Các khoa học xã hội và quản lý – Phần cuối


Hỏi: Việc quản lý các KHXH và NV được thực hiện như thế nào, nó được thực hiện dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp?

Đáp: Tất nhiên, trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có sự quản lý, kể cả việc phát triển các KHXH và NV. Nhưng tính chất của việc quản lý này đã khác nhiều so với trước đây, khi còn tồn tại lối ra lệnh và áp đặt từ bên trên ấn định phải nghiên cứu những vấn đề, đề tài nào. Giờ đây tình hình đã khác.

Một mặt, Viện HLKH Nga không còn nhận chỉ thị nào của cả Chính phủ lẫn Quốc hội Liên bang cũng như của Tổng thống mặc dù có thể có những mong muốn thể hiện dưới những hình thức có thể gọi là đơn đặt hàng xã hội.

Mặt khác, chúng tôi (ý tôi muốn nói Chủ tịch và Phó chủ tịch Viện HLKH) cũng không ra những chỉ thị trực tiếp cho các Viện nghiên cứu của mình. Họ tự xác định kế hoạch và diện công tác của mình.

Đồng thời chúng tôi có những đòn bẩy và những hình thức ảnh hưởng nhất định tới sự phát triển của các bộ môn KHXH và NV. Tôi xin nêu những điểm chính yếu trong số đó:

+ Các chương trình: được các phân ban đảm nhận có xét đến những đòi hỏi của thời đại và ý kiến của Đoàn chủ tịch Viện HLKH Nga, trong đó có Phó chủ tịch. Ở đây muốn nói đến các chương trình gồm các nghiên cứu phức hợp đồng bộ và quan trọng nhất về những phương hướng cơ bản của KHXH.

Để làm ví dụ, tôi xin dẫn Chương trình đổi mới và phục sinh nước Nga. Chương trình này được thông qua năm 1992, kéo dai trong 5 năm và sẽ kết thúc vào năm 1996. Việc đề ra Chương trình này có sự tham gia của cả 5 phân ban KHXH và NV. Tương tứng với diện nghiên cứu của mình, các công trình được thực hiện trong lĩnh vực sử học, các khoa học kinh tế nhà nước và pháp luật, triết học, xã hội học, tâm lý học, văn học và ngôn ngữ học, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Đó là một hệ phức hợp các đề tài cụ thể. Việc nghiên cứu hệ đề tài này là nhằm, thức nhất, gìn giữ tất cả những giá trị quý giá có ở nước Nga đã được thời gian kiểm nghiệm; thứ hai, xác định lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng; thứ ba, luận chứng cho những phương hướng đổi mới các thiết chế, các quan hệ xã hội và các hệ thống giá trị trong các lĩnh vực khác nhau của đất nước.

Có thể nêu tên nhiều công trình đã hoàn thành. Phân ban Kinh tế học ngay từ năm 1994 đã phối hợp với Quỹ “Cải cách” của Viện sĩ S. Shatalin soạn thảo Báo cáo “Cải cách kinh tế – xã hội ở Nga: tình hình hiện nay và các cách tiếp cận mới”. Nó cho thấy rằng giới khoa học chúng ta đang tư duy về việc tiếp tục tiến hành cải cách mạnh hơn nữa. Nói vắn tắt, thực chất của bản báo cáo cho thấy cần phải thay đổi tương quan ngay trong nội bộ cuộc cải cách nghiêng sang lĩnh vực xã hội, theo hướng tăng cường hơn nữa sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế và chú trọng hơn tới người bình dân. Trong báo cáo có một phần riêng nói về sự quản lý của Nhà nước, trong đó có lĩnh vực công nghiệp.

Năm 1995 đã soạn thảo được một loạt báo cáo nghiên cứu những vấn đề như thực hiện cải cách ruộng đất, giảm chi phí của liệu pháp sốc, làm dịu tình hình c8ang thẳng xã hội trong xã hội, nâng cao mức bảo hiểm xã hội cho người có thu nhập thấp… (cải các về công chính, đối tác xã hội).

Tôi lấy ví dụ chủ yếu là lĩnh vực kinh tế, nhưng trong khuôn khổ của chương trình đã có những báo cáo và nghiên cứu triển khai cả trong những lĩnh vực khác của KHXH và NV.

Dĩ nhiên, cuộc sống đang điều chỉnh các chương trình đã thông qua. Thoạt đầu, nhiều công trình dành cho các nghiên cứu lịch sử, trình bày khách quan hơn lịch sử nước Nga trước Cách mạng, thời kỳ Xô viết… Giờ đây, chúng ta điên thiên hơn sang những vấn đề của ngày hôm nay và một cách nhìn khoa học về ngày mai. Thường xuyên có sự trao đổi ý kiến về những chương trình được thông qua trước đây từ góc nhìn xem chúng có cần phải điều chỉnh và bổ sung không, và thường là chúng ta thấy rằng nhiều điểm phải thay đổi và đổi mới. Và bắt tay làm ngay.

+ Một hướng tác động khác – phối hợp các nghiên cứu khoa học. Công tác này được thực hiện bởi Hội đồng phối hợp các KHXH và NV trực thuộc Phó chủ tịch Viện HLKH. Thành phần Hội đồng gồm những người lãnh đạo tất cả các Phân ban, các Viện trưởng và các nhà bác học lớn – tổng cộng trên 50 – 60 người. Hội đồng nhóm họp thường mỗi tháng một lần và thảo luận không chỉ về tiến độ thực hiện các chương trình, mà cả những vấn đề thời sự phát sinh. Vào cuối năm 1995, một phiên họp thường kỳ đã đề cập đến việc cải cách pháp luật. Chúng tôi đã nghe báo cáo của các nhà luật học về việc đang chuẩn bị hệ quan niệm của nó. Những vấn đề khoa học tầm cỡ, có ý nghĩa thực tiễn lớn như vậy được xem xét một cách thường xuyên. Đồng thời, các quyết nghị của Hội đồng không bị ai áp đặt mà là những khuyến nghị cho các cơ quan khoa học về những phương hướng nghiên cứu có ý nghãi thời sự và có lợi cho họ.

