Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần IV


Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thực chất của cảnh báo chiến lược mà NATO nhận được về cuộc xâm lược hay gây hấn của Nga ở quy mô nhỏ hơn cũng là một vấn đề gây tranh cãi. Các giả định khác mà nghiên cứu của RAND đưa ra cũng gây tranh cãi – chẳng hạn như quy mô của lực lượng xâm lược của Nga, bản chất chính xác của chiến dịch của Nga và cách nước này tổ chức cuộc tấn công, và liệu Belarus có cố gắng duy trì lập trường trung lập hay không.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, có một nhất trí chung rằng những lợi thế về chất lượng của NATO trong các khả năng thông thường đã giúp bù lại cho lợi thế về số lượng lớn hơn của Hiệp ước Vácsava. Hiện nay, cân bằng quân sự NATO – Nga dọc theo đường biên giới chung của họ thể hiện một bức tranh phức tạp hơn khi các yếu tố định tính được cân nhắc, một lý do khiến các đánh giá của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với sườn Đông biến động và có thể thay đổi đáng kể. Chẳng hạn như, cách đây không lâu, nhiều chuyên gia đánh giá NATO có lợi thế quyết định trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự. Tuy nhiên, theo sự đồng thuận hiện nay, một lực lượng xâm lược của Nga có thể nhanh chóng áp đảo các tuyến phòng thủ của NATO, phần lớn là vì Nga đã thu hẹp khoảng cách về chất lượng với NATO trong các khả năng thông thường. Những người ủng hộ quan điểm này đã nhấn mạnh các diễn tiến sau:

+ Kể từ năm 2008, khi Nga phát động một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự đầy tham vọng và đầy đủ nguồn lực, các khả năng phòng không của Nga đã cải thiện đáng kể. Đặc biệt đáng lo lắng là việc nâng cấp các khả năng A2/AD ở Kaliningrad với việc triển khai hệ thống phòng không S-400 mới; dàn phóng tên lửa phòng vệ bờ biển đặt trên đất liền; và các tên lửa hành trình có khả năng hạt nhân đặt trên tàu; gây ra một thách thức nghiêm trọng cho các tàu và máy bay của NATO trên vùng lãnh thổ của chính họ và trên biển Baltic.

+ Nhờ có các cơ cấu mệnh lệnh, nhân sự, vũ khí và các cuộc tập trận đượ cải thiện, các lực lượng Nga được tổ chức hiệu quả hơn, được huấn luyện và trang bị tốt hơn, và trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao hơn so với thời gian chiến tranh với Gruzia. Điều đặc biệt quan trọng là, Nga đã tăng cường số lượng các cuộc tập trận thường xuyên và chớp nhoáng có sự tham gia của tất cả các lực lượng vũ trang, các quân khu, và các hoạt động liên ngành và liên quân thường xuyên Các cuộc tập trận này đã giúp quân đội Nga tiến bộ trong việc khắc phục các thiếu sót trong các sắp xếp chỉ huy và kiểm soát mới và thống, cùng với việc huy động và tăng cường khả năng trên khắp các quân khu của Nga.

+ Quân khu phía Tây của Nga có một số đơn vị chiến đấu trên bộ hạng nặng được chỉ định mà cực kỳ cơ động và luôn trong trạng thái sẵn sàng cao dưới sự chỉ huy của các cơ quan đầu não cấp quân đoàn. Có nguồn tin cho biết Nga đã cải thiện khả năng ra quyết định và tiếp viện nhanh, và khả năng cho các hoạt động tấn công quy mô lớn.

+ Nga có lợi thế là các tuyến thông tin liên lạc nội bộ và một mạng lưới các tuyến đường sắt mở rộng hướng đến Nga trên khắp khu vực Baltic. Cả ba quốc gia Baltic đều bị kẹp giữa Kaliningrad và nước Nga lục địa – và một số cảng và sân bay quan trọng đối với các hoạt động phòng thủ của NATO trong khu vực Baltic đều nằm trong phạm vi 30 dặm của biên giới Nga.

Tuy nhiên, trong việc đánh giá những diễn tiến này, quan trọng là phải hiểu rằng các quan chức Nga thường xây dựng hình ảnh công khai tích cực về các lực lượng vũ trang của mình vì những lý do chính trị trong nước các tuyên bố của Nga về vị thế nước lớn. Tháng 6/2016, một cuộc thanh trừng các quan chức cấp cao đã được tiến hành trong bộ chỉ huy Hạm đội Baltic vì đã bóp méo mức độ sẵn sàng trong các cuộc thanh tra chớp nhoáng. Các báo cáo khác cũng đã cho thấy các vấn đề mang tính hệ thống khi quân đội báo cáo về các cuộc thanh tra đã phóng đại sự sẵn sàng và các chỉ số biểu hiện khác. Ngoài ra còn có các dấu hiệu cho thấy các báo cáo về việc sản xuất vũ khí đã phóng đại mức độ các trang thiết bị mới và cải tiến được nhập kho thay vì các thiết bị nâng cấp và tân trang.

Những nỗ lực này nhằm che đậy sự yếu kém trong quân đội Nga, cùng với các yếu tố hoạt động và cơ cấu khác gây tác động xấu tới hiệu quả chiến đấu của các lực lượng Nga, đã làm dấy lên nghi vấn đối với một số đánh giá mang tính báo động hơn về các khả năng thông thường của Nga. Các nhà phân tích đỡ bi quan hơn về thế cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga đã lập luận như sau:

+ Từ năm 1991 đến 2008, các lực lượng vũ trang Nga đã bị suy giảm nghiêm trọng tinh thần sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện và trang thiết bị. Cuối những năm 1980, ước tính Nga đã dành 15% GDP cho quốc phòng và ngành công nghiệp quốc phòng của Nga đã tuyển dụng hơn 6 triệu người. Năm 1997, chi tiêu quốc phòng Nga chỉ chiếm hơn 4% của con số GDP nhỏ hơn nhiều và và tỷ lệ việc làm trong ngành công nghiệp quốc phòng đã giảm khoảng 50%. Chương trình cải cách và hiện đại hóa được phát động trong năm 2008 do đó đã bắt đầu từ một nền tảng vô cùng thấp. Những tiến bộ mà lực lượng vũ trang Nga đạt được trong vòng 8 năm qua cần phải được đánh giá trong bối cảnh này;

+ Những hoạt động quân sự Nga đã tham gia trong thập kỷ vừa qua không phải là một bài kiểm tra nghiêm túc về hiệu quả chiến đấu, xét bản chất của lực lượng đối kháng, địa lý, và môi trường tương đối ôn hòa trong đó các lực lượng của Nga đang hoạt động; các điều kiện chiến đấu họ sẽ phải đương đầu khi chống lại các lực lượng NATO trên mặt trận phía Đông cũng khác biệt đáng kể.  Tại Syria, các đơn vị của Nga đã cho thấy sự tổ chức, phối hợp, chỉ huy và điều khiển tốt hơn so với các đơn vị đã tham chiến với Gruzia, nhưng vẫn thiếu các loại đạn dược có độ chính xác cao và các máy bay không người lái liên tục. Hơn nữa, những vấn đề đang tiếp diễn trong việc huấn luyện và tinh thần của các lực lượng trên bộ của Nga, mà sẽ làm giảm hiệu quả chiến đấu, làm dấy lên những nghi ngờ nghiêm túc về khả năng của họ trong việc chiến đấu với những lực lượng mạnh hơn nhiều đối thủ từng gặp ở Gruzia, Ukraine và Syria;

+ Gần đây hơn, vào năm 2014, có tin cho biết Bộ tổng tham mưu Nga buộc phải tập hợp gấp một tiểu đoàn xe tăng từ các đơn vị đóng quân gần Mông Cổ để tiếp viện cho các lực lượng ly khai ở miền Đông Ukraine do thiếu nhân sự được đào tạo tốt gần khu vực hoạt động;

+ Ngoại trừ các hệ thống pháo tầm xa và hệ thống vũ khí khai hỏa trực tiếp khác, các lực lượng vũ trang Nga vẫn thua các lực lượng Mỹ và NATO về vũ khí công nghệ cao mà phần lớn các chuyên gia quân sự Nga đều tin rằng đó là trọng tâm của chiến tranh hiện đại và sẽ quyết định kết quả của một cuộc chiến. Những vũ khí này bao gồm C4ISR (chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, điện toán, tình báo, giám sát, do thám) hiện đại bậc nhất và khả năng tác chiến điện tử, các vũ khí tấn công thông thường chính xác cao, và máy bay không người lái – những thiếu hụt mà Tổng tham mưu trưởng của Nga Valery Gerasimov đã thừa nhận. Hầu hết trang thiết bị do các lực lượng trên bộ và trên không của Nga vận hành đều là phiên bản cập nhật của các mô hình thế hệ cũ của Xô viết.

+ Chương trình cải cách quân sự của Nga không thống nhất, thiếu hoàn thiện và không thể khắc phục một số thiếu sót nghiêm trọng. Những thiếu sót này bao gồm tính bền vững và tính cơ động chiến lược bị hạn chế do thiếu công tác hậu cần, hỗ trợ hậu phương, và các phương tiện vận tải; các đơn vị thường xuyên thiếu quân số và huấn luyện sơ sài, tiếp tục phụ thuộc vào số lính nhập ngũ ngắn hạn không đồng đều và một nhóm hạn chế gồm nhân viên hợp đồng và hạ sĩ quan quân đội; một ngành công nghiệp quốc phòng tiếp tục sản xuất tràn lan trang thiết bị chất lượng kém do tham nhũng, quản lý kém, công nghệ lạc hậu, mất khả năng tiếp cận các ngành công nghiệp quốc phòng chuyên biệt ở Ukraine, và các biện pháp trừng phạt của phương Tây làm suy yếu khả năng của Nga trong việc nhập khẩu các công nghệ kép và áp dụng chúng vào các hệ thống quân sự.

