Bán đảo Triều Tiên có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với Mỹ? – Phần I


Vai trò lãnh đạo của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương được thiết lập từ đống tro tàn của Hiroshima và Nagasaki, và dựa trên vị thế của Mỹ là cường quốc nguyên tử đầu tiên. Sau đó vũ khí hạt nhân đã định hình rõ địa chính trị châu Á. Ngày nay, trên bán đảo Triều Tiên, công nghệ hạt nhân một lần nữa được cho là điểm đặc trưng của một sự chuyển dịch mạnh mẽ trên cán cân quyền lực của châu Á. Một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Tổng thống Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể diễn ra trong tương lai, các sử gia tương lai đi đến nhìn nhận tên lửa đạn đạo được trang bị hạt nhân của Triều Tiên là ngòi nổ mà sẽ phá bỏ vai trò lãnh đạo chiến lược của Mỹ ở châu Á.

Để giải thích tại sao, chúng ta cần kết nối chặt chẽ 2 phần của câu chuyện về châu Á hiện đại. Thứ nhất là sự phát triển vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, nhất là thực tế rằng nếu Bình Nhưỡng chưa triển khai tên lửa đạn đạo liên lục địa, hay ICBM, thì nước này cũng đã đến ngưỡng làm vậy. ICBM của Triều Tiên là một vấn đề vô cùng khó đối với Mỹ bởi nó có tiềm năng chia rẽ Mỹ với các đồng minh của nước này. Phần thứ hai của câu chuyện này là Trung Quốc và việc nước này vươn lên vị thế siêu cường khu vực. Trung Quốc là thủy quái trong câu chuyện này và là lý do cốt lõi đằng sau vị trí ngày càng hiểm nghèo của Mỹ ở châu Á. ICBM của Triều Tiên chỉ làm trầm trọng thêm sự thay đổi này và đe dọa khởi xướng một sự sụp đổ vị trí của Mỹ.

Triều Tiên và ICBM của nước này

Các chuyên gia vẫn bất đồng về việc liệu Bình Nhưỡng hiện có thể phóng được một tên lửa gắn đầu đạn hạt nhân có tầm bắn tới các thành phố ở lục địa Mỹ hay không. Triều Tiên mới chỉ tiến hành 3 vụ thử ICBM, và chúng ta không thể chắc chắn rằng nước này có khả năng thu nhỏ đầu đạn hạt nhân cho vừa với phần mũi nhọn của một tên lửa như vậy, hoặc đầu đạn này có thể quay trở lại bầu khí quyển hay không. Nhưng Triều Tiên đang gần đạt được điều đó, nó không còn là vấn đề đối với họ. Vấn đề duy nhất là khả năng của ICBM của Triều Tiên giờ đây lớn đến mức Mỹ phải hành xử như thể đó là một thực tế mà ai cũng biết. Và Mỹ đang đáp trả. ICBM là vũ khí đã khiến Tổng thống Trump phải đe dọa Triều Tiên bằng vũ lực và hiện buộc ông phải chấp nhận đề nghị tham gia một cuộc gặp thượng đỉnh.

Chính quyền Trump nói họ chưa sẵn sàng để chấp nhận rằng Triều Tiên có khả năng tấn công Washington, New York hay Los Angeles bằng vũ khí hạt nhân. Mỹ lo sợ rằng lãnh đạo Triều Tiên “mất trí” đến mức ông ta có thể lựa chọn tấn công Mỹ bất cứ lúc nào. Nhưng đương nhiên điều đó sẽ gây ra một sự đáp trả hủy diệt từ Mỹ và có nhiều bằng chứng cho thấy Kim Jong-un đủ sáng suốt để tránh làm bất kỳ điều gì dẫn đến sự diệt vong chắc chắn xảy ra với mình.

Ý nghĩa thực sự của ICBM của Triều Tiên là nó tạo ra một hiện tượng giữa các đồng minh châu Á của Mỹ mà các nhà chiến lược gọi là “sự chia tách”. Khi việc Triều Tiên đe dọa giết hàng trăm triệu người Mỹ ngay tức khắc trở nên đáng tin, thì các đồng minh của Mỹ bắt đầu lo lắng rằng việc Mỹ cam đoan bảo vệ họ trong trường hợp Triều Tiên gây hấn đột nhiên có vẻ ít đáng tin hơn. Đó chính là lý do đặt các lực lượng vũ trang của Mỹ trong tình trạng nguy hiểm bằng việc đặt căn cứ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và những nơi khác nằm trong phạm vi của các vũ khí có tầm bắn ngắn hơn của Triều Tiên. Nhưng liệu Mỹ có thật sự sẵn lòng đặt Los Angeles vào tình trạng nguy hiểm để cứu Seoul?

Đúng là Mỹ đã phải đối mặt với vấn đề chia tách trước đây và đã vượt qua nó. Vào những năm 1960, sau khi Liên Xô có được phương tiện để tấn công các thành phố của Mỹ, Washington đã phải thuyết phục các đồng minh NATO của mình rằng họ vẫn cam kết bảo vệ châu Âu. Washington đã giải quyết nỗi sợ hãi này bằng việc đặt các vũ khí hạt nhân nhỏ hơn trên đất của châu Âu và đưa các thành viên NATO vào trong cấu trúc chỉ huy đối với các lực lượng hạt nhân, do vậy liên kết các đồng minh lại gần nhau hơn.

Mỹ có làm được điều tương tự vào thời điểm này hay không? Các rào cản thực tế đối với việc Mỹ đưa vũ khí hạt nhân trở lại bán đảo Triều Tiên là khó vượt qua, nhưng có thể thực hiện. Tuy nhiên, đó không phải là vấn đề thực tiễn, mà là chính trị. Triều Tiên không phải là Liên Xô. Triều Tiên không phải là mối đe dọa sống còn mang tính toàn cầu đối với lợi ích và các giá trị của Mỹ. Chẳng những không phải là lãnh đạo của một phong trào ý thức hệ với các tham vọng toàn cầu mang tính thù địch với những lý tưởng chính trị của Mỹ, Triều Tiên còn là nhà nước ẩn dật và đẩy lùi đi xa, một dấu tích của Chiến tranh Lạnh bị lịch sử bỏ lại phía sau. Triều Tiên có một nền kinh tế với quy mô xấp xỉ Lào, và khả năng quân sự thông thường của Triều Tiên – đó là các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân phi hạt nhân – chỉ xếp hạng hai.

Không có Chiến tranh Lạnh để đem lại cho Triều Tiên một bối cảnh lớn hơn, Bình Nhưỡng, bằng tất cả những thước đo khách quan, lại chẳng quá quan trọng, và các đồng minh châu Á của Mỹ – chủ yếu là Hàn Quốc và Nhật Bản cũng như Australia – đều biết điều đó. Đó là lý do giải thích tại sao ICBM của Triều Tiên lại là một diễn biến quan trọng đến vậy: nó cho thấy thực tế rằng lợi ích của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên không quan trọng như những gì các đồng min có thể đã hy vọng, và nó không còn gắn kết Mỹ với khu vực như trước nữa.

Hiện nay, đòi hỏi dựa vào hiểu biết khá hẹp về lợi ích của Mỹ, hẹp hơn nhiều so với những gì các tổng thống Mỹ gần đây có, và trong các tuyên bố chính sách mà khẳng định rằng Mỹ có lợi ích sống còn ở châu Á – Thái Bình Dương và nước này phải duy trì được vị thế chiến lược ưu việt của mình. Người ta nói rằng vai trò lãnh đạo của Mỹ khiến cho khu vực trở nên an toàn hơn và hùng mạnh hơn. Mạng lưới liên minh châu Á của Mỹ là một nền tảng của vai trò lãnh đạo đó, vì vậy việc làm suy yếu một trong các liên minh này vì có sự nhúng ta của Triều Tiên sẽ là một đòn đánh vào Mỹ và trật tự quốc tế dựa trên quy tác mà Mỹ bảo vệ.

Nhưng đòn đánh đó lớn cỡ nào?

Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trong Chiến tranh Lạnh, câu hỏi này dễ trả lời hơn vì Mỹ tham gia cuộc đấu tranh toàn cầu nhằm đánh bại chủ nghĩa cộng sản. Đây là mục tiêu thôi thúc đằng sau mạng lưới liên minh và các căn cứ quân sự toàn cầu của Mỹ bao gồm các liên minh và căn cứ quân sự ở châu Á. Sau đó chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu sụp đổ, và Mỹ chỉ tìm thấy một mục tiêu mang tính thôi thúc mới trên trường quốc tế sau cuộc tấn công vào ngày 11/9. Nhưng cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo chưa bao giờ là một động lực mạnh mẽ đằng sau những cam kết liên minh của Mỹ ở châu Á. Thay vào đó, cấu trúc liên minh này đã tồn tại sau Chiến tranh Lạnh phần lớn là bởi chẳng có gì thách thức nó.

Nhưng hiện Mỹ đang đối mặt với một đối thủ ngang hàng thực sự ở châu Á. Theo Sách Trắng về chính sách đối ngoại của Australia năm 2017, đến năm 2030 nền kinh tế Trung Quốc có thể đạt 42.400 tỷ USD so với 24.000 tỷ USD của nền kinh tế Mỹ. Và Trung Quốc sẽ muốn nâng vị thế chiến lược của mình cho tương xứng với vị thế kinh tế. Trung Quốc dường như trước mắt không có tham vọng thách thức vị thế quân sự toàn cầu ưu việt của Mỹ, nhưng Chủ tịch Tập Cận Bình đã nói rõ rằng ông coi Trung Quốc là một mô hình quản trị và phát triển toàn cầu để cạnh tranh với mô hình của Mỹ. Ít nhất, thì điều thận trọng là giả định rằng Trung Quốc sẽ không còn chấp nhận ở vị trí số 2 sau Mỹ trong chính khu vực của mình nữa. Cũng như Washington đã từ chối cho phép các cường quốc nước ngoài thống trị môi trường ngay sát sườn mình khi nước này đã vươn lên vị thế nước lớn, Trung Quốc sẽ muốn điều tương tự ở châu Á – Thái Bình Dương.

