Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần XI


Trò chơi số lượng

Nhân cách và kỹ năng là hết sức quan trọng để giải thích tại sao một số chính trị gia (và phóng viên) thành công hơn những người khác trong việc vun đắp mối quan hệ với phía bên kia. Đồng thời, những tình huống đòi hỏi các tác nhân này phải gắn kết với nhau dường như cũng là nhân tố quyết định khả năng tìm ra một giải pháp mang tính hợp tác cho tình huống tiến thoái lưỡng nan của họ. Với ý nghĩa rất thực tế, cả các chính trị gia và các phóng viên đều nhận thấy họ đang ở trong một trò chơi số lượng trên hai mặt trận. Lúc đầu, các phóng viên cạnh tranh với đồng nghiệp để đưa tin tức ra trước công chúng, và tiếp đó họ hớt tay trên của đồng nghiệp và tránh bị hớt tay trên. Có lẽ càng có nhiều phóng viên và chính trị gia thì cuộc cạnh tranh càng căng thẳng. Và tất nhiên, sự thành công của mỗi bên phụ thuộc vào việc nó có thể tương tác tốt ở mức nào với phía bên kia. Ở đây cũng vậy, số lượng là vấn đề quan trọng. Ở nơi có tương đối ít nguồn tin đảm nhận việc cung cấp số lượng lớn sản phẩm đầu ra cho tin tức, những nguồn này có được lợi thế trong việc xác định thông tin nào sẽ được đưa ra và nó được chuyển tải đến khán giả như thế nào.

Một trường hợp của trò chơi số lượng xuất hiện trong các chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, khi đông đảo phóng viên phụ thuộc hoàn toàn vào các ứng cử viên và nhân viên của họ để thu lượm tin tức. Các phóng viên không phải chỉ được cung cấp những thông tin báo chí nhạt nhẽo đầy tinh thần tự chúc mừng của ứng cử viên, mà họ cũng có thể tìm ra những cách thức tiếp cận chiến dịch riêng để có được các cuộc phỏng vấn và những thông tin thú vị hơn nhiều, tùy thuộc vào việc họ đối xử với các ứng cử viên như thế nào trong các bản tin trước đó của mình. “Các chàng trai trên xe buýt” có thái độ hợp tác sẽ được thưởng công bằng quyền tiếp cận và những “bản sao” tốt. Những người mô tả các ứng cử viên và chiến dịch vận động theo khía cạnh bất lợi sẽ nhanh chóng nhận thấy bị “từ chối tiếp cận” và thậm chí có thể bị thay thế ở khu vực săn tìm khi tổ chức của họ tìm cách xây dựng lại đầu mối cho những bản tin.

Tuy nhiên, sự bất cân đối này đôi khi bị đảo ngược, khi có quá nhiều chính trị gia chạy theo một số lượng quá ít các tổ chức đưa tin. Các chính trị gia bị đặt trong tình thế đối nghịch này cũng sẽ cảm thấy không vui vẻ giống như những phóng viên bị nhét vào hàng cuối của chiếc xe buýt dành cho chiến dịch vận động, hoặc giống như phóng viên thường trú của đài CBS không may bị lạc trong sa mạc trong khi tìm kiếm tin tức về cuộc chiến. Trong thời kỳ hoàng kim của các tập đoàn báo chí, trước khi truyền thanh và truyền hình ra đời, các chính trị gia thường phải hạ mình trước các ông chủ đầy quyền uy của ngành công nghiệp báo chí. Trong cuộc cạnh tranh đôi khi điên cuồng để giành độc giả và các nhà quảng cáo, những dây chuyền báo chí toàn quốc này đã chuyển từ tin tức giật gân này sang tin tức giật gân khác, lôi kéo các chính trị gia theo họ. Khi tờ New York World của Joseph Pullitzer và các đối thủ cạnh tranh của nó bị thu hút bởi những sự kiện diễn ra tại Cuba năm 1898 – những sự kiện đã dẫn tới Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha – các nhà lãnh đạo Washington bắt buộc phải có phản ứng. Khoảng 25 năm sau đó, khi Quốc hội tiến hành soạn thảo quy chế điều tiết đói với việc cấp phép hoạt động cho các đài truyền thanh, các thành viên Quốc hội lo ngại trước nguy cơ độc quyền kiểm soát tin tức đã viết nên những quy định hết sức chặt chẽ, nhằm ngăn chặn nỗ lực mở rộng quyền kiểm soát của báo chí đối với loại hình phương tiện truyền thông tin tức mới xuất hiện này.

Mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới từ đó tới nay

Các phóng viên báo chí kỳ cựu đôi khi vẫn luyến tiếc nhớ lại “những ngày xưa tươi đẹp”, khi phóng viên báo in chi phối tin tức và hợp tác chặt chẽ với chính trị gia trên cơ sở sự tin tưởng lẫn nhau và lợi ích cho cả hai bên. “Những ngày xưa tươi đẹp” đó có lẽ không bao giờ quá tươi đẹp như nhận thức sau này, nhưng một nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trong những năm 1930 và 1940 đã cho thấy một mối quan hệ thoải mái và hài lòng cho cả hai bên hơn rất nhiều so với hiện nay. Đó là kỷ nguyên trong đó tin tức về nền chính trị quốc gia bị chi phối bởi một nhóm nhỏ phóng viên thường trú tại Washington, những người đã phối hợp với nhau trong công việc để giảm bớt sự cạnh tranh khốc liệt. Các phóng viên này đã vun đáp những mối quan hệ gần gũi, thường là thân thiết, với một số ít chính trị gia đang tích cực tìm cách ảnh hưởng tới tin tức.

Khi đó cũng như hiện nay, tổng thống luôn là tâm điểm chú ý của giới truyền thông. Trong những năm ở Nhà trắng, Franklin Roosevelt (1933 – 1945) đã thực hiện 998 cuộc họp báo (hai tuần một lần) với một nhóm các phóng viên thường xuyên có mặt tại Washington. Tổng thống đã sử dụng “những buổi tụ họp trong gia đình” này, như cách ông thường gọi, để đưa ra những thông báo quan trọng. Các phóng viên thích những buổi họp báo bởi chúng tạo ra một sân chơi bình đẳng và hạn chế sự cạnh tranh trong việc thu lượm tin tức. Có một lần, khi Roosevelt phá vỡ những kỳ vọng của họ và dành cuộc phỏng vấn cho một chủ bút lâu năm của tờ New York Times, một trong những đại diện của nhóm phóng viên này đã phê phán ông trong buổi họp báo sau đó. “Đầu tôi thật lú lẫn”, tổng thống thốt lên một cách bỡn cợt, nhưng ông hứng sẽ không bao giờ làm như vậy nữa và đã giữ lời trong suốt tám năm sau đó.

Các phóng viên tới Văn phòng bầu dục với hy vọng thu được những tin tức cứng giúp bảo đảm họ sẽ có chỗ trên trang nhất của tờ báo ngày hôm sau. “[Roosevelt] chưa bao giờ để họ ra về tay không”, một phóng viên kỳ cựu nhớ lại và nói thêm rằng tất cả các phóng viên “đều hết lòng đối với một người có thể mang lại cho họ những tiếng cười và một vài tin tức để đưa lên trang nhất trong một chuyến viếng thăm 20 phút”. Để đáp lại, họ đã dành cho ông và Chính sách mới của ông rất nhiều tin tức và nhìn chung là theo hướng tích cực. Như vậy, cả hai bên đều có được những gì họ cần từ mối quan hệ lâu bền này. Có hai yếu tố then chốt giúp họ thành công trong việc tìm ra một giải pháp cho tình thế nan giải của tù nhân và hợp tác hiệu quả với nhau, đó là tính ổn định của cộng đồng và quy mô nhỏ. Tổng thống đóng vai trò là người cung cấp thông itn có thẩm quyền và có sẵn hàng ngày, và ông biết tên gọi thân mật của tất cả các phóng viên tại Nhà trắng. Mối quan hệ công việc vững chắc này cho phép nhóm phóng viên tại đây cùng nhau phát triển quan hệ qua lại tốt đẹp với tổng thống.

Một số sinh viên báo chí cho rằng quan hệ hạn hẹp giữa chính trị gia và báo giới trong thời hiện đại là do mối nghi ngờ phổ biến trong giới phóng viên rằng các tổng thống sẽ nói dối bất cứ khi nào điều đó có lợi cho họ và họ nghĩ họ có thể thành công với việc đó. Các phóng viên kỳ cựu đã dẫn ra hai sự kiện cụ thể – Việt Nam và Watergate – như những ví dụ điển hình cho việc tạo ra khoảng cách lòng tin rộng khắp và kéo dài. Những lời cáo buộc về sự thao túng của tổng thống xuất hiện hàng ngày trong suốt cuộc chiến tranh ở Việt Nam – cuộc chiến diễn ra chủ yếu trong thời kỳ cầm quyền của Lyndon Johnson. Trước khi khoảng cách lòng tin có cơ hội biến mất, vụ bê bối Watergate bùng nổ, và cuối cùng, thông qua những nỗ lực bền bỉ của các phóng viên, Tổng thống Nixon buộc phải từ chức năm 1974. Cả hai sự kiện đều cho thấy các tổng thống đã che giấu thông tin trước giới truyền thông. Năm 1977, Jimmy Carter vào Nhà trắng và tuyên thệ công khai: “Tôi sẽ không bao giờ nói dối các bạn”, và điều này dường như chỉ làm tăng gấp đôi nỗ lực của các phóng viên nhằm bắt quả tang ông đang nói dối. Mặc dù những sự kiện này chắc chắn góp phần tạo ra khoảng cách lòng tin hiện nay của các chính trị gia đối với báo giới, song khoảng cách lòng tin thuộc loại này gắn với sự căng thẳng giữa những tin tức mà chính trị gia ưa thích. Khi những điều kiện chín muồi, sự nghi ngờ lẫn nhau sẽ bùng nổ.

