Thỏa thuận hay không thỏa thuận: Tương lai đáng sợ của nước Anh – Phần cuối


Sự ra đi có thỏa thuận

Kể từ cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 trong đó một đa số nhỏ nhoi người dân Anh ủng hộ rời khỏi EU, cuộc tranh luận phần lớn là về mức độ kiên quyết của cuộc chia tay này.

Một “Brexit mềm” sẽ biến Anh thành một nước giống Na Uy, một quốc gia nằm ngoài EU nhưng có quyền tiếp cận thị trường chung EU (tuy nhiên Na Uy không phải là thành viên liên minh thuế quan). Đồng thời, Na Uy cũng đóng góp cho ngân sách của EU và chấp nhận quyền tự do đi lại của người dân.

Trong khi đó, một “Brexit cứng” sẽ đẩy Anh ra khỏi thị trường chung, nhưng theo một thời gian biểu được thỏa thuận.

Thỏa thuận ban đầu mà Theresa May đạt được với EU vào năm 2018 là một thỏa thuận ở giữa. Nó sẽ giữ Anh ở lại liên minh thuế quan và giữ Bắc Ireland ở lại thị trường chung, do đó tránh một biên giới cứng với Ireland. Nó sẽ bảo vệ quyền công dân nước ngoài sinh sống tại Anh và công dân Anh sinh sống ở EU. Trong giai đoạn chuyển tiếp gần 2 năm, Anh sẽ phải tuân thủ các quy tắc của EU nhưng không có tiếng nói về những quy tắc này. Họ cũng sẽ phải trả một khoản chi phí rất lớn để giải quyết ly hôn: hơn 50 tỷ USD. Đây là thỏa thuận mà Nghị viện Anh đã bác bỏ.

Bà May đã quay trở lại với một kế hoạch B mà đã được bỏ phiếu vào cuối tháng 1/2019. Nhưng về căn bản nó không khác biệt đáng kể với những gì mà các nghị sĩ từng bỏ phiếu phản đối. Xét tới những hậu quả tiềm tàng đáng sợ của kịch bản không có thỏa thuận, bà May tin rằng các bên khác nhau tham gia đàm phán về Brexit có thể quyết định sẽ thỏa hiệp – hay ít nhất là bị ép buộc phải đi đến thỏa hiệp.

Đây có lẽ là việc làm vô ích. Chẳng có lý do gì để Công đảng phải ủng hộ bà, nhất là nếu bà từ chối loại phương án “không có thỏa thuận” ra khỏi bàn đàm phán. Những thành viên trong đảng Bảo thủ của bà vốn bỏ phiếu phản đối thỏa thuận dường như muốn chấm dứt hoàn toàn điều mà họ cho là một vụ ly hôn “mềm” đến mức không thể chấp nhận được.

Trong khi đó, EU đã tỏ rõ là họ không lay chuyển. Họ tin rằng sau rất nhiều cuộc đàm phán kiên nhẫn, họ đã giải quyết được bài toán Brexit. Họ không muốn khơi lại tiến trình này. Và họ muốn đảm bảo rằng bất kỳ quốc gia nào khác đang suy tính về một sự ra đi tương tự sẽ hiểu rằng Brussels không dễ bị lợi dụng.

Nhưng sau khi Nghị viện Anh bác bỏ thỏa thuận đang được đàm phán, Thủ tướng Đức Angela Merkel gần đây đã thúc giục các đồng sự của bà đưa ra một điều gì đó, bất kỳ điều gì để tránh một sự ra đi không có thỏa thuận. Bà bình luận: “Chúng ta có trách nhiệm phải theo đuổi tiến trình ra đi này một cách có trách nhiệm để 50 năm sau, người dân sẽ không lắc đầu và nói rằng “Tại sao không thể tìm được một thỏa hiệp?””.

Một sự thỏa hiệp như vậy sẽ cần thêm thời gian. Cuối tháng 1/2019, Nghị viện Anh đã bỏ phiếu về một vài sửa đổi với Kế hoạch B của bà May, trong đó có yêu cầu của Anh về việc gia hạn cho đến cuối năm nay. Cho đến nay, bà May vẫn từ chối xem xét một sự gia hạn.

Một sửa đổi khác đến từ Công đảng đề xuất rằng Nghị viện cần phải bỏ phiếu về việc liệu có nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai hay không. Sự ủng hộ trong nội bộ Công đảng đối với một cuộc bỏ phiếu lần thứ hai đang gia tăng, nhưng không phải ai trong đảng này cũng nhất trí.

Làm ơn, chúng tôi muốn trở lại!

Nhà sử học Ernest Renan từng viết rằng quốc gia này ngày nào cũng tiến hành trưng cầu dân ý. Quan điểm cho rằng người Anh có thể định rõ bản thân chỉ bằng một cuộc trưng cầu dân ý có vẻ khá ngu ngốc. Đồng thời, cũng không hữu ích cho lắm nếu ngày nào họ cũng bị buộc phải bỏ phiếu về việc liệu họ có muốn ở lại EU hay không.

Nhưng tại sao không nhắm tới điều gì đó ở giữa và dàn xếp một cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai? Nhiều cử tri thú nhận rằng họ thực sự không hiểu được những rủi ro khi họ bỏ phiếu. Trong 2 năm qua, họ đã học được nhiều điều hơn về những lợi thế họ có được khi là thành viên EU và hậu quả của việc rút khỏi liên minh này. Nếu được trao cho một cơ hội thứ hai, họ sẽ bỏ phiếu tán thành hoặc bác bỏ cho một thỏa thuận rất cụ thể, chứ không chỉ là một khái niệm trừu tượng.

Bà May không ủng hộ một cuộc trưng cầu dân ý lần thứ: “Tôi cũng tin rằng người dân chưa nhận thức đầy đủ về cách thức một cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai có thể phá vỡ sự gắn kết xã hội bằng cách làm xói mòn lòng tin vào nền dân chủ của chúng ta”.

Đúng là bà phần nào có lý. Những người ủng hộ việc ra khỏi EU sẽ cảm thấy giận dữ một cách chính đáng. Sự chia rẽ trong nước sẽ trở nên sâu sắc. Marcus Becker viết trên tờ Der Spiegel: “Nhiều người sẽ cảm thấy rằng Brexit mà họ mong muốn từ lâu đã bị đánh cắp khỏi họ và sẽ quay lưng lại với nền dân chủ với tâm trạng thất vọng. Điều đó sẽ mang lại một động lực đáng kể cho những người dân túy cánh hữu chống lại châu Âu”.

Nhưng dân chủ chính là việc người dân có thể thay đổi ý kiến. Người ta có thể thay đổi lá phiếu của mình từ cuộc bầu cử này sang một cuộc bầu cử tiếp theo. Người ta có thể đề xuất sáng kiến bỏ phiếu kín nhằm đảo ngược kết quả của một sáng kiến mà người dân đã ủng hộ vào năm trước đó. Thậm chí người ta có thể sửa đổi hiến pháp (nếu họ có một hiến pháp, không giống như Anh). Đây không nên là vấn đề đảng phái. Trên thực tế, một số nghị sĩ đảng Bảo thủ đã cùng lập ra một chiến dịch ủng hộ một cuộc bỏ phiếu khác về Brexit, gọi là “Quyền bỏ phiếu”.

Người dân Anh dường như ủng hộ một cuộc trưng cầu dân ý khác. Theo một cuộc thăm dò gần đây của đài Sky News, đa số người Anh muốn bỏ phiếu một lần nữa về Brexit, 53% so với 36%. Khó có thể biết chính xác một cuộc trưng cầu dân ý sẽ diễn ra như thế nào. Một cuộc thăm dò gần đây nhất của YouGov báo cáo rằng phe Ở lại hiện đã vượt qua phe Ra đi về số phiếu bầu với tỷ lệ 56 – 44%. Nhưng mức chênh lệch này có thể sít sao hơn nhiều nếu phương án “Brexit mềm” có vẻ khả thi.

Tất nhiên, tác giả không đổ lỗi cho EU nếu họ chỉ muốn xong trách nhiệm với Anh. Trước khi có Brexit, Anh đã là một trong những thành viên kỳ quặc nhất của EU. Họ không bao giờ gia nhập khu vực đồng euro và vẫn giữ đồng tiền của riêng mình. Họ không thuộc hệ thống Schengen. Họ không tham gia ký kết Hiến chương căn bản về nhân quyền của EU. Và họ có thể chọn không tuân theo bất kỳ phán quyết và điều luật nào của EU về các công việc nội bộ dựa trên nguyên tắc tùy từng trường hợp cụ thể. Không một thành viên nào khác của EU có đến 4 cái “không” như vậy.

Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua. Anh thường được mô tả là “cái gai trong mắt” EU bởi thái độ hoài nghi của họ về việc hội nhập quá nhiều, về hợp tác Pháp – Đức, về bất kỳ điều gì phảng phất quá nhiều mùi “đại lục” đối với những người cổ súy phong trào bản địa ở Anh. Ai cần đến cảm giác lo sợ ấy? Và bằng cách giải phóng mình ra khỏi Anh, Nghị viện châu Âu sẽ không phải lắng nghe thêm nữa những kẻ bất tài như chính trị gia ủng hộ Brexit Nigel Farage (nghị sĩ châu Âu kể từ năm 1999 đến từ miền Đông Nam nước Anh).

