Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần III


Các nhà khoa học có ý kiến ngược lại cho rằng lý luận, chế độ và các hệ thống đều là nhằm chống chủ nghĩa Marx – Lenin, không đáp ứng các yêu cầu của chủ nghĩa xã hội khoa học, không theo kịp thời đại. « Dù chúng ta đi sâu bàn về khía cạnh nào chăng nữa thì chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng là sự phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử cải cách và mở cửa Trung Quốc ». Theo ý kiến của phái theo quan điểm này, quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc chính là quá trình từ bỏ hoàn toàn của mô hình Xô Viết. Một số nhà khoa học sau khi phân tích toàn diện những khác biệt căn bản giữa hai mô hình đã chỉ ra rằng mô hình Trung Quốc và mô hình Xô viết là hai mô hình hoàn toàn khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng cả hai bên đều nhất trí về vấn đề công nhận mô hình của Trung Quốc (tức là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc). Cả hai đều giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản và ủng hộ cải cách và cởi mở. Cuộc tranh cãi của họ chỉ đóng khung trong việc nên hiểu về mô hình Xô viết thế nào.

Các nhà khoa học tán đồng loại ý kiến thứ nhất về cơ bản chấp nhận mô hình Xô viết, cho rằng nó tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận này, việc phân tích những mặt khiếm khuyết của mô hình Xô viết và xem xét so sánh hai mô hình – để đi tới kết luận cho rằng các nguyên tắc cơ bản của hai mô hình là giống nhau, và những khác biệt của chúng thể hiện trong các hệ thống cụ thể do điều kiện và thời điểm lịch sử khác nhau. Theo Châu Tân Thành, gốc rễ của sự thay đổi mạnh thái độ của Liên Xô đối với Trung Quốc là do giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đi theo con đường của chủ nghĩa xét lại, phản bội các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Do đó, Trung Quốc cần rút ra bài học và kiên trì quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản. Phủ định mô hình Xô viết có nghĩa là phủ định bốn nguyên tắc cơ bản và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các nhà khoa học khác cho rằng các luận điểm cơ bản của lý luận, nguyên lý của mô hình Xô viết là xa lạ với các luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, không đáp ứng yêu cầu của tình thế của Liên Xô. Mô hình Xô viết là giáo điều, trì trệ, đầy mâu thuẫn gay gắt, lãnh đạo xa rời dân. Ma Long Sơn lưu ý rằng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, tức là mô hình Stalin, không phải là chủ nghĩa xã hội đích thực, chân chính, vì Stalin đã bóp méo chủ nghĩa Marx – Lenin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhóm các học giả này đã rất chú tâm phân tích những điểm khiếm khuyết của mô hình Xô viết. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm khi khảo cứu mô hình Xô viết. Cải cách và mở cửa torng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trước hết cần chỉ ra những hạn chế của mô hình Xô viết. Trọng tâm của các học giả này là nhấn mạnh cải cách và mở cửa, đề cao vai trò của đổi mới trong các hệ thống. Chỉ bàn suông về bốn nguyên tắc cơ bản, mà không tập trung chú ý vào những thành tựu to lớn đạt được nhờ cải cách và mở cửa, thì không thể hiểu đúng được thực chất của việc phát huy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Tiếp tục vận dụng mô hình Xô viết ở Trung Quốc thì chắc chắn không tránh khỏi lặp lại những sai lầm của Liên Xô.

Những tranh cãi này hiện vẫn tiếp diễn. Có thể nói mỗi ý kiến đều có điểm hợp lý và khiếm khuyết riêng của nó. Nhưng điểm chính yếu nhất là cần có những đánh giá mang tính khoa học về mô hình Xô viết.

4/ Mô hình Xô viết qua đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc

Nên đánh giá thế nào về mô hình của Liên Xô – đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Lời giải cho câu hỏi này động chạm đến vấn đề Trung Quốc nên đi theo con đường nào. Bởi vì định hướng tương lai phát triển của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với những bài học cần rút ra từ con đường tiến hóa của Liên Xô.

Giáo sư Châu Tân Thành lưu ý rằng việc đánh giá mô hình Xô viết – đó không chỉ là vấn đề về mặt khoa học, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến vận mệnh của các đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần đứng trên lập trường giai cấp vô sản, sử dụng phương pháp của chủ nghĩa Marx để đánh giá một cách khoa học và tích cực mô hình này. Mô hình Xô viết là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Marx với hoàn cảnh thực tế. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chưa có chút kinh nghiệm nào. Vì vậy, việc tìm kiếm thành công hay không thành công con đường của mình là vốn kinh nghiệm quý báu cho phong trào cộng sản quốc tế và giúp ích nhiều cho các dân tộc và quốc gia bước vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nên có thái độ cẩn trọng khi tìm hiểu những sai lầm và thiếu sót trong quá trình tìm kiếm. Chớ nên cười nhạo người đi trước, lại càng không nên công kích. Cũng không nên hoàn toàn phủ nhận nó, vì làm như thế không phải là thái độ marxist khi giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, ta không nên dùng chữ « thất bại » như đôi khi vẫn nói.

Ma Long Sơn cho rằng không thể không học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô, nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Và cho dù những người đương thời có những ý kiến đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết, vẫn phải thừa nhận rằng nó đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng – sự ra đời và phát triển của Liên Xô. Liên Xô không chỉ đã đánh thắng phát xít Đức, mà còn đi theo con đường hiện đại hóa đất nước. Shen Tsung – cộng tác viên khoa học Viện Marx – Lenin trực thuộc Viện HLKHXH Trung Quốc, tác giả cuốn « Suy ngẫm lại về mô hình Stalin dưới ánh sáng thời đại ngày nay » (2004) đã khẳng định vị trí lịch sử và những thành tựu của mô hình Xô viết từ góc nhìn hiệu ứng khách quan. Mô hình Xô viết đã đóng một vai trò rất hiệu quả trong việc thực hiện nhanh chóng của hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở nền đại công nghiệp, một nền khoa học và văn hóa tiên tiến, trong việc củng cố cơ sở quốc phòng và các lĩnh vực khác. Từ góc nhìn hiện đại hóa, Liên Xô đã nhận trách nhiệm lớn về nền kinh tế và văn hóa lạc hậu, đồng thời nó vẫn trụ vững trước mối đe dọa của kẻ thù bên trong và bên ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, mô hình Xô viết đã giúp Liên Xô hiện đại hóa với nhịp độ nhanh và thoát khỏi tình huống khó khăn.

Còn theo ý kiến của Zheng Yiping và Gun Hailin, mô hình Xô viết không giúp gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ và luậ pháp xã hội chủ nghĩa, đoàn kết các dân tộc và phát triển mạnh khoa học và văn hóa, (mô hình này) không phù hợp với những tư tưởng của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết quả là đã cản trở nhiệm vụ phát triển nhanh nền kinh tế.

Xiao Feng nhấn mạnh rằng mô hình Xô viết là một mô hình quái dị và cứng nhắc của thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Mặc dù mô hình này đã đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử đất nước và đã cho phép đạt được những thành tích lớn, nhưng trong điều kiện hiện nay nó phải được cải biến lại hoàn toàn. Theo ý kiến tác giả này, mô hình Xô viết là không nhất thiết đối với các nước khác.

Theo Zhang Guangming và Li Zhongyu, sau một nửa thế kỷ cố gắng tìm cách hiện thực hóa mô hình Xô viết, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy đây là một mô hình không thành công. Nó khép kín và bảo thủ, không có khả năng tự điều chỉnh, hạn chế tính tích cực của quần chúng và kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Zuo Fengrun còn cho rằng mô hình Xô viết không có cơ chế sửa sai lỗi, rằng mô hình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết – cả tích cực lẫn tiêu cực – tất cả đều đã đi tới một ý kiến thống nhất : để đưa ra được những đánh giá khoa học hơn, cần phải kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx, sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phân tích một cách công minh và đánh giá công bằng sẽ giúp chúng ta rút ra được những bài học của quá khứ lịch sử và có thêm kinh nghiệm. Và hiển nhiên là tất cả những cái đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Sự sụp đổ của Liên Xô là một bài học tốt cho chúng tôi : chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải đáp ứng mệnh lệnh của thời đại và phải được kết hợp với thực tế mỗi nước, không thể sao chép lịch sử, sao chép mô hình của các nước khác, mà phải tự tìm ra mô hình của mình, phù hợp với thực tế và đặc thù của đất nước mình.

