Nhìn lại lịch sử Đảng Cộng sản Pháp – Phần cuối


Những hạn chế của cương lĩnh chung

Cương lĩnh chung không chỉ là một « hình thức liên minh » như sau đó người ta đã nói. Đó là một dự án nhất quán, một chiến lược thực sự nhằm ba mục tiêu : phát hiện những con đường cho một sự tăng trưởng khác xung quanh một khu vực công cộng đã được củng cố, gắn chặt toàn bộ giới làm công ăn lương với những tầng lớp trung lưu xung quanh một dự án xã hội và chính trị hiện đại hóa, đem tới một cơ sở chính trị rõ ràng cho những sự tập hợp ở vòng hai, sự tập hợp đã trở nên cần thiết do phương thức bỏ phiếu theo đa số.

Dù cho nhất quán, chiến lược này vẫn cứ thất bại. Phải chăng là vì nó chỉ nhằm vào những người ở cấp cao nhất ? Như thế chưa đủ. Trong 10 năm (1962 – 1972) những người cộng sản đã phấn đấu để làm cho cương lĩnh chung trở thành một yêu sách rộng rãi, đó là điều mà những người xã hội lúc đầu còn im lặng về sau thì không thể bỏ qua. Nhưng chiến lược của cương lĩnh chung lại có nhiều khiếm khuyết tỏ ra rất tai hại đối với chính nó.

Trước hết, nó ra đời trong một giai đoạn tăng trưởng, khi hoạt động của nhà nước còn có hiệu lực. Lúc đó, không phải là điều vô nghĩa nếu nghĩ đến một chính sách theo kiểu Keynes, mạnh mẽ hơn và mở rộng hơn về mặt xã hội. Nhưng khi cuộc khủng hoảng đã tới, khi vai trò thúc đẩy của nhà nước đã mất đi và sức mạnh của chính sách thay đổi này không còn rõ rệt, như người ta đã thấy vào những năm từ giữa 1981 đến giữa 1983. Phương pháp tiến hành của cương lĩnh hoàn toàn có tính chất nhà nước, điều đó không còn đủ để tư duy về sự biến đổi xã hội và về cách mạng.

Hơn nữa, đảng lại im tiếng trong một thời gian dài. Trong tinh thần những người cộng sản, thắng lợi của cương lĩnh chung mở ra một thời kỳ biến đổi dân chủ. Nhưng làm thế nào để vượt qua những logic kinh tế – xã hội thống trị và nhất là làm thế nào hình dung được chủ nghĩa xã hội mà người ta nói là mục tiêu của những người cộng sản ? Cả ở đây nữa, Đảng Cộng sản Pháp vẫn im tiếng. Hay nói đúng hơn, đảng tiếp tục nghĩ rằng chủ nghĩa xã hội, về bản chất vẫn là sự kế tục những gì đã diễn ra ở Liên Xô bắt đầu từ những năm 1920. Tất nhiên, kể từ những năm 1965 và hơn thế từ 1975, chúng ta đã tách ra xa một cách rõ rệt với những điều tệ hại hiển nhiên nhất của hệ thống. Nhưng sự hình dung xã hội có thể có vẫn được xây dựng dựa trên mô hình ban đầu. Chủ nghĩa cộng sản là gì ? Đó là Liên Xô trừ đi sự thiếu dân chủ. Vì không có sự đoạn tuyệt rõ rệt với mô hình cũ, nên hình ảnh của Đảng Cộng sản Pháp chỉ có thể phụ thuộc vào hình ảnh của Liên Xô và được đánh giá ở mức thấp nhất trong dư luận quần chúng.

Cuối cùng, khi Đảng Cộng sản Pháp đưa ra tư tưởng về cương lĩnh chung thì SFIO đang ở trong một quá trình khủng hoảng liên tục dẫn nó tới bờ vực thẳm vào năm 1969. Vậy mà năm 1971, với sự giúp đỡ của François Mitterrand đối với đảng của Epinay, thì những người xã hội xoay chiều. Họ đổi mới diễn từ của mình, họ biến báo ngôn ngữ và quyết định ký cương lĩnh chung : những người xã hội hoạt động trên mọi lĩnh vực, họ là đồng chủ nhân của cương lĩnh chung, họ nắm lấy những phong trào mới (sinh thái, nữ quyền, tự quản…) và họ phát triển, bên cạnh cương lĩnh, một ngôn ngữ chính trị có dáng dấp ôn hòa và « hiện thực » trên đó họ xây dựng hình ảnh của mình là những người có khả năng quản lý đất nước.

Cùng thời gian đó, Đảng Cộng sản Pháp không bảo vệ cương lĩnh của chính mình mà bảo vệ cương lĩnh chung (với nguyên nhân : đảng đã xây dựng phần chủ yếu trong đó !) ; đảng phê phán những phong trào nảy sinh từ « tinh thần 1968 ». Và trong dư luận đảng vẫn gắn chặt với phe xã hội chủ nghĩa. Như vậy việc xây dựng hình ảnh cộng sản đã trở nên mất cân bằng : hình ảnh đó đã được cải thiện trong những năm 70, nhưng niềm tin tưởng nói chung vào sự án thì bấp bênh. Kết quả : chính là đảng xã hội đã biết lợi dụng được khả năng động viên tăng lên của cánh tả.

Khủng hoảng và đổi mới

Lịch sử hai thập kỷ gần đây đã phần nào chứng minh điều này. Đảng Cộng sản Pháp những năm 80 phải trả giá cho sự thua thiệt hai mặt, đó là những bước chậm trễ để thích nghi rồi cả cách thức khúc mắc mà đảng sử dụng bù đắp sự chậm trễ đó. Vì Đảng Cộng sản Pháp trong những năm khó khăn này không thiếu lòng ham muốn đổi mới. Phong cách của đảng biến đổi, diễn từ của đảng hiện đại hóa và dần dần thoát ra khỏi những trụ cột chủ yếu của hệ thống tư duy cũ : từ bỏ chế độ đảng duy nhất vào đầu những năm 60, từ bỏ « chuyên chính vô sản » vào năm 1976, từ bỏ quan niệm quá gò ép của « phong trào cộng sản quốc tế », giữa 1976 và 1978, cuối cùng là « chủ nghĩa Marx – Lenin » năm 1979. Nhưng những biến đổi đôi lúc đột ngột này không mang lại hiệu quả tức thời, và làm hại đến một chính đảng vẫn muốn rằng nhờ có việc ký cương lĩnh chung được mong đợi từ lâu mà mình sẽ có bước tiến trong bầu cử. Thế nhưng, bước tiến đó đã không diễn ra, mà đúng hơn lại thuộc về phần đảng xã hội.

Phải nói thêm rằng trong giai đoạn không vững chắc này, đảng đã không biết quản lý tình hình đa dạng thực tế trong hàng ngũ mình, bởi vì đảng tiếp tục hoạt động theo những tiêu chuẩn cổ điển của sự nhất trí cộng sản, đúng như thời kỳ Stalin đã ấn định. Sự đa nguyên quan điểm đã làm cho người ta sợ, vì người ta e rằng nó sẽ xâu xé đảng thành nhiều xu hướng. Và như vậy, cuộc khủng hoảng nội bộ bắt đầu từ những năm 78 – 80, sự lùi bước của chủ nghĩa cộng sản châu Âu và những thua thiệt trong bầu cử đã làm mất ổn định chủ nghĩa cộng sản Pháp.

Không có sự quay lại phía sau ; Đảng Cộng sản Pháp không bao giờ rút lui khỏi những bước tiến đã đạt được trước đây, và những phê phán về tình trạng thiếu dân chủ ở Liên Xô. Nhưng công cuộc đổi mới được phác họa trong những năm 60 – 70 đã không được đẩy đến cùng, kể cả về dự án cộng sản, về « chủ nghĩa xã hội hiện thực » và về bản thân đảng. Sự bế tắc không phải là định mệnh, và một ý chí lãnh đạo tập thể hẳn đã có thể cho phép tránh được những hậu quả, giảm nhẹ những rối loạn, những cay đắng và những đau khổ. Cũng phải thấy rằng điều đó đã không diễn ra, tất nhiên vì sự đè nặng ghê gớm của một thứ văn hóa chính trị, sinh ra từ những thập kỷ trước đây, vừa có tầm lớn lao vừa có những hạn chế của nó.

Phải đợi đến sự sụp đổ của Liên Xô và của chủ nghĩa xã hội Đông Âu, sự kết thúc kinh nghiệm Mitterand và nhiều năm rối loạn nội bộ để cho ý muốn làm sáng tỏ mọi chuyện lại được khẳng định và tác động tới quan niệm của đảng. Tháng 6/1993, Georges Marchais đề nghị từ bỏ khái niệm gốc rễ về « tập trung dân chủ » ; tháng Giêng 1994 Đại hội lần thứ 28 thông qua đề nghị này cùng với điều lệ mới, một điều lệ hoàn toàn xây dựng lại. Từ đó « sự chuyển hóa » được đặt vào trung tâm của diễn từ cộng sản.

