org

TLTKĐB – 24/03/2017

Đức – nước thao túng tiền tệ


Sẽ gần như không có nhà kinh tế học nào phản đối nếu Peter Navarro, trưởng cố vấn thương mại mới của Tổng thống Trump, chỉ tuyên bố lại lẽ phải có trong các sách giáo khoa tiêu chuẩn: Một đồng tiền chung không thể phù hợp với các nhu cầu khác nhau của các nền kinh tế bị tác động bởi những cú sốc không cân xứng. Nhưng tuyên bố của ông Navarro độc đáo hơn nhiều, trong đó ông khẳng định rằng Đức đang sử dụng đồng euro định giá thấp kinh niên để thúc đẩy xuất khẩu của nước họ và lợi dụng các nước láng giềng châu Âu và Mỹ. Quan điểm này dường như cũng phù hợp với tuyên bố được ông Trump phát biểu trước đó 2 tuần, rằng Liên minh châu Âu là phương tiện của Đức.

Chúng ta hãy xem xét một số điểm để giúp làm rõ vấn đề này.

Một số thực tế về sự hội nhập tiền tệ châu Âu

Có thể sẽ là hữu ích khi bắt đầu bằng việc nêu bật các động cơ chính phía sau sự hội nhập tiền tệ châu Âu.

Nỗ lực của Cộng đồng châu Âu nhằm thiết lập một hệ thống ổn định tỷ giá hối đoái đã trải dài suốt vài thập kỷ. Trong các chính phủ có liên quan, có một niềm tin chắc chắn rằng việc gặt hái các lợi ích trọn vẹn của thị trường chung châu Âu sẽ đòi hỏi phải loại bỏ càng nhiều càng tốt các chi phí giao dịch và những sự không chắc chắn có liên quan tới các tỷ giá hối đoái (biến động). Các nỗ lực đầu tiên để dấn thân vào con đường dẫn tới liên minh tiền tệ châu Âu đã xuất hiện từ những năm 1960. Cùng lúc đó, các chính phủ đã coi sự hợp tác kinh tế như một công cụ để thúc đẩy sự hội nhập chính trị sâu sắc hơn. Cuối cùng, theo Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu, tiền thân của Liên minh tiền tệ châu Âu ngày nay, các nhà hoạch định chính sách ngày càng nhận thấy rõ rằng việc ổn định tỷ giá hối đoái và sự lưu thông vốn tự do không tương thích với việc duy trì sự tự trị về chính sách tiền tệ quốc gia. Chỉ có thể cùng một lúc duy trì 2 trong số 3 đặc trưng này, một hệ quả tất yếu vốn được biết đến rộng rãi trong kinh tế học quốc tế với cái tên “Bộ 3 bất khả thi”. Cách hiểu này đã góp phần đáng kể cho động thái của các chính phủ châu Âu nhằm thiết lập một đồng tiền chung – đồng euro – và nhằm tập trung độc quyền ra quyết định tiền tệ ở Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) mới. Nhiều người nhìn nhận động thái này như một công cụ chủ yếu để đẩy mạnh sự hợp tác chính trị sâu sắc hơn bao giờ hết giữa các quốc gia châu Âu, một quan điểm cũng đã trở nên thịnh hành ở Đức. Tiến trình hội nhập tiền tệ châu Âu này trông có vẻ khá khác biệt so với câu chuyện của ông Navarro về sự lợi dụng. Ký ức của tác giả về các áp lực kinh tế và lời khuyên mà Đức và chính phủ nước này đã phải đối mặt khi đồng euro được thiết lập cũng khá khác biệt so với những gì ông Navarro đang cố gắng nói với chúng ta. Trong phần lớn những năm 1990 và nhiều năm trong thập kỷ tiếp sau đó, Đức đã phải gánh chịu tình trạng tăng trưởng trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao, những sự cứng nhắc về quy chế đã tác động tới những bộ phận lớn của nền kinh tế, và một gánh nặng tài chính nặng nề bắt nguồn từ các yếu tố kinh tế của việc thống nhất đất nước. Cũng như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức khác, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã cảnh báo Chính phủ Đức rằng việc phục hồi sức mạnh kinh tế sẽ cần tới sự cải cách quy chế có ảnh hưởng sâu rộng trong các thị trường lao động và sản phẩm, cũng như trong hệ thống thuế – giao dịch. Cũng có một niềm tin phổ biến rằng một nền kinh tế Đức suy yếu sẽ không đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của các quốc gia khác ở châu Âu cũng như những nơi khác, và điều này càng đúng đắn hơn trong các điều kiện của một đồng tiền chung châu Âu.

Đồng USD, đồng euro và sự mất giá đồng tiền

Nếu tất cả những điều này không khớp với câu chuyện về sự lợi dụng của Navarro, vậy chính sách tiền tệ thì sao? Đức có thúc ép Ngân hàng trung ương châu Âu mở rộng tiền tệ trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy xuất khẩu của nước này hay không?

Quy chế và các đặc trưng thể chế nhất định của ECB đã khiến tổ chức này độc lập với bất kỳ sự can thiệp nào từ các chính phủ hay thể chế trong Liên minh châu Âu. Trên thực tế, Chính phủ Đức đã làm nhiều việc để níu giữ sự độc lập của ECB trong Hiệp ước về chức năng của Liên minh châu Âu (khi hiệp ước có liên quan này được đặt tên sau đó) và các điều khoản có liên quan trong quy chế của ECB.

Tuy nhiên, đúng là các chính sách tiền tệ mang tính mở rộng cực đoan, như đã được quan sát thấy trong thập kỷ qua, đã là một nguyên nhân chủ yếu của sự mất giá đồng tiền và những sự biến động qua lại lớn trong các dòng vốn xuyên biên giới. Để phản ứng trước cuộc khủng hoảng tài chính, một vài trong số các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới đã thông qua các chính sách mang tính mở rộng phi truyền thống trên quy mô lớn, trong nỗ lực nhằm kích thích các nền kinh tế của họ vượt qua sự tăng trưởng yếu kém. Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ cùng với Ngân hàng Anh đã đi tiên phong trong cách tiếp cận này.

Các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở Ngân hàng dự trữ liên bang ở St. Louis cho thấy thông báo về các chương trình mua tài sản của Ủy ban thị trường mở Liên bang vào năm 2008 và 2009 đã làm giảm giá đồng USD so với đồng euro và các đồng tiền chủ yếu khác ở mức từ 3,5% đến 7,75%. Các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện ở Ngân hàng dự trữ liên bang ở San Francisco cũng đã phát hiện các tác động đáng kể của những thông báo về chính sách tiền tệ của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (FED) lên giá trị đồng USD, giống như một vài nghiên cứu khác.

Mặc dù chính sách tiền tệ của FED đã gây mất giá đồng USD, nhưng gọi điều này là “thao túng tiền tệ” rõ ràng là không thỏa đáng. Ngân hàng trung ương châu Âu ở vị trí nào trong bức tranh này? Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính ở Khu vực đồng euro, khi các thị trường liên ngân hàng đang dần cạn kiệt, ECB đã đóng góp thành công vào việc kiềm chế thiệt hại trong hệ thống tín dụng của nền kinh tế bằng việc “bơm” tiền mặt vào khu vực ngân hàng. Điều thú vị là ở thời điểm đó, nhiều nhà quan sát đã cho rằng sự mở rộng tiền tệ của ECB là quá rụt rè đến mức không thể kích thích tổng cầu, đáng chú ý là khi so sánh với các chính sách được FED của Mỹ và Ngân hàng Anh thông qua.

Tuy nhiên, ECB đã đổi chiến lược, bắt đầu tiến hành mở rộng dài hạn trên quy mô lớn bảng cân đối kế toán của họ thông qua việc mua tài sản và các công cụ phi truyền thống, chẳng hạn như lãi suất âm áp dụng cho công cụ tiền gửi của họ. Điều này là để đẩy lạm phát và các kỳ vọng lạm phát lên mức mục tiêu. Như các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, việc thông báo về chính sách này gắn liền với việc đồng euro mất giá mạnh so với đồng USD và các đồng tiền khác, tương thích với các tác động tỷ giá đồng USD của các can thiệp của FED, vốn được phát hiện trước đó.

