Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần cuối


Một thách thức khác từ trong nước đối với việc duy trì trật tự mở liên quan đến vấn đề can thiệp. Trong thời đại khủng bố xuyên quốc gia, một số mức độ can thiệp là không thể tránh khỏi, và Trung Đông có thể gặp phải bất ổn chính trị trong nhiều thập kỷ, giống như Đức trong thế kỷ XVII. Những khủng hoảng này sẽ tạo ra những cám dỗ để can thiệp; nhưng trong thời đại của chủ nghĩa dân tộc và dân số được xã hội huy động, sự chiếm đóng của nước ngoài gây ra sự phẫn nộ, và các giai đoạn vượt lố theo chủ nghĩa tối đa gây nhiều thiệt hại hơn là chính sách thu hẹp đối với sự đồng thuận trong nước cần thiết để ủng hộ một trật tự quốc tế mở. Sự leo thang của cuộc chiến tranh Việt Nam thời kỳ Kennedy và Johnson đã tạo ra một thập kỷ hướng nội vào những năm 1970; cuộc xâm lược của Tổng thống Bush vào năm 2003 cũng có kết quả tương tự trong những năm tiếp theo.

Sự phân cực chính trị có thể sẽ tiếp tục, và xu hướng sử dụng các chiến thuật mị dân liên quan đến các vấn đề chính sách đối ngoại để hạn chế khả năng của Mỹ trong việc củng cố các thể chế, tạo ra các mạng lưới và thiết lập các chính sách để đối phó với môi trường xuyên quốc gia mới. Chủ nghĩa dân túy bài ngoại làm suy giảm cả vốn quý của nước Mỹ với vai trò trung tâm của mạng lưới và sức mạnh mềm của Mỹ. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy sự suy giảm sức hấp dẫn của Hoa Kỳ kể từ năm 2017. Bế tắc chính trị trong nước thường chặn lại các quan điểm dài hạn về lợi ích quốc gia. Ngya trước thời kỳ của Trump, Thượng viện Hoa Kỳ đã thất bại trong việc phê chuẩn Công ướng về Luật Biển mặc dù có sự chứng thực của Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng rằng cần phải tăng cường tự do hàng hải. Và Nixon, chứ không phải Trump, là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tìm cách giành được các lá phiếu trong nước bằng cách đơn phương áp thuế đối với các đồng minh và phá vỡ các quy tắc của hệ thống Bretton Woods. Về vấn đề dẫn tới biến đổi khí hậu, vốn đã có sự phản kháng mạnh mẽ với việc đặt giá khí thải carbon từ rất lâu trước khi Trump bước vào Nhà Trắng.

Ngoài những xu hướng xã hội ảnh hưởng đến khả năng chuyển đổi quyền lực nói trên, sự không chắc chắn về vị trí của nước Mỹ hiện nay trên thế giới còn tăng lên do tính cách độc nhất khác thường của vị Tổng thống thứ 45. Các nhà khoa học xã hội có xu hướng giải thích sự thay đổi trong nền chính trị thế giới về khía cạnh các lực lượng xã hội hoặc cấu trúc rộng; nhưng, như tôi đã chỉ ra trong một nghiên cứu trước đó, mỗi thành tố riêng lẻ cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự trỗi dậy của nước Mỹ như một cường quốc thế giới. Gautam Makunda đã chỉ ra rằng một số nhà lãnh đạo được sang lọc qua quá trình hoạt động chính trị, và họ thường dễ đoán hơn. Những người khác thì không được sàng lọc như vậy và phạm vi             hoạt động của họ rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, Abraham Lincoln là một lựa chọn tương đối không được sàng lọc và thường được coi là một trong những tổng thống tốt nhất của Mỹ. Donald Trump tham gia chính trị với nền tảng từ một nhà đầu tư bất động sản ở New York và nhân vật truyền hình thực tế, và vị trí “tổng thống” là công việc đầu tiên của ông trong chính phủ. Ông đã chứng tỏ là có kỹ năng phi thường trong việc làm chủ phương tiện truyền thông hiện đại và thách thức hiểu biết thông thường, và được trao cho sự đổi mới đột phá. Mặc dù một số người tin rằng điều này có thể tạo ra kết quả tích cực đáng ngạc nhiên, những người khác (bao gồm cả tác giả bài viết này) vẫn còn hoài nghi. Trong mọi trường hợp, nhiệm kỳ của ông vẫn chưa kết thúc.

Vào giữa nhiệm kỳ năm 2018, trong số bốn thành phần chính của cái gọi là trật tự tự do được xác định ở trên – an ninh, kinh tế, dân chúng toàn cầu, nhân quyền và các giá trị tự do – thành tích được trộn lẫn vào nhau. Cho đến nay, mặc dù chính quyền Trump đã làm suy yếu các liên minh của nước Mỹ, nhưng nó đã không phá hủy chúng. Và các chế độ an ninh để kiềm chế sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt bị thách thức nhưng vẫn được duy trì. Thiệt hại cho các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các tổ chức liên quan đến thương mại, dường như lớn hơn so với trật tự tiền tệ (nơi đồng USD vẫn chiếm ưu thế). Về các vấn đề chung toàn cầu, chính quyền Trump đã rút Hoa Kỳ ra khỏi Hiệp định khí hậu Paris, nhưng việc căn cứ vào thị trường thay thế khí đốt tự nhiên cho than đá vẫn tiếp tục. Về giá trị, trái ngược với những người tiền nhiệm, Trump tỏ ra ít quan tâm đến nhân quyền và sẵn sàng đi theo các nhà lãnh đạo độc đoán, nhưng ít bị can thiệp hơn. Một số người bảo vệ chính quyền này cho rằng phong cách không chính thống và sẵn sàng thoát ra khỏi các quy tắc của ông sẽ tạo ra lợi ích lớn cho các vấn đề như vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hoặc thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến chuyển giao sở hữu trí tuệ. Nhưng ngay cả như vậy, như tờ The Economistlập luận, chi phí bộ máy khi sử dụng cách tiếp cận có tính phá hủy có thể làm giảm sức mạnh của Mỹ trong việc đối phó với các vấn đề xuyên quốc gia mới như biến đổi khí hậu. Nếu điều đó đúng, nó sẽ là sự minh chứng tốn kém cho vị trí của nước Mỹ trên thế giới.

Kết luận

Hoa Kỳ sẽ vẫn là cường quốc quân sự hàng đầu thế giới trong những thập kỷ tới và lực lượng quân sự sẽ vẫn là một thành phần quyền lực quan trọng trong nền chính trị toàn cầu. Như Stephen Brooks và Williams Wohlforth lập luận, “sự phân phối khả năng giữa các quốc gia không thay đổi nhiều hay nhanh như người ta vẫn thường tin”. Nhưng họ cũng chỉ ra rằng hiểu biết uyên thâm thông thường về những gì Hoa Kỳ nên làm với sức mạnh của mình đã trải qua sự thay đổi to lớn ngay trong nước Mỹ. Tính phổ biến mới đây của cách tiếp cận chiến lược tổng thể được gọi là cân bằng ngoài khơi, thu hẹp, rút lui hoặc kiềm chế đã có sự thay đổi trong dư luận Mỹ sau Chiến tranh Lạnh. Ngay cả trước khi chính quyền Trump bắt đầu năm 2017, đã có phản ứng chống lại chủ nghĩa can thiệp của Wilson và một số người hoài nghi đã đặt câu hỏi về trật tự hậu 1945. Những người theo chủ nghĩa hiện thực như John Mearsheimer lập luận rằng mặc dù nền dân chủ tự do là hệ thống chính trị tốt nhất ở trong nước, thì trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chủ nghĩa tựdo lại là nguồn gốc của những rắc rối vô tận… Các quốc gia hùng mạnh đi theo bá quyền tự do luôn gặp rắc rối nghiêm trọng cả trong và ngoài nước… Nguồn gốc của vấn đề là chủ nghĩa tự do có một tinh thần năng động được đan cài vào cốt lõi của nó. Niềm tin rằng tất cả mọi người đều có một tập hợp các quyền không thể xâm phạm hay bác bỏ và việc bảo vệ các quyền này quan trọng hơn các mối quan tâm khác, tạo ra động cơ mạnh mẽ để các quốc gia tự do hành động can thiệp.

Những cuộc thập tự chinh và bá quyền tự do đã lỗi thời

Đồng thời, một Trung Quốc đang trỗi dậy và một nước Nga đang suy tàn khiến các nước láng giềng sợ hãi, và các đảm bảo an ninh của Mỹ ở châu Á và châu Âu mang lại sự bảo đảm then chốt để củng cố sự ổn định làm nền tảng cho thịnh vượng. Tuy nhiên, lực lượng quân sự là một công cụ cùn. Việc cố gắng thâm nhập và kiểm soát nền chính trị của những dân tộc theo chủ nghĩa quốc gia trong các cuộc cách mạng ở Trung Đông là một công thức cho sự thất bại mà sẽ cho thấy sự phản tác dụng. Và đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, bao gồm biến đổi khí hậu, ổn định tài chính hoặc các chuẩn mực để kiểm soát Internet, lực lượng quân sự không phải là câu trả lời. Sức mạnh hải quân không tạo ra sức mạnh trong không gian mạng. Duy trì mạng lưới, làm việc với các tổ chức, tạo ra các chuẩn mực cho các lĩnh vực mới như không gian mạng  và biến đổi khí hậu tạo ra sức mạnh mềm cần thiết để bổ sung cho các nguồn lực cứng của Mỹ. Tuy nhiên, đây là loại quyền lực bị thách thức bởi các chính sách đơn phương của Trump.

Các thuật ngữ “trật tự quốc tế tự do” hay “hòa bình của Mỹ” đã trở nên lỗi thời như những mô tả về vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới, nhưng nhu cầu đối với các nước lớn cung cấp hàng hóa công cộng thì vẫn còn. Một trật tự quốc tế mở bao gồm các vấn đề quân sự-chính trị; quan hệ kinh tế; quan hệ sinh thái; và quyền con người, dù trực tiếp hay gián tiếp. Vẫn còn phải xem xét về mức độ phụ thuộc lẫn nhau của những vấn đề này và những gì sẽ còn lại khi khối trật tự quốc gia năm 1945 được tháo dỡ. Còn di sản của Wilson – 1918 thì đã mất từ lâu. Thúc đẩy dân chủ có thể là một nguồn sức mạnh mềm, nhưng chỉ khi tiềm lực còn khiêm tốn. Sự can thiệp thái quá để thúc đẩy dân chủ trong quá khứ đã gây ra một phản ứng phản tác dụng. Bộ phận tân bảo thủ của chủ nghĩa Wilson không có khả năng thành công. Các cuộc thập tự chinh vì các giá trị tự do sẽ không được ủng hộ từ cả trong hay ngoài nước.

Mặt khác, di sản của Wilson về phát triển các tổ chức quốc tế tiếp tục có ý nghĩa. Sự lãnh đạo không giống như sự thống trị, và nó sẽ cần phải được chia sẻ. Trong suốt bảy thập kỷ đứng ở vị trí vượt trội sau năm 1945, Mỹ luôn ở vai trò lãnh đạo và có ảnh hưởng. Hiện nay, với sự vượt trội ít hơn và trong một thế giới phức tạp hơn, chủ nghĩa biệt lệ của Mỹ nên tập trung vào việc chia sẻ cung cấp hàng hóa công cộng toàn cầu, đặc biệt là những lĩnh vực đòi hỏi phải thực thi “quyền lực” với những quốc gia khác Những hiểu biết từ thế kỷ cũ của Wilson về các thể chế quốc tế và một trật tự dựa trên các quy tắc sẽ vẫn rất quan trọng; nhưng vị trí của Mỹ trong thế giới đó có thể bị đe dọa nhiều hơn bởi sự trỗi dậy của quan điểm chính trị dân túy ở chính trong nước hơn là sự trỗi dậy của các cường quốc khác ở bên ngoài.

