Tình trạng xâm nhập mặn ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn trong tầm kiểm soát


Theo RFA, Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia Việt Nam gần đây đưa ra nhận định tình trạng xâm nhập mặn ở TPHCM năm nay đến sớm hơn mọi năm. Cụ thể, nguồn nước thô tại thành phố lớn nhất khu vực phía Nam đã bị nhiễm mặn.

Vẫn theo Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, mức độ xâm nhập mặn tại sông Sài Gòn, sông Đồng Nai đang có dấu hiệu tăng qua từng năm.

Nhận xét về tình hình nhiễm mặn nguồn nước tại TPHCM hiện nay, Thạc sĩ Hồ Long Phi, chuyên gia về nước, Phó Ban điều phối chống ngập TPHCM cho rằng: “Đợt mặn này khá bất thường và khốc liệt nhưng vẫn nằm trong quỹ đạo tự nhiên của đợt biến đổi khí hậu. Nước biển ngày càng dâng, những năm khô hạn thì nước biển lắng sâu hơn và gây ngập mặn rất nặng ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng như sông Vàm Cỏ hay sông Sài Gòn. Tuy nhiên, TPHCM không đáng ngại lắm vì nguồn nước chính của TPHCM là sông Đồng Nai. Mà sông Đồng Nai thì đến nay mặn vẫn không lấn sâu”.

Vẫn theo Thạc sĩ Hồ Long Phi, mức độ nhiễm mặn sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn so với trước đây nhưng để dẫn đến gián đoạn trong cấp nước, ông cho rằng trước mắt chưa phải nguy cơ lớn.

Tiến sĩ Trịnh Thị Long, Giám đốc Trung tâm khoa học công nghệ, môi trường và sinh thái, cũng thừa nhận nguyên nhân khác dẫn đến tình trạng nhiễm mặn nguồn nước là do biến đổi khí hậu. Theo đó, khi thời tiết bị biến đổi theo hướng cực đoan sẽ khiến hạn khắc nghiệt hơn, mưa ngắn hơn nhưng lượng mưa sẽ cao hơn. Cụ thể, Tiến sĩ Long cho rằng lượng mưa trong năm nay được dự báo sẽ ít hơn các năm như 2015, 2016 rất nhiều.

Giải pháp xử lý

Để đối phó với tình trạng nước thô bị nhiễm mặn như hiện nay, chính quyền thành phố đang thực hiện hai giải pháp chủ yếu là nâng công suất nước sông Đồng Nai lên hoặc di chuyển nước từ Hồ Dầu Tiếng về.

Thạc sĩ Hồ Long Phi giải thích: “Những biện pháp hiện tại về dự phòng mùa khô có hai nguồn nước để đáp ứng: một là nguồn nước từ nhà máy cấp nước lấy nước từ Hồ Dầu Tiếng ở Tây Ninh về, một nguồn nữa là sông Đồng Nai. Hai nguồn đó đến nay vẫn an toàn nền về cơ bản đây chưa phải là vấn đề đáng lo ngại lắm. Tuy nhiên, trong tương lai cũng đã có nghiên cứu phương pháp dự phòng là làm đường dẫn nước thô thẳng từ Hồ Dầu Tiếng”.

Hồ Dầu Tiếng được biết đến như hồ nước nhân tạo lớn nhất Việt Nam với dung tích chứa lên đến 1,58 tỷ m3 nước. Ngày 22/1, đơn vị quản lý Hồ Dầu Tiếng đã mở tràn hồ để xả nước đẩy mặn cho nhà máy nước Tân HIệp ở huyện Hóc Môn, TPHCM. Bên cạnh những giải pháp lấy nước từ các sông hiện đang được ứng dụng, trước tình hình hạn hán và xâm nhập mặn như hiện nay, Tiến sĩ Trịnh Thị Long cho rằng cần phải tiết kiệm nước và tái sử dụng nguồn nước thải: “Do Việt Nam là nước nông nghiệp phát triển mạnh nền cần phải thay đổi khi trồng những loại cây và nuôi các loại con, phải sử dụng nước ít hơn và cố gắng tái sử dụng nguồn nước thải ra. Ví dụ như cố gắng tuần hoàn nước nuôi trồng thủy sản, vừa tiết kiệm nước vừa bảo đảm không để nguồn bệnh nhiễm vào nước, hay tái sử dụng nước khi tưới tiêu cây. Bây giờ, nước thải chưa tái sử dụng được nhiều, ví dụ như nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp. Có thể trữ nước vào mùa mưa vì 90% lượng nước vào mùa mưa, còn mùa khô chỉ mưa 5 – 10% nên màu khô sẽ rất khô. Vì vậy, cần phải có biện pháp tích trữ nước mưa để sử dụng trong mùa khô. Biện pháp đó rất khả thi nhưng phải có tiền để đầu tư tích trữ nguồn nước”.

Theo thông báo từ Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, tình trạng khô hạn, xâm  nhập mặn năm nay không chỉ xảy ra ở TPHCM, khu vực Đồng bằng sông Cửu Long mà khu vực Trung Bộ trong các tháng tiếp theo của mùa khô năm 2020 cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Nguồn: TKNB – 18/03/2020.

Sau vụ Rạng Đông, Hà Nội cương quyết di dời các nhà máy công nghiệp ra khỏi nội đô?


Khẩn trương di dời Nhà máy Rạng Đông

Theo đài RFA, sau hai tuần xảy ra vụ cháy ở Công ty bóng đèn phích nước Rạng Đông và nhiều thông tin bất nhất giữa các cơ quan chức năng khiến dư luận càng hoang mang và lo lắng về mức độ độc hại sau vụ cháy. Văn phòng Thủ tướng Chính phủ ngày 9/9 ban hành một văn bản hỏa tốc truyền đạt chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến Bộ Tài Nguyên và Môi trường và Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội để yêu cầu phối hợp nhằm khẩn trương xử lý hậu quả vụ cháy ở nhà máy Rạng Đông. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo phải tiếp tục thực hiện di dời các cơ sở gây ô nhiễm và có nguy cơ gây ô nhiễm ra khỏi khu vực đô thị và khu vực tập trung đông dân cư.

Chiều 10/9, Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký văn bản hỏa tốc yêu cầu tiến hành ngay việc thu gom, xử lý chất thải, tẩy độc tại nhà máy Rạng Đông, đồng thời khẩn trương di dời nhà máy này ra khỏi nội thành thủ đô.

Nếu vụ cháy không xảy ra

Truyền thông Việt Nam nhắc lại hồi tháng 4/2003, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội thành. Hai tháng sau đó, UBND thành phố Hà Nội cũng ra quyết định chuyển các cơ sở sản xuất không phù hợp quy hoạch, nguy cơ ô nhiễm mô trường khỏi nội đô.

Chủ tịch Hội Quy hoạch và Phát triển đô thị Việt Nam, kiến trúc sư Trần Ngọc Chính được báo giới dẫn lời cho biết vấn đề di dời nhà máy, xí nghiệp ra khỏi khu dân cư đã được tính đến từ thời điểm xây dựng Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Kiến trúc sư Trần Ngọc Chính nhấn mạnh rằng tại Quy hoạch được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt hồi năm 2011 ghi rõ việc di dời các cơ sở công nghiệp cũ và các cơ sở y tế điều trị bệnh truyền nhiễm ra khỏi nội thành góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường và dành 70% diện tích đất tự nhiên cho hành lang xanh nhằm giữ cân bằng đô thị, bảo tồn hệ sinh thái.

