Việt Nam có đủ tiềm lực để thực hiện kế hoạch phát triển đô thị ứng phó biến đổi khí hậu 2021 – 2030?


Theo đài RFA, phát triển đô thị để ứng phó với biến đổi khí hậu cho Việt Nam giai đoạn 2021 – 2030 là đề án cuối cùng của ông Nguyễn Xuân Phúc trước khi rời cương vị Thủ tướng chính phủ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ban hành Quyết định số 438/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 là kịp thời, phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Ông Đặng Hùng Võ cho rằng có 4 lý do dẫn đến việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt đề án với mục tiêu Việt Nam trở thành nước công nghiệp với tỷ lệ đô thị hóa từ 42% hiện nay lên 65% vào năm 2030: “Thứ nhất là thể hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị toàn cầu về biến đổi khí hậu ở Paris, thường gọi là COP-21.

Thứ hai, năm 2020, trong tình trạng cả nước phải dồn vào việc kiểm soát COVID-19 thì gần 15 cơn bão đã tràn vào tàn phá các tỉnh miền Trung. Tình trạng các khu dân cư ven biển bị tàn phá do ngập lụt lâu ngày, núi lở, đất sụt gây chết chóc và mất tích rất nhiều người. Chính phủ Việt Nam ý thức được rằng không thể phát triển các đô thị như hiện nay trong khi nhiệm vụ đô thị hóa như một trọng tâm 10 năm tới.

Thứ ba, trong thời gian miền Trung bị bão lũ, Ngân hàng thế giới (WB) đã hoàn thành báo cáo “Tăng cường khả năng chống chịu khu vực ven biển: Phát triển khu vực ven biển Việt Nam – Cơ hội và rủi ro thiên tai”. Báo cáo chỉ ra rằng: “dù có tiến bộ đáng kể nhưng các biện pháp quản lý rủi ro thiên tai hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu”. Đếm lại con số 11,8 triệu cư dân ven biển đang gặp rủi ro cao do lũ lớn, 35% khu dân cư ven biển thuộc vùng hay bị sạt lở. Mỗi năm, kinh tế thiệt hại 852 triệu USD, tương đương 0,5% giá trị GDP, thiệt hại 316 nghìn việc làm do lũ sông và lũ ven biển.

Thứ tư, 2021 là năm đầu của kỳ quy hoạch cho thời kỳ 2021 – 2030 với tầm nhìn 2050. Đó là năm chuẩn bị quy hoạch cả nước, các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh. Nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu cần được đặt như một trọng tâm, đặc biệt phải đặt điểm nhấn vào quy hoạch phát triển đô thị trong quá trình đẩy mạnh đô thị hóa”.

Đối với chuyên gia về biến đổi khí hậu, PGS.TS Lê Tuấn Anh – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), quyết định của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giúp tìm giải pháp để các đô thị phục hồi tốt hơn sau khi thiên tai, đồng thời có sự chuẩn bị nhằm giảm nhẹ tác hại khi thiên tai xảy ra: “Bởi vì, hiện nay các đô thị của Việt Nam đều ít nhiều chịu tác động của biến đổi khí hậu. Khi thiên tai xảy ra thì tất cả các hoạt động đều ngưng trệ hoặc chậm lại, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế cũng như xã hội của các đô thị”.

Theo GS.TS Đặng Hùng Võ, thành quả cần đạt được trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ bao gồm 6 điểm quan trọng:

Một là hình thành cơ sở dữ liệu cảnh báo rủi ro đô thị, Atlas đô thị và khí hậu tại các địa phương.

Hai là ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị, thực hiện lồng ghép các hướng dẫn và nội dung quản lý rủi ro trong phát triển đô thị.

Ba là các định hướng, quy hoạch, chương trình phát triển đô thị đã được điều chỉnh, bổ sung nội dung ứng phó với biến đổi khí hậu và có giải pháp kiểm soát phát triển đô thị.

Bốn là chỉ tiêu xác định các khu vực ưu tiên đầu tư xây dựng, nâng cấp cải tạo tại các đô thị ứng phó với biến đổi khi hậu làm cơ sở đầu tư xây dựng hiệu quả.

Năm là bổ sung hệ thống các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về xây dựng và phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, hệ sinh thái bền vững; ban hành các tài liệu đào tạo nâng cao năng lực quản lý rủi ro, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Sáu là hợp tác quốc tế nghiên cứu, thực hiện thí điểm một số chương trình, dự án ứng dụng công nghệ, vật liệu mới nhằm phát triển đô thị đảm bảo sức chống chịu với biến đổi khí hậu.

Chuyên gia biến đổi khí hậu Lê Anh Tuấn giải thích bổ sung: “Ví dụ, mỗi thành phố phải có kế hoạch dự báo, cảnh báo khi thiên tai sắp xảy ra. Và khi thiên tai đã xảy ra thì phải có biện pháp giảm nhẹ hoặc biện pháp cứu trợ nạn nhân thiên tai. Sau đó là những chương trình tái thiết, đồng thời chương trình chuẩn bị cho những thiên tai khác trong tương lai.

Đây là cách mà tất cả những thành phố lớn trên thế giới phải làm theo. Có nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị trước, trong và sau khi có thiên tai”.

Tuy nhiên, vẫn theo lời nhà nghiên cứu Lê Anh Tuấn, trong điều kiện của Việt Nam thì có thể có một số điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của một quốc gia chưa phát triển cao như các nước Âu – Mỹ: “Việt Nam có phương châm “cứu người tại chỗ”, có nghĩa là cộng đồng có thể chỉ huy được phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ, ví dụ các nhóm thanh niên, các nhóm tình nguyện viên để giúp người khó khăn. Địa phương cũng phải có những kho chứa lương thực, thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men, lều, trại cả những kế hoạch tập huấn cứu hộ cứu nạn trong những tình huống khác nhau. Đó là cách Việt Nam làm bên cạnh những tiêu chuẩn mà quốc tế đã làm”.

Kế hoạch phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt trước khi rời nhiệm sở, được chia làm 3 thời kỳ:

+ Giai đoạn từ 2021 – 2025: các tỉnh được quan tâm cải tạo gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương, 7 tỉnh vùng ven biển, 7 tỉnh vùng núi.

+ Giai đoạn hai từ 2025 – 2030: kế hoạch được mở rộng ra các tỉnh khác và bị tác động của biến đổi khí hậu.

+ Giai đoạn ba sau 2030 xem xét tất cả các đô thị trên phạm vi toàn quốc.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Đặng Hùng Võ nhận định tính hợp lý rất cao trong quyết định của Thủ tướng, quan trọng Việt Nam có làm được hay không: “Tôi chỉ nói rằng nó hợp lý và nội dung như vậy là đủ. Thế nhưng bằng cách nào và điều gì quan trọng nhất thì tôi cho rằng là vấn đề ngân sách. Việt Nam có tiền để làm hay không? Với số lượng lớn các tỉnh, trước kia phát triển có phần lộn xộn, thì có đủ tiền cải tạo hay không? Đây là câu hỏi chỉ những người trong hệ thống lãnh đạo hiện nay mới có thể trả lời đc”.

Khó khăn cần đến là trí tuệ, ông Đặng Hùng Võ nhấn mạnh: “Khi đã cần hệ thống pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn, kể cả cơ sở dữ liệu, thì cảnh báo như thế nào từ những cơ sở dữ liệu đó cũng cần sáng kiến gọi là chắt lọc về mặt trí tuệ, về mặt chất xám”. Thực tế lâu nay cho thấy có nhiều kế hoạch đề ra được đánh giá là hoành tráng, nhưng khi áp dụng thì không thể vượt qua những trở ngại do chính đội ngũ thực thi gây ra.

Nguồn: TKNB – 09/04/2021.

Ngành điện than Việt Nam trước áp lực của chống biến đổi khí hậu


Theo đài RFI, trong chiều hướng thế giới đẩy mạnh cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, nhiều tập đoàn quốc tế đang phải rút ra khỏi các dự án nhà máy điện than, bị xem là gây nhiều ô nhiễm và làm gia tăng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính. Ngành điện than Việt Nam cũng đang gặp tình trạng như vậy.

Để sản xuất đủ điện nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế, Việt Nam hiện vẫn dựa nhiều vào các nhà máy nhiệt điện chạy bằng than. Tuy nhiên, theo hãng tin Reuters và báo Nikkei Asia ngày 26/2, tập đoàn Nhật Mitsubishi đã quyết định rút khỏi dự án nhà máy điện than Vĩnh Tân 3 ở tỉnh Bình Thuận, một dự án có tổng đầu tư khoảng 2 tỷ USD,dự kiến đi vào hoạt động năm 2024. Theo báo chí Việt Nam, lãnh đạo Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) đã xác nhận thông tin nói trên. Cũng theo lãnh đạo cơ quan này, cơ cấu cổ phần Nhà máy nhiệt điện than Vĩnh Tân 3 có 29% là của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), còn lại là cổ phần của OneEnergy, liên doanh giữa Mitsubishi với Tập đoàn CLP của Hong Kong.

Áp lực của các cổ đông

Quyết định của Mitsubishi cho thấy các công ty năng lượng và các công ty tài chính quốc tế, trong đó có các công ty của Nhật Bản, nay không còn ủng hộ mạnh mẽ các dự án điện than, dưới áp lực của các cổ đông và các nhà hoạt động bảo vệ môi trường. Theo Nikkei Asia, đây là lần đầu tiên Mitsubishi rút khỏi một dự án điện than và tập đoàn này cũng sẽ không xây dựng bất kỳ nhà máy điện than nào mới sau dự án Vũng Áng 2 mà tập đoàn này có tham gia. Thay vào đó, Mitsubishi có kế hoạch góp phần phát triển các dự án năng lượng ít gây hại cho môi trường bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và năng lượng tái tạo, như năng lượng gió và mặt trời.

Trả lời RFI tiếng Việt ngày 8/3, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nhận định về quyết định của Mitsubishi: “Theo thiết kế nhà máy này có công suất lên tới 2000 MW, một đơn vị phát điện chiếm một phần khá lớn trong tổng công suất điện than của Việt Nam hiện nay. Mitsubishi rútra khỏi dự án này. Ngoài ra, còn có thông tin những ngân hàng như Standard Chatered đang rút lại tiền tài trợ cho dự án thứ hai là Vũng Áng 2 với công suất 1200 MW, nhưng Mitsubishi và chính phủ Nhật nói là họ vẫn ở lại dự án này.

Tại sao họ rút khỏi Vĩnh Tân 3? Điều này cũng dễ hiểu vì đó là những tập đoàn lớn và họ đã cam kết góp phần vào việc chống biến đổi khí hậu, mà điện than thì phát ra khí CO2 nhiều. Nhiều công ty khác của các nước lớn cũng đi theo hướng đó. Thành ra chuyện đó mình cũng đã lường trước”.

Áp lực trong nước

Không chỉ bị áp lực bên ngoài, ngành điện than Việt Nam còn bị áp lực của dư luận trong nước, một phần là do các nhà máy điện than có thể gây ô nhiễm không khí. Giáo sư Phạm Duy Hiển nói: “Ở Việt Nam nói chung, công chúng phản đối các nhà máy điện than, một phần vì nó làm tăng lượng khí CO2 gây biến đổi khí hậu, nhưng mặt khác nó có thể gây ô nhiễm không khí. Nhưng tôi có hỏi những người bạn ở EVN, họ nói các nhà máy điện than mới có quy trình công nghệ tương đối tốt. Thêm nữa, họ luôn luôn có các bộ cảm biến (sensor) đặt ở những nơi phát thải. Những sensor đó truyền luôn các tín hiệu về Sở Tài nguyên và Môi trường ở địa phương. Do đó, không có nhiều nguy cơ các nhà máy này thải ra nhiều khí, bụi”.

