Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần cuối


+ Tháng Sáu năm 1996, Lầu Năm góc đã đồng ý cung cấp cho Cục Phòng vệ Nhật Bản các dữ liệu cảnh báo đầu tiên từ các vệ tinh do thám, đó là lời cảnh báo đầu tiên về một cuộc tấn công bằng tên lửa điều khiển từ xa.

+ Tháng Bảy năm 1996, Sách trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản đã công bố những nhận định về các mối đe dọa chiến lược đối với Nhật Bản. Mặc dù lời lẽ mang tính ngoại giao đối với nước ngoài, nhưng những lời đề cập đến Trugn Quốc lại là cứng rắn nhất: “Sự thúc đẩy liên tục (của Trung Quốc) việc hiện đại hóa các lực lượng không quân, hải quân và vũ khí hạt nhân, mở rộng… các hoạt động hải quân; và tình trạng căng thẳng gây ra do các cuộc tập trận quân sự xung quanh Đài Loan, tất cả làm cho chúng tôi thấy cần phải chú ý cẩn thận tới… cách ứng xử của Bắc Kinh”.

+ Tháng Tám năm 1996 các hiệp hội công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản và Mỹ đã đồng ý thành lập một cơ quan phối hợp nhằm thúc đẩy phát triển chung về thiết bị quân sự kỹ thuật cao.

Xu hướng có ý nghĩa nhất nổi lên từ các sự kiện này là có những động lực ngày càng tăng ủng hộ cho việc xây dựng thống phòng thủ tên lửa điều khiển từ xa cho Nhật Bản. THAAD tạo thành một tấm lá chắn chống tên lửa đạn đạo xung quanh Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ được xây dựng vào năm 2005. Hiện nó vẫn đang ở giai đoạn triển khai ở Mỹ, và người ta vẫn chưa quyết định được vấn đề quan trọng là Nhật bản sẽ chịu phần chi phí phát triển như thế nào trong công trình này. Tuy nhiên, nếu THAAD được chấp nhận thì đó sẽ là một bước tiến quan trọng nữa tới một liên minh chiến lược Mỹ – Nhật khăng khít hơn nhằm chủ yếu là vào Trung Quốc. Một lần nữa Bắc Kinh lại nhận ra một thách thức trước sự việ này, và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã tấn công mạnh mẽ cả Mỹ và Nhật Bản, thậm chí cả việc xem xét đến một hệ thống phòng thủ tên lửa. David Lampton, chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Quan hệ Mỹ – Trung, đã nói: “Người Trung Quốc thì lo ngại vì THAAD sẽ vô hiệu hóa sự hiện đại hóa các hệ thống tên lửa và vũ khí hạt nhân của chính họ”.

Ít ra là Trung Quốc cũng không hài lòng, về xu hướng này, và có thể hy vọng tăng cường sức ép của họ đối với Nhật Bản. Chẳng hạn, một quan chức Trung Quốc đã thông báo hồi tháng Sáu năm 1996 rằng các lý do chính trị sẽ có ảnh hưởng đến sự lựa chọn cuối cùng các nhà thầu cho Dự án Ba Thung Lũng khổng lồ của Trung Quốc, một loạt các đập nước và trạm thủy định dự định xây trên sông Trường Giang. Tờ Trung Hoa Nhật báo của Bắc Kinh trích lời ông Qin Zhongyi, phó chủ tịch công ty phát triển Ba Thung Lũng Trường Giang của Trung Quốc, rằng cơ hội cho các tập đoàn Nhật Bản (Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi, công ty điện tử Mitsubishi, Toshiba và Hitachi) để thắng thầu các hợp đồng trị giá 4 tỷ USD “có vẻ không chắc chắn, vì người ta không dễ dàng quên được mối liên kết gần gũi của Nhật bản với các chính sách khó chịu của Mỹ”. Qin, người phụ trách cuộc đấu thầu quốc tế cho dự án, đã nói rằng một tập đoàn Đức – Canada đang là người dẫn đầu vì “các mối quan hệ tốt đẹp giữa đất nước họ và Trung Quốc”.

Thật khó nói cán cân lực lượng ở châu Á trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác Nhật – Mỹ tới mức độ nào. Như một nhà bình luận người Nhật Bản đã dẫn lời Thomas L. Friedman của tờ New York Times, “một mình Nhật Bản không thể bắt tay Trung Quốc, một mình Nhật Bản không thể bắt tay một Triều Tiên thống nhất, và một mình Nhật Bản không thể bảo vệ đường biển của chính nó – vì tất cả những lý do này, chúng ta cần liên minh với Mỹ”. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Nhật Bản sẽ liên minh vững chắc với Mỹ. Nhiều yếu tố quyền lợi của các quan chức và các công ty Nhật Bản hẳn sẽ chống lại một liên minh hồi sinh rõ ràng là nhằm làm đối trọng với Trung Quốc, vì liên minh đó đe dọa những khoản lợi nhuận mà Nhật Bản có thể giành được ở Trung Quốc.

Công chúng rộng rãi cũng chống lại, vì họ cũng lo sợ các thảm họa mà chủ nghĩa quân phiệt không bị kiềm chế sẽ mang lại cho Nhật Bản. Sau nửa thế kỷ có thái độ hòa bình, sự tự nhận thức của Nhật Bản có lẽ không đơn giản cho phép đất nước chấp nhận vai trò một cường quốc thật sự, thậm chí chỉ ở khu vực của mình. Như Friedman đã diễn tả, vấn đề là “chính phủ Nhật Bản không muốn nói về từ C hay từ K”.

Nhiều lần trong thế kỷ này, sự suy yếu của Trung Quốc và sức mạnh của Nhật Bản đã phá hủy bất cứ khả năng nào về cán cân lực lượng châu Á ổn định. Do đó, từ Thế chiến II, đã có tiền đề cho rằng một Nhật Bản được tái vũ trang sẽ đe dọa hòa bình và ổn định ở châu Á. Nhưng nếu một lần nữa điều đó là sự thật, thì nay không còn là sự thật nữa. Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chính sự yếu kém của Nhật Bản đe dọa hòa bình và ổn định do chỗ tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Mỹ không thể lấp đầy, nhưng Trung Quốc lại có thể. Một Nhật Bản hợp tác chân thành với Mỹ là điều thiết yếu cho một cán cân lực lượng mới ở châu Á. Một Nhật Bản yếu chỉ có lợi cho Trung Quốc, bằng chứng hiển nhiên chỉ ra rằng Trung Quốc không hướng tới một cán cân lực lượng mới mà nhắm tới bá quyền của Trung Quốc, và trong đó, Nhật Bản, nếu chịu nhường bước cho định mệnh đó, thì sẽ phục vụ như là một nước chư hầu hữu ích nhất và giàu có nhất của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Advertisements

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần V


Những gì làm cho Nhật Bản cũng như các quốc gia Đông Nam Á phải lo lắng là sự cố tình lừa dối của Trung Quốc (những thông báo của Giang Trạch Dân chỉ là những bảo đảm có thẩm quyền nhất và mới nhất cho ý đồ hòa bình) và dường như quyết tâm của Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa bất chấp dư luận trong khu vực không hề thay đổi. Mặc dù các tham vọng của Trung Quốc tập trung vào các đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, họ cũng đòi hỏi quyền – mà cho tới bây giờ, họ vẫn nói là họ sẽ không áp dụng – “điều chỉnh” hoạt động của tàu bè qua lại trên vùng biển đó. Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc áp dụng “quyền” đó buộc Nhật Bản phải có sự điều chỉnh các con đường buôn bán quan trọng nhất của mình. Nhưng viễn cảnh biển Nam Trung Hoa bị biến thành ao nhà của Trung Quốc đã có những ý nghĩa nghiêm trọng đối với đầu tư của Nhật Bản. Một lượng tài sản khổng lồ của Nhật Bản được đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á ở giáp ranh con đường hàng hải mà chẳng bao lâu nữa có thể sẽ bị Trung Quốc kiểm soát. Ngược lại, Nhật Bản thậm chí không có quyền hợp hiến để cử tàu chiến tới Biển Nam Trung Hoa bảo vệ cho đầu tư của họ tại đó. Thay cho điều đó, họ phải phụ thuộc vào ý muốn giúp đỡ của Mỹ, cử các lực lượng quân đội Mỹ tới bảo vệ cho các công ty Sony và NEC. Như một quan sát viên đã nhận xét, trước đây, chưa bao giờ có một quốc gia mạnh và quan trọng nào lại cho phép những lượng tài sản lớn của mình lưu thông ở nước ngoài mà không có khả năng bảo vệ.