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Định vị chủ đề cốt lõi trong chính sách của Biden với Trung Quốc


Chính quyền Biden đang chuyển sang đặt chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mạng di động thế hệ tiếp theo làm trọng tâm trong chiến lược của Mỹ đối với châu Á, đồng thời nỗ lực tập hợp lực lượng mà các quan chức gọi là “các nền dân chủ công nghệ” để chống lại Trung Quốc và các “nền chuyên chế công nghệ” khác.

Khuôn khổ mới trong cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung càng trở nên gay gắt hơn bởi sự thiếu hụt đột ngột trên toàn cầu các con chip cần thiết trong các sản phẩm ô tô, điện thoại di động và tủ lạnh. Chiến lược này sẽ tìm cách tập hợp một liên minh các quốc gia chiến đấu để giành được lợi thế trong hoạt động chế tạo chất bán dẫn và điện toán lượng tử, bỏ qua các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như kho dự trữ tên lửa và số lượng các binh sĩ.

Các quan chức chính phủ đương nhiệm và các cựu quan chức, cùng với các chuyên gia bên ngoài, cho rằng các kế hoạch của Chính quyền Biden trong lĩnh vực công nghệ là một mô hình thu nhỏ của các kế hoạch rộng lớn hơn nhằm thực hiện một cách tiếp cận theo định hướng liên minh nhiều hơn nhưng vẫn thù địch với Trung Quốc, sau khi Washington đã có một cách tiếp cận đầy hỗn loạn dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Lindsay Gorman, chuyên gia về các công nghệ mới nổi tại Quỹ Marshall Đức của Mỹ, cho biết: “Hiện có một nhận thức mới về tầm quant rọng của chất bán dẫn trong cuộc đấu tranh địa chính trị này bởi vì các con chíp là nền tảng cho mọi công nghệ trong kỷ nguyên hiện đại. Mỹ và các đối tác dân chủ của họ đang nỗ lực để tăng cường lợi thế so sánh về công nghệ này”.

Cách tiếp cận này một phần dựa trên việc ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận với một số công nghệ nhất định càng lâu càng tốt, tìm cách chèn ép những “gã khổng lồ” Trung Quốc như Huawei Technologies Co., và thậm chí “bắt chước” cách làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng việc tăng cường sự can dự của chính phủ vào các ngành công nghiệp then chốt khi cần thiết.

Điều này diễn ra khi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Tập Cận Bình, dự kiến sẽ trình bày cách họ sẽ làm để đưa công nghệ trở thành trung tâm của sự phát triển trong tương lai tại kỳ họp Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc (Quốc hội), dự kiến khai mạc vào cuối tuần này.

Một số nhân vật am hiểu về hoạt động hoạch định chính sách của chính quyền Mỹ và đặc biệt là của ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực châu Á của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ – cho biết ông Campbell đang hướng tới một cách tiếp cận rộng hơn và tập trung nhiều hơn vào một số đối tác chính như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, đồng thời triển khai các biện pháp khuyến khích nhằm đưa hoạt động sản xuất con chíp trở lại Mỹ.

Lĩnh vực sản xuất chip cũng nằm trong các kế hoạch củng cố “Bộ Tứ” (Quad) – liên minh giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, từng được thúc đẩy mạnh mẽ dưới thời cựu Tổng thống Trump – bao gồm cả việc cuối cùng sẽ đưa thêm nhiều hoạt động sản xuất công nghệ đến Nam Á.

Cuộc chiến về con chíp – và sự chú ý mà lĩnh vực này nhận được ngay trong những ngày đầu tiên của Chính quyền Biden – đang trở nên cấp bách đối với chính quyền mới ở Nhà Trắng bởi sự cần thiết của chúng. Tình trạng thiếu hụt chíp trên toàn cầu, một phần do hoạt động dự trữ của Trung Quốc và nhu cầu tăng vọt trong thời kỳ đại dịch, đã buộc một số nhà sản xuất ô tô Mỹ phải đóng cửa các nhà máy và bộc lộ những điểm yếu trong chuỗi cung ứng của Mỹ khi họ phải phụ thuộc quá nhiều vào một số nhà sản xuất ở châu Á.

Ngày 24/2, Tổng thống Joe Biden đã yêu cầu tiến hành cuộc đánh giá chuỗi cung ứng toàn cầu đối với chíp cũng như pin dung lượng lớn, dược phẩm, khoán sản quan trọng và vật liệu chiến lược như đất hiếm. Hầu hết các chíp của Mỹ đến từ Đài Loan, nơi Trung Quốc vẫn luôn tuyên bố là lãnh thổ của mình, và gần như tất cả số đất hiếm của Mỹ đều được nhập từ Trung Quốc. Trung Quốc nhanh chóng tuyên bố rằng cam kiết tìm nguồn cung ứng thay thế là viển vông.

Các quan chức nói rằng còn quá sớm để biết được chi tiết chiến lược của Mỹ sẽ như thế nào. Ý tưởng về “các nền dân chủ công nghệ” thách thức “các nền chuyên chế công nghệ” xuất hiện trogn một bài phân tích đăng trên tạp chí Foreign Affairs vào cuối năm 2020 nhằm kêu gọi xây dựng “một diễn đàn toàn diện, trong đó các nước cùng chí hướng có thể cùng nhau đưa ra các phản ứng chung” để đáp trả thách thức đến từ Trung Quốc.

Trong buổi họp báo ngày 22/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết: “Chúng ta phải cùng nhau đương đầu với thách thức này – sự lạm dụng của Trung Quốc, các hành vi cướp bóc của Trung Quốc xuất khẩu các công cụ mà họ sử dụng để củng cố hơn nữa chủ nghĩa chuyên chế về công nghệ”.

Cách tiếp cận này đã nhận được phản ứng tích cực từ Quốc hội, nơi các nhà lập pháp đang đề xuất một số dự luật nhằm khuyến khích đưa hoạt động sản xuất chíp trở về nước, và Đạo luật các lĩnh vực vô tận để đầu tư nhiều hơn vào tiến bộ công nghệ.

Từ máy bay F-35 tới những chiến điện thoại

Thượng nghị sĩ John Cornyn, đảng viên đảng Cộng hòa của bang Texas, phát biểu sau khi gặp ông Biden tại Nhà Trắng hôm 24/2: “Tất cả chúng ta đều hiểu điều này là quan trọng, không chỉ đối với nền kinh tế của chúng ta mà còn đối với an ninh quốc gia của chúng ta, bởi những chất bán dẫn cao cấp, tiên tiến này – chúng ta cần cho tất cả mọi thứ, từ máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ năm F-35 đến điện thoại di động của chúng ta”.

Mặc dù nhiều ý tưởng trong kế hoạch đang được xây dựng có từ thời Chính quyền Trump, song những người ủng hộ kế hoạch này nói rằng một trong những điểm khác biệt là nỗ lực gắn kết các yếu tố khác nhau thành một chiến lược thống nhất. Dưới thời Trump, cứng rắn với Trung Quốc thường xung đột với việc ông tập trung nỗ lực để đạt được một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh, từ đó làm xáo trộn thông điệp của Mỹ.

Những người ủng hộ Tổng thống Biden nói rằng chiến lược của ông sẽ bao gồm hợp tác chặt chẽ hơn với các quốc gia khác, tìm cách củng cố các mối quan hệ đối tác hiện có nhưng hiếm khi được sử dụng. Đứng đầu trong số đó là “Bộ Tứ” và niềm tin rằng Ấn Độ hiện nay có thể đã sẵn sàng chống lại Trung Quốc trong bối cảnh giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới này gần đây xảy ra căng thẳng.

Rexon Ryu, đối tác quản lý của Asia Group – một hãng tư vấn chiến lược có trụ sở ở Washington, cho biết: “Một trong những mục tiêu chính là mở rộng và làm sâu sắc thêm nền tảng quyền lực và ảnh hưởng trong khu vực và chúng ta làm điều đó tốt nhất khi chúng ta hợp tác với các đồng minh và đối tác. Không phải chúng ta nói với các quốc gia khác những gì họ không thể làm đối với mạng 5G và trí tuệ nhân tạo mà là về những gì chúng ta có thể cùng nhau làm”.

Điều này cũng dựa trên ý thức rằng Trung Quốc về cơ bản đã buộc Mỹ phải bắt đầu cắt đứt các yếu tố của quan hệ kinh doanh và công nghệ trong một kế hoạch gọi “tách rời”. Về cơ bản, Trung Quốc đã xây dựng cơ sở hạ tầng Internet của riêng mình, ngăn chặn nhiều phương tiện truyền thông và mạng xã hội của Mỹ như Twitter và Facebook, đồng thời thể hiện sự sẵn sàng sử dụng quy mô thị trường và sức mạnh kinh tế của mình như một loại vũ khí để khiến các quốc gia khác rơi vào tình thế khó khăn.

Một điều trớ trêu trong quan hệ Mỹ – Trung là bất chấp tất cả các tranh luận truyền thống của Mỹ về chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản, lưỡng đảng Mỹ ở Washington ngày càng ủng hộ việc chính phủ đóng vai trò lớn hơn trong việc cung cấp các động lực và đầu tư vào các công ty.

Elizabeth Economy, thành viên cấp cao tại Viện Hoover của Đại học Stanford, cho biết: “Để cạnh tranh, chúng ta sẽ phải thay đổi cách chơi. Trung Quốc sẽ không thích ứng với các quy tắc mà chúng ta đặt ra, nên chúng ta phải thích ứng”.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 04/03/2021

Hệ lụy từ việc trì hoãn ngân sách đối với Lầu Năm Góc


Hãy coi đề xuất ngân sách của Tổng thống Mỹ là “phát súng lệnh” cho quy trình ngân sách liên bang. Một khi tổng thống đề xuất, Quốc hội có thể tiếp tục “định đoạt”.

Khi tổng thống chậm công bố đề xuất ngân sách, điều này sẽ khiến Quốc hội rơi vào tình trạng khó khăn về mặt thời gian và cũng không có lợi cho việc đưa ra quyết định sáng suốt. Nếu Quốc hội sau đó không đáp ứng được thời hạn chót phê chuẩn dự luật ngân sách của chính họ. Quốc hội có thể đặt các cơ quan liên bang vào tình trạng bế tắc cho năm tài chính mới. Điều này đặc biệt gây vấn đề nghiêm trọng cho Lầu Năm Góc và đối với an ninh quốc gia của Mỹ.

Theo luật, tổng thống phải đệ trình đềxuất ngân sách lên Quốc hội “vào hoặc sau ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Một,nhưng không muộn hơn ngày thứ Hai đầu tiên của tháng 2 hàng năm”. Năm nay, việc chuyển giao chiếc ghế tổng thống khiến việc không kịp thời hạn cuối để đưa ra đề xuất ngân sách là điều không thể tránh khỏi. Câu hỏi giờ đây là: Khi nào sẽ đệ trình đề xuất ngân sách.. và thiệt hại do sự chậm trễ này sẽ lên tới mức độ như thế nào?

