Mỹ tăng cường hợp tác với ASEAN


Theo tạp chí Eurasia Review ngày 01/6, nhiều thay đổi đã diễn ra kể từ cuộc gặp đầu tiên giữa các quan chức Mỹ và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào năm 1977. Tuy nhiên, sau 45 năm gắn bó, mối quan hệ giữa Mỹ và ASEAN vẫn không ổn định.

Cuộc chiến ở Ukraine đã tạo động lực mới để khởi động lại quan hệ Mỹ – ASEAN theo những cách thực tế. Các nhà lãnh đạo của Mỹ và ASEAN đã gặp nhau tại Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở thủ đô Washington vào tháng 5/2022. Tại sự kiện này, quan điểm luôn thay đổi của Mỹ với khu vực Đông Nam Á kể từ sau Chiến tranh Việt Nam là chủ đề tiếp tục được tranh luận, đặc biệt là về sự nhất quán và độ tin cậy của Mỹ.

Một thực tế đã nổi lên đó là khu vực này cần sự hiện diện của Mỹ, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh và kih tế. Các nhà lãnh đạo ASEAN đã hoan nghênh lời mời của Tổng thống Joe Biden khi nó được đưa ra lần đầu tiên vào tháng 10/2021.

Mối quan hệ Mỹ – ASEAN đã được định hướng bởi các lợi ích kinh tế và an ninh chung lâu đời giữa hai bên. Nhưng sự trỗi dậy của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nga và Ấn Độ đã khiến đối thoại cấp cao nhất giữa Mỹ và ASEAN trở nên cấp thiết hơn.

Niềm tin của các nhà lãnh đạo ASEAN đối với vai trò của Mỹ trong khu vực đã tăng lên dưới thời chính quyền Biden vì ông Biden cam kết sớm họp với các đồng nghiệp ASEAN. Tại hội nghị thượng đỉnh ở Washington, ông Biden đã bổ nhiệm một trong những cố vấn thân cận của mình, ông Yahannes Abraham, làm đặc phái viên mới của Mỹ tại Ban Thư ký ASEAN sau 6 năm bỏ trống. ASEAN đã hoan nghênh quyết định này của ông Biden.

Điều quan trọng cần lưu ý là Trung Quốc đã không bỏ lỡ hơn hai chục hội nghị cấp cao liên quan đến ASEAN kể từ khi Bắc Kinh trở thành đối tác đối thoại với ASEAN vào năm 1992. Các cuộc họp cấp cao thường xuyên đã củng cố quan hệ ASEAN – Trung Quốc và biến nó thành quan hệ đối thoại năng động nhất của khối. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã được nâng cấp lên quan hệ đối tác toàn diện vào năm 2021. Trong bối cảnh đó, Mỹ cũng đã nhân cơ hội Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt ở Washington để nâng cấp quan hệ với ASEAN thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Australia cũng đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với ASEAN vào năm ngoái.

Với cuộc chiến Nga – Ukraine đang diễn ra, Mỹ đang cố gắng tăng cường sự ủng hộ của ASEAN đối với lệnh trừng phạt Nga, một vấn đề mà Mỹ và ASEAN đang có quan điểm khác nhau. Hai bên đã rất khó khăn trong việc xác lập lập trường chung về tình hình Ukraine trong Tuyên bố Tầm nhìn chung Mỹ – ASEAN. Tuyên bố chung, nhắc lại lời kêu gọi của ASEAN về việc “chấm dứt ngay lập tức các hành động thù địch”. Nhưng chính quyền Biden muốn có thêm một sự đảm bảo từ ASEAN rằng họ sẽ không đi ngược lại các cơ chế trừng phạt đang được áp dụng khi cuộc chiến ở Ukraine vẫn tiếp diễn.

ASEAN cũng có các ưu tiên khác trong các vấn đề khu vực – bao gồm khủng hoảng Myanmar, xung đột Biển Đông, Bán đảo Triều Tiên và khai thác tài nguyên xuyên biên giới ở tiểu vùng sông Mekong. VIệc Mỹ gây quá nhiều áp lực với ASEAN để buộc ASEAN ngả về phương Tây có thể sẽ phản tác dụng. Các bài học kinh nghiệm từ phản ứng của Ấn Độ trước sức ép chung của Mỹ và châu Âu rất hữu ích. Không thành viên ASEAN nào muốn làm tổn hại đến mối quan hệ lâu đời của họ với Nga và Trung Quốc. Singapore có thể khác biệt nhưng nước này sẽ đứng một mình.

Từ đầu năm 2021, chính quyền Biden đã nhận ra rằng để giành được sự ủng hộ và hợp tác từ ASEAN thì cần phải thực dụng và linh hoạt hơn. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) mới được công bố, một phần của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, dược thiết kế để đáp ứng lợi ích của cả Mỹ và các nước khu vực. 7 trong số 10 thành viên của ASEAN nằm trong số 13 nước tham gia thể hiện mong muốn thúc đẩy hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn với Mỹ và các đồng minh. IPEF vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và các cuộc thảo luận và đàm phán về nội dung IPEF sẽ mất thời gian do sự khác nhau về các quan điểm và thực tiễn kinh tế.

Để tăng cường quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, Mỹ nên tập trung vào các cách thức để tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh với ASEAN, từ đó sẽ thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN. Phải mất gần một thập kỷ nước Mỹ dưới thời chính quyền Obama mới chấp nhận vai trò lãnh đạo của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Kể từ bây giờ, Washington phải thể hiện sự sẵn sàng hợp tác trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo các đường hướng do ASEAN khởi xướng.

ASEAN đã ưu tiên bốn lĩnh vực hợp tác trong khuôn khổ Triển vọng ASEAN về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – hợp tác hàng hải, kết nối, phát triển bền vững và hợp tác kinh tế. Mỹ phải cởi mở khi hợp tác với ASEAN vì các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương khác đã cam kết làm như vậy. Bất kỳ dấu hiệu nào của sự thiếu khoan dung sẽ làm tổn hại đến uy tín của nước Mỹ.

Điều này sẽ xoa dịu sự lo lắng của ASEAN về nhóm không chính thức được gọi là Bộ Tứ, bao gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Hợp tác chung trên các khuôn khổ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữa Mỹ và ASEAN sẽ tăng cường vai trò trung tâm của ASEAN và giải quyết các thách thức trong khu vực. Một lĩnh vực thử nghiệm là Đối tác vaccine Bộ Tứ, có kế hoạch cung cấp một tỷ liệu vaccine COVID-19. Theo thời gian, cả hai bên có thể mở rộng hợp tác từ dịch COVID-19 và an ninh y tế toàn cầu cho đến khí hậu, cơ sở hạ tầng bền vững, các vấn đề hàng hải, giáo dục, giao lưu nhân dân và can dự kinh tế.

Chính quyền Biden đã khôn ngoan khi không lợi dụng hội nghị thượng đỉnh để đưa ASEAN ra chống lại Trung Quốc và Nga. Nếu không, Mỹ sẽ làm tổn hại thêm quan hệ với ASEAN và cán cân quyền lực ở Đông Nam Á. Để nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mới, cả hai bên bây giờ nên tập trung vào việc thúc đẩy chương trình nghị sự song phương và tận dụng sức mạnh tổng hợp của mình trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Dữ liệu là quyền lực: Hoa Kỳ cần xây dựng các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số – Phần II


Chắp nối các quy tắc

Các thể chế quốc tế hiện nay chưa được trang bị để xử lý sự gia tăng nhanh của dữ liệu. Họ cũng chưa chuẩn bị để giải quyết những đứt gãy đang xuất hiện trong việc làm thế nào để tiếp cận dữ liệu. Khuôn khổ thể chế áp dụng cho thương mại quốc tế của Tổ chức Thương mại Thế giới và tổ chức tiền nhiệm của nó là Hiệp định chung về Thuế quan và mậu dịch, được xây dựng vào thời điểm mà chủ yếu là hàng hóa nông nghiệp và sản xuất được vận chuyển qua biên giới và các luồng dữ liệu chỉ xuất hiện trong tiểu thuyết hư cấu. Khuôn khổ của WTO phụ thuộc vào hai cách thức phân loại chính: xem là một thứ gì đó là hàng hóa hay dịch vụ và xem là nó xuất xứ từ đâu. Hàng hóa được kiểm soát bằng các quy tắc thương mại khác với các dịch vụ, và xuất xứ của một sản phẩm xác định các loại thuế hoặc các hạn chế thương mại được áp dụng.

Dữ liệu thách thức kiểu phân loại cơ bản này vì nhiều lý do. Thứ nhất là do lượng lớn dữ liệu – chẳng hạn như hoạt động duyệt trực tuyến của một người trước khi đặt mua quần áo – là những hệ quả không thể định giá của việc sản xuất và tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ khác. Thứ hai là thường khó xác định nơi dữ liệu được tạo ra và lưu trữ. Dữ liệu về hiệu suất kỹ thuật của một chuyến bay quốc tế bắt nguồn từ quốc gia nào? Công ty đa quốc gia lưu trữ dữ liệu trên đám mây của khách hàng ở quốc gia nào? Hơn nữa, không có phân loại thống nhất về việc định giá dữ liệu. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp thương mại, các nước thành viên của WTO có thể tìm biện pháp pháp lý và yêu cầu tổ chức này sửa một lần, nhưng các bản sửa lỗi đó không giải quyết được những mâu thuẫn cơ bản giữa khuôn khổ của WTO và bản chất của dữ liệu.

Việc thiếu một khuôn khổ quản lý dữ liệu được thế giới chấp nhận tạo ra những câu hỏi lớn chưa được giải đáp về nền kinh tế toàn cầu và an ninh quốc gia.

Liệu các quốc gia có chủ quyền có thể giới hạn vị trí và việc sử dụng dữ liệu công dân của họ trong biên giới quốc gia đó không? Khái niệm này thậm chí còn có ý nghĩa gì khi đám mây và dữ liệu của nó được phân phối trên Internet? Liệu các chính phủ có thể đánh thuế sự xuất hiện của dữ liệu từ các quốc gia khác, giống như việc họ đánh thuế nhập khẩu nhiều hàng hóa và dịch vụ? Điều này sẽ hoạt động như thế nào khi bản thân các luồng dữ liệu thường không được định giá, ít nhất là trong các công ty thu thập dữ liệu? Quốc gia có chủ quyền có thể áp đặt những biện pháp kiểm soát nào đối với dữ liệu nhập vào quốc gia của họ? Họ có thể yêu cầu dữ liệu được lưu trữ cục bộ hoặc họ được cấp quyền truy cập vào dữ liệu đó không?

