Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần II


Giá trị đích thực của các xí nghiệp này theo thời giá thị trường không dưới một nghìn tỷ USD. Thế mà các liệu pháp sốc chỉ bán với 7,2 tỷ USD, rẻ hơn 150 lần.

Các tay anh chị địa phương cũng kiếm khá. Xí nghiệp chế bịt Ostankino mua một dây chuyền hiện đại vào năm 91 – 92 với giá 35 triệu USD, được chúng bán lại với giá 3,1 triệu USD.

Nga bị cướp giữa ban ngày, nhưng chỉ mới khởi đầu. Chỉ mấy năm sau cải tổ, cải cách, tư hữu hóa, nền kinh tế Nga từ chỗ đứng thứ 2 thế giới rơi xuống hàng các nước chậm phát triển.

GDP năm 96 kém 3 lần so vớ 85, sản lượng công nghiệp tụt giảm 5,5 lần, nông nghiệp giảm 4 lần, lương thực giảm 5,5 lần, nhập khẩu giảm 2,8 lần, xuất khẩu giảm 1,5 lần, sản lượng Nga trên trường quốc tế giảm 3 lần. Nhưng Nga giành kỷ lục về lạm phát – 1700 lần và về mức sống – giảm hơn 2 lần. Mọi lĩnh vực sản xuất và dịch vụ đều bị phá hủy.

Chính IMF, cơq uan kiểm soát và chỉ đạo mọi quá trình kinh tế của Nga, là kẻ tòng phạm phá hủy nền kinh tế Nga. Hình 1 nêu biểu đồ hiệu quả kinh tế Nga (đầu tư, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp) lấy từ nghiên cứu. Nó thể hiện rõ thảm họa. Nga bị đẩy lùi về quá khứ 40 năm tính từ thời điểm này. Lịch sử đương đại chưa từng có chuyện đó. Xin dẫn thêm một số số liệu:

Nếu lấy hiệu quả sản xuất làm chỉ số cải cách thị trường thì sản xuất công nghiệp bị giảm sút chưa từng thấy. Tổng sản lượng năm 1995 chỉ đạt 50% năm 1990. Các nhà cải cách đổ lỗi cho kinh tế cạnh tranh kém. Phần nào đúng như vậy, nếu nói về công nghiệp nhẹ, nhưng tổng quát lại, sản xuất giảm ở các ngành có lợi nhuận cao.

Thời kỳ 90 – 95 khai thác dầu giảm 41%, khí đốt giảm 7%, than (cho nhu cầu nội địa) giảm 33%, điện giảm 23%, – tức tất cả các ngành thu ngoại tệ. Xí nghiệp thua lỗ trong công nghiệp chế biến dầu tăng 4,6 lần, khí tăng 2,3 lần, luyện kim tăng 2,1 lần.

Năm 1995 so với năm 1990 sản xuất hàng hóa cạnh tranh đạt (%): – luyện kim và chế máy: thép cán giảm 71%, dây chuyền chế tạo máy giảm 9%, máy đột dập giảm 11%…

Cả những ngành sản xuất được gọi là con gà đẻ trứng vàng như khai thác kim cương, một ngành trước kia mang lại siêu lợi nhuận cho Nga, sau 3 năm cải cách, nó rơi vào nợ nần vô vọng (Báo Tin tức ngày 2 tháng 8 năm 1996). Khai thác vàng cũng bị lỗ.

Sản xuất bia rượu cũng giảm. Chỉ riêng 6 tháng đầu năm 96 đã giảm 45%. Chính mặt hàng này có thời chiếm đến 1/3 số lượng ngân sách Nhà nước thu được”.

Nếu nói đến bức tranh toàn cảnh hoạt động của các “nhà cải cách”, có thể gọi đó là hệ thống phá hủy tổng thể nền kinh tế họ dùng khẩu hiệu cần loại bỏ Nhà nước khỏi quản lý kinh tế quốc dân. Kết quả là kinh tế trở nên hỗn loạn và mất cân đối nghiêm trọng giữa trị giá sản phẩm công nghiệp và giá cả. Sự thua lỗ nhiều ngành tạo ra phản ứng dây chuyền lạm phát và mất khả năng chi trả. Không có đổi mới trang thiết bị. Đầu tư cơ bản chỉ đạt 1/4 so với năm 1991 và đừng nói gì đến hiện đại hóa, ngay cả đảm bảo sản xuất cũng khó.

Nơi bị các nhà “cải cách” đánh tàn tệ nhất là việc sản xuất công nghệ và thiết bị hiện đại nhất, là các cán bộ trình độ giỏi nhất. Phần lớn các tập thể Công nghiệp Quốc phòng giỏi nhất bị giải tán. Thị trường hàng tiêu dùng lệ thuộc nhiều vào phương Tây. Công nghiệp nhẹ và dệt sút giảm hơn 80%. Nhiều nhà máy chế tạo vật liệu chiến lược bị bán thẳng cho phương Tây. Họ hướng tới các ngành khai thác nguyên liệu vốn ít bị sút giảm nhất.

Những năm gần đây, hệ thống giá cả thế giới, trên thực tế là cơ chế thương mại quốc tế nhằm mang lại lợi nhuận một chiều cho phương Tây, ngày càng bành trướng. Khác với giá cả thị trường nội bộ một quốc gia, giá quốc tế nảy sinh không ngẫu nhiên và không liên quan đến chi phí lao động trung bình, mà do các nhà chính trị và áp đặt có chủ định bằng vũ lực. Trong điều kiện đó, tăng trưởng thương mại quốc tế chỉ có lợi cho những nước đủ sức áp đặt giá cả. Như vậy, giá nguyên, nhiên liệu sẽ giảm liên tục, giá lương thực, thực phẩm tăng. Nguyên liệu Nga do nhu cầu trong nước giảm phải bán ra nước ngoài và giá sẽ giảm, mất lợi nhuận. Giá nguyên liệu sẽ xuống gần trị giá và Nga trở thành kẻ lao động nô lệ. Lao động chỉ để nhận được mỗi khoản tiền công. Tất cả điều đó được che giấu bằng các khẩu hiệu “hội nhập kinh tế thế giới”, “buôn bán cùng có lợi”, “thị trường quốc tế tự do”, “toàn cầu hóa kinh tế”.

Thủ tiêu nông nghiệp

Đến thời điểm này, nông nghiệp bị phá tận gốc. Trước 1991, do khô hạn, trình độ cơ giới hóa cao và một vài yếu tố khác, nông nghiệp Liên Xô dù thua kém một số nước về năng suất nhưng hoan toàn không thua kém bất kỳ nước phương Tây nào về hiệu quả nhờ tận dụng tiềm năng đất đai – khí hậu tới 70 – 80%. Bằng hàng loạt biện pháp, các nhà cải cách đã làm cho nông nghiệp phá sản. Có thể coi đó là nạn diệt chủng kinh tế. Bắt đầu từ năm 1992, sản lượng nông nghiệp giảm đều đặn 15 – 20%/năm. Ngũ cốc giảm trong 4 năm từ 130 xuống 63,5 triệu tấn. Máy móc kỹ thuật nông nghiệp thời kỳ 1990 – 1994 giảm: máy kéo 85%, ô tô 91%, gặt đập liên hợp 76%…

Sản xuất tập thể đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho đất nước bị phá vỡ. Trước nạn diệt chủng, nông nghiệp Liên Xô đứng thứ hai thế giới, và đứng đầu châu Âu. Liên Xô đứng đầu thế giới về sản lượng lúa mì, củ cải đường, khoai tây, sữa. Theo số liệu của Liên hợp quốc, các nông trường, nông trang Liên Xô đủ sức nuôi 800 triệu người. Giá bánh mình Liên Xô rẻ nhất thế giới. Quá trình tiêu diệt nền nông nghiệp của các nhà cải tổ vẫn còn tiếp tục. Đất tiếp tục thoái hóa do không được bón phân. Thủy lợi bị phá bỏ. Máy móc nông nghiệp hư hỏng dần không có thay thế, sản xuất nông nghiệp giảm sút vì thiếu máy móc và xăng dầu. Đầu tư giảm 7 lần.

An ninh lương thực bị đe dọa nghiêm trọng:

Chúng ta hiểu an ninh lương thực là khả năng nhà nước bảo đảm đầy đủ và ổn định lương thực cho nhân dân không phụ thuộc vào tác động của các ảnh hưởng và đe dọa bên trong và bên ngoài. Khả năng đó là một trong những yếu tố cần thiết của chủ quyền quốc gia và bảo đảm các quyền công dân cơ bản”.