Nếu mối quan hệ thân thiện của kỷ nguyên trước phản ánh bối cảnh của nó, thì quan hệ thường là gay gắt đặc trưng cho các giao dịch hiện đại giữa những tác nhân này cũng vậy; những lời cáo buộc về việc nói dối, thủ đoạn và thiên kiến nhiều khi trở thành chủ đề các cuộc họp báo của tổng thống. Thương trường tự do ngày nay của các chính trị gia và phóng viên là rất khác so với bối cảnh phối hợp hành động chung đã từng chi phối quan hệ giữa chính trị gia – báo giới trước đây. Washington hiện nay có rất nhiều chính trị gia tham gia các cuộc đàm thoại chính trị nhằm thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Theo một ước tính, chỉ riêng ở Washington mỗi ngày đã có khoảng hơn 10.000 quan chức chính phủ dính líu tới báo giới và các mối quan hệ công chúng, theo cách này hay cách khác. Đồng thời, số lượng các tổ chức nghề nghiệp và các nhóm lợi ích khác tìm cách ảnh hưởng tới công luận còn vượt xa con số này. Đối với rất nhiều nguồn cung cấp thông tin tiềm năng, rào cản lớn nhất tới thành công chính là khối lượng lớn các tin tức đang cạnh tranh nhau để được đưa lên phương tiện truyền thông mỗi ngày.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Advertisements

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần X


Lựa chọn tin tức. Để đáp ứng năng lực chuyển tải khác nhau của mình, các phương tiện truyền thông phải tính toán thận trọng việc phân bổ thời gian và không gian cho các bản tin. Mỗi phương tiện truyền thông có những tiêu chí khác nhau để quyết định tin tức nào được đưa trên mặt báo và các chương trình của mình. Không giống với các chính trị gia khác, tổng thống luôn được đưa lên trang nhất và trong nhữgn bản tin nổi bật trên trang nhất. Xếp sau tổng thống rất xa là Thượng viện và các thành viên Thượng viện, đối tượng được ưu tiên hơn so với các đồng sự của họ tại Hạ viện. Theo một số nhà quan sát báo chí, một điểm khác cần cân nhắc là số lượng người, điều có thể giải thích tại sao Thượng viện được đánh giá cao hơn Hạ viện. Phần còn lại của Washington thường được giao cho các hãng tin điện tử (Associated Press, Reuteurs, UPI) mà tờ báo đăng ký mua tin; những bản tin này có thể được đăng hoặc không được đăng trên trang ruột của báo chí toàn quốc.

Tiêu chí thứ hai để đăng một bản tin là mức độ tranh cãi của nó: xung đột và bất đồng được chú ý hơn sự đồng thuận. Khi các phóng viên cố gắng bán tin tức của mình cho chủ báo và các tổ chức truyền tin cạnh tranh với nhau, phương tiện truyền thông thường tạo ra sự tranh cãi ở những nơi không có tranh cãi. Đầu năm 1995, Chủ tịch Hạ viện New Gingrich đã lớn tiếng chỉ trích báo giới vì việc đội quân này từ chối đưa tin về cuộc gặp gỡ mang tinh thần lưỡng đảng với Tổng thống Clinton ở khía cạnh tích cực. Sau khi ông tuyên bố rằng Quốc hội mới đắc cử do Đảng Cộng hòa chi phối đang hướng tới sự hợp tác mang tính xây dựng với tổng thống thuộc đảng Dân chủ, một phóng viên đã hỏi ông “Ngài nghĩ rằng nó [sự hợp tác giữa hai đảng] sẽ đổ vỡ vì điều gì?” Gingrich đáp lại: “Anh vừa nghe những lãnh tụ Đảng Cộng hòa nói rằng tổng thống thuộc Đảng Dân chủ hôm nay đã có một cuộc gặp gỡ rất tuyệt vời nhân danh nước Mỹ; chúng tôi đang cố gắng hợp tác cùng nhau. Anh không thể thử, trong 24 tiếng đồng hồ, có một thông điệp tích cực, lạc quan như thể điều đó sẽ thành hiện thực hay sao?”

Một tiêu chí thứ ba có liên quan chặt chẽ tới tiêu chí thứ hai, chính là tính tiêu cực – các tin xấu bao giờ cũng được ưa thích hơn các tin tức tốt lành. Những đợt suy thoái kinh tế được đưa tin nhiều hơn sự thịnh vượng. Tương tự, các phương tiện truyền thông thường nhận thấy nhiều điều để chỉ trích hơn là ca ngợi trong hoạt động củac các chính trị gia. Các tổng thống bị chê trách nhiều nhất, mặc dù Quốc hội cũng không được đánh giá cao hơn là mấy. Năm 1993, khi được hỏi đích danh trong một cuộc họp báo rằng ông nghĩ tại sao uy tín của ông lại bị giảm sút 15 điểm phần trăm chỉ trong vòng hai tháng, Tổng thống Clinton đã ngay lập tức đáp trả: “Tôi đánh cuộc rằng không tới 5% người dân Mỹ biết rằng chúng ta đã thông qua một ngân sách… và nó đã được thông qua với tốc độ nhanh nhất so với bất kỳ ngân sách nào trong vòng 17 năm qua. Tôi đánh cuộc rằng chưa đến một trong số 20 cử tri Mỹ biết điều đó bởi vì… thành công và việc không có bất đồng không đáng chú ý như sự thất bại”. Bằng chứng có tính hệ thống về vấn đề này cho thấy rằng những lời phàn nàn của các tổng thống không quá sai so với thực tế. Một nghiên cứu chấm điểm từng bản tin trên chương trình tin tức buổi tối của kênh truyền hình quốc gia về các tổng thống George H.W. Bush và Clinton trong suốt ba năm đầu nhiệm kỳ đã cho thấy rằng cả hai vị đứng đầu nhà nước này phần lớn bị đưa tin theo hướng tiêu cực. Trong 24 quý, chỉ có bốn quý trong đó bình quân họ được đưa tin trên mạng tin tức quốc gia theo hướng tích cực ngang bằng với hướng tiêu cực.

Trong chừng mực các phóng viên và chủ báo của họ chủ động lọc và diễn giải các thông điệp theo hướng ưu tiên cho sự xung đột hơn là đồng thuận và tin xấu hơn là tin tốt, phương tiện truyền thông không còn đóng vai trò là ống dẫn tuyệt đối trung lập cho dòng chảy thông tin về xã hội dân sự cho khán giả mà nó hướng tới nữa. Một số người chỉ trích giới truyền thông cáo buộc rằng khi lựa chọn các thông điệp truyền tải đi và trình bày nội dung tin tức, các tổ chức truyền tin đã đưa vào đó thiên kiến nguy hại. Những lời buộc tội này nhiều hơn so với bằng chứng thực tế. Tuy nhiên, qua nghiên cứu khảo sát cho thấy những người trả lời thường nói rằng họ phát hiện ra sự thiên lệch của truyền thông. Trên thực tế, những người ủng hộ ở hai phe đối lập của rất nhiều vấn đề tin rằng quan điểm của họ đã không được đăng tải một cách công bằng. Trong những năm gần đây, các tổ chức “theo dõi truyền thông” ra đời rất nhiều để theo dõi gắt gao sự thiên vị của báo giới bất lợi cho quan điểm cụ thể của họ. Họ nhanh chóng lên tiếng báo động, và bằng việc này đã gây áp lực với các tổ chức truyền tin để đưa tin cho phe của họ một cách “cân bằng” hơn (có nghĩa là ủng hộ hơn). Họ thực hiện những hoạt động tốn kém này bởi họ tin rằng tin tức ảnh hưởng tới các cử tri và cuối cùng là tới chính sách quốc gia.

