Di sản của Thủ tướng Đức Angela Merkel


Nữ Thủ tướng Đức Angela Merkel đã lên nắm quyền được 12 năm, và nhiệm kỳ tới, mà bà xem ra rất sẵn sàng tiếp tục, dường như sẽ là nhiệm kỳ cuối của bà. Trong nhiệm kỳ này, liệu bà có ý định tạo dựng một cái gì đó lâu dài, có thể coi là di sản?

Cho tới lúc này, bà Merkel tỏ ra ít quan tâm tới vấn đề di sản. Những trợ lý của bà làm việc trong văn phòng thủ tướng vẫn tập trung vào các công việc hàng ngày như thường lệ. Ngay cả vào những thời điểm khó khăn trong năm hỗn loạn nhất của bà, khi 1 triệu người tị nạn ồ ạt đổ vào Đức – chắc chắn là thời điểm khắc nghiệt và cô đơn nhất của bà trong chính phủ, thì bà Merkel vẫn không dành nhiều nỗ lực để thanh minh cho mình và các quyết định của mình, mà đơn giản chỉ muốn giải quyết cho xong vấn đề.

Kết quả là bà được gắn với hai hình ảnh: một bên là kiểu Mẹ Theresa nhân từ và bên kia là một nhà lãnh đạo đang gây bất ổn một cách nguy hiểm cho châu Âu vì không chịu đóng cửa biên giới. Và sau đó, tiếp sau cuộc trưng cầu dân ý về tiến trình Brexit (nước Anh ra khỏi Liên minh châu Âu – EU) và chiến thắng bầu cử của ông Donald Trump, khi tờ New York Times, cùng nhiều báo khác, đột nhiên tuyên bố bà là vị cứu tinh cho trật tự tự do phương Tây, bà Merkel đã lên tiếng úp mở đề cập tới sự khó chịu của bà về điều này. Sau 12 năm, thời kỳ quyền lực của bà Merkel chủ yếu được xác định không phải qua những gì đã diễn ra ở Đức, và rộng hơn là châu Âu, mà là qua những gì chưa xảy ra. Di sản của bà đa phần là lo liệu và giải quyết các cuộc khủng hoảng.

Những thành tựu này thực sự xứng đáng và nhờ rất nhiều vào tài lãnh đạo của bà. Nước Đức đã không phải chịu đựng những khó khăn kinh tế, chủ nghĩa cực đoan chính trị được kiểm soát tốt, thảm họa của nghĩa dân túy vẫn chưa thể bắt rễ. Bất chấp Brexit, EU đa phần vẫn nguyên vẹn, đồng tiền chung sau trải nghiệm suýt tan vỡ vẫn tồn tại và hoạt động tích cực. Một cuộc hiến ở Đông Âu về quyền tự quyết của Ukraine không bị ngăn chặn song đa phần được kiềm chế. Nhờ xử lý cẩn trọng các vấn đề tị nạn, từ Thổ Nhĩ Kỳ tới Mali, bà Merkel và EU đang kiểm soát tốt hơn vấn đề di cư, một thách thức nổi trội trong thế kỷ qua. Không quá phô trương, Đức đã gia tăng thêm quyền lực trong các vấn đề quốc tế trong những năm qua và sẵn sàng tận dụng nó về mặt chính trị. Điều này đã làm thay đổi cán cân quyền lực của châu Âu, song bất chấp tất cả các tín hiệu cảnh báo lịch sử, Đức không tách biệt riêng ra hay một lần nữa lại trở thành kẻ chèn ép người khác. Và, phương Tây, bất chấp mọi mâu thuẫn, vẫn không ngừng tồn tại.

Song tất cả những điều này đặt ra câu hỏi: Nếu bà Merkel tái cử, liệu có điều gì mà bà muốn làm cho nó xảy ra không?

Điều khiến bà Merkel quan ngại nhất là tình trạng thế giới dân chủ tự do. Bà thấy các nền dân chủ đang liên tục bị thách thức, hoặc bởi những người theo chủ nghĩa dân túy ngay bên trong các nền dân chủ này hoặc bởi những nhà độc tài chuyên quyền độc đoán xuất hiện ở khắp thế giới. Không để cho lịch sử lặp lại và châu Âu không quay trở lại chủ nghĩa dân tộc và dân túy, bà muốn EU phải mạnh và an toàn. Nếu châu Âu ổn về kinh tế và đưa ra một tầm nhìn đáng tin cậy cho tất cả, do đó tư tưởng của bà được tiếp tục – đây sẽ là di sản giá trị nhất mà bà có thể để lại. Song giải quyết được vấn đề này rất khó: Làm sao tăng thêm quyền lực cho EU mà không làm suy yếu các nước thành viên? Làm sao đảm bảo được cho đồng euro mà không phải can thiệp quá nhiều tới chủ quyền của mỗi thành viên? Xét cho cùng, người châu Âu, kể cả bà Merkel, chẳng mấy mong muốn chuyển giao thêm quyền lực cho Brussels. Song nói rằng bà Merkel quan tâm tới việc gảii quyết một thách thức lịch sử như vậy chưa thể trả lời được bà sẽ tiếp tục như thế nào. Vì thế, cần thế, cần phải tham khảo những thời điểm trong hàng chục năm hoạt động xã hội của bà đã ảnh hưởng tới tư tưởng của bà về cách thức các chính trị gia có thể, và không thể, tác động tới lịch sử.

Khi bà Merkel quyết định tranh cử nhiệm kỳ thứ tư, ông Donald Trump vừa mới được bầu làm Tổng thống Mỹ, Brexit đang đe dọa phá vỡ EU, và Marine Le Pen có cơ hội tốt để giành được quyền lực ở nước Pháp rồi sau đó chấm dứt ý tưởng về một châu Âu thống nhất. Đây thực sự là các cuộc khủng hoảng, cần phải có một cánh tay vững, và nữ Thủ tướng quyết định rằng Đức, châu Âu và thế giới sẽ ổn hơn nếu có một sự ổn định nào đó theo kiểu Merkel. Rời bỏ quyền lực vào thời điểm quan trọng đó và để mặc sự bất ổn trong tương lai của Đức sẽ phủ bóng đen lên những thành tựu của bà Merekl. Để bảo vệ chúng, bà phải tiếp tục.

Lịch sử đã trả công cho bà bằng cách đưa tới Emmanuel Macron, người đã trở thành Tổng thống Pháp và được bà coi là có khả năng cùng bà tạo nên một khu vực kinh tế châu Âu và đồng tiền chung ổn định và không thể đảo ngược, đủ mạnh để đảm bảo sự thịnh vượng ở lục địa này và ngăn chặn bất cứ chính sách hẹp hòi, chống tự do thương mại của chính quyền ông Trump hay của một Trung Quốc hung hăng ở phía Đông. Nếu tái đắc cử, ưu tiên hàng đầu của bà Merkel sẽ là một chương trình nghị sự EU mà bà muốn thực hiện cùng ông Macron.

Họ đã cam kết đầu tư mạnh vào các cấu trúc phòng thủ châu Âu, và các tiến trình cùng ra quyết định về chính sách đối ngoại. Họ cũng có thể hướng tới một ngân sách chung của khu vực đồng euro đủ mạnh đồng thời khuyến khích cải cách nhằm thúc đẩy sức cạnh tranh kinh tế bên ngoài liên minh. Và cuối cùng họ muốn xây dựng các biện pháp an ninh cho khu vực đồng euro để ngăn đồng tiền này khỏi sụp đổ – như đã từng suýt xảy ra trong những năm khó khăn.

Song không cần bà Merkel phải tự đổi mới mình cho phù hợp với nhiệm vụ đó. Thay đổi các nguyên tắc của EU sẽ là một tiến trình chậm chạp, từ từ. Nó sẽ được làm tốt nhất theo kiểu của bà Merkel. Sau nhiều năm phòng ngừa, ngăn chặn, giải quyết và duy trì đoàn kết, bà Merkel rốt cuộc có thể có cơ hội trở thành một thủ tướng đóng vai trò kiến thiết.

Nguồn: Foreign Policy – 18/09/2017

TKNB – 19/09/2017

Advertisements

Bầu cử tại Đức: Bản tổng kết kinh tế như thế nào dành cho bà Angela Merkel?


