Trung Quốc đang vũ khí hóa nguồn tài nguyên nước


Eugene K. Chow

Một vũ khí sắc bén giấy trong chiếc vỏ bình yên của Trung Quốc đang đe dọa và cho phép nước này giữ được 1/4 con tin của thế giới mà không phải bắn một phát súng nào. Mặc dù, thế giới đã chú ý nhiều tới các trang thiết bị quân sự mới đáng sợ của các quốc gia châu Á này nhưng ít ai chú ý tới một thành phần trong kho vũ khí đáng gờm này mà Trung Quốc gần như lẩn tránh không thông báo, đó là những con đập.

Với hơn 87.000 con đập và khả năng kiểm soát vùng cao nguyên Tây Tạng, nơi bắt nguồn của 10 con sông lớn, cung cấp sinh kế cho khoảng 2 tỷ người, Trung Quốc đang sở hữu một vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chỉ cần vặn nút, Trung Quốc có thể giải phóng hàng trăm triệu gallon nước từ các đập lớn, gây lũ lụt thảm khốc, làm thay đổi toàn bộ hệ sinh thái ở cá quốc gia khu vực hạ lưu. Trung Quốc từ lâu đã biết tới sức mạnh hủy diệt của nước. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm ngăn chặn quân đội Nhật Bản, Tướng Lương Khải Siêu, chỉ huy Quân đội Trung Quốc lúc bấy giờ đã cho phá hủy một con đê dọc theo sông Hoàng Hà làm ngập hàng nghìn hecta đất nông nghiệp, khiến khoảng 800.000 Trung Quốc thiệt mạng và gần 4 triệu người phải di dời. Rất ít khả năng Trung Quốc sẽ thực hiện hành động hủy hoại này đối với các nước láng giềng, nhưng thực tế, đây vẫn là đòn bẩy của Trung Quốc, với vị thế là một quốc gia ở khu vực thượng lưu có khả năng kiểm soát nguồn lực thiết yếu nhất của cuộc sống.

Dãy Himalaya được mệnh danh là “Tháp nước của châu Á”. Năm trong số những con sông lớn nhất của lục địa bắt nguồn từ đây, bao gồm: sông Mekong, sông Hằng, sông Dương Tử, sông Indus và sông Irrawaddy. Nước bắt nguồn từ tuyết tan trên cao nguyên Tây Tạng tạo thành những dòng sông hùng vĩ chảy qua biên giới của Trung Quốc trước khi đến Nam Á. Nhằm đáp ứng nhu cầu điện còn thiếu hụt và một phần giảm sự phụ thuộc vào than, Trung Quốc đã xây dựng một loạt con đập. Năm 1949, Trung Quốc có chưa đến 40 đập thủy điện nhỏ, nhưng hiện tại, nước này có nhiều đập hơn cả Mỹ, Brazil và Canada kết hợp lại. Riêng trên sông Mekong, Trung Quốc đã xây dựng 7 con đập lớn và có kế hoạch xây dựng thêm 21 con đập nữa. Chỉ tính riêng một con đập mới của Trung Quốc thôi cũng có khả năng sản xuất thủy điện nhiều hơn tất cả các con đập của Việt Nam và Thái Lan trên sông Mekong cộng tại. Sự gia tăng mạnh mẽ trong hoạt động xây dựng đập đã có tác động môi trường lớn và gây lo ngại ở các quốc gia phía hạ lưu.

Milap Chandra Sharma, một nhà nghiên cứu khí hậu học thuộc Đại học Jawaharlal Nehru ở Ấn Độ, nói: “Ngoài những vấn đề môi trường, các đập ở Tây Tạng có thể khiến (Ấn Độ) rơi vào tình trạng thảm khốc. Chúng có thể vỡ trong các trận động đất, việc phá vỡ đập dù vô tình hay cố ý đều có thể trở thành vũ khí chống lại Ấn Độ trong một cuộc chiến tranh”. Các nước láng giềng phía Nam của Trung Quốc sẽ không lo lắng nếu không có lý do. Trong quá khứ, Ấn Độ đã cáo buộc Trung Quốc xả các con đập gây các trận lũ quét, bao gồm một trận gây ra thiệt hại ước tính khoảng 30 triệu USD và khiến 500.000 người trở thành vô gia cư ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ. Mỗi năm, vào mùa mưa của Trung Quốc, các quốc gia ở hạ lưu đều trong trạng thái cảnh giác cao độ khi các con đập của nước này xả nước để giảm áp lực mà ít khi cảnh báo trước.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu Việt Nam, giải thích: “Việc xả một con đập sẽ gây hiệu ứng ảnh hưởng domino trên toàn bộ hệ thống, có thể gây ra thiệt hại lớn”. Ngoài lũ lụt, các con đập của Trung Quốc cũng được cho là nguyên nhân gây ra các đợt hạn hán tồi tệ hơn. Năm ngoái, Việt Nam đã “xin” Trung Quốc xả nước từ đập Vân Nam trên sông Mekong để giảm bớt tình trạng thiếu nước trầm trọng ở hạ nguồn. Sau đó, Trung Quốc mới đồng ý và cho nước chảy vào Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Hai thái cực hạn hán và lũ lụt không chỉ làm nổi bật tác động môi trường của các con đập ở Trung Quốc mà còn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước láng giềng phía Nam. Những con sông này là nguồn gốc sự sống ở Nam Á, cung cấp ước uống, tưới tiêu cho canh tác, môi trường sống cho ngư nghiệp và vận chuyển thương mại.

Bằng cách kiểm soát dòng chảy huyết mạch của khu vực, Trung Quốc đã đạt được sức mạnh to lớn và đối mặt với những cáo buộc lạm dụng. Ông Tanasak Phosrikun, một nhà hoạt động Thái Lan ở sông Mekong, nói: “Về mặt ngoại giao, Trung Quốc đã sử dụng các con sông như một quân bài mặc cả”. Trung Quốc đã phủ nhận những cáo buộc này. Năm ngoái, phản bác trước sự tức giận ngày càng tăng ở Ấn Độ đối với các con đập của Trung Quốc, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đã đưa ra một tuyên bố: “Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ không nên bị ảnh hưởng bởi một cuộc chiến tranh nước”. Tuyên bố có đoạn: “Thành thật mà nói, Ấn Độ không nhất thiết phải cường điệu hóa các dự án (xây dựng đập) này, vì các dự án chỉ nhằm mục đích giúp phát triển và sử dụng các tài nguyên nước một cách hợp lý”. Mặc dù Trung Quốc phủ nhận sự tồn tại của một “cuộc chiến tranh nước”, nhưng lại từ chối chia sẻ dữ liệu thủy văn với Ấn Độ vào năm nay, mặc dù hai bên đã ký một thỏa thuận. Dữ liệu này rất quan trọng trong mùa mưa, do nó có thể giúp Ấn Độ dự báo chính xác hơn lũ lụt và cảnh báo người dân và quan trọng nhất là có thể cứu mạng sống và giảm thiểu thiệt hại.