Nhưng nếu người Anh thay đổi ý kiến trong cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai, thì EU cần phải chào đón Anh trở lại.

Đây là giai đoạn đầy nguy hiểm đối với tương lai của châu Âu, cùng với các cuộc nổi loạn ở Ba Lan và Hungary, những chiến thắng trong các cuộc bầu cử của cánh cực hữu ở Áo và Italy, và sự lây lan liên tục của căn bệnh hoài nghi châu âu quái ác trên toàn lục địa. Tuy nhiên, ngay cả Steve Bannon cũng không tiên liệu được các Brexit khác. Vì vậy, cuộc đấu tranh sẽ không chỉ xoay quanh việc ở lại hay ra đi mà ngày càng xoay quanh hình thái của chính EU.

Cuộc tranh luận trong tương lai sẽ phong phú hơn nhiều nếu nó bao gồm cả tiếng nói của những người gần đạt được Brexit để rồi lại thay đổi ý định vào phút chót.

Nguồn: www.fpif.org – 23/01/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

Advertisements

Thỏa thuận hay không thỏa thuận: Tương lai đáng sợ của nước Anh – Phần đầu


Trường hợp bỏ phiếu lần thứ hai về vấn đề Brexit

Tác phẩm “Hỏa ngục” của Dante không nhắc tới điều này, nhưng tác giả (John Feller – giám đốc dự án Foreign Policy in Focus thuộc Viện nghiên cứu các chính sách của Mỹ) ngờ rằng những kẻ ở các tầng địa ngục phía trên sẽ nhìn những người láng giềng của mình ở tầng địa ngục cuối cùng với cảm giác vừa thương cảm vừa nhẹ nhõm. Cleopatra, vốn bị những trận cuồng phong đày xuống tầng địa ngục thứ hai vì hành vi dâm đãng của bà trên trái đất, đã liếc xuống kẻ phản bội Judas, bất động trong một hồ nước đóng băng ở tầng địa ngục thứ chín, và thở dài: “Ơn Chúa lòng lành”.

Và điều này cũng giống như với Anh và Mỹ hiện nay. Tác giả bất đắc dĩ phải đặt nước Mỹ của Trump vào một vị trí chính xác trong số 9 tầng địa ngục (Bạo lực? Lừa gạt? Phản bội?). Nhưng chắc chắn là Mỹ vẫn ở đâu đó phía trên nước Anh đang quằn quại trong những biến động hiện nay về Brexit của họ.

Chắc chắn những ngày này, người Mỹ cũng đang nhìn qua Thái Bình Dương với cảm giác có phần hả hê trước nỗi đau khổ của kẻ khác. Đúng là tình hình hiện tại ở Mỹ thật tồi tệ với một vị tổng thống mắc chứng tâm thần và một phần chính phủ liên bang ngừng hoạt động. Nhưng chính phủ đã mở cửa trở lại, và vị tổng thống này rốt cuộc cũng sẽ bị tống cổ khỏi Phòng bầu dục (thông qua bỏ phiếu, theo thủ tục, hoặc theo đúng nghĩa đen).

Mặt khác, nước Anh sắp sửa phá hỏng mọi thứ trong nhiều năm tới. Cách mà cựu Thủ tướng Anh David Cameron xử lý cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 về tư cách thành viên trong Liên minh châu Âu (EU) đã đủ tồi tệ rồi. Người kế nhiệm ông, Theresa May, đã tiếp nhận một tình huống tồi tệ – và xử lý nó một cách kém cỏi. Nghị viện Anh đã bác bỏ phiên bản thỏa thuận mà bà May đã đàm phán với EU. Trong khi đó, cho đến nay EU đã từ chối đưa ra thêm bất kỳ nhượng bộ nào mà có thể khiến thỏa thuận đó là chấp nhận được đối với số nghị sĩ Anh đủ để đảm bảo nó sẽ được thông quan trong một cuộc tái bỏ phiếu.

Vậy hãy cùng nhìn vào những phương án hiện sẵn có đối với những người dân Anh nghèo khổ và thiếu hiểu biết.

Kịch bản ngày tận thế

Một số người dân Anh chỉ muốn thoát khỏi “cuộc hôn nhân”” của họ với Brussels, và họ không quan tâm việc đó sẽ diễn ra như thế nào. Hãy quên chuyện ly thân đi. Hãy quên những điều khoản được đàm phán. Hãy quên những thỏa thuận về quyền giám hộ chung. Họ sẵn sàng từ bỏ mọi thứ để bước ra khỏi mối quan hệ này.

Cho đến nay, Theresa May đã từ chối loại bỏ phương án “không có thỏa thuận” ra khỏi bàn đàm phán. Nếu bà không thể thuyết phục Nghị viện Anh ủng hộ kế hoạch của bà, không thể thuyết phục EU nhượng bộ đôi chút về một số vấn đề chủ chốt, hoặc không cố gắng để đạt được một quyết định về việc hoãn thi hành, thì Anh sẽ nhanh chóng thoát khỏi EU vào ngày 29/3.

Những người kiên quyết đòi rời khỏi EU sẽ vui mừng. Anh sẽ không còn phải tuân theo bất kỳ luật lệ và quay định nào của EU. Anh có thể ngăn chặn tất cả những người nước ngoài mà họ muốn, vì họ sẽ không phải tuân theo quy định của EU về quyền tự do đi lại. Họ có thể đưa ra bất kỳ hay toàn bộ các quyết định về ngân sách mà không cần đáp ứng các quy định của EU về mức trần nợ. Anh cũng sẽ không phải đóng góp khoảng 17 tỷ USD hàng năm cho ngân sách chung của EU (phần lớn số đó là trợ cấp nông nghiệp dành cho nông dân trong toàn liên minh).

Tuy nhiên sau đó, gần như chẳng còn gì đáng vui mừng nữa. Giai đoạn chuyển tiếp gần 2 năm để giúp Anh thích nghi với việc rời khỏi EU (và ngược lại) sẽ qua. Người Anh sẽ phải lập tức đối mặt với cú sốc về giá cả khi giá hàng nhập khẩu đột ngột tăng cao với mức thuế lên tới 38%, và nhiều nhà sản xuất Anh sẽ phát hiện ra rằng họ không còn khả năng cạnh tranh ở các thị trường châu Âu. Nông dân Anh không còn có thể thu hút trợ cấp của EU (gần 4 tỷ USD hàng năm).

Hãy chờ đón cơn ác mộng tại các sân bay của Anh khi có tới 5 triệu chuyến bay sẽ bị hủy ngay khi phương án “không có thỏa thuận” có hiệu lực. Đường bộ cũng sẽ tắc nghẽn, với xe tải và xe máy bị mắc kẹt thành những hàng dài tại Đường hầm eo biển Manche. Và dây chuyền lắp ráp sản phẩm của Anh vốn phụ thuộc vào linh kiện châu Âu sẽ bị phá vỡ.

Tác động tổng thể đối với nền kinh tế Anh sẽ là rất tiêu cực, nhưu Ngân hàng Anh đã dự đoán: “Trong kịch bản xấu nhất là không có thỏa thuận, đồng bảng Anh sẽ mất giá 25% và theo thời gian, tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng từ mức hiện tại là 4% lên 7,5%. Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán thu nhập các hộ gia đình Anh do đó sẽ giảm trung bình 6000 bảng một năm”.

Các nhà đầu tư đã rút 20 tỷ USD khỏi các quỹ đầu tư của Anh kể từ cuộc bỏ phiếu Brexit. London, nơi có nhiều ngân hàng nước ngoài hơn bất kỳ trung tâm tài chính nào khác, sẽ chịu tác động mạnh nhất khi những thể chế này chuyển sang lục địa để đề phòng trường hợp chia tay không có thỏa thuận. Theo một ước tính, London sẽ mất gần 1000 tỷ USD giá trị tài sản.

Phí tổn về người trong kịch bản này khó đo lường hơn. Những người Anh sinh sống ở nơi khác tại châu Âu và những người nước ngoài sinh sống tại Anh đều sẽ nhận thấy họ đang rơi vào tình trạng lấp lửng. Nếu xử lý kém, một cuộc chia tay không có thỏa thuận có thể biến thành một dạng di dân giữa Ấn Độ và Pakistan, với dòng người nước ngoài ra khỏi Anh và người Anh, trong đó có 200.000 người được hưởng lương hưu, phải xách vali về nước.

Nhưng có lẽ điểm mấu chốt nhất là Bắc Ireland. Ireland vẫn sẽ là một phần của EU, trong khi đó Bắc Ireland sẽ rời khỏi EU cùng phần còn lại của Anh. Điều đó sẽ tạo ra một biên giới cứng, mà rất có thể sẽ phá vỡ thỏa hiệp đã chấm dứt cuộc xung đột Bắc Ireland vào những năm 1990. Xét cho cùng, thỏa hiệp đó phụ thuộc phần nào vào việc thiết lập một đường biên giới mở giữa miền Bắc và miền Nam cho phép người dân Cộng hòa Ireland tiếp tục mơ về một nước Ireland thống nhất và những người theo chủ nghĩa hợp nhất duy trì các liên kết của họ với Anh.

