Việt Nam cam kết với Mỹ đưa Triều Tiên trở lại tiến trình phi hạt nhân hóa


Theo đài VOA, Nhà Trắng vừa tuyên bố Tổng thống Donald Trump đã đạt được sự cam kết của các nhà lãnh đạo Việt Nam về giải pháp nhằm đưa Triều Tiên trở lại tiến trình phi hạt nhân hóa.

Tuần trước, sau chuyến công du 3 ngày của Tổng thống Trump tới Việt Nam, Nhà Trắng ra thông cáo nói: “Tổng thống đã đạt được các cam kết mới từ các nhà lãnh đạo Việt Nam để hỗ trợ chiến dịch toàn cầu tăng áp lực để đưa Triều Tiên trở lại con đường phi hạt nhân hóa”.

Giáo sư Carl Thayer thuộc trường Đại học New South Wales nhận định, Việt Nam bị áp lực từ phía Mỹ. Giáo sư Carl Thayer nói:

Khi ông Trump đưa vấn đề Triều Tiên là ưu tiên hàng đầu, nếu như Việt Nam không ủng hộ cam kết của Mỹ trong chính sách này, Việt Nam sẽ gặp rủi ro trong quan hệ song phương. Về mặt hành chính, Việt Nam có thể sẽ cắt giảm nhân viên ở Đại sứ quán Triều Tiên, hai nước sẽ phải rút lao động về, và ngừng các giao dịch thương mại bất hợp pháp. Ngoài ra, một số dự án làm ăn của Triều Tiêu tại Việt Nam có thể bị cắt giảm”.

Một tháng trước, khi ông Trump thăm Hà Nội, một nhà hàng Triều Tiên tại TPHCM, nơi từng có khoảng 15 nhân viên Triều Tiên được thuê làm việc, đã phải đóng cửa.

Trước đó, hãng tin Yonhap cho biết Việt Nam cũng đã trục xuất người đứng đầu và người thứ hai của chi nhánh ngân hàng thương mại Tanchon tại Hà Nội, do nghi ngờ rửa tiền.

Ông Thayer cho rằng Việt Nam, một thành viên của Liên hợp quốc, hiện đang bơi giữa các cường quốc và sức ép từ Mỹ là rất lớn. Ông Thayer nói: “Việt Nam là một thành viên của Liên hợp quốc, Nga và Trung Quốc cũng đã đồng thuận với nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về vấn đề Triều Tiên. Mỹ đã ra sức ép và Việt Nam cũng phải ủng hộ vấn đề này”.

Vào tháng 9/2017, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết trừng phạt mới với Triều Tiên do Mỹ soạn thảo, trong đó cấm các nước cấp phép làm việc cho các lao động Triều Tiên tại nước ngoài.

Giáo sư Thayer cho biết thêm đây cũng là cam kết chung của các nước ASEAN, trong đó Việt Nam là thành viên.

Trong một tuyên bố chung ngày 12/11, ngay sau khi ông Trump gặp Chủ tịch nước Việt Nam Trần Đại Quang, Triều Tiên là một vấn đề quan ngại: “Hai nhà lãnh đạo bày tỏ quan ngại sâu sắc về các chương trình và vụ thử hạt nhân và tên lửa đạn đạo của Triều Tiên, vi phạm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế”.

Ngoài ra, Mỹ và Việt Nam đều hối thúc tất cả các nước thực hiện đầy đủ và nghiêm túc tất cả những nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, và nhất trí làm sâu sắc hơn hợp tác song phương để đảm bảo thực thi hiệu quả những nghị quyết này.

Tuyên bố còn nhấn mạnh, hai nhà lãnh đạo nhất trí về tầm quan trọng của việc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên một cách hòa bình.

Nhà báo độc lập Võ Văn Tạo bình luận, Việt Nam đưa ra cam kết về vấn đề Triều Tiên chỉ mang tính hình thức, ngoại giao là chính. Ông Tạo cho biết:

Tôi nghĩ đó là một thông cáo mang tính ngoại giao, chỉ có tính hình thức. Thật ra, để đối phó với Triều Tiên phải là những cường quốc. Tuy nhiên, Việt Nam có những quan hệ với Triều Tiên nhưng không bị lộ ra, có những quan hệ nhất định nào đó. Trong quá khứ cũng có quan hệ trao đổi, đổi gạo lấy tầu ngầm, huấn luyện… nhưng vào những năm 1990, khi Việt Nam có quan hệ với Hàn Quốc, quan hệ giữa Việt Nam và Triều Tiên hạ xuống một bậc, rất thấp so với trước đó”.

Trả lời câu hỏi của một phóng viên Mỹ về việc liệu Việt Nam có thể làm trung gian để Mỹ và Triều Tiên giải quyết vấn đề hạt nhân hay không, Chủ tịch nước Trần Đại Quang ngày 12/11 nói rằng: “Việt Nam cam kết thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc”. Chủ tịch nước Trần Đại Quang nói thêm: “Việt Nam ủng hộ phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên và sẽ làm hết sức mình để góp phần thực hiện mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên”.

Tuy nhiên, nhà hoạt động Nguyễn Tiến Trung ở TPHCM nhận định, sự ảnh hưởng của Việt Nam với Triều Tiên rất hạn chế. Ông Trung cho biết:

Theo tôi, việc Hà Nội có thể nói chuyện được với Triều Tiên về vấn đề vũ khí hạt nhân là rất hạn chế: quan hệ kinh tế không nhiều, ngoại trừ việc hai bên tự nhân với nhau đều theo chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Việt Nam chỉ có thể thông qua Đại sứ quán Triều Tiên để nêu vấn đề chứ không có công cụ gì trong tay để nói chuyện với Bình Nhưỡng về vũ khí hạt nhân”.

Việt Nam hiện là một trong những nước cộng sản hiếm hoi còn thiết lập bang giao với Triều Tiên, ngoài Trung Quốc và Cuba.

Theo The Diplomat, mặc dù Việt Nam đã duy trì mối quan hệ ngoại giao với Triều Tiên từ đầu những năm 1960, quan hệ đối tác Hà Nội – Bình Nhưỡng thường bị căng thẳng bởi những bất đồng về chính sách và tranh chấp về kinh tế. Những căng thẳng này bắt đầu xuất hiện trong các giai đoạn sau của Chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là năm 1968, khi miền Bắc Việt Nam quyết định tham gia các cuộc đàm phán hòa bình với Mỹ.

Nguồn: TKNB – 24/11/2017

Advertisements

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần cuối


Giải pháp cần thiết của cộng đồng quốc tế

Có thể dự đoán Mỹ hiện nay không thể dứt khoát tấn công quân sự đối với Triều Tiên. Nguyên nhân như sau:

Thứ nhất, sự việc chưa đến mức cấp bách như trước khi Liên Xô triển khai tên lửa mang đầu đạn hạt nhân đến Cuba vào năm 1962.

Thứ hai là cha mẹ của Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in từ phía Bắc di cư xuống phía Nam. Họ hàng của ông ở miền Bắc rất đông, có tình cảm thân thiết tự nhiên. Ông ủng hộ chủ trương làm dịu mâu thuẫn Nam – Bắc hiện nay, từ đó quyết sách của Hàn Quốc có thể phủ định tính chính đáng của việc Mỹ và Nhật Bản hiện nay sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên.

Thứ ba, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc đối mặt trực tiếp với quân đội Triều Tiên, “ném chuột sợ vỡ bình”.

