Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long


Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong.

Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nước hạ nguồn sông.

Chỉ hai tháng sang khi Lào chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong (MRC) vào tháng 11/2016 về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20/12/2016, là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên dòng chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng như làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu USD/năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản

Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn.

Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers – IR), nhận định: “Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Mekong”.

IR là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng ĐBSCL. Ông nói: “Nếu đúng kế hoạch, việc xây dựng 11 đập ở Lào và Campuchia được tiếp tục thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về ĐBSCL nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở ĐBSCL, các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu xây dựng người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn tiếp tục giảm”.

Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở ĐBSCL vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào.

Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng ĐBSCL, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: “Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới ĐBSCL. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm vì phần lớn đất ĐBSCL là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng động, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bối bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao càng làm cho phù sa lên đồng gặp khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng”.

Hiện tại, Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. IR đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng ĐBSCL đã phải chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: “Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hồ sâu chẳng hạn là chỗ để cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long”.

MRC đã quá vội vã

Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến việc chuẩn bị xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự tính bán đến 90% điện sản xấut từ đập thủy điện sang Thái Lan.

Ngày 16/1, IR ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vàng với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995, theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo IR, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại: “Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn”.

Trả lời báo Người Đô thị ngày 22/2, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong.

Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Bà nói: “Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan, nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì Chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông”.

Từ năm 2010, các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông.

Tuy nhiên, kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. IR quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại qua 1nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nguồn: RFA

TKNB – 27/03/2017

Lào tham vấn thủy điện Pak Beng và tác động


Ngày 4/11 vừa qua, Lào đã chính thức nộp hồ sơ thủy điện Pak Beng lên Ban thư ký Ủy hội sông Mekong (MRC) để tiến hành thủ tục tham vấn trước, mặc dù điều này đã được lường trước, bởi đây là điều Lào không làm trước thì cũng làm sau. Tuy nhiên, việc Lào triển khai ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang đặt ra những dấu hỏi lớn, có thể làm ảnh hưởng tới kết quả của chuyến thăm. Phân tích và đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào:

Đôi nét về đập Pak Beng

Nằm tại huyện Pak Beng, tỉnh Oudomsay (Bắc Lào), thủy điện Pak Beng có công suất lắp đặt là 912 MW, sản xuất điện trung bình/năm là 4,775 GWh. Đây là thủy điện thứ 3 nằm trên dòng chính sông Mekong sau thủy điện Sayabouly và Don Sahong. Pak Beng được thiết kế bởi công ty Trung Quốc Datang Overseas Invesment Co., Ltd, qua một thỏa thuận ký kết giữa Lào vào Trung Quốc vào tháng 8/2007, với giá trị ban đầu 1,88 tỷ USD. Đến tháng 3/2014, công ty Datang nhận được Giấy phép môi trường từ Chính phủ Lào trước khi trải qua các bước PNPCA (thủ tục thông báo, tham vấn trước và chuẩn thuận). Và từ tháng 2/2015, Lào đã bắt đầu tiến hành các bước xây dựng để chuẩn bị cho việc khởi công dự án như mở đường và làm mặt bằng cho dự án.

Theo kế hoạch, Lào dự kiến khởi công thủy điện này vào đầu năm 2017 và nhà máy sẽ đi vào vận hành từ năm 2024. Tuy nhiên, thời hạn khởi công kể trên chắc chắn là không kịp bởi bây giờ đã là tháng 11, ngoài thời gian 1 tháng để Ban Thư ký MRC xem xét hồ sơ có đầy đủ hay không trước khi gửi hồ sơ cho Ủy ban sông Mekong các nước thành viên, còn cần ít nhất thêm 6 tháng để các nước tham vấn trước khi có quyết định chung cuộc. Như vậy, nhanh nhất thì cũng phải đến cuối năm 2017, Lào mới có thể khởi công được thủy điện này.

Trên thực tế, từ tháng 10/2015, Trung Quốc đã nộp hồ sơ và ép Lào tiến hành thủ tục tham vấn trước theo quy định của Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với thiết kế, đặt biệt là trong việc xử lý các vấn đề liên quan tới môi trường của Công ty Trung Quốc nên phía Lào đã lấy cớ đang chuẩn bị năm làm Chủ tịch ASEAN và sau đó lấy cớ đang làm Chủ tịch ASEAN đã kéo dài. Ngay sau khi Lào tổ chức xong Hội nghị cấp cao ASEAN 28 – 29 và các hội nghị liên quan, Trung Quốc lại tiếp tục tăng sức ép yêu cầu Lào tiến hành tham vấn và thậm chí còn đe dọa nếu Lào không tiến hành, sẽ ảnh hưởng tới các dự án viện trợ khác mà Trung Quốc dành cho Lào. Về yêu cầu sửa thiết kế của phía Viêng Chăn, phía Trung Quốc cho biết Lào cứ tiến hành tham vấn, sau đó có vấn đề gì sẽ sửa luôn một thể. Đây là một đòn “cao” của Trung Quốc nhưng cũng giúp tạo cơ hội để các nước thành viên xoáy vào các lỗi thiết kế của dự án để yêu cầu Công ty xây dựng phải sửa đổi thiết kế, điều này không chỉ giúp kéo dài thời gian mà còn giúp giảm thiểu tác động mà con đập có thể gây ra cho Hạ lưu. Đây là điều đã từng có tiền lệ ở Dự án thủy điện Sayabouly khi trong quá trình tham vấn, chủ đầu tư buộc phải bỏ ra thêm 400 triệu USD thiết kế lại thang cá và điều tiết phù sa.

Ảnh hưởng của quyết định

Việc Lào nộp đơn hồ sơ tham vấn trước lên Ban thư ký MRC ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Lào (24 – 26/11) đang đặt ra những câu hỏi lớn bởi trước đó vào ngày 20/10 vừa qua, khi Lào thông báo với Việt Nam về việc sẽ tiến hành nộp hồ sơ nói trên, phía Việt Nam đã ngay lập tức ngăn với hai lý do: Thứ nhất, Tổng Bí thư Việt Nam sắp sang thăm Lào; Thứ hai, năm 2017 là năm kỷ niệm 55 năm Việt Nam – Lào thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, việc Lào nộp hồ sơ sẽ gây ra dư luận xấu, tạo kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng đặt câu hỏi về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Về vấn đề này Lào công nhận ta nói đúng và Thủ tướng Thongloun Sisoulith đã đồng ý sẽ lùi, tuy nhiên ông này cũng nói thêm rằng để sau chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10 vừa qua rồi sẽ quyết. Bởi vậy, rất khó hiểu vì lý do gì khiến bạn quyết nhanh đến vậy khi vào ngày 3/11, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Lào, ông Sommat Pholsena thông báo Thủ thướng Thongloun Sisoulith đã ra lệnh cho ông nộp hồ sơ lên MRC và ngày 4/11, hồ sơ này đã được nộp lên Ban Thư ký MRC. Phải chăng Lào đã bị Trung Quốc ép đến mức phải nhượng bộ, hay sức ép vô cùng lớn từ những khó khăn kinh tế trong nước và việc chậm triển khai thủy điện Pak Beng theo đúng tiến độ đề ra đã khiến Lào vội vã, đến mức không còn để ý tới những tác động có thể trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào cuối tháng 11 này?

Dù nguyên nhân là gì đi nữa, thì quyết định của Lào trong việc nộp hồ sơ tham vấn trước thủy điện Pak Beng cũng sẽ có ảnh hưởng nhất định tới thành công của chuyến thăm, bởi sẽ có nhiều người lấy cớ này để nói rằng Lào đặt lợi ích kinh tế hoặc một lợi ích nào đó rất lớn lên trên quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Nguồn: TKNB – 11/11/2016

Tương lai nào cho môi trường Việt Nam?


Năm 2016 đã chứng kiến một loạt cuộc khủng hoảng môi trường ở Việt Nam mà tiêu biểu nhất là vụ cá chết hàng loạt ở các vùng biển miền Trung. Tình trạng này đã gióng lên một hồi chuông báo động về mức độ ô nhiễm cao ở Việt Nam. Bộ turởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cảnh báo rằng môi trường Việt Nam “đã đến ngưỡng không thể chịu thêm được nữa” nhưng liệu vấn nạn này sẽ được giải quyết như thế nào khi lợi ích kinh tế được đặt lên trên vấn đề bảo vệ môi trường?

