Việt Nam tận dụng xung đột Mỹ – Trung để tái cân bằng quan hệ kinh tế và an ninh


Cả châu Á đều chung tâm trạng “thấp thỏm” khi Trung Quốc và Mỹ chưa chắc liệu sau thời hạn “ngừng chiến” 90 ngày có tháo gỡ được bế tắc liên quan đến cuộc xung đột thương mại hay không. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đang làm thay đổi mối quan hệ của Việt Nam với nước láng giềng phương Bắc và tạo điều kiện để Hà Nội đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc để thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng vì đây là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, có dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tái cân bằng mối quan hệ này.

Người dân đã phản ứng trước dự luật thành lập 3 đặc khu, dẫn đến cuộc biểu tình rầm rộ hồi tháng 6 để phản đối kế hoạch được xem là tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã hoản bỏ phiếu vào tháng 10/2018 và lặng lẽ trì hoãn lần nữa việt xem xét dự luật này cho đến tháng 5/2019. Động thái này được coi là dấu hiệu cho thấy Việt Nam cảnh giác hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và đang lợi dụng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc để tái cân bằng mối quan hệ.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế (CSSD) tại Hà Nội cho rằng về mặt chính trị, việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc rất tốt cho Việt Nam: “Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nếu tốt đẹp thì không hẳn là tốt cho Việt Nam, mà xấu đi cũng không phải là điều tệ với Việt Nam. Với những quốc gia nhỏ như Việt Nam, quan hệ tốt đẹp giữa hai cường quốc lại có khía cạnh nguy hiểm hơn. Dưới thời Obama, khi Mỹ và Trung Quốc có quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc đã cố gắng làm những việc rất có hại liên quan đến các đảo nhân tạo trên Biển Đông”.

Có ý kiến cho rằng lời lẽ phản đối của Hà Nội đối với Bắc Kinh liên quan đến những tranh chấp trên biển cũng quyết liệt hơn khi Việt Nam có quan hệ với một nước Mỹ quyết đoán hơn.

Chiến lược về thương mại

Trong thương mại, Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội bùng phát cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung để trở thành điểm đến hàng đầu cho các nhà sản xuất muốn tránh đòn thuế quan.

Ông John Rockkeep, giám đốc Phòng Thương mại Mỹ chi nhánh TPHCM, cho biết ông đã chứng kiến sự gia tăng lớn về số lượng các công ty quan tâm đến việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc đến Việt Nam. Từ tháng 9/2018, cứ mỗi tuần, có 4 công ty tiếp cận chi nhánh của ông để được tư vấn về việc chuyển đến Việt Nam – gấp 4 lần so với các tháng trước.

Zhang Zhang Diansheng, tổng giám đốc Trung tâm dịch vụ kinh doanh Hàng Sinh, cho biết hiện tượng chuyển dịch sản xuất bắt đầu vào cuối tháng 8/2018, nhưng sự gia tăng cực kỳ rõ ràng. Trong 3 tháng, Zhang nhận được câu hỏi từ hơn 100 công ty, gấp 2 đến 3 lần số vụ so với cùng thời điểm năm ngoái. Ông tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu, vì thỏa thuận đình chiến giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ là tạm thời và xung đột thương mại là không thể ngăn chặn được.

Cuộc chiến thương mại cũng nêu bật tình trạng phụ thuộc kinh tế mang tính lịch sử của Việt Nam vào Trung Quốc và làm tăng rủi ro cho Việt Nam. Lý do là càng nhiều công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, thì càng nhiều khả năng Washington sẽ từ chối các sản phẩm của Việt Nam.

Vì vậy, cuộc chiến thương mại càng củng cố quyết tâm của Việt Nam đa dạng hóa các rủi ro và thúc đẩy phát triển dựa trên nỗ lực tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại với nhiều đối tác.

Ông Max Maxfield Brown, người đứng đầu đơn vị tình báo kinh doanh Dezan Shira Muff phụ trách khu vực ASEAN, cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đã cố gắng phát triển mối quan hệ với các đối tác đầu tư lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Từ góc độ đầu tư, Việt Nam đang lấy những đối tác này làm đối trọng với Trung Quốc mà không phải hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng ráo riết theo đuổi các hiệp định thương mại lớn cũng như tăng số lượng đối tác. Tháng này, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định thương mại đối tác toàn diện và tiến bộ (CPTPP – không có Trung Quốc và Mỹ) và trong năm nay cũng đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU.

Brown nói: “Đây không phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một thế lực thống trị khu vực, vì vẫn còn Trung Quốc ở đây, nhưng Việt Nam có thể chơi bài của mình để trở thành nền kinh tế thực sự phát triển và thành công”.

Quan hệ đối ngoại

Hà Nội đã cố gắng áp dụng chính sách đa dạng hóa-đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao. Sách lược này cũng giúp Việt Nam chống lại Trung Quốc.

Zhang Jie, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Thiếu lòng tin chính trị với Bắc Kinh, trong khi an ninh không đủ mạnh, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước khác để lấy làm đối trọng với Trung Quốc”.

Ở Biển Đông, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ một giải pháp đa phương thông qua bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN và đã tìm thấy sự ủng hộ từ chính quyền Trump quyết đoán hơn.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gặp nhau tại Thượng Hải vào tháng 11, cam kết tăng cường quan hệ song phương, nhưng điều đó không ngăn được nhà lãnh đạo Việt Nam nêu ra những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông.

Chỉ vài ngày sau đó, Bắc Kinh đã bị cả Washington và Hà Nội đả kích vì những động thái trên quần đảo Trường Sa: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngừng vận hành các trạm thời tiết mới trên các đảo nhân tạo, nói rằng hành động của Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này; Washington lặp lại những lời chỉ trích của Việt Nam trong một động thái chưa từng có, yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ các cơ sở tên lửa khỏi Trường Sa, dù tại Washington vừa diễn ra cuộc họp cấp cao Mỹ – Trung về vấn đề an ninh.

Việt Nam và một Washington ngày càng quyết đoán đang tìm kiếm nhiều hiệp lực hơn trong lĩnh vực an ninh.

Tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Singapore vào giữa tháng 11/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và cảm ơn Mỹ vì ủng hộ quan điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Về phía mình, ông Pence cam kết bảo vệ quyền tự do hàng hải trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo ông Dereck Grossman, nhà phân tích quốc phòng cao cấp của RAND Corporation, Hà Nội đã tăng cường quan hệ quốc phòng với nhiều cường quốc – bao gồm và đáng kể nhất là với Mỹ – để làm phức tạp mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông trong tương lai.

Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu tại Chương trình An ninh Hàng Hải thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, bình luận Việt Nam là một trong những tiếng nói lớn nhất ở châu Á trong việc chống lại Bắc Kinh trên biển: “Việt Nam liên tục lên tiếng bất cứ khi nào có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông. Việt Nam đã phản ứng, trong khi các bên liên quan khác chỉ im lặng, và vì thế, Trung Quốc sẽ không muốn làm cho to chuyện thêm nữa”.

