Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần cuối


Gà trống báo hiệu ánh sáng bình minh sắp đến, tượng trưng cho việc con người đang đi từ biết đến nhận biết.

Đồng hồ cát cho phép con người được suy nghĩ về thời gian.

Bánh mì là cách con người tự nhận biết từ sống đến chín.

Lửa và nước là yếu tố thiên nhiên sinh động trong vũ trụ, biểu trưng của Tam Điểm, vì lửa thiêu hủy tất cả những điều ác và nước hòa tan tất cả theo thời gian.

Khi trời đất giao hòa, cây sống tươi tốt và đơm hoa kết quả. Cây keo (Acacia) tượng trưng cho sự bất diệt. Theo truyền thuyết, xác Hiram bị chôn dưới gốc cây này. Cây keo là một loại cây có sức sống rất mãnh liệt và tái sinh nhanh ở châu Âu, to như cổ thụ, dù bị chặt sát gốc, cây không chết, hàng loạt chồi từ các rễ phụ mọc lên vô vàn cây con một cách nhanh chóng và phát triển mạnh mẽ. Thân cây có gai cứng nhọn, việc phá chặt cây không đơn giản, cây có sức chịu đựng mùa đông lạnh giá ở châu Âu. Hoa rất thơm, hương tỏa lan khắp nơi. Acacia tượng trưng cho sự bất diệt của Đại công trình sư Hiram. Thành viên Tam Điểm luôn luôn là những người khát khao đi tìm lại xác của Hiram, tức là đi tìm chân lý và công lý trong cuộc đời. Tờ báo riêng của hội Tam Điểm cũng lấy tên Acacia (Cây keo).

Cây ôliu, theo truyền thống Hy Lạp – La Mã xưa phần thưởng cao quý cho quá trình nỗ lực phấn đấu. Dầu ôliu dùng để thắp và tạo ra ánh sáng. Đối với dân cư đạo Hồi, ôliu mang lại điềm lành, sự giàu có cho con người, là món hàng kinh tế chiến lược của họ. Lá xanh quanh năm tượng trưng sự vĩnh hằng của ánh sáng. Ôliu, lá thơm, lâu héo.

Nguyệt quế cũng là loại cây lá thơm như ôliu.

Ôliu và nguyệt quế, cũng như cây keo, có sức sống mãnh liệt, chịu được thời tiết khắc nghiệt. Mùa đông băng giá, lá nguyệt quết vẫn xanh. Trong các tượng Hy Lạp, La Mã, nhiều bức tượng thần đeo vòng nguyệt quế ở trên đầu, một phần thưởng cao quý dành cho những người chiến thắng trên mọi lĩnh vực.

Hoa hồng tượng trưng cho sự hồi sinh, hiền minh và cái đẹp. Theo truyền thuyết Hy Lạp, loại hoa này trước tiên màu trắng nhưng nữ thần tình yêu Venus trong khi chạy đến cầu cứu Adonis giúp thoát khỏi sự ghen tuông trả thù của thần chiến tranh Mars, chân giẫm phải gai chảy máu, máu của thần tình yêu thấm vào cánh hoa trắng và khiến nó biến thành màu hồng.

Con lừa Apulée ăn hoa hồng này trở lại thành người, nên hoa còn mang nghĩa hồi sinh, tình yêu làm sống lại con người và biến đổi con người từ thú vật thành người. Hoa hồng như ảo thuật, như sự hiền minh, sức mạnh; sắc đẹp làm thay đổi thế giới.

Tổ ong là công trình của thiên nhiên, ong cũng có trật tự tự nhiên nhất định để xây dựng tổ của mình. Ong – những người Thợ cần cù, tượng trưng cho công trình và sự hồi sinh liên tục. Nhiều chi hội Tam Điểm lấy tên tổ ong (Ruche). Ong cũng như những thành viên Tam Điểm cùng nhau xây cất đền thờ, và tổ ong chỉ có một ong chúa, đó là Thầy. Ong có một tổ chức tự nhiên quy củ và tự tạo ra công trình bằng mật hút từ nhụy hoa. Ong chỉ chuyên đi hút sự tinh túy của hoa thơm đem về xây tổ làm ra mật ngọt cho đời. Thành viên Tam Điểm tự ví mình như những con ong đi hút tinh hoa của đời để xây nên trật tự xã hội mới, ngọt ngào như mật ong.

Sàn nhà thờ màu sắc đen trắng đan xen như ngày và đêm, xung quanh lát nhiều màu thể hiện sự đa dạng của cuộc sống con người và họ cũng dựa trên lý thuyết Âm dương của Á Đông để nói về sự tuần hoàn của vũ trụ, sự đối lập đi đến hòa quyện, hài hòa tạo nên vũ trụ. Hai màu trắng đen biểu hiện bóng tối và ánh sáng, đêm và ngày, vật chất và trí tuệ, mà con người sống trong thế giới phải trải qua và nhiều khi còn được giải thích như vòng tròn âm dương của Lão giáo.

Trần nhà trang trí đầy sao. Sao tỏa ánh sáng ra giữa hai dụng cụ chính để giúp con người tài ba xây dựng đền đài vĩ đại. Hình các dụng cụ xây dựng, và ngôi sao ở giữa rất thường gặp trong nhà thờ Tam Điểm. Sao vẽ chi chít trên trần nhà tượng trưng cho nhà thờ không bị che khuất, tạo một cảm giác ở giữa không gian trời đất bao la. Sự hiểu biết chân lý là vô tận, mênh mông như trong vũ trụ. Không phải cứ vào hội Tam Điểm có nghĩa là nắm bắt được hết bí quyết cuộc đời. Tất cả đều vô hạn. Muốn nắm bắt vũ trụ, con người phải tự mình nắm bắt và vươn lên mãi mãi.

Thang vẽ trong những bức tranh trang trí như cấp bậc để con người vươn lên cao tìm sự thật, tìm thấy Thượng đế, tìm thấy chính mình. Cũng như người thợ xây dựng, họ phải leo lên từ bậc thang thấp nhất, tiếp đến lên cao dần mới đạt tới đỉnh. Thang để nhắc cho con người biết mình phải rèn luyện và phấn đấu để tìm được chân lý cuộc sống.

Kiếm để bảo vệ công lý, sự thật, và sự an toàn. Kiếm nhọn là sự tư duy, là sự mài giũa mũi nhọn để xuyên qua được bí mật, huyền bí của ngôn từ, của chữ để ánh sáng trí tuệ từ đấy tràn ra. Kiếm ở đây không phải là vũ khí thuần túy mà là vũ khí ánh sáng. Thời thập tự chinh bên châu Âu, những người lính kỵ mã đeo kiếm để biểu hiện dòng dõi quý tộc. Thành phần hội Tam Điểm ban đầu kết nạp phần đông là tầng lớp quý tộc, kiếm biểu hiện sự cao quý của các thành viên. Lưỡi kiếm ở Tam Điểm mà vị Đại sư đeo uốn lượn như lửa, tượng trưng cho ánh sáng nội lực, lửa, sét và chớp. Khi người mới nhập hội, được Thầy dùng kiếm gõ lên lưng coi như Thầy truyền cho ánh sáng, tức là người Tập sự bắt đầu giác ngộ ánh sáng chân lý. Một số hội Tam Điểm ở Anh và hội dành cho phái nữ không dùng kiếm lưỡi lửa khi làm lễ nhập hội.

Kiếm tượng trưng cho quyền lực thế tục và linh thiêng. Nhà nước và nhà thờ xưa là hai thế lực thường cạnh tranh nhau ở châu Âu. Kiếm biểu trưng cho sự hòa hợp hai quyền lực nhà nước và nhà thờ. Bậc Thầy Tam Điểm bắt buộc phải đeo kiếm, trong các buổi lễ và buổi kết nạp thành viên mới mang ý nghĩa đã được tẩy sạch và sáng tạo. Nhiều thành viên Tam Điểm, trong nhà thường treo thanh kiếm hoặc cái khăn tạp dề để trang trí trên tường.

Tạp dề găng tay bắt buộc dùng khi sinh hoạt hội. Hình thức trang trí, màu sắc tùy từng hội và tùy từng cấp bậc.

Thành viên Tam Điểm coi mình là những người Thợ xây dựng đi xây dựng trật tự xã hội mới, nên đeo tạp dề là thể hiện sự chấp nhận quy luật của một người học nghề thực thụ khi làm việc, chấp nhận làm người học trò của trí tuệ và kiến thức của nhân loại.

Tạp dề màu trắng viền các màu xanh, đỏ, đen, trắng dành cho những cấp bậc khác nhau. Tạp dề có chữ M có nghĩa là Maҫon – tiếng Pháp hay Mason – tiếng Anh (Thợ xây hay Tam Điểm theo tiếng Việt). Khi sinh hoạt hội phải bắt buộc mang tạp dề, còn kiếm thì tùy theo nội quy của mỗi hội.

Chìa khóa mở ra kho báu của nhân loại. Bí mật cuộc đời như kho tàng quý báu, con người phải nắm được chân lý tức là nắm được chiếc chìa khóa để mở được cánh cửa bí mật huyền diệu của sự thật, của ánh sáng. Từ bóng tối, con người tự mày mò ra chiếc chìa khóa để tìm được ánh sáng chân lý.

Sách đem lại kiến thức và sự hiểu biết vô tận. Cuốn sách luôn mở ra, bày trang trọng trên bàn trong nhà thờ, hai bên trang sách có in chữ G – Thượng đế. Chữ G – God để chỉ Thượng đế trong tiếng Anh, G vừa có nghĩa Thượng đế, nhưng cũng có nghĩa Hình học – Géometrie hay Gnose (gốc Hy Lạp là sự hiểu biết). Hội Tam Điểm tự nhận là đứa con mồ côi, cũng có nghĩa không thừa nhận cha, chỉ thừa nhận một đấng sáng tạo duy nhất. Có nhánh không thừa nhận Thượng đế, chỉ thừa nhận đấng sáng tạo ra vũ trụ.

Trong nhà thờ Tam Điểm, cuốn sách thiêng luôn được mở ra, tượng trưng kiến thức luôn mở để đón những người muốn tìm hiểu chân lý qua nhận thức.

Trong nhà thờ Tam Điểm có hai quả cầu tượng trưng cho trời và đất. Mặt trời, mặt trăng đều đem lại ánh sáng. Mặt trời mọc ở phương Đông. Ánh sáng bắt đầu từ Đông. Mặt trời và mặt trăng ngày đêm đem ánh sáng cho nhân loại. Quả địa cầu tượng trưng cho sự liên minh nhân loại trên thế giới.

