Quan hệ NATO-Nga: Đã đến lúc đình chỉ Đạo luật sáng lập


Theo thehill.com trong giai đoạn sự kỳ vọng lớn hơn đối với Nga suy giảm do những bất ổn, cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tìm cách mở rộng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa liên minh này với Moskva. “Đạo luật Sáng lập về các quan hệ, hợp tác và an ninh giữa NATO với Liên bang Nga” được thông qua năm 1997 đã chính thức hóa mối quan hệ NATO-Nga và trong đó bao gồm những đảm bảo an ninh cho Moskva.

Mặc dù Đạo luật sáng lập đã tạo ra những kết quả hữu hình trong những năm đầu, nhưng giờ đây châu Âu lại đang phải đối mặt với một nước Nga hiếu chiến và theo chủ nghĩa xét lại. Hành động của Tổng thống Nga Vladimir Putin đã phá hủy cơ sở cho sự hợp tác. NATO nên đình chỉ đạo luật sáng lập này và đặc biệt là chấm dứt sự bảo đảm liên quan đến sự đồn trú của các lực lượng thông thường trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên mới.

Các nhà lãnh đạo của NATO và Nga đã gặp nhau vào tháng 5/1997 – hai tháng sau trước khi liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương thông báo mở rộng lần đầu tiên sau Chiến tranh Lạnh bằng việc kết nạp các thành viên mới gồm Ba Lan, Hungary và Cộng hòa Czech – và ký kết Đạo luật sáng lập. Văn kiện này đặt ra các mục tiêu và nguyên tắc “tham vấn, hợp tác, ra quyết định chung và hành động chung” giữa NATO và Nga. Khuôn khổ đầy tham vọng của đạo luật này phản ánh một tầm nhìn chung rằng NATO và Nga có thể cùng hợp tác “để xây dựng một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt, toàn vẹn và tự do”, xây dựng thói quen hợp tác, làm giảm bớt lo ngại của Moskva về tác động về mặt quân sự của việc mở rộng NATO.

Đạo luật sáng lập có 2 đảm bảo chính cho thấy sự mở rộng của NATO không gây ra mối đe dọa quân sự nào đối với Nga. Thứ nhất, các quốc gia thành viên NATO nhắc lại rằng họ “không có ý định, không có kế hoạch và không có lý do gì để triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ của các nước thành viên mới” (được gọi là nguyên tắc “Ba không”). Thứ hai, NATO tuyên bố rằng “trong môi trường an ninh hiện tại và trong tương lai gần”, lực lượng phòng thủ của NATO không yêu cầu “triển khai thường trực các lực lượng chiến đấu” ở các quốc gia thành viên mới. Nga cam kết thực hiện các biện pháp kiềm chế tương tự.

Thật không may, môi trường an ninh châu Âu đã không phát triển như các nhà lãnh đạo NATO hy vọng. Phương Tây không phải không có lỗi, nhưng phần lớn trách nhiệm làm cho tình trạng xấu đi này thuộc về Putin và Điện Kremlin. Nga đã liên tiếp thể hiện một loạt hành động hung hăng, bao gồm thúc đẩy chương trình hiện đại hóa quân sự quy mô lớn, tiến hành các cuộc tấn công mạng, các chiến dịch thông tin sai lệch và có lập trường ngày càng thù địch đối với phương Tây. Năm 2014, Moskva đã vi phạm các cam kết trong Hiệp ước Helsinki 1975 và Đạo luật sáng lập khi chiếm giữ Crimea một cách bất hợp pháp và làm gia tăng xung đột ở miền Đông Ukraine. Tháng 2 vừa qua, Nga tái xâm lược Ukraine trên nhiều mặt trận, khơi mào cuộc chiến lớn nhất mà châu Âu từng chứng kiến kể từ Chiến tranh Thế giới thứ hai. Các hành động của Nga đã vi phạm các cam kết trong Đạo luật sáng lập và phớt lờ các mục tiêu và nguyên tắc đã thống nhất cách đây 25 năm.

Các nhà lãnh đạo NATO sẽ nhóm họp tại Madrid vào ngày 29 – 30/6 để thông qua chiến lược mới của liên minh và các biện pháp nhằm củng cố thế trận phòng thủ và răn đe của NATO trước cuộc chiến của Nga chống Ukraine. Liên minh có thể tiếp tục tuân thủ nguyên tắc “Ba không” để ngăn chặn các mối đe dọa hạt nhân từ Nga. Tuy nhiên, NATO nên từ bỏ cam kết hạn chế đóng quân thường trực bổ sung cho các lực lượng tác chiến. Từ năm 1997 đến năm 2014, NATO không triển khai quân đồn trú tại các quốc gia thành viên mới. Mỹ đã rút bớt lực lượng của họ ở châu Âu và từ năm 2013, nước này không còn xe tăng đóng thường trực ở châu lục này.

Sau các cuộc tấn công đầu tiên của Nga vào Ukraine hồi năm 2014, NATO đã triển khai luân phiên các nhóm chiến đấu cỡ tiểu đoàn ở các quốc gia Baltic và Ba Lan, và Mỹ đã đưa một lữ đoàn thiết giáp đến Ba Lan trên cơ sở luân phiên. Năm nay, khi Nga chuẩn bị và bắt đầu mở chiến dịch quân sự vào Ukraine, NATO đã tạm thời bố trí các lực lượng bổ sung ở sườn phía Đông của họ, bao gồm các đội quân chiến đấu luân phiên mới ở Romania, Bulgaria, Hungary và Slovakia, nhằm ngăn chặn cuộc xâm lược của Nga có thể lan sang lãnh thổ NATO.

Bất kể cuộc chiến Nga – Ukraine kết thúc như thế nào, các quốc gia thành viên NATO phải chấp nhận rằng họ sẽ phải đối mặt với mối đe dọa quân sự lâu dài từ phía Đông. Để đảm bảo rằng Điện Kremlin không cố chống lại một quốc gia thành viên NATO, liên minh phải triển khai các lực lượng chiến đấu thường trực mạnh mẽ hơn ở Estonia, Latvia, Litva, Ba Lan và Romania. Để ngăn chặn nước Nga ngày nay, các lực lượng này không chỉ đóng vai trò như tuyến phòng thủ đầu tiên mà còn nhiều hơn thế, và có đủ khả năng trên bộ và trên không để ngăn chặn các lực lượng tấn công cho đến khi quân tiếp viện của Đồng minh tới. Tất nhiên, Moskva sẽ không thích điều đó, nhưng NATO không còn lý do gì để phải tính đến các phản đối của Điện Kremlin một cách nghiêm túc.

Đạo luật sáng lập là cơ hội để xây dựng một châu Âu mới bằng cách thiết lập các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa Nga và NATO. Thật không may, điều đó đã không thành công. Việc đình chỉ đạo luật sẽ để ngỏ khả năng nó có thể được khôi phục trong tương lai, khi Nga tiếp tục tuân thủ các nguyên tắc của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Tuy nhiên, việc đó chỉ có thể xảy ra sau khi Putin rời nhiệm sở và một thế hệ lãnh đạo mới của Nga chứng minh rằng nước Nga một lần nữa chia sẻ mục tiêu về một châu Âu ổn định, hòa bình và không bị chia cắt.

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Mối đe dọa hạt nhân từ Nga – Phần cuối


Kho vũ khí hạt nhân của Nga như thế nào?

Theo số liệu của tạp chí khoa học hạt nhân của Mỹ, Bulletin of the Atomic Sciences (PDF), Nga có kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, với hơn 500 vũ khí chiến lược có thể mang tổng cộng hơn 2500 đầu đạn hạt nhân, hơn 1900 vũ khí hạt nhân chiến thuật.

Một số vũ khí nói trên là tên lửa có thể được phóng từ hầm, một số khác có thể được phóng từ bệ phóng di động, tàu ngầm hoặc máy bay. Ông Héloïse Fayet cho biết: “Nga đã đầu tư rất nhiều để hiện đại hóa kho vũ khí này, đôi khi gây ảnh hưởng đến ngân sách còn lại của quân đội”. Trong khi chờ đợi các tên lửa Sarmat được triển khai, Nga đã có tên lửa chiến lược có khả năng tấn công ở khoảng cách 16000 km nếu được phóng từ mặt đất và hơn 9000 km nếu được phóng từ tàu ngầm, với sức công phá vài trăm kiloton (bom A mà Mỹ thả xuống Hiroshima, Nhật Bản có sức công phá 15 kiloton).

Vũ khí chiến thuật có tầm bắn kém hơn, nhưng theo Nga, tên lửa Iskander có thể tấn công từ khoảng cách 500 km và tên lửa Kinjal mới, 2000 km. Đa phần những loại vũ khí này có thể được sử dụng với đầu đạn thường hoặc với đầu đạn hạt nhân và sức công phá có thể điều chỉnh được, chẳng hạn từ 10 lên thành 100 kiloton đối với tên lửa Iskander.

Nước nào dễ thành mục tiêu của Nga nhất?

Giới quan sát thường hình dung Nga sử dụng vũ khí chiến thuật nhiều hơn là vũ khí chiến lược. Về mặt kỹ thuật, những vũ khí này vẫn có thể có tầm bắn đến tận các thành phố như Berlin, nhưng đối với ông Héloïse Fayet, “điều này không có nghĩa lý gì”, bởi các cuộc tấn công chiến thuật là nhằm giúp quân đội giành thắng lợi trên chiến trường.

Điện Kremlin chưa bao giờ tiết lộ các mục tiêu mà họ nhắm tới, nhưng nhà nghiên cứu của IFRI nêu lên 3 kịch bản dễ xảy ra hơn so với việc phá hủy thủ đô của một nước phương Tây: “Một cuộc tấn công nhằm vào đoàn vận chuyển vũ khí hạng nặng của NATO tại Ukraine; cuộc tấn công nhằm vào một mục tiêu dân sự ở Ukraine để làm cư dân hoảng sợ, hoặc tấn công vào địa điểm ảnh hưởng tới hiệu quả răn đe của NATO tại một quốc gia thành viên”. Đây chỉ là những kịch bản “mang tính giả định cực kỳ cao” và mang lại nhiều rủi ro cho Moskva nếu xảy ra.

Đâu là những thiệt hại và hậu quả của một cuộc tấn công như vậy?

Các mô hình như NukeMap và Outrider, được các chuyên gia coi là nghiêm túc, giúp chúng ta có thể hình dung các hiệu ứng. Tại một thành phố lớn, vũ khí chiến lược mạnh nhất có thể làm cho hàng triệu người thiệt mạng, còn vũ khí chiến thuật có thể giết chết hàng trăm nghìn người.

Emmanuelle Galichet, phụ trách giảng dạy ngành kỹ thuật hạt nhân tại Cnam, cho biết, vụ nổ vũ khí hạt nhân trước hết gây ra một quả cầu lửa, sau đó là một làn sóng áp lực mạnh. Xung quanh điểm bom nổ, sức nóng có thể lên tới hơn 5000 oC “và gây cháy khắp nơi”. Bụi phóng xạ nguy hiểm nhưng không phải là nguyên nhân chính gây tử vong. Chuyên gia Nicolas Foray cũng nói nguy cơ nhiễm phóng xạ không cao như khi xảy ra tai nạn trong một nhà máy điện hạt nhân, nơi chứa nhiều nhiên liệu hơn. Cả hai nhà khoa học đều đồng ý rằng cuộc tấn công hạt nhân sát thương cao của Nga vào một nơi nào đó sẽ không khiến nơi này trở thành khu vực không thể sinh sống được trong thời gian dài và sẽ không gây ra nhiều nguy cơ lớn đối với sức khỏe người dân ở những nơi còn lại của châu Âu.

Các nước phương Tây sẽ phản ứng ra sao?