Thứ tư, Trump bị cuốn vào cuộc đấu đá nội bộ, công việc rất nhiều, không có thời gian để quan tâm đến vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Tuy nhiên, thời gian còn lại của cộng đồng quốc tế không còn nhiều. Để ứng phó với dự báo của cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên, mọi thứ giờ đây diễn ra đúng như vậy, phải làm như câu tục ngữ “Phòng ngừa sự việc từ trước khi nó xảy ra”, chắc chắn phải thực hiện ba chính sách:

Thượng sách: Nhân cơ hội Washington sốt sắng muốn giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, khi Mỹ gia tăng sức ép quân sự, Bắc Kinh cũng tăng cường trừng phạt kinh tế đối với Triều Tiên, cả hai đều ra tay. Trước sức ép to lớn chưa từng có của quốc tế, Triều Tiên sẽ hiểu rõ thiệt hơn mà liệu đường tiến lui. Trong tình huống được đổi lấy viện trợ kinh tế, họ sẽ phải cam kết một cách thiết thực đối với việc từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Vào thời điểm chuyển gia xuân hè năm nay, sau khi Triều Tiên lần lượt phóng thử tên lửa, Mỹ ra sức hối thúc Trung Quốc chấm dứt cung cấp dầu mỏ cho Triều Tiên. Hầu hết dầu mỏ của Triều Tiên phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu của Trung Quốc, nếu như nguồn cung cấp dầu bị gián đoạn, việc điều động lực lượng quân sự, vận chuyển vật tư và nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây có thể là một trong những cách trừng phạt kinh tế nghiêm khắc nhất mà Trung Quốc có thể thực thi.

Nhận định Bắc Kinh phải thực hiện gia tăng mức độ trừng phạt kinh tế, làm đến cùng, nếu không, Bình Nhưỡng còn chưa cảm thấy đau đớn, lại càng nung nấu căm thù, Bắc Kinh sẽ không tránh khỏi làm kẻ tiểu nhân, lại đi theo vết xe đổ như cách đối xử với Albania, Việt Nam. Điểm khác nhau là, Albania ở xa xôi tận Đông Âu, Việt Nam cách Bắc Kinh gần 3000 km lại không có tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, còn Triều Tiên lại có tên lửa hạt nhân trong tay, cách Bắc Kinh không đầy 700 km, ngày nay có thể phóng tên lửa qua biên giới, tình hình đã khác trước.

Ngoài ra, có định hướng tổ chức lại đàm pháp cấp cao; trong viện trợ kinh tế của thế giới, Trung Quốc cần gánh vác trách nhiệm nhiều hơn, không nên có tầm nhìn thiển cận, tính toán lấy gì bỏ gì cần phải đặt trong bối cảnh từ thập niên 1960, 1970 đến nay Trung Quốc đã viện trợ không biết bao nhiêu cho Triều Tiên cũng như việc Trung Quốc trỗi dậy luôn hết sức cần đến duy trì ổn định bán đảo.

Trung sách: Cộng đồng quốc tế cùng nhau trừng phạt nặng nề đối với Triều Tiên, khi đó xuất hiện chính quyết Bình Nhưỡng có xu thế bị chao đảo nghiêm trọng, Turng Quốc huy động quân đội tiến xuống phía Nam vào sâu trong lãnh thổ Triều Tiên 60 – 70 km, đồng thời tuyên bố trước thế giới, mục đích của hành động đó là thiết lập trại tị nạn, giải quyết việc ăn ở cho dân tị nạn, cung cấp viện trợ nhân đạo, khi đó tình hình dân tị nạn ổn định sẽ rút hết quân đội về phía Bắc. Cho dù khi đó quốc tế có rộ lên tiếng nói phản đối, nhưng so với hậu quả dân tị nạn bùng nổ trong lãnh thổ Trung Quốc gây chuyện đòi độc lập thì tai họa còn nguy hiểm hơn nhiều. Như vậy, vấn đề dân tị nạn tai hại sẽ để cho Hàn Quốc ứng phó sau khi thống nhất.

Hạ sách: Theo chính sách đã từng thực hiện như thông lệ trước đây, vừa đi vừa quan sát. Nhìn lại chặng đường dài đã qua, kết cục không những không tránh khỏi cục diện bán đảo “nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh”, các bên liên quan đều oán ghét Trung Quốc, hơn nữa rất có thể buộc Trung Quốc bị lôi cuốn trực tiếp can dự vào cuộc chiến tranh khốc liệt trong bối cảnh đối đầu hạt nhân. Với hạ sách đó, nếu Trung Quốc không tùy cơ ứng biến, xác định sách lược đối phó kiên định và linh hoạt, có thể xuất hiện cục diện Triều Tiên kiên quyết chống lại Trung Quốc, từ đó dẫn đến Trung Quốc bị sa vào tiêu điểm tranh chấp quốc tế ở Đông Bắc Á, cục diện đó rất đáng lo ngại, nhất định phải tránh.

Kết cục có nhiều khả năng nhất trong cuộc đọ sức quốc tế

Nếu trong đầu thế kỷ này Bắc Kinh lựa chọn đối sách xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên như hiện nay, Triều Tiên sẽ không có khả năng đột phá hạn chế kỹ thuật trong nghiên cứu chế tạo vũ khí hạt nhân, lại càng không thể sở hữu tên lựa mang đầu đạn hạt nhân. Trước đây tính toán không kỹ, dẫn đến bế tắc khó giải quyết như hiện nay.

Bình Nhưỡng thực hiện sách lược tiến 2 bước lùi 1 bước, mỗi lẫn đều thành công tránh được sự trừng phạt nặng nề của cộng đồng quốc tế, lần này Bình Nhưỡng hiển nhiên còn muốn diễn lại chiêu thức cũ, hơn nữa Mỹ ném chuột sợ vỡ bình, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in phần nhiều muốn thực hiện chính sách thân Bình Nhưỡng. Cuộc đọ sức quốc tế này diễn ra trong điều kiện ngặt nghèo, cuối cùng Bình Nhưỡng vẫn có thể thoát thân.

Một kết cục khác của cuộc đọ sức quốc tế cũng cần phải thấy rõ. Nếu Triều Tiên đưa ra cam kết nghiêm túc với Mỹ, việc từ bỏ vũ khí hạt nhân được tiến hành theo hai bước, trước hết không nâng cấp chuyên hệ vũ khí hạt nhân, hạn chế số đầu đạn hạt nhân, đồng thời hạn chế phương tiện mang đầu đạn hạt nhân là tên lửa tầm gần và tầm trung, sau đó sẽ từ bỏ hoàn toàn trong thời gian phù hợp.

Như vậy, Mỹ có thể đi đến ký kết hiệp định với Triều Tiên. Hơn nữa, Chính quyền Trump cũng mong muốn như vậy, coi đó là thành quả ngoại giao sáng giá nhất giành được kể từ 20 – 30 năm qua.

Triển vọng đó cũng chỉ có thể xuất hiện với điều kiện tiên quyết là cộng đồng quốc tế gây sức ép mạnh mẽ về quân sự, kinh tế chưa từng có đối với Triều Tiên, cũng như đập tan giấc mộng Bình Nhưỡng muốn thống nhất bán đảo bằng vũ lực. Nếu không, Triều Tiên vẫn chứng nào tật ấy, cứ đề cập đến từ bỏ hạt nhân là không đàm phán nữa.

Điều dễ thấy là, cho dù xuất hiện triển vọng như vậy, việc Triều Tiên từ bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân vẫn trở thành thứ bong bóng hão huyền. Vũ khí hạt nhân của Triều Tiên không thể tạo ra mối đe dọa đối với lãnh thổ Mỹ, nhưng về lâu dài trở thành mối đe dọa đối với Đông Bắc Á. Lâu dần, cộng đồng quốc tế sẽ phải chấp nhận vũ khí hạt nhân của Triều Tiên.

Đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, triển vọng đó vừa có lợi vừa có hại. Điều có lợi là bán đảo không đến mức “xuất hiện hỗn loạn và chiến tranh”, không cản trở tiến trình trỗi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản cũng không đến mức đi vào con đường không có ngày về nếu trang bị vũ khí hạt nhân. Điều bất lợi là mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên đã được xác định không đi đến đích. Trong tình huống trung Quốc bỏ lỡ thời cơ kiềm chế Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân, triển vọng đó coi như không đáp ứng mong muốn của kẻ mạnh. Tôi cho rằng, tuy triển vọng đó không được như mong muốn, nhưng lại là kết cục có thể xuất hiện trong cuộc đọ sức quốc tế này. Điều có thể dự báo là hai bên Mỹ và Triều Tiên có khả năng sẽ trực tiếp hội đàm. Nếu không tin, xin hãy chờ xem.

Trong tình hình thích hợp, hội đàm quốc tế nhất định sẽ tiến hành. Nếu như vậy, Mỹ, Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc hình thành hội đàm 4 bên, sẽ thêm nhân tố kiềm chế, ổn thỏa hơn là hội đàm song phương Mỹ – Triều.

