Quyền của người lao động, lý do EVFTA chưa được thông qua?


Bà Cecilia Malmstrӧm quan chức cấp cao nhất về thương mại của EU đang vấp phải trở ngại lớn khi bà cố đạt được các hiệp định thương mại tự do trên khắp châu Á, đó là quyền của người lao động.

Sau khi hoàn thành đàm phán vào cuối năm 2015, EVFTA được coi là thành công lớn đầu tiên của bà Malmstrӧm. Tuy nhiên, hiệp định này có nguy cơ bị đóng băng vì thất bại về luật lệ pháp lý nhằm thay đổi cách Việt Nam đối đãi với người lao động. Các nghị sĩ cao cấp trong Quốc hội châu Âu cho biết vẫn chưa rõ đến khi nào họ mới có thể phê chuẩn hiệp định này.

Đây là đòn giáng mạnh vào Việt Nam và là điềm báo về một xu hướng mới quan trọng.

Chính Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đang cho thấy sự quyết đoán hơn của châu Âu. Hứa hẹn “Châu Âu có khả năng bảo vệ”, ông Macron muốn phản đòn các đảng phái dân túy bằng cách cho thấy EU có thể bảo vệ người lao động tại châu Âu trước làn sóng thương mại tự do và sự cạnh tranh không lành mạnh của các công xưởng bóc lột lao động tàn tệ tại châu Á. Để làm được như vậy, ông Macron muốn đưa thêm các biện pháp trừng phạt vào các hiệp định thương mại với các quốc gia thiếu coi trọng quyền của người lao động.

Hiện tại, chính Quốc hội châu Âu đang thúc ép bà Cecilia Malmstrӧm về vấn đề Việt Nam, một đất nước với 93 triệu dân được mệnh danh là con hổ kinh tế châu Á. Ông Bernd Lange, nhà lập pháp kỳ cựu người Đức thuộc đảng Dân chủ Xã hội (SPD) và là Chủ tịch Ủy ban thương mại quốc tế của Nghị viện EU, nói: “Nếu không có tiến bộ nào về nhân quyền và đặc biệt là quyền của người lao động, thì sẽ không có bất cứ hiệp định nào được Quốc hội châu Âu thông qua”.

Ông Lange cho rằng thật không công bằng khi các công ty lớn sử dụng Việt Nam làm cơ sở sản xuất với nhân công giá rẻ, với tiêu chuẩn môi trường thấp hơn, sau đó xuất khẩu miễn thuế sang EU. Từng được xem là nơi sản xuất chính các mặt hàng may mặc và đồ thể thao, hiện nay, Việt Nam là nhà xuất khẩu điện thoại thông minh và máy tính bảng. Hà Nội cho biết điện thoại thông minh là mặt hàng chiếm 21% tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam.

Ông Lange nói, đặc biệt liên hệ đến điều kiện lao động trong các nhà máy sản xuất điện thoại thông minh: “Công nhân được thuê và bị sa thải mà không có bất kỳ sự bảo vệ nào. Thời gian làm việc không được tôn trọng và công nhân nào đấu tranh cho các điều kiện công bằng hơn đều bị sa thải… Chúng tôi không thể miễn toàn bộ thuế quan cho các sản phẩm này để chúng được bán rẻ hơn ở đây (các nước EU) mà không có bất kỳ cải thiện điều kiện lao động nào cho công nhân ở đó (ở Việt Nam)”.

Chiến lược tiếp cận mềm mại kiểu Thụy Điển

Để đối phó với sự chỉ trích ngày càng tăng, bà Malmstrӧm (người Thụy Điển) đang thực hiện các biện pháp ngoại giao xây dựng trên cơ sở đồng thuận với chính quyền Hà Nội và tránh không đưa ra bất cứ đe dọa trừng phạt nào mà ông Macron muốn có.

Ngày 15/1 vừa qua, bà Malmstrӧm đã gửi thư đến Hà Nội, trong đó yêu cầu chính phủ Việt Nam “có những tiến bộ cụ thể” về “quyền tự do lập hội và thương lượng tập thể” và cho biết bà sẽ “chú ý kỹ đến việc cải cách bộ luật lao động Việt Nam”.

Bà cũng yêu cầu một lịch trình cụ thể cho việc cải cách luật lao động, bày tỏ quan ngại về vấn đề nhân quyền và đánh bắt cá hợp pháp.

Ủy ban châu Âu đã hoàn tất EVFTA với Hà Nội vào tháng 12/2015, nhưng bà Malmstrӧm vẫn có thể sử dụng đòn bẩy để thúc đẩy sự thay đổi tại Việt Nam vì bà vẫn chưa trình hiệp định này lên Nghị viện châu Âu để 28 nước thành viên phê chuẩn.

Châu Âu đang tranh cãi về việc liệu cách tiếp cận nhẹ nhàng, mềm mại của bà Malmstrӧm có hiệu quả hay không. Tình hình ngày càng nguy hiểm hơn khi Brussels đang tìm cách mở rộng quan hệ thương mại trên khắp châu Á. Brussels đang đặt mục tiêu là sửa đổi hiệp định với Hàn Quốc và tiến hành đàm phán với Indonesia. Các cuộc thảo luận với Philippines đã có hiệu quả về các vấn đề nhân quyền.

Những khó khăn của Brussels đối với Việt Nam một phần là do EU ban đầu hy vọng rằng Mỹ sẽ có những động thái cứng rắn hơn với Việt Nam vì Mỹ từng tham gia đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dưới thời Tổng thống Barack Obama, Mỹ đàm phán về các điều kiện nghiêm ngặt như cấm Việt Nam và Malaysia tham gia quan hệ đối tác cho đến khi hai nước chấp nhận các cải cách trong việc thực thi các tiêu chuẩn an toàn tối thiểu và cho phép thương lượng tập thể. TPP cũng bao gồm một hệ thống giải quyết tranh chấp, đe dọa trừng phạt nếu một quốc gia vi phạm cam kết về các quyền.

Sau khi Tổng thống Donald Trump rút Mỹ khỏi TPP, chính Brussels sẽ phải thúc đẩy các quốc gia thành viên cải cách bộ luật lao động.

Hành động quyết liệt của Pháp

“Kế hoạch hành động” trong vấn đề thương mại của Macron phù hợp hơn với cách tiếp cận của Obama. Ví dụ, nếu một nhà nước vi phạm các cam kết tôn trọng quyền tự do lập hội hoặc quyền của công đoàn được thương lượng về tiền lương, các quy định “sẽ cho phép EU đình chỉ các mức ưu đãi thuế quan.

Các nhà lập pháp thuộc Đảng Dân chủ Xã hội trong Nghị viện châu Âu cũng đồng ý với lập trường đó. Trong cuộc tranh luận ngày 16/1 vừa qua về quyền của người lao động trong các hiệp định thương mại, bà Alessia Mosca (người Italy), nghị sĩ Nghị viện châu Âu cho biết bà ủng hộ “phương pháp trừng phạt từng bước, đi kèm với giám sát”.

Bà Malmstrӧm lập luận rằng Ủy ban đã sẵn sàng đẩy mạnh việc thực thi, nhưng cảnh báo rằng “không có gì cho thấy sự đồng thuận về việc thay đổi chính sách đối với việc đưa ra các biện pháp trừng phạt thương mại”. Tuy nhiên, các nghị sĩ ngày càng hoài nghi khi cho rằng dù hữu hiệu, nhưng cách tiếp cận của bà Malmstrӧm có nguy cơ phản ngược lại nó. Họ chỉ ra rằng Hàn Quốc, mặc dù đã thực hiện Hiệp định thương mại với EU từ năm 2011, nhưng cho đến nay vẫn chưa phê chuẩn các công ước chính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Các quan chức Việt Nam cũng nói rằng họ cảm thấy bị lừa, lập luận rằng EU đang yêu cầu những điều gì đó mà không phải là một phần của hiệp định thương mại này.

Hà Nội không chính thức trả lời thư của bà Malmstrӧm. Tuy nhiên, một quan chức cấp cao của Việt Nam đã phát biểu: “Có quá nhiều yêu cầu về các vấn đề phi thương mại – điều này không phải là một ý tưởng hay… Thật không đơn giản khi yêu cầu một quốc gia phải thay đổi luật lao động… Phía EU đang yêu cầu một cái gì đó mà chẳng đáp trả lại một cái gì cả”. Phát biểu trên không hề chính xác vì quyền của người lao động là một phần ràng buộc của thỏa thuận mà Việt Nam đã ký với EU. EVFTA có ghi rõ: “Mỗi bên khẳng định cam kết sẽ thực thi hiệu quả các Công ước ILO trong luật pháp và thông lệ của mình. Đó là các Công ước được Việt Nam và các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu phê chuẩn”.

EVFTA cũng ràng buộc Việt Nam phải “tiếp tục duy trì những nỗ lực phê chuẩn các công ước cơ bản khác của ILO, nếu nó chưa được thực hiện. Tuy nhiên, EVFTA không đặt ra một mốc thời gian cụ thể cho việc phê chuẩn và đây chính là kẽ hở để Việt Nam có thể không thực hiện.

Ông Lange cảnh báo, chừng nào Nghị viện châu Âu không thấy được cam kết rõ ràng về lộ trình thực hiện cải cách và một số biện pháp cụ thể, thì chừng đó, EVFTA “sẽ vẫn còn nằm trong ngăn kéo”.

