Tuyên bố của Tổng thống Mỹ về Jerusalem: Động cơ, ý nghĩa và triển vọng


Sau 7 thập kỷ gián đoạn trong chính sách của Mỹ về Jerusalem, ngày 6/12 vừa qua, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã tuyên bố chính quyền của ông thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, đồng thời ông chỉ thị Bộ Ngoại giao Mỹ “triển khai các bước chuẩn bị chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem”. Năm 1995, Quốc hội Mỹ với đa số thành viên của 2 đảng Dân chủ và Cộng hòa đã thông qua “Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem”. Đạo luật này quyết định phải chuyển Đại sứ quán Mỹ đến Jerusalem trong thời gian trước ngày 31/5/1999. Nhưng đạo luật này có một điều khoản cho phép Tổng thống Mỹ được quyền ký quyết định hoãn 6 tháng nếu thấy cần thiết để “bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”. Cho nên kể từ Chính quyền Tổng thống Bill Clinton và các Chính quyền Mỹ kế tiếp đều đã mặc nhiên cứ 6 tháng một lần ký hoãn thực hiện đạo luật này, cho dù khi là các ứng cử viên ra tranh cử tổng thống, họ đều hứa sẽ chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem.

Các yếu tố quan trọng nhất cho quyết định này

Quyết định thừa nhận Jerusalem đang bị chiếm đóng là thủ đô của nhà nước Israel, nước mà đang chiếm đóng vùng này có các điểm chính sau:

1/ Jerusalem là thủ đô của Israel

Theo Trump, việc thừa nhận Jerusalem là thủ đô của Israel là “một việc đúng đắn cần phải làm”. Tuy nhiên, trong bài phát biểu của mình Trump đã muốn khẳng định rằng tuyên bố này của ông, không nhất thiết phải đụng chạm đến tình trạng cuối cùng”. Và theo một bức thư Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tới các đại sứ quán của nước này ở châu Âu, ông đã yêu cầu các nhà ngoại giao Mỹ giải thích rõ với các quan chức châu Âu rằng “Jerusalem vẫn là một trong những vấn đề về tình trạng cuối cùng giữa người Israel và người Palestine và rằng trong các cuộc thương lượng của họ, hai bên phải xác định phạm vi chủ quyền của Israel ở Jerusalem. Đây là điều mà Ngoại trưởng Rex W. Tillerson đã một lần nữa khẳng định tổng thống hoàn toàn hiểu rõ tình trạng cuối cùng (đối với Jerusalem), trong đó vấn đề biên giới sẽ được để lại để hai bên thương lượng và quyết định. Trong đó có dấu một dấu hiệu ngầm về việc có thể chia thành phố này thành hai thủ đô nếu hai bên chấp thuận. Israel đã chiếm đóng phía Tây Jerusalem vào năm 1948, và tuyên bố nó là thủ đô của Israel vào năm 1949. Đây là một bước đi bị cộng đồng quốc tế, kể cả Mỹ bác bỏ. Tiếp đó Israel đã chiếm đóng phía Đông Jerusalem vào năm 1967. Các nghị quyết quốc tế quy định những vùng đất linh thiêng của người Do Thái, người Thiên chúa giáo và người Hồi giáo nằm trong đường biên giới của Đông Jerusalem là những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và nó là phần thành phố mà người Palestine muốn đó là thủ đô của đất nước họ. Israel đã bác bỏ điều này.

Mặc dù Chính phủ Mỹ đã cố làm nhẹ đi mức độ hệ trọng của quyết định này, song cả ông Trump và các quan chức trong chính quyền của ông đều không đề cập một điều, đó là từ năm 1967 Israel đã không thừa nhận quyền của người Palestine ở phía Đông Jerusalem. Đồng thời, ông Trump cũng đã biện minh cho quyết định tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel rằng quyết định này chấp hành đạo luật đã được Quốc hội ban hành vào năm 1995. Đạo luật này quy định thành phố Jerusalem “phải là một thể thống nhất” và “phải công nhận đây là thủ đô của Israel”. Từ đó người ta thấy là bất kỳ câu chuyện nào nói rằng quyết định của ông Trump không bao gồm việc tước đoạt quyền của người Palestine trong việc bàn thảo, thương thuyết về những vấn đề liên quan đến cơ chế cuối cùng, trong đó có vấn đề Jerusalem như là ném cát vào mắt.

2/ Chuyển Đại sứ quán đến Jerusalem

Mặc dù quyết định của Trump yêu cầu Bộ Ngoại giao phải bắt đầu chuẩn bị chuyển sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem, song Tổng thống Trump đã ký quyết định hoãn chuyển trực tiếp Đại sứ quán thêm 6 tháng nữa với lý lẽ là để có thêm thời gian hoàn thành việc “tuyển các kiến trúc sư, kỹ sư và các nhà hoạch định để xây dựng Đại sứ quán mới sao cho nó đạt mức độ là một biểu tượng tuyệt vời về hòa bình khi được hoàn thành”. Theo ông Tillerson, “có lẽ việc chuyển sứ quán sẽ không diễn ra trong năm nay, cũng không vào năm tới. Nhưng tổng thống muốn chúng tôi triển khai một quy trình cụ thể khi mà chúng tôi có thể làm được điều đó”. Bất luận thời điểm nào sẽ thực sự chuyển Đại sứ quán thực sự được ấn định, việc Tổng thống Trump quyết định công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel và việc ông chỉ thị Bộ Ngoại giao bắt tay triển khai các bước chuẩn bị chuyển Đại sứ quán thực sự đã đặt dấu chấm hết cho chính sách mà 3 người tiền nhiệm của ông đã theo đuổi hơn 20 năm nay về việc trì hoãn đưa ra quyết định chuyển sứ quán cho tới khi đạt được một giải pháp hòa bình thỏa đáng giữa người Palestine và người Israel.

3/ Tuân thủ một nền hòa bình và giải pháp 2 nhà nước theo tiêu chí của Israel

Trong bài phát biểu của mình, ông Trump muốn khẳng định chính quyền ông “cam kết mạnh mẽ tạo thuận lợi cho việc đi đến một thỏa thuận hòa bình lâu dài”. Lần đầu tiên kể từ khi lên làm tổng thống, Trump tuyên bố ủng hộ giải pháp 2 nhà nước. Nhưng sự ủng hộ của ông kèm theo điều kiện phải được cả hai bên tán đồng và tức là Mỹ “sẽ ủng hộ giải pháp 2 nhà nước nếu cả hai bên tán đồng”. Điều này có nghĩa là đưa các cuộc thương lượng trở lại bàn đàm phán 4 bên ban đầu. Điều này cho phép Israel sử dụng quyền phủ  quyết, nước này luôn từ chối thừa nhận Nhà nước Palestine được thiết lập trên cơ sở các nghị quyết của luật pháp quốc tế.

Động cơ và các toan tính của Trump

Quyết định của Trump về Jerusalem không có được sự đồng thuận giữa các cố vấn chính của ông. Cụ thể là trong lúc Ngoại trưởng Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis, Giám đốc cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) Mike Pompeo phản đối quyết định này, thì Phó Tổng thống Mike Pence, Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, và Đại sứ Mỹ tại Israel David M. Friedman lại ủng hộ quyết định này. Ngoài ra, con rể của của ông, đồng thời là cố vấn của ông, Jared Kushner và đặc phái viên Mỹ về hòa bình ở Trung Đông Jason Greenblatt cũng ủng hộ quyết định này của ông.

Những lý do mà những người phản đối quyết định này đưa ra là quyết định này có thể là mối đe dọa lợi ích của Mỹ trong các khu vực Arab và Hồi giáo, và cũng có thể làm suy yếu sự bảo trợ của Mỹ đối với các cuộc thương lượng giữa người Palestine và người Israel và làm phá sản mọi đề xuất hòa bình mà Mỹ đang ra sức thúc đẩy và hơn nữa còn làm nổ tung các cuộc thương lượng đó bởi các bên bị lôi kéo vào vòng bạo lực mới trên vùng lãnh thổ của Palestine bị chiếm đóng, chưa kể là quyết định này còn có thể làm cho mối quan hệ giữa Mỹ và các đồng minh Arab và Hồi giáo của họ trở nên căng thẳng. Bên cạnh đó, quyết định này còn dẫn đến chiến dịch cô lập Mỹ về mặt ngoại giao, thậm chí giữa các đồng minh của nước này ở châu Âu. Trái lại, bên ủng hộ quyết định lại tranh luận là tuyên bố theo kiểu này sẽ cùng cố niềm tin của người Israel vào ông Trump, và trên cơ sở đó, sẽ tạo điều kiện để ông có thể vận động được chính phủ cánh hữu của Netanyahu trong trường hợp Chính phủ Mỹ đưa ra một khung thỏa thuận cuối cùng với người Palestine.

