Những nguy cơ về an ninh nguồn nước của Việt Nam


Theo đài RFA, kết luận của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nhìn nhận việc bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước còn nhiều hạn chế.

Theo Bộ Chính trị, nguyên nhân là do nhận thức của một số cán bộ và người dân về bảo đảm an ninh nguồn nước không đầy đủ, dẫn đến việc quản lý, khai thác, sử dụng nước chưa cao; ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, chuyên gia về Biến đổi khí hậu và tài nguyên nước Viện nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, cho biết: “Hàng năm, Cục Phòng chống thiên tai và Cục Quản lý đê điều đều yêu cầu kiểm tra các đập thủy điện, hư hỏng ở đâu phải sửa chữa ngay để kịp thời ứng phó, phòng ngừa bão lũ… Tuy nhiên, cũng tùy địa phương áp dụng thế nào, nguồn kinh phí ra sao và tùy công trình hư hỏng nhiều hay ít. Phần lớn các công trình đó chịu mưa bão khá tốt, chỉ có một số trường hợp bị sạt lở, nhưng chưa phải là nghiêm trọng. Chỉ có khu vực miền núi thì thủy điện bị tàn phá nhiều, gây nguy hiểm cho người dân”.

Kết luận của Bộ Chính trị cũng cho rằng pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước còn thiếu, chưa đồng bộ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều công trình thủy lợi xuống cấp, mất an toàn đập…

Hợp tác quốc tế về nguồn nước đã được mở rộng với các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam trong khai thác, sử dụng nguồn nước xuyên biên giới. Tuy nhiên, việc bảo đảm an ninh nguồn nước từ nước ngoài có hiệu quả chưa cao…

Thạc sĩ Hồ Long Phi, Giám đốc Trung tâm Quản lý nước và biến đổi khí hậu Đại học Quốc gia TPHCM, cho rằng:

Hiện nay, việc phụ thuộc nguồn nước từ nước ngoài chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, sông Hồng cũng có nhưng tỷ lệ không nhiều. Như vậy, lượng nước chủ yếu dùng để sản xuất lúa, nếu trong tương lai, nguồn nước không đảm bảo thì bắt buộc phải bỏ cây lúa, thay thế bằng cây khác. Tuy nhiên, sự lệ thuộc nước ngoài lớn nhất ở đây là lệ thuộc chế độ thủy văn, khi mực nước biến động lên xuống thì chúng ta không chủ động được…”.

Trong một phát biểu về vấn đề an ninh nguồn nước, cựu Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết nguồn nước của Việt Nam phụ thuộc nhiều vào lượng nước sản sinh từ bên ngoài lãnh thổ, chiếm đến 63%. Đây là một thách thức lớn đối với an ninh nguồn nước quốc gia. Theo ông Nguyễn Xuân Cường, Việt Nam có tổng cộng hơn 200 con sông. Tuy nhiên, có đến trên 50% con sông từ nước ngoài chảy vào, với khoảng 520 tỷ m3, tương ứng 63% tổng lượng nước mặt sản sinh ở bên ngoài lãnh thổ.

Dù đảm bảo an ninh nguồn nước và an toàn hồ đập của Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, nhưng Bộ Chính trị vẫn đề ra mục tiêu đến năm 2025 sẽ có 95% hộ gia đình ở thành thị và 60% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước sạch; giải quyết cơ bản tình trạng thiếu nước sinh hoạt, nước cho sản xuất… Đến năm 2030, sẽ có 100% hộ gia đình ở thành thị và 80% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng mục tiêu của Bộ Chính trị cũng không phải là quá khó, vì hiện nay, hầu hết cấp xã đều đã có hệ thống cấp nước. Tuy nhiên, cũng có thời điểm trong năm, nguồn nước bị khan hiếm, nhiễm mặn hoặc ô nhiễm… dẫn đến việc cấp nước không liên tục. Ông cho biết:

Khu vực ĐBSCL đã khuyến cáo những hộ dân ở vùng sâu phải lập kế hoạch trữ nước để khi khan hiếm nước trong thời gian ngắn do hạn hán thì có nước sử dụng. Việc cấp nước sinh hoạt không khó khăn, chỉ có cấp nước cho sản xuất là vấn đề phải nghiên cứu giải quyết”.

Đồng quan điểm, Thạc sĩ Hồ Long Phi cũng cho rằng mục tiêu về tỷ lệ hộ dân có nước sạch sử dụng không cần phải phấn đấu nhiều. Tuy nhiên, ông cho rằng: “Nhiều địa phương làm nhà máy nước sạch, nhưng người dân không đấu nối vào hệ thống, vì họ khoan giếng rẻ hơn, nên nhiều nhà máy nước không hoạt động hết công suất. Tình trạng này khá phổ biến. Thứ hai là đô thị hóa của Việt Nam còn thấp, mới chỉ đạt 30 – 40%, đầu tư nước sạch tập trung rất tốn kém nên đường ống chạy ngang một con đường thì phải có nhiều nhà mới hòa vốn. Nếu hiểu rộng ra thì nước sạch ở đây không phải là nước sạch tập trung, mà nước sạch bằng những giải pháp kết hợp để giải quyết cho nông thôn, miễn là đạt tiêu chuẩn vệ sinh”.

Theo Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, chỉ thị của Trung ương dù có tốt, nhưng việc thực hiện của địa phương không phải lúc nào cũng tốt. Có rất nhiều tham vọng của Trung ương nằm trong các Nghị quyết, Nghị định… nhưng việc thực hiện của địa phương lại không đạt, do trình độ cán bộ hay do không đủ kinh phí.

Ngoài việc có đến 63% lượng nước tại Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước tại các quốc gia thượng nguồn… thì theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa ở Việt Nam cũng là các yếu tố đã và đang tác động đến chất lượng nước của các sông, hồ. Hiện các hồ và kênh, mương ở những khu vực đô thị đang trở thành nơi chứa và dẫn nước thải.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2020, lượng nước bình quân đầu người ở Việt Nam hiện thấp hơn của Hội tài nguyên nước quốc tế, chỉ đạt hơn 3800 m3 so với 4000 m3/người/năm.

Nguồn: TKNB – 08/07/2022

Tình trạng ngập lụt ở đô thị: Chuyên gia đề xuất biện pháp dài hạn


Xây thêm bể ngầm chống ngập, sử dụng cánh đồng, sân vận động làm nơi chứa nước… đang là giải pháp được Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đề xuất. Liệu những giải pháp này có khả thi? Đâu là căn nguyên của tình trạng ngập úng này và đâu là biện pháp xử lý mang tính dài hạn? Đài BBC ngày 2/6 dẫn ý kiến của một số chuyên gia về đô thị xung quanh vấn đề này:

“Công tác quản lý quy hoạch có vấn đề”

Bàn về nguyên nhân của tình trạng ngập hiện nay, Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng, GIảng viên tại Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng công tác quản lý quy hoạch thực sự có vấn đề: “Trong 10 – 15 năm qua, có rất nhiều khu đất đáng lẽ phải là công viên, hồ nước nhưng nhà quản lý quy hoạch không cứng rắn, thậm chí có những biểu hiện bị các nhóm lợi ích thao túng, cho phép mọc lên những công trình cao tầng, rồi những chỗ trống đáng lẽ có thể chứa được nước thì đã bị bê tông hóa mất khả năng hút nước đi”.

Cũng chung quan điểm này, ông Sơn Đặng, Kiến trúc sư trưởng của xưởng thiết kế quy hoạch Sproject ở New York (Mỹ), chỉ ra rằng các đô thị VIệt bị cứng hóa bề mặt quá nhiều, dẫn đến nước mưa không thấm xuống đất mà chảy tuột ra sông, nên mức nước ngầm giảm dẫn đến sụt lún toàn thành phố.

Không chỉ Hà Nội, các địa phương miền Bắc như Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang cũng biến thành biển nước sau mưa. Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, Phó Trưởng khoa Kiến trúc và Quy hoạch Đại học Xây dựng Hà Nội, cho rằng nông thôn ngập do 2 vấn đề: một là các hiện tượng khí hậu cực đoan ngày càng tăng lên do biến đổi khí hậu; hai là những khu vực nông thôn ở ven đô bây giờ đã đô thị hóa rồi thì cũng tương tự như đô thị, thiếu không gian thoát nước tạm thời.

