Các nước Balkans Âu – Á – Phần III


Là một nước hết thời đế chế và vẫn đang trong quá trình xác định lại bản sắc của mình, Thổ Nhĩ Kỳ bị kéo căng ra ba hướng. Phái hiện đại muốn nước này trở thành một nhà nước châu Âu và do vậy họ hướng về phía Tây; phái Hồi giáo ngả về Trung Đông và một cộng đồng Hồi giáo, do vậy họ hướng về phía Nam; còn phái chủ nghĩa dân tộc suy nghĩ về lịch sử thấy các dân tộc Thổ của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á có một nhiệm vụ mới là xây dựng một nước Thổ Nhĩ Kỳ thống soái trong khu vực và do vậy hướng về phía Đông. Mỗi góc nhìn này đều định ra một trục chiến lược khác nhau, và sự va chạm giữa chúng, lần đầu tiên kể từ sau cuộc cách mạng của người Keman sẽ tạo ra sự bất ổn ở mức độ nào đó đối với vai trò của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực.

Hơn nữa, bản thân Thổ Nhĩ Kỳ có thể trở thành nạn nhân của các cuộc xung sắc tộc trong khu vực. Tuy dân số vào khoảng 65 triệu mà chủ yếu là người Thổ Nhĩ Kỳ (khoảng 80%), còn lại là các sắc tộc như Circassia, Albani, Bosnia, Bulgaria và Arab và khoảng 20% là người Kurd. Sống tập trung ở các khu vực phía Đông đất nước, người Kurd ở đây ngày càng bị lôi kéo vào cuộc đấu tranh độc lập dân tộc mà người Kurd ở Iran và Iraq đã khơi dậy. Những mối căng thẳng trong nội bộ Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến hướng đi chung của đất nước rõ ràng sẽ khuyến khích người Kurd gây sức ép mạnh mẽ hơn đòi vị thế dân tộc riêng.

Định hướng tương lai của Iran cũng còn nhiều vấn đề. Cuộc cách mạng của phái Shiite theo trào lưu chính thống từng chiến thắng vào cuối thập kỷ 70 vừa qua có thể đang bước vào giai đoạn lụi tàn, và điều đó làm tăng sự bất ổn cho vai trò địa chính trị của Iran. Một mặt, sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vô thần đã mở cửa các nước láng giềng phương Bắc mới độc lập của Iran để tôn giáo hóa họ; mặt khác, sự thù địch của Iran đối với Mỹ đã đưa Iran đến chỗ đi theo hướng thân Nga. Điều này cũng vì Iran lo ngại về tác động mà nền độc lập mới của Azerbaijan có thể gây ra đối với sự liên kết của chính họ.

Mối lo ngại đó phát sinh từ việc Iran không có khả năng giải quyết những căng thẳng về sắc tộc. Trong số 65 triệu dân của Iran thì chỉ có trên một nửa là người Ba Tư. Khoảng gần 1/4 người Azeri, số còn lại bao gồm cả người Kurd, Baluchi, Turkmen, Arab… Ngoài người Kurd và người Azeri, các tộc người khác hiện nay không có khả năng đe dọa sự toàn vẹn quốc gia của Iran, nhất là khi dân Ba Tư luôn có ý thức cao về quốc gia và đế chế. Những tình thế này có thể thay đổi nhanh chóng nếu có một cuộc khủng hoảng chính trị mới trên chính trường Iran.

Hơn nữa, việc tồn tại một số “công xã” Stanr mới độc lập trong khu vực và ngay cả 1 triệu dân Chechen cũng có thể khẳng định khát vọng chính trị của họ sẽ lan sang người Kurd cũng như sang cả những sắc tộc thiểu số khác của Iran. Nếu Azerbaijan thành công trong công cuộc phát triển kinh tế và chính trị ổn định thì người Azeri gốc Iran có thể sẽ ngày càng đi theo ý tưởng một nước Azerbaijan lớn hơn. Do đó, sự bất ổn chính trị và chia rẽ ở Iran có thể phát triển lên thành yếu tố thách thức sự thống nhất của nhà nước này.

2/ Cuộc đấu đa phương

Các nước Balkans cổ truyền ở châu Âu đã cuốn hút cuộc cạnh tranh trực diện giữa ba đế chế địch thủ là đế chế Ottoman, đế chế Áo – Hung và đế chế Nga. Còn ba thành viên nữa gián tiếp tham gia trận đấu, đó là Đức, Pháp và Anh. Đức sợ thế lực của Nga, Pháp chống Áo – Hung và Anh muốn một đế chế Ottoman kiểm soát vùng eo biển Dardanelles. Trong suốt thế kỷ XIX, những cường quốc này tìm cách kiềm chế các cuộc xung đột ở vùng Balkans, nhưng họ đã không làm được điều đó, mà chỉ gây hậu quả tai hại cho tất cả.

Ngày nay, cuộc cạnh tranh trong các nước Balkans Âu – Á cũng lôi kéo trực tiếp ba nước láng giềng: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran, mặc dù Trung Quốc cũng có thể trở nên một nước chủ đạo quan trọng. Tham gia vào cuộc cạnh tranh ở tầm xa còn có Ukraine, Pakistan, Ấn Độ và Mỹ.

Ba đối thủ chính tham dự vào cuộc đấu không chỉ vì tham vọng những món lợi kinh tế và địa chính trị mà còn vì những xung đột lịch sử mãnh liệt. Những nước này đã từng giữ địa vị thống soái về chính trị hoặc văn hóa trong vùng. Mỗi nước đều nhìn các nước khác bằng con mắt nghi ngờ. Tuy khó xảy ra chiến tranh trực diện giữa họ, nhưng tác động của những kình địch giữa họ có thể góp phần gây rối loạn khu vực.

Thái độ thù địch của Nga đối với Thổ gần như một nỗi ám ảnh. Báo chí Nga mô tả người Thổ có xu hướng kiểm soát khu vực, và là những kẻ xúi giục người địa phương chống Nga (vụ Chechnya cũng phần nào chứng minh điều đó), và đe dọa nền an ninh chung của Nga. Sự mô tả này vượt quá sự thật.

Người Thổ cũng có một thái độ như vậy Nga. Họ coi mình có vai trò giải phóng những cho những người anh em khỏi sự đàn áp đã kéo quá dài của Nga. Người Thổ và Iran (ba Tư) trong lịch sử đã là những đối thủ trong khu vực. Sự kình địch đó trong những năm gần đây đã sống lại.

Có thể nói, mỗi nước trong ba nước đều tìm kiếm một khu vực ảnh hưởng. Tham vọng của Nga có tầm quan trọng hơn, vì họ vẫn còn những hồi ức tương đối mới về quyền kiểm soát đế chế, sự hiện diện của hàng triệu người Nga và ý muốn đưa Nga trở lại vị trí một đại cường toàn cầu. Những tuyên bố trong chính sách đối ngoại của Nga đã chứng minh việc họ nhìn toàn bộ không gian Liên Xô cũ là khu vực lợi ích địa chiến lược đặc biệt của họ, và do đó cần phải loại trừ ảnh hưởng chính trị, và thậm chí lợi ích kinh tế của bên ngoài.

Trái lại, khát vọng của Thổ Nhĩ Kỳ muốn giành ảnh hưởng khu vực vẫn mang dấu ấn của một quá khứ đế chế xa xưa. Song, những khát vọng đó có cội nguồn từ nhận thức về một sự đồng nhất sắc tộc và ngôn ngữ với các dân tộc Thổ trong khu vực. Do sức mạnh quân sự và chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ có hạn nên họ không thể đạt được một khu vực ảnh hưởng chính trị đặc quyền. Trái lại, Thổ Nhĩ Kỳ tự coi mình như một lãnh tụ tiềm tàng của một cộng đồng lỏng lẻo những người nói tiếng Thổ, và tận dụng trình độ tương đối hiện đại, tính tương đồng về ngôn ngữ và các biện pháp kinh tế của mình để đưa nước này lên địa vị có ảnh hưởng nhất trong quá trình xây dựng quốc gia đang diễn ra trong vùng.

Tuy khát vọng của Iran vẫn chưa rõ ràng, nhưng về âu dài cũng chẳng kém phần nguy hiểm hơnt ham vọng của Nga. Đế chế Ba Tư là một ký ức xa xôi hơn. Vào lúc hoàng kim nhất, khoảng 500 trước Công nguyên, đế chế này bao gồm lãnh thổ hiện tại của ba nước vùng Kavkaz (Turkmenistan, Uzbekistan, Tajikistan). Tuy những khát vọng địa chính trị hiện tại của Iran ở mức độ thấp hơn Thổ Nhĩ Kỳ, tức là chủ yếu nhằm vào Azerbaijan và Afghanistan, nhưng toàn bộ dân Hồi giáo (kể cả trên lãnh thổ Nga) là mục tiêu trong mối quan tâm tôn giáo của Iran. Thực ra sự hồi sinh của đạo Hồi ở Trung Á đã trở thành một bộ phận hữu cơ của những khát vọng trong giới lãnh đạo hiện tại của Iran…

Ở giai đoạn này, vai trò của Trung Quốc bị hạn chế và mục tiêu của họ không rõ ràng, vì Trung Quốc chú ý đến một tập hợp những nước tương đối độc lập ở phía Tây hơn là một đế chế Nga. Trung Quốc lo rằng, dân thiểu số Thổ Nhĩ Kỳ ở Tân Cương có thể tìm thấy ở các nước Trung Á mới độc lập những ví dụ đầy hấp dẫn đối với họ, và vì vậyTrung Quốc đã tìm cách tranh thủ sự bảo đảm của Kazakhstan rằng họ sẽ trấn áp hoạt động vượt biên của dân thiểu số. Về lâu dài, những nguồn năng lượng của khu vực sẽ là điều mà Trung Quốc đặc biệt quan tâm với mục tiêu là trực tiếp tiếp xúc các nguồn năng lượng đó mà không phụ thuộc vào sự kiểm soát của Nga. Do vậy, lợi ích địa chính trị chung của Trung QUốc có xu hướng va chạm với lợi ích đại chính trị chung của Nga.

Đối với Ukraine, các vấn đề Trung tâm là đặc điểm tương lai của cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) và khả năng tiếp cận tự do hơn với các nguồn năng lượng, như vậy sẽ làm giảm sự phụ thuộc củ Ukraine vào Nga. Ở khía cạnh này, những mối quan hệ thân thiết hơn với Azerbaijan, Turkmenistan, Uzbekistan đã trở nên quan trọng đối với Ukraine và việc Ukraines ủng hộ các nước này độc lập với Nga. Do đó, Ukraine cũng đã ủng hộ cố gắng của Gruzia vươn lên địa vị làm chủ một tuyến đường chạy theo hướng Tây phục vụ cho xuất khẩu dầu Azeri. Ukraine còn hợop tác với Thổ Nhĩ Kỳ để làm suy yếu ảnh hưởng của Nga ở Biển Đen và đã ủng hộ những cố gắng của Thổ Nhĩ Kỳ nhằm chuyển lưu lượng dầu từ Trung Á tới các trạm cuối của Thổ.

Hiện nay cả Pakistan và Ấn Độ đều đang quan tâm tới các nước Balkans Âu – Á mới này. Đối với Pakistan, lợi ích chính của họ là đạt chiều sâu địa chiến lược thông qua ảnh hưởng địa chính trị ở Afghanistan và không để Iran có ảnh hưởng như vậy ở Afghanistan cũng như ở Tajikistan và cuối cùng thu lợi từ việc xây dựng đường dẫn dầu nối Trung Á với biển Arab. Nhằm chống lại Pakistan và ảnh hưởng lâu dài của Trung Quốc ở khu vực này, Ấn Độ xem xét ảnh hưởng của Iran và Afghanistan là sự hiện diện lớn hơn của Nga trong không gian Liên Xô cũ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần II


Trong năm nước mới độc lập ở Trung Á, Kazakhstan và Uzbekistan có vị trí quan trọng nhất. Trong khu vực này, Kazakhstan là lá chắn còn Uzbekistan là linh hồn thúc đẩy mức độ thức tỉnh dân tộc khác nhau. Tầm cỡ và vị trí địa lý của Kazakhstan che chở cho các nước khác khỏi bị sức ép tự nhiên trực tiếp của Nga, vì chỉ có Kazakhstan là giáp giới với Nga. Tuy nhiên, trong số 18 triệu dân của nước này có khoảng 36% là người Nga (dân số Nga trong toàn khu vực đang giảm dần) và thêm 20% nữa cũng không phải là dân Kozak. Thực tế này khiến các nhà cai trị Kozak mới gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu xây dựng quốc gia trên cơ sở sắc tộc và ngôn ngữ. Những người Nga sinh sống ở đây cũng căm ghét tập đoàn lãnh đạo người Kozak. Đa phần trong số họ thuộc tàng lớp thực dân thống trị trước đây, có trình độ văn hóa và cương vị bởi vậy họ sợ mất đặc quyền đặc lợi. Những người này nhìn chủ nghĩa dân tộc Kozak mới với sự miệt thị lộ liễu. Do cả hai vùng Kozak Tây Bắc và Đông Bắc Kazakhstan đều bị đế chế Nga khống chế nặng nề, nên nước này đứng trước nguy cơ ly khai về lãnh thổ nếu quan hệ Kozak – Nga xấu đi. Đồng thời có nhiều người Kozak sống ở nước Nga nằm bên kia đường biên giới quốc gia và ở nước Uzbekistan về phía Đông Bắc, mà người Kozak coi là đối thủ chính tranh quyền lãnh đạo vùng Trung Á với họ.