Theo nhà nghiên cứu Héloïse Fayet, tất cả đều sẽ phụ thuộc vào mục tiêu bị Nga tấn công vì Ukraine không phải là thành viên của NATO, nếu nước này bị tấn công hạt nhân, Liên minh Bắc Đại Tây Dương sẽ không có “lý do chính thức để đáp trả”. Tuy nhiên, nếu bom hạt nhân của Nga bắn vào một quốc gia thành viên, khối NATO có thể viện dẫn điều 5 của Hiệp ước Liên minh. Mỗi thành viên của NATO sau đó có nghĩa vụ tham gia đáp trả.

Nhà nghiên cứu của IFRI giải thích: “Không có cơ chế đáp trả tự động nào” quyết định phản ứng của NATO, không nhất thiết là Liên minh tấn công hạt nhân đáp trả. Trên tạp chí Bulletin of the Atomic Sciences, chuyên gia Jeffrey Emonds của Mỹ thậm chí còn coi lựa chọn này là không tưởng: tấn công quân Nga ở Ukraine sẽ gây nguy hiểm cho lãnh thổ mà quân Nga đang tìm cách chiếm giữ, còn tấn công vào lãnh thổ Nga sẽ gây ra xung đột hạt nhân với Moskva. Theo Jeffrey Emonds, một cuộc tấn công đáp trả Nga bằng vũ khí thông thường dễ làm giảm nguy cơ leo thang hơn, nhưng loại trừ hoàn toàn được nguy cơ này.

Phương Tây có lẽ sẽ không phải là những nước duy nhất đáp trả. Chuyên gia Mỹ Max Bergmann, cố vấn của cựu Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, khi trả lời phỏng vấn L’Express, cho rằng “Nga lập tức sẽ trở thành một Triều Tiên thứ hai, một nước bị toàn thế giới lên án, kể cả một số đồng minh”, đặc biệt là Trung Quốc, nước mà theo giải thích của Heather Williams, nhà nghiên cứu tại King’s College London “học thuyết hạt nhân trước hết là không sử dụng”.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Mối đe dọa hạt nhân từ Nga – Phần đầu


Theo đài RFI, những phát biểu mang tính đe dọa hạt nhân của Moskva có lẽ vừa là tuyên truyền, vừa nhằm làm phương Tây e sợ, ngăn cản châu Âu và Mỹ hậu thuẫn quá nhiều cho Ukraine. Tuy nhiên, giả thuyết về một cuộc tấn công bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật, có sức công phá nhỏ hơn, không phải là hoàn toàn không thể xảy ra và gây ra hậu quả nghiêm trọng. “Bóng ma” hạt nhân của Nga vẫn bao phủ.

Trang France Info ngày 24/5 giải thích về nguồn lực nguyên tử của Nga, nguy cơ và hậu quả nếu Putin cho sử dụng vũ khí hạt nhân.

Những phát biểu của Nga về vũ khí hạt nhân?

Moskva không đợi đến khi xâm lược Ukraine mới khoe kho vũ khí hạt nhân. Ngày 7/2, sau cuộc gặp với người đồng nhiệm Pháp Macron tại Điện Kremlin, Tổng thống Nga Putin cho rằng: “Không thể so sánh sức mạnh của NATO và Nga nhưng Nga có vũ khí hạt nhân”. Chủ đề vũ khí hạt nhân lại được nhắc lại ngày 27/2, 3 ngày sau khi Moskva bắt đầu cuộc chiến xâm lược Ukraine: Putin yêu cầu đặt các lực lượng răn đe của Nga trong tình trạng báo động, trong đó có kho vũ khí hạt nhân. Vài tuần sau, quân đội Nga lần đầu tiên sử dụng tên lửa siêu thanh Kinjal, rồi thử nghiệm tên lửa liên lục địa Sarmat, hai loại tên lửa có thể mang đầu đạn hạt nhân.

Kể từ đó, Nga thường chọn lối nói không rõ ràng. Ngày 24/5, Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov tuyên bố “nguy cơ là có thật”, vừa cảnh báo, vừa bảo đảm Nga muốn tránh viễn cảnh chiến tranh hạt nhân. Cựu Tổng thống Dmitry Medvedev trên mạng Telegram ngày 12/5 khẳng định, sự trợ giúp của phương Tây đối với Ukraine “làm tăng khả năng xảy ra xung đột trực tiếp và mở giữa NATO và Nga”, rằng một cuộc xung đột như vậy “luôn có nguy cơ biến thành một cuộc chiến tranh hạt nhân” và đó sẽ là “một kịch bản thảm khốc cho tất cả mọi người”.

Có lý do gì để tin rằng Nga có thể sử dụng vũ khí hạt nhân?

Việc Moskva nhắc nhở về kho vũ khí hạt nhân của Nga không khiến nhà nghiên cứu Héloïse Fayet lo ngại. Điều phối viên chương trình Răn đe và Phổ biến, tại Viện quan hệ quốc tế Pháp (IFRI), giải thích với France Info: “Giả thuyết về việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược chỉ là con số 0 hoặc gần như bằng 0” bởi “Nga sẽ phải đối diện với sự tự hủy diệt” nếu cuộc chiến tranh hạt nhân đó nổ ra. Ngay cả khi cuộc xâm lược Ukraine cho thấy Vladimir Putin có thể gây bất ngờ, nhà nghiên cứu Héloïse Fayet cũng không tin rằng ông ta đã hoàn toàn mất minh mẫn, sáng suốt và Putin không thể tự quyết một hành động nghiêm trọng như vậy mà sẽ phải thảo luận với tổng tư lệnh quân đội và Bộ trưởng Quốc phòng.

Giống như các cường quốc hạt nhân khác, nước Nga cũng có học thuyết hạt nhân, văn bản nêu rõ các trường hợp Nga có thể sử dụng kho vũ khí hạt nhân. Theo giải thích của chuyên gia Héloïse Fayet, chúng ta có thể dựa vào học thuyết này, bởi vì một trong những nguyên tắc chính của việc răn đe hạt nhân là xác định rõ ràng những lằn ranh đỏ để giảm nguy cơ hiểu lầm dẫn đến xung đột. Phiên bản mới nhất của học thuyết răn đe hạt nhân của Nga, có từ năm 2020, quy định việc sử dụng vũ khí hạt nhân chỉ được sử dụng khi Nga thành mục tiêu nhắm bắn trong một vụ tấn công hạt nhân bằng tên lửa đạn đạo hoặc một địa điểm hạt nhân của Liên bang Nga”. Trường hợp cuối cùng kể trên là rất mơ hồ và mơ hồ cũng là một phần của sự răn đe, nhưng dường như cũng không liên quan tới khả năng quân Nga thất bại ở Ukraine.

Tuy nhiên, sĩ quan dự bị hải quân Jean-Sylvestre Mongrenier trong một diễn đàn của Viện Thomas-More… đã nêu câu hỏi: “Các văn bản học thuyết được Nga công bố có nói hết về học thuyết hạt nhân không?”. Sĩ quan này nhắc lại cuộc tranh lậun giữa các chuyên gia về khả năng Nga đang xem xét một “biện pháp giảm leo thang căng thẳng bằng cách gây leo thang căng thẳng”: Chủ động tấn công hạt nhân để đối phó với nguy cơ thất bại trên chiến trường. Lãnh đạo CIA Mỹ, William Burns, ngày 14/4, kêu gọi “không xem nhẹ” kịch bản này nếu Vladimir Putin “chìm trong nỗi tuyệt vọng” về thất bại của quân đội Nga.

Thế nhưng, Jean-Sylvestre Mongrenier vẫn nghĩ rằng nếu xảy ra, cuộc tấn công này cũng chỉ liên quan đến vũ khí hạt nhân chiến thuật hoặc năng lượng hạt nhân được giải phóng thấp. Trên thực tế, có hai loại vũ khí. Vũ khí chiến lược có thể tấn công phần lớn địa cầu nên là hữu ích nhất để răn đe. Vũ khí chiến thuật có tầm bắn ngắn hơn và uy lực kém hơn. Nhà nghiên cứu Héloïse Fayet giải thích: “Những vũ khí này thường được thiết kế để giành chiến thắng trong một trận chiến hoặc tạo ra hiệu ứng chiến thuật”. Ngoài sức mạnh hủy diệt đáng kể, “chúng còn có tác dụng báo hiệu, cho thấy đã sẵn sàng để tiến xa chừng đó”. Đối với nhà nghiên cứu của IFRI, nguy cơ Nga vượt ngưỡng này vẫn chỉ ở mức “cực kỳ thấp, nhưng không phải là không có”.

Nga đe dọa nhằm mục đích gì?

Nhìn lại lịch sử, một nước dùng răn đe hạt nhân ngăn chặn cuộc tấn công vào lãnh thổ của mình, bởi nguy cơ tấn công đáp trả mang tính tàn phá nặng nề. Tuy nhiên, ở Ukraine, chính Nga mới là nước đang tấn công và dùng mối đe dọa hạt nhân để ngăn cản phần còn lại của thế giới trợ giúp Kiev. Jean-Sylvestre Mongrenier tóm tắt: “Vũ khí hạt nhân được sử dụng như một công cụ trấn áp, thậm chí là cưỡng ép”.

Trả lời phỏng vấn của tờ L’Express cuối tháng 4, Olivier Schmitt, Giám đốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu cao cấp về quốc phòng, phân tích rằng trên hết, Moskva tìm cách “ngăn chặn việc giao vũ khí, vốn dĩ làm thay đổi đáng kể cán cân lực lượng ngoài mặt trận… Mục tiêu là gây áp lực đối với các nhà lãnh đạo phương Tây thông qua việc làm tăng dư luận về nguy cơ leo thang hạt nhân”. Tuy nhiên, Moskva không mấy thành công dù khiến công chúng lo lắng, nhưng đã không làm suy yếu sự ủng hộ của phương Tây đối với Ukraine, dù phương Tây tránh đi vào xung đột trực tiếp với Nga.

Đối với chuyên gia Héloïse Fayet, những tuyên bố của Nga cũng thừa nhận sự yếu kém: “Vladimir Putin dường như không thể gây ra bất kỳ mối đe dọa nào khác ngoài điều đó, bởi quân đội của Putin không hùng mạnh như ông ta nghĩ”, bằng việc nêu bật sức mạnh của kho vũ khí hạt nhân, Putin muốn “nâng cao tinh thần ở Nga” và đánh lạc hướng dư luận khỏi những khó khăn quân đội gặp phải.

(còn tiếp)

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần cuối


Năm 1944 Tổng tư lệnh tối cao V.I. Stalin đề xuất một quan điểm mới về việc tiến hành cuộc chiến tranh chống quân đội phát xít Đức trên một địa bàn rộng lớn – từ Barensev đến Hắc Hải – đó là giáng một loạt gồm 10 đòn đột kích chiến lược liên tục làm cho đối phương mất khả năng cơ động và kháng cự. Mười đòn đột kích này của Hồng quân đã vĩnh viễn đi vào lịch sử như mười đòn chí tử của Stalin giáng xuống kẻ thù.

Nhận xét về phạm vi hoạt động rộng lớn và đa dạng của Tổng tư lệnh tối cao V.I. Stalin, nguyên soái G.K. Zhukov viết:

“Trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang nói chung, V.I Stain được sự hỗ trợ của trí thông minh bẩm sinh của ông, trực giác phong phú, kinh nghiệm của việc chỉ đạo chính trị, năng khiếu chiến lược. Chiến lược gần gũi với lĩnh vực chính trị quen thuộc của ông, và những vấn đề chiến lược càng có mối liên hệ trực tiếp với những vấn đề chính trị thì ông càng cảm thấy tự tin ở chúng. Trí thông minh và tài năng của ông cho phép ông trong quá trình diễn biến của chiến cuộc nẵm vững nghệ thuật tác chiến đến mức khi triệu tập các tư lệnh phương diện quân đến chỗ mình và trong khi đàm đạo với họ về những vấn đề có liên quan đến việc mở các chiến dịch, ông bộc lộ mình như một người nắm vững công việc ấy không thua kém gì mà đôi khi còn thành thạo hơn những cán bộ cấp dưới của ông. Hơn nữa, trong một số trường hợp, ông đã tìm ra và gợi ý những cách giải quyết rất hay, rất linh hoạt.