Một phân tích mới đây của Viện Nghiên cứu Lập pháp Quốc hội cho thấy trong 4 lần chuyển giao tổng thống gần đây nhất, thời gian chậm nộp ngân sách trung bình là 65 ngày. Trong số đó, chính quyền Donald Trump là nhanh nhất, chỉ nộp đề xuất ngân sách muộn 38nga2y. Chính quyền Obama là chậm nhất, khi quá hạn tới hơn 3 tháng (94 ngày).

Đồng hồ bắt đầu điểm đối với chính quyền Biden từ ngày 1/2 vừa qua. Giả sử thời gian chậm trình đề xuất ngân sách ở mức trung bình, Tổng thống Biden sẽ công bố dự thảo ngân sách của ông vào ngày 7/4 tới. Rõ ràng, đây là mức tối ưu. Mỗi ngày đề xuất ngân sách bị trì hoãn càng hạn chế thời gian Quốc hội thảo luận, một quá trình mà bản thân nó đã ngày càng trở nên chậm chạp. Theo luật, Quốc hội có khoảng 8 tháng, kể từ thời điểm dự kiến trình dự thảo ngân sách của tổng thống vào đầu tháng 2 đến ngày 1/10, để điều chỉnh các nguồn lực cho phù hợp cho tài khóa mới.

Quốc hội không thể bắt đầu tiến trình thảo luận sớm, vì ngay cả các nhà lập pháp dày dạn kinh nghiệm cũng không thể dự đoán những gì được đề cập trong đề xuất ngân sách của tổng thống. Sự giám sát của Quốc hội chủ yếu tập trung vào những thay đổi nào được đề xuất so với ngân sách năm ngoái, điều này chỉ được biết rõ khi Quốc hội có trong tay bản đề xuất.

Vậy, khi nào chính quyền Biden sẽ phân bổ ngân sách của mình?

Trong phiên điều trần bổ nhiệm, tân Thứ trưởng Quốc phòng Kathleen Hicks đã báo hiệu rằng điều này có thể xảy ra muộn hơn. Theo bà, việc đệ trình ngân sách sẽ là một thách thức đối với chính quyền mới, cần có sự hỗ trợ và thông cảm.

Tuy nhiên, dù thách thức ở mức độ nào, đó cũng là một trong những thách thức mà Bộ Quốc phòng phải đối mặt. Một số quan chức Lầu Năm Góc đã lên tiếng về những thiệt hại do việc phân bổ ngân sách không được đưa ra đúng thời hạn.

Phân bổ ngân sách nhiều đợt khiến quân đội mất nhiều thời gian quý báu. Nhiều quỹ do Lầu Năm Góc kiểm soát chỉ có thể được chi tiêu trong năm tài chính mà chúng được phân bổ. Do đó, nếu việc giải ngân không diễn ra trước tháng 4 của tài khóa thì chỉ còn 8 tháng để phân bổ các nguồn lực đó. Điều này làm giảm thời gian đưa ra các quyết định chi tiêu.

Hơn nữa, do Lầu Năm Góc không thể bắt đầu các hoạt động mới theo các quyết định phân bổ ngân sách liên tục, các hoạt động mới được lên kế hoạch cho tài khóa sẽ bị trì hoãn cho đến khi có đủ các khoản dự phòng cho cả năm. Do đó, bất kỳ chương trình mới nào mà việc thực thi phụ thuộc vào thời gian đều sẽ bị ảnh hưởng.

Đây là một phần lý do tại sao các nhà lãnh đạo quân đội nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có phân bổ ngân sách trước khi bắt đầu tài khóa Họ đã học được bài học này từ kinh nghiệm cay đắng trong quá khứ.

Từ năm 2010 – 2018, ngay cả những năm không có chuyển giao tổng thống hay sự chậm trễ trong việc đệ trình ngân sách, Lầu Năm Góc đều bước vào tài khóa mới với ngân sách hoạt động tạm thời chứ không có dự luật phân bổ ngân sách quốc phòng cuối cùng. Rõ ràng, việc tổng thống đệ trình ngân sách kịp thời không đảm bảo rằng Quốc hội sẽ đápứng các nghĩa vụ ngân sách của họ, nhưng việc đệ trình muộn sẽ khiến các nhà lập pháp càng khó đáp ứng đúng thời hạn.

Vì những lý do này, chính quyền Biden nên đặt mục tiêu phá kỷ lục do chính quyền Trump thiết lập trong việc đệ trình ngân sách cho tài khóa đầu tiên sau khi lên nắm quyền. Bằng cách công bố đề suất ngân sách vào hoặc trước ngày 11/3, chính quyền Biden sẽ loại bỏ phần lớn bất kỳ lý do nào mà Quốc hội có thể viện dẫn để không thông qua ngân sách quốc phòng trước đầu tài khóa 2022.

Chính quyền hiện đang xem xét dự thảo ngân sách quốc phòng đã được các cơ quan và Bộ Quốc phòng soạn thảotrong hơn một năm rưỡi qua. Tất nhiên, chính quyền mới phải cân nhắc kỹ nội dung của dự thảo này, đồng thời cũng cần nhận thức rõ rằng sự chậm trễ phát sinh không phải là không bị phạt.

Dự thảo ngân sách tốt được trình lên Quốc hội vào tháng 3 hoặc tháng 4 sẽ tốt hơn là một dự thảo hoàn hảo được đưa ra vào tháng 5.

Nguồn: TKNB – 03/03/2021.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần V


Khi Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế khác phát triển, thị phần của Mỹ trong nền kinh tế thế giới sẽ ít hơn so với đầu thế kỷ này và sự trỗi dậy của các quốc gia khác sẽ khiến Mỹ gặp khó khăn hơn trong việc triển khai hành động. Nhưng không có quốc gia nào khác, kể cả Trung Quốc, sắp sửa thay thế vị trí của Mỹ trên thế giới về sức mạnh tổng thể. Nước Nga đang suy giảm nhân khẩu học và phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu năng lượng; Ấn Độ và Brazil (mỗi nước có nền kinh tế trị giá 2 nghìn tỷ USD) vẫn là các nước đang phát triển. Cũng không phải là một liên minh thực sự tin cậy của những nền độc tài, với sự ngờ vực tiềm ẩn giữa Nga và Trung Quốc. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh của châu Á cũng có nghĩa là một sự thay đổi quyền lực trong khu vực, nhưng tại châu Á, sức mạnh của Trung Quốc được cân bằng bởi Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, trong số những quốc gia khác. Hoa Kỳ sẽ vẫn rất quan trọng đối với cán cân sức mạnh châu Á này. Nếu Hoa Kỳ duy trì các liên minh trong khu vực, có rất ít triển vọng để Trung Quốc có thể dồn đẩy Mỹ từ phía tây Thái Bình Dương và ít triển vọng hơn nữa trong việc thống trị thế giới.

Vị trí của Hoa Kỳ và hàng hóa công cộng toàn cầu

Quy mô kinh tế và quân sự là một nguồn giải thích khác cho chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ và nếu Hoa Kỳ vẫn là cường quốc mạnh nhất, có một trường hợp cho quốc gia lớn nhất dẫn đầu trong việc tổ chức sản xuất hàng hóa chung toàn cầu. Tuy nhiên, vai trò đó đòi hỏi một định nghĩa rộng về lợi ích quốc gia thay vì tập trung hẹp vào việc hưởng thụ miễn phí (free-riding). Trong một số lĩnh vực về hàng hóa quân sự và kinh tế, vai trò lãnh đạo của Mỹ đã cung cấp khá nhiều. Chẳng hạn, Hải quân Hoa Kỳ rất quan trọng trong việc kiểm soát Luật Biển và bảo vệ tự do hàng hải, và trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008 – 2009, Cục Dự trữ Liên bang đem đến sự tự tin từ việc có người cho vay cho phương sách cuối cùng.

Về các vấn đề xuyên quốc gia mới, mặc dù vai trò lãnh đạo của Mỹ vẫn quan trọng, nhưng để thành công sẽ cần sự hợp tác của nhiều quốc gia khác. Theo nghĩa này, quyền lực trở thành một trò chơi có tổng lợi ích là số dương. Sẽ là không đủ khi nghĩ về quyền lực Mỹ áp đặt lên những quốc gia khác. Người ta cũng phải suy nghĩ về quyền lực để hoàn thành các mục tiêu chung liên quan đến việc thực thi quyền lực cùng với nhau. Đối với nhiều vấn đề xuyên quốc gia, việc trao quyền cho nước khác có thể giúp Hoa Kỳ hoàn thành các mục tiêu của riêng mình. Nước Mỹ sẽ được hưởng lợi nếu Trung Quốc cải thiện hiệu quả năng lượng và thải ra lượng carbon dioxide ít hơn. Trong thế giới ngày nay và tương lai dự đoán được, mạng lưới và kết nối là nguồn sức mạnh quan trọng. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, các quốc gia kết nối nhiều nhất là mạnh nhất. May mắn thay, Hoa Kỳ đứng đầu trong bảng xếp hạng các quốc gia của Viện Lowy của Australia dựa theo số lượng đại sứ quán, lãnh sự quán và phái bộ. Washington cũng có khoảng 60 đồng minh hiệp ước; trong khi Trung Quốc có ít hơn.

Trong quá khứ, sự cởi mở của Hoa Kỳ đã tăng cường năng lực xây dựng mạng lưới, duy trì các thể chế và các liên minh. Liệu sự cởi mở và sẵn sàng tham gia với phần còn lại của thế giới sẽ chứng minh sự bền vững trogn nền chính trị nội tại của nước Mỹ, hay chúng ta sẽ thấy một thế kỷ XXI tương tự với những năm 1930? Ngay cả khi Hoa Kỳ sở hữu nhiều tài nguyên về quân sự, kinh tế và quyền lực mềm hơn bất kỳ quốc gia nào khác, họ có thể không chọn cách chuyển đổi các tài nguyên đó thành hành vi quyền lực hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu – như họ đã không làm trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, với phản ứng theo chủ nghĩa biệt lập trước sự vượt quá của người theo chũ nghĩa Wilson. Cựu Ngoại trưởng Medeleine Albright gần đây đã chú ý tới mối nguy hiểm: “Tôi lo sợ sự trở lại với bầu không khí quốc tế mà đã tồn tại trong những năm 1920 và 1930 đó”.

Nếu chìa khóa cho vị trí tương lai của nước Mỹ trên thế giới là sự tiến triển thái độ hợp tác và học hỏi tầm quan trọng của “quyền lực cùng với” cũng như “quyền lực áp đặt”, thì nó không được cổ vũ trong những năm đầu của chính quyền Trump. “Nước Mỹ trên hết” ở một cấp độ chỉ là một khẩu hiệu mà mọi quốc gia đều đặt lợi ích của mình lên hàng đầu: câu hỏi quan trọng là những lợi ích đó được định nghĩa rộng hay hẹp như thế nào. Nhưng Trump đã cho thấy một xu hướng nghiêng về các giải thích theo nghĩa hẹp, tổng bằng không. Có lẽ mối đe dọa lớn đối với vị trí của nước Mỹ trên thế giới trong tương lai không phải từ bên ngoài mà từ bên trong?

