Liệu Nga – Mỹ có rơi vào một cuộc chiến tranh?


Xét tới mối quan hệ đầy hiềm khích giữa Washington và Moskva, khả năng 2 cường quốc phải đối mặt với một cuộc đối đầu quân sự đang tăng lên.

Dmitri Simes, Chủ tịch kiêm giám đốc điều hành Trung tâm lợi ích quốc gia đã nói trong một cuộc họp nhóm vào giờ nghỉ trưa ngày 26/3: “Tôi không nghĩ nhiều người trong chúng ta sẽ đặt câu hỏi rằng liệu chúng ta có thực sự phải đối mặt với một cuộc chiến tranh lạnh mới không. Hiện nay, một cuộc chiến tranh lạnh mới có thể khác so với cuộc Chiến tranh Lạnh trước đây về nhiều khía cạnh. Trước hết là cán cân sức mạnh rất khác. Thứ hai là sự thiếu vắng một hệ tư tưởng quốc tế hấp dẫn ở phía Nga. Thứ ba, rõ ràng là Nga tiếp xúc với phương Tây nhiều hơn rất nhiều so với trong Chiến tranh Lạnh trước đây, nhưng tôi nghĩ rằng có thể ít có quy tắc và nhiều cảm xúc hơn ở cả hai phía và những tình cảm thù địch ngày càng tăng ở cả hai phía”.

Khả năng xảy ra một cuộc xung đột

Simes, người vừa trở về từ một chuyến công du đến Nga, đã nói rằng trong khi Kremlin không được Washington coi trọng, những cảm giác đó cũng xuất hiện ở Moskva. Quả thật, những căng thẳng giữa 2 cường quốc vũ trang hạt nhân cao tới mức các nhà phân tích công khai tự hỏi liệu có thể có một kiểu đối đầu quân sự nào đó giữa Washington và Moskva hay không. Được Simes yêu cầu đánh giá khả năng xảy ra bất cứ kiểu xung đột quân sự tiềm tàng nào (mặc dù không nhất thiết là một cuộc xung đột hạt nhân) ở Syria hoặc ở nơi khác trên thang điểm từ 1 – 10 – thang điểm 10 có nghĩa là một cuộc xung đột gần như chắc chắn xảy ra – một nhóm chuyên gia về Nga đã kết luận rằng rất có khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự giữa Washington và Moskva.

George Beebe, Giám đốc phụ trách các nghiên cứu về tình báo và an ninh quốc gia thuộc Trung tâm lợi ích quốc gia, nói với các cử tọa trong cuộc thảo luận nhóm vào giờ nghỉ trưa: “Tôi sẽ chấm 6 điểm. Tôi nghĩ rằng nó rất có khả năng, nhưng còn lâu mới chắc chắn. Mặc dù vậy, tôi nghĩ rằng 6 điểm – khi bạn đang nói về một cuộc đụng độ quân sự giữa hai cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới – là một mức độ rủi ro cao không thể chấp nhận được”.

Michael Kofinan, một nhà khoa học nghiên cứu thuộc Trung tâm phân tích hải quân, người cũng phát biểu trong buổi thảo luận nhóm tại Trung tâm lợi ích quốc gia, đã đồng ý rằng có nguy cơ thực sự xảy ra cuộc đối đầu quân sự giữa Nga và Mỹ. Kofinan đặt mức rủi ro ở thang điểm 6 hoặc 7. Kofinan nói: “Trong một thời gian dài chúng ta sẽ đi đến đó”.

Nếu có kiểu khủng hoảng nào đó liên quan đến cả Mỹ lẫn Nga, thì nguy cơ xảy ra cuộc đối đầu là rất cao. Kofinan nói: “Trong một cuộc khủng hoảng hoặc đối đầu, tôi nghĩ nó rất  có thể xảy ra. Những cuộc đối đầu này không xảy ra một cách đột ngột, trước tiên bạn phải có một cuộc khủng hoảng và sau đó người ta đưa ra những lựa chọn và những lựa chọn đó cuối cùng dẫn đến việc mọi người chĩa súng vào nhau”.

Paul Saunders, Giám đốc vận hành Trung tâm lợi ích quốc gia, người phát biểu cùng với Beebe và Kofinan, đã nói rằng ông không tin rằng một cuộc đối đầu quân sự với Nga là điều không thể tránh khỏi. Saunders đã đặt mức độ rủi ro ở mức khoảng 5 điểm, nhưng nói thêm rằng do các nguy cơ xảy ra một cuộc đối đầu hạt nhân tiềm tàng, đối với ông, điều đó là quá nguy hiểm. Saunders nói: “Tôi không nghĩ nó có nhiều khả năng xảy ra nhưng đối với tôi, tôi nghĩ rằng đó vẫn là một rủi ro không thể chấp nhận được”.

Putin đang ở vị thế mạnh

Trong khi nhiều người ở Washington tin rằng Nga sẽ nhượng bộ nếu Mỹ đối đầu với Kremlin, cuộc bầu cử tổng thống gần đây của Nga vào ngày 18/3 dường như cho thấy Tổng thống Nga Vladimir Putin nhận được sự ủy nhiệm của dân chúng lớn hơn nhiều so với nhiều nhà quan sát phương Tây có thể dự đoán. Như Beebe – cựu lãnh đạo nhóm nghiên cứu về Nga của Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) – lưu ý Putin đã thể hiện trong các cuộc bầu cử của Nga tốt hơn nhiều so với những gì các nhà phân tích dự đoán.

Beebe nói: “Về quyền lực chính trị, đây thực sự là một câu chuyện tin tức tốt dành cho Putin. Về cơ bản ông đã đạt được điểm tối ưu 70/70 mà Điện Kremlin đã dự đoán là mục tiêu của cuộc bầu cử. 70% cử tri đi bỏ phiếu và Putin giành được 70% trong tổng số phiếu bầu đó. Sự kiện thực tế hóa ra là có hơn 67% cử tri đi bỏ phiếu và hơn 76% trong số đó bỏ phiếu cho Putin.

Ông Simes đã lưu ý rằng ông Putin đã thể hiện tốt hơn mong đợi với các khu vực cử tri của Nga mà ông vẫn thường không làm tốt, chẳng hạn như ở Moskva và với người Nga sống ở nước ngoài. Một phần lý do giải thích tại sao Putin có thành tốt đến vậy là vì cuộc tấn công được cho là của Nga nhằm vào Skripal, do người dân Nga nói chung không tin rằng chính phủ của họ có dính líu đến việc đó.

Beebe nói rằng quả thực, những người Nga có tư tưởng tự do của Nga đã thất bại hết sức tồi tệ trong bầu cử ít nhất một phần là do ảnh hưởng của hiệu ứng “tập hợp dưới lá cờ”. Beebe đã lưu ý rằng một phần của vấn đề là cả Mỹ lẫn Anh đều không đưa ra được bằng chứng cụ thể cho thấy Nga đã thực hiện vụ tấn công. Thông tin được công khai là nguyên nhân gây nhiều người nghi ngờ rằng Nga đứng đằng sau vụ tấn công, tuy nhiên Beebe nói rằng đó không phải là bằng chứng. Ý tưởng rằng Nga đang bị các thế lực nước ngoài thù địch bao vây đã góp phần đáng kể vào tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao trong cuộc bầu cử ở Nga và dành sự ủng hộ lớn hơn cho Putin. Simes nói: “Tôi đã tham dự một bữa tiệc mừng hậu bầu cử dành cho các nhà báo, nơi có rất nhiều ở phe đối lập, các ứng cử viên, những người đại diện của họ, và tất cả họ đều nói rằng “chúng tôi đã đánh mất rất nhiều cử tri trong những ngày cuối cùng trước cuộc bầu cử vì vụ việc ở Anh”.