Nguồn: Politico – 21/01/2019

TKNB – 30/01/2019

Advertisements

EVFTA vẫn vô cùng quan trọng với Việt Nam


Theo đài VOA, sau khi một số thành viên Nghị viện châu âu hồi tuần trước thông báo việc hoãn phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam (EVFTA), một số nhà quan sát trong nước cho rằng không có hiệp định này cũng không “gây thay đổi gì nhiều” đối với tốc độ phát triển và độ mở kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, hai nhà kinh tế giàu kinh nghiệm phản bác các nhận định kể trên.

Chuyên gia Phạm Chi Lan và tiến sĩ Nguyễn Quang A nói rằng Việt Nam vẫn rất cần EVFTA vì “các lợi ích được hưởng rất lớn” và những lợi ích đó không chỉ là về mặt kinh tế”.

Cuối tuần qua, một số nhà quan sát Việt Nam không muốn nêu danh tính bày tỏ quan điểm rằng đất nước đã có độ mở của nền kinh tế “quá lớn rồi, không còn dư địa nhiều để mở nữa”, vì vậy, khi hiệp định thương mại với Liên minh châu Âu (EU) bị hoãn, dẫn đến việc Việt Nam chậm “nới thêm độ mở”, điều đó cũng không phải là “quá dở”.

Theo lời phát biểu của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại một diễn đàn về hợp tác kinh tế châu Á ở thành phố Bình Dương hồi cuối tháng 11/2018, Việt Nam được đánh giá “là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn trên thế giới” với tổng kim ngạch thương mại tương đương 200% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Tuy nhiên, bà Phạm Chi Lan – chuyên gia kinh tế, đưa ra ý kiến rằng tầm quan trọng của EVFTA không chỉ giới hạn ở độ mở kinh tế của Việt Nam. Ngược lại, bà nói rằng cần chú ý đến việc hiệp định sẽ giúp mở cửa các nước đối tác ở châu Âu với Việt Nam, nhờ đó, Việt Nam sẽ có những điều kiện thuận lợi hơn để “thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường của họ, cũng như nhập khẩu các thiết bị, công nghệ cần thiết cho sự cải thiện kinh tế của Việt Nam”.

Bên cạnh mối lợi về mua công nghệ từ các nước EU, bà Phạm Chi Lan lưu ý đến việc Việt Nam muốn sang EU giao lưu, học hỏi để phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn, đó là một khía cạnh khác về lợi ích từ EVFTA. Bà nói thêm:

Việt Nam muốn trao đổi con người nhiều hơn để những người trẻ Việt Nam có điều kiện học hành và tiếp nhận những công nghệ, kỹ năng quản trị các mặt tốt hơn từ các nước thành viên EU. Vì vậy, lợi ích của Việt Nam được hưởng từ các nước này cũng rất lớn. Hoàn toàn không có chuyện là có hay không có (EVFTA) cũng không ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam”.

Ghi nhận Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới nếu đo bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên GDP, nhưng Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói rằng điều đó không có nghĩa EVFTA không còn cần thiết với Việt Nam. Ông nêu ra những lý do Việt Nam vẫn “rất cần” hiệp định”

EVFTA sẽ làm cho xuất khẩu của Việt Nam hiệu quả hơn, tạo thêm công ăn việc làm, quan hệ giữa Việt Nam và EU sẽ tốt lên, và một điểm rất quan trọng là với hiệp định này, Việt Nam có thể tạo thế quân bình hay là cần bằng giữa các khối lớn với nhau trên thế giới, như Mỹ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…”.

Một nhận định khác được một số nhà quan sát đưa ra trong cuối tuần qua là trước khi có Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đã được Việt Nam phê chuẩn hồi tháng 11/2018, và hiệp định EVFTA mới bị hoãn, kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng xấp xỉ 7%/năm, trong 4 năm gần đây, do đó, việc hoãn EVFTA “có thể không gây ra thay đổi gì nhiều về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam”.

Đáp lại ý kiến này, tiến sĩ Nguyễn Quang A xem đó là một loại “ngụy biện nguy hiểm”. Ông cảnh báo rằng sẽ “rất khó” để Việt Nam tiếp tục đạt mức tăng trưởng trong quá khứ do thế giới trong tương lai biến động “khôn lường” và Việt Nam phải “đa dạng hóa” mối quan hệ kinh tế. Ông giải thích:

Không nên nghĩ rằng năm 2018 được 7% thì sang năm cũng được 7%. Nếu nền kinh tế Trung Quốc chậm lại, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam và ảnh hưởng đến cả thế giới. Muốn duy trì tăng trưởng cao, tôi nghĩ, Hiệp định FTA giữa Việt Nam và EU là rất quan trọng”.

Theo ông Nguyễn Quang A, Việt Nam cần phải đạt được tỉ lệ tăng trưởng khoảng 7% trong liên tục ba thập niên tới mới có thể trở thành nền kinh tế trung bình của thế giới với GDP là 1000 tỷ USD.

Cũng nói về mục tiêu tương lai của Việt Nam, bà Phạm Chi Lan nhắc đến “khát vọng 2035”, do chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hồi năm 2016, theo đó, mục tiêu được đặt ra là sau hai thập niên nữa, Việt Nam trở thành nước có “thu nhập trung bình cao”.

Để Việt Nam đạt được khát vọng đó, bà Phạm Chi Lan có chung quan điểm với tiến sĩ Nguyễn Quang A rằng EVFTA là một thành tố “vô cùng quan trọng”, cùng với các hiệp định thương mại tự do với các đối tác khác.

Trong bối cảnh EVFTA mới bị hoãn lại, mà theo lời một số nghị sĩ châu Âu thông báo qua các trang web của EU là do “trở ngại về nhân quyền” ở Việt Nam, bà Phạm Chi Lan đưa ra lời tư vấn rằng Việt Nam nên nghiêm túc xem xét các khuyến nghị của EU nhằm thúc đẩy việc phê chuẩn hiệp định.

Bà nhấn mạnh, Việt Nam không nên xem những vấn đề về quyền của người lao động và nhân quyền do EU đặt ra là sức ép của ngoại quốc, ngược lại, nên coi đó là những nhu cầu tự thân, vì lợi ích của chính đất nước. Bà nói:

Trước hết, đây là những vấn đề phù hợp với lợi ích lâu dài cảu toàn thể người dân Việt Nam. Vì mình mà cải cách, và điều đó cũng mang lại những lợi ích cơ bản cho người dân. Nếu đặt vấn đề như vậy, sẽ thấy những yêu cầu cải cách là yêu cầu tự thân của Việt Nam. Và Việt Nam dù có sức ép hay đòi hỏi từ bên ngoài hay không thì cũng tự mình phải cố gắng để làm”.

Thời gian qua, chính phủ Việt Nam đã ra sức vận động và đặt nhiều hy vọng vào việc EVFTA sẽ được Hội đồng châu Âu phê chuẩn vào tháng 2 và Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào tháng 3 để có hiệu lực vào giữa năm 2019.

Tuy nhiên, trong tuần thứ tư của tháng 1, hai nghị sĩ EU đã đăng lên mạng đoạn video trong đó họ nói có “những lý do kỹ thuật” để hoãn thông qua EVFTA, đồng thời cũng đặt ra câu hỏi đầy ẩn ý rằng “Liệu điều đó có xảy ra không nếu Việt Nam có nhiều nỗ lực hơn trong việc cải thiện nhân quyền?”.

Trang web của Nghị viện châu Âu hồi tháng 2/2018 dẫn kết quả một nghiên cứu đánh giá tác động của EVFTA, cho thấy Việt Nam là quốc gia hưởng lợi lớn nhất trong các nước ASEAN với mức tăng 35% về xuất khẩu, 15% về GDP và 13% về lương bổng cho người lao động, so với kịch bản không có EVFTA.

Theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tổng giá trị trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và EU trong năm 2017 dạt 50,46 tỷ USD, trong đó tổng lượng hàng xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường EU đạt 38,27 tỷ USD, chiếm gần 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Nguồn: TKNB – 30/01/2019

Anh lún sâu vào khủng hoảng Brexit


Ngày 10/12, Thủ tướng Anh Theresa May đã hoãn cuộc bỏ phiếu Hạ viện cho đề xuất Brexit của bà nhằm tránh xảy ra thua thiệt đau đớn cho London. Cùng ngày, Tòa án Công lý châu Âu ra phán quyết nói Anh có thể hủy Brexit mà không cần có sự cho phép của 27 quốc gia thành viên EU. Những động thái này được cho là làm bùng phát hỗn loạn chính trị đối với nỗ lực của Anh rời khỏi EU.

Vòng xoáy bất ổn mới

Thủ tướng May thừa nhận kế hoạch dự phòng, còn được hiểu là phương án chốt chặn đối với vấn đề đường biên giới giữa Bắc Ireland (thuộc Anh) và Cộng hòa Ireland vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ nhiều nghị sĩ thuộc các đảng phái khác nhau và ngay cả trong nội bộ đảng Bảo thủ cầm quyền. Những ý kiến phản đối cho rằng thỏa thuận sẽ khiến nước Anh vẫn bị phụ thuộc nhiều vào EU và doanh nghiệp Anh sẽ bị rơi vào thế bất lợi trong cạnh tranh kinh doanh.

