Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần IV


Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thực chất của cảnh báo chiến lược mà NATO nhận được về cuộc xâm lược hay gây hấn của Nga ở quy mô nhỏ hơn cũng là một vấn đề gây tranh cãi. Các giả định khác mà nghiên cứu của RAND đưa ra cũng gây tranh cãi – chẳng hạn như quy mô của lực lượng xâm lược của Nga, bản chất chính xác của chiến dịch của Nga và cách nước này tổ chức cuộc tấn công, và liệu Belarus có cố gắng duy trì lập trường trung lập hay không.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, có một nhất trí chung rằng những lợi thế về chất lượng của NATO trong các khả năng thông thường đã giúp bù lại cho lợi thế về số lượng lớn hơn của Hiệp ước Vácsava. Hiện nay, cân bằng quân sự NATO – Nga dọc theo đường biên giới chung của họ thể hiện một bức tranh phức tạp hơn khi các yếu tố định tính được cân nhắc, một lý do khiến các đánh giá của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với sườn Đông biến động và có thể thay đổi đáng kể. Chẳng hạn như, cách đây không lâu, nhiều chuyên gia đánh giá NATO có lợi thế quyết định trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự. Tuy nhiên, theo sự đồng thuận hiện nay, một lực lượng xâm lược của Nga có thể nhanh chóng áp đảo các tuyến phòng thủ của NATO, phần lớn là vì Nga đã thu hẹp khoảng cách về chất lượng với NATO trong các khả năng thông thường. Những người ủng hộ quan điểm này đã nhấn mạnh các diễn tiến sau:

+ Kể từ năm 2008, khi Nga phát động một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự đầy tham vọng và đầy đủ nguồn lực, các khả năng phòng không của Nga đã cải thiện đáng kể. Đặc biệt đáng lo lắng là việc nâng cấp các khả năng A2/AD ở Kaliningrad với việc triển khai hệ thống phòng không S-400 mới; dàn phóng tên lửa phòng vệ bờ biển đặt trên đất liền; và các tên lửa hành trình có khả năng hạt nhân đặt trên tàu; gây ra một thách thức nghiêm trọng cho các tàu và máy bay của NATO trên vùng lãnh thổ của chính họ và trên biển Baltic.

+ Nhờ có các cơ cấu mệnh lệnh, nhân sự, vũ khí và các cuộc tập trận đượ cải thiện, các lực lượng Nga được tổ chức hiệu quả hơn, được huấn luyện và trang bị tốt hơn, và trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với thời gian chiến tranh với Gruzia. Điều đặc biệt quan trọng là, Nga đã tăng cường số lượng các cuộc tập trận thường xuyên và chớp nhoáng có sự tham gia của tất cả các lực lượng vũ trang, các quân khu, và các hoạt động liên ngành và liên quân thường xuyên Các cuộc tập trận này đã giúp quân đội Nga tiến bộ trong việc khắc phục các thiếu sót trong các sắp xếp chỉ huy và kiểm soát mới và thống, cùng với việc huy động và tăng cường khả năng trên khắp các quân khu của Nga.

+ Quân khu phía Tây của Nga có một số đơn vị chiến đấu trên bộ hạng nặng được chỉ định mà cực kỳ cơ động và luôn trong trạng thái sẵn sàng cao dưới sự chỉ huy của các cơ quan đầu não cấp quân đoàn. Có nguồn tin cho biết Nga đã cải thiện khả năng ra quyết định và tiếp viện nhanh, và khả năng cho các hoạt động tấn công quy mô lớn.

+ Nga có lợi thế là các tuyến thông tin liên lạc nội bộ và một mạng lưới các tuyến đường sắt mở rộng hướng đến Nga trên khắp khu vực Baltic. Cả ba quốc gia Baltic đều bị kẹp giữa Kaliningrad và nước Nga lục địa – và một số cảng và sân bay quan trọng đối với các hoạt động phòng thủ của NATO trong khu vực Baltic đều nằm trong phạm vi 30 dặm của biên giới Nga.

Tuy nhiên, trong việc đánh giá những diễn tiến này, quan trọng là phải hiểu rằng các quan chức Nga thường xây dựng hình ảnh công khai tích cực về các lực lượng vũ trang của mình vì những lý do chính trị trong nước các tuyên bố của Nga về vị thế nước lớn. Tháng 6/2016, một cuộc thanh trừng các quan chức cấp cao đã được tiến hành trong bộ chỉ huy Hạm đội Baltic vì đã bóp méo mức độ sẵn sàng trong các cuộc thanh tra chớp nhoáng. Các báo cáo khác cũng đã cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống khi quân đội báo cáo về các cuộc thanh tra đã phóng đại sự sẵn sàng và các chỉ số biểu hiện khác. Ngoài ra còn có các dấu hiệu cho thấy các báo cáo về việc sản xuất vũ khí đã phóng đại mức độ các trang thiết bị mới và cải tiến được nhập kho thay vì các thiết bị nâng cấp và tân trang.

Những nỗ lực này nhằm che đậy sự yếu kém trong quân đội Nga, cùng với các yếu tố hoạt động và cơ cấu khác gây tác động xấu tới hiệu quả chiến đấu của các lực lượng Nga, đã làm dấy lên nghi vấn đối với một số đánh giá mang tính báo động hơn về các khả năng thông thường của Nga. Các nhà phân tích đỡ bi quan hơn về thế cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga đã lập luận như sau:

+ Từ năm 1991 đến 2008, các lực lượng vũ trang Nga đã bị suy giảm nghiêm trọng tinh thần sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và trang thiết bị. Cuối những năm 1980, ước tính Nga đã dành 15% GDP cho quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Nga đã tuyển dụng hơn 6 triệu người. Năm 1997, chi tiêu quốc phòng Nga chỉ chiếm hơn 4% của con số GDP nhỏ hơn nhiều và và tỷ lệ việc làm trong ngành công nghiệp quốc phòng đã giảm khoảng 50%. Chương trình cải cách và hiện đại hóa được phát động trong năm 2008 do đó đã bắt đầu từ một nền tảng vô cùng thấp. Những tiến bộ mà lực lượng vũ trang Nga đạt được trong vòng 8 năm qua cần phải được đánh giá trong bối cảnh này;

+ Những hoạt động quân sự Nga đã tham gia trong thập kỷ vừa qua không phải là một bài kiểm tra nghiêm túc về hiệu quả chiến đấu, xét bản chất của lực lượng đối kháng, địa lý, và môi trường tương đối ôn hòa trong đó các lực lượng của Nga đang hoạt động; các điều kiện chiến đấu họ sẽ phải đương đầu khi chống lại các lực lượng NATO trên mặt trận phía Đông cũng khác biệt đáng kể.  Tại Syria, các đơn vị của Nga đã cho thấy sự tổ chức, phối hợp, chỉ huy và điều khiển tốt hơn so với các đơn vị đã tham chiến với Gruzia, nhưng vẫn thiếu các loại đạn dược có độ chính xác cao và các máy bay không người lái liên tục. Hơn nữa, những vấn đề đang tiếp diễn trong việc huấn luyện và tinh thần của các lực lượng trên bộ của Nga, mà sẽ làm giảm hiệu quả chiến đấu, làm dấy lên những nghi ngờ nghiêm túc về khả năng của họ trong việc chiến đấu với những lực lượng mạnh hơn nhiều đối thủ từng gặp ở Gruzia, Ukraine và Syria;

+ Gần đây hơn, vào năm 2014, có tin cho biết Bộ tổng tham mưu Nga buộc phải tập hợp gấp một tiểu đoàn xe tăng từ các đơn vị đóng quân gần Mông Cổ để tiếp viện cho các lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraine do thiếu nhân sự được đào tạo tốt gần khu vực hoạt động;

+ Ngoại trừ các hệ thống pháo tầm xa và hệ thống vũ khí khai hỏa trực tiếp khác, các lực lượng vũ trang Nga vẫn thua các lực lượng Mỹ và NATO về vũ khí công nghệ cao mà phần lớn các chuyên gia quân sự Nga đều tin rằng đó là trọng tâm của chiến tranh hiện đại và sẽ quyết định kết quả của một cuộc chiến. Những vũ khí này bao gồm C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, điện toán, tình báo, giám sát, do thám) hiện đại bậc nhất và khả năng tác chiến điện tử, các vũ khí tấn công thông thường chính xác cao, và máy bay không người lái – những thiếu hụt mà Tổng tham mưu trưởng của Nga Valery Gerasimov đã thừa nhận. Hầu hết trang thiết bị do các lực lượng trên bộ và trên không của Nga vận hành đều là phiên bản cập nhật của các mô hình thế hệ cũ của Xô viết.

