Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần IV


Thời điểm trả thù

Khi Donald Trump xuất hiện trước báo chí ở Washington vào ngày 8/1, mong muốn của ông thể hiện trạng thái bình thường là rõ ràng. Ông đã đăng tải dòng tweet “mọi chuyện tốt đẹp” chỉ ngay sau đó. Ông nói rằng Iran muốn hướng đến giảm leo thang, nói như thế không có gì quan trọng đã xảy ra, như thể quân đội của ông đã không giết một trong những đại diện quan trọng nhất và được yêu mến nhất của một quốc gia nước ngoài theo mệnh lệnh của ông, đẩy Trung Đông đến  bờ vực của một cuộc chiến tranh khác.

Trump vẫn tin rằng ông có thể thực hiện một “thỏa thuận” với Tehran, mặc dù trong lập trường này ông phần lớn là đơn dộc. Có nhiều khả năng hơn là cuộc đối đầu sẽ tiếp tục, ngay cả khi các cuộc tấn công tên lửa vào 2 cơ sở mà Mỹ sử dụng đánh dấu chấm dứt chính thức chiến dịch trả đũa, ít nhất là theo lãnh đạo Iran.

Nhà ngoại giao Mỹ Brett McGurk, người mà cho đến năm 2018 trên danh nghĩa vẫn là đặc phái viên của Tổng thống trong liên minh toàn cầu chống lại IS, nói: “Mọi việc chưa kết thúc”. Ông lập luận rằng Iran bây giờ sẽ khôi phục lại chiến lược chiến tranh bất đối xứng, trong đó Tehran sử dụng các lực lượng ủy nhiệm người Shiite để thực hiện các công việc bẩn thỉu của mình.

Hassan Nasrallah – người đứng đầu lực lượng dân quân Hezbollah của Liban, có quan hệ mật thiết với Iran – đã tuyên bố rằng ông sẽ đảm bảo tất cả quân đội Mỹ rút khỏi khu vực. Ông nói rằng các cuộc tấn công vào các căn cứ, tàu chiến và binh lính, bao gồm cả sử dụng những kẻ tấn công tự sát được ưu tiên, gián tiếp tiến một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt Israel.

Các chiến binh bóng tối của Iran được Qassim Soleimani hết sức hỗ trợ, là rất mạnh mẽ: Họ có khả năng tấn công binh lính Mỹ ở Afghanistan và Syria, trong khi phiến quân Houthi của Yemen cũng là đồng minh với Tehran có thể tăng cường các cuộc tấn công vào Saudi Arabia.

Những gì diễn ra trong tháng 9/2019 gợi ý về những việc chế độ Iran có khả năng thực hiện, khi dường như nước này đã thực hiện một cuộc tấn công tinh vi về mặt công nghệ sử dụng tên lửa hành trình và máy bay không người lái được trang bị vũ khí vào các cơ sở dầu của Saudi Arabia, tạm thời khiến sản lượng dầu nước này giảm một nửa. Iran chối bỏ trách nhiệm đối với vụ tấn công, nhưng Mỹ, Anh, Pháp và Đức đều kết luận rằng Tehran đã đứng sau vụ tấn công.

Giới cầm quyền Đức tin rằng mức độ đe dọa tăng lên. Theo dự đoán ban đầu của Cảnh sát hình sự Liên bang Đức: “Có lý do để lo sợ rằng kỷ nguyên của hoạt động đe dọa chính trị trong khu vực sẽ theo sau các cuộc tấn công trả đũa (bằng quân sự) của Iran cũng như các cuộc tấn công của 2 đồng minh quan trọng nhất của nước này (Hezbollah và Syria)”. Các mục tiêu rõ ràng nhất, theo lập luận, là các cơ sở ngoại giao và quân sự của Mỹ và Israel.

Iran cũng có nhiều binh sĩ trong lực lượng không gian mạng và một kho vũ khí mà sẽ có lợi trong một cuộc chiến tranh mạng. Quyết định của mỗi nước mở rộng nhanh chóng các khả năng này có thể được thúc đẩy bởi một cuộc tấn công duy nhất của phương Tây. Khoảng 10 năm trước, người Iran đã phát hiện ra nguyên nhân tại sao nhiều bộ phận của cơ sở làm giàu urani của họ ở Natanz gặp trục trặc: Một phần mềm độc hại có tên Stuxnet, được cho là do các cơ quan tình báo của Mỹ và Israel phát triển, đã phá hủy máy ly tâm của cơ sở và phá hoại chương trình hạt nhân.

Iran đã phản ứng bằng cách xây dựng quân đội mạng của riêng mình. Các tin tặc của Iran đã tấn công hệ thống kiểm soát của một con đập gần thành phố New York và cố gắng đánh sập các máy chủ của các ngân hàng lớn Mỹ và Sàn giao dịch chứng khoán New York bằng các cuộc tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS). Khi ông trùm sòng bạc người Mỹ Sharon Adelson đề nghị tấn công Iran bằng vũ khí hạt nhân, công ty tỷ đô của ông cũng đã nằm trong tầm ngắm của Iran. Cựu Giám đốc tình báo quốc gia James Clapper chỉ trích Iran và nói rằng điều đó có nghĩa là Mỹ “lần đầu tiên nhìn thấy các cuộc tấn công phá hoại trên mạng được thực hiện trên đất Mỹ bởi các thực thể quốc gia”.

Theo phân tích của trung tâm Nghiên cứu an ninh của ETH Zurich, Iran đã tiếp tục phát triển năng lực của mình kể từ đó và tích cực trên nhiều mảng của chiến tranh mạng, từ gián điệp mạng đến các chiến dịch đưa tin giả có chủ đích, đến các nỗ lực phá hoại các quy trình công nghiệp. Lữ đoàn Quds cũng có vũ khí mạng của riêng mình.

Các nhà phân tích ETH đã liệt kê một loạt các nhóm đang làm công việc liên lạc được trả tiền cho chế độ. Họ cho biết có hơn 50 nhóm chiến tranh mạng có tổ chức thuộc loại này hiện đã được xác định.

Gần đây, các tin tặc Iran đã đưa ra một dự báo trước về các hành vi trả thù trên mạng có thể xảy ra khi nước này chiếm quyền điều khiển trang mạng của Chương trình thư viện lưu giữ liên bang của Chính phủ Mỹ. Trang mạng này hiển thị một hình ảnh động trong đó một người đàn ông mặc quân phục Iran đã đấm vào mặt Trump, ở trên có lời cảnh báo rằng đây “chỉ là một phần nhỏ trong khả năng mạng của Iran”.

Quà tặng của Trump

Cậu bé khoảng 5 – 6 tuổi, đứng trong một nhóm người, cậu bé hét lên: “Tôi là Qassem!” Những người lớn xung quanh nó cổ vũ. Sau đó, cậu ta giơ nắm đấm nhỏ của mình lên không trung, khuôn mặt méo mó vì gắng sức và hét lên một, hai, ba lần nữa: “Tôi là Qassem!” Tôi là “Qassem Soleimani!”.

Một người phụ nữ, khuôn mặt ẩn sau chiếc áo trùm đen than khóc, nước mắt rưng rưng: “Người Mỹ sẽ phải trả giá!” Tôi có 2 đứa con trai. Tôi sẵn sàng hy sinh chúng để trả thù. Những người đàn ông hét lên: “Chúng tôi là Qassem Soleimani. Chúng ta đều là những người lính của ông ấy!” Và ông liên tục hét: “Chết đi nước Mỹ!”.

Những hình ảnh này đã xuất hiện trên truyền hình nhà nước Iran trong tuần này, trên tất cả các kênh cùng với một biểu ngữ màu đen chồng lên nhau. Hình ảnh những đám tang dài vô tận, những giọt nước mắt, những cơn giận dữ xuất hiện.

Những hình ảnh về cuộc đời Qassem Soleimani được xen kẽ trong tin tức: Soleimani đến thăm quân đội, bắt tay, vỗ lưng, cầu nguyên. Soleimani cúi đầu trước Lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei. Và tất cả những điều này đã được nhấn mạnh bằng bài ca tụng hoa mỹ, những bài thơ tôn vinh người chết và bài hát của Trung Đông: “Ôi Qassem, Qassem của chúng tôi, chiến binh tử vì đạo yêu mến, ông sống và ông sẽ mãi sống”.

Việc giết chết chỉ huy của Lực lượng Quds đã trở thành một sự kiện quốc gia quan trọng đối với người Iran. Nhiều người lớn tuổi hơn thấy nó gợi nhớ đến lễ tang Ayatollah Ruhollah Khomeini vào năm 1989. Một người quan sát cho biết: “Nhưng cái này lớn hơn nhiều. Điều này chưa bao giờ diễn ra trong lịch sử nước Cộng hòa Hồi giáo”.