(còn tiếp)

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Advertisements

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần III


Các hành động của Nga ở Ukraine cho thấy Điện Kremlin nhìn nhận NATO và các đảm bảo an ninh của nó đối với các thành viên của mình nghiêm túc đến mức nào. Việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine là nhưng bước đi được tính toán để ngăn Ukraine tiến tới trở thành thành viên NATO và thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Nga – một diễn tiến có lẽ đã đánh dấu một thất bại chiến lược lớn đối với Nga và sự lúng túng đối với Putin, xét việc Điện Kremlin coi Ukraine như một vòng đệm thiết yếu để chống lại một NATO thù địch và bành trướng. Hơn nữa, Moskva sẽ khó có thể tái lập các hoàn cảnh có lợi trong khu vực Baltic như Nga đã có ở Crimea. Các lực lượng của Nga đã có mặt trên bán đảo này từ trước cuộc khủng hoảng và đang hoạt động từ một cơ sở hạ tầng vững chắc. Hơn nữa, như nhiều nhà quan sát đã chỉ ra, hoạt động tại Crimea chủ yếu do các đơn vị lực lượng tinh nhuệ đặc biệt của Nga tiến hành và do đó, không phản ánh đúng tình trạng chung của các lực lượng chiến đấu trên bộ của Nga. Nói một cách đơn giản, các nước Baltic đã về phe với NATO. Một cuộc tấn công quân sự thẳng thừng vào các nước này sẽ có nguy cơ dẫn đến một cuộc chiến tranh toàn lực với NATO.

Cũng quan trọng là phải hiểu rằng quyết định của Điện Kremlin đi đến chiến tranh với NATO sẽ mang tính chính trị – được thúc đẩy bởi không chỉ một số lượng nhỏ xe tăng, binh lính và máy bay. Lo ngại lớn nhất của giới tinh hoa Nga là sự sống còn của họ và hệ thống họ đã xây dựng và đầu tư; Nga có một nỗi sợ hãi sâu xa đối với bất ổn chính trị và cái được cho là những kế hoạch thay đổi chế độ của Mỹ. Như một trong những cố vấn thân cận nhất của Putin đã nói: “Mỹ đang cố gắng gây ra thay đổi chế độ ở Nga và cuối cùng sẽ chia cắt đất nước của chúng ta thông qua các sự kiện ở Ukraine”. Sẽ là cực kỳ mạo hiểm nếu Điện Kremlin đặt cược rằng các lực lượng Nga có thể tấn công liên minh quân sự hùng mạnh nhất thế giới và chiếm ưu thế trong một cuộc xung đột; vì những hậu quả của việc thua cuộc – hay thậm chí chiến thắng – ván cược đó sẽ là thảm khốc đối với giới tinh hoa của Nga và cả đất nước nói chung.

Nói cách khác, quyết định của Putin tiến hành một cuộc chiến tranh thông thường với NATO sẽ liên quan đến việc đánh giá tầm quan trọng của các mục tiêu chính trị đạt được từ một chiến thắng quân sự bất chấp những tính toán về phí tổn và rủi ro của hành động quân sự. Tất nhiên có khả năng Putin tính toán sai lầm hay đánh giá sai ý định chính trị của NATO tôn trọng cam kết trong Điều 5 của mình. Nhưng ông có thể kết luận rằng Nga cuối cùng sẽ đối mặt với toàn bộ sức mạnh của cỗ máy quân sự NATO trong việc đối phó với một cuộc tấn công của Nga – một tính toán dựa trên đánh giá của ông rằng các nhà lãnh đạo NATO và đặc biệt là tổng thống Mỹ sẽ không muốn gánh chịu những hậu quả vô cùng tiêu cực nếu liên minh này không thể thực hiện được đảm bảo an ninh của nó – sự kết thúc của liên minh và một đòn nặng nề đối với vận mệnh chính trị của các nhà lãnh đạo NATO.

Các khả năng quân sự thông thường

Nga có vị trí địa lý thuận lợi và lợi thế về mặt số lượng so với NATO về cả nhân lực và trong mỗi hạng mục lớn về vũ khí và trang thiết bị chiến đấu mà sẽ được sử dụng trong cuộc tấn công quân sự ban đầu chống lại các quốc gia Baltic. Cũng vậy ngay cả khi xem xét các lực lượng thường trực của các quốc gia Baltic, những lực lượng mà các nước thành viên NATO khác sẽ triển khai trong thời bình hoặc dựa trên cơ sở luân chuyển trong lãnh thổ Baltic (và Ba Lan), và các lực lượng triển khai sớm mà NATO đã chỉ định để tăng cường sườn phía Đông của mình nhằm đối phó lời cảnh báo chiến lược về một cuộc tấn công.

Nhân lực

Nga có 22 tiểu đoàn cơ động được triển khai tại Quân khu phía Tây và 3 tiểu đoàn ở Kaliningrad – mặc dù một vài trong số các đơn vị thiện chiến nhất ở khu vực này được giao nhiệm vụ bảo vệ các lực lượng Nga trong và xung quanh Ukraine và đóng quân ở đây trong thời bình. Hiện nay, các lực lượng của các quốc gia Baltic và các lực lượng NATO khác có thể sẵn sàng vào mở màn cho chiến dịch phòng thủ phía trước ban đầu bảo vệ lãnh thổ Baltic có tổng cộng xấp xỉ 17 tiểu đoàn; trong khi Mỹ và các đồng minh NATO thực hiện các kế hoạch cải thiện lực lượng của họ ở sườn phía Đông trong vòng 2 năm tới, liên minh này sẽ có thêm bốn tiểu đoàn đa quốc gia để triển khai luân phiên tại các quốc gia Baltic và Ba Lan. Ngoài ra, tùy thuộc vào độ dài của thời gian cảnh báo một cuộc tấn công, Mỹ có thể triển khai thêm hai đội chiến đấu lữ đoàn thiết giáp khác. Đây không phải là một lợi thế về số lượng nghiêng hẳn về phía Nga, nhưng nó không tính đến những khác biệt đáng kể về chất lượng giữa loại hình các đơn vị của mỗi bên.

Vũ trang hạng nặng

Ba nước Baltic có 11 tiểu đoàn bộ binh hoặc các tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ; trong một kịch bản cảnh báo hạn chế, Mỹ có lữ đoàn chiến đấu Stryker được triển khai sớm tới sườn phía Đông. Ngược lại, Nga có bố trí mạnh hơn – 22 tiểu đoàn ở Quân khu phía Tây, 13 tiểu đoàn là các đơn vị bộ binh xe tăng, cơ giới hóa hoặc cơ khí hóa, cùng với sơ đồ tổ chức và trang thiết bị có hỏa lực chiến đấu mạnh hơn nhiều.

Pháo binh và tên lửa đất đối đất

Các lực lượng Nga có thể sử dụng nhiều hệ thống hỏa lực trực tiếp và gián tiếp hơn, gây sức ép đáng kể cho khả năng của các lực lượng NATO ngăn chặn cuộc tấn công ban đầu của Nga và giữ vững lãnh thổ. Nga có 10 tiểu đoàn pháo binh ở Quân khu phía Tây, và hầu hết các hệ thống này có phạm vi và tốc độ khai hỏa lớn hơn so với các đối tác NATO của họ. Ngoài ra, 5 tiểu đoàn tên lửa đất đối đất (SSM) cũng hỗ trợ cho các đội hình pháo binh này. Đặt trong tương quan so sánh, các lực lượng NATO phải chịu thâm hụt nghiêm trọng về pháo ống, súng phóng tên lửa, và SSM. Nói tóm lại, các lực lượng hạng nhẹ hơn của NATO đang thua Nga về hỏa lực.

Máy bay chiến đấu và trực thăng tấn công

Nga có 27 phi đội chiến đấu trên hông được triển khai tại Quân khu phía Tây và 6 tiểu đoàn trực thăng tấn công – hầu hết đều là những máy bay tân tiến nhất sẵn sàng chờ lệnh chiến đấu của Nga. Các lực lượng không chiến của NATO có thể có mặt ngay từ khi bắt đầu chiến sự hoặc trong vòng 7 ngày kể từ khi bắt đầu cuộc chiến có tổng cộng gần 19 phi đội (nếu, và đây là trường hợp dễ xảy ra, Thụy Điển từ bỏ thái độ trung lập và cho phép một vài trong số các đơn vị này hoạt động từ các căn cứ của Thụy Điển). Giống như Nga, các đơn vị này thường có máy bay hiện đại và thiện chiến nhất của liên minh. Đây không phải một lợi thế về mặt số lượng trên giấy tờ của các lực lượng Nga, nhưng các lực lượng không quân của NATO sẽ hoạt động trong một môi trường vô cùng cạnh tranh trên chiến trường.

Tóm lại, Nga sẽ tấn công với một lực lượng lớn và trang bị hạng nặng hơn nhiều, được hỗ trợ thiết giáp, vũ khí và cảm biến tân tiến và một hệ thống phòng không tinh vi cùng các hệ thống khai hỏa trực tiếp tầm xa. Cho đến khi Mỹ và NATO thực hiện kế hoạch cải thiện lực lượng trong vòng vài năm tới, liên minh này sẽ phải đẩy lùi cuộc tấn công ban đầu bằng một lực lượng yểm trợ hạng nhẹ. Máy bay chiến đấu, các khả năng tên lửa tầm xa, và khả năng tăng viện cho các quốc gia Baltic trên không, trên biển và trên đất liền của liên minh này sẽ ngày càng bị thách thức bởi các khả năng chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực (A2/AD) của Nga trong và xung quanh Kaliningrad.

