Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần cuối


Những đồng minh này đang dần rời xa Mỹ cũng là điều chắc chắn. Ngày 6/11/2018, Tổng thống Pháp Macron hô hào trên Đài phát thanh Europe 1 rằng châu Âu nên xây dựng một quân đội riêng của mình để giảm bớt phụ thuộc quốc phòng vào Mỹ. Trump ngay sau đó lập tức công kích Macron trên Twitter: “Tổng thống Pháp vừa kiến nghị châu Âu xây dựng quân đội riêng để đề phòng Mỹ, Trung Quốc và Nga. Thật xúc phạm! Nhưng có lẽ châu Âu trước hết nên chi trả thỏa đáng phần chi phí quân sự của NATO, Mỹ đã bù vào đó khá nhiều rồi”. Có thể thấy quan hệ giữa châu Âu với Mỹ ngày một sứt mẻ, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc ngày càng gần gũi hơn, lệnh trừng phạt Iran lần này sẽ một lần nữa làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng xa rời.

Thứ ba, chia rẽ giữa Mỹ và châu Âu có thể là xu thế dài hạn. Kể từ khi Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu ngày càng xấu đi. Tuy nhiên hầu hết người dân đều thiếu nhận thức về điều này, thường cho rằng đó chỉ là cạnh tranh anh em giữa các nước Âu – Mỹ, về đối ngoại vẫn phải đoàn kết để đối phó với Nga và Trung Quốc. Hoặc cho rằng đây chỉ là phong cách cầm quyền của Trump, chỉ là hành vi nhất thời.

Nhưng tình hình hiện tại dường như không hoàn toàn như vậy. Một mặt, giá trị quan giữa Mỹ và châu Âu là nhất quán, chắc chắn vẫn mang nhiều lợi ích chung, không gian hợp tác tương đối lớn; nhưng mặt khác, nếu đúng như Trump coi EU là kẻ địch lớn hơn cả Nga và Trung Quốc thì châu Âu cũng ngày càng coi Mỹ là mối đe dọa lớn hơn, và kêu gọi Nga, Trung Quốc liên kết để chống lại sức ép từ Mỹ.

Hơn nữa, nhìn vào hiện tại, sự lạnh nhạt trong quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chỉ là vấn đề của cá nhân Trump, mà là kết quả tất yếu của sự thay đổi tình hình quốc tế nói chung, thực lực Mỹ tương đối suy giảm cũng như sự thay đổi của lực lượng Âu – Mỹ. Cục diện liên minh Âu – Mỹ hiện nay được xây dựng trên nền tảng là châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng do sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và Mỹ trở thành nước lớn độc tài, do đó cùng với việc Mỹ có quyền lãnh đạo châu Âu thì cũng phải gánh vác nghĩa vụ lớn hơn. Nhưng cùng với việc kinh tế châu Âu hồi phục tương đối và kinh tế Mỹ có phần suy thoái thì cục diện này ngày càng khó duy trì.

Ngoài ra, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mong muốn chi trả nhiều chi phí hơn cho phương Tây để duy trì địa vị lãnh đạo của mình là bởi vì Mỹ cho rằng mình có thể đạt được lợi ích từ địa vị chủ đạo này. Hiện nay có vẻ Mỹ xác định được lợi ích từ địa vị này là không ít, nhưng lợi ích này phân phối không đồng đều ở trong nước.

Người sáng lập kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của Quỹ quản lý đầu tư Bridgewater Associates Mỹ, Ray Dalio trong bài phát biểu “The Two Economies: The Top 40% and the Bottom 60%” hồi tháng 10/2017 đã chỉ ra rằng, sự chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng của xã hội Mỹ khó mà duy trì lâu dài. Theo Dalio, của cải của 0,1% dân số tầng lớp cao nhất hiện nay của Mỹ tương đương với của cải của 90% dân số tầng lớp thấp, tương đương với khoảng cách giàu nghèo trong giai đoạn 1935 đến 1940. “Từ năm 1980 đến nay, thu nhập thực tế của các hộ gia đình trung lưu về cơ bản vẫn giữ nguyên, trong khi thu nhập bình quân của 40% hộ gia đình tầng lớp cao đã nhiều gấp 4 lần so với 60% hộ gia đình tầng lớp thấp”. “Tỷ lệ tử vong của 60% dân chúng tầng lớp thấp đang gia tăng, sức khỏe về tinh thần và thể chất đều đang xấu đi”.

Trong hoàn cảnh này, một bộ phận người Mỹ mà đại diện là Donald trump đã không còn muốn duy trì trật tự quốc tế này nữa.

IV/ Kết luận

Lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây cho rằng: không có tình hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Không chỉ vậy, mà đôi khi ngay cả lợi ích chung cũng có thể tranh giành. Nếu lợi ích của việc phản bội lớn hơn lợi ích mà các đồng minh có thể có được thì sao không làm?

Quả thực, giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu tồn tại nhiều điểm chung, đặc biệt  là sự nhất trí về giá trị quan, nhưng điều này không có nghĩa là họ không trở mặt với nhau. Trong các cuộc Thập Tự Chinh từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, các nước Tây Âu và Đế quốc Byzantine là đồng minh, còn có chung tín ngưỡng, nhưng trong cuộc Thập Tự Chinh thứ tư (1202 – 1204), quân Thập Tự đã quay lại đánh úp và tiêu diệt Byzantine. Trong lịch sử, các nước Trung – Đông Âu thường duy trì sự nhất trí cao độ về ý thức hệ và lợi ích quốc gia, nhưng kể từ khi ký Hòa ước Versailles năm 1919, trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước phương Tây về chính trị đã nhiều lần bán rẻ các nước đồng minh Trung Âu và Đông Âu. Hiện tượng này xảy ra nhiều lần đến mức lịch sử quan hệ quốc tế đã xuất hiện một cụm từ là “sự phản bội của các đồng minh phương Tây”.

Do đó, ngày nay, sự trở mặt giữa Mỹ và các nước Tây Âu cũng phù hợp với tác phong của họ. Ví dụ như khi thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 2015, các nước Anh, Pháp, Đức nhìn thấy lợi ích to lớn trong đó nên đã làm trái ý Mỹ để tham gia AIIB. Các nước châu Âu cũng đều phản ứng tích cực đối với đề xướng “Vành đai và Con đường” mà Mỹ phản đối.

Ngày nay, vì cả Mỹ và châu Âu đều cho rằng quan hệ đồng minh giữa họ đã làm tổn hại đến lợi ích cơ bản của mỗi bên, nên các liên minh như vậy khó mà tiếp tục duy trì. Trong khi Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran, vì lợi ích bản thân mà tổn hại các đồng minh châu Âu, lại sẽ từng bước làm trầm trọng thêm quá trình này. Có lẽ trong tương lai không xa, Mỹ và châu Âu sẽ không còn coi nhau là đồng minh thân thiết.

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Advertisements

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần II


Thứ hai, Mỹ trừng phạt Iran đã làm tổn hại đến lợi ích của các đồng minh châu Âu.

Các lệnh trừng phạt Iran hiện nay của Mỹ đã từng bước gây tổn hại cho lợi ích của các nước đồng minh châu Âu. Mỹ sở dĩ đưa ra các lệnh trừng phạt đơn phương đối với Iran là vì xác định Iran là mối đe dọa lớn đối với an ninh, ngoại giao và kinh tế của Mỹ, nhưng các nước châu Âu lại không nghĩ như vậy. Cân nhắc đến tầm quan trọng của Iran trên thị trường khí đốt và dầu mỏ quốc tế, các nước châu Âu lại không muốn thực hiện lệnh trừng phạt đối với Iran, mà chủ trương thông qua con đường ngoại giao và chính trị để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran.

Trước khi ký kết Thỏa thuận hạt nhân Iran năm 2015, các nước châu Âu cùng với Mỹ đã tiến hành các biện pháp trừng phạt đối với Iran, mặc dù gây thiệt hại lớn nhưng không ngăn được sự phát triển kinh tế cũng như ngoại thương của Iran, rất nhiều nước đạt được lợi ích lớn nhờ vào quan hệ thương mại với Iran. Ví dụ, quy mô thương mại của Trung Quốc đối với Iran tăng lên trong kẽ hở của các lệnh trừng phạt của Mỹ, chỉ trong năm 2017, kim ngạch thương mại Trung Quốc – Iran đã tăng khoảng 20%. Ngoài Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Nga… cũng không cắt đứt quan hệ thương mại thông thường với Iran, ngược lại những nước châu Âu theo Mỹ trừng phạt Iran lại chịu tổn thất kinh tế không đáng có do không tiến được vào thị trường Iran. Sau khi lệnh trừng phạt Iran được nới lỏng, các doanh nghiệp châu Âu mong muốn có được thị trường Iran lâu nay đã nhanh chóng thâm nhập thị trường này.

