Tác động của việc Mỹ rút khỏi INF tới khu vực Thái Bình Dương


Clive Williams

Khả năng sẽ có một cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực Thái Bình Dương sau khi Mỹ tuyên bố chính thức bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) được ký kết giữa Mỹ và Liên Xô vào năm 1987.

Washington bắt đầu rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 1987 vào đầu tháng 2/2019. Tổng thống Trump đã nói vào cuối năm 2018 rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp ước vì “họ (người Nga) đã vi phạm Hiệp ước trong nhiều năm”. Mối lo ngại đối với Australia là sự sụp đổ của hiệp ước có thể dẫn tới một cuộc chạy đua vũ trang mới ở Thái Bình Dương.

Hiệp ước cấm Mỹ và Nga có tên lửa trên đất liền với tầm bắn từ 500 km – 5000 km và các bệ phóng của chúng. Để tuân thủ hiệp ước, cả hai nước đã phá hủy khoảng 2600 tên lửa phóng từ mặt đất cùng các bệ phóng.

Do Trung Quốc không tham gia hiệp ước, nước này đã dần dần xây dựng một kkho vũ khí phóng từ mặt đất đáng gờm gồm 2000 tên lửa đạn đạo và hành trình tầm trung trong nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Ngày 4/1/2018, Washington đã cho Nga thời hạn 60 ngày – kết thúc vào ngày 2/2/2019 – để tháo dỡ các tên lửa mà họ tuyên bố vi phạm thỏa thuận hoặc Mỹ sẽ bắt đầu quá trình 6 tháng chính thức rút khỏi hiệp ước. Vào ngày 2/2, do không có sự phản hồi từ phía Nga, Mỹ đã ra thông báo chính thức về việc rút khỏi thỏa thuận.

Cả Mỹ và Nga đều cáo buộc bên kia vi phạm hiệp ước.

Năm 2008, Mỹ cáo buộc Nga vi phạm hiệp ước khi tiến hành thử tên lửa hành trình phóng từ mặt đất SSC-8 (9M729). Cáo buộc đã được đưa ra một lần nũa vào năm 2014 và 2017. Theo các quan chức Mỹ, việc triển khai hai tiểu đoàn tên lửa của Nga được trang bị SSC-8 là vi phạm hiệp ước. Mỗi tiểu đoàn gồm 4 bệ phóng, mỗi bệ phóng có 6 tên lửa hành trình với đầu đạn hạt nhân. Mỹ tuyên bố tầm bắn tối đa của SSC-8 là 2500 km. Ngày 23/1, chỉ huy pháo binh Nga Mikhail Matveevsky nói với một cuộc họp báo rằng tầm bắn tối đa của 9M729 chỉ là 480 km.

Về phần mình, Nga cáo buộc Mỹ vi phạm hiệp ước kể từ năm 2016 khi đặt các bệ phóng cho các hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore ở Rumani và ở Ba Lan từ năm 2020. Nga tuyên bố những bệ phóng này có thể được sử dụng cho tên lửa hành trình Tomahawk và coi đây là vi phạm Hiệp ước INF. Nga còn tuyên bố rằng Mỹ triển khai các máy bay không người lái có vũ trang tầm xa MQ-9 Reaper là vi phạm Hiệp ước INF.

Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố rằng nếu Washington có hành động đặt nhiều tên lửa ở châu Âu sau khi hủy bỏ thỏa thuận, Nga sẽ có biện pháp đáp trả tương ứng và cảnh báo rằng bất kỳ quốc gia châu Âu nào đồng ý cho đặt tên lửa của Mỹ đều có nguy cơ bị Nga tấn công.

NATO và EU rất lo lắng về việc chấm dứt hiệp ước nhưng Tổng thống Trump dường như bận tâm nhiều hơn với khả năng Trung Quốc đe dọa bá quyền của Mỹ ở Thái Bình Dương so với khả năng đe dọa tên lửa tầm trung vũ trang hạt nhân của Nga đối với châu Âu.

Nga ít lo ngại về khả năng quân sự ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc và không muốn là bên đầu tiên rút khỏi một thỏa thuận vũ khí nền tảng. Tuy nhiên, sẽ rẻ hơn nhiều cho Nga khi chế tạo tên lửa tầm trung mới để đối phó với Trung Quốc so với chế tạo máy bay ném bom tầm xa, điều mà hiện tại nước này sẽ phải thực hiện theo Hiệp ước INF.