VIệc không có một khuôn khổ quốc tế cũng đe dọa quyền riêng tư của mọi người dân. Ai sẽ đảm bảo rằng các chính phủ hoặc các tác nhân khác không lạm dụng dữ liệu của mọi người và vi phạm các quyền kinh tế, chính trị và quyền con người của họ?

Làm cách nào để các chính phủ có thể bảo vệ quyền riêng tư của công dân trong khi vẫn cho phép dữ liệu di chuyển xuyên biên giới? Hiện nay, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu không nhất trí về câu trả lời cho những câu hỏi này, gây ra mâu thuẫn làm ảnh hưởng đến hợp tác thương mại, đầu tư và an ninh quốc gia.

Về phần mình, Trung Quốc thể hiện rất ít cam kết về quyền riêng tư. Nếu không có các phương pháp phổ biến và có thể xác minh để ẩn danh dữ liệu nhằm bảo vệ quyền riêng tư cá nhân, thì khả năng đổi mới sáng tạo từ dữ liệu cá nhân sẽ bị mất, hoặc các quyền cơ bản sẽ bị vi phạm.

Trong trường hợp không có câu trả lời thống nhất và mang tính tập thể cho những câu hỏi này, thì các quốc gia và các khối thương mại đang tự ứng biến. Điều này vô hình trung tạo ra một tập hợp các quy định thiếu nhất quán, mơ hồ và chắp vá. Các thỏa thuận thương mại khu vực gần đây đã bao gồm một số điều khoản liên quan đến dữ liệu và thương mại điện tử. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (không bao gồm Hoa Kỳ) không cho phép các yêu cầu lưu trữ dữ liệu trong một quốc gia nhất định và cấm áp dụng thuế đối với các luồng nội dung điện tử xuyên biên giới. Hiệp định này cũng thừa nhận tầm quan trọng ngày càng tăng của lĩnh vực dịch vụ kỹ thuật số, và cấm các nước tham gia Hiệp định không được yêu cầu quyền truy cấp vào mã nguồn phần mềm của các công ty. Hiệp định Hoa Kỳ – Mexico – Canada (USMCA) cũng đặt ra các điều khoản tương tự.

Cả hai hiệp định thương mại tự do đều nhằm mục đích cho phép các luồng dữ liệu không bị cản trở, nhưng phần lớn chúng chưa được kiểm định và bị hạn chế, do có tính chất khu vực.

Liên minh châu Âu làm rõ các quy định dữ liệu về quyền riêng tư trong Quy định chung về Bảo vệ dữ liệu, bằng cách này cố gắng trao quyền cho các cá nhân tự quyết định cách thức các công ty có thể sử dụng dữ liệu của họ. Tuy nhiên, nhiều người bày tỏ lo ngại rằng Quy định này đã thiết lập thành công các rào cản thương mại đối với các công ty nước ngoài đang hoạt động tại các quốc gia thành viên EU với những yêu cầu về các biện pháp tuân thủ tốn kém và tăng rủi ro trách nhiệm pháp lý của thị trường châu Âu. Hơn nữa, các quy tắc của EU là chủ đề tranh cãi và kiện tụng liên tục.

Mối quan tâm lớn hơn đối với Hoa Kỳ là hệ sinh thái kỹ thuật số khác biệt của Trung Quốc. Hơn một thế hệ trước, Trung Quốc đã bắt đầu thiết lập “Vạn lý hỏa tường” – một sự kết hợp giữa luật pháp và công nghệ nhằm hạn chế luồng dữ liệu ra vào Trung Quốc, một phần bằng cách ngăn chặn các trang web nước ngoài. Kể từ đó, Trung Quốc đã áp dụng mô hình quốc gia công nghệ bắt buộc phải cho phép chính phủ truy cập vào dữ liệu được tạo ra ở trong nước. Số lượng dữ liệu tuyệt đối đó thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo của Trung Quốc nhưng cũng cho phép hoạt động kiểm soát và giám sát chặt chẽ của quốc gia này, và với chi phí là các luồng dữ liệu quốc tế mở.

Hiện Bắc Kinh đang tìm cách mở rộng mô hình này với kế hoạch rõ ràng là sử dụng ngành công nghệ bản địa để thống trị các nền tảng kỹ thuật số quản lý dữ liệu, mới nhất là các mạng lưới viễn thông 5G. Để đạt được mục tiêu đó, Trung Quốc đã công bố một kế hoạch táo bạo Tiêu chuẩn Trung Quốc 2035 nhằm thiết lập các tiêu chuẩn toàn cầu về các công nghệ mới nổi. Và thông qua cái gọi là Con đường tơ lụa kỹ thuật số và Sáng kiến Vành đai và Con đường rộng lớn hơn, Trung Quốc đang nỗ lực truyền bá mô hình quản trị dữ liệu và mở rộng quyền truy cập và dữ liệu bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng Internet ở nước ngoài và thúc đẩy thương mại kỹ thuật số.

Còn Hoa Kỳ thì sao? Ở cấp độ liên bang, quốc gia này không giải quyết theo bất kỳ khuôn khổ pháp lý nào. Ngoài Hiệp định thương mại USMCA, họ cũng không tham gia vào bất kỳ thỏa thuận xuyên biên giới có ý nghãi nào về các luồng dữ liệu. Cho đến nay, Hoa Kỳ vẫn chưa đáp lại những nỗ lực của Trung Quốc bằng một kế hoạch mạch lạc nhằm định hình các tiêu chuẩn công nghệ hoặc đảm bảo các biện pháp bảo vệ quyền riêng tư trên diện rộng. Các phản ứng đặc biệt của Hoa Kỳ và các nỗ lực có mục tiêu nhằm khuyến khích các quốc gia khác từ chối công nghệ 5G của công ty Trung Quốc Huawei có thể sẽ phát huy tác dụng trong thời gian tới. Nhưng chúng không tạo thành một kế hoạch dài hạn hiệu quả để khai thác sức mạnh của dữ liệu.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Nguyễn

Nguồn: Matthew J. Slaughter & David H. McCormik – Data is Power: Washington needs to craft new rules for the digital age – Foreign Affairs – May/June 2021, p54-62

TN 2021 – 74

Việt Nam trước rủi ro về “cú sốc kinh tế” sau khi FED tăng mạnh lãi suất?


Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) ngày 15/6 công bố tăng lãi suát thêm 0,75%, mức tăng cao nhất trong gần 30 năm qua để kiềm chế lạm phát. Đài BBC dẫn ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng lạm phát đã trở thành một vấn đề cấp bách tại Mỹ, tác động tới bức tranh chính trị, khi tâm lý của không ít người dân kém đi vì giá xăng và thực phẩm gia tăng. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái, đây sẽ là một cú sốc lớn đối với kinh tế toàn cầu, trong đó có Việt Nam.

Lo ngại lạm phát ở Mỹ

Tỷ lệ lạm phát ở Mỹ trong tháng 5 vừa qua là 8,6%, cao nhất trong khoảng bốn thập niên trở lại đây. Chủ tịch FED, ông Jerome Powell cho rằng “điều cần thiết là giảm tỷ lệ lạm phát”. Ông cũng thừa nhận mức tăng 0,75% là “cao bất thường”. Dự kiến, có thể có những đợt tăng tiếp theo trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang phải đối mặt với nhiều bất ổn.

Các dự báo được công bố sau cuộc họp của FED ngày 15/6 cho thấy lãi suất cho vay tại Mỹ có thể tăng lên mức 3,4% vào cuối năm nay. Khi lãi suất cho vay cao hơn sẽ khiến đồng USD đắt giá hơn. Tính từ đầu năm đến nay, giá USD đã tăng 10% khiến các quốc gia khác, đặc biệt là các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, hiện đang gánh nhiều khoản nợ tính bằng USD, chịu nhiều áp lực.

Bất lợi cho Việt Nam

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia kinh tế và tài chính ngân hàng cho rằng có sự lo ngại về khả năng trong những năm tới, nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào trạng thái vừa lạm phát, vừa phát triển chậm lại.

Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, nhiều người đang rất lo sợ việc tăng lãi suất này sẽ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ, thậm chí có thể khiến nền kinh tế Mỹ suy thoái. Đây sẽ là cú sốc không những cho Mỹ mà toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Giá trị đồng USD tăng khiến tỷ giá hối đoái giữa USD và VND cũng tăng, giá trị VND giảm. Về mặt xuất khẩu thì có lợi cho Việt Nam nhưng sẽ rất bất lợi cho nhập khẩu.

Đặc biệt, cách đây vài ngày, Bộ Tài chính Mỹ cũng đưa Việt Nam vào danh sách giám sát tiền tệ, dù chưa phải là quốc gia thao túng tiền tệ. Việt Nam phải cẩn trọng vì trong thời gian, khi tỷ giá USD-VND tăng thì Mỹ có thể dựa vào đó để tăng cường theo dõi tiền tệ. Và nếu bị rơi vào danh sách các quốc gia thao túng tiền tệ, điều này sẽ rất bất lợi cho Việt Nam vì Mỹ có thể có các biện pháp trừng phạt kinh tế sau đó”.

Khả năng kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái tại thời điểm này ít nhất là 60% – một tỷ lệ rất cao. Nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái và lạm phát cao, Việt Nam sẽ bị tác động rất mạnh. Vì Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, do đó, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ sẽ giảm. Lạm phát tại Mỹ tăng khiến giá cả hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ sẽ tăng lên, giá cả trong nước cũng sẽ tăng, dẫn đến lạm phát tăng, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế giảm.

Việc FED tăng lãi suất rất mạnh tay có thể nói là gây bất lợi nhiều hơn là có lợi cho Việt Nam. Chính phủ và các nhà kinh tế tại Việt Nam phải có những biện pháp chống đỡ nếu nền kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái”.

Dự kiến, các nước ở châu Âu sẽ tăng lãi suất sau Mỹ, đồng thời áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ, và khi đó, Việt Nam sẽ đối mặt thêm nhiều khó khăn. Trước mắt, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ bị tác động. Đây là dấu hiệu khủng hoảng trước mắt, một kịch bản xấu cho Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhấn mạnh: “Ngay từ bây giờ, Việt Nam nên có kế hoạch đối phó. Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trước mắt có thể bị tác động như việc trái phiếu Mỹ tăng giá trị sẽ khiến nhà đầu tư nước ngoài rút tièn khỏi thị trường Việt Nam và đầu tư vào Mỹ”.