Cho dù cố ý hay không nhưng nước đã trở thành một vũ khí hữu hình cung cấp cho Trung Quốc đòn bẩy chính trị đáng kể so với các nước láng giềng phía Nam. Khi tình trạng khan hiếm nước trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số thì nhu cầu về nguồn tài nguyên quý giá này sẽ tăng lên, làm tăng sức mạnh của Trung Quốc và tăng cường xung đột. Mặc dù có nhiều nỗ lực hợp tác khu vực nhưng các nước Nam Á vẫn không thể thành công trong việc khuyến khích phát triển bền vững và có trách nhiệm đối với các con sông. Khi nói đến các con sông ở châu Á, với khả năng kiểm soát cao nguyên Tây Tạng nhờ vị trí địa lý của mình, Trung Quốc là vua, và có rất ít quốc gia ở hạ lưu có thể làm để thay đổi ngai vàng của vị vua này.

Nguồn: http://nationalinterest.org/blog/the-buzz/china-weaponizing-water-22053

TKNB – 31/08/2017

Advertisements

Bảo vệ và hợp tác môi trường biển: Liệu có một khung thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc?


Julius Cesar Trajano

Trong bối cảnh ASEAN đang kỷ niệm 50 năm thành lập, xung đột trên Biển Đông tiếp tục là một vấn đề an ninh nghiêm trọng và là phép thử hiệu quả đối với sự đoàn kết và vai trò trung tâm của tổ chức này. Với mong muốn hạn chế sự gia tăng các xung đột trên biển, vào tháng 5/2017, Trung Quốc và ASEAN đã hoàn tất một dự thảo khung Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC).

Bất chấp những nỗ lực chung của ASEAN và Trung Quốc để làm giảm các căng thẳng, môi trường biển trong các vùng nước tranh chấp tiếp tục là một vấn đề khó giải quyết, hoàn toàn không có một hiệp định khung bao quát về vấn đề này. Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế về vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc đã ghi nhận sự tàn phá không thể hồi phục hệ sinh thái các rạn san hô do khai thác trái phép san hô, đánh bắt cá quá mức, hoạt động cải tạo đất và đánh bắt cá trái phép trên Biển Đông. Tuy vậy, bảo vệ môi trường biển (MEP) vẫn tiếp tục là một khía cạnh bị bỏ qua nhiều nhất trong các xung đột trên biển của khu vực. MEP có thể trở thành khởi đầu của các cuộc đối thoại có tính xây dựng về hợp tác giữa các nước có tuyên bố chủ quyền với ASEAN là người dẫn dắt chính.

Tại sao ASEAN và Trung Quốc nên hợp tác về vấn đề bảo vệ môi trường biển?

Biển Đông là một trong những khu vực có hệ sinh thái biển đa dạng nhất thế giới, chiếm tới 76% các chủng loại san hô thế giới và 37% các loại cá sinh sống trong các rạn san hô. Theo Trung tâm Phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC), mỗi thập kỷ sẽ có 30% cỏ mọc dưới đấy biển, 16% cây đước và 16% các rạn san hô sống mất đi do việc khai thác tận diệt thiếu bền vững của hơn 270 triệu người sinh sống dọc theo các bờ biển.

Các nhà khoa học biển ước tính rằng các hoạt động của con người đã phá hủy 16.200 ha các rạn san hô, chiếm gần 10% tổng số các rạn san hô trên Biển Đông. Nhà khoa học biển của Philippines, giáo sư Edgado Gomez ước tính rằng với mức độ phá hủy san hô hiện tại sẽ khiến các quốc gia ven biển trong khu vực Đông Nam Á phải gánh chịu thiệt hại 5,7 tỷ USD/năm. Tác động tiêu cực xuyên biên giới của việc làm suy giảm hệ thống sinh thái biển trên Biển Đông như vậy rõ ràng không nên được coi nhẹ.

Chắc chắn, khi mà một quốc gia của khu vực tiến hành triển khai các MEP trên Biển Đông có thể gặp nhiều khó khăn do các cuộc xung đột, thì một chiến lược hợp tác khu vực nhằm định hình hướng đi cho các hoạt động là rất cần thiết. Có lẽ trước hết nên dựa trên nhận thức đạt được trong Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002: “Trong khi chờ đợi một giải pháp bền vững và toàn diện đối với các xung đột, các bên liên quan có thể khai thác hoặc tiến hành các hoạt động hợp tác. Những hoạt động này có thể bao gồm: a) bảo vệ môi trường biển; b) nghiên cứu khoa học biển…”.

Thứ hai, Kế hoạch chi tiết Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAn 2025 khuyến khích các nước thành viên tiến hành “thúc đẩy hợp tác đối với việc bảo vệ, khôi phục và khai thác bền vững môi trường biển và bờ biển, ứng phó và giải quyết nguy cơ ô nhiễm và các mối đe dọa tới hệ thống sinh thái biển và môi trường ven biển…”.

Các khu vực biển được bảo vệ của ASEAN

ASEAN cùng với Trung Quốc có thể xem xét, cân nhắc thành lập các khu vực bảo vệ bờ biển (MAPs) và mạng lưới các MAPs thông qua việc lên sơ đồ chung của tất cả các nguồn lợi tự nhiên, các loài sinh vật và hoạt động của con người trên Biển Đông. Một MPA có liên quan đến việc quản lý bảo vệ các rạn san hô, các rừng đước và các loại cỏ mọc dưới biển, bao gồm các động vật hoang dã biển. MPA không phải là một khái niệm mới trong ASEAN. Nói riêng, từ những năm 1990, các nước Đông Nam Á đã chỉ rõ các khu vực MPA dọc theo các đường bờ biển của họ, nhưng không một nước nào mở rộng các MPA này đến các vùng biển trên Biển Đông. ASEAN đã ký Tuyên bố ASEAN về các Công viên Kỳ quan và Bảo tồn vào năm 1984, và nhất trí thiết kế 11 khu vực bảo vệ được ghi nhận là các Công viên Kỳ quan ASEAN vốn bao gồm các rạn san hô và các khu vực bảo vệ bờ biển. Các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc có thể củng cố việc bảo vệ hệ thống sinh thái biển hiện tại thông qua các MPAs, nhưng cần phải mở rộng ra ngoài các khu vực ven biển và nội thủy tiến tới các vùng biển trong Biển Đông. Nhưng các nước tham gia nên có nhận thức chung rằng việc thành lập các MPA trên Biển Đông là không liên quan đến việc có định kiến về đòi hỏi chủ quyền của một nước nào đó.

Các mạng lưới khu vực được chuyên biệt hóa

Có khá nhiều các vùng nước của ASEAN được sử dụng với mục đích chuyên biệt mà có thể được dùng làm cơ sở, nền tảng cho việc đề xuất các hiệp định khung hợp tác MPAs. Với hy vọng có thể nâng cao sự bảo vệ bờ biển trong khu vực, Nhóm làm việc của ASEAN về môi trường biển và bờ biển vừa đề xuất việc kết hợp tất cả các nỗ lực bảo vệ môi trường khu vực trên cả hệ sinh thái đất liền và trên biển, với giả thuyết là hai hệ sinh thái này có sự kết nối với nhau.

Nhóm làm việc có thể là diễn đàn phù hợp để lôi kéo hơn nữa sự tham gia của Trung Quốc và các Đối tác đối thoại khác để góp phần chia sẻ nguồn lực và kiến thức chuyên gia trong quản lý hệ sinh thái biển trên Biển Đông.

Cũng nên có sự hợp tác ở mức độ cao hơn nữa giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển và các cơ quan thực thi hàng hải trong khu vực, với việc tập trung hơn nữa vào vấn đề ngăn ngừa các hoạt động của con người phá hủy môi trường biển khu vực Biển Đông.

