Ý thức xanh và nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI – Phần cuối


Sau khi bước vào những năm 1980, cùng với việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, sự hiểu biết của Trung Quốc về thế giới sâu sắc thêm, mối liên hệ với thế giới cũng được tăng cường, ý thức xanh dần được truyền bá vào Trung Quốc, người Trung Quốc dần nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề môi trường của Trung Quốc, bảo vệ môi trường được đề ra như là một quốc sách cơ bản, ý thức xanh bắt đầu đi vào đầu óc một số người. Năm 1992, chính phủ Trung Quốc tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển Liên hợp quốc tổ chức tại Rio de Janeiro thủ đô Brazil, và trở thành người ủng hộ tích cực Chương trình Nghị sự của thế kỷ XXI, chứng tỏ ý thức xanh đã chính thức đi vào hệ thống quan niệm quan phương. Phải nói rằng, từ sự giác ngộ ý thức xanh của mọi người đến chỗ việc bảo vệ môi trường được xác lập như là quốc sách cơ bản, mô hình phát triển bền vững trở thành mô hình phát triển mới, Trung Quốc đã bước những bước đáng mừng theo phương hướng văn minh xanh.

Nhưng cũng cần tỉnh táo nhận thấy rằng, tình trạng ô nhiễm sinh thái, phá hoại môi trường ở Trung Quốc hiện nay còn khá nghiêm trọng, ý thức xanh còn chưa triệt để đi vào lòng người, để thực sự đi theo con đường phát triển bền vững, bước đường còn có nhiều khó khăn. Một học giả đã nghiêm khắc chỉ rằng, “do thiếu hậu thuẫn của tư tưởng xanh ở tầng sâu nên việc nghiên cứu tuyên truyền về phát triển bền vững ở Trung Quốc tuy ồn ào nhưng không tránh khỏi hời hợt trống rỗng”. Năm 1997, điều tra của một tổ điều tra do các đơn vị như Đài Truyền hình Trung ương hợp thành về tình trạng ô nhiễm ở khu vực Hoài Hà cho thấy, kẻ chủ yếu gây ra ô nhiễm là một số nhà máy hóa chất, nhà máy dệt nhuộm, nhà máy giấy ven bờ Hoài Hà. Mà trong số những người có trách nhiệm của các nhà máy gây ô nhiễm này, có một bộ phận khá đông là những người đã tốt nghiệp đại học trong những năm 1980. Thực tế cho thấy, trong giáo dục tư tưởng ở Trung Quốc, giáo dục ý thức xanh lâu nay vẫn là mảnh đất bị bỏ hoang. Trong giáo dục tư tưởng cho quốc dân, nếu chỉ chú ý đến giáo dục ý thức tiết kiệm như “tiết kiệm nước”, “tiết kiệm lương thực”, “tiết kiệm điện” thì hoàn toàn chưa đủ, cần tiến hành giáo dục ý thức xanh một cách toàn diện, có hệ thống từ tầm cao của quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, bồi dưỡng những con người mới XHCN có ý thức xanh. Không có con người mới XHCN có ý thức xanh, Trung Quốc khó đạt được sự phát triển hài hòa kinh tế xã hội, khó đạt được thành công thực sự của sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa XHCN. Do vậy, bồi dưỡng con người mới XHCN có ý thức xanh trở thành nhiệm vụ quan trọng của xây dựng nền văn minh tinh thần XHCN trong thế kỷ XXI.

III/ Địa vị và vai trò của ý thức xanh trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN ở thế kỷ XXI

Với tính cách là phàm trù văn minh tinh thần có ý nghĩa thế giới của loài người, ý thức xanh có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nền văn minh tinh thần XHCN trong thế kỷ XXI. Nếu như ở thế kỷ XX ý thức xanh mới chỉ là sự bổ sung cho hệ thống văn minh tinh thần XHCN thì ở thế kỷ XXI ý thức xanh phải trở thành phạm trù bên trong của hệ thống văn minh tinh thần XHCN và có địa vị và vai trò nổi bật trong toàn bộ hệ thống văn minh tinh thần XHCN.

Xét về địa vị, trước hết, trong thế kỷ XXI ý thức xanh sẽ từng bước từ ngoại vi của hệ thống văn minh tinh thần XHCN đi tới địa vị chủ đạo, dung hợp với thế giới quan và quan niệm giá trị của chủ nghĩa Marx, hình thành quan niệm luân lý sinh thái và quan niệm giá trị sinh thái của CNXH, từ đó dung hòa vào hệ thống đạo đức tư tưởng chủ đạo và toàn bộ hệ thống văn hóa của CHXN, trở thành một bộ phận của văn hóa chủ đạo XHCN trong thế kỷ XXI. Thứ hai, trong thế kỷ XXI, từ điều kiện xây dựng văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh sẽ trở thành mục tiêu của văn minh tinh thần XHCN. Bồi dưỡng ý thức xanh cho toàn dân, xây dựng con người mới có ý thức xanh không chỉ là điều kiện của xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần XHCN, mà còn là mục tiêu của xây dựng văn minh tinh thần XHCN, bởi vì sự hình thành ý thức xanh không chỉ có lợi cho việc xúc tiến hoàn thiện thế giới tinh thần của con người trong xã hội XHCN mà còn có lợi cho việc xúc tiến cải thiện mó quan hệ giữa con người và môi trường xã hội, môi trường tự nhiên trong đó con người sinh sống. Cuối cùng, trong thế kỷ XXI, từ văn hóa tinh anh của hệ thống văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh còn trở thành văn hóa đại chúng của hệ thống này. Cuối cùng, trong thế kỷ XXI, từ văn hóa tinh anh của hệ thống văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh còn trở thành văn hóa đại chúng của hệ thống này. Trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, ý thức xanh hãy còn là quan niệm tư tưởng của một số ít phần tử tinh anh “tiên tri tiên giác” trong đất nước XHCN, ý thức xanh của quần chúng trong xã hội còn tương đối mơ hồ và mờ nhạt, do đó, ý thức xanh thuộc về phạm trù văn hóa tinh anh có tính tiên phong. Trong thế kỷ XXI, cùng với sự phổ cập của tuyên truyền, giáo dục và truyền bá ý thức xanh, ý thức xanh đã trở thành quan niệm tư tưởng của số đông người, xâm thấu rộng rãi vào trong đời sống và công tác thường ngày của mọi người, trở thành một bộ phận của văn hóa đại chúng.

Xét về vai trò, ý thức xanh ít nhất có bốn vai trò dưới đây trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thống văn minh tinh thần XHCN ở thế kỷ XXI:

Thứ nhất, mở ra nguồn giá trị đạo đức mới. Sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật, sự mở rộng toàn cầu hóa trong thế kỷ Xxi sẽ làm cho loài người nẩy sinh nhiều nhu cầu giá trị đạo đức mới, bao gồm luân lý kinh tế, luân lý khoa học kỹ thuật, luân lý công tác, luân lý đời sống, luân lý giao tiếp, những lĩnh vực này đều cần có nguồn giá trị mới. Trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN của Trung Quốc còn thiếu nguồn giá trị xanh, chẳng hạn như quan niệm giá trị sinh thái có hệ thống, quan niệm giá trị hài hòa giữa con người và môi trường…, do vậy, sự hình thành ý thức xanh có thể mở ra cho văn minh tinh thần XHCN nguồn giá trị đạo đức mới, thỏa mãn nhu cầu giá trị mới của sự phát triển của thời đại.

Thứ hai, cung cấp quy phạm hành vi mới. Trong hệ thống quy phạm hành vi xã hội truyền thống, đã hình thành hệ thống quy phạm hành vi tương đối hoàn chỉnh giữa người và người, giữa người và xã hội, nhưng bỏ qua mất quy phạm hành vi quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Ngay cả trong xã hội XHCN, quan hệ giữa người và giới tự nhiên đã được coi là quan hệ chủ thể – khách thể, các loại hành vi con người nô dịch giới tự nhiên, chinh phục và cải tạo giới tự nhiên cũng được phủ cho ý nghĩa hợp lý tuyệt đối, khiến cho quan hệ giữa con người và giới tự nhiên ngày càng đối lập nghiêm trọng. Đưa ý thức xanh vào hệ thống quy phạm hành vi XHCN có lợi cho việc uốn nắn sự thiếu sót quy phạm hành vi trong quan hệ giữa con người và giới tự nhiên trước đây, hình thành quy phạm quan hệ đúng đắn giữa con người và giới tự nhiên và quy phạm hành vi kiểu mới trong quan hệ giữa người và người, giữa con người và giới tự nhiên.