Cũng trong năm 1995, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đẩy mạnh các cuộc tập trận ở Triều Tiên, nơi họ đã thể hiện thái độ chống Nhật rất rõ ràng. Trong khi tình cảm chống Nhật đang biến mất khỏi Đông Nam Á, thì nó vẫn dữ dội trong người Triều Tiên. Cảm nhận của họ về cuộc xâm chiếm tàn bạo và kéo dài của Nhật Bản trên đất nước họ, từ 1895 tới 1945, vẫn còn sâu đậm, thậm chí ở cả những người được sinh ra sau Thế chiến II. Trong một cuộc viếng thăm cấp nhà nước có tính lịch sử tới Hàn Quốc tháng 11 năm 1995, cứ có cơ hội là Giang Trạch Dân lại kêu gọi thái độ thù địch của người dân Triều Tiên đối với Nhật Bản. Gợi lại ký ức về chế độ thuộc địa Nhật Bản ở Triều Tiên, Giang Trạch Dân đã cùng Tổng thống Hàn Quốc lên án lịch sử cuộc xâm lược của Nhật Bản, và Giang Trạch Dân còn gợi ý thêm rằng bọn “quân phiệt” Nhật Bản vẫn là một mối đe dọa cho sự tồn tại của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

Đối với phương Tây, thái độ của Giang Trạch Dân ở Triều Tiên dường như là biểu hiện lành mạnh thiện ý của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi các mối quan hệ tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, thực ra, thái độ của Trung Quốc ở Triều Tiên, vốn dựa trên giả thiết rằng cuối cùng chế độ Bình Nhưỡng sẽ sụp đổ dần, lại kích thích cơn ác mộng của Nhật Bản: một nước Triều Tiên tái thống nhất, được trang bị vũ khí hạt nhân, nghiêng về Trung Quốc và chống lại Nhật Bản. “Địa chính trị học Nhật Bản đã không thay đổi qua nhiều thế kỷ”, Hisahiko Okazaki, một nhà phân tích chiến lược Nhật Bản, đã nói: “Tầm quan trọng chiến lược của Bán đảo Triều Tiên vẫn tồn tại như nó đã luôn luôn tồn tại”. Nếu Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định ở một nước Triều Tiên tái thống nhất và được trang bị vũ khí hạt nhân, nó sẽ có tác động to lớn đối với Nhật Bản, trên thực tế là buộc Nhật Bản phải tìm kiếm sự bảo vệ của Trung Quốc để chống lại Triều Tiên.

Phương án giải quyết của Mỹ cho vấn đề này là đề nghị các cuộc đàm phán bốn bên giữa hai nước Triều Tiên cũng như Mỹ và Trung Quốc. Cho đến nay lời đề nghị này chưa được thực hiện ở bất cứ đâu. Trong lúc này, có những báo cáo liên tục về việc Trung Quốc đang bí mật tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc giữa Bắc và Nam Triều Tiên, xúc tiến chương trình nghị sự của mình với tư cách là một đấu thủ bên ngoài nhưng có tính quyết định đối với bán đảo. Bất chấp các tài sản quân sự của mình trên bán đảo, dường như Mỹ không có đối sách nào, và điều này đã làm Nhật Bản càng lo ngại hơn bao giờ hết.

Đồng thời, theo nhận định của bất cứ nhà chiến lược nào, mối quan hệ thân thiết đang tăng lên giữa Trung Quốc với Nga (trong khi mối quan hệ đó không nhằm vào Nhật Bản một cách rõ rệt), lại đi ngược lại các lợi ích của Nhật Bản. Nó làm lệch thêm cán cân lực lượng ở Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc và chống lại các lợi ích của Nhật Bản và Mỹ. Mặc dù phần nào do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và không phải do quan hệ nhân quả, mối giao kết thân thiện Nga – Trung dường như đang đi song song gần gũi với mối giao kết thân thiết Nhật – Mỹ. Quả vậy, năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Giang Trạch Dân đã tuyên bố một hiệp ước chiến lược Nga – Trung và trong cùng tháng Tư đó, Clinton và Hashimoto đã công bố tuyên bố chung của họ ở Tokyo.

Đối với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan được xem như đi ngược lại bối cảnh này, Đài Loan có tầm quan trọng quyết định đối với an ninh Nhật Bản. Thực ra nó đã góp phần bảo vệ sườn phía Nam của Nhật Bản. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, các mối quan hệ khăng khít với Mỹ và các chính sách ủng hộ buôn bán, ủng hộ phương Tây đã đưa lại cho Đài Loan một chỗ đứng đáng khích lệ. Một điều hầu như bao giờ cũng bị bỏ quên hoàn toàn là Đài Loan còn bảo vệ các cửa ngõ phía Đông và Biển Nam Trung Hoa – Đài Loan chia sẻ với Trung Quốc eo biển Đài Loan, và chia sẻ với Philippines đường lạch Bashi của eo biển Luzon. Sự quan tâm ít ỏi đối với thực tế chiến lược quan trọng này là do cam kết của Đài Loan về thương mại và tự do đi lại trên đường biển – điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện Đài Loan phong tỏa các tuyến đường hàng hải đó. Nhưng viễn cảnh về quyền kiểm soát này của Trung Quốc đối với Đài Loan, một viễn cảnh mà chắc chắn người ta phải nghĩ tới do cuộc đụng độ trên eo biển Đài Loan vào năm 1996, đã buộc các nhà chiến lược Nhật Bản phải đánh giá lại từ đầu tầm quan trọng chiến lược vô cùng to lớn của Đài Loan đối với Nhật Bản.

Trong bất cứ trường hợp nào, các bài phát biểu và các sự kiện khác nhau này, diễn ra trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, đã dẫn tới một số cam kết Nhật – Mỹ. Đặt cạnh nhau, các cam kết đó thể hiện một sự gia tăng đáng quan tâm về hợp tác quân sự giữa hai nước:

+ Tháng Hai năm 1996, Mỹ và Nhật Bản đã ký kết một biên bản ghi nhớ liên quan đến việc chia sẻ các thông tin chi tiết về phòng phủ bằng tên lửa điều khiển từ xa. Tháng Tư năm 1995, Cục phòng vệ Nhật Bản đã thành lập Cơ quan nghiên cứu phòng vệ bằng tên lửa đạn đạo, nhiệm vụ của nó là quyết định có triển khai hay không triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD.

+ Tháng Tư năm 1996 đã có tuyên bố an ninh chung.

+ Tháng Năm năm 1996 chính phủ Nhật Bản đã xem xét việc xây dựng các đường lối chỉ đạo mới cho Nhật Bản “để hành động phối hợp với Washington trong việc giải quyết tất cả các trường hợp khẩn cấp… xảy ra ở trong khu vực xung quanh”. Đây là một bước phát triển của tuyên bố tháng Tư. Một tờ báo đã đưa tin rằng Nhật Bản đang tìm cách nói thích hợp để tìm lý do chính đáng cho việc Nhật Bản đảm nhận vai trò quân sự tích cực hơn nữa bên cạnh Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần IV


Một hiệp ước như vậy sẽ ủng hộ mạnh mẽ cho ưu thế của Trung Quốc ở châu Á. Quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản sẽ chỉ nhằm ngăn ngừa việc tái vũ trang của Nhật Bản, không phải để sử dụng Nhật Bản như một căn cứ của các hoạt động tấn công. Về quân sự Nga sẽ vẫn còn quá yếu để thách thức ưu thế của Trung Quốc. Thậm chí nhiều người Nhật sẽ bị quyến rũ bởi ý đồ của Trung Quốc, vì nó hứa hẹn một nền quốc phòng ít tốn kém. Mỹ cũng sẽ có quan điểm vững chắc ủng hộ điều đó, đặc biệt nếu Mỹ, sau khi mất đi các căn cứ của mình ở Philippines, cũng sẽ sẵn sàng rời khỏi Triều Tiên. Người Mỹ sẽ có một cách thức để cắt giảm chi phí quân sự, chấm dứt vai trò sen đầm quốc tế của Mỹ, một vai trò dù sao cũng làm cho nhiều người Mỹ cảm thấy bất tiện. Rất có thể sẽ có “các chiến dịch tấn công hòa bình” của Trung Quốc khá giống với “phong trào hòa bình” của Liên Xô trong những năm 1970 và 1980. Nhưng sự thật là nếu một ngày nào đó Bắc Kinh đề cập đến một thỏa thuận như vậy với Mỹ, thì tức là họ yêu cầu Mỹ chấp nhận ưu thế ở châu Á của Trung Quốc và đặt Nhật Bản trong phạm vi bá quyền của Trung Quốc như một chuyện đã rồi.

Trong khi Trung Quốc từ lâu đã coi Nhật Bản là kẻ thù chiến lược thì Nhật Bản cho đến gần đây vẫn tương đối lơi là về Trung Quốc. Cuối năm 1993, một cuốn sách quan trọng về các vấn đề an ninh của Nhật Bản hầu như đã không đề cập đến Trung Quốc. Vài năm trước đó, thường thường những người Nhật vốn bi quan cũng đã bắt đầu tin những thông cáo báo chí của họ coi Nhật Bản là quốc gia số một (Number 1) (tiêu đề một cuốn sách của một học giả người Mỹ trở thành cuốn sách best seller ở Nhật Bản). Người Nhật ngày càng thêm tin rằng đối với Nhật Bản, tầm quan trọng của Mỹ đang giảm đi và Nhật Bản nên dốc toàn lực để trở thành nước lãnh đạo châu Á.

Vào đầu những năm 1990, bất chấp những dấu hiệu cảnh báo như là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Nhật Bản, sức mạnh của Nhật Bản dường như vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trên khắp châu Á. Người ta cho là sắp tới sẽ ra đời khối đồng Yen, một hiệp hội kinh tế dưới sự lãnh đạo kinh tế vững chắc của Nhật Bản. Ở Tokyo, người ta nghe một ẩn dụ dành cho các nền kinh tế châu Á là “một đàn sếu bay”. Trong khi các nước châu Á đang ở các giai đoạn phát triển kinh tế và kỹ thuật khác nhau, thì tất cả đang bay theo kế hoạch bay và theo sự dẫn đường của Nhật Bản. Nhật Bản ở đầu đội hình chữ V. Ngay sau nó là Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore, các nhà máy của các nước này đã chế tạo những sản phẩm mà Nhật Bản chỉ sản xuất sớm hơn một thập kỷ. Rồi đến Malaysia và Indonesia, cùng với các nước như Myanmar và Việt Nam ở sau.