Luật Môi trường của Việt Nam ra đời cách đây hơn 1 thập kỷ và theo đánh giá của một chuyên gia về môi trường, bộ luật này đã được chỉnh sửa và qua 2 lần cải tiến, nó đã làm cho hệ thống pháp luật của Việt Nam về môi trường trở nên “khá đầy đủ về mặt quy định và chi tiết”. Tuy nhiên, tại sao tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam lại vẫn xảy ra và những vụ việc nghiêm trọng nhất lại xảy ra trong những năm gần đây? Giáo sư Tiến sĩ Đinh Đức Trường thuộc khoa Môi trường và Đô thị Đại học Kinh tế quốc dân giải thích về điều này: “Cái khổ của Việt Nam lại nằm trong quá trình giám sát thực thi và quá trình xử lý vi phạm, tức là bao gồm việc giám sát thực thi và điều thứhai là khi phát hiện ra thì cơ chế và chế tài xử phạt sẽ như thế nào? Hiện nay ở Việt Nam, tôi cho là việc giám sát đặc biệt vẫn chưa hoàn thiện”. Theo nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, luật của Việt Nam được ban hành rất nhiều trong những năm gần đây nhưng việc thực thi lại không hiệu quả: “Việt Nam đã có số lượng luật gấp 5 lần so với cách đây 20 năm. Quá nhiều luật nên thực sự người ta không thể nhớ hết bộ luật nào. Trong khi có tới hơn một nửa số văn bản pháp quy từ chính phủ truyền xuống không được các địa phương thi hành và hơn một nửa số văn bản từ cấp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành truyền xuống các quận huyện cũng không được thi hành”.

Theo ông Phạm Chí Dũng, đó là nguyên nhân vì sao Luật môi trường đã được đưa ra mà vẫn “đều đều xảy ra các vụ Vedan, Sonadezi và gần đây nhất là Formosa”.

“Thiên đường” cho ô nhiễm

Trong 3 năm (từ 2008 đến 2011), Sonadezi Long Thành đã xả chất thải chưa qua xử lý vào hệ thống sông Đồng Nai, gây thiệt hại cho người dân địa phương. Trước đó năm 2009, nhà máy sản xuất bột ngọt Vedan Vietnam của Đài Loan cũng đã gây ô nhiễm nguồn nước khi xả chất thải độc chưa qua xử lý ra sông Thị Vải chảy qua TPHCM, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai. Vụ ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung do công ty Formosa của Đài Loan gây ra trong năm nay được coi là đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng môi trường ở Việt Nam. Theo sau đó là những vụ cá chết hàng loạt trên các sông hồ ở Hà Nội và TPHCM. Trong năm qua, tình trạng ô nhiễm không khí, nhất là ở Hà Nội, cũng đã lên đến mức báo động. Ô nhiễm không khí ở Việt Nam theo nhiều khảo sát quốc tế gồm cả Mỹ và Thụy Điển, luôn đứng trong nhóm tồi tệ nhất thế giới. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), ô nhiễm môi trường hàng năm ở Việt Nam đang gây thiệt hại tương đương 5% GDP. Tuy nhiên, theo cảnh báo của Tiến sĩ Đinh Đức Trường, nếu ô nhiễm môi trường theo đà tăng tiến như hiện nay mà không có biện pháp hữu hiệu nào được thực hiện thì Việt Nam có thể sẽ vượt Trung Quốc về mức độ ô nhiễm. Vậy liệu hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường được coi là đầy đủ của Việt Nam đang có những lỗ hổng để cho sự vi phạm môi trường diễn ra?

Theo một nghiên cứu mới nhất của Tiến sĩ Đinh Đức Trường mang tên “Việt Nam – thiên đường ô nhiễm cho doanh nghiệp nước ngoài”, 80% các khu công nghiệp ở Việt Nam đang vi phạm luật môi trường và trong số những khu công nghiệp vi phạm này, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm đến 60%. Theo Tiến sĩ Đinh Đức Trường, “hiện đang có một vấn đề là các khu công nghiệp, trong đó một số khu công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ví dụ như Formosa và cách đây mấy năm là Vedan, còn có những kẽ hở, lỗ hổng nhất định trong quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng như là xử lý các bài toán môi trường, các vấn đề ô nhiễm môi trường và vẫn còn những kẽ hở trong pháp luật”.

“Thiên đường” cho công nghiệp lạc hậu

Ngoài những kẽ hở về pháp luật theo đánh giá của các chuyên gia, các chính sách đầu tư và phát triển Việt Nam đang hấp dẫn những công nghệ lạc hậu.

Tiến sĩ Đinh Đức Trường cho biết, nhiều doanh nghiệp FDI đang mang công nghệ lạc hậu và bị cấm ở các nước phát triển vào Việt Nam nhằm kéo dài tuổi thọ của máy móc và hưởng lợi từ chi phí môi trường thấp.

Với việc quá chú trọng vào sự phát triển kinh tế, chính phủ Việt Nam đã đưa ra những tiêu chuẩn thấp về môi trường và theo vị tiến sĩ này, “thỏi nam châm” thu hút FDI vào Việt Nam là ngành dệt may, thép, giấy đều là những ngành có tiềm năng gây ô nhiễm cao với hàng loạt dự án vốn đầu tư lớn từ Trung Quốc và Đài Loan.

Theo Giám đốc Trung tâm nghiên cứu môi trường và cộng đồng Nguyễn Ngọc Lý, ngoài phát triển công nghiệp, vấn đề đô thị hóa nhanh chóng cũng là nguyên nhân cho vấn nạn ô nhiễm môi trường ở Việt Nam. “Trong sự phát triển nhanh về công nghiệp và đô thị hóa hiện nay, nó đã bị đẩy đi quá nhanh và vệc bảo vệ môi trường đang rất bị hạn chế, không theo kịp sự phát triển đó. Và cũng như các nước, nó sẽ phải đi theo một lộ trình khá vất vả”. Mức độ ô nhiễm môi trường đáng báo động ở Việt Nam cũng đang làm cho những doanh nghiệp nước ngoài lo ngại và có nhà đầu tư đã rút vốn khỏi Việt Nam chỉ vì lý do này. Chủ tịch điều hành của Dragon Capital Dominic Scriven gần đây tiết lộ tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam rằng nhà đầu tư lớn nhất của quỹ này quyết định “rút khỏi thị trường Việt Nam vì lý do thiếu vắng những chính sách và hành động thuyết phục trong việc bảo vệ môi trường”. Với tất cả những lý do đó, theo tiến sĩ Trường, trong tương lai, tiêu chuẩn của Việt Nam sẽ phải thay đổi theo hướng thắt chặt hơn và gia tăng hơn để thỏa mãn nhu cầu trong nước và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, Tiến sĩ Trường nói quá trình đó sẽ không đơn giản: “Sẽ phải có sự tham gia của nhà nước – bao gồm cả việc cung cấp vốn, hỗ trợ các cơ chế chính sách cho các doanh nghiệp để họ đổi mới các công nghệ thân thiện. Mặt khác, nhà nước cũng phải cập nhật những thông tin về các tiêu chuẩn môi trường trên thế giới, đặc biệt là của các Tổ chức thương mại thế giới và các khách hàng trên thế giới. Tôi nghĩ rằng bảo vệ môi trường là cái không thể đẩy lùi được nữa, bắt buộc phải làm”. Theo đề xuất của tiến sĩ Trường, việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường hiện nay ở Việt Nam phải được thực hiện theo một lộ trình với sự tham gia từ cả phía doanh nghiệp và chính phủ, điều này sẽ hữu hiệu nhưng rất khó thực hiện. Theo con số mà Tiến sĩ Trường cho biết, Việt Nam sẽ thực hiện tăng trưởng xanh từ năm 2016 – 2030 và cần phải đầu tư 30 tỷ USD cho đổi mới công nghệ, trong đó, nhà nước chỉ có thể chi 30% và phần còn lại là do các khu vực tư nhân và sự hợp tác công tư. “Như vậy, các cụm doanh nghiệp có lẽ phải huy động một nguồn vốn khoảng 20 tỷ USD cho việc bảo vệ môi trường và đó là một điều cực kỳ khó đối với các doanh nghiệp VIệt Nam trong bối cảnh hiện nay”. Trong một phiên họp Quốc hội tại Hà Nội đầu tháng 11/2016, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho rằng “giải quyết cơ bản vấn đề  môi trường chính là tái cơ cấu nền kinh tế. Thay đổi từ một nền kinh tế “thâm dụng vào nguồn vốn tài nguyên tự nhiên, xâm dụng vào chi phí môi trường” sang một nền kinh tế xanh và sạch”. Bộ trưởng nói: “Sau một loạt sự cố về môi trường, chúng ta nhận thấy rằng mô trường của chúng ta đã đến ngưỡng không thể chịu thêm được nữa. Trước đây, môi trường thường đi sau hoạt động phát triển, tức là phát triển trước, làm sạch sau. Hiện nay, vấn đề môi trường cần phải đi trước và đi ngay trong quá trình đó. Trước đây, chúng ta bảo vệ môi trường trong phát triển, nhưng bây giờ môi trường phải nằm ngay trong chiến lược và quy hoạch của từng dự án đầu tư”.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại một hội nghị tổ chức tại TPHCM đầu tháng 11/2016 cũng đã khẳng định Việt Nam sẽ không phát triển kinh tế bằng cái giá của môi trường. Còn Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng nói trong một buổi đối thoại gần đây với các luật sư và ngư dân Hà Tĩnh rằng giải quyết vụ môi trường biển miền Trung là “sinh mệnh chính trị” của ông. Và chúng ta sẽ phải chờ xem các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ đi từ lời nói đến hành động như thế nào.