(còn tiếp) 

Nguồn: Australian Financial Review – 29/03/2018

TLTKĐB – 17/04/2018

Advertisements

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần cuối


Mặt khác, di sản của Chính quyền Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo làm cho chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân lẫn thị trường của Kim Jong-un có thể trở thành hiện thực. Năm 2005, chuyến thăm Triều Tiên của Hồ Cẩm Đào nhận được sự đón tiếp trọng thể, sua khi về nước lập tức xây dựng Triều Tiên thành kiểu mẫu ý thức hệ trong nước, bổ sung cho sự thiếu hụt về tính hợp pháp ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2008, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã chọn Triều Tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên chính là dựa trên nhu cầu về ý thức hệ như vậy. Năm 2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến thăm Triều Tiên, đã ký một loạt dự án viện trợ và hợp tác kinh tế trị giá khoảng 1 tỷ NDT, kỳ vọng vừa có thể duy trì chính quyền vừa giúp đỡ Triều Tiên mạnh dạn tiến hành cải cách thị trường hóa. Tuy mọi việc không được hoàn toàn thực hiện, sau khi cầu hữu nghị Trung – Triều được xây dựng, do Triều Tiên không làm đồng bộ đường giao thông nên không thể sử dụng, nhưng vẫn là tài sản quý giá mà Kim Jong-il để lại. Ví dụ các kiến trúc tương đối mới ở ven bờ sông Áp Lục dường như đều được Triều Tiên tận dụng xây dựng từ nguồn vốn và vật liệu giành được trong dự án của Ôn Gia Bảo; Triều Tiên cử các nhà quản lý doanh nghiệp sang Trung Quốc học tập kinh tế thị trường giống như Trung Quốc cửa cán bộ sang Đại học Harvard và Singapore học tập. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong-un có thể đã sửa đổi chiến lược tiên quân của cha mình, áp dụng chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân và thị trường, từ đó bên cạnh việc củng cố quyền lực vẫn có thể duy trì ổn định xã hội và kinh tế, và giành được sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa chính trị Triều Tiên.

Nhưng quan sát của tác giả tại Triều Tiên cũng cho thấy mức độ thị trường hóa của nền kinh tế nước này tương đối cao, đã gây dựng được tầng lớp trung lưu mới nổi thế tục, rất giống “vương quốc ẩn dật” như học giả Ralph Hassig và Kongdan Oh thuộc Viện Brookings từng mô tả. Đằng sau nó là một nền kinh tế xám khổng lồ, theo tính toán của giáo sư Kim Byung-Yeon thuộc Đại học Quốc gia Seoul, chiếm khoảng 70% GDP, gần như hoàn toàn thay thế hệ thống phân phối công cộng truyền thống, chiếm trên một nửa thu nhập quốc dân Triều Tiên. Năm 2015, GDP của Triều Tiên vào khoảng 16 tỷ USD, kim ngạch thương mại với Trung Quốc là 5,4 tỷ USD, ngoại thương với Trung Quốc chiếm tỷ lệ gần 70% kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên, có thể nhận thấy kinh tế Triều Tiên phụ thuộc gần 50% vào bên ngoài. 70% là một con số lớn bí ẩn của nền kinh tế Triều Tiên, ví dụ như dưới thời Kim Nhật Thành, vì các cơ sở điện kém chất lượng nên tổn thất điện năng lên đến 70% tổng công suất phát điện, và ngay nay 70% lại đại diện cho mức độ thị trường hóa của nền kinh tế: như Triều Tiên dùng 3% đất đai để cung cấp gần 70% các sản phẩm nông nghiệp, và hơn 70% lực lượng lao động Triều Tiên đang làm việc cho một nền kinh tế thị trường.

Trong 6 năm qua, mặc dù nội bộ Triều Tiên có sự thay đổi quyền lực, các công ty Triều Tiên tham gia ngoại thương và xuất khẩu lao động cũng đã trải qua nhiều thay đổi, tuy hiên, trong các điểm mù chiến lược của Tập Cận Bình, dưới chiến lược mơ hồ của Tập Cận Bình đối với Triều Tiên, các công ty và người dân Triều Tiên dường như đã đầu tư vào toàn cầu hóa lấy Trung Quốc làm trung gian theo kiểu sùng bái họ Kim. Trong các nhà hàng nhỏ ở Đan Đông, chủ nhà hàng hàng ngày xử lý các đơn hàng đến từ Nghĩa Ô, sau đó chuyển giao cho thương nhân Triều Tiên và chịu trách nhiệm vận chuyển; trong các khu kinh tế, hàng chục nghìn công nhân và nông dân Triều Tiên làm việc miệt mài trong nhà máy sản xuất quần áo và phần mềm, khách hàng của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Đầu tháng 3/2017, lệnh cấm vận nghiêm ngặt được thực thi đã làm gián đoạn việc buôn bán than và xuất khẩu lao động đến từ Triều Tiên, nhưng các chuyến xe hàng qua lại như con thoi ở cảng Đan Đông không giảm đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, nhưng chiến lược mơ hồ của Trung Quốc lại khiến các quan chức và người dân Triều Tiên dần dần thích ứng với sự chuyển đổi mô hình của thị trường, không chỉ để nuôi quốc gia, mà còn hỗ trợ các chương trình hạt nhân và cho phép Kim Jong-un thử hạt nhân, cũng giành được thời gian quý báu để chính thức thúc đẩy cải cách toàn diện theo định hướng thị trường.

Thứ hai, từ lập trường và cách sắp đặt của Trung Quốc trong mối quan hệ với Triều Tiên cho thấy quan hệ Trung – Triều vẫn còn giới hạn ở mối quan hệ liên đảng truyền thống, mà không phải mối quan hệ giữa các quốc gia bình thường. Về mặt truyền thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi Triều Tiên như một chính đảng anh em của phong trào cộng sản quốc tế và không phân biệt giữa đảng và nhà nước. Cho dù là thời kỳ liên quân kháng Nhật Đông Bắc hay là cuộc nội chiến sau năm 1946 cũng như trong mối quan hệ ba bên Xô – Trung – Triều sau năm 1949, dù liên quan đến vấn đề phân chia biên giới hay vấn đề chủ quyền vùng Đông Bắc, hoặc vấn đề quân nhân Triều Tiên và vấn đề kiều dân quay trở lại, hay các vấn đề ngoại giao thì quan hệ song phương luôn lấy mối quan hệ đặc biệt giữa hai đảng làm chủ đạo, mà không phải là chủ nghĩa quốc gia, vượt qua mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Mối quan hệ đặc biệt này độc đáo ngay cả khi so sánh quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác. Trên thực tế, trong hầu hết cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này đều có sự tham gia của ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách ngoại giao liên đảng Vương Hộ Ninh, đồng thời nhân vật này còn tiễn Kim Jong-un ở ga tàu Bắc Kinh; thành viên phái đoàn Trung Quốc tại cuộc gặp cũng ưu tiên nêu trước chức danh trong đảng. Trong thái độ đó với Triều Tiên, Tập Cận Bình kế thừa nguyên tắc quan hệ liên đảng, và không có ý định thay đổi việc này, điều này giống với đường lối nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng đối với đất nước của Tập Cận Bình kể từ Đại hội XIX tới nay.

Tuy nhiên, thái độ của Triều Tiên lại hoàn toàn khác, nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong quan hệ song phương. Ví dụ, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát năm 1950, Triều Tiên luôn giữ sắc thái quốc gia dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong việc xử lý vấn đề thay đổi đảng tịch và quân tịch của quân nhân Triều Tiên quốc tịch Trung Quốc, nhấn mạnh sự thừa nhận dân tộc và khác biệt quốc tịch đối với quân nhân Triều Tiên có quốc tịch Trung Quốc, chứ không phải là mối quan hệ chính đảng anh em, hạn chế nghiêm ngặt việc họ trở về nước. Về vấn đề lãnh thổ và biên giới, trong khi tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Triều Tiên tương tự lợi dụng lập trường liên đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự khác biệt tế nhị về lập trường quốc gia dân tộc của Triều Tiên để giành được lợi ích tối đa, đặc biệt là lợi dụng các cuộc tranh luận về ý thức hệ giữa chính đảng Trung – Xô để họ viện trợ cho Triều Tiên. Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình ngừng xuất khẩu cách mạng, làm phai nhạt ý thức hệ, làm nhạt mối quan hệ liên đảng, quan hệ Trung – Triều cũng rơi vào lạnh nhạt trong thời gian dài. Sau Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao Động Triều Tiên không tổ chức đại hội trong 36 năm, chủ nghĩa Marx bị loại bỏ, Triều Tiên diễn biến thành đất nước do một người cai trị, và cuối cùng rơi vào nạn đói sau Chiến tranh Lạnh. Xét theo nghĩa này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên không phải là bình thường từ đầu đến cuối, và nó không phải là mối quan hệ giữa hai quốc gia bình thường.

Trục mới

Nếu thế giới bên ngoài coi mối quan hệ Trung – Triều trong tương lai là một “trục mới” vượt trên mối quan hệ quốc gia bình thường thì không có gì đáng ngạc nhiên, sự tiếp nối của mối quan hệ chính đảng Trung – Triều truyền thống cũng là sự liên tưởng tự nhiên tới việc Tập Cận Bình, Kim Jong-un có thể cầm quyền suốt đời. Ngoài ra, mong muốn đối thoại trực tiếp giữa Triều Tiên và Mỹ quá mạnh, gần như có thể được xem như Triều Tiên hoặc Kim Jong-un muốn sớm thoát khỏi mối quan hệ nhà nước không bình thường này dù phải đợi hơn 30 năm sau Chiến tranh Lạnh mới có cơ hội.

Ngay cả khi nhìn lại lịch sử cũng không thấy có gì lạ. Sau binh biến Nhâm Ngọ năm 1882, (tương đương với các cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay), vua Cao Tông của Triều Tiên năm 1887 đã cử Bak Jeongyang làm công sứ đầu tiên tại Mỹ, và sau đó còn xảy ra tranh chấp ngoại giao với Nhà Thanh xung quanh việc Nhà Thanh là thuộc quốc hay là chủ thể tự do hoàn toàn, cuối cùng đã diễn biến thành Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Kết cục như vậy là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không mong muốn nhìn thấy, cũng chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm sẵn sàng chấp nhận Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân để làm sự kiềm chế đối với bên thứ ba – đây là sự đảo lộn cơ bản hệ thống Yalta và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bắc Kinh đang chịu mối đe dọa của cuộc chiến thương mại của Trump, nhưng không ai dám thách thức trật tự quốc tế lấy WTO và toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do làm cơ sở. Điều này về cơ bản cũng đã phủ nhận khả năng Trung Quốc và Triều Tiên sẽ hình thành một “trục mới” trên cơ sở là “các nước sở hữu hạt nhân”. Sau cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un, Trung Quốc đã nhanh chóng thông báo tình hình cho Mỹ và Hàn Quốc.