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần III


Ngày Nhật Bản trang bị vũ khí hạt nhân còn đầy khó khăn

Một viên tướng của Lực lượng phòng vệ trên không của Nhật Bản từng nói khi Triều Tiên sở hữu tên lửa liên lục địa, lấy đó làm lá bùa hộ mệnh, có thể lấy bang California làm quân bài mặc cả. Mỹ phải bàng quan đối với hành động mạo hiểm của Triều Tiên vì bị bắt làm con tin khiến Nhật Bản không thể tin tưởng mù quáng vào cam kết an ninh của Mỹ đối với Nhật Bản. Vũ khí hạt nhân mà Nhật Bản sở hữu mới là biện pháp đáng tin cậy nhất để bảo vệ an ninh của nước này. Nhận thức của giới hoạch định chiến lược của Nhật Bản đối với giới hạn đỏ của vấn đề hạt nhân Triều Tiên rất rõ ràng. Cho dù Triều Tiên có sở hữu bom khinh khí và tên lửa liên lục đại hay không thì kho vũ khí hạt nhân của nước này cũng đã có từ 40 đến 50 đầu đạn hạt nhân, có thể kích động Nhật Bản chế tạo vũ khí hạt nhân. Nguyên liệu hạt nhân của Nhật Bản cất giữ rất nhiều, cơ sở khoa học kỹ thuật, công nghiệp rất vững mạnh, năng lực tài chính lớn, một khi đã đưa ra quyết định chính trị chế tạo vũ khí hạt nhân, trong vài năm có thể sỡ hữu hàng trăm đầu đạn hạt nhân. Trong các cường quốc hạt nhân được công nhận, Trung Quốc đã ở trong vòng vây hạt nhân từ lâu, tình thế chiến lược rất xấu. Sau khi Nhật Bản sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, không những tình hình chính trị của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong con mắt của Mỹ thay đổi mà môi trường của vành đai hạt nhân xung quanh Trung Quốc ngày càng nguy hiểm hơn.

Nếu tạm coi Nhật Bản chưa trang bị vũ khí hạt nhân thì việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân cũng có thể thúc đẩy Hàn Quốc, Đài Loan đi theo. Nhật Bản trước hết có thể mở rộng năng lực răn đe hạt nhân của họ đến vùng biển Đài Loan đang tranh chấp. Đây có thể là điều chắc chắn. Điều tệ hại hơn là lãnh thổ Nhật Bản hỏ hẹp, hơn một nửa dân số và phần lớn của cải xã hội tập trung ở vành đai ba thành phố lớn là Tokyo, Kyoto – Osaka – Kobe và Chukyo. Khi đối phương phát động một đợt tấn công bằng vũ khí hạt nhân đầu tiên, Nhật Bản sẽ đối mặt với mối đe dọa của tiệt chủng mất nước. Có thể thấy, trong một trận chiến bằng vũ khí hạt nhân với cường quốc, Nhật Bản sẽ bị rơi vào tình thế khó xử hoặc phải sử dụng trước hoặc hoàn toàn mất đi giải pháp phản kích bằng vũ khí hạt nhân. Do đó Nhật Bản không thể kiềm chế nổi việc sử dụng vũ khí hạt nhân trước.

Tóm lại, nếu trong tương lai gần, cộng đồng quốc tế vẫn không thể đạt được mục tiêu phi hạt nhân bán đào Triều Tiên, thì Bắc Kinh không thể kỳ vọng bán đảo này không nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh, không tránh khỏi phi hạt nhân hóa trở thành ảo tưởng. Còn việc Bắc Kinh kêu gọi Triều Tiên ngừng thử tên lửa và vũ khí hạt nhân để đổi lấy việc Mỹ và Hàn Quốc ngừng tập trận chung một năm một lần cũng chỉ là điều mong muốn. Đó là nguyên vọng của riêng Trung Quốc, Bình Nhưỡng và Washington không hề nghe theo. Ngoài ra, bãi thử hạt nhân của Triều Tiên cách Bình Nhưỡng xa nhất nhưng lại tiếp giáp biên giới với Trung Quốc. Tình hình ngân sách Triều Tiên rất khó khăn, kỹ thuật hạt nhân khá lạc hậu, một khi xảy ra sự cố nghiêm trọng thì chắc chắn sẽ gây ô nhiễm hạt nhân đối với vùng Đông Bắc của Trung Quốc. Ngạn ngữ có câu” Muốn tránh hậu quả lớn do hỏa hoạn, biện pháp trước tiên là phải bỏ bớt củi ở dưới nồi. Sau khi hỏa hoạn xảy ra, dân chúng cố sức chữa cháy cũng “sứt đầu mẻ trán”, đối với hậu quả lớn do hỏa hoạn gây ra thì chỉ tốn công vô ích.

Từ đó có thể thấy, nếu Trung Quốc không loại trừ tại họa từ trước khi xảy ra, thì một trong những giới hạn đỏ của Trung Quốc đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là hoạt động hạt nhân của Triều Tiên tuyệt đối không để gây ô nhiễm đối với vùng Đông Bắc Trung Quốc, không thể là lời nói suông.

“Hành động chặt đầu” Triều Tiên dường như không khả thi

Dư luận thế giới về việc Mỹ sẽ thực hiện “hành động chặt đầu” đối với Triều Tiên trong gần hai năm qua khá ầm ĩ. “Chặt đầu” là một thuật ngữ quân sự chỉ việc sử dụng tên lửa hành trình và tên lửa điều khiển chính xác cao tấn công đối với kẻ địch, thông qua sự tấn công chính xác, trước hết sẽ tiêu diệt người đứng đầu và cơ quan đầu não của đối phương, đập tan hoàn toàn ý chí chống trả của đối phương.

Nhân tố quan trọng của “hành động chặt đầu” là nhanh chóng, chính xác và có nội ứng. Tư duy này phù hợp với câu tục ngữ “Đánh rắn phải đánh dập đầu” của Trung Quốc. Tuy nhiên, mức độ khó khăn của việc Mỹ thực hiện “hành động chặt đầu” Triều Tiên rất lớn.

Trước hết phải phá vỡ rào cản của tư duy chiến lược. Từ khi vũ khí hạt nhân xuất hiện đến nay, khả năng hủy diệt với quy mô lớn của nó đã hạn chế tính chất của hành động quân sự. Đây chính là nguyên nhân khiến cho giữa hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân chưa từng bùng nổ chiến tranh, xung đột biên giới với quy mô lớn cũng chưa hề xảy ra. Đối với việc một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân khi sử dụng cũng chỉ để xóa bỏ mối đe dọa hạt nhân thực tế hoặc tiềm ẩn, nhưng đến nay chưa từng có tiền lệ nào như vậy trên thế giới. Đối với việc Triều Tiên đã sở hữu vũ khí hạt nhân, Mỹ thực sự cảm thấy bế tắc, muốn “hành động chặt đầu” trước hết phải phá bỏ rào cản tâm lý này.

Thứ hai là cân nhắc về cấp độ kỹ thuật. Mỹ thật sự muốn hành động tập kích Kim Jong-un, phá hủy cơ sở hạt nhân và vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, đều cần kế hoạch tỉ mỉ và chi tiết khi bày binh bố trận. Đặc biệt, Mỹ phải rất thận trọng trong thời điểm then chốt vừa không thể quá chậm trễ, trước khi Kim Jong-un hạ quyết tâm cuối cùng, tránh Bình Nhưỡng ấn nút hạt nhân trước; vừa không thể quá sớm nhằm tránh mất đi cơ hội thông qua con đường ngoại giao để giải quyết vấn đề nan giải còn tồn tại. Ngoài ra, khi thực hiện “hành động chặt đầu”, Mỹ có hủy diệt cùng một lúc vũ khí hạt nah6n và cơ sở hạt nhân của Triều Tiên hay không? Làm thế nào mới có thể tránh hậu quả nghiêm trọng như vụ nổ hạt nhân và ô nhiễm hạt nhân?

