Sai lầm lớn của Donald Trump ở Biển Đông


Cho tới tận năm ngoái, Biển Đông vẫn là vấn đề chiến lược quan trọng nhất tại châu Á – Thái Bình Dương và là 1 trong 5 điểm nóng hàng đầu thế giới.

Lý do rất rõ ràng, Trung Quốc không ngừng phô trương sức mạnh ở Biển Đông với tham vọng bá chủ vùng biển đặc biệt quan trọng với thương mại quốc tế này, nơi mỗi năm trung chuyển khối lượng hàng hóa trị giá 5,3 nghìn tỷ USD, và cũng là nơi có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên vô cùng lớn. Điều này khiến căng thẳng trong khu vực không ngừng leo thang. Thực tế sau khi Bắc Kinh “thua” trong phiên tòa quốc tế mà Philippines là nguyên đơn, theo đó mọi tuyên bố về chủ quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông đều bị Tòa Trọng tài (La Hay) bác bỏ, khu vực đã phải chứng kiến một cuộc đối đầu căng thẳng giữa các cường quốc. ở mức độ chưa từng có từ sau Chiến tranh Lạnh. Một quan chức Lầu Năm Góc thậm chí còn nói rằng “nếu Chiến tranh Thế giới lần thứ ba bùng phát trong thập kỷ tới, Biển Đông chắc chắn sẽ là nơi chứng kiến phát súng đầu tiên”.

Trong gần một năm sau đó, mọi chuyện dường như lại đang đi theo một chiều hướng khác. Điều này có được là nhờ rất nhiều yếu tố, từ sự kiềm chế của Trung Quốc sau phán quyết hồi tháng 7 của Tòa Trọng tài, nỗ lực của Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte nhằm xích lại gần với Bắc Kinh vì lý do kinh tế, hay sự chuyển giao quyền lực tại Nhà Trắng khiến Biển Đông đã không còn là một trong những ưu tiên chính sách đối ngoại hàng đầu của Washington.

Tuy nhiên, đây lại là một sai lầm rất lớn của Chính quyền Donald Trump. Mặc dù rõ ràng ưu tiên hàng đầu trong vấn đề an ninh của Mỹ phải là Triều Tiên, song Mỹ không nên để Trung Quốc có cơ hội từng bước thao túng tuyến đường biển quan trọng này. Trung Quốc hiện đã xây dựng 7 hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông và triển khai trên đó nhiều hạ tầng cơ sở quân sự hiện đại. Việc quốc gia này đưa hàng loạt tàu chiến, máy bay ném bom và máy bay chiến đấu tới khu vực có lẽ chỉ còn là vấn đề thời gian.

Điều đáng tiếc hơn là Chính quyền Trump lại dùng cách cũ mà người tiền nhiệm từng sử dụng để đối phó với điểm nóng này, đó là đưa tàu tới gần các hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc để thách thức các tuyên bố chủ quyền của họ, với mục đích là thực hiện các chiến dịch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải trong khu vực. Mọi chuyện có thể dẫn đến những tính toán sai lầm và trở thành kẽ hở để Trung Quốc tận dụng nhằm phục vụ các mục đích của mình.

Để nhấn mạnh thông điệp rằng Mỹ sẽ đưa máy bay, tàu biển và “hoạt động ở bất kỳ đâu mà luật pháp quốc tế cho phép” tại Biển Đông. Chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama đã thực hiện các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không (FONOP) trong khu vực. Mục đích của các chiến dịch này là nhằm thể hiện rằng Mỹ không hề công nhận các quyền phi lý mà Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác tuyên bố. Tuy nhiên, thực tế là chiến lược này trước đây không hiệu quả, và giờ cũng vậy. Mặc dù một cuộc tuần tra FONOP có thể thể hiện rằng Mỹ đang nỗ lực phản đối các tuyên bố bành trướng của Trung Quốc và gây thiện cảm với dư luận trong bối cảnh Chính quyền Trump phải đối mặt với không ít chỉ trích, song hoạt động này không hề có tác dụng trong việc hạn chế tham vọng của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Mọi chuyện thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn. Nhiều nguồn tin cho biết Bắc Kinh đang phát triển mạng lưới radar dưới nước để vô hiệu hóa khả năng do thám của các tàu ngầm Mỹ và các quốc gia khác hoạt động trong khu vực. Điều này có nghĩa, nếu Mỹ cứ chỉ đơn thuần đưa tàu tới tuần tra ở Biển Đông thì Bắc Kinh sẽ càng tìm cách triển khai các khí tài quân sự hiện đại. Các hòn đảo nhân tạo và hạ tầng cơ sở cùng các trang thiết bị mà Trung Quốc lắp đặt trên đó là một sự hiện diện thường trực trong khi các chiến dịch hải quân của Mỹ chỉ là nhất thời.

Điều may mắn là Chính quyền Trump có những lựa chọn khả thi để đối phó với thực tế này và một trong những cơ hội lớn là chuyến thăm chính thức của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc tới Mỹ trong tuần này. Việt Nam là một trong những nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn với Trung Quốc và mạnh mẽ phản đối các hành vi bành trướng của người láng giềng phương Bắc. Sự kiện này sẽ là “cơ hội vàng” để Chính quyền Donald Trump xây dựng một mối quan hệ tốt đẹp với Hà Nội nhằm giải quyết hiệu quả vấn đề Biển Đông.

Chính quyền Trump sẽ phải làm rất nhiều việc, từ phát triển một chiến lược toàn diện nhằm đảm bảo rằng Trung Quốc không thể biến Biển Đông thành “ao nhà” – điều mà người tiền nhiệm đã thất bại; cho tới răn đe Bắc Kinh rằng nếu muốn thay đổi hiện trạng khu vực, họ sẽ phải đối mặt với những hệ quả không mong muốn, chẳng hạn như việc Mỹ có thể trao cho Đài Loan gói viện trợ vũ khí lớn mà Đài Bắc từng yêu cầu.

Washington có những lựa chọn để đối phó với các tuyên bố chủ quyền và tham vọng bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông, song chỉ đơn thuần đưa tàu biển tới gần các hòn đảo nhân tạo rõ ràng không phải là một biện pháp nên làm.

Nguồn: The Week – 01/06/2017

TKNB – 02/06/2017

Sáu điều bất ngờ trong kế hoạch ngân sách của ông Donald Trump


Về nhiều mặt kế hoạch ngân sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đúng với lời cam kết của chính phủ (xây dựng quân đội, cắt giảm ngân sách và tăng cường an ninh quốc gia) nhưng không phải tất cả mọi mặt đều như vậy.

Kế hoạch ngân sách này đã tăng chi tiêu quốc phòng lên 54 tỷ USD, trong khi cắt giảm các chương trình trong nước. Bộ Nông nghiệp phải đối mặt với mức cắt giảm 21%. Với Bộ Thương mại mức cắt giảm là 16%. Ngân sách cho Cơ quan Bảo vệ Môi trường bị cắt giảm gần 1/3. Ngoài ra, ngân sách cảu nhiều cơ quan Mỹ khác cũng bị thu hẹp đáng kể. Tuy nhiên, đối với những người thường xuyên theo dõi thì các mức cắt giảm này không quá ngạc nhiên. Hai trong số các tác giả chính của kế hoạch ngân sách này là Giám đốc OMB Mick Mulvaney và Paul Winfree, Giám đốc chính sách ngân sách của Nhà Trắng, từ lâu hai nhân vật này đã ủng hộ cắt giảm đáng kể đối với các chương trình trong nước. Ông Winfree là tác giả chính của quỹ Heritage Foundation, được coi là có ảnh hưởng lớn đến kế hoạch ngân sách của ông Trump. Việc loại bỏ Cơ quan Nghiên cứu cấp cao Lĩnh vực Năng lượng Mỹ, hoặc cắt giảm 650 triệu USD trong 3 năm tại các ngân hàng phát triển đa phương, chính là những vấn đề mà họ đã đề xuất suốt nhiều năm qua.

