Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần cuối


Homo Sovieticus (Mẫu người Xô Viết)

Daniel Lindenberg: Ông có tin rằng có lẽ còn hai yếu tố nữa có vai trò trong sự sụp đổ mà còn ít nói đến? Yếu tố thứ nhất, đó là sự chấm dứt hiện tượng đóng cửa. Tức là Liên Xô không còn có thể là một hệ thống đóng kín nữa: người ta không thể khóa chặt cửa toàn bộ một đất nước khi ở vào trình độ thông tin, giao thông liên lạc, trao đổi… như hiện nay. Yếu tố thứ hai mà ông ít nói đến là những vấn đề dân tộc. Ông có đề cập đến chúng khi miêu tả quá trình sụp đổ những năm 1989 – 1991, nhưng dường như ông lại nói nhiều hơn về Mẫu người Xô Viết (L’Homo Sovieticus), xuất phát từ ý tưởng rằng dần dần đã hình thành một mẫu người Xô Viết trong đó bản sắc dân tộc không hề còn quan trọng nữa. Có phải đó thực sự là điều ông quan niệm? Ông có nghĩ rằng đã có một Homo Sovieticus?

Martin Malia: Đúng về đại thể. Ngay cả khi anh ta nói tiếng Gruzia thì con người thuộc chủng loại Xô Viết ấy cũng phản ứng – tôi không nói là y hệt – nhưng là phản ứng giống như của một người Nga. Tôi đã biết có những Con người Xô Viết thuộc các dân tộc thiểu số như thế! Còn về những dân tộc thiểu số thì khi xem lại cuốn sách lần cuối cùng, tôi đã bổ sung thêm một vài điều về các dân tộc từ năm 1921, và tôi đã phác thảo sự hình thành của Liên bang Xô Viết, cũng như những diễn biến chính của chế độ Xô Viết ở Ukraine, và đó là vấn đề lớn giữa các dân tộc. Nhưng đơn giản là đứng về kết cấu bố cục của cuốn sách, nếu bàn về mọi vấn đề của Liên bang Xô Viết thì người ta sẽ mất đi sợi chỉ lớn xuyên suốt. Sợ chỉ đó chính là – có thể dùng nhan đề cuốn sách tuyệt vời của Heller và Nekrich để gọi tên nó – khi chính thể không tưởng nắm chính quyền… Và cái cơ sở dân tộc của chính thể không tưởng ấy chính là nước Nga: nếu nắm giữ được nước Nga thì người ta nắm được tất cả các nước còn lại chừng nào người tta còn đủ ý chí cưỡng bức. Breznhev đã bắt giữ những người dân tộc chủ nghĩa ở Ukraine, ở các nước Baltic và ở Gruzia: đó là những người Gamsakhurdia, Tchornovil, và tất cả những người khác.

Daniel Lindenberg: Đã có một hậu quả gậy ông đập lưng ông khoảng 15 hoặc 20 năm sau.

Martin Malia: Đúng vậy, nhưng nếu như Gorbachev vẫn giữ được ý chí cưỡng bức, thì ông ta đã có thể cho bắt giữ những người kế vị và đã có thể bình yên vô sự. Chừng nào họ còn có một lòng tin đủ vững chắc, một niềm tin đủ để đối xử với những đối thủ chính trị như kẻ thù giai cấp, thì họ có thể giữ vững chính quyền.

Daniel Linderberg: Tuy nhiên, có một vấn đề khi dùng thuật ngữ mẫu người Xô Viết đó là vấn đề là nó chưa bao giờ được xác định. Có thể nói rằng đã có một mẫu người Xô Viết ở trình độ giới thương lưu, một cách hoàn toàn, và cả đến bây giờ vẫn có. Vấn đề dân tộc, đó không chỉ là vấn đề của cái ông gọi là những dân tộc thiểu số, mà chính là vấn đề Nhà nước. Theo cách tiếp cận của ông – đối với mô hình cực quyền ở nước Nga, thì đó là một Nhà nước cực kỳ hùng mạnh, tập trung cao độ. Vấn đề đặt ra là, vào thời kỳ Breznhev, bây giờ người ta hiểu rõ điều đó hơn, Nhà nước Liên Xô đã không vững chắc như thế, không tập trung cao như thế. Chính ở đây hiện tượng dân tộc, theo tôi làm cho chúng ta quan tâm hơn trong khuôn khổ cuộc tranh luận của chúng ta. Cũng không phải là như thế nếu với tư cách vấn đề bản sắc dân tộc; mà đây chính là vấn đề Nhà nước. Đó là một Nhà nước được xây dựng vào những năm 1920, dưới một hình thức giả – liên bang, với việc xây dựng một hiến pháp, những văn bản, trái ngược với mọi mong đợi, đã đem lại hình thức cho những thực thể cộng hòa. Giới thượng lưu cộng sản, ở mỗi nước cộng hòa của Liên bang Xô Viết và ở các khu tự trị, bắt đầu tự trị, tức là bắt đầu phát triển những lợi ích riêng và, người ta đã cảm thấy rõ điều đó trong lịch sử những năm 1960 – 1990, đã góp phần vào việc sử dụng một khoảng trống nhất định được tạo ra do một Nhà nước ngày càng kém tập trung hơn trên thực tế, và chiếm lấy khoảng trống đó do giới thượng lưu ở Moskva để lại, một giới thượng lưu mà ông miêu tả như đã suy sụp. Vậy, phải chăng thực ra ông đã tin rằng Nhà nước Xô Viết đã kém hùng mạnh, kém tập trung từ những năm 1950 – 1960 với việc giới thượng lưu ở các nước cộng hòa và các khu tự trị thiết lập một mối quan hệ dọa dẫm với trung ương?

Martin Malia: Về đại thể tôi tán thành bức tranh mà ông vừa phác ra. Và tôi tin rằng thực ra tôi đã nói về những giới thượng lưu địa phương đã đứng tự trị bằng một “quan hệ dọa dẫm” – một công thức tuyệt vời của ông. Nhưng hãy trở lại vấn đề cơ bản: “Nhà nước bá quyền”, tôi tin rằng tôi đã định nghĩa hệ thống cực quyền một các khá rõ ràng trong cuốn sách của tôi: tôi đã không nói rằng chế độ Xô Viết là bá quyền, mà nó “có thẩm quyền ở mọi nơi” trong cấu trúc của nó, nếu không phải là trong công việc hàng ngày. Và cấu trúc đó là như sau: Nhà nước Xô Viết không phải là một Nhà nước thông thường, mà một Nhà nước – đảng, trong đó chính quyền “xô viết” cấu thành một loại dây chuyền cho một hội kín, đó là đảng; và đảng lại còn tập trung hơn cả Nhà nước. Hơn nữa, không có nền kinh tế trong hệ thống này, bởi vì không có thị trường; chỉ có một hệ thống sản xuất theo sự chỉ huy hành chính. Thứ ba, có cổ động tuyên truyền ở khắp nơi. Chỉ có một đường lối tư tưởng duy nhất, tất cả đảng viên, tổ chức thành chi bộ, đều bắt buộc phải học thuộc lòng nó, trong tất cả các nước cộng hòa, và nó có mặt trên tất cả các báo. Cuối cùng là có một hệ thống cảnh sát chính trị ở khắp nơi. Đó chính là kết cấu cơ sở của hệ thống cực quyền. Tất nhiên là hệ thống này không bao giờ có thể kiểm soát toàn bộ mọi mặt đời sống của đất nước. Điều đó đơn giản là không thể làm được. Ví dụ như, cho đến năm 1930, giai cấp nông dân về cơ bản vẫn thoát ra khỏi sự kiểm soát của Nhà nước. Chính sách tập thể hóa, cùng với những chính sách khác, là sự chinh phục nông thôn của Nhà nước – Đảng. Tất nhiên là người nông dân đã đi đến chỗ giành lấy những mảnh đất cho riêng họ từ tay Stalin. Và sức ép của những tù nhân các trại tập trung, sau khi Stalin qua đời, đã buộc đảng phải giải thể hệ thống trại lao động cải tạo. Đó là hai ví dụ lớn về thay đổi do áp lực từ bên dưới. Về sau này, việc dân chúng bất bình đã buộc Khrushev và Breznhev phải đầu tư những món tiền lớn, song lại với kết quả rất nghèo nàn, vào việc cải tiến nông nghiệp.

Vậy, khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi không có nghĩa là một Nhà nước bá quyền về thực tế, mà là một hệ thống bao quát về mặt cơ cấu tất cả mọi chức năng của xã hội. Như vậy khái niệm “chế độ cực quyền” của tôi là một kiểu “loại hình lý tưởng”, chưa được thực hiện hoàn hảo trong thực tế kinh nghiệm.

Và cái mô hình chế độ cực quyền đa năng, với tư cách một loại hình lý tưởng, là rất cần thiết để hiểu chế độ xô viết và sự sụp đổ của nó. Bởi vì người ta không thể sửa đổi một hệ thống “tổng thể” vượt ra ngoài một số ranh giới nhất định mà không làm nó sụp đổ hoàn toàn. Nhưng khía cạnh không được phép đụng đến của hệ thống là: vai trò lãnh đạo của Đảng, nói cách khác là bá quyền của Nhà nước – Đảng, kế hoạch hóa kinh tế độc quyền, cảnh sát chính trị và ý thức hệ bắt buộc. Đó là bốn trụ cột thiết yếu của hệ thống. Người ta có thể không cần đến những người dẫn đường cỡ lớn không cần đến Lenin và Stalin, đến hiện thực XHCN, và đến ngay cả trại lao động cải tạo mà hệ thống Nhà nước vẫn tồn tại. Nhưng nay khi người ta đụng đến một trong bốn cây trụ cột kia, thì ba trụ cột còn lại cũng sụp đổ theo.

Daniel Lindenberg: Những điều mà ông lý giải rất hay trong cuốn sách là đã có một bước ngoặt lớn vào thời điểm mà mọi người không còn bị khủng bố nữa. So với điều đó thì mô hình bốn cột trụ mà ông miêu tả trở nên tầm thường. Ngược lại, ông đã gán một tầm quan trọng lớn cho quan niệm về một chỉnh thể không tưởng, về một lý tưởng vẫn tồn tại sau Stalin…

Martin Malia: Đúng vậy, và điều đó rất quan trọng. Chính cái chỉnh thể không tưởng đã tạo ra được một sự cưỡng bức ở quy mô chưa từng thấy. Chính đó là cái phân biệt Liên Xô với một tướng Stroessner ở Paraguay, hoặc một Idé Amin Dada chẳng hạn. Do không có cái chính thể không tưởng ấy, các nhà độc tài kiểu cổ điển này không thể làm được những điều mà Lenin và Stalin đã làm, cũng không thể đứng vững được ba phần tư thế kỷ. Bởi vì một KGB theo nếp cũ đã thay thế cho hệ thống trại lao động cải tạo.

