Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần cuối


Ba là cục diện an ninh toàn cầu tương đối cân bằng hiện nay có thể bị phá vỡ. Mặc dù mỗi năm trênt hế giới đều xảy ra rất nhiều sự kiện xung đột, chiến tranh cục bộ và tấn công khủng bố, nhưng nhìn chung tình hình an ninh thế giới không có nhiều biến động, cơ bản ổn định, tình hình an ninh nằm trong phạm vi có thể kiểm soát, cục diện an ninh thế giới cũng ở trạng thái tương đối ổn định và cân bằng. Tuy nhiên, việc Mỹ rút khỏi INF có thể tác động đến cục diện an ninh thế giới. Nguyên nhân do Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với Mỹ và Nga không còn sự rằng buộc, trở thành đối thủ chiến lược, hai nước đều muốn phát triển mạnh và bố trí các loại thiết bị vũ khí tiên tiến hơon bao gồm cả tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, thậm chí còn có khả năng vũ trang cho các nước đồng minh.

Đối với Mỹ, chỉ khi triển khai một số lượng lớn tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, đặc biệt là khu vực phía Đông của châu Âu thì mới có thể tạo thành mối đe dọa lớn nhất đối với Nga. Hiện nay, mặc dù đa số các nước châu Âu không muốn, thậm chí phản đối sự bố trí tên lửa của Mỹ ở châu Âu, nhưng nếu Nga bố trí tên lửa ở khu vực biên giới phía Tây, tạo nên mối đe dọa thực sự đối với các quốc gia châu Âu thì các quốc gia này tự nhiên sẽ không phản đối chủ trương của Mỹ, và có khả năng chủ động mua vũ khí của Mỹ để phòng thủ. Bên cạnh đó, để tạo thành mối đe dọa ở phía Nam của Nga và tranh chấp chủ quyền với Nga ở Trung Đông, Mỹ còn có khả năng bố trí tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa ở khu vực Trung Đông.

Đối với Nga, các lực lượng của Mỹ được triển khai đến đâu, Nga sẽ bám sát theo đến đó, nếu không sẽ rơi vào trạng thái bị động, chẳng hạn như trước việc Mỹ và NATO thâm nhập sâu vào Ukraine và các nước Baltic, Nga tích cực thắt chặt quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Belarus để ứng phó; đối với việc Mỹ bố trí tên lửa đạn đạo ở khu vực Trung Đông, Nga triển khai các loại vũ khí tương tự ở các nước như Iran, Syria…, tạo thành mối đe dọa đối với quân đội Mỹ đồn trú ở khu vực Trung Đông. Hai bên có khả năng bố trí các loại vũ khí tiên tiến khác nhau nhiều hơn ở các nước đồng minh của mình. Ngoài ra, hai nước còn thường xuyên tự mình hoặc phối hợp với các nước đồng minh tổ chức các hoạt động quân sự như diễn tập quân sự quy mô lớn ở các khu vực nói trên để thể hiện sức mạnh, đe dọa lẫn nhau. Mỹ và Nga thay nhau tăng cường sức mạnh quân sự trong khu vực, cường độ đối đầu leo thang theo kiểu xoắn ốc, nếu tình hình tiếp tục kéo dài nhất định sẽ khiến cán cân cân bằng sức mạnh trong khu vực bị phá vỡ, cục diện an ninh đương nhiên cũng sẽ bị phá vỡ theo.

Bốn là tình hình quốc tế có thể rơi vào tình trạng hỗn loạn trong thời gian dài. Mỹ rút khỏi INF thì Nga cũng sẽ không tiếp tục tuân thủ, khiến sự ràng buộc của hiệp ước mất đi, chỉ cần điều kiện kinh tế cho phép thì Mỹ và Nga sẽ có thể chạy đua phát triển sức mạnh quân sự, các nước, đặc biệt là các đồng minh ở khu vực điểm nóng cũng đưa nhau mô phỏng theo, nghiên cứu chế tạo hoặc mua nhiều vũ khí tiên tiến. Như tại khu vực châu Á, các nước láng giềng tiếp giáp Nga như Ukraine, Gruzia, 3 nước vùng Baltic, Ba Lan, Romania và Đức, Pháp, Nhật Bản… sẽ đi đầu phát triển sức mạnh quân sự mới, đồng thời mở rộng quy mô quân đội; Belarus với tư cách là đồng minh của Nga có thể sẽ cho phép Nga triển khai các đơn vị tên lửa trong lãnh thổ của mình hoặc tự mình tăng cường bố trí sức mạnh quân sự tương tự. Ở khu vực Trung Đông, để ứng phó với Mỹ, Israel, Saudi Arabia, rất có thể Iran sẽ mở rộng hơn nữa quy mô bố trí tên lửa đạn đạo. Để ngăn chặn các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran, bên cạnh việc tăng cường bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo, Saudi Arabia, Israel cũng sẽ phát triển mạnh các loại vũ khí mang tính tấn công như tên lửa đạn đạo tầm trung và tầm xa; Ấn Độ và Pakistan cũng có thể mô phỏng theo Mỹ và Nga, phát triển tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung để chiếm ưu thế trong cuộc đối đầu quân sự. Từ cuối năm 2018 đến nay, Nga đã tiếp xúc thường xuyên với 2 nước Trung Nam Mỹ là Cuba và Venezuela: bố trí hệ thống định vị vệ tinh Glonass ở Cuba, triển khai tạm thời 2 máy bay ném bom chiến lược Tu-160 ở Venezuela, đồng thời huấn luyện cho lực lượng không quân của Venezuela. Nếu quan hệ Mỹ – Nga xấu đi nghiêm trọng, không loại trừ khả năng Nga sẽ thiết lập căn cứ quân sự ở Cuba và Venezuela để đe dọa Mỹ từ hai bên sườn. Nói cách khác, Mỹ đang tăng cường sức mạnh quân sự ở khu vực Đông Âu – các cửa ngõ của Nga để đe dọa Nga. Trong khi đó, Nga lại tăng cường xây dựng các căn cứ quân sự ở khu vực Trung Nam Mỹ – sân sau của Mỹ để đối chọi với Mỹ. Sự tranh giành lợi ích giữa Mỹ và Nga gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đồng minh trên toàn thế giới, theo đó các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt của hai bên có thể bị thúc ép cùng với Mỹ và Nga rơi vào vòng xoáy đối đầu quân sự, đọ sức chính trị và ngoại giao trên phạm vi toàn cầu. Khi đó, tình hình an ninh thế giới sẽ ngày càng phức tạp, hỗn loạn, có thể diễn biến theo chiều hướng mất kiểm soát.

Năm là khu vực châu Âu có thể bị “xé nát”. Cuối năm 2018, trước việc Mỹ tuyên bố rút khỏi INF, một số nước thành viên của NATO đã nhiều lần kêu gọi Mỹ không nên rút khỏi hiệp ước kiểm soát vũ khí hạt nhân này mà nên nỗ lực tranh thủ thúc đẩy Nga tuân thủ hiệp ước, hy vọng sẽ tránh được sự chia rẽ của NATO có thể bị Nga lợi dụng. Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg từng nói NATO không muốn khởi động một cuộc chiến tranh lạnh mới và cũng sẽ không tăng cường bố trí vũ khí chiến lược ở châu Âu để khơi mào một cuộc tranh chấp.. Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: “Chúng ta cần phải nắm chắc vận mệnh của mình”. Tổng thống Pháp Emmanuel Macron lại tích cực kêu gọi xây dựng “quân đội châu Âu”, giảm thiểu sự lệ thuộc về an ninh vào Mỹ. Theo đó, các bên có liên quan đã lần lượt phát đi thông điệp phản đối Mỹ rút khỏi INF.

Mỹ rút khỏi INF đồng nghĩa với việc khu vực châu Âu sẽ bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung, thậm chí tăng cường bố trí tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Mỹ, động thái này nhất định dẫn đến phản ứng mạnh mẽ của Nga và Nga sẽ áp dụng biện pháp đối phó tương tự để đe dọa Mỹ và các nước thuộc Tổ chức Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tại cuộc họp báo thường niên vào ngày 20/12/2018 Tổng thống Nga Putin cảnh báo: Hiện nay, khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân trên toàn cầu đã ngày càng gia tăng, nếu Mỹ cố ý rút khỏi INF, đồng thời bố trí hệ thống tên lửa liên quan ở châu Âu thì Nga cũng sẽ buộc phải đưa ra sự đáp trả tương ứng. Trước đó, Tổng thống Putin cũng cảnh báo nếu châu Âu chấp nhận tên lửa của Mỹ thì tên lửa của Nga sẽ nhắm vào họ. Có thể thấy nhà lãnh đạo Nga đã thể hiện thái độ rất rõ ràng và cứng rắn.

