Bán đảo Triều Tiên có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với Mỹ? – Phần I


Vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương được thiết lập từ đống tro tàn của Hiroshima và Nagasaki, và dựa trên vị thế của Mỹ là cường quốc nguyên tử đầu tiên. Sau đó vũ khí hạt nhân đã định hình rõ địa chính trị châu Á. Ngày nay, trên bán đảo Triều Tiên, công nghệ hạt nhân một lần nữa được cho là điểm đặc trưng của một sự chuyển dịch mạnh mẽ trên cán cân quyền lực của châu Á. Một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể diễn ra trong tương lai, các sử gia tương lai đi đến nhìn nhận tên lửa đạn đạo được trang bị hạt nhân của Triều Tiên là ngòi nổ mà sẽ phá bỏ vai trò lãnh đạo chiến lược của Mỹ ở châu Á.

Để giải thích tại sao, chúng ta cần kết nối chặt chẽ 2 phần của câu chuyện về châu Á hiện đại. Thứ nhất là sự phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, nhất là thực tế rằng nếu Bình Nhưỡng chưa triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa, hay ICBM, thì nước này cũng đã đến ngưỡng làm vậy. ICBM của Triều Tiên là một vấn đề vô cùng khó đối với Mỹ bởi nó có tiềm năng chia rẽ Mỹ với các đồng minh của nước này. Phần thứ hai của câu chuyện này là Trung Quốc và việc nước này vươn lên vị thế siêu cường khu vực. Trung Quốc là thủy quái trong câu chuyện này và là lý do cốt lõi đằng sau vị trí ngày càng hiểm nghèo của Mỹ ở châu Á. ICBM của Triều Tiên chỉ làm trầm trọng thêm sự thay đổi này và đe dọa khởi xướng một sự sụp đổ vị trí của Mỹ.

Triều Tiên và ICBM của nước này

Các chuyên gia vẫn bất đồng về việc liệu Bình Nhưỡng hiện có thể phóng được một tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân có tầm bắn tới các thành phố ở lục địa Mỹ hay không. Triều Tiên mới chỉ tiến hành 3 vụ thử ICBM, và chúng ta không thể chắc chắn rằng nước này có khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân cho vừa với phần mũi nhọn của một tên lửa như vậy, hoặc đầu đạn này có thể quay trở lại bầu khí quyển hay không. Nhưng Triều Tiên đang gần đạt được điều đó, nó không còn là vấn đề đối với họ. Vấn đề duy nhất là khả năng của ICBM của Triều Tiên giờ đây lớn đến mức Mỹ phải hành xử như thể đó là một thực tế mà ai cũng biết. Và Mỹ đang đáp trả. ICBM là vũ khí đã khiến Tổng thống Trump phải đe dọa Triều Tiên bằng vũ lực và hiện buộc ông phải chấp nhận đề nghị tham gia một cuộc gặp thượng đỉnh.

Chính quyền Trump nói họ chưa sẵn sàng để chấp nhận rằng Triều Tiên có khả năng tấn công Washington, New York hay Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân. Mỹ lo sợ rằng lãnh đạo Triều Tiên “mất trí” đến mức ông ta có thể lựa chọn tấn công Mỹ bất cứ lúc nào. Nhưng đương nhiên điều đó sẽ gây ra một sự đáp trả hủy diệt từ Mỹ và có nhiều bằng chứng cho thấy Kim Jong-un đủ sáng suốt để tránh làm bất kỳ điều gì dẫn đến sự diệt vong chắc chắn xảy ra với mình.

Ý nghĩa thực sự của ICBM của Triều Tiên là nó tạo ra một hiện tượng giữa các đồng minh châu Á của Mỹ mà các nhà chiến lược gọi là “sự chia tách”. Khi việc Triều Tiên đe dọa giết hàng trăm triệu người Mỹ ngay tức khắc trở nên đáng tin, thì các đồng minh của Mỹ bắt đầu lo lắng rằng việc Mỹ cam đoan bảo vệ họ trong trường hợp Triều Tiên gây hấn đột nhiên có vẻ ít đáng tin hơn. Đó chính là lý do đặt các lực lượng vũ trang của Mỹ trong tình trạng nguy hiểm bằng việc đặt căn cứ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và những nơi khác nằm trong phạm vi của các vũ khí có tầm bắn ngắn hơn của Triều Tiên. Nhưng liệu Mỹ có thật sự sẵn lòng đặt Los Angeles vào tình trạng nguy hiểm để cứu Seoul?

Đúng là Mỹ đã phải đối mặt với vấn đề chia tách trước đây và đã vượt qua nó. Vào những năm 1960, sau khi Liên Xô có được phương tiện để tấn công các thành phố của Mỹ, Washington đã phải thuyết phục các đồng minh NATO của mình rằng họ vẫn cam kết bảo vệ châu Âu. Washington đã giải quyết nỗi sợ hãi này bằng việc đặt các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn trên đất của châu Âu và đưa các thành viên NATO vào trong cấu trúc chỉ huy đối với các lực lượng hạt nhân, do vậy liên kết các đồng minh lại gần nhau hơn.

Mỹ có làm được điều tương tự vào thời điểm này hay không? Các rào cản thực tế đối với việc Mỹ đưa vũ khí hạt nhân trở lại bán đảo Triều Tiên là khó vượt qua, nhưng có thể thực hiện. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề thực tiễn, mà là chính trị. Triều Tiên không phải là Liên Xô. Triều Tiên không phải là mối đe dọa sống còn mang tính toàn cầu đối với lợi ích và các giá trị của Mỹ. Chẳng những không phải là lãnh đạo của một phong trào ý thức hệ với các tham vọng toàn cầu mang tính thù địch với những lý tưởng chính trị của Mỹ, Triều Tiên còn là nhà nước ẩn dật và đẩy lùi đi xa, một dấu tích của Chiến tranh Lạnh bị lịch sử bỏ lại phía sau. Triều Tiên có một nền kinh tế với quy mô xấp xỉ Lào, và khả năng quân sự thông thường của Triều Tiên – đó là các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân phi hạt nhân – chỉ xếp hạng hai.

Không có Chiến tranh Lạnh để đem lại cho Triều Tiên một bối cảnh lớn hơn, Bình Nhưỡng, bằng tất cả những thước đo khách quan, lại chẳng quá quan trọng, và các đồng minh châu Á của Mỹ – chủ yếu là Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như Australia – đều biết điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao ICBM của Triều Tiên lại là một diễn biến quan trọng đến vậy: nó cho thấy thực tế rằng lợi ích của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên không quan trọng như những gì các đồng min có thể đã hy vọng, và nó không còn gắn kết Mỹ với khu vực như trước nữa.

Hiện nay, đòi hỏi dựa vào hiểu biết khá hẹp về lợi ích của Mỹ, hẹp hơn nhiều so với những gì các tổng thống Mỹ gần đây có, và trong các tuyên bố chính sách mà khẳng định rằng Mỹ có lợi ích sống còn ở châu Á – Thái Bình Dương và nước này phải duy trì được vị thế chiến lược ưu việt của mình. Người ta nói rằng vai trò lãnh đạo của Mỹ khiến cho khu vực trở nên an toàn hơn và hùng mạnh hơn. Mạng lưới liên minh châu Á của Mỹ là một nền tảng của vai trò lãnh đạo đó, vì vậy việc làm suy yếu một trong các liên minh này vì có sự nhúng ta của Triều Tiên sẽ là một đòn đánh vào Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên quy tác mà Mỹ bảo vệ.

Nhưng đòn đánh đó lớn cỡ nào?

Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trong Chiến tranh Lạnh, câu hỏi này dễ trả lời hơn vì Mỹ tham gia cuộc đấu tranh toàn cầu nhằm đánh bại chủ nghĩa cộng sản. Đây là mục tiêu thôi thúc đằng sau mạng lưới liên minh và các căn cứ quân sự toàn cầu của Mỹ bao gồm các liên minh và căn cứ quân sự ở châu Á. Sau đó chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu sụp đổ, và Mỹ chỉ tìm thấy một mục tiêu mang tính thôi thúc mới trên trường quốc tế sau cuộc tấn công vào ngày 11/9. Nhưng cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo chưa bao giờ là một động lực mạnh mẽ đằng sau những cam kết liên minh của Mỹ ở châu Á. Thay vào đó, cấu trúc liên minh này đã tồn tại sau Chiến tranh Lạnh phần lớn là bởi chẳng có gì thách thức nó.

Nhưng hiện Mỹ đang đối mặt với một đối thủ ngang hàng thực sự ở châu Á. Theo Sách Trắng về chính sách đối ngoại của Australia năm 2017, đến năm 2030 nền kinh tế Trung Quốc có thể đạt 42.400 tỷ USD so với 24.000 tỷ USD của nền kinh tế Mỹ. Và Trung Quốc sẽ muốn nâng vị thế chiến lược của mình cho tương xứng với vị thế kinh tế. Trung Quốc dường như trước mắt không có tham vọng thách thức vị thế quân sự toàn cầu ưu việt của Mỹ, nhưng Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói rõ rằng ông coi Trung Quốc là một mô hình quản trị và phát triển toàn cầu để cạnh tranh với mô hình của Mỹ. Ít nhất, thì điều thận trọng là giả định rằng Trung Quốc sẽ không còn chấp nhận ở vị trí số 2 sau Mỹ trong chính khu vực của mình nữa. Cũng như Washington đã từ chối cho phép các cường quốc nước ngoài thống trị môi trường ngay sát sườn mình khi nước này đã vươn lên vị thế nước lớn, Trung Quốc sẽ muốn điều tương tự ở châu Á – Thái Bình Dương.