Daniel Lindenberg: Liệu ông có tán thành nói rằng giờ đây chúng ta nhìn thấy thắng lợi gần như ở khắp nơi của tầng lớp thượng lưu cũ không? Phải chăng là tất cả đã thật sự sụp đổ vào năm 1991, phải chăng đó là cuộc cách mạng đã nổ ra trong vài ngày của tháng 8/1991, khi một vài người, chứ không phải là một phong trào quần chúng, cúo cùng đã làm thất bại cú đảo chính của những kẻ thiếu kinh nghiệm mà ông đã miêu tả rất hay trong cuốn sách của ông?

Martin Malia: Họ xử sự như những kẻ không chuyên bởi vì họ không còn dũng khí nữa, vì họ thiếu một chính thể không tưởng đáng tin cậy. Còn về câu hỏi chính của ông, mặc dầu lớp cán bộ cũ vẫn có mặt ở khắp nơi, song không thể nói tới một sự phục hồi của hệ thống cũ.

Daniel Lindenberg: Chắc chắn là không. Nhưng liệu có phải tất cả đã sụp đổ không?

Martin Malia: Có và không. Cái bản chất cốt yếu của hệ thống cũ đã sụp đổ: Đã không còn nữa một đảng có tổ chức, cũng không còn nữa một Nhà nước – Đảng. Những người cộng sản có mặt ở khắp nơi, nhưng không còn CNCS nữa. Không còn ý thức hệ bắt buộc nữa, cũng không còn nữa một chính thể không tưởng để biện minh và một đội quân cảnh sát chính trị ở khắp nơi nữa. Trái với một số báo chí phương Tây gây lo sợ trong khi trích dẫn các nhà báo Nga bị kích động, đã không có sự phục hồi của KGB. Cơ quan KGB mới rút cục đã có quyền kinh doanh. Và có thể nói chính xác rằng trật tự mới ở nước Nga có thể gọi là một CNTB thực danh, một xã hội thực danh có thị trường và sở hữu tư nhân. Giới thượng lưu cao cấp cũ vẫn nắm chính quyền, nhưng việc họ biến các bộ ngành thành những khối liên kết xung quanh một ngân hàng, và việc thủ tướng Tchernomyrdin giờ đây là một cổ đông chủ chốt trong ngành công nghiệp dầu khí cũ của ông, đã làm biến đổi vai trò và công việc của ông ta. Giờ đây chúng ta có một xã hội xô viết thị trường với một quyền tự do ngôn luận rất rộng rãi ở trong nước.

Daniel Lindenberg: Cũng có một tự do hỗn loạn rất rộng rãi nữa.

Martin Malia: Đúng vậy, hầu như ta có thể nói rằng không có Nhà nước. Nói rằng Elsin là tổng thống một Nhà nước đang cai trọ một cách có hiệu lực lãnh thổ của ông ta là không đúng. Có một chính quyền có một đồng rúp, có một hệ thống đường sắt trong cả nước, có giấy hộ chiếu, nhưng không có một quyền lực Nhà nước thật sự đứng vững. Hơn nữa, đây là một sự hỗn loạn pha trộn những yếu tố xô viết cũ với một CNTB hoang sơ. Hệ thống hiện nay ở nước Nga còn hoang sơ hơn nhiều so với hệ thống đã thấy ở phương Tây, ngay cả ở thời đại kinh tế tự do của thế kỷ 19.

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần III


Nhưng trên thực tế những người lãnh đạo vẫn tin tưởng vào điều đó. Người ta vừa mới công bố những thư gửi Molotov của Stalin, và thật cực kỳ rõ ràng là ông tin vào ý thức hệ trong những năm 1920 – 1930. Niềm tin ấy là như sau : chừng nào CNXH Bonsevich còn giới hạn trong một nước duy nhất, thì nó cần phải hùng mạnh ; chính vì điều đó mà phải công nghiệp hóa hàng loạt. Cần phải xây dựng nên sức mạnh của Nhà nước Xô viết để bảo vệ CNXH, và CNXH là một phương thức làm cho Nhà nước Xô viết trở nên hùng mạnh. Rõ ràng có một sự lộn xộn trong đầu óc ông ta giữa một Nhà nước Nga Xô viết mạnh và thắng lợi trên toàn thế giới của CNXH.

Điều đó không có nghĩa là ông ta suy nghĩ một cách nghiêm túc về điều phải làm nếu nổ ra một cuộc cách mạng ở nơi khác. Nhưng sự thực về việc ông tin vào khả năng của những cuộc cách mạng bên ngoài đã được chỉ rõ bởi chính sách kỳ cục đối với nước Đức vào đêm trước năm 1933. Tôi đang nói về chính sách đấu tranh chống bọn « phát xít – xã hội », chính sách này quay trở lại liên minh, nhiều hay ít, với bọn phát xít để chống lại những người xã hội – dân chủ theo một phép loại suy sai lầm với nước Nga năm 1917 khi vụ Kornilov đã mở đường cho những người Bonsevich và kẻ thù là những người « xã hội – phát xít » thời đó, tức là người Mensevich. Lại một lần nữa Stalin, trong cuốn sách nhỏ cuối cùng của mình, Những vấn đề kinh tế của CNXH, soạn thảo trước khi qua đời, đã nhấn mạnh sự thực là « kế hoạch » (nghĩa là hệ thống chỉ huy hành chính) thì có hiệu năng cao hơn hệ thống TBCN và nó sẽ đem lại thắng lợi trong cuộc đấu tranh toàn thế giới giữa hai hệ thống. Chúng ta hãy lấy trường hợp đơn giản hơn của Khrushev. Trong cương lĩnh mới của đảng được thông qua năm 1961, ông đã thể hiện thực chất của mình là một người Leninnit vào thời kỳ khởi đầu của chế độ, tin tưởng rằng CNTB đang sắp tàn lụi và CNXH là làn sóng của tương lai : « Chúng tôi sẽ chôn vùi các ông, con cái các ông sẽ sống dưới chế độ CSCN ».

Marie Mendras : Điều này không nói lên rằng ông ta tin vào đó : Ông ta cũng đã khâm phục những cánh đồng ngô ở Mỹ.

Martin Malia : Những cánh đồng ngô ư? Đồng ý, còn cách tổ chức chúng theo phương thức tư bản chủ nghĩa thì không. Tôi trở lại một lần nữa cương lĩnh thứ ba của đảng ở Đại hội XXI, năm 1961, và đó là một văn kiện leninnit ngây thơ. Nó tin thực sự bằng cách nhà nước hóa tất cả người ta sẽ đi tới hình thức cao nhất của kinh tế và đem lại thắng lợi trên toàn thế giới.

Marie Mendras: Ông không tin rằng chuyện đó đã trở thành nghi thức rồi ư?

Martin Malia: Không, chắc chắn không. Và đó không phải duy nhất ý kiến của tôi. Ví dụ như Richard Lowenthal, ông hiện nay đã mất, để nhấn mạnh điều này trong một bài báo nổi tiếng: “Từ không tưởng đến phát triển”. Còn về Breznhev và êkíp của ông ta, những ý kiến, những niềm tin cá nhân của những người lãnh đạo vào thời kỳ đó không còn có tầm quan trọng lớn nữa, bởi vì hệ thống đã được xếp vào đúng vị trí từ lâu và vận hành theo cơ chế điều khiển tự động. Nhưng có những người xung quanh ông ta tin tưởng điều đó: ví dụ Suslov, một lãnh tụ ý thức hệ, đã là một tham gia “Ủy ban nông dân nghèo” năm 1918, đã tham gia “xây dựng CNXH” dưới thời Stalin – và đã trở thành Khrushev, người vệ sĩ dữ dằn của tổ tiên thời kỳ nội chiến và của cả kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Và ngay cả Breznhev cũng là một sản phẩm thuần túy của hệ thống Stalin, người đã khởi đầu công danh của mình như một nhân vật hạng hai của Khrushev. Ở đa số những người có một sự pha trộn của niềm tin với sức ì, nhất là từ năm 1939. Gorbachev không còn tin nhiều nữa vào hệ thống chỉ đạo hành chính mà tin vào “những giá trị nhân bản phổ biến” hơn là tin vào cuộc đấu tranh giai cấp; nhưng ông ta cũng tin rằng Cách mạng tháng Mười đã tạo nên bước ngoặt lịch sử quyết định và không thể đảo ngược được nữa. Vậy là, vẫn còn cái gì đó là tư tưởng tri cho tới giờ phút cuối cùng.

Một thất bại tuyệt đối

Daniel Lindenberg: Ông có ngạc nhiên, giống như François Furet, về sự sụp đổ bất ngờ của CNCS và về một điều là CNCS, với kết cục của nó, đã không để lại một di sản tích cực nào? Ông có cùng một quan điểm ấy không?

Martin Malia: Về đại thể, tôi đồng ý cho rằng thất bại của Liên Xô là mang tính toàn diện. Furet đã lập luận bằng cách so sánh với cách mạng Pháp: nếu như cuộc Cách mạng Pháp phá vỡ nhiều điều thì nó cũng đã tạo ra nhiều điều tích cực, trong khi cuộc Cách mạng Nga, với nhiều đổ vỡ hơn lại không sáng tạo được gì cả: không một thiết chế nào, không một truyền thống nào có thể sử dụng được, không một tuyên ngôn về quyền của người lao động hoặc của người bị bóc lột ở thế giới thứ ba chẳng còn gì để lại cả.