Chắc chắn là việc có quá nhiều thông điệp được gửi tới các phương tiện truyền thông mỗi ngày mang lại cho chúng cơ hội lớn hơn để ủng hộ một số loại tin tức và quan điểm khác. Nhưng thiên hướng này không nhất thiết cho phép các phóng viên đưa những quan điểm chính trị củ mình vào các bản tin hoặc sử dụng tin tức để phục vụ cho lợi ích tài chính của các tập đoàn bảo trợ. Khác với thời kỳ báo giới là công cụ của đảng phái trước đây, báo in và báo hình hiện đại dựa vào độc giả và khán giả để duy trì sinh kế. Bên cạnh việc được trả tiền trực tiếp cho tin tức – ví dụ như tiền trả cho việc đặt mua báo và thuê bao Internet – tất cả phương tiện truyền thông đều thu được tiền từ quảng cáo, và khoản phí họ đòi cho quảng cáo có liên quan trực tiếp tới lượng độc giả. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt ngày nay, những doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận này sẽ khó có thể thu hút được độc giả theo dõi những sản phẩm (tin tức) đã bị nhiễm thiên kiến của mình. Thực tế, chính thị trường là người thực thi kỷ luật để kiểm soát mọi khuynh hướng của các chủ sở hữu, chủ báo hoặc phóng viên nhằm lợi dụng sự kiểm soát của họ đối với tin tức làm phương tiện thao túng công luận.

Mối quan hệ chiến lược giữa chính trị gia và phóng viên

Xét trên nhiều khía cạnh, những mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên không thay đổi nhiều lắm kể từ thời kỳ đầu của nền Cộng hòa, khi một nữ phóng viên chộp được Tổng thống John Quincy Adams đang bơi không quần áo giữa dòng Potomac và dọa sẽ hét lên nếu ông lên khỏi mặt nước trước khi cho phép cô ta phỏng vấn về chính sách của mình đối với các ngân hàng nhà nước. (Adams đang trốn trong Nhà trắng, hy vọng tránh phải tuyên bố trước công chúng về vấn đề này). Cảnh tượng khôi hài này giúp nhắc nhở chúng ta về sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên. Nếu họ có thể, mỗi bên sẽ lợi dụng bên kia bởi mỗi bên đều có một số thứ mà bên kia cần (và không muốn đưa ra). Chính trị gia cần tiếp cận cử tri theo cách thức tạo ra sự ủng hộ, và phóng viên cần thông tin để tạo ra một câu chuyện hay. Ở một ý nghĩa nào đó, cả hai điều này đều đòi hỏi cái giá khá đắt. Không phóng viên nào muốn tỏ ra là một người ủng hộ công khai cho một chính trị gia nào đó. Và thông tin được chuyển tải phục vụ tốt nhất cho mục đích của chính trị gia hầu như không bao giờ đồng nhất với những gì phóng viên mong muốn. Tổng thống Adams rõ ràng đã không nghĩ ra câu chuyện nào có thể phù hợp nhất với các mục đích của ông, nhưng nữ phóng viên dũng cảm này đã chộp được ông vào thời điểm hết sức sơ ý.

Do sự phụ thuộc lẫn nhau chứa đầy nghi kỵ là yếu tố chi phối các mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên, những tác nhân này nhận thấy họ bị mắc kẹt trong tình thế tiến thoái lưỡng nan kinh điển của tù nhân. Như chúg ta đã nhận thấy, tình thế khó khăn này – vốn hết sức cơ bản trong mọi mối quan hệ chính trị – đã được giải quyết bằng việc tạo ra những thể chế và quy trình để cưỡng chế các cam kết và nuôi dưỡng lòng tin. Nhưng không hành động xây dựng thể chế nào thuộc loại này có thể giải quyết triệt để sự căng thẳng giữa chính trị gia và phóng viên. Kết quả là cả hai phe đều hết sức cảnh giác trước khả năng bị thao túng bởi bên kia. Với vai trò là những khán giả không hài lòng trước các cuộc cãi cọ nội bộ diễn ra thường xuyên giữa hai nhóm, công chúng đã đưa cả chính trị gia lẫn phóng viên xuống các thứ hạng thấp hơn về uy tín nghề nghiệp. Tuy nhiên, trở ngại cho sự hợp tác này chính xác là điều mà các nhà Sáng lập cân nhắc trong đầu khi họ đặt sự bảo vệ báo giới ngay sau quyền tự do ngôn luận trong Tu chính án thứ nhất. Bất kỳ ai nghi ngờ về sự tập trung quyền lực của chính phủ đều sẽ tán thành sự thận trọng mà các bên sử dụng trong giao dịch với bên kia.

Sự căng thẳng cố hữu trong mối quan hệ giữa hai phe không nhất thiết buộc mọi chính trị gia và phóng viên phải tham gia trò chơi lợi dụng lẫn nhau của Machiavelli. Một số người đã tìm ra những cách thức để hạn chế tối thiểu rủi ro và từ đó tối đa hóa lợi ích từ việc hợp tác. Rõ ràng là đối với mọi chính trị gia, “điều khiển báo giới” là một kỹ năng quý báu. Chẳng hạn như John Kennedy – khi còn là thượng nghị sĩ, ông có nhiều bạn bè là phóng viên hơn bất kỳ đồng nghiệp nào trong Thượng viện, và ông đã hướng báo giới theo hướng có lợi cho mình trong chiến dịch vận động tranh cử năm 1960. Ngược lại, Richard Nixon, đối thủ của ông năm đó, đã đi từ sự đối đầu này tới sự đối đầu khác với báo giới. Nixon đã nhận được sự thù ghét của rất nhiều phóng viên trên suốt con đường vận động tranh cử năm 1960, và sau thất bại thứ hai tại cuộc chạy đua vào vị trí thống đốc bang California năm 1962, ông đã trút bỏ cơn giận bị dồn nén của mình với báo giới theo cách mà chưa chính trị gia nào trước đó từng làm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần IX


Sự đối địch bên trong và giữa các binh chủng của quân đội chẳng bao lâu đã khuyến khích các chính trị gia mặc áo lính cố gắng tận dụng lợi thế của việc cho phóng viên đi kèm theo những cách thức nằm ngoài dự đoán của Lầu Năm góc. Một số viên tướng có các cuộc phỏng vấn trực tiếp trước camera và không ngần ngại sử dụng cơ hội được xuất hiện trên truyền hình toàn quốc để chối bỏ trách nhiệm về những thất bại, đá bóng sang sân của bộ trưởng quốc phòng. Hơn nữa, các binh chủng khác nhau đã rất nhanh chóng nhận thức được rằng việc đưa tin có lợi từ các phóng viên đi kèm có thể tăng thêm sức mạnh cho các yêu cầu tăng thêm ngân sách của Lầu Năm góc dành cho họ. Việc tranh giành các phóng viên và cơ hội xuất hiện trên truyền hình trở nên rất nghiêm trọng. Theo hầu hết các ý kiến, trong những đầu đổ bộ vào Iraq, lục quân là người giành được thắng lợi lớn, xét cả về số lượng phóng viên đi kèm và những bài viết có lợi cho nó được gửi về các phòng tin tức. Hải quân cũng thu hút được gần 150 phóng viên đi kèm, một con số không nhỏ so với tổng số. Song, trước sự thất vọng to lớn của các đô đốc hải quân, Lầu Năm góc đã ỉm đi tin tức về việc các tàu chiến đã tiến hành tân công bằng tên lửa. Một thứ trưởng Bộ quốc phòng đã cố gắng xoa dịu cảm giác bực tức này: “Sự đóng góp của mỗi binh chủng đều sẽ được biết rất rõ. Giờ đây, chúng ta là một đội hình các binh chủng hiệp đồng”.

Trong kỷ nguyên hiện nay của điện thoại di động chụp hình, thư điện tử và tin tức trên mạng, ngay cả quân đội cũng hiểu rằng mình không thể kiểm soát hoàn toàn thông tin được đưa từ vùng chiến sự. Khi cuộc chiến chuyển từ chiến tranh chớp nhoáng sang các trận giao tranh trên đường phố và số thương vong tăng cao, những bản tin hết sức thuận lợi từ chiến trường đã nhường chỗ cho các tin tức mang tính chỉ trích nhiều hơn. Phần lớn các tin tức này được gửi từ các phóng viên đi kèm, song một số tin tức gây chấn động nhất lại được đưa lên các bản tin buổi tối trên truyền hình thông qua thư điện tử của binh lính và các trang web. Một số hình ảnh hết sức tệ hại về tình trạng lạm dụng các tù nhân tại nhà tù Aba Ghraib được lấy từ các file gửi kèm trong thư điện tử của binh lính gửi về nhà. Việc bọc sắt không đủ cho thiết bị Humvees dùng cho quân đội được phát hiện do binh lính đề nghị gia đình và bạn bè gửi vật liệu để họ trang bị thêm cho các phương tiện của mình. Khi cuộc chiến bước sang năm thứ ba, một người phát ngôn của quân đội đã thừa nhận rằng mọi nỗ lực nhằm kiểm soát việc truyền tin qua Internet chỉ đơn giản là “không thể” thực hiện được. Việc một số hình ảnh và tin tức đáng được đưa lên các bản tin truyền hình sẽ bị rò rỉ cho giới truyền thông là không thể tránh khỏi. Như một nhà quan sát trong lĩnh vực truyền thông đã nói: “Cho dù có thích hay không thì quân đội vẫn đã trở nên hoàn toàn trong suốt”.

Các phóng viên và tổ chức của họ

Các sản phẩm tin tức trên truyền thanh, truyền hình cũng như báo in đều chủ yếu dựa vào tài năng của các phóng viên, những người trực tiếp làm việc với các chính trị gia và những nguồn cung cấp tin tức khác để khám phá các câu chuyện và lần theo những đầu mối. Đôi khi, mối quan hệ gần gũi với một nguồn cung cấp tin tức cho phép phóng viên có được tin tức sốt dẻo cho tổ chức của mình hoặc giành được một cuộc phỏng vấn.

