Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần cuối


Một phần gây nên thái độ trên là cảm giác mất mát tương đối. Mặc dù ít có giảng viên đại học nào trải qua cảnh an bần lạc đạo của các thời kỳ trước đây, nhưng sự kỳ vọng của họ lớn nhanh hơn thu nhập. Không giống những bậc tiền bối, các vị hàn lâm ngày nay có những bằng cấp giáo dục mở rộng, thường đi kèm với những khoản nợ giáo dục nhiều không kém. Họ cảm thấy mình có quyền được tưởng thưởng tương đương với những nhà chuyên môn có bằng cấp tương tự khác, và đặc biệt bị xúc phạm trước những bất quân bình trong trường hoặc bộ môn của họ. Giảng viên khoa học cơ bản không hài lòng với thang lương của họ so với những giảng viên ở những khoa chuyên ngành. Tuy nhiên những gảing viên của các khoa này lại cũng xem là mình chưa được tưởng thưởng xứng đáng: và nhóm so sánh của họ là những người hành nghề chuyên môn. Để trả lời cho khiếu nại của một giáo sư văn học, một đồng nghiệp ngành luật của tôi gay gắt đề nghị: “nếu ông ta nghĩ mình xứng đáng nhiều như tôi, hãy cho ông ta ra ngoài xã hội mà thực hành tiếng Anh”. Phụ nữ cũng nêu ra những ưu tư về bình đẳng lương bổng. Những giảng viên nữ có mặt đa số trong những vị trí giảng dạy và điều hành ít bổng lộc nhất, và chiếm thiểu số trong nhóm những “ngôi sao” được giữ chức trọn đời. Những bậc lương cao nhất được dành cho, một cách bất quân bình, những nam giáo sư lâu năm, những người ít bị ràng buộc gia đình hơn những nữ đồng nghiệp và có nhiều cơ hội chuyển chỗ làm, hoặc đe dọa chuyển chỗ hơn, để đáp lại những lời mời hấp dẫn hơn. Việc bồi dưỡng cho những giảng viên làm việc bán thời gian cũng là một vấn đề đang dần trở nên đáng chú ý, nhất là khi xét tới thế mạnh thương lượng hạn hẹp và số lượng ngày càng tăng của họ.

Trớ trêu thay, những người ít than phiền nhất lại là những người hứng chịu sự bất bình lớn nhất: những nhân viên văn phòng và bảo dưỡng không có công đoàn riêng, những người thường được trả lương dưới mức sống này là nỗi xấu hổ cho những tháp ngà mà họ phục vụ. Những nhà phê bình xã hội như Barbara Ehrenreich đã ghi nhận, nếu các đại học quá chú trọng giảng dạy về các giá trị nhân văn và công bằng xã hội như thế, nhiều trường nên nhìn kỹ hơn vào những mối quan hệ lao động của họ. Ehrenreich đề nghị mọi người đi tham quan thực tế những tòa nhà dành cho hiệu trưởng, nơi được trang bị phòng tắm hơi, quầy pha rượu, và phòng tập thể hình, kèm với chuyến đi thăm những khu đậu xe kéo làm nhà cho những nhân viên lau dọn và bảo dưỡng.

Những người nắm giữ cổ phần kẹt giữa những yêu cầu trái ngược nhau cũng cảm thấy bị bao vây. Người ta mong muốn những người điều hành các đại học làm được nhiều viêc hơn với ít nguồn lực hơn. Hầu hết đối mặt với ngân sách cố định hoặc ngày càng thu hẹp và chi phí ngày càng tăng, đặc biệt trong những lĩnh vực như công nghệ, trang thiết bị khoa học, và chăm sóc sức khỏe. Các chuyên gia đồng ý với nhau ở điểm là tình hình khó hy vọng cải thiện. Các nhà lập pháp cũng bị kẹt giữa các làn đạn của họ, và những nhu cầu của giáo dục đại học thường không khẩn thiết như của quốc phòng, thực thi luật pháp, y tế, an ninh xã hội, và những chương trình trợ giúp xã hội khác. Và nhiều chính khách cũng không thể hiểu vì sao trợ giúp học phí rộng rãi hơn lại là ưu tiên cho phần lớn sinh viên không thiếu thốn tài chính đáng kể. Gần 40% con em các gia đình có thu nhập hơn 200.000 USD hàng năm lại học các viện đại học công lập và hưởng lợi từ trợ cấp giảm thuế.

Nhiều chính trị gia thậm chí còn miễn cưỡng hơn trong việc tài trợ những cuộc cạnh tranh mời chào giảng viên nổi tiếng trong cuộc theo đuổi danh tiếng của học viện. Những giáo sư này nâng cao thứ hạng danh tiếng của học viện, nhưng sự hiện diện thực sự của họ ở trường và những đóng góp cho cộng đồng trường thường rất nhỏ bé. Một nghề nghiệp thường tự xưng mình là “thuộc thế giới tinh thần” đã ngày càng lộ liễu trong việc theo đuổi những phụ cấp và danh tiếng kèm theo đó. Trong một mô tả chân dung lừng danh của nhà văn Anh David Lodge, giáo sư siêu sao người Mỹ Morris Zapp trơ tráo thừa nhận với một người hâm mộ trẻ rằng, “Trước khi nghỉ hưu, tôi muốn là giáo sư tiếng Anh được trả lương cao nhất trên thế giới”. Ước muốn đó, ở một cấp độ vi mô hơn, thúc đẩy những cuộc thương lượng tranh giành những ngôi sao đại học đắt giá có thể bao gồm mọi thứ từ nhà ở xa hoa, giảm giờ dạy, và vé xem bóng rổ cả mùa cho đến làm việc toàn thời gian cho tất cả tùy tùng, bao gồm cả đồng nghiệp, vợ chồng, và những nghiên cứu sinh tiến sĩ. Một nhà quản lý tức khí quá cuối cùng đã mất kiên nhẫn khi những yêu sách không ngừng tăng lên này đạt đỉnh điểm bằng việc giảng viên yêu cầu con mình phải có chỗ trong những trường tư danh giá: “Nếu ngôi sao này vào trường, cô ta có thể gọi mình vào giữa khuya để nhờ gọi giùm sâm banh Pháp và cho đánh bóng đôi giày Prada không?” Nếu ngôi sao cần cơ sở vật chất cho thí nghiệm, thì mức giá hiện thời có thể lên đến 20 triệu USD. Ngay cả với những nhà cổ điển học được trả lương khiêm tốn hơn nhiều, thì bảng giá của họ sau cùng hóa ra lại rất đáng kể. Nó không chỉ bao gồm khoản bù đắp cho giảng viên chính và đoàn cộng sự, nó còn phản ánh nhu cầu cần có sự điều chỉnh từ phía đội ngũ giảng viên hiện tại, những người sẽ gánh vác việc giảng dạy, họp hành, và những trách nhiệm liên quan tầm thường mà vị đồng nghiệp thường xuyên vắng mặt kia của họ né tránh.

Cuộc cạnh tranh giành lấy những sinh viên tài năng cũng có những hậu quả đáng lo ngại không kém. Những khách hàng của giáo dục đại học vừa chỉ trích mức học phí quá cao, vừa đòi hỏi phải có những dịch vụ đắt giá hơn: sự liên hệ giảng viên – sinh viên chặt chẽ hơn và nhiều tiện nghi cơ sở vật chất hiện đại nhất. Một bức biếm họa trên tờ New Yorker đã minh họa mong mỏi đó. Nó vẽ hình một nữ sinh phổ thông giải thích với giáo viên hướng nghiệp của cô ta: “Đại học nguyện vọng của em phải có nhiều ngăn tủ để đồ”. Trong một thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, nơi mà việc xếp hạng phần nào dựa trên sự lựa chọn đầu vào, các trường đua nhau giành những sinh viên giỏi nhất và thông minh nhất bằng cách mời chào đủ thứ từ những bữa ăn sành điệu đến huấn luyện viên riêng. “Đây không phải là sự nuông chiều”, một hội trưởng hội sinh viên cố gắng giải thích với gương mặt nghiêm trang: “Đây là chuyện xây dựng cộng đồng”.

Đây cũng là chuyện tiền bạc. Để thu hút những sinh viên điểm cao nhất, các đại học đang ngày càng nhờ vào những học bổng xét điểm. Theo những đánh giá gần đây, chỉ có khoảng mười lăm đến hai mươi học viện tư có trợ giúp tài chính dành riêng theo nhu cầu, và khoảng một phần tư khoản trợ giúp ở trường công là được cấp phát mà không xét đến hoàn cảnh kinh tế. Hệ quả là giảm bớt giúp đỡ cho những ai cần đến nó nhất, và ngăn cản những người có thu nhập thấp. Trong thập kỷ vừa qua, Mỹ đã rơi từ vị trí đứng đầu xuống hạng mười ba về sự tham gia đại học so với những nước phát triển. Sự bất bình đẳng giáo dục do thu nhập gia đình được thông báo là giống như cách đây ba mươi năm, và sự bất bình đẳng diễn ra nhiều nhất ở những học viện chọn lọc vốn có thể sẵn sàng giải quyết việc đó nhất.

Đứng trước sự tiếp cận bất cập, những đòi hỏi tài chính ngày càng lớn, và những nguồn lực hoặc cố định hoặc ngày càng giảm, nhiều đại học đối mặt với những lựa chọn không vui. Cắt giảm chi phí thường là lựa chọn đau đớn điển hình nhất. Từ quan điểm của giảng viên, tiền lương và việc làm cố định là chiến lược cuối cùng. Những chương trình cắt giảm có chọn lọc tương tự cũng không thích hợp vì các cộng đồng hàn lâm hiếm khi nhất trí về cái gì là có thể hy sinh được, hoặc thậm chí về những tiêu chuẩn để quyết định những chuyện đó. Một khi được thiết lập, hầu hết các chương trình này dựng nên những quan hệ khách hàng khó cắt bỏ; ở nhiều trường “xế chiều là khoảnh khắc hầu như không bao giờ đến”. Lựa chọn được ưa chuộng một cách dễ hiểu là tìm thêm các nguồn thu. Nhưng hậu quả của quá trình thương mại hóa có cái giá của nó, và thường là bào mòn những giá trị hàn lâm mà lẽ ra nó phải phục vụ.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Advertisements

Quá trình thương mại hóa đại học ở Mỹ – Phần đầu


Trong khi “chủ nghĩa tư bản hàn lâm” khó được coi là một hiện tượng mới, thì quy mô và tầm ảnh hưởng của nó là chưa từng có. Nhiều chuyên gia giáo dục đại học đã tập hợp tài liệu sâu rộng về “quyền lực thô bạo” mà tiền bạc hiện nắm giữ trong đời sống hàn lâm. Qua một phần tư thế kỷ vừa rồi, vì giá trị thương mại của tài sản trí tuệ mà các trường mang lại ngày càng rõ rệt và những nhu cầu tài chính cho giáo dục đại học cũng tăng lên, nên ranh giới giữa dân thường và giới hàn lâm từ từ bị xóa nhòa. Mặc dù không ai nghi ngờ những tiến bộ mà cạnh tranh thị trường và những hoạt động sinh lợi có thể mang lại, nhưng những ưu tiên hàng đầu đó cũng có cái giá của chúng.

Những ảnh hưởng bất lợi rõ ràng nhất là sự chệch hướng của nỗ lực hàn lâm và sự méo mó trong những ưu tiên hàn lâm. Với một chút phá cách, Hutchins đã từng cảnh báo: “Khi một học viện [hàn lâm] làm gì đó để có tiền, nó hẳn phải đáh mất linh hồn của nó”. Dĩ nhiên, theo tiêu chuẩn đó, được áp dụng chặt chẽ, thì chỉ còn vài người để than khóc. Nhưng khi càng khăng khăng chạy theo lợi nhuận, thì càng có nhiều nguy cơ là điều đó sẽ phá tan mục tiêu mà nó muốn phục vụ.

Trong một thế giới lý tưởng, những ưu tiên nghiên cứu thường được xác định bằng những yếu tố có thể thúc đẩy việc theo đuổi tri thức nhất. Trong thế giới mà ta biết, người ta thường chăm chăm vào những yếu tố thu hút nhất đối với chính phủ, cơ quan tài trợ, doanh nghiệp, hoặc cá nhân gây quỹ. Và khi các học viện hoặc các giảng viên có thể kiếm một khoản lợi tức thông qua bằng sáng chế hay một phần quyền sở hữu, hoặc khi những nhà tài trợ khăng khăng giữ bí mật hoặc kiểm soát việc công bố để bảo vệ khoản đầu tư của họ, thì những khả năng băng hoại còn lớn hơn nữa. Tại sao lại tập trung quá nhiều công sức vào nghiên cứu cơ bản “khi mà tất cả tiền đều dùng để cải tiến quần bó vận động thoải mái?” Một sự cám dỗ mơ hồ, nhưng cũng gây hại không kém là việc xây dựng những trung tâm, chương trình, hội đồng, và cơ sở vật chất phục vụ cho lợi ích của những ân nhân gây quỹ hơn là những ưu tiên của học viện. Nhưng trong một nền văn hóa vốn lấy tăng trưởng làm thước đo cho uy tín, có một thứ gì đó thì tốt hơn là không có gì. Nên chừng nào những mục tiêu tri thức có vẻ hợp lý còn tồn tại, thì những nhà tài trợ còn hưởng lợi từ đồng tiền họ bỏ ra.