Tôi có bất ngờ vì sự sụp đổ không? Có và không. Về tốc độ phá vỡ nhanh chóng tất cả thì đúng là tôi bị bất ngờ. Nhưng nội dung của những gì đã diễn ra thì không. Tôi đã ở Ba Lan trong thời kỳ của Công đoàn Đoàn kết, nơi mà lần đầu tiên tôi thấy một xã hội XHCN toàn vẹn hầu như đổ nát hoàn toàn, và tôi tự nhủ : Rút cục, những hệ thống này không phải là bất tử ». Khi tôi đi Moskva, lần đầu tiên từ 25 năm nay, đúng vào giữa thời kỳ cải tổ, năm 1988, tôi cũng đã có cùng một ấn tượng như vậy. Trước đó, tôi cũng đã bị thuyết phục chút ít bởi những ông bạn đồng nghiệp vốn là người yêu thích Gorbachev ở Hoa Kỳ, cho rằng ở Nga đang diễn ra một cái mới nào đó, nhưng tôi vẫn không chia sẻ ý kiến của họ cho rằng lần này những người cải cách nhất định đi đến chỗ biến đổi hệ thống mà không phá hủy nó. Tuy nhiên, tôi đã hơi do dự trong niềm bi quan của mình. Nhưng chỉ cần 15 ngày, không hơn, khi tôi ở Moskva, cũng đủ để tôi kết luận rằng Gorbachev là một thầy phù thủy đang học nghề : chính sách công khai đang phá hủy toàn bộ những huyền thoại ý thức hệ của hệ thống và do vậy, đã phi hợp pháp hóa « CNXH hiện thực ». CNCS Xô Viết là một hệ thống mà người ta không thể nói lên được sự thật gì về nó và tuy nhiên vẫn phải duy trì cơ cấu hạ tầng của nó. Vậy thì, cái sự thật về công khai chính là cái hôn của tử thần dành cho hệ thống. Thế là từ đó tôi không còn bị bất ngờ về triển vọng sụp đổ ấy, thậm chí còn coi đó là triển vọng gần : Nhưng khi sụp đổ xảy ra th2i sự nhanh chóng của nó cũng cứ vẫn làm tôi bị bất ngờ.

Daniel Lindenberg : Trong cùng một quan điểm, phải chăng ông cũng như Furet, nhấn mạnh một điều là sự sụp đổ đã đến từ bên trong và thậm chí từ phía những người lãnh đạo ? Furet nhấn rất mạnh một điều là nghịch lý lại ở chỗ sự kết thúc của chế độ là công việc của một bộ phận giới thượng lưu cao cấp của hệ thống. Ông có tán thành với luận điểm ấy không và điều đó sẽ có hậu quả gì về sau ?

Martin Malia : Đúng vậy, khủng hoảng chỉ có thể bắt đầu từ cấp cao. Trong một hệ thống cộng sản tập trung hóa, chính do cấu trúc của nó mà những sáng kiến lớn chỉ có thể xuất phát từ cấp cao. Điều này không ngăn cản việc đôi khi những quyết định của những người đứng đầu của đảng lại do sức ép của cơ sở, ví dụ như những người nông dân đã buộc Lenin phải thực hiện một bước lùi vào năm 1921. Cuộc cải tổ chỉ có thể đến từ cấp cao, và vấn đề là tìm hiểu xem vì sao nó lại được đưa ra.

Tất cả các nhà lãnh đạo Liên Xô – không chỉ Breznhev, Suslov, Ustinov và phe cánh của họ, mà còn cả Gorbachev và ngay cả những người thuộc phái tự do ở Moskva – đều rất thiết tha với « vị trí » siêu cường của Liên Xô. Đồng thời, họ cũng thấy rằng hệ thống chỉ huy hành chính đem lại những kết quả ngày càng không đủ để cung cấp cho những nhu cầu của siêu cường thế giới này. Hơn nữa, tôi nói thêm – và đây không phải ý kiến riêng tôi, mà của nhiều nhà quân sự xô viết – rằng thật là khó nhận lời thách thức của cuộc chiến tranh giữa các vì sao, phần vì tốn kém, phần vì tính phức tạp của nhiệm vụ này. Vậy là những người lãnh đạo cởi mở nhất, Gorbachev và Iacovlev cũng như nhiều nhà chuyên môn trong Ban chấp hành trung ương, đã kết luận rằng cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt trong thời kỳ Breznhev là một sự xa xỉ mà Liên Xô không thể trả giá được. Vì vậy cần phải có một thời kỳ tạm nghỉ ngơi để cho hệ thống có thể thoát ra khỏi tình trạng « trì trệ » về kinh tế của thời kỳ Breznhev, nếu đất nước muốn phát triển mọi khả năng để giữ vững địa vị thế giới của mình.

Nhưng chính quyền đã thật sự không có một chương trình để dẫn đến sự đổi mới nền kinh tế. Tất nhiên những người lãnh đạo biết cần phải có một chút ít thị trường, nhưng đến mức nào ? Họ cũng biết rằng cần phải có một chút tự do hơn nữa, nhưng ở đây cũng thế, đến mức độ nào ? Họ cũng dự kiến được một chút chế độ tham gia chính trị, nhưng điều đó có thể cho phép đi đến đâu – tất cả đều là điều bí ẩn. Vậy là ngòi nổ làm sụp đổ hệ thống chính là sự xuống dốc của nền kinh tế, nó đe dọa làm mất đi vai trò cường quốc quốc tế, điều ấy đã thúc đẩy chế độ này cấp nhận một chút thị trường, chấp nhận tính công khai và dân chủ, và sự thật một khi được giải thoát ấy đã cực kỳ nhanh chóng làm sụp đổ tất cả hệ thống.

Marie Mendras : Tính công khai đã làm sụp đổ cải tổ.

Martin Malia : Đúng vậy, bởi vì tính công khai đã đào chân móng làm đổ cái nền của chế độ, bởi vì rút cục, đó không phải là một chế độ bình thường, hoặc một chế độ chuyên chế thông thường mà là một chế độ tự tuyên bố là « xã hội chủ nghĩa » như vậy là « cao » hơn, tiến bộ hơn CNTB, với một nền kinh tế sản xuất ra nhiều hơn Phương Tây. Nhưng với chính sách công khai, dân chúng được biết rằng tình hình đã trở nên xấu hơn trước đây. Nói ngắn gọn, tất cả những hứa hẹn trước đây của hệ tư tưởng đều là giả dối. Và vì sức mạnh toàn năng của đảng được biện hộ bởi những lời hứa hẹn ấy, và vì chế độ đã dựng nên những kết cấu do học thuyết mang lại từ quá lâu rồi, nên tất cả cùng sụp đổ một lượt. Thiếu vắng hệ tư tưởng thì ý chí cưỡng bức cũng biến mất. Đáng ra Stalin đã phải xử tử hàng loạt « những người dân chủ » ở Hồng trường.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần II


Nói tóm tắt thì chặng đường này là như sau : những người Bonsevich lên nắm chính quyền vào năm 1917, với sơ đồ lịch sử marxist cổ điển trong đầu họ : CNXH kế tiếp sau CNTB. Tuy nhiên, được phép làm một cuộc cách mạng ở Nga bởi vì nước Nga là khâu yếu nhất của hệ thống đế quốc chủ nghĩa thế giới. Và cuộc cách mạng ở phương Tây, nhất là ở Đức, sẽ đến tiếp sau để hợp pháp hóa cuộc cách mạng nổ ra hơi sớm một chút ở Nga. Nhưng sự tiên đoán đã tỏ ra sai lầm. Thế thì người ta đã làm gì trong trường hợp bất ngờ ấy ? Và đây là những người Bonsevich, trong một nước mà nông dân chiếm ưu thế, còn giai cấp vô sản là thiểu số. Vả lại, đảng Bonsevich thực sự không là một đảng vô sản, mà là một đảng trí thức. Thêm vào đó, nước Nga năm 1917 chỉ là một nước ở vào giai đoạn đầu tiên của CNTB, thậm chí người ta còn có thể nói rằng cuộc chiến tranh năm 1914 và cuộc cách mạng đã làm cho sự lạc hậu của nước Nga trầm trọng hơn. Nước Nga vào năm 1914 đã hiện đại hơn nước Nga năm 1917 – 1918. Vậy thì người ta phải làm gì trong tình hình CNXH thắng lợi ở Nga mà không kéo theo một cuộc cách mạng ở phương Tây ? Tất nhiên là những người Bonsevich sẽ không rút lui. Thế là họ áp đặt quyền lực của họ trong thời gian nội chiến 1918 – 1921, và thậm chí lúc đó họ đã có ý định – ngay từ thời Lenin – xây dựng « CNXH trong một nước duy nhất ». Vào thời kỳ đó, họ đã không dùng công thức ấy, nhưng đó thật sự chính là họ đang thử làm trong thực tiễn. Bởi vì họ đã lợi dụng một thực tế là kinh tế và xã hội công dân ở Nga đã bị tiêu tan trong quá trình nội chiến để cố gắng thay thế chúng bằng một hệ thống kinh tế nhà nước : một nền kinh tế chiến tranh dưới sự độc tài của đảng. Nhưng chính sách này chỉ đẩy nhanh thêm sự suy sụp của nền kinh tế và xã hội công dân do cuộc đại chiến gây ra ; kết quả là nước Nga, vào lúc những người Bonsevich giành được thắng lợi hoàn toàn, chỉ còn là một cảnh hoang tàn.

Khi đó vào năm 1921, những người Bonsevich bắt buộc phải thực hiện một bước lùi bằng cách đưa ra chính sách NEP, nghĩa là rút cục họ chấp nhận sẽ xây dựng CNXH trong một nước duy nhất. Song điều đó không hề bao hàm việc từ bỏ chủ nghĩa Marx. Đối với họ, sơ đồ marxist vẫn luôn luôn rất quan trọng, ngay cả đối với Stalin. Sau năm 1921, lập luận của họ là như sau – và vào thời kỳ đó lý lẽ ấy tỏ ra khá hợp lý : CNTB đã được ổn định, nhưng một ngày kia sẽ có một cuộc khủng hoảng mới – và đã có một cuộc khủng hoảng thật vào năm 1929 ; cũng một ngày nào đó sẽ có một cuộc chiến tranh mới – và đã có thật, một cuộc chiến tranh vào năm 1939. Cuộc chiến tranh này không phải là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa theo nghĩa của Lenin nhưng nó đã nổ ra thật sự. CNTB vậy là chỉ có thể ngày càng được ổn định và vững chắc và trong khi chờ đợi thì đảng Bonsevich phải bảo vệ thành quả cách mạng trong một nước duy nhất mà ở đó cách mạng đã thành công, tức là ở nước Nga.

Và hơn nữa, họ đã tin vào điều đó

Và để được như thế, trong hoàn cảnh bị bao vây, thì nước Nga XHCN cần phải hùng mạnh, bởi vì chỉ cần sự tồn tại của nó cũng đã là một thách thức và đe dọa đối với CNTB. Vậy phải đẩy nhanh việc xây dựng CNXH trong một nước duy nhất và đó chính là ý nghĩa của cuộc đại « cách mạng từ bên trên » của những kế hoạch 5 năm của Stalin vào những năm 1930. Điều đó không có nghĩa là Stalin vào những năm 1930 đã từ bỏ cuộc cách mạng thế giới, từ bỏ chủ nghĩa Marx, từ bỏ ảo tưởng ; đúng hơn điều đó có nghĩa là sau 1929 tất cả nghị lực của hệ ý thức không tưởng được hướng vào công cuộc xây dựng đất nước.