Vai trò của phóng viên trong việc tạo ra tin tức quan trọng đến mức đã có một đội ngũ chuyên nghiệp được hình thành cho công việc này, và các thành viên của nó được phân biệt với những người khác cùng làm trong lĩnh vực truyền thông thông tin. Các phóng viên là những người đầu tiên quyết định giá trị về mặt tin tức của một câu chuyện và có thể đóng vai trò chủ chốt trong việc xác định bối cảnh hoặc khuôn khổ để đưa tin về câu chuyện đó. Trong các tổ chức của mình, phóng viên có thể đóng vai trò là người bảo trợ cho tin tức; “bán” được một tin tức cho chủ báo là một thách thức để đương đầu, và là nguồn kiêu hãnh của nghề báo.

Quá trình thu thập tin tức truyền thống miêu tả ở trên rất tốn thời gian và trong thập kỷ vừa qua, sự phát triển của loại hình đưa tin tại chỗ – lúc đầu dưới hình thức sản phẩm của các kênh truyền hình cáp đưa tin 24/24 giờ và gần đây hơn với sự phát triển nở rộ của các trang web – đã mang lại những áp lực mới cho phóng viên của các kênh tin tức trên truyền hình cáp như CNN để “thỏa mãn tên khổng lồ háu đói”, như cách họ vẫn gọi, bằng một nguồn ổn định các bản tin, bài phỏng vấn và phân tích của các chuyên gia. Đối với phóng viên của báo viết, các kênh truyền hình dành riêng cho tin tức càng làm tăng thêm áp ực của họ trong việc tìm kiếm tin tức mới. Tới thời điểm báo của họ phát hành vào buổi sáng, các độc giả có thể đã xem bản tin đó trên truyền hình. Tình thế khó khăn của các phóng viên cũng chính là vấn đề của các chủ báo, khi độc giả ngày càng nhận thấy rằng họ có thể không cần tới việc đọc báo.

Khu vực săn tin. Cả báo in và các phương tiện truyền thanh, truyền hình đều bám sát những nguồn thường xuyên cung cấp tin tức quan trọng một cách có hệ thống bằng việc cử phóng viên thường trực tại một số nơi nhất định, thường được gọi là các khu vực săn tin. Ở cấp quốc gia, những khu vực săn tin thường xuyên là Nhà Trắng, Quốc hội, Tòa án tối cao, và Bộ Ngoại giao. Hơn nữa, trong những chiến dịch vận động chính trị, các phóng viên thường được phân công bám sát từng ứng cử viên chủ chốt. Đến lượt mình, mỗi tổ chức vận động lại cử các nhân viên làm đầu mối tiếp xúc với phóng viên. Tại Nhà trắng, các phóng viên có được phần lớn thông tin của mình từ các bản tin tóm tắt hàng ngày do thư ký báo chí của tổng thống đưa ra. Trên thực tế, hầu như mọi cơ quan chính phủ và các quan chức cấp cao đều có các nhân viên báo chí chịu trách nhiệm cung cấp thông tin cho giới truyền thông. Thường thường, đây chính là những người đề xướng “tin tức” bằng cách đưa ra một tuyên bố hoặc nói chuyện với một phóng viên.

Hệ thống tổ chức khu vực săn tin mang một số hàm ý quan trọng đối với tin tức. Bởi các tổ chức truyền tin dựa trên một dòng tin tức liên tục, nên các phóng viên trực chiến tại khu vực săn tin phải đều đặn gửi tin bài về mỗi ngày, bất chấp giá trị về mặt tin tức của các tin bài đó. Tổng thống là một chủ đề ưa thích cho việc đưa tin hàng ngày; có một chương trình tin tức quốc gia hầu như luôn nhắc tới tổng thống, ngay cả chỉ để đưa tin về điểm số của một trận chơi golf. Nhận thấy nhu cầu về tư liệu của phóng viên, văn phòng thư ký báo chí tại Nhà trắng cung cấp cho họ những tin tức và rất nhiều cơ hội chụp hình nhằm phục vụ cho lợi ích của tổng thống.

Nếu có một cơ quan chính phủ cụ thể nào đó không nằm trong khu vực săn tin, nó sẽ ít có khả năng tạo ra tin tức hơn. Cuối những năm 1980, một vụ bê bối lớn đã được khám phá tại Bộ phát triển nhà ở và đô thị (HUD), trong đó một thứ trưởng sử dụng các khoản trợ cấp và hợp đồng tư vấn của chính phủ như những đặc ân chính trị. Mặc dù vụ bê bối liên quan tới rất nhiều sự vi phạm pháp luật rõ ràng và hàng triệu USD, song tin tức về nó được đăng đầu tiên trên một tờ tạp chí thương mại ít người biết đến chỉ chuyên về các vấn đề nhà cửa. Báo chí và mạng lưới truyền thanh toàn quốc không cử một phóng viên nào thường trực tại HUD, nhưng tờ tạp chí chuyên môn này thì có. Các khu vực săn tin đã giúp các tổ chức truyền tin hoạt động hiệu quả hơn khi những nhân viên của nó tại hiện trường có thể đi sâu vào những lĩnh vực cụ thể của chính quyền. Nhưng điều này cũng khiến cho tin tức đôi khi có xu hướng đi vào những sự kiện vụn vặt, trong khi bỏ lỡ những vấn đề quan trọng hơn nhiều.

Một hàm ý nữa của hệ thống tổ chức khu vực săn tin là các phóng viên của những tờ báo và kênh truyền hình cạnh tranh có xu hướng viết về cùng phạm vi sự kiện hạn chế. Hơn nữa, khi ở khu vực săn tin, họ tiếp xúc hàng ngày với các phóng viên khác, những người mà họ thường coi là đồng nghiệp hơn là đối thủ cạnh tranh. Đội quân báo chí của Nhà trắng bao gồm các thành viên của một câu lạc bộ có tổ chức đã hoạt động liên tục trong hơn một nửa thế kỷ nay. Xét đến không gian hoạt động gần gũi của các phóng viên trong cùng một khu vực, những bản tin được truyền về từ một khu vực săn tin nhất định thường có xu hướng giống nhau trên mọi tờ báo và thậm chí là trên mọi phương tiện truyền thông. Đôi khi, những quan hệ xã hội này tạo ra một cách thức trình bày sự kiện hạn chế và lệch lạc rõ rệt. Trong những trường hợp như vậy, những người phê bình gọi các phóng viên là đang thực hiện nghề báo cả gói, trong đó các phóng viên đi theo cùng một câu chuyện theo cách thức giống nhau bởi họ đọc bài viết của người khác để định hướng cho bài viết của mình.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần VIII


Ngôn ngữ của thông tin rò rỉ

Làm cách nào độc giả có thể biết về sự rò rỉ thông tin khi đối mặt với nó? Dấu hiệu đầu tiên của điều này là phóng viên ám chỉ mập mờ tới người cung cấp thông tin. Các phóng viên thích nêu rõ nguồn cung cấp những tin của mình càng chính xác càng tốt để chứng thực tính tin cậy của thông tin. Nhưng trong trường hợp rò rỉ thông tin, việc sử dụng ngôn ngữ xác định và cụ thể có thể sẽ phải được thương lượng với người cung cấp thông tin – người thích được giấu tên hoặc thậm chí mong muốn đánh lạc hướng độc giả để họ nghĩ tới một nguồn cung cấp thông tin khác. Đôi khi, các phóng viên đồng ý với sự lẩn tránh này, có nghĩa là họ cố tình đánh lạc hướng khán giả để có được thông tin rò rỉ.

Những thông tin rò rỉ sau đây đã được luật sư của Clinton và David Kendall nêu lên vào tháng Hai 1998, trong một khiếu nại gửi lên thẩm phán liên bang phụ trách giám sát hoạt động của Văn phòng Công tố viên độc lập do Kenneth Starr đứng đầu. Công tố viên độc lập này và các nhân viên của ông ta đang điều tra vụ bê bối tình ái của Clinton với thực tập sinh Nhà trắng Monica Lewinsky. Thẩm phán này đã có ấn tượng rằng phần lớn thông tin bị tiết lộ chỉ do văn phòng của Starr và vì vậy đã tiến hành một cuộc điều tra về việc rò rỉ thông tin. Lưu ý rằng các cụm từ in nghiêng chính là ngôn ngữ mập mờ mà các phóng viên sử dụng để nói về nguồn cung cấp thông tin của họ.

“Các nhân viên điều tra của Starr mong rằng Lewinsky sẽ viện dẫn các quyền theo Tu chính án thứ năm chống lại sự tự buộc tội. Nếu cô ta từ chối trả lời, Starr có khả năng sẽ đe dọa về một cáo trạng hình sự để buộc cô ta phải hợp tác, những người biết về chiến lược của Starr nói vào thứ Tư”.