Những thế lực đó cũng tác động đến những hoạt động sinh lợi của học viện, chẳng hạn những môn thể thao tốn kém, những thỏa thuận tư vấn, hoặc những chương trình giáo dục thường xuyên vốn thiếu nội dung hàn lâm quan trọng. Những vấn đề gắn liền với những dự án kiểu này đã được thu thập tài liệu quá đủ, bị than phiền từ lâu, nhưng chưa được xử lý thích đáng. Ví dụ, phần lớn giảng viên kiếm được thu nhập là từ những dịch vụ ngoài trường. Nhưng mặc dù hầu hết các học viện đều có quy định hạn chế việc tư vấn của giảng viên trong biên chế, nhưng không trường nào cố gắng kiểm tra bản tường trình do chính tay các giáo sư viết. Và không phải tất cả mọi người trong hệ thống đánh giá đó cảm thấy đức hạnh đã đủ là phần thưởng. Nếu, như trong trường của tôi, các giáo sư bị giới hạn chỉ được làm việc cho bên ngoài một ngày mỗi tuần, thì nhiều người sẽ thấy ngày đó là “rất quan trọng so với các ngày còn lại [của họ]”. Những vụ tai tiếng thể thao đến rồi qua đi, với quá nhiều những cái bắt tay nhưng quá ít những chế tài có ý nghĩa. Khoảng hai phần ba dân Mỹ nghĩ rằng các viện đại học quá coi trọng thể thao, một nhận định được nhiều giảng viên đồng tình nhưng hầu hết các nhà quản lý trung ương bỏ qua. Mâu thuẫn về lợi ích xuất hiện từ những giao dịch giữa đại học và doanh nghiệp làm nảy sinh vô vàn tuyên bố đáng ưu tư nhưng lại rất ít hành động thiết thực. Điều tốt nhất mà một hội nghị viện đại học hàng đầu có thể làm là nhất trí rằng không có sự nhất trí nào về một chính sách “đúng” ngoài việc mỗi học viện “nên kiên quyết xử lý vấn đề”.

Một phần khó khăn là ở chỗ lợi ích từ những dự án sinh lợi thì có ngay trước mắt và định lượng được, trong khi rủi ro thì tản mát và tích tụ từ từ. Cuối cùng, cái đang bị đe dọa là uy tín về nghiên cứu vô vị lợi của học viện. Trong chừng mực đáng kể, thì uy tín đó là công lợi. Với bất kỳ giáo sư hay người lãnh đạo nào, điều cám dỗ là việc cho rằng những hoạt động thương mại của mình không đặt ra đe dọa lớn lao gì cả. Nhưng khi mọi người đều nghĩ như vậy, thì hậu quả rất băng hoại. Giáo dục đại học càng trở nên tích cực kinh doanh, nó càng phá đi những điều nó đã cam kết với lòng tin của công chúng và những công quỹ.

Vấn đề dường như trở nên trầm trọng hơn, khi những học viện phi lợi nhuận đối mặt với sự cạnh trnah ngày càng gay gắt từ những đối thủ vì lợi nhuận. Những trường tư thục như vậy là bộ phận phát triển nhanh nhất trong khu vực giáo dục đại học; chúng phát đạt nhờ đưa ra những khóa học ít tốn tiền, tiện lợi được phụ trách bởi những giảng viên được trả lương thấp, không được đảm bảo việc làm và rất ít, nếu có, thời gian hay sự trợ giúp cho việc nghiên cứu. Một số đánh giá gợi ý rằng hiện nay số lượng giảng viên trong khu vực vị lợi nhuận ngang bằng số lượng giảng viên trong khu vực giáo dục đại học truyền thống. Viện Đại học Phoenix là học viện hàn lâm lớn nhất nước Mỹ. Những học viện vị lợi nhuận nhìn chung hoạt động với rất ít quản lý chất lượng, nếu có, và nhiều trường mở ra những khóa học cũng nghèo nàn hoặc không chút nội dung hàn lâm, chẳng hạn xoa bóp chữa bệnh, sửa xe hơi, và viết báo cáo y tế (có nhấn mạnh vào “kỹ năng đánh máy” và thuật ngữ kỹ thuật).

“Những nhà máy chứng chỉ số hóa” khai thác công nghiệp đào tạo từ xa còn khiến nảy sinh những ưu tư lớn hơn. Một số học viện hoạt động gần như lừa đảo; họ khiến người theo học lầm tưởng về chuyện những tín chỉ sẽ được chuyển tiếp tới những học viện đáng tin cậy hay không và tuyên bố đảm bảo về những chứng chỉ, kỹ năng, và chỗ làm vốn được thổi phồng quá đáng. Một trong nhiều lời chào mời nhồi nhét vào hộp thư điện tử của tôi hứa hẹn “Lấy bằng đại học của một trường dnah tiếng trong vài tuần. Đây là một số điểm nổi bật: Lấy bằng trong 2 tuần, Không cần học, Bằng đã qua thẩm tra 100%, Nhiều mức lương 5 chữ số cao… tới 6 chữ số”. Những hứa hẹn khác thì: “Đạt được một tương lai thịnh vượng: tiền bạc, khả năng gặt hái, và danh tiếng gắn với tấm bằng mà bạn hằng ao ước. Bằng đại học không chính thức tùy theo trình độ và kinh nghiệm hiện nay của bạn. Nếu bạn đủ tiêu chuẩn, thì không kiểm tra, học hành, sách vở. Chúng tôi có sẵn bằng Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ trong lĩnh vực của bạn. Cam đoan được bảo mật”. Vậy thì sao lại bận tâm đến những trường tiếng tăm, với những đòi hỏi khó khăn và học phí đắt đỏ của họ, trong khi có sẵn giải pháp thay thế này?

Một trong những nỗ lực hiếm hoi để buộc những trường như vậy chịu trách nhiệm, một sinh viên đã bỏ ra mười một năm vô ích để tìm kiếm một cuộc sống hoàn hảo mà Viện Đại học Quốc tế Maharishi quảng cáo cuối cùng đã kiện trường vì tội lừa đảo. Mặc dù trường này cho là nguyên đơn lẽ ra phải học cách bay, thì anh ta chỉ học cách nhảy với đôi chân xếp lại trong tư thế kiết già. Và trái với cam kết của trường, việc ngân nga theo phương pháp được đề xuất không đảo ngược được quá trình lão hóa hay cho phép anh ta tự bay lên.

Các nhà hàn lâm phản ứng với quá trình thương mại hóa tiệm tiến theo nhiều cách khác nhau. Các phổ biến nhất là hoài nghi thế tục hoặc thờ ơ cam chịu. Việc than vãn cho những lý tưởng đã mất thì có ích gì? Như khoa trưởng khoa luật Richard Matasar khuyên, “Hãy vượt qua nó. Quá trình thương mại hóa đang ở đây, ngay lúc này, và nó sẽ không biến mất… Chúng ta là một doanh nghiệp, hãy đối phó với điều đó. Trong chừng mực đang có một vấn đề, các nhà hàn lâm thường xem đó là vấn đề của ai khác. Chỉ khi nào quyền lợi của chính họ bị đe dọa trực tiếp, bởi sự cắt giảm rõ rệt các nguồn tài trợ hoặc gia tăng nghĩa vụ nhà trường, thì các giáo sư mới quan tâm nhiều. Ngay cả lúc đó, sự phản ứng thường chỉ đơn giản là tập hợp dưới ngọn cờ tự do hàn lâm và lên án bất kỳ nỗ lực nào nhằm giới hạn quyền giữ chức vụ hoặc thu hẹp các chức danh và nguồn trợ giúp cho giảng viên.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Deborah L. Rhode – Theo đuổi tri thức – NXB TĐ 2012.

Liệu việc kinh doanh với lợi nhuận khổng lồ của ngành xuất bản khoa học có tổn hại cho khoa học? – Phần cuối


Maxwell hiểu rõ cách thức các tập san khoa học ngày nay trở thành một tác nhân quyền lực đưa ai đó lên vị trí đỉnh cao trong khoa học như thế nào. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của ông ta là việc mở rộng các tập san, và ông vẫn đang thiết tha với tầm nhìn về việc khoa học sẽ đi về đâu và những lĩnh vực nghiên cứu mới nào mà ông ta có thể đô hộ. Richard Charkin, nguyên là người điều hành cấp cao của nhà xuất bản Anh Macmillan, vốn là một người biên tập ở Pergamon năm 1974, nhớ lại rằng Maxwell vẫy tay chào Watson với bản báo cáo dài một trang của Crick về cấu trúc DNA trong một cuộc họp của các biên tập và tuyên bố rằng tương lai thuộc về khoa học sự sống và nhiều vấn đề nhỏ của chuyên ngành này, mỗi vấn đề ấy có thể có một tập san riêng cho nó. Charkin nói: “Tôi nghĩ chúng tôi đã cho ra đời hàng trăm tập san mới trong năm đó. Tôi có ý nói là, đến Chúa cũng phải khóc thét lên”. 

Pergamon cũng tạo ra thương hiệu trong khoa học xã hội nhân văn và tâm lý học. Một loạt tập san với tiếp đầu ngữ “Máy tính và…bla bla..” cho thấy Maxwell chú ý tầm quan trọng của công nghệ số. “Nó quả là bất tận”. Peter Ashby cho tôi biết. “Oxford Polytechnic (nay là Oxford Brookes University) khởi xướng khoa du lịch với một người đứng đầu. Chúng tôi phải tìm xem ai sẽ là người đứng đầu khoa này và biến anh ta thành người khởi sự một tập san. Và, bùm! Tập san Quốc tế về Quản lý Du lịch Lữ hành ra đời”.

Đến cuối những năm 70, Maxwell cũng đã đạt được thỏa thuận với những thị trường đông người đọc hơn. Charkin nói; “Lúc đó tôi đang ở Oxford University Press. Chúng tôi đứng lên và nói: Quỷ sứ! Những tập san này kiếm ra khối tiền”. Trong khi đó, ở Hà Lan, Elsvier đã bắt đầu mở rộng những tập san tiếng Anh của họ, cạnh tranh nội địa trong hàng loạt vụ thu tóm và tăng trưởng ở mức 35 đầu tập san mỗi năm.

Như Maxwell đã tiên đoán, cạnh tranh không làm giảm giá. Trong khoảng từ năm 1975 đến 1985, giá trung bình của các tập san đã tăng gấp đôi. Tờ New York Times cho biết muốn đăng ký tập san Nghiên cứu Thần kinh sẽ tốn 2.500 USD vào năm 1984 và cái giá này là 5.000 USD vào năm 1988. Cùng năm đó, thư viện Harvard đã tiêu vượt ngân sách đến nửa triệu đô la Mỹ.

Các nhà khoa học đã có lúc đặt vấn đề về tính công bằng của công cuộc kinh doanh với lợi nhuận khủng khiếp mà họ cho không sức lao động, nhưng các nhà thư viện mới là những người đầu tiên nhận ra cái bẫy trong thị trường mà Maxwell tạo ra. Các thư viện dùng tiền của trường đại học để mua các tập san nhân danh các nhà khoa học. Maxwell hiểu điều này rất rõ. “Các nhà khoa học là những người chẳng biết gì về giá cả, chủ yếu là vì đó không phải là tiền túi của họ”. Ông ta nói trong một cuộc trả lời phỏng vấn năm 1988 với tờ Global Business. Và vì chẳng có cách nào đổi từ tập san này sang tập san khác rẻ hơn, kết quả là, Maxwell nói tiếp, “một cơ chế tài chính không bao giờ kết thúc hay thay đổi”. Các thư viện bị kẹt cứng trong hàng ngàn tập san độc quyền trong những chuyên ngành rất hẹp. Hiện nay có trên một triệu bài báo khoa học được công bố mỗi năm, và họ buộc phải mua nó với bất cứ giá nào các nhà xuất bản muốn.

Theo quan điểm kinh doanh, đó là một sự toàn thắng của Maxwell. Các thư viện là một thị trường bị cầm tù, và các tập san đang đặt mình vào vị trí người giữ cửa bất đắc dĩ của uy tín khoa học – nghĩa là các nhà khoa học không thể nào đơn giản chỉ bỏ rơi không ngó tới các tập san nếu có một phương pháp mới chia sẻ kết quả nghiên cứu xuất hiện. “Nếu không quá ngây thơ chúng tôi đã phải nhận ra từ lâu vị trí thực sự của mình: rằng chúng tôi đang ngồi trên đỉnh của một đống tiền mà những người thông minh ở tất cả các phía đang ra sức lôi kéo sang phía họ”. Người phụ trách thư viện của University of Michigan, Robert Houbeck nói như vậy trong một tạp chí thương mại năm 1988. Ba năm trước đó, mặc cho ngân sách dành cho khoa học sụt giảm nhiều năm liền, Pergamon báo cáo tỉ suất lợi nhuận của họ là 47%.

Maxwell không phải chỉ quan tâm tới đế chế đã chiến thắng của mình. Bản chất thâu tóm đã dẫn tới thành công của Pergamon cũng khiến anh ta lao vào những cuộc đầu tư lấy được, trông lấp lánh nhưng tốn kém và nhiều nghi vấn, chẳng hạn như đầu tư vào đội bóng chày Oxford United and Derby County FC, vào các đài truyền hình trên khắp thế giới, và vào tập đoàn báo chí Mirror của Anh năm 1984, nơi anh ta dành thời gian vào đó ngày càng nhiều. Năm 1991, để có tiền mua tờ Tin tức hàng ngày New York, Maxwell đã bán Pergamon cho đối thủ kín tiếng ở Đức là Elsevier với giá 440 triệu bảng Anh (khoảng 919 triệu bảng ngày nay).