+ Chính sách cán bộ thể hiện thái độ trân trọng đối với cán bộ khoa học dù họ thuộc quan điểm nào, giúp nhà khoa học tự lựa chọn hướng tìm tòi nghiên cứu. Đối với những người không thể thích ứng được với tình hình sau cải tổ thì đành phải hoặc bản thân họ tự thay đổi đề tài, hoặc ra khỏi cơ quan khoa học. Số khác đã bắt đầu nhìn nhận rộng thoáng hơn về thực tế hiện thực. Còn về phương diện định hướng chính trị và thành phần đảng phái của các nhà khoa học thì chúng tôi xuất phát từ chỗ cho rằng đó là việc riêng của mỗi người.

+ Một trong những kênh ảnh hưởng bao giờ cũng là chính sách tài chính. Hiện nay tình hình tài chính của Viện HLKH đang gặp phải khó khăn, do đó nhiều chuyên gia bỏ sang các cơ sở kinh tế tư nhân, điều đó làm suy yếu rất nhiều tiềm lực của chúng ta.

Ngân sách đã thông qua năm 1996 dành cho Viện HLKH là một khoản ít hơn nhiều lần so với trước Cải tổ. Dĩ nhiên không thể tồn tại được bằng số tiền này. Chỉ dám hi vọng là ban lãnh đạo đất nước ý thức được rằng nếu không bảo vệ được nền khoa học và văn hóa thì không thể nâng cao trình độ sản xuất và bình ổn được sự tồn tại của đất nước. Khoa học và văn hóa, cũng như giáo dục – đó là cơ sở của đời sống nhà nước và xã hội. Nếu không có những cái đó, đất nước sẽ chết dần.

Hỏi: Mối liên hệ giữa lý luận khoa học và thực tiễn tùy thuộc nhiều nhất vào tính chất những quan hệ qua lại giữa ban lãnh đạo Viện HLKH với ban lãnh đạo chính trị đất nước. Vậy cấp trên thể hiện mong muốn tích cực đến mức nào có được những kết quả nghiên cứu khoa học về những vấn đề đánh giá tình hình và quản lý nền kinh tế cũng như mọi quá trình xã hội khác? Ở đây mặt nào trôi hơn – tích cực hay tiêu cực?

Đáp: Tôi muốn nói rằng các yếu tố tiêu cực nhiều hơn là tích cực. Những gì chúng tôi chuyển sang cho các cơ quan nhà nước không phải bao giờ cũng được sử dụng. Chúng tôi tính được rằng trong năm 1995, các cơ quan KHXH thuộc Viện HLKH đã trình lên các cơ quan Chính phủ và Nhà nước trên 300 báo cáo, kết quả triển khai, kiến nghị và những văn kiện khoa học khác. Chỉ có một phần rất nhỏ trong số đó (khoảng 5%) được phúc đáp. Vì vậy, có thể cho rằng những quan hệ tiếp xúc ở đây còn yếu.

Nhưng cũng đã có những chuyển biến tốt, trong đó kể cả lĩnh vực các vấn đề quản lý. Đã có những mối liên hệ khá chặt chẽ với Quốc hội Liên bang, trước hết là với Viện Duma Quốc gia. Điều đó đòi hỏi phải có thời gian. Mãi sang đến cuối năm thứ hai làm việc, Viện Duma mới bắt đầu có những “đơn đặt hàng xã hội”: mong muốn, đề nghị giải đáp vấn đề này khác… Các nhà khoa học chúng ta cùng với các đại biểu Viện Duma đã tham gia tích cực vào việc nghiên cứu các dự luật.

Còn về sự liên hệ với Chính phủ thì nó chỉ mang tính chất mật thiết hơn ở cấp cao nhất. Người đứng đầu Chính phủ thường xuyên tiếp xúc với Đoàn chủ tịch Viện HLKH cũng như với Chủ tịch Viện HLKH Nga là người thường xuyên ở Đoàn chủ tịch Chính phủ Liên bang Nga.

Ở cấp thấp hơn, mối liên hệ ngược còn rất yếu. Vậy mà trong quản lý, nó là yếu tố quan trọng nhất. Các nhà khoa học cần được biết công việc của mình có kết quả đến mức nào.

Hỏi: Xin được hỏi ông với tư cách là một chuyên gia lớn trong lĩnh vực luật học: hiện nay những tiền đề pháp lý của việc quản lý nhà nước đã được nghiên cứu đến đâu rồi?

Đáp: Tôi có thể nói rằng những vấn đề này được nghiên cứu chưa được bao nhiêu. Điều này liên quan đến sự biến động của đời sống xã hội và quan điểm về vai trò của Nhà nước trong việc lãnh đạo xã hội.