Bà May cho biết sẽ tiến hành cuộc họp khẩn cấp với lãnh đạo các nước EU để thảo luận về những thay đổi có thể đối với phương án chốt chặn cho vấn đề đường biên giới Ireland. Điều này giúp bà thuyết phục các nghị sĩ Anh rằng những biện pháp liên quan đến đường biên giới Ireland sẽ chỉ mang tính giải pháp tạm thời. Mặt khác, Thủ tướng May cũng cho biết Chính phủ sẽ thúc đẩy chuẩn bị kịch bản nước Anh rời khỏi EU mà không đạt được thỏa thuận nào trong trường hợp các nghị sĩ Anh tiếp tục phản đối thỏa thuận Brexit.

Bà May đặt câu hỏi liệu Hạ viện Anh có thực sự muốn Brexit xảy ra hay không khi bà vấp phải sự phản đối kịch liệt như vậy. Trong khi đó, Tòa án Công lý châu Âu lại đem đến hy vọng cho một bộ phận nhỏ nhưng ngày càng tăng những nghị sĩ Anh muốn tiến hành cuộc trưng cầu dân ý lần 2 về Brexit khi tòa đưa ra phán quyết rằng London có thể đơn phương hủy Brexit.

Nước Anh lại rơi vào một vòng xoáy bất ổn mới trước diễn biến đầy kịch tính hiện nay, nhưng cả các nghị sĩ Anh và EU đều không muốn xảy ra kịch bản nước Anh rời EU mà không đạt được thỏa thuận nào vì điều này sẽ gây tổn thất cho cả hai bên.

Ngày 10/12 đã trở thành một ngày tồi tệ đối với Thủ tướng May và chính phủ tranh cãi của mình. Các nghị sĩ đối lập đã lên tiếng yêu cầu bà May từ chức còn lãnh đạo Công đảng Jeremy Corbyn lại cho rằng quyết định trì hoãn cuộc bỏ phiếu “gây tuyệt vọng”. Ông Corbyn tuyên bố: “Chính phủ đã mất kiểm soát mọi việc và hiện đang trong trạng thái hoàn toàn hỗn loạn”. Còn nghị sĩ đứng đầy phe phản đối trong nội bộ đảng Bảo thủ Jacob Rees-Mogg thì lớn tiếng: “Thủ tướng phải lãnh đạo hoặc từ chức”.

Ông Simon Usherwood, Phó Giáo sư về Chính trị học tại Đại học Surrey bình luận: “Tình hình hoàn toàn hỗn loạn”. Theo nhận định của ông, bà May sẽ không từ chức; giới chỉ trích sẽ không gây sức ép để tiến hành cuộc bỏ phiếu tín nhiệm và mong muốn lớn nhất của Hạ viện là tránh một kịch bản Brexit không đạt được thỏa thuận, vốn có nguy cơ xảy ra nếu họ không thể nhất trí về một điều gì khác. Ông nói: “Rốt cục sẽ là một chính phủ ma: Không thể đạt được chính sách quan trọng của mình thông qua quốc hội mà cũng không thể bị bãi bỏ”.

Cần một thủ tướng mới?

Trong thời điểm bà May rơi vào tình thế éo le như vậy, Bộ trưởng thứ nhất của Scotland, bà Nicola Sturgeon tuyên bố sẽ ủng hộ Công đảng đối lập chính nếu đảng này yêu cầu tiến hành cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Thủ tướng Anh. “Tình cảnh hỗn loạn này không thể tiếp diễn…” bà Sturgeon bình luận lại tuyên bố của thủ lĩnh Công đảng Jeremy Corbyn trên mạng xã hội Twitter.

Cơn giận dữ giờ đã lan rộng trên khắp bộ máy quyền lực của Anh và dường như lan tỏa ra bên ngoài để rồi ảnh hưởng đến cả người dân. “Thật là nhục nhã khi sự hỗn loạn này vẫn chưa chấm dứt”, Catherine Ginn, chủ kinh doanh 54 tuổi này thốt lên.

Ông Tony Blighe cũng thất vọng trước những nỗ lực của chính phủ, cho rằng thỏa thuận của Thủ tướng May thật hãi hùng vì nó đưa người dân vướng vào tình thế khó khăn khi xử lý phương án chốt chặn. “Bà ấy đã không còn được tín nhiệm nữa và chúng tôi cần một thủ tướng mới, ai đó sẽ dám đứng lên nói rằng các cuộc đàm phán đều thất bại và chúng tôi sẽ rời EU vào ngày 29/3 theo các quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới”, ám chỉ các điều khoản kinh tế mà Anh sẽ trao đổi thương mại với EU ngay cả khi rời khỏi mà không đạt thỏa thuận nào.

Đàm phán lại?

Thủ tướng Anh tuyên bó sẽ đến Brussels để đàm phán lại với hy vọng đạt được sự nhượng bộ nào đó về vấn đề chốt chặn Bắc Ireland, vấn đề bị phản đối nhiều nhất. Tuy nhiên, tình trạng bất bình trong và ngoài quốc hội đã bộc lộ sự không rõ ràng về cách thức mà bà May muốn thực hiện thỏa thuận “ly hôn” với EU.

Đề xuất về phương án chốt chặn này là điều khoản nhằm bảo đảm không có biên giới cứng được dựng lên trên đảo Ireland ngay cả khi các đàm phán thương mại hậu Brexit giữa Anh và EU không thành công. Do đó, giới chỉ trích cho rằng biện pháp này có thể trói buộc Anh trong quỹ đạo của EU một cách vô hạn định.

Tuy nhiên, Chủ tịch Hội đồng châu Âu (EC) Donald Tusk cảnh báo 27 nước thành viên còn lại sẽ không tái đàm phán thỏa thuận này, kể cả phương án chốt chặn nói trên. Ông Tusk cũng đề cập về khả năng sẵn sàng cho tình huống tồi tệ nhất là Anh rời EU mà không có một thỏa thuận nào. Ngay cả một vài lãnh đạo châu Âu vốn trao những lời lẽ hoa mỹ khiến bà May hy vọng có thể đạt được nhượng bộ nào đó với EU về vấn đề chốt chặn trên cũng cho rằng họ không muốn tái đàm phán. Thủ tướng Irish Leo Varadkar nói với hãng tin AFP “Không thể tái đàm phán về bất kỳ khía cạnh nào của thỏa thuận này mà không đụng chạm lại toàn bộ vấn đề của thỏa thuận”.

Agata Gostynska-Jakubowska, nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Cải cách châu Âu cho rằng sẽ là ngây thơ nếu cho rằng 27 thành viên EU khác sẽ chấp nhận những thay đổi cơ bản đối với đề xuất chốt chặn và một kế hoạch Brexit nhiều nhượng bộ hơn sau hàng tháng trời đàm phán ròng rã. “Bất kỳ tái đề xuất to tát nào liên quan đến vấn đề chốt chặn Bắc Ireland là điều khó có thể xảy ra vì nhiều nước thành viên coi đây là nhượng bộ cuối cùng cho phương án chốt chặn”.

Tác động lan tỏa

Hiện tình trạng bất ổn chính trị đã lan sang cả kinh tế khi đồng bảng Anh rớt xuống mức thấp nhất đối với đồng bạc xanh kể từ tháng 4/2017. Giới phân tích thị trường cho rằng sự sụt giảm giá này là do gia tăng lo sợ khả năng không đạt được thỏa thuận nào cho quá trình Brexit. Neil Wilson, trưởng nhóm phân tích thị trường tại trang thông tin Markets.com bình luận “Hiện có quá nhiều rủi ro, chúng ta có thể chứng kiến sự sụt giảm tệ hại hơn nữa tùy thuộc vào khả năng bà May có thể xoay sở vấn đề hoặc có thể thất bại”. Trong khi đó nữ chuyên gia Agata lại cho rằng một thị trường chao đảo có thể có lợi cho tình thế của bà May và buộc quốc hội phải thông qua đề xuất của bà khi sắp đến thời hạn 29/3/2019.

Cuộc khủng hoảng chính trị hiện nay ở Anh cũng khiến người dân hoang mang lo lắng không biết tương lai sẽ như thế nào. Không ít người đang vận động chiến dịch kêu gọi tiến hành trưng cầu dân ý lần 2 về Brexit hoặc trở lại với hiện trạng chính trị xưa.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Những thách thức đối với chiến lược tấn công tin học của Pháp


Minh Anh

Nước Pháp kể từ giờ đã sẵn sàng cho cuộc chiến tranh mạng. Ngày 18/01/2019, bộ trưởng Quân lực Pháp, bà Florence Parly, trong bài diễn văn đã công bố học thuyết quân sự mới của Pháp trong lĩnh vực tin học: Đó là chiến lược tấn công tin học – (Lutte Informatique Offensive – LIO).

Trước sự hiện diện của hàng ngàn tướng lĩnh và quân nhân tại trụ sở bộ, bà Florence Parly, bộ trưởng Quân Lực Pháp khẳng định nước Pháp từ nhiều năm qua và nhất là vào năm 2017 đã trở thành mục tiêu của nhiều vụ tấn công tin học. Do vậy, đã đến lúc Pháp phải thay đổi chiến lược, và không có thế phòng thủ nào tốt hơn bằng cách tấn công. Bà Florence Parly tuyên bố :

« Tính trung bình, mỗi ngày có hơn hai sự cố an ninh mạng xẩy ra ở bộ Quân Lực, liên quan đến các hoạt động tác chiến, các đánh giá kỹ thuật và thậm chí ở cả một viện quân y. Do vậy, chúng tôi tăng cường củng cố nhân sự. Từ nay đến năm 2025, chúng tôi dự kiến có thêm 1000 chiến binh tin học ở bộ chỉ huy tin học, ở tổng cục tình báo và tổng cục vũ khí khí tài.