Bộ máy nhà nước Iran rất thành thạo khi tuyên truyền, và tổ chức các lễ kỷ niệm của cuộc cách mạng là những sự kiện lớn, được dàn dựng công phu. Và cỗ máy tuyên truyền đó bắt đầu hoạt động ngay sau cái chết của Soleimani. Các thành phố của Iran đã nhanh chóng được dán các tờ áp phích và biểu ngữ: Soleimani với Khameini, Soleimani trên bầu trời. Chỉ riêng trong chương trình truyền hình vào Chủ nhật, ngày đầu tiên của buổi tang lễ kéo dài ba ngày, một người quan sát ở Tehran đã đếm được 32 bài hát khác nhau mà được sáng tác và biểu diễn để tôn vinh vị tướng đã chết.

Nhưng sự thương tiếc và giận dữ của hàng trăm ngàn người ở các thành phố trên khắp đất nước còn hơn cả một sự kiện được chế độ tổ chức. Arash Mussavi, một doanh nhân ở Tehran, người từ chối cung cấp tên thật của mình, cho biết: “Có tuyên truyền, nhưng mọi người không đến vì điều đó”. Ông nói rằng Soleimani cực kỳ nổi tiếng, trong số những người bạn của ông có cả những người chỉ trích chế độ.

Cái chết của Qassem Soleimani, ít nhất trong một khoảnh khắc, đã thống nhất một đất nước bị chia rẽ và dễ bị kích động. Trump đã làm được điều mà giới lãnh đạo Iran không bao giờ làm được. Phe đối lập đã tham gia lễ tang và nhiều người Iran cảm thấy tức giận về tình hình kinh tế nghiệt ngã – sự tức giận mà chỉ vài tuần trước đã nhằm vào chế độ của chính họ hiện đã chuyển sang Mỹ.

Nhiều người Iran coi cái chết của tướng quân là một cuộc tấn công vào họ và đất nước của họ. Đám tang bao gồm không chỉ phụ nữ mặc áo chùm đen, mà cả phụ nũ đeo khăn che tóc và trang điểm nhiều. Tác giả Mahmoud Dowlatabadi, nguòi mặt khác không đặc biệt ủng hộ lãnh đạo Iran, đã gủi lời chia buồn công khai, tương tự như chính gia đối lập Mehdi Karroubi, người đã bị quản thúc tại gia trong gần 10 năm, kể từ các cuộc biểu tình của Phong trào Xanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Lý do Mỹ thua trong cuộc chiến với Huawei


Thất bại lớn về tình báo đã khiến chính sách vốn đã dao động của Lầu Năm Góc trở nên tồi tệ hơn và khiến cho nhiều đồng minh chủ chốt của Mỹ không còn lưu tâm đến lời khẩn cầu của Trump về việc tránh xa hệ thống 5G của gã khổng lồ công nghệ Huawei.

Bĩ bẽ mặt sau khi Anh từ chối loại trừ Huawei khỏi mạng băng thông rộng 5G của nước này, Chính quyền Trump đã tăng cường các nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc, với rất ít triển vọng thành công.

Cách đối phó của Mỹ bao gồm truy tố Huawei theo đạo luật của Tổ chức chống tham nhũng và ảnh hưởng của xã hội đen (RICO), được soạn thảo nhằm chống tội phạm có tổ chức. Ngoài ra Mỹ còn đề xuất các quy chế về việc ngừng bán linh kiện Mỹ cho Huawei và công ty viễn thông lớn thứ 2 Trung Quốc ZTE nếu 10% sản phẩm của họ có áp dụng công nghệ Mỹ.

Một lệnh cấm khác được đề xuất là cấm bán động cơ phản lực cho số máy bay dân sự mà tập đoàn General Electric của Mỹ và Safran của Pháp bán cho Trung Quốc kể từ năm 2014 – một biện pháp chiến tranh kinh tế không liên quan tới lý do an ninh quốc gia.

Trong số tất cả các sự kiện của Mỹ, chưa từng có sự kiện nào nhận được nhiều sự chú ý đến thế nhưng lại cho ít kết quả đến thế.

Trong khi đó, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien đã nói với tờ Wall Street Journal ào ngày 12/2 rằng Mỹ đã phát hiện ra một “cửa hậu” bí mật trong các thiết bị của Huawei cho phép công ty Trung Quốc này theo dõi mạng lưới thông tin liên lạc của phương Tây. Huawei bác bỏ cáo buộc này, yêu cầu Mỹ công khai các dữ liệu.

Cáo buộc của Mỹ bị cộng đồng quốc tế chế nhạo, Giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn Orange, Stephane Richard nói vào hôm 14/2: “Tôi rất muốn xem bằng chứng. Nó gợi tôi nhớ đến những vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Chiến tranh Iraq”. Tờ Der Spiegel của Đức giật tít: “Cánh cửa hậu chỉ Mỹ mới có thể nhìn thấy”.

Tại hội nghị an ninh thường niên ở Munich (Đức) ngày 14/2, các quan chức Mỹ trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mike Esper và Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi đã cảnh báo các nước châu Âu phải tránh xa Huawei. Esper nói: “Việc phụ thuộc vào các công ty cung cấp 5G của Trung Quốc có thể khiến các hệ thống quan trọng của các đối tác của chúng ta dễ bị phá vỡ, thao túng và do thám. Làm vậy cũng có thể gây nguy hiểm cho thông tin liên lạc và các năng lực chia sẻ thông tin tình báo của chúng ta và liên minh của Mỹ nói chung”. Nhưng hãng tin Politico của Mỹ lại đăng bài viết có tiêu đề: “Châu Âu phớt lờ cảnh báo của Mỹ về mạng 5G của Trung Quốc”.

Hậu quả tiềm tàng ngoài dự tính

Hậu quả ngoài dự tính đối với uy tín của Mỹ và rủi ro đối với các công ty Mỹ là rất lớn. Nếu Mỹ lợi dụng mối đe dọa thường được đồn đoán này để ngừng vận chuyển động cơ phản lực cho Trung Quốc, cản trở chương trình của Trung Quốc nhằm phát triển một máy bay dân sự lắp ráp trong nước sử dụng động cơ của General Electric hoặc Safran, thì cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ có đặc thù hoàn toàn khác. Công ty Safran của Pháp là một tài sản an ninh quốc gia và việc cản trở họ sẽ đẩy Paris về phía Bắc Kinh.Các công ty hàng đầu của Mỹ, trong đó có Boeing – với 1/4 số máy bay của họ được bán cho Trung Quốc, cũng như các hãng thiết kế vi mạch hàng đầu của Mỹ có thể sẽ phải chịu tổn thất nặng nề trong thời gian tới.

Mỹ chưa từng thực hiện biện pháp nào trong số này kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chúng bắt nguồn từ sự thất vọng ở Washington sau khi gần như toàn bộ đồng minh của Mỹ – trừ Israel, Nhật Bản và Australia – phớt lờ những yêu cầu đanh thép của Mỹ về việc loại trừ Huawei khỏi tiến trình khai thác mạng băng thông rộng 5G cho điện thoại di động.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã công khai phản đối quyết định của Thủ tướng Anh Boris Johnson về việc cho phép Huawei xây dựng một phần các mạng lưới 5G của Anh, và Tổng thống Trump đã đích thân can thiệp với Thủ tướng Anh nhưng vô hiệu. Ngày 6/2, tờ Financial Times đưa tin rằng Tổng thống Trump đã “bừng bừng tức giận” trong một cuộc điện đàm với Boris Johnson. Ngày 14/2, Boris Johnson đã hoãn một chuyến thăm Nhà Trắng như dự kiến để đáp trả.

Trong khi đó, Chính phủ Đức đã gạt bỏ sự phản đối của một nhóm các thành viên thuộc đảng cầm quyền tại Quốc hội Đức về việc Huawei can dự vào quá trình triển khai mạng 5G của nước này.

Vẫn chưa rõ đạo luật RICO có thể ngăn cản các hoạt động của Huawei bằng cách nào ngoài việc khiến các nhân viên của công ty Trung Quốc này phải chịu các hình phạt pháp lý cực đoan. Việc kiểm soát xuất khẩu các linh kiện của Mỹ cho Huawei có hiệu lực từ tháng 5/2019 đã không thể cản trở Huawei cung cấp thiết bị và điện thoại di động 5G, khi gã khổng lồ Trung Quốc này quay sang các nhà cung cấp Nhật Bản, Đài Loan và các nước khác. Huawei hiện sản xuất cả các trạm phát sóng thông tin mặt đất và điện thoại thông minh 5G mà không cần linh kiện của Mỹ.