Tuy nhiên, giai đoạn này không chỉ liên quan tới chính sách tiền tệ của ECB, vì các điều chỉnh chính sách tiền tệ gần đây ở Mỹ càng đẩy sâu giá đồng euro. Giữa năm 2014, Ủy ban thị trường mở liên bang đã bắt đầu báo hiệu rằng họ sẽ bắt đầu bình thường hóa con đường mở rộng tiền tệ. Theo sau điều này là việc FED giảm mua các tài sản và tăng lãi suất chính sách. Thời điểm của sự điều chỉnh này suýt soát trùng với động thái hướng tới các chính sách phi truyền thống quy mô lớn của ECB. Do vậy, trong mức độ mà chính sách tiền tệ đã ảnh hưởng tới giá trị của đồng euro, kết quả cũng bị ảnh hưởng bợi các tín hiệu chính sách khác nhau trong Khu vực đồng euro và ở Mỹ.

Ai cũng biết việc mở rộng tiền tệ mạnh mẽ của ECB phải chịu nhiều chỉ trích ở Đức. Quả thật, mặt trái của các chính sách tiền tệ siêu mở rộng mà FED, ECB và các ngân hàng trung ương chủ yếu khác đã tiến hành là việc chúng có thể bóp méo nghiêm trọng sự phân phối vốn, trong đó có các dòng vốn xuyên biên giới. Đồng thời, các chính sách này cũng khó đảo ngược – đây là một phát hiện khác cũng đúng ở cả 2 bờ Đại Tây Dương.

Nhưng sẽ là quá đơn giản nếu thừa nhận các chính sách tiền tệ lỏng lẻo và tăng trưởng xuất khẩu có liên kết chặt chẽ với nhau. Tính cạnh tranh về giá liên quan tới tỷ giá hối đoái thực, trong đó bao hàm các biến động của giá cả hàng hóa trong nước và ngoài nước, chứ không phải tỷ giá hối đoái danh nghĩa, vốn không bao hàm các biến động này. Nếu theo sau sự sụt giá trên danh nghĩa sẽ không có tác động đối với xuất khẩu. Nói cách khác, nếu chính sách tiền tệ lỏng lẻo dẫn đến lạm phát cao hơn, tác động của sự sụt giá trên danh nghĩa đối với thương mại gây ra bởi chính sách tiền tệ lỏng lẻo đó sẽ biến mất.

Cũng với lý do này, bất kỳ nhà hoạch định chính sách nào cũng sai lầm nếu trông mong vào các chính sách tiền tệ mở rộng để đem lại xuất khẩu cao hơn. Chính sách này sẽ có nguy cơ đánh đổi một tác nhân kích thích xuất khẩu tạm thời nào đó để có được lạm phát trung hạn. Nhiều người cho rằng dư luận Đức quá quan tâm tới việc tránh các nguy cơ lạm phát. Ông Navarro có đang đề xuất điều ngược lại không?

Vậy còn động lực của thặng dư tài khoản vãng lai của Đức thì sao?

Tổng thẳng dư tài khoản vãng lai của Đức đã đạt tới mức cao kỷ lục, khoảng 8,5% GDP. Tuy nhiên, đáng lưu ý là một phần đáng kể trong xuất khẩu của Đức được tạo thành từ giá trị gia tăng được sản xuất ở nước ngoài. Dữ liệu quốc tế về hàm lượng giá trị gia tăng chỉ được công bố nhiều năm 1 lần, do tính phức tạp của các chuỗi giá trị gia tăng. Tuy nhiên, dữ liệu có sẵn mới nhất, được OECD công bố năm 2011, cho thấy hàm lượng giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu của Đức (25,5%) cao hơn đáng kể so với trong xuất khẩu của Mỹ (15%). Ngoài ra, trong thập kỷ trước đó, hàm lượng giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu của Đức đã tăng 72%, nhanh hơn rất nhiều so với trong xuất khẩu của Mỹ (31%).

Hơn nữa, thặng dư của Đức với các quốc gia thuộc Khu vực đồng euro đã giảm từ 4,25% GDP năm 2007 xuống 2% năm 2015. Sự giảm bớt này là đặc biệt rõ rệt đối với các quốc gia chịu tác động nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng. Hầu hết các nước này đã loại bỏ được các mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn trước đây của họ và hiện đang ghi nhận các mức thặng dư. Một số người đã đề xuất rằng Chính phủ Đức nên kích cầu và kích thích nhập khẩu bằng cách thúc đẩy chi tiêu công. Đề xuất này không có vẻ đặc biệt thuyết phục đối với một nền kinh tế dường như đang vận hành với công suất gần như tối đa, phơi bày mức nợ công 70% GDP, và có một xã hội đang già hóa nhanh chóng. Bên cạnh đó, sự tăng cầu này sẽ chỉ là tạm thời, và sự lan truyền tích cực sang các nền kinh tế khác qua kênh thương mại nếu có nah65n thấy được thì cũng ở mức nhỏ.

Vẫn có cơ hội cho một số cải cách quy chế, chẳng hạn trong một số bộ phận của ngành dịch vụ. Tuy nhiên, việc cải cách cấu trúc giảm bớt thặng dư tài khoản vãng lai không phải là điều hiển nhiên, ngược với những gì đôi khi được khẳng định. Một mặt, cải cách có thể tác động tích cực lên nhu cầu trong nước, làm gia tăng nhập khẩu của Đức. Mặt khác, cải cách sẽ gia tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, điều này có xu hướng mang lại sự thúc đẩy bổ sung cho xuất khẩu của Đức. Những nhận xét tương tự cũng đúng đối với đầu tư và cơ sở hạ tầng.

Có lẽ chính sách kinh tế vĩ mô rõ ràng nhất có tác động lên thặng dư tài khoản vãng lai của Đức sẽ là các bước đi của ECB hướng tới bình thường hóa chính sách tiền tệ. Những bước đi này dù gì cũng sẽ là thích đáng. Có lẽ ông Navarro chỉ muốn gia tăng nhận thức về sự phân nhánh của các chính sách tiền tệ siêu mở rộng của FED ở Mỹ và của ECB. Nếu đó là ý định của ông, thì tác giả bài viết này chắc chắn sẽ đồng tình.

Viện: AICGS

TLTKĐB – 24/3/2017

Donald Trump có thể cứu vãn chính sách đối ngoại của EU như thế nào? – Phần cuối


Chống biến đổi vũ khí hạt nhân

Sự phản đối của ông Trump đối với thỏa thuận hạt nhân Iran, dòng trạng thái trên Twitter của ông vào tháng 12/2016 về việc Mỹ cần mở rộng kho vũ khí hạt nhân của nước này, và giọng điệu thiếu cơ sở của ông về các lợi ích tiềm tàng đối với năng lực vũ khí hạt nhân của Nhật Bản đưa ra viễn cảnh Mỹ sẽ cam kết yếu ớt hơn về việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân. Sau 70 năm và bất chấp các thiếu sót đáng kể, Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn là không thể thiếu được đối với an ninh quốc tế. Các bảo đảm an ninh và hoạt động ngoại giao tích cực của Mỹ đã và đang là cơ sở để thuyết phục các quốc gia ngừng các chương trình vũ khí hạt nhân. Washington giữ vững tiến trình nhiều thập kỷ của mình trong 4 năm tới.