Tình hình này đã dẫn đến việc chuyên gia quốc phòng phương Tây chấp nhận đánh giá của một nghiên cứu của RAND gần đây rằng NATO bị Nga “lấn át về số lượng, tầm bắn và hỏa lực” ở vùng ngoại vi phía Đông của liên minh. Theo các tác giả của nghiên cứu này, “nếu Nga tiến hành một cuộc tấn công không báo trước vào các nước Baltic, các lực lượng của Moskva có thể tràn xuống vùng ngoại ô thủ đô Talinn của Estonia và thủ đô Riga của Latvia trong vòng 36 đến 60 tiếng”. Hành lang Suwalki – một dải lãnh thổ dài 65 dặm trên biên giới phía Đông của Ba Lan, nằm giữa Kaliningrad và Belarus và đóng vai trò kết nối đất liền duy nhất giữa Estonia, Latvia, Litva và phần còn lại của NATO – là một mối lo ngại đặc biệt đối với các nhà lập kế hoạch của NATO.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần II


Moskva cũng đã đe dọa phản ứng quân sự nếu Thụy Điển hay Phần Lan quyết định gia nhập NATO; theo Tổng thư ký NATO, các cuộc tập trận của Nga bao gồm các cuộc tấn công hạt nhân mô phỏng chống lại Thụy Điển. Những thay đổi được báo cáo trong học thuyết quân sự của Nga cho thấy Điện Kremlin đã lên kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân trước tiên trong giai đoạn đầu của một cuộc xung đột với NATO (được biết như là “leo thang để xuống thang”) nhằm ngăn chặn việc leo thang thành một cuộc chiến tranh thông thường quy mô lớn hơn mà Moskva tin rằng NATO cuối cùng sẽ giành chiến thắng. Hơn nữa, NATO có đủ lý do để lo ngại về các cải thiện cả về số lượng và chất lượng hiện nay của Nga trong các lực lượng quân sự đang đối mặt với sườn phía Đông của liên minh, việc Nga vi phạm Hiệp định INF, và sự rút lui hiệu quả của Nga khỏi Hiệp ước Các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu (cả hai hiệp định này từ lâu vẫn được coi là nền tảng cho sự ổn định và an ninh của châu Âu).

Để đối phó với những diễn biến phức tạp này, Mỹ và NATO đã đưa ra một số sáng kiến nhằm cải thiện tư thế răn đe và phòng thủ của họ ở phía Đông và trấn an các quốc gia Baltic và Ba Lan về cam kết Điều 5 của liên minh. Theo Kế hoạch hành động sẵn sàng của NATO được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh xứ Wales vào tháng 9/2014 và Sáng kiến tái đảm bảo châu Âu (ERI) của Mỹ, Mỹ và các đồng minh châu Âu của mình đang lên kế hoạch phân bổ hơn 4 tỷ USD để (1) bổ sung một lữ đoàn chiến đấu của Mỹ ngoài 2 đội đã đóng quân sẵn ở châu Âu, cùng với một lữ đoàn lính dù, và (2) bố trí trước trang thiết bị thường xuyên cho lữ đoàn chiến đấu khác. Tại Hội nghị thượng đỉnh Vacsava vào tháng 7/2016, các nhà lãnh đạo NATO đã chính thức thông qua việc triển khai luân phiên liên tục 4 tiểu đoàn đa quốc gia (khoảng 4000 binh lính) tới các quốc gia Baltic và Ba Lan để duy trì sự hiện diện liên tục ở phái trước – và một vài trong số các đơn vị này đã tới Ba Lan để tiếp quản các vị trí của mình. Bên cạnh đó, NATO đã đồng ý bổ sung các biện pháp cải thiện sự sẵn sàng, huấn luyện, chỉ huy và kiểm soát, và hỗ trợ hậu cần cho các lực lượng này.

Từ góc nhìn của NATO, đây là một cách tiếp cận thận trọng vừa để tăng cường răn đe vừa trấn an các quốc gia Baltic mà không cần gây ra sự đe dọa quân sự đáng kể nào ngay trên biên giới của Nga. Tuy nhiên, giả sử Mỹ thực hiện đầy đủ ERI và NATO thực hiện các cam kết được đưa ra tại hai hội nghị thượng đỉnh gần đây nhất, liên minh này sẽ chỉ duy trì một lực lượng “dây bẫy” mong manh được triển khai trên sườn phía Đông để ngăn chặn và đóng vai trò một tuyến phòng thủ phía trước ban đầu chống lại một cuộc tấn công thông thường của Nga. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng NATO đã duy trì một lực lượng tương tự ở phía Tây Berlin trong các tình huống tương tự, và trogn hơn 40 năm đã ngăn chặn thành công một nỗ lực của Xô viết nhằm thay đổi nguyên trạng bằng cách ép buộc hoặc đe dọa.

Quan điểm của Moskva

Như trường hợp Chiến tranh Lạnh, các đánh giá được công bố của Nga về cân bằng quân sự với NATO – chẳng hạn như Chiến lược an ninh quốc gia của Nga năm 2016 – không phản ánh quan điểm của liên minh rằng NATO bị các lực lượng vượt trội của Nga áp đảo. Ngược lại, các đánh giá cho thấy một cảm giác thấp kém sâu sắc của Nga khi so sánh với NATO về các năng lực tấn công thông thường chính xác cao và tầm xa, vũ khí hạt nhân, các hệ thống phòng thủ tên lửa, và các dạng chiến tranh động lực cũng như phi động lực khác. Trong những đánh giá này, quân đội Nga sẽ đối mặt với một kẻ thù vượt trội hơn nhiều – được trang bị tốt hơn với “các loại vũ khí thông minh” và các khả năng chiến tranh điện tử, được huấn luyện tốt hơn, dẫn dắt tốt hơn, và được duy trì tốt hơn. Sự thiếu tự tin này có thể có vẻ đáng ngạc nhiên, xét tiến bộ của Nga trong vài năm qua trong cải cách quốc phòng và hiện đại hóa quân sự, gia tăng chi tiêu quốc phòng, và các hoạt động thành công ở Gruzia, Ukraine, và Syria. Tuy nhiên, Nga vẫn khẳng định việc tăng cường hiện nay của NATO ở các quốc gia Baltic – cách chưa đến 2 giờ đồng hồ lái xe từ thành phố lớn thứ 2 của Nga – là một mối đe dọa chiến lược đối với quê hương. Một phần trong giọng điệu này chắc chắn nhằm mục đích vận động sự ủng hộ của công chúng Nga đối với chế độ này vào thời điểm khó khăn về kinh tế. Nhưng nó cũng phản ánh lo âu thực sự về sự tinh thông quân sự của NATO và những ý đồ của Mỹ và phương Tây đối với Nga.

Vũ khí hạt nhân vẫn là trọng tâm chiến lược an ninh quốc gia và học thuyết quân sự của Nga, do nước này nhận thức được sự thua kém về vũ khí thông thường; tuy nhiên, các kế hoạch của phương Tây nhằm cải thiện các khả năng tấn công thông thường và phòng thủ tên lửa dường như đang làm xói mòn sự tự tin của các nhà lên kế hoạch quân sự của Nga trong việc răn đe hạt nhân của họ. Một số quan chức quân sự Nga coi đó như là kịch bản trường hợp tồi tệ nhất: một sự kết hợp các khả năng tấn công và phòng thủ tên lửa thông thường cũng như hạt nhân của NATO có khả năng gây thiệt hại cho các lực lượng chiến lược của Nga và ngăn chặn khả năng Moskva tiến hành tấn công trả đũa. Các nhà lên kế hoạch quân sự của Mỹ và NATO có thể coi đây là một viễn cảnh xa xôi, nhưng giới quân đội bảo thủ của Nga vẫn khẳng định rằng mối đe dọa đó là có thật.

Sự lo lắng của phương Tây về các khả năgn chiến tranh pha tạp đa hình thái của Nga được phản ánh bởi những nỗi sợ hãi của chính Nga: Điện Kremlin cáo buộc phương Tây đang tiến hành chiến tranh pha tạp đa hình thái  thông qua việc kết hợp các phương tiện quân sự và các phương tiện khác, đặc biệt là các hoạt động truyền bá dân chủ trong và xung quanh Nga. Theo quan điểm của Moskva, những hoạt động này bao vây Nga bằng các tác nhân gây anh hưởng của phương Tây, tạo ra các cơ hội để phương Tây can thiệp, và trao quyền cho các nhóm bên trong Nga chống lại Chính phủ Nga. Tương tự, theo các chuyên gia quốc phòng Nga, các khả năng chiến tranh mạng của phương Tây đã làm gia tăng cảm giác bất an của Nga. Họ tin rằng chiến tranh mạng, cùng với các tác động khác, có thể phá hủy cơ sở hạ tầng dân sự và mạng lưới máy tính của Nga, và reo rắc thông tin sai lệch để gây hoang mang trong công chúng và làm tê liệt các lực lượng vũ trang của nước này. Cơn đau đầu trước mối đe dọa tiềm tàng này được nhấn mạnh khi Putin tuyên bố Google là “một dự án đặc biệt” của CIA và kêu gọi người dân Nga tránh sử dụng nó. Những bình luận của Putin về sự kiểm soát mạng Internet của Mỹ cho thấy sự bất an lan tỏa về tính dễ tổn thương của đất nước trước các cuộc tấn công mạng và tấn công thông tin.

Cân bằng quân sự: một đánh giá chính trị – quân sự

Những quan chức của NATO và Nga chịu trách nhiệm về an ninh của đất nước họ cần phải đặt các chính sách, kế hoạch, chương trình, tư thế và các cam kết nguồn lực cơ bản dựa trên những ước tính về khả năng quân sự của đối phương. Và vì biên độ cho sai sót về an ninh quốc gia là rất nhỏ đối với những nước sở hữu hàng nghìn vũ khí hạt nhân, những đánh giá gần như luôn được dẫn dắt bởi các giả định trong tình huống xấu nhất về ý đồ của kẻ thủ, vốn thường xuyên bị hiểu lầm, diễn giải nhầm, và nhận thức sai lầm.