(còn tiếp)

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Advertisements

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần II


2/ Những khác biệt giữa hai mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc

Mô hình của Liên Xô là mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới. Nó đã được tuyên bố là một mô hình duy nhất, chung cho tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc về cơ bản là sao chép mô hình của Liên Xô. Nhờ đó, Trung Quốc đã thành công trong việc tuân theo đúng các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa cơ bản: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vượt qua nhiều khó khăn để bước vào con đường công nghiệp hóa. Nhưng qua thời gian, những biểu hiện lạm dụng hệ thống kinh tế kế hoạch sao chép từ mô hình Liên Xô, đã dẫn đến những khó khăn trên đường hiện đại hóa của Trung Quốc. Không cải cách thì không thể phát triển. Tiến hành chính sách cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc – đó là một kết quả tìm tòi và nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, cho phép nó đi theo con đường phát triển riêng của mình, chứng minh tính đúng đắn của nó trong suốt 30 năm qua.

Mối tương quan giữa hai mô hình của Trung Quốc và của Liên Xô đang được xem xét như thế nào? Các nhà khoa học Trung Quốc hầu như không ai có ý kiến tranh cãi về các nét khác biệt giữa chúng.

Thứ nhất, mô hình của Trung Quốc (chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc) là một hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô là dựa trên nền kinh tế kế hoạch, hoàn toàn loại trừ, phủ nhận thị trường. Mô hình kiểu Xô Viết giữ lập trường sở hữu công về phương tiện sản xuất, là cái được phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch tập trung thái quá quyền lực (bao cấp) và phủ nhận vai trò điều tiết của thị trường. Hoạt động kinh tế ở Liên Xô được xác định hoàn toàn bởi kế hoạch pháp lệnh chỉ đạo. Còn mô hình của Trung Quốc thì không thế, bởi vì nền kinh tế kế hoạch – đó chưa hẳn đã là chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường cũng không hẳn là chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc đã đi theo conđường sử dụng hệ thống kinh tế thị trường. Đúng như Đặng Tiểu Bình đã nói: “Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản”, “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là sát chuột”.

Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc tuân theo luận điểm về vị trí chủ đạo của sở hữu công cộng. Nhưng đồng thời vẫn phát triển các khu vực kinh tế khác, tạo thành một cấu trúc tầng bậc mới mà đặc trưng là sự cạnh tranh công bằng về mặt kinh tế và phát huy đồng thời mọi hình thức sở hữu. Nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu, đồng thời cho phép các hình thức phân phối bổ sung. Còn đặc trưng của cái chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết là lực lượng sản xuất vẫn ở trình độ thấp, chủ yếu định hướng vào sở hữu công cộng hạ thấp vai trò và ý nghĩa của các hình thức sở hữu khác, và tập trung cao độ chú ý vào tính kế hoạch của nền kinh tế và chế độ tập trung bao cấp nên đúng là thực tế đã vô hiệu hóa vai trò của điều tiết thị trường. Do đó, hoạt động kinh tế hoàn toàn được quyết định bởi các kế hoạch pháp lệnh.

Thứ ba, mô hình Trung Quốc theo chính sách cải cách và mở cửa, trong khi mô hình của Liên Xô là đóng cửa và đã bộc lộ rõ những dấu hiệu trì trệ. Kết quả là, tình trạng trì trệ và khép kín tất yếu đã đi đến mâu thuẫn với xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển nhanh chóng, và kết quả là nhịp độ phát triển kinh tế chậm lại, mối liên hệ khoa học – kỹ thuật và văn hóa giữa phương Đông và phương Tây suy yếu, khoảng cách về trình độ  phát triển giữa hai bên ngày càng xa. Hệ quan niệm mới của Đặng Tiểu Bình đã xác định phương hướng phát triển của Trung Quốc. Chính sách cải cách và mở cửa đáp ứng được yêu cầu của thời đại và đặc điểm quốc tộc. Ra sức thu hút vốn của các nước tư bản chủ nghĩa, làm chủ công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của họ đã và đang góp phần kích thích phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh của đất nước. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã đạt được những kết quả nổi bật nhờ chính sách cải cách và mở cửa.

Thứ tư, các nguyên lý chủ yếu của mô hình Trung Quốc là sự phát triển các lực lượng sản xuất, thủ tiêu bóc lột, phân hóa giai cấp, và cuối cùng là đạt tới một mức sống cao hơn. Phúc lợi phổ biến, sự phồn vinh của đất nước đã trở thành tiêu chí đánh giá công sức của cả người lao động lẫn ban lãnh đạo đất nước. Mô hình của Liên Xô rõ ràng là đã đi chệch theo hướng quân sự hóa nền kinh tế. Tuy không tuyên bố một cách trực tiếp tư tưởng “cách mạng thế giới”, Liên Xô vẫn hướng tới chiếm giữ vai trò lãnh đạo trong các vấn đề thế giới. Trong nước, Liên Xô tập trung phát triển ngành công nghiệp quân sự, và điều này đã cản trở việc cải thiện mức sống của người dân. Trên vũ đài thế giới thì chạy đua vũ trang, trong thế giới thứ ba thì đấu tranh gay gắt, nguồn lực con người, vật chất, tài chính đều đã cạn. Một mô hình phát triển như thế ắt ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của đất nước.

Thứ năm, sự khác biệt giữa hai mô hình còn thể hiện cả ở nền tảng lý luận, chiến lược phát triển, các hệ thống chính trị và văn hóa. Nền kinh tế kế hoạch thống nhất của Liên Xô loại trừ kinh tế trường. Liên Xô đã vội vã trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Còn trong mô hình Trung Quốc thì nhấn mạnh rằng Trung Quốc vẫn còn ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho Trung Quốc là xây dựng một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, còn Liên Xô thì lại nhằm mục tiêu đuổi kịp và vượt các nước TBCN phát triển về kinh tế trong một thời gian ngắn. Mô hình Trung Quốc đề ra chiến lược “ba bước”, nhấn mạnh sự phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững. Mô hình Xô viết có đặc điểm là tập trung cao độ quyền lực hệ tư tưởng toàn trị. Còn mô hình của Trung Quốc thì theo chế độ tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo.

Nói tóm lại, mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc có những điểm khác biệt rất rõ, nhưng những điểm chung, giống cũng là hiển nhiên, chẳng hạn, cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của chủ nghĩa Marx và đảng Cộng sản, duy trì chuyên chính vô sản, hệ thống sở hữu công cộng và nguyên tắc phân phối theo lao động. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ hơn những tương đồng này thì lại có thể thấy nhiều điểm khác biệt cụ thể.

3/ Kế thừa, phát triển sáng tạo hay phủ định hoàn toàn?

Trong giới khoa học Trung Quốc có hai luồng ý kiến đối lập về mối liên hệ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc. Ý kiến thứ nhất: hai mô hình xét về bản chất và các nguyên tắc cơ bản thì như nhau, mô hình Trung Quốc – đó là sự kế thừa và phát triển sáng tạo mô hình Xô viết, những khác biệt chủ yếu giữa chúng được phản ánh qua những hình thức và hệ thống cụ thể của chúng. Ý kiến này là của Zhou Sinchen, Liu Shulin… Một luồng ý kiến khác: hai mô hình là hoàn toàn khác nhau, mô hình Trung Quốc là một bước đột phát hay nói cách khác, phủ định hoàn toàn mô hình Xô viết, mô hình của Liên Xô là một sự bế tắc. Những nhà khoa học ủng hộ quan điểm này là Liêu Thụ Lâm, Ma Lunshan, Chu Tân Thành và những người khác.

Theo Chu Tân Thành, Liêu Thụ Lâm và những người khác, trong hai mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc cần tách ra hai mảng : mảng cơ bản – bản chất và chế độ, và mảng kia là các hệ thống cụ thể. Xét về bản chất và chế độ cơ bản thì hai mô hình giống nhau, cùng kiểu.

Mô hình Trung Quốc là sự kế thừa mô hình Stalin. Trong trường hợp này, không thể nói mô hình Trung Quốc là một phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Còn các hệ thống cụ thể của mô hình Xô viết thì có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của nó. Do đó ta không thể phủ nhận hoàn toàn mô hình Stalin mà cần có sự suy nghiệm khoa học về nó. Có thể nói rằng trong các hệ thống cụ thể, mô hình Trung Quốc đã phát triển có sáng tạo mô hình Xô viết, và mô hình của Trung Quốc là một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần I


Yan Zhao

Toát yếu

Bài viết phân tích so sánh hai mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và Trung Quốc trên cơ sở các công trình nghiên cứu của giới học giả Trung Quốc. Tác giả đi tới kết luận rằng con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, tương hợp với các điều kiện quốc gia dân tộc và thực tế phát triển và tiến bộ ở Trung Quốc đương đại.