Trong thực tế, Uzbekistan là ứng cử viên hàng đầu vào địa vị lãnh đạo khu vực ở Trung Á. Là nước nhỏ hơn, ít tài nguyên thiên nhiên hơn Kazakhstan, nhưng dân số nước này lại đông hơn (gần 25 triệu) và một điều quan trọng hơn hẳn là nước này có sự đồng nhất về sắc tộc hơn. Do tỷ lệ sinh của người bản xứ cao hơn và sự ra đi dần dần của người Nga, nên không bao lâu nữa, 75% dân số sẽ là người Uzbek và chỉ còn một thiểu số người Nga chủ yếu ở thủ đô Tashken.

Giới lãnh đạo chính trị của Uzbekistan tự cho rằng mình là hậu duệ trực tiếp của đế chế Tamerlane rộng lớn thời Trung cổ (1336 – 1404) với thủ đô Samakhan vốn là một trung tâm nổi tiếng trong khu vực về phục vụ nghiên cứu tôn giáo, chiêm tinh học và nghệ thuật. Mối liên hệ này làm cho nước Uzbekistan hiện đại có ý thức sâu sắc về tính kế thừa lịch sử và về nhiệm vụ của họ đối với khu vực hơn là các nước láng giềng. Ngay cả dân thường cũng ngày càng có ý thức tham gia vào những hoạt động xây dựng một nhà nước dân tộc hiện đại, quyết tâm không bao giờ trở lại địa vị thuộc địa bất chấp mọi khó khăn trong nước. Tinh thần này cao hơn ở bất kỳ nước Trung Á nào.

Điều kiện này làm cho Uzbekistan vừa trở thành người đi đầu trong việc nuôi dưỡng một thứ chủ nghĩa dân tộc hiện đại sau những chia rẽ sắc tộc và cũng vừa là đối tượng rất đáng lo ngại cho các nước láng giềng. Dù cho các lãnh tụ Uzbek bắt đầu khởi sắc trong xây dựng quốc gia và trong chủ trương tự lực khu vực, nhưng việc nước này có sự đồng nhất dân tộc và giác ngộ dân tộc sâu sắc lại khơi lên nỗi lo sợ trong các nhà lãnh đạo Turkmenistan, Tajikistan và Kazakhstan. Họ lo sợ rằng, sự lãnh đạo trong khu vực của người Uzbek sẽ phát triển lên thành sự thống trị khu vực. Nỗi lo ngại này cản trở hợp tác khu vực trong các nước mới có chủ quyền và kéo dài điểm yếu của khu vực.

Thực chất không phải Uzbekistan đã hoàn toàn thoát khỏi những căng thẳng sắc tộc. Nhiều nơi ở phía Nam Uzbekistan, nhất là quanh các trung tâm quan trọng về lịch sử và văn hóa như Samakhan và Bukhara có nhiều dân Tajik vẫn mang hận thù với các đường biên giới do Nga vẽ nên. Một yếu tố nữa làm cho vấn đề càng thêm phức tạp là sự hiện diện của người Uzbek ở phía Tây Tajikistan, sự hiện diện của người Uzbek tẫn Tajik ở thung lũng Fegana quan trọng về kinh tế (ở nơi này trong những năm gần đây đã xảy ra bạo lực sắc tộc đẫm máu). Đó là chưa kể đến sự hiện diện của người Uzbek ở Bắc Afghanistan.

Trong ba nước Trung Á vừa thoát khỏi ách thống trị của Nga (Kyrgystan, Tajikistan, Turkmenistan), chỉ có nước thứ ba là tương đối liên kết về sắc tộc. Khoảng 75% trong số 4,5 triệu dân là người Thổ còn người Uzbek và người Nga chỉ chiếm dưới 20% dân số. Được che chắn bởi Turkmenistan nên tương đối cách xa Nga, trong khi đó về mặt địa lý, Uzbekistan và Iran lại có liên quan lớn hơn đến tương lai của nước này. Một khi đường ống dẫn dầu đến vùng này được xây dựng thì các trữ lượng khí đốt thực sự khổng lồ của Turkmenistan báo hiệu một tương lai phồn vinh của nhân dân nước này.

Với con số 5 triệu dân, Kyrgystan đa dạng hơn nhiều. Chính dân Kyrgystan chỉ chiếm 55% tổng số, và dân Uzbek chiếm 13%, còn số dân Nga thì gần đây giảm từ 20% xuống trên 15%. Trước khi nước này độc lập, đa số trong thành phần trí thức kỹ thuật của nước này là dân Nga và sự ra đi ồ ạt của họ đã gây tổn thất cho nền kinh tế. Tuy giàu về khoáng sản và có cảnh quan thiên nhiên khiến một số người ví nước này là Thụy Sĩ của Trung Á, và do vậy có thể sẽ trở thành một miền đất mới cho khách du lịch. Do vị trí địa chính trị của Kyrgystan, nằm giữa Trung Quốc và Kazakhstan, khiến nước này hầu như bị phụ thuộc vào việc Kazakhstan có thành công hay không trong việc duy trì nền độc lập.

Tajikistan có phần đồng nhất hơn về sắc tộc. Trong số 6,5 triệu dân, có chưa đầy 2/3 là dân Tajik, hơn 25% là người Uzbek, trong khi đó số người Nga chỉ còn lại 3%. Nhưng cũng như ở nơi khác, ngay cả cộng đồng sắc tộc thống trị cũng chia rẽ rất rõ rệt theo bộ lạc, và chủ nghĩa dân tộc hiện đại chủ yếu chỉ giới hạn trong giới lãnh đạo chính trị ở thành phố. Do vậy, nền độc lập không chỉ tạo ra nội chiến mà còn tạo cớ cho Nga tiếp tục triển khai quân đến nước này. Tình hình sắc tộc càng phức tạp hơn do ở ngay bên kia biên giới trên vùng Đông Bắc Afghanistan nơi có một số đông người Tajik sinh sống. Thực ra, ở cả hai nước Afghanistan và Tajikistan số dân thuộc sắc tộc Tajik ngang nhau. Đây cũng là một nhân tố góp phần làm mất ổn định khu vực.

Tình trạng lộn xộn hiện tại của Afghanistan cũng là một di sản của Liên Xô cũ, tuy nước này không phải là một nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Sự chiếm đóng của Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích kéo dài chống lại họ đã khiến Afghanistan chỉ là một nhà nước dân tộc trên danh nghĩa. Hai mươi hai triệu dân của nước này chia rẽ gay gắt theo bộ lạc, trong đó sự bất đồng lớn giữa các sắc tộc Pashtun, Tajik và Hazara ngày càng lớn. Đồng thời, phong trào Thánh chiến (jihat) chống quân Nga chiếm đóng đã làm cho tôn giáo trở nên một khía cạnh bao trùm trong đời sống chính trị của đất nước, làm cho những mối bất đồng vốn đã gay gắt càng thêm gay gắt. Do vậy, phải nhìn nhận Afghanistan không chỉ là bộ phận trong vấn đề sắc tộc hóc búa ở Trung Á, mà còn là bộ phận quan trọng về chính trị của các nước Balkans Âu – Á.

Tuy các nước Trung Á thuộc Liên Xô cũ cũng như Azerbaijan có đa số dân là Hồi giáo, nhưng tầng lớp tinh hoa chính trị của họ (chủ yếu vẫn là sản phẩm của Liên Xô cũ), đều mang quan điểm phi tôn giáo. Có thể nói, các nước này về hình thức là vô thần. Tuy nhiên, khi người dân chuyển từ bản sắc thị tộc hoặc bộ lạc truyền thống sang nhận thức dân tộc hiện đại hơn thì có thể họ sẽ ngày càng giác ngộ thêm về đạo Hồi. Trong thực tế, một sự hồi sinh của đạo Hồi có thể trở thành xung lực thúc đẩy những thứ chủ nghĩa dân tộc mới ngày càng lan tràn, quyết tâm chống lại việc một lần nữa đưa họ vào vòng kiểm soát của Nga, và cũng là một sự kiểm soát vô thần.

Thực ra, quá trình Hồi giáo hóa có thể lây lan sang cả dân Hồi giáo vẫn tiếp tục sinh sống ở đất Nga. Số dân này là 20 triệu – gấp hơn hai lần số người Nga bất mãn (khoảng 9,5 triệu) vẫn tiếp tụcsinh sống dưới chế độ thống trị ngoại quốc ở các nước Trung Á độc lập. Người Hồi giáo Nga chiếm khoảng 13% dân số Nga và đều muốn đòi được quyền mang bản sắc chính trị và tôn giáo rõ rệt. Dù cho yêu sách này không mang hình thức một cuộc tìm kiếm độc lập hoàn toàn như ở Chechnya thì nó cũng phải đối mặt với những bế tắc ở Trung Á vì hành động dính líu kiểu đế quốc gần đây của họ.

Có một thực tế đã làm tăng sự bất ổn ở các nước Balkans Âu – Á và làm cho tình hình sẽ có thể dễ bùng nổ hơn, đó là việc hai nhà nước sát nhau là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đều rất dễ thay đổi về xu hướng địa chính trị. Nếu hai nước này mất ổn định thì rất có thể toàn bộ khu vực sẽ bị đẩy vào rối loạn lớn và khi đó những cuộc xung đột sắc tộc và lãnh thổ đang tiếp diễn sẽ tuột ra khỏi tầm kiểm soát và thế cân bằng lực lượng trong vùng vốn đã mỏng manh lại càng bị phá hoại nặng. Do đó, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran không những là những nhân tố quan trọng về địa chiến lược, mà còn là những trung tâm địa chính trị. Điều kiện nội bộ của chính họ lại có tầm cực kỳ quan trọng đối với số phận của khu vực. Tuy hai nước đều ở tầm cỡ trung bình, nhưng khát vọng khu vực lại rất mãnh liệt và luôn tự ý thức về tầm quan trọng lịch sử của họ. Tuy nhiên vẫn chưa có gì chắc chắn về định hướng địa chính trị tương lai cũng như về sự liên kết quốc gia của cả hai nước.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

Các nước Balkans Âu – Á – Phần I


Ở châu Âu, ngôn từ “các nước Balkans” thường gợi lên những hình ảnh xung đột sắc tộc và những cuộc kình địch khu vực giữa các nước lớn. Khu vực lục địa Âu – Á cũng có “các nước Balkans”, nhưng đó là những nước lớn hơn, đông dân hơn, thậm chí còn hỗn tạp xét về mặt tôn giáo và sắc tộc. Những nước này nằm trong một khu vực hình thuôn rộng lớn, là trung tâm của những bất ổn trên thế giới. Hình thuôn này cũng trùm lên nhiều bộ phận thuộc Đông Nam Âu, Trung Á cũng như nhiều phần thuộc Nam Á, khu vực vịnh Ba Tư và Trung Đông.

Các nước Balkans Âu – Á nằm gọn bên trong của hình thuôn rộng đó. Các nước này khác với khu vực ngoài ở một điểm đặc biệt quan trọng: là một khoảng trống quyền lực. Tuy đa số các nước nằm ở vịnh Ba Tư và Trung Đông cũng mất ổn định, song ở đó lại có sự hiện diện của Mỹ với tư cách như một trọng tài. Do vậy, khu vực bất ổn ở vòng ngoài là một khu vực chỉ có một nước bá quyền và quyền lực của nó đã làm tình hình dịu đi. Trái lại, các nước Balkans Âu – Á lại gợi nhớ tới các nước Balkans cổ xưa hơn và quen thuộc hơn của Đông Nam Âu: Không chỉ những thực thể chính trị của vùng này bất ổn mà chúng còn như một miếng mồi hấp dẫn với ý đồ xâm lược của các nước láng giềng hùng mạnh. Mỗi nước láng giềng này đều quyết tâm chống nước khác đô hộ khu vực. Chính sự kết hợp của hai yếu tố khoảng trống và sức hút quyền lực đã làm cho “các nước Balkans Âu – Á” xứng với tên gọi này.