Thành phố Hà Nội cũng xác định lộ trình đến năm 2020, 117 cơ sở gây ô nhiễm trên phạm vi 12 quận ẽ được di rời ra khỏi nội thành thủ đô.

Không chỉ nhà máy Rạng Đông là trường hợp duy nhất, mà dân chúng Hà Nội và truyền thông còn liệt kê rất nhiều cơ sở sản xuất vẫn chưa di dời, mặc dù bị phản ánh gây ô nhiễm cho cộng đồng dân cư; đơn cử như Nhà máy Dệt kim Đông Xuân, Nhà máy sản xuất thuốc lá Thăng Long, Công ty thương mại Bia Hà Nội…

Đài RFA đặt giả thiết nếu vụ cháy ở nhà máy Rạng Đông không xảy ra thì liệu rằng một chủ trương lớn của Chính phủ Việt Nam về di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội thành, khu vực đông dân cư vẫn “giậm chân tại chỗ” ở thủ đô Hà Nội và ở cả những địa phương khác tại Việt Nam? Cũng như liệu rằng Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ gửi văn bản lên Chính phủ đề nghị rà soát và di dời tất cả các cơ sở công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm còn lại nằm trong khu vực dân cư như cơ quan này đã làm vào hôm 7/9 vừa qua?

Vì sao không di dời?

Tiến sĩ Phùng Chí Sỹ, Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường giải thích rằng quá trình di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm diễn ra từ từ trong gần hai thập niên qua ở những thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hay ở các tỉnh có nhiều nhà máy công nghiệp như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Nguyên đều bởi một nguyên nhân là do doanh nghiệp không có tiền để di dời. Tiến sĩ Phùng Chí Sỹ trình bày:

Thật ra, Nhà nước không có tiền để hỗ trợ. Nhà nước, chính quyền địa phương và Trung ương chỉ hỗ trợ về một số chính sách. Ví dụ, Nhà nước hỗ trợ bằng cách cho vay vốn với lãi suất thấp, hay hỗ trợ giá, tạo điều kiện cho thuê đất với giá thấp, hoặc hỗ trợ về mặt chuyển giao công nghệ, hỗ trợ về mặt thị trường…, chứ Nhà nước không bỏ tiền cho doanh nghiệp di dời. Doanh nghiệp phải tự lo”.

Báo mạng Vietnamoi.vn ngày 9/9 cho biết theo quy hoạch 1/2000 của Thành phố Hà Nội thì khu đất 5,7 ha của Công ty Rạng Đông được quy hoạch là đất công cộng, trường học và một phần chưa xác định và phần đất này đang nằm trong phạm vi nghiên cứu quy hoạch, sẽ được thực hiện theo dự án riêng với sự chấp thuận của cấp thẩm quyền.

Dư luận và cư dân quanh khu vực Nhà máy Rạng Đông một mặt hài lòng với quyết định của Thủ tướng Chính phủ và Chính quyền Hà Nội là khẩn trương di dời Nhà máy Rạng Đông ra khỏi nội đô. Tuy nhiên, qua tình trạng những khu “đất vàng” ở thủ đô mà các nhà máy đã di dời biến thành các khu đô thị thuộc sở hữu của những tập đoàn kinh doanh bất động sản, như Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo nay là Vincom, Triển lãm Giảng Võ nay là Vinhomes City, Công ty Viettronic Đống Đa (Láng Thượng – Nguyễn Chí Thanh) nay là Vincom Plaza hay Nhà máy dệt kim Hà Nội và dệt 8/3 nay là Times City hoặc Nhà máy xà phòng Hà Nội nay là Hoàng Huy Golden… khiến cho họ hoài nghi về mảnh đất 5,7 ha nơi Nhà máy Rạng Đông tọa lạc sẽ ra sao sau khi nhà máy di dời.

Trên mạng xã hội, rất nhiều ý kiến kêu gọi các cơ quan có thẩm quyền cần thiết tổ chức họp báoo để công khai, minh bạch thông tin liên quan vụ cháy tại Nhà máy Rạng Đông cũng như phổ biến cho dân chúng biết về kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội thành tại Việt Nam, bởi vì những hệ lụy như vừa mới xảy ra tại nhà máy Rạng Đông, người dân là nạn nhân trực tiếp.

Nguồn: TKNB – 13/09/2019.

Việt Nam cần thúc đẩy hành động hơn nữa để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí


Do Nam Thang

Việt Nam đang phải vật lộn với tình trạng ô nhiễm không khí đáng báo động. Hai thành phố lớn nhất là Hà Nội và TPHCM hiện đều nằm trong top 15 thành phố ô nhiễm hàng đầu Đông Nam Á.

Bụi mịn (PM2.5) là chất gây ô nhiễm không khí đáng quan ngại nhất tại Việt Nam. Năm 2019, Hà Nội chỉ có 8 ngày đạt chỉ số PM2.5 dưới ngưỡng tiêu chuẩn quốc gia 50 micrograms trên mét khối (ᶙg/m3), trong khi tại TPHCM, chất lượng không khí cũng không khá hơn bao nhiêu, chỉ 36 ngày nằm dưới ngưỡng tiêu chuẩn. Với tất cả các ngày còn lại trong năm, hơn 10 triệu người dân ở hai thành phố này đã phải tiếp xúc với không khí ô nhiễm nặng nề.

Các hạt bụi mịn đặc biệt có hại đối với sức khỏe con người, vì chúng có thể xâm nhập sâu vào phổi và hệ tim mạch, gây ra các bệnh như đột quỵ, bệnh tim, ung thư phổi, tắc nghẽn phổi mãn tính và nhiễm trùng đường hô hấp. Năm 2016, có tới 60000 ca tử vong ở Việt Nam liên quan tới ô nhiễm không khí. Trung bình, với mỗi quốc gia, khi chất lượng không khí nằm dưới tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì tuổi thọ của người dân sẽ giảm đi một năm và làm mất đi 5% GDP/năm của nền kinh tế.

Một trong số các tác nhân chính của ô nhiễm là giao thông vận tải. Việt Nam hiện có 3,6 triệu ô tô và 58 triệu xe máy, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn. Rất nhiều trong số đó là những chiếc xe cũ, với công nghệ kiểm soát khí thải hạn chế. Ở Việt Nam, có rất nhiều xe buýt và xe máy cũ phát ra những luồng khói đen kịt.

Vấn đề giao thông vận tải của Việt Nam đang trở nên trầm trọng hơn do chất lượng quy hoạch đô thị kém. Nhà cao tầng mọc lên như nấm tại các trung tâm thành phố, mỗi tòa nhà lại chứa hàng nghìn hộ dân, tạo ra áp lực khổng lồ đối với cơ sở hạ tầng đường  bộ, vốn đã quá tải. Không có hệ thống vận chuyển công cộng có sức chứa lớn nào, ngoại trừ đội xe buýt vẫn chưa thực sự thuận tiện. Không gian mở và xanh được coi là thứ xa xỉ tại các thành phố lớn của Việt Nam.