Nhưng những lý do thực sự nào đã thôi thúc Trump tuyên bố quyết định của ông về Jerusalem, cho dù các cố vấn cấp cao của ông trong Hội đồng an ninh quốc gia phản đối, là gì? Ông Trump cố gắng đặt quyết định của mình trong một khuôn khổ thực hiện cam kết đạo luật mà đã được Quốc hội thông qua vào năm 1995 về việc chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem. Trump đã không ngần ngại chế nhạo 3 tổng thống trước ông, cho rằng họ không có đủ can đảm để kích hoạt đạo luật này. Ngoài ra, vấn đề này đối với Trump có liên quan đến lời hứa mà ông đã cam kết dứt khoát khi tranh cử tổng thống. Do đó, ông phải thực hiện lời hứa. Điều này trái ngược với những tổng thống tiền nhiệm của ông. Cụ thể là “những tổng thống trước đã biến việc này thành lời hứa quan trọng trong chiến dịch tranh cử của họ, nhưng họ đã không thực hiện được nó. Và hôm nay tôi sẽ thực hiện nó”. Ở đây nổi lên mục đích cá nhân trong quyết định của Trump, bởi hầu như ông không thực hiện những lời hứa mà không làm nổi bật hình ảnh của một tổng thống dũng mãnh, dám đưa ra những quyết định mà không một ai khác có bãn lĩnh thực hiện. Và trong vấn đề Palestine, ông đã tìm thấy cơ hội để thực hiện ý đồ này. Nhưng cũng tại đây, ông mong muốn làm hài lòng quần chúng, người ủng hộ mình, cơ sở ủng hộ ông trong cuộc bầu cử tổng thống, đó là:

1/ Làm hài lòng giới vận đồng hành lang Do Thái ở Mỹ

Vào tháng 3/2016, trong phát biểu trước Ủy ban các vấn đề chung Mỹ – Israel (AIPEC), một cánh tay nối dài của giới vận động hành lang Do Thái ở Mỹ, Trump đã cam kết chuyển “Đại sứ quán Mỹ đến thủ đô vĩnh cửu của người dân Do Thái, đó là Jerusalem”. Theo các phóng sự khác nhau, sau bài phát biểu, tỷ phú người Do Thái Sheldon Adelson, chủ chuỗi Casino nổi tiếng (tên của ông được đặt cho một quận ở Đông Jerusalem sau khi Israel trực tiếp chiếm giữ vùng này), một người ủng hộ những người thuộc đảng Cộng hòa, đã nghiêng về ủng hộ chiến dịch tranh cử tổng thống của Trump. Ông này đã hiến 20 triệu USD cho một trong những ủy ban bầu cử ủng hộ cho Trump. Một lần khác, ông đóng góp thêm 1,5 triệu USD để tổ chức hội nghị của đảng Cộng hòa mà tại đây Trump đã tuyên bố chính thức là ứng cử viên tranh cử tổng thống. Kể từ khi Trump được bầu làm tổng thống, Adelson đã không ngừng nhắc nhở ông về lời hứa của mình, và đã không giấu giếm sự trách móc khi ông Trump đã bị khuất phục trước áp lực của các cố vấn vào tháng 6 vừa qua và ông đã ký quyết định ký hoãn việc chuyển Đại sứ quán. Theo các phương tiện truyền thông Mỹ, Trump đã bất ngờ bước vào cuộc họp của các cố vấn cấp cao về vấn đề an ninh quốc gia vòa ngày 27/11/2017 giữa lúc họ đang tranh luận về vấn đề trì hoãn chuyển Đại sứ quán thêm một lần nữa. Họ tỏ ra kiên quyết phải đưa ra cho ông một sự lựa chọn để ông thực hiện lời hứa của mình khi tranh cử. Việc làm đó đã được đưa, mặc dù có những lời cảnh cáo của Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng.

2/ Sự hài lòng của các nhóm Tin Lành

Những người theo đạo Tin Lành chiếm 25% dân số Mỹ, trong đó có gần 80% người da trắng theo đạo Tin Lành đã bỏ phiếu cho Trump trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua. Vấn đề chuyển Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem là một trong những ưu tiên của nhóm theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Hơn thế nữa, nhiều người trong các nhóm này còn gây áp lực buộc Trump phải khẩn trương quyết định chuyển Đại sứ quan và tuyên bố Jerusalem là thủ đô của Israel. Đối với những người Tin Lành, vấn đề chuyển Đại sứ quán không liên quan đến vấn đề chính trị.

Kết luận

Quyết định vừa qua của Trump là thể hiện chiến thắng của sự ích kỷ và những cân nhắc chính trị nội bộ của ông về cách tiếp cận duy lý và thực tế trong chính sách đối ngoại. Đây cũng là một chiến thắng của phe quân sự cánh hữu cực đoan trong Chính quyền Trump với ý đồ khiến người Palestine sẽ phải lánh xa bàn thương lượng trong thời gian tới, nhưng họ sẽ lại nhanh chóng trở lại bàn thương lượng với những thực tế mới như họ đã làm trước đây. Điều này có nghĩa đây trên thực tế là một sự đánh cược đối với ý chí kháng chiến của nhân dân và ban lãnh đạo Palestine, cũng như khả năng kháng cự những áp lực của Mỹ và kể cả của các nước Arab, và khả năng kiên quyết bám giữ lập trường của mình là Mỹ đã không còn là một nhà hòa giải trung gian có đủ khả năng để bảo trợ tiến trình hòa bình và tìm kiếm những lựa chọn khác sau khi khẳng định chọn cách thương lượng đã thất bại. Việc này xuất hiện sau khi có những tin tức rò rỉ cho hay việc Thái tử Mohammed bin Salman đã gây sức ép với Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas trong chuyến thăm vừa qua của ông đến Saudi Arabia buộc ông phải chấp thuận đề xuất của Jared Kushner về “việc thiết lập một thực thể Palestine ở Dải Gaza và 3 khu vực hành chính ở khu Bờ Tây ở vùng A và vùng B và 10% ở vùng C bao gồm các khu định cư của người Do Thái”. Tại đây, các khu định cư này vẫn giữ nguyên hiện trạng của nó. Người Palestine mất đi quyền trở về quê hương mình và Israel tiếp tục chịu trách nhiệm về đường biên giới. Với ý nghĩa này, tuyên bố của Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel là sự hoàn thành những nỗ lực nhằm kết liễu nguyện vọng của người Palestine thiết lập một nhà nước Palestine ở vùng đất khu Bờ Tây và Dải Gaza mà Israel đã chiếm đóng vào năm 1967 với thủ đô của họ là ở Đông Jerusalem – một giải pháp lịch sử mà người Palestine đã chấp nhận.

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu chính sách Arab (Qatar) – 12/2017

TLTKĐB – 27/12/2017

Advertisements

Đã đến lúc cho Trump một bài học – Phần đầu


Ngày 5/5/2019, hai dòng tweet của Trump đã bao phủ một màu đen lên vòng đàm phán thương mại Trung – Mỹ lần thứ 11. Trump viết trên Twitter rằng từ ngày 10/5/2019, Mỹ sẽ tăng thuế đối với gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD, ngoài ra một lượng hàng hóa Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 324 tỷ USD khác hiện chưa bị đánh thuế, nhưng sắp tới sẽ phải chịu thuế 25%.

Vào thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ, Trump viện cớ Trung Quốc thay đổi ý kiến để khiến tình hình xấu đi một cách đột ngột, động cơ thực sự của Trump là gì? Trung Quốc nên đối phó như thế nào với việc có thể bước vào một chu kỳ lâu dài “vừa chiến tranh vừa đàm phán” trong tương lai?

Động cơ thứ nhất của Trump: Tăng ngân khố quốc gia

Kể từ khi Trump lên nắm quyền, logic ngoại giao của ông rất rõ ràng, và một trong số đó đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia, đó là: phải tìm cách thu được tiền. Từ phàn nàn về việc không được trả thêm phí bảo hộ cho quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc mang lại chiếc ô bảo vệ cho nước này đến vì sao các nước khác trong NATO trả ít tiền như vậy, điều Trump coi trọng là các nước khác có thể trả thêm nhiều tiền hơn cho Mỹ.

Biểu hiện của những logic này trong thương mại chính là chính phủ phải tăng thuế nhập khẩu, cho dù đó là áp thuế thép và nhôm đối với các đồng minh hay xung đột thương mại với Trung Quốc. Các nhà kinh tế nên nói với các nhà hoạch định chính sách rằng tác động từ việc tăng thuế sẽ có hai mặt, có người được hưởng lợi và có người chịu tổn thất. Các ngành được bảo hộ thì được hưởng lợi, nhà nước được hưởng lợi từ việc áp thuế bổ sung (thuế đặc biệt), trong khi người mua các sản phẩm liên quan (người tiêu dùng) thì chịu thiệt hại. Đối với một quốc gia, lợi ích mà nhà nước và các ngành thu được từ việc tăng thuế luôn nhỏ hơn tổn thất mà người dân phải chịu. Nhưng “nhà nước” của Trump rõ ràng không có “nhân dân”, chỉ cần kho bạc nhà nước tăng thu, còn những thứ khác thì không quan tâm. Vì vậy, logic của Trump là: Tại sao phải sớm kết thúc xung đột thương mại để làm gián đoạn nguồn thu cho kho bạc nhà nước này? Vẫn có thể tiếp tục thu tiền, thì phải tiếp tục thu tiền!

Động cơ thứ hai: Tạo ra tiền bạc

Kể từ khi lên nắm quyền, Trump luôn “nghĩ ra chuyện” vào những thời điểm quan trọng để tìm cách “kiếm tiền”. Trong mắt ông, một yếu tố quan trọng của cuộc đàm phán là tạo ra cơ hội thu lợi, như vậy khi bạn trở về thời điểm ban đầu, đối phương sẽ cảm thấy rằng bạn đã nhượng bộ, nhưng thực tế là bạn không làm gì cả.

Trước chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2017, Trump từng có những phát ngôn hung hăng nhằm vào Triều Tiên và vấn đề thương mại, trước cuộc gặp thượng đỉnh Kim – Trump cũng vậy. Trong các vấn đề nội bộ, Trump còn liên tục áp dụng cách làm này. Do đó, trước thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán, Trump đương nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội “kiếm tiền” này. Các cuộc đàm phán vẫn chưa kết thúc, động cơ này của Trump càng được thể hiện rõ hơn.