(còn tiếp) 

Nguồn: Australian Financial Review – 29/03/2018

TLTKĐB – 17/04/2018

Advertisements

Mỹ hời hợt trong việc trấn an các nước ở Biển Đông


Washington không biến những gì đã nói thành hành động, sau khi Bắc Kinh ép Hà Nội từ bỏ dự án khoan dầu trên biển Hoa Nam (Biển Đông). Hàm ý của động thái này rất nghiêm trọng và làm suy yếu những nỗ lực của Mỹ và các đối tác dân chủ đang muốn xây dựng một khu vực “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Hồi tháng 7/2017, các giám đốc điều hành của tập đoàn Repsol cho biết Trung Quốc đe dọa xung đột quân sự với Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, nếu tập đoàn Tây Ban Nha xúc tiến các hoạt động khoan thăm dò theo kế hoạch ở lô khoan dầu riêng biệt. Tháng 3 năm nay, Trung Quốc cũng làm tương tự với quyết định của tập đoàn Repsol.

Đến nay, vài tuần sau quyết định của Việt Nam, Trung Quốc dường như hoàn toàn thành công trong việc dọa nạt một nước ven biển Hoa Nam tránh xa việc tiếp cận nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Diễn biến này cho thấy rõ rằng những lời trấn an mà Mỹ có thể đưa ra đối với các nước trong khu vực nhìn chung là hời hợt.

Dưới thời Tổng thống Donald Trump, Mỹ tăng tiến độ hoạt động tự do hàng hải ở gần các thực thể tranh chấp trên biển Hoa Nam. Nói chung, cứ hai tháng lại diễn ra một hoạt động tự do hàng hải, thay vì khoảng mỗi quý một lần như dưới thời chính quyền Obama.

Trong khi đó, Hải quân Mỹ cũng mở rộng đáng kể sự hiện diện trên biển Hoa Nam và gửi thông điệp đến Trung Quốc rằng Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương.

Những tuần gần đây, đội tàu tấn công gồm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt tiến hành tập trận để thể hiện với Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc rằng kinh nghiệm và khả năng của Mỹ vượt trội Trung Quốc.

Tuy nhiên, dù có hành động quân sự như vậy, cũng như việc Washington và các nước châu Á dân chủ khác những tháng gần đây đưa ra những cam kết hỗ trợ bằng lời nói, thì chưa một nước nào trong số này lên tiếng khi Việt Nam bị đe dọa bằng vũ lực và bị tước quyền tiếp cận tài nguyên trên biển Hoa Nam.

Ngay cả khi cử đội tấn công gồm tàu sân bay USS Carl Vinson tiến hành chuyến thăm lịch sử tới Đà Nẵng hồi tháng 3 vừa qua, Washington vẫn ở ngoài cuộc khi Trung Quốc ép Việt Nam.

Trong 5 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và Washington đã cải thiện đáng kể. Đỉnh điểm là trong năm cầm quyền cuối cùng của chính quyền Obama, Mỹ đã dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí kéo dàng hàng thập kỷ đối với Việt Nam. Tuy nhiên, là một trong những nước tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Nam quyết liệt  nhất, hiện Việt Nam có vẻ như bị bỏ mặc.

Thay vì dựa vào luật pháp quốc tế, gồm phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế La Haye hồi tháng 7/2016 trong vụ kiện Trung Quốc của Philippines, Hà Nội đã phải chấp nhận thực tế là mình ở thế yếu khi xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc.

Năm 2017, khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm Washington để gặp ông Trump, hai nhà lãnh đạo nhất trí với tuyên bố “quan ngại trước những tác động gây mất ổn định mà việc hạn chế bất hợp pháp quyền tự do trên biển gây ra đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương”.

Gần đây, Đô đốc Harry Harris, Chỉ huy Tư lệnh Thái Bình Dương sắp mãn nhiệm, mô tả Việt Nam là “đối tác táo bạo nhất của Mỹ trong khu vực chống lại hành vi khiêu khích của Trung Quốc trên biển Hoa Nam”.

Không “thể hiện sức mạnh” khi Việt Nam bị dồn vào chân tường, Washington đã thất bại trong việc thúc đẩy các giá trị mà nước này tuyên bố ủng hộ, liên quan đến tương lai của kiến trúc an ninh khu vực ở châu Á.

“Không có công ty nước ngoài nào muốn đầu tư vào dự án ngoài khơi Việt Nam”

Theo đài VOA, sau 2 lần Repsol bị Việt Nam yêu cầu ngừng các dự án khoan dầu trên vùng biển có tranh chấp với Trung Quốc, các chuyên gia cảnh báo sẽ không có công ty nước ngoài nào còn muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi của Việt Nam.

Đây là nhận định của hai chuyên gia Mỹ về Biển Đông: Gregory Poling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS), và Alexander Vuving của Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á – Thái Bình Dương, Daniel K. Inouye. Họ cho rằng Việt Nam “không biết phải tiến lên phía trước như thế nào”.

Theo ông Gregory Poling, việc Việt Nam 2 lần yêu cầu Repsol ngừng các dự án khoan dầu cho thấy: “Việt Nam thừa nhận họ không có vùng đặc quyền kinh tế”. Ông nói: “Repsol đã phải 2 lần ngừng dự án và mất hàng trăm triệu USD đầu tư vào việc thăm dò mà không được báo trước chỉ vì áp lực của Trung Quốc. Điều này có thể làm hỏng nhiều kế hoạch thăm dò ngoài khơi của Việt Nam. Không giống bất cứ nước nào khác trên thế giới, Việt Nam không thể dễ dàng và có quyền khai thác các nguồn dầu khí trên biển một cách độc lập”.

Theo báo cáo tài chính năm 2017 của Repsol, hãng này đã chi khoảng 41 triệu USD cho hoạt động thăm dò dầu khí ở Việt Nam trong năm 2017. Nguồn tin của BBC cho biết Repsol mất khoảng 200 triệu USD cho dự án Cá Rồng Đỏ vừa bị ngừng lại trong tháng 3 vừa qua. Ông Poling nhận định: “Tôi không biết (Việt Nam) sẽ tiếp tục thế nào với các dự án thăm dò ngoài khơi, vì không có công ty nước ngoài nào sẽ muốn đầu tư vào bất kỳ một dự án ngoài khơi nào của Việt Nam trên Biển Đông nữa”.

Chuyên gia Vuving có cùng quan điểm với ông Poling khi cho rằng “việc ngưng dự án Cá Rồng Đỏ rõ ràng đã gửi đi một thông điệp ớn lạnh tới các công ty dầu khí muốn đầu tư vào các dự án ngoài khơi Việt Nam”. Ông nghĩ rằng Việt Nam đang lúng túng trong việc “làm thế nào để tiến lên phía trước”.

Trong lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần dùng sức ép để ngăn cản việc khai thác dầu khí trên các vùng biển có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam và nhiều nước khác. Việt Nam chưa bao giờ công khai thừa nhận đã phải dừng các dự án thăm dò dầu khí với Repsol vì sức ép của Trung Quốc. Tuy nhiên, tập đoàn dầu khí quốc gia Petro Vietnam đầu tháng này đã lên tiếng thừa nhận tình hình căng thẳng trên Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến hoạt động dầu khí của họ trong năm nay.

Theo Công ty Cổ phần CNG Việt Nam, hiện Việt Nam đang xem xét rút lại một dự án hợp đồng thăm dò khí đốt trị giá 4,6 tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ ở ngoài khơi bờ biển miền Trung.

Giáo sư Vuving cho biết Trung Quốc cũng đã gây áp lực buộc Việt Nam trì hoãn dự án khí đốt nhiều tỷ USD với tập đoàn ExxonMobil của Mỹ.

Nguồn: The South China Morning Post – 16/04/2018

TKNB – 17/04/2018

Làm thế nào để chung sống với Trung Quốc? – Phần cuối


Theo cách tư duy như vậy, sự phát triển và lớn mạnh của Trung Quốc khiến Mỹ khá bối rối: Turng Quốc kiên trì cải cách mở cửa và phát triển hòa bình dưới hệ thống quốc tế do Mỹ thành lập và phát triển trong tiến trình toàn cầu hóa mà Mỹ thúc đẩy, đã trở thành một thành viên quan trọng không thể thiếu trong hệ thống chính trị, kinh tế và thương mại, Trung Quốc không có mưu đồ chiến lược thách thức thậm chí là thay thế Mỹ.

Mỹ trong quá khứ đã sử dụng các biện pháp như chiến tranh lạnh, chiến tranh nóng, cô lập chính trị, chèn ép kinh tế để đối phó với Liên Xô, Nhật Bản, Đức, và bây giờ đang tìm cách đè bẹp Nga, tiếp tục chèn ép không gian chiến lược của Nga. Thắng lợi trong Chiến tranh Lạnh làm cho Mỹ trở nên kiêu ngạo, có thái độ khinh thị đối với thế giới, cho rằng nền văn minh phương Tây và chế độ chính trị, mô hình phát triển của mình không có đối thủ cạnh tranh, “lịch sử đã chấm dứt”, “ngọn hải đăng trên đồi” sẽ chiếu sáng mọi nơi.

