Cải cách ở Nga trong mắt của Max Weber – Phần đầu


R.P. Shpakova

M. Weber (1864 – 1920) – nhà xã hội học, sử học, kinh tế học và luật học người Đức là một người chống chủ nghĩa Marx khá nổi tiếng. Cơ sở phương pháp luận của ông này dựa trên nhận thức luận duy tâm Kant mới, phân biệt rạch ròi tri thức kinh nghiệm và các giá trị. “Hiểu” theo ông, đòi hỏi hành vi xã hội phải được lý giải thông qua phân tích các động cơ cá nhân; lý luận về các kiểu hình lý tưởng của Weber là các kiến trúc lý luận trừu tượng và tùy tiện về quá trình lịch sử. M. Weber coi nguồn gốc của CNTB Tây Âu là cái chịu ảnh hưởng có ý nghĩa quyết định của đạo Tin Lành. Những công trình chủ yếu gồm có: “Lịch sử nông nghiệp của thế giới cổ đại”, “Đạo đức Tin Lành và tinh thần của CNTB”, “Kinh tế và xã hội”. Trong bài này, tác giả, qua vốn tài liệu lưu trữ, đặc biệt là loạt bài nghiên cứu “về Nga” của M. Weber, muốn đánh giá lại giá trị những nhận định và dự đoán của M. Weber về công cuộc cải cách ở nước Nga cách đây đã ngót một thế kỷ. Tác giả bài viết khẳng định tính chất đúng đắn trong quan điểm của Weber và tầm nhìn xa của ông qua những dự báo đang được thời gian xác nhận. Phải chăng tác giả cho rằng những kết luận của M. Weber từ đầu thế kỷ này vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc cải cách ở nước Nga hôm nay?