Song song với chiến lược đối ngoại đa dạng hóa – đa phương hóa, Việt Nam vẫn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của mình như chính sách “ba không”: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ngay cả không có Mỹ, Việt Nam cũng vẫn tiếp tục đa dạng hóa các đối tác an ninh – điều này giúp Việt Nam đối phó với những bất đồng trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đế Việt Nam tháng trước, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác thương mại và tăng cường hợp tác về dầu khí và quốc phòng. Tổng thống Ấn Độ cũng tuyên bố hai nước có tầm nhìn chung về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cam kết tự do hàng hải và thương mại trên biển.

Cái giá cho Việt Nam

Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Việt Nam tăng mua vũ khí để giảm thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng chưa có thỏa thuận nào được công bố.

Ông Koh Koh nói: “Chính phủ Việt Nam không thể hiện là quá thân thiết với Mỹ. Ông Trump muốn bán vũ khí, nhưng vấn đề là Việt Nam không có khả năng mua được. Thay vào đó, Việt Nam có thể sẽ tập trung vào các giao dịch mua hàng ở “cấp độ thấp” như các thiết bị điện tử, thay vì các mặt hàng rất đắt đỏ. Việt Nam không muốn quá “chịu ơn” Mỹ, mà hướng đến mục tiêu duy trì một cơ sở đối tác cung cấp vũ khí đa dạng, từ Hàn Quốc đến Ấn Độ và chủ yếu là từ nguồn vũ khí truyền thống là Nga”.

Theo Reuters, Việt Nam đã mua hơn 1 tỷ USD vũ khí Nga vào tháng 9/2018 và cũng đã mua tầu ngầm tấn công, tàu chiến và máy bay chiến đấu phản lực từ Nga.

Zhang Jie thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung, việc tái cân bằng để thoát khỏi Trung Quốc sẽ xảy ra, nhưng các nước nhỏ như Việt Nam lo sợ mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát: “Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ thực sự có lợi ở một mức độ nào đó và Hà Nội có thể tận dụng điều đó để chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dễ dàng thay đổi mối quan hệ. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông chỉ vì sự canh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù căng thẳng, Việt Nam và Trung Quốc vẫn dựa vào sự trao đổi giữa hai đảng Cộng sản ở hai nước, cũng như các hình thức hợp tác có giới hạn khác”.

Nguồn: The South China Morning Post – 11/12/2018

TKNB – 13/12/2018

Advertisements

Lý do Việt Nam hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ


Ngày 11/12, Viện Yusof Ishak thuộc ISEAS (Singapore) đăng bài viết của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp đánh giá về những động thái liên quan đến việc Việt Nam chủ động giảm dần hợp tác quốc phòng với Mỹ trong thời gian gần đây.

Theo bài viết, vào giữa tháng 10/2018, Giáo sư Carl A. Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại học New South Wales (Học viện Quốc phòng Australia), cho biết Việt Nam đã lặng lẽ hủy bỏ 15 hoạt động quốc phòng với Mỹ, dự kiến diễn ra vào năm 2019, liên quan đến các cuộc trao đổi song phương giữa các lực lượng hải, lục và không quân. Với việc tái lập quan hệ hợp tác chiến lược mạnh mẽ giữa 2 nước trong những năm gần đây, bất chấp sự không chắc chắn do Chính quyền Tổng thống Donald Trump tạo ra, quyết định của Việt Nam đã đặt ra câu hỏi: Điều gì giải thích cho sự thay đổi đột ngột này trong thái độ của Việt Nam?

Quyết định này có thể liên quan đến những nỗ lực của Mỹ vận động Việt Nam mua trang thiết bị quân sự của nước này với chi phí ngang với Nga. Việt Nam có thể đã xem động thái này là một sự can thiệp vào công việc nội bộ của mình. Điều này là hoàn toàn có thể xảy ra với thực tế là Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật trừng phạt các đối thủ của Mỹ (CAATSA) để trừng phạt các quốc gia mua sắm vũ khí và thiết bị quân sự từ Nga. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã tìm kiếm sự miễn trừ từ Quốc hội Mỹ cho Việt Nam, quốc gia với 90% vũ khí và thiết bị quân sự có nguồn gốc từ Nga, nhưng không có quyết định cuối cùng nào được đưa ra. Do đó, Việt Nam có thể đã hủy bỏ các cam kết quốc phòng với Mỹ như một chiến thuật thương lượng để đảm bảo rằng Washington sẽ đưa ra sự miễn trừ cho nước này.

Đồng thời, quyết định này cũng có thể là một trong những phản ứng của Hà Nội đối với cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Khi cuộc đối đầu giữa hai gã khổng lồ này trở nên rõ ràng hơn, Hà Nội có thể thấy ngày càng khó khăn hơn trong việc củng cố mối quan hệ phòng thủ chặt chẽ hơn với một cường quốc mà không làm mếch lòng nước kia. Đối mặt với rủi ro này, Hà Nội có thể đã lựa chọn duy trì một mức độ thấp trong hợp tác chiến lược với Mỹ, ít nhất là tạm thời, để không kích động Bắc Kinh.

Cuối cùng, tình hình lắng dịu hơn ở Biển Đông trong những tháng gần đây và các thỏa thuận ngạoi giao của Bắc Kinh, như mục tiêu đã tuyên bố công khai là đạt được thỏa thuận với các nước ASEAN về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong vòng 3 năm tới, có thể là một yếu tố khuyến khích Hà Nội làm chậm lại mối quan hệ chiến lược với Mỹ. Cuối cùng, Hà Nội sẽ không từ bỏ chính sách truyền thống là duy trì sự cân bằng giữa Bắc Kinh và Washington, miễn là lợi ích quốc gia của Việt Nam ở Biển Đông được bảo vệ tốt. Hiện vẫn phải chờ xem quyết định của Hà Nội sẽ ảnh hưởng như thế nào đến triển vọng hợp tác chiến lược Việt – Mỹ. Việc Việt Nam sẽ đảo ngược quyết định của mình và tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với Mỹ hay không sẽ phụ thuộc vào chính các yếu tố có thể làm chậm lại tiến trình này: a) liệu Mỹ có miễn trừ CAATSA cho Việt Nam hay không; b) định hướng tương lai của cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung và c) liệu Trung Quốc có có những động thái quyết đoán mới ở Biển Đông hay không.

