Mỹ có thể bắt đầu với Việt Nam chưa?


Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam có thể ít phức tạp hơn như Washington mong muốn, bất chấp mối đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Hà Nội gần đây của Bắc Kinh nhằm ngăn chặn việc khoan dầu ở Biển Đông.

Điều thú vị là chẳng có gì trong tuyên bố chung ngày 31/5 của Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói là Mỹ sẽ cam kết hỗ trợ Hà Nội trong việc đối phó với các mối đe dọa của Trung Quốc.

Những người ở Washington xem Việt Nam như một đồng minh tiềm năng chống lại Trung Quốc có thể là đã hoàn toàn bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của nền thương mại qua biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Trong khi tham dự IMDEX tại Singapore vào tháng 5/2017, một nguồn tin công nghiệp quốc phòng cấp cao của Mỹ nói rằng một cuộc họp gần đây tại Hà Nội đã kết thúc đột ngột sau khi các quan chức Bộ Quốc phòng thông báo cho phái đoàn Mỹ rằng sẽ đòi “25% hoa hồng”. Một nguồn tin thứ cấp tại Singapore cũng cho biết các quan chức Chính phủ Việt Nam đã rửa tiền tại Singapore thông qua các bà vợ của họ.

Mỹ đã cấm hoạt động kinh doanh theo cách này bằng Đạo luật Chống tham nhũng nước ngoài 1977, theo đó hối lộ sẽ là một tội hình sự liên bang. Điều này có thể giải thích tại sao Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào vũ khí của Nga và do đó từ chối mọi hợp tác quân sự giữa Mỹ và Việt Nam.

Thời gian gần đây đã khẳng định việc Việt Nam sẽ mua 64 xe tăng T-90S/SK từ Moskva, và Nga đang cung cấp cho Việt Nam hệ thống tên lửa phòng không S-400 và máy bay chiến đấu MiG-35 để thay thế phi đội MiG-21 về hưu của Việt Nam. Nếu Việt Nam chọn MiG-35 sẽ kết thúc mọi hy vọng, sau Indonesia, Việt nam sẽ mua F-16A/B từ Mỹ. Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales (Australia) nói: “Sự hợp tác quân sự Mỹ – Việt Nam còn phải đối mặt với những vấn đề khác. Một là chính sách quốc phòng của Việt Nam “Ba không”: không có liên minh quân sự, không có căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam và không phụ thuộc vào bất cứ nước nào để chống lại nước khác. Điều này “cùng với sự nghi ngờ sâu sắc của Mỹ đối với một số sĩ quan quân đội cao cấp đã về hưu và còn đương nhiệm đã làm giảm đi mọi bước tiến trong quan hệ quốc phòng”.

Tong khi đó, ông Ralph Cossa, Chủ tịch của Pacific Forum CSIS tại Honolulu nói: “Nếu chúng ta đã học được bất cứ điều gì về Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thì đó là không có ai thúc đẩy được Hà Nội đến bất cứ nơi nào họ không muốn đi. Không có sự mất lòng nhau giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng người Việt Nam sẽ phải cẩn thận để không công khai đứng về phía nào với bất cứ ai. Điều đó nói rằng đã có và vẫn còn là một cơ hội tuyệt vời cho Washington và Hà Nội để làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác và Trung Quốc cung cấp thêm sự khuyến khích cho cả hai để làm như vậy”.

Mỹ và Việt Nam đã ký một biên bản ghi nhớ (MOU) vào năm 2011 đề ra 5 lĩnh vực ưu tiên hợp tác: an ninh, hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, trao đổi giữa các trường đại học quốc phòng, các viện nghiên cứu, và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.

Tuy  nhiên, theo ông Thayer, biên bản ghi nhớ năm 2011 đã làm Mỹ thất vọng. Ví dụ, Việt Nam đã từ chối lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter cho sĩ quan quân đội Việt Nam bay và uan sát trên P8 Poseidon tuần tra hàng hải trên Biển Đông.

Từng bước có sự liên kết chặt chẽ hơn nhưng không có liên minh, ông Patrick Cronin, cố vấn cao cấp kiêm giám đốc cấp cao của Chương trình An ninh châu Á – Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh mới của Mỹ nói: “Việt Nam bảo vệ một sự cân bằng lợi ích và Mỹ sẽ nhiệt tình củng cố quốc phòng của Việt Nam hơn là cung cấp một sự bảo đảm an ninh. Điều đó nói rằng, việc này có thể chỉ phụ thuộc vào cách Trung Quốc sẽ trở thành kiên định như thế nào nếu Việt Nam không chống nổi hải quân Trung Quốc”.

Tuy nhiên, đã có hoạt động về các vấn đề bảo vệ bờ biển. Trong tháng 5/2017, Cảnh sát biển Việt Nam đã được cung cấp 6 tầu tuần tra kim loại Shark và vào tháng 4/2017, nhận bàn giao một tàu lớp Hamilton đã ngừng hoạt động của Cảnh sát biển Mỹ.

Cho đến nay, Hà Nội dường như quan tâm chủ yếu tới việc nâng cao hiệu quả răn đe qua hợp tác quốc phòng khiêm tốn với Mỹ. Ông Richard Fisher, thành viên cao cấp tại Trung tâm Chiến lược và Đánh giá quốc tế nói:

Mặc dù Việt Nam đã đa dạng hóa các nguồn vũ khí của họ trong thập kỷ qua, họ đã cẩn thận để tránh phụ thuộc vào sự bảo vệ của một cường quốc nước ngoài”.

Cuộc xâm lược Việt Nam năm 1979 của Trung Quốc, dù được thể hiện rất kém, đã chứng minh cho lãnh đạo Hà Nội rằng một người bạn nước ngoài sẽ không bảo vệ họ khi có nguy cơ chiến tranh với Bắc Kinh. Fisher nói:

Trung Quốc không đẩy Việt Nam vào vòng tay người Mỹ. Còn hơn thế, nó đang đẩy Hà Nội vào việc mua sắm vũ khí hạt nhân – là thứ sẽ đe dọa Bắc Kinh nhiều hơn so với một liên minh với Washington”.

Nguồn: Shephard.com

TKNB – 01/08/2017

Advertisements

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần IV


Truman và các học giả theo trường phái đa nguyên khác cũng nhấn mạnh rằng hệ thống chính trị Mỹ là đặc biệt có ích đối với nền chính trị đa nguyên. Cơ cấu phi tập trung hóa của nó mang lại vô số điểm tiếp cận – các đảng phái chính trị, các ủy ban và tiểu ban của quốc hội và tòa án, vô số các cơ quan chính quyền của liên bang, bang và địa phương – tại đó các nhóm có thể cạnh tranh để có được chính sách có lợi. Nó cũng tạo ra một tập hợp các tác nhân chính trị – những quan chức được bầu – mà mục tiêu của họ có thể được đáp ứng bởi những liên minh được xây dựng vững chắc trên diện rộng và những giá trị chung được bảo vệ rộng rãi. Trong khái niệm lý tưởng này, nền chính trị đa nguyên tạo ra một sự cân bằng chính sách phản ánh cả sự phân phối lợi ích trong xã hội và cường độ mạnh mẽ của việc theo đuổi lợi ích. Những lợi ích chung rộng rãi có sức nặng bởi các cuộc bầu cử khiến cho số đông trở thành vấn đề quan trọng; cường độ là yếu tố cần tính tới bởi những người quan tâm tới vấn đề nhất chính là những người có khả năng tham gia vào tổ chức và hành động nhất.

Như vậy, rõ ràng là quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên Mỹ không bao hàm sự khinh miệt đối với “các nhóm lợi ích cụ thể” hoặc “các nhóm gây áp lực” theo như quan niệm thông thường. Thay vào đó, các nhóm lợi ích được xem là những người tham gia rất quan trọng và quý báu trong nền chính trị dân chủ của xã hội công nghiệp hiện đại. Nếu không có sự tham gia của chúng, chính sách có thể được tạo ra mà không hề quan tâm tới những mong muốn thực tế của công dân đối với chính phủ.