Rất nhiều người trước đây từng làm cho Pergamon đã nói với tôi rằng họ biết tất cả đã kết thúc với Maxwell khi ông ta bán Pergamon cho Elsevier vì Pergamon là công ty mà ông ta thực sự yêu quý. Cuối năm đó ông ta trở thành sa lầy vào hàng loạt scandal về những món nợ nần, về những bê bối tiền bạc, và bị nhà báo Mỹ Seymour Hersh buộc tội là gián điệp của Israel với những mối liên hệ với việc buôn bán vũ khí. Ngày 5 tháng 11 năm 1991, người ta phát hiện Maxwell chết chìm trong chiếc thuyền của anh ta trên đảo Canary Islands. Cả thế giới choáng với tin ấy, và ngày hôm sau, tờ báo lá cải giật gân Sun đối thủ của Mirror nêu ra câu hỏi trong đầu tất cả mọi người: “Phải chăng anh ta đã té ngã…. Hay anh ta nhảy xuống biển?” (Một cách giải thích thứ ba, là anh ta bị ai đó đẩy xuống biển, cũng đã nảy sinh).

Câu chuyện này rùm beng trên mặt báo Anh trong nhiều tháng, với nghi ngờ ngày càng tăng là anh ta đã tự sát, sau khi một cuộc điều tra cho biết anh ta biển thủ hơn 400 triệu bảng từ quỹ hưu của tờ Mirror để trả các món nợ của anh ta. (Vào tháng 12 năm 1991, một báo cáo của cơ quan điều tra Tây Ban nha cho biết cái chết là một tai nạn).  Những truyền thuyết về anh ta quả là bất tận: năm 2003, hai nhà báo Gordon Thomas và Martin Dillon công bố một cuốn sách khẳng định rằng Maxwell đã bị Mossad giết chết nhằm che giấu hoạt động gián điệp của anh ta, nhưng không có bằng chứng nào đáng tin cậy. Vào lúc đó, Maxwell mất đã lâu, nhưng việc kinh doanh tập san khoa học mà anh ta đã khởi sự thì vẫn tiếp tục thịnh vượng trong tay những người mới, đạt tới một trình độ mới về mức lợi nhuận và quyền lực toàn cầu của họ sẽ còn tiếp diễn trong nhiều thập kỷ tới.

Nếu khả năng sáng tạo thiên tài của Maxwell được mở rộng, Elsevier đã có thể mạnh hơn và vững chắc hơn. Với việc mua lại 400 catalogue hùng mạnh của Pergamon, Elsevier ngày nay kiểm soát hơn 1000 tập san khoa học, biến nó trở thành một nhà xuất bản khoa học lớn nhất trên thế giới.

Vào thời điểm sáp nhập, Charkin, nguyên là CEO của Macmillan, nhớ lại lời Pierre Vinken, CEO của Elsevier, nhận định Pergamon là một doanh nghiệp già dặn, và Elsevier đã trả giá quá cao cho nó. Nhưng Vinken không nghi ngờ gì điều đó, ông nói: “Bạn không thể hình dung nổi những tập san này mang lại mức lợi nhuận kinh khủng như thế nào khi bạn ngừng làm bất cứ thứ gì.  Khi bạn xây dựng một tập san khoa học, bạn dành thời gian để có một ban biên tập xuất sắc, bạn đối xử tốt với họ, bạn mời họ ăn tối. Thế rồi bạn tiếp thị mọi thứ và nhân viên bán hàng của bạn đem món hàng này đi bán, một việc chậm và khó khăn, và bạn cố gắng để làm tập san tốt nhất có thể. Và rồi chúng tôi mua nó và chúng tôi ngừng làm tất cả những việc trên, còn tiền mặt thì cứ thế mà chảy vào túi, và bạn không thể tin nổi là điều đó tuyệt diệu như thế nào”. Ông ta đúng còn tôi thì nhầm.

Đến năm 1994, ba năm sau khi thâu tóm Pergamon, Elsevier nâng giá tập san 50%. Các trường đại học phàn nàn rằng ngân sách của họ bị phân tán mỏng tới mức nguy ngập – tờ tuần báo của giới xuất bản ở Mỹ tường thuật lại là các thư viện nói đó là ngày tận thế của công nghiệp kinh doanh này – và, lần đầu tiên, họ bắt đầu hủy các đơn đặt hàng với những tập san không mấy phổ biến.

Vào lúc đó, cách xử sự của Elsevier gần như là tự sát. Họ giận dữ với các khách hàng chỉ vì internet đã mang lại cho họ một sự lựa chọn khác miễn phí. Một bài báo trên tờ Forbes năm 1995 miêu tả các nhà khoa học chia sẻ kết quả nghiên cứu của họ trên những máy chủ internet, và tự hỏi liệu Elsevier có phải là “nạn nhân đầu tiên của internet”. Thế nhưng, như xưa giờ vẫn thế, các nhà xuất bản hiểu rõ thị trường hơn nhiều so với các nhà khoa học.

Năm 1998, Elsevier chuyển kế hoạch sang thời đại internet, được gọi là “Một Thỏa thuận lớn”. Nó bán trọn gói quyền tiếp cận trực tuyến hàng trăm tập san khoa học với một khoản chi phí hàng năm – theo một báo cáo, giá cả tùy vào mức độ tự do trong truy cập thông tin. Cornell University vào năm 2009 trả khoản tiền chừng 2 triệu đô la Mỹ– và bất cứ sinh viên hay giáo sư nào cũng đều có thể tải về bất kỳ bài báo khoa học nào họ muốn từ trang web của Elsevier. Các trường đại học lại nườm nượp đăng ký.

Những dự đoán về việc sụp đổ của Elsevier dựa trên giả định là trải nghiệm của các nhà khoa học về việc chia sẻ công trình miễn phí trên mạng sẽ làm chậm lại sự cạnh tranh của Elsvier và thay thế nó từ từ. Để đáp lại, Elsvier tạo ra một sự thay đổi: hợp nhất hàng ngàn tập san độc quyền trong những chuyên ngành rất hẹp lại thành một gói lớn đến nỗi, giống như những nguồn năng lượng cơ bản như điện hay nước, các trường đại học không thể nào vận hành được mà không có nó. Trả tiền, và ánh sáng của khoa học tiếp tục chiếu ngời. Nhưng một số tập san bị từ chối như là cái gì không đáng giá và ở bất cứ trường nào cũng có khoảng một phần tư tư liệu thành văn của khoa học bị tống vào góc tối. Thỏa thuận này tập trung quyền lực to lớn vào tay những nhà xuất bản lớn nhất, và lợi nhuận của Elsvier bắt đầu tăng vọt ở mức đưa họ lên hàng tỉ phú vào những năm 2010. Năm 2015, một bài báo trên tờ Financial Times “phong thánh” cho Elsevier với danh hiệu “một doanh nghiệp mà internet không thể giết chết nổi”.

Các nhà xuất bản giờ đây bị tổn thương khá nặng vì nhiều bộ phận khác nhau trong cơ thể khoa học đã có thể đá họ ra khỏi vị trí quyền lực trước đây. Trong một báo cáo năm 2005, một nhà khoa học thông tin của Trường University of Montreal, tên Vincent Larivière, cho thấy rằng Elsevier làm chủ 24% thị trường tập san khoa học, trong lúc đối tác cũ của Maxwell là Springer, và đối thủ Wiley-Blackwell, kiểm soát khoảng 12% mỗi bên. Ba công ty này chiếm một nửa thị phần toàn cầu (một đại diện của Elsvier khá quen thuộc với bản báo cáo này cho tôi biết họ tự ước lượng là Elsvier đang xuất bản chỉ 16% tổng số ấn phẩm khoa học).

“Mặc cho tôi đi giảng giải khắp nơi trên thế giói về chủ đề này, có vẻ như các tập san khoa học vẫn cứ giữ sự kiểm soát (đối với khoa học) thậm chí với mức độ còn nổi bật hơn cả trước đây”. Randy Schekman nói với tôi. Chính là ảnh hưởng của các tập san, hơn là lợi nhuận, đã là động lực mở rộng hệ thống này, và đó là điều bực mình nhất với các nhà khoa học ngày nay.

Elsevier nói rằng mục tiêu chính của họ là tạo điều kiện cho công trình của các nhà khoa học được chia sẻ. Một đại diện của Elsvier lưu ý rằng công ty này nhận được 1,5 triệu bài báo khoa học nộp cho các tập san của họ năm ngoái, và chỉ xuất bản có 420.000 bài; 14 triệu nhà khoa học tin tưởng Elsvier trong việc công bố kết quả nghiên cứu của họ, và 800.000 nhà khoa học cho không thời gian của họ để giúp biên tập và bình duyệt. “Chúng tôi giúp các nhà nghiên cứu trở nên hiệu quả hơn, làm việc có năng suất cao hơn”, Alicia Wise, phó chủ tịch phụ trách chiến lược toàn cầu nói với tôi như thế. “Và đó là một chiến thắng của các tổ chức nghiên cứu cũng như các nhà tài trợ nghiên cứu như chính phủ chẳng hạn”.

Về câu hỏi vì sao quá nhiều nhà khoa học phê phán các nhà xuất bản khoa học, Tom Reller, phó chủ tịch phụ trách quan hệ doanh nghiệp ở Elsevier nói: “Nói về động cơ của người khác không phải là việc của chúng tôi. Chúng tôi nhìn vào các con số (các nhà khoa học tin tưởng kết quả nghiên cứu của họ nên công bố ở các tập san của Elsvier) và con số đó cho thấy chúng tôi đang làm công việc của mình rất tuyệt”. Khi được hỏi về những ý kiến phê phán mô hình kinh doanh của Elsevier, Reller nói trong một email là những ý kiến phê phán đó đã bỏ qua “tất cả những thứ các nhà xuất bản làm để tăng giá trị– cao hơn và xa hơn nhiều những đóng góp mà tài trợ của ngân sách mang lại”. Cái đó, ông ta nói, chính là thứ mà người ta phải trả tiền”.

Theo một nghĩa nào đó, không hẳn tất cả là lỗi của các nhà xuất bản trong việc thế giới khoa học bị uốn theo lực đẩy của ngành công nghiệp hấp dẫn mãnh liệt này. Khi chính phủ các nước trong đó có Trung Quốc và Mexico đưa ra các lợi ích tiền bạc với các tác giả có bài công bố trên các tập san có chỉ số tác động cao, họ không đáp ứng đòi hỏi của một nhà xuất bản cụ thể nào, nhưng đã theo đuổi phần thưởng của một hệ thống cực kỳ phức tạp đã hòa trộn lý tưởng lãng mạn của khoa học với mục tiêu kiếm tiền của các nhà xuất bản đang thống trị thị trường này. “Các nhà khoa học chúng ta không mấy để ý đến thứ nước mà chúng ta đang bơi trong đó”, Neal Young bảo tôi như thế.

Kể từ những năm đầu thập kỷ 2000, các nhà khoa học bắt đầu đi tiên phong trong một con đường khác trong công bố khoa học, được gọi là “open access”, tức là mở ra cho mọi đối tượng có thể tiếp cận. Con đường này giải quyết cái khó trong việc cân bằng những đòi hỏi của khoa học và của tính chất thương mại đơn giản bằng cách xóa bỏ nhân tố thương mại. Trong thực tế, nó có hình thức của một tập san trực tuyến, trong đó các nhà khoa học trả trước một khoản phí để trang trải chi phí biên tập và ai cũng có thể tiếp cận các kết quả nghiên cứu đó không thời hạn. Thế nhưng mặc dù được hậu thuẫn bởi một số tổ chức tài trợ lớn nhất thế giới trong đó có Quỹ Gates và Wellcome Trust, chỉ một phần tư bài báo khoa học được chọn công bố theo cách này khi nghiên cứu được hoàn thành.

Ý tưởng cho rằng nghiên cứu khoa học nên được mở ra cho bất cứ ai cũng có thể tiếp cận là một sự khởi đầu sắc bén, thậm chí một mối đe dọa cho hệ thống hiện tại– vốn dựa trên khả năng của các nhà xuất bản ngăn chặn việc tiếp cận các tư liệu thành văn của khoa học nhằm duy trì lợi nhuận khủng khiếp của họ. Trong những năm gần đây, sự phản đối quan trọng nhất với hiện trạng này đã bùng lên cùng với sự ra đời của trang web gây nhiều tranh luận trái chiều, có tên là Sci-Hub– một thứ giống như ứng dụng chia sẻ âm nhạc Napster dành cho khoa học, cho phép bất cứ ai cũng có thể tải về các bài báo khoa học hoàn toàn miễn phí. Người tạo ra nó, Alexandra Elbakyan, một cô gái người Kazhakstan, đối mặt với buộc tội vi phạm luật của Mỹ về bản quyền và về việc bẻ khóa trang web. Elsevier gần đây đã đạt được án tòa xử cho thắng 15 triệu đô la (con số tối đa được phép) vì những thiệt hại của họ.

Elbakyan là con người lý tưởng một cách tự tin và kiêu hãnh. “Khoa học nên thuộc về các nhà khoa học chứ không phải là các nhà xuất bản”, cô nói với tôi trong một email. Trong một lá thư gửi tới tòa án, cô trích dẫn Điều 27 của Tuyên bố chung của Liên Hợp Quốc về Quyền Con người, khẳng định quyền “chia sẻ tiến bộ khoa học và các lợi ích của nó”.

Cho dù số phận của Sci-Hub như thế nào, có vẻ như sự thất vọng với hệ thống hiện tại đang tiếp tục tăng lên. Nhưng lịch sử cho thấy cá cược với các nhà xuất bản khoa học là một động thái rủi ro. Cuối cùng, quay lại năm 1988, Maxwell từng dự đoán rằng trong tương lai sẽ chỉ còn lại một số công ty xuất bản cực kỳ hùng mạnh và họ sẽ kinh doanh trong thời đại điện tử mà không tốn một xu chi phí in ấn, dẫn đến hầu như chỉ còn “lợi nhuận thuần túy”. Điều đó nghe có vẻ rất giống với thế giới mà chúng ta đang sống.