Trong nhà thờ có hai cột, cột dựng ở phía bắc khắc chữ J (Jakin), tiếng Do Thái cổ có nghĩa là “người sẽ lập nên”, là chỗ dành cho hạng Tập sự; còn cột phía nam (B – Boaz), nghĩa là sức mạnh. Trên cái tạp dề, đọc từ trái sang phải có nghĩa là người sẽ thiết lập nên sức mạnh; mặt trăng chiếu thẳng vào cột B truyền năng lượng, còn mặt trời chiếu trước cột J. Ánh sáng mặt trăng là ánh sáng phản quang từ mặt trời, con người có hiểu biết sẽ sử dụng ánh sáng hiểu biết mà mình đạt được để phát sáng trí tuệ. Trong nhà thờ Tam Điểm ở Anh, ba cột tượng trưng cho sự Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Mỗi cuộc họp đều được thắp sáng để nói lên những gặp gỡ thảo luận trao đổi kiến thức sẽ dẫn con người đạt được Hiền minh, Sức mạnh và Hoàn mỹ. Tại trụ sở một số hội Tam Điểm chỉ đặt tượng trưng trên bàn hai cột nhỏ, trên để hai quả cầu tượng trưng cho trái đất và trời. Khi hội họp, cột địa cầu hạ nằm xuống, cột trời dựng lên, cuối buổi dựng ngược lại.

Rất nhiều hình tượng và con số mang tính huyền ảo bí ẩn trong Tam Điểm, tương tự như trong phim Da Vinci code (Mật mã Da Vinci). Con người có nhiệm vụ phải đi tìm được mật mã để đến được kho báu của nhân loại. Trong Tam Điểm, con người cũng phải tự tìm ra mật mã để mở cánh cửa đến được chân lý sự thật và nói nôm na theo Phật giáo là giác ngộ. Hình tượng trong hội Tam Điểm rất phong phú và đa dạng, mang nhiều ý nghĩa nhằm hướng con người tự vận động không ngừng để nắm bắt trí tuệ và tự nhận thức để hoàn thiện bản thân.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần III


3/ Một số biểu tượng của Hội Tam Điểm

Biểu tượng của hội Tam Điểm dựa trên lòng hiếu học. Khát vọng nắm bắt và chinh phục vũ trụ là nguyên nhân chính đã gắn chặt với ham muốn tồn tại, tình yêu chân lý và cuộc sống. Sự ngu dốt cản trở tự do của con người. Sự hiểu biết giúp con người tự giải phóng chính bản thân ra khỏi sự lệ thuộc. Hiểu biết về sự thật thường biến đổi cũng như lịch sử diễn biến không ngừng. Hôm nay sự khám phá đó chỉ là chân lý tạm thời trong một giai đoạn, ngày mai nó trở nên lỗi thời, con người luôn phải tự trau dồi và khám phá không ngừng. Sự tiến triển không ngừng bao trùm cả tôn giáo, chính trị, thậm chí khoa học.

Khoa học cũng có thể nhầm lẫn, mọi quan niệm tôn giáo, triết lý và chính trị cũng có thể nhầm hoặc thiếu sót, cần được bổ sung và liên tục hoàn chỉnh, phù hợp với từng giai đoạn của cuộc sống. Chính vì thế nên có sự khác biệt, bất đồng về những quan niệm triết lý khác nhau, nhưng các thành viên hội Tam Điểm đều có ý thức tích cực là không thù hận giữa các chi hội, và luôn tìm cách giải quyết mâu thuẫn giúp nhau khi gặp khó khăn. Mỗi thành viên Tam Điểm đều dùng một số biểu tượng chung, cùng với quy định mật khi hoạn nạn, cách bắt tay để nhận biết, ở mọi nơi trên thế giới.

Như huyền thoại, thành viên Tam Điểm là những người thợ xây ngôi đền của vũ trụ, các dụng cụ thợ xây được coi là biểu tượng sức mạnh của họ. Những dụng cụ rất đơn giản, nhưng với trí óc tuyệt vời con người đã làm nên những công trình vĩ đại của thế kỷ. Êke (thước góc vuông), thước thợ, quả dọi, dao bay, compa, búa là những dụng cụ cần thiết tối thiểu của những người thợ để tạo nên những đền đài, nhà thờ hoành tráng khắp nơi trên thế giới. Các dụng cụ được vẽ trong logo biểu tượng là các dụng cụ đơn giản nhưng nói lên những phẩm chất làm nên tất cả sự thật. Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng chi nhánh và cách vẽ sáng tạo của người họa sĩ, kiến trúc và kiểu trang trí ở các nhà thờ Tam Điểm hơi khác nhau. Hình tam giác, con mắt, chiếc compa, thước thợ, dây dọi là những hình không thể thiếu được trong bất kỳ hội Tam Điểm nào trên khắp thế giới.

Compa tượng trưng cho dương, cho sự đoàn kết, sự kết nối vòng tròn.

Con mắt giữa mặt trăng và mặt trời như cán cân để cân bằng sáng tối, để hài hòa thế giới, mắt tượng trưng cho sự hiện diện thấy được khắp nơi.

Thước vuông êke tượng trưng cho yếu tố âm, biểu tượng của công lý và sự chính xác. Âm dương hòa hợp mang ý nghĩa khi con người biết đoàn kết và theo công lý thì sẽ tìm được chân lý, tức là xây dựng được một trật tự mới. Âm dương kết nối xung quanh Đấng sáng tạo thế giới (G).

Con mắt trong Tam Điểm được giải thích theo con mắt trong thần thoại Hy Lạp. Con mắt của Horus bị Seth lấy mất trong trận chiến trả thù cho cha. Seth cắt con mắt này thành từng miếng thả xuống sông. Thần Zeus vớt lên trả lại con mắt cho Horus, nhưng lại thiếu một mảnh chỉ bằng 1/64 con mắt.

Thần Zeus đã tái tạo tài tình, phù phép nốt ột hần nhỏ bé đó để cho con mắt của Horus hoàn chỉnh hay còn gọi là oudjat (có nghĩa là đầy đủ, hoàn chỉnh). Con mắt Horus tượng trưng cho ánh sáng, sự hiểu biết, sự thấu thị và tìm ra hạnh phúc. Để mãi tưởng niệm cuộc chiến vì nghĩa chống lại điều ác, con người lấy con mắt để biểu tượng cho sự hoàn hảo, nhìn thấu được mọi điều trên thế gian, giúp những người làm điều thiện chống điều ác. Hội Tam Điểm còn dùng những con số bí ẩn để nói lên sự hoàn thiện cuối cùng như mảnh thứ 64, và sự đền đáp của đấng thiêng liêng khi con người có khát vọng thực sự và quyết tâm đạt được ý muốn hoàn thiện của chính mình. Sự tìm tòi những bí ẩn của cuộc đời là hành trình của mỗi cá nhân. Những sự ngẫu nhiên và những con số kỳ diệu đã tạo nên những bí ẩn của cuộc đời. Cuộc đời cũng chẳng có gì là bí ẩn, nếu con người có khát vọng tìm hiểu và đi tìm chân lý, họ sẽ tìm được mảnh thứ 64.

Hình tam giác tượng trưng cho sự hoàn hảo. Theo huyền thoại Tam Điểm, hình tam giác là nơi cất giữ bí quyết của Moses truyền cho con người mà Hiram ném xuống giếng trước khi mất. Theo đạo Công giáo thì hình tam giác là ba dấu thánh nhân danh Cha-Con-Thánh thần. Cả ba đều đóng vai trò chủ thể như nhau trong việc tạo dựng thế giới. Nhiều nhà thờ có con mắt của Chúa, hoặc hình ảnh của Chúa bên trong hình tam giác. Trong đạo Ki-tô cũng có hình tam giác, mắt và Chúa. Trong khi theo Tam Điểm thì hình tam giác mang nhiều ẩn ý khác. Trong biểu tượng Tam Điểm, chỉ có con mắt ở giữa, không có hình đầu Chúa bên trong như bên Ki-tô giáo. Trong biểu tượng Tam Điểm, tam giác còn có nghĩa là ba cấp bậc (Tập sự – Thợ – Thầy), và ba tiêu chí “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”. Tất cả mọi cấp bậc đều bình đẳng dù ở góc độ nào. Con người quyết tâm vươn lên sẽ đứng được ngang tầm. Tập sự giỏi sẽ vươn lên ngang với Thợ và tiếp tục cố gắng sẽ thành Thầy.

Ngược lại, Thầy luôn tiếp tục trau dồi kiến thức như Tập sự để vươn lên thành Thợ và thành Thầy ở mức độ cao hơn. Thầy cũng là Tập sự của nhận thức không ngừng tiến triển. Kiến thức tạo cho con người bình đẳng và vươn lên đỉnh cao. Hai hình tam giác ghép lại mang ý nghĩa khác.

Hình tam giác có đỉnh hướng lên trên tượng trưng cho lửa – dương, ngược lại hình có đỉnh chúc xuống dưới tượng trưng cho nước – âm. Hai hình tam giác úp đáy vào nhau tạo thành một hình thoi tượng trưng cho hòa hợp âm dương. Hai hình đan xen vào nhau thành ngôi sao David trong ấn của Solomon.