+ Chương trình cải cách quân sự của Nga không thống nhất, thiếu hoàn thiện và không thể khắc phục một số thiếu sót nghiêm trọng. Những thiếu sót này bao gồm tính bền vững và tính cơ động chiến lược bị hạn chế do thiếu công tác hậu cần, hỗ trợ hậu phương, và các phương tiện vận tải; các đơn vị thường xuyên thiếu quân số và huấn luyện sơ sài, tiếp tục phụ thuộc vào số lính nhập ngũ ngắn hạn không đồng đều và một nhóm hạn chế gồm nhân viên hợp đồng và hạ sĩ quan quân đội; một ngành công nghiệp quốc phòng tiếp tục sản xuất tràn lan trang thiết bị chất lượng kém do tham nhũng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, mất khả năng tiếp cận các ngành công nghiệp quốc phòng chuyên biệt ở Ukraine, và các biện pháp trừng phạt của phương Tây làm suy yếu khả năng của Nga trong việc nhập khẩu các công nghệ kép và áp dụng chúng vào các hệ thống quân sự.

(còn tiếp)

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Advertisements

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần III


Các hành động của Nga ở Ukraine cho thấy Điện Kremlin nhìn nhận NATO và các đảm bảo an ninh của nó đối với các thành viên của mình nghiêm túc đến mức nào. Việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine là nhưng bước đi được tính toán để ngăn Ukraine tiến tới trở thành thành viên NATO và thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Nga – một diễn tiến có lẽ đã đánh dấu một thất bại chiến lược lớn đối với Nga và sự lúng túng đối với Putin, xét việc Điện Kremlin coi Ukraine như một vòng đệm thiết yếu để chống lại một NATO thù địch và bành trướng. Hơn nữa, Moskva sẽ khó có thể tái lập các hoàn cảnh có lợi trong khu vực Baltic như Nga đã có ở Crimea. Các lực lượng của Nga đã có mặt trên bán đảo này từ trước cuộc khủng hoảng và đang hoạt động từ một cơ sở hạ tầng vững chắc. Hơn nữa, như nhiều nhà quan sát đã chỉ ra, hoạt động tại Crimea chủ yếu do các đơn vị lực lượng tinh nhuệ đặc biệt của Nga tiến hành và do đó, không phản ánh đúng tình trạng chung của các lực lượng chiến đấu trên bộ của Nga. Nói một cách đơn giản, các nước Baltic đã về phe với NATO. Một cuộc tấn công quân sự thẳng thừng vào các nước này sẽ có nguy cơ dẫn đến một cuộc chiến tranh toàn lực với NATO.

Cũng quan trọng là phải hiểu rằng quyết định của Điện Kremlin đi đến chiến tranh với NATO sẽ mang tính chính trị – được thúc đẩy bởi không chỉ một số lượng nhỏ xe tăng, binh lính và máy bay. Lo ngại lớn nhất của giới tinh hoa Nga là sự sống còn của họ và hệ thống họ đã xây dựng và đầu tư; Nga có một nỗi sợ hãi sâu xa đối với bất ổn chính trị và cái được cho là những kế hoạch thay đổi chế độ của Mỹ. Như một trong những cố vấn thân cận nhất của Putin đã nói: “Mỹ đang cố gắng gây ra thay đổi chế độ ở Nga và cuối cùng sẽ chia cắt đất nước của chúng ta thông qua các sự kiện ở Ukraine”. Sẽ là cực kỳ mạo hiểm nếu Điện Kremlin đặt cược rằng các lực lượng Nga có thể tấn công liên minh quân sự hùng mạnh nhất thế giới và chiếm ưu thế trong một cuộc xung đột; vì những hậu quả của việc thua cuộc – hay thậm chí chiến thắng – ván cược đó sẽ là thảm khốc đối với giới tinh hoa của Nga và cả đất nước nói chung.

Nói cách khác, quyết định của Putin tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường với NATO sẽ liên quan đến việc đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu chính trị đạt được từ một chiến thắng quân sự bất chấp những tính toán về phí tổn và rủi ro của hành động quân sự. Tất nhiên có khả năng Putin tính toán sai lầm hay đánh giá sai ý định chính trị của NATO tôn trọng cam kết trong Điều 5 của mình. Nhưng ông có thể kết luận rằng Nga cuối cùng sẽ đối mặt với toàn bộ sức mạnh của cỗ máy quân sự NATO trong việc đối phó với một cuộc tấn công của Nga – một tính toán dựa trên đánh giá của ông rằng các nhà lãnh đạo NATO và đặc biệt là tổng thống Mỹ sẽ không muốn gánh chịu những hậu quả vô cùng tiêu cực nếu liên minh này không thể thực hiện được đảm bảo an ninh của nó – sự kết thúc của liên minh và một đòn nặng nề đối với vận mệnh chính trị của các nhà lãnh đạo NATO.

Các khả năng quân sự thông thường

Nga có vị trí địa lý thuận lợi và lợi thế về mặt số lượng so với NATO về cả nhân lực và trong mỗi hạng mục lớn về vũ khí và trang thiết bị chiến đấu mà sẽ được sử dụng trong cuộc tấn công quân sự ban đầu chống lại các quốc gia Baltic. Cũng vậy ngay cả khi xem xét các lực lượng thường trực của các quốc gia Baltic, những lực lượng mà các nước thành viên NATO khác sẽ triển khai trong thời bình hoặc dựa trên cơ sở luân chuyển trong lãnh thổ Baltic (và Ba Lan), và các lực lượng triển khai sớm mà NATO đã chỉ định để tăng cường sườn phía Đông của mình nhằm đối phó lời cảnh báo chiến lược về một cuộc tấn công.

Nhân lực

Nga có 22 tiểu đoàn cơ động được triển khai tại Quân khu phía Tây và 3 tiểu đoàn ở Kaliningrad – mặc dù một vài trong số các đơn vị thiện chiến nhất ở khu vực này được giao nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng Nga trong và xung quanh Ukraine và đóng quân ở đây trong thời bình. Hiện nay, các lực lượng của các quốc gia Baltic và các lực lượng NATO khác có thể sẵn sàng vào mở màn cho chiến dịch phòng thủ phía trước ban đầu bảo vệ lãnh thổ Baltic có tổng cộng xấp xỉ 17 tiểu đoàn; trong khi Mỹ và các đồng minh NATO thực hiện các kế hoạch cải thiện lực lượng của họ ở sườn phía Đông trong vòng 2 năm tới, liên minh này sẽ có thêm bốn tiểu đoàn đa quốc gia để triển khai luân phiên tại các quốc gia Baltic và Ba Lan. Ngoài ra, tùy thuộc vào độ dài của thời gian cảnh báo một cuộc tấn công, Mỹ có thể triển khai thêm hai đội chiến đấu lữ đoàn thiết giáp khác. Đây không phải là một lợi thế về số lượng nghiêng hẳn về phía Nga, nhưng nó không tính đến những khác biệt đáng kể về chất lượng giữa loại hình các đơn vị của mỗi bên.

Vũ trang hạng nặng

Ba nước Baltic có 11 tiểu đoàn bộ binh hoặc các tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ; trong một kịch bản cảnh báo hạn chế, Mỹ có lữ đoàn chiến đấu Stryker được triển khai sớm tới sườn phía Đông. Ngược lại, Nga có bố trí mạnh hơn – 22 tiểu đoàn ở Quân khu phía Tây, 13 tiểu đoàn là các đơn vị bộ binh xe tăng, cơ giới hóa hoặc cơ khí hóa, cùng với sơ đồ tổ chức và trang thiết bị có hỏa lực chiến đấu mạnh hơn nhiều.

Pháo binh và tên lửa đất đối đất

Các lực lượng Nga có thể sử dụng nhiều hệ thống hỏa lực trực tiếp và gián tiếp hơn, gây sức ép đáng kể cho khả năng của các lực lượng NATO ngăn chặn cuộc tấn công ban đầu của Nga và giữ vững lãnh thổ. Nga có 10 tiểu đoàn pháo binh ở Quân khu phía Tây, và hầu hết các hệ thống này có phạm vi và tốc độ khai hỏa lớn hơn so với các đối tác NATO của họ. Ngoài ra, 5 tiểu đoàn tên lửa đất đối đất (SSM) cũng hỗ trợ cho các đội hình pháo binh này. Đặt trong tương quan so sánh, các lực lượng NATO phải chịu thâm hụt nghiêm trọng về pháo ống, súng phóng tên lửa, và SSM. Nói tóm lại, các lực lượng hạng nhẹ hơn của NATO đang thua Nga về hỏa lực.