Trong khi vấn đề đầu tiên là một câu hỏi ngắn hạn có thể được trả lời sớm, thì có nhiều sự không chắc chắn hơn về hai câu hỏi còn lại. Trong trường hợp Washington đồng ý miễn trừ cho Hà Nội khỏi các lệnh trừng phạt của CAATSA nhưng Việt Nam vẫn tiếp tục hủy bỏ hoặc trì hoãn các cam kết quân sự có ý nghĩa với Mỹ, chúng ta có thể giả thiết rằng nỗi e sợ của Hà Nội trong việc đối nghịch với Bắc Kinh là lý do chính khiến họ không muốn tăng cường hợp tác quốc phòng với Washington. Trong trường hợp đó, do sự đối địch chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp diễn trong tương lai, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định quỹ đạo tương lai của quan hệ chiến lược Việt – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Mục tiêu cuối cùng của Donald Trump


Nhiều người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc đã tỏ ra kinh ngạc trước những kỹ năng chiến lược và chiến thuật của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Theo Mark Leonard, Giám đốc Hội đồng châu Âu về Quan hệ quốc tế, chỉ có một ít người trong giới quan chức và trí thức Trung Quốc mà ông đã trao đổi có ý nghĩa rằng mối quan tâm hàng đầu của Donald Trump là làm cân bằng thâm hụt thương mại song phương giữa Mỹ và Trung Quốc. Viết trên tờ Financial Times ngày 24/7, ông Leonard cho biết những người Trung Quốc mà ông đã nói chuyện đều cho rằng nếu vì vấn đề thâm hụt thương mại thì ông Trump đã liên kết với EU, Nhật Bản và Canada, chứ không phải đưa các đồng minh của mình vào chung rọ áp thuế mà ông đã đặt ra.

Cựu Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc He Yafei bày tỏ lo ngại cạnh tranh chiến lược đã trở thành một cách thức mới và cho rằng chiến tranh thương mịa chỉ là “một phần rất nhỏ của tảng băng mà thôi”.

Theo những người này, mục đích của Tổng thống Trump không gì ngoài việc muốn lập lại trật tự thế giới. Ông Trump cho rằng mình cần phải dẫn dắt nước Mỹ chống lại sự sụt giảm vị thế của nước Mỹ. Không phải là trật tự thế giới hiện nay không đem lại lợi ích cho nước Mỹ. Vấn đề ở chỗ là trật tự thế giới hiện nay mang lại lợi ích cho một số nước khác nhiều hơn là cho Mỹ. Một vấn đề nữa là hiện nay, Mỹ đang rót hàng tỷ USD vào để hỗ trợ hàng loạt thể chế quốc tế mà ông Trump cho rằng các thể chế này làm kìm hãm nước Mỹ và tạo cơ hội để Trung Quốc lớn mạnh nhanh chóng.

Trong mắt của những người Trung Quốc, họ coi những biện pháp trả đũa của ông Trump là hình thức “hủy diệt một cách đầy sáng tạo”. Tổng thống Trump đang hủy diệt một cách có hệ thống các thể chế quốc tế hiện nay – từ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cho đến Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và vấn đề Thỏa thuận hạt nhân Iran, là những bước đi đầu tiên để tiến tới đàm phán lại trật tự thế giới, xóa bỏ những điều khoản để có lợi hơn cho Mỹ tại các thể chế quốc tế. Một khi trật tự này bị xóa bỏ, giới tinh hoa Trung Quốc tin rằng ông Trump sẽ tiếp bước sang giai đoạn 2: đàm phán lại mối quan hệ của nước Mỹ với các nước lớn khác trên thế giới. Bởi vì, nước Mỹ hiện nay vẫn là nước mạnh nhất trên thế giới, họ sẽ có thể đàm phán với từng nước lớn khác trên vị thế của nước mạnh hơn. Điều này sẽ thuận lợi hơn là thông qua các thể chế đa phương thường sẽ giúp các nước yếu hơn trong khi đàm phán và buộc các nước mạnh phải chấp nhận sự mặc cả nào đó từ các nước yếu hơn.

Một số trong giới tinh hoa Trung Quốc khi trao đổi với Giám đốc Mark Leonard đã nói Donald Trump là vị tổng thống Mỹ đầu tiên trong 40 năm qua đã tấn công Trung Quốc đồng thời trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, quân sự và tư tưởng. Những người này đã mô tả Trump là bậc thầy về mặt chiến thuật, tập trung đánh vào từng vấn đề một, và cố gắng bắt đối phương nhượng bộ nhiều nhất có thể. Giới quan chức Trung Quốc cũng nói về cách thức tài tình mà ông Trump đã ứng xử với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Những người này đã đưa ra ví dụ như cách thức ông Trump xử lý vấn đề Triều Tiên. Ông đã thuyết phục được Tập Cận Bình đồng ý với những lệnh trừng phạt của Liên hiệp quốc đối với Triều Tiên, tạo ra sức mạnh siết chặt kinh tế nước này. Họ cũng đánh giá Trump như một nhà chiến lược, sẵn sàng tuyên bố đình chiến trên từng lĩnh vực khi thấy không thể đòi hỏi nhượng bộ thêm được nữa, và sau đó chuyển sang tấn công ở một mặt trận mới.

Đối với người Trung Quốc, việc Trump tán dương cuộc họp báo với Tổng thống Nga Vladimir Putin tại Helsinki vừa qua là hoàn toàn có mục đích chiến lược. Họ nhìn nhận giống như những gì Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã làm hồi năm 1972. Đó là tách Trung Quốc ra khỏi trục của Liên bang Xô viết để tạo ra sức ép đối thủ thực sự của Mỹ lúc đó là Liên Xô. Ngày nay, Trump lại hướng tới Nga để nhằm cô lập Trung Quốc.

Trước mắt, Trung Quốc đang thể hiện sự cứng rắn đáp trả lại cuộc tấn công thương mại của Trump. Đồng thời, họ đang nỗ lực triển khai mặt trận lớp lang để chống lại Trump bằng cách xích lại gần với EU, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia Trung Quốc đang âm thầm kêu gọi việc cần nghĩ lại một chiến lược dài hạn. Họ muốn chuẩn bị cơ sở cho những mặc cả to lớn mới với Mỹ dựa trên những vị trí quân sự mà Trung Quốc nắm giữ kiểm soát. Nhiều người có cảm giác Tập Cận Bình đã phản ứng hơi mạnh và lo ngại cho rằng đó là một sai lầm khi phản háng Mỹ trên phương diện kinh tế và quân sự tại biển Hoa Nam (Biển Đông). Trên thực tế, Trung Quốc đã có chủ trương nhượng bộ về mặt kinh tế và giảm bớt chiến thuật lấn lướt mà chính sách ngoại giao của Trung Quốc gần đây theo đuổi. Trung Quốc đã kêu gọi sự thay đổi đó là dựa vào sự tăng trưởng của thị trường nội địa hơn là gây ảnh hưởng đến kinh tế của các nước do xuất khẩu dư thừa sản phẩm công nghiệp sang các nước khác.

