Việc nới lỏng kiểm tra phế liệu nhập và hệ lụy


Theo đài RFA, vào những ngày sát Tết, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường bãi bỏ một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu. Liệu việc này có tạo cơ hội cho phế liệu, rác thải công nghệ tràn ngập Việt Nam?

Thời gian qua, các cảng lớn của Việt Nam như Hải Phòng, Cát Lái, Thị Vải, Cái Mép tồn đọng hàng nghìn container phế liệu nhập khẩu, gây khó khăn và thiệt hại cho doanh nghiệp. Khi trả lời báo chí, đại diện một số doanh nghiệp cho rằng, việc hàng nghìn container phế liệu bị chậm thông quan là do doanh nghiệp bị quá nhiều phía “hành”. Ngoài một phần trách nhiệm nhỏ của Cảng vụ, thì trách nhiệm chính thuộc về Tổng cục Hải quan và Bộ Tài nguyên – Môi trường. Tuy nhiên, hai cơ quan này cứ đùn đẩy trách nhiệm và đổ lỗi cho nhau. Phó giáo sư Tiến sĩ Ngô Trí Long, nguyên Viện phó Viện Nghiên cứu thị trường và giá cả, nhìn nhận tình trạng gây phiền hà nhũng nhiễu để trục lợi.

Ngoài ra, theo thống kê của Tổng cục Hải quan, số lượng phế liệu nhập khẩu vào Việt Nam năm 2018 là 9.254.300 tấn, tăng hơn 1.308.100 tấn so với năm 2017. Nguyên nhân lượng phê liệu nhựa nhập khẩu vào Việt Nam gia tăng đột biến trong 6 tháng đầu năm 2018, được các chuyên gia cho rằng, là do Trung Quốc có chủ trương cấm nhập khẩu phế liệu. Cụ thể, bắt đầu từ 01/01/2019, Trung Quốc bổ sung thêm 8 loại phế liệu không được phép nhập khẩu, tăng từ 24 lên 32 loại. Ngoài ra, Malaysia gần như cắt giảm hầu hết danh mục phế liệu được phép nhập khẩu vào quốc gia này.

GS.TS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường, nhận xét về tình trạng này: “Đấy là một quá trình cũng có thay đổi chính sách nhất định, cũng có những lúc Việt Nam yêu cầu không được nhập phế thải, tức là những phê thải có thể được sử dụng cho một khâu nào đó, một ngành nào đó, nhưng cũng có lúc lại xả ra, lại chấp nhận. Đấy là trong quá trình lịch sử dài. Nhưng chúng ta cũng thấy rằng, cái gì là được, cái gì là không được mới là quan trọng. Về việc mà tồn đọng ở các cảng, tôi cho rằng cũng do các cái thay đổi chính sách trogn cả quá trình lịch sử vừa rồi cũng có thể gây ra”.

Việt Nam hiện đang đứng trong top đầu về xả thải rác ra đại dương, chưa kể việc tồn đọng rác xảy ra khắp nơi, vì vậy, nhà báo Mai Quốc Ẩn cho rằng chắc chắn Việt Nam không hề thiếu nguyên liệu tái chế. Theo ông, là do việc phân loại rác từ nguồn đã không được làm tốt. Đặc biệt tình trạng độc quyền xử lý rác bằng công nghệ chôn lấp lạc hậu gây ô nhiễm bị thao túng nghiêm trọng.

Theo nhà báo Mai Quốc Ẩn, nhập khẩu phế liệu cũng đồng nghĩa với nhập khẩu thêm ô nhiễm, thêm bệnh tật, thêm cả áp lực an sinh xã hội sau đó. Ông cũng cho rằng nhập khẩu rác cũng chính là đi ngược lại với thông điệp không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Hiện có hơn 24000 container phế liệu chưa được thông quan tại các cảng trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, nếu bỏ bớt một số nội dung liên quan đến quy trình kiểm tra chất lượng phế liệu nhập khẩu để giải tỏa ách tắc, thì sẽ có bao nhiêu phế liệu kém chuẩn tràn vào Việt Nam? Ngoài phê liệu làm nguyên liệu sản xuất, còn có thể có tình trạng nhiều loại công nghệ lạc hậu theo đó tràn vào Việt Nam.

Giáo sư Đặng Hùng Võ đề ra giải pháp: “Song song với quá trình kiểm soát nhập phế thải thì nhập công nghệ cũng cần phải được kiểm soát chặt chẽ. Tôi cho rằng, Việt Nam hiện nay cũng trên con đường đưa được các bước kiểm soát việc nhập công nghệ rất là chặt và đều có kiểm tra của bên Bộ khoa học công nghệ. Hy vọng, việc thực thi pháp luật vốn được coi là chưa tốt ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ tốt hơn, và hiệu quả thực thi pháp luật sẽ cao hơn”.

Trước đây, từng xảy ra tình trạng rác thải được nhập ồ ạt vào Việt Nam, khi đó việc ngăn chặn hành động này để bảo vệ môi trường cũng ảnh hưởng luôn đến việc nhập khẩu phế liệu của một số ngành sản xuất. Nay lại tháo gỡ một số quy định để thông quan nguyên liệu phế thải, thì lại phát sinh lo ngại rác thải có thể được nhập ồ ạt vào Việt Nam. Đây là câu hỏi khó trả lời dành cho các nhà quản lý chính sách của Việt Nam. Liên quan đến vấn đề này, Giáo sư Đặng Hùng Võ cho biết: “Tôi cho rằng, cuối cùng, chúng ta phải giữ những khâu nào được gọi là kiểm soát chặt, và cũng cần thiết đơn giản hóa thủ tục hành chính. Miễn là chúng ta có thể đánh giá được cái nào (tiêu chuẩn kiểm tra) là cái phải loại bỏ, tức là không được đưa vào và cái nào nên đưa vào. Những điều theo ý tưởng của các nhà quản lý, tôi cho rằng nếu chúng ta làm tốt những khâu như kiểm soát chặt, đồng thời đơn giản hóa hay loại bỏ những khâu mang tính thủ tục, mà không có hiệu quả quản lý, thì tôi cho rằng tư duy ấy cũng là tốt”.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Việt Nam đứng trước nguy cơ trở thành bãi thải phế liệu


Gần đây, trong cuộc phỏng vấn với tờ báo Đất Việt, chuyên gia Đỗ Thanh Bái thuộc Hội Hóa học Việt Nam lưu ý, sau lệnh cấm của Trung Quốc, rác thải của thế giới sẽ ồ ạt tràn vào những nước khác mà trước hết là vào Việt Nam. Việt Nam cũng có vấn đề với rác thải.

Hiện có nguy cơ một phần lãnh thổ Việt Nam sẽ trở thành bãi rác. Nguy cơ này trở thành đặc biệt nghiêm trọng sau khi tháng 1/2018, Trung Quốc đã ban hành lệnh cấm nhập khẩu hầu hết các loại phế liệu, bao gồm các loại giấy vụn và rác nhựa.

