Thay đổi chính sách cộng đồng – một bài toán khó cho nước Anh?


Ba vụ tấn công khủng bố trong vòng 3 tháng, đặt nước Anh trước một thách thức lớn: Làm sao chống và ngăn ngừa khủng bố? Bởi vì, theo nhận định của ủy ban đặc biệt trong tình trạng khẩn cấp, những kẻ sát nhân không phải là thành viên của một mạng lưới rõ ràng, mà chỉ là những cá nhân riêng lẻ đi theo con đường Hồi giáo cực đoan. Nghiêm trọng hơn là ngày càng có nhiều phần tử Hồi giáo cực đoan sinh ra và lớn lên ở ngay tại nước Anh, cho dù hưởng thụ nền giáo dục dân chủ của Anh quốc, nhưng vẫn dễ dàng trở thành kẻ khủng bố ngay trên chính đất nước này.

Nước Anh vốn có truyền thống lạnh lùng và không thể hiện cảm xúc ra bên ngoài, đặc biệt là vẫn lạc quan vui vẻ khi bị tấn công khủng bố. Nhưng lần này, sau liên tục 3 vụ thảm sát chỉ tron vòng 3 tháng, Thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố đã đến lúc cần phải có những cuộc trao đổi đáng xấu hổ để ngăn chặn khủng bố leo thang, và nước Anh đã quá dung thứ cho các hệ phái tư tưởng cực đoan. Bà nói: “Chúng ta không thể và không được giả đò như là sự việc cứ thế tiếp tục như vậy. Nhiều điều cần phải thay đổi, và phải thay đổi theo 4 hướng quan trọng: Trước hết, bởi vì các vụ tấn công không liên kết với nhau qua các mạng lưới hoạt động thường gặp, mà kết nối với nhau qua một điều quan trọng, là cùng chí hướng với nhau theo duy nhất một tư tưởng ác quỷ Hồi giáo cực đoan, đã truyền bá sự chia rẽ và cổ xúy chủ nghĩa giáo phái. Đó là tư tưởng cho rằng các giá trị phương Tây của chúng ta về tự do, dân chủ và nhân quyền không phù hợp với đạo Hồi.

Đó là tư tưởng muốn đem đạo Hồi đi theo chiều hướng xấu xa, và bẻ cong sự thật. Đánh bại tư tưởng này là một trong số những thách thức vĩ đại nhất cho thời đại của chúng ta. Nhưng không thể đánh bại chỉ bằng can thiệp quân sự mà thôi. Cũng sẽ không thể đánh bại được chúng bằng việc tiếp tục duy trì một chiến dịch vĩnh viễn để chống khủng bố, bất kể giới chuyên gia và chỉ huy giỏi đến mức nào. Chỉ có thể đánh bại hệ tư tưởng đó bằng cách đưa suy nghĩ của con người rời xa xu hướng bạo lực này và khiến họ hiểu rằng giá trị của chúng ta, giá trị đặc trưng của nước Anh là cao cả hơn bất kỳ điều gì mà những kẻ truyền bá và ủng hộ cho lòng thù hận rao giảng”.

Người tị nạn – một bài toán khó

Những lời rao giảng thù hận và chia rẽ sắc tộc đã khiến cho rất nhiều thiếu nữ Anh sinh ra và lớn lên ở đây sẵn sàng lên đường sang Trung Đông để làm vợ cho các chiến binh Daech, hay thanh niên sang tham gia vào lực lượng vũ trang, chống lại chính những người đồng bào Anh của mình.

Những lời rao giảng đó thậm chí không chỉ ảnh hưởng riêng trong các cộng đồng có nguồn gốc từ nền văn hóa Hồi giáo, mà mới gần đây trên thế giới từng ồn ào về trường hợp của một người gốc Việt Nam, cũng tham gia hoạt động tài chính và truyền thông cho khủng bố, bị cảnh sát bắt và tước quốc tịch rồi dẫn độ sang Mỹ để ra tòa và chịu án tù vì có liên quan tới âm mưu khủng bố quốc tế.

Sau khi những vùng căn cứ địa và trại huấn luyện ở Trung Đông bị liên quân xóa bỏ, nhiều thành viên của hệ tư tưởng quá khích đã quay trở về nước Anh và bắt đầu thực hiện những vụ tấn công khủng bố bằng những phương tiện thô sơ nhất.

Ban đầu là vụ đâm chết một thanh niên Anh mặc quân phục đi trên đường, rồi bây giờ là dùng xe hơi và dao kiếm tấn công vào khách du lịch hay người dân đang vui chơi ngoài đường. Thủ tướng Anh nói đã đến lúc nước Anh phải chấm dứt việc dung thứ quá mức cho tư tưởng cực đoan.

Nước Anh nổi tiếng là một đất nước tự do dân chủ, chủ trương mô hình xã hội cộng đồng, tức cho phép nhiều tôn giáo khác nhau cùng rao giảng, và nhiều hệ tư tưởng khác nhau cùng được tự do phát triển. Vấn đề đặt ra là với mô hình xã hội của Anh hiện nay, sẽ khó mà phân biệt được đâu là tư tưởng cực đoan không được phép, và đâu là sự phản đối chính nghĩa để bảo vệ cho tự do tư tưởng? Đây sẽ là một thách thức lớn cho anh, một đất nước với bề dày lịch sử phức tạp. Ngày xưa, nơi đây từng nổi tiếng với việc đàn áp người theo đạo Công giáo La Mã, giết hại linh mục và nhiều giáo dân phải lén lút hành đạo. Đó cũng chính là lý do khiến cho người Anh hôm nay cảm thấy cần phải trả nợ với quá khứ, và chấp nhận rất nhiều hồ sơ tị nạn theo diện tôn giáo. Thế nhưng, với một bộ máy hoạt động quá tải, và thái độ lơ là của nhân viên, thì việc để lọt lưới những người giả mạo hay thậm chí những kẻ quá khích là chuyện dễ hiểu. Từng có một số kẻ quá khích từ Iraq lọt lưới thanh lọc và được chính phủ Anh cho phép tị nạn, rồi lại hoạt động chống phá ngay trên mảnh đất này.

Ví dụ trong cộng đồng người Việt cũng có rất nhiều người dù là ở miền Bắc nhưng vẫn khai là theo đạo Hòa Hảo để xin tị nạn, mà trong đời chưa bao giờ biết địa danh đó nằm ở An Giang hay Đồng Tháp. Rồi cũng có nhiều trường hợp khai là trẻ em, mà theo luật thì cho đến khi kết luận người này không phải là trẻ em, thì vẫn được đi học trong trường Trung học cơ sở hay thậm chí là Trung học phổ thông cùng với trẻ em người Ah. Đó là chưa kể có đến trên dưới 1 triệu người không có giấy tờ vượt biên vào Anh. Đây cũng chính là vấn đề chung của những nước châu Âu đang bị khủng bố tấn công như Pháp và Đức, khiến cho một số nước mạnh tay như Hungary tuyệt đối không nhận người tị nạn.

Brexit – một giải pháp khả thi để chống khủng bố?

Đâu là giải pháp cho vấn đề nan giải này? Một ý kiến trong cuộc vận động Brexit vừa qua cho rằng sau ngày nước Anh rút khỏi cam kết phải tuân thủ tòa án châu Âu thì sẽ giảm bớt được gánh nặng về việc phải cho những người mà nước Anh không muốn nhận được tạm thời cư trú, và như vậy sẽ yên ổn phần nào về an ninh?

Dẫu sao đây cũng chỉ là một ý kiến tranh cãi, vì bản chất của vấn đề là làn sóng người di tản từ các quốc gia đang bất ổn vì Hồi giáo cực đoan vẫn đang tiếp diễn. Thuyền nhân tràn ngập ở vùng Địa Trung Hải tràn vào Hy Lạp, rồi ngược lên Pháp, tìm mọi cách trốn qua phà biển Manche vào Anh, mà có đủ loại mọi máy móc thiết bị thì vẫn có người lọt lưới.

Thủ tướng Anh của đảng Bảo thủ đương quyền nói không thể nào chiến thắng Hồi giáo cực đoan chỉ bằng vũ khí, còn Chủ tịch Công đảng bên kia phía đối lập thì nói bà Theresa May lẽ ra phải từ chức vì cắt giảm chi tiêu cho cảnh sát khiến bạo lực gia tăng thành khủng bố.

Một số ý kiến cũng chỉ trích cả hai chính phủ đã cắt giảm ngân sách dành cho ngành giáo dục, bỏ bê việc chăm sóc trẻ em từ khi còn nhỏ, hay các cộng đồng sắc tộc, khiến thanh niên dễ dàng nghe theo tuyên truyền của kẻ xấu. Có ý kiến thậm chí còn lần ngược trở lại quyết định của nước Anh cùng Hoa Kỳ tham chiến, tấn công Taliban sau vụ khủng bố 11/9. Thực sự, đó chính là những điều, mà như Thủ tướng Anh đã nói, là một cuộc trao đổi không hề dễ dàng và rất xấu hổ. Nước Anh từng ý thức được về chuyện này sau vụ London bỗng nhiên bị đốt phá ở khắp nơi, nhưng thực sự cho tới thời điểm này, chưa có chính sách hay hành động cụ thể nào để đối phó với một nguy cơ tấn công hoàn toàn mới, và không dễ gì giải quyết trong xã hội.

Đã vậy, nước Anh lại còn đang trong giai đoạn bầu cử để chọn ra một chính phủ mới, vừa lèo lái quá trình Brexit, lại vừa đối phó với tình hình kinh tế không mấy khả quan, và giờ đây lại thêm các vấn đề mới về văn hóa và cộng đồng, thực ra khó có câu trả lời nào cụ thể cho một giải pháp ổn định lâu dài.