Một vấn đề khác là bụi từ các công trường xây dựng thương mại và nhà ở. Hàng nghìn công trình xây dựng chứa những chiếc xe tải chở đầy cát và xi măng, tạo ra những cơ bão bụi “bất diệt”. Các khu công nghiệp cũ bên trong những thành phố và các cơ sở gây ô nhiễm không khí như nhà máy điện than, sản xuất xi măng và nhà máy thép gây ô nhiễm không khí.

Bếp nấu ăn công nghiệp cũng được sử dụng bởi hàng trăm nghìn người dân đô thị, tương đương mức độ độc hại của việc đốt rơm sau kỳ thu hoạch mùa màng tại các khu vực ven đô ở Hà Nội, góp phần đáng kể gây ô nhiễm không khí, đặc biệt là trong mùa khô, từ tháng 10 – 12 hàng năm.

Các nhà chức trách môi trường đã hoạch định những biện pháp ngắn hạn, bao gồm các quy định chặt chẽ hơn về tiêu chuẩn khí thải đối với những chiếc xe mới; kiểm soát giao thông tốt hơn; thực thi các biện pháp quản lý bụi đối với những công trường xây dựng và hoạt động tham gia giao thông của xe tải; tăng cường giám sát khí thải công nghiệp và cấm sử dụng bếp than trong thành phố.

Mặc dù những biện pháp đó có thể giúp giải quyết một phần ô nhiễm ở Việt Nam, nhưng ch1inh sách quốc gia về dài hạn vẫn là điều cần thiết.

Đầu tiên, cải thiện và củng cố quy hoạch đô thị sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm không khí đáng kể. Hà Nội và TPHCM hiện có rất nhiều nhà cao tầng cần nhiều hơn nữa các khu vực không gian mở và xanh. Những cơ sở hạ tầng có số lượng người đông, như cơ quan nhà nước, trường đại học và bệnh viện nên chuyển ra khu vực ngoại thành. Việc di dời các khu công nghiệp cũ, như Nhà máy Bóng đèn Phích nước Rạng Đông, sẽ làm giảm các chất gây ô nhiễm không khí nguy hiểm.

Việc hoàn thành hệ thống giao thông chuyển chở hành khách số lượng lớn cũng là một đòi hỏi cấp bách, tiếp theo là sự phát triển của các hệ thống giao thông mới. Việc áp dụng hỗ trợ thuế và gắn mã tòa nhà xanh có thể khuyến khích sự phát triển hiệu quả các tòa nhà sử dụng năng lượng mặt trời và tiết kiệm năng lượng.

Thứ hai, các chính sách thúc đẩy sử dụng phương tiện xanh có thể làm giảm ô nhiễm không khí. Giảm dần phương tiện lỗi thời và gây ô nhiễm nên được khuyến khích bằng cách cung cấp các khoản trợ cấp cho việc thay thế xe cũ, đánh thuế cao đối với các phương tiện giao thông mới. Điều này có thể giúp giải quyết mối lo ngại về hiệu ứng phân phối, khi người chủ sở hữu của những chiếc xe cũ hầu hết đến từ các hộ gia đình có thu nhập thấp.

Chính phủ cũng có thể ban hành chính sách thúc đẩy phát triển xe điện (EVs), bằng cách chỉ cho phép EVs được lưu hanh trong nội đô thành phố và giảm thuế thu nhập cho những nhà máy sản xuất EVs để giúp hạ giá thành những chiếc xe này ở mức giá cả phải chăng hơn.

Thứ ba, chi phí ô nhiễm nên phù hợp với nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Quy định về thuế bảo vệ môi trường có thể được sửa đổi lại để đạt mục tiêu tốt hơn đối với nhiên liệu gây ô nhiễm, như dầu diesel và than. Áp giá carbon cũng sẽ làm giảm tiêu thụ và sản xuất các sản phẩm dựa trên carbon, giúp thúc đẩy một nền kinh tế carbon thấp. Điều này làm giảm ô nhiễm không khí và giảm thiểu biến đổi khí hậu, một mối đe dọa khác đối với an ninh kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Thứ tư, việc chuyển đổi “nhịp nhàng” và hiệu quả sang hệ thống điện tái tạo sẽ giúp giảm thiểu ô nhiễm không khí và biến đổi khí hậu. Việc kích hoạt các chính sách như hỗ trợ thuế và đấu giá ngược cho các nhà máy năng lượng mặt trời và năng lượng gió đã duy trì đà bùng nổ của năng lượng mặt trời trong thời gian gần đây, lĩnh vực hiện đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia hàng đầu ở Đông Nam Á về triển khai lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời.

Việt Nam cũng có thể đặt ra các mục tiêu đầy tham vọng hơn cho năng lượng tái tạo, nhờ tiềm năng cao về năng lượng mặt trời, năng lượng gió và nhà máy thủy điện trên sông.

Cuối cùng, cải cách vấn đề trợ cấp nhiên liệu hóa thạch có thể giúp làm giảm tần suất sử dụng nhiên liệu bẩn và giúp giải phóng các hoản trợ cấp hóa thạch hàng năm, trị giá 612 triệu USD hay 0,3% GDP của Việt Nam. Thay vào đó, Việt Nam có thể dành nguồn ngân sách này cho các hoạt động phúc lợi khác như y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường.

Đây là thời điểm hoàn hảo để dành ưu tiên cho các biện pháp tiềm năng này, bằng cách sửa đổi Luật Bảo vệ Môi trường, dự kiến sẽ được Quốc hội phê chuẩn vào cuối năm 2020. Việt Nam có đủ năng lực để xử lý vấn đề ô nhiễm thông qua việc ban hành các quy định cẩn trọng.

Nguồn: Diễn đàn Đông Á (Australia)

TKNB – 26/03/2020.

Việt Nam sẽ đối phó với Trung Quốc trong vấn đề sông Mekong


Thitinan Pongsudhirak

Việt Nam tiếp nhận chức Chủ tịch luân phiên ASEAN vào tháng 1/2020. Ưu tiên chính sách đối ngoại quan trọng thứ hai của Hà Nội lúc này được cho là về vấn đề khu vực sông Mekong, sau vấn đề Biển Đông, và đây là điểm đáng lưu ý. Trong khi Biển Đông được coi là mối quan tâm chung của ASEAN, thì khu vực Mekong lại đang tồn tại vấn đề liên quan đến 5 quốc gia ven sông ở Đông Nam Á. 5 nước này phải đối phó với việc các đập thủy điện của Trung Quốc được xây dựng ở phía thượng nguồn vốn thường xuyên gây nên tình trạng hạn hán và đang làm cạn kiệt nguồn cá ở các vùng hạ lưu, đặc biệt là ở Campuchia và Việt Nam.

Nếu Việt Nam trên cương vị là Chủ tịch ASEAN làm theo ý muốn của mình, thì sông Mekong có thể sớm trở thành một vấn đề của ASEAN. Khi đó, 5 quốc gia ven sông sẽ được cung cấp thêm đòn bẩy để đối phó với việc Trung Quốc đơn phương “cắt xén” phần lớn nguồn nước ở thượng nguồn sông Mekong. Tiếp đó, nếu ASEAN có thể tập hợp với nhau trong cả hai vấn đề Biển Đông và sông Mekong, tổ chức khu vực gồm 10 thành viên này sẽ có lợi thế mặc cả hơn trước Trung Quốc, đặc biệt là nếu họ có thể lôi kéo các nước lớn khác như Nhật Bản và Mỹ cùng tham gia.