Các luật sư biết về nội dung của một số đoạn băng nói cô Lewinsky đã kể việc Tổng thống khuyên cô ta rằng nếu bất kỳ ai hỏi về vụ việc, cô ta phải phủ nhận hoàn toàn. Trong một lần tiết lộ thông tin khác, cô Lewinsky đã kể với bạn mình rằng ông Jordan, một người tin cẩn của Tổng thống, đã cho cô đi nhờ xe và khuyên cô rằng nếu cô giữ im lặng, sẽ không ai phải ra tòa cả”.

Theo các luật sư và một số người gần gũi với cuộc điều tra của ông Starr, các đoạn băng cũng trích lời cô Lewinsky nói rằng ông Clinton và ông Jordan đã bảo cô ta nói dối về mối quan hệ này trong quá trình lấy lời khai tại vụ kiện của Jones”.

Nguồn tin thân cận với Starr miêu tả một tình huống rất khác bị kéo dài chủ yếu do Lewinsky khăng khăng đòi sự có mặt của mẹ cô ta. Những nguồn này cho biết rằng mặc dù các điều tra viên đã gây áp lực để buộc cô ta hợp tác, nhưng thực tập sinh một thời tại Nhà Trắng này đã dành rất nhiều thời gian chờ mẹ cô ta tới…”

Những người biết về cuộc điều tra nói rằng Starr đang theo đuổi điều mà các điều tra viên coi là những dấu hiệu “đáng tin cậy” rằng một đặc vụ của cơ quan tình báo hoặc một nhân viên của Nhà trắng đã nhìn thấy Clinton và Lewinsky ở cùng nhau trong những tình huống rất khó xử”.

Những luật sư tham gia vào cuộc thảo luận nói rằng tuy nhiên, ông Starr đang do dự về việc dành cho cô Lewinsky quyền miễn trừ cho tới tận khi ông chắc chắn rằng cô ta là một nhân chứng đáng tin cậy… Trong các cuộc thảo luận trước đó với ông Ginsburg (luật sư của Monica Lewinsky), các luật sư của ông Starr bày tỏ sự nghi ngờ về độ tin cậy của cô Lewinsky với tư cách nhân chứng – đã nói rằng cô ta nên được kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối trước khi họ cân nhắc việc chấp nhận đề nghị của cô ta về việc kể cho họ tất cả những gì cô ta biết. Sự khác biệt về thời điểm tiến hành cuộc kiểm tra đã trở thành vật cản lớn trên đường đi tới một thảo thuận giữa công tố viên độc lập và cô Lewinsky, các luật sư tham gia vào vụ kiện hôm nay đã nói như vậy”.

Một quan chức tham gia các cuộc thảo luận về việc liệu cô Lewinsky có hợp tác với cuộc điều tra của công tố viên độc lập Kenneth W. Starr đã nói rằng các công tố viên đã ấn định thời hạn chót vào chiều thứ Sáu để các luật sư của cô ta khẳng định liệu cô ta có khai báo với các công tố viên hay không. Quan chức này nói rằng nếu thời hạn chót này qua đi mà không có thỏa thuận nào, cô Lewinsky có thể phải đối mặt với những cáo buộc về việc nói dối khi đã tuyên thệ về mối quan hệ của cô với Tổng thống”.

Những người tạo ra tin tức: Quân đội

Cho tới tận gần đây, quân đội vẫn có thể hy vọng kiểm soát tin tức từ mặt trận – mặc dù khôn gbao giờ kỳ vọng về sự thành công hoàn toàn. Khi quân đội còn có thể kiểm soát tin tức một cách hiệu quả, nó không chỉ ngăn chặn các thông tin hữu ích khỏi rơi vào tay kẻ đích, mà cò có thể che giấu thất bại và thúc đẩy việc đưa tin để tạo ra sự cảm thông Trong cuộc Nội chiến, khi một phóng viên cố gắng biện hộ với Tướng William Tecumseh Sherman của Liên minh bằng cách nói rằng anh ta đơn giản chỉ muốn thông báo sự thật, Sherman đã ra lệnh cho anh ta bắt chuyến tàu kế tiếp để ra khỏi thị trấn: “Sự thật hả? Không thưa ông!… Chúng tôi không muốn kẻ địch biết thêm thông tin ngoài những gì chúng đang có. Đừng có đi nhầm tàu đấy”. Cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 có lẽ là cuộc xung đột cuối cùng mà quân đội có thể hy vọng “kiểm soát” tin tức từ mặt trận. Ngay cả khi đó, quân đội đã nhận thấy mình phải đấu tranh vất vả với các phóng viên truyền hình trong việc điều chỉnh những tin tức độc lập ở Baghdad về mức độ chính xác của các vụ ném bom trúng mục tiêu, và với các phóng viên khác đang vượt ra khỏi khu vực được phân công để lao vào sa mạc mà không có ai đi cùng nhằm tìm kiếm tin tức.

Trong suốt các cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq, điều trở nên hiển nhiên là mối quan hệ giữa quân đội và truyền thông đã mang rất nhiều đặc điểm giống với mối quan hệ giữa các chính trị gia và giới truyền thông. Công nghệ truyền thông hiện đại đã giải phóng nhà báo khỏi các trung tâm truyền tin, đưa họ ra khỏi tầm giám sát của quân đội. Hàng trăm phóng viên đã lang thang tại Afghanistan, không có ai hộ tống và không bị hạn chế. Thỉnh thoảng, các binh lính Mỹ nhận thấy mình đang tiếp cận không phải kẻ địch mà là một đội quân các phóng viên truyền hình Mỹ và phóng viên tự do đại diện cho các phương tiện truyền thông từ khắp nơi trên thế giới. Như một sĩ quan hồi tưởng lại một cách phiền muộn, ngay sau một cuộc đọ súng với lực lượng Taliban tại một ngôi làng hẻo lánh, các phóng viên của đài Al Jazeera, kênh tin tức của đài truyền hình Arab, đã có mặt để tiến hành phỏng vấn trực tiếp và truyền đi những hình ảnh sống động về thương vong của thường dân trong khi binh lính Mỹ chỉ đứng nhìn. Khi cuộc chiến sắp nổ ra năm 2003, hàng trăm, có lẽ hàng nghìn, các phóng viên báo in và báo hình đã tới Iraq, trang bị điện thoại kết nối mạng vệ tinh và thiết truyền hình ảnh xác tay. Chính sách trục xuất phương tiện truyền thông khỏi mặt trận của Sherman đơn giản là không thể duy trì được nữa.

Đồng thời, việc phổ biến kênh truyền hình cáp đưa tin 24/24 giờ, với khao khát không thể thảo mãn của nó về thông tin và hình ảnh cập nhật nhất, có nghĩa là quân đội đơn giả là không thể tảng lờ vấn đề. Công nghệ truyền thông tại chỗ và các chương trình tin tức ở nhà đã kết hợp với nhau để đưa công chúng tham dự vào cuộc chiến theo cách thức chưa từng có trước đây. Lầu Năm góc đã quyết định thực thi hành động tích cực. Rõ ràng, những thủ tục được đặt ra về việc giới hạn số lượng các phóng viên, kiểm soát việc đi lại của họ, và cung cấp cho họ những thông tin được chỉnh sửa thận trọng không còn hiệu quả nữa. Một biên tập viên tin tức đã tóm tắt tình thế nan giải của quân đội trong việc kiểm soát tin tức gần đây như sau: “Lầu Năm Góc không thể che giấu thông tin với người dân, như họ đã làm điều này rất tốt trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ nhất. Giờ đây, điều đó rõ ràng giống như một trò chơi mà phần thua thuộc về họ”. Lầu Năm góc đã nhận thấy rằng bằng cách này hay cách khác, khi lập kế hoạch tấn công Iraq, họ sẽ phải cần đến một chiến lược truyền thông. Kế hoạch mới của họ là đưa 600 phóng viên (theo một ước tính là khoảng 800) đi theo cùng các đơn vị quân đội. Với chỉ thị chung yêu cầu giữ kín những thông tin có thể hữu ích cho các chỉ huy quân đội Iraq – những người nổi tiếng là thường xuyên theo dõi các kênh tin tức trên truyền hình cáp của Hoa Kỳ, các phóng viên được tự do phỏng vấn binh sĩ và thu thập tin tức trên chiến trường bất cứ khi nào họ thích. Hơn nữa, các chỗ trống dành cho phóng viên không chỉ giới hạn ở báo giới Mỹ; ngay cả Al Jazeera cũng được dành cho sáu chỗ. Phần lớn các đánh giá đều kết luận rằng chiến lược này của quân đội là một bước đi khôn khéo về mặt chính trị. Như Lầu Năm góc đã hy vọng, và một số chủ báo đã lo ngại, các phóng viên đi kèm chẳng bao lâu đã phát triển mối quan hệ cá nhân gần gũi với quân đội, và những tin tức đầy cảm thông đối với hành động của lực lượng quân sự Mỹ đã được đưa ra. Trong một nỗ lực nhằm cân bằng việc đưa tin, các kênh truyền hình và các tờ báo lớn cũng đã thuê “những người đơn độc” – các phóng viên làm việc độc lập, thu thập tin tức từ cả hai phe trên chiến trường.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần VII


Thực tế rằng đa số các tin tức chính trị đều xuất phát từ những gì mọi người đang nói thay vì những gì họ đang làm không nhất thiết làm suy yếu vị thế của nó với ý nghĩa là tin tức hoặc giá trị của nó đối với khán giả. Phần lớn những gì mà các chuyên gia và quan chức nói ra hầu như không có giá trị đối với công chúng đang cố gắng tìm ra ý nghĩa của một tập hợp những thực tiễn cụ thể. Ví dụ, một nhà khoa học xuất bản một tài liệu đưa ra các lý giải mới về mưa acid; chủ tịch Cục dự trữ liên bang giải thích các chỉ số kinh tế mới nhất tại một phiên điều trần của Quốc hội; người đứng đầu cơ quan nhà ở của địa phương thông báo về tình trạng thiếu nơi ở nghiêm trọng cho những người vô gia cư. Khi quyết định mô tả mức độ trầm trọng của một vấn đề và lựa chọn thông tin để đưa ra – bao gồm cả việc có nên đưa ra hay không và vào thời điểm nào – các chuyên gia và quan chức này đang sử dụng phương tiện truyền thông nhằm đạt được một số mục tiêu chính trị.