Nguồn: RFI

TKNB – 09/06/2017

Advertisements

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần cuối


Sự tập trung lực lượng này – với kết quả vẫn còn phải đánh giá – là một phản ứng với cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 dẫn đến kết quả ủng hộ “Brexit”.

Tác động chiến lược của “Brexit” sẽ ra sao? Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc chào đón cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 với kết quả ủng hộ “Brexit”. Pierre Razoux trong một “Ghi chép nghiên cứu chiến lược của Viện nghiên cúu chiến lược thuộc Trường Quân sự (IRSEM)”, xuất bản đầu tháng 7/2016 nói về điều này và những tác động chiến lược: “Brexit có nguy cơ gây ra gia tăng chia rẽ trong EU. Brexit khuyến khích chủ nghĩa dân túy và báo hiệu sự phá vỡ uy tín Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) dẫn đến sự tăng cường vai trò của NATO ở châu Âu. Đặc biệt, nó dẫn đến việc Pháp trở nên đơn độc đối diện với Đức, và Vương quốc Anh đứng trước nguy cơ bị mất uy tín cả về kinh tế lẫn chiến lược, với việc có thể phải chấp nhận sự độc lập của Scotland. Nếu “Brexit” không ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng Pháp – Anh (Hiệp ước song phương Lancaster House, ngày 2/11/2010), nó cũng báo hiệu về trung hạn và dài hạn sự sụt giảm nỗ lực quốc phòng của Anh cũng như nguy cơ từ bỏ một phần hoặc hoàn toàn khả năng răn đe hạt nhân của London. Khi ấy, Pháp sẽ trở thành cường quốc hạt nhân quân sự duy nhất (trong phạm vi EU). Trong tình hình như vậy, các mối liên kết chiến lược giữa Mỹ và NATO sẽ suy yếu một cách sâu sắc. Để duy trì vai trò trung tâm ở châu Âu, Pháp sẽ quan tâm đến việc hiện diện với vai trò trung gian giữa Anh và EU.

Khi Anh ra khỏi EU, Pháp sẽ là quốc gia thành viên duy nhất của EU có sức mạnh hạt nhân và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nếu các nước không chia sẻ cùng nhau trong việc cấp vốn cho chương trình vũ khí hạt nhân của Pháp, các nước thành viên khác có thể mưu toan tăng cường áp lực lên Paris để vị trí thành viên thường trực Hội đồng Bảo an của Pháp phải được chuyển sang cho EU. Cần nhắc lại rằng Đức không có đặc quyền này do trách nhiệm lịch sử của nước này trong việc phát động cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sự ra đi của Vương quốc Anh cũng không phải không để lại hậu quả đối với quan hệ Pháp – Đức. Câu hỏi đặt ra là liệu Paris sẽ có phân tích, chiến lược và biện pháp tương xứng với mức độ, tầm vóc của vấn đề hay không: trong một EU không có Anh, làm thế nào để cân bằng lại quan hệ Pháp – Đức hướng tới lợi ích cho Berlin từ hơn một thập kỷ nay? Làm thế nào để duy trì mối quan hệ tích cực với Vương quốc Anh trong lĩnh vực quốc phòng?

Giờ đây Pháp sẽ hướng tới quốc gia nào để khởi động lại lần thứ n vấn đề phòng thủ chung châu Âu? Mùa Thu 2016, Paris một lần nữa thể hiện sự xích lại gần Đức, tuy nhiên Anh đã cho thấy họ sẽ phá hoại những nỗ lực khởi động phòng thủ châu Âu cho tới khi Anh còn trong EU. Không thể không tưởng tượng rằng Anh sẽ tiếp tục thực hiện việc này khi quốc gia này đã rời EU, thông qua những phương thức “lobby” mà họ vốn làm chủ một cách khéo léo và chính xác.

Vấn đề đáng lo ngại hơn cả khi Mỹ đã quyết định chiến lược xoay trục sang châu Á và biên giới Ukraine bị Nga đe dọa và uy hiếp nhiều lần trong năm 2014. Một cách nghịch lý, những căng thẳng với Nga đã có khía cạnh “tích cực” từ 1 đến 2 năm nay trong việc khiến một số quốc gia thành viên EU cam kết gia tăng GDP chi cho quốc phòng. Vẫn còn phải chờ đánh giá các bước đi tiếp theo cả các chương trình nói trên trong những năm tới. Kể từ khi ông Donald Trump nhậm chức ngày 20/1/2017, nhiều người mong đợi rằng tổng thống mới của Mỹ cam kết việc xác định lại mối quan hệ giữa các quốc gia thành viên NATO. Còn quá sớm để nhận thấy những lợi thế còn ại trong đàm phán để thu lại nhiều hơn các khoản đầu tư của các đồng minh khác và điều gì là diễn biến tiếp theo trong giai đoạn từ nay tới cuối thập kỷ này. EU sẽ nắm bắt cơ hội này hay không?

Như vậy, trước sự kiện “Brexit”, EU đã đi vào xu hướng tan rã tương đối, với tỷ lệ đáng kể mà ta thường không nhận ra. Phải thừa nhận rằng EU đang trong thời kỳ tan rã trên trường quốc tế. Chỉ số nhân khẩu học, kinh tế và chiến lược đang chứng minh cho sự sụt giảm này.

Đáng lo ngại hơn, quá trình này còn bị thúc đẩy bởi tác động của cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 2008.

“Brexit” xảy ra vào thời điểm 2019 – 2020 sẽ gia tăng sự tan rã về vị thế tương đối của EU, trên tất cả các thông số được xem xét: lãnh thổ, dân số, kinh tế, chiến lược. Làm sao điều này lại không đem đến những tác động tới sức mạnh của EU trên thế giới? Hiện giờ, “Brexit” làm suy giảm hình ảnh của EU trên toàn cầu, đặc biệt là trong cái nhìn của vị tổng thống mới của Mỹ. Sự kiện này cũng làm gia tăng phong trào dân túy và xu hướng ly khai tại các nước thành viên EU. Sau 6 thập kỷ hội nhập châu Âu, nhiều chỉ số cho thấy quá trình “phá vỡ cấu trúc châu Âu” đang bắt đầu kể từ ngày 23/6/2016, ngày trưng cầu dân ý về “Brexit”. Điều này sẽ đi đến đâu? Câu hỏi mở và thu hút sự quan tâm của nhiều nhân vật… trong đó một số có ý định lợi dụng sự suy yếu của EU.

Với những người thích hoàn cảnh nghịch lý, có ý kiến lập luận rằng những khó khăn có thể là một cơ hội lớn để tái tạo lại EU, và làm cho Liên minh mạnh mẽ hơn, tại sao không. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đạt được điều này. Cần phải quay trở lại, làm tăng chủ quyền các nước thành viên và tăng cường các rào cản thương mại bên ngoài? Hay cần hướng tới chủ nghĩa liên bang hơn – và với giá nào, với những được mất ra sao? Cần giữ đoàn kết ở mức độ nào? Cần tái tạo chủ quyền chia sẻ ra sao? Trong mọi trường hợp, ai sẽ cổ xúy hay tiếp tục cổ xúy EU đang bị đe dọa tan rã?

Thực tế, vấn đề nan giải là: sau Chiến tranh thế giới thứ hai, EU đã cơ bản được xây dựng bởi một phần giới tinh hoa, với việc tránh các cuộc tranh luận chính trị, vì người dân sẽ không chấp nhận chia sẻ chủ quyền với một số những kẻ thù trong quá khứ. Kết quả là, xây dựng châu Âu đã được thực hiện trong khoảng thời gian khá lâu – trong bói cảnh của 30 năm huy hoàng – nhờ vào sự đồng thuận dễ dãi của một bộ phận dư luận, với một thái độ thờ ơ. Sự thờ ơ đó đã dần dần biến thành sự mất lòng tin nếu nhìn vào tốc độ gia tăng của những cử tri không tham dự vào các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu cũng như sự gia nhập của các nhân vật với tư tưởng nghi ngờ về châu Âu trong chính Nghị viện châu Âu. Cuộc khủng hoảng tài chính từ Mỹ trong năm 2008 đã gây ra những tác động tiêu cực tại các quốc gia EU, kể cả Vương quốc Anh, với sự sụt giảm đáng kể về mức sống. Các hậu quả kinh tế, xã hội đã khuyến khích các đảng phái dân túy, cánh hữu hay cánh tả hoặc phe phái khác nữa. Chủ nghĩa dân túy là gì? Đây trước hết là một phong trào xây dựng trên lòng thù hận và lên án giới tinh hoa… và các dự án của họ. Và như thế cuộc khủng hoảng kinh tế biến thành một cuộc khủng hoảng chính trị tác động như một chiếc boomerang đến quá trình xây dựng châu Âu…, một dự án được cổ xúy bởi một phần giới tinh hoa, giờ bị ghét bỏ. Hiện tại, hệ thống nghiên cứu xã hội học của EU đang khó hồi sinh.

Trong bối cảnh này, ai sẽ tái tạo lại EU? Bao nhiêu người dân châu Âu quan tâm đến việc này? Ý định của lịch kích hoạt điều 50 Hiệp ước Lisbon vào tháng 3/2017 là làm rõ tình hình đối với các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào mùa Xuân 2019. Vào lúc này không ai biết quá trình này sẽ diễn ra thế nào, cũng như không biết tỷ lệ người dân không tham gia cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu tiếp theo (2019) là bao nhiêu, hoặc kỷ lục của các đáng phái có xu hướng hoài nghi với châu Âu là thế nào cũng như Ủy ban châu Âu tới đây sẽ ra sao. Hubert Védrine đề xuất rằng để người dân quan tâm đến dự án châu Âu, sẽ cần phải vượt qua một ngưỡng chính sách, xung quanh một lựa chọn về bản sắc và chủ quyền, thông qua một hội nghị tái thành lập cho phép làm rõ câu hỏi về phân chia, tách bạch thẩm quyền, quyết định xem đó là thẩm quyền của các khu vực, hay các quốc gia thành viên EU. Hội nghị này cần tập trung vào ba hoặc bốn nhiệm vụ lớn.