Biến đổi khí hậu

Trong khi hệ thống không phổ biến hạt nhân phụ thuộc vào sự tham gia của Mỹ, hành động về biến đổi khí hậu là một lĩnh vực mà trong đó EU có thể xúc tiến cùng các đồng minh khác. Nhờ có sự lãnh đạo vững mạnh của châu Âu, thỏa thuận biến đổi khí hậu Paris đạt được vào tháng 12/2015 đã mở ra một chương trình mới trong cuộc đấu tranh dai dẳng nhằm giải quyết hiện tượng ấm lên toàn cầu. Sự hỗ trợ và ngoại giao của Mỹ, đặc biệt là trong việc củng cố cam kết của Trung Quốc, là cốt yếu đối với thành tựu này. Nếu Chính quyền Trump thoát ly khỏi ngoại giao về khí hậu và đảo ngược các chính sách giảm bớt phát thải trong nước như một số tuyên bố trên chặng đường tranh cử và những sự bổ nhiệm vị trí chính trị cấp cao gần đây cho thấy, điều này sẽ làm suy yếu đáng kể hệ thống chống biến đổi khí hậu nhưng sẽ không khiến nó sụp đổ.

Nhiều cam kết quốc gia được đặt ra trong thỏa thuận Paris duy trì lợi ích cho các quốc gia ký kết, bất chấp các chính sách trong tương lai của Mỹ. Người dân sống ở Brussels, Paris và Rome sẽ tiếp tục mong muốn chất lượng không khí được cải thiện, dù ông Trump có bãi bỏ Kế hoạch hành động về khí hậu của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama hay không. Các cam kết của châu Âu nhằm mở rộng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong hỗn hợp năng lượng và mở rộng sự hợp tác trên thị trường năng lượng sẽ vẫn là các nhân tố quan trọng trong việc đẩy nhanh sự đổi mới và cải thiện an ninh năng lượng.

Xét tới quy mô của họ như một đối tượng phát thải carbon toàn cầu và vai trò của họ trong ngoại giao khí hậu tính đến nay, EU đang có một ví thế có một không hai để lấp đầy khoảng trống mà Mỹ đã để lại và làm việc cùng Trung Quốc để lãnh đạo lĩnh vực này. EU sẽ cần phải gia tăng hơn nữa sự can dự của mình và các nỗ lực quốc tế, đầu tư vào những quan hệ đối tác mới, cả đa phương với các nước phát thải lớn trong thế giới đang phát triển cũng như với các bên tham gia mới ở cấp độ dưới quốc gia để làm sâu sắc thêm cam kết đối với mục tiêu giữ cho tình trạng ấm lên toàn cầu ở mức thấp hơn 2oC, như đã được đặt ra trong thỏa thuận Paris.

Sự lãnh đạo sẽ đến từ đâu?

Trong các thay đổi lớn về chính sách và công cụ này, không có thay đổi nào có thể diễn ra mà không có sự lãnh đạo mạnh mẽ về chính sách đối ngoại ở cấp độ EU. Những người đứng đầu các thể chế của EU có vai trò của họ, nhưng chỉ các nhà lãnh đạo quốc gia mới có thể thuyết phục người dân của họ nhìn nhận chính sách đối ngoại một cách nghiêm túc. Cả hai sự lãnh đạo đều cần thiết để EU can dự với các bên tham gia quốc tế độc đoán cũng như tự do.

Đức không thể một mình chống đỡ toàn bộ gánh nặng này và cần có sự cam kết của Pháp cung cấp nguồn lực quân sự và tình báo của nước này, vai trò của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và tầm với toàn cầu. Tới cuối năm 2017, các cuộc bầu cử ở Pháp và Đức có thể sẽ đem đến các chính phủ ổn định với nhiệm vụ dân chủ là làm sống lại quan hệ đối tác đã mang lại sự lãnh đạo cho cả EU trong quá khứ. Điều đó sẽ đem lại cho một nhóm cốt lõi gồm các thành viên EU sẵn lòng và có khả năng một tầm hiểu biết chuyên môn khu vực vững chắc và tài sản đáng kể để đầu tư vào châu Âu, chứ không chỉ các giải pháp quốc gia.

Hội đồng châu Âu, mà cho đến nay chủ yếu đã xử lý chính sách đối ngoại trong chế độ quản trị khủng hoảng, cần phát triển một cách tiếp cận mang tính chiến lược hơn. Các nhà lãnh đạo quốc gia của EU cần tham gia các cuộc thảo luận trọng yếu thường xuyên dựa trên phân tích chiến lược do Cơ quan hành động đối ngoại châu Âu và Ủy ban châu Âu để xây dựng sự cố kết và nâng cao tham vọng chung của EU.

Kết luận

6 thập kỷ sau khi trật tự hậu chiến được hình thành, châu Âu đã có một động cơ to lớn để vượt qua sự phụ thuộc của họ vào sự lãnh đạo của Mỹ. EU sẽ lấp đầy khoảng trống do một nước Mỹ đang thoát ly để lại, hoặc khoảng trống đó sẽ lấp đầy EU.

Cùng với các đối tác có cùng quan điểm, EU có khả năng giới hạn thiệt hại do nền chính trị kiểu Trump gây ra và bảo vệ sự hợp tác khu vực và toàn cầu. Một EU đưa hoạt động của mình vào khuôn khổ và đảm nhận trách nhiệm lớn hơn cũng sẽ có cơ hội tốt hơn để thuyết phục Mỹ duy trì sự can dự – hoặc ít nhất là can dự trở lại sau khi ông Trump đã ra đi.

Có 5 lĩnh vực mà trong đó EU có thể và nên đối mặt với thử thách mà nhiệm kỳ Tổng thống Trump đặt ra, với chính sách đối ngoại của EU bước vào giai đoạn trưởng thành trọn vẹn.

Thứ nhất, EU nên nhận trách nhiệm về các khu vực láng giềng của họ. EU đã có các cam kết đối với các nước láng giềng từ Đông Âu mà họ phải bảo vệ trước áp lực từ Nga và tiềm năng thiết lập thỏa thuận Mỹ – Nga. Ở phía Nam, sự thiếu hoạt động của phương Tây đã cho phép bi kịch Syria mở ra. Trải nghiệm này không được phép lặp lại. Trung Đông sẽ vẫn trong tình trạng rối loạn, trong khi áp lực nhân khẩu học và sự quản trị yếu kém đang đè nặng lên các xã hội châu Phi. Có thể sẽ có các trường hợp nhà nước thất bại khác. EU sẽ không thể kiềm chế được hệ quả này chỉ bằng việc cố gắng xua đuổi những người đang trốn chạy bất ổn ra khỏi biên giới của mình. Họ sẽ phải đầu tư một cách nghiêm túc vào sự ổn định của các khu vực về phía Đông và phía Tây của họ thông qua ngoại giao hiệu quả hơn và phối hợp sử dụng tốt mọi công cụ của họ.

Thứ hai, người châu Âu phải có cái nhìn nghiêm túc về an ninh của chính họ. Sự thoát ly của Mỹ có thể gia tăng ý chí của châu Âu để phát triển và đầu tư vào các chính sách an ninh và phòng thủ năng động hơn. Tự trị chiến lược cuối cùng phải trở thành một ưu tiên hàng đầu. Trong khi NATO vẫn nên là diễn đàn chính của an ninh châu Âu, tình trạng không chắc chắn gia tăng nên thúc đẩy các thành viên EU phát triển khả năng tự hành động.

Thứ ba, người châu Âu phải bảo vệ trật tự quốc tế. EU nên hợp tác với các bên liên quan khác mà vẫn muốn đầu tư vào trật tự thế giới tự do: Australia, Canada, New Zealand, và cả Trung Quốc và Ấn Độ. EU có thể trở thành đối tác hấp dẫn nhất đối với Trung Quốc trong việc chống biến đổi khí hậu và duy trì hệ thống thương mại toàn cầu. Nếu ông Trump theo đuổi chính sách “Nước Mỹ trên hết” của mình, điều này có thể thúc đẩy các quốc gia và khu vực khác làm việc gẫn gũi hơn với nhau và tạo ra nhu cầu lớn hơn cho sự can dự của EU ở nhiều vùng trên thế giới. Chính sách đối ngoại của ông Trump có thể làm xa lánh nhiều quốc gia, và EU cần giữ gìn ngọn lửa của sự hợp tác quốc tế.