Diễn đàn Hàng hải ASEAN và Diễn đàn bảo vệ bờ biển ASEAN (ACGF) hiện nay hoạt động như là nền tảng cho các cuộc đối thoại giữa các lực lượng bảo vệ bờ biển ASEAN và các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải, tuy vậy, một hiệp định khung đối với hợp tác MPA giữa họ vẫn chưa có. Nếu các cơ quan hàng hải của Trung Quốc được mời tham gia vào ACGF, thì đây có thể trở thành một diễn đàn mà Trung Quốc có thể tham gia một cách xây dựng với ASEAN nhằm thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn nữa về các MEP và quản lý đánh bắt cá bền vững. ASEAN và Trung Quốc cũng có thể xem xét thành lập một mạng lưới khu vực các nhà khoa học biển và chia sẻ các dữ liệu khoa học. Đã có những cố gắng để làm việc này thông qua dự án Bảo vệ Môi trường Biển Đông của Liên hợp quốc: “Đảo ngược việc hủy hoại môi trường trong Biển Đông và Vịnh Thái Lan” được triển khai từ năm 2002 và kết thúc năm 2008. Dự án này đạt được những kết quả tích cực, đặc biệt là việc tăng cường hợp tác, phối hợp giữa các nhà khoa học của các nước tham gia, nhưng những căng thẳng địa chính trị gia tăng đã ngăn cản động lực hợp tác khoa học được chuyển hóa thành các chính sách khu vực rõ ràng về MEP trên Biển Đông.

Địa chính trị và Môi trường biển

Sự “phi chính trị hóa” của MEP vốn được xem là một “vấn đề nhẹ nhàng hơn” so với sự phát triển chung về dầu khí, có thể nắm vai trò quan trọng trong việc xây dựng sự tin cậy và tin tưởng chung giữa các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Thay vì việc tiến hành quân sự hóa mạnh hơn nữa trong các vùng biển có xung đột, ASEAN và Trung Quốc có thể thành lập một khung thỏa thuận quản lý hợp tác trên Biển Đông với việc bảo vệ môi trường biển là một trong những trụ cột chính.

Trong bối cảnh môi trường biển trên Biển Đông đang ngày càng bị hủy hoại nhanh chóng, yếu tố ngày càng trở nên cấp thiết hơn đối với các quốc gia có liên quan chính là việc phân định rạch ròi giữa địa chính trị, các đòi hỏi chủ quyền với nhu cầu hợp tác hàng hải dân sự quan trọng về những vấn đề an ninh phi truyền thống, trước hết là MEP. Sự cấp thiết của việc tăng cường bảo tồn biển trên Biển Đông như vậy là không thể bị cường điệu, thổi phồng được.

Nguồn: RSIS (Đại học Công nghệ Nam Dương – Singapore)

TKNB – 09/06/2017

Dư luận quốc tế về dự án thủy điện Pakbeng của Lào


Các chuyên gia của Tổ chức Sông ngòi quốc tế (IR) lo lắng về những tác động có thể xảy ra nếu Lào phát triển dự án thủy điện Pakbeng. Đây là dự án thủy điện lớn nhất nằm trên dòng chính sông Mekong thuộc địa phận tỉnh Udomxay hiện đang bước vào giai đoạn cuối của quá trình tham vấn.

Theo các chuyên gia của IR, nếu đập thủy điện Pakbeng được triển khai sẽ tác động tới hệ sinh thái trên sông Mekong; sự phát triển; tồn tại của các loài cá và vấn đề định cư của người dân.

Ông Clenn Cada, Tiến sĩ sinh học chuyên về giống cá đồng thời là chuyên gia về năng lượng nước, cho biết thông tin sử dụng để nghiên cứu về sự di chuyển của loài cá chưa đầy đủ, chưa tính đến những tác động của con đập đối với dòng sông sau khi dự án được xây dựng, đặc biệt trong giai đoạn đầu của dự án, chưa tính đến các biện pháp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng đối với sự phát triển của loài cá trên sông Mekong.

Ông Matthew Baird, luật sư về môi trường đồng thời là chuyên gia thuộc Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), bày tỏ lo lắng về những tác động xuyên biên giới sẽ xảy ra từ việc xây dựng đập Pakbeng, đặc biệt là những tác động đến sự sinh trưởng và phát triển của các loài cá, lượng phù sa trên sông Mekong, chất lượng nước, biến đổi khí hậu.

Một chuyên gia trong lĩnh vực di tản người dân và tài nguyên thiên nhiên trên sông Mekong cho rằng “kế hoạch bố trí tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng mà Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC) trình bày quá dàn trải và sử dụng mô hình bố trí tái định cư giống như các thủy điện lớn khác, trong khi việc triển khai mô hình tái định cư của các dự án thủy điện lớn trong thời gian qua đều không đạt hiệu quả.

Việc Tổ chức Sông ngòi quốc tế ra tuyên bố bày tỏ lo lắng sau khi MRC tổ chức hội nghị tham vấn trước mục đích là để các bên liên quan đề xuất ý kiến với các nhà thầu phát triển dự án, đề nghị nghiên cứu thêm về việ xây đập thủy điện Pakbeng.

Tiến trình tham vấn là để lắng nghe ý kiến của các bên, tuy nhiên, đối với chính phủ Lào, thủy điện Pakbeng là một trong những dự án phát triển bền vững của chính phủ. Hiện Dự án thủy điện Pakbeng đang trong giai đoạn tham vấn trước 6 tháng để nhà thầu phát triển dự án điều chỉnh thiết kế kỹ thuật và nghiên cứu về những tác động có thể xảy ra đối với người dân cũng như môi trường theo thỏa thuận của MRC năm 1945.

Người dân Thái Lan sẽ khởi kiện

Trang rfa.org (tiếng Lào) mới đây cho đăng bài viết một tổ chức xã hội dân sự Thái Lan sẽ khởi kiện các cơ quan liên quan của chính phủ về những tác động sẽ xảy ra từ dự án đập thủy điện Pakbeng, sau khi việc khảo sát về tác động xuyên biên giới cho thấy đập Pakbeng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân Thái Lan sinh sống dọc bờ sông. Đại diện Nhóm những người yêu Chiangkhong cho rằng thời gian qua, chính phủ Thái Lan đã tiến hành đàm phán về việc mua điện của Lào từ đập thủy điện Pakbeng, trong khi dự án này chưa hoàn thành việc nghiên cứu về những tác động đối với môi trường, theo thỏa thuận của MRC. Tổ chức xã hội dân sự Thái Lan đề nghị, trên cơ sở là một quốc gia thành viên MRC, chính phủ Thái Lan phải công khai thông tin về những tác động xuyên biên giới cho người dân địa phương được biết, trước khi đập thủ điện Pakbeng của Lào được triển khai xây dựng.

Tuần qua, IR cũng đã ra tuyên bố bày tỏ lo ngại về những tác động từ đập Pakbeng, đặc biệt là những ảnh hưởng tới sinh kế của người dân hai nước Lào và Thái Lan.