…Uy tín của ông hết sức lớn và bởi vậy, việc bổ nhiệm Stalin làm Tổng tư lệnh tối cao được nhân dân và quân đội rất đồng tình… Rõ ràng ông là vị Tổng tư lệnh tối cao rất xứng đáng” (G.K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ, M.1990, T2, tr.109).

Đô đốc hải quân N.G. Kuznesov nhấn mạnh rằng tất cả các nguyên soái và tướng lĩnh đều tán đồng với cách đánh giá như vậy về Stalin. Vốn là những nhà hoạt động quân sự lỗi lạc, họ thừa nhận uy tín của Stalin không chỉ vì ông là người đứng đầu chính phủ Liên Xô, là nhà lãnh đạo của đảng Bolshevic và trong thời chiến còn là Chủ tịch Hội đồng quốc phòng nhà nước, Chủ nhiệm Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao và Tổng tư lệnh tối cao, đứng đầu Bộ dân ủy quốc phòng, mà trước hết và chủ yếu là vì họ đã nhìn thấy và đánh giá cao ở ông ý chí sắt thép và bản lĩnh kiên định, trí lực cao siêu và sự hiểu biết sâu sắc về nghệ thuật quân sự và việc ông biết coi trọng tài cầm quân của họ, kinh nghiệm chiến đấu và vẻ đặc thù về nhân cách của mỗi người.

Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô được Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ F. Roosevelt đánh giá cao. Đáng chú ý về phương diện này là bức thư chúc mừng tháng 2 năm 1943 của F. Roosevelt nhân dịp kết thúc trận đánh Stalingrad “Kính gửi ngày I.V. Stain, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên bang Cộng hào xã hội chủ nghĩa Xô Viết”. Trong lời chúc mừng cá nhân có đoạn viết: “Với tư cách là Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tôi xin chúc mừng Ngài với chiến thắng oanh liệt mà quân đội Ngài ở Stalingrad đã giành được dưới quyền chỉ huy tối cao của Ngài. Một trăm sáu mươi hai ngày đêm của cuộc chiến đấu mang tính chất sử thi để giành thành phố, cuộc chiến đấu vĩnh viễn vinh danh tên tuổi Ngài cũng như kết quả mang tính chất quyết định mà tất cả những người Mỹ ăn mừng hôm nay, sẽ là một trong những chương tuyệt vời nhất trong cuộc chiến tranh này của các dân tộc đã liên kết lại chống chủ nghĩa quốc xã và những kẻ mô phỏng nó. Các sĩ quan chỉ huy và các chiến sĩ của quân đội Ngài ở ngoài mặt trận, những người nam và phụ nữ hỗ trợ họ bằng cách lao động quên mình trong các nhà máy và trên đồng ruộng, đã chung lưng đấu cật không chỉ để làm rạng rỡ các chiến binh của đất nước mình mà còn để bằng tấm gương của mình khơi gợi ở tất cả các dân tộc đã liên kết lại lòng quyết tâm mới mẻ đem hết toàn bộ nghị lực để dẫn tới thất bại hoàn toàn và sự đầu hàng vô điều kiện của kẻ thù chung” (Trao đổi thư từ giữa Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô với Tổng thống Hoa Kỳ và Thủ tướng Anh trong thời gian chiến tranh vệ quốc 1941 – 1945. M. 1957, TII, tr.52-53).

Thủ tướng Anh W. Churchill nhận xét rằng I.V. Stalin đã “nắm vững vấn đề” chiến dịch “Ngọn đuốc” của các đồng minh: “Chỉ có một số rất ít người hiện đang còn sống là có thể trong dăm phút hiểu được những điều mà chúng ta đã kiên trì vắt óc ra mầy mò trong vòng nhiều tháng trời. Ông ta đã đánh giá được tất cả những điều đó một cách nhanh như chớp” (W.Churchill. Cuộc thế chiến thứ hai. M.1995, TIV, tr.477-478). Trong thời gian Hội nghị Tehran giữa những người đứng đầu các chính phủ Liên Xô, Anh và Mỹ năm 1943, W. Churchill đã nói rằng nguyên soái Stalin “xứng đáng với danh hiệu Stalin vĩ đại”.

Ngày đến Hitler, tuy rất căm ghét chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Marx, đã phát biểu khi ngồi giữa những người thân cận: “Và đối với Stalin tất nhiên phải có một sự kính trọng cần thiết. Trong dòng giống của mình, ông ta quả là một kiểu thiên tài…”. Lại nữa, “Xét theo phẩm chất chính trị và quân sự thì Stalin đã vượt lên trên cả Churchill lẫn Roosevelt. Đây là một chính trị gia duy nhất mang tầm cỡ thế giới, xứng đáng được kính trọng. Nhiệm vụ của chúng ta là nghiền nát dân tộc Nga để những kẻ có tầm cỡ như Stalin sẽ không xuất hiện được nữa”. (Những cuộc trò chuyện của Hitler trong bữa ăn. Smolensk, 1991, tr.450-451).

Trong khi đánh giá hoạt động của I.V. Stalin trên cương vị Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô, trước hết cần phải thấy rằng ông không chỉ biết rõ lịch sử các cuộc chiến tranh và những công trình của các nhà lý luận quân sự nổi tiếng thế giới mà chủ yếu còn nắm vững quan điểm khoa học sâu sắc về bản chất chiến tranh nói chúng và chiến tranh trong thời đại của chủ nghĩa đế quốc nói riêng. Sự am hiểu những quy luật của chiến tranh, chủ yếu là cuộc Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai trong thế kỷ XX và những quy luật của sự phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội đã cho phép ông nhận thức rõ chính sách của giai cấp cầm quyền ở đối thủ phát xít, hành động của các tướng lĩnh của chúng, những chiêu trò của các tư tưởng gia của chúng… Quan điểm khoa học về những điều kiện để chiến thắng một kẻ thù xảo quyệt, tàn bạo chưa từng thấy trong lịch sử trước đây là phát xít Đức và bè lũ tay sai đã tạo cơ hội cho Stalin hoạch định và áp dụng trên thực tế tất cả những biện pháp để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh giải phóng 1941 – 1945 và tái kiến thiết Tổ quốc thời hậu chiến.

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Các biện pháp của Nga chống lại sự mở rộng NATO


Tờ Thời báo Hoàn Cầu ngày 01/06 đăng bải viết của nhà nghiên cứu Vương Hiến Cử (Wang Xianju) – Phó Giám đốc Trung Tâm Nga học, Đại học Nhân dân Trung Quốc cho biết, Tổng thư ký NATO Stoltenberg mới đây thông báo nếu Phần Lan và Thụy Điển không thể đáp ứng được yêu cầu của Thổ Nhĩ Kỳ, họ khó có thể trở thành ứng cử viên gia nhập NATO tại Hội nghị thượng đỉnh NATO diễn ra vào ngày 28/6 tới. Một số người cho rằng lá phiếu quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ có thể cản trở vòng mở rộng mới của NATO. Tuy nhiên, xét cho cùng, việc Moskva đặt cược toàn bộ vào “quyền phủ quyết” của Thổ Nhĩ Kỳ là điều không thể, vậy Nga còn có những biện pháp nào để đối phó?

Theo dõi các động thái gần đây, có thể thấy rằng Moskva đang thông qua các hành động song phương và đa phương chống lại vòng mở rộng thứ sáu của NATO.

Thứ nhất, cảnh báo nghiêm khắc về hậu quả nghiêm trọng từ vòng mở rộng mới của NATO. Một mặt, Moskva nhắc nhở Phần Lan và Thụy Điển không được đánh giá sai tình hình, chỉ ra rằng “quyết định sai lầm” lần này sẽ làm gia tăng căng thẳng khu vực và an ninh của hai nước và sẽ không vì gia nhập NATO mà được củng cố; mặt khác, nhấn mạnh rằng sự mở rộng cơ sở hạ tầng của NATO trên lãnh thổ hai nước này chắc chắn sẽ dẫn đến một phản ứng từ Nga. Nga sẽ buộc phải tăng cường sức mạnh hải – lục – không quân ở khu vực Biển Baltic, và “tình trạng phi hạt nhân hóa của khu vực Biển Baltic sẽ không được bàn nữa”.

Thứ hai, tăng cường hơn nữa vai trò của Tổ chức Hiệp ước an ninh tập thể (CSTO). Vào giữa tháng 4, CSTO do Nga đứng đầu đã tổ chức một cuộc họp của ủy ban quân sự để “trao đổi quan điểm về tình hình quân sự và chính trị và đã đồng ý phối hợp các hành động chung để loại bỏ các mối đe dọa quân sự”. Cuộc họp đã quyết định tổ chức các cuộc tập trận chung CSTO tại Kazakhstan, Kyrgyzstan và Tajikistan vào mùa Thu năm nay. Ngày 16/5, các nhà lãnh đạo của 6 quốc gia thành viên CSTO đã tổ chức cuộc họp tại Điện Kremlin để thảo luận các vấn đề như củng cố hợp tác giữa các quốc gia thành viên và hoàn thiện hệ thống an ninh tập thể. Hơn nữa, phía Nga cũng đưa ra một thông điệp quan trọng rằng “CSTO cần tăng cường hợp tác với Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các đối tác tự nhiên của SNG (các quốc gia độc lập thuộc Liên Xô cũ) hiện nay”, đồng thời đề xuất cung cấp cho SNG tư cách quan sát viên của CSTO.

Thứ ba, quan tâm hơn đến hợp tác với SCO. Khi Nga đảm nhận chức vụ chủ tịch luân phiên của SCO năm 2020, nước này đã chủ trương tổ chức cuộc họp chung giữa các bộ trưởng quốc phòng của các quốc gia thành viên SCO, SNG và CSTO. Tháng 9/2020, 3 tổ chức lần đầu tiên tiến hành cuộc tập trận chống khủng bố chung “Caucasus-2020”. Sau khi Mỹ và lực lượng NATO rút hoàn toàn khỏi Afghanistan, ngày 17/9/2021, người đứng đầu các quốc gia thành viên SCO và CSTO lần đầu tiên tổ chức cuộc họp chung để trao đổi về tình hình Afghanistan. Mới đây, Tổng thư ký CSTO Zass đã gặp Tổng thư ký Trương Minh (Zhang Ming) của SCO và bàn về “tầm quan trọng của việc xây dựng một không gian an ninh thống nhất”. Một số nhà phân tích cho rằng trong bối cảnh xung đột giữa Nga với Mỹ và châu Âu ngày càng gia tăng và sự mở rộng hơn nữa của NATO, CSTO có thể sẽ hợp tác với SCO trên nhiều lĩnh vực hơn trong tương lai.

Thứ tư, làm sâu sắc thêm Liên minh kinh tế Á – Âu. Trước các lệnh trừng phạt kinh tế và tài chính chưa từng có từ các nước phương Tây. Nga càng coi trọng vai trò của Liên minh Kinh tế Á – Âu. Ngày 25/2, Thủ tướng các nước thành viên Liên minh kinh tế Á – Âu đã họp bàn về tình hình kinh tế và tăng cường hợp tác, đồng thời đưa ra một loạt biện pháp nhằm ổn định thị trường nội khối. Cuộc họp của Hội đồng tối cao của Ủy ban kinh tế Á – Âu, cơ quan quyền lực cao nhất của Liên minh kinh tế Á – Âu, được tổ chức ngày 27/5, đã ra thông điệp “Liên minh kinh tế Á – Âu nên tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế của mình”.