Sylvie Matelly

Ngày 24/9 tới, bà Angela Merkel đánh cược sự nghiệp chính trị khi tiếp tục chạy đua vào chức Thủ tướng Đức mà “người đàn bà thép của nước Đức đã nắm quyền từ năm 2005. Nếu không có bất ngờ lớn, Thủ tướng đương nhiệm Merkel sẽ tiếp tục được bầu nhiệm kỳ thứ 4 liên tiếp. Nếu đúng như vậy, bà Merkel sẽ trở thành một trong số ít những nhà lãnh đạo Đức (cùng với Helmut Kohl và Konrad Adenauer) kéo dài 4 nhiệm kỳ liên tục.

Câu hỏi được đặt ra là làm sao có thể kéo dài nhiệm kỳ lâu như vậy trong một thế giới luôn có sự biến động khôn lường và mọi thứ rất nhanh chóng bị đặt thành câu hỏi? Thực tế, Thủ tướng Merkel đã phải đối phó với “sự tỉnh giấc” của Nga, vốn làm phức tạp mối quan hệ của Moskva với các nước châu Âu, phải đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 mà theo đánh giá thì đây là một trong những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của châu Âu và đã đe dọa sự “tồn vong” của đồng euro, đồng thời cũng phải đối phó với việc nổi lên của chủ nghĩa dân túy trên khắp thế giới và đặc biệt là tại châu Âu trong khi nước Anh đã quyết định rời khỏi Liên minh châu Âu (EU).

Mặt khác, bà Angela Merkel đã phải hứng chịu những lời chỉ trích nặng nề ngay tại nước Đức vào năm 2010, thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng Hy Lạp. Dư luận cũng đặt ra câu hỏi làm thế nào mà bà Merkel có thể dành cả thời gian và tiền bạc cho các quốc gia thuộc “Club Med” (bao gồm các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Italy…) trong khi người Đức phải vật lộn với những khó khăn của cuộc khủng hoảng và sức mua bị chững lại? Báo chí cũng đã tìm cách thổi phồng câu chuyện ông Mario Draghi được bổ nhiệm vào chức vụ người đứng đầu Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) bởi chính Merkel đã ủng hộ ông Draghi, trong khi đáng ra một người Đức phải là người kế vị ông Trichet. Ngay cả chính sách tiếp nhận một loạt người tị nạn đã gây ra một bất ngờ lớn và điều này tạo ra một nguy cơ lớn đối với bà Merkel xét trên khía cạnh chính trị.

Mặc dù, có rất nhiều tranh cãi về nhân vật Merkel, về sự thiếu vắng lực lượng đối lập có uy tín.. song, điều không thể bàn cãi chính là thành tựu kinh tế của Đức – một yếu tố vô cùng quan trọng – dưới sự “chèo lái” của bà Merkel Do vậy, bà Merkel không bị mất đi sự ủng hộ của đại đa số người dân Đức.

Ngay từ đầu những năm 2000, Đức đã phải đối phó với một sự tăng trưởng trì trệ và tỷ lệ thất nghiệp cao. Nước Đức có tỷ lệ thâm hụt công đáng lo ngại và điều này không tôn trọng hiệp ước về sự ổn định, được coi là điều kiện tiên quyết do chính Đức áp đặt để chấp nhận quá trình xây dựng đồng tiền chung. Đây chính là bối cảnh nước Đức khi bà Merkel lên nắm quyền.

Sau khi trở thành người đứng đầu chính phủ, ban đầu, bà Merkel tiếp tục kế thừa phần nào chính sách của những tiền nhiệm và đã thu được kết quả nhất định nhờ vào các doanh nghiệp Đức ở nước ngoài. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đã đến rất nhanh kể từ năm 2009 khi Ngân hàng Đức, Deutsche Bank – một trong 2 ngân hàng lớn nhất của nước này, phải đối mặt với những khó khăn kép rất nghiêm trọng do vướng vào các vụ bê bối khác nhau và một loạt khó khăn chồng chất về cách thức mà ngân hàng này vận hành các hoạt động của mình kể từ nhiều năm. Ngân hàng này đã bị vạch trần về những vụ việc tham nhũng, rửa tiền và liên quan trực tiếp tới cuộc khủng hoảng Hy Lạp.

Ngay sau đó vào 2010 – 2011, bà Merkel đã có bước đi mang tính đột phá.

Đó chính là những sự chọn mang tính thực dụng hơn nhiều. Bà đã giải quyết từng trường hợp phù hợp với những đòi hỏi cấp bách và những khó khăn đã được nhận diện. Từ đó, sự hồi phục kinh tế đã bắt đầu có kết quả và điều này đã gây ấn tượng mạnh.

12 năm sau, tình hình kinh tế Đức đã thay đổi rất lớn so với năm 2005 – thời điểm bà Merkel lên nắm quyền. Vào năm 2016, tất cả những chỉ số kinh tế đều tốt đẹp đối với nước Đức. Berlin đã đạt kỷ lục về thặng dư thương mại vào năm 2016. Với trên 297 tỷ USD, Đức đã vượt kỷ lục thặng dư của Trung Quốc vào năm 2015. Con số thặng dư này chiếm 8,5% của GDP, một kỷ lục nữa.

Một yếu tố khác thêm vào bảng thành tích của bà Merkel đó là sự phục hồi tiêu dùng. Từ lâu, đây chính là một trong những yếu kém của nền kinh tế Đức, vốn quá phụ thuộc vào xuất khẩu. Yếu kém này giải thích nguyên nhân chủ yếu của sự suy giảm tăng trưởng vào năm 2009 (- 5,5%), cao hơn cả Mỹ và Pháp ở cùng năm này.

Và nhờ vào sự phục hồi tài chính công, sau đó thặng dư ngân sách kể từ 2014, đã hỗ trợ rất lớn cho tiêu dùng. Nước Đức đã chi tiền cho các chương trình về sự hội nhập của người tị nạn vào năm 2015, 2016 và còn áp đặt một mức lương tối thiểu vào tháng 1/2015. Kết quả là không chỉ tiêu dùng trong nước được phục hồi trong nhiệm kỳ này của bà Merkel mà tăng trưởng cũng cho thấy sự chắc chắn. Sau khi có sự sụt giảm GDP hơn 5% vào năm 2009 do cuộc khủng hoảng tài chính, tăng trưởng kinh tế đã vượt 3,5% vào năm 2010 và 2011 trước khi duy trì ổn định khoảng 0,5% vào năm 2012 và 2013 và vượt lên 1,5% vào năm 2014. Hơn nữa, tỷ lệ thất nghiệp hiện chỉ còn 4,3% trong bối cảnh nền kinh tế Đức gần như đầy việc làm. Trong khi tỷ lệ này là 11% ở thời điểm bà Merkel lên nắm quyền. Trong khi đó, tại Pháp, tỷ lệ thất nghiệp 8% năm 2005 và tăng lên 10% năm 2016.

Tuy nhiên, những kết quả tốt đẹp này trong lĩnh vực kinh tế không thể che đậy một số yếu tố khó lường và đây chính là những thách thức đối với nhiệm kỳ sắp tới của bà Merkel nếu như bà không muốn nhiệm kỳ thứ 4 giống như trường hợp của người tiền nhiệm Konrad Adenauer và Helmut Kolh. Chắc chắn tăng trưởng là động lực nhưng kể từ năm 2012, mức tăng trưởng Đức thấp hơn Mỹ và Anh và có thể điều này là do sự yếu kém trong đầu tư. Thu nhập đầu người đã tăng do động lực của tiêu dùng nhưng còn thiếu sự bền vững. Thu nhập đầu người giảm vào năm 2012 và 2015 dưới mức của năm 2008 (46.890 USD) và chỉ đạt 41.902 USD vào năm 2016.

Dù vậy, tình hình vẫn nằm trong tầm kiểm soát và không kéo theo những đòi hỏi lớn của những người hưởng lương, các công đoàn và những đảng phái đối lập do giá cả vẫn tương đối thấp và cuộc sống không đắt đỏ bằng những nơi khác tại châu Âu. Tuy nhiên, đây cũng có thể trở thành những nguy cơ kinh tế chủ yếu của nhiệm kỳ Thủ tướng tiếp theo của bà Merkel, vì chỉ cần giá cả gia tăng là sẽ kéo theo giảm sức mua và tiêu dùng. Nếu kịch bản này diễn ra, thành tựu kinh tế của bà Merkel sẽ bị phá hỏng.