Giáo sư Nguyễn Quốc Sỹ từ Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga cho biết, Hà Nội có 8000 tấn chất thải rắn sinh hoạt đô thị mỗi ngày, TPHCM có đến 12.000 tấn. Ông là Giám đốc Phòng thí nghiệm Vật lý Plasma của Trường đại học này, là người điều hành Viện Công nghệ VinIT đã được thành lập hai năm trước đây tại Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Viện này tập hợp, đoàn kết các nhà khoa học từ Việt Nam và Nga. Năm 2018, một số chuyên gia trong số đó bắt đầu làm việc tại Viện nghiên cứu Công nghệ cao Vin Hi-Tech (VHT) được thành lập trong khuôn khổ của Tập đoàn Vingroup.

Giáo sư Nguyễn Quốc Sỹ cho biết: “Hiện nay, toàn thế giới đang phải đối mặt với một vấn đề toàn cầu là làm thế nào để thoát khỏi cảnh rác thải xâm chiếm, đặc biệt các chất thải không thể được tái chế? Thực trạng đang lo ngại với rác thải ở Việt Nam đã thu hút sự chú ý của các công ty Mỹ, Đức, Israel, Nhật Bản. Một số chuyên gia đề nghị nên chon lấp chất thải, những người khác đề nghị đốt rác. Việt Nam là một quốc gia đông dân cư với lãnh thổ không lớn, việc chôn lấp đòi hỏi những khu vực rộng lớn. Phương pháp này gây thiệt hại cho môi trường rất khó khắc phục. Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp. Phương pháp đốt rác rất phổ biến ở Đức và Nhật Bản cũng không phù hợp với Việt Nam. Phương pháp này mang lại hiệu quả chỉ khi các chuyên gia phân loại một cách rất nghiêm ngặt những chất thải theo đặc tính nguy hại của chúng để phân tách giấy vụn và rác nhựa, đồ điện tử và rác thải y tế. Nếu không có chu trình phân loại sơ bộ, vẫn còn lại những chất thải không thể được tiêu hủy, lên đến một phần ba khối lượng ban đầu, phần còn lại nguy hiểm hơn nhiều so với rác thải bị tiêu hủy. Khi đốt rác thải của các xí nghiệp giấy xenlulô, luyện kim và hóa học, trong các lò đốt rác xuất hiện khí thải cực độc, chẳng hạn như furan và dioxin. Chất dioxin là một phần của chất độc hóa học quân đội Mỹ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ở Nhật Bản, Israel và Đức, chu trình phân loại chất thải một cách nghiêm ngặt được tổ chức rất tốt, còn ở Việt Nam thì không có chu trình này”.

Theo các nhà khoa học của Nga và Việt Nam làm việc tại VinIT và Vin Hi-Tech, giải pháp cho tình trạng này là công nghệ khí hóa bằng dòng plasma.

Nhà khoa học Sergei Popov từ St. Petersburg, một trong những nhà phát triển công nghệ này, cho biết, công nghệ này không đòi hỏi bố trí các hệ thống làm sạch khí, chi phí mua các hệ thống này chiếm tới 70% giá trị lò đốt rác thông thường. Nó không đòi hỏi phân loại sơ bộ chất thải, chu trình này xảy ra ở nhiệt độ cao hơn nhiều so với lò đốt rác thông thường. Với công nghệ plasma, trong khí thải không có furan và dioxin. Phần còn lại của rác chỉ là 1/400 khối lượng ban đầu của nó.

Giáo sư Nguyễn Quốc Sỹ giải thích thêm, dòng plasma biến chất thải thành khí tổng hợp có thể được sử dụng để sản xuất điện. Xí nghiệp khí hóa rác thải bằng dòng plasma không chỉ sản xuất đủ điện năng cho nhu cầu của mình mà còn cung cấp điện được sản xuất ra dư thừa cho các khu công nghiệp và khu dân cư lân cận.

Module tối thiểu khí hóa bằng dòng plasma, do các nhà khoa học Nga và Việt Nam phát triển, sẽ có công suất lên tới 300 tấn rác mỗi ngày. Công suất này là đủ để làm sạch khu định cư hoặc doanh nghiệp không lớn. Đối với những thành phố và xí nghiệp lớn hơn có thể tăng số lượng module như vậy.

Dự án của các nhà khoa học Nga và Việt Nam đã thu hút sự chú ý của ban lãnh đạo Vingroup, tập đoàn thể hiện sự sẵn sàng hỗ trợ việc thực hiện dự án. GIáo sư Nguyễn Quốc Sỹ dự đoán module đầu tiên có thể được đưa vào hoạt động sau hai năm nữa. Công nghệ khí hóa bằng dòng plasma có thể góp phần ngăn chặn nguy cơ Việt Nam trở thành bãi rác.

Nguồn: TKNB – 21/09/2018

Lào – “Cục pin ở châu Á”


Theo đài BBC, Lào ồ ạt ây đập dọc sông Mekong để bán điện cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam, bất chấp cảnh báo về các mối nguy cho an sinh của cộng đồng.

Thời bái Vientiane dẫn lời Tỉnh trưởng Attapeu, ông Bounhom Phommasane, cho biết 19 người chết, hơn 100 người mất tích và hàng ngàn người đang chờ được cứu sau vụ vỡ đập thủy điện Sepien Senammoi, huyện Sanamxay của tỉnh này.

Lợi và hại từ tham vọng biến Lào thành “cục pin”

Theo Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế, các đập thủy điện trên sông Mekong có thể dẫn tới nguy cơ giảm 30 – 40% sản lượng đánh bắt được vào năm 2040, giảm sản lượng nông nghiệp, kéo theo đói nghèo và làm tăng mức độ dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu của các nước ở hạ lưu sông Mekong, trong đó có Việt Nam.

Theo Vietnamnet, trong số các đơn vị thi công đập thủy điện Sepien Senammoi có công ty Cổ phần Xây dựng và nhân lực Việt Nam (CMVietnam).

Sau khi hoàn thành, 90% sản lượng điện sản sinh từ dự án sẽ được bán cho công ty EGAT Thái Lan và 10% còn lại bán cho công ty điện EDL của Lào. Không thấy nhắc đến khách hàng Việt Nam trong dự án xây đập này, nhưng trên thực tế, Việt Nam đã và đang mua điện từ các đập thủy điện của Lào.

Theo The Diplomat, trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4/2018, Bộ trưởng Năng lượng và Khoáng sản Lào Khammany Inthirath đã gặp Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh để bàn việc hợp tác xuất khẩu điện của Lào cho Việt Nam và đã thảo luận việc xây dựng các khung pháp lý và hạ tầng để thực hiện.

Thực tế là Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu điện. Theo ước tính, sản lượng điện cần nhập khẩu vào Việt Nam tăng hơn 37,5% vào năm 2025 và tăng lên 58,5% vào năm 2035.