Lúc đầu, người Nhật đã coi Trung Quốc là một con sếu rất lớn nhưng chậm chạp. Tuy nhiên, thật đáng khen là các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh Nhật Bản đã nhận ra rằng ở thời kỳ sau cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, Trung Quốc đang xuất hiện với tư cách là một cường quốc kinh tế và quân sự cần phải lưu tâm đến. Trong thời gian đó, người Nhật hầu như đơn độc, canh bạc Trung Quốc ở Mỹ và các nước phương Tây khác đang đầu cơ trên sự suy sụp của chế độ. Nhưng Nhật Bản đã bắt đầu một nỗ lực quan trọng vào đầu những năm 1990 nhằm cải thiện các mối quan hệ với Trung Quốc. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân của Nhật Bản tiếp tục chuyển chậm chạp sang các lĩnh vực đầu tư và buôn bán, thì chính phủ Nhật Bản đã đẩy mạnh chương trình viện trợ nước ngoài và giúp đỡ kinh tế cho Trung Quốc. Vào giữa những năm 1990, viện trợ trọn gói của Nhật Bản cho Trung Quốc đã đạt tổng trị giá gần 5,5 tỷ USD dưới hình thức các khoản vay mềm và các khảon trợ cấp không hoàn lại. Chính phủ Nhật Bản đã cử Hoàng đế và Hoàng hậu của mình tới Trung Quốc trong một chuyến viếng thăm cấp Hoàng gia, một biểu tượng hùng hồn cho sự tôn trọng của Nhật Bản. Tokyo cũng lên tiếng tại các diễn đàn quốc tế nhằm tìm ra phương pháp hòa giải với Bắc Kinh trong nỗ lực chung nhằm làm cho Trung Quốc hội nhập hơn nữa với cộng đồng thế giới. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã đưa ra lời xin lỗi Trung Quốc và các quốc gia khác vì những hành động của Nhật Bản trong thế chiến II.

Nhưng chúng ta đã thấy, những nỗ lực của Nhật Bản nhằm lập lại mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc đã không thành công. Trung Quốc chấp nhận viện trợ và đầu tư của Nhật Bản, nhưng đã khuyến khích tình cảm chống Nhật của nhân dân trong và ngoài nước. Đồng thời, việc Chính phủ Nhật Bản tác động lên các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá mức thị trường trong nước đã dồn gánh nặng lên nền kinh tế Nhật Bản vốn đã gặp những vấn đề có tính cơ cấu rất cơ bản và nghiêm trọng. Năm 1996, rất nhiều các nhà kinh tế học của cả Nhật Bản và nước ngoài đã đồng ý rằng các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản là lâu dài và có tính kinh niên. Theo các tiêu chuẩn đánh giá của thế giới, Nhật Bản vẫn còn mạnh và phồn vinh, nhưng tỷ lệ tăng trưởng – dẫn đến bước nhảy vọt kỳ diệu của Nhật Bản từ một nền kinh tế đổ nát năm 1945 tới một nước cạnh tranh giành vị trị nền kinh tế số một của thế giới – đã thuộc về lịch sử. Quả vậy, chắc chắn rằng trong một vài năm tới, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản về tổng sản lượng kinh tế, đẩy Nhật Bản xuống vị trí thứ ba trên thế giới.

Tâm trạng bấp bênh ám ảnh đất nước Nhật vào giữa những năm 90 đã được phản ánh rất đúng qua kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến do tờ báo Asahi Shimbun  tiến hành vào tháng Tám năm 1994. Với câu hỏi quốc gia nào sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với châu Á trong thế kỷ 21 thì có 54% người Nhật đã trả lời là Trung Quốc, 30% là Mỹ, và chỉ có 16% trả lời là Nhật Bản.

Tâm trạng bi quan và lo âu này, không nghi ngờ gì nữa, đã góp phần vào quyết định nhằm tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược thân thiết hơn với Mỹ. Một yếu tố khác là Trung Quốc vẫn tiếp tục một loạt chiến dịch tuyên truyền chống Nhật Bản. Nhưng cuối cùng điều đã làm Nhật Bản tin rằng cần phải nghiêng về phía Mỹ là một loạt hành động quân sự và chính trị hiếu chiến của Trung Quốc đã diễn ra trong hơn một năm và đe dọa những lợi ích an ninh cơ bản của Nhật Bản.

Nhật Bản đặc biệt lo lắng vì các hành động hiếu chiến của Trung Quốc ở vùng biển Đông và Nam Trung Hoa đe dọa các con đường kinh tế huyết mạch của Nhật Bản. Hầu hết các nguyên liệu và năng lượng của Nhật Bản là chuyển qua Biển Nam Trung Hoa, mà ở đó trong những năm 1970, Trung Quốc bắt đầu xâm chiếm các hòn đảo thuộc về một nước Việt Nam yếu hơn nhiều. Những đòi hỏi khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa cũng đã báo động cho các nhà nước Đông Nam Á như Philippines và Malaysia là những nước cũng đã đòi hỏi và chiếm giữ một vài hòn đảo nhỏ từ lâu. Những nước khác, đặc biệt là Indonesia và Singapore, đã không có các cuộc tranh chấp công khai nào với Trung Quốc và biển Nam Trung Hoa nhưng đã có sự quan tâm cấp thiết đến việc ngăn chặn một cuộc xung đột.

Tháng 11 năm 1994, Giang Trạch Dân đã thăm một vài nước Đông Nam Á để chứng tỏ ý đồ hòa bình của Trung Quốc. Đề cập tới quần đảo Trường Sa (Spratly) một quần đảo gần với Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn nhiều so với Trung Quốc, ông ta đã nói tại ột cuộc họp báo ở Singapore rằng: “của Trung Quốc là rõ ràng và không thay đổi. Chúng tôi ủng hộ cách giải quyết các cuộc tranh chấp có liên quan thông qua các cuộc đàm phán song phương. Tất cả những lời phát biểu xuất phát từ định đề “Trung Quốc sẽ tạo ra một mối đe dọa” là không có cơ sở”.

Tuy nhiên, gần như đúng vào khi Giang Trạch Dân tuyên bố cam kết của Trung Quốc giải quyết một cách hòa bình cuộc tranh chấp về các bãi đá ngầm và ác đảo nhỏ trên biển, thì hải quân Trung Quốc chuẩn bị xâm chiếm một trong số các đảo này. Philippines đã được coi như là “chủ nhân” của đảo Mischief, cách phía Tây đảo Palawan của Philippines khoảng 135 dặm, nhưng các lực lượng vũ trang được trang bị thô sơ và ít ỏi của họ đã không bao giờ làm được việc tuần tra đầy đủ lãnh thổ Philippines (Mỹ đã từ bỏ công việc này khi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines đã bị đóng cửa). Người Trung Quốc đã xây dựng xong một cơ sở trên đảo Mischief khi một ngư dân Philippines tình cờ khám phá ra rằng người Trung Quốc đã ở đó vào tháng Giêng năm 1995. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố rằng những người chiếm giữ trên đảo chỉ là những ngư dân, nhưng chẳng ai tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” gồm có các kho nhiên liệu, đĩa vệ tinh và thiết bị radar. Mọi người dễ dàng hiểu rằng việc Trung Quốc chiếm giữ đảo Mischief là một hoạt động quân sự trên biển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Cách đúng đắn để chấm dứt mối đe dọa Triều Tiên – Phần cuối


Tuy nhiên, logic này là sai lầm. Nếu Kim Jong-un không thể bị ngăn cản khi ông có vũ khí hạt nhân có khả năng vươn tới lục địa Mỹ, thì tại sao một cuộc tấn công quân sự có giới hạn lại ngăn cản ông đáp trả bằng hành động tương tự? Và nếu Kim Jong-un thực sự phản ứng bằng quân sự, thì làm sao Mỹ có thể ngăn chặn cuộc khủng hoảng này leo thang vì Kim Jong-un hẳn sẽ chứng tỏ ông không có sự hiểu biết rõ ràng và hợp lý về các tín hiệu và sự răn đe?

Một số người Mỹ lập luận rằng những rủi ro này là đáng quan tâm vì mọi người thà chết “ở đó” còn hơn là ở nhà. Đó cũng là một tư tưởng sai lệch. Vào một ngày nào đó, có 230.000 người Mỹ sống ở Hàn Quốc và 90.000 người nữa sống ở Nhật Bản. Việc di tản họ sẽ gần như là bất khả thi. Cuộc di tản người Mỹ lớn nhất trong lịch sử là khoảng 60.000 người từ Sài Gòn vào năm 1975. Việc sơ tán khỏi Hàn Quốc nhất định sẽ khó khăn hơn. Ngay cả khi Bộ Ngoại giao tăng gấp 3 lần số lượng viên chức lãnh sự ở Hàn Quốc, thì quá trình này cũng có thể mất hàng tháng. Hơn nữa, việc sử dụng các điểm di tản thông thường ở phía Nam và phía Đông bán đảo Triều Tiên, điều đó có nghĩa là đường thoát duy nhất là đi qua Trung Quốc. Nhưng trong một cuộc khủng hoảng, các tuyến đường thủy quanh bán đảo sẽ bị tắc nghẽn với một triệu người Trung Quốc cũng tìm cách rời đi.