“Nước Nga giờ đây đã thực sự bước lên con đường phát triển của châu Âu, cho dù thời gian gần đây nhất đã tái phạm những sai lầm nặng nề có thể có. Vỡ mộng không nhất thiết phải là một sự phục hiện công khai”. Câu nói trên được nói ra không phải hôm nay. Đó là lời của M. Weber, là người vào tháng Hai năm 1906 dùng để tổng kết những sự kiện chính trị của Nga hồi thế kỷ và coi đó là xu thế cơ bản. Nhu cầu chín muồi của những biến động chính trị kinh tế ở đất nước rộng lớn này, lúc đó được ý thức rõ không chỉ riêng trong xã hội nước Nga thôi, mà là khắp châu Âu, trước hết là ở nước Đức. Nga và Đức đều năm trong một tình cảnh giống nhau của những nước “chậm chân” về mặt kinh tế. Cái cản là hệ thống chính trị tổng tài đã tàn. Chế độ chuyên chế Sa hoàng đã hết thời, điều này thể hiện rõ qua làn sóng cách mạng và những thất bại quân sự. Như cách Weber diễn đạt, nước Nga “đúng là bị treo lơ lửng trong bầu không khí tự do”, trong bối cảnh những hoạt động nửa vời và đầy mâu thuẫn của chính quyền chính thống, những bước tiến không lấy gì là chắc chắn và những bước lùi tạm thời của nó. Nhưng cơ may để đưa được nước Nga từ chế độ tổng tài tiến lên chế độ dân chủ trong điều kiện cụ thể của cuộc đấu tranh giữa các đảng phái, những xung đột và sự đan kết rối rắm về lợi ích của các nhóm và tầng lớp xã hội khác nhau – đó là chủ đề cơ bản trong những bài viết của M. Weber “Bàn về vị thế nền dân chủ tư sản ở Nga” và “Bước quá độ của Nga sang chế độ hợp hiến giả danh”. Hai bài viết này không phải là một sự tổng kết về lập trường chính trị và cương lĩnh của các đảng phái, mà là một sự phân tích sâu rộng về mặt lịch sử – xã hội học. Những bài viết của M. Weber quả thực rất thấu đáo và sâu sắc, phần lớn là nhờ vốn hiểu biết tiếng Nga của ông, cái đã giúp ông sử dụng trực tiếp vốn sách báo tiếng Nga rất phong phú ở Heizenberg luôn bổ sung kịp thời sách báo của Nga. Một yếu tố khác giúp ông hiểu đúng tình hình là số người Nga lưu vong chính trị thường xuyên sang Đức, trong đó người được M. Weber đặc biệt coi trọng là F. Kistjakovskij, thủ lĩnh đảng Dân chủ lập hiến. Trong “quan niệm Nga thông thường, trước mắt chúng ta là một Weber lạ lẫm. Cái giọng văn gay gắt, sự bất cẩn về ngôn từ, thái độ bất cần đối với người đọc mà ta đã quen trong các công trình của ông đã biến mất. Tác giả bài viết giờ đây luôn ghi nhớ đến vị trí là người quan sát của mình, cố gắng tránh mọi sự ngờ vực về những định kiến trong đánh giá về “tình huống” của người khác”, về sự can dự vào tình huống đó. Nhưng đồng thời, Weber lại chia sẻ những nguyện vọng của các nhà cải cách Nga với sự tham gia chân thành và tình cảm sâu sắc, cùng đứng về phía họ, mặc dù không phải đồng tình với họ trên mọi vấn đề. Giờ đây cả hai bài viết trên đều không chỉ là một xác chứng lịch sử có ích của nhà nghiên cứu chính xác cả trong việc nhấn mạnh những dòng vận động cơ bản lẫn trong cách miêu tả các chi tiết. Những bài viết đó là bài học quý giá về phương pháp luận phân tích kịp thời các sự kiện trên vũ đài chính trị, chỉ ra những thế lực vô hình thúc đẩy hành động của các nhân vật trên vũ đài ấy. Cuối cùng, M. Weber cho chúng ta một bài học quý giá về nhận thức thực chất các vấn đề mà nước Nga đã vấp phải hồi đầu thế kỷ và cũng là những vấn đề – ở vòng xoắn ốc mới của sự vận động lịch sử – mà hôm nay nó định giải quyết. *** Đối với M. Weber, việc thừa nhận ý nghĩa toàn thế giới to lớn của nước Nga, tầm vóc ảnh hưởng về lịch sử – văn hóa của nó – mà Đức cũng là nước bị hút vào quỹ đạo của nó – là điều hiển nhiên không cần tranh cãi. Điều đó giải thích sự chú ý thường xuyên và quan tâm không mệt mỏi của ông tới những sự kiện ở nước Nga. Với Weber, còn một điều nữa cũng hiển nhiên: nước Nga là một bộ phận hữu cơ, không tách rời của châu Âu, của “thế giới văn hóa châu Âu”, đó là một nước phương Tây xét theo nền văn minh và thiên chức của nó. Thêm nữa, nền văn hóa châu Âu không thu hẹp trong giới hạn của địa lý châu Âu. Weber đã chứng minh một cách tin tưởng, không một chút gì gây nghi hoặc sự tương tự giữa nước Nga và Bắc Mỹ, một sự tương tự mà bạn đọc Nga hiện nay có thể tỏ ý hoài nghi. Thế nhưng sự tương tự đó lại được dẫn ra một cách thuyết phục. Cả hai nước, như Weber chứng minh, với tất cả những nét độc đáo riêng của mình, đều thuộc một định hướng – phương Tâ. Với Weber, Nga và Mỹ tương đương với nhau không chỉ như là “hai biển người liên thông chủ yếu”. Ông nhận xét sự tương đồng của hai nước cả về phương diện không gian bình nguyên đơn điệu mà ở đó, vào cuối thời cổ đại đã tập hợp các dân tộc thuộc nền văn hóa phương Tây”. Weber cho rằng vào đầu thế kỷ, ở Nga và Mỹ đều có nêu lên tư tưởng tự do chính trị và tinh thần. Chính đó là nguyên lý khởi đề thống nhất cơ bản của hai nước này. “Điểm quan trọng nhất khiến hai nước này trở nên gần gũi với nhau, hiểu theo một nghĩa nào đó, là cả hai đều là cội nguồn cuối cùng phát sinh ra thứ “tự do văn hóa” nội sinh”. Vào đầu thế kỷ XX có thể nói về sự hình thành nên cộng đồng thế giới dựa trên những nguyên tắc của nền văn hóa châu Âu – những nguyên tắc này được trình bày rõ nét nhất ngay từ thời Kant trong công trình “Khai sáng là gì” (năm 1784) của ông. Nhưng cộng đồng đó tuyệt nhiên không thuần nhất, nguyên khối, và nguyên tắc tự do thường là điểm yếu nhất. Khi cố gắng đạt tới trình độ phát triển của các nước trung tâm châu Âu, nước Nga đã có thể đặt ra và giải quyết thành công nhiệm vụ đó vì nó không tồn tại biệt lập, mà là một bộ phận của cộng đồng thế giới. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi cho những tư tưởng dân chủ, các quyền con người và công dân ở nước Nga là điều dễ hiểu và nó được sự hưởng ứng đồng cảm ở nước ngoài. Weber đã viết: “Mặc dù có đủ mọi khác biệt về dân tộc giữa người Nga và chúng ta, kể cả, có thể nói, những khác biệt về lợi ích dân tộc, chúng ta vẫn cảm thông sâu sắc với cuộc đấu tranh giải phóng của người Nga và những đại biểu của tự do ở nước Nga”. Những đại biểu của tự do mà ông muốn ám chỉ là nhóm những người theo chủ nghĩa lập hiến tập hợp thành “Liên minh giải phóng”. Năm 1905, ở Paris, họ đã công bố bản dự thảo hiến pháp Nga do chính họ soạn thảo. Bản dự thảo này, với lời nói đầu do P. Strouver viết, là một ý định đổi mới toàn bộ chế độ chính trị dựa trên cơ sở những nguyên tắc dân chủ. Chẳng hạn, tại các điều VI – XXII có trình bày kỹ và rõ “những quyền cơ bản của công dân, và những điều khác cũng nêu những luận điểm có ý nghĩa nền tảng của nền dân chủ nghị trường và nền kinh tế thị trường. Weber là người xem xét kỹ bản dự thảo này, đã gọi những đề xuất cải cách nêu trong đó là những điểm “có tính nguyên lý”, “có tính công dân đặc thù”, “có ý nghĩa giải phóng”. Đồng thời, ông cũng chỉ ra những chỗ yếu kém của văn kiện này, một văn kiện “vẫn còn nể vì địa vị của Sa hoàng” và không có những tiêu chuẩn để phân định có hiệu quả hai nhánh quyền lập pháp và hành pháp. Ở Nga, cũng như ở Tây Âu, CNTB đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của tồn tại, đã trở thành một sức mạnh không thể đảo ngược, chi phối một cách nghiệt ngã tiến trình phát triển kinh tế thị trường và tự do chính trị đã “hình thành” cùng nhau, đồng thời, hỗ trợ và củng cố vững chắc lẫn nhau, hòa nhập lại và kết tinh thành những hệ thống kinh tế – xã hội và các chỉ định pháp luật rõ ràng. “Cái tự do ngày nay đã ra những chồi nhánh đầu tiên trong sự đan kết độc đáo giữa hoàn cảnh và điều kiện không bao giờ còn có thể lặp lại nữa. Chúng tôi xin nêu lên những điểm quan trọng nhất trong số đó. Thứ nhất, đó là sự bành trướng hải ngoại. Trong toàn bộ hoạt động kinh tế của chúng ta, ta cảm nhận được làn gió lãng mạn hải ngoại. Nhưng giờ thì đã không còn có những phần đất tự do trên thế gian nữa… Thứ hai là việc ứng dụng khoa học vào đời sống… Thứ ba, trong những hoàn cảnh lịch sử đặc thù như vậy đã hình thành nên một thượng tầng tôn giáo đặc biệt, tạo nên trên thực tế những quan niệm giá trị được kết hợp vô số những hoàn cảnh chính trị và những tiền đề vật chất cũng rất đặc biệt – những cái đó đã quy định những đặc điểm dân tộc và những giá trị văn hóa của con người hiện đại”. Thực tế thì với tất cả sự giống nhau về các định hướng phát triển cơ bản về kinh tế – xã hội của châu Âu và nước Nga, nước Nga không biết đến một “sự đan kết độc đáo về hoàn cảnh” như vậy. Trong bài viết “Bước quá độ của nước Nga sang chế độ hợp hiến giả danh”, Weber cũng nhấn mạnh cả những điểm khác biệt khác về sự phát triển của nước này trên con đường TBCN so với cách của Tây Âu. Nước Nga đã “bỏ qua” được thời kỳ dài mang tính tất yếu để giai cấp trung gian trưởng thành. Không có giai cấp này, Nga mất đi hệ tư tưởng tự do tư sản bền vững và đóng vai trò chủ đạo trong xã hội cùng với sự tự do cá nhân của nó. Trong khi đó, chính hệ tư tưởng này là nhân tố thúc đẩy, chất xúc tác của động thái kinh tế. Trong tính đặc thù phát triển Nga, Weber cũng nêu cả sự tác động đồng thời của các thế lực kìm hãm. Tầng lớp tư sản dân tộc yếu đuối trong những biểu hiện chủ động sáng tạo của mình luôn gặp phải sự chống đối ngầm của thứ “chủ nghĩa cộng sản nông thôn phi hiện đại” trong cộng đồng nông thôn và vấp phải sự chống trả công khai của giai cấp công nhân là lực lượng ngay từ đầu đã nghe theo những người tuyên truyền “CNXH hiện đại” thù địch với tự do cá nhân”. Weber cho rằng mặc dù việc Nikolaj II tuyên bố “sở hữu tư nhân là thiêng liêng” đã kết thúc hoàn toàn chất lãng mạn thân Slavơ và toàn bộ nước Nga cũ nói chung”, nhưng vẫn chưa tạo nên được một nước Nga mới. Theo đánh giá của Weber, chế độ quan liêu nở rộng trong nước đã lấn át vị trí của thiết chế tự quản thực sự mang tính dân chủ, hoạt động tốt – hội đồng tự quản địa phương. Sự phân tích cảu Weber về lịch sử và hoạt động của hội đồng tự quản địa phương khiến người đọc tin rằng đó là thiết chế có nhiều triển vọng, đầy sức sống và có uy tín nhất trong con mắt đánh giá của dư luận xã hội. Bằng chính thực tế sự tồn tại, hoạt động nhất quán phụng sự lợi ích xã hội của mình, nó đã là cái tiêu biểu cho cuộc đấu tranh chống lại sự phân quyền theo đẳng cấp truyền thống. Ngay cả trong “tình trạng thảm hại”, khó khăn, chế độ hội đồng tự quản địa phương vẫn tỏ ra đủ sức chăm lo một cách có kết quả các trường học dân lập, dịch vụ y tế và thú y, xây dựng đường sá, thu thuế, thống kê… qua đó, bất chấp tất cả, chứng tỏ rằng nó đã đạt được những thành quả đáng kể. “Các hội đồng tự quản địa phương ở nước Nga hiển nhiên đáng được kính trọng… Kết quả của những nỗ lực của các hội đồng này trong những điều kiện cực kỳ gian khó, dẫu sao đi nữa, đáng ra vẫn phải chấm dứt những cuộc đàm luận thường xuyên đổi mới về “sự non nớt, chưa trưởng thành” của người Nga để quản lý trong điều kiện có tự do”. Weber tin chắc rằng ở nước Nga có một tiềm năng bên trong to lớn cho những cải cách dân chủ có hiệu quả, và chế độ tự quản địa phương là một xác chứng khẳng định thực tế cho điều này. Ông đánh giá tiềm năng đó là thước đo quan trọng cho thấy khả năng xây dựng những thể chế dân chủ và nhà nước pháp quyền đủ sức tiến hành trên thực tế những “cải cách về nguyên lý”. (còn tiếp)  Người dịch: Ngô Thế Phúc Nguồn: TĐB 95 – 07