Hiện nay, NATO không đoàn kết, các nước châu Âu cũ và mới có mâu thuẫn. Với tư cách là quốc gia chủ chốt trong NATO, Mỹ luôn thể hiện rõ hành vi bá quyền ở khắp mọi nơi, phần lớn các quốc gia châu Âu cũ đại diện là Đức, Pháp, Anh có mâu thuẫn với Mỹ và những mâu thuẫn này càng được thể hiện rõ rệt hơn sau kkhi Donald Trump lên cầm quyền. Các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô trước đây mới tham gia NATO với mong muốn nhận được sự bảo vệ của Mỹ, thắt chặt quan hệ với Mỹ, đặc biệt là Ba Lan, Romania, Czech và các nước vùng Baltic có mối quan hệ rất tốt với Mỹ, chủ động mời quân đội Mỹ đến đồn trú, phần lớn các nước đã chấp nhận quân đội Mỹ, Ba Lan tuyên bố chi 2 tỷ USD để quân đội Mỹ tu bổ các cơ sở và căn cứ quân sự. Rất dễ nhận thấy hiện nay NATO đang chia thành hai phe là rời xa Mỹ và thân Mỹ. Trong tương lai, nếu Mỹ buộc phải bố trí tên lửa đạn đạo tầm ngắn và tầm trung ở châu Âu, các quốc gia châu Âu như Đức, Pháp, Anh… sẽ không chủ động tiếp nhận, thậm chí có thể ngăn cản. Trong bối cảnh đó, Mỹ có thể lựa chọn Ba Lan, Romania và các nước Baltic cũng như các nước có mối quan hệ tốt như Ukraine để triển khai, tuy nhiên, vấn đề này sẽ khiến các nước châu Âu cũ và mới xuất hiện rạn nứt mới, chia rẽ nhiều hơn. Trên thực tế, các nước châu Âu đã trở thành vật hy sinh của cuộc đọ sức giữa Mỹ và Nga.

Phân tích một cách toàn diện, việc Mỹ rút khỏi INF chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc đọ sức gay gắt mới giữa Mỹ và Nga, có tác động tiêu cực tới tình hình an ninh và phát triển kinh tế thế giới, thậm chí có thể dẫn đến một cuộc xung đột mới hoặc chiến tranh ủy nhiệm cục bộ, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ những vấn đề diễn biến tiếp theo.

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Advertisements

Hậu quả của việc Mỹ rút khỏi INF – Phần đầu


Ngày 16/1/2019, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách vấn đề kiểm soát vũ khí và an ninh quốc tế Andrea Thompson cho biết do không đạt được bất cứ tiến triển nào trong đàm phán với Nga nên Mỹ bắt đầu rút khỏi Hiệp ước các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) kể từ ngày 2/2/2019, thời gian có hiệu lực là 6 tháng. Theo đó, việc Mỹ rút khỏi INF có thể gây nên những tác động tiêu cực sau đây:

Một là có thể dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang với cường độ cao. INF được Mỹ và Liên Xô ký kết vào năm 1987 để ngăn chặn chiến tranh xảy ra đột ngột, hiệp ước quy định Mỹ và Liên Xô phá hủy các tên lửa tầm ngắn có tầm bắn từ 500 – 1000 km và các tên lửa tầm trung có tầm bắn từ 1000 – 5500 km, bao gồm cả các tên lửa thông thường và tên lửa mang đầu đạn hạt nhân cũng như các bệ phóng tên lửa trên mặt đất. Theo giới truyền thông, tính đến nay hai bên đã phá hủy gần 2700 tên lửa. Mặc dù hiệp ước này là di sản của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, nhưng nó đã ngăn chặn khả năng Mỹ và Liên Xô cũng như NATO và khối Vacsava xảy ra chiến tranh, thậm chí là chiến tranh hạt nhân. Các tên lửa tầm ngắn và tầm trung đều được phóng từ xe đặc chủng, cơ động linh hoạt, bố trí thuận lợi, thời gian chuẩn bị ngắn, khả năng ngụy trang và yếu tố bất ngờ rất mạnh, được Mỹ và Liên Xô và các nước khác ưa chuộng. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Liên Xô chạy đua nghiên cứu, lắp đặt, Đông Tây Âu đã trở thành khu vực bố trí tập trung của hệ thống tên lửa tầm ngắn và tầm trung, làm cho tình hình an ninh thế giới lúc bấy giờ, đặc biệt là an ninh củ khu vực châu Âu vô cùng căng thẳng, cơ bản ở trong trạng thái chiến tranh. Trên thực tế, cả Mỹ và Liên Xô đều nhận thức rõ một khi xảy ra chiến tranh thì hậu quả là không thể tưởng tượng được. Để ngăn chặn phán đoán sai làm dẫn đến chiến tranh, hai nước đã trải qua 6 vòng đàm phán gian khổ kéo dài trong 7 năm, tổng cộng tổ chức 110 cuộc họp, sau cùng mới đạt được thỏa thuận và ký kết INF. Hiệp ước này đóng vai trò quan trọng đối với hòa bình của khu vực châu Âu và thế giới.

Phát biểu của Thompson đã dẫn đến sự phản đối mạnh mẽ của Nga. Tổng thống Putin cảnh báo Tổng thống Mỹ Donald Trump không nên rút khỏi hiệp ước, nếu không Mỹ và Nga sẽ quay trở lại thời kỳ đối đầu một mất một còn thay phiên nhau bố trí các thiết bị vũ khí tối tân. Không những Mỹ và Nga sẽ quay trở lại việc bố trí các tên lửa tầm ngắn và tầm trung hiện đại hơn, mà hai nước sẽ còn chạy đua phát triển và bố trí các loại trang thiết bị vũ khí tối tân hơn, đọ sức toàn diện trên lĩnh vực quân sự. Để thể hiện khả năng răn đe, Nga có thể sẽ nhanh chóng hồi sinh các loại tên lửa đạn đạo như SS-20, SS-23, SS-26…, hơn nữa cấy ghép những vật liệu và công nghệ tiên tiến hơn để nâng cao tính năng của các tên lửa. Đồng thời Nga cũng sẽ tăng cường xây dựng năng lực răn đe hạt nhân chiến lược “3 trong 1”, tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa để tạo thành mối đe dọa đối với Mỹ, chẳng hạn như kéo dài thời gian phục vụ của tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền “Bạch Dương M” (RS-12), tăng cường bố trí tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng trên đất liền Yars và tên lửa phóng từ tàu ngầm Blava, nhanh chóng triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa hạng nặng Sarmar (RS-28) vừa mới nghiên cứu phát triển; thúc đẩy toàn diện việc đầu tư các trang thiết bị mới như tên lửa siêu siêu thanh Kinzhal, Avangard… và hệ thống laser chiến đấu Peresvet cũng như thiết bị lặn không người lái Poseidon có thể mang đầu đạn thông thường hoặc đầu đạn hạt nhân; đẩy nhanh bước đi nghiên cứu chế tạo và triển khai trước thời hạn tên lửa hành trình Calibre M; tiếp tục cải tiến máy bay ném bom chiến lược Tu-160, Tu-95MS… Ngược lại, Mỹ cũng không chịu lép vế, sẽ hồi phục và sử dụng công nghệ tối tân nhất để cải tiến tên lửa đạn đạo tầm trung Persing II; đồng thời phát triển mạnh tên lửa đạn đạo liên lục địa Military 3 và tên lửa đạn đạo liên lục địa phóng từ tàu ngầm Trident, cải tiến và nghiên cứu phát triển tên lửa hành trình tầm xa của các căn cứ hải quân, không quân; tiếp tục thử nghiệm, hoàn thiện và bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa, đặc biệt là hệ thống phòng thủ tên lửa ở khu vực châu Âu sẽ được tăng cường và triển khai sớm hơn dự kiến.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô (Nga) chiếm ưu thế hơn Mỹ trên các phương diện số lượng đầu đạn hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tầm bắn và khả năng xuyên thủng… Mỹ xé bỏ INF, Nga sẽ tiếp tục chiếm ưu thế vượt trội trên phương diện này, khi đó Mỹ buộc phải nhanh chóng đuổi theo, đồng thời có thể khởi động lại kế hoạch Chiến tranh giữa các vì sao, thách thức Nga từ không gian. Cuối năm 2018, tại hội thảo nghiên cứu không gian, Mỹ cho rằng việc triển khai vũ khí hạt nhân trong không gian sẽ khiến vấn đề diễn biến nghiêm trọng và phức tạp hơn. Ngoài ra, Mỹ và Nga đều đang tích cực phát triển máy bay ném bom chiến lược tàng hình, loại vũ khí này có thể chứa một lượng lớn tên lửa, khả năng ngụy trang tốt, có thể thự chiện tấn công hạt nhân, khả năng răn đe cao. Những biện pháp tiếp cận của Mỹ và Nga nhất định sẽ gây ra cuộc đối đầu toàn diện trên lĩnh vực quân sự, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới. Việc Mỹ và Nga chạy đua vũ trang sẽ khiến cả thế giới không được hòa bình. Các nước, đặc biệt là châu Âu, đồng minh và các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga ở khu vực Trung Đông có thể sẽ lần lượt làm theo, tích cực phát triển sức mạnh quân sự.

