Cuộc đọ sức giữa hai ông trùm chính trị


Cùng với sự phát triển của tình hình bán đảo Triều Tiên, cuộc đọ sức chính trị giữa Donald Trump và Kim Jong-un với tư cách là hai nhà lãnh đạo tối cao của Mỹ và Triều Tiên ngày càng rõ rệt, đối với các nhà quan sát, cuộc đọ sức giữa hai ông trùm chính trị Donald Trump và Kim Jong-un vô hình chung đang ảnh hưởng đến sự phát triển của tình hình bán đảo Triều Tiên, tình hình bán đảo lúc rõ lúc mờ này luôn chao đảo giữa chiến tranh và hòa bình, sự phát triển của bán đảo Triều Tiên trong tương lai dường như ràng buộc chặt chẽ với cuộc đọ sức giữa hai ông trùm chính trị.

1/ Tính cách thương gia đặc biệt của Donald Trump

Từ khi mới được bầu làm tổng thống, tính cách thương gia đặc biệt của Donald Trump đã trở thành tiêu điểm chú ý của rất nhiều nhà quan sát, liệu một thương gia có thể quản lý tốt nước Mỹ –  siêu cường này hay không. Nhìn từ các nhiệm kỳ tổng thống Mỹ cho thấy lý lịch của Donald Trump có thể nói là rất đặc biệt, thương gia này vừa tham gia chính sự đã trở thành nguyên thủ quốc gia, trọng trách vô cùng nặng nề, trong tình hình trật tự chính trị của Mỹ suy sụp và kinh tế gặp phải rào cản phát triển, vai trò của tính cách thương gia của Donald Trump được thể hiện nổi bật trong quản lý đất nước. Donald Trump đứng trên lập trường kinh doanh để nói chuyện, coi trọng lợi ích, đây có lẽ là sự giải thích hoàn mỹ nhất đối với một loạt biện pháp kinh tế của Donald Trump trong thời gian gần đây. Sau khi lên cầm quyền, cương lĩnh chính trị ngắn gọn nhất của Donald Trump chính là “Nước Mỹ trước tiên”, và muốn thực hiện “Nước Mỹ trước tiên” thì cần phải chấn hưng kinh tế. Vì là thương gia, nên Donald Trump hiểu rõ kiếm lời ở đâu và thua lỗ ở đâu, đối diện với sự chỉ trích của dư luận đối với việc Mỹ phản đối toàn cầu hóa, Donald Trump không những không giảm mức độ chống toàn cầu hóa, mà còn rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, tiếp tục đi con đường “Nước Mỹ trước tiên” của mình. Trong trào lưu toàn cầu hóa, Mỹ thực chất là bên được lợi kinh tế lớn nhất, Mỹ thông qua toàn cầu hóa đã chuyển những ngành nghề cấp thấp ra bên ngoài, để lại trong nước những ngành nghề cấp cao lấy tài chính làm chủ yếu, Mỹ đã quen với mô hình kinh doanh “để tiền sinh ra tiền”, nhưng cũng gây ra hiện trạng cơ sở hạ tầng trong nước lạc hậu và ngành chế tạo truyền thống suy thoái. Donald Trump rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, thậm chí sau này còn rút khỏi một loạt tổ chức và hiệp định, những biện pháp này đều là sự thu hẹp về chiến lược mà Donald Trump đang tiến hành. Việc Mỹ liên tục mở rộng ra bên ngoài đã làm tiêu hao nền kinh tế trong nước, áp lực nợ công và sự kiểm soát của Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (FED) đó với lượng cung ứng tiền tệ khiến cho Chính quyền Donald Trump gặp rất nhiều khó khăn, chi tiêu trên nhiều phương diện đều đang thu hẹp, nhất là việc Mỹ thu phí dịch vụ cao với Liên minh châu Âu (EU) trong bố trí quân sự ở nước ngoài đủ để chứng minh điểm này. Vì sao nói cải cách mà Donald Trump đang tiến hành là cải cách của một thể chế chính trị của các ông trùm, nhân tố quan trọng nhất để đánh giá điều này là Donald Trump không nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của “thế lực cũ”, điều này cũng làm cho bên ngoài luôn cảm thấy Donald Trump là người có sao nói vậy, làm theo ý mình và lời nói không đi đôi với hành động trong một số vấn đề. Mọi người đều biết nền chính trị của Mỹ được xây dựng bằng đồng USD, chính trị là để phục vụ cho những người nắm giữ đồng USD, còn Donald Trump sở dĩ được bầu làm tổng thống là do giành được sự ủng hộ của giai cấp công nhân, điều này cũng đã tạo thành cơ sở không vững chắc để Donald Trump thi hành các biện pháp chính trị mà không giành được sự ủng hộ của “thế lực cũ”. Donald Trump muốn dựa theo thiết kế của mình tiến hành xây dựng lại trật tự chính trị, nhưng những điều này đều là nguyện vọng chủ quan của một thương gia. Hiện nay, Donald trump đang đứng giữa người ủng hộ và “thế lực cũ” vừa phải giành lấy sự ủng hộ của giai cấp công nhân vừa phải thoát khỏi sự ràng buộc của “thế lực cũ”. Tính cách thương gia đặc biệt của Donald Trump không những được thể hiện trong quản lý đất nước đối nội mà còn được thể hiện trong công tác đối ngoại. Từ tư liệu hình ảnh được công bố ở nước ngoài cho thấy Donald Trump không phải là thương gia khiêm tốn, khi mong muốn của ông chưa được làm thỏa mãn hoàn toàn, ông sẽ thể hiện bộ mặt thất vọng; còn khi tâm trạng vui vẻ, ông sẽ dùng những ngón tay linh hoạt để thể hiện tâm trạng phấn khởi của mình, những tình tiết này tiết lộ Donald Trump không thể trở thành chính khách hoàn thiện. Trong Donald Trump có sự bền bỉ của một thương gia, ông sẽ dựa theo kế hoạch của mình để thiết kế đường lối thông suốt, nhiệm kỳ tổng thống 4 năm có chút ngắn ngủi đối với Donald Trump, nhưng ông này sẽ tìm cách đảm nhận nhiệm kỳ hai để thực hiện “Nước Mỹ trên hết”.

2/ Sự thừa kế gia tộc của Kim Jong-un

Kim Jong-un là nhà lãnh đạo tối cao thế hệ thứ 3 của Triều Tiên, không cần phải đi vận động tranh cử và diễn thuyết kiểu như Donald Trump cũng có thể trở thành người kế thừa danh chính ngôn thuận của Triều Tiên. Kế thừa quyền lực kiểu cha truyền con nối dường như đã trở thành môi trường chính trị của Triều Tiên sau chiến tranh. Môi trường chính trị này đã được trong nước làm quen và nhận được sự ngầm thừa nhận của cộng đồng quốc tế. Do được trưởng thành trong môi trường giáo dục của phương Tây nên Kim Jong-un hiểu rất rõ thể chế chính trị phương Tây, nếu phải so sánh với thể chế chính trị của Triều Tiên, Kim Jong-un luôn có thể tổng kết những điều tốt xấu ở trong đó. Từ nền giáo dục mà Kim Jong-un tiếp nhận có thể thấy nhà quyết sách cấp cao của Triều Tiên không bài xích tính tiên tiến của thể chế chính trị phương Tây, nhưng Kim Jong-un – từ nhỏ đã tiếp nhận sự giáo dục của phương Tây – hiểu rõ sự thiếu hụt đang tồn tại trong thể chế chính trị Triều Tiên, việc thay đổi hiện trạng này cũng không thể thực hiện trong một sớm một chiều. Từ sau chiến tranh đến nay, Triều Tiên luôn sinh tồn trong sự chăm sóc của nước lớn (bao gồm cả vũ khí hạt nhân), nền kinh tế trong nước cho dù là về ngành nghề hay là về tổng lượng đều không thể hình thành hệ thống và quy mô, cộng thêm căn bản không tham gia trào lưu toàn cầu hóa, biện pháp thông qua xây dựng kinh tế để thay đổi hiện trạng trong nước cũng không mấy hiệu quả. Trái lại, nền kinh tế Triều Tiên tồn tại nhiều vấn đề cần phải giải quyết cũng cho thấy nước này có không gian rất lớn để phát triển kinh tế trong tương lai, đồng thời điều này cũng đòi hỏi Kim Jong-un phải xây dựng lại trật tự chính trị trong nước để thích ứng với trào lưu phát triển của kinh tế thế giới. Kim Jong-un là người thừa kế thế hệ thứ 3 của gia tộc họ Kim, việc gia tộc này thống trị Triều Tiên hơn nửa thế kỷ đã trở thành ý thức hệ chủ yếu ở nước này, từ ca tụng công đức đến sùng bái cá nhân đều xoay xung quanh gia tộc họ Kim. Sùng bái cá nhân là sự kế thừa lớn nhất mà Kim Jong-un nhận được từ gia tộc họ Kim. Kim Jong-un là thế hệ được sinh ra sau thập niên 80 của thế kỷ trước đã xây dựng mình trở thành “thần” trong lòng người dân Triều Tiên – sự sùng bái cá nhân quá mức này đã bóp méo ý thức hệ bình thường trong xã hội Triều Tiên, người dân trên cả nước hoàn toàn rơi vào tình thế khó khăn lấy ý chí cá nhân làm chủ yếu. Kim Jong-un được coi là người thừa kế thế hệ thứ 3 của gia tộc họ Kim, khi ông lên cầm quyền Triều Tiên vẻ bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong lại phức tạp, bên cạnh việc làm theo phương thức lãnh đạo và quản lý của ông cha, buộc phải xem xét thay đổi trong nước. Nhưng đối với Kim Jong-un tiếp nhận nền giáo dục của phương Tây từ nhỏ, ông không phải là không muốn thay đổi hiện trạng Triều Tiên, nhưng ngoài vũ khí hạt nhân, dường như không tìm được phương thức thích hợp hơn để tiến hành đối đầu với Mỹ. Từ tần suất phóng thử tên lửa hiện nay cho thấy Kim Jong-un với tư cách là người thừa kế thế hệ thứ 3 đã phát huy hiệu quả  vũ khí hạt nhân đến mức độ cao nhất. Vấn đề khó khăn lớn nhất đặt ra trước mắt Kim Jong-un là bên cạnh việc nhanh chóng thoát khỏi sự quấy rối của Mỹ còn phải giành được sự ủng hộ của Trung Quốc. Gia tộc họ Kim hiểu rõ địa vị chiến lược của Triều Tiên trong địa chính trị, Triều Tiên được coi là chiều sâu chiến lược và lá chắn của Trung Quốc, chỉ có phát huy một cách đầy đủ vai trò của mình mới có thể tăng thêm quyền phát ngôn trong đàm phán với Trung Quốc. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và tiến bộ xã hội, chính sách quản lý đóng cửa đất nước không giao lưu  với bên ngoài đã không thể kiểm soát tư tưởng của xã hội Triều Tiên, điều mà Kim Jong-un phải đối diện là thách thức của toàn cầu hó, Triều Tiên sẽ đối diện với sự thay đổi lớn nhất trong lịch sử.