Tuy nhiên, kế hoạch ngân sách này còn có một số bất ngờ, dưới đây là 6 ví dụ:

1/ Tăng ngân sách cho Cục điều tra dân số

Ông Trump không phải là người ủng hộ chi tiêu ngân sách cho việc thu thập dữ liệu. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, ông đã đầu tư rất ít vào các cuộc thăm dò và phân tích dữ liệu so với các đối thủ cạnh tranh của mình, và ông thường xuyên nghi ngờ tính chính đáng của cơ quan thống kê chính phủ, bao gồm cả tỷ lệ thất nghiệp. Nhưng kế hoạch chính sách của ông Trump lại là một ngoại lệ lớn. Kế hoạch đã cắt giảm kinh phí cho Cơ quan thống kê của Bộ Nông nghiệp và Cục Thống kê Kinh tế của ba bộ khác. Tuy nhiên, Cục điều tra dân số là cơ quan thống kê hiếm hoi không bị cắt giảm. Trên thực tế, số tiền tài trợ của cơ quan này tăng thêm 100 triệu USD, tương đương khoảng 7%. Khoản tiền này đặc biệt quan trọng vì cơ quan này đang chuẩn bị cho cuộc tổng điều dân số 2020 – một trong những chức năng cơ bản nhất của Chính phủ Mỹ và bởi vì cuộc tổng điều tra này sẽ giúp tái phân chia khu vực, một trong những tác động lớn đến tương lai của nền chính trị Mỹ.

2/ Tăng phí hàng không

Ngân sách của ông Trump cũng tăng chi phí bảo vệ hành khách, thu phụ phí đối với vé máy bay, số chi phí này đủ để trang trải “75% chi phí cho các hoạt động an ninh hàng không của Cục An ninh vận tải Mỹ”. Chi phí hàng không được huy động lần gần đây nhất là trong kế hoạch ngân sách năm 2014 do thâm hụt ngân sách. Kế hoạch ngân sách này không nói rõ phí sẽ tăng bao nhiêu từ mức phí hiện tại là 5,6 USD/khách cho mỗi chuyến bay một chiều, nhưng theo một số đánh giá, mức tăng thêm có thể là 1 USD. Ông Trump muốn du khách trả tiền cho các dịch vụ này, thay vì được trợ cấp bởi người đóng thuế. Tuy nhiên, tăng phí hàng không không phải là một động thái đặc biệt phổ biến.

3/ Thành lập quỹ mới cho các trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng

Khi nói đến nghiên cứu y tế, kế hoạch ngân sách cắt giảm đặc biệt nhiều. Bộ Y tế bị cắt giảm hơn 15 tỷ USD, tương đương 18% trong đó cắt giảm gần 6 tỷ USD từ Viện Y tế Quốc gia, đồng thời cắt giảm gần 700 triệu USD khỏi các khoản trợ cấp cảu bang và địa phương cho Cơ quan Quản lý Tình trạng khẩn cấp liên bang. Tuy nhiên, ngân sách của ông Trump lại thành lập quỹ mới mang tên “Quỹ Ứng phó Khẩn cấp Liên bang” nhằm giải quyết các vụ bùng phát dịch bệnh như virus Zika, nhưng trong báo cáo không nói rõ mức tài trợ. Các chuyên gia y tế đã cảnh báo từ nhiều năm nay rằng Mỹ – và rộng hơn là trên thế giới – vẫn chưa thực sự chuẩn bị cho một sự bùung phát dịch bệnh nghiêm trọng. Mặc dù tình huống xấu nhất của các dịch Ebola và Zika đã không xảy ra, nhưng chúng cũng đã làm nhiều người Mỹ sợ hãi và cho thấy mức độ chuẩn bị yếu kém của Mỹ trong việc phản ứng với các dịch virus nguy hiểm.

Ông Trump đã đặc biệt bị ám ảnh bởi dịch Ebola, năm 2014 khi bùng nổ dịch bệnh này, các bác sĩ và y tá bị nhiễm Ebola không được quay trở lại Mỹ để điều trị (“Những người đi đến những nơi xa để giúp đỡ là những nghĩa cử cao đẹp – nhưng lại phải chịu đựng hậu quả”) và “Ebola dễ dàng lây lan hơn nhiều so với những gì mà Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh Mỹ (CDC) và các đại diện của chính phủ đã nhận định”. Thật khó có thể biết liệu khoản tài trợ mới này có phải là một phần trong triết lý an ninh quốc gia của chính quyền ông Trump không, hay chỉ là một chút khẳng định mang tính cá nhân, tuy nhiên, quỹ khẩn cấp mới của ông Trump sẽ giúp Mỹ ứng phó với những nhu cầu thực tế.

4/ Tăng cường kinh phí để loại bỏ “sơn gốc chì”

Ngân sách của ông Trump đặc biệt chú trọng tới các chương trình nhắm tới người Mỹ có thu nhập thấp, bao gồm trợ cấp sưởi ấm và các chương trình nhà ở. Nhưng ngân sách cũng cung cấp thêm 20 triệu USD để loại bỏ “sơn gốc chì” trong những ngôi nhà của người có thu nhập thấp. Số tiền này tương đương với mức tăng gần 20% – một khoản đầu tư đáng kể đối với một vấn đề không xảy ra ở những nhà có thu nhập cao, nhưng vẫn phổ biến trong các nhà có thu nhập thấp.

5/ Tăng lệ phí nộp đơn phá sản

Ngân sách kêu gọi tăng lệ phí nộp đơn xin phá sản để mang lại thêm 150 triệu USD cho Cơ quan Ủy thác của Bộ Tư pháp Mỹ để giám sát việc quản lý các vụ phá sản. Lệ phí nộp đơn phá sản có thể lên đến hàng trăm hoặc thậm chí hàng trăm nghìn USD đối với các cá nhân và doanh nghiệp, một khoản tiền tương đối lớn đối với những cá nhân/doanh nghiệp đã chẳng còn lại gì nhiều khi phá sản. Có thể hơi ngạc nhiên khi ông Trump lại muốn tăng phí phá sản, các công ty của ông đã từng tuyên bố phá sản 6 lần. Nhưng bản thân ông chưa bao giờ trải qua lần phá sản nào.

6/ Tăng tài trợ cai nghiện

Mặc dù hầu hết các chương trình dịch vụ xã hội đều bị cắt giảm nhưng kế hoạch ngân sách của ông Trump lại chi thêm tiền để giải quyết một trong những vấn đề khó khăn nhất đối với nước Mỹ hiện nay: nghiệp opioid. Ông Trump đề xuất khoản ngân sách bổ sung 500 triệu USD để mở rộng các nỗ lực phòng ngừa và tăng cường tiếp cận các dịch vụ điều trị và phục hồi cho người nghiện. Đây rõ ràng là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Donald Trump. Bản giới thiệu về ngân sách đã nêu rõ 6 điểm quan trọng trong kế hoạch ngân sách, bao gồm tăng cường tài chính cho quốc phòng, biên giới và thực thi luật nhập cư, trong đó cũng có một điểm về việc hỗ trợ giảm lạm dụng chất gây nghiện. Trong chiến dịch tranh cử, ông Trump có nhận được sự ủng hộ to lớn của vùng Trung Tây nước Mỹ, nơi mà các bang đang phải đối mặt với nạn dịch tồi tệ này, nên cam kết của Nhà Trắng về việc chiến đấu với tệ nạn này là rất có ý nghĩa.

Nguồn: Politico (Mỹ) – 22/03/2017

TKNB – 24/03/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần cuối


Lưu ý điều này, những sự chuẩn bị của Mỹ chia thành một số loại hình:

+ Cải thiện khả năng duy trì các hoạt động quân sự cường độ cao: Bộ Quốc phòng cần phân tích “những vật tư tiêu hao” quan trọng (các vũ khí và đạn được) mà có thể không hết hạn sử dụng và làm nghiêng cán cân trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh kéo dài.

+ Thay đổi hướng tới những phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn: Lầu Năm Góc không cần tăng các kho dự trữ các phương tiện mang vũ khí dễ bị tổn hại (các tàu mặt nước và các máy bay có người lái) mà được cho là chịu những tổn thất đáng kể do A2/AD của Trung Quốc. Đúng hơn, Lầu Năm Goác cần thực hiện một chương trình có chủ đích trong dài hạn để thay thế các hệ thống có khả năng sống sót hơn, ít nhất là đối với khu vực này.

+ Cải thiện các khả năng tiến hành chiến tranh của Mỹ và đồng minh: Ngoài việc cải thiện khả năng tồn tại, các lực lượng Mỹ và đồng minh cần lợi dụng về mặt chiến lược nhiều hơn các công nghệ mà Trung Quốc đang lợi dụng ở A2/AD  của nước này, bao gồm các tên lửa nhằm mục tiêu, phạm vi chiến trường, hệ thống phòng không phạm vi rộng tiên tiến và các tàu ngầm.