Thứ tư, EU cần duy trì một mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương ngoài Chính phủ Mỹ. Châu Âu cần thay đổi cách họ tương tác với Mỹ. EU nên phát triển một chính sách Mỹ bằng cách vươn tới một phạm vi rộng của xã hội Mỹ và có nhiều hoạt động ngoại giao công chúng hơn để thuyết phục những người Mỹ không thuộc chính quyền làm việc với châu Âu để cải thiện tình trạng của thế giới. EU từ lâu đã thúc đẩy đối thoại xã hội dân sự trong quan hệ của họ với các nước thứ ba. Giờ đây họ cũng cần áp dụng phương pháp này vào quan hệ xuyên Đại Tây Dương.

Cuối cùng, người châu Âu phải bảo vệ các giá trị tự do. Việc ông Trump đắc cử đã mang lại một sự thúc đẩy lớn cho các nhà lãnh đạo muốn từ bỏ cam kết đối với nền dân chủ tự do và giảm bớt những sự kiềm chế mà nó áp đặt lên quyền lực của họ. Văn hóa chính trị trong các nền dân chủ tiên tiến đang thay đổi, khi mà lời nói thù hằn và sự bài ngoại trở nên bình thường, tin tức giả tác động tới nhận thức của ông chúng, và các chuẩn mực thời hậu chiến là khoan dung và quan điểm chống phân biệt chủng tộc yếu đi.

Những thay đổi này đã và đang diễn ra ở châu Âu cũng như ở Mỹ. Phản ứng của một số chính trị gia chủ lưu là tuyên bố rằng họ không còn có thể ủng hộ nền dân chủ tự do trước bộ ba Tổng thống Nga Vladimir Putin, Erdogan, và Thủ tướng Hungary Viktor Orbán, mà đã được ông Trump thúc đẩy. Nhưng EU đã được thành lập với sự cởi mở, sự khoan dung và việc xây dựng lòng tin xuyên biên giới như những bộ phận quan trọng trong chuỗi AND của khối. Nếu người ta cho phép nền dân chủ phi tự do quét sạch các trụ cột này, EU sẽ biến mất cùng với chúng. Các nhà lãnh đạo châu Âu cần thúc đẩy cơ sở giá trị của EU bằng việc lên tiếng ủng hộ nhân quyền, công lý, dân chủ và pháp trị bằng việc chỉ trích mạnh mẽ hơn nữa sự lạm quyền và quản trị yếu kém. Việc bảo vệ các thành tựu của nền dân chủ tự do có thể là một cuộc đấu tranh thực sự trong 4 năm tới, và nó cần phải nằm ở trung tâm của chính sách ngoại giao của EU.

Nguồn: www.carnegieeurope.eu

TLTKĐB – 01/03/2017

Donald Trump có thể cứu vãn chính sách đối ngoại của EU như thế nào? – Phần II


Ông Trump có thể theo đuổi các thỏa thuận mang tính giao dịch khác với Nga, hoặc với Thổ Nhĩ Kỳ hoặc các chế độ chuyên quyền Arập khác nhau, mà sẽ đi ngược lại với sự can dự lâu dài của EU và làm mất ổn định trật tự tiểu khu vực ở một vài nơi. Những thỏa thuận như vậy có thể dẫn tới sự thoát ly bắt ngờ và đột ngột của Mỹ khỏi Caucasus, Bắc Phi và Tây Balkan, nơi đã có sự hợp tác gần gũi EU – Mỹ trong vài thập kỷ. Chúng có thể thay đổi chính sách của Mỹ về vấn đề Syria, đưa Washington hướng tới chấp nhận một giải pháp do Nga và Thổ Nhĩ Kỳ áp đặt. Và chúng có thể giảm bớt áp lực của Mỹ lên Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan liên quan tới cuộc đàn áp khắc nghiệt về quyền, điều mà EU đã chỉ trích.

Ngoài ra, Chính quyền Trump có thể sẽ cố gắng hủy bỏ thỏa thuận với Iran năm 2014 và gia tăng áp lực kinh tế và chính trị của Mỹ lên Tehran, tạo ra các căng thẳng khu vực mới nghiêm trọng. Êkíp Trump cũng có thể sẽ tìm cách đẩy mạnh các nỗ lực chống khủng bố của Mỹ theo những cách xâm phạm các giá trị và tiếp cận cơ bản của châu Âu.

Để đối mặt với thử thách mà chính sách đối ngoại của ông Trump sẽ đặt ra cho châu Âu, EU phải nâng cao năng lực của mình theo một số cách.

Trước hết, EU phải đầu tư vào các thế mạnh của mình. EU phải có nhiều khả năng hơn trong việc chống lại sự công kích của nền chính trị độc đoán dựa trên các mối quan hệ mang tính giao dịch bằng việc đầu tư vào các chính sách đối ngoại và an ninh với quy mô tương tự như họ đã làm với chính sách kinh tế. Họ nên di chuyển nhanh chóng hơn sang hướng góp chung tài sản, chia sẻ các nguồn lực và xây dựng các khả năng thể chế vững mạnh hơn. Thậm chí còn quan trọng hơn, EU cần thay đổi nếp suy nghĩ của mình. Chính sách đối ngoại từ lâu đã là một chủ đề thứ yếu của sự hội nhập châu Âu; giờ đây, các nhà lãnh đạo EU phải ưu tiên nó hơn nhiều. Lần đầu tiên trong lịch sử EU, chính sách đối ngoại cần trở thành một trách nhiệm cốt lõi trong số các lĩnh vực về năng lực của họ.

Có những ý tưởng tốt về cách thực hiện việc này trong chiến lược toàn cầu của EU được Cao ủy EU về chính sách đối ngoại và an ninh Federica Mogherini đưa ra vào tháng 6/2016. Văn kiện này vạch ra một con đường có sức thuyết phục hướng tới một sự can dự cố kết và năng động hơn của EU. Nó đã không may khi được đưa ra ngay sau cuộc trưng cầu ý dân của Anh và do đó không nhận được sự chú ý thích đáng. Nhưng giờ đây nó có thể thêm một cơ hội khi việc ông Trump đắc cử đã một lần nữa tập trung sự chú ý vào các lợi ích, nguyên tắc và ưu tiên của EU.

Nghị trình chính sách đối ngoại mà nó đặt ra tận dụng được các thế mạnh của EU. Với tư cách một thế lực khu vực có cơ chế ra quyết định đa cấp, EU không phù hợp với việc trở thành một bên tham gia địa chính trị lớn. Tuy nhiên, trong một thế giới của các nhà lãnh đạo độc đoán ở Mỹ, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và những nơi khác, EU không thể tránh khỏi chính sách thực dụng. Trên thực tế, họ phải giỏi hơn trong lĩnh vực này. Trước tiên, liên minh cần hợp lý hóa các tiến trình ra quyết định và thúc đẩy kỷ luật tốt hơn để vượt qua thiên hướng bị lộ thông tin của họ. Tuy nhiên, nhu cầu tìm kiếm sự nhất trí của hơn 20 quốc gia sẽ không bao giờ cho phép liên minh hành động với tốc độ của một nhà nước – quốc gia.

EU nên xây dựng trên lợi thế so sánh của họ là kinh nghiệm to lớn trong việc phát triển các nguyên tắc và cam kết dựa trên một sự cân bằng đầy cẩn trọng giữa lợi ích của nhiều bên tham gia. Phần lớn các thách thức then chốt của thế kỷ 21, từ biến đổi khí hậu tới an ninh mạng, chỉ có thể được giải quyết thông qua đàm phán đa phương và sự đồng thuận rộng lớn, do đó rất cần kiểu lãnh đạo này. Trong một thế giới đa cực được đặc trưng bởi sự trở lại của chính sách thực dụng, việc bảo toàn một trật tự toàn cầu dựa trên nguyên tắc ngày càng trở nên khó khăn, nhưng điều này khiến cho sự can dự của EU càng trở nên cần thiết hơn. Không bên tham gia quốc tế nào có vị thế tốt hơn họ để xây dựng các mạng lưới và những quan hệ đối tác mà có thể hỗ trợ và phát triển sự quản lý toàn cầu trong những thập kỷ tới.