Tương tự, các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam cũng bày tỏ lo lắng về những tác động từ dự án đập Pakbeng. Các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam đề nghị chính phủ Lào xem xét lại tất cả các dự án đập thủy điện xây dựng trên sông Mekong. Liên quan vấn đề này, Cục trưởng Cục chính sách và kế hoạch năng lượng thuộc Bộ Năng lượng và Mỏ của Lào , Daovong Phonkeo nói: “MRC cũng đã nghiên cứu chi tiết về thiết kế kỹ thuật. Về tác động, không chỉ có tác động của các con đập, mà còn nhiều thứ khác cũng ảnh hưởng đến dòng sông, nếu chỉ chỉ trích đập Pakbeng thôi thì không công bằng”.

Ông Daovong Phonkeo cho biết thêm MRC đã tổ chức hội nghị tham vấn trước để các bên liên quan đưa ra các ý kiến mang tính xây dựng đối với Dự án thủy điện Pakbeng và tiến trình tham vấn trước sẽ kết thúc vào ngày 19/6 tới.

Nguồn: Tin tham khảo (Lào)

TKNB – 19/06/2017

Cách thức buộc Trung Quốc phải bảo vệ môi trường ở Biển Đông


Clint Carroll

Kể từ năm 2013, Trung Quốc bắt đầu một kế hoạch xây dựng đảo tham vọng trên bãi đá san hô thuộc quần đảo Trường Sa. Kế hoạch này là một phần trong nỗ lực củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Hoa Nam (Biển Đông) với 6 bên tranh chấp khác là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Việt Nam và vùng lãnh thổ Đài Loan.

Đến nay, sự chú ý của thế giới mới chủ yếu tập trung ở tác động về mặt an ninh của việc này. Vài năm gần đây, Hải quân Mỹ đã tiến hành các hoạt động tự do hàng hải trên Biển Đông nhằm thách thức việc Trung Quốc kiểm soát vùng biển này. Tháng 7/2016, Tòa Trọng tài quốc tế tại La Hay đã đưa ra quyết định chống lại những tuyên bố chủ quyền quá mức của Trung Quốc – điều mà các bên tranh chấp và Mỹ đều hoan nghênh, nhưng Trung Quốc ngay lập tức bác bỏ.

Tác động về mặt chính trị từ hoạt động xây đảo của Trung Quốc được đặt lên hàng đầu, tuy nhiên, hậu quả đối với môi trường lại bị bỏ sót. Xây dựng đào tạo ra sự tàn phá đối với các rạn san hô mong manh và đe dọa cuộc sống của các loài sinh vật ở Biển Đông. Trên thực tế, bảo vệ môi trường có thể là cơ hội nhằm áp đặt áp lực quốc tế đối với Bắc Kinh. Phán quyết của Tòa quốc tế đã cho rằng việc xây dựng đảo tạo ra sự tàn phá môi trường, không thể phục hồi, rõ ràng là vi phạm Điều 192 và 194 trong Công ước quốc tế về Luật Biển (UNCLOS).

Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách bảo vệ những lập luận về môi trường của họ. Tháng 5/2016, trước khi Tòa quốc tế đưa ra phán quyết, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố rằng với tư cách sở hữu quần đảo Nam Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Trường Sa), Trung Quốc rất quan tâm đến việc bảo vệ môi trường sinh thái của các đảo, bãi đá san hô và vùng nước ở đây hơn bất cứ quốc gia, tổ chức và người dân nào trên thế giới. Ông Hồng Lỗi cho rằng Trung Quốc đang xây dựng đảo theo cách phù hợp với hệ sinh thái và khẳng định kế hoạch này nhằm mục đích hòa bình. Tuy vậy, đến nay, hoạt động của Trung Quốc đã phá hoại một khu vực hơn 30 dặm vuông – gấp 1,5 lần khu Mahattan ở thành phố New York (Mỹ).

Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Harry Harris phát biểu tại Quốc hội Mỹ rằng việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông thông qua xây dựng 7 căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo đã gây tổn thất diện rộng đối với môi trường sinh thái. Quan điểm của Harris là hoàn toàn có cơ sở. Theo Giáo sư về sinh vật biển và hệ sinh thái, ông John McManus tại Đại học Miami (Mỹ), việc đánh bắt cá quá nhiều và xây dựng đảo của Trung Quốc đã tàn phá hệ sinh thái ở Biển Đông. Ngư dân Trung Quốc đánh bắt sỏ quá nhiều từ những rạn san hô đã tạo ra sự tàn phá đối với san hô mà phải mất đến 20 năm mới tự phục hồi được. Sau đó, các nhà chức trách Trung Quốc tuyên bố bãi san hô chết và bắt đầu nạo vét, xây dựng đảo trên những rạn san hô này. Một khi bê tông và cát được đổ xuống thì sự tàn phá này là không thể phục hồi nổi.

Các học giả và lãnh đạo chính trị đã đưa ra một số đề xuất nhằm bảo vệ sự đa dạng sinh thái ở Biển Đông. Năm 1992, ông McManus đề nghị thiết kế quần đảo Trường Sa thành một công viên sinh thái quốc tế do tất cả các bên tranh chấp quản lý. Tháng 11/2016, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte dự định tuyên bố đơn phương bãi cạn Scarborough là một khu bảo tồn sinh vật biển. Những đề xuất này có vẻ như dễ thất bại do nhiều tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa các  bên và sự khó khăn trong thực thi các quy định về bảo vệ môi trường.

Chính phủ Trung Quốc có thể được khuyến khích thực thi các hoạt động sửa chữa lại những tàn phá mà họ đã gây ra trên Biển Đông. Rõ ràng là luật pháp quốc tế không có hiệu lực ở đây vì Trung Quốc không hề thiện chí thực hiện phán quyết của Tòa Trọng tài này. Các tổ chức phi chính phủ về môi trường như Greenpeace, World Wildlife Fund, Conservation International đều có mối liên hệ về tài chính, chính trị với lợi ích của Trung Quốc và vẫn im lặng trước việc Trung Quốc phá hủy các rạn san hô. Bởi vậy cần phải có những cách thức gây áp lực khác.

Trong quá khứ, cách hiệu quả nhất để buộc Trung Quốc phải hành động trong giải quyết vấn đề môi trường là tập hợp dư luận quốc tế. Năm 2006, cựu cầu thủ bóng rổ Yao Ming cùng với tổ chức phi chính phủ WildAid đã dẫn dắt một chiến dịch truyền thông xã hội chống lại việc sử dụng súp vây cá mập – một món cao lương mỹ vị truyền thống của Trung Quốc. Chiến dịch này đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ món súp này, buộc Disneyland Hong Kong phải bỏ nó khỏi thực đơn tiệc cưới và cuối cùng khiến Chủ tịch Tập Cận Bình cấm sử dụng món này trong các buổi tiệc chiêu đãi quốc gia. Yao Ming cùng với WildAid cũng phản đối việc mua bán ngà voi, đóng một phần vai trò quyết định cấm buôn bán ngà voi của Trung Quốc đến cuối năm 2017. Tiếp tục kêu gọi sức ép quốc tế từ Liên hợp quốc và các nước khu vực cũng như các tổ chức phi chính phủ, những người nổi tiếng có nhiều ảnh hưởng có thể tác động đến dư luận Trung Quốc – cũng như điều đã từng xảy ra đối với món súp vây cá mập và buôn bán ngà voi – buộc Chính quyền Trung Quốc phải dừng các hoạt động phá hoại đảo san hô trên Biển Đông.