Máy bay chiến đấu và trực thăng tấn công

Nga có 27 phi đội chiến đấu trên hông được triển khai tại Quân khu phía Tây và 6 tiểu đoàn trực thăng tấn công – hầu hết đều là những máy bay tân tiến nhất sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu của Nga. Các lực lượng không chiến của NATO có thể có mặt ngay từ khi bắt đầu chiến sự hoặc trong vòng 7 ngày kể từ khi bắt đầu cuộc chiến có tổng cộng gần 19 phi đội (nếu, và đây là trường hợp dễ xảy ra, Thụy Điển từ bỏ thái độ trung lập và cho phép một vài trong số các đơn vị này hoạt động từ các căn cứ của Thụy Điển). Giống như Nga, các đơn vị này thường có máy bay hiện đại và thiện chiến nhất của liên minh. Đây không phải một lợi thế về mặt số lượng trên giấy tờ của các lực lượng Nga, nhưng các lực lượng không quân của NATO sẽ hoạt động trong một môi trường vô cùng cạnh tranh trên chiến trường.

Tóm lại, Nga sẽ tấn công với một lực lượng lớn và trang bị hạng nặng hơn nhiều, được hỗ trợ thiết giáp, vũ khí và cảm biến tân tiến và một hệ thống phòng không tinh vi cùng các hệ thống khai hỏa trực tiếp tầm xa. Cho đến khi Mỹ và NATO thực hiện kế hoạch cải thiện lực lượng trong vòng vài năm tới, liên minh này sẽ phải đẩy lùi cuộc tấn công ban đầu bằng một lực lượng yểm trợ hạng nhẹ. Máy bay chiến đấu, các khả năng tên lửa tầm xa, và khả năng tăng viện cho các quốc gia Baltic trên không, trên biển và trên đất liền của liên minh này sẽ ngày càng bị thách thức bởi các khả năng chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực (A2/AD) của Nga trong và xung quanh Kaliningrad.

Tình hình này đã dẫn đến việc chuyên gia quốc phòng phương Tây chấp nhận đánh giá của một nghiên cứu của RAND gần đây rằng NATO bị Nga “lấn át về số lượng, tầm bắn và hỏa lực” ở vùng ngoại vi phía Đông của liên minh. Theo các tác giả của nghiên cứu này, “nếu Nga tiến hành một cuộc tấn công không báo trước vào các nước Baltic, các lực lượng của Moskva có thể tràn xuống vùng ngoại ô thủ đô Talinn của Estonia và thủ đô Riga của Latvia trong vòng 36 đến 60 tiếng”. Hành lang Suwalki – một dải lãnh thổ dài 65 dặm trên biên giới phía Đông của Ba Lan, nằm giữa Kaliningrad và Belarus và đóng vai trò kết nối đất liền duy nhất giữa Estonia, Latvia, Litva và phần còn lại của NATO – là một mối lo ngại đặc biệt đối với các nhà lập kế hoạch của NATO.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Một châu Âu trước nguy cơ tan vỡ


Những khiếm khuyết về cấu trúc trong EU khiến liên minh này luôn phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng dai dẳng. Tuy nhiên, để xử lý được điều này, cần phải có những thay đổi bước ngoặt – điều mà EU vẫn chưa sẵn sàng trong thời điểm hiện nay, mạng Foreign Affairs ngày 10/12 bình luận:

EU đã phải luôn vật lộn để thích ứng với nền chính trị dân chủ của các thành viên. Tình trạng trở nên nghiêm trọng hơn vào năm 1999, với sự ra đời của một liên minh tiền tệ nhưng thiếu một liên minh chính trị và tài chính đi kèm. Đến năm 2011, khủng hoảng nợ ở khu vực đồng tiền chung châu Âu (eurozone) đã phát triển từ mối đe dọa thực sự nhưng có thể kiểm soát được sang tình thế nan giải mà EU không có khả năng thoát ra rõ nét. Bị bó chặt trong một liên minh tiền tệ không hiệu quả, EU không thể thích hội nhập hay đè nén dân chủ đối với các thành viên. Hệ quả là sẽ tiếp tục lặp lại tình cảnh như một thập kỷ vừa qua: Khủng hoảng nối tiếp khủng hoảng mà không có giải pháp bền vững.

Một đế chế châu Âu lụi tàn

Đối đầu giữa chính phủ Italy với quan chức eurozone về trần thâm hụt ngân sách của Italy là minh chứng mới nhất cho thấy sự bất lực của EU trong việc xử lý dân chủ Hai đảng phái lớn trong chính phủ liên minh ở Italy, đảng Lega và Phong trào Năm sao, đưa ra cam kết về thuế và chi tiêu trong cuộc bầu cử hồi năm 2017. Nhưng hai đảng này không thể thực hiện lời hứa vì nếu làm vậy sẽ khiến thâm hụt ngân sách gia tăng. Điều này sẽ phá vỡ cam kết của chính phủ tiền nhiệm với Hội đồng châu Âu, mâu thuẫn với quy định về tài khóa được nêu bật trong các hiệp định về thành lập eurozone. Italy phụ thuộc phần lớn vào nguồn tiền vay từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) dùng để chi trả các khoản vay và vì thế không thể chống EU. Tuy nhiên, đa phần cử tri Italy sẽ không chấp nhận việc châu Âu kiểm soát nền chính trị nước này. Chính phủ Italy hiện tin rằng gia tăng mức độ phản kháng với EU đồng nghĩa với việc sẽ giành được nhiều phiếu hơn trong các cuộc bầu cử vào tháng Năm tới và vào Nghị viện châu Âu.

Có những khiếm khuyết cấu trúc rõ ràng, nhưng các nước thành viên EU lại không thể đồng thuận về điểm bất ổn chứ chưa nói đến giải pháp xử lý. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã đưa ra những đề xuất về cải cách eurozone như một nhu cầu thực tế để giúp khối có được sức mạnh đối chọi với cuộc khủng hoảng kế tiếp. Nhưng việc ông khẳng định giải pháp này là điều không thể thiếu lại được dựa trên một giả định sai lầm, cho rằng đã có sự đồng thuận về những điểm nghẽn cần giải quyết. Ví dụ, ông Macron muốn có một ngân sách eurozone quy mô, mà chắc chắn sẽ phải có phần đóng góp từ những người đóng thuế ở Bắc Âu và Trung Âu. Tuy nhiên,, những người này sẽ không chấp nhận. Trước đó, một vài nước đã thành lập liên minh hồi đầu năm – Liên đoàn Hanseatic Mới (the New Hanseatic League), gồm Estonia, Phần Lan, Ireland, Latvia, Litva và Hà Lan (cùng hai thành viên hác không thuộc khu vực eurozone là Đan Mạch và Thụy Điển). Số này muốn kiểm soát chặt chẽ và hiệu quả hơn ngân sách quốc gia – điều sẽ khiến các nước Nam Âu, thậm chí là cả Pháp, gặp khó khăn. Xung khắc này chỉ được giải quyết chừng nào mà một bên hay một nhóm nước giải thích rõ cho cử tri trong nước rằng do Eurozone bao gồm các nước với các nền kinh tế khác nhau, nên nếu chấp nhận là thành viên đồng nghĩa với việc gánh vác trách nhiệm chính trị lớn hơn các nước khác.

Châu Âu không còn hiệu quả

Rạn nứt lớn của EU – Brexit, khởi nguồn từ những vấn đề khiếm khuyết cấu trúc, từng đưa tới nhiệm kỳ một thắng lợi cho chính quyền của David Cameron ở Anh. Khi khủng hoảng eurozone nổ ra vào năm 2011, những mâu thuẫn căn bản trong eurozone bộc lộ rõ qua trường hợp của Anh, với sự khác biệt trong chính sách tiền tệ giữa ECB và Ngân hàng Trung ương Anh. Cách tiếp cận thắt chặt của ECB đẩy eurozone vào suy thoái, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh giúp kinh tế Anh củng cố đà hồi phục từ sau khủng hoảng tài chính. Anh sau đó trở thành điểm đến của những người không tìm được việc làm tại những nước Nam Âu, nơi có tỉ lệ thất nghiệp ở mức rất cao. Nền chính trị dân chủ Anh đã phải đón nhận hệ quả. Kết cục là EU đã phải tiến hành trưng cầu dân ý mà phần lớn chủ đề xoay vào các câu hỏi liên quan đến vấn đề người di cư.