Theo tờ The Strait Times (Singapore), Lào có tham vọng trở thành “cục pin xạc” của châu Á (the battery of Asia), với nhiều dự án xây đập thủy điện có vốn đầu tư nước ngoài dịc hệ thống sông ngòi nước này.

The Nikkei Asian Review, trong khi châu Âu lưỡng lự đầu tư vào các dự án thủy điện ở Lào do lo ngại ảnh hưởng tới nguồn cá ở khu vực sông Mekong thì các nước khác như Thái Lan, Trung Quốc lại đầu tư ồ ạt vào lĩnh vực này tại Lào.

Tờ The Diplomat cho rằng Lào có khát vọng trở thành nhà xuất khẩu điện lớn nhất trong khu vực. Hiện nay, các đập thủy điện ở Lào có công suất 6000 MW. Chính phủ Lào tham vọng đạt công suất 14.000 MW vào năm 2020.

Trên 30% khảon tiền đầu tư nước ngoài 6,6 tỷ USD vào Lào từ năm 1986 đã được chi cho việc xây dựng các đập thủy điện HIện Lào đã vận hành 42 nhà máy thủy điện, 39 đập thủy điện và đang xây tiếp 53 đập.

Chính quyền Thái Lan và mạng xã hội Thái Lan đã kêu gọi quyên góp hỗ trợ nạn nhân vụ lụt do vỡ đập ở Lào. Dư luận Thái Lan muốn “trả ơn” nước Lào đã cử đội cứu trợ tham gia đợt giải cứu đội bóng nhí tại hang Tham Luang, Chiangrai gần đây. Tuy nhiên, có vẻ như chính quyền Lào không muốn truyền thông nước ngoài vào đưa tin về vụ vỡ đập. Một số nhà báo Thái Lan cho biết đơn xin thị thực (M-B2) để tác nghiệp báo chí của họ bị Bộ Ngoại giao Lào từ chối. Khác với đa số các quốc gia khác trên thế giới, Lào yêu cầu báo chí nước ngoài phải có thị thực đặc biệt mới có thể vào đưa tin.

Các báo Việt Nam ngày 25/7 đưa tin công ty Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) sẽ dùng trực thăng đưa 26 công nhân và trẻ em về nước an toàn. Bước đầu, HAGL hỗ trợ 50 tấn gạo cùng thực phẩm và quần áo gửi tới Attapeu trong ngày 25/7 để giao cho Ủy ban Cứu trợ của Chính phủ Lào.

Theo Vietnamnet, công ty này cũng lập đội cứu nạn gồm các bác sỹ, y tá đến Attapeu gày 25/7 để hỗ trợ các hoạt động cứu trợ của chính phủ Lào.\

Đập thủy điện mới bị vỡ nằm cách Việt Nam khoảng 700 km và cách nhánh sôn gchi1nh của sông Mekong khoảng 200 km.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Vỡ đập thủy điện – thảm họa đã được báo trước


Theo đài RFI, ít nhất 7 ngôi làng ở miền Đông Nam nước Lào đã bị ngập tối 23/7 do vỡ đập thủy điện Sepien Senamnoi. Dòng nước hung dữ đã cuốn đi nhiều căn nhà, người dân phải leo lên nóc những công trình còn trụ vững để trú ngụ, hoặc đeo bám trên cây. Hàng chục người và hơn 100 người mất tích.

Các hình ảnh của kênh truyền hình, ABC Laos News cho thấy chỉ còn cây cối và một số nóc nhà trồi lên khỏi mặt nước bùn đục ngầu. Trong một video, một phụ nữ run rẩy bế một em bé bước lên một chiếc xuồng gỗ, cho biết mẹ của bà vẫn phải trốn trên một cành cây. Có ít nhất 6000 người dân đã bị mất nhà.

Đập nước này được xây dựng trên một nhánh sông Mekong tại vùng cực Nam nước Lào, gần biên giới Việt Nam và Campuchia. Dự án đập thủy điện, với 90% sản lượng sẽ được bán cho Thái Lan một khi đi vào hoạt động, là công trình hợp tác giữa Lào với một công ty Thái Lan và 2 tập đoàn Hàn Quốc – trong đó có một chi nhánh của SK, một trong những tập đoàn lớnn nhất Hàn Quốc.

Dự án thập điện 410 MW được ước tính bắt đầu hoạt động vào năm 2019, gồm 2 đập chính và 5 hồ chứa, làm chuyển dòng 3 nhánh sông. Chi nhánh kỹ thuật và xây dựng của Tập đoàn SK thông báo phần trên cao của một trong những công trình phụ “đã bị cuốn trôi” trong đêm 22/7, sau nhiều ngày mưa lớn.

Hồ trữ nước dài 770m và cao 16m đã bị vỡ 1 ngày sau đó. Hiện trạng này khiến người ta đặt câu hỏi về những khiếm khuyết của hệ thống cảnh báo người dân địa phương, cho dù Tập đoàn SK nói rằng “đã báo động ngay lập tức cho chính quyền và bắt đầu di tản dân làng” vào tối 22/7.

45 đập thủy điện đang được xây dựng

Thảm họa này là minh chứng cụ thể cho mối quan ngại lâu nay tại một đất nước muốn trở thành “cột trụ châu Á” với tiềm năng to lớn về thủy điện. Là một quốc gia nhiều núi no hiểm trở, không có biển, được một đảng cộng sản lãnh đạo theo kiểu toàn trị, có thể toàn quyền quyết định mô hình phát triển theo ý mình, từ 1 thập niên qua, Lào đã tung ra rất nhiều dự án thủy điện trên những dòng sông chính, trong đó có dòng Mekong và các phụ lưu.

Có đến 45 đập thủy điện được xây dựng tại Lào, trong đó 12 đập đã đi vào hoạt động. Theo ông Martin Burdett, cộng tác viên của tờ Tạp chí quốc tế về đập thủy điện (International Journal on Hydropower & Dams), Lào “có thể cung cấp 26.500 MW từ thủy điện, và hiện chỉ mới khai thác 25% tiềm năng này”.

Tuy nhiên, hậu quả là các sự cố liên tục xảy ra. Một đập thủy điện ở miền Trung Lào đã bị vỡ hôm 11/9/2017. Các quan chức địa phương cáo buộc đơn vị phụ trách đã xây dựng trên khu vực đầm lầy, đồng thời đổ thừa nguyên nhân là do mưa lũ. Trước đó, vào tháng 12/2016, một đường ống dẫn nước đến tuabin của một công trình thủy điện ở một tỉnh miền Nam, gần biên giới Việt Nam, cũng đã bị vỡ do được xây dựng trên vùng đất dốc từng xảy ra các vụ sạt lở đất và nay càng trở nên bất ổn vì công trường xây dựng đập nước.