Nguồn: VOA

TKNB – 29/12/2016

Dự án đập Don Sahong: Trách nhiệm pháp lý của chính phủ Lào


Chính phủ Lào luôn mong muốn trở thành “bình ắc quy của khu vực Đông Nam Á” vì nếu làm được như vậy, họ có điều kiện để phát triển nền kinh tế của mình. Để đạt được mục tiêu này, Lào có kế hoạch xây dựng khoảng 70 đập thủy điện trên cả dòng chính lẫn dòng nhánh của sông Mekong. Tuy nhiên, có rất ít hoặc gần như không có quy hoạch về môi trường torng kế hoạch phát triển thủy điện của Chính phủ Lào. Điều này đã gây ra tranh cãi về những mâu thuẫn giữa một bên là chính sách phát triển kinh tế của Lào với một bên là việc gìn giữ, bảo vệ môi trường khu vực hạ lưu sông Mekong.

Năm 2011, Chính phủ Lào đã cho xây dựng đập Xayaburi – con đập đầu tiên được xây dựng trên dòng chính sông Mekong. Trong dự án xây dựng đập Xayaburi này, Chính phủ Lào đã “phớt lờ” các nghĩa vụ quy định trong luật pháp quốc tế, khu vực cũng như của chính quốc gia này về việc phải thực hiện những đánh giá đầy đủ liên quan đến tác động môi trường sinh thái, cũng như tác động đối với các vấn đề kinh tế – xã hội tại khu vực hạ lưu khi mà con đập ở phía thượng lưu sông Mekong được xây dựng. Cũng giống như đập Xayaburi, đập Don Sahong đang được tiến hành xây dựng mà không có sự đánh giá môi trường hoặc biện pháp bảo vệ môi trường thích hợp và cũng không thực hiện yêu cầu tham vấn khu vực.

Bài viết này nhằm chỉ ra những tác động của Don Sahong, đồng thời chỉ ra các nghĩa vụ pháp lý mà Chính phủ Lào phải thực hiện trước khi cho phép xây dựng dự án đập Don Sahong, bởi hai lý do: thứ nhất, đây là một đập nằm trên dòng chính của sông Mekong, nên buộc phải thực hiện quá trình tham vấn khu vực theo Hiệp định Mekong năm 1995, thứ hai, cần tôn trọng các quyền con người trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động của dự án này.

Ảnh hưởng môi trường

Theo kế hoạch xây dựng thủy điện của Chính phủ Lào, vị trí của đập Don Sahong nằm trong khu vực Siphandone của Nam Lào. Con đập sẽ được đặt ở vị trí cách hơn 2 km về phía thượng nguồn biên giới Lào – Campuchia và ở cuối hạ lưu của kênh Hou Sahong. Theo đề xuất của Lào, con đập này sẽ có độ cao 32 mét và sử dụng dòng chảy tự nhiên của thác Khone để cung cấp nguồn thủy điện có công suất 32 MW.

Bằng cách chặn toàn bộ kênh Hou Sahong, đập Don Sahong đe dọa một trong những khu vực di cư quan trọng nhất của nhiều loài cá trong lưu vực sông Mekong. Con đập này cũng sẽ ảnh hưởng nhiều đến tiềm năng thủy sản vùng Nam Lào, đe dọa sinh kế cũng như nguồn thực phẩm cho những người dân sống dựa vào nguồn nước của sông Mekong ở Lào, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan.

Công ty thực hiện việc xây dựng dự án Don Sahong đến từ Malaysia là Mega First Corporation Berhad (MFCB). Dự án lúc khởi đầu là do Công ty điện Don Sahong, Ltd (DSPC) thực hiện. Công ty này có 70% cổ phần do MFCB nắm giữ và 30% còn lại do IJM Corporation Berhad nắm giữ. Tuy nhiên, vào tháng 9/2010, MFCB đã mua lại toàn bộ số cổ phần tại DSPC của IJM và trở thành cổ đông duy nhất của dự án. Cho đến nay, chưa có hợp đồng mua bán điện nào của dự án này được ký kết, tuy nhiên cũng có những thông tin khác nhau về công ty mua điện của dự án Don Sahong. Chính phủ Lào tuyên bố rằng “dự án thủy điện này sẽ cung cấp điện cho toàn bộ khu vực Champasak và các tỉnh lân cận, để đáp ứng cho việc gia tăng nhu cầu điện trước những yêu cầu của việc phát triển kinh tế” và “dự án Don Sahong là một trong những dự án thủy điện đầu tiên mà Chính phủ Lào khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất năng lượng sạch cho tiêu dùng trong nước”.

Như vậy, đang có sự mâu thuẫn giữa một bên là mục tiêu bảo vệ môi trường và một bên là mục tiêu phát triển các dự án thủy điện trong chính sách phát triển của Lào. Nếu muốn thực hiện điều này, Chính phủ Lào cần phải hợp tác chặt chẽ với các nước trong khu vực trong việc đánh giá tác động về môi trường của các dự án xây đập thủy điện, cũng như đưa ra các giải pháp, bao gồm cả dự án Don Sahong này. Việc đánh giá tác động môi trường, cũng như các thông tin của nó cần phải được công khai và minh bạch đối với các quốc gia bị tác động như Việt Nam, Campuchia để giảm thiểu tối đa tác hại đến môi trường, đồng thời có thể tăng cường hợp tác trong việc phát triển bền vững.

Gần hai thập kỷ trước đây, năm 1995, bốn quốc gia hạ lưu sông Mekong bao gồm Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam đã ký kết Hiệp định Hợp tác vì sự phát triển bền vững sông Mekong (gọi tắt là Hiệp định Mekong), Hiệp định Mekong thành lập Ủy hội sông Mekong (MRC), được giao nhiệm vụ thực hiện các thỏa thuận và phát triển thủ tục đối thoại liên chính phủ.