Thứ ba, sáng tạo ra tập tục xã hội mới. Xét ảnh hưởng xã hội của ý thức xanh ở các nước phát triển, nó không chỉ thúc đẩy xã hội hình thành mốt tiêu dùng mới, lối sống mới và mốt thẩm mỹ mới, mà còn thúc đẩy hình thành tập tục xã hội kiểu mới như coi trọng quyền lợi phụ nữ, coi trọng giá trị gia đình và đồng tình với các quần thể yếu, có lợi cho việc duy trì sự cân bằng sinh thái văn hóa xã hội loài người. Những mốt mới và tập tục xã hội mới này cũng cần thiết cho xã hội XHCN trong thế kỷ XXI. Do vậy, sự hình thành rộng khắp của ý thức xanh tất yếu sẽ xúc tiến sự xác lập tập tục mới của xã hội XHCN.

Thứ tư, hình thành sợi dây tinh thần mới. Tuy toàn cầu hóa là xu thế quan trọng trong sự phát triển của cả xã hội loài người ở thế kỷ XXI, nhưng do có sự khác biệt về văn hóa dân tộc, mâu thuẫn và xung đột giữa các nước trên thế giới về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa cũng là điều không tránh khỏi. Muốn bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy sự phồn vinh và phát triển chung của loài người, cần kiến tạo một loạt giá trị phổ quát mới, cung cấp cho loài người sợi dây tinh thần mới. Thực tiễn chứng minh, ý thức xanh có thể vượt qua sự cản trở của các nhân tố như chế độ xã hội, niềm tin chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, chủng tộc dân tộc, thúc đẩy đối thoại, giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc, xác lập cho loài người sợi dây tinh thần mới, xúc tiến hòa bình và phát triển trên thế giới. Một cách tương tự, với tính cách là phạm trù văn minh tinh thần đầy sức sống, ý thức xanh có thể sản sinh ra cho xã hội XHCN sức kêu gọi tinh thần mới và sức ngưng tụ xã hội mới, có lợi cho việc đoàn kết các lực lượng xã hội cùng dốc sức vào công cuộc xây dựng hiện đại hóa xã hội XHCN, chuẩn bị nguồn tinh thần và nguồn xã hội đầy đủ cho sự phục hưng của sự nghiệp XHCN trong thế kỷ XXI.

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2001 – 56

Advertisements

Ý thức xanh và nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI – Phần II


Ý thức xanh là một quan niệm tư tưởng mà loài người hình thành nhằm mưu cầu sự cùng tồn tại hài hòa giữa con người và giới tự nhiên, nội dung chủ yếu của nó gồm ý thức bảo vệ sinh thái, ý thức tiết kiệm nguồn năng lượng, ý thức tiết kiệm tiêu dùng, ý thức gần gũi giới tự nhiên, ý thức ưu hóa môi trường. Hạt nhân của ý thức xanh là luân lý sinh thái và quan niệm giá trị sinh thái. Qua nỗ lực chung của nhân dân các nước trên thế giới, ý thức xanh đã hình thành nên quan niệm và niềm tin giá trị cơ bản rằng: giới tự nhiên là một hệ thống hữu cơ, loài người chỉ là một bộ phận trong hệ thống đó. Bất luận khoa học kỹ thuật của loài người phát triển đến trình độ nào, rút cục loài người vẫn phải dựa vào giới tự nhiên để sinh tồn. Dù tính năng động chủ quan của con người có ảnh hưởng quan trọng đối với giới tự nhiên, nhung con người phải tôn trọng quy luật giới tự nhiên, tự giác khống chế hành vi của mình, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tự nhiên, điều hòa mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Bảo trì quá trình sinh thái cơ bản của trái đất và hệ thống duy trì sự sống là điều cần thiết cho sự sinh tồn và phát triển của loài người. Giới tự nhiên không chỉ là đối tượng hoạt động thực tiễn của loài người và nguồn của cải vật chất mà còn là điều kiện quan trọng không thể thiếu cho đời sống tinh thần mỗi người. Từ đó, chúng ta không khó để nhận thấy, ý thức xanh là quan niệm văn hóa tư tưởng và chuẩn tắc quy phạm hành vi có ý nghĩa phổ biến trong văn minh loài người, là một phạm trù mà trình độ thừa nhận chung về nó rất cao trong văn minh tinh thần loài người.

Thế kỷ XXI đã tới, viễn cảnh phát triển của loài người vừa tràn trề hy vọng, vừa có nhiều hiểm họa chưa lường hết được. Nhà sử học và xã hội học người Hoa nổi tiếng của Đại học Pitzburg (Mỹ), giáo sư Xu Zhuoyun (Hứa Trác Vân) chỉ ra rằng, trong thế kỷ XXI, loài người sẽ đứng trước sự tiến công của 3 lực lượng là quốc tế hóa hay toàn cầu hóa, công nghệ hóa và thông tin hóa, một kết quả có thể xuất hiện trong văn minh loài người là mỗi người trên thế giới đều không còn có cảm giác về nơi nương náu cuối cùng, không còn có pháp quy và trật tự có thể tuân thủ, loài người có thể lại xuất hiện một trạng thái hỗn độn mới. Do vậy, ông kêu gọi: “Mỗi người chúng ta đều cùng cần tham gia để tạo dựng giá trị phổ quát mới của loài người”. Trong số một loạt giá trị phổ quát mới, luân lý sinh thái toàn cầu là một mặt quan trọng. Do vậy, ông chỉ ra rằng, nói chung, có lấy từ giới tự nhiên thì phải có trả lại cho giới tự nhiên, chỉ có như vậy mới có thể làm cho văn minh loài người ở trong trạng thái hài hòa cân bằng với môi trường sinh thái. Một học giả Mỹ gốc Hoa nổi tiếng khác, giáo sư Du Weiming (Đỗ Duy Minh) của Đại học Harvard cũng từng chỉ ra rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của đối thoại văn minh, trong các loại đối thoại của văn minh loài người, cần thông qua việc hấp thu các nguồn đạo đức tư tưởng của các dân tộc để xây dựng nên một luân lý phổ quát mới. Thứ luân lý phổ quát mới này quy phạm chuẩn mực giá trị của quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Tóm lại, chúng ta có lý do để cho rằng ý thức xanh nhất định trở thành nguồn tinh thần có ý nghĩa thế giới của loài người trong thế kỷ XXI, chiếm địa vị càng nổi bật trong hệ thống văn minh tinh thần của loài người. Ý thức xanh không những sẽ vượt qua giới hạn của chế độ xã hội mà còn vượt qua giới hạn của văn hóa dân tộc, trở thành sợi dây tinh thần vững chắc gắn kết văn minh thế giới.

II/ Sự phát triển của thời đại đòi hỏi Trung Quốc bồi dưỡng những con người mới XHCN có ý thức xanh hiện đại

Trung Quốc là một nước văn minh cổ truyền có lịch sử lâu đời, trong văn hóa truyền thống rộng lớn tinh sâu đã tích lũy trí tuệ luân lý sinh thái chất phát. “Thiên nhân hợp nhất” (hợp nhất giữa giới tự nhiên và con người) nhấn mạnh trong truyền thống Trung Quốc là đòi hỏi sự chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc không chỉ có tư tưởng triết học thiên nhân hợp nhất mà còn có trí tuệ luân lý bảo vệ sinh thái. Thí dụ, Mạnh Tử nói: “Không làm trái với thời vụ thì ngũ cốc sẽ nhiều không thể ăn hết. Gác lưới không vào ao đánh bắt thì cá tôm sẽ nhiều không thể ăn hết. Đem rìu búa vào rừng núi đúng lúc thì cây rừng sẽ nhiều không thể dùng hết”. Ở đây nhấn mạnh con người cần biết tiết chế, muốn lấy từ giới tự nhiên thì trước hết phải để cho nó nghỉ ngơi hồi phục đã, rồi mới có thể sử dụng lâu dài mãi mãi. Quản Tử cũng nói: “Núi rừng tuy rộng, cây cỏ tuy đẹp, khai thác cần đúng lúc – Sông biển tuy rộng, ao hồ tuy sâu, cá tôm tuy nhiều, nhưng đánh bắt phải đúng mức”. Đây cũng nhấn mạnh cần phải khai thác các nguồn tự nhiên với mức độ thích hợp, không thể làm cạn kiệt ao hồ để bắt cá.