Nguồn: TKNB – 20/06/2022

Quan hệ NATO-Nga: Đã đến lúc đình chỉ Đạo luật sáng lập


Theo thehill.com trong giai đoạn sự kỳ vọng lớn hơn đối với Nga suy giảm do những bất ổn, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tìm cách mở rộng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa liên minh này với Moskva. “Đạo luật Sáng lập về các quan hệ, hợp tác và an ninh giữa NATO với Liên bang Nga” được thông qua năm 1997 đã chính thức hóa mối quan hệ NATO-Nga và trong đó bao gồm những đảm bảo an ninh cho Moskva.

Mặc dù Đạo luật sáng lập đã tạo ra những kết quả hữu hình trong những năm đầu, nhưng giờ đây châu Âu lại đang phải đối mặt với một nước Nga hiếu chiến và theo chủ nghĩa xét lại. Hành động của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phá hủy cơ sở cho sự hợp tác. NATO nên đình chỉ đạo luật sáng lập này và đặc biệt là chấm dứt sự bảo đảm liên quan đến sự đồn trú của các lực lượng thông thường trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên mới.

Các nhà lãnh đạo của NATO và Nga đã gặp nhau vào tháng 5/1997 – hai tháng sau trước khi liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương thông báo mở rộng lần đầu tiên sau Chiến tranh Lạnh bằng việc kết nạp các thành viên mới gồm Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech – và ký kết Đạo luật sáng lập. Văn kiện này đặt ra các mục tiêu và nguyên tắc “tham vấn, hợp tác, ra quyết định chung và hành động chung” giữa NATO và Nga. Khuôn khổ đầy tham vọng của đạo luật này phản ánh một tầm nhìn chung rằng NATO và Nga có thể cùng hợp tác “để xây dựng một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt, toàn vẹn và tự do”, xây dựng thói quen hợp tác, làm giảm bớt lo ngại của Moskva về tác động về mặt quân sự của việc mở rộng NATO.

Đạo luật sáng lập có 2 đảm bảo chính cho thấy sự mở rộng của NATO không gây ra mối đe dọa quân sự nào đối với Nga. Thứ nhất, các quốc gia thành viên NATO nhắc lại rằng họ “không có ý định, không có kế hoạch và không có lý do gì để triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của các nước thành viên mới” (được gọi là nguyên tắc “Ba không”). Thứ hai, NATO tuyên bố rằng “trong môi trường an ninh hiện tại và trong tương lai gần”, lực lượng phòng thủ của NATO không yêu cầu “triển khai thường trực các lực lượng chiến đấu” ở các quốc gia thành viên mới. Nga cam kết thực hiện các biện pháp kiềm chế tương tự.

Thật không may, môi trường an ninh châu Âu đã không phát triển như các nhà lãnh đạo NATO hy vọng. Phương Tây không phải không có lỗi, nhưng phần lớn trách nhiệm làm cho tình trạng xấu đi này thuộc về Putin và Điện Kremlin. Nga đã liên tiếp thể hiện một loạt hành động hung hăng, bao gồm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa quân sự quy mô lớn, tiến hành các cuộc tấn công mạng, các chiến dịch thông tin sai lệch và có lập trường ngày càng thù địch đối với phương Tây. Năm 2014, Moskva đã vi phạm các cam kết trong Hiệp ước Helsinki 1975 và Đạo luật sáng lập khi chiếm giữ Crimea một cách bất hợp pháp và làm gia tăng xung đột ở miền Đông Ukraine. Tháng 2 vừa qua, Nga tái xâm lược Ukraine trên nhiều mặt trận, khơi mào cuộc chiến lớn nhất mà châu Âu từng chứng kiến kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Các hành động của Nga đã vi phạm các cam kết trong Đạo luật sáng lập và phớt lờ các mục tiêu và nguyên tắc đã thống nhất cách đây 25 năm.

Các nhà lãnh đạo NATO sẽ nhóm họp tại Madrid vào ngày 29 – 30/6 để thông qua chiến lược mới của liên minh và các biện pháp nhằm củng cố thế trận phòng thủ và răn đe của NATO trước cuộc chiến của Nga chống Ukraine. Liên minh có thể tiếp tục tuân thủ nguyên tắc “Ba không” để ngăn chặn các mối đe dọa hạt nhân từ Nga. Tuy nhiên, NATO nên từ bỏ cam kết hạn chế đóng quân thường trực bổ sung cho các lực lượng tác chiến. Từ năm 1997 đến năm 2014, NATO không triển khai quân đồn trú tại các quốc gia thành viên mới. Mỹ đã rút bớt lực lượng của họ ở châu Âu và từ năm 2013, nước này không còn xe tăng đóng thường trực ở châu lục này.

Sau các cuộc tấn công đầu tiên của Nga vào Ukraine hồi năm 2014, NATO đã triển khai luân phiên các nhóm chiến đấu cỡ tiểu đoàn ở các quốc gia Baltic và Ba Lan, và Mỹ đã đưa một lữ đoàn thiết giáp đến Ba Lan trên cơ sở luân phiên. Năm nay, khi Nga chuẩn bị và bắt đầu mở chiến dịch quân sự vào Ukraine, NATO đã tạm thời bố trí các lực lượng bổ sung ở sườn phía Đông của họ, bao gồm các đội quân chiến đấu luân phiên mới ở Romania, Bulgaria, Hungary và Slovakia, nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Nga có thể lan sang lãnh thổ NATO.

Bất kể cuộc chiến Nga – Ukraine kết thúc như thế nào, các quốc gia thành viên NATO phải chấp nhận rằng họ sẽ phải đối mặt với mối đe dọa quân sự lâu dài từ phía Đông. Để đảm bảo rằng Điện Kremlin không cố chống lại một quốc gia thành viên NATO, liên minh phải triển khai các lực lượng chiến đấu thường trực mạnh mẽ hơn ở Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan và Romania. Để ngăn chặn nước Nga ngày nay, các lực lượng này không chỉ đóng vai trò như tuyến phòng thủ đầu tiên mà còn nhiều hơn thế, và có đủ khả năng trên bộ và trên không để ngăn chặn các lực lượng tấn công cho đến khi quân tiếp viện của Đồng minh tới. Tất nhiên, Moskva sẽ không thích điều đó, nhưng NATO không còn lý do gì để phải tính đến các phản đối của Điện Kremlin một cách nghiêm túc.

Đạo luật sáng lập là cơ hội để xây dựng một châu Âu mới bằng cách thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa Nga và NATO. Thật không may, điều đó đã không thành công. Việc đình chỉ đạo luật sẽ để ngỏ khả năng nó có thể được khôi phục trong tương lai, khi Nga tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, việc đó chỉ có thể xảy ra sau khi Putin rời nhiệm sở và một thế hệ lãnh đạo mới của Nga chứng minh rằng nước Nga một lần nữa chia sẻ mục tiêu về một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Dữ liệu là quyền lực: Hoa Kỳ cần xây dựng các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số – Phần I


Matthew J. Slaughter & David H. McCormick

Hiện nay, dữ liệu là trọng tâm của thương mại toàn cầu. Trong nhiều thập kỷ, thương mại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ xác định tốc độ của quá trình toàn cầu hóa. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tăng trưởng về thương mại đã đạt trạng thái ổn định và duy trì ở đoạn bằng trên đồ thị phát triển, và tại đó bùng nổ các luồng dữ liệu xuyên biên giới, được đo lường bằng băng thông, đã tăng lên gần gấp 112 lần từ năm 2008 đến năm 2020.

Nền kinh tế toàn cầu đã trở thành một động cơ vĩnh cửu về dữ liệu: nền kinh tế đó tiêu thụ, xử lý và sản xuất ra nhiều dữ liệu hơn bao giờ hết. Các công nghệ kỹ thuật số buôn bán trái phép dữ liệu hiện nay hỗ trợ, thậm chí ở một số nơi đã thay thế thương mại truyền thống về hàng hóa và dịch vụ. Chẳng hạn, phim điện ảnh trước đây chủ yếu bán đĩa DVD, nay được chiếu trên các nền tảng kỹ thuật số, các tin tức, sách báo và bài viết nghiên cứu cũng được phát hành trực tuyến. Ngay cả những hàng hóa vật chất cũng chứa đầy các thành phần kỹ thuật số. Những chiếc xe ô tô không còn đơn thuần là thùng máy được chế tạo bao quanh các động cơ đốt trong; mà ngược lại chúng cũng chứa đựng các thiết bị điện tử phức tạp và phần mềm lưu trữ những dữ liệu khổng lồ. Thương mại hàng hóa vật chất cũng xuất hiện cùng với các công cụ hỗ trợ kỹ thuật số (digital enablers), chẳng hạn như các thiết bị và chương trình theo dõi việc giao nhận container, và tương tự như vậy, chúng lại tạo ra dữ liệu và cải thiện năng suất. HIện nay, đại dịch COVID-19 đã làm tăng tốc sự biến đổi kỹ thuật số của các doanh nghiệp, thậm chí đẩy mạnh nhiều hoạt động thương mại vào điện toán đám mây hơn.

Thương mại kỹ thuật số và luồng dữ liệu xuyên biên giới không có dấu hiệu chậm lại. Năm 2018, 330 triệu người thực hiện mua bán trực tuyến từ những quốc gia khác, mỗi một người đều liên quan tới việc truyền dữ liệu xuyên biên giới, giúp thương mại điện tử đạt 25,6 nghìn tỷ USD doanh số, ngay cả khi chỉ có 60% dân số thế giới hoạt động trực tuyến. Hãy tưởng tượng xem dữ liệu phát triển đến thế nào khi việc tiếp cận băng thông rộng lan tới bộ phận dân số tăng trưởng nhanh ở thế giới đang phát triển, công nghệ không dây 5G thậm chí cho phép truyền tải lượng dữ liệu khổng lồ hơn nữa với tốc độ ánh sáng, và cái gọi là Internet vạn vật (IoT) làm gia tăng đáng kể hoạt động trao đổi thông tin giữa các thiết bị, máy móc.