Đã có nhiều cuộc đàm phán về một giải pháp tình thế có thể ngăn chặn đường biên giới này trở thành một biên giới cứng. Nhưng nếu không đi sâu vào những chi tiết tương đối phức tạp, giải pháp tình thế này sẽ không có giá trị và vô hiệu nếu EU và Anh không thể đi đến một thảo thuận theo kiểu nào đó. Nếu điều đó xảy ra, mọi việc có thể trở nên tồi tệ.

Quả thực, Anh sẽ rơi vào tình trạng rối ren trên toàn đất nước nếu không có thỏa thuận: bạo loạn vì thiếu hụt, bất ổn ở Bắc Ireland, tình trạng hỗn loạn ở các khu vực biên giới. Chính phủ đã bố trí 3500 binh lính và chi 2,5 tỷ USD để giải quyết những vấn đề này nếu chúng phát sinh. Chúc họ may mắn.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.fpif.org – 23/01/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

EVFTA: Pháp – Việt được gì?


Theo đài RFI, cả Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đều có lợi ngay khi Hiệp định tự do thương mại Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực. Tăng trưởng kinh tế của VIệt Nam có thể đạt tới 8% vào năm 2025 nhờ xuất khẩu hàng sang các thị trường châu Âu rộng lớn. Ngược lại, các nước EU sẽ bị thu hút vào thị trường năng động của Việt Nam, với tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo.

Theo số liệu của Phái đoàn EU tại VIệt Nam, Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ hai của EU tại ASEAN, chỉ sau Singapore, với thương mại hàng hóa trị giá 47,6 tỷ euro và thương mại dịch vụ ở mức 3,6 tỷ euro/năm. EU nhập khẩu chủ yếu từ Việt Nam thiết bị viễn thông, hàng may mặc, thực phẩm và chủ yếu xuất sang Việt Nam các thiết bị máy móc và thiết bị vận tải, hàng hóa chất và sản phẩm nông nghiệp.

Dù đầu tư của châu Âu vào Việt Nam còn ở mức khiêm tốn là 8,3 tỷ euro trong năm 2016, nhưng ngày càng có nhiều công ty châu Âu được thành lập tại đây, biến Việt Nam thành một trung tâm phục vụ cho khu vực Mekong. Vai trò của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á đã được thảo luận trong một buổi gặp gỡ giữa các doanh nghiệp Pháp do Ủy ban Điều hành Tập đoàn Air Liquide tổ chức ngày 4/3 tại Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội.

So với các thành viên khác trong EU, Pháp có lợi thế và lợi ích đặc biệt ngay khi EVFTA có hiệu lực. Pháp mong EVFTA sẽ được ký kết và phê chuẩn trong thời hạn ngắn nhất để có hiệu lực. Như vậy, các doanh nghiệp Pháp có thể được hưởng mọi lợi ích mà thỏa thuận này mang lại, về mặt xuất khẩu cũng như đầu tư vào Viêt Nam.

Đối với các doanh nghiệp Pháp, ngay khi thỏa thuận này có hiệu lực, 65% thuế nhập khẩu đang áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu từ EU sẽ được xóa bỏ ngay ngày đầu tiên Hiệp định có hiệu lực và các dòng thuế còn lại sẽ được gỡ bỏ dần trong thời hạn 10 năm. Đây thật sự là một luồng sinh khí cho các doanh nghiệp Pháp, là cơ hội cho doanh nghiệp Pháp đang hợp tác với Việt Nam để đầu tư vào Việt Nam.

Dĩ nhiên, phía Việt Nam cũng ủng hộ hiệp định thương mại này vì đối với Việt Nam, đây cũng là cơ hội để xuất khẩu và đầu tư vào EU. Cần nhắc lại là EU là thị trường xuất khẩu quan trọng thứ hai của Việt Nam, sau Hoa Kỳ.

Để có thể hưởng mọi lợi ích mà EVFTA mang lại, Việt Nam cần phát triển về mặt tư pháp và cơ sở hạ tầng. Trước hết, cần nhấn mạnh Việt Nam sắp trở thành quốc gia duy nhất, cùng với Singapore, trong khối ASEAN, được hưởng phạm vi thương mại thuận lợi choo cả đôi bên. Vì vậy, trong tương lai, những thời cơ sẽ còn lớn hơn, quan trọng hơn rất nhiều so với hiện nay.

Ví dụ, vấn đề “tên gọi châu Âu được bảo vệ” – như đối với rượu vang và pho mai Pháp, tất cả những gì liên quan đến bảo vệ bản quyền trí tuệ, chỉ dẫn địa lý sẽ được bảo đảm. Như đối với lĩnh vực chế biến thức ăn Pháp, hiệp định này sẽ là bằng chứng bảo đảm hàng xuất khẩu sang Việt Nam không có nguy cơ bị làm nhái hoặc làm giả.

EVFTA sẽ mang lại lợi ích cho những doanh nghiệp châu Âu hiện có mặt tại Việt Nam. Đây là một sự thay đổi sâu sắc, vừa về bản chất, vừa về quy mô của các hoạt động thương mại của EU, từ Pháp sang Việt Nam và theo chiều ngược lại, từ Việt Nam sang châu Âu. Tới nay, đã có 300 doanh nghiệp Pháp đầu tư vào Việt Nam và lập các chi nhánh trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau như cơ sở hạ tầng (đường sá, cảng biển, sân bay), giao thông (máy bay, tàu điện ngầm, tàu hỏa), ngoài ra còn phải kể đến lĩnh vực năng lượng hoặc phân phối, chế biến lương thực, dược phẩm, mỹ phẩm, có những đề xuất phù hợp với nhu cầu của Việt Nam hiện nay.

Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp Pháp, Việt Nam còn là một thị trường ưu tiên vì đó là một thị trường có sức phát triển mạnh với tỉ lệ tăng trưởng 7%, ổn định từ năm này sang năm khác. Đồng thời, Việt Nam còn có tầng lớp trung lưu phát triển nhanh nên xuất hiện những nhu cầu, khát vọng tương ứng. Đây là động lực để khuyến khích các doanh nghiệp Pháp thâm nhập vào thị trường Việt Nam.

Khi Thủ tướng Pháp Edouard Philippe thăm chính thức Việt Nam vào tháng 11/2018, tháp tùng ông là 70 doanh nghiệp. Nhân chuyến thăm này, các doanh nghiệp hai bên đã ký nhiều hợp đồng với tổng giá trị hơn 10 tỷ euro. Sự năng động là rất mạnh và Pháp mong muốn thúc đẩy hơn nữa.

EVFTA: Hiệp định “tiến bộ và rất giá trị”

EVFTA sẽ xóa bỏ thuế quan đánh vào rất nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng của EU, có hiệu lực ngay lập tức và từng bước trong thời hạn từ 3 – 7 năm, như vải vóc, gần như toàn bộ máy móc, xe máy phân phối lớn, xe hơi, phụ tùng xe hơi, gần một nửa các loại dược phẩm châu Âu xuất sang Việt Nam, sản phẩm hóa học, rượu vang và đồ uống có cồn, thịt lợn đông lạnh, sản phẩm sữa, nguyên liệu thực phẩm, thịt gà… Tuy nhiên, đối với các nông phẩm nhạy cảm, EU không mở cửa hoàn toàn thị trường cho hàng nhập khẩu từ Việt Nam, trong đó có một số mặt hàng như gạo, ngô, tỏi, các loại nấm, trứng, đường…

Một số mặt hàng của Việt Nam sẽ được gỡ bỏ thuế trong thời hạn chuyển tiếp có thể lên 7 năm, như lĩnh vực may mặc và sản xuất giầy. Theo các quy định về nguồn gốc, vải sử dụng trong ngành may mặc phải có xuất xứ từ EU, Việt Nam hoặc Hàn Quốc – nước đã ký với Brussels một thỏa thuận thương mại – nhằm tránh vải từ một nước không có thỏa thuận với EU lách vào thị trường chung của khối qua ngả Việt Nam.

Về lĩnh vực đấu thầu, EVFTA cho phép các công ty của EU có được nhiều quyền lợi mà các doanh nghiệp của các nước khác không được hưởng, như tham gia đấu thầu các dự án của các bộ, ngành, công ty quốc doanh lớn ở Việt Nam, cũng như hai trung tâm lớn là Hà Nội và TPHCM.

Cuối cùng, yếu tố bảo vệ chuẩn mực xã hội và bảo vệ môi trường cũng được đặc biệt nhấn mạnh trong một chương trình riêng của hiệp định nói về thương mại và phát triển bền vững, kèm theo một danh sách dài các cam kết.

Hai hiệp định EVFTA và IPA được bà Cecilia Malmstrӧm, Cao ủy về Thương mại của EU, đánh giá là “rất tiến bộ và giá trị… Thông qua hai hiệp định này, EU cũng sẽ lan tỏa các tiêu chuẩn cao của châu Âu cũng như tạo ra các cơ hội để thực hiện những cuộc thảo luận có chiều sâu về quyền con người và bảo hộ công dân”.

Đối với Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker, EVFTA và IPA mang lại những lợi thế và lợi ích chưa từng có cho các công ty, người lao động và người tiêu dùng ở châu Âu và Việt Nam.