3/ Vấn đề lớn nhất mà Mỹ và Triều Tiên cùng phải đối diện

Có thể nói Mỹ và Triều Tiên là hai quốc gia có tính đại diện nhất của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, hai quốc gia này cùng phải đối diện với vấn đề lớn nhất – xây dựng lại trật tự chính trị trong nước. Từ khi tranh cử đến lên nhậm chức tổng thống, một loạt biện pháp của Donald Trump đều lấy “Nước Mỹ trước tiên” làm lá cờ đầu, và hàng rào lớn nhất của “Nước Mỹ trước tiên” mà Donald Trump muốn thực hiện là xây dựng lại trật tự chính trị. Donald Trump là một thương gia, đã trải qua nhiều khó khăn trên thương trường, hiểu rõ không có sự hỗ trợ của kinh tế căn bản không thể phát huy năng lực. Dựa vào cam kết cải thiện sự đãi ngộ cho giai cấp công nhân nhằm giành được sự ủng hộ, nên Donald Trump mới được bầu làm tổng thống, tuy là tỷ phú, nhưng dùng số tiền ít ỏi của Donald Trump để xây dựng cơ sở hạ tầng và khôi phục chế tạo công nghiệp chỉ như là muối bỏ biển. Điều này đòi hỏi Donald Trump phải tìm kiếm sự ủng hộ của các nhà tư bản trong nước, nhưng những nhà tư bản này chỉ theo đuổi lợi ích kinh tế, cộng thêm một số biện pháp của Donald Trump đã xâm phạm lợi ích của họ, nên điều này cũng làm cho các nhà quan sát phát hiện việc Donald Trump hay thay đổi thất thường về sách lược khiến mọi người dự đoán không rõ ràng. Hiện nay, từ việc Donald Trump thu phí bố trí Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) ở Hàn Quốc và rút quân khỏi Okinawa của Nhật Bản cho thấy Donald Trump đang tiến hành thu hẹp về chiến lược trên toàn cầu. Nợ công rất lớn trong thời kỳ Obama dường hư đã làm cho Ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ (FED) cạn kiệt, vai trò sen đầm quốc tế cần phải có rất nhiều tiền, Donald Trump căn bản không thể tìm được số tiền lớn như vậy để hỗ trợ việc thực thi sách lược cầm quyền của ông. Vấn đề mà các nhà tư bản Mỹ xem xét lại trái ngược với Donald Trump, họ thông qua phương thức mở rộng đối ngoại và tài chính của Mỹ đã kiếm được rất nhiều tiền, họ chỉ quan tâm đến sách lược cầm quyền của Donald Trump liệu có thể nâng cao lợi ích đã có của họ hay không, cho nên có người cho rằng Donald Trump đang tiến hành một cuộc đọ sức với các ông trùm tư bản trong nước. Donald Trump sẽ đối diện với 3 thách thức chủ yếu trong cuộc đọ sức này: Một là sự chỉ trích của phe đối lập trong nước, tính cách thương gia của Donald Trump đã chủ đạo sách lược cầm quyền của ông, ông không có kinh nghiệm chính trị phong phú để điều khiển chính trị cũng không đủ mánh khóe chính trị để thực hiện mọi việc theo ý mình. Phát ngôn và hành động của Trump chắc chắn sẽ tạo ra nhiều chỗ sơ hở để phe đối lập chỉ trích. Hai là có thể so sánh Donald Trump với kẻ đơn độc. Thông qua sự cải tổ và bố trí nhân sự của Trump đối với tầng lớp cấp cao của Nhà Trắng cho thấy Donald Trump muốn tìm kiếm sự ủng hộ rất lớn của các nhà tư bản, ông muốn lôi kéo một số tỷ phú làm việc cho mình, nhưng từ hiệu quả hiện nay lại cho thấy không hoàn toàn lạc quan. Sách lược không ủng hộ của giới tinh hoa phố Wall – các ông trùm tư bản lớn nhất – đối với Donald Trump, đã khiến ông rơi vào tình cảnh đơn độc. Ba là Donald Trump sẽ tìm kiếm sự ủng hộ của Trung Quốc. Với tư cách là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, về thực lực Trung Quốc là đối tác thích hợp nhất của Mỹ, tính cách thương gia đặc biệt của Donald Trump vào những thời điểm quan trọng sẽ xem xét lợi ích kinh tế mà lựa chọn đối tác hợp tác. Có hai vấn đề trọng điểm ở đây:  (1) Việc Donald Trump liên tục gây sức ép với Triều Tiên chẳng qua là muốn đổi lấy sự nhượng bộ của Trung Quốc, vấn đề Triều Tiên là cái gai trong lợi ích của Mỹ ở Đông Bắc Á, chỉ có nhổ bỏ cái gia này mới có thể tăng thêm con bài đàm phán với Trung Quốc. (2) Việc Donald Trump lấy lòng Thái Anh Văn và liên tục bán vũ khí cho Đài Loan, tiến hành thách thức hơn nữa đối với Trung Quốc, chẳng qua là muốn thông qua can thiệp công việc nội bộ nước khác để đổi lấy lợi ích nhất khi đàm phán với Trung Quốc.

Thách thức mà Kim Jong-un phải đối diện còn lớn hơn, vấn đề đặt ra trước mắt còn phức tạp hơn. So với Donald Trump, Kim Jong-un còn cô đơn hơn. Sự sùng bái trong nước đối với nhà lãnh đạo tối cao thuộc thế hệ hậu những năm 80 của thế kỷ trước này là rất lớn. Thông qua tuyên truyền ý thức hệ nhà lãnh đạo thế hệ thứ 3 của gia tộc họ Kim đã trở thành thần thánh. Thách thức mà Kim Jong-un phải đối diện cũng rất lớn, ít nhất tồn tại 3 mặt sau: Một là để đối đầu với Mỹ phải có thời gian và chi phí kinh tế, mỗi quả tên lửa được phóng thử đều có chi phí kinh tế, đây là khoản chi quá lớn đối với hiện trạng kinh tế Triều Tiên. Hai là Triều Tiên đang tiến hành một canh bạc liều lĩnh, hành động của Triều Tiên là để đổi lấy sự ủng hộ của Trung Quốc, dân số Triều Tiên có khoảng 20 triệu người, tổng lượng kinh tế chỉ bằng 1/47 của Hàn Quốc. Sự phát triển kinh tế của Triều Tiên đình trệ nghiêm trọng, nếu không còn viện trợ quốc tế, kinh tế Triều Tiên sẽ sụp đổ nhah chóng. Ba là khi Kim Jong-un lên cầm quyền, nền kinh tế Triều Tiên đang ở thời kỳ rối ren, tầng lớp lãnh đạo cấp cao cũng tồn tại ý kiến khác nhau. Cục diện chính trị Triều Tiên sau khi Kim Jong-un tiến hành cải tổ tạm thời ở trạng thái ổn định, nhưng điều này không có nghĩa là tình hình sẽ phát triển bền vững. Cam kết “có cơm có thịt” mà Kim Jong-un đưa ra sau khi lên cầm quyền dường như khó có thể thực hiện, trong tình hình mức sống không được cải thiện và nâng cao, liệu có ảnh hưởng đến sự ổn định của Chính quyền Kim Jong-un hay không.

Donald Trump và Kim Jong-un cùng đối diện với vấn đề thể chế chính trị độc đoán chuyên quyền, biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề chính là thuận theo sự phát triển hòa bình của thế giới, chỉ có trong môi trường quốc tế hòa bình, các nước trên thế giới mới có thể duy trì trao đổi kinh tế bình thường, các nước trên thế giới mới có thể duy trì trao đổi kinh tế bình thường và thực hiện một cách thuận lợi kế hoạch phát triển của nước mình.

Nguồn: 1think.com.cn – 13/06/2017

TLTKĐB – 07/07/2017

Advertisements

Đánh giá nguy cơ thay đổi chế độ ở Triều Tiên – Phần cuối


III/ Các hậu quả có thể của sự thay đổi chế độ là gì?