Động cơ thứ ba: Chuyển hướng mối quan tâm khỏi cuộc “can thiệp tư pháp”

Cuộc điều tra của Công tố viên đặc biệt Mueller đã kết thúc, nhưng vì cách trình bày và giải thích về kết quả điều tra của các bên trong nước Mỹ rất khác nhau, bản tổng kết 4 trang mà Bộ trưởng Tư pháp chuyển đến công chúng trước khi bản báo cáo điều tra hoàn chỉnh được đưa ra rõ ràng có ý đồ ủng hộ Trump, khiến người ta cảm thấy một sự che đậy lộ liễu. Theo cuộc thăm dò mới nhất của NBC/Wall Street Journal, sua khi báo cáo điều tra của Mueller được công bố, 49% số người được hỏi cho rằng Quốc hội cần phải ngay lập tức khởi động phiên điều trần luận tội, 32% cho rằng nên tiếp tục điều tra cho đến khi có đầy đủ bằng chứng mới khởi động phiên điều trần luận tội Trump. Trong vài tuần tới, có thể sẽ có nhiều cuộc thảo luận về vấn đề liệu Trump có can thiệp vào tư pháp hay không.

Một cao thủ như Trump đương nhiên không thể để vấn đề này tiếp tục âm ỉ, do đó việc chuyển hướng mối quan tâm của truyền thông và dân chúng vào cuộc đàm phán thương mại Turng – Mỹ được ông xem như là một lựa chọn tốt. Nhưng ngay cả sau khi ông cố gắng chuyển sự chú ý đó, New York Times và các phương tiện truyền thông lớn khác vẫn không chịu lép vế, tuyên bố tình hình nộp thuế của Trump trong 10 năm (từ 1985 – 1994), trong đó có những thông tin cho thấy ông không những không giàu có như tuyên bố, mà còn không phải là một doanh nhân thành công.

Ba động cơ nói trên không loại trừ nhau, mà bổ trợ cho nhau. Với hai dòng tweet, hướng nhìn của dư luận đã thực sự chuyển hướng phần nào, và dù tờ New York Times công bố tình hình thuế 10 năm qua của Trump, nhưng cùng với việc thị trường chứng khoán Mỹ liên tục giảm mạnh trong vài ngày nay, mối quan tâm của công chúng Mỹ trong những ngày này vẫn là cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ.

Về việc tạo cơ hội “kiếm tiền” liệu có thành công, Trump hoàn toàn không lo lắng, bởi vì ngya cả khi không thành công, ít nhất ông vẫn có thể tiếp tục (theo logic lệch lạc của ông) thu thuế cho kho bạc nhà nước.

Tất nhiên, với sự tùy tiện làm liều của Trump, chính sách áp thuế mới đã có hiệu lực vào 12 giờ trưa ngày 10/5 (giờ Bắc Kinh), và cho đến sáng ngày 11/5, cuộc đàm phán cấp cao thương mại Trung – Mỹ vòng thứ 11 đã kết thúc sau khi vượt qua sóng gió tăng thuế này.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn các phóng viên ở Washington, Phó Thủ tướng Lưu Hạc, cũng là lãnh đạo Trung Quốc tại cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ đã tiết lộ nhiều thông tin quan trọng, như hai bên có bất đồng và cũng có đồng thuận, nhưng đều nhất trí cho rằng cần phải tiếp tục xu thế tốt đẹp cảu cuộc đàm phán dù tạm thời còn tồn tại trở ngại, và sẽ tiếp tục thúc đẩy vòng đàm phán tiếp theo tại Bắc Kinh.

Còn tại sao bất đồng, Lưu Hạc thẳng thắn nói rằng nó liên quan đến các nguyên tắc quan trọng của quốc gia, bất kỳ quốc gia nào cũng có nguyên tắc, Trung Quốc không thể nhượng bộ về các nguyên tắc quan trọng.

Dù thế nào, đàm phán thương mại Trung – Mỹ cuối cùng cũng không bị tan vỡ như thế giới bên ngoài lo lắng. Tại vòng đàm phán này, hai bên đã làm rõ được lập trường về nhiều vấn đề, thảo luận về nội dung của vòng đàm phán tiếp theo, giải thích những phức tạp rối rắm khó tránh khỏi trong đàm phán. Ngay sau khi Mỹ áp thuế bổ sung, đoàn đại biểu Trung Quốc vẫn muốn đàm phán với Mỹ bằng thái độ tích cực, hoanh nghênh các cuộc đàm phán trong tương lại tổ chức tại Bắc Kinh, cùng tìm cách giải quyết vấn đề, tránh việc dân chúng hai nước Trung Quốc và Mỹ chịu tổn thất về lợi ích.

Tuy nhiên, đôi khi không tránh khỏi việc “mọi thứ xong xuôi chỉ thiếu một điều kiện quan trọng” và tương lai vẫn nên lạc quan. Như chuyên gia về các vấn đề Trung – Mỹ tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Scott Kennedy nói trong một cuộc phỏng vấn với Washington Post vào 6/5, “nét mực chưa khô thì chưa có gì là chắc chắn”. Hơn nữa, đối với Trump, ngay cả khi mực khô, là ngày hôm sau vẫn có thể đảo lộn.

Hiện tại, Chính quyền Trump đã áp mức thuế 25%, và Trung Quốc cảm thấy không hợp lý và đáng kinh ngạc. Hai năm trước, Trump từng nhiều lần nói rằng ông muốn tăng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc lên 45%. Vì vậy, đừng hy vọng cứ đạt được thỏa thuận trọn gói là có thể tuyên bố chiến thắng, mà cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đấu với nhiều biến động trong trung hạn và dài hạn. Xét theo góc độ cuộc xung đột thương mại Trung – Mỹ có thể diễn ra trong dài hạn, Trung Quốc nên đối phó như thế nào?

(còn tiếp)

Nguồn: Người quan sát (TQ) – 11/05/2019

TLTKĐB – 15/05/2019

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần cuối


Hủy hoại nhà nước – quốc gia

Nhà nghiên cứu chính trị Igor Collazos từng chỉ ra nhiều cách thức để hủy hoại một nhà nước – quốc gia: từ chiến thuật cắm chốt đến can thiệp, chia cắt, kích động chủ nghĩa địa phương, truyền bá tư tưởng thần phục, thâm nhập và làm tha hóa nội bộ, phân hóa kinh tế và kích động xung đột.

Cắm chốt là chiếm giữ và củng cố những điểm chiến lược, nhỏ bé về quy mô nhưng có vị trí then chốt trong việc kiểm soát, đặc biệt là đối với các mạng lưới truyền thông và giao thông; can thiệp là hành động quân sự chống lại một hoặc nhiều nhà nước – quốc gia; chia cắt là ly khai một hay nhiều phần lãnh thổ quốc gia; kích động chủ nghĩa địa phương là tuyên truyền những bản sắc, nhiều khi là giả tạo nhằm đào sâu cách biệt và rạn nứt với những nguyên nhân trên danh nghĩa thuộc về văn hóa.

Thâm nhập và làm tha hóa là gia tăng không kiểm soát các điểm “cắt chốt” bên trong bộ máy nhà nước của một quốc gia; truyền bá tư tưởng thần phục là tập trung hỗ trợ một địa phương cụ thể nhằm tăng cường ảnh hưởng và sự phụ thuộc một phần của đia phương đó vào cường quốc bên ngoài; phân hóa kinh tế là thúc đẩy sự phát triển quá mức của một hoạt động kinh tế chuyên môn hóa cao và riêng lẻ tại một địa phương hoặc thậm chí của cả một quốc gia để làm gia tăng sự phụ thuộc và làm suy yếu khả năng thương lượng của địa phương hay quốc gia đó, chiến lược hiện đang được áp dụng trong các hệ thống toàn cầu; và kích động xung đột là ủng hộ, cả về vật chất lẫn tinh thần, các cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhằm làm sâu sắc thêm các xu hướng ly khai và tạo ra các vết thương không thể hàn gắn.

Ai sẽ là nạn nhân tiếp theo sau Venezuela?

Washington rõ ràng đã triển khai chiến lược “Balkan hóa” tại Venezuela. Đầu tiên, họ âm mưu tạo ra một “vùng giải phóng” tại biên giới phía Nam thuộc bang Táchira, tiếp giáp bang Bắc Santander của Colombia, với hành động vận chuyển “viện trợ nhân đạo” do Mỹ cố tình thực hiện chứ không phải theo yêu cầu của Venezuela, một hình thức ngụy trang cho một cuộc xâm lược cục bộ mà trong đó, những người Colombia đóng vai trò then chốt.

Hiện tại, họ đang tạo dư luận và những “điều kiện khách quan” để biến bang Zulia thành một địa phương không có chính quyền, một vùng đất không có luật pháp và “không của ai cả”, từ đó tạo cớ cho một cuộc can thiệp quân sự đa quốc gia “vì mục đích nhân đạo”, để một khi giành được quyền kiểm soát Zulia sẽ tạo ra một nhà nước Venezuela tự do và lập ra một chính phủ bù nhìn thân Mỹ.

Những ai chỉ đạo mô hình chiến tranh đa hình thái và đa chiều chống lại Venezuela hiện tại từ Washington hẳn phải cho rằng việc chiếm đóng quân sự và chuyển “hàng viện trợ” cho riêng bang Zulia sẽ khả thi hơn nhiều so với việc thực hiện trên toàn lãnh thổ quốc gia Nam Mỹ này. Zulia là một vùng có trữ lượng dầu khí lớn, đồng thời có hoạt động chăn nuôi và tiếp giáp với Colombia, những điều kiện khiến địa phương này mang tính chiến lược về mặt địa chính trị.

Giờ đây Mỹ đang cố gắng chia tách 2 bang biên giới là Táchira và/hoặc Zulia khỏi Venezuela để lập ra một “nền cộng hòa” bù nhìn mới. Tại Mỹ Latinh, người ta không thể quên được việc Panama cũng từng là một phần lãnh thổ Colombia trước khi bị Mỹ chia tách vào năm 1903. Luận thuyết “Balkan hóa”, cho dù dưới bất kỳ danh nghĩa nào, đã, đang và sẽ luôn nằm trong tâm trí của những kẻ thống trị ở Mỹ.