Các cân nhắc chính trị

Các ý đồ, chứ không chỉ là khả năng, có ảnh hưởng ngay cả khi chúng thường khó nhận biết , có xu hướng thay đổi nhanh chóng và đôi khi không thể đoán trước. Có lý khi cho rằng Điện Kremlin sẽ muốn có các nước Baltic trong phạm vi ảnh hưởng hưởng của mình thay vì các binh lính NATO được triển khai trong lãnh thổ của họ cách St. Petersburg trong vòng 100 dặm. Cũng an toàn khi cho rằng Putin muốn phá vỡ sự gắn kết của NATO. Tuy nhiên, thành tích của Nga trong thập kỷ vừa qua – kể từ khi nước này bắt đầu xây dựng lại các khả năng quân sự của mình – cho thấy Điện Kremlin rất nhạy cảm trước những phí tổn có thể xảy ra của các hành động của mình và có một mức độ tôn trọng vừa đủ đối với đảm bảo an ninh của NATO.

Bất chấp hành vi hiếu chiến của các nhà lãnh đạo Nga, họ đã cho thấy khả năng to lớn trong việc đánh giá khi nào sự tham chiến của họ sẽ mang lại phí tổn và rủi ro quá cao. Họ đã chạm tới các ranh giới đỏ của NATO, nhưng vẫn chưa vượt qua chúng. Các cuộc chiến ở Gruzia và Ukraine là chiến đấu chống lại những đối thủ yếu hơn nhiều mà không có một đảm bảo an ninh nào từ NATO. Tại Syria, quân đội Nga đã bước vào một khoảng trống, tự trấn an rằng Mỹ và các đồng minh của nước này không có ý định can thiệp trên bộ hay trên không nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng nổi dậy chống lại Tổng thống Bashar al-Assad. Nói ngắn gọn, các kết luận về xu hướng gây chiến của Putin chống lại NATO và những ý định của ông đối với các nước Baltich không thể được đưa ra duy nhất dựa vào các cuộc chiến của ông chống lại Gruzia và Ukraine hay việc triển khai quân sự của Nga tới Syria.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Cân bằng quân sự mới giữa NATO và Nga: Tác động đối với an ninh châu Âu – Phần I


25 năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, cân bằng quân sự giữa NATO và Nga, sau nhiều năm không được chú ý, đã một lần nữa trở thành trung tâm của sự quan ngại sâu sắc và thậm chí đáng báo động ở một số nước phương Tây. Nhìn từ góc nhìn thuận lợi cho NATO, Nga gây ra một mối đe dọa quân sự nghiêm trọng cho sườn phía Đông của liên minh – và rộng hơn là đối với an ninh châu Âu – Đại Tây Dương – vì 3 lý do. Thứ nhất, một chương trình cải cách và hiện đại hóa quân sự được phát động vào năm 2008, kết hợp với việc gia tăng đáng kể hi tiêu quốc phòng trong vài năm qua, đã cải thiện các năng lực của lực lượng vũ trang Nga. Thứ hai, trong thập kỷ vừa qua, Nga đã cho thấy nước này đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để sử dụng vũ lực như một công cụ của chính sách đối ngoại, cũng như năng lực được cải thiện để triển khai sức mạnh quân sự vượt ra ngoài vùng ngoại vi hậu Xô viết gần nhất của nước này. Thứ ba, Điện Kremlin  đã và đang tiến hành một chính sách đối ngoại bài phương Tây còn hung hăng hơn nhiều, làm gia tăng đáng kể các cuộc tập trận quân sự mang tính khiêu khích gần bei6n giới của các nước thành viên NATO với Nga, báo trước các mối đe dọa hạt nhân, và triển khai tên lửa có năng lực hạt nhân tại phần lãnh thổ Kaliningrad cuaủa Nga. Kết quả là, phương Tây đang ngày càng nhận thức được rằng Nga đã tái xuất như một cường quốc phục thù, tân đế quốc, bành trướng và thù địch, nhất quyết phải phá hủy hệ thống an ninh hậu Chiến tranh Lạnh của châu Âu và lục địa này thành các khu vực ảnh hưởng.

Điện Kremlin có một quan điểm khác biệt đáng kể. Họ khẳng định họ đang bị đe dọa bởi phương Tây và bởi sự bất ổn không chỉ xung quanh khu vực ngoại vi của Nga mà còn ở trong nước. Với sự mở rộng của NATO, biên giới của liên minh này với Nga đã tiến sát hơn nhiều tới vùng trung tâm của Nga. Những lo ngại này, dù có vẻ phi lý đến mức nào theo quan điểm của phương Tây, cũng thúc đẩy Điện Kremlin tiến hành một nỗ lực vận động quốc gia nhằm ngăn chặn những gì họ cho là một mối đe dọa trực tiếp từ phương Tây đối với an ninh Nga. Nhìn từ phía Điện Kremlin, trong 20 năm qua, Mỹ và NATO đã tiến hành vô số sáng kiến làm nổi bật mối đe dọa từ phương Tây: Sự mở rộng của NATO đến Đông Âu và vùng Baltic; các chương trình hợp tác của NATO với các nước thuộc Liên Xô trước đây; sự cải thiện trong các năng lực thông thường, phòng thủ tên lửa và hạt nhân; sự hỗ trợ cho các cuộc nổi dậy chống chính phủ và thay đổi chế độ quanh khu vực ngoại vi của Nga; và sự hỗ trợ cho các phong trào và các đảng đối lập bên trong nước Nga. Cụ thể, các quan chức Nga lập luận rằng chiến dịch do Mỹ dẫn đầu ở vùng Balkan trong những năm 1990, cuộc xâm lược do Mỹ dẫn đầu vào Iraq năm 2003, can thiệp quân sự của NATO vào Libya năm 2011; và sự hỗ trợ của Mỹ dành cho phe đối lập ở Syria và Mùa Xuân Arab đã đe dọa môi trường an ninh của Nga.

Những nhận thức trái ngược nhau này đã góp phần vào sự thiếu lòng, một môi trường an ninh xuống cấp, và viễn cảnh về một mối quan hệ thù địch đầy bất ổn và nguy hiểm hơn nhiều giữa phương Tây và Nga trong nhiều năm tới. Vẫn còn phải xem liệu mong muốn của Tổng thống Mỹ Donald Trump cải thiện quan hệ với Nga có thể làm giảm căng thẳng và đặt quan hệ Nga – Mỹ vào một quỹ đạo tích cực hơn hay không. Tuy nhiên, có nhiều lý do để hoài nghi. Sự đối đầu Mỹ – Nga bắt nguồn sâu từ những khác biệt cơ bản về lợi ích và giá trị, các quan niệm mâu thuẫn nhau về quy tắc của trật tự quốc tế, và quan điểm của từng nước về sự ngoại lệ của chính mình.

Quan hệ Mỹ – Nga có thể vẫn mang tính đối đầu và sẽ diễn ra phần lớn trong vùng xám địa chính trị hiện đang chia rẽ trật tự an ninh châu Âu – Đại Tây Dương và Nga. Nhưng cách nó diễn ra – dù dẫn đến sự ổn định hay xung đột nào đó – không thể dự đoán trước. Nga là một cường quốc chủ yếu đang đối mặt với sự suy yếu gần như chắc chắn và dài hạn. Tuy nhiên, quỹ đạo đi xuống này không có nghĩa là các hoàn cảnh đang xấu đi của Nga sẽ khiến Điện Kremlin e ngại rủi ro và kiềm chế hơn. Các biện pháp trừng phạt của phương Tây, giá dầu giảm thấp hơn, và sự đình trệ kinh tế trong 2 năm qua vẫn chưa làm giảm khao khát mạo hiểm của Tổng thống Nga Vladimir Putin (chẳng hạn như ở Syria).

Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá đúng các khả năng của Nga. Tất nhiên, chúng không phải là dấu hiệu duy nhất cho các hành động của Nga trong tương lai – động cơ, ý đồ, bối cảnh, và các cơ hội cũng sẽ được thể hiện trong biểu thức này. Nhưng Điện Kremlin đã nhiều lần thể hiện ý muốn hành động trái với hầu hết các đánh giá của phương Tây về những khả năng này và gây tổn hại cho các lợi ích của Nga như phương Tây vẫn thường nhìn nhận. Một cách hiểu đúng đắn về những khả năng này là quan trọng đối với việc hiểu một số động lực của cácc hành động của Nga và đưa ra một phản ứng thích hợp của phương Tây.

Trong việc đánh giá những ước tính mâu thuẫn nhau về cân bằng quân sự NATO – Nga trên mặt trận phía Đông của liên minh này – và hiện trạng của cân bằng đó – một số tác động chính sách đối với Mỹ đã trở nên rõ ràng. Để cải thiện một cách bền vững an ninh của liên minh, việc gia tăng sự tái đảm bảo và các biện pháp quân sự của NATO – trong khi vẫn cần thiết phải tăng cường ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu quân sự của Nga – cần phải được bổ sung bằng các biện pháp mạnh mẽ để giảm thiểu nguy cơ của một xung đột bất ngờ với Nga. NATO và Nga, thông qua đối thoại tăng cường, kiềm chế và thậm chí có thể là hợp tác, cần phải tìm cách xuống thang.

Nếu Nga vẫn không nhượng bộ và tiếp tục hành vi khiêu khích của mình, Mỹ và các đồn gminh sẽ phải mở rộng và đẩy mạnh các biện pháp tăng cường phòng thủ theo kế hoạch của họ trên mặt trận phía Đông của NATO, cũng như bổ sung thêm các biện pháp ngoại giao và kinh tế để đối phó với hành vi của Nga.