Người châu Âu thường tự hào chỉ ra khả năng của họ kết hợp một loạt công cụ, từ khả năng ngoại giao và quân sự tới hỗ trợ thương mại và phát triển, trong việc xử lý các vấn đề quốc tế. Trên thực tế, hồ sơ của EU thường ô uế vì những cuộc chiến giữa các thể chế với thủ đô các nước, nhưng cao ủy đã giúp cải thiện một mặt là sự phối hợp giữa các chính sách đối ngoại và an ninh, và mặt khác là các vai trò của Ủy ban châu Âu trong thương mại, phát triển, viện trợ nhân đạo và chính sách láng giềng. Tuy vậy để EU trở thành một bên tham gia bên ngoài cố kết và toàn diện, các thành viên của khối cần phải liên kết các chính sách của họ nhiều hơn với chính sách chung của EU.

EU cần nâng cấp an ninh và quốc phòng của mình. Trong tất cả các yếu tố của chiến lược toàn cầu của EU, an ninh và quốc phòng đã nhận được nhiều sự chú ý nhất kể từ cuộc trưng cầu ý dân của Anh. Cảm giác cấp bách gia tăng khi sự rối loạn ở các khu vực láng giềng lan ra và cam kết của Mỹ trong tương lai là không chắc chắn.

Kể từ cuộc trưng cầu ý dân ở Anh, 27 nước thành viên còn lại đã nhanh chóng có một loạt cam kết bằng lời về việc nâng cấp đầu tư vào an ninh và quốc phòng châu Âu, củng cố các khả năng, nâng cao hợp tác và cải thiện sự sẵn sàng phản ứng trước các cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, họ sẽ phải tiếp tục bằng ý chí chính trị mạnh mẽ hơn so với những gì họ đã thể hiện trong quá khứ để hoàn thành những cam kết này. Một thời gian dài trước khi ông Trump đắc cử, có thể hiểu được việc các chính quyền của Mỹ đã phàn nàn vì chia sẻ gánh nặng không công bằng đối với an ninh của châu Âu. Giờ đây ngân sách quốc phòng lại đang tăng lên sau khi giảm 12% trong thập kỷ qua, nhưng các chính phủ châu Âu cần phải hành động nhiều hơn nữa. Việc nâng cấp các nỗ lực của châu Âu trong lĩnh vực này mang tính sống còn hơn bao giờ hết – dù là để thuyết phục một nước Mỹ do dự tiếp tục can dự hay để đề phòng trường hợp nước này không thể bị thuyết phục.

EU cũng phải quản lý tình trạng di cư một cách có trách nhiệm. Di cư là một trong số các vấn đề đã đưa ông Trump lên nắm quyền. Việc ông có thực thi những hứa hẹn trong chiến dịch tranh cử của mình hay không và thực thi như thế nào – chẳng hạn trục xuất người di cư trái phép và cấm người Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ – có thể có tác động lớn tới chính trị về di cư ở châu Âu. Việc quản lý tốt hơn tình trạng di cư sẽ mang tính then chốt đối với sự tồn vong của châu Âu và độ tin cậy của hành động họ thực hiện bên ngoài. EU cần một chiến lược toàn diện về quản lý di cư ở châu Âu. Việc quản lý tốt hơn tình trạng di cư sẽ mang tính then chốt đối với sự tồn vong của châu Âu và độ tin cậy của hành động họ thực hiện bên ngoài. EU cần một chiến lược toàn diện về quản lý di cư bền vững, bao gồm việc kiểm soát tốt hơn các biên giới bên ngoài của liên minh, việc chia sẻ gánh nặng giữa các nước thành viên, sự hòa hợp giữa các chính sách và luật pháp, các thể chế vững mạnh hơn, và những dàn xếp công bằng với các nước thứ ba.

Nhưng thách thức di cư vượt xa ra bên ngoài châu âu và khu vực láng giềng. Đó là một hệ quả của toàn cầu hóa và cần phải được xử lý ở cấp độ toàn cầu. Dù các chính sách di cư của Chính quyền Trump có hạn chế đến đâu, EU cũng cần phải tìm kiếm các đối tác để xây dựng các hệ thống quốc tế hiệu quả bảo vệ những người dễ bị tổn thương và cung cấp lộ trình pháp lý cho sự di chuyển lao động quốc tế.

Bảo vệ tài nguyên chung toàn cầu

Ngoài nhiều vấn đề mà chính sách đối ngoại của ông Trump có thể gây ra cho sự đoàn kết và an ninh khu vực châu Âu, nó có thể gây ra các mối đe dọa nghiêm trọng tới các tài nguyên chung toàn cầu. Sự thờ ơ kết hợp với luận điệu hung hăng từ phía Washington có thể gây tổn hại tới nhiều phần của cấu trúc quốc tế nhằm để giải quyết các vấn đề toàn cầu, từ Liên hợp quốc tới Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). EU cần xây dựng các hệ thống phòng vệ vững mạnh hơn cho 3 lĩnh vực mà họ có nhiều điều để mất nhất: thương mại, chống phổ biến vũ khí hạt nhân và biến đổi khí hậu.

Thương mại

Hệ thống thương mại thế giới vốn đã gặp khó khăn từ trước khi ông Trump đắc cử. Tăng trưởng thương mại đã chững lại khi sự bùng nổ được kích hoạt bởi tự do hóa đi tới hồi kết. Chính trị về thương mại đã thay đổi, với việc nhiều quốc gia từng mở cửa chuyển sang đi theo chủ nghĩa bảo hộ. Việc gia tăng sự phản đối 2 thỏa thuận quan trọng nhất là Hiệp định thương mại và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) và Hiệp định thương mại và kinh tế toàn diện EU – Canada (CETA), đã cho thấy rằng điều từng là một trong số các công cụ hiệu quả nhất của chính sách đối ngoại của EU đang ngày càng bị thách thức, trong đó có cả bởi công chúng châu Âu. Ông Trump đã bãi bỏ Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa 12 quốc gia ở khu vực Thái Bình Dương. Các bước đi mang màu sắc bảo hộ hơn nữa có khả năng sẽ theo sau. Nếu xu hướng này tiếp diễn và lan ra các khu vực khác, phí tổn đối với EU có thể là rất lớn, vì phân lớn sự thịnh vượng của họ dựa trên một hệ thống thương mại tự do đối với cả hàng hóa lẫn dịch vụ.

Chủ nghĩa bảo hộ ở Mỹ sẽ dẫn tới các xung đột lợi ích mà có thể đem đến những cuộc chiến thương mại với EU. Ý tưởng ban đầu phía sau TTIP là tạo ra một khuôn khổ toàn diện để xúc tiến mối quan hệ kinh tế Mỹ – EU, với thương mại là một trong các trụ cột chiến lược của nó; nhưng giờ đây, động lực này có khả năng sẽ đảo ngược, với những căng thẳng trên nhiều liên kết thương mại và đầu tư.

Việc chống chủ nghĩa bảo hộ cần tới 3 loại hành động. Thứ nhất, trong các quốc gia, lợi ích của những người lao động và các khu vực đã mất đi vì tự do hóa thương mại đòi hỏi phải có các biện pháp tái phân phối nghiêm túc hơn so với những gì đã được đưa ra trong những năm tháng của chủ nghĩa tân tự do. Các công cụ ngân sách của EU, thông qua các quỹ cấu trúc hỗ trợ các khu vực nghèo hơn, là rất nhỏ khi so sánh với quy mô của vấn đề. Các nước thành viên cũng nên tạo ra các hệ thống bảo vệ lớn hơn ở cấp độ EU, chẳng hạn như thông qua một kế hoạch bảo hiểm thất nhgiệp liên châu Âu, để cho EU không chỉ thực thi kỷ luật tài chính và là một tác nhân của sự toàn cầu hóa mà còn đem lợi ích trực tiếp cho các công dân.