Mất cân bằng cấu trúc lại càng trầm trọng hơn khi khủng hoảng eurozone tạo ra sự dịch chuyển quyền lực chính trị trong nội bộ EU. Vị thế của Đức dưới góc độ là nhà cung cấp tín dụng chủ chốt cho các khoản vay dành cho những thành viên eurozone đã giúp Berlin gia tăng ảnh hưởng trong EU. Trong nhiều năm nay, chính trị EU dường như là những vấn đề như: chờ đợi xem bà Merkel sẽ làm gì? Liệu bà có đẩy Hy Lạp ra khỏi eurozone hay không? Bà có chào đón những người nhập cư và tị nạn hay sẽ đàm phán với Tổng thống Recep Tayyip Erdogan để giữ số này ở lại Thổ Nhĩ Kỳ?…

Hai nhân tố – tập trung quyền lực trong tay Merkel và xung đột cấu trúc trong liên minh đa tiền tệ của EU – đã tạo ra cú hích áp chót giúp cho những người ủng hộ chiến dịch rời khỏi EU giành chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý ở Anh. Nỗ lực yểu mệnh của Cameron về tái đàm phán vị trí của Anh trong EU trước chiến dịch trưng cầu dân bắt đầu đụng chạm đến chủ quyền của Anh khi vẫn là một phần của liên minh. Cameron đặt cược hy vọng vào ảnh hưởng của Merkel. Nhưng EU đã không thể hội nhập các vấn đề nội bộ của Anh. Tất cả những gì thủ tướng Anh đưa ra trước công chúng chỉ là màn thể hiện hoàn hảo về những hạn chế của quyền lực chính trị Anh trong liên minh. Ông Cameron từng hỏi thẳng bà Merkel về việc EU muốn quan hệ với Anh như thế nào. Tuy nhiên, EU đã không thể đáp lại nguy cơ ly khai của Anh, bởi liên minh này, theo hoàn cảnh thực tế, không thể giảm tỉ lệ thất nghiệp ở Nam Âu; còn theo điều khoản hiến pháp cũng lại không thể cho phép Anh đặt ra giới hạn về những nguyên tắc nền tảng hiệp ước bảo đảm tự do đi lại cho tất cả các công dân EU.

Brexit một lần nữa chia cắt EU

Dù EU thống nhất trước Brexit, nhưng viễn cảnh Anh rời bỏ EU đã là một phần nguyên nhân dẫn đến sự hình thành của Liên đoàn Hanseatic mới, khi nó thúc đẩy các quốc gia không phải là thành viên của eurozone là Đan Mạch và Thụy Điển. Nhóm mới này chỉ tạo ra những khó khăn chính trị cho EU. Khi Macron nhậm chức vào năm 2017, điểm mấu chốt trong nền chính trị eurozone chính là việc liệu Đức sẽ nhượng bộ ở mức nào để tái tạo lập trục đối tác đầu tầu Pháp – Đức. Giờ EU lại có thêm một nhân tố được tổ chức chặt chẽ, có quyền phủ quyết là Liên đoàn Hanseatic mới.

Một cách để eurozone có thể chấm dứt các cuộc khủng hoảng mãn tính là lập ra một liên minh tài khóa có đủ khả năng đáp trả các diễn tiến chính trị dân chủ. Nhưng EU sẽ không có đủ hậu thuẫn của công chúng trong nội khối về việc phải hy sinh chủ quyền trong ngân sách quốc gia cũng như chia sẻ gánh nặng nợ nần mà một liên minh như vậy sẽ đưa ra. Rõ nhất, khủng hoảng eurozone cho thấy EU hiện không đủ thực lực về mặt chính trị để tiến hành các thay đổi mà sẽ phải cần xem xét lại các hiệp ước của khối. Tuy nhiên, EU cũng không thể đi theo cách ngược lại – chuyển giao bớt quyền lực cho các chính phủ quốc gia để tái tạo lập thích ứng dân chủ tại chính những nước này. Muốn làm vậy, EU cũng sẽ phải có những thay đổi cơ bản về hiệp ước mà sẽ rất khó đạt được nếu không có đồng thuận chính trị.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần II


Moskva cũng đã đe dọa phản ứng quân sự nếu Thụy Điển hay Phần Lan quyết định gia nhập NATO; theo Tổng thư ký NATO, các cuộc tập trận của Nga bao gồm các cuộc tấn công hạt nhân mô phỏng chống lại Thụy Điển. Những thay đổi được báo cáo trong học thuyết quân sự của Nga cho thấy Điện Kremlin đã lên kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên trong giai đoạn đầu của một cuộc xung đột với NATO (được biết như là “leo thang để xuống thang”) nhằm ngăn chặn việc leo thang thành một cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn hơn mà Moskva tin rằng NATO cuối cùng sẽ giành chiến thắng. Hơn nữa, NATO có đủ lý do để lo ngại về các cải thiện cả về số lượng và chất lượng hiện nay của Nga trong các lực lượng quân sự đang đối mặt với sườn phía Đông của liên minh, việc Nga vi phạm Hiệp định INF, và sự rút lui hiệu quả của Nga khỏi Hiệp ước Các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu (cả hai hiệp định này từ lâu vẫn được coi là nền tảng cho sự ổn định và an ninh của châu Âu).

Để đối phó với những diễn biến phức tạp này, Mỹ và NATO đã đưa ra một số sáng kiến nhằm cải thiện tư thế răn đe và phòng thủ của họ ở phía Đông và trấn an các quốc gia Baltic và Ba Lan về cam kết Điều 5 của liên minh. Theo Kế hoạch hành động sẵn sàng của NATO được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh xứ Wales vào tháng 9/2014 và Sáng kiến tái đảm bảo châu Âu (ERI) của Mỹ, Mỹ và các đồng minh châu Âu của mình đang lên kế hoạch phân bổ hơn 4 tỷ USD để (1) bổ sung một lữ đoàn chiến đấu của Mỹ ngoài 2 đội đã đóng quân sẵn ở châu Âu, cùng với một lữ đoàn lính dù, và (2) bố trí trước trang thiết bị thường xuyên cho lữ đoàn chiến đấu khác. Tại Hội nghị thượng đỉnh Vacsava vào tháng 7/2016, các nhà lãnh đạo NATO đã chính thức thông qua việc triển khai luân phiên liên tục 4 tiểu đoàn đa quốc gia (khoảng 4000 binh lính) tới các quốc gia Baltic và Ba Lan để duy trì sự hiện diện liên tục ở phái trước – và một vài trong số các đơn vị này đã tới Ba Lan để tiếp quản các vị trí của mình. Bên cạnh đó, NATO đã đồng ý bổ sung các biện pháp cải thiện sự sẵn sàng, huấn luyện, chỉ huy và kiểm soát, và hỗ trợ hậu cần cho các lực lượng này.

Từ góc nhìn của NATO, đây là một cách tiếp cận thận trọng vừa để tăng cường răn đe vừa trấn an các quốc gia Baltic mà không cần gây ra sự đe dọa quân sự đáng kể nào ngay trên biên giới của Nga. Tuy nhiên, giả sử Mỹ thực hiện đầy đủ ERI và NATO thực hiện các cam kết được đưa ra tại hai hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất, liên minh này sẽ chỉ duy trì một lực lượng “dây bẫy” mong manh được triển khai trên sườn phía Đông để ngăn chặn và đóng vai trò một tuyến phòng thủ phía trước ban đầu chống lại một cuộc tấn công thông thường của Nga. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng NATO đã duy trì một lực lượng tương tự ở phía Tây Berlin trong các tình huống tương tự, và trogn hơn 40 năm đã ngăn chặn thành công một nỗ lực của Xô viết nhằm thay đổi nguyên trạng bằng cách ép buộc hoặc đe dọa.