Marie Mendras : chúng tôi thích trở lại định đề xuất phát ở cuốn sách của ông mà ông vừa mới khẳng định lại, đó là : những người xô viết là những nhà marxist và vì vậy họ có một ý thức hệ tổng thể. Ông đã sử dụng trong cuốn sách thuật ngữ « CNXH toàn vẹn » mà đối với ông là đồng nghĩa với chế độ cực quyền. Theo ông thì vào cuối những năm 1930, Stalin tin vào cuộc cách mạng thế giới, tin vào Marx. Điều này đáng phải thảo luận kỹ, nhưng chúng tôi muốn trở lại ý tưởng này là vì đã có một sự phân cực trong Xô viết học, đặc biệt Xô viết học Anglo-Saxon, xung quanh mô hình cực quyền và mô hình cải lương – xét lại, và vì mô hình cải lương đã thất bại, nên ông là người có lý : Liên Xô trong 70 năm qua đã là chế độ cực quyền, vì cực kia đã nhầm lẫn. Tôi tin rằng việc cực kia đã tỏ ra sai lầm và việc Liên Xô với tư cách nhà nước Xô viết đã sụp đổ vào năm 1991 không có nghĩa là một cách tự động tất cả những dữ liệu của mô hình cực quyền phải nhất thiết được chấp nhận mà không phải tranh cãi gì. Thật sự ông có nghĩ rằng  những nhà lãnh đạo này – từ những năm 1930, nhưng nhất là từ khi Stalin mất, vào lúc mà còn khá dễ hiểu người ta phản ứng như thế nào, khi chế độ độc tài không còn nữa – tin vào sự không tưởng ? Trong toàn bộ tác phẩm của ông, ông nói về những người lãnh đạo như những người có một lòng tin, tin vào CNXH, tin vào Marx, tin đến cùng vào không tưởng và muốn thực thi nó. Phải chăng chỉ có thể nghĩ rằng bắt đầu từ những năm 1930, người ta đang ở trong một hệ thống ngoại lệ, và rằng trong thực tế không thể nói được Stalin, Béria và những người khác tin vào cái gì, chừng nào hệ thống còn là độc tài ? Từ những năm 1950 và nhất là những năm dưới thời Breznhev mà ông nói đến tương đối ít, người ta có ấn tượng nhiều hơn về một Liên Xô không còn lòng tin nữa, đã phi ý thức hệ hóa và ngay cả đến công thức mà ông dùng rất nhiều, công thức « đảng – ý thức hệ trị » cũng không còn hoàn toàn thích hợp. Phải chăng thực ra là ông đã quá thổi phồng cái ưu thế của ý thức hệ, và niềm tin của những người lãnh đạo vào một chủ nghĩa xã hội toàn vẹn ?

Marlin Malia : Tất cả những nhà lãnh đạo Xô viết đều sống trong không tưởng theo nghĩa họ chấp nhận CNXH như đã được Marx định nghĩa. Điều đó không có nghĩa đây là những nhà không tưởng ôn hòa đang mơ tưởng về một xã hội tương lai rực rỡ. Đối với họ, CNXH là sự phủ định CNTB một cách rất cụ thể, mà bản chất của CNTB là sở hữu tư nhân. Đó là định nghĩa của Marx, định nghĩa của mọi CNXH châu Âu cho đến tận sau Đại chiến thế giới thứ II. Công Đảng Anh đã từ bỏ sở hữu xã hội chỉ mới được vài tháng nay. Đảng Xã hội Pháp chưa bao giờ từ bỏ sở hữu xã hội, ít nhất xét về mặt công khai nói ra. Đảng Xã hội Đức chỉ từ bỏ nó vào năm 1954, những người xã hội Tây Ban Nha vào năm 1974. Quan niệm về CNXH này như là một sự kết thúc tuyệt đối của chế độ sở hữu tư nhân, của tiền tệ, thị trường… cũng đúng là quan niệm của Engels, của Marx, của Kautsky và của cả Đệ nhị Quốc tế.

Nhưng học thuyết này chưa bao giờ được các đảng của Đệ nhị Quốc tế áp dụng cả, bởi vì họ muốn có đa số tuyệt đối ở Nghị viện (như Allende) trước khi chuyển từ không tưởng sang hành động thực tế. Khốn nỗi người ta sẽ không bao giờ có được đa số tuyệt đối ở Nghị viện với một chương trình quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế. Và ngay cả khi người ta có được một đa số như thế và thử đem áp dụng chương trình ấy thì người ta sẽ chỉ gây ra một cuộc nội chiến. Lúc đó Lenin đã chọn một chiến lược khác với những người cầm đầu Quốc tế II. Ông đã hiểu rằng không thể chỉ phó thác cho riêng giai cấp công nhân thực hiện việc đoạn tuyệt với CNTB, mà cần phải có một đảng của những người giác ngộ hệ tư tưởng khoa học để đi tới mục đích đó. Và một mục đích như thế, được thực hiện bởi một đảng như thế, đó là đỉnh điểm của chủ nghĩa không tưởng.

Nhưng trong thực tiễn những phương tiện Leninnit không đem lại những kết quả giải phóng đã trù tính trước : trái lại chúng dẫn đến sự cưỡng bức thường xuyên. Và sự cưỡng bức ấy buộc phải là thường xuyên vì thị trường và sở hữu tư nhân có xu hướng quay trở lại không thể cưỡng được. Như thế Đảng phải nắm chính quyền mãi mãi. Lenin tin như đinh đóng cột vào nguyên tắc này : đối với ông, cho phép người nông dân trao đổi, đó chính là tái sản sinh ra CNTB, một điều thật đáng sợ, dường như những người nông dân nghèo là những con « cá mập » của phố Wall.

Tuân theo lập luận mang tính hệ tư tưởng đó, từ 1933 – 1934 Đảng đã thực tế xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, lợi nhuận thị trường. Kể từ những ngày đó, hạ tầng cơ sở không thay đổi. Cả Stalin lẫn Khrushev và Breznhev không ai có nhu cầu phải tin một cách tích cực vào ý thức hệ : hệ thống tư tưởng trị đã đứng vững và từ đây nó tự mình vận hành độc lập. Chính theo nghĩa này mà hệ thống vẫn mang tính tư tưởng tri cho đến giây phút cuối cùng của nó.

(còn tiếp)

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Sự sụp đổ của chế độ cực quyền ở nước Nga – Phần I


Martin Malia

Marie Mendras (Me): Thưa ông Martin Malia, cuốn sách gần đây nhất của ông Bi kịch Xô viết – ra đời khi mà giờ đây Liên bang Xô viết không còn tồn tại nữa và đối tượng cuốn sách đã kết thúc rồi – 1917 – 1991 – trình bày một bản tổng kết có tính phê phán cao về khoa Xô viết học nổi bật ở Hoa Kỳ. mong ông cho chúng tôi biết bộ môn Xô viết học nổi bật ấy, nay chắc cũng chết cùng với chủ đề của nó, trước đây là như thế nào?

Martin Malia (Ma): Khi Liên bang Xô viết còn tồn tại, nếu tôi được phép nói thế, chúng ta đã sống trong sự chờ đợi một cái gì đó do “Cuộc thử nghiệm” ấy sẽ mang lại, và sự chờ đợi đó đã phân cực dư luận thế giới. Một mặt, người ta có thể tin rằng do tất cả đã quốc hữu hóa, kế hoạch hóa, hệ thống này một ngày kia sẽ đem lại cái mà vào năm 1968, ở Prague, người ta gọi là “CNXH với bộ mặt nhân bản”. Mặt khác, do Liên Xô là một siêu cường, một trung tâm của phong trào nếu không phải là cách mạng vô sản thế giới, ít nhất cũng là một lực lượng chính trị đối lập với các chế độ dân chủ phương Tây, nên người ta có thể lo sợ về một đế quốc Xô viết. Tôi cho rằng do có sự phân cực ấy nên các trường đại học của phương Tây khó có thể nghiên cứu về Liên Xô một cách hoàn toàn trung lập hoặc hợp lý một cách bình tĩnh. Bằng cách này hay cách khác, ngấm ngầm hay công khai, người ta đều phải xác định cho mình một lập trường. Và điều đó đem lại hai cực đối lập lớn trong cách lý giải về Liên Xô sau chiến tranh.

Trước chiến tranh, nước Nga đại diện cho cuộc cách mạng XHCN ở một nước duy nhất: phái tả khâm phục nó, phái hữu e sợ nó, nhưng CNCS khi đó còn chưa phải là một hiện thực mang tầm cỡ thế giới và trở nên phổ biến như Liên Xô đã trở thành sau chiến tranh thế giới và sau khi nó chiến thắng nước Đức. Chính bắt đầu từ thời điểm đó mà chúng ta có một cực thứ nhất, cực phủ định, đó là quan niệm về “mô hình cực quyền”. Tuy nhiên, mô hình này không phải là một phát minh của cuộc chiến tranh lạnh như hiện nay người ta thường nghĩ, dù rằng chắc chắn nó đã được sử dụng trong việc tuyên truyền của các chính quyền dân chủ trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Mô hình cực quyền có từ những năm 1930, nó đem lại ưu thế trước hết cho hệ tự tưởng và hành động chính trị so với các lực lượng kinh tế và xã hội trong việc lý giải các hiện tượng Xô viết: chính nhà nước, chính xác hơn là nhà nước – đảng, ở nước Nga cộng sản, là người nhào nặn xã hội và hệ thống kinh tế “từ bên trên”. Tất nhiên, trước mắt của dư luận thế giới, mô hình cực quyền này được hình thành từ những điểm giống nhau rõ ràng giữa Stalin và Hitler, giữa chế độ phát xít và cộng sản, sự giống nhau nổi bật hẳn lên do chỗ chỉ có một nhà độc tài duy nhất.