Hiện tại, kế hoạch xây dựng châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng lớn, tình trạng có thể ảnh hưởng tới địa chính trị EU và vị thế tương đối của Liên minh trên thế giới.

Điều cần thiết hơn bao giờ hết là EU tiến hành phân tích đại chính trị và thực hiện một chiến lược thực sự.

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần IV


EU đã thành lập Cơ quan đối ngoại EU (EEAS) từ năm 2009, do một Đại diện cấp cao của Liên minh chuyên trách các vấn đề Đối ngoại và An ninh đứng đầu. Các hiệp định giới hạn một cách chặt chẽ quyền hạn của Cơ quan đối ngoại nhằm ngăn ngừa sự xâm lấn vào đặc quyền về chủ quyền của các quốc gia. Nhiều ý kiến nghi ngờ các nguyên thủ quốc gia trong việc họ lựa chọn người lãnh đạo đầu tiên của EEAS là Catherine Ashton, một nhân vật người Anh không có kinh nghiệm ngoại giao, để tránh việc bà làm họ bị lu mờ. Kết quả, 3 năm đầu tiên sau khi thành lập EEAS, thành tích của cơ quan này bị đánh giá là nghèo nàn. Nhưng năm 2013 được đánh dấu bằng hai vụ can thiệp cho là tích cực, liên quan đến quan hệ Serbia/Kosovo và trong bối cảnh nối lại các cuộc đàm phán với Iran. Chẳng bên nào muốn hạ thấp giá trị của mình, mỗi bên sẽ đồng ý rằng vì lợi ích của Serbia mà tạm thời xoa dịu quan hệ với Kosovo nhằm giành lấy một cách chính thức vị trí ứng cử viên gia nhập EU. Về các cuộc đàm phán với Iran, sự hiện diện của C. Ashton đã diễn ra trước cả năm so với thời điểm đàm phán bí mật của Washington và Tehran.

Dĩ nhiên, 22 trong số 28 thành viên EU cũng là các thành viên của Liên minh chiến lược đầu tiên trên thế giới, NATO. Liên minh này trở nên mạnh mẽ hơn với những lần mở rộng vào các năm 1999, 2004 và 2009, kết nạp thêm các quốc gia trước đây là thành viên Hiệp ước Vacsava, được biết đến với việc giành chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, các mối quan hệ cấu trúc giữa EU và NATO vừa là mọt đảm bảo về an ninh và dễ dàng ngăn cản EU tự thể hiện một cách độc lập về chiến lược. Các Hiệp ước Maastricht và Lisbon đặt Chính sách đối ngoại và an ninh chung (CFSP), Chính sách an ninh và phòng thủ châu Âu (ESDP) và sau này là Chính sách an ninh và quốc phòng chung (CSDP) gần như dưới sự giám hộ của NATO. Thực tế, EU phải tôn trọng các nghĩa vụ theo Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, văn bản đối với các nước là thành viên NATO, là “nền tảng quốc phòng tập thể và thiết chế thực thi hiệp ước”. Hiểu theo nghĩa đen, công thức này ở số ít có thể cấm bất kỳ sáng kiến châu Âu nào về quốc phòng. Mặt khác, câu hỏi đặt ra là, tân Tổng thống Mỹ Donald Trump, sẽ làm gì với NATO.

…bó buộc về tâm lý và ngân sách.

Tuy nhiên, những bó buộc về mặt chiến lược đè nặng EU hơn cả lại mang tính tâm lý. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, xây dựng châu Âu đã được thúc đẩy bởi hình thức từ bỏ sức mạnh quân sự, trước hết là giữa các nước thành viên và sau đó là với thế giới. Khao khát một hình thức “hòa bình vĩnh viễn” giữa các thành viên của EU, Liên minh được coi là một quyền lực mềm, chắc chắn không phải sức mạnh cứng. EU từ chối quan điểm về thế giới như cách cảu các Nhà nước, với việc chỉ ra những đối tượng thù địch và xác định một chiến lược thực sự. EU mang trong mình sự từ bỏ tự nguyện đối với quyền lực chính trị. Về mặt bản thể học, EU không có hứng thú thực sự với quyền lực. Thúc đẩy chủ nghĩa đa phương mơ hồ chỉ là sự nghi binh trước một xu hướng nặng về bất lực. Khi xảy ra một cuộc xung đột tại biên giới EU, Liên minh thường bắt đầu bằng các cuộc thảo luận bất tận trước khi đi đến một tuyên bố muộn mằ và thường là thu gọn lại trong một mẫu số chung nhỏ nhất. Nói chung một số người hy vọng rằng Washington sẽ can thiệp vào xung đột, trong khi số khác, hướng đến hành động, tìm kiếm một cách tuyệt vọng những hỗ trợ.

Cuối cùng, EU vẫn còn thiếu các phương tiện quân sự và nền công nghiệp quốc phòng để khẳng định mình một cách độc lập về mặt chiến lược. Cuộc khủng hoảng kinh tế bùng phát năm 2008, đã thúc đẩy việc giảm ngân sách quốc phòng của các nước thành viên, phần đông cắt giảm khoảng 10% trong khoảng thời gian 2010 và 2013. Chỉ có Vương quốc Anh vào năm 2014 vẫn giữ mục tiêu chi 2% GDP cho quốc phòng (không bao gồm lương hưu) vào năm 2014. 5 thành viên – trong đó có Pháp – dành khoảng 1,5% đến dưới 2% GDP cho quốc phòng. Bảy nước dành từ 1 – 1,5% GDP – trong đó có Đức với 1,1%. Tất cả các nước thành viên khác chi tiêu ít hơn 1% GDP của họ cho quốc phòng.

Các ngành công nghiệp châu Âu ngày càng từ bỏ nhiều hơn việc sản xuất vũ khí để ưu tiên các sản phẩm dân dụng, với nguy cơ mai một chuyên môn và kinh nghiệm. Nếu xu hướng này tiếp tục, các nước thành viên EU sẽ ngày càng rơi vào tình cảnh phải mua các thiết bị của Mỹ. Điều này, đến một mức độ nào, sẽ làm thỏa mãn hệ thống quân sự – công nghiệp của Mỹ.

…nhưng năm 2015 đánh dấu một sự phục hồi bước đầu dù “Brexit” mang đến những hiệu ứng đáng kể.

Năm 2015, theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI), được công bố ngày 5/4/2016, tất cả các quốc gia Tây Âu và Trung Âu tiếp tục thu hẹp đầu tư cho quân sự. Tuy nhiên, trước những hành động của Nga ở Ukraine (2014), một số quốc gia ở Đông Âu đang đẩy mạnh ngân sách quốc phòng – dù là với ngân sách khiêm tốn, đó là các nước: Litva, Ba Lan, Latvia và Estonia. Mặt khác, sau thời gian cắt giảm đáng kể ngân sách dành cho quân sự, ba cường quốc quân sự lớn – Vương Quốc Anh, Pháp và Đức – đang bước vào thời kỳ tái đầu tư quân sự kéo dài trong nhiều năm. Tại Pháp, các mối đe dọa khủng bố đã khiến người đứng đầu nhà nước đi đến quyết định dừng cắt giảm các phương tiện quốc phòng. Mùa Hè 2016, Đức công bố ý định tăng ngân sách quốc phòng lên khoảng 2% GDP, tuy nhiên cần xem xét liệu thông báo này dẫn đến kết quả nào. Liệu việc tăng ngân sách quốc phòng của Nga (+90% trong 10 năm), vấn đề biên giới quốc tế, những mối đe dọa khủng bố và các cú sốc địa chính trị ở phía Nam và phía Đông Nam EU sẽ khiến tư tưởng quốc phòng tại các nước EU trỗi dậy hay không?

Ngày 8/3/2015, trong bó cảnh cuộc khủng hoảng Ukraine, Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker đã đề xuất ý tưởng thiết lập quân đội chung của EU nhằm tăng uy tín cho chính sách đối ngoại của Liên minh. Như vậy, Chủ tịch Ủy ban châu Âu khiến những cuộc tranh luận về vấn đề quốc phòng của EU trở nên sôi nổi lại.

Ngày 30/3/2015, một hội nghị cấp cao kiểu bộ ba Weimar giữa Pháp, Đức và Ba Lan, tái khẳng định tham vọng về vấn đề này. Nhưng không giống như tham vọng của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker về thiết lập một quân đội chung của EU, đề xuất được thông qua cuối hội nghị nhấn mạnh việc phát triển ngành công nghiệp quốc phòng của châu Âu, nhằm xuất khẩu sang các thị trường quốc phòng đặc biệt là châu Phi, và bày tỏ mong muốn có bước đột phá trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển quân sự. Những kết luận từng được đưa ra tại cuộc họp trước của bộ ba này vào năm 2013. Pháp và Đức cũng đã công bố khởi động lại dự án chế tạo một vệ tinh do thám, dự án này từng được thai nghén từ hàng năm nay tuy nhiên vẫn chưa được thực hiện bởi thiếu một thỏa thuận về tài chính.

Bộ ba Weimar (Pháp, Đức, Ba Lan) cũng đề xuất sử dụng các Nhóm chiến đấu gồm khoảng 1500 lính có thể huy động được trong vòng 10 ngày và sẵn sàng tác chiến trong thời gian 4 tháng, đó chính là phôi thai của quân đội chung của EU theo đề xuất của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Jean-Claude Juncker.