Hai là có thể khiến thế giới rơi vào trạng thái “Chiến tranh Lạnh lần thứ hai”. Tác động từ việc Mỹ rút khỏi INF không chỉ giới hạn ở sự đối đầu giữa Mỹ và Nga trên lĩnh vực quân sự, mà còn cả trong chính trị, ngoại giao, thậm chí lan tỏa đến cả kinh tế, hậu quả rất tai hại, INF bị phá vỡ, Mỹ và Nga không những muốn khôi phục sản xuất và bố trí các loại thiết bị vũ khí tối tân hơn. Theo đó, Nga sẽ ưu tiên bố trí các loại vũ khí trên ở khu vực biên giới phía Tây, Tây Bắc và phía Bắc của mình để đe dọa Mỹ và NATO. Trong khi đó Mỹ lại bố trí tên lửa tầm ngắn và tầm trung và các hệ thống vũ khí tấn công và phòng thủ tiên tiến hơn ở châu Âu, đặc biệt là ở các quốc gia giáp với Nga. Hai bên sẽ rơi vào trạng thái đối đầu trong thời gian dài: răn đe lẫn nhau về quân sự, gây sức ép lẫn nhau về chính trị, chỉ trích lẫn nhau về ngoại giao, quan hệ Mỹ – Nga sẽ trở nên tồi tệ, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh khu vực và thế giới. Cùng với cuộc đọ sức giữa hai nước leo thang, đồng minh, thậm chí các nước có quan hệ tốt với Mỹ và Nga đều có thể bị cuốn vào vòng xoáy này. Do đó, ở các khu vực điểm nóng như châu Âu, Trung Đông, châu Á… không thể tránh khỏi việc hình thành cục diện đối đầu giữa một bên là Mỹ với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt và một bên là Nga với các nước đồng minh, các nước có quan hệ tốt, nghĩa là sức mạnh của Mỹ và Nga kéo dài đến đâu thì ở đó có thể xuất hiện sự đối đầu dưới hình thức tương tự như Chiến tranh Lạnh. Tuy nhiên, sự đối đầu này sẽ không gay gắt như thời kỳ Chiến tranh Lạnh trước đây, thấp hơn nhiều so với cường độ đối đầu giữa Mỹ – Liên Xô và NATO – Vacsava trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai bên có thể rơi vào trạng thái “chiến tranh lần thứ hai” vừa đối đầu vừa hợp tác. Tuy nhiên, đối đầu lớn hơn hợp tác, nghĩa là hai bên đối đầu, ngăn chặn, gây sức ép lẫn nhau về mặt quân sự, chính trị, ngoại giao và sẽ tiếp tục hợp tác về kinh tế, chẳng hạn như Nga không cắt đứt cung cấp năng lượng cho các nước châu Âu. Do xu thế phát triển không thể đảo ngược của thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa, nên đối đầu giữa Mỹ và Nga cũng sẽ không phát triển đến mức độ của chiến tranh thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.cwzg.cn – 18/01/2019

TLTKĐB – 24/02/2019

Tầm quan trọng của vũ khí Nga đối với Việt Nam


Bản tin ngày 7/2 của tạp chí kinh tế Nikkei (Nhật Bản) cho biết trong chuyến thăm nước Nga vào tháng 9/2018 của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Hà Nội đã đạt được thỏa thuận mua một gói vũ khí Nga lên đến 1 tỷ USD.

Nước Nga hiện nay và tiền thân là Liên bang Xô viết là nhà cugn cấp vũ khí liên tục cho Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua. Chỉ trong thời gian 10 năm trở lại đây, báo chí trong và ngoài nước mới bắt đầu nói đến những nguồn cung cấp vũ khí khác cho Việt Nam, rất đa dạng, có thể kể ra là Pháp, Israel, Hà Lan, Canada, Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ. Bình luận về việc này với đài RFA, Thạc sĩ Hoàng Việt, một chuyên gia nghiên cứu Biển Đông cho biết: “Tại sao Việt Nam cần vũ khí của Nga? Vì Nga là nhà cung cấp truyền thống lâu rồi. Mặc dù vũ khí Nga có thể không hiện đại bằng Mỹ, nhưng cũng rất tốt, và lại rẻ hơn. Nhưng nếu chỉ lệ thuộc vào một nhà cung cấp thì không hay, cho nên Việt Nam cũng phải đa dạng hóa nguồn cung cấp của mình”.

Ông Hoàng Việt nói rằng việc đa dạng nhà cung cấp vũ khí như vậy có lợi là tìm được giá tốt, có nhiều loại vũ khí có tính năng khác nhau, nhưng cũng có khả năng bất lợi là sự tương thích các loại vũ khí đó với nhau. Dù là bạn hàng lớn cùa Nga về vũ khí nhưng Việt Nam vẫn mong muốn có được những vũ khí hiện đại của Mỹ, đặc biệt là các radar đã tỏ ra hơn hẳn những hệ thống của Nga trong cuộc chiến tranh đang diễn ra tại Syria. Vấn đề Việt Nam chưa mua nhiều vũ khí Mỹ, mặc dù có thể bỏ ra từ 1 – 2 tỷ USD hàng năm cho vũ khí, là vì Mỹ chưa bán cho Việt Nam. Việc Mỹ cung cấp vũ khí cho Việt Nam sau khi lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam được Tổng thống Obama dỡ bỏ, có nhiều chi tiết kỹ thuật chứ không đơn giản.

Trong năm 2018, có hai sự kiện liên quan đến khả năng Mỹ cung cấp vũ khí cho Việt Nam. Thứ nhất là tiết lộ từ Bộ Quốc phòng Mỹ về hợp đồng trị giá 100 triệu USD dành cho Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó không bình luận gì về việc này. Thứ hai là Mỹ đưa Việt Nam vào diện đặc biệt, không bị ràng buộc bởi lệnh cấm vận vũ khí Nga. Từ Đại học Maine (Mỹ), Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia về quan hệ quốc tế cho biết chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã điều trần trước Quốc hội Mỹ về việc này. Ông Mattis nêu vấn đề Việt Nam không thể ngay lập tức chuyển sang dùng vũ khí Mỹ trong khi đã dùng vũ khí Nga hơn nửa thế kỷ nay để chống lại với lý lẽ muốn cấm vận mà Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho rằng xuất phát từ các công ty sản xuất vũ khí Mỹ, hoặc các tiểu bang có các công ty này hoạt động.

Như vậy, có thể nói, trong một khoảng thời gian vài chục năm trước mắt, nền tảng cơ bản của quân đội Việt Nam vẫn là vũ khí Nga. Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, chuyên gia độc lập từ Singapore cho biết có đến 80% vũ khí, khí tài của Việt Nam đang sử dụng xuất phát từ Nga.

Song song với những điều kiện kỹ thuật, với việc sử dụng quen thuộc loại vũ khí này, còn có lòng tin trong sự cung cấp tín dụng nữa. Cách đây vài năm, với nỗ lực phát triển ảnh hưởng sang Đông Nam Á, Chính phủ Ấn Độ đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng trị giá 500 triệu USD để mua các tên lửa phòng thủ bờ biển mà nước này hợp tác sản xuất với Nga. Tuy nhiên, cho đến nay, khoản tín dụng này đã không được sử dụng tới.

Theo một chuyên gia trong nước thạo tin quân sự của Việt Nam, Việt Nam vẫn chỉ sử dụng tín dụng của Nga để mua vũ khí. Tín dụng của Nhật Bản trong gần đây đã được dùng để mua vũ khí nhưng còn rất ít.

Đầu năm 2019, tờ Đất Việt của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam đã đưa tin khá chi tiết về những loại vũ khí dành cho không quân như máy bay Su-35, tên lửa phòng không S-400, được Việt Nam mua từ Nga. Ngoài ra, báo cáo này còn cho biết Việt Nam đang thực hiện việc sản xuất một số tàu chiến được Nga thiết kế.

Trước đây, báo chí trong và ngoài nước cũng nói đến lô hàng lớn nhất trong việc Việt Nam mua vũ khí Nga từ trước đến nay là 6 chiếc tàu ngầm loại Kilo trị giá hàng tỉ USD. Những chiếc tàu ngầm đã lần lượt được chuyển giao cho Việt Nam. Tuy nhiên, Thạc sĩ Hoàng Việt cùng một số nhà quan sát khác cũng lo ngại rằng nước Nga cung cấp vũ khí cho Việt Nam nhưng đồng thời cung cấp vũ khí cho Trung Quốc: “Những vũ khí này này Nga vừa bán cho Việt Nam vừa bán cho Trung Quốc, thậm chí Trung Quốc nhiều tiền hơn, mua loại hiện đại hơn. Mà Trung Quốc cũng nổi tiếng bắt chước. Thành ra, nếu xung đột thực sự xảy ra, Trung Quốc có thể vô hiệu hóa các loại vũ khí (Nga) của Việt Nam”.