Những tuyên bố vừa qua của Tổng thống Mỹ Donald Trump, về danh nghĩa nhằm vào người đồng cấp Colombia Iván Duque, có thể hiểu là một sự bảo đảm về việc đưa Colombia trở lại thời kỳ nội chiến, tại thời điểm tỷ lệ ủng hộ chính phủ bảo thủ cực đoan đang rơi tự do với những xung đột nội bộ liên miên một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ngày càng lan rộng, tình trạng mất niềm tin của dân chúng vào giới cầm quyền và thất bại nặng nề của Nghị viện trong nỗ lực thúc đẩy những nội dung thiết yếu nhất của thỏa thuận hòa bình với nhóm du kích Lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC, hiện đang giải giáp và trở thành chính đảng Lực lượng lựa chọn thay thế cách mạng của chung) – đặc biệt là về cơ chế pháp lý trong giai đoạn chuyển giao quyền lực.

Ông Trump “chỉ trích” người đồng nghiệp Colombia về việc không ngăn chặn được dòng ma túy vào Mỹ từ quốc gia Nam Mỹ này khi nói rằng “thật không may là hoạt động buôn bán ma túy đã tăng 50% kể từ khi ông Duque lên cầm quyền”, và lên án Colombia cùng với Guatemala, El Salvador và Honduras là những nước Mỹ Latinh đã gửi những tên tội phạm và băng đẳng” tới Mỹ. Lời đáp trả của Duque khá yếu ớt: “Những nước có tỷ lệ tiêu thụ ma túy cao cần phải đối mặt với hiện tượng đó; trong khi đó chúng tôi đang làm những việc cần thiết tại Colombia để đấu tranh chống lại các băng đảng và nạn trồng cây coca trái phép. Trong khi chúng tôi thực hiện nhiệm vụ này, các nước khác cũng cần phải đối phó với nạn buôn bán các tiền chất”.

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng đây là một sự công kích của Trump nhằm vào đồng minh Duque. Trái lại, những tuyên bố này tạo ra công cụ để vị tổng thống hữu khuynh của Colombia gây áp lực lên công luận, các tổ chức chính trị và thể chế trong nước, đặc biệt Tòa án Hiến pháp, tái sử dụng các biện pháp mạnh tay chống lại người nông dân và bác bỏ thỏa thuận hòa bình, vì nếu không có các biện pháp cực đoan này thì Kế hoạch Colombia mà Washington tài trợ cho Bogota không có lý do để tồn tại.

Đó là một kế hoạch nhằm vào hai mục tiêu: một mặt để quốc gia Nam Mỹ này không phải từ bỏ hoạt động khai khoáng cùng kiệt, độc canh cây cọ châu Phi và thậm chí là chính hoạt động trồng cây coca; mặt khác để tiếp tục thu lợi từ chiến tranh, và rõ ràng là tiếp tục “Balkan hóa” hay tạo ra tình trạng vô chính phủ ở nhiều vùng rộng lớn của quốc gia Nam Mỹ này. Mỹ rõ ràng không muốn Colombia thoát khỏi vai trò là nguồn cung cấp cocaine và ma túy tổng hợp rẻ mạt cho tầng lớp thượng lưu, trung lưu và các khu ổ chuột tại các đô thị của Mỹ, vì đây vẫn là một công cụ kiểm soát xã hội hữu hiệu.

Hiện có 2 mô hình đang cạnh tranh nhau trong giới cầm quyền tại Colombia: Một bên là một bộ phận giới tư sản, do cựu Tổng thống Juan Manuel Santos cầm đầu, theo đuổi dự án ổn định kinh tế và đa dạng hóa sản xuất: một bên là phái Uribe, do cựu Tổng thống cực hữu Álvaro Uribe sáng lập, đặt cược vào việc quay trở lại tình trạng nội chiến, từng mang lại cho họ nhiều lợi lộc trong suốt 6 thập kỷ qua.

Phái Uribe, hiện do Duque thừa kế, tìm cách khơi lại xung đột xã hội và tình trạng chiến tranh: Vượt qua được cuộc xung đột nghĩa là xóa bỏ được tình trạng phân cực chính trị – xã hội ở nước này, dẫn tới việc chấm dứt sự tồn tại của phái Uribe luôn theo đuổi tư tưởng hữu khuynh, cực đoan, cũng như những ưu đãi và sự bảo hộ của họ đối với những kẻ buôn lậu ma túy, sĩ quan quân đội tha hóa biến chất và những nhóm bán quân sự cực hữu.

Duque muốn sử dụng trở lại thuốc diệt cỏ glyphosate phun từ máy bay để diệt trừ các cánh đồng coca, cùng các biện pháp cưỡng chế khác, để bỏ qua các sáng kiến đã thỏa thuận với giới nông dân và các dân tộc thiểu số bản địa.

Cựu Tổng thống Juan Manuel Santos từng chỉ ra rằng Colombia đã mất 40 năm cố gắng vô ích trong việc xóa bỏ cây coca “bởi chúng ta chưa bao giờ tiếp cận được với người nông dân để trao cho họ những lựa chọn khả thi khác. Ngày nay với nền hòa bình, chúng ta có thể làm được điều đó, và do vậy tôi hi vọng rằng cách tiếp cận này không bị điều chỉnh”. Ông nói thêm: “Phải trao cho những người dân trồng coca những lựa chọn hợp pháp và khả thi chứ không thể đầu độc (bằng việc sử dụng glyphosate) hay tống họ vào tù”.

Tại Brazil – quốc gia rộng lớn và đông dân nhất Mỹ Latinh, tình trạng cũng đáng buồn không kém với những tuyên bố giật gân và cực đoan của Tổng thống Jair Bolsonaro, người mới đây đã đưa ra giả thuyết về một cuộc xâm lược vào Venezuela, trong đó Brazilia và Washington sẽ làm việc cùng nhau để chia rẽ và gây rạn nứt trong Quân đội Venezuela nhằm lật đổ Chính quyền Nicolás Maduro. Vị tổng thống này phát biểu rằng: “Brazil có thể làm gì? Chúng ta hãy giả sử rằng có một cuộc xâm lược quân sự của Mỹ vào Venezuela… Chúngta sẽ phải lôi kéo Quân đội Venezuela, không còn con đường nào khác, bởi người quyết định liệu đất nước sống trong một nền dân chủ hay một nền độc tài chính là các lực lượng vũ trang… Quyết định đó sẽ là của tôi, nhưng tôi sẽ lắng nghe Hội đồng Quốc phòng và sau đó là Nghị viện Brazil trước khi đưa ra quyết định”. Thế nhưng ngay cả khi giới tướng lĩnh trong chính nội các của ông ngăn cản việc “giao nộp” căn cứ không gian chiến lược Alcántara cho Mỹ, thì vị nguyên thủ cực hữu này vẫn đưa ra cam kết trên trong chuyến công du Washington, chuyến công tác nước ngoài đầu tiên của ông trên cương vị tổng thống, và sắp tới rất có thể tới lượt các tập đoàn nhà nước và khu rừng Amazon khổng lồ cũng sẽ rơi vào vòng kiểm soát bằng lợi ích của Mỹ.

Những kế hoạch và chiến lược theo luận thuyết “Balkan hóa” luôn nằm trong số các lựa chọn của chính sách chiến tranh đa hình thái và đa chiều đang được Mỹ thúc đẩy tại Mỹ Latinh, nhằm biến khu vực này trở lại thành “sân sau” của mình. Trong bối cảnh đó, các cuộc tổng tuyển cử sắp tới tại Uruguay, Argentina và Bolivia có vai trò then chốt không chỉ đối với mỗi quốc gia này, mà còn cả với hướng đi của toàn bộ khu vực.

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Mỹ và chính sách “Balkan hóa” khu vực Mỹ Latinh – Phần đầu


Aram Aharonian

Chiến lược không đổi của các chính phủ kế tiếp nhau tại Mỹ là chia cắt vĩnh viễn lãnh thổ Mỹ Latinh-Caribe, bao gồm trong đó những nỗ lực hiện đang khá thành công của họ trong việc phá hoại các tiến trình hội nhập tự chủ của khu vực như Thị trường chung Nam Mỹ (Mercosur), Liên minh các quốc gia Nam Mỹ (Unasur) và Cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe (Celac).

Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh là một đặc trưng của cuộc tranh giành địa chính trị hiện tại và ngày càng dễ nhận ra tại tất cả các không gian hội nhập. Washington đang tìm cách làm thay đổi logic liên kết khu vực nhằm tạo ra một trật tự địa chính trị mới tại Mỹ Latinh, một bước xoay trục mang tính quyết định trong vài năm tới khi người ta thấy rõ hơn những chuyển biến của khu vực này không chỉ trong nội tại mà còn cả trong quan hệ đối ngoại. Quá trình “Balkan hóa” Mỹ Latinh thể hiện ở việc Mỹ đang sử dụng mọi loại “vũ khí” của hình thái chiến tranh đa hình thái và đa chiều (còn được gọi là chiến tranh thế hệ thứ 5), từ đe dọa can thiệp vũ trang, hay chiến tranh tâm lý thường trực qua các phương tiện thông tin đại chúng đa quốc gia và các mạng xã hội, đến gây sức và đặt điều kiện đối với việc vay mượn tín dụng của các tổ chức đa phương, luôn theo sát những mong muốn chính trị của Washington như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới hay Ngân hàng phát triển liên Mỹ.