Đối với Triều Tiên, tất nhiên một mặt họ đang cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nước mẹ hàng nghìn năm này, tìm kiếm tính chủ thể mới trên vũ đài thế giới; mặt khác, nếu Triều Tiên vượt qua cuộc khủng hoảng hạt nhân thuận lợi, tìm được giải pháp, thì cũng sẽ thu hoạch được lợi ích kinh tế từ trong chiến lược “tống tiền hạt nhân”. Sau tất cả, trong tương lai liệu Triều Tiên có thực sự từ bỏ chương trình hạt nhân, bàn về thời gian biểu cho việc từ bỏ hạt nhân hay không thì còn nhiều tính khó lường. Kim Jong-un có thể tận dụng tính khó lường của chủ nghĩa cơ hội để biến “khoản hoa hồng từ sự tống tiền hạt nhân” thành hiện thực, sử dụng chính sách song phương giành được lợi ích tối đa từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, giống như Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa và giành được “lợi ích từ Chiến tranh Lạnh” theo đường lối chủ nghĩa thực dụng.

Tuy nhiên, về mặt dài hạn, sự mơ hồ chiến lược của Triều Tiên, Trung Quốc và chủ nghĩa cơ hội lại có thể kiềm chế sự bình thường hóa quan hệ Triều – Mỹ trong thời gian dài, cản trở Triều Tiên gạt Trung Quốc sang một bên, ôm lấy toàn cầu hóa và trật tự quốc tế. Chu dù là trục cũ hay mới, có tồn tại hay không, sự kiên trì đối với mối quan hệ liên đảng đặc biệt giữa Trung Quốc và Triều Tiên đều đã cản trở Trung Quốc từ bỏ gánh nặng Triều Tiên, hoặc cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” thậm chí “quan hệ nuôi dưỡng” với hệ tư tưởng của Triều Tiên, về cơ bản cản trở việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng cản trở tiến trình Trung Quốc và Triều Tiên là quan hệ bình thường trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

Có lẽ giải pháp duy nhất để cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” giữa Trung Quốc và Triều Tiên, giúp Trung Quốc loại bỏ sự mơ hồ chiến lược, đạt được bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương, chính là thống nhất bán đảo Triều Tiên. Ví dụ, trong khi Trung Quốc thực hiện sự phục hưng quốc gia, giúp người dân ở Bắc – Nam bán đảo Triều Tiên đạt được sự thống nhất và hòa giải dân tộc. Đây mới là ý nghĩa thực tế nhất của cái được gọi là “cộng đồng chung vận mệnh của con người”.

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần đầu


Vào thời điểm tình hình Đông Bắc và Tây Thái Bình Dương phức tạp, căng thẳng chưa từng có, liệu việc hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Triều Tiên tuy ở rất gần nhưng chưa từng gặp nhau lại tiến hành cuộc gặp không chính thức dưới sự sắp đặt hết sức bí mật có thể làm ấm lại mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt trong nhiều năm hay không. Ngoài ra, tại cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này, các phát ngôn như “đi thăm người thân” và “di nguyện”…, Trung Quốc và Triều Tiên sẽ khôi phục tình hữu nghị truyền thống, tiếp đến kết thành trục mới ở Đông Bắc Á, thay đổi cục diện an ninh Tây Thái Bình Dương cũng đều là những điều có giá trị nghiên cứu.

Điều thú vị có lẽ rằng đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Kim Jong-un từ khi lên làm nhà lãnh đạo Triều Tiên. Tuy chỉ là chuyến thăm không chính thức, nhưng Trung Quốc lại dành cho Kim Jong-un các biện pháp đảm bảo an ninh nghiêm ngặt chưa từng có. Đoàn tàu chở nhà lãnh đạo Kim Jong-un vừa đi qua cầu hữu nghị Trung – Triều nối giữa hai thành phố Đan Đông – Trung Quốc và Sinuiju – Triều Tiên một đoạn thì rào chắn thép được dựng lên để ngăn không cho các phóng viên dòm ngó từ khách sạn gần cầu. Từ đêm ngày 25/3 đến gần tối ngày 26/3, đoàn tàu chở Kim Jong-un đi lại rất thuận lợi trong lãnh thổ Trung Quốc. Hành trình đến Bắc Kinh của Kim Jong-un đã được kiểm soát, đến camera giám sát ở các đường giao nhau cũng bị bịt kín. Tuy nhiên, chuyến thăm Bắc Kinh ngắn ngủi của Kim Jong-un lại không phải là chuyến thăm “không chính thức”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp đóng Kim Jong-un bằng nghi lễ quốc gia long trọng, sau Kim Jong-un về nước, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc và các phương tiện truyền thông chính thức mới đưa tin rầm rộ về cuộc gặp thân mật giữa hai nhà lãnh đạo này.

Vì vậy, vào thời điểm cục diện chính trị Đông Bắc Á có bước chuyển ngoặt thông qua hành trình bí mật trong chuyến thăm của Kim Jong-un và khói mù bao phủ trên bầu trời Bắc Kinh, cuộc gặp được tiến hành vội vã này và nội dung cuộc hội đàm mà các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc tiết lộ, đã cung cấp những thông tin vô cùng hiếm hoi để bên ngoài có thể dựa vào đó phân tích toàn diện sự phát triển của quan hệ Trung – Triều, làm sáng tỏ rất nhiều dự đoán của cộng đồng quốc tế, ví dụ như liệu Trung Quốc có vì cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ mà bị gạt sang một bên, liệu Trung Quốc có chuẩn bị chấp nhận Triều Tiên là quốc gia sở hữu hạt nhân…, để từ đó nắm bắt hơn nữa ý đồ chiến lược của Trung Quốc. Điều đặc biệt là cộc gặp thượng đỉnh lần này diễn ra trước cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4 và cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ vào tháng 5. Cuộc gặp đầy kịch tính này dường như diễn ra trong tiến trình khó khăn của quan hệ Trung – Triều sau khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên ngày càng trầm trọng, bao hàm hiện trạng, bước chuyển ngoặt trong 5 năm qua và tương lai.

Nhìn lại bối cảnh

Từ khi Kim Jong-un lên cầm quyền năm 2011, Tập Cận Bình lên cầm quyền năm 2012 đến nay, hai nhà lãnh đạo 6 năm chưa gặp mặt, và 6 năm qua cũng là khoảng thời gian cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên có những diễn biến xấu nhất. Qua việc hai nguyên thủ chưa từng tới thăm nhau, gọi điện cho nhau, không thể không nói rằng quan hệ song phương rất lạnh nhạt, ở thời kỳ kém phát triển nhất kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992. Trong 6 năm qua, năm 2012 Lý Kiến Quốc và năm 2017 Tống Đào lần lượt đến Triều Tiên thông báo tình hình Đại hội XVIII và XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đặc phái viên, năm 2013 Phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và năm 2015 Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Vân Sơn đến thăm Triều Tiên, tham dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên. Về phía Triều Tiên, từ sau chuyến thăm Trung Quốc không chính thức của Kim Jong-il năm 2011, thời kỳ Kim Jong-un cầm quyền chỉ có trợ lý thân cận là Choe Ryong-hae đến thăm Bắc Kinh vào các năm 2015, 2016 và 2017. Những chuyến thăm ít ỏi này về cơ bản không có lợi cho việc hai bên loại bỏ những cản trở của các sự việc đan xen như nhân vật số 2 của Triều Tiên thân Trung Quốc, chú rể của Kim Jong-un là Jang Song-thaek bị xử tội chết, Kim Jong-nam bị ám sát…, trái lại còn rơi vào khủng hoảng trong các cuộc thử hạt nhân và phóng tên lửa liên tiếp của Triều Tiên.

Có 4 trong 6 vụ thử hạt nhân mà Triều Tiên đã tiến hành cho đến nay được thực hiện trong 6 năm qua, đây cũng là 6 năm quan hệ Trung – Triều rơi vào lạnh nhạt, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã hoàn thành cuộc nhảy vọt từ bom nguyên tử đến bom H, từ thử nghiệm đến đưa vào thực tế chiến đấu, từ tên lửa đạn đạo tầm trung chưa hoàn thiện đến tên lửa đạn đạo liên lục địa, lần đầu tiên có năng lực đe dọa lãnh thổ Mỹ, khiến cho Liên hợp quốc thực hiện lệnh cấm vận nghiêm khắc chưa từng có. Trung Quốc cũng đứng vào hàng ngũ các nước lên án và cấm vận Triều Tiên. Năm 2017 quan hệ Trung – Triều ở vào thời kỳ kém phát triển nhất.

Trong bối cảnh này, kể từ Olympic Pyeongchang diễn ra hồi tháng 2 đến nay, Chính quyền Kim Jong-un đã chủ động thực hiện ngoại giao mềm dẻo qua việc cử em gái là Kim Yo-jong mở ra cánh cửa đối thoại liên Triều. Trong thời gian này, bên ngoài dường như bị mê hoặc bởi tư thế ngoại giao của Triều Tiên, ngoài cuộc đối thoại thượng đỉnh liên Triều, thượng đỉnh Triều – Mỹ đã được xác định, cuộc gặp mặt thượng đỉnh Triều – Nhật cũng đang được xem xét. Trong cuộc đối thoại Triều – Trung lần này, như thông tin mà hai bên đã chứng thực sau chuyến thăm, việc Kim Jong-un đưa ra kiến nghị đến thăm Trung Quốc, sau đó nhận được lời mời của Trung Quốc, đều được tiến hành rất vội vàng, làm theo mô hình chuyến thăm không chính thức năm 2011 của Kim Jong-il, chủ yếu là trao đổi, tiếp tục nhấn mạnh sự hữu nghị truyền thống giữa hai nước và sự trao đổi “đi thăm người thân” do cố lãnh đạo Hồ Diệu Bang từng đưa ra, không đưa ra thông cáo, cũng không có họp báo, đã để lại không gian làm ấm quan hệ song phương.

Bầu không khí thoải mái trong cuộc gặp dường như cũng cho thấy quan hệ Trung – Triều đã tìm lại được nền tảng của nhận thức chung, tức là chủ trương kiên trì phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên mà phương tiện truyền thông chính thức Trung Quốc đưa tin và Kim Jong-un thừa nhận đây là di nguyện của ông cha. Quay lại phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên có khả năng mới là nguyên nhân chính khiến Kim Jong-un thực hiện chuyến thăm lần này: Không phải sự yết kiến của nước được bảo hộ với nước bá chủ, mà là với nỗ lực ngoại giao chủ động, linh hoạt, Kim Jong-un đã phá vỡ được sự cô lập về ngoại giao.