Theo Giáo sư Phạm Duy Hiển, trước mắt, có thể EVN sẽ tìm những đối tác mới để làm nhà máy điện than Vĩnh Tân 3, bởi vì những nhà máy đó rất lớn, không thể dừng lại được. Thật ra, ngay cả Việt Nam cũng đang đi theo hướng từ bỏ dần dần điện than để gia tăng đầu tư vào các dự án năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề, đó là việc tiếp tục thực hiện các dự án điện than sẽ gây khó khăn cho việc tuân thủ các cam kết mà Việt Nam đã đưa ra về chống biến đổi khí hậu.

Tiết kiệm năng lượng

Thật ra, trong chiến lược phát triển điệnnăng, có một hướng khác mà Việt Nam có thể làm, đó là tiết kiệm năng lượng. Giáo sư Phạm Duy Hiển nhắc lại điều mà ông vẫn nhấn mạnh từ lâu nay, đó là hiệu quả tiêu thụ điện năng của Việt Nam vẫn còn rất kém so với nhiều nước. Bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia của WB tại Việt Nam, cho rằng thúc đẩy tiết kiệm năng lượng là giải pháp tốt có chi phí thấp nhất để đạt được nhiều mục tiêu cùng một lúc: Đáp ứng nhu cầu năng lượng, chống ô nhiễm và giảm phát thải khí nhà kính đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Việt Nam và bài toán về du lịch biển bền vững


Trang Mekong Eye, do Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (Sida) tài trợ, ngày 19/03 đăng bài cho rằng Việt Nam cần ít khách du lịch hơn, chứ không phải là nhiều hơn bởi các chính sách thiếu cân nhắc kỹ trong lĩnh vực du lịch sẽ làm suy yếu tính bền vững trong quan hệ kinh tế – xã hội của Việt Nam với biển và làm nảy sinh nguy cơ đe dọa những khả năng thương mại có thể mang lại lợi ích phát triển của đất nước dành cho các thế hệ tương lai.

Năm 2019, du lịch Việt Nam không thể khả quan hơn với mức kỷ lục 18 triệu lượt khách quốc tế và 85 triệu lượt khách nội địa. Tuy nhiên, giống như những nơi khác trên toàn cầu, đại dịch COVID-19 đã khiến những con số này giảm mạnh. Suy thoái kinh tế đặc biệt rõ ràng dọc theo 3200 km bờ biển của Việt Nam, nơi những bãi biển đầy cát  trắng trải dài đóng góp 70% tổng thu nhập của khách du lịch vào năm 2017.

Câu hỏi về tính bền vững

Sự mở rộng nahnh chóng và ngẫu nhiên của ngành du lịch đã làm lộ ra những rạn nứt trong các chính sách bảo vệ môi trường, trong khi các ưu tiên phát triển đang ảnh hưởng đến tính bền vững của ngành cũng như mối quan hệ kinh tế – xã hội vững chắc một thời của Việt Nam với biển.

Nhiều người đang đặt ra câu hỏi liệu doanh thu du lịch chóng vánh này có thể tiếp tục được bao lâu, bất chấp tham vọng của chính phủ là mỗi năm thu hút 50 triệu du khách quốc tế và 160 triệu du khách trong nước kể từ năm 2030.

Bảo tồn văn hóa – bước cần thiết để phát triển bền vững

Phan Thiết, một thành phố cảng cách TPHCM khoảng 200 km về phía Bắc, đã phát triển thành một trung tâm du lịch ven biển. Vịnh Hàm Tiến kéo dài từ thành phố đến thị trấn Mũi Né, đã trở thành trung tâm nghỉ dưỡng. Mũi Né, vừa được thêm vào mạng lưới các điểm du lịch quốc gia, sẽ sớm tổ chức khai trương khách sạn nghỉ dưỡng lớn nhất Việt Nam, Apec Mandala Wyndham với 2912 phòng.

Ông Võ Đình Vân, Phó Giám đốc Chương trình giáo dục phổ thông tại Đại học Thái Bình Dương, Khánh Hòa, cho biết, ban đầu hầu hết cư dân hào hứng và chào đón các nhà đầu tư – giống như nhiều khu vực ven biển khác: “Họ có thể kiếm tiền dễ dàng từ việc bán nhà, nhưng nhiều người lớn tuổi hối hận khi nhận ra rằng họ đã đánh mất quá khứ và những ngành nghề truyền thống từng rất quan trọng đối với mục đích và cuộc sống của họ”.

Việc người dân địa phương từ bỏ các nghề truyền thống theo sự để mất vốn sống và các giá trị văn hóa đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Theo ông Vân, không chỉ có khách du lịch nước ngoài mà ngay cả khách du lịch trong nước cũng ngày càng ưa chuộng hình thức du lịch trải nghiệm hoặc giáo dục hơn là đơn thuần nghỉ dưỡng ở các resort sang trọng ven biển. Trải nghiệm ở đây có thể là việc học các kỹ năng và kinh nghiệm đánh bắt cá, hoặc các chuyến khám phá và bảo vệ môi trường mang đậm bản sắc và văn hóa ven biển vô giá của Việt Nam.

Trả giá với các khu nghỉ dưỡng ven biển quy hoạch kém

Trong nhiều năm qua, các khu nghỉ dưỡng ở Mũi Né báo cáo thiệt hại mỗi năm lên đến hàng trăm mét bãi biển và hàng chục nghìn USD do tình trạng phá hoại cơ sở hạ tầng và sự quay lưng của những du khách bất mãn vì thiếu bãi biển. Niềm tự hào một thời của Mũi Né là một trong những bãi biển tốt nhất châu Á đã trở nên mờ nhạt.

Các rào chắn tạm bợ để ngăn sóng vẫn còn đây đó dọc theo bãi biển. Những rào chắn này đãmang lại kết quả khả quan, song lại chặn hoàn toàn lối xuống biển của du khách và tạo ra những bậc thang lớn nguy hiểm cho người đi bộ.

Tháng 10/2020, Ngân hàng Thế giới (WB) đánh dấu Phan Thiết là một trong 6 điểm nóng trong báo cáo 230 trang về tình trạng xói mòn nghiêm trọng tại nhiều địa điểm du lịch. Báo cáo có đoạn: “Các trận bão có thể gây sạt lở vài chục mét, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều khu du lịch trên địa bàn phường Hàm Tiến. Hậu quả của sự xói mòn là số lượng du khách giảm 20% trong năm 2018 và đầu tư của các doanh nghiệp cũng giảm”.

Báo cáo ghi nhận tình trạng xói lở ở 28 tỉnh ven biển của Việt Nam “đe dọa nghiêm trọng tăng trưởng trong lĩnh vực du lịch”. Báo cáo cũng lưu ý, 42% khách sạn ven biển gần các bãi biển xói mòn. Chú Hai, một ngư dân địa phương đã sống cạnh bờ biển Mũi Né hơn 45 năm, cho biết “Giờ đây, việc ra biển khó hơn nhiều do lượng cát bị mất đi rất lớn. Hầu hết ngư dân đã rời bỏ khu vực này để trồng trọt các loại cây như dừa và thanh long nhằm có thu nhập chắc chắn hơn. Một số bỏ đi vì sản lượng khai thác cá suy giảm”.

Khả năng phục hồi cao hơn nhờ chất lượng

Alexandra Michat, Giám đốc Bền vững của Du lịch EXO và Giám đốc Quỹ EXO, lo ngại rằng lượng khách hiện tại của Việt Nam sẽ càng làm tăng nguy cơ đối với cơ sở hạ tầng và “phá hủy vẻ đẹp tự nhiên vốn có và cơ duyên đã khiến Việt Nam ngay từ đầu đã trở thành một điểm đến hấp dẫn như vậy”.

Để duy trì ngành du lịch và bảo tồn những tài sản thiên nhiên này, chuyên gia này khuyến nghị: “Việt Nam nên tránh sử dụng mô hình dựa trên kết quả hẹp và sử dụng các biện pháp định tính hơn, tính đến những thứ như sự hài lòng và ý kiến của du khách bên cạnh quan điểm của người dân địa phương”.

Việt Nam đang tập trung thu hút lượng khách ngày càng tăng từ các quốc gia như Trung Quốc và Hàn Quốc. Theo Ngân hàng Thế giới, du khách từ các quốc gia này chiếm gần 50% tổng lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2017. Tuy nhiên, khách từ các quốc gia này thường được gọi là du khách có năng suất thấp. Điều này làm giảm thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế tại Việt Nam từ 11,1 ngày trong năm 2013 xuống 10,2 ngày trogn năm 2017 và chi tiêu hàng ngày chỉ ở mức 96 USD/ngày.

Mức tăng tổng lượng khách có thể ấn tượng, song phía sau đó là sự sụt giảm đáng kể trong lợi suất kinh tế tổng thể của Việt Nam từ du lịch, chưa kể đến áp lực gia tăng đối với môi trường và cơ sở hạ tầng.

Ngày càng nhiều quan điểm cho rằng sự chuyển hướng tập trung vào chất lượng thay vì số lượng khách du lịch là chìa khóa để bảo vệ môi trường và tính bền vững. Nhiều phân tích về phát triển du lịch kết luận rằng việc thúc đẩy khách chi tiêu nhiều hơn thường tương đương với thời gian lưu trú dài hơn và sự phân tán rộng hơn trên nhiều điểm đến. Chiến lược này dẫn đến xu hướng xây dựng các nền kinh tế đa dạng và mạnh mẽ hơn, đồng thời giảm các tác động và chi phí tiềm ẩn liên quan đến du lịch đại chúng.

Các quốc gia áp dụng tư duy hướng đến chất lượng hơn số lượng du khách du lịch chứng minh rằng, sự sụt giảm số lượng khách du lịch thường được bù đắp bằng chất lượng tốt hơn. Kết quả là các tiêu chuẩn cao hơn cũng giúp nâng cao tỷ lệ quay lại của du khách, điều mà Việt Nam đang gặp khó khăn – theo báo cáo của Hiệp hội lữ hành châu Á – Thái Bình Dương là 6%.

Theo bà Alexandria, để giúp mang lại những thay đổi tích cực, các cộng đồng địa phương phải được duy trì và sử dụng các kỹ năng – kiến thức của họ để phát triển các hoạt động và dịch vụ thay thế có khả năng thu hút những khách du lịch giàu có và thích trải nghiệm hơn.

Bà gợi ý rằng, với sự khuyến khích và ủng hộ từ các nhà hoạch định, Việt Nam có thể tận dụng suy thoái để thúc đẩy sự tăng trưởng liên tục của du lịch ven biển, song song với cam kết bền vững là duy trì vẻ đẹp tự nhiên và các giá trị văn hóa vô giá của bờ biển.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

Mỹ trở lại dẫn đầu cuộc chiến khí hậu: Thách thức nào đối với tân chính quyền Biden


Theo đài RFI, nhiều người coi sự trở lại của nước Mỹ với Hiệp định khí hậu Paris, hướng tới cái đích không để nhiệt độ Trái đất tăng quá từ 1,5oC đến 2oC, vào đầu năm 2021 này là một tin mừng. Trở lại với Hiệp định khí hậu 2015 là một trong các sắc lệnh quan trọng nhất của tân chính quyền Joe Biden ngay trong ngày nhậm chức 20/01/2021, đảo ngược lại chính sách thời Donald Trump, vốn không thừa nhận biến đổi khí hậu là mối đe dọa hàng đầu của nhân loại, cũng như việc Trái Đất bị hâm nóng một phần cơ bản là do xã hội con người.

Tuy nhiên, tuyên bố trở lại với Hiệp định khí hậu Paris không đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ sớm trở lại nhóm các quốc gai dẫn đầu cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, như kỳ vọng. RFI giới thiệu một số phân tích của kinh tế gia về khí hậu, Giáo sư Christiande Perthuis thuộc trường Đại học Paris Dauphine, trên ideas4development.org, trang mạng chuyên về môi trường của chính phủ Pháp.

