Sự thay đổi trong quan hệ Mỹ – EU: Nguyên nhân và triển vọng – Phần đầu


Sau khi Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ, giới học thuật quốc tế đổ lỗi sự xấu đi của quan hệ Mỹ – Liên minh châu Âu (EU) cho chính sách đối ngoại “Nước Mỹ trước tiên” mà ông thực hiện. Tuy quan điểm này là chính xác, nhưng cũng không hoàn toàn như vậy. Vì sau khi trở thành nước lớn có thực lực hùng mạnh nhất và bị tổn thất ít nhất trên thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ luôn tìm cách bảo vệ địa vị số một toàn cầu của mình. Cho dù đến thời Tổng thống Barack Obama, khi phát biểu tại Học viện Quân sự Mỹ tại West Point tháng 5/2014, ông còn nhấn mạnh: “Tôi không thể chấp nhận việc Mỹ trở thành nước đứng thứ hai thế giới, Mỹ là quốc gia không thể thiếu, đây là điểm giới hạn của chúng ta, Mỹ phải luôn đứng ở vị trí lãnh đạo, nếu chúng ta không lãnh đạo, thì không có ai có thể lãnh đạo. Trong 100 năm tới, Mỹ vẫn phải là nước đứng đầu thế giới”. Trên thực tế, việc quan hệ Mỹ – EU liên tục thay đổi trong hơn 70 năm sau chiến tranh phụ thuộc vào cán cân sức mạnh giữa hai bên.

Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và EU hiện nay được bắt nguồn từ liên quan các nước như Mỹ, Anh… để đối phó với cuộc xâm lược vũ trang của phát xít Đức, Italy trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cùng với việc Pháp khôi phục đất nước và được xác định là một trong năm nước chiến thắng, cũng như việc Pháp khởi xướng khởi động tiến trình nhất thể hóa châu Âu bao gồm cả các nước thua trận như Đức, Italy…, để cùng vươn lên, bảo vệ nền hòa bình của châu Âu sau chiến tranh, trong tình hình cùng đối diện với mối đe dọa từ Liên Xô, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ – EU dần được hình thành.

Trong thời kỳ diễn ra Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô, quan hệ đồng minh Mỹ – EU do Mỹ đứng đầu trở thành chỗ dựa chủ yếu để Mỹ tranh giành quyền chủ đạo thế giới với Liên Xô, tìm cách chủ đạo trật tự kinh tế – chính trị thế giới. Các nước trng lục địa châu Âu như Pháp, Đức, Italy… đều bị tổn thất nặng nề do chiến tranh, để nhanh chóng khôi phục, buộc phải nhờ đến sự giúp đỡ của Mỹ về kinh tế, sự bảo vệ của Mỹ về an ninh, hình thành quan hệ song phương “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”. Do luôn kề vai sát cánh cùng Mỹ tác chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nên Anh có công lao rất lớn, và Vương quốc Anh ngăn cách biển với lục địa châu Âu, tuy cùng chịu nhiều tổn thất, nhưng về tổng thể vẫn tương đối nhỏ. Thủ tướng Anh khi đó Winston Churchill tuyên bố: “Tuy Anh ở cùng với châu Âu, nhưng không thuộc châu Âu”. Điều này không những trở thành “chuẩn mực” của các nhiệm kỳ Chính phủ Anh sau này trong chính sách đối với châu Âu, mà còn là cơ sở để Mỹ và Anh xây dựng quan hệ đối tác đặc biệt.

Đầu những năm 1990, cùng với việc Liên Xô tan rã, tình hình khu vực Trung – Đông Âu thay đổi đột ngột, quan hệ Mỹ – EU cũng bắt đầu xuất hiện thay đổi do cán cân sức mạnh tạo ra. Với tư cách là siêu cường duy nhất, trong nhiệm kỳ Bush (cha), Chính phủ Mỹ đã thúc đẩy chiến lược toàn cầu để cố gắng ngăn chặn việc lại xuất hiện các quốc gia hay tập đoàn các nước giống như Liên Xô trước đây, có thể tạo thành thách thức hoặc mối đe dọa đối với địa vị lãnh đạo của Mỹ trên thế giới, với mục đích là độc chiếm thế giới, kéo dài cho đến ngày nay. Cái gọi là “tập đoàn các nước” thực chất là chỉ EU. Tháng 9/2001, khi thực hiện Kế hoạch thế kỷ mới do Chính quyền Bush (con) vạch ra, các phần tử có tư tưởng chủ nghĩa bảo thủ mới của Mỹ đã tuyên bố một cách trắng trợn rằng: “Mỹ nên khuyên ngăn tất cả các nước phát triển không nên thừa nhận địa vị lãnh đạo của Mỹ, cũng đừng hy vọng phát huy vai trò quan trọng ở khu vực”.

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình thúc đẩy nhất thể hóa châu Âu và sự thống nhất của nước Đức, sức mạnh của EU tăng lên, trở thành khối có sức mạnh tổng hợp lớn nhất, mức độ nhất thể hóa cao nhất trên thế giới, phát huy vai trò ngày càng lớn trong các công việc của thế giới. Tổng lượng kinh tế của EU đã đuổi kịp Mỹ, về chính trị, tổ chức này cũng không cam chịu địa vị “Mỹ chủ đạo, EU làm theo”, tìm kiếm địa vị ngang bằng với Mỹ. Cho dù Mỹ xâm lược Iraq hay mở rộng chức năng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), Mỹ cổ xúy thế giới không có hạt nhân hay rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, EU do Đức đứng đầu đều có quan điểm trái ngược với Mỹ.

Mục tiêu chiến lược của Mỹ và EU – một bên muốn độc chiếm thế giới, bá quyền bền vững; một bên muốn thể hiện năng lực, mở rộng thế lực – là khác nhau, làm cho mâu thuẫn và xung đột giữa lợi và hại của hai bên ngày càng gay gắt. Tuy “đồng minh” tồn tại trên danh nghĩa, nhưng hai bên đã chuyển hóa từ đồng minh thành đối thủ cạnh tranh, đều đặt lợi ích của mình lên trên quan hệ đồng minh. Hai bên vừa hợp tác vừa đấu tranh với nhau trong quá trình liên kết để chủ đạo trật tự quốc tế.

Việc quan hệ Mỹ – EU xuất hiện cục diện mâu thuẫn gay gắt, bất đồng nổi rõ, chỉ trích lẫn nhau, đối lập công khai sau khi Donald Trump lên làm tổng thống là do ân oán tích lũy trong nhiều năm qua tạo thành. Từ ý nghĩa nhất định, cũng là ảnh hưởng còn sót lại của việc Anh rời khỏi EU và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Xuất phát từ lợi ích cá nhân, trước tiên Chính quyền Obama cùng các nước EU do Đức, Pháp giữ vai trò chủ đạo, tích cực can dự vào cuộc trưng cầu ý dân của Anh, ngăn cản nước này rời khỏi EU; sau khi không thành công, lại cùng với các nước EU ủng hộ ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ Hillary Clinton. Khi Donald Trump thắng cử, Obama đích thân thuyết phục Angela Merkel tiếp tục tranh cử nhiệm kỳ thủ tướng Đức tiếp theo, còn nói rằng thế giới tự do của phương Tây cần có bà, ông không thể tìm được đối tác nào ổn định hơn và đáng tin cậy hơn Merkel. Nhiều năm qua, Donald Trump luôn nhận định các nước đồng minh như Đức đã lợi dụng Mỹ, và trong bài phát biểu nhậm chức có nói sẽ quyết tâm lấy lại tất cả, điều này đang càng thúc đẩy Donald Trump quyết định đi con đường phản đối Obama. Khi vừa lên cầm quyền, ông đã ủng hộ Anh rời khỏi EU, tập trung công kích Đức, mỉa mai chính sách của EU đối với châu Âu.