Trong bối cảnh sự thay đổi quyền lực toàn cầu đang diễn ra cùng với các động lực khu vực luôn thay đổi ở châu Á, vùng Bán đảo Đông Dương nằm giáp hoặc gần với khu vực Mekong đã trở thành không gian nổi bật và đầy triển vọng về phát triển kinh tế, chia sẻ tài nguyên và xây dựng năng lực, đến mức đòi hỏi phải có sự hợp tác hơn nữa giữa tất cả các bên liên quan. Mặc dù sông Mekong có nguồn nước khổng lồ cộng với việc cần phải hợp tác để chia sẻ tài nguyên giữa các quốc gia ven sông, các nước cũng mới chỉ thiết lập được một khuôn khổ quản trị khu vực lỏng lẻo và không mang tính ràng buộc ở khu vực sông Mekong, tập trung vào Tiểu vùng sông Mekong Mở rộng (GMS) từ đầu những năm 1990.

“Thế hệ đầu tiên” của sự hợp tác ở khu vực Mekong này đã đưa đến một loạt thỏa thuận hợp tác, nổi bật là Hiệp định sông Mekong (MA), Ủy hội sông Mekong (MRC) cũng như Viện Mekong (MI). Các mục tiêu chung và mang tính tập thể của những thỏa thuận hợp tác này là nhằm thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia thuộc GMS bao gồm Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam, mặc dù Trung Quốc và Myanmar chỉ có tư cách quan sát viên tại MRC.

Gần 3 thập kỷ sau, khi các nền kinh tế ở khu vực Bán đảo Đông Dương phát triển mạnh mẽ nhờ vào các động lực thương mại, đầu tư và tăng trưởng trong ASEAN, không gian sông Mekong đã trở nên hấp dẫn hơn. Trong bối cảnh GMS bao gồm cả các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây của Trung Quốc, khu vực này hiện đang tạo nên một thị trường kết hợp với hơn 350 triệu dân, GDP hơn 1,2 nghìn tỷ USD cùng với tiềm năng tăng trưởng đáng kể.

Sự kết nối cơ sở hạ tầng tại GMS đã dẫn đến việc nhiều tuyến đường được xây dựng, nối từ phía Bắc sang phía Nam hoặc từ Đông sang Tây và chạy xuyên qua toàn bộ khu vực Bán đảo Đông Dương, trải dài từ thành phố Côn Minh thuộc tỉnh Vân Nam cho đến miền Nam Thái Lan, và từ Đông Nam Myanmar cho đến miền Trung Việt Nam. Cái còn thiếu về cơ sở hạ tầng của khu vực chính là tuyến đường sắt. Nhược điểm của sự phát triển tại khu vực sông Mekong là tình trạng sử dụng tài nguyên nước không đồng đều giữa các quốc gia ven sông ở thượng nguồn và hạ lưu.

Mặc dù các phương tiện hợp tác thế hệ đầu tiên, từ GMS và MA cho đến MRC, đã được sử dụng rất nhiều trong thời gian qua, nhưng sự phát triển kinh tế và các thay đổi địa chính trị mới đây đã thách thức vai trò, tính thiết thực và hiệu quả của các cơ chế này. Điều rõ ràng hiện nay là cần phải có sự hợp tác lớn hơn trong khu vực nhằm bắt kịp tốc độ sử dụng tài nguyên ngày càng gia tăng ở khu vực sông Mekong.

Đặc biệt sự phát triển kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc đã tạo ra những cách thức và cơ chế mới để thúc đẩy hợp tác khu vực. Đứng đầu trong số đó là cơ chế Hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC), được thiết lập vào năm 2015. Trong nhiều năm qua LMC đã tổ chức hai cuộc họp của các Nhà lãnh đạo vào năm 2016 và 2018. LMC đã được thúc đẩy như là phương tiện hợp tác “thế hệ thứ hai” cho GMS.

Gần đây hơn, Thái Lan đã hồi sinh Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS), vốn được thiết lập lần đầu tiên vào năm 2003, bao gồm tất cả các nước thuộc Bán đảo Đông Dương và không có Trung Quốc. ACMECS hiện đang thu hút nhiều sự chú ý bởi vì nó cung cấp một giải pháp thay thế cho LMC của Trung Quốc.

Mặt khác, LMC của Trung Quốc được hỗ trợ bởi Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI), vốn dự kiến sẽ dẫn đến việc thiết lập Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Bán đảo Đông Dương (CICPEC). Việc phát triển hệ thống đường sắt ở GSM đang được thực hiện khá tốt ở Lào, kết nối Côn Minh với Vientiane. Một sự kết nối đường sắt từ Vientiane chạy qua Thái Lan rồi hướng về phía Nam đến Malaysia và Singapore cũng nằm trong kế hoạch cơ sở hạ tầng của BRI.

Kết quả là, GSM đã trở thành một cấu trúc gồm nhiều mảnh ghép dành cho việc sử dụng tài nguyên chung và phát triển cơ sở hạ tầng. Các quy tắc, chuẩn mực và khung quản trị nên như thế nào để thực hiện giai đoạn hợp tác khu vực tiếp theo giữa các bên liên quan là điều gây tranh cãi. Và do đó, sự tương thích giữa các khung hợp tác như MRC và LMC cũng tương tự như vậy.

Về phần mình, với vai trò là Chủ tịch ASEAN, Việt Nam đã chọn chủ đề “ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng”. Nền tảng của chủ đề này là 5 ưu tiên bao gồm: góp phần vào hòa bình và ổn định khu vực, thúc đẩy kết nối khu vực, thúc đẩy ý thức cộng đồng và về bản sắc ASEAN, đẩy mạnh quan hệ đối tác vì hòa bình và phát triển bền vững và nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của ASEAN.

Ngoài ra, Việt Nam cũng trở thành thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc trong năm 2020, một năm rất quan trọng đối với một quốc gia “đang lên” và sắp tới Hà Nội cũng sẽ kỷ niệm 25 năm ngày tham gia ASEAN.

Việt Nam sẽ được hưởng lợi sau khi tiếp quản chức Chủ tịch ASEAN từ Thái Lan trong năm nay. Trong thời gian giữ chức chủ tịch của mình, Thái Lan đã đạt được thành tựu quan trọng, đó là đưa ra được Triển vọng ASEAN về Ấn Độ dương – Thái Bình Dương, một văn kiện dài năm trang giải quyết các vấn đề liên quan đến khái niệm khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mởi” (AOIP) do Mỹ đưa ra và BRI của Trung Quốc. Với AOIP là cơ sở để hướng đến các mối quan hệ với hai siêu cường đang cạnh tranh lẫn nhau này (đề cập đến Mỹ và Trung Quốc), Việt Nam có thể tập trung vào các ưu tiên trước mắt nhiều hơn. Nếu Việt Nam có thể thúc đẩy các vấn đề sông Mekong, bên cạnh vấn đề Biển Đông, trong bối cảnh các đập thượng nguồn của Trung Quốc đang gây nên những tác động quá mức, thì đó sẽ là một thành tựu quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các nước ở khu vực sông Mekong.

Nguồn: www.forbes.com

TKNB – 18/02/2020

Hạn mặn khốc liệt và “an ninh lương thực quốc gia”


Theo đài RFA, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết, từ ngày 7 – 15/03/2020, Đồng bằng Sông Cửu Long sẽ có một đợt xâm nhập mặn xảy ra mà theo nhận định ở mức cao nhất trong mùa khô năm nay.

