Thời loạn lạc, chiến tranh nối tiếp chiến tranh – Phần I


1/ Hỗn loạn

Nước Nga gặp đại họa, phương Tây hoan hỉ

Năm 1991, vì chiến tranh thông tin – tâm lý mà Liên Xô – một quốc gia hùng mạnh, một trong hai siêu cường của thế giới đã tan rã và chấm dứt tồn tại, bị chia thành 15 nước do Mỹ và phương Tây cai quản. Nhưng, điều cốt yếu nhất có lẽ là sự thay đổi căn bản ý thức của người dân Nga, chuyện chưa từng xảy ra trong suốt bề dày lịch sử nước Nga. Các sự kiện năm 1917 và 1991 có sự khác nhau căn bản. Năm 1917 và tiếp đó, tâm trạng dân Nga giữ nguyên không thay đổi, kể cả ý thức của họ, điều có quan hệ chặt chẽ với chính thống giáo từ ngày lập nước. CNCS Nga là người kế thừa các giá trị đó xét về mặt cộng đồng, tính tập thể của các chuẩn mực đạo đức. Năm 1991 đúc kết sự cải cách triệt để ý thức xã hội từ chủ nghĩa tập thể sang chủ nghĩa cá nhân, sang lý tưởng xã hội tiêu dùng, nơi đồng tiền là Chúa trời duy nhất và cái tôi là tất cả.

Kết quả sự cải cách ý thức xã hội là mất phương hướng, đào ngũ, mất khả năng đối kháng. Từng người chết trong cô đơn: tuyệt thực, tự tử, chết vì bần cùng, tuyệt vọng. R. Kocolapov nhận xét sự việc như sau:

Thảm họa lớn nhất của nước Nga hiện nay không phải chỉ là khủng hoảng mọi mặt kéo dài – từ chính trị đến kinh tế, từ xã hội đến đạo đức, mà cả ở chỗ, nước Nga không còn sống, hay đúng hơn, bị ép sống không bằng cái đầu cảu mình. 13 người Mỹ sang Nga sau chính biến tháng Tám 1991 là các chuyên gia nước ngoài đạo diễn sự kiện tháng Mười Đen năm 1993: 6 người Mỹ thay chúng ta chọn cho ta Tổng thống từ 16 tháng 6 đến 3 tháng 7; IMF áp đặt chuyên chế có hệ thống cho chúng ta – đó là dấu hiệu mất chủ quyền của ta trong cái chủ yếu và cơ bản nhất – khả năng tự sắp xếp công việc theo ý mình”.

Nói cách khác, chính quyền bị lệ thuộc vào phương Tây, tuy người cầm lái vẫn là những kẻ từng cầm lái dưới chính quyền Xô Viết: các nhà tư tưởng Đảng Cộng sản Liên Xô và bộ sậu Đảng dị dạng. Có điều giờ đây họ biến chính quyền thành của riêng và dựa vào ngoại bang. Nga trở thành kẻ được phương Tây bảo hộ. Mọi quyết định quan trọng đều phải báo cáo trước hết cho Mỹ. Giống như thời phong kiến loạn lạc, khi các quý tộc Nga phải đi cầu cạnh ngoại bang, giờ đây, các Tổng thống và ứng cử viên Tổng thống các nước cộng hòa cũ sang cầu cạnh Mỹ.

Nhưng té ra chiến tranh thông tin – tâm lý chưa đến hồi kết, tuy sắc lệnh 20/1 của HĐANQG Mỹ “Mục tiêu của Mỹ đối với Nga” ký ngày 18 tháng 8 năm 1948 đã được hoàn thành trọn vẹn. Tạp chí “Tri thức – Quyền lực” đăng những lời “hay” của các lãnh đạo phương Tây đúc kết chiến tranh tâm lý chống Liên Xô;

Thông điệp của Tổng thống Mỹ Clinton “Tình hình quốc gia” ngày 7 tháng 2 năm 1997 viết:

Để chuẩn bị cho Mỹ bước vào thế kỷ XXI, chúng ta phải học được cách điều khiển các thế lực quyết định sự thay đổi của thế giới, đảm bảo cho nước Mỹ lãnh đạo thế giới lâu dài, bền vững. 50 năm trước, Mỹ có tầm nhìn xa khi thành lập các Viện giúp Mỹ thắng cuộc chiến tranh lạnh, vượt qua nhiều trở ngại chia cắt thế giới mà tổ tiên chúng ta từng sinh sống…”.

Ngoại trưởng Baker:

Chúng ta đã bỏ ra hàng ngàn tỷ USD trong vòng 40 năm để giành chiến thắng trong chiến tranh lạnh với nước Nga”.

Giám đốc Trung tâm chính trị và an ninh Gafney:

Thắng lợi của Mỹ trong chiến tranh lạnh là kết quả của chiến lược được hoạch định trước, đa dạng nhằm tiêu diệt Liên Xô. Các sự kiện lịch sử đã được định trước bởi chiến lược của Reagan. Cuối cùng, chiến tranh ngầm chống Liên Xô đã tạo điều kiện đánh bại Liên Xô”.

Thư ký của Ủy ban ba bên Brzezinzski:

Nga là cường quốc bại trận. Nga đã thua cuộc chiến toàn cục. Nếu nói “không phải Nga mà là Liên Xô” chỉ là trốn tránh sự thật. Đó là nước Nga được gọi bằng Liên Xô. Nga đã thách thức Mỹ. Nga đã thua cuộc. Giờ đây không cần ảo tưởng về nước Nga cường quốc. Cần từ bỏ cách tư duy đó… Nga sẽ bị chặt nhỏ và bị đô hộ”.

Tổng thống Nixon:

Phương Tây phải làm hết sức mình,… nếu không Mỹ và phương Tây dễ bỏ tuột chiến thắng trong chiến tranh lạnh, sẽ bị đánh bại… Nga là chìa khóa của thắng lợi. Chính tại Nga cuộc chiến cuối cùng của chiến tranh lạnh sẽ thắng hay thua. Đó là trận cuối”.

Thành viên Ủy ban ba bên, lãnh đạo “Knight Bright” Kissinger:

Rõ ràng, Liên Xô tan rã là sự kiện trọng đại nhất của thời đại và chính quyền Bush thể hiện tài nghệ tuyệt vời trong vụ này… Tôi thích một nước Nga hỗn loạn, chìm trong nội chiến hơn là nhìn thấy nước Nga tái thống nhất thành một quốc gia trung ương vững chắc”.

Thủ tướng Anh John Major:

Nhiệm vụ của Nga sau khi thua chiến tranh lạnh là cung cấp nguyên liệu cho các nước phát triển. Nhưng chỉ cần năm, sáu chục triệu người để làm việc đó”.

Không cần lời bàn. Qua đó thấy rõ, hiểm họa Cộng sản chỉ là sự lừa bịp và Nga đang đứng trước hiểm họa chết người bị đe dọa chia nhỏ, gây hỗn loạn, hút hết tài nguyên, bị phương Tây bảo hộ và số người thừa sẽ bị diệt. Hơn nữa, nhiều kẻ ở phương Tây cho rằng, tinh thần Nga đã bị phát nát, người Nga chỉ là đám nộ lệ sẵn sàng thờ phụng đồng USD.

Thời kỳ loạn lạc

Sự tương đồng giữa các sự kiện cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 với “Thời loạn lạc” cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII thật đáng kinh ngạc. Nếu chỉ dựa vào những nét tổng thể thì sẽ không hiểu đang nói về thời nào: 400 năm về trước, sự kiện xảy ra sau thời kỳ tập trung hóa quá mức. Mâu thuẫn các tầng lớp dân cư đạt đỉnh điểm. Các địa phương đứng lên chống lại chính quyền trung ương làm suy yếu hẳn chính quyền và đất nước hầu như bị tan rã. Nhiều thành phố, tỉnh giành quyền tự quyết. Tội phạm và hiện tượng vô chính phủ nở rộ.

Ngoại bang nắm các thành phố, còn người Nga ở Moskva và khắp cả nước cảm thấy mình là công dân hạng hai”.

Giai đoạn đầu tầng lớp chóp bu đóng vai trò quyết định. Chỉ khi xét đến các tiểu tiết mới thấy sự khác biệt giữa hai thời đại.

Giới quý tộc, từng giúp Dmitri Donski và Ivan III củng cố Nhà nước Nga, dần dà đánh mất lòng yêu nước. Họ lấy làm trọng lợi ích cá nhân và hướng sang phương Tây. S.F. Platonov là người hiểu biết rất tốt “Thời loạn lạc” có viết:

Để chuẩn bị xây dựng các trường học phương Tây tại Moskva, Boris Godunov gửi thanh niên Nga ra nước ngoài học tập (có điều chẳng ai muốn trở về)”.

Đối với tầng lớp chóp bu xã hội, được sinh ra trong quá trình tiến hóa Đảng Cộng sản Liên Xô, lý tưởng là tư lợi, là khả năng sang phương Tây. Giai đoạn 1601 – 1603 mất mùa đói kém, bánh mì trở thành món đầu cơ, còn thời nay, lượng lớn hàng hóa, gồm cả lương thực thực phẩm bị bán rẻ sang phương Tây. Giới chóp bu còn có đặc điểm nữa là vô nguyên tắc. Các cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô, các nhà tư tưởng của Đảng đều chối bỏ những gì họ đã quảng bá, kêu gọi, ép buộc người khác làm, nhiều người trong số họ trở thành đám chống cộng điên cuồng. Một số sẵn sàng quay ngoắt 180o thời chính biến tháng 8 năm 1991. Trong quá khứ cũng đã từng như vậy, Platonov viết về hai phe: phe Vor ở Tusino và phe Suixki ở Moskva như sau:

Nhiều nhà buôn và quan chức về Tusino, một số vì căm ghét Suixki, số khác vì hám danh lợi. Cũng có hoặc người thích phiêu lưu chạy đi chạy lại giữa Moskva và Tusino. Mỗi lần đến, họ lại xin xỏ vị vua ở đó thăng chức tước vì có công “đến” và vì họ đã nhận ra vị vua “chân chính” nên đến hầu hạ. Dân Moskva gọi bọn vô lại đó bằng cái tên “di trú””.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý – TCII 1999.

