Về chất trí thức – Phần cuối


Làm một người trí thức có nghĩa là phải lao động thường xuyên và không quản mệt mỏi. Hơn nữa, chất trí thức không đơn thuần là sự vũ trang mà còn là sự sẵn sàng chiến đấu. Nhưng muốn chiến đấu thì phải biết định hướng trong hoàn cảnh lịch sử – xã hội. Nhưng do chỗ sự định hướng như vậy đòi hỏi một cách tiếp cận có phê phán đối với hiện thực nên chất trí thức chỉ có ở người nào vốn là một nhà hoạt động xã hội biết tư duy một cách có phê phán. Người trí thức nào không phải là nhà hoạt động xã hội biết tư duy một cách có phê phán thì thật là một kẻ trì độn, không biết thể hiện chất trí thức của mình, tức là không còn là một người trí thức nữa. Vả lại, đối với người trí thức, việc xông trận thậm chí còn thường là vô ích. Cho nên cũng cần phải biết lúc nào thì xông trận còn lúc nào thì không. Tất cả những vấn đề ấy người trí thức giải quyết trên cơ sở của tính khuynh hướng chung về ý thức hệ của mình và trên cơ sở của sự nhận thức có phê phán đối với hoàn cảnh xã hội – lịch sử. Đó cũng là phạm vi văn hóa của chất trí thức. Sự lao động văn hóa như vậy không phải là sự cần thiết đáng buồn mà là niềm vui thường xuyên, sự khoan khoái thường xuyên của tinh thần và là ngày hội thường xuyên. Đối với người trí thức thì lao động là ngày hội của tuổi xuân vĩnh cửu và là ngày hội của việc phấn khởi phụng sự cho hạnh phúc của toàn nhân loại.

6/ Chất trí thức và chiến công mang tính chất lịch sử – xã hội

Trong lịch sử có những thời kỳ rất hiếm hoi và không trường tồn khi vừa có thể làm một người trí thức lại đồng thời rất tin vào sự hoàn toàn không nguy hiểm của mình.

Thông thường hơn cả và kéo dài hơn cả là những thời kỳ khi chất trí thức buộc người ta phải quan tâm đến mình và đến văn hóa của mình, khi chất trí thức do những hoàn cảnh buộc người ta phải quan tâm đến sự vũ trang cho mình và đến sự tự vệ. Nhưng thông thường hơn cả và kéo dài hơn cả là những thời kỳ khi bắt đầu phải chiến đấu. Và không chỉ trong lịch sử như một bức tranh chung của sự phát triển nhân loại.

Cảnh sinh hoạt hàng ngày thông thường nhất, cuộc sống phàm tục có vẻ thanh bình nhất bao giờ cũng đầy ắp những nỗi lo âu và quan ngại, những mối nguy hiểm và tổn thất, bao giờ cũng thấp thoáng những cơ hội khôn lường. Bởi vậy, giới trí thức chân chính được vũ trang không chỉ vì chân lý được bộc lộ công khai trong cuộc tranh cãi mang tính chất luận chiến mà còn vì sự cần thiết phải đấu tranh với đủ mọi loại kiểu không hoàn hảo tiềm ẩn của cuộc sống.

Song điều đó có nghĩa là chất trí thức thực thụ bao giờ cũng là một chiến công, bao giờ cũng là sự sẵn sàng quên đi những nhu cầu thiết yếu của sự tồn tại vị kỷ; không nhất thiết phải có cuộc giao chiến, nhưng phải luôn luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu và phải vũ trang về mặt tinh thần và sáng tác để chiến đấu. Và không có một từ nào khác có thể biểu thị một cách rõ ràng hơn thực chất của chất trí thức ngoài từ “chiến công”.

Chất trí thức – đó là việc lập chiến công hàng ngày hàng giờ, mặc dầu công việc này thông thường chỉ mang tính chất tiềm ẩn.

7/ Chất trí thức và sự giản dị

Nếu tổng kết lại tất cả những điều đã nói thì có thể đưa ra một dạng thức sơ bộ sau đây về chất trí thức.

Chất trí thức là cách sống cá nhân hay chức năng của nhân cách vốn được hiểu như một sự quy tụ những quan hệ tự nhiên, xã hội và lịch sử, có sức sống về mặt ý thức hệ vì mục đích hạnh phúc của toàn nhân loại, không thụ động đứng nhìn mà là cải tạo những cái chưa hoàn hảo của cuộc sống, điều này ra sức đòi hỏi ở con người một chiến công ở dạng tiềm năng hay mang tính chất cấp bách để khắc phục những cái chưa hoàn hảo ấy.

Sự tổng kết này xem ra quá phức tạp, ở đây có nhiều tình tiết khác nhau vốn nảy sinh trên cơ sở của sự cố gắng không phải liệt kê những dấu hiệu chủ yếu của chất trí thức mà là lựa chọn trong số đó những dấu hiệu quan trọng và hệ thống hóa chúng. Tuy nhiên công việc này chưa kết thúc. Bởi lẽ những điều mà chúng tôi nói ở đây là sự phân tích về mặt logic đối với chất trí thức chứ chưa phải là bản thân chất trí thức. Bản thân chất trí thức không biết đến những sự phân chia, những sự so sánh đối chiếu, những sự phân loại, những khái quát và những yếu tố nhất quán về mặt logich vốn cần thiết để có thể có được một hệ thống nhất định của chúng.

Đó là sự phân tích về chất trí thức giống như, chẳng hạn, tâm lý học trẻ em cũng phân tích những yếu tố khác nhau mà từ đó hình thành đời sống tinh thần của trẻ. Nhưng điều đó không có nghĩa là bản thân trẻ em biết tách biệt những yếu tố ấy và cũng làm cái việc hệ thống hóa chúng.

Ở trẻ em, những yếu tố ấy hiện diện ngay lập tức, cùng một lúc và không thể tách biệt. Bởi vậy, khi nói đến chất trí thức thì người có chất trí thức tuyệt nhiên không phải là người biết thực hiện một sự phân tích này hay một sự phân tích khác về chất trí thức, cho dù sự phân tích ấy thậm chí là hết sức đúng…

Tất cả những dấu hiệu riêng lẻ về chất trí thức mà chúng tôi đã nêu lên, đều tồn tại ở trong nó mà không có bất kỳ một sự tách biệt và xé lẻ nào, chúng tồn tại như một chỉnh thể thống nhất, như một sự giản dị của tâm hồn.

Người trí thức chân chính bao giờ cũng giản dị và không phức tạp, bao giờ cũng cởi mởi, chân thành và không thiên về việc phân tích chi ly đối với chất trí thức của mình. Người trí thức là người, như thiên hạ thường nói, bao giờ cũng lao động có mục đích, nhưng tâm hồn thì bao giờ cũng giản dị đến mức thậm chí không cảm thấy ưu thế của mình trước những người không phải là trí thức.

Về phương diện này thì không thể học được chất trí thức, nhưng nó đòi hỏi sự giáo dục và tự giáo dục lâu dài. Nó không phải là bản luận văn triết học về chất trí thức nhưng nó là bầu không khí văn hóa mà con người ta hít thở và nó là sự giản dị mà ở một nơi nào đó và ở một lúc nào đó và thông thường không ai hiểu tại sao nó lại nảy sinh ở nơi con người và làm cho con người trở thành trí thức.

Đấy là lý do khiến cho chất trí thức không thể có được định nghĩa của nó căn cứ vào những thuộc tính riêng của nó mà từ đó chúng tôi bắt đầu bài viết của mình.

Dĩ nhiên sẽ xảy ra vấn đề mang tính chất giáo dục thuần túy, nhưng chất trí thức được giáo dục như thế nào – thì đó lại là đối tượng của một cuộc trao đổi khác.