Con số 3 luôn được sử dụng như một mật hiệu. Trước khi vào thỉnh Thầy, thành viên Tam Điểm phải gõ cửa ba lần xin phép, Thầy gõ đáp lại là được phép. Ba ngọn nến thắp trong các nhà thờ vào lúc hành lễ và hội họp tượng trưng cho Mặt trời, Mặt trăng và Thầy. Trời trị vị ban ngày, Trăng trị vì ban đêm, Thầy điều khiển toàn bộ hội. Trong một số nhà thờ hội Tam Điểm có dựng ba cột tượng trưng cho sự hiền minh – sức mạnh – hoàn mỹ. Nhờ hiền minh mới tạo ra sức mạnh. Khi con người có sức mạnh, có tiềm lực mới đạt được cái đẹp, cái hoàn thiện. Ba ngạch trong Tam Điểm: Tập sự – Thợ – Thầy, ba luồng ánh sáng vĩ đại là cuốn Luật thiêng, compa, và thước thợ. Trong mỗi luồng ánh sáng có Thầy và hai người trực bên là thư ký và diễn giả. Ba luồng ánh sáng là Mặt trời, Mặt trăng và ánh sáng của Thầy. Thầy cũng như ánh sáng Mặt trời, Mặt trăng, là nguồn kiến thức truyền lại. Tôn sư, trọng đạo chính là nguyên tắc đạo đức căn bản trong Tam Điểm. Ánh sáng ở đây bao hàm nhiều ý nghĩa cũng như tam giác ba cạnh. Cuốn Luật thiêng chính là thánh thư của hội Tam Điểm. Đọc sách tức là con người tự kiểm nghiệm và đón nhận thông điệp. Mỗi cuốn sách mang một thông điệp nội tại và người đọc tự khám phá ra thông điệp. Thông điệp trong sách chính là ánh sáng nuôi từ những ánh sáng khác, tức là mọi tri thức đều bắt nguồn từ những tri thức khác, khám phá tri thức là không ngừng để tìm ra ánh sáng. Con số 3 thiêng liêng, khi viết thư cho nhau thành viên Tam Điểm thường ký hiệu ba chấm như ba góc hình tam giác. Ngoài ra cũng có nhiều con số khác nhau mang tính chất huyền bí. Số 5, năm yếu tố của thiên nhiên làm nên vũ trụ tượng trưng cho sự hòa hợp giữa Trời và Đất, giống như trong triết lý phương Đông.

Kim tự tháp do những hình tam giác ghép tạo thành. Kim tự tháp nói lên khát vọng vươn lên đỉnh cao của con người, thể hiện sức mạnh tài giỏi của Thợ xây (tức là của hội Tam Điểm) và là đỉnh cao ánh sáng. Kim tự tháp Ai Cập là những công trình kiến trúc nổi tiếng với nghệ thuật thiết kế ánh sáng tài tình. Chỉ có một tia sáng xuyên qua một khe hở chiếu thẳng vào mộ khi mặt trời lên. Hội Tam Điểm thường dùng kim tự tháp để làm logo, để nói lên sức mạnh vĩ đại huyền bí của Thượng đế và con người. Không phải vô tình mà trong tờ giấy bạc một dollar của Hoa Kỳ có in hình kim tự tháp chưa xây xong, còn thiếu cái chóp, trên có hình con mắt. Phía dưới con mắt có khẩu hiệu “Novus Ord Sectorum” (Trật tự mới toàn cầu) gần giống như biểu tượng của Illuminati trong hội Tam Điểm. Trong quốc ấn Hoa Kỳ cũng có hình kim tự tháp mất đầu và con mắt soi sáng ở trên, nhìn thấu vạn vật. Con người khi đạt tới đỉnh cao như nắm bắt được ánh sáng. Ánh sáng của trí tuệ, của ý thức, con mắt như mở ra tìm được con đường mới. Đồng một dollar là đồng tiền giấy có giá trị nhỏ nhất, từ cái nhỏ nhất con người có thể đến cái lớn hơn như 1/64 mảnh mắt thiếu tìm được.

Một số con vật cũng mang ý nghĩa tượng trưng trong Tam Điểm, như rắn là tượng trưng cho sự thông minh, sắc sảo, sự bất tử vì lột xác để lớn lên. Con người muốn lớn lên phải biết tự lột xác mình, qua nhận thức học hỏi. Kiến thức sẽ giúp con người lớn lên. Nhưng con người phải tự biết can đảm lột xác thông minh như con rắn.

Bình thường rắn không tấn công đối phương trước, chỉ dùng vũ khí nọc độc tự vệ trong trường hợp gặp nguy hiểm, khi bị động đến, nó sẽ phản ứng, chỉ cần cắn nhẹ cũng đủ gây tổn thương và thiệt mạng cho đối thủ. Nhờ sự thông minh và khôn khéo, rắn trở thành con vật tượng trưng cho Tam Điểm.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần II


Khi vua David chiếm được Jérusalem, ông tuyên bố nơi đây là thủ phủ, và thành phố này được đặt tên là thành David. Để tạ ơn thần đã giúp ông ngự trị bình an, ông cho xây đền thờ. Ông đã mất trước khi thực hiện được mong muốn này. Solomon kế ngôi cha, ông bắt đầu thực hiện công trình vĩ đại theo ước nguyện của cha. Đền thờ này được coi như nhà thờ đầu tiên của người Do Thái ở Jérusalem, nằm trên quả đồi Moria, nơi mà theo truyền thuyết, Abraham đã đem con trai Isaac đến để cúng cho Yahvé – thần đã sinh ra con người nhưng cũng đã tức giận trừng phạt con người bằng trận đại hồng thủy. Đại hồng thủy hung dữ đã giết chết hết con người cùng sinh vật, chỉ có chiếc thuyền gỗ duy nhất của Noé sống sót. Để tránh cơn giận của Yahvé, hàng năm con người tổ chức lễ tế thần để cầu mong sự phù trợ của thần. Solomon ra lệnh xây đền thờ làm nơi tế thần và cầu mưa. Đền thờ có chỗ được mạ vàng.

Đền thờ vĩ đại xây ở Jérusalem được hoàn thành khoảng năm 960 TCN. Công trình vững được gần bốn thế kỷ, sau bị vua Nebuchadnezzar phá vào năm 586 TCN. Gần hai mươi năm sau đó, vua Cyrus chiếm được thành Babylone, thả người Do Thái trước đó bị bắt làm nô lệ. Họ trở về Jérusalem và xây lại đền thờ dưới sự chỉ đạo của Zerubbabal. Công trình hoàn tất vào năm 515 TCN, sau đó bị quân La Mã chiếm và phá hủy. Bây giờ chỉ còn bức tường kiên cố, bên trong đã xây lại hai nhà thờ Hồi giáo trên nền đền thờ cũ. Tuy nhiên, Jérusalem vẫn được coi như là thánh địa, hàng nghìn con chiên hành hương mỗi năm tràn về đất tổ.

Truyền thuyết về hội Tam Điểm tuy cũng dựa trên truyền thuyết về lịch sử xây đền này nhưng nhấn mạnh vai trò và tài năng của những người thợ xây, đặc biệt là Hiram, được oci như đại kiến trúc sư, một vĩ nhân mở đầu cho sự ra đời của Tam Điểm. Do đó, câu chuyện xây cất đền thờ này gắn chặt với công lao của vua Solomon và đại kiến trúc sư Hiram. Theo truyền thuyết Tam Điểm, vua Solomon vâng lệnh Thượng đế cho cất đền thờ Jérusalem trên đồi Moria. Hiram do vua Hiram Đệ nhất, vương quốc Tyr, gửi đến để xây đền thờ vĩ đại ở Jérusalem theo lời mời của vua Solomon. Hiram vừa là kiến trúc đại tài, vừa được coi là chuyên gia đúc đồng nổi tiếng được vua Solomon giao cho trang trí “ngôi đền vĩnh cửu” này. Bằng tài năng, trí thông minh và sự hiểu biết, ông đã dựng được hai cột hoành tráng có tên Jachin (cột bên phải) và Boaz (cột bên trái), ngay tiền sảnh nhà thờ. Ông còn cho đúc cái bể rộng, trên có mười hai con bò bằng đồng, nhiều cái chảo lớn và cốc vại. Trong Thánh thư, ông được coi là người nắm mọi bí quyết mỹ thuật và công nghệ. Công trình hoàn thành sau bảy năm, do 217.451 thợ xây dựng. Việc điều khiển được số lượng thợ như vậy trong thời đại không có máy móc và vi tính như ngày nay ngoài mấy dụng cụ đơn sơ như thước thợ, bay, compa, nên đòi hỏi một số lượng nhân công rất lớn và đầu óc thiên tài của người chỉ đạo công trình. Để hoàn thành công việc vĩ đại và khó khăn này, nhà vua chỉ định kiến trúc sư Hiram chỉ huy đội quân gồm ba mươi nghìn thợ luyện kim giỏi, tám mưi nghìn thợ hồ, bảy mươi nghìn phu khuân vác. Kiến trúc sư xuất sắc này đã chia đội quân thành ba cấp theo khả năng của họ để cấp lương nuôi đội quân vĩ đại. Bậc đầu tiên là Tập sự có mật hiệu Jakin, sau đến Thợ chính có mật hiệu là Boaz, bậc cao nhất là Thầy có mật hiệu là Jéhovah. Mọi người nghiêm túc làm việc và nhận biết nhau qua tín hiệu quy định. Hiram nắm được bí quyết xây đền do Moses trao cho. Khi công việc đang tiến hành trôi chảy, ba người thợ chính do ganh tị và muốn thay thế Hiram, âm mưu bắt và dọa giết Hiram nếu không cho họ lên bậc Thầy và truyền bí quyết xây đền. Một đêm khuya vắng, Hiram đi tuần trong đền, ông bị phục kích và giết chết. Chúng đem xác ông chôn dưới gốc cây keo (Acacia). Rất may mắn, trước khi chết Hiram đã kịp ném cái dây chuyền có chiếc tam giác vàng vẫn đeo ở cổ ông xuống giếng sâu. Chiếc tam giác ấy chính là nơi giấu tất cả những bí quyết mà nhà tiên tri Moses đã truyền cho dân Do Thái mà người đại công trình sư Hiram nắm giữ được. Nữ hoàng Saba, người yêu của Hiram, lúc đó đang mang thai không được tin tức gì của Hiram đã đến tận nơi tìm ông.

Vua Solomon ra lệnh cho các Thầy xây dựng đi tìm Hiram. Chín người Thầy đã tìm thấy xác của Hiram chôn dưới cây keo. Ba tên phản tặc bị chặt đầu. Chín người thầy được vua chỉ định thay Hiram làm tiếp công trình vĩ đại. Những người này chính là tiền thân của hội Tam Điểm. Họ thường bí mật họp nhau lại để trao đổi kinh nghiệm và để hoàn thành công trình dở dang của Hiram. Thành viên Tam Điểm tự nhận họ là những đứa con của Hiram – người xây cất “Ngôi đền của Vũ trụ” và cũng tự coi mình là “những đứa con côi của bà mẹ góa, tức là nữ hoàng Saba”.

