Mỹ “thọc gậy bánh xe” quan hệ Trung – Nhật


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 11/12 trích dẫn truyền thông Nhật Bản đưa tin chính phủ nước này ngày 10/12 đã ra quyết định cấm các bộ ngành trực thuộc chính phủ trung ương và quân đội mua sắm các trang thiết bị do các công ty viễn thông Huawei và ZTE (Trung Hưng) của Trung Quốc sản xuất, đồng thời viện dẫn đây là nỗ lực nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công mạng và rò rỉ thông tin bí mật. Tuy nhiên, Tokyo đã không nêu đích danh Huawei và ZTE, đồng thời cho hay các quy định mới này không nhằm vào các công ty cụ thể nào.

Cùng ngày, truyền thông Nhật Bản cũng đưa tin rằng 3 nhà khai thác điện thoại di động lớn ở Nhật Bản đã quyết định loại trừ các sản phẩm của Huawei và ZTE khỏi các thiết bị viễn thông liên lạc như các trạm thu phát sóng di động.

Nhật Bản dường như đã trở thành quốc gia mới nhất sau lời kêu gọi của Mỹ nhằm cấm các thiết bị liên lạc do các công ty Trung Quốc sản xuất. Khi đưa ra quyết định trên, phía Nhật Bản đã cúi đầu trước sức ép của Mỹ cho dù động thái này không nằm trong lợi ích quốc gia của Tokyo và có thể gây phương hại tới các mối quan hệ Trung – Nhật vào thời điểm quan trọng. Huawei và ZTE đang triển khai hợp tác sâu rộng với Nhật Bản, đồng thời phản ánh những kết nối sâu sắc mà hai nước đang sở hữu trong lĩnh vực viễn thông. Việc tẩy chay 2 công ty trên chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển mạng lưới 5G của Nhật Bản.

Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng việc cố “triệt tiêu” các doanh nghiệp viễn thông của Trung Quốc là một chiến lược mới của Mỹ. Hiện có một số người ở Mỹ đã nói về “việc chia tách” để kiềm chế sự phát triển công nghệ cao của Trung Quốc. Những động thái hấp tấp như vậy là do dã tâm giành quyền bá chủ của Mỹ thôi thúc. Tuy nhiên, Nhật Bản không có cùng mục tiêu đó. Việc tẩy chay hợp tác Trung – Nhật là một lựa chọn tồi.

Thị trường của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với thị trường của Nhật Bản, và chắc chắn sẽ lớn hơn thị trường của Mỹ trong tương lai. Tokyo không cần phải đi theo đường lối của Mỹ và nên bảo vệ đặc quyền của mình để đưa ra những quyết định kinh doanh thận trọng phù hợp với các quyền chủ quyền của Nhật Bản. Ngoài ra, những triển vọng kinh tế dài hạn của Tokyo có liên quan mật thiết đến thị trường của Trung Quốc, theo đó, có thể vượt xa các mối quan hệ của Nhật Bản với thị trường Mỹ về lâu dài. Nếu bây giờ Nhật Bản để Mỹ quyết định cách thức hợp tác với Trung Quốc, nước này có thể trở thành một quốc gia chư hầu.

Trên thực tế, Mỹ càng thể hiện xu hướng đối đầu với Trung Quốc bằng cách tìm kiếm sự giúp đỡ của các đồng minh, thì Nhật Bản càng cần phải duy trì sự độc lập. Các lợi ích của Nhật Bản nằm giữa hai thị trường lớn này, chứ không phải nghiêng về bên nào. Ngay cả Việt Nam và Philippines cũng đều thấu hiểu sự thật này. Là một cường quốc châu Á quan trọng, Nhật Bản cần có khối óc xét đoán không đi theo Mỹ bằng cách từ chối sự quan trọng chiến lược của Trung Quốc.

Nếu Nhật Bản chuyển sang thực hiện các chính sách phân biệt đối xử đối với Huawei và ZTE, Trung Quốc chắc chắn sẽ trả đũa bằng các biện pháp tương ứng. Và cuộc xung đột này sẽ được Mỹ “đổ thêm dầu vào lửa”. Nếu hợp tác kinh tế của Nhật Bản với Trung Quốc tuân theo mong muốn của Mỹ, thì liệu tương lai lâu dài của Nhật Bản có được đếm xỉa đến hay không?

Trung Quốc nên ứng phó với sự dao động rõ ràng của Nhật Bản như thế nào? Phía Trung Quốc cần đáp ứng việc tuân thủ các nguyên tắc và đưa ra các biện pháp trả đũa cần thiết. Mặt khác, không nên phóng đại tác động về động thái này của Nhật Bản và dự đoán một kịch bản “ngày tận thế” dành cho quan hệ Trung – Nhật. Hãy để Nhật Bản trả giá cho việc tẩy chay các sản phẩm của Huawei và ZTE.

Theo bài báo, dư luận Trung Quốc hiện đã trưởng thành và tự tin không để những sự cố bất lợi ảnh hưởng đến các mối quan hệ với Nhật Bản. Đồng thời, năng lực tuân thủ của Trung Quốc đối với các nguyên tắc trong quan hệ với Nhật Bản cũng đang ngày càng gia tăng. Trung Quốc và Nhật Bản nên tôn trọng lẫn nhau và ngăn chặn các lực lượng bên ngoài cố “thọc gậy bánh xe” chia rẽ hai nước.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Advertisements

Nền chính trị cha truyền con nối ở Nhật Bản: Một công ty gia đình


Cesare M. Scartozzi

Nền chính trị gia đình đang trở nên khá phổ biến ở hầu hết các nước được cho là dân chủ, điều này không phải hoàn toàn xấu. Một số học giả cho rằng nền chính trị kiểu như trên có thể tạo ra những mặt tích cực như nâng cao hiệu quả và tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên của cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, ngược lại, cũng có những ý kiến đánh giá tiêu cực rằng nền chính trị gia đình có thể làm tham nhũng gia tăng, giảm tính sáng tạo và tạo ra lối mòn trong hoạt động của quốc hội. Nhiều cuộc tranh luận, trong đó có cả cởi mở hoặc bị giới hạn ở một chừng mực nhất định giữa những người ủng hộ và phản đối nền chính trị trên đã diễn ra. Các ý kiến dù là ủng hộ hay phản đối nền chính trị gia đình đều có mặt đúng. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra khi yếu tố gia đình trị bao trùm đối với hệ thống chính trị của một quốc gia?

Câu trả lời có thể tìm thấy ở Nhật Bản, nơi có khoảng 30% thành viên Hạ viện và 40% thành viên Thượng viện là thế hệ thứ 2 (Nisei – tức bộ hiện đang hoặc đã từng là nghị sỹ, thành viên trong chính phủ). Trong số 30 thủ tướng Nhật Bản sau chiến tranh, chỉ có 3 Thủ tướng không có thế hệ trước là các chính trị gia, hầu hết các Thủ tướng còn lại đều là con hoặc cháu của các cựu hoặc cố thủ tướng hay bộ trưởng.

Số thành viên Nisei tại Hạ viện Nhật Bản sau chiến tranh tăng nhanh cho đến những năm 1980 và đạt mức ổn định trên dưới khoảng 25%. Nhật Bản không phải là trường hợp duy nhất trong số các quốc gia được cho là dân chủ có khuynh hướng trên. Tại Irelan, cũng có một tỷ lệ Nisei tương tự như Nhật Bản, các nước như Mỹ, Ấn Độ cũng nổi tiếng với kiển nền chính trị gia đình khi nhiều thế hệ từng giữ cương vị tổng thống hoặc thủ tướng. Tuy nhiên, đối với trường hợp Nhật Bản, các nghiên cứu đã chỉ ra có một điều đặc biệt khi nền chính trị gia đình ngày càng tăng và được thể chế hóa, hợp thức hóa.

