Chiến tranh kinh tế Nga – Phương Tây trong lịch sử – Phần cuối


Đòn tiếp theo của Mỹ giáng vào Liên Xô là trong lĩnh vực tiền tệ. Các khoản thu ngoại tệ chủ yếu của Liên Xô đều từ thị trường dầu mỏ, nơi mà mọi giao dịch thanh toán đều được thực hiện bằng đồng đôla Mỹ. Từ mùa thu năm 1984, trong vòng một năm Mỹ đã phá giá đồng đôla tới 25%.

Từ thời gian đó, Liên Xô nhận được từ xuất khẩu dầu mỏ bằng đồng đôla đã giảm giá tới 1/4 và vẫn nhập khẩu hàng tiêu dùng và trang thiết bị từ Châu Âu bằng các đồng tiền đang lên giá của các nước này. Thặng dư thương mại Liên Xô ngày càng giảm.

Chính vào thời điểm “nhạy cảm” này Casey và “các đồng nghiệp” tiến hành “vòng thuyết phục” tiếp theo nhằm thuyết phục lãnh đạo các ngân hàng lớn nhất trên thế giới là kinh tế Xô Viết trước sau “sẽ sụp đổ” và việc cấp cho Liên Xô các khoản tín dụng dài hạn mới- là một quyết định chứa đựng nhiều rủi ro không thể biện minh được.

Tháng 3/1985, M.Gorbachev giữ chức Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô.

Tháng 4/1985, Hội nghị Trung ương ĐCS Liên Xô họp và đưa ra các mục tiêu của chiến lược “cải tổ”. Nguyên nhân dẫn đến việc giới lãnh đạo Xô Viết đồng ý thay đổi là những khó khăn kinh tế mà Liên Xô đang phải đối mặt.

Việc quá tập trung các nguồn lực chủ yếu để đối đầu với Mỹ đã làm tổn hại nặng cho nền kinh tế: Liên Xô phụ thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu ngũ cốc, bơ và thịt bắt đầu phải cấp theo tem phiếu, giá các mặt hàng tiêu dùng liên tục tăng.

Nhưng điều quan trọng nhất – khoảng cách tụt hậu công nghệ so với Phương Tây ngày càng tăng. Lại cũng chính vào thời điểm này, Mỹ đã thành công trong việc gây sức ép với Saudi Arabia để đánh sụp “chỗ dựa” của nền kinh tế Xô Viết. Mùa hè năm 1985, Saudi Arabia đã mở kho dự trữ dầu và tăng sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu.

Đến cuối năm 1985, sản lượng khai thác dầu của Saudi Arabia tăng từ 2 triệu thùng/ngày lên 10 triệu thùng/ngày – giá dầu trên thế giới giảm từ 30 xuống còn 12 đôla/thùng. Chỉ riêng thiệt hại do giá dầu giảm của Liên Xô trong những tháng đó đã là hơn 10 tỷ đôla.

Lại cũng trong khoảng thời gian này Liên Xô mất gần 2 tỷ đôla tiền xuất khẩu vũ khí –lý do: Iran, Iraq và Lybia do khoản thu nhập từ xuất khẩu dầu bị suy giảm đột ngột nên đã không thể thanh toán khoản tiền nhập khẩu vũ khí cho Liên Xô.

Người dân Liên Xô đã bắt đầu không thể mua được một số mặt hàng Phương Tây (lương thực – thực phẩm, chi tiết máy, hàng tiêu dùng) vì giá quá cao. Mùa hè năm 1986, Liên Xô đã phải tăng lượng xuất khẩu dầu mỏ lên 5 lần nhưng cũng chỉ mua được một khối lượng trang thiết bị của Tây Đức như cách đó một năm trước.

Kết quả là, bắt đầu từ năm 1985, thâm hụt ngân sách của Liên Xô ngày càng lớn (từ 18 tỷ rúp năm 1985 lên đến 76 tỷ rúp năm 1990, trong khi tổng thu ngân sách hơn 400 tỷ rúp một chút). Thực tế đó buộc chính phủ lại phải tìm các khoản vay mới từ bên ngoài. Đây là thời điểm Liên Xô đã rơi vào cái “bẫy lương thực”.

Nước này ngập sâu vào nợ nần để trả các khoản nhập khẩu lương thực nhưng cũng không đủ thỏa mãn hoàn toàn các nhu cầu trong nước. Các quầy hàng trồng rỗng đã trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết. Cuộc đối đầu giữa hai siêu cường và kết quả thì như mọi người đã biết.

Một cuộc chiến tranh thương mại nữa lại bắt đầu, nhưng lần này là giữa Nga và Mỹ.

Để kết thúc bài này, xin giới thiệu với bạn đọc một vài ý trong bài báo của V.Krashenhinnhikova, giám đốc Trung tâm báo chí và nghiên cứu Hãng thông tấn Moscow “Nước Nga ngày nay” với tiêu đề: “R.Rigan chống Liên Xô, B.Obama chống Nga: kế hoạch như nhau – còn kết quả?” ngày 13/8/2014:

“Chính quyền Rigan trong những năm 80 đã thực hiện một kế hoạch mật với mục tiêu là làm suy yếu đáng kể Liên Xô. Kết quả là Liên Xô đã biến mất trên bản đồ chính trị thế giới. Những biện pháp mà Chính quyền B.Obama hiện nay đang áp dụng đối với Nga có rất nhiều điểm trùng lặp với chiến lược của R.Rigan.

Nhưng mục tiêu chiến lược của Washington với Nga là không thay đổi: làm suy yếu nước Nga và nếu như có thể được, tiếp tục làm tan rã nước Nga. Việc giải quyết “vấn đề Nga” trong 2 năm trở lại đây càng trở nên cấp thiết đối với Phương Tây vì Nga đang lấy lại được sức mạnh và hành động hoàn toàn độc lập với Mỹ trong hàng loạt các vấn đề:

Syria, Iran, hạn chế khả năng của các nhóm thân Phương Tây ngay bên trong nước Nga, Crimea và Ukraine v.v . Và một điều quan trọng nữa theo quan điểm của Washington là Nga đã vượt quá giới hạn cho phép – thành lập các định chế quốc tế mới trong khuôn khổ BRICS.

Còn kết cục cuộc chiến mới như thế nào? Nó sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng trước hết là ở bản thân nước Nga”.

Nguồn: http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/bai-hoc-dau-don-tu-lich-su-cho-nuoc-nga-3058577/

Advertisements

Chiến tranh kinh tế Nga – Phương Tây trong lịch sử – Phần III


  1. Cuộc chiến tranh bí mật

Vào cuối những năm 70 đầu những năm 80 Phương Tây quyết định tiến hành một cuộc chiến tranh tổng thể chống Liên Xô trên tất cả các mặt trận. Nhà tư tưởng và cha đẻ của cuộc chiến tranh này chính là Zbigniew Kazimierz Brzeziński (gốc Ba Lan – sinh năm 1928) từ năm 1977 là Cố vấn an ninh quốc gia của chính quyền J.Carter.

Chính ông này là tác giả của hệ tư tưởng khẳng định vai trò thống trị thế giới của Mỹ và là người có câu nói nổi tiếng “Liên Xô – người khổng lồ có đôi chân đất sét”. Ông ta cũng là tác giả của ý tưởng gây sức ép với Liên Xô thông qua việc thiết lập “vòng cung Hồi giáo gây mất ổn định” ở biên giới phía nam Liên Xô.

Và bắt đầu vào những năm 1978-1980. đã có một loạt thay đổi rất nhạy cảm đối với Liên Xô tại các nước láng giềng: tại Iran, những người Hồi giáo lên nắm quyền. Tại Afghanistan, chiến tranh bắt đầu với sự tham gia của binh sỹ Xô Viết, còn tại Ba Lan “công đoàn Đoàn kết” xuất hiện và bắt đầu hoạt động manh.

Cũng bắt đầu từ năm 1980, Liên Xô ngày càng phải dành nhiều hơn các nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu để chi cho việc bảo vệ biên giới với Iran tại các nước Cộng hòa Turmenistan và Uzbekistan, cho tiến hành chiến tranh ở Afghanistan và để hỗ trợ ngoại tệ cho đồng minh Ba Lan đang ở bờ vực của một cuộc bùng nổ chính trị-xã hội.