Khi diễn ra quá trình cải tổ và nhóm người mà chúng ta gọi là phái dân chủ lên cầm quyền, trong lĩnh vực nhà nước trên nhiều mặt đã bắt đầu phục hồi quan điểm của các nhà khoa học châu Âu thế kỷ XVII – XVIII. Theo quan niệm thời đó, Nhà nước phải là một “người gác đêm”, tức chỉ có chức năng giữ gìn sự bình yên của công dân, chứ không can thiệp vào việc gì, lại càng không lãnh đạo việc gì hết. Những quan niệm như thế đã làm suy yếu rất nhiều vai trò của quản lý nhà nước. Nó trùng hợp và thậm chí tôi còn muốn nói là đã dẫn đến tình trạng ở các khu vực đã dân lên làn sáng phân lập và bắt đầu “cuộc chiến tranh về luật”: các bộ luật liên bang hoàn toàn không còn được nhìn nhận nữa và các khu vực bắt đầu theo các quy phạm riêng của mình. Sự việc đôi khi còn đi đến chỗ cực đoan thái quá. Một số thống đốc sẵn sàng đặt ra những bộ luật hình sự riêng cho vùng mình cai quản. Ở đây tôi luôn nhớ đến V.I. Lenin, nói rằng không nên có chế độ luật pháp của Kaluga hay của Kazan mà phải là một chế độ luật pháp thống nhất toàn Nga. Điều đó lúc đó đúng và bây giờ vẫn đúng. Để quản lý được đất nước, đó là yêu cầu tối thiểu, song hiện thời, đáng tiến, nó vẫn chưa được thực hiện.

Đã có những nỗ lực về mặt này, nhưng chưa đưa lại những kết quả hữu hiệu. Mới đây thôi đã có ý kiến đề nghị đề ra quan niệm cải cách luật pháp, xem đây là một yếu tố quan trọng để quản lý đất nước. Bởi vì hiện nay, quan hệ của Liên bang với các chủ thể vẫn chưa được xác lập ổn định và đây là một trong những vấn đề cấp bách của giới luật học, xã hội học và chính trị học. Nó càng đặc biệt quan trọng ở một nước lớn như Nga, là nước mà việc quản lý ở từng khu vực là cái chiếm một vị trí đáng kể.

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 97 – 04

Advertisements

Các khoa học xã hội và quản lý – Phần đầu


Trong điều kiện cải cách và đặc biệt là tìm cách thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, cái đóng vai trò quan trọng ở đây không chỉ riêng khoa học kinh tế và khoa học quản lý, mà còn cả các khoa học xã hội khác. Trong số đó có khoa học pháp lý, xã hội học và tất cả các ngành đại diện cho khoa học nhân văn. Trong hệ thống Hàn lâm khoa học (HLKH) Nga, các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể của khoa học xã hội và khoa học nhân văn được tập trung trong 5 ban: Sử học; Triết học, xã hội học, tâm lý học và luật học; Kinh tế học; Văn học và ngôn ngữ học; Những vấn đề kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế. Từ năm 1988, việc phối hợp hoạt động của các ban trên là trọng trách của Phó chủ tịch Viện HLKH Nga Vladimir Kudrjavcev, Viện sĩ, Tiến sĩ luật học, Giáo sư, một nhà bác học lớn trong lĩnh vực nhà nước và pháp luật, lý luận về luật hình sự và hình pháp, lý luận và xã hội học pháp luật, một nhà tổ chức khoa học và hoạt động xã hội nổi tiếng. Ông đã nhiều năm lãnh đạo Viện Nhà nước và Pháp luật và hiện là Viện trưởng danh dự của Viện này; ông còn là Chủ tịch Hội đoàn kết và hợp tác giữa các dân tộc Á – Phi của Nga; Chủ tịch tiểu ban Chuyên trách những vấn đề khoa học, giáo dục và văn hóa của Ủy ban phối hợp thực hiện hợp đồng đồng thuận xã hội trực thuộc Tổng thống Liên bang Nga; Ông cũng kiêm nhiệm nhiều công tác xã hội khác. Nhằm làm rõ vai trò của các khoa học xã hội và nhân văn trong những điều kiện phát triển hiện nay của nước Nga và đặc biệt là tác động quản lý của các khoa học này tới các quá trình đang diễn ra trong xã hội, Tiến sĩ tiết học, Giáo sư Vadim Semenov đã phỏng vấn Vladimir Kudrjavcev, xin ông trả lời một loạt câu hỏi.

Hỏi: Vladimir Nicolaevich, xin ông cho biết ý kiến của mình về sự phát triển của các KHXH ở Nga trong thời kỳ cải cách. Theo ý ông, có những mặt tích cực và tiêu cực nào?

Đáp: Theo tôi, rõ ràng là các KHXH đã và đang tiếp tục khủng hoảng. Sự khủng hoảng này mang tính chất tư tưởng, tổ chức, cán bộ và tài chính.

Trước hết tôi muốn nói tới mặt tư tưởng. Đã giải phóng được các KHXH khỏi sự lãnh đạo cứng nhắc của Đảng, khỏi hệ tư tưởng độc đoán duy nhất. Các quan điểm và các đánh giá của nhiều nhà khoa học đã bắt đầu mang tính hiện thực và đa nguyên.

Đa nguyên đã thể hiện qua ba hướng:

Thứ nhất, tự do xét đoán về những vấn đề khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có cả chính trị; điều này có thể thấy qua nhiều công trình của các nhà KHXH. Họ phê phán các quá trình mà không e ngại và không bị trói buộc gì hết.

Thứ hai, mở rộng tầm nhìn của các nhà khoa học xã hội nhờ sử dụng tích cực hơn sách báo, tài liệu của thế giới, khoa học thế giới. Tôi muốn nói là về phương diện này, tạp chí “Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý” cũng nêu một tấm gương tốt vì đây là một tạp chí quốc tế thường xuyên đăng bài không chỉ của các nhà khoa học nổi tiếng của Nga, mà của cả các học giả nước ngoài có những quan điểm khác nhau. Đến nay, quá trình này đã bao trùm toàn bộ các KHXH.

Thứ ba, phục hồi thanh danh của các nhà khoa học Nga thời trước Cách mạng và thời Xô viết có các công trình cho mãi đến gần đây vẫn chưa được công bố.