Những năm gần đây, đã diễn ra (và đến nay vẫn chưa kết thúc) một chiến dịch bàn luận về vấn đề mối tương quan giữa hai mô hình CNXH của Liên Xô và của Trung Quốc trong giới học giả Trung Quốc. Một số người cho rằng mô hình của Trung Quốc là sự phủ định hoàn toàn mô hình đã đi vào chỗ bế tắc của Liên Xô. Còn theo ý kiến của những người khác thì hai mô hình này về bản chất và các nguyên lý cơ bản là như nhau: mô hình Trung Quốc là sự kế thừa và phát triển mô hình Xô Viết. Như một đồng tiền có hai mặt của nó, mỗi quan điểm đều chứa đựng một phần chân lý.

Làm thế nào để nhận thức đúng đắn các nét đặc điểm chung và khác biệt của hai mô hình, làm sao để đánh giá một cách khoa học mô hình của Liên Xô, và đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật lịch sử để xem xét hai mô hình này, bởi vì nói cho cùng, ở đây chúng ta đang nói về khuynh hướng phát triển tiến bộ của xã hội loài người, xem xét viễn cảnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Vì vậy, cố gắng phân tích tìm hiểu rõ mối liên hệ giữa hai mô hình của Trung Quốc và của Liên Xô và việc làm có tầm ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.

“Mô hình của Liên Xô và mô hình của Trung Quốc không chỉ mối quan hệ mật thiết, nhưng cũng có những điểm khác biệt hiển nhiên. Đó là hai mô hình chủ nghĩa xã hội hiện đại. Tức là một chủ nghĩa xã hội, hai mô hình. Khó mà đánh giá mô hình này mà không xét đến mô hình kia”. Chúng tôi sẽ cố gắng phân tích kỹ hai mô hình này và mối liên hệ giữa chúng trên cơ sở nghiên cứu của các học giả Trung Quốc.

1/ Về khái niệm hai mô hình

Về mô hình Xô Viết

Như ta đã biết, “mô hình Xô Viết là gì?” là câu hỏi không có câu trả lời nhất trí trong giới khoa học Trung Quốc và hiện vẫn tồn tại một số qua điểm khác nhau.

Một là trong mô hình Xô Viết, vai trò của người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, bao gồm cả giai đoạn Chính sách Kinh tế Mới (NEP) và “giai kỳ chủ nghĩa cộng sản thời chiến” dưới thời Lenin. U. Enyuan, cộng tác iên khoa học Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc đã lưu ý rằng xét về nội dung, trong mô hình Xô Viết đã hình thành được các phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Nội hàm của mô hình đó không chỉ có các thành tố kinh tế, chính trị, mà bao gồm cả văn hóa, ngoại giao và…

Theo một phương án khác về mô hình Xô Viết – đó là hệ thống xã hội chủ nghĩa với trình độ tập trung cao chính quyền Xô viết trong kinh tế và chính trị đã hình thành sau Cách mạng Tháng Mười tại nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên bước vào con đường xây dựng CNXH và vẫn nằm trong vòng vây tư bản chủ nghĩa. Có thể nói rằng mô hình này đã bắt đầu hình thành dưới thời V.I Lenin và định hình dưới thời I.V. Stalin.

Hai là, mô hình Xô viết – đó chính là mô hình Stalin. Nhiều nhà khoa học hiện vẫn đang quan niệm như vậy. Chẳng hạn, Wang Shuhuay lưu ý rằng mô hình của Liên Xô, hay cũng là mô hình của Stalin, đã được Stalin xây dựng vào cuối những năm 20 đến đầu những năm 50 thế kỷ XX. Cả trong thời kỳ Stalin lẫn thời hậu Stalin cũng đã có thực hiện một số cải cách, trong đó có thời Khrushchev và Brezhnev lãnh đạo, nhưng bản thân mô hình này về bản chất không có gì thay đổi để rồi cuối cùng dẫn đến trì trệ, xơ cứng. Gu Haylyan trong cuốn “Lịch sử của sự phát triển của chủ nghĩa Marx” của mình đã viết rằng mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết là một phương thức, hay đường hướng, đã được hình thành trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Stalin, đó là một hình thức thực hiện hóa cụ thể chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô. Theo lời ông, Stalin là tác giả chính của mô hình Xô viết.

Và như lịch sử cho thấy, tất cả những gì được gọi là cải cách mà giới lãnh đạo của Liên Xô cũ tiến hành sau Stalin, chủ yếu là diễn ra theo đường lối mô hình Stalin. Vì vậy, khi nói đến mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết, chúng ta thường muốn ám chỉ mô hình Stalin. Luận điểm này thực tế đã là hiển nhiên đối với giới khoa học Trung Quốc.

Còn về điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mô hình Xô viết, thì ở đây cũng không có sự nhất trí ý kiến. Một số người cho rằng mô hình Xô viết bắt đầu có từ năm 1917, tức là khi Lenin mày mò tìm đường hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công. Những người khác lại cho rằng mô hình Xô viết xuất hiện vào thời hậu Lenin, tức là từ năm 1923. Nhưng cho dù mô hình CNXH của Liên Xô hình thành vào thời gian nào chăng nữa, thì nó cũng không bao gồm công cuộc cải cách nhân văn và dân chủ như dưới thời Mikhail Gorbachev.

Về mô hình Trung Quốc

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề về con đường phát triển của Trung Quốc bắt đầu thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Khái niệm “mô hình Trung Quốc” đã được nêu ra. Và sau khi bước sang thế kỷ XXI, “mô hình Trung Quốc” đã trở thành tâm điểm chú ý của công luận quốc tế vì Trung Quốc lúc này đã đóng một vai trò to lớn trên trường quốc tế.

Nhưng mô hình Trung Quốc là gì? Các nhà khoa học hiểu thế nào về bản chất của nó?

Trong các công trình của giới khoa học và chính khách nước ngoài, chúng ta thấy khái niệm “mô hình” mang nhiều sắc thái khác nhau. Mô hình được họ hiểu như là “con đường phát triển”, “kinh nghiệm phát triển”, “quan niệm phát triển” và đôi khi còn là những “đường lối và chính sách cụ thể”. Vì vậy, bên cạnh cụm từ “mô hình Trung Quốc” họ đồng thời còn sử dụng các cách nói khác nữa như “kinh nghiệm Trung Quốc”, “đồng thuận Bắc Kinh” (“Beijing Consensus”)… Và những khái niệm này thường được một số nhà khoa học Trung Quốc hiểu theo nhiều cách khác nhau.

Ma Shanlun so sánh chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và mô hình xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đi đến kết luận rằng mô hình Trung Quốc là mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, rằng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là con đường phát triển được chính người Trung Quốc khám phá ra mà không cần sao chép kinh nghiệm của các nước khác và không vay mượn mô hình phương Tây.

Juan Tszunlyan cho rằng mô hình ở đây được hiểu là các hệ thống chính trị và kinh tế, là các chủ thuyết cơ bản và kinh nghiệm. Nói một cách đơn giản hơn, mô hình Trung Quốc – đó là chủ nghĩa xã hội mang đặc thù của Trung Quốc.

Tần Xuân – Giáo sư Đại học Nhân dân Trung Quốc, một nhà khoa học lớn trong lĩnh vực nghiên cứu chủ nghĩa Marx và các vấn đề Trung Quốc đương đại, cho rằng mô hình Trung Quốc – đó là con đường phát triển của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc và kinh nghiệm thành công mà ĐCSTQ đã đạt được trên con đường phát triển này. Trong bài “Phân tích khái niệm mô hình Trung Quốc”, Tần Xuân đã phân tích rất kỹ khái niệm này và đi đến một số kết luận. Thứ nhất, mô hình Trung Quốc đã hình thành và phát triển ở Trung Quốc, và nó chủ yếu là giải quyết các vấn đề của Trung Quốc. Thứ hai, cái tên gọi “mô hình Trung Quốc” có được là từ kết quả so sánh với các mô hình khác, như mô hình của Mỹ, mô hình của Đức, mô hình của Nhật Bản và… Ba là, điểm khởi đầu hình thành và phát triển của mô hình Trung Quốc là được tính từ sau Hội nghị toàn thể lần thứ ba của ủy ban Trung ương ĐCSTQ khóa 11 năm 1978. Mô hình Trung Quốc đã hình thành và phát triển trong thời kỳ lịch sử mới của cải cách và mở cửa.