Nhưng khi nhà độc tài duy nhất biến mất ở Liên Xô, thì đối với một số người sự việc trở nên khó khăn hơn khi xem Liên Xô là chế độ cực quyền, hoặc khi so sánh nó với Hitler. Kết quả là nhiều nhà Xô viết học bắt đầu nói về Liên Xô như một hệ thống xã hội và kinh tế liên tục tiến triển. Có những yếu tố khác cũng đẩy tới sự giảm nhẹ của mô hình cực quyền: chế độ chính trị Xô viết đã trở nên mềm mỏng hơn sau chiến dịch bài Stalin của Khrushev. Thêm vào đó, những năm 60 đã chứng kiến sự ra đời của một phái tả mới ở Phương Tây, và cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã cấp tiến hóa các trường đại học của Hoa Kỳ, những hoàn cảnh này đã làm cho dư luận giới đại học trở nên cởi mở hơn đối với cuộc “thử nghiệm Xô viết”.

Thế là người ta đã rút ra kết luận rằng nước Nga cộng sản chưa bao giờ là cực quyền đích thực, và điều này đã đẻ ra cực thứ hai, cực khẳng định của Xô viết học. Trong quan điểm này, nước Nga cộng sản chỉ là một nước chuyên quyền đang phát triển. Như thế, lý thuyết hiện đại hóa đã tiếp tục sự nghiệp của mô hình cực quyền. Ngay từ cuối những năm 60, những người mà sau này sẽ được gọi là “người theo chủ nghĩa xét lại” đã muốn giải thích hiện tượng Xô viết “từ bên dưới”. Hay nói chính xác hơn, trong quan điểm của họ, chế độ Xô viết không được trình bày hoàn toàn như một sản phẩm của xã hội, mà như một “chính phủ” bị buộc phải đáp ứng những sức ép của xã hội. Nền chính trị của chế độ Xô viết được lý giải như một phương thức hơi thô bạo để giải đáp vấn đề về sự lạc hậu của nước Nga, và không phải như một sự thi hành quyền lực vì quyền lực như mô hình cực quyền đòi hỏi. Thậm chí một số người còn cho rằng phương pháp Xô viết hầu như là cách duy nhất đối với một nước nông dân và lạc hậu để tự hiện đại hóa nhanh chóng, một phương pháp siêu tốc và tàn bạo dưới thời Stalin, nhưng lại ôn hòa hơn nhiều sau thời Stalin. Và, một khi xã hội đã trở thành hiện đại – nghĩa là mang tính “công nghiệp, đô thị, và có giáo dục”, thì người ta tin rằng đảng sẽ buộc phải tự biến đổi thành một chế độ tự do hơn, dân chủ hơn, và như thế cuối cùng người ta sẽ có “CNXH với bộ mặt nhân bản”. Tất nhiên những người theo chủ nghĩa xét lại không công khai nói tất cả điều đó, họ chỉ tỏ ra thông cảm với những khuynh hướng cải lương trong nội bộ Liên Xô.

Tuy nhiên, đối với những người phê phán chủ nghĩa xét lại thì vẫn còn vấn đề về hạ tầng cơ sở của hệ thống xô viết, hạ tầng này sau Stalin vẫn không hề thay đổi. Vẫn còn đấy cơ cấu nhà nước – đảng, vẫn còn đấy cái mà trong tiếng Pháp gọi là “kế hoạch hóa độc quyền”, hoặc cuối cùng ở Liên Xô người ta gọi nó một cách đúng hơn là “hệ thống hành chính” đối với kinh tế. Cũng vẫn còn sự có mặt ở khắp nơi của cảnh sát chính trị, và nếu như sự khủng bố hàng loạt chấm dứt, thì KGB vẫn còn tồn tại ở khắp nơi. Vậy là Liên Xô không phải là một xã hội “hiện đại” như những nước khác. Hơn nữa, trong chính sách đối ngoại, Liên Xô cũng không trở thành một nước như những nước khác. Liên Xô khao khát chiếm ưu thế khu vực Á – Âu, nếu không nói là khao khát quyền bá chủ thế giới, và thường xuyên cạnh tranh với các nước dân chủ. Do đó, thật sai lầm khi nói rằng Liên Xô cũ chỉ là một nước đang hiện đại hóa. Nhưng cho đến phút cuối, đa số các nhà Xô viết học vẫn chờ đợi một lối thoát ôn hòa của cuộc thử nghiệm Xô viết. Bởi vì, trên thực tế trong các trường đại học Mỹ, trường phái xét lại đã nắm quyền bá chủ trong những năm 1980.

Không có con đường thứ ba

Khi ấy Gorbachev bỗng xuất hiện. Một mặt những kẻ không khoan nhượng của quan niệm về mô hình cực quyền bắt đầu lên tiếng, ít nhất là trong một số bọn họ: “Đấy chỉ là sự lòe bịp, họ chẳng thay đổi gì cả, đó chỉ là một chiến thuật mới để lừa bịp chúng ta”. Mặt khác, những người theo chủ nghĩa xét lại thì ca ngợi: “Đây rồi, Gorbachev, đó là Bukharin của ngày hôm nay, ông ta sẽ dỡ bỏ nốt những di vật của chủ nghĩa Stalin, trở lại với nền kinh tế hỗn hợp của chính sách NEP, và như thế là đi tới CNXH có bộ mặt nhân bản”. Những người này đã gặp vận may, nhất là trong những năm 1986 – 1990. Ngay cả sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, họ vẫn nghĩ rằng đó là thắng lợi – và Gorbachev chính là một trong số người đó, đối với ông ta sự sụp đổ của Bức tường Berlin là một sự kiện lớn của cải tổ, một sự kiện mà khi ấy nó tỏ ra không thể tưởng tượng nổi như ngày nay. Những người xét lại tin rằng cuộc thử nghiệm Xô viết cuối cùng đang đi tới thành công.

Cá nhân tôi đã không bao giờ tin vào điều đó. Và lập trường của tôi là khá kiên định: giữa sự duy trì của hệ thống cộng sản và sự sụp đổ của nó sẽ không có gì cả. Không có “con đường thứ ba”, cũng không có một CNCS cải cách thành công: nếu người ta thử cố gắng cải cách hệ thống cộng sản một cách sâu sắc thì điều đó sẽ gây ra nạn hồng thủy và những người lãnh đạo sẽ tụt lại phía sau, giống như năm 1964 với sự sụp đổ của Khrushev. Như vậy là vào năm 1988 – 1989, tôi đã nghĩ rằng nếu một khi nạn hồng thủy xảy ra thì đảng sẽ tụt hậu. Nhưng, tôi thật ngạc nhiên là phái cứng rắn trong đảng thậm chí đã không thử sức trước tháng 8/1991. Vậy là, họ đã thử sức quá muộn: Cơn hồng thủy đã cuốn đi mất cái chủ chốt. Và những kẻ làm đảo chính tháng 8/1991 cũng đã không thực hiện cú đảo chính một cách đáng tin tưởng, các bạn thấy đấy, dũng khí ở đây không còn nữa.

Tôi tin rằng sự không tồn tại của con đường thứ ba được chứng minh bằng thất bại của Gorbachev đã đem lại lời giải đáp cho cuộc tranh luận lớn giữa những người đứng về phía mô hình cực quyền và những người xét lại. Do đó, trong cuốn sách của tôi, lần đầu tiên tôi đã muốn viết lịch sử Xô viết theo chiều hướng kết thúc của nó. Bởi vì, như Hegel đã nói, con cú ủa nữ thần Manerve chỉ cất cánh vào buổi hoàng hôn. Chỉ khi một giai đoạn lịch sử đã kết thúc chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của nó. Như vậy, lần đầu tiên chúng ta ở trong hoàn cảnh hiểu được ý nghĩa của chặng đường Xô viết. Điều đó không nói lên rằng chúng ta sẽ hiểu được tất cả và ngay lập tức. Công việc tìm hiểu thật sự không bao giờ kết thúc: mỗi thế hệ, mỗi phân môn của lịch sử đều buộc phải lý giải lại một lần nữa về quá khứ, trong khi công trình lịch sử vẫn tiếp diễn. Nhưng giờ đây chúng ta đang có khả năng để đưa ra một bản tổng kết tổng thể (nếu tôi dám nói như vậy) về “cuộc thử nghiệm này”, và tách riêng kết cấu hạ tầng của hệ thống ấy. Đó chính là điều tôi đã muốn thực hiện trong cuốn sách của tôi.

Và tất nhiên, kết luận mà tôi rút ra từ cuộc tranh luận lớn này là ý kiến cho rằng kết cấu của hệ thống Xô viết trên thực tế phù hợp với mô hình cực quyền. Ở điểm này tôi không hiểu “cực quyền” theo nghĩa hẹp kinh nghiệm – một nhà độc tài, độc quyền nhà nước về tuyên truyền, về lực lượng vũ trang, quốc hữu hóa nền kinh tế…, theo kiểu mô hình của Brzezinski đưa ra và nói chung của chính trị học Mỹ vào những năm 1950. Tôi hiểu cực quyền chủ yếu theo nghĩa “lý tưởng – điển hình”, tức là như một ưu thế của hệ tư tưởng và của chính trị đối với các lực lượng kinh tế và xã hội trong mọi hoạt động của xã hội. Nói vậy tức là phải triển khai về mặt lịch sử cái mô hình cực quyền lý tưởng – điển hình.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Nga hướng đông, Trung Quốc hướng tây: Phối hợp hành động và những xung đột – Phần cuối


Tuy nhiên, trong đó liên quan đến “Một vành đai, một con đường”, các nhà quan sát Nga nhấn mạnh “những chi phí không thể chấp nhận được trong việc soạn thảo cách tiếp cận chung”. Trên thực tế, xét trên tất cả các tham số, ủng hộ đầu tư nước ngoài, cơ quan trọng tài, hợp tác công nghiệp hay cơ sở hạ tầng vận tải, các thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu “thậm chí không thể thỏa thuận được về những cách tiếp cận chung.

Quả thực, hiện đang tồn tại một loạt rào cản về cấu trúc đang làm phức tạp hóa việc tìm kiếm mẫu số chung. Ví dụ, sự phối hợp đa phương chiếm nhiều thời gian hơn so với các cuộc đàm phán song phương. Dự án “Một vành đai, một con đường” có tầm quan trọng khác nhau đối với tất cả các quốc gia thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu. Ví dụ, trên thực tế dự án này không cần thiết đối với Armenia và Belarus, và những dự án chung Liên minh kinh tế Á – Âu và “Một vành đai, một con đường” nói chung không có ý nghĩa, bởi vì Liên minh kinh tế Á – Âu là tổ chức điều hòa (hiện chưa phải) là cấu trúc siêu quốc gia. Cuối cùng, rõ ràng rằng “Một vành đai, một con đường” định hướng về Trung Quốc, còn Nga trong dự án này chỉ đóng vai trò phụ mà Moskva không bao giờ cảm thấy hài lòng. Điều này hoàn toàn công bằng, thậm chí đối với mức độ của chính sáng kiến. Có cảm tưởng rằng tuyệt đại đa số các dự án cơ sở hạ tầng trong khuôn khổ Vành đai kinh tế Con đường Tơ lụa sẽ được xây dựng bởi các công ty Trung Quốc và nhờ vào nguồn đầu tư từ Trung Quốc”.