“Duy vật lịch sử lộn ngược”? Từ hệ tư tưởng cải tổ đến hệ tư tưởng “Xây dựng chủ nghĩa tư bản” ở nước Nga – Phần I


D. Furman

Ở tất cả các nước có chế độ cộng sản bị sụp đổ, các phong trào chống cộng sản đòi dân chủ đang tạo ra một sơ đồ, khác nhau về chi tiết ở những phong trào dân tộc khác nhau, nhưng đều giống nhau xét về cơ cấu của quá trình lịch sử. Sơ đồ này phân đoạn lịch sử thành 4 thời kỳ.

Thời kỳ thứ nhất, trước khi có CNCS – được coi là tích cực. Đó là Nga (Litva, Estonia, Checkhia…) “mà chúng ta đã mất”. Thời kỳ thứ hai – thời CNCS, lẽ tự nhiên, là “vương quốc của bóng tối”. Thời kỳ thứ ba – thời quá độ giải phóng kèm theo những khó khăn và đấu tranh quyết liệt với đủ loại thế lực thù địch và phản động. Cuối cùng, thời kỳ thứ tư – khi các lực lượng bên “thiện” toàn thắng, hết thảy những gì đã bị CNCS làm hư hại sẽ được sửa chữa lại, thời đại của tự do, giàu sang, hạnh phúc sẽ đến. Trong phạm vi thời kỳ thứ tư, những gì bị mất trong bước quá độ từ thời kỳ thứ nhất sang thời kỳ thứ hai, sẽ quay trở lại, nhưng trở lại “trên một giai đoạn mới cao hơn”, để rồi không bao giờ mất đi được nữa.

Sơ đồ này phát sinh một cách tự nhiên, như là tự nó từ chính thực tế “CNCS” bị lật đổ và các yếu tố của nó (sơ đồ này) gắn kết với nhau một cách hợp lôgích và tâm lý. Nhưng đồng thời trong đó cũng có một lớp huyền thoại “kiểu cổ”. Xuyên suốt sơ đồ này là huyền thoại về một thiên đường đã mất rồi trở lại, nhiều lần được tái hiện dướng dạng thế tục trong các kiến trúc tư tưởng hệ thời cận đại và hiện đại. Sơ đồ này hàm chứa những hành động và nguyện vọng của con người ta. Nhưng đồng thời đó cũng là một sơ đồ huyền hoặc, biến đổi hiện thực lịch sử, biến nó thành một “câu chuyện cổ tích có hậu”. Người ta không chỉ cứ nghe hay nhìn nó trên máy thu hình – họ cũng tham gia vào đó, họ là những nhận vật trong hiện thực lịch sử đó.

Dĩ nhiên cái sơ đồ phát sinh tự nó này của ý thức quần chứng không giống nhau ở các nước khác nhau , tùy theo văn hóa và ký ức lịch sử của mỗi nước. Giả dụ như cuộc nổi dậy của Cộng hòa Estonia – đó không phải là cái gì khác hơn là dựng nên một Ukraine độc lập, như một cấu thể kiểu hiện đại “đầy đủ giá trị”, bền vững và được mọi người thừa nhận mà chưa từng tồn tại. Còn các thế lực thù địch mà người Armenia phải chống chọi ở thời kỳ thứ ba – thời kỳ quá độ – đó hoàn toàn là những thế lực khác, chứ không phải, chẳng hạn, là những kẻ thủ của người Latvia…

Lẽ đương nhiên, một sơ đồ như vậy cũng có cả trong phong trào chống cộng đòi dân chủ của chúng ta. Chúng ta cũng có cái nước Nga mà chúng ta đã đánh mất, cũng có những tai ách của CNCS, cũng đấu tranh khốc liệt với kẻ thù (những “cán bộ đảng nòng cốt”, các “quan ngài chủ tịch nông trường”, những tên “cộng sản phát xít”…) và đoạn kết, ta cũng sẽ có một nước Nga tự do hạnh phúc, sống chẳng kém gì dân Mỹ hay Thụy Điển, một cường quốc được mọi người kính trọng, được gia nhập vào câu lạc bộ các cường quốc dân chủ khả kính, “có cỡ”.

Tuy nhiên, theo tôi, những nét độc đáo của sơ đồ này ở nước Nga có nhiều hơn so với những khác biệt nhau trong các sơ đồ lịch sử chống cộng của các dân tộc khác. Nước Nga – đó là một “trường hợp đặc biệt”, và hệ tư tưởng chống cộng đòi dân chủ của nó phải có một số điểm khác biệt về nguyên tắc so với các hệ tư tưởng tương tự của các dân tộc khác chỉ bởi có một nguyên nhân đơn giản là mọi người – từ người Azerbajzhan đến người Hungaria – đều có thể thấy thời Nga trị trong thời kỳ CNCS, thấy trong CNCS hệ thống do người Nga áp đặt và khi được giải phóng thì đó là giải phóng khỏi chế độ “bạo chúa Moskva”. Còn người Nga thì lại là dân tộc duy nhất trong số các dân tộc được giải phóng khỏi CNCS, nhưng hệ tư tưởng chống của nó lại không thể “quy gán” CNCS cho ai khác và không thể coi việc lật đổ hệ thống CNCS là sự giải phóng dân tộc được. Vậy điều đó dẫn tới những hệ quả tư tưởng nào đây?