Xác định chỉ tiêu cắt giảm khí thải về trung hạn của chính nước Mỹ đúng tầm với đòi hỏi của cuộc chiến khí hậu?

Chuyên gia Christian de Perthuis ghi nhận ông Biden, trong thời gian tranh cử tổng thống, khẳng định trước hết mục tiêu trung hòa về khí thải ở cái mốc 2050 (tức lượng khí thải ra tương đương với lượng khí thải hấp thu, đồng nghĩa với việc các hoạt động kinh tế sẽ không góp phần làm gia tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, khiến Trái đất nóng lên). Trên thực tế, đây cũng là mức phấn đấu về dài hạn đã nhận được sự đồng thuận của các quốc gia công nghiệp hóa, từ Liên minh châu Âu (EU), cho đến Anh, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Vấn đề hiện nay với tân chính quyền Joe Biden – Kamala Harris là xác định được mục tiêu phấn đấu trong trung hạn đủ tầm cỡ, từ đây đến năm 2030. Tân chính quyền Mỹ phải hoàn tất công việc này trước Thượng đỉnh về Khí hậu tại Glasgow (Anh) tháng 11 tới. Trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, Thượng đỉnh Khí hậu COP 26 tháng 11 tới, được coi là cái mốc quan trọng nhất sau Thượng đỉnh COP 21 tại Paris, bởi đây sẽ là dịp các quốc gia công bố mức cam kết cắt giảm khí thải về trung hạn, được nâng cao, để hướng đến lộ trình không để nhiệt độ Trái Đất tăng quá từ 1,5oC đến 2oC so với thời tiền công nghiệp (tổng mức cam kết hiện nay dự kiến sẽ khiến Trái đất nóng lên từ ít nhất 3oC trở lên).

Các cam kết hiện nay của nước Mỹ, được đưa ra từ năm 2015 (trước khi bị chính quyền Donald Trump xóa bỏ), mới chỉ hướng đến mục tiêu khí thải vào năm 2025 sẽ phải giảm từ 26 đến 28% so với 2005. Đây là mục tiêu quá thấp. Theo kinh tế gia Nathaniel Keohane, nguyên là cố vấn về năng lượng – khí hậu thời Obama, nước Mỹ cần phải nâng mức phấn đấu, để vào năm 2030, khí thải phải giảm đến 50% so với 2005. Theo chuyên gia Đại học Paris Dauphine, có một yếu tố thuận lợi là mục tiêu trung hạn nói trên hoàn toàn không xa với cương lĩnh tranh cử của ông Biden, với một trong những cái đích hướng đến là loại bỏ hoàn toàn năng lượng hóa thạch trong việc sản xuất điện cũng như việc chấm dứt bán xe hơi chạy xăng, vào năm 2035.

Joe Biden có dễ nhận được sự hậu thuẫn của Quốc hội lưỡng viện Mỹ, hiện phe Dân chủ đã giành được đa số?

Giáo sư Christian de Perthuis nhấn mạnh đến việc, cho dù phe Dân chủ có được đa số tại Quốc hội lưỡng viện, sau cuộc bầu cử Thượng viện bổ sung vừa qua, chính quyền Biden – Harris vẫn phải cần đến sự ủng hộ của phe Cộng hòa, nếu muốn ra được các luật quan trọng liên quan đến khí hậu và môi trường. Chuyên gia Đại học Paris Dauphine dẫn lời kinh tế gia Robert Stavins, theo đó, cần phải có ít nhất 60 phiếu tại Thượng viện mới đủ để thông qua các luật về khí hậu có tầm cỡ, như mục tiêu của đảng Dân chủ, có nghĩa là phải có nhiều hơn 10 phiếu so với số phiếu mà đảng Dân chủ có tại Thượng viện hiện nay.

Nhà nghiên cứu Pháp lưu ý là có được sự đồng thuận của đảng Cộng hòa giờ đây là điều không hề dễ dàng. Kể từ thời Tổng thống Bush (2001 – 2009), vấn đề hâm nóng khí hậu đã trở thành chủ đề mang tính đối kháng, trong quan hệ giữa hai đảng Dân chủ và Cộng hòa. Tỉ phú địa ốc Donald Trump, sau này trở thành tổng thống (2016 – 2020), đã đẩy đối kháng này lên đến tột đỉnh.

Tân chính quyền Biden sẽ gặp phải những thách thức nào

Thách thức hiển nhiên trước hết sẽ là phe Cộng hòa. Cuộc đối đầu hứa hẹn sẽ quyết liệt. Trong hai nhiệm kỳ (2008 – 2016), Tổng thống Obama đã chỉ thành công trong việc khởi sự chính sách từ bỏ than đá (và đưa một số tiêu chuẩn về khí thải vào lĩnh vực xe hơi), nhưng chưa khởi sự được tiến trình từ bỏ dầu hỏa và khí đốt. Khi lên nắm quyền, Donald Trump đã khuyến khích than đá trở lại, cũng như ngành khai thác dầu đá phiến.

Mục tiêu của chính quyền Biden là thúc đẩy tiến trình từ bỏ than đá và tấn công vào hai ngành dầu mỏ và khí đốt. Theo chuyên gia Christian de Perthuis, cuộc chiến giữa hai phe sẽ diễn ra trên ba cấp độ hay ba trận địa.

Trên bình diện các quy định cấp liên bang, tổng thống Biden có thể sẽ ban hành một loạt sắc lệnh, từ cấm khai thác dầu khí tại các vùng được bảo vệ, cho đến siết chặt quy định về khí thải xe cộ, để giảm lượng tiêu thụ xăng dầu, năng lượng hóa thạch. Đối lập cộng hòa dự kiến sẽ phản công bằng hàng loạt vụ kiện, làm chậm lại tiến trình này. Cuộc chiến pháp lý hứa hẹn sẽ cam go, ông Donald Trump đã để lại cho tân chính quyền “món quà tẩm độc”, với việc bổ nhiệm hàng loạt thẩm phán phe “bảo thủ” vào tòa án các cấp, trong đó có ba thẩm phán “bảo thủ” vào Tòa án tối cao.

Trận địa thứ hai của cuộc chiến liên quan đến thuế đánh vào carbon, theo nguyên tắc, những người sử dụng năng lượng hóa thạch, gây ô nhiễm, sẽ phải chịu tổn phí cao hơn, bao gồm cả việc xem xét thiết lập thuế carbon ở biên giới, tương tự như dự án đang được thảo luận tại châu Âu. Đây là con đường được chuyên gia Christian de Perthuis đánh giá là “chắc chắn nhất” để từ bỏ năng lượng hóa thạch, do giá loại năng lượng này sẽ ngày càng cao. Tuy nhiên, để thông qua được luật về chuyện này là không dễ.

Những bế tắc hay chống đối gặp phải tại Quốc hội buộc những người muốn đưa ra các biện pháp thúc đẩy tiến trình thoái vốn khỏi năng lượng hóa thạch phải tìm sự ủng hộ tại các bang, các địa phương. Xu thế cần tiến hành là mở rộng các biện pháp đã sẵn có tại các bang đã ngả theo cuộc chiến vì khí hậu, như California, và các bang ven biển nói chung, cả bờ Đông cũng như bờ Tây của nước Mỹ. Đây chính là trận địa thứ ba. Chính quyền Donald Trump trước đây đã không cản trở được nhiều các nỗ lực của những bang vì khí hậu, cho dù đặt ra hàng loạt rào cản. Trở lực lớn nằm tại các bang phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch nhất, như Texas, Wyoming, Bắc Dakota, Tây Virginia hay Oklahoma, cũng thường là các thành trì của phe Cộng hòa.

Đâu là các thách thức với tân chính quyền Biden trong lĩnh vực khí hậu?

Theo kinh tế gia về khí hậu, Đại học Paris Dauphine, chính quyền Biden cần có một chính sách ngoại giao khí hậu phù hợp. Cam kết của các nước công nghiệp phát triển về cơ bản đã xác định và khá gần với tầm mức của thách thức khí hậu. Ẩn số lớn hiện nay là Trung Quốc, quốc gia phát thải hơn một phần tư tổng lượng toàn cầu và trong tương lai gần là các nền kinh tế đang trỗi dậy, có xu hướng ngả sang các nguồn năng lượng hóa thạch “rẻ tiền”.

Thách thức hàng đầu hiện nay là thúc đẩy Trung Quốc đề ra các chỉ tiêu cắt giảm khí thải về trung hạn đủ tầm cỡ, trước thềm thượng đỉnh COP 26 ở Glasgow. Cũng không thể coi nhẹ vai trò của các quốc gia khai thác và xuất khẩu năng lượng hóa thạch (như Saudi Arabia). Từ COP 1 (Berlin, 1995) cho đến nay, các nước này thường xuyên kìm hãm hay ngăn chặn các thương thuyết về khí hậu. Phải có biện pháp để hỗ trợ các quốc gia này hội nhập vào tiến trình chung, bởi việc từ bỏ sản xuất năng lượng hóa thạch buộc các quốc gia nói trên phải tái tổ chức lại toàn bộ nền kinh tế của mình.

Theo chuyên gia Christian de Perthuis, hai biện pháp cần làm khẩn cấp là giảm, xóa nợ và đầu tư mạnh vào năng lượng xanh tại các nước này. Chuyên gia kinh tế về khí hậu Pháp hy vọng là, nếu chính quyền Biden nỗ lực, cùng Trung Quốc và châu Âu, hướng theo lộ trình này, thì Thượng đỉnh COP 26 tại Glasgow sẽ trở thành một bước đột phá trong cuộc chiến vì khí hậu, rất được trông đợi.

Nguồn: TKNB – 26/01/2021.

Ý thức bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển tại Việt Nam cần được nâng cao


Theo đài RFA, trong một cuộc phỏng vấn với báo mạng Ngày Nay vào ngày 14/0, chuyên gia đứng đầu Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-Việt Nam), Tiến sĩ Văn Ngọc Thịnh nhận định rằng, “Trong những thập niên vừa qua, Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong khu vực, nhưng kèm theo đó là cái giá phải trả cho môi trường vô cùng lớn”.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành đổi mới sau Đại hội VI năm 1986, kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng mạnh, góp phần đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, từ dưới 500 USD năm 1986, đạt trên 2700 USD trong năm 2019.

Theo TS. Thịnh, giám đốc WWF-Việt Nam, có một số thay đổi về môi trường tự nhiên nhưng nhận thức chung trong vấn đề này của các tầng lớp trong xã hội chưa bắt kịp với thời đại. Ông nói: “Những năm gần đây, tỷ lệ rừng bị mất đã tương ốn định, tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu là do tăng cường công tác trồng rừng chứ không phải do phục hồi và tăng diện tích rừng tự nhiên. Các quần thể động vật hoang dã ở Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do nhu cầu về thịt rừng và các sản phẩm từ động vật hoang dã khác. Phải nói rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi, giai đoạn mà sự đảo ngược của các xu hướng này có thể bắt đầu xảy ra”.

TS. Thịnh nhận định, chính quyền đã có chính sách bảo vệ mạnh mẽ hơn đi kèm với hình phạt đã được đưa vào luật, là những dấu hiệu cho thấy việc thực thi, bắt giữ và truy tố đối với hoạt động buôn bán trái phép động vật hoang dã đang gia tăng.

Một số nhà hoạt động vì môi trường mà đài RFA có dịp tiếp xúc, cũng thừa nhận là về luật pháp, chỉ đạo, đúng là Việt Nam có đầy đủ.

TS. Phạm Quang Tùng, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Việtn quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học, trực thuộc Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam (VUSTA) chia sẻ: “Ý kiến của anh Văn Ngọc Thịnh, giám đốc WWF-Việt Nam cũng có đúng. Việt Nam cũng không phải là nghèo, đang phát triển, bây giờ nói là phát triển phải song song với bảo vệ môi trường mà tôi nghĩ là chính quyền chưa làm được, nhưng chính phủ chọn phát triển kinh tế hơn là bảo vệ môi trường”.