+ Thực hiện lập kế hoạch tình huống bất ngờ với các đồng minh then chốt: Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất nhưng cũng gây tranh cãi nhất; tuy nhiên, việc lập kế hoạch quân sự Mỹ – Nhật không phô trương hiện nay là một khuôn khổ đã định (được Trung Quốc biết rõ) có thể bắt đầu động chạm đến các vấn đề về cuộc xung đột xác suất thấp và hậu quả cao với Trung Quốc. Việc lập kế hoạch tương tự với các đồng minh Đông Á khác được khuyến khích. Việc lập kế hoạch của NATO cần được mở rộng theo hướng các đồng minh châu Âu sẽ phản ứng như thế nào trước mối đe dọa của Nga nếu Mỹ ở trong cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc. Một lần nữa, đây là một vấn đề tế nhị và tốt nhất được làm mà không phô trương ầm ĩ.

Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ sự gián đoạn của các sản phẩm quan trọng từ Trung Quốc: ở đây một lần nữa đánh giá có cơ sở phải phổ biến. Đối với Mỹ, cắt giảm bớt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong trường hợp vạn nhất xảy ra một cuộc chiến tranh sẽ làm phương hại đến chính nền kinh tế nước này khi lường trước một sự kiến khó có khả năng xảy ra, mà mặc dù sẽ gây ra khó khăn về kinh tế, sẽ không mang tính thảm họa. Nó sẽ đủ để Chính phủ Mỹ xác định các nguồn cung cấp trong và ngoài nước thay thế chỉ cho các sản phẩm và linh kiện quan trọng nhất sản xuất ở Trung Quốc. Việc này có thể bao gồm dự trữ các nguyên vật liệu đặc biệt thiết yếu.

+ Phát triển những lựa chọn để ngăn chặn sự tiếp cận của Trung Quốc với các hàng hóa và công nghệ quan trọng cho chiến tranh trong trường hợp xảy ra chiến tranh: Mặc dù một cuộc phong tỏa chung của Mỹ sẽ không phải là cần thiết để làm phương hại đến nền kinh tế Trung Quốc, Mỹ có thể thực hiện các biện pháp gây khó khăn cho Trung Quốc trong việc duy trì một cuộc chiến khốc liệt và kéo dài. Cắt giảm sự tiếp cận của Trung Quốc với các nguồn cung dầu lửa và khí tự nhiên hóa lỏng bằng đường biển sẽ có tác động đáng kể nhất. Mặc dù Nga có thể hăm hở và có khả năng cung cấp cho Trung Quốc thiết bị quân sự trong một cuộc chiến tranh, sự tiếp cận của Trung Quốc với các hệ thống phức tạp hơn của phương Tây có thể bị ngừng lại.

Những biện pháp như vậy của Mỹ có thể củng cố những nhận thức của Trung Quốc rằng Mỹ kiên quyết bao vây và cô lập Trung Quốc, cũng như tạo ra những nhận thức chor ằng Mỹ sẽ tìm cách phá Trung Quốc và phá hủy nhà nước của họ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Sự phân biệt đưa ra là Mỹ không tìm cách cô lập Trung Quốc trừ khi cuộc chiến tranh đòi hỏi nước này làm vậy. Nguy cơ làm phương hại các mối quan hệ Trung – Mỹ có thể giảm bớt, mặc dù chỉ ở mức độ nhất định, bằng các nỗ lực kiên nhẫn và kiên trì của Mỹ để cùng những người đồng nhiệm về chính trị và quân sự của Trung Quốc thảo luận về hợp tác và xử lý khủng hoảng.

Lục quân Mỹ, với tư cách là lực lượng thuận Chuẩn luật số 10 và trong các trách nhiệm chung của nó, có các vai trò quan trọng trong nhiều mặt sự chuẩn bị như vậy. Quân đội Mỹ nên làm những việc sau:

+ Đầu tư vào các khả năng A2/AD được đặt trên đất liền (ví dụ như các tên lửa di động tầm chiến trường và các hệ thống phòng không tiên tiến) để góp phần gây những tổn thất quân sự lớn của Trung Quốc.

+ Khuyến khích và giúp cho các đối tác Đông Á tăng cường phòng thủ mạnh mẽ, bao gồm các tên lửa và phòng không.

+ Cải thiện khả năng hành động phối hợp với các đối tác, đặc biệt là Nhật Bản.

+ Góp phần mở rộng và làm sâu sắc sự hiểu biết và hợp tác giữa quân đội với quân đội Trung – Mỹ để giảm những mối nguy hiểm của sự hiểu sai và tính toán sai.

Bởi vì một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ, trong cấu trúc được sử dụng ở đây, sẽ không bao gồm một trận chiến trên bộ lớn, những tổn thất dự kiến của Lục quân Mỹ sẽ ít hơn so với những tổn thất của lực lượng Hải quân và Không quân. Do đó, phân tích này không thay đổi các yếu tố lên kế hoạch hiện nay liên quan đến những đòi hỏi tổng thể về quân số thực hay huy động – cho dù với những đầu tư quan trọng vào công nghệ và phươgnt iện mang vũ khí và những thay đổi trong cấu trúc lực lượng để tăng cường hỏa lực tầm xa và phòng không như đã lưu ý. Tuy nhiên, một cuộc xung đột lớn trên bán đảo Triều Tiên sẽ làm thay đổi giả định này.

Các nhận xét kết luận

Khi những cải thiện về quân sự của Trung Quốc vô hiệu những lợi thế quân sự của Mỹ, và bởi vì công nghệ có lợi cho lực đối kháng thông thường, cuộc chiến tranh giữa hai nước có thể khốc liệt, kéo dài trong 1 năm hoặc hơn, không có người thắng, và gây ra những tổn thất và chi phí lớn ở cả hai phía. Một cuộc chiến tranh như vậy càng kéo dài, thì những tác động kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế càng đáng kể. Trong khi các tác động phi quân sự như vậy sẽ giáng vào Trung Quốc mạnh nhất, chúng cũng có thể gây phương hại lớn cho nền kinh tế Mỹ và khả năng của Mỹ đáp ứng các thách thức an ninh trên toàn thế giới. Mỹ cần tạo ra những sự chuẩn bị thận trọng để có thể tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt với Trung Quốc. Không kém phần quan trọng là khả năng của Mỹ giới hạn quy mô, cường độ và khoảng thời gian của một cuộc chiến tranh với Trung Quốc thông qua việc lập kế hoạch của nước này, hệ thống kiểm soát dân sự, và khả năng của Mỹ thông tin liên lạc với Trung Quốc trong thời bình, trong khủng hoảng và trong chiến tranh.

Cũng tương tự đối với Trung Quốc, đòi hỏi phải có sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc cấp cao tốt thời chiến. Thực sự là những cải thiện về quân sự của Trung Quốc làm giảm bớt nguy cơ thất bại rõ ràng trước Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc không thể dựa vào một cuộc chiến tranh ngắn, và một cuộc chiến tranh kéo dài có thể khiến Trung Quốc yếu kém, không ổn định, không an toàn và nghèo khổ.

Để diễn giải lời Frederick the Great, các cường quốc được vũ trang tốt ngang sức nhau đang toan tính chiến tranh sẽ muốn cân nhắc xem liệu những thành quả có thể thậm chí có sẽ “trả lãi” cho những phí tổn có thể có không. Khi Mỹ và Trung Quốc trở nên ngang bằng về khả năng phá hủy của các lực lượng của nhau, không bên nào có thể tin tưởng sẽ giành chiến thắng với một cái giá có thể chấp nhận được. Tốt hơn hết là nếu cả hai phía suy nghĩ về làm thế nào để hạn chế thiệt hại, chứ không phải chỉ về làm thế nào để chiến thắng, nếu một cuộc đối đầu hoặc một sự cố có thể dẫn đến những hành động thù địch.