Advertisements

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần cuối


B. Eihenbaum trong tập Nhật ký viết vào những năm 1917 – 1918, đã nhận xét rằng “đối với một bộ phận đáng kể của giới trí thức chúng ta thì chỉ cần một cuộc cải cách chính trị, nhưng khi lịch sử tiến xa hơn nữa thì họ đã trở thành kẻ thù của cách mạng” (theo tạp chí Ngọn cờ 1993, T.11, p180).

Nguyện vọng muốn có sự thay đổi, lòng yêu mến nhân dân đối với phần lớn giới trí thức đã trở thành những khái niệm xa vời và trừu tượng.

Nhiều người mới đây còn ca ngợi cách mạng thì bây giờ lại nguyền rủa nó.

Nhà thơ K. Balmont năm 1905 đã từng viết: “Hỡi người công nhân, ta yêu ngươi, ta cơ ngợi bão tố của ngươi” (K. Balmont. Những bài ca cái búa của người thợ, M, 1922, p7) thì đến năm 1918 lại nói về những người công nhân đó như sau: “Họ là bầy chó sói, họ là bầy chó điên ngoạm vào bàn tay từng giải phóng họ bằng những chiếc rằng dính đầy nước dãi” (K. Balmont. Tôi có phải là người cách mạng hay không? M. 1918, p3).

Những người trước kia từng là bạn của nhau bây giờ lại gọi nhau bằng những từ thô bỉ. Một số người này không tiếc lời xúc phạm các Xô Viết và những người ủng hộ chúng, còn những người khác thì với lòng căm thù như vậy đã nói và viết về chủ nghĩa đế quốc thế giới và những tên tay sai bạch vệ của nó.

Cuộc nội chiến đã nổ ra. Và những kẻ can thiệp nằm trong những phe phái khác nhau, không chỉ tranh cãi với nhau mà còn bắn vào nhau.

Binh lính, công nhân, nông dân sau khi thấy thái độ không tán thành của đa số trí thức đối với những thay đổi vừa xả ra, cũng đáp lại bằng thái độ thù địch như vậy. Chính quyền mới đã hiểu rằng nó không thể dựa vào giới trí thức nên đã cố xúc tiến quá trình đào tạo giới trí thức mới, giới trí thức “nhân dân” như hồi đó người ta thường nói. Và những kết quả mãi sau này mới thu lượm được. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai, việc truy bức, đàn áp chống lại giới trí thức cũ được gia tăng, những người đại diện cho nó ngày càng bị gạt khỏi bộ máy lãnh đạo ở trung ương và địa phương.

Đến cuối cuộc nội chiến, một bộ phận lớn của giới trí thức đã sống lưu vong ở nước ngoài. Thành phần của hai triệu người Nga lưu vong sống rải rác khắp thế giới sau cuộc nội chiến chưa được nghiên cứu kỹ. Nhưng rõ ràng là giới trí thức sống lưu vong đã đóng một vai trò chủ đạo ở hải ngoại, đã trở thành một trong những nhánh của nền văn hóa Nga, đã sáng tác được những tác phẩm văn nghệ xuất sắc ở nơi đất khách quê người. Như vậy là sau khi đụng đầu với sự thử thách vĩ đại là cách mạng, giới trí thức Nga không chiếm lĩnh được đỉnh cao.

Nó không thể lãnh đạo được cách mạng. Cách mạng mang tính chất tiến bộ khi nó kèm theo sự khởi sắc tinh thần của dân tộc. Sự khởi sắc này không thể có được, nếu thiếu sự tham gia tích cực, mang tính chất sáng tạo của phần lớn trí thức. Quần chúng trí thức hoạt động cách mạng càng nhiều bao nhiêu, sự giao tiếp của nó với hàng triệu công nhân và nông dân càng chặt chẽ bao nhiêu thì những thay đổi cách mạng càng có kết quả và vững chắc bấy nhiêu. Cách mạng tàng trữ trong nó điện tích dương và âm. Mối tương quan giữa chúng phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là mức độ tham gia cách mạng của những nhóm trí thức khác nhau.

Ở nước Nga, giới trí thức chẳng những không lãnh đạo cách mạng – nếu như muốn nói tới không phải thành phần hẹp hòi của chính phủ mà là một tầng lớp rộng lớn từng lãnh đạo những cải tổ cách mạng trên khắp đất nước rộng lớn mà còn tham gia tương đối yếu ớt vào công việc xây dựng của nó. Điều đó dẫn tới chỗ là nhiều tư tưởng và sáng kiến mang tính chất cách mạng tiến bộ hoặc là không thực hiện, hoặc là không được tiến hành tới cùng, hoặc là bị bóp méo trong thực tiễn. Những chi phí của cách mạng hóa ra là rất lớn.

Tôi sợ bị hiểu sai lệch nên xin nói trước: tôi cho rằng Cách mạng tháng Mười năm 1917 là một sự kiện vĩ đại và tiến bộ. Song việc một bộ phận đáng kể của giới trí thức xa rời cách mạng đã làm yếu đi tiềm năng kiến tạo của nó.

Có thể hình dung là những ngọn đèn pha của Cách mạng sẽ chiếu sáng hơn biết bao nhiêu, ảnh hưởng của nó sẽ mạnh hơn biết bao nhiều, nếu như không phải một bộ phận ít ỏi mà là một bộ phận đông đảo của giới trí thức tham gia vào công cuộc cải tạo cách mạng ở nước Nga.

Giới trí thức Nga đã chuẩn  bị cách mạng, đã sẵn sàng hướng tới cách mạng nhưng bản thân lại chưa được chuẩn bị để tiếp nhận cách mạng. Nó chỉ là người gieo hạt chứ không phải là người gặt hái. Người khởi xướng đã biến thành nạn nhân, đã chịu đựng những gian khổ ghê gớm về vật chất, đã bị đàn áp về mặt thể xác.

“Tâm trạng thất vọng” – có thể dùng những từ đó để xác định tình huống đã được tạo ra. Giới trí thức đã thất vọng về cách mạng lẫn về nhân dân. Nhân dân đã thất vọng về giới trí thức. Một bộ phận lớn của giới trí thức đã không được nhân dân chấp nhận và không được những nhà đương cục mới ưa chuộng.

Sự phân biệt trong giới trí thức vẫn tiếp diễn và gia tăng, những hậu quả của sự chia rẽ này đã kéo dài trong nhiều năm.

Tình trạng sống lưu vong của hàng nghìn nhà văn và luật gia, các nhà khoa học và các bác sĩ, các nghệ sĩ và các luật sư, kỹ sư và các sĩ quan là một mặt của tấn bi kịch. Họ rời bỏ tổ quốc – phần lớn là mãi mãi – và sống tản mạn ở những chốn hải ngoại khác nhau. Kết quả là sự suy yếu đáng kể về trình độ trí tuệ của nước Nga trong những năm 20.

Tình huống ấy ở thời buổi ngày nay lặp lại với mức động giống nhau ĐÁNG KỂ, mặc dù có những khác biệt cơ bản.

Một hiện tượng đáng chú ý: giới trí thức sau 70 năm đã thay đổi tận gốc rễ. Nó đã trưởng thành vượt bậc về mặt số lượng sau khi dung nạp chủ yếu là công nhân và nông dân. Song dường như là mới mẻ, nó vẫn giữ được cấu trúc và những nét tiêu biểu của giới trí thức . Và trong tình hình rối ren hiện nay điều đó không thể không bàn đến. Không nghi ngờ gì nữa, chính giới trí thức là sức mạnh chủ yếu làm lung lay chế độ Xô Viết. Ngày nay giới trí thức đóng một vai trò lớn hơn so với hồi đầu thế kỷ. Công nhân và nông dân hoàn toàn không thể hiện tính tích cực chính trị nghiêm túc trong những năm cải tổ, còn một số hành động quậy phá, kiểu như những cuộc bãi công của thợ mở, là do giới trí thức được chính trị hóa xúi bẩy.

Trong điều kiện khiếm khuyết các đảng phái chính trị khác, ngoài đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS), khi khẩu hiệu công khai xuất hiện vào nửa sau những năm 80, chính phần lớn hạt nhân trí thức dựa vào sự ủng hộ của đa số các tầng lớp trí thức rộng rãi ở ngoại biên đã đóng vai trò quyết định trong việc tuyên truyền các tư tưởng được gọi là dân chủ, trong việc phê phán quá khứ và hiện tại Xô Viết, trong việc phá vỡ đảng Cộng sản Liên Xô và tất cả các cơ cấu đã tồn tại trong nước.