Các tuyên bố chủ quyền có thể không mấy liên quan tới các thành phần phi nhà nước, dư luận quốc tế và các quốc gia không liên quan trực tiếp tới tranh chấp ở Biển Đông. Nhưng chuyển vấn đề này thành vấn đề môi trường thì có thể mang lại hiệu quả trong tác động đến việc xây dựng đảo của Trung Quốc. Nếu như Mỹ đã từng nhận trách nhiệm và sửa sai khi vô tình phá hủy 25.240 feet vuông (tương đương 7,7 km2) san hô thì chắc chắn Trung Quốc cũng có thể làm như vậy bởi Trung Quốc đã cố ý phá hủy một khu vực gấp tới 43.000 lần khu vực Mỹ vô tình phá hủy. Trung Quốc sẽ buộc phải dừng hoạt động xây đảo nhân tạo và có các biện pháp khôi phục hệ sinh thái đã bị tàn phá ở Biển Đông.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-06-09/protecting-south-china-sea

TKNB – 19/06/2017

Clint Carroll, Đại úy Hải quân Mỹ và là chuyên gia nghiên cứu lĩnh vực quân sự thuộc Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR).

Đập thủy điện Lào đe dọa nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long


Lào đang xúc tiến việc xây dựng con đập thứ ba trên dòng chính sông Mekong là đập Pak Beng, tiếp theo hai con đập gây tranh cãi đang được xây dựng là Xayaburi và Don Sahong cũng trên dòng chính của sông Mekong.

Giới chuyên gia quốc tế và trong nước cho rằng các con đập của Lào kết hợp với những con đập đã được xây trước đó từ thượng nguồn sông bên Trung Quốc đang và sẽ có tác động tiêu cực lớn lên nông nghiệp và đánh bắt cá ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam, nước hạ nguồn sông.

Chỉ hai tháng sang khi Lào chính thức thông báo lên Ủy hội sông Mekong (MRC) vào tháng 11/2016 về dự kiến xây dựng đập thủy điện Pak Beng trên dòng chính sông, vào giữa tháng 1 vừa qua, MRC cho biết đã chọn ngày 20/12/2016, là ngày đầu tiên cho quá trình tham vấn chính thức toàn vùng về đập Pak Beng. Đây là bước đi khiến các chuyên gia quốc tế quan ngại vì cho rằng việc xúc tiến xây dựng đập quá nhanh trong khi các bên liên quan vẫn chưa nhận đủ thông tin về dự án cũng như những đánh giá ảnh hưởng về môi trường của dự án lên dòng sông.

Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của thủy điện dòng chính sông Mekong đưa ra vào hồi năm 2010 của MRC kết luận nếu tất cả các con đập dự kiến được xây dựng trên dòng chính sông Mekong được thực hiện thì các dự án này đóng góp khoảng 8% năng lượng cho toàn vùng như làm tổn thất các ngành thủy sản và nông nghiệp 500 triệu USD/năm, hơn 100 loài sinh vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Ảnh hưởng lên nông nghiệp và thủy sản

Theo MRC, các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia đã quy hoạch trên 20 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. Trung Quốc đã triển khai xây 8 đập ở thượng nguồn. Các nước Lào, Campuchia có kế hoạch xây 11 đập ở hạ nguồn.

Bà Maureen Harris, Giám đốc chương trình khu vực Đông Nam Á của Tổ chức Sông ngòi Quốc tế (International Rivers – IR), nhận định: “Các con đập này sẽ làm giảm lượng phù sa của sông và sẽ ảnh hưởng đến sự màu mỡ của đất, ảnh hưởng đến nông nghiệp dọc dòng sông và sẽ có ảnh hưởng rất lớn lên nông nghiệp của Việt Nam ở vùng đồng bằng sông Mekong”.

IR là một tổ chức phi chính phủ chuyên lên tiếng về môi trường các dòng sông ở nhiều nước trên thế giới.

Theo tiến sĩ Dương Văn Ni thuộc trường đại học Cần Thơ, người đã có nhiều năm nghiên cứu về tác động môi trường của các đập thủy điện và biến đổi khí hậu lên vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện của Trung Quốc, Lào, và Campuchia làm giảm lượng phù sa thô và phù sa mịn bù đắp cho vùng ĐBSCL. Ông nói: “Nếu đúng kế hoạch, việc xây dựng 11 đập ở Lào và Campuchia được tiếp tục thì có thể nói chắc chắn là lượng cát thô nằm trong phù sa sẽ không còn về ĐBSCL nữa. Kéo dài thêm là các loại cát mịn cũng bị ảnh hưởng. Bây giờ đã bị ảnh hưởng lượng cát thô rồi nhưng nếu 11 đó xây nữa thì kể cả cát mịn cũng bị ảnh hưởng… Hiện nay ở ĐBSCL, các công trình làm đường làm lộ, làm nền nhà thì cát mịn là vật liệu xây dựng người ta san lấp mặt bằng, tôn tạo nền lộ. Nếu các đập thủy điện ở Lào và Campuchia xây dựng nữa thì lượng cát mịn còn tiếp tục giảm”.

Theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni lượng cát thô hay còn gọi là phù sa thô ở ĐBSCL vốn có tác dụng làm ổn định nền đáy sông, hạn chế xói lở trên đất liền, đã giảm đáng kể trong khoảng 8 năm trở lại đây. Ông ước tính khoảng 50% lượng cát thô đã mất đi từ phía các đập thủy điện ở thượng nguồn bên Trung Quốc sang đến đất Lào.

Đánh giá về tác động của phù sa mịn mất đi đối với nông nghiệp ở vùng ĐBSCL, tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết: “Có hai ảnh hưởng, thứ nhất là các đập làm giảm dòng chảy, các phù sa này bị lắng và không đi về được phía dưới ĐBSCL. Thứ hai quá trình này cũng khá nguy hiểm vì phần lớn đất ĐBSCL là đất phèn, nếu thiếu một lượng phù sa bồi đắp khi đất bị trơ ra hay khai thác, tức bị oxy hóa thì phèn nó xì ra, làm cho các phù sa này lắng động, làm mất khả năng phù sa tràn lên trên đồng bối bổ đồng ruộng. Cộng thêm chuyện nữa là khi nước về ít đi thì các công trình tại chỗ, đê bao càng làm cho phù sa lên đồng gặp khó khăn hơn, cho nên lượng phù sa dinh dưỡng lên đồng giảm sút rất nghiêm trọng”.

Hiện tại, Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong. IR đánh giá khoảng 75% đập Xayaburi đã hoàn tất. Mặc dù hai đập chưa hoàn tất, nhưng vùng ĐBSCL đã phải chịu những tác hại về mặt thủy sản theo đánh giá của tiến sĩ Dương Văn Ni: “Về các đập trên Lào đang khởi động xây dựng, hiện tại tác động đầu tiên là làm xáo trộn dòng sông, nó làm tăng độ đục của dòng nước, một số loài cá di cư, đặc biệt cá di cư từ biển Hồ lên hạ Lào giảm đáng kể. Quá trình xây dựng tạo độ đục trên dòng sông nên những vùng hồ sâu chẳng hạn là chỗ để cho nhiều loài cá vào mùa khô bị mất đi những chỗ đẻ đó thì trong năm 2015 và 2016, các chỗ chúng tôi quan sát thì các loài cá di cư giảm đáng kể khi về đồng bằng sông Cửu Long”.