Trong cuộc đấu tranh giành địa vị thống trị châu Âu, các nước Balkans cổ truyền là một phần thưởng địa chính trị tiềm tàng. Do vị trí nằm án ngữ trên hệ thống đường vận tải hai cực Tây – Đông giàu nhất và cần cù nhất của lục địa Âu – Á nên các nước Balkan Âu – Á còn có tầm quan trọng về địa chính trị. Hơn nữa, ở khía cạnh an ninh và tham vọng lịch sử thì những nước này có tầm quan trọng đối với ít nhất ba trong số các nước láng giềng gần cận nhất và hùng mạnh nhất, đó là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Trung Quốc cũng ngày càng thể hiện sự quan tâm chính trị đối với khu vực này.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy các nước Balkans Âu – Á còn có tầm quan trọng hơn nhiều. Trong khu vực này tập trung nhiều khoáng sản quan trọng, nhiều dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên, kể cả vàng. Trong hai hoặc ba thập kỷ tới, mức tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ tăng rất nhiều. Bộ Năng lượng Mỹ dự báo nhu cầu của thế giới sẽ tăng thêm hơn 50% trong khoảng từ năm 1993 đến năm 2015, và những nước tiêu thụ năng lượng sẽ tăng nhiều là ở Viễn Đông. Động lực phát triển kinh tế của châu Á hiện đang tạo ra nhiều sức ép lớn đòi thăm dò và khai thác những nguồn năng lượng mới. Trữ lượng dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên của khu vực Trung Á và lòng chảo biển Caspian có khả năng vượt xa trữ lượng của Kuwait, vịnh Mexico hoặc Biển Bắc. Có được nguồn tài nguyên đó và chai sẻ sự giàu có tiềm tàng ở khu vực này là những mục tiêu và tham vọng của nhiều nước, làm sống lại những tham vọng đế quốc và thổi bùng lên những mối kình địch quốc tế. Tình hình này càng thêm biến động vì vùng này không chỉ là một khoảng trống quyền lực mà còn có bất ổn nội bộ. Mỗi nước ở đây đều phải chịu những khó khăn nội bộ nghiêm trọng. Tất cả các nước trên đều bị các nước láng giềng bá chủ hoặc đang có hận thù sắc tộc, chỉ có một số ít nước là đồng nhất về dân tộc. Một số nước đang chìm đắm trong xung đột lãnh thổ, sắc tộc hoặc tôn giáo.

1/ Lò nung sắc tộc

Vùng Balkans Âu – Á có 9 nước ít nhiều đang ở trong tình trạng trên. Chín nước đó là Kazakhstan, Kirgistan, Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan, Azerbaijan, Armenia, Gruzia (tất cả đều là một phần của Liên Xô cũ) và Afghanistan. Bổ sung vào danh sách này trong tương lai có thể là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Cả hai nước này đều có sức sống chính trị và kinh tế, đều tích cực tranh giành ảnh hưởng khu vực trong số các nước Balkans, và do vậy, đều là những đấu thủ địa chính trị quan trọng trong khu vực. Bởi, cả hai nước đều dễ bị tổn thương vì những cuộc xung đột sắc tộc nội bộ, và nếu hai nước này mất ổn định thì những vấn đề nội bộ của khu vực sẽ trở nên rối ren. Đồng thời, từ đó những cố gắng nhằm hạn chế Nga chiếm địa vị bá chủ trong vùng có thể trở nên vô tác dụng.

Có thể nói ba nước vùng Kavkaz là Armenia, Gruzia và Azerbaijan dựa trên cơ sở dân tộc thực sự trong lịch sử. Do vậy, chủ nghĩa dân tộc của họ vừa lan tỏa, vừa sâu sắc và những xung đột bên ngoài là thách thức chủ yếu đối với sự thịnh vượng của họ. Trái lại, có thể nói năm nước Trung Á mới thành lập đang trong giai đoạn xây dựng đất nước với đặc tính bộ lạc và sắc tộc còn mạnh, nên khó khăn lớn nhất của họ là sự bất đồng nội bộ. Cả hai kiểu nhà nước ấy đều có những điểm yếu để các láng giềng mạnh hơn và có tư tưởng đế quốc khai thác.

Các nước Balkans Âu – Á như một bức tranh đan xen các sắc tộc. Những nhà vẽ bản đồ độc đoán của Liên Xô những năm 1920 và 1930 đã vẽ đường biên giới của các nước thuộc khu vực này khi từng nước cộng hòa Xô viết được chính thức thành lập. (Afghanisatn là trường hợp ngoại lệ vì họ chưa bao giờ nằm trong Liên bang Xô viết). Các đường biên giới của họ chủ yếu được vạch ra theo nguyên tắc sắc tộc, nhưng cũng phản ánh ý đồ của Kremlin, nhằm làm cho khu vực Nam đế chế Nga trong tình trạng chia rẽ nội bộ để thuận lợi hơn cho việc thống trị.

Với mưu đồ đó, Nga bác bỏ đề nghị của các nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Á hòa nhập nhiều dân tộc Trung Á thành một đơn vị chính trị đơn nhất mang tên “Turkestan” hơn là tạo nên 5 “nước cộng hòa” riêng biệt. Có thể do một tính toán tương tự, Nga đã từ bỏ các kế hoạch thành lập một liên bang các nước Kavkaz. Vì thế, không có gì là ngạc nhiên sau sự sụp đổ của Liên Xô, cả 3 nước vùng Kavkaz và 5 nước Trung Á đều không thật sẵn sàng cho vị thế độc lập mới cũng như chưa sẵn sàng thực hiện sự hợp tác khu vực cần thiết.

Ở vùng Kavkaz, chưa đầy 4 triệu dân Armenia và trên 8 triệu dân Azerbaijan đã nhanh chóng bị cuốn vào một cuộc chiến tranh công khai đòi vị thế cho vùng Nagorny-Karabakh, một vùng lõm với đa số dân Armenia trong lòng Azerbaijan. Cuộc xung đột gây ra những vụ tàn sát sắc tộc quy mô lớn, trong đó hàng trăm, hàng nghìn dân tha hương tháo chạy theo cả hai hướng. Do Armenia theo đạo Thiên chúa, còn Azerbaijan theo đạo Hồi, nên cuộc chiến tranh mang màu sắc của một cuộc xung đột tôn giáo. Cuộc chiến tranh gây ra sự tàn phá về kinh tế, và việc xây dựng địa vị độc lập ổn định của cả hai nước đều rất khó. Armenia bị xô đẩy đến chỗ dựa nhiều hơn vào Nga, trong khi đó, Azerbaijan phải hi sinh vùng Nagorny-Karabakh để đổi lấy nền độc lập và ổn định nội bộ.

Vị trí của Azerbaijan đã khiến nước này trở thành một điểm then chốt địa chính trị. Có thể mô tả nó là chiếc “nút chai” có tầm quan trọng sinh tử, vì nó khống chế đường vào “chiếc chai” có chứa những tài nguyên giàu có của vùng lòng chảo biển Caspian và Trung Á. Một nước Azerbaijan độc lập nói tiếng Thổ, có đường ống dẫn dầu chạy đến Thổ Nhĩ Kỳ, có quan hệ sắc tộc và ủng hộ về chính trị sẽ ngăn cản Nga độc quyền vào khu vực và do vậy khiến họ mất đi ảnh hưởng chính trị có tính quyết định đối với các chính sách của các nước Trung Á mới. Tuy vậy, Azerbaijan rất dễ bị tổn thương trước áp lực của nước Nga hùng mạnh ở phương Bắc và của Iran ở phương Nam. Ở Tây Bắc Iran có tới 20 triệu dân Azerbaijan, gấp đôi số sắc tộc này sống trên lãnh thổ Azerbaijan. Thực tế đó khiến Iran lo sợ về một chủ nghĩa ly khai tiềm tàng trong dân tộc Azerbaijan ở ngay Iran và do đó khiến họ lập lờ nước đôi đối với vị thế chủ quyền của Azerbaijan, mặc dù hai nước cùng theo đạo Hồi. Do vậy, Azerbaijan đã trở thành đối tượng để cả Nga và Iran cùng gây áp lực nhằm hạn chế họ làm ăn với phương Tây.

Khác với Armenia và Azerbaijan, 30% trong 6 triệu dân Gruzia là dân thiểu số. Hơn nữa những cộng đồng bé nhỏ này lâu nay vẫn căm ghét sự đô hộ của Gruzia. Do vậy, khi Liên Xô giải thể, các sắc tộc Osetia và Abkhazia đã lợi dụng sự ẩu đả chính trị nội bộ của Gruzia mưu toan ly khai chấp nhận sức ép của Nga buộc họ yên phận trong cộng đồng các quốc gia độc lập (lúc đầu Gruzia muốn hoàn toàn tách khỏi cộng đồng này), buộc phải chấp nhận các căn cứ quân sự Nga trên lãnh thổ của họ, tránh sự nhòm ngó của Thổ Nhĩ Kỳ.

Về văn hóa và ngôn ngữ, bốn trong năm nước mới độc lập ở Trung Á là một phần của thế giới người Thổ. Tajikistan có ngôn ngữ và văn hóa thuộc vùng Ba Tư, còn Afghanistan (nằm ngoài Liên Xô cũ) thì có nhiều sắc tộc đan xen như Patha, Tajik, Pashtun và Ba Tư. Tất cả sáu nước này đều theo đạo Hồi và đã nhiều năm chịu ảnh hưởng của các đế quốc Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga. Tuy vậy, trải nghiệm đó không có tác dụng gắn kết họ cùng chung mối quan tâm khu vực. Trái lại, thành phần sắc tộc đa dạng đã khiến họ dễ bị tổn thất trước những cuộc xung đột bên trong và bên ngoài. Các yếu tố này đã tạo ra sức hấp dẫn các nước láng giềng hùng mạnh hơn xâm lược.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Zbigniew Brzezinski – Bàn cờ lớn – NXB CTQG 1999.

An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga


Tối 9/3, trang mạng Thời báo Hoàn Cầu – ấn bản của tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đăng bài viết nhan đề “Chuyên gia: An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga”, trong đó nhấn mạnh an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin.

Mỹ được cho là đã phát động một loạt cuộc tấn công mạng bí mật nhằm vào Nga để trả đũa các cuộc tấn công SolarWinds trên diện rộng được cho là tiến hành từ Nga. Hành động này diễn ra cùng với những tin tức nói rằng chính quyền của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thành lập một lực lượng đặc nhiệm để đối phó với các cuộc tấn công mạng lớn mà Tập đoàn công nghệ Microsoft tuyên bố rằng có liên quan đến Trung Quốc.

Các nhà quan sát Trung Quốc cho biết, an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin, đồng thời nhắc nhở Trung Quốc thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn các mối đe dọa trên mạng.

Ngày 8/3, một nhóm các nhà lập pháp Mỹ đã đề xuất dự luật cho phép người Mỹ buộc các chính phủ nước ngoài và nhân viên của họ phải chịu trách nhiệm trước tòa án về hoạt động mạng độc hại, trong bối cảnh gia tăng các cáo buộc chống lại Nga và Trung Quốc.

Giáo sư Vương Nghĩa Nguy (Wang Yiwei), Viện trưởng Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Nhân dân của Trung Quốc nói với Thời báo Hoàn Cầu rằng việc Mỹ chơi quân bài tấn công mạng đang làm thay đổi cuộc chiến tranh tư tưởng và tìm cách độc chiếm thế giới bằng cách đàn áp bất kỳ kẻ thách thức nào với nhiều lý do.

Giáo sư Vương Nghĩa Ngụy nhấn mạnh, Nga và Trung Quốc đã phá vỡ quyền bá chủ của Mỹ trong thế giới mạng bằng những phát triển công nghệ tiên tiến. Trung Quốc, đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ như 5G, công nghệ chuỗi khối (blockchain) và tiền tệ kỹ thuật số khi mạng Internet đang trải qua sự phát triển lớn giữa các thế hệ, bị Mỹ coi là một “mối đe dọa” tiềm tàng không chỉ trong không gian mạng mà còn cả trong lĩnh vực tài chính.

Chuyên gia Vương Nghĩa Ngụy lưu ý rằng việc Mỹ cáo buộc Nga và Trung Quốc nhân danh cái gọi là dân chủ, tự do và an ninh, thực ra là đang tìm kiếm một cái cớ để nước này xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời kỳ hậu đại dịch COVID-19, qua đó loại trừ Trung Quốc và Nga, kiểm soát các đồng minh của họ từ công nghệ và dẫn đầu thế giới.

Các nguồn tin cho biết, Ấn Độ đang điều tra các vụ xâm nhập mạng bị tình nghi có thể đã ảnh hưởng đến hoạt động tại một sàn giao dịch chứng khoán quan trọng ở Ấn Độ và sự cố mất điện ở thủ đô thương mại Mumbai của nước này. Một số phương tiện truyền thông Ấn Độ và Mỹ cũng cáo buộc rằng Trung Quốc đứng đằng sau vụ tấn công bị nghi ngờ này.