Tác động tai hại của việc lạm dụng xây dựng thủy điện đối với môi trường đều đã rõ: hệ sinh thái sông ngòi bị xuống cấp, sự đa dạng các loài thủy sản bị ảnh hưởng, dẫn đến sản lượng ngư nghiệp đánh bắt từ sông Mekong và vùng ĐBSCL bị giảm sút nặng nề.

Một dự án đập thủy điện lớn khác đang được tiến hành tại Lào là đập Xayaburi do tập đoàn Thái Lan CH Kamchang xây dựng, giá trị ước tính 3,8 tỷ USD, công suất 1285 MW, khiến Việt Nam và Campuchia, hai quốc gia nằm ở hạ nguồn lo ngại.

Ông Marc Goichot, phụ trách chương trình nước của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) tại khu vực sông Mekong nhận xét: “Một nước nhỏ vốn không có năng lực về kỹ thuật và quản lý để theo dõi các nghiên cứu về tác động, nhưng lại lao vào xây dựng một loạt đập thủy điện là đặc biệt nguy hiểm!

Theo ông Goichot: “Các công trình thủy điện quy mô rất hấp dẫn đối với một quốc gia đang phát triển, nhưng hàm chứa nhiều rủi ro. Khủng khiếp nhất là vỡ đập, và một trong những hậu quả cay đắng là ngành đánh cá bị suy tàn, khiến những người nghèo khổ nhất không còn phương kế mưu sinh”.

Chỉ tính lợi ích kinh tế trước mắt, bất kể thảm họa

Các công trình quan trọng được giới quan chức địa phương coi là đòn bẩy thăng tiến, và ngân sách khổng lồ đổ vào cũng là nguồn tham nhũng trong một đất nước thiếu tính minh bạch. Các quan chức chính quyền được giao nhiệm vụ giám sát nhưng không có đủ kiến thức cần thiết để quản lý chặt chẽ dự án. Vì vậy, các tập đoàn xây dựng và điện lực lớn có thể thương lượng trên thế mạnh và thủ thế kỹ về mặt pháp luật, để đổ trách nhiệm cho chính quyền địa phương trong trường hợp có vấn đề.

Đối với các ngân hàng lớn nước ngoài, những dự án thủy điện còn khả tín hơn khi được áp lên những con dấu của các công ty quốc doanh Trung Quốc. Quốc gia láng giềng khổng lồ này can dự vào một số lượng lớn các dự án, bên cạnh đó là Cơ quan sản xuất điện lực Thái Lan, khách hàng mua điện. Vì vậy, các dự án thủy điện được ưu tiên về tín dụng.

Các đập thủy điện được giới thiệu là chiến lược phát triển của Lào. Việc bán điện cho nước khác mang lại nguồn tài chính lớn cho Nhà nước, giảm bớt thâm hụt thương mại của một đất nước không có nền kỹ nghệ. Nhưng trên thực tế, các quyết định hành chính được đưa ra bởi các bộ chỉ quan tâm đến việc thu lợi nhanh chóng, mà không nghĩ đến tác động về lâu dài và nguy cơ xảy ra những thảm họa.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Cảnh báo đối với Việt Nam sau vụ vỡ đập ở Lào


Theo đài RFA, đập thủy điện Sepien Senamnoi trị giá 1,02 tỷ USD đang trong quá trình xây dựng đã vỡ vào ngày 23/7. Đây là dự án xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT) gồm 3 con đập Houay Makchan, Sepien và Senamnoi nằm trên các nhánh của sông Mekong.

Ngay sau khi vụ vỡ đập xảy ra, Việt Nam đã họp khẩn về tác động của vụ việc đối với khu vực sông Mekong ở Việt Nam. Theo nhận định của cơ quan chức năng, tác động đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long không lớn, chỉ làm tăng mực nước lên 5 – 10 cm trong vài ngày tới.

Nước sẽ tràn về Việt Nam trong vài ngày tới

Theo VnExpress, ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiêm Phó ban chỉ đạo Trung ương Phòng chống thiên tai, cho biết: “Sự cố này nếu có ảnh hưởng đến Việt Nam thì cũng không lớn. Đây là con đập đang trong quá trình thi công và đã bắt đầu tích nước. Tuy nhiên, lượng nước tích được hiện nay chưa ai xác định được nên chưa thể có thông số chính xác.

Theo ông Thắng, các nhà khoa học ước tính trong 5 – 6 ngày tới, nước từ vụ vỡ đập Lào sẽ tràn về Việt Nam. Mực nước khi về đến Tân Châu, Châu Đốc (An Giang) sẽ dâng lên khảong 5 cm so với hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Tính, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng cho biết, do mực nước ở các sông đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện đang thấp, nên khi nước từ Lào tràn về sẽ không ảnh hưởng nhiều.

Trong khi đó, ông Trần Đức Cường, Phó Chánh văn phòng thường trực Ủy ban sông Mekong Việt Nam cho rằng “vỡ đập thủy điện ở Lào là sự cố đột xuất nên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Hiện các cơ quan hữu quan đang thu thập số liệu và kết quả phân tích sẽ có trong 1 – 2 ngày tới để cảnh báo cho các quốc gia, đặc biệt là vùng ĐBSCL của Việt Nam”.

Đó là ảnh hưởng trước mắt. Còn về lâu dài, các mối nguy đối với an toàn lương thực cho Việt Nam và toàn khu vực Đông Nam Á do kế hoạch xây nhiều đập thủy điện dọc sông Mekong đã được cảnh báo từ lâu.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Trần Nhơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết, sự việc đã để lại  bài học quý giá về quản lý thủy điện đối với Việt Nam: “Những chiến lược để thực hiện phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Phòng phải là quan trọng nhất. Khi có một công trình đã xây dựng và trong quá trình quản lý vận hành thì luôn phải có phương án phòng tránh và khi có sự cố phải giảm nhẹ sự cố đó. Phải có tinh thần kiểm tra, kiểm soát, rà soát lại trước mùa mưa lũ hàng năm và 3 năm một lần phải tổng kiểm tra”.

Nhận định về những hậu quả có thể gây ra với ĐBSCL, Tiến sĩ Dương Văn Ni, một chuyên gia về ĐBSCL cho biết: “Ảnh hưởng lớn nhất là người dân ĐBSCL sẽ rất sợ bởi vì trên dòng Mekong còn nhiều đập lớn nữa đang xây và dự định xây. Về ảnh hưởng trực tiếp của vụ vỡ đập theo các cơ quan truyền thông, mùa này chưa phải cao điểm ngập lụt ở ĐBSCL nên chắc không ảnh hưởng nhiều”.

Thảm họa nói trên xảy ra giữa lúc Lào đặt mục tiêu trở thành “nguồn pin của châu Á” bằng cách bán điện cho các nước láng giềng thông qua một loạt dự án thủy điện. Chính phủ Vientien hiện xuất khẩu 2/3 lượng thủy điện và nguồn thu từ điện chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tuy nhiên, các nhà hoạt động môi trường ở Lào đã nhiều lần bày tỏ quan ngại về hậu quả của các đập thủy điện dọc sông Mekong mà Chính phủ Lào đang có kế hoạch xây dựng. Theo đó, khoảng 12 đập lớn và 120 đập ở các nhánh sông này sẽ được xây dựng trong 20 năm tới. Bản thân dự án Sepien Senamoi cũng từng gây tranh cãi vì nó có thể tác động tiêu cực đến sông Mekong và cộng đồng cư dân gần đó.