Chuyển đổi quyền lực và các mối đe dọa từ bên trong

Cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 được ghi dấu bằng những phản ứng dân túy từ cả hai đảng đối với toàn cầu hóa và các hiệp định thương mại. “Chủ nghĩa dân túy” là một thuật ngữ khá mơ hồ có thể liên quan tới ý thức hệ của cả cánh tả và cánh hữu. Nó thường biểu thị sự phản kháng đối với giới tinh hoa bao gồm cả các kiểu thể chế và các nhà bình luận đã ủng hộ trật tự quốc tế tự do trong bảy thập kỷ qua. Chủ nghĩa dân túy không phải là mới, và nó rất Mỹ cũng giống như bánh bí ngô vậy. Một số phản ứng dân túy có lợi cho dân chủ (liên hệ tới Andrew Jackson hoặc William Jenning Bryant); các cá nhân và phong trào dân túy khác, chẳng hạn như phong trào KnowNothing chống người nhập cư vào thế kỷ XIX, hay Thượng nghị sĩ Joe McCarthy và Thống đốc George Wallace trong thế kỷ XX, nhấn mạnh đến tính bài ngoại và tính thiển cận. Hiện tượng Trump phần nhiều rơi vào nhóm những người theo chủ nghĩa địa phương (ưu đãi dân bản xứ hơn dân nhập cư).

Các phản ứng dân túy bắt nguồn cả từ kinh tế và văn hóa, và là chủ đề của những nghiên cứu khoa học xã hội quant rọng. Những cử tri bị mất việc do sự cạnh tranh từ nước ngoài có xu hướng ủng hộ Trump, nhưng cũng có cả các nhóm như nam giới da trắng lớn tuỏi, những người bị mất địa vị trong cuộc chiến văn hóa bắt nguồn từ những năm 1970 và liên quan đến sự thay đổi các giá trị liên quan đến chủng tộc, giới tính và khuynh hướng tình dục. Abramowitz chỉ ra rằng, “nỗi oán giận về chủng tộc là yếu tố dự báo mạnh nhất đối với hiện tượng Trump trong số các cử tri chính của đảng Cộng hòa”, nhưng các giải thích về kinh tế và văn hóa không loại trừ lẫn nhau và Trump “rõ ràng kết nối các vấn đề này bằng cách cho rằng những người nhập cư bất hợp pháp đang cướp việc làm của công dân Mỹ”.

Ngay cả khi không có toàn cầu hóa kinh tế, thì những thay đổi văn hóa và nhân khẩu học này sẽ tạo ra chủ nghĩa dân túy ở một mức độ nào đó. Chủ nghĩa dân túy có thể sẽ tiếp tục khi công việc bị mất vào tay người máy cũng như đối với thương mại, và sự thay đổi văn hóa đang tiếp tục gây chia rẽ. Sự phân cực chính trị ở Hoa Kỳ đã bắt đầu từ trước thời kỳ của Trump và cuộc bầu cử thắng lợi của ông là một triệu chứng cũng như là nguyên nhân của nó. Bài học cho giới tinh hoa làm chính sách – những người ủng hộ toàn cầu hóa và nền kinh tế mở là họ sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề bất bình đẳng kinh tế cũng như điều chỉnh sự hỗ trợ cho những người bị suy sụp bởi thay đổi kinh tế. Thái độ đối với vấn đề nhập cư được cải thiện khi nền kinh tế được cải thiện, nhưng nhập cư vẫn là một vấn đề mang tính cảm xúc đối với một số người. Trong một cuộc khảo sát năm 2015 của Pew, 51% người Mỹ trưởng thành cho biết người nhập cư đã tăng cường cho đất nước trong khi 41% tin rằng họ là một gánh nặng; so sánh con số này với tỷ lệ 50% nhìn nhận họ như một gánh nặng vào giữa năm 2010, khi những ảnh hưởng của cuộc Đại suy thoái đang ở đỉnh điểm. Các nhà lãnh đạo sẽ phải chứng minh rằng họ có thể quản lý được đường biên giới quốc gia nếu họ muốn chống lại các cuộc tấn công từ phe dân túy, đặc biệt là trong những thời điểm và đại điểm căng thẳng về kinh tế.

Đồng thời, sẽ là một sai lầm khi nghiên cứu quá nhiều về các xu hướng dài hạn trong dư luận Mỹ từ cuộc bầu cử năm 2016 hoặc cách Trump sử dụng phương tiện truyền thông một cách thông minh để kiểm soát tin tức. Dù Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử, nhưng đã không giành được đa số phiếu phổ thông, và cuộc thăm dò tháng 9 năm 2016 của Hội đồng các vấn đề toàn cầu Chicago cho thấy 65% người Mỹ nói rằng toàn cầu hóa hầu hết là tốt cho Hoa Kỳ, bất chấp lo ngại về việc làm. Mặc dù các cuộc thăm dò ý kiến luôn dễ bị đóng khung bằng cách thay đổi các câu hỏi, nhãn “biệt lập” không phải là sự mô tả chính xác về thái độ hiện tại của người Mỹ.

Một số người Mỹ nghi ngờ về việc Hoa Kỳ có đủ khả năng để duy trì một trật tự quốc tế mở. Trên thực tế, nước này hiện dành khoảng 3,5% GDP cho quốc phòng và đối ngoại, tính theo tỷ lệ GDP, chưa bằng một nửa so với những gì họ đã làm vào thời kỳ đỉnh điểm của những năm Chiến tranh Lạnh. Các liên minh không quá tốn kém như vậy. Vấn đề không phải là súng đối chọi với bơ, mà là súng đối chọi với bơ và với thuế. Trừ khi ngân sách được mở rộng bằng cách sẵn sàng tăng thuế, chi tiêu quốc phòng bị phong tỏa trong một cuộcc đánh đổi có tổng số bằng zero với các lĩnh vực đầu tư quan trọng như cải tạo hệ thống giáo dục trong nước và cơ sở hạ tầng khác, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển. Hoa Kỳ vẫn là một trong những quốc gia phát triển bị đánh thuế nhẹ nhất, với mức thuế thu nhập năm 2012 thấp hơn 10 điểm phần trăm so với mức trung bình của các nước OECD.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga


Tối 9/3, trang mạng Thời báo Hoàn Cầu – ấn bản của tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đăng bài viết nhan đề “Chuyên gia: An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga”, trong đó nhấn mạnh an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin.

Mỹ được cho là đã phát động một loạt cuộc tấn công mạng bí mật nhằm vào Nga để trả đũa các cuộc tấn công SolarWinds trên diện rộng được cho là tiến hành từ Nga. Hành động này diễn ra cùng với những tin tức nói rằng chính quyền của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thành lập một lực lượng đặc nhiệm để đối phó với các cuộc tấn công mạng lớn mà Tập đoàn công nghệ Microsoft tuyên bố rằng có liên quan đến Trung Quốc.

Các nhà quan sát Trung Quốc cho biết, an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin, đồng thời nhắc nhở Trung Quốc thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn các mối đe dọa trên mạng.

Ngày 8/3, một nhóm các nhà lập pháp Mỹ đã đề xuất dự luật cho phép người Mỹ buộc các chính phủ nước ngoài và nhân viên của họ phải chịu trách nhiệm trước tòa án về hoạt động mạng độc hại, trong bối cảnh gia tăng các cáo buộc chống lại Nga và Trung Quốc.

Giáo sư Vương Nghĩa Nguy (Wang Yiwei), Viện trưởng Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Nhân dân của Trung Quốc nói với Thời báo Hoàn Cầu rằng việc Mỹ chơi quân bài tấn công mạng đang làm thay đổi cuộc chiến tranh tư tưởng và tìm cách độc chiếm thế giới bằng cách đàn áp bất kỳ kẻ thách thức nào với nhiều lý do.

Giáo sư Vương Nghĩa Ngụy nhấn mạnh, Nga và Trung Quốc đã phá vỡ quyền bá chủ của Mỹ trong thế giới mạng bằng những phát triển công nghệ tiên tiến. Trung Quốc, đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ như 5G, công nghệ chuỗi khối (blockchain) và tiền tệ kỹ thuật số khi mạng Internet đang trải qua sự phát triển lớn giữa các thế hệ, bị Mỹ coi là một “mối đe dọa” tiềm tàng không chỉ trong không gian mạng mà còn cả trong lĩnh vực tài chính.

Chuyên gia Vương Nghĩa Ngụy lưu ý rằng việc Mỹ cáo buộc Nga và Trung Quốc nhân danh cái gọi là dân chủ, tự do và an ninh, thực ra là đang tìm kiếm một cái cớ để nước này xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời kỳ hậu đại dịch COVID-19, qua đó loại trừ Trung Quốc và Nga, kiểm soát các đồng minh của họ từ công nghệ và dẫn đầu thế giới.

Các nguồn tin cho biết, Ấn Độ đang điều tra các vụ xâm nhập mạng bị tình nghi có thể đã ảnh hưởng đến hoạt động tại một sàn giao dịch chứng khoán quan trọng ở Ấn Độ và sự cố mất điện ở thủ đô thương mại Mumbai của nước này. Một số phương tiện truyền thông Ấn Độ và Mỹ cũng cáo buộc rằng Trung Quốc đứng đằng sau vụ tấn công bị nghi ngờ này.

Theo Thời báo Hoàn cầu, các chuyên gia tin rằng những cáo buộc về cái gọi là tấn công mạng từ Trung Quốc, mà không có bằng chứng nào, thực sự đang chính trị hóa vấn đề an ninh mạng, vốn nhằm phục vụ cho cuộc chiến dư luận và cuộc chiến thông tin của một số nước chống lại Trung Quốc. Báo cáo này dẫn lời Lỗ Hướng, một chuyên gia nghiên cứu về Mỹ tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết: “Có rất nhiều vấn đề và rủi ro chưa được biết đến trong thế giới mạng và xã hội của chúng ta phụ thuộc nhiều vào mạng Internet. Việc tổ chức sức mạnh quốc gia để tấn công mạng của một quốc gia khác có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như các cuộc tấn công hạt nhân”. Theo báo cáo này, chuyên gia Lỗ Hướng là người đã kêu gọi thực hiện một cơ chế đàm phán và phối hợp cũng như một cơ chế thực thi pháp luật dựa trên sự bình đẳng giữa các nước lớn để giải quyết các vấn đề an ninh mạng.

Nguồn: TKNB – 11/03/2021.

Căng thẳng Mỹ – Trung và gợi ý chính sách cho Việt Nam


Trần Thiên Hùng

Cuộc đối thoại Mỹ – Trung đầu tiên kể từ khi Biden nhậm chức đã kết thúc trong sự căng thẳng, cáo buộc lẫn nhau và không đưa ra được tuyên bố chung.

Rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về kết quả của cuộc đối thoại này. Tiến sĩ Phạm Sỹ Thành – một chuyên gia tốt nghiệp ở Trung Quốc nhận định rằng, với cuộc gặp mặt này, Trung Quốc muốn nhắm tới ba nhóm đối tượng chủ yếu, bao gồm: Mỹ, đồng minh của Mỹ và nội bộ Trung Quốc. Tiến sĩ Thành cũng kết luận: “…trong bài kiểm tra của Mỹ, Trung Quốc đã giành được quyền chủ động. Đừng nghĩ rằng cuộc họp không có kết quả. Trung Quốc đã có được điều họ cần”.

Viết trên Twitter của mình, Elbridge Colby – chuyên gia chiến lược của Mỹ viết rằng: “Những gì rút ra được từ cuộc gặp ở Alaska không phải là các vấn đề tranh luận mà là sự tự tin và quyết đoán của Trung Quốc. Rõ ràng họ “biết” họ mạnh”.