Quan điểm của NATO

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2012, Mitt Rommey, ứng cử viên đảng Cộng hòa, đã gọi Nga là kẻ thù địa chính trị số một của Mỹ – một tuyên bố bị hầu hết các chuyên gia chỉ trích thẳng thừng. Nhưng chỉ 2 năm sau, việc Nga sáp nhập Crimea và xâm lược miền Đông Ukraine đã dẫn tới một sự thay đổi căn bản trong nhận thức của phương Tây về mối đe dọa quân sự của Nga đối với NATO. Mùa Hè năm 2015, chủ tịch sắp mãn nhiệm của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Martin Dempsey, và người kế nhiệm của ông, tướng Joseph Dunford, đều đã miêu tả Nga là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh quốc gia Mỹ. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis, trong phiên điều trần xác nhận tại thượng viện, đã lặp lại những quan điểm này, tương tự như giám đốc Cơ quan tình bá trung ương (CIA) khi đó là Mike Pompeo. Các quan chức quân đội cấp cao của Mỹ ở châu Âu và NATO, cũng như chính phủ các nước Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan, cũng đã bày tỏ sự lo ngại trước các hành động của Nga. Mỗi chính phủ đã thúc giục Washington và Brussels gia tăng đáng kể sự hiện diện thường trực và các khả năng thông thường của liên minh trong lãnh thổ của họ để tăng cường răn đe và bảo vệ trước một cuộc xâm lược có thể diễn ra của Nga. Điều gì đã xảy ra để mang lại một sự thay đổi mạnh mẽ như vậy trong nhận thức cảu Mỹ và phương Tây về mối đe dọa của Nga?

Theo quan điểm của phương Tây, hành vi hiếu chiến của Nga trên biên giới phía Tây của nước này trong 2 năm qua đã xác nhận quan điểm u ám hơn về mối đe dọa từa Nga. Các mật vụ Nga đã bắt cóc một sĩ quan tình báo người Estonia từ lãnh thổ Estonia năm 2014. Máy bay Nga đã tiến hành các cuộc xâm nhập thường xuyên vào không phận của các nước NATO và quấy rối các tàu và máy bay của Mỹ và NATO đang hoạt động trong các khu vực Baltic và Biển Đen. Các lực lượng Nga đã bí mật tiến hành các cuộc tập trận không báo trước mô phỏng việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong một cuộc xâm lược vào vùng Baltic. Quân đội Nga đã triển khai thêm tài sản tên lửa và phòng không gần đây nhất là các tên lửa có khả năng hạt nhân Iskander tới Kaliningrad. Các hoạt động không gian mạng của Nga chống lại Estonia và Mỹ trong vòng vài tháng vừa qua đã gia tăng đáng kể. Các quan chức Nga, bao gồm cả Putin, đã đe dọa tấn công hạt nhân chống lại các nước NATO có lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa trong lãnh thổ của họ. Việc gần đây Nga đã triển khai một tên lửa hành trình trang bị hạt nhân đe dọa các lực lượng và cơ sở của NATO – vi phạm Hiệp định các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) Mỹ – Nga – đã nhấn mạnh ý đồ của Moskva nhằm làm suy yếu sự gắn kết của liên minh này.

(còn tiếp) 

Nguồn: carnegieeurope.eu

CVĐQT – 07/2018

Mỹ “thọc gậy bánh xe” quan hệ Trung – Nhật


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 11/12 trích dẫn truyền thông Nhật Bản đưa tin chính phủ nước này ngày 10/12 đã ra quyết định cấm các bộ ngành trực thuộc chính phủ trung ương và quân đội mua sắm các trang thiết bị do các công ty viễn thông Huawei và ZTE (Trung Hưng) của Trung Quốc sản xuất, đồng thời viện dẫn đây là nỗ lực nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và rò rỉ thông tin bí mật. Tuy nhiên, Tokyo đã không nêu đích danh Huawei và ZTE, đồng thời cho hay các quy định mới này không nhằm vào các công ty cụ thể nào.

Cùng ngày, truyền thông Nhật Bản cũng đưa tin rằng 3 nhà khai thác điện thoại di động lớn ở Nhật Bản đã quyết định loại trừ các sản phẩm của Huawei và ZTE khỏi các thiết bị viễn thông liên lạc như các trạm thu phát sóng di động.

Nhật Bản dường như đã trở thành quốc gia mới nhất sau lời kêu gọi của Mỹ nhằm cấm các thiết bị liên lạc do các công ty Trung Quốc sản xuất. Khi đưa ra quyết định trên, phía Nhật Bản đã cúi đầu trước sức ép của Mỹ cho dù động thái này không nằm trong lợi ích quốc gia của Tokyo và có thể gây phương hại tới các mối quan hệ Trung – Nhật vào thời điểm quan trọng. Huawei và ZTE đang triển khai hợp tác sâu rộng với Nhật Bản, đồng thời phản ánh những kết nối sâu sắc mà hai nước đang sở hữu trong lĩnh vực viễn thông. Việc tẩy chay 2 công ty trên chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển mạng lưới 5G của Nhật Bản.

Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng việc cố “triệt tiêu” các doanh nghiệp viễn thông của Trung Quốc là một chiến lược mới của Mỹ. Hiện có một số người ở Mỹ đã nói về “việc chia tách” để kiềm chế sự phát triển công nghệ cao của Trung Quốc. Những động thái hấp tấp như vậy là do dã tâm giành quyền bá chủ của Mỹ thôi thúc. Tuy nhiên, Nhật Bản không có cùng mục tiêu đó. Việc tẩy chay hợp tác Trung – Nhật là một lựa chọn tồi.

Thị trường của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với thị trường của Nhật Bản, và chắc chắn sẽ lớn hơn thị trường của Mỹ trong tương lai. Tokyo không cần phải đi theo đường lối của Mỹ và nên bảo vệ đặc quyền của mình để đưa ra những quyết định kinh doanh thận trọng phù hợp với các quyền chủ quyền của Nhật Bản. Ngoài ra, những triển vọng kinh tế dài hạn của Tokyo có liên quan mật thiết đến thị trường của Trung Quốc, theo đó, có thể vượt xa các mối quan hệ của Nhật Bản với thị trường Mỹ về lâu dài. Nếu bây giờ Nhật Bản để Mỹ quyết định cách thức hợp tác với Trung Quốc, nước này có thể trở thành một quốc gia chư hầu.

Trên thực tế, Mỹ càng thể hiện xu hướng đối đầu với Trung Quốc bằng cách tìm kiếm sự giúp đỡ của các đồng minh, thì Nhật Bản càng cần phải duy trì sự độc lập. Các lợi ích của Nhật Bản nằm giữa hai thị trường lớn này, chứ không phải nghiêng về bên nào. Ngay cả Việt Nam và Philippines cũng đều thấu hiểu sự thật này. Là một cường quốc châu Á quan trọng, Nhật Bản cần có khối óc xét đoán không đi theo Mỹ bằng cách từ chối sự quan trọng chiến lược của Trung Quốc.

Nếu Nhật Bản chuyển sang thực hiện các chính sách phân biệt đối xử đối với Huawei và ZTE, Trung Quốc chắc chắn sẽ trả đũa bằng các biện pháp tương ứng. Và cuộc xung đột này sẽ được Mỹ “đổ thêm dầu vào lửa”. Nếu hợp tác kinh tế của Nhật Bản với Trung Quốc tuân theo mong muốn của Mỹ, thì liệu tương lai lâu dài của Nhật Bản có được đếm xỉa đến hay không?

Trung Quốc nên ứng phó với sự dao động rõ ràng của Nhật Bản như thế nào? Phía Trung Quốc cần đáp ứng việc tuân thủ các nguyên tắc và đưa ra các biện pháp trả đũa cần thiết. Mặt khác, không nên phóng đại tác động về động thái này của Nhật Bản và dự đoán một kịch bản “ngày tận thế” dành cho quan hệ Trung – Nhật. Hãy để Nhật Bản trả giá cho việc tẩy chay các sản phẩm của Huawei và ZTE.

Theo bài báo, dư luận Trung Quốc hiện đã trưởng thành và tự tin không để những sự cố bất lợi ảnh hưởng đến các mối quan hệ với Nhật Bản. Đồng thời, năng lực tuân thủ của Trung Quốc đối với các nguyên tắc trong quan hệ với Nhật Bản cũng đang ngày càng gia tăng. Trung Quốc và Nhật Bản nên tôn trọng lẫn nhau và ngăn chặn các lực lượng bên ngoài cố “thọc gậy bánh xe” chia rẽ hai nước.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

1999: Thắng lợi không cần chiến tranh? – Phần cuối


Nixon nói một cách lo lắng: “CNCS phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế, nhưng tối thiểu họ vẫn đưa ra cho nhân dân của họ một cái gì đó làm tín ngưỡng. Trong một thời gian trải mấy thế hệ con người, đã có ngàn vạn người ôm ấp đức tin đó… Vậy bây giờ chúng ta nêu lên một đức tin gì để thay thế đức tin đó?”. Nhưng rồi xem ra thì ông Nixon cũng chẳng có kế sách gì hay, ông chỉ còn biết cầu xin Thượng Đế: “Giai điệu chủ yếu và quan trọng nhất là phục hưng tôn giáo và quan niệm về giá trị gia đình. Có như vậy mới có thể kêu gọi tuyệt đại đa số người Mỹ sáp lại với nhau”. “Tóm lại, nước Mỹ ngày nay cần phải là tấm gương có giá trị cho mọi người soi chung, nhưng tấm gương này của chúng ta đã bị những vấn đề quốc nội ngày một nhiều thêm làm hoen ố”.