Tuy nhiên, vị chuyên gia giấu tên am tường về vũ khí của quân đội Việt Nam lại cho rằng điều đó không đáng ngại, vì hai lẽ: “Thứ nhất, Trung Quốc có thể bỏ nhiều tiền hơn để mua vũ khí nhưng phải dàn trải ra trên khắp tuyến biên giới rất dài của mình. Thứ hai, theo truyền thống hợp tác từ trước đến nay, Liên Xô ngày trước và Nga hiện nay khi bán vũ khí cho Việt Nam, cũng đồng thời cung cấp những chiến lược, chiến thuật sử dụng vũ khí đó, trong khi họ không làm như vậy với Trung Quốc”.

Những thông tin gần đây cho thấy Việt Nam không chỉ mua vũ khí sản xuất từ Nga, mà bắt đầu sản xuất những loại vũ khí đó tại Việt Nam như tên lửa và tàu chiến. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang cố gắng tích hợp những nguồn vũ khí khác nhau lại để sử dụng, ngay từ khâu sản xuất.

Tờ Đất Việt nêu lên khả năng Việt Nam sử dụng những tàu chiến của Hà Lan sản xuất, nhưng gắn thêm những loại vũ khí của Mỹ và Nga trên đó. Giới chuyên gia cho rằng hiện nay và một thời gian nữa, Việt Nam có nền sản xuất quốc phòng căn bản vẫn dựa trên vũ khí Nga là chính.

Nguồn: TKNB – 12/02/2019

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần cuối


Như chúng ta đã biết, nước Nga dân chủ có chủ quyền cũng ra đời từ những mâu thuẫn, xung đột, đụng độ gay gắt rất gần với nội chiến. Trong những năm qua, chúng ta đã trải qua hai giai đoạn của cuộc cách mạng dân chủ. Ở giai đoạn đầu đã gạt bỏ phe Cộng sản khỏi chính quyền, trong giai đoạn thứ hai – xóa bỏ các Xô viết, nói như V.I. Lenin, là cơ quan của chuyên chính vô sản. Việc G. Zjuganov thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống mùa hè năm 1996 được nhiều nhà phân tích đánh giá là giai đoạn thứ ba và là cuối cùng của cuộc cách mạng dân chủ, chống CNCS. Nói cách khác, đã rút ra kết luận là phe Cộng sản sẽ không bao giờ có thể trở lại cầm quyền ở nước Nga nữa.

Thế nhưng, tôi thì chắc là đã không nói một cách khẳng định như thế về tương lai của những người Cộng sản. Một mặt, điều đó có lẽ không chỉ phụ thuộc vào những người cộng sản, mà chủ yếu là tùy thuộc vào những người đối lập với họ đang cầm quyền. Phụ thuộc vào trình độ quản lý đất nước của họ, việc giải quyết những vấn đề xã hội đang khiến quần chúng bất bình, những cái tạo điều kiện để ảnh hưởng của phe Cộng sản được tăng thêm. Mặt khác, tôi nghĩ rằng không nên chỉ bó hẹp vấn đề ở phe Cộng sản. Nếu không khí bất mãn trước tình trạng hiện nay vẫn duy trì trong đông đảo các tầng lớp nhân dân, vẫn mất ổn định thì lên nắm chính quyền có thể sẽ không phải là phe cộng sản, mà là một lực lượng nào đó khác, tạm cho là “một đảng của trật tự”, với “bàn tay sắt” nó sẽ lập lại trật tự mà không cần lưu ý mấy cả đến những chuẩn mực dân chủ lẫn các quyền và tự do dân sự. Song chúng ta thử đặt câu hỏi: cái gì gây nên tình trạng bất ổn định ở nước Nga? Tôi xin chia câu trả lời ra thành hai phần: Một là những nguyên nhân ai cũng đã thấy rõ, bởi chúng đã đập ngay vào mắt tất cả chúng ta và chủ yếu mang tính chất tình huống và hai là những nguyên nhân sâu xa hơn và có tác động lâu dài hơn. Nhóm nguyên nhân thứ nhất gồm:

+ chính quyền không biết cách thu thuế và kịp thời trả lương tháng, lương hưu trí, trợ cấp quân nhân…

+ không biết cách kịp thời điều chỉnh đường lối cải cách nếu như trong điều kiệm cụ thể của nước Nga, tình hình diễn ra không giống như mong muốn, hoặc không giống như nó diễn biến ở Czech, Hungary, Slovenia là những nước no đủ hơn, có tổ chức và văn minh hơn;

+ không biết thường xuyên đối thoại với nhân dân, đồng thời giải thích nững nguyên nhân và hậu quả của bước đi (biện pháp) này hay khác;

+ không biết kịp thời phế bỏ những thành viên yếu kém rõ rệt hoặc đã mất uy tín trong êkip chính phủ;

+ đã chần chừ quá lâu trong việc nói cho dân biết về lý tưởng xã hội mới, tư tưởng dân tộc mới…

Còn những nguyên nhân thuộc nhóm thứ hai, theo tôi, gồm:

Một là, trong những năm Chính quyền Xô viết đã xây dựng được một nền kinh tế khá hùng mạnh và phát triển, nhưng than ôi, chủ yếu lại là nhằm phục vụ cho những nhu cầu chiến tranh. Còn nền kinh tế dân sự thì yếu kém, không có khả năng cạnh tranh. Trong điều kiện đóng cửa, cách ly với thế giới, nó vẫn hoạt động được một cách tàm tạm, nhưng khi mở cửa, cạnh tranh thì sản phẩm của nhiều doanh nghiệp trong nước không tìm được người tiêu dùng. Không thể cho phép tình trạng từ phát tàn phá nền kinh tế của chúng ta mà phải bằng cách nào đó chuyển hóa nó. Tạm thời thì chưa thấy có tâm và lực gì nhiều để làm việc này. Nhưng cũng không thể đóng cửa nền kinh tế, nếu không muốn đẩy đất nước ngày càng tụt hậu và cuối cùng – là thoái hóa hoàn toàn. Một thực tế hiển nhiên là ở thời điểm giao thừa thiên niên kỷ mới đã không còn chỗ cho những nền kinh tế đóng cửa.

Hai là, xã hội nghèo. Nó đã nghèo cả trong những năm chính quyền Xô viết, nhưng lúc đó nó còn có lý do biện hộ che dấu. Phần lớn dân chúng nghèo, còn cuộc sống xã hoa của tầng lớp quan chức cốt cán thì được bưng bít nên không đập vào mắt phần lớn các công dân. Giờ đây, sự tương phản giàu nghèo trong xã hội đúng là làm gai mắt người ta, còn bọn “người Nga mới” thì xử sự còn hơn cả những thương gia Nga giàu sụ ngày xưa mà sách báo đã tả. Mà xã hội thì chỉ ổn định được một khi con số người nghèo và giàu đại thể bằng nhau (tỷ lệ mỗi loại khoảng 10%), số dân còn lại thì no đủ, gọi là giai cấp trung lưu. Nhưng muốn hình thành được tỷ lệ đó phải mất nhiều chục năm, quá trình này không thể đẩy nhanh chừng nào nền kinh tế chưa tăng trưởng nhanh. Ở đây, kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy rằng khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì thực sự chỉ mất 20 năm đã diễn ra một cuộc cách mạng sâu sắc về cơ cấu xã hội chính là theo hướng mở rộng giai cấp trung lưu.

Ba là, ở nước Nga, không giống bất kỳ nước nào khác trên thế giới, vẫn còn tình trạng ý thức dân tộc bị phân hóa. Hai phái “sính phương Tây” và “chuộng Slav” đó là hiện thực của hôm nay, chẳng khác gì thời giữa thế kỷ trước. Song, dường như có một sự thôi thúc ta phải dùng một cách gọi khác nữa – “giả sính tây” và “giả chuộng Slav”. Nhưng dù thế nào thì chúng ta cũng đang tốn quá nhiều tâm sức vào cuộc đấu tranh với chính bản thân mình. Cũng chính vì nguyên nhân này, rất khó để ra được một triết lý dân tộc mới cho nước Nga hiện nay, một nước Nga mới, dân chủ, chó sức nặng hiện thực và chỗ đứng của nó trong cộng đồng thế giới. Chúng ta vẫn cứ bị cám dỗ, ám ảnh bởi “tính đặc biệt”, “tính độc đáo”, bởi tham vọng giải quyết những nhiệm vụ có tính toàn cầu, bởi sứ mạng cứu thế, và chúng ta thường vẫn tư duy bằng những phạm trù của một siêu cường đã chết, và điều đó thật nguy hiểm. Bởi chúng ta càng nhanh chóng ý thức được rằng sức mạnh của một dân tộc không phải là ở số lượng xe tăng và tên lửa, mà cũng không phải ở chỗ người ta phải sợ nó, mà là ở nền kinh tế có hiệu quả, ở các công nghệ mới, ở một nền giáo dục y tế tốt đẹp hơn, ở mức tuổi thọ cao, đời sống tinh thần cao và điều dễ hiểu là ở chỗ các công dân được hưởng cuộc sống dư dật (và, “để phòng xa”, ở chỗ nó có “cái ô hạt nhân” như là một nước) thì sự hồi sinh của chúng ta càng chóng tới bấy nhiêu.