Tất nhiên, trong khi tận dụng tối đa các biện pháp đối phó này, Moskva cũng phải đối mặt với những hạn chế.

Thứ nhất, Mỹ đang cố gắng hết sức lôi kéo các nước Trung Á. Ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt chống lại Ukraine, hôm 01/3, Mỹ đã tổ chức cuộc họp trực tuyến cấp ngoại trưởng “C5+1” với 5 nước Trung Á. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh, nhất là trong lĩnh vực thương mại, đầu tư, năng lượng, khoa học và công nghệ. Ngoại trưởng Mỹ Blinken thậm chí còn đưa ra khả năng thiết lập các căn cứ quân sự của Mỹ ở Trung Á, nhưng không nhận được phản hồi. Bên cạnh những tương tác thường xuyên trong lĩnh vực ngoại giao, Mỹ và các nước Trung Á đã tăng cường hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực kinh tế. Uzbekistan và Mỹ có quan hệ hợp tác chặt chẽ trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, hiện đại hóa nông nghiệp và y tế, hai bên gần đây quan tâm đến việc cùng xây dựng tuyến đường sắt “Mazar-e Sharif-Kabul-Peshawar”. Năm 2021, đầu tư của Mỹ vào Kazakhstan đã tăng 45% và hơn 700 công ty Mỹ hiện đang hoạt động tại Kazakhstan.

Thứ hai, EU và Nhật Bản cũng đang làm công việc của các nước Trung Á. EU sẽ cung cấp cho Uzbekistan 83 triệu euro viện trợ không hoàn lại trong giai đoạn 2021 – 2024 cho các dự án hợp tác cùng phát triển, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ phát triển xã hội dân sự và nhân quyền. Ngày 15/4, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Hayashi Yoshimasa đã tổ chức cuộc họp trực tuyến với Bộ trưởng Ngoại giao 5 nước Trung Á. Với tư cách là những đồng minh quan trọng của Mỹ, EU và Nhật Bản tăng cường hợp tác với Trung Á vào thời điểm này, mục đích là rõ ràng.

Thứ ba, có sự khác biệt giữa CSTO và các nước Á – Âu về xung đột giữa Nga và Ukraine. Tại cuộc bỏ phiếu ủng hộ dự thảo nghị quyết lên án Nga tại phiên họp đặc biệt khẩn cấp lần thứ 11 của Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ngày 2/3, Gruzia và Moldova bỏ phiếu thuận, Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan bỏ phiếu trắng. Trong khi đó, Kazakhstan và các nước khác phản đối việc CSTO gửi quân đến Ukraine. Phía Kazakhstan nói với báo chí r8a2ng nước này sẽ không tham gia các lệnh trừng phạt cũng như không giúp Nga trốn tránh các lệnh trừng phạt. Với những khác biệt này, Tổng thống Belarus Alexander Lukashenko đã kêu gọi CSTO “nên đoàn kết”.

Cùng với sự tiếp diễn của xung đột giữa Nga và Ukraine, để siết chặt hơn nữa không gian an ninh chiến lược và phạm vi ảnh hưởng của Nga, Mỹ chắc chắn sẽ tăng cường lôi kéo các nước Trung Á. Các nước Trung Á sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách đối ngoại đa dạng và cân bằng dựa trên lợi ích của chính họ. Tuy nhiên nhìn chung, trong cuộc chơi ở Trung Á, Nga vẫn có những lợi thế rõ ràng và tầm ảnh hưởng của họ vượt xa các cường quốc phương Tây. Điều này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau như lịch sử, địa chính trị, lợi ích quốc gia, cơ chế khu vực và điều này sẽ khó thay đổi trong thời gian dài trong tương lai.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần II


Ủy ban quốc phòng nhà nước thực hiện việc lãnh đạo cuộc đấu tranh vũ trang ở tầm chiến lược thông qua Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao. Cơ quan cao nhất của việc lãnh đạo các lực lượng vũ trang Liên Xô ở tầm chiến lược được thành lập vào ngày thứ hai của cuộc chiến. Đứng đầu Tổng hành dinh là nguyên soái S.K. Tomoshenko, ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng. Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng I.V. Stalin tham gia với tư cách là ủy viên của Tổng hành dinh. Để nâng cao hiệu quả và uy tín, ngày 10/07/1941 Tổng hành dinh được chuyển thành Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao. Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước V. Stalin vẫn là ủy viên của Tổng hành dinh. Cuối cùng, ngày 8/8/1941, để lãnh đạo các lực lượng vũ trang Liên Xô một cách toàn diện về mặt chiến lược, Tổng hành dinh Bộ tư lệnh tối cao được đổi tên thành Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao (SVGK), Stalin được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Tổng hành dinh và Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô. Các ủy viên của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là G.K. Zhukov (từ tháng 8/1942 là phó Tổng tư lệnh tối ca), A.M. Vasilevski, A.I. Antonov, N.A. Bulganin, N.G. Kuznesov.

Thời gian biểu làm việc của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là suốt ngày đêm – nó được xác định trước hết bởi ngày làm việc của chính V.I. Stalin, ông lao động từ 16 đến 18 giờ một ngày đêm và đôi khi số giờ còn nhiều hơn thế. Để đưa ra một quyết định khác mang tính chất chiến dịch – chiến lược hay để bàn bạc những vấn đề quan trọng khác của cuộc đấu tranh vũ trang với kẻ thù, những cán bộ có trọng trách của các cơ quan quân sự và các cơ quan khác vốn có liên quan trực tiếp đến vấn đề được xem xét, được triệu tập đến Tổng hành di Bộ Tổng tư lệnh tối cao. Nguyên soái A.M. Vasilevski kể lại rằng nhất thiết phải có mặt các ủy viên Bộ chính trị UBTW Đảng, những người lãnh đạo công nghiệp, những tư lệnh được triệu tập từ ngoài mặt trận. Tất cả những gì được vạch ra tại các phiên họp như vậy trong bầu không khí bàn bạc cởi mở, lập tức được đưa vào các chỉ thị của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao và được chuyển ngay ra mặt trận. Việc làm đó, như Vasilevski nhấn mạnh, có hiệu quả và hiệu lực.

Hằng ngày, vào buổi trưa và buổi tối Chủ nhiệm Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao được báo cáo về tình hình ngoài mặt trận và những thay đổi của cục diện chiến cuộc. Những người được ủy quyền của ủy ban quốc phòng nhà nước và những đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao ngàoi mặt trận phúc trình trước ông. Một lần, khi chủ nhiệm Bộ Tổng tham mưu B.M. Shapozhnikov trong lúc báo cáo đã thú nhận rằng hiện nay ông chưa thể nói điều gì về tình hình ở hia mặt trận bởi lẽ vào thời gian quy định, các tham mưu trưởng chưa chuyển cho ông những tin tức, V.I. Stalin đã nghiêm khắc hỏi:

+ Thế đồng chí đã trừng phạt họ chưa? Không nên bỏ qua hành động không muốn cung cấp kịp thời cho chúng ta những tin tức cần thiết.

+ Họ đã bị trừng phạt một cách nghiêm khắc. Mỗi một tư lệnh phương diện quân đã b5i tôi cảnh cáo – Shapozhnikov đáp.

+ Cảnh cáo à? – Stalin ngạc nhiên – Đối với các vị tướng thì đây không phải là sự trừng phạt. Chỉ ở trong chi bộ mới cảnh cáo thôi.

Shapozhnikov nói rằng trước cách mạng có một tục lệ: sĩ quan nào bị Chủ nhiệm Bộ Tổng tham mưu cảnh cáo thì buộc phải nộp đơn xin từ chức. Sau đó sự cố này không được bàn thảo nữa.

Trong những năm chiến tranh vệ quốc V.I. Stalin đã phái ra ngoài mặt trận 60 vị đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao với nhiệm vụ theo dõi kỹ lưỡng tình hình ngoài mặt trận, phản ứng nhanh nhạy và kịp thời đối với sự thay đổi cục diện, đảm bảo việc giải quyết những nhiệm vụ chiến lược đề ra. A.M. Vasilevski, G.K. Zhukov, S.T. Timoshenko, N.N. Voronov, G.M. Malenkov và các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự khác đã từng làm đại diện của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao suốt mấy tháng trời sống trong các đơn vị quân đội. V.I. Stalin không khoan nhượng nếu như vào thời gian quy định ông không nhận được báo cáo từ người đại diện của Tổng hành dinh Bộ tổng tư lệnh tối cao. Và ông chỉ rõ rằng trong trường hợp nếu đại diện của Tổng hành dinh quên mất bổn phận của mình trước Tổng hành dinh thì anh ta sẽ bị cách chức và được triệu hồi từ mặt trận.

Cơ quan hoạt động tác chiến chủ yếu của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao là Bộ Tổng tham mưu. Tổng hành dinh và Bộ Tổng tham mưu phối hợp những lực của các phương diện quân với các binh đoàn và các binh chủng của các lực lượng vũ trang. Các Tổng tham mưu trưởng của Hồng quân hàng ngày và thường là mấy lần trong một ngày đêm có mặt ở chỗ Stalin. Chẳng hạn, B.M. Shaposhnikov vào nửa sau năm 1941 đến 5/1942 đã ở chỗ Stalin 98 lần, G.K. Zhukov chỉ trong 1 tháng và 7 ngày đã gặp Stalin 16 lần, A.M. Vasilevski trong thời kỳ hơn 30 tháng trên cương vị Tổng tham mưu trưởng – 199 lần, A.I. Antonov, người giữ chức Tổng tham mưu trưởng sau Vasilevski, đã tiếp kiến Stalin 238 lần. Stalin cũng thường gặp gỡ với các phó Tổng tham mưu trưởng, các cục trưởng và đơn thuần với các cán bộ của Bộ Tổng tham mưu.

Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô V.I Stain trực tiếp làm việc với tất cả các tổng tư lệnh, các tư lệnh phương diện quân và các binh chủng của Hồng quân trong thời kỳ Chiến tranh vệ quốc.

Trong tất cả những năm Chiến tranh vệ quốc của Liên Xô, đã được thành lập 35 phương diện quân và vùng phòng thủ Moskva, phương diện quân dự bị Moskva. Cụ thể là:

+ Trong những tháng đầu tiên của chiến tranh – 5 phương diện quân – phương diện quân Karel, phương diện quân Tây Bắc, phương diện quân phía Tây, phương diện quân Tây Nam và phương diện quân phía Nam.

+ Tiếp sau đó, nhân việc mở rộng vùng chiến sự và các chiến dịch khác nhau, có lúc số lượng phương diện quân lên tới 15, chẳng hạn trong trận đánh ở Stalingrad, vào các thời gian khác nhau, có sự tham gia của các phương diện quân Stalingrad, Đông Nam, Tây Nam, Sông Đông, Voronezh và Thảo nguyên.

+ Ở giai đoạn kết thúc chiến tranh có sự tham gia của các phương diện quân Karel, Leningrad, vùng ven Baltic-1, Belarussia-3, Belaurussia-2, Belarussia-1, Ukraine-1, Ukraine-2, Ukraine-3, Ukraine-4.

Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật năm 1945 đã được thành lập 3 phương diện quân: Ngoại Baikan, Viễn Đông – 1 và Viễn Đông – 2.