Quan điểm của Moskva

Như trường hợp Chiến tranh Lạnh, các đánh giá được công bố của Nga về cân bằng quân sự với NATO – chẳng hạn như Chiến lược an ninh quốc gia của Nga năm 2016 – không phản ánh quan điểm của liên minh rằng NATO bị các lực lượng vượt trội của Nga áp đảo. Ngược lại, các đánh giá cho thấy một cảm giác thấp kém sâu sắc của Nga khi so sánh với NATO về các năng lực tấn công thông thường chính xác cao và tầm xa, vũ khí hạt nhân, các hệ thống phòng thủ tên lửa, và các dạng chiến tranh động lực cũng như phi động lực khác. Trong những đánh giá này, quân đội Nga sẽ đối mặt với một kẻ thù vượt trội hơn nhiều – được trang bị tốt hơn với “các loại vũ khí thông minh” và các khả năng chiến tranh điện tử, được huấn luyện tốt hơn, dẫn dắt tốt hơn, và được duy trì tốt hơn. Sự thiếu tự tin này có thể có vẻ đáng ngạc nhiên, xét tiến bộ của Nga trong vài năm qua trong cải cách quốc phòng và hiện đại hóa quân sự, gia tăng chi tiêu quốc phòng, và các hoạt động thành công ở Gruzia, Ukraine, và Syria. Tuy nhiên, Nga vẫn khẳng định việc tăng cường hiện nay của NATO ở các quốc gia Baltic – cách chưa đến 2 giờ đồng hồ lái xe từ thành phố lớn thứ 2 của Nga – là một mối đe dọa chiến lược đối với quê hương. Một phần trong giọng điệu này chắc chắn nhằm mục đích vận động sự ủng hộ của công chúng Nga đối với chế độ này vào thời điểm khó khăn về kinh tế. Nhưng nó cũng phản ánh lo âu thực sự về sự tinh thông quân sự của NATO và những ý đồ của Mỹ và phương Tây đối với Nga.

Vũ khí hạt nhân vẫn là trọng tâm chiến lược an ninh quốc gia và học thuyết quân sự của Nga, do nước này nhận thức được sự thua kém về vũ khí thông thường; tuy nhiên, các kế hoạch của phương Tây nhằm cải thiện các khả năng tấn công thông thường và phòng thủ tên lửa dường như đang làm xói mòn sự tự tin của các nhà lên kế hoạch quân sự của Nga trong việc răn đe hạt nhân của họ. Một số quan chức quân sự Nga coi đó như là kịch bản trường hợp tồi tệ nhất: một sự kết hợp các khả năng tấn công và phòng thủ tên lửa thông thường cũng như hạt nhân của NATO có khả năng gây thiệt hại cho các lực lượng chiến lược của Nga và ngăn chặn khả năng Moskva tiến hành tấn công trả đũa. Các nhà lên kế hoạch quân sự của Mỹ và NATO có thể coi đây là một viễn cảnh xa xôi, nhưng giới quân đội bảo thủ của Nga vẫn khẳng định rằng mối đe dọa đó là có thật.

Sự lo lắng của phương Tây về các khả năgn chiến tranh pha tạp đa hình thái của Nga được phản ánh bởi những nỗi sợ hãi của chính Nga: Điện Kremlin cáo buộc phương Tây đang tiến hành chiến tranh pha tạp đa hình thái  thông qua việc kết hợp các phương tiện quân sự và các phương tiện khác, đặc biệt là các hoạt động truyền bá dân chủ trong và xung quanh Nga. Theo quan điểm của Moskva, những hoạt động này bao vây Nga bằng các tác nhân gây anh hưởng của phương Tây, tạo ra các cơ hội để phương Tây can thiệp, và trao quyền cho các nhóm bên trong Nga chống lại Chính phủ Nga. Tương tự, theo các chuyên gia quốc phòng Nga, các khả năng chiến tranh mạng của phương Tây đã làm gia tăng cảm giác bất an của Nga. Họ tin rằng chiến tranh mạng, cùng với các tác động khác, có thể phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự và mạng lưới máy tính của Nga, và reo rắc thông tin sai lệch để gây hoang mang trong công chúng và làm tê liệt các lực lượng vũ trang của nước này. Cơn đau đầu trước mối đe dọa tiềm tàng này được nhấn mạnh khi Putin tuyên bố Google là “một dự án đặc biệt” của CIA và kêu gọi người dân Nga tránh sử dụng nó. Những bình luận của Putin về sự kiểm soát mạng Internet của Mỹ cho thấy sự bất an lan tỏa về tính dễ tổn thương của đất nước trước các cuộc tấn công mạng và tấn công thông tin.

Cân bằng quân sự: một đánh giá chính trị – quân sự

Những quan chức của NATO và Nga chịu trách nhiệm về an ninh của đất nước họ cần phải đặt các chính sách, kế hoạch, chương trình, tư thế và các cam kết nguồn lực cơ bản dựa trên những ước tính về khả năng quân sự của đối phương. Và vì biên độ cho sai sót về an ninh quốc gia là rất nhỏ đối với những nước sở hữu hàng nghìn vũ khí hạt nhân, những đánh giá gần như luôn được dẫn dắt bởi các giả định trong tình huống xấu nhất về ý đồ của kẻ thủ, vốn thường xuyên bị hiểu lầm, diễn giải nhầm, và nhận thức sai lầm.

Các cân nhắc chính trị

Các ý đồ, chứ không chỉ là khả năng, có ảnh hưởng ngay cả khi chúng thường khó nhận biết , có xu hướng thay đổi nhanh chóng và đôi khi không thể đoán trước. Có lý khi cho rằng Điện Kremlin sẽ muốn có các nước Baltic trong phạm vi ảnh hưởng hưởng của mình thay vì các binh lính NATO được triển khai trong lãnh thổ của họ cách St. Petersburg trong vòng 100 dặm. Cũng an toàn khi cho rằng Putin muốn phá vỡ sự gắn kết của NATO. Tuy nhiên, thành tích của Nga trong thập kỷ vừa qua – kể từ khi nước này bắt đầu xây dựng lại các khả năng quân sự của mình – cho thấy Điện Kremlin rất nhạy cảm trước những phí tổn có thể xảy ra của các hành động của mình và có một mức độ tôn trọng vừa đủ đối với đảm bảo an ninh của NATO.

Bất chấp hành vi hiếu chiến của các nhà lãnh đạo Nga, họ đã cho thấy khả năng to lớn trong việc đánh giá khi nào sự tham chiến của họ sẽ mang lại phí tổn và rủi ro quá cao. Họ đã chạm tới các ranh giới đỏ của NATO, nhưng vẫn chưa vượt qua chúng. Các cuộc chiến ở Gruzia và Ukraine là chiến đấu chống lại những đối thủ yếu hơn nhiều mà không có một đảm bảo an ninh nào từ NATO. Tại Syria, quân đội Nga đã bước vào một khoảng trống, tự trấn an rằng Mỹ và các đồng minh của nước này không có ý định can thiệp trên bộ hay trên không nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng nổi dậy chống lại Tổng thống Bashar al-Assad. Nói ngắn gọn, các kết luận về xu hướng gây chiến của Putin chống lại NATO và những ý định của ông đối với các nước Baltich không thể được đưa ra duy nhất dựa vào các cuộc chiến của ông chống lại Gruzia và Ukraine hay việc triển khai quân sự của Nga tới Syria.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần I


25 năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cân bằng quân sự giữa NATO và Nga, sau nhiều năm không được chú ý, đã một lần nữa trở thành trung tâm của sự quan ngại sâu sắc và thậm chí đáng báo động ở một số nước phương Tây. Nhìn từ góc nhìn thuận lợi cho NATO, Nga gây ra một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng cho sườn phía Đông của liên minh – và rộng hơn là đối với an ninh châu Âu – Đại Tây Dương – vì 3 lý do. Thứ nhất, một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự được phát động vào năm 2008, kết hợp với việc gia tăng đáng kể hi tiêu quốc phòng trong vài năm qua, đã cải thiện các năng lực của lực lượng vũ trang Nga. Thứ hai, trong thập kỷ vừa qua, Nga đã cho thấy nước này đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để sử dụng vũ lực như một công cụ của chính sách đối ngoại, cũng như năng lực được cải thiện để triển khai sức mạnh quân sự vượt ra ngoài vùng ngoại vi hậu Xô viết gần nhất của nước này. Thứ ba, Điện Kremlin  đã và đang tiến hành một chính sách đối ngoại bài phương Tây còn hung hăng hơn nhiều, làm gia tăng đáng kể các cuộc tập trận quân sự mang tính khiêu khích gần bei6n giới của các nước thành viên NATO với Nga, báo trước các mối đe dọa hạt nhân, và triển khai tên lửa có năng lực hạt nhân tại phần lãnh thổ Kaliningrad cuaủa Nga. Kết quả là, phương Tây đang ngày càng nhận thức được rằng Nga đã tái xuất như một cường quốc phục thù, tân đế quốc, bành trướng và thù địch, nhất quyết phải phá hủy hệ thống an ninh hậu Chiến tranh Lạnh của châu Âu và lục địa này thành các khu vực ảnh hưởng.