Marsin Przychodniak – chuyên gia về Trung Quốc của Ba Lan, làm rõ thêm: “Giọng điệu tự tin của Trung Quốc chủ yếu là bởi lý do chính trị nội bộ, chứ không phải là sự ngạo mạn thực sự của kẻ mạnh. Dương Khiết Trì và Vương Nghị có cách để đáp trả lại phía Mỹ như vậy. Bất kỳ sự phản ứng yếu ớt nào sẽ bị xem như là thiếu nhất quán với những gì Trung Quốc đã tuyên truyền”.

Mối đe dọa từ Trung Quốc và phản ứng của khu vực

Trong hai thập kỷ, Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn đến gần như mọi tranh chấp trong khu vực. Từ dãy Himalaya, Đông Nam Á, Biển Đông đến biển Hoa Đông, Trung Quốc trở thành mối đe dọa chính ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Theo đánh giá độc lập của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), chi tiêu quốc phòng của Bắc Kinh hiện tăng hơn 6 lần so với hồi đầu thiên niên kỷ Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã vươn từ vị trí thứ 6 lên vị trí thứ 2 trên thế giới về tổng chi tiêu quốc phòng. Đây là mức tăng ngoạn mục thể hiện sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Cộng với các hành vi và thái độ hung hăng của Trung Quốc, điều này khiến các nước láng giềng của Trung Quốc lo lắng.

Tuy nhiên, nhìn xung quanh biên giới Trung Quốc, có thể thấy, từ mọi phía, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải đối mặt với các đối thủ quân sự vốn có và mới nổi. Ngay cả khi giả định có được thỏa thuận giữa Nga và Trung Quốc (một viễn cảnh luôn có khả năng xảy ra trong tương lai so với thực tại), Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức trên khu vực gọi là vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những nước này, trải dài từ Ấn Độ ở phía Tây Nam đến Nhật Bản ở phía Đông Bắc, sẽ hợp thành bức tường hiệu quả chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ không khuyến khích và ủng hộ rõ ràng.

Vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mạnh nhất ở điểm cuối và yếu nhất ở điểm giữa. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản có nhiều danh tiếng về công nghệ và khả năng sẵn sàng. Để đối phó với chương trình đóng tàu sân bay của Trung Quốc, Nhật Bản đang chuyển đổi hai tàu sân bay trực thăng trực thăng hiện có thành tàu sân bay cánh cố định. Dù các tàu sân bay của Nhật Bản nhỏ hơn nhiều so với tàu của Trung Quốc, nhưng các máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 5 F-35 cất cánh từ tàu sân bay của Nhật Bản sẽ có sức mạnh lớn hơn nhiều. Trong khi đó, máy bay Shenyang J-15 của Hải quân Trung Quốc là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 kém tiên tiến hơn, từng gặp sự cố kỹ thuật nghiêm trọng.

Nhật Bản chắc chắn có các nguồn lực và bí quyết công nghệ để tự bảo vệ nước này. Ở đầu bên kia của vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Ấn Độ thường được xem là yếu thế hơn so với Trung Quốc. Tuy nhiên, những nhận định này đã lỗi thời từ lâu dù thực tế đã từng đúng. Năm 1962, Trung Quốc chiếm giữ những vùng núi rộng lớn thuộc lãnh thổ Ấn Độ trong cuộc tấn công chớp nhoáng, kéo dài 5 tuần. Tuy nhiên, chiến thắng này là kết quả của cuộc tấn công bất ngờ trong thời bình chống lại một thân thiện, đáng tin.

Các điểm yếu trong vòng cung Ấn Độ Dương – Thái bình Dương là các đảo Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte vốn ủng hộ liên minh tiềm năng của Trung Quốc, đã trở thành một quân bài bí ẩn. Tuy nhiên, sau 4 năm với những tuyên bố chống Mỹ, Duterte đối mặt với những phản ứng ngày càng dữ dội từ người dân ủng hộ Mỹ. Các lực lượng vũ trang của Philippines có lẽ cũng ủng hộ duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ. Giống như Việt Nam, Hải quân Philippines cũng muốn mua tên lửa chống hạm BrahMos trong một thỏa thuận nhiều khả năng thành công hơn so với thỏa thuận giữa Ấn Độ và Việt Nam. Trong chiến lược A2/AD khác, mục tiêu thực tế duy nhất của những tên lửa này là Hải quân Trung Quốc đang hoạt động ở Biển Đông.

Sự đáp trả mạnh mẽ của Mỹ

Không chỉ thể hiện thái độ không khoan nhượng trước Bắc Kinh, chính quyền Biden còn có những lời lẽ gay gắt với Nga. Với sự thể hiện quan điểm mạnh mẽ trước Nga và Trung Quốc, chính quyền Biden muốn cùng lúc đáp trả quan điểm chung của Moskva và Bắc Kinh, cho rằng Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung đang đến hồi suy tàn. Ngoài ra, một thông điệp quan trọng khác của Biden, chính là: “Chính sách đối ngoại phục vụ cho đối nội”. Tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc, Nhà Trắng muốn trấn an những tầng lớp cử tri cánh hữu và một bộ phận cánh tả cũng như là nhiều nhà chiến lược đảng Dân chủ thường hay chỉ trích chủ nghĩa tân tự do đã tạo đà tiến cho Trung Quốc trên trường quốc tế, gây tổn hại cho việc làm của tầng lớp trung lưu trong các ngành công nghiệp Mỹ. Đây cũng chính là lý do dẫn đến thắng lợi bầu cử của Donald Trump trước đây.

Ngoài ra, thái độ cứng rắn này của chính quyền Biden còn nhằm bảo đảm với các đồng minh tại vùng châu Á – Thái Bình Dương như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, rằng đã qua rồi cái thời chính sách hỗn loạn của Donald Trump ngông cuồng trước những kẻ chuyên quyền ở Bắc Kinh và Moskva. Như vậy, có thể nói rằng, mặc dù không có tuyên bố chung nào đưa ra, hai bên vẫn “khẩu chiến” với nhau gay gắt, song mỗi bên đều đạt được những kết quả nhất định cho mình.

Việt Nam tránh nhu nhược

Với các nước Đông Nam Á như Việt Nam, lúc này cần phải hoạch định một chính sách đối ngoại tuy uyển chuyển nhưng phải quyết đoán rõ ràng. Một ví dụ cụ thể như Philippines dưới thời của Duterte, mặc dù thực hiện chính sách “Hướng về Trung Quốc”, tuy nhiên “tình thân ái” đó vẫn không ngăn cản được việc Trung Quốc tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Philippines. Mới đây, ngày 20/01, báo chí Philippines đã đưa thông tin hơn 200 tàu của Trung Quốc bao quanh khu vực đảo Sinh Tồn Đông (thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền) và sau đó, quân đội Philippines đã ra thông báo phản đối sự đe dọa này của Trung Quốc. Chính vì vậy, mềm dẻo và tránh đối đầu với Trung Quốc là điều cần làm đối với các quốc gia có tranh chấp biển với Trung Quốc như Việt Nam. Tuy nhiên, nhu nhược trước Trung Quốc như Duterte đã làm thì không thể tránh khỏi được họa xâm lăng từ Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần IV


“Trật tự quốc tế tự do”

“Trật tự quốc tế tự do” – cụm từ thường được sử dụng để mô tả thời kỳ nước Mỹ đứng đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, có vài phần sai lệch, vì trật tự đó không bao giờ mang tính toàn cầu và không phải lúc nào cũng rất tự do. Những gì nổi lên sau năm 1945 là một khuôn khổ an ninh và một loạt các thể chế đa phương. Các đồng minh yếu hơn đã được trao quyền truy cập vào việc thực thi quyền lực Mỹ thông qua các tổ chức và Hoa Kỳ cung cấp hàng hóa công cộng và hoạt động trong một hệ thống các quy tắc và thể chế đa phương lỏng lẻo. Theo lời của John Ikenberry, Hoa Kỳ đã cung cấp các dịch vụ toàn cầu – như bảo vệ an ninh và hỗ trợ cho các thị trường mở, khiến các quốc gia khác sẵn sàng hợp tác thay vì chống lại vị trí đứng đầu của Mỹ”.

Trật tự Mỹ này là sự kết hợp giữa chủ nghĩa tự do Wilson và chủ nghĩa hiện thực cân bằng quyền lực, và nó có bốn cấu thành chính. Theo niên đại, cấu thành kinh tế xuất hiện đầu tiên. Các thể chế kinh tế tự do theo hệ thống Bretton Woods được thiết lập vào năm 1944, trong khi cuộc chiến vẫn đang diễn ra và ký ức về cuộc Đại suy thoái vẫn còn nguyên trong tâm trí của các nhà lãnh đạo. Cấu thành an ninh xuất hiện kế tiếp, với tổ chức Liên Hợp Quốc được thành lập khi cuộc chiến gần kết thúc ở châu Âu. Đây rõ ràng là sự kế thừa của Liên minh Wilson, nhưng với sự bổ sung quan trọng của Franklin D. Roosevelt là có bốn (sau là năm) thành viên thường trực có quyền phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Sau chiến tranh, khi các quốc gia khác tỏ ra quá nghèo hoặc yếu không thể tự bảo vệ mình, chính quyền Truman đã viện trợ đáng kể và thành lập liên minh NATO vào năm 1949 để kiềm chế sức mạnh của Liên Xô. Một năm sau, Truman buộc lực lượng Liên hợp quốc áp dụng nguyên tắc an ninh tập thể của Wilson để đối phó với hành động gây hấn ở Triều Tiên. Hành động tập thể này chỉ có thể xảy ra vì Liên Xô đã sai lầm trong việc tẩy chay cuộc họp của Hội đồng Bảo an vào tháng 6 năm 1950, và điều này không lặp lại cho đếnnăm 1990 khi Gorbachev quyết định không phủ quyết nghị quyết Chương VII để trục xuất Iraq ra khỏi Kuwait.

Cấu thành thứ ba của trật tự Mỹ nhấn mạnh đến nhân quyền và các giá trị chính trị tự do: điều này được đưa vào Hiến chương Liên hợp quốc và được hệ thống hóa trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948. Mặc dù – ngược lại với hiểu biết thông thường – vai trò lãnh đạo về vấn đề này căn bản không phải là Mỹ, người Mỹ dẫn đầu trong quá trình dân chủ hóa quan trọng sau chiến tranh của các cường quốc bị đánh bại là Đức và Nhật Bản. Cấu thành thứ tư, bảo vệ dân chúng toàn cầu, vốn chủ yếu là di sản vai trò của Anh liên quan đến quyền tự do trên biển; ngay cả ở đây, Hoa Kỳ không phải lúc nào cũng hoàn toàn tự do, bằng chứng là việc mở rộng hoạt động khoan dầu của Tổng thống Truman trên thềm lục địa vượt quá giới hạn lãnh hải mười hai dặm. Cuối cùng, các nỗ lực ngoại giao đã đưa đến Công ước về Luật Biển của Liên hợp quốc, mà Thượng viện Hoa Kỳ đã từ chối phê chuẩn nhưng dù sao cũng coi đó là luật quốc tế được chấp nhận. Các thỏa thuận “dân chúng” khác liên quan đến không gian, Nam Cực và cuối cùng là biến đổi khí hậu. Trong cấu thành về an ninh, các thỏa thuận quan trọng sau đó đã được đàm phán với Liên Xô và các quốc gia khác để kiểm soát vũ khí, hạn chế sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và tên lửa.