Đây chính là cái gọi là “thời khắc Mỹ”. Đây có lẽ là thời khắc huy hoàng nhất trong hàng trăm năm bá chủ của Mỹ, song họ không biết rằng khoảnh khắc này là thoáng qua, sự phát triển của lịch sử có quy luật khách quan của nó. Mỹ vẫn là quốc gia bá chủ thế giới, nhưng toàn cầu hóa kinh tế và đa cực hóa thế giới vẫn tiếp tục di chuyển về phía trước, sự thay đổi của cục diện sức mạnh thế giới hướng tới cân bằng hơn, có lợi hơn cho các nước đang phát triển, thể hiện xu thế hướng tới cân bằng của sức mạnh phương Đông – phương Tây lần đầu tiên kể từ cuộc cách mạng công nghiệp ở phương Tây. Mỹ phải đối mặt với những thay đổi to lớn trong quan hệ quốc tế và tình hình thế giới, các dây thần kinh trở nên “mong manh” hơn, nỗi lo ngại chiến lược đối với các nước trầm trọng hơn, sự hoài nghi trở nên sâu sắc hơn, một lần nữa đi tới thời khắc Mỹ phải đưa ra sự lựa chọn lịch sử.

Trên thực tế là Mỹ phải lựa chọn hai con đường: Một là cùng Trung Quốc thiết lập mối quan hệ nước lớn kiểu mới “không đối đầu, không xung đột, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác và cùng thắng” mà Tập Cận Bình đề xuất, hai nước cùng chung sống hòa bình, cạnh tranh hòa bình, bảo vệ hệ thống quản lý toàn cầu hiện có, có những điều chỉnh thích hợp để duy trì sự ổn định lâu dài của thế giới; hai là tiếp nối con đường cũ đối phó với sự trỗi dậy của các nước lớn, vận dụng các biện pháp và ưu thế về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa và dư luận xã hội để chèn ép, ngăn chặn, bao vây, để bảo vệ quyền bá chủ lâu dài của Mỹ.

Hiện nay, Mỹ vẫn chưa đưa ra sự lựa chọn, nhưng rất nhiều cách làm đã bị ảnh hưởng bởi tư duy cố hữu, quán tính, hành động theo bản năng, duy trì sự chèn ép và răn đe ở các phương diện quân sự, kinh tế, văn hóa, dùng áp lực thúc đẩy thay đổi, gây sức ép để kiếm lợi. Độ dao động trong chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc những năm qua cũng tăng, nóng lạnh thất thường, bị ảnh hưởng bởi “thói quen cũ”. Đặc điểm này thậm chí còn rõ ràng hơn khi Trump theo đuổi chính sách quốc gia hẹp hòi “Nước Mỹ trước tiên” sau khi lên cầm quyền.

Trên thực tế, ngay từ đầu thế kỷ này, nước Mỹ đã phải đối mặt với việc lựa chọn con đường chung sống như thế nào với Trung Quốc, sau đó vì “khủng bố toàn cầu” nên Mỹ phải diều chỉnh thứ tự các mối đe dọa chiến lược, mối đe dọa của nước lớn đã bị đặt sau danh sách các mối đe dọa chiến lược của Mỹ. Hiện nay mối đe dọa của nước lớn đã một lần nữa trở lại vị trí hàng đầu trong các mối đe dọa chiến lược của Mỹ. Trung Quốc lại xuất hiện trong danh sách các mối đe dọa chiến lược của Mỹ, đứng ngang vị trí với Nga.

Trên thực tế, sự lựa chọn đúng đắn chỉ có một, đúng như Tập Cận Bình đã nhấn mạnh nhiều lần, “hợp tác là lựa chọn duy nhất giữa Trung Quốc và Mỹ”. Đây là một sự lựa chọn lịch sử với tư cách Trung Quốc là nước lớn có trách nhiệm, hy vọng Mỹ sẽ đưa ra sự lựa chọn theo cùng huớgn trên cơ sở thảo luận sâu rộng và suy nghĩ nghiêm túc. Trong một thế giới mà toàn cầu hóa đi sâu phát triển, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước không ngừng tăng lên hiện nay, Trung Quốc và Mỹ có cả triệu lý do để tăng cường hợp tác, không có lý do cho một cuộc đối đầu bởi vì mối quan hệ Trung – Mỹ không chỉ ảnh hưởng đến bản thân họ, địa vị nước lớn thế giới của hai nước quyết định “hiệu ứng lan ra ngoài” sẽ tác động trực tiếp đế hòa bình và thịnh vượng của thế giới.

Thực tế là cả hai bên đều đã được hưởng lợi rất lớn từ sự hợp tác song phương. Sự phát triển của quan hệ song phương, đặc biệt là quan hệ kinh tế và thương mại trong nhiều thập kỷ hoàn toàn là cùng thắng. Nếu nói nước nào giành phần thắng hơn thì đó là sự nối dài của “tư duy được mất ngang nhau”. Một số người Mỹ nói Trung Quốc “đang làm xói mòn an ninh và thịnh vượng của nước Mỹ”, “sự phát triển của Trung Quốc đang chiếm mất lợi ích của Mỹ”, đó là những lời vô căn cứ.

Sự phát triển liên tục của Trung Quốc không thể bị bất kỳ lực lượng nào ngăn cản, đã được lịch sử chứng minh. Sự phát triển của Trung Quốc phù hợp với lợi ích của người dân Trung Quốc cũng như lợi ích của cộng đồng quốc tế và phù hợp với lợi ích lâu dài của Mỹ. Sự gia tăng quyền lực của Trung Quốc là sự gia tăng sức mạnh hòa bình và phát triển của thế giới, không phải là sự nổi lên của bá quyền khác. Lý luận và thực hành của chiến lược đối ngoại của Trung Quốc đều đã phủ định “bá quyền cường quốc”, vĩnh viễn không xưng bá là chính sách quốc gia, cam kết long trọng của Trung Quốc và thế giới. Chừng nào mà Mỹ có sự lựa chọn đúng đắn, triển vọng hợp tác Trung – Mỹ là không giới hạn, và triển vọng hòa bình và phát triển của thế giới là vô hạn.

Nguồn: Mạng Người quan sát (TQ) – 07/02/2018

TLTKĐB – 24/02/2018

Làm thế nào để chung sống với Trung Quốc? – Phần đầu


Gần đây, sự định vị ở cấp độ chiến lược của Chính quyền Donald Trump đối với Trung Quốc ngày càng rõ ràng hơn, “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia Mỹ” lần đầu tiên coi Trung Quốc và Nga là “đối thủ cạnh tranh chiến lược”, đồng thời đặt mối đe dọa của Trung Quốc và Nga đối với Mỹ lên vị trí hàng đầu trong các mối đe dọa an ninh quốc gia. Phần nói về Trung Quốc trong “Thông điệp liên bang” mới đây của Trump rất ngắn, nhưng có sự chọn lọc từ ngữ rõ rệt, nhận định Trung Quốc đã thách thức “lợi ích quốc gia, kinh tế và quan niệm giá trị của Mỹ”. Khi đề cập tới mối quan hệ giữa Mỹ Latinh và Trung Quốc trong bài phát biểu tại Đại học Texas ở Austin. Ngoại trưởng Rex Tillerson đã gọi Trung Quốc là “chủ nghĩa đế quốc”. Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng mù quáng đi theo cách làm trên.

Những báo cáo này của Mỹ và sự bày tỏ thái độ của các nhà lãnh đạo là có hàm ý gì đối với chính sách với Trung Quốc thậm chí toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ? Nền tảng cơ bản của quan hệ Trung – Mỹ có sự thay đổi ra sao, liệu có rơi vào “bầy Thucydides” mà đi tới đối kháng? Trung Quốc và Mỹ nên hành động ra sao để tránh khỏi số mệnh của “bầy Thucydides”? Những vấn đề này đều cần chúng ta bình tĩnh quan sát, suy xét sâu hơn.

Trong quan hệ quốc tế, quan hệ nước lớn là quan trọng nhất vì quan hệ nước lớn quyết định hòa bình và tương lai phát triển của thế giới, quyết định liệu trật tự quốc tế có được điều chỉnh thuận lợi, hình thành khuôn khổ ổn định mới, quyết định việc quản lý toàn cầu có thể khắc phục được trạng thái thiếu trật tự, tiếp tục cung cấp sản phẩm công phù hợp cho cộng đồng quốc tế. Và trong quan hệ nước lớn ngày nay, Trung – Mỹ là mối quan hệ quan trọng “chạm một điểm mà rung chuyển toàn bộ thế giới”.

Trong xu thế toàn cầu đi sâu phát triển như ngày nay, với tư cách là hai nền kinh tế lớn nhất, ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc và quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân, dù về lợi ích kinh tế hay chính trị và an ninh thì Trung Quốc và Mỹ đã hình thành cục diện lợi ích “chung sống hòa bình thì có lợi, đọ sức thì cả hai cùng tổn thất”. Trong gần 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, với bao khó khăn chồng chất, quan hệ lên xuống thất thường, song cùng với sự nỗ lực chung, đến nay Trung Quốc và Mỹ đã là các đối tác thương mại chủ yếu của nhau, có không gian và lĩnh vực hợp tác rộng rãi, đan xen nhau trong các vấn đề quốc tế và quản lý toàn cầu.