Cuối tháng 1/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ bỏ phiếu phủ quyết một đề xuất của Bộ Thương mại nhằm áp đặt quy tắc bán linh kiện của Mỹ cho Huawei và ZTE với điều kiện số hàng hóa đó được sử dụng tối đa 10% nguồn lực của Mỹ trong quá trình sản xuất, nhằm ngăn các công ty nước ngoài sử dụng công nghệ của Mỹ từ việc bán hàng cho các công ty của Trung Quốc. Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Larry Kudlow nói với tờ Wall Street Journal vào ngày 4/2 rằng ông ủng hộ các lập luận phản đối của Lầu Năm Góc, vì “chúng tôi không muốn đẩy các doanh nghiệp lớn của mình đến tình trạng đóng băng kinh doanh”. Tuy nhiên, ngày 12/2, truyền thông Mỹ lại đưa tin rằng Lầu Năm Góc đã đổi ý và hiện ủng hộ lệnh cấm nghiêm ngặt hơn đối với việc xuất khẩu linh kiện cho Huawei – rõ ràng là để đáp ứng sự thay đổi ý kiến ở Nhà Trắng.

Các công ty sẽ chuyển sản phẩm của họ đi nơi khác

Một số công ty Mỹ sẽ không đóng băng, nhưng họ sẽ rời khỏi Mỹ. Ngày 16/2, tờ New York Times đưa tin rằng Quỹ RISC-V, một tổ chức phi lợi nhuận lập ra tiêu chuẩn phần mềm nguồn mở cho các loại vi mạch sử dụng trong điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác, trong những tháng gần đây đã thừa nhận rằng họ quyết định rời trụ sở từ Delaware sang Thụy Sĩ vì các thành viên của tổ chức lo ngại về những quy định nghiêm ngặt hơn ở Mỹ. Cũng theo tờ New York Times, Scott Jones, một nhà nghiên cứu hợp tác với Trung tâm Stimson, cho biết thếm: “Nếu chính quyền tiếp tục đi theo quỹ đạo hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự ra đi của nhiều công ty và nhiều nhà khoa học hơn. Họ sẽ đưa sản phẩm của họ đi nơi khác, và các nền kinh tế khác sẽ hưởng lợi từ điều đó”.

Phần lớn doanh thu của Qualcomm, Nvidia và các công ty sản xuất chất bán dẫn khác của Mỹ là từ châu Á. Nếu họ không được phép bán hàng cho Trung Quốc, họ sẽ mất một phần lớn hoạt động kinh doanh. Thậm chí tệ hơn, Huawei hiện đang sản xuất bộ vi mạch xử lý cho điện thoại thông minh, chẳng hạn như dòng Kirin cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Qualcomm, và bộ xử lý Ascend cho các máy chủ, cạnh tranh với Nvidia.

Theo một chuyên gia phân tích người Trung Quốc, Huawei có thể giảm 30% giá thành các bộ vi xử lý của mình trong cuộc cạnh tranh về giá với Mỹ, đẩy các công ty Mỹ ra khỏi toàn bộ thị trường châu Á. Chuyên gia phân tích này cho biết trong trường hợp đó, Nvidia sẽ hết sạch tiền mặt trong 18 tháng và Qualcomm sẽ hết sau 24 tháng, buộc họ phải ngừng hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho tầm quan trọng của Mỹ trong ngành sản xuất chất bán dẫn do chính Mỹ tạo ra.

Được biết lệnh cấm gây nhiều tranh cãi về việc bán động cơ phản lực cho Trung Quốc sẽ được thảo luận tại một cuộc họp nội các vào ngày 28/2 ở Washington. General Electric và các công ty khác của Mỹ đang ráo riết vận động hành lang để phản đối đề xuất này vì nó không có mục đích rõ ràng về an ninh quốc gia. Một số quan chức Mỹ đề nghị Trung Quốc có thể cải tạo các động cơ do Pháp và Mỹ đồng sản xuất, nhưng General Electric nhận thấy Trung Quốc vẫn mua các động cơ này kể từ năm 2014, và không cần thay bằng bất kỳ động cơ nào mới.

Đề xuất này được đưa ra như một nỗ lực nhằm ngăn Trung Quốc phát triển một công nghệ thông thường. Kết quả là Trung Quốc có thể sẽ đặt mua máy bay từ hãng Airbus của châu Âu thay vì hãng Boeing khi hãng này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn tài chính sau sự đổ vỡ của chương trình Max 737.

Thất bại thê thảm về mặt tình báo

Chính quyền Trump đã đưa ra những tín hiệu mâu thuẫn về ý định của họ đối với Huawei, khi Lầu Năm Góc liên tục đổi ý về những giới hạn được đề xuất cho việc bán linh kiện sử dụng công nghệ và bằng sáng chế của Mỹ. Nhà Trắng tin rằng họ có thể thuyết phục Chính phủ Anh loại trừ Huawei, và không thể nhận ra những gì đã xảy ra ngay cả sau khi London quyết định. Điều này nhấn mạnh một thất bại về tình báo mà phần lớn trách nhiệm thuộc về phía Mỹ.

Huawei không chỉ bán thiết bị viễn thông chất lượng cao với giá cả phải chăng cho các nhà cung cấp điện thoại di động của Anh, mà còn trở thành một phần trong cấu trúc viễn thông của Anh kể từ năm 2011, khi công ty này thuê Giám đốc an ninh thông tin của Chính phủ Anh John Suffolk làm người đứng đầu phụ trách hoạt động kinh doanh của công ty ở Anh. Một giám đốc điều hành cấp cao của Huawei cho biết trong số các nước phương Tây, Anh là quốc gia có quan hệ tốt nhất với công ty này. Cơ quan thông tin chính phủ Anh (GCHQ) – đóng vai trò như cơ quan an ninh quốc gia – đã dành nhiều năm để chỉ trích bộ mã của Huawei, thường đặt ra những đòi hỏi cải tiến mà công ty Trung Quốc này luôn nhanh chóng thực hiện.

Năm 2012, trước sự tán thưởng của Thủ tướng Anh khi đó là David Cameron, Huawei tuyên bố đầu tư 1,3 tỷ bảng vào Anh. Một báo cáo của Huawei lưu ý rằng trong năm 2018, họ đã đầu tư 112 triệu bảng vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, tuyển dụng hơn 300 nhà nghiên cứu ở Anh. Báo cáo cũng cho biết Huawei đã hợp tác với 35 trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Huawei tuyển dụng 50.000 người nước ngoài, phần lớn là các nhà nghiên cứu, tại 20 trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới và trợ cấp cho hàng nghìn người khác. Đây là công ty Trung Quốc đầu tiên kết nối với giới tinh hoa kỹ thuật và khoa học của phương Tây và chiếm được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ với sự giúp đỡ của họ.

Không ai nghi ngờ việc Anh sẽ tiếp tục hợp tác với Huawei, minh họa cho câu ngạn ngữ của Tôn Tử: “Sự chuẩn bị quyết định cuộc chiến thành hay bại”. Huawei đã xây dựng mối quan hệ với Anh một cách cởi mở và trở thành một phần trong cơ sở kỹ thuật của Anh với các dự án đầu tư chiến lược và sự phục tùng có tính toán trước các cơ quan an ninh của Anh.

Mỹ không nhận thấy điều đó cũng như không cơ quan nào của Mỹ cân nhắc khả năng Trân Châu Cảng có thể là một mục tiêu của Nhật Bản vào tháng 12/1941, hay cũng như quân đội Anh không cân nhắc khả năng Nhật Bản tấn công Singapore năm 1942. Đơn giản là các cơ quan tình báo Mỹ không nhận ra rằng Trung Quốc có khả năng thâu tóm toàn bộ thị trường thế giới bằng một công nghệ thay đổi cục diện. Washington cũng không nhận ra rằng Trung Quốc đã phát triển đủ năng lược trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn để tạo ra các vi mạch cao cấp của riêng mình và phớt lờ lệnh cấm nhập khẩu của Mỹ.

Rõ ràng Donald Trump đang tiếp nhận thông tin từ chính những cơ quan tình báo đã phớt lờ thách thức từ Trung Quốc cho đến khi quá muộn – và không muốn gì hơn ngoài việc đổ lỗi cho người khác về những thất bại của chính mình. Kết quả là một nỗi ô nhục và nguy cơ gián đoạn kinh tế nghiêm trọng của Mỹ.