Những thay đổi to lớn này không chỉ đơn thuần làm biến đổi thương mại, mà còn lật ngược chính trị toàn cầu. Thậm chí hơn cả những yếu tố khác của nền kinh tế toàn cầu, dữ liệu gắn với quyền lực. Dữ liệu với tư cách là phần đầu vào ngày càng cần thiết cho sự đổi mới sáng tạo, là yếu tố thương mại quốc tế ngày càng mở rộng nhanh chóng, là thành phần sống còn đối với thành công của doanh nghiệp, và là khía cạnh trọng yếu của an ninh quốc gia, đã đang và sẽ mang đến những lợi thế khó tin cho tất cả những ai có được dữ liệu. Dữ liệu cũng dễ dàng bị lạm dụng. Các quốc gia và các doanh nghiệp tìm kiếm những lợi thế hạn chế cạnh tranh cố gắng kiểm soát dữ liệu. Và cả những người muốn phá hoại quyền tự do và riêng tư.

Tuy nhiên, ngay cả khi luồng dữ liệu xuyên biên giới ngày càng lớn mạnh và chính bản thân dữ liệu trở thành một thứ quyền lực quan trọng, thì phần lớn dữ liệu không được kiểm soát. Thương mại quốc tế hiện tại và khuôn khổ đầu tư đã được thiết kế cách đây 75 năm, trong một giai đoạn rất khác, đã thúc đẩy sự thịnh vượng và an ninh, giúp hàng triệu người thoát khỏi đói nghèo và là một phần của trật tự kinh tế quy mô rộng hơn, nó cổ vũ cho nền dân chủ, thương mại và nhân quyền. Nhưng hệ thống này không đáp ứng đủ cho thực tiễn thương mại toàn cầu hiện nay. Những sự mơ hồ, lẫn lộn về giá trị và quyền sở hữu dữ liệu trở nên phổ biến, và các cường quốc lớn trên thế giới tranh cãi về những viễn cảnh quản lý hệ thống này.

Nếu Hoa Kỳ không xác định các quy tắc mới cho thời đại kỹ thuật số, thì các nước khác sẽ làm điều đó. Chẳng hạn, Trung Quốc đang đưa ra mô hình toàn trị công nghệ của riêng họ, thừa nhận rằng việc xác định các quy tắc cho quyền lực kỹ thuật số là một thành phần then chốt trong cạnh tranh địa chính trị. Hoa Kỳ nên đề xuất phương án thay thế. Cùng với một liên minh gồn các đối tác thiện chí, Hoa Kỳ nên thiết lập một khuôn khổ mới mà có thể giải phóng tiềm năng của dữ liệu để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo ra quyền lực kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia.

Đổi mới sáng tạo mãi mãi

Các nhà kinh tế học từ lâu đã công nhận rằng năng suất lao động là chỉ số tốt nhất để đo lường mức sống trung bình và quyền lực kinh tế tổng thể của một quốc gia.

Năng suất lao động của một quốc gia càng cao, thu nhập hộ gia đình trung bình càng cao, và đời sống vật chất của người dân cũng ngày càng cao. Hơn thế nữa, năng suất lao động của một quốc gia càng cao, cơ sở thuế tổng thể của quốc gia đó càng lớn, từ đó cấp ngân sách nhiều hơn cho chính phủ thực hiện chính sách quốc phòng quốc gia và các lợi ích khác.

Một quốc gia có thể tăng năng suất bằng cách nào? Họ có thể đầu tư vào vốn được dùng để tạo ra mọi thứ, ví dụ các tòa nhà, máy móc, phần mềm, và những thứ tương tự. Hoặc họ có thể sáng tạo ra các ý tưởng mới, các phát minh, các sáng kiến cho phép công nhân nâng cao năng suất hơn nữa của các sản phẩm hiện có hoặc là sản xuất ra những sản phẩm hoàn toàn mới. Thật vậy, đổi mới sáng tạo từ lâu nay đã thúc đẩy năng suất gia tăng của Hoa Kỳ – chiếm hơn một nửa tăng trưởng GDP trên đầu người của Hoa Kỳ trong thế kỷ qua.

Dữ liệu luôn là đầu vào cần thiết để khám phá những ý tưởng mới. Benjamin Franklin cần dữ liệu về các vụ sét đánh để nâng cao hiểu biết của con người về dòng điện; Gregor Mendel cần dữ liệu về cây đậu để phát hiện ra quy luật di truyền. Nhưng khoảng một thập kỷ qua, dữ liệu đã trở nên quan trọng hơn nhiều đối với sự đổi mới sáng tạo, nhờ vào những tiến bộ chính về sức mạnh điện toán, lưu trữ đám mây và học máy. Các thuật toán trọng tâm của trí tuệ nhân tạo được hưởng lợi đặc biệt từ lượng dữ liệu khổng lồ chất lượng cao mà chúng dùng để tìm hiểu và đạt được hiệu quả. Những đổi mới sáng tạo này và cả những đổi mới khác dựa trên dữ liệu sẽ ngày càng định hình đời sống cá nhân và nghề nghiệp của con người, cải thiện mọi thứ từ các phương tiện tự động tới các ứng dụng thể thao và các mạng lưới xã hội.

Việc tăng cường sử dụng dữ liệu mang lại tiềm năng kinh tế to lớn vì một lý do có tầm ảnh hưởng lớn nhưng đơn giản: dữ liệu là thứ mà các nhà kinh tế học gọi là “không có tính cạnh tranh”. Gần như tất cả các hàng hóa và dịch vụ kinh tế đều có tính “cạnh tranh”, nghĩa là việc một người hay một công ty sử dụng chúng sẽ loại trừ cơ hội một người hay một công ty khác sử dụng chúng. Chẳng hạn, một thùng dầu sẽ có tính cạnh tranh. Nhưng dữ liệu không có tính cạnh tranh: dữ liệu có thể được nhiều người hoặc nhiều công ty sử dụng đồng thời và lặp lại mà không sợ bị suy giảm. Khái niệm phổ biến rằng “dữ liệu là một loại dầu mỏ mới” đã bỏ qua sự khác biệt kinh tế căn bản này giữa hai loại hàng hóa. Dữ liệu có thể tiếp sức cho sự đổi mới sáng tạo hết lần này đến lần khác mà không bị cạn kiệt – giống như nguồn cung cấp ánh nắng mặt trời vô hạn hơn là nguồn cung cấp dầu mỏ hữu hạn.

Bởi dữ liệu không có tính cạnh tranh, nên sự đổi mới sáng tạo và sau đó là sức mạnh kinh tế, ngày càng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng dữ liệu sẵn có đối với mọi người, mọi doanh nghiệp và mọi quốc gia. Dữ liệu có thể được sử dụng và tái sử dụng, vì thế luồng dữ liệu càng tự do, thì nó càng thúc đẩy sáng tạo ra những ý tưởng mới. Lấy ví dụ về cuộc chiến toàn cầu chống đại dịch COVID-19. Vào ngày 10/01/2020, hơn một tháng sau khi những ca nhiễm bệnh đầu tiên xuất hiện, các nhà khoa học Trung Quốc công bố chuỗi gen của virus corona trên mạng. Khi có những dữ liệu cần thiết này, các nhà khoa học thuộc Công ty Modernan của Hoa Kỳ chỉ mất hai ngày để tạo ra bản thiết kế (blueprint) làm cơ sở sản xuất loại vaccine COVID-19 của công ty này. Moderna cũng đã nghiên cứu một loại vaccine dựa trên công nghệ mRNA; tất cả những gì họ cần để sáng tạo một thứ gì đó giá trị từ ý tưởng mới này chính là dữ liệu.

Việc tiếp cận dữ liệu cũng đang tạo ra cuộc cách mạng trong các lĩnh vực khác của các ngành khoa học sự sống. Chỉ sau 13 năm, Dự án Human Genome, một sáng kiến cộng đồng quốc tế do Hoa Kỳ dẫn đầu, đã ghép cặp và công bố dữ liệu về ba tỷ cặp base DNA tạo nên hệ gen người. Một nghiên cứu tính rằng từ năm 1988 đến năm 2010, dự án này đã dẫn đến tổng mức tác động kinh tế là 796 tỷ USD – bao gồm hơn 244 tỷ USD thu nhập cá nhân thêm từ hơn 300.000 công việc mới.

Dữ liệu ngày càng thúc đẩy những thành công về thương mại. Những công ty đạt được lợi thế cạnh tranh bằng việc tổng hợp, phân tích và sử dụng dữ liệu đã giành được những vị trí đứng đầu thị trường trên toàn thế giới. Mười năm trước đó, bất kỳ danh sách mười công ty có giá trị thương mại cao nhất đều gồm có các công ty khai thác dầu khí, các hãng sản xuất hàng hóa tiêu dùng và ngân hàng. Hiện nay, các công ty công nghệ hoạt động bằng dữ liệu đang chiếm lĩnh các danh sách này. Các tập đoàn BHP Group, Chevron và ExxonMobil nhường chỗ cho các tập đoàn Alphabet, Amazon và Facebook. Nguồn thu hiện tại của các nhà lãnh đạo công nghệ ngày một lớn bởi họ biến lượng dữ liệu khổng lồ từ hàng tỷ cá nhân và tổ chức thành giá trị kinh tế mới cho khách hàng của họ.

Dữ liệu cũng có vai trò quan trọng đối với an ninh quốc gia, giúp thúc đẩy năng suất và sau đó là sức mạnh kinh tế tạo nên lợi thế quân sự của Hoa Kỳ. Đó cũng là lĩnh vực chính trong cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để giành ưu thế kinh tế và địa chính trị, chẳng hạn như cuộc chiến giữa hai quốc gia về công nghệ 5G. Các công nghệ mới đem lại những lợi thế to lớn về kinh tế và chiến lược. Theo lời của cựu Tổng giám đốc Google Eric Schmidt va cựu Thứ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Rober Work, trí tuệ nhân tạo được thúc đẩy nhờ dữ liệu “sẽ là công cụ mạnh mẽ nhất trong nhiều thế hệ để mang lại lợi ích cho nhân loại”, nhưng nó cũng sẽ được “sử dụng để theo đuổi quyền lực”.