Cuối cùng, về lý luận chiến lược hạt nhân có một quan điểm đó là một nước lớn hạt nhân sử dụng vũ lực đối với một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân nhỏ hơn nhiều thì chưa chắc đã tiêu diệt được lãnh đạo cao nhất hoạch định chính sách của nước đó. Nguyên nhân là ở chỗ những người hoạch định chính sách ở nước đó cuối cùng có thể ra lệnh cho quân đội ngừng mọi hoạt động đối đầu và công khai lộ diện đàm phán với kẻ địch. Nếu họ không làm như vậy quân đội nước đó có thể sử dụng biện pháp cực đoan, do đó không có lợi cho việc kết thúc sớm chiến trah. Tính toán này có thể phù hợp với quan điểm hoạch định chính sách của Mỹ khi xử lý vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Lực lượng tấn công bằng vũ khí hạt nhân của Triều Tiên hiện nay vẫn nằm trong sự kiểm soát đầy sức mạnh của Kim Jong-un. Một khi ông gặp tai họa bất ngờ, lực lượng này có thể mất kiểm soát và có hành động khó lường. Tình hình tiếp sau đó như thế nào thì không ai có thể dự đoán được.

Tóm lại, “hành động chặt đầu” dường như bất khả thi. Cho dù Mỹ sử dụng vũ lực đối với Triều Tiên, “hành động chặt đầu” cũng chỉ là một bộ phận của tấn công quân sự về tổng thể. Khả năng Mỹ đơn thuần thực hiện “hành động chặt đầu” đối với cơ quan đầu não của Triều Tiên mà không liên quan đến hành động quân sự quan trọng khác là rất nhỏ.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần II


Vì sao Bình Nhưỡng muốn sở hữu tên lửa liên lục địa

Tổng thống Mỹ George W. Bush đưa ra chính sách “thay đổi thể chế” ở những quốc gia thù địch và thập niên 2000, còn Bình Nhưỡng đã khởi động chương trình đầu đạn hạt nhân từ thập niên 1960, 1970, giữa hai sự kiện này căn bản không liên quan với nhau. Xu thế phát triển kinh tế của Triều Tiên vào thời điểm đó mạnh hơn Hàn Quốc, thu nhập bình quân tính theo GDP vượt xa Hàn Quốc. Hơn nữa, Triều Tiên được sự ủng hộ và bảo vệ toàn diện của hai nước lớn thuộc phe xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc và Liên Xô, vừa không lo bất ổn chính trị ở trong nước, vừa không ngại sự tấn công quân sự từ Mỹ và Hàn Quốc. Tuy nhiên, Bình Nhưỡng vẫn đưa ra quyết sách quan trọng là khởi động chương trình vũ khí hạt nhân. Điều này chứng tỏ tâm lý “tiểu bá” được tôn sùng, tham vọng ma quỷ của gia tộc nhà họ Kim không từ bỏ.

Thuốc phóng tên lửa Hwasong-12 của Triều Tiên là axit nitric và UDMH. Đây là các chất lỏng có thể cất giữ và được hoàn thiện kỹ thuật. Nếu Triều Tiên quyết định phát động tấn công bằng vũ khí hạt nhân hoặc đáp trả bằng loại vũ khí này trong tình hình khẩn cấp, thì khả năng tấn công của tên lửa Hwasong-12 khá mạnh, đủ khả năng tấn công hạt nhân đối với quân đội Mỹ ở đảo Guam. Còn với việc tấn công hạt nhân vào căn cứ của quân đội Mỹ ở hai nước Nhật Bản và Hàn Quốc, tên lửa tầm ngắn mà Triều Tiên sở hữu đã rất đầy đủ.

Quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc lên tới gần 30000 người, phần lớn triển khai gần vĩ tuyến 38 độ Nam. Nếu Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản phát động tấn công quân sự đối với Triều Tiên sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc chắc chắn phải chịu hậu quả đầu tiên, khó tránh khỏi thương vong lớn. Trong tình hình Triều Tiên đã sở hữu đầu đạn hạt nhân, triển khai quân đội Mỹ đóng tại tiền đồn ở Hàn Quốc có hai tác dụng: Đầu tiên là kiếm chế quân đội Triều Tiên tiến về phía Nam, thứ hai là buộc Mỹ phải kiềm chế chủ động gây chuyện ở phía Bắc vì lo ngại “ném chuột vỡ bình”. Nói cách khác, quân đội Mỹ đóng tại Hàn Quốc bị coi là con tin trong tay Bình Nhưỡng cũng không sai.

Đánh giá đó cũng phù hợp với quân đội Mỹ đóng ở xung quanh Triều Tiên. Vấn đề an ninh của quân đội Mỹ gần thì đóng tại Hàn Quốc, xa hơn là đảo Guam và Nhật Bản đều là nhân tố đắt giá hạn chế Mỹ thử nghiệm lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng. Washington chỉ cần lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng thì sẽ khiến quân đội Mỹ gặp rủi ro bị tấn công bằng vũ khí hạt nhân, đi ngược lại nhân tố quan trọng về quyết sách, là điều không thể nghĩ đến. Như vậy, đây cũng là việc cấm kỵ mà bất kỳ Tổng thống Mỹ nào cũng không khinh suất.

Như trên đã phân tích, Bình Nhưỡng muốn kiềm chế tác động, cũng như là hành động của Mỹ lật đổ chính quyền hiện tại của Triều Tiên. Bình Nhưỡng đã sở hữu tên lửa Hwasong-12, tại sao họ cố sức đẩy nhanh nghiên cứu và chế tạo tên lửa tầm xa, thậm chí là tên lửa liên lục địa? Trước vấn đề then chốt này, Bắc Kinh và Washington đều chưa có câu trả lời chính xác.

Người viết cho rằng Bình Nhưỡng rất có thể nhận thấy việc xây dựng lực lượng tên lửa hạt nhân và liên lục địa, có thể giải quyết tận gốc vấn đề, khi Bình Nhưỡng muốn sử dụng vũ lực để thống nhất bán đảo Triều Tiên, họ cũng sẽ chấm dứt quyết sách của Washington muốn can thiệp quân sự. Chính quyền nhà họ Kim có thể có kế hoạch này từ lâu chứ không phải đến tận bây giờ.

Cựu Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên Hwang Jang-yop (đã trốn sang Hàn Quốc vào năm 1997) nêu rõ khi Kim Nhật Thành thị sát nhà máy của quân đội ở dưới lòng đất vào năm 1958, hấn mạnh có vũ khí hạt nhân, trước hết có thể đè bẹp Hàn Quốc, là biện pháp để ngăn chặn hiệu quả hơn sự can dự của Mỹ. Năm 1958 chỉ là ý tưởng của Kim Nhật Thành, hiện nay khi đã sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, có thể là biện pháp mạnh mẽ để Kim Jong-un tuổi trẻ chí lớn có một ngày thực hiện “ý đồ vĩ đại”.

Khó tránh khỏi xu thế “nảy sinh hỗn loạn và chiến tranh” ở bán đảo Triều Tiên

Từ khi tên lửa mang đầu đạn hạt nhân xuất hiện trên thế giới đến nay, khả năng sát thương rất lớn của nó làm cho ngay cả hai quốc gia liền kề nhau sở hữu vũ khí hạt nhân chưa bao giờ xảy ra xung đột lớn, không dễ xảy ra chiến tranh toàn diện. Ấn Độ và Pakistan đã xảy ra ba cuộc chiến tranh lớn, nhưng sau khi hai nước lần lượt sở hữu vũ khí hạt nhân vào năm 1998, lại chưa từng xảy ra xung đột biên giới quy mô lớn, đó là một ví dụ.

Bình Nhưỡng đã nắm được tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân, tự đảm bảo chính quyền của mình không bị thế lực bên ngoài lật đổ, điều đó không còn là vấn đề đối với Triều Tiên. Nhưng Triều Tiên vẫn không buông lơi, dồn toàn lực để tiến lên, mục tiêu đã định là bắn tên lửa liên lục địa phải được thực hiện, thể hiện rõ ý chí của Bình Nhưỡng không nhỏ.

Tên lửa liên lục đại Hwasong-14 đã tuân thủ định hướng kỹ thuật của Trung Quốc từ tên lửa Đông Phong – 3 phát triển đến tên lửa Đông Phong – 4. Nếu Triều Tiên đã giải quyết được vấn đề cơ cấu có liên quan, thì Hwasong-14 đã được cải tiến sẽ có thể tấn công vào trung tâm với đông dân số nằm sâu trong lãnh thổ Mỹ.