Nguồn: Asia Times – 17/02/2020

TLTKĐB – 21/02/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần III


Khi Soleimani hạ cánh ở Baghdad, thủ lĩnh Kataib Hezbollah đang ở sân bay chờ ông ta. Một số người nghĩ ông ta là người đứng sau vụ tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Theo tờ Guardian, Soleimani và đoàn tùy tùng ban đầu được đưa đến khu vực VIP của sân bay trong một chiếc Toyota Avalon và một chiếc xe buýt nhỏ của Hyundai Starex. Sau đó, họ dự định đi thẳng tới trung tâm thành phố.

Đoàn xe thậm chí còn chưa rời khỏi sân bay khi tên lửa bắt đầu bắn xuống vào khoảng 1 giờ sáng giờ địa phương. Soleimani và những người bạn đồng hành, bao gồm cả con rể của ông và Muhandis, đã bị giết ngay lập tức. Xác của Soleimani chỉ có thể được xác định dựa vào chiếc nhẫn hồng ngọc mà ông ta đang đeo.

Trump và những người theo lập trường cứng rắn

Mỹ và Iran là kẻ thù trong nhiều thập kỷ. Trong Chiến tranh Lạnh, CIA đã dàn xếp cuộc lật đổ Thủ tướng Iran Mohammad Mossadegh và trao quyền lực tuyệt đối cho Shah. Kể từ năm 1979, khi những người Hồi giáo theo Ayatollah Khomeini lên nắm quyền, cuộc xung đột giữa Washington và Tehran đã ít nhiều được công khai.

Người tiền nhiệm của Trump, Barack Obama, đã đảm nhận công việc mà cho đến nay là nỗ lực nghiêm túc nhất để xoa dịu sự thù địch. Cùng với người châu Âu, ông đã đàm phán một hiệp ước với Tehran vốn hứa hẹn sẽ nới lỏng các biện pháp trừng phạt đối với họ để đổi lấy việc Iran ngừng chương trình hạt nhân của nước này. Nhưng thậm chí trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, Trump đã nói rõ rằng ông không phải là người hâm mộ thỏa thuận.

Khi Trump nhậm chức vào tháng 1/2017, ban đầu ông được bao quanh bởi những người ủng hộ thỏa thuận hạt nhân Iran. Cả Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đều hối thúc ông đừng rút khỏi thỏa thuận. Khi Mattis được hỏi trong phiên điều trần ngày 3/10/2017 của Thượng viện về việc liệu ông có tin rằng thỏa thuận hạt nhân là vì lợi ích tốt nhất cảu nước Mỹ hay không, ông trả lời: “Vâng, thượng nghị sĩ, tôi tin”.

Trump thấy mình phải đối mặt với một vấn đề nan giải: Ông ta muốn ép buộc ý chí của mình lên Iran, nhưng cảnh giác với cuộc xung đột quân sự. Và trong nhiều tháng, không có gì nhiều xảy ra. Brian Hook, người được bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của Mỹ tại Iran, đã làm cho người châu Âu có ấn tượng rằng Trump sẵn sàng đàm phán lại các phần của thỏa thuận thay vì từ bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, mọi chuyện đã sớm trở nên rõ ràng rằng Hook không hành động theo mệnh lệnh từ Nhà Trắng.

Vào tháng 3/2018, Trump đã sa thải Tillerson cùng với Cố vấn an ninh quốc gia H.R. McMaster trong cùng tháng đó. Cả hai đều được thay thế bởi những người có lập trường cứng rắn ưa thích một quan điểm không khoan nhượng đối với Iran. Tillerson được thay thế bởi Mike Pompeo – người đã lên tiếng chống lại thỏa thuận hạt nhân với tư cách là nghị sĩ và sau đó, với tư cách là giám đốc CIA, đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Pompeo là một người đàn ông vô cùng sùng đạo, với một số quan chức thấy ông giống một Giáo chủ của Cơ đốc giáo. Trong một cuộc phỏng vấn mạng lưới truyền hình Cơ đốc giáo vào tháng 3/2019, Ngoại trưởng Pompeo cho rằng có thể Thiên Chúa đã gửi Trump đến để bảo vệ Israrel.

Trong khi đó, cố vấn an ninh quốc gia mới của Trump, John Bolton là một người có lập trường cực kỳ cứng rắn và đã luôn thể hiện công khai niềm tin của mình rằng Mỹ nên lật đổ chế độ tại Tehran, bằng bạo lực nếu cần thiết. Khi đàm phán với Iran về việc thỏa thuận hạt nhân đã đi đến hồi kết vào mùa Xuân 2015, Bolton đăng một bài viết trên New York Times với tiêu đề: “Để ngăn chặn những quả bom của Iran, hãy ném bom Iran”.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để cứu vãn thỏa thuận trong chuyến thăm tới Washington vào tháng 4/2018. Ông nói với tổng thống Mỹ rằng các cuộc đàm phán với đại diện đặc biệt về Iran, Brian Hook đầy hứa hẹn. Theo New York Times, Trump phản ứng “Ai là Brian Hook”.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Pompeo có một bài phát biểu quan trọng về Iran theo lời mời của Heritage Foundation có lập trường cực kỳ bảo thủ, trong đó ông coi Tehran là một chế độ bất lương. Trong bài phát biểu của mình, ông đã đề cập đến một cái tên mà nhiều người trong số thính giả của ông có khả năng chưa bao giờ nghe đến trước đây: Ông nói rằng Qassem Soleimani đã sử dụng toàn bộ số tiền nhận được từ thỏa thuận hạt nhân vào mục đích xấu xa.

Ông Pompeo không chỉ yêu cầu chấm dứt chương trình hạt nhân Iran, mà ông còn nhấn mạnh rằng Iran phải từ bỏ những tham vọng quyền lực trong khu vực và chấm dứt hoạt động phổ biến tên lửa đạn đạo. Vào tháng 8, Trump đã áp đặt trở lại toàn bộ biện pháp trừng phạt đối với Iran mà đã bị loại bỏ như một phần của hiệp ước hạt nhân.

Vài tháng sau, tổng thống loan báo Bộ trưởng Quốc phòng Mattis từ chức. Ông là một người luôn kiên định tránh leo thang với Iran. Rõ ràng ông đã từ chối việc Nhà Trắng yêu cầu chuẩn bị cho các phương án tấn công Iran.

Hiện nay Trump được cố vấn bởi những người sẵn sàng lật đổ chế độ của Tehran bằng vũ lực. Vào đầu tháng 5, Bolton tuyên bố kế hoạch đưa tàu sân bay USS Abraham Lincoln đến vịnh Persia. Ngay sau đó, Chính phủ Mỹ đã áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt đối với Tehran, vốn được mở rộng để gây ảnh hưởng đến hoạt động thương mại thép, đồng và nhôm. Thành quả kinh tế của Iran đã nhận một đòn đau đớn hơn nữa.

Cuộc đối đầu quân sự đầu tiên giữa Mỹ và Iran diễn ra vào tháng 6/2019, khi không quân Iran bắn hạ một máy bay không người lái giám sát của Mỹ trên eo biển Hormu. Dường như sự trả đũa là không thể tránh khỏi và cuối cùng Trump đã đưa ra một kế hoạch tấn công mà có thể khiến tới 150 người thiệt mạng. Trên Twitter, Trump viết rằng mặc dù vũ khí của quân đội Mỹ đã “khóa mục tiêu và lên nòng”, nhưng cái chết của 150 người sẽ là một phản ứng quá mức đối với việc bắn hạ một máy bay không người lái.

Điều này đánh dấu thất bại đầu tiên của những người có lập trường cứng rắn thân cận với Pompeo. Mặc dù Trump đã đẩy tất cả các nhóm ôn hòa ra khỏi chính phủ của mình, nhưng ông vẫn không muốn thúc đẩy thành một cuộc chiến tranh với Iran.

Tuy nhiên, những mâu thuẫn không thể tránh khỏi trong chính sách Iran của ông đã buộc ông phải hành động, khi Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad bị tấn công. Một mặt, trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump khẳng định rằng ông sẽ chấm dứt các cuộc chiến dài bất tận ở Trung Đông. Mặt khác, ông không muốn bị coi là một kẻ nhút nhát. Rốt cuộc, Trump đã nhiều lần chế nhạo Obama vì đã vạch ra một ranh giới đỏ trong cuộc nội chiến ở Syria nhưgn cuối cùng quyết định không can thiệp khi chế độ ở Damascus sử dụng vũ khí hóa học chống lại thường dân.