Trong khi đó, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam dự báo, trong tháng 3 này, nước sông Mekong từ thượng nguồn về ĐBSCL vẫn ở mức rất thấp. Do đó, xâm nhập mặn vẫn sẽ rất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt. Dự báo, đến cuối tháng 4 mới kết thúc đợt hạn hán, xâm nhập mặn này.

Ngày 4/3/2020, có 5 tỉnh gồm Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Kiên Giang, Cà Mau đã công bố tình huống khẩn cấp về hạn mặn. Ngành nông nghiệp của các tỉnh này đang chịu thiệt hại nặng nề nhất tại ĐBSCL trong đợt xâm nhập mặn năm nay.

Không ảnh hưởng đến An ninh lương thực quốc gia

Tình trạng thiếu nước ngọt kéo dài đã khiến cho hơn 10.000 ha lúa đông xuân, chủ yếu ở Bến Tre, mất trắng. Ngoài ra, các loại cây ăn trái đặc sản miền Tây như chôm chôm, sầu riêng, măng cụt, bòn bon cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do không có nước tưới. Khoảng 150.000 ha cây ăn trái ở 3 tỉnh Bến Tre, Long An, Tiền Giang cũng đang trong cơn khát nước ngọt.

Trước tình hình hạn mặn khốc liệt gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về sản lượng nông sản trong vùng, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng phát biểu hồi tháng 1 rằng cần có giải pháp ứng phó hiệu quả với tình hình hiện nay, cũng như về lâu dài vì ĐBSCL là vùng đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước.

Trao đổi về vấn đề An ninh lương thực quốc gia, Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện, người có hơn 25 năm kinh nghiệm về các vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, sinh kế bền vững, biến đổi khí hậu ở các quốc gia trong lưu vực Mekong nói rằng nếu cắt bớt 1/3 sản lượng lúa gạo của khu vực ĐBSCL và nếu Việt Nam không tự gánh lên vai “trọng trách lo an ninh lương thực thế giới” thì vẫn dư sức đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, không nên lo lắng quá: “Vào năm 2016, cũng hạn mặn cực đoan và thiệt hại còn nhiều hơn bây giờ mà Việt Nam vẫn xuất khẩu 5 triệu tấn gạo thì năm nay không có lý do gì an ninh lương thực bị ảnh hưởng. Những năm hạn mặn như năm nay sẽ có những vùng bị ảnh hưởng, bị thiệt hại lúa chết trắng. Nhưng mà xét về tổng thể thì đồng bằng vẫn không bị ảnh hưởng nhiều, tức là vẫn dư sức đảm bảo an ninh lượng thực quốc gia. Mình làm lúa tốt, sạch thì chỉ làm hai vụ thôi, đồng bằng vẫn dư sức làm được”.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũng đánh giá tình hình hạn mặn năm nay không ảnh hưởng đến an ninh lương thực quốc gia nhờ 3 yếu tố sau: “Yếu tố thứ nhất là thực sự Việt Nam đã sản xuất được một khối lượng lúa đáng kể. Mỗi năm xuất khẩu đến 6 – 7 triệu tấn gạo. Cho nên, lượng lúa dư là rất lớn. Cái thứ hai là vùng trọng điểm sản xuất lúa của ĐBSCL tập trung ở vùng thượng nguồn, ở các tỉnh như Đồng Tháp, An Giang hoặc Long An mà ở phía bên trên xa biển, chứ không phải các tình ven biển. Các tỉnh ven biển bây giờ chủ yếu sản xuất thủy sản. Vì thế cho nên tác động về mặt lúa gạo không nhiều lắm. Điểm thứ ba là năm nay tương đối chủ động được tình hình diễn biến của hạn mặn. Vì quá trình hạn mặn diễn ra từ trên thượng nguồn, nhưng Việt Nam đã được thông báo khá sớm nên năm nay các tỉnh đều chủ động xuống lúa vụ đông xuân tương đối sớm, sớm hơn hẳn so với thời vụ, và họ cũng tránh những vùng ven biển”.

Tuy vậy, theo Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, dù an ninh lương thực của đất nước hoàn toàn có thể yên tâm nhưng đời sống của người dân thì rất khó khăn: “Vẫn có một số nông dân ở ven biển sản xuất lúa cho nên bị thiệt hại. Thực ra, người dân ở vùng ĐBSCL, nhất là vùng ven biển rất khó khăn, nhất là thiếu nước sinh hoạt nữa”.

Nguyên nhân hạn mặn khốc liệt

Ngay từ tháng 10/2019, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia dự báo hạn mặn vào mùa khô 2019 – 2020 có khả năng gay gắt và xuất hiện sớm hơn so với năm 2018 – 2019 khoảng 10 – 30 ngày.

Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam cũng cho biết nguồn nước mùa khô 2019 – 2020 sẽ ít, nguy cơ hạn mặn xuất hiện sớm và hạn hán thiếu nước có thể xảy ra.

Đồng quan  điểm, thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện cho biết đã cảnh báo về tình hình hạn mặn này từ tháng 7/2019 khi thấy mực nước sông Mekong xuống thấp kỷ lục: “Lý do là ở ĐBSCL, như một quy luật, có thể quan sát mùa nước năm trước để biết mùa hạn vào năm sau. Điều này đã được chứng minh từ năm 2015 đến năm 2016 một lần rồi. Vào tháng 7 là ngày đầu mùa lũ, mùa nước nổi mà mực nước sông Mekong xuống mức thấp kỷ lục trong 50 năm, màu lũ đã không về và nước không lên được thì chắc chắn mùa hạn năm nay là sẽ rất gay gắt”.

Ông cũng nêu ra 3 nguyên do chính dẫn đến tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn khốc liệt của năm nay.

Nguyên nhân thứ nhất là do lượng mưa thấp ở toàn bộ lưu vực sông Mekong từ đầu năm 2019 cho đến tháng 9 do hiện tượng El Nino.

Nguyên nhân thứ hai là do các đập thủy điện ở thượng nguồn. Thủy điện không làm mất đi tổng lượng nước mà nó cũng không tự gây ra khô hạn. Thủy điện không tiêu thụ nước nhưng nó làm chậm đường đi của nước.

Vào những năm mưa ít, thiếu nước khô hạn thì thủy điện buộc phải đóng đập tích nước cho đầy thì mới đủ độ sâu để chạy tua-bin phát điện. Như vậy, dòng nước đi qua một chuỗi các con đập kéo dài từ đầu nguồn sông sẽ rất lâu để nước về tới được ĐBSCL.

Nguyên nhân thứ ba là do những thay đổi ở ĐBSCL hàng năm từ tự nhiên và nhân tạo. So với khoảng năm 1980 đổ về trước, bây giờ mặn đã sâu hơn hàng năm vào mùa khô. Bởi vì hai lý do: Nguyên nhân thứ 3a là mực nước biển dâng đều 3mm mỗi năm, trong 10 năm cũng được 3cm, 30 năm cũng được 30cm. Thành ra, mặt biển cao hơn ngày xưa.