Theo đó, có thể rút ra kết luận: mô hình Trung Quốc là một mô hình phát triển xã hội dựa trên các luận điểm lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Nói đơn giản hơn, mô hình Trung Quốc – đó là một mô hình phát triển xã hội có tính đến kinh nghiệm tiến hành chính sách cải cách và mở cửa trong 30 năm.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không thể đơn giản hóa mô hình Trung Quốc như các nước ngoài đang làm khi họ xem mô hình Trung Quốc như là sự kết hợp tự do trong kinh tế và chuyên chế trong chính trị. Và không nên tiếp cận một cách hời hợt nếu muốn hiểu đúng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Những lĩnh vực nào có thể làm mới tình hữu nghị cũ Nga – Việt


Vai trò của Việt Nam trong khuôn khổ chính sách “hướng Đông” của Nga đang tăng lên. Năm 2016, việc Hiệp định về khu vực thương mại tự do giữa Liên minh kinh tế Á – Âu (EAEU) với Việt Nam chính thức có hiệu lực đã nâng đáng kể kim ngạch thương mại. Tuy nhiên, thỏa thuận này đã được lên kế hoạch ký kết từ trước khi xảy ra cuộc xung đột giữa phương Tây và Nga.

Chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu chiến lược Anton Tsvetov cho biết về việc liệu Việt Nam và Nga đều cần đến vai trò của nhau, và trong lĩnh vực nào thì có thể giúp tăng kim ngạch thương mại song phương và liệu nhà máy điện hạt nhân của Nga có được xây dựng ở Việt Nam.

Theo ông Tsvetov, về cơ bản, quan điểm chính thức của Nga về mối quan hệ song phương với Việt Nam là tích cực. Trong khoảng một thập kỷ qua, quan hệ hai nước đã có những sự kế thừa nhất định kể từ thời điểm là đồng minh trong Chiến tranh Lạnh. Hiện có thể nói rằng mối quan hệ Nga – Việt đã bước ra khỏi giai đoạn này, khi mà quan hệ hai nước giữ ở mức giữa hai quốc gia bình thường, mỗi nước đang theo đuổi những nhiệm vụ khác nhau trong chính sách đối ngoại của riêng mình. Đồng thời, chúng ta có thể giúp đỡ lẫn nhau trong việc thực hiện các nhiệm vụ này.

Tuy nhiên, nhìn một cách chiến lược thì quan hệ Nga – Việt không phát triển nhanh như mong muốn. Bởi vì hướng đi cơ bản được coi là quan trọng nhất để 2 nước xây dựng mối quan hệ tốt đẹp là kinh tế, thương mại, đầutư, nhưng trong các lĩnh vực này còn rất nhiều việc phải làm.

Về chính sách kinh tế của Việt Nam, tất nhiên, họ quan tâm tới thị trường Nga. Việt Nam tập trung vào phát triển nền kinh tế dựa trên tăng cường xuất khẩu và họ cần phải mở rộng thị trường tiêu thụ đối với hàng hóa của họ. Đó là các mặt hàng điện tử, công nghiệp nhẹ và cả nông nghiệp. Trong kế hoạch kinh tế, Việt Nam luôn quan tâm đến đầu tư và mong muốn đi kèm với đầu tư là công nghệ. Và Nga cũng là một trong số các quốc gia được các đồng nghiệp Việt Nam coi là một trong những thị trường tiềm năng. Hiện đã có nhiều khoản đầu tư của Việt Nam vào thị trường Nga và thậm chí còn nhiều hơn số mà Nga đã đầu tư vào Việt Nam.

Việt Nam mong muốn giành được nhiều lợi ích từ chính sách xoay trục hướng Đông của Nga. Tuy nhiên, các quốc gia Đông Nam Á và Việt Nam đã chậm chân trong chính sách này khi đến năm 2015 và năm 2016, Nga tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Nga – ASEAN ở Sochi.

Việt Nam đã có thể nhận được một vài lợi ích từ thỏa thuận về Hiệp định thương mại tự do với EAEU hồi năm 2015, nhưng cần phải biết rằng Việt Nam đã được nhắc tới trong chương trình nghị sự về Hiệp định thương mại tự do với EAEU từ trước khi Nga và phương Tây xảy ra xung đột. Như vậy, tức là sau khi quan hệ Nga – phương Tây rạn nứt, mong muốn quan hệ Nga – Việt Nam phát triển hơn đã không xảy ra.

Một trong những vấn đề thương mại của Nga và Việt Nam là sự hiện diện của hàng rào phi thuế quan đặc biệt là kiểm soát kiểm dịch thực vật.

Việc giải quyết những vấn đề này có lẽ là một trong những vấn đề khó khăn nhất bởi vì đây là vấn đề mang tính kỹ thuật, và giải quyết nó không chỉ đơn giản bằng quyết tâm chính trị. Đặc biệt là ở Nga, tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật khá nghiêm ngặt. Và để nhận được giấy phép trong lĩnh vực này là một trong những rào cản cơ bản đối với việc mở rộng kinh doanh thực phẩm. Mức độ kiểm soát nghiêm ngặt như thế này không chỉ có ở mỗi Nga. Các công ty của Nga xuất khẩu lúa mì cũng đang phải đối mặt với những vấn đề như thế này.

Nga không hy vọng rằng Việt Nam có thể cung cấp bất kỳ sự hỗ trợ chính trị quan trọng nào trong các vấn đề chiến lược mà Nga đang phải đối mặt trong chính sách đối ngoại. Rõ ràng là đối với Việt Nam, các đối tác như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc có nhiều ý nghĩa hơn trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư so với Nga. Chính bởi vậy, có lẽ không nên kỳ vọng điều gì lớn. Duy nhất có 1 lĩnh vực đã tồn tại trong một thời gian rất dài là xuất khẩu vũ khí.

Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam là một thị trường bắt đầu có sức mua lớn hơn. Người dân Việt Nam đã bắt đầu có tiền, chính phủ có tiền, thậm chí còn quá nhiều khi nhìn vào những vụ bê bối tham nhũng. Nhờ đó mà Nga có thể cung cấp hàng hóa của mình, như công nghệ vũ trụ, xây lắp máy móc, lĩnh vực quân sự, lắp ráp máy bay và công nghệ hạt nhân.

Về vấn đề nhà máy điện hạt nhân

Về dự án của Nga xây dựng Nhà máy điện hạt nhân ở Việt Nam, đang có những thông tin mâu thuẫn xuất hiện: có người nói rằng Nga đang xây dựng, còn có người lại nói Việt Nam đang từ chối.

Hiện nay, Việt Nam đang từ chối thực hiện tất cả các dự án nhà máy điện hạt nhân. Gần đây, đã có tờ báo nói rằng dự án của Nga thay bằng dự án của Nhật Bản, nhưng thực tế không phải như vậy. Cả hai dự án đều bị hủy bỏ. Và hiện giờ việc xây dựng các nhà máy điện hạt nhân chưa được xác định.

Quyết định từ bỏ năng lượng hạt nhân cho tới nay có thể thấy khá chắc chắn. Cho tới nay, không ai nói về điều này nữa. Mặc dù về chính thức thì sự hợp tác giữa Nga và Việt Nam trong lĩnh vực hạt nhân nhìn chung vẫn tiếp diễn – khoa học, công nghệ, y tế và nhiều ứng dụng hạt nhân khác phục vụ mục đích hòa bình, nhưng nhà máy điện thì không được nhắc tới.

Hiện nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế rất lớn, và trên thực tế phát triển ngành công nghiệp hạt nhân là bước đi tiếp theo. Mức độ phát triển kinh tế đã đạt được đến độ đã đến lúc kết nối với hạt nhân. Nhưng cũng cần hiểu rằng ở Việt Nam có nhận thức rõ ràng về biến đổi khí hậu, sinh thái và an toàn môi trường.

Vụ tai nạn Fukushima gây ra một phản ứng mạnh mẽ trong xã hội, và các nhà cung cấp của Nga đã phải làm rất nhiều việc để chứng minh cho độ an toàn của công nghệ của chúng ta. Nhưng vẫn chưa đủ để phía Việt Nam cảm thấy bớt quan ngại và đó là một trong những lý do họ từ chối cả công nghệ của Nga và Nhật Bản.

Tuy nhiên, vẫn còn đó áp lực đối với chính phủ. Mô hình khí đốt than sẽ cần phải được thay đổi, nhưng cho tới nay Việt nam vẫn đang duy trì các nguồn năng lượng truyền thống, bởi vì đơn giản là để chuyển đổi cần phải mức giá quá cao. Trên thực tế, lý do chính thức Việt Nam từ bỏ Nhà máy điện hạt nhân là giá chuyển đổi cao so với ngân sách của quốc gia này.