Sự việc Soleimani cho thấy rõ ràng việc đưa ra quyết định của Nhà Trắng đã trở nên thất thường như thế nào. Hội đồng an ninh quốc gia có nhiệm vụ thông báo cho tổng thống về các điểm rắc rối trên thế giới trong nhiều thập kỷ, nhưng không có tổng thống nào sa thải nhiều nhân viên trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Trong ba năm, Trump đã  sử dụng tới ba cố vấn an ninh quốc gia. Robert O’Brien đã nắm giữ vị trí này kể từ khi John Bolton rời đi vào tháng 9/2019, và điều quan trọng nhất là Robert O’Brien không mâu thuẫn với Donald Trump.

Douglas A. Silliman, Đại sứ Mỹ tại Iraq cho đến năm 2019, cho biết: “Tôi không tin rằng Tổng thống Trump nói chung được chỉ dẫn đầy đủ về những hậu quả nhiệm kỳ thứ hai và thứ ba” trong các quyết định của ông. “Và ông ấy luôn không chú ý đến chỉ dẫn chi tiết về những gì có thể xảy ra sau đó”.

Silliman nhớ những ngày mà Mỹ có một chiến lược về Iran. Ông nói: “Vấn đề mà chính quyền này gặp phải là họ không thể khẳng định rõ ràng những thay đổi chính sách mà họ đã tìm kiếm từ Iran”.

Liệu họ có muốn chấm dứt chương trình hạt nhân? Hay để Iran từ bỏ các mục tiêu bá quyền của mình? Hay liệu cuối cùng có lật đổ chế độ này hay không?        Bằng việc giết Soleimani, Trump hy vọng giải quyết vấn đề Iran một lần và mãi mãi, nhưng ông chỉ thành công trong việc làm cho vấn đề này trở nên lớn hơn. Cuộc xung đột với Tehran sẽ theo ông cho đến hết nhiệm kỳ tổng thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Dịch COVID-19 thúc đẩy tiến trình tách rời giữa Mỹ và Trung Quốc


Vào tháng 11/2019, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger có mặt ở Bắc Kinh để tham dự Diễn đàn Kinh tế mới do Bloomberg tổ chức. Tại đây, ông Kissinger cảnh báo rằng Mỹ và Trung Quốc đang ở chân đồi của một cuộc Chiến tranh Lạnh và cuộc xung đột này có thể tồi tệ hơn Chiến tranh Thế giới thứ Nhất nếu cứ để nó tiếp diễn một cách không giới hạn.

Theo Asia Times, những bình luận của ông Kissinger được đưa ra trong bối cảnh những năm gần đây, căng thẳng leo thang trong lĩnh vực thương mại; nguy cơ xung đột quân sự giữa hai bờ eo biển Đài Loan và trên Biển Đông gia tăng; các cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp và ảnh hưởng đến chiến dịch bầu cử xuất hiện. Nói cách khác, đây là một cuộc cạnh tranh toàn diện để xác định các quy tắc và giá trị làm nền tảng cho trật tự quốc tế. Một điều đáng chú ý nữa là một tháng sau, nghĩa là vào tháng 12/2019, dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 đã bùng phát ở thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc dẫn tới sự hoảng loạn trên toàn thế giới và sự cách ly trên thực tế của nền kinh tế Trung Quốc do nhiều thành phố của nước này bị phong tỏa, hoạt động kinh doanh ngừng trệ và bởi lệnh cấm đi lại của cộng đồng quốc tế.

Cùng với sự thay đổi chính sách Trung Quốc của Washington, từ can dự tới ngăn chặn và đến thời của Tổng thống Donald Trump là tách rời, một số nhà quan sát như Curtis Chin, một thành viên châu Á tại Viện Milken, tin rằng virus COVID-19 đang đẩy nhanh việc tách rời với Trung Quốc khi các nước và các doanh nghiệp buộc phải “suy xét về một chuỗi cung ứng cho dài hạn”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross chia sẻ quan điểm này và coi cuộc khủng hoảng đại dịch ở Trung Quốc là một cơ hội để đưa việc làm trở lại Mỹ. Trong khi đó, giới diều hâu Mỹ tiếp tục gây áp lực tối đa để tẩy chạy, loại bỏ và trừng phạt (BDS) Trung Quốc với cảnh báo rằng, Bắc Kinh đang tiến hành chiến tranh sinh học thông qua một phòng thí nghiệm virus ở Vũ Hán và Mỹ cần từ chối hỗ trợ y tế với Trung Quốc, để virus thổi bùng cơn giận dữ đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ cho rằng, các quan chức Mỹ đã bị lợi dụng như những người đại diện bất đắc dĩ của Trung Quốc và Trung Quốc cần phải tiếp tục áp đặt biện pháp thuế quan thương mại cũng như nhiều biện pháp trừng phạt đối với nền kinh tế Trung Quốc.

Báo cáo trên cho biết thêm trong những năm gần đây, các nhà theo dõi Trung Quốc đang gia tăng báo động về sự xuống cấp nhanh chóng trong quan hệ Mỹ-Trung. Ngày nay, người ta thường nghe thấy những tranh luận cảnh báo về sự phân chia nền kinh tế toàn cầu thành các phạm vi ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc. Cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd cảnh báo rằng, nếu quả thực chúng ta đang ở trong một thế giới hoàn toàn tách rời, đây sẽ là điềm báo sự trở lại của một “bức màn sắt” giữa phương Đông và phương Tây và là “sự khởi đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang thông thường và vũ khí hạt nhân mới với tất cả sự bất ổn chiến lược và rủi ro của nó”.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Tôn Vận thuộc Trung tâm Stimson, Mỹ và Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến tiêu hao đẩy nhanh sự tách rời trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Nguyên nhân là do cả Mỹ, Trung Quốc và bên thứ ba đều thay đổi thành phần và phương hướng trong chuỗi cung ứng của họ, chuyển đi nơi khác. Tôn Vận cảnh báo nếu việc tách rời ở hai nước làm biến mất tất cả các lợi ích chung, để lại những lợi ích xung đột thô sơ và thuần túy, đó sẽ là một con đường nguy hiểm, dẫn đến đối đầu quân sự. Trung tướng về hưu Karl Eikenberry của Quân đội Mỹ cũng có chung quan điểm.

Trong một phát biểu gần đây tại Đại học Stanford, tướng Eikenberry đã cảnh báo về một “tai nạn quân sự hoặc tính toán sai lầm trong hành động” tiềm tàng giữa các lực lượng vũ trang của cả hai nước trong bối cảnh xảy ra sự tách rời nêu trên. Trong quá khứ đã có một vài trường hợp đụng độ quân sự gần như nổ ra vào năm 2018, một tàu khu trục Trung Quốc và tàu khu trục hải quân Mỹ suýt va chạm ở Biển Đông. Trước đó vào tháng 4/2001, một máy bay hải quân Mỹ đã va chạm với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc và buộc phải hạ cánh xuống Hải Nam. Năm 1996, Mỹ đã vô tình ném bom trúng đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade. Nhưng không trường hợp nào dẫn đến chiến tranh.

Cùng với việc căng thẳng giữa hai nước gia tăng, sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực tiêu dùng trong khi mặt trận đã mở rộng sang lĩnh vực công nghệ và không gian mạng, tướng Eikenberry cho biết, Washington hiện đang tập trung vào “an ninh hóa các trao đổi kinh tế”. Như vậy, các thỏa thuận không còn bó hẹp trong phạm vi cân bằng thâm hụt thương mại mà đã mang ý nghĩa bảo mật rộng hơn. Nếu xảy ra một sự cố ngoại giao hoặc quân sự nào trong bối cảnh căng thẳng này, tướng Eikenberry tin rằng hậu quả sẽ lớn hơn nhiều.

Asia Times lại cho biết, bên cạnh lĩnh vực kinh tế và quân sự, sự tách rời còn diễn ra trên phương diện trao đổi học thuật và giao lưu nhân dân ở cấp địa phương. Tháng 6/2019, Bloomberg đăng tải một bài viết tiết lộ rằng, Mỹ đang thanh trừng các nhà khoa học người Trung Quốc, bao gồm cả công dân Mỹ gốc Hoa. Những người này đang nghiên cứu ung thư tại các cơ sở hàng đầu của Mỹ cũng như tham gia các dự án khác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Nhiều cơ sở đã hợp tác với FBI, giám sát các nhà khoa học và học giả Trung Quốc, dẫn đến nỗi sợ hãi của người Mỹ gốc Á. Đây có thể là sự chuyển dịch nguy hiểm dẫn tới hoang tưởng và định kiến chủng tộc, tương tự như chiến dịch định kiến chủng tộc của Trung Quốc nhằm vào người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Trên thực tế từ năm 2015, Nghị sĩ Ted Liêu (D-Torrance) và 42 thành viên Quốc hội đã nêu ra những quan ngại này với Bộ Tư pháp Mỹ. Nhưng trước một môi trường ngày càng đáng sợ và căng thẳng trong các tổ chức học thuật, trao đổi học thuật và hợp tác nghiên cứu song phương giữa Mỹ và Trung Quốc đã xuất hiện sự lạnh nhạt và tiến trình tách rời có vẻ sẽ còn tiếp tục.