Người dịch: Phạm Thị Ly (2017)

Nguồn:  “Is the staggeringly profitable business of scientific publishing bad for science?” Tác giả: Stephen Buranyi. Đăng trên Guardian ngày 27.06.2017

Liệu việc kinh doanh với lợi nhuận khổng lồ của ngành xuất bản khoa học có tổn hại cho khoa học? – Phần II


Khi Butterworths quyết định từ bỏ dự án non trẻ này năm 1951, Maxwell đề nghị mua lại với giá 13,000 bảng Anh (khoảng chừng £420,000 ngày nay) cho cả cổ phần của Butterworth lẫn Springer để nắm quyền kiểm soát công ty. Rosbaud ở lại với vai trò giám đốc khoa học. Công ty được đổi tên thành Pergamon Press, sau khi một đồng xu của thành phố cổ Pergamon của Hy lạp, trong đó có nữ thần thông thái Athena được chọn làm logo – một đường nối đơn giản tiêu biểu cho cả hai: kiến thức và tiền.

Trong một môi trường mới đầy lạc quan hy vọng, Rosbault chính là người tiên phong thực hiện một phương pháp đã đem lại thành công cho Pergamon. Khi khoa học mở rộng, anh ta nhận ra nhu cầu có những tập san mới để đảm nhiệm những lĩnh vực chuyên ngành mới. Cộng đồng khoa học có truyền thống tạo ra các tập san vừa to vừa nặng, nhiều khi cản trở tiến bộ bởi các tranh luận nội bộ giữa các thành viên về ranh giới chuyên ngành của họ. Rosbaud không bị hạn chế nào như thế. Tất cả những gì anh ta cần làm là thuyết phục các nhà khoa học lỗi lạc rằng chuyên ngành cụ thể của họ cần có một tập san riêng để trình bày các công trình của họ một cách thích hợp, và đặt một người vào vị trí kiểm soát tập san ấy. Pergamon bắt đầu bán các tập san ấy cho các thư viện trường đại học, thời đó các thư viện thình lình có cả đống tiền nhà nước cấp cho để phát triển.

Maxwell học rất nhanh. Năm 1955, anh ta và Rosbaud dự Hội nghị Thụy Sĩ về Sử dụng Năng lượng Hạt nhân một cách Hòa bình. Maxwell thuê một văn phòng gần nơi tổ chức hội thảo và bước vào hội thảo với vẻ thảnh thơi không mục đích, đề nghị sẽ xuất bản bất cứ báo cáo khoa học nào các nhà khoa học mang tới hội thảo để trình bày, và đề nghị họ ký một hợp đồng độc quyền biên tập cho các tập san của Pergamon. Các nhà xuất bản khác quá sốc trước phong cách táo tợn của anh ta. Daan Frank, người của nhà xuất bản North Holland Publishing (giờ đây do Elsevier làm chủ) sau đó phàn nàn là Maxwell đã “không trung thực” về việc hứa hẹn xuất bản công trình của các nhà khoa học mà không cần biết nội dung cụ thể.

Rosbaud, cũng thế, được biết là đã trì hoãn cơn khát lợi nhuận của Maxwell. Không giống một nhà khoa học khiêm tốn trước đây, Maxwell thích những bộ cánh đắt tiền và tóc chải đen mượt. Với chất giọng Tiệp Khắc trong vẻ ngoài mạnh mẽ, sang trọng, như một phát thanh viên truyền hình với giọng trầm thấp, anh ta có vẻ ngoài với phong cách giàu có, đầy quyền lực như anh ta thường ao ước. Năm 1955, Rosbaud nói với nhà vật lý đoạt giải Nobel Nevill Mott rằng các tập san khoa học là “con cừu cái bé nhỏ” mà anh ta rất yêu, còn Maxwell là ông vua David trong Kinh Thánh, chỉ muốn xẻ thịt nó bán lấy tiền kiếm lời. Năm 1956 quan hệ của cặp đôi này tan vỡ và Rosbaud rời công ty.

Tới lúc đó, Maxwell đã kịp học được mô hình kinh doanh của Rosbaud và biến nó thành thứ của riêng mình. Các hội nghị khoa học thường có xu hướng nhàm chán nhưng khi Maxwell quay lại hội nghị Geneva năm đó, anh ta thuê một căn nhà gần Collonge-Bellerive, một thành phố đẹp như tranh bên bờ hồ, nơi anh ta tận hưởng tiệc tùng với khách khứa, rượu ngon, xì gà và du thuyền. Các nhà khoa học chưa từng nhìn thấy những thứ như anh ta. “Anh ta nói chúng tôi không cạnh tranh về việc bán hàng, chúng tôi cạnh tranh về tác giả”. Albert Henderson, nguyên phó giám đốc Pergamon, kể với tôi như thế. “ Chúng ta sẽ dự các hội thảo đặc biệt là để tìm kiếm biên tập viên cho các tập san mới”. Có nhiều câu chuyện về những bữa tiệc trên tầng thượng của khách sạn hạng sang Athens Hilton, hay quà tặng là những chuyến bay hãng Concorde, hay các nhà khoa học được mời đi trên những du thuyền qua các đảo của Hy Lạp để lập kế hoạch ra các tập san mới.

Đến năm 1959 Pergamon đã xuất bản được 40 tập san. Sáu năm sau, con số này là 150. Điều này khiến Maxwell vượt lên phía trước rất xa trong cuộc cạnh tranh (Năm 1959, đối thủ của Pergamon là Elsvier, mới chỉ có 10 tập san xuất bản bằng tiếng Anh và công ty này phải mất thêm một thập kỷ để lên tới con số 50). Đến năm 1960, Maxwell đã có xe hơi Rolls-Royce với tài xế riêng, và chuyển nhà, chuyển hoạt động của Pergamon từ London đến Headington Hill Hall ở Oxford, một khu cực kỳ to đẹp và sang trọng, và cũng đồng thời là thủ phủ của nhà xuất bản Anh Blackwell.

Các hiệp hội khoa học chẳng hạn Hội Lưu biến học Anh, thấy tương lai mờ mịt của mình, thậm chí đã bắt đầu giao tập san của mình cho Pergamon với một khoản phí nhỏ. Leslie Iversen, nguyên tổng biên tập của tập san Journal of Neurochemistry, nhớ lại Maxwell đã cám dỗ mình như thế nào trong một bữa tối hoành tráng ở nhà riêng. “Ông ta gây ấn tượng mạnh mẽ, một nhà khởi nghiệp vĩ đại”. Iversen nói thế. “Chúng tôi ăn tối với rượu vang tuyệt hảo, và cuối cùng, anh ta chìa ra tấm séc – vài ngàn bảng cho hiệp hội. Số tiền đó còn nhiều hơn những gì các nhà khoa học nghèo túng bọn tôi đã từng nhìn thấy trước giờ”.

Maxwell thuyết phục họ về những cái tên nghe rất vĩ đại – “Tập san khoa học quốc tế …” là cụm từ mở đầu rất được ưa chuộng cho tên tập san. Nguyên phó giám đốc Pergamon, Peter Ashby, miêu tả việc đó với tôi như là một “thủ thuật quảng cáo”, nhưng nó cũng đồng thời phản ánh một hiểu biết sâu về việc bản thân khoa học và thái độ của xã hội đối với khoa học đã thay đổi như thế nào. Hợp tác nghiên cứu và làm cho công trình của bạn được biết tới trên trường quốc tế đang trở thành một hình thức mới của uy tín trong giới hàn lâm, và trong nhiều trường hợp, Maxwell đã chiếm được cái góc thị trường này trước khi bất cứ ai khác nhận ra nó. Khi Liên bang Sô viết phóng đi con tàu vũ trụ Sputnik, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người năm 1959, các nhà khoa học phương Tây cuống lên đuổi cho kịp ngành nghiên cứu không gian của Nga, và rất ngạc nhiên khi biết rằng Maxwell đã thương lượng được độc quyền làm ấn bản tiếng Anh tập san của Viện Hàn lâm Khoa học Nga từ cả thập kỷ trước.

“Anh ta có lợi ích ở tất cả những chỗ đó. Tôi tới Nhật Bản, anh ta đã có một người Mỹ vận hành một văn phòng ở đó. Tôi tới Ấn độ, cũng đã có người ở đây. Asby cho biết. Thị trường quốc tế quả là rất hấp dẫn. Ronald Suleski, người đã phụ trách văn phòng Pergamon ở Nhật trong thập kỷ 70, nói rằng các hiệp hội khoa học ở Nhật, trong tình cảnh tuyệt vọng không biết làm cách nào để công trình của họ có thể được xuất bản bằng tiếng Anh, đã cho không Maxwell quyền công bố các kết quả nghiên cứu của thành viên hiệp hội.

Trong một lá thư chúc mừng kỷ niệm sinh nhật thứ 40 của Pergamon, Eiichi Kobayashi, giám đốc của cơ quan phát hành Pergamon ở Nhật trong nhiều năm, đã nói về Maxwell như sau: “Mỗi lần tôi có vinh hạnh được gặp ông ta, tôi thường nhớ lại những lời của F Scott Fitzgerald: một ông triệu phú không phải là một người bình thường”.

Các bài báo khoa học về bản chất đã trở thành cách duy nhất để khoa học được trình bày một cách có hệ thống trong thế giới ngày nay. (Như Robert Kiley, trưởng bộ phận dịch vụ số hóa của thư viện Wellcome Trust, nhà tài trợ lớn thứ hai trên thế giới cho các nghiên cứu y sinh, đã nói: “Chúng tôi tiêu cả tỉ bảng hàng năm để đổi lại các bài báo khoa học”). Đó là nguồn lực chính của những tri thức chuyên môn đáng được kính trọng nhất. “Ấn phẩm khoa học là cách diễn đạt công trình nghiên cứu của chúng tôi. Một ý tưởng hay, một cuộc trao đổi thảo luận đầy hứng khởi ngay cả của những người thông minh nhất trên thế giới…sẽ chẳng là cái gì trừ khi bạn xuất bản nó”. Neal Young của Viện Nghiên cứu Y khoa Quốc gia nói. Nếu bạn kiểm soát việc tiếp cận tư liệu thành văn của khoa học, điều đó có nghĩa là, cho dù với ý định và mục đích nào đi nữa, chẳng khác nào kiểm soát sự phát triển của chính khoa học”.

Thành công của Maxwell được xây dựng dựa trên những hiểu biết sáng suốt của ông ta về bản chất của các tập san khoa học, đó là điều phải mất nhiều năm nữa để người khác có thể hiểu và sao chép được. Trong khi các đối thủ cạnh tranh của ông than phiền là ông làm loãng thị trường, Maxwell biết rõ là thực ra chả có giới hạn nào đối với thị trường này hết. Tạo ra một Tập san Khoa học về Năng lượng Nguyên tử chẳng hề lấy mất công việc của Tập san Vật lý Hạt nhân của nhà xuất bản đối thủ North Holland. Các bài báo khoa học là những khám phá độc nhất: một bài báo không thể giả mạo hay thay thế một bài khác. Nếu một tập san nghiêm túc mới ra đời, các nhà khoa học sẽ yêu cầu thư viện đăng ký mua nó, chỉ đơn giản thế thôi. Nếu Maxwell tạo ra số tập san nhiều gấp ba lần so với đối thủ, anh ta sẽ kiếm gấp ba số tiền.

Giới hạn duy nhất có thể có, là tài trợ của chính phủ chậm lại, nhưng có ít dấu hiệu là nó có thể xảy ra. Trong những năm 60, Kennedy đã hỗ trợ tài chính cho các chương trình nghiên cứu không gian, và trong những năm 70, Nixon tuyên bố “cuộc chiến chống ung thư” trong khi chính phủ Anh xây dựng chương trình hạt nhân của riêng họ với sự trợ giúp của Mỹ. Chả có vấn đề gì với không khí chính trị, vì kiểu gì thì khoa học cũng sẽ được nhà nước tài trợ.

Trong những ngày đầu, Pergamon là trọng tâm của cuộc tranh luận quyết liệt về tính chất đạo đức trong việc cho phép những lợi ích thương mại chen vào thế giới coi nhẹ lợi nhuận của khoa học thuần túy. Trong một bức thư vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập Pergamon, John Coales của Cambridge University nói rằng thoạt đầu nhiều bạn bè của ông “coi Maxwell là một nhân vật phản diện vĩ đại vẫn còn chưa bị treo cổ”.

Nhưng đến cuối thập kỷ 60, xuất bản có tính chất thương mại đã được coi như một hiện trạng, và các nhà xuất bản được coi như những đối tác cần thiết trong việc tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học. Pergamon đã giúp kích hoạt sự mở rộng mạnh mẽ của lĩnh vực xuất bản khoa học bằng cách tăng tốc quá trình xuất bản và trình bày nó trong một hình thức trọn gói rất có phong cách. Mối quan ngại của các nhà khoa học về việc ký giấy từ bỏ bản quyền của mình đã bị chìm đi trong sự tiện lợi của những thỏa thuận với Pergamon, ánh sáng lấp lánh nó đem lại cho công trình của họ, và sức mạnh trong tính cách của Maxwell. Các nhà khoa học có vẻ như rất hài lòng với con cáo mà họ đã để nó thò chân vào cửa.