Đồng thời Nixon không phải là thiếu sáng suốt khi nhìn thấy: “Con đường để lý tưởng tự do của chính trị và kinh tế phương Tây giành toàn thắng hiện nay đã được trải rộng. Nhưng trên toàn thế giới, nhất là ở khu vực Liên Xô cũ và các nước Đông Âu thì lý tưởng đó vẫn đang còn phải trải qua thử thách. Hoàn toàn chưa thể khẳng định rằng lý tưởng đó rồi sẽ thắng thế”. “Từ bỏ CNCS và CNXH chưa có nghĩa là CNTB đã thắng lợi”. “Chế độ TBCN không phải là hoàn mỹ không có khuyết tật gì”. “Thế giới cũng không phải là tấm vải vẽ còn trắng nguyên để chúng ta tùy ý sử dụng bút vẽ và màu”. Nixon lo rằng nước Nga “Trước khi quá độ cuối cùng chuyển hóa đi tới nền chính trị tự do, kinh tế tự do và chính sách đối ngoại không xâm lược, thì trước sau vẫn còn tồn tại nguy cơ lực lượng tàn dư của đế quốc Liên Xô đã bị đập tan, quay lại đánh trả thế giới một đòn, gây nên hậu quả tai hại”. Nixon nhận định: “Nước Nga đang tiến hành một canh bạc chính trị và kinh tế tự do với số tiền đặt cọc lớn, tỉ lệ được thua rất chênh lệch”. Tất cả vẫn còn chưa ngã ngũ.

Còn một điều đáng chú ý nữa: Cũng như trước đây, Brzezinski và Nixon trong các tác phẩm mới xuất bản này, đã dùng khá nhiều trang viết để bàn về Trung Quốc. Có lẽ người ta có thể nói rằng bởi vì Liên Xô đã giải thể, nên họ càng chú ý nhiều hơn, như lời của Nixon “nhằm vào Trung Quốc – nước lớn siêu cường cộng sản đang còn tồn tại”.

Xét về mặt này, “góc độ” của Brzezinski khiến mọi người phải suy ngẫm sâu xa. Ông này thấy rằng: Trong thế giới ngày nay, “coi chính trị dựa trên sức mạnh chỉ là dấu vết cũ của lịch sử, đó là thói thời thượng. Hiện thời người ta chưa tiến tới giai đoạn đó”. Ngược lại, “Xét theo nghĩa rộng, số dân toàn thế giới có thể được chia làm hai loại lớn: Người giàu và người nghèo”. “Đi đôi với số dân thế giới tăng trưởng thì hiện tượng phân phối không đều của cải của thế giới sẽ càng thêm nổi bật”. “Các hiện tượng không đồng đều trên toàn cầu tất yếu trở thành vấn đề trọng đại của chính trị thế giới thế kỷ XXI”.

Dù cho Brzezinski ngậm miệng, kị không nói gì về căn nguyên của hiện tượng không bình đẳng, song ông ta vẫn thấy rằng: “Nếu có một mô hình cụ thể và một lãnh tụ cụ thể nào đó có năng lực đối lại cân bằng thật sự với phía phương Tây giàu có và đồng thời lại có thể thiết lập được một trật tự xã hội có khả năng giải quyết một cách vững chắc và thành công các hiện tượng phi chính nghĩa nghiêm trọng trong xã hội trong nước, thì mối quan tâm của mọi người vốn được tập trung vào các hiện tượng phi nghĩa trên toàn cầu sẽ được biểu hiện dưới hình thức về mặt chính trị, người ta sẽ thuần phục theo cái mô hình đó và vị lãnh tụ cụ thể đó”.

Theo phân tích của Brzezinski, “Trung Quốc có thể đứng ra đảm đương vai trò lãnh đạo đó. Chỉ dựa riêng vào bản thân mình Trung Quốc đã có thể thách thức với thế giới bất bình đẳng. Trung Quốc là một nước lớn với số dân hơn 1 tỷ người, đang giữ vững cuộc đấu tranh không mệt mỏi, chống các hiện tượng không bình đẳng; ít ra thì cho tới thời điểm này, cuộc đấu tranh đó là rất có hiệu quả”.

Sau khi điểm lại một lần nữa nhận định Trung Quốc đang thực hiện chủ nghĩa cộng sản thương mại, Brzezinski vạch rõ: “Xét trên tổng thể, cần phải nói thành tích Trung Quốc giành được khiến người ta phải khâm phục”. “Nếu cơ cấu hạ tầng và thu nhập cá nhân được cải thiện đồng bộ với nhịp độ kinh tế tăng trưởng thì Trung Quốc rất có thể được nhân dân nhiều nước đang phát triển trên thế giới, nhất là nhân dân các nước Cộng hòa Liên Xô cũ nhìn nhận, coi đó là mô hình lựa chọn ngày càng có sức hấp dẫn lớn hơn và có thể được sử dụng thay thế cho chế độ CSCN đã tuyên bố thất bại cũng như chế độ dân chủ được xây dựng trên cơ sở của thị trường tự do”. “Đến lúc đó Trung Quốc có khả năng trở thành mẫu mực mở ra một con đường khác và trở thành một nguồn lực lượng, nêu lên thách thức trên quốc tế, đối với sự phân bố lực lượng toàn hiện hành… Trung Quốc có thể tuyên bố: Giữa khuôn mẫu CSCN Liên Xô cũ và nền dân chủ tư sản đang tồn tại con đường thứ ba. Hiện tượng phân hóa hai cực trên thế giới hiện thời ngày càng nghiêm trọng thêm, vũ khí giết người hàng loạt được phân bố tới khắp nơi, người ta khao khát có một định hướng để nói lên các ước vọng của họ, đồng thời lấy đó làm ngọn đèn rọi sáng tương lai đẹp đẽ. Trong một thế giới như hiện nay, tuy Trung Quốc còn khá lạc hậu và có trở ngại về ngôn ngữ, nhưng Trung Quốc vẫn có thể đáp ứng được niềm khát vọng mà mọi người đều cảm nhận thấy. Về mặt này, so với nước Nga Xô viết cũ thì Trung Quốc có sức hấp dẫn và thuyết phục lớn hơn”.

Trong cuốn Vượt qua hòa bình, Nixon nhiều lần nhấn mạnh rằng Trung Quốc ngày càng TBCN hóa và đang thực hiện CNTB có bộ mặt Trung Quốc; thừa nhận rằng kinh nghiệm của Trung Quốc chứng tỏ: “Tăng tiến sự hòa nhập với kinh tế thế giới sẽ có thể đem lại tự do kinh tế và từ đó sản sinh áp lực nội bộ to lớn đòi thực hiện tự do về chính trị”. Nixon còn nhận định: “Phải cải tổ và các nhà doanh nghiệp chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường tự do của Trung Quốc là lực lượng nắm trong tay chiếc chìa khóa tương lai của Trung Quốc”; “Bóng ma tham nhũng và dục vọng tham lam đang quấy nhiễu Trung Quốc”. Tuy nhiên Nixon vẫn nhìn thấy: “Đến giữa thế kỷ XXI, Trung Quốc với tư cách là nước lớn siêu cường về kinh tế và quân sự sẽ đặt Mỹ đối mặt với cạnh tranh”.

Nixon sau khi so sánh cải tổ của Trung Quốc với cải tổ của nước Nga, đã viết: “Một vấn đề sâu sắc vẫn còn chờ người ta tìm lời giải: tức là phải chăng CNTB dân chủ Nga có thể là đối thủ của CNTB cộng sản Trung Quốc. Nếu không thể như vậy và nếu những người lãnh đạo bảo thủ của nước Nga thắng thế thì những người lãnh đạo có đường lối cứng rắn của Trung Quốc cùng với các nhà độc tài khác trên thế giới sẽ giành được sự cổ vũ. Còn nếu cải tổ của Trung Quốc thành công thì chính trị và kinh tế tự do sẽ là làn sóng dân trào trong thế kỷ XXI”.

IV

1999…

Chúng ta không những đã thấy Cải tổ và tư duy mới của Gorbachev dẫn tới cuộc rút lui có tính lịch sử của CNCS tại các nước Liên Xô…., khiến Liên Xô dễ dàng tự diệt vong (Lời trong cuốn Bút ký lịch trình Liên Xô giải thể của nguyên Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Madrock). Tên sách của Nixon 1999: Thắng lợi không cần chiến tranh và Lời nguyền của Brzezinski Thất bại lớn của CNCS dường như đánh đổi đúng cho nhau. Tuy nhiên cũng vẫn hai ông này đều cho rằng sự thể không phải như thế là đã được định đoạt. Thậm chí còn có thể ngược lại. Đồng thời người ta còn nhận thấy, những năm gần đây đi đôi với khủng hoảng kinh tế và chính trị ngày một gay gắt thêm của nước Nga sau khi chuyển hóa, thì quan điểm của Brzezinski và Nixon gần như đi tới một thứ nhận thức chung. Tháng 7 năm 1998, tờ Frankfurt của Đức đăng bài viết của Arbatov (Nga) “Từ CNXH hiện thực đến CNTB tiền sử – Các nước phương Tây đứng đầu là Mỹ làm thế nào đưa nước Nga từ khủng hoảng này đến khủng hoảng khác”. Vị học giả từng có vai trò quan trọng đối với mối quan hệ Mỹ – Xô này viết: Vào lúc Liên Xô gần đi đến chỗ kết thúc… người ta có ảo tưởng rằng tất cả mọi vấn đề sẽ được giải quyết ngay. Sau đấy một chút, sự chờ đợi đẹp đẽ đó biến thành nỗi nghi hoặc, thất vọng và hết tin cậy”. “Hiện nay công chúng Nga đã nhận thấy, phương Tây muốn thông qua Quỹ Tiền tệ Quốc tế, áp đặt cho chúng ta một thứ cải cách kinh tế có thể làm cho nước ta suy yếu, hạ thấp mức sống và làm cho một bộ phận lớn nhân dân đi tới chỗ bị bần cùng hóa”. “Một điều thoạt đầu đã không thể tránh khỏi và ai nấy đều đã rõ, đó là: Lợi ích chính trị của Nga và của Mỹ khác nhau, có rất ít cái có thể thật sự nhất trí với nhau”. Mặt khác, ngày 30 tháng 8 cùng năm này tờ Thời báo New York Times của Mỹ đã đăng bài viết Moskva phá vỡ giấc mộng của Mỹ cho biết GIáo sư Koean, Đại học New York chuyên nghiên cứu vấn đề về Nga đưa ra nhận định sau đây: “Mưu toan biến nước Nga thành vật phục chế của CNTB dân chủ Mỹ và trở thành một đồng chí nhỏ của Mỹ trong các vụ việc quốc tế, đó là việc làm ngu xuẩn của Phong trào cải tổ của Mỹ vốn lấy cái tôi làm trung tâm”.