Một số ý kiến cho rằng trong một chế độ dân chủ, nền chính trị gia đình tồn tại đơn giản do các chính trị gia thế hệ thứ 2 hoặc thứ 3 cũng là một công dân, họ có quyền ứng cử và được bầu Tuy nhiên, cần xem xét vấn đề trên dưới nhiều góc độ, trong đó có yếu tố quyền lực và ảnh hưởng của gia đình đối với hệ thống chính trị xã hội. Chính trị Nhật Bản nổi tiếng với “ba nền tảng” là: “hỗ trợ cơ sở”, “công nhận tên tuổi” và “hỗ trợ tài chính”. Đây là 3 yếu tố cần thiết cho chiến thắng của một nhà lập pháp.

Đầu tiên là “hỗ trợ cơ sở”, các chính trị gia sẽ được sự hỗ trợ bởi một tổ chức dân sự – đây là cỗ máy chính trị riêng giúp thu hút sự ủng hộ và kết nối người dân với nhà lập pháp. Thông qua tổ chức này, các chính trị gia sẽ tiếp xúc với người dân, thu hút sự ủng hộ của họ, đồng thời các tổ chức này cũng là nơi tập hợp nguyện vọng của người dân để đề xuất lên quốc hội. Tại Nhật Bản, các tổ chức dân sự trên phải hoạt động trung lập và không được ủng hộ riêng bất cứ đảng nào. Tuy nhiên, nếu trong một mô hình “chính trị gia đình”, việc chuyển sự ủng hộ của tổ chức dân sự giữa thành viên đang là nghị sỹ với thành viên khác trong gia đình có thể dễ dàng được thực hiện. Bởi, các tổ chức dân sự hoạt động với chức năng trên cũng cần xây dựng mối quan hệ với các nghị sỹ. Do đó, các tổ chức dân sự sẽ sẵn sàng hỗ trợ ứng cử viên được các nghị sỹ có quan hệ giới thiệu.

Nền tảng thứ hai là “công nhận tên tuổi”. Trong nền tảng này, nếu các Nisei tiến hành vận động tranh cử tại các huyện, thị trấn, nơi cử tri không có sự gắn kết với các tổ chức dân sự ở trên, những Nisei thuộc các gia đình chính trị nổi tiếng sẽ nhận được sự tin cậy từ cử tri hơn và chiếm lợi thế. Trường hợp của Shinjiro Koizumi là một ví dụ, khi chính trị gia này đã thay thế vị trí của cha mình để trở thành đại biểu cho quận 11 của Kanagawa. Shinjiro Koizumi, sinh năm 1981, là con trai thứ hai của cựu Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi. Trong cuộc vận động tranh cử đầu tiên vào năm 2009, Shinjiro Koizumi đã thu hút được sự ủng hộ rộng rãi và giành chiến thắng mà không cần sự hỗ trợ của các tổ chức dân sự.

Nền tảng thứ 3 là “sự hỗ trợ tài chính”. Từ nền tảng gia đình, các Nisei thừa hưởng nguồn tài chính nhất định và đặc biệt kế thừa quan hệ với các lãnh đạo doanh nghiệp từ cha, ông của mình. Theo chế độ bầu cử của Nhật Bản, tài chính sẽ hỗ trợ đáng kể hoạt động của các tổ chức dân sự thực hiện chương trình vận động thu hút sự ủng hộ trong quá trình tranh cử.

Thống kê cho thấy có tới 80% ứng cử viên là Nisei giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử ở Nhật Bản. Họ là một phần trong nhóm tinh hoa chính trị được hưởng các đặc quyền. Điều này có thể tiếp nối đối với thế hệ thứ 3, thứ 4, thứ 5 thậm chí nhiều hơn. Các Nisei không chỉ có lợi thế trong các cuộc bầu cử để vào quốc hội. Họ còn có lợi thế trong cả việc leo lên các chức vụ trong chính phủ.

Nền chính trị gia đình đã trở thành một đặc điểm của nền chính trị dân chủ Nhật Bản. Những người dân Nhật Bản có nên lo lắng về điều này? Thực sự các học giả, nhà bình luận chính trị vẫn chưa thể đưa ra lập luận hợp lý để cho rằng nền chính trị như vậy hoàn toàn xấu. Sự tham ô, tham nhũng, lợi dụng chính sách có thể xảy ra đối với bất cứ chính trị gia nào, không chỉ riêng đối với các Nisei.

Nguồn: https://thediplomat.com/2017/02/hereditary-politics-in-japan-a-family-business/

TKNB – 17/02/2017

Tại sao chuyến thăm lần đầu tiên của tàu ngầm Nhật Bản đến Việt Nam lại quan trọng?


Trang mạng tờ The Diplomat ngày 19/9 đăng bài phân tích cho rằng chuyến ghé thăm Việt nam của tàu ngầm Nhật Bản Kuroshio trong tuần này là diễn biến đáng chú ý trong khu vực. Tuy vậy, diễn biến này không nhận được sự chú ý nhiều như đáng lẽ phải thế, có lẽ vì các hạt động tương tác giữa hai bên nhân chuyến thăm này có vẻ bình thường. Tuy nhiên, nếu xét từ quan điểm của Việt Nam và Nhật Bản, xét về tốc độ tăng cường quan hệ quốc phòng giữa hai nước và bối cảnh hu vực, thì không thể phủ nhận tầm quan trọng của chuyến thăm này.

Tàu ngầm Kuroshio của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) cập cảng quốc tế Cam Ranh vào ngày 17/9, bắt đầu chuyến thăm kéo dài 5 ngày theo lịch trình. Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố chuyến thăm bao gồm các hoạt động tương tác thông thường như các cuộc gặp xã giao với giới chức và sĩ quan hải quân Việt Nam, các hoạt động thể thao, văn hóa và giao lưu.

Dù đây là những hoạt động tương tác thông thường, nhưng rõ ràng, ý nghĩa của chuyến cập cảng của tàu Kuroshio không hề “thông thường”.

Trước tiên, ở mức độ chung, chuyến thăm là biểu hiện mới nhất của xu hướng xây dựng các mối quan hệ an ninh nội tại giữa các quốc gia có cùng mục đích ở châu Á – Thái Bình Dương. Hiện trong khu vực xuất hiện một danh sách ngày càng dài những thách thức an ninh truyền thống – phi truyền thống, trong khi các hình thức liên kết chính thức hơn cũng ngày càng gia tăng. Sự “hợp lưu” của những xu hướng này là chất xúc tác dẫn đến việc hình thành nên các liên kết lỏng lẻo giữa các quốc gia trong khu vực, dưới ngọn cờ của chiến lược khu vực – mà một trong số đó là chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam đang dịch chuyển theo xu hướng như vậy. Những năm qua, hai nước đã nỗ lực thúc đẩy mối quan hệ đối tác chiến lược và quan hệ an ninh nằm trong nỗ lực này. Việt Nam coi Nhật Bản là một cường quốc quan trọng cùng tham gia vào chính sách đối ngoại đa phương hóa – đa dạng háo của mình, trong khi Nhật Bản coi Việt Nam là yếu tố then chốt giúp Tokyo can dự nhiều hơn vào Đông Nam Á và là một phần của nước này trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Chuyến ghé thăm Việt Nam của tàu ngầm Nhật Bản là một trong những diễn biến liên quan đến hợp tác quốc phòng, khi hai nước kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2018. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản không chỉ bao gồm các hoạt động như hỗ trợ an ninh hàng hải định kỳ, mà còn gồm các hoạt động quan trọng như các cuộc tập trận hải quân mới, những chuyến ghé thăm cảu tàu chiến Nhật Bản, một thỏa thuận về hơp tác bảo vệ bờ biển và các cuộc thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, thiết bị phòng thủ.

Điều thứ hai và cụ thể hơn, chuyến thăm của tàu ngầm Kuroshio là biểu hiện mới nhất trong nỗ lực của Nhật Bản tìm kiếm một vai trò an ninh tích cực hơn trong khu vực dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe. Tokyo đã đóng vai trò như vậy trong nhiều thập kỷ nhưng trong những năm gần đây, chính phủ của Thủ tướng Abe đặt trọng tâm rõ ràng hơn – bao gồm vun đắp mối quan hệ quốc phòng thân thiết với các nước ở Đông Nam Á như Việt Nam, cũng như mưu cầu một vai trò mạnh mẽ hơn tại khu vực trọng điểm như ở Biển Đông.