8/ Về khả năng thực hiện chất trí thức

Trong phần kết luận, tôi muốn trả lời một câu hỏi vốn nảy sinh ở nhiều người khi làm quen với lý thuyết của tôi về chất trí thức. Có ý kiến cho rằng chất trí thức như vậy là quá cao siêu, không thể đạt tới được và do đó trên thực tế không thể thực hiện được. Về điều này, tôi cần phải nói rằng đối với nhiều người, cuốn sách giáo khoa về phép vi phân – tích phân cũng rất khó, nó cũng đòi hỏi nhiều nỗ lực để lĩnh hội và nhiều năm đèn sách trong lĩnh vực toán cơ bản. Ở đây một số người am hiểu cuốn sách giáo khoa đó một cách sâu sắc và thậm chí đã trở thành những nhà toán học chuyên nghiệp. Một số người khác áp dụng toán học và thiên văn học và vào kỹ thuật một cách thành công. Một số người tiếp thu cuốn sách giáo khoa đómột cách chật vật, chỉ cốt để thi xong môn học này. Cuối cùng cũng có những người – mà họ là đại đa số – hoàn toàn không hề nghiên cứu môn khoa học này. Liệu như thế có phải là chuyên gia toán học không có quyền viết những cuốn sách giáo khoa khó đọc của mình? Trở thành một người trí thức theo cách hiểu của tôi tất nhiên là không dễ dàng, và ở đây cần nhiều năm tự rèn luyện bồi dưỡng. Nhưng tôi xuất phát từ chỗ cho rằng lý thuyết về chất trí thức cần phải mang tính nguyên tắc, nhất quán về mặt logic và được hoàn thiện một cách có hệ thống.

Chớ nên quên rằng toán học đòi hỏi những nỗ lực lớn lao đến mức tối đa để nắm vững, thế nhưng nó hoàn toàn không thể tranh cãi được. Lý thuyết về chất trí thức có tính hiện thực không phải hiểu theo nghĩa khả năng hiện thực của nó là chính xác và hết sức nhanh chóng mà theo nghĩa giáo dục một cách kiên trì và liên tục, và nếu như mất nhiều năm tháng thì cũng phải chấp nhận.

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 36

Advertisements

Về chất trí thức – Phần đầu


A.F. Losev

1/ Thế nào là chất trí thức

Chất trí thức không phải là sự tích lũy một khối lớn kiến thức, không phải là sự tinh thông một chuyên ngành nào đó, không phải là sự đóng góp vào tiến bộ của văn hóa nói chung, không phải đơn thuần là một phẩm hạnh đạo đức hay một năng khiếu nghệ thuật, không phải là thành phần xuất thân mang tính chất xã hội lịch sử, không phải là sự có chân trong một tầng lớp trung gian nào đó trên phương diện chính trị – xã hội. Tất cả những phẩm chất và đặc điểm ấy hoặc là biểu hiện của chất trí thức nhưng không phải là bản thân chất trí thức, chúng hoặc là trung lập đối với chất trí thức, hoặc là thậm chí đối địch với nó.

2/ Chất trí thức và nhân cách

Trước hết, chất trí thức là một nếp sống của nhân cách, hay nói chung là một chức năng của nhân cách. Nhưng thế nào là nhân cách? Nhân cách là một mối quan hệ tự nhiên, xã hội và lịch sử của cá nhân. Song chất trí thức không chỉ có thế bởi lẽ bất cứ một người nào, thậm chí hoàn toàn không phải là trí thức, bao giờ cũng là một nhân cách nào đó, mặc dầu chẳng ra gì.

3/ Chất trí thức và ý thức hệ

Hiển nhiên chất trí thức là một chức năng của nhân cách vốn chỉ nảy sinh trong sự gắn bó với một ý thức hệ nhất định.

Thuật ngữ này ít khi được sử dụng trong việc xác định thế nào là chất trí thức. Thông thường điều đó được thay thế bằng việc sử dụng những dấu hiệu cá biệt này hay những dấu hiệu cá biệt khác và những dấu hiệu ít mang tính chất ngẫu nhiên.

Chẳng hạn người ta thường nói rằng người trí thức – đó là một người thông minh, uyên bác, nhân hậu và quan tâm đến những người khác, nhã nhặn, biết suy nghĩ, khả ái, có cuộc sống nội tâm đặc biệt, hay giúp đỡ mọi người trong các việc thiện và trong cơn hoạn nạn của họ, đáng tin cậy, hào hiệp, có tâm hồn cao thượng, có cái nhìn rộng rãi, không phải là kẻ ích kỷ… Những đặc điểm này thường là đúng và thậm chí rất cơ bản, song cũng thường là không nhất thiết và mang tính chất ngẫu nhiên. Nhưng điều quan trọng nhất là bất cứ một đặc điểm nào bao giờ cũng là rất cá biệt và ở đây thường thiếu tính khái quát cần thiết.

Mà tính khái quát cần thiết ở đây rõ ràng có liên quan đến lĩnh vực ý thức hệ. Và cũng không phải ý thức hệ nói chung. Kiểu ý thức hệ chung chung như vậy thì ai cũng có, kể cả những người không phải là trí thức.

Và nói chung, không bao giờ tồn tại một con người thiếu ý thức hệ. Một người hèn mạt nhất, thấp kém nhất và thiển cận nhất, rất xa lạ với tư duy hợp logic thì dĩ nhiên là không có một ý thức hệ tự giác nào đó, nhưng ý thức hệ này, chúng ta có thể tạo ra hộ anh ta và thay cho anh ta một cách chính xác nhất và toàn diện.

Vậy trong trường hợp này thì ý thức hệ của chất trí thức là như thế nào? Bằng cách rút ra một kết luận chung nhất và và tổng kết lại tất cả những cái cá biệt thì cần phải nói rằng trí thức là người bảo vệ những lợi ích của sự hưng thịnh toàn nhân loại. Hiện nay người trí thức sống và làm việc như trong tương lai con người sẽ sống và làm việc trong điều kiện của sự phồn thịnh toàn nhân loại. Và hơn nữa, hoàn toàn không nhất thiết là người trí thức nhận thức được điều đó một cách cặn kẽ và nói chng là nhận thức được.

Về phương diện này, chất trí thức hầu như bao giờ cũng mang tính chất vô thức.Ngược lại, sự có ý thức quá mức trong công việc này chỉ có thể gây trở ngại cho chất trí thức với tư cách là một quá trình sinh động của cuộc sống. Trong chất trí thức này có những sự thâm thúy của nó, nhưng hoàn toàn không nhất thiết là người trí thức phải hiểu được điều đó. Và trong chất trí thức này có vẻ đẹp của nó, nhưng người trí thức nào hiểu được điều đó một cách hoàn toàn chính xác thì cũng không hay lắm, và còn tệ hại hơn nữa nếu người nào phô trương sự hiểu biết của mình trước những người khác. Tốt nhất là sẽ nói rằng người trí thức không nghĩ đến chất trí thức của mình nhưng hít thở nó như không khí. Bởi lẽ hít thở không khí không có nghĩa là chỉ hiểu biết không khí về mặt hóa học và chỉ hiểu biết sự hô hấp về mặt vật lý học.

Ý thức hệ của chất trí thức tự nó nảy sinh không rõ từ đâu và tự nó tác động mà không hiểu rõ hành động của mình, và nó theo đuổi mục đích mang lại sự hưng thịnh cho toàn nhân loại mà thường không có khái niệm nào về công việc này.

4/ Chất trí thức và việc cải tạo hiện thực

Có thể xác định dưới dạng chung nhất tầm quan trọng về mặt văn hóa của chất trí thức vốn bao giờ cũng tồn tại giữa những sự chưa hoàn hảo của xã hội, con người và tự nhiên như một khát vọng thường xuyên không phải chiêm ngưỡng mà là cải tạo hiện thực. Chất trí thức này vốn nảy sinh trên cơ sở ý thức về sự hưng thịnh của toàn nhân loại, không thể không nhìn thấy tất cả những cái chưa hoàn hảo của cuộc sống và không thể dửng dưng trước chúng. Để làm được điều này, người trí thức thậm chí không cần động não nhiều.

Chất trí thức trước hết là sự cảm nhận tự nhiên về những điều chưa hoàn hảo của cuộc sống và thái độ ghê tởm mang tính chất bản năng đối với chúng. Liệu sau đó có thể chấp nhận một điều là người trí thức dửng dưng trước những cái chưa hoàn hảo của cuộc sống được không? Không, ở đây không thể có bất cứ một thái độ thờ ơ lãnh đạm nào. Bàn tay của người trí thức tự nó muốn nhổ cây cỏ dại trong khu vườn tuyệt đẹp của cuộc sống con người. Văn hóa của giới trí thức, như chính cái nghĩa của thuật ngữ “văn hóa” đòi hỏi, bao gồm việc cải tạo hiện thực nhằm mục đích vươn tới và thể hiện niềm mơ ước thiêng liêng đầy bí ẩn của mỗi người trí thức là làm việc để đạt tới sự hưng thịnh của cả loài người.

5/ Chất trí thức và văn hóa

Chữ “văn hóa” (culture) trong tiếng Latinh có nghĩa là “canh tác”, “trồng trọt”, “chế biến”. Điều đó có nghĩa là văn hóa không bao giờ có thể mang tính chất hồn nhiên. Nó bao giờ cũng là một công việc có ý thức của tinh thần đối với việc tự hoàn thiện bản thân mình và đối với việc điều chỉnh tất cả những cái bao quanh con người. Về phương diện này, chất trí thức không còn mang tính hồn nhiên một cách đơn thuần nữa. Chất trí thức chỉ hồn nhiên trong bản chất của nó, nhưng trong những chức năng thực tế của cuộc sống, nó bao giờ cũng có ý thức, bao giờ cũng năng động, biết nhìn xa thấy rộng và khi cần thiết thì có tính thận trọng và quả quyết.

Nhân cách con người nằm sâu trong những điều kiện cụ thể mang tính chất tự nhiên, xã hội và lịch sử. Những điều kiện này thường thuận lợi đối với nhân cách, nhưng phần nhiều là thù địch đối với nó. Bởi vậy, chất trí thức chỉ tồn tại ở nơi nào có sự vũ trang chống lại mọi cái chưa hoàn hảo về mặt tự nhiên, xã hội và lịch sử. Nhưng để làm được điều này thì cần phải có sự chuẩn bị lâu dài, mà muốn có được sự chuẩn bị lâu dài thì cần phải có lao động được ghi nhận về mặt ý thức hệ.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lê Sơn

Nguồn: TN 2014 – 36

Mối liên hệ lạ thường giữa trí não và vật lý lượng tử – Phần cuối


Fisher nói rằng động thái mang tính cơ-lượng tử của những spin của các hạt nhân này có thể cản trở tương đối hiệu quả sự phân rã theo thang thời gian của con người. Ông đồng ý với Tegmark rằng những rung động lượng tử, như những gì đã được Penrose và Hameroff đặt làm tiên đề, sẽ có thể bị ảnh hưởng mạnh bởi môi trường xung quanh “và sẽ phân rã gần như ngay lập tức”. Nhưng các spin của hạt nhân sẽ không tương tác đủ mạnh với môi trường xung quanh chúng, và động thái lượng tử trong spin của hạt nhân phốt pho sẽ phải được “bảo vệ” khỏi sự phân rã.

Điều này có thể xảy ra, Fisher nói, nếu các nguyên tử phốt pho kết hợp chặt chẽ thành một đối tượng gọi là “các phân tử Posner”. Chúng là một cụm sáu ion phốt phát, kết hợp với chín ion canxi. Có vài nguyên nhân cho thấy, chúng có thể tồn tại trong các tế bào sống, mặc dù còn xa ta mới có thể kết luận từ đây.

Trong các phân tử Posner, Fisher lập luận, spin của phốt pho có thể ngăn trở sự phân rã trong một ngày hoặc hơn, thậm chí là trong các tế bào sống. Điều này có nghĩa là chúng có thể ảnh hưởng lên cách thức hoạt động của não bộ.

Ý tưởng ở đây là các phân tử Posner có thể bị các nơron nuốt mất. Một khi đã vào bên trong, các phân tử Posner có thể kích hoạt việc bắn một tín hiệu sang nơron khác, bằng cách rời ra và giải phóng các ion canxi của chúng.

Do trạng thái rối lượng tử trong các phân tử Posner, hai tín hiệu như vậy vướng vào nhau: chúng ta có thể coi đó như một dạng chồng chập lượng tử của một “suy nghĩ”. “Nếu việc xử lý lượng tử với spin của các hạt nhân thực tế cũng hiện hữu trong não bộ, nó sẽ là một hiện tượng cực kỳ phổ biến, xảy ra hầu hết mọi lúc,” Fisher nói.

Ý tưởng này xuất hiện lần đầu tiên khi ông bắt đầu nghĩ về bệnh tâm thần.

“Đường vào ngành hóa sinh não bộ của tôi bắt đầu khi ba hay bốn năm trước tôi quyết định khám phá xem làm thế nào mà các ion liti trên Trái đất có thể có hiệu ứng kinh ngạc đến vậy trong việc điều trị các bệnh thần kinh,” Fisher nói.

Các chất gây nghiện chứa liti được sử dụng rộng rãi để điều trị chứng rối loạn lưỡng cực, nhưng không ai biết tác dụng của chúng đến từ đâu.

“Khi đó tôi chưa tìm kiếm một giải thích mang tính lượng tử,” Fisher nói. Nhưng rồi ông lướt qua một báo cáo rằng các chất gây nghiện chứa liti có những ảnh hưởng khác nhau lên hành vi của chuột, tùy thuộc vào dạng – hay “đồng vị” – liti được sử dụng.

Đây thực sự là một vấn đề vô cùng nan giải, ngay từ nghĩa đen. Trong ngôn ngữ hóa học, các đồng vị khác nhau có hoạt tính gần như đồng nhất, vậy nên nếu liti có tác dụng như một chất gây nghiện nhân tạo thì tất cả các đồng vị của nó cũng phải tạo hiệu ứng tương tự.

Nhưng Fisher nhận ra rằng hạt nhân của các nguyên tử với những đồng vị khác nhau của liti có thể có spin khác nhau. Tính chất lượng tử này có thể ảnh hưởng đến cách tác động của chất gây nghiện chứa liti. Chẳng hạn, nếu liti thay thế cho canxi trong các phân tử Posner, spin của liti có thể “cảm thấy” và ảnh hưởng lên những nguyên tử phốt pho, do đó giao thoa với trạng thái rối của chúng.

Nhưng nếu đúng thì điều này sẽ giúp giải thích tại sao liti có thể điều trị chứng rối loạn lưỡng cực.

Ở điểm này, đề xuất của Fisher chỉ là một ý tưởng hấp dẫn. Nhưng có một vài phương pháp mà tính chính xác của chúng có thể được kiểm định, bắt đầu với ý tưởng spin của phốt pho trong các phân tử Posner có thể giữ được sự gắn kết lượng tử trong quãng thời gian dài. Đó chính là điều tiếp theo mà Fisher hướng tới.

Cũng như vậy, ông thận trọng với việc liên kết những ý tưởng ban đầu về “ý thức lượng tử”, mà với ông thì cùng lắm chúng cũng chỉ mang tính ức đoán.

Đa số các nhà vật lý không cảm thấy thực sự thoải mái với mối quan hệ có thể có giữa lý thuyết lượng tử và ý thức, đa số hi vọng rằng hai lĩnh vực tồn tại độc lập với nhau. Sau cùng, chúng ta còn chưa thực sự biết ý thức là gì, càng chưa thể có một lý thuyết để mô tả nó. Mọi chuyện càng trở nên huyền hoặc khi hiện nay mới có một nhóm nghiên cứu quy mô nhỏ, tập trung vào khái niệm “ý thức lượng tử”, khẳng định rằng cơ học lượng tử đưa ra cơ sở khả dĩ cho việc tìm hiểu những hiện tượng như thần giao cách cảm và cách không di vật. Hệ quả là, các nhà vật lý thường cảm thấy ngại ngùng khi đề cập đến quan hệ giữa “lượng tử” và “ý thức”.

Nhưng gạt những chuyện ấy qua một bên, thì ý tưởng về mối quan hệ này đã có một lịch sử lâu dài, và một số nhà nghiên cứu tin rằng sẽ chẳng bao giờ có thể bác bỏ nó.

Năm 2016, Adrian Kent ở Đại học Cambridge, Anh, một trong những “triết gia lượng tử” đáng kính nhất, đã dự đoán rằng ý thức có thể ảnh hưởng đến động thái của các hệ thống lượng tử theo những cách thức vi tế nhưng có thể đo được.

Kent rất thận trọng với ý tưởng này. “Không có lý do bắt buộc nào về mặt nguyên lý để tin rằng lý thuyết lượng tử là lựa chọn đúng đắn để thử tạo lập một lý thuyết cho ý thức, hay có sự liên quan giữa các vấn đề lượng tử với vấn đề về ý thức,” ông thừa nhận.

Nguyễn Duy Khánh dịch
Nguồn: http://www.bbc.com/earth/story/20170215-the-strange-link-between-the-human-mind-and-quantum-physics

Mối liên hệ lạ thường giữa trí não và vật lý lượng tử – Phần II


Ngày nay, các nhà vật lý vẫn chưa đồng thuận xem đâu là cách tốt nhất để giải thích các thí nghiệm lượng tử này, và ở một mức độ nào đó tự bản thân bạn (ở thời điểm hiện tại) có thể tùy chọn cho mình ý nghĩa của chúng. Nhưng dù là cách này hay cách khác, thật khó để lờ đi ngụ ý rằng ý thức và cơ học lượng tử có liên quan với nhau theo một cách nào đó.