Theo đánh giá của các chuyên gia, từ năm 1981 Liên Xô phải chi cho cuộc chiến tranh tại Afghanistan từ 3,5 đến 5 tỷ đôla mỗi năm, cho hỗ trợ kinh tế Ba Lan (và sau này là Tiệp Khắc và các nước khối SEV bị khủng hoảng) – từ 2 đến 4 tỷ đôla mỗi năm.

Đầu năm 1981, tổng thống mới của Mỹ là R.Rigan nhậm chức với tuyên bố Liên Xô là “đế quốc tội ác” và cần phải bị tiêu diệt. Kế hoạch làm suy yếu Liên Xô được giao cho Giám đốc CIA W. Casey. W.Casey sau này đã nói về nhiệm vụ được giao như sau: “tiến hành một cuộc chiến tranh bí mật lớn làm phá sản Liên Bang Xô Viết”.

Mùa thu năm 1981, theo chỉ thị của W.Casey, các chuyên viên CIA đã lập một danh mục các trang thiết bị và công nghệ mà Liên Xô đang rất cần để cấm xuất khẩu những mặt hàng này. Ngay trong tháng 10, Cục Hải quan Mỹ đã bắt đầu chiến dịch đặc biệt Exodus (Cuộc ra đi hàng loạt) nhằm áp dụng các hạn chế trong trao đổi công nghệ với các nước xã hội chủ nghĩa.

Trước đó, mùa xuân năm 1981, W.Cayce đề nghị (đúng hơn là yêu cầu) một loạt các doanh nghiệp lớn của Mỹ cam kết hợp tác với CIA (để chống Liên Xô) và bắt đầu cho loan tin đồn khắp Châu Âu về việc Ba Lan không có khả năng thanh toán, và như vậy, cần phải khẩn cấp “rút lại” các khoản tín dụng đã cấp cho Ba Lan trước đây.

Tháng 7/1981, Hội đồng các ngân hàng Mỹ dưới sự chủ trì của phó chủ tịch “The Chase Manhattan Bank” R.Robinson đã tiến hành thương thảo với 400 ngân hàng quốc tế. Các bên đã thống nhất đòi Ba Lan phải thanh toán ngay khoản nợ tín dụng của nước này là 2,7 tỷ đôla.

Moscow buộc phải có biện pháp hỗ trợ Ba Lan để nước này khỏi rơi vào tình trạng hỗn loạn chính trị không thể kiểm soát được. Mùa thu năm 1981, Liên Xô buộc phải cấp cho Ba Lan khoản hỗ trợ 4,5 tỷ đôla. Mặc dù vậy, khủng hoảng chính trị ở Ba Lan vẫn không hề có hy vọng được giải quyết: Ngày 13/12/1981, Chính phủ Ba Lan ban bố tình trạng thiết quân luật.

Mỹ cáo buộc là việc thiết quân luật ở Ba Lan là “do sức ép của Moscow”, và ngày 29/12/1981, R.Rigan tuyên bố Mỹ cấm các công ty Mỹ tham gia vào các dự án kinh tế Xô Viết.

Những biện pháp cấm vận này trước hết liên quan đến việc xây dựng đường ống dẫn khí Xô Viết tuyến Uranda- Pomara- Uzgorod chạy tới Tiệp Khắc và sau đó kết nối với mạng đường ống dẫn khí Châu Âu. Đường ống này nếu được đưa vào sử dụng sẽ làm tăng đáng kể lượng khí đốt của Liên Xô xuất khẩu sang Châu Âu (và dĩ nhiên là tăng nguồn thu ngoại tệ cho Liên Xô).

Các biện pháp cấm vận của Mỹ còn nhằm vào các dự án khai thác các mỏ khí đốt tại Sakhalin có sự tham gia của Nhật Bản: tại các mỏ này, có sử dụng các công nghệ và trang thiết bị của Tập đoàn Mỹ General Electric, Dresser Industries, Schlumberger và các tập đoàn khác.

Hướng của các đòn tấn công đã được Mỹ lựa chọn rất chính xác: hai tuyến đường ống đẫn khí đốt có thể tạo cho Liên Xô mức tăng trưởng ngoại thương khoảng 30 tỷ đôla, có nghĩa là tăng gần gấp đôi tổng số ngoại tệ thu được từ xuất khẩu của Liên Xô.

Còn một điều không kém phần quan trọng nữa là tăng sự phụ thuộc của Châu Âu vào khí đốt Xô Viết: sẽ là gần 60% tổng số khí đốt mà Châu Âu sử dụng. Dĩ nhiên, Mỹ không thể để điều này xảy ra.

Các chuyên gia của W.Casey được giao nhiệm vụ tìm các phương án cung cấp khí đốt khác cho Châu Âu để có thể thuyết phục các nước này khước từ tham gia vào các dự án xuất khẩu khí đốt của Liên Xô. Nhưng đối với Châu Âu, những dự án đường ống khí đốt mới này cũng cần thiết cho mình không kém gì Liên Xô: không chỉ vì cần khí đốt, mà còn vì khủng hoảng kinh tế và để giải quyết nạn thất nghiệp gia tăng.

Chính vì thế mà Châu Âu đã sẵn sàng cung cấp cho Liên Xô các khoản tín dụng ưu đãi, và quan trọng hơn là đảm bảo cung cấp trang thiết vị và vật liệu với điều kiện là Liên Xô sẽ trả sau một phần bằng khí đốt.

Các hợp đồng cung cấp trang thiết bị này không chỉ có tác động tích cực đến công nghiệp và thương mại mà còn tạo ra hàng chục nghìn việc làm cho Châu Âu trong bối cảnh nạn thất nghiệp tràn làn. Vì những lợi ích của mình, các nhà lãnh đạo Châu Âu đã không “tuân lệnh” Mỹ trong trường hợp này.

Tại Hội nghị thượng đỉnh NATO đầu năm 1982, ngoại trưởng các nước hàng đầu Châu Âu tuyên bố là họ sẽ không vi phạm các biện pháp trừng phạt của nước Mỹ nhưng vẫn tiếp tục tham gia vào các dự án khí đốt Xô Viết. Dòng khí đốt dù là màu “đỏ” nhưng đối với Châu Âu vẫn quan trọng hơn là cuộc đấu tranh với “đế chế tội ác”.

  1. “Cuộc chiến tranh giữa các vì sao” và cuộc chiến tranh dầu mỏ lần thứ hai

Tháng 6/1982, Tổng thống R.Rigan công bố quyết định áp dụng các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với tất cả các công ty và các nước sử dụng giấy phép sản xuất cũng như trang thiết bị, máy móc và vật liệu được sản xuất có ứng dụng công nghệ Mỹ nếu hợp tác với Liên Xô.

Quyết định này của Mỹ đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ tại Châu Âu, nhưng lần này ít có nước nào dám chống lại. Và không lâu sau đó các dự án công nghiệp Xô Viết (trước hết là dự án đường dẫn khí đốt) đối mặt với nguy cơ Phương Tây cắt giảm cung cấp các mặt hàng công nghệ cao đã được thỏa thuận từ trước.

Nếu như vào cuối những năm 70 tỷ lệ hàng hóa công nghệ cao trong xuất khẩu của Mỹ vào Liên Xô vượt 30%, thì đến năm 1982, tỷ lệ này chỉ còn 7%. Xu hướng như vậy cũng bắt đầu xuất hiện trong quan hệ kinh tế với Châu Âu.

Một cuộc chiến tranh thương mại- công nghệ cao quy mô lớn giữa Mỹ và Liên Xô lại bắt đầu. Giới lãnh đạo Liên Xô cũng bắt đầu áp dụng các biện pháp đáp trả như: mua các mẫu trang thiết bị và công nghệ cần thiết qua “các nước thứ ba”, sử dụng gián điệp công nghiệp để thu thập các thông tin công nghệ.

Các nhà khoa học Xô Viết bắt đầu tiến hành các công trình nghiên cứu khoa học bí mật, dựa vào các mẫu và tài liệu công nghệ thu thập được tiến hành nghiên cứu nhanh chóng để chế tạo các loại trang thiết bị của Liên Xô có tính năng tương tự như các trang thiết bị- máy móc vật liệu của Phương Tây.

Mỹ đáp trả bằng cách tiến hành một chiến dịch cung cấp các thông tin giả bằng nhiều phương thức khác nhau mà đỉnh điểm chính là cho công bố “Sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI) hay còn được gọi là “Chiến tranh giữa các vì sao” vào đầu năm 1983.