Đây có lẽ là xuất phát điểm cơ bản để hiểu về cuộc gặp giữa Kim Jong-un và Tập Cận Bình lần này, cũng là chìa khóa để nhận định chính sách của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong 6 năm qua thậm chí là lâu hơn thành công hay thất bại: Sau khi hoàn thành cơ bản chương trình thử nghiệm hạt nghân và có đủ các con bài, Kim Jong-un thực hiện ngoại giao song phương tích cực, không những đã thực hiện được mục tiêu đối thoại trực tiếp Triều – Mỹ mà Triều Tiên lâu nay luôn cố gắng tìm kiếm, mà còn làm tan rã mô hình ngoại giao đa phương do Trung Quốc lập ra với Đàm phán 6 bên làm trung tâm, có thể nói là đã phá vỡ sự ràng buộc và giành được sự chủ động. Đương nhiên, sự ràng buộc này cũng mất rất nhiều công sức, trên thực tế nó đã che chở cho sự nghiệp phát triển hạt nhân của Triều Tiên, giành lấy thời gian cho nước này, sau đó từ bỏ những thứ mà mình cảm thấy không còn giá trị.

Tuy nhiên, chuyến thăm chủ động với tư thế khiêm tốn của Kim Jong-un, trong đó ngày thứ 2 sau khi đến Bắc Kinh, Kim Jong-un đến tham quan triển lãm trưng bày những thành quả của Viện Khoa học Trung Quốc, xem những tiến triển vật lý hạt nhân, kính viễn vọng vô tuyến khẩu độ 500m và công nghệ tương tác thực tế (VR) của Trung Quốc, chắc chắn sẽ gây cho bên ngoài ảo giác Trung Quốc đang phát huy ảnh hưởng tích cực trong thời kỳ then chốt như lời của học giả người Mỹ Gordon G. Chang, đồng thời không bị gạt sang bên lề, nếu Trung Quốc không tích cực điều chỉnh, e rằng sẽ khó có thể đối phó với những thách thức của tình hình hoàn toàn mới ở Đông Bắc Á trong thời gian tới. Ở đây có hai vấn đề cần phải nghiên cứu:

Một là chương trình hạt nhân của Triều Tiên, trong đó có chương trình tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), mặc dù vẫn còn cần thời gian để đưa vào thực tế chiến đấu nhưng điều không thể phủ nhận là những tiến triển mang tính đột phá mà Triều Tiên đạt được trong 6 năm qua có liên quan đến điểm mù chiến lược sau khi trung tâm chiến lược của Trung Quốc chuyển dịch sang phía Nam tạo ra, điều này cũng có nghĩa là sự mơ hồ chiến lược của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong thời gian dài qua trên thực tế đã dung túng cho sự phát triển hạt nhân của Triều Tiên. Một mặt kể từ cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan từ giữa những năm 1990 đến nay, trung tâm chiến lược của Trung Quốc bắt đầu chuyển dịch sang phía Nam, mối quan tâm chủ yếu đặt ở Đông Hải (biển Hoa Đông), eo biển Đài Loan, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trong 20 năm qua, Trung Quốc lần lượt xảy ra đối đầu căng thẳng với Nhật Bản, nhiều nước xung quanh Nam Hải như Philippines cũng như Đài Loan xoay quanh các vấn đề như khai thác dầu khí ở Đông Hải, chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, các đảo/đá ở Nam Hải cũng như sự thay đổi chính quyền và khuynh hướng độc lập của Đài Loan. 6 năm qua, cùng với việc Trung Quốc chủ động đưa ra và thúc đẩy chiến lược “Vành đai và Con đường”, đồng thời nhanh chóng xây dựng chiến trường ở các đảo và đá thuộc Nam Hải, cộng đồng quốc tế bắt đầu lo ngại toàn bộ Tây Thái Bình Dương đối diện với rủi ro “Phần Lan hóa”, nên mới đưa ra các biện pháp đối phó như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…, cho đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ có thể sắp bùng phát.

(còn tiếp) 

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Xung quanh những lựa chọn phòng thủ ngày càng cứng rắn của Nhật Bản – Phần cuối


Quyết định mua Aegis Ashore có ý nghĩa vì một vài lý do. Đầu tiên, hệ thống được nhắm tới việc giảm gánh nặng cho các tàu khu trục của JMSDF trang bị hệ thống Aegis – hiện nay là 4 tàu – đang được dàn trải mỏng trên phạm vi triển khai dài ở biển Nhật Bản. Các tàu của JMSDF cần được bảo dưỡng thường xuyên và kiểm tra đều đặn, điều này khiến tất cả tàu khó có thể đảm bảo việc bao phủ toàn bộ khu vực. Thông qua các kế hoạch mua sắm đã có trước đó và việc tân trang tàu, Nhật Bản sẽ bổ sung thêm 2 tàu khu trục lớp Atago trang bị hệ thống Aegis vào năm 2021, mà sẽ đưa tổng số tàu khu trục lên 8 tàu (4 tàu khu trục lớp Kongo cũ và 4 tàu khu trục lớp Atago mới). Điều này sẽ giúp cho vấn đề tiêu hao nguồn lực và cũng cho phép linh hoạt hơn trong việc triển khai ở bên ngoài biển Nhật Bản.

Lý do quan trọng thứ hai của quyết định mua Aegis Ashore là vì sự bổ sung đương nhiên của nó với nền tảng hạ tầng BMD hiện nay và khả năng tương hỗ liên tục với các tàu khu trục của JMSDF cũng như hệ thống tên lửa đánh chặn PAC-3. Ngoài Aegis Ashore, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cũng đang lên kế hoạch đưa ra một phiên bản nâng cấp hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot – PAC-3 Missile Segment Enhancement (MSE) – sớm nhất có thể. Hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot được nâng cấp sẽ có phạm vi đánh chặn lớn gấp đôi hệ thống tên lửa đánh chặn PAC-3 hiện nay đang sử dụng.

Một lý do quan trọng khác đối với quyết định tăng cường BMD thông qua các khả năng của hệ thống Aegis là việc Lockheed Martin, Raytheon và nhà thầu quốc phòng lớn nhất của Nhật Bản là công ty công nghiệp hạng nặng Mitsubishi (MHI) cùng nhau sản xuất hệ thống Aegis ở Nhật Bản. Do vậy, những lợi ích công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản đóng một vai trò chủ chốt nữa trong quá trình phát triển phòng thủ tên lửa. Điều này cũng có thể là một phần lý do tại sao Nhật Bản đã không chọn việc mua Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD). THAAD, hệ thống đánh chặn BMD giai đoạn cuối, được sản xuất bởi Lockheed Martin và hiện nay không có kế hoạch phát triển cùng với các nhà thầu Nhật Bản như MHI.

Mặc dù triển khai THAAD không có khả năng diễn ra trong tương lai gần, nhưng JMOD có thể xem xét lại vấn đề nếu các căng thẳng tiếp tục tăng cao. Quả thực THAAD cung cấp những khả năng khác với hệ thống Aegis và sẽ tập trung vào sự bảo vệ lớn hơn khỏi những tên lửa ở giai đoạn cuối, đặc biệt là những quả tên lửa nhằm vào các khu vực đô thị như Tokyo. Lợi ích của việc triển khai THAAD ở Nhật Bản sẽ là sự hiện diện của một hệ thống đa lớp thực sự, với các tàu khu trục Aegis và các hệ thống tên lửa nhằm thực hiện đánh chặn ở giai đoạn giữa, trong khi hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot và THAAD sẽ nhằm vào giai đoạn cuối. Tính độc đáo của THAAD từ hệ thống PAC-3 là khả năng đánh chặn tầm cao của nó (được cho là vào khoảng 200 km so với 20 – 30 km của PAC-3 MSE) cùng với hệ thống radar vượt trội của nó. Do đó, về lý thuyết, một khả năng đánh chặnt thành công ở giai đoạn cuối sẽ giảm thiểu khả năng để lọt tên lửa nhằm vào một khu vực đô thị.

Những lựa chọn tấn công?

Một tranh cãi khác xoay quanh các vòng phòng thủ ở Tokyo là sự phát triển tiềm năng cái được gọi là những lựa chọn tấn công – như là việc mua sắm và triển khai tên lửa hành trình – mà sẽ cung cấp cho Nhật Bản các khả năng phản công trong trường hợp bị tấn công. Một lựa chọn liên quan khác, nhưng mang tính khiêu khích hơn, là triển khai những khả năng tấn công này như là một lựa chọn “chặn trước” trong trường hợp có một cuộc tấn công vào Nhật Bản sắp diễn ra. Tranh cãi xung quanh các khả năng tấn công không phải là mới và điều này đã được tranh cãi dai dẳg trong suốt quá trình phát triển chính sách quốc phòng của Nhật Bản, và mối quan hệ đồng minh của Nhật Bản với Mỹ qua vài chục năm qua. Nhưng, mặc dù lập luận không mới, nhưng có nhiều cuộc tranh luận rất gay gắt và công khai hơn về vấn đề này với một bản báo cáo nghiên cứu được ủng hộ bởi LDP vào đầu năm nay và một số lượng người ủng hộ có ảnh hưởng đó với một sự thay đổi trong tư thế của Tokyo.

Mặc dù một số người quan ngại rằng theo đuổi lựa chọn tấn công sẽ là không phù hợp với hiến pháp ở Nhật Bản, thật sự không có bất kỳ lệnh cấm rõ ràng nào đối với những khả năng như vậy hay những lựa chọn như vậy nếu nó được thực hiện để phòng vệ. Quả thực, vào năm 1956, cựu Thủ tướng Ichiro Hatoyama đã bình luận, “thật vô lý khi nghĩ rằng mục đích của Hiến pháp là để Nhật Bản phải ngồi và đợi cái chết đến khi phải chịu cuộc tấn công bằng tên lửa và các vũ khí khác”. Dù vậy, có thể sẽ có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong nội bộ Nhật Bản về một khả năng tấn công, đặc biệt do mục tiêu gây tranh cãi của Abc là sửa đối hiến pháp của đất nước. Toyko cũng sẽ phải chuẩn bị ứng phó với tác động mà một động thái như vậy sẽ gây ra cho những quan hệ khác của họ trong khu vực, đặc biệt với Trung Quốc và Hàn Quốc.