Một ví dụ điển hình cho xu hướng này là việc cựu Ngoại trưởng Ecuador Eduardo Patiño mới đây tố cáo rằng đương kim Tổng thống nước này Lenín Moreno đã cam kết tuân thủ các điều kiện mà Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence đặt ra: thứ nhất, đứng vào hàng ngũ các nước tấn công Venezuela; thứ hai, đoạn tuyệt với các chương trình hội nhập nội khối Mỹ Latinh; và thứ ba, giao nộp nhà sáng lập Wikileaks Julian Assange. Tất cả chỉ để “đổi lấy một khoản tín dụng nghèo nàn của IMF”; trong khi đó, bước đi tiếp theo rất có thể là việc tái kích hoạt căn cứ quân sự cũ của Mỹ tại Manta.

Chiến dịch chiến tranh tâm lý trong trường hợp của Venezuela hướng tới việc tạo ra những sắc thái chính trị không chỉ đối lập và phân cực cao độ, mà còn loại trừ lẫn nhau, xét từ cả khía cạnh chính trị lẫn khía cạnh xã hội. Đây cũng là thông lệ đang diễn ra tại một số nước trong khu vực.

Những kế hoạch “Balkan hóa” trong quá khứ

Trong thế kỷ trước, giới phân tích theo thuyết âm mưu từng đề cập nhiều tới kế hoạch Andinia, nhằm chia cắt vùng Patagonia (vùng đất cực Nam châu Mỹ) của Chile và Argentina để lập ra một nhà nước Do Thái. Kế hoạch này bao gồm cả việc bạo hành và quấy rối liên tục cộng đồng thổ dân bản địa Mapuche từ cả 2 phía biên giới, cũng như việc chia cắt Brazil thành nhiều nước để xóa sổ siêu cường duy nhất trong khu vực, trong khi đó Colombia, Venezuela, Ecuador và Bolivia cũng sẽ mất một phần lãnh thổ của mình hoặc bị chia cắt thành những nước nhỏ.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Mỹ không quan tâm lắm tới dầu thô của Venezuela, và nguồn tài nguyên khổng lồ này chỉ là một trong những phương tiện để Washington đạt được mục tiêu thực sự của mình là chia cắt thế giới thành 2 khối lớn: Một bên là tập hợp của các quốc gia toàn vẹn, trật tự và ngăn nắp, và một bên là thế giới “vô pháp vô thiên” với những quốc gia “què cụt”, nơi các vụ xung đột và tình trạng hỗn loạn diễn ra hàng ngày. Để đạt được điều đó, Mỹ phải phá hủy các thể chế nhà nước – quốc gia và các phong trào vận động củng cố tính tự chủ của các bộ máy này.

Chiến lược chính là “Balkan hóa”, hay chia tách có hệ thống một nhà nước – quốc gia thành những quốc gia nhỏ hơn thù địch lẫn nhau, khái niệm bắt nguồn từ những cuộc chiến tranh trên bán đảo Balkan, nhất là từ cuộc tàn phá hủy diệt Liên bang Nam Tư, kèm theo những cuộc thảm sát kinh hoàng, trong những năm 1990 dưới bàn tay của Mỹ và Liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ý tưởng chủ đạo của chiến lược này là “tô đậm những khác biệt ở những nơi đã có chúng và tạo ra những khác biệt ở những nơi chưa có”. Rõ ràng, chỉ có thể khuyến khích tư tưởng ly khai khi có sự can thiệp của các lực lượng ngoại bang, sự đồng lõa của giới cầm quyền mại bản và những thế lực cơ hội gặp thời tại các khu vực này.

Lịch sử đã chứng minh rằng từ những năm 1860, khi Tổng thống Bolivia lúc đó Mariano Malgarejo trục xuất đại sứ Anh, Nữ hoàng Victoria đã ra sắc lệnh “Bolivia không tồn tại” và cho xuất bản bản đồ Nam Mỹ mà trong đó, lãnh thổ Bolivia bị chia cắt và sáp nhập vào các nước láng giềng. Đây không chỉ là một hành động biểu trưng nhất thời vì quốc gia Nam Mỹ này sau đó đã phải gánh chịu tới 3 cuộc chiến tranh và mất tới hơn 50% lãnh thổ của mình vào tay Brazil, Paraguay và Chile.

Việc xóa sổ Bolivia được chính phủ nhắc lại một lần nữa trong nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Hernán Siles Suazo, khi tạp chí Time của Mỹ đề xuất việc “Ba Lan hóa” hay phân chia lãnh thổ Bolivia cho các nước láng giềng, với lời biện hộ rằng quốc gia này thường xuyên ở trong tình trạng hỗn loạn và nền kinh tế đã bị sụp đổ do việc cải cách nông nghiệp và quốc hữu hóa các mỏ khoáng sản, buộc phải nhận viện trợ quốc tế để tồn tại, và do đó không nên duy trì nước này như một quốc gia độc lập khi điều này “gây nguy hại cho chính người dân Bolivia”.

Luận điểm tương tự cũng từng được nhà độc tài quân sự Chile Augusto Pinochet sử dụng khi khẳng định Bolivia thiếu khả năng để trở thành một quốc gia và giải pháp tốt nhất là phân chia lãnh thổ của họ được Chile, Peru, Brazil, Argentina, giống như Hiệp ước Hitler – Stalin phân chia Ba Lan cho Đức và Liên Xô năm 1940.

Những kế hoạch này được lập lại trong những tình thế khác nhau bởi các chính trị gia theo tư tưởng tự do mới như Tổng thống diệt chủng Gonzalo Sánchez de Lozada, người cũng từng khẳng định Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại. Trong những năm chủ nghĩa tự do mới chiếm thế thượng phong và tình trạng chảy máu tài nguyên diễn ra thường nhật, luận điểm dối trá này được các chính trị gia lặp lại nhiều lần tới mức người ta tin rằng việc Bolivia là một quốc gia không thể tồn tại là sự thật.

Năm 2008, một kế hoạch theo định hướng “Balkan hóa” đã dẫn tới cuộc đối đầu giữa chính phủ quốc gia với chủ trương bảo vệ các dân tộc bản địa yếm thế rất được lòng dân của Tổng thống Evo Morales và các nhà cầm quyền thủ cựu tại các địa phương giàu có trong khu vực địa lý được gọi là Trăng Khuyết (gồm các bang Santa Cruz, Tarija, Beni và Pando, cùng một phần Chuquisaca), giữa khu vực rừng núi Andes giàu khoáng sản ở miền Tây và các khu vực miền Đông, nơi tập trung giới địa chủ, doanh nhân lớn và tư sản thủ cựu, nắm giữ phần lớn các mỏ khí đốt và sản lượng nông nghiệp của đất nước. Tuy nhiên, kế hoạch chia rẽ này sau đó đã thất bại.

Trong trường hợp của Colombia, từng có âm mưu lập ra một “liên bang Antioquia”, hay nói nôm na là tách một trong những bang giàu có nhất ra thành một nhà nước tự chủ, độc lập, với Chính quyền Bogota. Nhưng định hướng “Balkan hóa” thực tế đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, với việc tách Đại Colombia thành 2 quốc gia kình địch là Colombia và Venezuela, và sau đó vào năm 1903, Mỹ chia cắt Panama khỏi Colombia để nắm giữ kênh đào huyết mạch nối liền Thái Bình Dương với biển Caribe (thuộc Đại Tây Dương).

Về phần mình, Ecuador cũng chiếm mất phần lớn các tỉnh ven biển và Guayaquil – bang giàu có nhất của “đất nước xích đạo” – cũng hơn một lần suýt bị tách thành một quốc gia riêng.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.estrategia.la

TLTKĐB – 07/05/2019

Đằng sau việc Mỹ đe dọa nâng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc – Phần cuối


Ngày 5/5, Liên đoàn bán lẻ Mỹ (NRF) cũng đưa ra một tuyên bố rằng việc ra thông báo sau đó tăng thuế trong vòng chưa đầy 1 tuần sẽ gây ra sự hỗn loạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ sức mạnh tài chính. Nếu Mỹ thực sự muốn gây áp lực hơn nữa đối với Trung Quốc thì nên tìm kiếm sự hợp tác với các đồng minh có cùng mối quan tâm về Trung Quốc.

Chủ tịch Hiệp hội may mặc và giày dép Mỹ (AAFA) cũng nói rằng chi phí thuế sẽ được chuyển sang giá hàng hóa và người tiêu dùng Mỹ phải gánh chịu. Ông hy vọng Trump có thể hủy bỏ áp thuế bổ sung và tập trung vào việc đàm phán với Trung Quốc. Liên minh các hiệp hội thương mại Mỹ cho rằng việc đánh thuế mua đồ gia dụng, công cụ, sản phẩm điện tử và hàng hóa của người Mỹ không có liên quan gì đến việc đạt được thỏa thuận tốt hơn, đó là ăn cấp tiền từ những người Mỹ chăm chỉ.

Ngoài ra, Chad Brown, thành viên cấp cao tại Viện Nghiên cứu kinh tế quốc tế Peterson cho biết: “Bạn không bao giờ hiểu được Tổng thống Trump, nhưng rất có thể đây chỉ là lời đe dọa. Nếu Mỹ và Trung Quốc đạt được sự đồng thuận vào cuối tuần này, thỏa thuận sẽ được công bố như thể ông Trump đã phải tỏ ra cứng rắn nhất có thể để làm được vậy”.

Eswar Prasad, giáo sư kinh tế tại Đại học Cornell và là thành viên cấp cao của Viện nghiên cứu Brookings, cho rằng Trump một lần nữa đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn, khiến Trung Quốc chưa có sự chuẩn bị. Trung Quốc vốn nghĩ rằng có thể hủy bỏ thuế thông qua đàm phán và đã không có biện pháp phòng ngừa đối với thuế quan mới. Do đó, ông tin rằng những rủi ro mà Trung Quốc phải đối mặt thậm chí còn cao hơn.

Liệu đàm phán thương mại có thể có chuyển biến tốt?