Sau khi Triều Tiên sở hữu tên lửa mang đầu đạn hạt nhân liên lục địa, họ chắc chắn tác động rất lớn đến cục diện chính trị Đông Bắc Á, tình trạng căng thẳng có thể lan rộng khắp thế giới. Điều nổi bật từ hành động của họ là:

Thứ nhất, mục tiêu tấn công bằng tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên đương nhiên là khu vực dân cư đông đúc trong lãnh thổ Mỹ, Mỹ không thể coi nhẹ vấn đề này. Bản thân Trump và nhiều trợ thủ giúp ông hoạch định chính sách đều đã lãnh đạo công ty đa quốc gia lớn, nhiều năm rèn luyện, đã hình thành tâm lý “đánh bạc” rủi ro cao thì lợi nhuận cao đậm nét, đồng thời giỏi đưa ra quyết sách khi ứng phó với khủng hoảng. Từ nay, Washington và Bình Nhưỡng đọ sức chiến lược, đứng vũng trong cục diện thay đổi ở Đông Bắc Á sẽ tạo ra khả năng thực hiện biện pháp quyết liệt mà các chính phủ tiền nhiệm chưa từng làm, không thể loại trừ khả năng đó.

Washington đương nhiên không thể chỉ vì lật đổ Chính quyền Bình Nhưỡng mà đẩy quân đội Mỹ đóng ở xung quanh Triều Tiên rơi vào tình trạng nguy hiểm. Tuy nhiên, trong tình hình khẩn cấp do khu vực đông dân cư nằm trong lãnh thổ Mỹ bị đe dọa từ các vụ tấn công hạt nhân của Triều Tiên, Mỹ phải chọn một tai họa nhỏ hơn trong hai tai họa làm theo ý mình, đánh đòn phủ đầu đối với Triều Tiên, phát động cuộc tấn công quân sự mạnh mẽ. Mỹ đã nhẫn nhịn trong 25 năm đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên. Theo quy tắc của khoa học hoạch định quyết sách, Mỹ có thể không tấn công quân sự đối với Triều Tiên nhưng nếu phát động tấn công thì ngoài phối hợp rộng rãi với cộng đồng quốc tế nhất định phải thực hiện trước khi tên lửa liên lục địa của Triều Tiên có khả năng chiến đấu thực sự.

Hơn nữa, Mỹ có biện pháp quân sự làm tê liệt sức mạnh hạt nhân của Triều Tiên. Ngoài việc phá hủy bằng áp chế điện tử đối với hệ thống chỉ huy, điều hành thông tin và tình báo của Triều Tiên, Mỹ còn có thể sử dụng máy bay quân sự và máy bay không người lái để giám sát tuyến đường giao thông của Triều Tiên, phát hiện xe chở tên lửa với ba chức năng (vận chuyển, lắp đặt, phóng) để tiêu diệt. Như vậy, tên lửa liên lục địa mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên chỉ có thể che giấu trong hang động ở vùng núi, chỉ có thể tự bảo vệ, không đủ khả năng chống trả, không có ích gì trong cục diện chiến tranh.

Thứ hai, sự cứng nhắc trong chính sách ứng phó khủng hoảng quốc tế của Kim Jong-un không bằng tính linh hoạt và tính chu đáo của Kim Jong-il, bố của Kim Jong-un, ngay cả quan hệ hữu nghị với Bắc Kinh, di sản của Kim Jong-il, cũng bị từ bỏ. Nếu một cuộc khủng hoảng quân sự quốc tế cận kề, không gian còn lại cho Kim Jong-un dành cho cộng đồng quốc tế quá nhỏ hẹp. Trước đây, khi viết bài bình luận về xu hướng tương lai của vấn đề hạt nhân Triều Tiên, tôi đã nêu rõ nếu không thay đổi cách thức cầm quyền, tình thế nguy hiểm khó xoay chuyển, khó tránh khỏi dẫn bùng nổ, đúng như câu thành ngữ “Lên núi nhiều cuối cùng sẽ gặp hổ”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Bán đảo Triều Tiên khó tránh khỏi xu thế hỗn loạn và chiến tranh – Phần I


Tiết Lý Thái

Tiếp sau vụ phóng tên lửa liên lục địa Hwasong-14 vào ngày 4/7, Triều Tiên lại phóng tên lửa Hwasong-14 đã được cải tiến vào ngày 28/7, bay được 998 km, độ cao 3725 km. Vụ phóng tên lửa này nếu bay quỹ đạo bình thường, tầm bắn lên tới 10000 km, có thể tấn công thành phố lớn Los Angeles của Mỹ.

Vụ phóng tên lửa lần này tiến hành với phương thức đường đạn tầm cao, có thể đạt được tốc độ bay cần thiết của tên lửa hành trình, đó là tình trạng tối thiểu của thử nghiệm tên lửa trong môi trường áp suất thay đổi. Lãnh thổ Triều Tiên rất nhỏ hẹp, không có tàu trắc nghiệm xa bờ nên thử tên lửa tầm xa, cũng đủ để kiểm chứng tình trạng và tính năng của tên lửa.

Triều Tiên sẽ có tên lửa hạt nhân liên lục địa

Tên lửa Hwasong-14 được phát triển dựa trên phiên bản tên lửa Hwasong-12 một tầng thuốc phóng được tăng thêm tầng thứ hai. Khi nghiên cứu và chế tạo tên lửa tầm xa Đông Phong – 4, Trung Quốc cũng thêm một tầng vào tên lửa tầm trung Đông Phong – 3, lại giải quyết được ba kỹ thuật then chốt là kỹ thuật chia tách giữa các tầng thuốc phóng, kỹ thuật điểm hỏa ở trên cao đối với động cơ phóng ở tầng hai và thiết bị đo gia tốc chính xác, nghiên cứu và chế tạo thành công tên lửa tầm xa Đông Phong – 4.

Ngành công nghiệp tên lửa của các nước khi thiết kế tên lửa hạt nhân, trọng lượng và hình dạn của đầu đạn hạt nhân do cơ quan phụ trách công nghiệp hạt nhân quyết định là yêu cầu thiết kế đối với trọng tải của tên lửa. Từa đó có thể thấy Triều Tiên cũng đã có tiến bộ lớn về việc nghiên cứu tên lửa tầm xa trong vấn đề thu nhỏ đầu đạn hạt nhân. Giới nghiên cứu của các nước không thể đánh giá thấp khả năng Triều Tiên nghiên cứu và chế tạo vũ khí chiến lược.

Từ tháng 2 đến nay, Triều Tiên đã tiến hành 12 vụ thử tên lửa, tổng cộng phóng 17 tên lửa, số lần thử và phóng tên lửa tương đương với tổng số lần thử tên lửa từ năm 2006 đến 2012. Điều này vừa phản ánh tâm trạng sốt ruột của các lãnh đạo Bình Nhưỡng muốn nhanh chóng phát triển tên lửa liên lục địa, vừa phản ánh kỹ thuật tên lửa của Triều Tiên thực sự ở vào giai đoạn phát triển vô cùng nhanh chóng. Không bao lâu nữa, Triều Tiên có tên lửa liên lục địa để tấn công hạt nhân vào lãnh thổ Mỹ là điều không còn phải nghi ngờ.

Cho dù Triều Tiên có tên lửa tầm xa, thậm chí là tên lửa liên lục địa thì vẫn thiết khả năng chiến đấu thực sự. Vấn đề then chốt không nằm ở đầu đạn hạt nhân có được thu nhỏ hay không và có khả năng bay xa hay không mà ở chỗ có thể sản xuất được lớp chịu nhiệt để bảo vệ đầu đạn hạt nhân hay không. Tầm phóng tên lửa càng xa, tốc độ của đầu đạn trở lại bầu khí quyển trái đất càng nhanh, nhiệt độ của đầu đạn càng cao. Tuy tên lửa tầm ngắn của Triều Tiên không cần lớp chịu nhiệt đặc biệt, nhưng nhất định phải sản xuất lớp chịu nhiệt với tính năng thật tốt mới có thể giúp tên lửa tầm xa và tên lửa liên lục địa của Triều Tiên có khả năng tác chiến thực sự. Nếu Triều Tiên không làm được như vậy, thì trong quá trình đầu đạn hạt nhân trở lại bầu khí quyển trái đất, chưa bay đến mục tiêu đã bị nổ.