Bốn là, sự ổn định trong xã hội rõ ràng là còn chịu ảnh hưởng của tính chất đa dân tộc của xã hội Nga, cả tính chất dang dở của quá trình tạo sự hài hòa cho các quan hệ giữa trung tâm và các khu vực. Nhiều nhà chính trị và nhà phân tích đã từng hù dọa xã hội là nước Nga có thể sẽ tan rã. Chuyện đó chỉ chấm dứt sau khi xóa bỏ được tình trạng hai chính quyền song song tồn tại vào năm 1993.

Nhưng nói chung thì bước quá độ của nước Nga từ hình thái xã hội này sang hình thức xã hội khác, cũng như từ chế độ nhà nước cũ sang một chế độ nhà nước mới, mặc dù có di sản của đế chế – Bolsevich, đang diễn ra hoàn toàn không phải theo một kịch bản tồi tệ nhất đại loại như trường hợp của Nam Tư. Song, như người ta thường nói, cuộc thí nghiệm còn chưa kết thúc, và hiện thời chỉ có thể nói tới một cách chung nhất những tính quy luật của thời kỳ quá độ từ CNXH hiện thực sang những hình thức tồn tại mới. Lịch sử vẫn còn đang viết tiếp.

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần V


Thứ hai, thực tế là ở tất cả các nước hậu XHCN của châu Âu, phe Xã hội – Dân chủ hiện nay đều là người của phe Cộng sản hôm qua. Điều này cũng đúng cả với những thủ lĩnh của họ. Còn ở Nga thì do hàng loạt nguyên nhân khách quan và chủ quan, sự tiến hóa của Đảng cộng sản lại diễn ra theo một kịch bản khác hẳn: không phải đi theo hướng Xã hội – Dân chủ, mà ngả theo hướng chủ nghĩa dân tộc – bolsevich. Ngôn từ của thủ lĩnh Đảng Cộng sản Liên bang Nga là ngôn từ không chỉ của người cộng sản, mà chủ yếu là của những người theo chủ nghĩa truyền thống, chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa dân tộc yêu nước. Có thể giả định rằng do tác động của thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống và chịu sức ép của các đồng minh trong Liên minh Nhân dân yêu nước Nga, Đảng Cộng sản Nga và thủ lĩnh của nó rốt cuộc sẽ cũng phải dịch về phía Xã hội – Dân chủ. Thiết nghĩ, nếu như những người Cộng sản vẫn còn có tương lai thì đó chỉ có thể có trên con đường này. Nếu không họ hoặc sẽ bị gạt ra rìa, hoặc sẽ chuyển sang lập trường dân tộc chủ nghĩa công khai. Người Nga đã không còn chấp nhận những tư tưởng của CNCS, và nếu hàng triệu người Nga bỏ phiếu cho Đảng Cộng sản Nga và cho chính cá nhân Zjuganov thì điều đó tuyệt nhiên không phải vì ưu ái gì những tư tưởng của CNCS, mà là vì không ưa cái trật tự hiện nay.

Thứ ba, và có lẽ là cái chủ yếu, là trước khi bước vào giai đoạn lịch sử của con đường phát triển theo hướng Xã hội – Dân chủ, nước Nga phải trải qua giai đoạn lịch sử của con đường phát triển nhà nước – dân chủ. Vấn đề là ở chỗ, khác với các nước hậu XHCN ở châu Âu (và thậm chí là phần lớn các nước cộng hòa khác) nước Nga thực tế chưa có chế độ nhà nước của mình. Trong khuôn khổ Liên Xô, nó vừa là tất cả vừa chẳng là cái gì hết, các cơ quan quyền lực của nó đơn thuần chỉ mang tính chất trang trí. Vì vậy, nước Nga, thực tế là một quốc gia mới, đang đứng trước nhiệm vụ cấp thiết là phải xây dựng một quốc gia dân tộc giống như nhiệm vụ đặt ra cho bất kỳ quốc gia nào mới xuất hiện. Còn có một nhiệm vụ nữa cũng bức xúc không kém là quá trình tự xác định lại chất Nga: những người bolsevich, do sợ rằng dân tộc dẫn đầu ở Liên Xô sẽ ngày càng tự ý thức dân tộc cao hơn, đã cố kiềm chế mọi chất Nga, hòa tan nó trong cái chất “xô viết” vô định hình. Điều đó đã gây tổn hại hết sức to lớn cho nền văn hóa dân tộc, lịch sử dân tộc.

Thứ tư, Việc giải quyết nhiều vấn đề của thời kỳ quá độ ở nước Nga càng gai góc hơn vì cho đến nay vẫn chưa kết thúc giai đoạn đầu của cuộc cách mạng dân chủ. Xét về phương diện này, vượt chúng ta không chỉ có châu Âu, mà thậm chí cả Mông Cổ, là nước mà Đảng Cộng sản cầm quyền trước đây tự xưng là Đảng Nhân dân – Cách mạng Mông Cổ, ngay từ năm 1993 đã từ bỏ chủ nghĩa Marx – Lenin, và trong cuộc bầu cử Quốc hội mùa Hè năm 1996 đã thất bại trước khối các Đảng đối lập theo khuynh hướng Xã hội – Dân chủ và tự do. Ở các nước đó từ lâu đã không còn đặt ra vấn đề các lực lượng của quá khứ có thể trở lại phục thù. Thực tế, mọi thành viên có ít nhiều ảnh hưởng tham gia quá trình chính trị đều ủng hộ nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và hội nhập vào cộng đồng thế giới. Ở đó xã hội đã không còn bị lên cơn sốt mỗi khi có các cuộc bầu cử Quốc hội hay bầu cử Tổng thống. Dù ai thắng cử thì đất nước vẫn sẽ đi theo guồng quay của tiến bộ thế giới.

Còn ở Nga thì khác. Ở đây, đã nhiều năm, lực lượng đối lập cơ bản, có khả năng thay thế cho các lực lượng chính trị cầm quyền hiện thời vẫn là Đảng Cộng sản. Cuộc bầu cử quốc gia nào, về thực chất, cũng biến thành những trận chiến đấu để chọn con đường phát triển xã hội. Tính bất định đó, nói riêng, là một trong những nguyên nhân thất thu thuế, dẫn đến chỗ không trả nổi lương đều đặn cho những đối tượng ăn lương ngân sách, không cấp đủ tiền cho nhiều ngành, giảm vốn đầu tư và tương ứng, dẫn đến chỗ những vấn đề xã hội ngày càng trở nên gay gắt hơn và khiến chon gay cả các công dân nói chung tán thành đường lối cải cách cũng ngày càng bất mãn. Tính bất định đó cũng đang cản trở dòng vốn đầu tư từ bên ngoài vào nước Nga.

Thứ năm. Hầu như các nước hậu CSCN nào cũng đều kinh qua giai đoạn “CNTB hoang dã”. Điều đó thể hiện qua hoạt lực cực kỳ mạnh mẽ của tư bản phi pháp trong nền kinh tế, qua sự phát triển nhanh của hoạt động kinh doanh tiêu cực mà trong điều kiện nước Nga, nó đạt tới 40% toàn bộ doanh thu kinh tế, qua sự xuất hiện “kim tự tháp tài chính” và những hình thức lừa đảo cỡ lớn khác, qua những vụ cạnh tranh vô lương tâm thường gặp và quảng cáo cũng vô lương tâm như thế, qua nạn trốn thuế và nói chung là cách xử sự không văn minh của nhiều nhà doanh nghiệp mới phất lên. Và bên cạnh đó là tình trạng tiêu xài ngày càng xa xỉ hơn.

Trong sự phát triển của mình hầu như nước nào cũng đều trải qua giai đoạn tương tự. Cả nước Nga cũng đã từng có một thời như vậy, nhưng bây giờ chúng ta lại trở lại giai đoạn ấy. Nhưng nếu trước đây, “CNTB hoang dã” đã xuất hiện ở những quy mô khác nhau ở trình độ phát triển thấp kém về kinh tế, ở nhiều nước đã hoàn toàn không còn dấu vết trong ý thức quần chúng nữa thì nay tình hình lại khác hẳn. Đặc biệt là nếu nói về nước Nga với trình độ phát triển kinh tế, quy mô tài nguyên quốc gia của nó, với các quá trình thay đổi chủ sở hữu đang phát triển quá nhanh của nó… Càng chớ nên quên tình trạng suy đồi nhanh chóng về đạo đức trong nước, nơi mà suốt trong 70 năm trước đây đã từng diễn ra cuộc đấu tranh chống tôn giáo với nếp sống nhân dân, tâm linh nhân dân, đã gieo rắc thói quen mật báo, chỉ điểm, phản bội, thói đạo đức lá mặt lá trái. Giáng một đòn vào những lý tưởng đạo đức của người dân còn có sự sụp đổ uy tín của ảo tưởng CSCN cùng với thang giá trị của nó.