Căn cứ vào những quan sát tiên đoán của cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, tại thời điểm quan trọng này, sự xuất hiện của những cảnh báo của ông liên quan đến một cuộc Chiến tranh Lạnh mới có vẻ đúng. Paul Haenle, cựu cố vấn châu Á của các Tổng thống Mỹ G. Bush và B. Obama, cho biết thêm: “Nếu bạn nói chuyện với những người ở Lầu Năm Góc, họ sẽ không còn tranh luận về việc Trung Quốc có phải là kẻ thù hay không. Họ đang lập kế hoạch cho chiến tranh và nếu bạn nói về sự hợp tác, bạn sẽ được nhìn nhận như những kẻ ngây thơ”.

Cây bút Evan Osnos của tờ The New  Yorker lưu ý cách Kissinger so sánh tình hình quan hệ song phương hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc với sự tương đồng đáng lo ngại về Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Theo Evan Osnos, chiến tranh thương mại là một tín hiệu đáng ngại về sự phân cực kinh tế. Đây thường là khúc dạo đầu của một cuộc chiến tranh thực sự. Điều tương tự đã đẩy Anh chống lại Đức trước năm 1914. Còn ông Kissinger cho rằng nếu nhìn vào lịch sử thì không ai trong số các nhà lãnh đạo bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ Nhất sẽ làm như vậy nếu họ biết cuối cùng thế giới sẽ như thế nào. “”Đó là tình huống chúng ta phải tránh”, cựu Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh.

Nhà sử học Odd Arne Westad thuộc Đại học Yale đồng ý với quan điểm trên và lưu ý rằng tương tự như giai đoạn trước năm 1914, tất nhiên không chỉ là trỗi dậy của Đức. Những gì chúng ta cần nghĩ, cần tập trung vào là điều gì thực sự dẫn đến chiến tranh. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh đó là nỗi sợ hãi của người Đức về vị thế của đất nước họ trong tương lai sẽ không còn được hùng cường như là ở thời điểm mùa Hè năm 1914 khi sức mạnh của Đức là vô hạn.

Cây bút Osnos cảnh báo rủi ro lớn nhất hiện nay là sự mù quáng sinh ra từ thiếu hiểu biết, tính kiêu ngạo hoặc ý thức hệ. Như những gì xảy ra gần đây trong quan hệ đưa Mỹ – Iran đến bờ vực chiến tranh thì sự hiểu lầm đã làm dẫn đến tính toán sai lầm và leo thang xung đột. Do đó, theo Osnos, nếu Washington đánh cược vào an ninh quốc gia với những dự đoán sai lầm và ý thức hệ trong lĩnh vực thương mại, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Và nếu nhận thấy Mỹ quyết tâm loại trừ Trung Quốc khỏi sự thịnh vượng và nhấn chìm Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có thể hiểu lầm điều này như là chuốc lấy nỗi bất hạnh cho chính mình.

Nguồn: TKNB – 20/02/2020.

Mỹ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam


Theo đài RFA, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) ngày 11/2 thông báo thu hẹp danh sách các nước đang phát triển và kém phát triển, đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ xóa bỏ ưu đãi của WTO với nhiều nước, trong đó có Việt Nam.

Ngày 12/2, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, có bài phân tích về quyết định này sẽ ảnh hưởng đến Việt Nam như thế nào?

Theo Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, phía Mỹ sẽ không còn dành các ưu đãi về thuế quan cho những quan hệ thương mại với Việt Nam. Hy vọng rằng, phía Việt Nam sẽ có những nỗ lực tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn trọng lẫn nhau.

USTR cho biết việc sửa đổi phương pháp xét tiêu chí nước đang phát triển là để điều tra thuế chống bán phá giá. Lâu nay, một số mặt hàng của Việt Nam xuất sang Mỹ từng bị Mỹ điều tra chống bán phá giá, từ đó bị tác động mạnh như biểu thuế tăng; và cũng có trường hợp được bỏ thuế vì phía Mỹ không tìm ra bằng chứng các sản phẩm được trợ giá từ chính phủ. Chuyên gia cho rằng những vụ việc đó cho thấy Việt Nam cần phải kiểm soát rất kỹ càng, bởi vì trong tình hình cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, có nguy cơ một số công ty của Trung Quốc sẽ chuyển công đoạn lắp ráp sang Việt Nam. Thay vì họ dán nhãn mác “Made in China” là sản xuất tại Trung Quốc, họ sẽ gắn mác “Made in Vietnam” để tránh thuế quan. Ông Lê Đăng Doanh nhấn mạnh, đây là điều chính phủ Việt Nam nên tránh và chứng minh được là phía Việt Nam sẽ hợp tác chặt chẽ, cởi mở, chân thành với phía Mỹ, để không có những gian lận thương mại đó

Vấn đề quan trọng của Việt Nam là sẽ phải tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ thương mại, để tránh phụ thuộc vào một cường quốc duy nhất nào đó. Đó là nỗ lực của Việt Nam để bảo đảm sự độc lập và đi đến sự thịnh vượng của nền kinh tế của Việt Nam, mà không phải trả giá về chủ quyền.

Việt Nam đến nay mong muốn Mỹ công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường để tránh những bất cập trong thương mại song phương, tuy nhiên Mỹ vẫn chưa chính thức công nhận. Hiện tại, Việt Nam vẫn giữ việc kiểm soát giá một số mặt hàng như định giá xăng dầu, giá điện và giá các mặt hàng về kết cấu hạ tầng. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục các chính sách của mình hỗ trợ các mặt hàng như việc hỗ trợ về mặt kỹ thuật đối với các mặt hàng sản xuất mà Việt Nam có thế mạnh. Việc này hai bên cần phải tiếp tục trao đổi với nhau để có thể xích lại gần nhau hơn.

Ngày 12/2, Nghị viện châu Âu đã thông qua Hiệp định Thương mại Tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA), đó là một bước tiến, cũng là một gợi ý, cho thấy quá trình hội nhập của Việt Nam ngày càng được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Theo chuyên gia, Việt Nam cho đến nay đã ký kết 16 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng tốt, bởi vì các doanh nghiệp Việt Nam còn quá nhỏ và chưa liên kết được với nhau.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đẩy mạnh quá trình liên kết với nhau thành các doanh nghiệp đủ tầm cỡ, hiện đại. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng phải mạnh dạn tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, tức là tham gia vào chuỗi giá trị, trở  thành một thành viên trong một công đoạn sản xuất của các tập đoàn nước ngoài. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đạt được các tiến bộ nhanh hơn, mạnh mẽ hơn về mặt công nghệ, cũng như mặt quản trị và tiếp cận thị trường.

Việt Nam đã có những nỗ lực, nhưng các thị trường khác đề ra các yêu cầu cao và các doanh nghiệp Việt Nam thì chưa đáp ứng được, vì vậy cho nên Việt Nam vẫn tranh thủ cơ hội xuất khẩu sang Trung Quốc và nhập khẩu từ Trung Quốc, bởi các nguyên vật liệu từ Trung Quốc được trợ giá nên rẻ hơn rất nhiều so với giá của các đối tác khác thí dụ như sợi, các nguyên liệu dệt may, da giầy. Đó là những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu rất nhiều từ Trung Quốc.

Việc Cơ quan Đại diện thương mại Mỹ (USTR) quyết định như vậy là việc của phía Mỹ, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục mối quan hệ trao đổi để có thể cải thiện được sự hiểu biết, thông cam lẫn nhau, và có thể đi đến những quyết định có lợi hơn cho phía Việt Nam. Chuyên gia Lê Đăng Doanh tin tưởng rằng phía Mỹ sẽ hợp tác với phía Việt Nam để đẩy mạnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, vì Ngoại trưởng Mỹ đã có tuyên bố rằng, Mỹ rất quan tâm đến một nước Việt Nam độc lập và hùng cường.

Nguồn: TKNB – 14/02/2020.

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần II


Di sản của Qassem Soleimani

Sự nghiệp của Qassem Soleimani bắt đầu gây dựng trong giai đoạn Saddam Hussein xâm lược Iran và thực hiện các cuộc tàn sát khủng khiếp vào năm 1980. Cuộc chiến kết thúc với một lệnh ngừng bắn 8 năm sau đó, sau khi hàng trăm nghìn người thiệt mạng.