Hơn nữa, những nỗ lực của phương Tây nuôi dưỡng thế hệ trẻ của Nga đã chứng tỏ là một thất bại hoàn toàn. Saunders, cựu quan chức Bộ Ngoại giao, đã lưu ý rằng một phần trong những mục tiêu của Mỹ ở Nga vào những năm 1990 là lôi kéo được giới trẻ và tạo ra một sự thu hút đối với phương Tây. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra. Thanh niên Nga lớn lên trong thời kỳ tương đối thịnh vượng và vào thời điểm Putin bắt đầu khôi phục lại tầm vóc của Nga ở nước ngoài. Saunders nói: “Họ nằm trong số những người ủng hộ Putin nhất. Một phần không nhỏ là vì trong suốt quãng đời ngắn ngủi của họ, nói chung đó là một giai đoạn thịnh vượng và Nga có vai trò ngày càng lớn trong các vấn đề quốc tế”.

Beebe đã lưu ý rằng các cuộc bầu cử tổng thống Nga không phải là về việc lựa chọn ra một tổng thống mới – mà chắc chắn Putin sẽ giành chiến thắng – thay vào đó, đó là một thước đo quyền lực chính trị của tổng thống Nga. Mặc dù các cuộc bầu cử ở Nga không tự do và công bằng, nhưng mức độ sai thực tế là một dấu hiệu cho thấy chính phủ được lòng dân như thế nào. Beebe đã nói: “Theo tiêu chuẩn của Nga, cuộc bầu cử này là tương đối tự do nếu không muốn nói là thực sự công bằng. Đó là một cuộc bầu cử trên danh nghĩa, nhưng việc bỏ phiếu diễn ra tương đối tự do. Điều này cho mọi người thấy kết quả đã phản ánh đúng. Đây là một dấu hiệu tốt xét về mặt quyền lực chính trị đối với Putin”.

Cuộc đối thoại Melian của Nga

Với sự đảm bảo về quyền lực chính trị, Tổng thống Putin có thể chuyển sự chú ý của ông sang xây dựng lại nước Nga thành một nước lớn. Bài học mà Putin và giới tinh hoa của Điện Kremlin rút ra được từ sự sụp đổ của Liên Xô và sự hỗn loạn của những năm 1990 khi Moskva yếu kém là Nga phải mạnh mẽ. Beebe nói: “[Putin] nói rằng Nga cần phải mạnh mẽ. Nếu tôi nói giảm thành một câu, thì nó sẽ là “sự mạnh mẽ cho phép họ làm những gì họ muốn và sự yếu kém khiến họ phải chịu đựng những gì họ phải chịu”.

Beebe nói rằng vấn đề đối với Nga là có sự căng thẳng giữa các mục tiêu khác nhau của nước này. Để có một nền kinh tế vững mạnh, Kremlin phải nới lỏng sự kiểm soát xã hội, hành động này làm suy yếu sức mạnh của nhà nước. Nhưng một quân đội hùng mạnh đòi hỏi một nền kinh tế mạnh mẽ, có nghĩa là Nga sẽ phải thực hiện những cải cách đó. Và một quân đội hùng mạnh là một phần trong tự nhận thức của Nga là một nước lớn. Beebe nói: “Đó là sự cân bằng mà ông sẽ phải thực hiện và không có cách nào dễ dàng làm được điều đó”.

Beebe nói rằng trong bối cảnh của Nga, những yếu tố cạnh tranh nhau đó đang đẩy Putin hướng tới một lập trường dân tộc chủ nghĩa hơn, tập trung vào sức mạnh quân sự. Đổi lại, điều đó làm cho Nga trở nên đối đầu hơn. Như vậy, theo quan điểm của Kofinan, nếu có một kiểu khủng hoảng nào đó phát triển ở nơi Washington và Moskva đang đối đầu với nhau, người Nga không sẵn sàng ngoan ngoãn đứng sang một bên và làm theo ý muốn của Mỹ. Mặc dù Nga suy yếu ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, nhưng những ngày đó đã qua đi từ lâu.             Nga ngày nay, với quân đội hiện đại, tự tin hơn nhiều so với những năm 1990, sẵn sàng và khao khát đẩy lùi Mỹ.

Giải pháp của Kremlin

Kofinan mới đây đã lưu ý rằng Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Nga, Tướng Valery Gerasimov, đã cảnh báo Mỹ rằng Moskva sẽ trả đũa nếu lực lượng Mỹ ở Syria tấn công lực lượng của họ. Như Kofinan lưu ý, không như phần lớn các nhân vật chính trị Nga, Gerasimov không tạo ra những mối đe dọa vu vơ và ông nghiêm chỉnh thực hiện sự chỉ đạo của Tổng thống Nga Vladimir Putin. Kofinan nói: “Khi Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Nga nói điều gì đó, bạn phải lắng nghe bởi vì có người bảo ông ấy nói như vậy”.

Do đó, sẽ là sai lầm khi cho rằng Điện Kremlin chỉ đơn giản là cúi đầu trước Mỹ khi tình hình xấu đi như nhiều người ở Washington có xu hướng cho là vậy – căn cứ vào kinh nghiệm của họ trong việc đối phó với một nước Nga yếu kém vào đầu những năm 1990. Kofinan nói: “Người Nga khá tự tin với địa vị của họ và họ thực sự muốn đẩy lùi và họ phải thực hiện thêm các bước đi để duy trì sự đối đầu. Người Mỹ rất hiếu chiến – họ cũng muốn gây áp lực cho Nga và đẩy lùi theo những cách khác nhau và đó là một hệ thống tự duy trì, nơi nó cơ bản là một vòng tuần hoàn lặp đi lặp lại”.

Quên đi những bài học của Chiến tranh Lạnh

Và trong đó tiềm ẩn nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột với một nước Nga vũ trang hạt nhân. Như Kofinan đã lưu ý, cộng đồng an ninh quốc gia Washington phần lớn đã quên mất các khái niệm răn đe hạt nhân và quản lý đối đầu với một đối thủ vũ trang hạt nhân trong Chiến tranh Lạnh. Trong hơn 25 năm qua, Washington đã quen với một thế giới không có các thách thức nước lớn và mối đe dọa thực sự duy nhất xuất phát từ chủ nghĩa khủng bố.

Kofinan nói: “Mọi người có những quan điểm thiếu chín chắn về cuộc đối đầu nước lớn ở đây. Trong thực tế, rất nhiều người thậm chí còn không hiểu rõ chiến lược và sự răn đe hạt nhân nữa và cả những động lực gây leo thang. Và bạn có thể nói qua các cuộc trò chuyện – chúng tôi từng ở trong trò chơi khủng bố/chống nổi dậy quá lâu và mọi người không hiểu họ đang đối đầu với cái gì ở cấp cao. Tôi nghe việc đó suốt. Đó tất cả là một công thức cho sự tương tác kiểu những năm 1950 – 1960 với một nước lớn khác”.

Quả thật, có lẽ cần phải có một phiên bản mới của Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 thì một bộ máy chính sách đối ngoại của Mỹ mới nắm bắt được đầy đủ việc đối đầu với một cường quốc vũ trang hạt nhân có thể nguy hiểm như thế nào. Kofinan nói: “Tôi ghét phải nói điều này, nhưng đó có lẽ là một điều đúng đắn. Tôi thực sự nghĩ rằng việc có cuộc khủng hoảng như vậy có thể là một việc tốt để mọi người trưởng thành”.