Chẳng hạn vào thập niên 1970, Trung Quốc đã gắn thêm tầng nhiên liệu rắn thứ ba vào tên lửa tầm xa Đông Phong – 4 để phóng thành công vệ tinh Đông Phương Hồng – 1. Điều này chứng tỏ Trung Quốc khi đó đã có khả năng phóng tên lửa Đông Phong – 4 vào mục tiêu ngoài biên giới 4800 km. Tuy nhiên, đến đầu thập niên 1980, Trung Quốc mới có được kỹ thuật khó của lớp chịu nhiệt, mới có thể triển khai tên lửa Đông Phong – 4 vào trực chiến.

Theo quan điểm đó, sau khi Triều Tiên chế tạo được lợp chịu nhiệt phù hợp thì tên lửa tầm xa và tên lửa hạt nhân liên lục địa mà họ sở hữu mới có khả năng chiến đấu trong thực tế. Điều này có nghĩa là cộng đồng quốc tế vẫn còn vài năm để giải quyết, tìm kiếm giải pháp cuối cùng mới có thể giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Mỹ không thể ngồi nhìn Bình Nhưỡng sở hữu vũ khí hạt nhân

Các lãnh đạo cao cấp của Triều Tiên những năm gần đây đã dốc hết nguồn lực của đất nước, quyết tâm phát triển tên lửa liên lục địa bằng mọi giá. Mục tiêu tấn công đã xác định của họ đương nhiên là Mỹ, chứ không phải quốc gia khác.

Chính sách của Chính quyền Obama xử lý vấn đề hạt nhân Triều Tiên là “nhẫn nại chiến lược”. Trong thời gian 8 năm cầm quyền, Obama không làm được gì, đẩy vấn đề gai góc này cho Trung Quốc. Sau khi Trump lên cầm quyền, ông không thể kiên nhẫn, lập tức coi vấn đề hạt nhân của Triều Tiên là lựa chọn ngoại giao cấp bách nhất. Lý do chuyển hướng chiến lược lớn này là:

1/ Việc nâng cấp đổi bệ phóng của Triều Tiên đối với vũ khí hạt nhân có hiệu quả, Bình Nhưỡng tuyên bố đã sở hữu bom nhiệt hạch (bom khinh khí). Cho dù họ nói đúng hay sai thì khả năng gây thiệt hại lớn của vũ khí hạt nhân sau này không chỉ giới hạn ở bom nguyên tử, đó là điều không còn phải nghi ngờ.

2/ Triều Tiên đang đẩy nhanh các bước đi nghiên cứu và chế tạo tên lửa liên lục địa. Nếu xu hướng này chưa bị kiềm chế, thì Triều Tiên sẽ có khả năng tấn công bằng vũ khí hạt nhân vào khu vực đông dân cư ở Mỹ. Chứng cứ là Triều Tiên liên tục phóng tên lửa hai lần trong tháng 7.

3/ Tác phong của Kim Jong-un quyết đoán, đã hành quyết chú dượng Jang Song-thaek, lại ám sát người anh ruột Kim Jong-nam ở nước ngàoi, xử tử rất nhiều quan chức và sĩ quan cao cấp. Về hoạch định chính sách, Kim Jong-un không mấy chín chắn, mức độ khó lường cao, nếu sau này thể hiện trong cuộc khủng hoảng quốc tế lớn, hậu quả sẽ bi thảm.

4/ Từ khi Triều Tiên bắt đầu hai dây chuyền sản xuất nhiên liệu hạt nhân là làm giàu plutoni và urani, năng lực sản xuất vũ khí hạt nhân của họ tăng lên. Một khi Triều Tiên đã sở hữu 40 đến 50 quả bom hạt nhân, nhất định sẽ kích động Nhật Bản hoạch định chính sách không đi theo con đường cũ và sở hữu vũ khí hạt nhân, Hàn Quốc thậm chí Đài Loan cũng có thể làm theo Nhật Bản. Như vậy, cục diện chính trị Đông Bắc Á, cũng như cả thế giới mà Mỹ kiểm soát hiện nay cũng sẽ thay đổi lớn.

Bình Nhưỡng có thể kiềm chế hơn, củng cố thành quả mang tính giai đoạn, không nâng cấp và thay thế hệ vũ khí hạt nhân, hạn chế số lượng đầu đạn hạt nhân, đồng thời giới hạn tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở tầm ngắn và tầm trung, chỉ là nước sở hữu vũ khí hạt nhân duy nhất tầm khu vực. Nếu Triều Tiên làm như vậy thì vũ khí hạt nhân của họ không thể đe dọa đến an ninh lãnh thổ Mỹ, Chính quyền Trump cũng sẽ không kích động Nhật Bản có bước đi khởi động vũ trang hạt nhân, sẽ không đến mức thay đổi nhanh chóng chính sách của chính quyền tiền nhiệm đối với vấn đề hạt nhân của Triều Tiên.

Giới học giả Trung Quốc cho rằng sở dĩ Triều Tiên khởi động các chương trình về vũ khí hạt nhân là do chính sách của Mỹ có ý đồ lật đổ chính quyền nhà họ Kim nên Bình Nhưỡng bị ép buộc phải đưa ra quyết sách. Bình Nhưỡng lo ngại một khi các nước như Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản… kích động, đất nước này có thể xảy ra rối ren chính trị, chính quyền hiện tại có thể bị lật đổ. Chính quyền Gaddafi ở Libya đã từ bỏ chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân của nước này, cuối cùng dẫn đến chính quyền của ông sụp đổ trong hỗn loạn. Số phận bi thảm của Gaddafi chính là lời cảnh báo. Do đó, Chính quyền Bình Nhưỡng phải nắm trong tay vũ khí hạt nhân để bảo vệ họ. Đây là việc làm dường như có lý.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.dunjiaodu.com – 01/08/2017

TLTKĐB – 17/08/2017

Nhật Bản được lợi từ sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc? – Phần cuối


Tuy nhiên, khi sự cạnh tranh diễn ra sau đó, Trung Quốc có thể và cũng nên được xem xét như một đối tác tương hỗ. Theo như các ước tính của ADB đã đề cập ở trên, thông qua BRI của mình, Trung Quốc, quốc gia đã cam kết 1400 tỷ USD cho sáng kiến này, có thể thúc đẩy nhiều khoản tài chính tư nhân để xây dựng và phục vụ cơ sở hạ tầng. Hơn nữa, đối với AIIB, Chủ tịch ADB Takehiko đã thẳng thắn nhận xét: “Chúng ta không cần phải coi AIIB là một đố thủ, bởi nhu cầu tài chính là rất lớn, vậy nên chúng ta có thể hợp tác”. Theo nhận định tích cực này, từ năm 2015, ADB và AIIB đã đồng tài trợ cho một dự án đường cao tốc ở Pakistan, nâng cấp mỏ khí tự nhiên ở Bangladesh, và một con đường rẽ ở Gruzia. Do đó, có thể những nỗ lực của Trung Quốc trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng mới và kết nối kinh tế khắp đại lục Á – Âu có thể bổ sung vào những nỗ lực của Nhật Bản, và ngược lại.

Thứ hai, Trung Quốc hiện đang trải qua cái mà người ta gọi là những “nỗi đau” ngày càng tăng của vai trò là một nhà đầu tư cơ sở hạ tầng quốc tế lớn nhất. BRI, sáng kiến bị chỉ trích vì thiếu tính minh bạch của nó trong số những điều khác, vào tháng 5 năm 2017 tại Hội nghị thượng đỉnh BRI tổ chức ở Bắc Kinh, cũng đã chứng kiến sự vắng mặt của một loạt nguyên thủ quốc gia nổi bật của Anh, Đức và Mỹ – trong khi Ấn Độ cũng quay lưng đi vào phút chót do những mối lo về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Mặt khác, Nhật Bản có một bề dày lịch sử không thể phủ nhận với những dự án hỗ trợ phát triển chính thức, cho vay tài chính và sự đầu tư vào các dự án nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng. Trong nhiều thập kỷ, Nhật Bản, với chỉ số minh bạch và tiêu chuẩn ở mức cao, đã bơm một lượng tiền khổng lồ cho phát triển đường sá, các tuyến đường sắt, hệ thống tàu điện ngầm và các bến cảng trên khắp châu Á. Thực tế là từ năm 1979, Nhật Bản đã cung cấp cho Trung Quốc các khoản viện trợ phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng (75% trong số đó là các khoản cho vay bằng đồng Yen) với tổng số 3133,1 tỷ Yen vào năm 2005.