Theo các chuyên gia, thủ đô Hà Nội và khu vực miền Bắc nói chung vẫn sẽ tiếp tục xuất hiện mưa lớn, có khả năng ngập lụt trên diện rộng. Trong khi đó, việc giải quyết tình trạng này không thể ngày một ngày hai.

Sân vận động, cánh đồng thành bể chứa

Về khuyến nghị biến sân vận động, cánh đồng thành bể chứa, Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng cho rằng đáng lẽ đáng lẽ việc này phải được thực hiện 10, 15 năm trước với một tầm nhìn quy hoạch tốt hơn: “Hà Nội chỉ có 2 sân vận động Mỹ Đình và Hàng Đẫy, không đáng bao nhiêu. Tôi nghĩ mở rộng cho tới sân các trường học, sân của các trường mẫu giáo cũng biến thành bể chứa thì may ra, nhưng chi phí đội lên rất lớn và cũng sẽ có khá nhiều chuyện xảy ra để có thể làm được điều đó. Nhưng rồi cũng phải làm thôi, có lẽ lúc này không còn cách nào khác. Việc làm hầm chứa lớn ở dưới lòng đường, các khoảng đất trống là các biện pháp kỹ thuật mà các nước tiên tiến đã làm rất triệt để.”

Kiến trúc sư Sơn Đặng ủng hộ ý kiến của Bộ trưởng Trần Hồng Hà: “Việc xây bể giữ nước mưa ngầm là một ý kiến tốt, cần được bình tĩnh hiểu và ủng hộ”. Trong khi đó, Tiến sĩ Trương Ngọc Lân nói: “Bề mặt sân vận động vốn cao hơn các khu vực xung quanh nên khó sử dụng nguyên trạng, trừ khi chúng ta xây hồ ngầm ở bên dưới, hoặc làm sân vận động ở chỗ trũng hơn. Tất nhiên, có thể tận dụng các sân vận động để thoát nước, nhưng quy mô vẫn nhỏ và không mang tính tổng thể, đồng thời đào thêm các hồ ngầm sẽ làm phức tạp thêm quy hoạch hạ tầng ngầm của các thành phố”.

Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng nhấn mạnh: “Nâng cao hiệu quả quản trị, tức là quy hoạch ra sao, quản trị thế nào, dùng đồng tiền ngân sách hay người dân đóng góp như thế nào cho hiệu quả thì mới mang lại hiệu ứng tích cực nào đó”.

Nước ngoài đang sử dụng các biện pháp gì?

Bể trữ nước mưa ngầm: Việc xây dựng bể trữ nước mưa ngầm đã được các nước phát triển luật hóa, thành các mã code xây dựng. Theo Kiến trúc sư Sơn Đặng, Đức là nước tiên phong khuyến khích dân/khối dân sự/khối chức năgn nhà nước lắp đặt hệ thống trữ nước mưa. Điều này mang lại nhiều lợi ích đáng kể, bao gồm tái sử dụng nước mưa, giảm thiểu sử dụng nước sạch để tưới vườn, rửa đường, rửa xe…, bồi hoàn nguồn nước ngầm, giúp thu lại một phần nước mặt, giúp hệ thống cống bớt quá tải.

Thành phố xốp: Tiến sĩ Trương Ngọc Lân cho biết một số thành phố như ở Trung Quốc đã có những đô thị xây dựng theo mô hình “thành phố xốp”. Thay vì đưa toàn bộ nước mưa vào hệ thống thoát nước thì trong “thành phố xốp”, chúng sẽ được quản lý đa dạng hơn, chỉ một phần nước được xử lý bằng hệ thống thoát nước, còn một phần nước được để thấm tự nhiên xuống đất và chảy vào các ao hồ giúp bảo tồn hệ sinh thái nước, một phần nước còn lại được thu hồi, lưu trữ để tái sử dụng cho các mục đích khác.

Hồ ngầm khổng lồ: Theo Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, ở Nhật Bản đã xây dựng hệ thống hồ ngầm khổng lồ trong lòng thành phố Tokyo để chứa nước khẩn cấp trong những lúc thời tiết cực đoan. Nhưng giải pháp này tốn kém, không thể áp dụng trong trường hợp của Việt Nam hiện nay.

Giải pháp nào cho Việt Nam?

Có 4 giải pháp chính đang được các chuyên gia ủng hộ và đề xuất:

Thứ nhất, xây thêm không gian điều hòa: Theo Tiến sĩ Trương Ngọc Lân, Việt Nam cần tăng không gian mặt nước của hồ, ao, sông ngòi, công viên, vườn hoa, sân chơi, nơi các bề mặt đất tự nhiên được bảo tồn, không bị bê tông hóa giúp hấp thụ nước…

Thứ hai, tận dụng mặt bằng làm bể chứa: Giải pháp tận dụng mặt bằng là làm các hầm ngầm sâu 5m – 7m từ tất cả các khoảng đất trống có thể khai thác, nhưng giải pháp này lại có hạn chế là chi phí đầu tư quá lớn, cũng như không thể giải phóng nhà dân được.

Thứ ba, quy hoạch nước và sử dụng đất: Theo Kiến trúc sư Sơn Đặng, về lâu dài, Việt Nam cần nỗ lực thay đổi để tiến đến các phương pháp quy hoạch đô thị tiến bộ hơn. Chẳng hạn, các nước phát triển đã tiến hành quy hoạch nước, tức dựa trên yếu tố trọng tâm là nước, nhưng chúng ta vẫn quy hoạch chủ yếu hướng đến việc phân lô. Các đô thị lớn như Hà Nội hay TPHCM, những nơi có mật độ dân số rất cao, nhưng mảng xanh rất ít, cần rà soát các quỹ đất công cuối cùng còn sót lại và nỗ lực biến thành công viên và ao hồ.

Thứ tư, cải thiện công tác dự báo: Việc dự báo sớm và chính xác cũng là một trong những biện pháp giảm thiểu ngập lụt mà các chuyên gia đề xuất. Thạc sĩ Đỗ Đức Thắng cho rằng trong những trận mưa lớn tuần qua, nếu được dự báo mưa có cường độ lớn như vậy, các công ty thoát nước sẽ tổ chức các hoạt động phù hợp. Trong khi đó, Kiến trúc sư Sơn Đặng đưa ra một đề xuất mang tính công nghệ cao hơn: Việt Nam rất cần các ứng dụng cảnh báo ngập lụt được toàn dân tiếp cận dễ dàng. Công tác cảnh báo sớm sẽ giúp giảm thiệt hại kinh tế đáng kể. Những công nghệ này hoàn toàn nằm trong tầm tay đội ngũ công nghệ Việt.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Việt Nam có phải là “điểm sáng” về rừng trên thế giới?


Theo đài RFA, nhân ngày Quốc tế về rừng 21/3, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Phạm Văn Điển cho rằng Việt Nam là “điểm sáng” kh thế giới nói về rừng.

Theo Phó Tổng cục trưởng Phạm Văn Điển, các hoạt động của Việt Nam như “gỗ bền vững vì con người và hành tinh”, “rừng vì sự bình và thịnh vượng”, “rừng sinh kế bền vững”… đang được triển khai cùng các đối tác quốc tế, có triển vọng mang lại tác động tích cực, được địa phương và cộng đồng quốc tế ủng hộ và coi Việt Nam là một trong những điểm sáng khi thế giới nói về rừng.

Ông Nguyễn Huỳnh Thuật, thạc sĩ lâm nghiệp Đại học quốc gia TPHCM, thạc sĩ môi trường quốc tế và phát triển cộng đồng Đại học Nông nghiệp và Công nghệ Tokyo (Nhật Bản) cho biết: “Khi đi họp ở Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Trung Quốc, tôi có chia sẻ và các chuyên gia cũng đồng ý, trong thư gửi Chủ tịch nước về việc không những rừng Việt Nam mà bao gồm các giá trị văn hóa bản địa như cộng đồng địa phương bảo vệ rừng như thế nào, Việt Nam chưa có những người tâm huyết cũng như chính sách để khuyến khích những người dân sống ở vùng rừng, mà chúng ta lại tách họ ra khỏi rừng. Ví dụ rừng quốc gia Cát Tiên có những dự án tốn rất nhiều tiền của chính phủ Hà Lan, nhưng lại không vận dụng được để người dân ở trong rừng cùng mình bảo vệ rừng”.