Thứ ba, việc tiếp đón tàu ngầm Nhật Bản lần đầu tiên ghé thăm là một chỉ dấu tiếp theo cho thấy Việt Nam ngày càng sẵn sàng tăng cường các mối quan hệ an ninh (trong giới hạn) với các cường quốc, bao gồm cả các mối quan hệ trong mạng lưới quan hệ đối tác – liên minh của Mỹ.

Chi tiết đáng chú ý nữa là sự tương tác lần này giữa Hà Nội và Tokyo không phải là sự kiện từ một phía. Ngay sau chuyến thăm của tàu ngầm Nhật Bản đến Việt Nam, một tàu khu trục của VIệt Nam dự kiến thăm Nhật Bản vào cuối tháng 9 đến đầu tháng 10/2018 – một diễn biến quan trọng nữa liên quan đến quốc phòng.

Tuy vậy, Việt Nam đã thận trọng hiệu chỉnh những hoạt động tương tác như vậy với các cường quốc, vì lo ngại phản ứng từ phía Trung Quốc – nước đặc biệt nhạy cảm với những động thái của phía Mỹ và Nhật Bản liên quan đến Biển Đông. Điều này đặc biệt đúng kể từ khi Bắc Kinh ngày càng trở nên táo bạo hơn trong các hình thức gây áp lực với Hà Nội. Thực tế là Việt Nam có xu hướng cân bằng giữa một bên là hoạt động tương tác với các cường quốc và bên kia là nỗ lực xử lý quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, với những lý do vừa nêu trên, có thể thấy chuyến thăm lần đầu tiên của một tàu ngầm Nhật Bản đến Việt Nam không hẳn là một diễn biến như thường lệ.

Nhật báo The New York Times của Mỹ ngày 19/9 viết: Sự kiện tàu ngầm Nhật Bản tập trận ở Biển Đông, sau đó ghé thăm Việt Nam, là dấu hiệu cho thấy Nhật Bản đang càng lúc càng kiên quyết hơn trong việc chống lại những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực. Tờ báo Mỹ đặc biệt ghi nhận đây là lần đầu tiên mà tàu ngầm Nhật Bản được biết là tập trận ở Biển Đông và “động thái bất thường” của chính quyền Nhật Bản khi thông báo về cuộc tập trận.

Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã khẳng định rằng cuộc tập trận không nhằm vào một quốc gia cụ thể nào, nhưng các nhà phân tích đều xem đấy là một thông điệp rõ ràng đối với Trung Quốc. Ông Narushige Michishita, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Quốc tế và An ninh tại Viện Nghiên cứu Chính sách ở Tokyo thừa nhận: “Chúng tôi đang gửi đi tín hiệu để Trung Quốc hiểu rằng họ không thể làm bất cứ điều gì họ muốn mà không hề hấn gì”.

Trả lời tờ The Wall Street Journal của Mỹ, chuyên gia Michishita đã giải thích rõ hơn, “đó là một phần trong một thông điệp chiến lược mà Tokyo muốn gửi đến Trung Quốc và những nước trong vùng… cho thấy rõ quyết tâm của Nhật Bản trong việc duy trì một sự cân bằng quyền lực” trong vùng.

Đối với chuyên gia Michishita, nội dung tập luyện chống ngầm của Hải quân Nhật Bản rất có ý nghĩa, vì lẽ Trung Quốc hiện sở hữu một đội tầu ngầm hạt nhân có thể phóng tên lửa đạn đạo.

Bên cạnh việc tập trận, tàu ngầm Kuroshio còn ghé cảng Việt Nam trong một động thái mà tờ New York Times cho là nằm trong nỗ lực của Nhật Bản nhằm củng cố quan hệ với các nước Đông Nam Á có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông. Jeffrey W. Hornung, chuyên gia về Nhật Bản tại RAND Corporation, nhận định: “Nhật Bản đang tăng cường và mở rộng quan hệ với các quốc gia có vấn đề lãnh thổ với Trung Quốc”. Đối với ông, chuyến thăm Việt Nam của tàu ngầm Kuroshio “đang gửi tới Trung Quốc một thông điệp, cho biết Nhật Bản đang tiếp cận và thúc đẩy hợp tác an ninh với những nước khác”.

Nhật Bản không có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, cũng như Mỹ và nhiều nước khác, lại rất quan tâm đến quyền tự do lưu thông. Trong thời gian qua, Tokyo đã đi đầu trong số các đồng minh của Mỹ nỗ lực giúp các nước Đông Nam Á – cụ thể là Philippines và Việt Nam – tăng cường năng lực trên biển.

Nguồn: TKNB – 21/09/2018

Những sự chuyển giao quyền lực: Thucydides không tồn tại ở châu Á – Phần cuối


Ngay cả khi một học thuyết Trump cho Đông Á và thế giới xuất hiện, cũng rõ ràng là vai trò lãnh đạo và chính sách của Mỹ đang ở giữa một sự thay đổi lớn Bất kể chiến lược lớn toàn diện nào của Mỹ xuất hiện trong thời điểm này và thậm chí sau thời Tổng thống Trump, cách tiếp cận và các thể chế hậu Chiến tranh thế giới thứ hai có vẻ gây nghi ngại theo những cách chưa từng có trước đây. Điều này có thể đẩy nhanh một xu hướng ở Đông Á vốn đã diễn ra. Khu vực đã mở rộng trọng tâm kinh tế và thể chế của mình vượt ra khỏi Mỹ – Sáng kiến “Vành đai và Con đường”, Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở châu Á (AIIB) và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đều là những ví dụ của điều này. Mỹ từng là trọng tâm xã hội và kinh tế duy nhất, nhưng giờ chỉ là một trong những bên tương đương. Các dòng đầu tư, thương mại và tài chính giữa các nước Đông Bắc Á và Trung Quốc tiếp tục gia tăng nhanh chóng, bất chấp sự kình địch chính trị vốn chiếm lĩnh các tít báo. Sự suy giảm ảnh hưởng của Mỹ này đã bắt đầu từ lâu trước khi Trump rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và bắt đầu công khai thảo luận khả năng bãi bỏ thỏa thuận thương mại tự do Mỹ – Hàn. Betts lưu ý rằng vào cuối Chiến tranh Lạnh, “chỉ 17% nhân lực quân đội Mỹ được phân bổ sang châu Á, chỉ khoảng 6% được triển khai lên phía trước trong khu vực”. Một thế hệ sau, các tỷ lệ này thậm chí còn nhỏ hơn.

Cuối cùng, đôi khi những mối đe dọa đến từ các nước nhỏ nhất, chứ không phải là lớn nhất. Nhật Bản vào năm 1592 không bị quy mô của Trung Quốc làm thoái chí. Ngày nay, bất chấp có GDP chỉ 50 tỷ USD, Triều Tiên là một vấn đề lớn hơn nhiều cho sự ổn định của khu vực và thậm chí là toàn cầu so với quan hệ Trung – Nhật hoặc quan hệ Trung – Mỹ. Vào tháng 12/2016, Tổng thống sắp mãn nhiệm Obama được cho là đã nói với Tổng thống sắp nhậm chức Trump rằng Triều Tiên sẽ là thách thức lớn nhất của ông, một dự đoán đáng buồn là cho tới nay đã đúng. Các cường quốc nhỏ hơn có thể có sức tàn phá khủng khiếp.