Nhưng nhìn suốt lịch sử văn minh nông nghiệp trên 2000 năm của Trung Quốc, chúng ta thấy rằng sự suy bại của nền văn minh Trung Hoa lấy lưu vực sông Hoàng Hà làm trung tâm luôn đi kèm với khủng hoảng môi trường sinh thái. Trí tuệ luân lý sinh thái chất phác của dân tộc Trung Hoa hoàn toàn chưa phát huy vai trò một cách thực sự thiết thực trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, trí tuệ luân lý sinh thái nhìn xa trông rộng hoàn toàn trái ngược với tình trạng môi trường sinh thái ngày càng tồi tệ đi. Nguyên nhân tạo ra nghịch lý lịch sử này, ngoài sự hoang dâm xa sỉ, hủ bại mục nát của giai cấp thống trị các thời đại và sự phá hoại của chiến tranh cùng thiên tai, còn có một nguyên nhân không thể bỏ qua, đó chính là, trí tuệ luân lý sinh thái của dân tộc Trung Hoa trong thời đại văn minh nông nghiệp chỉ hạn chế ở nhận thức của một số ít thánh nhân hiền triết tiên tri tiên giác, hoàn toàn chưa hình thành nên được quan niệm giá trị sinh thái và chuẩn mực luân lý sinh thái có tính đại chúng, toàn dân. Ở một đất nước mà nạn mù chữ chiếm tuyệt đại đa số này, trí tuệ luân lý sinh thái của các nhân vật tinh anh khó truyền bá được trong đại chúng; một dân tộc không có tín ngưỡng tôn giáo, trọng thực lợi và hiện thế, càng khó hình thành nên sự quan tâm đối với môi trường tự nhiên. Tóm lại, sự tách biệt giữa giới tinh anh Trung Quốc truyền thống và quần chúng trong xã hội về mặt trí tuệ luân lý sinh thái khiến cho nguồn tư tưởng xanh của dân tộc Trung Hoa bị hành động xã hội thực tế lấn át, do vậy bị gác sang một bên.

Sau khi Trung Quốc Mới được thành lập, để nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt lạc hậu nghèo nàn, Trung Quốc một mặt đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, từng bước đi vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế kiểu tiêu hao nguồn tự nhiên, ống khói mọc lên khắp nơi, tiếng máy ầm ĩ được sự tán thưởng của mọi người như là biểu trưng của thành tựu mới. Mặt khác, đã đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác trở thành biện pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp. Nhưng năm 1970, toàn Trung Quốc triển khai phong trào “nông nghiệp học Đại Trại”, với sự cổ vũ của tinh thần “bắt núi cao cúi đầu, bắt sông sâu nhường bước” và “nhân định thắng thiên”, các nơi trong cả nước phá rừng ồ ạt để làm đất canh tác, lấp hồ làm ruộng, chuyển núi làm ruộng, môi trường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng. Với nhiệm vụ bức thiết là phát triển kinh tế, Trung Quốc đã chìm đắm vào niềm lạc quan mù quáng rằng “nước ta đất rộng sản vật phong phú”, tăng trưởng kinh tế bỏ qua giá thành sinh thái và hiệu quả sinh thái, một mực theo đuổi tăng trưởng số lượng kinh tế, gây ra lãng phí nguồn lực nghiêm trọng. Về mặt bảo vệ môi trường sinh thái, Trung Quốc không chỉ quên mất lời dạy của tổ tiên xưa mà còn không nghe thấy tiếng nói của thế giới. Năm 1972 khi Đại hội Môi trường Thế giới thứ nhất của Liên hợp quốc nhóm họp, Trung Quốc đang ở vào thời kỳ sau của “Đại cách mạng văn hóa”, tư tưởng cực tả trói buộc quan niệm của mọi người. Do vậy đối với vấn đề môi trường có tính toàn cầu, thái độ của người Trung Quốc là cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại. Nhà lý luận môi trường nổi tiếng của Trung Quốc Qu Geping (Khúc Cách Bình) nhớ lại rằng tuy Trung Quốc có cử đoàn đại biểu tham dự Hội nghị Môi trường Liên hợp quốc năm 1972, nhưng mục đích tham dự không phải là ở bảo vệ môi trường mà ở đấu tranh chính trị, tức là coi việc tham dự hội nghị là cơ hội để tiến hành đấu tranh với mặt trận tư bản chủ nghĩa quốc tế. Trong tài liệu báo cáo sau khi đoàn đại biểu Trung Quốc về nước dường như không đề cập một chữ đến chủ đề trung tâm của hội nghị, tức là môi trường và phát triển. Lúc ấy Trung Quốc hoàn toàn không tin rằng trên phạm vi thế giới lại có khủng hoảng sinh thái, mà tin rằng đó chỉ là khủng hoảng chính trị của xã hội tư bản chủ nghĩa, ô nhiễm là sản phẩm tội ác của chế độ tư bản chủ nghĩa, xã hội XHCN không thể xảy ra vấn đề ô nhiễm môi trường. Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng cực tả như vậy, Trung Quốc đã chặn đứng làn sóng xanh đang trào dâng trên phạm vi toàn cầu lại ở bên ngoài cửa đất nước, người Trung Quốc không nghe thấy lời kêu gọi của phong trào xanh thế giới.

(còn tiếp) 

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2001 – 56

Ý thức xanh và nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI – Phần I


Wang Jinhong

Tóm tắt thông tin

Ý thức xanh là phạm trù văn minh tinh thần có tính thế giới của loài người. Từ nửa sau thế kỷ XX, thông qua việc nhìn nhận lại nền văn minh công nghiệp phương Tây, loài người đã hình thành nên một ý niệm văn minh mới, tức là ý niệm văn minh xanh. Trong quá trình xây dựng hiện đại hóa XHCN, ở Trung Quốc đã xuất hiện vấn đề ô nhiễm môi trường và khủng hoảng sinh thái nghiêm trọng, do thiếu các nguồn tư tưởng xanh có hệ thống và sâu sắc nên sự phát triển bền vững ở Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn. Sự phát triển của thời đại đòi hỏi Trung Quốc phải đào tạo những con người XHCN có ý thức xanh. Trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN của thế kỷ XXI, ý thức xanh sẽ có địa vị và vai trò quan trọng, chủ yếu biểu hiện ở: Xét về địa vị, trong thế kỷ XXI, ý thức xanh sẽ từ ngoại vi trở thành chủ lưu của hệ thống văn minh tinh thần XHCN; từ điều kiện trở thành mục tiêu của văn minh tinh thần XHCN; từ văn hóa tinh anh trở thành văn hóa quần chúng của hệ thống văn minh tinh thần XHCN. Xét về vai trò, ý thức xanh sẽ mở ra nguồn giá trị đạo đức mới cho sự phát triển và hoàn thiện hệ thống văn minh tinh thần XHCN trong thế kỷ Xxi, cung cấp quy phạm hành vi mới, tạo ra phong tục xã hội mới, hình thành những dây nối tinh thần mới, từ đó chuẩn bị các nguồn tinh thần và nguồn xã hội đầy đủ cho công cuộc phục hưng vĩ đại của sự nghiệp XHCN trong thế kỷ XXI.