Tiến trình thay đỏi chế độ ở Triều Tiên trên lý thuyết có thể diễn ra theo nhiều cách (tương đối hòa bình hay bằng vũ lực) trong một khoảng thời gian được rút ngắn hay kéo dài (nhiều ngày hay nhiều tuần so với nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm) và có hay không sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Nó có thể mang lại các kết quả rất khác nhau (sự cai trị độc tài hơn nữa với việc Triều Tiên vẫn là một nước độc lập, hay một kiểu chính quyền quá độ nào đó mà dẫn đến sự tái thống nhất). Việc đánh giá khả năng của bất kỳ sự kết hợp nào những thứ trên đều bị phức tạp hóa bởi cái có thể coi là những yếu tố nguy cơ đặc biệt:

+ Người dân Triều Tiên phần lớn bị cách ly khỏi phần còn lại của thế giới suốt gần 70 năm trong khi cũng bị buộc phải ghi nhớ là luôn kính trọng và bảo vệ dòng họ Kim. Các chế độ độc tài cá nhân hóa cao tương tự đã tồn tại ở các nước khác, đáng chú ý là Albania và Romania, mà sau đó đã trải qua sự thay đổi chính trị nhanh chóng, nhưng Triều Tiên có thể được cho là rất riêng. Vì thế, điều rất không rõ ràng là người dân Triều Tiên sẽ phản ứng như thế nào trước triển vọng về sự thay đổi chính trị căn bản.

+ Triều Tiên cũng là một phần của một quốc gia bị chia cắt mà vẫn đang trong một cuộc đối đầu rất căng thẳng và được trang bị nhiều vũ khí với nửa kia của mình. Chính vì vậy, có một triển vọng mạnh mẽ cho sự leo thang quân sự và sự tái diễn chiến sự mở rộng. Nước Đức bị chia cắt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh là một tiền lệ gần nhất, nhưng quyền tự do hành động quân sự của Đông Đức và Tây Đức bị kiềm chế hơn nhiều so với trường hợp Hàn Quốc và Triều Tiên hiện nay. Nói cách khác, nguy cơ leo thang là cao hơn.

+ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Triều Tiên sở hữu các vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác, mà số phận của chúng sẽ là mối quan ngại tức thì trong các giai đoạn bất ổn sâu sắc và thay đổi chế độ. Những nước sở hữu cá vũ khí hạt nhân khác đã trải qua sự hỗn loạn về chính trị và thay đổi căn bản mà không phân tán hay sử dụng chúng, điều có thể mang lại một chút an ủi. Liên Xô đã trải qua một cuộc đảo chính vào tháng 8/1991 mà đẩy nhanh sự kết thúc về mặt chính trị của nước này vào cuối năm đó. Nam Phi dưới chế độ Apartheid cũng đã sở hữu một kho dự trữ hạt nhân nhỏ trong những năm 1980 khi nước này chịu áp lực gia tăng là phải cải cách. Gần đây hơn, Pakistan đã trải qua biến động chính trị lớn với tư cách là một nước được trang bị hạt nhân. Tuy nhiên, sự bảo đảm nhiều đến mức độ nào có thể có được từ những trường hợp này là điều còn phải tranh cãi. Không có lúc nào trong bất kỳ trường hợp nào ở trên nhà nước nằm dưới sự đe dọa can thiệp quân sự từ bên ngoài – tình huống bất ngờ có thể xảy ra mà chúng được phát triển để ngăn chặn – là điều có thể hiểu được trong trường hợp Triều Tiên.

Mặc dù Triều Tiên là một trường hợp đặc biệt vì những lý do này, nhưng vẫn có ích khi xem xét lại toàn bộ kinh nghiệm của các chế độ độc tài đã trải qua thay đổi chính trị lớn. Theo phân tích so sánh trên phạm vi rộng của các nhà khoa học chính trị Barbara Geddes, Joseph Wright và Erica Frantz, “trong gần 75 năm kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có khoảng 45% những sự thay đổi lãnh đạo (ở các chế độ độc tài) dẫn đến sự thay đổi chế độ, và hơn một nửa sự sụp đổ chế độ là những sự quá độ từ chế độ độc tài này sang chế độ độc tài khác. Nói cách khác, chưa đến 1/4 những sự thay đổi lãnh đạo dẫn đến sự dân chủ hóa”. Hơn nữa, sự thay đổi chế độ ở các chế độ độc tài theo kiểu chủ nghĩa nhân vị có xu hướng xảy ra một cách mạnh mẽ; quả thực, đó là quy tắc. Gần như mọi sự quá độ từ sự cai trị theo chủ nghĩa nhân vị sang chế độ độc tài khác đều là bị ép buộc. Những kết quả này ít nhiều được ủng hộ bởi phân tích so sánh tương tự của Andrea Kendall-Taylor và Erica Frantz. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng chỉ có 20% sự ra đi của các nhà lãnh đạo độc tài từ năm 1950 đến năm 2012 là dẫn đến chế độ dân chủ “nhấn mạnh sự bền bỉ của sự cai trị độc tài”. Phần lớn dường như phụ thuộc vào cái cách mà các nhà lãnh đạo độc tài bị hất cẳng: “Khi các nhà lãnh đạo bị hạ bệ trong cuộc nổi loạn… chế độ dân chủ theo sau đó trong 45% các trường hợp. Ngược lại, các cuộc đảo chính thành công chỉ dẫn đến chế độ dân chủ trong 10% các trường hợp”. Những nhận xét chung này gợi ý rằng chúng ta không nên cho rằng một sự thay đổi trong giới lãnh đạo Triều Tiên sẽ diễn ra một cách hòa bình hay rằng điều đó hiển nhiên sẽ dẫn đến một kết quả dân chủ và, cũng hiển nhiên, một Triều Tiên tái thống nhất. Trong trường hợp bất ổn chính trị nghiêm trọng, cho dù bị thúc đẩy bởi sự rối loạn trong dân chúng hay một thách thức giới lãnh đạo ở cấp cao nhất, khả năng về một phản ứng ngược lại mạnh mẽ của các lực lượng trung thành với chế độ có vẻ là cao. Dĩ nhiên, trường hợp ngoại lệ sẽ là liệu quân đội Triều Tiên và các lực lượng an ninh khác có quyết định chất dứt sự ủng hộ của họ đối với chế độ này hay không. Một sự đàn áp dữ dội một cuộc nổi dậy của dân chúng hay thách thức của một phe chống đối ở Triều Tiên có thể dẫn đến những yêu cầu trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt nếu người ta cảm thấy rằng những hành động của họ đã được khuyến khích hay có khả năng nhận được sự ủng hộ. Điều này đã xảy ra ở một vài trường hợp – chẳng hạn như trong các cuộc nổi dậy ở Tây Tạng (1959), Hungary (1956), miền Nam Iraq (1991), Libya (2011) và Syria (2011) – nhưng chỉ trong trường hợp Libya các yêu cầu này được đáp ứng với sự can thiệp từ bên ngoài. Theo sau đó trong tất cả các trường hợp khác là sự đàn áp đẫm máu của chế độ cầm quyền. Một sự đàn áp dữ dội, đặc biệt nếu kèm theo đó là các hành động tàn bạo hàng loạt, cũng sẽ gia tăng áp lực buộc các thế lực bên ngoài – đặc biệt là Hàn Quốc – phải can thiệp. Phần lớn rõ ràng là sẽ phụ thuộc vào độ chính xác và tính kịp thời của các báo cáo được gửi đi từ Triều Tiên cũng như vào việc liệu chế độ này có thể áp đặt trật tự ngay sau đó hay không. Sự rối loạn kéo dài sẽ gia tăng các cơ hội những dòng người tị nạn rời khỏi nước này, cho dù bất kỳ sự đánh giá nào về nguy cơ này cần phải lưu ý đến tình trạng thiếu hụt tương đối giao thông vận tải cá nhân và tình trạng canh phòng nghiêm ngặt các vùng biên giới của Triều Tiên. Lại phụ thuộc làn nữa vào khởi nguồn của sự bất ổn, có thể cũng có cả những cuộc đào ngũ và thậm chí là có thể hình dung được những khiêu khích quân sự nhằm xúi giục sự can thiệp của đại diện các phần tử chống chế độ. Nếu các thế lực bên ngoài thực sự can thiệp, thì không nên giả định rằng toàn bộ dân chúng sẽ chấp nhận một cách hòa bình sự thống trị “ngoại bang”, cho dù điều này được tuyên bố chỉ là tạm thời. Điều này có vẻ đúng đối với Hàn Quốc và đặc biệt đúng với các thế lực khác, thậm chí là đồng minh lâu năm Trung Quốc. Như một nhà phân tích người Nga về Triều Tiên đã nói:

“Thật ngây thơ khi hy vong rằng toàn bộ dân chúng Triều Tiên sẽ chào đón “sự giải phóng khỏi chế độ độc tài” mà sự thống nhất mang lại; một sự hy vọng như vậy đơn giản là không dựa trên phân tích nghiêm túc về cái mà các tầng lớp xã hội của Triều Tiên sẽ nhận được hay bị mất đi khi Hàn Quốc bắt đầu cai quản. Giới tinh hoa và tầng lớp trung lưu – có lẽ khoảng 1 triệu người hoặc khoảng 5% dân số, bao gồm các thành viên của đảng, bộ máy an ninh, quân đội và một phần đáng kể những người ủng hộ và gia đình đã bị tẩy não của họ – sẽ không có chiến lược lối thoát nào và không có địa vị nào trên bán đảo Triều Tiên do Hàn Quốc kiểm soát. Hơn nữa, họ có thể khá là chắc chắn về các hậu quả sẽ phải chịu bởi vai trò của họ trong chế độ trước. Nếu ngay cả một phần của nhóm này (bao gồm những nhân viên được đào tạo) sử dụng đến kháng cự có vũ trang, thì các kết quả có thể sẽ thảm khốc. Đây không phải là sự suy đoán: chế độ này đã dành hàng thập niên chuẩn bị cho cuộc chiến tranh du kích, và nó có thể còn có một mạng lưới các cơ sở được trang bị đầy đủ được che giấu khắp lãnh thổ nước này để những chiến binh tận tụy sử dụng”.

Kinh nghiệm gần đây của Mỹ ở Afghanistan và Iraq chắc chắn ủng hộ cho lập luận này.