Vào cuối thế kỷ 20 này, vấn đề cộng sản trở nên hiện đại hơn bao giờ hết, và ở nước Pháp, tồn tại một hoạt động theo kiểu cộng sản phân biệt (không có nghĩa là tách biệt) với những thành phần khác của trào lưu tiến bộ, Đảng Cộng sản Pháp là một hình ảnh biến đổi, tiếng tăm của đồng chí Bí thư toàn quốc rất lớn. Nhưng niềm tin vào lợi ích chính trị của đảng còn chưa đầy đủ. Nội dung hiện thời của dự án và của tổ chức phải chăng đã đầy đủ ? Cuộc tranh luận này không còn là cuộc tranh luận giữa các nhà sử học về lịch sử. Nó là sự lựa chọn tương lai, nó thuộc về toàn đảng.

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Roger Martelli – Regard sur l’histoire du Parti Communiste Français – Les Cahiers du communisme – 10/1996, pp38 – 41.

TĐB 97 – 03.

Advertisements

Nhìn lại lịch sử Đảng Cộng sản Pháp – Phần đầu


Roger Martelli

BBT: Trong quá trình đổi mới (được gọi là chuyển hóa) hiện nay của Đảng Cộng sản Pháp, việc nhìn lại lịch sử của bản thân Đảng có một ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Bài viết này tổng kết một số ý kiến chủ yếu về vấn đề này, và đi từ những điểm cơ bản nhất: suy nghĩ về nguồn gốc sự ra đời của Đảng; điểm lại những cái mốc đồng thời cũng là những bài học lớn trong lịch sử Đảng; đánh giá những sai lầm và những nỗ lực khắc phục sai lầm của Đảng, trong đó sự liên minh với Đảng xã hội và sự tan vỡ của liên minh đó được nhìn nhận lại một cách nghiêm khắc. Bài viết toát lên ý chung khẳng định sự lựa chọn cộng sản là đúng, nhưng đồng thời nêu lên phương hướng hành động sắp tới để cho sự lựa chọn đó vẫn tiếp tục được khẳng định.

Giờ đây Đảng Cộng sản Pháp tiếp tục suy nghĩ về bản thân mình, về chặng đường đã qua và chặng đường sẽ tới. Đảng không làm điều đó theo kiểu trước đây. Đảng không phủ nhận quá khứ, Đảng nhất quyết khẳng định những trang sử vinh quang. Nhưng Đảng cố gắng nhìn thẳng vào lịch sử, tất cả lịch sử của mình, kể cả lịch sử những sai lệch, những giờ phút nặng nề và những lầm lỗi. Điều đó là cần thiết, nhưng không phải là dễ dàng

Suy nghĩ về nguồn gốc

Việc thành lập Đảng Cộng sản Pháp là kết quả của sự lựa chọn của các đại biểu tại Đại hội lần thứ 18 của SFIO [chi nhánh Pháp của Liên hiệp công nhân quốc tế], khi quyết định gia nhập vào Quốc tế Cộng sản. Ngay sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, cần phải có một phong trào công nhân vốn đã mất ổn định vì bốn năm trời xung đột phải trả giá quá đắt. Để có được một sinh khí mới, những chiến sĩ đấu tranh kiên quyết nhất phải tận dụng được một sự kiện và nắm lấy một mô hình. Sự kiến đó là – Cách mạng Tháng Mười, mô hình đó là mô hình những người Bonsevich của Lenin.

Sự lựa chọn này rất hợp lý. Cách mạng Tháng Mười Nga là tấm gương của một cuộc cách mạng thành công và nó làm sống lại ở nước Pháp một truyền thống cách mạng vững chắc. Trong một thời kỳ mà lịch sử sôi sục và châu Âu bốc lửa, thì ở nước Pháp người ta tranh cãi về những mô hình có thể. Phải chọn London hay Moskva, chủ nghĩa xã hội đại nghị của Công đảng hay chủ nghĩa Bonsevich? Thiểu số ưa thích London, đa số chọn Moskva vừa rất xa vừa rất gần.

Phải chăng là Đại hội ở Tours đã lựa chọn đúng? Những chiến sĩ cộng sản ngày nay luôn luôn trả lời một cách khẳng định. Người ta có thể bàn cãi về những hình thức có phần thô bạo trong sự đoạn tuyệt vào cuối năm 1920; nhưng, trong khi gia nhập Quốc tế Cộng sản, các chiến sĩ họp mặt ở Tours đã đem lại sự hồi sinh cho phong trào cách mạng. Ngoài ra, họ thuộc về một thuyết nhị nguyên rất lâu đời trong nội bộ của phong trào tiến bộ, đó là thuyết nhị nguyên nói chung chống lại cả khuynh hướng “Cơ hội” lẫn khuynh hướng “Cực đoan”.

Bắt đầu từ năm 1920, sự phân cực của cánh tả trên địa hạt chính trị thể hiện trước hết ở việc phân biệt giữa những người cộng sản và những người xã hội. Chủ nghĩa cộng sản Pháp đặt trong bối cảnh đất nước không phải là một chuyện tình cờ hay một sáng kiến giả tạo. Nó thuộc về một quỹ đạo quốc tế xuất phát từ cội rễ tư tưởng xã hội và chính trị Pháp. Thời cơ năm 1920 đã dẫn đến sự ra đời của một đảng chính trị Pháp, thời cơ đó đã tạo nên cho đảng một hình thức phổ biến, hình thức của phong trào cộng sản thế kỷ 20.

Cắm vào mảnh đất nước Pháp, Đảng Cộng sản Pháp, ngay từ những năm đầu tiên, đã tìm được chỗ đứng không thể nào coi thường. Nhưng, dù sao, lúc đầu chỗ đứng vẫn còn mong manh. Giữa năm 1927 và 1934 Đảng cộng sản Pháp bị gò vào một định hướng hẹp hòi và bè phái theo ý muốn của Quốc tế cộng sản (chiến lược gọi là “giai cấp đấu tranh chống giai cấp”). Chiến lược này trong một thời gian đã cắt đứt đảng khỏi truyền thống dân chủ và bình dân của Pháp. Cho tới năm 1934, Đảng Cộng sản Pháp vẫn được chấp nhận về mặt xã hội, nhưng về mặt chính trị Đảng không được sự thừa nhận của ngay những con người vẫn cho là đảng có ích trên địa hạt hoạt động công đoàn, đô thị, hay hoạt động liên hiệp.

Phải đợi đến bước ngoặt chiến lược những năm 1934 – 1935 với sự thắng lợi của đường lối “Mặt trận bình dân” thì chỗ đứng này mới được củng cố và mở rộng. Trong khi phục hồi cuộc chiến đấu thực sự dân chủ và hiệu lực của sự tập hợp, trong khi thể hiện ý chí đó qua cuộc chiến đấu chống phát xít rồi cuộc kháng chiến, Đảng Cộng sản Pháp đã đẩy lùi những nguy cơ cô lập và trở thành một yếu tố quan trọng trên địa bàn xã hội và chính trị ở Pháp. Còn lực lượng của đảng ở đâu? Đảng đồng thời gánh vác ba chức năng: 1) thể hiện sự đòi hỏi phản kháng và yêu sách của nhân dân, trong khi củng cố vị trí của mình ở công đoàn và ở thành phố; 2) là hiện thân của niềm hy vọng xã hội trong khi dựa vào hình ảnh của Liên bang Xô viết, một hình ảnh vừa có thực vừa tưởng tượng; 3) Đảng xác định một triển vọng hấp dẫn là hiện thực về sự tập hợp, trong khi đề cao mặt trận bình dân và thúc đẩy cuộc kháng chiến trên đất Pháp.

Chính sự kết hợp 3 chức năng này – “bảo vệ nhân dân”, không tưởng và thực sự chính trị – đã tạo nên chủ nghĩa cộng sản ở nước Pháp. Từ đây, Đảng Cộng sản Pháp đã dự phần vào di sản dân tộc.

Những trở lực và những bước tiến lên

Ảnh hưởng của một lực lượng vẫn có thể tồn tại lâu dài và tiếp tục tái sinh ngay khi những hoàn cảnh để nó xuất hiện đã biến đi. Với điều kiện là khuôn khổ chính trị cho hoạt động của nó tiếp tục tương với những chờ đợi, những nhu cầu và những ước mơ của một xã hội. Vấn đề đối với Đảng Cộng sản Pháp là ở chỗ ấy. Trong ba thập kỷ tiếp theo chiến tranh, người ta quen nói rằng xã hội Pháp đã thay đổi nhiều hơn là một thế kỷ rưỡi trước đây, vậy mà trong gần 20 năm từ khi kết thúc chiến tranh cho đến giữa những năm 60, Đảng Cộng sản Pháp vẫn sống trong sự giam hãm của thời kỳ Stalin.

Trong thời kỳ này, với những cuộc đối đầu dữ dội (“chiến tranh lạnh”) cùng thái độ cứng rắn một chiều ở Đông Âu, thì mọi ý đồ làm cho chủ nghĩa cộng sản thích nghi với hoàn cảnh riêng đều bị coi là sự đầu hàng trước kẻ thù, thậm chí coi như sự chối bỏ. Đảng Cộng sản Pháp không biết đến tấn bi kịch của chủ nghĩa cộng sản cầm quyền, nhưng ở nước Pháp, Đảng đã phải trả giá cho những hậu quả của sự mù quáng đó.