Thứ hai, EU nên theo đuổi nghị trình của riêng mình đối với các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực tiên tiến mà thúc đẩy thay đổi thay vì loại bỏ các hệ thống bảo vệ tiêu chuẩn môi trường và xã hội. Liên minh cũng nên thúc đẩy ủng hộ một chiến lược liên lạc toàn diện, trình bày cho các công dân một cách rõ ràng lợi ích và rủi ro của mỗi thỏa thuận thương mại. Quan trọng nhất là các cuộc đàm phán thương mại phải được xử lý theo một cách thức minh bạch hơn, trong đối thoại với xã hội dân sự, để xây dựng lòng tin và đảm bảo các lợi ích tiêu dùng, môi trường và xã hội được bảo vệ.

Thứ ba, EU nên tập hợp một liên minh quốc tế vững mạnh để chống lại chủ nghĩa bảo hộ và bảo vệ một hệ thống thương mại mở cửa và công bằng, lấy WTO làm trọng tâm.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.carnegieeurope.eu

TLTKĐB – 01/03/2017

Donald Trump có thể cứu vãn chính sách đối ngoại của EU như thế nào? – Phần I


EU nên coi sự xuất hiện của Donald Trump với tư cách Tổng thống Mỹ là một hồi chuông cảnh tỉnh lớn để nâng cấp các chính sách đối ngoại và an ninh của họ. Những lời bình luận của ông Trump về chính sách đối ngoại trong chiến dịch tranh cử cho thấy ông có thể gây ra vết rạn nứt lớn nhất trong trật tự xuyên Đại Tây Dương kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Cách tiếp cận mang tính giao dịch của ông đối với các cam kết liên minh lâu đời và nỗi hoài nghi đối với sự tự do hóa thương mại có thể khiến Mỹ ngừng đóng vai trò chỗ dựa của trật tự thế giới tự do, ít nhất là trong vòng 4 năm tới.

EU có lợi ích lớn trong việc duy trì một hệ thống toàn cầu dựa trên quy tắc. Sự trở lại của một thế giới bị chi phối bởi chủ nghĩa bảo hộ, chính trị sức mạnh và chủ nghĩa dân tộc cạnh tranh sẽ làm xói mòn nền móng của EU như một liên minh xuyên quốc gia tìm kiếm các giải pháp chung cho những vấn đề của các thành viên của họ. Sự phòng thủ tốt nhất của EU là dẫn dắt sự chống đối các khuynh hướng này và xây dựng sự ủng hộ xoay quanh các giá trị mà họ đã được sáng lập dựa trên đó. Tuy nhiên, điều này sẽ cần tới một sự tập trung lớn hơn nhiều vào các chính sách đối ngoại và an ninh, với sự huy động các nguồn lực và sự đoàn kết được tăng cường giữa các nước thành viên để đảm trách nhiệm vụ này.

Đã đến lúc châu Âu từ bỏ sự lãnh đạo của Mỹ

Nhiều thế hệ chính trị gia châu Âu đã quen với việc trông đợi Washington giữ vai trò lãnh đạo trong việc phản ứng trước bất kỳ cuộc khủng hoảng đang nổi lên nào. Các cuộc hội đàm xuyên Đại Tây Dương dày đặc và liên tục, ở cả Brussels lẫn thủ đô các nước, đã hầu như duy trì được sự đồng bộ của các chính sách. Các thành công của EU, chẳng hạn như việc ổn định Tây Balkan, thỏa thuận quốc tế tháng 7/2014 về chương trình hạt nhân của Iran, và phản ứng chung trước sự gây hấn của Nga với Ukraine, dựa trên sự hợp tác sâu sắc với Mỹ. Khi sự hợp tác này đổ vỡ, như vấn đề về cuộc xâm lược Iraq năm 2003, EU trên thực tế đã bị tê liệt. Các sáng kiến độc lập của châu Âu là rất hiếm – và thành công thậm chí còn hiếm hơn.

Quan hệ đối tác gần gũi này – với Washington giữ vững vị trí lãnh đạo – đã phục vụ tốt cho cả đôi bên, nhưng có cái giá của nó. Qua nhiều thập kỷ, người châu Âu đã bỏ bê sự phát triển của tư duy chiến lược độc lập và đã đầu tư quá ít vào an ninh và phòng thủ của chính châu Âu. Khi vấn đề phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Mỹ buộc phải kết thúc, đã đến lúc lấp đầy những kẻ hở này.

Xây dựng khả năng phải song hành với xây dựng sự cố kết. Châu Âu sẽ còn ở vị trí thấp hơn trong nghị trình của Chính quyền Trump so với dưới thời người tiền nhiệm của ông. Trọng tâm mới của Mỹ sẽ là Trung Quốc, Nga, Iran và tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng. Nếu có can dự chút nào với châu Âu, thì tới mức độ đó, Washington có khả năng sẽ thỏa thuận với các quốc gia một cách riêng rẽ. Khi một nhà lãnh đạo phản đối nghị trình của ông Trump, chính phủ của ông rất có thể tìm cách gây mâu thuẫn để hai nước châu Âu phải đối đầu. Nếu các nhà lãnh đạo EU không cộng tác được với nhau và lên tiếng mạnh mẽ hơn nhiều so với trước đây, họ có nguy cơ bị loại khỏi cuộc chơi.

Sự thịnh vượng và an ninh của EU vẫn phụ thuộc nhiều vào các thể chế đa phương thời hậu chiến và trật tự kinh tế mà sự hợp tác Mỹ – châu Âu đã xây dựng và duy trì qua hơn nửa thế kỷ. Đó là lý do vì sao EU đã đầu tư nhiều đến vậy vào các lĩnh vực mà ông Trump chỉ trích, chẳng hạn như hành động quốc tế về biến đổi khí hậu và thúc đẩy các giá trị tựdo. Không có sự can dự của Mỹ, việc xúc tiến nghị trình này sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Sự ưu tiên của ông Trump đối với những thỏa thuận phi thể thức có thể làm suy yếu các cam kết và liên minh lâu đời. Cách tiếp cận mang tính giao dịch của ông gạt ra ngoài kiểu xây dựng thể chế và duy trì luật lệ vốn là cốt yếu đối với cách thức EU tự quản lý và giao thiệp với thế giới.

Phong cách truyền hình thực tế của ông Trump cũng tác động lên hoạt động chính trị trong nước ở châu Âu. Thái độ coi nhẹ của ông đối với các thể chế chính trị, các hạn chế của hiến pháp và giới truyền thông độc lập khuyến khích những kẻ mị dân và những kẻ độc đoán tương lai bác bỏ các giá trị tự do vốn kiềm chế quyền lực của họ – và lặp lại các tuyên bố bài ngoại của ông, điều làm gia tăng các căng thẳng xã hội và chủ nghĩa dân tộc. Chiến trường chính trị ở châu Âu đã và đang dịch chuyển từ chính sách sang tính cách. Đối với EU, phong cách Trump trong việc truyền đạt tự phát từ cá nhân một nhà lãnh đạo gây thách thức đặc biệt vì nó đối lập với phương pháp của khối là ra quyết định một cách đồng thuận và thỏa mãn mọi lợi ích.

Tất cả những tác động tiêu cực này đang làm phức tạp thêm cảm giác khủng hoảng gây ra bởi quyết định trưng cầu ý dân của Anh vào tháng 6/2016 để rời khỏi EU. Nhưng thay vì rơi vào nỗi thất vọng, người châu Âu nên nhìn nhận nhiệm kỳ Tổng thống Trump như một cú sốc có lợi. Cuối cùng đã có nhu cầu cấp thiết thực sự để người châu Âu đưa hoạt động của họ vào khuôn khổ. Ông Trump đã mang lại một tầm nhìn chính sách đối ngoại thay thế mà xung đột với bản năng của họ. Sự chống đối của ông có thể gây xúc tác cho hành động của châu Âu hơn bất kỳ sự khích lệ nào của các tổng thống Mỹ trước đây.