Trong bối cảnh này, sự hiện diện của Nhật Bản trong BRI, đi cùng với việc Thủ tướng Abe gắn kèm các điều kiện để gia nhập BRI, có khả năng tiếp tục định hình sự phát triển cơ sở hạ tầng mà “sự hòa hợp với một khu vực kinh tế xuyên Thái Bình Dương tự do và công bằng” là có thể đạt được. Người ta hiểu rõ rằng các dựa án cơ sở hạ tầng quy mô lớn thường liên quan đến những vấn đề tham nhũng, ảnh hưởng môi trường và chủ nghĩa thân hữu. Sự tham gia của các quốc gia có tiêu chuẩn quản trị cao, như Nhật Bản, có thể giúp ngăn chặn điều này. Với việc Mỹ bày tỏ sự ủng hộ BRI vào tháng 5, đây là thời điểm lý tưởng để Nhật Bản tiếp tục thúc đẩy để các điều kiện của mình được đáp ứng, đồng thời hướng tới gia nhập BRI.

Thứ ba, quan điểm hợp tác mới của Tokyo về sáng kiến “Vành đai và Con đường” cần và đang thúc đẩy những nỗ lực nhằm cải thiện quan hệ với Bắc Kinh. Quan hệ tốt đẹp hơn đến lượt nó có thể góp phần củng cố an ninh Đông Bắc Á nói chung bằng cách trao cho Tokyo và các đồng minh ảnh hưởng đòn bẩy nhiều đối với Triều Tiên, quốc gia vẫn đang tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân và tên lửa đạn đạo. Giữ vững đà tích cực được tạo ra bởi mối quan tâm của ông Abe đối với BRI, Tokyo đã đi trước và đề xuất các chuyến thăm lẫn nhau của cả hai nhà lãnh đạo vào năm 2018. Đây là điều chưa từng xảy ra kể từ năm 2008.

Trong khi gia nhập BRI chắc chắn sẽ có lợi cho Nhật Bản, quyết định này cũng mang lại những thách thức đòi hỏi sự xử lý thận trọng từ chính phủ ông Abe. Ở trong nước, một cuộc điều tra khảo sát doanh nghiệp của Reuters gần đây chỉ ra rằng cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản có vẻ khá miễn cưỡng khi tham gia dự án của Trung Quốc, chỉ có 5% trên tổng số 220 người được hỏi tỏ ý quan tâm đến BRI. Quả vậy, các công ty Nhật Bản nhìn thấy những cơ hội tốt hơn ở mọi nơi khác, họ đánh giá Hiệp định thương mại tự do Nhật Bản – Mỹ, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) 11 nước không có Mỹ, hay sự hợp tác kinh tế với Nga đều là các cơ hội kinh doanh tốt hơn. Nếu Nhật Bản tham gia BRI, điều này cần phải thay đổi. Ở đây, cả Trung Quốc và Nhật Bản đều cần bắt tay hợp tác để tăng cường lợi ích kinh doanh.

Mặc dù vậy, một bước đi đúng hướng là việc ông Abe báo hiệu Nhật Bản sẵn sàng hợp tác với BRI của Trung Quốc theo những điều kiện nhất định. Ông tuyên bố rằng điều quan trọng là “cơ sở hạ tầng cần được tất cả tự do sử dụng, cũng như cần được phát triển thông qua cung ứng minh bạch và công bằng”. Thủ tướng Nhật Bản đồng thời nhấn mạnh điều cũng cần thiết là việc “các dự án khả thi về mặt kinh tế và được hỗ trợ tài chính bởi các khoản nợ có thể chi trả, không được gây hại đến sự lành mạnh của nền tài chính của quốc gia vay nợ”. Bước đi kế tiếp cho Nhật Bản tại thời điểm này là duy trì củng cố các quan hệ thông qua tiếp tục đối thoại và can dự, đồng thời thúc đẩy hiện thực hóa những điều kiện nêu trên.

Về phía Trung Quốc, chỉ đơn thuần loại bỏ chữ “một” khỏi cái tên “Một vành đai, một con đường” và chèn “sáng kiến” vào tiêu đề mới không thể hiện sự cởi mở của chiến lược hay giảm bớt những lời chỉ trích về việc “xây dựng thể chế lấy Trung Quốc làm trọng tâm”. Trung Quốc cần tiếp tục can dự với các nước lớn, đặc biệt là các nền kinh tế như Nhật Bản và Mỹ, những quốc gia đang thể hiện mối quan tâm sâu sắc hơn tới dự án này. Hơn nữa, quan trọng là Trung Quốc phải can dự với các nền kinh tế đang phát triển như Ấn Độ, mà trước khi rút ra, có thể sẽ là một phần quan trọn của BRI. Suy cho cùng, sự thành công của BRI phụ thuộc vào sự tham gia của các đối tác cũng nhiều tương đương với mức độ phụ thuộc và sự tham gia của các đối tác cũng nhiều tương đương với mức độ phụ thuộc của nó vào những khoản đầu tư và kế hoạch của Trung quốc.

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/japan-could-benefit-chinas-one-belt-one-road-plan-21742

TLTKĐB – 16/08/2017

Nhật Bản được lợi từ sáng kiến “Vành đai và con đường” của Trung Quốc? – Phần đầu


Nhật Bản đang cân nhắc những giải pháp thay thế để củng cố vị thế của quốc gia này – thậm chí là cả mối quan hệ hợp tác hạn chế với Trung Quốc.

Trong cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Tập Cận Bình bên lề hội nghị G20, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã một lần nữa bày tỏ sự quan tâm tới sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI), qua đó tạo lại bước đà thúc đẩy khả năng cải thiện quan hệ vốn đang không tốt giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Bất chấp mối quan tâm ngày càng tăng của ông Abe, nhiều người ở Nhật vẫn duy trì quan điểm phản đối việc tham gia BRI, đề xuất rằng thay vào đó Nhật Bản nên cạnh tranh với Trung Quốc thông qua quan hệ đối tác vì cơ sở hạ tầng chất lượng, chiến lược tự do và mở cửa Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của ông Abe, và mới nhất là Sáng kiến cơ sở hạ tầng Nhật Bản. Tuy nhiên, cân nhắc những sự năng động trong thay đổi nhanh chóng trong quan hệ quốc tế tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như vị trí của Nhật Bản tại đây, thái độ khước từ ban đầu của Tokyo đối với BRI mang theo khả năng làm tổn thương các lợi ích kinh tế của quốc gia này và thậm chí làm giảm sự hiện diện của họ với tư cách một cường quốc chủ yếu trong khu vực. Trong khi việc chào đón BRI là khôn ngoan hơn với Nhật Bản dưới góc nhìn thuần túy về kinh tế, những lợi ích chiến lược khác cũng có thể đến từ sự mạo hiểm này.

BRI, được phát động từ năm 2013 dưới cái tên “Một vành đai, một con đường” bao hàm việc Trung Quốc cam kết bỏ ra hàng tỉ USD tài trợ đầu tư cơ sở hạ tầng tại các quốc gia nằm trên “Con đường tơ lụa” cũ, nối liền châu Âu, châu Á và châu Phi. Bắc Kinh có tham vọng đặc biệt lớn cho dự án này, chi gần 150 tỷ USD một năm cho 68 quốc gia đã tham gia kế hoạch này. Tuy nhiên, một mối quan ngại chung giữa nhiều quốc gia và các nhà chỉ trích là việc BRI chủ yếu được thiết lập để giúp Trung Quốc mở rộng phạm vi ảnh hưởng chiến lược của mình, đồng thời tạo ra những nguồn lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế của chính quốc gia này.