“CNTB hoang dã” đã bôi nhọ những hình thức mới của đời sống một cách khách quan. Không thể vì sĩ diện mà nhắm mắt làm ngơ điều đó được. Cần phải giải thích nguyên nhân của hiện tượng đó và có gắng hạn chế nó trong một phạm vi nào đó, đồng thời thực hiện một cách nhất quán chính sách nhằm rút ngắn bớt giai đoạn này trong sự phát triển của đất nước. Song cũng cần nhớ rằng nếu cố tình đẩy nhanh một cách giả tạo cuộc đấu tranh với “CNTB hoang dã” cũng có nghĩa là đồng thời đánh vào sự phát triển của các lực lượng sản xuất mới. Ở đây đòi hỏi phải có một chính sách mềm dẻo, có cân nhắc và một mức độ kiên trì nhất định, dựa trên việc hiểu đúng tính chất nhất thời của hiện tượng này, hay nếu muốn, có thể gọi là của cái ác này, trên cơ sở hiểu rằng “cái gì cũng phải trả giá”, như người ta thường nói. Vì cả những sai lầm của phái bolsevich, vì cả sự phồn vinh tương lai của nền kinh tế nước nhà.

Những vấn đề để đi đến ổn định

Vấn đề đi đến ổn định – chính xác hơn – không ổn định, đang được đưa lên hàng đầu ở nhiều nước hậu XHCN. Con đường từ Chủ nghĩa cực quyền chuyển sang dân chủ đối với nhiều nước nói cho đúng là đầy chông gai chứ không phải là được rải hoa. Có lẽ bi đát nhất là đối với Nam Tư cũ, là nước không chỉ tan rã, mà còn xảy ra nội chiến. Đã tan rã, nhưng trong điều kiện “ly dị văn minh” là trường hợp Chekhoslovakia cũ. Còn đoạn khởi đầu phát triển hậu CSCN của Rumania thì lại xung đột dữ dội. Đã trải qua nội chiến là Gruzia, Azerbajzhan, Moldavia và, ở mức độ nào đó, cả Armenia. Cuộc nội chiến ở Takizkhstan vẫn còn chưa dịu đi. Cũng không thể nói là hài hòa đối với cả sự phát triển của các nước Baltic.

Cơ sở của phần lớn các cuộc chiến tranh và xung đột tại các quốc gia hậu XHCN là mâu thuẫn giữa các dân tộc và các cộng đồng, nhưng không phải chỉ có vậy (minh chứng cho điều đó là thí dụ về tất cả các nước Zakavkaz thuộc Liên Xô cũ). Di sản của chủ nghĩa bolsevich vẫn còn ảnh hưởng mạnh. Nếp nghĩ cực quyền, tâm lý cực quyền, ý muốn giải quyết những vấn đề phức tạp bằng phương pháp “đấu đầu”, phương pháp hiệp thương đã nhiều năm mất ý nghĩa, ngược lại, thái độ không khoan nhượng cả trong hệ tư tưởng lẫn trong chính trị là cái được đề cao.

(còn tiếp) 

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần IV


Song điều chúng tôi muốn nói đây không phải là cách tốt nhất để thực hiện sự phục hồi, mà là  làm thế nào để tiến lên được với chi phí ít nhất theo con đường cải cách thị trường và phát triển dân chủ. Hơn thế nữa, làm thế nào để chúng ta xóa bỏ được nhanh chóng hơn cơ sở vật chất của chính quyền độc tài – chuyên chế thuộc đủ màu sắc. Đặc biệt là phải xem xét quá trình tư hữu hóa nước Nga chính là trên lập trường này. Nổi lên hàng đầu trong quá trình này không chỉ là những mục tiêu kinh tế, mà chủ yếu là những mục tiêu chính trị – xã hội và thậm chí là những mục tiêu tâm lý – xã hội. Cuộc bầu cử Tổng thống đã cho thấy rằng nếu như chúng ta lần lữa trong việc tư hữu hóa, và nếu vẫn để các đòn bẩy kinh tế cơ bản trong tay lớp cán bộ cốt cán trước đây thì hẳn phe cộng sản đã giành được phần thắng. Thực ra, nói một cách quy ước, có nước hậu XHCN nào vẫn giữ mô hình CTNB nhà nước? Ở châu Âu, tôi không thấy có nước nào như vậy, Ukraine đã dậm chân tại chỗ khá lâu (rõ ràng vì sợ “liệu pháp sốc” của Gajdar), sợ chuyển sang cải cách cấp tiến. Lẽ ra đã có thể hy vọng rằng ở đây những lời khuyên của cá nhà kinh tế Nga cỡ bự về tính chất tuần tự, nhiều giai đoạn của việc chuyển sang cải cách thị trường đang trở thành hiện thực. Song không thu được kết quả gì ngoài việc chỉ tốn thời gian và làm cho tình thế càng trần trọng hơn. Cuối cùng thì nó (Ukraine) cũng đã theo gương nước Nga.

Về mặt lý thuyết có thể giả thiết rằng ở Belorussia có thể xuất hiện những điều kiện để thực hiện mô hình CNTB nhà nước. Nhưng toàn bộ vấn đề là ở chỗ thế giới ngày nay đã trở thành một thể thống nhất không thể chia cắt. Phương Tây rõ ràng là không thích một bước ngoặt như vậy của các sự kiện, và có cái nhìn vốn đã rất hoài nghi, nếu không muốn nói là định kiến đối với chính sách của A. Lukashenko. Điều đó có thể dẫn đến chỗ chấm dứt viện trợ quốc tế cho Belorussia và hẳn sẽ ảnh hưởng xấu tới cả việc Belorussia và Nga hội nhập lại. Ngay lúc này, các nhà kinh tế cũng đã cho rằng hai nền kinh tế không mấy ăn nhập với nhau vì ở Belorussia, cải cáh thị trường tiến triển quá chậm chạp. Ngoài ra, như đã nói ở trên, mô hình CNTB nhà nước thích hợp với quyền lực độc đoán. Và đó đã là cái cớ để buộc tội ban lãnh đạo Belorussia vi phạm các quyền và tự do dân sự, tạo nên xung quanh nó một bầu không khí nghi ngờ, nếu không muốn nói là thù địch.

Nhưng nếu vậy thì tính chất tuần tự, trải nhiều giai đoạn của bước chuyển sang thị trường, sang những hình thức sống mới sẽ mất hết ý nghĩa. Bởi vì những người ủng hộ bước chuyển đó kêu gọi làm sao cho nó không dẫn tới những hậu quả xã hội nặng nề như “liệu pháp sốc” cho phép tránh được sự suy thoái sản xuất quá mức, tránh được nạn thất nghiệp gia tăng và giữ cho lực lượng sản xuất không bị phá vỡ. Tuy nhiên, ở trường hợp Belorussia thì bức tranh rực rỡ đó không được xác nhận. Còn nếu Belorussia bị cách ly với thế giới thì tình thế sẽ chỉ ngày một xấu hơn.

Còn các nước phương Đông mà trước đây là những chủ thể của Liên Xô cũ thì lại khác. Cái mô hình gần giống với CNTB nhà nước, một chế độ độc đoán khá rõ nét dường như đang hình thành ở Uzbekistan. Nhưng vì đó là phương Đông, tức là một kiểu nền văn minh khác. Phương Tây trong trường hợp này đã nhìn nhận một cách khoan dung đối với việc mà trong một tình thế khác chắc chắn họ đã coi là vi phạm thô bạo các quyền và tự do dân sự. Nhưng nếu ở Uzbekistan mô hình ấy nói chung vẫn đang phát huy tác dụng, thì ý đồ thực hiện nó ở Kazakhstan (dù là dưới hình thức nhẹ nhàng hơn) tạm thời vẫn chưa đưa lại được những kết quả khả quan, là nước có thành phần dân cư khác hẳn, có những truyền thống lịch sử – văn hóa khác.

Vậy kinh nghiệm nhắc nhở điều gì?