Việc quan hệ đồng minh Mỹ – EU liên tục căng thẳng, sắp đi đến rạn nứt có những yếu tố chính sau:

1/ Mối đe dọa an ninh chung tan biến, làm cho cơ sở tồn tại của liên minh quân sự Mỹ – EU bị tác động

Ngày 13/11/2016, trước khi Donald Trump đắc cử và trở thành tổng thống, cựu Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger từng nói với phóng viên của tờ Sankei Shimbun (Nhật Bản) rằng: “Rất nhiều quan hệ đồng minh được tạo ra trong thời Liên Xô được coi là mối đe dọa rất lớn. Hiện nay đã tiến vào thời đại mới, nội dung của mối đe dọa đã khác. Chỉ từ điểm này có thể thấy cần phải xem xét lại tất cả các quan hệ đồng minh”. Ông đặt lợi ích thực tế của Mỹ lên trên quan hệ đồng minh có cùng quan niệm giá trị, xem xét quan hệ Mỹ – EU dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá. Từ trước đến nay, Mỹ luôn áp dụng sách lược “chia để trị” đối với EU, khi vừa lên cầm quyền Donald Trump đã chĩa mũi dùi công kích vào Đức, phê phán Merkel đã phạm phải sai lầm rất lớn trong vấn đề người nhập cư. EU đã trở thành công cụ của Đức, Đức không tăng ngân sách quốc phòng nhưng lại đầu tư vào đường ống khí đốt Dòng chảy Phương Bắc 2 của Nga… Mục đích của những hành động này là muốn lôi kéo một số nước ở Trung-Đông-Âu, thậm chí là Nam Âu vốn bất mãn với Đức trong các công việc của châu Âu, cơ bản là không hài lòng đối với công việc quan trọng của EU do Đức chủ đạo. Mục tiêu chiến lược của Mỹ là cố gắng kiềm chế tình hình Đức tái trỗi dậy, một lần nữa trở thành nước đứng đầu châu Âu. Trong bài phát biểu gần đây của mình, Thủ tướng Merkel cho rằng “Thời gian để chúng ta có thể hoàn toàn dựa vào người khác đã kết thúc ở mức độ nào đó, người châu Âu phải nắm lấy vận mệnh của mình”. Đây không phải là điều ngẫu nhiên, nó cho thấy sự biến mất của mối đe dọa chung, quan hệ đồng minh cũng khó có thể tiếp tục.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cfisnet.com – 14/05/2019

TLTKĐB – 05/06/2019

Advertisements

EVFTA đẩy mạnh xu hướng dịch chuyển sản xuất sang Việt Nam như thế nào?


Hiệp định tự do thương mại EU – Việt Nam (EVFTA) vừa được ký kết sẽ thúc đẩy hơn nữa xu hướng dịch chuyển sản xuất do chiến tranh thương mại Mỹ – Trung.

Theo các nhà phân tích, nền kinh tế đang bùng nổ của Việt Nam sẽ chứng kiến những luồng vốn đầu tư mới do EVFTA có thể thúc đẩy cuộc “di cư” của các nhà sản xuất từ Trung Quốc. Các công ty Trung Quốc muốn hưởng thuế quan thấp hơn vào thị trường EU có thể sẽ được khuyến khích mở nhà máy tại Việt Nam.

EVFTA sẽ từng bước loại bỏ 99% thuế quan giữa Việt Nam và EU. Những nhà sản xuất Trung Quốc đã lập nhà máy tại Việt Nam có thể mở rộng sản xuất để nhận được ưu đãi thuế quan thấp vào EU. Các công ty châu Âu tìm kiếm sản xuất chi phí thấp cũng có thể sẽ đổ về Việt Nam thay vì đầu tư vào Trung Quốc.

Adam McCarty, nhà kinh tế trưởng của Mekong Economics có trụ sở tại Hà Nội, nói: “EVFTA sẽ ít nhiều đẩy mạnh xu hướng dịch chuyển sản xuất vốn đã nhanh từ Trung Quốc sang Việt Nam. Cuộc chiến thương mại ít nhiều tác động vào những gì đang xảy ra và EVFTA tác động thêm một chút nữa. Cả các công ty Trung Quốc và công ty nước ngoài khác đang chuyển đến Việt Nam”.

EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ. Theo trang web của Ủy ban châu Âu, năm 2018, Việt Nam xuất khẩu 42,5 tỷ USD hàng hóa và dịch vụ sang EU, chủ yếu là điện thoại, sản phẩm điện tử, hàng may mặc, thực phẩm và đồ nội thất.

Bà Angelia Chew, người sáng lập công ty tư vấn AC Trade Advisory có trụ sở tại Singapore nói: “Nhìn từ chiến lược kinh doanh, Việt Nam thực sự là một địa điểm sản xuất tốt nếu các công ty muốn tìm kiếm lợi thế từ EVFTA. Trong bối cảnh chiến tranh thương mại, chúng tôi có các khách hàng Trung Quốc đang tìm kiếm việc di chuyển sản xấut để giảm bớt gánh nặng thuế đối với hàng hóa sản xuất tại Trung Quốc xuất sang Mỹ. Các công ty đầu tư vào Việt Nam bây giờ cũng như các công ty hiện đã có mặt ở Việt Nam tỏ ra phấn khích vì họ biết rằng EVFTA sẽ thu hút thêm đầu tư”.

Việt Nam có dân số 97 triệu người, tương tự như tỉnh Quảng Đông, cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu chính của Trung Quốc được hỗ trợ bởi các khoản đầu tư lớn từ Hong Kong và Đài Loan. Tiến sĩ Cassey Lee thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) tại Singapore nhận định EVFTA sẽ “giúp Việt Nam đa dạng hóa danh mục đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 5 tháng đầu năm 2019, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã được giải ngân đạt 7,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2018. Cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài so với cùng kỳ đạt 16,74 tỷ USD, tăng 69,1% so với năm trước. Trong khi đó, trang web của chính quyền tỉnh Quảng Đông đăng số liệu cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Quảng Đông 5 tháng đầu năm 2019 là 57,86 tỷ NDT (tương đương 8,4 tỷ USD), tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2018. Nếu căng thẳng thương mại Mỹ – Trung tiếp diễn và dòng vốn vào Việt Nam tiếp tục tăng mạnh, đầu tư vào Việt Nam có khả năng vượt qua Quảng Đông vào cuối năm nay.