Lần này, Mỹ làm trái với mong muốn của đồng mình châu Âu, tự ý rút khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran và áp đặt lệnh trừng phạt với Iran, điều này có nghĩa là Thỏa thuận hạt nhân Iran rất khó khăn mới đạt được vào năm 2015 và kéo dài trên 9 năm giữa EU với 7 nước bao gồm cả Iran đã tan thành mây khói. Mặc dù các nước châu Âu cực lực phản đối, nhưng cuối cùng không giải quyết được vấn đề. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận này và thực hiện trừng phạt Iran khả năng lớn sẽ khiến cho giá dầu tăng, ngành sản xuất dầu của Mỹ hiện nay tự đủ cung cấp và có thể bán dầu để thu lợi, còn đa số các nước EU lại không thể mua dầu giá cao. Dưới sự ép buộc của Mỹ, một số công ty đa quốc gia của châu Âu, không thể không gián đoạn hoạt động tại Iran và buộc phải rút khỏi thị trường Iran.

Mỹ trừng phạt Iran tương đương với việc buộc các đồng minh châu Âu phải trả tiền cho lợi ích của Mỹ, điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước châu Âu có liên quan, càng khiến những nước này bất mãn đối với Mỹ.

III/ Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran có thể làm tăng thêm sự chia rẽ của phe cánh phương Tây

Hàng loạt hành động gây tổn hại đến lợi ích đồng minh châu Âu của Mỹ đương nhiên sẽ chịu hậu quả.

Trước tiên là các đồng minh châu Âu ngày càng rời xa Mỹ.

Cùng với việc sau khi lên nắm quyền thái độ của Trump đối với các đồng minh châu Âu xấu đi, các nước châu Âu cũng ngày càng thiếu đoàn kết. Tại Hội nghị thượng đỉnh G7 vào tháng 6/2018, Mỹ và 6 nước còn lại công khai đối địch. Trong phương diện quan hệ với Nga, châu Âu cũng đã nhiều lần bày tỏ không hài lòng đối với Mỹ. Ngày 11/7/2018, tại Hội nghị thượng đỉnh NATO Trump đã chỉ trích rằng người Đức không nên nhập khẩu năng lượng của Nga, trở thành nô lệ cho Nga. Nhưng bản thân ông quay lại bày tỏ tình hữu nghị với nước Nga cũng như Putin trong “cuộc gặp Trump – Putin”, tăng cường hợp tác với Nga về năng lượng. Điều này đã gây ra nhiều sự nghi ngờ của châu Âu.

Đầu tháng 5/2018, theo một cuộc khảo sát của Đức với tên gọi là “Young Europe 2018” cho thấy đa số những người trẻ tuổi ở Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Italy, Ba Lan, Tây Ban Nha đều không ủng hộ lập trường của chủ nghĩa dân túy, 57% trong số người được phỏng vấn coi Tổng thống Trump là “mối đe dọa”, chỉ có 11% coi ông là một “cơ hội”.

Ngày 16/7/2018, Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas nói rằng, châu Âu “không thể hoàn toàn trông chờ” vào Mỹ, cần phải đoàn kết lại, phát triển quan hệ với Mỹ theo cách mới. Chủ tịch Hội đồng châu Âu – cơ quan ra quyết sách tối cao của EU, Donald Tusk cảnh cáo rằng, Mỹ dường như không có đồng minh. Thậm chí Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng công khai chỉ trích Donald Trump là “phá hủy niềm tin vào trật tự quốc tế”.

Thứ hai, các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ có thể làm tăng sự chia rẽ của phe cánh phương Tây.

Sau khi Mỹ tuyên bố khởi động lại lệnh trừng phạt đối với Iran, một số nước châu Âu kiên quyết phản đối. Pháp, Đức, Anh và EU cùng lên án hành vi của Mỹ, và tuyên bố sẽ bảo vệ các công ty châu Âu kinh doanh “hợp pháp” với Tehran.

Hiện tại, phần lớn các giao dịch toàn cầu đều thông qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế), Mỹ có thể dựa vào hệ thống này để giám sát và điều khiển một cách hiệu quả các giao dịch toàn cầu, và dựa vào đó để thực hiện trừng phạt các nước khác. Đó cũng là một trong những trụ cột quan trọng trong việc xây dựng quyền lực tài chính của Mỹ. Tuy nhiên, các nước khác không chấp nhận như vậy, ví dụ như Trung Quốc và Nga đã xây dựng hệ thống thanh toán của riêng mình.

Trước những hành động cô lập ngày càng nghiêm trọng của Mỹ, các nước châu Âu cũng cố gắng thiết lập hệ thống thanh toán của riêng mình. Ngày 2/11/2018, EU cùng với Anh, Pháp, Đức đã ra tuyên bố chung rằng phải duy trì “kênh tài chính hiệu quả với Iran”, tiếp tục mua dầu và khí đốt của Iran. Còn phải nỗ lực hợp tác với Trung Quốc và Nga – là những bên cũng ký kết thỏa thuận hạt nhân Iran. Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas, trong một bài viết hồi tháng 8/2018, đã đề xuất châu Âu nên lập nên một hệ thống thanh toán mới độc lập với Mỹ để cứu vãn Thỏa thuận hạt nhân Iran và tăng cường quyền tự chủ của châu Âu. Nếu điều này thành hiện thực, quyền lực tài chính của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

Ngày 5/11/2018, ngay sau khi Mỹ chính thức khôi phục lại lệnh trừng phạt đối với Iran, đồng thời tuyên bố 8 nước hoặc khu vực được miễn trừ, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Italy, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ mà không bao gồm các nước cốt lõi của EU như Pháp, Đức và Anh, điều này chắc chắn càng làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu. Tuy lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Iran của Anh và Đức tương đối ít, trong khi quy mô nhập khẩu từ Iran của Pháp là 5%, Italy 7% và Nhật Bản 5%. Xét về địa vị và tầm ảnh hưởng của Pháp trong các nước châu Âu có thể khẳng định rằng đây là một sách lược trừng phạt mang tính xúc phạm đối với các đồng minh châu Âu truyền thống, thể hiện rất rõ ràng thái độ không tin tưởng các đồng minh châu Âu.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Căng thẳng Trung – Mỹ bước vào giai đoạn mới: Đình chiến hay leo thang? – Phần cuối


Cuộc dẫn độ khác thường

Khi tác giả ngồi cùng với phát thanh viên Elaine Reyes của kênh CGTN để thảo luận về vụ bắt giam bà Mạnh Vãn Châu, cô đã hỏi liệu Trump có biết việc CFO của Huawei bị bắt khi ông đang dùng bữa tối cùng chủ tịch Trung Quốc hay không. Tác giả muốn tin lời của Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ John Bolton rằng tổng thống không được thông báo; tuy nhiên, thực tế cho thấy rõ hơn là Bolton phải thừa nhận là biết trước việc đó. Sẽ là một sai lầm khi tin rằng các quan chức hàng đầu trong Chính phủ Mỹ không biết gì về một yêu cầu dẫn độ đối với một công dân Trung Quốc nổi tiếng – nhân vật thế lực trong ban điều hành của một trong những công ty viễn thông lớn nhất thế giới – đặc biệt xét tới những phí tổn tiềm tàng đối với quan hệ ngoại giao Mỹ – Trung hiện nay.

Như tác giả đã lưu ý trên tạp chí Yale Journal of Regulation, ngay từ ngày đầu cầm quyền, Trump đã thi hành các biện pháp mới lạ và quyết liệt nhằm thu hẹp cả dấu ấn lẫn ảnh hưởng của các cơ quan hành pháp liên bang. Tuy vậy ngay cả khi ông tuyên bố cuộc chiến với cái gọi là Nhà nước ngầm, vị tổng thống này đã dựa vào nhóm tinh hoa nội bộ của Washington và những nhân vật kỳ cựu từ chính phủ liên bang như Bolton và Lighthizer, những người hiểu được cái cần có để thúc đẩy các đòn bẩy của chính phủ nhằm đạt được các mục tiêu của họ.