MRC đã quá vội vã

Bất chấp những lo ngại này, Lào vẫn đang xúc tiến việc chuẩn bị xây dựng đập Pak Beng ở miền Bắc Lào với dự tính bán đến 90% điện sản xấut từ đập thủy điện sang Thái Lan.

Ngày 16/1, IR ra thông cáo bày tỏ thất vọng trước tuyên bố mới của MRC về quá trình tham vấn đối với đập Pak Beng vì cho rằng MRC đã quá vội vàng với con đập mới trong khi những vấn đề được nêu ra với hai con đập trước của Lào là Xayaburi và Don Sahong vẫn chưa được nhìn nhận đầy đủ.

MRC là tổ chức bao gồm sự tham gia của các nước Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan. Các nước này đã ký thỏa thuận sông Mekong vào năm 1995, theo đó các nước có liên quan được quyền đưa ý kiến về các dự án trong quá trình tiền tham vấn làm cơ sở cho việc ra quyết định sau cùng. Theo IR, Lào đã không thực hiện tốt cam kết của mình khi tiến hành xây dựng hai đập Xayaburi và Don Sahong khi chưa có sự đồng thuận từ các nước. Bà Maureen Harris tỏ ra bi quan trước những cam kết mà Lào sẽ thực hiện với đập Pak Beng dựa trên những gì mà Lào đã và đang làm với các đập hiện tại: “Về cam kết của Lào trong quá trình tiền tư vấn đối với đập mới Pak Beng, chúng tôi dựa vào những gì đã thấy qua hai con đập trước mà Lào đã làm và cho đến giờ thì chúng tôi không thấy có dấu hiệu rõ ràng nào là Lào đã có những thay đổi đáng kể hay cải thiện có ý nghĩa nào trong quá trình lần này. Đối với hai con đập trước là Xayaburi và Don Sahong, các nước trong khu vực đã nêu ra những quan ngại sâu sắc về cả hai dự án và đưa ra những đề nghị cụ thể như thêm các thông tin cơ sở về đánh giá những ảnh hưởng xuyên biên giới và họ cũng yêu cầu kéo dài thời gian quá trình tiền tư vấn để có thêm thông tin về ảnh hưởng lên các nước. Nhưng những lo ngại này chưa bao giờ được đề cập trong quá trình tiền tư vấn”.

Trả lời báo Người Đô thị ngày 22/2, ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ban Thư ký của MRC cho rằng Lào đã lắng nghe những ý kiến quan ngại và đã có thay đổi trong thiết kế với hai con đập Xayaburi và Don Sahong, tạo điều kiện cho sự di chuyển của cá, cải thiện phù sa. Ông Phan cũng cho rằng đập Xayaburi có thể được coi như một đập kiểu mẫu cho tất cả các đập trên dòng chính sông Mekong.

Bà Maureen Harris bày tỏ sự nghi ngờ về nhận định này. Bà nói: “Nói rằng đập Xayaburi có thể là kiểu mẫu thì rất đáng ngại vì chúng tôi thấy những gì đã diễn ra trong quá trình xem xét đập là những quan ngại lớn từ các nước và tổ chức có liên quan, nhưng những quan ngại này đã không được nhìn nhận một cách minh bạch. Cuối cùng thì Chính phủ Lào và nhà đầu tư có thông báo là sẽ có thêm đầu tư để làm giảm ảnh hưởng của đập nhưng từ lâu rồi chúng tôi thấy là vẫn không có sự rõ ràng về thiết kế bổ sung và họ cũng không cung cấp các văn bản về những thay đổi thiết kế này. Toàn bộ thiết kế của đập bao gồm những thay đổi vẫn chưa được công bố rộng rãi cho công chúng và không được đánh giá độc lập để biết được là những thay đổi này có hiệu quả thế nào trong việc làm giảm tác động của đập lên dòng sông”.

Từ năm 2010, các chuyên gia quốc tế đã kêu gọi các nước nên ngưng việc xây dựng toàn bộ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong trong 10 năm cho đến khi có thêm những nghiên cứu tổng thể về ảnh hưởng của các đập thủy điện lên dòng sông.

Tuy nhiên, kiến nghị này đã không được thực hiện khi Lào đã cho tiến hành xây dựng hai đập và đang chuẩn bị cho đập thủy điện tiếp theo. IR quan ngại quá trình phê duyệt từng đập thủy điện của MRC hiện tại qua 1nhanh và chưa đủ tính minh bạch. Chuyên gia Maureen Harris cho rằng ảnh hưởng của từng đập là nhỏ nhưng với đà phê duyệt như hiện nay, khi một loạt các đập được xây dựng, hậu quả về lâu dài lên dòng sông sẽ lớn hơn rất nhiều.

Nguồn: RFA

TKNB – 27/03/2017

Lào tham vấn thủy điện Pak Beng và tác động


Ngày 4/11 vừa qua, Lào đã chính thức nộp hồ sơ thủy điện Pak Beng lên Ban thư ký Ủy hội sông Mekong (MRC) để tiến hành thủ tục tham vấn trước, mặc dù điều này đã được lường trước, bởi đây là điều Lào không làm trước thì cũng làm sau. Tuy nhiên, việc Lào triển khai ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức Lào của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đang đặt ra những dấu hỏi lớn, có thể làm ảnh hưởng tới kết quả của chuyến thăm. Phân tích và đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào:

Đôi nét về đập Pak Beng

Nằm tại huyện Pak Beng, tỉnh Oudomsay (Bắc Lào), thủy điện Pak Beng có công suất lắp đặt là 912 MW, sản xuất điện trung bình/năm là 4,775 GWh. Đây là thủy điện thứ 3 nằm trên dòng chính sông Mekong sau thủy điện Sayabouly và Don Sahong. Pak Beng được thiết kế bởi công ty Trung Quốc Datang Overseas Invesment Co., Ltd, qua một thỏa thuận ký kết giữa Lào vào Trung Quốc vào tháng 8/2007, với giá trị ban đầu 1,88 tỷ USD. Đến tháng 3/2014, công ty Datang nhận được Giấy phép môi trường từ Chính phủ Lào trước khi trải qua các bước PNPCA (thủ tục thông báo, tham vấn trước và chuẩn thuận). Và từ tháng 2/2015, Lào đã bắt đầu tiến hành các bước xây dựng để chuẩn bị cho việc khởi công dự án như mở đường và làm mặt bằng cho dự án.

Theo kế hoạch, Lào dự kiến khởi công thủy điện này vào đầu năm 2017 và nhà máy sẽ đi vào vận hành từ năm 2024. Tuy nhiên, thời hạn khởi công kể trên chắc chắn là không kịp bởi bây giờ đã là tháng 11, ngoài thời gian 1 tháng để Ban Thư ký MRC xem xét hồ sơ có đầy đủ hay không trước khi gửi hồ sơ cho Ủy ban sông Mekong các nước thành viên, còn cần ít nhất thêm 6 tháng để các nước tham vấn trước khi có quyết định chung cuộc. Như vậy, nhanh nhất thì cũng phải đến cuối năm 2017, Lào mới có thể khởi công được thủy điện này.