Nguồn: TKNB – 10/04/2019

Châu Âu cần đóng vai trò tích cực hơn ở Venezuela


Liên minh châu Âu (EU) đã có những bước đi mang tính xây dựng nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng ở Venezuela, nhưng việc thiếu một lập trường chung châu Âu có thể đe dọa tiến trình hướng tới một cuộc chuyển giao quyền lực trong hòa bình.

Gần đây, nhiều nhà quan sát Venezuela đã bị giằng xé bởi những tình cảm trái ngược nhau. Khi Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaidó tuyên thệ “chính thức đảm nhận quyền quản lý đất nước với tư cách tổng thống Venezuela”, ông đã mang lại hy vọng hiếm hoi ở một đất nước từ lâu đã bị một cuộc khủng hoảng sâu sắc về chính trị, kinh tế và an ninh tàn phá. Nhưng quyết định của một vài nước ở châu Mỹ – trong đó có Mỹ và Canada, cùng với Colombia, Argentina, Brazil và các thành viên khác của Nhóm Lima – nhanh chóng công nhận ông là tổng thống lâm thời của Venezuela có vẻ vội vàng. Trong trường hợp của của Mỹ, điều này gợi lại những ký ức đáng lo ngại về chủ nghĩa can thiệp thời kỳ Chiến tranh Lạnh vào nơi mà Washington coi là sân sau của họ.

Thách thức trước mắt đối với các nước châu Âu là liệu có nên bắt chước các nước công nhận Guaidó, người đã trở thành quyền tổng thống hợp pháp theo hiến pháp, hay không. Nhiều nước trong số đó biết rằng họ cần thận trọng, khi xét tới sự hiện diện của các cộng đồng lớn công dân châu Âu ở Venezuela (đặc biệt là công dân Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Italy), một đặc tính phân biệt nước này với các nơi khác của Mỹ Latinh. Cùng với các lợi ích kinh tế quan trọng và các mối quan ngại về nhân quyền, nhân tố này đã mang lại cho châu Âu một vai trò quan trọng trong cuộc khủng hoảng.

Cho đến nay, EU đã đối phó hiệu quả đến mức đáng ngạc nhiên với thách thức này. EU đã cho phép các thành viên của mình giao thiệp với Venezuela ở mức độ linh hoạt hợp lý. Berlin, Paris, London và Madrid đi đầu bằng việc tuyên bố rằng họ sẵn sàng công nhận Guaidó nếu Nicolás Maduro, nhà lãnh đạo thực tế của nước này, không kêu gọi được một cuộc bầu cử mới trong vòng 8 ngày. Khi thời hạn này qua đi, họ đã làm đúng như vậy. Tất cả các thành viên khác của EU ngoại trừ Italy, Slovakia, Hy Lạp và Cyprus cũng đã làm vậy (Áo ban đầu phản đối động thái này, nhưng sau đó lại thay đổi lập trường).

Sau một cuộc gặp không chính thức của các bộ trưởng ngoại giao EU cuối tháng 1/2019, Đại diện cấp cao EU Federica Mogherini đã bày tỏ sự ủng hộ đối với Quốc hội, gọi đó là “cơ quan dân chủ hợp pháp của Venezuela. Bà không thể chính thức công nhận Guaidó vì thiếu sự nhất trí giữa các thành viên. Nhưng ít nhất thì bà cũng đã nhấn mạnh sự nhất trí của họ về một điểm then chốt: “Các cuộc bầu cử tổng thống được tổ chức vào tháng 5/2018 tại Venezuela thiếu tính hợp pháp dân chủ”.

EU nhất trí thành lập Nhóm liên lạc quốc tế do Uruguay dẫn dắt với các nước Mỹ Latinh chưa công nhận Guaidó nhưng lại không muốn tỏ ra thờ ơ trước cuộc khủng hoảng này, và đã tìm kiếm đối thoại và một cuộc bầu cử mới. Nhóm này, bao gồm 8 nước thành viên EU và 4 nước Mỹ Latinh, đã tổ chức cuộc họp đầu tiên của họ tại Montevideo vào đầu tháng 2/2019.

Trong khi đó, Nghị viện châu Âu đã thông qua một nghị quyết không mang tính ràng buộc Guaidó là tổng thống lâm thời hợp pháp của Venezuela. Và mới đây, một phái đoàn EU đã tới thăm Caracas để tìm cách thuyết phục Maduro tổ chức một cuộc bầu cử. Tựu trung lại, châu Âu phân biệt họ với Mỹ với tư cách một bên tham gia có tính xây dựng ở Venezuela vốn đagn xây dựng một kế hoạch dự phòng cho sự thay đổi chính trị ở nước này, trong trường hợp sức ép ngoại giao và kinh tế thuần túy tỏ ra không hiệu quả. Tuy nhiên, có những giới hạn rõ ràng về thành tựu mà EU có thể đạt được nếu không xác lập một lập trường chung về Venezuela. Họ đã không làm được điều này, chủ yếu là do sự phủ quyết của Italy.

Bản chất của cuộc khủng hoảng Venezuela đã thay đổi trong thời gian gần đây. Trước hết Guaidó đã kiên quyết khẳng định mình là nhà lãnh đạo của phe đối lập Venezuela, không chỉ lôi kéo được sự ủng hộ từ những thành phần hác nhau của các đảng chống lại Chavista mà còn chìa tay ra với những người bất đồng quan điểm trong nội bộ chế độ. Đồng thời, tình trạng cô lập về mặt ngoại giao của Maduro là chưa có tiền lệ (như nhà sử học Carlos Malamud thuộc Viện hoàng gia Elcano tại Madrid nhận xét trong một ấn phẩm sắp phát hành), và nó dường như đã trở nên không thể đảo ngược.

Trong bối cảnh này, việc EU thiếu một lập trường thống nhất đang trở thành một trở ngại nghiêm trọng trên thực tế và trong ngoại giao. Các nước thành viên riêng rẽ có thể áp đặt các biện pháp trừng phạt có giới hạn đối với chế độ Maduro, chẳng hạn như lệnh cấm đi lại và đóng băng tài sản. Nhưng họ khó mà áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế có ý nghĩa đối với Venezuela khi xét tới sự tồn tại của thị trường chung EU.

Những biện pháp như vậy có ý nghĩa then chốt đối với các nỗ lực của châu Âu nhằm đặt Maduro dưới sức ép thực sự. Là một khối, EU hiện chỉ áp đặt lệnh cấm vận vũ hí và các biện pháp trừng phạt có giới hạn đối với các thành viên của chế độ này. Nhưng họ sẽ có thể đóng băng tất cả các tài sản của Chính phủ Venezuela tại châu Âu, trước khi giao chúng cho Guaidó. EU cũng nên hạn chế khả năng các công ty châu Âu ký hợp đồng ở Venezuela mà không được sự phê chuẩn của Guaidó và Quốc hội. Và khối này cần kêu gọi bàn giao trực tiếp các quỹ viện trợ lương thực và quỹ khẩn cấp cho Quốc hội.

Nếu EU c1o thể chứng tỏ sự đoàn kết, thì họ sẽ thấy dễ dàng hơn nhiều trong việc giữ vai trò dẫn dắt trong các nỗ lực ngoại giao quốc tế về cuộc khủng hoảng Venezuela. Chừng nào điều này còn thiếu, thì Tổng thống Mỹ Donald Trump và những người ủng hộ ông sẽ có thể ra mặt với tư cách là “các nhà lãnh đạo thế giới tự do” (như Phó Tổng thống Mike Pence đã phát biểu tại Hội nghị an ninh Munich mới đây). Họ sẽ tuyên bố là những người ủng hộ thực sự cho dân chủ và nhân quyền, khiến họ trái ngược với một châu Âu bị chia rẽ mà theo câu chuyện của họ thì thường nói toàn điều hay lẽ phải nhưng lại gây thất vọng khi đến thời điểm quyết định.

Đây là lý do khác giải thích vì sao EU phải thống nhất lập trường của mình. Họ cần phải tìm ra cách để thuyết phục Italy đồng hành – có lẽ là đàm phán với nước này về các vấn đề nội bộ EU (như Khuôn khổ tài chính đa niên sau 2020) hay về chính sách đối ngoại mà trong đó Rome thường cần đền sự ủng hộ của các nước EU khác (chẳng hạn như trong việc giải quyết xung đột Libya). EU và các nước thành viên của khối này cũng có thể thuyết phục các bên bất đồng quan điểm khác thay đổi lập trường của họ.

Đồng thời, khối này phải tiếp tục phối hợp lập trường của họ với một loạt rộng lớn hơn các đối tác, từ những người theo đường lối cứng rắn ở Mỹ và những người ủng hộ Guaidó trong nhóm Lima đến các thành viên của Cơ chế Montevideo (gồm Uruguay, Mexico và các nước khác nhau trong khu vực Caribe), vốn hy vọng có một cuộc đối thoại nhưng lại không thích sức ép quốc tế, đến các thành viên của Nhóm liên lạc quốc tế. EU cũng nên tham vấn Na Uy và Vatican, khi xét tới vai trò tiềm tàng của họ là các bên trung gian hòa giải.