Chúng tôi gia tăng các phương tiện, đầu tư 1,6 tỷ euro vào cuộc chiến trong lĩnh vực tin học. Chúng tôi coi vũ khí tin học thực sự là vũ khí tác chiến và sẽ sử dụng một cách tương xứng. Những kẻ nào tìm cách tấn công lực lượng vũ trang của Pháp nên biết rằng chúng tôi không e ngại sử dụng và sẽ không e ngại gì để sử dụng vũ khí này ».

Theo giải thích của kênh truyền hình TV5, lực lượng tin học của quân đội Pháp có khoảng 3000 nhân viên tin học, chuyên về an ninh hệ thống và mạng. Cho đến nay, quân đội Pháp chủ trương một chiến lược phòng thủ – Lutte Informatique Défensive, bao gồm các bước : phân tích, củng cố, dò tìm mọi ý đồ thâm nhập vào các hệ thống hay thiết bị kết nối nhằm « bảo đảm chức năng vận hành tốt của bộ và hoạt động có hiệu quả của các lực lượng vũ trang trong việc chuẩn bị, lập kế hoạch và tiến hành các chiến dịch quân sự ».

Nhưng khi xảy ra vụ tấn công tin học hồi cuối năm 2017 với phần mềm Malware Turla nhắm vào bộ Quân Lực và đây cũng chính là phần mềm virus tấn công các máy điện toán của bộ Quốc Phòng Mỹ, gây ra những thiệt hại to lớn chưa từng có, Bộ chỉ huy phòng thủ mạng (Commandement de la cyberdéfense – COMCYBER) được thành lập vào tháng 5/2017, quyết định tổ chức và chính thức soạn thảo chiến lược tấn công tin học.

Chiến lược mới này cho phép quân đội đạt được ba mục tiêu tác chiến khi tiến hành các chiến dịch quân sự, theo như giải thích của tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp Francois Lecointre : « Trước hết là quân báo, qua việc khai thác và thu thập thông tin ; đánh lừa bằng cách làm thay đổi khả năng phân tích của kẻ thù ; vô hiệu hóa bằng cách giảm thiểu hay phá hủy khả năng tin học của quân đội đối phương ».

Một cuộc chiến tin học, một cuộc đua nhân lực

Tấn công tin học là một bước chuyển biến quan trọng trong chiến lược quốc phòng của Pháp. Với học thuyết mới này, nước Pháp kể từ giờ có thể tiến hành tấn công trên mạng nhắm vào các nước hoặc các thực thể là kẻ thù của Pháp.

Đây sẽ là một nhiệm vụ đầy khó khăn và cực kỳ phức tạp, theo như lưu ý của ông Fabrice Epelboin, giảng viên về địa chính trị trong lĩnh vực tin học tại Viện Khoa Học Chính Trị Paris với đài RFI. Ông Epelboin còn là đồng sáng lập viên Yoghosha, một công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực an ninh mạng.

« Có thể nói là quân đội Pháp tập trung và làm rõ một điều đã tồn tại và bây giờ, người ta bắt đầu vạch rõ phạm vi và thể thức tiến hành chiến tranh. Đương nhiên, những điều này hoàn toàn khác hẳn với cuộc chiến tranh tin học mà nước Pháp đã chủ trương cho đến nay.

Có lẽ cần phải nhắc lại là trong lĩnh vực tin học, việc nhận diện kẻ tấn công luôn luôn cực kỳ tế nhị, đứng về mặt kỹ thuật. Hơn nữa, kẻ địch rất dễ dàng đánh lừa, làm nhầm tưởng là người khác và làm cho mọi việc trở nên cực kỳ phức tạp.

Đến mức mà ANSSI, cơ quan phụ trách an ninh mạng quốc gia của Pháp, chịu trách nhiệm bảo vệ các lợi ích của Pháp đã từ bỏ mọi ý định xác định thủ phạm vụ tấn công tin học và đổ mọi việc cho lĩnh vực chính trị. Do sự phức tạp về kỹ thuật, nên việc “vạch mặt chỉ tên” thủ phạm chỉ có thể là một hành động chính trị. »

Với LIO nước Pháp khẳng định tin học là một vũ khí như bao loại vũ khí khác, đồng thời cho phép cảnh báo các tác nhân có thể là kẻ thù của nước Pháp, rằng quân đội Pháp có thể phản công trả đũa. Nhưng để có thể thực hiện được các mục tiêu đó, quân đội Pháp phải vượt qua nhiều thách thức lớn, trong đó nguồn nhân lực chiếm vị trí hàng đầu.

« Tôi nghĩ là những tác nhân có thể là kẻ thù của nước Pháp hoàn toàn ý thức được là nước Pháp có khả năng phản công, trả đũa. Người ta cố gắng làm rõ, nhấn mạnh, đề cao giá trị của lực lượng tin học trong quân đội, qua đó thu hút nhân tài và năng lực. Cuộc chạy đua thu hút nhân tài, năng lực là yếu tố chủ chốt trong lĩnh vực tin học, không chỉ đối với các doanh nghiệp mà cả đối với các Nhà nước. Nguồn nhân lực có trình độ và năng lực khan hiếm đến mức những nước nào thu hút được nhiều thì trong tương lai sẽ trở thành cường quốc tin học. »

Trở lại với phát biểu của bà Florence Parly khi cho biết có tới 700 vụ tấn công tin học nhắm vào bộ Quân Lực đang được điều tra, chuyên gia Fabrice Epelboin nhận định đó là ý muốn thu hút sự chú ý đến một bộ phận của quân đội cho đến nay vẫn tỏ ra khá kín tiếng và việc chuẩn bị tuyển dụng ồ ạt. Quân đội Pháp hiện đang cố gắng tuyển dụng nhiều nhưng việc tuyển dụng các « tin tặc chính thức » này sẽ gặp nhiều khó khăn và tốn kém.

« Đúng là hiếm và tốn kém, nhưng quân đội cần phải có khả năng hành động và tạo ra hấp lực đối với một cộng đồng từ lâu nay sống trong một thế giới với những mục tiêu và phương châm hành động riêng của họ. Những điều này không phải lúc nào cũng tương đồng với những giá trị mà một quốc gia bày tỏ.

Đây là một thách thức thực sự trong việc quảng bá, truyền thông và chắc chắn là phải có một sự điều chỉnh thích ứng văn hóa quân đội bên trong lực lượng tin học này. Đương nhiên là các đơn vị tin học cũng đã có nhiều biến đổi, họ cũng cần phải có những điều chỉnh, thích ứng với văn hóa của một Nhà nước. »

Tin tặc : Kẻ thù không biên giới bất kể đồng minh hay đối tác

Câu hỏi đặt ra : Trong lĩnh vực tin học này ai mới là kẻ thù của quân đội Pháp ? Trong quá khứ, Pháp đã tấn công tin học những đối tượng nào ? Ông Fabrice Epelboin khẳng định tổ chức Nhà nước Hồi giáo vẫn tiếp tục là mục tiêu tấn công của quân đội Pháp. Đây cũng là đối tượng tấn công của nhiều tác nhân lớn, cũng như trên chiến trường.

Thế nhưng, Daech chưa phải là mục tiêu ưu tiên, do khả năng quấy rối và gây tổn hại của tổ chức khủng bố cho đến lúc này vẫn thật sự chưa đáng quan ngại, vì hiện chỉ được sử dụng chủ yếu cho mục đích tuyên truyền và tuyển mộ binh sĩ. Theo chuyên gia Fabrice Epelboin, tùy từng lĩnh vực, các nước Nga, Mỹ và Trung Quốc là những đối tượng đáng quan tâm nhất.

« Người ta thường nói là không có bạn bè trong lĩnh vực địa chính trị và tất cả phụ thuộc vào những lĩnh vực nào mà nước Pháp muốn bảo vệ. Nếu để bảo vệ các bí mật công nghiệp, sở hữu trí tuệ và khả năng phát minh của các doanh nghiệp Pháp thì đối tượng chính hiện nay cần cảnh giác là Hoa Kỳ ; cơ quan an ninh tình báo quốc gia Mỹ rất mạnh. Nếu về tình báo kinh tế, công nghiệp, thì đương nhiên nên chú ý tới Trung Quốc và chắc chắn đó là mối đe dọa lớn nhất.

Nếu nói đến đe dọa an ninh, quân sự, trong một cuộc xung đột tin học, hệ quả của xung đột vũ trang thì người ta lại ít e ngại Hoa Kỳ hơn và chú ý nhiều hơn đến Nga, Trung Quốc. Có những quốc gia hiện nay không phải là cường quốc quân sự, nhưng nhờ có chiến lược thông minh về tin học, lại trở thành đối tượng rất đáng gờm. »

Chiến tranh mạng : Không thương tích, chết chóc nhưng cũng đầy rủi ro

Thế giới đang lâm chiến. Một cuộc chiến mà không ai ý thức được tầm mức của nó. Một cuộc chiến âm thầm lặng lẽ diễn ra giữa một nhóm người am hiểu. Trong một thế giới mà ngày nay công nghệ chiếm một vị trí quan trọng. Một đất nước không có một lực lượng tấn công, bảo vệ an ninh mạng rõ ràng là bất lợi trên « địa bàn quân sự kỹ thuật số » nhưng ngược lại người ta có trong tay một lá bài chiến lược và ngoại giao quan trọng : Người ta không dễ gì bị cáo buộc tấn công quốc gia khác thông qua mạng Internet.