Từ tháng 1 – 5/2019, thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ ở mức 17 tỷ USD, tăng 32,8% so với một năm trước đó, một phần do xu hướng dịch chuyển sản xuất từ Trung Quốc để tránh thuế quan của Mỹ.

Mỹ nhận thức được sự mất cân bằng thương mại song phương và Tổng thống Mỹ Donald Trump đã cảnh báo Việt Nam có thể là nước tiếp theo bị Mỹ tăng thuế sau Trung Quốc. Tiến sĩ Cassey Lee cảnh báo: “Mặc dù quy mô thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc lớn hơn đáng kể so với Việt Nam, song các quan chức Việt Nam có thể lo ngại về khả năng Hà Nội trở thành mục tiêu tiếp theo của Washington”.

Nguồn: www.scmp.com – 03/07/2019

TKNB  – 05/07/2019

Các nghị sĩ Anh sẽ có vai trò lớn hơn trong quyết định tiến trình Brexit


Ngày 25/3, các nghị sĩ Anh đã bỏ phiếu ủng hộ một sửa đổi đối với vấn đề Brexit, theo đó họ sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong tiến trình này – một động thái chưa từng có tiền lệ mà chính phủ cho là “nguy hiểm”.

Các nghị sĩ đã giành chiến thắng trong một cuộc bỏ phiếu sẽ giúp họ nắm quyền kiểm soát việc tìm ra lựa chọn khác cho tiến trình Brexit với 329 phiếu ủng hộ và 302 phiếu chống, trong đó có ba quốc vụ khanh đã từ chức sau khi bỏ phiếu chống lại chính phủ là Alistair Burt, Steve Brine và Richard Harrington. Trong thư xin từ chức, ông Harrington nói rằng cách tiếp cận của chính phủ “đang đánh cược với cuộc sống và kế sinh nhai của đa số người dân Anh”. Trong một tuyên bố, Bộ Brexit nói rằng bộ này “thất vọng” với kết quả của cuộc bỏ phiếu, và rằng cuộc bỏ phiếu đã “làm mất đi sự cân bằng giữa các thể chế dna6 chủ của Anh và tạo ra một tiền lệ nguy hiểm không thể dự đoán trước”.

Ba năm sau khi người dân Anh bỏ phiếu ủng hộ việc rời khỏi EU, cuộc bỏ phiếu ngày 25/3 đã gây ra một xung đột lớn giữa chính phủ và quốc hội về cách tốt nhất để chấm dứt cuộc khủng hoảng chính trị đầy cay đắng này. Các nghị sĩ sẽ có cơ hội để bỏ phiếu về rất nhiều các lựa chọn, ví dụ như rút lại Điều 50 và hủy bỏ Brexit, tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý khác, một thỏa thuận Brexit mà trong đó bao gồm một liên minh thuế quan và tư cách thành viên của Anh trong thị trường chung của EU, hay thậm chí là rời EU mà không có thỏa thuận.

Tuy nhiên, cho dù các nghị sĩ Anh quyết định phần lớn tiến trình Brexit, song về mặt pháp lý chính phủ sẽ không bị buộc phải tuân thủ theo sự chỉ dẫn của họ.

Trước khi cuộc bỏ phiếu diễn ra, Thủ tướng Theresay May đã bày tỏ “nghi ngờ” về tiến trình này, nói rằng những nỗ lực tương tự trước đây “đã đem lại những kết quả trái ngược chẳng đem lại kết quả gì”. Tuy nhiên, ngày 25/3, Thủ tướng May thừa nhận rằng bà vẫn chưa nhận đủ số phiếu cần thiết để dự thảo thỏa thuận Brexit của bà được thông qua tại Quốc hội. Điều này một lần nữa làm dấy lên khả năng Anh có thể sẽ phải rời khỏi EU trong vòng 2 tuần nữa.

Lo ngại về cuộc khủng hoảng chính trị ngày càng tồi tệ tại Londoác nhà lãnh đạo EU hồi tuần trước đã đồng ý trì hoãn Brexit nhằm tránh một “cuộc ly dị” thảm họa “không có thỏa thuận” vào ngày 29/3, khi mối quan hệ kéo dài 46 năm chính thức chấm dứt. Tuy nhiên, họ cảnh báo rằng trừ phi bà May có thể thuyết phục các nghị sĩ Anh trong tuần này ủng hộ thỏa thuận rút khỏi EU đã hai lần bị bác bỏ của bà, nếu không nước Anh sẽ phải đưa ra một kế hoạch mới với hạn chót là ngày 12/4 – hoặc nước này sẽ phải “chia tay” với đối tác thương mại gần gũi nhất của mình mà không có một thỏa thuận nào cả. Lãnh đạo Công đảng đối lập Jeremy Corbyn gọi chính phủ là một “nỗi hổ thẹn của quốc gia”, và nói thêm: “Chúng ta vẫn phải đối mặt với khả năng thảm họa là Brexit không thỏa thuận”.

Trước đó, EU đã tăng cường sức ép khi tuyên bố EU hoàn toàn sẵn sàng đối phó với việc “ngày càng có khả năng xảy ra” là Brexit không thỏa thuận trong vòng 3 tuần tới.

Quốc hội Anh hiện vẫn bị chia rẽ sâu sắc vì Brexit, phản ánh sự phân cực rất rõ ràng tại quốc gia này. Các nghị sĩ Anh dđã bỏ phiếu chống lại Brexit “không thỏa thuận”, nhưng đây vẫn là một khả năng có thể xảy ra trừ phi họ nhất trí được với nhau về một lựa chọn khác.

Thủ tướng May đã xem xét kỹ lưỡng những viễn cảnh Brexit của riêng bà trong một cuộc họp nội các khẩn cấp sáng ngày 25/3. Cuộc họp này diễn ra sau khi truyền thông cuối tuần qua đưa tin rằng các bộ trưởng đang tìm cách lật đổ bà. Phần lớn những người bị cho là đứng đằng sau âm mưu này là những người ủng hộ Brexit vốn lo ngại khái niệm Anh rời EU sẽ bị làm nhẹ đi hoặc thậm chí là bị đảo ngược.

Chưa rõ điều gì sẽ xảy ra với vị trí thủ tướng của bà May nếu Quốc hội ủng hộ một lựa chọn Brexit thân thiện với EU hơn – điều đi ngược lại các chính sách của bà. Quốc hội nhiều khả năng sẽ ủng hộ ý tưởng giữ Anh ở lại một liên minh thuế quan với EU hoặc ở lại thị trường chung châu Âu. Cả hai chính sách như vậy đều trái ngược với quan điểm của bà May. Một liên minh thuế quan sẽ khiến Anh không thể tự đàm phán các thỏa thuận thương mại của riêng mình với các quốc gia không thuộc EU. Một thị trường chung với EU sẽ khiến chính phủ phải đi ngược lại những gì Thủ tướng May đã hứa hẹn về việc giành lại quyền kiểm soát các đường biên giới và chính sách nhập cư của Anh.

Nguồn: TKNB – 27/03/2019

Các nghị sĩ Anh đối mặt với nguy hiểm


Brexit đã bị trì hoãn. Nhưng đối với nhiều nhà lập pháp – những người cuối cùng có thể quyết định số phận của Brexit – hiện không có thời gian để suy nghĩ về mớ hỗn độn của nước Anh và đôi khi cả vụ ly hôn tai hại với EU.