Nguồn: www.iris-france.org – 18/09/2017

TKNB 19/09/2017

Thay đổi chính sách cộng đồng – một bài toán khó cho nước Anh?


Ba vụ tấn công khủng bố trong vòng 3 tháng, đặt nước Anh trước một thách thức lớn: Làm sao chống và ngăn ngừa khủng bố? Bởi vì, theo nhận định của ủy ban đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, những kẻ sát nhân không phải là thành viên của một mạng lưới rõ ràng, mà chỉ là những cá nhân riêng lẻ đi theo con đường Hồi giáo cực đoan. Nghiêm trọng hơn là ngày càng có nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan sinh ra và lớn lên ở ngay tại nước Anh, cho dù hưởng thụ nền giáo dục dân chủ của Anh quốc, nhưng vẫn dễ dàng trở thành kẻ khủng bố ngay trên chính đất nước này.

Nước Anh vốn có truyền thống lạnh lùng và không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, đặc biệt là vẫn lạc quan vui vẻ khi bị tấn công khủng bố. Nhưng lần này, sau liên tục 3 vụ thảm sát chỉ tron vòng 3 tháng, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố đã đến lúc cần phải có những cuộc trao đổi đáng xấu hổ để ngăn chặn khủng bố leo thang, và nước Anh đã quá dung thứ cho các hệ phái tư tưởng cực đoan. Bà nói: “Chúng ta không thể và không được giả đò như là sự việc cứ thế tiếp tục như vậy. Nhiều điều cần phải thay đổi, và phải thay đổi theo 4 hướng quan trọng: Trước hết, bởi vì các vụ tấn công không liên kết với nhau qua các mạng lưới hoạt động thường gặp, mà kết nối với nhau qua một điều quan trọng, là cùng chí hướng với nhau theo duy nhất một tư tưởng ác quỷ Hồi giáo cực đoan, đã truyền bá sự chia rẽ và cổ xúy chủ nghĩa giáo phái. Đó là tư tưởng cho rằng các giá trị phương Tây của chúng ta về tự do, dân chủ và nhân quyền không phù hợp với đạo Hồi.

Đó là tư tưởng muốn đem đạo Hồi đi theo chiều hướng xấu xa, và bẻ cong sự thật. Đánh bại tư tưởng này là một trong số những thách thức vĩ đại nhất cho thời đại của chúng ta. Nhưng không thể đánh bại chỉ bằng can thiệp quân sự mà thôi. Cũng sẽ không thể đánh bại được chúng bằng việc tiếp tục duy trì một chiến dịch vĩnh viễn để chống khủng bố, bất kể giới chuyên gia và chỉ huy giỏi đến mức nào. Chỉ có thể đánh bại hệ tư tưởng đó bằng cách đưa suy nghĩ của con người rời xa xu hướng bạo lực này và khiến họ hiểu rằng giá trị của chúng ta, giá trị đặc trưng của nước Anh là cao cả hơn bất kỳ điều gì mà những kẻ truyền bá và ủng hộ cho lòng thù hận rao giảng”.

Người tị nạn – một bài toán khó

Những lời rao giảng thù hận và chia rẽ sắc tộc đã khiến cho rất nhiều thiếu nữ Anh sinh ra và lớn lên ở đây sẵn sàng lên đường sang Trung Đông để làm vợ cho các chiến binh Daech, hay thanh niên sang tham gia vào lực lượng vũ trang, chống lại chính những người đồng bào Anh của mình.

Những lời rao giảng đó thậm chí không chỉ ảnh hưởng riêng trong các cộng đồng có nguồn gốc từ nền văn hóa Hồi giáo, mà mới gần đây trên thế giới từng ồn ào về trường hợp của một người gốc Việt Nam, cũng tham gia hoạt động tài chính và truyền thông cho khủng bố, bị cảnh sát bắt và tước quốc tịch rồi dẫn độ sang Mỹ để ra tòa và chịu án tù vì có liên quan tới âm mưu khủng bố quốc tế.

Sau khi những vùng căn cứ địa và trại huấn luyện ở Trung Đông bị liên quân xóa bỏ, nhiều thành viên của hệ tư tưởng quá khích đã quay trở về nước Anh và bắt đầu thực hiện những vụ tấn công khủng bố bằng những phương tiện thô sơ nhất.

Ban đầu là vụ đâm chết một thanh niên Anh mặc quân phục đi trên đường, rồi bây giờ là dùng xe hơi và dao kiếm tấn công vào khách du lịch hay người dân đang vui chơi ngoài đường. Thủ tướng Anh nói đã đến lúc nước Anh phải chấm dứt việc dung thứ quá mức cho tư tưởng cực đoan.

Nước Anh nổi tiếng là một đất nước tự do dân chủ, chủ trương mô hình xã hội cộng đồng, tức cho phép nhiều tôn giáo khác nhau cùng rao giảng, và nhiều hệ tư tưởng khác nhau cùng được tự do phát triển. Vấn đề đặt ra là với mô hình xã hội của Anh hiện nay, sẽ khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng cực đoan không được phép, và đâu là sự phản đối chính nghĩa để bảo vệ cho tự do tư tưởng? Đây sẽ là một thách thức lớn cho anh, một đất nước với bề dày lịch sử phức tạp. Ngày xưa, nơi đây từng nổi tiếng với việc đàn áp người theo đạo Công giáo La Mã, giết hại linh mục và nhiều giáo dân phải lén lút hành đạo. Đó cũng chính là lý do khiến cho người Anh hôm nay cảm thấy cần phải trả nợ với quá khứ, và chấp nhận rất nhiều hồ sơ tị nạn theo diện tôn giáo. Thế nhưng, với một bộ máy hoạt động quá tải, và thái độ lơ là của nhân viên, thì việc để lọt lưới những người giả mạo hay thậm chí những kẻ quá khích là chuyện dễ hiểu. Từng có một số kẻ quá khích từ Iraq lọt lưới thanh lọc và được chính phủ Anh cho phép tị nạn, rồi lại hoạt động chống phá ngay trên mảnh đất này.

Ví dụ trong cộng đồng người Việt cũng có rất nhiều người dù là ở miền Bắc nhưng vẫn khai là theo đạo Hòa Hảo để xin tị nạn, mà trong đời chưa bao giờ biết địa danh đó nằm ở An Giang hay Đồng Tháp. Rồi cũng có nhiều trường hợp khai là trẻ em, mà theo luật thì cho đến khi kết luận người này không phải là trẻ em, thì vẫn được đi học trong trường Trung học cơ sở hay thậm chí là Trung học phổ thông cùng với trẻ em người Ah. Đó là chưa kể có đến trên dưới 1 triệu người không có giấy tờ vượt biên vào Anh. Đây cũng chính là vấn đề chung của những nước châu Âu đang bị khủng bố tấn công như Pháp và Đức, khiến cho một số nước mạnh tay như Hungary tuyệt đối không nhận người tị nạn.

Brexit – một giải pháp khả thi để chống khủng bố?

Đâu là giải pháp cho vấn đề nan giải này? Một ý kiến trong cuộc vận động Brexit vừa qua cho rằng sau ngày nước Anh rút khỏi cam kết phải tuân thủ tòa án châu Âu thì sẽ giảm bớt được gánh nặng về việc phải cho những người mà nước Anh không muốn nhận được tạm thời cư trú, và như vậy sẽ yên ổn phần nào về an ninh?

Dẫu sao đây cũng chỉ là một ý kiến tranh cãi, vì bản chất của vấn đề là làn sóng người di tản từ các quốc gia đang bất ổn vì Hồi giáo cực đoan vẫn đang tiếp diễn. Thuyền nhân tràn ngập ở vùng Địa Trung Hải tràn vào Hy Lạp, rồi ngược lên Pháp, tìm mọi cách trốn qua phà biển Manche vào Anh, mà có đủ loại mọi máy móc thiết bị thì vẫn có người lọt lưới.

Thủ tướng Anh của đảng Bảo thủ đương quyền nói không thể nào chiến thắng Hồi giáo cực đoan chỉ bằng vũ khí, còn Chủ tịch Công đảng bên kia phía đối lập thì nói bà Theresa May lẽ ra phải từ chức vì cắt giảm chi tiêu cho cảnh sát khiến bạo lực gia tăng thành khủng bố.