Giờ đây khi « tuyên chiến trên mạng », nước Pháp có thể bị nhiều nước khác nghi ngờ là tấn công vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của họ, nhất là trong khuôn khổ « các cuộc xung đột mạng tần suất thấp », những cuộc xung đột thường xảy ra nhất, ở đó không một quốc gia nào muốn thú nhận là họ đã gây bất ổn cho một nước khác.

Do vậy, « cuộc chiến tranh mạng » trở thành một thực tế chí ít trên bình diện chiến lược tại Pháp. Bởi vì kể từ nay, lợi thế thuộc về nước nào có khả năng phá hủy từ xa các trang thiết bị tin học quân sự của đối thủ.

Trong cuộc chiến này, có một câu hỏi quan trọng cũng đang được đặt ra liên quan đến việc quy trách nhiệm cho tấn công tin học. Phần lớn các vụ tấn công tin học là không thể quy trách nhiệm cho ai nếu có xảy ra bởi vì những người thực hiện các vụ tấn công đều che giấu xuất xứ, xóa tan vết tích và thậm chí có thể để lại nhiều dấu hiệu giả để đổ lỗi cho nước khác.

Nguồn: http://vi.rfi.fr/phap/20190125-thach-thuc-chien-luoc-tan-cong-tin-hoc-phap?

Những “con ngựa thành Troie” của Trung Quốc trong EU


Theo đài RFI, trên đường về nước sau Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Buenos Aires (Argentina), Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã ghé thăm Bồ Đào Nha. Ngày 5/12, ông đã ký với chủ nhà thỏa thuận gắn kết quốc gia Nam Âu này vào mạng lưới của sáng kiến “Vành đai và Con đường” mà Bắc Kinh đang xây dựng.

Với sự tham gia của Bồ Đào Nha, sáng kiến của Trung Quốc được cho đã chiếm được một lợi thế quan trọng vì đất nước ở miền Tây Nam châu Âu này có một vị trí quan trọng ở cả đường biển lẫn đường bộ, cho phép Trung Quốc dễ dàng “”tỏa ngược lên” toàn bộ châu Âu.

Bồ Đào Nha là “chiến lợi phẩm” mới nhất mà Bắc Kinh chính thức giành được trong nỗ lực mở rộng ảnh hưởng tại EU, với việc Lisbon hầu như phớt lờ các mối quan ngại ngày càng nhiều tại Brussels trước các khoản đầu tư lớn của Trung Quốc vào các lĩnh vực chiến lược của châu Âu như hải cảng, vận tải, năng lượng, công nghệ… e rằng an ninh châu Âu có thể bị tổn hại, công nghệ và phát minh của châu Âu có thể bị đánh cắp.

Trong một bài phân tích ngày 8/12 đăng trên trang blog của Atlantic Council – một trong những think-tank rất có uy tín tại Mỹ trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, Frederick Kempe, Chủ tịch trung tâm nghiên cứu này, đã nêu bật một khía cạnh cho đến nay ít được chú ý tới: Đó là việc Trung Quốc bắt đầu có được năng lực lèo lái một số chính sách của EU đi theo hướng có lợi cho Bắc Kinh, thông qua một số quốc gia thân hữu.

Hy Lạp và Hungary: hai “con ngựa thành Troie” đầu đàn của Trung Quốc

Trước hết, theo chuyên gia Kempe, sự “hào phóng” ngày càng tăng của Trung Quốc đối với một số nước châu Âu đang gặp khó khăn về tài chính như Hungary và Hy Lạp đã giúp cho Bắc Kinh có ảnh hưởng ngày càng mạnh đối với các quyết định chính trị của EU mà hai quốc gia này là thành viên.

Ngay từ năm 2011, Thủ tướng Hungary Viktor Orban đã tiếp xúc với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo để tìm kiếm sự hỗ trợ tài chính sau cuộc khủng hoảng năm 2008, mở ra cho Bắc Kinh một con đường “đi vào” EU.

Lý do của ông Orban rất đơn giản: Đó là sự sống còn của Hungary trước nguy cơ vỡ nợ, nhưng không muốn vay mượn với điều kiện nghiêm ngặt của các định chế châu Âu. Bắc Kinh đã sẵn sàng cứu vớt Budapest, trong lúc Hungary cũng thuyết phục được một số lãnh đạo Trung Âu khác đi theo Bắc Kinh.

Kết quả là cơ chế “16+1” ra đời, đặt trụ sở tại Budapest, bao gồm Trung Quốc và 16 nước Trung và Đông Âu. Từ đó đến nay, cơ chế này đã giúp Trung Quốc có được ảnh hưởng chưa từng thấy trong khu vực.

Nhà nghiên cứu Kempe đã nêu bật 2 ví dụ cụ thể cho thấy thành công mau chóng của Bắc Kinh trong việc tung tiền vào Hungary, biến nước này thành công cụ lèo lái chính sách của EU theo hướng có lợi cho Trung Quốc.

Tháng 3/2017, trong một động thái hiếm hoi, Hungary đã phá vỡ sự đồng thuận của châu Âu về nhân quyền, từ chối ký một bức thư chung tố cáo các hành vi của chính quyền Trung Quốc bị cáo buộc là đã tra tấn nhiều luật sư bị bắt giam.

Trước đó, vào tháng 7/2016, cùng với Hy Lạp, một quốc gia thành viên EU khác gặp khó khăn và cũng được Bắc Kinh hào phóng mở hầu bao trợ giúp, Hungary cũng đã ngăn chặn việc nêu đích danh Trung Quốc torng một bản thông cáo của EU về phán quyết của Tòa Trọng tài phủ nhận những đòi hỏi của Bắc Kinh về chủ quyền ở Biển Đông.

Riêng Hy Lạp, tháng 6/2017, cũng đã ngăn chặn một tuyê bố của EU tại Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, chỉ trích Trung Quốc vi phạm nhân quyền. Đó là lần đầu tiên EU không có tuyên bố chung về nhân quyền Trung Quốc tại định chế nhân quyền hàng đầu này của Liên hợp quốc.

Vào lúc Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau tại Argentina để tìm cách tránh để cho chiến tranh thương mại leo thang, và trong khi Canada bắt một lãnh đạo cấp cao của tập đoàn viễn thông Trung Quốc Huawei ở Vancouver, theo yêu cầu của Mỹ, vì bị tình nghi “vi phạm lệnh trừng phạt Iran”, EU dường như đã phải công nhận tư thế mong manh của mình trước cuộc đọ sức giữa hai cường quốc Mỹ – Trung.

Theo chuyên gia Kempe, châu Âu đang phải nhức đầu vì nhữung cú sốc đến từ một nước Mỹ ngày càng khó lường, một Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn, và một châu Âu mà nội bộ ngày một chia rẽ thêm về cách lèo lái giữa hai thế lực đó.

Từ ngày 2 – 4/12, các chuyên gia về chiến lược Âu – Mỹ đã tề tựu tại Đức để tham dự Diễn đàn chiến lược Munich (MSF), một sự kiện chuẩn bị cho Hội nghị an ninh Munich (MSC) sắp tới.

Bên lề diễn đàn, ông Wolfgang Ischinger, Chủ tịch Hội nghị an ninh Munich đã không tránh khỏi lo ngại: “Trung Quốc cho thấy là họ có khả năng phủ quyết các chính sách của EU”. Đối với ông Ischinger, trong lúc các tập đoàn châu Âu hành động vì lợi nhuận thì các tập đoàn Trung Quốc “trước sau như một”, luôn đại diện cho quyền lợi của Nhà nước, một điều “có thể trở nên nguy hiểm” đối với châu Âu.”

Các quan chức châu Âu thừa nhận, Trung Quốc đã thực hiện quyền phủ quyết mà họ giành được đối với những chính sách cần sự đồng thuận.

Mối quan ngại lại càng tăng do việc ảnh hưởng của Trung Quốc tăng vọt ngoài dự kiến của mọi người, song song với đà phình lên nhanh chóng của đầu tư Trung Quốc. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào châu Âu năm 2017 đã lên đến 30 tỷ USD, so với vỏn vẹn 700 triệu trước khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

“Chiến tranh chính trị”

Một báo cáo của hai trung tâm tham vấn Đức, GPPI và Viện nghiên cứu về Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đã lợi dụng cơ chế thông thoáng của châu Âu và “nhanh chóng gia tăng nỗ lực gây ảnh hưởng chính trị ở châu Âu”.

Theo bản báo cáo, một số người gọi hành động của Trung Quốc là một hình thức tiến hành “chiến tranh chính trị”, tức là sử dụng những công cụ phi quân sự, công khai và bí mật, để tác động lên các thành phần ưu tú trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, giới nghiên cứu và công luận ở châu Âu

Thông qua những nỗ lực này, Trung Quốc vừa làm yếu đi sự đoàn kết của châu Âu cũng như sức thu hút củ Mỹ, vừa cải thiện hình ảnh của mình trong tư cách là một phương án có thể thay thế mô hình tự do dân chủ.