Còn nguyên nhân 3b là hệ thống tự nhiên của đồng bằng thay đổi. Bây giờ đê bao khép kín khắp nơi. Một là làm lúa vụ ba trong mùa lũ trên vùng Tứ giác Long Xuyên, vùng Đồng Tháp Mười và ở vùng miệt vườn cây ăn trái thì cũng đê bao khép kín. Cho nên vào mùa nước nổi, khi nước sông Mekong dồi dào đổ về, những ô đê bao đó chiếm không gian, nước từ dòng sông không lên ruộng vườn được, cho nên là nó ngập khắp nơi ở các thành phố rồi đi luôn ra biển.

Đến mùa khô, đặc biệt là những năm cực đoan như thế này, dòng sông Cửu Long bị yếu đi vì bản thân đất đai đồng bằng không còn nước.

Giải pháp

Về giải pháp trước tình hình hạn mặn kỷ lục như năm nay, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho biết, hiện giờ, cách tốt nhất là không nên cố gắng chống chọi với tự nhiên: “lời khuyên dành cho năm nay là nên né. Né có nghĩa là dịch chuyển lịch cây trồng, lịch thời vụ gieo trồng. Bởi vì điều này mình hoàn toàn có thể làm được vì mình đã dự trù từ hồi tháng 7 năm ngoái rồi”.

Còn về các giải pháp lâu dài cho những năm phi cực đoan về sau thì Chính phủ cũng đã có nghị quyết 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, được ban hành từ năm 2017. Ông Thiện đánh giá những tinh thần cải cách của nghị quyết này là rất tiến bộ, có thể tóm tắt như sau:

Thứ nhất là phải “thuận thiên”, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên: Không có nghĩa là “khoanh tay”, nhưng phải hiểu về quy luật tự nhiên để biết cái nào có thể can thiệp được và cái nào không”.

Nên giảm bớt và làm sao tăng giá trị của các sản phẩm lúa gạo lên, chứ làm ra cả đống bán giá thấp, rồi lâu lâu phải giải cứu. Bởi vì, Việt Nam phụ thuộc vào một vài thị trường, không đa dạng hóa thị trường. Lâu nay, thị trường nông sản phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc. Nếu thị trường Trung Quốc mà “nhúc nhích” thì mình cũng mệt theo, nên cứ phải giải cứu.

Thứ hai là xem các loại nước ngọt, nước mặn hay nước lợ đều là tài nguyên và không ngăn cách sông ra khỏi biển. Nếu dùng công trình để chắn lại thì phải tách biển ra khỏi sông. Như thế thì sông sẽ không chảy được. Nó sẽ tích tụ ô nhiễm và gánh thêm phân bón thuốc trừ sâu, nước ở khắp nơi nhưng không uống được, và bây giờ chúng ta đang lâm vào tình trạng này.

Thứ ba là ưu tiên thủy sản, canh tác mặn ngọt luân phiên theo tự nhiên. Một năm trồng lúa 2 vụ thay vì ngăn mặn để trồng ba vụ mùa như trước đây. Trong mấy mươi năm qua, chúng ta đã chạy theo khái niệm gọi là “an ninh lương thực” nhưng thực ra khái niệm đó không đúng. Bây giờ, theo nghị quyết 120 là xoay trục ưu tiên thủy sản và cây lúa xuống vị trí thứ ba. Khu vực ĐBSCL không cần phải làm lúa ba vụ vẫn có thể đảm bảo an ninh lương thực quốc gia như thường, dư sức.

Chiều 8/3/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc làm việc với một số tỉnh ĐBSCL về hạn hán, xâm nhập mặn Thủ tướng công bố Chính phủ sẽ hỗ trợ 5 tỉnh đã công bố tình huống khẩn cấp bao gồm Bến Tre, Tiền Giang, Long An, Cà Mau, Kiên Giang, mỗi tỉnh 70 tỷ đồng nhằm phục vụ cho nguồn nước sinh hoạt cho đời sống của người dân.

Nguồn: TKNB – 12/03/2020.

Thảm họa do mực nước biển dâng cận kề, Việt Nam vẫn lưỡng lự chưa hành động


Theo nghiên cứu được công bố cuối tháng 10/2019 trên tạp chí khoa học Nature Communications, chỉ trong khoảng 30 năm nữa, mực nước biển dâng có thể khiến hơn 300 triệu người rơi vào cảnh nguy hiểm. Tới năm 2050, ảnh hưởng do mực nước biển dâng cao sẽ nghiêm trọng hơn những gì con người đã nghĩ tới. Một trong những thành phố bị ảnh hưởng lớn nhất là TPHCM, vì theo như dự báo của các nhà khoa học, vào khoảng giữa thế kỷ này, nơi này có thể bị nhấn chìm cùng với toàn bộ khu vực Nam Việt Nam. Nhiều vùng ven biển ở Đông Nam Á có nguy cơ phải đối mặt với ngày tận thế. Tuy nhiên, bất chấp mối hiểm họa kinh khủng như vậy, các nước Đông Nam Á vẫn tỏ ra rất chậm chạp trong việc chuẩn bị đối phó với tình hình này. Sau đây là phân tích của tạp chí World Politics Review số ra ngày 11/11:

Các nhà khoa học và chính phủ các nước từ lâu đã biết Đông Nam Á là một trong những khu vực dễ bị ảnh hưởng bởi tiến trình biến đổi khí hậu nhất. Theo các chỉ số về hiểm họa biến đổi khí hậu toàn cầu (Global Climate Risk Index) do một tổ chức phi chính phủ uy tín tại Đức tính toán, có 4 nước Đông Nam Á nằm trong số 10 nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi quá trình biến đổi khí hậu trên thế giới trong vòng hai thập kỷ qua.

Kết quả nghiên cứu mới của các nhà khoa học ở tổ chức Climate Central có trụ sở tại New Jersey còn đáng sợ hơn kể cả đối với những người biết rõ Đông Nam Á đang phải đối mặt với một tương lai khá u ám. Các nhà khoa học ở đây đã sử dụng phương pháp khảo sát độ cao để tính toán chính xác hơn ảnh hưởng của mực nước biển dâng đối với các khu vực gần bờ biển.

Họ dựa vào công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để đo các độ cao chính xác hơn so với cách tính toán đã thực hiện trước đây. Sau khi đã có được số liệu chính xác hơn, các nhà khoa học dự đoán được mức nước biển tăng cũng chính xác hơn và thậm chí chỉ ra được cả nguy cơ Đông Nam Á sẽ bị phá hủy ở mức độ như thế nào vào giữa thế kỷ này (2050).

Ngoài Việt Nam là nơi có tới hơn 20 triệu người sống ở những vùng sẽ bị thấp hơn mực nước biển trong vòng 30 năm nữa, Thái Lan là nước có số người sống ở khu vực thấp dưới mực nước biển vào năm 2050 lớn gấp 10 lần số người được dự báo trước đây. Một phần lãnh thổ Indonesia và Campuchia cũng bị đe dọa nghiêm trọng, chưa kể một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra Singapore và Philippines cũng bị vấn đề mực nước biển dâng cao đe dọa.

Chính phủ nhiều nước Đông Nam Á đã công khai thừa nhận nguy cơ này và xây dựng các kế hoạch rất công phu để thích nghi với tình hình. Rất ít các nhà lãnh đạo trên thế giới đến giờ này còn không thừa nhận vấn đề biến đổi khí hậu và các hệ lụy của nó. Thành phố Bangkok thậm chí còn bầu ra một quan chức phụ trách vấn đề thích ứng biến đổi khí hậu. Kịch bản đối phó với biến đổi khí hậu của thành phố được xây dựng từ năm 2012 đã đề ra là răng diện tích phủ xanh thành phố và giảm lượng khí thải nhà kính. Chính phủ Thái Lan cũng cam kết sẽ mở rộng hệ thống thoát nước và gia cố nâng cao các bờ sông.