Vậy Donald Trump thực sự là người như thế nào? Một người liều lĩnh hủy diệt những mối quan hệ đồng minh quan trọng hay là một “thiên tài vững chãi” – người đang gây sức ép đối với Trung Quốc? Câu trả lời dường như phụ thuộc vào việc bạn đưa ra câu hỏi này ở đâu. Mọi nhìn nhận, đánh giá về Trump sẽ rất khác giữa cái nhìn từ Bắc Kinh hay EU.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Kinh tế Mỹ đang chịu tác động thực sự do chiến tranh thương mại


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 25/7 cho hay Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố hôm 24/7 rằng Bộ Nông nghiệp nước này sẽ thông qua gói kế hoạch khẩn cấp trị giá 12 tỷ USD để hỗ trợ người nông dân bị ảnh hưởng do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc. Đây được coi là một tín hiệu rõ ràng rằng chiến tranh thương mại đang gây ra tác động thực sự đối với nền kinh tế Mỹ, đồng thời cũng là một sự công khai thừa nhận của Tổng thống Trump về việc triển khai các hàng rào thuế quan làm vũ khí trong chiến tranh thương mại.

Báo trên cho rằng đây là một viễn cảnh nực cười. Hiện nước Mỹ không phải hứng chịu các đợt thiên tai, nên nông dân nước này đáng lẽ phải kiếm tiền để mở rộng thị trường của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, những người nông dân lại đang được trợ giúp. Hiện không ai biết được “đợt thảm họa” kỳ lạ này sẽ kéo dài bao lâu, trong khi nhiều nông dân Mỹ chắc chắn sẽ tỏ ra bối rối và lúng túng về sinh kế tương lai của họ.

Do sự leo thang của chiến tranh thương mại, sẽ có thêm nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng. Do đó, sẽ rất khó để quyết định đối tượng nào sẽ nhận trợ cấp và đối tượng nào sẽ không được nhận trợ cấp. Chính quyền Trump đang làm rối loạn logic cơ bản của đời sống kinh tế. Với việc gây rắc rối cho Trung Quốc, EU, Mexico và Canada, chính quyền Trump đang đẩy nền kinh tế nội địa của Mỹ vào tình cảnh hỗn loạn. Trả lời phỏng vấn Thời báo Hoàn cầu, Mã Văn Phong – nhà phân tích cấp cao của Công ty tư vấn kinh doanh nông nghiệp Đông Phương Bắc Kinh – cho rằng nông dân Mỹ không chỉ bị ảnh hưởng bởi thuế quan mà còn bị gián đoạn trong chuỗi cung ứng của họ, và những nỗ lực cứu trợ tạm thời sẽ không khắc phục được tình hình. Ông Mã Văn Phong nhấn mạnh: “Tranh chấp thương mại cũng phá vỡ các thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu, theo đó có thể còn gây ra tác động lớn hơn nhiều so với thuế quan. Thật khó để nói rằng nông dân Trung Quốc chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ điều này, nhưng nông dân Mỹ chắc chắn lụn bại”.

Hiện nay, nhiều quốc gia khác, trong đó gồm cả Trung Quốc, chắc chắn sẽ bị buộc phải đối mặt với ảnh hưởng của chiến tranh thương mại. Các nước này cũng sẽ thực thi các hoạt động hỗ trợ đối với ngành nghề và công ty bị ảnh hưởng. Nhà Trắng đang hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ đưa ra sự nhượng bộ lớn đối với Washington khi Trung Quốc không còn có thể chịu đựng nổi những thiệt hại ngày càng leo thang.

Tuy nhiên, Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng tư duy mơ hồ như vậy là quá ngây thơ. Tổng thống Trump tin rằng xã hội Mỹ có thể chịu đựng sự bi thảm của một cuộc chiến tranh thương mại tạm thời để đổi lấy những lợi ích lâu dài. Vậy tại sao ông ta lại chắc chắn rằng Trung Quốc không thể chịu đựng được một nỗi đau như thế? Trong khi đó, đại đa số người dân Trung Quốc nhận thức rõ rằng nước này đang bị buộc phải đương đầu với Mỹ trong một cuộc chiến thương mại. Bất luận như thế nào, Trung Quốc sẽ phải “tham chiến” bởi hông còn cách nào khác.

Báo trên nhấn mạnh rằng xã hội Mỹ thừa biết rằng cuộc chiến thương mại này là do chính Nhà Trắng phát động và quả bóng đang ở bên phần sân của Chú Sāmkhya, việc dừng cuộc chiến hay tìm ra giải pháp thông minh hơn là hoàn toàn phụ thuộc vào phía Mỹ. Do đó, chính quyền Trump cần phải chứng minh rằng họ đã đúng khi gây ra nỗi thống khổ cho người dân nước này thông qua cuộc chiến tranh thương mại, trong khi các quốc gia khác không cần phải làm bất cứ điều gì khác ngoài việc trả đũa.

Trung Quốc đã trải qua hàng loạt khó khăn và thách thức. Tuy sự phát triển của Trung Quốc trong 20 năm qua diễn ra tương đối suôn sẻ, song cơ chế của nước này hiện vẫn phải đối phó với những trở ngại lớn. Trước đó, Trung Quốc đã từng phải đối mặt với những đợt tinh giảm và sa thải quy mô lớn trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng như các biện pháp trừng phạt kinh tế tập thể từ phương Tây. Vậy liệu những khó khăn của một cuộc chiến tranh thương mại là không thể khắc phục được? Washington luôn cáo buộc châu Âu và Trung Quốc về trợ cấp nông nghiệp. Là một vấn đề thực tế, chính phía Mỹ từ lâu đã trợ cấp cho nông dân của nước này, và bây giờ Nhà Trắng đã công bố các khoản trợ cấp tăng cường. Nhiều khả năng, những phát ngôn quốc tế xung quanh các quy định này sẽ được thay đổi.

Cũng theo báo trên, một số người cho rằng Tổng thống Trump sẽ tiếp tục những sai lầm của mình trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới nhằm duy trì sự ủng hộ. Tuy nhiên, người dân Trung Quốc đang hướng về bên ngoài tháng 11 và họ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu trường kỳ. Có lẽ khi nổ ra một cuộc chiến thương mại lớn như vậy, thì Washington mới có thể suy xét lại giá trị của sự hợp tác Trung – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Mỹ “thọc gậy bánh xe” quan hệ Trung – Nhật


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 11/12 trích dẫn truyền thông Nhật Bản đưa tin chính phủ nước này ngày 10/12 đã ra quyết định cấm các bộ ngành trực thuộc chính phủ trung ương và quân đội mua sắm các trang thiết bị do các công ty viễn thông Huawei và ZTE (Trung Hưng) của Trung Quốc sản xuất, đồng thời viện dẫn đây là nỗ lực nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và rò rỉ thông tin bí mật. Tuy nhiên, Tokyo đã không nêu đích danh Huawei và ZTE, đồng thời cho hay các quy định mới này không nhằm vào các công ty cụ thể nào.

Cùng ngày, truyền thông Nhật Bản cũng đưa tin rằng 3 nhà khai thác điện thoại di động lớn ở Nhật Bản đã quyết định loại trừ các sản phẩm của Huawei và ZTE khỏi các thiết bị viễn thông liên lạc như các trạm thu phát sóng di động.