Cũng cần phải chú ý tới vai trò lớn lao ngày càng gia tăng của các phương tiện thông tin đại chúng. Khi các nhà thơ lập dị và các nhà phê bình văn học, các nhà đạo diễn điện ảnh ba hoa và các nhà chính luận háo danh xuất hiện trên màn ảnh nhỏ và vớ lấy micro thì hàng chục triệu người đã tin họ. Không còn nghi ngờ gì nữa, những vị trí thức này là những người khởi đầu của sự cố đang diễn biến, họ là chỗ dựa chủ yếu của công cuộc cải tổ. Họ muốn công khai, muốn, nói như nhà văn châm biếm Saltykov – Shedrin, không hẳn là hiến pháp, không hẳn là món cá chiên ướp riềng. Hiến pháp thì nói chung đã có đấy nhưng nó cứ thế nào ấy: nhiều quyền được nêu lên song lại không được bảo đảm một cách đầy đủ trong thực tế. Còn món cá chiên thì quả thực rất khan hiếm. Nhà văn xác nhận: không có món cá chiên, mọi người đều đồng ý rằng điều đó là đúng. Cá chiên chỉ có cho một số người có đặc quyền đặc lợi, còn nhân dân thì không nhìn thấy nó. Bởi thế cần phải phá hủy tất cả và phải xây dựng chế độ dân chủ, tính luật pháp, thị trường. Một số lớn cán bộ cao cấp trước đây, những người từng tuyên truyền cho chế độ Xô Viết, từng hăng hái chiến đấu để bảo vệ tất cả mọi thứ Xô Viết, đâm ra ngạc nhiên. Thái độ căm ghét của số các nhà văn, các nghệ sĩ và cán bộ cao cấp khác của đảng đối với thời kỳ Xô Viết mà trong đó họ đã lớn lên và phát triển tài năng đã được nhận những giải thưởng và những danh hiệu cao quý và từng luôn mồm cảm ơn đảng và chính phủ vì những phần thưởng và sự quan tâm – thái độ căm đó của họ đã khiến người ta sửng sốt.

Kết quả thật rõ ràng. Phần lớn người trí thức lại trở thành nạn nhân. Chỉ có một bộ phận của hạt nhân nhờ thói bộ đỡ xu nịnh trước mọi vị quan chức từng có chân trong chính quyền trong mười năm rưỡi là bảo đảm cho mình được tính công khai – tất nhiên trong khuôn khổ thích hợp – và sự sung túc. Còn đối với đại bộ phận thuộc tất cả các tầng lớp trí thức, ngoài đám quan chức vẫn giữ được đặc quyền đặc lợi, thì tình hình hiện nay, nếu nói một cách nhẹ nhàng, không lấy gì làm phấn khởi.

Giới trí thức đã đấu tranh chống lại sự thao túng của đám quan lại cao cấp nhưng lại nhận được sự lộng hành vô giới hạn mới của bọn quan chức mới, của hàng triệu cố vấn mới, trợ lý cao cấp mới… vốn xuất thân từ những cán bộ cao cấp cũ nhưng trong nháy mắt đã thay hình đổi dạng, còn những tên ăn hối lộ mới trong số những quan chức tép riu đã nhanh chóng hiểu ra rằng tình hình hiện nay có thể nhoi lên được.

Giới trí thức đã đấu tranh chống lại những đặc quyền đặc lợi của các cán bộ cao cấp nhưng lại nhìn thấy những đặc quyền đặc lợi mới rất tinh vi mà các ông trùm trước đây nằm mơ cũng không thấy. Nó đã đấu tranh chống lại nạn tham nhũg của bọn chóp bu trong đảng, trong công đoàn, trong đoàn thanh niên Cômxômôn nhưng lại nhận được cái quy mô như vậy của thói vụ lợi dễ bị mua chuộc từ trên xuống dưới mà nước Nga chưa hề biết tới.

Không cần thiết phải nói tới sự suy sụp của khoa học và văn hóa, tôi sẽ không liệt kê tất cả những bệnh hoạn, những tai họa đã giáng xuống nhân dân, và có lẽ trước hết là giáng xuống giới trí thức. Tất cả tình hình này đã được mọi người công nhận và phản ánh những thực tế ba năm rõ mười của cuộc sống chúng ta.

Giới trí thức đã đấu tranh cho sự lành mạnh về thể lực của nhân dân nhưng lại nhận được sự gia tăng của tệ nghiện rượu, thảm họa về nhân khẩu, một xã hội với những mạch máu bị đâm nát.

Nói tóm lại, giới trí thức vừa là người khởi xướng của tình trạng rối loạn hiện nay lại vừa là nạn nhân của nó. Giới trí thức cho thấy rằng nó người gieo hạt nhưng không phải là người gặt hái, nó lại xuất hiện trong vai Hamlet chao đảo, băn khoăn với câu hỏi vĩnh cửu “Tồn tại hay không tồn tại?” nhưng thiếu một kế hoạch hành động được suy nghĩ kỹ càng.

Nhà phê bình văn học Natalja Ivanova đã viết trong năm 1993 rằng “giới trí thức trong lịch sử nước Nga là một tầng ozon thường xuyên tái sinh, nó che chắn chúng ta khỏi tia phóng xạ của chủ nghĩa vị kỷ đang chiến thắng”.

Hỡi ôi! Nhiều đại diện của giới thượng lưu trí thức không tái sinh ra tầng ozon của đời sống tinh thần, còn bản thân họ thì trở thành những máy phát ra tia phóng xạ của chủ nghĩa vị kỷ đang chiến thắng.

Những giấc mộng sản khoái về chủ nghĩa xã hội và những giấc mơ hồng êm ái về nền dân chủ đã kết thúc bằng một buổi sáng ảm đạm của hiện thực khắc nghiệt.

Tôi sẽ không nhắc lại sau nhà văn Esin đáng kính rằng thật xấu hổ khi gọi mình là người trí thức Nga. Không, không xấu hổ mà là cay đắng.

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần III


Như vậy là giới trí thức Nga trong gần 100 năm luôn luôn là trung tâm của các cuộc tranh luận không lúc nào lắng dịu. Và nếu trên thế giới người ta dã từng nói đến tính phi dân tộc của tính cách Nga, đến “tâm hồn Nga bí ẩn”, đến “sự không đón định trước” của nó… thì trước hết nên xem ý kiến đó là nói về giới trí thức Nga.

Tuy nhiên hoàn toàn có thể khảo sát một cách khoa học về những đặc điểm của giới trí thức Nga, những nét giống nhau của nó với giới trí thức của các nước khác và về những đặc điểm nhất định mà chỉ riêng nó mới có.

Một là, giới trí thức Nga đã phản ánh sự đa dạng hiếm có của đất nước. Trong sách báo từ lâu đã được khẳng định một quan niệm cho rằng nước Nga ở đầu thế kỷ XX, trên một mức độ nhất định, là một mô hình của toàn thế giới. Ở đaây người ta không chỉ muốn nói tới sự đa dạng về tộc người, mà chủ yếu muốn nói tới sự khác biệt về trình độ kinh tế, xã hội, văn hóa của rất nhiều khu vực, sự hiện hữu của các khu vực tinh thần khác nhau. Sự đa dạng đáng kinh ngạc của nước Nga đã để lại dấu ấn không thể xóa mờ trên giới trí thức, làm cho tư duy của nó, những khái niệm về cuộc sống trở thành nhiều tầng lớp, bao hàm những trào lưu khác nhau, – đôi khi một cách vô ý thức – chịu ảnh hưởng của những nền văn hóa khác nhau.

Hai là, vị trí địa lý của nước Nga vốn chiếm một phần đáng kể của châu Âu cũng như toàn bộ Bắc Á, trên một mức độ đáng kể đã ảnh hưởng tới địa hạt tinh thần của các dân tộc nói chung và trước hết của giới trí thức. Những dao động quả lắc, thông qua toàn bộ lịch sử nước Nga, đang diễn ra giữa phương Tây và phương Đông.

Ảnh hưởng Byzantine (phương Tây) chủ yếu đã đến thông qua đạo Cơ đốc, lúc đầu đã va vấp với đa thần giáo Cổ Slava, sau đó với ảnh hưởng của Tartar – Mông Cổ.

Bản thân đạo Cơ đốc ở Nga sau khi mang diện mạo của đạo chính thống, buồn rầu nhìn sang phương Tây vốn khoác những bộ y phục của đạo Thiên chúa, và sau này, của đạo Tin lành.

Sự xa lánh kéo dài đối với phương Tây, sự không chấp nhận người ngoại quốc về mặt tâm lý, thái độ cảnh giác đối với tất cả những gì từ phương Tây đến được thay thế bằng bước ngoặt của vua Petr Đệ Nhất hướng tới phương Tây khiến những người đương thời phải sửng sốt. Tư tưởng bảo thủ mang tính chất châu Á thuần túy trong việc tiếp nhận đường lối ngả theo châu Âu, sự thao túng của những người nước ngoài ở thế kỷ XVIII đã làm gay gắt thêm sự đối lập của những khuynh hướng khác nhau. Trong thế kỷ XIX, sự đối lập đó mang những hình thức văn minh, nó chuyển thành cuộc tranh luận nổi tiếng giữa những người sùng phương Tây (Zapadniki) và những người sùng Slave (Slavojanofily). Về thực chất, cơ sở của cuộc tranh luận giữa những người theo châu Âu và những người chống lại là sự khác biệt của những quan điểm về con đường phát triển của nước Nga.

Xin nói thêm rằng cuộc đấu tranh ở cuối những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ XX về những con đường phát triển của nước Nga – theo mô hình châu Âu hay gìn giữ vẻ đặc thù của mình – trên thực tế lại trở thành cái tục của đời sống chính trị, và mang tính chất mít tinh.

Sau hết, đặc điểm thứ ba của giới trí thức Nga là ảnh hưởng to lớn của tư tưởng về sứ mệnh cứu thế đến lĩnh vực tinh thần của nó. Giới trí thức Nga dưới dạng tập trung cô đọng phản ánh một tư tưởng được phổ biến ở Nga về sứ mệnh đóng vai trò cứu thế trong lịch sử thế giới.

Trên nguyên tắc, tư tưởng về vai trò đặc biệt của mìh trong lịch sử vốn có ở đa số các dân tộc lớn trên thế giới. Lịch sử của cộng đồng Do Thái bắt đầu từ tư tưởng về “sự được Chúa lựa chọn”. Như mọi người đều biết, tư tưởng về tính ưu việt của dân tộc Đức đã có ý nghĩa như thế nào trong lịch sử nước Đức. Những nguyên thủ hàng đầu của Mỹ cũng dành cho nước mình một vị trí nhất định trong thế giới hiện tại.