Theo Thời báo Hoàn cầu, các chuyên gia tin rằng những cáo buộc về cái gọi là tấn công mạng từ Trung Quốc, mà không có bằng chứng nào, thực sự đang chính trị hóa vấn đề an ninh mạng, vốn nhằm phục vụ cho cuộc chiến dư luận và cuộc chiến thông tin của một số nước chống lại Trung Quốc. Báo cáo này dẫn lời Lỗ Hướng, một chuyên gia nghiên cứu về Mỹ tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết: “Có rất nhiều vấn đề và rủi ro chưa được biết đến trong thế giới mạng và xã hội của chúng ta phụ thuộc nhiều vào mạng Internet. Việc tổ chức sức mạnh quốc gia để tấn công mạng của một quốc gia khác có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như các cuộc tấn công hạt nhân”. Theo báo cáo này, chuyên gia Lỗ Hướng là người đã kêu gọi thực hiện một cơ chế đàm phán và phối hợp cũng như một cơ chế thực thi pháp luật dựa trên sự bình đẳng giữa các nước lớn để giải quyết các vấn đề an ninh mạng.

Nguồn: TKNB – 11/03/2021.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần cuối


Nga đã bước vào cuộc chiến trên mặt trận ngoại giao và đạt được thắng lợi về mặt chiến thuật. Sau cuộc đàm phán kéo dài 11 tiếng đồng hồ tại Moskva, Armenia và Azerbaijan đã ký kết được một thỏa thuận đình chiến nhân đạo vào ngày 10/10 để trao đổi thi thể của những người thiệt mạng và tù binh. Đối với Nga, đây là thành công đầu tiên trên mặt trận ngoại giao vì một số lý do.

Thứ nhất, Nga đã bảo toàn được địa vị là bên trung gian hòa giải chính giữa hai nước và buộc họ phải đến Moskva để ký kết hiệp định đình chiến cơ bản.

Thứ hai, điểm 4 của thỏa thuận chỉ rõ việc duy trì nguyên trạng theo định dạng của các cuộc đàm phán, và đây chính là động thái đáp trả Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia đang cố gắng thay đổi nguyên trạng thông qua hành động leo thang quân sự. Và như vậy, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa thể tham gia quá trình này, trong khi Nga đã gạt họ ra bên lề.

Thứ ba, Nga đã kích hoạt mặt trận ngoại giao trên cơ sở đồng tình với các quan điểm của phương Tây, và việc này có lợi cho Điện Kremlin trong khuôn khổ chính sách đối ngoại rộng rãi hơn của họ nhằm khôi phục quan hệ với phương Tây, cho dù các lệnh trừng phạt và các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp diễn sau năm 2014.

Những nhận thức khác nhau

Tất nhiên, bản thân thỏa thuận ngừng bắn đã đổ bể ngay trong ngày đầu tiên. Trên thực tế, văn bản thỏa thuận và phản ứng của các bên với nó ngay từ đầu đã báo hiệu rằng nỗ lực đầu tiên nhằm dập tắt cuộc xung đột này sẽ thất bại. Vì vậy, điều kỳ diệu đã không xảy ra. Những người yêu nước ở cả hai chiến tuyến đã coi thỏa thuận này là khoảng lặng trước trận chiến tiếp theo. Các bên vẫn tin tưởng vào thắng lợi của mình, và do đó chưa sẵn sàng nhượng bộ. Đối với họ, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, không có sự tin tưởng lẫn nhau, và bất kỳ cuộc đàm phán nào dưới sức ép của bên ngoài đều là mánh lới tạm thời, có thể lợi dụng làm công cụ trong cuộc chiến.

Azerbaijan phản ứng gay gắt với thỏa thuận ngừng bắn. Theo dõi các bình luận trên mạng xã hội và tuyên bố sau đó của Tổng thống Ilham Aliyev, họ coi thỏa thuận ngừng bắn là cơ hội để Armenia chỉnh đốn lực lượng, nghỉ ngơi và chuẩn bị tốt hơn cho các tuyến phòng thủ và thậm chí là một cuộc phản công. Họ tin rằng Azerbaijan đã gây tổn thất lớn về mặt quân sự cho Armenia, và do đó bất kỳ cuộc đình chiến nào cũng sẽ là vô nghĩa. Họ chỉ có thể tấn công.

Trong khi đó, Thổ Nhĩ Kỳ đón nhận thỏa thuận ngừng bắn với thái độ hoài nghi. Một mặt, họ ủng hộ ý tưởng đình chiến vì mục đích nhân đạo, nhưng mặt khác, họ không được hưởng lợi từ các thỏa thuận không có sự tham gia của họ. Do đó, có vẻ như để giành lại thế chủ động, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ phải tìm cách phá vỡ thỏa thuận ngừng bắn và tham gia định hình các cuộc đàm phán tiếp theo.

Việc tiếp tục gây sức ép thông tin đối với Thổ Nhĩ Kỳ sau khi các tài liệu xác minh sự hiện diện của lính đánh thuê Syria ở Karabakh xuất hiện ngày càng nhiều đang tạo điều kiện thuận lợi cho Armenia xây dựng câu chuyện phản biện của họ về một Armenia không chỉ phòng thủ trước ngoại xâm mà còn đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Và điều này sẽ giúp ích cho các nỗ lực vận động hành lang. Quốc hội Cyprus và Hà Lan đã thông qua các nghị quyết lên án Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan, cả về vấn đề chiêu mộ lính đánh thuê nước ngoài. Không loại trừ việc Ankara sẽ tìm cách siết chặt các luồng thông tin về người Syria hoặc giảm bớt sự can dự của họ vào cuộc chiến ở Karabakh.

Trong tương lai gần, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không ngừng nỗ lực tham gia giải quyết vấn đề Nagorny-Karabakh bằng cách tăng tỷ lệ đặt cược vào việc sử dụng sức mạnh quân sự hoặc gây áp lực ngoại giao.

Cho dù điều gì đang diễn ra ngoài mặt trận, thì điều hết sức quan trọng đối với Ankara là họ phải giành cho mình một chỗ đứng trong số các lực lượng khống chế ở Nam Kavkaz: bằng cách tham gia các định dạng hiện có như nhóm Minsk của OSCE (và qua đó làm mới nó) hoặc lý tưởng nhất là tạo ra một định dạng thay thế nhóm Minsk để đàm phán với Nga, tương tự như những gì Nga đã làm với Syria khi tạo ra “định dạng Astana” làm đối trọng với “định dạng Geneva”.

Sáu bài học từ cuộc xung đột

Nhà nghiên cứu hàng đầu Andrei Kortunov của Hội đồng chính sách đối ngoại Nga nêu ra sáu bài học quan trọng đối với Moskva từ cuộc xung đột ở Nagorny-Karabakh như sau:

Thứ nhất, phải thừa nhận rằng sự leo thang xung đột ở Nam Kavkaz là một thiếu sót nghiêm trọng của Nga. Phản ứng đầu tiên của Moskva trước sự bùng nổ chiến tranh cho thấy tình báo Nga đã bỏ qua sự chuẩn bị lâu dài của Azerbaijan cho một cuộc tấn công chiến lược mới nhằm vào Karabakh. Nhiều khả năng Moskva trong một thời gian dài cũng đã đánh giá thấp mức độ khó chịu của Baku trước tình trạng quá trình đàm phán trong khuôn khổ nhóm Minsk kéo dài mà không có kết quả. Sau khi Nikol Pashinyan lên nắm uyền ở Yerevan, lập trường của người Armenia không dễ thay đổi. Ngược lại, Pashinyan, một chính trị gia ít kinh nghiệm, đã đưa ra các quan điểm đàm phán gay gắt mà những người tiền nhiệm lão luyện hơn, chẳng hạn như Serzh Sargsyan, đã cố gắng tránh.

Thứ hai, khác với các cuộc đụng độ nhỏ hơn vào mùa Hè ở biên giới Karabakh trong tháng 4/2016 và tháng 7/2020, cuộc xung đột hiện tại khiến cho việc khôi phục nguyên trạng là điều không thể. Cho dù cuộc đối đầu đang diễn ra kết thúc thế nào, thì nó sẽ không thể quay trở lại tình trạng ban đầu. Công thức truyền thống được áp dụng ở Nga – “hãy để các thế hệ tương lai giải quyết các vấn đề” – không còn hiệu quả nữa. Khó có thể “đóng băng” xung đột trong một thời gian dài. Điều này có nghĩa là cần phải tìm kiếm công thức và giải pháp mới.

Thứ ba, một nhân tố bên ngoài năng động và đôi khi khó đoán đối với người Thổ Nhĩ Kỳ rõ ràng đã xuất hiện trong cuộc xung đột ở Nam Kavkaz. Trước mắt chúng ta, Nga đang đánh mất vị thế là lực lượng bên ngoài giữ vai trò chính yếu trong cuộc xung đột Armenia-Azerbaijan mà có thể vừa duy trì sự cân bằng giữa hai quốc gia, vừa ngăn chặn sự trở lại của các hành động thù địch. Dù người ta đánh giá thế nào về các mục tiêu của Erdogan ở Nam Kavkaz, thì một điều đã trở nên rõ ràng là Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không rời khỏi khu vực. Ankara đang trở thành một nhân tố thường trực trong cán cân quyền lực khu vực, cho dù trên thực tế họ vẫn chưa can thiệp trực tiếp vào cuộc xung đột (về điểm này, các bên hiếu chiến chiếm vị trí đối lập trực tiếp) mà chỉ ủng hộ Baku về mặt chính trị và đạo đức.

Thứ tư, cuộc xung đột một lần nữa cho thấy các mối đe dọa thực sự đối với an ninh của Nga không đến từ phía Tây mà xuất phát từ sự bất ổn ở phía Nam – từ khu vực Đại Kavkaz và về lâu dài có thể là từ Trung Á. Ở phía Nam, lợi ích của Mosva và các thủ đô phương Tây nhìn chung trùng khớp nhau, và điều này khiến Nga, Pháp và Mỹ có thể nhanh chóng nhất trí về một tuyên bố ba bên liên quan đến tình hình ở Karabakh. Một tình huống nghịch lý đã xuất hiện – hai thành viên hàng đầu của NATO là Mỹ và Pháp đã hợp tác với Nga (kẻ thù chiến lược của liên minh này) để gây ảnh hưởng đến thành viên có ảnh hưởng thứ ba của NATO là Thổ Nhĩ Kỳ.

Thứ năm, đối với tất cả các cường quốc, bao gồm cả Nga, việc nối lại chiến sự ở Nam Kavkaz là một tín hiệu rõ ràng cho thấy việc liên tục sử dụng các tiêu chuẩn kép khi vận dụng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế (quyền tự quyết của các quốc gia và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia) sẽ không mang lại kết quả tốt đẹp. Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải thống nhất về cách tiếp cận phổ quát đối với tất cả các tình huống như vậy. Khó có thể đạt được sự thống nhất về vấn đề hết sức nhạy cảm này. Thế nhưng, nếu không đạt được sự đồng thuận quốc tế, thì những tình huống như xung đột Karabakh chắc chắn sẽ nhân rộng trên toàn thế giới.

Thứ sáu, cần ngăn chặn tình trạng đổ máu đang diễn ra. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách đảm bảo với Azerbaijan rằng vấn đề Nagorny-Karabakh sẽ không tiếp diễn trong 30 hay 50 năm nữa. Nhóm Minsk, vốn được cho là tìm cách giải quyết hòa bình xung đột Karabakh, cần phải kiên trì hơn và hành động nhiều hơn. Nếu không, người dân Azerbaijan sẽ cho rằng Ilham Aliyev đã thất bại. Tương tự,  Yerevan nên sẵn sàng nhượng bộ theo công thức “hòa bình để đổi lấy lãnh thổ”. Trước hết, điều này liên quan đến bảy vùng đệm của Azerbaijan mà hiện nằm dưới sự kiểm soát của Chính quyền Nagorny-Karabakh.

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần IX


Hikmet Hajiev, trợ lý Tổng thống Azerbaijan về chính sách đối ngoại, đã viết trên Twitter: “Các lực lượng vũ trang Armenia đã tiến hành một cuộc tấn công bằng tên lửa nhằm vào thành phố công nghiệp Mingechevir ở Azerbaijan. Tại Mingechevir có một hồ chứa nước và một nhà máy điện giữ vai trò quan trọng. Khi tuyệt vọng, người ta dễ làm liều”. Azerbaijan khẳng định rằng tổ hợp tên lửa chiến thuật Tochka-U do Liên Xô sản xuất, với tầm bay của các tên lửa lên tới 120 km, đã khai hỏa nhằm vào nhà máy thủy điện Mingechevir nhưng lại không nêu ra thiệt hại cụ thể.

Tochka-U dường như cũng được trang bị cho lực lượng phòng thủ Karabakh. Bất luận trong trường hợp nào, Azerbaijan và Armenia cũng nói rằng việc các tổ hợp này được điều chuyển từ Armenia sang Cộng hòa Nagorny-Karabakh (NKR) chưa được công nhận vào năm 2016. Theo Azerbaijan, ít nhất một trong bốn tên lửa được phóng từ tổ hợp Tochka-U đã bị rơi ở khu vực sát nhà máy thủy điện Mingechevir. Còn tại Stepanakert và Yerevan, người ta phủ nhận sự thật về vụ pháo kích.