Trong bối cảnh đó, cái lẽ ra là một yêu cầu hành pháp thông thường từ phía Mỹ đối với đối tác dẫn độ chính của họ là Canada lại có ý nghĩa lớn hơn. Dẫn độ là một hành động mà theo đó cơ quan hành pháp của một quốc gia, nước nhận được yêu cầu, sẽ giao nộp một nhân vật trong lãnh thổ của họ cho một quốc gia khác, nước đưa ra yêu cầu, để đối mặt với các thủ tục tố tụng hình sự tại nước đưa ra yêu cầu. Canada đã xử lý xấp xỉ 100 yêu cầu dẫn độ mỗi năm, phần lớn trong số đó đến từ phía bên kia biên giới của họ là Mỹ. Hiệp ước dẫn độ song phương Mỹ – Canada năm 1971 và Đạo luật dẫn độ năm 1999 của Canada là những nguyên tắc chỉ đạo chính cho quy trình này.

Dẫn độ ở Canada trên thực tế được tiến hành theo hai giai đoạn: Đầu tiên là một phiên điều trần của ủy ban tư pháp, và thứ hai là các thủ tụ giao nộp do bộ trưởng tư pháp giám sát. Cả 2 giai đoạn đều có thời hạn và khung thời gian để xem xét. Chẳng hạn, trong vòng 60 ngày kể từ khi bà Mạnh bị bắt giữ, Mỹ phải cung cấp một gói dẫn độ bao gồm lệnh bắt giữ cơ bản, bằng chứng biện minh cho việc bắt giữ, nhận dạng người bị tạm giữ, và giấy chứng nhận được cấp bởi một cơ quan tư pháp hoặc công tố viên chứng thực rằng bằng chứng đó sẵn sàng để đưa ra trước tòa và đủ để chứng minh cho việc truy tốt. Cải cách năm 1999 đối với luật dẫn độ của Canada – được ban hành lần đầu vào năm 1877 và phỏng theo luật của Anh – đã làm giảm bớt gánh nặng về bằng chứng để hỗ trợ các yêu cầu dẫn độ. Hơn nữa, quyền xem xét tư pháp đối với bản án hình sự chống lại bị cáo bị hạn chế, vì luật pháp tôn trọng các thủ tục tố tụng hình sự và quy trình xét xử của nước đưa ra yêu cầu. Thay mặt cho nhánh hành pháp, bộ trưởng tư pháp nắm quyền tùy biến lớn hơn.

Tiến sĩ Gary Botting, một luật sư hình sự chuyên về các vấn đề dẫn độ, đã chỉ trích quy trình dẫn độ của Canada là không xem xét các cáo buộc của nước ngoài một cách có ý nghĩa: “Trong những trường hợp hiếm hoi, các tòa phúc thẩm sẽ gửi vấn đề này trở lại cho thẩm phán xử lý dẫn độ hoặc bộ trưởng tư pháp để xem xét lại theo quy định của pháp luật”. Quy trình đánh giá này không phải là không có thiếu sót. Ví dụ như trường hợp gây tranh cãi của Hassan Diab, một công dân Canada và cũng là giáo sư Đại học Ottawa, người bị bắt giữ và sau đó dẫn độ sang Pháp dựa trên những bằng chứng yếu đến mức cuối cùng giới chức Pháp đã xóa bỏ mọi cáo buộc – nhưng chỉ sau gần một thập kỷ tố tụng và nhiều năm Diab bị giam giữ tại Pháp. Theo Botting, trong giai đoạn 15 năm sau cải cách luật 1999, Canada chỉ từ chối 5 yêu cầu dẫn độ. Sự lỏng lẻo trong cơ chế dẫn độ của Canada có thể không thoát khỏi sự chú ý của các công tố viên Mỹ thuộc Bộ Tư pháp của Trump.

Cho dù việc dẫn độ từ Canada sang Mỹ là một quy trình chóng vánh điển hình, vụ bắt giữ Mạnh Vãn Châu đã làm dấy lên khả năng phải có những cân nhắc khác thường. Phiên tòa tại ngoại gần đây tại Vancouver tiết lộ rằng bà Mạnh bị cáo buộc vi phạm các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran. Huawei được cho là đã sử dụng công ty Skycom Tech của Hong Kong để thực hiện các giao dịch bất hợp pháp tại Iran và làm ăn với các công ty viễn thông tại đó. Bà Mạnh bị cáo buộc trực tiếp lừa đảo các “nạn nhân” là các ngân hàng Mỹ, vốn đã xóa sạch giao dịch tài chính với Huawei và do đó vô tình giao dịch với Skycom.

Thông qua hiệp ước và bộ luật về dẫn độ, để thực hiện cuộc dẫn độ, Chính quyền Canada phải xác định liệu những cáo buộc của Mỹ đối với bà Mạnh có đáp ứng quy tắc “phạm tội kép” hay không, cụ thể là liệu bà Mạnh có phạm tội hình sự xét theo cả hệ thống luật pháp của Mỹ và Canada hay không. Quy tắc “phạm tội kép” được lập ra để bảo vệ quyền tự do của bị cáo khi những hành vi phạm tội không bị nước nhận được yêu cầu coi là “phạm tội”.

Liệu đây có phải một yêu cầu tìm kiếm theo luật Canada trong vụ việc của bà Mạnh hay không thì vẫn cần phải xem xét, nhưng luật trừng phạt kinh tế của Mỹ cực kỳ chuyên biệt và có thể cho là độc nhất. Trong vụ McVey (1992), Tòa án tối cao Canada đã cân nhắc một vấn đề tương tự liên quan đến những cáo buộc về âm mưu xuất khẩu công nghệ cao (máy tính và thiết bị vệ tinh nhạy cảm) sang Liên Xô và việc đưa ra những tuyên bố sai lầm có liên quan đối với Chính phủ Mỹ. Tòa án tối cao cho rằng hiệp ước này phần lớn là để xác định rằng một “hành vi phạm tội có thể dẫn độ” tồn tại vì theo luật pháp Canada, hành vi cáo buộc có thể thuộc tôi lên ý đồ và giả mạo.

Yêu cầu của Mỹ về việc dẫn độ Mạnh Vãn Châu phức tạp vì nhiều yếu tố khác. Theo hiệp ước về luật dẫn độ, Canada có thể từ chối dẫn độ khi đối tượng dẫn độ là một “nhân vật chính trị” hoặc nếu không cũng là “bị trừng phạt” vì một hành vi phạm tội về chính trị. Nói cách khác, những hành vi hoặc động cơ phạm tội về chính trị không phải là cơ sở để dẫn độ. Theo Đạo luật dẫn độ năm 1999, bộ trưởng tư pháp có quyền và toàn quyền từ chối giao nộp một người dựa trên cơ sở này. Việc Trung Quốc bắt giữ một số nhân vật ưu tú của Canada cho thấy Bắc Kinh hiểu sự kiện này chính là trả đũa chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland đã phản ứng gay gắt khi Trump đe dọa can thiệp vào quy trình dẫn độ vì các mục tiêu an ninh quốc gia hoặc là một phần của một thỏa thuận thương mại lớn hơn với Trung Quốc. Quả thực, bằng cách ám chỉ rằng vụ dẫn độ Mạnh Vãn Châu bị tác động bởi sự can thiệp chính trị và tính biến động của cuộc chiến thương mại của mình, Trump hẳn đã vô tình trang bị những căn cứ pháp lý ới để thách thức bản chất của yêu cầu dẫn độ của Mỹ. Đó cũng là một lời nhắc nhở khác rằng một khi đã bắt đầu lăn bánh, các bánh xe của chính phủ sẽ không dễ dàng chậm lại.

Tính khí thất thường và khí chất

Chính sách đối ngoại của Chính quyền Trump là một sự pha trộn kỳ lạ giữa sự bốc đồng và tính toán. Điều này có thể dự đoán trước được một cách hợp lý trên tính cách của tổng thống và bản chất của một vài người trong êkip của ông. Tuy nhiên, kết quả lại hoàn toàn ngoài dự đoán, đặc biệt là liên quan đến chính sách của ông đối với Trung Quốc. Với sự từ chức theo nguyên tắc nhưng gây nhiều tranh cãi của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, chúng ta có thể thấy nhiều biến động hơn nữa.

Theo nhà khoa học chính trị Richard Neustadt, trong nghiên cứu kinh điển “Quyền lực tổng thống” của ông, khí chất là yếu tố phân biệt trong sự lãnh đạo của tổng thống. Neustadt trích lời vị thẩm phán vĩ đại của Tòa án tối cao Oliver Wendell Holmes, người nổi tiếng với nhận định rằng Tổng thống Mỹ Franklin Delano Roosevelt sở hữu “trí tuệ hạng hai, nhưng khí chất hạng nhất”. Ngày nào đó Trump có thể được đánh giá là có khí chất hạng ba nhưng tính khí thất thường vào hạng nhất, ức hiếp các nhà trí thức ngay khi ông làm việc cùng với họ.