Theo ông Nguyễn Huỳnh Thuật, người dân là một nhân tố bảo vệ rừng, nhưng chính phủ lại đẩy ra khỏi rừng, đó là một chính sách thất bại. Về hiện trạng phá rừng ở Việt Nam, ông Nguyễn Huỳnh Thuật cho rằng: “Tỷ lệ phá rừng ở Việt Nam, đặc biệt là những năm gần đây, vừa do chính sách thay đổi từ rừng tự nhiên sang rừng cao su, vừa do phá rừng để làm thủy điện… quan trọng nhất là do dân trí và quan trí. Khi nào dân trí và quan trí được nâng tầm, coi rừng với thiên nhiên là cuộc sống của mình và không còn tách biệt, khi đó chúng ta mới biết cách bảo vệ rừng. Bây giờ, thủy điện mọc tràn lan, ngoài thủy điện thì còn hy sinh rừng để làm đường sá và các công trình khác. Chúng ta vừa mất rừng bằng chính sách và vừa mất rừng vì người dân, nhưng mất rừng bằng chính sách nguy hiểm hơn”.

Với khái niệm “quản lý rừng bền vững”, ông Phạm Văn Điển cho rằng Việt Nam đang nỗ lực hiện thực hóa ý tưởng đa dạng hóa nguồn thu từ rừng. Từ nguồn thu ban đầu là gỗ, củi do khai thác rừng tự nhiên, đã chuyển sang đóng cửa rừng tự nhiên. Sau đó, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ rừng trồng và gỗ nhập khẩu đã đạt 15,87 tỷ USD vào năm 2021.

Sau hơn 3 năm chính phủ ra lệnh đóng cửa rừng tự nhiên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo cáo tình trạng mất rừng có giảm, nhưng các vụ vi phạm vẫn diễn ra. Cụ thể, tình trạng phá rừng, chế biến, kinh doanh lâm sản trái phép vẫn diễn ra ở một số địa phương.

Theo một bài viết ngày 2/2/2022 trên trang Mongabay, chuyên đưa tin trong lĩnh vực bảo tồn và môi trường trên thế giới, số lượng lớn gỗ cứng nhiệt đới từ các điểm nóng về phá rừng trên thế giới như Campuchia, Lào, Cameroon, Gabon, Papua New Guinea… vẫn tiếp tục được tuồn vào các cửa khẩu Việt Nam, bất chấp quy định mới mà Hà Nội đã ký với EU năm 2018 và được đưa vào áp dụng năm 2020.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu tại Đại học Cần Thơ ngày 22/3 cho rằng, dù mật độ phủ rừng ở Việt Nam có tăng, nhưng rừng tự nhiên lại suy giảm nghiêm trọng: “Rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh của Việt Nam đang trong tình trạng suy giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, cũng được bù lại bằng rừng trồng và rừng sản xuất, nhưng nó không bù lại được những giá trị như rừng tự nhiên. Vì vậy, về vấn đề bảo vệ và phát triển rừng của Việt Nam, những người quản lý môi trường sinh thái phải lưu ý chuyện này. Chính phủ có một số chiến lược khôi phục lại rừng, nhưng kết quả rất hạn chế”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn giải thích về việc khôi phục rừng không đạt kết quả như mong muốn: “Rừng trồng không thể nào có giá trị như rừng tự nhiên, vì rừng trồng sau này sẽ khai thác. Đối với rừng trồng, bộ rễ không thể phát triển như rừng tự nhiên và giá trị đa dạng sinh học cũng không có. Rừng tự nhiên có rất nhiều loại cây, nhiều tầm phát triển khác nhau, bộ rễ đi rất sâu, có tác dụng rất lớn trong việc điều tiết lũ và kiểm soát tình trạng sạt lở. Do đó, rừng tự nhiên có giá trị rất lớn, ngoài giá trị kinh tế còn giá trị khác như du lịch, giáo dục… và còn giúp bảo vệ đất, nguồn nước, cũng như điều hòa khí hậu”.

Tại Hội nghị lần thứ 26 Các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) diễn ra ở Glasgow, Scotland (Vương quốc Anh) ngày 2/11/2021, Việt Nam cùng với hơn 100 quốc gia đã cam kết chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030. Các quốc gia tham gia cam kết đại diện cho hơn 85% rừng toàn cầu, nhấn mạnh vai trò quan trọng và phụ thuộc lẫn nhau của các loại rừng, đa dạng sinh học và sử dụng đất bền vững trong việc giúp thế giới đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đi kèm những cam kết của chính phủ Việt Nam rất được thế giới ủng hộ, từ trung ương đến địa phương phải đưa ra một chương trình cụ thể để thực hiện cam kết. Việt Nam có nhiều cam kết rất tiến bộ, nhưng giải pháp đi kèm thường không cụ thể và thiếu tính mạnh mẽ trong thực thi, không có giải pháp cụ thể để thể hiện việc thực hiện cam kết với thế giới.

Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), phá rừng ở Việt Nam hiện vẫn là một trong những vấn nạn. Nguyên nhân mất rừng đến từ sự yếu kém và tham nhũng trong công tác bảo vệ rừng, sự thông đồng của các giới chứu hữu quan cũng như lực lượng kiểm lâm đã tiếp tay cho lâm tặc chặt phá rừng.

Nguồn: TKNB – 25/03/2022

Biến đổi khí hậu thúc đẩy hợp tác Việt – Mỹ


Trang Asia Times trụ sở ở Hong Kong ngày 30/3 đăng bài cho rằng biến đổi khí hậu khiến thế giới phải gánh chịu các hậu quả do thảm họa thiên nhiên, thời tiết khắc nghiệt cũng như tình trạng mất an ninh lương thực và nước Mỹ hiểu rằng Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tình trạng khẩn cấp về môi trường. Trong khi đó, Việt Nam cần sự hỗ trợ của Mỹ để mở rộng và tăng cường tiềm năng với tư cách là nước dẫn đầu ASEAN về năng lượng tái tạo.

Cuối tháng 2/2020, Đặc phái viên của Tổng thống Mỹ về biến đổi khí hậu John Kerry đã có cuộc gặp Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tại Hà Nội. Ông Kerry đã nhắc lại những cam kết của Mỹ giúp Việt Nam đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năn 2050.

Việt Nam nhận thức được sự cấp thiết của việc đẩy nhanh các nỗ lực quốc gia nhằm hạn chế sự nóng lên ở mức 1,5 độ C so với mức tiền công nghiệp và tăng cường nỗ lực thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu. Những thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong vài thập kỷ qua trong việc xóa đói giảm nghèo đang có nguy cơ bị trật bánh. Các giải pháp sẽ đòi hỏi những chuyển đổi cơ bản trong phát triển năng lượng. Tại sự kiện do Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) tổ chức tại Hà Nội. Đặc phái viên Kerry khẳng định: “Tổng thống Biden cam kết nỗ lực giúp đỡ Việt Nam chuyển đổi từ than sang công nghệ mới”.

Khủng hoảng khí hậu là có thật và đòi hỏi sự chung tay khẩn cấp của cả chính phủ và người dân nếu muốn hạn chế khai thách nhiên liệu hóa thạch. Sự chuyển dịch sang các dạng năng lượng tái tạo bền vững, giao thông sạch và nông nghiệp tái sinh là lộ trình hành động duy nhất.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam muốn lồng ghép câu chuyện mới về một tương lai xanh và sạch hơn. Không thể phủ nhận rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã phải trả giá bằng môi trường, dẫn đến nguồn nước bị ô nhiễm, động vật hoang dã bị mất nhiều, đa dạng sinh học suy giảm mạnh và nghề cá phải chịu tác động nặng nề.

Việt Nam luôn cam kết cân bằng cải thiện sinh thái như một phần của quá trình tăng trưởng kinh tế. Tại Hội nghị Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP26), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh sự cấp thiết của việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu vì Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do sự gia tăng của các hình thái thời tiết khắc nghiệt.

Việc chuyển hướng sang mô hình phát triển xanh, khép kín và carbon thấp đòi hỏi một số quyết định khó khăn. Quy hoạch điện 8 đề xuất sự chuyển dịch khỏi điện than và lập tức chuyển sang năng lượng tái tạo. Thật không may, Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia tiết lộ rằng họ không thể phê duyệt bất kỳ cơ sở năng lượng mặt trời hoặc năng lượng gió nào vào năm 2022 vì những hạn chế về lưới điện.