TS. Tùng đưa ra ví dụ điển hình qua một dự án mà gần đây ông thực hiện cho Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức Bản địa và Phát hiện (CIRD) là điều tra, đo đếm số lượng các loài voọc ở Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình: “Phương pháp của chúng tôi là đo đếm từng cá thể, quan sát từng nhóm, đến chỗ ngủ của loài voọc, số liệu đo đếm chính xác”.

Những loài voọc đen Hà Tĩnh có nguy cơ tuyệt chủng này được phát hiện tại đây từ năm 2012. Công tác điều tra với con số 150 cá thể voọc đếm được có nhiều ý nghĩa trong việc bảo vệ động vật quý hiếm này. Ông Tùng nói người dân địa phương nhận thức được nhu cầu bảo vệ quần thể này, thế nhưng không được sự hỗ trợ pháp lý từ chính quyền địa phương. Những nhà hoạt động vì đa dạng sinh học và dân địa phương đã tự nguyện lập nhóm chăm sóc, bảo vệ tuần tra sinh cảnh: “Ví dụ quần thể voọc ở trong Quảng Bình, bây giờ nhóm tình nguyện bảo vệ và người dân làm đơn, kêu cứu chính quyền vài năm nay, nhưng xử lý rất nhỏ giọt, rất nhẹ, cho nên trong báo cáo của các anh ở đây tha thiết kêu gọi chính quyền địa phương nhảy vào cuộc để cứu lấy loài voọc ở Quảng Bình. Còn một mỏ đó đang hoạt động, một tuần nổ mìn 3 ngày. Một trong những cái mà người dân rất quan tâm, kiến nghị chính quyền địa phương nhiều lần mà chính quyền chưa xử lý. Mà xử lý thì cũng chỉ phạt hành chính, rồi việc đâu cũng vào đấy, khai thác đá vẫn khai thác”.

TS. Tùng nói, chính phủ trung ương rất quan tâm, và có tất cả luật pháp, nhưng khi triển khai ở các cấp dưới, những biện pháp trừng phạt sẽ nhẹ dần, trong khi các tổ bảo tồn ở cấp xã được thành lập không làm hiệu quả. Ông nói: “Chính phủ cũng rất quan tâm, dứt khoát, nhưng khi triển khai nghị quyết thì không được như ý. Chính phủ quyết liệt, nhưng càng xuống dưới thấp, tôi nghĩ vì lý do kinh tế, nó sẽ nhẹ dần”.

Trong bài phỏng vấn với Ngày Nay, TS.Văn Ngọc Thịnh cũng nêu ra tác động sâu sắc đối với các quần thể hoang dã bởi nạn ăn thịt rừng và sự phổ biến của các sản phẩm từ động vật hoang dã như ngà voi, sừng tê giác, hoặc vảy tê tê.

Đối với nhà văn Huỳnh Ngọc Chênh, người quan tâm môi trường và động vật hoang dã, đặc biệt loài chim, ngay cả ở cấp cao nhất của chính quyền, các công chức cũng thiếu ý thức về môi trường thì việc tạo cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hầu như không có thể. Theo ông, ba yếu tố gây nguy hại cho môi trường là: chính sách nhà nước quá chú trọng đến phát triển kinh tế, dân trí chưa được nâng cao và cuộc sống của nhiều người quá đói khổ mong mưu sinh sống còn; bên cạnh đó là nền giáo dục chưa truyền đạt được giá trị của thiên nhiên.

Lâu nay, một số nhà hoạt động vì môi trường trong nước, những tổ chức hải ngoại chuyên về đa dạng sinh học tham gia giải quyết phần nào những bất cập đó. Chị Lê Thị Trang, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nước Việt (Green Việt) trình bày: “Khoảng năm 2012, khi mà Green Việt bắt đầu hoạt động ở Đà Nẵng mặc dù bán đảo Sơn Trà rất gần với người dân, chỉ có cách 2 – 3 cây số, và mọi người vẫn thường xuyên lên thăm quan, nhưng mọi người không nắm được thông tin về đa dạng sinh học ở Sơn Trà có gì, dẫn đến người dân không nhận ra được là giá trị, thực tế ở khu vực này như thế nào đối với cuộc sống của họ. Nên họ không quan tâm. Đồng thời họ cũng không quan tâm đến những quyết định liên quan đến bán đảo Sơn Trà. Từ khi mà có những hoạt động của Green Việt với cộng đồng ở khu vực này để tin này đến với người dân tốt hơn, thông qua kênh truyền thông mở như Facebook, mọi người tiếp cận tốt hơn, khi đó người dân có ý kiến, quan điểm, tham gia những thảo luận, đồng thời gửi kiến nghị lên thành phố hoặc chính quyền để họ có cơ sở tham mưu và ra quyết định tốt hơn”.

Nguồn: TKNB – 22/09/2020.

Về Hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ 3


Về Hợp tác Mekong – Lan Thương

Ngày  24/08/2020, Hội nghị các nhà lãnh đạo Hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ 3 đã diễn ra bằng hình thức trực tuyến. Hội nghị do Thủ tướng Lý Khắc Cường và Thủ tướng Lào Thoongloun Sisoulith đồng chủ trì.

CRI Online ngày 24/08 dẫn trả lời phỏng vấn của Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Vương Văn Thiên cho rằng, trong bối cảnh phi toàn cầu hóa, chủ nghĩa bảo hộ đang gia tăng và đại dịch COVID-19 đang lan rộng hiện nay, hội nghị này sẽ giúp các nước Mekong – Lan Thương tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, củng cố quan hệ đối tác, thúc đẩy hợp tác thiết thực trong nhiều lĩnh vực, đồng thời chung tay ứng phó với dịch bệnh và đẩy mạnh phục hồi kinh tế, xã hội hậu dịch bệnh.

Đại sứ Vương Văn Thiên kỳ vọng, Hội nghị này có thể trở thành một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của hợp tác Mekong – Lan Thương, tiếp tục hoạch định tương lai của hợp tác này và thúc đẩy tạo ra kết quả hiệu quả hơn trên nhiều lĩnh vực. Ông tin tưởng rằng, với nỗ lực chung của tất cả các bên, hợp tác Mekong – Lan Thương sẽ trở thành hình mẫu của hợp tác tiểu vùng trong quá trình cùng xây dựng “Vành đai, Con đường”, trở thành một thực tiễn sinh động để thúc đẩy xây dựng quan hệ quốc tế kiểu mới và xây dựng một Cộng đồng chung vận mệnh nhân loại.

Về nâng cao hợp tác nguồn nước, Tân Hoa xã ngày 24/08 bình luận, hợp tác Mekong – Lan Thương xuất phát từ hợp tác về nguồn nước, do đó, việc cải thiện và nâng cấp hợp tác tài nguyên nước đã thu hút sự chú ý của dư luận. Các biện pháp do Trung Quốc đề xuất sẽ giúp các nước Mekong – Lan Thương cùng nhau ngăn ngừa và ứng phó với hạn hán và lũ lụt, bù đắp những thiếu sót trong cơ sở hạ tầng về thủy lợi của các nước Tiểu vùng sông Mekong, qua đó, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả hơn. Việc chia sẻ thông tin thủy văn một cách minh bạch thể hiện sự chân thành về phát triển chung, đồng thời, thể hiện tinh thần tương trợ và đoàn kết. Lãnh đạo các nước Mekong – Lan Thương như Thủ tướng Lào, Tổng thống Myanmar, Thủ tướng Thái Lan đã nhất trí bày tỏ sự trân trọng và ủng hộ các biện pháp do Trung Quốc đưa ra.

Về sự kết nối giữa Hợp tác Mekong – Lan Thương với “Hành lang mới cho thương mại đường bộ-đường biển quốc tế”, Tân Hoa xã ngày 25/08 dẫn lời Trác Côn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ASEAN thuộc Đại học Bắc Kinh cho rằng, “Hành lang mới cho thương mại đường bộ-đường biển quốc tế” chạy qua khu vực phía Tây của Trung Quốc, kết nối Đông Nam Á và đại lục Á – Âu, có sự tích hợp đường bộ-đường biển và hiệu ứng liên kết khu vực trở nên nổi bật. “Hành lang mới cho thương mại đường bộ-đường biển quốc tế” được kết nối với hợp tác Mekong-Lan Thương sẽ giúp kích hoạt sự phát triển đồng bộ của thị trường phía Tây và Tây Nam Trung Quốc cũng như thị trường ASEAN, qua đó, phục vụ tốt hơn cho việc xây dựng “Vành đai và Con đường”.

Tân Hoa xã cũng dẫn lời Nguyễn Tông Trạch, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc cho rằng, hợp tác Mekong – Lan Thương là hình mẫu để Trung Quốc và các nước ASEAN phát triển hợp tác tiểu vùng. Việc tận dụng tối đa lợi thế địa lý để thúc đẩy kết nối đã trở thành điểm nhấn quan trọng của hợp tác Mekong – Lan Thương. Việc kết nối giữa Hợp tác Mekong – Lan Thương với “Hành lang mới cho thương mại đường bộ-đường biển quốc tế” sẽ có tác dụng lan tỏa, thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN và thúc đẩy ký kết Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Về triển vọng hợp tác Mekong – Lan Thương, Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Vương Văn Thiên cho rằng, cơ chế này sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn cho người dân các nước trong khu vực dựa trên nhu cầu thực tế của các nước. Vương Văn Thiên cho biết, “tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hợp tác Mekong – Lan Thương lần thứ 5 được tổ chức tại Lào hồi tháng 02/2020, các bên nhất trí rằng hợp tác Mekong – Lan Thương sẽ tập trung vào việc thúc đẩy xây dựng Vành đai Phát triển kinh tế Mekong – Lan Thương và tăng cường hợp tác trên 7 lĩnh vực, như sức khỏe cộng đồng, nguồn nước, nông nghiệp, sinh kế của người dân, an ninh phi truyền thống và điều phối cơ chế tiểu vùng. Trong tương lai, cơ chế này sẽ tiếp tục mở rộng các lĩnh vực hợp tác mới dựa trên nhu cầu của các nước, tối ưu hóa các mô hình hợp tác, cùng nhau tạo ra nhiều dự án mang lại lợi ích thiết thực hơn cho người dân các nước trong khu vực”.

Về cam kết chia sẻ dữ liệu sông Mekong của Trung Quốc

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường ngày 24/08 cũng đã cam kết chia sẻ thêm dữ liệu quản lý nước từ phần sông Mekong của Trung Quốc với các nước láng giềng Đông Nam Á sau những lời chỉ trích của Mỹ rằng chính quyền Bắc Kinh đang “tích trữ”nước và làm tổn hại đến sinh kế ở hạ nguồn.

Trung Quốc hiện chưa có hiệp ước về nước với các quốc gia ở hạ lưu sông Mekong và chỉ chia sẻ dữ liệu hạn chế về dòng chảy trên phần thượng lưu của dòng sông mà nước này gọi là Lan Thương trong thời kỳ mùa mưa. Về chi tiết cụ thể của việc chia sẻ dữ lệu, Anucha Burapachaisri, người phát ngôn của Chính phủ Thái Lan nói: “Chi tiết sẽ được thảo luận giữa các bộ trưởng liên quan của 6 quốc gia”.

Các quốc gia hạ lưu cho biết họ cần thêm dữ liệu từ Trung Quốc để giúp họ lên kế hoạch và yêu cầu điều chỉnh dòng chảy của sông. Chính phủ Thái Lan cũng thúc giục LMC, do Trung Quốc hậu thuẫn được thành lập vào năm 2016, hợp tác với các chuyên gia tại Ủy hội sông Mekong (MRC) khi phát triển nền tảng chia sẻ thông tin của mình.