Tổng tư lệnh tối cao I.V Stalin làm việc với tất cả các tư lệnh phương diện quân. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc có tất cả 45 tư lệnh phương diện quân, trong số đó có 11 nguyên soái Liên Xô và 34 vị tướng. Stalin cũng làm việc với các tư lệnh tập đoàn quân, đích thân biết rõ nhiều tướng lĩnh, cho tới các tư lệnh quân đoàn và sư đoàn. Tổng tư lệnh tối cao Stalin đã làm việc với các tư lệnh hạm đội Baltic, Bắc Cực, Hắc Hải, Thái Bình Dương, trong số đó có 7 đô đốc…

Trong 4 năm Chiến tranh vệ quốc, Hồng quân đã thực hiện 51 chiến dịhc mang tầm chiến lược, hơn 250 chiến dịch cỡ phương diện quân và gần 1000 chiến dịch cỡ tập đoàn quân, trong số đó gần 2 phần 3 mang tính chất tiến công. Tất cả những chiến dịch ấy được tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tổng hành dinh Bộ Tổng tư lệnh tối cao do I.V. Stalin đứng đầu. Với sự tham gia trực tiếp của ông và dưới sự kiểm tra nghiêm ngặt của ông, việc đảm bảo cho các chiến dịch ấy về mặt tổ chức, động binh, vật chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị – tư tưởng, và ngoại giao đã được thực hiện một cách nghiêm túc. Những vấn đề chỉ đạo chiến sự được quyết định bởi V.I Stalin “trong những cuộc tiếp xúc chính thức cũng như trong bữa ăn trưa” (G.K. Zhukov).

Ở đây Stalin rao đổi với các tư lệnh phương diện quân, tập đoàn quân, với các ủy viên Hội đồng quân sự, với các nhà chế tạo những loại vũ khí chủ yếu, với các vị lãnh đạo kinh tế quốc dân, các giám đốc nhà máy quốc phòng, các nhà khoa học. Stalin đích thân gặp gỡ nhiều người hoặc thảo luận theo đường dây thông tin bảo mật mà máy móc đặt trong phòng làm việc ở điện Kremlin và ở ngôi biệt thự cận kề.

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Vị Tổng tư lệnh tối cao của tổ quốc – Phần I


Vladimir Sukhodeev

Vừa qua, nhân dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh của I.V. Stalin (1879 – 1953), cùng với cuốn Stalin thuộc tủ sách Danh nhân của nhà văn, nhà sử học và nhà chính trị học Nga svjatoslav Rybas, cùng với bộ sách nhiều tập Stalin – Những công trình (một dạng mới kiểu Stalin toàn tập) do Richard Kosolapov chủ biên (đã ra được 3 tập trong năm 2013), nhà chính luận, nhà nghiên cứu Vladimir Sukhodeev đã cho ra mắt cuốn “I.V.Stalin và các tướng lĩnh” nhằm phục dựng bức chân dung đích thực của lãnh tụ Stalin trên cương vị Tổng tư lệnh tối cao trong cuộc chiến tranh vệ quốc chống phát xít qua cách đánh giá của các chiến hữu gần gũi của Người. Chúng tôi xin giới thiệu một số trang trong cuốn sách mới xuất bản này.

Tình trạng chiến tranh đòi hỏi phải cải tạo tất cả hệ thống quyền lực tối cao của Liên bang Xô viết đang chiến đấu…

Trong vòng một tháng rưỡi sau khi cuộc Chiến tranh vệ quốc bắt đầu, nói chính xác hơn, sau 48 ngày chiến tranh, Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô, Hội đồng dân ủy Liên Xô và Ủy ban TW Đảng Cộng sản (bolsevich) toàn Liên Bang đã thành lập hệ thống các cơ quan Xô viết tối cao trực thuộc Ban chỉ đạo chiến tranh về mặt chiến lược của Liên Xô chống phát xít Đức. Hệ thống này bao gồm: ủy ban quốc phòng nhà nước, Bộ Tổng tư lệnh tối cao và cương vị Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô, Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô.

Cho đến nay, không hiểu tại sao các nhà sử học đã giấu kín một điều: Ai là người đề nghị thành lập ủy ban quốc phòng nhà nước. Lúc thì người ta gán cho Molotov, lúc thì gán cho Beria, lúc thì nói mập mờ là Khruschev. Nhưng kỳ thật thì không một ủy viên nào của Bộ Chính trị UBTW Đảng đề nghị cả.

Ngày 29/6/1941 ban bố chỉ thị của Hội đồng dân ủy Liên Xô và ủy ban TW Đảng Cộng sản (Bolsevich) toàn Liên bang yêu cầu các tổ chức đảng, chính quyền, công đoàn và đoàn Thanh niên Cộng sản và những người lãnh đạo các tổ chức này huy động tất cả sức lực của nhân dân cho cuộc đấu tranh chống phát xít Đức xâm lược.

Ngày 30/6/1941 I.V. Stalin cho mời các ủy viên Bộ Chính trị đang ở Moskva đến ngôi biệt thự gần nhất và công bố quyết định về việc thành lập một cơ quan đặc biệt để lãnh đạo công việc quốc phòng của đất nước – ủy ban quốc phòng nhà nước – và chỉ định những ủy viên đầu tiên của nó. Về thực chất, đó là sự khôi phục Hội đồng quốc phòng Công Nông của Lenin ở thời kỳ có cuộc can thiệp quân sự của nước ngoài và cuộc Nội chiến ở Nga. Do đó mọi cái đều được kế thừa về mặt lịch sử và đều hợp hiến. Sau đó, đề nghị của Stalin được hợp thức hóa với tư cách là Quyết định của Chủ tịch đoàn Xô Viết tối cao Liên Xô, Hội đồng dân ủy Liên Xô và ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản (bolsevich) toàn Liên bang.

… Ngày 31/6/1941 Stalin được bổ nhiệm làm Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước, từ ngày 19/7 ông là ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng Liên Xô, từ ngày 8/8 là Chủ tịch Bộ tư lệnh tối cao, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Liên Xô.

“Vào thời kỳ hết sức khó khăn này – nguyên soái A.M. Vasilevski nhấn mạnh -, học tập kinh nghiệm vĩ đại của Lenin trong thời kỳ Nội chiến, việc tập trung ở một người những chức năng lãnh đạo về mặt đảng, nhà nước, kinh tế và quân sự là một quyết định đúng đắn nhất. Chúng ta chỉ có một khả năng: ngay lập tức biến đất nước thành doanh trại quân sự, quy tụ hậu phương và tiền tuyến thành một thể thống nhất, huy động tất cả sức lực của chúng ta để thực hiện nhiệm vụ đánh bại bọn xâm lược phát xít Đức. Và khi Stalin với tư cách là Tổng bí thư, Chủ tịch Hội đồng dân ủy, Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước, lại đảm nhiệm thêm cương vị Tổng tư lệnh tối cao, ủy viên Bộ dân ủy quốc phòng, thì đã mở ra những khả năng thuận lợi hơn cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi một cách có kết quả.

Sự tập trung ở I.V. Stalin những chức năng lãnh đạo về mặt đảng, nhà nước và quân sự không có nghĩa là ông trong những năm chiến tranh một mình quyết định mọi vấn đề” (A.M. Vasilevski. Sự nghiệp của cả cuộc đời. M. 1975, tr.540 – 541).

Đôi khi người ta viết rằng: ủy ban quốc phòng nhà nước (GKO) đó là Stalin. Và điều này là đúng, bởi vì việc ông biết cách giải quyết tức thời những công việc hàng ngày, biết phân tích cặn kẽ tình hình chiến sự đang thay đổi nhanh chóng, biết đánh giá đúng tình hình đó và đưa ra những biện pháp cụ thể, có tầm nhìn xa, có tính mục đích rõ ràng và sự dũng cảm của ông, ý chí và tài năng của ông đã in dấu sâu đậm lên hoạt động của ủy ban quốc phòng nhà nước. Hơn nữa, các buổi họp của GKO được tiến hành trong phòng làm việc ở điện Kremlin, tại ngôi biệt thự gần nhất hoặc trong một boongke, ủy ban quốc phòng nhà nước – trước hết là một cơ quan mang tính chất tập thể, gồm: phó chủ tịch V.M. Molotov các ủy viên của ủy ban: K.E. Voroshilov, G.M. Malenkov, L.P. Beria, sau này có thêm A.I. Mikojan, N.A Voznesenski, L.M. Kaganovich và N.A. Bulganin (thay K.E. Voroshilov). Những nhà lãnh đạo cấp cao của Liên Xô là sự thể hiện sức làm việc phi thường, trình độ nghiệp vụ sâu sắc và lòng trung thành vô hạn với sự nghiệp xã hội chủ nghĩa và lợi ích của nhân dân Liên Xô  trong cuộc đấu tranh chống bọn phát xít xâm lược.

Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước I.V. Stalin giao cho mỗi ủy viên của ủy ban nắm một số vấn đề nhất định có liên quan đến việc củng cố và trang bị tất cả những thứ cần thiết cho các lực lượng vũ trang, đến công việc liên tục ở hậu phương. Chẳng hạn, V.M. Molotov phụ trách việc trang bị xe tăng cho Hồng quân và theo dõi công việc của ngành công nghiệp xe tăng; G.M. Malenkov phụ trách việc đảm bảo kỹ thuật chiến đấu hiện đại cho không quân, N.A. Voznesenski – phụ trách việc cung cấp vũ khí và đạn dược cho quân đội, A.I. Mikojan – tổ chức việc cung cấp thực phẩm cho quân đội, L.P. Beria – thực hiện những nghiên cứu trong lĩnh vực chế tạo tên lửa và năng lượng nguyên tử, L.M. Kaganovich – phụ trách việc điều chỉnh vận chuyển hàng hóa, K.E. Voroshilov phụ trách việc thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng. Chủ tịch ủy ban quốc phòng nhà nước đòi hỏi việc thực hiện đúng đắn các nhiệm vụ được giao.

Các cán bộ đảng, chính quyền và quân sự, các nhà khoa học và chuyên gia nào cần cho việc nghiên cứu và thực hiện những nhiệm vụ cấp bách của chiến tranh đều được mời đến dự các phiên họp của ủy ban quốc phòng nhà nước. Nguyên soái G.K. Zhukov đã nhận xét: “Tại các phiên họp của GKO rất hay nổ ra những cuộc tranh cãi căng thẳng, hơn nữa, những ý kiến được nêu lên một cách dứt khoát và gay gắt. Stalin thường đi đi lại lại bên chiếc bàn, chăm chú lắng nghe những người tranh luận. Bản thân ông rất kiệm lời và không ưa lối diễn giải dài dòng văn tự của những người khác. Ông thường ngắt lời những người đang nói bằng những nhận xét: “Nói ngắn hơn!”, “Rõ ràng hơn!”. Ông mở đầu những  phiên họp mà không cần đến những lời nhập đề vòng vo, ông nói nhỏ nhẹ, tự nhiên, cô đọng, đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề, trình bày những ý nghĩa một cách rõ ràng”. (G.K. Zhukov. Nhớ lại và suy nghĩ. M 1990, T2, tr.71-72).

Trong cuốn ủy ban quốc phòng nhà nước ra quyết định, đại tướng Ju.A. Gorkov viết rằng trong những năm chiến tranh vệ quốc vĩ đại, ủy ban quốc phòng nhà nước đã thông qua 9971 quyết định, chưa kể vô số bức điện, nghị quyết về các văn kiện, những chỉ thị miệng. Trong số đó, I.V. Stalin ký 2256 quyết định có liên quan tới các lực lượng vũ trang. Và không chỉ đặt bút ký. Ông đích thân thảo một số quyết định, còn một số quyết định khác thì ông đọc cho viết, có những quyết định được ông sửa lại một cách cơ bản, bổ sung và làm rõ thêm một vài điều gì đó. Nhiều văn kiện của Bộ chính trị, ủy ban TW đảng, Hội đồng dân ủy Liên Xô, Bộ dân ủy quốc phòng, gần 1000 mệnh lệnh và chỉ thị của Tổng hành dinh được ông ký duyệt. Và trên mỗi văn kiện đó thấy rõ nét chữ của Stalin, văn phong của ông: các ý kiến ngắn gọn về dung lượng nhưng có tầm rộng rãi về ý nghĩa (Ju.A. Gorkov, ủy ban quốc phòng nhà nước ra quyết định (1941 – 1945); Các số liệu và tư liệu, M. 2002, tr80-81).