Đồng thời, quả thực Trung Quốc và Mỹ có ý thức hệ khác nhau, xu hướng chiến lược khác nhau, hai bên vẫn còn bất đồng trong nhiều phương diện như chế độ chính trị, quản lý trong nước, mô hình phát triển và bảo vệ nhân quyền, mục tiêu muốn biến Trung Quốc thành một “Nhật Bản vâng lời” của Mỹ chưa được thực hiện, cũng không thể thực hiện.

Sự thay đổi trong mấy chục năm qua là Trung Quốc đã biết cách “bơi lội” trong con nước lớn của toàn cầu hóa, đạt được sự phát triển nhanh chóng và đáng ghi nhận, khoảng cách của sức mạnh Trung – Mỹ bắt đầu từng bước thu hẹp, mô hình phát triển và sức hấp dẫn của thể chế, chế độ chính trị của Trung Quốc ngày càng được nhiều quốc gia và người dân thừa nhận, cung cấp mô hình phát triển hoàn toàn mới cho các quốc gia đang phát triển, hoàn toàn khác với phương án cải cách kinh tế “tư nhân hóa, thị trường hóa, tự do hóa” mà “Sự đồng thuận Washington” làm đại diện. Đây là một thách thức chưng từng có đối với Mỹ – quốc gia bá chủ thế giới trong hàng trăm năm qua, mối lo ngại chiến lược nảy sinh từ đó cũng là điều khó tránh khỏi.

Nền tảng cơ bản của mối quan hệ giữa hai nước với hợp tác và cạnh tranh cùng song hành, hợp tác chiếm chủ đạo cũng sẽ không thay đổi. Đây là tiền đề và bối cảnh để chúng ta quan sát quan hệ Trung – Mỹ.

Câu hỏi đặt ra hiện nay là đứng trước xu thế lịch sử của việc cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa, sức mạnh của Trung Quốc và các nước đang phát triển không ngừng tăng lên, Mỹ làm thế nào để thích nghi và điều chỉnh, nên đưa ra sự lựa chọn chiến lược ra sao? Liệu Mỹ cũng vì do “lo sợ” Trung Quốc “thay thế mình” trong hệ thống quốc tế mà lựa chọn đối đầu và xung đột?

Hiện vẫn chưa có câu trả lời cho vấn đề này, các cuộc tranh luận về chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc thường được bắt đầu lại cùng với mỗi chính phủ Mỹ nhiệm kỳ mới. Từ góc độ vĩ mô, Mỹ không hình thành cục diện đói đầu toàn diện với Trung Quốc trong phương diện chính sách quốc gia, nhưng có những dấu hiệu cho thấy ít nhất một số người và các nhóm lợi ích ở Mỹ đã chịu “nỗi ám ảnh” không có căn cứ này, và nó đang gặm nhấm chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc, hình thức biểu hiện là trong hợp tác và kiềm chế, mặt kiềm chế lại mạnh hơn.

Vậy Trung Quốc và Mỹ nên tương tác tích cực với nhau ra sao, tăng cường hợp tác, giảm bớt sự nghi ngờ, ngăn chặn rơi vào sự đối kháng theo kiểu “bẫy Thucydides”?

Trung Quốc trong nhiều thập kỷ làm việc chăm chỉ, phát triển hòa bình, tiến vào trung tâm của sân khấu thế giới, đã trở thành nước lớn chính trị, kinh tế, quân sự, thương mại, khoa học công nghệ quan trọng trên thế giới, bắt đầu đóng vai trò có ảnh hưởng mang tính toàn cầu, chiếm một vị trí quan trọng trong quản trị toàn cầu. Đây là diện mạo mới, đặc trưng mới mà Trung Quốc thể hiện trước thế giới trong thời đại mới của Tập Cận Bình. Sức mạnh cứng và sức mạnh mềm của Trung Quốc đều có tiến bộ và phát triển vượt bậc, dù về mặt văn minh, ý thức hệ, hay là góc độ mô hình phát triển, Trung Quốc đều là một nước lớn đặc biệt, theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình độc lập tự chủ, bảo vệ hệ thống quản lý thế giới, mong muốn cùng các nước trong đó có Mỹ thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu, đem lại hạnh phúc cho bản thân cũng như cả cộng đồng quốc tế.

Thực tế chứng minh rằng con đường nước lớn và mô hình phát triển mà Trung Quốc đã chọn là đúng đắn, vừa phù hợp với lợi ích căn bản của người dân Trung Quốc, vừa phù hợp với phương hướng phát triển của thế giới. Trung Quốc cần kiên định đi theo con đường phát triển hòa bình. Vì lý do này, trên cơ sở điều hành đất nước thành công, kết hợp với những thay đổi lớn của tình hình quốc tế và toàn cầu hóa, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã đưa ra một loạt ý tưởng mới, giải pháp mới liên quan đến quản trị toàn cầu, từ khởi xướng thúc đẩy dân chủ hóa quan hệ quốc tế, thiết lập mối quan hệ nước lớn kiểu mới, đưa đến sáng kiến xây dựng “Vành đai và Con đường”, mạng lưới quan hệ đối tác toàn cầu, tới xây dựng cộng đồng chung vận mệnh của nhân loại, tất cả đều phản ánh quan niệm quản trị mới của Trung Quốc lấy “hòa” làm nòng cốt, thúc đẩy phát triển chung và thịnh vượng chung cũng như mô hình hợp tác và phát triển quốc tế kiểu mới. Những ý tưởng mới trong điều hành đất nước và quản trị toàn cầu của Trung Quốc đã được các nước đánh giá cao, cung cấp những ý tưởng mới và đường lối mới để bảo vệ hòa bình lâu dài trên thế giới, thúc đẩy toàn cầu phát triển.

Đối với Mỹ, vị trí bá chủ trong thời gian dài đã củng cố tư duy “hòa bình kiểu Mỹ”: tức là luôn tự cho nền văn minh phương Tây lấy Mỹ làm đại diện là hơn hẳn người khác, dùng ưu thế quân sự tuyệt đối để xưng bá thế giới, hệ thống đồng USD chiếm địa vị thống trị trong nền tài chính toàn cầu, địa vị nước lớn kinh tế – thương mại không ai sánh bằng, không cho phép bất cứ ai có thể thách thức mình. Nói tóm lại, Mỹ không cho phép bất kỳ nước hoặc nhóm nước nào ở bất cứ khu vực nào có thể thách thức địa vị nói trên của Mỹ. Điều này được nêu rõ trong báo cáo chiến lược quốc gia của Mỹ các nhiệm kỳ. Cho dù đó là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa, chính quyền các nhiệm kỳ và tầng lớp tinh hoa Mỹ cũng đều không che đậy điều này.

Tất nhiên, kể tù khi thành lập nước Mỹ tới nay, giới nghiên cứu Mỹ luôn có một nút mắc khó gỡ, đó là “chủ nghĩa tự do” – quan niệm cốt lõi từ khi thành lập nước Mỹ và tư tưởng bá quyền bao hàm trong từ “đế quốc” mà Mỹ thông qua sử dụng vũ lực, cướp đoạt và thiết lập cường quyền để dựng lên, mâu thuẫn và thậm chí là đối lập nhau trong nhiều phương diện. Bản thân Mỹ không thể biện minh cho chính họ. Do đó, Mỹ đã áp dụng lập trường của chủ nghĩa thực dụng đối với hệ thống quốc tế, hệ thống quản lý toàn cầu mà mình thiết lập.

(còn tiếp) 

Nguồn: Mạng Người quan sát (TQ) – 07/02/2018

TLTKĐB – 24/02/2018

NAFTA chấm dứt có thể là một thảm họa địa chính trị đối với Mỹ – Phần cuối


Kết quả chắc chắn sẽ mang đến nhiều xáo trộn mới về kinh tế và lao động ở Mexico, và nếu kết hợp với một tổng thống Mexico mới vốn đã chỉ trích Mỹ, thì quan hệ song phương có khả năng sẽ gặp nhiều rắc rối hơn bất kỳ thời điểm nào trong những thập kỷ gần đây. Nó sẽ đi ngược lại bố cảnh gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn, vốn từ lâu đã được Mỹ coi là một điều kiện gần như vĩnh cửu. Trong bối cảnh đó, bất kỳ sự thay đổi nào về tình trạng biên giới đó cũng được xem như là một mục tiêu cơ hội rất hấp dẫn cho các đối thủ của Mỹ, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đúng như ông đã mô tả sự sụp đổ của Liên Xô như là “thảm họa địa chính trị lớn nhất thế kỷ”, ông chắc chắn coi một vùng biên giới phía Nam của Mỹ bất ngờ rơi vào tình trạng hỗn loạn như là một món quà bất ngờ đối với Moskva. Lý do cốt lõi xuất phát từ hiểu biết của ban lãnh đạo Nga rằng trong mối quan hệ cạnh tranh của họ với Mỹ, Nga không thể đọ được với Mỹ trong bất kỹ lĩnh vực nào khác ngoài quân sự. Kết quả là một nguyên lý cơ bản của chính sách đối ngoại Nga, như trong thời đại Xô viết, là thu hẹp và giảm đến mức thấp nhất mọi biểu hiện cho thấy sức mạnh và tầm ảnh hưởng của Mỹ – nhằm “hạ thấp tầm quan trọng của Mỹ”.