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XVI


Hậu quả này cho thấy rằng một cuộc xung đột có thể được quyết định bởi các yếu tố chính trị trong nước, quốc tế, và đặc biệt là kinh tế, tất cả sẽ có lợi cho Mỹ trong một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt:

+ Mặc dù một cuộc chiến tranh có thể làm phương hại cả hai nền kinh tế, thiệt hại đối với nền kinh tế Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn nhiều (có thể là 25 – 35% GDP sau 1 năm). Bởi vì phần lớn Tây Thái Bình dương sẽ trở thành một vùng chiến tranh, thương mại của Trung Quốc với khu vực này và phần còn lại của thế giới sẽ suy giảm đáng kể. Những mất mát của Trung Quốc về nguồn cung năng lượng bằng đường biển sẽ đặc biệt gây thiệt hại. Mặc dù tiêu thụ chiếm một phần nhỏ hơn trong nền kinh tế Trung Quốc hơn so với trong nền kinh tế Mỹ, nó được dự kiến sẽ tăng lên, làm cho nền kinh tế Trung Quốc dễ bị tổn hại trước sự suy giảm hơn nữa trong trường hợp xảy ra chiến tranh.

+ Về mặt chính trị, một cuộc xung đột dài, đặc biệt là nếu khốc liệt về quân sự mang tính trừng phạt về kinh tế, có thể đưa Trung Quốc vào tình trạng chia rẽ nội bộ – đòi hỏi nhiều và thử thách nhà nước.

+ Sự tham gia của Nhật Bản và ở một chừng mực ít hơn là các đối tác của Mỹ trong khu vực có một ảnh hưởng đáng kể lên các hoạt động quân sự. Những phản ứng của Nga, Ấn Độ, và NATO ít quan trọng hơn. Tuy nhiên, các nỗ lực của NATO duy trì an ninh ở các khu vực khác (ít nhất là ở châu Âu, nếu không muốn nói là cả ở Trung Đông) sẽ cho phép cam kết lớn hơn hoặc ít mạo hiểm hơn của các lực lượng Mỹ đối với cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Một sự kết hợp những phản ứng quốc tế như vậy có thể làm tăng những tổn thất của Trung Quốc trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, bất chấp A2/AD được cải thiện.

Nói tóm lại, bất chấp những xu hướng quân sự có lợi cho mình, Trung Quốc không thể giành chiến thắng, và có thể thất bại, một cuộc chiến tranh khốc liệt với Mỹ vào năm 2025, đặc biệt nếu kéo dài. Hơn nữa, những phí tổn về kinh tế và những nguy cơ chính trị của một cuộc chiến tranh như vậy có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định của Trung Quốc, chấm dứt sự phát triển của nước này và làm xói mòn tính hợp pháp của nhà nước.

Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, các khả năng, động lực và các kế hoạch quân sự của cả hai phía khiến cho một cuộc xung đột khốc liệt, kéo dài, và quá tốn kém trở thành một khả năng rõ ràng. Trong số nhiều lý do mà Mỹ không muốn có một cuộc chiến tranh như vậy, quan trọng nhất là những tổn thất lớn về quân sự và những phí tổn kinh tế đối với chính nước này và những ảnh hưởng đối với đất nước này, khu vực và thế giới của tổn hại gây choáng váng cho Trung Quốc. Những triển vọng như vậy làm nổi bật tầm quan trọng của việc Mỹ và Trung Quốc suy tính nên làm thế nào để kiểm soát và hạn chế chiến sự nếu một cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực, điều làm nổi bật các nguyên tắc và thủ tục cho sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc.

Những khuyến nghị

Những phát hiện khẳng định những gì đang được nhìn nhận rộng rãi: một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ sẽ có hại tới mức cả hai bên cần đặt ưu tiên rất cao cho việc tránh một cuộc chiến như vậy. Trong khi những triển vọng như vậy làm cho cuộc chiến tranh có suy tính trước rất không chắc chắn, chúng cũng đòi hỏi quản lý khủng hoảng cá nhân và song phương hiệu quả, cũng như các biện pháp khác để tránh những sự hiểu sai và những sai lầm.

Bởi vì Mỹ không thể kiểm soát, giành chiến thắng hoặc tránh những tổn thất và chi phí lớn của một cuộc xung đột khốc liệt, nước này phải bảo vệ chống lại việc tự động thực hiện các cuộc tấn công ngay lập tức vào A2/AD của Trung Quốc và cần có các kế hoạch và biện pháp để ngăn chặn những hành động thù địch trở nên nghiêm trọng hơn. Việc thiết lập những dàn xếp “dự phòng để đảm bảo an toàn” sẽ đảm bảo sự chấp thuận về mặt chính trị dứt khoát  và có hiểu biết cho các hoạt động quân sự.

Cũng như vậy, Trung Quốc có quá nhiều thứ mất mát từ một cuộc xung đột khốc liệt, và thậm chí còn mất nhiều hơn từ một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt. Bất kể các xu hướng quân sự thuận lợi, Trung Quốc cũng có nhiều lý do như Mỹ phải tránh việc thực hiện tự động các kế hoạch quân sự cho một cuộc đấu đối kháng dữ dội và ngay lập tức, bao gồm một đòi hỏi song song về phải có một sự kiểm soát chính trị rõ ràng. Một lần nữa, nếu cả hai nhà nước thực hiện các kế hoạch quân sự của mình để tấn công lực lượng của phía kia, một cuộc chiến tranh khốc liệt có thể xảy ra sau đó.

Do đó, sẽ là cần thiết nhưng không đủ nếu Mỹ có thể kiềm chế thực hiện đầy đủ các kế hoạch quân sự một khi cuộc chiến bắt đầu, vì nước này có thể không do dự tấn công mạnh nếu Trung Quốc đang hoặc sắp làm vậy. Do sự trừng phạt cực đoan đối với việc để cho các lực lượng của một bên bị tấn công trước khi họ tấn công, việc tạo ra sự kiên nhẫn với nhau ngay từ khi bắt đầu tình trạng thù địch có thể cũng ở mức khó như mức độ quan trọng của nó. Nó đòi hỏi một khả năng hợp tác vào thời điểm áp lực căng thẳng buộc phải tấn công, mà đến lượt nó khiến việc thông tin liên lạc chính trị rõ ràng, trực tiếp và kịp thời sau đó cũng quan trọng như trước khi chiến sự bắt đầu. Cùng với việc đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ và Trung Quốc có những lựa chọn quân sự ngoài các cuộc tấn công ngay tức khắc nhằm phá hủy các lực lượng đối phương, việc có các phương tiện tham khảo và kiềm chế một cuộc xung đột trước khi nó vượt ngoài tầm kiểm soát là khuyến nghị quan trọng nhất từ bài phân tích này.

Cùng với các biện pháp ngăn cản các cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực và ngăn chặn bạo lực trở nên khốc liệt, Mỹ cần tìm cách giảm tác động A2/AD của Trung Quốc trong những năm tới. Công việc tại RAND và những nơi khác ngày càng nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư vào các phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn (ví dụ như các tàu ngầm) và vào chống A2/AD (ví dụ các tên lửa chiến trường). Những nỗ lực như vậy sẽ củng cố biện pháp răn đe, giúp làm sự tin tưởng của Trung Quốc vào việc thắng thế trong một cuộc xung đột khốc liệt, và cải thiện sự ổn định trong các cuộc khủng hoảng, cũng như trong giai đoạn đầu quan trọng của một cuộc xung đột. Nhưng các nỗ lực này sẽ không làm giảm đáng kể những tổn thất về quân sự và những phí tổn về kinh tế của Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt.

Ngay cả khi các khả năng quân sự của Trung Quốc cải thiện, nước này sẽ gánh chịu những thiệt hại lớn trong một cuộc xung đột kéo dài, khốc liệt. Hơn nữa, những tác động về kinh tế, ở trong nước và quốc tế của một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt có chiều hướng chống lại Trung Quốc. Mỹ cần đảm bảo rằng Trung Quốc đặc biệt nhận thức được khả năng có những kết quả mang tính thảm họa cho dù một cuộc chiến tranh không gây ra tổn thất về mặt quân sự.