Đặc trưng của các phong trào chống cộng đòi dân chủ của các dân tộc khác, với tất cả những nét khác biệt giữa chúng, là tình cảm dân tộc và tư tưởng chống cộng cùng “chung một hướng”. Ở nước Nga thì điều đó không thể có.

“Tính nội sinh” của CNCS của chúng ta đẻ ra một lưỡng đề lôgích: hoặc nó là xấu xa vô điều kiện – vậy thì chúng ta đây cũng chẳng lấy gì làm tốt đẹp, nền văn hóa của chúng ta đã sinh ra một thứ quái vật – cũng tệ hại nốt, hoặc chúng ta là những người rất tốt đẹp, nền văn hóa của ta là sâu sắc nhất, vĩ đại nhất… nếu vậy thì CNCS cũng chẳng đến nỗi nào. Cái lưỡng đề ấy thường chẳng phải dài dòng và thậm chí thường cũng chẳng được ai ý thức, nhắc nhở đến. Hơn thế, nó bị ta dấu biệt khỏi ý thức, nhét vào “đáy sâu ý thức”. Nhưng dưới cái đáy sâu ấy, nó vẫn sống, luôn nhắc nhở ta và muốn thoát ra ngoài. Ta không thể không nhận thấy nó. Ngoài điều đó ra, CNCS ở ta – đó không chỉ là cái “của riêng ta” mà còn là một hệ tư tưởng mà dưới sự thống trị của nó và dựa trên cơ sở của nó đã dựng nên cả một đế quốc Nga thật vĩ đại.

Vì thế, CNCS của chúng ta và chủ nghĩa dân tộc của chúng ta hút vào nhau. Hệ tư tưởng của đảng Cộng sản Zjugenov và các đảng cộng sản khác của ta – khác với hệ tư tưởng của các đảng kế thừa các đảng cộng sản ở các nước khác thuộc Liên Xô cũ và Trung Âu, vẫn dựa trên “thế cường quốc”, những truyền thống dân tộc, chủ nghĩa tập thể Nga… Và ngay đến một thứ chủ nghĩa dân tộc chống cộng khét tiếng nhất thuộc loại phát xít, coi Cách mạng tháng Mười là kết quả của một trò bịp láu cá (nguyên văn – mưu Do Thái) cũng vẫn buộc phải phân biệt ở nước ta những kẻ làm cách mạng người Do Thái có hai loại “xấu” và “tốt” – Stalin và những lãnh tụ khác đã dựng nên đế quốc của dân tộc Nga, và vì thế, không thể là người chống cộng đến cùng. Khối “nâu đỏ” là hiện tượng đặc thù Nga và đã bắt rễ sâu trong ý thức của chúng ta và lịch sử của chúng ta.

Nhưng trong đời sống xã hội và văn hóa, mọi cái đều liên quan với nhau. Mặt kia của tính “cùng hướng” của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản của chúng ta, theo lẽ tự nhiên, phải là “tính không cùng hướng” của chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa chống cộng. Ở cực này là phái Zjuganov thì ở cực kia ta có “Sự lựa chọn của nước Nga”, và ngược lại.