Tuy nhiên, chủ đề về mối đe dọa tên lửa đối với một trong những mục tiêu chiến lược quan trọng của Azerbaijan thường xuất hiện mỗi khi xung đột giữa Baku và Yerevan trở nên trầm trọng hơn. Chẳng hạn như tháng 7 vừa qua, trong bối cảnh một vụ rắc rối xảy ra tại khu vực phía Bắc đường biên giới Armenia-Azerbaijan, Bộ Quốc phòng Azerbaijan đã cảnh báo rằng nếu Armenia phá hủy đập Mingechevir, thì quân đội Azerbaijan sẽ đáp trả bằng việc tấn công nhà máy thủy điện hạt nhân Metsamor, chỉ cách Yerevan 30 km.

Trong thời gian xảy ra vụ rắc rối ở biên giới, những lời đe dọa như vậy giống như một bài tuyên truyền. Thế nhưng trên thực tế, nhà máy thủy điện Mingechevir, cách Stepanakert và biên giới Armenia khoảng 100 km, là một mục tiêu quân sự hiểm yếu và quan trọng về mặt chiến lược. Tấn công nhà máy thủy điện Mingechevir có nghĩa là một nửa đất nước Azerbaijan sẽ bị xóa sạch khỏi mặt đất.

Điều này đồng nghĩa với một thảm họa nhân đạo và môi trường to lớn. Không nên để điều này xảy ra trong bất cứ trường hợp nào. Thế nhưng, về mặt lý thuyết, không thể loại trừ khả năng xảy ra trường hợp thứ nhất: Armenia sử dụng các tổ hợp Iskander để thực hiện một cuộc phản kích. Tổ hợp này, với sự trợ giúp của tên lửa, được sử dụng để phá hủy các mục tiêu cơ sở hạ tầng của đối phương. Các tổ hợp Iskander-E (phiên bản xuất khẩu) tại căn cứ Gyumri có tầm bắn tên lửa dưới 280 km, chứ không phải 500 km như phiên bản tiêu chuẩn của Iskander-M do quân đội Nga sở hữu.

Chuyên gia quân sự Pavel Felgenhauer nói với báo Vzylyad: “Vẫn chưa rõ tầm bắn chính xác của loại tên lửa Iskander hiện có tại Amernia là bao nhiêu”. Theo quan điểm chính thức, Nga không nên bán cho Armenia các tổ hợp phiên bản 500 km vì việc này vi phạm các điều ước quốc tế mà Moskva tham gia. Ngoài ra Iskander-E chỉ có một chứ không phải hai tên lửa trên bệ phóng để phù hợp với các thỏa thuận về kiểm soát công nghệ tên lửa quốc tế. Theo giải thích của Felgenhauer, việc chỉ phóng một tên lửa vào nhà máy thủy điện Mingechevir sẽ không đủ để gây thiệt hại đáng kể cho con đập.

Tầm bắn của Iskander trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng. Chuyên gia quân sự Nga Bagdasarov lý giải rằng về lý thuyết, nhà máy thủy điện Sangachal, mà cung cấp điện năng cho Baku (cách khu vực xung đột khoảng 500 km), nằm ngoài tầm với của đòn tấn công bằng tên lửa. Cần lưu ý rằng một loạt mục tiêu hạ tầng quan trọng nhất của Azerbaijan, chẳng hạn như tổng kho khí đất Sangachal, nhà máy lọc dầu Baku trên bán đảo Absheron và nhà máy lọc dầu Garadag gần bờ biển Caspi, cũng nằm ngoài khu vực tấn công của tên lửa Armenia.

Bagdasarov giải thích: “Mục tiêu số một trên lãnh thổ Azerbaijan đối với Armenia và tên lửa Iskander-E trong kịch bản xấu nhất của cuộc xung đột có lẽ là đường ống dẫn dầu Baku-Tbilisi-Djeykhan”, cụ thể là đoạn cách biên giới phía Bắc của Cộng hòa tự xưng Nagorny-Karabakh khoảng 40 km, nằm giữa hai thành phố Ganja và Yevlakh. Chặn nguồn cung cấp dầu khí cho Thổ Nhĩ Kỳ là phá hoại nền kinh tế của Azerbaijan và Gruzia. Một đường ống dẫn dầu khác từ Baku đến cảng Supsa của Gruzia và đường ống dẫn khí đốt Baku-Tbilisi-Erzurum cũng chạy qua vùng Ganja. Tuy nhiên, nếu Azerbaijan tấn công Stepanakert, thì Amernia có thể sẽ tấn công Ganja.

Sergey Khatylev, nguyên Chủ nhiệm binh chủng tên lửa phòng không thuộc Bộ chỉ huy Lực lượng đặc nhiệm Không quân Nga, lưu ý: “Những tổ hợp tên lửa Iskander-E do Armenia mua về được triển khai tại căn cứ 102 của Nga ở Gyumri. Iskander mà Armenia thực sự sở hữu có thể không tồn tại. Đây chỉ có thể là những tổ hợp thuộc căn cứ quân sự của Nga”.

Quan điểm này mâu thuẫn với những tuyên bố chính thức của Bộ Quốc phòng Armenia. Năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Vigen Sargsyan đã nói với hãng thông tấn RIA Novisti: “Việc chuyển giao cho Armenia tổ hợp tên lửa Iskander là điều mà mọi người đều biết rất rõ, bởi vì họ đều tận mắt nhìn thấy chúng. Tôi cũng có thể khẳng định chắc chắn 100% rằng chúng thuộc quyền sở hữu của Lực lượng vũ trang Armenia”.

Theo một ấn phẩm mới đây của Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) tại London, Armenia có từ 4 – 8 tổ hợp Iskander-E. Đồng thời, giới chuyên gia nghiên cứu quân sự cũng nhận định rằng Armenia sẽ không cho phóng Iskander nếu chưa có sự nhất trí của Nga, và Moskva sẽ không cho phép Yerevan sử dụng loại vũ khí như vậy chống lại Baku.

Theo Khatylev, việc tiêu diệt các tổ hợp Iskander trên lãnh thổ Armenia đối với không quân Azerbaijan là rất khó khăn. Xét tới khả năng chiến đấu và sự phân bố theo địa hình, có thể nói hệ thống phòng không của Armenia đã phát huy hiệu quả trong các hoạt động tác chiến. Quân đội Armenia có các tổ hợp tên lửa phòng không S-300, các tổ hợp Osa của lục quân, cũng như các loại pháo phòng không tự hành Buk và Shilka.

Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Azerbaijan Hasanov khẳng định cuộc tấn công trả đũa của quân đội nước này sẽ nhằm đúng vào những vị trí đứng chân của các tổ hợp Iskander, đồng thời đe dọa lấy nhà máy điện hạt nhân Armenia ở Metsamor làm mục tiêu. Felgenhauer nói: “Azerbaijan có vũ khí tên lửa tầm xa với độ chính xác cao của Israel, nhưng có đầu đạn nhỏ hơn Iskander. Vì lẽ đó, chúng có thể tấn công các mục tiêu ở Yerevan, chẳng hạn như tòa nhà Quốc hội hoặc Bộ Tổng tham mưu. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Azerbaijan, trong trường hợp nhà máy điện hạt nhân bị phá hủy, quy mô thảm họa sẽ không kém việc phá hủy đập thủy điện.

Có thể nói rằng cả Armenia và Azerbaijan đều đe dọa sử dụng vũ khí sát thương hàng loạt để tấn công lẫn nhau. Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng khả năng những mối đe dọa này trở thành hiện thực là rất thấp.

Ba chiến thắng và sáu bài học đối với Nga

Sau hai tuần diễn ra chiến sự tại Nagorny-Karabakh, một chuyên gia chính trị người Ukraine khẳng định rằng Thổ Nhĩ Kỳ đã không thành công trong cuộc tấn công chớp nhoáng. Trong khi đó, Nga đã bước vào cuộc chiến trên mặt trận ngoại giao và giành thắng lợi về mặt chiến thuật. Đồng thời, chuyên gia này cũng cảnh báo rằng Thổ Nhĩ Kỳ sẽ không chấp nhận mọi việc như vậy.

Dựa trên kết quả của hai tuần căng thẳng tại Nagorny-Karabakh, có thể khẳng định rằng Azerbaijan đã không thành công trong cuộc tấn công chớp nhoáng và cũng không có được bước đột phá đáng kể nào trên chiến trường. Họ chỉ tiến được vài cây số tính từ giới tuyến và chiếm được một số làng ở phía Bắc và phía Nam. Tuy nhiên, rõ ràng là họ đã thấy bại trong việc tách hẳn Karabakh khỏi đường biên giới với Iran, đột phá theo hành lang phía Nam, hay đánh chiếm các trung tâm hành chính lớn và các điểm cao khống chế ở phía Bắc. Chưa có đủ tài liệu để xác nhận những thay đổi đáng kể về lãnh thổ và đưa ra một kết luận cụ thể hơn. Tuy nhiên, đã có những thay đổi đáng kể trên trường quốc tế.

(còn tiếp)

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần VIII


Về vấn đề này, chuyên gia quân sự Aleksey Khlopotov nói: “Người ta cho rằng các UAV đang chiếm lĩnh bầu trời và sẽ đặt dấu chấm hết cho việc sử dụng các phương tiện bọc thép. Những phương tiện này hoàn toàn không có khả năng phòng vệ trước các UAV, cho dù chúng có được bảo vệ đến đâu chăng nữa. Giờ đây, các công trình sư cần rút ra những kết luận xác đáng”.

Các phương tiện bọc thép hiện nay có thể tham gia một trận chiến ngang cơ với tên lửa chống tăng có điều khiển, pháo binh và nhiều loại vũ khí khác. Tuy nhiên, chúng sẽ bất lực khi đối phó với các đòn tấn công của UAV vì hai lý do. Thứ nhất, các UAV từ phía trên tấn công vào những nơi ít được bảo vệ nhất của xe tăng – lớp giáp mỏng trên nóc tháp pháo và buồng động lực. Thứ hai, dù được con người điều khiển từ xa nhưng vì có sử dụng trí tuệ nhân tạo nên máy bay không người lái có thể phát hiện mục tiêu, cơ động và bảo đảm tiêu diệt mục tiêu.

Do vậy, thời đại xe tăng là vũ khí tấn công chủ yếu của lục quân đã kết thúc. Tuy nhiên, liệu chúng có thể bị coi là phế liệu để thanh lý hay không?

Chuyên gia quân sự Alexei Leonkov nói: “Bất kỳ UAV nào cũng chỉ chống tăng hiệu quả khi không có các phương tiện phòng không”. Theo ông, các UAV do có vận tốc nhỏ và hạn chế về khả năng cơ động nên dễ bị các phương tiện phòng không tiêu diệt. Những phương tiện này có thể bị bắn hạ một cách đơn giản bằng các tổ hợp tên lửa phòng không vác vai hoặc thậm chí bằng súng máy phòng không cỡ nòng lớn của xe tăng. Chỉ cần xuất hiện trong tầm nhìn của một xạ thủ được huấn luyện bài bản, UAV chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Nếu các UAV có khả năng thực hiện các cuộc tấn công từ xa như Bayraktar của Thổ Nhĩ Kỳ, thì câu chuyện lại khác. Nhưng ngay cả như vậy, người ta vẫn có cách đối phó với chúng, chẳng hạn như bằng các phương tiện tác chiến điện tử hoặc các tổ hợp gây nhiễu điện tử.

Quân đội Azerbaijan và Armenia cũng như Quân đội phòng thủ Nagorny-Karabakh, đều không có các loại vũ khí chống UAV cần thiết. Vì thế, các UAV chỉ bị bắn rơi khi chúng được nhìn thấy bằng mắt thường và được xác nhận có số lượng khá lớn, mặc dù con số thực tế dường như thấp hơn cả chục lần. Đồng thời, mức độ hiệu quả của chúng trong việc tiêu diệt các phương tiện bọc thép cũng được phóng đại, và một vài khuôn hình video có lẽ có hiệu quả tuyên truyền nhiều hơn tác dụng thực tế.

Có thể kể đến kinh nghiệm đối phó với UAV của lực lượng Nga tại Syria. Các chiến binh thường xuyên tiến hành các cuộc không kích nhằm vào căn cứ không quân ở Khmeimim, nhưng tất cả các cuộc không kích này đều bị vô hiệu hóa bằng hỏa lực cũng như các phương tiện tác chiến điện tử và hệ thống gây nhiễu điện tử. Tổ hợp Pantsir S1 được sử dụng để áp chế hỏa lực của UAV, các khẩu pháo điện tử đảm nhiệm các nhiệm vụ còn lại. Trong số các phương tiện của Nga có khả năng đối phó hiệu quả nhất với các UAV cỡ nhỏ, có thể kể đến các loại tên lửa Repellent, Sapsan-Bekas, Kupol, Rubezh-Avtomatika Luch và Pishal.