Mua bán vũ khí

Về thông tin cho rằng đã có những hợp đồng mua bán vũ khí giữa Mỹ và Việt Nam. Ông Tsvetov cho rằng trong triển vọng ngắn hạn, Mỹ chưa thể đẩy Nga ra khỏi thị trường Việt Nam bởi vì sự phụ thuộc hiện nay rất lớn. Nó là cả một quá trình lịch sử kéo dài.

Công nghệ mà Nga cung cấp đang là xương sống cho lực lượng vũ trang Việt Nam, kể cả trong các lĩnh vực quan trọng như vũ khí hải quân. Mặc dù Nga cũng có những đối thủ cạnh tranh lớn ở đây như Nhật Bản và Mỹ.

Trong ngành hàng không, chúng ta vẫn có những sự tự tin nhất định. Nhưng các cuộc cạnh tranh sẽ ngày càng gia tăng. Việt Nam quan tâm đến vũ khí của châu Âu, Mỹ, các loại máy bay vận tải của Mỹ. Ở đây, trên thực tế, có sự phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trang thiết bị, đào tạo, kỹ thuật công nghệ, và tất cả những điều này vẫn nằm trong tay Nga. Tuy nhiên, sự cạnh tranh sẽ phát triển. Đây là một vấn đề liên quan nhiều đến chính trị hơn là về chất lượng vũ khí của chúng ta.

Nguồn: Mạng Chuyên gia Á – Âu (Nga) – 07/12/2017

TKNB – 11/12/2017

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần cuối


Đáng chú ý, đây không phải là bản đánh giá tình hình. Còn câu nói của Khorev – một nhà hoạt động đối lập nổi tiếng: “Tôi không phải là người theo chủ nghĩa dân tộc…” cho thấy quyền lực của phương tiện thông tin đại chúng đố với tâm hồn con người. Khorev bảo vệ dân tộc Nga khỏi sự tiêu diệt, mà vẫn phải thanh minh về điều này. Nhưng dân chúng chết là do hậu quả của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của phương Tây và đám “cải cách” đối với nhân dân Nga. Có một cuộc “thanh lọc” không gian sống của phương Tây đối với các dân tộc thấp kém. Đây thực tế là sự tiếp tục hành động của Hitler:

Ngày 23 tháng 7 năm 1942 trên bàn Hitler có một chiếc cặp đỏ. Tài liệu được gọi là: “Nhận xét và kiến nghị về kế hoạch tổng thể “Ost” của Tư lệnh quân SS”. Hitler đọc: “Để tránh sự tăng dân số không mong muốn, ở phía Đông cần kiên quyết tránh áp dụng các biện pháp mà ta dùng để tăng dân số trong đế chế. Tại những vùng đó chúng ta cần phải tiến hành có chủ định chính sách cắt giảm dân số… Các phương tiện tuyên truyền, nhất là qua báo chí, đài, phim ảnh, truyền đơn, sách, báo cáo… chúng cần liên tục nhồi vào dân chúng ý nghĩ có nhiều con là có hại. Cần phải cho họ thấy là sẽ tốn rất nhiều tiền cho việc nuôi trẻ, và với số tiền ấy có thể mua được những gì… Ký tên: Giám đốc đề án thanh lọc di truyền Ernst Ruddin”.

Tiếp theo đó là sắc lệnh: “Tại các vùng lạc hậu, việc phá thai được tự do. Các phương tiện phá thai và tránh thai phải được cung cấp công khai, không bị các cản trở chính trị. Đồng tính luyến ái phải được tuyên bố là hợp pháp. Chính trị không được cản trở các cơ sở và cá nhân thực hiện việc phá thai”.

Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Wolfenshon đã đặt nhiệm vụ: “Giữ dân số trên trái đất tới năm 2025 ở mức 8 tỷ người…”. Quota dành cho nước Nga là bao nhiêu? Các chuyên gia của Câu lạc bộ Roma trả lời: 50 triệu người.

Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Thế giới đề nghị cải cách toàn bộ hệ thống y tế Nga. Nhiệm vụ chính của nó là kiểm soát tỷ lệ sinh đẻ. Ngân hàng thế giới đã chi 66 triệu USD cho việc tiến hành thử nghiệm ở tỉnh Kaluga và Tver. Hai tỉnh của nước Nga trở thành bãi thử! Đã tính được là: số giường bệnh giảm 20%. Các nhà hộ sinh nhỏ bị đóng cửa, kể cả ở những làng xa xôi. Các bệnh hoa liễu bây giờ chữa ngay tại nơi tư vấn phụ nữ. Dự định lắp đặt cái gọi là dụng cụ soi để tiệt trùng. Tất cả những người nhận được phương tiện từ nước ngoài đều phải viết báo cáo năm cho Ngân hàng Thế giới về các chỉ số cơ bản. Văn phòng cái chết thích sự chính xác”.

Khác biệt giữa chiến tranh thông tin với hành động của Hitler chỉ là ở chỗ dưới tác động thông tin – tâm lý, ý chí kháng cự của dân tộc Nga và các dân tộc khác đã bị tê liệt. Đất nước bị tàn phá, tiêu diệt công nghiệp, nông nghiệp, quốc phòng, văn hóa, y tế, sự độc ác với trẻ em và người già – đó chính là bản chất hành động của đám “cải cách”, sẵn sàng làm mọi thứ để có được USD của phương Tây. Hậu quả hoạt động của chúng là 8 triệu người bị chết, từ 2 – 4 triệu trẻ em không được chăm sóc. Alfred Kox – nhà cải cách dân chủ hàng thứ 3, cựu Phó Thủ tướng, đứng đầu cơ quan tư hữu hóa, đã tổng kết thành tích của mình trong buổi phỏng vấn với nhà báo Mỹ Mikhail Buzukavsvili (ngày 23 tháng 10) được công bố trên nhiều báo.

Dưới đây là nguyên văn cuộc phỏng vấn:

Mikhail Buzukasvili: Dự báo của ông về tương lai của nước Nga ngày mai, mười năm sau như thế nào?

Alfred Kox: Khai thác quặng thô. Một cuộc di cư của tất cả những ai có thể suy nghĩ, sáng tạo… Tiếp sau – chuyển thành một trong top 10 các nước yếu nhất.

MB: Điều này kéo dài có lâu không?

AK: Tôi nghĩ trong khoảng 10 – 15 năm… Kinh tế thế giới đã phát triển không có nước Nga… bây giờ khi xuất hiện nước Nga, thì chẳng ai cần tới nó cả (cười). Nó chỉ làm vướng thôi. Bởi vậy, tôi nghĩ số phận của nó là đáng buồn.

MB: Ông có dự báo là đầu tư sẽ vào nước Nga?

AK: Không, bởi vì chẳng ai cần tới nước Nga! Nước Nga chẳng cần cho ai cả (cười) – anh không hiểu à?

MB: Nhưng nếu chính phủ mới sẽ cố gắng làm điều gì đó?

AK: Thì có ý nghĩa gì đâu… Dù có xoay sở thế nào thì nó vẫn là đất nước bị phá sản (cười sung sướng).

MB: Có thể cải tổ là chấp nhận được với nước Nga?

AK: Chỉ khi nó từ bỏ các tranh luận của mình về tinh thần dân tộc Nga và vai trò đặc biệt của nó. Nếu như họ cứ bám vào tự trọng dân tộc và tìm kiếm phương cách đặc biệt cho mình, nghĩ rằng bánh mì mọc ở trên cây, thì người Nga chẳng có thể làm gì được. Họ ngắm nhìn mình kỹ quá! Họ tới giờ vẫn tự hào về vũ ballet cổ điển của mình, văn học của mình, tới mức chẳng có thể làm cái gì mới. Người Ba Lan đó… kinh nghiệm Ba Lan. Thế họ làm được gì nào? Chẳng có gì.

Họ cứ sống thế, đào khoai tây. Tôi chẳng thấy họ có chút tài năng gì. Sao, họ bắt đầu chế tạo tên lửa à? (Cười).

MB: Nếu cứ theo quan điểm của ông về nước Nga, thì bức tranh thật ảm đạm…

AK: Vâng, tất nhiên. Nó chẳng thể đáng mừng được.