Điện Kremlin có một quan điểm khác biệt đáng kể. Họ khẳng định họ đang bị đe dọa bởi phương Tây và bởi sự bất ổn không chỉ xung quanh khu vực ngoại vi của Nga mà còn ở trong nước. Với sự mở rộng của NATO, biên giới của liên minh này với Nga đã tiến sát hơn nhiều tới vùng trung tâm của Nga. Những lo ngại này, dù có vẻ phi lý đến mức nào theo quan điểm của phương Tây, cũng thúc đẩy Điện Kremlin tiến hành một nỗ lực vận động quốc gia nhằm ngăn chặn những gì họ cho là một mối đe dọa trực tiếp từ phương Tây đối với an ninh Nga. Nhìn từ phía Điện Kremlin, trong 20 năm qua, Mỹ và NATO đã tiến hành vô số sáng kiến làm nổi bật mối đe dọa từ phương Tây: Sự mở rộng của NATO đến Đông Âu và vùng Baltic; các chương trình hợp tác của NATO với các nước thuộc Liên Xô trước đây; sự cải thiện trong các năng lực thông thường, phòng thủ tên lửa và hạt nhân; sự hỗ trợ cho các cuộc nổi dậy chống chính phủ và thay đổi chế độ quanh khu vực ngoại vi của Nga; và sự hỗ trợ cho các phong trào và các đảng đối lập bên trong nước Nga. Cụ thể, các quan chức Nga lập luận rằng chiến dịch do Mỹ dẫn đầu ở vùng Balkan trong những năm 1990, cuộc xâm lược do Mỹ dẫn đầu vào Iraq năm 2003, can thiệp quân sự của NATO vào Libya năm 2011; và sự hỗ trợ của Mỹ dành cho phe đối lập ở Syria và Mùa Xuân Arab đã đe dọa môi trường an ninh của Nga.

Những nhận thức trái ngược nhau này đã góp phần vào sự thiếu lòng, một môi trường an ninh xuống cấp, và viễn cảnh về một mối quan hệ thù địch đầy bất ổn và nguy hiểm hơn nhiều giữa phương Tây và Nga trong nhiều năm tới. Vẫn còn phải xem liệu mong muốn của Tổng thống Mỹ Donald Trump cải thiện quan hệ với Nga có thể làm giảm căng thẳng và đặt quan hệ Nga – Mỹ vào một quỹ đạo tích cực hơn hay không. Tuy nhiên, có nhiều lý do để hoài nghi. Sự đối đầu Mỹ – Nga bắt nguồn sâu từ những khác biệt cơ bản về lợi ích và giá trị, các quan niệm mâu thuẫn nhau về quy tắc của trật tự quốc tế, và quan điểm của từng nước về sự ngoại lệ của chính mình.

Quan hệ Mỹ – Nga có thể vẫn mang tính đối đầu và sẽ diễn ra phần lớn trong vùng xám địa chính trị hiện đang chia rẽ trật tự an ninh châu Âu – Đại Tây Dương và Nga. Nhưng cách nó diễn ra – dù dẫn đến sự ổn định hay xung đột nào đó – không thể dự đoán trước. Nga là một cường quốc chủ yếu đang đối mặt với sự suy yếu gần như chắc chắn và dài hạn. Tuy nhiên, quỹ đạo đi xuống này không có nghĩa là các hoàn cảnh đang xấu đi của Nga sẽ khiến Điện Kremlin e ngại rủi ro và kiềm chế hơn. Các biện pháp trừng phạt của phương Tây, giá dầu giảm thấp hơn, và sự đình trệ kinh tế trong 2 năm qua vẫn chưa làm giảm khao khát mạo hiểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin (chẳng hạn như ở Syria).

Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá đúng các khả năng của Nga. Tất nhiên, chúng không phải là dấu hiệu duy nhất cho các hành động của Nga trong tương lai – động cơ, ý đồ, bối cảnh, và các cơ hội cũng sẽ được thể hiện trong biểu thức này. Nhưng Điện Kremlin đã nhiều lần thể hiện ý muốn hành động trái với hầu hết các đánh giá của phương Tây về những khả năng này và gây tổn hại cho các lợi ích của Nga như phương Tây vẫn thường nhìn nhận. Một cách hiểu đúng đắn về những khả năng này là quan trọng đối với việc hiểu một số động lực của cácc hành động của Nga và đưa ra một phản ứng thích hợp của phương Tây.

Trong việc đánh giá những ước tính mâu thuẫn nhau về cân bằng quân sự NATO – Nga trên mặt trận phía Đông của liên minh này – và hiện trạng của cân bằng đó – một số tác động chính sách đối với Mỹ đã trở nên rõ ràng. Để cải thiện một cách bền vững an ninh của liên minh, việc gia tăng sự tái đảm bảo và các biện pháp quân sự của NATO – trong khi vẫn cần thiết phải tăng cường ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Nga – cần phải được bổ sung bằng các biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu nguy cơ của một xung đột bất ngờ với Nga. NATO và Nga, thông qua đối thoại tăng cường, kiềm chế và thậm chí có thể là hợp tác, cần phải tìm cách xuống thang.

Nếu Nga vẫn không nhượng bộ và tiếp tục hành vi khiêu khích của mình, Mỹ và các đồn gminh sẽ phải mở rộng và đẩy mạnh các biện pháp tăng cường phòng thủ theo kế hoạch của họ trên mặt trận phía Đông của NATO, cũng như bổ sung thêm các biện pháp ngoại giao và kinh tế để đối phó với hành vi của Nga.

Quan điểm của NATO

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2012, Mitt Rommey, ứng cử viên đảng Cộng hòa, đã gọi Nga là kẻ thù địa chính trị số một của Mỹ – một tuyên bố bị hầu hết các chuyên gia chỉ trích thẳng thừng. Nhưng chỉ 2 năm sau, việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine đã dẫn tới một sự thay đổi căn bản trong nhận thức của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với NATO. Mùa Hè năm 2015, chủ tịch sắp mãn nhiệm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Martin Dempsey, và người kế nhiệm của ông, tướng Joseph Dunford, đều đã miêu tả Nga là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, trong phiên điều trần xác nhận tại thượng viện, đã lặp lại những quan điểm này, tương tự như giám đốc Cơ quan tình bá trung ương (CIA) khi đó là Mike Pompeo. Các quan chức quân đội cấp cao của Mỹ ở châu Âu và NATO, cũng như chính phủ các nước Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan, cũng đã bày tỏ sự lo ngại trước các hành động của Nga. Mỗi chính phủ đã thúc giục Washington và Brussels gia tăng đáng kể sự hiện diện thường trực và các khả năng thông thường của liên minh trong lãnh thổ của họ để tăng cường răn đe và bảo vệ trước một cuộc xâm lược có thể diễn ra của Nga. Điều gì đã xảy ra để mang lại một sự thay đổi mạnh mẽ như vậy trong nhận thức cảu Mỹ và phương Tây về mối đe dọa của Nga?

Theo quan điểm của phương Tây, hành vi hiếu chiến của Nga trên biên giới phía Tây của nước này trong 2 năm qua đã xác nhận quan điểm u ám hơn về mối đe dọa từa Nga. Các mật vụ Nga đã bắt cóc một sĩ quan tình báo người Estonia từ lãnh thổ Estonia năm 2014. Máy bay Nga đã tiến hành các cuộc xâm nhập thường xuyên vào không phận của các nước NATO và quấy rối các tàu và máy bay của Mỹ và NATO đang hoạt động trong các khu vực Baltic và Biển Đen. Các lực lượng Nga đã bí mật tiến hành các cuộc tập trận không báo trước mô phỏng việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong một cuộc xâm lược vào vùng Baltic. Quân đội Nga đã triển khai thêm tài sản tên lửa và phòng không gần đây nhất là các tên lửa có khả năng hạt nhân Iskander tới Kaliningrad. Các hoạt động không gian mạng của Nga chống lại Estonia và Mỹ trong vòng vài tháng vừa qua đã gia tăng đáng kể. Các quan chức Nga, bao gồm cả Putin, đã đe dọa tấn công hạt nhân chống lại các nước NATO có lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa trong lãnh thổ của họ. Việc gần đây Nga đã triển khai một tên lửa hành trình trang bị hạt nhân đe dọa các lực lượng và cơ sở của NATO – vi phạm Hiệp định các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) Mỹ – Nga – đã nhấn mạnh ý đồ của Moskva nhằm làm suy yếu sự gắn kết của liên minh này.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Nước Pháp “bốc cháy” và những nghịch lý


Phong trào “Áo vàng” là chủ đề chính của tất cả các tuần báo Pháp kỳ này. Báo Le Point đăng ảnh phần đầu của người phụ nữ trong tác phẩm điêu khắc “La Marseillaise” trên Khải Hoàn Môn bị đập vỡ, chạy tựa “Những người cuối cùng của mô hình Pháp”, lý giải “Vì sao Macron phải thay đổi tất cả”. Cũng đăng tấm hình này, tuần báo Anh The Economist chạy tựa “Cơn ác mộng của Macron”. Trong khi đó, L’Obs nhấn mạnh đến “sai lầm thuế khóa”, đồng thời đặt câu hỏi “Tiền thuế đi về đâu?” và đề cập đến quan hệ căng thẳng giữa Tổng thống Emmanuel và Thủ tướng Edouard Philippe. Tờ L’Express đăng bài phân tích có tựa đề “Áo vàng – 4 khuôn mặt của cuộc khủng hoảng”.