Thúc đẩy các năng lực trên biển

Mặc dù trọng tâm là răn đe và – nếu cần thiết – phòng thủ chống lại các mối đe dọa từ Triều Tiên, nhưng Nhật bản cũng vẫn tập trung chú ý vào việc tăng cường các khả năng an ninh trên biển của mình do sự quyết đoán của Trung Quốc ở biển Hoa Đông. Mức độ xâm nhập của các tàu Trung Quốc ở vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku đã phần nào ổn định nhưng vẫn hay thay đổi và bản chất của những cuộc xâm nhập này (bao gồm cả việc qua lại vùng lãnh hải) đang thay đổi. Điều này tiếp tục là một động lực quan trọng trong việc đặt kế hoạch quốc phòng của Nhật Bản khi tìm cách cân bằng các nguồn ngân sách khan hiếm (ngân sách quốc phòng của Nhật Bản vẫn đang lơ lửng ở mức 1% tổng GDP, bất chấp những sự gia tăng rất khiêm tốn dưới Chính quyền Abe) với sự đa dạng của các mối đe dọa. Nâng cấp nền tảng hạ tầng BMD của Nhật Bản – mà rất tốn kém – là một trong những thách thức đáng kể nhất trong ngắn hạn.

Trong khi một số năng lực cốt lõi mà Nhật Bản cần là tính lưỡng dụng hiệu quả (như là triển khai thêm các tàu khu trục thuộc JMSDF), ở một số năng lực khác là tập trung hẹp hơn vào an ninh trên biển và bảo vệ quần đảo ở phía Tây Nam Nhật Bản hay Nansei-shoto. Trong bối cảnh này, NDPG hiện nay nhấn mạnh tới việc tập trung vào phát triển khả năng tình báo, giám sát, do thám (ISR), và vận tải trong khi vẫn tập trung chuẩn bị các tình huống bất ngờ cho các cuộc tấn công trên các hòn đảo ở xa. Về phía ISR, Nhật Bản có thể sẽ tìm cách tiếp tục nhấn mạnh việc tăng cường các khả năng tuần tra thông qua việc triển khai máy bay tuần tra cánh cố định và máy bay trực thăng đỗ trên tàu. Đến năm 2023, Nhật Bản hi vọng có thể triển khai ít nhất 80 máy bay trực thăng tuần tra, cũng như tăng số lượng tàu ngầm từ 16 lên 22 tàu. Tokyo cũng hướng tới việc cải cách JMSDF qua việc đưa ra thêm các tàu khu trục (bao gồm các tàu không trang bị hệ thống Aegis) và mở rộng số lượng các tàu quét mìn.

Phù hợp với sự thay đổi linh hoạt hơn đối với phòng thủ năng động mà đã bắt đầu với NDPG 2010, Nhật Bản cũng sẽ tổ chức lại Lực lượng phòng vệ trên bộ (GSDF) để đương đầu với những thách thức đang ngày càng phát triển. Ví dụ điển hình là sự phát triển của những sư đoàn và lữ đoàn triển khai nhanh nhằm đáp trả bất kỳ cuộc tấn công nào lên các hòn đảo ở xa. Những thay đổi này được phác thảo trong khái niệm phòng thủ năng động, mà nhằm biến đổi GSDF từ tư thế lỗi thời rất cồng kềnh với các lữ đoàn và xe tăng lớn sang một đơn vị nhanh nhạy hơn có năng lực tiến hành các cuộc chiến tranh hiện đại. Để rõ hơn về điều này, Nhật Bản đã giảm số lượng xe tăng từ 900 xe vào năm 1996 xuống còn khoảng 300 xe hiện giờ. GSDF cũng sẽ tiếp tục tự chuyển mình hướng sang phía Nam hơn nữa khi mà các mối đe dọa dịch chuyển khỏi Nga sang phía Trung Quốc nhiều hơn. Về vấn đề các mối đe dọa trên biển GSDF cũng sẽ đóng một vai trò chủ chốt thông qua việc thành lập một lữ đoàn đổ bộ triển khai nhanh trong tương lai, mà sẽ được giao nhiệm vụ đặc biệt để đáp trả các cuộc tấn công vũ trang vào quần đảo Nhật Bản.

Từ phía Lực lượng phòng vệ trên không, những lựa chọn của Nhật Bản bị giới hạn trong các khoản ngân sách do khoản mua sắm F-35 lớn của nước này – đây sẽ là trọng tâm của việc dự trữ máy bay chiến đấu cho những năm tới. Điều đó để nói rằng ASDF sẽ vẫn tập trung vào việc tăng cường các đơn vị kiểm soát và cảnh báo sớm để cung cấp khả năng cải tiến ISR. Nhật Bản cũng sẽ đặt 3 máy bay không người lái Global Hawk từ Mỹ để hỗ trợ thu thập thông tin tình báo và ISR.

Kết luận

Thích ứng và lên kế hoạch cho các tình huống bất ngờ từ Trung Quốc và Triều Tiên sẽ chiếm phần lớn trong chính sách quốc phòng và những vấn đề về việc mua sắm của Nhật Bản. Sự bất ổn trên bán đảo Triều Tiên và nỗ lực cho nền tảng hạ tầng BMD hiệu quả tiếp tục định hình chính sách quốc phòng của Nhật Bản và sẽ là một động lực quan trọng nhất. Mặc dù vậy, nhưng có những nhân tố quan trọng khác – bao gồm việc luôn thấy lo ngại về sự hiện đại hóa quân sự và các hoạt động trên biển của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và biển Đông.

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/11/japans-increasingly-tough-defense-choices/

TLTKĐB – 24/02/2018

Xung quanh những lựa chọn phòng thủ ngày càng cứng rắn của Nhật Bản – Phần đầu


Berkshire Miller

Với mối đe dọa của Triều Tiên đang ở mức độ chưa từng có, Tokyo đang đối mặt với những lựa chọn khó khăn về phòng vệ.

Vào buổi sáng sớm 29/8/2017, nhiều người dân Nhật Bản ở các tỉnh phía Bắc đã giật mình tỉnh giấc bởi tiếng báo động chói tai của hệ thống báo động vệ tinh (J-Alert) cảnh báo có một quả tên lửa từ Triều Tiên đang hướng về phía Nhật Bản. Vụ thử tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) mới của Bình Nhưỡng – được gọi là Hwasong-12 – có quỹ đạo bay qua đảo Hokkaido nằm ở phía Bắc Nhật Bản. Vụ thử tên lửa đã làm tăng thêm cảm giác dễ tổn thương của Nhật Bản khi đối mặt với các mối đe dọa đang gia tăng ở khu vực. Quả thực, vụ thử tên lửa diễn ra vào ngày 29/8 đã phá vỡ giới hạn bay của tên lửa đạn đạo khi bay qua không phận Nhật Bản – một hành động không chính thức mà Triều Tiên đã tránh né cho tới thời điểm đó. Sau đó, Bình Nhưỡng đà bồi thêm vào vụ thử ban đầu qua Nhật Bản bằng một vụ thử tên lửa Hwasong-12 sau đó vào tháng 9. Vụ thử đó cũng có quỹ đạo bay qua phía Bắc Nhật Bản nhưng bay xa hơn so với lần bắn trước đó.

Cường độ của chương trình tên lửa của Triều Tiên – xét cả về tần suất bắn thử và tốc độ các năng lực được tăng cường – đang đưa ra những lựa chọn chiến lược rất khó cho cộng đồng phòng thủ của Nhật Bản. Cộng đồng phòng thủ Nhật Bản đang vừa vật lộn với các khoản ngân sách hạn chế, vừa ngày càng lo ngại về vai trò của Mỹ ở khu vực, và một loạt các nhu cầu khác ngoài việc ngăn chặn và bảo vệ chống lại sự hiếu chiến của Bình Nhưỡng. Nêu lưu ý rằng ưu tiên làm giảm các mối đe dọa từ Triều Tiên không phải là một sự tiến triển mới ở Tokyo. Quả thực, Bình Nhưỡng đã tiến hành các vụ phóng qua Nhật Bản ở 4 thời điểm trước đó (năm 1998, 2009, 2012 và 2016). Mặc dù điểm khác nhau chính là các vụ thử trước đó là phóng vệ tinh và nó không quay trở lại khí quyển trái đất. Hãy đố chiếu điều này với 2 vụ thử IRBM qua Nhật Bản năm nay mà liên quan đến các tên lửa đạn đạo có khả năng mang một đầu đạn hạt nhân.

Sự phát triển hạt nhân đồng thời của Triều Tiên khiến không chỉ Tokyo, mà còn cả khu vực rộng hơn, càng thêm lo ngại – sự phát triển này được chứng minh bởi việc thử nghiệm một quả bom Hydro vào tháng 9/2017 và những cải tiến nhanh chóng của nước này trong quá trình thu nhỏ một đầu đạn hạt nhân để vừa với đầu tên lửa đạn đạo của họ. Bình Nhưỡng nỗ lực hoàn thiện khả năng tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) cũng đã làm dấy lên những quan ngại trong khu vực. Triều Tiên đã thử thành công hệ thống phóng thông qua các bài kiểm tra quỹ đạo bay “cao hơn bình thường” vào tháng 7/2017. Những tiến triển này đã càng thuyết phục Tokyo hơn trong việc gia tăng nỗ lực răn đe cùng với đồng minh Mỹ của mình và mong đợi thúc đẩy hợp tác an ninh 3 bên với Hàn Quốc cho dù có căng thẳng giữa 2 bên hiện nay.

Bất ổn trên bán đảo Triều Tiên, cùng với sự không chắc chắn và lo lắng về giọng điệu phi truyền thống từ Nhà Trắng, tiếp tục định hình chính sách quốc phòng của Nhật Bản. Cũng có những động lực quan trọng khác, đặc biệt là sự gia tăng khả năng nhận biết đe dọa ở Toyko liên quan tới sự quyết đoán của Trung Quốc ở khu vực và sự hiện đại hóa nhanh chóng của lực lượng hải quân thuộc Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) và Lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc. Điểm chạm của mối bận tâm của Nhật Bản tập trung vào khu vực trên biển, nơi mà Tokyo và Bắc Kinh bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp dai dẳng xung quanh quần đảo Senkaku, Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, ở biển Hoa Đông. Trung Quốc và Nhật Bản cũng có những bất đồng trên các đường biên giới trên biển và khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở biển Hoa Đông. Hơn nữa, Tokyo tiếp tục tập trung áp lực, cả bằng con đường ngoại giao và thông qua những nỗ lực xây dựng năng lực của mình với các nước vùng duyên hải ở Đông Nam Á, vào chiến lược “cắt lát Salami” của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Ngoài những mối quan ngại cấp thiết nhất từ bán đảo Triều Tiên và kiểm soát thách thức dài hạn của Trung Quốc, Nhật Bản cũng tiếp tục đối mặt với nhiệm vụ không nguy hiểm, nhưng vẫn đòi hỏi nguồn lực tập trung, là kiểm soát các cuộc xâm nhập không phận thường xuyên – và dài lâu – từ Nga xung quanh Hokkaido tỉnh rộng lớn ở phía Bắc của nước này. Trong khi ít quan chức quốc phòng Nhật Bản lo ngại về những mục đích của Moskva hay khả năng xung đột vũ trang, vấn đề này góp phần vào làm kiệt quệ nguồn lực, như đã được chứng minh bằng một số lượng lớn các cuộc cất cánh đột ngột diễn ra hàng năm của các lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản (ASDF) đố phó với việc máy bay chiến đấu của Nga xâm phạm.