Châu Âu nên thúc ép việc thành lập một chính phủ chuyển tiếp. Mặc dù họ sẽ không còn có thể tuyên bố là công bằng, nhưng động thái này sẽ cho phép họ làm việc với các bên khác hướng tới một sự chuyển tiếp hòa bình.

Đề nghị đàm phán về một sự chuyển tiếp sẽ thiếu sự tin tưởng từ phía Maduro, khi xét tới việc ông không thực hiện một vài hứa hẹn về việc đối thoại trong những năm gần đây. Các chế độ độc tài thường cho thấy sức bền bỉ cao đến mức đáng ngạc nhiên trong việc đối phó với tình trạng bất ổn trong nước, đặc biệt là khi họ có thể dựa vào quân đội nước mình và sự ủng hộ bên ngoài theo kiểu mà Madur nhận được từ Nga, Trung Quốc, Iran, Cuba và Thổ Nhĩ Kỳ. Vì vậy, EU vẫn cần phải mở lòng trước lựa chọn về một sự chuyển tiếp thông qua đàm phán.

Để điều này có thể xảy ra, Guaidó sẽ cần phải hội đàm không chỉ với những người ủng hộ ông mà cả với Maduro. Ông cũng sẽ phải thuyết phục quân đội chấp nhận tiến trình này – như ông đã thử bằng cách thông báo rằng ông sẽ tha thứ cho quân đội vì những hành vi lạm dụng của họ dưới thời Maduro (cho dù đề xuất của ông kể từ đó trở đi đã vấp phải sự kháng cự từ phía những người theo đường lối cứng rắn thuộc phe đối lập và các phong trào nhân quyền). Một sự chuyển tiếp thông qua đàm phán cũng sẽ có 2 yêu cầu nữa mà EU có thể tạo ra sự khác biệt. Một là thành lập liên minh quốc tế rộng lớn ủng hộ các cuộc đàm phán về quá trình chuyển tiếp. Hai là sự chấp thuận của Trung Quốc. Châu Âu có thể tìm cách thay đổi tính toán của Bắc Kinh về Venezuela bằng việc tập trung vào vấn đề này trong thời gian trước khi diễn ra hội nghị thượng đỉnh EU – Trung QUốc dự kiến vào đầu tháng 4/2019.

Cũng có một lựa chọn khác thường và cấp tiến hơn: thảo luận về cuộc khủng hoảng Venezuela với Cuba, vốn vẫn duy trì quan hệ rất mật thiết với chế độ Maduro. Đương nhiên, điều này đi ngược với hy vọng của nhiều người ở Mỹ và những nơi khác, những người cho rằng sự kết thúc của Maduro vốn dĩ sẽ dọn đường cho sự kết thúc của nhà lãnh đạo Cuba Raúl Castro. Nhưng sự ủng hộ từ La Habana có thể tỏ ra là thiết yếu trong việc đạt được mục tiêu tương đối khả thi là một sự chuyển tiếp hòa bình ở Venezuela. Xét tới sự gần gũi về ý thức hệ giữa La Habana và Caracas, cũng như mối quan hệ kinh tế và an ninh mật thiết của họ, một sự sụp đổ ở Venezuela sẽ không nằm trong mối quan tâm của Cuba.

Mục tiêu quan trọng hơn cả của châu Âu cần phải là ngăn chặn đổ máu và tạo điều kiện cho một sự chuyển tiếp tiến tới một chính phủ dân chủ ổn định và hợp pháp mà sẽ được “tạo ra ở Venezuela”. Chỉ riêng sức ép quốc tế thôi là chưa đủ để đạt được mục tiêu này, một thực tế mà Chính phủ Mỹ dường như bỏ qua. Quan trọng hơn, sẽ là nguy hiểm khi tạo ra suy nghĩ trên khắp Mỹ Latinh rằng một sự chuyển tiếp chính trị là do bá chủ được khôi phục của khu vực này áp đặt đối với Venezuela. Điều này sẽ chỉ xác nhận lập luận của Tổng thống Nga Vladimir Putin cho rằng ông chẳng làm gì sai ở Crimea và miền Đông Ukraine.

Cuộc khủng hoảng Venezuela thử thách khả năng của EU trong việc theo đuổi một chính sách đối ngoại không chỉ mang tính can dự và đầy tham vọng mà còn nhất quán và thống nhất, tại thời điểm có sự bất hòa đáng kể về chính trị giữa các nước thành viên của khối – sự bất hòa mà có thể gia tăng sau cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu năm nay. Châu Âu phải chứng tỏ rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt trong một thế giới mà ở đó Mỹ, Trung Quốc, Nga và các nước khác đang ngày càng ủng hộ hoạt động chính trị sử dụng sức mạnh thô bạo.

Nguồn: Hội đồng quan hệ đối ngoại châu Âu (Anh)

TLTKĐB – 02/03/2019

Sự bế tắc của Brexit và chuyển đổi mô hình chính trị ở Anh – Phần cuối


Logic chính trị phe nhóm và chính trị chính đảng phức tạp, đan xen lẫn nhau

Brexit bị coi là sự kiện mang tính cột mốc của sự phát triển xóa bỏ toàn cầu hóa, ngả sang phái hữu về chính trị, sự phát triển của chủ nghĩa dân túy xuất hiện trong nội bộ EU, thậm chí là toàn bộ vùng lõi của thế giới tư bản phương Tây. Rất nhiều cuộc khủng hoảng đã đặt ra trước toàn cầu hóa do chủ nghĩa tự do mới lãnh đạo và liên kết châu Âu, cộng thêm với chính sách thắt lưng buộc bụng của Chính phủ Anh dẫn đến sự bất bình của quần chúng như công nhân, thanh niên, người cao tuổi đối với giới tinh hoa chính trị gia tăng, ảnh hưởng của chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc thể hiện xu hướng tăng lên. Đồng thời, truyền thống hoài nghi châu Âu tồn tại thâm căn cố đế ở Anh trong thời gian dài, đặc biệt là sự khác biệt giữa Anh và EU mà các chính trị gia thuộc đảng Bảo thủ nhấn mạnh từ giữa những năm 1980 đến nay, sẵn sàng tuyên truyền “tiêu cực” đối với tiến trình liên kết châu Âu, quy kết các vấn đề như khả năng cạnh tranh quốc tế của Anh yếu, dân nhập cư tràn vào… là do liên kết châu Âu. Những nhân tố này đan xen với nhau, mượn cuộc trưng cầu dân ý rời khỏi EU để thể hiện. Tranh luận về Brexit ở mức độ nhất định đã vượt qua vấn đề chính trị đảng phái giữa cánh tả và cánh hữu truyền thống của Anh, làn sóng dân tộc cực hữu và chống thiết cực tả đứng đằng sau những người ủng hộ Brexit dẫn đến sự chia rẽ về chính trị, làm gia tăng bất đồng trong xã hội.

Tuy nhiên, các học giả cho rằng chính trị phe nhóm và chủ nghĩa dân túy đã lãnh đạo tiến trình Brexit là không chính xác. Tuy chính trị phe nhóm khiến Brexit phức tạp hơn, nhưng nhân tố chính trị chính đảng vẫn là đầu mối quan trọng để giải thích tình trạng bế tắc của Brexit. Tuy đảng Bảo thủ bị chia rẽ nghiêm trọng trong giải pháp rời khỏi EU, nhưng đến nay về tổng thể đã duy trì sự đoàn kết nhất trí trong các vấn đề như duy trì lợi ích của đảng này và địa cầm quyền… Trong một số cuộc bỏ phiếu then chố của tiến trình Brexit, bao gồm các vấn đề như yêu cầu chính phủ đảm bảo Anh ở lại thị trường chung, phê chuẩn thỏa thuận Brexit…, đảng Bảo thủ cơ bản chưa xuất hiện hiện tượng ngược chiều quy mô lớn. Chính phủ Anh đã lùi bước từ lập trường cứng rắn Brexit trong giai đoạn đầu và cuối cùng đã đưa ra thỏa thuận chiết trung mơ hồ, cũng bao gồm cân nhắc cố gắng tránh phe thân EU và phe diều hâu hoài nghi EU trong nội bộ đảng Bảo thủ “ngả bài” dẫn đến sự chia rẽ trong đảng này. Phe diều hâu trong đảng Bảo thủ cuối cùng có thể đưa ra thỏa hiệp hay không đã trở thành then chốt quyết định số phận thỏa thuận Brexit.

Lập trường “mơ hồ mang tính xây dựng” về tiến trình Brexit của Công đảng cũng là kết quả từ tác động chung của cuộc đọ sức trong nội bộ đảng và toan tính lợi ích của chính đảng. Corbyn từ chối nêu rõ có ủng hộ lựa chọn về cuộc trưng cầu dân ý lần hai hay không, ngoài xem xét đến việc kiên trì tôn trọng kết quả trưng cầu dân ý, cũng có động cơ muốn kiếm lợi từ tất cả các bên, cố gắng tranh thủ cử tri thân EU và hoài nghi EU. Tỷ lệ nghị sĩ thuộc Công đảng ủng hộ ở lại EU hoặc hoặc Brexit mềm lên tới khoảng 90%, nhưng trong hai cuộc bầu cử gần đây, tỷ lệ cử tri ở cấp cơ sở của đảng này hoài nghi EU lại khá lớn. Cùng với Brexit tiến vào giai đoạn then chốt, Công đảng rất khó tiếp tục duy trì lập trường mơ hồ trong vấn đề này. Nếu Công đảng không thể đoàn kết với phe thân EU của tầng lớp trung lưu, thì sẽ ở vào địa vị bất lợi hơn trong cạnh tranh đảng phái tương lai.