IV/ Những nhận xét mang tính kết luận

Việc đánh giá nguy cơ sơ bộ các triển vọng và hệ quả có thể có của sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên nà khiến chúng ta phải đặt câu hỏi về các giả định và kỳ vọng của mình về việc những sự kiện như vậy có thể xảy ra khi nào và như thế nào và điều gì có thể xảy ra sau đó. Cụ thể hơn, như tục ngữ có câu, “chúng ta cần cẩn trọng với những gì mà chúng ta mong muốn”. Sự bất ổn và thay đổi chế độ có thể, vì nhiều lý do, kéo theo đó tình trạng bạo lực đáng kể và thậm chí là nội chiến. Nó cũng có thể khởi động một loạt tình huống bất ngờ nguy hiểm khác, bao gồm một cuộc xung đột rộng hơn lôi kéo các thế lực bên ngoài. Tiến trình thay đổi được mong đợi ở Triều Tiên – về bản chất là một sự sụp đổ nhanh chóng và tương đối hòa bình của chế độ hiện thời theo sau đó là một sự quá độ khá suôn sẻ sang sự tái thống nhất – không nên được giả định trước. Tiền lệ nước Đức ở nhiều khía cạnh là một ví dụ gây hiểu lầm của cái hợp lý để mong chờ. Tất cả điều này có nghĩa là điều mà có vẻ là những lựa chọn tương đối an toàn để thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên cần được xem xét kỹ lưỡng với sự cẩn trọng tối đa. Nếu những trải nghiệm của Mỹ gần đầy ở Afghanistan, Iraq và Libya đã dạy cho chúng ta điều gì đó, thì đó là cần phải hết sức cẩn trọng khi phỏng đoán về cái mà “ngày sau đó” ở Triều Tiên sẽ mang lại.

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017

Đánh giá nguy cơ thay đổi chế độ ở Triều Tiên – Phần II


Mặc dù không có sự phân loại các chế độ độc tài được hầu hết mọi người chấp nhận, nhưng các học giả thường phân biệt giữa chế độ độc tài cá nhân (kế thừa hay bảo hoàng) với chế độ độc tài quân sự và chế độ độc tài do đảng lãnh đạo. Triều đại nhà Kim chắc chắn rơi vào kiểu đầu tiên. Ở mọi kiểu chế độ độc tài, cách phổ biến nhất mà theo đó các nhà lãnh đạo chế độ bị phế truất, cho đến tương đối gần đây, là thông qua một cuộc đảo chính. Chẳng hạn như, trong những năm 1960 và 1970, gần như 50% các nhà độc tài bị mất quyền lực do một cuộc đảo chính quân sự. Tuy nhiên, từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, số lượng các nhà độc tài bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính đã giảm đáng kể, trong khi đồng thời số lượng các chế độ độc tài bị chấm dứt bởi một cuộc nổi dậy của dân chúng lại tăng lên. Trong trường hợp Triều Tiên, khả năng một cuộc nổi dậy của dân chúng từ dưới lên dường như rất thấp, chắc chắn là thấp hơn hai con đường rộng lớn khác dẫn đến sự thay đổi chính trị. Ngoài cái có vẻ là một mức độ cao một cách khác thường sự cố kết xã hội và sự bền bỉ khi đương đầu với nghịch cảnh, Triều Tiên không có điểm gì giống với các tổ chức và mạng lưới xã hội dân sự mà ở đó sự phản đối của dân chúng có thể hợp nhất và lan truyền. Ở những nước khác, các công đoàn, nhà thờ, hội từ thiện và trường đại học điển hình là đáp ứng mục đích này khi huy động sự bất đồng quan điểm và thúc đẩy các cuộc nổi dậy của dân chúng, nhưng việc hầu như không có những thể chế như vậy ở Triều Tiên hạn chế các cơ hội tạo nên một phong trào phản đối khắp cả nước. Hơn nữa, cái do cộng đồng địa phương xây dựng nên mà thực sự tồn tại, như các ủy ban an ninh công cộng, đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan an ninh nhà nước. Dĩ nhiên, tất cả điều này hạn chế rất nhiều các cơ hội cho những thế lực bên ngoài nuôi dưỡng và ủng hộ các tổ chức xã hội dân sự ở Triều Tiên như một phần của một chiến lược rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy sự thay đổi chính trị. Số lượng có hạn điện thoại di động ở Triều Tiên cũng như việc các phương tiện Internet và truyền thông xã hội bị hạn chế nhiều làm giảm hơn nữa triển vọng cho sự huy động chính trị trong nước, chắc chắn theo kiểu mà đã tỏ ra rất có hiệu quả trong phong trào Mùa xuân Arập. Vì lý do tương tự, cơ hội cho các bên tham gia bên ngoài tránh được sự kiểm duyệt của nhà nước nhằm gia tăng sự hiểu biết cho dân chúng về thế giới bên ngoài và có khả năng kích động sự náo loạn là cực kỳ hạn chế, mặc dù văn hóa đại chúng và các nguồn thông tin khác từ Hàn Quốc và Trung Quốc dường như cũng đang tiến hành một số cuộc xâm nhập. Tương tự, tình trạng kém phát triển của giao thông cá nhân ở Triều Tiên hạn chế sự hòa nhập xã hội và cùng với nó là sự lan truyền và hợp nhất các ý kiến. Vì những lý do này, sự thay đổi từ trên xuống dưới như là kết quả của một thách thức giới lãnh đạo đối với chế độ Kim có vẻ như hợp lý hơn, cho dù ở đây một lần nữa điều quan trọng là phải thừa nhận sự bền bỉ đến phi thường của chế độ này, đã lèo lái thành công hai cuộc kế vị vương triều (từ nhà sáng lập ra nó, Kim Il Sung, đến con trai ông, Kim Jong Il, vào năm 1994, và rồi gần đây hơn là cháu trai của ông, Kim Jong Un, vào năm 2011). Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến sự bắt đầu của một cuộc đảo chính (tỷ lệ tử vong ở trẻ em thấp, tăng trưởng kinh tế kém, sự thiếu dân chủ hoặc dân chủ ở mức độ thấp) đã xuất hiện ở Triều Tiên, nhưng nhiều yếu tố khác (hoạt động đảo chính gần đây, các cuộc nổi dậy và nổi loạn của dân chúng trong khu vực, tính ổn định có hạn của chế độ, tình trạng nổi loạn hay cuộc vận động kháng cự trong dân chúng đang diễn ra) thì rõ ràng là không. Bằng chứng của việc gây bè kết phái gia tăng bên trong chế độ, mà thường là điềm báo căng thẳng nội bộ thực sự trong các trường hợp thay đổi chế độ trước đó, xem ra ít ỏi hoặc không tồn tại. Chắc chắn là, những cuộc thanh trừng nổi tiếng gần đây và sự biến mất bí ẩn của các quan chức cao cấp có thể cho thấy những áp lực hay căng thẳng gia tăng bên trong chế độ Triều Tiên, nhưng những sự việc như vậy hầu như không mới hay có sức thuyết phục để kết luận rằng một cái gì đó cơ bản có thể đang được chuẩn bị. Chúng đã xảy ra có chút đều đặn kể từ khi chế độ Kim được thành lập, đáng chú ý là vào những năm 1950 và cuối những năm 1960 bởi Kim Il Sung, và sau đó một lần nữa vào những năm 1990 với sự quá độ sang Kim Jong Il. Quả thực, thay vì là một dấu hiệu của sự sụp đổ, chúng thường phản ánh các nỗ lực thực thi kỷ luật và củng cố quyền lực bằng việc đặt một nhóm các sĩ quan và quan chức trung thành vào các vị trí cao cấp. Đồng thời, không có các dấu hiệu bên ngoài của sự ganh đua giữa các thực thể có tổ chức hay phe phái khác nhau bên trong giới tinh hoa Bình Nhưỡng. Một nỗ lực ám sát và đảo chính do một nhóm sĩ quan quân đội hay bè đảng bên trong các lực lượng an ninh dẫn đầu – một khởi nguồn khác của sự thay đổi chế độ từ trên xuống dưới ở các nước khác, đặc biệt là các nước ở châu Phi – chắc chắn là điều dễ hiểu, nhưng ngoại trừ một sự việc được đưa tin vào những năm 1990, thì không có lý do gì để tin rằng Triều Tiên đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi kiểu bất ổn này.

Còn lại con đường thứ ba – sự bất ổn và thay đổi chế độ do các yếu tố bên ngoài gây ra. Do sự yếu kém chung của nền kinh tế Triều Tiên, các biện pháp trừng phạt và những hạn chế thương mại hơn nữa xem ra sẽ mang lại chiến lược tốt nhất để gây nên sự thay đổi chính trị. Nhu cầu từ phía Trung Quốc đối với các nguyên liệu thô của Triều Tiên, cụ thể là than và quặng sắt, giảm kết hợp với tình trạng trì trệ của giá hàng hóa trên toàn thế giới rõ ràng là đang gây nên một sự suy thoái về kinh tế sau một vài năm tăng trưởng liên tục. Sự đóng cửa khu công nghiệp liên doanh Triều – Hàn Kaesong mà ước tính đã mang lại cho Bình Nhưỡng giá trị tương đương khoảng 100 triệu USD hàng năm là một cú đòn khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng tính dễ tổn thương của chế độ Triều Tiên trước sự ép buộc hơn nữa về kinh tế cuối cùng lại phụ thuộc vào việc Trung Quốc có sẵn sàng để điều đó xảy ra hay không. Cho đến nay, bằng chứng cho thấy Trung Quốc muốn gây đủ áp lực cho Triều Tiên để kiềm chế chương trình vũ khí hạt nhân và hành vi khiêu khích khác của nước này nhưng không nhiều đến mức gây nên sự bất ổn chính trị nghiêm trọng mà có thể gây nguy hiểm cho chính sự tồn tại của nước này và mang lại cùng với nó mọi loại ảnh hưởng lan tràn có hại. Đôi lúc cũng có phán đoán cho rằng Trung Quốc có thể sắp đặt một cuộc đảo chính quân sự hoặc một kiểu thay đổi giới lãnh đạo khác ở Bình Nhưỡng không chỉ để thiết lập một chế độ có lợi hơn cho các lợi ích của mình mà còn để ngăn chặn trước kiểu bất ổn nước này lo sợ nhất. Tuy nhiên, khả năng Bắc Kinh dàn xếp sự thay đổi như vậy phải được đặt thành vấn đề, đặc biệt vì nước này chưa từng tiến hành một hoạt động như vậy. Điều cũng không rõ ràng là nước này thực sự có bao nhiêu cơ hội để xúi bẩy và lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính của các quan chức quân đội và chính trị cao cấp ở Bình Nhưỡng, do các cuộc tiếp xúc chính thức giữa hai nước đã giảm trong những năm gần đây.