Người ta còn nhận thấy, tuy nước Mỹ đã thắng trong chiến tranh lạnh, trở thành bá chủ toàn cầu, song đúng như Nixon từng nói, kết quả đó không làm cho Mỹ sống sung sướng hơn, trái lại Mỹ càng thấy khó chịu hơn. Năm 1997, Brzezinski viết một cuốn sách mới nữa lấy tên Bàn cờ lớn – Địa chính trị của Mỹ và chiến lược địa duyên của nó. Trong cuốn sách này, Brzezinski viết: “Sự thất vọng phổ biến đối với hậu quả chiến tranh lạnh kết thúc khiến người ta càng thêm mất lòng tin. Không những người ta chưa thấy sự xuất hiện của một trật tự mới của thế giới được thiết lập trên cơ sở nhận thức chung và sự hòa hợp mà còn thấy những cái dường như đã thuộc về quá khứ bỗng dung ngược trở lại là những cái của tương lai”. “Nói gọn lại, Mỹ với tư cách là nước lớn quan trọng bậc nhất trên thế giới quả thật đang phải đối mặt với một cái cửa sổ cơ may có tính lịch sử không rộng lắm. Trước mắt nền hòa bình tương đối trên toàn cầu này có thể chỉ là tạm thời mà thôi”. Những lời ông nói vừa dứt thì bắt đầu từ tháng 7 cùng năm, cơ bão tiền tệ Đông Nam Á nhanh chóng lan rộng, trở thành đầu đề câu chuyện của thế giới hiện nay, thậm chí người ta còn dấy lên một sự lên án đến mức nào đó, đối với chế độ TBCN. Trung tuần tháng 9 năm 1998, tuần báo Người quan sát mới của Pháp phát biểu bài viết của Thủ tướng Pháp Jospin: Khủng hoảng thế giới và chúng ta. Trong đó viết “Nếu nói rằng kể từ năm 1989 đến nay CNTB đã mất đi đối thủ và kẻ cạnh tranh trước kia của nó nhưng không phải vì vậy mọi việc đều êm đẹp. Kẻ thù tệ hại nhất của CNTB có thể là chính bản thân CNTB”. Như một điều không hẹn nhưng diễn ra tương tự, ngày 15 tháng 9 The Wall Journal Street của Mỹ đăng bài viết của Soros Khủng hoảng TBCN toàn cầu. Trong đó, con cá sấu tiền tệ lớn này than rằng: “Hệ thống TBCN toàn cầu từng đem lại cho chúng ta sự phồn vinh khiến mọi người phải chú ý đang mấp mé đến chỗ tan rã”. Theo tin của Báo cải tổ Trung Quốc số ra ngày 19 tháng 11, gần đây trong bài diễn văn đọc tại thủ đô của Bulgaria, Soros vạch rõ rằng: “Những người theo chủ nghĩa thị trường chính thống cho rằng thị trường có thể giải quyết hết mọi chuyện. Đó là một khái niệm giả dối. Hiện nay mối đe dọa do thị trường gây nên còn lớn hơn cả bất kỳ một hệ ý thức độc đoán nào. Dựa quá đáng vào chủ nghĩa thị trường chính thống sẽ nguy hại cho xã hội”.

Tóm lại, “Ai nào ngờ bức tường Berlin sụp đổ mới gần 10 năm, thế giới lại lung tung như vậy” (Thời báo The Financial Times của Anh ngày 14/9/1998) – “Kể từ khi bức màn sắp ập đổ sập đến nay, cuộc tiến quân thắng lợi của CNTB kiểu Mỹ từng được diễn tả có khí thế không gì ngăn được rõ ràng là đã gặp trắc trở”. (Tuần báo Tấm gương của Đức 7/9/1998). Chẳng trách Thủ tướng Blair ở đó hối hả tìm kiếm con đường thứ ba. Và một điều đặc biệt khiến người ta suy nghĩ sâu xa, đó là Tập san hàng tuần Tin tức của Mỹ số ra ngày 12 tháng 10 lại là số đặc biệt về kinh tế. Đầu đề lớn ngoài bài viết Toàn cầu chấn động. Có một tiêu đề nhỏ đề xuất vấn đề: “Marx có đúng không?” Trong đó còn cóo bài viết dẫn một đoạn dài trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, kèm theo ảnh của Marx, với chú thích viết: Đối với Marx, giai cấp tư sản toàn cầu sản xuất trước hết là người đào mồ chôn bản thân nó.

Nói tóm lại, chúng ta đã nhận thức rõ: Quy luật khách quan của lịch sử phát triển không phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ ai. “Nhân dân và chỉ có nhân dân mới là động lực sáng tạo lịch sử thế giới” (Mao Trạch Đông Bàn về chính phủ liên hợp). Dù cho sự nghiệp XHCN càng thêm gian nan và khúc khuỷu, nhưng quy đến cùng “giai cấp tư sản bị diệt vọng cũng như giai cấp vô sản thắng lợi, đều là điều không thể tránh khỏi”. (Tuyên ngôn ĐCS). Có vô số sự thật nêu rõ: “1999: Thắng lợi không cần chiến tranh” thật sự cần được thêm vào đó một cái dấu hỏi lớn.

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 01 & 02

1999: Thắng lợi không cần chiến tranh? – Phần III


Mùa hè năm 1989 một quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ tên là F. Fukuyama viết một bài có đầu đề Sự cáo chung của lịch sử? Ông ta viết: “Hoặc có thể những gì chính mắt ta trông thấy không phải chỉ là sự kết thúc của chiến tranh lạnh và không chỉ riêng là sự trôi đi không trở lại của một thời kỳ đặc biệt nào đó trong lịch sử sau chiến tranh mà là sự cáo chung của lịch sử: Sự cáo chung của những diễn biến của của hệ ý thức của loài người và cáo chung bằng sự phổ cập của tự do dân chủ phương Tây với tư cách là hình thức thống trị cuối cùng của loài người”.II

Lúc đó Tổng thống Mỹ Bush trong Báo cáo về tình hình quốc nội đọc ngày 28/01/1992, đã tấu trình đấng thượng đế: Trong năm qua trên thế giới đã xảy ra những biến đổi gần như trong Kinh Thánh vậy… trong năm này chủ nghĩa cộng sản đã bị diệt vong”. “Trong đời tôi – trong cuộc đời chúng ta thì sự kiện quan trọng nhất xảy ra trên thế giới này là: Ơn nhờ Thượng Đế, nước Mỹ đã thắng trong chiến tranh lạnh”.

Nixon là người dự báo năm 1999: Thắng lợi không cần chiến tranh, “đương nhiên sẽ là người không giấu nổi niềm vui sướng. Tháng 4 năm 1994 trong tác phẩm cuối cùng lúc ông ta còn sống “Vượt trên hòa binh”, Nixon từng tuyên cáo một cách thỏa thê với người đời rằng: “47 năm trước đây lúc tôi đến Washington, chúng ta phải đối mặt với một vấn đề lớn nhất: làm thế nào nước Mỹ có thể ngăn chặn được mối đe dọa do CNCS gây ra ở trong và ngoài nước. Và thỏa mãn lớn nhất trong đời tôi là đã sống cho đến ngày được trông thấy các nước phương Tây chiến thắng CNCS…”.

III

Năm 1956 nhân Khrutshev chống Stain với khí thế lớn tại Đại hội lần thứ XX của ĐCS Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc đã phát động cuộc tiến công dữ dội, đẩy các nước XHCN vào tình cảnh khó khăn. Trong tình hình đó và căn cứ vào cuộc thảo luận tại hội nghị mở rộng Bộ chính trị TW ĐCS Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo số cuối năm đã cho đăng bài của Ban biên tập “Lại bàn về kinh nghiệm lịch sử của chuyên chính vô sản”. Trong cuốn sách “Nhớ Mao chủ tịch”, Ngô Lãnh Tây có để lộ rằng: “Mao Trạch Đông chủ trì cuộc thảo luận, bàn đi bàn lại rất nghiêm túc. Mao Trạch Đông còn sửa chữa bài viết này tới mấy lần, ông tỏ ra rất hài lòng với lời kết cuối bài viết. Trong đó vạch rõ: Trước tình cảnh khó khăn của các nước XHCN, “Kẻ địch vui mừng, các đồng chí và bạn hữu thì đau lòng hoặc dao động, như thế đều không đúng. Giai cấp vô sản gánh vác việc quản lý nhà nước là lần đầu, muộn thì mới có vài năm, sớm cũng chỉ được mấy chục năm, đòi họ không để xảy ra bất kỳ một thất bại nào, đó là điều không thể có. Thất bại trong thời gian ngắn, trong phạm vi cục bộ không những trước đây đã có, hiện nay có và trong tương lai cũng sẽ có. Nhưng bất kỳ một người nào có tầm nhìn xa đều sẽ không vì thế mà thấy thất vọng hoặc bi quan. Thất bại là mẹ thành công. Thất bại có tính cục bộ trong thời gian ngắn trước mắt đã gia tăng kinh nghiệm chính trị cho giai cấp vô sản quốc tế, từ đó chuẩn bị điều kiện cho những thành công vĩ đại cho những năm tháng trong tương lai”.