Trong những năm trước, mục tiêu đó được phản ánh trong các nỗ lực của Liên Xô nhằm mục đích nhấn mạnh và lợi dụng những khuyết điểm và nỗi đau trong xã hội và nền chính trị Mỹ, nổi bật nhất là bằng việc nhấn mạnh các điều luật Jim Crow (gồm các quy định hà khắc đối với người da đen – ND) và hoàn cảnh khó khăn của người Mỹ da đen. Trong hoàn cảnh đã thay đổi và khác biệt hiện nay, Moskva chú trọng vào việc làm suy yếu sự ủng hộ của người dân Mỹ đối với hệ thống chính trị của nước này, chẳng hạn như thúc đẩy quan điểm cho rằng các cuộc bầu cử của Mỹ là “gian lận”. Yếu tố phổ biến và trung tâm trong cách tiếp cận này là để Nga khẳng định sự tương đương về mặt đạo đức với Mỹ, cụ thể là đưa ra ý kiến cho các rằng các giá trị và thông lệ của Mỹ và phương Tây không tốt đẹp hơn các giá trị và thông lệ của Nga. Với những người Nga vốn có giao thiệp với phương Tây thì đ1o là một chiến thuật phổ biến, như John F. Kennedy đã hoang mang khi nhận thấy trong cuộc gặp đầu tiên của ông với Khrushev. Chính Putin cũng đã thể hiện một cách chính xác phương pháp này vào năm 2013 khi được một phóng viên Anh hỏi về cảm nhận của mình về Stalin và những tội ác của ông ta. Như Nikita Petrov gần đây đã viết trên tờ Foreign Affairs, “Putin đáp lại: ‘Cromwell thì có gì tốt đẹp hơn?’”.

Cách đối đáp đầy kinh nghiệm đó phản ánh một sự hiểu biết rõ về lịch sử của Mỹ và phương Tây, điều hữu ích hơn hẳn các chiến thuật tranh luận của Nga. Nó phản ánh nhận thức rằng trong bối cảnh mối quan hệ Mỹ – Mexico vốn đã bị tổn hại bởi các vấn đề thương mại và biên giới, sự sụp đổ của NAFTA sẽ tạo ra trong chính sách đối ngoại của Mỹ một điểm yếu mà một lần nữa sẽ dễ bị lợi dụng. Tính dễ bị tổn thương mới có này sẽ đại diện cho một sự thay đổi về tình trạng: từ một vùng biên giới phía Nam trước đó vốn yên ổn trong nhiều thập kỷ thành một khu vực mà sẽ đòi hỏi tối thiểu một sự chuyển hướng và tái phân phối các nguồn lực an ninh quốc gia của Mỹ, và nhiều hơn thế nếu các mối quan hệ trở nên tồi tệ thêm.

Dĩ nhiên, khu vực biên giới phía Bắc của Mỹ với Canada chưa bị hỗn loạn ở mức độ gần như tương tự với khu vực phía Nam, và có một lịch sử rất khác và thuận lợi hơn. Nhưng vấn đề NAFTA thật sự đã khiến cho mối quan hệ Mỹ – Canada bị xáo trộn hơn bao giờ hết trong những năm gần đây, và trong một trường hợp gần đây, Canada đã lựa chọn một chính sách chủ yếu được biện minh bởi sự cần thiết phải tránh làm cho mối quan hệ với Washington trở nên tồi tệ thêm nữa. Điều đó xảy ra vào tháng 12/2017, khi nhiều người biết rằng Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bỏ phiếu với kết quả 128 phiếu thuận và 9 phiếu chống nhằm chỉ trích quyết định của Washington công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Điều rất bất ngờ là Canada không gia nhập đa số gồm 128 nước – bao gồm hầu hết các đồng minh của Mỹ trong Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) – đã bỏ phiếu chống lại Mỹ. Thay vào đó, Canada đã bỏ phiếu trắng, và lời giải thích được đưa ra công khai là với những mối quan hệ vốn đã quá căng thẳng do vấn đề NAFTA, Thủ tướng Trudeau muốn né tránh bất kỳ điều gì mà sẽ làm cho Tổng thống Trump thất vọng hơn nữa. Ngay dù vậy, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland dường như bị thuyết phục rằng các cuộc đàm phán NAFTA hiện nay sẽ thất bại, và Trump sẽ rút khỏi thỏa thuận này. Khi đó, Canada sẽ đẩy nhanh các bước để mở rộng các thị trường xuất khẩu của họ vượt ra ngoài Mỹ, nới lỏng các mối quan hệ mà trong 1/4 thế kỷ qua đã trở nên thân thiết hơn bao giờ hết.

Ít nhất có 1 vấn đề khác có tiềm năng làm cho mối quan hệ Mỹ – Canada trở nên tồi tệ thêm và do đó được coi là một mục tiêu cơ hội có lợi cho đối thủ của Mỹ. Nó xuất phát từ sự kết hợp giữa chế độ liên bang đôi khi hỗn loạn của Canada và lịch sử phong trào độc lập Quebec của nước này. Đây là một chủ đề đặc biệt có liên quan trong kỷ nguyên của chủ nghĩa ly khai mang màu sắc dân túy và chủ nghĩa dân tộc được khôi phục hiện nay, thường bắt nguồn từ những sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa (như ở Quebec). Vấn đề này bắt đầu được chú ý vào cuối những năm 1960, khi Quebec ngày càng trở thành nơi diễn ra phong trào ly khai sôi động. Khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đến thăm Montreal vào năm 1967 và được nhiều người biết đến là đã hô to “Quebec tự do muôn năm”, đám đông đã reo hò tán thành và phong trào độc lập của Quebec được phục hưng. Tuy nhiên, phản ứng của Chính phủ Canada là ngay lập tức phủ nhận, vì một Quebec độc lập, tỉnh lớn nhất Canada về diện tích và đứng thứ hai về dân số, làm dấy lên nỗi ám ảnh về một đất nước bị chia rẽ hoàn toàn. Không ngạc nhiên, chuyến thăm của De Gaulle đã nhanh chóng bị rút ngắn và quan hệ với Pháp đã bị tổn hại trong một vài năm.

Hiện nay, phong trào ly khai của Quebec đã yên ắng, nhưng tro tàn của nó thì chưa biến mất; như gần đây đối với Chính quyền Clinton vào giữa những năm 1990, chúng là nguyên nhân dẫn đến những quan ngại về chính sách đối ngoại của Mỹ. Như trong trường hợp biên giới của Mỹ với Mexico, và trong bối cảnh quan hệ căng thẳng hiện nay của Canada với Mỹ liên quan đến NAFTA, những ký ức đó là một điểm yếu tiềm tàng trong chính sách đối ngoại của Mỹ mà dễ bị lợi dụng. Nếu điều đó dường như không có khả năng xảy ra, thì hãy nhắc lại việc Nga gần đây đã – và trong một số trường hợp là đang – tiến hành đưa thông tin sai lệch và các hoạt động có liên quan đến tình hình nội chính của Pháp, Anh và Đức, mà không đề cập đến Phần Lan, Estonia, Gruzia và Ukraine. Những hành động đó của Nga là đề tài của một báo cáo của Ủy ban đối ngoại Thượng viện dài 200 trang vừa được công bố, có tựa đề “Cuộc tấn công bất cân xứng của Putin vào nền dân chủ ở Nga và châu Âu”.

19 quốc gia mà báo cáo này bao trùm không mở rộng sang bán cầu Tây, nhưng nếu các hành động chính thức của Mỹ khiến NAFTA sụp đổ, như nhiều người lo sợ, thì các tàn tích đau thương ở những vùng biên giới phía Nam và phía Bắc của Mỹ hiện đang âm ỉ sẽ lại bùng cháy do các phương pháp tương tự của Nga. Gần 2 thế kỷ biên giới yên ổn vốn được coi là điều đương nhiên sẽ trở thành các vùng biên giới một lần nữa dễ có khả năng phải chịu sự phá hoại khéo léo của một đối thủ được chứng minh là có năng lực và cam kết làm suy yếu Mỹ. Hậu quả đối với an ninh quốc gia đó hoàn toàn chưa tính đến những tổn thất lớn về kinh tế mà nó sẽ đem lại cho người nông dân và người lao động trong ngành công nghiệp ô tô của Mỹ, cũng như thiệt hại nó có thể mang đến cho chính đảng của tổng thống. Từ quan điểm hoàn toàn mang tính phe phái đó, như Karl Rove gần đây đã viết, “việc hủy bỏ NAFTA sẽ gây tổn hại cho các thành viên đảng Cộng hòa ở các bang nông nghiệp, sản xuất ô tô và gần biên giới… Ngài Tổng thống, điều này là không đáng”.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/how-the-death-nafta-could-be-geopolitical-disaster-america-24366

TLTKĐB – 25/02/2018

Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc: Từ Henry Kissinger tới Donald Trump – Phần cuối


Năm 2016: Donald Trump chống lại một Trung Quốc ưu tiên thương mại tự do

Ông Trump đã lấy việc công kích Trung Quốc làm một trong những đề tài chủ đạo trong chiến dịch tranh cử 2016 của ông. Ông cáo buộc Trung Quốc giảm giá đồng NDT để tăng cường xuất khẩu (điều này đúng từ 2000 tới 2014, nhưng sau đó đã chấm dứt) và thông báo đưa Trung Quốc vào danh sách “các nước thao túng đồng tiền quốc gia” ngay trong ngày đầu tiên ông đặt chân vào Nhà Trắng. Ông Trump cũng muốn áp đặt mức thuế nhập khẩu mới và rất cao đối với hàng hóa của Trung Quốc – tới 45% theo một số bài phát biểu của ông – để chấm dứt tình trạng “phá giá xã hội” của Trung Quốc, vốn đang thu hút các nhà máy chế biến của Mỹ. Ưu tiên dành cho các vấn đề kinh tế và thương mại, mở ra khả năng trở lại của chủ nghĩa bảo hộ, khiến người ta so sánh với những lựa chọn chính sách của Alexander Hamilton trong những năm đầu tiên của nền cộng hòa Mỹ.