2/ Xuất xứ của Hội Tam Điểm

Hội ban đầu xuất phát từ những nghiệp đoàn thợ xây dựng, những buổi sinh hoạt ban đầu là bàn làm việc phân công những người đứng đầu phụ trách từng nhóm. Thời đó để xây dựng một công trình vĩ đại như đền thờ và cung điện đòi hỏi một lực lượng lao động chân tay rất đông, và nhiều người chỉ huy phân đội rất giỏi để phối hợp, dưới sự chỉ huy của một công trình sư chính. Nhóm chỉ huy này thường tụ lại với nhau, được nhà vua và giáo hoàng ưu đãi để công trình sớm được hoàn tất. Họ được tự do và không bị ràng buộc bởi những quy định của nhà thờ hay luật lệ của nhà vua đối với dân thường. Do đi xây dựng nhiều công trình khác nhau nên họ được gọi là những người Thợ xây tự do, theo tiếng Pháp là Franc-maҫon và tiếng Anh là Free mason. Tuy nhiên, những người Thợ xây tự do phải tuân thủ rất nghiêm ngặt những quy định của Thầy tức là Thợ cả và chịu sự chỉ đạo chặt chẽ của người Thầy chỉ huy mà vua giao cho toàn quyền. Hội Tam Điểm ra đời. Họ là những người rất từ tâm, hay che giấu giúp đỡ những người hoạn nạn chạy trốn các cuộc thanh trừng tôn giáo như người Do Thái, tín đồ Tin Lành, những người bị coi là tà giáo.

Thành phần của hội đều là những người xuất sắc và quyền quý, những người ưu tú được chọn lọc trong xã hội. Do đó chữ “Thợ nề tự do” có ý nghĩa tượng trưng khác. Hội nhiều phen bị triệt phá, do hiềm khích, tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng, nên danh sách thành viên thường không bao giờ công khai để bảo vệ sự an toàn của họ trong khi tham gia sinh hoạt ở các nơi khác. Nguyên tắc của hội nhằm bảo vệ sự bí mật và tính huyền bí cho nên các thành viên của hội không công khai nhận mình là thành viên Tam Điểm, họ chỉ được phát tín hiệu nhận nhau qua cách bắt tay, hoặc mật khẩu riêng dùng khi gặp hoạn nạn.

Hội Tam Điểm còn gọi là Illuminati, tiếng Latin có nghĩa là những người được thần linh khai sáng, còn có nghĩa là ánh sáng lan tỏa. Vì thế các chi nhánh của hội thường mang tên như Ánh Sáng, Phương Đông (nơi mặt trời mọc, bình minh, nơi ánh sáng đầu tiên đến trái đất, cũng mang nghĩa khác là phương hướng), thức tỉnh, báo thức, sao, trăng, đèn pha… Ánh sáng là biểu tượng quan trọng trong Tam Điểm. Con người với những công cụ đơn giản đã tìm ra chân lý tức là tìm ra ánh sáng. Ánh sáng soi đường cho con người đi tiếp được. Từ bóng tối, con người khám phá ánh sáng để vượt qua được mọi thử thách của cuộc đời và đạt được chân lý.

Ba dấu chấm (.﮲.) chính thức dùng từ năm 1775, tượng trưng cho ba câu hỏi thường phải trả lời khi vào hội, cũng có nghĩa là ba nghĩa vụ mà thành viên Tam Điểm không thể quên: tự hướng về chính bản thân mình, về đồng loại, về Thượng đế, nói ngắn gọn là Cá nhân – Đồng loại – Thượng đế. Trong thư tín gởi cho nhau, họ thường viết tắt ba chấm thay thế hình tam giác đều như F.﮲. (Frère – hiền huynh hay hiền đệ), M.﮲. (Maȋtre – Thầy). Việt Nam vốn đơn giản hóa cách gọi cho tiện, tiếng Việt là  ngôn ngữ đơn âm, việc dịch tên “Hội Thợ nền tự do” dễ bị hiểu nhầm là những người trong nghề xây dựng. Thợ xây ở đây có nghĩa là những người muốn xây dựng một trật tự mới trong xã hội. Người Việt Nam thông mih, lấy đặc trưng  nổi bật của hội qua mỗi lần ký văn thư của thành viên để đặt tên.

Chân lý đơn giản nhưng không phải ai cũng nắm bắt được. Chân lý đó chính là tự do, công bằng, huynh đệ bác ái.

Tự do, công bằng, huynh đệ bác ái – khát vọng muôn thủa của con người, trở thành ba nguyên tắc chính của hội Tam Điểm. Ba nguyên tắc chính là đòn bẩy để thu hút tất cả mọi người, mọi nơi, mọi chính kiến khác nhau, đến với nhau trong hội. Hội Tam Điểm có thể chia làm hai thành phần, ban đầu là những người “kiến trúc sư” tài năng, sau này hội kết nạp những thành phần không cùng nghề nghiệp, trong mọi lĩnh vực. Ngày nay, hội Tam Điểm chủ yếu là những thành viên lý thuyết có mặt trong mọi lĩnh vực: văn hóa, kinh tế và chính trị. Hội Tam Điểm trở thành một hội triết lý và bác ái.

Tam Điểm sử dụng lịch khác với lịch dương, thường cộng thêm bốn nghìn năm vì họ quan niệm con người bắt đầu tính từ thiên niên kỷ ánh sáng chân lý. Ngày nay, để tiện việc liên lạc, một số chi hội Tam Điểm không sử dụng lịch này mà tính như lịch dương. Nhiều thành viên truyền thống sang đến Đông Dương vẫn sử dụng cỗ lịch này khi viết báo cáo về trụ sở chính ở Pháp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Truyền thuyết và lịch sử của Hội Tam Điểm – Phần I


Theo lịch sử do các thành viên Tam Điểm cung cấp, hội Tam Điểm có từ thời xây cất đền thờ Solomon, thậm chí còn trước nữa, vì trong truyền thuyết và khảo cổ đều có dấu ấn của Tam Điểm. Mặc dù vậy, thực chất, hội Tam Điểm phát sinh từ châu Âu chỉ hơn ba thế kỷ trước. Truyền thuyết La Mã và Hy Lạp là cái nôi của nền văn minh châu Âu. Tất cả đều dựa trên những hiểu biết ghi lại trong truyền thuyết và thần thoại của mỗi dân tộc, rồi cộng với hiện thực, họ huyền thoại hóa thêm lịch sử mới tiếp theo. Hội Tam Điểm mang tính chất huyền bí, nên nhiều chi tiết về nguồn gốc Tam Điểm cũng mang tính huyền thoại. Hội Tam Điểm xuất hiện ở châu Âu vào cuối thế kỷ XVII. Thời Trung cổ, giáo hội và nhà vua là hai thế lực mạnh nhất. Những người xây dựng đền đài cung điện, nhà thờ, luôn luôn được nhà vua và giáo hội ân sủng vì họ là những người tài giỏi, đóng vai trò kiến tạo nên những công trình kiến trúc hoành tráng. Các kiến trúc sư giỏi thường được vua và giáo hội cho phép hành nghề tự do. Họ thành lập những hội đoàn sinh hoạt riêng, lấy tên “những người tự do nghề nghiệp”. Họ cũng tham gia sinh hoạt của nhà thờ và còn được nhà vua mời tham dự các buổi yến tiệc. Do bí mật nghề nghiệp, ban đầu họ họp hội kín đáo, không công khai và chỉ gồm toàn những người hành nghề xây dựng, sau này được gọi là Tam Điểm thực hành để phân biệt với thành viên Tam Điểm xuất thân từ nghề nghiệp khác. Họ hội họp vì nhiều mục đích, trao đổi kiến thức bí mật và giúp đỡ nhau. Hơn nữa, vì hầu hết họ phải di chuyển sau những công trình lớn, nên việc tụ hội để chia sẻ và tương trợ là nhu cầu tất yếu. Sự tự tập lập hội kín được vua và những người có thế lực cho phép vì lợi ích của triều đình. Những công trình vĩ đại, những lâu đài nguy nga cần những khối óc thiên tài của những người Thợ cả với vai trò tương tự những kiến trúc sư và công trình sư ngày nay. Chính vì vậy, vua chúa đặc âncho họ quyền tự do hội họp.

Trong những buổi giải trí, sinh hoạt dần dần bắt đầu có sự tham gia của tầng lớp tăng lữ, quý tộc, thậm chí cả nhà vua. Nhờ thế lực và sức mạnh tài chính do có sự tham gia của tầng lớp quý tộc, hội phát triển và mở rộng. Những thành phần không phải là những người trực tiếp điều khiển công trình như quý tộc, tăng lữ được gọi là những thành viên Tam Điểm lý thuyết (Franc-maҫon spéculatifs). Với sự có mặt của quý tộc và các thành viên hoàng gia như gia đình Napoléon, hội phát triển nhanh chóng và nắm giữ quyền lực trên mọi lĩnh vực. Nhưng chỉ đến đầu thế kỷ XVIII, các thành viên Tam Điểm khắp nơi mới tụ tập về Anh, lập hội đầu tiên, chính thức đặt tên là Đại đường London (Grande Loge de Londres). Đến năm 1723, các hội thống nhất cho công bố bản Hiến pháp chung cho Tam Điểm với mục tiêu để phục vụ nhân loại, và yêu cầu thành viên Tam Điểm phải là những người tốt, không bị chính quyền kết án, chân thật và tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi cá nhân. Họ có bổn phận liên kết tất cả các hộ viên trên thế giới, không phân biệt tôn giáo, và tất cả hội viên, vì đều là huynh đệ, sẽ tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau. Để đạt được điều này, mỗi thành viên Tam Điểm luôn phải tự hoàn thiện mình bằng phương pháp “suy tư”, giống như thiền của đạo Phật. Quá trình luôn luôn tiến hóa và không ngừng hoàn thiện. Và giống như đạo Phật chính thống, thành viên Tam Điểm suy tư để hành động, để cải thiện xã hội đang tồn tại mà trong đó mỗi thành viên Tam Điểm như một mắt xích chính kết nối để xây dựng xã hội hoàn thiện. Họ phải luôn tự tìm hiểu, tự khám phá và trau dồi bản thân qua các dụng cụ xây dựng hàng ngày. Những dụng cụ tưởng tầm thường, đơn giản, thậm chí thô sơ như thước thợ bằng gỗ, dây dọi đã làm nên những công trình vĩ đại của nhân loại qua bao thế kỷ.

Hiện nay, hội Tam Điểm ở Anh và Pháp có ảnh hưởng lớn đối với các hội Tam Điểm tại các quốc gia khác trên thế giới. Một số hội ở các quốc gia tồn tại độc lập như Đức, Thụy Sĩ… Số lượng người theo Tam Điểm trên thế giới không đông, nhưng họ lại nằm trong bộ máy chủ chốt của chính quyền ở nhiều nước. Nhiều người nắm chức vụ quan trọng trong mọi lĩnh vực.