Mặc dù có nhiều lo ngại ở phương Tây về sự trỗi dậy của Nga, nhưng nên nhớ rằng GDP của Nga không lớn hơn nhiều so với Australia và chỉ tương đương với bang Texas (Mỹ). Nga không có khả năng chạy đua vũ trang với Mỹ hoặc để chống lại khả năng quân sự đang gia tăng của Trung Quốc.

Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm ước tính Mỹ chi 3,1% GDP cho quốc phòng năm 2017, trong khi Trung Quốc là 1,9% và Nga là 4,3% GDP danh nghĩa hàng năm của Mỹ, Trung Quốc và Nga vào ănm 2018 lần lượt là 20.412, 14.092 và 1.720 tỷ USD. Từ những số liệu này, chúng ta có thể giả định rằng Hoa Kỳ đang chi khoảng 610 tỷ USD mỗi năm cho quốc phòng, Trung Quốc 228 tỷ USD và Nga 66 tỷ USD.

Do đó, việc rút khỏi Hiệp ước INF sẽ cho phép Mỹ thoải mái chi tiêu nhiều hơn Bắc Kinh và nhanh chóng xây dựng một kho vũ khí mới đáng gờm trong khu vực để thách thức Trung Quốc. Việc làm này của Mỹ chắc chắn sẽ có ý nghĩa đối với các đồng minh của Mỹ ở châu Á khi Wasington có thể sẽ yêu cầu sự hỗ trợ của các đồng minh để triển khai các loại vũ khí tầm trung trên đất liền và các vũ khí thông thường tiên tiến để kiềm chế Trung Quốc.

Trong khi đó, Trung Quốc sẽ tránh tham gia các hiệp ước giới hạn vũ khí và tiếp tục mở rộng kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm xa.

Vào tháng 2/2018, Mỹ và Nga đồng ý theo Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới (START mới) về giới hạn 1550 đầu đạn hạt nhân triển khai chiến lược. (Mỹ hiện có 6550 đầu đạn hạt nhân trong khi Nga có 6850; Trung Quốc chỉ có 280).

START mới đã có hiệu lực vào ngày 5/2/2011 và dự kiến sẽ được gia hạn vào tháng 2/2021, nhưng nếu Tổng thống Trump giành được một nhiệm kỳ mới và với cố vấn an ninh quốc gia có lập trường cứng rắn John Bolton, thì thỏa thuận này cũng có thể bị hủy bỏ để bắt đầu một cuộc đua vũ khí hạt nhân tầm xa mới.

Australia sẽ ngày càng khó khăn trong việc cân bằng mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc – và sẽ vẫn duy trì mối quan hệ tốt với cả hai bên trong 5 năm tới. Do đó, sẽ là vấn đề lớn nếu như Mỹ muốn yêu cầu Australia cho phép đặt một số tên lửa ở đây.

Nguồn: Viện Lowy (Australia)

TKNB – 12/02/2019

Advertisements

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Dư luận Trung Quốc về Thông điệp Liên bang 2019 của Trump


Tổng thống Mỹ Donald Trup đã đọc Thông điệp Liên bang năm 2019 tại phiên họp chung của lưỡng viện Quốc hội vào tối 5/2/2019 theo giờ Mỹ (tức sáng 6/2/2019 theo giờ Việt Nam). Đây là một hoạt động thường niên quan trọng của người đứng đầu Nhà Trắng, trong đó đưa ra tầm nhìn, phương hướng và chính sách đối nội cũng như đối ngoại của chính phủ trong năm.

Về sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ

Nhìn lại năm 2018, các chương trình nghị sự chính của Nhà Trắng cơ bản đều vấp phải sự ngăn cản mạnh mẽ của Quốc hội. Trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Trump khẳng định Mỹ có nền kinh tế và quân đội mạnh nhất thế giới, là nước sản xuất dầu mỏ, khí đốt lớn nhất thế giới… Tuy nhiên, trên chính trường Mỹ hiện nay, đoàn kết đang trở thành sự thiếu thốn lớn nhất. Bức tường dọc biên giới Mỹ – Mexico khó được thúc đẩy, việc đóng cửa chính phủ Mỹ đã lập nên kỷ lục lịch sử, truyền thông chính thống của Mỹ cơ bản đứng về phe đối lập với tổng thống nước này.