Đến đầu những năm 1980, nhà vật lý người Anh Roger Penrose đã đề xuất rằng mối liên quan này có thể theo một hướng khác. Dù nhận thức có ảnh hưởng lên cơ học lượng tử hay không, ông nói, có lẽ cơ học lượng tử vẫn luôn có vai trò trong ý thức.

Nếu, Penrose hỏi, có những cấu trúc kiểu phân tử trong trí não của chúng ta, có khả năng thay đổi trạng thái của chúng để đáp lại một sự kiện lượng tử đơn lẻ thì sao? Liệu những cấu trúc này có thể gắn với một trạng thái chồng chập, cũng như các hạt trong thí nghiệm hai khe hẹp không? Và liệu có thể rằng các trạng thái chồng chập lượng tử ấy cũng xuất hiện trong những phương thức kích hoạt các nơron thông tin cho nhau qua các tín hiệu điện hay không?

Có lẽ, Penrose nói, khả năng duy trì những trạng thái tinh thần có vẻ như không tương thích của chúng ta, không phải là điều dị thường của ý thức, mà là một hiệu ứng lượng tử thực sự.

Sau cùng, trí não con người có vẻ như có khả năng xử lý các quá trình ý thức vượt xa khả năng của các máy tính kỹ thuật số. Có lẽ thậm chí chúng ta có thể thực hiện những nhiệm vụ tính toán bất khả với các máy tính thông thường, vốn sử dụng lôgic kỹ thuật số cổ điển.

Sau cùng, trí não con người có vẻ như có khả năng xử lý các quá trình ý thức vượt xa khả năng của các máy tính kỹ thuật số. Có lẽ thậm chí chúng ta có thể thực hiện những nhiệm vụ tính toán bất khả với các máy tính thông thường, vốn sử dụng lôgic kỹ thuật số cổ điển.

Penrose đề xuất quan điểm về hiệu ứng lượng tử trong ý thức của con người trong cuốn sách in năm 1989 của ông, The Emperor’s New Mind (Trí não mới của Hoàng đế). Ý tưởng này được gọi là Orch-OR, viết tắt của “orchestrated objective reduction” (sự giản lược khách quan hài hòa).

Orch-OR đã gợi đến đề xuất của Penrose rằng lực hấp dẫn là nguyên nhân dẫn tới thực tế rằng các vật thể đời thường, như những chiếc ghế hay các hành tinh, không thể hiện hiệu ứng lượng tử. Penrose tin rằng sự chồng chập lượng tử trở nên bất khả với các đối tượng vô cùng lớn so với nguyên tử, bởi hiệu ứng hấp dẫn của chúng sẽ ép buộc hai phiên bản không tương thích của không-thời gian đồng thời tồn tại.

Penrose đã phát triển ý tưởng này xa hơn cùng với bác sĩ người Mỹ Stuart Hameroff. Trong cuốn sách in năm 1994 Shadows of the Mind (Những cái bóng của trí não), ông đề xuất rằng những cấu trúc tham gia vào nhận thức lượng tử này có thể là các dải protein gọi là microtubule. Chúng xuất hiện ở hầu khắp các tế bào của chúng ta, bao gồm cả các nơron trong não bộ. Penrose và Hameroff lập luận rằng những rung động của microtubule có thể gắn với một trạng thái chồng chập lượng tử.

Nhưng không có bằng chứng nào cho một niềm tin mơ hồ như vậy.

Người ta từng nghĩ rằng ý tưởng chồng chập lượng tử trong các microtubule được ủng hộ bởi một số thí nghiệm thực hiện năm 2013, nhưng thực tế những nghiên cứu này không hề đề cập đến các hiệu ứng lượng tử.

Bên cạnh đó, đa số các nhà nghiên cứu nghĩ rằng ý tưởng Orch-OR đã bị một nghiên cứu công bố năm 2000 loại bỏ. Nhà vật lý Max Tegmark đã tính toán rằng các trạng thái chồng chập lượng tử của những phân tử xuất hiện trong tín hiệu nơron không thể tồn tại trong thậm chí một phần nhỏ của thời gian cần thiết để tín hiệu ấy có thể được truyền đi.

Các hiệu ứng lượng tử như sự chồng chập rất dễ bị phá hủy bởi một quá trình gọi là sự phân rã, có nguồn gốc từ những tương tác của một đối tượng lượng tử với môi trường xung quanh nó, qua đó “tính lượng tử” mất đi.

Sự phân rã được coi là vô cùng nhanh trong môi trường nóng ẩm như các tế bào sống.

Tín hiệu thần kinh là những xung điện, do các nguyên tử mang điện đi qua vách tế bào thần kinh tạo ra. Nếu một trong những nguyên tử này đang ở trong một trạng thái chồng chập và sau đó va chạm với một nơron, Tegmark đã chỉ ra rằng sự chồng chập này có thể phân rã trong không tới một phần tỉ tỉ của một giây. Cần có ít nhất mười nghìn tỉ lần thời gian như vậy để một nơron phóng ra một tín hiệu.

Do đó, người ta hết sức hoài nghi các ý tưởng về những hiệu ứng lượng tử trong não.

Tuy nhiên, Penrose không bị những lập luận này lay chuyển và không thay đổi giả thuyết Orch-OR. Và mặc cho dự đoán của Tegmark về sự phân rã vô cùng nhanh trong các tế bào, các nhà nghiên cứu khác đã tìm thấy bằng chứng cho những hiệu ứng lượng tử trong sinh vật. Một số người chỉ ra rằng cơ học lượng tử chính là cơ chế giúp những con chim di cư sử dụng hệ thống dẫn đường bằng từ, và giúp những cây xanh sử dụng ánh sáng để tạo ra đường từ sự quang hợp.

Bên cạnh đó, một nghiên cứu công bố năm 2015, nhà vật lý Matthew Fisher của Đại học California ở Santa Barbara lập luận rằng não bộ có thể chứa những phân tử có khả năng duy trì những trạng thái chồng chập lượng tử mạnh hơn. Ông tin rằng những hạt nhân nguyên tử phốt pho có thể có khả năng này.

Các nguyên tử phốt pho tồn tại ở khắp mọi nơi trong tế bào sống. Chúng thường ở dạng các ion phốt pho, trong đó một nguyên tử phốt pho kết hợp với bốn nguyên tử ôxy.

Những ion như vậy, là đơn vị cơ bản của năng lượng trong tế bào. Hầu hết năng lượng của tế bào đặt trong các phân tử gọi là ATP, vốn chứa một dây ba nhóm phốt phát kết hợp thành một phân tử hữu cơ. Khi một trong ba gốc phốt phát tách ra tự do, năng lượng được giải phóng để tế bào sử dụng.

Các tế bào có cơ cấu phân tử để tập hợp các ion phốt phát thành nhóm và tách chúng trở lại. Fisher đề xuất một lược đồ trong đó hai ion phốt phát có thể được đặt trong một trạng thái chồng chập đặc biệt gọi là một “trạng thái rối”.

Các hạt nhân phốt phát có một tính chất lượng tử gọi là spin, khiến chúng giống như những nam châm với các cực chỉ theo những hướng cụ thể. Trong một trạng thái rối, spin của một hạt nhân phốt pho phụ thuộc vào spin của hạt nhân còn lại.

Nói cách khác, các trạng thái rối thực ra chính là những trạng thái chồng chập với nhiều hơn một hạt lượng tử.

(còn tiếp) 

Nguyễn Duy Khánh dịch
Nguồn: http://www.bbc.com/earth/story/20170215-the-strange-link-between-the-human-mind-and-quantum-physics

Mối liên hệ lạ thường giữa trí não và vật lý lượng tử – Phần I


Philip Ball

Không ai hiểu ý thức là gì hay ý thức vận hành như thế nào. Cũng chẳng có ai hiểu cơ học lượng tử. Nhưng người ta vẫn tin rằng chúng liên quan đến nhau và nỗ lực đi tìm mối quan hệ ấy.

Tôi không thể định nghĩa vấn đề thực sự ở đây là gì, bởi vậy tôi ngờ rằng chẳng có vấn đề gì cả, nhưng tôi không chắc có đúng là không có vấn đề hay không.”