Thời báo châu Á số ra ngày 25/7 đã đăng bài viết với nhan đề “Thảm họa vỡ đập ở Lào cho thấy những thất bại của chế độ Đảng Cộng sản”. Bài báo nêu rõ sự thờ ơ của cơ quan chức năng Lào trước những hiểm họa vỡ đập Sepien Senamnoi đã được cảnh báo trước đó. Bài báo dẫn lời Giám đốc Chiến dịch trả tự do cho Lào (Free Laos) – một tổ chức cổ xúy dân chủ quốc tế, ông Joe Rattanakhom cho biết người dân Lào cảm thấy vô vọng vì hầu hết đều sợ nói lên những sai trái trong cách quản lý của Chính phủ đối với đất nước và nguồn tài nguyên quốc gia. Chính phủ Lào không quan tâm đến những tác động xã hội và môi trường vì họ là những người được hưởng lợi từ thể chế tham nhũng ở Lào, bất kể đó là các dự án thủy điện hay khai thác gỗ…

Công trình thủy điện ở Việt Nam còn nhiều bất cập

Đài RFA dẫn lời Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL cho biết thảm họa vỡ đập ở Lào một lần nữa cho thấy vấn đề an toàn đập trên lưu vực sông Mekong là đáng lo ngại và cách làm thủy điển trong lưu vực sông Mekong chưa đạt độ chuyên nghiệp, tin cậy.

Theo thống kê và khảo sát sơ bộ của cơ quan chức năng, năm 2013, Việt Nam có hơn 200 đập thủy điện, trong đó, 95% là không đạt yêu cầu. Phần lớn đập và hồ chứ tập trung ở miền Trung, nơi có độ dốc cao – một bên giáp núi, một bên giáp biển.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật, một nhà hoạt động môi trường cho biết: “Nhiều người đã biết các vụ vỡ đập thủy điện ở Việt Nam như ở Lâm Đồng. Điều đó chứng tỏ việc thiết kế và vận hành thủy điện ở Việt Nam có vấn đề mới dẫn đến việc vỡ đập, họ không lường trước được những nguy cơ rủi ro do vấn đề địa chấn, sụt lở đất hoặc do vấn đề kỹ thuật thiết kế hay do cả hai”.

Thạc sĩ Nguyễn Huỳnh Thuật so sánh các công trình thủy điện ở Việt Nam cũng giống như các dự án xây dựng đường sá, cầu cống, chưa làm xong đã bị lún, bị sập. Ông cho rằng đây là hậu quả của vấn nạn tham nhũng, rút ruột công trình: “Nó liên quan đến vấn đề năng lực thiết kế, năng lực đấu thầu, cạnh tranh và năng lực xây dựng, thẩm định, giám sát. Nhưng điều quan trọng nhất, gốc rễ của mọi vấn đề, đó là nền tảng đạo đức bị suy thoái và vấn đề tham nhũng đang ở đỉnh điểm”.

Một nghiên cứu của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế, Liên minh Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên phối hợp với Ủy ban Sông Mekong Campuchia công bố tháng 5 vừa qua cho biết nguồn sinh kế của 3,4 triệu người dân Lào, Campuchia và Việt Nam đang bị đe dọa do việc xây dựng 65 đập thủy điện tại lưu vực nơi sông Mekong chảy qua các nước này.

Sau đó 1 tháng, Tổng cục Phòng chống thiên tai Việt Nam cho biết các đập thủy điện đầu nguồn do Trung Quốc xây dựng trên dòng Mekong đang gây sạt lở nghiêm trọng bờ sông và bờ biển khu vực ĐBSCL. Báo cáo nêu rõ trước năm 2010, khi Trung Quốc chưa hoàn thành các công trình thủy điện, tình trạng sạt lở ở ĐBSCL không nghiêm trọng. Tuy nhiên, kể từ năm 2010 đến nay, khi nhiều dự án thủy điện và hồ chứa của Trung Quốc đã hoàn thành, mức độ lở đã gia tăng nghiêm trọng.

Thêm vào đó, đầu năm nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết Việt Nam hiện có khoảng 6650 hồ chứa thủy lợi, nhưng có đến 1200 hồ chứa trong số này bị xuống cấp nghiêm trọng.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Ý thức xanh và nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI – Phần cuối


Sau khi bước vào những năm 1980, cùng với việc thực hiện chính sách cải cách mở cửa, sự hiểu biết của Trung Quốc về thế giới sâu sắc thêm, mối liên hệ với thế giới cũng được tăng cường, ý thức xanh dần được truyền bá vào Trung Quốc, người Trung Quốc dần nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề môi trường của Trung Quốc, bảo vệ môi trường được đề ra như là một quốc sách cơ bản, ý thức xanh bắt đầu đi vào đầu óc một số người. Năm 1992, chính phủ Trung Quốc tham gia Hội nghị Môi trường và Phát triển Liên hợp quốc tổ chức tại Rio de Janeiro thủ đô Brazil, và trở thành người ủng hộ tích cực Chương trình Nghị sự của thế kỷ XXI, chứng tỏ ý thức xanh đã chính thức đi vào hệ thống quan niệm quan phương. Phải nói rằng, từ sự giác ngộ ý thức xanh của mọi người đến chỗ việc bảo vệ môi trường được xác lập như là quốc sách cơ bản, mô hình phát triển bền vững trở thành mô hình phát triển mới, Trung Quốc đã bước những bước đáng mừng theo phương hướng văn minh xanh.