Với ý nghĩa là sự mô tả thực tế, khái niệm chủ nghĩa đa nguyên tích cực hiển nhiên đã bị một số người chỉ trích. Không ai nghi ngờ rằng các nhóm có tổ chức thường là những người chơi rất quan trọng trong lĩnh vực chính trị; điều này không phải là vấn đề. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng các nhóm hoạt động nổi bật nhất trong nền chính trị không đại diện một cách cân bằng cho các nhóm lợi ích kinh tế và xã hội. Một số nhóm lợi ích, ví dụ như nhóm của các tập đoàn công nghiệp lớn, dường như chiếm tỷ lệ đại diện quá lớn; trong khi các nhóm khác, chẳng hạn nhóm lao động nhập cư và người thất nghiệp, không hề được đại diện. Như nhà khoa học chính trị E.E. Schattschneider đã nói: “Khiếm khuyết trong thiên đường của những người đa nguyên chủ nghĩa là ở chỗ dàn đồng ca của thiên đường hát lên với âm giọng chi phối của tầng lớp trên”. Lời giải thích rõ ràng nhất cho sự lệch này là các nguồn lực của tổ chức – tiền bạc, thông tin, tiếp cận quyền lực, kỹ năng, khả năng thương lượng – được phân phối rất bất bình đẳng giữa các nhóm lợi ích chính trị. Do vậy, khi các tổ chức đầu tư vào chính trị, kết quả sẽ bị thiên lệch theo hướng có lợi cho các nhóm được sự ủng hộ của những người giàu có, có nhiều thông tin và quyền lực.

Vấn đề của hành động tập thể

Một cách giải thích tế nhị hơn nhưng cũng không kém phần quan trọng cho sự thiên lệch rõ rệt trong tỷ lệ đại diện của các nhóm xuất phát từ sự khác biệt trong động cơ của hành động tập thể và những trở ngại đối với tổ chức giữa các loại nhóm khác nhau. Lời giải thích này, được nhà kinh tế học Mancur Olson đưa ra trong cuốn Logic của hành động tập thể (The Logic of Collective Action) (1965), bắt đầu bằng việc chỉ ra rằng những nhà đa nguyên chủ nghĩa kinh điển như Truman đã sai lầm khi cho rằng mọi người sẽ hình thành các nhóm lợi ích một cách tự phát để thúc đẩy hoặc bảo vệ những lợi ích chung. Một số người buộc phải đảm nhiệm việc tổ chức nhóm và tìm kiếm các nguồn lực để duy trì chúng. Và để thành công, những nhà tổ chức phải vượt qua một vấn đề kinh điển của hành động tập thể: đa số các nhóm lợi ích chính trị đều theo đuổi những lợi ích tập thể mà các thành viên của nhóm được hưởng lợi từ đó, bất chấp việc họ có giúp đạt được chúng hay không. Tính tư lợi có lý trí dẫn tới tình trạng ngồi không hưởng lợi rất phổ biến, làm suy yếu tổ chức và các nỗ lực của nó trừ phi nó tìm ra một cách thức nào đó cho vấn đề khó khăn này.

Một số nhóm giải quyết vấn đề này dễ dàng hơn nhiều so với các nhóm khác. Các nhóm nhỏ dễ tổ chức hơn các nhóm lớn bởi chi phí giao dịch thấp hơn và tình trạng ngồi không hưởng lợi ít nghiêm trọng hơn, do những kẻ ngồi không hưởng lợi dễ bị phát hiện hơn, dễ bị khinh miệt và trừng phạt về mặt xã hội hơn. Thêm vào đó, các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng nhiều hơn trong một lĩnh vực chính sách sẽ sẵn sàng hành động hơn so với những người không bị ảnh hưởng (xem hộp “Quy tắc thiểu số”). Khi chi phí hoặc lợi ích tiềm năng là lớn, động cơ để đầu tư vào hành động chính trị cũng sẽ lớn.

Quy tắc thiểu số

“Các nhóm lợi ích đặc biệt” mang tai tiếng không thể cứu vãn trong nền chính trị Mỹ ngay từ những ngày đầu của nền Cộng hòa, khi James Madison cảnh báo về “bạo lực của bè phái” trong bài Người liên bang số 10. Theo quan điểm phổ biến, khi các lợi ích đặc biệt ảnh hưởng tới chính sách công, thì nền dân chủ sẽ bị thiệt hại. Điều này không nhất thiết đúng như vậy. Ngay cả khi các chính trị gia tập trung vào việc tối đa hóa số phiếu bầu của mình trong cuộc bầu cử kế tiếp và do vậy sẵn sàng đáp ứng quy tắc đa số, các nhóm lợi ích đặc biệt vẫn có rất nhiều cơ hội thành công trong việc vận động cho những chính sách mang lại lợi ích cho họ.

Để hiểu tại sao lại như vậy, chúng ta đơn giản chỉ cần thừa nhận rằng thông tin là rất đắt đỏ. Các cử tri sẽ giám sát hành động của những người đại diện cho mình trên những vấn đề quan trọng đối với họ và chỉ khi nào các thông tin như vậy có thể thay đổi sự ủng hộ của họ đối với ứng cử viên A hoặc ứng cử viên B trong cuộc bầu cử kế tiếp. Một đạo luật trợ cấp cho sản phẩm sữa đang được xem xét tại Quốc hội, nếu được thông qua, sẽ làm tăng thêm một hoặc hai xu đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, đa số các cử tri sẽ bỏ qua vấn đề này bởi chi phí để biết về việc này và nghiên cứu cách thức bỏ phiếu của những người đại diện cho họ sẽ vượt qua những lợi ích có được từ việc biết được thông tin này.

Mặc dù phần lớn cử tri sẽ bỏ qua các đạo luật trợ cấp sản phẩm sữa, song những người nông dân cung cấp sữ chắc chắn không làm như vậy. Một khoản phụ thu nhỏ từ sản phẩm sữa có thể giúp cải thiện đáng kể thu nhập của họ. Bởi vậy, những người nông dân này sẽ trả chi phí cao hơn để biết từng chi tiết của chính sách cũng như theo dõi hành động của các đại diện của mình. Thường thường, chi phí này sẽ bao gồm cả chi phí thuê các nhà vận động hành lang.

Giống với việc sử dụng thông tin, việc truyền bá thông tin cũng rất tốn kém. Hầu như không người tiêu dùng nào tình cơ nghe được thông tin về dự thảo luật trợ cập sữa chịu bỏ công sức để chứng tỏ sự phản đối của họ, trong khi những người nông dân cung cấp sữa sẽ dành đáng kể thời gian và tiền bạc để tuyên truyền về sự ủng hộ của họ.

Các chính trị gia sẽ nhận thấy rằng đa số công dân không quan tâm nhiều lắm tới việc trợ cấp và ít khả năng họ sẽ bỏ phiếu dựa trên vấn đề này. Đồng thời, họ cũng nhận ra rằng một số ít người khác – những nông dân cung cấp sữa – hết sức quan tâm tới vấn đề và có thể dành lá phiếu của họ cũng như các khoản đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử trên cơ sở hành động của các đại diện của họ trên vấn đề này. Bởi vậy, ngay cả các chính trị gia luôn cố gắng đạt được càng nhiều phiếu càng tốt đôi khi cũng sẽ đặt những ưu tiên của một nhóm lợi ích đặc biệt lên trên lợi ích của đông đảo các công dân bình thường khác.

 

Quy mô của nhóm và phần đóng góp của các thành viên thường có quan hệ tỷ lệ nghịch, khiến cho tình trạng thiên lệch càng tồi tệ thêm. Đối với một số ít nhóm may mắn, một thành viên riêng rẽ có thể có lợi ích đủ mạnh để sẵn sàng chi trả toàn bộ chi phí cho việc theo đuổi lợi ích chung của cả nhóm. Chẳng hạn như Exxon có thể nhận thấy nó vẫn có lợi khi đầu tư vào việc vận động nhằm bãi bỏ việc kiểm soát giá xăng dầu ngay cả khi nó phải chi trả toàn bộ chi phí để tạo ra một lợi ích mà toàn bộ các nhà sản xuất xăng dầu sẽ cùng được hưởng. Ngược lại, có rất nhiều lợi ích tập thể phổ biến, được chia sẻ bởi quá nhiều người sẽ có tỷ lệ đại diện rất kém nếu những người chia sẻ chúng hành động một cách lý trí và duy trì vị thế người ngồi không hưởng lợi.