Hơn thế nữa, ông Trump đòi xem xét lại các liên minh an ninh song phương giữa Mỹ với Nhật Bản và Hàn Quốc, và thông báo muốn ngừng các hoạt động tuần tra của Mỹ tại Biển Đông. Rõ ràng chính sách đối với Trung Quốc của Trump nằm trong tầm nhìn theo kiểu Jackson của ông về nước Mỹ, coi thế giới là nơi đối đầu của các cường quốc, tuy nhiên không sẵn sàng tham gia, mặt khác, không quan tâm tới việc thúc đẩy dân chủ.

Tuy vậy, sự thù địch của Donald Trump đã giảm mạnh khi ông vào Nhà Trắng. Tại Hội nghị thượng đỉnh song phương Mar-a-Lago tháng 4/2017, ông Trump đã tỏ ra thân thiện với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Nhân dịp này, ông thông báo về chuyến công du 12 ngày tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam (nhân dịp dự Hội nghị cấp cao diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương – APEC) và Philippines (dự Hội nghị cấp cao ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á) tháng 11/2017. Việc quảng cáo thương hiẹu “Ivanka” và “Trump” tại Trung Quốc và tìm kiếm các nhà đầu tư Trung Quốc cho các dự án bất động sản của con rể tổng thống, Jared Kushner, đã được nêu ra như các yếu tố quan trọng trog sự nhã nhặn của Trump đối với Tập Cận Bình.

Tuy nhiên, mùa hè 2017, các mối quan hệ với Bắc Kinh lại một lần nữa xấu đi. Dường như sau khi nuôi hy vọng Trung Quốc sẽ giải quyết được vấn đề mà chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Triều Tiên đặt ra, Donald Trump đã thất vọng. Vì thế, tháng 7/2017, Tổng thống Mỹ đã cho tiến hành tập trận hải quân bị Trung Quốc coi là hành động khiêu khích, cho phép bán vũ khí cho Đài Loan, thông báo trừng phạt một ngân hàng Trung Quốc bị cáo buộc hỗ trợ gián tiếp chương trình đạn đạo của Bình Nhưỡng – đó là không kẻ đến các “dòng trạng thái” kích động chống lại Tập Cận Bình…

TPP lâm nguy

Dự án hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã ở vào tình thế mắc kẹt khi công luận phương Tây quay lưng với nguyên tắc thương mại tự do – điều này đã dẫn tới việc Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) ngừng đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Đại Tây Dương về thương mại và đầu tư (TTIP); đã gây ra những khó khăn việc phê chuẩn Hiệp định kinh tế và thương mại toàn diện (CETA) giữa EU và Canada; và đưa tới việc tái đàm phán Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và sắp tới là Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc.

Một trong những chỉ trích chính của dư luận và các chính trị gia dân túy ở phương Tây đối với thương mại tự do, là việc di chuyển các nhà máy sản xuất tới các nước đang phát triển, nơi có nhân công giá rẻ, vì vậy dẫn đến tình trạng thất nghiệp của người lao động trong khu vực 2 của các nước phát triển. Chỉ trích này bị các học thuyết kinh tế truyền thống bác bỏ, như thuyết “phá hủy sáng tạo” mà Joseph Schumpeter trình bày trong cuốn “Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ”. Ông giải thích trong đó rằng việc làm bị mất đi sẽ được thay thế bằng những việc làm đòi hỏi tay nghề cao hơn và được trả lương cao hơn. Các nhà quan sát nhấn mạnh rằng một phần các việc làm bị mất đi trong lĩnh vực công nghiệp là do sự vận hành các hoạt động sản xuất được tự động hóa và robot hóa.

Tuy nhiên, một nghiên cứu mới đây của các nhà nghiên cứu thuộc Viện công nghệ Massachusetts (MIT) kết luận chính việc di chuyển các nhà máy sản xuất tới Trung Quốc đã gián tiếp làm mất đi 1 triệu việc làm trực tiếp và 2,4 triệu việc làm gián tiếp ở Mỹ. Nghiên cứu này của các nhà kinh tế nghiêm túc khẳng định điều mà các tầng lớp nhân dân Mỹ – những người ủng hộ cả Donald Trump lẫn ứng cử viên theo chủ nghĩa dân túy cánh tả, Bernie Sanders, trong chiến dịch bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 – muốn bày tỏ. Nó phần nào biện hộ cho sự thay đổi thái độ của dư luận Mỹ đối với vấn đề thương mại tự do và chủ nghĩa bảo hộ.

Vốn đã suy yếu do sự thay đổi suy nghĩ này, theo sắc lệnh của Tổng thống Trump ngày 23/1/2017, Mỹ đã rút khỏi TPP. Các bên khác trong hiệp định là Canada, Mexico, Chile, Peru, Australia, New Zealand và tại châu Á là Brunei, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, khẳng định muốn tiếp tục thiết lập thỏa thuận này với hy vọng Mỹ có thể quay trở lại trong tương lai. Tuy nhiên sự rút lui của Mỹ làm suy yếu mạnh mẽ cấu trúc chung của quan hệ đối tác.

TPP đã nhằm mục tiêu áp đặt đối với Trung Quốc, từ bên ngoài và không cho nước này có tiếng nói, một khuôn khổ thương mại có điều tiết, tuân thủ các giá trị và tiêu chuẩn chung theo luật pháp anglo-saxon. Tuy nhiên, một cách hoàn toàn phản tác dụng đối với Mỹ, sự rút khỏi TPP đã mang lại cho Trung Quốc một phạm vi hành động rộng lớn để thực hiện các tham vọng thương mại của họ trong toàn khu vực, và đặc biệt là theo cách thức buôn bán của họ ít tuân thủ các tiêu chuẩn hiện hành.

Các sáng kiến thương mại của Trung Quốc

Như Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhấn mạnh trong diễn văn của ông tại Diễn đàn kinh tế thế giới Davos, Thụy Sĩ, vào tháng 1/2017, Trung Quốc từ nay khẳng định mình là quốc gia đi đầu về thương mại tự do. Họ đã ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhiều quốc gia và khối các nước như ASEAN (2010), New Zealand (2008), Australia và Hàn Quốc (2015), Đài Loan (2010), cũng như 2 “hiệp định đối tác kinh tế toàn diện” với Hong Kong và Macao năm 2015.

Trung Quốc cũng đàm phán với các nước láng giềng khu vực châu Á – Thái Bình Dương về một Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). RCEP được thảo luận từ năm 2012 và việc ký kết được dự kiến trong năm 2018, dường như là một hiệp định thay thế cho TPP. Điểm khác biệt lớn so với TPP là nó chủ yếu nhằm vào việc giảm thuế nhập khẩu, đề cập rất ít tới việc mở cửa các thị trường công, không hề để cập đến các quy định thống nhất các tiêu chuẩn, cũng như thỏa thuận về luật lao động, môi trường và sở hữu trí tuệ. Sự có mặt tại bàn đàm phán của các nước dân chủ như Australia, New Zealand, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ, vốn gắn bó với việc tuân thủ các tiêu chuẩn của luật quốc tế sẽ khiến cho nhiệm vụ của Bắc Kinh thêm phức tạp.

Theo Valérie Niquet, thành viên hội đồng nghiên cứu khoa học tại Quỹ Nghiên cứu chiến lược Pháp, quả thực Trung Quốc đã hành xử một cách vô liêm sỉ. Nước này tìm cách thiết lập các hiệp định thương mại tự do với rất ít sự điều chỉnh, nhằm rút ra tối đa lợi ích từ giao thương với thế giới bên ngàoi. Nhà nghiên cứu Marc Lanteigne có cái nhìn ít tiêu cực hơn đối với động cơ của Trung Quốc; ông giải thích trong một tài liệu mới công bố rằng Trung Quốc của Tập Cận Bình không còn muốn là kẻ phản đối hay chấp nhận luật lệ nữa mà muốn trở thành tác nhân có trách nhiệm xây dựng luật lệ. Khẩu hiệu của các lãnh đạo Trung Quốc khẳng định bước chuyển biến này, vì trước đó, Đặng Tiểu Bình muốn giấu mình chờ thời thì giờ đây, Tập Cận Bình lại muốn “mang lại những đóng góp của mình với sự hứng khởi”.

Biểu tượng của sự khẳng định mới mẻ này về sức mạnh của Trung Quốc trên thế giới, là sáng kiến của Trung Quốc phát triển “Con đường tơ lụa mới”. Dự án này được nêu ra rồi thực hiện vào năm 2013, nhằm phát triển một tuyến đường biển và một tuyến đường bộ, gọi là “Vành đai và Con đường” (BRI), để đưa Trung Quốc tham gia các mối quan hệ thương mại hiệu quả với phần còn lại của châu Á và qua châu Phi tới tận châu Âu. Để thực hiện được điều đó, cần phải xây dựng các con đường và cảng, cũng như tất cả cơ sở hạ tầng gắn với nó. BRI đã dẫn tới việc hình thành Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) vào năm 2014, nhằm tranh đua với hoạt động Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng phát triển châu Á trong khu vực. AIIB đã cho thấy khả năng tài trợ 100 tỷ USD đố với toàn bộ các dự án BRI.