Khi gọi mình là “Nước Nga thần thánh”, là “dân tộc đại diện cho Chúa”, khi nói rằng “Moskva là đệ tam La Mã, còn đệ tứ La Mã thì không có”, dân tộc Nga đã quen với ý niệm về tính chất đặc biệt của mình. Tính chất đặc biệt với một ý nghĩa đặc biệt. Không phải trên bình diện mong muốn thống trị các dân tộc khác, không phải trên bình diện ưu việt về chủng tộc, hiện hữu những phẩm chất đặc biệt khiến người Nga đứng trên các dân tộc khác. Tính đặc biệt chỉ là ở via trò cứu thế vốn được dành cho nước Nga, ở việc nó sẵn sàng mở đường vào tương lai cho tất cả các dân tộc khác và nếu cần thì có thể hy sinh thân mình.

Điều đó thể hiện rất rõ trong và sau cách mạng năm 1917. Hồi đó phỏ biết rất rộng rãi một tư tưởng cho rằng cuộc cách mạng Nga đã mở đầu cho một kỷ nguyên mới, rằng nước Nga Xô Viết là thành trì của sự tiến bộ trên toàn thế giới, là tấm gương của việc xây dựng cuộc sống mới. Vả lại, hồi đó rất nhiều người đại diện cho lớp trí thức ưu tú của phương Tây – từ A. France đến B. Shaw… đã thừa nhận vai trò đặc biệt của nước Nga.

Mưu toan xây dựng XHCN ở Liên Xô, như chúng ta ngày nay thấy rõ, đã kết thúc thất bại. Điều đó được giới trí thức Nga tiếp nhận một cách rất nặng nề và đau đớn không chỉ vì Liên bang Xô Viết đã sụp đổ, không chỉ vì nước Nga và các nước khác thuộc Liên Xô cũ lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc mà còn vì đối với một bộ phận đáng kể của giới trí thức điều đó biểu thị sự phá sản của một thế giới quan, sự phá sản của lý tưởng cứu thế. Sự thất vọng chua chát đã đến. Chúng ta đã tự hào, đã nghĩ rằng chúng ta dẫn đầu tất cả, chúng ta giương cao ngọn đuốc soi đường, nhưng té là chúng ta đang tít tận đằng sau, chúng ta là đèn đỏ.

Giới thượng lưu trí thức của nước Nga đến với cách mạng năm 1917 với những trăn trở, những quan niệm mâu thuẫn, mơ hồ về vai trò và số phận của mình. Nhưng dầu sao cũng có một mẫu số chung liên kết với một bộ phận chủ yếu của giới trí thức. Nó chân thành cho rằng nó hành động nhân danh nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Chính vì nhân dân muốn có những biến đổi cho nên giới trí thức trong đại bộ phận của nó ủng hộ sự thay đổi, không loại trừ cách mạng.

Đã đến lúc phải thừa nhận rằng không phải công nhân mà là một bộ phận lớn của giới trí thức – hạt nhân tinh hoa cũng như các tầng lớp ngoại vi – đã đóng vai trò quyết định trong việc chuẩn bị cách mạng năm 1917. Nó đã làm lung lay chế độ cũ bằng lời nói và việc làm. Nếu không có việc hạ uy tín của chế độ quân chủ chuyên chế, không có việc tố cáo bọn thống trị chóp bu, thói ích kỷ của bọn trọc phú, thói đạo đức giả xã hội, nếu không vạch ra tình trạng tủi nhục, nghèo khổ, võ quyền của nhân dân, nếu không có những lời kêu gọi thay đổi cái trật tự hiện hành – tức là nếu không có tất cả những cái mà những người trí thức nổi tiếng nhất đã tuyên truyền dưới các hình thức khác nhau và được giới trí thức truyền phát trên khắp cả nước thông qua quần chúng – nếu không có tất cả những cái đó thì các đảng chính trị cấp tiến không thể nào có được sức mạnh đạo đức. Ngay bản thân các đảng ấy cũng được những người trí thức chỉ đạo. Đầu tiên là lời nói. Các đảng đã biến nó thành hành động. Tất nhiên có không ít những trí thức Nga nói chung không muốn lật đổ chế độ, chưa kẻ những người đang làm việc cho nhà nước. Những quan điểm khá đa dạng. Song, tôi xin nhắc lại, tâm trạng phê phán mang tính chất cách mạng mạnh hơn, được tuyên truyền tích cực hơn và có hiệu quả hơn. Berdjaev đã viết rằng Tolstoi chịu trách nhiệm về cách mạng năm 1917 với mức độ như Rousseau đã chịu trách nhiệm về cách mạng Pháp. Tôi cho rằng còn hơn thế (tất nhiên nếu nhìn ở Rousseau và Tolstoi những biểu tượng của ảnh hưởng) bởi vì vào đầu thế kỷ XX có rất nhiều đòn bẩy tác động, nhiều cơ chế chuyển đạt là báo chí đại chúng, các đảng phái chính trị, các tổ chức nghiệp đoàn, các cuộc vận động xã hội khác nhau.

Song cách mạng đã nổ ra. Và giới trí thức Nga đã nếm trải sự thử thách nghiêm trọng nhất trong lịch sử của mình.

Cuộc cách mạng tháng Hai năm 1917 đã làm tăng thêm những sự bất đồng về quan điểm. Những người theo chế độ quân chủ đã trở nên quân chủ hơn và hung bạo hơn (trừ những người hấp tấp đổi mầu thành những người theo chế độ cộng hòa – số những người này cũng không phải là ít). Những người theo chủ nghĩa tự do đã trở nên tự do hơn, còn những người cách mạng thì – cách mạng hơn.

Tuy vậy đa số giới trí thức – điều này trên nguyên tắc không gây nên những cuộc tranh luận trong khoa học – đã hoan nghênh cuộc Cách mạng tháng Hai.

Nhưng mặc dầu những người thắt nơ đã chiếm ưu thế, ngay từ hồi đó đã xuất hiện sự bất đồng chủ yếu giữa giới trí thức và nhân dân. Giới trí thức đã nhìn thấy nhân dân ở một khoảng cách rất gần, và tâm trạng của họ đã thay đổi một cách đáng kể. Không một cuộc cách mạng nào được thực hiện trong những đôi găng tay trắng, được diễn ra dưới những hình thức hàn lâm. Ở Nga, tính chất gay gắt của ý thức giai cấp đã dẫn tới bạo lực, và chuỗi dây xích bạo lực càng ngày càng kéo dài ra và nhuộm máu đỏ lòm. Bạo lực cách mạng không tuân theo những quy luật cũ, đã coi thường chúng và quẳng chúng đi. Về phương diện này bạo lực cách mạng đặc biệt nguy hiểm và không thể được biện minh theo quan điểm đạo đức. Từ những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng Hai đã nổi lên làn sóng giết hại các sĩ quan, các tướng lĩnh, các đô đốc.

Hiện thực cách mạng đã làm cho giới trí thức khiếp sợ. Nhân dân mà giới trí thức đấu tranh vì hạnh phúc, té ra là cứng đầu cứng cổ, hung hãn, muốn phá hủy tất cả những cái cũ và không hề yêu quí và biết ơn đối với “những người mặc áo cổ trắng”. Sự bất đồng về quan điểm của giới trí thức đã chuyển hóa thành sự phân biệt.

Cách mạng tháng Mười đã đưa sự chống đối lên tới những quy mô chưa từng thấy. Sự phân biệt đã trở thành sự thật. Cuộc sống đã hoàn toàn xé toang lớp vỏ lãng mạn của cách mạng. Cách mạng đã hiện ra với những khẩu hiệu vĩ đại và đồng thời lại bị vấy máu, với khát vọng vươn tới sự tiến bộ và với sự bẩn thỉu nhơ nhớp trong thực tế, với những lời lẽ về bình đẳng, tự do, dân chủ và đồng thời trong hình tượng bạo lực và chuyên chế. Trong giới trí thức đã xảy ra những cuộc tranh cãi gay gắt giữa những người chống lại cách mạng một cách không khoan nhượng và những người hăng hái biện hộ cho cách mạng.

Những cuộc tranh luận về thái độ của những tầng lớp trí thức khác nhau đối với cách mạng và về mối tương quan giữa chúng vẫn đang tiếp diễn. Có một công thức do Stalin đề xuất. Theo công thức này, thì những tầng lớp trí thức lớp dưới đón nhận cách mạng, các tầng lớp trung lưu thì dao động còn bộ phận thượng lưu trí thức thì đứng về phía Bạch vệ. Sự thật cho thấy rằng một bộ phận đáng kể của các gọi là các tầng lớp trí thức lớp dưới và trung lưu – các giáo viên quèn, các cán bộ y tế, các viên chức – đã hăng hái chống lại chính quyền Xô Viết. Và ngược lại, nhiều nhà khoa học lớn như Timirjazev, Shternbery, các nhà văn như Blok, Majakovski, Brjusov, các nhà hoạt động sân khấu như Meierhold, Vakhtangov lại đứng về phía Cách mạng. Nhưng dầu sao cũng phải thừa nhận rằng phần lớn những người đại diện cho giới trí thức không chấp nhận Cách mạng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần II


Bằng cách này hay cách khác, những tiêu chí xã hội và văn hóa là những tiêu chí mang tính chất quyết định trong toàn bộ những tiêu chí. Tôi muốn nói rằng: giới trí thức là một bộ phận tích cực về mặt xã hội và văn hóa của nhân dân.

Tính tích cực xã hội hoàn toàn không chỉ lược quy vào việc tham gia các đảng phái, các phong trào, các cuộc mít tinh.

Nhà văn, nhà thơ từng phản ánh trong tác phẩm của mình cuộc sống nhân dân đương thời, không chỉ thực hiện một công việc văn học mà còn thực hiện một công việc có ý nghĩa xã hội. Nhà viết kịch, đạo diễn sân khấu, điện ảnh, vô tuyến và các diễn viên cũng thực hiện một chức năng xã hội quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức nhân dân.