Mục đích của chương trình nói trên – theo các tuyên bố công khai là: thiết kế một hệ thống phòng thủ chống tên lửa toàn diện bố trí cả trên vũ trụ để có thể vô hiệu hóa tiềm lực tên lửa-hạt nhân của Liên Xô. Chương trình này, có thể nói ngay là hoang đường vào thời điểm đó: những phương hướng cơ bản của nó nếu như có thể thực hiện được về mặt nguyên tắc công nghệ thì cũng còn phải trong một tương lai rất xa nữa.

Tuy nhiên, Liên Xô đã tỏ ra cực kỳ quan ngại trước chương trình này của Mỹ. Giới lãnh đạo Xô Viết buộc phải cắt giảm các khoản đầu tư cho các lĩnh vực kinh tế để dành một nguồn lực rất lớn về tài chính, vật liệu, khoa học và công nghệ để tìm “biện pháp đáp trả cuộc chiến tranh giữa các vì sao”.

(còn tiếp)

Nguồn: http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/bai-hoc-dau-don-tu-lich-su-cho-nuoc-nga-3058577/

Các khoa học xã hội và quản lý – Phần cuối


Hỏi: Việc quản lý các KHXH và NV được thực hiện như thế nào, nó được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp?

Đáp: Tất nhiên, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có sự quản lý, kể cả việc phát triển các KHXH và NV. Nhưng tính chất của việc quản lý này đã khác nhiều so với trước đây, khi còn tồn tại lối ra lệnh và áp đặt từ bên trên ấn định phải nghiên cứu những vấn đề, đề tài nào. Giờ đây tình hình đã khác.

Một mặt, Viện HLKH Nga không còn nhận chỉ thị nào của cả Chính phủ lẫn Quốc hội Liên bang cũng như của Tổng thống mặc dù có thể có những mong muốn thể hiện dưới những hình thức có thể gọi là đơn đặt hàng xã hội.

Mặt khác, chúng tôi (ý tôi muốn nói Chủ tịch và Phó chủ tịch Viện HLKH) cũng không ra những chỉ thị trực tiếp cho các Viện nghiên cứu của mình. Họ tự xác định kế hoạch và diện công tác của mình.

Đồng thời chúng tôi có những đòn bẩy và những hình thức ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của các bộ môn KHXH và NV. Tôi xin nêu những điểm chính yếu trong số đó:

+ Các chương trình: được các phân ban đảm nhận có xét đến những đòi hỏi của thời đại và ý kiến của Đoàn chủ tịch Viện HLKH Nga, trong đó có Phó chủ tịch. Ở đây muốn nói đến các chương trình gồm các nghiên cứu phức hợp đồng bộ và quan trọng nhất về những phương hướng cơ bản của KHXH.

Để làm ví dụ, tôi xin dẫn Chương trình đổi mới và phục sinh nước Nga. Chương trình này được thông qua năm 1992, kéo dai trong 5 năm và sẽ kết thúc vào năm 1996. Việc đề ra Chương trình này có sự tham gia của cả 5 phân ban KHXH và NV. Tương tứng với diện nghiên cứu của mình, các công trình được thực hiện trong lĩnh vực sử học, các khoa học kinh tế nhà nước và pháp luật, triết học, xã hội học, tâm lý học, văn học và ngôn ngữ học, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Đó là một hệ phức hợp các đề tài cụ thể. Việc nghiên cứu hệ đề tài này là nhằm, thức nhất, gìn giữ tất cả những giá trị quý giá có ở nước Nga đã được thời gian kiểm nghiệm; thứ hai, xác định lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng; thứ ba, luận chứng cho những phương hướng đổi mới các thiết chế, các quan hệ xã hội và các hệ thống giá trị trong các lĩnh vực khác nhau của đất nước.

Có thể nêu tên nhiều công trình đã hoàn thành. Phân ban Kinh tế học ngay từ năm 1994 đã phối hợp với Quỹ “Cải cách” của Viện sĩ S. Shatalin soạn thảo Báo cáo “Cải cách kinh tế – xã hội ở Nga: tình hình hiện nay và các cách tiếp cận mới”. Nó cho thấy rằng giới khoa học chúng ta đang tư duy về việc tiếp tục tiến hành cải cách mạnh hơn nữa. Nói vắn tắt, thực chất của bản báo cáo cho thấy cần phải thay đổi tương quan ngay trong nội bộ cuộc cải cách nghiêng sang lĩnh vực xã hội, theo hướng tăng cường hơn nữa sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế và chú trọng hơn tới người bình dân. Trong báo cáo có một phần riêng nói về sự quản lý của Nhà nước, trong đó có lĩnh vực công nghiệp.

Năm 1995 đã soạn thảo được một loạt báo cáo nghiên cứu những vấn đề như thực hiện cải cách ruộng đất, giảm chi phí của liệu pháp sốc, làm dịu tình hình c8ang thẳng xã hội trong xã hội, nâng cao mức bảo hiểm xã hội cho người có thu nhập thấp… (cải các về công chính, đối tác xã hội).

Tôi lấy ví dụ chủ yếu là lĩnh vực kinh tế, nhưng trong khuôn khổ của chương trình đã có những báo cáo và nghiên cứu triển khai cả trong những lĩnh vực khác của KHXH và NV.

Dĩ nhiên, cuộc sống đang điều chỉnh các chương trình đã thông qua. Thoạt đầu, nhiều công trình dành cho các nghiên cứu lịch sử, trình bày khách quan hơn lịch sử nước Nga trước Cách mạng, thời kỳ Xô viết… Giờ đây, chúng ta điên thiên hơn sang những vấn đề của ngày hôm nay và một cách nhìn khoa học về ngày mai. Thường xuyên có sự trao đổi ý kiến về những chương trình được thông qua trước đây từ góc nhìn xem chúng có cần phải điều chỉnh và bổ sung không, và thường là chúng ta thấy rằng nhiều điểm phải thay đổi và đổi mới. Và bắt tay làm ngay.

+ Một hướng tác động khác – phối hợp các nghiên cứu khoa học. Công tác này được thực hiện bởi Hội đồng phối hợp các KHXH và NV trực thuộc Phó chủ tịch Viện HLKH. Thành phần Hội đồng gồm những người lãnh đạo tất cả các Phân ban, các Viện trưởng và các nhà bác học lớn – tổng cộng trên 50 – 60 người. Hội đồng nhóm họp thường mỗi tháng một lần và thảo luận không chỉ về tiến độ thực hiện các chương trình, mà cả những vấn đề thời sự phát sinh. Vào cuối năm 1995, một phiên họp thường kỳ đã đề cập đến việc cải cách pháp luật. Chúng tôi đã nghe báo cáo của các nhà luật học về việc đang chuẩn bị hệ quan niệm của nó. Những vấn đề khoa học tầm cỡ, có ý nghĩa thực tiễn lớn như vậy được xem xét một cách thường xuyên. Đồng thời, các quyết nghị của Hội đồng không bị ai áp đặt mà là những khuyến nghị cho các cơ quan khoa học về những phương hướng nghiên cứu có ý nghãi thời sự và có lợi cho họ.

+ Chính sách cán bộ thể hiện thái độ trân trọng đối với cán bộ khoa học dù họ thuộc quan điểm nào, giúp nhà khoa học tự lựa chọn hướng tìm tòi nghiên cứu. Đối với những người không thể thích ứng được với tình hình sau cải tổ thì đành phải hoặc bản thân họ tự thay đổi đề tài, hoặc ra khỏi cơ quan khoa học. Số khác đã bắt đầu nhìn nhận rộng thoáng hơn về thực tế hiện thực. Còn về phương diện định hướng chính trị và thành phần đảng phái của các nhà khoa học thì chúng tôi xuất phát từ chỗ cho rằng đó là việc riêng của mỗi người.

+ Một trong những kênh ảnh hưởng bao giờ cũng là chính sách tài chính. Hiện nay tình hình tài chính của Viện HLKH đang gặp phải khó khăn, do đó nhiều chuyên gia bỏ sang các cơ sở kinh tế tư nhân, điều đó làm suy yếu rất nhiều tiềm lực của chúng ta.