Khả năng tác chiến đầy đủ của các đơn vị này đã từng đạt được vào năm 2007, nhưng cho đến nay các đơn vị này vẫn chưa bao giờ được huy động. Cơ hội không phải không có: Mali, Trung Phi… đã không dẫn tới việc sử dụng các lực lượng phản ứng nhanh của Liên minh.

Việc một mình Pháp điều hành các cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy rằng, dù có quan điểm chính thức, Paris không sẵn sàng hợp tác châu Âu trong vấn đề tác chiến nhiều hơn so với London. Điều này cho thấy rằng trở ngại chính đối với việc phòng thủ châu Âu không phải vấn đề thiếu phương tiện mà chính là ý chí chính trị. Việc viện đến mối hợp tác có cấu trúc vĩnh viễn, được quy định bởi Hiệp ước Lisbon, sẽ là một cách khác để vượt qua những rào cản trong việc ra quyết định và để thiết lập một hạt nhân các quốc gia tiên phong của EU trong vấn đề quốc phòng.

Trong khoảng thời gian từ 14/11 và 6/12/2006, EU thông qua một gói biện pháp đáng kể trong lĩnh vực an ninh và quốc phòng bao gồm: một kế hoạch thực hiện về an ninh và quốc phòng; một kế hoạch hành động châu Âu về quốc phòng do Ủy ban châu Âu đề xuất nhằm tối ưu hóa chi phí và hợp tác về quốc phòng; và kế hoạch thực hiện tuyên bố EU-NATO ngày 8/7/2016 dựa trên 42 biện pháp cụ thể, đặc biệt về an ninh mạng, khả năng quân sự hoặc nghiên cứu, đây là bước tiến ý nghĩa nhất trong hợp tác giữa hai tổ chức kể từ Hiệp định Berlin + năm 2013.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần III


Nền kinh tế có tốt hơn không?

Suy giảm kinh tế

Sự suy yếu tỷ trọng kinh tế tương đói của EU (A) và các yếu tố sản xuất (B) sẽ còn bị ảnh hưởng hơn nữa bởi “Brexit” (C).

A – Tỷ trọng kinh tế tương đối của EU bị suy yếu…

EU là một thị trường nội địa quan trọng. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho năm 2016, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) quy đổi theo sức mua tương đương (PPP), tăng lên một cách cơ học nhờ sự nới rộng khác nhau, có thể đạt 19.748 tỷ USD khi tỷ lệ của hai cường quốc kinh tế khác của tam giác là thấp – với Mỹ 18.558 tỷ USD và Nhật Bản là 4901 tỷ. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ đạt 20.853 tỷ USD, tức là mức hàng đầu thế giới, trên EU và Mỹ. Mặc dù vậy, EU vẫn là một khu vực kinh tế hấp dẫn, là một điểm đến quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Ngoài Malta và Cyprus, 3 lần mở rộng gần đây nhất đã được thực hiện với các quốc gia từng phải chịu đựng nhiều nhất trong vòng 4 thập kỷ nền kinh tế kế hoạch và sau đó lại trải qua quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường một cách khó khăn. Ngày 1/1/2004, tổng GDP của 10 quốc gia sẽ gia nhập EU vào ngày 1/5/2004 chỉ chiếm 4,7% GDP trong khu vực EU-25, một tỷ trọng rất khiêm tốn so với tỷ trọng nhân khẩu của các quốc gia này (16,2%). Chỉ có 2 quốc gia – Vương quốc Anh và Ireland – đã không thực hiện trong năm 2004, các điều khoản tự vệ liên quan đến người lao động. Kết quả: Anh đã trở thành điểm đến ưa thích của nhiều người Ba Lan với gần 1 triệu người đã tới làm việc tại Xứ sở Sương mù… cho tới thời điểm cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 xảy ra, các luồng ý kiến phản đối người nhập cư dẫn đến cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 ủng hộ “Brexit”. Không quốc gia nào trong số các nước đã gia nhập EU từ năm 2004 đạt mức độ thịnh vượng trên mức trung bình của EU-28.

Hẳn là việc mở rộng EU nằm trong chính sách địa chính trị mới của châu Âu, nhưng rất khó để giải thích với công luận rằng việc các quốc gia nghèo hơn mức trung bình EU gia nhập Liên minh là để làm giàu cho khối. Hơn nữa, các con số thống kê chứng minh điều ngược lại. Năm 2008, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-25 vẫn thấp hơn 11,4% so với EU-15 trước đây. Khoảng cách – vốn đã không nhỏ – so với Mỹ, nay lại càng tăng thêm.

Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho năm 2016, GDP bình quân đầu người quy đổi theo PPP trong EU-28 đạt 38.751 USD trong khi Mỹ lên tới 57.250 USD và Nhật Bản là 38.731 USD. Và để thêm thông tin so sánh, GDP bình quân đầu người quy đổi theo sức mua tương đương của Trung Quốc vào năm 2016 là 15.095 USD.

Nhìn xa hơn, sự sụt giảm tỷ trọng kinh tế của EU-28 so với kinh tế thế giới đã xuất hiện.

Từ năm 1980 đến năm 2014, tỷ trọng khu vực EU-28 trong sản xuất toàn cầu quy đổi theo sức mua tương đương giảm từ 31,2% xuống 18,3%, điều này có nghĩa tỷ trọng tương đối của khu vực EU-28 chiếm dưới 2/3 tổng giá trị tỷ trọng của Liên minh cách đây 34 năm. Rõ ràng, sự sụt giảm này nằm trong sự suy giảm tương đối nói chung của các nước phát triển, do tác động từ các quốc gia mới nổi. Nhưng sự suy giảm tương đó này ảnh hưởng ngắn hạn tới Mỹ hơn so với EU và Nhật Bản.

B. …và sự suy giảm tương đối của các yếu tố sản xuất…

Triển vọng vẫn u ám khi ta xem xét hai yếu tố chính của sản xuất, vốn và lao động. Thứ nhất, thị phần của khu vực EU-28 trong đầu tư toàn cầu không ngừng giảm sút kể từ năm 1980. Nếu trước kia tỷ trọng khu vực EU-28 là 30,1% trong tổng đầu tư toàn cầu, năm 2014 con số này chỉ đạt hơn 12,7%. Sự suy giảm của EU về chỉ số này thậm chí còn nhanh hơn so với những gì liên quan đến sản xuất toàn cầu. Trong cùng khoảng thời gian đó, Mỹ giảm từ 20,6% xuống 12,3% một sự sụt giảm ít gây chú ý hơn so với bước lùi của châu Âu. Ngược lại, nhóm các nước Brazil – Ấn Độ – Trung Quốc, trước đây chiếm 9,9%, hiện nay chiếm 39%, tăng gấp bốn lần, cao hơn mức tăng tỷ trọng tương đối của các quốc gia này trong nền kinh tế thế giới.

Thứ hai, yếu tố lao động thay đổi theo một cách khác tùy theo các khu vực được xem xét.

Theo IMF, kể từ năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực châu Âu chưa bao giờ thấp hơn 7%. Tỷ lệ này ở mức trung bình là gần 9% trong giai đoạn 2000 – 2013, trong khi mức trung bình này cùng thời kỳ ở Mỹ là 6,4% và ở Nhật Bản là 4,7%. Tháng 10/2016, theo số liệu sơ bộ của Cơ quan Thống kế Liên minh châu Âu – Eurostat, tỷ lệ thất nghiệp đối với cả hai giới của EU là 8,3%, Mỹ là 4,9% và Nhật Bản là 3%. Ngay cả trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế, EU là khu vực gặp khó khăn hơn cả trong việc giảm tỷ lệ thất nghiệp. Cặp khái niệm thất nghiệp hàng loạt/thất nghiệp dài hạn dường như đóng khung vào khu vực này gây nên sự lo lắng rằng một phần của lực lượng lao động châu Âu trở nên khó được sử dụng, điều này có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến khả năng sản xuất của khu vực, cộng với những tác động của vấn đề dân số lão hóa đã từng được đề cập trên đây.

Điều này dẫn đến một tổ hợp trong đó không chỉ sản xuất của EU trên toàn cầu sụt giảm mà ngoài ra, tình trạng và triển vọng của hai yếu tố chính của sản xuất cũng làm dấy lên mối lo về sự suy giảm.

C.. sẽ còn trầm trọng hơn nữa do tác động của “Brexit”

Trong bối cảnh này, tác động của “Brexit” sẽ ra sao? Vương quốc Anh là một nền kinh tế lớn trong EU, mặc dù Anh không tham gia Khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) và trao đổi với EU dưới mức trung bình của các nước thành viên của EU, điều thường ít được nói đến. Vương quốc Anh chiếm 14% GDP của EU. Sau khi anh rời khỏi EU, GDP của EU mà không có Anh sẽ chỉ ở mức 86% so với mức trước đây. Nói cách khác, sự xuống cấp tương đối của “EU-27 bis” sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, nhất là so với Trung Quốc và Mỹ.

Quan sát những dự báo cho năm 2016, EU-28 sẽ chiếm 17,6% GDP của thế giới tính theo sức mua tương đương. Cùng kỳ, EU không có Vương quốc Anh chỉ chiếm 15,2% GDP toàn cầu tính theo sức mua tương đương.

Bởi vì, như chúng tôi đã đề cập trước đây, mức sống ở Anh cao hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của EU, GDP bình quân đầu người của EU không có Vương quốc Anh sẽ ở mức 2% thấp hơn so với EU-28.

Cuối cùng, chúng ta xem xét triển vọng chiến lược.

Bỏ rơi hay phục hồi chiến lược?