Nước Pháp “bốc cháy” – Macron trong “bão tố”

Trong bài viết mang tựa đề “Nền cộng hòa bốc cháy”, The Economist nhận định rằng Macron đang phải đối mặt với thử thách thật sự của nhiệm kỳ tổng thống. Cách đây 1 năm, Macron đã nói: “Tôi không sinh ra để lãnh đạo đất nước trong lúc yên bình, mà để đối mặt với bão tố. Nếu muốn đưa đất nước đi đến đích, phải tiến lên bằng mọi giá. Không thể nhân nhượng, đồng thời cũng phải lắng nghe người dân, chia sẻ với họ sự giận dữ và nỗi đau khổ”. Theo tuần báo Anh, giờ là lúc Macron cần phải nghe lời khuyên của chính mình 1 năm về trước.

Nước Pháp không xa lạ với những cuộc xuống đường biểu tình. Thế nhưng, lần này thì khác hẳn. Những người “Áo vàng” đột ngột xuất hiện từ mạng xã hội, không gắn với các nghiệp đoàn hay bất kỳ đảng phái nào. Sức mạnh của phong trào là từ tính chất không có cơ cấu tổ chức lẫn lãnh đạo, sự biến hóa khó lường này gây khó khăn cho cảnh sát lẫn chính phủ.

“Áo vàng”- cuộc cách mạng nhờ thuật toán

Xã luận của báo Courier International gọi đây là “cuộc cách mạng bằng thuật toán”. Với Facebook, làm cách mạng không khó. Chẳng ai tin những người lái xe giận dữ lại có thể liên kết với nhau nhờ những chiếc áo gi-lê vàng. Mọi sự thay đổi về thuật toán hiển thị của mạng xã hội do Mark Zuckerberg sáng lập đã giúp người dùng chọn ra những thông tin làm họ hứng thú nhất, và đã giúp những người “Áo vàng” học cách nhận ra nhau. Chỉ trong vài cú nhấp chuột, sự phẫn nộ đã lan tràn trên mạng Internet, trước khi đẩy họ xuống đường với các khẩu hiệu vượt xa khỏi giá xăng dầu lúc ban đầu.

Một nước Pháp bị lãng quên đã thức dậy. Cuộn chỉ màu vàng đã lớn dần, được bổ sung bằng những kẻ cơ hội đủ loại. Tất cả những người tung thông tin giả có mặt: ảnh cũ, video lắp ghép, thông tin sai lạc… gây rối loạn trên mạng, làm tê liệt phản xạ dân chủ. Không chỉ những người dân túy, mà cả các lực lượng bên ngoài biên giới, cũng tìm cách phá hoại nền dân chủ nước Pháp, cần khẩn cấp tìm ra phương cách đối thoại trực tiếp, khiến dối trá và tin đồn không còn đất sống.

“Áo vàng” xuất hiện lúc sức mua bắt đầu được cải thiện

“Cơn phẫn nộ lỗi thời vì thuế má”, đó là nhận xét của Le Point. Những người “Áo vàng” tỏ ra tức giận đúng vào lúc chính sách kinh tế của Tổng thống Macron có tác động tích cực đến sức mua. Theo báo này, thật nghịch lý khi “Áo vàng” ngày càng tỏ ra không khoan nhượng, vào lúc tình hình tài chính của người dân Pháp được cải thiện. Giá xăng, “ngòi nổ” của cuộc nổi dậy, đã giảm mạnh từ 1,57 euro/lít xuống còn 1,43 euro/lít. Giá dầu diesel cũng vậy. Cùng lúc đó, vào cuối tháng 10/2018, người lao động Pháp nhận được phiếu lương đầu tiên đã bỏ các khoản đóng góp bảo hiểm y tế và thất nghiệp. Một người lĩnh lương tối thiểu được lợi thêm 42 euro, cộng thêm 8 euro tiền thưởng. 15 ngày sau, phong trào “Áo vàng” bắt đầu, vào lúc sức mua rốt cuộc tăng lên đúng như hứa hẹn của giới lãnh đạo, đồng thời thuế gia cư giảm xuống 30% đối với 80% người đóng thuế, trừ với 20% người giàu có.

Điều mỉa mai là khi đẩy đất nước rơi vào hỗn loạn, “Áo vàng” có thể khiến tăng trưởng của Pháp sụt giảm nhanh chóng, và chính họ sẽ là nạn nhân bởi không phải những người có trình độ cao bị đe dọa công ăn việc làm, mà ngay cả những người đang phong tảo đường phố cũng bị tổn thất không nhỏ.

Nghịch lý

Trong một bài xã luận của Le Point mang tên “Bất bình đẳng, lời dối trá trắng trợn”, tác giả nhận định tuy nước Pháp chịu sức nặng của thuế khóa song vẫn là một trong những quốc gia ít bất công xã hội nhất thế giới. Bài viết nêu ra một nghịch lý nữa là “Áo vàng” – cũng cùng một giọng điệu chống thuế như các nhà triệu phú – đòi cho bằng được việc giảm hoặc hủy bỏ thuế, trong khi chính nhờ các sắc thuế này, những người nghèo được hưởng lợi. Tác giả đưa ra những con số cụ thể để chứng minh rằng sau khi tái phân phối qua thuế trực thu và trợ cấp xã hội, cách biệt trong mức sống giữa người giàu và người nghèo từ 8,4 lần chỉ còn 3,9 lần. Nếu tính giữa lớp người giàu nhất và nghèo nhất, tỉ lệ này từ 22,4 lần chỉ còn có 5,6 lần. Số 10% những người giàu nhất phải đóng đến 70% tổng thuế thu nhập cả nước (55/78 tỉ euro)… Tóm lại, khẩu hiệu mà “Áo vàng” vẫn nhắc đi nhắc lại rằng “người nghèo phải trả giá” là không có cơ sở.

Việc bỏ thuế ISF làm ngân sách mất 5 tỷ euro trên tổng số 1100 tỷ euro các khoản đóng góp bắt buộc làm người ta quên đi Pháp là một trong những nước bình đẳng nhất trên thế giới, mức sống tốt đẹp hơn rất nhiều so với cách đây 50 năm. Khi kêu gọi giảm thuế đồng thời đòi giảm bất công xã hội, “Áo vàng” đã chứng tỏ bản thân phong trào này tự mâu thuẫn.

Phản ứng của truyền thông thế giới

Trang nhất của Courrier International đăng hình tháp Eiffel mặc một chiếc gi-lê vàng, phía dưới chân tháp là đám đông “Áo vàng”. Tờ báo chạy tựa “Cơn phẫn nộ đặc thù Pháp”, điểm qua báo chí nước ngoài nói về cuộc nổi dậy “Áo vàng”. “Dân chủ đang nguy ngập?”, tờ L’Orient du Jour ở Liban hoảng hốt. Không có nhà độc tài nào để lật đổ, cũng không có “nhà nước cảnh sát” nào sẵn sàng bắt giữ bạn nếu lên tiếng chỉ trích. Ở Pháp, biểu tình được cho phép, phe đối lập tha hồ chỉ trích, và nếu nhục mạ vị nguyên thủ bằng những lời lẽ tệ hại nhất cũng chẳng sao. Ở đó, các trường học rất tốt, miễn phí, y tế cũng vậy, Nhà nước pháp quyền đứng trên tất cả.