Tư tưởng “nước Nga mà chúng ta đã đánh mất” trong hệ tư tưởng chống cộng đòi dân chủ của chúng ta đóng một vai trò nhỏ hơn nhiều so với tư tưởng “nước Checkhia mà người ta đã cướp mất của họ, ở người Checkhia, ở người Estonia cũng thế… Đối với một người theo đảng Dân chủ Nga, quá khức trước khi có chế độ cộng sản là một vấn đề hơn là một chỗ dựa. Dĩ nhiên anh ta rất muốn tìm được một chỗ dựa trong quá khứ, anh ta sẵn sàng vì thế mà chịu nhiều “nhượng bộ” hơn, chẳng hạn như khi tuyên truyền đề tài về cái chế bi thảm của gia quyến Sa hoàng và quên bẵng mất đủ loại những “ngày Chúa nhật đẫm máu” và “xử bắn ở Lenks”. Nhưng anh ta lại không thể nhắm mắt làm ngơ trước tính chất rõ ràng là xa lạ với lý tưởng tự do Tây hóa của xã hội trước Cách mạng, không thấy rằng chính sự tiến hóa của xã hội đó rốt cuộc đã dẫn đến Cách mạng tháng Mười. Vì vậy, các nhà dân chủ quá say sưa với tư tưởng muốn “nước Nga đã mất” nổi dậy, một cách tự nhiên, đã đi đến chỗ liên kết với những người cộng sản (V. Aksjuchic, I. Konstantinov, A. Ruskoj và nhiều người khác). Còn đối với các nhà dân chủ “chân chính” thì việc “mồi chài bằng quá khứ trước Cách mạng và khôi phục những thuộc tính của thời Sa hoàng đúng hơn là một trò mị dân, nhằm trung lập hóa sự chống đối của chủ nghĩa dân tộc trước việc Liên Xô sụp đổ. Những người dân chủ của các nước khác thì đúng là “khôi phục cái đã mất”, còn ở ta thì nói nhiều hơn về việc đã xây đắp một “tương lai tươi sáng”. Chẳng bao giờ người Checkhia, Estonia, Balan chống cộng đòi dân chủ lại đi gọi phong trào của mình chẳng hạn như là “Sự lựa chọn của Checkhia”: người Checkhia có lẽ là không có sự lựa chọn, xã hội kiểu phương Tây đúng là trạng thái tự nhiên của họ. Còn đối với các nhà dân chủ ở ta thì cái mà họ đang tranh đấu chính là “Sự lựa chọn (con đường) dân chủ của nước Nga”.

Dĩ nhiên là việc các nhà dân chủ (“chân chính”) ở Nga phản đối CNCS hăng hái và có tính nguyên tắc hơn. Còn những người dân chủ Balan, Chekhia hay ai đó nữa đều không hy sinh địa vị “đế quốc” của dân tộc mình để lật đổ CNCS và biến phần đông đồng bào mình thành một thứ dân thiểu số nhược tiểu. Còn các nhà dân chủ của ta thì đã hy sinh, hy sinh một cách hoàn toàn có ý thức và có lý tưởng.

Những kẻ thù chủ yếu trong cuộc đấu tranh ở “thời kỳ quá độ”, trong hệ tư tưởng dân chủ của chúng ta cũng khác hẳn những kẻ thù chủ yếu của những người dân chủ các nước khác. Đối với những người dân chủ của tất cả các nước thuộc Liên Xô cũ cũng như các nước Trung Âu thì kẻ thù chính – đó là các “thế lực đế quốc” đóng ở Moskva và mối nguy cơ chủ yếu – là “sự phục thù đế quốc”. Với chúng ta – đó là những thế lực thù địch của chính mình, sự phục thù đế quốc cũng là của chính chúng ta chứ không ai khác. Khi dân Pribantik đấu tranh với các “liên quân” và với Moskva là họ chống những kẻ “không phải dân Pribantik, còn khi các nhà dân chủ ta chống “liên quân” ấy, cũng Moskva ấy (“trung tâm đế quốc”) thì đó là họ chống chính người mình, chống người Nga, trong hệ tư tưởng của các phong trào chống cộng khác có tư tưởng đoàn kết dân tộc, còn ở ta thì ngay từ đầu đã có yếu tố “nội chiến”.

Cuối cùng, chủ nghĩa chống cộng của chúng ta mang tính nguyên tắc hơn nên đường lối Tây hóa của chúng ta cũng có tính nguyên tắc hơn. Đối với phần lớn các dân tộc đã được giải thoát khỏi CNCS khác, kiểu xã hội phương Tây giản đơn là một chuẩn mực tự nhiên, đối với các nhà dân chủ của ta thì đó đúng hơn là một lý tưởng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 95 – 04 & 05