Một số quốc gia khác tham gia dự án ít miễn cưỡng hơn Nga, và điều này nói lên nhân tố quan trọng có tiềm năng to lớn hơn. Nhân tố kích thích tài chính rõ ràng đã bắt đầu cuộc đua tìm kiếm vị trí tốt nhất dưới ánh mặt trời. Cách hành xử này đã trở nên hoàn toàn bình thường trong hợp tác cạnh tranh nhằm mục tiêu phát triển. Quá trình phát triển như thế sẽ làm lợi rất nhiều cho chính sách thương mại hai bên cùng có lợi của Trung Quốc. Bộ trưởng Ngoại giao của Kazakhstan Erlan Idrisov nói như thế này: “triết lý của chúng ta rất đơn giản: chúng ta cần phải ngồi lên con tàu này”. Những kết quả đầu tiên của “chuyến đi trên con tàu” này là cùng nhau xây dựng nhà ga hậu cần tại Liên Vân Cảng để giảm nhẹ việc vận chuyển hàng hóa từ Trung Á sang các thị trường bên ngoài, cũng như dự án chung với Trung Quốc “cảng khô” tại Khu kinh tế tự do ở Khorgos ở biên giới Kazakhstan, có tên gọi đầy tham vọng “Dubai-mini”. Cảng này cần phải trở thành trung tâm phân phối và vận tải chính đối với hàng hóa, được vận chuyển giữa Trung Quốc và Tây Âu.

Tuy nhiên, ngoài cạnh tranh trong lĩnh vực giao thông vận tải và những trở ngại bất ngờ khác, Nga và Trung Quốc có lợi ích chung quan trọng tại khu vực Trung Á. Hai nước mong muốn duy trì ổn định chính trị trong khu vực và duy trì các chế độ thế tục ở đây (mặc dù các chế độ ở Trung Á đều mang tính chất chuyên chế).

Còn vấn đề song trùng lợi ích, cuối cùng sẽ dẫn đến sự xuất hiện “chế độ quản lý chung” Nga – Trung ở Trung Á, mà ở đó Nga sẽ đảm bảo an ninh, còn Trung Quốc sẽ là đấu thủ kinh tế lớn nhất, có lẽ đang vẽ ra hình ảnh tương lai rất tươi vui, thậm chí tính đến sự phản đối của các cường quốc khu vực về thái độ tiêu cực sự phụ thuộc một chiều.

Những người theo chủ nghĩa lạc quan cho rằng hoạt động của Nga trên “mặt trận phía Đông” là “một trong những bằng chứng cho thấy Nga đang quay lại nền chính trị toàn cầu với tư cách cường quốc thế giới”. Trong khi đó, những người biết kiềm chế cảm xúc hơn cho rằng việc hợp tác khai thác Con đường Tơ lụa là “công cụ bảo vệ thương mại thị trường quốc gia hiệu quả” của các quốc gia thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu. Nga có thể tìm được sự ủng hộ nhất định trong nhận thức rằng tại các phần khác của thế giới, vốn quen với cung cách Trung Quốc hiện thực hóa các lợi ích của mình, nhìn nhận dự án “Một vành đai, một con đường” với con mắt của những người theo chủ nghĩa hoài nghi. Thực tế rằng Trung Á (cũng như châu Phi và Mỹ Latinh) cuối cùng có thể thay đổi hình ảnh và không còn là nước phụ thuộc nguyên liệu và bãi đáp cho hàng hóa tiêu dùng dư thừa của Trung Quốc. Trong trường hợp này “Một vành đai, một con đường” gần như chắc chắn sẽ bị rơi vào bế tắc. Chính điều này sẽ xảy ra nếu xây dựng hệ thống giao thông vận tải sẽ không gì khác ngoài tạo công ăn việc làm cho các công ty xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc, mà không phải là đầu tàu kinh tế cho khu vực.

Triền vọng

Bất chấp những hoài nghi không tin vào sự phối hợp hành động giữa Nga và Trung Quốc ở không gian Á – Âu và gọi mối quan hệ này “hợp tác công khai và cạnh tranh trong các mối quan hệ cá nhân”. Chuyên gia Dmitry Trenin hy vọng quan hệ Nga – Trung sẽ phát triển đột biến, trơn tru và cùng có lợi: “Trong những năm tới mối quan hệ giữa hai nước, trước hết sẽ trở nên chặt chẽ theo mức độ gia tăng mong muốn của hai bên xây dựng gần như một liên minh và hội nhập, hơn nữa Bắc Kinh sẽ đóng vai trò lớn hơn trong mối quan hệ này”. Một ví dụ khác là chuyên gia Robert Kagan vẽ ra những kịch bản vén bức màn bí mật: mặc dù, có ai đấy vào một lúc nào đó đã cảnh báo rằng “cuộc chiến sắp tới giữa một bên là Trung Quốc, Nga và một bên là phần còn lại của thế giới”. Tuy nhiên, quan điểm sáng suốt về tình hình đang mở ra bức tranh có nhiều sắc thái khác nhau. Trước hết, Nga phải thỏa thuận với quốc gia láng giềng hùng mạnh của mình. Lịch sử cạnh tranh Nga – Trung cho thấy những nguy cơ nghiêm trọng đang tồn tại bất chấp hệ tư tưởng Marx – Lenin không hoàn toàn xa lạ với cả hai nước. Thứ hai, mối quan hệ gần gũi đòi hỏi phải giải quyết tình trạng mất cân xứng rõ ràng. Nga có 4 vấn đề liên quan lẫn nhau: triển vọng trở thành đối tác đàn em của Trung Quốc; nỗi sợ cuối cùng sẽ biến thành phần phụ thuộc nguyên liệu nhiều hơn của nước láng giềng ảnh hưởng; dự đoán lo ngại các dòng đầu tư của người Trung Quốc (trong một số trường hợp là dòng vốn); nguy cơ lĩnh vực ảnh hưởng ở Trung Á chuyển sang dự án “Một vành đai, một con đường” với đầy rẫy những cám dỗ của dự án này. Những mối lo ngại này thường xuyên xuất hiện trong các cuộc thảo luận về việc Nga xoay trục sang châu Á.

Nỗi lo ngại thứ nhất được bù đắp nhờ Nga có lực lượng kiềm chế hạt nhân mà ngang bằng với Mỹ và vượt trội hơn nhiều so với Trung Quốc. Nỗi lo ngại thứ hai tăng lên bởi luận chứng rằng trở thành phần phụ thuộc nguyên liệu của EU cũng nguy hiểm, nhưng không gây thiệt hại. Thứ ba và thứ tư là cùng có lợi và khả năng thực hiện kiểm soát bằng cách hợp tác.

Bất cứ trong trường hợp nào, những mối lo ngại này đều gợi nhớ tới sự phật ý của Nga đối với quan hệ phương Tây. Điều này theo nhiều chuyên gia, có cả nguyên nhân chính rời ra phương Tây hiện nay. Mặt khác, chính do sự rời xa này nên quan hệ Nga – Trung Quốc mới trở nên gần gũi. Do vậy, quan hệ Nga – Trung mang tính điều kiện và tạm thời. Bất chấp điều này, việc Nga và Trung Quốc xích lại gần nhau giúp giảm nhẹ sự ganh đua giữa hai nước.

Nhìn chung, chính Moskva xem việc xoay trục sang châu Á như là sản phẩm phụ tự nhiên của thay đổi toàn cầu trong việc phân bổ lực lượng và như là nhân tố của trật tự quốc tế đa cực. Liên quan đến vấn đề này, việc hợp tác với Trung Quốc được gọi là “củng cố lập trường của Nga một cách khách quan trên trường quốc tế với tư cách trung tâm sức mạnh độc lập”. Tuy nhiên, việc Nga tích cực tiến công về châu Á cũng đầy rẫy những nguy cơ nghiêm trọng.

Việc sử dụng Nga với tư cách là một loại vũ khí không chỉ phản ánh sự “phân chia lao động” hoàn toàn đơn phương giữa Moskva và Bắc Kinh, trong đó Trung Quốc dễ dàng vượt qua những cánh cổng đã được Nga khai phá, rũ bỏ trách nhiệm và trong trường hợp tốt nhất trình bày lý thuyết về “mô hình quan hệ mới giữa các nước lớn”. Đối với Moskva, điều này có thể biến thành căng thẳng quá mức, sử dụng không hợp lý các tài nguyên quý, cuối cùng bị thiếu hụt, xuất hiện nguy cơ lặp lại số phận của Liên Xô. Trung Quốc không mong muốn nâng cao quy chế quan hệ của mình với Nga đến mức độ đặc biệt, Bắc Kinh đang khôi phục tài nghệ điều chỉnh quan hệ tam giác giữa Moskva và Washington, lúc thì trực tiếp mong muốn xây dựng G-2 với Mỹ với tư cách nguồn gốc chính những thành công kinh tế toàn cầu.

Đến nay, Nga và Trung Quốc, hóa ra hoàn toàn hài lòng với cam kết tôn trọng lẫn nhau và phát triển quan hệ trên nguyên tắc bình đẳng và công bằng, chính công bằng mà Moskva than phiền không nhận được từ phương Tây. Ngoài ra, việc quản lý cẩn thận xung đột lợi ích và những cuộc xung đột lợi ích chưa giải quyết được giữa Nga và Trung Quốc tại Trung Á, cũng như mở rộng quan hệ kinh tế nhằm mục đích tiếp cận dần dần hội nhập kinh tế có thể dẫn đến đoạn kết mà từ đó EU có thể rút ra bài học bổ ích. Mối quan hệ kinh tế giữa Nga và Trung Quốc chỉ phù hợp với bức tranh tích cực này một phần, ít nhất, lịch sử quan hệ song phương không gieo hy vọng. Thực chất, mối quan hệ kinh tế hiện nay noi theo chiến lược đa dạng hóa năng lượng mà trong đó Nga cần không ít hơn EU. Việc giảm sự phụ thuộc quá mức vào phương Tây, khách hàng chính tiêu thụ năng lượng của Nga và nguồn nhập khẩu chính những mặt hàng có giá trị gia tăng, ngày càng trở nên thời sự, đặc biệt trong bối cảnh, tính dễ bị tổn thương của nước Nga đã xuất hiện do phương Tây áp đặt các biện pháp trừng phạt. Tuy nhiên, nhược điểm của cách tiếp cận này là ở điểm sau: mở rộng cơ sở của Nga về khách hàng và nguồn cung nhưng không thay đổi cơ cấu cũ. Nga không chinh phục thị trường Trung Quốc bằng các sản phẩm mới. Đơn giản Nga chỉ định hướng lại luồng hàng nguyên liệu của mình, trong đó gia tăng khối lượng nhập hàng hóa từ Nga. Việc duy trì cấu trúc chính trị và kinh tế, hầu như luôn luôn được đứng đầu trong chương trình nghị sự bảo thủ của Putin, và điều đó lại một lần nữa có thể là nhược điểm.