Ngân sách đã thông qua năm 1996 dành cho Viện HLKH là một khoản ít hơn nhiều lần so với trước Cải tổ. Dĩ nhiên không thể tồn tại được bằng số tiền này. Chỉ dám hi vọng là ban lãnh đạo đất nước ý thức được rằng nếu không bảo vệ được nền khoa học và văn hóa thì không thể nâng cao trình độ sản xuất và bình ổn được sự tồn tại của đất nước. Khoa học và văn hóa, cũng như giáo dục – đó là cơ sở của đời sống nhà nước và xã hội. Nếu không có những cái đó, đất nước sẽ chết dần.

Hỏi: Mối liên hệ giữa lý luận khoa học và thực tiễn tùy thuộc nhiều nhất vào tính chất những quan hệ qua lại giữa ban lãnh đạo Viện HLKH với ban lãnh đạo chính trị đất nước. Vậy cấp trên thể hiện mong muốn tích cực đến mức nào có được những kết quả nghiên cứu khoa học về những vấn đề đánh giá tình hình và quản lý nền kinh tế cũng như mọi quá trình xã hội khác? Ở đây mặt nào trôi hơn – tích cực hay tiêu cực?

Đáp: Tôi muốn nói rằng các yếu tố tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Những gì chúng tôi chuyển sang cho các cơ quan nhà nước không phải bao giờ cũng được sử dụng. Chúng tôi tính được rằng trong năm 1995, các cơ quan KHXH thuộc Viện HLKH đã trình lên các cơ quan Chính phủ và Nhà nước trên 300 báo cáo, kết quả triển khai, kiến nghị và những văn kiện khoa học khác. Chỉ có một phần rất nhỏ trong số đó (khoảng 5%) được phúc đáp. Vì vậy, có thể cho rằng những quan hệ tiếp xúc ở đây còn yếu.

Nhưng cũng đã có những chuyển biến tốt, trong đó kể cả lĩnh vực các vấn đề quản lý. Đã có những mối liên hệ khá chặt chẽ với Quốc hội Liên bang, trước hết là với Viện Duma Quốc gia. Điều đó đòi hỏi phải có thời gian. Mãi sang đến cuối năm thứ hai làm việc, Viện Duma mới bắt đầu có những “đơn đặt hàng xã hội”: mong muốn, đề nghị giải đáp vấn đề này khác… Các nhà khoa học chúng ta cùng với các đại biểu Viện Duma đã tham gia tích cực vào việc nghiên cứu các dự luật.

Còn về sự liên hệ với Chính phủ thì nó chỉ mang tính chất mật thiết hơn ở cấp cao nhất. Người đứng đầu Chính phủ thường xuyên tiếp xúc với Đoàn chủ tịch Viện HLKH cũng như với Chủ tịch Viện HLKH Nga là người thường xuyên ở Đoàn chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga.

Ở cấp thấp hơn, mối liên hệ ngược còn rất yếu. Vậy mà trong quản lý, nó là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà khoa học cần được biết công việc của mình có kết quả đến mức nào.

Hỏi: Xin được hỏi ông với tư cách là một chuyên gia lớn trong lĩnh vực luật học: hiện nay những tiền đề pháp lý của việc quản lý nhà nước đã được nghiên cứu đến đâu rồi?

Đáp: Tôi có thể nói rằng những vấn đề này được nghiên cứu chưa được bao nhiêu. Điều này liên quan đến sự biến động của đời sống xã hội và quan điểm về vai trò của Nhà nước trong việc lãnh đạo xã hội.

Khi diễn ra quá trình cải tổ và nhóm người mà chúng ta gọi là phái dân chủ lên cầm quyền, trong lĩnh vực nhà nước trên nhiều mặt đã bắt đầu phục hồi quan điểm của các nhà khoa học châu Âu thế kỷ XVII – XVIII. Theo quan niệm thời đó, Nhà nước phải là một “người gác đêm”, tức chỉ có chức năng giữ gìn sự bình yên của công dân, chứ không can thiệp vào việc gì, lại càng không lãnh đạo việc gì hết. Những quan niệm như thế đã làm suy yếu rất nhiều vai trò của quản lý nhà nước. Nó trùng hợp và thậm chí tôi còn muốn nói là đã dẫn đến tình trạng ở các khu vực đã dân lên làn sáng phân lập và bắt đầu “cuộc chiến tranh về luật”: các bộ luật liên bang hoàn toàn không còn được nhìn nhận nữa và các khu vực bắt đầu theo các quy phạm riêng của mình. Sự việc đôi khi còn đi đến chỗ cực đoan thái quá. Một số thống đốc sẵn sàng đặt ra những bộ luật hình sự riêng cho vùng mình cai quản. Ở đây tôi luôn nhớ đến V.I. Lenin, nói rằng không nên có chế độ luật pháp của Kaluga hay của Kazan mà phải là một chế độ luật pháp thống nhất toàn Nga. Điều đó lúc đó đúng và bây giờ vẫn đúng. Để quản lý được đất nước, đó là yêu cầu tối thiểu, song hiện thời, đáng tiến, nó vẫn chưa được thực hiện.

Đã có những nỗ lực về mặt này, nhưng chưa đưa lại những kết quả hữu hiệu. Mới đây thôi đã có ý kiến đề nghị đề ra quan niệm cải cách luật pháp, xem đây là một yếu tố quan trọng để quản lý đất nước. Bởi vì hiện nay, quan hệ của Liên bang với các chủ thể vẫn chưa được xác lập ổn định và đây là một trong những vấn đề cấp bách của giới luật học, xã hội học và chính trị học. Nó càng đặc biệt quan trọng ở một nước lớn như Nga, là nước mà việc quản lý ở từng khu vực là cái chiếm một vị trí đáng kể.

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 97 – 04

Chiến tranh kinh tế Nga – Phương Tây trong lịch sử – Phần II


Việc phát hiện dầu mỏ ở Tây Sibiri vào những năm 60 có thể coi là bước ngoặt đối với Liên Xô. Chính thời điểm này trong giới lãnh đạo Xô Viết bắt đầu diễn ra các cuộc tranh luận về khả năng thay đổi tỷ lệ đầu tư vào nhóm A (công nghiệp nặng sản xuất các phương tiện sản xuất) và nhóm B (sản xuất lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng).

Nhóm thứ nhất (ủng hộ đầu tư cho nhóm “B”) cho rằng đến thời điểm đó Liên Xô đã đạt được sự cân bằng tên lửa – vũ khí hạt nhân với Mỹ và như vậy đã giải quyết cơ bản nhiệm vụ đảm bảo an ninh cho đất nước.

Từ thực tế như vậy, cần phải sử dụng tiền bán dầu để hỗ trợ nâng cao mức sống của người dân (đang thấp hơn nhiều so với các công dân Phương Tây) và để phát triển sản xuất lương thực – thực phẩm và các mặt hàng tiêu dùng khác – có nghĩa là ưu tiên đầu tư cho nhóm B.

Những người phản đối (ủng hộ ưu tiên đầu tư nhóm “A”) lại cho rằng, bằng số ngoại tệ thu được từ bán dầu, Liên Xô có thể mua được tất cả các mặt hàng lương thực- thực phẩm, hàng tiêu dùng cần thiết từ nước ngoài – mà trước hết từ các nước khối SEV.

Nếu ưu tiên đầu tư cho nhóm “B” thì trong trường hợp “ngày mai xảy ra chiến tranh”, dòng vốn đầu tư phải nhanh chóng chuyển sang sản xuất vũ khí khiến Liên Xô phải “tái cơ cấu” khẩn cấp nền công nghiệp – một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Cuối cùng, những người thuộc nhóm A đã thắng và Liên Xô đã phải trả một cái giá quá đắt cho quyết định này.

Chính nó (quyết địnhưu tiên nhóm A) đã làm cho nền kinh tế Xô Viết trở nên không năng động và thiếu sức sống – nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu tài nguyên và cho đến nay, nước Nga vẫn chưa khắc phục được tình trạng này.

Thế nhưng vào đầu những năm 70, “định hướng tài nguyên” vẫn chưa đem lại tai họa, ngược lại nó còn mang đến cho Liên Xô những lợi ích không nhỏ. Sau cuộc chiến tranh Ai cập và Syria với Israel năm 1973, các nước Arập khai thác dầu mỏ nằm trong thành phần OPEC tiến hành “cuộc chiến tranh thương mại dầu mỏ” chống lại Mỹ và các nước Châu Âu ủng hộ Israel. Mỹ bị cấm vận dầu mỏ, còn Châu Âu – bị tăng số tiền phụ thu khi nhập khẩu dầu.