Vấn đề đối với Mỹ, Trung Quốc và phần còn lại của cộng đồng quốc tế là tính khó dự đoán hiện nay trong giới lãnh đạo Mỹ có thể dẫn đến tính toán sai lầm và sơ suất. Sự ra đi của Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã khích lệ người dân trân trọng trở lại giá trị của một bàn tay tiết chế nhưng vững vàng trong Nhà Trắng. Các cuộc chuyển giao địa chính trị đầy rẫy những căng thẳng, phản ánh sự bất an của loài người chúng ta trong những tình thế khó khăn. Và sự không chắc chắn có thể có logic riêng của mình. Chậm lại và tạm dừng để đánh giá các mục tiêu và phương tiện của chính sách, trân trọng cách thức cơ chế xung đột diễn ra, duy trì các tuyến liên lạc mở – đây đều là những bước cần thiết để giảm thiểu rủi ro. Từ bờ Tây của Dnieper, Bulgakov giải thích: “Tất nhiên con người là không thể sống mãi, nhưng điều đó chỉ là một nửa của vấn đề. Rắc rối ở chỗ cái chế đến với con người quá đột ngột!”, Và thường thì, vấn đề lại nằm ở những chi tiết nhỏ nhặt.

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/12/u-s-china-tensions-enter-a-new-phase/

TLTKĐB – 19/01/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần I


Tháng 5/2018, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran, đồng thời yêu cầu các nước trên thế giới ngừng nhập khẩu dầu của Iran, nếu không các nước và các doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với các lệnh trừng phạt kinh tế. Tháng 8/2018, Mỹ khởi động lại các lệnh trừng phạt đối với Iran trong hàng loạt lĩnh vực phi năng lượng như tài chính, kim loại, khoáng sản, xe hơi… Ngày 5/11, Mỹ chính thức khôi phục lệnh trừng phạt đơn phương trong lĩnh vực năng lượng và tài chính đối với Iran.

Các lệnh trừng phạt là vũ khí quan trọng của Mỹ, lâu nay luôn phát huy vai trò quan trọng trong việc xử lý các công việc quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện trừng phạt Iran lần này của Mỹ chưa có đủ các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa kết quả chưa chắc đã như mong đợi, mà có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ nội bộ của phe cánh phương Tây.

I/ Quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và các nước đồng minh

Quan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh phương Tây là một kiểu quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Các nước đồng minh này dĩ nhiên cần phải dựa vào sự bảo vệ của Mỹ, Mỹ cũng cần phải dựa vào sự hỗ trợ của các đồng minh.

Trước hết, hệ thống đồng minh là chỗ dựa quan trọng cho sức mạnh của Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ có hơn 800 căn cứ quân sự tại hơn 70 nước trên toàn thế giới, nhưng để chống lại các đối thủ với bảo vệ lợi ích toàn cầu của mình, chỉ có sức mạnh quân sự là chưa đủ. Mỹ có thể trở thành thủ lĩnh thế giới, giành được thắng lợi trong nhiều cuộc đấu tranh quốc tế bao gồm cả Chiến tranh Lạnh, ngoài việc dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, cũng phụ thuộc nhiều vào ý thức hệ của mình và các mối quan hệ đồng minh đã dày công gây dựng lâu nay.

Mỹ cũng hiểu sâu sắc đạo lý “chính nghĩa thì được ủng hộ, phi nghĩa thì không”, “dùng mưu kế quân sự đánh bại địch, dùng thủ đoạn ngoại giao gây chia rẽ địch”, đã xây dựng hệ thống đồng minh rộng rãi và hiệu quả trên toàn cầu. Ví dụ, tại Trung Đông, Israel và Saudi Arabia là những điểm tựa chiến lược quan trọng của Mỹ, còn tại Đông Á, Nhật Bản và Hàn Quốc là tiền tuyến chiến lược trong việc chống lại Liên Xô trước đây và sau này là Trung Quốc và Nga. Tại Đông Nam Á, Mỹ và Singapore vẫn hợp tác vui vẻ. Tại khu vực Nam Á, Mỹ lại thay đổi các nước trụ cột khác nhau dựa theo những thay đổi của tình hình.

Trong hai cuộc chiến tranh thế giới và trong nhiều hành động chính trị và quân sự lớn của quốc tế trong thời kỳ hậu chiến tranh, Mỹ đều rất hiếm khi hành động một mình, mà thường chọn cách hợp tác tập thể. Ví dụ trong Chiến tranh Triều Tiên, Mỹ sử dụng chiêu bài “quân đội Liên hợp quốc”, đã tổ chức liên quân 17 nước tham chiến. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, các đồng minh tham gia đã đạt con số kỷ lục với 40 nước, trong đó có 34 nước có cống hiến thực sự vào việc giải phóng Kuwait. Nếu không có sự phối hợp của các đồng minh, địa vị lãnh đạo của Mỹ cho dù về mặt lý lẽ hay là hiệu quả thực tế đều bị giảm đáng kể.

Thứ hai, trong tất cả các đồng minh của Mỹ, đồng minh châu Âu là trụ cột quan trọng nhất. Có thể thấy các nước châu Âu với Mỹ tương đồng về văn hóa và thể chế chính trị, vị trí địa lý quan trọng, hơn nữa đều có sức mạnh về kinh tế và công nghệ, vì vậy, lâu nay các đồng minh châu Âu không những là đồng minh thân cận mà còn là đồng minh có sức mạnh nhất của Mỹ. NATO và Liên minh châu Âu (EU) tiền thân là Cộng đồng châu Âu không những là công cụ quan trọng để chống lại Liên Xô khi đó, cũng là cái cớ quan trọng nhất để sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Mỹ tiếp tục chống lại Nga cũng như lựa chọn hành động, quán triệt chiến lược, theo đuổi lợi ích lớn nhất tại Đông Âu và Trung Đông đồng thời đẩy mạnh địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, các nước lớn châu Âu lần lượt tham gia lực lượng đa quốc gia do Mỹ dẫn đầu bao gồm quân đội của hơn 10 nước đồng minh châu Âu. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (2003 – 2010) không được Liên hợp quốc cho phép, hầu hết các nước đều phản đối. Khi Mỹ quyết tâm xâm chiếm Iraq, cũng muốn lôi kéo cả Anh cùng hành động.

Tuy nhiên, giữa Mỹ và các nước đồng minh châu Âu khác không hẳn là thân mật, mà là đồng thời với việc duy trì sự hợp tác chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau cùng tồn tại nhiều xung đột về lợi ích. Trong phạm vi toàn cầu, Mỹ và các đồng minh vừa là đối tác hợp tác vừa là đối thủ cạnh tranh. EU vừa phản đối chủ nghĩa đơn phương của Mỹ, vừa lại lo lắng chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa dân tộc của Mỹ; một mặt dựa vào sự bảo vệ quân sự của Mỹ, mặt khác lại hy vọng nâng cao địa vị quốc tế của minh. Do đó EU ngày càng tích cực tham gia vào các vấn đề gây tranh cãi của quốc tế, từ Triều Tiên đến khu vực Trung Đông, EU đều cố gắng phát huy hết sức vai trò của mình. Trong một số khu vực, sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể bổ sung cho nhau, nhưng ở một số khu vực khác, lợi ích của Mỹ và những nước này có thể nảy sinh xung đột. Nói tóm lại, về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, Mỹ và các đồng minh châu Âu có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại rắc rối phức tạp.

Nói một cách đơn giản, tuy giữa Mỹ và châu Âu luôn tồn tại xung đột lợi ích nhất định, nhưng nhìn về dài hạn, quan hệ Mỹ – châu Âu tương đối thân thiết và ổn định, tạo thành nền tảng quan trọng cho an ninh của châu Âu cũng như địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ.

II/ Các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ làm tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu

Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu đã có sự thay đổi lớn. Ông khởi xướng “Nước Mỹ trước tiên”, “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, kiên trì đường lối có lợi cho Mỹ nhưng gây tổn hại cho nước khác, kể cả các nước đồng minh, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đồng minh ngày càng sâu sắc, nội bộ ngày càng lục đục.

Trước tiên, chính sách ngoại giao của Trump gây tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu. Thời gian qua, Mỹ đã tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và Thảo thuận hạt nhân Iran, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại, di dời đại sứ quán ở Israel…, những việc làm này đã làm hao mòn lòng tin của các nước châu Âu đối với Mỹ. Đặc biệt là gần đây Mỹ tự ý rút khỏi “Hiệp ước Các lực lượng tên lửa tầm trung” đã ký kết cùng Liên Xô năm 1987, điều này gây tổn hại lớn đến an ninh khu vực châu Âu, khiến họ khó mà chấp nhận.