Nhà vật lý người Mỹ Richard Feynmann đã nói như vậy về các vấn đề hóc búa và những nghịch lý nổi tiếng trong cơ học lượng tử, lý thuyết mà các nhà vật lý đã sử dụng để mô tả các vật thể nhỏ bé nhất trong Vũ trụ. Nhưng cũng có thể đó là ông đang nói về ý thức, một vấn đề không kém phần nan giải.

Một số nhà khoa học tin rằng chúng ta đã hiểu được ý thức là gì, hoặc cũng có người cho rằng ý thức đơn thuần là một ảo tưởng. Nhưng rất nhiều nhà khoa học cảm thấy chúng ta vẫn chưa hề nắm bắt được nguồn gốc xuất xứ của ý thức.

Vấn đề nan giải bất tử về ý thức thậm chí đã khiến một số nhà nghiên cứu dùng đến vật lý lượng tử để giải thích nó. Điều này hiển nhiên luôn vấp phải hoài nghi: thật không khôn ngoan khi dùng bí ẩn này để lý giải một bí ẩn khác. Tuy nhiên, những ý tưởng như vậy không hẳn là kỳ quặc, và cũng không hề tùy hứng.

Các nhà vật lý vẫn thường cảm thấy khó chịu trước thực tế là yếu tố ý thức xuất hiện trong lý thuyết lượng tử ngay từ thời kỳ đầu. Hơn nữa, các máy tính lượng tử được dự đoán là có khả năng hoàn thành những việc máy tính thông thường không thể, tương tự như cách trí não có thể làm được những điều vượt xa khả năng của trí tuệ nhân tạo. “Ý thức lượng tử” thường bị chế nhạo như một lời tán tỉnh huyễn hoặc, nhưng người ta vẫn không thể bác bỏ nó.

Cơ học lượng tử là lý thuyết tốt nhất mà con người có khi mô tả thế giới ở cấp độ cơ bản của nguyên tử và các hạt hạ nguyên tử. Điều đặc biệt bí ẩn nổi tiếng nhất của nó là thực tế rằng kết quả của một thí nghiệm lượng tử có thể thay đổi tùy thuộc vào việc chúng ta có đo đạc tính chất nào đó của các hạt tham gia thí nghiệm hay không.

Hiện tượng này có tên gọi là “hiệu ứng người quan sát”, từng khiến các nhà lý thuyết lượng tử tiên phong vô cùng bối rối. Có vẻ như nó phá hoại giả định cơ sở ẩn sau tất cả các ngành khoa học: rằng có một thế giới khách quan ngoài kia, không phụ thuộc vào chúng ta. Nếu sự vận hành của thế giới tùy thuộc vào cách chúng ta quan sát nó, thì khái niệm “hiện thực” thật ra đâu còn ý nghĩa gì?

Một số nhà nghiên cứu cảm thấy bị ép buộc phải kết luận rằng tính khách quan thực ra chỉ là một ảo ảnh, rằng ý thức phải được coi như một tác nhân tham gia chủ động trong lý thuyết lượng tử. Với số khác, điều này chẳng có ý nghĩa gì cả. Chắc chắn, Albert Einstein đã từng phàn nàn rằng, Mặt trăng đâu chỉ tồn tại khi chúng ta nhìn nó!

Ngày nay, một số nhà vật lý nghi ngờ rằng, dù yếu tố ý thức có ảnh hưởng lên cơ học lượng tử hay không, có lẽ thực tế là ý thức tồn tại chính nhờ cơ học lượng tử. Họ tin rằng lý thuyết lượng tử là điều không thể thiếu để giải thích đầy đủ sự vận hành của trí não.

Có lẽ, cũng như các đối tượng lượng tử có thể đồng thời hiện hữu ở hai vị trí, một trí não lượng tử cũng có thể giữ hai ý tưởng loại trừ lẫn nhau tại cùng một thời điểm?

Sự xâm nhập nổi tiếng nhất của trí não vào cơ học lượng tử đến từ “thí nghiệm hai khe hẹp”. Tưởng tượng rằng ta chiếu một tia sáng trước một màn chứa hai khe hẹp song song. Một phần ánh sáng đi qua các khe, và được hứng bởi một màn chắn phía sau.

Ánh sáng có thể được coi như một dạng sóng và khi các sóng hiện ra sau hai khe chúng có thể giao thoa với nhau. Nếu các đỉnh sóng trùng nhau, chúng sẽ cộng hưởng, còn nếu một đỉnh và một hõm trùng nhau thì chúng sẽ triệt tiêu nhau. Sự giao thoa các sóng này được gọi là hiện tượng nhiễu xạ, nó tạo ra một dãy luân phiên các dải sáng tối trên màn chắn sau khi các sóng ánh sáng cộng hưởng và triệt tiêu nhau.

Thí nghiệm này được hiểu như một đặc tính của các sóng trong suốt 200 năm, trước khi lý thuyết lượng tử xuất hiện.

Thí nghiệm hai khe cũng có thể thực hiện được với các hạt lượng tử như electron, loại hạt vi mô mang điện cấu thành nên nguyên tử. Những hạt này cũng có thể hành xử như sóng, nghĩa là chúng cũng có thể trải qua sự nhiễu xạ khi một dòng các hạt electron đi qua hai khe hẹp tạo ra giao thoa.

Giả sử các hạt lượng tử được gửi qua các khe lần lượt mỗi hạt một lần, rồi lần lượt đập vào màn chắn phía sau. Giờ đây rõ ràng chẳng có gì trên đường đi của mỗi hạt để nó có thể giao thoa – nhưng quy luật các điểm va chạm của mỗi hạt theo thời gian đều là các dải giao thoa.

Có vẻ như thí nghiệm này ngụ ý rằng mỗi hạt đều đồng thời đi qua cả hai khe và tự giao thoa với chính nó. Sự kết hợp của việc “đi qua cả hai đường ở cùng một thời điểm” này được gọi là một trạng thái chồng chập.

Nhưng điều tiếp theo sau đây mới thực sự kỳ dị.

Bằng cách đặt một máy dò bên trong hoặc ngay sau một khe, ta có thể phát hiện ra hạt vi mô có đi qua nó hay không. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự giao thoa biến mất. Đơn giản chỉ với việc quan sát đường đi của hạt – ngay cả khi sự quan sát này không làm nhiễu chuyển động của hạt – mà chúng ta đã thay đổi kết quả thí nghiệm.

Nhà vật lý Pascual Jordan, người đã làm việc cùng với bậc thầy lượng tử Niels Bohr ở Copenhagen vào những năm 1920, đã kết luận rằng “sự quan sát không chỉ làm nhiễu cái cần được đo, chúng còn định dạng ra nó nữa… Chúng ta đã ép [một hạt lượng tử] phải mang một vị trí xác định.” Nói cách khác, Jordan nói, “chính chúng ta đã định đoạt kết quả thí nghiệm.”

Nếu như vậy, hiện thực khách quan có vẻ như là điều không tồn tại.

Và thậm chí nó còn trở nên kỳ lạ hơn.

Nếu tự nhiên có vẻ như đang thay đổi hành vi của nó tùy thuộc vào việc chúng ta có “quan sát” nó hay không, ta có thể lừa nó tiết lộ mục đích của mình. Để làm vậy, ta có thể đo xem hạt đi qua khe nào trong hai khe, nhưng chỉ khi nó đã đi qua hai khe ấy. Từ đó, nó hẳn đã phải “quyết định” sẽ đi một hoặc cả hai đường.

Một thí nghiệm như vậy do nhà vật lý Mỹ John Wheeler đề xuất vào những năm 1970, được gọi là “sự lựa chọn bị trì hoãn”, và được thực hiện trong thập kỷ tiếp theo. Nó sử dụng các kỹ thuật thông minh để thực hiện những phép đo trên quỹ đạo của các hạt lượng tử (thường là các hạt lượng tử ánh sáng, còn gọi là photon) sau khi chúng đã chọn đi một đường hay là một chồng chập của cả hai đường.

Thực tế hóa ra, cũng như Bohr đã tự tin tiên đoán, không có gì khác biệt trong chuyện chúng ta có trì hoãn phép đo hay không. Cứ khi nào chúng ta đo đường đi của photon trước khi nó chạm đến máy dò là tất cả hiện tượng giao thoa biến mất.

Cứ như thể tự nhiên không chỉ “biết” khi bị chúng ta quan sát, mà còn ngay từ khi chúng ta dự định quan sát nữa.