Chỉ trong vòng 3 tháng – từ tháng 11/1973 (bắt đầu cấm vận) giá dầu mỏ trên thị trường thế giới đã tăng từ 3 USD/thùng lên 12 USD/thùng và vẫn tiếp tục tăng. Một số nhà phân tích Phương Tây đến bây giờ vẫn cho rằng cuộc chiến tranh “dầu mỏ” mà các nước Arập đồng minh của Liên Xô tiến hành chống Israel cùng việc giá dầu trên thế giới tăng là một “chiến dịch kinh tế- thương mại đặc biệt” do Liên Xô- lúc này đang là một nước xuất khẩu dầu vào thị trường Châu Âu, khởi xướng.

Bất luận thế nào chăng nữa, “cuộc khủng hoảng dầu mỏ” những năm 70, giá dầu tăng đã có tác dụng tích cực đối với nền kinh tế Xô Viết. Tốc độ tăng trưởng GDP của Liên Xô trong những năm 70 luôn cao hơn các đối thủ cạnh tranh trong “khối tư bản chủ nghĩa” lúc này đang bị sốc nặng vì hậu quả của cuộc khủng hoảng dầu, mức sống và chất lượng sống của đại bộ phận người dân Xô Viết không ngừng tăng lên. Thặng dư thương mại luôn dương.

Tuy nhiên, ở một bình diện khác thì chính sách kinh tế dựa vào xuất khẩu nguyên liệu và vũ khí đồng thời nhập khẩu hàng tiêu dùng và lương thực- thực phẩm đã làm cản trở sự phát triển công nghệ của các lĩnh vực kinh tế “không ưu tiên” của đất nước – mà cụ thể là nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng đường bộ và đường sắt cùng một loạt các ngành công nghiệp chủ chốt khác.

  1. Ủy ban CCMEC và luật Jackson- Vanik

Đến đầu những năm 80 Liên Xô đã là một người khổng lồ trên trường quốc tế. Nhưng cũng chính vào thời điểm này nền kinh tế Xô Viết đã nhiễm 2 loại virus chết người. Loại virus thứ nhất chính là luật Jackson-Vanik (của Mỹ) năm 1974 hạn chế thương mại, trước hết là các mặt hàng lưỡng dụng và các sản phẩm công nghệ cao.

Về lý do công khai, bộ luật này được áp dụng chống lại các nước gây khó khăn cho sự di cư của công dân nước mình – cụ thể đối với Liên Xô thì đó là việc nước này ngăn trở người Do thái xuất cảnh hoặc đi định cư ở nước khác. Dĩ nhiên, đây chỉ là cái cớ.

Trước đó, ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh lạnh năm 1949 Mỹ đã đưa ra sáng kiến cùng các nước Phương Tây thành lập Ủy ban điều phối kiểm soát xuất khẩu (Coordinating Committee for Multilateral Export-CCMEC), có nhiệm vụ hạn chế các giao dịch buôn bán với Liên Xô. Đây chính là một cuộc chiến tranh thương mại công khai.

CCME với thành phần gần như tất cả các nước NATO, thường xuyên lập và chốt danh mục các công nghệ và sản phẩm “chiến lược” cấm xuất khẩu vào các nước “Khối phía đông” đồng thời kiểm soát việc thực hiện các lệnh cấm này.

Trong những năm 70, trong bối cảnh Liên Xô đạt được sự tăng trưởng đáng kể tiềm lực kinh tế và quân sự (Phương Tây đang bị khủng hoảng liên quan đến tăng giá dầu mỏ), các danh mục cấm của CCMEC luôn được bổ sung thêm, và việc thực hiện lệnh cấm được kiểm soát nghiêm ngặt.

Hậu quả của chính sách này đối với Liên Xô là các ngành kinh tế “phi quân sự” của nước này chỉ nhập khẩu được từ Phương Tây các trang thiết bị và công nghệ “hạng hai”. Và đây là một nguyên nhân rất quan trọng làm cho các ngành công nghiệp “hòa bình” Xô Viết ngày càng tụt hậu về công nghệ.

Loại virus chết người thứ hai chính do nền kinh tế Xô Viết gây ra và tự viêm nhiễm. Vấn đề là ở chỗ, ngoài nguyên tắc “đầu tư những gì còn lại” cho lĩnh vực dân sự của nền kinh tế, giới lãnh đạo Liên Xô cũng đồng ý với các tổ hợp nghiệp quốc phòng không áp dụng các công nghệ công nghiệp quốc phòng cho lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng.

Trong khi đó Phương Tây rất chú trọng kết nối các Tổ hợp công nghiệp quốc phòng với các ngành sản xuất hàng dân dụng: những phát minh trong lĩnh vực này ngay lập tức được ngành khác ứng dụng và thành quả thường là luôn xuất hiện những công nghệ và mặt hàng mới từ sự kết nối như vậy.

Liên Xô đã không làm như thế và hậu quả là: do không có đủ nguồn lực để tự phát triển công nghệ (trong đó có cả việc đầu tư cho các công tác nghiên cứu khoa học và công tác nghiên cứu khoa học – thiết kế – thử nghiệm) các ngành kinh tế dân dụng của Liên Xô buộc phải hoặc là sao chép công nghệ Phương Tây hoặc là mua trang thiết bị của Phương Tây.

Mà như đã nói ở trên, việc nhập khẩu trang thiết bị cũng như bị điều chỉnh rất chặt chẽ bởi CCME và luật Jackson-Vanik.

Vì lý do đó mà khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu Liên Xô (trừ nguyên liệu, sản phẩm quân sự và một số sản phẩm công nghệ cao khác như một số máy móc và máy công cụ) bắt đầu sụt giảm.

Và khả năng cạnh tranh của hàng hóa Liên Xô không chỉ sụt giảm trên thị trường “tư bản”, mà ngay cả trên thị trường các nước “anh em” trong khối SEV. Liên Xô dần dần thua thế giới tư bản trong cuộc cạnh trạnh thương mại toàn cầu.

(còn tiếp)

Nguồn: http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/bai-hoc-dau-don-tu-lich-su-cho-nuoc-nga-3058577/

Các khoa học xã hội và quản lý – Phần đầu


Trong điều kiện cải cách và đặc biệt là tìm cách thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, cái đóng vai trò quan trọng ở đây không chỉ riêng khoa học kinh tế và khoa học quản lý, mà còn cả các khoa học xã hội khác. Trong số đó có khoa học pháp lý, xã hội học và tất cả các ngành đại diện cho khoa học nhân văn. Trong hệ thống Hàn lâm khoa học (HLKH) Nga, các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội và khoa học nhân văn được tập trung trong 5 ban: Sử học; Triết học, xã hội học, tâm lý học và luật học; Kinh tế học; Văn học và ngôn ngữ học; Những vấn đề kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Từ năm 1988, việc phối hợp hoạt động của các ban trên là trọng trách của Phó chủ tịch Viện HLKH Nga Vladimir Kudrjavcev, Viện sĩ, Tiến sĩ luật học, Giáo sư, một nhà bác học lớn trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật, lý luận về luật hình sự và hình pháp, lý luận và xã hội học pháp luật, một nhà tổ chức khoa học và hoạt động xã hội nổi tiếng. Ông đã nhiều năm lãnh đạo Viện Nhà nước và Pháp luật và hiện là Viện trưởng danh dự của Viện này; ông còn là Chủ tịch Hội đoàn kết và hợp tác giữa các dân tộc Á – Phi của Nga; Chủ tịch tiểu ban Chuyên trách những vấn đề khoa học, giáo dục và văn hóa của Ủy ban phối hợp thực hiện hợp đồng đồng thuận xã hội trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga; Ông cũng kiêm nhiệm nhiều công tác xã hội khác. Nhằm làm rõ vai trò của các khoa học xã hội và nhân văn trong những điều kiện phát triển hiện nay của nước Nga và đặc biệt là tác động quản lý của các khoa học này tới các quá trình đang diễn ra trong xã hội, Tiến sĩ tiết học, Giáo sư Vadim Semenov đã phỏng vấn Vladimir Kudrjavcev, xin ông trả lời một loạt câu hỏi.

Hỏi: Vladimir Nicolaevich, xin ông cho biết ý kiến của mình về sự phát triển của các KHXH ở Nga trong thời kỳ cải cách. Theo ý ông, có những mặt tích cực và tiêu cực nào?