Nguồn: The National Interest

TLTKĐB  05/05/2018

Advertisements

Về tam giác Mỹ – Châu Âu – Nga – Phần cuối


5/ Sự trở lại của nước Nga toàn cầu

Một đặc tính then chốt khác của cuộc đối đầu mới giữa Nga và phương Tây kết hợp các yếu tố cũ và mới là những tham vọng và tầm với ngày càng mang tính toàn cầu của chính sách đối ngoại của Nga. Đã qua rồi những ngày mà các nguồn năng lượng của Nga gần như chỉ tập trung vào việc bảo tồn tàn dư của đế chế cũ dưới danh nghĩa “phạm vi lợi ích đặc quyền”. Sự cạnh tranh giữa Nga và phương Tây giờ đây mang tính toàn cầu.

Vai trò của Nga là một “quốc gia không thể thiếu” ở Trung Đông giờ được chấp nhận rộng rãi là một sự thật. Sự can thiệp quân sự vào Syria bắt đầu vào năm 2015 và vai trò mang tính quyết định mà họ nắm giữ trong việc làm thay đổi chiều hướng của cuộc nội chiến Syria đã đặt Nga vào vị trí là bên tham gia chủ chốt không chỉ trong cuộc xung đột đó mà còn trong bối cảnh Trung Đông rộng lớn hơn. Kể từ đó, Nga đã tham gia các hoạt động ngoại giao tích cực trên toàn khu vực vịnh Perisa, tiến hành một cuộc tập trận quân sự chung với Ai Cập, và tự đặt mình vào vị trí là một trong các bên trung gian thích hợp trong bất cứ giải pháp tương lai nào ở Libya. Có tất cả điều đó trong khi nước này cũng có quan hệ với Israel mà các nhà quan sát gần gũi cho rằng đó là tốt nhất từ trước đến nay.

Có thể nhìn thấy bằng chứng của các tham vọng và tầm với của Nga ở Venezuela, nơi mà Rosneft đang bận thực hiện các thỏa thuận và cứu giúp Chính quyền Maduro. Ở Nam Phi, tập đoàn năng lượng hạt nhân độc quyền thuộc sở hữu của nhà nước Nga Roastom đã ký một hợp đồng lớn với Chính quyền Zuma để xây dựng một loạt nhà máy điện hạt nhân. Ở Mexico, những cáo buộc về việc Nga can thiệp vào chiến dịch tranh cử trong cuộc bầu cử tổng thống ngày 1/7 đã làm dấy lên những quan ngại về việc Andres Manuel Lopez Obrador bị cáo buộc có quan hệ với Moskva.

Sự can thiệp của Nga vào chính trị nội bộ của nhiều nước châu Âu và Mỹ đã trở thành mối quan ngại chung của các quan chức ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương. Theo quan điểm của nhiều quan chức Nga mà từ lâu đã cáo buộc Mỹ can thiệp vào chính trị Nga, việc Nga can thiệp vào chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016, cũng như các hoạt động bị nghi ngờ trong cuộc bỏ phiếu cho Brexit, trong cuộc bầu cử tổng thống Pháp, trong cuộc trưng cầu dân ý về độc lập của Catalunya… là điều hoàn toàn bình thường – gậy ông đập lưng ông. Đó cũng khó có thể là một hiện tượng mới, giống như việc những giai đoạn trước đó, trong Chiến tranh Lạnh, đầy tin đồn về các điệp vụ cộng sản và “nỗi sợ cộng sản” Sự mới mẻ của tình hình hiện tại chủ yếu nằm ở các công cụ mới và có sức mạnh lớn hơn nhiều do công nghệ tạo ra để các điệp viên nhà nước Nga có thể tùy ý sử dụng và ở tầm với của họ như là kết quả của điều đó.

6/ Phương Tây và Nga từ đây sẽ đi về đâu?

Tình trạng hiện tại giữa Nga và phương Tây còn kéo dài. Đó là sản phẩm của một vài nhân tố cấu trúc quan trọng, kinh nghiệm cá nhân của những người ra quyết định then chốt, và di sản của các giai đoạn trước đó. Việc trông mong Nga thay đổi chính sách của họ dưới sức ép của những khó khăn về kinh tế khó có thể là một đề xuất mang tính thực tế – tiền tệ của Nga mất đi một nửa giá trị của nó trong năm 2014 – 2015, và Điện Kremlin chỉ tăng cường các hoạt động của họ ở Trung Đông, châu Âu và Mỹ.

Điều cũng khó có thể xảy ra là triển vọng về sự thay đổi nội bộ của Nga. Các chính sách nhằm khuyến khích điều này hay việc trông mong điều đó xảy ra có khả năng sẽ gây thất vọng và tổn hại. Trong khi điều này ngày càng đúng thì theo lời của một nhà ngoại giao cấp cao của Mỹ, phương Tây nên ngừng đối xử với Nga như một dự án cải cách.

Cả Nga và phương Tây đều không bằng lòng với nguyên trạng. Cả Nga và phương Tây đều không hứng thú với việc leo thang căng thẳng. Nhưng cả hai đều không sẵn sàng rút lui. Tình trạng này quả thực gợi nhớ đến Chiến Tranh Lạnh. Có lẽ một số bài học từ Chiến tranh Lạnh có thể tỏ ra thích hợp đối với việc quản lý mối quan hệ này.

Đứng đầu danh sách là một số biện pháp dự phòng quen thuộc nhưng quan trọng: chấp nhận tình trạng này và sự cần thiếp phải kiểm soát nó, thay vì cố gắng giải quyết nó bắt đầu từ những giả định phi thực tế; duy trì các kênh liên lạc; tránh những sự hiểu lầm; thực hiện mọi nỗ lực để hiểu rõ những động lực thúc đẩy của bên kia và những động cơ đằng sau các hành động của họ, kể cả những sự kiện dường như không liên quan.

Các bài học khác từ Chiến tranh Lạnh bao gồm việc chắc chắn rằng không ai ở cả hai bên đường biên giới Đông – Tây có bất kỳ nghi ngờ nào về độ tin cậy của biện pháp răn đe và cam kết của NATO về việc bảo vệ các nước láng giềng của mình. Điều này đòi hỏi phải có một nỗ lực mới, mạnh mẽ khiến liên minh này suy nghĩ lại về những gì họ cần làm để ngăn chặn một đối thủ ở nhiều lĩnh vực, thúc đẩy giới hạn của sự sáng tạo và tận dụng triệt để lợi thế công nghệ mà họ có được và sẵn sàng duy trì nó trong tương lai gần.

Một bài học có liên quan từ kỷ nguyên Chiến tranh Lạnh là tính hữu dụng, thậm chí là sự cần thiết, của các giải pháp hai lộ trình: sự vững vàng, quyết tâm và độ tin cậy của cam kết bảo vệ và ngăn chặn cần phải được kết hợp với một cánh cửa để ngỏ cho đàm phán. Điều này đòi hỏi các đồng minh phải nhận biết được các mục tiêu ở cuối cả hai lộ trình và các cách tiếp cận chính sách nhằm đạt được các mục tiêu đó theo một cách mang tính bổ sung, chứ không phải mâu thuẫn nhau.