Nguồn: Tạp chí Nước Nga trong chính sách toàn cầu (Nga)

CĐQT số 12/2016

Vì sao Việt Nam không có nhà máy điện hạt nhân của Nga? – Phần cuối


Những gợn mây đen đầu tiên xuất hiện nơi chân trời vào năm 2014, khi những mét khôi bêtông đầu tiên lẽ ra phải được đổ xuống cho nền móng của nhà máy. Vào tháng 1, chính phủ Việt Nam tuyên bố, việc xây dựng bị hoãn lại 4 năm do “đàm phán về tài chính và kỹ thuật bị kéo dài”. Trước đó, có tin Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) kêu gọi chuẩn bị kỹ lưỡng hơn cho dự án, và đến năm 2015, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam đã nêu ra thời điểm bắt đầu xây dựng là năm 2019.

Đầu năm 2016, một sự kiện rất không có lợi đó là Công ty cán thép Đài Loan Formosa tại Hà Tĩnh đã đổ ra biển chất thải độc hại dẫn đến hiện tượng cá chết hàng loạt. Nạn nhân là hơn 200.000 người tại 4 tỉnh – họ là ngư dân và người làm muối, giờ bị cấm sử dụng nguồn tài nguyên biển đã bị nhiễm độc. Đến đầu mùa Thu năm 2016 lại có tin đồn, các dự án nhà máy điện hạt nhân, cả với Nga và với Nhật Bản, đều có thể bị đóng băng hoặc bị hủy bỏ. Đến ngày 10/11, người đứng đầu tập đoàn điện lực Việt Nam tuyên bố, trong kế hoạch điện sửa đổi của đất nước đến năm 2030 không có dự án năng lượng nguyên tử và ngân sách không dự trù cho các dự án này. Ngày 22/11, Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua đề nghị của chính phủ dừng phát triển các dự án năng lượng nguyên tử.

Nguyên nhân chính để bãi bỏ dự án là bối cảnh kinh tế đã thay đổi. Năm 2019, nhu cầu năng lượng của Việt Nam được dự báo tăng 17 – 20%/năm, còn dự báo cho giai đoạn 2016 – 2020 đã chỉ còn 11%; 2021 – 2030  là 7 – 8%. Thêm vào đó, giá dự án bị tăng gần 2 lần từ 9 lên 18 tỷ USD, mà theo một số thông tin của truyền thông của Việt Nam là lên đến 27 tỷ USD. Chi phí cho điện từ nhà máy nguyên tử cũng tăng ngoạn mục từ 4 – 5 cent/KWh lên 8 cent/KWh. Việc tăng chi phí này vô cùng bất lợi trong bối cảnh giá than và khí đốt giảm, cũng như cảnh báo mức tăng trần nợ quốc gia lên 65% GDP.

Chính quyền Việt Nam đã làm tất cả những gì có thể để chứng minh rằng không có động cơ cá nhân trong việc hủy bỏ dự án và họ không có nghi ngờ gì về chất lượng đề nghị của Nga và Nhật Bản. Một tuần trước khi Quốc hội bỏ phiếu, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã lần lượt gặp các đối tác Nga và Nhật Bản, và ngay sau khi chính thức hủy bỏ dự án nhà máy điện tại tỉnh Ninh Thuận, đại diện chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã có bài phát biểu rất dài mang tính xoa dịu, trong đó bày tỏ tin tưởng vào công nghệ của Nga và Nhật Bản, và hứa sẽ không giảm tốc độ hợp tác.

Tuy nhiên, mức độ an toàn thực tế là một chuyện, ý kiến dân chúng là chuyện khác. Dù ở Việt Nam, Nga có tỷ lệ ủng hộ cao nhất theo đánh giá của Pew Global Attitudes, những bất cẩn trong bảo vệ môi trường có thể khiến chính phủ phải trả giá đắt, vì đây là một trong những đề tài được tất cả các tầng lớp xã hội quan tâm, tập hợp được cả những người theo chủ nghĩa dân tộc, môi trường, Công giáo và tầng lớp thị dân trung lưu…

Nước Nga sẽ làm gì?

Trạng thái bình yên bên ngoài xung quanh việc hủy bỏ dự án nhà máy điện hạt nhân không che giấu được sự bất bình của Nga về những công sức và tiền bạc mất đi. Hàng trăm sinh viên Việt Nam đã đến Nga học tập chuyên ngành nguyên tử, 150 thực tập sinh đang thực tập tại các nhà máy điện của Nga. Chắn chắn họ sẽ vẫn là các chuyên gia và có thể làm việc tại các nhà máy điện khác của đất nước, trong lĩnh vực y học hạt nhân và các lĩnh vực khác có sử dụng hạt nhân, tuy nhiên, cảm giác lợi ích bị bỏ phí vẫn còn đó.

Dự án Rosatom đã có thể trở thành lá cờ đầu trong hợp tác song phương – một ngành mới, công nghệ cao, lại là ngành đột phá đối với Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á. Ninh Thuận – 1 có thể thay thế cho dự án Vietsovpetro hoạt động từ những năm 1980. Giờ đây, hai bên sẽ phải tìm kiếm những dự án lớn khác, dù khó mà đạt quy mô và chất lượng như vậy.

Ngoài Việt Nam, Nga còn có thỏa thuận về hợp tác trong lĩnh vực nguyên tử hòa bình với 6 nước trong khu vực: Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào và Myanmar. Tuy nhiên, chưa một nước nào đề cập đến vấn đề xây nhà máy điện nguyên tử. Hẳn là giờ đây, hy vọng sẽ đặt vào Indonesia, nơi Rosatom đang vận hành lò phản ứng thử nghiệm công suất 10 MW, nhưng cũng là nơi chưa rõ ràng về ý kiến dư luận. Chính phủ còn phải thuyết phục người dân rằng có thể xây nhà máy nguyên tử an toàn trên quần đảo, nơi động đất, bão, cháy rừng và cả khủng bố không phải là hiếm gặp.

Nói cách khác, đối với chiến lược xuất khẩu nhà máy điện nguyên tử của Nga thì Việt Nam là mắt xích quan trọng. Dù Rosatom có uy tín toàn cầu về công nghệ cao và giá gói cổ phiếu khủng (trên 100 tỷ USD), nhà máy điện nguyên tử mới chỉ được xây dựng tại 3 nước – Ấn Độ, Trung Quốc và Belarus (dù các công việc chuẩn bị quy mô đang tiến hành tại Bangladesh và Phần Lan). Ở nghĩa rộng hơn, xây dựng nhà máy điện nguyên tử tại Đông Nam Á có thể trở thành công lao lớn đóng góp vào chiến lược hiện diện của Nga tại khu vực này, mà hiện nay thực sự đang thu hẹp ở lĩnh vực dầu khi và xuất khẩu vũ khí.

Câu chuyện dự án nhà máy điện nguyên tử bị hủy bỏ không phải nói về việc Nga mất mát những gì hay đã không triển khai được thành công dự án tại châu Á. Thậm chí ngược lại, đề nghị của Nga rất chất lượng, công nghệ và hợp thời, song đã không thành công do hoàn cảnh. Việc không có những dự án tương tự của Nga tại Đông Nam Á mới làm cho thiệt hại này trở nên rõ nét.

Đối với sự hiện diện dài hạn của Nga, quan trọng là phải tạo dựng được những liên hệ kinh doanh ở cấp doanh nghiệp vừa, tuy nhiên, chính các tập đoàn nhà nước lớn lại thường có khả năng nhờ sự ủng hộ chính trị mà mở đường tại thị trường phức tạp và chưa được khai thác của châu Á. Tiếc là tại Việt Nam, Rosatom đã không làm được người mở đường như vậy.

Nguồn: carnegie.ru – 11/04/2017

TKNB – 21/04/2017

Nga hướng đông, Trung Quốc hướng tây: Phối hợp hành động và những xung đột – Phần V


Lưu ý rằng, thậm chí tại Đông và Trung Á vẫn còn thiếu những thể chế nhằm hỗ trợ phát triển hợp tác, việc thất vọng về hoạt động của những thể chế này cũng có thể đóng vai trò nhất định trong việc xuất hiện sáng kiến thành lập “Một vành đai, một con đường”. Hơn nữa, những cảm giác cụ thể liên quan đến Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), đồng thời cũng là cơ chế yêu thích của Bắc Kinh trong kế hoạch bảo đảm an ninh khu vực và hợp tác kinh tế. Trung Quốc khăng khăng đòi vai trò kinh tế lớn hơn trong SCO, đề xuất thành lập nền tảng pháp lý cho khu vực thương mại tự do SCO, hội đồng kinh doanh, ngân hàng phát triển khu vực, và lưu ý đến những bài học khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2009, Quỹ chống khủng hoảng. Những sáng kiến này bằng cách này hay cách khác bị Nga hay các nước Trung Á khước từ.