Nhiều Tổng thống Mỹ là thành viên của hội như Washington, Thomas Jefferson, Grant, Abraham Lincoln, Franklin Roosevelt, G. Bush (cha) cũng như các Tổng thống Pháp Franҫois Mitterrand và Jacques Chirac…. Nhiều Thủ tướng, Bộ trưởng trên thế giới như Winston Churchill, Allende, La Fayette, Mirabeau, Sieyès, gia đình Napoléon; nhiều nhà văn nổi tiếng như Voltaire, Montesquieu, Fichte, Rudyard, Kipling, Mark Twain, Poushkin, Stendhal…; nhiều tài tử nổi tiếng như Clark Gable, John Wayne; phi hành gia Gordon Cooper; nhiều nhạc sĩ như Mozart, Haydn, Louis Amstrong, Rouget de Lisle cũng là thành viên Tam Điểm. Trong khoa học có Alexander Fleming, Laplace, Lumière – ông tổ ngành điện ảnh thế giới – tham gia hội. Tóm lại, hội thu hút được nhiều thành phần ưu tú trong xã hội. Những người ưu tú lại trở thành hạt nhân thu hút những người tài giỏi khác vây quanh quỹ đạo của họ. Sự lựa chọn kỹ lưỡng thành viên tốt vào hội, cộng thêm tinh thần huynh đệ cao, giải thích việc nhiều thành viên của hội tham gia nắm chính quyền và đóng vai trò cao cấp, quan trọng trong cơ chế kinh tế và xã hội của quốc gia. Nhiều người nhầm lẫn và đồng hóa Tam Điểm với tôn giáo. Tam Điểm không phải là tôn giáo. Các tin đồ tôn giáo chỉ theo tôn giáo của họ. Họ không thể cùng một lúc vừa là tín đồ Phật giáo vừa là Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin Lành… Thành viên của Hội Tam Điểm được quyền theo bất kỳ tôn giáo nào. Họ có thể là tín đồ Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo hay tôn giáo khác. Tam Điểm cũng không phải là một đảng phái. Thành viên Tam Điểm có thể sinh hoạt ở bất kỳ tổ chức chính trị nào mà họ thấy phù hợp. Tôn trọng sự nhận thức của mỗi cá nhân, thành viên Tam Điểm có mặt ở khắp các tổ chức chính trị khác nhau và theo tôn giáo khác nhau. Song, vì là một hội kín mang tính chất huyền bí không mở rộng cửa như các đoàn thể khác nên nhiều người nghĩ nhầm hội Tam Điểm là một hình thức tôn giáo hay là một giáo phái. Theo sách vở và tài liệu về lịch sử hội Tam Điểm, hội có từ thuở khai thiên lập địa như các tôn giáo trên thế giới vì biểu tượng Con mắt có mặt trong một số tôn giáo khắp nơi từ Á đến Âu, cũng như Thiên Chúa giáo La Mã, các tôn giáo châu Âu, hay Phật giáo đều có truyền thuyết và sự tích giải thích việc hình thành của đạo. Cây có gốc, nước có nguồn. Thời kỳ đại đa số người không biết chữ, những câu chuyện được vẽ trên tường hoặc kính cửa sổ, trần nhà thờ nhằm truyền lại sự tích và nguồn gốc của đạo. Riêng hội Tam Điểm, vì trong thực tế, chính thức ra đời khoảng thế kỷ XVII và XVIII ở châu Âu, và hội viên là những người xuất sắc, ban đầu, họ không cần vẽ tranh để miêu tả tích các chuyện trong nhà thờ của hội, tuy nhiên mỗi hình vẽ trang trí đều mang ý nghĩa tượng trưng cho huyền thoại về xuất xứ của Tam Điểm.

Giống như hầu hết những câu chuyện về nguồn gốc các tôn giáo ở châu Âu đều dựa theo truyền thuyết, thần thoại Hy Lạp và La Mã, Tam Điểm cũng dựa vào truyền thuyết, thần thoại xây dựng đền thời Solomon. Tổ sư của hội là kiến trúc sư Hiram Abiff từ thời vua Solomon (Do Thái) khoảng 900 năm trước Công nguyên (TCN).

1/ Huyền thoại Hiram

Huyền thoại Hiram, kiến trúc sư xây đền thờ Solomon, có một số dị biệt, tuy nhiên về nội dung chính thì tương đồng. Tìm hiểu kỹ huyền thoại Hiram sẽ thấy rõ lý do đặt tên của nhiều hội Tam Điểm trên thế giới và mật khẩu giữa những thành viên Tam Điểm khi hoạn nạn.

Theo kinh Cựu ước, Solomon là con của David và Bethsabée, vua Israel từ năm 970 đến năm 931 TCN. Ông nổi tiếng về sự thông thái và công bằng trong các cuộc phán xử. Ông cho xây đền thờ đầu tiên ở Jérusalem. Solomon được cha truyền ngôi khi còn trẻ. Ông luôn cầu nguyện Thượng đế cho mình một trái tim biết lắng nghe. Truyền thuyết về sự phán xử thông thái của ông được ghi lại nhiều trong Thánh thư. Một câu chuyện nổi tiếng kể lại hai người đàn bà sinh con cùng một lúc, chẳng may một đứa bé bị chết, và tranh nhau nhận đứa còn sống là con mình. Vua Solomon cho gọi hai bà đến và trao cho một thanh kiếm rồi ra lệnh chia đứa trẻ làm đôi, mỗi người một phần đem về nuôi. Một bà từ chối, khóc và nói: “Thưa Đức vua anh minh, tôi thà bỏ con còn hơn giết đứa bé như thế”. Vua Solomon biết đó mới là người mẹ đích thực. Mọi người mẹ mang nặng đẻ đau đều được quyền nuôi dưỡng con. Từ đó sinh ra thành ngữ “phán xử của Solomon” nói lên công lý, bình đẳng và sự thông thái của người phán xử. Solomon là hiện thân của sự anh minh và công bằng, là nhà vua trị vì đem lại thịnh vượng và hòa bình cho vương quốc. Ông cũng đượoc mệnh danh là vua xây dựng, vì đương thời ông cho xây cất nhiều đền đài, thành quách. Thánh thư viết nhiều về câu chuyện của ông và bà hoàng Saba.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Trần Thu Dung – Sự hiện diện của thành viên Tam Điểm tại Việt Nam – NXB HNV 2020.

Nhận thức tốt cảm thụ cao – Phần cuối


Những hình thức nghệ thuật truyền thống không phải là yếu tố duy nhất hay quan trọng nhất trong số những khả năng tư duy đang nổi lên hiện nay. Trở lại với những ngôi sao nhạc Rock và lập trình viên máy tính của Thời đại Thông tin, nguồn công việc thiết kế phần mềm hết sức dồi dào đã đưa những kỹ sư phần mềm có khả năng nhận thức tốt lên vị trí cao trong xã hội. Nhưng khi những người như Lalits và Kavitas đảm nhiệm công việc lặp đi lặp lại hàng ngày như chế tạo, duy trì, kiểm tra và nâng cấp phần mềm thì những việc liên quan đến lĩnh vực này trong Thời đại Nhận thức sẽ tập trung vào tính mới lạ và có sắc thái riêng. Xét cho cùng, trước khi những lập trình viên người Ấn Độ có mẫu thiết kế hoặc sản phẩm để chế tạo, bảo dưỡng, kiểm tra hay nâng cấp thì chúng phải được tưởng tượng hay sáng tạo đã. Tiếp đến, những sáng tạo này phải được giải thích và phù hợp với khách hàng rồi mới bắt đầu bước vào dòng xoáy của thương mại. Tất cả những điều đó đòi hỏi những năng lực không thể rút gọn thành các quy tắc trên giấy tờ – đó là sự khôn ngoan, giao thiệp tốt và thiên hướng nhạy bén.

Chỉ số thông minh (IQ) và Chỉ số cảm xúc (EQ)

Trong tương lai, khi những người phụ trách của bảo tàng thu thập những hiện vật cho cuộc triển lãm về trường học của nước Mỹ thế kỷ XX, họ sẽ tìm được rất nhiều đồ vật để lựa chọn – những cuốn sách giáo khoa dày cộp, chiếc bảng đen đầy bụi, chiến bàn nhựa một mảnh với bề mặt đầy chữ viết. Trong đó có một đồ vật xứng đáng được xem là đặc biệt nhất, tôi đề nghị đặt nó ở trung tâm triển lãm, trong một chiếc hộp thủy tinh, đó là chiếc bút chì Số Hai được vót nhọn.

Có thể nói, nước Mỹ sẽ không có được nền giáo dục như hiện nay nếu không có những cây bút chì Số Hai. Ngay từ khi lũ trẻ bắt đầu cầm cây bút gỗ này, chúng đã phải thự chiện một chuỗi vô tận những bài kiểm tra xác định khả năng hiện tại cũng như tiềm tàng trong tương lai của mình. Ở các trường tiểu học, chúng ta đánh giá chỉ số thông minh (IQ). Sau đó, chúng ta kiểm tra khả năng đọc và làm toán rồi lưu kết quả lại để so sánh với những đứa trẻ khác trong bang, trong nước và trên thế giới. Khi bước chân vào cấp ba, chúng bắt đầu chuẩn bị cho kỳ thi đầu vào các trường đại học (SAT), một hoang mạc mà chúng phải vượt qua để đến được miền đất hứa với việc làm tốt và cuộc sống hạnh phúc. Như tôi đã nhắc đến, hệ thống kiểm tra kiểu này có những tác dụng riêng của nó. Nhưng hệ thống đó cũng bộc lộ một vài điểm yếu mà gần đây người ta mới thừa nhận.

Như Daniel Goleman, tác giả cuốn sách gây tiếng vang lớn – Emotional Intelligence (Trí tuệ cảm xúc), đã xem xét một loạt chương trình nghiên cứu nhằm đánh giá chỉ số thông minh (cũng giống kỳ thi SAT, đánh giá năng lực tư duy thuần túy thuộc về bán cầu não trái) có vai trò gì đối với thành công nghề nghiệp. Bạn nghĩ gì về kết quả của những nghiên cứu này? Hãy cầm cây bút chì Số Hai và thử đoán xem.