Trên thực tế, từ tháng 10/2015, Trung Quốc đã nộp hồ sơ và ép Lào tiến hành thủ tục tham vấn trước theo quy định của Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên, do chưa hài lòng với thiết kế, đặt biệt là trong việc xử lý các vấn đề liên quan tới môi trường của Công ty Trung Quốc nên phía Lào đã lấy cớ đang chuẩn bị năm làm Chủ tịch ASEAN và sau đó lấy cớ đang làm Chủ tịch ASEAN đã kéo dài. Ngay sau khi Lào tổ chức xong Hội nghị cấp cao ASEAN 28 – 29 và các hội nghị liên quan, Trung Quốc lại tiếp tục tăng sức ép yêu cầu Lào tiến hành tham vấn và thậm chí còn đe dọa nếu Lào không tiến hành, sẽ ảnh hưởng tới các dự án viện trợ khác mà Trung Quốc dành cho Lào. Về yêu cầu sửa thiết kế của phía Viêng Chăn, phía Trung Quốc cho biết Lào cứ tiến hành tham vấn, sau đó có vấn đề gì sẽ sửa luôn một thể. Đây là một đòn “cao” của Trung Quốc nhưng cũng giúp tạo cơ hội để các nước thành viên xoáy vào các lỗi thiết kế của dự án để yêu cầu Công ty xây dựng phải sửa đổi thiết kế, điều này không chỉ giúp kéo dài thời gian mà còn giúp giảm thiểu tác động mà con đập có thể gây ra cho Hạ lưu. Đây là điều đã từng có tiền lệ ở Dự án thủy điện Sayabouly khi trong quá trình tham vấn, chủ đầu tư buộc phải bỏ ra thêm 400 triệu USD thiết kế lại thang cá và điều tiết phù sa.

Ảnh hưởng của quyết định

Việc Lào nộp đơn hồ sơ tham vấn trước lên Ban thư ký MRC ngay trước chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Lào (24 – 26/11) đang đặt ra những câu hỏi lớn bởi trước đó vào ngày 20/10 vừa qua, khi Lào thông báo với Việt Nam về việc sẽ tiến hành nộp hồ sơ nói trên, phía Việt Nam đã ngay lập tức ngăn với hai lý do: Thứ nhất, Tổng Bí thư Việt Nam sắp sang thăm Lào; Thứ hai, năm 2017 là năm kỷ niệm 55 năm Việt Nam – Lào thiết lập quan hệ ngoại giao và 40 năm hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, việc Lào nộp hồ sơ sẽ gây ra dư luận xấu, tạo kẽ hở để kẻ xấu lợi dụng đặt câu hỏi về quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam.

Về vấn đề này Lào công nhận ta nói đúng và Thủ tướng Thongloun Sisoulith đã đồng ý sẽ lùi, tuy nhiên ông này cũng nói thêm rằng để sau chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 10 vừa qua rồi sẽ quyết. Bởi vậy, rất khó hiểu vì lý do gì khiến bạn quyết nhanh đến vậy khi vào ngày 3/11, Chủ tịch Ủy ban sông Mekong Lào, ông Sommat Pholsena thông báo Thủ thướng Thongloun Sisoulith đã ra lệnh cho ông nộp hồ sơ lên MRC và ngày 4/11, hồ sơ này đã được nộp lên Ban Thư ký MRC. Phải chăng Lào đã bị Trung Quốc ép đến mức phải nhượng bộ, hay sức ép vô cùng lớn từ những khó khăn kinh tế trong nước và việc chậm triển khai thủy điện Pak Beng theo đúng tiến độ đề ra đã khiến Lào vội vã, đến mức không còn để ý tới những tác động có thể trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào cuối tháng 11 này?

Dù nguyên nhân là gì đi nữa, thì quyết định của Lào trong việc nộp hồ sơ tham vấn trước thủy điện Pak Beng cũng sẽ có ảnh hưởng nhất định tới thành công của chuyến thăm, bởi sẽ có nhiều người lấy cớ này để nói rằng Lào đặt lợi ích kinh tế hoặc một lợi ích nào đó rất lớn lên trên quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào.

Nguồn: TKNB – 11/11/2016

Tương lai nào cho môi trường Việt Nam?


Năm 2016 đã chứng kiến một loạt cuộc khủng hoảng môi trường ở Việt Nam mà tiêu biểu nhất là vụ cá chết hàng loạt ở các vùng biển miền Trung. Tình trạng này đã gióng lên một hồi chuông báo động về mức độ ô nhiễm cao ở Việt Nam. Bộ turởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cảnh báo rằng môi trường Việt Nam “đã đến ngưỡng không thể chịu thêm được nữa” nhưng liệu vấn nạn này sẽ được giải quyết như thế nào khi lợi ích kinh tế được đặt lên trên vấn đề bảo vệ môi trường?

Luật Môi trường của Việt Nam ra đời cách đây hơn 1 thập kỷ và theo đánh giá của một chuyên gia về môi trường, bộ luật này đã được chỉnh sửa và qua 2 lần cải tiến, nó đã làm cho hệ thống pháp luật của Việt Nam về môi trường trở nên “khá đầy đủ về mặt quy định và chi tiết”. Tuy nhiên, tại sao tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam lại vẫn xảy ra và những vụ việc nghiêm trọng nhất lại xảy ra trong những năm gần đây? Giáo sư Tiến sĩ Đinh Đức Trường thuộc khoa Môi trường và Đô thị Đại học Kinh tế quốc dân giải thích về điều này: “Cái khổ của Việt Nam lại nằm trong quá trình giám sát thực thi và quá trình xử lý vi phạm, tức là bao gồm việc giám sát thực thi và điều thứhai là khi phát hiện ra thì cơ chế và chế tài xử phạt sẽ như thế nào? Hiện nay ở Việt Nam, tôi cho là việc giám sát đặc biệt vẫn chưa hoàn thiện”. Theo nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng, luật của Việt Nam được ban hành rất nhiều trong những năm gần đây nhưng việc thực thi lại không hiệu quả: “Việt Nam đã có số lượng luật gấp 5 lần so với cách đây 20 năm. Quá nhiều luật nên thực sự người ta không thể nhớ hết bộ luật nào. Trong khi có tới hơn một nửa số văn bản pháp quy từ chính phủ truyền xuống không được các địa phương thi hành và hơn một nửa số văn bản từ cấp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành truyền xuống các quận huyện cũng không được thi hành”.

Theo ông Phạm Chí Dũng, đó là nguyên nhân vì sao Luật môi trường đã được đưa ra mà vẫn “đều đều xảy ra các vụ Vedan, Sonadezi và gần đây nhất là Formosa”.