Khó có thể đánh giá bước tiến thực sự của Con đường tơ lụa mới này. Một số khoản đầu tư dự kiến tại các quốc gia nghèo, nơi mà triển vọng sinh lợi thấp, bị chậm triển khai. Các dự án khác, bị cáo buộc là chỉ có lợi cho các doanh nghiệp Trung Quốc, được đẩy nhanh tại các nước tiếp nhận, nơi có các cơ sở hạ tầng đang được xây dựng. Tuy nhiên, điều cho thấy tầm quan trọng mà các nước dành cho dự án này là không dưới 29 nguyên thủ quốc gia đã có mặt bên cạnh Tập Cận Bình tại Diễn đàn chính thức đầu tiên của “Sáng kiên Vành đai và Con đường” ở Bắc Kinh ngày 14 và 15/5/2017, trong đó có Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan.

Năm 2017, bất chấp Bình Nhưỡng, quay trở lại vấn đề thương mại

Kể từ mùa xuân 2017, mọi đề tài tranh luận giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có các vấn đề rất gai góc như quan hệ của Washington với Đài Loan và những đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Quả thậ, quan hệ giữa Mỹ và Triều Tiên đã trở nên rất xấu, do chế độ Bình Nhưỡng tiến hành một loạt vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo.

Từ những năm 1960, Triều Tiên đã rất nỗ lực vũ trang để tự bảo vệ mình trong một môi trường mà nước này cho là rất thù địch. Những tham vọng hạt nhân đã khiến họ rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 2003. Những cuộc đàm phán 6 bên (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên), từ 2003 tới 2009, đã không chấm dứt được chương trình hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Bình Nhưỡng. Không dưới 5 vụ thử tên lửa đạn đạo đã diễn ra từ tháng 3 tới tháng 7 năm 2017, cùng với một vụ thử hạt nhân vào ngày 3/9/2017. Tất nhiên, tình hình này gây nhiều lo ngại cho Hàn Quốc và Nhật Bản, cũng như đối với Mỹ, vì từ nay, họ có thể bị tên lửa đạn đạo liên lục địa của Triều Tiên tấn công.

Đối với Washington, Trung Quốc đương nhiên có vai trò trung gian hòa giải về vấn đề Triều Tiên, vì nước này có sự gần gũi về địa lý và ý thức hệ, cũng như có khả năng gây ảnh hưởng và thực hiện các biện pháp trừng phạt kinh tế. Thật vậy, 92% hàng xuất khẩu của Triều Tiên được đưa sang Trung Quốc (hải sản, than đá, quặng, đồ may mặc) còn Trung Quốc cung cấp dầu cho Triều Tiên. Tuy nhiên, những thông báo trừng phạt của Bắc Kinh không nhất thiết có hiệu lực. Nếu như phạm vi hành động của Mỹ đối với Trung Quốc là ít, thì phạm vi hành động của Trung Quốc đối với Triều Tiên vốn không thể đánh giá được từ bên ngoài, có lẽ cũng như vậy.

Vì vậy, Trump quay ra chỉ trích Trung Quốc về sự không hiệu quả, thậm chí về sự không hành động của nước này. Tuy nhiên, trong chuyến thăm chính thức vào tháng 11/2017, ông Trump dường như lại một lần nữa nhấn mạnh tới vấn đề thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ đối với nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là với Trung Quốc, và việc cần thiết tái cân bằng trao đổi thương mại theo hướng thuận lợi đối với Mỹ. Liên quan tới điều này, cuộc tranh luận chiến lược về Trung Quốc đã khép lại với kết luận: Trung Quốc trước hết vẫn là đối thủ thương mại trong một thế giới của những tương quan sức mạnh kinh tế. Trong con mắt của Trung Quốc, các quan hệ quốc tế vận hành như những chiếc bình thông nhau, nơi mà sự yếu đi của nước này sẽ chuyển thành sự tăng cường sức mạnh của nước khác. Sự vươn lên về sức mạnh của Trung Quốc chỉ có thể gây thiệt hại cho nước Mỹ.

Tuy nhiên, khi chính sách “xoay trục” sang châu Á của Tổng thống Obama đã tìm cách tích cực kiềm chế tham vọng của Trung Quốc trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thì sự rút lui của ông Trump dường như có tác dụng ngược lại.

Nguồn: http://www.ocppc.ma/sites/default/files/Nardon_EtatsUnis_face_Chine_2017.pdf

TLTKĐB 24 & 25/02/2018

Vai trò của Việt Nam trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ – Phần cuối


Hợp tác chiến lược Việt Nam với Mỹ và Nga

Tác giả bài viết cho rằng nếu cần phải lựa chọn một đối tác hợp tác chiến lược đáng tin cậy giữa Mỹ và Nga, Việt Nam chỉ có thể lựa chọn Mỹ. Đối với Việt Nam, thứ mà Nga có thể cung cấp chỉ là vũ khí, còn Mỹ không những có thể viện trợ kinh tế rất lớn, mà điều quan trọng hơn là Mỹ có thể nâng cao quyền phát ngôn của Việt Nam trong vấn đề Nam Hải.

Những năm gần đây, cùng với sức mạnh tổng hợp quốc gia của Việt Nam ngày càng lớn mạnh, Việt Nam đã từng bước cảm nhận được rằng chỉ dựa vào sự viện trợ quân sự như « muối bỏ biển » của Nga là không thể đảm bảo và bảo vệ một cách hữu hiệu, đầy đủ cái gọi là « quyền lợi Biển Đông » của họ. Mặc dù Tổng thống Nga Putin từng bày tỏ ý muốn tăng cường sự hiện diện chính trị và quân sự của Nga ở khu vực châu Á, nhưng trọng tâm chiến lược của họ hiện nay vẫn tập trung ở châu Âu, thêm vào đó những năm gần đây kinh tế Nga suy thoái mạnh, quyền phát ngôn của họ trong các vấn đề châu Á đang không ngừng giảm đi. Vì vậy, xét từ chiến lược ngắn hạn, Việt Nam sẽ không từ bỏ Nga, hành động của phía quân đội Việt Nam gần đây tuyên bố sẽ coi Nga là « đối tác hợp tác ưu tiên » trong hợp tác kỹ thuật quân sự của mình có thể chỉ là một phần nhỏ của sự việc ; nhưng xét từ chiến lược dài hạn, dựa vào Mỹ rõ ràng phù hợp hơn với lợi ích chiến lược của Việt Nam. Ngay từ trước khi chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chính thức được Mỹ đưa ra, quan hệ chiến lược 2 nước Mỹ – Việt Nam không ngừng ấm lên. Hai nước Mỹ – Việt Nam đã ký « Biên bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng » năm 2011 ; Tổng thống Mỹ Obama vào ngày 23/5/2016 tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đã được thực hiện gần 40 năm đối với Việt Nam ; ngày 22/1/2018, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis tới thăm Đông Nam Á, thúc đẩy Indonesia và Việt Nam tham gia chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Việt Nam không phủ nhận khả năng tham gia chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, mà từ nhiều dấu hiệu cho thấy Việt Nam cần Mỹ trong chiến lược cân bằng khu vực Nam Hải. Chuyến thăm Việt Nam lần này của tàu sân bay Mỹ ở chừng mực nào đó có thể coi là một bằng chứng về lòng trung thành của Việt Nam bắt đầu nghiêng sang Mỹ.

Tính phụ thuộc của Việt Nam trong trang thiết bị quân sự và kinh tế đối ngoại

Xét về mặt phát triển kinh tế, Việt Nam đến nay vẫn không thể thoát khỏi sự phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Số liệu mà Tổng cục hải quan Việt Nam công bố mới nhất cho thấy tỷ lệ nhập siêu thương mại của Việt Nam từ Trung Quốc năm 2017 là 22,76 tỷ USD. Phạm Sỹ Thành – nhà nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Viện nghiên cứu kinh tế và chính sách của Đại học Quốc gia Hà Nội – Việt Nam, từng cho biết vẫn còn quá sớm để nói rằng Việt Nam thoát khỏi tình trạng nhập siêu thương mại từ Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc là nước xuất khẩu nguyên vật liệu lớn nhất của Việt Nam, khoảng 60% nguyên vật liệu dùng trong sản xuất ở Việt Nam là nhập khẩu từ Trung Quốc. Các thiết bị máy móc trong các lĩnh vực như công trình, luyện kim, dệt may, sản xuất giấy, công nghiệp hóa chất… của Việt Nam đều chủ yếu dựa vào nhập khẩu, giá trị các mặt hàng công nghiệp nhập khẩu từ Trung Quốc mỗi năm gần 6,5 tỷ USD.