“Một vành đai, một con đường” đưa ra tín hiệu rằng Trung Quốc sẵn sàng bắt tay vào tiến hành chính sách đơn phương tích cực hơn nhiều mà đương nhiên không nhằm chống lại Nga, tuy nhiên nó động chạm nghiêm trọng đến các lợi ích của Nga, trong đó có kế hoạch trên bộ của Putin. Ví dụ, Tổ chức yêu thích của Nga là “Liên minh kinh tế Á – Âu”, phụ thuộc trực tiếp vào “Một vành đai, một con đường”, bởi vì một số nước trong đó được Trung Quốc đưa vào Vành đai, là thành viên của Liên minh kinh tế Á – Âu (ví dụ, Kazakhstan và Kyrgyzstan) hay những quốc gia tiềm năng trở thành thành viên khác (Tajikistan). Điều này chắc chắn gây ra những lo ngại liên quan đến việc chồng chéo các lĩnh vực lợi ích. Ngoài ra, “Một vành đai, một con đường” cũng có thể trở thành đối thủ cạnh tranh của Nga trong kế hoạch phát triển cơ sở hạ tàng. Ban đầu Nga bị gán cho vai trò thứ yếu trong khái niệm “Một vành đai, một con đường”, bởi vì phần lớn khái niệm này tập trung vào khu vực phía Nam cách biên giới của Nga. Đối với Nga điều này thật đáng buồn: Moskva đang tiếp tục quảng bá lãnh thổ của mình với tư cách hành lang chính để trung chuyển giữa châu Á và châu Âu, mặc dù tiềm năng của Nga có hạn chế.

Trên thực tế, “Một vành đai, một con đường” dự định xây dựng các hành lang trên bộ để vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc vào châu Âu và ngược lại, mỗi một hành lang được coi là ngày càng thuận tiện và được yêu thích hơn so với các tuyến đường vận tải biển quá tải và tốn kém thời gian. Một trong những hành lang đó là tuyến phía Bắc, dài nhất, nhưng ổn định hơn. Tuyến đường này nằm giữa tuyến đường sắt xuyên Siberi và tuyến chạy theo hướng cách Mông Cổ về phía Nam xuyên qua Kazakhstan tới Nga và kéo dài đến các cảng Rotterdam và Duisburg. Những tuyến đường này được sử dụng rất phổ biến, ví dụ công ty đường sắt Deutsche Bahn, trong giai đoạn 2011 – 2012 có gần 200 tàu container hoạt động phục vụ cho công ty BMW theo tuyến đường Trùng Khánh và Thẩm Dương. Vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt theo tuyến đường đi qua Kazakhstan được thực hiện từ năm 1992.

Tại tuyến phía Nam đi vòng qua Nga, nhiều phương án giao thông vận tải đã được thử nghiệm. Những tuyến đường này xuất hiện nhiều khiếm khuyết, ví dụ, nhiều điểm kiểm tra hải quan. Một trong những tuyến đường thử nghiệm như thế chạy giữa Trung Quốc và Tehran vào đầu năm 2016, và đang được kỳ vọng sẽ trở thành tuyến vận tải thông dụng. Năm 2015, công ty DHL cũng sử dụng các dịch vụ vận chuyển trong vòng 14 ngày từ Liên Vân Cảng qua Kazakhstan, Azerbaijan và Gruzia, bao gồm hai đoạn quá cảnh trên biển, với điểm đến cuối cùng ở Istanbul. Tuyến đường này thuộc quyền quản lý của Ủy ban phối hợp phát triển Tuyến vận tải quốc tế xuyên Siberi, được thành lập theo sáng kiến Công ty Đường sắt Kazakhstan, Gruzia, Thổ Nhĩ Kỳ và Trung Quốc. Trong thời gian gần đây, Ukraine đã thể hiện sự quan tâm nhất định đối với tuyến đường xuyên Siberi, trước hết (và cố tình) như một cơ hội để đi vòng qua lãnh thổ của Nga: Ngày 15/1/2016, Ukraine đã bắt đầu cho chạy thử một chuyến tàu container có 30 toa hàng từ Ilyichevsk/Chernomorsk qua Gruzia, Kazakhstan, Azerbaijan đến Trung Quốc.

Và mặc dù Ukraine có bước nhảy vọt như thế, song có thể nói rằng một số nước nằm dọc Vành đai mong muốn hướng cạnh tranh Nga – Trung Quốc trong lĩnh vực vận tải về phía có lợi cho mình, vấn đề thực tế đối với lợi ích của Moskva chủ yếu là ở tính chất song phương của sáng kiến “Một vành đai, một con đường”. Khái niệm nói một cách không rõ ràng rằng: “Chúng ta cần phải củng cố quan hệ hợp tác song phương và hỗ trợ phát triển toàn diện quan hệ song phương bằng mối quan hệ và tham vấn ở nhiều cấp bậc và nhiều kênh khác nhau”. Khái niệm kêu gọi nghiên cứu “một loạt dự án thử nghiệm song phương”, cũng như xây dựng và hoàn thiện “các cơ chế làm việc chung song phương”. Trong khi đó, khái niệm cũng nó về gia tăng vai trò của các cơ chế hợp tác đa phương, trong đó có SCO, ASEAN + Trung Quốc, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC); Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM) và thậm chí là những cơ chế liên quan đến (nằm dưới sự kiểm soát của Nhật Bản) Ngan hàng Phát triển châu Á, cũng như hợp tác kinh tế của tiểu vùng Mekong lớn và Hợ ptác Kinh tế khu vực Trung Á (CAREC). Liên minh kinh tế Á – Âu không vắng mặt trong danh sách này. Điều này càng trở nên ngạc nhiên hơn nếu lưu ý rằng bắt đầu từ năm 2012, Trung Quốc hàng năm ráo riết đối thoại với 16 quốc gia Trung và Đông Âu (khuôn khổ này được gọi là hợp tác 16 + 1), trong đó có các nước thành viên EU và một số quốc gia khác nằm về phía Tây nước Nga. Trong năm 2014, khi nói về “Một vành đai, một con đường”, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường gọi những nước này là “những cánh cửa phía Đông vào châu Âu” và hứa giúp đỡ mạnh mẽ những nước này trong việc thực hiện vai trò “những hạt nhân kết nối tốc độ cao” giữa Trung Quốc và châu Âu, cũng như bên trong châu Âu. Ông Lý Khắc Cường tuyên bố Trung Quốc mở kênh tín dụng trị giá 10 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Budapest – Belgrade mà có thể sẽ kéo dài đến cảng Piraeus, điểm cuối cùng của Con đường Tơ lụa trên biển.

Không có gì đáng ngạc nhiên rằng Nga cần có thời gian và tiến hành “những cuộc thảo luận nội bộ đau đớn”, trước hết Moskva có thể cam chịu với dự án Con đường Tơ lụa. Ngày 9/5/2015, Tổng thống Vladimir Putin và Chủ tịch Tập Cận Bình, cuối cùng cũng đã ký tuyên bố chung “về hợp tác và kết nối xây dựng Liên minh Kinh tế Á – Âu và Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa”. Moskva và Bắc Kinh xác nhận ý định của mình về phối hợp giữa hai dự án với mục tiêu xây dựng “không gian kinh tế thống nhất” ở lục địa Á – Âu, trong đó có việc ký thỏa thuận về thương mại tự do giữa Liên minh Kinh tế Á – Âu với Trung Quốc, thỏa thuận tương tự trong khuôn khổ SCO đã bị hoãn.

Hiện, tất cả điều này mới chỉ là tuyên bố về những ý định, “nghị định thư về hiểu biết lẫn nhau dưới dạng mà đại thể do các tác giả khái niệm Con đường Tơ lụa người Trung Quốc trình bày, cũng như được ký kết với Ủy ban châu Âu (EC) vào tháng 6/2015 (dẫn đến việc xây dựng “Chương trình hành động kết nối giao thông Trung Quốc – EU”. Tuy nhiên, văn kiện này cho thấy rằng Nga và Trung Quốc không mong muốn để vấn đề gây tranh cãi này chuyển thành cuộc xung đột công khai. Điều này cũng giống như trong các trường hợp khác nằm ở phía Tây của Nga. Vì vậy, “trò chơi được mất không ngang nhau”, thuật ngữ này được sử dụng thường xuyên hơn để nêu rõ đặc điểm dự án. Trung Quốc sẵn sàng tiếp nhận Liên minh kinh tế Á – Âu với tư cách là đối tác về đàm phán bổ sung đối với các quốc gia riêng lẻ, mặc dù Bắc Kinh chưa chắc sẽ nhờ đến chính sách “trước hết là Moskva”, vốn không được ưa thích Trung Á, lẫn Trung Âu). Ngoài ra, Moskva đã đẩy lý do an ninh và những yêu sách của mình về lĩnh vực lợi ích đặc quyền xuống vị trí thứ yếu, trong khi đó không đánh mất sự nghi ngờ của mình về sự hiện diện không hợp lý yếu tố nước ngoài trên lãnh thổ mình. Và điều này gợi nhớ lại lo ngại của Nga những sự kiện ở phía Tây Liên Xô, mà đúng hơn là tại Ukraine. Cần nhấn mạnh rằng việc kiểm soát xung đột giữa các bên tham gia hiện rất khác với phối hợp hành động của Nga với EU, và đương nhiên, kết quả cũng sẽ khác.

Việc giải quyết những vấn đề như thế đương nhiên xuất phát từ đặc điểm “chiến lược” trong quan hệ giữa Nga và Trung Quốc. Ngoài ra, hính đặc điểm dự án của Trung Quốc cũng giúp làm giảm khả năng xung đột. Khác với cách tiếp cận của châu Âu và phương Tây đối với hội nhập khu vực mà dựa vào những thỏa thuận đa phương, những chuẩn mực và tiêu chuẩn mang tính bắt buộc về mặt pháp lý, những cơ chế giải quyết tập thể những tranh chấp và những thể chế siêu quốc gia, phong cách của Trung Quốc dựa vào, trước hết là việc tạo những điều kiện kinh tế thuận lợi. Việc thúc đẩy chương trình nghị sự không đòi hỏi Trung Quốc tham gia các thỏa thuận đa phương hoặc xây dựng các tổ chức quan liêu siêu quốc gia. Tất cả đòi hỏi ở Bắc Kinh là sự dẫn đầu dưới dạng tổ chức thảo luận, đưa ra đề xuất hợp tác, giảm chi phí thông tin và giao dịch đối với các đối tác, cũng như tạo ra những cú hích vật chất dưới dạng cơ sở hạ tầng mới, tín dụng, đầu tư và các cơ hội kinh doanh. Phong cách đặc biệt này cũng liên quan đến khuynh hướng thiên về “liên lạc mạng lưới” trong văn hóa Trung Quốc cho phép thu xếp ổn thỏa các vấn đề và như vậy tránh được các phương án hợp tác “trò chơi được mất ngang nhau”. Kết hợp với các tác nhân kích thích tài chính cao chưa từng có tiền lệ, phong cách này mang đến những động cơ thúc đẩy hợp tác hào hứng hơn nhiều, so với kết hợp những đòi hỏi về nguyên tắc và tham lam vật chất của châu Âu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nước Nga trong chính sách toàn cầu (Nga)

CĐQT số 12/2016