Từ những năm 60 của thế kỷ XX, làn sóng xanh nói chung lấy việc bảo vệ môi trường sinh thái, điều hòa mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên làm mục tiêu chủ yếu đã cuộn dâng khắp toàn cầu, trên cơ sở đó đã hình thành nên một ý niệm văn minh mới – ý niệm văn minh xanh. Ý niệm văn minh xanh không chỉ tiến hành phê phán và phủ định một cách xác đáng đối với văn minh tư bản chủ nghĩa mà còn đưa ra những gợi mở mới cho văn minh XHCN. Vậy rút cuộc ý niệm văn minh xanh là nhân tố bổ sung bên ngoài của văn minh tinh thần XHCN hay là nhân tố nội tại của bản thân nó? Vấn đề này đòi hỏi chúng ta giải quyết thêm một bước về mặt lý luận trong thế kỷ XXI. Mục đích của bài này là làm rõ địa vị và vai trò của ý thức xanh, hạt nhân của ý niệm văn minh xanh trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN ở thế kỷ XXI, vạch ra ý nghĩa của ý thức xanh đối với việc phát triển sự nghiệp XHCN ở thế kỷ XXI.

I/ Ý thức xanh là phạm trù văn minh tinh thần có tính thế giới

Vấn đề về mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên là một vấn đề cơ bản của văn minh loài người. Trong quá trình phát triển lâu dài, loài người đã phát triển từng bước từ phụ thuộc vào giới tự nhiên, lợi dụng giới tự nhiên đến cải tạo, chinh phục giới tự nhiên. Có thể nói, lịch sử văn minh loài người là lịch sử diễn biến của mối quan hệ giữa loài người và giới tự nhiên. Trong quá trình lịch sự của sự diễn biến văn minh loài người, đã từng bước hình thành ý thức xanh, ý thức coi trọng giới tự nhiên, coi trọng sự hài hòa với môi trường sinh thái. Ý thức xanh thoạt đầu còn tồn tại dưới những hình thức khác nhau trong trí tuệ tư tưởng của các dân tộc trên thế giới, mang đặc điểm của tính chất phác, tính tự phát. Qua sự nhìn nhận lại thời đại văn minh công nghiệp, từ nửa sau thế kỷ XX, ý thức xanh đã trở thành phạm trù văn minh tinh thần có tính thế giới của loài người.

Bắt đầu từ thế kỷ XVIII, với các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây là đại biểu, loài người đã bước vào thời đại văn minh công nghiệp. Văn minh công nghiệp tư bản chủ nghĩa lấy việc theo đuổi tăng trưởng nguồn của cải kinh tế không tiếc bất kỳ sự trả giá nào, thực hiện ở mức độ lớn nhất sự gia tăng giá trị tư bản làm động lực bên trong, làm cho nhu cầu đời sống sản xuất và tiêu dùng của loài người về các nguồn tự nhiên trở nên vô hạn. Do vậy sự cải tạo và phá hoại của loài người đối với giới tự nhiên gần đạt tới mức độ tột bậc, quan hệ giữa con người và giới tự nhiên cũng ngày càng rơi vào trạng thái đối lập nghiêm trọng. Giữa thế kỷ XIX, sụ phá hoại và tước đoạt của văn minh tư bản chủ nghĩa đối với giới tự nhiên bắt đầu tạo ra mối lo ngại của những người hiểu biết. Trong cuốn Biện chứng của tự nhiên Engels đã đưa ra lời cảnh báo rằng không nên quá say sưa với thắng lợi của loài người trước giới tự nhiên, cần phải cảnh giác sự báo thù của giới tự nhiên đối với chúng ta. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là luận điểm sáng suốt này lúc bấy giờ đã không được người ta coi trọng.

Sau khi bước vào những năm 60 của thế kỷ XX, khủng hoảng sinh thái trên phạm vi toàn cầu ngày càng nghiêm trọng, các vụ ô nhiễm gia tăng từng ngày, tai họa giới tự nhiên liên miên không dứt. Theo đánh giá của các nghiên cứu khoa học hữu quan, sự tồi tệ đi của sinh thái toàn cầu, về bề rộng cũng như chiều sâu, đều diễn ra với tốc độ kinh người, biểu hiện cụ thể của nó gồm: nguồn đất đai từng năm bị suy kiệt, nguồn rừng rậm bị hủy diệt, nguồn nước ngọt ngày càng căng thẳng, ô nhiễm không khí khá nghiêm trọng, số lượng giống loài nhanh chóng giảm thiểu. Ngoài ra, các loại ô nhiễm mới như ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng điện từ, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm nhiệt và ô nhiễm hạt nhân không ngừng xuất hiện. Những thực tế vô tình này buộc những người có hiểu biết ở phương Tây phải nhìn nhận lại các mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, tiến hành phê phán nghiêm khắc ý niệm văn minh công nghiệp, đi tìm hướng phát triển mới của loài người. Các nhà khoa học, nhân viên y tế, luật sư, nhà giáo và sinh viên đại học cho đến phụ nữ trong gia đình tại một số nước chủ yếu ở phương Tây nô nức lập ra các tổ chức đoàn thể bảo vệ môi trường như Bạn của Trái đất, Bạn của giới Tự nhiên, Tương lai – Người Hành động Xanh…, họ giương cao ngọn cờ màu xanh, đưa ra một loạt chủ trương và yêu cầu mới. Thí dụ, chủ trương bảo trì nguồn nước, đất, làm sạch không khí và nguồn nước, đòi hỏi sản xuất công nghiệp không gây độc hại, không gây ô nhiễm, tiến hành sử dụng có tính chu kỳ tái sinh đối với vật phế thải, rác rưởi; phản đối đánh bắt và khai thác quá độ đối với hải dương; phản đối bắn giết động vật hoang dã và dùng da, lông, các khí quan của động vật hoang dã để chế tạo các vật trang sức, dược phẩm. Đồng thời, các nhà khoa học, các nhà kinh tế học, các nhà giáo dục học, các nhà nhân học đến từ nhiều nước đã tụ tập tại Roma, Italy lập ra Câu lạc bộ Roma. Câu lạc bộ Roma đứng chân trên trục tâm Dân số – Tài nguyên – Môi trường – Phát triển, tiến hành sự tư duy mới về viễn cảnh phát triển trong tương lai của loài người. Năm 1972 Câu lạc bộ Roma công bố Giới hạn của sự tăng trưởng – Báo cáo về khốn cảnh của loài người, một bản báo cáo khiến cả loài người bừng tỉnh. Tư tưởng trung tâm của báo cáo này là: Mô hình phát triển “chinh phục giới tự nhiên” được đề xướng từ cách mạng công nghiệp trở đi cho sự tăng trưởng kinh tế của loài người, hậu quả của nó là đặt con người và giới tự nhiên vào một sự mâu thuẫn gay gắt, và không ngừng gặp phải sự báo thù của giới tự nhiên. Con đường công nghiệp hóa truyền thống này dẫn đến tăng vọt dân số, thiếu hụt tài nguyên, ô nhiễm môi trường và phá hoại sinh thái có tính toàn cầu, thực tế đã đưa loài người đến chỗ không thể tiếp tục phát triển được nữa. Vì tương lai của loài người, các nước cần áp dụng biện pháp hữu hiệu, nỗ lực ổn định quy mô dân số, bảo vệ các nguồn tự nhiên, khai thác và sử dụng các nguồn có khả năng tái sinh, tự giác thay đổi quan niệm giá trị, nỗ lực tìm kiếm một con đường mới phát triển hài hòa giữa con người và giới tự nhiên.

Dưới ảnh hưởng của phong trào bảo vệ môi trường của phương Tây, ngày 5 tháng 6 năm 1972, tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển, Liên hợp quốc đã mở hội nghị môi trường loài người, đây là hội nghị thế giới thứ nhất mà xã hội quốc tế mở về vấn đề môi trường, đánh dấu sự giác ngộ của loài người theo ý nghĩa chỉnh thể về vấn đề môi trường. Tuyên ngôn môi trường loài người mà hội nghị này thông qua không những đã ủng hộ mạnh mẽ phong trào bảo vệ môi trường của các nước, mà còn thúc đẩy tích cực sự thăng hoa ý thức xanh của loài người. Từ sua khi bước vào những năm 1980, làn sóng xanh cuồn cuộn toàn cầu, các đảng xanh lấy sách lược bảo vệ sinh thái và môi trường làm tôn chỉ xuất hiện rộng khắp các nước phương Tây. Với cương lĩnh mới mẻ về chính trị, kinh tế và xã hội của mình, đảng xanh được sự hoan nghênh mạnh mẽ của các cử tri ngày càng giác ngộ về ý thức xanh, trở thành một vai thu hút sự chú ý trên sân khấu chính trị phương Tây. Cũng chính bắt đầu từ những năm 1980, phong trào xnh mở rộng từ phương Tây tới các nước và khu vực đang phát triển, ý thức xanh trở thành hệ tư tưởng kiểu mới có ảnh hưởng toàn cầu.