Đoàn kết cần dựa trên nền tảng của thành tích chính trị. Thành tích chính trị bình thường chưa đủ, mà phải có cả những thành tích nổi bật. Trong Thông điệp Liên bang này, Tổng thống Trump nhấn mạnh vấn đề kinh tế, tức là trong 2 năm qua Mỹ đã tăng 600.000 việc làm trong lĩnh vực chế tạo, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng cao gấp đôi so với Chính quyền tiền nhiệm, tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 20 năm qua.

Mặc dù Tổng thống Trump tuyên bố đây không phải là thắng lợi của một đảng mà là của cả quốc gia, nhưng những người thuộc đảng Dân chủ lại thấy được những con số khác. Trong khi Tổng thống phát biểu thì một số người thuộc giới tinh hoa bình luận trên mạng xã hội rằng những thứ đó đều do vay nợ mang lại, bao gồm việc “vay tiền của Trung Quốc” để đổi lấy “triển vọng tốt trong ngắn hạn”. Hiện nay Mỹ thâm hụt ngân sách khoảng 1000 tỷ USD, “con số này thế hệ sau sẽ phải trả”.

Trước đó, Trung tâm nghiên cứu Pew công bố số liệu điều tra cho thấy, mặc dù kinh tế là chủ đề được công chúng Mỹ quan tâm nhiều nhất, nhưng chỉ có 40% số người được hỏi cho rằng kinh tế nước Mỹ được cải thiện kể từ khi Tổng thống Trump lên cầm quyền. Thực tế mà Tổng thống Trump đang phải đối mặt là triển vọng về sự “đoàn kết” không đáng lạc quan. Nước Mỹ vẫn rơi vào tình trạng chia rẽ sâu sắc, những vấn đề không đạt được sự đồng thuận trong hai năm qua trở nên khó tìm tiếng nói chung. Nguyên tố quan trọng nhất trong thể chế hai đẳng ở Mỹ là sự thỏa hiệp chính trị dường như đang bị phân tách. Chiến dịch bầu cử tổng thống tại Mỹ ngày càng đến gần, cạnh tranh chính trị ngày càng trở nên gay gắt. Điều tra của Trung tâm nghiên cứu Pew cũng cho thấy 71% người được hỏi cho rằng sự chia rẽ giữa Đảng Dân chủ và Cộng hòa sẽ ngày càng gia tăng trong năm 2019.

Về quan hệ Trung – Mỹ

Thông điệp Liên bang năm 2019 của Mỹ nhắc đến Trung Quốc một cách “có tính toán”. Mặc dù Tổng thống Trump chủ yếu nhắc đến chính sách thương mại nhưng không quên liên kết vấn đề chính trị. Ông nhấn mạnh việc tăng thuế nhằm làm giảm nhập siêu thương mịa của Mỹ, qua đó bảo vệ vấn đề việc làm, đồng thời nhấn mạnh việc yêu cầu Trung Quốc phải thay đổi về cơ cấu. Xét về tổng thể, Tổng thống Trump khẳng định sự đồng thuận tính đến nay Trung – Mỹ đã đạt được trong lĩnh vực thương mại.

Trong vòng 1 năm qua, nhận thức về nhau của từng nước đã có thay đổi to lớn. Mặc dù lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ có sự khác nhau, nhưng sự khác biệt đó nhỏ hơn rất nhiều so với các vấn đề chính trị khác, chỉ thể hiện ở trọng tâm của chính sách và mức độ thực thi. Sự đồng thuận (trong lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ) đó dần phát triển thành hành động thống nhất trong các cơ quan, ban ngành của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc. Trong tương lai gần, quan hệ Trung – Mỹ sẽ tiếp tục trạng thái cọ sát, căng thẳng. Sự đọ sức giữa hai bên sẽ xuất hiện trên càng nhiều lĩnh vực với mức độ khác nhau, tuy nhiên Mỹ sẽ chĩa mũi nhọn nhiều hơn vào vấn đề cấu trúc chính trị tại Trung Quốc. Giữa hai nước vẫn có hợp tác, nhưng hai bên chỉ tìm kiếm, lựa chọn cơ hội và phương thức hợp tác dựa trên nền tảng nhận thức mới.