Đáp: Theo tôi, rõ ràng là các KHXH đã và đang tiếp tục khủng hoảng. Sự khủng hoảng này mang tính chất tư tưởng, tổ chức, cán bộ và tài chính.

Trước hết tôi muốn nói tới mặt tư tưởng. Đã giải phóng được các KHXH khỏi sự lãnh đạo cứng nhắc của Đảng, khỏi hệ tư tưởng độc đoán duy nhất. Các quan điểm và các đánh giá của nhiều nhà khoa học đã bắt đầu mang tính hiện thực và đa nguyên.

Đa nguyên đã thể hiện qua ba hướng:

Thứ nhất, tự do xét đoán về những vấn đề khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có cả chính trị; điều này có thể thấy qua nhiều công trình của các nhà KHXH. Họ phê phán các quá trình mà không e ngại và không bị trói buộc gì hết.

Thứ hai, mở rộng tầm nhìn của các nhà khoa học xã hội nhờ sử dụng tích cực hơn sách báo, tài liệu của thế giới, khoa học thế giới. Tôi muốn nói là về phương diện này, tạp chí “Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý” cũng nêu một tấm gương tốt vì đây là một tạp chí quốc tế thường xuyên đăng bài không chỉ của các nhà khoa học nổi tiếng của Nga, mà của cả các học giả nước ngoài có những quan điểm khác nhau. Đến nay, quá trình này đã bao trùm toàn bộ các KHXH.

Thứ ba, phục hồi thanh danh của các nhà khoa học Nga thời trước Cách mạng và thời Xô viết có các công trình cho mãi đến gần đây vẫn chưa được công bố.

Tuy nhiên, không phải mọi sự đều diễn ra suôn sẻ. Ban đầu đã có một sự hoang mang nhất định. Nhiều nhà nghiên cứu không biết nên xử sự thế nào, nên làm gì. Giờ đây, ở mức độ đáng kể, điều đó đã qua. Đã thấy xuất hiện nhiều tên tuổi mới, nhiều người viết mới viết một cách tự do.

Hỏi: Trong sự phát triển của khoa học, lý lậun có một ý nghĩa to lớn. Ở đây có thể nhận định điều gì là tích cực, và điều gì còn chưa ổn?

Đáp: Cái tích cực là bước chuyển sang tư duy đa nguyên. Các nhà lý luận của chúng ta đã bắt đầu thảo luận rộng rãi các vấn đề và nói ra những ý kiến mà trước đây không được chấp nhận ở ta. Lý luận đã có những phương hướng và cách tiếp cận mới. Chẳng hạn, nếu trong lĩnh vực các khoa học lịch sử, triết học, xã hội học trước đây mọi cái đều quy về các hình thái lịch sử xã hội, phân chia xã hội và thế giới quan điểm hình thái thì giờ đây, các nhà KHXH đang sử dụng rộng rãi cách tiếp cận theo quan điểm các nền văn minh, tức là xem xét quá trình xã hội như là một sự thay đổi thế nhau của các nền văn minh có tính chất khác nhau – cả về mặt địa chính trị lẫn về mặt tinh thần.

Gắn liền với nó là việc khắc phục được quan điểm mà tôi tạm gọi là “kinh tế” khi nhìn nhận sự vật, trong đó không đánh giá đúng ý nghĩa các quan hệ xã hội và con người. Ngày nay, kinh tế, với tất cả ý nghĩa của nó, ngày càng được xem xét kỹ hơn trong mối liên hệ qua lại mật thiết và sự tương tác biện chứng với các mặt khác của sự phát triển xã hội, đặc biệt là các mặt xã hội, tinh thần, đạo đức, tâm lý.

Hỏi: Với tư cách là Phó chủ tịch, ông thỏa mãn đến mức nào về sự phát triển của các khoa học kinh tế và quản lý? Các khoa học này có tác động hiện thực tới thực tiễn không?

Đáp: Đáng tiếc là điều chúng ta từng nói về những thay đổi trong lĩnh vực lý luận vẫn chưa đi vào thực tiễn của các khoa học này và của cả hoạt động xã hội nói chung, chưa đi vào thực tiễn xây dựng nhà nước và các quyết định chính trị. Nếu các nhà lý luận trong lĩnh vực KHXH đã hiểu được rằng nhân tố động lực phát triển không chỉ là các quá trình kinh tế và còn cần phải xét đến những chuyển biến chính trị, đến đời sống tinh thần của xã hội, tâm lý của mọi người, thì nhiều nhà thực tiễn của chúng ta, đặc biệt là trong hoạt động kinh tế, theo tôi, vẫn còn chưa ý thức được điều đó.

Chẳng hạn, chiếm ưu thế là ý kiến cho rằng bằng con đường thông qua các giải pháp theo kiểu duy tiền tệ khác nhau, bằng những thủ thuật tài chính có thể vực đất nước đứng dậy được. Nhưng rõ ràng là muốn thế còn cần phải xét đến cả tâm lý của người dân, cả tình trạng đạo đức, tâm lý và văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của chữ này. Song những nhân tố quan trọng bậc nhất này thường chưa được lưu ý đến.

Hỏi: Ông cho những triển khai nào của các Viện nghiên cứu kinh tế trong những năm gần đây là quan trọng nhất, xét trên bình diện lý luận và thực tiễn?

Đáp: Theo tôi, lúc này quan trọng là các công trình triển khai luận chứng cho những đề nghị tiến hành cải cách dựa trên cơ sở phân tích đồng bộ toàn bộ đời sống xã hội, có xét đến trước hết là những vấn đề xã hội, đến hợp phần tinh thần và văn hóa của nó.

Chớ nên chỉ nghĩ đến quá trình sản xuất, các ngân hàng và nguồn tài chính. Trước hết phải nhớ đến con người. Những nghiên cứu loại này đã bắt đầu xuất hiện trong các viện nghiên cứu kinh tế của chúng ta. Chẳng hạn, có thể nhắc đến Viện những vấn đề kinh tế – xã hội cư dân (Viện trưởng là N. Rimashevskaja) đã chuẩn bị được một chương trình phức hợp phát triển xã hội. Chương trình này đưa lại nhiều cái mới trong việc hiểu các quá trình đang diễn ra trong lĩnh vực xã hội và đồng thời trong đó còn đưa ra những khuyến nghị thực tiễn nhằm cải cách nền kinh tế có tính đến các nhu cầu của dân, của nhiều tầng lớp dân cư khác nhau. Đó là điều trước kia chưa từng có, mắc dù cũng phải nói rằng khởi xướng là T. Zaslavskaja và R. Rybkin – là những người đã nghiên cứu hành vi kinh tế của con người.

Hành vi kinh tế, theo tôi hình dung, biểu hiện ở chỗ con người cụ thể hiện thực hóa xu thế nào của sự vận động xã hội trong đời sống thường nhật. Phải nghiên cứu xem con người hướng đến cái gì, động cơ thúc đẩy nó hành động, lợi ích mà con người chưa bằng lòng, cái gì áp bức nó. Mảng vấn đề này trước đây không được nghiên cứu. Thường là người ta đi nghiên cứu nền sản xuất chứ không phải con người.

(còn tiếp) 

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 97 – 04

Chiến tranh kinh tế Nga – Phương Tây trong lịch sử – Phần I


Từ 0h00 ngày 12/9, EU quyết định áp đặt biện phạt trừng phạt kinh tế mới với Nga do cáo buộc là Nga có những hành động can thiệp tại Đông Ukraina. Những biện pháp trừng phạt mới này sẽ bao gồm: hạn chế các ngân hàng và doanh nghiệp Nga tiếp cận thị trường vốn châu Âu, nhất là các doanh nghiệp thuộc ngành dầu khí, hạn chế xuất khẩu vào Nga các mặt hàng công nghệ cao, cấm đi lại và đóng băng tài sản với nhiều quan chức cấp cao của Nga.

Những tuyên bố trên ngay lập tức có tác dụng. Thị trường chứng khoán Nga bắt đầu chao đảo, tỷ giá đồng rúp – đô la Mỹ ngày 16/9 đã xuống thấp kỷ lục 38 rúp/01 đô la Mỹ (cụ thể là 38,68 rúp), đối với đồng euro – tỷ giá đã là 50,5 rúp/01 euro.