Các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu xã hội, các giáo viên và giảng viên đại học hàng ngày đang làm một cái gì đó giúp cho việc hình thành ý thức xã hội. Có thể kể ra vô số các nghề – từ nhà báo đến họa sĩ, từ nhà soạn nhạc đến luật sư – những người đại diện cho các nghề đó tác động đến ý thức xã hội một cách gián tiếp hay trực tiếp. Nếu, thêm vào đó, họ còn giữ một lập trường chính trị nhất định, thì vai trò của họ trong việc hình thành dư luận xã hội càng lớn.

Cái nhóm này chính là làm thành hạt nhân của giới trí thức.

Vậy là tôi đang nói về hạt nhân của giới trí thức, như người ta thường nói cách đây không lâu, là lực lượng lãnh đạo và định hướng của xã hội. Nhưng, lẽ cố nhiên không nên chỉ giới giới hạn khái niệm trí thức ở hạt nhân của nó. Cái định nghĩa khiến chúng ta đã và đang lúng túng, không đơn giản bởi lẽ giới trí thức có nhiều tầng lớp, nó không chỉ có hạt nhân mà còn có cả vùng ngoại vi. Cũng như hạt nhân đó cũng là bộ phận tích cực của xã hội về mặt chính trị – xã hội và văn hóa, cái nhóm này rất rộng lớn và đa dạng và tính tích cực của nó được thể hiện dưới vô số hình thức. Có lẽ có thể gọi cái nhóm đó là nhóm tích cực gồm đông đảo công chúng độc giả.

Đó là những người yêu thích sân khấu, những người xem triển lãm, bảo tàng, các buổi hòa nhạc, các cuộc hội nghị độc giả, các cuộc gặp gỡ của các nhà bác học, những người tham gia văn nghệ nghiệp dư…

Ở trình độ học vấn đóng một vai trò to lớn, tức là đa số tầng lớp này được bổ sung bằng những người có bằng cấp.

Có lẽ cũng nêu bật những cái được coi là không thể phủ nhận. Mà theo tôi cái không thể phủ nhận là không một tiêu chí nào trong số những tiêu chí nêu trên có thể phản ánh toàn bộ sự phức tạp của hiện tượng giới trí thức Nga.

Cái không thể phủ nhận là việc sử dụng bộ tổng hợp các tiêu chí sẽ mang lại kết quả nhiều nhất.

Hiển nhiên là giới trí thức không thuần nhất. Không thuần nhất về mặt di truyền, về mặt khu vực địa lý, về mặt nghiệp vụ. Cái chủ yếu trong tính không thuần nhất là việc tồn tại của hạt nhân gồm những người tích cực về mặt xã hội và văn hóa, của một số người ưu tú có ảnh hưởng trước hết đối với ý thức xã hội và làm hình thành nó. Chung quanh hạt nhân này có rất nhiều tầng lớp ngoại vi đa dạng – ngoại vi không phải về mặt địa lý lãnh thổ, mà về tầm quan trọng của ý nghĩa.

Hơn nữa, hạt nhân có một loại đặc điểm quan trọng. Những nét cá tính của mỗi một người được thể hiện rõ trong hạt nhân chứ không phải ở đâu khác. Chính ở đây, bộc lộ rõ thói kiêu ngạo, chủ nghĩa tự kỷ trung tâm, tính hiếu danh, tính dễ phật ý, để mếch lòng. Những đặc điểm trong tính cách của người này hay người khác đã phơi bày ra hết sức rõ ràng, đôi khi có phần cường điệu là đằng khác. Chưa ở đâu những độ chênh về tâm trạng, sự thể hiện lòng hy sinh và tính ích kỷ, tinh thần dũng cảm công dân và thói bợ đỡ lại thấy rõ nét như ở đây. Chưa ở đâu những bột phát của tình cảm lại phá vỡ sự cân bằng của những phán đoán.

Trong sách báo của chúng ta nói về giới trí thức, nhân tố cá nhân thường bị che lấp bởi những cơ cấu xã hội. Trong khi đó, kinh nghiệm của các nước khác nhau, nhất là của nước Nga, cho thấy ý nghĩa cực kỳ to lớn và đôi khi có tính chất quyết định của những nhân tố cá nhân.

Nếu những đặc điểm của tính cách, như chúng ta hiện nay biết rất rõ, có ảnh hưởng lớn như vậy đến hoạt động và cách ứng xử của các chính trị gia chuyên nghiệp thì nhân tố đó cũng có tầm quan trọng như vậy đối với những người đại diện cho tầng lớp trí thức cao cấp. Đặc điểm của hạt nhân trí thức là ở chỗ nó không bao giờ (trừ một vài ngoại lệ hãn hữu) có thể thống nhất về mặt chính trị. Hạt nhân của giới trí thức bao giờ cũng được hình thành bởi những người đại diện cho những khuynh hướng chính trị khác nhau, có khi còn đối lập nhau. Nếu không hiểu được điều đó thì chúng ta không bao giờ có thể xác định được lập trường thực sự đúng đắn của giới trí thức. Thường có sự nổi trội của những ảnh hưởng chính trị này khác, nhưng sự thống nhất của chúng thì không bao giờ có.

Xét về bản chất, giới trí thức là đa diện mạo, đa sắc, đa đảng.

Sự bất đồng ý kiến là một thuộc tính thâm căn cố đế của giới trí thức. Nếu không có sự bất đồng ý kiến thì giới trí thức không còn là nó nữa. Hãy nhìn vào những nhà trí thức nổi tiếng của thế kỷ trước và thế kỷ chúng ta mà xem! Lập trường và quan điểm chính trị của họ mới đa dạng làm sao! Từ Ryreev và Belinski đến Bungarin và Grech, từ Nekrasov và Chernyshevski đến Suvorin, Pobedonocev, Kajkov; từ Brjusov và Gorki đến Miljukov, từ Bondarev và Bondarchuk đến Baclanov và Mark Zakharov.

Song – và đây cũng là một đặc điểm của giới tri thức – vào thời buổi nhiễu nhưỡng đây biến động, sự đa dạng của những ý kiến đã chuyển sang một giai đoạn khác hẳn về chất – sự phân cực của những quan điểm, sự chia rẽ, sự thù địch.

Những tầng lớp ngoại biên nằm trong môi trường tương quan phức tạp với hạt nhân tinh túy. Chúng ảnh hưởng đến bộ phận tinh hoa ưu tú, còn bộ phận này cũng ảnh hưởng đến những tầng lớp ấy.

“Nhà thơ ở Nga còn lớn lao hơn so với một nhà thơ”. Nhưng nếu không có công chúc đọc, nghe, vỗ tay thì nhà thơ chẳng là cái gì. Công chúng nuôi dưỡng nhà thơ bằng tâm tư tình cảm của mình, bác bỏ hay là đề cao anh ta. Nhà thơ đôi khi làm thay đổi cả quan điểm của công chúng, và có khi thay đổi cả quan điểm của mình do chịu ảnh hưởng của công chúng. Nhà thơ, nhà báo thâu nạp các quan điểm, tâm trạng của công chúng và hoàn lại dưới dạng chắt lọc, cô đọng. Họ làm hình thành những cái chưa định hình trong đầu óc và leo lét cháy trong tim, họ thổi bùng những tia lửa yếu ớt thành một đống lửa lớn. Những tầng lớp ngoại vi đã thể hiện sự bất bình đối với cái chế độ tồn tại trước cách mạng 1917, tạo ngòi nổ cho những người bonshevich, menshevich, cho các đảng viên đảng cách mạng xã hội chủ nghĩa (Eser) và đảng Dân chủ lập hiến (Kadet), cho các nhà văn và các luật gia nổi. Những người này đến lượt mình đã thể hiện những tâm trạng đó bằng những lời lẽ hùng hồn, bằng những cương lĩnh khúc triết của đảng, bằng những tác phẩm gợi cảm.

Cũng như vậy, trong những năm 1980, các tầng lớp trí thức rộng rãi đã bộc lộ sự bất bình đối với nền kinh tế kém hiệu quả, đối với nạn tham nhũng của những phần tử chóp bu trong đảng, đối với tính giáo điều hóa về tư tưởng, sự không đi đôi giữa lời nói và việc làm.

Những tâm trạng này đầu tiên được phản ánh trong văn xuôi sắc nhọn của V. Shukshin, trong những bài diễn thuyết của những người chống đối đơn độc, trong những bài thơ táo bạo thời đó của E. Evtushenko và trong những vở kịch của M. Shatrov, trong một vài làn sóng  phản đối của các bộ môn khoa học nhân văn.

Những hạt giống của những người đại diện cho hạt nhân trí thức đã gieo xuống mảnh đất cày bừa kỹ.

Từ những điều trình bày trên đây có thể rút ra một kết luận là không thể nói và viết về giới trí thức nói chung.

Cần phải nghiên cứu quan điểm của những nhóm, những tầng lớp, những nghề nghiệp và thậm chí những nhà hoạt động riêng lẻ, cần xác định mức độ ảnh hưởng và ảnh hưởng qua lại của họ. Bởi lẽ các đại diện riêng lẻ của giới trí thức không chỉ phản ánh những quan điểm nhất định của những nhóm này hay những nhóm khác mà còn ảnh hưởng đến tâm trạng của những tầng lớp tương đối rộng rãi, làm hình thành quan điểm của họ, trở thành những chiếc âm thoa. Bởi vậy, khi nói về số phận của giới trí thức, về thái độ của nó đối với những hiện tượng lịch sử, về vai trò và vị trí của nó trong đời sống chính trị – xã hội, bao giờ cũng cần phải chú ý tới tính ước lệ đáng kể của thuật ngữ này.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21

Vụ James Comey và quan hệ Trump với Nga


Điều trần của James Comey – “Sóng thần” đang đổ vào nước Mỹ

Không chỉ có người dân Mỹ mà cả người dân Canada chờ đón buổi điều trần của ông James Comey – cựu Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) trước Ủy ban Tình báo Thượng viện nước này vào ngày 8/6 về các cuộc trao đổi của ông với Tổng thống Mỹ Donald Trump trong thời gian qua và khả năng Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016.