Phân tích này có thể giải thích tại sao các nhóm vận động hành lang đại diện cho những lợi ích kinh tế hạn hẹp có xu hướng chi phối tại Washington, nhưng nó cũng đặt ra một câu hỏi mới: tại sao vẫn có rất nhiều nhóm vận động hành lang mạnh lên tiếng đề đạt nguyện vọng cho các lợi ích phổ biến và rộng rãi? Thực tế, một trong những thay đổi đáng kinh ngạc nhất đố với các nhóm lợi ích trong ba thập niên vừa qua chính là sự phổ biến của các tổ chức tuyên bố đại diện cho hàng triệu công dân tập trung vào một số loại hình lợi ích công. Sự phổ biến này bắt nguồn một phần từ thực tế rằng rất nhiều người sẵn sàng góp sức cho các nhóm ủng hộ những vấn đề họ quan tâm mà không hề lo lắng về việc liệu những đóng góp của họ có tạo nên sự khác biệt đáng kể này hay không. Những động cơ đạo đức, sự hài lòng của cá nhân về việc được chứng tỏ bản thân, đã thắng thế khái niệm về sự suy xét lý trí của các nhà kinh tế học trong trường hợp của vô số công dân quan tâm – những người đã gửi tiền đóng góp cho các nhóm vận động, cho việc bảo vệ môi trường, cải cách chính trị, cấm nạo phá thai, quyền của động vật, và hàng loạt vấn đề xã hội khác. Những nhóm này không ra đời một cách tự phát thông qua hành động của những công dân quan tâm; phần lớn được hình thành bởi những nhà hoạt động mạnh dạn được hỗ trợ bởi các tổ chức từ thiện, những cá nhân giàu có hoặc bản thân chính quyền. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều nhóm được duy trì nhờ phí hội viên và các khoản đóng góp nhỏ của đông đảo công dân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần III


Nhưng mẹ của họ vẫn yêu họ

1841. Sử gia James Silk Buckingham định nghĩa những người vận động hành lang là “các đại diện, được lựa chọn bởi kỹ năng của họ trong nghệ thuật lừa dối, thuyết phục và hối lộ các thành viên của cơ quan lập pháp”.

1856. Nhà thơ Walt Whitman đã miêu tả “những kẻ vận động hành lang” như “những con người nham hiểm khiến người ta sởn gai ốc, những kẻ buôn bán tự do bẩm sinh và tệ hại trên trái đất”.

1873. Một phóng viên của tờ The Nation đã mô tả những người vận động hành lang chuyên nghiệp “là người mà ai cũng ngờ vực; người mà nhìn chung trong nửa năm không có một phương kế sinh nhai lương thiện; và là người mà nghề nghiệp của họ chỉ được những người có các dự luật đưa ra trước cơ quan lập pháp viện đến như một biện pháp cần thiết dễ gây bất đồng”.

1875. Tiểu thuyết gia John William de Forest trong cuốn tiểu thuyết của ông nhan đề Honest John Vane (John Vane trung thực) đã mô tả tất cả những điều sau: “Những người có làn da nhợt nhạt, trang phục bóng mượt, tính cách tàn bạo, đầu óc bẩn thỉu, và các nói chuyện khiến người ta phát ốm; những người sặc sụa mùi thuốc lá henbane và rượu wisky cockatrine tới mức một người hút thuốc và uống rượu ở mức điều độ phải tránh xa họ như tránh xa hầm tiêu; những người mà lời lẽ khoe khoang xuẩn ngốc và vô sỉ về các hành động hối lộ của họ đủ để tất cả mọi người phải tránh xa, chỉ trừ đoàn quân của quỷ Satan và… các chính khách đồi bại, những người mà hiện giờ trên thực tế chẳng khác gì những tử thi đang thối rữa, đang bốc mùi chướng khí và sản sinh ra các loại giòi bọ”.

1888. Everit Brown và Albert Strauss, trong cuốn Dictionary of American Politics (Từ điển chính trị Mỹ), đã nêu định nghĩa như sau: “Vận động hành lang là một thuật ngữ được áp dụng chung cho những người tiến hành việc gây ảnh hưởng tới các nhà lập pháp bằng những biện pháp sai trái. Người làm việc này được gọi là người vận động hành lang. Họ thường đạt tới các mục tiêu của mình thông qua việc trả tiền cho các thành viên cơ quan lập pháp, tuy nhiên bất kỳ biện pháp khả thi nào khác cũng có thể được áp dụng”.

Các công dân phẫn nộ trước sự mục nát chính trị đã hình thành những tổ chức mới để thúc đẩy cải cách. Theo thời gian, những nhóm này đã thành công trong việc viết lại các quy tắc của nền chính trị đảng phái và bầu cử, cũng như việc tái tổ chức chính quyền ở mọi cấp. Những thay đổi này là một bộ phận của tập hợp những sáng kiến rộng lớn hơn – luật về lao động trẻ em và mức lương và giờ làm việc, quy định đối với ngành đường sắt và các doanh nghiệp quy mô lớn khác, quyền bỏ phiếu của phụ nữ, thuế thu nhập – được thông qua vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, thời kỳ mà các sử gia hiện nay gọi là kỷ nguyên tiến bộ. Động lực thúc đẩy những sáng tạo này, cũng như phần lớn sự phản kháng đối với chúng, đến từ những nhóm lợi ích thuộc đủ loại. Một trong những thành công đáng lưu ý nhất, tính tới hiện nay, là của Hiệp hội chống bán rượu (Anti-Saloon League), kiến trúc sư của Tu chính án thứ mười tám. Tu chính án này cấm bán đồ uống có cồn tại Hoa Kỳ từ năm 1919 tới 1933, khi nó bị bãi bỏ (xem hộp “Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu: Hiệp hội chống bán rượu”).

Trừng phạt những kẻ say xỉn tại hòm phiếu

Thành công của Hiệp hội chống bán rượu

Hiệp hội chống bán rượu, nhóm vận động hành lang cho một vấn đề riêng rẽ thành công nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, là lực lượng đi đầu trong việc thông qua Tu chính án thứ mười tám cấm việc buôn bán và vận chuyển “chất lỏng gây say xỉn” (bao gồm cả rượu và bia) ở Hoa Kỳ từ năm 1919 cho tới khi nó bị bãi bỏ vào năm 1933.

Trong nhiều thập niên trước khi Hiệp hội chống bán rượu được thành lập năm 1896, rất nhiều nhóm đã vận động cho việc cai rượu và phản đối buôn bán rượu, nhưng tất cả đều đến rồi đi. Ngay cả một đảng chính trị – Đảng Cấm – cũng đang vận động cho việc hạn chế uống rượu, song thành tích chính trị của đảng này hết sức hạn chế cho tới tận thời điểm Hiệp hội chống bán rượu ra đời.

Các nhà lãnh đạo hiệp hội, Purley Baker và Wayne Wheeler, thuộc vào loại những chính trị gia xuất sắc nhất của thời kỳ đó. Họ đã tạo nên một tổ chức do những người chuyên nghiệp được trả lương lãnh đạo, và được hỗ trợ bởi những phí hội viên hàng tháng cùng các khoản biếu tặng lớn từ các nhà hảo tâm giàu có. Làm việc thông qua các tổ chức đã tồn tại từ trước – chủ yếu là nhà thờ, song cũng có cả các nhóm vận động hạn chế rượu ở địa phương – hiệp hội đã vận hành với vai trò người điều phối trung tâm rất nhiều bộ phận của phong trào.

Hiệp hội tập trung một cách chiến lược vào một vấn đề duy nhất – ngừng buôn bán rượu, và không có quan điểm chính trị về bất kỳ vấn đề nào khác. Về mặt chiến thuật, hiệp hội tập trung vào nền chính trị bầu cử với mục tiêu đơn giản là đánh bại “những kẻ say xỉn” và bầu cho “những người không uống rượu”. Tổ chức này giám sát các lá phiếu của cơ quan lập pháp và yêu cầu sự cam kết bằng văn bản của các ứng cử viên khao khát chiến thắng, những người muốn có sự ủng hộ của của hiệp hội và không có vết tích trong quá khứ về vấn đề này. Hiệp hội không quan tâm tới việc bản thân ứng cử viên có uống rượu hay không, mà chỉ quan tâm tới cách thức họ sẽ bỏ phiếu cho đạo luật hạn chế bán rượu mà thôi. Nó xây dựng giá trị của sự ủng hộ của mình bằng cách huy động các cử tri đồng cảm (chủ yếu thông qua nhà thờ Tin Lành) và thuyết phục họ bỏ phiếu hoàn toàn dựa trên vấn đề rượu: những kẻ say xỉn phải bị trừng phạt tại hòm phiếu. Khi phong trào cấm bán rượu lên tới tầm quốc gia, hiệp hội đã tập hợp các nhóm cử tri để gửi thư và kiến nghị tới Quốc hội yêu cầu hành động và thậm chí đã tổ chức một cuộc diễu hành ở Washington, với bốn nghìn người ủng hộ cấm bán rượu tham gia, để vận động cho một tu chính án Hiến pháp hợp thức hóa lệnh cấm.