Nếu gạt sang một bên những xét đoán mà trong đó chủ yếu là những ước muốn tốt đẹp, những chỉ lệnh đạo đức, những sơ đồ không tưởng và giả thuyết trống rỗng, mà đi vào tìm hiểu thực tiễn chính trị hiện thực, thì bức tranh đại thể như sau:

Thứ nhất. Các cải cách trong thời kỳ hậu XHCN thường là do những người ủng hộ nền kinh tế thị trường tự do khởi xướng. Rất hay gặp trường hợp – đó là những đại biểu của thế hệ mới. Có ai đó trong số những nhà kinh tế học rất có uy tín của thế hệ cũ đã nói rằng dù trong hoàn cảnh nào đi nữa thì ông cũng không dám làm điều mà một Gajdar tương đối trẻ đã dám làm. Có thể ngay cả Gajdar cũng sẽ không dám thực hiện “liệu pháp sốc” nếu ông ta biết rõ hơn chút ít không chỉ đơn thuần thực trạng nền kinh tế quốc dân nước Nga, mà cả những nguyên tắc vận hành cảu nó vào những năm cuối thời Gorbachev nắm quyền, khi mà nền kinh tế kế hoạch đã bị biến dạng mạnh, còn nền kinh tế thị trường thì còn dò đường trong cuộc đấu tranh chính trị gay gắt. Và nếu nước Nga còn chần chừ trong việc chuyển sang cơ chế thị trường thì chắc hẳn chúng ta đã không tránh khỏi nguy cơ đất nước sẽ phát triển theo một kịch bản còn tồi hơn.

Thứ hai. Hầu như ở tất cả các nước, cải cách thị trường đều diễn ra một cách khó khăn, nhưng đặc biệt cam go khi kinh tế quốc phòng và các cơ sở doanh nghiệp lớn của công nghiệp nặng (“những người khổng lồ công nghiệp”) có tỷ trọng lớn, vì chúng có ít khả năng thíh ứng với điều kiện cơ chế thị trường. Những yếu tố khác như kích cỡ của đất nước, trình độ phát triển chung của nó, văn hóa… cũng có ảnh hưởng nhất định. Khó khăn thể hiện trước hết ở chỗ những vấn đề xã hội bức xúc ngày một nhiều, mức sống giảm, hệ thống xã hội cũ (giáo dục, y tế, nghỉ ngơi…) bị phá vỡ, bởi lẽ sự ổn định của nó phụ thuộc nhiều vào sự ổn định của các doanh nghiệp nhà nước cỡ lớn, và của toàn ngành. Quá trình phi quốc hữu hóa và tư nhân hóa là miếng đất tốt để các cơ cấu tội phạm và nạn tội phạm có tổ chức, bao gồm cả đe dọa tống tiền phát triển mạnh mẽ…

Tất cả những cái đó đã gây ra làn sóng bất bình trong xã hội, và các lực lượng chính trị khởi xướng cải cách thường bị thất bại ngay trong những cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên. Điều đó đã xảy ra ở Litva, sau đó ở Ba Lan, Hungary, và hàng loạt nước hậu XHCN khác. Xét về  thực chất, điều đó lẽ ra cũng xảy ra cả ở nước Nga nếu như không có chế độ tổng thống, thêm nữa lại dưới hình thức đầy hiểm họa bởi vì những người Cộng sản ở nước ta đã không tiến hóa thành đảng Xã hội – Dân chủ. Ngay từ cuộc bầu cử quốc hội tháng 12 năm 1993, phái dân chủ tự do đã thất bại. Trong cuộc bầu cử vào Viện Duma Quốc gia tháng 12 năm 1995, khối của Gajdar thậm chí đã không vượt qua được cái chướng ngại 5%, còn phe Cộng sản cùng với những đồng minh của mình (nông dân, những thành viên của phong trào “Nhân dân làm chủ”) đã chiếm đa số trong Viện Duma, bầu ra người phát ngôn của mình, đã giữ quyền lãnh đạo các ủy ban quan trọng nhất trong Duma. Nếu như thể chế ở nước ta là cộng hòa đại nghị thì phe cộng sản đã có thể bắt tay vào việc phục hồi lại trật tự của CNXH hiện thực như đã ghi trong cương lĩnh của họ hồi năm 1995. Sự việc cũng sẽ diễn ra như thế nếu người thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1996, không phải là B. Elcin, mà là G. Zjuganov.

Thứ ba. Có một quy luật là con lắc chính trị đang chuyển dịch từ hữu sang tả. Phe Dân chủ – Tự do, phe Dân chủ – Dân tộc nắm quyền đã bị thay thế bởi phái Xã hội – Dân chủ, các lực lượng chính trị ít nhiều gần với quan điểm Xã hội – Dân chủ. Trong ứng xử của các cử tri, thực tế là ở đâu và bao giờ cái được nêu lên hàng đầu cũng là những vấn đề xã hội. Thành thử niềm hân hoan do được độc lập (các nước Baltic) hay giành được độc lập hoàn toàn (các nước Đông và Trung Âu) chẳng kéo dài được bao nhiêu.

Có thể giả định rằng giai đoạn Xã hội – Dân chủ là một giai đoạn phát triển tất yêu của tất cả các nước hậu XHCN trên đường đi tới một xã hội tự do. Ở một số nước, chính sách dân chủ xã hội là trực tiếp do phe Xã hội – Dân chủ thực hiện, còn ở một số nước khác thì do các lực lượng chính trị khác thực hiện dưới ngọn cờ “CNTB nhân dân”. Giai đoạn lịch sử của đảng Xã hội – Dân chủ, chủ nghĩa tự do xã hội rõ ràng là điều tất yếu không tránh khỏi trên con đường biến CNTB cổ lỗ, thô thiển mà Marx, Engels và những người kế tục họ đã phân tích, thành CNTB hậu kỳ, hay nếu muốn thì có thể gọi đó là CNTB xã hội.

Thứ tư. Chỉ mới đây thôi, nhiều nhà nghiên cứu, kể các tác giả bài viết này, còn nghĩ rằng ngay cả nước Nga chẳng bao lâu nữa cũng sẽ bước vào giai đoạn lịch sử của chế độ Xã hội – Dân chủ. Nhưng đúng là chúng ta đã lầm. Mặc dù đây không phải lầm về đối án, mà là về thời gian, hay nói chính xác hơn là về trình tự xuất hiện của nó. Thứ nhất, bản thân đảng Xã hội – Dân chủ ở nước Nga hậu XHCN còn yếu kém, ít có ảnh hưởng. Những ý đồ làm thế nào đó để kích thích sự quan tâm đến triển vọng chế độ Xã hội – Dân chủ hợp nhất các đảng phái, phe nhóm… Xã hội – Dân chủ nhỏ không thu được kết quả gì nhiều. Qua phân tích điều đó, tôi đã đi đến kết luận: chừng nào ở nước Nga cònt iếp tục sự phân cực mạnh mẽ của các lực lượng thì nó sẽ “xói mòn” các đảng phái và phong trào trung dung, kể cả phe Xã hội – Dân chủ. Các lực lượng này đã thất bại trong cuộc bầu cử quốc hội mới đây, mặc dù trong các cuộc bầu cử trước đây và Viện Duma Quốc gia, họ đã được hàng loạt phe nhóm đề cử (chẳng hạn như phái “Phụ nữ Nga”).

(còn tiếp) 

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16

Sau chủ nghĩa xã hội: Một số tính quy luật của thời kỳ quá độ – Phần III


Ở Liên Xô cũng như ở Nga hiện nay đều đã không và không thể có những điều kiện như vậy. Vào “thời đại của Gorbachev” thì đã quá muộn, còn vào “thời đại Khrushchev” thì lại quá sớm. Lúc đó, ngay CNXH cũng đang còn những nguồn lực dự trữ không nhỏ để phát triển, CNTB thì chưa có được nguồn kích thích mạnh mẽ của cách mạng KHKT, vẫn chưa phát lộ những tiềm năng sẽ biểu hiện trong những thập niên sau này. Đó là chưa nói tới nhân dân Liên Xô tuyệt đại đa số đều tin tưởng sâu sắc vào CNXH, và họ nói một cách thô thiển, sẽ “vặn cổ” bất cứ nhà chính trị nào dám cả gan xâm phạm đến những “thành quả của cách mạng tháng mười”, động đếnĐảng, “người đã lãnh đạo Liên Xô chiến thắng chủ nghĩa phát xít và cứu nhân loại khỏi cảnh nô lệ lầm than”.

Đôi khi người ta vẫn thường có ý nghĩ mà theo tôi là rất sai lầm rằng Ju. Andropov lẽ ra đã có thể gánh vác tốt được việc cải cách sâu sắc Liên Xô. Những nhân vật hàng đầu trong ban lãnh đạo lúc đó, trong đó có M. Gorbachev, đã kể cho tôi nghe rằng xét trên toàn cục, con người Andropov trước sau vẫn là một người cộng sản chính thống, tuyệt đối không có khả năng đi theo con đường mà Đặng Tiểu Bình đã vạch ra cho Trung Quốc. Và điều đó cũng đã được khẳng định qua những bước đi thực tế của ông sau khi trở thành thủ lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô và đứng đầu nhà nước. Không hiểu gì về tiến trình lịch sử, về những thay đổi đã diễn ra ở các nước phương Tây và trên thế giới nói chung trong những thập niên vừa qua, về tương quan lực lượng đã thay đổi hẳn hiểu theo nghĩa rộng của từ này, tình trạng nguy ngập của nền kinh tế Xô viết – chỉ có tất cả những cái đó mới có thể đẩy Ju. Andropov đến chỗ đề lên hàng đầu chính sách đối nội mới của Liên Xô ý tưởng phản tuyên truyền, còn trọng tâm của chính sách đối ngoại là tiếp tục đối đầu, phát động một chiến dịch chạy đua vũ trang mới nhằm bù lại việc triển khai, tại các nước châu Âu, tên lửa có cánh của Mỹ. Đường lối của Đặng Tiểu Bình thì hoàn toàn ngược lại. Ông ta đã cố tìm cách tránh mọi sự đối đầu với phương Tây, tránh việc viện trở cho các phong trào cách mạng ở các nước “thế giới thứ ba” và dốc toàn lực để phát triển nền kinh tế, đưa nó hòa nhập dần từng bước vào nền kinh tế thế giới, duy trì khả năng quốc phòng ở mức vừa đủ, mà trước hết là bằng các phương tiện hạt nhân.