Về một số vấn đề khác

Trong Thông điệp Liên bang năm 2019, Tổng thống Trump còn tuyên dương những thành tích khác trong lĩnh vực ngoại giao, từ việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) – Hiệp định cắt giảm tên lửa tầm trung, tầm ngắn do Mỹ và Liên Xô ký kết năm 1987 – đến Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai sắp diễn ra tại Việt Nam, Tổng thống Trump đều nhấn mạnh đến vai trò giương cao ngọn cờ của Mỹ. Tuy nhiên, một nước Mỹ ngày càng chuyên quyền độc đoán làm sao có thể tạo ra một thế giới đoàn kết? Hai năm qua, cộng đồng quốc tế cũng đang tìm tòi phương thức, con đường thích ứng với sự thay đổi của Mỹ, sự kinh ngạc trước việc Nhà Trắng sẵn sàng “đi chệch khỏi quỹ đạo” (rút khỏi các hiệp ước, hiệp định, tổ chức quốc tế khác nha) ngày càng giảm bớt. Tiến trình tìm kiếm hệ thống có thể thay thế hoặc cân bằng khu vực hoặc hệ thống đa nguyên hóa đang bắt đầu tăng tốc.

Nguồn: Thời báo Hoàn cầu (TQ) – 06/02/2019

TKNB – 12/02/2019

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Vấn đề Biển Đông đặt liên minh Philippines – Mỹ vào thế khó


Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte tuyên bố “chia tay Mỹ” trong chuyến thăm đầu tiên của ông đến Trung Quốc. Hai năm sau đó, Philippines đã chính thức kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ đồng minh lâu đời với Mỹ.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana – cựu tùy viên quốc phòng tại Washington – đã nhấn mạnh rằng Manila không loại trừ khả năng hủy bỏ Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines năm 1951. Trong khi việc đánh giá này có thể giúp điều chỉnh quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines, vốn bị trục trặc bởi những bất đồng và những vấn đề về cam kết trong những năm gần đây, nhưng nó chẳng khác nào là “con dao hai lưỡi”.

Rút cục, những người đề xuất mối quan hệ nồng ấm hơn với Bắc Kinh có thể vận động hành lang để hạ thấp quan hệ liên minh Philippines – Mỹ nhằm ủng hộ sự trung lập về chiến lược, đặc biệt nếu hai bên không nhất trí các nâng cấp cần thiết.

Lời kêu gọi đánh giá lại mối quan hệ Mỹ – Philippines đã gây sốc và hoài nghi cho nhiều nhà quan sát, họ kỳ vọng một sự cởi mở tức thì và duy trì quan hệ song phương sau khi Washington trả lại Bộ chuông Balangiga nổi tiếng cho Philippines. Ông Duterte đã hoan nghênh việc trả lại các vật phẩm lịch sử, vốn bị quân đội Mỹ lấy đi từ một nhà thờ Philippines trong thời kỳ thuộc địa và coi đó là kết thúc một chương đen tối trong lịch sử chung của hai nước. Thậm chí, người ta hi vọng rằng ông Duterte, người đã có 3 chuyến thăm chính thức đến Trung Quốc, cuối cùng sẽ nhận lời mời thăm Mỹ từ lâu của Nhà Trắng.

Tuy nhiên, ngay cả việc thiết lập phòng thủ chung, vốn là nền tảng trong quan hệ đồng minh song phương, Philippines dường như cũng đang thể hiện sự thất vọng ngày càng lớn trước sự mâu thuẫn chiến lược của Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines đã công khai than vãn về lập trường “mâu thuẫn” của Washington trong việc thực hiện các cam kết với Philippines, đặc biệt trong tranh chấp ở biển Hoa Nam (Biển Đông). Ông đặt câu hỏi liệu Hiệp ước phòng thủ chung có “còn liên quan đến an ninh của Philippines” hay chỉ phục vụ “lợi ích của các quốc gia khác”, cụ thể là Mỹ.

Vấn đề đầu tiên với liên minh chính là văn bản của hiệp ước. Theo Chương V của Hiệp ước phòng thủ chung, “một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào một trong hai bên được coi bao gồm một cuộc tấn công vũ trang vào lãnh thổ đô thị của một trong hai bên, hoặc các vùng đảo thuộc thẩm quyền của mình ở Thái Bình Dương hoặc vào các lực lượng vũ trang, tàu hay máy bay của mình ở Thái Bình Dương”.