Thực tế rằng phần lớn tin tức đều bắt đầu bằng các cuộc trò chuyện cho thấy một đặc điểm quan trọng khác của nó. Khác với những tin tức quảng cáo trên truyền hình được tạo ra bởi các nhà quảng cáo ở Đại lộ Madison hoặc các bài báo mang tính học thuật được đưa ra xem xét bởi từng giáo sư riêng rẽ, tin tức không ra đời như là sản phẩm của một cá nhân đơn độc hay một tập hợp những người cùng cộng tác. Thay vào đó, nó là sản phẩm chung của hai tác nhân độc lập, thường xuyên cạnh tranh với nhau để khẳng định câu chuyện. Họ tham gia cùng với người kia trong việc tạo ra tin tức nhằm đạt được những mục đích khác biệt và thường là xung đột nhau. Các chính trị gia tìm cách ảnh hưởng tới tiến trình sự kiện chính trị. Không có gì ngạc nhiên khi họ muốn các bản tin đưa hình ảnh và quan điểm của họ về các vấn đề dưới khía cạnh có lợi nhất. Những người đưa tin luôn phải chú trọng tới mối quan tâm của khán giả về câu chuyện dự kiến và mức độ tin tưởng của người đọc hoặc vào thông tin của họ so với của đối thủ cạnh tranh. Các phóng viên nhận thấy có lợi khi chứng tỏ sự độc lập với các nguồn tin chính trị và đơn giản là không đưa hết những gì mà các chính trị gia muốn công chúng được biết. Như vậy, mối quan hệ giữa chính trị gia và phóng viên phản ánh sự căng thẳng giữa quan hệ có đi có lại và cạnh tranh. Đôi khi, sự không hài lòng về hoạt động của bên kia biến thành những lời công kích và phản công kích công khai. Các chính trị gia thường phàn nàn rằng phương tiệ truyền thông mang nặng thành kiến và không được thông tin đầy đủ; còn các phóng viên có thể nói rằng họ, hoặc phương tiện truyền thông, đang bị thao túng.

Như vậy, với ý nghĩa rất thực tế, các quan chức chính phủ và các phóng viên liên quan tới nhau về mặt chính trị. Như chúng ta đã định nghĩa về chính trị, những người tham gia chính trị hợp tác với nhau để đạt được các mục tiêu riêng rẽ của mình. Sản phẩm cuối cùng của các nỗ lực này – cho dù là chính sách công hay tin tức – có thể không phản ánh kết quả mong muốn của bất kỳ bên nào, mà thay vào đó phản ánh một tiến trình hành động có thể chấp nhận được của cả hai bên.

Những người tạo ra tin tức: Chính trị gia và quan chức công quyền

Khi các chính trị gia tham gia vào quá trình tạo ra tin tức, họ luôn có trong đầu một hoặc cả hai loại khán giả: công chúng và các chính trị gia đồng nghiệp. Mặc dù các quan chức quyền luôn tìm kiếm cách thức để cải thiện ước đoán của công chúng về sự tận tụy của họ, phần lớn các hoạt động tạo ra tin tức của những người này trên thực tế chỉ là nỗ lực nhằm thông tin và giao tiếp với các chính trị gia khác. Lý do rất đơn giản: các tuyên bố công khai đôi khi có thể khiến đồng sự của họ chú ý và buộc họ phải có phản ứng trong khi một sự trao đổi riêng tư thì không. Năm 1993, lãnh đạo của Ủy ban các nghị sĩ da đen trong Quốc hội triệu tập một cuộc họp báo để tuyên bố rằng Tổng thống Bill Clinton không nên coi sự ủng hộ của Ủy ban đối với những cải  cách phúc lợi do ông đề xuất là việc đương nhiên chỉ bởi vì hầu hết thành viên Ủy ban đều thuộc Đảng Dân chủ. Rõ ràng là trước đó họ đã nhiều lần nói với tổng thống và các nhân viên của ông, nhưng bằng việc tuyên bố công khai điều này, họ đã cảnh báo ông rằng việc không coi trọng ý kiến của họ có thể làm giảm sự ủng hộ của cộng đồng da đen đối với tổng thống. Tương tự, khi một tổng thống công khai đe dọa sẽ phủ quyết một đạo luật sắp đưa ra bỏ phiếu tại Quốc hội, sự đe dọa đó được cho là là thật nhờ việc tuyên bố công khai. Nếu Quốc hội định thông qua đạo luật đó bằng mọi cách và việc phủ quyết không được thực hiện, danh tiếng của tổng thống sẽ bị giảm sút cả với Quốc hội và công chúng. Nhận thức được tình huống đó, các nhà lập pháp coi trọng những lời đe dọa công khai hơn là những đe dọa cá nhân.

Mỗi chính trị gia dân cử tại Washington đều có một thư ký báo chí để sắp xếp việc đưa ra những tin tức có lợi cho mình. Thư ký báo chí của tổng thống có lẽ là vị trí cao nhất đối với những người này, tương ứng với tầm quan trọng của công luận đối với vai trò lãnh đạo của tổng thống thời hiện đại. Các chính trị gia này phục vụ trong những thể chế được thiết kế nhằm mang lại cho họ vô số cơ hội tạo ra những tin tức có lợi cho mình. Một ví dụ là các nghị sĩ Quốc hội có thể tiến hành những buổi điều trần công khai, công khai bày tỏ các quan điểm của họ trên diễn đàn Thượng viện hoặc Hạ viện trước các ống kính camera C-SPAN, và đưa những bài phát biểu và thông cáo báo chí vào tờ Congressional Record (Hồ sơ Quốc hội). Mỗi khi các tổng thống bước ra khỏi Nhà Trắng, họ được hộ tống bởi một đoàn quân báo chí của Nhà Trắng, những người đang tìm kiếm tin tức từ một bài phát biểu của tổng thống, từ việc xuất hiện tại một lớp học ở trường học, hoặc thậm chí đi vào cửa hàng để mua sắm. Đầu năm 2005, Tổng thống Bush hầu như ngày nào cũng vận động Quốc hội thông qua đạo luật chăm sóc y tế, nhưng việc vận động của ông không chỉ giới hạn ở các cuộc điện thoại, các lời mời tới Nhà Trắng, hoặc các chỉ thị hành lang của Quốc hội. Tổng thống đã dành vài ngày mỗi tuần để đi khắp đất nước và nói về nhu cầu cải cách chương trình An sinh xã hội. Bush và các cố vấn của ông biết rằng các chuyến đi của tổng thống sẽ được đưa tin liên tục trên mạng lưới truyền hình đủ để đặt vấn đề này trước một Quốc hội đang lưỡng lự.

Một chiến lược tin tức khá quan trọng mà các chính trị gia sử dụng để tiến hành giao dịch chính trị với nhau là thả bóng thăm dò. Một chính trị gia “thả” một chính sách hoặc và ý kiến cho một phóng viên với điều kiện rằng không được tiết lộ nguồn cung cấp tin tức. Nếu tin tức về đề xuất này có được phản ứng tích cực từ những người khác tại Washington, chính trị gia lúc đó sẽ công khai thông báo về đề xuất. Các tổng thống thường đưa ra những trái bóng thăm dò bằng cách thuyết phục một thành viên Quốc hội đề xuất chính sách, cho phép tổng thống đánh giá các phản ứng chính trị trước khi thực hiện một hành động.