Theo một nghiên cứu mới nhất, chỉ số thông minh chiếm bao nhiêu phần trăm trong thành công nghề nghiệp?

a/ 50 – 60%

b/ 35 – 45%

c/ 23 – 29%

d/ 15 – 20%

Câu trả lời: Từ 4 – 10% (việc giới hạn lựa chọn những câu trả lời có sẵn là một dấu hiệu của lối tư duy thiên về bán cầu não trái). Theo Goleman, chỉ số thông minh có thể tác động đến nghề nghiệp mà chúng ta lựa chọn. Chẳng hạn, chỉ số thông minh của tôi quá thấp để trở thành một nhà vật lý học thiên thể. Nhưng trong một công việc cụ thể, những vấn đề đòi hỏi phải sắc sảo trong tư duy theo não trái là tương đối ít. Quan trọng hơn là khả năng nhạy cảm với việc định lượng, những yếu tố thuộc về nhận thức và cảm thụ mà tôi đã đề cập đến – trí tưởng tượng, niềm vui và sự khéo léo trong giao tiếp. Chẳng hạn, nghiên cứu của Goleman và Hay Group cho thấy trong các tổ chức, phần lớn các nhà lãnh đạo thành công thường rất vui tính. Họ thường cười nhiều gấp 3 lần những người đồng nhiệm của mình. (Và sự hài hước, phụ thuộc chủ yếu vào bán cầu não phải). Nhưng bạn đã gặp những bài kiểm tra tiêu chuẩn về khả năng hài hước ở đâu chưa?

Thực tế, bạn có thể tìm được một bài kiểm tra như vậy ở New Heaven, Connecticut. Tại đó, một giáo sư tâm lý của Đại học Yale đang thiết kế một bài kiểm tra thay thế cho kỳ thi SAT. Giáo sư Robert Sternberg gọi bài kiểm tra của ông bằng cái tên Dự án Cầu vồng. Trong bài kiểm tra, các sinh viên được xem năm bức biếm họa lấy từ tạp chí New Yorker và phải viết lời bình hài hước cho mỗi bức tranh. Đồng thời, họ cũng phải viết hay kể lại một câu chuyện sử dụng tựa đề có sẵn do ban giám khảo đưa ra (ví dụ: “Những đôi giày của chú bạch tuộc”). Các sinh viên được giới thiệu rất nhiều tình huống – dự một bữa tiệc không có một ai quen biết, cố thuyết phục bạn bè chuyển giúp đồ đạc – và sau đó họ sẽ phải trả lời về phản ứng của mình trước mỗi tình huống. Dù mới chỉ trong giai đoạn thử nghiệm, song dự án đã rất thành công so với kỳ thi SAT trong việc dự đoán trình độ học tập của người tham gia khi học đại học. Khoảng cách cố hữu giữa những sinh viên da trắng và da màu được thu hẹp đáng kể trong bài kiểm tra này.

Mục đích của bài kiểm tra của Sternberg không phải để thay thế mà chỉ để bổ sung cho kỳ thi SAT hiện tại. (Trên thực tế, một trong những nhà tài trợ cho dự án này, Bộ Đại học Mỹ, cũng là nơi bảo đảm cho chương trình kiểm tra hiện hành). Và bản thảo chương trình kiểm tra SAT gần đây cũng đã được sửa đổi, thêm vào một phần thi viết. Nhưng sự tồn tại của Dự án Cầu vồng đã gợi mở nhiều điều. Sternberg nói: “Nếu bạn không làm tốt một bài kiểm tra thông thường, mọi con đường tiến tới thành công trong xã hội của bạn sẽ bị khép lại”. Nhưng như rất nhiều nhà giáo dục đã thừa nhận, những nẻo đường đã bị khép lại đó có thể mở ra với những người có các khả năng mà kỳ thi SAT không đánh giá được.

Điều này đặc biệt đúng đối với năng lực cảm thụ – đó là khả năng của lòng trắc ẩn, sự quan tâm, nâng đỡ – điều đang ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng cho rất nhiều vị trí của Thời đại Nhận thức. Số lượng những công việc mang tính “chăm sóc” như tư vấn, y tá hay chuyên gia bảo vệ sức khỏe đang tăng lên mạnh mẽ. Chẳng hạn, trong khi các quốc gia tiên tiến đang đưa các công việc lập trình máy tính kỹ thuật cao ra nước ngoài, họ lại phải tuyển các y tá từ Philippines hay các quốc gia châu Á về làm việc trong các bệnh viện của họ. Chính vì vậy, mức lương của các y tá đang tăng cao và số lượng nam giới đăng ký làm y tá cũng tăng gấp đôi kể từ giữa thập niên 1980.

Tiền bạc và ý nghĩa cuộc sống

Trong khi công việc ngày càng đòi hỏi năng lực nhận thức tốt và khả năng cảm thụ cao thì thay đổi lớn nhất của Thời đại Nhận thức lại có thể xảy ra bên ngoài nơi làm việc và ngay trong trái tim, tâm hồn của chúng ta. Chẳng hạn, ngày nay, xu hướng tìm kiếm sự siêu nghiệm và ý nghĩa cuộc sống đang tăng gấp đôi trong thời gian gần đây. Ở Mỹ, có khoảng 10 triệu người trưởng thành tham gia đều đặn một số phương pháp thiền khác nhau, nhiều gấp đôi so với thập kỷ trước. Có khoảng 15 triệu người tập yoga, gấp đôi con số của năm 1999. Các chương trình giải trí nổi tiếng trên truyền hình cũng bị cuốn vào những chủ đề tâm inh đến mức chương trình TV Guide đã dự báo sự phát triển mạnh mẽ của làn sóng “truyền hình siêu nghiệm”.

Sự lão hóa của dân số Mỹ cũng như của dân số Nhật Bản và liên minh châu Âu khiến cho xu hướng này trở nên phổ biến hơn. Nhà tâm lý học David Wolfe đã viết: “Khi con người trưởng thành, lối tư duy của họ trở nên ít trừu tương hơn (khuynh hướng tư duy theo não trái) và cụ thể hơn (khuynh hướng tư duy theo não phải); vì thế, họ luôn có quan điểm sâu sắc hơn về thế giới thực tại, tăng khả năng cảm xúc và khả năng cảm nhận những mối liên hệ trở nên phong phú hơn”. Nói cách khác, cùng với tuổi tác, con người mới chú trọng hơn tới những giá trị sống mà mình đã bỏ qua khi lao vào xây dựng sự nghiệp và gia đình. Đó chính là mục đích, động lực bên trong và ý nghĩa cuộc sống.

Trên thực tế, có hai nhà nghiên cứu đã cho rằng xu hướng này đang bắt đầu cán đích. Năm 2000, Paul Ray và Sherry Ruth Anderson đã xác định được một nhóm văn hóa của khoảng 50 triệu người Mỹ, gọi là “những người sáng tạo văn hóa”. Họ chiếm khoảng 1/4 số lượng người trưởng thành của nước Mỹ và xấp xỉ dân số nước Pháp. Và đặc tính chung của nhóm người này phản ánh những nhân tố cơ bản của cách tiếp cận cuộc sống theo tư duy kiểu não phải. Chẳng hạn, họ luôn “nhấn mạnh việc quan sát bức tranh toàn cảnh”, như các tác giả đã viết, “họ có khả năng tổng hợp tuyệt vời”. Họ còn “nhận thức được giá trị những cách tiếp cận của nữ giới: chia sẻ và đồng cảm với mọi người, đặt mình vào vị trí của người đối diện, coi trải nghiệm cá nhân và những câu chuyện đọc được từ thuở ấu thơ như các cách thức quan trọng để học hỏi, nắm được nguyên tắc xử thế trong việc quan tâm đến người khác.

Họ là những người đang bước vào Thời đại Nhận thức với sự ý thức về tuổi tác của bản thân. Họ nhận ra mình đã đi gần hết quãng đời. Và sự thật không thể chối cãi này có thể buộc họ phải suy nghĩ. Sau nhiều thập kỷ theo đuổi sự giàu sang, tiền bạc dường như không còn sức lôi cuốn nữa. Với họ cũng như với rất nhiều người khác, giá trị cuộc sống đã thay thế vai trò của đồng tiền trong thời đại mới này.

Tất cả những điều này có ý nghĩa gì với bạn và tôi? Chúng ta phải tự chuẩn bị gì cho Thời đại Nhận thức? Ở một mức độ nhất định, câu trả lời không khó. Trong thế giới chịu tác động của sự dịch chuyển việc làm qua châu Á, sự dư thừa và tự động hóa này, nơi lối tư duy của bán cầu não trái vẫn cần nhưng chưa đủ, chúng ta phải phát huy khả năng tư duy của bán cầu não phải và trau dồi khả năng nhận thức tốt, cảm thụ cao. Trong thời đại phồn thịnh này, chúng ta phải đảm nhiệm các công việc mà những công nhân trí thức nước ngoài không thể làm với chi phí thấp hơn, máy tính không thể thực hiện nhanh hơn, đó là những công việc đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ, cảm xúc và tâm linh. Nhưng ở một chừng mực nào đó, câu trả lời trên vẫn chưa thỏa đáng. Thật sự chúng ta cần làm gì?

Tôi đã đi tìm lời giải cho vấn đề này trong vài năm qua. Và tôi đã đúc kết được sáu kỹ năng thiết yếu về nhận thức và cảm thụ trong thời đại mới. Tôi gọi những kỹ năng này là “sáu giác quan”: Thiết kế – Kể chuyện – Hòa hợp – Đồng cảm – Giải trí – Tìm kiếm ý nghĩa.

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Daniel H. Pink – Một tư duy hoàn toàn mới – NXB LĐ – XH 2008.

Nhận thức tốt cảm thụ cao – Phần II


Các sinh viên Trường Y Yale được rèn luyện khả năng quan sát ở Trung tâm Nghệ thuật Anh tại Yale, vì các sinh viên học hội họa sẽ rất tinh tế trong việc phát hiện những chi tiết nhạy cảm về tình trạng của bệnh nhân. Có tới hơn 50 trường y trên toàn nước Mỹ kết hợp các khóa học về tâm linh vào chương trình đào tạo. Trường Y thuộc Đại học bang California, Los Angeles (UCLA) đã thiết lập một chương trình “Bệnh viện về đêm”, trong đó, các sinh viên năm thứ hai được nhập viện qua đêm với những căn bệnh hư cấu. Vậy mục đích của việc đóng kịch này là gì? Theo phát biểu của nhà trướng, nó “nhằm phát triển khả năng đồng cảm của các sinh viên y dược đối với bệnh nhân”. Trường Y Jefferson của bang Philadelphia còn phát triển một tiêu chuẩn mới giúp đánh giá tính hiệu quả của các bác sĩ – chỉ số đồng cảm.