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn (A), bó buộc về mặt tâm lý và ngân sách (B) nhưng năm 2015 có thể bắt đầu một sự phục hồi dù rằng “Brexit” có thể tạo nên những hiệu ứng đáng kể (C).

Vượt lên những hiệu ứng công bố, cần nhấn mạnh những mâu thuẫn…

Trang web của Cơ quan đối ngoại châu Âu (EEAS) từng đề xuất vào năm 2014: “Từ khi Lực lượng cảnh sát thực thi sứ mạng của EU tại Bosnia-Herzegovina thành lập tháng 3/2002, khoảng 30 nhiệm vụ và các hoạt động dân sự và quân sự đã được lập ra trong khuôn khổ Chính sách an ninh và quốc phòng chung – CSDP”. Phương cách công bố một con số tập hợp các nhiệm vụ với bản chất khác nhau, khiến công luận đánh giá quá cao số lượng các hoạt động quân sự của EU, trên thực tế đã thu gọn còn 9 hoạt động từ năm 2003.

Hơn nữa, những hoạt động quân sự của Liên minh châu Âu thường được kết hợp với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) hay Liên hợp quốc (LHQ), điều này chứng minh quan điểm sức mạnh được kiểm soát, dù có nguy cơ hoạt động bị tê liệt. Chính vì thế, nhiệm vụ của Lực lượng gìn giữ hòa bình của EU tại Libya, vốn được EU thông qua nhằm can thiệp vào Libya, đã bị thất bại bởi không được LHQ bật đèn xanh. Trong khi đó, các cường quốc như Mỹ và Nga đôi khi tự cho phép việc sử dụng vũ lực mà thiếu đi sự thận trọng này.

Số binh sỹ châu Âu tham gia các hoạt động quân sự của EU cũng vẫn còn khiêm tốn, khoảng 400 và 7000 người tùy theo nhiệm vụ và thời điểm, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 60.000 binh sỹ như theo thông báo dự kiến vào năm 1999, tại Hội đồng châu Âu ở Helsinki. Hiện nay, các nhiệm vụ quân sự của EU vẫn còn thiếu nguồn lực kỹ thuật và con người, nhưng đặc biệt là thiếu ý chí chính trị.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần II


Năm 1960 khu vực EU-28 từng chiếm 13,3% dân số hành tinh, thì vào năm 2015 EU-28 chỉ chiếm 6,9% dân số toàn cầu. Tác động của Brexit sẽ ra sao?

…và tính đến các tác động có thể có của “Brexit”…

Sự ra đi của Vương quốc Anh sẽ dẫn đến sụt giảm dân số EU. Dân số EU sẽ giảm từ 510 triệu người xuống còn 443 triệu , tương đương với việc dân số EU chiếm từ 6,9% dân số thế giới giảm xuống còn chiếm 5,9%. Nói cách khác, EU không có nước Anh sẽ có tổng dân số ít hơn so với EU-25 vào ngày 1/5/2004 (với 450 triệu dân). Có lẽ với tổng số chết cao hơn tổng số sinh và tốc độ tăng trưởng dân di cư giảm, EU sẽ tiến sâu hơn vào “mùa đông nhân khẩu học”. Gérard-François Dumont định nghĩa thuật ngữ “mùa đông nhân khẩu học” là “tình hình của một quốc gia nơi tỷ lệ sinh thường xuyên dưới mức sinh thay thế”. Vào năm 2050, EU như hiện nay nhưng không có Vương quốc Anh sẽ chiếm tỷ trọng khoảng 4 đến 4,5% dân số thế giới. Xu hướng nhân khẩu học này, đặc trưng bởi sự lão hóa và sụt giảm số dân, sẽ tác động tới lực lượng lao động và gánh nặng phụ thuộc giữa những lớp người ngoài tuổi lao động đối với những người trong độ tuổi lao động, chưa kể đến sự sáng tạo và khả năng cạnh tranh.

Tất nhiên, việc Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập EU có thể sẽ thay đổi tình hình, không chỉ từ góc độ dân số, tuy nhiên đấy là một chủ đề khác. Tình hình chính trị gần đây tại Thổ Nhĩ Kỳ khiến cho triển vọng gia nhập EU của nước này trong 10 năm tới trở thành một việc cần được cân nhắc thận trọng hơn.

Tình trạng “mùa đông nhân khẩu học” được giải thích bởi nhiều yếu tố. Trong khi dân số thế giới đã tăng gấp đôi kể từ năm 1960, các nước châu Âu lại ghi nhận tỷ lệ sinh dưới mức sinh thay thế, kể từ giữa những năm 1970. Năm 2015, tỷ lệ sinh của EU-28 là 1,6 con/1 phụ nữ, trong khi lẽ ra tỷ lệ này phải là hơn 2,1 để đạt được mức sinh thay thế. Vậy nên, ta có thể ước lượng một cách hình ảnh rằng mỗi một phụ nữ EU còn thiếu “0,5 con”. Một mặt tình hình “mùa đông nhân khẩu học” mang lại những tác động tích lũy trong 4 thập kỷ vừa qua, mặt khác, những lần mở rộng EU từ đầu thế kỷ 21 không bù đắp cho những thiếu hụt mà lại củng cố xu hướng này. Thực tế, 5 trong số 13 quốc gia gia nhập EU trong những năm 2004, 2007 hay 2013 tiệm cận mức trung bình EU (1,6) vào năm 2016, nhưng 2 quốc gia đông dân nhất lại ở dưới mức này. Ba Lan (38,4 triệu dân) ghi nhận chỉ số sinh là 1,3; và Romania (19,8 triệu dân) với chỉ số sinh là 1,2. Trong năm 2016, dân số EU-28 có nhiều người già hơn so với người trẻ, chỉ có 16% người dưới 15 tuổi so với 19% số người trong độ tuổi từ 65 trở lên và ở Đức, tỷ lệ người cao tuổi còn cao hơn, 21%.

Đóng góp của nhập cư?

…để thấy rằng dù có sự đóng góp của vấn đề di cư, Eu vẫn ghi nhận sự suy giảm dân số tương đối.

Kể từ đầu những năm 1990, chính những người nhập cư là động lực thực sự của tăng trưởng dân số ở khu vực châu Âu. Hơn nữa, người nhập cư là người trẻ và thúc đẩy tỷ lệ sinh.

Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2008 đánh dấu một sự chuyển hướng thường không được đề cập trong các cuộc thảo luận công khai. Ngay từ năm 2009, số lượng người di cư tới khu vực EU-28 đã giảm, với con số từ hơn 1,4 triệu người xuống còn 851.335 người. Các số liệu tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo, cụ thể là 925.223 vào năm 2010, 872.332 vào năm 2011 và 653.100 vào năm 2013. Nói cách khác, dù không có sự thay đổi đáng kể nào trong chính sách nhập cư, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm giảm đáng kể sự hấp dẫn của EU đối với người di cư. Đặc biệt phải nói đến tình hình của các quốc gia phía Nam như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nơi sự sụt giảm kinh tế đã làm tình hình thay đổi hoàn toàn, từ vị trí các nước nhập cư mạnh trở thành nước có nhiều dân di cư. Sự chuyển đổi mang tính biểu tượng này với ngưỡng dưới một triệu người nhập cư mỗi năm sẽ tác động đến triển vọng nhân khẩu học của EU và do đó tác động đến tỷ trọng tương đối của EU trên toàn cầu. Với việc giảm đi một nửa “động lực chính” tăng trưởng dân số đồng thời sự gia tăng tự nhiên không thể đảm bảo tăng trưởng dân số, cuộc khủng hoảng kinh tế đã thúc đẩy hơn nữa sự suy giảm dân số của EU.

Sự chuyển hướng thứ hai diễn ra vào năm 2015. Thời điểm này, EU đã phải đối mặt với một dòng di cư đông đảo, tổng cộng là hơn một triệu người, gồm những người chạy trốn khỏi các khu vực chiến tranh – trong đó có Afghanistan và Syria – và di dân kinh tế rời khỏi khu vực được quản trị kém, đặc biệt là sau những biến đổi tại các quốc gia Arập trong khoảng thời gian từ 2010 – 2011. Sự gia tăng di cư đột ngột này nằm ngoài dự kiến của EU. Điều này đã dẫn đến một cuộc khủng hoảng chính trị, một phần trong số người dân và các chính phủ lo lắng về dòng người nhập cư này. Nhiều chính phủ đã từ chối chủ trương phân bổ người nhập cư của EU, đầu tiên là Hungary, quốc gia đặc biệt ảnh hưởng bởi vấn đề này vì vị trí địa lý nằm gần “tuyến đường Balkan”. Tháng 10/2016, Thủ tướng V. Orban đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề này. Với 40% người dân tham gia cuộc trưng cầu dân ý, điều này không đủ để cho kết quả cuộc trưng cầu dân ý có giá trị, nhưng phản ứng của những người tham dự thì lại là hơn 96% người tuyên bố phản đối việc Hungary tiếp nhận người nhập cư. Một tác động khác của cuộc khủng hoảng di cư 2015 – 2016, Hiệp ước Schengen đã trải qua một thời điểm khó khăn, các quốc gia thành viên Schengen đã thiết lập lại việc kiểm soát biên giới bên trong EU, điều chỉ được tiến hành, theo quy định của Hiệp ước, trong trường hợp khủng hoảng Ví dụ, Pháp đã tái lập kiểm soát biên giới với Italy, đặc biệt là gần Ventimiglia. Việc này được tiến hành trong khi, kiểm soát biên giới bên ngoài EU vẫn rất thiếu thống nhất.