Tình hình này cho thấy Việt Nam rất cần Mỹ hỗ trợ mở rộng và củng cố tiềm năng để được công nhận là nước dẫn đầu ASEAN về năng lượng tái tạo. Nguồn tài nguyên gió và nhu cầu điện tăng nhanh là những yếu tố khiến Việt Nam dẫn đầu quá trình chuyển đổi xanh ở Đông Nam Á.

Trong số các thành viên của ASEAN, Việt Nam có kế hoạch phát triển điện gió tham vọng nhất, với mục tiêu dự kiến là 11.800 MW vào năm 2036.

Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có thể được hưởng lợi từ năng lượng gió, song điều này bị đe dọa bởi biến đổi khí hậu. Đồng Bằng Sông Cửu Long có đường bờ biển, gồm các đảo, dài khoảng 700 km. Tỉnh Sóc Trăng có nhiều hứa hẹn về phát triển điện gió với đường bờ biển dài 70 km và gió mạnh ổn định. Chính phủ đã phê duyệt 20 dự án điện gió cho năm nay và 2023.

Thời gian này tương ứng với các cam kết liên tục về khí hậu của Mỹ trong khu vực. USAID, với ngân sách lên đến 2,9 triệu USD, công bố một dự án kéo dài 3 năm nhằm bảo vệ các sinh vật cảnh ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Long nhằm tăng tính bền vững của nghề cá, tăng cường thích ứng biến đổi khí hậu và cải thiện đa dạng sinh học.

Hơn nữa, các can thiệp về năng lượng sạch của USAID gồm hỗ trợ trong việc khuyến khích phát triển chính sách nhằm tăng cường đầu tư vào lĩnh vực năng lượng sạch và hỗ trợ quá trình đầu tư vào năng lượng tái tạo.

Hà Nội công nhận rằng Washington có thể tăng cường hỗ trợ tài chính và kỹ thuật để giúp Việt Nam đối phó với các thách thức về khí hậu cũng như hỗ trợ các dự án phát triển năng lượng tái tạo. Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam đặt ra các mục tiêu nhỏ nhằm đạt được mục tiêu phát triển ít phát thải và hỗ trợ nỗ lực giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Washington ngày càng tin tưởng rằng ban lãnh đạo của Việt Nam sẽ đối phó với cuộc khủng hoảng do biến đổi khí hậu. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng Xanh cho giai đoạn 2021 – 2030 với tầm nhìn đến 2050 phản ánh mục tiêu và chiến lược nhằm thực hiện tăng trưởng xanh, cho phép mọi công dân tham gia vào sự thịnh vượng kinh tế và tận hưởng một môi trường bền vững.

Nguồn: TKNB – 01/04/2022

Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc vào môi trường


Báo Le Monde ngày 18/02 đăng bài “Tại Việt Nam, tăng trưởng phụ thuộc môi trường” của Sébastien Lechevalier, Giám đốc nghiên cứu của Trường Nghiên cứu cấp cao về khoa học xã hội (EHESS) ở Paris, chuyên gia nghiên cứu tại trung tâm Ngôi nhà Pháp – Nhật ở Tokyo (UMIFRE 19) và tại Viện Nghiên cứu toàn cầu của Canon, nội dung như sau:

Tăng trưởng kinh tế ngoạn mục của Việt Nam đã dẫn đến sự bùng nổ lượng khí thải CO2, trong khi quá trình hiện đại hóa đất nước không thực sự giúp giảm nhẹ vấn đề. Kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam đã duy trì tăng trưởng GDP bình quân trên 5%/năm. Tuy nhiên, điều này đã khiến môi trường xuống cấp nhanh chóng.

Nhận định này dường như trái ngược với một kịch bản lạc quan mà theo đó, sau một ngưỡng phát triển nhất định, tác động tiêu cực của tăng trưởng đối với môi trường sẽ giảm đi nhờ hiệu quả sản xuất được cải thiện thông qua các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, ịch bản này là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu với các kết quả khác nhau tùy thuộc từng quốc gia và giai đoạn nghiên cứu. Vì vậy, trường hợp của Việt Nam được coi là đặc biệt thú vị để có thể nhận làm rõ vấn đề hơn.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy tăng trưởng kinh tế từ năm 1986 đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch và lượng khí thải CO2, trong cả hai trường hợp đều tăng gấp 15 lần, trong khi GDP tăng gấp 9 lần. Sự tăng trưởng này được hưởng lợi từ các dòng vốn FDI ồ ạt, tăng 250 lần trong giai đoạn 1986 – 1987 và sau đó là… 1500 lần từ năm 1987 đến năm 2019.

Vậy có nên tiếp tục nghĩ rằng DI, vốn được tạo điều kiện nhờ chính sách tài chính cởi mở và tự do hóa thương mại, sẽ góp phần làm giảm tác động tiêu cực của tăng trưởng đối với môi trường nhờ nhập khẩu công nghệ nước ngoài, hay cần phải hạn chế nguồn vốn này và đối diện với nguy cơ tăng trưởng chậm lại? Đây là vấn đề nan giải mà Chính phủ Việt Nam phải đối mặt.

Để trả lời câu hỏi này, giáo sư Võ Hồng Đức, một chuyên gia kinh tế Việt Nam, đã phân tích quá trình phát triển của đất nước từ năm 1986 – 2018, mối quan hệ giữa GDP bình quân đầu người và lượng khí thải CO2, tách biệt tác động ngắn hạn và dài hạn bằng cách chia tiêu thụ năng lượng tiêu thụ thành hai dạng (hóa thạch và tái tạo), để nghiên cứu tác động của FDI đối với môi trường.

Kết quả cho thấy suy thoái môi trường có xu hướng gia tăng (chứ không giảm đi) khi Việt Nam trở nên giàu có hơn. Hơn nữa, trong khi FDI góp phần làm chậm quá trình này trong ngắn hạn, thì điều này không đúng trong dài hạn. Thật vậy, nếu các công nghệ hiệu quả hơn góp phần làm giảm ô nhiễm thì sự gia tăng sản xuất sau đó lại xóa bỏ lợi thế này.

Cuối cùng, tiêu thụ năng lượng hóa thạch có tác động rất tiêu cực đến mọi cấp độ phát triển, đặc biệt là do bản thân FDI không thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Nhưng kết quả này rõ ràng thúc đẩy chính phủ can thiệp tích cực theo hai hướng.

Một mặt, bằng việc chọn lựa các dự án đầu tư nước ngoài không chỉ dựa trên các tiêu chí tài chính, công nghệ và việc làm, mà còn tuân theo các tiêu chí về sinh thái. Bài học này được rút ra từ thảm họa sinh thái nghiêm trọng tại Hà Tĩnh, nơi một tập đoàn sản xuất thép Đài Loan xả thải ồ ạt ra môi trường xung quanh, gây ra cái chết hàng loạt của hệ động vật biển địa phương.

Mặt khác, chính phủ cần thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng nhanh hơn nhằm giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Trên thực tế, chính phủ đã đề ra mục tiêu đạt được 2/3 tỷ trọng năng lượng tái tạo (chủ yếu là thủy điện, bên cạnh đó là năng lượng mặt trời và gió) trong hỗn hợp năng lượng vào năm 2030.

Nguồn: TKNB – 23/02/2022

Vai trò của Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng môi trường ở Biển Đông


Theo bài viết ngày 8/2 trên trang mạng taipeitimes.com, với việc các tàu chiến của Mỹ và Trung Quốc ngày càng dấn sâu vào trò chơi nguy hiểm, thách thức lẫn nhau với hy vọng đối phương sẽ rút lui trước khi xảy ra va chạm cũng như việc Trung Quốc biến các đảo san hô và các mỏm đá thành các đảo nhân tạo được quân sự hóa, Biển Đông cho thấy một bức tranh nổi bật về cạnh tranh chiến lược Trung – Mỹ.

Tuy nhiên, những yêu sách ngày càng gia tăng của Trung Quốc về chủ quyền ngoài khơi không chỉ thách thức chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia khác và quyền tự do đi lại trên các tuyến đường biển quốc tế, mà còn đe dọa một nhân tố trung tâm của hệ sinh thái ở Đông Nam Á, cũng là tương lai kinh tế của khu vực này. Trung Quốc đã từ đối đưa vấn đề yêu sách lãnh thổ của họ ra thảo luận tại các diễn đàn quốc tế, mặc dù 6 trong số 10 quốc gia và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông có yêu sách đối với nhiều bãi đá, bãi cạn, rạn san hô và tài nguyên ở vùng biển này. Trung Quốc cũng đã phớt lờ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA), theo đó khẳng định các quyền lịch sử của Philippines đối với quần đảo Trường Sa và bác bỏ yêu sách phi lý của Trung Quốc đối với khoảng 90% Biển Đông dựa trên cái gọi là “đường 9 đoạn”.