Dưới cơn mưa đạn pháo của Triều Tiên, các công dân Mỹ ở khu vực nhiều khả năng phải kiên trì chờ đợi cho đến khi cuộc chiến tranh kết thúc. Mặc dù người Mỹ ở Nhật Bản có thể được hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ bảo vệ, nhưng những người dân Mỹ ở Hàn Quốc sẽ không được may mắn như vậy. Điều rõ ràng là bằng cách tiến hành một cuộc tiến công phòng ngừa, tổng thống sẽ đặt một số lượng lớn người Mỹ tương đương với dân số của thành phố Cicinnati hay Pittsburgh vào cảnh nguy hiểm, chưa kể đến hàng triệu người Hàn Quốc và Nhật Bản, tất cả dựa trên giả định chưa được chứng minh rằng một nhà độc tài không thể ngăn cản và không thể đoán trước được sẽ bị sợ hãi tới mức chịu khuất phục trước một cuộc biểu dương sức mạnh của Mỹ.

Một số người lập luận rằng thương vong của Mỹ và thậm chí là một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn trên bán đảo Triều Tiên là điều đáng để mạo hiểm nếu một cuộc tấn công phòng ngừa có thể duy trì trật tự khu vực và quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai trong dài hạn. Nhưng đề xuất này còn phải bàn nhiều. Một cuộc tấn công quân sự chỉ trì hoãn, chứ không ngừng được, các chương trình tên lửa và hạt nhân của Kim Jong-un. Washington không biết vị trí tất cả các căn cứ hạt nhân của Triều Tiên và thậm chí nếu họ có biết thì nhiều căn cứ ẩn sâu dưới lòng đất và ở sườn núi, vượt ra ngoài tầm bắn của ngay cả các vũ khí có chứa “bom đánh bật hầm” cỡ lớn. Hơn nữa, một cuộc tấn công có giới hạn sẽ không ngăn được mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân. Trên thực tế, nó sẽ chỉ làm cho mối đe dọa trầm trọng thêm, biến điều mà có thể là một nỗ lực có lợi cho chế độ Kim Jong-un thành một nỗ lực mang tính trả thù trang bị cho các bên tham gia dàn trận chống lại Mỹ.

Chiến lược này cũng có nguy cơ làm rạn nứt liên minh ấn tượng mà Chính quyền Trump đã tập hợp cho chiến dịch gây áp lực tối đa. Một cuộc tấn công quân sự đơn phương sẽ cắt đứt những gì cho đến nay là một nỗ lực thành công làm tiêu hao dự trữ tiền tệ mà Triều Tiên sử dụng để xây dựng các chương trình của mình. Cuối cùng, một cuộc tấn công có thể gây phương hại cho các liên minh then chốt của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đòi hỏi rằng họ phải được tham vấn trước khi Mỹ cân nhắc tiến một cuộc tân công. Việc đơn phương hành động luôn là một lựa chọn, nhưng làm như vậy có thể làm rạn nứt, nếu không muốn nói là kết thúc, chính những liên minh mà Chính quyền Trump đang tuyên bố là đang tìm cách tăng cường khi đối mặt với một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Cuối cùng, Trump không thể giải quyết vấn đề một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Đánh giá này được chia sẻ rộng rãi bởi các cựu thành viên của cộng đồng tình báo, Hội đồng An ninh Quốc gia, Bộ Ngoại giao, và Bộ Quốc phòng, những người đã phục vụ trong cả chính quyền của đảng Dân chủ lẫn chính quyền của đảng Cộng hòa. Theo Steve Bannon, cựu chiến lược gia trưởng của Trump, đã đề cập đến điều đó trong một cuộc phỏng vấn: “Cho đến khi ai đó giải quyết được một vấn đề của phương trình mà cho tôi thấy rằng 10 triệu người ở Seoul không chết trong 30 phút đầu tiên… thì không có giải pháp quân sự nào ở đây, họ hiểu chúng tôi”.

Lựa chọn tốt nhất trong số các lựa chọn tồi tệ

Trong tương lai, Washington nên dựa vào chiến dịch gây áp lực lớn nhất, đưa các cuộc đàm phán vào một chiến lược khu vực rộng lớn hơn và từ bỏ một cuộc tấn công quân sự để ủng hộ những nỗ lực mới nhằm tăng cường sự răn đe và chống phổ biến vũ khí hạt nhân trong khu vực thông qua việc hợp tác chặt chẽ với các đồng minh của Mỹ. Một chiến lược như vậy có thể đem lại những lợi ích tiềm năng tương tự như một cuộc tấn công có giới hạn mà không phải chịu phí tổn. Và nếu cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump thất bại, thì nó cũng có thể ngăn cản hai quốc gia này tức khắc tiến hành chiến tranh.

Trung Quốc và Nga sẽ không thích cách tiếp cận này, nhưng theo quan điểm của họ thì nó tốt hơn là một cuộc tấn công quân sự, mà có thể dẫn đến một cuộc trao đổi hạt nhân giữa Mỹ và Triều Tiên ở khu vực lân cận với họ. Hơn nữa, rất ít quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc, cảm thấy thoải mái với nguy cơ phổ biến vũ khí hạt nhân do một nước Triều Tiên có vũ khí hạt nhân gây ra. Trên thực tế, theo chiến lược này, Trung Quốc và Nga có thể quyết định tham gia các nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân hoặc thậm chí là tham gia một thể chế an ninh đa phương lâu dài.

Một số người trong cộng đồng toàn cầu lo ngại rằng Trung Quốc và Triều Tiên có thể coi những hành động nhất định, như một lệnh cấm vận để ngăn cản sự phổ biến vũ khí hạt nhân, như một hành động chiến tranh. Để chống lại điều này, trong chừng mực có thể, Mỹ và các đồng minh của mình nên tìm kiếm thẩm quyền hợp pháp cho các hành động của họ thông qua các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhằm đối phó với loạt hành động khiêu khích kế tiếp hoặc với việc phổ biến vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Những người yêu hòa bình có thể lập luận rằng chiến lược này sẽ gây ra tình trạng mất an ninh ở Bình Nhưỡng, điều sẽ biện minh hơn nữa cho hành động theo đuổi vũ khí của chế độ này. Họ có thể nghĩ rằng một lựa chọn thay thế tốt hơn sẽ là thực hiện một nỗ lực ngoại giao cuối cùng – như Trump cũng có thể làm – như tuyên bố hòa bình trên bán đảo Triều Tiên và rút quân Mỹ ra khỏi Hàn Quốc. Trong dài hạn, có thể có một hiệp ước hòa bình, nhưng trước hết, những thực tế trên thực địa phải được thay đổi. Ý định của chế độ này là theo đuổi các ICBM mang đầu đạn hạt nhân đặt ra những đe dọa mới nghiêm trọng đối với nước Mỹ và các đồng minh của Mỹ ở khu vực này mà cần phải giải quyết. Phải duy trì áp lực của những biện pháp trừng phạt, nhưng điều đó không có nghĩa là không có chỗ cho sự khéo léo trong những nỗ lực định hình cách hành xử của Triều Tiên. Chiến dịch trừng phạt, nếu được xử lý cẩn thận, có thể được thiết kế nhằm mục tiêu vào chế độ này trong khi vẫn để lại không gian cho việc phát triển thị trường, truyền bá thông tin và hỗ trợ nhân đạo cho người dân thường. Tuy nhiên, một nỗ lực cuối cùng mà không có những hành động cụ thể của Triều Tiên hướng tới phi hạt nhân hóa có thể là tốt cho xếp hạng trên truyền hình, nhưng nó cũng sẽ mang lại cho Kim Jong-un những gì ông muốn (sự công nhận là cường quốc hạt nhân) trong khi đó lại chẳng mang lại cho Mỹ thứ gì ngoài những lời hứa hão.

Cuối cùng, những người chỉ trích có thể lập luận rằng một chiến lược ép buộc toàn diện sẽ chỉ đơn giản là mất quá nhiều thời gian, và thời gian chỉ đứng về phía Triều Tiên khi nước này tiếp tục chạy nước rút để có được vũ khí hạt nhân. Sự chỉ trích này không phải là không có lý do chính đáng; trong những thập kỷ gần đây, các vấn đề lịch sử và trong nước nhạy cảm đã cản trở sự hợp tác quân sự giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, điều có thể cản trở việc lập kế hoạch phòng thủ giữa các đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, trong quá khứ, các cuộc khủng hoảng liên quan đến Triều Tiên đã dẫn đến sự hợp tác an ninh giữa Nhật Bản và Hàn Quốc một cách kịp thời và nhanh chóng. Ngoài ra, mặc dù sự thúc đẩy một cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump là đầy kịch tính, nhưng nó có thể đã biến vở kịch này thành một trò chơi kéo dài hơn, vì những tuyên bố táo bạo của các nhà lãnh đạo vốn thích sự nhanh nhạy và kịch tính sẽ phải được các nhà hoạch định chính sách dưới quyền chuyển thành hành động một cách rất chi tiết trong nhiều tuần và nhiều tháng, nếu không phải là nhiều năm. Mỹ nên sử dụng thời gian này để đầu tư vào các liên minh và tăng cường vị thế của mình trong khu vực.