Tuy nhiên, thành công chính là yếu tố khiến tổ chức diệt vong. Bởi lệnh cấm không được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng ở nhiều nơi, đặc biệt tại những thành phố lớn, nên việc cưỡng chế thực thi chỉ có thể thực hiện với chi phí rất lớn. Song chính việc cưỡng chế mang tính ép buộc khiến cho đạo luật ngày càng trở nên mất lòng dân hơn. Cuối cùng, nó đã phải chào thua trước sự ủng hộ ngày càng yếu ớt của công chúng và cuộc Đại khủng hoảng, yếu tố đang thúc đẩy cầu về việc làm và các khoản thuế mà ngành sản xuất rượu có thể mang lại. Lệnh cấm đã bị bãi bỏ vào ngày 5 tháng Mười hai 1933, đưa những người buôn lậu rượu ra ngoài phạm vi quan tâm.

Những nhóm gây ấn tượng mạnh cho de Tocqueville vào thập niên 1830 chủ yếu là các tổ chức địa phương và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, một tập hợp đông đảo các tổ chức quy mô lớn, được nuôi dưỡng bởi nền công nghiệp mới nổi, đã xuất hiện tràn lan trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp. Việc mở rộng thị trường quốc gia và quốc tế đã tạo điều kiện cho sự ra đời các tập đoàn lớn, các tờ rớt, các thể chế tài chính phức tạp khác cũng như vô số tổ chức lao động và nông nghiệp. Thành viên của các nhóm này chủ yếu bị thu hút bởi các ngành nghề chuyên biệt và vị thế được tăng cường mà chúng mang lại, nhưng khi đã được tổ chức và sắp xếp nhân viên, với thu nhập ổn định từ phí hội viên, các nhóm này đã hình thành nên cơ sở thiết chế bền vững để tham gia vào những lợi ích chính trị của các thành viên.

Sự biện hộ đa nguyên cho các nhóm lợi ích

Với sự xuất hiện của các hiệp hội chính trị ổn định như những người chơi chủ chốt trong nền chính trị quốc gia, các học giả bắt đầu nghiên cứu nhóm lợi ích. Một kết quả của việc này là sự biện hộ có tính hệ thống đầu tiên về vai trò hợp pháp của các nhóm lợi ích trong nền dân chủ hiện đại. Trường hợp này được minh chứng đầy đủ nhất bởi nhà khoa học chính trị David Truman trong cuốn sách rất có ảnh hưởng của ông nhan đề The governmental Process (Quy trình của chính phủ), xuất bản năm 1951. Truman coi việc phổ biến các nhóm lợi ích chính trị là hậu quả tất nhiên và phần nhiều là vô hại của sự phát triển kinh tế. Những nhóm này được hình thành tự phát bất cứ khi nào lợi ích chung của một nhóm bị đe dọa hoặc có thẻ được thúc đẩy bởi hành động chính trị. Xã hội công nghiệp hiện đại, đặc trưng bởi sự phân công lao động tinh vi hơn, trở nên bị chi phối bởi các lợi ích và bởi vậy cả các nhóm lợi ích. Do xã hội ngày càng trở nên phân mảng và đa dạng hơn, hệ thống các hiệp hội cũng trở nên đa dạng và tách biệt hơn.

Bởi các nhóm được tự do tổ chức và tham gia vào một hệ thống chính trị mở, quy trình chính trị đã cân bằng các nhóm lợi ích cạnh tranh nhau, như James Madison đã hứa hẹn. Nếu các nhóm đã được thiết lập vận động cho các chính sách đe dọa lợi ích của các công dân khác, những người bị đe dọa sẽ tổ chức lại để tự bảo vệ cho mình. Nhu cầu sẽ thúc đẩy nhu cầu đó kháng, do vậy các chính sách bao hàm rất nhiều những thỏa hiệp và nhượng bộ lẫn nhau cần thiết để xây dựng các liên minh thắng lợi ở trong và giữa các thiết chế chính trị. Nhận thức được rằng việc vươn cao quá mức có thể khích động sự phản đối, các nhóm được thiết lập đã thận trọng điều hòa nhu cầu của mình. Như vậy, những nhóm lợi ích chưa được tổ chức đã hạn chế các nhóm tích cực ngay cả khi chúng không được đại diện bởi những nhà vận động hành lang của riêng mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần II


James Madison, với khả năng thuyết phục vốn có, đã khái lược tình thế nan giải tạo ra bởi các nhóm hành động chính trị trong phần thảo luận nổi tiếng của ông về bè phái đăng trên bài viết Người liên bang  số 10. Đối với Madison, bè phái về bản chất là nguy hại, chúng theo đuổi những mục tiêu cá nhân ích kỷ, đi ngược lại quyền của những người khác hoặc lợi ích công. Do vậy, theo quan điểm của Madison, bè phái là một nguy cơ chủ chốt đối với chính quyền nhân dân: “Sự bất ổn định, bất công và hỗn loạn được đưa vào các hội đồng nhà nước” bởi “thói vô đạo đức nguy hiểm” của bè phái “thực sự là những căn bệnh chết người khiến cho các chính quyền nhân dân ở mọi nơi bị diệt vong”.

Vậy tại sao không loại bỏ bè phái? Câu trả lời của Madison là các bè phái chỉ có thể bị tiêu diệt bằng cách “hủy hoại nền tự do là nhân tố thiết yếu cho sự tồn tại [của chúng]… [hoặc] bằng cách mang lại cho mỗi công dân những ý kiến giống nhau, tình cảm giống nhau và lợi ích giống nhau”. Ông nhận thấy rằng phương thuốc thứ nhất “còn tệ hại hơn căn bệnh” bởi chính quyền nhân dân có trách nhiệm bảo vệ nền tự do; và thấy rằng phương thuốc thứ hai là không thể : “ở chừng mực lý trí con người tiếp tục có thể sai lầm, và anh ta được tự do hành động, thì những ý kiến khác biệt vẫn được hình thành”.

Như vậy, nói một cách thực tế, để duy trì các quyền tự do được nêu trong Tu chính án thứ nhất – tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, và “yêu cầu Chính phủ sửa chữa những điều bất công” – một hệ thống chính trị phải chấp nhận các bè phái ngay cả khi chúng có thể đối lập với lợi ích công, như định nghĩa của Madison. Các đảng phái chính trị, các nhóm lợi ích, các nhà vận động hành lang và các tổ chức chính trị hòa bình thuộc mọi thể loại trên thực tế được Hiến pháp cho phép và chỉ có thể bị loại bỏ bằng việc vi phạm những nguyên tắc trong Hiến pháp.

Nếu không thể loại bỏ các bè phái mà không làm tổn hại tới chính mục tiêu của chính quyền nhân dân, thì có thể ngăn chặn chúng hủy hoại chính thể bằng cách nào? Như chúng ta nhận thấy, giải pháp của Madison là phân chia quyền lực giữa các thể chế của liên bang. Sự phân chia quyền lực này có thể ngăn chặn một phe phái riêng lẻ chi phối các phe phái khác. Như vậy, đông đảo các nhóm lợi ích đa dạng cạnh tranh với nhau có thể sử dụng bộ máy thể chế này để cản trở những kế hoạch ích kỷ của các nhóm khác. Nói cách khác, câu trả lời của Madison cho vấn đề bè phái là chủ nghĩa đa nguyên thể chế xã hội. Đó là một giải pháp có tính đặc trưng đã ăn sâu bám rễ trong thực tiễn nước Mỹ.

Khởi nguồn của nền chính trị theo nhóm lợi ích ở nước Mỹ

Phần thảo luận của Madison về bè phái, mặc dù trừu tượng, song không hề có tính sách vở. Những nỗ lực có tổ chức nhằm gây ảnh hưởng tới các quyết định của chính phủ luôn là một phần không thể tách rời của nền chính trị Mỹ từ những ngày đầu lập quốc.

Thời kỳ thuộc địa

Các thương nhân, nhà sản xuất và các nhóm thiểu số về tôn giáo và sắc tộc trong thời kỳ thuộc địa đã tích cực tìm kiếm những chính sách có lợi từ nhà cầm quyền ở London cũng như từ các thống đốc và hội đồng lập pháp của các bang thuộc địa. Tới giữa thế kỷ XVIII, những nhóm này đã phát triển phần lớn các kỹ năng thuết phục vẫn còn được sử dụng cho tới tận ngày nay. Các nhóm lợi ích ở thuộc địa đệ trình đơn thỉnh cầu tới chính phủ, thuê những chuyên gia để “xử lý công việc tinh tế và phức tạp liên quan tới việc đạt được sự nhân nhượng từ các bộ trưởng và quan chức các cấp thấp hơn”, khảo sát thành tích về phiếu bầu của các nhà lập pháp để xác định những người ủng hộ có triển vọng, tổ chức các chiến dịch viết thư, nhắc nhở các nhà lập pháp rằng những người ủng hộ cho một nhóm nằm trong số các cử tri của ông ta, và hình thành những liên minh hỗ trợ lẫn nhau với các nhóm lợi ích khác.