Làm thế nào để khiến EU phù hợp với một thế giới kiểu Trump

Để đón nhận thách thức này, các nhà lãnh đạo EU sẽ cần sáng tạo ra một sự thay đổi định tính trong ưu tiên của họ cho các chính sách bên ngoài, điều mà từ quá lâu đã phải chịu sự lơ là chính trị, sự đấu đá nội bộ trong bộ máy quan liêu và sự thiếu vắng các nguồn lực thực sự. Chính sách đối ngoại của EU có một cơ hội hiếm có để nổi lên khọi sự chây lười tuổi thanh thiếu niên của mình và bước vào giai đoạn trưởng thành trọn vẹn là đảm nhận trách nhiệm. Nhưng các nhà lãnh đạo EU phải nhanh chóng nắm lấy cơ hội này, trước khi những rủi ro và phí tổn trở nên quá lớn khi ông Trump lên nắm quyền. Các thách thức nghiêm trọng đầu tiên đối với EU có thể sớm nổi lên khi Trump lãnh đạo nước Mỹ.

Mối nguy hiểm trước mắt lớn nhất là việc Chính quyền Trump có thể thiết lập các thảo thuận với Moskva, đặc biệt là về Ukraine, gia tăng sự phụ thuộc của Đông Âu vào Nga và cuối cùng phân chia châu lục thành 2 vùng ảnh hưởng. Mỹ có thể giảm bớt sự ủng hộ của mình đối với các biện pháp trừng phạt được áp đặt lên Nga do sự gây hấn của Nga đối với Ukraine mà không có nhiều tiến triển trong việc thực thi thỏa thuận Minsk về ổn định khu vực miền Đông Donbas của Ukraine. Xét tới những sự chia rẽ hiện có trong các thành viên của mình về các biện pháp trừng phạt, EU khi đó có thể cũng từ bỏ các biện pháp này khi chúng được đưa ra để gia hạn vào giữa năm 2017.

Cho tới nay, các cuộc đàm phán về cuộc khủng hoảng ở Donbas đã được dẫn dắt bởi 2 cường quốc châu Âu – Pháp và Đức – trong nhóm được gọi là Bộ tứ Normandy với Nga và Ukraine. Một thỏa thuận Mỹ – Nga có thể loại EU ra khỏi các cuộc đàm phán, như đã xảy ra trong vấn đề Syria, gạt ra ngoài lề tiếng nói của khối này về một vấn đề lớn liên quan đến lợi ích của châu Âu. Ukraine – và có thể là cả Moldova và Gruzia – sẽ mất đi lựa chọn định hướng theo phương Tây, cho phép ảnh hưởng của Nga thống trị toàn bộ Đông Âu tới tận các biên giới của EU và thậm chí là bên trong biên giới đó.

Một thỏa thuận song phương Mỹ – Nga sẽ giảm bớt khả năng EU mang lại cho các quốc gia châu Âu một nghị trình hiện đại hóa và sự trợ giúp để xây dựng quan hệ đối tác vững mạnh và gần gũi. Điều này cũng sẽ gia tăng khả năng bị tổn thượng của các nước Baltic nếu khi đó Nga cảm thấy có thể tự do can thiệp và gây áp lực lên họ. Các thông điệp hỗn độn của ông Trump về cam kết của Mỹ với NATO có nguy cơ làm suy yếu liên minh và có thể khuyến khích Nga gia tăng áp lực ở Tây Balkan và Trung Âu.

Chỉ riêng nguy cơ này đã là một động lực to lớn để EU nâng cấp khả năng của mình với tư cách là một bên tham gia chính sách đối ngoại. Liên minh này phải trở nên vững mạnh hơn để tranh một thỏa thuận mới theo kiểu Yalta để lọc ra các khu vực ảnh hưởng ở Đông Âu, được đàm phán qua các nhà lãnh đạo của các quốc gia đang bị đe dọa vận mệnh. Các bên tham gia quan trọng trong chính quyền và Quốc hội Mỹ phải được thuyết phục rằng EU không thể bị loại bỏ khỏi các quyết định về tương lai của lục địa nếu có thể duy trì được các thỏa thuận như vậy. EU phải chống lại việc quay trở lại một trật tự châu Âu lưỡng cực.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.carnegieeurope.eu

TLTKĐB – 01/03/2017

Châu Âu hậu Brexit: Một liên minh kém hoàn hảo hơn – Phần cuối


Chi tiết của vấn đề

Tuy nhiên, chính cuộc khủng hoảng về nhập cư đe dọa gây ra sự chấm dứt của liên minh. Việc đi lại tự do của người dân bên trong thị trường chung từng là một vấn đề chính trị nhỏ. Phần lớn mọi người coi đó như một cơ hội cho thanh niên học tập ở nước ngoài thông qua các chương trình Erasmus và Socrates của EU và cho triển vọng được giáo dục và tiến xa để có kinh nghiệm làm việc ở một quốc gia châu Âu khác. Cho đến những năm đầu của thế kỷ này, sự di trú toàn châu Âu vẫn rất thấp.

Nhưng khi EU mở rộng tư cách thành viên họ vào năm 2004 để bao gồm những nước cộng sản trước đây của Trung và Đông Âu, sự di trú bên trong EU bắt đầu tăng. Sự mở rộng EU sang phía Đông tạo ra “một châu Âu toàn vẹn và tự do”, như Tổng thống Mỹ George H.W. Bush phát biểu vào năm 1989, nhưng nó cũng khiến tư cách thành viên của liên minh bất bình đẳng hơn nhiều về mặt kinh tế. Vào năm 2004, khi Ba Lan gia nhập EU, GDP bình quân đầu người đứng ở khoảng 6600 USD; ở Vương quốc Anh, con số là 38.300 USD. Những khác biệt to lớn trong mức độ thu nhập này khuyến khích hàng triệu người châu Âu phía Đông tiến về hướng Tây. Chẳng hạn, từ năm 2004 đến 2014, trên 2 triệu người chuyển từ Ba Lan sang Đức và Vương quốc Anh, và gần 2 triệu người khác chuyển từ Romania sang Italy và Tây Ban Nha. Những sự di chuyển lớn này của người dân đặt áp lực lên các dịch vụ công và những mạng lưới an toàn của các quốc gia tiếp nhận họ.

Rồi, vào năm 2015, hơn 1 triệu người di cư và tị nạn từ Afghanistan, Iraq, Syria và châu Phi hạ Sahara đổ vào khắp các biên giới của châu Âu. Thị trường chung không có cơ chế nào để đối phó với sự di chuyển đột ngột của người dân bên trong nó, EU cũng không có bất kỳ chính sách di cư từ bên ngoài chung nào để giúp tiếp nhận dòng người tị nạn lớn. Các chính phủ quốc gia, bị kiềm chế bởi những quy định của EU đối với chi tiêu tài khóa và không thể nhất trí về cách thức chia sẻ gánh nặng, đã vật lộn để phản ứng lại. Đúng là, con số di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư toàn bộ vẫn tương đối thấp, và đóng góp thực của người di cư vào nước chủ nhà chủ yếu là tích cực. Nhưng nhiều công dân cảm thấy rằng chính phủ của riêng họ bất lực và EU không thể đại diện cho những lợi ích của họ, và do đó các đảng chống nhập cư đã dâng lên khắp châu Âu. Lần đầu tiên, cam kết của EU với việc tự do đi lại của người dân bắt đầu lung lay. Các chính phủ châu Âu phía Đông, như của Victor Orban ở Hungary và Beata Szydlo ở Ba Lan, bảo vệ mạnh mẽ những quyền lợi được sống và làm việc trên khắp EU cho công dân của họ trong khi từ chối yêu cầu tiếp nhận hạn ngạch người tị nạn của EU. Nhiều chính phủ châu Âu phía Tây sẵn sàng chấp nhận một cách bực bội những hạn ngạch của EU về người tị nạn nhưng ngày càng nghi ngờ bản chất không giới hạn của di trú bên trong EU. Những nỗi sợ hãi của việc di cư không giới hạn từ các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, một ứng cử viên cho tư cách thành viên của EU, đóng một vai trò chính trong quyết định rời EU của Vương quốc Anh, và khao khát giành lại sự kiểm soát đối với nhập cư vào Vương quốc Anh sẽ có khả năng gây ra việc hoàn toàn ra khỏi thị trường chung của quốc gia này.