Moscow cũng đã có các biện pháp đáp trả – cấm nhập thực phẩm (thịt, sữa, cá, rau và củ quả) một năm nhằm chống lại Mỹ, EU, Na Uy, Australia và Canada, ước tính ngăn khoảng 9 tỷ USD hàng nông nghiệp xuất khẩu sang Nga. Thủ tướng Nga D.Medvedev tuyên bố có thể sẽ áp dụng các biện pháp đáp trả “phi đối xứng” mới.

Dĩ nhiên, các biện pháp cấm vận bao giờ cũng là con dao hai lưỡi, cả hai bên đều chịu thiệt hại nhưng vấn đề là ở chỗ là thiệt hại của mỗi bên đến đâu và sức chịu đựng của mỗi bên đến mức độ nào. Cũng không nên quên một điều là lợi thế thường nằm ở bên “chủ động tấn công”.

Trên thực tế, đây không phải là lần “trao đổi” các biện pháp trừng phạt đầu tiên và chắc chắn cũng không phải là lần cuối cùng. Kể từ khi Liên Xô (Nga là chủ thể thừa kế hợp pháp) được thành lập cho đến nước Nga hiện nay đã có nhiều “cuộc chiến tranh thương mại”.

Trong khi các chuyên gia kinh tế đang làm các việc dự đoán, đánh giá của họ, chúng ta hãy điểm qua những “cuộc chiến tranh thương mại” giữa hai bên.

  1. Cuộc chiến tranh thương mại lần thứ nhất

Cuộc chiến tranh thương mại lần thứ nhất bắt đầu ngay sau khi cách mạng tháng Mười Nga thành công: Các nước ANTANTA (Pháp, Anh..) phong tỏa thương mại nước cộng hòa non trẻ này ngay từ năm 1918. Tình hình đặc biệt nghiêm trọng đối với khu vực xuất khẩu truyền thống của Nga – đó là xuất khẩu ngũ cốc.

Nước Nga Xô Viết chỉ được dỡ bỏ một phần các lệnh cấm vận thương mại vào năm 1921 với việc ký thỏa thuận thương mại tạm thời với Anh, và sau đó là với Đức và Mỹ. Cái giá phải trả cho bước đột phá này là vô cùng đắt: Nước Nga Xô Viết phải trả cho các mặt hàng nhập khẩu bằng vàng ròng.

Mãi đến cuối những năm 20, nhờ có NEP (Chính sách kinh tế mới), cán cân ngoại thương của Liên Xô mới được cân bằng – xuất khẩu tương đương với nhập khẩu. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Xô Viết đã có được một bài học đắt giá về thế nào là phong tỏa (cấm vận) thương mại.

Liên Xô thực hiện đường lối công nghiệp hóa đất nước vào những năm cuối thập kỷ 20 không chỉ xuất phát từ những kế hoạch đầy tham vọng là đuổi kịp các nước phát triển hàng đầu trên thế giới mà còn xuất phát từ chủ trương tự đảm bảo cho mình những sản phẩm thiết yếu.

Dĩ nhiên, điều đó không thể thực hiện được nếu không xây dựng được một ngành công nghiệp nặng mạnh: chế tạo máy, chế tạo máy công cụ, công nghiệp luyện kim loại đen và kim loại màu và v.v.

Những “bài học” về cấm vận thương mại vẫn còn nguyên giá trị và làm cho giới lãnh đạo Xô Viết khẳng định quyết tâm xây dựng nền kinh tế Xô Viết chủ yếu theo hướng “tự cung tự cấp”.

Trong suốt thời kỳ sau đó, tỷ lệ kinh tế ngoại thương trong tổng sản phẩm quốc dân, trừ một sô rất ít trường hợp ngoại lệ – không bao giờ vượt quá 10% trong khi đối với các nước có nền kinh tế thị trường thì con số này thường từ 30 đến 45%.

Liên Xô chỉ thoát khỏi thế bị bao vây thương mại vào đầu những năm 30 do có cuộc Đại suy thoái kinh tế tại Mỹ và các nước Phương Tây khác. Vào giai đoạn này, tất cả các nước đều muốn buôn bán với Nước Nga Xô Viết để cứu nền kinh tế đang khủng hoảng của mình.

Như đã nói ở trên, vào thời gian này giới lãnh đạo Xô Viết cũng đã bắt đầu triển khai kế hoạch công nghiệp hóa – muốn thế phải mua trang thiết bị từ nước ngoài: năm 1931 tỷ lệ nhập khẩu máy và các trang thiết bị của Liên Xô chiếm 30 % thị trường nhập khẩu máy móc và trang bị thế giới, và vào năm 1932, – lên đến 50%.

Tuy nhiên, để nhập khẩu máy và trang thiết bị cũng như thuê chuyên gia để lắp đặt và vận hành, cần phải trả bằng ngoại tệ. Mặt hàng duy nhất mà Nước Nga Xô Viết có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ lúc đó là ngũ cốc. Cái giá phải trả cho “công nghiệp hóa” (xuất khẩu ngũ cốc để mua trang thiết bị) là nạn đói khủng khiếp vào đầu những năm 30.

Có thể nói, ở một chừng mực nhất định nào đó, “công nghiệp hóa” cùng những hệ lụy “tác dụng phụ” của nó chính là hậu quả gián tiếp từ chính sách cấm vận của các nước ANTANTA.

  1. 2Liên minh thương mại và cuộc chiến tranh dầu mỏ

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, Liên Xô bắt đầu tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại. Sự xuất hiện của các nước xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh đã dẫn tới việc thành lập một liên minh kinh tế mới kể từ thời điểm thành lập Liên Xô: Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV).

Nhờ tăng cường buôn bán giữa các nước thành viên và cả sự phân công lao động trong nội bộ SEV, liên minh này đã đảm bảo an toàn về kinh tế cho tất cả các nước thành viên trước những cú sốc về chính trị, kinh tế cùng các nguy cơ của một cuộc chiến tranh thương mại mới.

Từ thời điểm này, kinh tế đối ngoại của Liên Xô (xuất khẩu máy móc, trang bị và nguyên liệu để công nghiệp hóa các đồng minh, nhập khẩu hàng tiêu dùng và lương thực- thực phẩm) tập trung vào các nước xã hội chủ nghĩa và các nước thành viên SEV.

Trong những năm 50, 80% thu nhập từ ngoại thương của Liên Xô là từ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó 55% là với các nước thành viên khối SEV. Đến “triều đại” Khrushov, nền kinh tế Xô Viết có hai đặc điểm nổi bật: một mặt – đó là mối quan hệ thương mại với các nước Phương Tây mà trước hết là Mỹ được tăng cường. Mặt khác – đây cũng chính là thời kỳ mà nền nông nghiệp Xô Viết bắt đầu xu hướng đi xuống, trước hết là trong sản xuất ngũ cốc – dẫn tới tình trạng thiếu lương thực tại Liên Xô.

Liên Xô đã không thể giải quyết được tình trạng này cho đến tận khi sụp đổ và giới lãnh đạo Xô Viết buộc phải nhập khẩu một số lượng lớn ngũ cốc, và sau đó là các mặt hàng lương thực thực phẩm khác (Nga hiện nay cũng vậy).

Hơn nữa, việc nhập khẩu các mặt hàng này từ Mỹ, Canada và các nước Phương Tây khác được thực hiện trong những điều kiện ngặt nghèo không kém gì các cuộc chiến tranh thương mại.

(còn tiếp)

Nguồn: http://baodatviet.vn/the-gioi/quan-he-quoc-te/bai-hoc-dau-don-tu-lich-su-cho-nuoc-nga-3058577/

Lý do Putin kiềm chế trước các cuộc không kích Syria của phương Tây


Theo AP, trước quyết định khó khăn là đối đầu trực diện với Mỹ, Anh và Pháp hay “án binh bất động” để liên quân tấn công đồng minh của mình, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lựa chọn giải pháp “hòa bình”. Phản ứng khá thận trọng này có thể hủy hoại hình ảnh cứng rắn của nhà lãnh đạo Nga, song lại tránh gây tổn hại tới các thành quả mà ông đã đạt được ở Syria cũng như tới ảnh hưởng và uy tín ở trong nước.

Điện Kremlin từng cảnh báo Washington rằng Nga sẽ đáp trả mọi cuộc tấn công nhằm vào người Nga tại Syria, và phương Tây cũng tôn trọng “giới hạn đỏ” này khi thông báo trước cho nga về vụ tấn công vào rạng sáng 14/4, tương tự những gì từng diễn ra một năm trước khi Mỹ không kích một căn cứ không quân của Syria. Đối đầu có thể nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát, một kịch bản cực kỳ tồi tệ và thậm chí còn được so sánh với khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, khi thế giới tránh khỏi một cuộc xung đột hạt nhân chỉ trong “đường tơ kẽ tóc”.