Vào đầu những năm tuổi hai mươi, chiến tranh đã giúp sự nghiệp của Qassem Soleimani cất cánh. Ông trở thành sĩ quan chỉ huy của một đơn vị Vệ binh cách mạng ở tỉnh Kerman, quê hương ông. Ông được quý trọng bởi lòng dũng cảm và khả năng vận dụng chiến thuật của mình, sau đó ông đã phụ trách toàn bộ một sư đoàn. Tuy nhiên, ông đã chứng kiến một số lượng rất lớn binh lính của mình chết trên tiền tuyến, cùng với việc các lãnh đạo quân sự liên tục yêu cầu quân của họ xông qua bãi mìn khi đối mặt với hỏa lực của Iraq.

Bài học mà Qassem Soleimani rút ra từ cuộc bạo lực là rõ ràng Không bao giờ lại để quá nhiều người phải hy sinh vì lợi ích quá ít ỏi. Iran sẽ tiếp tục tiến hành chiến tranh – rút cuộc, cả Saudi Arabia và Mỹ đều ủng hộ cuộc xâm lược của Saddam Hussein. Nhưng việc sử dụng các lực lượng thông thường dẫn đến những tổn thất khủng khiếp khiến vị chỉ huy trẻ của Iran thề sẽ tránh cuộc chiến tranh không hạn chế như vậy trong tương lai.

Lực lượng Vệ binh cách mạng (được biết đến ở Iran là Pasdaran) – mà Lực ượng Quds cũng nằm trong đó – được thành lập vào năm 1979 bởi Lãnh tụ cách mạng Hồi giáo Ruhollah Khomeini. Ban đầu, lực lượng này được cho là hỗ trợ các cuộc cách mạng ở các quốc gia khác, một mục tiêu đã tạo ra cho Hezbollah ở Liban trong những năm 1980.

Tuy nhiên, khi Qassem Soleimani nắm quyền chỉ huy Lực lượng Quds vào năm 1998, ông quyết định biến lực lượng này thành công cụ hoàn hảo làm các nước khác phải nằm dưới quyền kiểm soát của ông. Qassem Soleimani đã tạo ra một bộ máy khủng bố mà sẽ tiếp tục hoạt động ngay cả này, khi Soleimani đã chết.

Bất cứ nơi nào có người Shiite sinh sống, thì một mạng lưới các trường học, tổ chức viện trở và hoạt động truyền giáo đều mọc lên để lấy lòng dân chúng và chiêu mộ các chiến binh và phát triển các lực lượng dân quân. Niềm tin và tiền bạc đã được sử dụng để củng cố lòng trung thành. Khi làm như vậy, Qassem Soleimani tận dụng sự thù địch từ lâu giữa người Sunni và người Shiite, khơi dậy lòng hận thù như một công cụ để đạt được các mục tiêu của mình. Nhưng tính thực dụng cũng khiến ông phải hợp tác với các nhóm Sunni khi cần thiết.

Ryan Crocker, Đại sứ Mỹ tại Iraq (2007 – 2009) nói: “Bản thân Qassem Soleimani không phải là một người đặc biệt sùng đạo”. Ryan Crocker đôi khi có sự trao đổi qua lại với chỉ huy Lực lượng Quds thông qua các sứ giả và ông nói rằng tôn giáo không phải là một động lực chính trị đối với Qassem Soleimani và ông ta chỉ thỉnh thoảng đến thăm nhà thờ Hồi giáo. Ryan Crocker cho biết động lực chính của ông ta bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc, và tình yêu chiến đấu.

Giống như Pasdaran, nơi phát triển đế chế kinh tế của riêng mình ở Iran, lực lượng ủy nhiệm của Qassem Soleimani ở Iraq bắt đầu vào năm 2010, nếu không nói là sớm hơn, chuyển một phần số tiền hàng tỷ USD thu được từ xuất khẩu dầu mỏ của Iraq vào kho bạc của Lực lượng Quds. Chậm nhưng chắc – đôi khi dưới các vỏ bọc và đôi khi công khai hơn – sức mạnh của những bên ủy nhiệm cho Soleimani đã tăng lên kể từ đầu thiên niên kỷ.

Tại Liban, Hezbollah đã trở thành một nhà nước trong một nhà nước. Không có chính phủ nào ở Liban có thể làm được gì nhiều về điều đó, bất chấp áp lực đáng kể từ Mỹ và Saudi Arabia. Khi Chính phủ Liban đã cố giành lại quyền kiểm soát sân bay Beirut và mạng điện thoại di động của đất nước từ Hezbollah vào tháng 5/2008, các lực lượng dân quân đã làm tê liệt Beirut trong vài ngày.

Ở phía Tây Afghanistan, Iran bắt đầu xâm nhập vào các thể chế chính phủ vào năm 2010, nếu không nói là trước đó. Họ cũng bắt đầu sử dụng các lực lượng dân quân của riêng họ để tấn công các căn cứ quân sự và các dự án cơ sở hạ tầng của Mỹ, như công trường xây dựng một con đập mà có thể làm tổn hại nguồn cung cấp nước của Iran.

Ở Iraq, nước láng giềng quan trọng nhất của Iran với đa số người Shiite ở đó cùng nguồn dầu mỏ dồi dào, lực lượng dân quân Shiite hình thành sau cuộc xâm lược của Mỹ vào năm 2003. Những đơn vị đó đã dành nhiều năm để tiến hành một cuộc chiến tranh trong bóng tối chống lại quân đội Mỹ, cuối cùng đã khiến khoảng 600 binh lính Mỹ thiệt mạng.

Nhưng chính sự can dự của Iran vào Syria bắt đầu từ năm 2012 đã chứng tỏ được sức mạnh của Qassem Soleimani. Vào thời điểm đó, chế độ độc tài của Bashar al-Assad đang phải đối mặt với sự sụp đổ và chỉ có thể dựa vào nhóm thiểu số Alawite của mình, chiếm khoảng 10% dân số.

Để cứu đồng minh lâu năm của Iran, chỉ huy Lực lượng Quds đã đưa Hezbollah vào Syria, sau đó là hàng chục nghìn chiến binh từ Iraq, Afghanistan và Pakistan. Vũ khí, đạn dược và các bộ phận thay thế đã được gửi tới Syria qua Iraq để giúp đỡ Assad cho đến khi không quân Nga tham gia cuộc chiến vào mùa Thu năm 2015, một bước đi mà đã chuyển cơn thủy triều thành có lợi cho nhà độc tài Syria.

Vào lúc đó, quân đội hoạt động ngầm của Soleimani đã phát triển thành một lực lượng chiến đấu đa quốc gia, có thể huy động một số lượng lớn binh lính trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn. Và việc sử dụng lính đánh thuê nước ngoài đã mang lại cho các chiến lược gia Iran một lợi thế quyết định: Nó đã cho phép Tehran lảng tránh trách nhiệm. Ngoài các mật vụ Pasdaran chuyên nghiệp, không người Iran nào được phép chiến đấu bên cạnh các lực lượng dân quân nước ngoài. Mô hình này đã được chứng minh là cực kỳ có lợi khi cho phép giới lãnh đạo Iran tránh các cuộc tranh luận nội bộ kéo dài về sự can thiệp nước ngoài và không phải giải quyết cơn phẫn nộ của các thành viên gia đình những người thiệt mạng trong trận chiến.

Bản thân Qassem Soleimani từ lâu đã rất cẩn thận để tránh gây bất kỳ sự chú ý nào khi đi khắp Trung Đông. Qassem Soleimani như một bóng ma: Mọi người đều biết ông ta quan trọng như thế nào, nhưng hầu như chưa có ai thực sự nhìn thấy ông ta.

Soleimani chỉ thôi lo sợ về sự an toàn của mình trong những năm gần đây. Những hình ảnh về Qassem Soleimani bắt đầu xuất hiện, cho thấy ông ta hiện diện ở mặt trận Syria, ở ngoại ô Beirut hay tại trụ sở chính phủ ở Baghdad. Hình ảnh một kẻ chủ mưu quân sự trong bóng tối dần dần biến thành hình ảnh gần giống với một ngôi sao nhạc pop. Thậm chí, nhiều người phản đối chế độ còn coi ông là người bảo vệ Iran khỏi những nguy hiểm từ IS, vốn đã nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng trên khắp Iraq và Syria.

Nhưng cho dù chiến lược của Soleimani hiệu quả, thì chủ nghĩa đế quốc Iran gần đây đã đi đến giới hạn của nó. Tại Yemen, một tình thế bế tắc đã phát triển giữa phiến quân Houthi do Iran hậu thuẫn và các lực lượng được Saudi Arabia hỗ trợ gia tăng. Tại Liban, nền kinh tế nước này đã sụp đổ. Tại Iraq, hàng nghìn người gần đây đã xuống đường trong nhiều tuần lễ để phản đối tình trạng tham nhũng của chính phủ nước họ và chống lại quyền bá chủ của Iran ở nước này.