Tuy nhiên, không phải mọi sự đều diễn ra suôn sẻ. Ban đầu đã có một sự hoang mang nhất định. Nhiều nhà nghiên cứu không biết nên xử sự thế nào, nên làm gì. Giờ đây, ở mức độ đáng kể, điều đó đã qua. Đã thấy xuất hiện nhiều tên tuổi mới, nhiều người viết mới viết một cách tự do.

Hỏi: Trong sự phát triển của khoa học, lý lậun có một ý nghĩa to lớn. Ở đây có thể nhận định điều gì là tích cực, và điều gì còn chưa ổn?

Đáp: Cái tích cực là bước chuyển sang tư duy đa nguyên. Các nhà lý luận của chúng ta đã bắt đầu thảo luận rộng rãi các vấn đề và nói ra những ý kiến mà trước đây không được chấp nhận ở ta. Lý luận đã có những phương hướng và cách tiếp cận mới. Chẳng hạn, nếu trong lĩnh vực các khoa học lịch sử, triết học, xã hội học trước đây mọi cái đều quy về các hình thái lịch sử xã hội, phân chia xã hội và thế giới quan điểm hình thái thì giờ đây, các nhà KHXH đang sử dụng rộng rãi cách tiếp cận theo quan điểm các nền văn minh, tức là xem xét quá trình xã hội như là một sự thay đổi thế nhau của các nền văn minh có tính chất khác nhau – cả về mặt địa chính trị lẫn về mặt tinh thần.

Gắn liền với nó là việc khắc phục được quan điểm mà tôi tạm gọi là “kinh tế” khi nhìn nhận sự vật, trong đó không đánh giá đúng ý nghĩa các quan hệ xã hội và con người. Ngày nay, kinh tế, với tất cả ý nghĩa của nó, ngày càng được xem xét kỹ hơn trong mối liên hệ qua lại mật thiết và sự tương tác biện chứng với các mặt khác của sự phát triển xã hội, đặc biệt là các mặt xã hội, tinh thần, đạo đức, tâm lý.

Hỏi: Với tư cách là Phó chủ tịch, ông thỏa mãn đến mức nào về sự phát triển của các khoa học kinh tế và quản lý? Các khoa học này có tác động hiện thực tới thực tiễn không?

Đáp: Đáng tiếc là điều chúng ta từng nói về những thay đổi trong lĩnh vực lý luận vẫn chưa đi vào thực tiễn của các khoa học này và của cả hoạt động xã hội nói chung, chưa đi vào thực tiễn xây dựng nhà nước và các quyết định chính trị. Nếu các nhà lý luận trong lĩnh vực KHXH đã hiểu được rằng nhân tố động lực phát triển không chỉ là các quá trình kinh tế và còn cần phải xét đến những chuyển biến chính trị, đến đời sống tinh thần của xã hội, tâm lý của mọi người, thì nhiều nhà thực tiễn của chúng ta, đặc biệt là trong hoạt động kinh tế, theo tôi, vẫn còn chưa ý thức được điều đó.

Chẳng hạn, chiếm ưu thế là ý kiến cho rằng bằng con đường thông qua các giải pháp theo kiểu duy tiền tệ khác nhau, bằng những thủ thuật tài chính có thể vực đất nước đứng dậy được. Nhưng rõ ràng là muốn thế còn cần phải xét đến cả tâm lý của người dân, cả tình trạng đạo đức, tâm lý và văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của chữ này. Song những nhân tố quan trọng bậc nhất này thường chưa được lưu ý đến.

Hỏi: Ông cho những triển khai nào của các Viện nghiên cứu kinh tế trong những năm gần đây là quan trọng nhất, xét trên bình diện lý luận và thực tiễn?

Đáp: Theo tôi, lúc này quan trọng là các công trình triển khai luận chứng cho những đề nghị tiến hành cải cách dựa trên cơ sở phân tích đồng bộ toàn bộ đời sống xã hội, có xét đến trước hết là những vấn đề xã hội, đến hợp phần tinh thần và văn hóa của nó.

Chớ nên chỉ nghĩ đến quá trình sản xuất, các ngân hàng và nguồn tài chính. Trước hết phải nhớ đến con người. Những nghiên cứu loại này đã bắt đầu xuất hiện trong các viện nghiên cứu kinh tế của chúng ta. Chẳng hạn, có thể nhắc đến Viện những vấn đề kinh tế – xã hội cư dân (Viện trưởng là N. Rimashevskaja) đã chuẩn bị được một chương trình phức hợp phát triển xã hội. Chương trình này đưa lại nhiều cái mới trong việc hiểu các quá trình đang diễn ra trong lĩnh vực xã hội và đồng thời trong đó còn đưa ra những khuyến nghị thực tiễn nhằm cải cách nền kinh tế có tính đến các nhu cầu của dân, của nhiều tầng lớp dân cư khác nhau. Đó là điều trước kia chưa từng có, mắc dù cũng phải nói rằng khởi xướng là T. Zaslavskaja và R. Rybkin – là những người đã nghiên cứu hành vi kinh tế của con người.

Hành vi kinh tế, theo tôi hình dung, biểu hiện ở chỗ con người cụ thể hiện thực hóa xu thế nào của sự vận động xã hội trong đời sống thường nhật. Phải nghiên cứu xem con người hướng đến cái gì, động cơ thúc đẩy nó hành động, lợi ích mà con người chưa bằng lòng, cái gì áp bức nó. Mảng vấn đề này trước đây không được nghiên cứu. Thường là người ta đi nghiên cứu nền sản xuất chứ không phải con người.