(còn tiếp)

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 66

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần cuối


Các nước Baltic: Đã sớm thực hiện chính sách “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (23%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (20%), năng lượng khác (14%).

Từng thuộc Liên Xô trước đây, mặc dù về chính trị đối đầu đến cùng với Chính quyền Putin, nhưng về nguồn cung năng lượng 3 nước Baltic vẫn khó tách rời hoàn toàn khỏi Nga. Về mặt địa lý, các quốc gia Tây và Bắc Âu có đường ống dẫn khí đốt đến thẳng các nước cung ứng chủ yếu như Na Uy, cũng như nhiều trạm nhập khẩu LNG, ngược lại, các quốc gia Đông Âu, Baltic và bán đảo Balkan rất khó thoát khỏi sự phụ thuộc vào đường ống vận chuyển khí đốt của Nga.

Trong đó, Litva là một trong những quốc gia châu Âu phụ thuộc nhiều nhất vào nguồn năng lượng của Nga. Năm 2021, Litva nhập khẩu dầu, khí đốt và điện của Nga lên đến 3 tỷ euro, tỷ trọng nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga lần lượt chiếm 69% và 42%.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Litva: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (2%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (37%), năng lượng khác (2%).

Kết cấu năng lượng cơ bản của Estonia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (60%), dầu mỏ (4%), khí đốt tự nhiên (8%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (24%), năng lượng khác (4%).

Trong những năm qua, Ủy ban châu Âu (EC) đã phân bổ tổng cộng 1,6 tỷ euro chia thành nhiều đợt khác nhau để hỗ trợ các nước Baltic tách khỏi lưới điện của Nga, kết nối vào EU. Ngoài lưới điện sẵn sàng “tách khỏi Nga, kết nối châu Âu”, sau sự kiện Crimea năm 2014, ba quốc gia nhỏ bé sống dưới cái bóng của Liên Xô đã bắt đầu triển khai kế hoạch giảm thiểu sự phụ thuộc vào năng lượng của Nga. Chẳng hạn, trạm LNG nổi Klaipeda được đưa vào vận hành từ năm 2014 đã cung cấp một nửa nhu cầu thị trường khí đốt tự nhiên của các nước Baltic và Phần Lan.

Còn về Litva, năm 2021, 90% khí đốt tự nhiên nhập khẩu vẫn đến từ Nga, tuy nhiên chính phủ nước này cho biết việc nhập khẩu khối lượng lớn khí đốt tự nhiên của Nga là do giá rẻ và tiện lợi, không phải không có sự lựa chọn khác. Chỉ cần có kế hoạch phù hợp, dựa vào trạm LNG Kalipeda đã đủ đáp ứng nhu cầu của ba nước Baltic. Ngoài ra, vừa qua Estonia cũng tuyên bố thúc đẩy kế hoạch dự án năng lượng 10 năm – trạm tiếp nhận LNG nổi. Theo tính toán của các cơ quan chức năng, giá mua một tàu LNG khoảng 300 triệu euro.

Bốn nước Trung Âu: Czech, Slovakia, Áo, Hungary đều có lập trường riêng

Kết cấu năng lượng cơ bản của Czech: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (34%), dầu mỏ (23%), khí đốt tự nhiên (17%), năng lượng hạt nhân (18%), năng lượng tái tạo (11%).

Chính phủ Czech vẫn chưa thể hiện lập trường về việc EU có thể cấm nhập khẩu năng lượng từ Nga, Thủ tướng Petr Fiala nhiều lần cho biết EU cần phải giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch của Nga, nhưng không ủng hộ lệnh cấm nhập khẩu. Khoảng 90% khí đốt tự nhiên và 50% dầu mỏ của Czech được nhập khẩu từ Nga, nước này có các mỏ than của mình và nguồn than đá nhập khẩu thêm chủ yếu đến từ Ba Lan. Các chuyên gia kinh tế của Czech cho rằng mặc dù việc cấm nhập khẩu khí đốt từ Nga là vấn đề nguy hiểm đối với nền kinh tế Czech, nhưng vẫn có thể ứng phó một cách dễ dàng với lệnh cấm nhập khẩu dầu.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Slovakia: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (17%), dầu mỏ (21%), khí đốt tự nhiên (24%), năng lượng hạt nhân (13%), năng lượng tái tạo (13%), năng lượng khác (1%).

Thủ tướng Slovakia Eduard Heger cho biết nước này ủng hộ tất cả các lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, bao gồm dầu mỏ và khí đốt tự nhiên. 87% lượng tiêu thụ khí đốt tự nhiên của Slovakia được nhập khẩu từ Nga. Bộ trưởng Kinh tế Slovakia Richard Sulík cảnh báo lệnh cấm có thể mang lại hậu quả đối với ngành công nghiệp của Slovakia và châu Âu. Hiện nay, một trong những chính sách của Slovakia là nhập khẩu LNG thông qua các tàu chở dầu, dự kiến cuối tháng này tàu chở dầu đầu tiên sẽ về đến, đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng của Slovakia trong một tuần. Thủ tướng Eduard Heger nói: “Đương nhiên, chi phí sử dụng tàu chở dầu để vận chuyển khí đốt tự nhiên từ Mỹ đắt hơn so với sử dụng đường ống từ Nga, nhưng đây chính là cuộc sống, chúng tôi phải học cách chấp nhận”.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Áo: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (10%), dầu mỏ (37%), khí đốt tự nhiên (22%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (30%), năng lượng khác (1%).

Tương tự như Đức, Áo phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu hóa thạch của Nga. Tân Thủ tướng Karl Nehammer cam kết ủng hộ lệnh trừng phạt của EU đối với Nga, nhưng cảnh báo điều này có thể gây nên hậu quả cho Áo. 80% khí đốt tự nhiên của Áo nhập khẩu từ Nga, ngoài ra nước này còn nhập khẩu của Na Uy (10%) và Đức (5%), do đó với tỷ lệ trên, mức độ lệ thuộc của Áo vào Nga còn cao hơn cả Đức. Hiện nay, Chính phủ Áo đang xây dựng kế hoạch nhanh chóng mở rộng năng lượng tái tạo, đồng thời tìm kiếm nguồn khí đốt tự nhiên thay thế ở Trung Đông, cũng như nguồn cung LNG, trong đó bao gồm việc vận chuyển từ bờ biển phía Bắc biển Adriatic của Italy về Áo thông qua tuyến đường ống Adria-Vienna.

Kết cấu năng lượng cơ bản của Hungary: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (8%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (32%), năng lượng hạt nhân (15%), năng lượng tái tạo (11%), năng lượng khác (4%).

Hungary nhập khẩu phần lớn dầu mỏ và khí đốt tự nhiên từ Nga. Thủ tướng Viktor Orban cho biết sẽ phản đối lệnh trừng phạt năng lượng của EU, ông nói: “Mặc dù chúng tôi lên án hành động xâm lược của Nga và cũng lên án chiến tranh, nhưng chúng tôi sẽ không để cho các gia đình ở Hungary phải gánh chịu hậu quả”. Năm 2021, Hungary và tập đoàn năng lượng nhà nước Gazprom của Nga đã ký một thỏa thuận cung ứng khí đốt tự nhiên mới với thời hạn 15 năm. Mặc dù vậy, những năm gần đây, Budapest đã bắt đầu thực hiện đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, trong đó có được nguồn cung LNG từ trạm LNG của Croatia.

Anh: Tự chủ hơn về năng lượng sau khi rời khỏi EU (Brexit)

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (3%), dầu mỏ (40%), khí đốt tự nhiên (36%), năng lượng hạt nhân (6%), năng lượng tái tạo (15%).

Anh đã rời khỏi EU nên không còn chịu sự ràng buộc của EU về việc có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, hơn nữa trên thực tế mức độ phụ thuộc của Anh vào nhập khẩu năng lượng của nước ngoài khá thấp, tỷ lệ phụ thuộc năm 2019 chỉ 35%. Đầu tiên, một nửa nguồn cung khí đốt tự nhiên Anh đến từ trong nước, nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Na Uy và Qatar. Về dầu mỏ, nhập khẩu từ Nga chiếm 8% tổng nhu cầu dầu mỏ của Anh, nhưng bản thân Anh cũng là nước sản xuất quan trọng các sản phẩm dầu mỏ và dầu thô, hơn nữa cũng có thể tăng cường nhập khẩu dầu mỏ từ Hà Lan, Saudi Arabia và Mỹ.

Theo Cục quản lý thương mại quốc tế Mỹ (ITA), xét từ tình hình chung của thị trường và số liệu giao dịch, ngành công nghiệp năng lượng là ngành có triển vọng nhất của Anh. Anh có thị trường năng lượng hùng hậu, ngành năng lượng đã tạo ra các hoạt động kinh tế trị giá 130 tỷ USD. Lĩnh vực năng lượng cung cấp 730.000 việc làm cho nước Anh – tương đương cứ 49 việc làm trên thị trường thì có 1 việc làm trên lĩnh vực năng lượng. Chính quyền Boris Johnson thúc đẩy Anh phát triển theo hướng là một nền kinh tế carbon thấp, năm 2019, Anh trở thành nền kinh tế chủ chốt đầu tiên ban hành đạo luật để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, phát triển toàn diện năng lượng tái tạo.

Do đó, về khía cạnh Anh loại bỏ năng lượng của Nga, có thể nói Johnson rất tự tin khi tuyên bố: Chính quyền Putin xâm lược phi pháp Ukraine, chúng ta sẽ giáng một đòn kinh tế đối với họ – việc Anh sẽ thoát khỏi sự phụ thuộc năng lượng vào Nga trong năm nay sẽ tăng thêm một đòn trừng phạt quốc tế cứng rắn với Nga.

Các nước nhỏ của châu Âu: Chỉ có thể chờ đợi EU cứu trợ?

Một số quốc gia tương đối nhỏ ở châu Âu phụ thuộc hoàn toàn vào khí đốt tự nhiên của Nga, bao gồm Slovenia, Serbia, Bắc Macedonia, Bosnia và Heszegovina, Moldova, Romania, Bulgaria…, đây phần lớn là các nước thành viên của Nam Tư cũ hoặc Liên Xô trước đây, hầu hết không phải là các nước thành viên EU, do đó chắc chắn các nước này sẽ tiếp tục nhập khẩu năng lượng từ Nga.

Liên quan đến các thành viên EU như Romania và Slovenia, tạm thời chưa có động thái tán thành có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, giai đoạn hiện nay đang tập trung thảo luận mở rộng nhập khẩu từ các nguồn khác để làm giảm mức độ phụ thuộc vào Nga.

Mặt khác, sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, từ năm 2015 đến nay Ukraine đã ngừng mua khí đốt tự nhiên từ Nga, chuyển sang mua khí đốt tự nhiên của EU, tuy nhiên điều này cũng chỉ đồng nghĩa với việc Ukraine thông qua EU để tái nhập khẩu khí đốt của Nga, đồng thời phản ánh thực trạng không ít nước châu Âu không nhập khẩu từ Nga về mặt số liệu sổ sách, nhưng trên thực tế năng lượng vẫn có nguồn gốc từ Nga.