Trong khuôn khổ này, sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, xã hội và sinh thái toàn cầu gia tăng. Đến năm 1970, nền kinh tế toàn cầu đã phục hồi bằng mức mà nó đã đạt được trước khi bị Chiến tranh thế giới thứ nhất phá vỡ năm 1914. Một trong những câu hỏi quan trọng hiện nay là liệu các quốc gia khác, như Trung Quốc, được hưởng lợi từ trật tự quốc tế dựa trên quy tắc này có duy trì được khuôn khổ thể chế này không ngay cả khi vị trí của Hoa Kỳ trong đó đã thay đổi.

Chủ nghĩa tự do của trật tự này có thể được phóng đại. Washington có thể đã thể hiện sự ưu tiên chung cho dân chủ và mở cửa, nhưng lại thường ủng hộ các nhà độc tài trong bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đồng thời, việc tạo ra các chế độ dân chủ ở các cường quốc bị đánh bại như Đức và Nhật Bản là vô cùng quan trọng đối với sự cân bằng toàn cầu. Nếu Hitler chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai hoặc Stalin thắng trong Chiến tranh Lạnh, trật tự quốc tế hiện tại sẽ rất khác. Người Mỹ đã có những cuộc tranh luận cay đắng trong nước và sự khác biệt giữa các đảng phái đối với các can thiệp và nỗ lực quân sự trong nhiều năm để áp đặt nền dân chủ ở những nơi như Việt Nam và Iraq, và nhiều nỗ lực như vậy đã thất bại. Tuy nhiên, hệ thống các liên minh và các tổ chức đa phương của Mỹ đã giúp bảo đảm và ổn định thế giới, và có một sự đồng thuận rộng rãi trong dư luận Hoa Kỳ rằng việc bảo vệ và mở rộng trật tự này là vì lợi ích quốc gia cho đến năm 2016, khi sự đồng thuận đó bị thách thức lần đầu tiên bởi một ứng cử viên tổng thống của một đảng lớn.

Hiện tại nhiều nhà quan sát tin rằng trật tự Mỹ này sắp kết thúc, và vì là như vậy nên một sự thay đổi lớn về vị trí của Hoa Kỳ trên thế giới đang diễn ra. Ví dụ, Martin Wolf lập luận rằng: chúng ta đang ở thời kỳ cuối của giai đoạn mà về kinh tế là sự toàn cầu hóa của phương Tây, còn về địa chính trị là thời điểm đơn cực thời kỳ hậu chiến tranh lạnh của một trật tự toàn cầu do Mỹ dẫn đầu. Câu hỏi đặt ra là liệu những gì tiếp theo sẽ là sự tách ra của kỷ nguyên hậu thế chiến thứ hai trở thành thời kỳ giải toàn cầu hóa và xung đột giống như nửa đầu thế kỷ XX, hay trở thành một thời kỳ mới mà các cường quốc ngoài phương Tây, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ, đóng vai trò lớn hơn trong việc duy trì một trật tự toàn cầu hợp tác.

Liệu Trung Quốc sẽ thay thế Hoa Kỳ?

Nhiều nhà quan sát tin rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ báo hiệu sự kết thúc của kỷ nguyên Mỹ; nhưng trái với hiểu biết thông thường hiện nay, Trung Quốc sẽ không thay thế Hoa Kỳ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Nếu đo lường bằng “sức mua ngang giá” (PPP), nền kinh tế Trung Quốc đã trở nên lớn hơn nền kinh tế Mỹ trong năm 2014, nhưng sức mua ngang giá là thước đo của các nhà kinh tế để so sánh các ước tính về phúc lợi, mà không tính toán tới sức mạnh tương đối. Ví dụ, động cơ dầu và động cơ máy bay phản lực được nhập khẩu theo cùng tỷ giá hối đoái và theo thước đo đó, Trung Quốc có nền kinh tế 12 nghìn tỷ USD so với nền kinh tế 20 nghìn tỷ USD của Hoa Kỳ. Một số nhà kinh tế dự đoán Trung Quốc cuối cùng sẽ vượt qua Hoa Kỳ với tư cách là nền kinh tế lớn nhất thế giới (tính bằng USD), nhưng thời điểm ước tính cho sự kiện đó thay đổi từ năm 2030 đến năm 2040 tùy thuộc vào những gì người ta giả định về tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc (hiện đang chậm lại). Và ngay cả khi Trung Quốc một ngày nào đó vượt qua Mỹ về tổng quy mô nền kinh tế, đó không phải là thước đo duy nhất về tầm quan trọng địa chính trị.

Quyền lực – khả năng ảnh hưởng đến người khác để đạt được những gì bạn muốn – có ba cách chính: thông qua ép buộc, dùng tiền bạc hoặc tạo ra sự thu hút. Sức mạnh kinh tế chỉ là một phần của phương trình địa chính trị, và thậm chí là về quyền lực kinh tế, mặc dù Trung Quốc có thể vượt qua Mỹ về tổng quy mô song vẫn sẽ tụt hậu về thu nhập bình quân đầu người (thước đo mức độ tinh vi của một nền kinh tế). Trong khi đó, về chỉ số sức mạnh quân sự và quyền lực mềm, Trung Quốc cũng đứng sau Hoa Kỳ. Chi tiêu quân sự của Mỹ hiện gấp bốn lần Trung Quốc. Mặc dù khả năng quân sự của Trung Quốc đang gia tăng trong những năm gần đây, các nhà phân tích xem xét kỹ về cân bằng quân sự cũng kết luận rằng Trung Quốc không thể loại trừ Hoa kỳ khỏi phía tây Thái Bình Dương. Tập đoàn RAND ước tính rằng dù chiến tranh giữa hai cường quốc sẽ gây tốn kém cho cả hai bên, song Hoa Kỳ sẽ thắng thế. Về quyền lực mềm, một chỉ số gần đây do công ty tư vấn Portland công bố, đã xếp Trung Quốc ở vị trí thứ 26 trong khi Hoa Kỳ được xếp trong nhóm ba quốc gia đứng đầu.

Khi sức mạnh của Trung Quốc gia tăng, một số nhà quan sát lo ngại rằng nó sẽ không đóng góp cho một trật tự quốc tế mà nó không giúp kiến tạo. Nhưng họ đã nói quá lên về vấn đề “không kiến tạo” ở đây. Như Rosemary Foot lập luận trong bài viết của mình về vấn đề này, Trung Quốc đã được hưởng lợi từ trật tự quốc tế sau năm 1945, nhưng câu hỏi vẫn là liệu họ có hợp tác trong việc sản xuất hàng hóa công cộng hay không. Trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Trung Quốc là một trong năm quốc gia có quyền phủ quyết. Họ hiện là nhà tài trợ lớn thứ hai của lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và đã tham gia các chương trình của Liên hợp quốc liên quan đến dịch bệnh Ebola và biến đổi khí hậu. Trung Quốc cũng đã được hưởng lợi rất nhiều từ các tổ chức kinh tế như Tổ chức Thương mại Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Nhưng mặt khác, Trung Quốc đã không thực hiện đầy đủ đặc quyền là một nền kinh tế thị trường, và việc bác bỏ phán quyết của tòa án Luật Biển Hague năm 2016 cũng đã đặt ra những câu hỏi nghiêm túc.

Nhìn chung, hành vi của Trung Quốc cho đến nay không cho thấy ý định lật đổ trật tự thế giới đang thịnh hành mà họ được lợi từ đó, mà đúng hơn là gia tăng ảnh hưởng của họ trong trật tự đó; tuy nhiên, điều này có thể thay đổi khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên. Như một nghiên cứu của RAND kết luận, “sẽ là không hoàn toàn phù hợp khi nói về sự tương tác giữa Trung Quốc với “trật tự quốc tế” này, cách nhìn của họ đã có sự phân biệt lớn tùy thuộc vào cấu thành của trật tự này”. Trong mọi trường hợp, khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, trật tự thế giới tự do kiểu Mỹ sẽ phải thay đổi. Trước tiên, quyền lực sẽ phải được chia sẻ, và Trung Quốc thì ít quan tâm đến chủ nghĩa tự do hay sự thống trị của Mỹ. Các nhà phân tích sẽ là khôn ngoan khi loại bỏ các thuật ngữ về “tự do” và “người Mỹ” và thay vào đó đề cấp đến triển vọng của một “trật tự quốc tế mở” hoặc một “trật tự dựa trên quy tắc”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80. TN 2019 – 1, 2, 3, 4.

Tổng thống Philippines bị chỉ trích vì “tống tiền” Mỹ để duy trì VFA


Đài VOA dẫn truyền thông Philippines cho biết, các chính khách Philippines mạnh mẽ chỉ trích Tổng thống Duterte vì đã đòi Mỹ trả tiền để duy trì Hiệp định thăm viếng quân sự (VFA) cới Mỹ. Phát biểu trước các binh sĩ tại căn cứ không quân Clark ngày 12/2/2021, Tổng thống Duterte nói: “Tôi muốn thông báo là từ giờ trở đi, nếu các ông muốn duy trì VFA thì phải trả tiền. Đây là trách nhiệm chung, nhưng phần trách nhiệm của các ông (Mỹ) không miễn phí, bởi vì chung cuộc, nếu chiến tranh bùng nổ, tất cả chúng ta đều phải trả giá”.

VFA trị giá 16 tỷ USD

Tờ Daily Inquirer (Philippines) dẫn lời điện Malacanang, phủ Tổng thống Philippines nói ngày 15/2 rằng, để đánh đổi VFA, Mỹ phải trả Philippines 16 tỷ USD, số tiền mà Pakistan được Mỹ hỗ trợ để chống khủng bố từ năm 2001 – 2017. Người phát ngôn của Tổng thống Duterte Harry Roque nói rằng so với Pakistan, Philippines chỉ nhận được tổng cộng 3,9 tỷ USD trong cùng thời gian. Để bảo vệ yêu cầu của mình, ông Duterte tố cáo Mỹ đang toan tính biến Vịnh Subic thành một căn cứ quân sự và đang trữ vũ khí trên đất Philippines, nhưng không đưa ra bằng chứng nào về những cáo buộc này mà chỉ cho biết ông nhận thông tin từ các lực lượng vũ trang Philippines.

Một bài báo trên trang mạng Benar News ngày 17/2 trích lời một quan chức Philippines phản báo cáo buộc Mỹ biến Subic thành căn cứ quân sự. Bà Wilma Eisma, Chủ tịch Cơ quan đô thị vịnh Subic (SBMA) khẳng định, các cuộc thăm viếng của các tàu quân sự tới Vịnh Subic theo thỏa thuận VFA chỉ kéo dài vài ngày, đủ để binh sĩ đổ bộ và lên tàu trở lại, hoặc ghé vài ngày để mua đồ tiếp tế: “Những cuộc thăm viếng của Mỹ không có cách nào để biến đổi cảng Freeport của Vịnh Subic thành một căn cứ quân sự”.

Bà Wilma Esima nói thêm rằng, tàu bè của nhiều nước khác cũng được tiếp cận Vịnh Subic như vậy, kể cả Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Hàn Quốc và Indonesia. Tuy nhiên, bà Eisma không bình luận về các cáo buộc của ông Duterte rằng Mỹ trữ vũ khí tại Philippines.

Phản ứng trong nước

Báo Asian Journal trích lời Phó Tổng thống Philippines Leni Robredo chỉ trích ông Duterte rằng, những lời lẽ của ông ấy (Duterte) “nghe giống như một kẻ tội phạm tống tiền người khác”.

Phát biểu trên chương trình phát thanh Biserbisyong Leni ngày 14/2, bà Robredo nói rằng tuyên bố của ông Duterte khiến bà cảm thấy “xấu hổ” và cho biết, nếu muốn hủy VFA, lẽ ra Chính phủ Philippines phải đưa ra những lý do thay vì nói tới tiền bạc. Phó Tổng thống Robredo nói thỏa thuận đó được dựa trên lợi ích chung giữa hai bên, chứ khôg phải “chúng ta là bạn chỉ vì các ông trả tiền cho chúng tôi”.