Một số ý kiến cũng chỉ trích cả hai chính phủ đã cắt giảm ngân sách dành cho ngành giáo dục, bỏ bê việc chăm sóc trẻ em từ khi còn nhỏ, hay các cộng đồng sắc tộc, khiến thanh niên dễ dàng nghe theo tuyên truyền của kẻ xấu. Có ý kiến thậm chí còn lần ngược trở lại quyết định của nước Anh cùng Hoa Kỳ tham chiến, tấn công Taliban sau vụ khủng bố 11/9. Thực sự, đó chính là những điều, mà như Thủ tướng Anh đã nói, là một cuộc trao đổi không hề dễ dàng và rất xấu hổ. Nước Anh từng ý thức được về chuyện này sau vụ London bỗng nhiên bị đốt phá ở khắp nơi, nhưng thực sự cho tới thời điểm này, chưa có chính sách hay hành động cụ thể nào để đối phó với một nguy cơ tấn công hoàn toàn mới, và không dễ gì giải quyết trong xã hội.

Đã vậy, nước Anh lại còn đang trong giai đoạn bầu cử để chọn ra một chính phủ mới, vừa lèo lái quá trình Brexit, lại vừa đối phó với tình hình kinh tế không mấy khả quan, và giờ đây lại thêm các vấn đề mới về văn hóa và cộng đồng, thực ra khó có câu trả lời nào cụ thể cho một giải pháp ổn định lâu dài.

Nguồn: RFI

TKNB – 09/06/2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần cuối


Sự tập trung lực lượng này – với kết quả vẫn còn phải đánh giá – là một phản ứng với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 dẫn đến kết quả ủng hộ “Brexit”.

Tác động chiến lược của “Brexit” sẽ ra sao? Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc chào đón cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 với kết quả ủng hộ “Brexit”. Pierre Razoux trong một “Ghi chép nghiên cứu chiến lược của Viện nghiên cúu chiến lược thuộc Trường Quân sự (IRSEM)”, xuất bản đầu tháng 7/2016 nói về điều này và những tác động chiến lược: “Brexit có nguy cơ gây ra gia tăng chia rẽ trong EU. Brexit khuyến khích chủ nghĩa dân túy và báo hiệu sự phá vỡ uy tín Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) dẫn đến sự tăng cường vai trò của NATO ở châu Âu. Đặc biệt, nó dẫn đến việc Pháp trở nên đơn độc đối diện với Đức, và Vương quốc Anh đứng trước nguy cơ bị mất uy tín cả về kinh tế lẫn chiến lược, với việc có thể phải chấp nhận sự độc lập của Scotland. Nếu “Brexit” không ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng Pháp – Anh (Hiệp ước song phương Lancaster House, ngày 2/11/2010), nó cũng báo hiệu về trung hạn và dài hạn sự sụt giảm nỗ lực quốc phòng của Anh cũng như nguy cơ từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn khả năng răn đe hạt nhân của London. Khi ấy, Pháp sẽ trở thành cường quốc hạt nhân quân sự duy nhất (trong phạm vi EU). Trong tình hình như vậy, các mối liên kết chiến lược giữa Mỹ và NATO sẽ suy yếu một cách sâu sắc. Để duy trì vai trò trung tâm ở châu Âu, Pháp sẽ quan tâm đến việc hiện diện với vai trò trung gian giữa Anh và EU.

Khi Anh ra khỏi EU, Pháp sẽ là quốc gia thành viên duy nhất của EU có sức mạnh hạt nhân và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nếu các nước không chia sẻ cùng nhau trong việc cấp vốn cho chương trình vũ khí hạt nhân của Pháp, các nước thành viên khác có thể mưu toan tăng cường áp lực lên Paris để vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an của Pháp phải được chuyển sang cho EU. Cần nhắc lại rằng Đức không có đặc quyền này do trách nhiệm lịch sử của nước này trong việc phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự ra đi của Vương quốc Anh cũng không phải không để lại hậu quả đối với quan hệ Pháp – Đức. Câu hỏi đặt ra là liệu Paris sẽ có phân tích, chiến lược và biện pháp tương xứng với mức độ, tầm vóc của vấn đề hay không: trong một EU không có Anh, làm thế nào để cân bằng lại quan hệ Pháp – Đức hướng tới lợi ích cho Berlin từ hơn một thập kỷ nay? Làm thế nào để duy trì mối quan hệ tích cực với Vương quốc Anh trong lĩnh vực quốc phòng?

Giờ đây Pháp sẽ hướng tới quốc gia nào để khởi động lại lần thứ n vấn đề phòng thủ chung châu Âu? Mùa Thu 2016, Paris một lần nữa thể hiện sự xích lại gần Đức, tuy nhiên Anh đã cho thấy họ sẽ phá hoại những nỗ lực khởi động phòng thủ châu Âu cho tới khi Anh còn trong EU. Không thể không tưởng tượng rằng Anh sẽ tiếp tục thực hiện việc này khi quốc gia này đã rời EU, thông qua những phương thức “lobby” mà họ vốn làm chủ một cách khéo léo và chính xác.

Vấn đề đáng lo ngại hơn cả khi Mỹ đã quyết định chiến lược xoay trục sang châu Á và biên giới Ukraine bị Nga đe dọa và uy hiếp nhiều lần trong năm 2014. Một cách nghịch lý, những căng thẳng với Nga đã có khía cạnh “tích cực” từ 1 đến 2 năm nay trong việc khiến một số quốc gia thành viên EU cam kết gia tăng GDP chi cho quốc phòng. Vẫn còn phải chờ đánh giá các bước đi tiếp theo cả các chương trình nói trên trong những năm tới. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức ngày 20/1/2017, nhiều người mong đợi rằng tổng thống mới của Mỹ cam kết việc xác định lại mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên NATO. Còn quá sớm để nhận thấy những lợi thế còn ại trong đàm phán để thu lại nhiều hơn các khoản đầu tư của các đồng minh khác và điều gì là diễn biến tiếp theo trong giai đoạn từ nay tới cuối thập kỷ này. EU sẽ nắm bắt cơ hội này hay không?

Như vậy, trước sự kiện “Brexit”, EU đã đi vào xu hướng tan rã tương đối, với tỷ lệ đáng kể mà ta thường không nhận ra. Phải thừa nhận rằng EU đang trong thời kỳ tan rã trên trường quốc tế. Chỉ số nhân khẩu học, kinh tế và chiến lược đang chứng minh cho sự sụt giảm này.

Đáng lo ngại hơn, quá trình này còn bị thúc đẩy bởi tác động của cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2008.

“Brexit” xảy ra vào thời điểm 2019 – 2020 sẽ gia tăng sự tan rã về vị thế tương đối của EU, trên tất cả các thông số được xem xét: lãnh thổ, dân số, kinh tế, chiến lược. Làm sao điều này lại không đem đến những tác động tới sức mạnh của EU trên thế giới? Hiện giờ, “Brexit” làm suy giảm hình ảnh của EU trên toàn cầu, đặc biệt là trong cái nhìn của vị tổng thống mới của Mỹ. Sự kiện này cũng làm gia tăng phong trào dân túy và xu hướng ly khai tại các nước thành viên EU. Sau 6 thập kỷ hội nhập châu Âu, nhiều chỉ số cho thấy quá trình “phá vỡ cấu trúc châu Âu” đang bắt đầu kể từ ngày 23/6/2016, ngày trưng cầu dân ý về “Brexit”. Điều này sẽ đi đến đâu? Câu hỏi mở và thu hút sự quan tâm của nhiều nhân vật… trong đó một số có ý định lợi dụng sự suy yếu của EU.

Với những người thích hoàn cảnh nghịch lý, có ý kiến lập luận rằng những khó khăn có thể là một cơ hội lớn để tái tạo lại EU, và làm cho Liên minh mạnh mẽ hơn, tại sao không. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đạt được điều này. Cần phải quay trở lại, làm tăng chủ quyền các nước thành viên và tăng cường các rào cản thương mại bên ngoài? Hay cần hướng tới chủ nghĩa liên bang hơn – và với giá nào, với những được mất ra sao? Cần giữ đoàn kết ở mức độ nào? Cần tái tạo chủ quyền chia sẻ ra sao? Trong mọi trường hợp, ai sẽ cổ xúy hay tiếp tục cổ xúy EU đang bị đe dọa tan rã?