Đối với 600 triệu dân của Đông Nam Á, cuộc khủng hoảng liên quan tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông không phải là mối lo ngại trong tương lai xa. Các hành động của Trung Quốc đã và đang làm tổn hại đến hệ sinh thái hàng hải và sinh kế của khu vực. Đây chính là bài học quan trọng mà Giáo sư James Borton – nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Chính sách đối ngoại thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế cấp cao Paul H. Nitze của Đại học John Hopkins – đã nêu trong cuốn “Các thông điệp từ Biển Đông: Điều hướng đến điểm chung”. Bỏ qua những cân nhắc về địa chính trị, Borton đã tập trung vào một sự thật cơ bản, là việc Trung Quốc khai thác Biển Đông đang đe dọa tương lai của khu vực, thể hiện qua những thiệt hại về sinh thái, môi trường và kinh tế.

Đánh bắt thủy hải sản – trọng tâm trong cuốn sách của Borton.

Tổ chức Nông – Lương Liên hợp quốc (FAO) cho biết khoảng 15% đến 56% (tùy thuộc vào quốc gia) nguồn protein động vật được tiêu thụ ở Đông Nam Á đến từ các vùng biển lân cận, và thị trường toàn cầu phản ánh sự phong phú này. Mặc dù chỉ chiếm 2,5% diện tích bề mặt đại dương của Trái Đất, nhưng Biển Đông chiếm 12% sản lượng đánh bắt cá của thế giới. Theo Borton, một nửa trong số 3,2 triệu tàu đánh cá đã đăng ký của thế giới hoạt động ở khu vực này.

Trong khi hoạt động đánh bắt quá mức đang là một vấn đề toàn cầu, Trung Quốc rõ ràng đã góp phần một cách không cân xứng với đội tàu đánh cá hoạt động xa bờ gồm 2500 tàu – con số có thể tăng lên 17000 nếu tính cả các tàu không đăng ký và tàu bất hợp pháp. Borton đã thu thập các câu chuyện trực tiếp từ ngư dân, giới quan chức và các nhà nghiên cứu, qua đó phản ánh mức độ suy thoái của các nguồn tài nguyên quan trọng ở Biển Đông. Ước tính, khoảng 2500 loài cá sinh sống trong vùng biển này, nhưng kể từ năm 2000, tỷ lệ đánh bắt đã giảm 70% và trữ lượng cá lớn giảm 90%. Trong nhiều năm, Trung Quốc đã đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt, được cho là để bảo vệ nguồn cá. Năm ngoài, Bắc Kinh đã thông qua luật mới trao quyền cho lực lượng hải cảnh Trung Quốc sử dụng vũ lực đối với các tàu thuyền của các quốc gia láng giềng mà nước này nghi ngờ là vi phạm lệnh đánh bắt ở Biển Đông.

Tuy nhiên, trong khi lực lượng dân quân hàng hải của Trung Quốc xua đuổi tàu thuyền của các quốc gia khác, các hoạt động đánh bắt cá của Trung Quốc trong các khu vực cấm của thế giới vẫn tiếp tục diễn ra. Như vậy, chỉ riêng Trung Quốc đã chiếm 20% sản lượng đánh bắt hàng năm của thế giới.

Những tác động sinh thái từ việc Trung Quốc xây dựng đảo trái phép gây không ít phiền toái. Biển Đông từng là nơi có 1/3 số rạn san hô trên thế giới, nhưng theo Giáo sư Borton, khoảng một nửa số này đã bị mất. Các rạn san hô trên khắp thế giới cũng đang bị suy thoái do tác động của biến đổi khí hậu. Theo phán quyết của PCA năm 2016, Trung Quốc đã đẩy nhanh sự suy thoái này ở Biển Đông khi nạo vét hơn 259 km2 rạn san hô khỏe mạnh để biến thành các đảo nhân tạo.

Borton coi việc không giải quyết được cuộc khủng hoảng Biển Đông là một điềm báo về thảm họa sinh thái. Đề cao công việc của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các quan chức liên quan, ông giải thích bản chất của thách thức và các giải pháp khả thi: “Cũng giống như đại dịch hiện nay đòi hỏi một cách tiếp cận hợp tác, Biển Đông đòi hỏi sự hợp tác khoa học… và truy cập mở vào dữ liệu”. Theo ông, “ngoại giao khoa học có thể thiết lập (…) một điểm khởi đầu cho hợp tác khu vực” và “một khoảng lặng rất cần thiết khi căng thẳng gia tăng”.

Thật không may, việc Chính phủ Trung Quốc không thực hiện bất kỳ điểm nào trong số những điều kể trên trong cuộc khủng hoảng COVID-19 toàn cầu cũng là một điềm báo. Bắc Kinh đã từ chối cung cấp thông tin cơ bản về tác động sinh thái từ việc xây dựng đảo nhân tạo của họ, ngay cả khi nước này mở rộng yêu sách lãnh thổ ra những khu vực khác của châu Á. Các chiến thuật mạnh tay của Trung Quốc cùng việc nước này liên tục quân sự hóa các thực thể ở Biển Đông hầu như cho thấy họ không có ý định chia sẻ dữ liệu, ít đóng vai trò mang tính xây dựng trong việc bảo tồn các hệ sinh thái của khu vực.

Borton nhấn mạnh người dân và nhà khoa học cần hợp tác để tìm cách thu hẹp sự chia rẽ chính trị ở Biển Đông. Với sự quyết đoán của Trung Quốc, các doanh nghiệp có thể ở vị trí tốt hơn chính phủ để thực hiện các giải pháp mà ông đề xuất. Từ những công ty khởi nghiệp đến những gã khổng lồ công nghệ, khu vực tư nhân đang tạo ra những công cụ mới giúp làm sáng tỏ hơn tình hình. Hệ thống vệ tinh và trí tuệ nhân tạo đã được sử dụng để thu thập và phân tích khối lượng lớn dữ liệu khí hậu phục vụ cho người dùng và các nhà nghiên cứu. Microsoft, Google và Amazon đang thu thập và xuất bản nhiều dữ liệu khí hậu hơn, và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp như Larry Fink – Giám đốc điều hành của BlackRock – đang thúc đẩy công ty của họ điều chỉnh hoạt động sao cho phù hợp với chương trình khí hậu toàn cầu.

Tuy nhiên, mặc dù Borton đã đưa ra một cái nhìn tổng thể rõ ràng về cuộc khủng hoảng ở Biển Đông, việc thấu hiểu vấn đề không đảm bảo rằng những người có đủ khả năng giải quyết dám đương đầu với thách thức.

Nguồn: TKNB – 9/02/2022

Vấn đề xử lý rác thải cần một cơ chế đồng bộ


Theo đài RFI, Việt Nam chủ yếu đang áp dụng 2 công nghệ xử lý rác khá sơ đẳng: Chôn lấp và đốt để xử lý khoảng 25 triệu tấn chất thải rắn sinh hoạt hàng năm, trong đó hơn 50% là chất thải rắn sinh hoạt đô thị. Tuy nhiên, chưa một hình thức nào được công nhận thực sự có hiệu quả, thậm chí còn gây thêm ô nhiễm.

Nhà máy Nam Sơn sản xuất điện từ rác thải lớn nhất, hiện đại nhất Việt Nam, cách Hà Nội khoảng 35 km, được kỳ vọng khi đi vào hoạt động tháng 01/2022 sẽ xử lý được 4000 tấn rác thải của người dân thủ đô trên tổng số khoảng 5500 tấn được chuyển hàng ngày đến bãi rác Nam Sơn. Bà Nguyễn Thị Hồng Vân, Tổng giám đốc bộ phận phát triển thị trường Đông Nam Á, Công ty năng lượng Thiên Ý (Trung Quốc), chủ đầu tư nhà máy Nam Sơn cho biết: “Do việc tiếp nhận rác ở Nam Sơn đã quá tải, cho nên thời gian vừa qua, rất nhiều làn nước thải từ rác tràn ra ngoài, ảnh hưởng đến đời sống của người dân”.