Quản lý sông Mekong đã trở thành một mặt trận khác trong cuộc chiến giành ảnh hưởng giữa Trung Quốc và Mỹ, với việc Đại sứ Mỹ tại Thái Lan mô tả việc Trung Quốc thành lập LMC như một cách để đề ra chương trình nghị sự về phát triển tuyến đường thủy này. MRC được thành lập bắt nguồn từ những nỗ lực của Mỹ nhằm thúc đẩy sự phát triển trong thời gian Chiến tranh Lạnh. Ủy hội này hợp tác với các chính phủ Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam để thúc đẩy chia sẻ và phát triển bền vững dòng sông và các tài nguyên của nó. Các quan chức MRC cho biết họ hoan nghênh hợp tác với LMC và Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 26/08/2020.

Khái niệm “tài sản chung toàn cầu”: Các giá trị mới trong chính trị thế giới – Phần cuối


Như vậy, hệ tư tưởng theo thuyết mạt thế của báo cáo cũ “Các giới hạn tăng trưởng” đang được hồi sinh – nhưng đã theo một phiên bản cay độc hơn – không phải dành cho tất cả mọi người, mà chỉ dành cho người nghèo. Và chẳng có sự “phát triển bền vững” nào trong hình thức hiện tại của nó có thể cứu giúp.

Liên quan đến điều này là một loạt vấn đề khác, phát sinh từ sự bất bình đẳng toàn cầu – đó là di cư toàn cầu. Chỉ cần nhớ các dòng người di cư dồn đến các nước EU và sự thiếu đoàn kết của các nước này trong việc giải quyết các vấn đề người di cư là đủ. Theo logic trên, thì đây mới chỉ là điểm khởi đầu. Áp lực hàng triệu người di cư lên các quốc gia của thế giới phát triển sẽ tiếp tục gia tăng.

Vì “tài sản chung toàn cầu” là của chung, nên xuất phát từ giá trị này của sự thống nhất hành tinh của nhân loại, mọi người đều có quyền sống ở nơi họ có thể tiếp cận chúng tốt hơn. Và từ đây có thể thấy rõ một thách thức trực tiếp đối với quyền bất khả xâm phạm biên giới quốc gia của các nước thuộc nhóm “tỷ phú vàng”. Và mong muốn của các nước giàu rào chắn lại các đường biên giới có chủ quyền của các nước nghèo sẽ ngày càng được coi là một kiểu chính sách phân biệt chủng tộc trên hành tinh giữa người giàu và người nghèo.

Kết quả là, các giá trị chủ nghĩa toàn cầu mới đang manh nha về quyền phát triển và quyền phát triển bình đẳng mâu thuẫn với cả giá trị chủ quyền lẫn nhiệm vụ sai về mặt chính trị là hạn chế sự phát triển của các nước nghèo và ngăn cách thế giới phát triển với phần còn lại của nhân loại (“Thành trì châu Âu”). Các xung đột trong tương lai có thể phát sinh từ mâu thuẫn này sẽ mang tính chất khác biệt đáng kể so với các cuộc chiến địa chính trị truyền thống thời nay, nhưng ngay bây giờ chúng ta cần vạch ra một chiến lược toàn cầu tối ưu để ngăn chặn các xung đột này.

Sự phát triển công nghệ cũng có thể mâu thuẫn với logic phát triển sinh thái. Đó là sự tái sản xuất không ngừng tất cả các loại thiết bị gia dụng mới, mà “hệ tư tưởng” của nó được vạch ra để sử dụng trong ngắn hạn, sau đó chúng phải được thay thế bằng những thiết bị mới hơn. Một chiếc điện thoại thông minh mới trong một hoặc hai năm sẽ trở thành “lạc hậu” – mốt tiêu dùng đòi hỏi phải thay thế nó bằng một điện thoại khác. Điều tương tự cũng xảy ra với chiếc xe mới. Đương nhiên, việc sản xuất quá mức như vậy tạo ra gánh nặng ngày càng tăng đối với môi trường và trong trường hợp thiết bị cồng kềnh, nó làm trầm trọng thêm vấn đề toàn cầu về chất thải và xử lý chất thải. Các nhà sản xuất mang thương hiệu toàn cầu, mặc dù họ ủng hộ các sáng kiến môi trường (mệnh lệnh đạo đức môi trường!), nhưng không có nghĩa là họ sẽ từ bỏ chiến lược của mình là liên tục thay đổi dòng sản phẩm và sản xuất dư thừa hàng hóa.

Do đó, phần không thể thiếu của nhiều học thuyết môi trường là sự nhấn mạnh vào việc tiêu dùng hàng hóa dài hạn. Để làm điều này (ngoài trách nhiệm đạo đức cá nhân của người tiêu dùng), người ta đề xuất đánh thuếcao về việc sở hữu thiết bị, quy định của nhà nước về việc thay đổi dòng sản phẩm, phát triển hệ thống cho thuê thiết bị thay vì mua nó, cấm giới hạn nhân tạo đối với hoạt động của thiết bị (loại chip trong các máy in có giới hạn số lượng trang in, chương trình trên điện thoại thông minh làm chậm hoạt động của chúng sau hai năm…)…

Ngay từ năm 1999, Paul Hocken và cộng sự đã hệ thống hóa các đề xuất này trong khái niệm “Chủ nghĩa tư bản tự nhiên (Natural Capitalism)”. Mặc dù Bill Clinton thích trích dẫn khái niệm này, nhưng chẳng có gì xảy ra trong vòng hai thập kỷ qua. Những lời hô hào tiêu dùng dài hạn trong thực tế hóa ra là không thể thực hiện được, cũng như chính các khái niệm không tưởng nhất về “hệ sinh thái sâu”. Lý do cho điều này không chỉ nằm ở sự phản kháng của các tập đoàn, mà còn trong ý thức hệ tiêu dùng – cái mà trên thực tế hóa ra mạnh hơn nhiều so với ý thức hệ môi trường.

Nhìn chung, các lời kêu gọi cải của Tổ chức Thương mại Thế giới có trong một số chương trình môi trường đều liên quan tới những vấn đề này. Theo logic được nói đến ở trên, hệ thống thương mại tự do toàn cầu mâu thuẫn với các phương châm môi trường về tiêu dùng dài hạn, vì nó trên thực tế lại khuyến khích việc không ngừng đổi mới dòng sản phẩm để tăng mức tiêu thụ. Do đó, trong các diễn ngôn về môi trường thường có nhiều lời kêu gọi bác bỏ các nguyên tắc của WTO và chuyển sang kiểu “chủ nghĩa bảo vệ môi trường”, khi mà các quốc gia bảo vệ thị trường của họ bằng các rào cản, nhưng không phải để cạnh tranh, mà là để đảm bảo sự tiêu dùng dài hạn. Song nghịch lý ở đây là, những lời kêu gọi về “chủ nghĩa bảo vệ môi trường” của chính các nhà sinh thái học trên thực tế lại gắn chặt với khái niệm “sinh thái có chủ quyền” của một loạt quốc gia, được đưa ra nhằm hạn chế sự tácđộng tới môi trường toàn cầu. Quan sát quá trình cực kỳ phức tạp và kém hiệu quả của một cải cách rất nhỏ về hạn ngạch trong IMF đã được tất cả đồng ý bằng lời nói, thấy khó mà hy vọng rằng, những đề xuất tương tự của các nhà môi trường mà sự đồng thuận về chúng vẫn chưa có – sẽ nhanh chóng được thực hiện. Tuy nhiên, các cuộc chiến thương mại do Donald Trump thực hiện chống lại EU và Trung Quốc vốn gây ra sự hoài nghi về các nguyên tắc cơ bản của WTO lại mang đến hy vọng mới cho những người ủng hộ “chủ nghĩa bảo vệ môi trường”.

Một khía cạnh phức tạp khác của việc thực hiện các học thuyết môi trường là sự chuyển đổi từ nghèo sang giàu đang làm gia tăng ô nhiễm môi trường. Nếu vào năm 1972, tại hội nghị đầu tiên của Liên hợp quốc về môi trường, Indira Gandhi nói rằng, nguyên nhân gây ô nhiễm chính trên thế giới là đói nghèo và sự khốn cùng, thì bây giờ nó đã trở thành vấn đề của người giàu.

Năm 2017, một báo cáo mới của câu lạc bộ Rome với nhan đề là “Come On! (Tạm dịch: Tiến lên!)” đã được công bố. Trong đó nói rằng, nếu tính tới sự gia tăng mức độ tập trung tư bản thì một phần tư phía trên người giàu chịu trách nhiệm về hơn một nửa tất cả các tác động môi trường – giờ đã tăng lên. Do đó, không phải người nghèo, mà là các triệu phú cần phải có trách nhiệm giảm gánh nặng cho thiên nhiên. Và việc thiếu các cơ chế thích hợp là một trong những lý do tại sao các vấn đề môi trường vẫn chưa được giải quyết.

Việc nhấn mạnh tới “các chất gây ô nhiễm phong phú” được đặt ra không chỉ đối với các cá nhân, mà còn với cả các quốc gia. Số liệu thống kê về “dấu ấn sinh thái” được sử dụng ở đây cho thấy, dấu hiệu này ở các nước giàu thường cao hơn so với các nước kém phát triển. Hơn nữa, người ta ghi nhận rằng, chỉ số phát triển con người càng cao, thì dấu ấn sinh thái càng lớn. Chưa có quốc gia nào thành công trong việc đạt được chỉ số phát triển con người cao mà dấu ấn sinh thái lại thấp. Về vấn đề này, đã có nhiều đề xuất về một loại thuế cho các quốc gia (hoặc hàng hóa từ các nhà sản xuất của nước đó) phải tương quan với dấu ấn sinh thái. Rõ ràng, việc thực hiện một ý tưởng như vậy cũng sẽ có những trở ngại nghiêm trọng.

Trong một giải pháp tương tự, nhưng như một ý tưởng khả thi hơn, người ta thảo luận về việc áp dụng thuế “carbon” đánh vào các sản phẩm từ những quốc gia có dấu ấn sinh thái cao nhưng chưa tham gia Thỏa thuận Paris. Còn một đề xuất khác là đa dạng hóa đóng góp của các quốc gia cho các quỹ môi trường toàn cầu tương quan với dấu ấn sinh thái của họ. Những ý tưởng này được đưa vào một cuộc thảo luận rộng hơn về tính hợp lý của việc tái phân phối một cách công bằng các nguồn tài chính trên thế giới. Nhưng, giống như bất kỳ “sự tái phân phối” nào, các giải pháp môi trường của nó cũng sẽ dẫn đến sự xuất hiện của một lượng đáng kể những người phản đối. Một lần nữa câu hỏi lại được đặt ra về sự xói mòn chủ quyền quốc gia, bản chất toàn cầu siêu quốc gia của các quyết định được đưa ra,…

* * *

Nhìn chung, chủ nghĩa môi trường với tư cách là một ý thức hệ môi trường toàn cầu trong các phiên bản khác nhau của nó đã có tác động nghiêm trọng đến nền chính trị thế giới, do đó, các thỏa thuận quốc tế quy mô lớn đã được ký kết và đang được hiện thực hóa. Đạo đức môi trường đã trở thành mệnh lệnh thực tế (ít nhất là bằng lời nói). Đồng thời, việc thực hiện nhiều luận điểm của các học thuyết môi trường đang gặp phải sự phản kháng không rõ ràng nhưng có thể nhận thấy được. Các ý thức hệ môi trường toàn cầu thường được coi là một thách thức đối với chủ quyền quốc gia và khả năng cạnh tranh của các tập đoàn. Trong trường hợp này, định đề về môi trường với tính chất là tài sản chung toàn cầu thường không hiện hữu.