“Ông ta khá là “đầu gấu”, nhưng tôi thích ông ta”. Denis Noble, nhà sinh lý học ở Oxford University và tổng biên tập của tập san Những tiến bộ trong Sinh lý học và Sinh học phân tử cho biết như thế. Thỉnh thoảng Maxwell would gọi Noble đến nhà để họp. “Thường là có tiệc tùng sau đó, rồi trình diễn hòa nhạc. Không có rào cản nào giữa đời sống công việc và đời sống cá nhân của ông ta”. Noble nói. Maxwell sau đó sẽ hoặc hăm dọa hoặc dụ dỗ ông biến tờ tập san ra hai số một năm thành ra tờ tập san ra mỗi tháng hoặc hai tháng một số, và điều này dĩ nhiên làm tăng số tiền chui vào túi Maxwell.

Cuối cùng, tuy hầu như bao giờ cũng trì hoãn nhưng Maxwell vẫn đáp ứng những ước muốn của các nhà khoa học, và họ đâm ra coi trọng tính cách mạnh thường quân của ông ta. “Tôi phải thú nhận rằng, tôi đã nhanh chóng nhận ra tham vọng khởi nghiệp và khai thác người khác của Maxwell, nhưng tôi vẫn thích ông ấy”. Arthur Barrett, tổng biên tập của tập san Vacuum, viết như thế năm 1988 trong một bài nói về những ngày đầu của tập san. Và tình cảm đó là có qua có lại. Maxwell để lại một dấu ấn trong quan hệ của ông ta với các nhà khoa học lừng danh, những người được đối xử với sự tôn trọng và khiêm tốn. “Ông sớm nhận ra tầm quan trọng sống còn của các nhà khoa học. Ông sẽ làm bất cứ điều gì họ muốn. Chuyện đó làm tất cả nhân viên của ông phát điên”. Richard Coleman, người đã làm việc cho Pergamon vào cuối những năm 60 cho tôi biết như thế. Khi Pergamon là mục tiêu của một cuộc thôn tính, một bài báo trên Guardian năm 1973 cho biết các tổng biên tập đã đe dọa sẽ bỏ đi, để lại vườn không nhà trống thay vì làm việc cho một ông chủ mới.

Maxwell đã làm biến đổi công nghệ xuất bản, nhưng công việc hàng ngày của khoa học thì vẫn thế không gì thay đổi. Các nhà khoa học hầu hết là đưa công trình của họ cho tập san nào thích hợp nhất với chuyên ngành – và Maxwell rất vui lòng xuất bản bất cứ thứ gì và tất cả những gì mà các biên tập viên khe khắt của ông đồng ý. Tuy vậy, vào khoảng giữa những năm 70, các nhà xuất bản bắt đầu can thiệp vào những việc lý ra không phải của họ, mở ra một con đường có thể chặn lối các nhà khoa học tiếp cận với hệ thống xuất bản, và áp đặt các tiêu chuẩn của thế giới kinh doanh lên hướng đi của nghiên cứu. Có thể xem xét một trường hợp tiêu biểu minh họa cho nhận định này.

“Lúc tôi khởi đầu sự nghiệp, không ai chú ý nhiều tới việc bạn công bố/xuất bản công trình ở đâu, và rồi tất cả đã thay đổi với sự xuất hiện của tạp chí Cell năm 1974”. Randy Schekman, nhà sinh học phân tử của Trường Đại học Berkeley từng chiếm giải Nobel nói với tôi như thế. Tập san Cell (giờ đây do Elsevier là chủ sở hữu) là một tập san do trường Massachusetts Institute of Technology (MIT) khởi xướng nhằm trình diễn một lĩnh vực mới vừa nảy sinh và có ảnh hưởng quan trọng của sinh học phân tử. Người phụ trách biên tập là nhà sinh học trẻ tuổi Ben Lewin, người đã đạt được công trình của mình với một nỗ lực mạnh mẽ, hầu như đã tạo ra một bước ngoặt trong chuyên ngành. Công trình dài được thực hiện với những tiêu chuẩn khoa học nghiêm ngặt và được giải của của Ben đã trả lời những câu hỏi lớn– tiêu biểu cho những nghiên cứu kéo dài nhiều năm vốn có thể tạo ra nhiều bài báo khoa học đăng ở nhiều nơi– và biết rằng các tập san là những công cụ tiêu cực để truyền thông khoa học, số bài mà ông từ chối nhiều hơn hẳn số bài mà ông chấp nhận đăng.

Thứ mà ông tạo ra là một nơi dành cho khoa học đỉnh cao, và các nhà khoa học bắt đầu định hình lại công việc của họ theo cách định nghĩa của ông. “Lewin quả là thông minh. Ông nhận ra rằng giới khoa học rất thường có thái độ phụ thuộc vào sự đánh giá quá cao của ai đó về khả năng, hay mức độ đáng giá của mình, và muốn mình là một phần của cái nhóm cực kỳ chọn lọc này. Cell chính là một chỗ như thế, và bạn phải bằng mọi cách để có công trình đăng ở đó”, Schekman nói. “Tôi cũng bị áp lực như thế”. Cuối cùng thì ông cũng in một vài phần trong công trình đạt giải Nobel của mình trên tập san này.

Thình lình, nơi mà bạn công bố ấn phẩm khoa học trở nên cực kỳ quan trọng. Các tổng biên tập khác bắt đầu hành động theo con đường tương tự với hy vọng lặp lại thành công của Cell. Các nhà xuất bản cũng bắt đầu vận dụng một thứ thước đo gọi là “chỉ số tác động”, được Eugene Garfield (một nhà ngôn ngữ và chuyên gia thư viện) phát minh trong những năm 1960, như một thứ thước đo thô thiển cho thấy các bài báo trong một tập san nào đó thường được các bài báo khác trong những tập san khác trích dẫn thường xuyên ở mức độ nào. Đối với các nhà xuất bản, nó trở thành cách để xếp hạng và quảng cáo cho những sản phẩm của họ. Các tập san có một vẻ ngoài mới mẻ, nhấn mạnh vào kết quả to lớn của nó tiến lên hàng đầu trong các bảng xếp hạng, và các nhà khoa học có bài trên những tập san “có chỉ số ảnh hưởng cao” được ban thưởng với công việc hấp dẫn và tài trợ nghiên cứu hậu hĩ. Hầu như chỉ qua một đêm, một “đơn vị tiền tệ mới” nhằm đánh giá uy tín được tạo ra trong thế giới của khoa học (Garfield sau này nói về sáng tạo của anh ta như là một thứ chẳng khác nào “năng lượng nguyên tử”, một thứ ân sủng bị pha trộn).

Khó mà nói quá lên hơn nữa về mức độ quyền lực mà tổng biên tập các tập san ngày nay có được trong việc định hình sự nghiệp của các nhà khoa học và bản thân hướng đi của khoa học. “Các bạn trẻ lúc nào cũng nói với tôi rằng, nếu các bạn không đăng được bài trên CNS [tên tắt của Cell/Nature/Science, những tập san có uy tín bậc nhất) thì không mong gì kiếm được việc làm”. Schekman cho biết. Ông so sánh việc theo đuổi công bố khoa học trên các tập san có chỉ số tác động cao với hệ thống khích lệ cực đoan của tiền thưởng trong hoạt động ngân hàng. Ông nói, “Nó có một ảnh hưởng to lớn với con đường phát triển của khoa học”.

Và vì thế khoa học trở thành một sản phẩm lạ kỳ do các nhà khoa học và các biên tập viên tập san cùng tạo ra, trong đó các nhà khoa học ra sức theo đuổi những khám phá có thể gây ấn tượng cho các biên tập viên khoa học. Ngày nay, trước sự lựa chọn nhiều dự án khác nhau, một nhà khoa học sẽ hầu như luôn luôn từ chối cả những công việc chẳng lấy gì làm thơ mộng là khẳng định hay phản bác những nghiên cứu đã có trước đây, cũng như những nghiên cứu kéo dài nhiều thập kỷ đầy rủi ro kiểu như tìm đường đi lên mặt trăng, mà sẽ thiên về những thứ thực tế hơn: một chủ đề quen thuộc với các biên tập viên và có khả năng sản xuất ra càng nhiều bài báo khoa học càng tốt. “Giới khoa học được khích lệ tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu này”. Nhà khoa học đạt giải Nobel Sinh học Sydney Brenner trả lời trong một cuộc phỏng vấn năm 2014 và gọi đây là một hệ thống “thối nát”.

(còn tiếp)

Người dịch: Phạm Thị Ly (2017)

Nguồn:  “Is the staggeringly profitable business of scientific publishing bad for science?” Tác giả: Stephen Buranyi. Đăng trên Guardian ngày 27.06.2017

Liệu việc kinh doanh với lợi nhuận khổng lồ của ngành xuất bản khoa học có tổn hại cho khoa học? – Phần I


Xuất bản khoa học là một ngành công nghiệp có một không hai, với lợi nhuận có thể cạnh tranh ngang ngửa với Google – và nó được tạo ra bởi một trong những nhà kinh doanh tai tiếng nhất của nước Anh.

Robert Maxwell

Stephen Buranyi

Năm 2011, Claudio Aspesi, một nhà phân tích đầu tư gạo cội của Viện Nghiên cứu Bernstein Research ở London, đã đánh cá rằng doanh nghiệp mạnh nhất trong số các ngành mang lại lợi nhuận khủng nhất này đang trên đường sụp đổ. Reed-Elsevier, một tay tổ trong làng xuất bản đa quốc gia với doanh thu hàng năm khoảng 6 tỷ bảng Anh, là đứa con cưng của các nhà đầu tư. Nó là một trong số ít các nhà xuất bản đã thành công trong việc chuyển tiếp sang thời đại internet, và một báo cáo gần đây của công ty dự đoán nó sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm tới. Tuy vậy, Aspesi, có lý do để tin rằng dự đoán đó– cùng với những nhận định tương tự của các nhà phân tích tài chính tên tuổi– là sai bét.

Cốt lõi trong hoạt động của Elsevier là các tập san khoa học, những ấn bản ra hàng tuần hay hàng tháng, nơi đó các nhà khoa học chia sẻ kết quả nghiên cứu của họ. Tuy đối tượng đọc rất hẹp, xuất bản khoa học là một ngành kinh doanh khổng lồ. Với doanh thu toàn cầu trên 19 tỷ bảng Anh, tầm cỡ của nó không thua gì công nghệ điện ảnh, nhưng lợi nhuận thì khủng hơn nhiều. Năm 2010, một chi nhánh xuất bản khoa học của Elsevier báo cáo lợi nhuận 724 triệu bảng trên 2 tỷ doanh thu, tỷ suất lợi nhuận là 36% – lớn hơn nhiều so với Apple, Google, hay Amazon trong cùng năm đó.

Nhưng mô hình kinh doanh của Elsevier dường như thực sự rất khó hiểu và khó giải thích. Để kiếm tiền, một nhà xuất bản truyền thống, ví dụ một tòa báo– trước hết sẽ phải chi trả cho một loạt chi phí: trả tiền cho các tác giả để họ viết bài, thuê các biên tập viên để kiểm tra chất lượng và biên tập bài viết, và trả tiền cho khâu phân phối để đến tay người đọc. Tất cả những chi phí đó đều đắt đỏ, và một tờ báo thành công lắm thì cũng chỉ may ra kiếm được 12-15% lợi nhuận trên doanh thu mà thôi.

Cách kiếm tiền từ các bài báo khoa học nhìn có vẻ tương tự, chỉ trừ là các nhà xuất bản khoa học hầu như không trả các chi phí thực tế ấy.  Các nhà khoa học tạo ra công trình theo hướng nghiên cứu của họ – phần lớn được tài trợ bởi các quỹ nghiên cứu của chính phủ– và cho không các nhà xuất bản. Các nhà xuất bản trả tiền cho các biên tập viên khoa học, những người đánh giá phẩm chất khoa học của kết quả nghiên cứu và sửa lỗi ngữ pháp; tuy nhiên gánh nặng lớn nhất của việc biên tập– đánh giá tính khả tín khoa học  và chất lượng thực nghiệm, một quá trình được gọi là bình duyệt– thì được các nhà khoa học đang làm việc trong chuyên ngành thực hiện không công trên cơ sở tự nguyện. Các nhà xuất bản lại đem bán sản phẩm này cho các thư viện của các trường ĐH và viện nghiên cứu do chính phủ chu cấp ngân sách hoạt động, và được các nhà khoa học– theo nghĩa một cộng đồng, là những người đã tạo ra chính sản phẩm ấy, tìm đọc.

Thử hình dung nếu một tờ báo như New Yorker hay Economist đòi các nhà báo của mình viết bài và biên tập không công, rồi đòi chính phủ trả tiền mua các bài báo đó. Các nhà quan sát bên ngoài hầu như không tin nổi khi miêu tả quá trình đáng kinh ngạc trên đây. Một báo cáo của ủy ban khoa học và công nghệ của quốc hội năm 2004 về ngành công nghiệp này đã miêu tả một cách mỉa mai và hài hước là “trong thị trường truyền thống này, các nhà cung ứng phải trả tiền cho những sản phẩm mà họ cung cấp”, Một báo cáo của Ngân hàng Đức năm 2005 coi đó là một hệ thống lạ kỳ, bất thường, trong đó người ta phải trả tiền đến ba lần cho một sản phẩm: “chính phủ tài trợ cho các nhà khoa học nghiên cứu, trả lương cho những người kiểm tra chất lượng của nghiên cứu, rồi lại mua sản phẩm được công bố của những người nói trên”.