Tháng 6/2018, sau khi tiếp tục từ chối ủng hộ thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh G7 tổ chức tại Canada, Trump liên tục công kích Thủ tướng Canada Trudeau trên Twitter về vấn đề thương mại. Truyền thông phương Tây bình luận rằng, sau Hội nghị Thượng đỉnh G7, quan hệ giữa Mỹ và đồng minh phương Tây “trượt xuống hố sâu”.

Đặc biệt khiến thế giới phải choáng váng là, sau khi Trump lên nắm quyền, ông bất ngờ lựa chọn đường lối “liên kết với Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc”, muốn lôi kéo Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc. Tháng 7/2018, trước cuộc hội đàm với người đồng cấp Nga Putin, Trump công khai phát biểu chỉ trích châu Âu, gọi châu Âu là kẻ thù lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc thứ 2, Nga chỉ có thể đứng thứ 3. Trump cũng buộc các nước châu Âu phải tăng chi phí quốc phòng. Ngoài ra, Trump rất bất mãn với thâm hụt trong thương mại giữa Mỹ với châu Âu (thâm hụt thương mại của Mỹ với EU năm 2017 là 173,8 tỷ USD). Theo tờ The Washington Post nói về người châu Âu, Trump nói: “Họ muốn bóp chết chúng ta trong những việc khác nữa… quan trọng nhất là, họ dùng NATO để giết chúng ta…”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Căng thẳng Trung – Mỹ bước vào giai đoạn mới: Đình chiến hay leo thang? – Phần đầu


Roncevert Ganan Almond

Trong kiệt tác “Nghệ nhân và Margarita”, nhà viết kịch người Ukraine Mikhail Bulgakov hình dung một cuộc tranh cãi trên đường phố Moskva giữa Quỷ Satan và hai nhà trí thức, một nhà biên tập và một thi sĩ trẻ, những người đặt câu hỏi về sự tồn tại của Chúa. Giả trang thành một người ngoại quốc, tên quỷ hỏi: “Nếu không có Chúa, người ta tự hỏi ai sẽ cai quản nhân sinh và giữ gìn trật tự thế giới?”. Vị thi sĩ trẻ đáp lời, tất nhiên là loài người tự cai quản. “Xin lỗi cậu”, con quỷ vặn lại với một nụ cười nhếch mép. “Nhưng để cai quản, con người sẽ phải vạch ra một kế hoạch chi tiết cho một khoảng thời gian hợp lý trước mắt”.

Khi cuộc đấu tranh địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc bắt đầu định hình, người ta tự hỏi điều gì sẽ giúp giữ gìn trật tự thế giới. Kế hoạch chính xác trong cuộc chiến thương mại của Tổng thống Mỹ Donald J. Trump là gì? Trong một giai đoạn hợp lý trước mắt, chúng ta có thể trông đợi gì hơn nữa? Cuộc xung đột đã bước vào một giai đoạn mới vào ngày 1/12 khi Giám đốc tài chính của Huawei là bà Mạnh Vãn Châu bị Chính quyền Canada bắt giữ theo yêu cầu của Chính phủ Mỹ khi bà đang quá cảnh tại Sân bay quốc tế Vancouver.

Giai đoạn tạm dừng

Bà Mạnh bị bắt cùng ngày Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – lãnh đạo của hai nền kinh tế lớn nhất thế giới – dự bữa tối cùng nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Buenos Aires. Trước sự thở phào của những người có lợi ích bất di bất dịch trong nền kinh tế toàn cầu, với việc Washington sẵn sàng tăng thuế từ 10 – 15% đối với hàng hóa Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD và Bắc Kinh chắc chắn sẽ trả đũa. Trump và Tập Cận Bình đã nhất trí đình chiến tạm thời trong vòng 90 ngày cuộc chiến thuế quan đang leo thang.

Giai đoạn đình chiến hiện nay chắc chắn cần nhiều thời gian với những dấu hiệu rõ rệt cho thấy sự suy yếu về kinh tế tại châu Âu và Trung Quốc có nguy cơ làm chậm lại nền kinh tế Mỹ. Khi các thị trường đóng cửa vào thứ Sáu ngày 15/12/2018, Chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones đã rơi vào vùng điều chỉnh lần đầu tiên trong vòng 3 năm. Trớ trêu thay, kể từ khi Trump khởi xướng các chính sách thương mại quyết liệt của mình, xuất khẩu của Mỹ đã giảm và thâm hụt thương mại của Mỹ đã gia tăng, điều minh chứng cho thực tế rằng nền kinh tế Mỹ – và mở rộng ra là chiến lược của Nhà Trắng – không tồn tại độc lập. Nếu kéo đổ một cột trụ trong nền móng tầng mái sẽ lung lay.

Những lo ngại ngày càng tăng về “cuộc chia tay” giữa Mỹ và Trung Quốc, một kết quả sát với thực tế hơn so với một năm trước, là do tầm quan trọng của Trung Quốc trong nền kinh tế toàn cầu và mức độ phụ thuộc lẫn nhau sâu sắc giữa hai nước – những điểm phân biệt quan trọng với cuộc đối địch Mỹ – Xô trong Chiến tranh Lạnh. Trên trường thế giới, Trung Quốc đứng đầu về quy mô kinh tế xét theo chỉ số ngang giá sức mua (PPP), việc sản xuất giá trị gia tăng, thương mại hàng hóa và dự trữ ngoại hối (tính cả đồng USD). Trung Quốc cũng tuyên bố là đối tác thương mại lớn nhất của hơn 130 quốc gia, một danh sách bao gồm cả Mỹ. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất, thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và nguồn nhập khẩu lớn nhất của Mỹ. Các công ty Mỹ, chẳng hạn như các công ty công nghệ hàng đầu như Boeing và Apple, có hoạt động rộng khắp tại Trung Quốc và bán sản phẩm của họ tại thị trường nội địa khổng lồ của Trung Quốc trong khi tận dụng lao động giá rẻ cho sản xuất định hướng xuất khẩu. Như một báo cáo gần đây của Quốc hội đã lưu ý, những hoạt động này đã giúp một số doanh nghiệp Mỹ duy trì khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và cung cấp cho người tiêu dùng Mỹ một loạt mặt hàng giá rẻ. Nhưng việc Trump áp thuế có nguy cơ phá vỡ mối quan hệ này dựa trên cơ sở là sự “gây hấn về kinh tế” của Trung Quốc – chuyển giao công nghệ ép buộc, đánh cắp sở hữu trí tuệ, tiếp cận thị trường không công bằng và tấn công mạng. Trên thực tế, Tổng thống Mỹ đã đe dọa áp thuế hoặc thực sự áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tổng trị giá 517 tỷ USD, tương đương với gần như toàn bộ giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ trong năm 2018.

Sự cần thiết phải tạm dừng trên mặt trận thuế quan cũng làm bộc lộ các cơ chế pháp lý thúc đẩy chính sách của Mỹ. Vào đầu nhiệm kỳ tổng thống của Trump, tại số nhà 1600 Đại lộ Pennysylvania, chính quyền của ông đã bắt đầu tiến hành một số cuộc điều tra liên quan đến thương mại. Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer, hiện được Trump bổ nhiệm làm nhà đàm phán hàng đầu về Trung Quốc, đã khôn ngoan dựa vào các công cụ pháp lý khó hiểu – chẳng hạn như Mục 301 của Đạo luật thương mại năm 1974 – để khởi động cuộc chiến thương mại. Mục 301 cung cấp một phương tiện mà nhờ đó Mỹ có thể thi hành quyền của Mỹ theo các hiệp định thương mại và giải quyết các rào cản “không công bằng” ở bên ngoài đối với hàng xuất khẩu của Mỹ.

Vào những năm 1980, trong khi Donald Trump xuất hiện trong tiêu đề của các tờ báo lá cải ở New York, Lighthizer có được kinh nghiệm từ những dấu ấn trong chính sách thương mại Mỹ khi còn phục vụ trong Chính quyền Reagan. Không phải ngẫu nhiên mà Mục 301 được sử dụng rộng rãi nhất trong thời kỳ của Reagan – 49 trong tổng số 125 cuộc điều tra đã được tiến hành trong giai đoạn này. Đây là thời điểm trước khi Vòng đàm phán thương mại đa phương Uruguay diễn ra.