Tạm dừng việc xem xét các phương pháp dạy học ở các bệnh viện Mỹ, chúng ta hướng tới nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Vươn lên từ đống tro tàn của Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chủ yếu nhờ vào khả năng tư duy của bán cầu não trái, Nhật Bản giờ đây đang phải xem xét lại nội lực của họ. Mặc dù sinh viên Nhật Bản đứng đầu thế giới về thành tích toán học và các môn tự nhiên, song nhiều người Nhật lại băn khoăn về việc chính phủ không ngừng tập trung vào những cuốn sách giáo khoa chỉ chứa đựng lý thuyết suông – một cách tiếp cận có lẽ đã lỗi thời. Do đó, nước Nhật đang thu hút sự chú ý từ những nước khác bằng hệ thống giáo dục ưu việt với mục đích thúc đẩy tính sách tạo, tài năng nghệ thuật và cách giải trí tốt hơn. Hãy cùng suy nghĩ một chút. Ngày nay, chúng ta có thể thấy mặt hàng xuất khẩu có lợi cho nước Nhật không phải là ô tô hay đồ điện tử mà là văn hóa đại chúng. Trong khi đó, đáp lại những áp lực học hành đang đè nặng lên thế hệ trẻ của Nhật Bản, Bộ Giáo dục nước này khuyến khích họ phản ánh ý nghĩa cũng như sứ mệnh cuộc sống của mình, khuyến khích cho cái mà Bộ gọi là “sự giáo dục từ trái tim”.

Bây giờ, khi bạn vừa trở về từ đất nước Nhật Bản, chúng ta cùng đến với hãng sản xuất ô tô đa quốc gia khổng lồ General Motors. Vài năm trước đây, GM đã thuê một người tên là Robert Lutz nhằm cứu vãn việc sản xuất ô tô đang sa sút. Robert Lutz không hẳn thuộc tuýp người nghệ sĩ, đa cảm. Ở độ tuổi 70, trông ông khá khắc khổ với mái tóc bạc. Trong sự nghiệp của mình, ông từng làm quản lý cho ba hãng ô tô lớn của Mỹ. Diện mạo và hành động của ông vẫn có chút gì giống với thời ông còn là lính thủy đánh bộ. Ông hút cigar, tự lái máy bay riêng. Ông cho rằng sự nóng lên của trái đất chỉ là một câu chuyện hoang đường dựa trên sự biến đổi môi trường. Nhưng khi Lutz tiếp quản vị trí điều hành ở GM, trả lời phỏng vấn New York Times về việc phương pháp của ông có gì khác so với những người tiền nhiệm, ông nói: “Tôi phải tư duy nhiều hơn bằng bán cầu não phải… Tôi thấy chúng ta đang trong thời kỳ kinh doanh có nghệ thuật. Nghệ thuật, giải trí và tác phẩm điêu khắc lưu động ngẫu nhiên cũng cung cấp cho ta những tấm vé thông hành”.

Hãy tạm gác lại những lời bình luận của ông trong chốc lát. Hãng General Motors – một đại diện không chỉ của Thời đại Thông tin mà cả của Thời đại Công nghiệp – cũng cho biết họ đang trong thời kỳ kinh doanh nghệ thuật. Vâng, kinh doanh có nghệ thuật. Và người đưa GM đến với lối tư duy bằng bán cầu não phải này không phải là một nghệ sĩ đội mũ beret lệch mà là một ông già 70 tuổi còn chút dáng dấp của lính thủy đánh bộ. Để trả lời câu hỏi của Buffalo Springfield, đã có một vài manh mối ở đây, và mọi điều đang trở nên rõ ràng hơn. Khả năng nhận thức tốt và cảm thụ cao đang tiến từ bên lề, vào vị trí trung tâm trong cuộc sống của chúng ta.

Thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA) và Thạc sĩ nghệ thuật (MFA)

Ở Mỹ, để được nhận vào học tại trường Kinh doanh Harvard là điều không dễ dàng. Ít nhất, đó cũng là điều mà hàng trăm thí sinh phải nghĩ đến sau khi nộp đơn đăng ký học một chương trình sau đại học thuộc Khoa Nghệ thuật của Đại học California, Los Angeles (UCLA) nhưng không đỗ. Trong khi chương trình đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh của trường Harvard lấy khoảng 10% số lượng thí sinh dự thi thì Khoa Nghệ thuật của UCLA chỉ nhận 3%. Tại sao vậy? Tấm bằng MFA bây giờ là một trong những chứng nhận có giá trị nhất thế giới, một thế giới mà ở đó những công ty như General Motors cũng cần đến nghệ thuật trong kinh doanh. Các nhà tuyển dụng đang bắt đầu tìm kiếm những tài năng đến từ những trường nghệ thuật hàng đầu như trường Thiết kế Rhode Island, Học viện Mỹ thuật ở Chicago, Học viện Nghệ thuật Cranbrook của Michigan, với tấm bằng MFA trong tay. Và phương pháp tiếp cận mở rộng này còn tiêu tốn nhiều hơn cả chương trình học sau đại học ngành kinh doanh. Ví dụ, năm 1993, 61% nhân viên tư vấn được McKinsey tuyển dụng có bằng MBA. Chưa đến một thập kỷ sau, con số này giảm xuống còn 43%. Lý do mà công ty đưa ra là những kiến thức khác chỉ có giá trị trợ giúp cho các nhân viên mới hoàn thành tốt công việc trong công ty. Với số lượng đơn xin việc ngày càng tăng và chứng nhận tốt nghiệp của các trường nghệ thuật chiếm vị trí quan trọng hơn bao giờ hết tại các cơ quan, các quy luật cũ đã bị thay đổi: tấm bằng thạc sĩ nghệ thuật có giá trị như một tấm bằng thạc sĩ quản trị kinh doanh mới.

Lý do của hiện tượng này chính là hai nhân tố được đề cập trong bài trước. Vì sự dịch chuyển việc làm qua châu Á, thạc sĩ quản trị kinh doanh đang trở thành những người thất nghiệp buồn bã của thế kỷ này – những người từng gia nhập lực lượng lao động đầy hứa hẹn chỉ để thấy công việc của mình đang được chuyển dần ra nước ngoài. Như chúng ta đã biết, những ngân hàng đầu tư đang thuê thạc sĩ quản trị kinh doanh ở Ấn Độ để xử lý các phân tích tài chính. A.T. Kearney ước tính trong vòng 5 năm tới, các công ty dịch vụ tài chính của Mỹ sẽ chuyển khoảng nửa triệu việc làm sang các khu vực có chi phí thấp như Ấn Độ. Hay như tờ Economist cho biết, những loại công việc đầu vào của các thạc sĩ quản trị kinh doanh “từng được dành cho họ, những người đầy tham vọng nhưng trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, nỗ lực làm việc ngày đêm để các tập đoàn có thể tiến nhanh trên thị trường Phố Wall hay London, giờ đây, nhờ có ứng dụng tuyệt vời của mạng Internet và đường dây cáp quang, đã được chuyển giao cho những người đồng nghiệp ở Ấn Độ với mức lương thấp hơn nhiều”. Trong khi đó, cũng do sự dư thừa mà các công ty nhận ra rằng cách duy nhất khiến các sản phẩm cũng như dịch vụ của mình trở nên khác biệt trên thị trường đang ứ đọng hiện nay là sản phẩm không chỉ cần hào nhoáng về mặt hình thức mà còn phải có sức hút về mặt tinh thần. Chính vì vậy, khả năng nhận thức tốt của người nghệ sĩ thường có giá trị hơn nhiều so với các kỹ năgn thực hiện lặp đi lặp lại, với lối tư duy thiên về bán cầu não trái của những thạc sĩ kinh doanh mới ra trường.

Vào giữa thế kỷ trước, Charlie Wilson, một trong những giám đốc điều hành GM, người sau này trở thành Thư ký Bộ Quốc phòng Mỹ, rất nổi tiếng với lời tuyên bố rằng những gì cần cho GM thì cũng cần cho nước Mỹ. Đã đến lúc chúng ta phải xem xét lại câu châm ngôn đó trong thế kỷ mới này. Những gì hiện đang xảy ra với GM cũng xảy ra với nước Mỹ và những gì đang xảy ra với Mỹ thì cũng đang xảy ra với nhiều quốc gia khác. Chúng ta đang sống trong thời đại kinh doanh mang tính nghệ thuật.

Ở Mỹ, số lượng các nhà thiết kế đồ họa tăng lên gấp 10 lần chỉ trong vòng một thập kỷ; gấp 4 lần số kỹ sư hóa chất. Từ năm 1970, số người kiếm sống nhờ viết văn tăng 30%, số người kiếm sống nhờ soạn nhạc và biểu diễn âm nhạc tăng 50%. Khoảng 240 trường đại học của Mỹ đã có các khoa đào tạo thạc sĩ nghệ thuật, tăng gấp nhiều lần so với con số 20 trường đào tạo trong hai thập kỷ trước. Số người Mỹ làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật, giải trí, thiết kế nhiều hơn số lượng luật sư, kế toán hay kiểm toán viên. (Dấu hiệu của những xu hướng mới này là sự mạo hiểm ở Alexandria, Virginia. Khi những khảo sát về thủ tục pháp lý có thể được thực hiện ở nước ngoài và thông tin pháp luật cơ bản có sẵn trên mạng Internet thì còn gì để tranh chấp nữa? Công việc đòi hỏi nhận thức cao như vậy có thể được thực hiện bởi Animators at Law, một công ty thiết kế đồ họa với đội ngũ nhân viên là những người tốt nghiệp trường luật, chuẩn bị những hiện vật, video và phương tiện trợ giúp hình ảnh để các luật sư hàng đầu có thể thuyết phục được hội đồng xét xử).