Theo trang Đại biểu Nhân dân ngày 21/5/2021, “cả nước có 1322 cơ sở xử lý rác thải rắn sinh hoạt, gồm 381 lò đốt, 34 dây chuyền chế biến compost, 904 bãi chôn lấp, trong đó, chưa đến 20% bãi chôn lấp hợp vệ sinh”. Đây là điểm yếu mà Việt Nam cần khắc phục để có thể xử lý rác thải hiệu quả.

Ông Nguyễn Hữu Ninh – Trưởng đại diện Tổ chức phi chính phủ Gret tại Việt Nam, Trưởng dự án quản lý rác thải và bà Trần Thu Hương – Quản lý dự án Tổ chức Gret, cán bộ phụ trách đào tạo và nâng cao năng lực của dự án quản lý rác thải, nhận định việc người dân phân loại rác thải từ trong hộ gia đình là biện pháp quan trọng bước đầu. Tuy nhiên, trước đó, các cơ quan trung ương và các cấp cần có một cơ chế đồng bộ, từ kỹ thuật (iên quan đến thu gom, xử lý rác) đến pháp lý nhằm giảm thiểu phát thải, khuyến khích tái sử dụng và tái chế.

Ông Nguyễn Hữu Ninh cho biết, ở Việt Nam, trên quy mô cả nước, mỗi ngày, tổng khối lượng rác thải sinh hoạt thải ra dao động từ 60.000 đến 65.000 tấn, trong đó khoảng 20 – 25% tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM. Về xử lý rác thải, tại Hà Nội và TPHCM, chôn lấp vẫn là biện pháp phổ biến nhất, trong đó tại Hà Nội phải đến 90% khối lượng rác thải được xử lý thông qua chôn lấp và tại TPHCM khoảng hơn 70%. Tuy nhiên, về chôn lấp, phần lớn các bãi đều trong tình trạng quá tải và có tác động đến môi trường, gây ra xung đột với các cộng đồng dân cư sống xung quanh đó.

Một trong những lý do nữa là ở Việt Nam, tiêu chí đặt ra là áp dụng những công nghệ mới, không những không cần năng lượng bổ sung mà còn phải sinh ra năng lượng và đáp ứng được một loạt tiêu chí đầu vào. Đó là công nghệ phải xử lý được vấn đề rác thải không cần phân loại nên có rất nhiều rào cản về kỹ thuật, thể chế. Về mặt chủ quan nữa là ý thức của người dân, của cộng đồng trong việc phân loại rác thải, hay là “3R”, có nghĩa là cần giảm phát thải, tăng cường tái chế, tái sử dụng, phân loại… Tất cả những điểm đó liên quan đến ý thức của cộng đồng.

Tổ chức Gret đã can thiệp nhiều vào việc cải thiện phương pháp xử lý rác, phân loại rác tại nguồn là một trong những điểm mấu chốt để xử lý rác thải thành công. Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều dự án của chính phủ, dự án được hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế nhằm thí điểm công tác phân loại rác tại nguồn. Đáng buồn là hiện tại chưa có một dự án nào thật sự thành công. Cho nên, đúng là việc phân loại rác phải được thực hiện đồng bộ, từ khâu thu gom, vận chuyển đến khâu hạ tầng xử lý và cả khâu đầu ra cho sản phẩm tái chế.

Ngoài ra, phải kể đến chế tài, chính sách áp dụng, phải có những đơn giá áp dụng cho từng hình thức xử lý khác nhau. Hiện tại, chính phủ vẫn chỉ có hai hình thức phổ biến nhất là chôn lấp hoặc đốt và có hai đơn giá cho hai hình thức đó. Và đằng sau đó là cả một quy trình theo dõi, giám sát liệu những doanh nghiệp hoặc những đơn vị chịu trách nhiệm xử lý rác thải áp dụng có đúng những hình thức xử lý như đã cam kết không. Có lẽ, thất bại của các dự án phân loại rác tại nguồn là chưa tạo ra được một quy trình đồng bộ.

Ông Nguyễn Hữu Ninh cho biết mới đây chính phủ ban hành luật mới theo quy định hướng ai là người phát thải, người đó phải chịu trách nhiệm. Chẳng hạn, những đơn vị nào sử dụng hàng hóa nilong, chai nhựa phải chi trả để xử lý những rác thải nhựa đó. Tuy nhiên, công tác vận động, tuyên truyền cho người dân hoặc là hướng dẫn cụ thể cho các cấp chính quyền hay doanh nghiệp có thể áp dụng sử dụng chắc còn phải cần thời gian.

Theo bà Trần Thu Hương, có một hướng nữa Việt Nam đang bắt đầu tìm hiểu là thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, vẫn làm giảm thiểu rác thải ngay từ khâu sản xuất và làm thế nào thu hồi rác thải quay lại trong quá trình sản xuất. Thay vì chỉ liên quan đến người tiêu dùng thì giờ phải ràng buộc cả trách nhiệm của nhà sản xuất. Đây là một hướng đi nhưng cũng mới chỉ ở giai đoạn thử nghiệm tìm hiểu.

Dự án của Gret tập trung vào 3 nội dung chính: hỗ trợ cải tạo một số cơ sở hạ tầng xử lý rác thải (bãi chôn lấp, lò đốt sẵn có) để giảm thiểu tác động có hại ra môi trường. Dự án của tổ chức Gret không phải là xây mới và bàn giao cho tỉnh mà hỗ trợ cải thiện các hạ tầng sẵn có, đưa một số công nghệ, một số kỹ thuật mới để giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã vận hành, duy tu, bảo dưỡng, quản lý để giảm thiểu tác động đến môi trường.

Nguồn: TKNB – 15/12/2021

Tàu nạo vét cát của Trung Quốc đang hủy hoại lãnh thổ Việt Nam, Philippines và Đài Loan


Theo trang mạng theepochtimes.com (Mỹ) ngày 27/5, các tàu nạo vét cát của Trung Quốc đã phá hủy hàng nghìn km vuông đáy đại dương để xây dựng các đảo cát. Trên các đảo này, Trung Quốc xây dựng đường băng quân sự và các công trình neo đậu cho tàu ngầm và tàu sân bay. Việc Trung Quốc xây dựng một hòn đảo như Đá Vành Khăn (5,6 km2) trên lãnh hải của Philippines đã ảnh hưởng đến phần diện tích 1200 km2 khi có nhiều lớp trầm tích bóp nghẹt sự sống dưới đáy đại dương. Điều này hàm ý rằng phần diện tích khoảng 12,9 km2 mà Trung Quốc tôn tạo trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines và Việt Nam kể từ năm 2013 đã ảnh hưởng đến phần diện tích khoảng 2.785 km2 dưới đáy đại dương.

Tuy nhiên, tất cả những tàu nạo vét này đã làm gì sau khi hoàn thành công việc trên đảo? Một số tàu có thể đang phá hủy Philippines và Đài Loan.

Theo một bài viết trên tờ Financial Times ngày 27/5, khi gió lặng, có thể nghe thấy tiếng “ầm ầm” ở quần đảo Matsu của Đài Loan. Tiếng ầm ầm phát ra từ các tàu nạo vét của Trung Quốc đang hút cát trái phép từ dưới đáy biển và phá hủy môi trường biển. Lực lượng tuần duyên Đài Loan đôi khi sử dụng vòi rồng để xua đuổi các tàu này.

Chỉ trong tháng 4/2021, lực lượng tuần duyên Đài Loan đã trục xuất 59 tàu nạo vét và tàu vận chuyển cát trái phép ra khỏi khu vực đảo Matsu, chỉ cách tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc 10 km. Năm 2020, các tàu nạo vét đã 6 lần cắt cáp viễn thông dưới biển của đảo Matsu, bao gồm cả Internet. Mỗi lần như vậy, 736 cư dân trên đảo Xiju bị mất kết nối.

Những sự cố này có phải là khúc dạo đầu cho một cuộc tấn công từ đất liền hay một “tai nạn” do các cơ quan hàng hải của Trung Quốc lơ là gây ra hay không? Trả lời từ FT, một quan chức Đài Loan cho biết có lẽ những sự cố này được coi như một phép thử để xem Đài Loan sẽ làm gì nếu một ngày nào đó Đài Loan bị cố ý cắt đứt cáp.

Một tàu nạo vét trong một ngày có thể hút đủ cát để lấp đầy 3 bể bơi Olympic và bán được số cát này với giá 55.000 USD. Tuy nhiên, việc nạo vét cũng hút sạch san hô và các sinh vật sống. Do bị ảnh hưởng từ quá trình nạo vét, những đám rác khổng lồ dưới nước cuộn lên bao phủ và giết chết các sinh vật biển trên diện tích hàng ngàn km2. Các sinh vật khác trong chuỗi thức ăn đó cũng bị xóa sổ. Ngư dân Đài Loan phải gánh chịu hậu quả và các bãi biển đang xói mòn dần.