Việc phối hợp và phát triển các năng lực cần thiết cho sự hợp tác an ninh với Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ mất thời gian, nhưng nó sẽ đặt Mỹ vào vị thế tốt hơn trong dài hạn. Điều quan trọng là phải phân biệt giữa chiến lược và chiến thuật. Các phản ứng mang tính chiến thuật luôn có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể xảy ra trong thời gian gần, nhưng chiến thuật mà không có chiến lược có thể đẩy người ta vào con đường không mong muốn. Như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ John Hamre đã lập luận, những tuyên bố gần đây của Mỹ rằng “đã hết thời gian”, vốn được đưa ra để gây áp lực cho người Triều Tiên, chỉ dồn Washington vào một góc, dưới sức ép phải thực hiện một cuộc tấn công quân sự không mong muốn, và họ đã không làm gì để thúc đẩy một chiến lược phác thảo những gì Mỹ nên làm trước, trong và sau khi diễn ra bất cứ cuộc đàm phán nào.

Trong số những lựa chọn tồi tệ, không có kế hoạch nào là lựa chọn hoàn hảo. Nhưng một số kế hoạch rõ ràng tốt hơn những kế hoạch khác. Một chiến lược ép buộc toàn diện cho chính sách ngoại giao phi hạt nhân hóa sẽ làm gia tăng đáng kể áp lực lên Triều Tiên. Nó sẽ củng cố các liên minh của Mỹ ở châu Á chống lại các mối đe dọa không chỉ từ Triều Tiên mà còn từ Trung Quốc và làm gia tăng cái giá mà Bắc Kinh phải trả khi trợ cấp cho chế độ Kim Jong-un. Nó sẽ không mạo hiểm mạng sống của hàng trăm nghìn người Mỹ bằng một cuộc tấn công quân sự phòng ngừa. Và nó sẽ tăng cường sức mạnh của Mỹ tại bàn đàm phán theo một cách mà đã chuẩn bị cho Washington đón nhận thành công cũng như thất bại.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2018-04-01/right-way-coerce-north-korea

TLTKĐB – 05 – 06/05/2018

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần III


Ước tính có khoảng 30 triệu người đã chết là kết quả của sự thống trị hỗn loạn dưới thời Cộng sản từ năm 1949 đến 1972. Nếu Trung Quốc đền bù cho những hành vi tàn bạo đó, thì chính họ làm giảm uy tín của các nhà cầm quyền. Nhưng đòi hỏi một tiêu chuẩn đạo đức cao với người Nhật Bản lại là bênh vực uy tín đó, và hòa hợp với các lợi ích chiến lược của Trung Quốc: Xie Xide, thành viên của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, một loại hội đồng cố vấn, ở Đại học Tổng hợp Phúc Đán tại Thượng Hải, đã nói: “Một Nhật Bản hùng mạnh là không thể chấp nhận, bởi vì Trung Quốc đã phải chịu đựng quá nhiều trong cuộc xâm lăng của Nhật Bản”. “Nếu có một nước nào đó muốn thống trị châu Á trong tương lai, thì đó là Nhật Bản”, một học giả của một trong các tổ chức bán chính thức nghiên cứu đường lối đối ngoại của Bắc Kinh đã nói với chúng tôi như vậy. “Mối đe dọa chủ yếu đối với an ninh ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương xuất phát từ công cuộc quân sự hóa của Nhật Bản”.

Chiến dịch kéo dài của Trung Quốc nhằm làm cho Nhật Bản suy yếu bao gồm cả nỗ lực ngoại giao ở các nơi khác tại châu Á để đẩy mạnh một kiểu mặt trận chống Nhật Bản. Các nhà ngoại giao ở Thái Lan và Singapore đã nói với chúng tôi vào năm 1995 và 1996 rằng các phái viên Trung Quốc đã đặt “mối đe dọa Nhật Bản” lên đầu chương trình nghị sự trong các cuộc thảo luận song phương khép kín. Thông điệp chính yếu từ các nhà ngoại giao Bắc Kinh là Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á đều có mối quan tâm chung đến việc ngăn cản các hành động hiếu chiến của Nhật Bản ở châu Á và đặc biệt là ngăn cản Nhật Bản trở thành một cường quốc quân sự trong khu vực. Nêu bật chủ đề này một vài ngày sau Tuyên bố an ninh Nhật – Mỹ, một phát ngôn viên Bộ Ngoại giao đã nói: “Nếu các lực lượng phòng vệ của Nhật Bản tích lũy thêm sức mạnh vũ trang, thì chắc chắn sẽ gây ra mối lo ngại và sự cảnh giác ở các quốc gia châu Á khác”. Trong một bài tường thuật về cuộc tranh chấp Hòn đảo Senkaku (Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản đều cho là của mình), tờ Nhân dân Nhật báo đã bình luận: “Chúng ta thấy một số người ở Nhật Bản đã trở nên nóng đầu, và đánh mất trí khôn của họ. Mọi người ở tất cả các quốc gia châu Á phải tìm ra một phương pháp để làm nguội lại những cái đầu nóng này và không cho phép chúng làm bất cứ điều gì ngu ngốc… Cần phải có một mức độ cảnh giác cao đối với các hành động của Nhật Bản”.

Cuộc phỏng vấn của chúng tôi tại Trung Quốc năm 1996 đã làm chúng tôi hiểu rõ ràng mục tiêu tầm xa của Trung Quốc là nhằm thúc dục các nước khác, kể cả Mỹ, tham gia vào một hiệp ước chính thức mà bề ngoài là nhằm vào việc bảo đảm an ninh vĩnh viễn cho Nhật Bản, nhưng thực ra sẽ là dựng một hàng rào chắn lâu dài ngăn cản Nhật Bản quay trở về hàng ngũ các quốc gia “bình thường”. Các bên ký kết sẽ là Trung Quốc, Nga, Mỹ và bản thân Nhật Bản, ba nước Trung Quốc, Nga, Mỹ với tư cách là những nước bảo lãnh cho an ninh Nhật Bản, trong khi Nhật Bản sẽ tự cam kết mãi mãi có một chính sách đối ngoại trung lập – hòa bình và đồng ý tự giới hạn ở một lực lượng phòng thủ nhỏ.

Theo cách nhìn của Trung Quốc, đã có lý do chắc chắn để báo động, Nhật Bản chuyển sang một quan hệ thân thiết hơn với Mỹ chính là điều mà Trung Quốc muốn tránh – nhưng lại minh chứng cho sự ngu ngốc của mình bằng chính sách đe dọa tại eo biển Đài Loan, một chính sách đã trở thành nguyên nhân dẫn tới mối quan hệ Nhật – Mỹ nói trên – Trung Quốc biết rằng dựa trên cơ sở một chọi một – nếu chỉ là Trung Quốc đấu với Nhật Bản trong bất cứ cuộc đụng độ quân sự hay chiến lược nào – thì cuối cùng Trung Quốc sẽ chiến thắng. Tầm vóc tuyệt đối của nó – được đo bằng diện tích, dân số, nền kinh tế và các lực lượng vũ trang – sẽ cho phép nó khống chế Nhật Bản, một nước với số dân chỉ bằng một phần mười số dân Trung Quốc và một lực lượng Tự vệ nhỏ và không qua thử nghiệm. Cũng vậy, bản thân Mỹ cũng không có đủ nguồn tài lực để làm một đối trọng lâu dài với sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Mỹ phải coi Nhật Bản là đối tác của mình – cung cấp đất làm các căn cứ quân sự, cung cấp của cải để góp phần chi phí cho sự hiện diện về quân sự đáng tin cậy của Mỹ ở châu Á, và cuối cùng là cung cấp nhân lực dưới hình thức tăng cường quân đội.

Tại sao việc tăng cường mối quan hệ Mỹ – Nhật năm 1996 lại là một cú sốc khủng khiếp đối với các nhà chiến lược Trung Quốc? Chắc chắn ít nhất cho đến giữa những năm 1980, Trung Quốc vẫn nhận thức đúng đắn rằng điểm mấu chốt của hiệp ước Mỹ – Nhật trước hết là một lời cam kết đơn phương của Mỹ nhằm bảo vệ Nhật Bản chống lại cuộc tấn công từ bên ngoài. Lời cam kết đó là kết quả tự nhiên của “Cơ cấu Hòa bình” mà Mỹ đã áp đặt cho Nhật Bản sau khi đánh bại Nhật Bản trong Thế chiến II, theo đó Nhật Bản đã từ bỏ chiến tranh và tự giới hạn ở một lực lượng phòng vệ khiêm tốn, lực lượng đó, dù mang cái tên như vậy, vẫn còn quá nhỏ để có thể bảo vệ Nhật Bản khỏi một cuộc xâm lăng của bất cứ sức mạnh quân sự quan trọng nào, chưa kể là một cuộc tấn công hạt nhân. Lực lượng phòng vệ (SDF) cũng không có khả năng bảo vệ đường biển, mà đó là một điều tối quan trọng đối với sự sống còn của Nhật Bản với tư cách là một quốc gia buôn bán. Thay vì vậy, người ta đã và đang hiểu rằng Mỹ sẽ đáp ứng nhu cầu đó, một phần nhờ vào việc duy trì các căn cứ quân sự ở Nhật Bản, từ Okinawa ở miền Nam cho tới Hokkaido ở miền Bắc.