Thực tế, vấn đề nan giải là: sau Chiến tranh thế giới thứ hai, EU đã cơ bản được xây dựng bởi một phần giới tinh hoa, với việc tránh các cuộc tranh luận chính trị, vì người dân sẽ không chấp nhận chia sẻ chủ quyền với một số những kẻ thù trong quá khứ. Kết quả là, xây dựng châu Âu đã được thực hiện trong khoảng thời gian khá lâu – trong bói cảnh của 30 năm huy hoàng – nhờ vào sự đồng thuận dễ dãi của một bộ phận dư luận, với một thái độ thờ ơ. Sự thờ ơ đó đã dần dần biến thành sự mất lòng tin nếu nhìn vào tốc độ gia tăng của những cử tri không tham dự vào các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu cũng như sự gia nhập của các nhân vật với tư tưởng nghi ngờ về châu Âu trong chính Nghị viện châu Âu. Cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ trong năm 2008 đã gây ra những tác động tiêu cực tại các quốc gia EU, kể cả Vương quốc Anh, với sự sụt giảm đáng kể về mức sống. Các hậu quả kinh tế, xã hội đã khuyến khích các đảng phái dân túy, cánh hữu hay cánh tả hoặc phe phái khác nữa. Chủ nghĩa dân túy là gì? Đây trước hết là một phong trào xây dựng trên lòng thù hận và lên án giới tinh hoa… và các dự án của họ. Và như thế cuộc khủng hoảng kinh tế biến thành một cuộc khủng hoảng chính trị tác động như một chiếc boomerang đến quá trình xây dựng châu Âu…, một dự án được cổ xúy bởi một phần giới tinh hoa, giờ bị ghét bỏ. Hiện tại, hệ thống nghiên cứu xã hội học của EU đang khó hồi sinh.

Trong bối cảnh này, ai sẽ tái tạo lại EU? Bao nhiêu người dân châu Âu quan tâm đến việc này? Ý định của lịch kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon vào tháng 3/2017 là làm rõ tình hình đối với các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào mùa Xuân 2019. Vào lúc này không ai biết quá trình này sẽ diễn ra thế nào, cũng như không biết tỷ lệ người dân không tham gia cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu tiếp theo (2019) là bao nhiêu, hoặc kỷ lục của các đáng phái có xu hướng hoài nghi với châu Âu là thế nào cũng như Ủy ban châu Âu tới đây sẽ ra sao. Hubert Védrine đề xuất rằng để người dân quan tâm đến dự án châu Âu, sẽ cần phải vượt qua một ngưỡng chính sách, xung quanh một lựa chọn về bản sắc và chủ quyền, thông qua một hội nghị tái thành lập cho phép làm rõ câu hỏi về phân chia, tách bạch thẩm quyền, quyết định xem đó là thẩm quyền của các khu vực, hay các quốc gia thành viên EU. Hội nghị này cần tập trung vào ba hoặc bốn nhiệm vụ lớn.

Hiện tại, kế hoạch xây dựng châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, tình trạng có thể ảnh hưởng tới địa chính trị EU và vị thế tương đối của Liên minh trên thế giới.

Điều cần thiết hơn bao giờ hết là EU tiến hành phân tích đại chính trị và thực hiện một chiến lược thực sự.

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần IV


EU đã thành lập Cơ quan đối ngoại EU (EEAS) từ năm 2009, do một Đại diện cấp cao của Liên minh chuyên trách các vấn đề Đối ngoại và An ninh đứng đầu. Các hiệp định giới hạn một cách chặt chẽ quyền hạn của Cơ quan đối ngoại nhằm ngăn ngừa sự xâm lấn vào đặc quyền về chủ quyền của các quốc gia. Nhiều ý kiến nghi ngờ các nguyên thủ quốc gia trong việc họ lựa chọn người lãnh đạo đầu tiên của EEAS là Catherine Ashton, một nhân vật người Anh không có kinh nghiệm ngoại giao, để tránh việc bà làm họ bị lu mờ. Kết quả, 3 năm đầu tiên sau khi thành lập EEAS, thành tích của cơ quan này bị đánh giá là nghèo nàn. Nhưng năm 2013 được đánh dấu bằng hai vụ can thiệp cho là tích cực, liên quan đến quan hệ Serbia/Kosovo và trong bối cảnh nối lại các cuộc đàm phán với Iran. Chẳng bên nào muốn hạ thấp giá trị của mình, mỗi bên sẽ đồng ý rằng vì lợi ích của Serbia mà tạm thời xoa dịu quan hệ với Kosovo nhằm giành lấy một cách chính thức vị trí ứng cử viên gia nhập EU. Về các cuộc đàm phán với Iran, sự hiện diện của C. Ashton đã diễn ra trước cả năm so với thời điểm đàm phán bí mật của Washington và Tehran.

Dĩ nhiên, 22 trong số 28 thành viên EU cũng là các thành viên của Liên minh chiến lược đầu tiên trên thế giới, NATO. Liên minh này trở nên mạnh mẽ hơn với những lần mở rộng vào các năm 1999, 2004 và 2009, kết nạp thêm các quốc gia trước đây là thành viên Hiệp ước Vacsava, được biết đến với việc giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, các mối quan hệ cấu trúc giữa EU và NATO vừa là mọt đảm bảo về an ninh và dễ dàng ngăn cản EU tự thể hiện một cách độc lập về chiến lược. Các Hiệp ước Maastricht và Lisbon đặt Chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP), Chính sách an ninh và phòng thủ châu Âu (ESDP) và sau này là Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) gần như dưới sự giám hộ của NATO. Thực tế, EU phải tôn trọng các nghĩa vụ theo Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, văn bản đối với các nước là thành viên NATO, là “nền tảng quốc phòng tập thể và thiết chế thực thi hiệp ước”. Hiểu theo nghĩa đen, công thức này ở số ít có thể cấm bất kỳ sáng kiến châu Âu nào về quốc phòng. Mặt khác, câu hỏi đặt ra là, tân Tổng thống Mỹ Donald Trump, sẽ làm gì với NATO.

…bó buộc về tâm lý và ngân sách.

Tuy nhiên, những bó buộc về mặt chiến lược đè nặng EU hơn cả lại mang tính tâm lý. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, xây dựng châu Âu đã được thúc đẩy bởi hình thức từ bỏ sức mạnh quân sự, trước hết là giữa các nước thành viên và sau đó là với thế giới. Khao khát một hình thức “hòa bình vĩnh viễn” giữa các thành viên của EU, Liên minh được coi là một quyền lực mềm, chắc chắn không phải sức mạnh cứng. EU từ chối quan điểm về thế giới như cách cảu các Nhà nước, với việc chỉ ra những đối tượng thù địch và xác định một chiến lược thực sự. EU mang trong mình sự từ bỏ tự nguyện đối với quyền lực chính trị. Về mặt bản thể học, EU không có hứng thú thực sự với quyền lực. Thúc đẩy chủ nghĩa đa phương mơ hồ chỉ là sự nghi binh trước một xu hướng nặng về bất lực. Khi xảy ra một cuộc xung đột tại biên giới EU, Liên minh thường bắt đầu bằng các cuộc thảo luận bất tận trước khi đi đến một tuyên bố muộn mằ và thường là thu gọn lại trong một mẫu số chung nhỏ nhất. Nói chung một số người hy vọng rằng Washington sẽ can thiệp vào xung đột, trong khi số khác, hướng đến hành động, tìm kiếm một cách tuyệt vọng những hỗ trợ.

Cuối cùng, EU vẫn còn thiếu các phương tiện quân sự và nền công nghiệp quốc phòng để khẳng định mình một cách độc lập về mặt chiến lược. Cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát năm 2008, đã thúc đẩy việc giảm ngân sách quốc phòng của các nước thành viên, phần đông cắt giảm khoảng 10% trong khoảng thời gian 2010 và 2013. Chỉ có Vương quốc Anh vào năm 2014 vẫn giữ mục tiêu chi 2% GDP cho quốc phòng (không bao gồm lương hưu) vào năm 2014. 5 thành viên – trong đó có Pháp – dành khoảng 1,5% đến dưới 2% GDP cho quốc phòng. Bảy nước dành từ 1 – 1,5% GDP – trong đó có Đức với 1,1%. Tất cả các nước thành viên khác chi tiêu ít hơn 1% GDP của họ cho quốc phòng.