MB: Nhưng dù sao cũng muốn cho dân tộc đã chịu nhiều đau khổ…

AK: Cái dân tộc chịu nhiều đau khổ này phải chịu đựng do lỗi của chính mình. Vậy nên cái dân tộc này xứng đáng phải ăn cái do mình trồng ra. (cười thật sung sướng).

MB: Những người cộng sản có quay lại chính quyền ở Nga không?

AK: Họ đã quay lại. Hoàn toàn theo đúng chương trình. Những người cộng sản giáo điều. Cả Primakov, và những người khác…

MB: Ai có khả năng hiện thực để trở thành Tổng thống Nga?

AK: Lebedev và Luzkov.

MB: Ông giải thích thế nào về thảm họa của nước Nga?

AK: Tôi nghĩ rằng đó là chiến lược đặc biệt của phương Tây để làm suy yếu nước Nga. Phương Tây hứa sẽ trợ giúp kinh tế nhưng không làm. Bỏ mặc nước Nga một mình với món nợ không phải do nó gây ra. Cái chiến lược đúng, và được tiến hành rất thành công.

MB: Phương Tây có hiểu là hỗn loạn ở nước Nga có thể sẽ là hiểm họa với toàn thế giới?

AK: Nói thật, tôi không hiểu vì sao hỗn loạn ở nước Nga có thể trở thành hiểm họa cho thế giới. Chỉ vì nó có vũ khí hạt nhân thôi ư?

MB: Thế còn ít sao?

AK: Tôi nghĩ, để tước đi vũ khí nguyên tử của chúng ta, chỉ cần một sư đoàn dù. Bất ngờ đổ bộ và mang các tên lửa đi! Quân đội của chúng ta chẳng còn chút khả năng kháng cự.

MB: Theo ông, cái đáy của cuộc sống ở nước Nga như thế nào?

AK: Chẳng có cái đáy nào cả.

MB: Hiện giờ ông sống ở đây. Ông đối với nước Nga thế nào?

AK: Chẳng hơn gì so với Brazil. Nước Nga cần phải từ bỏ hình bóng một siêu cường. Nếu nó cứ phồng mồm làm bộ tịch cùng với tên lửa, thì điều đó thật nực cười, sớm hay muộn rồi cũng nổ tung”.

Bài phỏng vấn này như là khúc khải hoàn của “nhà cải cách trước một nước Nga bại trận cùng nhân dân đáng thương của nó, như thành quả của cuộc chiến tranh thông tin.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần VIII


Dân Nga chết dần chết mòn

Hoạt động của “các nhà cải cách” đã gây nên một thảm họa dân số. Nếu như năm 1991 (và những năm trước đó) vẫn có sự gia tăng dân số, thì bắt đầu từ 1992 dân số nước Nga bắt đầu sụt giảm nhanh (từ 800 nghìn năm 1992 tới 1,5 triệu người những năm gần đây). Đó là hậu quả của sự sa sút về kinh tế – xã hội trong dân chúng. Một phần đông dân chúng (70%) ở dưới mức nghèo khổ. Mức tiêu thụ giảm xuống ngang với năm 50. Sự việc thậm chí không phải ở mức nghèo, mà ở chỗ đời sống dân chúng bị tụt hậu khoảng 30 năm. Tình trạng bất ổn chính trị và xã hội, tội phạm gia tăng, các cuộc xung đột sắc tộc, làn sóng dân tỵ nạn, thiếu tin tưởng vào tương lai nói chung đã gây mối lo ngại thật sự. Trong những điều kiện đó phụ nữ sợ phải sinh nở, bởi vì họ không đủ sức bảo vệ chính mình và con nhỏ khỏi cực khổ và tai họa. Ta hãy xem biểu đồ chất lượng cuộc sống:

Nếu lấy chỉ số lấp đầy quầy hàng ở Moskva để đánh giá, thì tổng thống hoàn toàn đúng: “Bây giờ các quầy hàng chất đầy hàng hóa, còn 5 năm trước chúng trống không”. Nhưng cửa hàng không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối của sự đầy đủ. Còn có các kệ trong tủ lạnh gia đình nữa. Theo số liệu của Thống kê Nhà nước và điều tra bất kỳ về kinh tế gia đình, cho thấy sự suy giảm khả năng mua sắm của dân chúng. Đối với thực phẩm, tính theo phần trăm vào năm 1994 so với mức 1990: bánh mì – 30, thịt – 55, trứng – 66, đường – 56, dầu thực vật – 52, bơ – 38, khoai tây – 62, rau – 55, rau quả – 77. Trong năm 1995 sự sụt giảm vẫn tiếp tục, còn năm 1996 thu nhập thực tế trên đầu người giảm thêm 1% nữa (“Tin tức tài chính” 10 tháng 10 năm 1996).

Để đánh giá đầy đủ về tiêu thụ thực phẩm, ngoài quầy hàng ở thủ đô cần phải tính đến hệ thống buôn bán ở bên ngoài nữa. Khi xét tổng thể toàn nước Nga thì thấy rằng, trong các cửa hàng bán các sản phẩm tương ứng, vào tháng 6 năm 1996 không đủ thịt bò là – 50%, trứng – 28%, mỡ động vật – 13%, dầu thực vật – 10%, đường – 9%.

Trong số phụ nữ mang thai, tỷ lệ mắc chứng thiếu máu (thường là do không đủ ăn) trong thời gian cải tổ và cải cách tăng lên 5 lần.

Cùng với việc giảm số lượng tiêu thụ thực phẩm, chất lượng của chúng cũng kém đi rất nhiều, nhất là từ nguồn nước ngoài.

Sự phát triển CNTB trong quá trình văn minh hóa có đặc trưng là tăng số lượng “tầng lớp trung lưu”. Chính những người này bằng khả năng mua sắm của mình đã tạo nên nguồn dự trữ chính của thị trường trong nước. Tại nước Nga cải cách thì có xu hướng ngược lại. Vào năm 1994 – 1996 một phần tư số gia đình là nghèo khổ, bởi vì có thu nhập trên đầu người thấp hơn mức sống tối thiểu. Do mức sống tối thiểu hiện nay đã giảm tới 40% so với mức của những năm 80 (Báo “Sự thật” 21 tháng 5 năm 1996), thì số nghèo khổ thực tế trong cả nước là 42%.

Có lẽ bản nhận xét đáng sợ nhất về hành động của đám “cải cách” liên quan tới tình trạng trẻ em ở Nga:

Những kẻ “cải cách” mừng ngày bảo vệ trẻ em bằng 4 triệu trẻ em lang thang… Đó là chỉ riêng ở Nga. Còn có bao nhiêu trẻ em lang thang trên toàn SGN?

Vladimir Davidov – Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nói trước phiên họp Duma quốc gia: “Có một số lượng khổng lồ những trẻ lang thang”. Ông báo cáo với các đại biểu là trong một chiến dịch của Viện Kiểm sát, chỉ trong 3 ngày ở tỉnh Sverdlovsk đã phát hiện được 4 nghìn trẻ lang thang. 300 em trong số này phải đưa ngày vào bệnh viện trong tình trạng suy kiệt nghiêm trọng, với các bệnh ngoài da, hoa liễu và các bệnh khác. Tại vùng Stavropol  phát hiện 640 trẻ không được học trong trường, trong đó 200 chưa bao giờ đi học, 240 trẻ không thể tới trường vì tình hình kinh tế của gia đình. Tại Moskva năm 1997 phát hiện 6000 trẻ cần có sự bảo vệ của Nhà nước. Hơn 2000 trẻ bị giữ ở ga tàu điện ngầm do ăn xin.

Trong 5 năm gần đây, số trẻ vị thành niên nghiện rượu ở trong nước đã tăng 40%, còn số trẻ chơi ma túy phát hiện được đã tăng 4,6 lần. Các cuộc kiểm tra của Viện Kiểm sát cho thấy động cơ phạm tội của trẻ vị thành niên thường là do yếu tố xã hội, nghèo đói, thiếu chăm sóc. Ngay tại tỉnh Sverdlovsk, việc bị đói thường xuyên là nguyên nhân phạm tội của một phần tư số vụ “trẻ em”. Hơn 60% kẻ tham gia các tội ác tập thể sống trong những gia đình có mức sống cực thấp. Viện Kiểm sát tối cao có rất nhiều sự kiện về chủ đề này. Nhưng Viện Kiểm sát có giải quyết vấn đề lỗi tại ai mà các gia đình ở Nga nghèo đói, số trẻ lang thang gia tăng, không trả tiền nuôi trẻ tới 15 tỷ rupe, quảng cáo và cổ vũ cho mại dâm và ma túy, đóng cửa nhà trẻ và trường học, không trả lương cho giáo viên?