Sức nóng của cuộc điều trần được cho là sẽ vượt qua cả những lần cựu Giám đốc FBI John Dean trả lời về bê bối nghe lén Watergate nổi tiếng (năm 1973) hay Olivier North nói về vụ quan chức cấp cao Mỹ bí mật bán vũ khí cho Iran bất chấp lệnh cấm vận (Iran-Contra năm 1987). Dư luận Canada có những tranh cãi trái chiều về buổi điều trần này, nhưng đều thống nhất rằng nếu ông Comey đi đến tận cùng những câu hỏi mà công luận Mỹ đặt ra thì buổi điều trần có thể trở thành một “quả bom” hay “trận sóng thần” dội xuống chính trường Mỹ, làm lung lay, thậm chí phá tan sự nghiệp chính trị của Tổng thống Donald Trump.

Ngày 7 và 8/6 tại Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ diễn ra 2 cuộc điều trần quan trọng về cáo giác Nga can thiệp vào bầu cử Tổng thống Mỹ 2016 với sự tham gia của Giám đốc Tình báo Quốc gia (NDI) Dan Coats, Thứ trưởng Tư pháp Rod Rosenstein, Giám đốc Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) Mike Rogers, quyền Giám đốc FBI Andrew McCabe và cựu Giám đốc FBI James Comey.

Tại cuộc điều trần ngày 7/6, Dan Coats và Mike Rogers đều bác bỏ việc phải chịu sức ép từ cấp cao trong vụ điều tra, song không trả lời câu hỏi liệu Tổng thống Trump có yêu cầu can thiệp vào cuộc điều tra do FBI tiến hành hay không. Trước đó, tờ Washington Post dẫn một nguồn tin giấu tên cho biết vào tháng 3/2017, ông Trump đã đề nghị Dan Coats can thiệp vào cuộc điều tra của FBI về Nga do James Comey tiến hành. Tuy nhiên, sau khi thảo luận với cấp dưới, ông Coats đã từ chối thực hiện yêu cầu của Tổng thống vì cho rằng không phù hợp.

Trong khi đó, Ủy ban Tình báo Thượng viện cũng công bố dự thảo bài phát biểu của James Comey vào ngày 8/6. Nội dung đáng chú ý nhất của bài phát biểu là Comey cho biết Tổng thống Trump đã yêu cầu ông “xóa bỏ đám mây” của cuộc điều tra đang che phủ chính quyền Trump, điều Comey diễn giải là yêu cầu FBI chấm dứt điều tra cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mike Flynn. Ông Comey cũng cho biết Tổng thống Trump đã yêu cầu ông phải trung thành với mình.

Ngày 6/6, báo chí cho biết Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions đã đề nghị Tổng thống Trump cho phép từ chức trước khi ông Trump bắt đầu chuyến công du đầu tiên. Đề nghị này của ông Sessions đã bị Tổng thống Trump thẳng thừng bác bỏ. Các nguồn tin cho biết ông Trump không hài lòng với việc ông Sessions tuyên bố đứng ngoài cuộc điều tra về Nga. Ngày 6/6, Thư ký Báo chí Nhà Trắng Sean Spicer đã từ chối khẳng định về sự tin tưởng giữa Tổng thống Trump và ông Sessions.

Quan hệ giữa ông Donald Trump với Nga “lớn hơn vụ bê bối Watergate”

Đài BBC dẫn lời cựu Giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Mỹ James Clapper nhận định rằng vụ bê bối Watergate hồi thập niên 1970 không lớn bằng vụ điều tra Trump – Nga. Ông James Clapper nói: “Watergate trở nên mờ nhạt” trước những gì nước Mỹ đang phải đối mặt”.

Cơ quan tình báo Mỹ tin rằng Nga đã can thiệp vào kỳ bầu cử Mỹ và đang tiến hành điều tra về các mối liên hệ giữa chiến dịch vận động tranh cử của ông D. Trump và Moskva. Tuy nhiên, hiện không có bằng chứng nào được biết đến về sự thông đồng này, và Tổng thống D. Trump đã bác bỏ câu chuyện đó. Những người đứng đầu các cơ quan tình báo Hoa Kỳ sẽ bị Ủy ban tình báo của Quốc hội chất vấn về chuyện này. Các thượng nghị sỹ nói họ muốn hỏi Giám đốc Cơ quan tình báo quốc gia Dan Coats, Giám đốc Cơ quan An ninh quốc gia, Đô đốc Mike Rogers, Quyền Giám đốc Cơ quan điều tra liên bang Mỹ (FBI) Andrew McCabe và Thứ trưởng Nội vụ, Tướng Rod Rosenstein xem liệu có phải ông Trump đang tìm cách làm lạc hướng cuộc điều tra bằng cách sa thải Giám đốc FBI James Comey hay không.

Lời tuyên thệ được đưa ra 1 ngày sau khi tờ Washington Post  đưa tin ông Coats nói với các cộng sự rằng ông Trump đã tìm cách thuyết phục FBI ngừng cuộc điều tra về cựu Cố vấn An ninh Quốc gia của ông Trump là Micheal Flynn, cùng các mối quan hệ của ông này với Điện Kremlin. Thế nhưng, ông Coats thông qua phát ngôn viên nói rằng ông chưa bao giờ cảm thấy bị áp lực từ phía ông Trump trong việc phải ngừng điều tra, và nói ông sẽ không tiết lộ các nội dung thảo luận giữa ông với Tổng thống.

Ông Comey được cho là đã nói với Bộ trưởng Tư pháp Jeff Sessions rằng ông không muốn bị để trong tình huống có mặt một mình cạnh tổng thống. Sự so sánh của ông Clapper về vụ điều tra Trump – Nga với vụ Watergate sẽ khiến nhiều người ngạc nhiên – Tổng thống Richard Nixon đã từ chức do bê bối chính trị chưa từng có tại Hoa Kỳ, liên quan tới việc do thám, đánh cắp và che đậy thông tin.

Cựu Giám đốc cơ quan tình báo phát biểu tại Australia và nói việc tìm hiểu cho tới tận gốc rễ các cáo buộc trên là điều “thực sự cấp bách” cho Hoa Kỳ và cho thế giới.

Tổng thống D. Trump yêu cầu đẩy mạnh nỗ lực xây dựng lại quan hệ Mỹ – Nga

Theo đài VOA, chỉ còn 1 ngày trước khi diễn ra cuộc điều trần của Giám đốc FBI bị sa thải James Comey trước Quốc hội được dư luận quan tâm, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Rex Tillerson cho biết Tổng thống D. Trump yêu cầu ông phải đẩy mạnh nỗ lực xây dựng lại quan hệ của Mỹ với Nga và không để bị cản trở bởi những xáo trộn từ cuộc điều tra Nga can thiệp vào cuộc bầu cử Mỹ.

Những câu hỏi về cuộc điều tra khả năng có sự thông đồng của ban vận động tranh cử của ông Trump với Nga để can thiệp vào cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 đeo bám Ngoại trưởng Tillerson cho đến tận New Zealand.

Ông Tillerson nói Tổng thống chỉ thị cho ông phải tiếp tục tập trung vào việc xây dựng lại sự tin tưởng với Moskva, mà ông mô tả là đang ở một điểm thấp: “Tổng thống nói rõ với tôi rằng đừng để các diễn biến chính trị ở đây cản trở công việc tôi cần phải làm cho mối quan hệ này, và Tổng thống chỉ thị rõ ràng với tôi rằng tôi phải xúc iến với bất cứ nhịp độ nào và trong các lĩnh vực mà tôi cảm thấy cần phải thực hiện”.

Tại Washington, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Heather Nauert nói rằng cuộc chiến chống Nhà nước Hồi giáo là một lĩnh vực mà Mỹ và Nga có thể hợp tác: “Chúng tôi sẽ xác định các lĩnh vực cả hai bên cùng quan tâm để có thể cùng làm việc với nhau. Nhưng điều quan trọng cần phải hiểu rằng trong những lĩnh vực mà chúng tôi hoàn toàn không đồng ý với Nga, chúng tôi sẽ tiếp tục đứng lên bảo vệ lợi ích và các giá trị của chúng tôi cũng như các giá trị của các đối tác của chúng tôi”.

Nhưng các cuộc điều tra có nhiều khả năng sẽ gây ra xáo trộn lớn, có thể khiến Ngoại trưởng Tillerson khó tìm được cách thức làm việc với Nga. Ông Steven Pifer, chuyên gia của Viện Nghiên cứu Brookings, nhận định: “Tôi nghĩ ông Tillerson sẽ tìm cách thực hiện, nhưng về mặt chính trị thì điều đó không thực tế. Và trong một chừng mực nào đó, chính quyền vẫn đang bị một đám mây mù về những mối quan hệ đáng nghi ngờ với Nga bao phủ. Do đó, tôi muốn chỉ ra rằng cách làm này là một đòn tự giáng để tung hỏa mù, bởi vì bản thân Tổng thống và Nhà Trắng thật chẳng may đã xử lý các vấn đề này theo cách khiến cho dư luận nghi ngờ rằng họ đang cố giấu giếm một cái gì đó”.

Ông Pifer nhận định rằng bất cứ một sự cải thiện nào trong quan hệ Mỹ – Nga cũng đòi hỏ phải có một sự thay đổi lớn trong chính sách của Moskva về Ukraine.

Nguồn: TKNB – 09/06/2017

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần I


JU. Poljakov

Giới trí thức Nga và những vấn đề của nó… Trong ngành lịch sử sử học của chúng ta không có những vấn đề mà người ta nói nhiều đến thế và chúng ta lại hiểu lơ mơ đến thế.