Trong khi quên thiệt hại nghiêm trọng đối với Mỹ trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, những sự chuẩn bị cẩn thận của Mỹ cho một cuộc xung đột sẽ giúp cho Trung Quốc tỉnh ngộ trước ảo tưởng về một chiến thắng đầy mong đợi với cái giá có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nhấn mạnh thêm lẽ phải thông thường cần thiết trong việc suy tính về những sự chuẩn bị như vậy. Như được nhấn mạnh ngay từ đầu nghiên cứu này, cuộc chiến tranh với Trung Quốc là điều không thể, một phần bởi vì cả hai phía hiểu rằng những cái giá sẽ lớn hơn những thành quả đạt được, ngay cả với người dành chiến thắng – nếu quả thực có một bên chiến thắng như vậy. Hơn nữa, những cái giá của việc hoàn toàn sẵn sàng là quá cao – chắc chắn là lớn hơn những cái giá của cuộc chiến tranh khi bị giảm bớt bởi khả năng thấp của một cuộc chiến.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XV


Những lời báo trước về phản ứng của các bên thứ ba đầy sự thiếu chắc chắn ngay cả vào lúc này, chứ chưa nói đến 10 năm tới. Phần nhiều sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân chiến tranh: Chẳng hạn, một động thái của Trung Quốc nhằm giành được quyền kiểm soát biển Hoa Đông hay Nam Trung Hoa đủ trắng trợn để buộc Mỹ can thiệp có vũ trang sẽ có nhiều khả năng tạo ra một phản ứng đáng kể của quốc tế chống lại Trung Quốc hơn so với một cuộc xung đột về Đài Loan, đặc biệt là nếu có vẻ là người Trung Quốc đã bị khiêu khích. Có thể hiểu được rằng nhiều bạn bè của Mỹ, gần và xa, sẽ ngồi yên chờ thời cơ hoặc rằng Nga hoặc Triều Tiên sẽ hành động theo các cách làm gia tăng các nguy cơ và gánh nặng quân sự cho Mỹ. Nhưng một khả năng khác, đã được đề cập trong phần thảo luận trước về “các giới hạn trên” của chiến tranh, là nhiều nước sẽ bị lôi kéo vào hoặc tham chiến một cách cơ hội, dẫn tới một cuộc chiến tương tự như chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng phản ứng quốc tế có khả năng nhiều hơn sẽ là việc các nước khu vực với những lợi ích trực tiếp và then chốt, chẳng hạn như Nhật Bản, sẽ tham gia, chủ yếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

Tóm lại, công luận thế giới sẽ ủng hộ việc ngừng chiến ngay lập tức. Nga có thể cằn nhằn khó chịu, tỏ thái độ và lợi dụng một cuộ xung đột Trung – Mỹ bằng cách chủ động hành động ở một nơi khác, dù có đồng thuận với Trung Quốc hay không. Một số nước Đông Á, ở các mức độ khác nhau, sẽ đứng sau ủng hộ cho Mỹ. Sự tham gia của Nhật Bản có thể khiến một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài trở nên tốn kém hơn cho Trung Quốc nhưng cũng có thể gia tăng những mối nguy hiểm cho sự leo thang.

4 trường hợp và tác động của chúng

Mỗi loại tác động đều quan trọng vì bản thân nó và vì những ảnh hưởng của nó tới những tác động khác:

+ Những thiệt hại quân sự có thể tác động tới năng lực, đặc biệt là của Trung Quốc, để duy trì thương mại, ngăn chặn việc phá hoại cơ sở hạ tầng, và duy trì quyền tiếp cận các nguồn năng lượng.

+ Những lĩnh vực mới của chiến tranh – mạng và không gian – có thể có cả tác động quân sự lẫn kinh tế, do các hệ thống sử dụng kép (ví dụ như thông tin liên lạc, các mạng lưới hậu cần, GPS) có thể bị vô hiệu hóa.

+ Chiến tranh mạng, nếu không được hạn chế ở các mạng lưới quân sự, có thể cản trở các phản ứng chính trị tới chiến tranh, ảnh hưởng tới các bên thứ ba, và làm trầm trọng thêm những gián đoạn về kinh tế.

+ Các phí tổn kinh tế, dù do chiến sự hay do gián đoạn về thương mại, sẽ ảnh hưởng tới năng lực của các binh lính bù đắp cho những thiệt hại quân sự trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt.

+ Khó khăn về kinh tế, chẳng hạn như giảm tiêu dùng và sự tiếp cận các mặt hàng thiết yếu, có thể ảnh hưởng tới sự ủng hộ chính trị, sự ổn định và sự gắn bó, và từ đó ảnh hưởng tới năng lực và quyết tâm của mỗi bên để tiếp tục chiến đấu với cường độ cao.

+ Dư luận thế giới bất lợi với một hoặc cả hai bên sẽ mang lại ít sự khác biệt trong năng lực và ý chí chiến đấu của họ, ít nhất trong ngắn hạn. Tuy nhiên, những phản ứng của các bên thứ ba quan trọng cuói cùng có thể giúp bên này hoặc bên kia bằng các cách chính: chiến đấu trực tiếp, tiếp tế chiến tranh, thương mại, quyền tiếp cận năng lượng, và, trong trường hợp của Mỹ, hỗ trợ trên các chiến trường khác mà tạo điều kiện cho tập trung các lực lượng.

Nhìn chung, sự giảm sút trong các lợi thế chiến đấu của Mỹ không có nghĩa là Trung Quốc có thể chiến thắng một cuộc chiến mà Mỹ sẵn sàng chiến đấu. Tới năm 2025, một cuộc chiến tranh có thể là một thế giằng co ngoài những thiệt hại trên mạng và trong không gian. Tuy nhiên không bên nào sẽ rơi vào tình trạng kém hơn nhiều so với bên kia đến mức cảm thấy bị buộc phải nhận thua, làm gia tăng khả năng rằng một cuộc chiến có thể vừa khốc liệt vừa kéo dài. Một cuộc chiến nhưv ậy có thể được quyết định bởi các phí tổn kinh tế, các tác động chính trị trong nước và những phản ứng quốc tế. Sự tham gia của Nhật bản có thể bù đắp cho sự suy giảm ưu thế quân sự của Mỹ, đặc biệt là trong một cuộc xung đột kéo dài. Tất cả những nhân tố này, tổng hợp lại, sẽ có lợi nhiều cho Mỹ.

Hãy nhớ lại nhận xét trước đây rằng chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tồi tệ hơn cả trường hợp khốc liệt và kéo dài đã được mô tả ở đây. Trong thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh giữa các nước lớn đã trở thành chiến tranh thế giới, và một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba có thể đi theo tiến trình tương tự, thậm chí tồi tệ hơn. Khả năng một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ lôi kéo thêm các cường quốc và nhiều nước khác không thể bị loại trừ: Ngoài Nhật Bản, có thể Ấn Độ, Việt Nam và NATO sẽ đứng về phía Mỹ; Nga và Triều Tiên sẽ ở phía Trung Quốc. Chiến sự có thể lan vượt ra ngoài khu vực. Các mục tiêu chiến tranh có thể mở rộng, và khi điều này xảy ra, các phí tổn của thất bại cũng vậy. Thậm chí nếu vũ khí hạt nhân không được sử dụng, Trung Quốc có thể tìm các cách khác để tấn công Mỹ thích đáng. Việc sử dụng không gian và không giang mạng có thể bị cắt giảm. Chừng nào chiến sự vẫn còn mang tính toàn diện, sự phá hủy và khó khăn có thể tiếp thêm nhiên liệu cho quyết tâm và sự huy động thêm. Tóm lại, cả thời lượng và mức độ khốc liệt của chiến tranh đều có thể vượt quá trường hợp cao hơn được sủ dụng trong bài viết này vì mục đích phân tích. Nếu vậy, những thiệt hại và phí tổn thậm chí sẽ còn lớn hơn đối với cả hai bên và thế giới, và kết quả sẽ không có lợi hơn cho Trung Quốc, bất chấp sự mở rộng sức mạnh của nước này.

NHỮNG PHÁT HIỆN, KHUYẾN NGHỊ VÀ NHẬN XÉT KẾT LUẬN

Những phát hiện

Trừ khi các nhà lãnh đạo chính trị của cả Mỹ lẫn Trung Quốc từ chối cho phép quân đội của họ thực hiện các chiến lược đối kháng, khả năng của hai nhà nước kiểm soát cuộc xung đột xảy ra tiếp sau sẽ bị suy yếu nghiêm trọng. Cả hai nước ngay từ đầu sẽ phải chịu những tổn thất lớn về quân sự và trong suốt một cuộc xung đột khốc liệt: Vào năm 2015, những tổn của Mỹ có thể là một phần lực lượng tương đối nhỏ, nhưng vẫn đáng kể; những tổn thất của Trung Quốc có thể nặng nề hơn so với những tổn thất của Mỹ và phần lực lượng đáng kể. Khoảng cách về tổn thất này sẽ thu hẹp lại khi A2/AD của Trung Quốc cải thiện: Cho tới năm 2025, những tổn thất của Mỹ có thể từ đáng kể đến nặng nề; những tổn thất của Trung Quốc, trong khi vẫn rất nặng nề, có thể phần nào ít hơn so với năm 2015, do sự suy giảm ngày càng tăng của các khả năng tấn công của Mỹ. Một cuộc xung đột khốc liệt và kéo dài có thể làm cho cả hai nước bị suy giảm đáng kể toàn bộ khả năng quân sự và do đó dễ bị tổn hại trước các mối đe dọa khác.