Những bài học của Đông Á

Một sự chuyển giao quyền lực Mỹ – Trung sẽ mang tính toàn cầu, không phải khu vực. Và có nhiều nhân tố khác góp phần vào một cuộc chuyển giao toàn cầu thật sự giữa 2 nước. Tuy nhiên trong ngắn hạn, đúng là Trung Quốc, đặc biệt là ở Mỹ, được coi là ngày càng gây hấn và Lầu Năm góc đang đặt việc ngăn chặn Trung Quốc vào trung tâm của chiến lược quốc phòng mới. Chính quyền Trump dường như sẽ lên kế hoạch áp dụng một lập trường đối đầu hơn với Trung Quốc và một lập trường bảo hộ hơn với phần còn lại của Đông Á (và quả thực là phần còn lại của thế giới). Cách động lực Mỹ – Trung này diễn ra đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến an ninh của khu vực. Nhưng nếu Mỹ và Trung Quốc ngày càng cạnh tranh trực tiếp với nhau hoặc tham gia một cuộc chiến tranh thương mại, khó có khả năng các nước Đông Á sẽ cảm thấy cần thiết phải chọn theo bên nào. Bằng chứng tương đối rõ ràng: Các nước trong khu vực muốn có quan hệ tốt đẹp với cả Mỹ lẫn Trung Quốc, và trong khu vực hầu như không có sự them muốn có một liên minh kiềm chế chống Trung Quốc. Nói cách khác, các nhà lãnh đạo và người dân Đông Á chia sẻ một số, nhưng không phải là tất cả, ưu tiên của Mỹ.

Xét bằng chứng phong phú cho thấy sức mạnh đang lên của Trung Quốc, các nước trong khu vực có thể dễ dàng bắt đầu một chiến lược đối trọng mạnh mẽ chống Trung Quốc nếu họ có ý định đó. Có vẻ hợp lý khi lập luận rằng nếu các nước muốn cân bằng chống lại Trung Quốc, thì họ đã bắt đầu từ bây giờ. Những người dự đoán rằng một liên minh kiềm chế sẽ nổi lên chống lại Trung Quốc trong tương lai cần phải giải thích tại sao điều này lại chưa diễn ra, bất chấp 3 thập kỷ Trung Quốc tăng trưởng kinh tế, ngoại giao và quân sự một cách minh bạch và nhanh chóng. Dự đoán vô căn cứ về những gì có thể xảy ra trong những thập kỷ tới hầu như không đem đến hiểu biết sâu sắc nào về những quyết định các nước đang đưa ra hiện nay. Nếu các nước láng giềng của Trung Quốc tin rằng nước này sẽ nguy hiểm hơn trong tương lai, họ đã phải bắt đầu chuẩn bị cho khả năng đó rồi.

Bất chấp ảnh hưởng ngày càng lớn của Đông Á, Mỹ thiếu kiến thức chuyên sâu cần thiết về khu vực này. Trong một cuộc thăm dò của các học giả quan hệ quốc tế được công bố năm 2012, 76% số người Mỹ trả lời nêu châu Á là khu vực của thế giới sẽ quan trọng nhất đối với nước họ trong vòng 20 năm tới. Tuy nhiên, chỉ 13% số người trả lời nói châu Á là khu vực trọng tâm chính của họ, 54% trong top 40 khoa quan hệ quốc tế ở Mỹ thậm chí không cung cấp một cuộc hội thảo ở cấp nghiên cứu sinh nào về châu Á. Nói cách khác, các nghiên cứu sinh tiến sĩ có thể tham gia hội thảo về châu Á ở chưa đến một nửa số khoa trong trường đại học. Rõ ràng có một sự ngăn cách giữa việc công nhận rằng châu Á đang ngày càng trở nên quan trọng và sự thiếu kiến thức chuyên sâu về Đông Á trong giới học giả và hoạch định chính sách Mỹ.

Sự thiếu kiến thức chuyên sâu về châu Á này là một mối đe dọa an ninh quốc gia. Nó đặt Mỹ vào thế bất lợi nghiêm trọng khi phải đối phó với một khu vực phức tạp, lâu đời và năng động. Người Mỹ không hiểu rõ châu Á. Các ngôn ngữ phức tạp, các tôn giáo đa dạng và tình trạng lộn xộn của xung đột đan cài của châu lục này khó có thể được nắm rõ hoàn toàn. Các học giả Mỹ vẫn tập trung nhiều hơn vào các khu vực khác của thế giới.

Điều này cho thấy rõ ràng hành động thiếu am hiểu của Mỹ sẽ có ảnh hưởng phụ mà không thể dự đoán trước được. Những tranh cãi của nhiều nước về các tuyên bố chủ quyền trên biển nằm ở ngoài rìa của lưới lãnh thổ và không đe dọa sự tồn tại của bất kỳ nước nào. Triều Tiên, Việt Nam hay Nhật Bản đều không sợ một cuộc xâm lược quân sự thực sự của Trung Quốc.

Quả thực có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, và Mỹ cũng như Trung Quốc cần tìm ra cách để cùng chung sống. Quan hệ của họ không chỉ đơn thuần là một mối quan hệ Đông Á – nó có tiềm năng mang tính toàn cầu. Rất cần có giới học thuật chất lượng cao có thể giúp hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách Mỹ khi họ lèo lái những mối quan hệ phức tạp với Trung Quốc và các nước khác ở Đông Á. Mỹ và Trung Quốc cuối cùng có thể hoặc không thể rơi vào một cuộc chiến khó có khả năng xảy ra, nhưng giới học thuật vốn sử dụng lịch sử châu Âu để giải thích tương lai của châu Á hầu như không làm gì để làm rõ các vấn đề sẵn có. Giải pháp không phải là tiếp tục tìm hiểu về châu Âu, mà thay vào đó là đầu tư mạnh vào nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều, đó là tìm hiểu các ngôn ngữ, lịch sử, chính trị và văn hóa Đông Á.

Các học giả lo ngại về những cuộc chuyển giao quyền lực đều có tầm ảnh hưởng vì cách thổi phồng sự đe dọa về quan hệ Mỹ – Trung ngày nay rất dễ thuyết phục. Những người bi quan chưa bao giờ bị cáo buộc là ngây thơ, bất kể họ sai như thế nào. Nhưng tự khiến mình phải lo sợ vì những lý thuyết dựa trên bằng chứng thiên kiến và có chọn lọc từ một châu lục khác sẽ làm hại cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ và che mờ hiện thực ngày nay ở Đông Á.

Nguồn: The Washington Quarterly – Spring 2018

CVĐQT số 7/2018

Những sự chuyển giao quyền lực: Thucydides không tồn tại ở châu Á – Phần IV


Hai số liệu này cho thấy một câu chuyện chính xác, kéo dài và thường bị bỏ qua về Đông Á. Trung Quốc đã tiến hành một cuộc chuyển giao quyền lực khu vực nhanh đáng ngạc nhiên. Câu hỏi duy nhất là khoảng cách giữa Trung Quốc và các nước láng giềng sẽ trở nên lớn hơn như thế nào. Các nước đang ngày càng gia tăng quan hệ kinh tế với Trung Quốc và với nhau. Và các nước Đông Á đã dần giảm chi tiêu quốc phòng của họ, điều cho thấy các nước này nghĩ phần lớn các vấn đề chưa giải quyết được của khu vực không đáng phải để tranh đấu. Tất cả các nước phải cùng tồn tại với nhau – không nước nào sẵn sàng đứng lên và di chuyển đi nơi khác. Các nước đang đối phó với hiện thực đó và tìm kiếm các giải pháp ngoại giao thay vì quân sự với nhau.

Phản ứng chuẩn mực đối với hơn 1/4 thế kỷ ổn định là công nhận nỗ lực của Mỹ: Tất cả các nước châu Á hẳn “phải” đang ngồi không hưởng lợi từ cam kết của Mỹ với khu vực. Tuy nhiên, điều này trái ngược với bằng chứng cho thấy trong cùng thời kỳ, cam kết quan sự của Mỹ đã sụt giảm, sự chú ý của Mỹ đã dao động, và quả thực nhận thức về sự lơ là của Mỹ trong vài thập kỷ qua thậm chí đã khiến cho Chính quyền Obama tuyên bố họ đang “xoay trục” sang châu Á. Hai xu hướng này khó có thể điều chỉnh cho phù hợp: Nếu các nước Đông Á thậm chí không phản ứng với sự suy giảm triển khai lực lượng và sự chú ý của Mỹ, thì có lẽ họ không nhận thấy các vấn đề còn lại đáng để tranh đấu. Xét cho cùng, các nước này không cho thấy dấu hiệu phòng ngừa, hoặc trong quan hệ kinh tế của họ với Trung Quốc hoặc trong chi tiêu quân sự của họ. Nếu các nước lo ngại và nghĩ Mỹ có thể rời đi, có lẽ họ sẽ chuẩn bị ít nhất là một phần cho khả năng đó. Thay vào đó, các xu hướng chi tiêu quốc phòng cho thấy một cách mạnh mẽ một sự sụt giảm dần dần, kéo dài hàng thập kỷ, ngay cả trước những sự gia tăng to lớn trong sức mạnh của Trung Quốc và cam kết ngày càng dao động của Mỹ với khu vực.