Những quốc gia nào có thể khai thác dữ liệu để đổi mới sáng tạo nhanh hơn sẽ đạt được những lợi thế to lớn. Và do đó, sự thịnh vượng và sức mạnh địa chính trị của Hoa Kỳ trong tương lai sẽ chủ yếu phụ thuộc vào các quy tắc quản lý quyền truy cập vào dữ liệu.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Nguyễn

Nguồn: Matthew J. Slaughter & David H. McCormik – Data is Power: Washington needs to craft new rules for the digital age – Foreign Affairs – May/June 2021, p54-62

TN 2021 – 74

Tâm điểm của Đối thoại Shangri-La 2022


Trang mạng của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược quốc tế (IISS) (Anh) mới đây đăng bài viết của chuyên gia James Crabtree, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của IISS, cho biết các đại biểu đang tập trung tại Singapore để tham dự Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (còn được biết đến với tên gọi Đối thoại Shangri-La), và đây sẽ là cơ hội hiếm có để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về một danh sách dài các bất đồng cũng như các chủ đề cùng quan tâm.

Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 – 12/6 (Đối thoại Shangri-La bị tạm hoãn trong năm 2020 và 2021 do dịch COVID-19), bắt đầu với bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida. Tuy nhiên, các đại biểu chắc chắn sẽ tập trung nhiều hơn vào các bài phát biểu của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa 2 siêu cường này ngày càng xấu đi. Có 5 khía cạnh quan trọng sẽ được chú trọng trong đối thoại năm nay.

Thứ nhất, bối cảnh của cuộc chiến ở Ukraine càng củng cố vai trò của Mỹ và Trung Quốc như những nhà lãnh đạo của các khối địa chính trị đối địch. Mặc dù không công khai ủng hộ các hành động của Nga ở Ukraine, song Bắc Kinh đã từ chối lên án Moskva. Ngay trước cuộc xung đột Nga – Ukraine, Nga và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhấn mạnh sự hợp tác, đồng thời khẳng định “tình hữu nghị giữa hai quốc gia không có giới hạn và không có vùng cấm”. Đã có những dấu hiệu cho thấy sự hợp tác này đang diễn ra trên thực tế. Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đến Tokyo để gặp gỡ những người đồng cấp trong nhóm Bộ tứ – đó là các nhà lãnh đạo của Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Đáp lại, Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tuần tra chung với các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang hạt nhân là Xian H-6 (của Trung Quốc) và Tu-95 (của Nga).

Thứ hai, căng thẳng Mỹ – Trung về “điểm nóng” Đài Loan ngày càng sâu sắc. Tổng thống Biden đã gửi tín hiệu sai về vấn đề “Đài Loan độc lập”, điều này rất nguy hiểm. Mối quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan trong tương lai vẫn rất bấp bênh, không loại trừ khả năng Trung Quốc dùng vũ lực để thu phục hòn đảo này. Mặc dù về mặt chính thức, Mỹ cho biết các chính sách lâu nay của nước này đối với Đài Loan không thay đổi; song rõ ràng Bắc Kinh khó có thể yên tâm khi nghe những tuyên bố lặp đi lặp lại của ông Biden về vấn đề này. Gần đây nhất, trong chuyến công du Nhật Bản, ông Biden đã nói rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan trước sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc, khiến các quan chức Mỹ phải nhanh chóng nói rõ rằng điều này không thể hiện sự thay đổi quan điểm của Mỹ.

Thứ ba, các đời bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần đây đã sử dụng các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La để khẳng định các cam kết của họ ở châu Á. Các quan chức Lầu Năm Góc nhiều lần cho biết Mỹ có ý định rút khỏi Trung Đông và các nơi khác để dành nhiều nguồn lực quân sự hơn cho châu Á. Tuy nhiên, tiến độ này diễn ra rất chậm chạp, ngay cả trước các sự kiện ở Ukraine. Các đại biểu đến từ các nước trong khu vực sẽ theo dõi chặt chẽ bất kỳ tín hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ tăng tốc đầu tư vào các sáng kiến về vị thế khu vực – một chủ đề được đề cập sâu hơn trong chương mở đầu của Đánh giá An ninh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IISS năm nay. Các động thái an ninh ngày càng được tăng cường của Trung Quốc tại khu vực cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ, trong bố cảnh có những thông tin về thỏa thuận an ninh giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon cũng như việc Trung Quốc đang xây dựng một cơ sở hải quân ở Campuchia.

Thứ tư, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai siêu cường đang tạo ra những vấn đề của riêng hai nước. Chính quyền Biden hiện gọi chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc là “cạnh tranh trong hàng rào an toàn” – nghĩa là Washington tìm cách cạnh tranh mạnh mẽ với Bắc Kinh, nhưng vẫn tránh nguy cơ làm suy thoái nghiêm trọng và gây tổn hại trong lĩnh vực an ninh. Tuy nhiên, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden, được công bố hồi tháng 2/2022, đã thẳng thừng đề cập đến mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho các lợi ích của Mỹ, cho rằng “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và tìm cách trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất thế giới”. Chính quyền Biden hiện phải đối mặt với những lựa chọn phức tạp về cách cạnh tranh với Trung Quốc. Mỹ nhận ra rằng Mỹ không thể cạnh tranh một mình, do đó Washington tập trung vào việc thắt chặt quan hệ với các “đồng minh  và đối tác”, như những gì Mỹ đã thể hiện trong các liên minh AUKUS (gồm Australia, Anh, Mỹ) và Bộ tứ (gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Mỹ). Trong khi đó, Trung Quốc cũng hành động tương tự, thể hiện ở Sáng kiến An ninh Toàn cầu được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động gần đây cho đến các kế hoạch của Trung Quốc về một “Tầm nhìn phát triển chung” mới với 10 quốc đảo Thái Bình Dương.

Thứ năm, vấn đề liên lạc giữa Bắc Kinh và Washington, hoặc việc thiếu kênh liên lạc, là thách thức cuối cùng. Tháng 4/2022, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có cuộc điện đàm lần đầu tiên để thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và các chủ đề khác. Cuộc điện đàm thu hút sự chú ý vì trước đó Lầu Năm Góc đã nỗ lực thiết lập các cuộc điện đàm với một quan chức cấp cao khác của Trung Quốc, Tướng Hứa Kỳ Lượng – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Một số quan chức cấp cao khác của Mỹ, trong đó có Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan, sau đó cũng đã có các cuộc điện đàm với các quan chức tương ứng của Trung Quốc. Nhưng nói chung, những cuộc đối thoại như vậy vẫn hiếm khi xảy ra trong một mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng những mối liên hệ ít ỏi. Sự thiếu thông tin liên lạc này sẽ là nguyên nhân gây lo lắng trong bất kỳ cuộc khủng hoảng khu vực nào trong tương lai.

Các sự kiện như Đối thoại Shangri-La sẽ tạo cơ hội để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về các vấn đề cùng quan tâm, với việc cả hai quốc gia đều đưa các phái đoàn quan trọng tới hội nghị. Tuy nhiên, khả năng cải thiện quan hệ giữa các siêu cường là rất nhỏ. Nguy cơ mối quan hệ Mỹ – Trung “lao dốc” hơn nữa đã thực sự được kiểm soát trong những năm gần đây do đại dịch COVID-19, với việc các nhà lãnh đạo của cả hai nước đều phải tập trung vào việc phục hồi trong nước. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong năm 2022 do Tổng thống Biden phải tập trung vào cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, còn Chủ tịch Tập Cận Bình phải tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, cả hai đều sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tuy nhiên, những rủi ro mà Kurt Campbell – điều phối viên của Mỹ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – gọi là “bất ngờ chiến lược” có thể xảy ra trong ngắn hạn sẽ khó có thể giảm bớt, và cùng với đó là nguy cơ rạn nứt quan hệ vẫn gia tăng

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần cuối


Sự đồng thuận giữa Mỹ và châu Âu cũng rất quan trọng. Trong vài chục năm qua, các nước châu Âu thỉnh thoảng vẫn theo đuổi đối thoại với Iran và đưa ra các gói hỗ trợ kinh tế với hy vọng điều tiết chính sách của Tehran trong 4 vấn đề: nhân quyền, vũ khí hạt nhân, khủng bố và hòa bình Trung Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đến nay vẫn chưa tạo ra kết quả nào đáng kể trong các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Iran. Trái lại, Iran còn đe dọa sử dụng chính sách khu vực để làm phức tạp thêm cuộc khủng hoảng di cư tại châu Âu, đồng thời tiếp tục bắt giữ công dân châu Âu làm con tin, thậm chí còn hành quyết một công dân Pháp trong năm 2020. Điều này phần nào khiến người dân châu Âu cũng có thái độ tiêu cực về Iran giống như người Mỹ.

Có thể nói lần duy nhất chính sách của châu Âu tác động tích cực tới hành vi của Iran là vào năm 2012, khi Liên minh châu Âu hợp tác với chính quyền Obama quyết định ngừng nhập khẩu dầu thô từ Iran, mở đường cho sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân 2015. Chính phủ Iran sẽ không nhượng bộ các yêu cầu của Mỹ nếu cảm thấy châu Âu đứng về phía mình, như trường hợp năm 2018, khi Tổng thống Mỹ Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân.

Mặc dù vậy, Mỹ còn cần phải tìm kiếm sự hợp tác ngoài châu Âu. Theo một số ước tính, xấut khẩu dầu thô của Iran sang Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần chỉ trong năm qua, khiến Tehran không còn cảm thấy nhất thiết phải quay lại thỏa thuận hạt nhân. Mọi nỗ lực nhằm thay đổi toan tính của Iran đều phải được Trung Quốc chấp thuận. Mặc dù quan điểm về Iran giữa Washington và Bắc Kinh có sự khác biệt, nhưng hai bên vẫn có điểm chung là không muốn Iran sở hữu bom hạt nhân và không muốn xung đột với Iran. Hơn nữa, Trung Quốc muốn Trung Đông ổn định để bảo đảm nguồn cung dầu dồi dào từ khu vực này. Các vụ Iran bắt giữ tàu chở dầu hoặc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào Saudi Arabia và UAE – hai đối tác mà giá trị thương mại của họ với Trung Quốc đều cao hơn với Iran – ảnh hưởng tới lợi ích của Bắc Kinh nhiều hơn lợi ích của Mỹ, do gần đây xuất khẩu năng lượng của Washington đã nhiều hơn nhập khẩu.