Các nhóm lợi ích Mỹ và những đồng minh nước Anh học cách nuôi dưỡng quan hệ với các nhà lãnh đạo nghị viện, soạn thảo các dự luật và đưa chúng vào chương trình nghị sự của nghị viện tại một thời điểm thích hợp. Chúng cũng tấn công dồn dập các thành viên nghị viện bằng vô số thông tin và sắp xếp các buổi điều trần của các chuyên gia. Những hoạt động vậ động hành lang tay trong này – trực tiếp kêu gọi các nhà lập pháp ủn ghộ chính sách do các nhóm lợi ích có phạm vi tập trung hẹp đưa ra – là một bộ phận rất quen thuộc của quy trình lập pháp trong các nền dân chủ Anh – Mỹ kể từ đó.

Thế kỷ XVIII cũng chứng kiến sự ra đời loại hình vận động hành lang cho lợi ích công và thủ thuật vận động từ bên ngoài, kêu gọi công chúng ủng hộ cho các mục tiêu của một nhóm cụ thể. Nhà phát minh chính là John Wilkes, một người Anh theo chủ nghĩa cấp tiến, với Hiệp hội vận động cho Dự luật về các quyền của mình đã thúc đẩy sự nghiệp chung là mở rộng quyền bỏ phiếu, chứ không phải bảo vệ lợi ích của một nhóm cụ thể. Bỏ qua biện pháp truyền thống là thuyết phục dựa trên quan hệ hữu nghị, tổ chức vận động của Wilkes chọn cách công kích các quan chức chính phủ. Các tổ chức tương tự cũng xuất hiện tại các bang thuộc địa; nổi tiếng nhất là tổ chức Sons of Liberty (Những người con của tự do). Bên cạnh các hoạt động lật đổ và phá hoại khác, tổ chức này đã phát độ Bữa tiệc chè Boston (hành động bất tuân lệnh dân sự tiêu biểu, trong đó người dân Mỹ đóng giả thổ dân da đỏ đã đổ hơn 300 thùng chè của công ty Đông Ấn thuộc Anh xuống biển, từ đó đã khơi mào cho cuộc Cách mạng Mỹ).

Tới thời điểm nổ ra cuộc Cách mạng Mỹ, đã có rất nhiều nhóm hoạt động chính trị xuất hiện: các hiệp hội của thương nhân, các phòng thương mại, các giáo phái tôn giáo, các tổ chức thúc đẩy sự nghiệp cấp tiến, các nhóm quan tâm tới phát triển địa phương, các hiệp hội sắc tộc, các hội bảo hiểm, các câu lạc bộ thúc đẩy những mục tiêu xã hội và trí thức, các tổ chức của công nhân, các hiệp hội nghề nghiệp và quân sự. Những đoàn đại biểu tham dự Hội nghị lập hiến đã quá quen với việc vận động hành lang tới mức họ đã nhất trí gặp gỡ sau những cánh cửa khóa kín và giữ bí mật về các dự định của mình cho tới tận sau khi hội nghị kết thúc. Không một biên bản chính thức nào được ghi nhận “phòng trường hợp những dự định của họ bị rò rỉ và họ bị vây chặt bởi những nhóm công dân đang tìm cách thúc đẩy lợi ích riêng của mình”. Đây không phải lần cuối cùng lợi ích công được bảo đảm tốt nhất bằng cách tiến hành các cuộc thương lượng khuất ngoài tầm mắt của công chúng.

Thời kỳ đầu của nền Cộng hòa

Như Madison đã tiên đoán, hệ thống chính trị Mỹ cho phép “các bè phái” phát triển rầm rộ. Các đảng phái chính trị xuất hiện gần như ngay lập tức. Trong rất nhiều nỗ lực phối hợp nhằm định hình các quyết định của chính phủ vào những thập niên đầu tiên của nền Cộng hòa, hầu hết đều tập trung vào các chính quyền bang và địa phương, bởi vào thời điểm đó các chính quyền này đưa ra những quyết định quan trọng nhất đối với công dân. Tới thập niên 1830, các tổ chức dưới mọi thể loại đã trở thành một bộ phận không thể tách rời khỏi đời sống nước Mỹ. Vị khách người Pháp Alexis de Tocqueville đã kinh ngạc ghi nhận sự phong phú và đa dạng của các nhóm có tổ chức tại Hoa Kỳ: “Không một quốc gia nào trên thế giới mà nguyên tắc liên hiệp được sử dụng thành công, hoặc được áp dụng cho đông đảo đối tượng, hơn ở Mỹ… Không có mục tiêu nào mà con người không thể đạt được thông qua sức mạnh tổng hợp của các cá nhân thống nhất trong một tổ chức”.

Do hầu hết các nhóm đều tìm cách đạt được mục tiêu của mình mà không dính líu tới chính quyền, chúng không phải là cái mà chúng ta gọi là các nhóm lợi ích chính trị, song rất nhiều nhóm có những mục tiêu chính trị rõ rệt. Các ví dụ bao gồm Hiệp hội chống chế độ nô lệ Mỹ (American Anti-Slavery Society – hình thành năm 1833); Công đoàn toàn quốc (Natioanl Trades Union – 1834), vận động cho ngày làm việc 10 tiếng và Liên minh hạn chế rượu của Mỹ (American Temperance Union – 1836), đấu tranh đòi ngừng hoặc cấm việc bán đồ uống có cồn. Giống như Madison, de Tocqueville nghĩ rằng các tổ chức này có thể gây nguy hại tới trật tự công cộng và một chính phủ tốt, nhưng những điều quan sát thấy đã thuyết phục ông rằng các nhóm tự nguyện là rất quan trọng đối với một hệ thống chính trị và xã hội quân bình. Những nhà quan sát sau đó không chắc chắn lắm về điều này. Trong suốt những năm mở rộng đất nước – về mặt địa lý cũng như trong công nghiệp – sau cuộc Nội chiến, phạm vi hoạt động của chính phủ liên bang đã mở rộng chưa từng thấy, và các hoạt động nhằm định hình những quyết định của nó cũng được mở rộng nhanh chóng. Các hoạt động dễ nhận thấy nhất là do những tập đoàn và tờ rớt công nghiệp quy mô lớn mới nổi thực hiện. Phương pháp mà các đại diện chính trị của chúng tiến hành, bị vạch trần bởi một thế hệ các phóng viên và nhà phê bình xã hội được gọi chung là “những người cào phân”, đã khiến cho hoạt động vận động hành lang mang tiếng xấu mà cho tới nay vẫn chưa bị lãng quên hoàn toàn (xem hộp “Nhưng mẹ của họ vẫn yêu họ”).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Các nhóm lợi ích ở Mỹ – Phần I


Không ai phản ứng trước các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín nhanh nhạy hơn các nhà vận động hành lang tại Washington. Buổi sáng hôm sau, các văn phòng Quốc hội bắt đầu nhận được những cú điện thoại từ các nhà vận động cho nông dân, các nhà thầu khoán của Bộ quốc phòng và đại diện của các ngành bảo hiểm, du lịch, bưu chính viễn thông, máy tính và dược phẩm. Đa số họ không đòi hỏi bất kỳ điều gì khác với những thứ họ đã vận động trước đó, nhưng giờ đây tất cả đều định hình những lập luận của mình cho phù hợp với bối cảnh chính trị đã thay đổi mạnh mẽ. Hạ nghị sĩ Edward Markey, Đảng Dân chủ, bang Massachusetts, nhận xét một cách bực dọc:

Không một nhà vận động hành lang tự trọng nào lại không thay đổi diện mạo quan điểm của mình như một phản ứng thể hiện tình cảm ái quốc trước thảm họa.

Thách thức là chủ nghĩa khủng bố. Câu trả lời là tái lập các độc quyền trong ngành bưu chính viễn thông.

Thách thức là chủ nghĩa khủng bố. Câu trả lời là cho phép khoan dầu tại Vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã ở Bắc Cực.

Thách thức là chủ nghĩa khủng bố. Câu trả lời là bãi bỏ khoản tiền nợ thuế có hiệu lực hồi tố trị giá 15 tỷ USD cho các tập đoàn.

Bảo hiểm và hàng không, hai ngành chịu thiệt hại nặng nề nhất về tài chính, có thể là những trường hợp rõ rệt nhất cần được giúp đỡ. Nhưng tham gia cùng với họ là các nhà vận động hành lang trong lĩnh vực nông nghiệp đề nghị tăng trợ cấp để ngăn chặn tình trạng gián đoạn trong cung cấp lương thực thời chiến, các nhà vận động cho ngành du lịch đề nghị cấp khoản tín dụng thuế tạm thời trị giá 1000 USD để giúp mỗi gia đình bù đắp chi phí cho các kỳ nghỉ, và Hãng chế tạo máy bay Boeing và Hải quân Mỹ, cả hai đều yêu cầu khôi phục loại máy bay V-22, một loại máy bay thử  nghiệm không được đưa vào sử dụng do các vụ va chạm chết người.