Hiện nay trước tình hình căng thẳng của hai nước gia tăng, để giảm bớt sự phụ thuộc vào Trung Quốc, Việt Nam một mặt tích cực khai thác và phát triển các thị trường mới, nâng cao vai trò và uy tín của các sản phẩm trong nước, thay thế các mặt hàng nhập khẩu nhằm tìm cách ứng phó với các biện pháp trừng phạt kinh tế của Trung Quốc : mặt khác Việt Nam tích cực tham gia các nhóm kinh tế của các nước như Mỹ, Nhật Bản… Bất luận là nước thành viên cảu Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ chủ đạo, hay là các nước thành viên của Hiệp định đói tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam luôn là quốc gia Đông Nam Á được hưởng lợi lớn nhất. Dựa trên xuất phát điểm kiềm chế tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở ASEAN, Mỹ và Nhật Bản đều sẽ nhường một phần lợi ích kinh tế cho Việt Nam. Do quy mô kinh tế của Việt Nam nhỏ nhưng hai bên về mặt chiến lược đều có cùng nhu cầu đối kháng với Trung Quốc, Mỹ nhất định sẽ giúp đỡ về mặt kinh tế một nước ASEAN có thể kiềm chế được Trung Quốc, mà hiện nay chỉ có Việt Nam là thích hợp.

Mọi người đều biết rằng Việt Nam là nước chủ nhà của Hội nghị cấp cao APEC năm 2017. Tuy hiện nay Việt Nam chỉ là nền kinh tế lớn thứ 6 trong 10 nước ASEAN, nhưng nhiều năm trước đó nước này đã là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở khu vực Đông Nam Á. Số liệu của Ngân hàng thế giới (WB) cho thấy tổng GDP năm 2016 của Việt nam đạt 203 tỷ USD, tăng trưởng GDP của quý III năm 2017 mới đây công bố đạt 7,46%, trở thành một ngôi sao mới nổi lên trong khu vực. Trong thời gian diễn ra Hội nghị cấp cao APEC tại Việt Nam, các nước Đông Nam Á kỳ vọng Việt Nam phát huy vai trò dẫn đầu thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực. Xét từ điểm này, Việt Nam đã phát huy vai trò ngày càng quan trọng trong việc nâng cao vị thế và vai trò của ASEAN trên vũ đài quốc tế, khiến cho Việt Nam có quyền phát ngôn nhất định trong cuộc đọ sức lợi ích ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Mỹ.

Xét về mặt chiến lược quân sự, việc nghiên cứu khoa học quốc phòng và công nghiệp quốc phòng của Việt Nam yếu kém, không thể tự chủ nghiên cứu phát triển các trang thiết bị vũ khí, về cơ bản là phát triển sức mạnh quân sự thông qua phương thức mua sắm vũ khí, và về cơ bản là phát triển sức mạnh quân sự thông qua phương thức mua sắm vũ khí và đa số các trang thiết bị quân sự mà họ mua khá lạc hậu. Một khi Mỹ chính thức viện trợ vũ khí cho Việt Nam thì điều này chắc chắn sẽ gia tăng con bài để Việt nam đối đầu với Trung Quốc trong cuộc đọ sức ở Nam Hải. Trên thực tế, Mỹ cũng từng đề xuất với Việt Nam một phương án viện trợ vũ khí lấy « chủ quyền đổi lấy vũ khí » làm trọng tâm, một điều khoản trong đó bao gồm việc thuê vịnh Cam Ranh. Hành động này của Mỹ chẳng khác nào biến Việt Nam hiện nay thành « Chính quyền Việt Nam Cộng hòa » thứ hai. Mặc dù đây là điều mà Chính phủ Việt Nam không thể nhẫn nhịn và chấp nhận, nhưng do sự khó khăn về kinh tế, Việt Nam rất có thể sẽ lựa chọn hy sinh lợi ích chủ quyền của bản thân để đổi lấy sự ủng hộ của Mỹ đối với họ trong cuộc đọ sức ở Nam Hải. Điều này cũng nằm trong khả năng của Nga. Xét từ việc phân tích 2 điểm này, tuy Việt Nam hiện nay vẫn không dám công khai đối đầu với Trung Quốc, nhưng điều có thể khẳng định là Việt Nam sẽ ngày càng xích lại gần hơn với Mỹ.

Mục đích và tầm ảnh hưởng trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Từ sách lược ngoại giao « giao kết nước xa, tấn công nước gần » mà nước Tần thời Chiến Quốc của Trung Quốc áp dụng có thể thấy rằng « giao kết nước xa » là vì lực lượng ở nơi khá xa là đồng minh hoặc kẻ thù tiềm tàng, mang tính chiến lược, « tấn công nước gần » là vì nước đối địch ở ngay trước mắt mình. Tác giả bài viết cho rằng đây chính là nguyên nhân chủ yếu mà Việt Nam sở dĩ áp dụng chiến lược « giao kết nước xa, tấn công nước gần », rất có thể tạo tiền đề cho việc Việt Nam gia nhập liên minh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong thời gian tới, mặc dù điều này đi ngược lại với sách lược ngoại giao « coi láng giềng là bạn » mà Trung Quốc đề xuất.

Đối với Mỹ, kiểm soát tuyến đường giao thông quan trọng của thế giới, đảm bảo an ninh và tự do hành động của mình là lợi ích quốc gia cốt lõi cơ bản nhất của Mỹ. Điều cần phải chỉ ra là sự khác biệt lớn nhất giữa Mỹ và các cường quốc theo chủ nghĩa đế quốc trước đây nằm ở : học không phải thông qua biện pháp thực dân để giành được lợi ích ở nước ngoài, mà là thông qua kiểm soát tuyến đường giao thông quan trọng phát triển kinh tế thế giới, từ đó giành được khả năng kiểm soát chưa từng có trước đây đối với lợi ích toàn cầu.

Xét từ lý luận của chủ nghĩa hiện thực về quan hệ quốc tế, mục đích chủ yếu của chiến lược châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều là cân bằng sự trỗi dậy của Trung Quốc. Do Trung Quốc ra sức thúc đẩy sáng kiến « Vành đai và Con đường » ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Mỹ cũng đang từng bước điều chỉnh sự sắp xếp chiến lược toàn cầu, kéo dài bản đồ chiến lược vốn có của mình đến Ấn Độ Dương, đó là Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – châu Á. Mỹ có ý đồ dựa vào chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để nâng cao vị thế ở Ấn Độ, mà Ấn Độ cũng cần Mỹ giúp họ tăng thêm uy thế nhằm giải quyết vấn đề thiếu lòng tin đối với Trung Quốc. Nhưng nếu muốn làm cho Ấn Độ cũng trở thành « điểm tựa chiến lược » trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, lập trường của Việt Nam rõ ràng rất quan trọng. Nó không những có thể kiềm chế tầm ảnh hưởng của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, mà còn là vấn đề then chốt quyết định thành bại của chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ưu thế địa lý của Việt Nam có thể bù đắp lỗ hổng chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương theo phương hướng Nam Hải, khiến cho bản đồ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được kết nối liền mạch. Nói một cách khác, không có sự tham gia của Việt Nam, chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ biến thành điều không tưởng về địa chính trị. Nhưng xét từ cục diện kinh tế chính trị quốc tế hiện nay cho thấy, Việt Nam sẽ không mạo hiểm đồng thời rơi vào cuộc khủng hoảng ngoại giao với nhiều nước lớn ở 2 khu vực. Tác giả bài viết cho rằng Mỹ sẽ không từ bỏ yêu cầu quyền kiểm soát đối với Nam Hải, sẽ tiếp tục tranh thủ cải thiện quan hệ với Việt Nam. Nếu quan hệ Trung – Việt tiếp tục xấu đi thì Việt Nam rất có khả năng sẽ lựa chọn đi sâu hợp tác quân sự với 4 nước Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, thậm chí chính thức kết đồng minh. Nếu quan hệ Mỹ – Việt tiếp tục không rõ ràng, Mỹ cũng có thể sẽ quyết tâm đến cùng, sẵn sàng bỏ ra số tiền lớn mua chuộc Việt Nam nhằm đạt được mục đích kiềm chế Trung Quốc, kiểm soát Nam Hải. Tóm lại, chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là một khái niệm mới về chiến lược đối ngoại lấy Mỹ làm trung tâm, mang tư duy Chiến tranh Lạnh. Mỹ có ý đồ công cụ hóa lợi ích các nước trong khu vực nhằm cân bằng hoặc loại bỏ tầm ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình dương, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến lòng tin chiến lược và sự ổn định chiến lược khu vực giữa Trung Quốc và Mỹ. Điều này sẽ đi ngược lại với yêu cầu thời đại như nhất thể hóa kinh tế, bao dung văn hóa, đa nguyên hóa chính trị, cùng chia sẻ lợi ích…

Trung Quốc thông qua sự phát triển của bản thân tận dụng sáng kiến « Vành đai và Con đường » tạo động lực mới cho kinh tế khu vực thậm chí toàn cầu, phù hợp với ý tưởng hợp tác chiến lược nước lớn « cùng mưu cầu phát triển, cùng tìm kiếm phồn vinh, cùng hưởng hòa bình » của Trung Quốc hiện nay, đồng thời cũng là cách tốt nhất để Trung Quốc ứng phó với chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Trung Quốc cần phải tiếp tục tiến hành kết nối với các nước Đông Nam Á bằng thái độ chủ động mang tính xây dựng, thiết lập lòng tin an ninh. Điều này không chỉ có lợi cho việc thúc đẩy xây dựng hệ thống an ninh châu Á, mà còn giúp khép lại hiện trạng khép kín và phân tán an ninh ở châu Á hiện nay.

Nguồn: Trang “Đa chiều” – 22/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018