Nhìn từ nước Đức, theo tuần báo Die Zeit, Tổng thống Emmanuel Macron đang “đơn độc trong thế giới của mình”. Để lãnh đạo đất nước, bao quanh Macron là những người giống như ông. Theo báo cáo này, cuộc khủng hoảng hiện nay cho thấy giới tinh hoa Pháp đang xa rời thực tế. Macron đã thành công trong việc tập trung hóa quyền lực vốn đã rất tập trung. Chủ yếu chỉ có 4 người quyết định chính sách của nước Pháp. Cụ thể, đó là 4 người đàn ông năng động ở độ tuổi 40, hầu như chưa bao giờ biết đến thất bại. Bên cạnh Tổng thống Macron 40 tuổi là Thủ tướng Édouard Philippe 48 tuổi, Chánh văn phòng Thủ tướng Benoit Ribadeau-Dumas và chánh Văn phòng Tổng thống Alexis Kohler, đều 46 tuổi.  Câu hỏi đặt ra là liệu những con người quá tài năng nói trên là đủ để lãnh đạo đất nước? Hay việc họ quá tỏa sáng lại là một bất lợi?

Nguồn: TKNB – 11/12/2018

Nhận diện những người Áo vàng quá khích


Các cuộc biểu tình của phong trào “Áo vàng” tại Pháp từ một tháng nay đã trở thành “sân chơi” của “bạo lực hội tụ”, được thực hiện bởi nhiều nhóm quá khích khác nhau. Những cảnh đốt phá, cướp bóc và phá hoại tài sản công bùng nổ trong nhiều cuộc biểu tình “Áo vàng” đã khiến xã hội Pháp lo lắng. Cho dù tỉ lệ ủng hộ phong trào luôn ở mức cao, song không một đảng phái, tổ chức công đoàn hay nghiệp đoàn nào chấp nhận sự bạo loạn tiếp tục tái diễn. Tuy vậy, những kẻ quá khích vẫn len lỏi giữa những đoàn người biểu tình ôn hòa, lợi dụng mọi cơ hội để làm bùng phát căng thẳng.

Thời báo Le Figaro, cho đến nay, chưa có một kết luận thực sự chi tiết nào về “hồ sơ” của những kẻ quá khích. Tuy nhiên, ít nhất có 3 nhóm đối tượng đã được nhận diện, là hậu duệ của 3 làn sóng thù hận và bạo lực được sinh ra trong 30 năm qua. Đó là bạo lực được ghi nhận từ nhiều thập kỷ nay trong các xung đột xã hội. Tiếp đó là bạo lực của tầng lớp dân nghèo sinh sống tại các vùng ngoại ô trong những năm 1980. Cuối cùng là bạo lực “chính trị” ra đời từ những năm 1990 sau sự “trỗi dậy” của các “black bloc” (nhữung người biểu tình mặc trang phục đen và che kín mặt) cực tả, và được củng cố nhờ các thành viên cựu hữu xuất hiện sau các cuộc tấn công khủng bố Hồi giáo cực đoan và khủng hoảng di cư tại châu Âu

Nhóm bạo loạn thứ nhất: phe cực tả và phe cực hữu

Theo nguồn tin của cảnh sát, những đối tượng này xuất hiện rất nhiều trong đám đông biểu tình, tuy nhiên, lại chiếm rất ít trong số những người bị bắt giữ và thẩm vấn bởi họ là những “chuyên gia” về cách thức giấu mặt và lẩn trốn. Quốc vụ khanh Bộ Nội vụ Laurent Nunez cũng khẳng định vai trò quan trọng của các đối tượng này trong các vụ gây bạo loạn. Trên các trang mạng xã hội, chân dung của nhóm này rất dễ nhận diện.

Những người theo đường lối cực tả thường gắn liền với các phong trào chống đối, đòi tự trị và phi chính phủ. Họ chối bỏ các tổ chức và người lãnh đạo, kêu gọi biểu tình và đưa ra “lời khuyên” để “tự bảo vệ mình”. Vào các ngày thứ bảy trên đại lộ Champs-Elysées cũng như các tuyến phố trung tâm Paris, từng nhóm nhỏ xuất hiện trong đồng phục đen cùng mũ trùm đầu và kính bảo hộ, liên lạc với nhau bằng những tin nhắn được mã hóa. Trong ba lô của họ có một bộ quần áo, búa và các công cụ khác có thể biến thành vũ khí. Như đã làm nhiều lần trong các cuộc xuống đường nhân ngày quốc tế lao động trong những năm gần đây, họ hòa lẫn với những người biểu tình ôn hòa để tìm cơ hội tấn công các lực lượng an ninh trật tự. Chính quyền Paris đã đưa ra thông tin đáng lo ngại: nhiều cái cuốc và thanh sắt đã được giấu trên các đại lộ trung tâm Paris trong những ngày trước khi xảy ra cuộc bạo loạn.

Theo một chuyên gia về an ninh trật tự, những cách thức hành động được “công khai rộng rãi” trên mạng Internet này cũng có thể được phe cực hữu bắt chước. Các trang mạng của những người theo đường lối cực hữu cũng đầy những lời kêu gọi biểu tình. Các cơ quan tình báo cũng đã phát hiện ra trong những tuần gần đây sự xuất hiện của “barjols”, nhóm cực hữu có thành viên gần đây đã bị bắt vì đã lên kế hoạch tấn công Tổng thống Emmanuel Macron.

Một nguồn tin cảnh sát cho biết: vào ngày 1/12, những kẻ cực đoan từ cả hai phe đã thay nhau “chiếm lĩnh” Khải Hoàn Môn. Phe cực hữu có mặt buổi sáng sớm, tấn công các lực lượng an ninh nhưng bảo vệ di tích và ngọn lửa vĩnh cửu trên mộ người lính vô danh dưới chân Khải Hoàn Môn. Sau đó, các nhóm cực tả và thanh niên “vùng ngoại ô” chiếm lĩnh hiện trường, lục soát và đập phá di tích.

Nhóm bạo lực thứ hai: giới trẻ “vùng ngoại ô”

Họ có mặt trên đại lộ Champs-Élysées vào các ngày thứ Bảy. Họ kêu gào kích động tấn công lực lượng an ninh cảnh sát. Họ đập phá và cướp bóc các cửa hàng một cách có tổ chức. Công tố viên Paris, Rémy Heitz, đã đề cập đến những thanh niên “có động lực hơn” nhờ tư tưởng tội phạm chiếm đoạt. Họ tràn đến trung tâm thành phố vào cuối ngày để “kiếm lợi từ việc cướp bóc, hôi của”.

Nhóm bạo lực thứ ba: những người “Áo vàng” mất kiểm soát

Phần lớn những người biểu tình quá khích bị bắt giữ là thuộc phong trào “Áo vàng” thuần túy, nhưng mất kiểm soát hành vi dẫn đến bạo loạn. Cảnh sát trưởng Paris Michel Delpuech mô tả “một số lượng rất lớn người biểu tình ‘Áo vàng’ đã không ngần ngại tham gia các vụ gây rối phi lý, dưới tác động của ‘hiệu ứng đám đông” hoặc bị kích động”. Công tố viên Rémy Heitz cho biết, nhiều người đàn ông trong độ tuổi từ 30 đến 40, đến từ các tỉnh “để chiến đấu với cảnh sát”. Người phát ngôn của chính phủ Benjamin Griveaux cũng đã đề cập đến những người “áo vàng” để cho mình “bị dẫn dắt đến bạo lực, có lẽ vì họ tưởng rằng đây là cách duy nhất để được lắng nghe”.

Nghề nghiệp của những người tỉnh lẻ này rất khác nhau: công nhân, nông dân, cựu nhân viên an ninh, buôn bán nhỏ, tài xế xe tải, thợ kim loại, thủy thủ, ngư dân, thợ mộc… Về phương thức hoạt động, những người “Áo vàng” này tự trang bị kính bảo hộ và mặt nạ, vì đôi khi rất có kinh nghiệm trong việc đối mặt với cảnh sát tại địa phương mình.

Trong những thập kỷ gần đây, vũ khí được sử dụng trong nhiều cuộc xung đột xã hội bao gồm cả bu lông và cuốc. Tuy vậy, cuộc đụng độ lần này không diễn ra ở một địa phương xa xôi mà ngay tại trung tâm Paris. Một câu hỏi quan trọng được đặt ra: liệu “bạo lực hội tụ” có thể tàn phá được kinh đô ánh sáng?

Nguồn: TKNB – 11/12/2018