Ở đỉnh cao của chiến tranh lạnh, khi cả Trung Quốc và Nhật Bản đều cảm thấy bị Liên Xô đe dọa, Trung Quốc đã vui mừng khi Nhật Bản kiên quyết liên minh với các lực lượng chống Liên Xô do Mỹ lãnh đạo. Sau khi mối đe dọa từ phía Liên Xô giảm đi và Chiến tranh lạnh kết thúc, Trung Quốc đã kết luận trước hết rằng sự hiện diện quân sự của Mỹ vẫn có thể phục vụ cho các lợi ích của Trung Quốc, ít nhất là tạm thời. Khi Mỹ bảo vệ Nhật Bản, Trung Quốc dường như tin tưởng rằng Nhật Bản sẽ không bao giờ cố gắng xây dựng một lực lượng quân sự đủ để tự bảo vệ và bảo vệ đường biển của nó. Theo cách nhìn của Trung Quốc, Mỹ đã góp phần khống chế Nhật Bản.

Điều mà Trung Quốc không mong muốn là thỏa thuận phòng thủ Mỹ – Nhật đang bắt đầu chuyển hướng thành một liên minh thực sự, chủ yếu nhằm chống lại sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Bắc Kinh hy vọng tình trạng ban đầu sẽ tiếp tục càng lâu càng tốt, nhưng nó cũng mong rằng thỏa thuận này sẽ tự nó dần dần đổ vỡ. Tinh thần chống Mỹ ở Nhật Bản sẽ đóng một vai trò trong vấn đề này. Trung Quốc cũng tin rằng người Mỹ sẽ không còn kiên nhẫn để bảo vệ Nhật Bản thoát khỏi lời buộc tội trong khi Nhật Bản đã làm thiệt thòi cho Mỹ bằng khoản thặng dư mậu dịch khổng lồ.

Các nhà tư tưởng chiến lược sáng suốt của Trung Quốc đã hiểu rằng các thượng nghị sĩ Mỹ và công chúng rồi đây sẽ chùn bước trước một thỏa thuận đơn phương như vậy.

Với sự suy yếu của mối quan hệ Nhật – Mỹ, các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng, sẽ có những bước phát triển quan trọng khác, quan trọng nhất là sự sụp đổ cuối cùng của Bắc Triều Tiên và sự thống nhất Bán đảo Triều Tiên. Thật khó khăn cho Trung Quốc nếu phải thừa nhận công khai điều này khi xét đến mối quan hệ lâu dài của họ với chế độ Cộng sản chuyên chính ở Bắc Triều Tiên, nhưng Bắc Kinh phải nhận ra rằng chế độ đó – phá hủy chính đất nước mà nó thống trị – đã bị lên án và sự thống nhất với Hàn Quốc có thể diễn ra chỉ trong một hay hai thập kỷ tới. Các chuyên gia về đối ngoại ở Trung Quốc đã nói với chúng tôi rằng họ không tin quân đội Mỹ sẽ vẫn đóng tại Triều Tiên lâu dài sau khi nước này bắt đầu thống nhất, một sự tiên đoán dường như rất thực tế, vì lý do để duy trì quân đội Mỹ ở đây là mối đe dọa Bắc Triều Tiên đã biến mất. Một người Trung Quốc mà chúng tôi phỏng vấn đề cho rằng điều này sẽ đặt toàn bộ vấn đề hiện diện của Mỹ về quân sự ở châu Á thành vấn đề trung tâm rất rõ ràng và gay gắt. Mỹ sẽ có các căn cứ quân sự lâu dài chỉ ở một nước mà thôi, đó là Nhật Bản. Ông ta nghĩ rằng điều đó sẽ đặt cả Mỹ và Nhật Bản vào các vị trí không thuận lợi và buộc phải có một cuộc tranh luận quốc tế về vấn đề vai trò quân sự của Mỹ ở châu Á và địa vị quốc tế của Nhật Bản, Đó sẽ là thời gian để Trung Quốc đi đến một giải pháp cuối cùng cho vấn đề Nhật Bản, rất có thể thông qua hiệp ước đa phương đang được thảo luận tại các viện nghiên cứu Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Cách đúng đắn để chấm dứt mối đe dọa Triều Tiên – Phần III


Ở cấp chính trị, Mỹ nên thúc đẩy một tuyên bố chung với Nhật Bản và Hàn Quốc mà cam kết rằng một cuộc tấn công nhằm vào một nước sẽ bị coi là một cuộc tấn công nhằm vào tất cả. Việc khẳng định phòng thủ tập thể là quan trọng vì chiến lược dài hạn của Triều Tiên là tách rời an ninh Hàn Quốc khỏi an ninh Nhật Bản và an ninh Mỹ. Quả thật, một trong những mục đích của các cuộc thử nghiệm tên lửa tầm xa của Triều Tiên trong năm 2017 là nhằm làm bớt sự tin tưởng của Hàn Quốc vào cam kết của Mỹ là nhằm ngăn chặn một cuộc tấn công nhằm vào Hàn Quốc và làm dấy lên những nghi ngờ ở Nhật Bản và Mỹ về việc liệu họ có sẵn sàng đánh đổi Tokyo hoặc Los Angeles để lấy Seoul trong trường hợp xảy ra chiến tranh hay không. Để truyền tải một thông điệp răn đe rõ ràng tới Bình Nhưỡng, tuyên bố về phòng thủ tập thể cần đòi hỏi cả 3 đồng minh phải cam kết sử dụng vũ lực để đối phó với một cuộc tấn công của Triều Tiên.

Các biện pháp quân sự và chính trị này cần được bổ sung bằng các chiến lược ngoại giao và kinh tế mà đối xử với các liên minh của Mỹ một cách toàn diện hơn. Ví dụ, Mỹ nên có những sự cập nhật và điều chỉnh đối với hiệp định thương mại tự do hiện có với Hàn Quốc hay tiếp cận các cuộc đàm phán chia sẻ phí tổn quốc phòng giữa Mỹ và Hàn Quốc với nhận thức rằng căng thẳng trong một lĩnh vực của các mối quan hệ này có thể khiến cho sự tiến bộ ở các lĩnh vực khác khó đạt được hơn, nếu không muốn nói là không thể, đặc biệt nếu công chúng Nhật Bản hoặc công chúng Hàn Quốc đang chú ý và tư tưởng chống Mỹ đã tăng lên.

Mặc dù Triều Tiên là vấn đề trước mắt, nhưng đối thủ chiến lược lâu dài hơn ở châu Á là Trung Quốc, mà sự thách thức của nước này đối với ưu thế của Mỹ đã gia tăng do vai trò phá hoại của Nga khắp toàn cầu. Việc thúc đẩy các liên minh của Mỹ cũng sẽ củng cố khả năng của Washington chống lại các mối đe dọa này bằng cách cải thiện đáng kể các năng lực quốc phòng, các nỗ lực chống phổ biến vũ khí hạt nhân, và sự phối hợp ngoại giao giữa các đồng minh và đối tác của Mỹ ở Đông Á. Việc củng cố tư thế quân sự của Mỹ trong khu vực cũng sẽ làm gia tăng cái giá mà Trung Quốc và Nga phải trả khi trợ cấp cho chế độ Kim Jong-un, không tuân thủ các biện pháp trừng phạt hoặc thực hiện các hành vi gây rối khác.

Thứ tư, mặc dù Washington có thể tìm kiếm một sự bảo đảm từ phía Bình Nhưỡng rằng nước này sẽ không phổ biến vũ khí hạt nhân, nhưng Chính quyền Trump cũng phải thúc đẩy việc thành lập một liên minh chống phổ biến vũ khí hạt nhân mà chia sẻ thông tin tình báo về hoạt động buôn lậu hạt nhân trên biển và hợp tác thực thi pháp luật. Các nhà chức trách cảng, các lực lượng bảo vệ bờ biển và hải quân của Nhật Bản và Hàn Quốc, cùng với các tài sản đáng kể của Mỹ, nên làm việc cùng nhau để ngăn chặn nguyên liệu hạt nhân rời khỏi đất nước này. Hầu hết các hoạt động thực thi này có thể sẽ diễn ra ở các cảng, nhưng các nước đồng minh nên sẵn sàng thực hiện các cuộc đánh chặn trên biển khi cần thiết. Mỹ cũng nên tiếp cận Trung Quốc và Nga về khả năng xây dựng một chế độ chống phổ biến vũ khí hạt nhân 5 bên ở Đông Bắc Á. Bắc Kinh và Moskva cần phải nhìn thấy lợi ích trong việc ngăn chặn bất kỳ vũ khí hạt nhân nào của Triều Tiên bị tuồn ra, nhưng nếu họ không sẵn sàng tham gia, thì họ nên sẵn sàng đương đầu với các hậu quả ngoại giao và kinh tế của việc cho phép Triều Tiên phổ bei61 vũ khí hạt nhân qua biên giới của họ

Cuối cùng, Mỹ phải tiếp tục chuẩn bị các kế hoạch cả về ngoại giao lẫn quân sự đối với Triều Tiên. Điều này có vai trò cốt yếu trong việc, một mặt là, duy trì sự răn đe đối với Bình Nhưỡng và mặt khác là, tạo ra một đường tránh đáng tin cậy cho chế độ này. Washington nên duy trì các cuộc tập trận quân sự thần tốc hiện nay trong khu vực, các kho đạn dược sẵn sàng cho một cuộc xung đột có thể xảy ra và luân phiên đưa các tài sản chiến lược như máy bay ném bom B-52, máy bay chiến đấu tàng hình, tàu ngầm hạt nhân, tàu sân bay thường xuyên đến bán đảo này. Tất cả các bước đi này sẽ ngăn cản Triều Tiên phổ biến vũ phí hạt nhân, đe dọa Mỹ hoặc thực hiện các hành động tấn công trong khu vực.