Thủ tướng Theresa May đã đổ lỗi cho Quốc hội về sự hỗn loạn này trong một bài phát biểu gửi tới công chúng được phát trên truyền hình. Và khi các nhà lập pháp chuẩn bị cho một tuần mà họ có thể nắm quyền kiểm soát tiến trình Brexit, nhiều người đã cảnh báo rằng họ lo ngại cho sự an toàn của mình trong bối cảnh tâm trạng ngày càng cay đắng và chia rẽ ở trong nước.

Anna Soubry, một nghị sĩ Quốc hội đến từ Nottinghamshire, người đã rời bỏ đảng Bảo thủ cầm quyền của bà May do bất đồng về cách thức xử lý vấn đề của thủ tướng, nói rằng bà không thể về nhà vào cuối tuần vì cảm thấy không an toàn.

“Chúng tôi mệt mỏi vì bị gọi là kẻ phản bội”, bà Soubry nói với giới báo chí hôm 22/3. “Khi mọi người sử dụng ngôn ngữ đó, điều tiếp theo xảy ra là tôi nhận được một bức thư điện tử (email) nói rằng – những kẻ phản bội phải bị chặt đầu, đó là điều sẽ xảy ra với ngươi”.

Trong bài phát biểu hôm 22/3, Thủ tướng May đã cáo buộc các nhà lập pháp làm mọi cách để có thể tránh đưa ra lựa chọn về Brexit, và bà nói thêm rằng mọi người đã mệt mỏi với đấu đá nội bộ, các ván bài chính trị và những tranh cãi thủ tục phức tạp.

“Đã đến lúc chúng ta đưa ra quyết định”, bà May nói, nhìn chằm chằm vào ống kính máy quay và nói với người dân Anh: “Tôi đứng về phía các bạn”.

Chính phủ của bà May đã đạt được một thỏa thuận Brexit với EU hồi tháng 11 năm ngoái, nhưng Quốc hội đã 2 lần bỏ phiếu bác bỏ thỏa thuận đó. Nhiều tuần thảo luận trên quy mô lớn đã không mang lại sự đồng thuận về cách tiến về phía trước.

Hôm 21/3, các nhà lãnh đạo EU đã chấp nhận yêu cầu của bà May về việc gia hạn thời hạn Brexit, nhưng nếu các nhà lập pháp vẫn không thông qua thỏa thuận của bà hoặc tìm cách khác để tiến về phía trước, nước Anh sẽ rời khỏi EU mà không có thỏa thuận nào vào ngày 12/4 tới.

Công chúng đang ngày càng thất vọng với sự thiếu tiến triển trong tiến trình Brexit, gần 3 năm sau khi họ bỏ phiếu đồng ý để Anh rời khỏi EU trong cuộc trưng cầu dân ý hồi tháng 6/2016.

Một cuộc thăm dò dư luận do kênh truyền hình Anh Sky News thực hiện đầu tuần này cho thấy có 90% số người được hỏi ý kiến cho rằng cách thức giải quyết vấn đề Brexit là một “sự sỉ nhục quốc gia”. Có 34% ý kiến cho rằng Chính phủ của bà May là đáng trách nhất, trong khi 26% chủ yếu đổ lỗi cho Quốc hội.

Các nghị sĩ thuộc mọi đảng phái, bao gồm cả các nghị sĩ thuộc đảng Bảo thủ của bà May, cho biết họ cảm thấy bài phát biểu của bà sẽ chỉ làm cho vấn đề tồi tệ thêm.

Cựu Bộ trưởng Tư pháp Dominic Grieve cho rằng “cuộc tấn công của bà May nhằm vào tính chính trực của các nghị sĩ là rất đáng tiếc”, trong khi nghị sĩ Công đải đối lập Wes Streeting đã tweet trên trang cá nhân bài phát biểu của bà May “gây kích động”, và nói thêm rằng “nếu có bất kỳ tổn hại nào xảy ra với bất cứ ai trong chúng tôi, bà ấy sẽ phải chấp nhận gánh chịu một phần trách nhiệm”.

Pete Wishart, một nghị sĩ của đảng Quốc gia Scotland, cho rằng bài phát biểu của Thủ tướng Anh đã khiến một vài đồng nghiệp ủa ông “cảm thấy một chút không an toàn” và kêu gọi một cuộc họp khẩu cấp về an ninh của các nghị sĩ.

Sự tức giận như hận thù đối với các chính trị gia là điều mà nước Anh từng phải đối mặt trước đó.

Mùa Thu vừa qua, một trong những người ủng hộ Brexit nổi tiếng nhất của đất nước, nghị sĩ đảng Bảo thủ Jacob Rees Mogg, đã bị những người biểu tình phục kích bên ngoài nhà riêng của ông ở London trong khi ông đang ở với gia đình.

Và trường hợp nghiêm trọng nhất là việc nghị sĩ Công đảng Jo Cox đã bị giết hại chỉ một tuần trước cuộc họp bỏ phiếu về Brexit năm 2016 trong một cuộc tấn công đường phố không thể kiểm soát được do một đối tượng chuyên sưu tập các kỷ vật của Đức Quốc xã và ủng hộ thuyết người da trắng là ưu việt.

Có lẽ với những sự cố như vậy, Phó Chủ tịch Hạ viện Lindsay Hoyle đầu tuần này đã viết thư cho các nghị sĩ, khuyến cáo họ nên thực hiện các bước nhằm đảm bảo an toàn cho chính mình, chẳng hạn như về nhà bằng taxi hoặc đi cùng với các đồng nghiệp. “Các thành viên của Quốc hội đang là tâm điểm chú ý của công chúng theo cách mà chúng ta hiếm khi thấy trước đây”. Hoyle nói.

Chính phủ đã bác bỏ ý kiến cho rằng bài phát biểu của bà May đã đặt các nhà lập pháp vào tình trạng nguy hiểm. Bà May nêu rõ: “Tôi đã bày tỏ sự thất vọng của mình và tôi biết rằng các nghị sĩ cũng thất vọng – họ có những công việc khó thực hiện”.

Tuy nhiên, cho dù lời khiển trách của bà đối với Quốc hội có nguy hiểm hay không thì xem ra điều đó khó có thể giúp cho trường hợp của bà trước một giai đoạn quan trọng khác đối với Brexit.

Bà May đã gián tiếp gợi ý trong một bức thư ngỏ hôm 22/3 rằng bà có thể không đưa thỏa thuận của bà ra bỏ phiếu lần thứ ba và là lần cuối cùng nếu bà không giành được phiếu ủng hộ.

Với việc không có cách thức rõ ràng để thoát khỏi tình trạng bế tắc, một số nhân vật của công chúng đã tìm cách khiến cho tiếng nói của họ được lắng nghe một lần nữa. Hôm 23/3, đám đông khổng lồ đã tuần hành qua trung tâm thủ đô London để yêu cầu tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý mới về vấn đề này.