Sau khi Trump đăng thông tin áp thêm thuế đối với hàng hóa Trung Quốc trên Twitter, thế giới bên ngoài đang quan tâm tới phản ứng của Trung Quốc. Tờ The Wall Street Journal nhận định Chính phủ Trung Quốc đã rất ngạc nhiên. Có nguồn tin nới với tờ The Wall Street Journal rằng phía Trung Quốc từng cho biết họ sẽ rút khỏi các cuộc đàm phán nếu bị đe dọa.

Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập tờ Thời báo Hoàn Cầu, đã đăng trên Twitter cho rằng nếu Trump đe dọa Trung Quốc, Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc không nên đến Washington để đàm phán trong tuần này. Ông nhấn mạnh: “Hãy để Trump tăng thuế! Chúng ta cũng có thể chờ xem khi nào Trung Quốc và Mỹ có thể bắt đầu lại các cuộc đàm phán thương mại”.

Mặc dù Trung Quốc và Mỹ cam kết sẽ dốc sức đạt được thỏa thuận cuối cùng, nhưng lời đe dọa của Trump đã khiến phái đàon Trung Quốc rơi vào tình cảnh khó khăn bởi vì bất kỳ thảo thuận nào cũng sẽ được người dân Trung Quốc coi là nhượng bộ Nhà Trắng.

Lã Tường, chuyên gia về các vấn đề Trung Quốc và Mỹ tại Viện Khoa học xã hội Trung Quốc, phân tích rằng Trump luôn áp dụng chiến lược gây áp lực tối đa đối với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc hủy bỏ chuyến đi này, Trump sẽ đổ lỗi đàm phán thất bại cho Trung Quốc. Sau một loạt cuộc đàm phán, Trung Quốc đã quen với phong cách của Trump và chính phủ của ông. Sự thay đổi chóng mặt của Trump không phải là một điều rất bất ngờ đối với Trung Quốc, nhưng Trung Quốc nên sẵn sàng đối mặt với tình huống tồi tệ nhất.

Đối với triển vọng đàm phán tiếp theo giữa Trung Quốc và Mỹ, một tài khoản trên WeChat cho rằng Mỹ có nhiều sáng kiến hơn, nhưng nếu một bên chỉ xem xét các yêu cầu của riêng mình và gây áp lực cho bên kia, xem nhẹ tính công bằng của các cuộc đàm phán, thì có khả năng hai bên cùng không đạt được gì.

Thời Ân Hồng, chuyên gia về quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân dân Trung Quốc, cho rằng cả Trung Quốc và Mỹ đều muốn đạt được sự đồng thuận, nhưng Mỹ có quá nhiều yêu cầu ngay từ đầu. Thật không thực tế khi yêu cầu Bắc Kinh phải thực hiện cải cách thể chế mạnh mẽ, và Washington dường như cũng hiểu điều này. Sự khó đoán định nhất hiện nay là liệu Trung Quốc có chấp nhận thỏa thuận khi mà Mỹ vẫn kiên trì áp thuế bổ sung một phần hay không.

Trần Ba, giáo sư tại Đại học khoa học và công nghiệp Hoa Trung nói rằng nếu Lưu Hạc vẫn quyết định đến Washington, điều đó có nghĩa là các cuộc đàm phán thương mại vẫn có bước chuyển biến tốt.

Trump đang phủ bóng đen lên các cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ

Rõ ràng, từ phản ứng của thị trường cho thấy tuyên bố trên Twitter mới nhất của Trump đã phủ bóng đen lên triển vọng các cuộc đàm phán giải quyết va chạm thương mại Trung – Mỹ.

Yonhap ngày 6/5 cho biết trước khi Trung Quốc và Mỹ đạt được thỏa thuận thương mại, việc Trump thay đổi thái độ có khả năng khiến Trung Quốc và Mỹ rơi vào tình huống khó khăn. Mặc dù Trump có ý định sử dụng điều này để gây áp lực với Trung Quốc, nhưng Trung Quốc rất khó nhượng bộ với Mỹ. Thật khó để Trung Quốc và Mỹ sớm đạt được thỏa thuận thương mại. Thuế quan áp đặt lên hàng hóa Trung Quốc của Mỹ có khả năng dẫn đến cục diện hai nước quay lại đọ sức với nhau.

Theo Nhật báo kinh tế Hong Kong, những người quen thuộc với tình huống này nói rằng liệu Trump có thể tăng theo kế hoạch hay không thì vẫn còn nhiều biến số. Điều này là do đại diện thương mại Mỹ cho rằng ngành công nghiệp Mỹ cần được thông báo trước khi có sự thay đổi lớn về chính sách thuế. Các quan chức Mỹ chậm triển khai thuế quan vì họ sợ rằng những thách thức pháp lý có thể phát sinh, điều này có thể khiến họ không thể tiếp tục sử dụng biện pháp thuế quan.

Một nhà nghiên cứu hàng đầu tại Viện nghiên cứu kinh tế quốc Peterson cũng nhận định rằng Trump có khả năng chỉ dừng ở mức đe dọa vì dường như nó rất thô lỗ đối với Trung Quốc.

Về phía Trung Quốc, một số nguồn tin cho rằng Trung Quốc sẽ không đàm phán trong trường hợp bị “kề súng vào cổ”. Trung Quốc thực sự không muốn mở rộng quy mô của cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ. Kể từ khi Trung Quốc và Mỹ đạt được thỏa thuận ngừng chiến thương mại vào ngày 1/12/2018, nền kinh tế Trung Quốc đã có sự phục hồi nhanh chóng trong thời gian ngắn. Quy mô nền kinh tế Trung Quốc nhỏ hơn Mỹ, do đó, cuộc chiến thương mại kéo dài chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc dễ bị tổn thương hơn Mỹ. Vì vậy, Trung Quốc chủ trương chấm dứt chiến tranh thương mại càng sớm càng tốt, và Lưu Hạc vẫn sang Mỹ tham gia đàm phán, rút ngắn thời gian đàm phán cũng là một chiến thuật đáp trả của Trung Quốc trước lời đe dọa của Trump.

Năm 2019, Trung Quốc sẽ kỷ niệm 70 năm thành lập nước. Trung Quốc hy vọng sẽ đạt được nhiều thành tựu trong năm nay. Sau khi cuộc chiến thương mại bắt đầu nổ ra vào năm 2018, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã chậm lại. Do đó, không loại trừ khả năng Trung Quốc một lần nữa nhượng bộ Mỹ để sớm đạt được thỏa thuận. Chiến lược đàm phán của Mỹ đối với Trung Quốc sẽ diễn biến ra sao? Đối đầu hay tiếp xúc? Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào? Vẫn cần tiếp tục quan sát.

Ngày 6/5, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, người phát ngôn Cảnh Sảng đã trả lời câu hỏi của phóng viên, “về việc Mỹ đe dọa áp thuế bổ sung đối với hàng hóa Trung Quốc, trước đây đã nhiều lần xảy ra tình huống tương tự. Lập trường và thái độ của phía Trung Quốc luôn rất rõ ràng và phía Mỹ cũng hiểu rõ điều này. Hai nước đã tiến hành 10 vòng đàm phán thương mại và đã đạt được những tiến bộ tích cực. Chúng tôi vẫn hy vọng rằng Mỹ và Trung Quốc sẽ hợp tác với nhau, nhìn về phía trước, tranh thủ đạt được thỏa thuận cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Điều này không chỉ phù hợp với lợi ích của phía Trung Quốc, mà còn phù hợp với lợi ích của Mỹ, và cũng là kỳ vọng chung của cộng đồng quốc tế.

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 06/05/2019

TLTKĐB – 09/05/2019

Cách đúng đắn để chấm dứt mối đe dọa Triều Tiên – Phần cuối


Tuy nhiên, logic này là sai lầm. Nếu Kim Jong-un không thể bị ngăn cản khi ông có vũ khí hạt nhân có khả năng vươn tới lục địa Mỹ, thì tại sao một cuộc tấn công quân sự có giới hạn lại ngăn cản ông đáp trả bằng hành động tương tự? Và nếu Kim Jong-un thực sự phản ứng bằng quân sự, thì làm sao Mỹ có thể ngăn chặn cuộc khủng hoảng này leo thang vì Kim Jong-un hẳn sẽ chứng tỏ ông không có sự hiểu biết rõ ràng và hợp lý về các tín hiệu và sự răn đe?

Một số người Mỹ lập luận rằng những rủi ro này là đáng quan tâm vì mọi người thà chết “ở đó” còn hơn là ở nhà. Đó cũng là một tư tưởng sai lệch. Vào một ngày nào đó, có 230.000 người Mỹ sống ở Hàn Quốc và 90.000 người nữa sống ở Nhật Bản. Việc di tản họ sẽ gần như là bất khả thi. Cuộc di tản người Mỹ lớn nhất trong lịch sử là khoảng 60.000 người từ Sài Gòn vào năm 1975. Việc sơ tán khỏi Hàn Quốc nhất định sẽ khó khăn hơn. Ngay cả khi Bộ Ngoại giao tăng gấp 3 lần số lượng viên chức lãnh sự ở Hàn Quốc, thì quá trình này cũng có thể mất hàng tháng. Hơn nữa, việc sử dụng các điểm di tản thông thường ở phía Nam và phía Đông bán đảo Triều Tiên, điều đó có nghĩa là đường thoát duy nhất là đi qua Trung Quốc. Nhưng trong một cuộc khủng hoảng, các tuyến đường thủy quanh bán đảo sẽ bị tắc nghẽn với một triệu người Trung Quốc cũng tìm cách rời đi.