Bắc Kinh cấm hủy hoại môi trường gần bờ biển của nước mình nên đẩy các tàu nạo vét sang các nước láng giềng trong một động thái mà Su Tzu-yun tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Đài Loan gọi là “chiến thuật vùng xám” và “chiến tranh tâm lý”. Lực lượng tuần duyên Đài Loan không có khả năng thực thi luật pháp đối với các tàu Trung Quốc. Trong số hàng trăm tàu Trung Quốc ở vùng biển Đài Loan vào thời điểm tồi tệ nhất của năm 2020, lực lượng tuần duyên Đài Loan chỉ thu giữ được hai tàu.

Tại sao Đài Loan “ở thế khó” nếu muốn thực thi pháp luật đối với các tàu nạo vét của Trung Quốc? Một chính trị gia Đài Loan giải thích: “Nếu Đài Loan không làm gì cả thì có nghĩa là cho phép phá hủy môi trường. Tuy nhiên, nếu Đài Loan đáp trả bằng vũ lực quân sự để trán áp các tàu nạo vét dân sự thì điều đó có thể tạo cho Trung Quốc cái cớ để tiếp tục leo thang căng thẳng ở eo biển Đài Loan”.

Đài Loan cần sức mạnh của lực lượng tuần duyên Mỹ, được Hải quân Mỹ hậu thuẫn, nếu muốn ngăn chặn Trung Quốc xâm lấn các đảo xa xôi của vùng lãnh thổ này.

Không chỉ phá hủy phần diện tích của Đài Loan khoảng 2.785 km2 vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Việt Nam để xây dựng căn cứ quân sự, Trung Quốc còn đang bị cáo buôc sử dụng tàu nạo vét trên các con sông và bờ biển của Philippines, đào cát đen dùng để sản xuất sắt thép.

Giám đốc điều hành của Chamber of Mines Ronald Recidoro cho rằng: “Có vẻ như nhà thầu đang hỗ trợ bằng cách nạo vét sông, nhưng tại sao nhà thầu lại đào cát đen? Khi nạo vét, chỉ để cát sang một bên”. Theo ông, hiện Manila không có chức năng giám sát việc khai thác cát đen magnetit.

Theo một nhà lập pháp từ khu vực Ilocos của Philippines, Trung Quốc khai thác cát đen “quy mô lớn” trên bờ biển của Philippines ở Biển Đông. Các thợ mỏ của Trung Quốc đang sử dụng thiết bị “hạng nặng” để khai thác khoáng sản và “sà lan” để vận chuyển khoáng sản ra khỏi Philippines. Nhà lập pháp này cho rằng hậu quả là đường bờ biển Luzon đang bị xói mòn dần.

Các nhà lập pháp Philippines muốn đáp trả bằng lệnh cấm xuất khẩu cát đen thô để hỗ trợ quá trình sơ chế ở Philippines nhằm tạo công ăn việc làm cho địa phương.

Bộ Thương mại và Công nghiệp Philippines cho rằng những biện pháp hạn chế như vậy có thể vi phạm các quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều này cho thấy WTO cần có quy định ngoại lệ đối với các ngành chiến lược như thép, tạo việc làm tại địa phương và đối phó với các nước gây hấn như Trung Quốc. Chính quyền Duterte rõ ràng chấp nhận hoạt động khai thác mang tính hủy diệt cục bộ của Trung Quốc, điều này cho thấy chính quyền của ông quá phục tùng Trung Quốc dù Bắc Kinh có đe dọa chiến tranh chống lại Philippines. Sự phục tùng này có thể được giải thích là do Tổng thống Philippines tham nhũng thông qua các giao dịch kinh doanh liên quan đến các cộng sự thân cận của ông với Trung Quốc.

Người dân Philippines phải bỏ phiếu bãi nhiệm ông Duterte nếu muốn giành lại quyền kiểm soát chủ quyền từ tay Bắc Kinh. Lực lượng tuần duyên Philippines được lực lượng tuần duyên và Hải quân Mỹ hậu thuẫn (nếu cần thiết), cần ngăn cản Trung Quốc chiếm đóng và nạo vét trái phép trên lãnh hải của Philippines. Việt Nam và Đài Loan cũng cần hành động tương tự trước việc Trung Quốc xâm lấn bờ biển và phá hoại ngành đánh cá của hai nước này.

Đối với Trung Quốc là hành động rủi ro, nhưng cần thiết để ngăn chặn Bắc Kinh tiếp tục bành trướng. Hành vi bắt nạt sẽ không dừng lại cho đến khi ai đó đứng lên chống lại kẻ bắt nạt.

Nguồn: TKNB – 31/05/2021

Nhức nhối vấn nạn phá rừng ở Việt Nam


Theo đài RFA, tại hội nghị trực tuyến giữa Chính phủ và 63 tỉnh, thành về “tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và giải pháp thực hiện trong thời gian tới” diễn ra cách đây 4 năm (sáng 14/10/2017), Thủ tướng khi đó Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu: “Bác Hồ nhiều lần nói rừng là vàng”, vì thế, Tây Nguyên muốn chặt một cây gỗ thì phải thắp hương mà lạy cây. Nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng cần phải được quán triệt mạnh hơn trong mọi cấp chính quyền, trong cả hệ thống chính trị”, đồng thời đề nghị các bộ, ngành, địa phương đồng tâm làm cho diện tích rừng cả nước phải tiếp tục tăng lên.

Tuy nhiên, tình trạng chặt phá cây rừng, thậm chí phá cả rừng phòng hộ vẫn tiếp tục diễn ra. Những khu rừng phòng hộ ven biển tỉnh Phú Yên bị san bằng để xây dựng khu du lịch; đất rừng phòng hộ tại huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc bị phá để xây công viên nghĩa trang; phá rừng trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng, xây hàng chục móng khách sạn; 21.000 ha rừng phòng hộ lưu vực sông Bến Hải bị chặt phá nghiêm trọng, nhưng cơ quan quản lý rừng phòng hộ ở địa phương không hề hay biết.

Gần đây nhất là dự án Nhà máy Năng lượng mặt trời Phù Mỹ, được Công ty Cổ phần Phát triển tầm nhìn năng lượng sạch khởi công xây dựng tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Dự án này đã khiến một diện tích không nhỏ rừng phòng hộ ở Bình Định bị đốn hạ. Đây là khu rừng phi lao có chức năng chắn gió và sóng biển để bảo vệ người dân khu vực này.

Lý giải với truyền thông nhà nước, đại diện Công ty Cổ phần Phát triển tầm nhìn Năng lượng sạch cho biết: “Trong quá trình thi công, nhà thầu là Công ty TNHH Phước Hưng đã nhầm lẫn, dẫn đến việc chặt phá cây, san ủi bên ngoài phần đất của dự án. Chúng tôi được giao 380 ha để thực hiện dự án thì cũng không lý gì lấy thêm mấy ha đó. Đây chỉ là vô tình, mình không quản lý chặt chẽ nhà thầu nên để xảy ra vi phạm”.

Về việc này, Giám đốc Trung tâm phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) Ngụy Thị Khanh, nhận định: “Theo luật là cấm phá rừng phòng hộ, có quy định của Luật Lâm nghiệp. Phá rừng mà lại là rừng phòng hộ là điều không thể chấp nhận được vì bất cứ lý do gì. Đã là rừng phòng hộ mà còn phá hỏng thì phòng hộ chỗ nào? Không thể đưa lý do phá rừng vì nhầm lẫn, vì vô tình được.

Trong khi thủ tướng phát động phong trào trồng 1 triệu cây xanh thì việc phá rưng đi ngược lại phong trào của thủ tướng, đi ngược lại điều mọi người đang hướng đến là bảo vệ môi trường. Khi việc phá rừng xảy ra, phải nhìn lại trách nhiệm của bao nhiêu cơ quan quản lý, bảo vệ rừng. Những cơ quan này sinh ra để làm gì? Ban bảo vệ rừng phòng hộ đâu?”