Có thể nhắc tới tổ hợp laser di động mới nhất chống UAV có tên Rat vừa được giới thiệu tại diễn đàn quân sự-kỹ thuật Army-2020. Tổ hợp này có thể được sử dụng trực tiếp trên chiến trường – nó được bảo vệ bằng vỏ giáp trên khung gầm xe KamAz, có khả năng phát hiện UAV với vận tốc dưới 200 km/h, ở cự ly 3 – 5 km. Bức xạ của loại sóng siêu cao tần có hiệu quả trong bán kính dưới 2,5 km – được sử dụng để áp chế thiết bị vô tuyến điện tử của UAV; các thiết bị laser – bắt đầu hoạt động ở cự ly dưới 1 km – được sử dụng để tiêu diệt các loại khí tài bay không có người điều khiển.

Chuyên gia Alexei Leonkov cho biết thêm: “Các UAV phần nhiều được sử dụng trong hoạt động trinh sát. Hãy thử hình dung tình huống một chiếc UAV phát hiện một đội hình xe tăng đang tiến về phía tiền duyên. Nếu tấn công lúc đó, nó sẽ tiêu diệt được hai hoặc ba xe và sẽ buộc phải quay trở về để bổ sung đạn dược, hoặc sẽ bị bắn hạ bằng hỏa lực đáptrả. Nếu làm nhiệm vụ hiệu chỉnh hỏa lực, hoặc cho không quân hoặc cho pháo binh, nó có khả năng mang lại lợi ích lớn hơn nhiều”.

Triển vọng sử dụng rộng rãi các UAV tấn công hiện vẫn còn xa vời. Tuy nhiên, khả năng sử dụng chúng ở Syria, Libya và Karabakh hiện nay là rất lớn. Nga hiện đã có các phân đội UAV đặc biệt và nhiều trung tâm đào tạo chuyên gia tương ứng.

Loại máy bay S-70 Okhotnik của Nga tuy đang trong giai đoạn thử nghiệm với vai trò tiêu diệt lượng lực định mặt đất nhưng đã được luyện tập phối hợp tác chiến với tiêm kích Su-57. UAV Reaper của Mỹ đã được đưa vào sử dụng. Hai lạoi này ban đầu đều là phương tiện trinh sát nhưng sau đó đã được coi là phương tiện tấn công. Ở đây có một vài điểm khác biệt nhỏ: Máy bay không người lái phải có người điều khiển, đặc biệt là ở khoảng cách hàng trăm và thậm chí hàng nghìn km. Một người điều khiển ở mặt đất khó có thể đảm đương nhiệm vụ này, vì vậy cần phải có máy bay chỉ huy, trong trường hợp này là chiếc Su-57, dẫn đường cho những chiếc Okhotnik tới tiêu diệt mục tiêu.

UAV đang được thử nghiệm tại Nagorny-Karabakh, và hiệu quả của chúng hiện nay vẫn không bằng sức mạnh hỏa lực của các hệ thống phóng tên lửa. Đồng thời, cần phải đưa ra kết luận về việc sử dụng chúng và nghiên cứu vấn đề tăng cường khả năng bảo vệ trước các loại UAV.

Đáng tiếc là Nga tham gia quá muộn vào cuộc chạy đua công nghệ chế tạo UAV hiện đại. Okhotnik dù sao cũng chỉ là một mẫu thử nghiệm, trong khi đó các phương tiện tấn công của Mỹ, Israel và Thổ Nhĩ Kỳ đã đi vào hoạt động. Giờ đây, Nga cần phải nỗ lực để vượt lên phía trước – không đơn thuần chỉ lặp lại những phát minh của Thổ Nhĩ Kỳ hoặc Mỹ, mà còn phải chế tạo ra các UAV của tương lai.

So với một phương tiện tác chiến có người điều khiển, UAV rẻ hơn và phổ biến hơn. Các phương tiện trinh sát giá rẻ đang được trang bị cho quân đội Nga, nhưng cuộc xung đột ở Karabakh đã khẳng định sự cần thiết của các phương tiện tấn công không người lái giá rẻ với số lượng không chỉ một hoặc hai mà là hàng trăm chiếc. Tất nhiên, điều này không chỉ kéo theo nhu cầu về tài chính và nỗ lực của các nhà phát minh và ngành công nghiệp, mà còn đòi hỏi một hệ thống đào tạo đội ngũ nhân viên khai thác UAV có trình độ cao. Ngoài ra, cần phải có một hệ thống điều khiển UAV vững chắc phục vụ lợi ích của các lực lượng vũ trang Nga với đầy đủ thông số cần thiết về khả năng chống nhiễu và độ tin cậy. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng Bộ Tổng tham mưu Nga đang nghiêm túc nghiên cứu cuộc xung đột ở Karabakh. Và các phương pháp mới để tiến hành hoạt động tác chiến có sự trợ giúp của UAV cũng đã ra đời.

Câu hỏi được đặt ra là: Phải chăng có loại vũ khí thực sự có khả năng lật ngược tình thế?

Về hậu quả của việc Armenia sử dụng các tổ hợp tên lửa Iskander nổi tiếng của Nga, các chuyên gia nhận định: “Một nửa Azerbaijan sẽ bị xóa sạch khỏi mặt đất”. Armenia đang đe dọa sẽ sử dụng loại vũ khí này để chống lại Azerbaijan, và Baku cũng đe dọa trả đũa. Iskander có thể được sử dụng cho những mục đích nào và tại sao đây sẽ là một thảm họa thực sự đối với Azerbaijan?

Tại cuộc hội đàm về chiến dịch phản công của Azerbaijan tại Nagorny-Karabakh, Bộ trưởng Quốc phòng Azerbaijan, Thượng tướng Zakir Hasanov đe dọa rằng nếu Armenia sử dụng các tổ hợp tên lửa Iskander để chống lại Azerbaijan, thì Azerbaijan sẽ có những hành động đáp trả tương xứng. Cần lưu ý rằng Armenia đe dọa chỉ sử dụng Iskander nếu Thổ Nhĩ Kỳ, quốc gia đang ủng hộ Azerbaijan, sử dụng máy bay tiêm kích F-16 của mình ở Nagorny-Karabakh.

Baku coi chiến dịch quân sự được khởi động vào tháng 9/2020 là hành động đáp trả cuộc tấn công trước đó của lực lượng Armenia mà đã kết thúc thắng lợi vào tháng 5/1994. Hiện nay, quân đội Azerbaijan đang thắng thế, đặc biệt là ở sườn phía Nam dọc biên giới với Iran – ngay cả Bộ Quốc phòng Armenia cũng phải thừa nhận điều này.

Tuy nhiên, Armenia có thể phá vỡ quá trình tác chiến của đối phương bằng một cuộc phản công ở phía Bắc. Baku xác nhận rằng những cuộc tấn công như vậy đã bắt đầu.

(còn tiếp)

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần VII


Tuy nhiên, hành động ngoại giao của Yerevan đang đặt ra một câu hỏi khác: Israel có vị trí nào trong danh sách các nước đồng minh của Azerbaijan? Tất nhiên, các chuyên gia Israel có một câu trả lời hợp lý. Vấn đề không chỉ là Baku cung cấp cho Tel Aviv 40% lượng dầu mà Israel tiêu thụ. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Israel Avigdor Lieberman giải thích: “Azerbaijan là nơi giao điểm của ba đế chế – Ba Tư, Ottoman và Nga”, và điều quan trọng đối với Israel là “phải có một quốc gia hữu hảo trong khu vực – một nhà nước Hồi giáo hiện đại và thế tục”. Trên thực tế, Azerbaijan có tầm quan trọng chiến lược đối với Israel là do nước này có chung biên giới với Iran – trong đó, đường biên giới năm gần thủ đô và biển Caspi là khu vực dễ bị tấn công nhất của Iran.

Biết rõ những mối quan hệ phức tạp giữa Azerbaijan và Iran (ở Iran, người ta chưa quên việc giới lãnh đạo Azerbaijan đòi thành lập nước Đại Azerbaijan, bao gồm cả Azerbaijan và Iran, và tại Baku, dân chúng vẫn nhớ việc các lãnh tụ tối cao âm mưu truyền bá tư tưởng Hồi giáo đến người dân ở Ngoại Kavkaz), Israel đã trang bị vũ khí cho Azerbaijan để tiến hành cuộc chiến tranh không phải nhằm chống Armenia, mà là chống Iran.

Thậm chí một thời, đã có tin đồn rằng Azerbaijan có thể trở thành một trong những bàn đạp để Mỹ và Israel tiến hành các chiến dịch chống lại Iran. Tất nhiên, Baku phủ nhận tin đồn như vậy, và tuyên bố không can thiệp vào cuộc xung đột giữa Tehran và Tel Aviv. Tuy nhiên, tình hình ở Trung Đông vẫn chưa nóng tới mức để Tổng thống Azerbaijan Ilham Aliyev buộc phải đưa ra lựa chọn cuối cùng giữa một bên là Iran và bên kia là Israel và Mỹ. Iran lúc này cũng chưa vội đưa ra tối hậu thư cho ban lãnh đạo Azerbaijan. Nhiều khả năng Tehran hiện chưa lâm vào tình thế buộc phải biến một quốc gia trung lập ở biên giới của mình thành kẻ thù mới.

Logic “chúng tôi ủng hộ người Azerbaijan chống lại Iran” của Israel gây tranh cãi ở chỗ đối tượng mà nước này ủng hộ trên thực tế không phải là Baku, mà là Ankara, hiện đang là một trong những kẻ thù nguy hiểm của Tel Aviv. Xung đột công khai gần đây nhất giữa hai nước diễn ra hôm 23/9/20 tại Liên hợp quốc. Đại diện của Israel khi đó đã rời khỏi cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc vào lúc Erdogan đang nói về “bàn tay nhơ nhuốc hiện chiếm giữ Jerusalem, nơi có những địa điểm linh thiêng của ba tôn giáo thế giới”. Và những xung đột kiểu này được dự báo sẽ còn xảy ra nhiều trong bối cảnh quan hệ giữa hai nước đang xấu đi.

Một loạt hiệp định hòa bình giữa Israel và các nước vùng Vịnh (bắt đầu với UAE và Bahrain) đang làm trầm trọng thêm quan hệ Palestine – Israel và đưa Tel Aviv xích lại gần các chế độ quân chủ vùng Vịnh. Điều này có nghĩa là nó sẽ làm gia tăng thù hận trong mối quan hệ giữa Israel và Thổ Nhĩ Kỳ. Erdogan sẽ tài trợ cho Hamas, hỗ trợ tinh thần và vật chất cho cuộc kháng chiến của người Palestine. Có khả năng nước này thậm chí sẽ cử đến Palestine một phần đội quân phi chính quy của mình – những phần tử khủng bố Syria đang chiến đấu vì lợi ích của Thổ Nhĩ Kỳ ở Syria, Libya, và hiện giờ tại Karabakh.

Không thể tách rời chính sách đối với Kavkaz khỏi đường lối chung, cũng như đối với toàn bộ khu vực Trung Đông của Erdogan – một con người quyết đoán và hiếu chiến. Chẳng hạn, người Pháp hiểu được điều này, vì thế, hiện nay đang hình thành một chiến tuyến Pháp – Nga, trong đó Paris không bảo vệ Karabakh (với tất cả ảnh hưởng của cộng đồng Armenia ở Pháp), mà bảo vệ Hy Lạp trong các cuộc xung đột của nước này với Thổ Nhĩ Kỳ.

Hình mẫu cuộc chiến tương lai

Những hoạt động quân sự đang diễn ra ở Nagorny-Karabakh khác hẳn với các cuộc đụng độ đã xảy ra trước đó cũng tại đây, nhất là việc sử dụng rộng rãi các máy bay không người lái (UAV). Với sự trợ giúp của UAV, Azerbaijan đang thử nghiệm một mô hình tác chiến hiện đại chống lại Nagorny-Karabakh mà về lâu dài có khả năng thay đổi hoàn toàn cảnh tượng của một trận đánh trên bộ trong tất cả các cuộc chiến tranh trong tương lai.

Azerbaijan báo cáo hàng ngày về việc phá hủy được nhiều khẩu pháo và dàn hỏa tiễn, cũng như các hệ thống phòng không và phương tiện kỹ thuật quân sự khác, đặc biệt là xe tăng. Bộ Quốc phòng Armenia cũng báo cáo về những thắng lợi của họ trên quy mô lớn. Mỗi bên đều đưa ra các báo cáo bằng hình ảnh để khẳng định kết quả tác chiến. Những thông tin như vậy thường được các bên thổi phồng lên. Tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh mà vẫn còn ở quy mô cục bộ này, các UAV rõ ràng có một vai trò đặc biệt. Chính những phương tiện này đang định hình chiến lược và chiến thuật của các hoạt động tác chiến. Một thứ na ná như các cuộc chiến tranh của tương lai với sự tham gia của các phương tiện được điều khiển từ xa đang từng bước được hình thành.