Cuối cùng, có khả năng chế độ Kim sẽ bị xóa bỏ bởi sự can thiệp quân sự ở bên ngoài. Như đã trình bày trước đó, khả năng một chiến dịch có suy tính trước kiểu này do Mỹ và Hàn Quốc thực hiện có vẻ như rất xa vời, do các chi phí và nguy cơ lường trước được, mà đang gia tăng vì Triều Tiên phát triển các năng lực trả đũa tên lửa hạt nhân và đạn đạo của mình. Triều Tiên sẽ phải gây ra một mối đe dọa rất nghiêm trọng để một cuộc tấn công như vậy được cân nhắc một cách hợp lý. Điều dễ hiểu hơn là một sự khiêu khích của Triều Tiên hay một cuộc tấn công của quân đội Mỹ “đánh vào mục tiêu chính đáng” được thiết kế nhằm phá hoại chương trình hạt nhân hay tên lửa của nước này leo thang theo cái cách mà dẫn đến một sự tái diễn trên quy mô đầy đủ các hành động thù địch. Một kịch bản như vậy hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc xâm lược ồ ạt Triều Tiên và cuối cùng là sự lật đổ chế độ Kim. Sự can thiệp quân sự cũng có thể diễn ra nhằm đối phó với một thảm họa nhân đạo lớn hoặc tình trạng rối loạn lan tràn trong dân chúng, nhưng ở đây một lần nữa tính chất của mối đe dọa sẽ phải là rất nghiêm trọng để có thể vượt qua những quan ngại về các nguy cơ của sự can thiệp.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017

Đánh giá nguy cơ thay đổi chế độ ở Triều Tiên – Phần I


I/ Giới thiệu

Các nhà quan sát Triều Tiên sẽ theo dõi rất sát sao nước này trong những tháng tới để tìm ra bất cứ dấu hiệu nào cho thấy chế độ Kim Jong Un cầm quyền đang cảm thấy những tác động của các biện pháp trừng phạt tài chính và hạn chế thương mại mới và cứng rắn hơn. Hy vọng là áp lực này sẽ kiềm chế giới lãnh đạo Triều Tiên và buộc họ phải hạn chế hành vi khiêu khích của mình và trở lại bàn đàm phán để thảo luận những giới hạn có ý nghĩa đối với các chương trình tên lửa hạt nhân và đạn đạo của họ. Khả năng điều này xảy ra là khó đoán. Tuy nhiên, điều có vẻ chắc chắn là nếu Triều Tiên duy trì thái độ hung hăng của mình và tiếp tục không chỉ đe dọa các đồng minh của Mỹ mà còn gây một mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh quốc gia Mỹ, áp lực sẽ gia tăng để có hành động mang tính trừng phạt nhiều hơn, bao gồm các biện pháp nhằm tích cực phá hoại chế độ Kim.

Triển vọng của sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên có sức hấp dẫn không thể phủ nhận. Giả định chung là sự sụp đổ của triều đại nhà Kim – những người cai trị duy nhất mà Triều Tiên từng biết đến – chắc chắn sẽ đẩy nhanh sự kết thúc của nước này như một nước độc lập và khởi động việc tái thống nhất bán đảo này. Ngoài việc chấm dứt một lần cho mãi mãi sự đối đầu quân sự nguy hiểm và mối đe dọa phổ biến hạt nhân trong khu vực, sự tái thống nhất cuối cùng cũng sẽ giải thoát người dân đã phải chịu đau khổ suốt một thời gian dài của Triều Tiên khỏi hàng thập niên áp bức và nghèo khổ. Tuy nhiên, việc thực hiện thay đổi chế độ thông qua can thiệp vũ trang không chắc sẽ thu hút được nhiều người ủng hộ, nếu có. Mỹ vẫn đang vật lộn với những hậu quả hao tiền tốn của của việc lật đổ các chế độ ở Afghanistan, Iraq và Libya sử dụng sức mạnh quân sự cho sự lựa chọn này nhằm có được lực kéo chính sách quan trọng, mặc dù trong những trường hợp nhất định điều này không thể bị loại trừ. Thay vào đó, một chiến lược mà sử dụng nhiều biện pháp “phi động lực” không can thiệp vũ trang – kinh tế, chính trị, thông  tin, mạng – nhằm làm suy yếu hay lật đổ chế độ Triều Tiên có thể giành được sự ủng hộ. Có thể lập luận là việc thực hiện các biện pháp như vậy sẽ không thể hiện một sự thay đổi về chất thực sự trong chính sách mà đúng hơn là một sự tăng cường các nỗ lực hiện tại. Xét cho cùng, khó mà phủ nhận rằng chính sách trừng phạt hiện hành không có liên quan chút nào đến sự tồn tại của chế độ ở Triều Tiên. Chẳng hạn như, sự bất mãn của công chúng đối với giới lãnh đạo có thể gia tăng một cách dễ hiểu nếu nhiều hàng hóa cơ bản đột ngột đắt đỏ hay khan hiếm hơn – điều đã trở nên ngày càng phổ biến trong những năm gần đây như là kết quả của việc thị trường hàng hóa nền kinh tế Triều Tiên – do chiến dịch trừng phạt gia tăng. Tương tự, ảnh hưởng của các lệnh trừng phạt đối với thu nhập nước ngoài của chế độ Kim có thể tác động trực tiếp đến khả năng của nó mua chuộc lòng trung thành tiếp tục của những người mà nó dựa vào để điều hành đất nước. Lường trước việc chính sách đối với Triều Tiên sẽ trở thành một đề tài cho tranh luận đang gia tăng ở Mỹ, đặc biệt khi chính quyền tiếp theo bắt đầu xem xét lại các lựa chọn của Mỹ, điều có ích là đặt ra một số câu hỏi cơ bản về các triển vọng cho sự thay đổi chế độ và những lợi ích được cho là của điều này. Điều này có thể xảy ra như thế nào, và kịch bản có vẻ như có khả năng xảy ra nhất là gì? Liệu áp lực bên ngoài và các hành động khác có thể thúc đẩy sự thay đổi như vậy hay không? Các hậu quả và kết quả có thể có là gì? Liệu chúng ta có thể cho rằng các kết quả được ưa thích hơn là sẽ đạt được hay không? Đây là những câu hỏi khó trả lời, do thách thức căn bản của việc đánh giá các cơ chế hoạt động bên trong của Triều Tiên, chưa kể đến những sự không chắc chắn vốn có của các sự việc bất ngờ có thể xảy ra trong tương lai. Tuy nhiên, một số phán đoán thăm dò có thể được đưa ra đặc biệt với kiến thức thu được từ các trường hợp có thể so sánh được. Trong khi một phân tích so sánh có thể dường như không mang lại triển vọng gì cho Triều Tiên, do nước này là một nước nằm ngoài cùng trong hệ thống quốc tế, những nhà nước độc tài có khuynh hướng chung nhau nhiều điểm, vì vậy mà việc hiểu được chúng tồn tại và kết thúc ra sao có thể là có ích. Mục đích ở đây là đưa ra một đánh giá sơ bộ về các triển vọng và hậu quả có thể có của sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên với hy vọng nó sẽ khuyến khích sự phân tích cặn kẽ và toàn diện hơn. Trước khi tiếp tục, điều quan trọng là phải chắc chắn về việc các thuật ngữ “sự bất ổn”, “sự thay đổi chế độ” và “sự sụp đổ” ở đây được định nghĩa như thế nào. Đáng tiếc là, những thuật ngữ này thường được sử dụng một cách lỏng lẻo hoặc có thể thay thế cho nhau khi mà trên thực tế chúng mang các nghĩa khác nhau. Sự bất ổn ở đây ám chỉ một sự phá vỡ nghiêm trọng các chức năng thông thường hay thẩm quyền quản lý của một nhà nước. Nó có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau, như sự bất mãn và bất an liên tục của dân chúng đối với giới lãnh đạo và các thể chế của một nhà nước; sự ngưng trệ các chức năng lập pháp và hành pháp thông thường; hay các thách thức nghiêm trọng và trái hiến pháp đối với giới lãnh đạo đất nước. Hơn nữa, sự bất ổn có thể phát sinh như là hệ quả của một sự kiện đơn lẻ – chẳng hạn như, sự ra đi đột ngột của lãnh đạo một nước mà không có một tiến trình kế vị nào đã được chấp thuận diễn ra hay một “cú sốc” nào khác, dù từ bên trong hay bên ngoài, mà gây nên sự hỗn loạn chính trị đáng kể. Sự bất ổn cũng có thể phát sinh thông qua các sự kiện, như các cuộc biểu tình, các cuộc bãi công hay một thảm họa môi trường, mà làm xói mòn ngày càng tăng các chức năng nhà nước hay chế độ cầm quyền. Trong khi đó, sự thay đổi chế độ ở đây ám chỉ sự kết thúc của chính quyền quản lý hiện có bao gồm giới lãnh đạo và các cơ chế hỗ trợ cần thiết của nó, đặc biệt là các bộ máy chính trị và an ninh có liên quan. Không nên nhầm lẫn với một chế độ được biến đổi (nghĩa là, ở đó chính quyền quản lý hoặc là thay thế giới lãnh đạo của mình hoặc là thông qua các chính sách mới trong khi vẫn duy trì quyền kiểm soát về chính trị). Cuối cùng, điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng sự thay đổi chế độ không giống như sự sụp đổ của nhà nước, mà trong đó các công cụ kiểm soát chính phủ và điều chỉnh cuộc sống hàng ngày ngừng thực hiện chức năng, kết quả là tình trạng mất trật tự và vô chính phủ có khả năng lan rộng. Một chế độ cầm quyền có thể thay đổi mà ít hoặc không ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng liên tục của nhà nước – ít nhất là trong ngắn hạn. Ngược lại, các chức năng cơ bản của nhà nước có thể bị suy giảm hay thỏa hiệp một cách đáng kể theo thời gian mà chế độ không nhất thiết phải thay đổi. Tuy nhiên, sự sụp đổ, theo cái nghĩa là chính quyền quản lý trung ương không còn khả năng thi hành mệnh lệnh của mình đối với phần lớn đất nước, thường báo trước sự thay đổi chế độ.