Mặc dù có hàng nghìn cuốn sách và bài báo đã được viết ra, lịch sử của giới trí thức vẫn là một lãnh vực có nhiều câu hỏi hơn là những lời giải đáp, và sự trái ngược của những câu trả lời có khả năng làm cho bất cứ độc giả nào cũng phải kinh hoàng.

Nhà thơ kiêm nhà sử học và triết gia Dmitri Merezhkovski, người thích coi mình là một khối thống nhất, nhưng trên thực tế lại là người có nhiều mâu thuẫn, ngay từ năm 1905, trong một bài báo gây chấn động dư luận, bài “Tên Đểu cáng mai sau”, đã đặt một câu hỏi: GIới trí thức Nga là “sự kỳ diệu” hay “quái vật”? Đâu phải chỉ có Merezhkovski! Ngay hiện nay trước mắt chúng ta, các nhà trí thức hiện đại thường vẫn không tiếc lời tự sỉ vả mình, lớn tiếng mạt sát giới trí thức vì quá khứ và hiện tại của nó.

“Thật xấu hổ gọi mình là người trí thức” – một cây bút văn xuôi có tên tuổi, hiệu trưởng Học viện Văn chương Sergei Esin (Báo Pravda, ngày 1/9/1993), đã viết. Nữ nghệ sĩ Nga tài ba Ekatêrina Vasileva cũng nhắc lại điều đó khi khẳng định rằng giới trí thức của chúng ta – “thực sự là một mối quốc họa” (Pravda, ngày 22/10/94). Ngay cả những người từng có ý kiến bất đồng với hệ tư tưởng thống trị như Vladimir Maksimov (Pravda, ngày 30/11/94), Andrei Sinjavski (Báo Độc lập, ngày 16/3/95), Marija Rozanova (Báo Obshchaja, số 28, ngày 13 – 19/7/95) và vô số những nhà tư tưởng lớn khác cũng nguyền rủa giới trí thức đầu những năm 90.

Nhiều người đã lấy làm hể hả khi trích dẫn Varlam Shalamov là người từng buộc tội các nhà văn và các nhà thơ lớn thế kỷ XIX vì họ bằng những tác phẩm phê phán của mình, bằng sự thông cảm của mình với “nhân dân”, bằng tinh thần dân chủ và những lời kêu gọi về sự bình đẳng và bác ái đã chuẩn bị những cuộc phiến loạn của thế kỷ XX (dẫn theo tạp chí Ngọn cờ, 1993, số 11, p174). Hình như chỉ có kẻ lời biếng – từ các triết gia nổi tiếng đến các nhân vật văn học châm biếm – mới không bàn luận về giới trí thức, về số phận, bản chất và thiên chức của họ ở Nga trong khoảng mấy thập kỷ.

Vậy thì giới trí thức là ai: động lực hùng mạnh nhất của lịch sử hay kẻ luôn luôn thất bại vốn ra sức kêu gọi hướng tới những biến đổi lớn khi chúng hãy còn ở xa nhưng lại run sợ khi chúng tới gần và nguyền rủa số phận khi sự biến đổi cuối cùng đã xảy ra? Chúng ta thừa nhận một cách thành thật rằng giới trí thức đã hơn một lần tạo lý do cho sự phỉ báng và cho những câu hỏi phân vân như vậy.

Trong lúc phục vụ chính quyền, giới trí thức lại mơ ước đến việc thay thế nó. Trong khi thề thốt yêu quý nhân dân, giới trí thức lại sợ và khinh bỉ họ. Trong khi ca ngợi tự do, dân chủ, bình đẳng, giới trí thức lại ủng hộ những tên bạo chúa và những kẻ trọc phú. Trong khi mong muốn tiên đoán tương lai, bản thân giới trí thức lại không được dự đoán. Trong khi tố cáo sự bất lương, giới trí thức lại sẵn sàng bán mình, hơn nữa những kẻ mua trí tuệ thì bao giờ cũng sẵn.

Người trí thức thường là người xa lại đối với cả chính quyền lẫn nhân dân: là người thân thuộc giữa những người xa lạ và người xa lạ giữa những người thân thuộc.

Và một câu hỏi cuối cùng: giới trí thức là ai trong thời buổi hỗn loạn? Người khởi xướng? Kẻ cầm đầu? Vị tư tế thông minh dưới triều đại của các pharaoh ngốc nghếch? Hay là nạn nhân? Mà nếu là nạn nhân thì là nạn nhân của ai?

SỐ PHẬN GIỚI TRÍ THỨC đều phức tạp và không dễ dàng trong tất cả các nước. Nhưng có thể nói rằng về phương diện này nước Nga đứng ngoài sự cạnh tranh trên toàn hành tinh. Không ở đâu giới trí thức lại rơi vào chỗ xoáy nước như vậy, không ở đâu số phận của nó lại chịu những thử thách khắc nghiệt, dữ dội và kéo dài đến như vậy. Vì thế cho nên không ở đâu vấn đề số phận giới trí thức lại được đặt ra một cách gay gắt và nhức nối đến nhường ấy!

Do chỗ những biến động chính trị xã hội, tức là những cơn rối loạn tràn đầy lịch sử nước Nga thế kỷ XX nên vấn đề vai trò, lập trường, vị trí của giới trí thức trong những thời kỳ rối loạn là một trong những vấn đề mấu chốt.

Chúng ta hãy thử luận bàn về vai trò của giới trí thức trước hết qua thí dụ về một bước ngoặt ác liệt nhất, bi kịch nhất, sâu sắc nhất và quy mô nhất trong lịch sử nước Nga – ấy là cuộc cách mạng năm 1917. Tuy không đề cập riêng tới một bước ngoặt ghê gớm khác – bước ngoặt hiện nay, tôi sẽ luôn luôn hướng tới hiện tại, bởi vì sự giống nhau sau ba phần tư thế kỷ quả thật là lạ lùng!

Trước khi đi vào thực chất vấn đề, cần phải nói dông dài một chút. Ở đây tôi muốn nói tới bản thân khái niệm và thuật ngữ “giới trí thức”. Khi mới tiếp cận thì thấy rõ rằng cả thuật ngữ lẫn khái niệm này rất mù mờ. Cho đến giờ, khoa học chưa làm rõ được thế nào là giới trí thức, và hiện tồn tại hàng nghìn ý kiến và nhận định khác nhau về vấn đề này.

Chiếm ưu thế trong nhiều năm là quan điểm giai cấp xác định giới trí thức như một tầng lớp trung gian xã hội. Dựa trên sự phân biệt (mà ngày nay không đứng vững) giữa lao động chân tay và lao động trí óc, quan điểm này đưa vào thành phần trí thức một phạm trù không rõ ràng trong điều kiện của nước Nga hiện đại – phạm trù công chức.

Quan điểm học vấn hình thức cũng rất phổ biến. Theo quan điểm này, người trí thức được coi là người có trình độ học vấn, có một tấm bằng nào đấy.

Quan điểm thứ ba trong việc xác định giới trí thức có thể được gọi là quan điểm đạo đức. Ở cấp độ sinh hoạt, những khái niệm “tính trí thức” và “giới trí thức” rất gần nhau. Những từ “người trí thức” có thể biểu thị một người có những phẩm chất đạo đức cao đẹp cũng như một người đại diện của giới trí thức với tư cách là một tập đoàn xã hội. Song trên bình diện khái niệm khoa học thì những khái niệm “tính trí thức” và “giới trí thức” rất khác nhau. Hiện nay trong nhiều bài báo được công bố, tiêu chí đạo đức được mở rộng tới cấp độ hệ tư tưởng – xã hội, còn dấu hiệu chủ yếu của người trí thức được coi là sự độc lập đối với bất kỳ một hệ tư tưởng nào, đối với mọi trách nhiệm về kinh tế, nhà nước, đảng phái.

Quan điểm nghề nghiệp cũng lẫn lộn và không rõ ràng. Theo quan điểm này thì “những người chuyên nghiệp vững vàng” như các nhà khoa học, các bác sĩ, kỹ sư… được đem đối lập với các quan chức quản lý. Khái niệm “giới trí thức sáng tạo” vốn được phổ biến rộng rãi vào thời gian gần đây cũng thể hiện quan điểm nghề nghiệp bằng cách chỉ xếp những người thuộc một nghề nghiệp nhất định (nhà văn, nghệ sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ…) vào phạm trù này và đã khước từ những người đại diện cho các nghề khác đối với tính chất sáng tạo.

Vậy thì xét cho cùng, giới trí thức nói chung và giới trí thức Nga nói riêng là cái hiện tượng gì? Có lẽ không một torng những tiêu chí, những quan điểm nêu trên nào có thể phản ánh tất cả sự phức tạp của việc xác định giới trí thức.