Điều cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, một trong những bài học quan trọng nhất từ Chiến tranh Lạnh có liên quan đến khả năng các đồng minh có tiếng nói chung và duy trì sự nhất trí giữa họ. Có thể lập luận rằng điều này là một trong những thách thức lớn nhất mà liên minh xuyên Đại Tây Dương đang phải đối mặt hiện nay. Theo lời của Carl Bildt, “hóa ra vấn đề then chốt nhất đối với EU hiện nay không phải là chính sách của Nga mà là chính sách của Trump. Đó có lẽ cũng là thách thức số 1 về chính sách đối ngoại mà chúng ta phải đối mặt hiện nay”. Việc giải quyết nó cũng quan trọng như việc giải quyết thách thức của Nga.

Nguồn: Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế (Italy) – 12/07/2018

TLTKĐB – 10/08/2018

Về tam giác Mỹ – Châu Âu – Nga – Phần III


2/ Trạng thái bình thường sau năm 2014

Với việc trở lại tình trạng cạnh tranh và đối đầu, mối quan hệ giữa Nga và phương Tây một lần nữa trở về mô hình quen thuộc điển hình cho những tương tác của họ trong phần lớn thế kỷ 20. Tuy nhiên, cùng với những gì quen thuộc, mối quan hệ sau năm 2014 có một số đặc tính mới quan trọng, vốn là kết quả của những thay đổi trong 1/4 thế kỷ trước.

3/ Di sản của năm 1991

Nhóm các nhà lãnh đạo Nga đi theo Putin có thể được miêu tả một cách công bằng là “thế hệ năm 1991”. Đường đời của tổng thống Nga khá là điển hình cho (gần như toàn bộ) những người hiện giờ chịu trách nhiệm về nước Nga. Sinh năm 1952 trong một gia đình mà bố mẹ đều thuộc “thế hệ vĩ đại nhất” của Liên Xô, được nuôi dưỡng trong những điều kiện hết sức bình thường, được nhà nước Liên Xô đào tạo, được tạo cơ hội theo đuổi một sự nghiệp danh giá, Putin bước vào tuổi 39 khi mọi thứ xung quanh ông sụp đổ. Nhà nước, tư tưởng mà ông phụng sự, sự nghiệp mà ông tự hào – tất cả những thứ đó gần như trong chốc lát đã biến mất, và đất nước với những gì còn sót lại rơi vào một loạt khủng hoảng chính trị và kinh tế dường như vô tận. Đối với những người được nuôi dưỡng với những ký ức về cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại vây quanh mình hàng ngày, sự tàn phá của những năm 1990, mà một số nhà kinh tế học đã so sánh với sự tàn phá của cuộc chiến tranh, có lẽ là lý do khiến nó được nhắc đến như là “một thảm họa địa chính trị lớn của thế kỷ 20”.

Nhưng năm 1991 không phải là hồi kết cho những rắc rối của đất nước này. Toàn bộ thập niên 90 của thế kỷ 20 được đánh dấu bởi tình trạng hỗn loạn, khi sự tồn tại của Liên bang Nga bị nghi ngờ. Cuộc chiến ở Chechnya, sự xuất hiện của các chính quyền khu vực hùng mạnh ở những nơi như Tatarstan và Moskva được điều hành bởi các thủ lĩnh địa phương như các lãnh chúa phong kiến, và việc một nhóm doanh nhân trở nên giàu có một cách khó tin trong những hoàn cảnh u ám nhất thực thi trái pháp luật chức năng chính của nhà nước – tất cả những điều đó hẳn là có ảnh hưởng sâu sắc đến thái độ của cả một thế hệ công chức của nhà nước Liên Xô, cường quốc vĩ đại đã sụp đổ mà gần như không có bất kỳ một cảnh báo nào.

Theo quan điểm của các nhà lãnh đạo Nga hiện nay, sự yếu kém trong nước đã được thể hiện ra ở sự rút lui đầy nhục nhã khỏi vũ đài quốc tế và một sự xem xét lại một cách căn bản tình hình an ninh của Nga. Được nuôi dạy trong giới chi phối an ninh Liên Xô với quan điểm thù địch của họ về phương Tây, các nhà lãnh đạo Nga hiện nay đã không từ bỏ không chỉ nhiều tiền đồn xa xôi, như Cuba, mà cả các vành đai bảo vệ bên ngoài và bên trong của đế chế này – một tình thế mà Nga chưa từng gặp phải kể từ trước giai đoạn trị vì của Peter Đại đế. Quyết định của NATO vào năm 1979 triển khai tên lửa Pershing II và tên lửa hành trình phóng từ mặt đất (GLCM) ở Tây Âu đã gây ra cuộc khủng hoảng lớn nhất trong quan hệ Đông – Tây kể từ cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba vì nó gây nguy hiểm cho các tài sản then chốt bên trong Liên Xô. Với sự chấm dứt Hiệp ước Vacsava và sự tan rã của Liên Xô, mối đe dọa đó giờ nằm trong phạm vi 400 km tính từ Moskva.

Trải nghiệm – trước và sau năm 1991 – đó đã định hình thế giới quan của thế hệ các nhà lãnh đạo Nga hiện nay. Nếu thế giới quan đó thấm nhuần quan điểm được mất ngang nhau, thì điều đó cũng có thể hiểu được trong bối cảnh những năm 1990. Mỹ và châu Âu đã phát triển thịnh vượng trong thập niên đó, trong khi Nga gần như sụp đổ, và phương Tây reo mừng. Khi Nga hồi phục vào những năm 2000, phương Tây có cái nhìn bi quan về nước này và kể từ đó phản đối việc nước này trở lại hàng ngũ các nước lớn. Nếu châu Âu và Mỹ yêu cầu phải có các kiểu thay đổi trong nước mà đã gây ra tình trạng hỗn loạn trong những năm 1990, để đổi lấy mối quan hệ tốt đẹp với họ, thì không có lý do gì để cố gắng. Như Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov lập luận mới đây, trải nghiệm của Nga với phương Tây có tính thách thức nhiều hơn là việc phải sống dưới ách áp bức của Mông Cổ. Mông Cổ, không như phương Tây, luôn để Nga xoay xở với công việc nội bộ của riêng mình.

Thế giới quan này không phải là một giai đoạn thoáng qua đối với những nhà điều hành nước Nga. Putin vừa mới đắc cử cho một nhiệm kỳ 6 năm nữa và có mọi lý do để cho rằng ông có thể vẫn giữ vai trò lãnh đạo sau năm 2024. Ông đang đưa những gương mặt mới, trẻ trung hơn vào những cấp bậc cao hơn trên trục dọc quyền lực, nhưng không có lý do nào để tin rằng những người này – trong đó có một vài người là nữ – có thế giới quan khác với thế hệ sắp lần lượt nghỉ hưu. Họ đã trải qua sự tàn phá của những năm 1990, sự hồi phục của những năm 2000, sự tan vỡ của mối quan hệ với phương Tây kể từ năm 2014, và sự thành công của Crimea và Syria. Tại sao tâm lý vây hãm, được mất ngang nhau đang thịnh hànhg sẽ lại nhường chỗ cho một quan điểm khác?

4/ Đặc điểm địa lý của tình trạng an ninh (bất ổn) NATO – Nga

Trong khi di sản tâm lý và cách tiếp cận của Liên Xô đối với phương Tây là một yếu tố mang tính liên tục trong mối quan hệ của Nga với châu Âu và Mỹ, thì đặc điểm địa lý của quan hệ Nga – NATO lại là một đặc tính then chốt, thậm chí có lẽ là đặc tính then chốt mới và rất mang tính hệ lụy, của mối quan hệ này. Cựu Chủ tịch Hạ viện Mỹ Newt Gringrich đã có nhận xét được nhiều người biết đến trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016 rằng “Estonia thuộc khu vực ngoại ô của St. Petersburg”. Quả thực, thành phố quan trọng thứ hai của Nga, thủ đô thứ hai của nước này, cách biên giớiv ới NATO chưa đầy 200 km. Mặc dù Estonia sẽ không bao giờ có khả năng xâm lược Nga, và dường như việc Nga xâm lược nước láng giềng vùng Baltic của mình cũng là sự kiện khó có thể xảy ra, nhưng đặc điểm địa lý sau sự mở rộng NATO đã dẫn đến những nhận thức về mối đe dọa cơ bản là mới ở cả hai bên đường biên giới.