Các nước Indonesia, Philippines, Việt Nam và Campuchia cũng đã có kịch bản đối phó với biến đổi khí hậu. Lãnh đạo Việt Nam dự định sẽ đi theo lộ trình tăng trưởng xanh, và lên kế hoạch gia cố bảo vệ khu vực bờ biển. Chính phủ Campuchia cũng đã phối hợp với các cơ quan của Liên hợp quốc và các nhà tài trợ để phát động nhiều chiến dịch cải thiện công tác kiểm soát lũ lụt và cảnh báo các tình huống thời tiết khẩn cấp.

Đất nước Singapore phồn thịnh vốn nằm trên mực nước biển một chút đã công bố kế hoạch thích ứng biến đổi khí hậu hoành tráng nhất. Và trên thực tế, Singapore đã đang thực hiện chứ không như các nước láng giềng vẫn còn để các kế hoạch trên giấy. Singapore đang xúc tiến xây đê kè, đổ cát để bồi đất liền và dành thêm nhiều diện tích cho không gian xanh. Các nước láng giềng của Singapore thì chưa làm được như vậy.

Ở niềm Nam Việt Nam, tình hình ứng phó với biến đổi khí hậu rất đáng quan ngại. Hệ thống đê điều được bồi đắp lại làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái vốn đã bấp bênh ở đây và ảnh hưởng tới cả nghề cá và nghề nông. Do lo sợ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhiều người ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đã chuyển nhà tới thành phố hoặc thậm chí di cư ra nước ngoài.

Trong khi Singapore – với GDP/người cao nhất khu vực – có đủ lực để xây đắp đê kè và dự trữ cát, các nước láng giềng của Singapore lại thiếu nguồn tài chính để có thể thực hiện các kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu dài hạn. Còn Campuchia, với GDP/người thấp nhất khu vực ở mức khoảng 1400 USD/người lại không thể tiếp cận vay vốn qua các kênh như thị trường trái phiếu toàn cầu như cách mà Singapore có thể huy động.

Tình hình như vậy nhưng vấn đề đối phó với biến đổi khí hậu vẫn phải cạnh tranh với vấn đề phát triển kinh tế xem mục tiêu nào đáng được ưu tiên hơn. Chính Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã chỉ ra rằng nhiều nước ở Đông Nam Á, thậm chí là các nước có thu nhập trung bình và trên trung bình như Indonesia, Philippines và Thái Lan, các chính phủ đã dành cả tới vài chục năm chỉ để tập trung tăng trưởng bằng xuất khẩu, sử dụng các loại chất đốt không sạch và rẻ tiền nhằm mục tiêu nâng cao thu nhập và mức sống. Những thành công về kinh tế đã khiến các chính phủ không muốn xem xét lại mô hình phát triển, kể cả khi mô hình phát triển kinh tế đó làm gia tăng lượng khí thải vào môi trường Những nước như Việt Nam, chủ yếu dựa vào phát triển inh tế để duy trì vai trò quan trọng của chính phủ, có lẽ lại càng không muốn đánh đổi tăng trưởng kinh tế để đối phó với biến đổi khí hậu.

Một số nhà lãnh đạo các nước Đông Nam Á cũng muốn đưa ra các giải pháp mạnh mẽ để thích ứng với biến đổi khí hậu ngay cả khi các nền kinh tế lớn như Mỹ và Brazil lại đang chối bỏ vị trí đầu tầu trong công cuộc chống biến đổi khí hậu và trái đất nóng lên. Thế nhưng, trách cứ các nước lớn chẳng thể giúp được người dân đối mặt với nước biển dâng và nguy cơ nạn hồng thủy ở Bangkok hay TPHCM Bằng việc công  bố kết quả nghiên cứu của mình, tổ chức Climate Centrall muốn các nước thấy được nguy cơ đã cận kề và cần phải hành động.

Giám đốc truyền thông của Climate Central Peter Girard khẳng định rằng kết quả nghiên cứu cho thấy các nước cần phải hành động ngay để bảo vệ hàng triệu người dân của mình và tránh những bất ổn về kinh tế và chính trị do thiên tai, biến đổi khí hậu gây ra. Ông Peter Girard nói rằng thật không may là nhiều nước Đông Nam Á đã biết rõ về những nguy cơ này, nhưng vẫn thờ ơ chưa chịu hành động.

Nguồn: TKNB – 13/11/2019

Sông Mekong rất không ổn


Hạn hán năm nay ở nhiều nước chỉ là điều báo trước những vấn đề nghiêm trọng hơn sẽ xảy ra nếu chính phủ không thay đổi.

Sông Mekong đang quay cuồng trong sự tấn công của biến đổi khí hậu, khai thác cát và xây đập nước sông liên tục, tất cả những điều này kết hợp lại làm gây ra trận hạn hán tồi tệ nhất trong hơn 100 năm hồi tháng 7/2019. Chuyên gia tài nguyên thiên nhiên Thái Lan Chainarong Setthachua tuyên bố: “Đây là thảm họa sinh thái tồi tệ nhất trong lịch sử của khu vực sông Mekong”.

Mực nước ở hồ Tonle Sap, Campuchia, hồ nước nội địa tuyệt với, trái tim của sông Mekong, đã bị giảm cạn xuống chưa từng có ở nhiều nơi với một ngôi làng nổi gần như khô cạn hoàn toàn. Người dân Tonle Sap gần như không thể tin là điều này xảy ra không phải vào mùa khô, mà là hai tháng đầu mùa mưa. Youk Sengleng, một chuyên gia thủy sản ở vùng Tonle Sap chia sẻ: “Cá chết nhiều vì nước cạn, nhiệt độ nóng và nước độc hại do thiếu oxy. Khoảng 2,5 triệu người sống phụ thuộc vào nghề cá từng rất phong phú ở hồ này đã bị ảnh hưởng trực tiếp”.

Lấy quá nhiều nước từ sông về cơ bản sẽ giết chết sông. Chất ô nhiễm cô đặc hơn và dòng nước chảy chậm lại, gây ra tích tụ trầm tích làm tắc nghẽn lòng sông. Trong một mùa mưa bình thường, hồ Tonle Sap mở rộng kích thước lên hơn 40% dựa trên mực nước dân cao 7 – 8 mét ở sông Mekong sau những cơn mưa lớn. Hiện tượng “xung lũ” tuyệt vời này trên sông Mekong thường vào giữa và cuối tháng 8 và giữa tháng 9 làm đảo ngược dòng chảy của nhánh sông Tonle Sap vào hồ lớn. Sông Mekong đã quá yếu ớt để có thể nuôi cá và đảm bảo an ninh lương thực thường cho 60 triệu người sống ở lưu vự hạ lưu sông Mekong.

Ian Cowx, giám đốc Viện Thủy sản Quốc tế Hull Đại học Hull (Hifi, Anh) giải thích rằng trở ngại lâu dài lớn nhất đối với sự phục hồi của nghề cá sẽ không do biến đổi khí hậu và hạn hán, mà là do các con đập ở thượng nguồn.