Những phương tiện không cần người điều khiển đang được sử dụng trong hầu hết mọi quân đội trên thế giới. UAV thực hiện các nhiệm vụ trinh sát và tấn công. Phương tiện này có thể mang nhiều loại vũ khí khác nhau hoặc được sử dụng như những tên lửa có điều khiển (hay còn gọi là máy bay không người lái tự sát). Hiệu quả của chúng đã được chứng minh trong cuộc xung đột hiện nay ở Nagorny-Karabakh. Báo cáo bằng video do Azerbaijan phát tán đã cho thấy mức độ hiệu quả của các UAV mà quân đội nước này mua từ Thổ Nhĩ Kỳ và Israel trong việc tấn công xe tăng Armenia.

Armenia có ít báo cáo như vậy, dù rằng họ cũng tích cực sử dụng UAV. Armenia tự chế tạo 90% lượng máy bay không người lái của mình – ngoài máy bay trinh sát hạng nhẹ chiếm ưu thế về số lượng, còn có cả các UAV tấn công như Krunk 25-1 và các biến thể được nâng cấp khác của nó. Các UAV của Armenia có sức tấn công không quá lớn. Tải trọng bom với đương lượng nổ không quá 15-20 kg TNT, và vận tốc tối đa của loại máy bay này đạt chừng 140 km/h. Armenia có vài chục chiến như thế, và về mặt lý thuyết, chúng có khả năng tiêu diệt các phương tiện bọc thép của đối phương. Tuy nhiên, Armenia không thích khoe khoang thắng lợi bằng các UAV, có lẽ vì họ không có quá nhiều thắng lợi như thế. Các chuyên gia quân sự nhận định rằng Armenia tụt hậu đáng kể so với quân đội Azerbaijan về số lượng và chất lượng UAV.

Và trong khi Armenia sử dụng chủ yếu là UAV do họ tự sản xuất, thì quân đội Azerbaijan lại sử dụng phần lớn là các loại Aerostar, Hermes, Heron, Harop… do Israel chế tạo. Ngoài ra, họ còn sử dụng cả UAV tấn công Bayraktar TV2 do Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất. Những máy bay này chỉ hoạt động trong phạm vi 250 km và tải trọng bom cũng không cao lắm – chỉ khoảng 50 kg, tương đương hai tên lửa chống tăng có điều khiển hoặc một lượng nổ phiên bản UAV tự sát, bảo đảm khả năng tiêu diệt một xe tăng.

Một chiếc UAV tấn công Hermes có giá khoảng 20 triệu USD, trong khi một chiếc UAV trinh sát Orbiter 2M, mà Azerbaijan tích cực sử dụng (và thường xuyên bị mất) từ năm 2016, có giá không dưới 600.000 USD. Có tin trong mấy năm qua, Baku đã phải chi 36 triệu USD cho hệ thống quan sát. Trong khi đó, một chiếc xe tăng T-90 của Nga hiện có trong biên chế của cả Armenia và Azerbaijan chỉ có giá 4,5 triệu USD. Do đó, nhiều chuyên gia quân sự cho rằng việc đâm húc kiểu tự sát để tiêu diệt một chiếc xe tăng chắc chắn là điều bất lợi. Trong khi đó, việc sử dụng tên lửa để tấn công mục tiêu sẽ đỡ tốn kém hơn nhiều mà không phải lãng phí một chiếc UAV.

Và việc sử dụng những tên lửa nhiệt áp Heron (mỗi bệ phóng gồm 20 tên lửa) được trang bị hệ thống dẫn đường quang học hoặc radar có lẽ tiết kiệm hơn nhiều. Ngoài ra, một chiếc UAV tự sát chỉ có giá khoảng 100.000 USD và đủ khả năng tiêu diệt một chiếc xe tăng có giá thành cao hơn nó hàng chục lần. Nếu xét về hiệu quả tác chiến, thì đây là một tính toán mang tính thực dụng.

Cuộc chiến giành giật Nagorny-Karabakh đã chứng tỏ hiệu quả của việc sử dụng UAV vốn đã được sử dụng thành công trong cuộc xung đột vũ trang ở Syria và Libya, cũng như tác động của chiến thuật đối với các cuộc chiến tranh.

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

(còn tiếp)

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần VI


Ông nhấn mạnh: “Giả sử Thổ Nhĩ Kỳ tấn công Armenia, thì Nga không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải bảo vệ nước này. Điều này phù hợp với điều lệ CSTO, có nghĩa là bảo vệ tập thể trong trường hợp một nước thành viên bị tấn công. Thế nhưng, Thổ Nhĩ Kỳ không điên rồ tới mức gây chiến trực diện với Nga. Câu hỏi đặt ra lúc này không phải về Armenia, mà là về Karabakh, vốn được coi là một phần lãnh thổ của Azerbaijan.

Theo Lukyanov, xét tới quan điểm rằng Karabakh được quốc tế công nhận là một phần của Azerbaijan nhưng do người Armenia nắm quyền, các hoạt động chiến đấu trên vùng lãnh thổ này dù thế nào đi nữa cũng không thuộc quyền hạn của CSTO. Ông đưa ra kết luận: “Chính Armenia, với lập trường phi logic, cho tới nay vẫn chưa công nhận nền độc lập của Karabakh. Vì lẽ đó, hiện tại, về Karabakh, Nga không phải thực hiện các nghĩa vụ đồng minh trong khuôn khổ CSTO. Chỉ khi xảy ra một cuộc tấn công vào chính Cộng hòa Armenia, thì các nghĩa vụ đồng minh mới có hiệu lực”.

Chuyên gia của Câu lạc bộ đối thoại quốc tế Valdai, giáo sư Đại học Quốc gia St. Petersburg Stanislav Tkachenko nói: “Quả thực là gần đây chính sách đối ngoại của Thổ Nhĩ Kỳ đa phần giống như phân tán lực lượng, mà không được tiếp sức bằng những nguồn lực quan trọng. Nền kinh tế của nước này đang ở trong tình trạng tồi tệ. Tôi cho rằng nếu Erdogan cư xử khiêm tốn và thận trọng hơn, thì đã có thể quản lý nguồn ngân sách hạn hẹp tốt hơn và tránh được những rủi ro đối với hệ thống chính trị của mình”.

Tuy nhiên, nhà Phương Đông học Kirill Semenov cho rằng không nên đổ lỗi cho Erdogan trong việc làm cho cuộc xung đột ở Kavkaz trở nên nghiêm trọng. Aliyev tiếp tục nhiệm kỳ tổng thống của một quốc gia độc lập trong bối cảnh tình hình ngày càng xấu đi. Thế nhưng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi mà Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ Azerbaijan, vì họ là hai nước và hai dân tộc gần gũi với nhau.

Toan tính của những đối tác trong khu vực

Không chỉ Nga, Thổ Nhĩ Kỳ hay các nước Nhóm Minsk, mà còn nhiều quốc gia trong khu vực đang bằng cách này hay cách khác tác động hoặc liên quan trực tiếp đến cuộc xung đột ở Nagrony-Karabakh.

Ukraine lấp lửng trước cuộc xung đột

Ukraine đã ủng hộ Azerbaijan giải quyết cuộc giao tranh khốc liệt ở Nagorny-Karabakh. Trước đó, Kiev từng có lập trường đắn đo hơn và không nghiêng về bên nào trong cuộc xung đột dai dẳng. Quan điểm của Ukraine về Nagorny-Karabakh thể hiện ý muốn đối đầu với Nga.

Ukraine bày tỏ sẵn sàng can thiệp vào tình hình Nagorny-Karabakh, khi chiến sự đột ngột xấu đi trong vòng chưa đầy một tuần lễ. Đại biểu quốc hội thuộc đảng Phụng sự nhân dân Lyudmila Marchenko đã có một phát biểu gây bất ngờ trên một kênh truyền hình Ukraine: “Theo những gì tôi được biết, phía chúng tôi hiện đang hỗ trợ cả trên bình diện pháp lý cũng như về mặt nguồn lực, tức là hỗ trợ nhân đạo. Chúng tôi đang xem xét lập danh sách chính xác những việc cần làm. Ukraine hiện đã sẵn sàng hỗ trợ Azerbaijan trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây là sự hỗ trợ cả về quân sự và nhân đạo”.

Tuy nhiên, ban lãnh đạo đảng này đã phải vội vàng bác bỏ phát biểu này: “Chúng tôi xin thông báo rằng ý kiến cá nhân của các đại biểu không phải là quan điểm chính thức của đảng, chứ chưa nói tới lập trường chính thức của nhà nước”. Ngay cả Volodymyr Zelensky cũng đã đề cập đến chủ đề này trong một buổi họp báo: “Đây không phải là nói về việc Ukraine sẽ cung cấp việc trợ quân sự cho bất kỳ nước nào”. Bộ trưởng Nội vụ Ukraine Arsen Avakov, thậm chí còn thẳng thừng đề nghị Marchenko đi khám bệnh: “Các vị đại biểu quá hoang tưởng nên được điều trị”. Thế nhưng bất chấp những tuyên bố này, thì lập trường thực sự của Ukraine có phần phức tạp hơn.

Tất nhiên, tại Ukraine, Avakov có địa vị còn hơn cả chức Bộ trưởng Nội vụ mà ông đang nắm giữ (chưa kể đến việc ông còn là đại diện nổi tiếng nhất của cộng đồng Armenia ở nước ngoài). Tuy nhiên, không phải ông mà Bộ Ngoại giao mới phụ trách chính sách đối ngoại. Và lập trường của Bộ Ngoại giao lại gần với phát ngôn của Marchenko hơn, với việc Bộ trưởng Ngoại giao Ukraine Dmitry Kuleba tuyên bố hôm 30/9: “Ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia là nguyên tắc bất di bất dịch trong chính sách đối ngoại của Ukraine. Chúng tôi kiên định ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Azerbaijan, cũng như Azerbaijan ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi trong các đường biên giới được quốc tế công nhận và nguyên tắc này vẫn hoàn toàn không thay đổi”.

Trong những năm gần đây, Ukraine coi tình hình Nagorny-Karabakh hiện tại cũng giống như tình hình lúc Nga sáp nhập Crimea. Và họ thậm chí không hề giấu giếm lập trường này. Trước đó, Ukraine từng có một lập trường được cân nhắc thận trọng hơn và không nghiêng hẳn về bên nào trong cuộc xung đột. Tuy nhiên, một trong những hệ quả của cuộc cách mạng cam là khiến Ukraine kiên quyết từ bỏ quy chế không tham gia liên minh nào và nguyên tắc trung lập.

Có hàng loạt lý do khiến Ukraine không muốn can dự vào cuộc xung đột ở Nam Kavkaz. Thứ nhất, can dự trong bối cảnh một thỏa thuận ngừng bắn mong manh ở Donbas là việc làm thiếu khôn ngoan. Hơn nữa, còn chưa đầy một tháng nữa là tới cuộc bầu cử. Ngay cả ở Ukraine người ta cũng hiểu được điều này.

Thứ hai, quân đội Azerbaijan đã bắt đầu đạt được các tiêu chuẩn của NATO từ 13 – 15 năm trước, sớm hơn Ukraine nhiều. Thế nên người ta hoài nghi liệu Ukraine có thể làm được điều gì đó để giúp đỡ Azerbaijan (tất nhiên là, ngoài những lời ủng hộ) hay không.

Azerbaijan là nhà cung cấp dầu thô duy nhất cho Ukraine. Điều này cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh Ukraine ủng hộ phe đối lập Belarus. Vì vậy họ không quá hăng hái trong việc kiềm chế phe hiếu chiến.

Trên thực tế, thái độ của Ukraine đối với Nagorny-Karabakh thể hiện mong muốn chống lại Nga.Ukraine đã ấp ủ mong muốn này suốt 15 năm và một sự trừng phạt nhỏ mang tính tượng trưng đối với đại biểu Lyudmila Marchenko không thể làm thay đổi nó. Bởi vì các bên liên quan khác đã kéo Ukraine vào cuộc xung đột hoàn toàn xa lạ với nước này từ rất lâu trước khi tình hình xấu đi như hiện nay.

Lựa chọn của Israel và sự thận trọng của Iran

Armenia đã có một động thái ngoại giao quyết liệt để phản đối Israel là triệu tập Đại sứ nước này tại Tel Aviv về để tham vấn. Nguyên nhân là Israel đã cung cấp vũ khí cho Azerbaijan, trong đó có các máy bay không người lái, mà mới đây đã tiêu diệt các xe tăng của Amernia tại Karabakh. Tại sao Israel hợp tác với Azerbaijan trong khi chống lưng cho nước này là Thổ Nhĩ Kỳ, vốn là kẻ thù của họ?