Cuối cùng, Mỹ cần phải giúp củng cố các quốc gia Arab đang bị Iran thao túng và nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết giữa họ. Các quốc gia này bị Iran lợi dụng do có chính quyền yếu kém, bất ổn hoặc xã hội chia rẽ. Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tộc là nhân tố quyết định để các nước thuộc địa chống lại các đế quốc phương Tây và Xô Viết. Tương tự, chủ nghĩa dân tộc ở các nước như Iraq, Liban, Syria và Yemen – hoặc một tinh thần dân tộc chung của khối Arab – sẽ là yếu tố không thể thiếu để chống lại sức ảnh hưởng của Iran và khôi phục chủ quyền của các quốc gia này. Tinh thần đoàn kết nội bộ trong khối Arab cũng vô cùng quan trọng. Mối bất hòa giữa các thành viên Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) dẫn đến việc Saudi Arabia và UAE cấm vận Qatar từ năm 2017 đến đầu năm 2021 đã làm suy yếu đáng kể tiếng nói của GCC về các mối quan ngại chung liên quan đến chương trình hạt nhân và các chính sách khu vực khác của Iran. Mặc dù Mỹ, châu Âu và Trung Quốc có các lợi ích khác nhau liên quan đến Iran, nhưng không bên nào muốn gây chiến với Tehran hoặc chứng kiến họ sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ từng đóng vai trò liên kết các cường quốc này trong vòng đàm phán dẫn đến sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân năm 2015, và hiện nên một lần nữa đứng ra nhận trách nhiệm này trong các cuộc thảo luận mới về an ninh Trung Đông. Không một quốc gia nào có lợi (có lẽ ngoại trừ Nga) nếu Trung Đông không tôn trọng pháp quyền, chủ quyền, quyền tự do cung cấp năng lượng, hoặc bị các lực lượng khủng bố hoành hành. Mỹ cần phải nỗ lực thuyết phục các đối tác về sự thật này, kêu gọi các bên cùng chống lại các hành vi ác ý của Iran và hạn chế cũng như chống lại các năng lực của nước này.

Vua bãi rác

Quyền lực của Iran ở Trung Đông đang lên, nhưng có thể sẽ sớm chấm dứt. Người Arab từng đối đầu với các thế lực bá quyền Thổ Nhĩ Kỳ và phương Tây trong nhiều thế kỷ sẽ không dễ dàng khuất phục trước ảnh hưởng của Iran. Ngay cả những người Arab được coi là có thiện cảm với Iran, chẳng hạn như cựu Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, người từng sống lưu vong nhiều năm ở Tehran trước khi bước chân vào chính trường, cũng oán hận Iran. Maliki từng nói với Đại sứ Mỹ ở Baghdad: “Ngài chưa hiểu thế nào là đau khổ, trừ phi ngài là một người Arab buộc phải sống chung với người Ba Tư”.

Đại chiến lược của Iran làm nước này kiệt quệ về nguồn lực và sa sút về uy tín như một cây nến cháy cả hai đầu. Nó mang sang các nước khác sự đàn áp chính trị, bức bối xã hội và khó khăn kinh tế mà người dân Iran trong nước từ lâu đã phải gánh chịu. Có thể Iran sẽ tiếp tục là “vua bãi rác” trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ nữa. Rất ít quốc gia trong khu vực hoặc thế giới mong muốn hoặc có đủ khả năng thách thức sự vượt trội của Iran tại Iraq, Liban, Syria và Yemen. Sau hai thập kỷ chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, chắc chắn Mỹ không điều quân đến Trung Đông nộp mạng. Vì vậy, giống như một tòa nhà cao tầng với nền móng đang xuống cấp, Iran dù lung lay dễ đổ nhưng sẽ tiếp tục phủ bóng đen lên một số nước Trung Đông trong tương lai.

Cũng có thể tòa nhà cao tầng này sẽ sụp đổ. Mỹ không thể thay đổi quyết tâm chống Mỹ và tiêu diệt Israel của Iran, nhưng với sự giúp đỡ của các nước khác, Mỹ có thể kiềm chế Tehran cho đến khi quốc gia này có một chính phủ mới với mong muốn làm những điều tốt cho Iran, thay vì hành động chỉ để chống phá các đối thủ về ý thức hệ. Rốt cuộc, đại chiến lược của Iran sẽ bị đánh bại, không phải bởi Mỹ hay Israel, mà bởi chính người dân Iran, những người đã phải trả cái giá đắt nhất cho chính sách này.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần III


Thành công dẫn tới tự mãn

Một cuộc cách mạng chống lại tình trạng hủ bại và sự đàn áp dưới thời chế độ quân Mohammad Reza Shah Pahlavi giờ đây đã trở thành một đội quân Hồi giáo nước ngoài lún sâu vào những hành vi đàn áp chính trị còn nghiêm trọng hơn, như tiến hành các vụ ám sát, bắt giữ con tin, tham nhũng và buôn bán ma túy. Tuy nhiên, dù Iran thành công trong việc nuôi dưỡng các nhóm chiến binh trên khắp Trung Đông, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ đã đi quá xa. Theo các cuộc thăm dò dư luận, gần 2/3 thanh niên Arab trong khu vực coi Iran là kẻ thù; phần lớn người Arab ở mọi lứa tuổi muốn Iran rút khỏi các cuộc xung đột khu vực; và hơn một nửa số người Arab Hồi giáo dòng Shiite có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Trong những năm gần đây, người biểu tình Iraq đã tấn công và phóng hỏa các lãnh sự quán Iran ở Najaf và Karbala – hai thành phố linh thiêng của người Shiite và vốn là thành trì lâu đời của Iran ở Iraq – và người Shiite ở Liban đã biểu tình chống lại Hezbollah ở thành phố Nabatiyah, miền Nam Liban.

Mối lo ngại chung về Iran cũng là lý do dẫn đến sự ra đời của Hiệp định Abraham, thỏa thuận năm 2020 nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Israel với các nước Arab mang lại cho Israel một chỗ đứng chiến lược cách biên giới Iran vài chục cây số. Lên án hiệp định Abraham là “sự phản bội đối với thế giới Hồi giáo”, Khamenei cho rằng những khó khăn của người Palestine là vấn đề quan trọng nhất trong thế giới Hồi giáo và tiếp tục dành nguồn lực đáng kể để chống lại Israel. Sự ủng hộ của Khamenei dành cho các đội quân ủy nhiệm khu vực trong và ngoài các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã tạo ra một “trục đau khổ” trải dài khắp Trung Đông. Syria và Yemen vẫn chìm trong nội chiến. Tại Liban, một cuộc thăm dò gần đây của Gallup cho thấy 85% dân số sống trong nghèo khó, hơn 50% không đủ tiền mua thực phẩm và 63% muốn rời khỏi đất nước vĩnh viễn.

Các chính sách khu vực của Iran có thể khiến người Arab xa lánh, nhưng nhiều khả năng sẽ không thể khiến Mỹ đưa ra phản ứng đáng kể. Không giống các nhóm cực đoan tiến hành tấn công trực diện vào lãnh thổ Mỹ, chẳng hạn như al-Qaeda và ISIS, các nhà lãnh đạo thần quyền của Iran – những người điều hành một đất nước dồi dào tài nguyên và do đó có nhiều điều để mất – nhắm vào các lợi ích của Mỹ ở Trung Đông thông qua các lực lượng ủy nhiệm và máy bay không người lái, tạo ra thêm một tầng ngăn cách giữa hai bên. Hơn nữa, mục tiêu của Iran là khuếch trương ảnh hưởng ở Trung Đông mà không phải gánh trách nhiệm điều hành công vụ hàng ngày. Không có quyết định an ninh quốc gia quan trọng nào có thể được đưa ra ở Iraq hoặc Liban mà không có ự ủng hộ của các dân quân Shiite do Iran điều khiển. Nhưng các lực lượng dân quân này không phải chịu trách nhiệm giải quyết tình trạng thất nghiệp hoặc tham nhũng, hay những việc như thu gom rác thải. Lực lượng dân quân của Iran có sức mạnh; chính phủ chịu trách nhiệm giải trình.

Quê nhà sẽ là nơi chiến lược lớn của chế độ Iran đe dọa sự tồn vong của chính họ. Khi nền kinh tế trong nước suy thoái, người dân Iran chắc chắn sẽ chất vấn các chính sách của chính phủ bao gồm chính sách thù địch với Mỹ và chủ nghĩa phiêu lưu nước ngoài. Trong các cuộc biểu tình ở Iran, người dân thường hô các khẩu hiệu như “Quên Syria đi; hãy nghĩ về chúng tôi” và “Họ nói dối rằng kẻ thù của chúng ta là Mỹ; kẻ thù của chúng ta đang ở ngay đây”. Tuy nhiên, thường có hai điều kiện tiên quyết dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài: áp lực từ bên dưới và sự chia rẽ ở cấp trên. Mặc dù bất ổn trong dân chúng Iran ngày càng gia tăng, nhưng chí ít thì khi nhìn từ bên ngoài, lực lượng an ninh Iran hiện vẫn đoàn kết và sẵn sàng xuống tay thực hiện các vụ sát hại, trong khi quần chúng bất mãn vẫn bị chia rẽ và thiếu sự dẫn dắt.

Sự ổ định trong ngắn hạn cho thấy chiến lược lớn của Iran sẽ không thay đổi chừng nào Khamenei còn là nhà lãnh đạo tối cao, và có thể sẽ còn được duy trì sau khi ông ra đi, nhờ thành công mà Iran nhận thấy từ nó. Sau khi Mỹ rút khỏi Afghanistan, Iran càng có thêm động lực để ép Washington phải từ bỏ Iraq và các căn cứ quân sự ở vùng Vịnh. Với các chính sách của mình trong khu vực, Iran chỉ phải trả những cái giá tương đối nhẹ nhàng, nhất là nếu so với những thiệt hại khổng lồ mà Tehran đã phải gánh chịu khi bị phương Tây trừng phạt mỗi khi vi phạm cam kết hạt nhân. Vì vậy, không có lý do gì để Tehran ngừng sự hỗ trợ cho các lực lượng dân quân ở Trung Đông.

Mặt trận thống nhất

Trải qua 4 thập kỷ thù địch Mỹ – Iran, đã có vô số giải pháp đơn giản được đề xuất nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh này. Tại sao Mỹ không theo đuổi chính sách ngoại giao, bắt tay với nước Cộng hòa Hồi giáo, hoặc ủng hộ người dân Iran lật đổ chế độ? Tuy nhiên, vấn đề cơ bản nhất lại không tìm được câu trả lời dễ dàng: Mỹ phải làm gì trước một đối thủ luôn tránh đối thoại trực tiếp, coi sự thù địch với Mỹ là nền tảng cho bản sắc, đồng thời có cả nguồn lực lẫn quyết tâm gieo rắc sự hỗn loạn khắp Trung Đông và sẵn sàng sát hại hàng nghìn công dân của chính mình để bảo toàn quyền lực?