(còn tiếp) 

Người dịch: Ngô Thế Phúc

Nguồn: TĐB 97 – 04

Trí tuệ mù lòa – Phần cuối


Chúng ta đang tiếp cận một đột biến chưa từng có trong lĩnh vực tri thức: tri thức càng ngày càng không phải sinh ra để có thể suy tư về nó và để có thể bàn luận về nó bằng tâm trí của con người, càng ngày nó càng sinh ra để trở thành vết hằn trong các bộ nhớ của máy tính và được điều khiển bởi những quyền năng vô danh, mà đứng đầu là các Nhà nước. Vậy mà bản thân sự không hay biết mới lạ, kếch sủ và khác thường này lại cũng không được các nhà bác học nhận ra. Những người này trên thực tế không làm chủ được những hệ quả các khám phá của họ, và thậm chí bằng trí tuệ, họ cũng không kiểm soát nổi ý nghĩa và bản chất của những công trình nghiên cứu ấy.

Các vấn đề nhân văn không những bị phó mặc cho thứ chủ nghĩa ngu dân khoa học đang sản sinh ra những chuyên gia dốt nát, mà còn bị phó mặc cho những học thuyết trì độn mang tham vọng độc quyền về tính khoa học (mà theo chủ thuyết marxist của Althusser thì đó là thứ chủ nghĩa kinh tế trị [éconocratisme] tự do) cho những ý niệm “khóa chốt” vừa nghèo nàn lại vừa có tham vọng mở tung được mọi cánh cửa (của khát vọng, của mô phỏng [mimesis], của hỗn độn…), cứ hệt như chân lý đã được khóa chặt trong một cái rương mà giờ đây ta chỉ cần có chìa khóa là mở ra được, và cứ như thứ chủ thuyết lược khảo [essayisme] không được kiểm chứng đang cùng chia sẻ lãnh địa với thứ chủ thuyết khoa học [scientisme] hạn hẹp.

Tiếc thay, nhãn quan cắt xén và phiến diện thường xuyên phải trả một giá rất đắt khi được áp dụng cho các hiện tượng nhân văn: sự cắt xén đã cắt da xẻo thịt, đã làm đổ máu, đã gieo rắc nỗi thống khổ. Sự bất lực trong việc nhận ra được tính phức hợp của thực tại nhân học – xã hội, ở chiều cạnh vi mô của nó (con người cá thể) và chiều cạnh vĩ mô của nó (nhân loại toàn hành tinh), đã dẫn đến những thảm cảnh bất tận và dẫn ta đến với bi kịch của ngày tận diệt. Người ta nói rằng chính trị “phải” được đơn giản hóa và “phải” minh bạch [manichéenne]. Theo cách hiểu mang tính thao tác sử dụng những xung năng mù quáng thì đúng là như vậy. Nhưng bản thân chiến lược chính trị lại đòi hỏi một tri thức phức hợp, bởi vì chiến lược luôn được tiến hành gắn liền với bất định và chống lại cái bất định, cái rủi ro, gắn liền và chống lại tác động đa dạng của những tương tác và những tác động phản hồi.

Tính tất yếu của tư duy phức hợp

Phức hợp là gì? Trước hết, phức hợp là một sự đan dệt (complexus có nghĩa nguyên thủy là đan dệt với nhau) của những bộ phận cấu thành dị biệt gắn bó chặt chẽ với nhau: nó phơi bày nghịch lý giữa cái một và cái nhiều. Thứ đến, một cách cụ thể, phức hợp là sự đan dệt của những sự kiện, những hành động, những tương tác, những phản tác dụng, những xác quyết, những rủi ro, tất thảy những gì tạo dựng nên thế giới hiện tượng của chúng ta. Tuy nhiên, phức hợp lại hiện diện kèm với những đặc tính đáng lo ngại của nó như sự hỗn độ, rối ren, vô trật tự, mơ hồ, bất định… Do đó, đối với tri thức, cần lập lại trật tự cho các hiện tượng, bằng cách đẩy lùi cái vô trật tự, tránh xa sự bất định, tức là chọn lựa ra những yếu tố có trật tự và tất định, không mơ hồ, những yếu tố rành mạch, phân minh, có thứ bậc… Nhưng những thao tác cần thiết đối với sự nhận biết một cách suôn sẻ như vậy lại có nguy cơ gây ra chứng mù lòa nếu như chúng loại bỏ các đặc tính khác của cái phức hợp; và trên thực tế như tôi đã chứng minh, đúng là chúng đã biến chúng ta thành mù lòa.

Thế nhưng trong khoa học, phức hợp đã quay lại với chúng ta bằng đúng con đường mà nó từng bị xua đuổi. Bằng việc ra sức bộc lộ Trật tự hoàn hảo của thế giới, bộc lộ quyết định luận tuyệt đối và vĩnh cửu của nó, sự tuân thủ của nó vào một Quy Luật duy nhất và cấu trúc nguyên khởi giản đơn của nó (nguyên tử), chính sự phát triển của khoa học vật lý rốt cuộc lại dẫn tới tính phức hợp của thực tại. Trong vũ trụ vật lý, người ta đã khám phá ra nguyên lý xuống cấp (như cơ thể bị mất máu), tính vô trật tự (nguyên lý thứ hai của nhiệt động học); tiếp đó, thay vào vị trí được giả định về tính đơn giản vật lý và logic, người ta đã phát hiện ra tính phức hợp cực độ của thế giới vi mô; hạt không phải là viên gạch đầu tiên mà là biên giới để bước sang một thế giới phức hợp có thể không ai nhận thức được; vũ trụ không còn là một cỗ máy hoàn hảo mà là một quá trình trên con đường vừa đang phân rã vừa đang tự tổ chức.

Cuối cùng, người ta dường như nhận ra rằng sự sống không phải là một thể chất [substance], mà là một hiện tượng tự-tổ-chức-sinh-thái [auto-eco-organisation] vô cùng phức hợp sản sinh ra tính tự trị [autonomie]. Từ đó suy ra một điều hiển nhiên rằng những hiện tượng nhân học – xã hội hẳn không thể tuân theo các nguyên lý không mấy phức hợp về tính rõ ràng dễ hiểu mà xưa giờ đã được ấn định cho các hiện tượng tự nhiên. Chúng ta không nên né tránh hoặc che giấu, mà phải đối mặt với tính phức hợp củ nhân học – xã hội.