Năm 1956, vào dịp Đại hội lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô, một cơ hội đã mở ra ở Moskva để cho chủ nghĩa cộng sản có thể thích nghi với thế giới đang vận động. Ban lãnh đạo Pháp đã không muốn rút ra những bài học cho chính mình bởi vì họ tự giam hãm mình trong việc từ chối phê phán Stalin. Quá trình đổi mới đã ngừng lại giữa đường từ 1945 đến 1947 và rồi bị bác bỏ vào năm 1956. Đảng Cộng sản Pháp vẫn luôn luôn có ích trong những cuộc đấu tranh về tiền lương hay chống chủ nghĩa thực dân, nhưng hiệu quả của nó đã giảm bớt. Và ảnh hưởng của nó lại một lần nữa bị tổn hại khi De Gaulle lên cầm quyền vào năm 1958.

Sự thực là vấn đề đã bắt đầu được sáng tỏ từ những năm 60, do sự thúc đẩy của Waldeck Rochet, rồi của Georges Marchais. Trong vài năm, Đảng Cộng sản Pháp có chuyển biến, theo một sự vận động phức tạp lên đến đỉnh cao vào năm 1976, khi Đại hội lần thứ 22 thông qua đề nghị của Georges Marchais là từ bỏ quan niệm “chuyên chính vô sản” về mặt lý luận và thực tiễn. Nhưng tất cả điều đó diễn ra trong một khuôn khổ chiến lược bị cương lĩnh chung khống chế và trong một hình thức chính trị không muốn đoạn tuyệt với mô hình ban đầu về “tập trung dân chủ”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Roger Martelli – Regard sur l’histoire du Parti Communiste Français – Les Cahiers du communisme – 10/1996, pp38 – 41.

TĐB 97 – 03.

Catalunya tuyên bố độc lập: Khúc dạo đầu cho sự chia rẽ lớn của châu Âu


Ngày 27/10, trong tình hình không có bất cứ dấu hiệu nào báo trước, các nghị sĩ vùng Catalunya đã nhanh chóng tuyên bố độc lập sau một cuộc bỏ phiếu kín. Trong vòng chưa đầy nửa tiếng, Thượng viện Tây Ban Nha đã phê chuẩn khởi động điều 155 “nằm ngủ yên” trong Hiến pháp Tây Ban Nha gần 40 năm qua, điều khoản này ủng hộ chính quyền trung ương nhanh chóng bãi miễn thủ hiến và chính quyền tự trị trong tình hình hiện nay, đồng thời thực thi tiếp quản trực tiếp đối với Catalunya.

Ngày 30/10, Chính phủ Tây Ban Nha đã tiếp quản quyền tự trị của Catalunya, đồng thời cho biết thủ hiến Puigdemont đã chạy trốn tới Bỉ. Tòa án Tây Ban Nha cũng cho biết sẽ khởi tố các tội danh nổi loạn, kích động và lạm dụng công quỹ đối với Puigdemont.

Xung quanh tình hình châu Âu, Tây Ban Nha cũng như Catalunya gần đây, phóng viên trang mạng ippreview.com (-) đã có cuộc trao đổi với giáo sư Trịnh Vĩnh Niên (+), Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Á, Đại học quốc gia Singapore về vấn đề này.

Sự phát triển kinh tế của các khu vực khác nhau trong cùng một nước không đồng đều là việc rất bình thường, nhưng vì sao việc vùng Catalunya có khuynh hướng độc lập do không muốn hỗ trợ cho các khu vực lạc hậu hơn lại là một việc đặc biệt nghiêm trọng ở châu Âu?

– Catalunya là khu vực từ lâu đã có khuynh hướng đi theo chế độ độc lập tự trị ở châu Âu. Trong cuộc trưng cầu dân ý độc lập của vùng Catalunya, khẩu hiệu động viên quan trọng nhất của các chính gia địa phương là họ đã đóng góp hơn 20% GDP cho Tây Ban Nha chỉ với 16% dân số của cả nước, nhưng lại nhận được chưa tới 14% sự hỗ trợ tài chính từ chính quyền trung ương, họ không muốn tiếp tục bị chính quyền trung ương “bóc lột”. Lý do này khiến nhiều người có thể hiểu và cũng thấy khó hiểu. Điều có thể hiểu là nếu người dân vùng Catalunya thực sự phải hỗ trợ trong thời gian dài cho các khu vực nghèo khó, xét về mặt tài chính đơn thuần quả thực hoàn toàn là bất công, thì họ tìm kiếm độc lập là có thể hiểu; điều khó hiểu là, ngoài một số ít quốc gia dân tộc, sự phát triển kinh tế của các dân tộc và các khu vực tương ứng ở phần lớn các nước là không đồng đều, người dân ở các khu vực giàu có nộp thuế cao hơn người dân các khu vực tương đối lạc hậu là bình thường, tại sao mâu thuẫn giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương ở các khu vực giàu có thuộc châu Âu lại gay gắt đến như vậy? Ở châu Âu, không riêng Catalunya, các khu vực giàu có ở Pháp, Bỉ, Italy những năm gần đây cũng đang bắt đầu tìm kiếm quyền tự trị thậm chí độc lập. Ngày 22/10, người dân của hai khu vực Lombardy à Veneto thuộc miền Bắc Italy đã đi bỏ phiếu trong cuộc trưng cầu ý dân về việc đòi quyền tự trị. Ông có thể phân tích các lý do xảy ra hiện tượng này ở châu Âu?

+ Lý do ở đây cũng rất phức tạp. Theo tôi có ba lý do rất quan trọng.

Thứ nhất là nguyên nhân mang tính kết cấu, tức là mâu thuẫn giữa các quốc gia có chủ quyền ở châu Âu và giữa các nước liên minh châu Âu (EU). Sở dĩ trong những năm gần đây châu Âu xuất hiện xu thế các khu vực kinh tế phát triển dồn dập tìm kiếm quyền tự trị nhiều hơn, thậm chí xu hướng độc lập là có liên quan tới việc nhiều chức năng chính của chính phủ trung ương đã được nhượng cho các tổ chức siêu quốc gia của châu Âu sau khi thực hiện quá trình hội nhập. Cái gọi là tiến trình hội nhập châu Âu có 3 nội dung quan trọng: EU, đồng euro và Schengen.

Hội nhập châu Âu có nghĩa là các nước thành viên sẽ thống nhất chính sách và vận hành phối hợp trong các lĩnh vực kinh tế – thương mại, công nghệ tiên tiến (năng lượng nguyên tử), giáo dục và khoa học công nghệ; Khu vực đồng euro (Eurozone) có nghĩa là các thành viên trong khu vực thống nhất chuyển quyền phát hành tiền cho Ngân hàng trung ương châu Âu để phát hành đồng tiền chung euro; các nước Schengen là chỉ biên giới thống nhất với bên ngoài, song vẫn có một số trường hợp đặc biệt. Một quốc gia quan trọng của châu Âu là Anh gia nhập EU, nhưng không tham gia khu vực Schengen và Eurozone, vì vậy cuộc đàm phán ra khỏi EU của người Anh chỉ cần đàm phán về việc ra khỏi EU. Một nước lớn tài chính khác của châu Âu là Thụy Sĩ chỉ tham gia khu vực Schengen, không gia nhập EU và Eurozone. Những năm gần đây, một số vùng ở các nước châu Âu mà chủ yếu là ở Italy, Pháp, Tây Ban Nha và Bỉ đã tìm kiếm quyền tự trị thậm chí là độc lập do sự phát triển kinh tế không đồng đều (cuộc trưng cầu dân ý ở Scotland thuộc Anh không phải là do nền kinh tế của vùng Scotland ưu việt hơn phần còn lại của Anh). Điểm chung của các quốc gia này là họ đều là những nước hội nhập châu Âu triệt để nhất như gia nhập EU, Eurozone và hiệp ước Schengen. Chính phủ trung ương của các nước này sẽ không còn các chức năng quan trọng của quốc gia chủ quyền như điều tiết và khống chế tiền tệ, quản lý biên giới và điều tiết thương mại. Ví dụ như Catalunya có 3 ngành trụ cột là bất động sản, thương mại xuất khẩu và ngành du lịch. Trước khi Tây Ban Nha hội nhập châu Âu, chính sách tiền tệ của chính quyền trung ương sẽ có ảnh hưởng lớn đến giá bất động sản, chính sách thuế quan sẽ có tác động đến thương mại xuất nhập khẩu, việc quản lý biên giới có liên quan chặt chẽ với ngành du lịch địa phương. Vì vậy, trước khi hội nhập châu Âu, Chính phủ trung ương Tây Ban Nha và chính quyền địa phương Catalunya có mối quan hệ chặt chẽ, mặc dù chính quyền địa phương phải nộp thuế ở mức tương đối cao hơn so với các khu vực khác, nhưng đồng thời chính quyền trung ương phải có nghĩa vụ điều tiết kinh tế vĩ mô và quản lý biên giới để đảm bảo sự phát triển cho vùng Catalunya; quá trình chính quyền trung ương ban hành và thực hiện những sự điều tiết vĩ mô này cũng là quá trình họ kiểm soát và đọ sức với chính quyền địa phương. Sau khi Tây Ban Nha hội nhập châu Âu, không có sự thay đổi đáng kể về thuế của vùng Catalunya, nhưng chính quyền trung ương lại không còn nhiều chức năng như kiểm soát tiền tệ, chính sách thuế và quản lý biên giới với tư cách quốc gia có chủ quyền. Khi đó, chính quyền trung ương không chỉ bị suy yếu về mặt năng lực trong cuộc đọ sức với địa phương, mà còn trở nên “rất đáng ghét” bởi vì dường như vẫn tiếp tục lấy tiền nhưng không còn thực hiện nhiều nghĩa vụ tương ứng nữa. Đấy là những lý do quan trọng khiến các khu vực kinh tế phát triển ở các quốc gia cốt lõi tham gia triệt để tiến trình hội nhập châu Âu như Italy, Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ bắt đầu tìm kiếm quyền tự trị hơn nữa thậm chí là độc lập.