Cơ chế đảm bảo biên giới Bắc Ireland dẫn đến tranh luận về vấn đề phân cấp quyền lực

Vấn đề biên giới Bắc Ireland là điểm then chốt tác động đến xu hướng của Thỏa thuận Brexit. Ngoài việc gây ra lo ngại cho xu hướng Brexit mềm, cơ chế đảm bảo biên giới cũng tạo ra thách thức mới đối với mối quan hệ giữa trung ương và địa phương như Chính quyền London, Bắc Ireland và Scotland… Vấn đề biên giới khiến tranh cãi về lịch sử và hiện tại rất phức tạp trong nội bộ Bắc Ireland, giữa Anh và Bắc Ireland tiếp tục lộ rõ. Trong cuộc trưng cầu dân ý về rời khỏi EU năm 2016, phe thân Anh với đại diện là Đảng Dân chủ thống nhất và Đảng Thống nhất Ireland ủng hộ Brexit. Họ cho rằng đem lại địa vị đặc biệt để Bắc Ireland và Anh. Các chính đảng như Sinn Fein, Đảng Thống nhất dân chủ (DUP)… chủ trương ở lại EU, ủng hộ duy trì Bắc Ireland ở trong Liên minh thuế quan EU, Sinn Fein thậm chí coi Brexit là cơ hội để thực hiện thống nhất Ireland. Thỏa thuận Belfast được ký năm 1998 giữa Anh và Ireland đã thúc đẩy ổn định trong tiến trình hòa bình của Bắc Ireland, địa vị nước thành viên EU của hai quốc gia này là nền tảng để hiệp định thành công, mà một khi xuất hiện cục diện Brexit cứng, tiến trình hòa bình và hòa giải của Bắc Ireland sẽ đối mặt với thử thách mới. Đặc biệt là trong bối cảnh cơ chế phân chia quyền lực của Chính quyền Bắc Ireland sau năm 2017 rơi vào tình trạng phân tán, DUP ủng hộ chính phủ thiểu số của đảng Bảo thủ.

Cơ chế đảm bảo biên giới làm gia tăng tác động của vấn đề Brexit đối với phân chia quyền lực theo Hiến pháp của Anh. Sau năm 1997, trước khi đưa ra quyết sách trong lĩnh vực phân chia quyền lực, Chính phủ Anh cần thông báo đầy đủ cho quốc hội Anh và hạ viện tại các địa phương, tìm kiếm nhận thức chung. Các vùng Scotland và London chủ trương ở lại EU trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 phản đối bất kỳ hình thức Brexit cứng àno; tuy người dân Bắc Ireland chủ trương ở lại EU, nhưng phe thân Anh lại đối đầu gay gắt với những người theo chủ nghĩa dân tộc ở Bắc Ireland; xứ Wales bỏ phiếu ủng hộ rời EU cũng yêu cầu tham gia nhiều hơn vào hoạch định chính sách Brexit. Tháng 3/2017, Hạ viện Scotland ủy quyền cho Chính quyền đảng Dân tộc tổ chức cuộc trưng cầu dân ý lần hai, sau đó tạm thời bị gác lại, nhưng cũng nêu rõ nếu kết quả cuối cùng của Brexit không thể đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa Scotland và EU thì sẽ xem xét thúc đẩy trưng cầu dân ý lần hai. Sau khi Chính phủ Anh đưa cơ chế đảm bảo biên giới vào Thỏa thuận Brexit, Chính quyền Scotland và Wales đều yêu cầu vùng lãnh thổ của họ thực hiện cơ chế đặc biệt giống như Bắc Ireland. Tháng 12/2018, Thủ tướng Anh Theresa May yêu cầu chính quyền các vùng như Scotland, Wales… ủng hộ Thỏa thuận Brexit, nhưng thỏa thuận này đều bị phủ quyết tại hạ viện của Scotland và Wales.

Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, thế giới xuất hiện biến động chưa từng có, toàn cầu hóa và liên kết châu Âu đứng trước sự điều chỉnh sâu sắc. Trong bối cảnh đó, chuyên gia nghiên cứu hiến pháp người Anh Bogdano từng mượn câu nói của Thủ tướng đảng Bảo thủ Disraeli trong thế kỷ 19 để phân tích sự chuyển đổi mô hình hiến pháp và chính trị đặt ra trước nước Anh: “Ở quốc gia này, xã hội ở vào tình trạng mờ mịt, dường như là tê liệt; nó sẽ có thay đổi, cần thiết kế cơ chế tương ứng”. Mô hình quản lý quốc gia và truyền thống dân chủ của Anh chuyển từ giới tinh hoa lãnh đạo sang quần chúng tham gia thực hiện, chủ nghĩa tự do mới và chính sách thắt chặt gây ra sự bất bình của dân chúng, lý tưởng nhà nước toàn dân xa vời, thiếu nền chính trị đồng thuận, chính trị trung gian, phân hóa hai cực gay gắt. Brexit, được coi là sự kiện quan trọng nhất của Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai, là kết quả của sự chuyển đổi mô hình chính trị lâu dài và tiệm tiến ở trong nước, cũng sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng chính trị. Đối với nước Anh và châu Âu có địa vị và lợi ích ngày càng khác xa nhau, làm thế nào để kết nối hiệu quả chủ trương cơ chế mới với cơ chế dân chủ vốn có đã trở thành vấn đề nan giải mà nền chính trị Anh phải đối mặt. Làm thế nào để tìm được sự cân bằng giữa truyền thống chính trị và sức ép cải cách ở Anh, tìm được điểm cân bằng mới giữa quốc gia dân tộc, liên kết khu vực với toàn cầu hóa, đáp ứng có hiệu quả đòi hỏi của các tầng lớp trong xã hội, xây dựng nhận thức chung mới, đã trở thành chủ đề then chốt để ứng phó với tình trạng bế tắc của Brexit và sự phát triển của Anh trong tương lai.

Nguồn: Tạp chí Thế giới đương đại (TQ)

TLTKĐB – 02/03/2019

Sự bế tắc của Brexit và chuyển đổi mô hình chính trị ở Anh – Phần II


Các nghị sĩ thân EU chia làm hai phe là Brexit mềm, chủ trương theo mô hình Na Uy và phe ủng hộ trưng cầu dân ý lần hai để ở lại EU. Tuy phương án Brexit mềm có thể đạt được mục tiêu duy trì quan hệ thương mại chặt chẽ với EU, đồng thời tránh được vấn đề biên giới Bắc Ireland, nhưng vấn đề nan giải phải đối mặt là thông qua phương án này tuy thực hiện được Brexit, nhưng các mục tiêu giành lại quyền kiểm soát về mặt dân di cư, tài chính, pháp luật… sẽ trở thành ảo ảnh. Trong khi đó, lợi ích từ Brexit như chủ trương đàm phán khu vực thương mại tự do với Mỹ, các nước vốn thuộc Liên hiệp Anh và thuộc địa cũ của Anh như Australia và các thị trường mới nổi… trong chiến lược “Nước Anh của toàn cầu” mà Chính phủ Anh công bố cũng không thể thực hiện được. Phương án này đối mặt với chỉ trích Brexit mềm không bằng việc ở lại EU.

Trong bối cảnh đó, những tiếng nói yêu cầu cuộc trưng cầu dân ý lần thứ hai tăng lên, dân chúng đã trải qua sự thay đổi từ không ủng hộ đến ủng hộ ở mức thấp đối với cuộc trưng cầu dân ý lần hai. Công ty YouGov của Anh đã tiến hành điều tra dư luận đối với vấn đề này từ tháng 4/2017, tỷ lệ ủng hộ cuộc trưng cầu dân ý lần hai đã lần đầu vượt trên số người phản đối vào tháng 7/2018, tỷ lệ người ủng hộ là 42% và tỷ lệ người phản đối là 40%. Sau đó, nghiên cứu có liên quan chứng minh tương lai có thể xuất hiện cuộc trưng cầu dân ý lần hai, kết quả bỏ phiếu có thể ngả về hướng ở lại EU. Nguyên nhân dẫn đến xu thế này là sự bi quan của cử tri đối với nền kinh tế Anh sau Brexit đã gia tăng, họ coi trọng hơn ảnh hưởng của Brexit đối với nền kinh tế, có phần giảm bớt sự quan tâm đối với dân di cư. Với tình trạng bế tắc của Brexit, số lượng cử tri chủ trương ở lại EU và tiến hành trưng cầu dân ý lần hai còn tăng hơn nữa. Điều tra trong dân của YouGov vào cuối tháng 12/2018 cho thấy số lượng người được hỏi chủ trương ở lại EU đã tăng thêm 11% so với trước kia, tỷ lệ cử tri ủng hộ cuộc trưng cầu dân ý lần hai lên tới 64%.