Nhật Bản dường như đã trở thành quốc gia mới nhất sau lời kêu gọi của Mỹ nhằm cấm các thiết bị liên lạc do các công ty Trung Quốc sản xuất. Khi đưa ra quyết định trên, phía Nhật Bản đã cúi đầu trước sức ép của Mỹ cho dù động thái này không nằm trong lợi ích quốc gia của Tokyo và có thể gây phương hại tới các mối quan hệ Trung – Nhật vào thời điểm quan trọng. Huawei và ZTE đang triển khai hợp tác sâu rộng với Nhật Bản, đồng thời phản ánh những kết nối sâu sắc mà hai nước đang sở hữu trong lĩnh vực viễn thông. Việc tẩy chay 2 công ty trên chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển mạng lưới 5G của Nhật Bản.

Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng việc cố “triệt tiêu” các doanh nghiệp viễn thông của Trung Quốc là một chiến lược mới của Mỹ. Hiện có một số người ở Mỹ đã nói về “việc chia tách” để kiềm chế sự phát triển công nghệ cao của Trung Quốc. Những động thái hấp tấp như vậy là do dã tâm giành quyền bá chủ của Mỹ thôi thúc. Tuy nhiên, Nhật Bản không có cùng mục tiêu đó. Việc tẩy chay hợp tác Trung – Nhật là một lựa chọn tồi.

Thị trường của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với thị trường của Nhật Bản, và chắc chắn sẽ lớn hơn thị trường của Mỹ trong tương lai. Tokyo không cần phải đi theo đường lối của Mỹ và nên bảo vệ đặc quyền của mình để đưa ra những quyết định kinh doanh thận trọng phù hợp với các quyền chủ quyền của Nhật Bản. Ngoài ra, những triển vọng kinh tế dài hạn của Tokyo có liên quan mật thiết đến thị trường của Trung Quốc, theo đó, có thể vượt xa các mối quan hệ của Nhật Bản với thị trường Mỹ về lâu dài. Nếu bây giờ Nhật Bản để Mỹ quyết định cách thức hợp tác với Trung Quốc, nước này có thể trở thành một quốc gia chư hầu.

Trên thực tế, Mỹ càng thể hiện xu hướng đối đầu với Trung Quốc bằng cách tìm kiếm sự giúp đỡ của các đồng minh, thì Nhật Bản càng cần phải duy trì sự độc lập. Các lợi ích của Nhật Bản nằm giữa hai thị trường lớn này, chứ không phải nghiêng về bên nào. Ngay cả Việt Nam và Philippines cũng đều thấu hiểu sự thật này. Là một cường quốc châu Á quan trọng, Nhật Bản cần có khối óc xét đoán không đi theo Mỹ bằng cách từ chối sự quan trọng chiến lược của Trung Quốc.

Nếu Nhật Bản chuyển sang thực hiện các chính sách phân biệt đối xử đối với Huawei và ZTE, Trung Quốc chắc chắn sẽ trả đũa bằng các biện pháp tương ứng. Và cuộc xung đột này sẽ được Mỹ “đổ thêm dầu vào lửa”. Nếu hợp tác kinh tế của Nhật Bản với Trung Quốc tuân theo mong muốn của Mỹ, thì liệu tương lai lâu dài của Nhật Bản có được đếm xỉa đến hay không?

Trung Quốc nên ứng phó với sự dao động rõ ràng của Nhật Bản như thế nào? Phía Trung Quốc cần đáp ứng việc tuân thủ các nguyên tắc và đưa ra các biện pháp trả đũa cần thiết. Mặt khác, không nên phóng đại tác động về động thái này của Nhật Bản và dự đoán một kịch bản “ngày tận thế” dành cho quan hệ Trung – Nhật. Hãy để Nhật Bản trả giá cho việc tẩy chay các sản phẩm của Huawei và ZTE.

Theo bài báo, dư luận Trung Quốc hiện đã trưởng thành và tự tin không để những sự cố bất lợi ảnh hưởng đến các mối quan hệ với Nhật Bản. Đồng thời, năng lực tuân thủ của Trung Quốc đối với các nguyên tắc trong quan hệ với Nhật Bản cũng đang ngày càng gia tăng. Trung Quốc và Nhật Bản nên tôn trọng lẫn nhau và ngăn chặn các lực lượng bên ngoài cố “thọc gậy bánh xe” chia rẽ hai nước.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

1999: Thắng lợi không cần chiến tranh? – Phần cuối


Nixon nói một cách lo lắng: “CNCS phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế, nhưng tối thiểu họ vẫn đưa ra cho nhân dân của họ một cái gì đó làm tín ngưỡng. Trong một thời gian trải mấy thế hệ con người, đã có ngàn vạn người ôm ấp đức tin đó… Vậy bây giờ chúng ta nêu lên một đức tin gì để thay thế đức tin đó?”. Nhưng rồi xem ra thì ông Nixon cũng chẳng có kế sách gì hay, ông chỉ còn biết cầu xin Thượng Đế: “Giai điệu chủ yếu và quan trọng nhất là phục hưng tôn giáo và quan niệm về giá trị gia đình. Có như vậy mới có thể kêu gọi tuyệt đại đa số người Mỹ sáp lại với nhau”. “Tóm lại, nước Mỹ ngày nay cần phải là tấm gương có giá trị cho mọi người soi chung, nhưng tấm gương này của chúng ta đã bị những vấn đề quốc nội ngày một nhiều thêm làm hoen ố”.

Đồng thời Nixon không phải là thiếu sáng suốt khi nhìn thấy: “Con đường để lý tưởng tự do của chính trị và kinh tế phương Tây giành toàn thắng hiện nay đã được trải rộng. Nhưng trên toàn thế giới, nhất là ở khu vực Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thì lý tưởng đó vẫn đang còn phải trải qua thử thách. Hoàn toàn chưa thể khẳng định rằng lý tưởng đó rồi sẽ thắng thế”. “Từ bỏ CNCS và CNXH chưa có nghĩa là CNTB đã thắng lợi”. “Chế độ TBCN không phải là hoàn mỹ không có khuyết tật gì”. “Thế giới cũng không phải là tấm vải vẽ còn trắng nguyên để chúng ta tùy ý sử dụng bút vẽ và màu”. Nixon lo rằng nước Nga “Trước khi quá độ cuối cùng chuyển hóa đi tới nền chính trị tự do, kinh tế tự do và chính sách đối ngoại không xâm lược, thì trước sau vẫn còn tồn tại nguy cơ lực lượng tàn dư của đế quốc Liên Xô đã bị đập tan, quay lại đánh trả thế giới một đòn, gây nên hậu quả tai hại”. Nixon nhận định: “Nước Nga đang tiến hành một canh bạc chính trị và kinh tế tự do với số tiền đặt cọc lớn, tỉ lệ được thua rất chênh lệch”. Tất cả vẫn còn chưa ngã ngũ.