Trong 4 năm qua, kể từ khi Nga sáp nhập Crimea, NATO đã bị mắc kẹt với nhiệm vụ khó khăn là bảo vệ các nước láng giềng Baltic của Nga trước một loạt mối đe dọa đa hình thái, cũng như thông thường. Quy mô, sự gần gũi với Nga và các tuyến liên lạc của những nước này đã tạo thành một nguồn chính dễ gây tổn thương cho liên minh này.

Ở phía bên kia đường biên giới, thống đốc của St. Petersburg đã cảnh báo với cư dân thành phố rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh, chính quyền sẽ phải đành chia khẩu phần bánh mỳ và các thực phẩm khác. St. Petersburg, hay Leningrad, là thành phố đã phải chịu cảnh bao vây trong vòng 1000 ngày trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại khi mà hàng trăm nghìn cư dân thành phố chết vì đói.

Đặc điểm địa lý mới của quan hệ NATO – Nga, vốn là kết quả của việc mở rộng được tiến hành với niềm tin rằng mọi thứ sẽ không bao giờ dẫn đến điều này, có nghĩa là khi máy bay NATO tiến hành các cuộc tuần tra thông thường trên không trong không phận quốc tế phía trên khu vực Baltic và thực thi quyền tự do hàng hải của họ trong vùng biển quốc tế ở đó, họ đang di chuyển trên không và trên biển trong những điều kiện có thể so sánh với việc máy bay và tàu thuyền của Nga di chuyển giữa Cuba và Florida. Sự xuất hiện của một tàu thu thập tin tức tình báo của Nga cách bờ biển Bắc Carolina 100 hải lý vào đầu năm 2018 là nguyên nhân gây quan ngại ở mức độ nào đó ở Mỹ.

Việc Nga quấy nhiễu máy bay và tàu thuyền của Mỹ tại khu vực Baltic và Biển Đen là hành động nguy hiểm và vô trách nhiệm, và có thể dẫn đến bi kịch. Nhưng đó không phải là sự tình cờ mà là sự phản ánh tình trạng bất an sâu sắc dọc biên giới NATO – Nga.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế (Italy) – 12/07/2018

TLTKĐB – 10/08/2018

Về tam giác Mỹ – Châu Âu – Nga – Phần II


Trong lĩnh vực đối ngoại, Nga cũng đi theo một con đường khác với phần còn lại của châu Âu. Nước này nhiều lần đưa ra tuyên bố rằng họ giữ một vai trò đặc biệt trong số các nước thuộc Liên Xô trước đây và có quyền kiểm soát đối với chính sách đối ngoại của các nước láng giềng. Họ can thiệp về mặt quân sự vào một số cuộc xung đột trong khu vực xung quanh khu vực ngoại vi của mình, đáng chú ý nhất là ở Gruzia. Giới chức Nga phản đối sự can thiệp của phương Tây vào khu vực Balkan và suýt gây ra một cuộc đối đầu quân sự hoàn toàn với NATO trrong chiến dịch Kosovo năm 1999.

Những phản đối của Nga về trật tự an ninh mới ở châu Âu – Đại Tây Dương tập trung vào 3 hiện tượng. Trước tiên là sự mở rộng NATO, vốn được các nhà lãnh đạo phương Tây coi là một nỗ lực nhằm mở rộng khu vực ổn định và an ninh về phía Đông và mang lại cho các quốc gia mới được tự do ở Trung Âu và Đông Âu một khuôn khổ an ninh khả thi nhằm ngăn chặn sự xuất hiện của những xung đột mới ở một khu vực vốn đã chứng kiến quá nhiều cuộc xung đột. Mục đích của việc mở rộng được tuyên bố không phải là để đe dọa nước Nga. Việc hủy bỏ các năng lực tấn công quân sự của liên minh này, nhấn mạnh các sứ mệnh bên ngoài khu vực, các hoạt động gìn giữ hòa bình và sau đó, sự kiện 11/9, là chiến tranh viễn chinh đã củng cố quan điểm đó. Xét ở nhiều phương diện, NATO đã trở thành phương tiện thúc đẩy các giá trị chung của phương Tây trong các Hiệp ước Vacsava và ở các nước thuộc Liên Xô trước đây, sự cai trị dân chủ, và các mô hình quan hệ dân sự – quân sự của phương Tây. Theo quan điểm của một số nhà quan sát khi đó, NATO không còn là một liên minh quân sự.

Tuy nhiên, giới chức Nga chủ yếu vẫn nhìn nhận sự mở rộng NATO là một động thái địa chính trị do Mỹ lãnh đạo, một sự chiếm đoạt đất đai nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của phương Tây đến tận biên giới nước Nga và hạ thấp vai trò của nước này trong các vấn đề an ninh của châu Âu bằng cách lợi dụng điểm yếu của họ. Giới chức Nga diễn giải đó là một động thái thù địch không phải hướng đến Nga mà là chống lại Nga.

Những quan ngại của Nga không phải là không có căn cứ. Chính liên minh này cũng nước đôi về việc mở rộng. Trong khi nhấn mạnh tính chất không đe dọa của việc mở rộng, các nhà lãnh đạo NATO này cũng thừa nhận khía cạnh phòng thủ của liên minh này  trong trường hợp cuộc thử nghiệm dân chủ của Nga thất bại và nước này quay trở lại quá khứ hung hăng, theo chủ nghĩa bành trướng của họ. Cũng có sự khác biệt đáng kể giữa các thành viên cũ và mới của NATO và những nước mong muốn gia nhập liên minh này. Các thành viên cũ của NATO có xu hướng giảm đến mức tối thiểu khía cạnh phòng ngừa của sự mở rộng và hợp lý hóa nó như là một bước mà họ hy vọng cuối cùng thì Nga cũng sẽ chấp thuận và chào đón khi nước này trở thành thành viên NATO và những nước muốn gia nhập liên minh này nhìn nhận sự mở rộng là cơ hội để núp dưới chiếc ô bảo vệ của nó nhằm đảm bảo an ninh cho mình trước mối đe dọa của Nga mà họ tin chắc cuối cùng sẽ xuất hiện trở lại.

Lập luận về việc các năng lực quân sự cho chiến tranh thông thường của liên minh này đang suy yếu hầu như không có sức hút đối với giới chức Nga sau khi diễn ra cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất và chiến dịch Kosovo. Hai cuộc chiến này đã chứng tỏ với giới chức Nga rằng NATO vẫn có sức mạnh quân sự ấn tượng và công nghệ vượt trội đặc biệt là khi so sánh với các lực lượng vũ trang của Nga mà sự suy thoái của họ thể hiện rõ trong chiến dịch thảm họa ở Chechnya.

Tóm lại, nhận định rằng Nga sẽ thay đổi và sự cắt giảm năng lực quân sự của NATO có nghĩa rằng sự mở rộng về phía Đông của liên minh này là dựa trên hy vọng. Đó là hy vọng rằng nguy cơ xung đột quân sự Đông – Tây hoàn toàn là chuyện của quá khứ.