Người khổng lồ của ngành bưu chính – Verizon – tìm cách hủy bỏ một số quy định của liên bang cho phép các đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn được tiếp cận mạng lưới của mình, lập luận rằng việc công ty này khôi phục nhanh chóng dịch vụ điện thoại ở Manhattan đã chứng tỏ nhu cầu có các công ty bưu chính viễn thông lớn. Hiệp hội dịch vụ an toàn giao thông Mỹ, đại diện cho những nhà sản xuất đèn tín hiệu giao thông, kêu gọi liên bang dành nhiều ngân sách hơn cho đèn tín hiệu trên đường để tránh tắc nghẽn giao thông khi mọi người chạy trốn các cuộc tấn công khủng bố. Những nông dân trồng chà là ở California tìm kiếm sự bảo đảm rằng lương thực viện trợ cho Afghanistan sẽ bao gồm cả những trái chà là dành cho người dân nước này trong suốt các buổi tối của lẽ Ramadan, tháng ăn chay của người Hồi giáo.

Trong những tháng tiếp sau đó, các nhà vận động hành lang tiếp tục liên hệ những yêu cầu của họ với nguy cơ của chủ nghĩa khủng bố. Ngành công nghiệp điện tư nhân biện minh cho mong muốn lâu nay của mình về việc cắt giảm thuế, tăng lợi tức và nhận được bảo hiểm liên bang trong trường hợp thiên tai với lý lẽ rằng đây là những yếu tố cần thiết để bảo vệ mạng lưới điện chống lại các cuộc tấn công khủng bố. Các công ty dược phẩm tìm kiếm khả năng tránh né đạo luật chống độc quyền để hợp tác với nhau trong việc sản xuất các loại thuốc vắc xin phòng tránh bệnh than, đậu mùa và các chất hóa học trong chiến tranh vi trùng, cũng như sự bảo vệ trong các vụ kiện có thể nảy sinh nếu chúng được sử dụng. Các thống đốc tìm kiếm những khoản tiền của liên bang dành cho các dự án giao thông vận tải với lập luận rằng chúng có thể giúp di tản tốt hơn nếu xảy ra thảm họa trong tương lai. Những người kinh doanh nhà hàng làm mới cuộc đấu tranh nhằm bù đắp thiệt hại do việc mất đi các bữa ăn bàn bạc chuyện kinh doanh từ khi có đạo luật cải cách thuế năm 1986 bằng cách lập luận rằng đi ăn ở tiệm là “hòn đá tảng của nền kinh tế”, do vậy việc khôi phục nó là rất quan trọng sau thảm họa. Một nhà vận động hành lang có tiếng là thẳng thắn đã nói: “Những gì xảy ra là một thảm họa, chắc chắn như vậy, nhưng cũng có các cơ hội. Chúng ta đang làm ăn. Đây không phải là hội từ thiện”.

Và đó là việc làm ăn rất phát đạt. Khung cảnh chính trị thay đổi do sự kiện ngày 11 tháng Chín không kích động đại diện của các nhóm lợi ích nhiều bằng việc tái định hướng nguồn sinh lực vốn rất lớn của họ. Dù đất nước có trong tình trạng khẩn cấp hay không, các nhóm lợi ích và việc vận động hành lang vẫn là không thể tránh khỏi và trên thực tế, chúng là những bộ phận thiết yếu của nền chính trị dân chủ hiện đại. Chúng cũng là nguồn rắc rối không bao giờ cạn của nền dân chủ. Hệ thống chính trị Mỹ không thể vận hành mà không có sự bận rộn bất tận của những nhóm lợi ích có tổ chức và các đại diện của chúng đang cố gắng tác động tới chính sách theo hướng có lợi cho mình. Tuy nhiên, chưa có thời điểm nào trong lịch sử nước Mỹ mà các nhóm này không bị công kích như là sự đe dọa đối với nền dân chủ. Bài này sẽ xem xét tại sao các nhóm lợi ích vừa được xem là cần thiết, vừa bị coi là rắc rối.

Logic vận động hành lang

Logic vận động hành lang là rất rõ ràng. Những người muốn tác động tới các quyết định của chính phủ – các quyết định ảnh hưởng tới đời sống và phúc lợi của họ – nhanh chóng nhận thấy lợi ích của việc gắn kết với những người khác cùng chung suy nghĩ và đề nghị các bạn bè có thế lực và địa vị giúp một tay. Về phần mình, các chính phủ có lý do xác đáng để hoan nghênh hoạt động vận động hành lang – được định nghĩa là yêu cầu của các công dân và các nhóm về những chính sách và quyết định có lợi cho họ. Ngay cả quan chức của những chính phủ phi dân chủ rõ rệt cũng nhận thấy cuộc sống dễ dàng hơn nhiều nếu họ có được sự ủng hộ, hoặc ít nhất là sự ngầm ưng thuận, của người cai trị (hãy hỏi bất kỳ bậc phụ huynh nào). Họ không thể ước tính các chi phí và lợi ích của những hành động khác nhau nếu không có một số ý tưởng về cách thức mọi người phản ứng lại các sáng kiến của họ. Tất cả các chính phủ cũng cần thông tin, về khía cạnh chính trị cũng như kỹ thuật, mà người dân và các tổ chức bên ngoài chính phủ là những người cung cấp thích hợp nhất – với một mức giá nào đó. Các quan chức được bầu, trong nỗ lực duy trì vị trí của mình, cố gắng thỏa hiệp với những người nắm giữ các nguồn lực quý báu dành cho bầu cử – các lá phiếu, tiền bạc, việc tổ chức. Ở đâu và vào bất kỳ lúc nào, cũng có ít nhất một vài quan chức chính phủ sẵn sàng trao đổi các đặc lợi lấy những “món quà” cá nhân dưới mọi hình thức có thể nghĩ ra.

Nền chính trị hiện đại cũng nuôi dưỡng các nhà vận động hành lang chuyên nghiệp. Giống như việc thuê các luật sư đại diện trước tòa án, mọi người cũng thuê người đại diện cho mình trước các cơ quan lập pháp và hành pháp. Cũng giống với tòa án, các cơ quan lập pháp và hành pháp hiện đại là những thể chế phức tạp, được ràng buộc bởi hàng nghìn quy định, thủ tục và tập quán. Những người mong muốn các thể chế này hành động vì lợi ích của mình sẽ có nhiều khả năng thành công hơn nếu được đại diện bởi những người hiểu biết về cách thức vận hành của các thể chế này và có quan hệ cá nhân tốt đẹp với những nhân vật then chốt của thể chế.

Như vậy, vận động hành lang với ý nghĩa là một nghề nghiệp đã xuất hiện cùng với chính phủ đại diện hiện đại và phát triển nhanh chóng cùng với sự tăng trưởng về quy mô và tính phức tạp trong các hoạt động của chính phủ. Nhưng nếu các nhóm lợi ích và việc vận động hành lang xuất hiện một cách tự nhiên cùng với sự phát triển của các thể chế mang tính đại diện, thì sự nghi ngờ về tính hợp pháp của chúng cũng xuất hiện theo cách như vậy. Chính sự hiện diện của chúng, chưa nói tới những thành công về chính trị mà chúng có thể đạt được, đã làm tăng mối nghi ngờ rằng “những nhóm lợi ích đặc biệt” sẽ giành phần thắng với cái giá làm tổn hại “lợi ích công”. Ngay cả những người phủ nhận rằng lợi ích công có thể được xác định một cách khách quan – như rất nhiều nhà khoa học chính trị đã khẳng định – cũng thường lập luận rằng thành công trong vận động hành lang sẽ hủy hoại những nguyên tắc cơ bản của sự bình đẳng dân chủ và quy tắc đa số. Các nhóm rất khác nhau về sự giàu có và mức độ sẵn sàng trong hành động tập thể, tạo ra sự bất cân đối đáng kể trong việc đại diện cho các lợi ích xã hội. Hơn nữa, sự bế tắc trong chính sách và tê liệt về chính trị khi phải đối diện với những vấn đề khẩn cấp của quốc gia thường bị coi là do sự phối hợp kém của các nhóm lợi ích cạnh tranh với nhau. Vì những lý do này, các nhóm lợi ích chính trị có tổ chức luôn bị công kích và chỉ trích bất cứ khi nào chúng còn tồn tại.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Vụ James Comey và quan hệ Trump với Nga


Điều trần của James Comey – “Sóng thần” đang đổ vào nước Mỹ

Không chỉ có người dân Mỹ mà cả người dân Canada chờ đón buổi điều trần của ông James Comey – cựu Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) trước Ủy ban Tình báo Thượng viện nước này vào ngày 8/6 về các cuộc trao đổi của ông với Tổng thống Mỹ Donald Trump trong thời gian qua và khả năng Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016.