Với việc thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 1994, Mỹ ít viện dẫn đến biện pháp pháp lý này hơn. Viện Kinh tế quốc tế Peterson báo cáo rằng kể từ năm 2001 chỉ có một cuộc điều tra mới dựa theo Mục 301. Bắt đầu từ năm 2010, dưới thời Chính quyền Obama, Mỹ đã đưa tất cả các tranh chấp thương mại liên quan đến các nước thành viên WTO trực tiếp ra WTO để giải quyết tranh chấp. Ngược lại, Lighthizer hiện đang tìm cách xóa bỏ một cách hiệu quả quy trình phân xử của WTO bằng cách ngăn chặn việc bổ nhiệm các thẩm phán mới vào cơ quan phúc thẩm của tổ chức này. Mục 301 cung cấp một phương tiện mà nhờ đó Mỹ có thể thi hành quyền của Mỹ theo các hiệp định thương mại và giải quyết các rào cản “không công bằng” ở bên ngoài đối với hàng xuất khẩu của Mỹ. Do đó, thay vì sử dụng WTO để giải quyết tranh chấp, Chính quyền Trump đã sử dụng Mục 301 như một cách để thoát khỏi thông lệ của Mỹ trong quá khứ, nhưng nhất quán với nền tảng pháp luật và triết lý của Lighthizer. Điều quan trọng là các hành động theo Mục 301 bao gồm các quy trình cụ thể và khung thời gian có thể thi hành, chẳng hạn như thời gian biểu từ 12 – 18 tháng để tìm kiếm một giải pháp qua đàm phán với nước mục tiêu. Khi Trump quyết định ngừng tăng thuế, ông đang “hãm lại” bộ máy quan liêu đang trên đà tiến về phía trước. Điều này đưa chúng ta trở lại vụ bắt giữ bà Mạnh Vãn Châu.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2018/12/u-s-china-tensions-enter-a-new-phase/

TLTKĐB – 19/01/2019

Chính sách Biển Đông của Donald Trump và thách thức an ninh biển giữa Mỹ và Trung Quốc – Phần cuối


Đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, Trung Quốc cần ứng phó thận trọng, nhưng không cần phải đánh giá cao mối đe dọa mà chiến lược này gây ra. Liên minh 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia được coi là hòn đá tảng của chiến lược này cho dù không phải là “đồng sàng dị mộng”, cũng không phải là đồng tâm nhất trí, không thể có việc 4 quốc gia này đều có thể nhất trí trong mỗi vấn đề liên quan đến Nam Hải, càng không thể liên kết với nhau để “bóp nghẹt” Trung Quốc. Từ sự kiện va chạm Doklam vào năm 2017 đến nay, quan hệ Trung – Ấn xuống mức thấp nhất đang dần ấm lên. Năm 2018, Ấn Độ lần đầu tiên tham gia hội nghị thượng đỉnh của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), quan hệ với Trung Quốc ngày càng chặt chẽ. Mặc dù quan hệ Trung – Nhật còn bị hạn chế bởi rất nhiều nhân tố phức tạp, nhưng giai đoạn hiện nay về tổng thể ổn định tốt hơn, hai nước đều căm giận cuộc tranh chấp thương mại mà Trump dấy lên. Cho dù Australia là nước tích cực nhất khởi xướng chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, thường xuyên cao giọng muốn đóng vai trò tiên phong, nhưng cũng lại có giấc mộng cường quốc trung bình của mình, có nhu cầu cùng với Trung Quốc phát triển quan hệ mạnh mẽ và mang tính xây dựng. Xét cho cùng, Trung Quốc luôn là đối tác thương mại lớn nhất của Australia kể từ năm 2010 đến nay. Ngoài ra trong 10 nước thành viên của ASEAN, chỉ có Việt Nam và Indonesia thể hiện sự ủng hộ rõ ràng đối với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, các nước khác thì thể hiện thái độ thận trọng, không muốn lựa chọn “đứng về một bên” làm mất lòng Trung Quốc.

Quan hệ hợp tác quân sự và phòng vệ giữa Mỹ và Việt Nam thường xuyên được tăng cường. Cùng với sự thay đổi không ngừng của môi trường địa chiến lược Nam Hải và sự thường xuyên điều chỉnh chính sách của Việt Nam, Mỹ và Việt Nam đã hoàn toàn thoát ra khỏi bóng đen của cuộc chiến tranh Việt Nam, quan hệ hợp tác quốc phòng và an ninh không ngừng gia tăng, quan hệ Mỹ – Việt trở thành một tổ hợp mới mang tính tiêu biểu nhất trong thời kỳ tái cân bằng sức mạnh Đông Á. Năm 2011, Mỹ và Việt Nam đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng song phương. Năm 2015, Mỹ và Việt Nam ký “Tuyên bố chung triển vọng quan hệ hợp tác quốc phòng”. Năm 2016, hai nước đã ký “Kế hoạch hành động hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018 đến 2020”. Tháng 5/2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã đi thăm Việt Nam, tuyên bó xóa bỏ toàn bộ lệnh cấm bán vũ khí cho Việt Nam, Việt Nam trở thành quốc gia châu Á cuối cùng mà Obama đi thăm trước khi hết nhiệm kỳ. Tháng 5/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm Mỹ, trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên trong khối ASEAN được Tổng thống Trump tiếp đón sau khi lên nắm quyền. Đầu tháng 3/2018, tàu sân bay Mỹ Carl Vinson và 2 tàu hộ vệ, 1 tàu tuần tra, 1 tàu khu trục tổ chức đã đến Đà Nẵng trong chuyến thăm 4 ngày. Đây là sự kiện mang tính cột mốc của hợp tác quân sự Mỹ – Việt, cũng là lần đầu tiên tàu sân bay Mỹ trở lại Việt Nam kể từ khi kết thúc chiến tranh Việt Nam năm 1975. Việt Nam mở cửa Đà Nẵng đối với tàu sân bay của Mỹ, nước đã xâm lược Việt Nam trong quá khứ. 43 năm sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, họ lại vẫy cờ chào đón tàu sân bay Mỹ. Việt Nam có thể ngả hoàn toàn sang Mỹ hay không? Mỹ và Việt Nam có thể thiết lập đồng minh quân sự mới hay không? Các cuộc thảo luận về chủ đề này rất sôi nổi. Nhưng các quốc gia ASEAN như Việt Nam ít nhất sẽ vẫn thực hiện ngoại giao cân bằng nước lớn và tăng cường vị trí trung tâm của ASEAN, chứ không phải là ngả sang Mỹ. Chính phủ Indonesia cũng hoan nghênh chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhưng đề xuất phải xây dựng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở, hòa bình và bao dung. Các quốc gia Đông Nam Á vừa không muốn thấy sự đối đầu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, vừa kỳ vọng Trung Quốc và Mỹ sẽ đối trọng với nhau, ràng buộc lẫn nhau nhằm thúc đẩy nhu cầu lợi ích của mỗi nước ASEAN. Lựa chọn chiến lược quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ của những quốc gia Đông Nam Á trên thực tế cũng làm gia tăng tính phức tạp của cuộc đọ sức Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ.

Kết luận

Những năm gần đây, tuy Mỹ đã tăng cường can dự ngoại giao, quân sự và chiến lược ở Nam Hải, song chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump chưa hoàn toàn định hình, đang ở vào thời kỳ không ngừng quan sát và điều chỉnh. Tuy nhiên “hoạt động tự do hàng hải” ở Nam Hải không ngừng mở rộng, hoạt động trinh sát bầu trời và dưới biển có tần suất cao, việc định kỳ tập trận chung Mỹ – Nhật và việc đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều chứng tỏ chính sách Nam Hải của Mỹ ngày càng ngả sang hướng chiến lược như phô trươong sức mạnh quân sự, tăng cường hiện diện quân sự và răn đe quân sự đối với Trung Quốc… Cuộc đọ sức chiến lược ở Nam Hải giữa Trung Quốc và Mỹ không có xu hướng yếu đi vì hoạt động duy trì ổn định Nam Hải chung giữa Trung Quốc và ASEAN. Ngược lại, cùng với hoài nghi chiến lược của Mỹ đối với việc xây dựng đảo nhân tạo và sự hùng mạnh của lực lượng hải quân, không quân Trung Quốc không ngừng gia tăng, Trung Quốc cần duy trì sự cảnh giác cao và quan tâm nhiều đến xu hướng chính sách Nam Hải của Chính quyền Trump. Tình hình Nam Hải có thể xuất hiện cục diện căng thẳng về chính trị, quân sự và chiến lược mới trong vài năm tới. Thế đọ sức ở Nam Hải hình thành giữa Trung Quốc và Mỹ cũng trở thành nhân tố khó lường lớn nhất thách thức xu hướng quan hệ quân sự và chiến lược song phương.