Căng thẳng ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc tạo cơ may mới cho châu Âu xuất hàng sang Trung Quốc, nhưng đồng thời, Trung Quốc cũng gia tăng mạnh mẽ việc xuất khẩu và đầu tư sang châu Âu bù đắp cho thị trường bị mất ở Mỹ.

Trong 6 tháng đầu năm; những thương vụ Trung Quốc thâu tóm các công ty châu Âu đã cao hơn 9 lần số vụ ở Bắc Mỹ, đạt trị giá 20 tỷ USD (so với 2,5 tỷ USD), trong lúc đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu cũng cao hơn 6 lần so với đầu tư vào Mỹ, đạt mức 12 tỷ USD (so với 2 tỷ USD ở Mỹ).

Ngoài ra, một thỏa thuận thương mại mới Mỹ – Trung có thể tác hại đến châu Âu trong bối cảnh Trung Quốc có thể chỉ trong nhấp nháy, quyết định thay thế sản phẩm châu Âu bằng hàng hóa Mỹ vì lý do chính trị, điều rất dễ vì kinh tế Trung Quốc không phải là một nền kinh tế tự do.

Khả năng tranh chấp Mỹ – Trung leo thang cũng làm các chuyên gia châu Âu đau đầu, không biết nên chọn phía nào, hay lèo lái ra sao, đặc biệt đối với các quốc gia và ngành công nghiệp có nhiều vốn ở Trung Quốc.

Một số quan chức châu Âu đã nói đến sự cần thiết phải có quyền “tự chủ chiến lược” trước các hành động của Mỹ trừng phạt các thực thể nước ngoài trong vấn đề Iran cũng như phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo tuần này tại Brussels đặt lại vấn đề chủ nghĩa đa phương và EU. Các quan chức này cùng lúc còn quan ngại hơn về “chiến tranh chính trị” của Trung Quốc nhằm gây ảnh hưởng cả về kinh tế, tài chính và ngoại giao.

EU hiện chưa áp dụng biện pháp giới hạn đầu tư nước ngoài theo kiểu ủy ban về đầu tư ngoại quốc của Mỹ CFIUS, một ủy ban liên ngành phụ trách việc xem xét tác động của đầu tư ngoại quốc đối với an ninh quốc gia. Trong tháng này, châu Âu đã thông qua một văn kiện thiết lập một kế hoạch chưa từng thấy, dù không ràng buộc, nhắm vào hình thức đầu tư “trấn lột” của Trung Quốc.

Nước Đức chẳng hạn, torng tuần qua, tập trung chú ý đến vấn đề công ty Kuka Robotics, đã trở thành ví dụ điển hình của hiểm họa bán công nghệ cao cho Trung Quốc. Chuyên sản xuất robot công nghiệp, Kuka từng là một trong những công ty sáng tạo hàng đầu trong nền kinh tế thế kỷ XXI này của Đức, cho đến khi nó bị công ty Media của Trung Quốc thâu tóm vào năm 2016.

Mới tháng trước, Midea đã “nuốt hẳn” lời bảo đảm trước đây là không thay đổi vị chủ tịch lâu đời rất được tôn trọng của Kuka, đánh dấu việc Trung Quốc hoàn toàn thâu tóm ngành công nghệ robot cực kỳ tiên tiến đó.

Bắc Kinh vẫn kiên trì thúc đẩy chiến lược “chia để trị” tại châu Âu

Châu Âu ngày càng đề cao cảnh giác, Trung Quốc vẫn kiên trì thực hiện chiến lược, lợi dụng sự chia rẻ trong nội bộ EU, căng thăng thương mại Mỹ – Âu, và nhu cầu đầu tư khẩn cấp của các quốc gia Nam và Đông Âu.

Bằng chứng rõ rệt nhất là chuyến viếng thăm đầu tiên cấp nhà nước của Tập Cận Bình tại Tây Ban Nha và nhất là tại Bồ Đào Nha, sau Hội nghị thượng đỉnh G20.

Trung Quốc đã từng đầu tư 12 tỷ USD vào một loạt dự án ở Bồ Đào Nha, từ năng lượng, giao thông, bảo hiểm, đến dịch vụ tài chính, truyền thông. Trong chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, hai bên đã tăng cường quan hệ đối tác kinh tế, với việc Lisbon đồng ý tham gia Con đường Tơ lụa mới với hy vọng thu hút đầu tư Trung Quốc vào hạ tầng cơ sở và năng lượng Bồ Đào Nha. Trung Quốc chuẩn bị nắm đa số vốn của tập đoàn điện lực Bồ Đào Nha EDP, doanh nghiệp lớn nhất nước này, đồng thời là một nhà cung cấp năng lượng chủ chốt của châu Âu.

Trong phần kết luận, ông Kempe nhận thấy, tóm lại, trong những ngày qua, thị trường thế giới và truyền thông chỉ tập trung vào đàm phán thương mại Trump –  Tập, bỏ lỡ câu chuyện đáng chú ý: Khả năng Trung Quốc thay thế vào chỗ, hay ít ra là thu hẹp ảnh hưởng của Mỹ ở châu Âu.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần cuối


Tăng cường bảo vệ Baltic trước chiến tranh pha tạp đa hình thái

Trong hội nghị thượng đỉnh NATO vào tháng 7/2016, liên minh này và EU đã ban hành một tuyên bố chung quan trọng về một uan hệ đối tác chiến lược mới trong đó cam kết cải thiện đáng kể sự hợp tác giữa hai tổ chức nhằm tăng cường bảo vệ liên minh trước các mối đe dọa pha tạp đa hình thái. Các nước Baltic là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại các biện pháp pha tạp đa hình thái của Nga, tuy nhiên tính dễ bị tổn thương của họ trước chiến tranh phi truyền thống của Nga chính là gót chân Achilles của liên minh. Vẫn chưa rõ liệu các nước Baltic có thể thực hiện một cam kết về nguồn lực bền vững để thu hẹp nhiều khoảng trống trong hệ thống phòng thủ tên lửa của họ trước các công cụ phi động lực của Nga – như là trong lĩnh vực ngân hàng, và tài chính, truyền thông đại chúng, tình báo trong và ngoài nước, và việc thực thi pháp luật. Hơn nữa, các nước này có lẽ không có các nguồn lực để tăng cường đầu tư vào các khu vực kém phát triển có sự tập trung lớn của những người gốc Nga. Mỹ và EU cần đẩy mạnh tài trợ cho các nước Baltic để xây dựng khả năng của họ trong việc giải quyết những điểm dễ bị tổn thương quan trọng nhất trước chiến tranh pha tạp đa hình thái của Nga. NATO và EU cũng cần tránh bị sa lầy vào các tranh chấp về thần học và hành chính quan liêu mà tổ chức này cần chịu trách nhiệm chính đối với sứ mệnh này.

Tăng cường việc lên kế hoạch của NATO cho chiến tranh pha tạp đa hình thái

Chiến tranh pha tạp đa hình thái của Nga có thể gây ra một thách thức nghiêm trọng đối với các cơ chế lên kế hoạch và ra quyết định hiện nay của NATO. Nếu Mosva quyết định hành động để làm suy yếu an ninh của khu vực Baltic, có khả năng nước này sẽ tiến hành tuyên truyền thông tin sai lạc và lừa gạt để che đậy các động thái quân sự và phi quân sự. NATO do đó có thể phải đối mặt với những dấu hiệu mơ hồ hoặc không chắc chắn về một cuộc tấn công pha tạp đa hình thái của Nga có thể diễn ra, tạo ra khả năng bất đồng bên trong các hội đồng NATO về việc liên minh nên phản ứng khi nào và bằng cách nào. Một quyết định hấp tấp về một phản ứng mạnh mẽ dựa trên thông tin chưa đầy đủ và mơ hồ có thể khiến cho cuộc khủng hoảng khó giải quyết hơn; cũng vậy, một quyết định từ giữ các tiến trình ra quyết định dựa trên đồng thuận của NATO làm con tin có thể gây rủi ro cho an ninh của vùng Baltic. Việc ra quyết định của NATO cũng có thể trở nên phức tạp hơn nếu một trong số các quốc gia Baltic, trong trường hợp bị khiêu khích bởi “những người lính xanh bé nhỏ” hay một số hoạt động khác trong vùng xám, quyết định kích hoạt Điều 5 bằng cách sử dụng vũ lực gây chết người để đối phó với tình hình.

Để giải quyết những tình thế tiến thoái lưỡng nan tiềm ẩn này, liên mình cần đạt được đồng thuận nội bộ về một học thuyết phản ánh sự nhất trí trong những vấn đề sau: Điều gì sẽ kích hoạt một phản ứng phi động lực của NATO trước việc Nga sử dụng chiến tranh pha tạp đa hình thái chống lại các nước Baltic? Liệu liên minh có cần phải đối phó với các hoạt động thông tin hung hăng hơn của Nga một cách tập thể và huy động đến quân sự hay không? Phí tổn và hậu quả sẽ là gì nếu NATO không thể hành động trong những tình huống này? Nếu nguồn gốc của cuộc tấn công này chưa rõ ràng nhưng nhìn chung được cho là xuất phát từ Nga thì sẽ ra sao?