Hiện thực Đông Á này trái ngược với luận điệu thổi phồng về mối đe dọa phần lớn theo kiểu phương Tây vốn coi sự nổi lên của Trung Quốc là nguy hiểm và khu vực ngày càng bất ổn. Quả thực, trong hơn 1/4 thế kỷ, một số học giả đã đưa ra những dự đoán thảm khốc và liên tục rằng Đông Á sắp trải qua một cuộc chạy đua vũ trang, rằng thế tiến thoái lưỡng nan an ninh khu vực đang càng ngày càng tăng lên, và sự bất ổn nguy hiểm do Trung Quốc gây ra đang ở ngay gần. Trong những năm gần đây, nhận thức về sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc, nỗi lo sợ trong khu vực và một nỗ lực tái cân bằng đầy sức mạnh của Mỹ sang Thái Bình Dương đã khiến các nhà quan sát ngày càng lo ngại rằng khu vực có thể đang hướng tới các khối cạnh tranh và kiềm chế. Tuy nhiên, hầu như không có bằng chứng cho thấy các nước Đông Á tham gia một cuộc chạy đua vũ trang, và rất ít nước đang gửi đi những tín hiệu cho thấy quyết tâm của họ gánh chịu phí tổn chiến tranh. Những bài học và ý nghĩa cho lý thuyết chuyển giao quyền lực từ Đông Á cuối thế kỷ 16 và đầu thế kỷ 17 đáng để truyền lại cho ngày nay. Quả thực, việc biết rõ hơn quan điểm đầy sắc thái của các cuộc chuyển giao quyền lực sẽ dẫn tới 3 nhận định về an ninh Đông Á đương đại.

Thứ nhất, nhà Minh đã sụp đổ từ bên trong – chắc chắn là một câu chuyện đầy tính cảnh báo cho bất kỳ cường quốc đang suy sụp nào rằng bất cứ tình hình chính trị và nền kinh tế trong nước lành mạnh là những yếu tố chính của bất cứ đại chiến lược hoặc địa vị bá quyền lâu dài nào. Những bài học của cuộc chuyển giao Minh – Thanh từ lịch sử hướng chúng ta đến xem xét sâu hơn nền chính trị trong nước và sự sinh động kinh tế của Mỹ cũng như Trung Quốc ngày nay, và hướng đến tìm kiếm những manh mối cho thấy liệu các nước này và các nhà lãnh đạo của họ có sự ổn định nội bộ và tầm nhìn hay không. Những vết thương tự gây ra có thể nguy hiểm hơn những vết thương thật sự.

Chẳng hạn, vào năm 1990 người ta tin rộng rãi rằng Nhật Bản là đối thủ cạnh tranh ngang hàng sắp tới của Mỹ. Hiện nay, điều đó không còn đúng, không phải vì bất kỳ cuộc chiến tranh nà, mà vì Nhật Bản chưa bao giờ hồi phục sau khó khăn kinh tế của những năm 1990. Những thách thức trong nước đã loại bỏ Nhật Bản khỏi tư cách đối thủ cạnh tranh ngang hàng với Mỹ. Về phần Trung Quốc cũng vậy, các vấn đề trong nước to lớn có thể giới hạn khả năng trước mắt của nước này thách thức Mỹ. Những giấc mơ của Trung Quốc về lãnh đạo khu vực và thậm chí toàn cầu sẽ phụ thuộc cũng nhiều như hoặc thậm chí nhiều hơn vào cách họ xử lý các vấn đề xã hội, môi trường, kinh tế và chính trị trong nước bên trong Trung Quốc so với dựa vào cách Trung Quốc xử lý quan hệ đối ngoại của mình. Susan Shirk lập luận rằng Trung Quốc “mạnh ở bên ngoài nhưng mong manh ở trong nước”. Năm 2015, chuyên gia về Trung Quốc David Shambaugh lập luận rằng “hệ thống chính trị của Trung Quốc vỡ vụn nặng nề”, viết rằng kiểm duyệt chính trị và đàn áp đã tăng vọt dưới thời Tập Cận Bình, tiền bạc và giới tinh hoa đang tháo chạy khỏi đất nước, nạn tham nhũng tràn lan, và cải cách kinh tế bị ngăn chặn bởi các nhóm lợi ích đầy sức mạnh. Dư luận rộng rãi cho rằng Trung Quốc chi tiêu nhiều vào an ninh trong nước hơn là vào phòng thủ bên ngoài.

Các tác giả không đưa ra dự đoán về việc liệu các vấn đề nội bộ này có được giải quyết hay không. Xét cho cùng, Trung Quốc đã tiếp tục sự phát triển kinh tế, xã hội và chính trị xa hơn và nhanh hơn so với hầu hết mọi người nghĩ là có thể một vài thập kỷ trước. Chắc chắn, những người bi quan đã liên tục cường điệu các vấn đề Trung Quốc đang phải đối mặt – tác giả Gordon Chang đã tự tin dự đoán sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong hơn 15 năm, mặc dù đảng này có vẻ mạnh mẽ hơn bao giờ hết trong năm 2018. Liệu chế độ Trung Quốc có sắp sụp đổ hay không hoặc liệu nền kinh tế có sắp đình trệ không phải là quan điểm của các tác giả. Thay vào đó, điều quan trọng hơn là chỉ ra rằng các vấn đề trong nước có thể mang đến nhiều hậu quả hơn cho tương lai của Trung Quốc, và cho vị trí của Trung Quốc trên thế giới, so với bất kỳ cuộc đấu tranh to lớn nào với Mỹ để giành địa vị thống trị toàn cầu.

Nhận định này cũng đúng với Mỹ. Như nhiều người đã chỉ ra, vấn đề chính đối với Mỹ không phải là thách thức nào đó từ Trung Quốc vốn có thể xảy ra trên lý thuyết, cũng không phải thách thức của Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vốn nằm bên lề những lợi ích của Mỹ. Thay vào đó, nhiều nhà quan sát tin rằng thách thức chính đối với bá quyền của Mỹ xuất phát từ các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội bên trong chính nước Mỹ. Từ một cuộc khủng hoảng tài chính to lớn cho đến một xã hội dân sự đang đổ vỡ theo những cách chưa từng thấy trong một nửa thế kỷ, Mỹ có thể gây nhiều thiệt hại hơn cho chính mình so với bất kỳ đối thủ cạnh tranh bên ngoài nào có thể gây ra.

Bài học thứ 2 cho an ninh Đông Á là các khoảng trống quyền lực thường nguy hiểm hơn các cuộc chuyển giao quyền lực. Nhà Thanh đã thành công phần lớn vì nhà Minh sụp đổ, không phải vì 2 bên tham gia một cuộc chiến khổng lồ giành quyền thống trị và sự sống còn. Trong thế kỷ 21, ngày càng có tranh luận và lo ngại rằng Mỹ đang nhường lại vị thế lãnh đạo của mình ở Đông Á. Sự lãnh đạo khu vực gắn với quyền lực mềm, và quyền lực có sức hấp dẫn cũng giống như quyền lực quân sự cứng và việc bắt nạt kẻ khác.