II/ Những triển vọng cho sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên là gì?

Mặc dù sự thay đổi chế độ có thể được gây ra bởi nhiều yếu tố, nó xảy ra một cách điển hình theo 1 trong 3 cách. Thứ nhất là một tiến trình phần lớn là “từ dưới lên trên”, mà trong đó sự bất mãn và bất an của dân chúng tạo đà và cuối cùng dẫn đến sự lật đổ bị ép buộc hay sự chấm dứt tự nguyện của chế độ. Thứ hai, ngược lại, là một tiến trình “từ trên xuống” mà trong đó giới lãnh đạo bị ám sát, bị gạt bỏ trong một cuộc đảo chính, tự nguyện rời bỏ hay chết mà không có một thỏa thuận kế vị đã được chấp thuận diễn ra, dẫn đến sự xóa bỏ hoàn toàn chế độ chính trị rộng lớn hơn. Con đường thứ ba là thông qua áp lực bên ngoài, mà có thể dưới những hình thức khác nhau, bao gồm việc sử dụng lực lượng quân sự. Mặc dù 3 con đường dẫn đến sự thay đổi chế độ này khác nhau về mặt khái niệm, nhưng chúng cũng có thể xảy ra theo cách tương tác và tăng cường lẫn nhau. Sự bất an của dân chúng có thể đẩy nhanh sự thay đổi ở cấp cao nhất (và ngược lại), trong khi cả hai tiến trình có thể bị ảnh hưởng bởi các áp lực bên ngoài. Khi đánh giá các triển vọng cho sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên, điều có ích là bắt đầu bằng một số nhận xét toàn diện về việc các chế độ độc tài trải qua sự thay đổi chính trị như thế nào.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017

Vấn nạn hối lộ là trở ngại lớn nhất đối với các doanh nghiệp Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam


Bên lề Buổi gặp gỡ doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản tổ chức cuối tháng 5/2017 tại thủ đô Tokyo, phóng viên TTXVN đã phỏng vấn ông Fumiyasu Akegawa, Chủ tịch Hiệp hội hợp tác quốc tế đa ngành nghề của Nhật Bản. Ông cùng quê với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, được xem là người có mối quan hệ gần gũi với Thủ tướng. Hiệp hội do ông Fumiyasu Akegawa đứng đầu là một tổ chức có quyền lực và uy tín trong việc xúc tiến các hoạt động đầu tư của Nhật Bản ra nước ngoài cũng như hoạt động tiếp nhận thực tập sinh kỹ thuật nước ngoài đến Nhật Bản.

Ông Fumiyasu Akegawa cho rằng trước hết, Nhật Bản là quốc gia Phật giáo. Con đường truyền Phật giáo vào Nhật Bản không phải từ Ấn Độ mà là từ Việt Nam. Tuy Việt Nam là Phật giáo Tiểu thừa, còn Nhật Bản là Phật giáo Đại thừa, nhưng triết học của Phật giáo thì giống nhau, màu da giống nhau. Chính vì những điều này mà giữa hai dân tộc không có cảm giác khác biệt. Đó chính là suy nghĩ của người Nhật Bản đối với Việt Nam.

Hiện nay, quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản chưa sâu sắc. Cho đến thời điểm này, Trung Quốc vẫn đang đóng vai trò chính. Tuy nhiên, Với Trung Quốc, Nhật Bản không có điểm chung về quan điểm chính trị và văn hóa. Vì vậy, Nhật Bản phải chuyển địa điểm đầu tư. Trong số các địa điểm mà Nhật Bản chuyển hướng sang đầu tư có Thái Lan và Việt Nam. Đầu tiên là Thái Lan, từ giờ trở đi là Việt Nam. Đó chính là điểm quan trọng. Việt Nam có 93 triệu dân, 67% là nông dân. Tại các khu vực miền núi ở biên giới giáp với Lào và Campuchia, thu nhập bình quân một năm tối thiểu chỉ đạt từ 5 đến 10 triệu đồng. Mức thu nhập này sẽ tăng gấp 10 lần trong vòng 10 năm tới. Một vấn đề khác là các thực tập sinh kỹ thuật của Việt Nam đến Nhật Bản với mục đích có thu nhập cao hơn và khi trở về, họ sẽ đem theo các kiến thức kỹ thuật của Nhật Bản trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi.

Trước đó, ngày 19/4, phía Nhật Bản đã kết hợp với Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức cuộc thảo luận doanh nghiệp. Trong dịp đó, các nhà đầu tư Nhật Bản đã cam kết đầu tư vào Việt Nam tới 100 tỷ Yen (gần 1 tỷ USD) với 16 hợp đồng được ký kết. Vì vậy, trong tương lai, hoạt động đầu tư của Nhật Bản tại Việt Nam sẽ tăng mạnh, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, sữa, chăn nuôi. Đối với cây cacao, nhà đầu tư Nhật Bản dự định sẽ trồng tại Đà Lạt. Nhật Bản đang tiến hành thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp ở Yên Bái và Đà Lạt. Ngoài ra, Nhật Bản cũng đầu tư vào nhiên liệu chất đốt biomas. Tiến trình hợp tác từ nay về sau đã được xác định. Về cây cacao, Nhật Bản học tập kỹ thuật của người Pháp, Nhật Bản có nhà máy chocolate lớn nên đang xúc tiến thảo luận vấn đề này.

Sau khi xác định chủ trương trên, phía Nhật Bản dự kiến sẽ đẩy mạnh tốc độ thành lập các doanh nghiệp tại Việt Nam. Trong vòng khoảng 10 năm tới sẽ có 2000 – 3000 doanh nghiệp. Thực tế hiện nay, các tu nghiệp sinh kỹ thuật Việt Nam sau khi về nước sẽ không có nơi làm việc phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ liên kết với JICA, song song với việc đưa tu nghiệp sinh sang Nhật Bản đào tạo, đồng thời lập doanh nghiệp, xây dựng xí nghiệp và đưa những thực tập sinh được đào tạo tại Nhật Bản làm quản lý các cơ sở tại Việt Nam. Một trong những trở ngại lớn nhất là vấn đề nhân lực đối phó với các vụ tai nạn thảm họa liên quan đến lao động. Nhật Bản sẽ lập hệ thống hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện các chế độ bảo hiểm tai nạn lao động. Kế hoạch này đang được thảo luận. Ngoài ra, các ngành kinh tế khác như dịch vụ, chế biến thực phẩm, cũng đang được thảo luận. Mặt khác, theo các doanh nghiệp Nhật Bản, tình trạng hối lộ trong chế độ xã hội chủ nghĩa cũng là vấn đề. Vì vậy, rất mong Chính phủ Việt Nam giải quyết dứt điểm vấn đề này. Nhật Bản không hiểu được tình trạng hối lộ này. Nhật Bản là nhà nước pháp trị, mọi người đều làm việc theo luật pháp. Việt Nam nên học tập Nhật Bản trong vấn đề này.

Ông Fumiyasu Akegawa cho rằng hiện tại, nhiều người Việt Nam chưa biết nhưng chế độ thực tập sinh kỹ thuật đã thay đổi từ 3 năm lên 5 năm. Các thực tập sinh Việt Nam rất nghiêm túc, chăm chỉ nhưng cũng có những thực tập sinh rơi vào các nhóm xấu. Chính phủ Nhật bản sẽ phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam để giải quyết vấn đề này. Người Việt Nam rất chăm chỉ, cần cù, người Nhật Bản phải học Việt Nam điều này. Người Việt Nam đang có nhiều điều người Nhật Bản đã đánh mất. Hy vọng rằng trong 10 năm tới, Việt Nam sẽ phát triển vô cùng mạnh mẽ.

Nguồn: TKNB – 02/06/2017

Hòa giải Trung – Nhật khó tạo được đột phá


Zhang Yun

Cuối năm 2016 vừa qua, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đến thăm Trân Châu Cảng, tưởng niệm những người thiệt mạng tại Đài tưởng niệm USS Arizona, xây trên xác tàu chiến USS Arizon. Sau đó ông Abe và Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng có bài phát biểu, trong đó hai bên đều nhắc đến cụm từ mang ý nghĩa then chốt “sức mạnh hòa giải”.. Mặc dù Nhật Bản và Mỹ đều đánh giá cao ý nghĩa của việc hòa giải lịch sử, nhưng đối với Trung Quốc, hành động này của Abe chỉ mang tính nhất thời, không đồng nghĩa với việc hòa giải vấn đề lịch sử với tất cả các quốc gia châu Á. Ngay trong ngày ông Abe tới thăm Trân Châu Cảng (28/12), Bộ trưởng Tái thiết các khu vực thảm họa của Nhật Bản, ông Masahiro Imamura, đã đến thăm đền Yasukuni. Tiếp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Tomomi Inada ngay sau khi tháp tùng ông Abe trong chuyến công du tới Trân Châu Cảng trở về cũng viếng thăm ngôi đền chiến tranh nhiều tranh cãi này.