Các cơ chế lên kế hoạch mới cần được thiết lập bên trong liên minh để xác định các yêu cầu về quân sự, hoạt động tác chiến và năng lực nhằm đối phó với một loạt sự kiện bất ngờ trong chiến tranh pha tạp của Nga. Tuy nhiên, nhiều trong số các nhu cầu này nằm ngoài năng lực cốt lõi của NATO và do đó sẽ phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn nhiều giữa NATO – EU, cũng như các nỗ lực tăng cường của các nước Baltic. Liên minh cũng phải đánh giá lại cách quản lý khủng hoảng và các quy trình ra quyết định của mình để đảm bảo chúng được cơ cấu để phản ứng nhanh chóng và hiệu quả trước các hoạt động thực sự pha tạp về bản chất của Nga – nói cách khác, những phản ứng kết hợp cả các động thái quân sự cường độ thấp và cao.

Thực hiện các biện pháp răn đe kém leo thang hơn

Theo một báo cáo của RAND, có một số biện pháp nhằm cải thiện răn đe và phòng thủ trên sườn phía Đông mà Moskva có thể coi là ít mang tính đe dọa hơn so với việc triển khai thêm các lực lượng trên bộ và máy bay chiến đấu từ Pháp, Đức, Anh và Mỹ. Những biện pháp này bao gồm: (1) giúp các nước Baltic có được vũ khí phòng không (chẳng hạn như các hệ thống phòng không di động) và máy bay trực thăng tấn công và vận chuyển; (2) củng cố các nỗ lực nhằm tăng cường sự phối hợp phòng thủ trong khu vực Baltic và Baltic – Bắc Âu và các cải tiến trong huấn luyện; khả năng phối hợp tác chiến; chỉ huy và kiểm soát; hậu cần; tình báo; giám sát và do thám; và cơ sở hạ tầng. NATO cũng cần thiết lập một chương trình tập trận mạnh mẽ để thường xuyên kiểm tra hệ thống của mình, hay các thành phần khác nhau của nó, nhằm huy động và triển khai các lực lượng để củng cố an ninh vùng Baltic nhằm đối phó với các cuộc tấn công quân sự của Nga. Ngoài ra, liên minh có thể thực hiện hai hành động khác tương đối ít đe dọa hơn để tăng cường răn đe. Trước hết, việc bố trí trước nhiều trang thiết bị hạng nặng hơn ở Ba Lan sẽ buộc Nga phải mở rộng phạm vi cuộc tấn công ban đầu và do đó tăng cường khả năng kích động một phản ứng từ NATO. Thứ hai, việc lồng ghép các lực lượng đặc nhiệm của NATO vào trong cấu trúc lực lượng hiện thời tại vùng Baltic sẽ khiến mối đe dọa về các hoạt động nổi dậy hiệu quả hơn ở Baltic trở nên đáng tin hơn nhiều.

Mở cửa đối thoại với Nga

Thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh Vácsava đã làm rõ rằng liên minh này hi vọng theo đuổi cách tiếp cận hai chiều vừa răn đe vừa đối thoại với Nga. NATO và Nga đang mắc kẹt trong một tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh kinh điển trong đó các động thái phòng thủ của một bên bị bên kia coi là tấn công và đe dọa. Do đó, điều đặc biệt quan trọng là cả hai bên phải hiểu và thảo luận tình thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh này và các biện pháp có thể khiến tư thế quân sự của họ trở nên ít mang tính đe dọa hơn. Sẽ có áp lực từ bên trong NATO và Chính phủ Mỹ buộc phải tiến hành các cuộc thảo luận này tại Hội đồng NATO – Nga. Cho dù thiếu các kết quả từ cuộc họp đầu tiên của hội đồng ngay sau Hội nghị thượng đỉnh Vácsava, những phiên học này cần được tiếp tục kể cả khi nó không hiệu quả. Đồng thời, Nga có thể không sẵn sàng can dự trong một nỗ lực “cho hay nhận” nghiêm tục và có tính xây dựng, và gây sức ép với họ hầu như không có ích lợi gì.

Tính ổn định và dễ đoán có khả năng được đảm bảo hơn nếu Mỹ và Nga khôi phục một cuộc đối thoại có kế hoạch và lâu dài về vấn đề răn đe, an ninh và ổn định chiến lược một cách rộng rãi hơn. Nên ưu tiên thảo luận những biện pháp NATO và Nga có thể tiến hành để làm giảm nguy cơ phát sinh xung đột từ một sự cố hay hiểu lầm trong thông tin liên lạc – mặc dù Moskva chắc chắn sẽ thúc đẩy một nghị trình rộng lớn hết sức có thể. Washington sẽ cần phải tham vấn với các đồng minh của mình cả trước và sau cuộc đối thoại này để trấn an họ ằng Mỹ không dính líu đến các thỏa thuận bí mật với Moskva. Cũng có thể hữu ích khi tạo ra một khung đối thoại khu vực đa phương mới với Nga trong đó có các nước Baltic, Ba Lan, các đồng minh NATO chủ chốt khác, và có thể là cả Thụy Điển và Phần Lan.

Nhất trí về nhiều biện pháp xây dựng lòng tin hơn

Việc thông tin liên lạc giữa quân đội các nước, trao đổi thông tin và các biện pháp minh bạch được tăng cường có thể giúp giảm thiểu nguy cơ xung đột bất ngờ giữa NATO và Nga phát sinh từ một sự cố, hiểu lầm, hay thông tin liên lạc sai lệch. Một số đề xuất hữu ích xứng đáng được cân nhắc hơn nữa, chẳng hạn như việc tiến hành giám sát lẫn nhau theo Công ước Vienna 2011, mở rộng thông tin thu thập được từ các chuyến bay giám sát trên không theo Hiệp ước vùng trời mở, và tăng cường chia sẻ dữ liệu về việc di chuyển lực lượng. Cũng cần thúc giục Nga một cách riêng tư lẫn công khai để nước này minh bạch hơn trong một số hoạt động quân sự, ngay cả nếu không được bao hàm trong Công ước Vienna. NATO cần phải phản ứng một cách tương ứng nếu Nga từ chối cung cấp sự minh bạch lớn hơn.

Tuy nhiên Mỹ và các đồng minh cần can dự với Nga một cách thận trọng nếu các cuộc thảo luận này bắt đầu. Trên thực tế, có nhiều quy trình và cơ chế đã được thiết lập mà, theo đánh giá của Moskva, có thể cải thiện hiện trạng. Hơn nữa, quan trọng là phải ghi nhớ rằng Nga đang cố ý tiến hành các cuộc tập trận quân sự khiêu khích và thiếu trách nhiệm vì một mục đích – hoặc để buộc phương Tây phải rút lui khỏi các hoạt động quân sự thời bình của họ gần biên giới Nga, điều mà Điện Kremlin sẽ mô tả như một chiến thắng vĩ đại trong việc răn đe NATO, hoặc để buộc NATO phải hợp tác với Nga như một phần trong sứ mệnh của Moskva là muốn được coi là một nước lớn sánh ngang với Mỹ. Bất kỳ sự khôi phục đối thoại nào trong các kênh giữa quân đội các nước đều cần tập trung vào việc đảm bảo Nga phải cam kết thực hiện các nghĩa vụ của nước này theo các thỏa thuận hiện thời với Mỹ.

Kết luận

Thế đối đầu giằng co mới giữa NATO và Nga có thể trở thành một quan hệ bình thường mới, nhưng quan hệ này không có khả năng ổn định và nhiều khả năng tính toán sai lầm. NATO và Nga càng leo thang và chống leo thang đối với những phản ứng quân sự mà bên kia cho là thù địch, thì khả năng xảy ra xung đột càng lớn do sự việc rủi ro, tính toán sai lầm hay sự cố quân sự vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Phương Tây và Nga có thể hoặc không thể bị mắc kẹt trong một cuộc chiến tranh lạnh mới ở châu Âu, nhưng quan hệ thù địch giữa họ có thể dẫn đến đối đầu lớn hơn và xung đột tiềm tàng trừ phi họ có thể nhất trí về các biện pháp trao đổi thông tin và giảm nguy cơ hiệu quả hơn, cũng như nhất trí về các quy tắc tiến hành hoạt động quân sự thời bình. Cả hai bên cần mượn một hay hai trang từ cuốn cẩm nang Chiến tranh Lạnh Nga – Mỹ để ngăn chặn cuộc chiến tranh “mát” của họ ở châu Âu trở nên nóng lên.

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần VII


Các tác động chính sách

Giọng điệu hiếu chiến và hành vi khiêu khích của Nga đã thúc đẩy sự gia tăng vốn đã chậm trễ một thời gian dài trong chi tiêu quốc phòng của NATO và các nỗ lực mạnh mẽ hơn của liên minh này nhằm tăng các khả năng răn đe và phòng thủ trên sườn phía Đông của mình. Tại hội nghị thượng đỉnh gầy đây nhất của NATO đã nhất trí tiếp tục triển khai các hệ thống phòng thủ có khả năng và đáng tin cậy hơn tới lãnh thổ của những thành viên dễ bị tổn thương nhất của NATO. Đây là những đóng góp cần thiết và tích cực mà, bằng cách làm suy giảm sự tự tin của Nga trong một chiến thắng nhanh chóng, sẽ làm giảm khả năng một cuộc xung đột Nga – NATO. Nhưng chúng không phải thuốc trị bách bệnh.