Cái khó của tư duy phức hợp là nó phải đối đầu với sự hỗn độn (cuộc chơi bất tận của những tương tác và những tác động phản hồi), đối đầu với sự liên kết chặt chẽ giữa các hiện tượng với nhau, đối đầu với sự xáo trộn, sự bất định, với mâu thuẫn. Nhưng chúng ta có thể tạo ra được một vài công cụ khái niệm, một vài nguyên lý đáp ứng cho cuộc phiêu lưu này, và chúng ta đã có thể mường tượng được khuôn hình của một chuẩn thức mới về tính phức hợp mà sớm muộn buộc phải lộ diện.

Trong hai tập của bộ Phương pháp, tôi đã chỉ ra một vài công cụ khái niệm mà ta có thể sử dụng. Như vậy là, ta cần phải thay chuẩn thức chia tách/quy giản/thiên về một chiều [disjonction/reduction/unidimentionnalisation] bằng một chuẩn thức phân biệt/nối kết, cho phép phân biệt nhưng không tách rời, kết hợp nhưng không đồng nhất hoặc không quy giản. Chuẩn thức này tuân theo nguyên lý đối hợp logic [dialogique] và xuyên logic [translogique], tích hợp trong nó cả logic cổ điển lẫn sự ý thức về các giới hạn thực tế [de facto] (vấn đề mâu thuẫn) và giới hạn hợp thức [de jure] (các giới hạn mang tính hình thức) của nó. Nó chứa trong mình nguyên lý của cái một với cái nhiều, một nguyên lý thoát ra ngoài Tính Thống Nhất trừu tượng cả ở tầm cao (cách nhìn duy toàn [holisme]) lẫn ở tầm thấp (cách nhìn quy giản [réductionisme]).

Ở đây tôi không chú tâm liệt kê những đòi hỏi kiểu “giáo luật” của tư duy phức hợp mà tôi đã cố làm rõ. Điều cần làm là phải nhạy cảm với những lỗ hổng lớn trong tư duy của chúng ta và hiểu được rằng một tư duy cắt xén tất yếu sẽ dẫn tới những hành động cắt xén. Cần phải ý thức rõ bệnh lý hiện nay của tư duy.

Bệnh lý xưa kia của tư duy đã trao cho những huyền thoại và các vị thần mà nó sinh ra một đời sống độc lập. Bệnh lý hiện đại của tâm trí nằm ở việc siêu đơn giản hóa đang che kín tính phức hợp của thực tại. Bệnh lý của tư tưởng nằm ở quan điểm duy tâm luôn dùng ý niệm để che đậy thực tại mà nó có nhiệm vụ phải diễn giải và chỉ coi ý niệm là duy nhất có thực. Căn bệnh của lý thuyết nằm ở quan điểm lý quyền chủ thuyết [doctrinarisme] và quan điểm giáo điều, khép kín lý thuyết vào chính nó và “hóa thạch” nó. Bệnh lý của lý tính là sự duy lý hóa tìm cách khép thực tại vào một hệ thống ý niệm nhất quán nhưng thiên vị và đơn điệu; quan điểm duy lý hóa như vậy không biết rằng một phần của thực tại hoàn toàn có thể là phi duy lý và đối thoại với cái khả phi lý [irrationalisable].

Chúng ta vẫn hãy còn là những kẻ mù lòa về vấn đề phức hợp. Những cuộc tranh cãi về tri thức luận giữa Popper, Kuhn, Lakatos, Feyerabend,… đã bỏ hẳn qua vấn đề này. Vì rằng sự mù lòa này là một phần trong tình trạng bán khai của chúng ta. Nó làm cho ta hiểu rằng ta vẫn chưa thoát khỏi kỷ nguyên bán khai của tư tưởng. Chúng ta hãy còn ở thời kỳ tiền sử của tâm trí loài người. Chỉ duy có tư duy phức hợp mới khai hóa được tri thức của chúng ta mà thôi.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:Edgar Morin – Nhập môn tư duy phức hợp – NXB TT 2009.

Trí tuệ mù lòa – Phần đầu


Sự nhận biết [La prise de conscience]

Chúng ta đã thu nhận được những tri thức vô song về thế giới vật lý, sinh học, tâm lý học, xã hội học. Khoa học ngày càng khuếch trương sự ngự trị của các phương pháp kiểm chứng kinh nghiệm và logic. Ánh sáng của Lý Tính dường như đã nhấn chìm tâm trí huyền thoại và u minh xuống tận đáy sâu. Vậy mà đâu đâu, sự lầm lạc, sự ngu dốt, sự mù lòa vẫn luôn song hành với những tri thức của chúng ta.

Chúng ta cần nhận biết một cách triệt để rằng :

1/ Nguyên nhân sâu xa của sai lầm không nằm ở những sai lầm về sự kiện (tri giác sai) hoặc sai phạm về logic (không nhất quán), mà nằm chính ở phương cách tổ chức tri thức của chúng ta thành hệ thống các ý niệm (các lý thuyết, các hệ tư tưởng) ;

2/ Có một sự dốt nát mới gắn liền với quá trình phát triển của bản thân khoa học ;

3/ Có một sự mù lòa gắn liền với việc sử dụng đã xuống cấp của lý tính ;

4/ Những nguy cơ nghiêm trọng nhất mà loài người đang phải hứng chịu luôn gắn liền với sự tiến bộ mù quáng và không được kiểm soát của tri thức (vũ khí nhiệt hạch, các mưu toan thao túng ở mọi giác độ, sự suy thoái sinh thái,…).