Gần 2 triệu trẻ không tới trường do bố mẹ không đủ tiền. Trong 5 năm gần đây, số trẻ được vào nhà trẻ và mẫu giáo giảm từ 9 triệu xuống 5 triệu. Số lượng các nhà nghỉ dưỡng bệnh ngoại ô giảm một phần ba; 113 nghìn trẻ bị bố mẹ bỏ rơi trong năm 1997. Từ đầu năm nay, trong 600 nghìn trẻ không người nuôi phát hiện được, chỉ có 5% là mồ côi cả cha lẫn mẹ, còn lại là mồ côi trong khi cha mẹ còn sống. Tỷ lệ tử vong trong thiếu niên 3 năm gần đây tăng 36%. Mỗi năm có gần 2 nghìn thiếu niên tự tử… Số trẻ mắc bệnh ho gà, sốt phát ban, ghẻ lở, lao gia tăng”.

Đây là cảm nghĩ của dân thường tỉnh lẻ ở Nga:

Ở thị trấn Novovarvarovsk của chúng tôi có 10 nhà hai căn hộ, 60 em bé. Trước đây tôi thường nghĩ thật là tốt nếu trong nhà có trẻ con – thật thích khi sống với chúng. Nhưng bây giờ, khi tôi thường xuyên thấy chúng bị đói, tôi lại có ý nghĩ khác. Cách đây không lâu tôi có việc xuống làng Anuchino và trở về thật buồn. Hai em bé chừng 3 – 4 tuổi không hơn, ăn lá cây cạnh cửa hàng của làng. Nếu mà nhìn thấy khuôn mặt chúng…

Nhưng trở về với cuộc sống ở Novovarvarovsk. Trẻ em cũng đói. Đã ba năm nay chẳng có nước: lúc thì họ chở tới, lúc thì không. Bơm bị hỏng rồi”.

Nhân đây nhớ lại chiến dịch ầm ĩ của đám “dân chủ” trong thời kỳ cải tổ, trong đó giá trị cao nhất là không để trẻ nhỏ nào phải rơi lệ. Nhưng hậu quả của việc đám “dân chủ” chiếm chính quyền là hàng triệu trẻ em lang thang, không được tới trường, đói khát. Nhiều em bị hiếp dâm, chà đạp. Có những thông báo về việc sử dụng trẻ em như “đồ phụ tùng” trong mổ xẻ. Còn những kẻ từng diễn thuyết về “giọt nước mắt trẻ thơ”, đòi phải tăng cường “cải cách”, đã đẩy hàng triểu trẻ em vào cảnh khổ cực và bị chà đạp.

Về những gì đám “cải cách” đem lại cho người già được Volưnsk viết từ năm 1994:

Người ta đã thôi không chôn người thân đã khuất của mình. Từ năm 1992 đã trở thành hiện tượng bình thường, khi người thân từ chối nhận từ nhà xác thi thể người chết. Sự giải thích rất đơn giản và đáng sợ: chẳng có tiền để chôn cất. Một đám tang khiêm tốn nhất cũng mất ít nhất 300 nghìn rupe. Còn tiền để làm bia, hàng rào… Năm 1993 ở quận Gatchin tỉnh Leningrad có khoảng 2 nghìn người chết, thì gần 30 người mai táng bằng tiền Nhà nước. Chỉ có 1,5% tổng số người chết, có lẽ con số cũng không lớn. Nhưng nó có xu hướng tăng lên. Nhiều gia đình đã đặt lên bàn công ty mai táng số tiền tiết kiệm cuối cùng hoặc phải bán đồ đạc. Tính từ tháng 1 năm 1994 đã có 20 người chết không được người thân chôn cất, tức là chưa đầy nửa năm con số đạt mức 2/3 của năm 1993”.

Số lượng xác vô thừa nhận tăng nhanh. Chẳng lấy gì mà chôn người chết. Người ta rời khỏi cuộc đời không được như con người. Theo quan điểm của đám “cải cách” thì đó có lẽ là đỉnh cao của dân chủ. Anh có quyền tự do lựa chọn: thích thì chôn người thân, nếu có khả năng, không thích thì thôi. Tác giả cuốn “Thảm họa dân số nước Nga” Khorev đưa ra lời bình luận thế này:

Giới cầm quyền và đám trí thức bao quanh chẳng có ý định từ bỏ các cải cách vô nhân đạo, đường lối ăn cướp của mình. Thế mà chúng có bề ngoài văn hóa… Thực chất đó là đám ăn thịt người, từ bộ lạc umba-mumba hay cái gì đó. Tôi hoàn toàn không phải người theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng hiểu rõ rằng chúng nhổ toẹt vào dân tộc Nga.

Hơn thế nữa, bây giờ lại tung ra luận điểm là phát triển quan hệ thị trường  cần tới những lớp dân cư trẻ hơn. Các ông ba già càng chết đi nhanh chóng thì cải cách thị trường tiến hành càng thành công.

Đó là dã man và vô văn hóa, tôi chẳng có đánh giá nào khác. Như trong bài thơ ngày nay lan truyền dưới dạng đánh máy gửi qua các thùng thư gia đình:

“Có tin đồn đến tai chúng tôi

Rằng mày đã phá tan nước Nga

Rằng người già và em nhỏ chết không theo ý trời

Nhưng không đủ quan tài để chôn tất cả…”

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.

Chương trình tiêu diệt nước Nga – Phần VII


Hơn một năm sau cuộc phỏng vấn này, tình trạng của các nhân viên y tế tồi tệ tới mức bắt đầu có những cuộc bãi công tự phát. Nhiều vùng không được phát lương, và người ta chẳng biết lấy gì mà sống. “Các nước văn minh” không giữ quan điểm tránh can thiệp vào vấn đề sức khỏe của người dân Nga. Nhưng sự trợ giúp của họ, nói nhẹ ra, là mang tính chất hai mặt. Ta trích bài phỏng vấn Bộ trưởng Y tế Liên bang Nga Dmitrieva:

Vasina: Cuối tháng 2, trong báo cáo trước hội đồng Bộ Y tế bà nói rằng “các dự án quốc tế ngày nay được thực hiện trên lãnh thổ nước Nga, trong trường hợp khá nhất là vô tác dụng. Còn tệ hơn là – có hại”. Nhưng nước ta đã trở thành bãi thử để họ thí nghiệm. Cách đây không lâu đã thêm một chương trình nữa – chương trình AIDS của Liên hợp quốc. Tại Petesburg có những xe bus, trong đó bọn nghiệm ma túy nhận được ống tiêm dùng một lần, bao cao su, cộng với những “lời khuyên tốt”. Bà có thể nói gì về việc này.

Dmitrieva: Vâng, chương trình này hoạt động ở Saint-Petesburg và tỉnh Iaroslav. Chính sự gia tăng tiêm chích ma túy đã làm bùng nổ lây nhiễm dịch AIDS ở nước ta vào năm ngoái. Ý tưởng của chương trình có vẻ có ích: nếu anh nghiện ma túy thì đừng lây cho người khác. Nhưng quan điểm của riêng tôi về chuyện này, nói nhẹ ra là rất thận trọng. Chúng ta còn chưa đủ luật, và trên cái nền như vậy, nếu chúng ta đối xử tự do như vậy với nạn ma túy, thì không phải là tốt. Bà có thể nhận thấy là: dù bác sĩ có khó khăn thế nào, thì trong lời họ trước hết vẫn là sự lo lắng cho bệnh nhân. Thế mà nhiều bác sĩ đang thất nghiệp, bởi vì không thể chữa bệnh bằng tay không – chẳng có thuốc, đồ băng bó, dụng cụ. Thật là nghịch lý: bác sĩ ngày nay luôn phải nằm dưới lưỡi kiếm Democritus của trách nhiệm hình sự vì không thực hiện Điều 41 của Hiến pháp”.

Hành động của phương tiện thông tin đại chúng thực tế là quảng cáo cho đồi trụy, mọi thứ đều được phép, bảo vệ “quyền” của lũ đồng tính, gây cảm tưởng là tạo điều kiện tăng tốc lây lan AIDS ở nước Nga.