Kế hoạch phòng thủ và Chính quyền Abe

Vào ngày 22/10/2017, đảng cầm quyền của Nhật Bản – Đảng Dân chủ tự do (LDP) – đã giành một chiến thắng quyết định trong một cuộc bầu cử sớm do Thủ tướng Shinzo Abe kêu gọi. Chiến thắng này đảm bảo cho sự ổn định chính trị ở Tokyo trong ngắn hạn và chỉ ra rằng Abe đang đi đúng hướng để thực hiện nốt nhiệm kỳ thứ 3 và cuối cùng của ông trên cương vị chủ tịch LDP mà sẽ kết thúc vào năm 2021. Một trong những điểm ưu việt của Abe trong cuộc bầu cử vào tháng 10 là việc ông kiểm soát chắc chắn các vấn đề an ninh – nhất là khi những khiêu khích từ Triều Tiên gia tăng. Kể từ cuộc bầu cử vào cuối năm 2012, Abe cũng đã đầu tư rất nhiều vào việc cải tiến cấu trúc an ninh quốc gia và quốc phòng lỗi thời của Nhật bản thông qua một loạt các cải cách an ninh và quốc phòng, bao gồm điều luật mới mà đã có hiệu lực vào năm ngoái.

Đến cuối năm 2018, Bộ Quốc phòng Nhật Bản (JMOD) sẽ đệ trình Chương trình quốc phòng trung hạn (MTDP) mới cho giai đoạn 4 năm cho đến năm 2022. Trước đó, Bộ này sẽ đệ trình những đề xuất lên nội cách Abe sau khi xem xét các bản Đường lối chủ đạo chương trình phòng thủ quốc gia (NDPG) hiện nay và MTDP. Abe đã yêu cầu xem lại cả hai văn bản chính sách đầu năm nay trong bối cảnh căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên đang gia tăng. NDPG hiện nay được soạn thảo vào năm 2013 và được dự định kéo dài trong 10 năm.

Phòng thủ tên lửa đạn đạo

Do những phát triển nhanh chóng của các chương trình tên lửa của Bình Nhưỡng, nên người ta mong đợi rằng Đường lối chủ đạo mới sẽ tập trung nhiều vào phòng thủ tên lửa đạn đạo. Hiện nay, Nhật Bản có một hệ thống phòng thủ tên lửa 2 lớp với các tàu khu trục thuộc Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản (JMSDF) được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis – thường xuyên đặt ở biển Nhật Bản – mà sẽ được sử dụng như lớp phòng thủ đầu tiên. Về cơ bản, tàu khu trục thuộc JMSDF hoạt động như tuyến phòng thủ đầu tiên của Nhật Bản trong trường hợp có mối đe dọa tên lửa đạn đạo và có khả năng – phụ thuộc vào quỹ đạo phóng – ngăn chặn một quả tên lửa trong giai đoạn giữa đường bay. Các tàu khu trục được trang bị hệ thống Aegis được bổ sung “một lớp thứ hai” theo hình thức các hệ thống tên lửa đánh chặn Patriot PAC-3 đặt trên đất liền, mà có thể thực hiện các đòn đánh chặn trong giai đoạn cuối của đường bay tên lửa, với giả định mục tiêu là lãnh thổ của Nhật Bản. Cả hai hệ thống được hợp nhất và phối hợp thông qua Hệ thống phòng thủ không phận Nhật Bản đặt trên mặt đất (JADGE).

Với tần suất khiêu khích từ Bình Nhưỡng đang gia tăng đáng kể, song song với những cải tiến nhanh chóng về chất lượng của các khả năng tên lửa của Triều Tiên, Nhật Bản đang tìm cách để tăng cường an ninh hơn nữa chống lại mối đe dọa tên lửa đạn đạo và có một cú đẩy từ Abe và những người khác trong LDP để tăng cường ngân sách của JMOD để mua sắm thêm. Hầu hết các dấu hiệu từ Tokyo cho thấy JMOD đang tập trung mua sắm hệ thống Aegis Ashore – một phiên bản của hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo (BMD) đặt trên đất liền mà hệ Nhật Bản có cùng với các tàu khu trục của JMSDF ở biển Nhật Bản. Như các tàu của JMSDF, hệ thống phòng thủ tên lửa Aegis Ashore mới sẽ được trang bị tên lửa đánh chặn SM-3 bay với độ cao vào khoảng 500 km so với mặt nước biển.

Cuối cùng, hệ thống Aegis ở Nhật Bản cũng sẽ được trang bị tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mà Tokyo đang phát triển cùng với Washington. Tên lửa đánh chặn SM-3 Block IIA mới đã được thử nghiệm thành công hai lần trong năm nay, nâng cấp khả năng của tên lửa đánh chặn SM-3 hiện nay bằng việc tăng cường phạm vi độ cao đánh chặn, cũng như tăng cường khả năng can thiệp cùng lúc. Các tên lửa đánh chặn mới, được đề xuất triển khai vào năm 2021, cũng sở hữu nhiều khả năng hơn để hoạt động xung quanh các tên lửa đạn đạo có công nghệ tránh đánh chặn – như đạn mồi hay tên lửa với quỹ đạo cao hơn bình thường. Nhật Bản cũng hi vọng rằng họ có thể triển khai hệ thống radar AN/SPY6 vẫn đang được phát triển trên hệ thống Aegis của họ để thay thế cho AN/SPY1 hiện nay. Hệ thống radar Spy-6 X-band sẽ cung cấp mức độ bao phủ lớn hơn so với hệ thống radar hiện nay. Dù vậy, phát triển của hệ thống radar mới vẫn bị trì hoãn và không được đề xuất triển khai trên tàu của Mỹ, ít nhất là tới năm 2022.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/11/japans-increasingly-tough-defense-choices/

TLTKĐB – 24/02/2018

Bộ ba nan giải của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên – Phần cuối


Phản biện

Một số người có thể ngần ngại trước các lập luận này. Họ sẽ tuyến bố rằng chắc hẳn phải có các cách mà theo đó, cả 3 lựa chọn này có thể được duy trì cùng một lúc. Chẳng hạn, một số người có thể lập luận rằng Trung Quốc là chìa khóa cho việc phi hạt nhân hóa Triều Tiên. Những người này có thể lập luận rằng với tư cách quốc gia duy nhất có quan hệ ngoại giao, quân sự và đặc biệt là kinh tế quan trọng với Triều Tiên, Trung Quốc có vị thế phù hợp để sử dụng kiểu ảnh hưởng đòn bẩy mà sẽ cho phép Mỹ duy trì cả 3 mục tiêu trung tâm của nước này. Việc Trung Quốc có ảnh hưởng đòn bẩy quan trọng đối với Triều Tiên đương nhiên là đúng. Nhưng điều cũng đúng là Trung Quốc có các lợi ích của riêng nước này trên bán đảo Triều Tiên, và chúng mâu thuẫn gay gắt với các lợi ích của Mỹ.

Trong khi Trung Quốc chắc chắn sẽ ưa thích hơn một Triều Tiên phi hạt nhân, có 2 điều tồi tệ hơn nguyên trạng theo quan điểm của Trung Quốc. Thứ nhất là sự sụp đổ thảm khốc của chế độ Triều Tiên, dẫn tới những dòng người tị nạn khổng lồ, vũ khí hạt nhân bị buông lỏng, và tiềm năng cho sự can thiệp quân sự quy mô lớn của các cường quốc bên ngoài. Và thứ hai là việc chia sẻ đường biên giới 880 dặm (1420 km) với một “Triều Tiên lớn” cuối cùng được thống nhất, liên minh với Mỹ và có thể sở hữu hạt nhân. Do đó, theo quan điểm của Trung Quốc, việc Triều Tiên phụ thuộc sâu sắc, tương đối ổn định, nhìn chung thân thiện và được vũ trang hạt nhân với tư cách một “vùng đệm” giữa chính nước này và các lực lượng Mỹ ở Hàn Quốc sẽ tiếp tục là điều được ưa thích hơn so với bất kỳ sự thay đổi mạnh mẽ nào trên bán đảo.

Những người chỉ trích cũng có thể lập luận rằng đây là vấn đề về chính sách. Họ có thể khẳng định rằng nếu Mỹ chỉ can dự với Triều Tiên một cách nghiêm túc – về chính trị, kinh tế và quân sự – Mỹ có thể duy trì đồng thời 3 lựa chọn này. Họ có thể lập luận rằng việc giảm bớt các mối đe dọa đối với Triều Tiên, can dự với nước này về chính trị và tạo ra các mối quan hệ kinh tế sâu sắc sẽ khiến cho khoảng cách gần của Mỹ bớt gây đe dọa, và chương trình hạt nhân bớt hấp dẫn đối với Triều Tiên. Tuy nhiên, hồ sơ can dự của Mỹ với Triều Tiên đơn giản là không xác nhận điều này. Dù trong những năm của “Thỏa thuận khung” dưới thời Clinton, “Đàm phán 6 bên” dưới thời Bush, hay với việc Chính quyền Obama ban đầu lên nắm quyền với sự sẵn sàng “chìa tay giúp đỡ”, Triều Tiên đều không cho thấy sự sẵn sàng nghiêm túc từ bỏ chương trình hạt nhân của mình. Nhưng điều này hoàn toàn không đáng ngạc nhiên. Khi xét đến sức mạnh to lớn của Mỹ và vị thế triển khai về phía trước của nước này trên bán đảo Triều Tiên (chưa nói tới thiên hướng của nước này đối với việc lật đổ các chế độ chuyên quyền phi hạt nhân tương đối yếu), bất kỳ nỗ lực nào nhằm giảm bớt những mối đe dọa và gia tăng sự khích lệ để Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân của nước này có khả năng sẽ thất bại.