Việc tăng cường quân sự của cả liên minh và các lực lượng Nga ở phía Đông phản ánh giả định của cả hai bên rằng nó sẽ mang lại an ninh lớn hơn. Thay vì thế, động lực hành động – phản ứng có nguy cơ đem lại ít an ninh hơn cho cả hai phía. Liệu sự phô trương sức mạnh của NATO sẽ khiêu khích hay ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Nga vẫn còn chưa chắc chắn, xét phạm vi cho việc đánh giá sai các nhận thức và tính toán mang lại rủi ro của Điện Kremlin. Dựa trên hành vi gần đây của Nga ở vùng Baltic – đặc biệt là sự sẵn sàng của Putin tham gia các phản ứng trả đũa các lực lượng NATO trong các vụ quấy rối và diễn tập quân sự mang tính khiêu khích – Putin không có khả năng lùi bước và thay đổi hành vi khiêu khích của mình trước các động thái quân sự của NATO. Do đó liên minh này cần bổ sung hơn nữa các biện pháp quân sự nhằm ngăn chặn và bảo vệ chống lại chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Nga cùng với các biện pháp khác nhằm củng cố việc phòng thủ của NATO ở sườn phía Đông trong khi giảm nguy cơ chiến tranh với Nga. Các động thái cần được cân nhắc hơn nữa bao gồm:

Thay đổi chính sách mang tính tuyên bố

Một chính sách mang tính tuyên bố mạnh mẽ hơn, cả công khai và riêng tư, có thể tăng thêm tính bất ổn và khó dự đoán cho các tính toán của Nga về rủi ro gắn liền với việc xâm lược các nước thành viên NATO. Việc nhấn mạnh rằng mọi vũ khí, quân sự hay phi quân sự, đều được tính đến có thể gây cảnh giác cao hơn bằng cách làm gia tăng phí tổn tương lai của cuộc xâm lược của Nga. Chẳng hạn, liên minh này nên làm rõ với Moskva rằng một cuộc tấn công của Nga vào bất kỳ quốc gia Baltic nào cũng sẽ dẫn đến các cuộc tấn công quân sự trừng phạt vào sâu bên trong nước Nga nhắm vào các cơ sở hạ tầng và cơ sở năng lượng, cũng như các cuộc tấn công mạng làm sập các tuyến thông tin của Nga, phá vỡ hoạt động kinh tế và gây rối loạn chức năng xã hội.

Tương tự, trong thông điệp công khai của mình, Mỹ và NATO ở các cấp cao nhất cần phải ra điều kiện rằng bất kỳ hành động sử dụng vũ khí hạt nhân nào của Nga, dù ở mức độ nào, cũng sẽ phải đối mặt với một phản ứng hạt nhân áp đảo và mang tính phá hủy của NATO – từ đó làm suy giảm sự tự tin của Nga rằng bất kỳ hành động sử dụng vũ khí hạt nhân giới hạn nào cũng sẽ vẫn là hạn chế Nói ngắn gọn, NATO cần bổ sung vào chiến lược răn đe thông thường của mình – dựa trên đe dọa ngăn không cho Nga thực hiện những gì được cho là mục tiêu của họ từ một cuộc tấn công và tăng cường các lực lượng triển khai phía trước ngoài các lực lượng đã lên kế hoạch – một tư thế mạnh mẽ bao gồm các mối đe dọa trừng phạt có khả năng xảy ra cùng với vũ khí thông thường và vũ khí hạt nhân.

Phản ứng trước việc Nga vi phạm hiệp ước INF

Việc Nga triển khai tên lửa hành trình mới vi phạm hiệp ước INF phải dẫn đến một phản ứng mạnh mẽ của liên minh buộc Nga phải có trách nhiệm giải trình. Hành động của Nga đã làm tăng mối đe dọa hạt nhân đối với NATO và mang lại một đòn nặng nề khác cho trật tự an ninh hậu Chiến tranh Lạnh của châu Âu và cơ chế chống phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu. Nó cũng làm gia tăng những mối nghi ngờ nghiêm trọng về tương lai của toàn bộ chế độ kiểm soát vũ khí Mỹ – Nga. Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START) sẽ hết hiệu lực vào năm 2021. Trừ phi việc ban hành INF được quyết định, bằng khả năng gia hạn hay đàm phán một hiệp ước vũ khí chiến lược khả dĩ nhất thì vẫn còn xa xôi.

Dường như không có khả năng rằng phản ứng của NATO, dù mạnh mẽ thế nào, có thể thuyết phục hay buộc Nga phải quay trở lại tuân thủ hiệp ước INF. Trong nhiều năm, các nhà lãnh đạo Nga, bao gồm Putin, đã công khai đề xuất khả năng rút khỏi hiệp ước này, và Mỹ trước đó đã cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước, mặc  dù không đưa ra bằng chứng. Tuyên bố gần đây nhất của một sĩ quan cấp cao trong quân đội Mỹ đã đề cập tới việc Nga triển khai các tên lửa bị cấm như một sự vi phạm “tinh thần và mục đích” của hiệp ước này. Nga đã bác bỏ lời cáo buộc. Tuy vậy, Mỹ và các đồng minh NATO của nước này cần phải phản ứng mạnh mẽ theo nhiều cách.

Trước hết, họ cần Nga làm rõ việc triển khai tên lửa mới của nước này. Họ nên chia sẻ với Nga, và với công chúng nói chung, bằng chứng về việc vi phạm hiệp ước. Việc chai sẻ thông tin này không nên làm gia tăng quan ngại của cộng đồng tình báo về nguồn và cách thức sử dụng để khám phá ra hành vi vi phạm – vì hiện nay mọi người đều hiểu rằng những vụ khám phá như vậy đều nằm trong khả năng của các vệ tinh thương mại. Chính phủ Nga, khi được cho thấy các bằng chứng này một cách công khai, cần được kêu gọi giải thích việc triển khai và tại sao hành động đó không đại diện cho việc vi phạm hiệp định INF.

Thứ hai, Mỹ và các đồng minh của nước này cần thực hiện một chiến dịch quan hệ công chúng mạnh mẽ trên khắp châu Âu và châu Á để công bố bằng chứng vi phạm hiệp ước. Mỹ nên can dự cùng các đồng minh ở châu Á – Nhật Bản và Hàn Quốc – trong một nỗ lực ngoại gia chung để gây áp lực buộc Nga phải thú nhận vi phạm và trở lại tuân thủ hiệp ước, tuy nhiên vấn đề sau có thể không có khả năng. Hơn nữa, các quan chức Mỹ cần kêu gọi Bắc Kinh tham gia một nỗ lực tương tự để nhấn mạnh bản chất gây mất ổn định củ các hành động của Nga trong môi trường an ninh Đông Bắc Á. Đồng thời, Mỹ và các đồng minh NATO cần bác bỏ các cáo buộc của Nga rằng Mỹ cũng đã vi phạm các điều khoản của hiệp ước INF. Những cáo buộc như vậy nên được coi là thông tin sai lạc và giả mạo của Nga.

Thứ ba, NATO cần đưa ra một tuyên bố cấp cao rằng họ sẽ thực hiện bất kỳ bước đi nào cần thiết để ngăn chặn và chống lại việc Nga sử dụng những vũ khí này, cho thấy mọi lựa chọn cho một phản ứng quân sự đều được đưa ra đàm phán. Liên minh cũng cần phải làm rõ rằng mục dù việc triển khai ban đầu các tên lửa của mình ở châu Âu không nhằm vào Nga, nhưng các hành động của Nga buộc họ phải cân nhắc lại các kế hoạch phòng thủ tên lửa của mình để châu Âu có thể phản ứng trước mối đe dọa mới từ Nga. Điều này có thể bao gồm việc triển khai hệ thống tên lửa phòng thủ tăng cường đặt trên đất tiền và trên biển ở chiến trường châu Âu, các hoạt động mạng, và khả năng phát triển cũng như triển khai tên lửa hành trình đặt trên mặt đất và tên lửa đạn đạo mới ở châu Âu. Để khiến tuyên bố này trở nên đáng tin cậy, liên minh này cần tăng tài trợ cho việc nghiên cứu và phát triển các khả năng mới để chống lại hành động của Nga.

Thứ tư, trong việc lên kế hoạch và thực hiện phản ứng của mình, NATO cần duy trì sự thống nhất của liên minh và bảo vệ nó trước các nỗ lực phá hoại của Nga. Bất kỳ quyết định nào trong việc thực hiện phòng ngừa quân sự chống lại việc triển khai tên lửa hành trình mới của Nga cũng sẽ cần sự đồng thuận trong liên minh để ngăn cản mục tiêu của Nga phá hoại sự thống của NATO. Để tạo được sự đồng thuận này, NATO cần khẳng định nó vẫn sẵn sàng khôi phục đàm phán với Nga về cách quay lại tuân thủ hiệp ước INF. Moskva có khả năng từ chối đề xuất này, nhưng vì những lý do chính trị, liên minh cần phải cho thấy rằng nó đã chủ động leo thang hơn nữa tranh chấp này.

Cuối cùng, Mỹ và các đồng minh của mình không nên đáp lại hành động của Nga bằng việc vội  vàng từ bỏ hiệp ước. Ít nhất, một động thái như vậy sẽ trao cho Moskva một chiến thắng về mặt tuyên truyền. Mặc dù Nga rất khó có khả năng quay lại tuân thủ hiệp ước, vẫn cần phải thực hiện mọi nỗ lực để duy trì nó.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018