Andropov, cũng như các thủ lĩnh khác của Liên Xô (có lẽ chỉ trừ Gorbachev) đã không ý thức được rằng quá trình tăng tốc đột ngột của việc tạo lập một nền kinh tế thế giới kiểu mới, trong đó hệ thống đối lập mạnh hơn và có kỹ thuật phát triển cao hơn rất nhiều đã đặt Liên Xô trước một lưỡng đề phức tạp. Hoặc lẽ phải thừa nhận tính không tưởng của tư tưởng về một cuộc cách mạng thế giới, CNXH thắng CNTB và sau khi thực tế đã công nhận thất bại về mặt chính trị – tư tưởng của mình, dần dần từ bỏ đối đầu, chấm dứt quân sự hóa, hòa vào guồng phát triển của thế giới, vào nền kinh tế thế giới, đồng thời thay đổi luật chơi, bước đầu dù chỉ là trong lĩnh vực kinh tế, hoặc là rốt cuộc sẽ kiệt quệ vì chạy đua vũ trang, vì một nền kinh tế đóng cửa không hiệu quả với những hệ quả chung cuộc bi đát.

Ai cũng biết rằng một hệ thống mạnh hơn và phát triển hơn (như tương quan giữa phương Tây so với Liên Xô cùng các đồng minh của mình) tất yếu sẽ lôi kéo hệ thống yếu kém hơn vào quỹ đạo phát triển của mình. Còn nếu hệ thống yếu kém hơn lại hòng đe dọa tiêu diệt hệ thống mạnh hơn thì hệ thống mạnh hơn sớm muộn gì cũng sẽ làm cho hệ thống yếu kiệt quệ và tan rã. Trong kỷ nguyên hạt nhân, tính quy luật đó đã biến dạng bởi việc có một tiềm lực tên lửa hạt nhân mạnh là cái loại trừ việc hệ thống mạnh hơn giành thắng lợi quân sự trước hệ thống yếu hơn. Tuy nhiên vẫn còn có khả năng giành thắng lợi trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ, trong lĩnh vực mức sống, các quyền và tự do… Do đó có tình trạng hệ thống thua trong cuộc thi đua bắt đầu mất dần những người ủng hộ mình không chỉ trên thế giới, mà ngay trong nước mình.

Chính đây là chỗ phải đi tìm lời giải đáp cho hiện tượng mà những người cộng sản và yêu nước thân cộng sản quan tâm: Liên Xô, trong khi vẫn là một cường quốc hạt nhân và không thua trận, nhưng lại ở trong tình trạng giống như là bị đánh bại một cách toàn diện chẳng khác gì nước Đức phát xít và nước Nhật quân phiệt. Nhìn bề ngoài thì đúng là như vậy. Đế chế cuối cùng trên thế giới đã bị xóa sổ cùng với những khu vực ảnh hưởng và những điểm tựa của mình tại các khu vực khác nhau trên thế giới. “Cộng đồng XHCN thế giới”, khối Hiệp ước Warshawa, Hội đồng tương trợ kinh tế (COMECON) đều đã biết mất. Bản thân Liên Xô đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới, còn Nga, nước thừa kế hợp pháp của nó đã bị mất nhiều vùng đất trước đây đã đưa vào ranh giới hành chính quy ước của các nước cộng hòa khác. Nhiều triệu người Nga đã lưu lạc ngoài quê hương lịch sử của mình và thường chịu cảnh bị phân biệt đối xử.

Ôi, đó là cái giá phải trả cho sự phiêu lưu của những kẻ dám cả gan xây dựng CNXH ở một nước đứng riêng biệt. Trái với mong muốn của những người đặt nền móng cho chủ nghĩa Marx, những người cho rằng CNXH có thể giành thắng lợi ngay lập tức ở tất cả các nước phát triển hoặc chí ít cũng ở những trung tâm cơ bản của nền văn minh. Như chúng ta thấy, họ đã nhầm trong những tiên đoán của mình, nhưng có một điểm đúng: một hệ thống xã hội chứng tỏ tính ưu việt của mình không phải bằng số lượng “lưỡi lê và đại bác”, số “xe tăng và tên lửa”, mà bằng việc đạt được năng suất lao động cao hơn và không chế đi chừng nào còn chưa cạn kiệt những nguồn nội lực của mình. Vậy mà từ thời đó, họ còn nói rằng từ trong lòng một đất nước lạc hậu hơn trong thể sinh ra được một chế độ có khả năng giành thắng lợi ở những nước tiên tiến hơn. Nhưng chính chủ nghĩa bolsevich, cái đã ra đời ở một nước nửa phong kiến nửa tư bản, nửa dốt nát nừa văn minh, chưa từng biết đến dân chủ đã mang tham vọng giành thắng lợi trên toàn thế giới. Điều đáng ngạc nhiên không phải là cuộc phiêu lưu này đã kết thúc đáng buồn như vậy, mà là việc sao nó lại tồn tại lâu đến thế.

Nhưng chúng ta hãy trở lại vấn đề là có người cho rằng dường như ở Nga đang thực hiện một mô hình cải cách theo hướng thị trường tệ nhất và điều chủ yếu là ở chỗ “điểm chưa đúng huyệt”. Làm sao hiểu nổi “phái thị trường” đang đóng vai những người phê phán mô hình hiện nay của cải cách kinh tế, họ cho rằng trước khi thả nổi giá phải có một thời kỳ khá dài để tạo ra những điều kiện nhằm tự do hóa giá cả, và trước hết là tạo ra môi trường thị trường. Như nhà kinh tế học kiêm chính trị gia nổi tiếng V. Fedorov nói, con đường tiến tới thị trường phải chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn khoảng mươi năm… Nói cách khác, nhà nước nắm tay trong quyền điều hành kinh tế, “nới dây cương” dần từng bước theo diễn biến của tiến trình cải cách, theo đà phát triển của doanh nghiệp tư nhân, thay đổi luật pháp, đồng thời với việc kích thích đầu tư, xuất khẩu, bảo vệ sản xuất trong nước khỏi tình trạng cạnh tranh tàn khốc…

Nói chung, ở đây vẫn là nói tới mô hình phát triển kiểu TBCN nhà nước trong thời kỳ quá độ từ một nền kinh tế không phải thị trường sang kinh tế thị trường, từ chế độ cực quyền sang chế độ dân chủ. Thực tế hầu như tất cả các nước “công nghiệp mới” (NICs) (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thổ Nhĩ Kỳ…) trên đường tiến tới một nền kinh tế thị trường tự do và dân chủ đều kinh qua giai đoạn lịch sử CNTB nhà nước dưới hình thức độc đoán và thậm chí độc tài chuyên chế. Có điều là cái đó can hệ gì đến nước Nga? Thứ nhất, cách đi đó là ưu thế của các nước có sự phát triển lịch sử – tự nhiên không phải theo kiểu phát triển hoán đảo. Thứ hai, trong trường hợp này, các nước thực tế là đi theo con đường cải cách, tức tiến hóa, từ bậc thấp chuyển lên bậc cao hơn. Còn ở các nước do Đảng Cộng sản cầm quyền, đã diễn ra cách mạng – chống cộng, chống tổng tài, đi theo con đường dân chủ (dù phần lớn đã diễn ra dưới hình thức hòa bình hay như người ta thường nói, “cách mạng nhung”). Cuộc cách mạng đó dẫn tới sự thay thế các lực lượng chính trị cầm quyền và tạo nên những chuyển biến sâu sắc về quan hệ sở hữu. Vậy trong trường hợp này, mô hình CNTB nhà nước có thể dựa vào ai, nhất là khi trên thực tế, nó không thể không mang tính chất cực quyền ít ra cũng là ở giai đoạn đầu phát triển của minh. Trong những điều kiện hậu CNXH, đúng là nó không có ai để làm chỗ dựa cả. Tuy nhiên, cũng có thể tìm thấy những lực lượng như vậy, nhưng muốn thế lại phải trao chính quyền vào tay hoặc phe cộng sản, hoặc theo phe chủ nghĩa dân tộc, hoặc là liên minh của cả hai phe này (“nâu – đỏ”).

(còn tiếp) 

Nguồn: TĐB 97 – 15 & 16