Trong tình hình Chính phủ Anh phản đối rõ ràng cuộc trưng cầu dân ý lần hai, lập trường của Công đảng rất quan trọng. Lãnh đạo Công đảng kiên trì đề xuất phương án tiến hành trưng cầu dân ý lần hai trong tình hình yêu cầu bầu cử sớm không thể được đáp ứng. Ngoài các đảng đối lập hàng đầu, việc thông qua phương án vẫn cần sự ủng hộ của một số phe thân EU của đảng Bảo thủ. Hiện nay, một số người thuộc phe thân Eu của đảng Bảo thủ đã có xu hướng chấp nhận cuộc trưng cầu dân ý lần hai, kiên trì tiến hành biểu quyết trong nội bộ quốc hội về vấn đề này, tìm kiếm phương án giải quyết có thể được đa số nghị sĩ ủng hộ. Lãnh đạo đảng Độc lập Vương quốc Anh Nigel Faraj cũng thừa nhận phe ủng hộ Brexit cần chuẩn bị tốt, đấu tranh cho cuộc trưng cầu dân ý tiếp theo trong hơn 10 tháng tới.

Xem xét về mặt kỹ thuật, cuộc trưng cầu dân ý lần hai ở Anh có rất nhiều hình thức khả thi: Một là biểu quyết một cách đơn giản giữa Brexit và ở lại EU, nhưng xem xét đến cục diện bế tắc Brexit hiện nay, khả năng thực hiện hình thức này không lớn. Hai là tổ chức trưng cầu dân ý toàn dân về thỏa thuận Brexit. Lựa chọn hình thức trưng cầu dân ý có thể không phải là mô hình đơn giản có ủng hộ thỏa thuận Brexit hay không, mà là lựa chọn giữa cử tri ủng hộ thỏa thuận này và việc ở lại EU hoặc đồng ý hai lựa chọn giữa thỏa thuận Brexit, Brexit mà không có thỏa thuận và ở lại EU, tìm kiếm phương án cao nhất về tỷ lệ ủng hộ. Ba là trưng cầu dân ý hai vấn đề, đó chính là đưa ra đáp án đối với vấn đề Brexit, Brexit cứng, Brexit mềm. Nếu xuất hiện kết quả là Brexit thì căn cứ vào vấn đề thứ hai để quyết định lộ trình Brexit trong tương lai.

Phe thân EU mong muốn Anh đảo ngược Brexit cũng đối mặt với rất nhiều nhân tố hạn chế. Một là Chính phủ Anh và phe hoài nghi EU đều sẽ thực hiện kết quả của cuộc trưng cầu dân ý năm 2016, đồng ý với bảo vệ chế độ dân chủ, sẽ chiếm ưu thế về quyền phát ngôn. Nếu xuất hiện kết quả đảo ngược Brexit trong cuộc trưng cầu dân ý lần hai thì sẽ làm gia tăng sự đối lập giữa tầng lớp tinh hoa và dân chúng, gây chia rẽ xã hội. Hai là thái độ hoài nghi EU thâm căn cố đế của người Anh vẫn quyết liệt, tính khó lường của kết quả cuộc trưng cầu dân ý vẫn tồn tại. Ba là người Anh vốn có tâm lý tự hào nước lớn, được hình thành trong thời gian dài, đối mặt với thái độ cứng rắn của EU trong quá trình đàm phán, danh dự của họ bị tổn thương, thúc đẩy một số cử tri chuyển sang ủng hộ Brexit.

Tình trạng bế tắc của Brexit và sự chuyển đổi mô hình chính trị ở Anh

Tình trạng bế tắc và cuộc đọ sức trong cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 đến nay là kết quả của diễn biến lịch sử phức tạp của quan hệ Anh – EU, trong bối cảnh toàn cầu hóa và liên kết châu Âu, thách thức mà nền chính trị Anh đối mặt trong thời gian dài liên quan chặt chẽ đến sức ép cải cách. Hai nhân tố này tác động lẫn nhau, khiến nền chính trị Anh thể hiện xu hướng chuyển đổi mô hình hơn nữa.

Thể chế hiến pháp về chủ quyền của quốc hội bị thách thức bởi trưng cầu dân ý toàn dân

Lâu nay, nguyên tắc quyền quốc hội luôn là hòn đá tảng của hiến pháp và chế độ chính trị của Anh, cuộc trưng cầu dân ý từ năm 2016 đã trực tiếp loại bỏ hình thức dân chủ. Những năm gần đây, mô hình dân chủ tinh hoa truyền thống Wesminster đang phải đứng trước thách thức. Cùng với đòi hỏi xã hội ngày càng đa dạng, dân chủ tham gia, địa vị chính trị, chủ nghĩa dân túy trỗi dậy, các chính đảng chủ lưu xuất phát từ những toan tính như chính trị qua bầu cử, không muốn gánh vác trách nhiệm trong một số vấn đề gây bất đồng xã hội lớn, bắt đầu nhờ đến phương thức trưng cầu dân ý toàn dân để thực hiện quyết sách. Nước Anh đã tiến hành 3 cuộc trưng cầu dân ý toàn dân kể từ khi khởi động trưng cầu dân ý về Cộng đồng châu Âu năm 1975. Kết quả biểu quyết trong cuộc trưng cầu dân ý năm 1975 và cuộc trưng cầu dân ý về cơ chế bầu cử năm 2011 đều chưa có sự thay đổi thực chất về tiến trình chính trị, kinh tế và xã hội Anh. Tuy nhiên, kết quả của cuộc trưng cầu dân ý năm 2016 đã gây ảnh hưởng mang tính cách mạng lâu dài, cuộc trưng cầu dân ý toàn dân trên thực tế bắt đầu đóng vai trò “Viện thứ ba của quốc hội” mà các học giả Anh đã đưa ra.

Thách thức của tình trạng bế tắc Brexit đối với quyền lực của quốc hội chủ yếu thể hiện: Trước hết, sự trái ngược giữa kết quả trưng cầu dân ý và xu hướng thân EU của giới tinh hoa chính trị Anh là cơ sở quan trọng để giải thích tính phức tạp và tính khó lường của tiến trình Brexit, cho thấy xu thế căng thẳng gia tăng trong vấn đề thỏa thuận Brexit khi giải pháp cuối cùng để rời khỏi EU được quyết định. Trong cơ chế hiến pháp Anh mà cải cách từng bước trở thành trạng thái bình thường, sự mơ hồ và tính khó lường của nguyên tắc quyền lực quốc hội và hiệu lực của trưng cầu dân ý có rủi ro gây ra khủng hoảng hiến pháp. Thứ hai, ưu tiên kết quả trưng cầu dân ý hay là quyền lực của quốc hội trở thành vấn đề cần được giải đáp về lý luận và thực tiễn, làm gia tăng tính khó lường trong lựa chọn giải pháp Brexit. Tuyên truyền về chân tướng của chủ nghĩa dân túy khiến cho dân chúng, quốc hội và chính phủ khó đưa ra lựa chọn hơn. Thứ ba, do tình hình bế tắc Brexit hiện nay, phương án phá vỡ thế bế tắc mà phe thân EU đưa ra vẫn hướng đến cuộc trưng cầu dân ý lần hai. Nếu cuối cùng xuất hiện cục diện dựa vào cuộc trưng cầu dân ý lần hai để quyết định kết quả Brexit, thì địa vị hiến pháp của cuộc trưng cầu dân ý với vai trò trọng tài đối với quyết sách quan trọng sẽ được tăng cường xác lập, đồng thời cũng có thể gia tăng sự đối đầu giữa giới tinh hoa xã hội và dân chúng Anh, gây tranh luận về tính hợp pháp của nền dân chủ. Cuối cùng, sự khác biệt về chủ trương Brexit của các vùng thuộc Anh đã tạo ra vấn đề mới liên quan đến truyền thống quyền lực của quốc hội, Hiến pháp chung năm 1707 và 1800 về Liên hiệp Anh. Một số chính trị gia Anh hết lòng ủng hộ tính hợp pháp của quốc gia liên hiệp Anh bắt nguồn từ sự đồng ý của nhân dân các khu vực, đó là cơ sở pháp lý mang tính chất hiệp ước quốc tế của “Đạo luật chung” để Scotland và Ireland gia nhập Anh, những phát ngôn của họ ngày càng được tăng cường do tần suất sử dụng các cuộc trưng cầu dân ý.