Hiện tượng thứ hai là sự mở rộng EU. Trong một thời gian dài, những phản đối của Nga tập trung vào sự mở rộng NATO coi đó như một nguồn gây ra mối đe dọa quân sự gần sát khu vực trung tâm của Nga. Ngược lại, tiến trình mở rộng EU không vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Nga mặc dù không được Moskva chào đón, và những quan ngại của nước này dường như giới hạn chủ yếu ở lĩnh vực thương mại và quyền tiếp cận thị trường ở những nước thành viên mới của EU. Thái độ đó dường như không thay đổi đáng kể ngay cả sau khi diễn ra cuộc chiến tranh với Gruzia vào năm 2008, đặc biệt là khi báo cáo theo yêu cầu của EU về cuộc chiến này đổ lỗi một phần cho Chính phủ Gruzia.

Thái độ của Nga trước EU đã trở nên cứng rắn với việc Vladimir Putin trở lại chức vụ tổng thống vào năm 2012. Điều này diễn ra sau một giai đoạn hỗn loạn của chính trị nội bộ nước Nga được đánh dấu bằng các cuộc biểu tình quy mô lớn chống lại những vi phạm trong cuộc bầu cử và sự trở lại của Putin. Châu Âu và Mỹ được Moskva nhìn nhận là ủng hộ các cuộc biểu tình chống Putin và phản đối việc ông tái đắc cử tổng thống Nga. Nhiệm kỳ tổng thống lần thứ ba của Putin được đánh dấu bằng bất đồng gia tăng với châu Âu. Điện Kremlin đã phát động một chiến dịch tuyên truyền nhấn mạnh những khác biệt về văn hóa giữa Nga và châu Âu, khoảng cách giữa các giá trị truyền thống của Nga và các thông lệ theo chủ nghĩa khoái lạc và các giá trị chống lại gia đình của châu Âu đe dọa làm suy đồi nước Nga.

Đi kèm với sự bất đồng về ý thức hệ là căng thẳng địa chính trị ngày một gia tăng giữa Nga và EU. Những tuyên bố của Nga về “phạm vi lợi ích đặc quyền” xung quanh khu vực ngoại vi của họ cạnh tranh trực tiếp với Chính sách vùng lân cận và đặc biệt là Quan hệ đối tác phương Đông của EU được đưa ra vào năm 2009. Sáu nước Đông Âu mà EU tuyên bố là thuộc vùng lân cân của họ – Armenia, Azerbaijan, Belarus, Gruzia, Moldova và Ukraine – cũng được Nga nhìn nhận là thuộc vùng lân cận của nước này. Quan hệ đối tác phương Đông được thiết kế nhằm thiết lập quan hệ bền vững hơn với 6 nước này rõ àng cạnh tranh với khái niệm của Điện Kremlin về “phạm vi đặc quyền”. Cuộc khủng hoảng Ukraine diễn ra vào năm 2013 – 2014 và sáp nhập Crimea trở thành đỉnh điểm của sự cạnh tranh đó và đánh dấu một bước ngoặt lớn, thậm chí là điểm bùng phát, trong mối quan hệ giữa Nga và EU.

Hiện tượng thứ ba vấp phải sự phản đối dữ dội từ phía Nga là vai trò nổi trội của phương Tây nói chung và của Mỹ nói riêng trên vũ đài quốc tế. Sự phản đối đối với “thế giới một cực” do Mỹ dẫn đầu đã trở thành chủ đề trung tâm của chính sách đối ngoại vào giữa những năm 1990 và tiếp tục cho đến ngày nay. Sự mở rộng NATO, chiến dịch quân sự ở khu vực Balkan, các nỗ lực của Mỹ nhằm thúc đẩy sự cai trị dân chủ, đặc biệt ở các nước thuộc Liên Xô trước đây và ở Nga, việc lật đổ chế độ Saddam Hussein và sự xâm chiếm Iraq, cũng như việc Mỹ ủng hộ Mùa xuân Arab và chiến dịch Libya đã được giới chức Nga diễn giải là những biểu hiện của chủ nghĩa đơn phương, những mưu cầu địa chính trị và mong muốn bá quyền của Mỹ. Giới chức Nga giữ quan điểm rằng ý tưởng về một trật tự an ninh dựa trên các giá trị là không thể chấp nhận được đối với họ, vì những giá trị đó là do Washington và Brussels xác định và hầu như không dành cho Nga một không gian nào để có tiếng nói trong tiếng trình đó trừ phi nước này chấp nhận các giá trị của họ.

Nga đã yếu đến mức không thể tích cực chống lại trật tự an ninh châu Âu – Đại Tây Dương do Mỹ chi phối trong những năm 1990. Nhưng khi nền kinh tế này được cải thiện và tình hình chính trị nội bộ của họ được ổn định vào những năm 2000, họ đã khôi phục khả năng chống lại trật tự đó. Mặc dù có một số giai đoạn đáng chú ý Nga tìm cách nối lại tình hữu nghị với Mỹ và châu Âu, như việc Vladimir Putin chìa tay ra với Chính quyền Bush vào đầu nhiệm kỳ của mình và nỗ lực bất thành của Dmitry Medvedev trong việc khởi động lại mối quan hệ với Chính quyền Obama, nhưng quỹ đạo đang thịnh hành trong mối quan hệ của Nga với phương Tây hướng tới sự bất hòa trong điều kiện tốt nhất và sự đối đầu trong điều kiện xấu nhất.

Những cột mốc then chốt trên quỹ đạo của mối quan hệ giữa Nga với Mỹ và châu Âu là bài phát biểu của Putin tại Hội nghị an ninh Munich năm 2007, trong đó ông cảnh báo Mỹ và châu Âu không nên mở rộng NATO; cuộc chiến năm 2008 với Gruzia; và việc sáp nhập Crimea vào năm 2014 và cuộc chiến không công khai ở miền Đông Ukraine. Những điểm tiêu cực trên quỹ đạo đó nhiều hơn hẳn so với những điểm tích cực. Việc sáp nhập Crimea báo hiệu rằng khi theo đuổi các tham vọng địa chính trị của mình, Nga sẵn sàng phá vỡ không chỉ trật tự an ninh sau Chiến tranh Lạnh ở châu Âu mà cả những dàn xếp sau Chiến tranh thế giới thứ hai bằng việc sáp nhập một phần lãnh thổ của một nước láng giềng. Giai đoạn để hy vọng rằng Nga sẽ thay đổi đã đến hồi kết thúc.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế (Italy) – 12/07/2018

TLTKĐB – 10/08/2018

Về tam giác Mỹ – Châu Âu – Nga – Phần I


Tóm tắt

Quan hệ của Nga với châu Âu và Mỹ đang trong tình trạng tồi tệ nhất kể từ khi Liên Xô tan rã. Các nhà lãnh đạo Nga bác bỏ tầm nhìn sau Chiến tranh Lạnh về một châu Âu thống nhất, tự do, hòa thuận với nhau và với các nước láng giềng, nhìn nhận Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) như một mối nguy hiểm và ngày càng coi Liên minh châu Âu (EU) là mối đe dọa đối với hệ thống chính trị của Nga. Điều này không thể thay đổi nhanh chóng. Thế giới quan bài phương Tây của bộ máy an ninh quốc gia Nga, sự gần gũi của tuyến liên lạc NATO – Nga đối với khu vực trung tâm của Nga, và thái độ quyết đoán gần đây của Nga ở nhiều khu vực xa xôi của thế giới góp phần vào bầu không khí căng thẳng gai tăng giữa Nga với châu Âu và Mỹ. Tuy nhiên, điều này có lẽ không phải là thách thức lớn nhất mà phương Tây đang phải đối mặt. Trong kỷ nguyên của Trump, thách thức đó có thể đến từ bên trong, chứ không phải bên ngoài, liên minh phương Tây.