Và một đơn kiến nghị trên mạng trực tuyến yêu cầu hủy bỏ Điều 50 (của Hiệp ước Lisbon) – một cơ chế pháp lý được kích hoạt để nước Anh rời khỏi EU – đã thu được hơn 5 triệu chữ ký.

Tuần tới, Quốc hội dường như chuẩn bị bắt tay vào một loạt cuộc bỏ phiếu có thể cho phép các nhà lập pháp lấy lại quyền kiểm soát tiến trình Brexit.

Trong khi đó, có những ý kiến cho rằng thời gian bà May còn ngồi ở văn phòng Thủ tướng có được tính theo ngày.

Các phương tiện truyền thông Anh hôm 24/3 đưa tin bà May đã phó mặc cho một cuộc đảo chính đang nở rộ khi các bộ trưởng cấp cao trong chính phủ chuyển sang “hất cẳng” bà và sắp đặt một sự thay thế để thực thi Brexit.

Tuy nhiên, việc thay đổi các nhà lãnh đạo trong hành lang của Westminster sẽ ít có khả năng làm thay đổi động lực của cuộc khủng hoảng chính trị tồi tệ nhất trong ít nhất một thế hệ.

Nguồn: www.nbcnews.com

TKNB – 27/03/2019

Việt Nam vẫn sẽ được lợi dù Brexit diễn ra theo kịch bản nào


Liên minh châu Âu (EU) đã quyết định lùi thời hạn nước Anh rời khỏi khối này, còn gọi là Brexit, đến ngày 31/10 và nguy cơ “Brexit cứng” đã không diễn ra. Trong sáu tháng này Anh có thể xem lại kế hoạch Brexit. Liên quan vấn đề này, Tổ chức Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển (UNCTAD) mới đây mới đây công bố một nghiên cứu về những tác động đối với nền kinh tế thế giới trong trường hợp nước Anh rời EU không thỏa thuận.

Nghiên cứu cho thấy Brexit không thỏa thuận sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của những nước xuất khẩu chủ chốt như Trung Quốc hoặc Mỹ. Trong số các nước có thể được hưởng lợi, báo cáo của UNCTAD cũng nhắc tới Việt Nam.

GS.TSKH Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN tại Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga, nhận xét: “Anh là một trong bốn đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Việt Nam trong EU. Một khi thỏa thuận thương mại tự do giữa Việt Nam và EU được thông qua, qua đó tạo xung lực cho hoạt động đầu tư cũng như dỡ bỏ thuế quan đối với gần 100% hàng hóa giữa hai bên, thì trong trường hợp Brexit, EU sẽ gạt Anh ra khỏi những ưu đãi liên quan đến thỏa thuận này. Như vậy, Anh sẽ phải ký thỏa thuận riêng với Việt Nam. Trong mọi trường hợp, Việt Nam đều có lợi, cho dù Brexit diễn ra như thế nào”.

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) được Ủy ban châu Âu thông qua và đang chờ Nghị viện châu Âu phê chuẩn. EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam sau Trung Quốc, và là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ. Tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và EU đạt trên 55 tỷ USD trong năm 2018. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU trong ASEAN, sau Singapore.

Anh hiểu rõ không thể để mất Việt Nam và London dự định ký kết hiệp định thương mại tự do riêng với Hà Nội, tương tự như EVFTA. Quan hệ thương mại và đầu tư giữa Anh và Việt Nam đã tăng trưởng đáng kể trong thời gian qua. Sau mốc thời gian trưng cầu dân ý về Brexit, quan hệ thương mại giữa Vương quốc Anh và Việt Nam vẫn có xu hướng tăng trưởng tích cực.

Trong 2 tháng đầu năm 2019, trao đổi thương mại giữa hai nước đạt 950,8 triệu USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Anh là 816,7 triệu USD, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2018. Nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này đạt 134,1 triệu USD, tăng 8,7%.

Gần 47% lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh là điện thoại, máy tính, các linh kiện và thiết bị điện tử khác Xuất khẩu của nhóm sản phẩm này chủ yếu thuộc khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, do đó xuất khẩu của Việt Nam mang tính điều phối thị trường toàn cầu và không chịu “tác động lẻ tẻ” tầm quốc gia. Các mặt hàng xuất khẩu lớn tiếp theo của Việt Nam là dệt may, giày dép và các sản phẩm gỗ nói chung.

Trong khi đó, nhập khẩu của Việt Nam từ Anh chỉ chiếm khoảng 4% tổng giá trị nhập khẩu vào Việt Nam. Hầu hết các hàng hóa từ Anh vào Việt Nam đều có thể được thay thế dễ dàng nếu có bất cứ điều gì xảy ra đối với các nguồn cung cấp.

Đại sứ Anh tại Việt Nam Gareth Ward cho biết, phía Anh đã phối hợp với Bộ Công Thương Việt Nam để đảm bảo rằng khi tiến trình Brexit hoàn tất, hai bên cũng sẽ có một hiệp định thương mại chất lượng cao tương tự như EVFTA, theo đó doanh nghiệp hai nước sẽ không bị thiệt thòi trong việc mở rộng hợp tác đầu tư, kinh doanh.

Việt Nam có thể thực sự hưởng lợi từ tình hình này và đạt được vị thế tốt với chính phủ tương lai của Anh, nếu Việt Nam là nước đầu tiên hoàn thành FTA với Anh sau Brexit. Quan hệ thương mại ổn định sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước.

Trong trường hợp Brexit xảy ra, tăng trưởng kinh tế của Anh giảm sẽ kéo theo tiết kiệm và đầu tư đi xuống, và điều này ít nhiều ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư của Anh vào Việt Nam. Rào cản thương mại giữa hai bên suy giảm, gây ảnh hưởng tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của cả Anh và EU, qua đó tác động tiêu cực tới đầu tư của cả Anh và EU vào Việt Nam. Mức độ tác động tuy không lớn, với mức giảm 7,7% năm 2017 và 1,7% năm 2018 tính theo tổng vốn FDI đăng ký. Tuy nhiên, đây cũng là mức giảm đáng lưu ý trong bối cảnh tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam ghi nhận mức tăng 8,69% năm 2017 và 6,72% năm 2018.

Anh hiện là nhà đầu tư lớn thứ hai của Việt Nam trong EU và nhiều doanh nghiệp Anh mong muốn đẩy mạnh đầu tư vào Việt Nam. Vốn đầu tư của Anh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bất động sản và công nghệ chế biến. Gần đây, một đoàn doanh nghiệp Anh có quy mô lớn nhất tư trước đến nay đã tới Việt Nam để tìm hiểu cơ hội đầu tư và kinh doanh. Phó Đại sứ Anh tại  Việt Nam, ông Steph Lysaght nói: “Brexit dù có xảy ra cũng không có tác động đến chính sách lâu dài mà Anh dành cho Việt Nam. Chúng tôi sẽ tiếp tục tăng cường đầu tư vào hợp tác kinh doanh với Việt Nam. Việt Nam là thị trường tiềm năng, quan trọng đối với các doanh nghiệp Anh”.