Mối quan hệ giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp đối mặt với sức ép tái cơ cấu

Lâu nay, người Anh luôn tự hào với thể chế chính trị ổn định. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lãnh đạo đảng cầm quyền lấy biện pháp đoàn kết trong nội bộ đảng và kỷ luật đảng để kiểm soát hoạt động bỏ phiếu các chương trình nghị sự của đảng đó, đặc biệt là trong vận hành chính trị, đảng cầm quyền có đa số ổn định trên thực tế có không gian rất lớn để thao túng quyền lập pháp, xuất hiện tình trạng quyền hành pháp của chính phủ quá lớn, không ngừng gây thiệt hại đến quyền lập pháp. Trong thời kỳ đầu của tiến trình Brexit, phe diều hầu hoài nghi EU kiên trì lập trường không thỏa hiệp, trong khi phe thân EU lại không ngừng phải thỏa hiệp vì ràng buộc kép là sự đúng đắn về chính trị khi tôn trọng kết quả trưng cầu dân ý và duy trì đoàn kết trong nội bộ đảng. Chính phủ Anh ngày càng gia tăng tầm quan trọng của việc người dân ủy quyền trong môi trường chính trị, nhấn mạnh ý chí của nhân dân thể hiện trong cuộc trưng cầu dân ý là nhiệm vụ của chính phủ, đóng vai trò người chịu trách nhiệm cụ thể cho kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, tiến tới tăng cường khả năng cưỡng chế của chính quyền. Khi tiến trình đàm phán đi vào chiều sâu, cuộc đọ sức tranh giành quyền kiểm soát Brexit giữa quốc hội Anh là bên nhìn chung có xu hướng Brexit mềm với Chính phủ Anh là bên kiên trì lập trường Brexit dần dần leo thang, đạt đến tình trạng công khai trong tranh luận thỏa thuận Brexit. Brexit dẫn đến cuộc bầu cử năm 2017 đã xuất hiện một quốc hội bị mất quyền lực và một chính phủ của phe thiểu số, ở mức độ nhất định làm suy yếu vị thế quyền hành pháp chính trị ở Anh vốn không ngừng được tăng cường sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng đồng thời, sự bất đồng trong nội bộ các chính đảng, các nhóm gồm nhiều đảng phái xuất hiện xung quanh Brexit cũng gây khó khăn cho lập trường đạt được đa số phiếu ủng hộ tại quốc hội. Trong giai đoạn cuối cùng của tiến trình Brexit, cuộc đọ sức giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp đối mặt với cục diện phức tạp hơn.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Thế giới đương đại (TQ)

TLTKĐB – 02/03/2019

Về tam giác Mỹ – Châu Âu – Nga – Phần cuối


5/ Sự trở lại của nước Nga toàn cầu

Một đặc tính then chốt khác của cuộc đối đầu mới giữa Nga và phương Tây kết hợp các yếu tố cũ và mới là những tham vọng và tầm với ngày càng mang tính toàn cầu của chính sách đối ngoại của Nga. Đã qua rồi những ngày mà các nguồn năng lượng của Nga gần như chỉ tập trung vào việc bảo tồn tàn dư của đế chế cũ dưới danh nghĩa “phạm vi lợi ích đặc quyền”. Sự cạnh tranh giữa Nga và phương Tây giờ đây mang tính toàn cầu.

Vai trò của Nga là một “quốc gia không thể thiếu” ở Trung Đông giờ được chấp nhận rộng rãi là một sự thật. Sự can thiệp quân sự vào Syria bắt đầu vào năm 2015 và vai trò mang tính quyết định mà họ nắm giữ trong việc làm thay đổi chiều hướng của cuộc nội chiến Syria đã đặt Nga vào vị trí là bên tham gia chủ chốt không chỉ trong cuộc xung đột đó mà còn trong bối cảnh Trung Đông rộng lớn hơn. Kể từ đó, Nga đã tham gia các hoạt động ngoại giao tích cực trên toàn khu vực vịnh Perisa, tiến hành một cuộc tập trận quân sự chung với Ai Cập, và tự đặt mình vào vị trí là một trong các bên trung gian thích hợp trong bất cứ giải pháp tương lai nào ở Libya. Có tất cả điều đó trong khi nước này cũng có quan hệ với Israel mà các nhà quan sát gần gũi cho rằng đó là tốt nhất từ trước đến nay.

Có thể nhìn thấy bằng chứng của các tham vọng và tầm với của Nga ở Venezuela, nơi mà Rosneft đang bận thực hiện các thỏa thuận và cứu giúp Chính quyền Maduro. Ở Nam Phi, tập đoàn năng lượng hạt nhân độc quyền thuộc sở hữu của nhà nước Nga Roastom đã ký một hợp đồng lớn với Chính quyền Zuma để xây dựng một loạt nhà máy điện hạt nhân. Ở Mexico, những cáo buộc về việc Nga can thiệp vào chiến dịch tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 1/7 đã làm dấy lên những quan ngại về việc Andres Manuel Lopez Obrador bị cáo buộc có quan hệ với Moskva.

Sự can thiệp của Nga vào chính trị nội bộ của nhiều nước châu Âu và Mỹ đã trở thành mối quan ngại chung của các quan chức ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương. Theo quan điểm của nhiều quan chức Nga mà từ lâu đã cáo buộc Mỹ can thiệp vào chính trị Nga, việc Nga can thiệp vào chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016, cũng như các hoạt động bị nghi ngờ trong cuộc bỏ phiếu cho Brexit, trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp, trong cuộc trưng cầu dân ý về độc lập của Catalunya… là điều hoàn toàn bình thường – gậy ông đập lưng ông. Đó cũng khó có thể là một hiện tượng mới, giống như việc những giai đoạn trước đó, trong Chiến tranh Lạnh, đầy tin đồn về các điệp vụ cộng sản và “nỗi sợ cộng sản” Sự mới mẻ của tình hình hiện tại chủ yếu nằm ở các công cụ mới và có sức mạnh lớn hơn nhiều do công nghệ tạo ra để các điệp viên nhà nước Nga có thể tùy ý sử dụng và ở tầm với của họ như là kết quả của điều đó.

6/ Phương Tây và Nga từ đây sẽ đi về đâu?

Tình trạng hiện tại giữa Nga và phương Tây còn kéo dài. Đó là sản phẩm của một vài nhân tố cấu trúc quan trọng, kinh nghiệm cá nhân của những người ra quyết định then chốt, và di sản của các giai đoạn trước đó. Việc trông mong Nga thay đổi chính sách của họ dưới sức ép của những khó khăn về kinh tế khó có thể là một đề xuất mang tính thực tế – tiền tệ của Nga mất đi một nửa giá trị của nó trong năm 2014 – 2015, và Điện Kremlin chỉ tăng cường các hoạt động của họ ở Trung Đông, châu Âu và Mỹ.

Điều cũng khó có thể xảy ra là triển vọng về sự thay đổi nội bộ của Nga. Các chính sách nhằm khuyến khích điều này hay việc trông mong điều đó xảy ra có khả năng sẽ gây thất vọng và tổn hại. Trong khi điều này ngày càng đúng thì theo lời của một nhà ngoại giao cấp cao của Mỹ, phương Tây nên ngừng đối xử với Nga như một dự án cải cách.

Cả Nga và phương Tây đều không bằng lòng với nguyên trạng. Cả Nga và phương Tây đều không hứng thú với việc leo thang căng thẳng. Nhưng cả hai đều không sẵn sàng rút lui. Tình trạng này quả thực gợi nhớ đến Chiến Tranh Lạnh. Có lẽ một số bài học từ Chiến tranh Lạnh có thể tỏ ra thích hợp đối với việc quản lý mối quan hệ này.

Đứng đầu danh sách là một số biện pháp dự phòng quen thuộc nhưng quan trọng: chấp nhận tình trạng này và sự cần thiếp phải kiểm soát nó, thay vì cố gắng giải quyết nó bắt đầu từ những giả định phi thực tế; duy trì các kênh liên lạc; tránh những sự hiểu lầm; thực hiện mọi nỗ lực để hiểu rõ những động lực thúc đẩy của bên kia và những động cơ đằng sau các hành động của họ, kể cả những sự kiện dường như không liên quan.

Các bài học khác từ Chiến tranh Lạnh bao gồm việc chắc chắn rằng không ai ở cả hai bên đường biên giới Đông – Tây có bất kỳ nghi ngờ nào về độ tin cậy của biện pháp răn đe và cam kết của NATO về việc bảo vệ các nước láng giềng của mình. Điều này đòi hỏi phải có một nỗ lực mới, mạnh mẽ khiến liên minh này suy nghĩ lại về những gì họ cần làm để ngăn chặn một đối thủ ở nhiều lĩnh vực, thúc đẩy giới hạn của sự sáng tạo và tận dụng triệt để lợi thế công nghệ mà họ có được và sẵn sàng duy trì nó trong tương lai gần.

Một bài học có liên quan từ kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh là tính hữu dụng, thậm chí là sự cần thiết, của các giải pháp hai lộ trình: sự vững vàng, quyết tâm và độ tin cậy của cam kết bảo vệ và ngăn chặn cần phải được kết hợp với một cánh cửa để ngỏ cho đàm phán. Điều này đòi hỏi các đồng minh phải nhận biết được các mục tiêu ở cuối cả hai lộ trình và các cách tiếp cận chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đó theo một cách mang tính bổ sung, chứ không phải mâu thuẫn nhau.

Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, một trong những bài học quan trọng nhất từ Chiến tranh Lạnh có liên quan đến khả năng các đồng minh có tiếng nói chung và duy trì sự nhất trí giữa họ. Có thể lập luận rằng điều này là một trong những thách thức lớn nhất mà liên minh xuyên Đại Tây Dương đang phải đối mặt hiện nay. Theo lời của Carl Bildt, “hóa ra vấn đề then chốt nhất đối với EU hiện nay không phải là chính sách của Nga mà là chính sách của Trump. Đó có lẽ cũng là thách thức số 1 về chính sách đối ngoại mà chúng ta phải đối mặt hiện nay”. Việc giải quyết nó cũng quan trọng như việc giải quyết thách thức của Nga.

Nguồn: Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế (Italy) – 12/07/2018

TLTKĐB – 10/08/2018