Sự tiếp nối của thể chế San Francisco

Với Nhật Bản và Mỹ, Trân Châu Cảng và Hiroshima là hai địa danh nhạy cảm nhất trong lịch sử chiến tranh hai nước. Tháng 5/2016, ông Barack Obama trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm Hiroshima và lần này là chuyến công du của ông Shinzo Abe. Đây được xem như là những hành động ngoại giao mang tính biểu tượng của Mỹ và Nhật Bản trong vấn đề lịch sử để chứng tỏ hai bên đã vượt qua mọi cấm kỵ, hòa giải thành công, từ kẻ thù trở thành đồng minh. Có thể nhận thấy rằng ý tưởng và cách thức hòa giải lịch sử của ông Abe gồm ba bước: Bước thứ nhất, thông qua chuyến thăm Trân Châu Cảng nhổ đi “cái gai” cuối cùng trong ký ức chiến tranh hai nước Mỹ – Nhật, thể hiện quyết tâm đoạn tuyệt chiến tranh của Tokyo, trên cơ sở đó củng cố vững chắc quan hệ đồng minh chiến lược với Washington. Bước thứ hai, sau khi củng cố vững chắc quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ, Tokyo sẽ dựa vào Washington để giải quyết dứt điểm vấn đề lịch sử với Hàn Quốc. Bước thứ ba, lấy kết quả đạt được của hai bước kể trên làm hậu thuẫn để tiến tới hòa giải vấn đề lịch sử với Nga và Trung Quốc. Trên phương diện hành động cụ thể cũng hoàn toàn như vậy, ông Abe muốn thông qua việc giải quyết thành công vấn đề lịch sử với Mỹ bằng con đường ngoại giao để xây dựng mô hình giải quyết vấn đề lịch sử với Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc. Năm 2015, khi phát biểu tại Thượng viện cũng như Hạ viện Mỹ, ông Abe đều nhấn mạnh sự thương tâm và đau khổ bởi chiến tranh, nhưng không đưa ra lời xin lỗi. Tương tự, nhiều năm qua, ông Abe trong thông điệp kỷ niệm ngày kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai (15/8) cũng chỉ nhấn mạnh tới sự bi thảm của chiến tranh, không hề đề cập đến khái niệm “xin lỗi”. Cuối năm 2015, Nhật Bản và Hàn Quốc đạt được nhận thức chung về việc giải quyết vấn đề phụ nữ mua vui trong chiến tranh, nhưng cơ bản cũng chỉ xuất phát từ quan điểm nhân đạo không hề có ý đề cập đến sự hối hận hay xin lỗi. Việc Tổng thống Mỹ Barack Obama thăm Hiroshima cũng như việc ông Obama và Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cùng thăm Trân Châu Cảng cho thấy Washington cơ bản đồng ý với mô hình giải quyết vấn đề lịch sử của ông Abe. Nhưng vấn đề quan trọng đặt ra là liệu mô hình này của người đứng đầu Chính phủ Nhật bản có được Trung Quốc chấp nhận hay không. Nội dung chủ yếu trong vấn đề lịch sử giữa Mỹ và Nhật Bản cơ bản đã được quyết định khi Hòa ước San Francisco được ký kết. Do đó, việc nguyên thủ hai nước thăm Hiroshima hay Trân Châu Cảng xét trên khía cạnh ngoại giao có thể coi là một bước đột phá, nhưng thực chất vẫn chỉ là sự tiếp nối của thể chế San Francisco. Ngày 15/8/1945, Nhật Hoàng Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Sau đó trong thời gian Mỹ chiếm đóng Nhật Bản, Tướng Douglas MacArthur đã nhiều lần cùng Nhật Hoàng thảo luận về các vấn đề chính trị. Trên thực tế, hai người đã thông qua một loạt cơ chế và điều ước, đồng thời đạt được sự hiểu biết nhất định trong vấn đề lịch sử giữa hai nước, loại bỏ trở ngại cho con đường phát triển đất nước của Nhật Bản sau chiến tranh. Tòa án tội ác chiến tranh Tokyo năm 1946 là cơ chế chính để Mỹ và Nhật Bản giải quyết vấn đề lịch sử. Washington quy kết trách nhiệm gây ra cuộc chiến tại châu Á – Thái Bình Dương cho Hideki Tojo, Thủ tướng Nhật Bản khi đó, còn Nhật Hoàng được bảo lưu địa vị và miễn ra tòa.

Theo logic trên, sau khi di chuyển hài cốt các tội phạm chiến tranh đến đền Yasukuni, Nhật Hoàng đã dừng hẳn việc đến thăm ngôi đền này. Đây thực ra chính là hành động thực hiện cam kết ngầm về vấn đề lịch sử giữa Nhật Bản và Mỹ. Bản Hiến pháp hòa bình do Mỹ đề quy định Nhật Bản phải từ bỏ quyền phát động chiến tranh, nhưng giữ lại chế độ quân chủ nên Nhật Hoàng rất tích cực ủng hộ. Những năm 70 của thế kỷ trước, khi bị truy vấn về việc Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima, Nhật Hoàng Hirohito thường nói rằng trong bối cảnh chiến tranh lúc đó cũng không có biện pháp nào khác. Điều này cho thấy sự việc được cho là “cái gai” lớn nhất trong vấn đề lịch sử giữa Mỹ và Nhật Bản cơ bản đã được giải quyết ở tầng cao. Chỉ có điều khác là lòng dân khi đó chưa chín muồi để nguyên thủ hai nước đi thăm Hiroshima hay Trân Châu Cảng.

Hòa giải lịch sử Trung – Nhật khó tạo được đột phá

So với việc hòa giải lịch sử Nhật – Mỹ như đã đề cập ở trên, tiến trình hòa giải lịch sử giữa Nhật Bản và các quốc gia châu Á hơn 70 năm qua không mấy tiến triển. Xét theo khía  cạnh bên ngoài, Trung Quốc thường cho rằng do thế lực cánh hữu của Nhật Bản cản trở và gây rối. Ngược lại, Nhật Bản lại cho rằng Trung Quốc và các nước luôn lợi dụng “con bài lịch sử”. Tuy nhiên, do vấn đề tồn tại giữa hai nước, trong đó bao gồm cả vấn đề chủ quyền lãnh thổ vẫn chưa được giải quyết nên ảnh hưởng đến tầm sâu quan hệ, tạo ra mâu thuẫn cả về tư duy lẫn cơ chế để xem xét vấn đề lịch sử.

Thứ nhất, Nhật Bản cho rằng mình đã chấp nhận Hiến pháp hòa bình do Mỹ đề ra, đi theo con đường hòa bình và tích cực gia nhập trật tự thế giới do Mỹ làm chủ đạo, đồng nghĩa với việc đã giải quyết xong vấn đề lịch sử. Theo Nhật Bản, châu Á – Thái Bình Dương là chiến trường chủ yếu của Chiến tranh thế giới thứ hai và Nhật Bản bị Mỹ đánh bại trong cuộc chiến trên biển. Kết quả là Nhật Bản đã đầu hàng, tham gia thể chế San Francisco do Mỹ làm chủ đạo và trở thành đồng minh của Washington. Trong khuôn khổ đó, Nhật Bản cũng từng bước quay lại Liên hợp quốc, tham gia Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế…, đồng thời cùng các quốc gia Đông Nam Á bàn thảo việc bồi thường chiến tranh. Năm 1965, Nhật Bản và Hàn Quốc tuyên bố bình thường hóa quan hệ, nhưng trên thực tế là do Mỹ tích cực thúc đẩy nên việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước mới trở thành hiện thực. Điều này cho thấy buộc phải có sự vào cuộc của Mỹ thì Nhật Bản mới giải quyết được vấn đề đặt ra. Nói một cách khách quan, Nhật Bản chưa đủ động lực để tự mình làm chủ trong việc giải quyết vấn đề lịch sử với các quốc gia châu Á.

Thứ hai, Trung Quốc không tham gia sáng lập thể chế San Francisco. Cho dù Bắc Kinh có ủng hộ Hiến pháp hòa bình do Washington đề ra thì cũng cảm thấy bất mãn trước việc Mỹ vì lợi ích chiến lược của mình mà dung túng Nhật Bản trong vấn đề lịch sử, hoặc cần phải cảnh giác và đề phòng trước những yếu tố đối đầu với Trung Quốc của liên minh Mỹ – Nhật. Trung Quốc là lực lượng chủ yếu đương đầu với quân Nhật trên chiến trường châu Á trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phải gánh chịu nhiều tổn thất nên vấn đề lịch sử của Nhật Bản trước tiên phải là vấn đề giữa Trung Quốc và Nhật Bản, sau đó mới đến vấn đề giữa Mỹ và Nhật Bản. Thứ ba, do khác biệt về tư duy trong vấn đề hòa giải lịch sử nên sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản ngày càng sụt giảm. Một hiện tượng kỳ lạ là sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản không hề được củng cố và tăng cường qua các hoạt động giao lưu, đối thoại. Ngược lại, hai bên càng giao lưu, càng đối thoại nhiều thì sự tin tưởng lẫn nhau càng sụt giảm. Dự án nghiên cứu sách giáo khoa lịch sử chung giữa Bắc Kinh và Tokyo rốt cuộc cũng “đường ai nấy đi”. Điều đáng buồn cũng như thất vọng hơn đối với cả hai, Trung Quốc và Nhật Bản trong chính sách của mình luôn áp dụng lấy giải pháp quan hệ ngoại giao với Mỹ để điều tiết quan hệ song phương. Con đường hòa giải lịch sử của ông Shinzo Abe trên thực tế cho thấy người đứng đầu Chính phủ Nhật Bản chưa đủ tự tin để trực tiếp giải quyết vấn đề lịch sử với Trung Quốc, nên mới lấy thành tựu ngoại giao với Mỹ để khích lệ. Trung Quốc hoàn toàn không thể chấp nhận mô hình của Abe, “hòa giải mà không xin lỗi”. Do đó, con đường hòa giải giữa Trung Quốc và Nhật Bản không phải ngày một gần hơn mà ngược lại có thể sẽ ngày càng xa hơn. Tương tự, trong bối cảnh chính trường Hàn Quốc đang có sự biến động, Nhật Bản đang lo ngại rằng chính quyền mới có thể sẽ thay đổi nhận thức chung về vấn đề phụ nữ mua vui trong chiến tranh mà Tokyo và Seoul dưới thời bà Park Geun-hye đã đạt được, đồng thời bắt tay với Trung Quốc để chống lại Nhật Bản trong vấn đề lịch sử. Thêm vào đó, những dấu hiệu về cải thiện quan hệ Nga – Mỹ khi Donald Trump lên nắm quyền cũng đang phủ bóng đen lên ý tưởng dựa vào Mỹ để giải quyết vấn đề quần đảo Kuril với Nga của Nhật Bản.