Đối với các nước phát triển, giới hạn nhập lương thực không được vượt quá 25 – 30%. Nga ngay năm 1995 đã phải nhập hơn 40% lương thực. Nga đánh mất an ninh lương thực với đường lối hiện nay sẽ bị lệ thuộc nước ngoài. Quá trình thủ tiêu nông nghiệp vẫn tiếp diễn. Burdukov viết về cơ chế thủ tiêu chăn nuôi như sau:

Chỉ sau 3 năm, nhập khẩu thịt tăng 600%, gia cầm tăng 800%, bơ 320%. Khuynh hướng đó đang tiếp tục tăng. Nông nghiệp chỉ đóng góp ngân sách 3% so với 19% trước kia, tức giảm 6 lần! Té ra, khủng hoảng bơ là nhân tạo. Hàng ngàn tấn bơ do ta sản xuất nằm chết gí trong kho từ năm 1994, không được tiêu thụ. Giá bơ bị thổi phồng, gia súc bị giết mổ. Giờ đây cứ thử nhìn xem, trong các cửa hàng thịt không tìm đâu ra hộp thịt lợn, trong khi thịt bò chất đống. Vì sao? Không có thức ăn, lợn bị bỏ đói, bò bị giết”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần I


Chia nhỏ Liên Xô và Nga

Bước ngoặt căn bản trong ý thức xã hội, xảy ra dưới tác động thông tin – tâm lý, đã đè bẹp khả năng con người liên kết với nhau trong hoàn cảnh xảy ra để chống lại nó. Các từ – biểu tượng “dân chủ” – bí danh chương trình hủy hoại Nhà nước, “cải cách” – bí danh chương trình phá hủy kinh tế quốc dân được nhồi nhét và nhận thức người dân. Đó là những từ không mang ý nghĩa thực tế (thực ra chúng vẫn chưa được giải thích) và ai muốn hiểu ra sao cũng được. Kết quả thực hiện các chương trình này về sức tàn phá là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế giới.

Trên toàn thế giới đang xảy ra quá trình liên kết, nhưng Liên Xô bị xé nhỏ làm 15 phần và bộ máy kinh tế quốc dân thống nhất bị phá hủy. Nó gây ra thảm họa. Trong bài viết Nước Nga có cần siêu lý tưởng của P. Kosolapop (Sự thật, số 133, 22/12/1996) viết như sau:

Chúng ta, và trước hết là người Nga, bị chia cắt nhân tạo. Nhiều chính khách xoay quanh sự thực này như con mèo chạy quanh bát cháo nóng. Họ khóc lóc Liên Xô, thương hại người tị nạn, chửi rủa bọn chia rẽ, nguyền rủa đám hải ly Belovegiơ (những người ký kết hiệp định Belovegiơ giải tán Liên Xô), nhưng họ vẫn không chịu nhận thức rằng, trong lịch sử chưa từng có sự chia cắt quy mô đến thế. Dấu hiệu dân dã đầu tiên của một dân tộc là tiếng mẹ đẻ, nếp sống và văn hóa. Chúng không khác nhau ở người Belarus, đại Nga và tiểu Nga, cả cộng đồng Kazak. Tiếng Nga vĩ đại có hơn 80% người Belarus sử dụng, là tiếng mẹ đẻ cho 28% người không phải người Nga tại Liên bang Nga, toàn bộ dân trung và đông Ukraine đều dùng tiếng Nga”.

Người Nga và các dân tộc khác ở Nga rơi vào tình trạng rất nặng nề. Latvia và Estonia thiết lập chế độ diệt chủng. Dân nói tiếng Nga (họ dùng thuật ngữ này) mất quyền công dân, kể cả quyền bầu cử. Các trường dạy bằng tiếng Nga lần lượt bị đóng cửa. Bằng sự giúp đỡ của phương Tây “người nói tiếng Nga” trên thực tế không được coi là người. Người Nga bị coi khinh cả nhiều nơi khác. Trong bài Những kẻ bị trục xuất “dân chủ” của A. Chichkin (Al Kodx số 7, tháng 3/1994) nêu các số liệu:

Trong số 388 nghìn người nói tiếng Nga số tại Tajighistan trước năm 1989, 200 nghìn người rời đi trong thời gian 89 – 91, 1992 – 75 nghìn, 1993 – 85 nghìn…”. Hãng AF đưa tin 18 tháng 12 năm 1993: “Trên thực tế, tại vùng Trung Á người Nga bị coi là những phần tử không được hoan nghênh. Họ cần phải hoặc theo đạo Hồi, hoặc ra đi”.

“…Đêm đến, người ta đến nhà chúng tôi ở Osa và chửi bới chúng tôi là kẻ ngoại bang, hãy cút về Nga. Chúng bảo: “Ở đó có nhiều loại người như chúng bay”… Sáng hôm sau, họ báo cho chúng tôi biết tàu hàng đã chờ sẵn ngoài ga để đưa chúng tôi về Nga. Chuyện đó xảy ra khắp nơi, không chỉ đối với người Nga, mà cả các dân tộc khác như Ukraine, Belarus…”

Tàu hàng chở chúng tôi đi hàng nghìn cây số trong điều kiện mất vệ sinh như chở súc vật! Còn phương Tây “lịch sự”, “chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho nhân quyền” câm lặng trước sự diệt chủng đó”.

Tai họa đến với mọi dân tộc Liên Xô. Xung đột và căng thẳng sắc tộc được thổi bùng khắp nơi, từ Nagorno-Karabakh đến Nam Osertia, Abkhazia, Pridnextrovie. Quảng đại quần chúng bị phá sản, rơi vào cảnh bần cùng, chết dần mòn. Bước tiếp theo là chia nhỏ nước Nga. Ngay từ đầu cải cách chủ nghĩa ly khai đã được cổ vũ. Các địa phương được khuyến khích giành chủ quyền, càng nhiều càng tốt. Tình hình Bắc Caucasus đặc biệt phức tạp khi cuộc xung đột Cheschnia bùng nổ. Thực chất, cuộc xung đột này được tổ chức tại Moskva, phục vụ cho quyền lợi nhiều nhóm người, từ tranh giành quyền lực đến việc tiêu thụ trang bị vũ khí, thuốc men, quân lương quá hạn. Tình hình Daghestan, Osertia-Ingusetia cũng chẳng kém.

Nhưng những sự kiện chính lại xảy ra tại Siberia và Viễn Đông. Hạ tầng cơ sở tại Bắc Nga bị lần lượt thủ tiêu. Thành phố và làng mạc bị bỏ mặc. Nhu yếu phẩm chỉ được chở đến nhỏ giọt. Dân bỏ nơi sinh sống ra đi cầu thực, chết mòn. Tình hình Viễn Đông thật nặng nề, ngân sách được cấp quá ít so với nơi khác. Đó là sự thực thi chiến dịch giảm dân số Siberia và Viễn Đông, thiết lập sự chiếm đóng (kiểm soát) của Mỹ đối với vùng lãnh thổ mênh mông, không còn dân, nơi tập trung hầu như toàn bộ tài nguyên thiên nhiên phong phú không tưởng tượng nổi.

Quá trình chia vùng lãnh thổ Nga vẫn tiếp tục. Có đến 89 chủ thể được khuyến khích độc lập với hiến pháp riêng, thường đối lập với hiến pháp Nga. Chiến dịch ồn ào của phương tiện thông tin đại chúng hô hào chống Belarus, lá chắn phía Tây cho Nga từ phía NATO, có tính điển hình.

Thủ tiêu nền công nghiệp

Liên Xô là một cường quốc công nghiệp. Các xí nghiệp liên kết với nhau bằng trăm nghìn mối quan hệ và tạo thành một cơ thể sống thống nhất. Có hệ thống năng lượng thống nhất, mạng đường sắt thống nhất, đường không thống nhất, xăng dầu thống nhất. Nhiều xí nghiệp, đặc biệt là Tổ hợp công nghiệp Quốc phòng, rất độc đáo và có trình độ kỹ thuật cao. Hệ thống quản l1y cũng thống nhất – đó là nền kinh tế có kế hoạch.

Nhưng chiến tranh thông tin – tâm lý đã làm cho người dân hiểu sai sự thật. Kinh tế quốc dân được coi là tập hợp các xí nghiệp độc lập như thế kỷ trước. Kinh tế bị đánh tả tơi. Đối với phương Tây, ý thức xã hội của dân Nga như vậy và người dân không còn khả năng đánh giá khách quan tình hình, không còn khả năng chống trả, có nghĩa là Nga trở thành Clondake huyền thoại, cho phép họ xâm chiếm dễ dàng tài nguyên nằm ngay dưới chân: công nghệ hiện đại nhất, thành tựu khoa học cơ bản nhất, các xí nghiệp độc đáo, nguyên, vật liệu chiến lược. Tất cả cái đó là của dân bản xứ – Nga, tựa như người da đỏ thời bị phương Tây cướp bóc, diệt chủng.

Một trong các tác giả của cuốn sách Tư nhân hóa thâm độc (Lixichkin B.A., M.:1997) đã phân tích chi tiết quá trình tiêu diệt nền công nghiệp, cướp bóc tài sản và cơ chế thực hiện các quá trình này. Cái mà phương Tây dùng quá trình tư hữu hóa đã làm ở Nga là độc nhất vô nhị trong lịch sử thế kỷ XX. Xin dẫn một vài số liệu trong quyển sách này:

Tổn thất do quá trình tư hữu hóa lớn hơn hai lần tổn thất do Đại chiến thế giới thứ II (1941 – 1945) gây ra cho Nga và vượt quá mọi sức tưởng tượng.