Tuy nhiên, các cú sốc chưa tính đến nguy cơ khủng hoảng ngân hàng và tài chính có thể xảy ra nếu khu vực ngân hàng của châu Âu chịu ảnh hưởng nặng nề sau sự kiện Brexit. Nếu khủng hoảng tài chính xảy ra, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ chịu ảnh hưởng lớn, châu Âu sẽ chìm sâu vào suy thoái và do vậy tác động không nhỏ tới thương mại và dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Sự kiện Brexit có thể khiến đồng bảng Anh và euro mất giá. Việc đồng bảng Anh xuống giá cũng sẽ khiến đồng Yen Nhật tăng giá, tác động tiêu cực tới nợ nước ngoài của Việt Nam do một lượng lớn nợ nước ngoài của Việt Nam là bằng đồng Yen. Tuy vậy, tác động chung của Brexit tới nợ nước ngoài của Việt Nam không quá lớn. Những năm tới, tổng nợ nước ngoài có xu hướng giảm mạnh hơn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vay bằng đồng Yen như doanh nghiệp thuộc ngành điện và xi măng cũng sẽ phải chịu thua lỗ do chênh lệch tỷ giá lớn.

Đồng bảng Anh nếu tiếp tục giảm giá, cùng với sự đi xuống của đồng euro, có thể phá vỡ các mối quan hệ cung ứng hàng hóa, dòng tiền với các nước EU, qua đó tác động gián tiếp đến các doanh nghiệp có quan hệ xuất khẩu, tức cung ứng hàng hóa vào Anh. Khi đó, đồng VND sẽ lên giá so với đồng bảng và euro, khiến hàng hóa của Việt Nam trở nên đắt đỏ và khó cạnh tranh hơn tại thị trường Anh và châu Âu.

Trong trung hạn, xuất khẩu của Việt Nam sang EU được dự báo sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực do thị trường EU bị thu hẹp vào tăng trưởng kinh tế tại các nước trong khối suy giảm. Đầu tư của EU sang Việt Nam cũng giảm do tiềm lực tài chính của các nước EU suy yếu khi Anh rời khỏi khối. Việt Nam cũng khó có thể trở thành địa điểm đầu tư thay thế khi các nhà đầu tư EU chuyển hướng đầu tư ra khỏi Anh, do sự khác biệt lớn giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế Anh. Tuy nhiên, Việt Nam là nước duy nhất tại ASEAN đã hoàn tất thành công thỏa thuận FTA với EU (thông tin này không chuẩn xác vì Singapore đã ký FTA với EU trước Việt Nam – BT), khiến giới đầu tư châu Âu chuyển hướng sang Việt Nam vì người tiêu dùng EU muốn hàng nhập khẩu giá rẻ.

Nguồn: Sputnik – 25/04/2019

TKTTK – 26/04/2019

Sau phong trào “Áo vàng”, Pháp cần một khế ước xã hội mới


Kinh tế gia người Pháp Jean Tirole, giải Noble Kinh tế năm 2014, giải thích trên tuần báo Le Journal du Dimanche (JDD ngày 9/12/2018) một số nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ của người Pháp trong phong trào “Áo vàng” và khuyến khích người dân ký kết một thỏa thuận Grenelle có trách nhiệm.

Theo ông Jean Tirole, phát sinh từ sự bất mãn chính đáng và thiếu thông tin kinh tế, phong trào “Áo vàng” còn cho thấy rõ sự thiếu vắng một khế ước xã hội. Điều này tương phản với Thụy Điển và Thụy Sĩ, hai nước áp mức thuế carbon cao hơn nhiều so với Pháp. Phong trào “Áo vàng” còn thể hiện một cuộc khủng hoảng sâu sắc của nền dân chủ Pháp: Công dân từ chối tính chính đáng của một tổng thống được bầu theo một chương trình mà ông tiến hành, các chính trị gia không có tầm nhìn xa và một Nhà nước quen che giấu một số sự thật với người dân Pháp.

Lời nói dối của chính phủ là dầu diesel, loại chất đốt gây ô nhiễm môi trường nhưng lại được trợ cấp từ thập niên 1990 (giá dầu rẻ, tiền hỗ trợ khi mua ô tô). Hiện trạng này đang được điều chỉnh lại và trong khi chờ ô tô điện được phổ biến, cần phải lập lại sự công bằng về thuế giữa xe chạy bằng dầu diesel và xe chạy bằng xăng. Khó khăn ở chỗ người Pháp, bị chính sách của Nhà nước ủng hộ diesel cám dỗ, lại đổ đi mua xe chạy bằng dầu. Vậy tại sao lại có sự dối trá này? Đó là để bảo vệ nền công nghiệp của Pháp trước sự cạnh tranh của xe ô tô chạy bằng xăng của châu Á, trong khi các nhà sản xuất Pháp và châu Âu lại nghĩ rằng dầu diesel sẽ được dùng rộng rãi.

Giáo sư kinh tế người Pháp nhận định thuế carbon là một loại thuế tốt. Được áp dụng trên quy mô quốc tế, thuế carbon sẽ làm thay đổi hành vi của người dân, định hướng lựa chọn chu trình phân phối ít môi giới, từ bỏ than đá, cách nhiệt nhà cửa, mua ô tô ít gây ô nhiễm môi trường hơn. Nói tóm lại, thuế carbon sẽ cho phép để lại cho con cháu một hành tinh sống được. Dù người ta có nói là những biện pháp đó sẽ không mang lại hiệu quả, thì chúng cũng giúp thay đổi thói quan liên quan đến sinh thái của người dân, các doanh nghiệp và chính quyền.

Khi một số chính trị gia ru ngủ người dân về ảo tưởng của tăng trưởng xanh (đấu tranh chống biến đổi khí hậu không tốn kém gì cả!), giờ thì một số chính trị gia khác đưa người dân về thực tế khắc nghiệt. Đúng là không ai thích những người thông báo tin xấu cả.

Người dân Pháp bất bình đẳng trước thuế carbon

Luật tài chính liên quan đến khoản đóng góp cho khí hậu-năng lượng được thông qua năm 2014, dưới thời Tổng thống Franҫois Hollande, đã lập ra một loại thuế carbon. Theo dự kiến, khoản thuế này sẽ tăng hàng năm cho đến mức phù hợp hơn với các mục tiêu đề ra tại thượng đỉnh khí hậu COP21 (2014). Tuy nhiên, người dân Pháp chỉ phát hiện ra điều này vào năm 2018 và thất vọng khi giá bán lẻ xăng dầu tăng cao hơn. Về điểm này, nhật báo Le Monde ngày 8/12, trong 4 năm qua, do giá xăng dầu trên thị trường quốc tế giảm, nên việc thuế carbon tăng dần đã không bị chú ý.