Còn một điều đáng chú ý nữa: Cũng như trước đây, Brzezinski và Nixon trong các tác phẩm mới xuất bản này, đã dùng khá nhiều trang viết để bàn về Trung Quốc. Có lẽ người ta có thể nói rằng bởi vì Liên Xô đã giải thể, nên họ càng chú ý nhiều hơn, như lời của Nixon “nhằm vào Trung Quốc – nước lớn siêu cường cộng sản đang còn tồn tại”.

Xét về mặt này, “góc độ” của Brzezinski khiến mọi người phải suy ngẫm sâu xa. Ông này thấy rằng: Trong thế giới ngày nay, “coi chính trị dựa trên sức mạnh chỉ là dấu vết cũ của lịch sử, đó là thói thời thượng. Hiện thời người ta chưa tiến tới giai đoạn đó”. Ngược lại, “Xét theo nghĩa rộng, số dân toàn thế giới có thể được chia làm hai loại lớn: Người giàu và người nghèo”. “Đi đôi với số dân thế giới tăng trưởng thì hiện tượng phân phối không đều của cải của thế giới sẽ càng thêm nổi bật”. “Các hiện tượng không đồng đều trên toàn cầu tất yếu trở thành vấn đề trọng đại của chính trị thế giới thế kỷ XXI”.

Dù cho Brzezinski ngậm miệng, kị không nói gì về căn nguyên của hiện tượng không bình đẳng, song ông ta vẫn thấy rằng: “Nếu có một mô hình cụ thể và một lãnh tụ cụ thể nào đó có năng lực đối lại cân bằng thật sự với phía phương Tây giàu có và đồng thời lại có thể thiết lập được một trật tự xã hội có khả năng giải quyết một cách vững chắc và thành công các hiện tượng phi chính nghĩa nghiêm trọng trong xã hội trong nước, thì mối quan tâm của mọi người vốn được tập trung vào các hiện tượng phi nghĩa trên toàn cầu sẽ được biểu hiện dưới hình thức về mặt chính trị, người ta sẽ thuần phục theo cái mô hình đó và vị lãnh tụ cụ thể đó”.

Theo phân tích của Brzezinski, “Trung Quốc có thể đứng ra đảm đương vai trò lãnh đạo đó. Chỉ dựa riêng vào bản thân mình Trung Quốc đã có thể thách thức với thế giới bất bình đẳng. Trung Quốc là một nước lớn với số dân hơn 1 tỷ người, đang giữ vững cuộc đấu tranh không mệt mỏi, chống các hiện tượng không bình đẳng; ít ra thì cho tới thời điểm này, cuộc đấu tranh đó là rất có hiệu quả”.

Sau khi điểm lại một lần nữa nhận định Trung Quốc đang thực hiện chủ nghĩa cộng sản thương mại, Brzezinski vạch rõ: “Xét trên tổng thể, cần phải nói thành tích Trung Quốc giành được khiến người ta phải khâm phục”. “Nếu cơ cấu hạ tầng và thu nhập cá nhân được cải thiện đồng bộ với nhịp độ kinh tế tăng trưởng thì Trung Quốc rất có thể được nhân dân nhiều nước đang phát triển trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Cộng hòa Liên Xô cũ nhìn nhận, coi đó là mô hình lựa chọn ngày càng có sức hấp dẫn lớn hơn và có thể được sử dụng thay thế cho chế độ CSCN đã tuyên bố thất bại cũng như chế độ dân chủ được xây dựng trên cơ sở của thị trường tự do”. “Đến lúc đó Trung Quốc có khả năng trở thành mẫu mực mở ra một con đường khác và trở thành một nguồn lực lượng, nêu lên thách thức trên quốc tế, đối với sự phân bố lực lượng toàn hiện hành… Trung Quốc có thể tuyên bố: Giữa khuôn mẫu CSCN Liên Xô cũ và nền dân chủ tư sản đang tồn tại con đường thứ ba. Hiện tượng phân hóa hai cực trên thế giới hiện thời ngày càng nghiêm trọng thêm, vũ khí giết người hàng loạt được phân bố tới khắp nơi, người ta khao khát có một định hướng để nói lên các ước vọng của họ, đồng thời lấy đó làm ngọn đèn rọi sáng tương lai đẹp đẽ. Trong một thế giới như hiện nay, tuy Trung Quốc còn khá lạc hậu và có trở ngại về ngôn ngữ, nhưng Trung Quốc vẫn có thể đáp ứng được niềm khát vọng mà mọi người đều cảm nhận thấy. Về mặt này, so với nước Nga Xô viết cũ thì Trung Quốc có sức hấp dẫn và thuyết phục lớn hơn”.

Trong cuốn Vượt qua hòa bình, Nixon nhiều lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc ngày càng TBCN hóa và đang thực hiện CNTB có bộ mặt Trung Quốc; thừa nhận rằng kinh nghiệm của Trung Quốc chứng tỏ: “Tăng tiến sự hòa nhập với kinh tế thế giới sẽ có thể đem lại tự do kinh tế và từ đó sản sinh áp lực nội bộ to lớn đòi thực hiện tự do về chính trị”. Nixon còn nhận định: “Phải cải tổ và các nhà doanh nghiệp chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường tự do của Trung Quốc là lực lượng nắm trong tay chiếc chìa khóa tương lai của Trung Quốc”; “Bóng ma tham nhũng và dục vọng tham lam đang quấy nhiễu Trung Quốc”. Tuy nhiên Nixon vẫn nhìn thấy: “Đến giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc với tư cách là nước lớn siêu cường về kinh tế và quân sự sẽ đặt Mỹ đối mặt với cạnh tranh”.

Nixon sau khi so sánh cải tổ của Trung Quốc với cải tổ của nước Nga, đã viết: “Một vấn đề sâu sắc vẫn còn chờ người ta tìm lời giải: tức là phải chăng CNTB dân chủ Nga có thể là đối thủ của CNTB cộng sản Trung Quốc. Nếu không thể như vậy và nếu những người lãnh đạo bảo thủ của nước Nga thắng thế thì những người lãnh đạo có đường lối cứng rắn của Trung Quốc cùng với các nhà độc tài khác trên thế giới sẽ giành được sự cổ vũ. Còn nếu cải tổ của Trung Quốc thành công thì chính trị và kinh tế tự do sẽ là làn sóng dân trào trong thế kỷ XXI”.