Phân tích sơ bộ 500 xí nghiệp lớn nhất của Nga bị Chubais cho tư hữu hóa bằng chứng khoán dẫn đến những kết luận kinh hoàng sau đây:

Trong số 500 xí nghiệp lớn nhất của nước Nga thì gần 80% các xí nghiệp đó được bán đấu giá với giá dưới 8 triệu USD mỗi xí nghiệp. 324 nhà máy được bán với giá dưới 4 triệu USD. Uralmas với 34 ngàn công nhân giá 7,3 triệu USD. Nhà máy cơ khí Covrov, nơi sản xuất vũ khí bộ binh cho toàn bộ quân đội, Bộ Nội vụ, các đơn vị đặc chủng với 54,3 nghìn công nhân bán 2,2 triệu USD. Để so sánh, một xưởng bánh mì hạng trung ở châu Âu giá khoảng 2 triệu USD, nhà máy chế biến giò hạng trung của Thụy Sĩ giá 3,5 triệu USD. Bè cũ Chubais đổi nhà máy máy kéo Treliabinsk lấy xưởng bánh mì.

500 xí nghiệp bị bán đổ bán tháo. Bọn đầu cơ, hay còn được gọi là chủ sở hữu chiến lược từ lớp “người Nga mới” hoặc ngoại quốc núp bóng các công ty đã mua hết những xí nghiệp lớn nhất. Nhân vật Timophayev ở Tiumen mua 210 triệu cổ phiếu của Liên hiệp “Gazprom” hết 2,2 tỷ USD, còn tay Cakha Bendukidze người Gruzia mua 51% cổ phiếu “Uralmas” và trở thành ông chủ tuyệt đối của xí nghiệp quốc phòng lớn nhất, toàn quyền quyết định vận mệnh 34 ngàn công nhân. Gói cổ phiếu khống chế của các xí nghiệp sản xuất nhôm Vùng Brarxcơ và Crasnoiaxcơ bị đám anh em nhà Triôrnưi di tản từ Liên Xô sang Israel mua trọn. Tư hữu hóa toàn bộ công nghiệp nhôm trở thành vụ scandal lớn ở Nga.

Giá của các xí nghiệp quốc phòng bị các cố vấn Mỹ của Chubais cố tình dìm xuống. Tay chuyên viên người Mỹ D. Hay là người CIA thông qua hãng “Granic” của Nga đã mua nhà máy thử nghiệm của Viện nghiên cứu “Grafit” và 30% cổ phiếu của nhà máy điện cực Moskva, trở thành ông chủ của Tổ hợp công nghiệp quốc phòng đặc biệt, nơi chuyên sản xuất grafit cho tên lửa. Là ông chủ, Hay bắt các xí nghiệp đó phải từ chối các đơn đặt hàng của Bộ đội tên lửa – vũ trụ Nga, phải nhận các đơn đặt hàng của Mỹ. Quá trình tư hữu hóa của Chubais gây tổn thất vô cùng lớn cho khả năng phòng thủ của Nga.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Trung Quốc dẫn đầu ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu


Trong ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu, dường như Trung Quốc đang là nước dẫn đầu.

Hải quân Mỹ có kế hoạch tăng quy mô hạm đội của họ và Nga cũng đang nỗ lực phục hồi lĩnh vực đóng tàu của nước này sau 25 năm suy giảm. Hải quân Nga và Trung Quốc đang nỗ lực theo cách riêng của mình kể từ khi hai nước được coi là đối thủ có tiềm năng ngang bằng với Mỹ và phương Tây. Cả hai nước đều có công nghệ quân sự tiên tiến và đang nỗ lực đóng mới tàu chiến. Tuy nhiên, nếu so sánh về mặt kinh tế thì Trung Quốc vượt xa nỗ lực xây dựng hải quân của Nga.

Ngân sách của Nga gặp khó khăn do các biện pháp trừng phạt kinh tế và giá dầu thấp. Hơn 2/3 trong số 108 tàu chiến mặt nước của Nga được trang bị từ thời Chiến tranh Lạnh. Kể từ năm 2000, hải quân Nga được trang bị 21 tàu chiến mặt nước mới, trong đó có 17 tàu hộ tống nhỏ. Tàu hộ tống của Nga có xu hướng được trang bị vũ khí phù hợp với kích cỡ và được bố trí hoạt động ở biển Baltic và Caspi. Tuy nhiên, nếu coi đây là thước đo để đánh giá khả năng công nghiệp thì tàu hộ tống nhỏ là không phù hợp.

Nga đã đóng 4 tàu khu trục mới cỡ trung bình (tương đương với kích cỡ của tàu khu trục Anzac của Australia) kể từ năm 2009, chiếc thứ 5 hoàn tất trong năm nay. Đây là những chiếc khu trục lớn nhất của hải quân Nga được trang bị kể từ năm 1999 khi tàu khu trục lớp Udaloy cuối cùng được trang bị.

Nga có thể đóng mới nhiều tàu khu trục hơn song động cơ chạy bằng khí đốt cần để cấp điện cho tàu được sản xuất tại Ukraine. Kiev đã ngừng xuất khẩu đơn đặt hàng trong năm 2014 do cuộc khủng hoảng Crimea, chính điều này đã làm trì hoãn các kế hoạch của Moskva từ 2 – 3 năm qua. Trong tương lai, nhiều khả năng Nga sẽ thúc đẩy các kế hoạch thay thế tàu chiến cỡ lớn hơn, tiếp tục nâng cấp tàu khu trục từ thời Chiến tranh Lạnh và tàu tuần dương với khả năng hiện đại.

Việc đóng tàu ngầm của Nga cũng còn chưa rõ ràng. Các dự án hiện đại cho cả hai loại tàu ngầm tấn công dùng năng lượng hạt nhân (SSN) và dùng điện – diesel (SSK) đều giảm đáng kể. Tuy nhiên, các dự án hiện đại hóa tàu SSK lớp Kilo từ những năm 1980 là phần bổ sung hiệu quả và tàu lớp Kilo là sản phẩm xuất khẩu thành công nhất của Nga. Chiếc SSN lớp Yasen thứ hai sẽ hoàn tất vào năm tới cho dù thiết kế được điều chỉnh khiến cho chiếc tàu ngầm này có giá thành đắt gấp đôi chiếc đầu tiên cùng loại. Nga chắc chắn vẫn là một trong số ít nước có khả năng đóng tàu SSN trong một vài thập kỷ tới.

Trong khi đó, rõ ràng là những tàu lớp cũ ngày càng lỗi thời và Nga đang phải nâng cấp, sửa chữa và hiện đại hóa những tàu chiến cũ để duy trì năng lực hải quân. Tuy nhiên, ngành công nghiệp hải quân của Nga nay chỉ là cái bóng so với ngành này của Xô Viết trước đây.

Trong lĩnh vực đóng tàu hải quân, Trung Quốc lại hoàn toàn khác Nga. Nhờ có được lợi thế từ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và coi trọng vai trò ngày càng gia tăng của an ninh hàng hải, Trung Quốc đã đóng mới hàng chục tàu chiến lớn, nhỏ khác nhau. Những năm gần đây, các xưởng đóng tàu của Trung Quốc hoạt động không ngừng, duy trì ổn định đóng tàu chiến mặt nước cho hải quân.

Hải quân Trung Quốc được trang bị 15 tàu khu trục có tên lửa dẫn đường loại 052 với nhiều biến thể khác nhau kể từ năm 1994. Khoảng một nửa số này đã đi vào hoạt động kể từ năm 2014 và 8 chiếc khác sẽ được đưa vào hoạt động năm 2020. Hải quân Trung Quốc cũng được trang bị khoảng 25 chiếc tàu khu trục cỡ trung bình loại 054 kể từ năm 2005, trung bình khoảng 2 chiếc/năm và 33 chiếc tàu hộ tống nhỏ loại 056 kể từ năm 2013.

Mặc dù nhịp độ xây dựng hải quân của Trung Quốc chậm, nước này không dừng lại. Những chiếc tàu về sau có khả năng tốt hơn những chiếc trước. Không giống như Nga, Trung Quốc đang trong giai đoạn đóng tàu hải quân mạnh mẽ nhất của mình.

Nguồn: The Australian – 11/07/2017

TKNB – 12/07/2017

Nga – Trung: Một liên minh bề nổi?


Liên minh giữa Nga và Trung Quốc dường như vững chắc đến mức có thể kết nạp được hai nước láng giềng thù địch Ấn Độ và Pakistan cùng làm thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO). Như vậy, khoảng 40% dân số thế giới nằm trong một tổ chức quốc tế không do phương Tây quản lý.