Nhưng cũng cần tỉnh táo nhận thấy rằng, tình trạng ô nhiễm sinh thái, phá hoại môi trường ở Trung Quốc hiện nay còn khá nghiêm trọng, ý thức xanh còn chưa triệt để đi vào lòng người, để thực sự đi theo con đường phát triển bền vững, bước đường còn có nhiều khó khăn. Một học giả đã nghiêm khắc chỉ rằng, “do thiếu hậu thuẫn của tư tưởng xanh ở tầng sâu nên việc nghiên cứu tuyên truyền về phát triển bền vững ở Trung Quốc tuy ồn ào nhưng không tránh khỏi hời hợt trống rỗng”. Năm 1997, điều tra của một tổ điều tra do các đơn vị như Đài Truyền hình Trung ương hợp thành về tình trạng ô nhiễm ở khu vực Hoài Hà cho thấy, kẻ chủ yếu gây ra ô nhiễm là một số nhà máy hóa chất, nhà máy dệt nhuộm, nhà máy giấy ven bờ Hoài Hà. Mà trong số những người có trách nhiệm của các nhà máy gây ô nhiễm này, có một bộ phận khá đông là những người đã tốt nghiệp đại học trong những năm 1980. Thực tế cho thấy, trong giáo dục tư tưởng ở Trung Quốc, giáo dục ý thức xanh lâu nay vẫn là mảnh đất bị bỏ hoang. Trong giáo dục tư tưởng cho quốc dân, nếu chỉ chú ý đến giáo dục ý thức tiết kiệm như “tiết kiệm nước”, “tiết kiệm lương thực”, “tiết kiệm điện” thì hoàn toàn chưa đủ, cần tiến hành giáo dục ý thức xanh một cách toàn diện, có hệ thống từ tầm cao của quan hệ giữa con người và giới tự nhiên, bồi dưỡng những con người mới XHCN có ý thức xanh. Không có con người mới XHCN có ý thức xanh, Trung Quốc khó đạt được sự phát triển hài hòa kinh tế xã hội, khó đạt được thành công thực sự của sự nghiệp xây dựng hiện đại hóa XHCN. Do vậy, bồi dưỡng con người mới XHCN có ý thức xanh trở thành nhiệm vụ quan trọng của xây dựng nền văn minh tinh thần XHCN trong thế kỷ XXI.

III/ Địa vị và vai trò của ý thức xanh trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN ở thế kỷ XXI

Với tính cách là phàm trù văn minh tinh thần có ý nghĩa thế giới của loài người, ý thức xanh có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng nền văn minh tinh thần XHCN trong thế kỷ XXI. Nếu như ở thế kỷ XX ý thức xanh mới chỉ là sự bổ sung cho hệ thống văn minh tinh thần XHCN thì ở thế kỷ XXI ý thức xanh phải trở thành phạm trù bên trong của hệ thống văn minh tinh thần XHCN và có địa vị và vai trò nổi bật trong toàn bộ hệ thống văn minh tinh thần XHCN.

Xét về địa vị, trước hết, trong thế kỷ XXI ý thức xanh sẽ từng bước từ ngoại vi của hệ thống văn minh tinh thần XHCN đi tới địa vị chủ đạo, dung hợp với thế giới quan và quan niệm giá trị của chủ nghĩa Marx, hình thành quan niệm luân lý sinh thái và quan niệm giá trị sinh thái của CNXH, từ đó dung hòa vào hệ thống đạo đức tư tưởng chủ đạo và toàn bộ hệ thống văn hóa của CHXN, trở thành một bộ phận của văn hóa chủ đạo XHCN trong thế kỷ XXI. Thứ hai, trong thế kỷ XXI, từ điều kiện xây dựng văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh sẽ trở thành mục tiêu của văn minh tinh thần XHCN. Bồi dưỡng ý thức xanh cho toàn dân, xây dựng con người mới có ý thức xanh không chỉ là điều kiện của xây dựng văn minh vật chất và văn minh tinh thần XHCN, mà còn là mục tiêu của xây dựng văn minh tinh thần XHCN, bởi vì sự hình thành ý thức xanh không chỉ có lợi cho việc xúc tiến hoàn thiện thế giới tinh thần của con người trong xã hội XHCN mà còn có lợi cho việc xúc tiến cải thiện mó quan hệ giữa con người và môi trường xã hội, môi trường tự nhiên trong đó con người sinh sống. Cuối cùng, trong thế kỷ XXI, từ văn hóa tinh anh của hệ thống văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh còn trở thành văn hóa đại chúng của hệ thống này. Cuối cùng, trong thế kỷ XXI, từ văn hóa tinh anh của hệ thống văn minh tinh thần XHCN, ý thức xanh còn trở thành văn hóa đại chúng của hệ thống này. Trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, ý thức xanh hãy còn là quan niệm tư tưởng của một số ít phần tử tinh anh “tiên tri tiên giác” trong đất nước XHCN, ý thức xanh của quần chúng trong xã hội còn tương đối mơ hồ và mờ nhạt, do đó, ý thức xanh thuộc về phạm trù văn hóa tinh anh có tính tiên phong. Trong thế kỷ XXI, cùng với sự phổ cập của tuyên truyền, giáo dục và truyền bá ý thức xanh, ý thức xanh đã trở thành quan niệm tư tưởng của số đông người, xâm thấu rộng rãi vào trong đời sống và công tác thường ngày của mọi người, trở thành một bộ phận của văn hóa đại chúng.

Xét về vai trò, ý thức xanh ít nhất có bốn vai trò dưới đây trong việc phát triển và hoàn thiện hệ thống văn minh tinh thần XHCN ở thế kỷ XXI:

Thứ nhất, mở ra nguồn giá trị đạo đức mới. Sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật, sự mở rộng toàn cầu hóa trong thế kỷ Xxi sẽ làm cho loài người nẩy sinh nhiều nhu cầu giá trị đạo đức mới, bao gồm luân lý kinh tế, luân lý khoa học kỹ thuật, luân lý công tác, luân lý đời sống, luân lý giao tiếp, những lĩnh vực này đều cần có nguồn giá trị mới. Trong hệ thống văn minh tinh thần XHCN của Trung Quốc còn thiếu nguồn giá trị xanh, chẳng hạn như quan niệm giá trị sinh thái có hệ thống, quan niệm giá trị hài hòa giữa con người và môi trường…, do vậy, sự hình thành ý thức xanh có thể mở ra cho văn minh tinh thần XHCN nguồn giá trị đạo đức mới, thỏa mãn nhu cầu giá trị mới của sự phát triển của thời đại.

Thứ hai, cung cấp quy phạm hành vi mới. Trong hệ thống quy phạm hành vi xã hội truyền thống, đã hình thành hệ thống quy phạm hành vi tương đối hoàn chỉnh giữa người và người, giữa người và xã hội, nhưng bỏ qua mất quy phạm hành vi quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Ngay cả trong xã hội XHCN, quan hệ giữa người và giới tự nhiên đã được coi là quan hệ chủ thể – khách thể, các loại hành vi con người nô dịch giới tự nhiên, chinh phục và cải tạo giới tự nhiên cũng được phủ cho ý nghĩa hợp lý tuyệt đối, khiến cho quan hệ giữa con người và giới tự nhiên ngày càng đối lập nghiêm trọng. Đưa ý thức xanh vào hệ thống quy phạm hành vi XHCN có lợi cho việc uốn nắn sự thiếu sót quy phạm hành vi trong quan hệ giữa con người và giới tự nhiên trước đây, hình thành quy phạm quan hệ đúng đắn giữa con người và giới tự nhiên và quy phạm hành vi kiểu mới trong quan hệ giữa người và người, giữa con người và giới tự nhiên.