Theo những thông tin của báo chí Arab, cuối tháng 9, hai máy bay vận tải quân sự chất đầy vũ khí đã từ Israel tới Azerbaijan. Amernia coi việc công khai cung cấp vũ khí này là một động thái thù địch. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Armenia Anna Naghdalyan tuyên bố: “Thông qua các kênh ngoại giao, chúng tôi đã nhiều lần thông báo việc này với các đồng nghiệp Israel và nhắc nhở rằng điều này thực sự đáng tiếc trong thời điểm Azerbaijan, với sự trợ giúp của Thổ Nhĩ Kỳ, đang tiến hành một cuộc xâm lược quy mô lớn vào Artsakh (cách gọi Nagorny-Karabakh của người Armenia) và Armenia”.

Phản ứng của Armenia có vẻ thái quá. Hợp tác quốc phòng Azerbaijan-Israel không phải mới bắt đầu – nhà nước Do Thái này là một trong năm nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho quân đội Azerbaijan. Tel Aviv báncho Baku các máy bay không người lái, hệ thống tên lửa phóng loạt, súng cối, phương tiện liên lạc và nhiều trang bị kỹ thuật khác trị giá hàng trăm triệu USD. Và Israel có toàn quyền để tiếp tục cung cấp vũ khí – trong lĩnh vực này, họ không vi phạm bất kỳ cam kết nào và không chịu bất cứ hạn chế nào.

Do đó, hành vi xúc phạm Tel Aviv của giới chức Yerevan cùng lắm thì được xem là một đòi hỏi vô căn cứ, và trong trường hợp xấu nhất bị coi là hành động cố ý phá hoại các mối quan hệ song phương, mà hai bên đã phải mất rất nhiều năm để bình thường hóa.

(còn tiếp)

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.

Chiến sự Nagorny-Karabakh: Bài học đối với Nga và khu vực – Phần V


Ilham Aliyev nói: “Thành phần của nhóm tiếp xúc mới hay nhóm công tác phải thể hiện cán cân sức mạnh hiện nay trong khu vực, cũng như lợi ích của các quốc gia thuộc khu vực này và phải hướng tới kết quả. Vì thế, điều không thể nghi ngờ là Thổ Nhĩ Kỳ cần và sẽ đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết cuộc xung đột dù về mặt pháp lý hay hỗ trợ chiến đấu trên thực địa”.

Tuy nhiên, đối với Moskva (cũng như với Tehran coi việc Thổ Nhĩ Kỳ mạnh lên trong khu vực là mối đe dọa với an ninh quốc gia) thì đây không phải là vấn đề mang tính kỹ thuật hay pháp lý mà là một vấn đề chính trị.

Và nếu Iran không dám mạnh tay do sự hiện diện một cộng đồng người Azerbaijan lớn tại nước này, thì không quốc gia nào có thể ngăn cản Moskva trừng phạt Erdogan do nỗ lực công khai làm bẽ mặt Bộ Ngoại giao Nga. Bởi vì nếu không làm như vậy thì sẽ có ai đó không tôn trọng phát ngôn của Sergei Lavrov.

Chuyên gia Vladimir Avatkov cho rằng Moskva có nhiều phương án trừng phạt tham vọng của Ankara, từ việc tiêu diệt nhóm chiến binh người Syria tiến và Karabakh dưới sự bảo trợ của Thổ Nhĩ Kỳ, tới việc hỗ trợ một cuộc tấn công quy mô lớn của quân đội Syria ở Idlib nhằm giải phóng hoàn toàn vùng lãnh thổ này khỏi binh lính và những lợi ích của Thổ Nhĩ Kỳ. Chuyên gia người Nga này kết luận: “Nếu Erdogan đi quá xa, thì cần phải nói chuyện với ông theo truye62n thống chính trị phương Tây. Có nghĩa là bằng vũ lực”.

Ý đồ thực sự sau những tuyên bố mạnh bạo của Thổ Nhĩ Kỳ

Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu tuyên bố rằng Ankara sẵn sàng giải quyết vấn đề Nagorny-Karabakh “một cách triệt để” và trợ giúp Azerbaijan không chỉ trên bàn đàm phán mà cả trên chiến trường. Trước đó tại Armenia, người ta đã nói về việc lính đánh thuê Thổ Nhĩ Kỳ đang chiến đấu vì Azerbaijan, nhưng thông tin này đãbị phía Azerbaijan phủ nhận hoàn toàn. Cavusoglu nói: “Chúng tôi từng luôn sát cánh bên Azerbaija – cả trên chiến trường, cũng như trên bàn đàm phán. Và giờ đây sẽ vẫn tiếp nối tình đoàn kết này”.

Mevlut Cavusoglu coi âm mưu đánh đồng Azerbaijan với Armenia trong cuộc xung đột này là sai lầm. Ông lý giải: “Chúng tôi muốn nói với toàn thế giới là Azerbaijan và Armenia không giống nhau. Chúng tôi có thể ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và Gruzia nhưng không thể chấp nhận được việc đánh đồng Azerbaijan với Armenia, quốc gia đã chiếm giữ các vùng đất của người Azerbaijan”.

Về phần mình, Phó Chủ tịch đảng Công lý và phát triển cầm quyền Thổ Nhĩ Kỳ Numan Kurtulmush đã tới thăm phái đoàn ngoại giao Azerbaijan tại Ankara. Sau đó, ông cáo buộc Armenia đã có những hành động khiêu khích. Ông nói: “Chúng tôi coi các cuộc tấn công vào Azerbaijan là tấn công vào Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng tôi sẽ nỗ lực hết sức để giúp đỡ nước Azerbaijan anh em. Cuối cùng, họ sẽ giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh của mình”.

Điện Kremlin ngay lập tức phản ứng trước những lời tuyên bố này. Thư ký báo chí của Tổng thống Nga Dmitry Peskov đã gọi những tuyên bố về việc hỗ trợ quân sự cho Armenia hay Azerbaijan là “đổ thêm dầu vào lửa” trong xung đột giữa hai nước. Ông nhấn mạnh Moskva đang theo dõi sát sao các diễn biến tại Nagorny-Karabakh để xác định những bước đi tiếp theo.

Phó Chủ tịch Ủy ban các vấn đề quốc tế của Hội đồng liên bang Nga Andrei Klimov không bất ngờ trước tuyên bố của Thổ Nhĩ Kỳ. Klimov nói với phóng viên tờ Vzglyad: “Đây không phải là lần đầu tiên Ankara nhấn mạnh rằng họ là một cường quốc khu vực có vị thế vững chắc. Ankara ngay lập tức làm cho Baku hiểu rằng Azerbaijan có thể tin tưởng vào thiện chí của Thổ Nhĩ Kỳ”.

Andrei Klimov gọi cuộc đối đầu ở Karabakh là “cuộc chiến cân não với một số đối thủ” và kêu gọi không nên phản ứng trước những phát ngôn mang tính khiêu khích. Ngoài ra, ông còn nói về các tài liệu được chuẩn bị tại Mỹ năm 2019 liên quan tới việc lợi dụng tinh hình ở Kavkaz để “làm khuynh đảo nước Nga”. Ông nhấn mạnh: “Cuộc xung đột này càng sớm được chuyển sang bình diện chính trị và pháp lý càng tốt. Đây là lập trường mà ban lãnh đạo Nga đã nhiều lần nêu rõ”.

Giới chuyên gia nghiên cứu cho rằng nếu cuộc xung đột tại Karabakh tiếp tục nghiêm trọng thêm, thì điều này có thể có tác động trực tiếp đến Nga. Theo chuyên gia quân sự Konstantin Sivkov, Armenia là tiền đồn chiến lược phía Nam của Nga và nếu đánh mất, thì Moskva sẽ gặp khó khăn ở Bắc Kavkaz. Theo ông, Thổ Nhĩ Kỳ đã sẵn sàng, ở mức tối thiểu là cung cấp cho người Azerbaijan vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, chuyên gia và một bộ phận hạn chế lực lượng đặc nhiệm, và ở mức tối đa là tiến công vào Armenia.

Đồng thời, Konstantin Sivkov cũng chỉ ra rằng Ngsa có thừa năng lực để nhanh chóng đáp trả hành động khiêu khích quân sự của Thổ Nhĩ Kỳ trong khu vực. Tiềm năng tên lửa hạt nhân của nước này sẽ “làm nguội những cái đầu nóng” không chỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn cả ở Mỹ. Ông nói: “Để làm nguội những cái đầu nóng ở Thổ Nhĩ Kỳ, ban lãnh đạo Nga cần phải đưa ra tuyên bố cứng rắn kèm theo một cuộc biểu dương sức mạnh, như tiến hành tập trận chung Nga – Armenia tại khu vực căn cứ quân sự Gyumri. Nếu phát hiện có máy bay hoặc máy bay không người lái của Thổ Nhĩ Kỳ trong số vũ khí của Azerbaijan, chúng ta sẽ phải cung cấp cho Armenia và Nagorny-Karabakh các hệ thống vũ khí hiện đại đủ khả năng vô hiệu hóa chúng để tỏ rõ thái độ”.

Phó Giáo sư khoa Chính trị và xã hội học thuộc Đại học kinh tế Nga Alexander Perendzhiev cho rằng Thổ Nhĩ Kỳ hiện chỉ mới tới giới hạn ở những tuyên bố lớn tiếng về việc giúp đỡ Azerbaijan. Hiện tại, trong quân đội Azerbaijan đang có những cố vấn quân sự Thổ Nhĩ Kỳ và đã có những thông tin về sự hiện diện của lực lượng đặc nhiệm Thổ Nhĩ Kỳ. Perendzhiev lập luận: “Nhưng nếu Thổ Nhĩ Kỳ thực sự muốn giúp Azerbaijan trên chiến trường, thì họ đã phải bắt đầu các hoạt động quy mô lớn, hoặc bất ngờ tiến công Armenia mà không cần bất cứ lời lẽ đao to búa lớn nào”. Theo ông, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đang thăm dò tình hình và chờ đợi phản ứng của Armenia, Nga, Iran, cũng như Mỹ và các đồng minh NATO.

Tuy nhiên, có một căn cứ quân sự Nga ở Gyumri của Armenia đồng nghĩa với việc giảm thiểu khả năng Thổ Nhĩ Kỳ tiến công vào Armenia. Thậm chí nếu Ankara đưa quân sang để giúp Azerbaijan, thì về pháp lý các hoạt động chiến đấu sẽ được tiến hành trên lãnh thổ Azerbaijan, bởi vì Cộng hòa Nagorny-Karabakh đã và vẫn đang chưa được Armenia công nhận là một quốc gia. Perendzhiev nói: “Chỉ khi các hoạt động chiến đấu dịch chuyển sang lãnh thổ Armenia, thì Nga và các đối tác trong Tổ chức hiệp ước an ninh tập thể mới phải bảo vệ nước này. Tuy nhiên, hiện tại các hoạt động chiến đấu đang diễn ra trên lãnh thổ của 5 khu vực thuộc cái gọi là vành đai an ninh”. Ở đây đang nói đến những khu vực lãnh thổ xung quanh vùng tự trị Nagorny-Karabakh trước đây bị Armenia chiếm giữ sau khi kết thúc “giai đoạn nóng” của cuộc xung đột 1992 – 1994. Theo Perendzhiev, nếu quân đội Azerbaijan chiếm được hai khu vực thuộc vành đai an ninh là Lachinsky và Kelbajarsky, nằm ở giữa Armenia và Nagorny-Karabakh, thì đó là mối đe dọa đối với Armenia.

Chủ tịch Ủy ban Chính sách đối ngoại và Quốc phòng, Giám đốc khoa học của Câu lạc bộ đối thoại quốc tế Valdai Fyodor Lukyanov nghi ngờ tuyên bố của Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Cavusoglu ám chỉ khả năng Ankara đe dọa tấn công quân sự vào Armenia. Lukyanov gọi một kịch bản như vậy với sự tham gia của một thành viên NATO là “một ý tưởng ngông cuồng”. Ông nói: “Tôi tin chắc rằng sẽ không ai trong ban lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ quyết định tấn công Armenia. Họ có lẽ chỉ nhằm mục đích làm căng thẳng thêm tình hình. Về độ nóng, cuộc xung đột hiện nay không giống với ngay cả những gì chúng ta đã thấy trước đây. Mâu thuẫn hiện đang được đẩy lên cao, và Thổ Nhĩ Kỳ đang trực tiếp can dự vào quá trình này”.

Theo ông, lần này Thổ Nhĩ Kỳ quyết định không khoanh tay đứng nhìn, mà công khai ủng hộ Azerbaijan, rõ ràng đây là một chính sách có chủ ý. Về phần mình, Nga có nghĩa vụ bảo vệ Armenia với tư cách là một đối tác trong CSTO, nhưng cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có cuộc thảo luận nào về việc này.

(còn tiếp)

Nguồn: Tổng hợp báo chí Nga

CVĐQT số 10/2020.