Giới thiệu

Năm 2014 nằm trong một chuỗi bước ngoặt lịch sử gần đây, cùng với năm 1989, 1991 và 2001. Nó đánh dấu sự kết thúc của một thời kỳ có ý nghĩa mà trong đó phương Tây đã nỗ lực xây dựng một mối quan hệ mang tính kiến tạo và hợp tác giữa phương Tây và Nga. Nỗ lực đó tỏ ra không thành công, và năm 2014 – năm Nga sáp nhập Crimea – trở thành năm mà châu Âu chính thức quay trở lại cuộc đối đầu và cạnh tranh địa chính trị. Môi trường mới sau năm 2014 không có một số yếu tố then chốt của Chiến tranh Lạnh, như sự tồn tại của quân đội thường trực quy mô lớn sẵn sàng tấn công hoặc đẩy lùi một cuộc xâm lược. Nhưng nó có chung một số đặc điểm quan trọng với Chiến tranh Lạnh, như tình hình căng thẳng dọc tuyến liên lạc và sự đối đầu về ý thức hệ giữa Nga và phương Tây.

Nhiều nơi ở cả hai bờ Đại Tây Dương không chấp nhận sự tương đồng với Chiến tranh Lạnh. Một số người giữ quan điểm cho rằng tình trạng đối đầu hiện tại giới hạn chủ yếu ở châu Âu và không có tính toàn cầu như Chiến tranh Lạnh. Những người khác thì lập luận rằng sự nguội lạnh của quan hệ Đông – Tây là hiện tượng mang tính tạm thời có khả năng là một giai đoạn tương đối ngắn, và rằng mối quan hệ giữa Nga và phương Tây chắc chắn sẽ hồi phục và chuyển sang một con đường mang tính hợp tác hơn đơn giản như một đòi hỏi cấp bách do có các mối đe dọa chung và một số lợi ích chung.

Bốn năm không phải là quãng thời gian dài, nhưng những gì chúng ta biết và thấy cho đến nay chỉ ra một kết luận rất khác so với những phân tích lạc quan này. Kể từ năm 2014, chính sách đối ngoại của Nga đã bước vào một giai đoạn năng động và tham vọng hơn nhiều, với phạm vi địa lý của nó được mở rộng đáng kể vượt ra ngoài tuyên bố của Dmitry Medvedev về phạm vi lợi ích đặc quyền xung quanh khu vực ngoại vi gần nhất của Nga. Và mặc dù có sự hợp tác, hay đúng hơn là phối hợp, hết sức hạn chế ở Syria, nhưng hầu như không có bằng chứng nào cho thấy Chính phủ Nga có ý sẵn sàng đặt mối quan hệ hợp tác với phương Tây lên đầu danh sách ưu tiên của họ. Hầu như không có điều gì trong tình hình chính trị nội bộ Nga hay tình hình quốc tế cho thấy rằng giai đoạn hiện tại có thể là ngắn ngủi, và rằng trong tương lai gần mối quan hệ với phương Tây sẽ bắt đầu đáp ứng các mong muốn và hy vọng sau Chiến tranh Lạnh.

Việc nghiêm túc nhìn lại những tương tác tương đối ôn hòa giữa Nga và phương Tây trong 1/4 thế kỷ trước củng cố lập luận về bản chất dài hạn có thể có của giai đoạn đối đầu hiện tại trong quan hệ Đông – Tây. Thông điệp chính được rút ra từ việc này là ngay cả giai đoạn đó cũng không ôn hòa đến vậy và được tiếp thêm năng lượng ở mức độ đáng kể bởi những hy vọng chứ không phải là những thành tích cụ thể.

Lịch sử không diễn ra theo một đường thẳng, và khả năng của các học giả và các nhà hoạch định chính sách trong việc tiên đoán tiến trình của nó trong điều kiện tốt nhất là khiêm tốn, như đã thấy ở thất bại của họ trong việc tiên đoán sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh, sự tan rã của Liên Xô, các cuộc tấn công khủng bố ngày 11/9, và sự khởi đầu của cuộc xung đột ở Ukraine vào năm 2014. Nhưng nếu nhiệm vụ của ai đó là tính trước những gì sẽ xảy ra trên cơ sở những ghi chép thực tế sau năm 2014 thay vì những hy vọng, thì những thực tế đó chỉ ra một giai đoạn cạnh tranh và đối đầu vô thời hạn giữa Nga và phương Tây.

1/ Châu Âu khi chưa thống nhất, tự do, hòa thuận với nhau và với các nước láng giềng

Việc Chiến tranh Lạnh kết thúc và Liên Xô tan rã đã mở đường cho một giai đoạn mới tràn đầy hy vọng trong chính trị và ngoại giao châu Âu. Những cải cách chính trị và kinh tế trên phạm vi rộng ở Liên Xô và Nga, việc Liên Xô và Nga rút quân khỏi Đông Âu, việc hủy bỏ hiệp ước Vacsava, và sự tái thống nhất nước Đức một cách hòa bình đã hứa hẹn một kỷ nguyên hoàn toàn mới trong quan hệ Đông – Tây. Việc nhanh chóng liên tiếp ký kết một vài hiệp ước mang tính bước ngoặt – Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF), Hiệp ước các lực lượng thông thường ở châu Âu (CFE) và Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược (START) I – đã hệ thống hóa một dàn xếp an ninh mới giữa Nga và phương Tây.

Việc ký kết Hiến chương Paris về một châu Âu mới đã tạo ra nền tảng khái niệm cho giai đoạn hòa bình tiếp theo ở châu Âu, trong đó có Nga. Chiến tranh bị đẩy lùi vĩnh viễn khỏi châu Âu. Các quốc gia mới được tự do ở Đông Âu và Trung Âu đã đón nhận sự thay đổi dân chủ và các cuộc cải cách thị trường trong nước. Tất cả mọi quốc gia ở châu Âu, kể cả Nga, đã cam kết tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền và quyền tự do lựa chọn chính sách đối ngoại của các nước láng giềng. Tây Âu đã xích lại gần nhau để tạo thành một thực thể mới siêu quốc gia, EU, được xây dựng xung quanh cam kết chung về các giá trị dân chủ, pháp trị, bình đẳng và tự do. Các quốc gia thuộc khối Đông Âu trước đây có thể gia nhập EU, một khi đã tiến hành các cuộc cải cách chính trị và kinh tế cần thiết và chứng tỏ cam kết của mình về các giá trị chung đó. Dường như lục địa này đang bước vào một giai đoạn ổn định, cố kết và thịnh vượng chưa từng có.

Tuy nhiên, các sự kiện đã rất nhanh chóng trệch ra khỏi bức tranh bình dị đó. Một cuộc chiến tàn sát đẫm máu đã nổ ra ở Nam Tư, đe dọa nhấn chìm khu vực Balkan. Chiến tranh cũng đã nổ ra ở Gruzia, Moldova, giữa Armenia và Azerbaijan, và ở Chechnya. Sự biến mất của những kiềm chế và đòi hỏi cấp bách của đế chế cũ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã cho phép các quốc gia tự do theo đuổi những hận thù về sắc tộc, tôn giáo, văn hóa và lãnh thổ vốn đã bị đè nén từ lâu. Tuy nhiên, có thể coi những xung đột này là “phút lâm chung” của trật tự cũ thay vì là dấu hiệu của trật tự mới ở châu Âu.