Yếu tố thứ hai là kinh tế. Trên thực tế, kết quả tiêu cực trước hết sẽ thể hiện ở khía cạnh kinh tế. EU đã từ hội nhập kinh tế dần dần quá độ sang hội nhập chính trị. Điều thú vị là trong giai đoạn hội nhập kinh tế, các nước EU đã thu được rất nhiều lợi ích từ quá trình hội nhập. Chính vì điều đó, người dân có những kỳ vọng lớn đối với EU; đồng thời cũng hối thúc EU chuyển sang hội nhập về chính trị. Tuy nhiên, việc hội nhập chính trị đã có những tác động rất tiêu cực đến nền kinh tế. Khi nền kinh tế tốt có nghĩa à các quốc gia có thể được lợi từ EU, nhiều vấn đề được che đậy. Nhưng bây giờ nền kinh tế không tốt, nhiều vấn đề sẽ lập tức xuất hiện.

Yếu tố thứ ba là sự đồng thuận chính trị. Điều này cũng liên quan đến nền kinh tế. Khi nền kinh tế tốt, sự đồng thuận chính trị không có chỗ đứng. Nhưng khi nền kinh tế không tốt, người ta phải tìm kiếm sự đồng thuận chính trị. Hiện tượng rất không bình thường của việc Anh ra khỏi châu Âu và cuộc bầu cử ở Mỹ có mối liên quan với sự đồng thuận chính trị. Điều tương tự này cũng đúng với cuộc trưng cầu dân ý ở Catalunya. Vào lúc này, các chính khách ủng hộ độc lập cho Catalunya mà đứng đầu là vị thủ hiến đã chạy trốn tập thể sang Bỉ và xin tị nạn chính trị vì họ đã bị Chính phủ Tây Ban Nha khởi kiện vì nổi dậy và rất có thể bị kết án 30 năm tù giam. Nếu các chính trị gia này thực sự muốn tìm kiếm sự độc lập cho vùng Catalunya, tại sao họ lại đơn phương tuyên bố độc lập trong tình hình mọi việc chưa chín muồi và sau đó cùng chạy trốn? Hành vi giống như trò hề của các chính trị gia này cũng cho mọi người thấy sự biến chất đến mức độ nào của các chính trị gia phương Tây.

Lý do cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh của Tây Ban Nha trong 2 năm gần đây là gì, là kết quả của sự can thiệp trong trạng thái vô chính phủ? Nếu nền kinh tế có thể tiếp tục phát triển thì có thể tháo gỡ được mâu thuẫn của sự chia rẽ?

– Nếu ngòi nổ chính của cuộc trưng cầu dân ý đòi độc lập này là kinh tế, liệu Chính phủ trung ương Tây Ban Nha có thể thông qua việc không nhượng chức năng cho tổ chức siêu chủ quyền của châu Âu, thông qua biện pháp phát triển kinh tế để hàn gắn những rạn nứt hiện nay? Trong 2 năm qua, Tây Ban Nha từng được biết đến như là điểm sáng của nền kinh tế châu Âu. Năm 2016, Tây Ban Nha cũng là quốc gia có mức tăng trưởng GDP ở mức 3% trong số ít nước châu Âu. Đáng chú ý là sự tăng trưởng kinh tế này đạt được trong tình hình sau cuộc bầu cử thứ hai, Chính quyền trung ương Tây Ban Nha vẫn gặp khó khăn trong việc thành lập nội các, được thực hiện trong “trạng thái vô chính phủ” như người dân thường nói. Ông đánh giá như thế nào về nền kinh tế của Tây Ban Nha? Nếu nền kinh tế Tây Ban Nha tiếp tục được cải thiện thì có thể làm giảm xu hướng chia rẽ như hiện nay không?

+ Đã có rất nhiều học giả quan tâm thảo luận về việc liệu chính phủ có nên can thiệp vào nền kinh tế. Trên thực tế, đây là một mệnh đề giả bởi vì trong cuộc sống thực tế không có nền kinh tế thực nào vận hành mà không có sự can thiệp của chính phủ. Những gì chúng ta nên thảo luận là chính phủ nên xây dựng chính sách kinh tế và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của xã hội như thế nào. Sự tăng trưởng kinh tế của Tây Ban Nha trong 2 năm qua không phải là kết quả của “tình trạng vô chính phủ”. Cái gọi là “vô chính phủ” ở đây nhằm ý nói trong 2 cuộc bầu cử vào tháng 12/2015 và tháng 6/2016, không một chính đảng nào ở Tây Ban Nha đạt được số ghế quá bán để một mình thành lập nội các, cũng không đạt được thỏa thuận về việc thành lập chính phủ liên minh, nên vẫn chưa có nội các hoàn chỉnh để có thể cầm quyền ổn định hợp pháp. Trong sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Tây Ban Nha 2 năm qua, chính sách kinh tế quan trọng nhất là sự điều chỉnh lớn về người nhập cư của chính phủ khóa trước vào trước năm 2015. Chính sách nhập cư mới đã nới lỏng các yêu cầu đối với tuổi của con cái, trẻ quá độ tuổi chỉ cần cung cấp giấy tờ chứng minh chưa kết hôn, không có khả năng kinh tế thì có thể cùng với người nộp đơn di cư sang Tây Ban Nha. Ngoài ra dự luật mới cũng thê vào điều khoản cha mẹ có thể đi kèm, chỉ cần mua một bất động sản 500.000 euro ở Tây Ban Nha là có thể đưa cả gia đình 3 thế hệ di dân đến nước này. Chính sách nhập cư kiểu này, trong tình hình Mỹ và Đông Nam Á thắt chặt số lượng người nhập cư, rõ ràng đã tạo cho Tây Ban Nha số lượng lớn người nhập cư nhờ đầu tư bất động sản, đồng thời nâng giá bất động sản ở địa phương. Do sự thúc đẩy của chính sách nhập cư do đầu tư bất động sản, Tây Ban Nha một mặt nâng cao GDP, mặt khác cũng làm dịu đi cuộc khủng hoảng nợ do bong bóng nhà đất bùng nổ trong năm 2007.

Tuy nhiên, trên thế giới không một cường quốc kinh tế nào dựa vào bất động sản để giàu có, trái lại, sự thịnh vượng bất thường dựa vào bất động sản có thể phá hủy một cường quốc kinh tế. Việc Tây Ban Nha dựa vào sự đầu tư của một số lượng lớn người nhập cư để “tiêu hóa” bong bóng bất động sản trong ngắn hạn vẫn được xem là một sách lược kinh tế hiệu quả, nhưng sách lược này không bền vững và cũng không thể giảm bớt những khó khăn về kinh tế của người dân, đó là lý do giải thích tại sao sự tăng trưởng kinh tế đến 3% không thể khiến đảng cầm quyền được người dân công nhận. Trong 2 năm qua, chỉ có khủng hoảng nợ phần nào dịu bớt, còn tỷ lệ thất nghiệp giảm không đáng kể, vẫn tới 25%, cao hơn hiều so với mức trung bình của EU. Nghiêm trọng hơn là tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên nước này là 50%, một nửa ố người trẻ tuổi không thể tìm được việc làm. “Trạng thái vô chính phủ” không phải là một nhân tố cho tăng trưởng GDP trong 2 năm qua cũng như không mang lại bất kỳ sự trợ giúp nào cho sự phục hồi kinh tế của Tây Ban Nha.

Nền kinh tế mới ốm yếu

– Vậy liệu Chính phủ Tây Ban Nha có chính sách thúc đẩy sự phát triển lành mạnh trong dài hạn cho nền kinh tế?

+ Có lẽ là có. Chính phủ Tây Ban Nha luôn thảo luận về vấn đề này. Chính phủ cũng đã thành lập một số nhóm tư vấn để giúp những người trẻ tuổi tìm kiếm và phát triển kinh tế trên Internet. Song có rất ít kênh tài chính giúp những người trẻ tuổi lập nghiệp, số tiền tài trợ cũng rất ít. Số dự án lập nghiệp của toàn bộ Tây Ban Nha vào năm 2016 chỉ có 2663, trong đó chỉ có 100 công ty lớn. Điều này có nghĩa là chỉ có dưới 10 triệu doanh nghiệp mới nổi có quy mô tương đối. Trong một quốc gia với 46 triệu dân thì nó chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Xét từ góc độ này, không khó để hiểu tại sao tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Tây Ban Nha lên đến 50%. Tất cả những điều này cho thấy những nỗ lực của Chính phủ Tây Ban Nha đối với nền kinh tế mới vẫn còn rất hạn chế.