Các ngành công nghiệp châu Âu ngày càng từ bỏ nhiều hơn việc sản xuất vũ khí để ưu tiên các sản phẩm dân dụng, với nguy cơ mai một chuyên môn và kinh nghiệm. Nếu xu hướng này tiếp tục, các nước thành viên EU sẽ ngày càng rơi vào tình cảnh phải mua các thiết bị của Mỹ. Điều này, đến một mức độ nào, sẽ làm thỏa mãn hệ thống quân sự – công nghiệp của Mỹ.

…nhưng năm 2015 đánh dấu một sự phục hồi bước đầu dù “Brexit” mang đến những hiệu ứng đáng kể.

Năm 2015, theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), được công bố ngày 5/4/2016, tất cả các quốc gia Tây Âu và Trung Âu tiếp tục thu hẹp đầu tư cho quân sự. Tuy nhiên, trước những hành động của Nga ở Ukraine (2014), một số quốc gia ở Đông Âu đang đẩy mạnh ngân sách quốc phòng – dù là với ngân sách khiêm tốn, đó là các nước: Litva, Ba Lan, Latvia và Estonia. Mặt khác, sau thời gian cắt giảm đáng kể ngân sách dành cho quân sự, ba cường quốc quân sự lớn – Vương Quốc Anh, Pháp và Đức – đang bước vào thời kỳ tái đầu tư quân sự kéo dài trong nhiều năm. Tại Pháp, các mối đe dọa khủng bố đã khiến người đứng đầu nhà nước đi đến quyết định dừng cắt giảm các phương tiện quốc phòng. Mùa Hè 2016, Đức công bố ý định tăng ngân sách quốc phòng lên khoảng 2% GDP, tuy nhiên cần xem xét liệu thông báo này dẫn đến kết quả nào. Liệu việc tăng ngân sách quốc phòng của Nga (+90% trong 10 năm), vấn đề biên giới quốc tế, những mối đe dọa khủng bố và các cú sốc địa chính trị ở phía Nam và phía Đông Nam EU sẽ khiến tư tưởng quốc phòng tại các nước EU trỗi dậy hay không?

Ngày 8/3/2015, trong bó cảnh cuộc khủng hoảng Ukraine, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker đã đề xuất ý tưởng thiết lập quân đội chung của EU nhằm tăng uy tín cho chính sách đối ngoại của Liên minh. Như vậy, Chủ tịch Ủy ban châu Âu khiến những cuộc tranh luận về vấn đề quốc phòng của EU trở nên sôi nổi lại.

Ngày 30/3/2015, một hội nghị cấp cao kiểu bộ ba Weimar giữa Pháp, Đức và Ba Lan, tái khẳng định tham vọng về vấn đề này. Nhưng không giống như tham vọng của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker về thiết lập một quân đội chung của EU, đề xuất được thông qua cuối hội nghị nhấn mạnh việc phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của châu Âu, nhằm xuất khẩu sang các thị trường quốc phòng đặc biệt là châu Phi, và bày tỏ mong muốn có bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển quân sự. Những kết luận từng được đưa ra tại cuộc họp trước của bộ ba này vào năm 2013. Pháp và Đức cũng đã công bố khởi động lại dự án chế tạo một vệ tinh do thám, dự án này từng được thai nghén từ hàng năm nay tuy nhiên vẫn chưa được thực hiện bởi thiếu một thỏa thuận về tài chính.

Bộ ba Weimar (Pháp, Đức, Ba Lan) cũng đề xuất sử dụng các Nhóm chiến đấu gồm khoảng 1500 lính có thể huy động được trong vòng 10 ngày và sẵn sàng tác chiến trong thời gian 4 tháng, đó chính là phôi thai của quân đội chung của EU theo đề xuất của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker.

Khả năng tác chiến đầy đủ của các đơn vị này đã từng đạt được vào năm 2007, nhưng cho đến nay các đơn vị này vẫn chưa bao giờ được huy động. Cơ hội không phải không có: Mali, Trung Phi… đã không dẫn tới việc sử dụng các lực lượng phản ứng nhanh của Liên minh.

Việc một mình Pháp điều hành các cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy rằng, dù có quan điểm chính thức, Paris không sẵn sàng hợp tác châu Âu trong vấn đề tác chiến nhiều hơn so với London. Điều này cho thấy rằng trở ngại chính đối với việc phòng thủ châu Âu không phải vấn đề thiếu phương tiện mà chính là ý chí chính trị. Việc viện đến mối hợp tác có cấu trúc vĩnh viễn, được quy định bởi Hiệp ước Lisbon, sẽ là một cách khác để vượt qua những rào cản trong việc ra quyết định và để thiết lập một hạt nhân các quốc gia tiên phong của EU trong vấn đề quốc phòng.

Trong khoảng thời gian từ 14/11 và 6/12/2006, EU thông qua một gói biện pháp đáng kể trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng bao gồm: một kế hoạch thực hiện về an ninh và quốc phòng; một kế hoạch hành động châu Âu về quốc phòng do Ủy ban châu Âu đề xuất nhằm tối ưu hóa chi phí và hợp tác về quốc phòng; và kế hoạch thực hiện tuyên bố EU-NATO ngày 8/7/2016 dựa trên 42 biện pháp cụ thể, đặc biệt về an ninh mạng, khả năng quân sự hoặc nghiên cứu, đây là bước tiến ý nghĩa nhất trong hợp tác giữa hai tổ chức kể từ Hiệp định Berlin + năm 2013.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần III


Nền kinh tế có tốt hơn không?

Suy giảm kinh tế

Sự suy yếu tỷ trọng kinh tế tương đói của EU (A) và các yếu tố sản xuất (B) sẽ còn bị ảnh hưởng hơn nữa bởi “Brexit” (C).

A – Tỷ trọng kinh tế tương đối của EU bị suy yếu…

EU là một thị trường nội địa quan trọng. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho năm 2016, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quy đổi theo sức mua tương đương (PPP), tăng lên một cách cơ học nhờ sự nới rộng khác nhau, có thể đạt 19.748 tỷ USD khi tỷ lệ của hai cường quốc kinh tế khác của tam giác là thấp – với Mỹ 18.558 tỷ USD và Nhật Bản là 4901 tỷ. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ đạt 20.853 tỷ USD, tức là mức hàng đầu thế giới, trên EU và Mỹ. Mặc dù vậy, EU vẫn là một khu vực kinh tế hấp dẫn, là một điểm đến quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ngoài Malta và Cyprus, 3 lần mở rộng gần đây nhất đã được thực hiện với các quốc gia từng phải chịu đựng nhiều nhất trong vòng 4 thập kỷ nền kinh tế kế hoạch và sau đó lại trải qua quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường một cách khó khăn. Ngày 1/1/2004, tổng GDP của 10 quốc gia sẽ gia nhập EU vào ngày 1/5/2004 chỉ chiếm 4,7% GDP trong khu vực EU-25, một tỷ trọng rất khiêm tốn so với tỷ trọng nhân khẩu của các quốc gia này (16,2%). Chỉ có 2 quốc gia – Vương quốc Anh và Ireland – đã không thực hiện trong năm 2004, các điều khoản tự vệ liên quan đến người lao động. Kết quả: Anh đã trở thành điểm đến ưa thích của nhiều người Ba Lan với gần 1 triệu người đã tới làm việc tại Xứ sở Sương mù… cho tới thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 xảy ra, các luồng ý kiến phản đối người nhập cư dẫn đến cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 ủng hộ “Brexit”. Không quốc gia nào trong số các nước đã gia nhập EU từ năm 2004 đạt mức độ thịnh vượng trên mức trung bình của EU-28.

Hẳn là việc mở rộng EU nằm trong chính sách địa chính trị mới của châu Âu, nhưng rất khó để giải thích với công luận rằng việc các quốc gia nghèo hơn mức trung bình EU gia nhập Liên minh là để làm giàu cho khối. Hơn nữa, các con số thống kê chứng minh điều ngược lại. Năm 2008, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-25 vẫn thấp hơn 11,4% so với EU-15 trước đây. Khoảng cách – vốn đã không nhỏ – so với Mỹ, nay lại càng tăng thêm.

Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho năm 2016, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-28 đạt 38.751 USD trong khi Mỹ lên tới 57.250 USD và Nhật Bản là 38.731 USD. Và để thêm thông tin so sánh, GDP bình quân đầu người quy đổi theo sức mua tương đương của Trung Quốc vào năm 2016 là 15.095 USD.

Nhìn xa hơn, sự sụt giảm tỷ trọng kinh tế của EU-28 so với kinh tế thế giới đã xuất hiện.

Từ năm 1980 đến năm 2014, tỷ trọng khu vực EU-28 trong sản xuất toàn cầu quy đổi theo sức mua tương đương giảm từ 31,2% xuống 18,3%, điều này có nghĩa tỷ trọng tương đối của khu vực EU-28 chiếm dưới 2/3 tổng giá trị tỷ trọng của Liên minh cách đây 34 năm. Rõ ràng, sự sụt giảm này nằm trong sự suy giảm tương đối nói chung của các nước phát triển, do tác động từ các quốc gia mới nổi. Nhưng sự suy giảm tương đó này ảnh hưởng ngắn hạn tới Mỹ hơn so với EU và Nhật Bản.

B. …và sự suy giảm tương đối của các yếu tố sản xuất…

Triển vọng vẫn u ám khi ta xem xét hai yếu tố chính của sản xuất, vốn và lao động. Thứ nhất, thị phần của khu vực EU-28 trong đầu tư toàn cầu không ngừng giảm sút kể từ năm 1980. Nếu trước kia tỷ trọng khu vực EU-28 là 30,1% trong tổng đầu tư toàn cầu, năm 2014 con số này chỉ đạt hơn 12,7%. Sự suy giảm của EU về chỉ số này thậm chí còn nhanh hơn so với những gì liên quan đến sản xuất toàn cầu. Trong cùng khoảng thời gian đó, Mỹ giảm từ 20,6% xuống 12,3% một sự sụt giảm ít gây chú ý hơn so với bước lùi của châu Âu. Ngược lại, nhóm các nước Brazil – Ấn Độ – Trung Quốc, trước đây chiếm 9,9%, hiện nay chiếm 39%, tăng gấp bốn lần, cao hơn mức tăng tỷ trọng tương đối của các quốc gia này trong nền kinh tế thế giới.

Thứ hai, yếu tố lao động thay đổi theo một cách khác tùy theo các khu vực được xem xét.

Theo IMF, kể từ năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực châu Âu chưa bao giờ thấp hơn 7%. Tỷ lệ này ở mức trung bình là gần 9% trong giai đoạn 2000 – 2013, trong khi mức trung bình này cùng thời kỳ ở Mỹ là 6,4% và ở Nhật Bản là 4,7%. Tháng 10/2016, theo số liệu sơ bộ của Cơ quan Thống kế Liên minh châu Âu – Eurostat, tỷ lệ thất nghiệp đối với cả hai giới của EU là 8,3%, Mỹ là 4,9% và Nhật Bản là 3%. Ngay cả trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, EU là khu vực gặp khó khăn hơn cả trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cặp khái niệm thất nghiệp hàng loạt/thất nghiệp dài hạn dường như đóng khung vào khu vực này gây nên sự lo lắng rằng một phần của lực lượng lao động châu Âu trở nên khó được sử dụng, điều này có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến khả năng sản xuất của khu vực, cộng với những tác động của vấn đề dân số lão hóa đã từng được đề cập trên đây.

Điều này dẫn đến một tổ hợp trong đó không chỉ sản xuất của EU trên toàn cầu sụt giảm mà ngoài ra, tình trạng và triển vọng của hai yếu tố chính của sản xuất cũng làm dấy lên mối lo về sự suy giảm.

C.. sẽ còn trầm trọng hơn nữa do tác động của “Brexit”

Trong bối cảnh này, tác động của “Brexit” sẽ ra sao? Vương quốc Anh là một nền kinh tế lớn trong EU, mặc dù Anh không tham gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) và trao đổi với EU dưới mức trung bình của các nước thành viên của EU, điều thường ít được nói đến. Vương quốc Anh chiếm 14% GDP của EU. Sau khi anh rời khỏi EU, GDP của EU mà không có Anh sẽ chỉ ở mức 86% so với mức trước đây. Nói cách khác, sự xuống cấp tương đối của “EU-27 bis” sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, nhất là so với Trung Quốc và Mỹ.

Quan sát những dự báo cho năm 2016, EU-28 sẽ chiếm 17,6% GDP của thế giới tính theo sức mua tương đương. Cùng kỳ, EU không có Vương quốc Anh chỉ chiếm 15,2% GDP toàn cầu tính theo sức mua tương đương.

Bởi vì, như chúng tôi đã đề cập trước đây, mức sống ở Anh cao hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của EU, GDP bình quân đầu người của EU không có Vương quốc Anh sẽ ở mức 2% thấp hơn so với EU-28.

Cuối cùng, chúng ta xem xét triển vọng chiến lược.

Bỏ rơi hay phục hồi chiến lược?

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn (A), bó buộc về mặt tâm lý và ngân sách (B) nhưng năm 2015 có thể bắt đầu một sự phục hồi dù rằng “Brexit” có thể tạo nên những hiệu ứng đáng kể (C).

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn…

Trang web của Cơ quan đối ngoại châu Âu (EEAS) từng đề xuất vào năm 2014: “Từ khi Lực lượng cảnh sát thực thi sứ mạng của EU tại Bosnia-Herzegovina thành lập tháng 3/2002, khoảng 30 nhiệm vụ và các hoạt động dân sự và quân sự đã được lập ra trong khuôn khổ Chính sách an ninh và quốc phòng chung – CSDP”. Phương cách công bố một con số tập hợp các nhiệm vụ với bản chất khác nhau, khiến công luận đánh giá quá cao số lượng các hoạt động quân sự của EU, trên thực tế đã thu gọn còn 9 hoạt động từ năm 2003.

Hơn nữa, những hoạt động quân sự của Liên minh châu Âu thường được kết hợp với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hay Liên hợp quốc (LHQ), điều này chứng minh quan điểm sức mạnh được kiểm soát, dù có nguy cơ hoạt động bị tê liệt. Chính vì thế, nhiệm vụ của Lực lượng gìn giữ hòa bình của EU tại Libya, vốn được EU thông qua nhằm can thiệp vào Libya, đã bị thất bại bởi không được LHQ bật đèn xanh. Trong khi đó, các cường quốc như Mỹ và Nga đôi khi tự cho phép việc sử dụng vũ lực mà thiếu đi sự thận trọng này.

Số binh sỹ châu Âu tham gia các hoạt động quân sự của EU cũng vẫn còn khiêm tốn, khoảng 400 và 7000 người tùy theo nhiệm vụ và thời điểm, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 60.000 binh sỹ như theo thông báo dự kiến vào năm 1999, tại Hội đồng châu Âu ở Helsinki. Hiện nay, các nhiệm vụ quân sự của EU vẫn còn thiếu nguồn lực kỹ thuật và con người, nhưng đặc biệt là thiếu ý chí chính trị.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần II


Năm 1960 khu vực EU-28 từng chiếm 13,3% dân số hành tinh, thì vào năm 2015 EU-28 chỉ chiếm 6,9% dân số toàn cầu. Tác động của Brexit sẽ ra sao?

…và tính đến các tác động có thể có của “Brexit”…

Sự ra đi của Vương quốc Anh sẽ dẫn đến sụt giảm dân số EU. Dân số EU sẽ giảm từ 510 triệu người xuống còn 443 triệu , tương đương với việc dân số EU chiếm từ 6,9% dân số thế giới giảm xuống còn chiếm 5,9%. Nói cách khác, EU không có nước Anh sẽ có tổng dân số ít hơn so với EU-25 vào ngày 1/5/2004 (với 450 triệu dân). Có lẽ với tổng số chết cao hơn tổng số sinh và tốc độ tăng trưởng dân di cư giảm, EU sẽ tiến sâu hơn vào “mùa đông nhân khẩu học”. Gérard-François Dumont định nghĩa thuật ngữ “mùa đông nhân khẩu học” là “tình hình của một quốc gia nơi tỷ lệ sinh thường xuyên dưới mức sinh thay thế”. Vào năm 2050, EU như hiện nay nhưng không có Vương quốc Anh sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 4 đến 4,5% dân số thế giới. Xu hướng nhân khẩu học này, đặc trưng bởi sự lão hóa và sụt giảm số dân, sẽ tác động tới lực lượng lao động và gánh nặng phụ thuộc giữa những lớp người ngoài tuổi lao động đối với những người trong độ tuổi lao động, chưa kể đến sự sáng tạo và khả năng cạnh tranh.