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022

Ảnh hưởng của an ninh mạng đến chủ quyền quốc gia và triển vọng hợp tác Nga – Việt – Phần cuối


Đã một thời, việc sử dụng các công nghệ chính trị và hợp tác kỹ thuật quân sự của Liên Xô đã giúp khôi phục chủ quyền của Việt Nam và giành được độc lập thực sự. Hiện tại, có thể nói rằng, Việt Nam đang trong tình trạng “trên đe dưới búa”, khi cả Bắc Kinh lẫn Washington đều sử dụng sự thống trị toàn cầu của họ trong lĩnh vực an ninh mạng và an ninh thông tin, có thể đe dọa Hà Nộim và những tiền lệ như vậy đã xảy ra ở cả hai phía. Tăng cường hợp tác với Moscow, vốn không đe dọa đến lợi ích của Hà Nội, trong những điều kiện này sẽ là một bước đi hữu ích để giải quyết vấn đề này có lợi cho cả hai nước. “Hình ảnh nước Nga như một cường quốc giải quyết thành công các vấn đề, cả của chính họ và những nước khác, cho phép nước này ước vào một vòng phát triển khác, cho phép nước này bước vào một vòng phát triển khác biệt về chất. Tuy nhiên, ở Việt Nam có những lực lượng có ảnh hưởng phản đối việc tăng cường hợp tác quốc phòng với Nga; đại diện của họ cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Hà Nội nên hướng tới Washington. Vì vậy, một trong những tác giả của bài viết này ngay sau hội nghị của Câu lạc bộ Valdai, “Hợp tác quốc tế trong một thế giới biến động”, được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25 – 26 tháng 2 năm 2019, đã viết một bài báo tiếng Việt cho báo chí Việt Nam về các mối đe dọa an ninh mạng đương đại, nhưng nhà xuất bản Việt Nam không muốn mạo hiểm để công bố tài liệu này, cho rằng, chuyên gia nói phóng đại và thực sự không tồn tại những mối đe dọa công nghệ cao như vậy. Hai ngày sau, một cuộc tấn công mạng đã được thực hiện ở Venezuela. Như kinh nghiệm của Nam Tư, Iraq, Libya, Venezuela và những nước khác cho thấy, điều này gây tổn hại lớn đến việc tự bảo vệ của các quốc gia trong khu vực trong giai đoạn mới của “Cuộc chơi lớn”.

Trụ cột chủ quyền và kinh nghiệm của nước Nga

Kinh nghiệm của nước Nga và các quốc gia khác đứng vị trí hàng đầu trong lĩnh vực đảm bảo an toàn thông tin cho thấy, để đảm bảo chủ quyền của mình, bất kỳ quốc gia nào cũng phải có và quản lý hiệu quả các hệ thống cách ly thông tin sau:

+ Một mạng lưới liên lạc của chính phủ được kiểm soát độc quyền bởi lãnh đạo chính trị cao cấp;

+ Một mạng lưới liên lạc quân sự và đặc biệt vì lợi ích quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật;

+ Một hệ thống kiểm soát an ninh cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng, độc lập với chủ sở hữu danh nghĩa và thực sự của cơ sở hạ tầng đó;

+ Một hệ thống đánh chặn pháp lý, đảm bảo cung cấp thông tin cần thiết về người dùng mạng truyền thông và hệ thống thông tin vì lợi ích của cơ quan thực thi pháp luật, cơ quan điều tra và tình báo;

+ Hệ thống kiểm soát giao vận xuyên biên giới;

+ Hệ thống giám sát vô tuyến;

+ Một hệ thống quản lý các mạng truyền thông và các hệ thống thông tin quan trọng trong các thời điểm tình trạng khẩn cấp, bị đe dọa và chiến tranh.

Liên bang Nga có đủ năng lực, phát triển và nền tảng để cung cấp cho các quốc gia Đông Nam Á xuất khẩu dưới dạng giải pháp chìa khóa trao tay (hệ thống phần cứng và phần mềm) lẫn năng lực cho sự phát triển của chính mình trong tất cả các hệ thống nêu trên, cũng như cho các nhiệm vụ an ninh mạng khác và chống lại tình báo công nghệ nước ngoài. Những năng lực, sự phát triển và nền tảng như vậy đã được phát triển trên cơ sở những thành tựu của khoa học cơ bản và ứng dụng ở Nga và đã được thử nghiệm trong điều kiện đối đầu thực sự với quân đội và các cấu trúc đặc biệt của phương Tây mang tính tổng thể.

Kinh nghiệm được tích lũy ở Liên bang Nga cho phép chúng tôi khẳng định rằng, các mạng truyền thông quốc gia cung cấp sự tương tác giữa các cơ quan chính phủ, chủ thể và đối tượng của cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

+ Cách ly (các mạng truyền thông đó phải được cách ly về mặt thông tin và vật lý với các mạng truyền thông công cộng);

+ Tích hợp (kiến tạo một môi trường giao vận chuyên dụng duy nhất vì lợi ích của tất cả người dùng đặc biệt và nhà nước với khả năng tương tác thông tin của họ);

+ Tập trung quản lý (áp dụng các cơ chế hành chính, kỹ thuật và pháp lý thống nhất để cung cấp dịch vụ truyền thông cho người dùng đặc biệt và nhà nước);

+ Phân nhánh mạng tối đa (kiến tạo và bảo trì sớm hoạt động của môi trường giao vận thống nhất với các thông số nhất định về tính toàn vẹn và ổn định của hoạt động, đảm bảo có sắn các dịch vụ liên lạc cho tất cả người dùng trong điều kiện thời bình, giai đoạn đặc biệt, tình trạng khẩn cấp và chiến tranh).

Các sự kiện gần đây ở Venezuela cho thấy sự dễ bị tổn thương của các quốc gia sử dụng các giải pháp trong cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng của họ, vì lý do này hay lý do khác, các cơ quan chính phủ đã không bị thuyết phục về việc không thể sử dụng phần mềm độc hại trái phép của họ. Chỉ có nhân viên quốc gia được đào tạo đặc biệt trong lĩnh vực bảo mật thông tin mới có thể thực hiện việc rà soát như vậy. Các quốc gia không tạo ra một hệ thống đào tạo cho các nhân viên như vậy trên chính lãnh thổ quốc gia của họ, cũng như một hệ thống kiểm soát liên tục và hiệu quả đối với long trung thành của các nhân viên đó, sẽ phải chịu lặp lại các kịch bản tương tự như mất điện ở Venezuela.

Hiện tại, Nga đã bắt đầu tạo ra một hệ thống trao đổi thông tin kỹ thuật số khép kín. Dự án được đặt tên là “Mạng truyền thông giao vận đa dịch vụ” (Multiservice Transport Communication Network). Giai đoạn đầu dự kiến sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2019. Dự án sẽ hoàn thành sau hai năm. Mạng được xây dựng trên cơ sở thiết bị viễn thông trong nước. Mạng truyền thông giao vận đa dịch vụ sẽ được cách ly khỏi Internet toàn cầu và các máy chủ lưu trữ dữ liệu sẽ được đặt trên lãnh thổ Nga. Hệ thống mạng sẽ có các tuyến cáp quang riêng, được chia thành các kênh trung kế, một hệ thống điện tử để xác định người dùng và ghi lại hành động của họ. “Internet quân sự” sẽ có công cụ tìm kiếm riêng. Tính bảo mật của việc truyền dữ liệu sẽ được đảm bảo bởi một hệ thống giám sát trạng thái của thiết bị và chất lượng kênh, cũng như để quản trị một mạng có tên là “Mạng bảo mật thông tin thống nhất”.

Cơ quan chính phủ và sức mạnh Việt Nam quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống trao đổi thông tin kỹ thuật số tương tự. Một hệ thống như vậy có thể được xây dựng có tính đến kinh nghiệm của Nga và sử dụng các công nghệ, giải pháp kỹ thuật và thiết bị của Nga. Điều có ý nghĩa là việc triển khai kinh nghiệm của Nga trên lãnh thổ Việt Nam sau này sẽ được tiến hành đồng thời với việc tổ chức đào tạo chuyên gia.

Kết luận

Trong những năm gần đây, một số thỏa thuận liên chính phủ đã được ký kết giữa Nga và Việt Nam về các vấn đề hợp tác trong lĩnh vực bảo mật thông tin, tính toàn vẹn và bền vững vận hành cơ sở hạ tầng thông tin, bao gồm cả các mạng truyền thông đặc biệt. Hợp tác trong lĩnh vực này có lợi cho cả hai bên: Việt Nam có thể cải thiện đáng kể tình hình bảo mật thông tin và Nga có thể tăng xuất khẩu công nghệ và thiết bị.

Các nhà lãnh đạo Việt Nam hiểu rằng, vấn đề an ninh có thể chỉ được giải quyết với sự hỗ trợ của Liên bang Nga, chứ không phải của Trung Quốc hay Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Moscow ít hành động theo hướng Việt Nam hơn so với Bắc Kinh và Washington nên đang dần mất chỗ đứng trước các đối thủ cạnh tranh tích cực và tham vọng hơn. “Việc tăng cường hợp tác Nga – Việt có thể góp phần giải quyết các vấn đề an ninh đã được xác định và điều này hoàn toàn phù hợp với lợi ích quốc gia lâu dài của cả hai nước”. “Sự suy yếu thực sự của mối quan hệ giữa Moscow và Hà Nội sẽ cản trở việc thực thi chính sách “Xoay trục sang phương Đông” ở Nga và chính sách Đổi mới tại Việt Nam. Quá trình này không chỉ làm tổn hại đến việc giải quyết các vấn đề an ninh cả chung và riêng ở hai nước, mà còn làm suy yếu vị thế của cả hai quốc gia trên trường quốc tế”.

Trong thế giới hiện đại, không một quốc gia nào có thể một mình đối phó với sự chênh lệch kỹ thuật số và các mối đe dọa không gian mạng ngày càng tăng, cũng như các mối đe dọa đối với chủ quyền liên quan đến sự chênh lệch này”. Sự phát triển hợp tác chống lại các mối đe dọa không gian mạng hiện đại giữa Moscow và Hà Nội sẽ góp phần củng cố vị thế của hai quốc gia trong bối cảnh các cuộc chiến công nghệ đã bắt đầu nhiễu loạn không gian mạng ngày một gia tăng.

Người dịch: Đỗ Minh Cao

Nguồn: TN 2019 – 59

Liệu châu Âu có thể thoát khỏi sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng của Nga? – Phần II


Pháp: Nước lớn về năng lượng hạt nhân của châu Âu

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (4%), dầu mỏ (31%), khí đốt tự nhiên (14%), năng lượng hạt nhân (41%), năng lượng tái tạo (11%).

Pháp là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai châu Âu, chỉ xếp sau Đức, chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu do trữ lượng dầu mỏ và khí đốt tự nhiên ít. Đồng thời, Pháp cũng là nước sản xuất năng lượng hạt nhân lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ, là nước xuất khẩu ròng điện. Phần lớn điện năng của Pháp đến từ năng lượng hạt nhân, tiếp đó là thủy điện, về cơ bản có thể tự cung tự cấp năng lượng.

Về khía cạnh nhập khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, nguồn cung của Pháp đa dạng hơn so với Đức. Năm 2020, Pháp nhập khẩu xăng nhiều hơn dầu thô, trong đó dầu thô chủ yếu có nguồn gốc từ Kazakhstan (16%), Mỹ (16%) và Saudi Arabia (13%); sản phẩm xăng chủ yếu nhập khẩu từ Nga (18%) và Bỉ (13%). Nhìn chung, Nga vẫn là nước cung ứng lớn nhất các sản phẩm dầu thô và xăng của Pháp, các nhà cung ứng chủ yếu còn lại bao gồm Mỹ, Saudi Arabia, Algeria, Kazakhstan, các khu vực cung ứng khác nắm 50% nhu cầu của Pháp.

Nguồn cung khí đốt tự nhiên lớn nhất của Pháp là Na Uy (36%), tiếp đó là Nga (17%) và Algeria (8%). Trong khi đó, khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Pháp chủ yếu đến từ Algeria (21%), Nga (21%), Nigeria (20%), tổng nguồn cung của Mỹ và Qatar chiếm khoảng 10%.