Một số người cũng có thể lập luận rằng CVID, sự triển khai về phía trước và việc tránh thay đổi chế độ bằng vũ lực có thể được duy trì đồng thời vì việc Triều Tiên sụp đổ dưới sức nặng của chính nước này chỉ còn là vấn đề thời gian. Họ có thể ấn định rằng vì lẽ đó, Mỹ đơn giản có thể “chờ thời” trong khi chế độ Triều Tiên tự đi đến hồi kết. Đương nhiên bất kỳ điều gì cũng có thể xảy ra, nhưng khi nói tới sự sụp đổ của chế độ Triều Tiên, tôi sẽ không trông mong vào điều đó trong thời gian tới. Sự sụp đổ nội tại của Triều Tiên đã được dự đoán ít nhất từ những năm 1990, và tuy thế nước này đã tìm cách thách thức mọi dự đoán trong nhiều thập kỷ, trụ vững qua 2 lần chuyển giao thế hệ của triều đại Kim. Hơn nữa, như đã lưu ý ở phần đầu, với việc Triều Tiên nhanh chóng tiến tới một khả năng răn đe hạt nhân mạnh mẽ hơn, thời gian dường như đứng về phía nước này một cách rõ ràng hơn. Khi xét đến các điều kiện này, có vẻ sẽ là không khôn ngoan khi để chính sách của Mỹ dựa trên dự đoán về sự biến mất đột ngột của chế độ Triều Tiên. Và khi xét đến tất cả các phí tổn và khó khăn mà một kịch bản “hạ cánh cứng” như vậy có khả năng sẽ kéo theo, đây không phải là điều mà chúng ta nên háo hức trông đợi.

Cuối cùng, những người chỉ trích có thể lập luận rằng có các lựa chọn trung gian: Có lẽ có thể thuyết phục Triều Tiên tạm dừng tiến trình hạt nhân của nước này để đổi lấy những sự nhượng bộ chính trị, kinh tế và an ninh từ phía Mỹ. Điều này đã và đang là cơ sở của đề xuất “đóng băng kép” của Trung Quốc: Triều Tiên sẽ “đóng băng” việc phát triển hạt nhân và tên lửa của nước này, trong khi Mỹ và Hàn Quốc sẽ “đóng băng”  các cuộc tập trận quân sự chung. Và sẽ có lập luận rằng việc đơn giản là ngăn chặn sự tiến bộ hạt nhân của Triều Tiên cũng là một bước tiến quan trọng. Tôi nhất trí rằng việc “đóng băng” chương trình này sẽ là một diễn biến tích cực theo quan điểm của Mỹ. Tuy thế, điều này chỉ ủng hộ cho các lập luận được đưa ra ở phần trên. Nếu Mỹ sẵn sàng chấp nhận việc “đóng băng” chương trình hạt nhân như một kết quả chấp nhận được, thì trên thực tế, nước này sẽ từ bỏ CVID để ưu tiên việc triển khai về phía trước và việc tránh sử dụng vũ lực – một dấu hiệu rõ ràng của “bộ 3 nan giải” đang tồn tại.

Thậm chí những lập luận của Mỹ phản đối “đóng băng kép” cũng cho thấy sự tồn tại của một “bộ 3 nan giải”. Nhiều người lập luận rằng việc tạm dừng các cuộc tập trận quân sự chung là không thể chấp nhận được vì nó sẽ gây tổn hại tới cam kết của Mỹ đối với đồng minh Hàn Quốc của nước này, cho thấy rằng hành động này ưu tiên việc tránh chiến tranh và sự tiến bộ rất không chắc chắn hướng tới việc phi hạt nhân hóa Triều Tiên hơn sự tôn trọng của Mỹ đối với liên minh. Tuy vậy, bằng việc bác bỏ “đóng băng kép” để ủng hộ nguyên trạng, những người này chỉ kéo dài những sự mâu thuẫn trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Trên thực tế, bằng việc đề xuất “đóng băng kép” – nhằm làm giảm bớt các nguy cơ xảy ra chiến tranh bằng một sự thỏa hiệp giữa các cam kết liên minh và các động thái hướng tới việc phi hạt nhân hóa – Trung Quốc dường như nhạy cảm hơn đối với sự tồn tại của một “bộ 3 nan giải” của Mỹ so với chính sách của chính nước Mỹ.

Lựa chọn

Tóm lại, Mỹ không chỉ đối mặt với một loạt tình thế tiến thoái lưỡng nan trong chính sách Triều Tiên của nước này, mà là với một “bộ 3 nan giải” mang tính căn bản. Nước này hy vọng đạt được mục tiêu phi hạt nhân hóa hoàn toàn Triều Tiên, duy trì vị thế triển khai về phía trước và liên minh Mỹ – Hàn, và tránh các phí tổn gắn liền với việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân bằng vũ lực. Nhưng Mỹ chỉ có thể cùng lúc đạt được 2 việc. Nước này sẽ phải lựa chọn. Nếu các lập luận trên đây là đúng, điều này chắc chắn làm dấy lên câu hỏi rằng Mỹ nên tập trung vào 2 lựa chọn nào. Trong 3 lựa chọn này, 2 lựa chọn nào nằm trong lợi ích an ninh quốc gia lớn nhất của Mỹ và khu vực nói chung? Khi xét đến các phí tổn khổng lồ của việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân bằng vũ lực, tôi cho rằng, điều này hầu như hoàn toàn là một lựa chọn giữa phi hạt nhân hóa và triển khai về phía trước. Và lựa chọn giữa 2 phương án này phụ thuộc vào việc chúng ta đang đề cập tới trung hạn đến dài hạn hay ngắn hạn.

Trong trung đến dài hạn, điều chí ít cũng khả thi là Mỹ có thể duy trì yêu cầu của nước này đối với việc phi hạt nhân hóa và tránh sử dụng sức mạnh quân sự bằng một tiến trình đưa chính nước này rời khỏi bán đảo Triều Tiên và đàm phán lại hoặc giải tán hoàn toàn liên minh Mỹ – Hàn. Khi xét đến việc địa thế của bán đảo Triều Tiên tương đối có lợi cho hoạt động phòng thủ, và rằng Hàn Quốc giờ đây vượt trội hơn hẳn cả về kinh tế lẫn về quân sự so với nước láng giềng phương Bắc của mình, điều này chắc chắn là có thể thực hiện được. Tuy vậy, để tránh gây bất ổn lớn trong khu vực, bất kỳ động thái nào xa rời khỏi việc triển khai về phía trước và hướng tới việc giải tán liên minh Mỹ – Hàn sẽ phải diễn ra từng bước, có khả năng trong vòng khoảng 1 thập kỷ. Và rõ ràng, điều này không nói lên rằng nếu Mỹ rời khỏi bán đảo Triều Tiên thì Triều Tiên chắc chắn sẽ từ bỏ nhanh chóng toàn bộ chương trình vũ khí hạt nhân của nước này. Sau khi phải gánh chịu sự cô lập của quốc tế, các biện pháp trừng phạt kinh tế và bị sỉ nhục về đạo đức trên toàn cầu trong suốt nhiều năm, Triều Tiên sẽ khó có thể từ bỏ khả năng hạt nhân của mình một cách dễ dàng. Vấn đề chỉ là theo như tình hình hiện nay, với việc Mỹ đã triển khai về phía trước và liên minh với đối thủ của Triều Tiên ở phía Nam, khả năng Triều Tiên tự nguyện từ bỏ chương trình hạt nhân của nước này trong ngắn hạn là gần như bằng không.

Trong ngắn hạn, dường như lựa chọn ít tốn kém nhất của Mỹ là duy trì sự triển khai về phía trước và tránh thay đổi chế độ bằng vũ lực tốn kém, trong khi từ bỏ đòi hỏi của nước này về CVID. Khi xét đến những phí tổn khổng lồ gắn liền với việc sử dụng sức mạnh quân sự trên bán đảo Triều Tiên, và các tác động gây bất ổn của việc rời khỏi bán đảo Triều Tiên một cách quá hấp tấp, việc từ bỏ công cuộc phi hạt nhân hóa và chấp nhận Triều Tiên như một nước sở hữu vũ khí hạt nhân dường như là con đường hợp lý duy nhất trong ngắn hạn. Và thậm chí cách làm này có thể sẽ đem lại một số lợi ích tích cực nào đó. Việc đặt vấn đề phi hạt nhân hóa như điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ trong một số vấn đề quan trọng khác mà cả hai bên đều quan tâm, như những gì Mỹ đã làm từ lâu, có tác động như một sự cản trở đối với quan hệ tốt đẹp hơn ngay cả ở mức khiêm tốn giữa Mỹ và Triều Tiên. Nếu vấn đề phi hạt nhân hóa không đóng vai trò điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán, khả năng tiến bộ trong các lĩnh vực khác này – mặc dù đương nhiên không được đảm bảo – chắc chắn sẽ được cải thiện. Trong khi các nhà hoạch định chính sách Mỹ có khả năng sẽ phản đối điều này – coi nó là “không thể chấp nhận được” hoặc “bất khả thi về mặt chính trị” – những mâu thuẫn căn bản trong số các ưu tiên chính sách hiện tại của Mỹ đòi hỏi phải đưa ra một số quyết định khó khăn. “Bộ 3 nan giải” của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên đồng nghĩa với việc nước này đơn giản là không thể có được “cả chì lẫn chài”.

Nguồn: https://twq.elliott.gwu.edu/sites/twq.elliott.gwu.edu/files/downloads/TWQ_Winter%202018_Anderson.pdf

TLTKĐB – 29/01/2018

Bộ ba nan giải của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên – Phần II


Vấn đề đầu tiên đối với Mỹ là việc tìm kiếm và phá hủy các chương trình hạt nhân và vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) khác của Triều Tiên sẽ là một việc không hề đơn giản. Không giống như các chương trình mới hình thành và tập trung cao độ về mặt địa lý đã bị phá hủy ở Iraq năm 1981 và ở Syria năm 2007, chương trình WMD của Triều Tiên bao gồm hàng trăm cơ sở được phân tán rộng rãi trên khắp đất nước, bao gồm các lò phản ứng, các cơ sở làm giàu, các địa điểm cất giữ và dự trữ đầu đạn, các điểm sản xuất vũ khí hóa học và sinh học, các điểm phóng và thử nghiệm, các sân bay, các trung tâm chỉ huy và kiểm soát, các cơ sở nghiên cứu và phát triển. Mặc dù tình báo Mỹ đã biết địa điểm của nhiều cơ sở trong số này, nhưng các cơ sở khác – chẳng hạn như các địa điểm cất trữ tới 30 đầu đạn hạt nhân – lại được giữ bí mật hơn nhiều. Và thậm chí trong sự kiện vốn rất không có khả năng xảy ra là Mỹ có thể tìm thấy và phá hủy chính xác toàn bộ cơ sở hạ tầng hạt nhân của Triều Tiên, Mỹ vẫn không thể phá hủy cơ sở kiến thức và bí quyết kỹ thuật của chương trình này. Điều này sẽ cho phép chế độ Triều Tiên sống sót rốt cục có thể xây dựng lại.