Hình ảnh liên minh Nga – Trung mang tính biểu tượng lớn, theo đánh giá trên trang The Conversation (26/6) của giảng viên đại học Cyrille Bret, trường Khoa học Chính trị Sciences-Po nổi tiếng của Pháp. Tuy nhiên, ông cũng đặt câu hỏi: Liên minh này gắn bó đến mức nào? Liệu liên minh này có bị tan vỡ ở Trung Á? Vì tại chính khu vực này, nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình muốn xây dựng một “con đường tơ lụa mới”. Chẳng lẽ liên minh này lại không vấp phải sự bất cân bằng về kinh tế và dân số giữa các nước đối tác? Tác giả bài viết cho rằng đằng sau liên minh bề nổi, xuất hiện nhiều vết rạn nứt.

Quan điểm chung về đối ngoại

Sau những lần căng thẳng và xích lại gần nahu trong thời kỳ Sa Hoàng và cộng sản, quan hệ Nga – Trung nhanh chóng được bình thường hóa. Năm 1996, hai nước ký kết thỏa thuận đối tác chiến lược và năm 2001 cùng ký một hiệp định hữu nghị thể hiện quan điểm chung về đối ngoại: Chặt chẽ trong việc tôn trọng chủ quyền quốc gia, áp dụng đúng từng từ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và mỗi nước có quyền thảo ra mô hình phát triển của riêng mình. Cuối cùng, vào năm 2004, hai nước giải quyết dứt điểm mọi tranh chấp lãnh thổ.

Sự đồng nhất về chính trị của hai nước được thể hiện rõ trong việc chống lại quyền bá chủ của Mỹ. Vì thế, việc Mỹ can thiệp vào Kosovo (1999) và Iraq (2003) đồng loạt bị Bắc Kinh và Moskva lên án là hành động xâm phạm chủ quyền của những nước đó.

Đối với Moskva và Bắc Kinh, cần phải cảnh cáo mọi ý định can thiệp ở Đài Loan, Triều Tiên, Kavkaz hay Ukraine. Tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Nga có thể thường xuyên dựa vào Trung Quốc vì từ năm 2007, Bắc Kinh đã 7 lần sử dụng quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an và luôn phủ quyết cùng với Nga.

Tương tự, cả Nga và Trung Quốc khẳng định quan điểm gần giống nhau về vấn đề hạt nhân Iran, cuộc nội chiến Syria và chủ nghãi khủng bố Hồi giáo quốc tế.

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải – mối liên kết an ninh

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), được thành lập năm 2001, nhằm hình thành một liên minh về an ninh. Nga và Trung Quốc liên kết quanh mình các nước thuộc liên bang Xô Viết trước đây ở Trung Á và hiện trở thành các chủ chốt của châu Á. Các đối tác trong khối muốn căn trở các cuộc cách mạng ở Trung Á; họ muốn kiềm chế sự hiện diện của Mỹ trong khu vực, tại Afghanistan và ở Trung Đông với thành công là đóng cửa các căn cứ không quân của Mỹ tại Uzbekistan và Kyrgyzstan, sau thượng đỉnh SCO tại Astana (thủ đô của Kazakhstan) năm 2005.

Quan hệ hợp tác Nga – Trung được thúc đẩy nhất trong lĩnh vực quân sự. Vào các năm 2005, 2007, 2009, 2010 và mùa Hè 2017, Trung Quốc và Nga cùng tiến hành các cuộc tập trận hàng hải và trên bộ có quy mô lớn trong vùng biển Baltic với tên gọi “Sứ mệnh Hòa bình” dưới sự bảo trợ của SCO. Quan hệ hợp tác song phương đặc biệt mạnh mẽ trong lĩnh vực vũ khí đạn đạo. Sau năm 1989, do liên tiếp bị trường phạt vì vụ thảm sát Thiên An Môn, Trung Quốc chuyển sang nhập vũ khí của Nga. Vì vậy, trong những năm 1990, Trung Quốc là thị trường tiêu thụ của 50% lượng vũ khí xuất khẩu của Nga.

Năm 2005, sau cuộc tập trận chung “Sứ mệnh Hòa bình 2005”, Trung Quốc đã đặt mua rất nhiều máy bay chiến đấu và máy bay vận tải của Nga. Trong lĩnh vực tên lửa cũng vậy, Trung Quốc thường xuyên đặt mua từ ngành công nghiệp Nga, dù mới đây, Ấn Độ đã vượt Trung Quốc để trở thành quốc gia hàng đầu nhập khẩu vũ khí của Nga.

Hợp tác kinh tế mới được chú trọng

Từ lâu, trao đổi kinh tế là điểm yếu trong mối quan hệ Nga – Trung. Tuy nhiên, từ đầu những năm 2010, Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Nga, với mục tiêu được hai nước đề ra là nâng trao đổi thương mại từ 90 tỷ USD lên thành 200 tỷ USD mỗi năm.

Mặt hàng trao đổi bên phía Nga lại không đa dạng: chỉ riêng dầu mỏ đã chiếm đến 80% lượng xuất khẩu của Nga sang Trung Quốc, nhưng vì vẫn bất đồng về giá bán và thái độ dè chừng từ phía Moskva nên việc xây dựng hệ thống ống dẫn khí và ống dẫn dầu bị chậm trễ nghiêm trọng.

Phải đến năm 2010, Nga mới mở đường ống dẫn dầu đầu tiên sang Trung Quốc và đến năm 2014, dự án đường ống dẫn khí “Sức mạnh Siberia” mới hình thành. Nhờ đó Bắc Kinh và Moskva đã ký một thỏa thuận cung cấp 38 tỷ m3 khí đốt mỗi năm kể từ năm 2018 với tổng trị giá được thẩm định là 400 tỷ USD và thời hạn hợp đồng kéo dài 30 năm.

Trong lĩnh vực tài chính, thông qua tổ chức BRICS (Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, Nam Phi), Trung Quốc và Nga tìm cách phát triển một hệ thống ngân hàng và tài chính song song với thị trường tài chính của các nước phương Tây. Tuy nhiên trên thực tế, liên minh kinh tế lại khập khiễng vì tình trạng chênh lệch kinh tế giữa các nước đối tác.

Một liên minh bị hạn chế vì các chủ đề căng thẳng về cơ cấu

Liệu liên minh Nga – Trung có thể đối chọi được sức mạnh phối hợp của Mỹ và châu Âu không? Không có gì là chắc chắn vì quan hệ đối tác vấp phải nhiều trở ngại về cơ cấu. Quan điểm địa chính trị của hai cường quốc không hẳn liên kết với nhau. Hiện Nga đi theo chiến lược việc đã rồi, với mục đích thay đổi thế cân bằng tại châu Âu và Trung Đông. Trong khi đó, Trung Quốc lại tỏ ra bảo thủ hơn và chú ý đến việc đối xử khéo léo với một Mỹ hung hăng hơn của Donald Trump.

Tương tự, về việc Nga sáp nhập bán đảo Crimea, Trung Quốc không nhiệt tình ủng hộ Nga vì điều này tác động xấu đến đường hướng chung của hai nước trong việc bảo vệ nguyên tắc không can thiệp. Ngoài ra, Nga cũng nhận thấy Trung Quốc là một đối thủ tại Trung Á, nên viễn cảnh về tương lai của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải có thể trái ngược với nhau. Mở rộng thẩm quyền của SCO sang cả phạm vi kinh tế là ý muốn của Bắc Kinh, nhất là để tăng thêm ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua dự án con đường tơ lụa mới. Đây là điều Moskva dè chừng.

Để giảm bớt trọng lượng của Trung Quốc trong tổ chức, Nga đã ủng hộ hai nước Ấn Độ và Pakistan gia nhập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Như vậy, đằng sau sự nhất quán bề ngoài đó còn ẩn giấu những cạnh tranh đáng ngờ.

Trong lĩnh vực quân sự, Moskva không ngần ngại cung cấp trang thiết bị quốc phòng cho các đối thủ của Trung Quốc trong vùng (Ấn Độ, Việt Nam…). Và Moskva cũng ngày càng thận trọng hơn trong việc chuyển giao công nghệ trọng điểm cho Trung Quốc.

Năm 2004, chính quyền Nga đã ngừng xuất khẩu máy bay chiến đấu Sukhoi SU-35 và máy bay oanh tạc Tupolev Tu-22M cho Trung Quốc vì bất đồng trong việc bảo vệ công nghệ đối với máy bay Sukhoi SU-27SK, được Trung Quốc gọi là Thẩm Dương (Shenyang) J-11. Nói tóm lại, Nga sợ các phiên bản sao chép của Trung Quốc.

Trong lĩnh vực kinh tế, Nga tỏ ra ngập ngừng tham gia chính sách “xoay trục của Trung Quốc”. Thực vậy, chính quyền Moskva giám sát hạn chế các nguồn đầu tư Trung Quốc vào Nga. Như năm 2002, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (China National Petroleum Corporation), được cho là sẽ thắng thầu tập đoàn Slavneft của Nga, cuối cùng lại bị chính quyền Nga loại khỏi thương vụ.