Dòng tweet này hiện đã bị xóa, nhưng Thượng nghị sĩ Lacson giải thích: “Tổng thống Duterte có lẽ đã dùng những lời lẽ nặng nề để truyền thông điệp tới người Mỹ. Rõ ràng là có một cách lịch sự và tương xứng hơn với phong cách của một chính khách để yêu cầu một đồng minh lâu năm đền bù, qua các kênh ngoại giao, để đạt được kết quả mong muốn”.

Phủ Tổng thống Philippines đã lên tiếng bênh vực ông Duterte, nói rằng yêu cầu của ông phù hợp với lợi ích quốc gia, chứ không phải là tống tiền Mỹ. Người phát ngôn của Tổng thống Duterte, ông Harry Roque nói ngày 15/2 rằng: “Đối với những người nói như vậy là tống tiền thì tôi xin giải thích, đây không phải là tống tiến, đây là vì lợi ích quốc gia, bởi vì chúng ta phải chi ra rất nhiều cho dịch COVID-19”.

Theo lời ông Roque, số tiền từ Mỹ có thể được dùng để tài trợ thêm cho chương trình Chăm sóc Y tế quốc gia (UHC) để đối phó với dịch COVID-19, cung cấp thức ăn miễn phí cho học sinh… Ông Roque nhấn mạnh, VFA sẽ bị hủy bỏ nếu Mỹ từ chối yêu cầu của Tổng thống Duterte.

VFA là gì?

VFA là “Thỏa thuận về các lực lượng thăm viếng” hay “Thỏa thuận thăm viếng quân sự” là một thỏa thuận song phương giữa Mỹ và Philippines ký kết vào năm 1998, cho phép các lực lượng Mỹ tới Philippines tập trận chung với binh sĩ Philippines, hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa thiên tai.

Nói cách khác, VFA trao tư cách pháp lý cho sự hiện diện của các lực lượng Mỹ trên đất Philippines, tạo điều kiện cho Mỹ phản ứng bất kỳ trước một cuộc khủng hoảng hay các tình huống khẩn cấp khác, cũng như để thực hiện các trách nhiệm theo Hiệp ước Phòng thủ chung.

Ngoài việc cho phép binh sĩ Mỹ hiện diện trên đất Philippines, VFA còn cho phép Chính phủ Mỹ duy trì quyền tài phán đối với các công dân Mỹ, kể cả các binh sĩ, trong trường hợp họ phạm tội ở Philippines.

Sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực từ lâu vẫn được coi như một lực đối trọng thiết yếu chống lại chính sách bành trướng của Trung Quốc và các hành động hung hăng hon của nước này.

VFA còn hiệu lực đến bao giờ?

Vào năm 2020, Tổng thống Duterte ra lệnh chấm dứt VFA sau khi Mỹ hủy bỏ thị thực của Thượng nghị sĩ Ronald “Bato” Dela Rosa, vì vai trò lãnh đạo cuộc chiến chống ma túy đẫm máu tại Philippines của ông này. Thế nhưng, quyết định này đã được hoãn thi hành nhiều lần. Lần mới nhất là vài ngày sau khi ông Biden đắc cử, lúc đó, Philippines thông báo Manila gia hạn thêm 6 tháng áp dụng đối với quyết định hủy bỏ VFA. Điều đó có nghĩa, nếu không được gia hạn hoặc ký kết lại, VFA sẽ chấm dứt vào ngày 9/8/2021.

Trong tuyên bố gửi Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien để loan báo quyết định tái gia hạn quyết định hủy VFA, Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin viết: “Tình hữu nghị và liên minh Mỹ – Philippines muôn năm!”.

Ngoại trưởng Locsin trước đó nhấn mạnh rằng, sự hiện diện thường xuyên của lực lượng quân sự Mỹ đã ngăn Trung Quốc thực hiện những hành động quyết liệt hơn ở Biển Đông, Philippines gọi là Biển Tây Philippines.

Phản ứng của Mỹ

Tại Washington, Bộ Ngoại giao Mỹ không bình luận trực tiếp về những cáo buộc mới nhất của Tổng thống Duterte, chỉ tái khẳng định: “Mỹ trân trọng liên minh lâu dài nhất của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Đối thoại cởi mở giữa các đồng minh là điều thiết yếu để duy trì sức mạnh của liên minh, vốn là điều có tầm quan trọng quyết định cho an ninh của cả hai nước”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Những nguy cơ từ việc Trung Quốc thu thập dữ liệu y tế của Mỹ


Trung tâm Phản gián và An ninh Quốc gia Mỹ (NCSC) ngày 1/2 cảnh báo rằng các nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm thu thập dữ liệu y tế của Mỹ, đặc biệt là dữ liệu ADN, thông qua tin tặc và các phương tiện khác đã được đẩy mạnh trong thời kỳ đại dịch COVID-19.

Trogn một báo cáo, NCSC nêu rõ: “Trong nhiều năm, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thu thập các bộ dữ liệu lớn về y tế của Mỹ và các quốc gia trên toàn cầu, thông qua cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, với mục đích mà chỉ họ mới có thể biết được. Việc Trung Quốc thu thập dữ liệu y tế của Mỹ đã gây ra những rủi ro nghiêm trọng không chỉ đối với quyền riêng tư của của người Mỹ mà còn đối với cả những nền kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ”. NCSC lưu ý rằng những nỗ lực này đã được đẩy mạnh trong thời gian đại dịch COVID-19, với việc tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc BGI cung cấp bộ dụng cụ thử nghiệm COVID-19 cho phần lớn các quốc gia và thành lập 18 phòng thí nghiệm chỉ trong vòng 6 tháng qua, được cho là một phần trong nỗ lực nhằm thu thập dữ liệu y tế. Theo NCSC, dữ liệu y tế của Mỹ là một mục tiêu hấp dẫn đối với chính phủ Trung Quốc do sự đa dạng của dân số và do các biện pháp bảo vệ tương đối lỏng lẻo của Mỹ đối với dữ liệu cá nhân. Báo cáo của NCSC có đoạn: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiểu rằng việc thu thập và phân tích các dữ liệu lớn về bộ gen từ các quần thể đa dạng sẽ giúp thúc đẩy các khám phá và phương pháp chữa bệnh mới mà có thể có giá trị thương mại đáng kể, đồng thời thúc đẩy trí tuệ nhân tạo và các ngành y học chính xác”.

NCSC nêu bật quan ngại rằng chính phủ Trung Quốc đã sử dụng dữ liệu y tế, bao gồm cả dữ liệu về ADN, để đàn áp và kiểm soát công dân của mình, đồng thời lưu ý rằng nhiều cư dân của tỉnh Tân Cương, nơi sinh sống của người Duy Ngô Nhĩ, đã bị buộc phải cung cấp dấu vân tay, nhóm máu và các dữ liệu cá nhân khác.

Báo cáo được công bố một ngày sau khi cựu Giám đốc NCSC William Evanina, trong buổi trả lời phỏng vấn của chương trình “60 Minutes” do đài CBS News thực hiện, đã cảnh báo về những rủi ro mà Trung Quốc có thể gây ra khi nước này thu thập được dữ liệu y tế của Mỹ, đồng thời ông lưu ý rằng có khả năng “110%” Trung Quốc đã thu thập được dữ liệu cá nhân của người dân Mỹ nói chung. Evanina nói: “Có 5 hoặc 6 cơ sở chăm sóc sức khỏe ở Mỹ trong 5 năm qua đã bị Trung Quốc xâm nhập, thu thập thông tin. Hiện tại, ước tính có tới 80% người Mỹ trưởng thành đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh cắp tất cả các thông tin nhận dạng cá nhân”.

Ngày 1/2, NCSC đã cảnh báo rằng chính phủ Trung Quốc đang sử dụng dữ liệu y tế để “vượt mặt” ngành công nghệ sinh học của Mỹ, và điều này gây ra mối đe dọa về việc Mỹ sẽ phải “phụ thuộc nhiều hơn vào sự đổi mới và phát triển thuốc chữa bệnh của Trung Quốc”, làm tổn thương thị trường việc làm của Mỹ. Evanina cảnh báo rằng nếu không hành động, Mỹ có thể phải đối mặt với mối đe dọa từ việc Trung Quốc cố gắng “loại bỏ một cách có hệ thống các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Mỹ”. Ông cũng cho biết phần lớn các dữ liệu này đã được truy cập thông qua tin tặc, đặc thời lưu ý rằng Trung Quốc đứng “số 1 thế giới về khả năng tin tặc”. Ông mô tả Trung Quốc là một nước “trơ trẽn” trong các nỗ lực tin tặc.

Trong năm qua, tin tặc Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực nhằm vào cả các nhà nghiên cứu của Mỹ và chuỗi cung ứng vaccine ngừa COVID-19. Đầu tháng trước, phát biểu tại một sự kiện, Evanina cho biết ông rất lo ngại về những nỗ lực của cả Trung Quốc và Nga nhằm mục tiêu quá trình tiêm chủng. Giám đốc FBI Christopher Wray cũng từng nói trước một ủy ban của Thượng viện rằng FBI đã nhận thấy “hoạt động rất tích cực của người Trung Quốc và của những người khác, nhắm vào các nghiên cứu liên quan đến COVID-19 của Mỹ, cho dù đó là vaccine, phương pháp điều trị hay thử nghiệm công nghệ”.

Nguồn: TKNB – 03/02/2021.

Sự thăng trầm của bá quyền Mỹ từ Wilson cho tới Trump – Phần III


Chính sách liên minh bị Trump đánh giá thấp bắt nguồn từ các quyết định của Franklin Roosevelt và Harry Truman đã đưa Hoa Kỳ tham gia vào Thế chiến thứ hai và dẫn đến sự hiện diện quân sự lâu dài của Hoa Kỳ ở nước ngoài. Khi Vương quốc Anh quá yếu không thể hỗ trợ Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1947, Hoa Kỳ đã thế chỗ. Mỹ đã đầu tư rất nhiều vào Kế hoạch Marshall năm 1948, thành lập NATO vào năm 1949 và lãnh đạo một liên minh của Liên hợp quốc chiến đấu tại Hàn Quốc vào năm 1950 theo chiến lược ngăn chặn quyền lực của Liên Xô.

Từ năm 1945 đến năm 1991, cán cân quyền lực toàn cầu là lưỡng cực, mặc dù Hoa Kỳ rõ ràng mạnh hơn Liên Xô, với tỷ lệ không cân xứng về nguồn lực và hơn về số đồng minh quan trọng. Tuy nhiên, hai siêu cường đã cạnh tranh để giành lợi thế trong một thế giới không liên kết và tham gia vào một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân. Nhưng sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin vào năm 1989 vốn chia cắt châu Âu và sự sụp đổ của Liên Xô vào năm 1991 (chủ yếu vì lý do nội bộ), Hoa Kỳ trở thành siêu cường thế giới duy nhất. Các nhà lý luận gọi đây là một thế giới đơn cực bởi vì ở thời điểm này Hoa Kỳ đang là nhà nước duy nhất có thể triển khai sức mạnh quân sự trên quy mô toàn cầu. Ngân sách quân sự của Mỹ chiếm gần một nửa tổng ngân sách của toàn cầu và các quốc gia khác không thể cân bằng được sức mạnh quân sự của Mỹ. Nhưng tính đơn cực đã chứng minh sự lầm lẫn về mặt kiểm soát các sự kiện trong nền chính trị thế giới. Nó góp phần tạo ra tính ngạo mạn không chỉ dẫn đến những tham vọng quá mức của Mỹ trong cuộc xâm lược Iraq mà còn cho những nỗ lực chính trị của Nga và Trung Quốc nhằm phá vỡ nền ngoại giao của Mỹ. Như Kishore Mahbubani đã viết, một số người Mỹ đã lầm tưởng rằng lịch sử đã kết thúc và nền dân chủ theo phong cách Mỹ là lựa chọn thực sự duy nhất cho thế giới.