Tôi muốn chứng minh rằng những sai lầm, những ngu dốt, những hành động mù quáng, những hiểm họa đều có một tính chất chung, đó là kết quả của một phương thức cắt xén trong tổ chức tri thức, khiến ta không còn khả năng nhận ra và lĩnh hội được tính phức hợp của thực tại.

Vấn đề tổ chức tri thức

Mọi tri thức đều vận hành theo lối chọn lựa những dữ kiện có ý nghĩa và vứt bỏ những dự kiện không có ý nghĩa : phân tách (phân biệt hoặc chia tách) và hợp nhất (kết nối, đồng nhất) ; phân cấp (chính, phụ) và định tâm (vào một hạt nhân các khái niệm chủ đạo). Với việc sử dụng logic, các thao tác này trên thực tế bị chi phối bởi các nguyên lý « siêu logic » trong việc tổ chức tư duy, hoặc các chuẩn thức [paradigme]. Đó là những nguyên lý bí ẩn chi phối nhãn quan của chúng ta về sự vật và về thế giới mà ta phải tuân theo một cách vô ý thức.

Bởi vậy, vào một thời điểm khó ấn định nào đó trong bước quá độ từ nhãn quan địa tâm (theo thuyết của Ptolémée) sang nhãn quan nhật tâm (theo thuyết của Copernic), sự đối lập giữa hai nhãn quan trước hết nằm ở nguyên lý lựa chọn/vứt bỏ các dữ kiện : những người theo thuyết địa tâm vứt bỏ những dự kiện không có khả năng giải thích được theo quan điểm của họ, coi chúng là không có ý nghĩa, trong lúc đó thì những người phía bên kia lại dựa vào cơ sở những dữ kiện này để thai nghén ra hệ thống nhật tâm. Hệ thống mới cũng chứa đựng cùng những yếu tố cấu thành như hệ thống cũ (các hành tinh) và sử dụng nhiều những phương pháp tính toán cũ. Nhưng toàn bộ nhãn quan về thế giới đã thay đổi. Phép hoán vị đơn giản giữa Trái đất và Mặt trời ở đây còn ý nghĩa hơn là một phép hoán vị, bởi vì nó đã biến tâm điểm (Trái đất) thành một yếu tố ngoại biên, và một yếu tố ngoại biên (Mặt trời) thành tâm điểm.

Hãy lấy một ví dụ nằm ngay ở trung tâm những vấn đề nhân học – xã hội của thế kỷ chúng ta : ví dụ về hệ thống trại tập trung (Goulag) ở Liên Xô. Cứ cho là chấp nhận được, thì trên thực tế Goulag vẫn có thể bị gạt ra ngoài lề của chế độ xã hội chủ nghĩa Xô viết như một hiện tượng tiêu cực phụ và có tính nhất thời, mà về cơ bản nhằm đối phó với sự bao vây của chủ nghĩa tư bản và những khó khăn trong thời kỳ đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vào thời kỳ đó, trái lại người ta đã có thể coi Goulag như hạt nhân trung tâm của hệ thống, làm rõ bản chất toàn trị của hệ thống ấy. Do vậy người ta có thể nhận ra rằng, tùy cách tiến hành tập trung, phân chia giai tầng, chia tách hoặc đồng nhất hóa, mà nhãn quan về Liên Xô có thể hoàn toàn thay đổi.

Ví dụ này chứng minh cho ta thấy rằng rất khó suy xét một hiện tượng như « bản chất của Liên Xô ». Không phải là bởi vì các ý tưởng của chúng ta bị chi phối bởi những định kiến, những « đam mê », những quyền lợi, mà bởi vì chúng ta không có đủ các phương tiện để nhận thức được tính phức hợp của vấn đề. Điều đáng nói ở đây là phải tránh việc đồng nhất một cách tiên nghiệm (dẫn đến sự quy giản khái niệm Liên Xô thành khái niệm Goulag) cũng như tránh việc chia tách một cách tiên nghiệm khái niệm chủ nghĩa xã hội Xô viết với khái niệm hệ thống trại tập trung, khiến cái này trở nên xa lạ đối với cái kia. Để làm được việc đó, trước tiên cần phải ý thức được bản chất và những hệ quả của các chuẩn thức đang cắt xén tri thức và bóp méo thực tại.

Bệnh lý của tri năng [savoir], trí tuệ mù lòa

Chúng ta đang sống dưới sự thống trị của những nguyên lý chia tách tuyển chọn, quy giảntrừu tượng mà gộp chung lại tôi gọi là « chuẩn thức đơn giản hóa » [paradigme de simplification]. Descartes đã xây dựng chuẩn thức chủ đạo này của phương Tây bằng việc chia tách chủ thể tư duy (ego cogitans) với vật quảng tính (res extensa), tức là chia tách triết học với khoa học và coi những ý niệm « tỏ tường và tách biệt » như nguyên tắc của chân lý, có nghĩa là chính tư duy chia tách. Chuẩn thức này đã dẫn dắt cuộc phiêu lưu của tư duy phương Tây suốt từ thế kỷ XVII và rõ ràng đã mang lại những bước tiến vĩ đại về tri thức khoa học và về suy tư triết học ; những hệ quả độc hại sau rốt của nó chỉ bắt đầu bộc lộ vào thế kỷ XX.

Một sự chia tách khiến cho những giao tiếp giữa tri thức khoa học và suy tư triết học trở nên nghèo nàn như vậy hẳn rốt cuộc đi đến chỗ tước đi của khoa học khả năng tự nhận ra mình, tự suy tư, và thậm chí cả khả năng tự suy xét bản thân mình một cách khoa học. Còn nữa, nguyên lý chia tách đã cô lập một cách triệt để ba lĩnh vực lớn của tri thức khoa học với nhau : vật lý học, sinh học, khoa học về con người.