Tóm lại, rất nhiều bất trắc đang đè lên tương lai của liên minh này. Tình đoàn kết giữa Trung Quốc và Nga trước chính quyền của Donald Trump sẽ đi đến đâu? Trong khi nền kinh tế Nga lại không đa dạng lắm, thì liệu hợp tác kinh tế được định hình bời dự án “Sức mạnh Siberia” có đạt đến tầm cao như trong hợp tác quân sự và trong các hình ảnh đầy tính tượng trưng trên truyền thông hay không? Nếu như cơ cấu liên minh Nga – Trung có vẻ vững chắc vẻ bề ngoài, thì lại dễ vỡ khi nhìn từ bên trong.

Nguồn: TKNB – 12/07/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần cuối


Trong khi những cân nhắc mang tính quyết định diễn ra bên trong nhóm nội bộ của Putin, việc Tổng thống có sẵn sàng chú ý đến lời khuyên của các nhóm vận động hành lang khác nhau hay không dường như dao động theo thời gian. Chẳng hạn như, sau thất bại của thỏa thuận ngừng bắn hồi tháng 9/2016, mà Nga làm trung gian với Mỹ, vị thế của Bộ Quốc phòng Nga dường như đã được nâng lên bên trong giới cầm quyền, được thúc đẩy bởi cả thành công nhận biết được của chiến dịch quân sự và sự thất bại của chính sách ngoại giao. Sự ủng hộ sau đó của Nga cho chiến dịch của chế độ Assad nhằm chiếm lại Aleppo từ lực lượng chống đối có vũ trang là kết quả đương nhiên của sự thay đổi đó. Nhưng khả năng quân đội Nga áp đặt những ưu tiên của họ không phải là cố định. Vào những thời điểm khác, những cân nhắc ngoại giao được ưu tiên hơn những lợi ích của tổ hợp quân sự – công nghiệp, chẳng hạn như khi Chính phủ Nga cấm bán hệ thống phòng thủ tên lửa S-300 cho Iran vào mùa hè năm 2010, trong cái mà một phần là hành động bày tỏ thiện chí đối với Mỹ. Thay vào đó, các sự kiện trong những tuần gần đây cho thấy rằng những quan ngại về ngoại giao và quân sự vẫn được xác định một cách thận trọng trong chiến lược Syria của Nga và rằng không một nhóm vận động hành lang đơn lẻ nào nhận được sự chú ý của Tổng thống. Sau khi Aleppo sụp đổ, Nga nôn nóng muốn nhanh chóng thiết lập một thỏa thuận ngừng bắn và khởi động các cuộc đàm phán chính trị được nối lại. Cũng có thể không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng, cùng ngày thỏa thuận ngừng bắn được thông báo, Thứ trưởng Quốc phòng Anatolii Antonov – người có nhiều kinh nghiệm ngoại giao trong việc đàm phán với Chính phủ Mỹ – đã được tái bổ nhiệm vào Bộ Ngoại giao, mà ở đó ông sẽ “điều phối các vấn đề an ninh quân sự và chính trị”. Cuối cùng, Moskva cần một giải pháp chính trị (theo điều kiện của họ) đối với cuộc khủng hoảng Syria, nhằm giải thoát chính mình khỏi cuộc chiến, tuyên bố địa vị “sứ giả hòa bình” thành công và thúc đẩy chính sách của họ bảo vệ trật tự nhà nước Syria cho đến cùng.

Kết luận

Xem xét các động lực then chốt của chính sách Syria của Nga, những dự đoán có cơ sở nào có thể được đưa ra về những diễn biến trong năm 2017 và những câu hỏi quan trọng mà các nhà phân tích cần đặt ra hướng về phía trước là gì? Đối với chế độ bất ổn này của Nga, chế độ ngày càng xem mình như là một “pháo đài bị vây hãm” mà vị thế xứng đáng của họ không được Mỹ thừa nhận, việc bảo vệ trật tự nhà nước Syria vẫn là mối quan tâm chính. Nếu ai đó suy ngẫm về loạt hành động mà Nga đã thực hiện trong suốt cuộc chiến Syria – từ làm việc với Mỹ về vấn đề giải trừ vũ khí hóa học của Syria, đến tiến hành các cuộc không kích ở Syria, rồi mới đây là buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải đồng ý với cách tiếp cận của Nga thông qua việc khai thác các điểm yếu của nước này – Moskva sành sỏi về mặt ngoại giao và khôn ngoan về mặt quân sự trong khi theo đuổi mục đích của mình. Chẳng có gì cho thấy tài khéo léo của người Nga đã đạt đến giới hạn của nó.

Thiết lập một liên minh mới với Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và tới một mức độ nào đó với Ai Cập, Nga đã thành công trong việc gạt Mỹ sang bên lề cuộc xung đột Syria trong thời gian hiện tại. Trong khi quân đội của Nga giữ vai trò then chốt trong việc đặt Moskva vào vị trí có ưu thế tương đối này, rút cục Nga cần một thắng lợi về mặt chính trị. Ngày càng tự do đặt ra điều kiện của mình, Moskva sẽ vẫn đưa ra một biện pháp linh hoạt nào đó nhằm mang lại cho ngoại giao một cơ hội. Danh sách các nhóm mà Moskva đưa vào trong thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất có cả Ahrar Al-Sham và Jaysh Al-Islam – trước bị dán nhãn là “khủng bố”, hiện được coi là nằm trong số các nhóm “ôn hòa” – trong một tín hiệu mà Điện Kremlin xem là đáng khen ngợi trong việc điều chỉnh lập trường của mình như một hành động chứng tỏ thiện chí đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Hơn nữa, nghị trình ủng hộ chế độ của Nga sẽ vẫn được xác định nhằm theo đuổi các mục tiêu có giới hạn. Trong khi điều quan trọng là Assad không ngừng chống lại áp lực bên ngoài, Moskva không cam kết sẽ giúp ông lấy lại toàn bộ lãnh thổ Syria. Thay vào đó, Moskva muốn Assad hầu như phải đủ linh hoạt cho một tiến trình ngoại giao để vẫn tồn tại. Miễn là có một con đường chính trị, Nga sẽ nằm ở trung tâm của nó và Nga sẽ được nói đến. Điều này là rất cần thiết để Nga lấy lại vị thế ở Trung Đông và cộng đồng quốc tế xét trên phạm vi rộng hơn.

Ý thức được những cân nhắc này, điều cũng có thể hiểu được là Điện Kremlin sẽ sẵn sàng tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ hơn với Chính quyền Trump sắp tới về Syria. Tuy nhiên, việc Điện Kremlin sẽ không nhượng sáng kiến hay ưu thế leo thang cho Chính quyền Mỹ đã được làm rõ trong những tháng gần đây, khi Nga thúc đẩy việc giúp Assad chiếm lại Aleppo, thay vì ngồi bên ngoài cuộc chuyển giao vị trí tổng thống Mỹ và chờ Donald Trump đến Nhà Trắng. Thay vào đó, như được trình bày trong chiến lược chính sách đối ngoại gần đây nhất của mình được công bố vào cuối năm 2016, Moskva sẽ tiếp tục thiết lập các liên minh phi thể thức trong khu vực và toàn khu vực bất cứ khi nào họ nhận thấy chúng có lợi cho các mục tiêu của họ.

Tác giả lập luận rằng chúng ta có thể sẽ bước vào một giai đoạn mà ở đó Trung Đông không còn là một lợi thế mặc cả trong mối quan hệ của Nga với Mỹ, mà tự nó đang đạt được một mức độ quan trọng chiến lược mới về chất đối với Moskva. Tuy nhiên, liệu Nga có một “tầm nhìn” độc lập về trật tự an ninh khu vực, một tầm nhìn không chỉ là chủ nghĩa xét lại chống phương Tây, hay không vẫn còn chưa chắc chắn. Có mặt tại hội nghị Valdai Club hồi tháng 10, Tổng thống Putin đã kêu gọi một “kiểu Kế hoạch Marshall” cho Trung Đông như một “nỗ lực mà trong đó Nga chắc chắn sẽ sẵn sàng tham gia”. Và các đại diện của cộng đồng chuyên gia của Moskva đã nuôi hy vọng rằng một ngày nào đó Nga có thể giữ vai trò trung gian hòa giải giữa GCC và Iran. Liệu những ý định như vậy chỉ là những tham vọng ngông cuồng hay thực sự là những khả năng thực tế còn phụ thuộc vào một số nhân tố mà một thời gian sau mới xuất hiện: mức độ sẵn sàng của các bên trong khu vực để Nga lấp đầy khoảng trống do chính sách hạn chế chi tiêu gần đây của Mỹ để lại, các chính sách của Tổng thống Trump đối với Trung Đông, cũng như quỹ đạo của sự ổn định kinh tế và xã hội trong chính Liên bang Nga. Tại thời điểm này, một số nhà đối thoại Trung Đông sẽ nói rằng sự tôn trọng lớn hơn đối với Nga trong khu vực được duy trì bởi cảm giác lo sợ chứ không phải sự ngưỡng mộ, bởi việc nước này sẵn sàng triển khai sức mạnh tàn bạo, hơn là sức hấp dẫn của sức mạnh mềm của họ. Những người khác, thay vào đó, sẽ ngưỡng mộ Nga vì xuất hiện chống lại ảnh hưởng của Mỹ, đại diện cho các giá trị bảo thủ và bảo vệ các cộng đồng thiểu số Cơ đốc trong khu vực. Vì vậy, lịch sử của việc hình ảnh của Nga sẽ trở nên tốt hơn hay xấu đi do vai trò của họ trong cuộc chiến Syria, và vị thế lớn hơn của họ ở Trung Đông sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, là cái mà vẫn cần phải được ghi lại. Điều dường như chắc chắn, đối với bây giờ, là chính sách Syria của Moskva vẫn sẽ là quyết tâm theo đuổi việc bảo vệ cái mà là nhận thức của Nga về trật tự nhà nước ở Trung Đông và xa hơn.