Các quốc gia ven sông Mekong đã đồng ý thực hiện việc thông báo, tham khảo ý kiến và tìm kiếm thỏa thuận với nhau trước khi thực hiện một hành động mà sẽ có tác động đáng kể đến dòng chảy chính của sông Mekong. MRC đã ban thành thủ tục Thông báo, Tham vấn trước và Thỏa thuận (PNPCA) theo đó thiết lập cách thức mà thông tin phải được chia sẻ trước khi một quốc gia ven sông thực hiện một dự án sử dụng nguồn nước của Mekong. Theo quy định của Hiệp định Mekong, nếu dự án xây đập thỏa mãn yêu cầu như một “đề xuất sử dụng nước” trong khu vực của dòng chính Mekong vào mùa khô thì Chính phủ Lào phải bắt đầu quá trình tham vấn trước với bốn quốc gia thành viên của MRC. Một dự án thủy điện như Don Sahong sẽ chuyển ướng dòng nước trong suốt cả năm, nên bắt buộc phải có quá trình tham vấn trước.

Chính phủ Lào luôn đưa ra quan điểm rằng dự án Don Sahong nằm trên dòng nhánh, chứ không phải nằm trên dòng chính. Đối với dự án đề xuất sử dụng nước trên dòng nhánh, thì chỉ cần thông báo cho các nước thành viên khác của MRC. Tuy nhiên, Bản đánh giá môi trường chiến lược (SEA) do MRC thực hiện năm 2010 và Bản đánh giá tác động môi trường (EIA) đối với các con đập do Ban thư ký MRC soạn thảo đã nói rõ dự án Don Sahong không phải là nằm ở dòng nhánh, và việc xây dựng dự án này phải thực hiện quy trình PNPCA.

Vì thế, việc xây dựng đập Don Sahong mà không có thỏa thuận trước với các quốc gia thành viên của HIệp định Mekong là vi phạm nguyên tắc thiện chí, minh bạch thông tin được quy định trong PNPCA. Việc xây dựng Don Sahong như vậy cũng vi phạm tinh thần “hợp tác và tương trợ lẫn nhau” mà Chính phủ Lào đã cam kết khi tham gia ký kết Hiệp định Mekong năm 1995 và trong Hội nghị thượng đỉnh 4 quốc gia khu vực hạ lưu Mekong năm 2010.

Nếu Chính phủ Lào cho xây dựng Don Sahong mà không thực hiện quy trình PNPCA thì rõ ràng Chính phủ Lào đã vi phạm nghĩa vụ thiện chí được quy định rõ ràng cả trong Công ước Vienna về luật điều ước quốc tế năm 1969, cũng như trong các luật tập quán quốc tế về sử dụng các nguồn nước quốc tế. Chính phủ Lào cho biết hiện nay nước này đang trong quá trình: tiến hành đánh giá tác động môi trường (EIA) và đánh giá tác động xã hội (SIA) đối với đập Don Sahong. Tuy nhiên, các tài liệu này đã không được công bố công khai.

Theo luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Lào và Malaysia, các công ty và Chính phủ Lào phải chuẩn bị sẵn sàng những đánh giá, bao gồm các cộng đồng bị tác động và các bên liên quan có cơ hội để tham gia đánh giá tác động này. Tuy nhiên, cho đến nay, Chính phủ Lào và chủ đầu tư xây đập Don Sahong đều chưa thực hiện những yêu cầu trên.

Luật Chất lượng môi trường của Malaysia (EQA) năm 1974 yêu cầu các dự án như đập thủy điện, có những tác động đáng kể đến chất lượng môi trường, phải tuân thủ hướng dẫn chi tiết thực hiện EIA trong đó nêu rõ phải bao gồm cả sự tham gia của cộng đồng cũng như các ý kiến phản biện. Một phần của các thủ tục này bao gồm việc phát hành các báo cáo EIA cho công chúng. Tương tự như vậy, Luật Bảo vệ môi trường của Lào yêu cầu EIA phải có sự tham gia của chính quyền địa phương, các tổ chức quần chúng, và người dân sống trong vùng có khả năng bị ảnh hưởng khi dự án hoạt động. Người dân sống trong vùng bị ảnh hưởng cũng có quyền tham gia các cuộc họp tham khảo ý kiến các cấp về đánh giá môi trường.

Tác động của Don Sahong đối với khu vực hạ nguồn là rất lớn. Vì vậy, việc xây dựng dự án này cần phải có một Đánh giá tác động môi trường (EIA) xuyên biên giới. Đây là một phần trong nghĩa vụ không gây hại của một quốc gia đối với các quốc gia khác torng việc sử dụng nguồn nước quốc tế như Mekong. Cho đến nay, không có đánh giá xuyên biên giới nào được thực hiện đối với dự án Don Sahong, mặc dù đó là yêu cầu cần thiết của cả luật pháp quốc tế cũng như luật quốc gia của Lào và Malaysia.

Khía cạnh nhân quyền

Ủy ban Nhân quyền của Malaysia (viết tắt là SUHAKAM), được công nhận bởi Ủy ban Điều hpối quốc tế liên quốc gia của Liên hợp quốc và thẩm quyền của Ủy ban này được quy định bởi Đạo luật SUHAKAM năm 1999 của Malaysia, trong đó cho phép ủy ban này điều tra các khiếu nại về nhân quyền, bao gồm cả khiếu nại về hoạt động kinh doanh liên quan đến vấn đề nhân quyền.

SUHAKAM đã tuyên bố vào tháng 6/2013 rằng các vấn đề nhân quyền liên quan đến các dự án kinh doanh là một trong 5 chương trình nghị sự chính của họ. Ủy ban này đã nhận được 39 khiếu nại đối với các công ty từ năm 2007 đến 2012, bao gồm cả các khiếu nại chống lại việc “xâm phạm và làm ảnh hưởng đến đất đai bản địa của các công ty khai thác gồ, việc không cho công nhân có ngày nghỉ, người sử dụng lao động chậm trả lương cho công nhân, cũng như sa thải công nhân vì lý do họ bị bệnh tật hoặc đang mang thai”.

Cộng đồng dân cư bản địa đã nộp đơn khiếu nại đối với các công ty và chính phủ liên quan đến việc xây dựng đập thủy điện và vấn đề bồi thường tái định cư cho việc xây dựng đập đó. SUHAKAM cũng đang điều tra các khiếu nại về tham nhũng trong một bộ phận của chính phủ liên quan đến trách nhiệm của họ trong việc cấp phép xây dựng đập thủy điện với các cáo buộc hối lộ, cưỡng bức và không bồi thường thỏa đáng trong việc giải tỏa đất đai cho dự án thủy điện. Như vậy, có khả năng SUHAKAM đã tuyên bố. Ngày 10/10/2014, 6 tổ chức phi chính phủ đã gửi đơn khiếu nại về sự vi phạm nhân quyền của công ty tiến hành đầu tự dự án xây đập Don Sahong.

Các quy định của luật pháp quốc tế về sử dụng và chia sẻ các nguồn nước quốc tế, cũng như của Hiệp định Mekong năm 1995 đều quy định Chính phủ Lào phải có trách nhiệm pháp lý đối với bất kỳ thiệt hại nào có thể gây ra từ việc xây dựng hoặc vận hành đập thủy điện như Don Sahong đối với các quốc gia láng giềng. Hiệp định Mekong là một hiệp định mà trong đó đã kết hợp các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế về sử dụng các nguồn nước xuyên quốc gia, quy định trách nhiệm của một quốc gia đối với các thiệt hại gây ra cho một hoặc nhiều quốc gia ven sông khác. Vi phạm các nghĩa vụ không gây hại tức là đã tạo ra nghĩa vụ của bên gây hại phải bồi thường cho những thiệt hại của bên chịu thiệt hại. Cả Chính phủ Lào và MCFB sẽ vi phạm các nghĩa vụ được quy định trong luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cũng như luật pháp của Chính phủ Lào hoặc của Malaysia nếu dự án đập Don Sahong được tiến hành theo cách như vậy.

Còn nếu không, dự án đập Don Sahong cần phải được tạm dừng để các bên có cơ hội thực hiện một đánh giá về tác động môi trường một cách đầy đủ, bao gồm cả các tác động xuyên biên giới, cũng như các bước tiến hành quy trình PNPCA phải được tuân thủ. Chính phủ Lào hoàn toàn có cơ hội để trở thành một nước phát triển và xuất khẩu điện năng hàng đầu ở khu vực, nhưng phải là điện năng được sản xuất một cách bền vững. Tuy nhiên, muốn làm được như vậy, Chính phủ Lào và các nhà đầu tư thủy điện trên đất Lào cần phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế, Hiệp định Mekong năm 1995 cũng như chính các quy định trong luật pháp về môi trường của quốc gia này.