Thứ ba, sáng tạo ra tập tục xã hội mới. Xét ảnh hưởng xã hội của ý thức xanh ở các nước phát triển, nó không chỉ thúc đẩy xã hội hình thành mốt tiêu dùng mới, lối sống mới và mốt thẩm mỹ mới, mà còn thúc đẩy hình thành tập tục xã hội kiểu mới như coi trọng quyền lợi phụ nữ, coi trọng giá trị gia đình và đồng tình với các quần thể yếu, có lợi cho việc duy trì sự cân bằng sinh thái văn hóa xã hội loài người. Những mốt mới và tập tục xã hội mới này cũng cần thiết cho xã hội XHCN trong thế kỷ XXI. Do vậy, sự hình thành rộng khắp của ý thức xanh tất yếu sẽ xúc tiến sự xác lập tập tục mới của xã hội XHCN.

Thứ tư, hình thành sợi dây tinh thần mới. Tuy toàn cầu hóa là xu thế quan trọng trong sự phát triển của cả xã hội loài người ở thế kỷ XXI, nhưng do có sự khác biệt về văn hóa dân tộc, mâu thuẫn và xung đột giữa các nước trên thế giới về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa cũng là điều không tránh khỏi. Muốn bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy sự phồn vinh và phát triển chung của loài người, cần kiến tạo một loạt giá trị phổ quát mới, cung cấp cho loài người sợi dây tinh thần mới. Thực tiễn chứng minh, ý thức xanh có thể vượt qua sự cản trở của các nhân tố như chế độ xã hội, niềm tin chính trị, tín ngưỡng tôn giáo, chủng tộc dân tộc, thúc đẩy đối thoại, giao lưu và hợp tác giữa các dân tộc, xác lập cho loài người sợi dây tinh thần mới, xúc tiến hòa bình và phát triển trên thế giới. Một cách tương tự, với tính cách là phạm trù văn minh tinh thần đầy sức sống, ý thức xanh có thể sản sinh ra cho xã hội XHCN sức kêu gọi tinh thần mới và sức ngưng tụ xã hội mới, có lợi cho việc đoàn kết các lực lượng xã hội cùng dốc sức vào công cuộc xây dựng hiện đại hóa xã hội XHCN, chuẩn bị nguồn tinh thần và nguồn xã hội đầy đủ cho sự phục hưng của sự nghiệp XHCN trong thế kỷ XXI.

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2001 – 56

Ý thức xanh và nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI – Phần II


Ý thức xanh là một quan niệm tư tưởng mà loài người hình thành nhằm mưu cầu sự cùng tồn tại hài hòa giữa con người và giới tự nhiên, nội dung chủ yếu của nó gồm ý thức bảo vệ sinh thái, ý thức tiết kiệm nguồn năng lượng, ý thức tiết kiệm tiêu dùng, ý thức gần gũi giới tự nhiên, ý thức ưu hóa môi trường. Hạt nhân của ý thức xanh là luân lý sinh thái và quan niệm giá trị sinh thái. Qua nỗ lực chung của nhân dân các nước trên thế giới, ý thức xanh đã hình thành nên quan niệm và niềm tin giá trị cơ bản rằng: giới tự nhiên là một hệ thống hữu cơ, loài người chỉ là một bộ phận trong hệ thống đó. Bất luận khoa học kỹ thuật của loài người phát triển đến trình độ nào, rút cục loài người vẫn phải dựa vào giới tự nhiên để sinh tồn. Dù tính năng động chủ quan của con người có ảnh hưởng quan trọng đối với giới tự nhiên, nhung con người phải tôn trọng quy luật giới tự nhiên, tự giác khống chế hành vi của mình, khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tự nhiên, điều hòa mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Bảo trì quá trình sinh thái cơ bản của trái đất và hệ thống duy trì sự sống là điều cần thiết cho sự sinh tồn và phát triển của loài người. Giới tự nhiên không chỉ là đối tượng hoạt động thực tiễn của loài người và nguồn của cải vật chất mà còn là điều kiện quan trọng không thể thiếu cho đời sống tinh thần mỗi người. Từ đó, chúng ta không khó để nhận thấy, ý thức xanh là quan niệm văn hóa tư tưởng và chuẩn tắc quy phạm hành vi có ý nghĩa phổ biến trong văn minh loài người, là một phạm trù mà trình độ thừa nhận chung về nó rất cao trong văn minh tinh thần loài người.

Thế kỷ XXI đã tới, viễn cảnh phát triển của loài người vừa tràn trề hy vọng, vừa có nhiều hiểm họa chưa lường hết được. Nhà sử học và xã hội học người Hoa nổi tiếng của Đại học Pitzburg (Mỹ), giáo sư Xu Zhuoyun (Hứa Trác Vân) chỉ ra rằng, trong thế kỷ XXI, loài người sẽ đứng trước sự tiến công của 3 lực lượng là quốc tế hóa hay toàn cầu hóa, công nghệ hóa và thông tin hóa, một kết quả có thể xuất hiện trong văn minh loài người là mỗi người trên thế giới đều không còn có cảm giác về nơi nương náu cuối cùng, không còn có pháp quy và trật tự có thể tuân thủ, loài người có thể lại xuất hiện một trạng thái hỗn độn mới. Do vậy, ông kêu gọi: “Mỗi người chúng ta đều cùng cần tham gia để tạo dựng giá trị phổ quát mới của loài người”. Trong số một loạt giá trị phổ quát mới, luân lý sinh thái toàn cầu là một mặt quan trọng. Do vậy, ông chỉ ra rằng, nói chung, có lấy từ giới tự nhiên thì phải có trả lại cho giới tự nhiên, chỉ có như vậy mới có thể làm cho văn minh loài người ở trong trạng thái hài hòa cân bằng với môi trường sinh thái. Một học giả Mỹ gốc Hoa nổi tiếng khác, giáo sư Du Weiming (Đỗ Duy Minh) của Đại học Harvard cũng từng chỉ ra rằng thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của đối thoại văn minh, trong các loại đối thoại của văn minh loài người, cần thông qua việc hấp thu các nguồn đạo đức tư tưởng của các dân tộc để xây dựng nên một luân lý phổ quát mới. Thứ luân lý phổ quát mới này quy phạm chuẩn mực giá trị của quan hệ giữa con người và giới tự nhiên. Tóm lại, chúng ta có lý do để cho rằng ý thức xanh nhất định trở thành nguồn tinh thần có ý nghĩa thế giới của loài người trong thế kỷ XXI, chiếm địa vị càng nổi bật trong hệ thống văn minh tinh thần của loài người. Ý thức xanh không những sẽ vượt qua giới hạn của chế độ xã hội mà còn vượt qua giới hạn của văn hóa dân tộc, trở thành sợi dây tinh thần vững chắc gắn kết văn minh thế giới.