Dưới chế độ dân chủ đại chúng, cuộc bầu cử của chính phủ rất dễ trở thành một cuộc đấu giá phúc lợi. Tây Ban Nha cũng như vậy. Trong tình hình khủng hoảng kinh tế, sự nổi lên của các chính đảng không dẫn đến việc nâng cấp ngành nghề, thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Vì vậy, người dân thực sự không thể mong đợi Chính phủ Tây Ban Nha trong tương lai thúc đẩy sự phát triển kinh tế mới tốt hơn, đồng thời cũng khó tin rằng nền kinh tế Tây Ban Nha trong tương lai sẽ cải thiện về cơ bản.

Nguồn: cn.ippreview.com – 01/11/2017

TLTKĐB – 07/11/2017

Di sản của Thủ tướng Đức Angela Merkel


Nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel đã lên nắm quyền được 12 năm, và nhiệm kỳ tới, mà bà xem ra rất sẵn sàng tiếp tục, dường như sẽ là nhiệm kỳ cuối của bà. Trong nhiệm kỳ này, liệu bà có ý định tạo dựng một cái gì đó lâu dài, có thể coi là di sản?

Cho tới lúc này, bà Merkel tỏ ra ít quan tâm tới vấn đề di sản. Những trợ lý của bà làm việc trong văn phòng thủ tướng vẫn tập trung vào các công việc hàng ngày như thường lệ. Ngay cả vào những thời điểm khó khăn trong năm hỗn loạn nhất của bà, khi 1 triệu người tị nạn ồ ạt đổ vào Đức – chắc chắn là thời điểm khắc nghiệt và cô đơn nhất của bà trong chính phủ, thì bà Merkel vẫn không dành nhiều nỗ lực để thanh minh cho mình và các quyết định của mình, mà đơn giản chỉ muốn giải quyết cho xong vấn đề.

Kết quả là bà được gắn với hai hình ảnh: một bên là kiểu Mẹ Theresa nhân từ và bên kia là một nhà lãnh đạo đang gây bất ổn một cách nguy hiểm cho châu Âu vì không chịu đóng cửa biên giới. Và sau đó, tiếp sau cuộc trưng cầu dân ý về tiến trình Brexit (nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu – EU) và chiến thắng bầu cử của ông Donald Trump, khi tờ New York Times, cùng nhiều báo khác, đột nhiên tuyên bố bà là vị cứu tinh cho trật tự tự do phương Tây, bà Merkel đã lên tiếng úp mở đề cập tới sự khó chịu của bà về điều này. Sau 12 năm, thời kỳ quyền lực của bà Merkel chủ yếu được xác định không phải qua những gì đã diễn ra ở Đức, và rộng hơn là châu Âu, mà là qua những gì chưa xảy ra. Di sản của bà đa phần là lo liệu và giải quyết các cuộc khủng hoảng.

Những thành tựu này thực sự xứng đáng và nhờ rất nhiều vào tài lãnh đạo của bà. Nước Đức đã không phải chịu đựng những khó khăn kinh tế, chủ nghĩa cực đoan chính trị được kiểm soát tốt, thảm họa của nghĩa dân túy vẫn chưa thể bắt rễ. Bất chấp Brexit, EU đa phần vẫn nguyên vẹn, đồng tiền chung sau trải nghiệm suýt tan vỡ vẫn tồn tại và hoạt động tích cực. Một cuộc hiến ở Đông Âu về quyền tự quyết của Ukraine không bị ngăn chặn song đa phần được kiềm chế. Nhờ xử lý cẩn trọng các vấn đề tị nạn, từ Thổ Nhĩ Kỳ tới Mali, bà Merkel và EU đang kiểm soát tốt hơn vấn đề di cư, một thách thức nổi trội trong thế kỷ qua. Không quá phô trương, Đức đã gia tăng thêm quyền lực trong các vấn đề quốc tế trong những năm qua và sẵn sàng tận dụng nó về mặt chính trị. Điều này đã làm thay đổi cán cân quyền lực của châu Âu, song bất chấp tất cả các tín hiệu cảnh báo lịch sử, Đức không tách biệt riêng ra hay một lần nữa lại trở thành kẻ chèn ép người khác. Và, phương Tây, bất chấp mọi mâu thuẫn, vẫn không ngừng tồn tại.

Song tất cả những điều này đặt ra câu hỏi: Nếu bà Merkel tái cử, liệu có điều gì mà bà muốn làm cho nó xảy ra không?

Điều khiến bà Merkel quan ngại nhất là tình trạng thế giới dân chủ tự do. Bà thấy các nền dân chủ đang liên tục bị thách thức, hoặc bởi những người theo chủ nghĩa dân túy ngay bên trong các nền dân chủ này hoặc bởi những nhà độc tài chuyên quyền độc đoán xuất hiện ở khắp thế giới. Không để cho lịch sử lặp lại và châu Âu không quay trở lại chủ nghĩa dân tộc và dân túy, bà muốn EU phải mạnh và an toàn. Nếu châu Âu ổn về kinh tế và đưa ra một tầm nhìn đáng tin cậy cho tất cả, do đó tư tưởng của bà được tiếp tục – đây sẽ là di sản giá trị nhất mà bà có thể để lại. Song giải quyết được vấn đề này rất khó: Làm sao tăng thêm quyền lực cho EU mà không làm suy yếu các nước thành viên? Làm sao đảm bảo được cho đồng euro mà không phải can thiệp quá nhiều tới chủ quyền của mỗi thành viên? Xét cho cùng, người châu Âu, kể cả bà Merkel, chẳng mấy mong muốn chuyển giao thêm quyền lực cho Brussels. Song nói rằng bà Merkel quan tâm tới việc gảii quyết một thách thức lịch sử như vậy chưa thể trả lời được bà sẽ tiếp tục như thế nào. Vì thế, cần thế, cần phải tham khảo những thời điểm trong hàng chục năm hoạt động xã hội của bà đã ảnh hưởng tới tư tưởng của bà về cách thức các chính trị gia có thể, và không thể, tác động tới lịch sử.

Khi bà Merkel quyết định tranh cử nhiệm kỳ thứ tư, ông Donald Trump vừa mới được bầu làm Tổng thống Mỹ, Brexit đang đe dọa phá vỡ EU, và Marine Le Pen có cơ hội tốt để giành được quyền lực ở nước Pháp rồi sau đó chấm dứt ý tưởng về một châu Âu thống nhất. Đây thực sự là các cuộc khủng hoảng, cần phải có một cánh tay vững, và nữ Thủ tướng quyết định rằng Đức, châu Âu và thế giới sẽ ổn hơn nếu có một sự ổn định nào đó theo kiểu Merkel. Rời bỏ quyền lực vào thời điểm quan trọng đó và để mặc sự bất ổn trong tương lai của Đức sẽ phủ bóng đen lên những thành tựu của bà Merekl. Để bảo vệ chúng, bà phải tiếp tục.

Lịch sử đã trả công cho bà bằng cách đưa tới Emmanuel Macron, người đã trở thành Tổng thống Pháp và được bà coi là có khả năng cùng bà tạo nên một khu vực kinh tế châu Âu và đồng tiền chung ổn định và không thể đảo ngược, đủ mạnh để đảm bảo sự thịnh vượng ở lục địa này và ngăn chặn bất cứ chính sách hẹp hòi, chống tự do thương mại của chính quyền ông Trump hay của một Trung Quốc hung hăng ở phía Đông. Nếu tái đắc cử, ưu tiên hàng đầu của bà Merkel sẽ là một chương trình nghị sự EU mà bà muốn thực hiện cùng ông Macron.

Họ đã cam kết đầu tư mạnh vào các cấu trúc phòng thủ châu Âu, và các tiến trình cùng ra quyết định về chính sách đối ngoại. Họ cũng có thể hướng tới một ngân sách chung của khu vực đồng euro đủ mạnh đồng thời khuyến khích cải cách nhằm thúc đẩy sức cạnh tranh kinh tế bên ngoài liên minh. Và cuối cùng họ muốn xây dựng các biện pháp an ninh cho khu vực đồng euro để ngăn đồng tiền này khỏi sụp đổ – như đã từng suýt xảy ra trong những năm khó khăn.

Song không cần bà Merkel phải tự đổi mới mình cho phù hợp với nhiệm vụ đó. Thay đổi các nguyên tắc của EU sẽ là một tiến trình chậm chạp, từ từ. Nó sẽ được làm tốt nhất theo kiểu của bà Merkel. Sau nhiều năm phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết và duy trì đoàn kết, bà Merkel rốt cuộc có thể có cơ hội trở thành một thủ tướng đóng vai trò kiến thiết.

Nguồn: Foreign Policy – 18/09/2017

TKNB – 19/09/2017

Bầu cử tại Đức: Bản tổng kết kinh tế như thế nào dành cho bà Angela Merkel?


Sylvie Matelly

Ngày 24/9 tới, bà Angela Merkel đánh cược sự nghiệp chính trị khi tiếp tục chạy đua vào chức Thủ tướng Đức mà “người đàn bà thép của nước Đức đã nắm quyền từ năm 2005. Nếu không có bất ngờ lớn, Thủ tướng đương nhiệm Merkel sẽ tiếp tục được bầu nhiệm kỳ thứ 4 liên tiếp. Nếu đúng như vậy, bà Merkel sẽ trở thành một trong số ít những nhà lãnh đạo Đức (cùng với Helmut Kohl và Konrad Adenauer) kéo dài 4 nhiệm kỳ liên tục.