Nguồn: BBC – 22/08/0216

TLTKĐB – 25/08/2016

Dự án thép Cà Ná và những câu hỏi – Phần cuối


Chất thải rắn, đổ đi đâu?

Nhà máy thép sẽ thải ra chất thải rắn từ xỉ than, quặng, cùng các chất vô cơ khác. Các chất này không thể tái chế để dùng và biện pháp duy nhất là chôn lấp như Formosa đã làm và bị phát hiện lúc gần đây. Đó cũng chính là lý do khiến ông Phạm Văn Chi, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, không chấp nhận cho Tập đoàn Posco của Hàn Quốc được mở nhà máy thép tại vịnh Vân Phong vào năm 2007 do lo sợ ô nhiễm môi trường khi chôn lấp chúng.

Phương pháp chôn lấp thường áp dụng để chôn lấp chất thải nguy hại, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết kết đặc biệt cho rác thải nguy hại.

Tình Ninh Thuận với những khó khăn không kém Hà Tĩnh, tuy cơ sở hạ tầng chưa có già chắc chắn trong việc kiểm tra môi trường từ xả thải lẫn chất thải rắn nhưng trong niềm khao khát đầu tư, tỉnh đã đưa ra các ưu tiên cho Hoa Sen từ chính sách thuế cho tới giải tỏa mặt bằng, cũng như nhanh chóng xây dựng nhà máy cung cấp nước ngọt cho Hoa Se, trong khi người dân sống trong khô hạn.

Chất thải rắn một khi chôn lấp không đúng quy trình kỹ thuật sẽ gây hại vô bờ cho người dân. Ai là người chịu trách nhiệm? Tôn Hoa Sen hay UBND tỉnh Ninh Thuận?

Ngay đối với Formosa, báo chí cho biết dù đã trải qua 20 bộ, ngành thẩm định, nhưng vẫn xảy ra sự cố môi trường, vậy Ninh Thuận sẽ rút kinh nghiệm gì về kiểm tra chất lượng môi trường của Tôn Hoa Sen khi nó đi vào vận hành?

Trình độ, năng lực của cán bộ môi trường, một câu hỏi lớn

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế và từng là Tổng Thư ký và Phó chủ tịch VCCI nhận xét về năng lực của các cán bộ môi trường như sau:

Trong 63 tỉnh thành của Việt Nam, tôi nghĩ chỉ vài địa phương là còn có thể có được đội ngũ hoặc là những người có thể làm được công tác kiểm định môi trường, chứ tôi không tin họ có trình độ thật sự, không tin họ có trình độ để hiểu nổi các công ty đầu tư nước ngoài là ai”.

Trong khi đó GS.TS. Trần Hiếu Nhuệ, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Nước và Công nghệ Môi trường cho rằng máy móc kiểm tra môi trường có thể tương đối, nhưng ý thức tôn trọng môi trường của các nhà đầu tư mới là vấn đề, trong đó Trung Quốc vẫn là nước hàng đầu có hẹ thống xử lý môi trường tồi tệ nhất, ai đảm bảo Tôn Hoa Sen không theo cách mà Trung Quốc đang làm để hạ thấp nhất giá thành sản phẩm?

Ở Việt Nam, về mặt công nghệ kiểm soát ô nhiễm thì các trang thiết bị nói chung là được, tốt. Có nhiều cơ quan thực hiện quan trắc chất lượng môi trường. Có thể nói tổng thể là như thế này, những doanh nghiệp đặc biệt là Trung Quốc hay Đài Loan thì tính tuân thủ của họ thấp hơn. Còn Nhật hay Mỹ hay các nước Tây Âu thì cao hơn. Doanh nghiệp như Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á tính tuân thủ thấp hơn nhiều. Đây là vấn đề nóng và nan giải trong điều kiện của ta hiện nay.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dốc sức rất nhiều trong vụ Formosa cũng như một số vụ khác. Về chất thải rắn thì hiện nay như vụ Nghi Sơn, chúng ta phải trả giá. Chúng ta phải kiểm soát cách nào và phải xử phạt cho nó nghiêm minh và thứ hai nữa, phải động viên các dơn vị cho người ta tuân thủ”.

Có nên tin vào lời hứa?

Tuy môi trường là yếu tố hàng đầu, nhưng các tỉnh nghèo như Hà Tĩnh trước đây và Ninh Thuận hiện nay vẫn khát khao nhà máy thép. Có lẽ những thuyết phục của ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch HĐQT tập đoàn Tôn Hoa Sen phần nào làm siêu ý chí của tỉnh Ninh Thuận qua các nhận định mà ông Vũ đưa ra trên hệ thống truyền thông đại chúng khi nói:

Chúng ta phải hiểu như thế này: Bây giờ chúng ta trồng một cây ổi chẳng hạn, thấy người khác leo lên hái ổi bị té mà chúng ta không dám leo. Cái cơ hội vàng để chúng ta có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước chỉ còn 20 năm nữa và chưa bao giờ chúng ta có cơ hội vàng như hiện nay. Chúng ta không thể tăng trưởng chỉ bằng nông nghiệp, bằng thủy hải sản mà chính là công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là giai đoạn vàng và chúng ta phải thấy Formosa là một bài học để từ cơ quan nhà nước cho đến doanh nghiệp thấy được đây là trách nhiệm hàng đầu”.

Trách nhiệm hàng đầu mà ông Lê Phước Vũ tuyên bố thuộc về ông thì ít mà thuộc về UBND tỉnh Ninh Thuận thì nhiều hơn gấp trăm lần. Bởi khi có sự cố xảy ra, người dân Ninh Thuận sẽ tìm tới chính quyền địa phương, nơi ký giấy cho ông Vũ hoạt động. Giống như Formosa, người dân 4 tỉnh miền Trung không cách gì có thể đổ lên đầu Formosa mọi trách nhiệm mặc dù đơn vị này đã bồi thường một số tiền chiếu lệ.

Trả lời báo chí về biện pháp chế tài nếu đơn vị doanh nghiệp nào vi phạm môi trường, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng cho biết sẽ xử lý nghiêm, kể cả việc dừng hoạt động hoặc đóng cửa các nhà máy thép không đáp ứng các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.

Tuyên bố này không làm vơi đi nỗi sợ hãi của dân chúng sinh sống trong các khu vực có nhà máy thép hoạt động bởi qua kinh nghiệm của Formosa cho thấy biện pháp mà Phó Thủ tướng nói dù có thực hiện đi chăng nữa thì mọi tai họa cũng đã đổ ập lên đầu dân chúng rồi.

Cam kết, liệu có giá trị pháp lý?

Ông Lê Phước Vũ từng cam kết rằng “nếu dự án thép Hoa Sen Cà Ná gây ô nhiễm môi trường, chúng tôi sẽ đóng cửa nhà máy và giao toàn bộ tài sản cho Nhà nước; không xả thải một giọt nào ra biển”.

Báo chí đặt rất nhiều câu hỏi về tính chất khả tín của lời cam kết này và đưa ra ví dụ các cam kết tương tự của các doanh nghiệp khác trong vấn đề giữ lời hứa với chính phủ. Thế nhưng đối với cái nhìn của các chuyên gia kinh tế thì lời hứa của ông Lê Phước Vũ không có giá trị gì bởi ông hoàn toàn không có khả năng giữ lời khi tập đoàn mà ông quản trị có hàng ngàn cổ đông và những cổ đông ấy không ai dại gì tuân theo lời hứa để mất những số tiền riêng của mình. Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nhận xét:

Lời hứa của ông Chủ tịch tập đoàn nhưng mà tập đoàn là các cổ đông đến lúc cổ đông không đồng ý thì làm thế nào được? Đó là chưa kể về sau này, ông ấy huy động vốn từ các nơi khác, ví dụ như ngân hàng thì ngân hàng có chịu toàn bộ tài sản giao cho nhà nước hay không? Đấy là những việc hoàn toàn có thể xảy ra. Lời hứa như vậy chỉ để trấn an thôi chứ đừng nghĩ là mọi người có thể tin dễ dàng vào lời hứa của ông ấy”.

Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia tài chính từ Hoa Kỳ về làm việc tại Việt Nam nhận xét về giá trị số vốn mà ông Vũ có để bảo kê cho cam kết của mình:

Cái quan trọng nhất đối với Việt Nam là vấn đề môi trường. Một nhà máy thép sẽ tác động môi trường rất lớn, nếu làm gần biển thì xả chất thải độc hại như vừa rồi. Formosa đã tác hại như thế nào, chúng ta cũng đã biết. Ông Hoa Sen nói rằng sẽ đảm bảo với chính phủ rằng sẽ không tác hại môi trường, đồng thời tuyên bố nếu tác hại môi trường thì sẽ hiến dâng cả nhà máy thép cho chính phủ luôn. Nói như thế nhưng cái vốn của ông có bao nhiêu trong số cả chục tỷ USD mà hiến dâng cho chính phủ?”

Về mặt pháp lý, cam kết của ông Lê Phước Vũ hoàn toàn không có chút giá trị gì để nhà nước có biện pháp chế tài. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, giảng viên luật và chính sách công, quản trị nhà nước Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright cho biết: “Một cá nhân anh tuyên bố như thế nhưng sau này gây thiệt hại rất lớn và lâu dài thì cá nhân ấy làm sao chịu trách nhiệm được vì không có năng lực chịu trách nhiệm. Một cá nhân tuyên bố như thế thì chịu trách nhiệm cách nào? Thành ra những tuyên bố như vậy rất ít giá trị về mặt pháp lý”.

Do đâu Formosa thoát hiểm?

Để chế tài một cá nhân vi phạm Bộ luật Hình sự có thể bị truy tố trước pháp lậut nếu cá nhân có hành vi vi phạm các điều luật về môi trường, tuy nhiên đối với việc chế tài cả một công ty hay một doanh nghiệp thì Bộ luật Hình sự mới đã bị quốc hội đình chỉ, bắt đầu vào ngày 1/7/2016. Đây là lý do Formosa thoát hiểm trong khi hàng chục tổ chức xã hội dân sự đang nỗ lực kiện doanh nghiệp này ra tòa.

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa giải thích thêm về chi tiết này: “Bộ luật Hình sự mới sửa đã đưa vào trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Trước đây, cũng có thể khởi tố cá nhân các vị lãnh đạo tức là con người cụ thể, tức là ông Giám đốc hay Chủ tịch HĐQT nếu đã bị xử lý hành chính rồi, đã được nhắc nhở nhưng vẫn tái phạm thì cá nhân cụ thể vẫn có thể bị truy tố. Thế còn mới đây, Bộ luật Hình sự có thể truy cứu trách nhiệm của một công ty với tư cách như một thực thể pháp lý chỉ có điều khởi tố công ty do Bộ luật Hình sự mới nó lại bị dừng thi hành từ 1 tháng 7 năm nay thành ra toàn bộ các công ty phải chờ Bộ luật Hình sự mới bao giờ nó tiếp tục thi hành thì mới khởi tố được”.

Nếu sự cố môi trường mà công ty Tôn Hoa Sen gây ra cho người dân như Formosa từng làm thì nhân dân tỉnh Ninh Thuận cũng khó mà khởi kiện cá nhân ông Lê Phước Vũ mà chỉ có công an là có chức năng khởi tố ông anh trong một vụ kiện dân sự mà thôi. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa giải thích: “Cá nhân người dân làm sao mà khởi kiện? Nếu muốn khởi tố thì phải làm đơn tố cáo lên công an rồi công an họ điều tra. Nếu là hình sự thì cá nhân chỉ có thể gây sức ép lên cơ quan điều tra. Khởi kiện dân sự thì hay hơn, tức là công ty gây thiệt hại theo luật Việt Nam có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trường hợp này đã xảy ra với công ty Vedan sản xuất bột ngọt ở sông Thị Vải tình Đồng Nai, khoảng 9 nghìn hộ dân đã khởi công ty Vedan dẫn đến vụ dàn xếp khá lớn cách đây 4 – 5 năm”.

Ông Lê Phước Vũ chấp nhận chính phủ tịch thu toàn bộ tài sản của Tôn Hoa Sen nếu tập đoàn này vi phạm môi trường. Đây cũng là một lời cam kết không giá trị bởi lẽ trang thiết bị của nhà máy thép Hoa Sen vận hành tại Cà Ná đều mua từ Trung Quốc thì giá trị tài sản cố định không đáng là bao so với thiệt hại môi trường mà nó gây ra. Chuyên gia Phạm Chi Lan đưa ra nhận xét:

Nhà nước không dễ dàng lấy lại cái thiết bị bỏ đi đó làm gì cả kể cả bán sắt vụn. Mà bán đi thì được bao nhiêu, ai mua cái đống sắt vụn ấy còn mắc công đem đi đâu đấy để tiêu hủy. Vả lại cho dù nhà máy còn chút giá trị thì làm sao nhà nước lấy mà vận hành tiếp được? Và chi phí bạn được có đủ để bồi thường cho môi trường bị ô nhiễm hay không?”

Giải pháp nào cho môi trường và phát triển?

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, biện pháp ngăn chặn vi phạm hay nhất là kiểm tra hệ thống xả thải cũng như chôn lấp chất thải rắn song song với việc xây dựng nhà máy như các nước phát triển đang làm. Không thể vì lo sợ mất đầu tư mà địa phương làm ngơ cho doanh nghiệp tự do trong khi thiết kế, thi công. Nếu địa phương không đủ kinh nghiệm, khả năng lẫn thiết bị theo dõi thì Bộ chủ quản phải trực tiếp phân công chịu trách nhiệm trong việc giám sát cũng như quan trắc môi trường.

Không thể chạy theo đầu tư mà mất môi trường, cũng không thể lo sợ môi trường mà chậm đường phát triển. Vì vậy, giải pháp theo dõi và kiểm soát từ những ngày đầu có lẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để vừa không mất môi trường mà vẫn giữ được các nhà đầu tư chân chính và có khả năng thật sự.

Nguồn: TKNB – 16/09/2016

Dự án thép Cà Ná và những câu hỏi – Phần I


Theo đài RFA, sau thảm họa Formosa, người dân trở nên dị ứng với tất cả các dự án mà môi trường bị đe dọa, trong đó dự án nhà máy thép Cà Ná đang được Tôn Hoa Sen vận động thực hiện khiến cả nước rúng động vì ám ảnh bởi những gì mà Formosa đang để lại. Chuyên gia các lĩnh vực kinh tế, tài chính, môi trường lẫn luật pháp đều nhập cuộc với các câu hỏi đặt ra cho chính phủ về dự án này.

Tại sao đưa Tôn Hoa Sen vào quy hoạch?

Đó là câu hỏi mới nhất mà dư luận lẫn các chuyên gia đưa ra sau khi ông Trương Thanh Hoài, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng thuộc Bộ Công thương cho biết việc sản xuất thép tại Cà Ná vốn được phê duyệt từ trước và ngay cả khi Ninh Thuận không đề xuất Hoa Sen làm, dự án vẫn sẽ được đưa trở lại quy hoạch.

Một trong những phản ứng đến từ TS Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ông Kiêm đưa ra câu hỏi tại sao Bộ Công thương lại ra quyết định đưa dự án thép của Hoa Sen vào quy hoạch trong khi trên thế giới tình hình sản xấut thép đang ứ đọng.

Tiếp đến, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Tổng Thư ký và Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thành viên của Ban Nghiên cứu của Thủ tướng cho biết nhận xét của bà về quy hoạch “trái mùa” này:

Quy hoạch mà vẫn bám vào quy hoạch đã đưa ra cách đây 10 năm thì đã là một điều hoàn toàn không hợp lý bởi vì quy hoạch đưa ra cách đây 10 năm áp dụng kinh tế vào lúc đó chứ còn vào lúc này khi mà thị trường thép cả thế giới đã có sự dư thừa công suất cực kỳ lớn, đặc biệt sự dư thừa đó đang xuất hiện khắp Việt Nam và hôm nay thép Trung Quốc đã tràn sang Việt Nam như thế nào, gây điêu đứng như thế nào cho các công ty thép đã có tại Việt Nam thì điều đó ai cũng biết rõ”.