Hình như phải thừa nhận sựu cần thiết có một bộ tiêu chí mang tính chất tổng hợp. Chúng ta sẽ không làm sáng tỏ một điều gì cả, sẽ không hiểu được, sẽ thu hẹp đến mức cực đoan, sẽ làm cho việc giải quyết vấn đề trở thành cực kỳ chủ quan, nếu chúng ta chỉ xuất phát từ những cách đánh giá về đạo đức. Song cũng không thể phủ nhận ý nghĩa của tính đạo đức. Chúng ta sẽ không làm sáng tỏ một điều gì mà chỉ làm rối rắm thêm, sẽ rơi vào chủ nghĩa công thức, nếu chỉ xuất phát từ thành phần giai cấp. Giới trí thức có thể bao gồm cả các quan chức đang làm việc cho nhà nước, cả những “nghệ sĩ tự do”, những chủ xí nghiệp và những người làm việc cho họ. Song cũng không thể chối bỏ sự hiện diện của những thông số xã hội nhất định cho thấy rõ đặc tính của giới trí thức.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21

“Ngư ông đắc lợi” trong cạnh tranh Mỹ – Trung


Nội dung chính trong chuyến thăm Nga của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình là việc Nga tham gia dự án “Vành đai và con đường” của Trung Quốc cũng như lượng đầu tư của nước này vào nền kinh tế Nga. Chỉ mới đây thôi, Trung Quốc vẫn còn giữ được vị thế mạnh trong cuộc đàm phán này. Việc Nga căng thẳng trong quan hệ với phương Tây, chính sách “Xoay trục” sang phía Đông biến thành “xoay trục” sang Trung Quốc là điều mà Trung Quốc đã tận dụng (và hoàn toàn có lý) để áp đặt những điều kiện hợp tác của mình với Nga. Tuy nhiên, cuộc hội đàm cấp cao lần này diễn ra trong bầu không khí hoàn toàn ngược lại – gần như là lần đầu tiên trong suốt thời gian căng thẳng quan hệ Nga – phương Tây, Trung Quốc ở vào thế yếu hơn Nga. Và tất cả là nhờ Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Sau chuyến thăm khá thành công hồi tháng 4/2017 đến Mỹ của ông Tập Cận Bình, nhiều chuyên gia đã thở phào nhẹ nhõm và dẹp sang bên các tuyên bố “về xung đột Trung Quốc – Mỹ”. Bản thân ông Trump cũng dịu giọng hơn khi nói về Trung Quốc, và có lúc tưởng những câu như “chúng ta không cho phép Trung Quốc cưỡng bức (kinh tế) đất nước ta, vì đây chính là việc mà Trung Quốc đang làm” đã lùi vào quá khứ. Một số thậm chí còn bắt đầu nói rằng Trung Quốc và Mỹ đã tìm được một thỏa thuận tạm thời, và rằng “cái bẫy Thucydides” (trong đó chiến tranh giữa ứng cử viên Trung Quốc và kẻ thống trị Mỹ là không thể tránh khỏi) đã không có hiệu quả trong trường hợp này. Bản thân ông Tập Cận Bình tin tưởng rằng không có bất kỳ cái bẫy Thucydides nào giữa Trung Quốc và Mỹ, vì theo ông, hai bên có thể xây dựng “quan hệ mới giữa các cường quốc”, dựa trên sự tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau.

Tuy nhiên, ông Trump lại có cái nhìn khác về quan hệ này. Tổng thống Mỹ thay giận dữ bằng tha thứ cho Trung Quốc chỉ vì hy vọng vào sự hợp tác của Trung Quốc trong các vấn đề của Mỹ. Với ông Trump, cả hai vấn đề thặng dư thương mại và Triều Tiên đều liên quan đến nhau. Ông nói: “Tôi đã giải thích cho Chủ tịch Trung Quốc rằng thỏa thuận thương mại với Mỹ sẽ có lợi cho họ hơn nhiều nếu họ giải quyết được vấn đề Triều Tiên”.

Tuy nhiên, sự hợp tác đó đã không thành. Trong vấn đề thương mại, dễ hiểu là Bắc Kinh không chịu chấp nhận các yêu cầu của Mỹ, còn trong vấn để Triều Tiên thì khả năng của Trung Quốc đã được phóng đại quá lên. Trung Quốc rất muốn ít nhất qua một cú điện thoại đến Bình Nhưỡng để giải quyết chương trình hạt nhân, tên lửa của Triều Tiên (vì lúc đó Mỹ sẽ không còn cơ sở nào để triển khai THAAD tại Hàn Quốc, còn các căn cứ quân sự của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên và Nhật Bản sẽ không còn ý nghĩa để tồn tại), song Bắc Kinh không làm được việc đó, vì nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un đơn giản là bác bỏ các yêu cầu của Trung Quốc. Sức ép trực tiếp cũng không có hiệu quả, vì lời đáp trả sẽ là cực đoan hóa, hoặc làm rối loạn Triều Tiên – cả hai phương án đều vô cùng bất lợi cho Trung Quốc. “Trung Quốc sẽ bắt đầu hoạt động tích cực chỉ trong trường hợp họ cho rằng không thể giữ được nguyên trạng”, cựu lãnh đạo chương trình châu Á của Hội đồng An ninh thời Tổng thống Barack Obama – Eva Medeiros – nói. Vì vậy, lãnh đạo Trung Quốc đang gây sức ép một cách thận trọng, giấu mặt. Tuy nhiên, ông Trump khôn ghài lòng với tốc độ đó: “Chúng tôi mong chờ nhiều hỗ trợ hơn từ phía Trung Quốc trong vấn đề Triều Tiên, song chúng tôi không nhận được”. Thực tế, chính quyền của ông đã buộc lỗi cho Trung Quốc trong tất cả các hành động cua Triều Tiên khi nói Trung Quốc “có nghĩa vụ gây sức ép kinh tế và ngoại giao mạnh hơn lên chế độ (Triều Tiên), nếu Bắc Kinh muốn tránh leo thang tình hình trong khu vực”.

Cuối tháng 6 vừa qua, Nhà Trắng lại khởi động cỗ máy bài Trung. Tờ The Daily Beast viết: “Ông Trump mất 4 ngày để thoát khỏi chính sách đã kéo dài suốt 2 thập kỷ, mà có thể là 4 thập kỷ qua của Mỹ đối với Trung Quốc”. Ngày thứ nhất là cuộc gặp ngày 26/6 của ông Trump và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi, với kết quả là lãnh đạo Mỹ tuyên bố “quan hệ Mỹ – Ấn Độ chưa bao giờ tốt đẹp như hiện nay” và khẳng định tuyên bố đó bằng hợp đồng bán cho Ấn Độ 22 máy bay thám sát không người lái trị giá 2 tỷ USD để Delhi có thể giám sát hoạt động của Trung Quốc trên Ấn Độ Dương. Ngoài ra, Mỹ thông báo tiến hành tập trận hải quân với hai “người bạn” truyền thống của Trung Quốc là Ấn Độ và Nhật Bản.

Sau đó, ngày 27/6, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố danh sách các nước nơi có nạn buôn người gia tăng mạnh nhất – và Trung Quốc nằm trong nhóm thứ ba, nhóm tệ nhất. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khang tuyên bố: “Trung Quốc cực lực phủ nhận đánh giá của Mỹ về tình trạng đấu tranh chống nạn buôn người, được đưa ra trên cơ sở đặc thù của luật pháp Mỹ”.

Ngày 28/6, Mỹ đã tập trung nỗ lực, và ngày 30/6 ra hai đòn tấn công. Đầu tiên Bộ Tài chính Mỹ áp dụng biện pháp trừng phạt chống các công ty Trung Quốc vì hợp tác với Triều Tiên, qua đó, theo giới quan sát, thể hiện rằng sẽ tiếp tục trừng phạt Trung Quốc vì hợp tác kinh tế với Bình Nhưỡng (điều mà Trung Quốc không thể chấm dứt vì sẽ xảy ra hỗn loạn trong chế độ Triều Tiên và chiến tranh trên Bán đảo này). Cùng ngày, Nhà Trắng tuyên bố dự định cung cấp cho Đài Loan 1,42 tỷ USD vũ khí để duy trì “khả năng phòng vệ”. Đây sẽ là đơn hàng vũ khí đầu tiên cho Đài Loan thời ông Trump, và đơn hàng đó càng có ý nghĩa khi nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn là người ủng hộ nền độc lập cho hòn đảo và có đánh giá tiêu cực về bất kỳ dự án xích lại gần Trung Quốc Đại lục (trừ kinh tế).

Kết quả là Thượng viện hài lòng, Đài Loan hài lòng, còn Trung Quốc thất vọng. Và để Trung Quốc thất vọng thêm nữa, Hạ viện còn phê chuẩn luật cho phép các tàu chiến Mỹ có thể ra vào cảng Đài Loan (bị ngừng năm 1979 khi Mỹ thông qua nguyên tắc “một Trung Quốc”). Theo những nguyên nhân dễ hiểu, ông Trump sẽ không phủ quyết luật này.

Và cuối cùng, chỉ còn một ngày trước chuyến thăm Moskva của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, con tàu sân bay mang tên lửa của Mỹ đã đi ngang qua đảo Tri Tôn, một trong những hòn đảo tranh chấp trong quần đảo Hoàng Sa. Mỹ gọi đây là “chiến dịch thiết lập tự do hàng hải”, và là chiến dịch thứ hai từ khi ông Trump lên nắm quyền (lần thứ nhất vào tháng 5/2017, và khi đó tàu Mỹ đi ngang qua hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc tại Biển Đông).

Như vậy, đối với ông Trump, lợi ích của Mỹ cao hơn tình bạn với Trung Quốc. Điều đó có phù hợp với quyền lợi của Nga hay không? Tất nhiên, vì quan hệ Mỹ – Trung càng xung đột (tất nhiên là trong giới hạn), Moskva sẽ càng dễ thỏa thuận với Trung Quốc và Mỹ, những bên sẽ phải tôn trọng lợi ích của Nga để không đẩy nước này sang tay đối thủ. Cái chính là giữ cán cân thăng bằng và không chen vào cuộc xung đột dù ở bên Mỹ hay bên Trung Quốc, cũng như tránh các tuyên bố chính trị kiểu này (ví dụ những lời của Ngoại trưở Nga S. Lavrov rằg Moskva ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh về tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông). Nếu Nga chọn Trung Quốc, Nga sẽ đặt mình vào vị trí xung đột với tất cả phương Tây và trở thành chư hầu của Trung Quốc. Nếu chọn Mỹ, Nga sẽ xung đột với cường quốc mạnh nhất ở phương Đông, thêm vào đó không có gì đảm bảo là Mỹ sẽ không bỏ rơi Nga (như họ thường làm). Vậy nên cần phải tận dụng tình huống và làm đối tác với tất cả các bên.

Nguồn: expert.ru

TKNB – 06/07/2017