Năm 2015, lần đầu tiên, tổng số tăng trưởng dân số của EU đến từ sự gia tăng dân nhập cư, bởi vì gia tăng tự nhiên ở mức âm, với tổng số chết nhiều hơn tổng số sinh. Thực tế, dân số EU-28 ở mức 510,1 triệu người vào ngày 1/1/2016. Lần đầu tiên, EU ghi nhận vào năm 2015 gia tăng dân số tự nhiên âm, với số lượng chết (5,226 triệu) vượt quá số lượng sinh là 135.200 người. tăng dân số tự nhiên âm ghi nhận tại 13 quốc gia, trong đó có 8 nước Đông Âu. Những quốc gia ghi nhận con số đang lưu ý hơn cả là Bulgari (-0,62%), Croatia và Hungary (-0,4%). Pháp lại ghi nhận gia tăng tự nhiên đạt 0,3%.

Trong năm 2015, lần đầu tiên, tổng tăng trưởng dân số của EU hoàn toàn do lượng người nhập cư mang lại, với 1,898 triệu người. Các quốc gia ghi nhận sự gia tăng nhiều nhất là Luxembourg (2,33%), Áo (1,44%), Đức (1,18%). Tại Pháp, tăng trưởng là 0,37%. Ngược lại, Litva (-1,13%), Latvia (-0,87%) và Croatia (-0,82%) ghi nhận mức giảm lớn nhất. Các nước Đông Âu, thành viên EU từ năm 2004, chiếm 7 trong số 11 quốc gia thuộc EU ghi nhận giảm, 4 quốc gia khác ở Nam Âu cũng ghi nhận sụt giảm là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Italy và Tây Ban Nha.

Nói cách khác, năm 2015, EU hoàn toàn phụ thuộc vào gia tăng số lượng người nhập cư cho sự gia tăng dân cư trong khu vực.

Trong ngắn và trung hạn, EU có lẽ vẫn là khu vực có dân số già nhất thế giới (trừ Nhật Bản), điều này chắc chắn sẽ dẫn đến vấn đề về chi phí cho lương hưu, hiện tượng giảm mật độ dân số trong khu vực rộng lớn, căng thẳng trong các vấn đề nhập cư và hội nhập, nhất là qua vấn đề cộng đồng nước ngoài.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Liên minh châu Âu hậu Brexit: Viễn cảnh địa chính trị nào? – Phần I


Pierre Verluise

1957 – 2017, giai đoạn tổng kết và những triển vọng địa chính trị của Liên minh châu Âu. Tháng 3/2017 đánh dấu kỷ niệm lần thứ 60 của Hiệp ước Rome, nhân dịp này, tác giả đã đặt ra câu hỏi: phải chăng thời điểm “cấu trúc châu Âu sụp đổ” và Liên minh châu Âu bị (EU) xóa bỏ đã tới? Tác giả trả lời câu hỏi bằng những lập luận với sự xem xét các thông số chính về lãnh thổ, dân số, kinh tế và chiến lược. Nghiên cứu đề cập cả những tác động của “Brexit”, yếu tố có thể có ảnh hưởng thúc đẩy đối với tình hình EU.

Phải chăng thời điểm “cấu trúc châu Âu sụp đổ” và EU bị xóa bỏ đã tới?

Sau 6 thập kỷ xây dựng EU và 7 lần mở rộng liên tiếp, cuộc trưng cầu dân ý ngày 23/6/2016 về việc Vương quốc Anh rời khỏi EU đánh dấu một sự đổ vỡ. Bằng cách nào sự kiện này (vốn là một phần của những phong trào mạnh mẽ đang gây sức ép nhằm xóa bỏ phần nào EU, với tác động có lẽ còn được gia tăng đáng kể bởi “Brexit”), lại trở thành hiện thực hiển hiện như vậy?

Với người quan tâm về ảnh hưởng – thậm chí là sức mạnh – của EU trên thế giới, nên phân biệt hình thức và động lực. Bảy lần mở rộng liên tiếp của cộng đồng châu Âu đã mang lại một sự mở rộng lãnh thổ đáng kể. Hình thành vào năm 1957 bởi 6 quốc gia với một diện tích tổng cộng lúc bấy giờ là 1,3 triệu km2 vào năm 1973 Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) đã tăng lên thành 9 quốc gia với 1,7 triệu km2. Những lần mở rộng thứ 2, thứ 3 và thứ 4 vào các năm 1981, 1986 và 1995 đã lần lượt tăng diện khu vực mang tên Liên minh châu Âu kể từ 1992 – lên 1,8 triệu km2 sau đó là 2,3 triệu km2 và 3,2 triệu km2. Cuối cùng, những lần mở rộng thứ 5, thứ 6 và thứ 7 vào các năm 2004, 2007 và 2013 đã làm tăng diện tích lãnh thổ Liên minh lần lượt lên 3,9 triệu km2 rồi 4,3 triệu km2 và 4,5 triệu km2. Sự gia tăng lãnh thổ này có thể  được coi là dấu hiệu của một sức mạnh đang lên.

Những con số này chứng minh rõ ràng sự hấp dẫn của EU bởi sự mở rộng này đã được tiến hành một cách hòa bình, với sự đồng thuận của người dân tại các quốc gia gia nhập Liên minh… dù rằng thường thiếu tranh luận rộng rãi trong công chúng và không có trưng cầu dân ý ở các nước đã trở thành thành viên. Sau sự gia nhập của 10 quốc gia mới vào năm 2004, trào lưu mở rộng này đã tạo ra “sự mệt mỏi đối với các dự án mở rộng”. Thực tế, nền tảng chính trị của vấn đề xây dựng châu Âu đã có những biến đổi, phân rã từ lâu nay. Về một phương diện nào đó, Cộng đồng châu Âu được xây dựng theo một trình tự ngược, khởi đầu với các vấn đề kỹ thuật, hành chính, để lẩn tránh vấn đề chính sách, yếu tố giờ đây đang quay trở lại giống như chiếm boomerang.

Bằng chứng cho điều này là sự gia tăng số cử tri không tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu. Từ năm 1979 đến năm 2009, không có một ngoại lệ nào, cả 7 cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu đều ghi nhận gia tăng tỷ lệ cử tri không tham gia. Tỷ lệ này tăng dần từ 38,01% năm 1979 lên đến 56,92% năm 2009. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng trong vòng ba thập kỷ qua, Nghị viện châu Âu đã chuyển từ quy chế của một cơ quan hoàn toàn mang tính tư vấn sang một thể chế lập pháp quan trọng (cùng với Hội đồng Liên minh châu Âu, Nghị viện châu Âu tạo thành lưỡng viện cơ quan lập pháp cao nhất của Liên minh). Mặt khác, số lượng các quốc gia tham gia bỏ phiếu đã tăng lên, nhưng xu hướng người dân tham gia bỏ phiếu sụt giảm vẫn tồn tại, làm suy yếu cơ sở chính trị của cuộc bầu cử. Cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu vào tháng 5/2014 thể hiện sự suy giảm số cử tri tham gia với 43,09% danh sách cử tri được đi bầu, tức là có đến 56,91% cử tri không đi bỏ phiếu tín nhiệm ai hết. Nói cách khác, Nghị viện châu Âu được bầu vào năm 2014 là lần thứ tư liên tiếp kể từ năm 1999 được bầu bởi số lượng cử tri ít hơn 50% danh sách cử tri được đi bầu nhưng là cuộc bầu cử Nghị viện đầu tiên kể từ năm 1979 ghi nhận sự ngăn chặn được việc gia tăng tỷ lệ cử tri không tham gia.

Tuy nhiên, cuộc bầu cử này thể hiện sự đột phá của các đảng phái có chủ trương hoài nghi, thậm chí chống lại nhất thể hóa châu Âu, nhất là tại Anh, Đan Mạch, Pháp và Italy. Kể từ năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính đã làm tăng thêm những nghi ngờ trước đó, sự ủng hộ của dư luận đối với việc nhất thể hóa châu Âu giảm dần tại một số nước, bằng chứng là sự gia tăng các đảng phái chống châu Âu trong các cuộc bầu cử vào năm 2014. “Brexit” minh chứng một điều rằng người dân đang từ bỏ, thậm chí đã từ bỏ EU. Vào đầu những năm 1990, Hiệp ước Maastricht đã trải qua quá trình phê chuẩn khó khăn tại một số quốc gia thành viên như Đan Mạch, Anh và Pháp. Năm 2005, Pháp và Hà Lan đã làm chậm lại tiến trình nhất thể hóa châu Âu khi nói “không” với dự thảo Hiến pháp EU – văn bản sau này được thay thế bởi Hiệp ước Lisbon vào năm 2007. Năm 2016, cử tri Vương quốc Anh – đặc biệt tại England và xứ Wales – đã lựa chọn rời khỏi EU. Sự kiện này không nằm ngoài một phong trào rộng lớn hơn các cuộc trưng cầu dân ý trong năm 2015 và 2016 tại Hy Lạp, Đan Mạch, Hà Lan và Anh, với những kết quả không thuận lợi cho tiến trình hội nhập EU. EU đang suy yếu, thái độ chống EU đang lên cao. Pháp không phải là ngoại lệ. Quốc gia này cũng ở trong một logic chung về mất lòng tin. Người dân có cảm giác mất kiểm soát đối với quá trình phát triển của EU.

Mặt khác, không nên tuyệt đối hóa việc mở rộng lãnh thổ EU. Với 4,5 triệu km2, diện tích của Liên minh 28 nước thành viên (EU – 28) vẫn ít hơn nhiều so với diện tích các quốc gia như Nga, Canada, Trung Quốc, Mỹ, Brazil hay Australia. Trên thực tế, về mặt diện tích, EU hiện nhỏ hơn 3,8 lần so với Nga và 2 lần so với Mỹ. Ngược lại, về mặt lãh thổ – và chính trị – EU lại chia rẽ nhiều hơn so với hai quốc gia nêu trên, vốn được tổ chức theo mô hình liên bang.