Trong những thí nghiệm này, bất cứ khi nào thấy đường đi của một hạt lượng tử, đám mây những đường đi của nó “chập lại” thành một trạng thái đơn lẻ được xác định cụ thể. Hơn thế, thí nghiệm sự lựa chọn bị trì hoãn ngụ ý rằng, chỉ riêng hành động quan sát, chứ không tính đến bất kỳ sự gây nhiễu cụ thể nào gây ra bởi phép đo, có thể gây ra sự chập lại. Nhưng phải chăng điều này có nghĩa rằng sự chập lại thực sự chỉ xảy ra khi kết quả của một phép đo chạm vào nhận thức của chúng ta?

Khả năng này được nhà vật lý người Hungary Eugene Wigner thừa nhận vào những năm 1930. “Nó có nghĩa là những ấn tượng đi vào nhận thức của tôi sẽ ảnh hưởng tới việc mô tả lượng tử các đối tượng,” ông viết. “Thuyết duy ngã có thể nhất quán một cách lôgic với cơ học lượng tử hiện tại.”

Wheeler thậm chí còn hình dung rằng sự hiện hữu sinh vật, vốn có khả năng “nhận biết”, đã biến thứ trước đó là một chồng chập những quá khứ lượng tử thành một lịch sử cụ thể. Theo nghĩa này, Wheeler nói, chúng ta đã trở thành thành viên trong chu trình tiến hóa của Vũ trụ ngay từ khởi đầu của nó. Nói như ông, chúng ta đang sống trong một “vũ trụ cho phép sự tham gia của cá nhân”.

(còn tiếp) 

Nguyễn Duy Khánh dịch
Nguồn: http://www.bbc.com/earth/story/20170215-the-strange-link-between-the-human-mind-and-quantum-physics

Ảnh hưởng của thói quen trong mối quan hệ giữa vốn văn hóa và thành tích học thuật – Phần cuối


 

Ghi chú: Các quy mô tác động không đổi được tính toán từ các hệ số thích hợp (Bảng 2) và độ lệch chuẩn (Bảng 1). Mỗi thanh tiêu biểu cho sự thay đổi độ lệch chuẩn trong các biến số được liệt kê. Mỗi quy mô tác động đối với các biến số vốn văn hóa (tức là thanh 1, 2 và 5 – 9) bao gồm các tác động trực tiếp và gián tiếp. Thanh 9 bao gồm các tác động của cả các biến số vốn văn hóa và cả các biến số thói quen.

Hình 2 mô tả tầm quan trọng của việc khảo sát thói quen cùng với vốn văn hóa. Trong các phân tích được trình bày ở đây, sự thay đổi SD trong các đo lường vốn văn hóa (tức là, thăm viện bảo tàng và thời gian dành cho việc đọc, các thanh 1 và 2 tương ứng trong Hình 2) chỉ tương đương với ~ 0,05 sự thay đổi SD trong mỗi điểm trung bình GPA, ngay cả khi giải thích về cả tác động trực tiếp lẫn gián tiếp. Tuy nhiên, sự thay đổi SD trong các đo lường thói quen (tức là, các điểm HSC và SV, các thanh 3 và 4 tương ứng trong Hình 2) tạo thành sự thay đổi lớn hơn nhiều trong điểm trung bình GPA (~0,15 SD). Các kết quả này cho thấy rằng, thói quen là nhân tố quan trọng hơn trong thành tích học thuật so với vốn văn hóa đối với giới trẻ có hoàn cảnh thiệt thòi (xem Hình 2, các thanh 5 – 9 về các tác động bổ sung).

Thảo luận

Những khảo sát trước kia về lý thuyết vốn văn hóa của Bourdieu đã bỏ qua nhân tố mang tính trung gian chủ chốt là thói quen. Sự bỏ qua này khiến cho các nhà nghiên cứu có cái nhìn không đầy đủ về các cơ chế của vốn văn hóa. Dựa trên các tác phẩm trước đây về vốn văn hóa (Dumais 2002 Wildhagen 2009) và thói quen (Bourdieu 1977a; Horvat & Davis 2011), tôi nghiên cứu xem thói quen can thiệp như thế nào vào mối quan hệ giữa vốn văn hóa và điểm trung bình GPA. Sau khi đánh giá một loạt mô hình khác biệt đầu tiên kiểm soát đối với các đặc điểm bất biến theo thời gian, tôi nhận thấy vốn văn hóa có những tác động tích cực tới điểm trung bình GPA đối với giới trẻ có hoàn cảnh bất lợi. Các kiểm nghiệm trung gian cho thấy rằng những tác động này bị can thiệp hoàn toàn bởi thói quen: tác động của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA hoạt động bằng cách thay đổi tích cực cái mà Bourdieu ám chỉ đến là “cảm nhận về trò chơi” của một cá nhân (1998b, p.80). Có lẽ phát hiện chung hết sức quan trọng của nghiên cứu này là tất cả các tác động trực tiếp của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA biến mất ngay khi tôi gộp các đo lường thói quen vào các mô hình. Các đo lường định lượng truyền thống về vốn văn hóa, nhất là sự thăm viếng viện bảo tàng và thời gian dành cho việc đọc, có tác động gián tiếp nhẹ nhưng quan trọng tới điểm trung bình GPA. Những phát hiện này chỉ ra rằng vốn văn hóa làm thay đổi cách nhìn nhận của học sinh về khả năng thành công về mặt học tập của chính họ và về giá trị của trường học trong cuộc sống của họ. Các đo lường thói quen cũng có tác động tích cực tới điểm trung bình GPA của giới trẻ với quy mô tác động đồng đều lớn hơn so với quy mô tác động của vốn văn hóa.

Có một số giải thích có thể chấp nhận được lý giải tại sao vốn văn hóa hoạt động thông qua thói quen tác động tới thành tích học thuật. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng, giới trẻ có hoàn cảnh bất lợi phải chịu những khuôn mẫu hàm ý rằng trí thông minh là có sẵn và những người như họ là kém thông minh (Croizet & Claire 1998; Good, Aronson & Inzlicht 2003; Steele & Aronson 1995). Hơn nữa, quan niệm cho rằng trí thông minh có thể rèn giũa được, chứ không phải có sẵn, có một số hệ quả tích cực đối với sự thành đạt và sự tự tin về mặt học thuật của học sinh (Blackwell, Trzesniewski, và Dweck 2007; Dweck 2006, 2007). Khám phá về vốn văn hóa có thể cho phép nhữnng học sinh có hoàn cảnh bất lợi hiểu rõ hơn về sự vận hành của hệ thống giáo dục xung quanh họ. Thông qua khám phá này đối văn hóa thượng tầng, những học sinh có hoàn cảnh bất lợi có thể nhận ra rằng, các đối tác có lợi thế của họ không nhất thiết có năng khiếu bẩm sinh hay đáng được ca ngợi về mặt học thuật hơn, mà đơn thuần là họ được chuẩn bị tốt hơn và được tiếp xúc với nền văn hóa có giá trị. Những học sinh có hoàn cảnh bất lợi có thể bắt đầu nhận thấy rằng họ cũng có thể có được vốn giáo dục đáng quý. Không có phát hiện như vậy, những học sinh khác không giống với bản thân họ có thể chỉ là có trí thông minh bẩm sinh nhiều hơn mà thôi. Ví dụ, cả thói quen đọc ngày càng tăng lẫn sự tham quan viện bảo tàng có thể dẫn sự hiểu biết nhiều hơn về những chủ đề mới được giới thiệu trong lớp. Các học sinh có thể nhận thấy bản thân họ bị kích thích với việc biết được đôi chút về những điều mà giáo viên thảo luận (chẳng hạn như, việc biết được những khái niệm cơ bản về điện từ một ngành khoa học triển lãm trong viện bảo tàng). Điều này củng cố rằng một số kiến thức xuất hiện bên ngoài lớp học (trí thông minh có thể rèn giũa được) đối với một số học sinh, chứ không củng cố điều là một số học sinh chỉ tự nhiên biết nhiều hơn (trí thông minh sẵn có). Đường hướng này có thể bao gồm sự chú ý ngày càng tăng và sự phản hồi tích cực của giáo viên trong thời kỳ chuyển tiếp, vốn có thể giúp gia tăng thói quen của học sinh và thay đổi nhiều hơn nữa cách nhìn nhận của họ về trí thông minh. Đáng tiếc là, tôi không thể kiểm tra theo kinh nghiệm về những khả năng này. Nghiên cứu xa hơn nữa có sử dụng các phương pháp định tính hoặc cả định tính lẫn định lượng có thể giúp giải quyết những câu hỏi quan trọng mới này mà nghiên cứu này nêu ra.