Do đó, so với Đức, sức ép trả đũa từ Nga mà Pháp đối diện không quá lớn, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc gia tăng các biện pháp trừng phạt năng lượng đối với Nga. Hơn nữa, có “sức mạnh” từ năng lượng hạt nhân, Chính phủ Pháp sẽ dốc toàn lực thúc đẩy các biện pháp giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Sau khi xảy ra xung đột Nga – Ukraine, một mặt Pháp nhanh chóng yêu cầu các nước cung ứng khác gia tăng nguồn cung dầu và khí đốt, mặt khác đưa ra các biện pháp cải cách năng lượng ở trong nước: giữa tháng 3 vừa qua, Chính quyền Emmanuel Macron tuyên bố sẽ ngừng trợ cấp cho việc lắp đặt mới các lò sưởi khí đốt tự nhiên trong khu dân cư, đồng thời tăng cường hỗ trợ đối với việc sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo, tăng trợ cấp 1000 euro cho các hộ lắp hệ thống sưởi bơm nhiệt và sinh khối. Chính phủ sẽ cung cấp 150 triệu euro để hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ quan chức năng ở các thành phố chuyển sang sưởi ấm bằng năng lượng tái tạo.

Italy: “Ngồi chung một con thuyền” với Đức

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (5%), dầu mỏ (36%), khí đốt tự nhiên (39%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (19%), năng lượng khác (2%).

Sau thảm họa hạt nhân Chernobyl ở Ukraine năm 1987, Italy quyết định ngừng phát triển điện hạt nhân bằng một cuộc trưng cầu dân ý với số phiếu áp đảo, trở thành nền kinh tế lớn nhất không sử dụng năng lượng hạt nhân ở châu Âu, đồng thời đến nay cũng là quốc gia Tây Âu có tỷ lệ phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng cao nhất (77,5% vào năm 2019).

Hiện nay, khí đốt tự nhiên đáp ứng 40% nhu cầu năng lượng của Italy, tuy nhiên 40% khí đốt tự nhiên nhập khẩu của nước này đến từ Nga, tương đương với 3 tỷ m3/năm, muốn thoát khỏi phụ thuộc vào Nga có thể nói là khó khăn chẳng thua kém Đức. Ngoài việc tìm cách mở rộng nguồn cung từ hai nước cung ứng lớn thứ hai và thứ ba là Algeria (23%) và Na Uy (11%) thì Italy đang có kế hoạch xây dựng hai kho chứa LNG nổi (FSRU) để tăng cường nhập khẩu LNG.

Hai tàu vận chuyển LNG có tổng dung lượng hơn 10 triệu m3 sẽ được bố trí ở biển Tyrrhenus và biển Adriatic, gần các cảng hiện có cơ sở hạ tầng đường ống của Italy, tìm cách nhập khẩu LNG từ các nơi như Qatar, Mỹ, Mozambique… Đầu tháng 3, Bộ trưởng chuyển đổi năng lượng Italy Roberto Cingolani cho biết ít nhất cần phải mất 3 năm mới có thể hoàn thành việc thay thế nhập khẩu khí đốt tự nhiên của Nga, tuy nhiên thông qua việc tăng cường nhập khẩu LNG có thể thay thế 2 tỷ m3 trong trung hạn.

Năm 2020, lượng sản xuất điện bằng năng lượng tái tạo (38%) của các nước EU đã lần đầu tiên vượt qua nhiên liệu hóa thạch (34%), tuy nhiên tỷ trọng của năng lượng tái tạo ở Italy lại khá thấp, thấp hơn mức bình quân 22% của châu Âu. Cùng với chiến tranh Ukraine và cuộc chiến trừng phạt diễn ra, Chính phủ Italy đã nhanh chóng phê chuẩn nhiều dự án năng lượng tái tạo lớn, tuy nhiên để làm được điều này cần phải có thời gian. Mặc dù Thủ tướng Italy Mario Draghi tạm thời chưa thể hiện lập trường về việc liệu có trừng phạt năng lượng đối với Nga hay không, nhưng nhiều khả năng là chỉ đồng ý cấm nhập khẩu dầu. Đối với Italy, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay luôn là tìm kiếm nguồn cung thay thế, nhưng điều không may là đây không phải là điều có thể khắc phục trong một sớm một chiều.

Hà Lan: “Kẻ thừa kế giàu có” cũng gặp rắc rối về năng lượng

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (11%), dầu mỏ (35%), khí đốt tự nhiên (38%), năng lượng hạt nhân (3%), năng lượng tái tạo (8%), năng lượng khác (5%).

Như đã đề cập ở trên, trữ lượng năng lượng hóa thạch của châu Âu ít nhất toàn cầu, nhưng trong đó có một “kẻ thừa kế giàu có”, chính là Hà Lan. Một mặt nước này cùng Anh, Na Uy, Đan Mạch chia sẻ các giếng dầu ở Bắc Hải, mặt khác lại có giếng khí đốt Groningen lớn nhất EU, nên Hà Lan không thiếu năng lượng. Tuy nhiên, do khai thác quá mức giếng khí đốt Groningen từ thập niên 1960 đến nay đã khiến mặt đất của tỉnh này chìm xuống, cường độ và tần suất động đất của khu vực phía Bắc trong mấy thập niên trở lại đây không ngừng tăng lên, đe dọa an toàn tính mạng của người dân bản địa. Trước sự phản đối mạnh mẽ của người dân, năm 2019 cơ quan quản lý chức năng quyết định đóng cửa giếng khí đốt vào năm 2022, sớm hơn 8 năm so với dự kiến vào năm 2030. Kể từ năm 2018, Hà Lan đã chuyển từ nước xuất khẩu ròng sang nhập khẩu ròng khí đốt tự nhiên.

So với năm 2000, tỷ lệ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu của Hà Lan chỉ là 38%, nhưng năm 2019 đã tăng vọt lên 64%, chỉ đứng sau Đức ở châu Âu, hiện nay ngay cả công ty Shell cũng phải dựa vào nhập khẩu dầu và khí đốt của Nga để duy trì hoạt động, trong đó khí đốt của Nga chiếm tới 30% lượng khí đốt tự nhiên nhập khẩu của Hà Lan.

Hiện nay, Hà Lan chỉ có một nhà máy điện hạt nhân và một trạm LNG. Hai năm qua, các cơ quan chức năng của Hà Lan gấp rút theo đuổi phát triển năng lượng tái tạo, hy vọng từng bước giảm thiểu việc sử dụng khí đốt tự nhiên. Số liệu mới nhất của năm 2020 cho thấy tỷ trọng năng lượng tái tạo của Hà Lan đã đạt 11,1%.

Kể từ khi xảy ra cuộc xung đột Nga – Ukraine đến nay, giá khí đốt tự nhiên ở châu Âu tăng lên mức chưa từng có, mặc dù vậy Chính phủ Hà Lan vẫn hết sức thận trọng đối với việc khai thác lại giếng khí đốt Groningen. Cuối tháng 2, Thủ tướng Mark Rutte cho biết: không thể để 100.000 – 200.000 người dân phải đối diện với rủi ro động đất lớn hơn vì giảm giá khí đốt. Tuy nhiên, Mark Rutte không loại trừ khả năng thay đổi lập trường liên quan, ông nói “Đây là tình huống cuối cùng, cũng là kịch bản cuối cùng nếu đột nhiên không có khí lưu chuyển từ các đường ống trong nhà”.

Mark Rutte cũng phản đối việc EU trừng phạt năng lượng của Nga. Trước khi xảy ra tình huống và kịch bản cuối cùng nêu trên, về cơ bản Hà Lan vẫn có khuynh hướng dựa vào nhập khẩu để giải quyết nhu cầu, và Nga đang là nhà cung cấp không thể thiếu.

Ba Lan: Than đá, khí đốt, đều dựa hoàn toàn vào Nga, liệu có thực sự ổn định?

Kết cấu năng lượng cơ bản: Nhiên liệu hóa thạch thể rắn (42%), dầu mỏ (30%), khí đốt tự nhiên (15%), năng lượng hạt nhân (0%), năng lượng tái tạo (12%), năng lượng khác (1%).

Là nước láng giềng tốt của Ukraine, Ba Lan có phản ứng mạnh mẽ nhất đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine, hàng triệu người tị nạn đã tràn vào nước này và được các gia đình mở rộng vòng tay chào đón. Chính phủ Ba Lan đứng ở “tuyến đầu chống Nga”, yêu cầu mạnh mẽ EU cấm nhập khẩu toàn bộ năng lượng của Nga. Tuy nhiên, là quốc gia có dân số đông thứ 5 của EU, sự tự tin về năng lượng của Nga dường như không đủ. Một đặc trưng trong kết cấu năng lượng của Ba Lan là tỷ lệ sử dụng than đá vẫn khá cao, chiếm 42% vào năm 2019, chỉ đứng sau Estonia (60%) trong số các nước thành viên EU. Nguồn cung điện lực của Ba Lan phụ thuộc đến 70% vào than đá.

Hiện nay, khí đốt tự nhiên của Nga chiếm khoảng 55% tổng lượng nhập khẩu của Ba Lan, hơn nữa dầu mỏ và than đá của Nga lại chiếm đến 67% và 75% khối lượng nhập khẩu của nước này, đủ thấy nhu cầu cơ bản về năng lượng của Ba Lan cũng phụ thuộc vào Nga rất nhiều. Để theo đuổi mục tiêu giảm phát thải carbon do EU đưa ra, Ba Lan luôn tìm cách nhập khẩu nhiều khí đốt tự nhiên hơn để thay thế than đá trong thập kỷ này. Cùng với việc hợp đồng dài hạn của Ba Lan với tập đoàn năng lượng nhà nước khổng lồ Gazprom của Nga sẽ hết hạn vào cuối năm nay, Ba Lan đã có sự chuẩn bị nhất định: ngoài tăng cường nhập khẩu LNG của Mỹ, tuyến đường ống dẫn khí đốt tự nhiên nối với Na Uy sẽ được đưa vào sử dụng vào tháng 11 năm nay.

Trong chương trình cải cách năng lượng dài hơi, điện hạt nhân sẽ là trụ cột. Chính quyền Warsaw có kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên trong năm tới, đồng thời dự kiến Ba Lan có thể sản xuất 6 – 9 GW điện hạt nhân vào năm 2043, chiếm 10% tổng sản lượng điện, tổng kinh phí đầu tư xây dựng các lò phản ứng hạt nhân ước tính lên đến 22,5 tỷ euro.

Mặc dù nỗi ám ảnh của Ba Lan về thảm họa hạt nhân Chernobyl trong những năm 1980 sâu đậm hơn nhiều quốc gia châu Âu, nhưng phát triển điện hạt nhân dường như là con đường tất yếu, chính phủ hiện tại coi năng lượng hạt nhân là một khâu then chốt để thoát khỏi sự phụ thuộc vào than đá. Trong đó, Ba Lan có ý định đặt nhà máy điện hạt nhân ở khu vực sông Oder gần biên giới Đức – Ba Lan. Là quốc gia đang có kế hoạch loại bỏ điện hạt nhân, Đức cảm thấy lo ngại đối với các nhà máy điện hạt nhân. Trong chuyến thăm Ba Lan gần đây, Bộ trưởng Môi trường Đức Steffi Lemke – người thuộc đảng Xanh chủ trương loại bỏ năng lượng hạt nhân đã phát biểu rằng không loại trừ khả năng sử dụng công cụ pháp lý: theo quan điểm của Berlin, năng lượng hạt nhân vừa không tốt vừa không an toàn. Nếu các lò phản ứng hạt nhân được xây dựng ở Ba Lan, chúng tôi sẽ sử dụng các văn bản pháp lý thích hợp để theo đuổi đến cùng… Ở cấp độ châu Âu, điều này không cần nói”.

(còn tiếp)

Nguồn: CVĐQT – số 04/2022