Brexit sẽ có tác động ra sao về mặt lãnh thổ? Nếu London thực sự kích hoạt Điều 50 Hiệp ước Lisbon và tiến trình “Brexit” được hoàn tất, EU sẽ mất đi 6,66% tổng diện tích. Như vậy, Liên minh sẽ còn lại 93,34% tổng diện tích lãnh thổ. Nói cách khác, diện tích của EU sẽ giảm từ 4,5 triệu km2 xuống còn 4,2 triệu km2. Khi ấy, diện tích EU sẽ nhỏ hơn một chút nữa so với các quốc gia từng được đề cập ở trên. Ngoài những con số này ra, tất nhiên cần phải nhấn mạnh thêm rằng Anh là một quốc gia phát triển, được tổ chức và quy hoạch tốt, kết nối với các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung và rộng rãi hơn nữa là kết nối với hệ thống toàn cầu, nhất là thông qua trung tâm tài chính London. Mức sống của người dân Anh được tính theo Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người quy đổi theo sức mua tiêu chuẩn (PPS) đạt trên mức trung bình của EU là 10 điểm phần trăm.

Giờ chúng ta xem xét tại sao “Brexit” lại làm gia tăng các phong trào mạnh mẽ vốn đang gây sức ép nhằm xóa bỏ phần nào EU?

Chúng tôi sẽ trả lời câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu lần lượt 3 yếu tố cơ bản làm nên sức mạnh của EU là: dân số (I), kinh tế (II) và chiến lược (III).

Một sự suy giảm dân số tương đối

Cần phải phân biệt giữa giá trị tuyệt đối và tương đối (A) và tính đến những tác động có thể có của “Brexit” (B) để thấy rằng mặc dù có sự đóng góp của những người di cư, EU đang đi vào thời kỳ suy giảm dân số tương đối (C).

Cần phân biệt giữa giá trị tuyệt đối và tương đối…

Qua 7 lần mở rộng, số lượng cư dân của Cộng đồng châu Âu tăng lên một cách cơ học. Năm 1957, 6 quốc gia sáng lập ban đầu tập hợp được 163 triệu dân. Lần đầu mở rộng đầu tiên đưa số lượng người dân trong cộng đồng lên 240 triệu người, với các lần mở rộng thứ 2, thứ 3 và thứ 4, dân số của Cộng đồng đã tăng lên lần lượt là 260, 310 và 360 triệu người, sau đó lần mở rộng thứ 5 và 6, dân số tăng lên mức 450 và 485 triệu người. Kể từ lần mở rộng thứ 7 và lần gần đây nhất, kể cả sự gia tăng dân số tự nhiên trong tất cả các quốc gia thành viên, EU hiện nay bao gồm 510 triệu dân. Hơn một nửa tỷ người, một con số ấn tượng về tầm vóc dân số EU, nhưng điều đó không đủ che giấu 2 hạn chế quan trọng:

Trước hết, dân số EU vẫn ít hơn rõ rệt so với các quốc gia châu Á mới nổi như Trung Quốc (với 1,37 tỷ người) và Ấn Độ (1,31 tỷ) vào năm 2015. Thứ hai, đằng sau sự gia tăng những con số tuyệt đối trong dân số EU, ẩn giấu một sự suy giảm về tầm vóc tương đối của Liên minh đối với phần còn lại của thế giới. Thật vậy, tỷ lệ tăng trưởng của EU là rất thấp so với mức trung bình của thế giới, vốn được thúc đẩy chủ yếu bởi tăng trưởng dân số ở châu Á, Mỹ Latinh và đặc biệt là châu Phi. Kết quả là, trọng lượng nhân khẩu học tương đối của EU đang tiếp tục suy giảm. Điều này cũng xảy ra với Mỹ, nhưng với một tỷ lệ thấp hơn. Nếu trọng lượng nhân khẩu học tương đối của khu vực EU – 28 giảm 85% trong khoảng thời giant ừ 1960 đến 2010, Mỹ giảm 38%. Sự suy giảm tương đối của khu vực EU – 28 nhanh hơn 2 lần so với Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Diploweb.com

CVĐQT số 5 – 2017

Pháp: Lại một chiến dịch tranh cử tổng thống tồi tệ – Phần cuối


Làm thế nào để có sự đồng thuận?

Nhưng giới cầm quyền theo đường lối tân tự do vốn ủng hộ NATO và Liên minh châu Âu, tìm cách cản trở để việc đó không xảy ra. Trên tất cả các tạp chí cũng như trong các buổi tọa đàm trên truyền hình, các phương tiện thông tin đại chúng đã cho thấy lòng trung thành của họ đối với một ứng cử viên ôn hòa “Mới! Cải tiến!”, được quảng bá tới công chúng như một sản phẩm tiêu dùng. Trong đội ngũ của ứng cử viên này, có những thanh niên tình nguyện được huấn luyện kỹ càng và được đặt dưới ống kính máy quay, những tuyên bố của diễn giả ít được ghi hình nhất mà chủ yếu là những tiếng la hét cuồng nhiệt, cùng với hành động vẫy cờ và dằn từng tiếng “Macron! Tổng thống!”, sau đó, họ đi hộp đêm, tham gia buổi chiêu đãi thưởng công. Chưa bao giờ một ứng cử viên nghiêm túc tranh cử tổng thống lại giống một rôbốt đến vậy, theo ý nghĩa này thì đây là một sản phẩm nhân tạo được các chuyên gia đặc vụ nghĩ ra.

Emmanuel Macron từng là chuyên gia một ngân hàng thương mại hàng đầu, ngân hàng này đã kiếm tiền triệu nhờ vào làm dịch vụ cho ngân hàng Rothschild, khi đó, năm 2007, ông này đang ở tuổi 29. Nhà kinh tế trẻ tài năng đã được Jacques Attali, một bậc thầy tinh thần có ảnh hưởng rất lớn, mời vào sân chơi của các ông lớn. Từ những năm 1980, ý kiến của Attali đã giữ vai trò trung tâm trong sự chuyển đổi của Đảng Xã hội sang chủ nghĩa toàn cầu hóa tân tự do mới thân chủ nghĩa tư bản. Attali đã đưa Macron vào nhóm nghiên cứu riêng của mình, Ủy ban vì sự giải phóng sức tăng trưởng của Pháp, nó đã giúp xây dựng “300 đề xuất để làm thay đổi nước Pháp” và một năm sau đó, những đề xuất này đã được trình lên Tổng thống Sarkozy như là một dự án của chính phủ. Sarkozy đã thất bại trong việc thực hiện tất cả các đề xuất này do e ngại sự nổi dậy của giới công đoàn, song những đảng viên Xã hội được cho là thuộc cánh tả đã có thể tự cho phép các biện pháp mạnh chống lại công đoàn nhờ vào lời lẽ xoa dịu dư luận của họ. Lời lẽ xoa dịu này đã được ứng cử viên tổng thống Pháp François Hollande phát biểu năm 2012, khi đó, ông đã tạo ra sự hứng khởi khi tuyên bố trước công chúng: “Kẻ thù thực sự tôi chính là giới tài chính!” Cánh tả đã hoan nghênh và bầu cho ông. Cũng trong thời điểm đó, để đề phòng rủi ro, ông đã cử Macron tới London để làm yên lòng giới tinh hoa tài chính rằng đây chỉ là một bài diễn văn tranh cử.

Sau khi đắc cử, Hollande đã đưa Macron vào êkíp của mình. Tiếp đó, ông đã giao cho Macron một vị trí trong chính phủ là Bộ trưởng Kinh tế, Công nghiệp và Thông tin số vào năm 2014. Với vẻ lôi cuốn tẻ nhạt của một người mẫu trong các trung tâm thương mại lớn, Macron đã làm lu mờ đồng nghiệp nóng tính của mình kà Thủ tướng Manuel Valls, trong cuộc cạnh tranh thầm lặng để thay thế vị trí sếp của mình, Tổng thống Hollande. Macron đã giành được cảm tình của các doanh nghiệp lớn khi mang lại cho những cải cách chống lại giới công đoàn của ông một không khí trẻ trung, thích hợp và “tiến bộ” . Thực ra, Macron hầu như đã theo lộ trình vạch ra của Attali.

Chủ đề là “Năng lực cạnh tranh”. Trong một thế giới toàn cầu hóa, một quốc gia cần phải thu hút vốn đầu tư để có khả năng cạnh tranh và để có điều đó, cần phải hạ giá nhân công. Có một cách thức cổ điển để thực hiện điều này, đó là khuyến khích nhập cư. Với sự trỗi dậy của chính sách duy trì bản sắc (nhấn mạnh việc bảo vệ dòng giống người da trắng châu Âu – ND), cánh tả được đề cao hơn cánh hữu để chứng minh việc nhập cư ào ạt vì lý do đạo đức, được xem là một biện pháp nhân đạo. Đây chính là lý do theo đó, Đảng Dân chủ tại Mỹ và Đảng Xã hội tại Pháp đã trở thành đối tác chính trị của chủ nghĩa toàn cầu hóa tân tự do. Nhìn chung, họ đã thay đổi triển vọng của cánh tả chính thức từ các biện pháp cấu trúc, thúc đẩy bình đẳng kinh tế bằng các biện pháp đạo đức, thúc đẩy bình đẳng của nhóm thiểu số và nhóm đa số. Chỉ trong năm ngoái, Macron đã lập ra (hoặc người ta đã lập ra cho ông) một phong trào chính trị, lấy tên là “Tiến bước!” (En Marche!) và nó thường có các buổi họp công khai với các nhóm thanh niên cổ động mang trên mình những chiếc áo phông Macron. Sau ba tháng, Macron mong muốn lãnh đạo đất nước và ông đã thông báo ứng cử tổng thống. Nhiều nhân vật quan trọng đã rời bỏ “Con thuyền xã hội” và tham gia phong trào của Macron, sự rất giống nhau về chính sách của phong trào này với chính sách của bà Hillary cho thấy chính Macron có thể chỉ ra con đường để tạo ra một Đảng Dân chủ kiểu Pháp theo mô hình Mỹ. Bà Hillary hẳn là đã thua, nhưng bà vẫn là người ủng hộ NATO. Và dĩ nhiên, truyền thông Mỹ khẳng định điều này. Trong bài báo rất hay của mình đăng trên Foreign Policy, Robert Zaretsky đã chào mừng điều này khi viết rằng “chính trị gia Pháp nói tiếng Anh và thân Đức là điều mà châu Âu chờ đợi”, cho thấy không còn gì nghi ngờ nữa: Macron chính là chính trị gia con cưng của giới tinh hoa toàn cầu hóa xuyên Đại Tây Dương.