Năng lực tài chính của Hoa Sen?

Khi ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hoa Sen tuyên bố rằng sẽ đầu tư vào dự án nhà máy thép Cà Ná gần 11 tỷ USD, giới hoạt động tài chính ngay lập tức đặt câu hỏi ông ấy sẽ lấy tiền từ đâu khi mà số vốn của Hoa Sen chỉ vỏn vẹn chưa tới 3000 tỷ và ngân hàng Công thương là nơi duy nhất hứa cho vay 500 triệu USD, tức chỉ bằng 1/20 số vốn cần thiết cho dự án.

Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc công ty tư vấn đầu tư InvestConsult nhận xét: “Chắc chắn năng lực tài chính của Tôn Hoa Sen không đủ để làm một dự án như thế này. Thậm chí huy động vốn trên thị trường Việt Nam thôi cũng không đủ để triển khai dự án cỡ như Cà Ná, cho nên, vấn đề tài chính của Tôn Hoa Sen là vấn đề lớn đòi hỏi phải nghiên cứu rất kỹ chiến lược hay cách thức của tập đoàn Tôn Hoa Sen cho dự án này.

Nghiên cứu kỹ tài chính của dự án này tức là nghiên cứu triển vọng thành công của dự án. Không có tiền thật đã khó, có tiền thật cũng rất khó bởi vì việc này đưa ra trong một thời kỳ không thuận lợi trong giai đoạn xã hội Việt Nam đòi hỏi rất khắt khe bảo vệ môi trường. Cho nên gọi vốn dự án này là việc không hề dễ”.

Theo cách nói của ông Lê Phước Vũ, người ta đoán rằng số tiền này sẽ đến từ Trung Quốc song song với trang thiết bị mà ông Vũ khẳng định chỉ có thể mua của Trung Quốc mới có lời.

Máy móc lạc hậu vào Việt Nam bằng cách nào?

Về câu hỏi tại sao Tôn Hoa Sen nhập máy móc của Trung Quốc, liệu ai là người sẽ kiểm soát các thiết bị này cho phù hợp với quy định của Bộ Công thương, GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KHCN cho biết kinh nghiệm của ông về việc này:

Trong quy trình duyệt dự án khi tôi còn làm việc thì Bộ KHCN là một trong các bộ phải có chữ ký về máy móc công nghiệp. Có chữ ký thì nghiệm thu mới bắt đầu. Khi tôi làm có luôn phần môi trường nữa, bây giờ nó đã tách ra cho Bộ Tài nguyên và Môi trường. Có một điều là quy định của pháp lý về vấn đề này khá là chặt chẽ, tiêu chuẩn nói chung cũng chặt chẽ, khá đầy đủ, tuy nhiên nó cũng không hoàn chỉnh và khâu kiểm tra thực hiện lại rất lỏng lẻo”.

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia về Trung Quốc lý giải việc thiết bị lạc hậu lỗi thời được đưa vào Việt Nam bởi sự thiếu trình độ của người có trách nhiệm và không loại trừ khả năng tham ô để các máy móc ấy lọt sổ:

Ở đây có thể có 2 lý do chính: Một là không đủ trình độ về người, về trang thiết bị để nhìn nhận và đánh giá thiết bị đó có đủ mức hiện đại hay không hay mức độ lạc hậu đến như thế nào vào vùng cấm mà Việt Nam có cho phép nhập khẩu hay không. Cơ quan khoa học công nghệ không có đủ trình độ đánh giá tất cả các mặt.

Một mặt khác nữa, phía nhà cung cấp có thể đi đêm với các nhà thẩm định của Việt Nam bằng cách đút lót hay nhiều cách khác để che giấu vì hối lộ thì người Trung Quốc họ quá rành trong chuyện làm ăn với Việt Nam theo cách nào đó có lợi cho họ”.

Nhóm lợi ích trong các ban tham mưu của chính phủ?

Câu hỏi đặt ra liệu các ban tham mưu của chính phủ có dính gì tới việc chấp thuận cho dự án này, ngay cả ban tư vấn cho Thủ tướng liệu có đủ khả năng và trung thực dể đưa ra những lời khuyên hữu ích cho chính phủ hay không.

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành đưa ra nhận xét: “Tình hình Việt Nam bây giờ cũng dễ mua chuộc các cơ quan nhà nước. Đảng và Nhà nước cũng rất nhức nhối, đã đưa ra bao quyết định phòng chống tham nhũng này nọ nhưng có giải quyết được đâu? Vẫn tham nhũng, vẫn bị mua chuộc, do đó, khả năng các nhóm lợi ích đem tiền ra gây ảnh hưởng quyết định của các cơ quan là có nguy cơ xảy ra.

Việt Nam mình không phải mấy ông tư vấn bị mua chuộc. Chính những người tư vấn có thật sự đủ tài năng để có ý kiến hay không nữa. Tư vấn đó là tư vấn gì, tư vấn ở đâu ra? Những người tư vấn đó khả năng tới đâu để nghiên cứu vấn đề thì chưa thấy.

Trong các bộ, ngành, trong các tổ chức gọi là tư vấn hay tham mưu cho các bộ có nhiều vấn đề lắm. Có nhiều khi, tổ chức gọi là tư vấn hay tham mưu cho chính phủ nói một đằng nhưng chính phủ làm một nẻo. Chúng ta biết các nhà máy điện của Việt Nam bây giờ, ngay các nhà máy đang xây dựng thì 100% do Trung Quốc thầu và trúng thầu. Công nghệ của Trung Quốc lạc hậu, làm nhà máy điện chưa xong đã lạc hậu rồi thì tại sao nhà nước, tập đoàn điện lực Việt Nam lại chấp nhận cho công ty Trung Quốc thầu hết các nhà máy điện lớn của Việt Nam, đó là cả vấn đề mà chúng ta phải suy nghĩ.

Vấn đề này sẽ áp dụng vào các dự án lớn khác ở Việt Nam với số tiền to. Tiền to chừng nào thì dự án bị mua chuộc càng lớn chừng ấy”.

Vậy nên hay không nên?

Ông Nguyễn Trần Bạt, Giám đốc Công ty tư vấn đầu tư Invest Consult, người viết nhiều cuốn sách phân tích tình hình chính trị, kinh tế tài chính Việt Nam chia sẻ về việc chính phủ không nên chấp nhận cho dự án Cà Ná vì thời điểm và lòng người dân hiện nay:

Tôi không thấy có biểu hiện rõ rệt nào về sự ủng hộ một cách tích cực của chính phủ. Dự án cụ thể này thì có những thông tin rất khác nhau. Ngày hôm qua, UBND tỉnh Ninh Thuận cho biết không có gì vội vàng, mới chỉ là ý đồ chứ chưa phải là sự phê chuẩn nghiêm túc nào.

Riêng tôi cho rằng phải rất thận trọng trong việc ủng hộ một dự án như thế này, kể cả sự thận trọng ấy từ phía chính phủ. Thái độ của chính phủ đối với dự án Formosa cũng rõ rồi, vì thế, từ dự án này sang dự án khác có cùng quy mô, có cùng chất lượng, có cùng công việc thì buộc phải thận trọng, không có cách nào khác.

Tôi nghĩ chính phủ dù có ủng hộ mấy thì cũng phải thận trọng. Sự phân công, khẳng định, hay sự phê chuẩn một cách rõ ràng đều chưa có, vì vậy, tôi không có phát biểu gì về thái độ của chính phủ. Nếu có lời tư vấn nào, một lời khuyên nào dành cho chính phủ thì tôi cho là chính phủ phải rất thận trọng đối với loại dự án như thế này”.

Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Tôn Hoa Sen khẳng định rằng sẽ mời ban tư vấn môi trường từ Hoa Kỳ hay châu Âu kiểm tra các thiết bị nhà máy thép tại Cà Ná và ông đảm bảo rằng sẽ không xảy ra một Formosa thứ hai tại Ninh Thuận.