Thách thức lớn nhất đối với trật tự mới ở châu Âu, hay châu Âu – Đại Tây Dương, đến từ phía Đông, nơi mà Nga, bất chấp cam kết được họ tuyên bố công khai ngay từ đầu về tiến trình châu Âu và các giá trị chung được ghi nhận trong Hiến chương Paris, đang đi theo con đường rất khác của riêng mình. Hoạt động chính trị nội bộ của nước này nhiều lần trệch ra khỏi con đường dân chủ: vào năm 1993, khi sự đối đầu giằng co giữa tổng thống và cơ quan lập pháp leo thang thành một cuộc đụng độ đẫm máu và khi một hiến pháp mới được thông qua với việc chính quyền nghiêng về phía ủng hộ nhánh hành pháp; và vào năm 1996, khi cuộc bầu cử tổng thống được tiến hành cùng với nhiều sự vi phạm đã đưa Boris Yeltsin trở lại Điện Kremlin để đảm nhận nhiệm kỳ thứ hai.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế (Italy) – 12/07/2018

TLTKĐB – 10/08/2018

Mở rộng hợp tác Trung – Nga: Hai mối đe dọa lớn đối với Mỹ


Báo Liên hợp Buổi sáng (Sing) có chi nhánh ở Hong Kong mới đây dẫn lời các quan chức cấp cao thuộc các cơ quan tình báo Mỹ cho rằng Trung – Nga đang mở rộng hợp tác, mối quan hệ này mật thiết hơn so với cách đây vài thập kỷ và hai nước này đang cố gắng sử dụng Internet để đánh cắp thông tin, phá hoại quan hệ giữa Mỹ với các đối tác, đồng thời tác động đến chính sách của Mỹ, qua đó hình thành nên nhiều mối đe dọa. Hai mối đe dọa lớn nhất hiện nay đến từ Trung Quốc và Nga chính là hoạt động gián điệp và tấn công mạng. Cả Bắc Kinh và Moskva đều đang tìm cách can dự vào cuộc tổng tuyển cử ở Mỹ năm 2020.

Khi đề cập đến các mối đe dọa toàn cầu, tại phiên điều trần thường niên trước Ủy ban Tình báo Thượng viện gầy đây – do những người đứng đầu Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Cục Điều tra Liên bang (FBI) và Cơ quan An ninh quốc gia chủ trì – giới quan chức Mỹ nhận định các mối đe dọa mà Trung Quốc và Nga tạo nên bao gồm gián điệp và tấn công mạng, đặt ra một loạt thách thức lớn đối với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tình báo, quân sự và ngoại giao của Mỹ và các đồng minh. Tại phiên điều trần, Giám đốc Tình báo quốc gia Mỹ Daniel Coates nói: “Trung Quốc, Nga, Iran và Triều Tiên đang sử dụng các biện pháp tấn công mạng để đánh cắp thông tin, tác động đến tư duy của người dân Mỹ và phá hoại các cơ sở hạ tầng quan trọng của nước Mỹ”. Theo ông, quan hệ hiện nay giữa Trung Quốc và Nga gần gũi hơn so với cách đây vài thập kỷ, trong khi đó, một số đồng minh của Mỹ ngày càng xa cách hơn so với cách Washington, do những thay đổi trong chính sách an ninh và thương mại của Mỹ, để tìm kiếm sự độc lập hơn. Ông nhấn mạnh: “Trung Quốc và Nga đang mở rộng hợp tác và thiết lập các quy tắc cũng như tiêu chuẩn quốc tế có lợi cho họ thông qua các tổ chức quốc tế nhằm cạnh tranh với các nước phương Tây như Mỹ… Họ cố gắng sử dụng ảnh hưởng của Internet để làm suy yếu thể chế dân chủ Mỹ, phá hoại quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh và đối tác nhằm tác động lên chính sách của Mỹ”.

Ông Coates cũng cho biết chính quyền Mỹ đã bảo vệ thành công cuộc bầu cử quốc hội năm 2018 khỏi sự can thiệp từ bên ngoài, nhưng dự kiến trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2020, sẽ có một đợt tấn công và can thiệp mới, và đó là những hành động tấn công phức tạp hơn.

Coates cảnh báo rằng sức ảnh hưởng của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể và các năng lực tình báo của họ cũng thực sự gây kinh ngạc; đồng thời nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã đạt được điều này thông qua việc đánh cắp thông tin tình báo từ các công ty Mỹ và sử dụng mạng lưới gián điệp.

Giám đốc FBI Christopher Wray cũng cho rằng công tác chống các nguy cơ tình báo từ Trung Quốc cũng ngày càng sâu rộng, các vụ gián điệp kinh tế mà FBI bắt tay điều tra hầu hết đều liên quan đến Trung Quốc.

Ông thừa nhận tình hình hiện nay rất đáng lo ngại và sẽ “đa dạng nhiều thách thức hơn”. Ông nói: “Chúng ta đã thấy đối thủ rất quan tâm đến việc xâm nhập hệ thống máy tính. Cuộc xâm lược này đến từ cả chính quyền và tội phạm mạng, và cả hai đối tượng ngày càng hiện diện trong một mối đe dọa hỗn hợp”.

Trong báo cáo “Đánh giá các mối đe dọa toàn cầu” thường niên trình bày trước Thượng viện, ngoài Trung Quốc và Nga, các quan chức tình báo cấp cao Mỹ cũng đã phân tích các mối đe dọa đối với nước Mỹ đến từ Triều Tiên, Iran và Syria, song quan điểm của họ đều trái ngược với quan điểm của Tổng thống Mỹ Donald Trump khi cho rằng Triều Tiên khó có thể từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Trong báo cáo, Coates nêu rõ: “Mặc dù Triều Tiên đang tìm cách đàm phán với Mỹ về phi hạt nhân hóa, nhưng chúng tôi tin rằng Triều Tiên sẽ không hoàn toàn từ bỏ năng lực sở hữu và sản xuất vũ khí hạt nhân.

Các nhà lãnh đạo Triều Tiên vẫn tin rằng nếu muốn tiếp tục duy trì quyền lực, việc sở hữu vũ khí hạt nhân là cực ỳ quan trọng”.

Không lâu sau khi Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un tổ chức hội nghị thượng đỉnh lịch sử Mỹ – Triều ở Singapore vào tháng 6/2018, Trump tuyên bố “mối đe dọa hạt nhân Triều Tiên đã không còn tồn tại”, nhưng các quan chức cấp cao như Coates tin rằng “mối đe dọa đến từ Triều Tiên vẫn tồn tại giống như một năm trước”, khiến người ta hoài nghi liệu cu65c gặp thượng đỉnh Trump – Kim lần hai dự kiến tổ chức tại Việt Nam trong tháng này có đạt được kết quả cụ thể hay không.

Ngoài ra, báo cáo “Đánh giá các mối đe dọa toàn cầu” cũng đưa ra phân tích ngược lại với Trump về các vấn đề liên quan đến tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) và Iran.

Trump trước đó đã lên kế hoạch rút quân Mỹ khỏi Syria với lý do “IS đã bị đánh bại”, tuy nhiên, Coates cho rằng việc IS điều hàng nghìn chiến binh đến Iraq và Syria cho thấy khả năng tổ chức cực đoan này tiếp tục tấn công Mỹ là rất cao.

Coates còn cho biết giới chức tình báo  Mỹ không tin Iran đang tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhiên, điều này cũng khác biệt đáng kể so với quan điểm của Trump về việc rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran hồi tháng 5/2018.

Nguồn: TKNB – 13/02/2019

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019