Câu hỏi được đặt ra là làm sao có thể kéo dài nhiệm kỳ lâu như vậy trong một thế giới luôn có sự biến động khôn lường và mọi thứ rất nhanh chóng bị đặt thành câu hỏi? Thực tế, Thủ tướng Merkel đã phải đối phó với “sự tỉnh giấc” của Nga, vốn làm phức tạp mối quan hệ của Moskva với các nước châu Âu, phải đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 mà theo đánh giá thì đây là một trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của châu Âu và đã đe dọa sự “tồn vong” của đồng euro, đồng thời cũng phải đối phó với việc nổi lên của chủ nghĩa dân túy trên khắp thế giới và đặc biệt là tại châu Âu trong khi nước Anh đã quyết định rời khỏi Liên minh châu Âu (EU).

Mặt khác, bà Angela Merkel đã phải hứng chịu những lời chỉ trích nặng nề ngay tại nước Đức vào năm 2010, thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng Hy Lạp. Dư luận cũng đặt ra câu hỏi làm thế nào mà bà Merkel có thể dành cả thời gian và tiền bạc cho các quốc gia thuộc “Club Med” (bao gồm các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Italy…) trong khi người Đức phải vật lộn với những khó khăn của cuộc khủng hoảng và sức mua bị chững lại? Báo chí cũng đã tìm cách thổi phồng câu chuyện ông Mario Draghi được bổ nhiệm vào chức vụ người đứng đầu Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) bởi chính Merkel đã ủng hộ ông Draghi, trong khi đáng ra một người Đức phải là người kế vị ông Trichet. Ngay cả chính sách tiếp nhận một loạt người tị nạn đã gây ra một bất ngờ lớn và điều này tạo ra một nguy cơ lớn đối với bà Merkel xét trên khía cạnh chính trị.

Mặc dù, có rất nhiều tranh cãi về nhân vật Merkel, về sự thiếu vắng lực lượng đối lập có uy tín.. song, điều không thể bàn cãi chính là thành tựu kinh tế của Đức – một yếu tố vô cùng quan trọng – dưới sự “chèo lái” của bà Merkel Do vậy, bà Merkel không bị mất đi sự ủng hộ của đại đa số người dân Đức.

Ngay từ đầu những năm 2000, Đức đã phải đối phó với một sự tăng trưởng trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp cao. Nước Đức có tỷ lệ thâm hụt công đáng lo ngại và điều này không tôn trọng hiệp ước về sự ổn định, được coi là điều kiện tiên quyết do chính Đức áp đặt để chấp nhận quá trình xây dựng đồng tiền chung. Đây chính là bối cảnh nước Đức khi bà Merkel lên nắm quyền.

Sau khi trở thành người đứng đầu chính phủ, ban đầu, bà Merkel tiếp tục kế thừa phần nào chính sách của những tiền nhiệm và đã thu được kết quả nhất định nhờ vào các doanh nghiệp Đức ở nước ngoài. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đã đến rất nhanh kể từ năm 2009 khi Ngân hàng Đức, Deutsche Bank – một trong 2 ngân hàng lớn nhất của nước này, phải đối mặt với những khó khăn kép rất nghiêm trọng do vướng vào các vụ bê bối khác nhau và một loạt khó khăn chồng chất về cách thức mà ngân hàng này vận hành các hoạt động của mình kể từ nhiều năm. Ngân hàng này đã bị vạch trần về những vụ việc tham nhũng, rửa tiền và liên quan trực tiếp tới cuộc khủng hoảng Hy Lạp.

Ngay sau đó vào 2010 – 2011, bà Merkel đã có bước đi mang tính đột phá.

Đó chính là những sự chọn mang tính thực dụng hơn nhiều. Bà đã giải quyết từng trường hợp phù hợp với những đòi hỏi cấp bách và những khó khăn đã được nhận diện. Từ đó, sự hồi phục kinh tế đã bắt đầu có kết quả và điều này đã gây ấn tượng mạnh.

12 năm sau, tình hình kinh tế Đức đã thay đổi rất lớn so với năm 2005 – thời điểm bà Merkel lên nắm quyền. Vào năm 2016, tất cả những chỉ số kinh tế đều tốt đẹp đối với nước Đức. Berlin đã đạt kỷ lục về thặng dư thương mại vào năm 2016. Với trên 297 tỷ USD, Đức đã vượt kỷ lục thặng dư của Trung Quốc vào năm 2015. Con số thặng dư này chiếm 8,5% của GDP, một kỷ lục nữa.

Một yếu tố khác thêm vào bảng thành tích của bà Merkel đó là sự phục hồi tiêu dùng. Từ lâu, đây chính là một trong những yếu kém của nền kinh tế Đức, vốn quá phụ thuộc vào xuất khẩu. Yếu kém này giải thích nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm tăng trưởng vào năm 2009 (- 5,5%), cao hơn cả Mỹ và Pháp ở cùng năm này.

Và nhờ vào sự phục hồi tài chính công, sau đó thặng dư ngân sách kể từ 2014, đã hỗ trợ rất lớn cho tiêu dùng. Nước Đức đã chi tiền cho các chương trình về sự hội nhập của người tị nạn vào năm 2015, 2016 và còn áp đặt một mức lương tối thiểu vào tháng 1/2015. Kết quả là không chỉ tiêu dùng trong nước được phục hồi trong nhiệm kỳ này của bà Merkel mà tăng trưởng cũng cho thấy sự chắc chắn. Sau khi có sự sụt giảm GDP hơn 5% vào năm 2009 do cuộc khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế đã vượt 3,5% vào năm 2010 và 2011 trước khi duy trì ổn định khoảng 0,5% vào năm 2012 và 2013 và vượt lên 1,5% vào năm 2014. Hơn nữa, tỷ lệ thất nghiệp hiện chỉ còn 4,3% trong bối cảnh nền kinh tế Đức gần như đầy việc làm. Trong khi tỷ lệ này là 11% ở thời điểm bà Merkel lên nắm quyền. Trong khi đó, tại Pháp, tỷ lệ thất nghiệp 8% năm 2005 và tăng lên 10% năm 2016.

Tuy nhiên, những kết quả tốt đẹp này trong lĩnh vực kinh tế không thể che đậy một số yếu tố khó lường và đây chính là những thách thức đối với nhiệm kỳ sắp tới của bà Merkel nếu như bà không muốn nhiệm kỳ thứ 4 giống như trường hợp của người tiền nhiệm Konrad Adenauer và Helmut Kolh. Chắc chắn tăng trưởng là động lực nhưng kể từ năm 2012, mức tăng trưởng Đức thấp hơn Mỹ và Anh và có thể điều này là do sự yếu kém trong đầu tư. Thu nhập đầu người đã tăng do động lực của tiêu dùng nhưng còn thiếu sự bền vững. Thu nhập đầu người giảm vào năm 2012 và 2015 dưới mức của năm 2008 (46.890 USD) và chỉ đạt 41.902 USD vào năm 2016.

Dù vậy, tình hình vẫn nằm trong tầm kiểm soát và không kéo theo những đòi hỏi lớn của những người hưởng lương, các công đoàn và những đảng phái đối lập do giá cả vẫn tương đối thấp và cuộc sống không đắt đỏ bằng những nơi khác tại châu Âu. Tuy nhiên, đây cũng có thể trở thành những nguy cơ kinh tế chủ yếu của nhiệm kỳ Thủ tướng tiếp theo của bà Merkel, vì chỉ cần giá cả gia tăng là sẽ kéo theo giảm sức mua và tiêu dùng. Nếu kịch bản này diễn ra, thành tựu kinh tế của bà Merkel sẽ bị phá hỏng.

Nguồn: www.iris-france.org – 18/09/2017

TKNB 19/09/2017

Thay đổi chính sách cộng đồng – một bài toán khó cho nước Anh?


Ba vụ tấn công khủng bố trong vòng 3 tháng, đặt nước Anh trước một thách thức lớn: Làm sao chống và ngăn ngừa khủng bố? Bởi vì, theo nhận định của ủy ban đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, những kẻ sát nhân không phải là thành viên của một mạng lưới rõ ràng, mà chỉ là những cá nhân riêng lẻ đi theo con đường Hồi giáo cực đoan. Nghiêm trọng hơn là ngày càng có nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan sinh ra và lớn lên ở ngay tại nước Anh, cho dù hưởng thụ nền giáo dục dân chủ của Anh quốc, nhưng vẫn dễ dàng trở thành kẻ khủng bố ngay trên chính đất nước này.