Tựu chung lại, toan tính lấy việc hòa giải với Mỹ làm cơ sở để thúc đẩy tiến trình hòa giải với các nước Đông Bắc Á của ông Abe là một ý tưởng không tồi. Tuy nhiên, nếu Tokyo không xuất phát từ tư duy chiến lược, đồng thời nhận thức rõ rằng hòa giải lịch sử với các nước Đông Bắc Á là yêu cầu đòi hỏi của việc đảm bảo lợi ích quốc gia thì rốt cuộc vấn đề chủ quyền lãnh thổ sẽ không vượt ra khỏi thể chế San Francisco, còn hòa giải lịch sử sẽ khó lòng tạo ra bước đột phá.

Nguồn: Liên hợp Buổi sáng (Sing) – 12/01/2017

TLTKĐB – 18/01/2017

Kim Jong-un và Donald Trump “nắn gân” nhau ở Thái Bình Dương


Thái Bình Dương đang trở thành “đấu trường” của hai nhà lãnh đạo khó lường. Một bên là lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, một nhà quân phiệt có khuynh hướng hoang tưởng tự cho mình gần như thượng đế, theo đuổi tham vọng vũ khí nguyên tử tác chiến; còn bên kia là Donald Trump, một Tổng thống Mỹ “bắn” Tweet mau lẹ, một người có vẻ mắc chứng thiếu ngủ, khó đoán và sắp đến 100 ngày nhậm chức chủ nhân Nhà Trắng, tự cam đoan “giải quyết vấn đề Triều Tiên”.

Theo xã luận “Trò chơi nguy hiểm ở Thái Bình Dương” trên nhật báo Le Monde ngày 26/4, hai nguyên thủ quốc gia Mỹ và Triều Tiên sinh ra không phải để hiểu nhau. Điều này thật nguy hiểm! Trong thời Chiến tranh Lạnh, Mỹ và Nga đã học cách đối thoại. Mỗi bên hiểu khá chính xác về cách nhận thức của đối thủ. Kết quả là có được một loạt những thỏa thuận lớn về việc kiểm soát và giải trừ một phần vũ khí nguyên tử của hai “Ông lớn” vào thời kỳ đó.

Tuy nhiên, điều này dường như không xảy ra trong trò chơi tay ba tại Thái Bình Dương. Ở Triều Tiên, Kim Jong-un tăng cường các vụ bắn tên lửa và thử hạt nhân. Cháu nội của nhà lãnh đạo khai sinh chế độ độc tài đang cầm quyền ở Bình Nhưỡng đủ sức đe dọa Hàn Quốc và Nhật Bản. Mối đe dọa này dù chưa thể vươn tới bờ Tây của Mỹ, nhưng Kim Jong-un vẫn đang cố.

Còn tại Mỹ, Tổng thống Donald Trump rầm rộ đưa ra hết cảnh báo này đến cảnh báo khác nhắm vào lãnh đạo trẻ họ Kim. Với Nhà trắng, không có chuyện để nguyên tình trạng hiện nay: “Chúng ta phải giải quyết” và “nếu Trung Quốc không giúp thì chúng ta sẽ tự làm”, Tổng thống Trump vẫn thường nhắc như vậy. Còn tại Bắc Kinh, chính quyền Tập Cận Bình vô cùng thất vọng về Kim Jong-un, nhưng vẫn tiếp tục hỗ trợ kinh tế cho đồng minh khó chơi này.

Vậy mục tiêu của mỗi bên là gì? Có được vũ khí nguyên tử là lá bùa bảo đảm cho sự tồn tại của chế độ Triều Tiên. Chiến lược của Kim Jong-un làm cho cả thế giới tin rằng ông ta sẵn sàng sử dụng vũ khí nguyên tử trước tiên, nếu ai đó muốn lật đổ ông. Tổng thống Donald Trump lại cho rằng vấn đề Triều Tiên là một thành tố trong quan hệ Trung – Mỹ: Để có được mối quan hệ tốt đẹp về kinh tế và chiến lược với Mỹ, Trung Quốc phải thuyết phục được Bình Nhưỡng từ bỏ chương trình hạt nhân.

Tại Bắc Kinh, giới lãnh đạo ưu tiên nguyên trạng. Chế độ Bình Nhưỡng sụp đổ sẽ dẫn đến việc bán đảo Triều Tiên thống nhất dưới sự chỉ đạo của Seoul, đồng minh chiến lược của Mỹ. Hiện lực lượng Mỹ đồn trú ở Hàn Quốc. Nếu Bán đảo Triều Tiên thống nhất, lính Mỹ sẽ có mặt ngay gần cửa ngõ Trung Quốc. Với Bắc Kinh, đây là điều không chấp nhận được. Nếu Washington vân muốn gắn các hồ sơ với nhau, Bắc Kinh còn có một yêu sách khác. Đó là Mỹ ngừng phản đối sự thống trị của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tổng thống Mỹ từng tỏ ra không ngại dùng đến sức mạnh, như ở Syria hay Afghanistan. Với hồ sơ Triều Tiên, biện pháp có khả năng xảy ra nhất là tiếp tục chính sách trừng phạt chế độ Bình Nhưỡng. Thế nhưng, các biện pháp này chưa bao giờ khiến Kim Jong-un chùn bước. Biện pháp được hy vọng nhất có lẽ là một cuộc đàm phán chiến lược thực sự giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này cũng nhằm lấp đầy khoảng trống an ninh, trong đó có cả khu vực Thái Bình Dương, một trong những vùng năng động nhất thế giới.

Donald Trump cảnh báo Bình Nhưỡng bằng tàu ngầm và tàu sân bay

Ý định giải quyết vấn đề Triều Tiên của Mỹ và sự ngờ vực cảu Kim Jong-un khiến tình hình tại Đông Bắc Á trở nên bất trắc chưa từng có. Trong bài “Trump cảnh báo Bình Nhưỡng”, nhật báo Le Figaro cho rằng sự xuất hiện của tàu ngầm USS Michigan trong vịnh Busan, Hàn Quốc, là dấu hiệu gia tăng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.

Tàu ngầm của Mỹ được trang bị tên lửa hành trình và tên lửa Tomahawk có khả năng tấn công lãnh thổ Triều Tiên chỉ trong vòng vài phút. Hành động này nhằm cảnh cáo ý định tiến hành thử hạt nhân lần thứ sáu của Kim Jong-un. Trước “lãnh tụ tối cao” của Triều Tiên, Tổng thống Mỹ lên gân quân sự, đúng ngày thành lập Quân đội Nhân dân Triều Tiên trong khi chờ tàu sân bay USS Carl Vinson đến khu vực.

Từ nhiều ngày nay, chế độ Bình Nhưỡng không ngừng đe dọa một “cuộc chiến toàn diện” chống Washington trên khắp các phương tiện truyền thông Nhà nước. Những lời tuyên bố hùng hồn đó không làm đảo lộn cuộc sống người dân Triều Tiên, vốn đã quen với những lời kêu gọi tổng động viên và tình trạng giới nghiêm từ vài thập kỷ nay.

Tuy nhiên, giống nhận định trong bài xã luận của Le Monde, Le Figaro cho rằng lựa chọn ngoại giao dường như vẫn được Washington ưu tiên, với lời kêu gọi Liên hợp quốc trừng phạt mạnh hơn Triều Tiên của Tổng thống Mỹ. Cả Washington và Tokyo yêu cầu cấm vận dầu mỏ đối với Bình Nhưỡng, vẫn được trung chuyển qua Trung Quốc. Dưới sức ép, Bắc Kinh đôn đáo trên mặt trận ngoại giao để tránh một cuộc khủng hoảng ngay sát biên giới, có thể sẽ dẫn đến sự hỗ loạn tại vùng biên giới Đông Bắc.

Le Figaro dẫn lại lời của China Daily, “các nhà hoạch định chiến lược của Bình Nhưỡng diễn giải sai lệch các  biện pháp trừng phạt của Liên hợp quốc. Theo họ, trừng phạt nhắm vào các cuộc thử hạt nhân và tên lửa, chứ không phải nhằm vào chế độ hay các nhà lãnh đạo”. Trong một bài xã luận, mang màu sắc cảnh cáo cuối cùng, China Daily viết: “Họ (chế độ Bình Nhưỡng) đánh giá quá cao một cách nguy hiểm lực lượng của mình và đánh giá thấp mối hiểm họa ngày càng lớn dần”.

Nguồn: TKNB – 28/04/2017