IV

1999…

Chúng ta không những đã thấy Cải tổ và tư duy mới của Gorbachev dẫn tới cuộc rút lui có tính lịch sử của CNCS tại các nước Liên Xô…., khiến Liên Xô dễ dàng tự diệt vong (Lời trong cuốn Bút ký lịch trình Liên Xô giải thể của nguyên Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Madrock). Tên sách của Nixon 1999: Thắng lợi không cần chiến tranh và Lời nguyền của Brzezinski Thất bại lớn của CNCS dường như đánh đổi đúng cho nhau. Tuy nhiên cũng vẫn hai ông này đều cho rằng sự thể không phải như thế là đã được định đoạt. Thậm chí còn có thể ngược lại. Đồng thời người ta còn nhận thấy, những năm gần đây đi đôi với khủng hoảng kinh tế và chính trị ngày một gay gắt thêm của nước Nga sau khi chuyển hóa, thì quan điểm của Brzezinski và Nixon gần như đi tới một thứ nhận thức chung. Tháng 7 năm 1998, tờ Frankfurt của Đức đăng bài viết của Arbatov (Nga) “Từ CNXH hiện thực đến CNTB tiền sử – Các nước phương Tây đứng đầu là Mỹ làm thế nào đưa nước Nga từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác”. Vị học giả từng có vai trò quan trọng đối với mối quan hệ Mỹ – Xô này viết: Vào lúc Liên Xô gần đi đến chỗ kết thúc… người ta có ảo tưởng rằng tất cả mọi vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Sau đấy một chút, sự chờ đợi đẹp đẽ đó biến thành nỗi nghi hoặc, thất vọng và hết tin cậy”. “Hiện nay công chúng Nga đã nhận thấy, phương Tây muốn thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế, áp đặt cho chúng ta một thứ cải cách kinh tế có thể làm cho nước ta suy yếu, hạ thấp mức sống và làm cho một bộ phận lớn nhân dân đi tới chỗ bị bần cùng hóa”. “Một điều thoạt đầu đã không thể tránh khỏi và ai nấy đều đã rõ, đó là: Lợi ích chính trị của Nga và của Mỹ khác nhau, có rất ít cái có thể thật sự nhất trí với nhau”. Mặt khác, ngày 30 tháng 8 cùng năm này tờ Thời báo New York Times của Mỹ đã đăng bài viết Moskva phá vỡ giấc mộng của Mỹ cho biết GIáo sư Koean, Đại học New York chuyên nghiên cứu vấn đề về Nga đưa ra nhận định sau đây: “Mưu toan biến nước Nga thành vật phục chế của CNTB dân chủ Mỹ và trở thành một đồng chí nhỏ của Mỹ trong các vụ việc quốc tế, đó là việc làm ngu xuẩn của Phong trào cải tổ của Mỹ vốn lấy cái tôi làm trung tâm”.

Người ta còn nhận thấy, tuy nước Mỹ đã thắng trong chiến tranh lạnh, trở thành bá chủ toàn cầu, song đúng như Nixon từng nói, kết quả đó không làm cho Mỹ sống sung sướng hơn, trái lại Mỹ càng thấy khó chịu hơn. Năm 1997, Brzezinski viết một cuốn sách mới nữa lấy tên Bàn cờ lớn – Địa chính trị của Mỹ và chiến lược địa duyên của nó. Trong cuốn sách này, Brzezinski viết: “Sự thất vọng phổ biến đối với hậu quả chiến tranh lạnh kết thúc khiến người ta càng thêm mất lòng tin. Không những người ta chưa thấy sự xuất hiện của một trật tự mới của thế giới được thiết lập trên cơ sở nhận thức chung và sự hòa hợp mà còn thấy những cái dường như đã thuộc về quá khứ bỗng dung ngược trở lại là những cái của tương lai”. “Nói gọn lại, Mỹ với tư cách là nước lớn quan trọng bậc nhất trên thế giới quả thật đang phải đối mặt với một cái cửa sổ cơ may có tính lịch sử không rộng lắm. Trước mắt nền hòa bình tương đối trên toàn cầu này có thể chỉ là tạm thời mà thôi”. Những lời ông nói vừa dứt thì bắt đầu từ tháng 7 cùng năm, cơ bão tiền tệ Đông Nam Á nhanh chóng lan rộng, trở thành đầu đề câu chuyện của thế giới hiện nay, thậm chí người ta còn dấy lên một sự lên án đến mức nào đó, đối với chế độ TBCN. Trung tuần tháng 9 năm 1998, tuần báo Người quan sát mới của Pháp phát biểu bài viết của Thủ tướng Pháp Jospin: Khủng hoảng thế giới và chúng ta. Trong đó viết “Nếu nói rằng kể từ năm 1989 đến nay CNTB đã mất đi đối thủ và kẻ cạnh tranh trước kia của nó nhưng không phải vì vậy mọi việc đều êm đẹp. Kẻ thù tệ hại nhất của CNTB có thể là chính bản thân CNTB”. Như một điều không hẹn nhưng diễn ra tương tự, ngày 15 tháng 9 The Wall Journal Street của Mỹ đăng bài viết của Soros Khủng hoảng TBCN toàn cầu. Trong đó, con cá sấu tiền tệ lớn này than rằng: “Hệ thống TBCN toàn cầu từng đem lại cho chúng ta sự phồn vinh khiến mọi người phải chú ý đang mấp mé đến chỗ tan rã”. Theo tin của Báo cải tổ Trung Quốc số ra ngày 19 tháng 11, gần đây trong bài diễn văn đọc tại thủ đô của Bulgaria, Soros vạch rõ rằng: “Những người theo chủ nghĩa thị trường chính thống cho rằng thị trường có thể giải quyết hết mọi chuyện. Đó là một khái niệm giả dối. Hiện nay mối đe dọa do thị trường gây nên còn lớn hơn cả bất kỳ một hệ ý thức độc đoán nào. Dựa quá đáng vào chủ nghĩa thị trường chính thống sẽ nguy hại cho xã hội”.

Tóm lại, “Ai nào ngờ bức tường Berlin sụp đổ mới gần 10 năm, thế giới lại lung tung như vậy” (Thời báo The Financial Times của Anh ngày 14/9/1998) – “Kể từ khi bức màn sắp ập đổ sập đến nay, cuộc tiến quân thắng lợi của CNTB kiểu Mỹ từng được diễn tả có khí thế không gì ngăn được rõ ràng là đã gặp trắc trở”. (Tuần báo Tấm gương của Đức 7/9/1998). Chẳng trách Thủ tướng Blair ở đó hối hả tìm kiếm con đường thứ ba. Và một điều đặc biệt khiến người ta suy nghĩ sâu xa, đó là Tập san hàng tuần Tin tức của Mỹ số ra ngày 12 tháng 10 lại là số đặc biệt về kinh tế. Đầu đề lớn ngoài bài viết Toàn cầu chấn động. Có một tiêu đề nhỏ đề xuất vấn đề: “Marx có đúng không?” Trong đó còn cóo bài viết dẫn một đoạn dài trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, kèm theo ảnh của Marx, với chú thích viết: Đối với Marx, giai cấp tư sản toàn cầu sản xuất trước hết là người đào mồ chôn bản thân nó.