Mặc dù tôi nhận thấy các đo lường của tôi về thói quen không hoàn thiện lắm, song nghiên cứu này cho thấy rằng những nghiên cứu xa hơn nữa về vốn văn hóa phải bao gồm các đo lường về thói quen để nắm bắt đầy đủ hơn nữa về quá trình bất bình đẳng giáo dục. Tôi cần phải nhấn mạnh rằng những đo lường này không được tạo ra cùng với thói quen cho dù chúng rất phù hợp với sự giải thích chặt chẽ về các tác phẩm của Bourdieu. Trong thực tế, khái niệm của Bourdieu về thói quen trong lĩnh vực giáo dục bao gồm hai phần: (1) thái độ tiêu cực đối với trường học và giáo dục bị (2) gây ra bởi các phản ứng và mối tương tác với thể chế này. Tôi cho rằng những câu hỏi bao gồm trong cả trình độ điểm HSC và SV, cũng như quy định thời gian và chiến lược xây dựng mô hình rõ ràng là gắn với định nghĩa này về thói quen. Tuy nhiên, rất giống như những khác biệt hiện nay trong các tài liệu về vốn văn hóa giữa những giải thích chặt chẽ (nghĩa là, sự tham gia nghệ thuật cao và việc đọc như là những sự đo lường vốn văn hóa) và những lựa chọn khác mở rộng hơn nữa (nghĩa là, sự giáo dưỡng có kết hợp và các kiểu tương tác), tôi tin là có lý do để tranh luận về những sự đo lường tốt nhất đối với thói quen. Mặc dù nghiên cứu bổ sung là cần thiết để khảo nghiệm đầy đủ phát triển cho rằng thói quen đóng vai trò như là một yếu tố trung gian giữa vốn văn hóa và các kết quả học thuật, nghiên cứu này trình bày một cách tiếp cận phương pháp luận vững chắc đối với bài thuyết trình này.

Những phát hiện được trình bày ở đây cũng ủng hộ nghiên cứu gần đây đề cập tới các biến số bất biến theo thời gian khó nhận thấy có thể ảnh hưởng tới các ước tính vốn văn hóa (Jager 2011). Khi so sánh với những mô hình có biến phụ thuộc trễ, các mô hình khác biệt đầu tiên luôn cho thấy những tác động nhỏ hơn của vốn văn hóa và đôi khi mất ý nghĩa, mặc dù vẫn duy trì đủ sự thay đổi trong các đo lường lợi ích (các kết quả không hiển thị song có thể thực hiện được theo yêu cầu). Các nhà nghiên cứu vốn văn hóa cần phải hiểu rõ hơn nữa về những xu hướng tiềm tàng này và giải thích cặn kẽ về những mô hình không thể lý giải đầy đủ về các biến số khó thấy. Tuy nhiên, các mô hình khác biệt đầu tiên không phải không có những hạn chế riêng của chúng. Những mô hình này không thể bù đắp cho việc thiếu các đo lường về các đặc trưng thay đổi theo thời gian, chẳng hạn như vị thế kinh tế xã hội, vốn là cái có thể ảnh hưởng tới vốn văn hóa, thói quen, và các kết quả học tập.

Một điểm thảo luận cuối cùng liên quan đến việc sử dụng thói quen đọc như là một thước đo vốn văn hóa. Mặc dù có nhiều tranh luận về việc sử dụng bất cứ thước đo nào có giá trị nhận thức trực tiếp trong các kết quả giáo dục (xem Kingston 2001; Lamont & Lareau 1988; Lareau & Weininger 2003), song bản thân Bourdieu (1977a, 1984) lại đề cập tới việc đọc như là một thước đo vốn văn hóa. Những người khác cho rằng thời gian dành cho việc đọc có thể tượng trưng cho nền văn hóa chủ đạo thông qua tác động của nó tới ngôn ngữ học xã hội và các cách nói và viết được giáo viên coi trọng (Bernstein 1960, 1962, 1977; Orr 1987) và, nhìn chung, có thể giúp trẻ em trở nên dễ tiếp biến về mặt văn hóa hơn đối với quá trình giáo dục (Bourdieu & Passeron 1977l DeGraaf et al. 2000). Song lựa chọn của tôi là tính đến cả thói quen đọc bắt nguồn từ ảnh hưởng của nó tới thói quen và trọng tâm của nghiên cứu này là về quá trình đầy đủ xung quanh thói quen. Các học giả luôn lưu ý tới khả năng đọc chậm của giới trẻ có hoàn cảnh thiệt thòi qua các mức điểm số và lúc nhập học (Crosnoe & Cooper 2010; Entwisle, Alexander và Olson 2007; Kieffer 2010). Và ảnh hưởng bất lợi của kỹ năng đọc kém tới triển vọng giáo dục (Kelly 2008). Do đó, tác động mạnh mẽ của thói quen đọc tới cả hai thước đo thói quen có thể tượng trưng cho ảnh hưởng nhận thức thông qua thành tích được cải thiện và sự phản hồi tích cực sau đó của các giáo viên. Mặc dù tôi tính đến thói quen đọc là vốn văn hóa trong nghiên cứu này, song tôi cho rằng có nhiều cách đánh giá tinh tế hơn có thể phù hợp hơn trong việc loại bỏ biến số ảnh hưởng nhận thức và văn hóa tới thói quen đọc.

Một số thiếu sót vẫn còn đối với nghiên cứu này. Thứ nhất, nó bị hạn chế phần nào bởi một tập hợp hạn chế các biến số kết quả. Mặc dù tôi khảo sát các khía cạnh khác nhau của vốn văn hóa và sự can thiệp của thói quen, song bộ dữ liệu giới hạn nghiên cứu của tôi theo các tác động tới điểm trung bình GPA. Bên cạnh đó, thước đo điểm trung bình GPA là tự đánh giá, vốn là việc có thể tùy thuộc vào những vấn đề giá trị lớn hơn đối với những học sinh thành công ít hơn so với những học sinh thành công cao hơn. Thứ hai, khung thời gian ngắn (18 tháng) giữa sự thu thập dữ liệu ban đầu với lần tiếp theo hạn chế cơ hội đối chứng sự thay đổi quy mô lớn trong khoảng thời gian này, nhất là đối với vốn văn hóa và điểm trung bình GPA. Điều này có lẽ được phản ánh trong các quy mô tác động nhỏ. Thứ ba, độ tuổi được chọn khảo sát cũng có thể làm sai lệch kết quả, vì các qui trình được khảo sát ở đây đã đang diễn ra theo thời gian bắt đầu thu thập dữ liệu. Thứ tư, mẫu nghiên cứu không mang tính tiêu biểu về mặt quốc gia và làm tăng những lo ngại về sự phân loại vị thế kinh tế xã hội bị bóp méo và thực tế là những thanh niên này bị xếp vào nhóm “gây nguy hiểm” bởi tính chất của chương trình. Mặc dù những vấn đề này làm mất đi khả năng khái quát hóa của nghiên cứu này, sang nghiên cứu sâu hơn nữa nên tiếp tục khảo cứu vốn văn hóa và thói quen trong một khung thời gian dài hơn nữa, bắt đầu sớm hơn nữa trong cuộc sống của giới trẻ, với mẫu nghiên cứu mang tính tiêu biểu hơn, khảo sát những khác biệt do vị thế kinh tế xã hội gây ra, và có sử dụng tập hợp kết quả được mở rộng. Việc kiểm tra tính chắc chắn của những kết quả này có sử dụng các điểm thi, người bỏ học, người tốt nghiệp, người vào học cao đẳng, và những kết quả học tập quan trọng khác là rất cần thiết cho sự hiểu biết của chúng ta về vốn văn hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện nay thúc đẩy tài liệu nghiên cứu về vốn văn hóa bằng cách đề cập tới tầm quan trọng của thói quen trong việc biến vốn văn hóa thành sự thành công về mặt học thuật đối với giới thanh thiếu niên có hoàn cảnh thiệt thòi trong giai đoạn đầu thời thanh niên.

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: S. Micheal Gaddis – The influence of Habitus in the Relationship between Cultural Capital and Academic Achievement – Social Science Research, 2013, 42(1): 1 – 13.

TN 2014 – 32, 33, 34 & 35.