(còn tiếp) 

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2001 – 56

Về dự án phá rừng ngập mặn làm kinh tế ở Thái Bình


Hiện tượng phá rừng, kể cả rừng ngập mặn phòng hộ vì mục đích kinh tế vẫn tiếp diễn, bất chấp sự phản đối của công luận và những tác động đến hệ sinh thái đã được cảnh báo.

Dân phản đối

Dự án nâng bãi đê biển để phát triển công nghiệp sẽ lấn 320 ha biển, trong đó phá bỏ gần 150 ha rừng ngập mặn thuộc 2 xã Thụy Hải và Thụy Xuân của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Dự án được UBND tỉnh Thái Bình giao cho Ban quản lý dự án đầu tư các công trình phát triển nông nghiệp nông thôn (Sở NN – PTNT Thái Bình) làm chủ đầu tư. Hiện dự án đã hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường và trình Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

Trong báo cáo này, ngoài xác định gần 150 ha rừng ngập mặn không phải là rừng nguyên sinh, việc phá bỏ diện tích rừng này không ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái và dự án chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của 80 hộ dân đang thuê bãi, nuôi trồng thủy sản. Ngoài ra, báo cáo cũng khẳng định đã tham vấn cộng đồng dân cư tại 2 xã Thụy Hải và Thụy Xuân.

Tuy nhiên, đài RFA đã liên lạc với người dân xã Thụy Xuân và được cho biết đa số người dân địa phương không đồng tình với việc phá rừng cũng như mức đền bù cơ quan chức năng đưa ra. Người dân cũng cho biết hiện tại cư dân địa phương rất lo lắng về chuyện bão lũ, bởi vì trước đây không có rừng mỗi khi bão về là đê lại vỡ: “Ngày xưa, rừng cũng có nhưng mà ít nên cứ có bão là vỡ đây hay vỡ bờ đầm. Từ ngày có rừng những hộ nuôi trồng thủy hải sản bên trong không bị vỡ bờ đầm nên không bị ảnh hưởng. Khi đó người ta gọi là rừng Vẹt và rừng Bần, nơi này có nhiều hải sản trú ngụ ở đó. Chẳng hạn như cáy, cua biển cũng vào đẻ trứng rồi sinh sôi nảy nở và đi ra biển nhưng bây giờ lại định san lấp”.

Những thông tin không trùng khớp

Trong bản báo cáo tác động do Trung tâm quan trắc, phân tích tài nguyên và môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình lập có nói rằng đã tham vấn cộng đồng dân cư 2 xã Thụy Hải và Thụy Xuân. Tuy nhiên, người dân khẳng định là không có cuộc họp nào để hỏi ý kiến xem người dân có đồng tình với việc phá rừng hay không “Buổi họp chỉ có ông trưởng thôn và chủ của những người có đầm ở đó. Họ không lấy ý kiến của đại đa số người dân ở đây. Họ họp cũng chỉ để xem mức đền bù có thỏa đáng hay không thôi chứ không họp về chuyện tác động khi làm dự án công nghiệp đó hay người dân có đồng ý hay không”.

Ngay cả con số 80 hộ dân chịu tác động được đưa ra trong báo cáo cũng được nói là không chính xác, chênh lệch thực tế quá cao. Lãnh đạo hai xã Thụy Xuân, Thụy Hải đã xác nhận với truyền thông trong nước rằng có tới 354 hộ nuôi thủy sản có đất bị thu hồi. Con số này gấp 4,5 lần so với số liệu báo cáo đánh giá tác động của dự án đưa ra.

Cũng theo kế hoạch dự án, gần 150 ha đất rừng ngập mặn này sẽ được trồng mới, trồng thay thế. Tuy nhiên, người dân địa phương nói rằng việc trồng lại không phải dễ và tốn rất nhiều thời gian: “Nghe nói họ có kế hoạch trồng lại rừng. Tuy nhiên, trồng rừng rất khó vì cây sống được là do phù sa của nước biển, lâu dần bồi đắp tạo thành lớp đất thì cây mới dễ sống. Bây giờ họ san lấp, phù sa bồi đắp mấy chục năm nay không còn nữa. Nếu trồng ra ngoài sẽ là đất cát, cây không sống được. Hơn nữa để trồng được những hecta rừng như vậy phải mất 30 – 40 năm mới được như thế”.

Vai trò rừng ngập mặn

Các vụ việc phá rừng phòng hộ để phát triển kinh tế diễn ra khá thường xuyên bất chấp sự phản đối của người dân và các tác động đã được giới chuyên gia cảnh báo. Ngay đầu năm nay, vụ việc 40 móng biệt thự được xây dựng trái phép trên khu đất vốn là rừng phòng hộ ở bán đảo Sơn Trà đã gây nhiều bức xúc trong dân chúng. Hiện tại vẫn còn nhiều tranh cãi liên quan đến việc liệu nên bảo tồn hay quy hoạch khu bán đảo Sơn Trà.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Trình, Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển bền vững nói với chúng tôi rằng rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng, nếu phá đi sẽ gây ra những hậu quả to lớn: “Thứ nhất, vai trò hệ sinh thái. Hệ sinh thái rừng ngập mặn là hệ sinh thái thế giới đang bảo vệ vì thuộc hệ sinh thái động thực vật ven biển. Cho nên, có rừng ngập mặn mới có tôm, cá, các loại nhuyễn thể. Giá trị thứ hai rất quan trọng là giá trị về chống xói lở. Ở một số vùng người ta phá rừng ngập mặn thì sóng biển sẽ đánh vào, không có đai bảo vệ thì bờ biển sẽ lở hết. Giá trị thứ ba là chống biến đổi khí hậu. Tức là khi biển dâng sóng lớn, mình có làm đê bê tông đi chăng nữa thì cũng bị đánh vỡ. Nhưng nếu có rừng chỉ cần 50 m thôi là sóng biển không đánh được”.

Chuyên gia môi trường Lê Trình còn bổ sung thêm một giá trị khác nữa của rừng ngập mặn là chức năng xử lý nước thải. Nước thải từ thành phố trước khi đi ra biển chảy qua rừng ngập mặn, tại đây các kim loại nặng bị hấp thụ, các chất hữu cơ, vi trùng bị phân hủy giúp vùng biển sạch đẹp.

Chính vì vậy, ông phản đối chuyện phá rừng làm kinh tế, vì theo ông mỗi mét rừng mang lại quá nhiều giá trị, cả giá trị hữu hình và vô hình.

Nguồn: RFA

TKNB – 20/07/2017

Giá than thấp làm năng lượng tái tạo ở Việt Nam không phát triển


Trong hai năm qua, cụm nhà máy nhiệt điệt chạy than Vĩnh Tân tại Bình Thuận đã gây ra nhiều vấn đề không tốt liên quan đến môi trường, từ việc biểu tình chống khói bụi của hàng nghìn người dân, cho đến lo lắng cảu doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận về việc dìm bùn nạo vét ngoài biển tỉnh này. Trong khi đó, Bình Thuận và Ninh Thuận gần kề lại được đánh giá là nơi có tiềm năng rất lớn trong việc sản xuất năgn lượng từ gió và Mặt trời, còn gọi là năng lượng tái tạo, không gây ô nhiễm. Vậy liệu việc phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam có bị trở ngại?

Vào năm 2015, ông Phạm Khánh Toàn, Viện trưởng Viện năng lượng, thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, cho biết về kế hoạch phát triển năng lượng của Việt Nam tới đây: “Hiện nay, theo tổng sơ đồ phát triển điện lực Việt Nam đến năm 2030 thì nhiệt điện than sẽ chiếm tỷ trọng cao nhất, có thể đến 45%. Còn lại thủy điện, dầu khí đều giảm, năng lượng mặt trời sẽ chiếm khoảng 6% vào năm 2030”.