Tất nhiên, việc Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập EU có thể sẽ thay đổi tình hình, không chỉ từ góc độ dân số, tuy nhiên đấy là một chủ đề khác. Tình hình chính trị gần đây tại Thổ Nhĩ Kỳ khiến cho triển vọng gia nhập EU của nước này trong 10 năm tới trở thành một việc cần được cân nhắc thận trọng hơn.

Tình trạng “mùa đông nhân khẩu học” được giải thích bởi nhiều yếu tố. Trong khi dân số thế giới đã tăng gấp đôi kể từ năm 1960, các nước châu Âu lại ghi nhận tỷ lệ sinh dưới mức sinh thay thế, kể từ giữa những năm 1970. Năm 2015, tỷ lệ sinh của EU-28 là 1,6 con/1 phụ nữ, trong khi lẽ ra tỷ lệ này phải là hơn 2,1 để đạt được mức sinh thay thế. Vậy nên, ta có thể ước lượng một cách hình ảnh rằng mỗi một phụ nữ EU còn thiếu “0,5 con”. Một mặt tình hình “mùa đông nhân khẩu học” mang lại những tác động tích lũy trong 4 thập kỷ vừa qua, mặt khác, những lần mở rộng EU từ đầu thế kỷ 21 không bù đắp cho những thiếu hụt mà lại củng cố xu hướng này. Thực tế, 5 trong số 13 quốc gia gia nhập EU trong những năm 2004, 2007 hay 2013 tiệm cận mức trung bình EU (1,6) vào năm 2016, nhưng 2 quốc gia đông dân nhất lại ở dưới mức này. Ba Lan (38,4 triệu dân) ghi nhận chỉ số sinh là 1,3; và Romania (19,8 triệu dân) với chỉ số sinh là 1,2. Trong năm 2016, dân số EU-28 có nhiều người già hơn so với người trẻ, chỉ có 16% người dưới 15 tuổi so với 19% số người trong độ tuổi từ 65 trở lên và ở Đức, tỷ lệ người cao tuổi còn cao hơn, 21%.

Đóng góp của nhập cư?

…để thấy rằng dù có sự đóng góp của vấn đề di cư, Eu vẫn ghi nhận sự suy giảm dân số tương đối.

Kể từ đầu những năm 1990, chính những người nhập cư là động lực thực sự của tăng trưởng dân số ở khu vực châu Âu. Hơn nữa, người nhập cư là người trẻ và thúc đẩy tỷ lệ sinh.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2008 đánh dấu một sự chuyển hướng thường không được đề cập trong các cuộc thảo luận công khai. Ngay từ năm 2009, số lượng người di cư tới khu vực EU-28 đã giảm, với con số từ hơn 1,4 triệu người xuống còn 851.335 người. Các số liệu tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo, cụ thể là 925.223 vào năm 2010, 872.332 vào năm 2011 và 653.100 vào năm 2013. Nói cách khác, dù không có sự thay đổi đáng kể nào trong chính sách nhập cư, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm giảm đáng kể sự hấp dẫn của EU đối với người di cư. Đặc biệt phải nói đến tình hình của các quốc gia phía Nam như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nơi sự sụt giảm kinh tế đã làm tình hình thay đổi hoàn toàn, từ vị trí các nước nhập cư mạnh trở thành nước có nhiều dân di cư. Sự chuyển đổi mang tính biểu tượng này với ngưỡng dưới một triệu người nhập cư mỗi năm sẽ tác động đến triển vọng nhân khẩu học của EU và do đó tác động đến tỷ trọng tương đối của EU trên toàn cầu. Với việc giảm đi một nửa “động lực chính” tăng trưởng dân số đồng thời sự gia tăng tự nhiên không thể đảm bảo tăng trưởng dân số, cuộc khủng hoảng kinh tế đã thúc đẩy hơn nữa sự suy giảm dân số của EU.

Sự chuyển hướng thứ hai diễn ra vào năm 2015. Thời điểm này, EU đã phải đối mặt với một dòng di cư đông đảo, tổng cộng là hơn một triệu người, gồm những người chạy trốn khỏi các khu vực chiến tranh – trong đó có Afghanistan và Syria – và di dân kinh tế rời khỏi khu vực được quản trị kém, đặc biệt là sau những biến đổi tại các quốc gia Arập trong khoảng thời gian từ 2010 – 2011. Sự gia tăng di cư đột ngột này nằm ngoài dự kiến của EU. Điều này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng chính trị, một phần trong số người dân và các chính phủ lo lắng về dòng người nhập cư này. Nhiều chính phủ đã từ chối chủ trương phân bổ người nhập cư của EU, đầu tiên là Hungary, quốc gia đặc biệt ảnh hưởng bởi vấn đề này vì vị trí địa lý nằm gần “tuyến đường Balkan”. Tháng 10/2016, Thủ tướng V. Orban đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này. Với 40% người dân tham gia cuộc trưng cầu dân ý, điều này không đủ để cho kết quả cuộc trưng cầu dân ý có giá trị, nhưng phản ứng của những người tham dự thì lại là hơn 96% người tuyên bố phản đối việc Hungary tiếp nhận người nhập cư. Một tác động khác của cuộc khủng hoảng di cư 2015 – 2016, Hiệp ước Schengen đã trải qua một thời điểm khó khăn, các quốc gia thành viên Schengen đã thiết lập lại việc kiểm soát biên giới bên trong EU, điều chỉ được tiến hành, theo quy định của Hiệp ước, trong trường hợp khủng hoảng Ví dụ, Pháp đã tái lập kiểm soát biên giới với Italy, đặc biệt là gần Ventimiglia. Việc này được tiến hành trong khi, kiểm soát biên giới bên ngoài EU vẫn rất thiếu thống nhất.

Năm 2015, lần đầu tiên, tổng số tăng trưởng dân số của EU đến từ sự gia tăng dân nhập cư, bởi vì gia tăng tự nhiên ở mức âm, với tổng số chết nhiều hơn tổng số sinh. Thực tế, dân số EU-28 ở mức 510,1 triệu người vào ngày 1/1/2016. Lần đầu tiên, EU ghi nhận vào năm 2015 gia tăng dân số tự nhiên âm, với số lượng chết (5,226 triệu) vượt quá số lượng sinh là 135.200 người. tăng dân số tự nhiên âm ghi nhận tại 13 quốc gia, trong đó có 8 nước Đông Âu. Những quốc gia ghi nhận con số đang lưu ý hơn cả là Bulgari (-0,62%), Croatia và Hungary (-0,4%). Pháp lại ghi nhận gia tăng tự nhiên đạt 0,3%.

Trong năm 2015, lần đầu tiên, tổng tăng trưởng dân số của EU hoàn toàn do lượng người nhập cư mang lại, với 1,898 triệu người. Các quốc gia ghi nhận sự gia tăng nhiều nhất là Luxembourg (2,33%), Áo (1,44%), Đức (1,18%). Tại Pháp, tăng trưởng là 0,37%. Ngược lại, Litva (-1,13%), Latvia (-0,87%) và Croatia (-0,82%) ghi nhận mức giảm lớn nhất. Các nước Đông Âu, thành viên EU từ năm 2004, chiếm 7 trong số 11 quốc gia thuộc EU ghi nhận giảm, 4 quốc gia khác ở Nam Âu cũng ghi nhận sụt giảm là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Italy và Tây Ban Nha.

Nói cách khác, năm 2015, EU hoàn toàn phụ thuộc vào gia tăng số lượng người nhập cư cho sự gia tăng dân cư trong khu vực.

Trong ngắn và trung hạn, EU có lẽ vẫn là khu vực có dân số già nhất thế giới (trừ Nhật Bản), điều này chắc chắn sẽ dẫn đến vấn đề về chi phí cho lương hưu, hiện tượng giảm mật độ dân số trong khu vực rộng lớn, căng thẳng trong các vấn đề nhập cư và hội nhập, nhất là qua vấn đề cộng đồng nước ngoài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017