Rõ ràng là Nhật Bản sẽ muốn một trật tự khu vực dựa vào Mỹ hơn. Tuy nhiên Tokyo cần phải tính đến cả vị trí hiện tại của họ trong khu vực. Trong hàng thập kỷ, Nhật Bản đã phải trải qua tình trạng trì trệ kinh tế với chính sách “Abenomics”, mà vẫn chưa đạt được mục tiêu nâng lạm phát lên mức 2%. Sức ảnh hưởng ngày một yếu của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, sự không chắc chắn về chính quyền Tổng thống Trump và quyết định rút lui khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là những yếu tố ảnh hưởng tới tính toán của ông Abe. Hơn nữa, mối quan hệ căng thẳng với Trung Quốc và Hàn Quốc liên quan tới những tranh chấp lãnh thổ đang diễn ra và những bất bình đã liên tục chia rẽ Nhật Bản và cả hai quốc gia này. Cuối cùng, với bản chất bất ổn đáng báo động của Chính quyền Triều Tiên, việc giải tỏa những căng thẳng với các nước láng giềng nằm trong những lợi ích lớn nhất của Nhật Bản. Cân nhắc tình thế tiến thoái lưỡng nan này, việc Nhật Bản xem xét các phương án thay thế khác để củng cố vị thế của họ – thậm chí là cả sự hợp tác hạn chế với Trung Quốc là có thể hiểu được.

Có rất nhiều lập luận ủng hộ việc Nhật Bản tham gia BRI. Trước hết, trong khi Nhật Bản và Trung Quốc có thể – và nên tiếp tục cạnh tranh với nhau (điều mà cũng có những lợi ích của chính nó), tham gia BRI có thể giúp mở ra một mức độ hợp tác lớn hơn dẫn đến ảnh hưởng sâu sắc hơn tới các dự án cơ sở hạ tầng. Phát triển cơ sở hạ tầng tại châu Á không phải là một trò chơi được mất ngang nhau và BRI hay các dự án khác có thể mang lại kết quả đôi bên cùng có lợi bằng thu hẹp khoảng cách chênh lệch về cơ sở hạ tầng, cải thiện dòng chảy thương mại và kích thích tăng trưởng kinh tế.

Cân nhắc kịch bản hiện tại một cách khách quan, sự chủ động của Nhật Bản thúc đẩy phát triển cơ sở hạ tầng được dẫn dắt bởi chiến lược “Quan hệ đối tác vì cơ sở hạ tầng chất lượng”, trong đó Tokyo cam kết 110 tỉ USD trong 5 năm nhằm giúp đỡ các quốc gia châu Á xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng chất lượng cao. Vào tháng 5 năm 2016, con số này đã được điều chỉnh lên 200 tỷ USD và mở rộng tới cả khu vực châu Phi. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2016, sáng kiến “Cơ sở hạ tầng Nhật Bản” được công bố. Bao gồm Mitsubishi UFJ Lease & Finance (45,55%), Hitachi Capital (47,55%) và Ngân hàng Tokyo – Mitsubishi UFJ (4,9%), dự án này hướng tới việc cung cấp các khoản đầu tư và cho vay với tổng giá trị khoảng 100 tỷ Yen (878 triệu USD) nhằm hỗ trợ xuất khẩu cơ sở hạ tầng khu vực tư nhân. Các dự án cũng sẽ bao gồm các nhà máy điện và đường sắt ở châu Á, châu Âu và Mỹ. Ông Abe cũng hướng tới mục tiêu kết nối châu Phi và châu Á thông qua “Chiến lược tự do và mở cửa Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.

Hơn nữa, sự trợ giúp tài chính mà Chính phủ Nhật Bản dành cho một số dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhất đều bắt nguồn từ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA). Tài trợ tư nhân cho phát triển cơ sở hạ tầng thông qua mô hình “đối tác công tư” của sáng kiến “Quan hệ đối tác vì cơ sở hạ tầng chất lượng” hiện cũng được hỗ trợ bởi Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản, Công ty đầu tư cơ sở hạ tầng nước ngoài vì phát triển vận tải và đô thị của Nhật Bản, Nippon Export và quỹ bảo hiểm đầu tư. Một số nỗ lực đang được thực hiện bao gồm nhà máy lọc khí tự nhiên trị giá 8,76 tỷ USD và nhà máy hóa chất trị giá 4,38 tỷ USD ở Turkmenistan, nhà máy phân bón tại Uzbekistan, 3 dự án đường sắt lớn ở Philippines và rất nhiều khu kinh tế đặc biệt tại Campuchia. Tại Ấn Độ, ADB có một số lượng lớn các dự án: hành lang công nghiệp Delhi – Mumbai, nhà máy đện chạy bằg diesel 15 Megawatt trên đảo Nam Andaman, tuyến đường sắt cao tốc giữa Mumbai và Ahmedabad và hai hệ thống metro bổ sung. Gần đây nhất, ADB thông báo rằng họ sẵn sàng đầu tư tới 5 tỷ USD trong giai đoạn 2018 tới 2022 cho cơ sở hạ tầng để phát triển Hành lang kinh tế bờ Đông của Ấn Độ.

Trong khi Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản sẽ tiếp tục thúc đẩy các khảon cho vay đồng Yen với lãi suất thấp và Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản tăng cường cho vay và đầu tư, ADB đang phải đối mặt với một số thách thức. Những trở ngại chính mà tổ chức này phải đương đầu bao gồm vấn đề về vai trò lãnh đạo của Mỹ trong ADB và sự thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) của Trung Quốc. Tại hội nghị kỉ niệm 15 năm ADB tại Yokohama hồi tháng 5 vừa qua, Chủ tịch ADB Takehiko Nakao đã nêu ra thách thức mới đến từ việc Mỹ rút khỏi vị trí lãnh đạo trong tổ chức, ông nhận xét rằng “thật không tốt khi một cổ đông lớn như vậy, với quyền bỏ phiếu tương đương Nhật Bản, ại không có một giám đốc điều hành”. Bổ sung vào những nhược điểm của ADB là ưu tiên của Trump cho hợp tác song phương. Ngoài ra, ADB ước tính rằng châu Á cần phải đầu tư 26 nghìn tỷ USD từ năm 2016 đến năm 2030, hoặc 1700 tỷ USD hàng năm để đáp ứng nhu cầu cơ sở hạ tầng. Hiện tại, chỉ có 2,5% tổng đầu tư cơs ở hạ tầng được tài trợ bởi các nhà cho vay đa phương. Nếu không tính Trung Quốc và Ấn Độ, tỷ lệ này sẽ tăng lên con số 10%.

Nếu nhìn vào số lượng các sáng kiến và cơ chế hiện hữu tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, điều rõ ràng là cuối cùng, mặc dù có tính cạnh tranh về bản chất, Trung Quốc và Nhật Bản vẫn đang xây dựng từng phần của cùng một mạng lưới thương mại và kết nối Á – Âu. Xét kịch bản này, Trung Quốc có thể và nên được xem như một đối tác cạnh tranh; sau cùng, sự cạnh tranh có thể mang lại lợi ích theo nghĩa nó sẽ thúc đẩy các nước liên quan cố gắng hơn và gặt hái nhiều thành công hơn. Sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở châu Á là đặc biệt nổi bật. Ví dụ, ở Sri Lanka, Nhật Bản đang theo đuổi kế hoạch xây dựng cảng và khu công nghiệp ở Trincomalee để cạnh tranh với khu công nghiệp 1,4 tỷ USD mà Trung Quốc đã xây dựng ở Hambantota. Tại Indonesia, Nhật Bản có hợp đồng xây dựng tuyến đường sắt cao tốc từ Jakarta đến Bandung, mà cuối cùng, lại tới tay người Trung Quốc. Ở Bangladesh, như một phần trong sáng kiến BIG-B của nước này, Nhật Bản đã ký một hợp đồng xây dựng một cảng biển nước sâu trên đảo Matarbari, gây ảnh hưởng trực tiếp tới kế hoạch của Trung Quốc xây dựng một công trình tương tự tại đảo Sonadia.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://nationalinterest.org/feature/japan-could-benefit-chinas-one-belt-one-road-plan-21742

TLTKĐB – 16/08/2017