Theo nghiên cứu của Hifi, tất cả các loài cá đều thích nghi với thời kỳ hạn hán và lũ lụt và yếu tố khí hậu không gây ra nguy cơ tuyệt chủng. Vấn đề lớn ở đây là liệu các hoạt động khác như điều tiết dòng chảy và hiệu ứng rào cản do đập thủy điện, chất ô nhiễm và khai thác trầm tích gây ra có làm suy giảm môi trường sống và làm tăng nguy cơ tuyệt chủng hay không. Có lẽ vấn đề lớn nhất ở đây là giảm dòng chảy do các con đập của Trung Quốc, đập Lower Sesan2 (trên một nhánh sông Mekong ở Campuchia) à con ông Hou Sahong biến mất vì đập Don Sahong.

Ngoài ra, đập Xayaburi, con đập đầu tiên được xây dựng và gần hoàn thành ở hạ lưu sông Mekong, là một ví dụ khác về dự đoán thiệt hại lâu dài cho hệ sinh thái, lớn hơn nhiều so với vấn đề biến động nước tạm thời.

Lý do chính khiến mực nước hạ thấp ở sông Mekong vào tháng 7/2019 là do thiếu mưa, nhưng hoạt động tại đập Jinghong ở Trung Quốc và đập Xayaburi gần như đã hoàn thành ở Lào, cũng làm trầm trọng thêm khủng hoảng nước. Trung Quốc đã quyết định “tắt máy khai thác sông Mekong” ở Jinghong với lý do phải tiến hành bảo trì lưới điện. Đồng thời, các nhà phê bình cũng đã quy trách nhiệm cho đập Xayaburi vì tiến hành thử nghiệm đặc biệt đã đóng cửa lũ. Điều đó càng khiến người nông dân Thái Lan ở 220 km về phía hạ lưu ở tỉnh Chiang Rai tức giận hơn.

Mọi thứ đang thay đổi trên sông Mekong. Hạn hán đang gia tăng; tài nguyên nước đang giảm. Sự phong phú của nghề cá và đa dạng sinh học đang bị đe dọa cả từ biến đổi khí hậu lẫn sự phá hủy sông không kiểm soát được.

Tuy nhiên, bất chấp những cảnh báo khoa học khác nhau về sự suy giảm nghiêm trọng ở sông Mekong, các nhà hoạch định chính sách và chính phủ đã không chú ý đến các yêu cầu của xã hội dân sự nhằm áp đặt các biện pháp kiểm soát môi trường lớn hơn để bảo vệ con sông Mekong đang bị bao vây.

Ủy ban sông Mekong (MRC), bao gồm 4 nước thành viên: Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam đã đưa ra lời cảnh báo quan trọng. MRC chính thức ra mắt báo cáo Nghiên cứu của Hội đồng về tác động của thủy điện vào năm 2018. Trong số nhiều kết luận đáng báo động, báo cáo cho thấy sẽ giảm 35 – 40% sinh khối cá vào năm 2020. Hơn nữa, báo cáo cảnh báo rằng phát triển thủy điện đến năm 2040 sẽ loại bỏ cá di cư ở phần lớn sông Mekong. Không có loài cá di cư sông Mekong nào có thể sống sót trong các hồ chứa đập được lên kế hoạch vào năm 2020 và 2040.

Bộ phận thủy sản MRC đã báo cáo giá trị của nghề cá Mekong – nghề cá nước ngọt lớn nhất thế giới – ở mức 11 tỷ USD đánh bắt tự nhiên (trừ trang trại cá) cho các nước trong vùng MRC, các nhà quan sát lo ngại sâu sắc về viễn cảnh tuyệt chủng cá thảm khốc.

Tuy nhiên, ba trong số bốn quốc gia thành viên – Lào, Thái Lan và Campuchia – đã bất ngờ từ chối xác nhận tài liệu mang tính bước ngoặt này dựa trên 5 năm nghiên cứu và không thể hiện ý muốn thảo luận về báo cáo này. Chỉ có Việt Nam hoan nghênh và tán thành báo cáo. Nhà sinh thái học đất ngập nước, Tiễn sĩ Nguyễn Hữu Thiện nói: “Chính phủ vùng sông Mekong thực sự cần phải thức tỉnh trước những báo động của những năm gần đây và bắt đầu làm việc cùng nhau vì lợi ích chung”. Ông Nguyễn Hữu Thiện người đã thực hiện một số báo cá quốc tế về sông Mekong với vai trò cố vấn cho WWF và ICEM.

Trong một cuộc phỏng vấn với ông Thiện ở Cần Thơ, ông đã chỉ ra mối quan tâm lâu dài cho tương lai Việt Nam: “Đồng bằng đang chìm vì hầu hết các trầm tích giàu chất dinh dưỡng quan trọng cho đồng bằng bị kẹt ở thượng nguồn vì các con đập. Điều này gây suy thoái môi trường quy mô lớn cũng liên quan đến sự mất ổn định và căng thẳng trong khu vực. Trong tương lai, đồng bằng sẽ không còn có thể duy trì nuôi sống 18 triệu dân. Họ sẽ phải bỏ đi di cư và tị nạn. Thủy điện ở khu vực sông Mekong đang gieo mầm bất ổn cho khu vực và có thể trở thành một vấn đề an ninh khu vực”.

Nghiên cứu mới được Viện Môi trường Stockholm công bố vào năm 2018 cho thấy 96% trầm tích giàu dinh dưỡng của sông Mekong sẽ không bao giờ đến được đồng bằng nếu tất cả 11 con đập ở Hạ lưu sông Mekong được xây dựng.

Nếu việc phá hủy thượng nguồn và suy thoái môi trường dẫn đến việc Việt Nam “mất” vùng đồng bằng, điều đó có nghĩa là mất nguồn gạo, trái cây và rau quả chính, chiếm gần 25% GDP. Tiến sĩ Thiện đặt câu hỏi về lâu dài nếu không có đồng bằng, Việt Nam có thể tồn tại?

Ước mơ ban đầu của Thỏa thuận MRC năm 1995 là một dòng sông hợp tác quốc tế và chia sẻ công bằng tài nguyên nước. Nhưng Tiến sĩ Trần Đình Thiên, Viện trưởng viện Nghiên cứu Kinh tế Việt Nam, phát biểu tại một Diễn đàn Mekong vài năm trước, than thở rằng đó không phải là cách giải quyết vấn đề. Chúng tôi chỉ có thể cứu sông Mekong bằng cách loại bỏ tâm lý hẹp hòi để kiếm lợi nhuận từ mỗi phân khúc có chủ quyền của dòng sông nhân danh sự phát triển”.

Một số nhà bình luận hoài nghi có thể cho rằng đã quá muộn để xoay chuyển mọi thứ và vạch ra một con đường mới và bền vững hơn cho sông Mekong. Vào thời điểm sông Mekong đang bị đe dọa chưa từng có, học giả Thái Lan Chainarong lại cho ý kiến khác: “Vẫn chưa quá muộn để bảo vệ dòng sông này bằng cách ngăn chặn tất cả các dự án đập trong đường ống, và một chính sách phát triển sông Mekong dựa trên việc tuân thủ Ủy ban Đập Thế giới và sự tham gia đầy đủ của xã hội dân sự và cộng đồng ven sông”.

Nguồn: The Diplomat – 26/08/2019

TKNB – 29/08/2019