Dưới cơn mưa đạn pháo của Triều Tiên, các công dân Mỹ ở khu vực nhiều khả năng phải kiên trì chờ đợi cho đến khi cuộc chiến tranh kết thúc. Mặc dù người Mỹ ở Nhật Bản có thể được hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ bảo vệ, nhưng những người dân Mỹ ở Hàn Quốc sẽ không được may mắn như vậy. Điều rõ ràng là bằng cách tiến hành một cuộc tiến công phòng ngừa, tổng thống sẽ đặt một số lượng lớn người Mỹ tương đương với dân số của thành phố Cicinnati hay Pittsburgh vào cảnh nguy hiểm, chưa kể đến hàng triệu người Hàn Quốc và Nhật Bản, tất cả dựa trên giả định chưa được chứng minh rằng một nhà độc tài không thể ngăn cản và không thể đoán trước được sẽ bị sợ hãi tới mức chịu khuất phục trước một cuộc biểu dương sức mạnh của Mỹ.

Một số người lập luận rằng thương vong của Mỹ và thậm chí là một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn trên bán đảo Triều Tiên là điều đáng để mạo hiểm nếu một cuộc tấn công phòng ngừa có thể duy trì trật tự khu vực và quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong dài hạn. Nhưng đề xuất này còn phải bàn nhiều. Một cuộc tấn công quân sự chỉ trì hoãn, chứ không ngừng được, các chương trình tên lửa và hạt nhân của Kim Jong-un. Washington không biết vị trí tất cả các căn cứ hạt nhân của Triều Tiên và thậm chí nếu họ có biết thì nhiều căn cứ ẩn sâu dưới lòng đất và ở sườn núi, vượt ra ngoài tầm bắn của ngay cả các vũ khí có chứa “bom đánh bật hầm” cỡ lớn. Hơn nữa, một cuộc tấn công có giới hạn sẽ không ngăn được mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ chỉ làm cho mối đe dọa trầm trọng thêm, biến điều mà có thể là một nỗ lực có lợi cho chế độ Kim Jong-un thành một nỗ lực mang tính trả thù trang bị cho các bên tham gia dàn trận chống lại Mỹ.

Chiến lược này cũng có nguy cơ làm rạn nứt liên minh ấn tượng mà Chính quyền Trump đã tập hợp cho chiến dịch gây áp lực tối đa. Một cuộc tấn công quân sự đơn phương sẽ cắt đứt những gì cho đến nay là một nỗ lực thành công làm tiêu hao dự trữ tiền tệ mà Triều Tiên sử dụng để xây dựng các chương trình của mình. Cuối cùng, một cuộc tấn công có thể gây phương hại cho các liên minh then chốt của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đòi hỏi rằng họ phải được tham vấn trước khi Mỹ cân nhắc tiến một cuộc tân công. Việc đơn phương hành động luôn là một lựa chọn, nhưng làm như vậy có thể làm rạn nứt, nếu không muốn nói là kết thúc, chính những liên minh mà Chính quyền Trump đang tuyên bố là đang tìm cách tăng cường khi đối mặt với một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Cuối cùng, Trump không thể giải quyết vấn đề một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Đánh giá này được chia sẻ rộng rãi bởi các cựu thành viên của cộng đồng tình báo, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao, và Bộ Quốc phòng, những người đã phục vụ trong cả chính quyền của đảng Dân chủ lẫn chính quyền của đảng Cộng hòa. Theo Steve Bannon, cựu chiến lược gia trưởng của Trump, đã đề cập đến điều đó trong một cuộc phỏng vấn: “Cho đến khi ai đó giải quyết được một vấn đề của phương trình mà cho tôi thấy rằng 10 triệu người ở Seoul không chết trong 30 phút đầu tiên… thì không có giải pháp quân sự nào ở đây, họ hiểu chúng tôi”.

Lựa chọn tốt nhất trong số các lựa chọn tồi tệ

Trong tương lai, Washington nên dựa vào chiến dịch gây áp lực lớn nhất, đưa các cuộc đàm phán vào một chiến lược khu vực rộng lớn hơn và từ bỏ một cuộc tấn công quân sự để ủng hộ những nỗ lực mới nhằm tăng cường sự răn đe và chống phổ biến vũ khí hạt nhân trong khu vực thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các đồng minh của Mỹ. Một chiến lược như vậy có thể đem lại những lợi ích tiềm năng tương tự như một cuộc tấn công có giới hạn mà không phải chịu phí tổn. Và nếu cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump thất bại, thì nó cũng có thể ngăn cản hai quốc gia này tức khắc tiến hành chiến tranh.

Trung Quốc và Nga sẽ không thích cách tiếp cận này, nhưng theo quan điểm của họ thì nó tốt hơn là một cuộc tấn công quân sự, mà có thể dẫn đến một cuộc trao đổi hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên ở khu vực lân cận với họ. Hơn nữa, rất ít quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc, cảm thấy thoải mái với nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân do một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân gây ra. Trên thực tế, theo chiến lược này, Trung Quốc và Nga có thể quyết định tham gia các nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân hoặc thậm chí là tham gia một thể chế an ninh đa phương lâu dài.

Một số người trong cộng đồng toàn cầu lo ngại rằng Trung Quốc và Triều Tiên có thể coi những hành động nhất định, như một lệnh cấm vận để ngăn cản sự phổ biến vũ khí hạt nhân, như một hành động chiến tranh. Để chống lại điều này, trong chừng mực có thể, Mỹ và các đồng minh của mình nên tìm kiếm thẩm quyền hợp pháp cho các hành động của họ thông qua các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhằm đối phó với loạt hành động khiêu khích kế tiếp hoặc với việc phổ biến vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Những người yêu hòa bình có thể lập luận rằng chiến lược này sẽ gây ra tình trạng mất an ninh ở Bình Nhưỡng, điều sẽ biện minh hơn nữa cho hành động theo đuổi vũ khí của chế độ này. Họ có thể nghĩ rằng một lựa chọn thay thế tốt hơn sẽ là thực hiện một nỗ lực ngoại giao cuối cùng – như Trump cũng có thể làm – như tuyên bố hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và rút quân Mỹ ra khỏi Hàn Quốc. Trong dài hạn, có thể có một hiệp ước hòa bình, nhưng trước hết, những thực tế trên thực địa phải được thay đổi. Ý định của chế độ này là theo đuổi các ICBM mang đầu đạn hạt nhân đặt ra những đe dọa mới nghiêm trọng đối với nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở khu vực này mà cần phải giải quyết. Phải duy trì áp lực của những biện pháp trừng phạt, nhưng điều đó không có nghĩa là không có chỗ cho sự khéo léo trong những nỗ lực định hình cách hành xử của Triều Tiên. Chiến dịch trừng phạt, nếu được xử lý cẩn thận, có thể được thiết kế nhằm mục tiêu vào chế độ này trong khi vẫn để lại không gian cho việc phát triển thị trường, truyền bá thông tin và hỗ trợ nhân đạo cho người dân thường. Tuy nhiên, một nỗ lực cuối cùng mà không có những hành động cụ thể của Triều Tiên hướng tới phi hạt nhân hóa có thể là tốt cho xếp hạng trên truyền hình, nhưng nó cũng sẽ mang lại cho Kim Jong-un những gì ông muốn (sự công nhận là cường quốc hạt nhân) trong khi đó lại chẳng mang lại cho Mỹ thứ gì ngoài những lời hứa hão.

Cuối cùng, những người chỉ trích có thể lập luận rằng một chiến lược ép buộc toàn diện sẽ chỉ đơn giản là mất quá nhiều thời gian, và thời gian chỉ đứng về phía Triều Tiên khi nước này tiếp tục chạy nước rút để có được vũ khí hạt nhân. Sự chỉ trích này không phải là không có lý do chính đáng; trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề lịch sử và trong nước nhạy cảm đã cản trở sự hợp tác quân sự giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, điều có thể cản trở việc lập kế hoạch phòng thủ giữa các đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, trong quá khứ, các cuộc khủng hoảng liên quan đến Triều Tiên đã dẫn đến sự hợp tác an ninh giữa Nhật Bản và Hàn Quốc một cách kịp thời và nhanh chóng. Ngoài ra, mặc dù sự thúc đẩy một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump là đầy kịch tính, nhưng nó có thể đã biến vở kịch này thành một trò chơi kéo dài hơn, vì những tuyên bố táo bạo của các nhà lãnh đạo vốn thích sự nhanh nhạy và kịch tính sẽ phải được các nhà hoạch định chính sách dưới quyền chuyển thành hành động một cách rất chi tiết trong nhiều tuần và nhiều tháng, nếu không phải là nhiều năm. Mỹ nên sử dụng thời gian này để đầu tư vào các liên minh và tăng cường vị thế của mình trong khu vực.

Việc phối hợp và phát triển các năng lực cần thiết cho sự hợp tác an ninh với Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ mất thời gian, nhưng nó sẽ đặt Mỹ vào vị thế tốt hơn trong dài hạn. Điều quan trọng là phải phân biệt giữa chiến lược và chiến thuật. Các phản ứng mang tính chiến thuật luôn có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể đẩy người ta vào con đường không mong muốn. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ John Hamre đã lập luận, những tuyên bố gần đây của Mỹ rằng “đã hết thời gian”, vốn được đưa ra để gây áp lực cho người Triều Tiên, chỉ dồn Washington vào một góc, dưới sức ép phải thực hiện một cuộc tấn công quân sự không mong muốn, và họ đã không làm gì để thúc đẩy một chiến lược phác thảo những gì Mỹ nên làm trước, trong và sau khi diễn ra bất cứ cuộc đàm phán nào.