Các nhà khoa học biết rõ họ lâm vào một thỏa thuận rất tồi. Kinh doanh xuất bản khoa học là thứ lẽ ra “không cần thiết và có thể tránh được”, nó “mâu thuẫn với những chuẩn mực thông thường được chấp nhận”, theo lời Michael Eisen, nhà sinh học của Berkeley viết trong một bài báo cho Guardian năm 2003. Ông cho rằng nó đáng ra phải là một “scandal” trong công chúng. Adrian Sutton, một nhà vật lý Imperial College, nói với tôi rằng các nhà khoa học “tất thảy đều là nô lệ cho các nhà xuất bản”. “Liệu có ngành kinh doanh nào mà nhận được vật liệu thô từ khách hàng, dùng chính những khách hàng khác thực hiện việc kiểm soát chất lượng của những vật liệu thô ấy, và bán lại những sản phẩm này cho cũng những khách hàng đó với giá cắt cổ?” (Một đại diện của Tập đoàn RELX Group, tên chính thức của Elsevier kể từ năm 2015, nói với tôi là họ và các nhà xuất bản khác “phục vụ cộng đồng các nhà nghiên cứu bằng cách làm những việc các nhà nghiên cứu cần mà không thể hay không tự làm được, và thu một khoản phí hợp lý cho dịch vụ ấy”).

Nhiều nhà khoa học cũng tin rằng ngành xuất bản đã tạo ra ảnh hưởng quá lớn đối với những gì các nhà khoa học chọn để nghiên cứu, đó là điều chẳng lấy gì làm hay cho bản thân khoa học. Các tập san trao giải cho những kết quả nghiên cứu mới và có tác động lớn– rút cục những kết quả nghiên cứu đó được đem bán– và các nhà khoa học, những người biết đích xác thứ gì có thể xuất bản được, sẽ điều chỉnh mình theo những tiêu chí của các nhà xuất bản. Điều này tạo ra một dòng chảy phẳng lặng của các bài báo khoa học, mà tầm quan trọng của nó ta có thể thấy ngay. Nhưng nó cũng có nghĩa là các nhà khoa học sẽ không có được một lộ trình chính xác về những gì thực sự cần được nghiên cứu trong chuyên ngành của họ. Các nhà nghiên cứu rất có thể rút cục sẽ phát giác ra rằng con đường họ và đồng nghiệp đang đi là đường cùng, chỉ bởi vì thông tin về những thất bại trước đó đã không bao giờ có chỗ để xuất hiện trên các ấn bản khoa học liên quan. Một nghiên cứu năm 2013 chẳng hạn, đã cho biết một nửa các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm ở Hoa Kỳ chưa bao giờ được công bố trên các tập san.

Theo các nhà phê bình, hệ thống tập san khoa học thực chất là đang cản trở bước tiến của khoa học. Trong một bài viết năm 2008, Tiến sĩ Neal Young của Viện Y tế Quốc gia (được tài trợ để nghiên cứu về y khoa cho chính phủ Mỹ), cho rằng trước tầm quan trọng của sáng tạo khoa học đối với xã hội, “có một mệnh lệnh đạo đức về việc cần phải xem xét lại vấn đề các dữ liệu khoa học nên được đánh giá và phổ biến như thế nào”.

Aspesi, sau khi trao đổi với một mạng lưới hơn 25 nhà khoa học và hoạt động xã hội tiếng tăm, đã đi đến chỗ tin rằng bây giờ là lúc xem xét lại mô hình kinh doanh mà Elsevier đang dẫn đầu. Ngày càng nhiều thư viện khoa học, nơi phải trả tiền mua tập san khoa học cho các trường đại học, nói rằng ngân sách của họ cạn kiệt bởi giá đăng ký tập san không ngừng tăng, và đe dọa sẽ hủy đơn đặt hàng nhiều triệu bảng của họ nếu Elsevier không chịu giảm giá. Các tổ chức nhà nước như Viện Nghiên cứu Y khoa Quốc gia hay Quỹ Nghiên cứu Đức gần đây đã đưa kết quả nghiên cứu của họ cho những tập san trực tuyến miễn phí, và Aspesi tin rằng chính phủ sẽ can thiệp để bảo đảm rằng kết quả nghiên cứu của những công trình được tài trợ bằng ngân sách công sẽ được tiếp cận miễn phí với mọi đối tượng. Elsevier và các đối thủ cạnh tranh của họ sẽ lâm vào một cơn bão lớn khi khách hàng của họ quay lưng và khi các quy định trên đây của chính phủ sớm được thực hiện.

Tháng 3 năm 2011, Aspesi công bố một báo cáo khuyến nghị khách hàng của mình nên bán hết cổ phiếu của Elsevier. Vài tháng sau, trong một hội nghị giữa các nhà đầu tư và giới quản lý của Elsevier, ông nhấn mạnh với CEO của Elsevier, Erik Engstrom, về quan hệ ngày càng xấu đi với các thư viện. Ông đặt vấn đề liệu có gì trục trặc trong mô hình kinh doanh của bạn khi khách hàng của bạn thấy chả có hy vọng gì cải thiện tình hình. Engstrom né tránh câu hỏi. Trong hai tuần sau đó, cổ phiếu của Elsevier sụt giá 20%, bốc hơi hơn một tỷ bảng. Vấn đề mà Aspesi nhìn thấy có tính chất rất cơ bản, và ông tin rằng chỉ trong vòng nửa thập niên tới họ sẽ đi tới chỗ kết thúc– nhưng mọi việc có vẻ như đang tiến nhanh tới chỗ đó mà ông đã dự đoán trước.

Tuy vậy, trong năm tới, hầu hết các thư viện vẫn còn bị cột vào các hợp đồng với Elsevier, và chính phủ các nước nói chung đã thất bại trong việc đưa ra một mô hình khác để phổ biến kết quả nghiên cứu. Trong hai năm 2012 and 2013, Elsevier công bố mức lợi nhuận trên 40%. Năm sau đó, Aspesi đổi ý về khuyến nghị nên bán cổ phiếu Elsevier và nói ngược lại.  David Prosser, lãnh đạo Thư viện Khoa học của UK, một tiếng nói nổi bật trong việc cải cách ngành thư viện nói: “Ông ấy (Aspesi) lắng nghe chúng tôi quá và ít nhiều bị hố””. Elsevier vẫn đang bình chân như vại.

Aspesi chẳng phải người đầu tiên dự đoán sai về sự kết thúc của quả  bom xuất bản khoa học, và có vẻ ông cũng chẳng phải là người cuối cùng. Khó mà tin nổi tình trạng độc quyền vì lợi nhuận về bản chất như thế lại có thể vận hành trong những tổ chức do chính phủ tài trợ và bị quy định rất chặt chẽ, mà không bị diệt vong về lâu về dài. Nhưng xuất bản khoa học đã và đang gắn chặt với nghề nghiên cứu trong nhiều thập kỷ. Ngày nay, bất cứ nhà khoa học nào cũng hiểu rằng sự nghiệp của họ phụ thuộc vào những bài báo khoa học mà họ công bố, và thành công trong chuyên môn được xác định đặc biệt bằng việc công bố trên những tập san uy tín. Những công trình lâu dài, tiến hành chậm, hầu như không có định hướng trước từng được các nhà khoa học có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ trước theo đuổi, nay không còn là một lựa chọn sự nghiệp sống còn nữa. Trong hệ thống ngày nay, cha đẻ của học thuyết di truyền phân tử, Fred Sanger, người công bố rất ít trong hai thập kỷ giữa hai lần được giải Nobel của ông, năm 1958 và 1980, hẳn đã có thể bị đuổi cổ khỏi trường đại học của ông rồi.

Ngay cả các nhà khoa học chiến đấu để cải cách cũng thường không nhận thức được cái gốc của hệ thống: làm thế nào, trong những năm bùng nổ sau thế chiến thứ hai, các nhà khởi nghiệp có thể xây dựng được sự thành công lâu dài bằng cách lấy việc xuất bản ra khỏi tay các nhà khoa học và mở rộng quy mô của nó đến mức trước đây không thể tưởng tượng ra được. Và không ai tạo ra thay đổi một cách thông minh như Robert Maxwell, người đã biến các tập san khoa học thành cái máy in tiền kỳ diệu hỗ trợ về mặt tài chính cho sự trỗi dậy của ông ta trong xã hội Anh. Maxwell rất có thể trở thành một đại biểu quốc hội, một ông chủ hay lãnh chúa, một nhân vật nổi tiếng của công chúng trong đời sống nước Anh. Nhưng tầm quan trọng thực sự của ông ta còn vượt xa những gì chúng ta có thể nhận biết.  Hầu như không tin nổi những thứ như thế có thể xảy xa, nhưng sự thực là có rất ít người trong thế kỷ qua đã định hình con đường của khoa học như Maxwell đã làm.

Năm 1946, chàng trai 23 tuổi Robert Maxwell làm việc ở Berlin và có một uy tín khá đáng kể. Mặc dù lớn lên trong một ngôi làng nghèo nàn ở Tiệp Khắc, chàng đã chiến đấu trong quân đội Anh trong thời chiến tranh, được huân chương quân đội và được nhập quốc tịch Anh. Sau chiến tranh, anh gia nhập lực lượng tình báo ở Berlin, sử dụng được chín ngoại ngữ để làm công việc thẩm vấn tù nhân. Maxwell cao ráo, kiêu ngạo, không hài lòng tí nào với những thành công đáng kể mà anh đã đạt được – một người quen của anh ta vào thời đó nhớ lại, anh ta thú nhận khao khát lớn nhất của anh là “trở thành triệu phú”.

Cùng lúc đó, chính phủ Anh chuẩn bị một dự án ít có khả năng thành hiện thực, một dự án đã cho phép anh ta làm chính cái điều này. Các nhà khoa học hàng đầu của Anh– từ Alexander Fleming, người khám phá ra thuốc kháng sinh penicillin cho đến nhà vật lý học Charles Galton Darwin, cháu nội của thiên tài Charles Darwin–, đều có mối quan ngại là trong lúc khoa học Anh có tầm đẳng cấp thế giới thì ngành xuất bản khoa học của họ lại quá nhỏ bé, mờ nhạt. Các nhà xuất bản khoa học được biết tới như những tổ chức hoạt động không hiệu quả và liên tục thất bại. Các tập san thì in giấy mỏng, nhìn rẻ tiền và không được giới khoa học chú ý. Hiệp hội Hóa học Anh có cả đống bài ùn ứ nhiều tháng dài không xuất bản được vì phải dựa vào việc lượm bạc cắc từ tiền bố thí của Hiệp hội Hoàng Gia để thực hiện bản in cho tập san của họ.

Giải pháp của chính phủ là cho nhà xuất bản Butterworths của Anh (hiện nay do Elsvier làm chủ) làm việc với nhà xuất bản nổi tiếng Springer của Đức, nhằm tận dụng tri thức chuyên môn của Springer. Butterworths sẽ học cách biến tập san thành tổ chức kinh doanh có lợi nhuận, còn các nhà khoa học Anh thì sẽ được công bố kết quả nhanh hơn. Lúc đó Maxwell đã lập doanh nghiệp của anh ta, một doanh nghiệp giúp Springer vận chuyển các tập san khoa học tới Anh. Giám đốc Butterworths, vốn là cựu nhân viên tình báo Anh, đã tuyển chàng trai trẻ Maxwell để quản lý công ty, và một người khác vốn từng là gián điệp, Paul Rosbaud, để làm biên tập viên khoa học. Paul là người kỹ sư hàn đã chuyển những bí mật hạt nhân của phát xít cho Anh qua Pháp và Hà Lan.

Không thể có thời điểm nào tốt hơn để bắt đầu với họ. Khoa học đang bước vào thời kỳ tăng trưởng chưa từng có tiền lệ trước đó, từ chỗ là một thú vui tài tử của các quý ông giàu có thành một nghề nghiệp chuyên môn được kính trọng. Trong những năm sau thế chiến, nó trở thành một khẩu hiệu cho tiến bộ. “Khoa học đã từng được thực hiện với những chuẩn bị chưa đầy đủ. Nó phải được đưa ra trung tâm sân khấu, bởi vì nó chứa đựng hy vọng của chúng ta về tương lai”, kỹ sư Vannevar Bush, người quản lý Dự án Manhattan của Mỹ đã nói như vậy trong báo cáo với Tổng thống Harry S Truman. Sau chiến tranh, lần đầu tiên chính phủ đã nổi lên như một lực lượng tài trợ chính cho các nỗ lực nghiên cứu khoa học, không chỉ trong quân đội, mà cả thông qua những tổ chức mới được thành lập như Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ, và qua việc nhanh chóng mở rộng hệ thống các trường đại học.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phạm Thị Ly (2017)

Nguồn:  “Is the staggeringly profitable business of scientific publishing bad for science?” Tác giả: Stephen Buranyi. Đăng trên Guardian ngày 27.06.2017

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần cuối


B. Eihenbaum trong tập Nhật ký viết vào những năm 1917 – 1918, đã nhận xét rằng “đối với một bộ phận đáng kể của giới trí thức chúng ta thì chỉ cần một cuộc cải cách chính trị, nhưng khi lịch sử tiến xa hơn nữa thì họ đã trở thành kẻ thù của cách mạng” (theo tạp chí Ngọn cờ 1993, T.11, p180).

Nguyện vọng muốn có sự thay đổi, lòng yêu mến nhân dân đối với phần lớn giới trí thức đã trở thành những khái niệm xa vời và trừu tượng.

Nhiều người mới đây còn ca ngợi cách mạng thì bây giờ lại nguyền rủa nó.

Nhà thơ K. Balmont năm 1905 đã từng viết: “Hỡi người công nhân, ta yêu ngươi, ta cơ ngợi bão tố của ngươi” (K. Balmont. Những bài ca cái búa của người thợ, M, 1922, p7) thì đến năm 1918 lại nói về những người công nhân đó như sau: “Họ là bầy chó sói, họ là bầy chó điên ngoạm vào bàn tay từng giải phóng họ bằng những chiếc rằng dính đầy nước dãi” (K. Balmont. Tôi có phải là người cách mạng hay không? M. 1918, p3).