Do hạn chế về thời lượng để chuẩn bị cho cuộc gặp thượng đỉnh giữa Kim Jong-un và Trump, nên cuộc gặp này có khả năng không mang lại kết quả ngay lập tức vượt ra khỏi một số tuyên bố to tát về việc bình thường hóa quan hệ, chấm dứt một cách hòa bình một cuộc chiến tranh Triều Tiên, và phi hạt nhân hóa, những tuyên bố rằng các nhà lãnh đạo sau đó sẽ cho phép các chính phủ của họ bắt đầu lại các cuộc đàm phán. Kết quả này tự nó có ý nghĩa quan trọng, nhưng nó sẽ không dẫn đến việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt trừ phi Triều Tiên thực hiện lời hứa của mình bằng hành động.

Cho dù cuộc gặp thượng đỉnh có thành công hay không thì Mỹ cũng phải vượt ra khỏi những tuyên bố rộng lớn và yêu cầu Bình Nhưỡng nhắc lại các cam kết phi hạt nhân hóa mà nước này đã đưa ra trong các cuộc đàm phán 6 bên vào năm 2005 và 2007. Các văn kiện ghi lại những nét chính của những cam kết này là nơi duy nhất mà Triều Tiên từng bị buộc phải hủy bỏ các công thức mập mờ và không có tính ràng buộc về một “bán đảo không hạt nhân” để ủng hộ các cam kết cụ thể và thành văn đối với việc “từ bỏ tất cả các vũ khí hạt nhân và cá chương trình hạt nhân hiện có”. Các thỏa thuận này cũng có giá trị đối với Triều Tiên (và Trung Quốc) bởi chúng tuyên bố rằng Mỹ sẽ không tấn công Triều Tiên bằng vũ khí thông thường hoặc vũ khí hạt nhân, sự đảm bảo an ninh duy nhất bằng văn bản giải quyết những mối quan ngại của Triều Tiên về chính sách “thù địch” của Mỹ. Washington cũng nên buộc chế độ này phải cải thiện hồ sơ nhân quyền của mình như là một minh chứng cho thấy thiện chí về tính xác thực của các ý định ngoại giao của nước này. Triều Tiên chắc chắn sẽ có một danh sách dài những mong muốn của chính họ, nhưng đối với Mỹ, cuộc gặp thượng đỉnh phải xác lập thái độ không dung thứ cho bất kỳ kho dự trữ vũ khí hạt nhân nào dựa trên plutoni hoặc urani hay sự triển khai các tên lửa đạn đạo tầm xa hoặc tầm trung và kêu gọi giảm bớt đáng kể các kho dự trữ tên lửa đạn đạo tầm ngắn. Khi không có sự bảo vệ đối với các lợi ích an ninh cốt lõi này, ngoại giao thượng đỉnh và các thỏa thuận cấp làm việc sẽ không có nhiều giá trị.

Việc theo đuổi chiến lược tổng thể này sẽ làm gia tăng độ tin cậy của lập trường đàm phán của Washington, trong khi đó cũng bảo đảm lợi ích của Mỹ trong trường hợp thất bại. Nói một cách rộng hơn, sự ép buộc toàn diện sẽ khiến Mỹ thoát khỏi trạng thái quản lý khủng hoảng và chứng tỏ quyết tâm của Mỹ mà không có nguy cơ gây ra cuộc chiến tranh không cần thiết. Nó cũng sẽ tăng cường các liên minh của Mỹ ở châu Á về lâu dài, trực tiếp giải quyết mối đe dọa phổ biến vũ khí hạt nhân, làm gia tăng phí tổn cho những nước trợ cấp cho Bình Nhưỡng và bổ sung cho các cam kết khu vực của Mỹ.

Những gì không được làm

Khi nói đến Triều Tiên, tiếng nói duy nhất thực sự quan trọng ở Mỹ là tiếng nói của Trump. Bằng việc đồng ý gặp Kim Jong-un, Trump đã cải thiện xếp hạng của mình trên các phương tiện truyền thông, nhưng ông cũng vô tình làm gia tăng nguy cơ xảy ra chiến tranh. Nếu canh bạc ngoại giao mới nhất của ông không thành công, thì chính quyền có thể rời khỏi các cuộc đàm phán với quyết tâm cao hơn trong việc sử dụng lựa chọn quân sự.

Quả thực, ngay cả giữa lúc nói về các cuộc đàm phán, một số quan chức cấp cao trong Chính quyền Trump vẫn tiếp tục cân nhắc việc sử dụng một cuộc tấn công quân sự có giới hạn ngăn cản Triều Tiên phát triển một tên lửa hạt nhân tầm xa. Lý do là một cuộc tấn công nhằm vào các cơ sở hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên, có thể sau cuộc thử nghiệm tiếp theo của nước này, sẽ giáng cho Kim Jong-un một “cú đấm làm chảy máu mũi” đủ đau để buộc ông phải bắt đầu quá trình phi hạt nhân hóa, nhưng không gây tổn thất như việc bắt đầu một cuộc chiến tranh rộng lớn hơn trên bán đảo nào.

Logic đằng sau một cuộc tấn công quân sự có giới hạn là Triều Tiên sẽ không thể bị ngăn cản một khi họ có được khả năng đánh vào lục địa Mỹ bằng một vũ khí hạt nhân vì chế độ này không thể đoán trước được, tuyệt vọng về kinh tế và đã sử dụng vũ khí hóa học chống lại một mục tiêu dân sự gần đây vào năm 2017. Lập luận này cho rằng nếu Kim Jong-un có thể tấn công lục địa Mỹ, thì Washington sẽ không thể ngăn chặn sự phổ biến vũ khí hạt nhân hoặc sự hăm dọa bằng vũ khí hạt nhân. Một cuộc tấn công sẽ là hành động ngay lập tức mang tính quyết định nhằm ngăn chặn kết quả đó. Nó cũng sẽ chứng tỏ Mỹ có khả năng và sẵn sàng sử dụng tất cả các lựa chọn để ngăn chặn chương trình hạt nhân của Triều Tiên, một thông điệp mà không nghi ngờ gì sẽ gây tiếng vang vượt ra ngoài khu vực.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2018-04-01/right-way-coerce-north-korea

TLTKĐB – 05 – 06/05/2018

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần II


Tuyên bố chung này, không được chú ý lắm ở Mỹ, thì ngay lập tức đã được Trung Quốc coi là sự thay đổi lập trường của Nhật Bản, nhằm vào việc trả đũa sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Thậm chí Trung Quốc đã cố gắng ngăn chặn, hay ít nhất là làm suy yếu hiệp định an ninh Nhật – Mỹ bằng việc cử bộ trưởng ngoại giao Tiền Kỳ Tham tới Tokyo hai tuần trước khi diễn ra chuyến thăm của Clinton được dự tính vào tháng Tư năm 1996. Tiền Kỳ Tham tỏ ra lo lắng công khai về hiệp ước an ninh sắp được ký kết, đó là một kiểu ngoại giao nỗ lực can ngăn người Nhật đi tới hiệp ước này. Tuy nhiên, ông ta đã thất bại trong chuyến đi này. Đó là một trong những cái giá phải trả cho các hành động xâm lược của Bắc Kinh ở eo biển Đài Loan một vài tuần trước và trên đường biển của Nhật Bản, Biển Nam Trung Hoa, ở đó Trung Quốc đã chiếm giữ đảo Mischeif của Philippines và năm 1995. Khi tuyên bố Nhật – Mỹ được thông báo, Trung Quốc đã không bỏ phí chút thời gian nào để tấn công nó: Ngay này hôm sau, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nói: “Bất cứ nỗ lực nào nhằm đi đến một thỏa hiệp an ninh vượt quá tính chất song phương chắc chắn sẽ là nguyên nhân cho sự cảnh giác và lo ngại của các quốc gia châu Á khác”. Lu Zhongweis, phó chủ tịch Viện Quan hệ Quốc tế Hiện đại của Trung Quốc, một Hội đồng Tư vấn gắn liền với Bộ An ninh nhà nước Trung Quốc, đã tuyên bố: “Hiệp ước này là kết quả của một sự thay đổi có tính chiến lược về chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hiệp ước này không phải dùng để phòng thủ mà để tấn công”. Vài tháng sau đó, những biểu hiện chống Nhật Bản đã đạt tới quy mô của một chiến dịch tại Trung Quốc. Khi chúng tôi thăm đất nước này vào tháng Tám 1996, các học giả và các nhà phân tích tại hầu hết mỗi cơ quan nghiên cứu chính sách đều phản đối hiệp ước Nhật – Mỹ bốn tháng trước đó. “Liên minh Nhật – Mỹ hoàn toàn chỉ có tính chất phòng thủ cho đến năm 1996” là một lời bình luận chúng tôi đã nghe thấy tại Viện nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương ở Thượng Hải. Một quan chức cao cấp tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược Trung Quốc ở Bắc Kinh đã nói: “Chúng tôi không quan tâm đến nền quốc phòng của Nhật Bản vốn phụ thuộc vào Mỹ, nhưng chúng tôi rất quan tâm đến sự mở rộng của hiệp ước này bao trùm lên toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và đến việc khuyến khích Nhật Bản đóng một vai trò về quân sự. Điều đó thật là tiêu cực”. Nhiều tháng sau, Bắc Kinh vẫn tố cáo Mỹ và Nhật Bản đã biến Liên minh của họ thành một hiệp ước “tấn công” nhằm vào Trung Quốc.