Việt Nam cũng có nhiều cơ quan bảo vệ rừng, có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, nhưng đôi khi, chính những người làm trong các cơ quan này lại thông đồng trong việc phá rừng. Có thể nêu một ví dụ gần đây, hồi tháng 6/2021, công an huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) đã triệt phá một đường dây khai thác, vận chuyển gỗ quý trái phép, đồng thời khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các ông Hồ Ngọc Tuấn Vũ, Bùi Văn Thắng và Tạ Văn Huy về hành vi khai thác lâm sản trái phép. Hồ Ngọc Tuấn Vũ là nhân viên bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đạm Bri.

Theo truyền thông nhà nước, tại khu vực đỉnh đèo Pha Đin thuộc tỉnh Điện Biên, tình trạng khai thác rừng thông diễn ra nhộn nhịp mấy tháng nay trước sự bất lực của chính quyền xã và lực lượng kiểm lâm.

Tội hủy hoại rừng được quy định rõ trong Bộ luật Hình sự: người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn viphạm thì bị phạt tiền từ 10 – 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm.

Theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường, rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng phòng hộ gồm có rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió; chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.

Tuy mức độ quan trọng của rừng phòng hộ là vậy, nhưng các vụ phá rừng với mục đích kinh doanh, khai thác khoáng sản vẫn xảy ra bất chấp sự lên án của dư luận và cảnh báo của các chuyên gia.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn thuộc Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ cho rằng: “Đó là do sự bất chấp pháp luật và đạo đức của những người thực hiện những dự án đó. Bởi vì rừng phòng hộ có tác dụng bảo vệ môi trường sống, bảo vệ vùng hạ lưu và dự trữ nguồn nước trong khu vực. Những người làm việc này đã vì lợi nhuận cá nhân mà bất chấp giá trị sống của cộng đồng là điều đáng lên án. Thế nhưng, trách nhiệm này còn liên quan đến chính quyền địa phương đã buông lỏng quản lý, để cho tình trạng này xảy ra mà đáng lẽ phải ngăn chặn ngay từ đầu”.

Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, khẳng định: “Nói ngắn gọn, khi đã quy hoạch là vườn quốc gia hoặc khu phòng hộ thì đều có ý nghĩa rất lớn về mặt sinh thái và các khía cạnh khác nữa. Cho nên, khi vi phạm vào các diện tích đã được quy hoạch, đã được khoanh vùng để bảo hộ, để giữ gìn nghiêm ngặt thì đều là những hành động sai lầm cần phải lên án”.

Nạn chặt phá cây rừng tại những khu rừng phòng hộ tại nhiều địa phương ở Việt Nam đã diễn ra hàng chục năm qua và vẫn đang diễn ra theo chiều hướng gia tăng chưa có điểm dừng. Các cơ quan nhà nước vẫn chưa thể ngăn chặn. Kiểm lâm cho rằng lực lượng của họ quá ít, không thể theo dõi hết các khu vực cần bảo vệ. Nạn chặt phárừngphòng hộ đầu nguồn cũng khí Việt Nam những năm gần đây liên tục gánh chịu các trận lũ quét, lũ lụt gây thiệt hại hoa màu và tính mạng con người.

Nguồn: TKNB – 20/09/2021.

Làm thế nào để Nghị định về giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam có thể mang lại hiệu quả?


Theo đài RFA, Cục Biến đổi khí hậu thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 13/5 vừa qua đã tổ chức Hội thảo trực tuyến tham vấn dự thảo Nghị định của Chính phủ Việt Nam về công tác giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ozon. Hội thảo có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), cùng các doanh nghiệp.

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Lê Công Thành, cho biết Nghị định của Chính phủ sẽ quy định chi tiết các Điều 92 của Bộ luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi năm 2020 quy định bảo vệ tầng ozon; Điều 139 quy định về Tổ chức phát triển thị trường carbon.

Cụ thể, Nghị định sẽ bổ sung nội dung về thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tầng ozon, quy định chi tiết hơn các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cũng như tổ chức và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Ngoài ra, dự thảo Nghị định cần được xây dựng theo định hướng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, đồng thời phải đáp ứng cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu và bảo vệ tầng ozon như Nghị định thư Montreal năm 1987.

Nhiều ý kiến trái chiếu đã được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo về tính khả thi của lộ trình, giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nhẹ khí thải nhà kính và sự vận hành thị trường carbon.

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, chuyên gia môi trường từng làm việc tại Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA), cho rằng Nghị định đưa ra khó mà đạt được mục tiêu: “Những cam kết của thế giới với Liên hợp quốc đều không có biện pháp chế tài. Chỉ là những cam kết mà thôi. Do đó, ít có quốc gia nào trung thành với cam kết của chính mình.

Ngay cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới như các nước phương Tây và Bắc Mỹ, hay ngay cả công ty đang sử dụng các hóa chất cũng đều vi phạm. Nghĩa là họ có làm trên giấy tờ. Tôi đã làm 30 năm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, đồng thời là một kiểm soát viên của EPA trong các nhà máy sản xuất phế thải, tôi thấy vấn đề đó rất tế nhị… Tất cả các quốc gia cố gắng để giảm thiểu phát thải khí CO2 và khí nhà kính nhằm giảm thiểu sự tăng trưởng nhiệt độ dưới 2oC, nhưng mà điều này không được”.

Theo Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, trường hợp của Việt Nam lại càng gặp phải nhiều trở ngại: “Việt Nam không có khả năng khoa học kỹ thuật để thu hồi, phá hủy hay là thanh lọc khí trong công nghệ sản xuất. Đó là vấn đề. Với hai lý do không muốn làm và không có khả năng làm nên tính khả thi ngày càng thấp hơn”.

Trong khi đó, ông Huỳnh Văn Thượng, chuyên gia lâm nghiệp từ Đà Nẵng, lại cho rằng thị trường carbon trong nước dựa trên hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon còn rất mới tại Việt Nam, cho nên Nghị định sẽ khuyến khích các doanh nghiệp sáng tạo, đầu tư vào công nghệ xanh: “Nó sẽ góp phần giúp giảm khí thải nhà kính bởi vì có hai lý do chính: Thứ nhất, nó có những điều luật để khi thị trường carbon có ở Việt Nam thì người ta có cơ sở luật để áp dụng. Thứ hai, khi những luật này ra đời, các doanh nghiệp nhạy bén thông tin và đặc biệt là mấy anh phát thải lớn như công ty xi măng hay than điện, họ phải lo chạy trước để cải tiến công nghệ, để giảm phát thải hoặc khuyến khích trồng rừng để hấp thụ bớt lượng carbon mà họ thải ra. Đó là vấn đề chính mà Nghị định này sẽ góp phần giúp cho Việt Nam giảm khí thải nhà kính”.

Nghị định xác định đối tượng cần phải điều chỉnh là những cơ sở phát thải khí nhà kính, bao gồm các nhà máy nhiệt điện, các cơ sở sản xuất công nghiệp, công ty sử dụng năng lượng hàng năm từ 1000 tấn dầu tương đương quy đổi trở lên, các cơ sở nông nghiệp chăn nuôi có sản lượng sửa hàng năm từ 300.000 tấn trở lên, các hãng hàng không, hãng kinh doanh đường sắt, công ty vận tải đường bộ, đường thủy có sử dụng nhiên liệu hàng năm từ 500.000 tấn dầu quy đổi trở lên, các công ty sản xuất xi măng…

Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam (VSEA) bày tỏ sự ủng hộ Nghị định và cho rằng đây là một nghị định bắt kịp xu hướng trên thế giới. Tuy nhiên, trong một talkshow trên trang Facebook GTV, bà Ngụy Thụy Khanh, đại diện VSEA bày tỏ lo ngại: “Chúng tôi cho rằng cần có nhiều nỗ lực để Nghị định này mang tính khả thi và đảm bảo sẽ là động lực cho ngành kinh tế xanh được phát triển. Nó đòi hỏi cần phải thiết lập các cơ sở dữ liệu công khai, minh bạch để dễ dàng theo dõi quản lý, cũng như được tham vấn rộng rãi để tạo ra những cơ chế thúc đẩy cho các doanh nghiệp, chuyển đổi”.

Theo bà Ngụy Thị Khanh, có như thế, các doanh nghiệp mới có động lực và áp lực để chuyển đổi sang công nghệ sạch, tránh xu hướng nghị định mới chỉ tạo ra một cơ chế cho các doanh nghiệp tiếp tục phát thải rồi buôn bán tín chỉ carbon trên thị trường.

Nguồn: TKNB – 31/05/2021.