Hiện nay, Macron là nhân vật theo sát Marine Le Pen trong các cuộc thăm dò dư luận, điều này cũng cho thấy ông có thể sẽ chiến thắng không khó khăn gì ở vòng hai. Tuy nhiên, sự lôi cuốn được tạo dựng kỹ càng của ông cũng có điểm yếu do nhiều thông tin công khai về mối quan hệ mật thiết của ông với giới tinh hoa kinh tế.

Lỗi của người Nga

Trước tình huống có thể xảy ra này, có một cuộc tấn công phòng ngừa trực tiếp từ nước Mỹ: Đó là lỗi của người Nga!

Người Nga đã làm điều gì kinh khủng vậy? Nhìn chung, họ đã bày tỏ là muốn có những người bạn hơn là những kẻ thù, như ở đây là những người đứng đầu chính phủ. Việc này không khó! Giới truyền thông Nga chỉ trích, hoặc phỏng vấn những người chỉ trích, các ứng cử viên thù địch với Moskva. Điều này một lần nữa không có gì là đặc biệt cả. Được ví như sự can thiệp khó chấp nhận và được cho là có nguy cơ phá hỏng nền cộng hòa Pháp và các giá trị phơng Tây, Hãng Thông tấn Nga Sputnik đã phỏng vấn một thành viên cộng hòa của nghị viện Pháp, Nicolas Dhuicq, ông này đã dám nói rằng Macron có thể là “điệp viên của hệ thống tài chính Mỹ”. Điều này còn chưa rõ ràng. Nhưng sự phẫn nộ của công chúng đã được định hướng bỏ qua chi tiết này để tố cáo truyền thông nhà nước Nga “bắt đầu lan truyền tin đồn theo đó, Macron đã có vụ ngoại tình đồng giới” (Tờ Observer, ngày 13/2/2017). Thực sự, “sự vu khống giới tính” này đã lan truyền, đặc biệt trong giới đồng tính Paris, theo họ, vụ bê bối này không phải là ở định hướng giới tính gán cho Macron, mà là việc ông phủ nhận giới tính đó. Cựu thị trưởng thành phố Paris, Bertrand Delanoe, công khai là người đồng giới; cánh tay phải của Marine Le Pen, Florian Philippot, là người đồng giới; tại Pháp, là người đồng giới không phải là một vấn đề.

Dhuicq đã khẳng định, Macron được một “Nhóm vận động hành lang đồng giới rất giàu có” ủng hộ. Tất cả mọi người biết đó là ai: Pierre Bergé, người giàu có và có ảnh hưởng, là giám đốc thương mại của Yves Saint Laurent, hiện thân của giới giàu có cấp tiến, ủng hộ nhiệt thành cho việc mang thai hộ (đẻ thuê), một chủ đề nóng tại Pháp và là cuộc tranh luận có thật sau sự phản đối bất thành đối với hôn nhân đồng giới.

Thế lực ngầm lộ diện

Tại Pháp, việc ủng hộ lạ lùng đối với chiến dịch chống Nga của Mỹ cho thấy một cuộc đối đầu lớn trong kiểm soát “bài viết dạng tường thuật” – bài viết về thực tế quốc tế được nhiều người đọc, trong khi họ không có phương tiện tiến hành nghiên cứu của chính mình. Sự kiểm soát này là trọng tâm quan trọng mà Washington mô tả là “sức mạnh mềm” của họ. Sức mạnh cứng có thể mang tới những cuộc chiến và lật đổ các chính phủ. Sức mạnh mềm giải thích cho người ta tại sao đó là điều tốt phải làm. Nước Mỹ hoàn toàn có thể tự cho phép từ lâu tường thuật lịch sử theo hướng có lợi cho họ mà không bị nói trái lại. Liên quan tới những điểm nhạy cảm trên thế giới, như Iraq, Lybia hay Ukraine, sự kiểm soát dư luận được thực hiện qua sự phối hợp giữa cơ quan tình báo và giới truyền thông. Cơ quan tình báo viết lịch sử và giới truyền thông lớn thì kể lại nó.

Nhìn chung, các nguồn giấu tên của “quyền lực ngầm” và các phương tiện thông tin đại chúng có thói quen kiểm soát những nội dung được cung cấp cho công chúng. Họ không muốn từ bỏ quyền lực này. Và chắc chắn họ không muốn chứng kiến quyền lực đó bị những người ngoài cuộc đưa ra tranh cãi – đặc biệt là truyền thông Nga, vốn đang kể một câu chuyện khác. Đây là một trong những lý do của chiến dịch khác thường đang diễn ra để tố cáo truyền thông Nga và giới truyền thông tương tự khác đã phổ biến “những tin giả” nhằm làm mấ tuy tín các nguồn tin của đối phương. Thậm chí sự tồn tại của kênh thông tin quốc tế của Nga RT đã tạo ra một sự thù địch tức thì: Vì lẽ gì mà người Nga lại dám làm rối thực tại của chúng ta! Hillary Clinton đã cảnh báo RT khi bà còn là Ngoại trưởng và người thay thế bà, John Kerry, đã tố cáo kênh này là “một loa tăng âm tuyên truyền”. Điều chúng ta nói là sự thật; còn điều họ nói chỉ có thể là tuyên truyền.

Sự tố cáo đối với truyền thông Nga và việc cho là có “sự can thiệp của Nga vào bầu cử của chúng ta” là một sự bịa đặt lớn của chiến dịch Clinton, nó đã tiếp tục lây lan qua các bài diễn văn trước công chúng tại Tây Âu. Sự cáo buộc này là một ví dụ hiển nhiên về tiêu chuẩn kép, vì hoạt động gián điệp của Mỹ được tiến hành với mọi đối tượng, bao gồm cả liên minh, và sự can thiệp của Mỹ trong các cuộc bầu cử ở nước ngoài là rõ ràng, mọi người đều biết. Chiến dịch tố cáo “những tin giả” do Moskva phá đi, đang diễn ra sôi nổi tại Pháp cũng như tại Đức ở thời điểm gần tới bầu cử. Cáo buộc này đầu độc chiến dịch tranh cử tại những nước này chứ không phải là truyền thông Nga. Sự cáo buộc rằng Marine Le Pen là “ứng cử viên của Moskva” không chỉ được cho là làm hỏng cơ may của bà, mà còn là cái cớ để tạo nên một “cuộc cách mạng màu” nếu như bà Le Pen giành chiến thắng trong cuộc bầu cử vòng hai ở Pháp ngày 7/5. Sự can thiệp của CIA trong các cuộc bầu cử ở nước ngoài không chỉ dừng ở những bản tin gây tranh cãi. Do thiếu mối đe dọa xác thực của Nga tại châu Âu, nên việc khẳng định rằng truyền thông Nga “lấn át nền dân chủ của chúng”, dẫn tới việc chỉ rõ Nga là một kẻ thù hiếu chiến, cũng như biện bạch cho sự tăng mạnh tiềm năng quân sự của NATO tại khu vực Đông Bắc châu Âu, điều này làm sống lại chủ nghĩa quân phiệt của Đức và hướng đầu tư nguồn lực quốc gia cho ngành công nghiệp vũ khí.

Về mặt nào đó, bầu cử Pháp là một sự mở rộng của bầu cử Mỹ, theo đó, thế lực ngầm đã bị mất ứng cử viên yêu thích, nhưng chưa mất đi quyền lực. Vẫn lực lượng này đang thực thi quyền lực ở đây, ủng hộ Marcon như một Clinton của Pháp, nhưng sẵn sàng lên án mọi sự chống đối như một công cụ của Moskva. Những gì xảy ra trong những tháng gần đây đã khẳng định về sự tồn tại của một thế lực ngầm kiểm soát nhà nước, nó không chỉ mang tầm quốc gia mà là xuyên Đại Tây Dương và khao khát trở thành thế lực toàn cầu. Chiến dịch chống Nga là một phát hiện về vấn đề này. Nó tiết lộ cho nhiều người thấy rằng thực sự có một thế lực ngầm kiểm soát nhà nước, có ảnh hưởng xuyên Đại Tây Dương. Thuật ngữ “thế lực ngầm kiểm soát nhà nước” thậm chí xuất hiện bất ngờ trong lời lẽ của những người trung thành với chế độ, như một thực tế không phủ nhận, cho dù khó xác định chính xác. Thay vì gọi là tổ hợp công nghiệp quân sự, có lẽ người ta có thể phải gọi nó là tổ hợp truyền thông – tình báo – công nghiệp quân sự. Quyền lực của nó là quá lớn, nhưng cần biết sự tồn tại của nó là bước đầu tiên để giải phóng chúng ta khỏi ảnh hưởng của nó.

Nguồn: contre-la-pensee-unique.org

TLTKĐB – 24/03/2017