II/ Sự phát triển của thời đại đòi hỏi Trung Quốc bồi dưỡng những con người mới XHCN có ý thức xanh hiện đại

Trung Quốc là một nước văn minh cổ truyền có lịch sử lâu đời, trong văn hóa truyền thống rộng lớn tinh sâu đã tích lũy trí tuệ luân lý sinh thái chất phát. “Thiên nhân hợp nhất” (hợp nhất giữa giới tự nhiên và con người) nhấn mạnh trong truyền thống Trung Quốc là đòi hỏi sự chung sống hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Trong văn hóa truyền thống của Trung Quốc không chỉ có tư tưởng triết học thiên nhân hợp nhất mà còn có trí tuệ luân lý bảo vệ sinh thái. Thí dụ, Mạnh Tử nói: “Không làm trái với thời vụ thì ngũ cốc sẽ nhiều không thể ăn hết. Gác lưới không vào ao đánh bắt thì cá tôm sẽ nhiều không thể ăn hết. Đem rìu búa vào rừng núi đúng lúc thì cây rừng sẽ nhiều không thể dùng hết”. Ở đây nhấn mạnh con người cần biết tiết chế, muốn lấy từ giới tự nhiên thì trước hết phải để cho nó nghỉ ngơi hồi phục đã, rồi mới có thể sử dụng lâu dài mãi mãi. Quản Tử cũng nói: “Núi rừng tuy rộng, cây cỏ tuy đẹp, khai thác cần đúng lúc – Sông biển tuy rộng, ao hồ tuy sâu, cá tôm tuy nhiều, nhưng đánh bắt phải đúng mức”. Đây cũng nhấn mạnh cần phải khai thác các nguồn tự nhiên với mức độ thích hợp, không thể làm cạn kiệt ao hồ để bắt cá.

Nhưng nhìn suốt lịch sử văn minh nông nghiệp trên 2000 năm của Trung Quốc, chúng ta thấy rằng sự suy bại của nền văn minh Trung Hoa lấy lưu vực sông Hoàng Hà làm trung tâm luôn đi kèm với khủng hoảng môi trường sinh thái. Trí tuệ luân lý sinh thái chất phác của dân tộc Trung Hoa hoàn toàn chưa phát huy vai trò một cách thực sự thiết thực trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, trí tuệ luân lý sinh thái nhìn xa trông rộng hoàn toàn trái ngược với tình trạng môi trường sinh thái ngày càng tồi tệ đi. Nguyên nhân tạo ra nghịch lý lịch sử này, ngoài sự hoang dâm xa sỉ, hủ bại mục nát của giai cấp thống trị các thời đại và sự phá hoại của chiến tranh cùng thiên tai, còn có một nguyên nhân không thể bỏ qua, đó chính là, trí tuệ luân lý sinh thái của dân tộc Trung Hoa trong thời đại văn minh nông nghiệp chỉ hạn chế ở nhận thức của một số ít thánh nhân hiền triết tiên tri tiên giác, hoàn toàn chưa hình thành nên được quan niệm giá trị sinh thái và chuẩn mực luân lý sinh thái có tính đại chúng, toàn dân. Ở một đất nước mà nạn mù chữ chiếm tuyệt đại đa số này, trí tuệ luân lý sinh thái của các nhân vật tinh anh khó truyền bá được trong đại chúng; một dân tộc không có tín ngưỡng tôn giáo, trọng thực lợi và hiện thế, càng khó hình thành nên sự quan tâm đối với môi trường tự nhiên. Tóm lại, sự tách biệt giữa giới tinh anh Trung Quốc truyền thống và quần chúng trong xã hội về mặt trí tuệ luân lý sinh thái khiến cho nguồn tư tưởng xanh của dân tộc Trung Hoa bị hành động xã hội thực tế lấn át, do vậy bị gác sang một bên.

Sau khi Trung Quốc Mới được thành lập, để nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt lạc hậu nghèo nàn, Trung Quốc một mặt đẩy nhanh nhịp độ công nghiệp hóa, từng bước đi vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế kiểu tiêu hao nguồn tự nhiên, ống khói mọc lên khắp nơi, tiếng máy ầm ĩ được sự tán thưởng của mọi người như là biểu trưng của thành tựu mới. Mặt khác, đã đẩy nhanh phát triển nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác trở thành biện pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp. Nhưng năm 1970, toàn Trung Quốc triển khai phong trào “nông nghiệp học Đại Trại”, với sự cổ vũ của tinh thần “bắt núi cao cúi đầu, bắt sông sâu nhường bước” và “nhân định thắng thiên”, các nơi trong cả nước phá rừng ồ ạt để làm đất canh tác, lấp hồ làm ruộng, chuyển núi làm ruộng, môi trường sinh thái bị phá hoại nghiêm trọng. Với nhiệm vụ bức thiết là phát triển kinh tế, Trung Quốc đã chìm đắm vào niềm lạc quan mù quáng rằng “nước ta đất rộng sản vật phong phú”, tăng trưởng kinh tế bỏ qua giá thành sinh thái và hiệu quả sinh thái, một mực theo đuổi tăng trưởng số lượng kinh tế, gây ra lãng phí nguồn lực nghiêm trọng. Về mặt bảo vệ môi trường sinh thái, Trung Quốc không chỉ quên mất lời dạy của tổ tiên xưa mà còn không nghe thấy tiếng nói của thế giới. Năm 1972 khi Đại hội Môi trường Thế giới thứ nhất của Liên hợp quốc nhóm họp, Trung Quốc đang ở vào thời kỳ sau của “Đại cách mạng văn hóa”, tư tưởng cực tả trói buộc quan niệm của mọi người. Do vậy đối với vấn đề môi trường có tính toàn cầu, thái độ của người Trung Quốc là cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại. Nhà lý luận môi trường nổi tiếng của Trung Quốc Qu Geping (Khúc Cách Bình) nhớ lại rằng tuy Trung Quốc có cử đoàn đại biểu tham dự Hội nghị Môi trường Liên hợp quốc năm 1972, nhưng mục đích tham dự không phải là ở bảo vệ môi trường mà ở đấu tranh chính trị, tức là coi việc tham dự hội nghị là cơ hội để tiến hành đấu tranh với mặt trận tư bản chủ nghĩa quốc tế. Trong tài liệu báo cáo sau khi đoàn đại biểu Trung Quốc về nước dường như không đề cập một chữ đến chủ đề trung tâm của hội nghị, tức là môi trường và phát triển. Lúc ấy Trung Quốc hoàn toàn không tin rằng trên phạm vi thế giới lại có khủng hoảng sinh thái, mà tin rằng đó chỉ là khủng hoảng chính trị của xã hội tư bản chủ nghĩa, ô nhiễm là sản phẩm tội ác của chế độ tư bản chủ nghĩa, xã hội XHCN không thể xảy ra vấn đề ô nhiễm môi trường. Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng cực tả như vậy, Trung Quốc đã chặn đứng làn sóng xanh đang trào dâng trên phạm vi toàn cầu lại ở bên ngoài cửa đất nước, người Trung Quốc không nghe thấy lời kêu gọi của phong trào xanh thế giới.

(còn tiếp) 

Người dịch: Viễn Phố

Nguồn: TN 2001 – 56