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần V


Nga và Iran: cuộc hôn nhân vụ lợi ở Syria

Một nhân tố quan trọng của sự hồi sinh khu vực rộng lớn hơn này là mối quan hệ đang tiến triển của Nga với Iran. Trước khi cuộc khủng hoảng Syria nổ ra, các mối quan hệ Nga – Iran đã xấu đi trong vòng vài năm, chẳng hạn do Tổng thống Medvedev đã ủng hộ lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc chống lại Iran vào năm 2010 và ký lệnh cấm Nga chuyển giao hệ thống phòng thủ tên lửa S-300 cho Tehran. Sau khi cuộc khủng hoảng Syria nổ ra vào năm 2011, Nga và Iran đã hợp tác nhằm cứu chế độ Assad, cho dù vì những lý do khác nhau. Trong khi Moskva quan tâm đến việc bảo vệ nguyên tắc trật tự nhà nước và tính bất khả xâm phạm của chế độ ở Syria, sự ủng hộ của Iran đối với Damascus được thúc đẩy bởi mong muốn của nước này duy trì ảnh hưởng khu vực và sự tiếp cận chuỗi phòng thủ của họ trong đó có Liban, Syria, Iraq và Yemen. Việc đảm bảo triều đại Assad cầm quyền vẫn nắm giữ quyền lực là quan trọng đố với “pháo đài bị vây hãm” tự nhận thức được của Iran hơn là đối với Moskva rất nhiều.

Quan hệ hợp tác Nga – Iran về Syria chắc chắn là trên diện rộng, với việc Tehran thậm chí còn tạm thời cho phép quân đội Nga tiến hành các cuộc không kích từ căn cứ Hamadan của họ vào mùa hè 2016. Tuy nhiên, tình trạng mất lòng tin vào nhau kéo dài và các mục tiêu ở Syria là khác nhau đã liên tục gây ra những trở ngại hướng tới phát triển một liên minh chính thức. Moskva chưa bao giờ muốn Tehran phát triển năng lực vũ khí hạt nhân và sẵn sàng có những hành động trong quá khứ nhằm ngăn cản bất kỳ tham vọng nào như vậy. Những bất đồng về cách thức giữa hai bên tham gia đã bộc lộ hoàn toàn trong suốt thời gian Nga sử dụng Hamadan, mà kết thúc khác đột ngột với việc Bộ Quốc phòng Iran chỉ trích Nga công khai về các cuộc đột kích và thể hiện thái độ “phô trương”. Hơn nữa, Iran đã thoải mái hơn khi triển khai những sự ủy nhiệm trong cuộc chiến Syria, một cách tiếp cận mà không gắn kết thật khéo léo với phong cách của Nga. Kể từ khi  những bất bình trước sự sụp đổ của nhà nước ở Libya và Iraq được thể hiện một cách rõ nét trong tư tưởng của Điện Kremlin, họ muốn tránh một tình huống tương tự ở Syria, mà ở đó các bên tham gia không phải nhà nước chi phối địa bàn. Cuối cùng, sau thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất trên toàn Syria do Nga – Thổ Nhĩ Kỳ làm trung gian, các cuộc tấn công được Iran hậu thuận ỡ khu vực Wadi Barada gần Damascus, mặc dù không bị Moskva chính thức phê phán, đóng vai trò như sự nhắc nhở mạnh mẽ gần đây nhất về những ưu tiên khác biệt của 2 bên ở Syria.

Từ quan điểm của Moskva, ngoại trừ Syria, có thêm những lý do cho thấy tại sao mố quan hệ Nga – Iran được mô tả tốt nhất như là một “cuộc hôn nhân vụ lợi”, hơn là một liên minh chính thức. Thứ nhất, trong khi có bất đồng lớn với các nước Arập vùng Vịnh trong cách tiếp cận của họ với cuộc khủng hoảng Syria, Moskva vẫn mong muốn thúc đẩy các mối quan hệ ngoại giao và thương mại với các thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) và rõ ràng là miễn cưỡng khi bị cho là ngồi quá vững bên phe thân Shitte của Iran. Phải thừa nhận là theo sau tuyên bố về thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất ở Syria vào ngày 29/12, Sergey Lavrov đã tiết lộ rằng Saudi Arabia và Qatar sẽ không được mời đến vòng đàm phán Syria đầu tiên ở Astana, trong cái mà là một dấu hiệu khác rằng Nga đang thành lập một liên minh mới trong đó có Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, một liên minh mà có khả năng áp đặt các điều khoản của chính sách ngoại giao Syria không chỉ lên Mỹ mà còn lên cả các nước Arập vùng Vịnh. Nhưng mặc dù nói vậy, Moskva vẫn quan tâm đến cuộc đối thoại với GCC, tiếp tục chính sách ngoại giao đa vector của họ thiết lập những mối quan hệ với các bên tham gia khắp Trung Đông mà tiêu biểu cho chính sách ngoại giao của Nga đối với khu vực kể từ đầu những năm 2000. Và chủ nghĩa thực dụng của Nga đã mang lại kết quả: Quỹ đầu tư quốc gia của Qatar chỉ vừa mới đây đã thông báo ý định của họ sẽ chi 5 tỷ USD tiền mặt mua cổ phần của công ty Rosneft, báo trước một trong những thỏa thuận lớn nhất mà Nga từng có với một nước GCC.

Thứ hai, trong khi theo đuổi các mục tiêu chiến lược của mình ở Syria, Nga muốn tránh nguy cơ khiến Israel trở nên xa lánh một cách nghiêm trọng, huống hồ là gắn kết với luận điệu hung hăng chống Israel mà tiêu biểu cho giới lãnh đạo Iran. Các mối quan hệ Nga – Israel đã tiến triển dưới nhiệm kỳ tổng thống của Putin, bất chấp những bất đồng kéo dài về việc Moskva hợp tác với Iran và Syria và can dự với Hamas. Kể từ khi các cuộc không kích của Nga ở Syria bắt đầu, Nga và Israel đã thận trọng phối hợp các hoạt động quân sự của họ dọc biên giới Syria – Israel nhằm ngăn chặn các rủi ro. Các quan điểm khác nhau về vị thế pháp lý của biển Caspian, cũng như mức độ hợp tác kinh tế tương đối khiêm tốn, vẫn là những trở ngại bổ sung đối với một liên minh Nga – Iran vững mạnh hơn.

Nga và cuộc tìm kiếm vị thế nước lớn

Mong muốn của Nga giữ vai trò then chốt trong việc làm trung gian hòa giải cho cuộc chiến Syria một cách bình đẳng với Washington đã làm nổi bật động lực cuối cùng của chiến lược nước này: sự coi trọng “vị thế” quốc tế của họ. Trong khi ngay cả những người theo chủ nghĩa thực dụng cũng thừa nhận rằng tất cả các nước đều quan tâm đến vị thế (Robert Gilpin từng gọi “sự phổ biến hàng ngày của các hoạt động chính trị quốc tế” là uy thế), nước Nga thời kỳ hậu Xô Viết dường như quan tâm đến điều này một cách thiếu cân xứng. Mặc dù Nga đã mất vị thế siêu cường khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các giới tinh hoa kế tiếp của Nga đã từ chối chấp nhận rằng nước họ vì thế đã trở thành một nước yếu hơn.

Trong việc leo thang vai trò của họ trong cuộc chiến Syria theo một cách được tính toán một cách cẩn trọng, Nga đã ép buộc Mỹ và các bên tham gia khác chấp nhận họ như một bên trung gian hòa giải không thể thiếu của cuộc xung đột, và như một lực lượng được coi trọng trong khu vực rộng lớn hơn. Vở kịch của Nga rõ rằng phục vụ cho cuộc tìm kiếm sự công nhận vị thế của họ, đặc biệt kể từ khi nó cho phép Điện Kremlin phô bày năng lực quân sự gần đây nhất của Nga và nhờ vậy giành được các khách hàng mới. Nếu ai đó thêm luận điệu nổi bật của Nga về “việc cầm đuốic trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố quốc tế” vào bức tranh, điều dường như rõ ràng là sự can dự của Nga vào Syria đã phơi bày mong muốn triển khai một hình ảnh nhất định, trong nước và quốc tế. Ít tình tiết đã minh họa sinh động điều này như việc Điện Kremlin dàn dựng một buổi hòa nhạc thắng trận tại Palmyra đầu năm 2017, sau khi các lực lượng do Nga hậu thuẫn chiếm lại nơi này từ IS. Như một nhà bình luận lỗi lạc người Nga đã nói, Trung Đông đã trở thành một vũ đài “để thể hiện rằng giai đoạn nước Nga vắng bóng khỏi sân khấu quốc tế như một nước hạng nhất đã chấm dứt”.