Vấn đề thứ hai là pháo binh Triều Tiên cách Seoul khoảng 40 dặm về phía bên kia biên giới đóng vai trò một sự răn đe mạnh mẽ đối với hành động quân sự, có khả năng tấn công thủ đô Hàn Quốc chỉ trong vài phút, có thể giết hại hàng nghìn người, thậm chí hàng chục nghìn người chỉ trong vài giờ xung đột đầu tiên. Thứ ba, là một nước yếu với chương trình hạt nhân ở mức hạn chế và nhận thức được sự diệt vong sắp xảy đến của mình, Triều Tiên sẽ đối mặt với những sự khích lệ mạnh mẽ để phóng đi một hay nhiều thiết bị hạt nhân của nước này trong một hành động tuyệt vọng, và trong khi làm vậy có khả năng bắn trúng Hàn Quốc, Nhật Bản, Guam hoặc thậm chí Hawaii hay nước Mỹ lục địa. Tóm lại, trong khi sự cám dỗ của việc áp dụng một giải pháp quân sự vào vấn đề hạt nhân Triều Tiên đôi khi đã hiện diện, tất cả các tổng thống từ Clinton trở đi và bao gồm cả Clinton đã nỗ lực tìm cách tránh khỏi lựa chọn thay thế này.

Như vậy, Mỹ từ lâu đã có 3 mục tiêu chính liên quan tới chương trình hạt nhân của Triều Tiên: CVID, sự triển khai về phía trước, và tránh sự thay đổi chế độ bằng vũ lực tốn kém. Và nước này đồng thời duy trì các mục tiêu này, nhắm tới việc “được cả chì lẫn chài” trong chính sách Triều Tiên của mình. Quả thật, có thể đạt được mỗi mục tiêu trong số này một cách riêng rẽ. Trên thực tế, có thể cùng đạt được bất kỳ 2 mục tiêu nào trong số 3 mục tiêu này. Tuy nhiên, như sẽ chỉ ra ở phần sau, các mục tiêu này tương tác trên thực tế hiện nay có nghĩa là không thể có đồng thời nhiều hơn 2 mục tiêu khả thi. Đây là “bộ 3 nan giải” của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên.

“Bộ 3 nan giải” của Mỹ trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên

Ý tưởng về một “bộ 3 nan giải” – còn được nhắc đến với tên gọi “bộ 3 bất khả thi” hoặc “bộ 3 mâu thuẫn” – là một ý tưởng cũ, nhưng thường đề cập tới một tình huống mà trong đó có 3 mục tiêu có lợi, nhưng chỉ có thể đồng thời đáp ứng được 2 trong số đó. Một ví dụ được nhiều người biết đến về một “bộ 3 nan giải: xuất phát từ lĩnh vực kinh tế vĩ mô. Lập luận ở đây là các nhà hoạch định chính sách trong nền kinh tế toàn cầu muốn có tỷ giá hối đoái ổn định, tính lưu động tự do của vốn, và khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ của họ, nhưng chỉ có thể đồng thời có được 2 trong 3 lựa chọn này. Do vậy, việc có được sự ổn định của tỷ giá hối đoái và tính lưu động của vốn có nghĩa là phải từ bỏ sự kiểm soát chính sách tiền tệ, cũng như việc có được tính lưu động của vốn và khả năng kiểm soát chính sách tiền tệ kéo theo việc tỷ giá hối đoái được thả nổi. Lựa chọn bất kỳ 2 mục tiêu nào có nghĩa là từ bỏ mục tiêu thứ ba.

Trong nỗ lực đối phó với hành động phổ biến vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, Mỹ phải đối mặt với tình thế khó xử tương tự. Khi xem xét đồng thời một cách cẩn thận 3 mục tiêu chính của Mỹ là phi hạt nhân hóa, triển khai về phía trước và tránh các phí tổn của việc thay đổi chế độ bằng vũ lực, điều trở nên rõ ràng là các nhà hoạch định chính sách Mỹ sẽ phải chọn ra 2 mục tiêu.

Trước hết, hãy xem xét các lựa chọn 1 và 2: CVID và triển khai về phía trước. 2 ưu tiên này có thể cùng được duy trì, nhưng chỉ nếu Mỹ sẵn sàng chấp nhận các phí tổn gắn liền với một chiến dịch chống phổ biến vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Đó là do hoạt động triển khai về phía trước của Mỹ và việc Triều Tiên tự nguyện từ bỏ chương trình hạt nhân của nước này về bản chất là không phù hợp với nhau. Động cơ chủ yếu thúc đẩy chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên là sự hiện diện của nước bá quyền toàn cầu, tức là Mỹ, triển khai quân sự trên biên giới phía Nam nước này. Trong khi Triều Tiên có thể có các động lực khác để theo đuổi vũ khí hạt nhân – chẳng hạn như các chính sách đối ngoại cụ thể của Mỹ và Hàn Quốc, những sự khích lệ chính trị trong nội bộ Triều Tiên và các ý định mang màu sắc chủ nghĩa xét lại – bằng chứng cho thấy rằng những sự thật đơn giản về sức mạnh áp đảo của Mỹ và sự triển khai của nước này trên bán đảo Triều Tiên là các động lực quan trọng nhất.

Hãy xem xét thực tế rằng việc Triều Tiên phổ biến vũ khí hạt nhân phần lớn không thay đổi qua nhiều năm, nhưng nhiều trong số các yếu tố khác này – chẳng hạn như sự can dự chính trị và kinh tế của Mỹ, các cuộc đàm phán và thương mại liên Triều và những sự liên kết chính trị trong nước của Triều Tiên – đã biến đổi rất nhiều. Điều này cho thấy rằng có sự tác động của một nguyên nhân bất di bất dịch, căn bản hơn (tức là sức mạnh và khoảng cách gần của Mỹ). Và bằng chứng rằng Triều Tiên có ý định xây dựng kho vũ khí hạt nhân của nước này như một lá chắn cho việc can dự vào chính sách đối ngoại mang màu sắc của chủ nghĩa xét lại cũng kém thuyết phục tương tự. Chẳng hạn, từ năm 1995 đến 2005, Triều Tiên có trung bình 6 hành động khiêu khích quân sự thông thường (không liên quan đến tên lửa và hạt nhân). Tuy nhiên, từ năm 2006 đến 2016, sau vụ thử hạt nhân đầu tiên của nước này, con số này đã giảm xuống dưới 3, cho thấy rằng chương trình hạt nhân của Triều Tiên đã khiến nước này bớt khiêu khích trên phương diện quân sự thông thường chứ không phải khiêu khích hơn.

Tóm lại, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên dường như là nhằm thực hiện điều mà vũ khí hạt nhân làm tốt, đó là răn đe các cuộc tấn công cả thông thường lẫn hạt nhân từ các đối thủ hùng mạnh bên ngoài. Do đó, việc duy trì binh lính Mỹ tại chỗ và liên minh Mỹ – Hàn có hiệu lực trong khi đòi hỏi phải phi hạt nhân hóa Triều Tiên về cơ bản có nghĩa là Mỹ sẽ phải sẵn sàng can dự vào việc thay đổi chế độ bằng vũ lực. Vì sự hiện diện của Mỹ khiến cho việc Triều Tiên tự nguyện từ bỏ chương trình hạt nhân của nước này không có khả năng diễn ra, lựa chọn duy nhất để CVID thành công sẽ là việc loại bỏ bằng vũ lực hoặc việc Mỹ rời khỏi bán đảo và từ bỏ đồng minh Hàn Quốc của mình.

Tiếp theo, hãy xem xét lựa chọn 2 và 3: triển khai về phía trước và tránh sự thay đổi chế độ tốn kém. Nếu 2 mục tiêu này là các mục tiêu chính cảu Mỹ, thì rõ ràng không thể bổ sung thêm CVID, vì – như đã được chỉ ra trên đây – chính sự hiện diện của Mỹ trên bán đảo là động lực thúc đẩy chính cho chương trình hạt nhân của Triều Tiên. Một số người có thể hy vọng rằng một sự lừa gạt chiến lược là câu trả lời cho vấn đề này: với việc Mỹ đe dọa tấn công để gây sức ép buộc Triều Tiên từ bỏ chương trình của nước này. Tuy nhiên, vì các phí tổn khổng lồ gắn liền với việc sử dụng vũ lực đã được nêu ra trên đây, những lời đe dọa như vậy trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ được coi là không đáng tin cậy và do đó phần lớn sẽ không có hiệu quả. Trong trường hợp xấu nhất, chúng sẽ được coi là đáng tin cậy, thúc đẩy những sự khích lệ “sử dụng nó hay là mất nó” ở Bình Nhưỡng và đe dọa dẫn tới một vụ phóng vũ khí hạt nhân phủ đầu từ phía Triều Tiên – chính là kết quả mà sự lừa gạt này được dự định để tránh khỏi. Do vậy, nếu Mỹ muốn đặt việc phi hạt nhân hóa hoàn toàn làm mục tiêu chính sách đối ngoại nổi trội trên bán đảo Triều Tiên, thì nước này sẽ phải cân nhắc hoặc di chuyển binh lính Mỹ ra khỏi Hàn Quốc, và thậm chí bãi bỏ liên minh, hoặc sẵn sàng loại bỏ chương trình vũ khí hạt nhân – và có khả năng là chế độ Triều Tiên cùng với nó – bằng vũ lực, và chấp nhận mọi phí tổn sẽ kéo theo. Một lần nữa, chỉ có thể đồng thời thực hiện được 2 trong 3 lựa chọn này.

Cuối cùng, hãy xem xét lựa chọn 2 và 3: CVID và tránh các phí tổn gắn liền với việc chống phổ biến vũ khí hạt nhân bằng vũ lực. 2 lựa chọn này có thể được duy trì song song với nhau, nhưng điều này sẽ là không thể nếu Mỹ hy vọng vẫn giữ vị thế triển khai về phía trước của mình trên bán đảo Triều Tiên và liên minh của nước này với Hàn Quốc. Vì không có khả năng Triều Tiên tự nguyện từ bỏ chương trình hạt nhân của nước này chừng nào Mỹ vẫn triển khai về phía trước và liên minh với Hàn Quốc, nên việc duy trì CVID và tránh khỏi sự thay đổi chế độ bằng vũ lực tốn kém trên thực tế có nghĩa là Mỹ sẽ phải di chuyển ra ngoài và thậm chí cân nhắc việc bãi bỏ các cam kết liên minh của nước này với Hàn Quốc. Không thể cùng lúc duy trì cả 3 mục tiêu này.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://twq.elliott.gwu.edu/sites/twq.elliott.gwu.edu/files/downloads/TWQ_Winter%202018_Anderson.pdf

TLTKĐB – 29/01/2018