Trong số những lựa chọn tồi tệ, không có kế hoạch nào là lựa chọn hoàn hảo. Nhưng một số kế hoạch rõ ràng tốt hơn những kế hoạch khác. Một chiến lược ép buộc toàn diện cho chính sách ngoại giao phi hạt nhân hóa sẽ làm gia tăng đáng kể áp lực lên Triều Tiên. Nó sẽ củng cố các liên minh của Mỹ ở châu Á chống lại các mối đe dọa không chỉ từ Triều Tiên mà còn từ Trung Quốc và làm gia tăng cái giá mà Bắc Kinh phải trả khi trợ cấp cho chế độ Kim Jong-un. Nó sẽ không mạo hiểm mạng sống của hàng trăm nghìn người Mỹ bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Và nó sẽ tăng cường sức mạnh của Mỹ tại bàn đàm phán theo một cách mà đã chuẩn bị cho Washington đón nhận thành công cũng như thất bại.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2018-04-01/right-way-coerce-north-korea

TLTKĐB – 05 – 06/05/2018

Đằng sau việc Mỹ đe dọa nâng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc – Phần đầu


Ngày 5/5, đàm phán thương mại Trung – Mỹ vốn được các nước bên ngoài xem là đang bước vào giai đoạn cuối cùng đột nhiên xuất hiện biến số, vào thời điểm nhiều người ở Washington vẫn đang chuẩn bị cho vòng đàm phán thương mại Trung – Mỹ lần thứ 11, chuẩn bị đón các nhà đàm phán trong đó có Phó Thủ tướng Trung Quốc Lưu Hạc đến Mỹ vào ngày 9/5, Tổng thống Trump đã đột ngột phát đi một thông tin gây sốc áp đặt thuế bổ sung đối với hàng hóa Trung Quốc trên Twitter.

Mối đe dọa thuế quan mới của Trump

Vì sao Trump đột nhiên “gây sức ép tối đa” đối với Trung Quốc?

Trong một tuyên bố trên Twitter, Tổng thống Trump cho biết Mỹ sẽ tăng mức thuế từ 10% lên 25% đối với gói hàng hóa trị giá 200 tỷ USD nhập khẩu từ Trung Quốc kể từ ngày 10/5, và không loại trừ khả năng áp thuế bổ sung đối với những hàng hóa khác. Khi công bố thông tin về việc áp thuế bổ sung đối với Trung Quốc, ông cũng đổ lỗi cho các cuộc đàm phán thương mại giữa hai nước tiến triển quá chậm.

Gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD mà Trump muốn áp thuế bổ sung lần này được xem là một biện pháp mang tính trừng phạt đã có hiệu lực từ tháng 9/2018, và còn có dự định tăng mức thuế từ 10% lên 25% từ ngày 1/1/2019. Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình gặp nhau bên lề Hội nghị thượng đỉnh Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi hàng đầu thế giới (G20) ở Argentina vào tháng 12/2018, Trump đã quyết định hoãn kế hoạch này và vẫn giữ mức thuế 10%. Trung Quốc và Mỹ bước vào giai đoạn đàm phán 90 ngày. Ngày 2/3/2019, Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ một lần nữa tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì mức thuế 10% đối với các mặt hàng này.

Tổng thống Trump còn viết trên Twitter: “325 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc vẫn chưa bị áp thuế, nhưng sẽ sớm chịu mức thuế 25%”. Điều này có nghĩa là Mỹ sẽ áp thuế 25% đối với toàn bộ hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang nước này.

Ngày 3/5, phát biểu tại Nhà Trắng, Trump cho biết Trung Quốc và Mỹ sắp đạt được thỏa thuận thương mại mang tính lịch sử: “Bản thân thỏa thuận đang có tiến triển tốt đẹp. Tôi thậm chí có thể nói rằng tình hình đang rất thuận lợi. Chúng ta sẽ chờ xem điều gì xảy ra trong vài tuần tới”. Tuy nhiên, tuyên bố mới nhất của Trump khiến dư luận không khỏi ngạc nhiên và khiến các cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ phải đối mặt với biến số.

Theo hãng Bloomberg ngày 5/5, Trump bất ngờ tuyên bố tăng thuế đối với gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD là do những thay đổi trong thái độ của Trung Quốc. Trong giai đoạn đàm phán cuối cùng, Trung Quốc đã thay đổi lập trường về các vấn đề cốt lõi như ép buộc chuyển giao công nghệ, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và ngừng trợ cấp cho các ngành nghề, Trump cảm thấy thất vọng sau khi thấy Trung Quốc thay đổi thất thường, vì vậy phe cứng rắn trong Chính phủ Mỹ đã mạnh dạn đề nghị áp dụng lập trường cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.

Reuters cho rằng lý do chính là do kết quả đàm phán mới nhất mà Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer báo cáo lên Trump không được thuận lợi như mong đợi, hơn nữa Trung Quốc dự định hủy bỏ một số cam kết vốn đã được đưa ra trong các cuộc đàm phán. Vì vậy, Trump đã viết trên Twitter: “Trung Quốc đang cố gắng đàm phán lại một số chi tiết, điều này khiến tôi không thể chấp nhận được”.

Điều đáng chú ý là động thái của Trump đã được hai đảng lớn trong Quốc hội ủng hộ một cách hiếm thấy. Lãnh đạo đảng Dân chủ tại Thượng viện Schumer đã viết trên Twitter kêu gọi Trump: “Không được lùi bước vì giữ vững lập trường là chìa khóa duy nhất có thể giành chiến thắng trong cuộc chiến thương mại”.

Trước đó, Trung Quốc và Mỹ đã tiến hành 10 vòng đàm phán. Có thông tin cho thấy hai bên đã đưa ra nhượng bộ ở một mức độ nhất định. Ngoài ra, nước Mỹ hiện nay đã bước vào cuộc tranh cử tổng thống năm 2020, điều này cũng khiến việc Trump gây sức ép tối đa với Trung Quốc vào th2o7i điểm này có chút gì đó cần nghiền ngẫm.

Rõ ràng là màn trình diễn mới nhất của Trump không thể tách rời “nghệ thuật giao dịch” của ông. Trước tin đồn rằng vòng đàm phán thứ 11 giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ đạt được kết quả, Trump đã đặt cược lớn trước khi hành động, từ đó buộc Trung Quốc có khả năng phải thỏa hiệp. Ngoài ra, trước đó Ngoại trưởng Pompeo cũng đang chuẩn bị “chiến lược mới đối với Trung Quốc”, êkip giúp việc của Pompeo thậm chí còn chuẩn bị chiến lược đối với Trung Quốc dựa trên khái niệm “chiến đấu với một nền văn minh thực sự khác biệt”. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Fox News gần đây, Pompeo nói rằng nếu Mỹ muốn đánh bại Trung Quốc thì cần phải cùng nhau nỗ lực trong lĩnh vực thương mại, quân sự và quyền sở hữu trí tuệ, và Trump là tổng thống Mỹ duy nhất sẵn sàng đáp trả Trung Quốc.

Cần biết rằng Trump cũng đã sử dụng biện pháp tương tự vào khoảng giữa tháng 6/2018: Vào thời điểm đó, Mỹ liên tiếp đưa ra kế hoạch áp thuế bổ sung đối với gói hàng hóa Trung Quốc trị giá 250 tỷ USD xuất khẩu sang Mỹ. Giờ đây, cùng với thị trường chứng khoán Mỹ có nhiều phiên tăng điểm và số liệu thị trường lao động tốt, Trump một lần nữa có được không gian cho việc gây sức ép tối đa.

Nền kinh tế Mỹ đã tiếp sinh khí cho Trump?

Thật vậy, những số liệu tốt của nền kinh tế Mỹ trong quý I đã tiếp thêm sức mạnh cho Trump tiếp tục cuộc chiến thương mại.

Ngày 26/4, Cục phân tích kinh tế Mỹ (BEA) thông báo tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong quý I tăng 3,2% so với cùng kỳ, tăng 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trước đó, tờ The Wall Street Journal đã thực hiện một cuộc khảo sát với các chuyên gia kinh tế, nhận định GDP của Mỹ trong quý đầu tiên của năm 2019 dự iến tăng 2,5%. Vì lý do này, Trump đã gửi một dòng tweet ca ngợi nền kinh tế Mỹ “vượt xa mong đợi”.

Về tổng thể, cuộc chiến thương mại của Mỹ nhằm vào các đối tác thương mại đã giúp cải thiện thực sự tình trạng thâm hụt thương mại của nước này. Trong quý I/2019, thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ của Mỹ giảm 3,1 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu ròng đóng góp 1,03 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Các phân tích có liên quan cho thấy tăng trưởng kinh tế Mỹ “vượt xa mong đợi” trong quý I/2019 là do sự thúc đẩy của tiêu dùng trong nước và sự kích thích ngắn hạn của cuộc chiến thương mại. Từ mô hình cấu thành GDP hiện tại của Mỹ, cuộc chiến thương mại có thể tạo ra sự kích thích kinh tế trong ngắn hạn, nhưng rất khó mang lại tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

Mặc dù nhiều công ty của Mỹ ủng hộ hành vi thương mại chèn ép Trung Quốc của Trump, nhưng họ cũng hy vọng chính phủ có thể loại bỏ thuế quan thay vì tăng thuế.

Đối với việc Trump đột ngột tuyên bố tăng thuế đối với Trung Quốc, Ngành sản xuất và nhà bán lẻ Mỹ đã đưa ra tuyên bố phản đối trong cùng ngày, nhấn mạnh rằng tăng thuế sẽ làm gia tăng gánh nặng đối với người tiêu dùng cũng như những tác động tiêu cực từ việc tăng thuế quá sớm.

Ông Gary Shapiro, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành Hiệp hội công nghệ tiêu dùng (CTA) cho biết trong một tuyên bố ngày 5/5 rằng Trump nên biết rằng Trung Quốc không phải gánh chịu phần thuế đó, mà là người tiêu dùng và doanh nghiệp Mỹ. Ngoài ra, từ khi đưa ra thông báo đến thực hiện tuyên bố này chỉ có gần 5 ngày, điều này sẽ khiến thị trường trở nên hỗn loạn và giáng một đòn nặng nề vào các ngành nghề của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 06/05/2019

TLTKĐB – 09/05/2019