Những người trước kia từng là bạn của nhau bây giờ lại gọi nhau bằng những từ thô bỉ. Một số người này không tiếc lời xúc phạm các Xô Viết và những người ủng hộ chúng, còn những người khác thì với lòng căm thù như vậy đã nói và viết về chủ nghĩa đế quốc thế giới và những tên tay sai bạch vệ của nó.

Cuộc nội chiến đã nổ ra. Và những kẻ can thiệp nằm trong những phe phái khác nhau, không chỉ tranh cãi với nhau mà còn bắn vào nhau.

Binh lính, công nhân, nông dân sau khi thấy thái độ không tán thành của đa số trí thức đối với những thay đổi vừa xả ra, cũng đáp lại bằng thái độ thù địch như vậy. Chính quyền mới đã hiểu rằng nó không thể dựa vào giới trí thức nên đã cố xúc tiến quá trình đào tạo giới trí thức mới, giới trí thức “nhân dân” như hồi đó người ta thường nói. Và những kết quả mãi sau này mới thu lượm được. Đó là điều thứ nhất.

Điều thứ hai, việc truy bức, đàn áp chống lại giới trí thức cũ được gia tăng, những người đại diện cho nó ngày càng bị gạt khỏi bộ máy lãnh đạo ở trung ương và địa phương.

Đến cuối cuộc nội chiến, một bộ phận lớn của giới trí thức đã sống lưu vong ở nước ngoài. Thành phần của hai triệu người Nga lưu vong sống rải rác khắp thế giới sau cuộc nội chiến chưa được nghiên cứu kỹ. Nhưng rõ ràng là giới trí thức sống lưu vong đã đóng một vai trò chủ đạo ở hải ngoại, đã trở thành một trong những nhánh của nền văn hóa Nga, đã sáng tác được những tác phẩm văn nghệ xuất sắc ở nơi đất khách quê người. Như vậy là sau khi đụng đầu với sự thử thách vĩ đại là cách mạng, giới trí thức Nga không chiếm lĩnh được đỉnh cao.

Nó không thể lãnh đạo được cách mạng. Cách mạng mang tính chất tiến bộ khi nó kèm theo sự khởi sắc tinh thần của dân tộc. Sự khởi sắc này không thể có được, nếu thiếu sự tham gia tích cực, mang tính chất sáng tạo của phần lớn trí thức. Quần chúng trí thức hoạt động cách mạng càng nhiều bao nhiêu, sự giao tiếp của nó với hàng triệu công nhân và nông dân càng chặt chẽ bao nhiêu thì những thay đổi cách mạng càng có kết quả và vững chắc bấy nhiêu. Cách mạng tàng trữ trong nó điện tích dương và âm. Mối tương quan giữa chúng phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân đó là mức độ tham gia cách mạng của những nhóm trí thức khác nhau.

Ở nước Nga, giới trí thức chẳng những không lãnh đạo cách mạng – nếu như muốn nói tới không phải thành phần hẹp hòi của chính phủ mà là một tầng lớp rộng lớn từng lãnh đạo những cải tổ cách mạng trên khắp đất nước rộng lớn mà còn tham gia tương đối yếu ớt vào công việc xây dựng của nó. Điều đó dẫn tới chỗ là nhiều tư tưởng và sáng kiến mang tính chất cách mạng tiến bộ hoặc là không thực hiện, hoặc là không được tiến hành tới cùng, hoặc là bị bóp méo trong thực tiễn. Những chi phí của cách mạng hóa ra là rất lớn.

Tôi sợ bị hiểu sai lệch nên xin nói trước: tôi cho rằng Cách mạng tháng Mười năm 1917 là một sự kiện vĩ đại và tiến bộ. Song việc một bộ phận đáng kể của giới trí thức xa rời cách mạng đã làm yếu đi tiềm năng kiến tạo của nó.

Có thể hình dung là những ngọn đèn pha của Cách mạng sẽ chiếu sáng hơn biết bao nhiêu, ảnh hưởng của nó sẽ mạnh hơn biết bao nhiều, nếu như không phải một bộ phận ít ỏi mà là một bộ phận đông đảo của giới trí thức tham gia vào công cuộc cải tạo cách mạng ở nước Nga.

Giới trí thức Nga đã chuẩn  bị cách mạng, đã sẵn sàng hướng tới cách mạng nhưng bản thân lại chưa được chuẩn bị để tiếp nhận cách mạng. Nó chỉ là người gieo hạt chứ không phải là người gặt hái. Người khởi xướng đã biến thành nạn nhân, đã chịu đựng những gian khổ ghê gớm về vật chất, đã bị đàn áp về mặt thể xác.

“Tâm trạng thất vọng” – có thể dùng những từ đó để xác định tình huống đã được tạo ra. Giới trí thức đã thất vọng về cách mạng lẫn về nhân dân. Nhân dân đã thất vọng về giới trí thức. Một bộ phận lớn của giới trí thức đã không được nhân dân chấp nhận và không được những nhà đương cục mới ưa chuộng.

Sự phân biệt trong giới trí thức vẫn tiếp diễn và gia tăng, những hậu quả của sự chia rẽ này đã kéo dài trong nhiều năm.

Tình trạng sống lưu vong của hàng nghìn nhà văn và luật gia, các nhà khoa học và các bác sĩ, các nghệ sĩ và các luật sư, kỹ sư và các sĩ quan là một mặt của tấn bi kịch. Họ rời bỏ tổ quốc – phần lớn là mãi mãi – và sống tản mạn ở những chốn hải ngoại khác nhau. Kết quả là sự suy yếu đáng kể về trình độ trí tuệ của nước Nga trong những năm 20.

Tình huống ấy ở thời buổi ngày nay lặp lại với mức động giống nhau ĐÁNG KỂ, mặc dù có những khác biệt cơ bản.

Một hiện tượng đáng chú ý: giới trí thức sau 70 năm đã thay đổi tận gốc rễ. Nó đã trưởng thành vượt bậc về mặt số lượng sau khi dung nạp chủ yếu là công nhân và nông dân. Song dường như là mới mẻ, nó vẫn giữ được cấu trúc và những nét tiêu biểu của giới trí thức . Và trong tình hình rối ren hiện nay điều đó không thể không bàn đến. Không nghi ngờ gì nữa, chính giới trí thức là sức mạnh chủ yếu làm lung lay chế độ Xô Viết. Ngày nay giới trí thức đóng một vai trò lớn hơn so với hồi đầu thế kỷ. Công nhân và nông dân hoàn toàn không thể hiện tính tích cực chính trị nghiêm túc trong những năm cải tổ, còn một số hành động quậy phá, kiểu như những cuộc bãi công của thợ mở, là do giới trí thức được chính trị hóa xúi bẩy.

Trong điều kiện khiếm khuyết các đảng phái chính trị khác, ngoài đảng Cộng sản Liên Xô (KPSS), khi khẩu hiệu công khai xuất hiện vào nửa sau những năm 80, chính phần lớn hạt nhân trí thức dựa vào sự ủng hộ của đa số các tầng lớp trí thức rộng rãi ở ngoại biên đã đóng vai trò quyết định trong việc tuyên truyền các tư tưởng được gọi là dân chủ, trong việc phê phán quá khứ và hiện tại Xô Viết, trong việc phá vỡ đảng Cộng sản Liên Xô và tất cả các cơ cấu đã tồn tại trong nước.

Cũng cần phải chú ý tới vai trò lớn lao ngày càng gia tăng của các phương tiện thông tin đại chúng. Khi các nhà thơ lập dị và các nhà phê bình văn học, các nhà đạo diễn điện ảnh ba hoa và các nhà chính luận háo danh xuất hiện trên màn ảnh nhỏ và vớ lấy micro thì hàng chục triệu người đã tin họ. Không còn nghi ngờ gì nữa, những vị trí thức này là những người khởi đầu của sự cố đang diễn biến, họ là chỗ dựa chủ yếu của công cuộc cải tổ. Họ muốn công khai, muốn, nói như nhà văn châm biếm Saltykov – Shedrin, không hẳn là hiến pháp, không hẳn là món cá chiên ướp riềng. Hiến pháp thì nói chung đã có đấy nhưng nó cứ thế nào ấy: nhiều quyền được nêu lên song lại không được bảo đảm một cách đầy đủ trong thực tế. Còn món cá chiên thì quả thực rất khan hiếm. Nhà văn xác nhận: không có món cá chiên, mọi người đều đồng ý rằng điều đó là đúng. Cá chiên chỉ có cho một số người có đặc quyền đặc lợi, còn nhân dân thì không nhìn thấy nó. Bởi thế cần phải phá hủy tất cả và phải xây dựng chế độ dân chủ, tính luật pháp, thị trường. Một số lớn cán bộ cao cấp trước đây, những người từng tuyên truyền cho chế độ Xô Viết, từng hăng hái chiến đấu để bảo vệ tất cả mọi thứ Xô Viết, đâm ra ngạc nhiên. Thái độ căm ghét của số các nhà văn, các nghệ sĩ và cán bộ cao cấp khác của đảng đối với thời kỳ Xô Viết mà trong đó họ đã lớn lên và phát triển tài năng đã được nhận những giải thưởng và những danh hiệu cao quý và từng luôn mồm cảm ơn đảng và chính phủ vì những phần thưởng và sự quan tâm – thái độ căm đó của họ đã khiến người ta sửng sốt.

Kết quả thật rõ ràng. Phần lớn người trí thức lại trở thành nạn nhân. Chỉ có một bộ phận của hạt nhân nhờ thói bộ đỡ xu nịnh trước mọi vị quan chức từng có chân trong chính quyền trong mười năm rưỡi là bảo đảm cho mình được tính công khai – tất nhiên trong khuôn khổ thích hợp – và sự sung túc. Còn đối với đại bộ phận thuộc tất cả các tầng lớp trí thức, ngoài đám quan chức vẫn giữ được đặc quyền đặc lợi, thì tình hình hiện nay, nếu nói một cách nhẹ nhàng, không lấy gì làm phấn khởi.

Giới trí thức đã đấu tranh chống lại sự thao túng của đám quan lại cao cấp nhưng lại nhận được sự lộng hành vô giới hạn mới của bọn quan chức mới, của hàng triệu cố vấn mới, trợ lý cao cấp mới… vốn xuất thân từ những cán bộ cao cấp cũ nhưng trong nháy mắt đã thay hình đổi dạng, còn những tên ăn hối lộ mới trong số những quan chức tép riu đã nhanh chóng hiểu ra rằng tình hình hiện nay có thể nhoi lên được.

Giới trí thức đã đấu tranh chống lại những đặc quyền đặc lợi của các cán bộ cao cấp nhưng lại nhìn thấy những đặc quyền đặc lợi mới rất tinh vi mà các ông trùm trước đây nằm mơ cũng không thấy. Nó đã đấu tranh chống lại nạn tham nhũg của bọn chóp bu trong đảng, trong công đoàn, trong đoàn thanh niên Cômxômôn nhưng lại nhận được cái quy mô như vậy của thói vụ lợi dễ bị mua chuộc từ trên xuống dưới mà nước Nga chưa hề biết tới.

Không cần thiết phải nói tới sự suy sụp của khoa học và văn hóa, tôi sẽ không liệt kê tất cả những bệnh hoạn, những tai họa đã giáng xuống nhân dân, và có lẽ trước hết là giáng xuống giới trí thức. Tất cả tình hình này đã được mọi người công nhận và phản ánh những thực tế ba năm rõ mười của cuộc sống chúng ta.

Giới trí thức đã đấu tranh cho sự lành mạnh về thể lực của nhân dân nhưng lại nhận được sự gia tăng của tệ nghiện rượu, thảm họa về nhân khẩu, một xã hội với những mạch máu bị đâm nát.

Nói tóm lại, giới trí thức vừa là người khởi xướng của tình trạng rối loạn hiện nay lại vừa là nạn nhân của nó. Giới trí thức cho thấy rằng nó người gieo hạt nhưng không phải là người gặt hái, nó lại xuất hiện trong vai Hamlet chao đảo, băn khoăn với câu hỏi vĩnh cửu “Tồn tại hay không tồn tại?” nhưng thiếu một kế hoạch hành động được suy nghĩ kỹ càng.

Nhà phê bình văn học Natalja Ivanova đã viết trong năm 1993 rằng “giới trí thức trong lịch sử nước Nga là một tầng ozon thường xuyên tái sinh, nó che chắn chúng ta khỏi tia phóng xạ của chủ nghĩa vị kỷ đang chiến thắng”.

Hỡi ôi! Nhiều đại diện của giới thượng lưu trí thức không tái sinh ra tầng ozon của đời sống tinh thần, còn bản thân họ thì trở thành những máy phát ra tia phóng xạ của chủ nghĩa vị kỷ đang chiến thắng.

Những giấc mộng sản khoái về chủ nghĩa xã hội và những giấc mơ hồng êm ái về nền dân chủ đã kết thúc bằng một buổi sáng ảm đạm của hiện thực khắc nghiệt.

Tôi sẽ không nhắc lại sau nhà văn Esin đáng kính rằng thật xấu hổ khi gọi mình là người trí thức Nga. Không, không xấu hổ mà là cay đắng.

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21

Người khởi xướng hay nạn nhân? – Phần III


Như vậy là giới trí thức Nga trong gần 100 năm luôn luôn là trung tâm của các cuộc tranh luận không lúc nào lắng dịu. Và nếu trên thế giới người ta dã từng nói đến tính phi dân tộc của tính cách Nga, đến “tâm hồn Nga bí ẩn”, đến “sự không đón định trước” của nó… thì trước hết nên xem ý kiến đó là nói về giới trí thức Nga.