Nói tóm lại, chúng ta đã nhận thức rõ: Quy luật khách quan của lịch sử phát triển không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai. “Nhân dân và chỉ có nhân dân mới là động lực sáng tạo lịch sử thế giới” (Mao Trạch Đông Bàn về chính phủ liên hợp). Dù cho sự nghiệp XHCN càng thêm gian nan và khúc khuỷu, nhưng quy đến cùng “giai cấp tư sản bị diệt vọng cũng như giai cấp vô sản thắng lợi, đều là điều không thể tránh khỏi”. (Tuyên ngôn ĐCS). Có vô số sự thật nêu rõ: “1999: Thắng lợi không cần chiến tranh” thật sự cần được thêm vào đó một cái dấu hỏi lớn.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 01 & 02

Cạnh tranh Trung – Mỹ: Kẻ “chín lạng”, người “nửa cân”


Cuộc cạnh tranh Trung – Mỹ đang leo thang ngày một khốc liệt, từ lĩnh vực thương mại, quân sự và giờ là an ninh mạng. Nếu Washington hết lần này đến lần khác cản trở Bắc Kinh thì Bắc Kinh cũng không thiếu cách gây khó dễ cho các công ty Mỹ.

Hãy tưởng tượng bạn là một kỹ sư sản xuất cho một thương hiệu của Mỹ có trụ sở tại Trung Quốc. Bạn phải trình hộ chiếu để gia hạn thị thực (visa) hàng năm. Nếu không làm điều đó, bạn sẽ không thể đến trụ sở. Và trong bối cảnh những lo ngại ngày càng gia tăng về bảo mật và các biện pháp trừng trị thẳng tay đối với các hệ thống mạng riêng ảo (cho phép người dùng bỏ qua công tác kiểm duyệt của Trung Quốc), công ty của bạn thống nhất rằng tất cả các cuộc thảo luận nhạy cảm về sản phẩm đều phải được thực hiện trực tiếp tại trụ sở chính. Tuy nhiên, việc gia hạn visa lại mất quá nhiều thời gian và bạn bị kẹt ở Thượng Hải, với chu kỳ sản phẩm cũng bị kéo dài ngày qua ngày.

Tại Thâm Quyến, nơi lắp ráp các thiết bị, nhà máy sản xuất vừa bị khám xét bất ngườ lần thứ ba trong tháng. Các thanh tra đang tìm kiếm những vi phạm về sức khỏe và an toàn lao động. Bạn đã làm việc chăm chỉ để mọi công đoạn được thực hiện được trơn tru, mặc dù các quy tắc dường như thay đổi liên tục. Chỉ cần một vấn dề nhỏ trên trang web cũng đủ để các cơ quan chức năng đóng cửa công ty chờ khắc phục.

Các nhà máy ở nước ngoài

Một trọng tâm mới về kiểm soát vốn đã đóng băng việc thanh toán ở nước ngoài. Lợi nhuận trong nước không thể gửi sang nước ngoài và bạn gặp khó khăn trong việc chuyển tiền cho các nhà cung cấp ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Họ cũng không thể vận chuyển hàng hóa đến công ty của bản ở Trung Quốc.

Bạn có thể cố gắng vay một khoản tiền từ ngân hàng Nhật Bản để che đậy, song điều đó cần nhiều thời gian sau mùa lễ hội mua sắm sắp đến gần. Bạn có thể bị buộc phải lấy nguồn hàng ở Trung Quốc, nhưng không có loại nào sản xuất tại Trung Quốc phù hợp với các điều kiện kỹ thuật của công ty bạn. Để có những nhà cung cấp địa phương đạt tiêu chuẩn, bạn cần phải đầu tư khá nhiều thời gian và tiền bạc.

Có lẽ tình huống giả định trên không phải chỉ là điều hư cấu. Những lo ngại về tương lai trước mắt của Tập đoàn viễn thông Huawei và việc Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Tài chính Mạnh Vãn Chu của tập đoàn này bị bắt giữ, là những bằng chứng xác đáng nhất.

Các công ty Mỹ sẽ tổn thất rất nhiều nếu việc này khiến Trung Quốc phản ứng dữ dội. Tập đoàn công nghệ hàng đầu của Mỹ là Apple sẽ là “nạn nhân” đầu tiên, khi hoạt động lắp ráp thiết bị của tập đoàn này đều được thực hiện tại Trung Quốc. Mọi chuyện thậm chí còn tồi tệ hơn nữa khi bộ định tuyến của Tập đoàn Hệ thống Cisco, máy tính của Dell, và dây nối cho hãng xe hơi Ford đều có nguồn từ Trung Quốc. Ngay cả các máy chủ của Facebook, Alphabet và Amazon cũng có thể bị truy nguyên đến chuỗi cung ứng sâu của đất nước.

Nền thương mại rộng lớn

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã khiến thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc trở thành một cương lĩnh quan trọng trong nhiệm kỳ tổng thống của ông, và chúng cũng là một phần trong các cuộc thảo luận với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đúng vào hôm Mạnh Vãn Chu bị giam giữ ở Vancouver (Canada).

Bất chấp những lời lẽ hùng hồn từ cả hai bên, cho đến nay, những cái đầu lạnh vẫn chiếm ưu thế: Người Mỹ vẫn nhận được điện thoại iPhone của họ và người Trung Quốc vẫn mua chip xử lý của Công ty bán dẫn Qualcomm Mỹ.

Tuy nhiên, tại Trung Quốc, ngày càng nhiều các bộ phận, linh kiện của nước ngoài được thay thế bởi các phiên bản trong nước. Điều tương tự có lẽ sẽ không xuất hiện với Mỹ, bên hy vọng sẽ thay thế các nhân công, nhà máy và chuỗi cung ứng của Trung Quốc thành của Mỹ. Nền tảng trung gian cho các công ty cũng phải được thiết lập ở những nơi khác, bao gồm Việt Nam, Đài Loan và Mexico. Điều đó sẽ tốn nhiều thời gian, và trớ trêu thay, có thể khiến Mỹ phải chi một khoản tài trợ lớn để tăng tốc mọi thứ.

Khi các chính trị gia ở Mỹ tranh luận về việc chặn xuất khẩu một số sản phẩm sang Trung Quốc, họ cũng nên xem xét điều ngược lại. Cứ cho là Trung Quốc không thể hành động như vậy để chống lại các lợi ích của Mỹ mà không làm tổn hại chính mình. Tại thời điểm tăng trưởng đang chậm và những cơn gió ngược toàn cầu gia tăng, họ có thể không đủ khả năng để đạt được thành công như vậy. Tuy nhiên, nếu Mỹ tiếp tục cứng rắn với Huawei – một nhà vô địch viễn thông quốc gia và là thành viên chủ chốt trong tham vọng công nghệ chiến lược của Trung Quốc – thì không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ “nã đạn” về phía Mỹ.

Mỹ có thể thành công khi giam giữ một công dân Trung Quốc. Song, Trung Quốc nắm trong tay hàng loạt tập đoàn công nghiệp của Mỹ.

Nguồn: Bloomberg.com

TKNB – 13/12/2018