Trong khi đó, nhờ vận động tích cực mà giới lái xe đường dài, taxi và nông dân lại được miễn loại thuế carbon này. Các hãng hàng không cũng được miễn loại thuế này nhờ các thỏa thuận quốc tế. Hai trường hợp trên là những ví dụ rõ ràng cho thấy sự bất công về thuế đối với công dân. Tương tự đối với dầu diesel, nhiều chính phủ gần đây gửi đến người dân những tín hiệu không tốt. Họ ngầm khuyến khích người dân sưởi bằng dầu mazut, đến sống ở vùng nông thôn hoặc ngoại ô các đô thị lớn. Chính quyền thúc đẩy mở mang đô thị và thiếu đầu tư vào phương tiện giao thông. Sống ở thành phố đắt đỏ. Điều này chắc chắn là đúng, nhưng ở điểm này, phải chỉ trích những người từ chối tăng cường môi trường sống, làm tăng giá nhà ở các trung tâm thành phố và như vậy bảo vệ tô tức thổ trạch cho lượng cử tri của họ.

Ông Jean Tirole cho rằng những người bị tác động trước tiên chính là những người nghèo khó nhất do thiếu giải thích từ giới chính trị gia và truyền thông. Họ là những người ít được thông tin nhất và chính họ là những người sống cách trung tâm thành phố từ 30 đến 60 km để tiết kiệm tiền thuê nhà, chi phí nhà cửa và thường đi làm bằng xe chạy diesel.

Nhà nước có thể là gì từ thuế carbon?

Trước hết là bổ sung kho bạc Nhà nước để giảm bớt các loại thuế ít hiệu quả nhất (như đánh thuế quá mức vào việc làm tại Pháp, nguồn gốc gây thiếu việc làm và mất sức mua). Đây chính là điểm mà Thụy Điển đã làm trong những năm 1990 khi áp thuế carbon 100 euro cho một tấn khí thải CO2, với thuế suất không đổi. Thứ hai là để cấp ngân phiếu năng lượng cho mỗi công dân (dĩ nhiên là không căn cứ vào mức tiêu thụ năng lượng của mỗi người nếu muốn khuyến khích họ ít gây ô nhiễm hơn). Tấm ngân phiếu này có thể giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn nhất nhiều hơn cả việc họ bị tác động vì tăng giá xăng dầu. Thứ ba là giúp những người nghèo nhất có thể có tiền mua trang thiết bị phù hợp hơn (lò sưởi…) với sinh thái.

Tuy nhiên, một số biện pháp khác đáng bị chỉ trích hơn. Thứ nhất là tiền thưởng bán lại xe chạy xăng hoặc diesel để mua xe mới hoặc đã qua sử dụng trong khuôn khổ chuyển đổi sinh thái. Điều này tạo nguy cơ là các nhà sản xuất xe hơi bù lại khoản trợ cấp trên giá bán của xe (điều này từng xảy ra đối với lò sưởi đốt củi). Thứ hai, “loại thuế linh hoạt với chất đốt” lại có hai hậu quả xấu. Theo dự luật được trình vào tuần trước, chính phủ có thể yêu cầu Nghị Viện cứ ba tháng lại sửa đổi thuế carbon tùy theo giá dầu thế giới. Mục đích là để giảm bớt tác động của việc tăng giá của giá dầu thế giới đối với giá bán lẻ ở cây xăng. Chúng ta có thể dễ dàng đoán được là Nghị Viện sẽ ủng hộ giảm thuế. Nhưng liệu Nghị Viện có quyết định tăng mạnh loại thuế này nếu như giá xăng dầu giảm? Kinh tế gia người Pháp tỏ ra nghi ngờ về điều này. Khi được giải thích rõ ràng hơn, truyền tải rộng rãi trên truyền thông, thuế carbon có thể sẽ giúp người dân đưa ra lựa chọn đúng đắn trong việc mua ô tô, định cư hoặc cách nhiệt nhà cửa.

Thuế linh hoạt đối với chất đốt còn có một nhược điểm lớn khác. Ví dụ các nước giàu có khác theo mô hình của Pháp, giá dầu thế giới sẽ không còn là 80 USD/thùng mà có lẽ sẽ là 200 hoặc 400 USD/thùng vì tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) có thể tăng giá bán mà không gặp bất kỳ phản ứng nào từ người tiêu dùng vì được bảo vệ về việc tăng giá, họ sẽ vẫn tiếp tục tiêu thụ năng lượng.

Người Pháp muốn “rất nhiều từ Nhà nước/trả ít thuế”

Phong trào “Áo vàng” thể hiện một yêu sách rộng hơn: Tăng sức mua. Đối với người lao động bình dân, tăng lương tối thiểu không phải là giải pháp mong muốn, vì điều này có nguy cơ làm nghiêm trọng hơn tình trạng thiếu việc làm. Do vậy, theo kinh tế gia người Pháp, tốt hơn hết là tăng tiền thưởng hoạt động cho họ.

Những người “Áo vàng” cũng yêu cầu giảm thuế. Nhưng như vậy, ai sẽ trả chi phí cho trường học, bệnh viện và rộng hơn là toàn bộ lĩnh vực dịch vụ công? Pháp vẫn chưa lựa chọn giữa “yêu cầu ít từ Nhà nước/ít thuế” và “đòi hỏi nhiều từ Nhà nước/nhiều thuế” và lại bỏ phiếu cho giải pháp “yêu cầu nhiều từ Nhà nước/ít thuế”. Để người dân Pháp duy trì được một hệ thống bảo hiểm xã hội phát triển mà không tăng thêm áp lực thuế khóa (nằm trong top đầu thế giới), họ phải tán đồng cải cách. Điều tồi tệ nhất có lẽ sẽ là môi trường xã hội hiện nay một lần nữa làm cho nước Pháp không hoạt động. Việc giảm thuế cho dịch vụ công không đổi đòi hỏi bổ sung các biện pháp cải cáh còn chưa hoàn thiện về thị trường lao động, về giáo dục và tiến hành cải cách hưu trí, các lỗ hổng thuế và chắc chắn là cải cách cả Nhà nước để hoạt động hiệu quả hơn.

Cuộc nổi dậy của những người “Áo vàng” là cơ hội để tái tạo sự đồng thuận về thuế. Người dân Pháp không hiểu Nhà nước làm gì từ các khoản thuế bắt buộc. Thông qua một cuộc tranh luận công khai, phải đánh giá dứt khoát hiệu quả của các chính sách công, loại trừ hoặc chỉnh sửa những chính sách chưa mang lại hiệu quả. Kinh tế gia Jean Tirole không loại trừ khả năng cần một khế ước xã hội mới, tương tự với khế ước đang tồn tại ở Bắc Âu (dù còn mong manh). Đã đến lúc người dân Pháp phải xác định muốn sống trong xã hội nào.

Nguồn: TKNB – 12/12/2018

Phong trào “Áo vàng” cho thấy nền dân chủ châu Âu đã thất bại


Không thể phủ nhận rằng, trong tương lai luận án về việc “bộ máy tuyên truyền của Nga” đã truyền cảm hứng cho cuộc bạo loạn ở Paris sẽ không chỉ trở nên cực kỳ phổ biến trên các phương tiện truyền thông châu Âu và Mỹ, mà còn sẽ tạo cái cớ để áp dụng các biện pháp trừng phạt mới chống lại Nga. Câu giả định này ngày càng trở thành thực tế sau khi Ngoại trưởng Pháp Jean-Yves Le Drian nói với các nhà báo rằng, Tổng Thư ký Quốc phòng và An ninh Pháp đang điều tra thông tin về việc Nga có liên quan đến các cuộc biểu tình của “áo gile vàng”. Ông Le Drian nói: “Tôi biết về những tin đồn như vậy. Nên chờ đợi kết quả điều tra. Tôi sẽ không phán xét chừng nào chưa làm sáng tỏ sự thật”.