Nhận thức của Mỹ về Iran bị ảnh hưởng bởi sự ghẻ lạnh và tự kiêu chiến lược trong 4 thập kỷ qua. Các nhà hoạch định chính sách ở Washington tin rằng tư tưởng cách mạng của Iran có thể được uốn nắn bằng cách can dự hoặc bị triệt tiêu bởi các biện pháp cứng rắn. Phe cấp tiến cho rằng sự cứng đầu của Tehran chỉ là sự phản ứng trước các chính sách thù địch của Mỹ, trong khi phe bảo thủ tin rằng kinh tế cùng quẫn sẽ buộc Tehran phải lựa chọn giữa lý tưởng và sự tồn vong của chế đọ. Tuy nhiên, với Khamenei, duy trì lý tưởng cách mạng Iran vừa là mục đích vừa là phương tiện để đảm bảo sự tồn tại của chế độ.

Giống như Nga, Iran luôn tìm kiếm an ninh trong sự bất an của kẻ khác. Nhà nước Cộng hòa Hồi giáo luôn lợi dụng sự chia rẽ về ý thức hệ, bè phái và tôn giáo để có được sức ảnh hưởng tại các quốc gia nhỏ, đồng thời cũng rất giỏi trong việc lợi dụng sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Do Mỹ không có nhiều công cụ để gây sức ép với Iran, bởi hầu hết thương mại của Tehran là với các nước khác, nên việc xây dựng một chiến lược hiệu quả để kiềm chế và chống lại Iran không chỉ cần tới sự lãnh đạo của Mỹ mà còn đòi hỏi phải xây dựng một sự đồng thuận quốc tế.

Bước đi đầu tiên hướng tới chiến lược này là xây dựng sự đồng thuận chính trị trong nước Mỹ. Trước khi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 được ký kết, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đã có sự nhất trí cao về bản chất của chế độ Iran và các mối đe dọa của nó đối với an ninh khu vực. Nhưng thỏa thuận năm 2015, theo đó các lệnh trừng phạt của Mỹ và quốc tế được dỡ bỏ để đổi lấy sự nhượng bộ hạt nhân của Iran, lại khiến cuộc tranh luận chính sách rẽ theo hai hướng khác nhau, thể hiện rõ chủ trương của mỗi đảng: Phe Cộng hòa chỉ trích Chính quyền Obama quá mềm mỏng và phe Dân chủ chỉ trích đảng Cộng hòa thích gây chiến.

Tuy nhiên, nhìn bao quát, rõ ràng cả hai đảng đều có chung quan điểm chiến lược về Iran. Đảng Cộng hòa có thể kịch liệt phản đối chế độ Iran và thỏa thuận hạt nhân, nhưng cũng nhận ra rằng các đảng viên đều không muốn Mỹ dính líu vào một cuộc xung đột nữa ở Trung Đông. Về phần mình, các đảng viên Dân chủ có thể ủng hộ biện pháp can dự với Tehran và quay lại thỏa thuận hạt nhân, nhưng các cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy 70% cử tri Dân chủ có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Nói cách khác, giữa hai đảng đã có đủ cơ sở để xây dựng sự đồng thuận trong đánh giá khách quan về bản chất về chế độ Iran, không cường điệu hóa và cũng không coi nhẹ mối đe dọa mà Tehran đang tạo ra với Mỹ, cũng như với lợi ích và các đối tác của Washington tại Trung Đông.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Các biện pháp của Nga chống lại sự mở rộng NATO


Tờ Thời báo Hoàn Cầu ngày 01/06 đăng bải viết của nhà nghiên cứu Vương Hiến Cử (Wang Xianju) – Phó Giám đốc Trung Tâm Nga học, Đại học Nhân dân Trung Quốc cho biết, Tổng thư ký NATO Stoltenberg mới đây thông báo nếu Phần Lan và Thụy Điển không thể đáp ứng được yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ, họ khó có thể trở thành ứng cử viên gia nhập NATO tại Hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra vào ngày 28/6 tới. Một số người cho rằng lá phiếu quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ có thể cản trở vòng mở rộng mới của NATO. Tuy nhiên, xét cho cùng, việc Moskva đặt cược toàn bộ vào “quyền phủ quyết” của Thổ Nhĩ Kỳ là điều không thể, vậy Nga còn có những biện pháp nào để đối phó?

Theo dõi các động thái gần đây, có thể thấy rằng Moskva đang thông qua các hành động song phương và đa phương chống lại vòng mở rộng thứ sáu của NATO.

Thứ nhất, cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả nghiêm trọng từ vòng mở rộng mới của NATO. Một mặt, Moskva nhắc nhở Phần Lan và Thụy Điển không được đánh giá sai tình hình, chỉ ra rằng “quyết định sai lầm” lần này sẽ làm gia tăng căng thẳng khu vực và an ninh của hai nước và sẽ không vì gia nhập NATO mà được củng cố; mặt khác, nhấn mạnh rằng sự mở rộng cơ sở hạ tầng của NATO trên lãnh thổ hai nước này chắc chắn sẽ dẫn đến một phản ứng từ Nga. Nga sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh hải – lục – không quân ở khu vực Biển Baltic, và “tình trạng phi hạt nhân hóa của khu vực Biển Baltic sẽ không được bàn nữa”.

Thứ hai, tăng cường hơn nữa vai trò của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO). Vào giữa tháng 4, CSTO do Nga đứng đầu đã tổ chức một cuộc họp của ủy ban quân sự để “trao đổi quan điểm về tình hình quân sự và chính trị và đã đồng ý phối hợp các hành động chung để loại bỏ các mối đe dọa quân sự”. Cuộc họp đã quyết định tổ chức các cuộc tập trận chung CSTO tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan vào mùa Thu năm nay. Ngày 16/5, các nhà lãnh đạo của 6 quốc gia thành viên CSTO đã tổ chức cuộc họp tại Điện Kremlin để thảo luận các vấn đề như củng cố hợp tác giữa các quốc gia thành viên và hoàn thiện hệ thống an ninh tập thể. Hơn nữa, phía Nga cũng đưa ra một thông điệp quan trọng rằng “CSTO cần tăng cường hợp tác với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các đối tác tự nhiên của SNG (các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô cũ) hiện nay”, đồng thời đề xuất cung cấp cho SNG tư cách quan sát viên của CSTO.

Thứ ba, quan tâm hơn đến hợp tác với SCO. Khi Nga đảm nhận chức vụ chủ tịch luân phiên của SCO năm 2020, nước này đã chủ trương tổ chức cuộc họp chung giữa các bộ trưởng quốc phòng của các quốc gia thành viên SCO, SNG và CSTO. Tháng 9/2020, 3 tổ chức lần đầu tiên tiến hành cuộc tập trận chống khủng bố chung “Caucasus-2020”. Sau khi Mỹ và lực lượng NATO rút hoàn toàn khỏi Afghanistan, ngày 17/9/2021, người đứng đầu các quốc gia thành viên SCO và CSTO lần đầu tiên tổ chức cuộc họp chung để trao đổi về tình hình Afghanistan. Mới đây, Tổng thư ký CSTO Zass đã gặp Tổng thư ký Trương Minh (Zhang Ming) của SCO và bàn về “tầm quan trọng của việc xây dựng một không gian an ninh thống nhất”. Một số nhà phân tích cho rằng trong bối cảnh xung đột giữa Nga với Mỹ và châu Âu ngày càng gia tăng và sự mở rộng hơn nữa của NATO, CSTO có thể sẽ hợp tác với SCO trên nhiều lĩnh vực hơn trong tương lai.

Thứ tư, làm sâu sắc thêm Liên minh kinh tế Á – Âu. Trước các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính chưa từng có từ các nước phương Tây. Nga càng coi trọng vai trò của Liên minh Kinh tế Á – Âu. Ngày 25/2, Thủ tướng các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu đã họp bàn về tình hình kinh tế và tăng cường hợp tác, đồng thời đưa ra một loạt biện pháp nhằm ổn định thị trường nội khối. Cuộc họp của Hội đồng tối cao của Ủy ban kinh tế Á – Âu, cơ quan quyền lực cao nhất của Liên minh kinh tế Á – Âu, được tổ chức ngày 27/5, đã ra thông điệp “Liên minh kinh tế Á – Âu nên tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế của mình”.

Tất nhiên, trong khi tận dụng tối đa các biện pháp đối phó này, Moskva cũng phải đối mặt với những hạn chế.

Thứ nhất, Mỹ đang cố gắng hết sức lôi kéo các nước Trung Á. Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt chống lại Ukraine, hôm 01/3, Mỹ đã tổ chức cuộc họp trực tuyến cấp ngoại trưởng “C5+1” với 5 nước Trung Á. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh, nhất là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng, khoa học và công nghệ. Ngoại trưởng Mỹ Blinken thậm chí còn đưa ra khả năng thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ ở Trung Á, nhưng không nhận được phản hồi. Bên cạnh những tương tác thường xuyên trong lĩnh vực ngoại giao, Mỹ và các nước Trung Á đã tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Uzbekistan và Mỹ có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp và y tế, hai bên gần đây quan tâm đến việc cùng xây dựng tuyến đường sắt “Mazar-e Sharif-Kabul-Peshawar”. Năm 2021, đầu tư của Mỹ vào Kazakhstan đã tăng 45% và hơn 700 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Kazakhstan.

Thứ hai, EU và Nhật Bản cũng đang làm công việc của các nước Trung Á. EU sẽ cung cấp cho Uzbekistan 83 triệu euro viện trợ không hoàn lại trong giai đoạn 2021 – 2024 cho các dự án hợp tác cùng phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển xã hội dân sự và nhân quyền. Ngày 15/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Hayashi Yoshimasa đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với Bộ trưởng Ngoại giao 5 nước Trung Á. Với tư cách là những đồng minh quan trọng của Mỹ, EU và Nhật Bản tăng cường hợp tác với Trung Á vào thời điểm này, mục đích là rõ ràng.