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly nói: “Chúng tôi cam đoan rằng Nga đã được cảnh báo trước”. Trong khi đó, một quan chức cấp cao của Pháp cho biết Tổng thống Emmanuel Macron không trao đổi với người đồng cấp Putin về kế hoạch này khi hai bên có cuộc điện đàm hôm 13/4, song “các cơ chế giảm thiểu xung đột cụ thể” đã được triển khai, và “cả hai bên đều biết tình hình sẽ nhanh chóng có những biến chuyển mới”.

Quân đội Nga cho biết hệ thống phòng không tại 2 căn cứ của họ ở Syria đã phát hiện và theo dõi các tên lửa nhắm đến quốc gia Trung Đông này song không ngăn chặn chúng. Các trang mạng xã hội Nga ngày 14/4 liên tục nóng lên vì những bình luận chỉ trích Tổng thống Putin không bảo vệ đồng minh của mình. Trong khi đó, kênh truyền hình nhà nước chủ yếu tập trung vào việc lên án phương Tây lấy cớ vụ tấn công hóa học mà Moskva cho là có nhiều thông tin sai lệch.

Thực tế, sự kiểm soát chặt chẽ mà Kremlin áp đặt với truyền thông Nga sẽ giúp hình ảnh cứng rắn và mạnh mẽ mà Putin gây dựng tránh bị tổn hại. Thay vào đó, sự thận trọng này càng củng cố uy tín của ông trong bối cảnh có những lo ngại về nguy cơ chiến trnah mà Nga có thể bị sa lầy.

Trong những ngày gần đây, truyền thông nhà nước Nga liên tục đưa ra những lời khuyên về việc nên làm trong trường hợp nổ ra xung đột hạt nhân và những gì mà người dân cần mang theo vào hầm trú ẩn. Hầu hết người dân Nga hiện đều thở phào và cảm thấy biết ơn Putin vì đã đưa nước Nga tránh khỏi nguy cơ chiến tranh. Các kênh truyền hình chính thức còn so sánh thái độ kiềm chế và có trách nhiệm này với những hành động thiếu chín chắn của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Fyodor Lukyanov, Chủ tịch Hội đồng Chính sách Đối ngoại và Quốc phòng, một hiệp hội bao gồm nhiều chuyên gia về chính sách đối ngoại và an ninh của Nga, phát biểu trên kênh truyền hình nhà nước rằng cảnh báo của Nga về các đòn trả đũa “rõ ràng đã được Lầu Năm Góc biết tới và cuộc tấn công vừa qua là cố tình”.

Điện Kremlin cũng dùng cuộc khủng hoảng này để nhấn mạnh thêm quan điểm của mình rằng một phương Tây hung hăng đang đẩy thế giới đứng trước bất ổn và phớt lờ luật pháp quốc tế. Giới chức và các nhà lập pháp Nga so sánh tình hình hiện nay với cuộc xâm lược năm 2003 của Chính quyền Bush tiến hành tại Iraq, với cái cớ là những thông tin tình báo về việc Baghdad đang phát triển vũ khí hóa học – những cáo buộc hoàn toàn sai lầm. Nhiều nhà bình luận thậm chí còn phát biểu trên truyền hình rằng Trump và Thủ tướng Anh Theresa May tiến hành cuộc tiến công nhằm vào syria chỉ để chuyển hướng dư luận khỏi các bê bối chính trị trong nước.

Phản ứng của Tổng thống Putin cho đến nay mới chỉ giới hạn ở lời kêu gọi triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nga chưa nêu lên bất kỳ phương án quân sự nào, song Trung tướng Sergei Rudskoi, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nga, đã đưa ra một cảnh báo rõ ràng đối với Mỹ và các đồng minh rằng Moskva có thể sẽ triển khai thêm các khẩu đội tên lửa S-300 cho hệ thống phòng thủ có từ thời Xô viết tại Syria. Ông cũng lưu ý rằng Moskva cho đến nay vẫn tôn trọng yêu cầu của phương Tây về việc không cung cấp tên lửa cho Damascus song sau đây có thể Nga sẽ phải cân nhắc lại vấn đề này.

Ông Rudskoi cũng đe dọa rằng Moskva đang xem xét khả năng cung cấp các tên lửa tầm xa cho một số quốc gia khác, song không nói chi tiết. Trong số này rất có thể sẽ có Iran, nước từng được Nga trang bị các hệ thống S-300. Tuyên bố này rõ ràng là nhằm răn đe phương Tây về các cuộc tấn công khác nhằm vào Syria và gây ảnh hưởng tiêu cực tới những thành quả mà ông Assad giành được trên thực địa, nơi nhờ sự hỗ trợ của Nga, Chính quyền Damascus đã đảm bảo được quyền kiểm soát hầu hết các khu vực chiến lược.

Hãng tin Reuters bình luận: Cuộc tấn công rạng sáng 14/4 khiến dư luận có nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, dù Mỹ khoanh tay hành động, những nguy cơ sau đó cũng đều có lợi cho Nga. Các hoạt động triển khai quân của Mỹ tại vùng Địa Trung Hải, với tàu sân bay USS Harry S. Truman di chuyển từ vùng Norfolk, Virginia hồi tuần trước là minh chứng cho thấy phạm vi hoạt động của quân đội Mỹ vẫn vượt trội hơn hẳn so với Nga. Tuy nhiên, việc Mỹ phải có bước điều động này lại là dấu hiệu phản ánh rõ nét những lo ngại và yếu kém của Washington.

Cho đến nay, Nga vẫn chỉ có các tuyên bố mang tính lên án cuộc không kích mà Mỹ – Anh – Pháp vừa tiến hành. Nếu muốn trả đũa, Putin sẽ không dùng cách đối đầu trực diện mà thay vào đó là đáp trả trên các mặt trận khác, chẳng hạn như đẩy mạnh cuộc chiến tại Ukraine.

Điều mỉa mai là thỏa thuận Mỹ – Nga hiện nay lại được xem là tia hy vọng lớn nhất để ngăn chặn nguy cơ đối đầu giữa Iran và Israel leo thang căng thẳng tại Syria. Israel đã đẩy mạnh các cuộc tấn công nhằm vào những mục tiêu mà họ cho là của Iran ở Syria, trong khi Tehran không ngừng củng cố các lực lượng ủy nhiệm địa phương, cụ thể là Hamas và Hezbollah để tấn công nhà nước Do Thái. Để có thể đối thoại, Moskva và Washington cần phải giải quyết những bế tắc hiện nay, song mọi dấu hiệu lại cho thấy tương lai không mấy tươi sáng.

Cuộc can thiệp quân sự mà Nga tiến hành tại Syria vào năm 2015, cũng như các diễn biến tại Ukraine năm 2014 và tại Gruzia năm 2008 là những kế hoạch cho thấy khả năng tài tình của Nga trong việc đạt được các hiệu quả chiến lược quan trọng mà không phải tiêu tốn quá nhiều sức lực. Đối mặt với các kẻ thù, Moskva luôn dựa vào những đe dọa về ảnh hưởng và sức mạnh quân sự, nhất là năng lực hạt nhân. Trên mặt trận Syria, giới chức Nga không ngần ngại tuyên bố về nguy cơ nổ ra chiến tranh giữa các cường quốc hạt nhân, một nỗ lực không che giấu nhằm răn đe phương Tây.

Nga hiểu rằng mọi cuộc thảo luận về vũ khí hóa học và các bằng chứng bí mật sẽ khiến giới lãnh đạo và các cử tri phương Tây nhớ về các thông tin tình báo sai lệch liên quan tới vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Chính quyền Bush từng viện cớ để xâm lược Iraq. Các hãng truyền thông Nga đã nhiều lần so sánh hai sự kiện này, một bằng chứng cho thấy chiến tranh thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tổng thể của Nga. Một số nhà quan sát Kremlin thậm chí còn cho rằng Moskva kích động Trump và phương Tây tấn công Syria để khoét sâu thêm những mâu thuẫn nội bộ tại các nước phương Tây và hợp lý hóa các hành động tiếp theo của mình.

Nguồn: TKNB – 17/04/2018