Mỹ không nên coi thường quyết tâm bảo vệ chủ quyền hải đảo và quyền lợi biển của Trung Quốc, đối với Trung Quốc, hàm nghĩa chiến lược của vấn đề Nam Hải có thể ngày càng vượt qua phạm trù đơn giản của việc bảo vệ chủ quyền và ổn định ở Nam Hải. Cùng với công tác quản lý Nam Hải, việc bảo vệ chủ quyền và ổn định một cách hiệu quả ở Nam Hải cũng là nhu cầu thực tế của Trung Quốc khi thúc đẩy “Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21”. Nhưng mục tiêu xây dựng chiến lược cường quốc biển của Trung Quốc chỉ có thể thông qua phương thức hòa bình để thực hiện, cũng có thể thông qua phương thức hợp tác với các cường quốc biển của thế giới như Mỹ, Nhật Bản… để thực hiện. Trong tương lai lâu dài, Trung Quốc không thể thực hiện phương thức thách thức địa vị thực lực siêu cường và ưu thế đại chiến lược trên biển và trên không của Mỹ ở châu Á – Thái BÌnh Dương để hiện thực hóa giấc mơ cường quốc biển. Giới chiến lược Mỹ cần có lòng tin đối với lựa chọn chiến lược mà Trung Quốc đã có và đang thể hiện. Trung Quốc và Mỹ đều mong muốn duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Nam Hải, mong muốn tuyến đường Nam Hải có thể thông suốt và không bị cản trở.

Điều đáng tiếc là Trung Quốc và Mỹ vốn đi cùng một hướng, hợp tác cùng tiến lên, hiện nay lại dần xa rời nhau. Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là cùng với việc duy trì sự kiềm chế và kiên nhẫn chiến lược với nước còn lại, nhanh chóng khởi động lại đàm phán chiến lược cấp cao giữa quân đội hai nước, đi sâu vào tiến trình xây dựng biện pháp tăng cường lòng tin ở khu vực Nam Hải giữa hai quốc gia, nắm chắc những giải pháp kiểm soát khủng hoảng, tránh xung đột quân sự mang tính sự cố, nhanh chóng nâng cấp quy tắc an ninh trên biển nhằm giảm thiểu và tránh để xung đột xuất hiện và nâng cấp. Đồng thời từng bước xây dựng cơ chế cùng giữ gìn ổn định và an ninh Nam Hải giữa hai nước. Tuy nhiên, tính phức tạp của quan hệ quốc tế là ở chiến lược và chính sách của các nước, không phải xem đối phương nói gì, mà hãy xem đối phương làm gì. Giảm bớt tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ ở Nam Hải, không phải là bày tỏ nguyện vọng, mà là ở hành động hướng về nhau. Trung Quốc và Mỹ cần nhận thức đầy đủ sức mạnh động viên của vấn đề Nam Hải trong hệ thống phát ngôn của riêng mình, duy trì kết nối chiến lược chặt chẽ và kiềm chế chiến lược, đây là điều then chốt để tránh tình hình an ninh Nam Hải tiếp tục leo thang.

Nguồn: Tạp chí Bình luận nước Mỹ đương đại (TQ)

TLTKĐB – 07, 08 & 09/05/2019

Nga – Venezuela: Lợi ích địa chính trị hay rủi ro kinh tế – Phần cuối


Trong khi Điện Kremlin dường như không muốn cung cấp cho Venezuela các khoản vay mới – một dấu hiệu cho thấy tia hi vọng của nước này về sự phục hồi kinh tế đã tắt ngấm – thi khía cạnh địa chính trị trong mối quan hệ này đã trở nên có lợi hơn cho cả hai bên, ngay cả khi những lợi ích này vẫn tương đối hạn chế. Caracas rất cần có đồng minh. Chế độ Maduro đã quan trọng hóa sự hỗ trợ của Moskva khi khiến cho những tuyên bố của nước này về các khoản đầu tư mới và những sự cải thiện về kinh tế – xã hội trở nên đáng tin. Đối với Điện Kremlin, mối quan hệ này phù hợp với câu chuyện kể của họ về việc chống lại bá quyền của Mỹ. Nó cũng cho phép Nga thể hiện mình như một cường quốc quân sự toàn cầu sẵn sàng bảo vệ các đồng minh chống lại các mối đe dọa của Mỹ, cả thực tế và tưởng tượng – mặc dù trong trường hợp của Caracas, rất có thể đây là những mối đe dọa có thực.

Một ví dụ rõ nét cho những dấu hiệu này là chuyến thăm vào tháng 12/2018 của 2 chiếc máy bay ném bom siêu thanh Tupolev-160 của Nga, thu hút các tiêu đề báo trên toàn thế giới. Tuy nhiên, so sánh với các khoản vay mới, động thái này thể hiện một tín hiệu ủng hộ ít tốn kém hơn và mờ nhạt hơn. Đây không phải lần đầu tiên Nga cho thấy những dấu hiệu như vậy. Tháng 9/2008, hai chiếc máy bay cùng loại đã tới Venezuela chỉ một tháng sau khi cuộc chiến tranh Nga – Gruzia làm suy yếu quan hệ Mỹ – Nga. Vào thời điểm đó, những sự thể hiện ít tốn kém nhưng mang ý nghãi biểu tượng cho sức mạnh vĩ đại của Nga rất phổ biến ở Điện Kremlin. Việc Bộ Quốc phòng Nga công bố đoạn băng ghi hình của chuyến bay gần đây nhất tới Venezuela cho thấy họ không chỉ lường trước, mà có lẽ còn muốn được đưa tin như vậy trên khắp toàn cầu.

Quả thực, những tin tức đầy khoa trương và hời hợt mà giới truyền thông phương Tây nói về mối quan hệ Nga – Venezuela là một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất của nó. Ngày 17/12/2018, tờ báo lá cải lớn nhất của Anh, tờ Daily Mail, đã chạy tiêu đề: “Nga công bố kế hoạch thành lập căn cứ quân sự đầu tiên tại Caribean – sự hiện diện lớn nhất của nước này trong khu vực kể từ Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962”. Moskva không hề làm điều đó. Ngày hôm sau, quan chức cấp cao của Venezuela là Diosdado Cabello đã bác bỏ tin này, mặc dù tờ Daily Mail không rút lại hay cập nhật. Lời bác bỏ của Cabello gần như không nhận được sự chú ý. Về bề ngoài, mối quan hệ Nga với Venezuela đã phục vụ tốt cho lợi ích của Điện Kremlin.

Mối quan hệ này không hoàn toàn giới hạn ở bề ngoài, cho dù nó có tác động rất ít tới địa chính trị Mỹ Latinh. Vào giữa những năm 2000, sự hỗ trợ của Nga đối với Venezuela đã mở ra cơ hội cho khu vực Mỹ Latinh khi chính phủ cánh tả ủng hộ nhà nước Bolivar lên nắm quyền, nhưng trong những năm gần đây, phần lớn các nhà lãnh đạo này đã mất đi quyền lực.

Tuy nhiên, Sechin đã mở ra một cách cửa mới trong năm 2017 khi ông mua số cổ phần lớn của nhà máy lọc dầu Essar của Ấn Độ, sau đó đổi tên thành Nayara. Nayara là một trong những bên lớn nhất mua dầu thô của Venezuela, cũng như bên mua dầu đáng kể của Iran. Thỏa thuận này chủ yếu nhằm bảo vệ các lợi ích của Rosneft tại Venezuela, nhưng nó có một khía cạnh địa chính trị. Thương vụ của Sechin đã mang lại cho Rosneft tầm ảnh hưởng đối với nguồn cung dầu của Ấn Độ, và do đó ảnh hưởng tới sự sẵn sàng của nước này trong việc chống lại các biện pháp trừng phạt của Mỹ.

Quyền lưu giữ đối với Citgo mang lại cho Rosneft cổ phần của nhà máy lọc dầu này của Mỹ trong tương lai, ngay cả khi các chính trị gia hàng đầu của Mỹ thề sẽ ngăn Rosneft nắm giữ số cổ phần đó. Hiện Nga có vị thế để thảo luận về bất kỳ hành động nào nhằm tái cơ cấu các khoản nợ của Venezuela, ngay cả nếu chính phủ Bolivar cuối cùng cũng sụp đổ. Khả năng của Rosneft gây thêm nhiều rắc rối cho Citgo sẽ giúp họ bảo đảm các tài sản năng lượng mà họ đã nhận được từ chế độ của Chávez và Maduro. Washington chắc chắn sẽ ưu tiên tương lai của Citgo hơn là lợi ích của Rosneft tại Venezuela.