Lấy lại sự kiểm soát

Vậy từ đây EU sẽ đi về đâu? Bởi vì Vương quốc Anh luôn luôn là một nước thành viên miễn cưỡng nhất của EU, nhiều người ủng hộ EU sẽ bị lôi kéo để lập luận rằng giờ đây Brussels cuối cùng có thể thúc đẩy sự hợp nhất hơn nữa. Nhưng đó sẽ là một sự hiểu sai về trạng thái hiện tại ở các thủ đô của châu Âu và một sự chẩn đoán sai về sự ốm đau của châu Âu. Châu Âu nhiều hơn không phải là câu trả lời cho những vấn đề của EU.

Thay vào đó, các nhà lãnh đạo châu Âu cần trở lại ý tưởng cơ bản của Milward rằng châu Âu không phải để giam giữ những nhà nước – dân tộc của nó mà để giải thoát họ. Tính hợp pháp dân chủ, dù tốt hơn hay xấu đi, vẫn ở lại với những chính phủ quốc gia của châu Âu. Không có giải pháp kỹ trị cho những vấn đề chính trị của châu Âu. Nhà sử học Tony Judt nhận xét vào năm 1996, “Tôi không mong muốn đề xuất rằng có điều gì vốn đã ưu thế hơn về những thể chế quốc gia so với những cái khác. Nhưng chúng ta nên thừa nhận hiện thực của các dân tộc và nhà nước, và lưu ý nguy cơ rằng, khi bị bỏ mặc, chúng trở thành một nguồn lực cử tri của những người theo chủ nghĩa dân tộc hiểm độc”. Sự hợp nhất châu Âu lấy đi quá nhiều đòn bẩy chính sách khỏi các chính phủ đến nỗi nhiều công dân bắt đầu tự hỏi chính phủ của họ vẫn ở đó để làm gì. Như nhà kinh tế học chính trị Mark Blyth và tôi lập luận trong Tương lai của đồng euro, “Nếu không phát triển một tiến trình chính trị để gắn vào một cách hợp pháp những thể chế kinh tế và tài chính [của Khu vực đồng euro], tương lai của đồng euro giỏi lắm cũng chỉ là mong manh”. Việc phục hồi tăng trưởng trong Khu vực đồng euro, chống lại nạn thất nghiệp của thanh niên, và bảo vệ những cải cách chính trị của EU mà trả lại một số quyền lực kinh tế cho các nước thành viên nên ưu tiên hơn so với chính sách thắt lưng buộc bụng và những cải cách cấu trúc một kích cỡ vừa cho tất cả.

Những chính sách phân phối mà tạo ra những người thắng và những kẻ thua cần được hợp pháp hóa một cách dân chủ thông qua những cuộc bầu cử đều đặn và do đó vẫn là lĩnh vực dành riêng duy nhất của các chính phủ quốc gia. Những chính sách như vậy bao gồm việc đặt ra những ưu tiên ngân sách, quyết định sự hào phóng của nhà nước phúc lợi, điều tiết các thị trường lao động, kiểm soát nhập cư, và chỉ đạo chính sách công nghiệp. Cho phép các quốc gia thỉnh thoảng phá bỏ những quy định của cả thị trường chung lẫn đồng tiền chung – chẳng hạn, bằng việc tạm thời cho phép họ bảo vệ và hỗ trợ về mặt tài chính những ngành công nghiệp chủ chốt, hoặc đưa ra một lệnh dừng khẩn cấp đối với nhập cư dưới những điều kiện nghiêm ngặt cụ thể – sẽ trao quyền cho những giới tinh hoa quốc gia đối phó với những vấn đề quốc gia cụ thể và đáp ứng những quan ngại hợp pháp của các cử tri bằng cách cho họ một sự lựa chọn dân chủ đối với chính sách.

Trong khi đó, EU nên tập trung vào những thứ mà các nước thành viên không thể thực hiện có hiệu quả một mình và những thứ tạo ra những thành quả chung: đàm phán những thỏa thuận thương mại quốc tế, giám sát một cách có hệ thống những ngân hàng quan trọng và các thể chế tài chính khác, đối phó với hiện tượng nóng lên toàn cầu và phối hợp chính sách đối ngoại và an ninh. Ở các cuộc thăm dò của Eurobarometer, khoảng 2/3 công dân châu Âu được khảo sát kiên định nói rằng họ ủng hộ một chính sách đối ngoại chung cho EU. Các chính phủ quốc gia có thể bắt đầu với việc góp chung có hiệu quả hơn nhiều những nguồn lực quân sự của họ để tiến hành những nhiệm vụ duy trì hòa bình và nhân đạo ở nước ngoài.

EU không cần thêm bất kỳ quy định nào; họ cần sự lãnh đạo chính trị. Đức phải từ bỏ sự phản đối của nước này với trái phiếu eurobond, hoặc cùng nhau bảo đảm những công cụ nợ Khu vực đồng euro, và bảo hiểm tiền gửi chung, mà sẽ tiến một bước dài đến việc đem lại sự ổn định tài chính dài hạn trong Khu vực đồng euro bằng việc ngăn cản ảnh hưởng xấu của thị trường trái phiếu chính phủ và đột biến rút tiền gửi trong tương lai. Họ phải nới lỏng sự khăng khăng của mình đối với những quy định tài khóa cứng rắn để cho phép những nước như Italy và Bồ Đào Nha tham gia tổng kích cầu. Và họ phải nắm quyền lãnh đạo trong việc thành lập những cơ chế mới để thúc đẩy sự đoàn kết bên trong EU, như là một quỹ người tị nạn và di trú chung, mà có thể bù đắp sự khác biệt trong những thâm hụt tạm thời ở quỹ địa phương và giúp các nước thành viên chai sẻ gánh nặng hòa nhập những người di trú mới trên khắp châu Âu có hiệu quả hơn.

Đức cần dứt khoát nắm lấy vai trò lãnh đạo của họ. Nếu Đức có thể vượt qua chủ nghĩa địa phương của họ và thừa nhận rằng họ có lợi ích dài hạn để hành động như một bá chủ ôn hòa cho châu Âu – không khác gì vai trò Mỹ nắm giữ trong thế giới phương Tây sau Chiến tranh thế giới thứ hai – không có lý do gì EU không thể nổi lên mạnh mẽ hơn từ tình trạng bất ổn hiện tại của nó. Các nhà lãnh đạo của những nước thành viên lớn còn lại khác, đặc biệt là Pháp, Italy, Ba Lan và Tây Ban Nha – phải làm Berlin yên lòng lần nữa rằng họ cam kết cải cách nền kinh tế của họ một khi tăng trưởng trở lại, cam kết đóng góp tích cực cho sự đoàn kết của toàn bộ EU, và tái khẳng định rằng dự án châu Âu nằm trong những lợi ích quốc gia của họ. Nói chung, các nhà lãnh đạo châu Âu cần hình dung lại châu Âu là để làm gì và lấy lại sự kiểm soát đối với tiến trình hợp nhất châu Âu. 60 năm trôi qua từ khi ký kết hiệp ước Rome thành lập cộng đồng châu Âu, hiện nay châu Âu cần một thỏa thuận quan trọng mới hơn bao giờ hết.

Nguồn: Foreign Affairs – số tháng 1 – 2/2017

TLTKĐB – 16/01/2017