Năm 2002, Richard Florida, nhà quy hoạch đô thị thuộc Đại học Carnegie Mellon, đã xác định được một nhóm khoảng 38 triệu người Mỹ mà ông gọi là “lớp người sáng tạo”, chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế Mỹ. Mặc dù khái niệm “sáng tạo” của ông quá rộng lớn – ông gộp chung kế toán viên, nhà bảo hiểm xã hội và luật sư chuyên về thuế là “những người sáng tạo” – nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò ngày càng tăng của tầng lớp này. Ở Mỹ, lực lượng lao động này tăng gấp đôi so với năm 1980 và tăng gấp 10 lần so với thế kỷ trước. Một xu hướng tương tự đối với những công việc đòi hỏi khả năng nhận thức cao cũng đang hình thành ở nhiều nơi trên thế giới. Bằng việc sử dụng một khái niệm hợp lý hơn về “sáng tạo” – bao gồm 15 ngành từ thiết kế tới nghệ thuật trình diễn, nghiên cứu và phát triển, các trò chơi video – nhà phân tích người Anh John Howkins đã ước tính những lĩnh vực đòi hỏi khả năng sáng tạo ở Vương quốc Anh sẽ đem lại khoảng 200 tỷ USD sản phẩm và dịch vụ mỗi năm. Ông cũng tính toán được rằng trong 15 năm tới, những lĩnh vực này sẽ đáng giá khoảng 6,1 nghìn tỷ USD trên toàn thế giới, biến những Quốc gia Nhận thức tốt trở thành những nền kinh tế hùng mạnh trên thế giới. Các tổ chức của Anh như trường Kinh doanh London, Công ty Cung cấp và Xử lý nước Yorkshire Water, đã thiết lập những chương trình hoạt động có các nghệ sĩ cùng tham gia. Unilever UK đã tuyển các họa sĩ, nhà thơ và những người viết truyện tranh làm việc cho họ để khuyến khích tinh thần làm việc của nhân viên. Một câu lạc bộ bóng đá ở phía Bắc London cũng có một nhà thơ cùng sinh hoạt với các cầu thủ.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Daniel H. Pink – Một tư duy hoàn toàn mới – NXB LĐ – XH 2008.

Nhận thức tốt cảm thụ cao – Phần I


Chúng ta hãy coi khoảng thời gian 150 năm qua như một vở kịch gồm ba hồi:

Trong Hồi I, Thời đại Công nghiệp, các nhà máy sản xuất hàng loạt và những dây chuyền lắp ráp làm việc hiệu quả đã mang lại sức mạnh cho nền kinh tế phát triển. Nhân vật chính trong hồi này là những công nhân có năng suất lao động cao, dựa vào sức mạnh thể chất và khả năng chịu đựng của cá nhân.

Trong Hồi II, Thời đại Thông tin, nước Mỹ và nhiều quốc gia khác bắt đầu trỗi dậy. Nền sản xuất hàng loạt dần lùi về phía sau, trong khi đó tri thức và thông tin đã cung cấp năng lượng cho nền kinh tế của thế giới phát triển. Nhân vật trung tâm của hồi này là những công nhân tri thức với đặc tính xác định là sự thành thạo trong lối tư duy thiên về bán cầu não trái.

Giờ đây, khi sức ép của sự dư thừa, châu Á và sự tự động hóa trở nên sâu sắc và mạnh mẽ hơn, tấm màn sân khấu đang mở ra hồi thứ ba. Có thể gọi đây là Thời đại Nhận thức. Những nhân vật chính trong hồi này là nhà sáng chế và người đồng cảm. Khả năng đặc biệt của những người này là làm chủ lối tư duy thiên về bán cầu não phải.

Tôi đã mô tả quá trình phát triển này trong hình minh họa 3.1, mở rộng câu chuyện khi đề cập đến cả thế hệ cha ông của Thời đại Công nghiệp là Thời đại Nông nghiệp. Trục nằm ngang chỉ thời gian, trục thẳng đứng chỉ sự kết hợp giữa yếu tố Của cải, Công nghệ và Toàn cầu hóa (gọi tắt là CCT). Khi từng cá nhân trở nên giàu có hơn, công nghệ phát triển mạnh hơn và cả thế giới gắn kết chặt chẽ hơn, ba nhân tố này cuối cùng có tổng động lực đủ để đưa chúng ta tiến vào một kỷ nguyên mới. Đó là cách mà chúng ta, theo thời gian, chuyển từ Thời đại Nông nghiệp sang Thời đại Công nghiệp rồi đến Thời đại Thông tin. Trường hợp cuối cùng của mô hình này là sự chuyển đổi hiện tại, từ Thời đại Thông tin sang Thời đại Nhận thức. Một lần nữa, quá trình này diễn ra dưới sự tác động của đời sống của cải vật chất – sự dư thừa (phổ biến ở châu Âu), tiến bộ công nghệ (khả năng tự động hóa trong một số công việc văn phòng) và toàn cầu hóa (một số dạng công việc tri thức nhất định được chuyển sang châu Á).Tóm lại, chúng ta đã chuyển từ xã hội của người nông dân sang xã hội của người công nhân làm việc trong các nhà máy và đến xã hội của những người công nhân tri thức. Và bây giờ, chúng ta lại tiếp tục tiến tới một xã hội mới, xã hội của những con người có khả năng sáng tạo và đồng cảm, nhận thức được các hình mẫu và tạo ra ý nghĩa cuộc sống.

Hình 3.2 mô tả quá trình tiến hóa tương tự nhưng theo cách thiên về lối tư duy của bán cầu não phải.Nếu một bức tranh có giá trị bằng hàng nghìn từ ngữ, thì một phép ẩn dụ có giá trị bằng cả nghìn bức tranh. Chúng ta đã chuyển từ một nền kinh tế dựa trên đôi bàn tay của con người sang nền kinh tế dựa trên bán cầu não trái và giờ đây, một nền kinh tế nữa lại đang nổi lên: một nền kinh tế và xã hội được xây dựng ngày càng dựa vào khả năng tư duy của bán cầu não phải.

Khi các nền kinh tế và xã hội phụ thuộc vào sự phát triển của nhà máy và sản xuất công nghiệp, tư duy của bán cầu não phải hầu như không phù hợp. Tiếp theo, khi chúng ta chuyển sang công việc cần nhiều tri thức, lối tư duy của bán cầu não phải được thừa nhận là chính đáng, mặc dù theo thứ tự ưu tiên, nó vẫn phải đứng ở vị trí thứ hai so với bán cầu não trái. Ngày nay, khi Bắc Mỹ, Tây Âu, Australia và Nhật Bản một lần nữa phát triển xã hội lên một mức cao hơn, lối tư duy của bán cầu não phải đang bắt đầu đạt tới sự bình đẳng về mặt kinh tế – xã hội và trong nhiều trường hợp, nó còn đạt được vị trí đứng đầu. Trong thế kỷ XXI, lối tư duy thiên về bán cầu não phải trở thành nhân tố quan trọng nhất, là chìa khá cho thành công trong nghề nghiệp và thỏa mãn cá nhân.

Nhưng tôi sẽ nói rõ hơn về điều này: Tương lai không phải là thế giới của những người theo Mani giáo, trong đó, mỗi cá nhân hoặc là tư duy theo bán cầu não trái và bị tiêu diệt hoặc là tư duy theo bán cầu não phải và có được những niềm vui sướng tột cùng, ví như một vùng đất nơi những thợ gốm là triệu phú ngao du trên những chiếc BMW bóng loáng và những lập trình viên máy tính phải làm công việc lau chùi các quầy hàng của Chick-fil-A. Lối tư duy theo não trái vẫn giữ vai trò không thể thiếu. Nhưng chỉ mình nó thì không đủ. Trong Thời đại Nhận thức, điều chúng ta cần là một tư duy hoàn toàn mới.

Nhận thức tốt, cảm thụ cao

Để tồn tại trong thời đại ngày nay, từng cá nhân và tổ chứ phải kiểm nghiệm xem mình đang làm gì để kiếm sống và tự hỏi ba câu hỏi sau:

1/ Người nước ngoài có thể thực hiện công việc đó với chi phí thấp hơn không?

2/ Một máy tính có thể tiến hành công việc đó nhanh hơn không?

3/ Những gì tôi cung cấp có đáp ứng được nhu cầu cảu người tiêu dùng trong thời đại dư thừa hàng hóa không?

Nếu bạn trả lời “có” đối với hai câu hỏi đầu tiên hoặc “không” với câu hỏi thứ ba thì bạn thật sự gặp vấn đề. Ngày nay, muốn tồn tại, chúng ta cần có khả năng làm những việc mà các công nhân tri thức nước ngoài không thể làm được với chi phí thấp hơn, máy tính không thể làm nhanh hơn và cuối cùng, đó là một trong những điều thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người khi đời sống vật chất ngày càng được nâng cao.

Đó là lý do tại sao công nghệ cao là chưa đủ. Chúng ta sẽ phải bổ sung vào những ưu thế về công nghệ cao bằng khả năng nhận thức và cảm thụ tốt của chính mình. (Như tôi đã đề cập, “nhận thức tốt” là khả năng tạo nên vẻ đẹp nghệ thuật và giàu xúc cảm, phát hiện ra những hình mẫu và cơ hội cho bản thân, kẻ một câu chuyện làm hài lòng người khác, kết hợp những ý tưởng dường như không liên quan đến nhau thành một sáng chế độc đáo. “Cảm thụ cao” là khả năng đồng cảm, thấu hiểu tâm lý con người, tìm thấy niềm vui ngay trong chính bản thân và khơi dậy niềm vui ở những người xung quanh, là khả năng vượt lên những nhàm chán hàng ngày, theo đuổi mục đích và ý nghĩa cuộc sống).

Vị thế của hai khả năng trên đang ngày càng được nâng cao trong đời sống kinh tế – xã hội hiện nay. Nhưng để có những dẫn chứng thuyết phục nhất, bạn nên nhìn vào những nơi ít ngờ đến nhất. Các trường y là một ví dụ điển hình, một thành trì với những người có trình độ xuất sắc nhất, có kết quả cao nhất trong các kỳ kiểm tra và có năng lực tư duy phân tích sắc bén nhất. Chương trình học trong các trường y ở Mỹ đang trải qua những thay đổi lớn nhất từ trước đến nay. Sinh viên của Trường Y thuộc Đại học Columbia hay tại bất kỳ trường nào đều đang được đào tạo môn “liệu pháp kể chuyện” bởi các nghiên cứu đã khám phá ra rằng: cho dù chẩn đoán của máy tính là hoàn toàn chính xác thì một phần công việc chẩn đoán bệnh lại nằm ở chính những câu chuyện của bệnh nhân.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Daniel H. Pink – Một tư duy hoàn toàn mới – NXB LĐ – XH 2008.