Một chiến lược đưa tin thận trọng nữa sẵn có cho tổng thống, thành viên Quốc hội và các quan chức chính quyền cấp thấp hơn là rò rỉ tin tức. Thuật ngữ chính trị này, được định nghĩa lần đầu tiên trong từ điển Mỹ của Noah Webster năm 1832, ám chỉ việc cung cấp thông tin nhằm đạt tới những kết quả mang tính chiến lược cho phương tiện truyền thông với điều kiện không được nêu đích danh nguồn thông tin. Người “rò rỉ” thông itn có thể đang tìm cách ảnh hưởng tới công chúng, các chính trị gia khác, hoặc cả hai. Hình thức rò rỉ hay gặp nhất là việc một nguồn cung cấp thông tin đưa ra những tin tức tốt đẹp về bản thân hoặc tin tức xấu về người khác. Không chỉ đơn giản là ghi điểm cho bản thân ai đó hoặc bôi nhọ hình ảnh địch thủ, những vụ rò rỉ thông tin quan trọng nhất còn đòi hỏi hành động hoặc phản ứng từ những người khác ở Washington. Có lẽ người rò rỉ thông tin nổi tiếng nhất trong lịch sử Mỹ là “Deep Throat”, người đã liên tục cung cấp tin tức cho các phóng viên tờ Washington Post, dẫn tới việc điều tra vụ đột nhập vào trụ sở Đảng Dân chủ tại khách sạn Watergate. Sau đó, khi những lời tiết lộ ngày càng nhiều, một ủy ban đặc biệt của Thượng viện bắt đầu tiến hành cuộc điều tra chính thức được đưa tin trên truyền hình toàn quốc. Deep Throat tiếp tục tiết lộ tin tức, dẫn các nhà điều tra của Thượng viện đến những cách thức điều tra mới mẻ và hiệu quả, dẫn đến kết quả cuối cùng là Richard Nixon phải từ chức và rất nhiều trợ lý của Nhà Trắng bị kết án tù.

Một biến thể thú vị khác xuất hiện không chỉ một lần trong vụ rò rỉ tin tức lớn sau scandal tình ái của Tổng thống Clinton tại Nhà Trắng là rò rỉ “phòng ngừa”. Công tố viên độc lập Kenneth Starr, người đang tiế hành điều tra vụ việc giữa tổng thống và thực tập sinh Nhà Trắng Monica Lewinsky, đã phủ nhận việc là rò rỉ thông tin và sau đó đổ lỗi cho các nhân viên của Clinton. Ông cho rằng các trợ lý của Nhà Trắng đã tiết lộ thông tin bất lợi nhằm bài bác tổng thống và hạn chế tối đa thiệt hại trong tương lai nếu tin tức bị đưa ra trước công chúng. Luật sư của tổng thống, David Kendall, đã kịch liệt phản đối lời khẳng định này, lập luận rằng văn phòng công tố viên độc lập đã tiến hành một chiến dịch rò rỉ thông tin liên tục (xem hộp “Ngôn ngữ của thông tin rò rỉ”). Trên thực tế, trước đó vào năm 1997, khi Thượng viện tiến hành các phiên điều trần về hoạt động gây quỹ bầu cử của Clinton, một đại diện của Nhà Trắng đã “đứng bên ngoài cánh cửa phòng điều trần để nhắc nhở các phóng viên [rằng] hầu hết những gì họ đang nghe thấy đều đã được đưa tin bởi vì [Starr] đã rò rỉ chúng nhiều tháng trước.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.

Jerusalem: Canh bạc rủi ro của Donald Trump


Thông báo của Tổng thống Mỹ đơn phương nhìn nhận Jerusalem là thủ đô của Israel bị khắp thế giới, trừ Israel, xem là hành động “khiêu khích” không đúng lúc không đúng việc có thể làm Trung Đông “bốc lửa”. Trái lại, Donald Trump cho biết ông muốn xóa bài để làm lại để mang lại hòa bình cho Palestine với sự trợ giúp của Israel và Saudi Arabia. Thực hư thế nào?

Sự kiện Tổng thống Donald Trump quyết định công nhận Jerusalem, thành phố thánh của 3 tôn giáo – đạo Thiên Chúa, đạo Hồi và đạo Do Thái, cùng thờ một Đức Chúc Trời – là thủ đô của Nhà nước Do Thái, làm cộng đồng Arab và Hồi giáo bất bình.

Hầu hết các thủ đô quốc tế, từ Liên minh châu Âu (EU) đến Liên hợp quốc đều lo ngại phản ứng mạnh từ cộng đồng Hồi giáo và người Palestine sẽ làm Trung Đông chìm trong bão lửa, như cảnh báo của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ.

Câu hỏi đặt ra là vì những lý do nào Washington lại lấy một quyết định đầy rủi ro như thế?

Từ khi Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật nhìn nhận Jerusalem là thủ đô của Israel vào năm 1995, ba đời Tổng thống Mỹ từ Bill Clinton, George W. Bush đến Barack Obama, sáu tháng một lần, tìm cách trì hoãn.

Điểm xứng đáng của tổng thống thứ 45 của Mỹ ở chỗ, ông không phải là người đầu tiên nương vào quy chế của Jerusalem để tranh cử nhưng là người đầu tiên dám thực hiện lời hứa.

Kế hoạch của Donald Trump được ông mô tả là “hỏa tiễn hai tầng”. Tầng thứ nhất, theo giải thích của Tổng thống Mỹ: phải nhìn nhận thực tế Jerusalem là thủ đô của Israel mà còn là thủ đô của một nền dân chủ lớn trên thế giới.

Khi lý giải như vậy, Tổng thống Mỹ phác họa tầng thứ hai: xây dựng một hiệp định hòa bình mới, do Mỹ bảo trợ, thay thế thỏa thuận Oslo bế tắc từ hơn 1/4 thế kỷ. Lập luận của Tổng thống Donald Trump là ông muốn “làm sáng tỏ vấn đề” để “bứng đi những chốt chặn tạo điều kiện đem lại hòa bình”.

Theo hai viên chức Mỹ được Reuters trích dẫn, Tổng thống Donald Trump hứa với Chủ tịch Palestine Mamoud Abbas một dự án “làm hài lòng Palestine”. Cụ thể ra sao, Tổng thống Mỹ không nói rõ: đánh đổi Đông Jerusalem với nhà nước Palestine được Israel công nhận? Người tị nạn Palestine được hồi hương mà đến nay Israel kiên quyết khước từ?

Điều chắc chắn là trong kế hoạch này, Mỹ huy động cả Saudi Arabia và Israel, hai nước, vì có kẻ thù chung là Iran, sẽ hợp tác giúp Palestine.

Lập luận của Tổng thống Donald Trump là ông muốn xóa bài làm lại, “bứng đi những chốt chặn tạo điều kiện đem lại hòa bình”. Giới phân tích không đồng ý như vậy và đưa ra ba cách diễn giải.

Thứ nhất, vì nhu cầu chính trị nội bộ. Truyền thông Mỹ, ít cảm thông với tổng thống doanh nhân, cho rằng ông Trump muốn thu hút lá phiếu của cộng đồng Do Thái và nhất là cộng đồng Tin Lành Phúc âm mà trong kỳ bầu cử vừa qua có đến 80% cử tri dồn phiếu cho ông. Đối với hai cộng đồng tôn giáo này, không thể để cho thánh địa Jerusalem, một lẫn nữa lọt vào tay người Arab. Không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Mỹ chọn thời điểm này để tung quả bom “Jerusalem”. Một mặt, uy tín của Donald Trump xuống thấp kỷ lục sau 10 tháng cầm quyền, chỉ còn 35% dân chúng ủng hộ, vào lúc nước Mỹ chuẩ bị bầu lại Quốc hội năm 2018.

Thứ hai, để đánh lạc hướng công luận trong bối cảnh vòng vây tư pháp, điều tra vụ thông đồng với Nga, khép chặt dần.

Động cơ thứ hai là cá tính của Donald Trump. Ông thường tự hào là hành động theo linh tính. Tuy nhiên, trong trường hợp chiến tranh Afghanistan, Tổng thống Mỹ đã làm ngược lại và giải thích: theo linh tính, tôi nghĩ là phải bỏ Afghanistan, nhưng lý trí buộc tôi phải nghe theo cố vấn, nghe theo các tướng lĩnh và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis.

Trong vụ Jerusalem, Tổng thống Trump nghe lời cố vấn của ai? Người thứ nhất là Phó Tổng thống Mike Pence, thuộc Hội thánh Phúc âm và người thứ hai chính là con rể Jared Kushner, theo Do Thái.

Thứ ba, áp lực đến từ nhà tỷ phú Sheldon Adelson, chủ nhân nhiều sòng bạc và cũng là nhà tài trợ của Donald Trump và bận thân của Thủ tướng Israel, Benjamin Netanhyahu.

Theo Mediapart, tên lửa hai tầng của Tổng thống Trump có nguy cơ nổ ngay tầng thứ nhất. Không những người Arab mà cả thế giới đến Đức Giáo hoàng đều phản đối. Theo một thăm dò ý kiến, 56% dân Israel cũng xem quyết định chuyển sứ quán Mỹ về Jerusalem là “không đúng lúc”.