Những vấn đề hết sức cấp bách nảy sinh trong bối cảnh có sự tương giao giữa sinh thái học và nhân khẩu học toàn cầu. Mâu thuẫn giữa các khía cạnh tự nhiên và xã hội của tài sảnchung toàn cầu đang ngày càng trở nên rõ ràng. Cụ thể là, những lời kêu gọi hạn chế tiêu dùng do sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên của trái đất đang đi ngược lại với quyền phát triển (Bao gồm cả quyền phát triển của tầng lớp trung lưu) ở các nước khu vực phía Nam bán cầu. Và giá trị mới nổi của sự thống nhất hành tinh và sự bình đẳng của xã hội loài người với tính chất là “tài sản chung xã hội toàn cầu” được chuyển thành quyền tiếp cận bình đẳng với của cải toàn cầu bắt nguồn từ giá trị đó.

Như vậy, hệ tư tưởng “tài sản chung toàn cầu” có thể dẫn đến sự xung đột giữa chính sự điều tiết môi trường và sự phát triển xã hội của xã hội toàn cầu. Vì vậy, cộng đồng quốc tế phải đối mặt với câu hỏi về những nỗ lực chung trong việc tìm kiếm sự cân bằng hết sức tinh tế giữa các lĩnh vực này và ngăn ngừa các cuộc xung đột có thể xảy ra. Cơ sở của những xung đột như vậy, trước hết, là mâu thuẫn giữa chủ quyền quốc gia và “tài sản chung toàn cầu”, và thứ hai, khoảng cách giữa khu vực phía Bắc và phía Nam bán cầu là một thách thức đối với toàn bộ khái niệm “tài sản chung toàn cầu”. Cuối cùng, xung đột giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ chính sự xung đột giữa người giàu và người nghèo.

Biên dịch: Đỗ Minh Cao

Hiệu đính: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 37, 38.

Khái niệm “tài sản chung toàn cầu”: Các giá trị mới trong chính trị thế giới – Phần III


Một ví dụ khác về sự phát triển của hệ tư tưởng môi trường quốc gia là Nhật Bản sau thảm họa sóng thần và sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1 vào năm 2011. Trong đó, việc hình thành phản ứng xã hội đối với thảm họa đã qua có liên quan chặt chẽ với các định đề đạo đức truyền thống Nhật Bản, chẳng hạn như “shikataganai”: không thể làm gì được, và thảm họa này là một phần không thể tránh khỏi của cuộc sống. Trong một số giải thích, một khái niệm căn bản hơn thường được sử dụng là “tenbatsu” – trời phạt. Rõ ràng là cách tiếp cận này có nguyên nhân sâu xa của nó và từ chối tìm kiếm tới cùng những người có lỗi trong sự cố Fukushima, nhưng đồng thời góp phần củng cố xã hội, nhanh chóng khắc phục nhằm loại bỏ các hậu quả của nó. Ở cấp độ khái niệm, ví dụ về Fukushima chiếm một vị trí quan trọng trong các khía cạnh môi trường của lý thuyết “rủi ro xã hội”.

Đồng thời, nhờ một chính sách môi trường đầy thận trọng của nhiều chính phủ, thế giới đã tránh được sự suy thoái nghiêm trọng về môi trường. Tuy nhiên, trong Thế giới thứ ba không có nhiều ví dụ tương tự. Trong trường hợp này, chủ yếu là về các nước thành viên EU. Ở một mức độ nhất định, việc giảm bớt ảnh hưởng của công nghiệp đối với môi trường ở các nước phương Tây là do sự chuyển dịch quy mô lớn hoạt động sản xấut sang các nước đang phát triển.

Ý tưởng môi trường và chính sách toàn cầu

Sự xuất hiện của Báo cáo đầu tiên của Câu lạc bộ Rome về “Các giới hạn tăng trưởng” vào năm 1972 trùng với việc tổ chức hội nghị quy mô lớn đầu tiên của Liên hợp quốc về môi trường. Sự phát triển các hệ tư tưởng môi trường và nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hiện thực hóa chúng trên quy mô toàn cầu đã cùng diễn ra ngay từ ban đầu. Hơn nữa, bản thân khuôn khổ Liên hợp quốc đã trở thành động lực để thảo luận về các tham số của chính sách môi trường hiện tại, cũng như về triển vọng tái cấu trúc trật tự toàn cầu theo nguyên tắc môi trường.

Sự hợp lực của các hệ tư tưởng môi trường và các hành động thực tiễn đã dẫn đến sự hình thành hiệu quả dư luận xã hội toàn cầu có lợi cho việc giải quyết các vấn đề môi trường. Ngược lại, sự phổ biến ngày càng tăng các hệ tư tưởng môi trường đã ảnh hưởng đến việc thông qua các quyết định chính trị quan trọng (như các nghị định thư Montreal và Kyoto, Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu,…).

Các hệ tư tưởng và dư luận xã hội đồng thời dẫn đến sự phổ biến đạo đức môi trường vốn mang tính chất là sự lựa chọn cá nhân (ví dụ: từ chối mặc sản phẩm lông thú) và chính sách của công ty (từ việc kêu gọi hạn chế giặt khăn trong các khách sạn cho đến các dự án môi trường lớn của các công ty kinh tế hàng đầu trên thế giới).

Đồng thời, sự khác biệt nghiêm trọng giữa “thế giới với môi trường” và “thế giới trước môi trường” đã trở thành một thách thức đối với nhiều quốc gia, đôi khi được coi là mối đe dọa trực tiếp đối với chủ quyền. Sự gia tăng chi phí sản xuất trong nền kinh tế do áp dụng các biện pháp môi trường (ít nhất là trong ngắn hạn) cũng là một yếu tố kìm hãm. Khuynh hướng bất tuân của một số phong trào “xanh” dẫn đến xung đột của họ với các quốc gia và các tập đoàn. Tất cả những điều này đã cùng nhau góp phần khiến cho việc truyền bá các hệ tư tưởng môi trường bắt đầu gặp phải sự phản đối ngầm từ các quốc gia và các tập đoàn. Trong lời nói, tất nhiên, mọi người đều ủng hộ việc bảo vệ thiên nhiên (đạo đức môi trường đã trở thành bắt buộc), nhưng trên thực tế, tình hình lại thường biểu hiện khác nhau. Điều này dẫn đến việc các quốc gia có yếu cầu nhất định về các khía cạnh chính trị của một số lý thuyết bất tuân về môi trường (rằng hệ tư tưởng môi trường chỉ là một công cụ trong cạnh tranh toàn cầu). Cách tiếp cận này đặc biệt phổ biến chủ yếu trong thế giới phi phương Tây.

Đến lượt mình, điều này dẫn đến sự xuất hiện các học thuyết “sinh thái có chủ quyền”, khi nhà nước quan tâm đến bảo tồn thiên nhiên, nhưng coi đó là quyền chủ quyền của mình (hay may lắm là nghĩa vụ, nhưng chỉ với công dân của mình), không chiều theo “sự cưỡng ép từ bên ngoài”. Do đó, một rào cản bắt đầu hình thành giữa các khía cạnh toàn cầu của các hệ tư tưởng môi trường (những khía cạnh này, tuy nhiên, lại hoàn toàn tự nhiên do tính chất hành tinh của các vấn đề môi trường) và chính sách môi trường địa phương của từng quốc gia. Chính sách của Hoa Kỳ đối với Nghị định thư Kyoto và Thỏa thuận Paris cho thấy học thuyết “sinh thái có chủ quyền” là nhu cầu không chỉ ở thế giới phi phương Tây, mà còn ở bên trong chính phương Tây.

Do đó, các hệ tư tưởng môi trường toàn cầu bắt đầu được coi không chỉ (và không hẳn chỉ) như là một cơ hội để xây dựng một thế giới bền vững hơn trong tương lai, mà còn là một thách thức và đe dọa đối với sự ổn định hiện tại của các quốc gia. Điều này liên quan đến các khái niệm cơ bản về “sinh thái sâu”, và các định đề “thông thường” có thể thực hiện được trên thực tế về “sinh thái bề mặt”.

Một vấn đề khác (bên cạnh chủ quyền và cạnh tranh), có tác động kiềm chế việc thực hiện các hệ tư tưởng môi trường, liên quan đến mối tương quan chặt chẽ giữa hệ sinh thái toàn cầu và nhân khẩu học. Hơn nữa, có một thực tế là cuộc thảo luận về những vấn đề này không phải lúc nào cũng đúng về mặt chính trị đã góp phần làm gia tăng sự phức tạp (và sự nhạy cảm) trong cuộc thảo luận này. Có thể tự mình chống lại biến đổi khí hậu, giảm khí thải nhà kính, đưa ra các hạn ngạch và hạn chế phù hợp, nhưng điều này không giải quyết được vấn đề chiến lược toàn cầu về việc cung cấp thực phẩm và nước được đảm bảo lâu dài cho dân số Trái đất đang ngày một đông hơn. Các vấn đề này đặt ra câu hỏi hoàn toàn logic về quy hoạch nhân khẩu học toàn cầu.

Ở đây không chỉ là về sự gia tăng dân số. Mà vấn đề còn nằm ở chỗ, nếu như toàn bộ dân số Trái đất bắt đầu sống theo các chuẩn mực tiêu dùng của tầng lớp trung lưu phương Tây (thậm chí là tầng lớp trung lưu thấp), thì sẽ cần đến không phải một, mà là ba hành tinh như Trái đất để cung cấp thực phẩm, nước và các tài nguyên thiên nhiên khác cho việc này. Và vì mức tăng dân số Trái đất dự đoán tới mức một tỷ người/thập kỷ, nên để đảm bảo cho 9 đến 10 tỷ người sống theo tiêu chuẩn phương Tây trong tương lai gần, sẽ cần đến không phải 3, mà là 4 và sau đó là 5 hành tinh… Vì chúng ta sẽ không có các hành tinh mới, nên với dân số tăng trưởng mạnh mẽ như thế đành phải hài lòng với một hành tinh.

Đồng thời, có những khả năng tột cùng của sinh quyển (về diện tích đất canh tác, trữ lượng nước ngọt,…) đã được nhân loại sử dụng đến mức tối đa khả năng của nó. Không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều lý thuyết môi trường, bắt đầu từ “Giới hạn tăng trưởng”, có một định đề cơ bản là nhân loại đã vượt ra khỏi giới hạn tài nguyên tái tạo của tự nhiên, vì vậy, cần phải thay đổi hướng tới việc quy hoạch và tự hạn chế bản thân đối với môi trường.

Sự tự hạn chế, theo logic trên, gắn chặt với khoảng cách giữa “Bắc” và “Nam” bán cầu. Các dự báo chỉ ra rằng, trong vài thập kỷ tới, dự kiến dân số toàn trái đất sẽ tăng lên tới 9 – 10 tỷ người, nhưng điều không kém phần quan trọng là tầng lớp trung lưu toàn cầu sẽ tăng lên ít nhất 3 tỷ người. Và điều này sẽ kéo theo sự gia tăng tiêu dùng thực phẩm toàn cầu lên tới ít nhất là hơn 50%, điện – 45%, nước – 30%. Và tất cả điều này sẽ xảy ra tại thời điểm khi mà các chỉ số tín ngưỡng về tình trạng môi trường sẽ đặt ra các giới hạn mới, còn biến đổi khí hậu và các quá trình khác sẽ ngày càng ảnh hưởng đến các khía cạnh khác nhau của sự thịnh vượng của con người và tự nhiên.

Nói một cách phi chính trị, trái đất sẽ sớm không thể nuôi nổi dân số ngày càng tăng thêm nữa. Chính xác hơn, nguồn tài nguyên của hành tinh có lẽ sẽ chỉ đủ một bát cơm mỗi ngày cho một người, trong trường hợp dân số nhân loại tăng lên một tỷ người trong mỗi thập kỷ (có tính đến việc nhất thiết phải dùng thực phẩm biến đổi gen). Nhưng để cung cấp giỏ thực phẩm và tiêu dùng khá cho đại diện các tầng lớp trung lưu toàn cầu (cũng sẽ tăng thêm một tỷ trong mỗi thập kỷ), rất có thể hành tinh của chúng ta sẽ không có đủ tài nguyên.