Ảnh hưởng của thói quen trong mối quan hệ giữa vốn văn hóa và thành tích học thuật – Phần V


Các kết quả

Các mô hình dự đoán điểm trung bình GPA

Trong Bảng 2 cho thấy các kết quả của 2 mô hình khác biệt đầu tiên đánh giá các tác động trực tiếp của vốn văn hóa và thói quen tới điểm trung bình GPA và 2 mô hình khác biệt đầu tiên trong đánh giá các tác động của vốn văn hóa tới thói quen. Mô hình 1 khảo sát vốn văn hóa không có thói quen và mô hình 2 bao gồm các đo lường về thói quen (điểm HSC và SV). Phân tích sơ lược cho thấy rằng, bất kỳ điểm nào trong khoảng 15 – 35% biến thiên trong vốn văn hóa và các biến số thói quen đều bắt nguồn từ sự biến thiên bên trong chủ thể, trong khi các phép kiểm định phương sai không đồng nhất (heteroskedasticity) cho thấy các sai số chuẩn không được đánh giá đúng trong mô hình khác biệt đầu tiên. Các kết quả này và các lo ngại về mặt lý thuyết và phương pháp luận củng cố sự ủng hộ trước kia về việc sử dụng các mô hình khác biệt đầu tiên vốn chỉ khảo sát sự thay đổi bên trong chủ thể.

Ghi chú: Các sai số chuẩn trong dấu ngoặc đơn. Mỗi mô hình còn kiểm soát đối với tình trạng quan hệ mới cố vấn và bao gồm một hộ số chặn ngẫu nhiên về địa điểm.

* p < 0.05, ** p < 0,01, *** p< 0,001.

Trong mô hình khác biệt đầu tiên không có các biến số thói quen đóng vai trò như là các hiệp biến (mô hình 1), tôi nhận thấy rằng sự thay đổi trong các lần viếng thăm bảo tàng (0.034) và thời gian dành cho việc đọc (0.013) có ảnh hưởng đáng kể tới sự thay đổi về điểm trung bình GPA, trong khi đó sự thay đổi trong việc tham gia đóng kịch và các bài học văn hóa không tác động nhiều tới sự thay đổi về điểm trung bình GPA. Mặc dù không có sự kiểm nghiệm về sự thăng tiến xã hội chống lại các lý thuyết về sự tái sản xuất, song các kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu trước kia cho rằng giới thanh thiếu niên chịu thiệt thòi có thể được lợi từ một số hình thức vốn văn hóa nào đó. Trong mô hình 2 tôi có tính đến các biến số thói quen như là các hiệp biến để khảo sát về các tác động trung gian tiềm tàng. Khi tôi tính đến sự thay đổi trong điểm HSC và trong điểm SV, cả hai biến số thói quen đều có những tác động đáng kể tới sự thay đổi trong điểm trung bình GPA và, thật ngạc nhiên, không có biến số vốn văn hóa nào tác động đáng kể tới điểm trung bình GPA.

Nhìn chung, các kết quả này chỉ ra những tác động tích cực mạnh mẽ của thói quen tới điểm trung bình GPA, ngay cả khi đối chứng với vốn văn hóa và khả năng trước kia qua các sự khác biệt đầu tiên. Tuy nhiên, việc bổ sung các đo lường thói quen vào các mô hình lại làm mất đi bất kỳ tác động đáng kể nào của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA. Có lẽ, sự thay đổi này là do tác động trực tiếp của vốn văn hóa tới thói quen. Tôi chính thức khảo sát các tác động này và quá trình can thiệp trong hai phần kết quả cuối cùng.

Các mô hình dự đoán thói quen

Bước tiếp theo để khảo sát các tác động mang tính can thiệp tiềm tàng là sử dụng các đo lường vốn văn hóa để dự đoán thói quen. Trong bảng 2, các mô hình 3 và 4, tôi khảo sát xem vốn văn hóa có tác động như thế nào tới quan điểm của học sinh về khả năng thành công trong học tập của chính họ (HSC – mô hình 3) và giá trị học đường (SV – mô hình 4). Trong mô hình 3, tôi nhận thấy rằng sự thay đổi về số lần thăm viện bảo tàng (0.182) và sự thay đổi về thời gian dành cho việc đọc (0.075) có những tác động tích cực và đáng kể tới sự thay đổi về điểm HSC. Ngoài ra, mô hình 4 cho thấy rằng sự thay đổi về các lần thăm viếng viện bảo tàng (0.394), sự thay đổi về số lần tham gia các bài học văn hóa (0.547), và sự thay đổi về thời gian dành cho việc đọc (0.096) có những tác động tích cực và đáng kể tới sự thay đổi về điểm số SV. Nhìn chung, các kết quả này cho thấy rằng cả điểm HSC và điểm SV đều có thể là những yếu tố trung gian trong các tác động của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA.

Các kết quả từ các mô hình được trình bày trong bảng 2 dẫn tôi tới hai kết luận quan trọng. Thứ nhất, tôi nhận thấy các đo lường khác nhau về vốn văn hóa có tác động đáng kể tới cả điểm trung bình GPA và thói quen đối với giới trẻ. Thứ hai, việc gộp cả các biến số thói quen vào các mô hình dự đoán điểm trung bình GPA chỉ ra rằng vốn văn hóa có thể có tác động trực tiếp tới thói quen. Khi tôi khảo sát các mô hình này, tôi nhận thấy một số đo lường vốn văn hóa có tác động tới thói quen. Nhìn chung, những kết quả này dẫn tôi đến khảo nghiệm chính thức các tác động mang tính trung gian trong phần tiếp theo.

Các tác động trung gian và gián tiếp

Một vài kết hợp vốn văn hóa và thói quen phù hợp với các tiêu chuẩn của Baron & Kenny (1986) về sự trung gian. Cả sự thăm viếng bảo tàng và thời gian dành cho việc đọc đều có tác động trực tiếp tới điểm HSC hoặc điểm SV và tới điểm trung bình GPA. Các kết quả này chỉ ra các tác động trung gian tiềm tàng, vì vậy trong bảng 3 tôi tiến hành các phép kiểm định Sobel về sự trung gian để khảo sát các tác động gián tiếp của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA thông qua các điểm HSC và SV. Tôi tính toán các tác động gián tiếp bằng cách sử dụng mô hình thói quen thích hợp từ Bảng 2 (điểm tìm ra βa từ Hình 1) kết hợp với mô hình điểm trung bình GPA thích hợp từ Bảng 2 (để tìm ra βb từ Hình 1). Các kết quả của các hệ số này (βa*βb) được liệt kê trong phần Chiến lược phân tích.

Ghi chú: Bảng này sử dụng các hàm Sobel về sự trung gian nhằm khảo sát những tác động gián tiếp của vốn văn hóa tới điểm trung bình GPA thông qua thái độ. Các hệ số là sản phẩm của các hệ sống tương ứng của chúng trong Bảng 2. Các sai số chuẩn và điểm Z được tính toán bằng sử dụng phương trình 2 và 3 tương ứng. Các hệ số về các biến văn hóa không hiển thị không phù hợp với ít nhất 1 trong những tiêu chí của Baron & Kenny (1986) về sự trung gian. Các sai số trong dấu ngoặc đơn, điểm Z trong dấu móc.

+ p < 0.10, * p< 0.05

Các hệ số chỉ ra rằng hai đo lường tiêu biểu của vốn văn hóa trong nghiên cứu định lượng – thăm viện bảo tàng và thời gian dành cho việc đọc – đều có những tác động gián tiếp đáng kể. Các kết quả khác biệt đầu tiên đưa ra bằng chứng cho thấy các tác động của sự thay đổi trong việc thăm viện bảo tàng (0.006) và của sự thay đổi về thời gian dành cho việc đọc (0.003) tới sự thay đổi về điểm trung bình GPA đều bị can thiệp thông qua sự thay đổi về điểm HSC. Bên cạnh đó, tác động của sự thay đổi trong việc thăm viện bảo tàng tới sự thay đổi về điểm trung bình GPA bị can thiệp thông qua sự thay đổi về điểm SV (0.007). Sự thay đổi về thời gian dành cho việc đọc chỉ có tác động gián tiếp khá nhẹ (p < 0.10) tới sự thay đổi về điểm trung bình GPA thông qua sự thay đổi về điểm SV.

(còn tiếp)

Người dịch: Thái Hà

Nguồn: S. Micheal Gaddis – The influence of Habitus in the Relationship between Cultural Capital and Academic Achievement – Social Science Research, 2013, 42(1): 1 – 13.

TN 2014 – 32, 33, 34 & 35.