A2/AD của Trung Quốc sẽ làm cho Mỹ ngày càng khó có thể giành được sự thống trị tác chiến quân sự và chiến thắng, ngay cả trong một cuộc chiến tranh kéo dài. Tuy nhiên, miễn là Mỹ sẵn sàng chiến đấu, Trung Quốc không thể hy vọng giành chiến thắng về quân sự. Do đó, hai nước có thể đối mặt với triển vọng thế đối đầu giằng co về quân sự hết sức tốn kém.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XIV


Những tác động quốc tế

Những tác động quốc tế của một cuộc chiến Trung – Mỹ có thể được hình dung như những vòng tròn đồng tâm: dư luận của thế giới nói chung ở ngoài cùng và ít gây ảnh hưởng nhất; ở vòng tròn tiếp theo, các phản ứng của các bên liên quan phi khu vực chính, bao gồm các đồng minh của mỗi bên; ở giữa và quan trọng nhất, các nước Đông Á. Bất chấp lập trường của họ về các nguyên nhân, phẩm chất và bên được ủng hộ trong một cuộc xung đột, các quốc gia, thể chế và doanh nghiệp trên toàn thế giới, vì lo sợ thiệt hại kinh tế, sẽ yêu cầu chấm dứt ngay lập tức chiến sự Trung – Mỹ. Nhưng các quan điểm như vậy không có khả năng gây ảnh hưởng tới bất kỳ bên tham chiến nào.

Có ý nghĩa quan trọng hơn so với dư luận thế giới sẽ là những phản ứng của các cường quốc khác, đặc biệt là Nga, Ấn Độ và các nước châu Âu (thành viên NATO). Ấn Độ và nga, hai láng giềng trên đất liền hùng mạnh nhất của Trung Quốc, tương ứng có khả năng sẽ ủng hộ Mỹ và Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ sẽ muốn kiềm chế không can thiệp quân sự trực tiếp, nước này có thể tăng cường sự sẵn sàng của lực lượng của mình dọc theo biên giới, đặc biệt là nếu nước này cảm thấy những lợi ích sống còn của mình có thể bị ảnh hưởng. Điều này có thể khiến Trung Quốc làm điều tương tự với các lực lượng lục quân PLA (mà trong mọi trường hợp không được sử dụng nhiều để chống lại các lực lượng Mỹ).

Nga là một nhân tố khó đoán hơn. Mặc dù nước này thiếu các khả năng để thực hiện các chiến dịch quân sự có hiệu quả ở Tây Thái Bình Dương, nước này có thể lợi dụng mối bận tâm của Mỹ ở Thái Bình dương để gia tăng các mối đe dọa tới các nước Liên Xô trước đây ở Đông Âu (ví dụ như Ukraine) và vùng Caucasus (ví dụ như Gruzia), và thậm chí cố gắng hăm dọa các nước láng giềng Baltic của nước này bất chấp tư cách thành viên NATO của họ. Một khả năng khác – ít có khả năng hơn nhưng với ý nghĩa rất khác – là Nga có thể nắm bắt cơ hội của một cuộc chiến Trung – Mỹ để củng cố vị thế của nước này ở Trung Á và Siberia gây tổn hại cho Trung Quốc. Đặt địa chính trị sang một bên, Nga sẽ nhiệt tình giúp Trung Quốc bù đắp lại các nguồn cung dầu và khí đốt đã mất, mặc dù không miễn phí. Ngoài ra, vũ khí của Nga có thể bù đắp phần nào cho những thiệt hại quân sự và phí tổn của Trung Quốc (ví dụ như máy bay và hệ thống phòng không), mặc dù sẽ mất thời gian để chúng được đưa vào vận hành, và phần lớn sẽ rất kém so với các lực lượng của Mỹ. Tuy nhiên, nhìn chung, điểm yếu kinh tế, những hạn chế quân sự và những mối nguy hiểm trên và bên trong biên giới của chính Nga giảm bớt tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nước này cho Trung Quốc và khả năng hoặc tầm quan trọng của sự can thiệp của nước này.

Giả định rằng các đồng minh châu Âu của Mỹ nhìn nhận nước này là chính đáng, họ có khả năng sẽ hậu thuẫn nước này về chính trị, trong khi thúc giục kết thúc cuộc xung đột vì lo sợ nó leo thang hoặc phá hoại nền kinh tế thế giới. Không tham chiến trực tiếp, bản thân NATO có thể hứa hẹn hỗ trợ cho các nỗ lực của Mỹ nhằm chống chọi với sự gây hấn của Trung Quốc. Một trong số những đóng góp quan trọng nhất của châu Âu sẽ là ngăn chặn trước hoặc phản ứng trước bất kỳ áp lực gia tăng nào của Nga đối với Đông Âu. Trong quá trình diễn ra một cuộc xung đột kéo dài, châu Âu có thể sẵn sàng tham gia một lệnh cấm vận xuất khẩu sang Trung Quốc đối với bất kỳ hàng hóa, công nghệ và dịch vụ nào có thể hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của nước này.

Còn về các “đồng minh” Trung Quốc khác, Triều Tiên thậm chí còn khó dự đoán hơn Nga. Mặc dù Triều Tiên không còn có khả năng quân sự thông thường để xâm chiếm và đánh bại Hàn Quốc, nước này có thể sử dụng tên lửa chống lại Hàn Quốc hoặc Nhật Bản; mặc dù Seoul gần như chắc chắn sẽ không tham gia một cuộc chiến chống Trung Quốc trong bất kỳ trường hợp nào, các lựa chọn của Tokyo sẽ là phức tạp bởi sự hiếu chiến của Triều Tiên.

Một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ có thể làm rối loạn Trung Đông rộng lớn hơn bằng việc đem lại một cơ hội cho bạo lực gia tăng từ các nhóm cực đoan Hồi giáo và chống Israel (IS, al-Qaeda, Hamas và Hezbollah). Những khó khăn của Trung Đông có thể gia tăng đòi hỏi lên các lực lượng hải quân và không quân Mỹ ở một thời điểm đang cần sự xuất hiện của họ nhiều hơn ở Tây Thái Bình Dương. Ngược lại, một sự chuyển dịch đáng kể của các lực lượng Mỹ từ Bộ Chỉ huy Trung tâm tới Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ có thể gia tăng khả năng bất ổn ở Trung Đông. Bạo lực gia tăng, chủ nghĩa cực đoan và bất ổn ở Trung Đông cũng có thể gây tổn hại cho Trung Quốc, khi phần lớn dầu mỏ của nước này đến từ đó (mặc dù dù sao đi nữa phần lớn dầu mỏ sẽ không được vận chuyển qua vùng chiến sự).

Các nước Đông Á sẽ có nhiều điều để mất nhất từ một cuộc chiến Trung – Mỹ: Phần lớn khu vực này có thể trở thành vùng chiến sự; nền kinh tế tập trung vào thương mại của khu vực này có thể rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc có thể nổi lên vượt trội hoặc bất ổn; những thành tựu phi thường của khu vực về an ninh và thịnh vượng có thể bị đe dọa. Phần lớn các nước Đông Á sẽ muốn thấy chiến tranh kết thúc nhanh chóng trong chiến thắng về quân sự cho Mỹ, nhưng với Trung Quốc nguyên vẹn. Phần lớn các nước láng giềng của Trung Quốc đã dịch chuyển dần theo hướng quan hệ an ninh gần gũi hơn với Mỹ. Chiều hướng này có thể được nhấn mạnh trong một cuộc xung đột được coi là bắt nguồn từ tính hiếu chiến của Trung Quốc.