(còn tiếp)

Nguồn: The Washington Quarterly – Spring 2018

CVĐQT số 7/2018

Những sự chuyển giao quyền lực: Thucydides không tồn tại ở châu Á – Phần III


Bài học từ châu Á: Khoảng trống quyền lực, không phải sự chuyển giao

Chiến tranh Imjin là một thời điểm hiển nhiên của sự chuyển giao quyền lực tiềm tàng gắn với một cuộc xung đột lớn hơn phần lớn các cuộc xung đột ở châu Âu. Trường hợp này có thể thậm chí được dùng để giải thích khả năng xảy ra bạo lực torng các cuộc chuyển giao quyền lực đương đại, nhưng thực tế rằng nó không diễn ra cho thấy một lần nữa các học giả đang dùng những ví dụ châu Âu để giải thích thế giới. Nếu các học giả quan hệ quốc tế chính thống tính cả Chiến tranh Imjin, họ sẽ buộc phải suy nghĩ rộng và sâu hơn nhiều về lịch sử Đông Á, không chỉ vì nó có thể có gì đó hữu ích để nói về Trung Quốc ngày nay (chắc chắn ít nhất cũng giống như Hy Lạp/Athens) mà còn vì nó có thể tác động đến cách hiểu của chúng ta về quan hệ quốc tế một cách rộng hơn.

Những bài học của Chiến tranh Imjin chạm đến trung tâm của lý thuyết chuyển giao quyền lực. Ấn tượng nhất, đây là một ví dụ cho thấy một nước tương đối nhỏ quyết định một cuộc tấn công vô cớ nhằm vào một bá quyền đơn cực. Điều này hoàn toàn trái ngược với dự đoán của phần lớn các lý thuyết theo chủ nghĩa hiện thực và cân bằng quyền lực. Như sử gia Thucydides viết nổi tiếng trong Đối thoại Melian, “kẻ mạnh làm điều họ có thể và kẻ yếu chịu điều họ phải chịu”. Nhưng ngay cả một Nhật Bản thống nhất vào năm 1592 cũng không có khả năng ngang bằng về quân sự hay kinh tế với Trung Quốc. Năm 1600, nền kinh tế Trung Quốc lớn gấp 10 ần Nhật Bản và tinh vi hơn nhiều. Nhật Bản có thể khơi mào một cuộc chiến nhưng không thể nào nó lại được thúc đẩy bởi một cuộc chuyển giao quyền lực giữa một cường quốc đang lên và một cường quốc đang suy sụp.

Lý do Hideyoshi xâm lược Triều Tiên vẫn chưa rõ ràng, mặc dù gần như mọi bằng chứng đều chỉ ra những tính toán hoặc về vị thế, kinh tế hoặc về chính trị trong nước. Gần như không có bằng chứng cho những nhân tố mà các lý thuyết chuyển giao quyền lực dẫn ra, như một cán cân quyền lực thay đổi. Elizabeth Berry, nhà sử học và là tác giả của cuốn tiểu sử đầy đủ về Hideyoshi, nhận thấy một khát khao dành địa vị lớn hơn: “Ông (Hideyoshi) rõ ràng ít quan tâm đến quyền thế quân sự ở nước ngoài hơn là danh tiếng”, trong khi Swope lưu ý rằng Hideyoshi đề nghị kết hôn với một trong các công chúa của hoàng đế Trung Hoa bên cạnh việc nối lại triều cống.

Nhà sử học Gang Deng nhận thấy mong muốn của Nhật Bản là Trung Quốc quay trở lại vị thế nước phải triều công, viết: “Hideyoshi đã xâm lược Triều Tiên, một nước chư hầu của nhà Minh, để buộc Trung Hoa cho phép Nhật Bản nối lại quan hệ triều cống, và đe dọa rằng họ bác bỏ, Nhật Bản sẽ xâm lược chính Trung Quốc”. Nhà sử học Samuel Hawley nhấn mạnh chiến tranh liên miên là một cách để Hideyoshi dập tắt sự chia rẽ nội bộ trong những người ủng hộ mình. Theo nhà sử học về Triều Tiên cận đại Lee Ki-baek, “sau khi thành công trong việc thống nhất đất nước, Hideyoshi đã tìm cách hướng sức lực các chỉ huy của ông ra bên ngoài, do đó nâng cao sự đoàn kết và yên bình của chính Nhật Bản”.

Điều thiếu vắng đáng chú ý là bằng chứng trong văn khố của cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản cho thấy bất kỳ đánh giá nào về khả năng quân sự tương đối hoặc cán cân quyền lực giữa 2 bên. Không có bằng chứng tài liệu nào cho thấy Hideyoshi hoặc bất kỳ cố vấn đề nào có bất kỳ đánh giá nào về cán cân quyền lực, cũng như bất kỳ đánh giá nào cho thấy Trung Quốc đang đi xuống và Nhật Bản đang nổi lên. Trung Quốc đánh giá mối đe dọa Nhật Bản trong khuôn khổ rộng hơn gồm những cam kết và nhu cầu quốc phòng của mình quanh châu Á, nhưng gần như không có thảo luận về người Nhật Bản như một mối đe dọa chiến lược vào thời điểm đó. Về phần Hideyoshi, một điểm tham chiếu tiềm tàng là thành công của các cuộc tấn công cướp biển vào những năm 1550 và 1560, một mối đe dọa mà nhà Minh đã trấn áp hiệu quả vào giữa những năm 1560. Cũng rõ ràng là những cuộc cướp phá gây thiệt hại nhất là được lãnh đạo một cách kiên quyết bởi người Trung Hoa của nhà Minh, thay vì người Nhật Bản. Vì thế, quả thực là còn rất thiếu kiến thức thật sự và những đánh giá dựa trên kiến thức đó. Và điều này hầu như không có ý nghĩa gì nếu xét rằng Hideyoshi đã gây ra chiến tranh ở Nhật Bản trước đó, với sự chuẩn bị kỹ càng. Theo nhận định của Berry, “không có bằng chứng nào cho thấy ông (Hideyoshi) đã nghiên cứu một cách có hệ thống hoặc về vấn đề địa lý hoặc vấn đề tổ chức quân đội Trung Quốc”. Nói tóm lại, lập luận nhân quả trung tâm về các cuộc chuyển giao quyền lực, trong đó các cường quốc mới nổi và cường quốc đang suy sụp lo sợ và tập trung vào nhau, không áp dụng được vào cuộc xâm lược Triều Tiên của Nhật Bản vào năm 1592.

Hơn nữa, động lực giữa các nước liên quan vào thời điểm đó đi ngược lại với cách các lý thuyết cân bằng quyền lực dự đoán. Nhật Bản và Triều Tiên – 2 cường quốc nhỏ – chắc hẳn chưa bao giờ kết đồng minh để cân bằng Trung Quốc, ngay dù vào thời điểm đầu cuộc Chiến tranh Imjin, Trung Quốc đã nghi ngờ sâu sắc chính khả năng đó. Phải mất 3 tháng ngoại giao căng thẳng Triều Tiên mới thuyết phục được Trung Quốc của nhà Minh rằng Triều Tiên không đồng lõa với Nhật Bản chống lại họ. Không rõ một chiến lược cân bằng có bao giờ xuất hiện ở các nước nhỏ hơn, vì mỗi nước có mối quan hệ riêng biệt của họ (chư hầu hay không) với Trung Quốc, và Trung Quốc không phải là cực duy nhất trong hệ thống nhà nước Đông Á.

Giống cuộc xâm lược Triều Tiên của Hideyoshi, cuộc chinh phạt Trung Hoa của Mãn Châu có vẻ được thực hiện và hoàn thành mà gần như không có sự chú ý đến sự thay đổi trong phân phối quyền lực. Mặc dù nhà Minh biết rõ lực lượng Mãn Châu mới, không rõ họ làm gì nhiều về điều đó. Người Mãn Châu thậm chí không phải là nguyên nhân triều Minh bị lật đổ, như chúng ta đã thấy. Các quan chức nhà Minh chắc chắn lo ngại về người Mãn Châu, nhưng các cuộc nổi dậy của nông dân nói chung đã được ưu tiên hơn từ những năm 1630 trở về sau (ít nhất đối với phần lớn các quan chức nhà Minh, mặc dù các hoàng đế có xu hướng do dự về điểm này). Các cuộc nổi dậy nông dân là “tâm bệnh” trong khi người Mãn Châu là “bệnh ngoài da”. Sự chuyển giao triều đại có hệ lụy nhất ở châu Á trong một giai đoạn nửa thiên niên kỷ gần như không liên quan đến các quá trình nhân quả mà bất cứ mô hình chuyển giao quyền lực nào của chúng ta hình dung ra. Nó không giống những gì Thucydides dự đoán.