Vấn đề chính trong tương lai không đơn thuần là sự gia tăng không kiểm soát được dân số trái đất, mà là sự tăng trưởng không kiểm soát của tầng lớp trung lưu. Do đó, để ngăn chặn “ngày tận thế theo thuyết Tân Malthus”, không cần phải kìm hãm sự gia tăng dân số nói chung ở các nước nghèo nhất thế giới, điều mà giờ đây là khuôn mẫu của sự kế hoạch hóa nhân khẩu toàn cầu và đã gây ra những tranh cãi và phản đối gay gắt, kể cả những người theo tôn giá. Vấn (hoặc nhiệm vụ – theo mô hình Malthus) là ngăn chặn sự chuyển đổi toàn cầu của cư dân các quốc gia chưa phát triển hiện nay sang tầng lớp trung lưu. Có nghĩa là, người nghèo phải tiếp tục nghèo.Nếu không, thiên nhiên không thể chịu đựng được. Và giá “tấm vé gia nhập” vào tầng lớp trung lưu toàn cầu ắt hẳn phải trở nên cực đắt, cực cao”.

Và điều này có nghĩa là cố ý ngăn chặn sự phát triển trên toàn cầu – của toàn bộ các nước thuộc Thế giới thứ ba, cũng như của từng người sống tại đó, và của các hộ gia đình của họ. Rõ ràng, những xung đột trong tương lai bắt nguồn từ điều này có thể trở nên mạnh mẽ hơn so với các tranh chấp địa chính trị ngày nay. Và ở đây, không giống như địa chính trị, sẽ không có một bản đồ lộ trình sẵn có để giải quyết vấn đề này. Nhưng lại có “nỗi kinh hoàng theo thuyết Malthus”, hoặc là sự vứt bỏ vấn đề cho các thế hệ sau giải quyết – và niềm tin và tiến bộ hoàn toàn bị tổn hại.

(còn tiếp)

Biên dịch: Đỗ Minh Cao

Hiệu đính: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 37, 38.

Khái niệm “tài sản chung toàn cầu”: Các giá trị mới trong chính trị thế giới – Phần II


Cuối cùng, đứng ngoài các ý thức hệ môi trường là khuynh hướng bất tuân về sinh thái. Quan điểm này nổi lên với việc bác bỏ các lập luận cơ bản của các trào lưu chủ nghĩa môi trường khác nhau và của chính sách thực tế của thế giới về bảo vệ môi trường. Cuộc luận chiến của những người theo khuynh hướng bất tuân sinh thái bắt đầu trở nên đặc biệt gay gắt, liên quan đến việc triển khai các cơ chế quốc tế để kiểm soát việc khí thải nhà kính vào khí quyển (ví dụ, Nghị định thư Montreal, Nghị định thư Kyoto, Thỏa thuận Paris, các chương trình liên quan của EU,…). Trong số các phản biện của những người theo khuynh hướng bất tuân sinh thái, các luận điểm về tính chất phi nhân tạo của sự biến đổi khí hậu chiếm một vị trí quan trọng. Có thể coi “giả thuyết hydro”, do V.L. Serumkin phát triển ở Nga là một ví dụ về cách tiếp cận như vậy. Bản chất của giả thuyết là ở chỗ, nền tảng của những thay đổi đang diễn ra không phải là hoạt động của con người, mà là sự khí hydro sâu thoát ra từ ruột Trái đất.

Cũng cần lưu ý rằng, trong bối cảnh diễn ra cuộc tranh luận chính trị gay gắt về việc một số quốc gia tham gia vào Nghị định thư Kyoto và các thỏa thuận khác thuộc loại này, lập luận của những người theo khuynh hướng bất tuân sinh thái bắt đầu không chỉ mang tính chất khoa học tự nhiên, mà hơn thế còn mang tính chính trị.

Các công cụ hiện thực hóa các hệ tư tưởng sinh thái

Việc hiện thực hóa các hệ tư tưởng về môi trường trong thực tiễn chính trị diễn ra theo một số hướng. Một mặt, khái niệm về phát triển bền vững đã đặt nền tảng cho chính sách môi trường của Liên hợp quốc và các tổ chức liên chính phủ khác, cũng như cho thực tiễn bảo vệ môi trường của nhiều quốc gia. Liên quan tới điều này là việc áp dụng các đổi mới khác nhau trong kinh tế: nhấn mạnh vào các nguồn năng lượng tái tạo, hạn ngạch phát thải khí nhà kính và ý tưởng về “nền kinh tế không carbon”, các tiêu chuẩn về môi trường của nhiên liệu,…

Mặt khác, ở cấp độ trong nước, cần lưu ý đến sự phát triển và thành công trong bầu cử ở một quốc gia của các đảng chính trị kiểu mới – các đảng Xanh. Và ở cấp độ xuyên quốc gia, toàn cầu là sự phát triển của mạng lưới các tổ chức phi chính phủ (NGO) về môi trường, ví dụ như tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace) và Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (World Wide Fund for Nature).

Một đặc điểm khác biệt của chủ nghĩa môi trường là sự bác bỏ hoàn toàn hoặc một phần thuyết lấy con người àm trung tâm (trong khi các hệ tư tưởng chính trị truyền thống dựa trên chính quan điểm của chủ nghĩa duy con người, coi tự nhiên là nguồn tài nguyên vật chất cho sự phát triển của nhân loại). Cách tiếp cận như vậy đã loại các nhà môi trường ra khỏi ranh giới của phổ chính trị cổ điển và sự phân định “cánh hữu – cánh tả”.

Các nhà bảo vệ môi trường không nên tả hay hữu, mà nên “ở phía trước” các đảng truyền thống. Nói cách khác, đảng Xanh phải là một bộ phận phối hợp nào đó giúp định hình chương trình nghị sự, xuất phát từ nhu cầu thực tế chứ không phải từ các quan điểm tư tưởng trừu tượng. Tuy nhiên, như thực tiễn đã chỉ ra, trên thực tế, phần lớn các đảng chính trị và tổ chức phi chính phủ quốc tế hiện hành và đạt được thành công tương đối về môi trường đã gia nhập vào lực lượng chính trị trung tả hoặc cánh tả.

Ví dụ, trong khuôn khổ cấu trúc phân mảnh của Nghị viện châu Âu, các đảng môi trường của các quốc gia Bắc Âu đã hợp nhất với các lực lượng cộng sản và cực tả thành một nhóm chung là “Liên hiệp Cánh tả châu ÂuCánh tả Xanh Bắc Âu (European United Loeft – Nordic Green Left)”. Kết quả là, các phương châm ủng hộ sinh thái của họ hợp nhất với các yêu cầu cải tổ xã hội triệt để, công bằng xã hội, và thật trớ trêu, “bóng ma chủ nghĩa cộng sản” đã trở thành phương tiện để đạt được các mục tiêu môi trường. Nguồn gốc lịch sử của nhiều phong trào xanh ở Tây Âu bắt nguồn từ các cuộc biểu tình xã hội và sinh viên năm 1968, và cũng gắn liền với phong trào ủng hộ giải trừ quân bị và vì một thế giới phi hạt nhân. Vì vậy, một trong những nhà lãnh đạo của Đảng Xanh Đức, Joshka Fischer, đã bắt đầu sự nghiệp chính trị của mình với tư cách là một nhà hoạt động cốt cán thời đó. Với hơn 9% số phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2017, đảng “Cánh tả Xanh” của Hà Lan (GroenLinks) về mặt lịch sử cũng là sự hợp nhất của các nhóm theo chủ nghĩa cộng sản, yêu hòa bình và truyền giáo địa phương.

Sự thành công của các đảng vì môi trường ở các quốc gia khác nhau là không giống nhau. Các ví dụ về Đức, Hà Lan, Iceland gắn với các kết quả trái ngược nhau ở cả phương Tây lẫn thế giới phi phương Tây, nơi mà các chính phủ thích thực hiện chính sách môi trường của nhà nước hơn.

Ngoài sự xuất hiện của các phong trào “xanh” từ các cuộc biểu tình xã hội, một cách khác để hình thành hoạt động của các phong trào xã hội môi trường và/hoặc chính sách môi trường nhà nước có liên quan đến các thảm họa tự nhiên – công nghệ nghiêm trọng hoặc sự suy thoái nghiêm trọng tình trạng môi trường. Vì vậy, một ví dụ điển hình là sự cố xảy ra tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima-1 đã làm gia tăng cuộc tranh luận đã lắng xuống sau sự kiện Chernobyl về an toàn môi trường của các nhà máy điện hạt nhân, không chỉ ở chính Nhật Bản, mà còn ở Đức và Pháp. Ngoài ra, một ví dụ thú vị khác về Trung Quốc, khi sự suy thoái môi trường ngày càng gia tăng đãtrở thành mặt trái của “công xưởng toàn cầu”. Kết quả là, theo luật bảo vệ môi trường được thông qua năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, vấn đề này đã được cụ thể hóa thành một chính sách quốc gia cơ bản.

Các khía cạnh quốc gia của hệ tư tưởng môi trường được quan tâm đáng kể. Ở một số quốc gia, khi xây dựng chính sách môi trường, người ta có thể nhận thấy mối liên quan chặt chẽ giữa các hệ tư tưởng môi trường được thể hiện ra với các vấn đề về bản sắc dân tộc, các truyền thống lịch sử và văn hóa. Cách tiếp cận như vậy, một mặt, có tác dụng ngày càng củng cố dân số đất nước và thu hút sự chú ý của họ đến môi trường, làm cho các vấn đề môi trường trở nên tự nhiên và dễ hiểu hơn đối với người dân, mặt khác, nó thường mô tả quốc gia và cách tiếp cận của quốc gia như một hình mẫu cho các nước khác.

Có thể coi Ấn Độ là một trong những ví dụ nổi bật nhất của kiểu hệ tư tưởng môi trường quốc gia như thế. Một minh chứng sống động (và đồng thời nhấn mạnh) của hệ tư tưởng này là bài phát biểu của Thủ tướng Narendra Modi tại Diễn đàn Davos 2018. Dựa trên nền tảng tính thực dụng kinh tế, bài phát biểu tràn ngập những đoạn trích dẫn từ triết học Ấn Độ cổ đại (Upanishad và các văn bản khác). Những văn bản này đã nhấn mạnh đến sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên, mối quan hệ của chúng ta với đất mẹ; phản ánh khái niệm về “những đứa con của Mặt trời” (“Suryaputra”). Ảnh hưởng chính trị của điều này được thể hiện trong bối cảnh sáng kiến gần đây của Ấn Độ nhằm tạo ra Liên minh Năng lượng Mặt trời Quốc tế (International Solar Alliance), trong đó tập hợp các quốc gia nằm giữa vùng nhiệt đới Bắc và Nam với một trong số các mục tiêu là tích cực sử dụng năng lượng mặt trời hơn với tính chất là “tài sản chung toàn cầu”.

Đồng thời, Thủ tướng Ấn Độ đã đề cập chi tiết về các vấn đề của một thế giới bị chia rẽ. Rào cản chính trên con đường đạt được sự thống nhất của loài người trên hành tinh, theo ông, là khoảng cách giữa các nước giàu và nước nghèo. Narendra Modi mô tả chi tiết luận điểm này liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu. Ông lưu ý rằng, các nước phát triển, mặc dù kêu gọi hạn chế khí thải nhà kính và nền “kinh tế không carbon”, nhưng lại không muốn chia sẻ các công nghệ có liên quan với các nước đang phát triển Trên thực tế, Modi đã đưa ra câu hỏi rằng, các công nghệ cao mới cũng là một loại “tài sản chung toàn cầu”, vậy nên tất cả các quốc gia và dân tộc đều có quyền tiếp cận chúng. Nếu không có được điều này, khoảng cách giữa các nước giàu và nghèo sẽ chỉ ngày một rộng hơn.