Trong những tháng gần đây, các nhà bình luận phương Tây và cộng đồng mạng Twitter thường nhanh chóng chế nhạo các thảm họa của Nga ở Syria, coi một tàu sân bay được triển khai về phía Địa Trung Hải của nước này là “cái xô gỉ đang trở nên cũ kỹ” hay gọi vụ máy bay Su-33 của Nga rơi khi đang cố gắng hạ cánh xuống tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov là “đáng xấu hổ”. Nhưng sự chế nhạo như vậy đã bỏ lỡ một điều rằng ngay cả quân đội chưa được hiện đại hóa của Nga cũng có đủ sức mạnh trên không để đập tan cuộc nổi loạn ở Aleppo, đưa Nga vào vị trí trung gian hòa giải chính trong cuộc khủng hoảng Syria. Ngay cả những kẻ chế nhạo Nga cũng phải thừa nhận nước này đã giành được vị thế quốc tế thông qua sự can dự của họ vào Syria – một vị thế không nhất thiết  phải như cái mà “phương Tây” miêu tả là bên tham gia có trách nhiệm đảm nhận vai trò mang tính xây dựng, mà là một bên tham gia khôn ngoan đang triển khai sức mạnh cứng một cách nhất quán, phần lớn là thành thạo, luôn tập trung vào việc đạt được mục tiêu của mình.

Phụ lục: Ai hoạch định chính sách Syria của Nga?

Gắn chính sách Syria của Nga vào một bối cảnh rộng lớn hơn, đánh giá nó thông qua các lăng kính quan điểm của Nga về Trung Đông thời kỳ hậu “Mùa xuân Arập”, trải nghiệm lịch sử của nước này trong các Cuộc chiến tranh Chechnya, những lo ngại của họ về cái được gọi là “các cuộc cách mạng màu” và mối quan hệ của họ với phương Tây, bài viết này đã lập luận rằng có khả năng nhận biết các lợi ích cơ bản của Nga trong cuộc chiến Syria, mà phần lớn vẫn nhất quán trong vòng 6 năm qua và thúc đẩy chính sách. Mặc dù nói như vậy, việc tìm hiểu ai là người quyết định các hành động cụ thể của Nga và quyết định như thế nào còn thách thức hơn nhiều. Tính minh bạch về các tiến trình đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách đối ngoại, trong khi bị kìm hãm trong bất cứ hệ thống chính trị nào, đặc biệt bị hạn chế ở Liên bang Nga. Thậm chí cho dù một số bên tham gia trong nước, đáng chú ý nhất là tổ hợp quân sự – công nghiệp, ngành công nghiệp dầu mỏ và Giáo hội chính thống Nga là những nhóm vận động hành lang quan trọng ảnh hưởng đến chính sách Trung Đông của Nga, và trong khi Bộ Ngoại giao trong lịch sử có khuynh hướng thân Arập có thể nói giữ vai trò trong việc thi hành chính sách ngoại giao, các nhà phân tích Nga trong những năm gần đây đều nhất trí rằng các quyết sách đối ngoại cuối cùng được đưa ra bởi một nhóm nhỏ, trong đó có Tổng thống và các cố vấn then chốt của ông.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Thời loạn lạc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh – Phần cuối


Một cấu thành quan trọng của phương tiện thông tin đại chúng dùng để tác động là tiếng lóng. Theo Từ điển bách khoa toàn thư Xô Viết (1984), tiếng lóng là “ngôn ngữ của một nhóm người nào đó (ban đầu của bọn trộm cắp), được tạo ra để khái quát hóa ngôn ngữ. Có đặc điểm sử dụng cú pháp đặc biệt, hoặc hiểu cú pháp chung theo kiểu riêng”.Có thời, giới tội phạm dùng vẫn từ đó câu đó, nhưng ý nghĩa chúng hiểu với nhau lại hoàn toàn khác. Tiếng lóng của phương tiện thông tin đại chúng là một dạng ngôn ngữ “dân chủ” đặc biệt, nhiều khái niệm cần phải hiểu ngược lại hoàn toàn. Lấy ví dụ: tờ “Báo độc lập” đăng phản ứng của đại diện trí thức (như báo nói) Alecxandr Arkhagenxki do chính ông ta viết bằng tiếng lóng về sự kiện tháng 10 năm 1993:

1/ Tôi coi sự kiện 3 tháng 10 năm 1993 là bước ngoặt trong lịch sử hiện đại nhất của Nga. Lúc đó, cũng như bây giờ tôi tin rằng, dân chủ không đồng hành với nạn vô chính phủ; chừng nào còn có thể, chừng đó còn phải tìm kiếm thỏa hiệp với phe đối lập; chỉ khi hết khả năng và phe đối lập đã cầm vũ khí (từ đối lập trở thành đối thủ) thì phải sử dụng vũ lực. Tai họa không phải ở chỗ Elsin cuối cùng đã cho bắn vào Nhà Trắng vũ trang, mà ở chỗ đã không giải tán vào thu 1991 Xô Viết tối cao, một cơ quan được bầu ra ở một nước khác theo Hiến pháp Liên Xô, đã không quyết tâm phi Cộng sản hóa ngay để chấm dứt vĩnh viễn chế độ Xô Viết. Tệ lắm, ông ta cũng phải làm việc đó từ tháng 5 năm 1993 ngay sau khi trưng cầu dân ý và ngay sau khi máu đổ tại cuộc biểu tình ngày 1 tháng 5. Khi đó không có súng nổ. Tím lại, nếu không có ngày 3 và 4 tháng 10 năm 1993, chúng ta có lẽ đang sống trong một quốc gia hoàn toàn khác, phát xít hóa, Bonsevich, thực sự đói nghèo, hoàn toàn không có tương lai, bởi lẽ đã bỏ mất thời cơ cuối cùng trong thế kỷ 20 đuổi kịp bước tiến chung của lịch sử. Theo tôi hiểu, các thành viên khác của “Liên minh 4 tháng 10” cũng có quan điểm đó, tiếc rằng, liên minh đó đã không trở thành một tổ chức thực sự (lỗi ở ta).

2/ Cái đang diễn biến ngày nay là một sự phục hồi nhẹ nhàng chủ nghĩa hậu Gorbachev xuẩn ngốc, – hậu quả trực tiếp chính sách Trecnomưrdin năm 1997, sự mệt mỏi của Elsin và sự lãnh đạm chính trị, trò chơi của giới thượng lưu (đặc biệt là Beriozovxki và Guxinxki), sự tự thỏa mãn của giới trí thức tự do, trước hết là nhóm viết và nói, đã tích cực nguyền rủa “chế độ phản dân”. Cả sự vô trách nhiệm hàng loạt của cử tri đã sáng tác ra một Duma cay đắng vậy.

Khía cạnh gián tiếp, cuộc khủng hoảng hiện nay có liên quan đến việc ngay  sau sự kiện tháng 10 năm 1993, chính quyền đã không biết hoặc không muốn tận dụng thành quả chiến thắng.

Sự mục nát hiện nay hoàn toàn không dính dáng gì đến các sự kiện ngày 3 và 4 tháng 10. Dĩ nhiên, nếu Elsin nhượng bộ khi đó, thì giờ đây không có khủng hoảng đơn thuần vì sẽ chẳng có gì xảy ra. Tuyệt nhiên không.

3/ Đó không phải là bước tiến đến dân chủ; không phải là bước tiến đến cực quyền; đó là sự lựa chọn bi thảm cần thiết để giữ cho nước Nga khả năng có cuộc sống đầy đủ, tự do. Chúng ta sử dụng khả năng đó ra sao lại là vấn đề khác”.

Mấy người đọc bài này. Kẻ cho rằng, ông ta giễu cợt tờ báo. Kẻ khác dựa vào câu “nếu không có ngày 3 và 4 tháng 10 năm 1993, chúng ta có lẽ đang sống trong một quốc gia hoàn toàn khác, phát xít hóa, Bonsevich, thực sự đói nghèo, hoàn toàn không có tương lai, bởi lẽ đã bỏ mất thời cơ cuối cùng trong thế kỷ 20 đuổi kịp bước tiến chung của lịch sử”, cho rằng, tác giả là người tiến bộ. Giờ đây có đến 70% dân số thuộc diện nghèo đói hoặc kề cận; nhiều người sống gần giống nô lệ vì nhiều tháng không có lương; học sinh có em ngất xỉu vì đói; dân số giảm hơn 8 triệu người. Xin đừng giở giọng nói đến văn minh khi Clinton mang bom đi đánh Serbia để đánh lừa dư luận vụ bê bối về Monica Levinxki. Theo tôi, cả hai đều sai.