Phản ứng này cũng đã thể hiện một sự thay đổi. Trong hồi ký của mình, Henry Kissinger nói đến các nhà lãnh đạo Trung Quốc vào những năm 1970 đã nôn nóng như thế nào để thuyết phục các đối tác Mỹ duy trì một mối quan hệ an ninh gần gũi với Nhật Bản. Năm 1979, H. Kissinger viết: “Vào một dịp đặc biệt, Mao Trạch Đông đã thẳng thắn khuyên tôi hãy bảo đảm rằng khi tôi thăm châu Á tôi sẽ dành nhiều thời gian ở Tokyo như ở Bắc Kinh; thể diện của Nhật Bản cần phải được tôn trọng. Quả vậy, Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng mối quan hệ Mỹ – Nhật quan trọng hơn mối quan hệ Mỹ – Trung”. Đấy là thời điểm khi Trung Quốc biết rằng họ còn rất yếu, dù cho họ có khẳng định điều ngược lại, và chính sách ngoại giao toàn cầu của họ là nhằm xây dựng một khối chống Liên Xô trên toàn thế giới.

Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, nói chung Trung Quốc đối xử nghiêm khắc hơn đối với Nhật Bản, tăng cường đòi hỏi Nhật Bản phải nhận thức ra tội lỗi của mình trong Thế chiến II nhiều hơn so với trước đây. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc, như chúng tôi đã nói, đã khơi dậy tình cảm dân tộc chủ nghĩa chống cường quốc bên ngoài, và những lời lẽ gay gắt nhằm chống lại Nhật Bản sau khi Liên Xô sụp đổ có thể xem như một phần của chiến thuật đó. Công tác tuyên truyền đã có chiều hướng thù địch, quyết liệt sau khi hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật được thông báo: Trung Quốc đã hình dung đúng đắn một điều gì đó mới mẻ ở châu Á, một thái độ không mặn mà của các cường quốc khác trong khu vực Thái Bình Dương đối với tham vọng đang gia tăng của Trung Quốc.

Vì mục tiêu của Trung Quốc là trở thành một cường quốc đứng đầu ở châu Á, nên đồng thời họ có một mục tiêu nữa phải giữ Nhật Bản ở trong tình trạng mà một học giả đã gọi là “sự phụ thuộc chiến lược lâu dài”. Trung Quốc dĩ nhiên không sử dụng một cách phát biểu thiếu tính ngoại giao như vậy, nhưng họ cũng không giữ kín một sự thực là họ mong muốn Nhật Bản sẽ phi quân sự hóa mãi mãi và do vậy, không thể chống lại những kế hoạch của Trung Quốc nhằm mở rộng khả năng quân sự của mình. Nói cách khác, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc là ngăn cản Nhật Bản trở thành một quốc gia “bình thường”  như Mỹ hay bản thân Trung Quốc, một quốc gia có chủ quyền để xác định nhu cầu an ninh của mình và để xây dựng các lực lượng vũ trang cần thiết nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó. Thật là một ý tưởng táo bạo khi muốn làm cho một quốc gia có 120 triệu dân, với một nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới, phải lâm vào tình trạng phải phụ thuộc lâu dài vào các nước khác trong vấn đề an ninh cơ bản của chính mình. Nhưng không có nước nào, thậm chí cả Nhật Bản, đã bác bỏ thẳng thắn và công khai ý tưởng đó. Trong 50 năm kể từ khi kết thúc Thế chiến II, việc Nhật Bản chịu khước từ có trong tay một lực lượng quân sự tiến công – có nghĩa là một nước có quyền lực kinh tế mạnh nhưng lại là một kẻ lùn về ngoại giao và quân sự – đã trở thành một thực tế được chấp nhận trong các mối quan hệ quốc tế. Và một yếu tố không thay đổi trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc là nhằm duy trì thực trạng đó. Tại các diễn đàn quốc tế và trên các phương tiện truyền thông được kiểm soát, Trung Quốc nhấn mạnh đến quan niệm cho rằng châu Á không bao giờ có thể tin Nhật Bản lại không gây ra chiến tranh một lần nữa, rằng Nhật Bản là mối đe dọa thực sự cho hòa bình.

Việc nhấn mạnh trong guồng máy tuyên truyền và trong các bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh về các hành động tàn bạo thời chiến tranh của Nhật Bản là một phần quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc. Các hành động tàn bạo của Nhật Bản mà khét tiếng nhất là “vụ hiếp dâm ở Nam Kinh” năm 1937, và vô số các hành vi dã man khác, đều có thật, và ta có thể hiểu được tại sao Trung Quốc muốn giữ lại những sự việc đó cho sống động trong ký ức, coi như một bổn phận của lương tâm đối với các nạn nhân và cũng là sự am hiểu lịch sử. Nhưng trên thực tế, trong khi nhiều người Trung Quốc thẳng thắn tỏ thái độ tức giận Nhật Bản, vẫn có một chút nghi ngờ các nhà lãnh đạo đã nhào nặn khái niệm tội lỗi chiến tranh thành một bộ phận của chiến lược giữ chân Nhật Bản ở một vị trí quốc tế phụ thuộc và yếu kém. Có một điều mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn mơ hồ một cách đáng ngờ là: thái độ hối hận hay xin lỗi như thế nào đây của Nhật Bản sẽ làm họ thỏa mãn…? Năm 1978, Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị, đánh dấu sự kết thúc chính thức các hành động chiến tranh Trung – Nhật, đã không đề cập đến tội ác chiến tranh hay bất cứ một vấn đề còn bỏ dở của Thế chiến II. Tuy nhiên, từ sau khi bản hiệp ước được ký kết, cứ cách ít lâu Trung Quốc lại đòi hỏi những lời xin lỗi chính thức. Điều này đã dẫn đến việc một vài vị thủ tướng Nhật Bản, kể cả hai vị gần đây nhất, lên tiếng xin lỗi chính thức về những hành động của Nhật Bản trong quá khứ. Nhưng Trung Quốc vẫn một mực nhấn mạnh chủ đề tội ác chiến tranh, công bố nhiều lời buộc tội, nhưng đôi khi lại thiếu bằng chứng và không gây được ấn tượng. Chẳng hạn, quân đội Nhật đã tiến hành chiến tranh sinh học và hóa học chống lại thường dân Trung Quốc trong suốt cuộc chiến tranh hay họ đã gây ra bệnh dịch tả tràn lan ở những làng bị chiếm đóng. Các du khách đến từ Nhật Bản đều bị chủ nhà Trung Quốc ép buộc đi thăm các viện bảo tàng “tội ác” trưng bày tư liệu về các tội ác chiến tranh của Nhật Bản.

Cuối năm 1996, sự thao túng và kiểm soát chính thức đối với tình cảm chống Nhật Bản trở nên hiển nhiên, khi chính phủ bất ngờ ngăn cấm các cuộc biểu tình dự kiến tổ chức ở một thành phố Trung Quốc để nhớ lại cuộc xâm lăng Mãn Châu của Nhật bản năm 1931. Hàng nghìn cảnh sát đã được huy động vào hoạt động ngăn cấm này; những người tổ chức biểu tình đã bị gửi đến các nhà trọ ngoài thành phố và những người khác thì bị bắt giam, các trường đại học được giao nhiệm vụ ngăn chặn không để sinh viên “làm tổn hại đến sự ổn định”. Ở Trung Quốc, người ta suy đoán là chính phủ không phải lo lắng về các cuộc biểu tình chống Nhật, mà là lo ngại những cuộc biểu tình đó có thể xoay lại chống chính phủ, như đã diễn ra ở Thiên An Môn. Dù cho lý do là như thế nào thì sự việc cũng cho ta thấy rõ ràng nhà cầm quyền Bắc Kinh coi tình cảm chống Nhật Bản là một cái gì đó ăn nhịp trước hết với những mục tiêu quốc tế của họ – nhấn mạnh tội ác chiến tranh trong người Nhật và sự phản đối việc tái vũ trang Nhật Bản trong các nước trên thế giới. Trong khi đó thì Đảng Cộng sản Trung Quốc lại không hề quan tâm đến trách nhiệm đạo đức đối với những thành động tàn bạo mà họ gây ra cho nhân dân chính nước họ trong những năm tháng đằng đẵng với việc bỏ tù hàng loạt, những trại lao động cải tạo, nạn đói xảy ra vì chính trị đầu những năm 1960, hay phải tính đến cuộc thảm sát những người phản kháng đòi dân chủ ở Thiên An Môn.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19