Tuy nhiên hoàn toàn có thể khảo sát một cách khoa học về những đặc điểm của giới trí thức Nga, những nét giống nhau của nó với giới trí thức của các nước khác và về những đặc điểm nhất định mà chỉ riêng nó mới có.

Một là, giới trí thức Nga đã phản ánh sự đa dạng hiếm có của đất nước. Trong sách báo từ lâu đã được khẳng định một quan niệm cho rằng nước Nga ở đầu thế kỷ XX, trên một mức độ nhất định, là một mô hình của toàn thế giới. Ở đaây người ta không chỉ muốn nói tới sự đa dạng về tộc người, mà chủ yếu muốn nói tới sự khác biệt về trình độ kinh tế, xã hội, văn hóa của rất nhiều khu vực, sự hiện hữu của các khu vực tinh thần khác nhau. Sự đa dạng đáng kinh ngạc của nước Nga đã để lại dấu ấn không thể xóa mờ trên giới trí thức, làm cho tư duy của nó, những khái niệm về cuộc sống trở thành nhiều tầng lớp, bao hàm những trào lưu khác nhau, – đôi khi một cách vô ý thức – chịu ảnh hưởng của những nền văn hóa khác nhau.

Hai là, vị trí địa lý của nước Nga vốn chiếm một phần đáng kể của châu Âu cũng như toàn bộ Bắc Á, trên một mức độ đáng kể đã ảnh hưởng tới địa hạt tinh thần của các dân tộc nói chung và trước hết của giới trí thức. Những dao động quả lắc, thông qua toàn bộ lịch sử nước Nga, đang diễn ra giữa phương Tây và phương Đông.

Ảnh hưởng Byzantine (phương Tây) chủ yếu đã đến thông qua đạo Cơ đốc, lúc đầu đã va vấp với đa thần giáo Cổ Slava, sau đó với ảnh hưởng của Tartar – Mông Cổ.

Bản thân đạo Cơ đốc ở Nga sau khi mang diện mạo của đạo chính thống, buồn rầu nhìn sang phương Tây vốn khoác những bộ y phục của đạo Thiên chúa, và sau này, của đạo Tin lành.

Sự xa lánh kéo dài đối với phương Tây, sự không chấp nhận người ngoại quốc về mặt tâm lý, thái độ cảnh giác đối với tất cả những gì từ phương Tây đến được thay thế bằng bước ngoặt của vua Petr Đệ Nhất hướng tới phương Tây khiến những người đương thời phải sửng sốt. Tư tưởng bảo thủ mang tính chất châu Á thuần túy trong việc tiếp nhận đường lối ngả theo châu Âu, sự thao túng của những người nước ngoài ở thế kỷ XVIII đã làm gay gắt thêm sự đối lập của những khuynh hướng khác nhau. Trong thế kỷ XIX, sự đối lập đó mang những hình thức văn minh, nó chuyển thành cuộc tranh luận nổi tiếng giữa những người sùng phương Tây (Zapadniki) và những người sùng Slave (Slavojanofily). Về thực chất, cơ sở của cuộc tranh luận giữa những người theo châu Âu và những người chống lại là sự khác biệt của những quan điểm về con đường phát triển của nước Nga.

Xin nói thêm rằng cuộc đấu tranh ở cuối những năm 80 và những năm 90 của thế kỷ XX về những con đường phát triển của nước Nga – theo mô hình châu Âu hay gìn giữ vẻ đặc thù của mình – trên thực tế lại trở thành cái tục của đời sống chính trị, và mang tính chất mít tinh.

Sau hết, đặc điểm thứ ba của giới trí thức Nga là ảnh hưởng to lớn của tư tưởng về sứ mệnh cứu thế đến lĩnh vực tinh thần của nó. Giới trí thức Nga dưới dạng tập trung cô đọng phản ánh một tư tưởng được phổ biến ở Nga về sứ mệnh đóng vai trò cứu thế trong lịch sử thế giới.

Trên nguyên tắc, tư tưởng về vai trò đặc biệt của mìh trong lịch sử vốn có ở đa số các dân tộc lớn trên thế giới. Lịch sử của cộng đồng Do Thái bắt đầu từ tư tưởng về “sự được Chúa lựa chọn”. Như mọi người đều biết, tư tưởng về tính ưu việt của dân tộc Đức đã có ý nghĩa như thế nào trong lịch sử nước Đức. Những nguyên thủ hàng đầu của Mỹ cũng dành cho nước mình một vị trí nhất định trong thế giới hiện tại.

Khi gọi mình là “Nước Nga thần thánh”, là “dân tộc đại diện cho Chúa”, khi nói rằng “Moskva là đệ tam La Mã, còn đệ tứ La Mã thì không có”, dân tộc Nga đã quen với ý niệm về tính chất đặc biệt của mình. Tính chất đặc biệt với một ý nghĩa đặc biệt. Không phải trên bình diện mong muốn thống trị các dân tộc khác, không phải trên bình diện ưu việt về chủng tộc, hiện hữu những phẩm chất đặc biệt khiến người Nga đứng trên các dân tộc khác. Tính đặc biệt chỉ là ở via trò cứu thế vốn được dành cho nước Nga, ở việc nó sẵn sàng mở đường vào tương lai cho tất cả các dân tộc khác và nếu cần thì có thể hy sinh thân mình.

Điều đó thể hiện rất rõ trong và sau cách mạng năm 1917. Hồi đó phỏ biết rất rộng rãi một tư tưởng cho rằng cuộc cách mạng Nga đã mở đầu cho một kỷ nguyên mới, rằng nước Nga Xô Viết là thành trì của sự tiến bộ trên toàn thế giới, là tấm gương của việc xây dựng cuộc sống mới. Vả lại, hồi đó rất nhiều người đại diện cho lớp trí thức ưu tú của phương Tây – từ A. France đến B. Shaw… đã thừa nhận vai trò đặc biệt của nước Nga.

Mưu toan xây dựng XHCN ở Liên Xô, như chúng ta ngày nay thấy rõ, đã kết thúc thất bại. Điều đó được giới trí thức Nga tiếp nhận một cách rất nặng nề và đau đớn không chỉ vì Liên bang Xô Viết đã sụp đổ, không chỉ vì nước Nga và các nước khác thuộc Liên Xô cũ lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc mà còn vì đối với một bộ phận đáng kể của giới trí thức điều đó biểu thị sự phá sản của một thế giới quan, sự phá sản của lý tưởng cứu thế. Sự thất vọng chua chát đã đến. Chúng ta đã tự hào, đã nghĩ rằng chúng ta dẫn đầu tất cả, chúng ta giương cao ngọn đuốc soi đường, nhưng té là chúng ta đang tít tận đằng sau, chúng ta là đèn đỏ.

Giới thượng lưu trí thức của nước Nga đến với cách mạng năm 1917 với những trăn trở, những quan niệm mâu thuẫn, mơ hồ về vai trò và số phận của mình. Nhưng dầu sao cũng có một mẫu số chung liên kết với một bộ phận chủ yếu của giới trí thức. Nó chân thành cho rằng nó hành động nhân danh nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Chính vì nhân dân muốn có những biến đổi cho nên giới trí thức trong đại bộ phận của nó ủng hộ sự thay đổi, không loại trừ cách mạng.

Đã đến lúc phải thừa nhận rằng không phải công nhân mà là một bộ phận lớn của giới trí thức – hạt nhân tinh hoa cũng như các tầng lớp ngoại vi – đã đóng vai trò quyết định trong việc chuẩn bị cách mạng năm 1917. Nó đã làm lung lay chế độ cũ bằng lời nói và việc làm. Nếu không có việc hạ uy tín của chế độ quân chủ chuyên chế, không có việc tố cáo bọn thống trị chóp bu, thói ích kỷ của bọn trọc phú, thói đạo đức giả xã hội, nếu không vạch ra tình trạng tủi nhục, nghèo khổ, võ quyền của nhân dân, nếu không có những lời kêu gọi thay đổi cái trật tự hiện hành – tức là nếu không có tất cả những cái mà những người trí thức nổi tiếng nhất đã tuyên truyền dưới các hình thức khác nhau và được giới trí thức truyền phát trên khắp cả nước thông qua quần chúng – nếu không có tất cả những cái đó thì các đảng chính trị cấp tiến không thể nào có được sức mạnh đạo đức. Ngay bản thân các đảng ấy cũng được những người trí thức chỉ đạo. Đầu tiên là lời nói. Các đảng đã biến nó thành hành động. Tất nhiên có không ít những trí thức Nga nói chung không muốn lật đổ chế độ, chưa kẻ những người đang làm việc cho nhà nước. Những quan điểm khá đa dạng. Song, tôi xin nhắc lại, tâm trạng phê phán mang tính chất cách mạng mạnh hơn, được tuyên truyền tích cực hơn và có hiệu quả hơn. Berdjaev đã viết rằng Tolstoi chịu trách nhiệm về cách mạng năm 1917 với mức độ như Rousseau đã chịu trách nhiệm về cách mạng Pháp. Tôi cho rằng còn hơn thế (tất nhiên nếu nhìn ở Rousseau và Tolstoi những biểu tượng của ảnh hưởng) bởi vì vào đầu thế kỷ XX có rất nhiều đòn bẩy tác động, nhiều cơ chế chuyển đạt là báo chí đại chúng, các đảng phái chính trị, các tổ chức nghiệp đoàn, các cuộc vận động xã hội khác nhau.

Song cách mạng đã nổ ra. Và giới trí thức Nga đã nếm trải sự thử thách nghiêm trọng nhất trong lịch sử của mình.

Cuộc cách mạng tháng Hai năm 1917 đã làm tăng thêm những sự bất đồng về quan điểm. Những người theo chế độ quân chủ đã trở nên quân chủ hơn và hung bạo hơn (trừ những người hấp tấp đổi mầu thành những người theo chế độ cộng hòa – số những người này cũng không phải là ít). Những người theo chủ nghĩa tự do đã trở nên tự do hơn, còn những người cách mạng thì – cách mạng hơn.

Tuy vậy đa số giới trí thức – điều này trên nguyên tắc không gây nên những cuộc tranh luận trong khoa học – đã hoan nghênh cuộc Cách mạng tháng Hai.

Nhưng mặc dầu những người thắt nơ đã chiếm ưu thế, ngay từ hồi đó đã xuất hiện sự bất đồng chủ yếu giữa giới trí thức và nhân dân. Giới trí thức đã nhìn thấy nhân dân ở một khoảng cách rất gần, và tâm trạng của họ đã thay đổi một cách đáng kể. Không một cuộc cách mạng nào được thực hiện trong những đôi găng tay trắng, được diễn ra dưới những hình thức hàn lâm. Ở Nga, tính chất gay gắt của ý thức giai cấp đã dẫn tới bạo lực, và chuỗi dây xích bạo lực càng ngày càng kéo dài ra và nhuộm máu đỏ lòm. Bạo lực cách mạng không tuân theo những quy luật cũ, đã coi thường chúng và quẳng chúng đi. Về phương diện này bạo lực cách mạng đặc biệt nguy hiểm và không thể được biện minh theo quan điểm đạo đức. Từ những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng Hai đã nổi lên làn sóng giết hại các sĩ quan, các tướng lĩnh, các đô đốc.

Hiện thực cách mạng đã làm cho giới trí thức khiếp sợ. Nhân dân mà giới trí thức đấu tranh vì hạnh phúc, té ra là cứng đầu cứng cổ, hung hãn, muốn phá hủy tất cả những cái cũ và không hề yêu quí và biết ơn đối với “những người mặc áo cổ trắng”. Sự bất đồng về quan điểm của giới trí thức đã chuyển hóa thành sự phân biệt.

Cách mạng tháng Mười đã đưa sự chống đối lên tới những quy mô chưa từng thấy. Sự phân biệt đã trở thành sự thật. Cuộc sống đã hoàn toàn xé toang lớp vỏ lãng mạn của cách mạng. Cách mạng đã hiện ra với những khẩu hiệu vĩ đại và đồng thời lại bị vấy máu, với khát vọng vươn tới sự tiến bộ và với sự bẩn thỉu nhơ nhớp trong thực tế, với những lời lẽ về bình đẳng, tự do, dân chủ và đồng thời trong hình tượng bạo lực và chuyên chế. Trong giới trí thức đã xảy ra những cuộc tranh cãi gay gắt giữa những người chống lại cách mạng một cách không khoan nhượng và những người hăng hái biện hộ cho cách mạng.

Những cuộc tranh luận về thái độ của những tầng lớp trí thức khác nhau đối với cách mạng và về mối tương quan giữa chúng vẫn đang tiếp diễn. Có một công thức do Stalin đề xuất. Theo công thức này, thì những tầng lớp trí thức lớp dưới đón nhận cách mạng, các tầng lớp trung lưu thì dao động còn bộ phận thượng lưu trí thức thì đứng về phía Bạch vệ. Sự thật cho thấy rằng một bộ phận đáng kể của các gọi là các tầng lớp trí thức lớp dưới và trung lưu – các giáo viên quèn, các cán bộ y tế, các viên chức – đã hăng hái chống lại chính quyền Xô Viết. Và ngược lại, nhiều nhà khoa học lớn như Timirjazev, Shternbery, các nhà văn như Blok, Majakovski, Brjusov, các nhà hoạt động sân khấu như Meierhold, Vakhtangov lại đứng về phía Cách mạng. Nhưng dầu sao cũng phải thừa nhận rằng phần lớn những người đại diện cho giới trí thức không chấp nhận Cách mạng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Lê Sơn

Biên tập: Thế Hà

Nguồn: TĐB 96 – 20 & 21