Quốc gia then chốt nhất là Nhật Bản, với sức mạnh quân sự đang ngày một gia tăng của nước này, mối quan hệ đối kháng của nước này với Trung Quốc, và khả năng mạnh mẽ rằng Trung Quốc sẽ tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Cách giải thích lại hiến pháp Nhật Bản gần đây, theo sáng kiến của Chính phủ Abe, đã hợp pháp hóa trên thực tế việc hỗ trợ quân sự cho Mỹ trong chiến tranh với Trung Quốc. Dĩ nhiên, khả năng về sự tham gia đáng kể của Nhật Bản trong cuộc chiến sẽ trở nên lớn hơn nếu Nhật Bản có liên quan tới vấn đề hoặc mâu thuẫn đã làm nổ ra xung đột (ví dụ ở biển Hoa Đông). Sự tham gia của quân đội Nhật Bản sẽ gần như được bảo đảm nếu Trung Quốc tấn công Nhật Bản. Mặc dù Trung Quốc có thể lựa chọn không tấn công các căn cứ Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản, một quyết định như vậy sẽ liên quan tới những trở ngại hành động lớn.

Còn đối với các khả năng, tàu ngầm, tàu chiến, máy bay tấn công, vũ khí tấn công và ISR có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong một cuộc chiến khốc liệt vào năm 2025. Một cuộc xung đột Trung – Mỹ càng kéo dài, tác động có khả năng xảy ra của những đóng góp quân sự của Nhật Bản đối với phía Mỹ càng lớn. Trong một cuộc chiến khốc liệt kéo dài, Trung Quốc sẽ cảm thấy khó đấu tranh với các lực lượng Mỹ và Nhật Bản kết hợp, khi lực lượng Nhật Bản bù đắp cho sự tiêu hao của lực lượng Mỹ. Hơn nữa, sự tham gia của Nhật Bản sẽ giảm bớt nhu cầu của Mỹ lấy đi các lực lượng của mình ở nơi nào đó để tiếp viện.

Nhìn chung, sự tham chiến của Nhật Bản có thể gia tăng thiệt hại của Trung Quốc và bù đắp hoặc thậm chí làm giảm thiệt hại cho Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài. Vì các lực lượng Nhật Bản đang được cải thiện một cách vững chắc, sự tham chiến của nước này có thể mở rộng khoảng cách giữa thiệt hại của Mỹ và của Trung Quốc vào năm 2025 như đã được mô tả trên đây. Khả năng này củng cố nhận xét đã được đưa ra rằng thậm chí với A2/AD được cải thiện của Trung Quốc về sự vượt trội về quân sự đã giảm xuống của Mỹ, Trung Quốc không thể tin chắc vào việc chiến thắng một cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Đồng thời, sự can thiệp của Nhật Bản sẽ khiến người Trung Quốc nổi giận và có thể kích động, kéo dài hoặc mở rộng cuộc xung đột. Điều đó có thể khiến Trung Quốc chiến đấu lâu dài hơn và chịu những phí tổn lớn hơn so với khi điều đó không xảy ra. Trung Quốc có thể mở rộng các cuộc tấn công vào Nhật Bản, mặc dù với cái giá của việc chuyển hướng các lực lượng vốn đã phải chịu sự tấn công và áp lực nặng nề.

Phụ thuộc vào nguyên nhân và địa điểm của cuộc xung đột, các nước Đông Á khác phần lớn sẽ cùng phe với Mỹ ở các mức độ khác nhau: với sự hỗ trợ từ cho phép sử dụng các căn cứ cho tới sự cam kết lực lượng có thể có (ví dụ như Australia, New Zealand, Philippines), cho tới việc hỗ trợ thận trọng cho Mỹ trong số các quốc gia có quan hệ vững chắc với Trung Quốc (đáng chú ý là Hàn Quốc) hoặc có dân gốc Trung Quốc đáng kể (ví dụ như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan), cho tới ủng hộ cho Trung Quốc (chỉ có Triều Tiên). Sự tham gia của các lực lượng Australia, vì chất lượng của chúng, có thể có ý nghĩa về quân sự bất chấp quy mô nhỏ của chúng. Ngoài những đóng góp về quân sự, cuộc xung đột càng kéo dài và càng khốc liệt, thì Trung Quốc càng trở nên bị cô lập và có thể càng bị cô lập lâu dài hơn khỏi chính khu vực mà nước này có tham vọng dẫn dắt. Điều này, đến lượt nó, có thể củng cố những tiếng nói ủng hộ hòa bình ở Bắc Kinh (ví dụ như trong Bộ Ngoại giao).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XIII


Những tác động chính trị

Những tác động của chiến tranh đến phản ứng chính trị trong nước giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ khác biệt đáng kể vì các điều kiện chính trị của hai nước này quá khác nhau. Nhóm tác giả giả sử rằng những điều kiện này vào năm 2025 về cơ bản sẽ vẫn giữ nguyên như năm 2015. Bản chất, quy mô và thời điểm của các tác động chính trị, nếu có, thậm chí còn khó dự đoán hơn những thiệt hại quân sự và phí tổn kinh tế. Liệu những tác động được mô tả dưới đây có diễn ra trong hoặc sâu một cuộc xung đột kéo dài 1 năm (khoảng thời gian được coi là một cuộc chiến lâu dài) hay không là không thể biết được, nhưng mặc dù vậy nó vẫn đáng để xem xét.

Trung Quốc là một nước độc đảng, và hiện đang có một người đứng đầu chính phủ đầy quyền lực. Nhà lãnh đạo đó đang làm việc để củng cố quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội. Những bất đồng giữa các quan chức dân sự hàng đầu hoặc giữa họ với các lãnh đạo quân đội hoặc các nhân vật tinh hoa kinh tế là không đáng kể hoặc được che đậy kín đáo. Công luận, dù là một nguồn áp lực quan trọng và có thể là cái nôi bất đồng tiềm tàng, không là then chốt đối với sự tồn tại của chế độ: Tầng lớp trung lưu chủ yếu có tình cảm yêu nước, những người nghèo ở nông thôn không có tiếng nói, những công nhân nhà máy di cư không có tổ chức, và những người chống đối chỉ là thiểu số và quan tâm tới tự do chính trị hoặc tôn giáo hơn là chính sách đối ngoại. Tranh luận và phản kháng được nhà nước miễn cưỡng chấp nhận. Quyền tiếp cận thông tin có thể bị kiểm soát, tới một mức độ nào đó, do quyền truy cập Internet rộng rãi. Nhà nước và bộ máy an ninh nội bộ của nó có nhiều biện pháp để đàn áp phe đối lập và ý chí để sử dụng những biện pháp đó. Tuy nhiên, sự cam kết của Bắc Kinh đối với trật tự trong nước phản ánh nỗi lo sợ kiểu bất ổn mà Trung Quốc từng trải qua trong quá khứ và có thể một lần nữa nhấn chìm đất nước, đe dọa chế độ, và khiến Trung Quốc yếu ớt và dễ bị tổn thương.

Chính trị trong nước của Mỹ gần như ngược lại so với Trung Quốc. Hiện tại, chính trị Mỹ bị phân cực và chính phủ bị chia rẽ. Gần như bất kỳ vấn đề nào, thậm chí chiến tranh và hòa bình, đều có thể dẫn tới sự chỉ trích, sự cãi vã giữa hai đảng, và sự tê liệt một phần. Năng lực của tổng thống để đóng vai trò một tổng tư lệnh hiệu quả có thể bị suy yếu bởi sự chính trị hóa; phe đối lập có thể đến từ các phe cánh hòa bình, phe cánh chiến tranh, hoặc cả hai. Trừ phi an ninh của đất nước trực tiếp bị đe dọa, sự hỗ trợ toàn tâm toàn ý của công chúng nói chung và giới tinh hoa không thể được giả định, đặc biệt là sau những cuộc chiến tranh tốn kém với kết quả đáng thất vọng ở Iraq và Afghanistan. Các chính quyền Mỹ khăng khăng liều mạng tiến hành các cuộc chiến tranh không hợp lòng dân. Cả sự kiên nhẫn lẫn sự liên tục đều không thể được giả định, đặc biệt là với các cuộc bầu cử 2 năm một lần. Đồng thời, không có nghi ngờ gì về sự tồn tại của nhà nước trong trường hợp xảy ra chiến tranh với những thiệt hại và phí tổn lớn, giống như có thể xảy ra trong trường hợp của Trung Quốc.