“Thiên đường” cho ô nhiễm

Trong 3 năm (từ 2008 đến 2011), Sonadezi Long Thành đã xả chất thải chưa qua xử lý vào hệ thống sông Đồng Nai, gây thiệt hại cho người dân địa phương. Trước đó năm 2009, nhà máy sản xuất bột ngọt Vedan Vietnam của Đài Loan cũng đã gây ô nhiễm nguồn nước khi xả chất thải độc chưa qua xử lý ra sông Thị Vải chảy qua TPHCM, Bà Rịa – Vũng Tàu và Đồng Nai. Vụ ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung do công ty Formosa của Đài Loan gây ra trong năm nay được coi là đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng môi trường ở Việt Nam. Theo sau đó là những vụ cá chết hàng loạt trên các sông hồ ở Hà Nội và TPHCM. Trong năm qua, tình trạng ô nhiễm không khí, nhất là ở Hà Nội, cũng đã lên đến mức báo động. Ô nhiễm không khí ở Việt Nam theo nhiều khảo sát quốc tế gồm cả Mỹ và Thụy Điển, luôn đứng trong nhóm tồi tệ nhất thế giới. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), ô nhiễm môi trường hàng năm ở Việt Nam đang gây thiệt hại tương đương 5% GDP. Tuy nhiên, theo cảnh báo của Tiến sĩ Đinh Đức Trường, nếu ô nhiễm môi trường theo đà tăng tiến như hiện nay mà không có biện pháp hữu hiệu nào được thực hiện thì Việt Nam có thể sẽ vượt Trung Quốc về mức độ ô nhiễm. Vậy liệu hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường được coi là đầy đủ của Việt Nam đang có những lỗ hổng để cho sự vi phạm môi trường diễn ra?

Theo một nghiên cứu mới nhất của Tiến sĩ Đinh Đức Trường mang tên “Việt Nam – thiên đường ô nhiễm cho doanh nghiệp nước ngoài”, 80% các khu công nghiệp ở Việt Nam đang vi phạm luật môi trường và trong số những khu công nghiệp vi phạm này, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm đến 60%. Theo Tiến sĩ Đinh Đức Trường, “hiện đang có một vấn đề là các khu công nghiệp, trong đó một số khu công nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, ví dụ như Formosa và cách đây mấy năm là Vedan, còn có những kẽ hở, lỗ hổng nhất định trong quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát cũng như là xử lý các bài toán môi trường, các vấn đề ô nhiễm môi trường và vẫn còn những kẽ hở trong pháp luật”.

“Thiên đường” cho công nghiệp lạc hậu

Ngoài những kẽ hở về pháp luật theo đánh giá của các chuyên gia, các chính sách đầu tư và phát triển Việt Nam đang hấp dẫn những công nghệ lạc hậu.

Tiến sĩ Đinh Đức Trường cho biết, nhiều doanh nghiệp FDI đang mang công nghệ lạc hậu và bị cấm ở các nước phát triển vào Việt Nam nhằm kéo dài tuổi thọ của máy móc và hưởng lợi từ chi phí môi trường thấp.

Với việc quá chú trọng vào sự phát triển kinh tế, chính phủ Việt Nam đã đưa ra những tiêu chuẩn thấp về môi trường và theo vị tiến sĩ này, “thỏi nam châm” thu hút FDI vào Việt Nam là ngành dệt may, thép, giấy đều là những ngành có tiềm năng gây ô nhiễm cao với hàng loạt dự án vốn đầu tư lớn từ Trung Quốc và Đài Loan.

Theo Giám đốc Trung tâm nghiên cứu môi trường và cộng đồng Nguyễn Ngọc Lý, ngoài phát triển công nghiệp, vấn đề đô thị hóa nhanh chóng cũng là nguyên nhân cho vấn nạn ô nhiễm môi trường ở Việt Nam. “Trong sự phát triển nhanh về công nghiệp và đô thị hóa hiện nay, nó đã bị đẩy đi quá nhanh và vệc bảo vệ môi trường đang rất bị hạn chế, không theo kịp sự phát triển đó. Và cũng như các nước, nó sẽ phải đi theo một lộ trình khá vất vả”. Mức độ ô nhiễm môi trường đáng báo động ở Việt Nam cũng đang làm cho những doanh nghiệp nước ngoài lo ngại và có nhà đầu tư đã rút vốn khỏi Việt Nam chỉ vì lý do này. Chủ tịch điều hành của Dragon Capital Dominic Scriven gần đây tiết lộ tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam rằng nhà đầu tư lớn nhất của quỹ này quyết định “rút khỏi thị trường Việt Nam vì lý do thiếu vắng những chính sách và hành động thuyết phục trong việc bảo vệ môi trường”. Với tất cả những lý do đó, theo tiến sĩ Trường, trong tương lai, tiêu chuẩn của Việt Nam sẽ phải thay đổi theo hướng thắt chặt hơn và gia tăng hơn để thỏa mãn nhu cầu trong nước và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, Tiến sĩ Trường nói quá trình đó sẽ không đơn giản: “Sẽ phải có sự tham gia của nhà nước – bao gồm cả việc cung cấp vốn, hỗ trợ các cơ chế chính sách cho các doanh nghiệp để họ đổi mới các công nghệ thân thiện. Mặt khác, nhà nước cũng phải cập nhật những thông tin về các tiêu chuẩn môi trường trên thế giới, đặc biệt là của các Tổ chức thương mại thế giới và các khách hàng trên thế giới. Tôi nghĩ rằng bảo vệ môi trường là cái không thể đẩy lùi được nữa, bắt buộc phải làm”. Theo đề xuất của tiến sĩ Trường, việc giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường hiện nay ở Việt Nam phải được thực hiện theo một lộ trình với sự tham gia từ cả phía doanh nghiệp và chính phủ, điều này sẽ hữu hiệu nhưng rất khó thực hiện. Theo con số mà Tiến sĩ Trường cho biết, Việt Nam sẽ thực hiện tăng trưởng xanh từ năm 2016 – 2030 và cần phải đầu tư 30 tỷ USD cho đổi mới công nghệ, trong đó, nhà nước chỉ có thể chi 30% và phần còn lại là do các khu vực tư nhân và sự hợp tác công tư. “Như vậy, các cụm doanh nghiệp có lẽ phải huy động một nguồn vốn khoảng 20 tỷ USD cho việc bảo vệ môi trường và đó là một điều cực kỳ khó đối với các doanh nghiệp VIệt Nam trong bối cảnh hiện nay”. Trong một phiên họp Quốc hội tại Hà Nội đầu tháng 11/2016, Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho rằng “giải quyết cơ bản vấn đề  môi trường chính là tái cơ cấu nền kinh tế. Thay đổi từ một nền kinh tế “thâm dụng vào nguồn vốn tài nguyên tự nhiên, xâm dụng vào chi phí môi trường” sang một nền kinh tế xanh và sạch”. Bộ trưởng nói: “Sau một loạt sự cố về môi trường, chúng ta nhận thấy rằng mô trường của chúng ta đã đến ngưỡng không thể chịu thêm được nữa. Trước đây, môi trường thường đi sau hoạt động phát triển, tức là phát triển trước, làm sạch sau. Hiện nay, vấn đề môi trường cần phải đi trước và đi ngay trong quá trình đó. Trước đây, chúng ta bảo vệ môi trường trong phát triển, nhưng bây giờ môi trường phải nằm ngay trong chiến lược và quy hoạch của từng dự án đầu tư”.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại một hội nghị tổ chức tại TPHCM đầu tháng 11/2016 cũng đã khẳng định Việt Nam sẽ không phát triển kinh tế bằng cái giá của môi trường. Còn Bộ trưởng Trần Hồng Hà cũng nói trong một buổi đối thoại gần đây với các luật sư và ngư dân Hà Tĩnh rằng giải quyết vụ môi trường biển miền Trung là “sinh mệnh chính trị” của ông. Và chúng ta sẽ phải chờ xem các nhà lãnh đạo Việt Nam sẽ đi từ lời nói đến hành động như thế nào.

Nguồn: VOA

TKNB – 29/12/2016