Đoạn trích trên đáng để phân tích tìm hiểu. Những điều nói trong đó hoàn toàn vô nghĩa. Nhưng nhà trí thức Alexandr Arkhagenxki tư duy bằng biểu tượng. Các biểu tượng (huyền thoại) không phản ánh hiện thực, mà tự sống cuộc sống riêng. Trên quan điểm biểu tượng, bài viết có những điểm “sáng tạo”. Đặt phát xít hóa cạnh Bonsevich, cách nói: nếu không có sự kiện ngày 3 và 4 tháng 10… “sẽ chẳng có gì xảy ra. Tuyệt nhiên không”. Thật ấn tượng. Vấn đề ở chỗ, đoạn trích trên rất điển hình. Phương tiện thông tin đại chúng dân chủ hoạt động dựa trên biểu tượng và huyền thoại. Ngay từ năm 1945 nhà triết học Đức Ernest Cassirer đã viết: “Triết học bất lực không thể phá bỏ được các huyền thoại chính trị, huyền thoại tự nó bất khả xâm phạm. Nó miễn dịch với các luận chứng hợp lý, không thể phủ nhận nó bằng các tam đoạn luận”. Cassirer cho rằng, hiểu được địch là quan trọng, nhưng để thắng địch cần phải biết địch. Chúng ta cần phải biết được cơ sở của phương tiện thông tin đại chúng dân chủ.

Ấn phẩm “dân chủ” được viết bằng tiếng lóng. Có thể đọc bằng từ điển, dịch tiếng lóng ra, ví dụ:

Thị trường  – loạn lạc, tan rã nền kinh tế quốc dân;

Dân chủ – chế độ cực quyền, phân biệt chủng tộc tại Latvia;

Cải cách – thủ tiêu (công nghiệp, quân đội, khoa học, giáo dục…);

Gia nhập hệ thống kinh tế thế giới – tẩu tán tài sản quốc gia sang phương Tây;

Tự do – tụng niệm sự thối nát, đồi bại.

Từ điển đại loại như vậy sẽ cho phép hiểu đúng và giải nghĩa phương tiện thông tin đại chúng. Cách tuyên truyền dân chủ cũng giống cách tuyên truyền Đảng thời kỳ cuối của XHCN. Chẳng phải ngẫu nhiên, do chính những người đó làm ra theo một thực đơn. Cũng đại ngôn và trống rỗng. Chúng giống nhau cả các từ vựng và khái niệm. Các nhà dân chủ giành thắng lợi trong cải tổ bởi lẽ họ nói hoàn toàn ngược lại những gì đã nói trước kia, dân chúng đã không nhận ra sự ruột rà với tuyên truyền Đảng mà thôi.

Nhưng phương tiện thông tin đại chúng ngày càng thăng hoa, không giậm chân tại chỗ. Ví như thời gian ngắn đây, họ tuyên truyền về tình trạng bi đát của dân chúng, tạo cảm giác hoàn toàn tuyệt vọng biết làm sao được, khi chúng đúng đang như vậy.

Thế giới quan mới, niềm tin mới

Thời điểm quan trọng nhất cuối cải tổ là sự đoạn tuyệt với đức tin cũ và chuyển sang đức tin mới, nói cách khác, thay đổi căn bản thế giới quan, cơ sở ý thức xã hội. Chính sự thay đổi căn bản này giải thích hiện tượng xảy ra sau cải tổ, con người trở nên nhịn nhục vô độ, thụ động, chết dần chết mòn, tự lìa bỏ cuộc sống, kể cả những vụ tự tử thường xuyên của sĩ quan. Có thể coi đó là kết quả cơ bản của cuộc tiến công thông tin – tâm lý.

Trong thời đại chúng ta, để xuất hiện một niềm tin mới, có cơ sở quần chúng, rất cần chỗ dựa khoa học. Người dân Liên Xô từ nhỏ đã được giáo huấn rằng, mọi thứ phải dựa vào khoa học và đó là điều kiện cơ bản phát triển xã hội. Thế giới quan mới xuất hiện như là kết quả của chiến tranh thông tin có cơ sở niềm tin là sức mạnh toàn năng của thị trường, là học thuyết kinh tế trường phái Michigan Milton Friedman, là đồng tiền. Có thể gọi thế giới quan đó là sự sùng bái Chúa trời Friedman hay chủ nghĩa Friedman (tuyê tên của thần tượng này ít được nhắc đến), còn các dân chủ gia – những nhà tư nhân hòa các Thánh. Cha đạo của đạo mới này là các nhà cải cách và lãnh đạo phương tiện thông tin đại chúng. Còn một mặt nữa của đạo mới này. Đó là sự bái phục điên cuồng hình mẫu phương Tây, thừa nhận quá khứ của mình, mọi thứ trước đó là khuyết tật. Chính đây là điểm “Thời loạn” đầu thế kỷ XVII khác thời nay. Khi đó, người dân không từ bỏ đức tin, quá khứ của mình, nó là sự đảm bảo phục hồi nước Nga.

Bản chất của tín ngưỡng mới được áp đặt cho nhân dân Liên Xô, thể hiện rõ khi so sánh học thuyết của nhà khoa học Ron Habbard. Học thuyết của ông dựa vào ngụy khoa học. Bài báo Luật chơi  (1995) nêu lên quá trình xây dựng học thuyết:

Chẳng bao lâu, Habbard nhận ra rằng, sáng tác chẳng ăn nhằm gì. Năm 1949 ông ta tuyên bố rằng, thời nay, để kiếm được tiền triệu cần xây dựng tôn giáo mới. Ông ta xuất bản cuốn “Liệu chứng”, đưa ra các khái niệm về sức khỏe và cách phục hồi sức khỏe. Đó là mớ hổ lốn từ Phật giáo cho đến thầy lang. Sau đó ít lâu, Habbard thành lập tổ chức “Nghiên cứu liệu chứng”, và năm 1953, dùng tiền quyên góp thành lập “Nhà thờ khoa học”. Tổ chức mà ngay lập tức trở thành một doanh nghiệp có nhiều chi nhánh. Năm 1985, ở Mỹ có 138, châu Âu 45 chi nhánh; lợi nhuận tăng không ngừng”.

Trong báo Phản động (1996) nêu cách tách động và phương tiện hùng hậu của tổ chức ngụy khoa học này:

Tín ngưỡng chăng? Không đơn giản lời đáp lại như vậy đối với khoa học: không có Chúa trời nào, ngàoi Habbard, tồn tại trong “nhà thờ”, “tôn giáo” này. Tuy nhìn qua không nhận thấy vai trò mê tín ở đây, nhưng Habbard đã xây dựng một hệ thống tín ngưỡng. Nó đã mê hoặc tín đồ, bắt họ phải đến nhà thờ của họ.

Khoa học ngày nay là cả một đế chế tài chính quốc tế được xây dựng theo hình mẫu tình báo. Các chuyên gia phương Tây cho rằng, nó hoạt động còn hiệu quả hơn cả CIA và KGB cũ. (Xem xét cách khoa học thâm nhập vào Nga, chúng ta sẽ thấy điều đó chẳng hề hồ đồ). Khoa học là giáo phái duy nhất hoạt động trên địa bàn nước khác tự hạch toán được”.

Ta thấy sự giống nhau đến kỳ lạ giữa khoa học và chủ nghĩa Friedman (học thuyết cải cách dân chủ), có thể hiểu hành động của các nhà cải cách thông qua sự phân tích khoa học. Cả hai đều dựa vào khoa học, học thuyết là mớ hổ lốn nhiều quan điểm không chấp nhận nhau, nhiệm vụ quan trọng nhất là thủ tiêu quá khứ trong trí não con người, tác động thông tin – tâm lý một cách tinh vi, là hệ thống các nghi lễ. Kassirrer trong Kỹ thuật của những câu chuyện huyền thoại chính trị hiện đại đã chỉ ra rằng, nghi lễ là bộ phận cần thiết mà bọn phát xít sử dụng để tác động lên dân Đức. Habbard dùng nghi lễ tác động nhiều lần khi học các khóa lần lượt. Phương tiện thông tin đại chúng cũng dùng nghi lễ. Những người theo chủ nghĩa Friedman ở Nga dùng phương tiện thông tin đại chúng làm nghi lễ bằng cách nhồi sọ ra rả ngày này qua ngày khác các khái niệm: “cải cách”, “kinh tế thị trường”, “các nước văn minh”, “tư nhân hóa” mà không đi vào thực chất. Nó được làm ra cho mọi cuộc thử nghiệm đối với họ, làm cho họ không chống đối lại những kẻ đang cướp bóc chính học, đất nước họ, tiêu diệt mọi thứ là thành quả lao động của các thế hệ cha ông.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TCII 1999.