Trong khi đó, trên thế giới lại có xu hướng ngược lại. Tại Mỹ, quốc gia có nhiều mỏ than lớn, lượng điện sản xuất từ than đã giảm liên tục. Theo tạp chí kinh tế Economits (Anh), các nhà máy điện chạy than chiếm 51% sản lượng điện của Mỹ vào năm 2005, giảm còn 39% vào năm 2014. Xu hướng này hiện vẫn tiếp tục. Trong khi đó, lượng điện sản xuất từ gió và năng lượng Mặt Trời lại liên tục gia tăng. Năm 2014, hai nguồn này chiếm 4% lượng điện của nước Mỹ, đến đầu năm nay, báo chí Mỹ đưa tin là hai nguồn này chiếm 10% điện sản xuất của Mỹ, và số nhân công sử dụng trong các nhà máy điện gió, điện Mặt Trời cao hơn số nhân công sử dụng trong các nhà máy điện chạy than, dầu, và hạt nhân cộng lại.

Trong việc phát triển năng lượng tái tạo, Mỹ hiện vẫn còn đứng đằng sau nhiều quốc gia phát triển khác. Một quốc gia lớn khác là Trung Quốc, vốn từ trước đến nay được xem là nước gây ô nhiễm bậc nhất thế giới vì các nhà máy điện chạy bằng than, hiện nay đã đóng cửa nhiều nhà máy điện chạy than, và sản lượng điện tái tạo từ sức gió và Mặt Trời của nước này đang gia tăng mạnh mẽ, cao hơn cả Mỹ. Theo kênh truyền hình CNN (Mỹ), Bắc Kinh dự định đến năm 2030, năng lượng gió và Mặt trời sẽ chiếm 20% sản lượng điện của Trung Quốc.

Giá than thấp cản trở năng lượng tái tạo

Trong xu hướng tiến tới sử dụng năng lượng tái tạo, Việt Nam cũng đặt ra cho mình một chương trình phát triển năng lượng, trong đó giảm bớt việc sử dụng than đá hay dầu mỏ. Theo kỹ sư Nguyễn Khắc Nhẫn, từng làm việc cho công ty điện lực Pháp, vào năm 2015, chính phủ Việt Nam đã công bố dự án phát triển năng lượng sạch, theo đó vào năm 2050, tỉ lệ điện sản xuất từ năng lượng tái tạo sẽ chiếm 43%. Trích dẫn này được ông đưa ra trong một bài viết về khả năng phát triển năng lượng tái tạo cho Việt Nam đến năm 2050. Theo đó, đến năm 2050, Việt Nam có khả năng sử dụng 100% nhu cầu năng lượng của mình từ các nguồn năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, trên thực tế, các kế hoạch xây dựng hàng loạt nhà máy điện chạy than từ Nam ra Bắc, trong đó có cụm 4 hà máy Vĩnh Tân, Bình Thuận, dường như đang chứng tỏ rằng Việt Nam đi ngược lại với chương trình năng lượng tái tạo mà tự mình đề ra.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế sống ở Hà Nội cho rằng một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy công ty điện lực Việt Nam xây dựng rất nhiều nhà máy điện chạy bằng than là do giá than ở Việt Nam hiện nay rất rẻ. Ông nói: “Việt Nam đã ký các hiệp định thương mại tự do, thuế nhập khẩu than xuống thấp, Việt Nam không đánh thuế giá trị gia tăng đối với than như là đối với xăng dầu. Cho nên giá than tiếp tục giảm một cách bất ngờ. Đấy là cái động lực làm cho ngành điện tiếp tục đầu tư vào điện than”.

Mặt khác, việc xây dựng khá tốn kém các nhà máy điện sử dụng năng lượng gió và Mặt trời cũng là một trở ngại làm cho Việt Nam không thúc đẩy năng lượng tái tạo.

Tháng 4/2017, báo chí Việt Nam đưa tin rằng một nhà máy sản xuất điện từ gió đã được khởi công tại Dầm Nại, tỉnh Ninh Thuận. Công trình này sẽ có công suất 40 MW với vốn đầu tư là 80 triệu USD. Nếu so sánh một cách tương đối với nhà máy điện chạy than Vĩnh Tân 1, công suất 1200 MW, vốn đầu tư 1,8 tỷ USD, thì nhà máy điện gió vẫn đắt hơn.

Một vấn đề nữa được Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nêu lên là giá điện ở Việt Nam rẻ, nên không khuyến khích nhà đầu tư bỏ tiền vào các công trình nhà máy điện sử dụng năng lượng tái tạo: “Ở Việt Nam, Liên minh châu Âu (EU) đã có một dự án để thúc đẩy, và cũng có những dự án khác để xây dựng điện gió, nhưng giá điện gió hiện nay vẫn cao hơn giá điện của EVN, và nếu như Việt Nam chưa có một chính sách điều chỉnh giá điện nhất định, thì điện gió sẽ tiếp tục tăng, nhưng khó có thể phát triển đến mức có thể thay thế được điện than”.

Tính toán kinh tế không bao gồm chi phí môi trường

Khi các nhà máy phát điện gió và Mặt Trời hoạt động thì có hai điểm lợi, thứ nhất là không cần cung cấp nhiên liệu, và thứ hai là không gây ô nhiễm như các nhà máy chạy bằng than.

Cuộc biểu tình lớn hàng nghìn người ở Tuy Phong (Bình Thuận) diễn ra vào năm 2015 chống ô nhiễm do nhà máy điện than Vĩnh Tân gây ra là một ví dụ cho thấy việc tính toán kinh tế khi quyết định xây các nhà máy điện than, người ta đã không lường được những chi phí do bất ổn xã hội gây ra bởi ô nhiễm.

Trong cuộc biểu tình đó, nhiều xe cộ bị đập phá, giao thông đình trệ hàng giờ liền trên quốc lộ. Một số người dân nói họ còn dự định sẽ bỏ xứ ra đi vì không thể sinh sống và sản xuất trong vùng đất bị ô nhiễm.

Khi việc dìm 1.000.000 m3 bùn tại vùng biển Bình Thuận được nêu lên, các doanh nghiệp và ngư dân Bình Thuận rất lo lắng việc sản xuất của mình sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các chủ trại nuôi tôm giống ở Tuy Phong cho biết rằng việc xây cầu cảng phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện chạy than Vĩnh Tân làm cho chi phí lọc nước của họ tăng lên nhiều lần. Khi được chúng tôi trình bày điều này, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho biết: “Đấy là những chi phí mà người ta cần phải tính đến, khi tính về điện than. Người ta không tính đến điều đó và người ta chỉ tính những hiệu ứng về kinh tế thôi, và đó là cái điều méo mó của cái việc chỉ vận dụng những tính toán về kinh tế, mà không tính đến những tác động bền vững và môi trường”.

Bên cạnh việc giải quyết nạn ô nhiễm do điện than gây ra, nhiều nhà quan sát, trong đó có tiến sĩ Nguyễn Quang A lo lắng rằng Việt Nam sẽ là bãi rác công nghệ cũ của Trung Quốc, khi nước này đóng cửa các nhà máy điện than của mình nhằm bảo vệ môi trường của Trung Quốc, nhưng đồng thời lại xuất khẩu các nhà máy cũ này sang Việt Nam.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh trích lời Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) nói rằng việc Việt Nam cho xây dựng hàng loạt nhà máy chạy điện than là một thảm họa của nhân loại và của chính Việt Nam.

Nguồn: RFA

TKNB – 24/07/2017

Trung Quốc đang vũ khí hóa nguồn tài nguyên nước


Eugene K. Chow

Một vũ khí sắc bén giấy trong chiếc vỏ bình yên của Trung Quốc đang đe dọa và cho phép nước này giữ được 1/4 con tin của thế giới mà không phải bắn một phát súng nào. Mặc dù, thế giới đã chú ý nhiều tới các trang thiết bị quân sự mới đáng sợ của các quốc gia châu Á này nhưng ít ai chú ý tới một thành phần trong kho vũ khí đáng gờm này mà Trung Quốc gần như lẩn tránh không thông báo, đó là những con đập.