Tuy nhiên, câu hỏi dư luận đặt ra cho cả ông Vũ và cho chính phủ ngày một nhiều hơn trong vấn đề môi trường. Liệu một ban tư vấn cho dù kinh nghiệm đến từ Mỹ hay bất cứ nước nào, thế nhưng khi họ ra về, ai là người trực tiếp chịu trách nhiệm với những tư vấn mà họ đưa ra trong khi chủ doanh nghiệp không tuân thủ vì tốn kém và vượt khả năng tài chính?

Báo chí dẫn lời ông Heyno Micheal Smith, đại diện công ty GMC, nơi được Hoa Sen chọn làm nhà tư vấn cho siêu dự án Cà Ná nói rằng tất cả các khu liên hợp cán thép đều có hại cho môi trường bất kể máy móc của họ như thế nào.

Xác định này không mới, nhưng đối với UBND tỉnh Ninh Thuận, câu hỏi đặt ra sẽ là có cần thiết phải đầu tư thép với bất cứ giá nào khi bào học Formosa vẫn còn đó?

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 16/09/2016

Khủng hoảng môi trường lan nhanh ở Biển Đông


Abhijit Singh

Trong số những thách thức chiến lược tại châu Á – Thái Bình Dương, việc phá hủy hệ sinh thái biển là thách thức bị coi nhẹ nhất. Đông Nam Á là khu vực có hệ sinh thái biển phong phú, nơi cư ngụ của 76% loài san hô và 37% loài cá rạn san hô trên thế giới. Trong 2 thập kỷ qua, nhiều chứng cứ, tài liệu cho thấy ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt trái phép với quy mô lớn tại quền đảo Trường Sa và khu vực biển lân cận, sử dụng xianua, chất gây nổ, dây nổ. Các sinh vật biển nằm trong phạm vi ảnh hưởng rất lớn, gồm rùa biển, trai, hàu khổng lồ, cá mập, lươn và san hô.

Dư luận dường như đã bỏ sót phán quyết của Tòa Trọng tài liên quan đến việc tàn phá nặng nề mà Trung Quốc gây ra đối với hệ sinh thái biển từ các hoạt động khai phá của họ tại Trường Sa. Quá trình xây dựng đảo của Trung Quốc đã gây ra những tổn thất lâu dài và không thể khắc phục được đối với hệ sinh thái. Lãnh đạo Trung Quốc từ chối chấp nhận lời phê bình của Tòa Trọng tài, Bắc Kinh cho rằng quá trình xây dựng đảo không hề gây ra mối nguy hiểm nào đối với các loài sinh vật trong khu vực và thậm chí còn gọi đó là “dự án xanh”. Đây kông phải là một sự phá hoại sơ xuất. Tòa phát hiện ra rằng quan chức Trung Quốc nhận thức rất đầy đủ về bản chất và quy mô của những hành động này nhưng lại không dừng lại. Mặc dù Trung Quốc phải có trách nhiệm theo Điều 192, 194 của Công ước quốc tế về Luật Biển trong bảo vệ và bảo tồn môi trường biển nhưng họ vẫn thực hiện những hành vi hủy hoại hệ sinh thái ở Biển Đông.

Trong nhiều năm, hoạt động tàn phá nhất của Trung Quốc tại Biển Đông là đánh bắt trộm trai khổng lồ, hủy diệt hơn 40 dặm vuông những rạn san hô đa dạng nhất trên thế giới. Họ thường dùng chân vịt để mở miệng những con trai khổng lồ mà vỏ của nó được bán như những món hàng xa xỉ ở Trung Quốc. Việc đào lên một rạn san hô không chỉ phá hoại hệ sinh thái ở đó do bản chất liên kết giữa các khu vực biển tại Biển Đông mà sự hủy hoại ở một nơi còn dẫn tới những hậu quả ở những nơi khác.

Bất chấp những chứng cứ đó, Bắc Kinh vẫn khẳng định hoạt động của họ mang lại điều tốt đẹp. Tại Đối thoại Shang-ri La đầu năm 2016, Đô đốc Tôn Kiến Quốc – Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, nói rằng bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu quân sự, Trung Quốc đang thực hiện xây dựng trên một số đảo và rạn san hô ở Biển Đông để thực hiện tốt hơn trách nhiệm quốc tế của họ, gồm cả việc bảo vệ môi trường. Nếu xảy ra điều gì, các nhà phân tích Trung Quốc sẽ viện cớ rằng sự phá hủy môi trường trên diện rộng là do những hoạt động đánh bắt trái phép không thể ngăn chặn của các quốc gia khác trong khu vực. Những tuyên bố kiểu như vậy là nhằm làm xao lãng sự chú ý của dư luận khỏi hoạt động phá hoại môi trường của Trung Quốc. Theo luật pháp quốc tế, các nước phải có đánh giá về tác động đối với môi trường trước khi tiến hành việc xây dựng đảo. Việc bỏ qua của Bắc Kinh đối với vấn đề này là không thể bào chữa được. Trong một tuyên bố gửii Tòa án quốc tế vào tháng 12/2014, Trung Quốc không hề nhắc tới bất kỳ nghiên cứu đánh giá nào về tác động đối với môi trường. Với sự chối bỏ trách nhiệm này. Trung Quốc đã dồn gánh nặng cho các quốc gia biển khác trong khu vực.

Đối mặt với những thảm họa môi trường, các nước Đông Nam Á phải cùng nhau gìn giữ và bảo vệ môi trường biển trong khu vực. Trước tiên, cần thảo luận nghề đánh bắt cá, cụ thể là việc điều hành di cư các đàn cá. Các báo cáo gần đây cho thấy các đàn cá ở Biển Đông đang ở trong điều kiện bấp bênh. Các quốc gia trong khu vực cần có tính minh bạch hơn về các hoạt động khai thác tài nguyên. Mỗi bên đều phải cố gắng hết sức để đảm bảo rằng hệ sinh thái được gìn giữ một cách tốt nhất và được khai thác bền vững.

Thứ hai, tạo ra một cơ chế khu vực trong gìn giữ môi trường biển, đây sẽ là phần khó khăn nhất. Tháng 4/2016, trong cuộc họp đầu tiên của nhóm nghiên cứu thuộc Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Philippines, đã có nhiều cuộc thảo luận về bộ quy tắc và quy định trong bảo vệ môi trường biển. Nhóm này nhấn mạnh cần phát triển phương pháp tổng hợp trong điều hành các hoạt động thương mại và hành nghề trên biển. Đây không phải là lần đầu các quốc gia trong khu vực phối hợp cùng nhau vì lợi ích của các sinh vật biển. Năm 2011, các nước Đông Nam Á đã phối hợp phát triển phương pháp và công cụ bảo vệ các rạn san hô theo khuôn khổ của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP). Năm 2012, trong tài liệu “Tương lai mà chúng ta mong muốn”, Liên hợp quốc đã xác định bảo vệ san hô tại châu Á – Thái Bình Dương là vấn đề trọng tâm và là một mục tiêu phát triển bền vững cần đạt được đến năm 2020.

Trong khi cả thế giới bị ám ảnh bởi những tác động về địa chính trị của những xung đột tại Biển Đông thì có những câu hỏi về môi trường biển vẫn cần giải quyết. Nguồn tài nguyên thiên nhiên tại Biển Đông là trọng tâm đối với nền kinh tế quốc gia, kế sinh nhai của rất nhiều những người dân ven biển, đồng thời cũng là nguồn thực phẩm rẻ và giàu chất dinh dưỡng đối với những người dân ở đây. Tuy vậy, những xung đột về chủ quyền đã làm giảm đi năng lực của các chính phủ trong phối hợp quản lý các nguồn tài nguyên tại Biển Đông. Trung Quốc và các nước láng giềng cần tạm gác lại sự thù địch và phối hợp hiệu quả trong gìn giữ, khôi phục hệ sinh thái biển tại châu Á – Thái Bình Dương.

Nguồn: Chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS).

TKNB – 25/08/2016

Abhijit Singh là Giám đốc Chương trình “Sáng kiến An ninh Hàng hải” thuộc Quỹ Nghiên cứu Quan sát viên (ORF) tại Ấn Độ.