Khoảnh khắc đơn cực tạo cơ hội cho sự hồi sinh của chủ nghĩa Wilson trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Tony Smith mô tả trật tự của Mỹ trong Chiến tranh Lạnh là “chủ nghĩa tự do bá quyền”, nhưng lập luận rằng sau khi Liên Xô sụp đổ, “chủ nghĩa tân Wilson” đã trở thành một hình thức của chủ nghĩa đế quốc. “Trong quá trình chuyển đổi từ tư tưởng bá quyền sang tư tưởng đế quốc trong những năm 1990, chủ nghĩa quốc tế tự do đã trở thành mối nguy hiểm cho chính những giá trị mà nó thừa nhận là vô địch”. Lý thuyết hòa bình dân chủ, lý thuyết quá độ dân chủ và trách nhiệm bảo vệ quyền lực lấn át chủ quyền lên đến đỉnh điểm trong cuộc tranh cãi của những người bảo thủ mới về cuộc xâm lược Iraq. Như nhà lý luận tân bảo thủ Robert Kagan giải thích, “một trật tự thế giới tự do, giống như bất kỳ trật tự thế giới nào, là một cái gì đó bị áp đặt, và chúng ta ở phương Tây có thể muốn trật tự đó bị áp đặt bởi ưu thế vượt trội, nó thường được áp đặt bởi sức mạnh vượt trội”. Monica Toft đã chỉ ra rằng trong khi Hoa Kỳ tham gia vào 46 vụ can thiệp quân sự từ 1948 đến 1991, thì từ năm 1992 đến 2017, con số đó tăng gấp bốn lần lên 188 vụ.

George H.W. Bush là một người thực tế và thực dụng, nhưng ông đã sử dụng ngôn ngữ của Wilson về an ninh tập thể và “một trật tự thế giới mới”, để giải thích về Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất. Người kế nhiệm của ông, Bill Clinton, theo đuổi cái mà ông ta gọi là chính sách dân chủ “mở rộng và cam kết”, và Cố vấn An ninh Quốc gia của ông, Anthony Lake, tự gọi mình là một người theo chủ nghĩa Wilson thực dụng. Ban đầu, George W. Bush vận động tranh cử như một người thực tế phản ứng chống lại sự can thiệp nhân đạo và xây dựng quốc gia của Clinton ở những nơi như Bosnia và Kosovo, nhưng các cuộc tấn công của Al-Qaeda ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã làm thay đổi quan điểm của công chúng, thay đổi cả chính sách cũng như những lời khoa trương của Bush.

Có nhiều nguyên nhân góp phần vào cuộc xâm lược Iraq của George W. Bush, năm 2003. Động cơ khác nhau của các nhóm trong chính quyền khi phát động cuộc xâm lược bao gồm một nỗ sợ thực rằng Saddam Hussein có thể phát triển và sử dụng vũ khí hạt nhân, một mong muốn hiện thực để tăng quyền bá chủ của Mỹ ở Trung Đông (“con đường đến Jerusalem nằm vắt qua Baghdad”), mối lo ngại của những người tân bảo thủ đối với các vi phạm nhân quyền của Saddam và niềm tin của họ rằng dân chủ hóa có thể phá hủy gốc rễ của chủ nghĩa khủng bố. Hầu hết những người theo chủ nghĩa tân bảo thủ là những người trước đây theo chủ nghĩa tự do và họ tôn trọng chủ nghĩa biệt lệ kiểu Mỹ của Wilson và đặt niềm tin vào việc truyền bá nền dân chủ, dù không phải là chủ nghĩa đa phương của ông. Khi chiến tranh bị sa lầy và không được lòng công chúng Hoa Kỳ cũng như các đồng minh của Mỹ, Bush ngày càng chuyển sang các tuyên bố đạo đức theo phong cách Wilson để biện minh. Diễn văn nhậm chức lần thứ hai của ông vào tháng 01 năm 2005 đã tuyên bố một “chương trình nghị sự tự do” đối với chính sách đối ngoại của Mỹ; và, trong bài diễn văn tại lễ tốt nghiệp của Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point) vào tháng 5 năm 2006, ông khẳng định rằng Hoa Kỳ sẽ “không ngừng nghỉ cho đến khi lời hứa tự do đến với mọi người ở mọi quốc gia”.

Có những điểm tương đồng kỳ lạ giữa George W. Bush và Woodrow Wilson. Cả hai đều là những người rất sùng đạo và đề cao đạo đức, những người ban đầu được bầu vào vị trí tổng thống với không phải đa số phiếu phổ thông, và vào thời kỳ đầu họ tập trung vào các vấn đề trong nước mà không có bất kỳ tầm nhìn nào về chính sách đối ngoại. Cả hai ban đầu đều thành công với các chương trình nghị sự chuyển đổi trong nước tại Quốc hội. Cả hai đều có xu hướng miêu tả thế giới bằng màu đen và trắng thay vì những gam màu xám. Cả hai đều tự tin, phản ứng với khủng hoảng với một tầm nhìn táo bạo và bị mắc kẹt với tầm nhìn đó. Như Ngoại trưởng Robert Lansing đã mô tả Wilson vào năm 1917, “ngay cả những sự thật chắc chắn cũng bị bỏ qua nếu chúng không phù hợp với ý thức trực giác, thứ quyền lực bán thiêng liêng này để lựa chọn điều đúng đắn”. Và Bộ trưởng Ngoại giao của Bush là Colin Powell đã mô tả Tổng thống biết “những gì ông ấy muốn làm, và những gì ông ấy muốn nghe là làm thế nào để hoàn thành nó”. Bush không thiếu sự thông minh, nhưng hiếm khi ra ngoài phạm vi thoải mái của mình. Như Tony Blair, Thủ tướng Anh trong nhiệm kỳ Tổng thống của Bush, đã nhận xét, “George Bush là người thẳng thắn và cởi mở. Và rất thông minh… George có trực giác tuyệt vời. Nhưng trực giác của ông không thiên về chính trị nhiều bằng những gì ông ta nghĩ là đúng và sai. Điều này không phải thể hiện qua phân tích hay trí tuệ. Nó chỉ là được biểu hiện tự nhiên”.

Mặc dù Wilson bắt đầu với tư cách là một người duy tâm và Bush là một người duy thực, cả hai đều nhấn mạnh đến việc thúc đẩy dân chủ và tự do ở phần còn lại của thế giới như là tầm nhìn biến đổi của họ. Và cả hai tầm nhìn được tán thành đó đã thất bại trong việc nhận thức một khoảng cách lớn giữa những lý tưởng được thể hiện và năng lực quốc gia. Nhiều bài phát biểu của Bush, đặc biệt là bài phát biểu nhậm chức lần thứ hai của ông về một “chương trình nghị sự tự do”, nghe có vẻ như chúng có thể đã được Wilson nói ra. Cả Wilson và Bush đều cố gắng phổ biến cho công chúng để chấp nhận tầm nhìn biến đổi của họ; cả hai đều thất bại, và trong cả hai trường hợp kết quả là phản ứng đối với chính sách thu hẹp, ngày nay nó biểu hiện trong nhiệm kỳ tổng thống Trump.

Như Stephen Sestanovich đã chỉ ra, chính sách đối ngoại của Mỹ luôn dao động giữa chủ nghĩa tối đa thái quá và chính sách thu hẹp. Trong chu kỳ cắt giảm bắt đầu trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 2016, Chiến lược An ninh Quốc gia của Trump (NSS) tháng 12 năm 2017 đã thể hiện sự hoài nghi về lợi ích của các tổ chức đa phương và thương mại toàn cầu, thay vào đó là tái tập trung vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc và Nga. Vào tháng 01 năm 2018, Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis tuyên bố rằng “cạnh tranh cường quốc, không phải là khủng bố, mà hiện là trọng tâm chính của Hoa Kỳ”. Ngược lại, Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2006 của George Bush đã thúc đẩy tự do và sự phát triển cộng đồng dân chủ, lãnh đạo thay vì chủ nghĩa biệt lập, và thị trường mở vượt trên chủ nghĩa bảo hộ. NSS của Obama năm 2015 đã khiển trách Bush vì đã đi quá xa và kêu gọi nước Mỹ chỉ hành động một mình khi lợi ích quốc gia bị đe dọa, và gương mẫu đi đầu ở trong nước. Theo quan điểm của tờ The Economist, “Trump dường như bác bỏ cả hai học thuyết của Bush và Obama”, và cả “tinh thần trò chơi tổng bằng zero đang kiệt sức” của chiến lược này.

Các nhà phê bình tân bảo thủ nhìn thấy sự tương đồng nhiều hơn là khác biệt trong các chiến lược của Trump và Obama. Theo quan điểm của họ, mặc dù có phong cách khác nhau, cả hai đều phản ứng sai lầm đối với các yêu cầu trong nước về chính sách thu hẹp. Thomas Donnelly và William Kristol lập luận rằng “sự đồng thuận Obama – Trump đang dẫn đến một thế giới nguy hiểm hơn. Nó cũng đang xác định lại giá trị đích thực của Hoa Kỳ. Chúng ta là một quốc gia được xây dựng dựa trên sự mở rộng – không chỉ mở rộng lãnh thổ và địa chính trị, mà còn là mở rộng sự tự do và thịnh vượng. Hoa Kỳ tồn tại không chỉ đơn thuần là để bảo vệ những gì đang có mà còn nhận ra những gì có thể”. Tod Lindberg đã mô tả hai sự khác biệt lớn giữa chiến lược NSS của Trump và hai người tiền nhiệm. Điểm đầu tiên, “đối với cả Bush và Obama, Hoa Kỳ là một phần của một tổng thể lớn hơn, một quốc gia tự do (được thừa nhận rất mạnh mẽ) trong số các quốc gia tự do tạo nên một trật tự quốc tế tự do”. Sự khác biệt thứ hai nằm ở sự cự tuyệt của Trump đối với quan điểm của những người tiền nhiệm về một vòng cung lịch sử tiến tới chủ nghĩa tự do phổ quát. “Một lần nữa, Bush và Obama, dù rất khác nhau về nhiều mặt, cùng chia sẻ quan điểm của đảng Whig về lịch sử về sự tiến tới của chủ nghĩa tự do phổ quát”. Ngược lại, đối với Trump, các tiêu chuẩn có liên quan là chủ nghĩa hiện thực Hobbes, quan điểm về tổng bằng không và một định nghĩa hẹp về lợi ích quốc gia. Hiện tại, chủ nghĩa Wilson không được áp dụng và tương lai của trật tự Mỹ sau năm 1945 là không chắc chắn.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Hồ Điệp

Hiệu đính: Lê Nguyễn

Nguồn: Joseph S. Nye, JR. – The Rise and fall of American hegemony from Wilson to Trump – International Affairs, 95: I (2019), p63-80.

TN 2019 – 1, 2, 3, 4.