Với hơn 87.000 con đập và khả năng kiểm soát vùng cao nguyên Tây Tạng, nơi bắt nguồn của 10 con sông lớn, cung cấp sinh kế cho khoảng 2 tỷ người, Trung Quốc đang sở hữu một vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chỉ cần vặn nút, Trung Quốc có thể giải phóng hàng trăm triệu gallon nước từ các đập lớn, gây lũ lụt thảm khốc, làm thay đổi toàn bộ hệ sinh thái ở cá quốc gia khu vực hạ lưu. Trung Quốc từ lâu đã biết tới sức mạnh hủy diệt của nước. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm ngăn chặn quân đội Nhật Bản, Tướng Lương Khải Siêu, chỉ huy Quân đội Trung Quốc lúc bấy giờ đã cho phá hủy một con đê dọc theo sông Hoàng Hà làm ngập hàng nghìn hecta đất nông nghiệp, khiến khoảng 800.000 Trung Quốc thiệt mạng và gần 4 triệu người phải di dời. Rất ít khả năng Trung Quốc sẽ thực hiện hành động hủy hoại này đối với các nước láng giềng, nhưng thực tế, đây vẫn là đòn bẩy của Trung Quốc, với vị thế là một quốc gia ở khu vực thượng lưu có khả năng kiểm soát nguồn lực thiết yếu nhất của cuộc sống.

Dãy Himalaya được mệnh danh là “Tháp nước của châu Á”. Năm trong số những con sông lớn nhất của lục địa bắt nguồn từ đây, bao gồm: sông Mekong, sông Hằng, sông Dương Tử, sông Indus và sông Irrawaddy. Nước bắt nguồn từ tuyết tan trên cao nguyên Tây Tạng tạo thành những dòng sông hùng vĩ chảy qua biên giới của Trung Quốc trước khi đến Nam Á. Nhằm đáp ứng nhu cầu điện còn thiếu hụt và một phần giảm sự phụ thuộc vào than, Trung Quốc đã xây dựng một loạt con đập. Năm 1949, Trung Quốc có chưa đến 40 đập thủy điện nhỏ, nhưng hiện tại, nước này có nhiều đập hơn cả Mỹ, Brazil và Canada kết hợp lại. Riêng trên sông Mekong, Trung Quốc đã xây dựng 7 con đập lớn và có kế hoạch xây dựng thêm 21 con đập nữa. Chỉ tính riêng một con đập mới của Trung Quốc thôi cũng có khả năng sản xuất thủy điện nhiều hơn tất cả các con đập của Việt Nam và Thái Lan trên sông Mekong cộng tại. Sự gia tăng mạnh mẽ trong hoạt động xây dựng đập đã có tác động môi trường lớn và gây lo ngại ở các quốc gia phía hạ lưu.

Milap Chandra Sharma, một nhà nghiên cứu khí hậu học thuộc Đại học Jawaharlal Nehru ở Ấn Độ, nói: “Ngoài những vấn đề môi trường, các đập ở Tây Tạng có thể khiến (Ấn Độ) rơi vào tình trạng thảm khốc. Chúng có thể vỡ trong các trận động đất, việc phá vỡ đập dù vô tình hay cố ý đều có thể trở thành vũ khí chống lại Ấn Độ trong một cuộc chiến tranh”. Các nước láng giềng phía Nam của Trung Quốc sẽ không lo lắng nếu không có lý do. Trong quá khứ, Ấn Độ đã cáo buộc Trung Quốc xả các con đập gây các trận lũ quét, bao gồm một trận gây ra thiệt hại ước tính khoảng 30 triệu USD và khiến 500.000 người trở thành vô gia cư ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ. Mỗi năm, vào mùa mưa của Trung Quốc, các quốc gia ở hạ lưu đều trong trạng thái cảnh giác cao độ khi các con đập của nước này xả nước để giảm áp lực mà ít khi cảnh báo trước.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu Việt Nam, giải thích: “Việc xả một con đập sẽ gây hiệu ứng ảnh hưởng domino trên toàn bộ hệ thống, có thể gây ra thiệt hại lớn”. Ngoài lũ lụt, các con đập của Trung Quốc cũng được cho là nguyên nhân gây ra các đợt hạn hán tồi tệ hơn. Năm ngoái, Việt Nam đã “xin” Trung Quốc xả nước từ đập Vân Nam trên sông Mekong để giảm bớt tình trạng thiếu nước trầm trọng ở hạ nguồn. Sau đó, Trung Quốc mới đồng ý và cho nước chảy vào Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Hai thái cực hạn hán và lũ lụt không chỉ làm nổi bật tác động môi trường của các con đập ở Trung Quốc mà còn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước láng giềng phía Nam. Những con sông này là nguồn gốc sự sống ở Nam Á, cung cấp ước uống, tưới tiêu cho canh tác, môi trường sống cho ngư nghiệp và vận chuyển thương mại.

Bằng cách kiểm soát dòng chảy huyết mạch của khu vực, Trung Quốc đã đạt được sức mạnh to lớn và đối mặt với những cáo buộc lạm dụng. Ông Tanasak Phosrikun, một nhà hoạt động Thái Lan ở sông Mekong, nói: “Về mặt ngoại giao, Trung Quốc đã sử dụng các con sông như một quân bài mặc cả”. Trung Quốc đã phủ nhận những cáo buộc này. Năm ngoái, phản bác trước sự tức giận ngày càng tăng ở Ấn Độ đối với các con đập của Trung Quốc, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đã đưa ra một tuyên bố: “Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ không nên bị ảnh hưởng bởi một cuộc chiến tranh nước”. Tuyên bố có đoạn: “Thành thật mà nói, Ấn Độ không nhất thiết phải cường điệu hóa các dự án (xây dựng đập) này, vì các dự án chỉ nhằm mục đích giúp phát triển và sử dụng các tài nguyên nước một cách hợp lý”. Mặc dù Trung Quốc phủ nhận sự tồn tại của một “cuộc chiến tranh nước”, nhưng lại từ chối chia sẻ dữ liệu thủy văn với Ấn Độ vào năm nay, mặc dù hai bên đã ký một thỏa thuận. Dữ liệu này rất quan trọng trong mùa mưa, do nó có thể giúp Ấn Độ dự báo chính xác hơn lũ lụt và cảnh báo người dân và quan trọng nhất là có thể cứu mạng sống và giảm thiểu thiệt hại.

Cho dù cố ý hay không nhưng nước đã trở thành một vũ khí hữu hình cung cấp cho Trung Quốc đòn bẩy chính trị đáng kể so với các nước láng giềng phía Nam. Khi tình trạng khan hiếm nước trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số thì nhu cầu về nguồn tài nguyên quý giá này sẽ tăng lên, làm tăng sức mạnh của Trung Quốc và tăng cường xung đột. Mặc dù có nhiều nỗ lực hợp tác khu vực nhưng các nước Nam Á vẫn không thể thành công trong việc khuyến khích phát triển bền vững và có trách nhiệm đối với các con sông. Khi nói đến các con sông ở châu Á, với khả năng kiểm soát cao nguyên Tây Tạng nhờ vị trí địa lý của mình, Trung Quốc là vua, và có rất ít quốc gia ở hạ lưu có thể làm để thay đổi ngai vàng của vị vua này.

Nguồn: http://nationalinterest.org/blog/the-buzz/china-weaponizing-water-22053

TKNB – 31/08/2017

Bảo vệ và hợp tác môi trường biển: Liệu có một khung thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc?


Julius Cesar Trajano

Trong bối cảnh ASEAN đang kỷ niệm 50 năm thành lập, xung đột trên Biển Đông tiếp tục là một vấn đề an ninh nghiêm trọng và là phép thử hiệu quả đối với sự đoàn kết và vai trò trung tâm của tổ chức này. Với mong muốn hạn chế sự gia tăng các xung đột trên biển, vào tháng 5/2017, Trung Quốc và ASEAN đã hoàn tất một dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Bất chấp những nỗ lực chung của ASEAN và Trung Quốc để làm giảm các căng thẳng, môi trường biển trong các vùng nước tranh chấp tiếp tục là một vấn đề khó giải quyết, hoàn toàn không có một hiệp định khung bao quát về vấn đề này. Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc đã ghi nhận sự tàn phá không thể hồi phục hệ sinh thái các rạn san hô do khai thác trái phép san hô, đánh bắt cá quá mức, hoạt động cải tạo đất và đánh bắt cá trái phép trên Biển Đông. Tuy vậy, bảo vệ môi trường biển (MEP) vẫn tiếp tục là một khía cạnh bị bỏ qua nhiều nhất trong các xung đột trên biển của khu vực. MEP có thể trở thành khởi đầu của các cuộc đối thoại có tính xây dựng về hợp tác giữa các nước có tuyên bố chủ quyền với ASEAN là người dẫn dắt chính.