Nguồn: RFI

TKNB – 12/12/2017

Phương tiện truyền thông trong chính trị Mỹ – Phần VI


Sở thích của người tiêu dùng

Thỉnh thoảng, các nhà báo và những người khác trong lĩnh vực truyền thông lại cho rằng công luận đã bị “oanh tạc” bằng hàng núi tin tức từ quá nhiều phương tiện truyền thông, và kết quả là không còn hứng thú gì với tất cả các loại tin tức và bước ra khỏi tần sóng. Nếu đúng như vậy thì sự phổ biến tràn lan của các kênh tin tức trên truyền hình cáp và Internet sẽ chỉ làm tăng thêm sự chán ngán của công chúng trong thập niên tới. Tuy nhiên, những lời phàn nàn này nghe giống như việc tự biện minh của những phương tiện truyền thông đang gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý của khán giả. Dù vậy, liệu có đúng không khi nói rằng người tiêu dùng tin tức ở Mỹ đang quá tải với quá nhiều nguồn thông tin? Hiển nhiên là không. Một cuộc thăm dò công luận năm 1998 cho thấy đa số những người được hỏi đều trả lời rằng họ rất vui vì có thể lựa chọn từ nhiều nguồn khác nhau. Và họ chắc chắn cảm thấy như vậy, bởi việc tiếp cận một số nhà cung cấp tin tức khác nhau khiến họ ít bị ảnh hưởng hơn bởi những thiên kiến mà nhà sản xuất có thể tạo ra trong quá trình lựa chọn và đưa tin. Tuy nhiên, việc công chúng mong muốn có nhiều nhà cung cấp tin tức dường như xuất phát từ sự thuận tiện nhiều hơn là từ nỗi lo sợ bị thông tin sai lệch. Mặc dù những người trẻ tuổi tham gia điều tra – những người cho biết rằng họ dành ít thời gian hơn cho việc đọc báo hoặc xem tin tức trên truyền hình – đánh giá cao nhất việc có nhiều nguồn thông tin, song những người nói rằng họ theo dõi tin tức sát sao (chủ yếu là những độc giả tích cực của báo) lại có xu hướng ít ủng hộ việc có quá nhiều nhà cung cấp tin tức.

Hiện nay, truyền hình đang thống trị với tính chất là nguồn thông tin được ưa thích nhất. Bất chấp những nỗ lực cao nhất của các chủ bút nhằm làm phong phú thêm nội dung thông tin và thay đổi hình thức trình bày của tờ báo, xu hướng dịch chuyển của những người tiêu dùng mới từ báo chí sang truyền hình là không thể cưỡng lại. Ngay từ năm 1963, truyền hình đã vượt lên trên báo chí với vai trò là nguồn thông tin được ưa thích nhất, và từ đó tới nay xu hướng này vẫn tiếp tục một cách ổn định. Từ đầu thập niên 1990, truyền hình có lợi thế gấp hai lần so với báo chí với vai trò là phương tiện ưa thích để theo dõi các cuộc bầu cử tổng thống (xem Bảng 14 – 1). Nhưng cần lưu ý là năm 2004, Internet lần đầu tiên cho thấy dường như nó đang làm suy yếu vị trí thống trị của truyền hình. Xu hướng này phần nào phản ánh sự thay đổi trong thành phần khán giả. Trong các cuộc thăm dò công luận toàn quốc, những người lớn tuổi khi được hỏi thường trả lời rằng họ thích đọc báo hơn, trong khi những người trẻ tuổi hơn lại thích xem truyền hình và ngày càng ưa chuộng Internet.

Ưu thế của truyền hình phần nào phản ánh sự phát triển liên tục của phương tiện này với ý nghĩa là nguồn cung cấp tin tức và thông tin mới mẻ và luôn sẵn có. Tin tức truyền hình không còn hàm ý các chương trình tin tức buổi tối nữa. Ngày nay, tin tức được phát liên tục 24/24 giờ trên truyền hình cáp, và người xem có thể bắt sóng chương trình này. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, một cuộc thăm dò cho thấy 39% trong số những người chủ yếu xem tin tức trên truyền hình nói rằng họ biết về chiến dịch tranh cử thông qua tin tức từ mạng truyền hình quốc gia, so với 23% những người xem tin tức trên truyền hình cáp. Tám năm sau, hai tỷ lệ này đã đảo ngược tương ứng thành 32% và 44%. Một nguyên nhân khiến truyền hình cáp ngày càng có vai trò quan trọng cả trong việc thu hút số lượng khán giả lẫn việc thông tin cho công chúng chính là những hình thức phi truyền thống để cung cấp các thông tin dưới dạng tin tức. Các chương trình thông tin giải trímột sự kết hợp giữa tin tức và giải trí, ví dụ như các chương trình đối thoại, hài kịch chính trị, và thậm chí cả MTV (âm nhạc theo yêu cầu) cũng được coi là nguồn thông tin chính trị theo kết quả thăm dò dư luận.

Như vậy, chúng ta đã tập trung vào hình thức của phương tiện truyền thông, cả trong việc tìm hiểu lịch sử phát triển của nó lẫn việc so sánh các sở thích của người tiêu dùng. Giờ đây, chúng ta sẽ chuyển sang nội dung của truyền thông, các thông tin dành cho công dân mà truyền thông được dự kiến chuyển tải. Nếu những khác biệt trong hình thức và thị phần của các phương tiện truyền thông được biểu hiện rõ rệt nhất trên khía cạnh kinh doanh, thì nội dung của truyền thông có thể được mô tả tương đối đúng là kết quả của cuộc cạnh tranh “chính trị”. Cuộc chạy đua giành ảnh hưởng – một mặt là giữa các chính trị gia và mặt khác là giữa chính trị gia và nhà báo – sẽ quyết định những thông tin của ai được phương tiện truyền thông truyền tải tới công chúng.

Nền chính trị tạo ra tin tức

Từ năm 1962 cho tới tận khi nghỉ hưu vào năm 1981, Walter Cronkite phụ trách chương trình Tin tức buổi tối của đài CBS (CBS Evening News). Trong nhiệm kỳ của ông, các cuộc thăm dò dư luận liên tục cho thấy ông là một trong những người đáng tin cậy nhất nước. Khi Cronkite kết thúc mỗi chương trình của mình rất đơn giản bằng câu nói “Và mọi việc là như vậy”, công chúng Mỹ tin lời ông. Nhưng việc tạo ra tin tức có phải chỉ là “hình ảnh phản chiếu” thực tế một cách đơn giản và khách quan? Người dân Mỹ đã quen với việc nghĩ về tin tức – đặc biệt là tin tức truyền hình – theo cách như vậy. Có lẽ sẽ hợp lý và chính xác hơn khi bớt nghĩ về tin tức như sự phản ánh thực tế khách quan, mà đúng hơn là một cách thức trình bày cụ thể những sự kiện và thực tế.

Phần lớn các tin tức chính trị đều không đòi hỏi phải đưa các sự kiện. Một phân tích kỹ lưỡng về nội dung của hai tờ báo lớn cho thấy rằng chỉ có ít hơn 1% các bản tin liên quan tới chính trị có nêu sự kiện. Thay vào đó, hầu hết các tin tức được khảo sát trích ra từ các cuộc đàm thoại chính trị đều nhằm thu hút sự chú ý của công chúng. Một phần tư các bản tin được rút ra từ các cuộc phỏng vấn và 42% tin tức khác là từ các cuộc họp báo và thông cáo báo chí. Các cá nhân và tổ chức tham gia vào buổi trò chuyện đóng góp 2/3 nguồn tin tức của tất cả các tin chính trị.

Các cuộc đàm thoại chính trị có rất nhiều hình thức – từ các tuyên bố chính thức tới các thông cáo báo chí, tới các cuộc chuyện trò “ngoài luồng” với một phóng viên trong bữa trưa. Các chính trị gia sử dụng những hoạt động này bởi chúng quan trọng đối với thành công của họ. Khi những người bẩm sinh nói nhiều như các quan chức được bầu xuất hiện trước ống kính truyền hình, luôn có một mục đích chính trị ẩn sau mọi nỗ lực của họ để truyền tin. Họ có thể đơn giản chỉ đang cố gắng xuất hiện nhiều hơn trước công chúng, hoặc tìm kiếm sự ủng hộ của công chúng đối với quan điểm của mình trên một số vấn đề. Thường thường, mục tiêu của các nỗ lực này không phải là công chúng, mà là các chính trị gia khác ở Washington. Nhưng cho dù chiến lược ẩn sau những lời phát biểu công khai của họ là gì, họ luôn phải thuyết phục được một phóng viên rằng những gì họ đang nói đáng được thông tin cho khán giả.

Các bài trước đã lưu ý một số hoạt động tạo ra tin tức được tiến hành với những mục đích cụ thể – ví dụ như việc xuất bản tập Người liên bang, việc xây dựng trang web và tờ tin nội bộ cho thành viên của các nhóm lợi ích, việc chọn Birmingham và Selma là nơi diễn ra các cuộc biểu tình lớn đòi quyền công dân, việc quảng bá cho chiến dịch tranh cử, và việc các tổng thống tổ chức những bựa tiệc chỉ dành riêng cho nam giới nhân dịp ký kết các dự luật trong Vườn hồng của Nhà Trắng. Trong mỗi trường hợp này, một số người – ví dụ như James Madison và Linh mục Martin Luther King Jr. – tạo ra tin tức để tác động tới công luận và cuối cùng là tới quan điểm của những nhà lãnh đạo khác.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Samuel Kernell & Gary C. Jacobson – Logic chính trị Mỹ – NXB CTQG 2007.