Nước Anh vốn có truyền thống lạnh lùng và không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, đặc biệt là vẫn lạc quan vui vẻ khi bị tấn công khủng bố. Nhưng lần này, sau liên tục 3 vụ thảm sát chỉ tron vòng 3 tháng, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố đã đến lúc cần phải có những cuộc trao đổi đáng xấu hổ để ngăn chặn khủng bố leo thang, và nước Anh đã quá dung thứ cho các hệ phái tư tưởng cực đoan. Bà nói: “Chúng ta không thể và không được giả đò như là sự việc cứ thế tiếp tục như vậy. Nhiều điều cần phải thay đổi, và phải thay đổi theo 4 hướng quan trọng: Trước hết, bởi vì các vụ tấn công không liên kết với nhau qua các mạng lưới hoạt động thường gặp, mà kết nối với nhau qua một điều quan trọng, là cùng chí hướng với nhau theo duy nhất một tư tưởng ác quỷ Hồi giáo cực đoan, đã truyền bá sự chia rẽ và cổ xúy chủ nghĩa giáo phái. Đó là tư tưởng cho rằng các giá trị phương Tây của chúng ta về tự do, dân chủ và nhân quyền không phù hợp với đạo Hồi.

Đó là tư tưởng muốn đem đạo Hồi đi theo chiều hướng xấu xa, và bẻ cong sự thật. Đánh bại tư tưởng này là một trong số những thách thức vĩ đại nhất cho thời đại của chúng ta. Nhưng không thể đánh bại chỉ bằng can thiệp quân sự mà thôi. Cũng sẽ không thể đánh bại được chúng bằng việc tiếp tục duy trì một chiến dịch vĩnh viễn để chống khủng bố, bất kể giới chuyên gia và chỉ huy giỏi đến mức nào. Chỉ có thể đánh bại hệ tư tưởng đó bằng cách đưa suy nghĩ của con người rời xa xu hướng bạo lực này và khiến họ hiểu rằng giá trị của chúng ta, giá trị đặc trưng của nước Anh là cao cả hơn bất kỳ điều gì mà những kẻ truyền bá và ủng hộ cho lòng thù hận rao giảng”.

Người tị nạn – một bài toán khó

Những lời rao giảng thù hận và chia rẽ sắc tộc đã khiến cho rất nhiều thiếu nữ Anh sinh ra và lớn lên ở đây sẵn sàng lên đường sang Trung Đông để làm vợ cho các chiến binh Daech, hay thanh niên sang tham gia vào lực lượng vũ trang, chống lại chính những người đồng bào Anh của mình.

Những lời rao giảng đó thậm chí không chỉ ảnh hưởng riêng trong các cộng đồng có nguồn gốc từ nền văn hóa Hồi giáo, mà mới gần đây trên thế giới từng ồn ào về trường hợp của một người gốc Việt Nam, cũng tham gia hoạt động tài chính và truyền thông cho khủng bố, bị cảnh sát bắt và tước quốc tịch rồi dẫn độ sang Mỹ để ra tòa và chịu án tù vì có liên quan tới âm mưu khủng bố quốc tế.

Sau khi những vùng căn cứ địa và trại huấn luyện ở Trung Đông bị liên quân xóa bỏ, nhiều thành viên của hệ tư tưởng quá khích đã quay trở về nước Anh và bắt đầu thực hiện những vụ tấn công khủng bố bằng những phương tiện thô sơ nhất.

Ban đầu là vụ đâm chết một thanh niên Anh mặc quân phục đi trên đường, rồi bây giờ là dùng xe hơi và dao kiếm tấn công vào khách du lịch hay người dân đang vui chơi ngoài đường. Thủ tướng Anh nói đã đến lúc nước Anh phải chấm dứt việc dung thứ quá mức cho tư tưởng cực đoan.

Nước Anh nổi tiếng là một đất nước tự do dân chủ, chủ trương mô hình xã hội cộng đồng, tức cho phép nhiều tôn giáo khác nhau cùng rao giảng, và nhiều hệ tư tưởng khác nhau cùng được tự do phát triển. Vấn đề đặt ra là với mô hình xã hội của Anh hiện nay, sẽ khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng cực đoan không được phép, và đâu là sự phản đối chính nghĩa để bảo vệ cho tự do tư tưởng? Đây sẽ là một thách thức lớn cho anh, một đất nước với bề dày lịch sử phức tạp. Ngày xưa, nơi đây từng nổi tiếng với việc đàn áp người theo đạo Công giáo La Mã, giết hại linh mục và nhiều giáo dân phải lén lút hành đạo. Đó cũng chính là lý do khiến cho người Anh hôm nay cảm thấy cần phải trả nợ với quá khứ, và chấp nhận rất nhiều hồ sơ tị nạn theo diện tôn giáo. Thế nhưng, với một bộ máy hoạt động quá tải, và thái độ lơ là của nhân viên, thì việc để lọt lưới những người giả mạo hay thậm chí những kẻ quá khích là chuyện dễ hiểu. Từng có một số kẻ quá khích từ Iraq lọt lưới thanh lọc và được chính phủ Anh cho phép tị nạn, rồi lại hoạt động chống phá ngay trên mảnh đất này.

Ví dụ trong cộng đồng người Việt cũng có rất nhiều người dù là ở miền Bắc nhưng vẫn khai là theo đạo Hòa Hảo để xin tị nạn, mà trong đời chưa bao giờ biết địa danh đó nằm ở An Giang hay Đồng Tháp. Rồi cũng có nhiều trường hợp khai là trẻ em, mà theo luật thì cho đến khi kết luận người này không phải là trẻ em, thì vẫn được đi học trong trường Trung học cơ sở hay thậm chí là Trung học phổ thông cùng với trẻ em người Ah. Đó là chưa kể có đến trên dưới 1 triệu người không có giấy tờ vượt biên vào Anh. Đây cũng chính là vấn đề chung của những nước châu Âu đang bị khủng bố tấn công như Pháp và Đức, khiến cho một số nước mạnh tay như Hungary tuyệt đối không nhận người tị nạn.

Brexit – một giải pháp khả thi để chống khủng bố?

Đâu là giải pháp cho vấn đề nan giải này? Một ý kiến trong cuộc vận động Brexit vừa qua cho rằng sau ngày nước Anh rút khỏi cam kết phải tuân thủ tòa án châu Âu thì sẽ giảm bớt được gánh nặng về việc phải cho những người mà nước Anh không muốn nhận được tạm thời cư trú, và như vậy sẽ yên ổn phần nào về an ninh?

Dẫu sao đây cũng chỉ là một ý kiến tranh cãi, vì bản chất của vấn đề là làn sóng người di tản từ các quốc gia đang bất ổn vì Hồi giáo cực đoan vẫn đang tiếp diễn. Thuyền nhân tràn ngập ở vùng Địa Trung Hải tràn vào Hy Lạp, rồi ngược lên Pháp, tìm mọi cách trốn qua phà biển Manche vào Anh, mà có đủ loại mọi máy móc thiết bị thì vẫn có người lọt lưới.

Thủ tướng Anh của đảng Bảo thủ đương quyền nói không thể nào chiến thắng Hồi giáo cực đoan chỉ bằng vũ khí, còn Chủ tịch Công đảng bên kia phía đối lập thì nói bà Theresa May lẽ ra phải từ chức vì cắt giảm chi tiêu cho cảnh sát khiến bạo lực gia tăng thành khủng bố.

Một số ý kiến cũng chỉ trích cả hai chính phủ đã cắt giảm ngân sách dành cho ngành giáo dục, bỏ bê việc chăm sóc trẻ em từ khi còn nhỏ, hay các cộng đồng sắc tộc, khiến thanh niên dễ dàng nghe theo tuyên truyền của kẻ xấu. Có ý kiến thậm chí còn lần ngược trở lại quyết định của nước Anh cùng Hoa Kỳ tham chiến, tấn công Taliban sau vụ khủng bố 11/9. Thực sự, đó chính là những điều, mà như Thủ tướng Anh đã nói, là một cuộc trao đổi không hề dễ dàng và rất xấu hổ. Nước Anh từng ý thức được về chuyện này sau vụ London bỗng nhiên bị đốt phá ở khắp nơi, nhưng thực sự cho tới thời điểm này, chưa có chính sách hay hành động cụ thể nào để đối phó với một nguy cơ tấn công hoàn toàn mới, và không dễ gì giải quyết trong xã hội.

Đã vậy, nước Anh lại còn đang trong giai đoạn bầu cử để chọn ra một chính phủ mới, vừa lèo lái quá trình Brexit, lại vừa đối phó với tình hình kinh tế không mấy khả quan, và giờ đây lại thêm các vấn đề mới về văn hóa và cộng đồng, thực ra khó có câu trả lời nào cụ thể cho một giải pháp ổn định lâu dài.

Nguồn: RFI

TKNB – 09/06/2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần cuối


Sự tập trung lực lượng này – với kết quả vẫn còn phải đánh giá – là một phản ứng với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 dẫn đến kết quả ủng hộ “Brexit”.