Còn về nạn ma túy, thì nó dần dần mang tính chất thảm họa quốc gia. Thật ra, tạm thời Nga còn chậm chút ít so với Kazakhstan và Kirgizia, nhưng cũng đã tiến gần tới mức của họ. Tình hình ở các nước này được Lidin mô tả:

Các chuyên gia chống ma túy của Kazakhstan đã đi tới kết luận đáng buồn. Theo tính toán của họ, tới năm 2000 tại nước cộng hòa này sẽ có hơn một triệu người nghiện ma túy. Ngay bây giờ, chỉ riêng thủ đô đã thống kê được gần 17 nghìn người “ngồi trên kim”. Đó là nhiều hơn 6 lần so với 5 năm trước. Nhưng những người hiểu biết cho rằng con số ấy cần nhân lên 10, thậm chí 15 lần nữa. Thống kê chính thức chỉ ghi nhận một phần nhỏ những người lọt vào ảnh hưởng của thứ độc dược ấy. Hơn nữa ngày càng nhiều thanh niên rơi vào lưới này.

Theo đánh giá của chuyên gia Bộ Nội vụ Kazakhstan, một nửa số sinh viên đại học, trung cấp đã dính tới ma túy kiểu này hay khác. Một nhóm xã hội nguy hiểm khác – đó là những kẻ thất nghiệp, mất chỗ dựa trong cuộc sống. Những kẻ bán ma túy thường cung cấp cho những liều đầu tiên không mất tiền. Để cho con người quên đi, “phê”, và đi liền với nó là thói quen tai hại, mà nhiều người chỉ có cái chết mới giải thoát được. Khi họ còn “sống”, tất cả tâm trí chỉ hướng về một chỗ – kiếm tiền ở đâu ra để mua liều khác.

Một vài năm trước, ma túy chỉ quay vòng trong một môi trường khá hạn chế. Ngày nay cần sa, thuốc phiện, thậm chí heroin trở thành một trong những thứ hàng phổ biến nhất trong nước. Có điều này trước hết là do Kazakhstan cùng với Kirgizia trở thành trạm trung chuyển trên con đường vận chuyển ma túy lớn…

Chỉ riêng số lượng ma túy bắt được trong nước năm vừa qua đã đạt tới mức 13 nghìn kg. Mỗi ký bán sỉ cũng đáng giá 3 – 4 nghìn USD. Mà theo ý kiến của các chuyên gia, chỉ là một phần mười, thậm chí một phần 20 số ma túy được đưa ra chợ, nhà thổ.

Một mặt, nhiều người tìm trong thế giới ảo tưởng của ma túy sự cứu rỗi khỏi những khó khăn đời thường. Mặt khác, sản xuất và tiêu thụ thứ độc dược này trở thành ngành công nghiệp mang nhiều lợi nhuận nhất hiện nay. Lợi nhuận mà các trùm ma túy Trung Á thu được cho phép họ đặt điều kiện không chỉ với cảnh sát, mà cả chính phủ nhiều nước. Không phải ngẫu nhiên mà trong các vụ tai tiếng liên quan tới ma túy, luôn có những quan chức cấp cao dính vào, thậm chí cả nghị sĩ, như mới xảy ra ở nước Kirgizia bên cạnh.

Qua phân tích đáng sợ và khắc nghiệt buộc các chuyên gia phải đưa ra kết luận không làm hài lòng giới cầm quyền dân chủ và tự do ở các nước Cộng hòa Trung Á ngày nay. Nhiều chuyên gia có uy tín cho rằng chính đường lối cải cách xã hội và kinh tế do giới cầm quyền hiện nay lựa chọn đã đẩy phần đông dân chúng vào hố sâu ma túy”.

Chất lượng thực phẩm có ảnh hưởng to lớn tới tình trạng sức khỏe dân chúng. Đối với gần nửa dân số đang ở trong cảnh nghèo khó, thì sự lựa chọn cực kỳ hạn chế, nhiều người buộc phải nhịn đói. Ngoài ra trong cả nước Nga vào thời thống trị của đám “cải cách”, chất lượng thực phẩm giảm sút nghiêm trọng. Số liệu của thanh tra Nhà nước cho thấy mức độ nhiễm bẩn thực phẩm bởi các chất hóa học, sinh học và vi khuẩn là rất cao.

Sự xuống dốc của chất lượng thực phẩm xảy ra sau khi “các nhà cải cách” phá hoại nền nông nghiệp của đất nước, mở đường cho việc nhập nông phẩm từ nước ngoài. Trong bài Kết thúc nền văn minh hay đang tiến tới… Sinh thái học từ mọi phía của B.A. Lixichkin & L.A. Selepin (M.:IC Bảo hành, 1997) có viết:

Tình hình chất lượng và an toàn thực phẩm đã trở nên nghiêm trọng do số lượng nhập khẩu tăng lên. Chỉ trong năm 1993 đã ghi nhận hàng chục trường hợp nhập vào những thực phẩm kém chất lượng, là nguyên nhân gây nhiễm độc và bệnh tật cho con người. Trong khuôn khổ trợ giúp nhân đạo đã nhập vào nhiều sản phẩm thức ăn trẻ em, không những không thể dùng nuôi trẻ mà còn không thể ăn được. Ví dụ ở tỉnh Krasnodar phải loại bỏ đồ hộp cho trẻ em đưa từ Mỹ sang vì bị hỏng, bao bì không kín, và hết hạn sử dụng. Cũng do có nhiều vi khuẩn mà một khối lượng hàng lớn đồ ăn trẻ em nhận từ Phần Lan, Hà Lan, các nước khác cũng phải hủy bỏ. Do hoạt động thiếu kiểm soát của nhiều công ty tư nhân, cả nước tràn ngập loại kẹo cao su chất lượng thấp, hơn nữa còn chứa các chất phụ gia chưa được cho phép ở Nga và cả chất độc. Không ít trường hợp ngộ độc rượu do rượu nhập khẩu. Ủy ban liên ngành đã ra kết luận: Tình trạng không thể chấp nhận được về chất lượng và an toàn thực phẩm là một trong những nguyên nhân cho xu hướng tiêu cực về giảm dân số”.

An toàn thực phẩm thực tế đã vị phạm:

Với việc tư nhân hóa thương mại, trong đó có lĩnh vực tiêu thụ hàng tiêu dùng và thực phẩm nhập khẩu, vấn đề chất lượng ngày càng mang tính xã hội vì đã lọt vào thị trường Nga và lên bàn ăn của chúng ta những thực phẩm có hại cho sức khỏe. Đây là số liệu của Ủy ban Thanh tra Nhà nước về buôn bán và chất lượng hàng hóa để bảo vệ quyền của người tiêu dùng năm 1996:

Tên hàng Bị loại khi nhập trên số đã kiểm tra (%)
Giầy 30
Đồ may mặc 36
Vải 40
Rượu 23
Thịt hộp 64
Dầu thực vật 60
Thuốc lá 80
Dầu ô lưu 45
Sữa hộp 52

Tất cả những yếu tố này không chỉ tác động đến sức khỏe của từng người, mà còn làm giảm mức độ miễn dịch của toàn dân nói chung. Thí nghiệm khoa học do Học viện Y tế Nga tiến hành, nhất là mô hình toán học của Boev cho thấy nếu dịch bệnh xảy ra khi khả năng miễn dịch giảm thấp có thể mang tính chất thảm họa gây chết người hàng loạt. Trong khi đó cơ sở khoa học y tế đang bị cố tình phá hoại. Trong bài Những người của khoa học trong vai kẻ đi làm thí nghiệm của Vaxina (Sự thật năm số 20, 30 tháng 5 – 6/1997) đưa ra những sự thật sau:

Ngân sách liên bang nợ Học viện Y tế năm 1996 là 58 tỷ rupe, trong đó nợ lương và học bổng hơn 44 tỷ rupe. Lương trung bình của cán bộ Học viện Y tế năm ngoái là 517 nghìn rupe, thấp hơn nhiều mức lương trung bình của toàn Nga. Bảy mươi phần trăm dụng cụ khoa học y tế đã được sử dụng trên 10 năm, do đó ảnh hưởng đến chất lượng nghiên cứu cứu khoa học”.

Một trong những trung tâm dịch tễ học tốt nhất thế giới – Viện mang tên Gamalei, đang chịu cảnh tồn tại khốn cùng. Viện về virus học mang tên Ivanovski cũng trong tình cảnh tương tự. Dần dần hình thành một tình trạng không thể kiểm soát nổi. Trong khi đó dịch bệnh truyền nhiễm gia tăng, và tỷ lệ tử vong trong dân chúng dự báo trong vài năm tới sẽ tăng mạnh (nhất là trẻ em). Xuất hiện câu hỏi: hành động của “các nhà cải cách” trong lĩnh vực y tế và khoa học ngành y có phải là sự chuẩn bị cho việc tiêu diệt hàng loạt dân chúng nước Nga vào thời điểm khi khả năng miễn dịch giảm thấp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TCII 1999.