Khía cạnh địa chính trị cuối cùng trong mối quan hệ của Nga với Venezuela là việc song trùng lợi ích với Trung Quốc. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó, tam giác địa chính trị này có thể suy yếu khi Caracas tiếp tục đi xuống và những nghi ngờ nổi lên về việc liệu họ có thể tiếp tục trả nợ cho cả Moskva và Bắc Kinh hay không. Trái ngược với chuyến thăm vô ích của Maduro tới Moskva vào tháng 12/2018, Tổng thống Venezuela đã giành được khoản vay 5 tỷ USD từ Bắc Kinh sau chuyến thăm của ông vào tháng 9/2018. Trong khi giới truyền thông phương Tây ít đưa tin một cách cường điệu hóa về mối quan hệ Venezuela – Trung Quốc, Bắc Kinh – trước đây vốn đã giảm mức rủi ro tín dụng của họ đối với Caracas – dường như đã sẵn sàng tiếp tục cho vay hơn so với Moskva. Số phận của nhà nước Venezuela và ngành dầu mỏ của họ do đó có thể là một bài kiểm tra sớm đối với Nga và liên minh thực tế gần đây với Trung Quốc.

Một tương lai u ám

Sức ép ngày càng tăng xung quanh mối quan hệ giữa Nga và Venezuela tạo ra ảo tưởng về một liên minh thịnh vượng. Trong khi gần đây đã có nhiều diễn tiến, nhưng đây là kết quả của những nỗ lực mang tính cứu vãn. Đó là, cùng với Trung Quốc và các bên nắm giữ trái phiếu năm 2020 của PDVSA, Nga là một trong số ít chủ nợ mà chế độ Venezuela đã cố gắng duy trì tới nay. Nhưng rõ ràng là mối quan hệ này đang phải đối mặt với các thách thức – từ những thỏa thuận mua bán vũ khí bị tham nhũng gây tổn hại và các kho bạc bị phá sản của Caracas cho đến sự cộng tác thất bại của Evrofinance Mosnarbank và nguy cơ Rosneft sẽ không nhận được số dầu được cam kết đúng hạn. Những thách thức này không mới, nhưng chúng cho thấy các nỗ lực của Nga nhằm duy trì hoạt động kinh doanh sinh lời ở Venezuela đã không thể đạt được các mục tiêu của chúng.

Eric Farnsworth, Phó chủ tịch Hội đồng các quốc gia châu Mỹ, gần đây đã nói với tờ Whasington Post rằng “việc thiết lập một tiền đồn chính trị ở Tây bán cầu sẽ mang lại một chiến thắng chiến lược (cho Nga)… nếu họ chỉ mất vài tỷ USD, điều đó có thể vẫn chấp nhận được”. Nhưung về mặt địa chính trị, quan hệ này chỉ dừng lại ở bề ngoài, và Moskva vẫn có nguy cơ thua Bắc Kinh nếu Trung Quốc sẵn sàng cung cấp cho chế độ Venezuela các khoản vay trong khi Mosva đã không còn hào phóng. Moskva đã áp dụng một chiến lược – như được minh chứng trong quyền lưu giữ đối với Citgo – nhằm mục tiêu bảo vệ các lợi ích của Nga ngay cả nếu chế độ Maduro sụp đổ. Điều này không đảm bảo sẽ thành công; Nga có thể sẵn sàng chi vài tỷ USD để bảo đảm một tiền đồn chiến lược, nhưng vẫn còn quá sớm để nói rằng họ đã thành công trong việc này. Chừng nào Caracas vẫn còn vận chuyển dầu và Rosneft vẫn còn quyền kiểm soát đối với các tài sản của họ ở Venezuela, thì mối quan hệ này sẽ mang lại điều tích cực thực sự cho Rosneft – ngay cả nếu các mối quan hệ cộng tác kinh doanh khác không thể mang lại lợi nhuận như dự định. Các lợi ích địa chính trị vẫn sẽ chỉ dừng lại ở bề ngoài trừ phi Moskva tăng cường cam kết của họ đối với Caracas như đã làm với chế độ Syria.

Những tuyên bố rằng Nga sẽ xây dựng một căn cứ tại Venezuela cùng lắm chỉ nên coi là ảo tưởng. Trong khi tin đồn về một căn cứ của Nga có thể lan nhanh khi Washington tăng cường giọng điệu chống Maduro – và đặc biệt là nếu Washington công nhận quốc hội do phe đối lập kiểm soát là chính phủ hợp pháp duy nhất của Venezuela – thì Moskva vẫn gần như không hứng thú với dự án này. Những tin tức ban đầu về một căn cứ tiềm năng không đến từ các uqan chức Nga, mà từ tờ báo cánh tả Nezavisimaya Gazeta. Bài báo lưu ý rằng ý tưởng bắt đầu được lan truyền vào năm 2009 – thời điểm mà quan hệ Nga – Venezuela đang tốt đẹp nhất, các thỏa thuận kinh doanh mới thường xuyên được tiến hành, và quan hệ giữa Nga và phương Tây đã suy yếu sau cuộc chiến tranh của Nga với Gruzia vào tháng 8/2008 – bởi một vị tướng Nga, người mà ngay cả khi đó cũng cho rằng dự án này thiếu quyết tâm chính trị cần thiết.

Sau khi Mỹ công nhận nhà lãnh đạo phe đối lập của Venezuela, Juan Guaido, là tổng thống lâm thời vào ngày 23/1/2019, có thể Điện Kremlin đánh giá  sự ủng hộ quân sự này là phương pháp duy nhất để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga tại Venezuela không bị phá hỏng từ bên trong. Hãng tin Reuters nhanh chóng đưa tin rằng một nhóm quân đội bí ẩn của Nga có lẽ đã được triển khai tới Venezuela để bảo vệ chế độ Maduro, mặc dù đại sứ Nga đã bác bỏ thông tin này. Tình trạng tham nhũng, các khoản đầu tư thất bại, và những lợi ích địa chính trị hạn chế đồng nghĩa với việc Điện Kremlin rõ ràng đã không còn sẵn sàng ném tiềm vào nhà nước đang sụp đổ này. Đặc biệt, Sechin có thể đang thúc đẩy một đường hướng lạc quan, nhưng ngay cả Rosneft cũng không sẵn sàng gia hạn mức tín dụng mới cho Maduro, và như đã lưu ý trước đó, ông phải bay tới Venezuela vào tháng 11/2018 để gây sức ép buộc chế độ này phải tăng cường nỗ lực nhằm tôn trọng các cam kết cũ. Một giải pháp tại Venezuela để bảo vệ các khoản đầu tư của Nga, đặc biệt là của Rosneft, có thể hấp dẫn ngay cả nếu Nga phải tiếp tục giữ Caracas làm một đồng minh chính trị; ít nhất một nguồn tin theo phe cực hữu của Nga cũng bóng gió rằng đây có thể là một con đường tiềm năng để tiến về phía trước.

Kết quả của các cuộc phiêu lưu của Nga tại Venezuela có thể tác động tới tương ai của chính Igor Sechin xét tới sự gắn bó mật thiết của ông với nỗ lực này. Cho đến nay, ông đã hành động mà không bị trừng phạt, nhưng chuyến thăm của Storchak và việc chấm dứt các khảon cho vay mới đã làm dấy lên khả năng rằng ngay cả Sechin cũng có thể buộc phải ngừng hoạt động có thể gây thiệt hại cho Nga. Tất nhiên, tác động của chính sách của Nga đối với Venezuela sẽ không chỉ giới hạn trong không gian hoạt động của Điện Kremlin. Nó vốn đã có tác động đáng kể đến ngành dầu mỏ, và các vụ kiện sau đó từ phía các chủ nợ của Venezuela và PDVSA có thể sẽ diễn ra trong sự không chắc chắn về tương lai của Citgo. Cuối cùng, Venezuela sẽ cần phải dàn xếp với các chủ nợ và các đối tác quốc tế khác của họ. Nga sẽ có một vị thế và sẽ ưu tiên bảo vệ các lợi ích kinh tế trong tương lai ngay cả nếu các bên liên quan khác khiến cho Sechin không còn có mong muốn hay đủ khả năng chấp nhận những rủi ro này. Nhưng chắc chắn vẫn còn quá sớm để gọi cuộc phiêu lưu của Điện Kremlin tại Venezuela là một lợi ích địa chính trị. Mà ngược lại, đó là một rủi ro về kinh tế.

Nguồn: www.fpif.org

TLTKĐB – 07 & 08/03/2019