Vào tháng 10/2019, Qassem Soleimani đã gặp các đồng minh Shiite bên bờ sông Tigris ở Baghdad để thảo luận về việc làm thế nào để dập tắt các cuộc nổi dậy của dân chúng. Các quan chức Iraq nói với Reuters rằng Qassem Soleimani đã chọn một tiến trình hành động cực đoan và cực kỳ rủi ro: Ông chỉ thị cho thủ lĩnh Kataib Hezbollah, Abu Mahdi al-Muhandis và các nhà lãnh đạo dân quân khác kích động Mỹ can thiệp quân sự vào Iraq bằng cách tấn công các cơ sở của Mỹ ở nước này. Hy vọng làm như vậy sẽ chuyển hướng cơn tức giận của ngườid ân Iraq sang phía người Mỹ.

Nếu câu chuyện được các quan chức Iraq kể lại là đúng, thì Soleimani đã chính xác ra lệnh thực hiện một loạt các cuộc tấn công vào ngày đó tháng 10, mà sẽ khiến ông chết dưới tay Mỹ 3 tháng sau đó.

Có những tranh luận về lý do tại sao Qassem Soleimani bay trở lại Baghdad vào đêm ngày 2 – 3/1/2020. Chính phủ Mỹ tuyên bố Qassem Soleimani đang trong quá trình lên kế hoạch tấn công bổ sung nhắm vào công dân Mỹ. Ngược lại, Thủ tướng lâm thời Iraq Adel Abdul-Mahdi nói rằng vị tướng này đã muốn thảo luận về một đề xuất hòa bình từ Saudi Arabia với ông.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Cuộc chạy đua điều chế vaccine phòng chống COVID-19 tăng tốc tại Mỹ và Trung Quốc


Ba loại vaccine phòng dịch COVID-19 đang được đưa vào giai đoạn thử nghiệm trên người tại Trung Quốc và Mỹ, song đó vẫn là một con đường rất dài để xem xét liệu những loại dược phẩm này có thực sự hiệu quả hay không.

Theo thông báo từ Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ngày 14/4, phòng Thí nghiệm Sinh học CanSino (trụ sở tại Thiên Tân) của Trung Quốc đã bắt đầu giai đoạn thử nghiệm thứ hai với các tình nguyện viên.

Trong khi đó, Mỹ cũng không chậm chân hơn với hoạt động nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) khi tình nguyện viên thử vaccine tháng trước đã tới phòng nghiên cứu tại Seattle ngày 14/4 để tiêm liều vaccine thứ hai.

Tổ chức Y tế Thế giới trong tuần này cho biết trên khắp thế giới có hơn 60 loại vaccine đang trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Nhiều nhóm nghiên cứu cũng đã phối hợp với nhau để đẩy nhanh công việc, như tập đoàn Sanofi và GSK là những đối tác mới nhất thự chiện kế hoạch này.

Nỗ lực tại Trung Quốc

Vaccine của phòng thí nghiệm CanSino là vaccine tái tổ hợp do nhóm nghiên cứu của nhà dịch tễ học, Thiếu tướng Chen Wei (Trần Vi), làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Quân y. Đây là loại vaccine đầu tiên được đưa vào thử nghiệm lâm sàng dựa trên một vật liệu di truyền vốn được tạo ra để kháng lại virus ebola. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Mỹ đi theo hướng điều chế vaccine từ việc sao chép một phần bộ gen của virus corona.

Về vaccine của CanSino, giai đoạn I của quá trình thử nghiệm đã hoàn tất vào tháng 3/2020 và giai đoạn II bắt đầu từ ngày 12/4/2020. WHO cũng xác nhận đây là vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thứ hai. Trong giai đoạn hai, tình nguyện viên không còn bị giới hạn độ tuổi dưới 60. Bà Chen cho rằng người cao tuổi là nhóm đối tượng dễ bị lây nhiễm và tiến triển năng khi nhiễm SARS-CoV-2, vì vậy, các loại vaccine nên được điều chế để tạo thành lá chắn cho nhóm đối tượng này. Vaccine mang theo gen của các protein bề mặt (lồi thành dạng gai) của virus SARS-CoV-2 (đã giảm độc lực) được tiêm vào cơ thể tình nguyện viên để từ đó vật chủ xây dựng hệ thống miễn dịch với các protein này. Khi SARS-CoV-2 thực sự tấn công, cơ thể sẽ nhận dạng loại protein đó và ngăn chặn cuộc tấn công của chúng.

Wu Yuanbin, Vụ trưởng Vụ Công nghệ khoa học phát triển xã hội thuộc Bộ Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc, cho biết hai đơn vị khác được cấp phép thử nghiệm vaccine trên người là Viện sản phẩm sinh học Vũ Hán, thuộc Tập đoàn Dược phẩm Quốc gia (Sinopharm) (phối hợp cùng Viện virus Vũ Hán, Học viện Khoa học Trung Quốc); và Công ty Nghiên cứu và phát triển Sinovac. Hai đơn vị này đều phát triển các loại vaccine bất hoạt (chứa virus được nuôi cấy nhân tạo nhưng không còn khả năng gây bệnh).

Cũng theo ông Wu, Trung Quốc đang triển khai 5 cách tiếp cận trong quá trình phát triển vaccine phòng COVID-19, cụ thể là các vaccine bất hoạt, vaccine tái tổ hợp protein, vaccine sử dụng loại virus không chứa các đặc tính truyền nhiễm mà cung cấp vật liệu di truyền cho vật chủ, vaccine nucleic acid và vaccine dùng virus cúm đã được giảm độc lực làm vật chủ. Các nghiên cứu đều đang được gấp rút đẩy mạnh.

Nhấn mạnh an toàn là ưu tiên hàng đầu, ông Wang khẳng định, quá trình thử nghiêm lâm sàng vaccine luôn được tiến hành theo 3 giai đoạn. Giai đoạn I là thử nghiệm với vài chục tình nguyện viên để xác định độ an toàn của vaccine và sức chịu đựng của cơ thể con người với các liều khác nhau. Giai đoạn II sẽ có vô số người tham gia thử nghiệm nhiều hơn để xác định độ hiệu quả và an toàn. Giai đoạn III có thể được tiến hành với khoảng vài nghìn, cho đến vài chục nghìn người với thời gian theo dõi có thể là cả một chu kỳ dịch bệnh để quyết định hiệu quả của loại vaccine đó và xây dựng cơ sở khoa học nhằm đưa vào sử dụng.

Mũi thử nghiệm thứ hai tại Mỹ

Ngày 14/4, tình nguyện viên thử nghiệm vaccine mRNA-1273 tại Mỹ đã được tiêm mũi thứ hai. Đây là sản phẩm của NIH và công ty công nghệ sinh học Mordena hợp tác nghiên cứu và phát triển. Loại vaccine không chứa virus vì vậy giảm thiểu khả năng lây nhiễm.

Tiến sĩ Anthony Fauci, người đứng đầu khoa lây nhiễm của NIH chia sẻ với phóng viên hãng tin AP rằng cho đến nay, họ chưa ghi nhận bất kỳ cảnh báo nguy hiểm nào và hy vọng việc thử nghiệm trên quy mô rộng hơn sẽ được bắt đầu vào khoảng tháng 6 tới. Tiến sĩ Fauci cho rằng nếu dịch COVID-19 tiếp tục lan rộng suốt cả mùa Hè và mùa Thu tới, nhiều khả năng các nhà khoa học sẽ “nỗ lực hoàn thành các nghiên cứu quy mô sớm hơn khoảng thời gian dự kiến là 12 – 18 tháng”.

Doanh nghiệp Inovio Pharmaceuticals cũng bắt đầu đưa vaccine nghiên cứu vào thử nghiệm lần hai, và hy vọng có thể mở rộng các nghiên cứu tới Trung Quốc nhờ quá trình đàm phán với công ty công nghệ sinh học Advaccine Bắc Kinh.

Các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I chủ yếu chú trọng tới tính an toàn, và các nhà khoa học ở cả Mỹ và Trung Quốc đều đang thử các liều lượng khác nhau cho từng loại vaccine. Tuy nhiên, việc tiến tới giai đoạn thử nghiệm thứ hai là bước tiến quan trọng cho phép vaccine có thể được thử nghiệm trên người nhiều nhơn để quan sát và ghi nhận các dấu hiệu miễn dịch của các tình nguyện viên này.

Nguồn: TKNB – 17/04/2020.