Sức nóng của cuộc điều trần được cho là sẽ vượt qua cả những lần cựu Giám đốc FBI John Dean trả lời về bê bối nghe lén Watergate nổi tiếng (năm 1973) hay Olivier North nói về vụ quan chức cấp cao Mỹ bí mật bán vũ khí cho Iran bất chấp lệnh cấm vận (Iran-Contra năm 1987). Dư luận Canada có những tranh cãi trái chiều về buổi điều trần này, nhưng đều thống nhất rằng nếu ông Comey đi đến tận cùng những câu hỏi mà công luận Mỹ đặt ra thì buổi điều trần có thể trở thành một “quả bom” hay “trận sóng thần” dội xuống chính trường Mỹ, làm lung lay, thậm chí phá tan sự nghiệp chính trị của Tổng thống Donald Trump.

Ngày 7 và 8/6 tại Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ diễn ra 2 cuộc điều trần quan trọng về cáo giác Nga can thiệp vào bầu cử Tổng thống Mỹ 2016 với sự tham gia của Giám đốc Tình báo Quốc gia (NDI) Dan Coats, Thứ trưởng Tư pháp Rod Rosenstein, Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) Mike Rogers, quyền Giám đốc FBI Andrew McCabe và cựu Giám đốc FBI James Comey.

Tại cuộc điều trần ngày 7/6, Dan Coats và Mike Rogers đều bác bỏ việc phải chịu sức ép từ cấp cao trong vụ điều tra, song không trả lời câu hỏi liệu Tổng thống Trump có yêu cầu can thiệp vào cuộc điều tra do FBI tiến hành hay không. Trước đó, tờ Washington Post dẫn một nguồn tin giấu tên cho biết vào tháng 3/2017, ông Trump đã đề nghị Dan Coats can thiệp vào cuộc điều tra của FBI về Nga do James Comey tiến hành. Tuy nhiên, sau khi thảo luận với cấp dưới, ông Coats đã từ chối thực hiện yêu cầu của Tổng thống vì cho rằng không phù hợp.

Trong khi đó, Ủy ban Tình báo Thượng viện cũng công bố dự thảo bài phát biểu của James Comey vào ngày 8/6. Nội dung đáng chú ý nhất của bài phát biểu là Comey cho biết Tổng thống Trump đã yêu cầu ông “xóa bỏ đám mây” của cuộc điều tra đang che phủ chính quyền Trump, điều Comey diễn giải là yêu cầu FBI chấm dứt điều tra cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mike Flynn. Ông Comey cũng cho biết Tổng thống Trump đã yêu cầu ông phải trung thành với mình.

Ngày 6/6, báo chí cho biết Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions đã đề nghị Tổng thống Trump cho phép từ chức trước khi ông Trump bắt đầu chuyến công du đầu tiên. Đề nghị này của ông Sessions đã bị Tổng thống Trump thẳng thừng bác bỏ. Các nguồn tin cho biết ông Trump không hài lòng với việc ông Sessions tuyên bố đứng ngoài cuộc điều tra về Nga. Ngày 6/6, Thư ký Báo chí Nhà Trắng Sean Spicer đã từ chối khẳng định về sự tin tưởng giữa Tổng thống Trump và ông Sessions.

Quan hệ giữa ông Donald Trump với Nga “lớn hơn vụ bê bối Watergate”

Đài BBC dẫn lời cựu Giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ James Clapper nhận định rằng vụ bê bối Watergate hồi thập niên 1970 không lớn bằng vụ điều tra Trump – Nga. Ông James Clapper nói: “Watergate trở nên mờ nhạt” trước những gì nước Mỹ đang phải đối mặt”.

Cơ quan tình báo Mỹ tin rằng Nga đã can thiệp vào kỳ bầu cử Mỹ và đang tiến hành điều tra về các mối liên hệ giữa chiến dịch vận động tranh cử của ông D. Trump và Moskva. Tuy nhiên, hiện không có bằng chứng nào được biết đến về sự thông đồng này, và Tổng thống D. Trump đã bác bỏ câu chuyện đó. Những người đứng đầu các cơ quan tình báo Hoa Kỳ sẽ bị Ủy ban tình báo của Quốc hội chất vấn về chuyện này. Các thượng nghị sỹ nói họ muốn hỏi Giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Dan Coats, Giám đốc Cơ quan An ninh quốc gia, Đô đốc Mike Rogers, Quyền Giám đốc Cơ quan điều tra liên bang Mỹ (FBI) Andrew McCabe và Thứ trưởng Nội vụ, Tướng Rod Rosenstein xem liệu có phải ông Trump đang tìm cách làm lạc hướng cuộc điều tra bằng cách sa thải Giám đốc FBI James Comey hay không.

Lời tuyên thệ được đưa ra 1 ngày sau khi tờ Washington Post  đưa tin ông Coats nói với các cộng sự rằng ông Trump đã tìm cách thuyết phục FBI ngừng cuộc điều tra về cựu Cố vấn An ninh Quốc gia của ông Trump là Micheal Flynn, cùng các mối quan hệ của ông này với Điện Kremlin. Thế nhưng, ông Coats thông qua phát ngôn viên nói rằng ông chưa bao giờ cảm thấy bị áp lực từ phía ông Trump trong việc phải ngừng điều tra, và nói ông sẽ không tiết lộ các nội dung thảo luận giữa ông với Tổng thống.

Ông Comey được cho là đã nói với Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions rằng ông không muốn bị để trong tình huống có mặt một mình cạnh tổng thống. Sự so sánh của ông Clapper về vụ điều tra Trump – Nga với vụ Watergate sẽ khiến nhiều người ngạc nhiên – Tổng thống Richard Nixon đã từ chức do bê bối chính trị chưa từng có tại Hoa Kỳ, liên quan tới việc do thám, đánh cắp và che đậy thông tin.

Cựu Giám đốc cơ quan tình báo phát biểu tại Australia và nói việc tìm hiểu cho tới tận gốc rễ các cáo buộc trên là điều “thực sự cấp bách” cho Hoa Kỳ và cho thế giới.

Tổng thống D. Trump yêu cầu đẩy mạnh nỗ lực xây dựng lại quan hệ Mỹ – Nga

Theo đài VOA, chỉ còn 1 ngày trước khi diễn ra cuộc điều trần của Giám đốc FBI bị sa thải James Comey trước Quốc hội được dư luận quan tâm, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Rex Tillerson cho biết Tổng thống D. Trump yêu cầu ông phải đẩy mạnh nỗ lực xây dựng lại quan hệ của Mỹ với Nga và không để bị cản trở bởi những xáo trộn từ cuộc điều tra Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ.

Những câu hỏi về cuộc điều tra khả năng có sự thông đồng của ban vận động tranh cử của ông Trump với Nga để can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 đeo bám Ngoại trưởng Tillerson cho đến tận New Zealand.

Ông Tillerson nói Tổng thống chỉ thị cho ông phải tiếp tục tập trung vào việc xây dựng lại sự tin tưởng với Moskva, mà ông mô tả là đang ở một điểm thấp: “Tổng thống nói rõ với tôi rằng đừng để các diễn biến chính trị ở đây cản trở công việc tôi cần phải làm cho mối quan hệ này, và Tổng thống chỉ thị rõ ràng với tôi rằng tôi phải xúc iến với bất cứ nhịp độ nào và trong các lĩnh vực mà tôi cảm thấy cần phải thực hiện”.

Tại Washington, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Heather Nauert nói rằng cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo là một lĩnh vực mà Mỹ và Nga có thể hợp tác: “Chúng tôi sẽ xác định các lĩnh vực cả hai bên cùng quan tâm để có thể cùng làm việc với nhau. Nhưng điều quan trọng cần phải hiểu rằng trong những lĩnh vực mà chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với Nga, chúng tôi sẽ tiếp tục đứng lên bảo vệ lợi ích và các giá trị của chúng tôi cũng như các giá trị của các đối tác của chúng tôi”.