Từ năm 1989 đến năm 1991 một loạt nước XHCN Đông Âu sụp đổ và Liên Xô tan rã đương nhiên là tai họa to lớn và nghiêm trọng hơn nhiều so với tình hình năm 1956. Nhưng sự thể này cũng không thể xoay ngược bánh xe tiến lên của lịch sử. Đúng như Đặng Tiểu Bình từng nói trong Giang nam du ký chuyện năm 1992: “Chủ nghĩa xã hội sau khi trải qua một quá trình phát triển dài tất yếu thay thế CNTB. Đó là xu thế chung không thể đảo ngược của xã hội phát triển, nhưng đường đi còn khúc khuỷu. CNTB trải mấy trăm năm thay thế chủ nghĩa phong kiến đã từng phát sinh bao nhiêu lần phục hồi vương triều? Vì vậy cũng có thể nói trên một ý nghĩa nhất định, một sự phục hồi tạm thời nào đó cũng là hiện tượng có tính quy luật khó có thể hoàn toàn tránh khỏi. Một số nước xuất hiện sự trục trặc nghiêm trọng, CNXH dường như suy yếu đi, nhưng nhân dân được rèn luyện, hấp thu được bài học, sẽ thúc đẩy CNXH phát triển theo hướng lành mạnh hơn nữa. Vì vậy không nên lúng túng, hốt hoảng. Không nên nhận định rằg chủ nghĩa Marx đã tiêu tan, không còn dùng được nữa, đã thất bại rồi. Nào đâu có chuyện như vậy! (Văn tuyển Đặng Tiểu Bình, Tập 3, tr 382 – 383).

Nếu còn chưa tin thì đã có Nixon và Brzezinski có thể làm chứng. Sách “Vượt trên hòa bình” của Nixon đã nói ở trên và trước đó, còn cuốn của Brzezinski “Vượt khỏi sự kiểm soát – Sự hỗn loạn toàn cầu vào đêm trước thế kỷ XXI” xuất bản đầu năm 1993 là hai thí dụ. Những sách này cho thấy, ngay cả các chính khách đế quốc chống cộng, chống chủ nghĩa Marx kiên định và triệt để Nixon và Brzezinski tuy bị hạn chế bởi bản chất giai cấp, nhưng do cần phải kiềm chế kẻ thù và nắm chắc phần thắng, nên khi quan sát thời thế họ vẫn phải có mặt tỉnh táo và cầu thực. Phần trên của bài viết này có đoạn văn của Nixon: “Điều khiến tôi thỏa mãn nhất là tôi đã sống được đến ngày trông thấy các nước phương Tây chiến thắng CNCS”. Tiếp đó, Nixon còn viết thêm: “Và bắt đầu tiến hành một cuộc chiến đấu mới, cũng to lớn và gian khổ như thế, cũng cao cả như thế, nhằm bảo đảm chắc chắn cho tự do giành được thắng lợi ở trong và ngoài nước”. Ông ta viết hai câu này không phải do ngẫu hứng là kết quả của sự suy nghĩ, cân nhắc sâu sắc.

Trong cuốn sách “Vượt khỏi sự kiểm soát”, Brzezinski cũng giội chậu nước lạnh lên những người đồng hành của ông ta: “Lịch sử chưa phải đã kết thúc nhưng dồn nén lại một chỗ”. “Thừa nhận rằng nhịp độ phát triển của lịch sử loài người đang tăng nhanh rõ rệt cùng với tính không xác định của quỹ đạo phát triển. Đó là điểm xuất phát tất yếu trong các lập luận của tôi”.

Brzezinski nhận định: Chiến tranh lạnh sau khi kết thúc thì nước Mỹ đã ở trên đỉnh của thế giới. Xét về lực lượng tổng hợp toàn cầu, Mỹ là nước lớn toàn cầu và là người dẫn đầu toàn cầu có một không hai, vô địch trong thiên hạ. “Nước ngoài bắt chước, làm theo Mỹ đã là hiện tượng của toàn thế giới”. Tuy nhiên nước Mỹ không phải đẹp như người ta vẫn tô vẽ và tưởng tượng. Nước Mỹ có 20 vấn đề nan giải cơ bản trong việc bài trừ các tệ nạn, nâng cao phúc lợi. Các vấn đề này cấu thành chương trình nghị sự chấn hưng nước Mỹ để khẳng định lại một cách có hiệu lực rằng Mỹ có năng lực thực hiện lâu dài nhiệm vụ của nó trên toàn cầu. Đáng chú ý là “Sự buông thả vô độ trong cảnh giàu có” khiến Mỹ trở thành “Một xã hội mà địa vị trung tâm của các chuẩn mực đạo đức ngày càng bị hạ thấp, trong khi đó phong trào theo đuổi những ham muốn vật chất để thỏa mãn cái tôi gia tăng ngày càng thêm cháy bỏng.” Vì vậy “Mặc dầu có những bức tranh được xuyên tạc đi để nói lên sự giàu sang của Mỹ khiến người ta phải đố kị, song loại hình ảnh trên đây lại biểu hiện sự tầm thường đến cực đoan tinh thần trống rỗng ở Mỹ, khiến người ta càng thêm hoài nghi đối với những ý nghĩ cho rằng Mỹ còn có thể cung cấp cho thế giới ngày nay những gợi ý còn sâu sắc hơn nữa”.

Mặt khác Brzezinski cũng vạch rõ: “Trong thế giới sau CNCS thì những khốn khó trong lịch trình chuyển hóa theo CNTB có thể sẽ gây tổn hại cho sự hấp dẫn của luân lý dân chủ”.

Thí dụ, “Từ trước đến nay nước Nga vẫn bị thúc giục cần phải đồng sáng lập dân chủ và thiết lập nền kinh tế thị trường tự do. Lời khuyên này cũng được một lớp người thuộc giới tinh anh tiếp nhận và nâng lên thành giáo điều. Họ không hiểu lắm về mối quan hệ vốn rất nhạy cảm giữa văn hóa với kinh tế và đối với thị trường tự do về mặt chữ nghĩa, thì họ lại rất dễ chạy theo thứ chủ nghĩa hình thức tủn mủn. Chẳng khác gì những người thuộc lớp tiền bối của họ, trong khi miệng tuyên bố xả thân vì công cuộc xây dựng CNXH thì họ lại làm theo chủ nghĩa hình thức một cách tủn mủn”. “Thoạt đầu sự sụp đổ của Liên Xô khiến những người đại biểu cho phương Tây hoặc định hướng châu Âu không còn gì phải e ngại. Họ điềm nhiên hướng dẫn các cuộc thảo luận của công chúng bàn về vấn đề tiền đồ nước Nga trong thời kỳ quá độ sau CNCS. Dần dà song song với những khó khăn ở trong nước do sự quá độ gây nên khiến người ta phát sinh hoài nghi đối với cái công thức tự do hóa và phương thuốc của phương Tây, rồi sau đó người ta cũng bắt đầu nghe thấy các ý kiến khác nhau”. “Người ta không còn mê khẩu hiệu dân chủ và thấy thất vọng đối với trật tự kinh tế mới. Những điều đó khiến người ta càng thêm khao khát tìm kiếm các chân lý mới khác để lấp chỗ trống vì CNCS đã tiêu tan và ảo tưởng đối với chủ nghĩa tự do thì ngày càng tan vỡ thêm”.

Những sự thay đổi rất đáng để mọi người lắng lại suy nghĩ đó có lẽ cũng đã khiến Brzezinski lẳng lặng sửa đổi cách nhìn của bản thân ông ta. Brzezinski viết: “Dân chủ thiết lập trên cơ sở của thể chế thị trường tự do hiện nay gần như đã giành được thắng lợi. Nhưng được như thế chủ yếu là vì CNCS đã thất bại chứ không phải vì đó là sự biểu hiện thành công của lý tưởng dân chủ tung ra toàn cầu đều đúng”. Cũng vì vậy “Mỹ cần phải biết kiềm chế tình cảm xúc động kiểu giáo sĩ truyền đạo và phải thừa nhận sức mạnh của họ là có hạn”. “Mỹ không thể trở thành cảnh sát toàn cầu và cũng không thể là nhà ngân hàng toàn cầu, thậm chí để trở thành một nhà đạo đức toàn cầu, Mỹ cũng không làm nổi”.

Tiếp sau Brzezinski, trong cuốn Vượt trên hòa bình, Nixon đã phát triển thêm quan điểm tương tự. Ông ta nhận định rằng: “Thất bại của CNCS là một thanh kiếm hai lưỡi”. “Sau kkhi CNCS tan rã trong chiến tranh lạnh và kẻ xâm lược bị đánh bại trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh thì nhiều nhà quan sát rút ra kết luận: Chúng ta đang nhìn tận mắt trật tự thế giới mới đang tới. Nhưng họ đã nhầm. Chiến tranh lạnh làm cho thế giới bị chia cắt, song hòa bình vẫn chưa làm cho thế giới đoàn kết lại. Những gì chúng ta trông thấy ở nhiều nơi trên thế giới, đó không phải là trật tự mà là hỗn loạn”. “Sau chiến tranh lạnh, chúng ta phát hiện thấy chúng ta lại đối mặt với thách thức lớn hơn so với trong thời kỳ chiến tranh lạnh”.

Cũng giống như Brzezinski, Nixon một mặt tuyên bố đắc ý rằng “Chúng ta ở vào thế đang đi lên”. “Mỹ sẵn có lực lượng lãnh đạo thế giới và thế giới cũng cần sự lãnh đạo của Mỹ”. Nhưng mặt khác, ông ta vẫn tự mâu thuẫn với mình, ông lo lắng vì nỗi nước Mỹ còn đang lắm vấn đề. Nixon nói: “Nước Mỹ trong thời đại ngày nay còn quá nhiều nhân tố – khác biệt về chủng tộc và văn hóa, giữa người già với người trẻ không tin cậy nhau, cách biệt giữa người giàu và người nghèo – làm cho nước Mỹ chia năm xẻ bẩy, trong khi đó sức mạnh thôi thúc họ sáp lại với nhau thì rất yếu”. “Chiến tranh lạnh kết thúc càng khiến những vấn đề trong nước chúng ta xấu đi hơn nữa”. Nixon thậm chí phải lớn tiếng kêu lên rằng: “Kẻ thù của chúng ta chủ yếu là ở nội bộ chúng ta”.

(còn tiếp)

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: TN 2000 – 01 & 02