Tại sao ASEAN và Trung Quốc nên hợp tác về vấn đề bảo vệ môi trường biển?

Biển Đông là một trong những khu vực có hệ sinh thái biển đa dạng nhất thế giới, chiếm tới 76% các chủng loại san hô thế giới và 37% các loại cá sinh sống trong các rạn san hô. Theo Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), mỗi thập kỷ sẽ có 30% cỏ mọc dưới đấy biển, 16% cây đước và 16% các rạn san hô sống mất đi do việc khai thác tận diệt thiếu bền vững của hơn 270 triệu người sinh sống dọc theo các bờ biển.

Các nhà khoa học biển ước tính rằng các hoạt động của con người đã phá hủy 16.200 ha các rạn san hô, chiếm gần 10% tổng số các rạn san hô trên Biển Đông. Nhà khoa học biển của Philippines, giáo sư Edgado Gomez ước tính rằng với mức độ phá hủy san hô hiện tại sẽ khiến các quốc gia ven biển trong khu vực Đông Nam Á phải gánh chịu thiệt hại 5,7 tỷ USD/năm. Tác động tiêu cực xuyên biên giới của việc làm suy giảm hệ thống sinh thái biển trên Biển Đông như vậy rõ ràng không nên được coi nhẹ.

Chắc chắn, khi mà một quốc gia của khu vực tiến hành triển khai các MEP trên Biển Đông có thể gặp nhiều khó khăn do các cuộc xung đột, thì một chiến lược hợp tác khu vực nhằm định hình hướng đi cho các hoạt động là rất cần thiết. Có lẽ trước hết nên dựa trên nhận thức đạt được trong Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002: “Trong khi chờ đợi một giải pháp bền vững và toàn diện đối với các xung đột, các bên liên quan có thể khai thác hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm: a) bảo vệ môi trường biển; b) nghiên cứu khoa học biển…”.

Thứ hai, Kế hoạch chi tiết Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAn 2025 khuyến khích các nước thành viên tiến hành “thúc đẩy hợp tác đối với việc bảo vệ, khôi phục và khai thác bền vững môi trường biển và bờ biển, ứng phó và giải quyết nguy cơ ô nhiễm và các mối đe dọa tới hệ thống sinh thái biển và môi trường ven biển…”.

Các khu vực biển được bảo vệ của ASEAN

ASEAN cùng với Trung Quốc có thể xem xét, cân nhắc thành lập các khu vực bảo vệ bờ biển (MAPs) và mạng lưới các MAPs thông qua việc lên sơ đồ chung của tất cả các nguồn lợi tự nhiên, các loài sinh vật và hoạt động của con người trên Biển Đông. Một MPA có liên quan đến việc quản lý bảo vệ các rạn san hô, các rừng đước và các loại cỏ mọc dưới biển, bao gồm các động vật hoang dã biển. MPA không phải là một khái niệm mới trong ASEAN. Nói riêng, từ những năm 1990, các nước Đông Nam Á đã chỉ rõ các khu vực MPA dọc theo các đường bờ biển của họ, nhưng không một nước nào mở rộng các MPA này đến các vùng biển trên Biển Đông. ASEAN đã ký Tuyên bố ASEAN về các Công viên Kỳ quan và Bảo tồn vào năm 1984, và nhất trí thiết kế 11 khu vực bảo vệ được ghi nhận là các Công viên Kỳ quan ASEAN vốn bao gồm các rạn san hô và các khu vực bảo vệ bờ biển. Các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc có thể củng cố việc bảo vệ hệ thống sinh thái biển hiện tại thông qua các MPAs, nhưng cần phải mở rộng ra ngoài các khu vực ven biển và nội thủy tiến tới các vùng biển trong Biển Đông. Nhưng các nước tham gia nên có nhận thức chung rằng việc thành lập các MPA trên Biển Đông là không liên quan đến việc có định kiến về đòi hỏi chủ quyền của một nước nào đó.

Các mạng lưới khu vực được chuyên biệt hóa

Có khá nhiều các vùng nước của ASEAN được sử dụng với mục đích chuyên biệt mà có thể được dùng làm cơ sở, nền tảng cho việc đề xuất các hiệp định khung hợp tác MPAs. Với hy vọng có thể nâng cao sự bảo vệ bờ biển trong khu vực, Nhóm làm việc của ASEAN về môi trường biển và bờ biển vừa đề xuất việc kết hợp tất cả các nỗ lực bảo vệ môi trường khu vực trên cả hệ sinh thái đất liền và trên biển, với giả thuyết là hai hệ sinh thái này có sự kết nối với nhau.

Nhóm làm việc có thể là diễn đàn phù hợp để lôi kéo hơn nữa sự tham gia của Trung Quốc và các Đối tác đối thoại khác để góp phần chia sẻ nguồn lực và kiến thức chuyên gia trong quản lý hệ sinh thái biển trên Biển Đông.

Cũng nên có sự hợp tác ở mức độ cao hơn nữa giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển và các cơ quan thực thi hàng hải trong khu vực, với việc tập trung hơn nữa vào vấn đề ngăn ngừa các hoạt động của con người phá hủy môi trường biển khu vực Biển Đông.

Diễn đàn Hàng hải ASEAN và Diễn đàn bảo vệ bờ biển ASEAN (ACGF) hiện nay hoạt động như là nền tảng cho các cuộc đối thoại giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển ASEAN và các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, tuy vậy, một hiệp định khung đối với hợp tác MPA giữa họ vẫn chưa có. Nếu các cơ quan hàng hải của Trung Quốc được mời tham gia vào ACGF, thì đây có thể trở thành một diễn đàn mà Trung Quốc có thể tham gia một cách xây dựng với ASEAN nhằm thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn nữa về các MEP và quản lý đánh bắt cá bền vững. ASEAN và Trung Quốc cũng có thể xem xét thành lập một mạng lưới khu vực các nhà khoa học biển và chia sẻ các dữ liệu khoa học. Đã có những cố gắng để làm việc này thông qua dự án Bảo vệ Môi trường Biển Đông của Liên hợp quốc: “Đảo ngược việc hủy hoại môi trường trong Biển Đông và Vịnh Thái Lan” được triển khai từ năm 2002 và kết thúc năm 2008. Dự án này đạt được những kết quả tích cực, đặc biệt là việc tăng cường hợp tác, phối hợp giữa các nhà khoa học của các nước tham gia, nhưng những căng thẳng địa chính trị gia tăng đã ngăn cản động lực hợp tác khoa học được chuyển hóa thành các chính sách khu vực rõ ràng về MEP trên Biển Đông.

Địa chính trị và Môi trường biển

Sự “phi chính trị hóa” của MEP vốn được xem là một “vấn đề nhẹ nhàng hơn” so với sự phát triển chung về dầu khí, có thể nắm vai trò quan trọng trong việc xây dựng sự tin cậy và tin tưởng chung giữa các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Thay vì việc tiến hành quân sự hóa mạnh hơn nữa trong các vùng biển có xung đột, ASEAN và Trung Quốc có thể thành lập một khung thỏa thuận quản lý hợp tác trên Biển Đông với việc bảo vệ môi trường biển là một trong những trụ cột chính.

Trong bối cảnh môi trường biển trên Biển Đông đang ngày càng bị hủy hoại nhanh chóng, yếu tố ngày càng trở nên cấp thiết hơn đối với các quốc gia có liên quan chính là việc phân định rạch ròi giữa địa chính trị, các đòi hỏi chủ quyền với nhu cầu hợp tác hàng hải dân sự quan trọng về những vấn đề an ninh phi truyền thống, trước hết là MEP. Sự cấp thiết của việc tăng cường bảo tồn biển trên Biển Đông như vậy là không thể bị cường điệu, thổi phồng được.

Nguồn: RSIS (Đại học Công nghệ Nam Dương – Singapore)

TKNB – 09/06/2017