Đáng kể tương tự, sau khi Hideyoshi thất bại, Nhật Bản dưới thời Tokugawa không quan tâm đến việc giành lợi thế trong cuộc rối loạn ở châu Á Đại lục vào đầu thế kỷ 17. Thay vì nắm lấy cơ hội để tấn công Trung Quốc một lần nữa, người Nhật Bản – và người Triều Tiên – vào đầu thế kỷ 17 gần như vẫn hoàn toàn tránh xa sự rối loạn kẹp chặt lấy Trung Quốc. Nhật Bản thời Tokugawa đã không làm gì khi nhà Minh bắt đầu sụp đổ. Giống Nhật Bản trước Hideyoshi, Tokugawa vào thời điểm đó không phải là một chế độ theo chủ nghĩa bành trướng. Dường như Hideyoshi là ngoại lệ chứ không phải chuẩn mực trong cách thức các nhà lãnh đạo Nhật Bản nhìn nhận chính mình và quan hệ của họ với phần còn lại của Đông Á. Xét cho cùng, Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc có khả năng quân sự, hậu cần, tổ chức và kinh tế để tiến hành chiến tranh hai bên bờ đại dương ở quy mô lớn. Không làm việc đó là một lựa chọn chính trị, chứ không phải là một giới hạn về vật chất.

Cuộc chuyển giao quyền lực của ngày nay đã diễn ra

Hệ thống chư hầu trong quan hệ quốc tế ở Đông Á đã chấm dứt, không bao giờ quay lại. Những quy tắc, chuẩn mực và thể chế cũ đó đã bị xóa sạch. Tất cả các nước – đặc biệt là Trung Quốc – nhìn thế giới qua lăng kính của hệ thống Westphalia về nhà nước – dân tộc có lãnh thổ. Sự sụp đổ của hệ thống chư hầu, sự suy tàn của nhà Thanh và sự xuất hiện của các cường quốc phương Tây vào cuối thế kỷ 19 đã gây ra một thế kỷ hỗn loạn ở Đông Á. Nhiều cường quốc đã xuất hiện trong khoảng trống quyền lực do sự đi xuống của nhà Thanh để lại, đáng nói nhất là Nhật Bản. Chiến tranh, thực dân hóa và quá trình thực dân hóa sau đó đã chiếm giữ tâm trí của giới tinh hoa chính trị trên khắp Đông Á trong thế kỷ 20.

Tuy nhiên sau một thế kỷ hỗn loạn đó, Trung Quốc một lần nữa đã hoàn thành một cuộc chuyển giao quyền lực khu vực. Họ đã làm điều đó nhanh chóng một cách đáng ngạc nhiên, và đã làm thế trong hòa bình. Tỷ lệ của Trung Quốc trong GDP khu vực đã tăng từ 8% vào năm 1990 lên 51% vào năm 2014, trong khi tỷ lệ của Nhật Bản giảm từ 72% năm 1990 xuống 22% vào thời điểm hiện nay.

Khi Trung Quốc giàu có và hội nhập hơn bên trong chính Đông Á, chi tiêu quốc phòng của Đông Á đã giảm đều đặn. Tỷ lệ trong nền kinh tế dành cho chi tiêu quốc phòng hiện nay gần bằng một nửa trong năm 1990 và không có dấu hiệu cho thấy sẽ gia tăng. Cụ thể, chi tiêu quốc phòng của 11 nước Đông Á chính đã giảm từ trung bình 3,35% GDP vào năm 1990 xuống còn trung bình 1,84% vào năm 2015.

(còn tiếp)

Nguồn: The Washington Quarterly – Spring 2018

CVĐQT số 7/2018

Những sự chuyển giao quyền lực: Thucydides không tồn tại ở châu Á – Phần II


Nhà sử học Frederick Mote thuộc trường Princeton viết rằng vào đầu thế kỷ 17, Trung Quốc là “xã hội lớn nhất, giàu có nhất và đông dân nhất thế giới vào thời điểm đó… nước này đảm bảo trật tự xã hội trong nước, thu nhập và củng cố hệ thống quy chuẩn… Làm sao bất kỳ kẻ địch nào đều có thể thách thức một cấu trúc có sức nặng và sự ổn định như vậy?”. Đây là một nước bá quyền, một cội nguồn “văn minh” cho toàn bộ khu vực. Tiếng Trung Quốc, các bộ luật, thể chế chính trị, các ý tưởng tôn giáo và triết học Trung Quốc được thế giới đó vay mượn, đặc biệt ở Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam.

Trung Hoa của nhà Minh cũng là một người khổng lồ quân sự. Nhà sử học quân sự Kenneth Swope lưu ý rằng trong 50 năm từ năm 1570 đến 1620: “Nhà Minh đã dàn hòa được với người Mông Cổ, nhiều lần can thiệp vào tranh chấp biên giới ở Miến Điện, mở các cuộc tấn công gây bất ổn vào lãnh thổ của người Nữ Chân và Mông Cổ, dập tắt một cuộc nổi dậy quân sự lớn ở Ninh Hạ, cử hàng vạn lính trong 2 dịp đi đánh bật người Nhật Bản khỏi Triều Tiên, huy động 200.000 lính nữa để đàn áp một cuộc nổi dậy của dân tộc địa phương ở Tứ Xuyên, và có nhiều hành động quân sự nhỏ hơn… trong quá trình đó, nhà Minh đã nắm giữ địa vị đứng đầu Đông Á về chính trị, quân sự và kinh tế”.

Tuy nhiên đến năm 1650, triều Minh đã sụp đổ và nhà Thanh lên thay thế. Cách điều này diễn ra có lẽ là một manh mối cho thấy chiến tranh có nhiều ý nghĩa hơn đơn thuần chỉ là về việc ai lớn hơn.

Chiến tranh Imjin (1592 – 1598)

Năm 1592, tướng Nhật Bản Hideyoshi đã xâm lược Triều Tiên với hơn 160.000 quân trên xấp xỉ 700 tàu, dự định chinh phạt Trung Hoa sau khi đánh bại Triều Tiên. Hơn 60.000 quân Triều Tiên, sau cùng được gần 100.000 quân Trung Hoa nhà Minh trợ giúp, bảo vệ bán đảo. Chiến tranh Imjin “lớn hơn hẳn các cuộc chiến cùng thời ở châu Âu”, với nhân lực và vật lực gấp 10 lần quy mô của Hạm đội Armada của Tây Ban Nha năm 1588. Được mô tả là “sự kết hợp tuyệt vời nhất và hùng mạnh nhất từng được tập hợp trong thế giới Cơ Đốc giáo” ở châu Âu thời phục hưng, Armada gồm 30.000 lính trên 130 tàu, và đã bị 20.000 quân Anh đánh bại. Quy mô đáng kinh ngạc của Chiến tranh Imjin bản thân nó đã đủ là lý do để các học giả quan hệ quốc tế tìm hiểu nguyên nhân và kết quả của nó. Tuy nhiên, thậm chí còn quan trọng hơn đối với nghiên cứu quan hệ quốc tế, cuộc xâm lược Triều Tiên của Hideyoshi đánh dấu cuộc xung đột quân sự duy nhất giữa Nhật Bản, Triều Tiên và Trung Quốc trong hơn 3 thế kỷ, trước hay sau cuộc chiến đó. Trên thực tế, mặc dù cuộc chiến này có một tác động to lớn và lâu dài đối với Triều Tiên và Nhật Bản, ở Trung Quốc nó chỉ được coi là một trong nhiều chiến dịch bảo vệ biên giới mà nhà Minh tiến hành.