Những phản ứng, kiềm chế và hệ quả chính trị ở hai nước có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi nhận thức về những lợi ích của chiến tranh. Những vấn đề liên quan tới các tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc, những bất công về lịch sử, và quyền chủ quyền sẽ có điểm tựa vững chắc trong giới tinh hoa Trung Quốc và công chúng. Tuy vậy nhiều người Mỹ có thể coi những vấn đề như vậy là ngoại vi đối với lợi ích sống còn của Mỹ và không đáng giá một cuộc chiến tốn kém, trừ phi ban lãnh đọa thống nhất có thể thuyết phục họ theo hướng khác. Khi chiến sự tiếp diễn, những lợi ích ban đầu có thể bị thay đổi bởi việc cuộc chiến đang diễn biến ra sao về số người thương vong, tác động kinh tế, các cuộc tấn công vào dân thường, và sự giận dữ hoặc khiếp sợ của dân chúng, khiến cho chính trị  trong nước không ổn định và khó dự đoán.

Chính phủ Mỹ có thể trải qua những vấn đề chính trị “chiến thuật” nghiêm trọng (ví dụ sự phân cực giữa hai đảng và trong dân chúng) xuyên suốt cuộc xung đột, trong khi đó chính phủ Trung Quốc sẽ có ít những vấn đề như vậy và sức mạnh để quản lý chúng. Nhưng Trung Quốc có thể đối mặt với các vấn đề chính trị “chiến lược” mà chế độ phải đương đầu trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lâu dài và khốc liệt. Động lực “tập hợp dưới cờ” của Trung Quốc ban đầu có thể mạnh hơn nhưng sau đó nhường chỗ cho những sự bất ổn mà Mỹ không phải đối mặt.

Tổng thống Mỹ có thể bị chỉ trích ngay từ đầu vì đã đưa đất nước tham gia một cuộc chiến tranh vì những lợi ích chưa đến mức sống còn. Những chỉ trích như vậy có thể được tăng cường bởi những thiệt hại đáng kể, đặc biệt là thương vong, trong chiến sự khốc liệt. Mặt khác, tổng thống có thể bị chỉ trích vì sự rụt rè nếu kiềm chế quân đội Mỹ để hạn chế các hoạt động thù địch và thiệt hại. Mặc dù quyền kiểm oát dân sự đối với quân đội sẽ không bị nghi ngờ, những căng thẳng có thể xuất hiện về sự quản lý vi mô của tổng thống, được thúc đẩy bởi những lo ngại về phí tổn. Trong khi có khả năng số thương vong ngày càng tăng có thể tập hợp sự ủng hộ của công chúng, đặc biệt nếu được xen vào đó những tình cảm chống Trung Quốc, cũng có khả năng rằng sự phản đối chiến tranh sẽ gia tăng. Phụ thuộc vào những lợi ích và những phản ứng trước những thiệt hại, một cuộc chiến lâu dài và khốc liệt có thể chia rẽ nước Mỹ và làm trầm trọng thêm những vấn đề về tinh thần đảng phái không thỏa hiệp và chính phủ hoạt động sai chức năng.

Trong khi những tiến bộ quân sự của Mỹ cho đến nay đã đem lại cơ hội chiến thắng một cuộc chiến một cách nhanh chóng và do đó tránh được những áp lực và cạm bẫy chính trị, điều này có thể ít có khả năng hơn trong tương lai. Tổng tư lệnh có thể rơi vào thế gọng kìm giữa logic quân sự giành chiến thắng trong cuộc chiến và logic chính trị – kinh tế kiềm chế phí tổn. Liệu chính trị trong nước của Mỹ có cho phép nước này tiến hành một cuộc chiến kéo dài, tốn kém và có thể không có kết quả với Trung Quốc hay không sẽ phụ thuộc một phần vào nguồn gốc của cuộc chiến và quyền lợi của Mỹ trong kết quả của nó. Lịch sử cho thấy – và Trung Quốc không nên bỏ qua – rằng Mỹ có khả năng chịu đựng chính trị đáng kể trong chiến tranh.

Sự hỗ trợ chính trị, quyền kiểm soát của nhà nước và sự ổn định ở cả hai nước  có thể cũng chịu các tác động của chiến tranh mạng, nếu như nó leo thang tới các lĩnh vực dân sự. Ở đây, Trung Quốc cũng có thể trở nên dễ bị tổn hại hơn tới chừng mực mà chính phủ Trung Quốc phụ thuộc nhiều hơn vào việc gây ảnh hưởng tới tình cảm của dân chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, mạng Internet và các kênh truyền thông khác so với những gì chính phủ Mỹ làm hoặc có thể làm. Nếu năng lực của Bắc Kinh trong việc thao túng thông tin, duy trì ủng hộ và ngăn chặn hỗn loạn bị giảm sút, những ý kiến tự phát và đối lập có thể gây rối loạn một số bộ phận dân chúng.

Những căn thẳng trong hệ thống và sự gắn kết chính trị của Trung Quốc có thể kiểm soát được trong trường hợp xảy ra chiến sự cường độ nhẹ. Mạng xã hội có thể trao quyền cho phe đó lập ở một mức độ nào đó, tuy vậy khả năng của chế độ hạn chế và thao túng thông tin và kiềm chế bất đồng sẽ chiếm ưu thế. Một lựa chọn của chế độ nhằm giới hạn các hoạt động thù địch để tránh tổn thất lớn, các cuộc tấn công vào Trung Quốc và sự leo thang có thể tạo ra những lời phàn nàn trong quân đội nhưng không phải sự kháng cự rõ ràng. Giả sử rằng các nhà lãnh đạo và giới tinh hoa Trung Quốc có quan điểm rõ ràng về những lợi ích của cuộc xung đột (ví dụ như các vấn đề về chủ quyền và danh dự quốc gia), mọi sự phản đối trong công chúng sẽ không buộc chế độ phải ngừng chiến.

Tuy nhiên, chiến sự khốc liệt, nếu kéo dài, có thể tạo ra hỗn loạn chính trị trong nước và các lực lượng phân quyền. Mối nguy hiểm về sự bất ổn bắt nguồn từ sự phụ thuộc của tính hợp pháp của chế độ vào sự thịnh vượng kinh tế và lòng tự hào dân tộc; nếu tới mức cả ai bị rạn nứt bởi các thiệt hại và phí tổn chiến tranh, các bộ phận của xã hội (ví dụ như giới tinh hoa, trung lưu, công nhân và nông dân nghèo) có thể không ưa ban lãnh đạo nữa. Không chỉ vốn mà các nhà tư bản cũng có thể chạy khỏi nước này. Mặc dù tình trạng rối loạn trong nước có thể không gây nguy hiểm cho chế độ, nó có thể buộc chế độ phải thẳng tay đàn áp những bộ phận lớn trong công chúng giận dữ, làm suy yếu thêm tính hợp pháp của chế độ. Mối nguy hiểm của chủ nghĩa ly khai nằm ở cơ hội mà những phần tử ly khai ở Tây Tạng hay Tân Cương có thể nhận thấy nếu nhà nước bận tâm với một chiến nhiều tổn thất và đòi hỏi cao với Mỹ. Bởi số lượng đáng kể các lực lượng lục quân của PLA và các lực lượng an ninh trong nước khác được cho là sẽ vẫn có sẵn ngay cả trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột lớn với Mỹ, chế độ sẽ có thể trấn áp các phần tử ly khai, nhưng với phí tổn về nguồn lực và tính hợp pháp trong nước cũng như quốc tế trong thời điểm mà cả hai có thể đang còn thiếu.

Đặt những tác động chính trị có thể xảy ra của Mỹ và Trung Quốc cạnh nhau, dường như các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ đối mặt với ít sự chống đối trong nước trong một cuộc xung đột ngắn, bất chấp mức độ khốc liệt của nó, trong khi đó các nhà lãnh đạo Mỹ có thể đối mặt với sự chống đối kịch liệt, tinh thần đảng phái và sự phân cực ngay từ đầu. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể và sẵn sàng đàn áp sự chống đối trong nước. Trong khi sự hỗ trợ yêu nước có thể được giả định ở cả hai trường hợp, nó có thể nhiệt thành hơn ở Trung Quốc, đặc biệt là nếu phần lớn người Trung Quốc có quan điểm rõ ràng hơn phần lớn người Mỹ về những lợi ích quốc gia bị đe dọa trong cuộc xung đột. Tuy nhiên, trong trường xảy ra một cuộc xung đột kéo dài và tốn kém, Trung Quốc có thể đối mặt với biến động trong nước nghiêm trọng hơn so với Mỹ, điều có thể thúc đẩy Bắc Kinh tìm kiếm hòa bình.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017