Mặt khác, nếu không chú ý đến cơn cuồng loạn thường kỳ chống lại Nga, thì có thể nói rằng, ở Paris đang diễn ra một cuộc thí nghiệm chính trị – xã hội học độc đáo: liệu cuộc cách mạng sắc màu không nhận được sự ủng hộ của bộ máy chính trị châu Âu có thể giành phần thắng hay không? Cho đến nay câu trả lời phổ biến nhất là: không, không thể, nhưng, trong trường hợp của Pháp, quá trình vẫn còn rất xa mới hoàn thành.

Những nhà bình luận và nhà phân tích chỉ ra “dấu chân” Trump trong các sự kiện ở Pháp và khả năng các sự kiện đó có liên quan đến những lợi ích mang màu sắc chính trị đều bị chế giễu vì tư duy âm mưu. Tất nhiên, có những người tin tưởng một cách chân thành vào chuỗi sự trùng hợp sau: Macron tuyên bố về sự cần thiết phải tạo ra một “quân đội châu Âu”, để châu Âu tuyên bố độc lập khỏi Mỹ, ông thể hiện sự sẵn sàng đấu tranh đến cùng chống Mỹ trong cuộc chiến thương mại, cố gắng tạo ra một cơ chế né tránh các biện pháp trừng phạt của Mỹ chống Iran và ủng hộ việc giảm các giao dịch USD trong hệ thống tài chính châu Âu và toàn cầu. Và đây, ở Pháp bất ngờ bùng nổ một “cuộc cách mạng sắc màu” với các biểu tượng được biết rõ của nó, có sự phối hợp thông qua các mạng xã hội, có cả “học sinh nhảy” và những nhạc sĩ biểu diễn cho những người biểu tình trước mặt “cảnh sát đáng sợ” và thậm chí cả những cảnh video ghi lại cảnh sát đánh đập những người biểu tình mà “họ là trẻ em”.

Có những “sự trùng hợp” khác: Tổng thống Mỹ hướng tới Macron thông qua Twitter và đặt ra điều kiện: Macron phải đồng ý trả 2% GDP để tài trợ cho quân đội Mỹ, phải từ bỏ Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu. Trump thậm chí nhấn mạnh rằng những người biểu tình ở Pháp đang hô vang “chúng tôi muốn Trump!”. Có lẽ đây cũng chỉ là một sự trùng hợp. Có lẽ một sự trùng hợp ngẫu nhiên là việc Steve Bannon, nhà tư vấn chính trị của Tổng thống Mỹ, người đã điều hành chiến dịch tranh cử của Trump, chuyên gia về các tổ chức chính trị “hoạt động ngấm ngầm”, hiện đang ở châu Âu với mục đích tạo ra một phong trào chính trị ủng hộ Trump. Phát biểu tại Brussels, Bannon nói rằng, những người đang biểu tình ở Pháp là “những cử tri đã bầu Trump”. Có lẽ tất cả điều này chỉ là sự trùng hợp, tuy nhiên, vẫn có cơ sở để chúng ta có những nghi ngờ về giả thiết rằng, Macron chỉ đơn giản không gặp may và tình trạng bất ổn đã bùng nổ mà không có sự can thiệp nào từ bên ngoài.

Tất cả những điều nói trên không có nghĩa là làn sóng biểu tình không có các nguyên nhân trực tiếp. Ngược lại: bất kỳ sách giáo khoa nào về đảo chính, bắt đầu từ công trình nổi tiếng của nhà khoa học chính trị Mỹ Edward Luttwak “Cuộc đảo chính”. Hướng dẫn thực hiện đều khuyến nghị các nhà tổ chức và các nhà tài trợ cuộc đảo chính nên sử dụng các vấn đề và mâu thuẫn hiện có trong nước. Đa phần người Pháp không hài lòng với Macron, nền kinh tế Pháp đang gặp phải những vấn đề nghiêm trọng, người Pháp phải đóng thuế rất cao, giá nhiên liệu diesel ngay cả sau khi bãi bỏ thuế Macron là khoảng 1,4 euro/lít (theo GlobalPetrol), và nhiều người Pháp bực mình vì thái độ kiêu ngạo của vị Tổng thống và chính sách xã hội của ông.

Trong điều kiện này, dễ hiểu tại sao tham gia các cuộc biểu tình có những người từ các tầng lớp xã hội rất khác nhau, họ đưa ra những yêu cầu rất khác nhau (đôi khi xung khắc nhau), và cũng dễ hiểu tại sao những người biểu tình nhận được sự ủng hộ rộng rãi (theo các cuộc thăm dò gần đây, hơn 70%   người Pháp ủng hộ phong trào “áo gile vàng”). Tuy nhiên, sự ủng hộ này dựa trên một chương trình nghị sự tiêu cực, tức là, phần lớn người Pháp muốn để Cung điện Élysée nhận thức được rằng, chính sách của Macron và bản thân Macron đang gây ra sự phản đối. Trong khi đó, phong trào này không đề xuất một nhân vật chính trị nào để đóng vai trò lãnh đạo. Những người biểu tình kiên quyết ngăn chặn bất kỳ nỗ lực nào của những chính trị gia cực đoan và cấp tiến nhất hòa nhập vào phong trào này. Điều đó có thể là một dấu hiệu cho thấy rằng, ngay từ đầu những cuộc biểu tình chỉ đóng vai trò chiếc búa đập vào nước Pháp, nền kinh tế và hệ thống chính trị của Pháp. Rất có thể người đặt hàng “cuộc cách mạng sắc màu” không cần bất kỳ cải cách nào và không quan tâm đến nguyện vọng của người dân thường: sự tức giận và kỳ vọng của người Pháp vào tương lai tốt đẹp hơn chỉ được sử dụng để phá hủy nhà nước của họ. Tôi muốn hỏi: điều này có nhắc nhở bạn điều gì không?

Xét theo thực tế rằng những cuộc biểu tình của “áo gile vàng” đã được ghi nhận ở Bỉ và Hà Lan, chúng ta có thể rút ra kết luận rằng không chỉ Pháp, mà toàn bộ châu Âu, kể cả những nước thịnh vượng nhất, hiện đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng xã hội có hệ thống, do đó các quốc gia châu Âu dễ bị tổn thương bởi những biến động xã hội như vậy. Trong nhiều năm liền châu Âu đã né tránh những cuộc cách mạng, sự kiện kiểu Maidan và cuộc nội chiến, nhưng, bây giờ thời đại bình yên đã qua, ở châu Âu hiện có quá nhiều mâu thuẫn xã hội, và hệ thống chính trị rõ ràng không có khả năng đáp ứng đầy đủ các thách thức xã hội, có nghĩa là sớm hay muộn tại nhiều thủ đô châu Âu có thể xảy ra những sự kiện như ngày nay ở Paris.

Nguồn: Sputnik

TKNB – 12/12/2018