Tuy nhiên, Washington đã nói lập lờ, chưa xác định rõ về phần “đô thị” và “các vùng lãnh hải dưới thẩm quyền của mình của Philippines là gì. Do đó, đồng minh của Mỹ chỉ biết đứng nhìn khi Trung Quốc năm 1994 chiếm đóng Đá Vành Khăn mà Philippines tuyên bố chủ quyền, cũng như trong cuộc đối đầu hải quân Philippines – Trung Quốc kéo dài nhiều tháng ở Bãi cạn Scarborough hồi năm 2012.

Mỹ đã liên tục từ chối làm rõ liệu các cam kết của hiệp ước có áp dụng tại Biển Đông hay không, nơi Philippines đang mâu thuẫn với một số quốc gia có tuyên bố chủ quyền khác.

Hơn nữa, có những hoài nghi liệu hiệp ước có cung cấp sự giúp đỡ quân sự thích hợp trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Philippines với bất kỳ bên thù địch thứ ba nào hay không. Theo Chương IV của hiệp ước, mỗi bên “sẽ hành động để đối phó các mối đe dọa chung (trong thẩm quyền khu vực của họ) phù hợp với các quy trình hiến pháp của nó”.

Điều này có nghĩa Quốc hội Mỹ, và rộng hơn là dư luận Mỹ, có thể trì hoãn và từ chối các nỗ lực can thiệp quân sự khẩn cấp bởi bất kỳ chính quyền Mỹ nào dưới danh nghĩa đồng minh Philippines.

Thậm chí tệ hơn, ví dụ Washington đã làm rõ Hiệp ước An ninh Mỹ – Nhật 1951 áp dụng cho tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku tại Biển Hoa Đông. Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Nhật cũng quy định rằng quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản có thể được sử dụng để đóng góp… cho an ninh của Nhật Bản nhằm chống lại tấn công vũ trang từ bên ngoài”.

Vấn đề lớn khác nằm ở cách giải thích  hạn hẹp của Mỹ về hiệp ước phòng thủ chung. Khởi đầu với chính quyền Nixon vào những năm 1970 của thế kỷ trước, Washington đã tới hạn các cam kết của mình đối với bất kỳ “cuộc tấn công nào của các lực lượng (Philippines) được triển khai nhằm vào nước thứ ba”, nhưng không phải trong các tình huống “nơi việc triển khia nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ Philippines”.

Mỹ chính thức duy trì “sự trung lập” đối với hiện trạng chủ quyền của các đảo tranh chấp tại Biển Đông, nơi Philippines chiếm đóng 9 thực thể.

Manila lo lắng liệu họ có thể trông cậy vào sự hỗ trợ quân đội của Mỹ hay không nếu Trung Quốc các quốc gia đối thủ có tuyên bố chủ quyền khác trực tiếp đe dọa các tuyến đường cung ứng và quân đồn trú của mình tại khu vực này.

Bằng việc kêu gọi đánh giá lại quan hệ, việc thiết lập phòng thủ với Philippines có thể hy vọng hối thúc Mỹ xem xét lại nội dung và cách giải thích của Hiệp ước phòng thủ chung theo cách khiến hai bên thỏa mãn. Đổi lại, Manila có thể sẽ cho phép quân đội Mỹ mở rộng tiếp cận các cơ sở quân sự của họ, cụ thể là căn cứ không quân Bautista và Basa ở Biển Đông.

Dù vậy, quá trình đánh giá này cũng mở ra khoảng trống cho những chỉ trích cũng như những đề nghị cho các mối quan hệ nồng ấm hơn với Trung Quốc nhằm kêu gọi Philippines chính thức chấp nhận một chính sách trung lập về chiến lược và, theo đó, hạ thấp quan hệ liên minh song phương Philippines – Mỹ.

Điều này nhiều khả năng sẽ xảy ra nếu Washington vẫn giữ chính sách mơ hồ về chiến lược trước các cam kết của mình với Philippines tại Biển Đông. Ba năm trong nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte, quan hệ đồng minh Philippines – Mỹ đang tạo ra một bước ngoặt lịch sử.

Nguồn: www.scmp.com

TKNB – 12/02/2019