Thứ ba, có sự khác biệt giữa CSTO và các nước Á – Âu về xung đột giữa Nga và Ukraine. Tại cuộc bỏ phiếu ủng hộ dự thảo nghị quyết lên án Nga tại phiên họp đặc biệt khẩn cấp lần thứ 11 của Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 2/3, Gruzia và Moldova bỏ phiếu thuận, Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan bỏ phiếu trắng. Trong khi đó, Kazakhstan và các nước khác phản đối việc CSTO gửi quân đến Ukraine. Phía Kazakhstan nói với báo chí r8a2ng nước này sẽ không tham gia các lệnh trừng phạt cũng như không giúp Nga trốn tránh các lệnh trừng phạt. Với những khác biệt này, Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã kêu gọi CSTO “nên đoàn kết”.

Cùng với sự tiếp diễn của xung đột giữa Nga và Ukraine, để siết chặt hơn nữa không gian an ninh chiến lược và phạm vi ảnh hưởng của Nga, Mỹ chắc chắn sẽ tăng cường lôi kéo các nước Trung Á. Các nước Trung Á sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách đối ngoại đa dạng và cân bằng dựa trên lợi ích của chính họ. Tuy nhiên nhìn chung, trong cuộc chơi ở Trung Á, Nga vẫn có những lợi thế rõ ràng và tầm ảnh hưởng của họ vượt xa các cường quốc phương Tây. Điều này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau như lịch sử, địa chính trị, lợi ích quốc gia, cơ chế khu vực và điều này sẽ khó thay đổi trong thời gian dài trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần II


Trục đau khổ

Iran có được thành công là nhờ chủ nghĩa cơ hội và cũng nhờ quyết tâm. Nội chiến ở Liban, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ và cuộc nổi dậy ở các nước Arab đã tạo ra những khoảng trống quyền lực để Iran có thế lấp đầy bằng các lực lượng dân quân ở nước ngoài, với tổng quân số hiện có trong khoảng 50.000 đến 200.000 chiến binh. Nói cách khác, câu chuyện ở Trung Đông hiện đại liên quan đến sự yếu kém của các nước Arab nhiều hơn là sức mạnh của Iran: Tình trạng rối ren ở các nước Arab đã tạo điều kiện cho tham vọng của Iran, và tham vọng của Iran làm trầm trọng thêm tình trạng rối ren của các nước Arab.

Tài sản lớn nhất của cuộc cách mạng Iran ở nước ngoài là Hezbollah. Được thành lập năm 1982, sau cuộc xâm lược của Israel vào Liban, đây là nhóm đầu tiên đưa ra chiến lược mà sau này đã được Iran áp dụng đối với các lực lượng ủy nhiệm khác: thực hiện các cuộc tấn công gây thương vong nhằm vào lính Mỹ ở Trung Đông để đánh vào dư luận và làm suy yếu quyết tâm của Washington. Tháng 10/1983, Hezbollah dùng bom xe tấn công một phái đoàn gìn giữ hòa bình đa quốc gia, giết chết hơn 300 người trong khi họ đang ngủ, trong đó có 241 binh sĩ Mỹ. Iran và Hezbollah đã ăn mừng vụ tấn công này nhưng phủ nhận trách nhiệm. Bốn tháng sau, Chính quyền Reagan bắt đầu rút các lực lượng Mỹ khỏi Liban.

Hiện Hezbollah đang là lực lượng mạnh nhất ở Liban. Nhóm này sát hại các đối thủ chính trị và người bất đồng chính kiến mà không phải chịu hậu quả, vận hành nền kinh tế ngầm riêng và được cho là đang sở hữu trên 100.000 quả rocket và tên lửa có khả năng vươn tới Israel. Hezbollah cáo buộc các đối thủ tại Liban là những kẻ phản quốc, nhưng giờ đây thậm chí còn không giấu giếm sự phụ thuộc vào Iran. Thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah cho hay trong một bài phát biểu năm 2016: “Chúng tôi công khai khẳng định rằng ngân sách của Hezbollah, thu nhập, chi phí, mọi thứ từ đồ ăn thức uống, vũ khí và tên lửa, đều đến từ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Iran có tiền là chúng tôi có tiền… Chúng tôi nhận được tiền, giống như nhận được tên lửa để đe dọa Israel”.

Iran áp dụng cách tiếp cận tương tự để biến Iraq thành địa ngục đối với Mỹ vì lo ngại Washington sẽ lấy một Iraq dân chủ và thành công làm bàn đạp để lật đổ hoặc đe dọa Iran. Lực lượng dân quân người Shiite do Iran hậu thuẫn đã gây thương vong cho 1000 người Mỹ bằng các thiết bị nổ tự tạo. Trong khi Mỹ còn phải mang gánh nặng tái thiết Iraq, thì Tehran chỉ tìm cách cản trở mọi nỗ lực của Mỹ. Khi bị tra khảo, Qais al-Khazali, một thủ lĩnh lực lượng dân quân Shiite do Iran hậu thuẫn ở Iraq, từng khai với quân đội Mỹ rằng Washington chi “hàng tỷ” cho cuộc chiến tại Iraq, trong khi Iran chi “hàng triệu”, nhưng Iran hiệu quả hơn. Ngày nay, dân quân Shiite do Iran ủy nhiệm là lực lượng chiến đấu mạnh mẽ nhất tại Iraq và là một tổ chức xã hội đen vụ lợi, vừa làm giàu cho bản thân vừa giúp Iran đảm bảo lợi ích của mình ở Iraq.

Iran và các lực lượng dân quân ủy nhiệm cũng đóng vai trò quyết định trong việc giúp chế độ tàn bạo Assad ở Syria không sụp đổ. Chế độ Assad là chính phủ đồng minh duy nhất của Tehran trong khu vực. Mối quan hệ hợp tác mang tính chiến thuật vào những năm 1980 nhằm chống lại Iraq dưới thời Saddam Hussein sau đó đã được duy trì do hai bên cùng có ác cảm với Mỹ và Israel và có chung bản năng sinh tồn. Các quốc gia Arab đã thúc đẩy nỗ lực lôi kéo Assad tránh xa Tehran nhưng không thành công, bởi hai chính phủ giờ đây rất phụ thuộc lẫn nhau: Assad cần tiền và vũ khí của Iran, còn Tehran cần lãnh thổ Syria làm cầu nối với Hezbollah và làm tiền đồn chống Israel. Năm 2017, BBC đưa tin Iran đang xây dựng một “căn cứ quân sự thường trực” ở Syria để bổ sung mặt trận mới chống lại nhà nước Do Thái.

Mặc dù Iran khẳng định các nguyên tắc đạo đức của một nhà nước thần quyền, nhưng các lực lượng ủy nhiệm của nước này khi gặp phải khó khăn kinh tế lại tìm đến các hoạt động bất chính để kiếm tiền. Mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất đối với Chính phủ Syria túng thiếu hiện nay là Captagon, một loại amphetamine bất hợp pháp được Hezbollah vận chuyển đi khắp thế giới với sự hỗ trợ ngầm của Tehran. Chính phủ Iran đã hành quyết hàng nghìn công dân của mình vì các tội liên quan đến ma túy, nhưng lại trở thành trụ cột của một trong những mạng lưới buôn lậu ma túy lớn nhất thế giới.

Gần đây, Yemen được bổ sung vào danh sách các quốc gia nơi Tehran có ảnh hưởng đáng kể thông qua các lực lượng dân quân ủy nhiệm. Iran cung cấp vũ khí và các hình thức hỗ trợ khác cho Houthi, lực lượng nắm quyền ở Sanaa kể từ năm 2014, bằng khoản ngân sách mà phần nào được cho là đến từ buôn bán ma túy. Tiếp tay cho Houthi là một biện pháp hiệu quả và tiết kiệm để Iran gây thiệt hại lớn về tài chính và uy tín cho Saudi Arabia, quốc gia ước tính đã chi hơn 100 tỷ USD để can thiệp vào Yemen và được coi là nguyên nhân gây ra thảm họa nhân đạo khủng khiếp trong cuộc xung đột này. Quy tắc không khoan nhượng và các khẩu hiệu của Houthi – tiêu diệt Mỹ, Israel, người Do Thái và những người theo tín ngưỡng Bahai – phản ánh tư tưởng của nhà bảo trợ Iran. Houthi tìm cách gây ra cho Saudi Arabia những gì mà Hamas và Hezbollah lâu nay vẫn làm với Israel – chỉ khác ở chỗ họ sử dụng các máy bay không người lái chính xác và công nghệ mới nhất thay vì các tên lửa cũ kỹ và các vụ đánh bom liều chết.

Với tư cách là nhà nước thần quyền duy nhất ở Trung Đông, Iran đã lợi dụng chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo (Sunni cũng như Shiite) thành công hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Một trong những lý do khiến Tehran đánh bại các đối thủ Arab dòng Sunni là hầu hết các nhóm cực đoan dòng Shiite đều sẵn sàng chiến đấu vì Iran, trong khi hầu hết các nhóm cực đoan dòng Sunni, bao gồm cả al-Qaeda và IS, đều chống lại các chính phủ Arab cầm quyền. Iran lấy ý thức hệ, chứ không phải tôn giáo, làm tiêu chí đầu tiên cho các liên minh chiến lược. Bằng chứng là Tehran có quan hệ mật thiết với nhóm cực đoan người Sunni Hamas và các chiến binh thánh chiến Hồi giáo Palestine, với việc họ chi hàng tỷ USD để các nhóm này chống lại Israel. Moussa Abu Marzouk, mọt lãnh đạo Hamaas, nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2021: “Iran là một trong những quốc gia giúp đỡ Hamas nhiều nhất, là quốc gia duy nhất phớt lờ các giới hạn áp đặt đối với Hamas. Họ hỗ trợ quân sự cho chúng tôi về huấn luyện, vũ khí và chuyên môn”.

Thậm chí đôi khi Iran còn hợp tác cả với các nhóm Sunni theo chủ nghĩa chính thống như al-Qaeda và Taliban, bất chấp việc các nhóm này thường xuyên tấn công bằng hữu dòng Shiite của Iran mà họ coi là dị giáo. Thay vì ưu tiên lợi ích quốc gia, chính quyền Iran xây dựng chiến lược dựa trên hệ thống phân cấp kẻ thù: Bất kỳ kẻ thù nào của Mỹ và Israel đều có thể là đối tác của Tehran. Năm 2021, Đại giáo chủ Khamenei từng tuyên bố: “Chúng tôi sẽ hỗ trợ và giúp đỡ bất kỳ quốc gia hoặc bất kỳ nhóm nào ở bất kỳ đâu phản đối và chống lại Nhà nước Do Thái, và chúng tôi không ngần ngại nói lên điều này”.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022