Ban đầu, người Nhật đánh tan tác các lực lược mỏng của Triều Tiên và tiến lên phía Bắc, đi qua Bình Nhưỡng. Khi người Nhật tiến lên phía Bắc bán đảo, họ gặp phải sự kháng cự lớn hơn của Triều Tiên khi đô đốc Triều Tiên Yi Sunsin tấn công tàu của họ không thương tiếc và nhiều lần cắt đứt các đường tiếp tế của họ. Người Trung Quốc tham chiến vào năm 1593, gặp và đánh bại quân Nhật Bản ở Bình Nhưỡng và đẩy lùi họ về Seoul. Sớm trở nên rõ ràng với cả 2 bên là Nhật Bản không thể hy vọng chinh phạt Triều Tiên, lại càng không phải Trung Quốc. Lính Nhật Bản bắt đầu đào ngũ số lượng lớn, có tin hơn 10.000 lính đã gia nhập phía Triều Tiên. Hideyoshi giờ đây buộc phải đàm phán và ông đòi hỏi Triều Tiên nhượng cho Nhật Bản 4 tỉnh miền Nam, và nhà Minh phải đưa công chúa sang Nhật Bản làm con tin.

Sau nhiều năm đàm phán không hiệu quả, trong đó những đòi hỏi của Hideyoshi bị bác bỏ lập tức, Nhật Bản đã mở cuộc xâm lược thứ 2 vào năm 1597, ít hiệu quả hơn nhiều so với lần đầu. Tới thời điểm này, các lực lượng Triều Tiên và nhà Minh sẵn sàng hơn và mạnh mẽ hơn, và các lực lượng Nhật Bản đã bị suy yếu. Hideyoshi sau đó đã bất ngờ qua đời vào năm 1598, và tàn quân vô tổ chức của ông tháo chạy về Nhật Bản trong hỗn loạn.

Do đó, nỗ lực theo quan điểm xét lại duy nhất của Nhật Bản nhằm đảo lộn thứ bậc của hệ thống chư hầu cận đại đã kết thúc trong thảm họa. Trong 300 năm trước và sau Chiến tranh Imjin, Nhật Bản phần nào đó miễn cưỡng là một phần trong thế giới của Trung Quốc. Việc 3 cường quốc chủ yếu ở Đông Á – và quả thật phần lớn phần còn lại của hệ thống – có thể cùng tồn tại hòa bình trong một khoảng thời gian kéo dài như vậy, bất chất có năng lực quân sự và kỹ thuật để tiến hành chiến tranh trên quy mô lớn, đặt ra câu hỏi tại sự ổn định lại là chuẩn mực trong quan hệ quốc tế ở Đông Á.

Cuộc chuyển giao Minh – Thanh ở Trung Quốc (1644 – 1683)

Mặc dù Hideyoshi không thể lật đổ nhà Minh, và quả thực thậm chí không thể chinh phạt Triều Tiên, vài thập kỷ sau, người Mãn Châu đã thành công ngay nơi mà người Nhật Bản thất bại. Các sử gia đồng thuận rằng người Mãn Châu thời kỳ đầu không có ý định chinh phục Trung Hoa, nhưng khi nhà Minh xáo trộn nội bộ nhiều hơn, và khi cuối cùng triều Minh bị những kẻ nổi loạn lật đổ từ bên trong, người Mãn Châu đã tiến vào cánh cửa mở.

Triều Minh vào đầu thế kỷ 17 phải đối mặt với sự nổi lạon bên trong ngày càng tăng, nạn trộm cắp khắp nơi, và điều kiện kinh tế nói chung đi xuống, đặc biệt ở khu vực Tây Bắc. Triều Minh sụp đổ vào tháng 4/1644, khi quân nổi loạn từ Thiểm Tây của Lý Tự Thành chiếm kinh đô mà không phải giao đấu – cửa đã được mở từ bên trong – và hoàng đế cuối cùng của nhà Minh đã treo cổ tự vẫn. Mote viết: “Hoàn cảnh nhà Minh sụp đổ – kinh đô bất ngờ không còn khả năng phòng thủ trước một cuộc tấn công quân sự có thể thấy trước và hoàn toàn không phải là không thể đánh bại – không phải do bất kỳ sự tan rã nói chung của chính quyền hay xã hội nào… những hoàn cảnh đó được tạo ra một cách bất cẩn… Nói tóm lại, sự sụp đổ của nhà Minh là do các sai lầm chính trị tích tụ lại”.

Khi Lý Tự Thành chiếm Bắc Kinh, các lực lượng Mãn Châu vẫn còn cách kinh đô hàng tháng trời, ở Liêu Đông, vùng biên giới Đông Bắc. Quả thực, vào thời điểm đó người Mãn Châu không cho thấy dấu hiệu nào dự tính tấn công chính nhà Minh. Nhưng với việc hoàng đế tự sát, chính quyền nhà Minh trên khắp đế quốc bắt đầu sụp đổ. Một tướng nhà Minh ở biên giới phía Bắc, Ngô Tam Quế, thực ra đã đàm phán nhiều năm với người Mãn Châu, vì chú của Ngô và một số họ hàng khác vốn đã gia nhập họ. Ngô Tam Quế cuối cùng đã mời quân Mãn Châu tham gia với ông ta, và cùng nhau họ đánh tan quân nổi dậy và cùng tiến vào Bắc Kinh vào tháng 6/1644. Người Mãn Châu tuyên bố một triều đại mới, đổi tên của họ thành nhà Thanh. Mặc dù nhà Thanh tính thời điểm thành lập từ 6/1644, chiến tranh chuyển giao sau đó kéo dài tới năm 1683 ở Đài Loan và 1664 ở Đại lục. Người nối nôi cuối cùng của nhà Minh thực tế đã bị Ngô Tam Quế giết ở Vân Nam vào năm 1662.

Người Mãn Châu đã nổi lên ở các khu vực biên giới về phía Đông Bắc Trung Quốc vào cuối thế kỷ 16. Mãn Châu vào thời điểm đó là quê hương của nhiều dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau. Chuyên gia về nhà Thanh Pamela Crossley lưu ý: “Kết quả không phải là sự tinh lọc của một dân tộc và văn hóa thuần nhất từ các nguồn gốc hỗn tạp, mà là sự dàn xếp địa thế không đều của khu vực bằng cách nhóm đa dạng về văn hóa, những người thỉnh thoảng kết dòng dõi và liên minh với nhau”. Vào cuối thế kỷ 16, một thủ lĩnh địa phương tên là Nỗ Nhĩ Cáp Xích (1559 – 1626) đã bắt đầu thống nhất một số bộ lạc rời rạc dưới lá cờ của mình. Cuối thế kỷ 16, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã chấp nhận để nhà Minh phong tướng quân, và thậm chí đã đề nghị giúp Triều Tiên trong Chiến tranh Imjin. Sử dụng ngoại giao, hôn nhân và biện pháp ép buộc, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã nhanh chóng mở rộng cơ sở quyền lực của mình. Năm 1616, ông xưng Hãn của triều Hậu Kim.

Tuy nhiên, thậm chí việc thành lập hoặc mở rộng của đế quốc Thanh không rõ ràng là về chinh phục, cũng không phải là bác bỏ trật tự quốc tế đang phổ biến. Nhà sử học Đông Á Peter Perdue thuộc trường Đại học Yale lưu ý: “Khi ông (Nỗ Nhĩ Cáp Xích”) đánh bại các tù trưởng đối thủ… ông đã nhận trách nhiệm cấp lương thực cho các đội quân này… Nhu cầu cung cấp ngũ cốc khẩn cấp trở thành một nhân tố lớn trong việc mở rộng nhà nước”. Một trong những cuộc tấn công đầu tiên của Nỗ Nhĩ Cáp Xích vào các tiền đồn biên giới nhà Minh, ở Phủ Thuận năm 1618, bắt nguồn từ mưa lớn, mùa màng thất bát và nạn đói mà người dân của Nỗ Nhĩ Cáp Xích đang phải đối mặt. Như Crossley viết về việc thành lập nhà nước Mãn Châu và tuyên chiến với nhà Minh vào đầu thế 17: “Có thể việc Nỗ Nhĩ Cáp Xích tuyên chiến chống nhà Minh ít có động cơ từ viễn cảnh gia tăng đáng kể của cải có thể phân phối được hơn so với những nỗi lo sợ rằng các mức độ hiện tại sẽ bị siết lại”.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Washington Quarterly – Spring 2018

CVĐQT số 7/2018