Do đó, luận điểm cho rằng, dưới cái cớ là các rào cản và hạn chế về môi trường, các nước giàu từ chối trao cho các nước nghèo cơ hội phát triển – lại càng trở nên cấp thiết. Một vấn đề liên quan khác, theo N. Modi, là sự thể hiện không đúng mức trên thực tế của các quốc gia thuộc thế giới đang phát triển tại nhiều tổ chức quốc tế, chủ yếu mang tính chất kinh tế – tài chính. Do đó, một trong những khẳng định chính của Thủ tướng Ấn Độ là chỉ bằng cách khắc phục bất bình đẳng xã hội và kinh tế toàn cầu mới có thể giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề môi trường.

(còn tiếp)

Biên dịch: Đỗ Minh Cao

Hiệu đính: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 37, 38.

Khái niệm “tài sản chung toàn cầu”: Các giá trị mới trong chính trị thế giới – Phần I


O. Barabanov & E. Maslova

Trong thập kỷ qua, khái niệm “những vấn đề toàn cầu” đã chuyển đổi thành một khái niệm mới “tài sản chung toàn cầu”, hiểu theo cả nghĩa hẹp sinh thái và theo nghĩa xã hội rộng lớn hơn. Sự phát triển hiện đại của nhân loại và bất bình đẳng toàn cầu quyết định câu hỏi về quyền tiếp cận đối với các tài sản chung toàn cầu, trong tương lai có thể dẫn đến một kiểu xung đột hoàn toàn mới. Đã có những vấn đề cấp bách nhất phát sinh trong bối cảnh mối quan hệ giữa hệ sinh thái và nhân khẩu học toàn cầu. Mâu thuẫn giữa các khía cạnh tự nhiên và xã hội của “tài sản chung toàn cầu” ngày càng trở nên rõ ràng. Do đó, khái niệm “tài sản chung toàn cầu” có thể dẫn đến sự xung đột giữa động lực giải quyết vấn đề môi trường và sự phát triển xã hội của xã hội toàn cầu.

Một trong những xu hướng trong chính trị thế giới hiện đại là sự thay đổi dần dần từ đại chính trị “thuần túy” và sức mạnh cứng/mềm của các quốc gia có chủ quyền sang hệ các vấn đề toàn cầu, đó là: môi trường, tài nguyên, nhân khẩu học. Trong thập kỷ qua, khái niệm “các vấn đề toàn cầu” (global commons), hiểu theo cả nghĩa hẹp sinh thái và nghĩa xã hội rộng lớn hơn, và được bàn thảo tại cả Liên hợp quốc trong bối cảnh Các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và tại các diễn đàn quốc tế khác nhau.

Khái niệm “tài sản chung toàn cầu” và ý nghĩa tư tưởng của nó

Thuật ngữ “tài sản chung toàn cầu” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa hẹp, tài sản chung toàn cầu được hiểu là môi trường xung quanh (khí hậu, không khí, nước, tài nguyên đất, đa dạng sinh học,…). Ngoài ra, theo nghĩ rộng, khái niệm này còn bao hàm tài sản chung xã hội củ xã hội loài người, ví dụ như: tiếp cận chăm sóc sức khỏe, giỏ thực phẩm, tiện nghi môi trường xã hội và đô thị,… Cuối cùng, theo cách giải thích rộng mở căn bản nhất thì tài sản chung toàn cầu được hiểu là sự hợp nhất hành tinh (nghĩa là xuyên biên giới) của loài người.

Sự phát triển hiện đại của nhân loại quyết định câu hỏi về quyền tiếp cận đối với tài sản chung, mà trong tương lai sẽ dẫn đến một kiểu xung đột hoàn toàn mới. Hiện tại, người ta đã thấy rõ những mầm mống xung đột – đó là những tranh chấp xung quanh hạn ngạch khí hydrocarbon, các cuộc chiến giành nguồn nước, xung đột di cư…

Cần lưu ý là khái niệm tài sản chung toàn cầu và quyền tiếp cận chúng không đơn thuần là một chương trình chính trị, mà là một chủ đề tư tưởng – giá trị – một hệ tư tưởng sinh thái mới đang được hình thành, mà nó theo cách hiểu bình thường (phát triển bền vững, Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ) đã trở thành giá trị chủ đạo ở cấp độ toàn cầu. Hệ tư tưởng này có thể trở thành cơ sở cho sự xuất hiện các giải pháp thay thế triệt để (chủ nghĩa vô chính phủ môi trường và chủ nghĩa độc đoán, chủ nghĩa nữ quyền sinh thái), nhưng giải pháp này có thể trở thành thách thức đối với xu thế chủ đạo toàn cầu và hiện trạng đã được thiết lập.

Mặt khác, song song với các giải pháp môi trường triệt để, trong chương trình nghị sự ngày càng xuất hiện nhiều giải pháp chống môi trường đối lập với những giải pháp trên. Cơ sở cho những giải pháp chống môi trường là khuynh hướng hoài nghi và sự bác bỏ vai trò hàng đầu của các yếu tố do con người tạo ra dẫn tới sự biến đổi khí hậu hiện nay (những người phản đối giá trị khoa học của nguyên tắc cơ bản của Nghị định thư Montreal và Kyoto,…).

Một khía cạnh quan trọng (và mâu thuẫn) khác của “tài sản chung toàn cầu” là sự tiếp nhận các quy định hạn chế ngày càng ngặt nghèo về môi trường với quyền phát triển của các quốc gia nghèo nhất thế giới. Từ phía các quốc gia nghèo nhất cho rằng toàn bộ chính sách môi trường của thế giới phát triển, về cơ bản, là một hình thức mới của chủ nghĩa thực dân mới (chủ nghĩa thực dân mới về môi trường), bởi lẽ các chuẩn mực hạn chế khắt khe về môi trường (và khác nữa) bề ngoài có liên quan đến mối quan tâm tới “tài sản chung toàn cầu”, song trên thực tế lại là những rào cản đối với sự phát triển của các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba – từ đó làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng giữa “nhóm tỷ phú vàng” và phần còn lại của thế giới.

Một vấn đề cấp bách khác liên quan đến “tài sản chung toàn cầu” là nhân khẩu học – đặc biệt là các cuộc thảo luận (không phải lúc nào cũng đúng về mặt chính trị) về việc thiếu tài nguyên trên hành tinh cho dân số ngày càng tăng lên. Họ quay về với các dự đoán theo thuyết Nhân mãn của Malthus về việc trái đất không thể tránh khỏi tình trạng dân số quá đông và kêu gọi hạn chế tiêu dùng. Một vấn đề khác không đúng về mặt chính trị có liên quan đến vấn đề này là việc cải thiện y tế ở các nước nghèo nhất đã góp phần trực tiếp làm gia tăng mạnh mẽ dân số và theo đó, làm trầm trọng thêm tất cả các vấn đề đã được nêu ở trên.

Các vấn đề “tài sản chung toàn cầu” (chủ yếu, nhưng không phải duy nhất, là vấn đề môi trường) rất nhanh chóng có sự lý giải về mặt lý thuyết. Sự lý giải này đi theo nhiều hướng. Một mặt, có những nỗ lực kết nối các cốt chuyện sinh thái với các lý thuyết chính trị truyền thống (ví dụ như chủ nghĩa tân tự do, chủ nghĩa hiện thực cấu trúc, chủ nghĩa Marx mới). Mặt khác, lý thuyết về sự tái tổ chức sinh thái của xã hội toàn cầu và hệ thống chính trị đã trở nên rất phổ biến trong lĩnh vực này. Đôi khi chúng nằm trong khuôn khổ mô hình kiến tạo, nhưng thường là nằm ngoài các khuôn khổ này. Một số trong những lý thuyết này, do quan điểm phóng khoáng, thường mang tính chất viễn tưởng, và đôi khi là không tưởng.

Các cuộc thảo luận về môi trường nhanh chóng mang tính khía cạnh chính trị. Các đảng Xanh chủ trương bảo vệ môi trường đã hình thành. Ở nhiều quốc gia, các đảng này là nhân tố quan trọng trong quá trình bầu cử và đời sống chính trị. Các tài liệu cương lĩnh và điều lệ của các đảng này thường đặt vấn đề môi trường lên hàng đầu, và do đó, các lý thuyết môi trường khác nhau được chuyển thành hệ tư tưởng chính trị. Quá trình này đang diễn ra ở cấp độ toàn cầu. Nếu ở cấp độ quốc gia, các vấn đề môi trường thường gắn liền với các sự việc cục bộ nhất định mang tính thực tiễn cao (ví dụ, việc bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng, ưu tiên xây dựng các công trình năng lượng xanh, phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên,…), thì ở cấp độ toàn cầu, chúng được truyền bá một cách “rộng rãi” hệ tư tưởng cải tổ xã hội và thế giới theo các nguyên tắc bảo vệ môi trường. Các giải pháp cho môi trường kiểu vậy sẽ hình thành dư luận xã hội toàn cầu và dần dần làm thay đổi chương trình nghị sự chính trị quốc tế. Phần lớn nhờ đó mà một hệ thống quản lý môi trường toàn cầu đang dần được hình thành. Và trong khuôn khổ này, các câu hỏi được đặt ra về trách nhiệm bảo vệ môi trường toàn cầu của từng quốc gia và từng tập đoàn, về sự thích đáng mang tính siêu quốc gia của việc thông qua các quyết nghị chính trị trong lĩnh vực sinh thái, về việc biện minh cho quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia vì lý do môi trường. Việc phân tích các lý thuyết và ý thức hệ môi trường, bao gồm cả triệt để và/hoặc lựa chọn thay thế, có ý nghĩa chính trị rất rõ ràng, vì chúng có ảnh hưởng rất lớn tới nền chính trị toàn cầu trong tương lai và tới vị trí của các quốc gia khác nhau trong khuôn khổ đó.

Thuyết lấy sinh thái làm trung tâm và khuynh hướng bất tuân về sinh thái

Những lo ngại về sự thịnh vượng sinh thái của hành tinh đã làm nảy sinh một số khuynh hướng triết học và hệ tư tưởng, cũng như các phong trào xã hội có thể được gắn với một thuật ngữ chung “chủ nghĩa môi trường” (environmentalism). Hầu hết những người ủng hộ xu hướng này đều tìm cách cải thiện tình trạng môi trường xung quanh và bảo vệ nó bằng cách thay đổi bản chất mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên thông qua việc đưara những thực tiễn mới hoặc thay đổi và bãi bỏ các tập quán chính trị, kinh tế và xã hội cũ. Do đó, tư tưởng lấy sinh thái làm trung tâm đã có sẵn trong hầu hết các khái niệm.

Đồng thời, đối với nhiều lý thuyết chính trị – xã hội “chung”, các vấn đề môi trường – cụ thể là vấn đề biến đổi khí hậu – chiếm vị trí thứ yếu (nói chung nếu chúng được quan tâm). Trong những vấn đề này chỉ nhắc đến điệp khúc “phát triển bền vững” và các định đề sinh thái đã trở thành xu hướng chủ đạo khác, và mối quan tâm chính được dành cho các khía cạnh phát triển truyền thống (không phải là môi trường) của các xã hội và các hệ thống chính trị. Về vấn đề này, các khái niệm sinh thái thường được tách khỏi phạm vi chủ đề chính của các ngành khoa học xã hội theo tính chất môi trường sống của mỗi loài. Có một ranh giới vô hình mà sau này người ta thường không có ý định vượt qua giữa một bên là các nhà môi trường với bên kia là các nhà xã hội học và các nhà lý luận chính trị.

(còn tiếp)

Biên dịch: Đỗ Minh Cao

Hiệu đính: Hà Quỳnh Hoa

Nguồn: TN 2020 – 37, 38.