Nhưng các cuộc điều tra có nhiều khả năng sẽ gây ra xáo trộn lớn, có thể khiến Ngoại trưởng Tillerson khó tìm được cách thức làm việc với Nga. Ông Steven Pifer, chuyên gia của Viện Nghiên cứu Brookings, nhận định: “Tôi nghĩ ông Tillerson sẽ tìm cách thực hiện, nhưng về mặt chính trị thì điều đó không thực tế. Và trong một chừng mực nào đó, chính quyền vẫn đang bị một đám mây mù về những mối quan hệ đáng nghi ngờ với Nga bao phủ. Do đó, tôi muốn chỉ ra rằng cách làm này là một đòn tự giáng để tung hỏa mù, bởi vì bản thân Tổng thống và Nhà Trắng thật chẳng may đã xử lý các vấn đề này theo cách khiến cho dư luận nghi ngờ rằng họ đang cố giấu giếm một cái gì đó”.

Ông Pifer nhận định rằng bất cứ một sự cải thiện nào trong quan hệ Mỹ – Nga cũng đòi hỏ phải có một sự thay đổi lớn trong chính sách của Moskva về Ukraine.

Nguồn: TKNB – 09/06/2017

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần cuối


4/ Làm cho tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc trở nên phức tạp hơn

Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc đã được cải thiện toàn diện, “môi trường an ninh xung quanh về tổng thể ổn định, láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi là xu hướng chính trong quan hệ của các nước xung quanh đối với Trung Quốc”. Tuy nhiên, bên cạnh việc duy trì cục diện ổn định tổng thể, môi trường an ninh xung quanh Trung Quốc vẫn tồn tại rất nhiều nhân tố không ổn định và thách thức an ninh, đặc biệt là từ khi quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đến nay, Mỹ trở thành nhân tố bên ngoài chủ yếu nhất ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh của Trung Quốc. Những năm gần đây, Mỹ đẩy nhanh tiến độ bố trí ở khu vực xung quanh Trung Quốc, như tăng cường sự hiện diện quân sự và thâm nhập quân sự ở khu vực xung quanh Trung Quốc, tăng cường quan hệ với các đồng minh ở châu Á, lôi kéo các nước không phải là đồng minh làm cho các nước này trở thành lực lượng kiềm chế Trung Quốc, để xây dựng vòng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc. Đông Nam Á và xung quanh Nam Hải là trọng điểm trong chiến lược châu Á của Mỹ, phát triển quan hệ, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng với Việt Nam, cũng như tranh thủ giành lấy căn cứ quân sự ở Việt Nam là bước đột phá quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Việc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí đối với Việt Nam không phải là “không liên quan đến Trung Quốc” như Tổng thống Mỹ Obama từng nói, không những có ý đồ đối đầu với năng lực quân sự của Trung Quốc, mà còn nâng cao trình độ vũ khí và năng lực tác chiến quân sự, làm cho Việt Nam ngày càng cứng rắn hơn với Trung Quốc trong tranh chấp Nam Hải. Ngoài ra, một khi quân đội Mỹ tiến vào vịnh Cam Ranh, khả năng can thiệp quân sự của Mỹ sẽ được nâng cao rõ rệt, phòng tuyến bao vây của Mỹ đối với hướng Nam của Trung Quốc cũng vững chắc hơn, an ninh quốc gia của Trung Quốc sẽ đối diện với mối đe dọa hiện thực gay gắt hơn.

IV/ Kết luận

Sự phát triển của quan hệ Việt – Mỹ là hiện tượng đáng để quan tâm trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Dưới sự thúc đẩy của các nhân tố như Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương, “tái cân bằng châu Á – Thái Bình dương”, đọ sức địa chiến lược Trung – Mỹ và tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam…, hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt còn có thể phát triển hơn nữa. Tuy Tổng thống Mỹ Donald Trump ký sắc lệnh hành chính Mỹ chính thức rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), đây là điều có lợi cho Trung Quốc về kinh tế, nhưng trong thời gian tranh cử Donald Trump đã gắn mác quân sự hóa cho các hoạt động của Trung Quốc ở Nam Hải, đồng thời phê phán các hành vi không chính đáng của Chính phủ Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ của mình, Donald Trump có thể áp dụng nhiều hành động hơn nữa trong vấn đề Nam Hải, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt, tạo thành thách thức về địa chính trị và an ninh quân sự đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển của quan hệ Mỹ – Việt cũng chịu sự hạn chế của nhiều nhân tố, trong tình hình hiện nay Mỹ và Việt Nam khó có thể xây dựng liên minh quân sự.

Một là do chế độ chính trị của hai nước khác nhau và sự đối lập về ý thức hệ, chắc chắn sẽ làm cho hợp tác an ninh và quốc phòng giữa hai nước không thuận lợi. Từ lâu nay, Mỹ chưa từng từ bỏ việc lợi dụng vấn đề “dân chủ” và “nhân quyền” để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, còn thường thông qua thương mại vũ khí để can thiệp công việc nội bộ Việt Nam. Từ trước đến nay Chính phủ Việt Nam luôn duy trì cảnh giác cao độ đối với “sự thâm nhập” và “lật đổ” của Mỹ, cộng thêm sự tổn thương do chiến tranh gây ra cho Việt Nam khó có thể xóa bỏ, vì vậy không khó để hiểu được “bất kỳ hành động cụ thể nào nhằm nâng cao quan hệ an ninh Mỹ – Việt đều sẽ làm gay gắt hơn quan hệ căng thẳng giữa nhóm thân phương Tây và nhóm thân Trung Quốc trong tầng lớp cấp cao trong Bộ Chính trị Việt Nam”. Hai là cho dù giữa Trung Quốc và Việt Nam tồn tại bất đồng, nhưng với tư cách là nước láng giềng của nhau, không gian hợp tác rộng rãi, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện đã trở thành nhận thức chung của hai bên.

Ba là chiến lược “cân bằng nước lớn” của Việt Nam đã quyết định tính hạn chế của hợp tác Việt – Mỹ. Trong tình hình thực lực có hạn, Việt Nam áp dụng chiến lược cân bằng nước lớn – dựa vào một nước lớn để cân bằng một nước lớn khác, đồng thời tránh xích lại quá gần với một nước lớn nào đó  mà kích thích một nước lớn khác. Một mặt Việt Nam phát triển quan hệ kinh tế, ngoại giao và quân sự với Mỹ, dựa vào sức mạnh của Mỹ để kiềm chế hành động của Trung Quốc ở Nam Hải; mặt khác lại thúc đẩy mối liên hệ kinh tế và quan hệ chính trị với Trung Quốc đi vào chiều sâu, tìm sự trợ giúp để chống lại “diễn biến hòa bình”, đồng thời thừa nhận “xảy ra đối đầu quân sự với Trung Quốc sẽ là tai họa đối với Việt Nam”.

Tuy nhiên, cho dù hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt đi đến mức độ nào, đều sẽ nảy sinh ảnh hưởng đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ phải quan tâm và coi trọng nhiều hơn để tích cực đối phó. Một là thúc đẩy sự phát triển của quan hệ Trung – việt. Tình hữu nghị của Trung Quốc và Việt Nam không những có truyền thống lịch sử, mà còn có tính tất yếu của hiện thực. Trung Quốc và Việt Nam phải thông qua phương thức hiệp thương và đàm phán song phương để giải quyết bất đồng và tăng cường hợp tác trong vấn đề Nam Hải, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt. Hai là tăng cường quan hệ Trung Quốc – ASEAN, sự phát triển của quan hệ Trung Quốc – ASEAN có lợi cho việc thúc đẩy quan hệ Trung – Việt và ngoại giao của ASEAN đối với Trung Quốc khi đối diện với ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như Mỹ… Vì vậy, bên cạnh việc tích cực thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại với ASEAN, phải tích cực thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau về chính trị và hợp tác an ninh với tổ chức này, làm cho quan hệ láng giềng hữu nghị tin cậy lẫn nhau Trung Quốc – ASEAN được phát triển toàn diện, xây dựng cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN. Ba là nỗ lực xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ; tuy Trung Quốc và Mỹ tồn tại bất đồng trong không ít vấn đề, nhưng lợi ích chung mà hai nước có luôn là quan trọng nhất. Hai bên phải tăng cường hợp tác song phương, khu vực và quốc tế, tăng cường đối thoại và trao đổi, để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, tôn trọng lới ích cốt lõi và sự quan tâm của nhau, quản lý tốt mâu thuẫn và bất đồng, làm cho quan hệ Trung – Mỹ tiếp tục phát triển lành mạnh và ổn định, thực hiện hợp tác cùng thắng. Bốn là tăng cường hợp tác chiến lược Trung – Nga, nhất là hợp tác an ninh và quốc phòng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, làm giảm sức ép quân sự do Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đối với Trung Quốc. Năm là phải tăng cường xây dựng quốc phòng và quân đội, hoàn thiện chiến lược an ninh xung quanh, nâng cao năng lực đối phó với khủng hoảng an ninh xung quanh.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017