Tác động chiến lược của “Brexit” sẽ ra sao? Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc chào đón cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 với kết quả ủng hộ “Brexit”. Pierre Razoux trong một “Ghi chép nghiên cứu chiến lược của Viện nghiên cúu chiến lược thuộc Trường Quân sự (IRSEM)”, xuất bản đầu tháng 7/2016 nói về điều này và những tác động chiến lược: “Brexit có nguy cơ gây ra gia tăng chia rẽ trong EU. Brexit khuyến khích chủ nghĩa dân túy và báo hiệu sự phá vỡ uy tín Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) dẫn đến sự tăng cường vai trò của NATO ở châu Âu. Đặc biệt, nó dẫn đến việc Pháp trở nên đơn độc đối diện với Đức, và Vương quốc Anh đứng trước nguy cơ bị mất uy tín cả về kinh tế lẫn chiến lược, với việc có thể phải chấp nhận sự độc lập của Scotland. Nếu “Brexit” không ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng Pháp – Anh (Hiệp ước song phương Lancaster House, ngày 2/11/2010), nó cũng báo hiệu về trung hạn và dài hạn sự sụt giảm nỗ lực quốc phòng của Anh cũng như nguy cơ từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn khả năng răn đe hạt nhân của London. Khi ấy, Pháp sẽ trở thành cường quốc hạt nhân quân sự duy nhất (trong phạm vi EU). Trong tình hình như vậy, các mối liên kết chiến lược giữa Mỹ và NATO sẽ suy yếu một cách sâu sắc. Để duy trì vai trò trung tâm ở châu Âu, Pháp sẽ quan tâm đến việc hiện diện với vai trò trung gian giữa Anh và EU.

Khi Anh ra khỏi EU, Pháp sẽ là quốc gia thành viên duy nhất của EU có sức mạnh hạt nhân và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nếu các nước không chia sẻ cùng nhau trong việc cấp vốn cho chương trình vũ khí hạt nhân của Pháp, các nước thành viên khác có thể mưu toan tăng cường áp lực lên Paris để vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an của Pháp phải được chuyển sang cho EU. Cần nhắc lại rằng Đức không có đặc quyền này do trách nhiệm lịch sử của nước này trong việc phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự ra đi của Vương quốc Anh cũng không phải không để lại hậu quả đối với quan hệ Pháp – Đức. Câu hỏi đặt ra là liệu Paris sẽ có phân tích, chiến lược và biện pháp tương xứng với mức độ, tầm vóc của vấn đề hay không: trong một EU không có Anh, làm thế nào để cân bằng lại quan hệ Pháp – Đức hướng tới lợi ích cho Berlin từ hơn một thập kỷ nay? Làm thế nào để duy trì mối quan hệ tích cực với Vương quốc Anh trong lĩnh vực quốc phòng?

Giờ đây Pháp sẽ hướng tới quốc gia nào để khởi động lại lần thứ n vấn đề phòng thủ chung châu Âu? Mùa Thu 2016, Paris một lần nữa thể hiện sự xích lại gần Đức, tuy nhiên Anh đã cho thấy họ sẽ phá hoại những nỗ lực khởi động phòng thủ châu Âu cho tới khi Anh còn trong EU. Không thể không tưởng tượng rằng Anh sẽ tiếp tục thực hiện việc này khi quốc gia này đã rời EU, thông qua những phương thức “lobby” mà họ vốn làm chủ một cách khéo léo và chính xác.

Vấn đề đáng lo ngại hơn cả khi Mỹ đã quyết định chiến lược xoay trục sang châu Á và biên giới Ukraine bị Nga đe dọa và uy hiếp nhiều lần trong năm 2014. Một cách nghịch lý, những căng thẳng với Nga đã có khía cạnh “tích cực” từ 1 đến 2 năm nay trong việc khiến một số quốc gia thành viên EU cam kết gia tăng GDP chi cho quốc phòng. Vẫn còn phải chờ đánh giá các bước đi tiếp theo cả các chương trình nói trên trong những năm tới. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức ngày 20/1/2017, nhiều người mong đợi rằng tổng thống mới của Mỹ cam kết việc xác định lại mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên NATO. Còn quá sớm để nhận thấy những lợi thế còn ại trong đàm phán để thu lại nhiều hơn các khoản đầu tư của các đồng minh khác và điều gì là diễn biến tiếp theo trong giai đoạn từ nay tới cuối thập kỷ này. EU sẽ nắm bắt cơ hội này hay không?

Như vậy, trước sự kiện “Brexit”, EU đã đi vào xu hướng tan rã tương đối, với tỷ lệ đáng kể mà ta thường không nhận ra. Phải thừa nhận rằng EU đang trong thời kỳ tan rã trên trường quốc tế. Chỉ số nhân khẩu học, kinh tế và chiến lược đang chứng minh cho sự sụt giảm này.

Đáng lo ngại hơn, quá trình này còn bị thúc đẩy bởi tác động của cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2008.

“Brexit” xảy ra vào thời điểm 2019 – 2020 sẽ gia tăng sự tan rã về vị thế tương đối của EU, trên tất cả các thông số được xem xét: lãnh thổ, dân số, kinh tế, chiến lược. Làm sao điều này lại không đem đến những tác động tới sức mạnh của EU trên thế giới? Hiện giờ, “Brexit” làm suy giảm hình ảnh của EU trên toàn cầu, đặc biệt là trong cái nhìn của vị tổng thống mới của Mỹ. Sự kiện này cũng làm gia tăng phong trào dân túy và xu hướng ly khai tại các nước thành viên EU. Sau 6 thập kỷ hội nhập châu Âu, nhiều chỉ số cho thấy quá trình “phá vỡ cấu trúc châu Âu” đang bắt đầu kể từ ngày 23/6/2016, ngày trưng cầu dân ý về “Brexit”. Điều này sẽ đi đến đâu? Câu hỏi mở và thu hút sự quan tâm của nhiều nhân vật… trong đó một số có ý định lợi dụng sự suy yếu của EU.

Với những người thích hoàn cảnh nghịch lý, có ý kiến lập luận rằng những khó khăn có thể là một cơ hội lớn để tái tạo lại EU, và làm cho Liên minh mạnh mẽ hơn, tại sao không. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đạt được điều này. Cần phải quay trở lại, làm tăng chủ quyền các nước thành viên và tăng cường các rào cản thương mại bên ngoài? Hay cần hướng tới chủ nghĩa liên bang hơn – và với giá nào, với những được mất ra sao? Cần giữ đoàn kết ở mức độ nào? Cần tái tạo chủ quyền chia sẻ ra sao? Trong mọi trường hợp, ai sẽ cổ xúy hay tiếp tục cổ xúy EU đang bị đe dọa tan rã?

Thực tế, vấn đề nan giải là: sau Chiến tranh thế giới thứ hai, EU đã cơ bản được xây dựng bởi một phần giới tinh hoa, với việc tránh các cuộc tranh luận chính trị, vì người dân sẽ không chấp nhận chia sẻ chủ quyền với một số những kẻ thù trong quá khứ. Kết quả là, xây dựng châu Âu đã được thực hiện trong khoảng thời gian khá lâu – trong bói cảnh của 30 năm huy hoàng – nhờ vào sự đồng thuận dễ dãi của một bộ phận dư luận, với một thái độ thờ ơ. Sự thờ ơ đó đã dần dần biến thành sự mất lòng tin nếu nhìn vào tốc độ gia tăng của những cử tri không tham dự vào các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu cũng như sự gia nhập của các nhân vật với tư tưởng nghi ngờ về châu Âu trong chính Nghị viện châu Âu. Cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ trong năm 2008 đã gây ra những tác động tiêu cực tại các quốc gia EU, kể cả Vương quốc Anh, với sự sụt giảm đáng kể về mức sống. Các hậu quả kinh tế, xã hội đã khuyến khích các đảng phái dân túy, cánh hữu hay cánh tả hoặc phe phái khác nữa. Chủ nghĩa dân túy là gì? Đây trước hết là một phong trào xây dựng trên lòng thù hận và lên án giới tinh hoa… và các dự án của họ. Và như thế cuộc khủng hoảng kinh tế biến thành một cuộc khủng hoảng chính trị tác động như một chiếc boomerang đến quá trình xây dựng châu Âu…, một dự án được cổ xúy bởi một phần giới tinh hoa, giờ bị ghét bỏ. Hiện tại, hệ thống nghiên cứu xã hội học của EU đang khó hồi sinh.

Trong bối cảnh này, ai sẽ tái tạo lại EU? Bao nhiêu người dân châu Âu quan tâm đến việc này? Ý định của lịch kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon vào tháng 3/2017 là làm rõ tình hình đối với các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào mùa Xuân 2019. Vào lúc này không ai biết quá trình này sẽ diễn ra thế nào, cũng như không biết tỷ lệ người dân không tham gia cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu tiếp theo (2019) là bao nhiêu, hoặc kỷ lục của các đáng phái có xu hướng hoài nghi với châu Âu là thế nào cũng như Ủy ban châu Âu tới đây sẽ ra sao. Hubert Védrine đề xuất rằng để người dân quan tâm đến dự án châu Âu, sẽ cần phải vượt qua một ngưỡng chính sách, xung quanh một lựa chọn về bản sắc và chủ quyền, thông qua một hội nghị tái thành lập cho phép làm rõ câu hỏi về phân chia, tách bạch thẩm quyền, quyết định xem đó là thẩm quyền của các khu vực, hay các quốc gia thành viên EU. Hội nghị này cần tập trung vào ba hoặc bốn nhiệm vụ lớn.

Hiện tại, kế hoạch xây dựng châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, tình trạng có thể ảnh hưởng tới địa chính trị EU và vị thế tương đối của Liên minh trên thế giới.

Điều cần thiết hơn bao giờ hết là EU tiến hành phân tích đại chính trị và thực hiện một chiến lược thực sự.

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017