Có một cách cứu vãn duy nhất đối với sự chia tách thì lại là một lối đơn giản hóa khác : quy giản cái phức hợp thành cái đơn giản (quy giản cái sinh học thành cái vật lý, cái nhân bản thành cái sinh học). Một quá trình siêu chuyên biệt hóa vậy là đã xé nát và băm vụm tấm dệt phức hợp của thực tại và làm cho mọi người tưởng rằng những mảnh cắt tùy tiện được tiến hành đối với thực tại chính là bản thân thực tại. Đồng thời, lý tưởng của tri thức khoa học cổ điển là, đằng sau tính phức hợp bề ngoài của các hiện tượng, phát hiện được Trật Tự hoàn hảo đang điều hành một cỗ máy vĩnh cửu (vũ trụ), mà bản thân cỗ máy đó lại được làm nên từ những phần tử vi mô (các nguyên tử) kết hợp lại với nhau thành những vật thể và những hệ thống.

Sự chặt chẽ và tính hiệu quả của một tri thức như vậy hiển nhiên là phải dựa vào sự đo đếm và tính toán ; nhưng càng ngày, việc toán học hóa và hình thức hóa làm tiêu tan các bản thể và những cái thực tồn để coi thực tại duy nhất chỉ còn là những công thức và phương trình đang chi phối cái thực thể đã được lượng hóa. Rốt cuộc, tư duy đơn giản hóa không còn khả năng nhận ra được sự nối kết của cái một với cái nhiều (unitas multiplex). Hoặc nó hợp nhất một cách trừu tượng bằng việc hủy bỏ tính đa dạng, hoặc ngược lại, nó chồng ghép tính đa dạng mà không nhận ra được tính thống nhất.

Do đó mà dẫn đến trí tuệ mù lòa. Trí tuệ mù lòa phá hủy các tập hợp và các tổng thể, nó cô lập các đối tượng của chúng với môi trường của chúng. Nó không nhận ra được mối liên hệ không thể tách rời giữa người quan sát và sự vật được quan sát. Những thực tại mấu chốt bị phân hủy. Những thực tại này bị thoát biến qua các kẽ hở giữa các ngành chuyên môn. Các bộ môn của khoa học nhân văn không còn cần đến khái niệm con người nữa. Rồi từ đó các nhà mô phạm mù quáng đã đi đến kết luận rằng con người không thực tồn mà chẳng qua chỉ là một ảo giác. Trong khi các phương tiện truyền thông đại chúng sản sinh ra hạ tầng của sự ngu hóa [crétinisation] thì Trường Đại học lại sản sinh ra sự ngu hóa ở trình độ cao. Phương pháp luận đang chi phối mọi thứ đã sản sinh ra một thứ chủ nghĩa ngu dân ngày một lớn mạnh, bởi vì không còn có sự kết nối giữa các yếu tố rời rạc của trí năng nữa, không còn khả năng làm chúng hằn sâu vào trí não [engrammer] và khả năng suy tư về chúng nữa.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:Edgar Morin – Nhập môn tư duy phức hợp – NXB TT 2009.

Sáng tạo tri thức – Phần cuối


Và có một điều lưu ý là lợi ích của “sự hỗn loạn mang tính sáng tạo” chỉ có thể được nhận ra khi các nhân viên trong công ty có khả năng tự quy chiếu, phản ánh hành động của mình. Nếu không có tư duy phản biện, sự xáo trộn có xu hướng dẫn tới sự hỗn loạn mang tính tiêu cực. Khi một người biết phản biện trong lúc hành động, anh ta trở thành một nhà nghiên cứu trong bối cảnh thực tiễn. Anh ta không phụ thuộc vào những phân loại của lý thuyết hay công nghệ đang có sẵn, mà tự xây nên một lý thuyết từ một trường hợp duy nhất. Các tổ chức cần thể chế hóa “sự phản biện trong khi hành động” này vào trong tổ chức của họ để sự hỗn loạn thực sự được mang nghĩa “sáng tạo” và tích cực.

Sự hỗn loạn đôi khi được tạo ra hoàn toàn độc lập với triết lý của lãnh đạo cấp cao. Một thành viên trong tổ chức có thể tự đặt ra mục tiêu cao hơn cho chính mình, so với những mục tiêu chung của nhóm mà anh ta trực thuộc. Những mục tiêu cao hơn bình thường, cho dù là được đưa ra bởi quản lý cấp cao hay những cá nhân trong công ty, đều làm tăng sự tận tụy của các cá nhân đối với công việc.

Tóm lại, sự xáo trộn trong tổ chức có thể kích hoạt tạo ra sự hỗn loạn mang tính sáng tạo, giúp tạo nên và tăng cường sự tận tâm của các cá nhân. Trong quá trình vận hành thực tế hằng ngày, các thành viên trong tổ chức thường không phải đối mặt với những tình huống xáo trộn, hỗn loạn. Nhưng ví dụ củ công Công ty Nissan cho thấy lãnh đạo cấp cao có thể tạo ra sự xáo trộn một cách có chủ ý và cho phép “những sự lập lờ có thể giải thích được” xuấ thiện ở tất cả các cấp độ nhân viên phía dưới. Sự lập lờ này là một cú hích giúp các nhân viên thay đổi cách suy nghĩ cố hữu của họ. Nó cũng giúp làm lộ ra những tri thức ẩn.

3.4/ Điều kiện thứ tư: Sự dư thừa

Sự dư thừa (Redundancy) là điều kiện thứ tư giúp vòng xoắn ốc tri thức có thể phát triển được trong các tổ chức. Đối với những nhà quản lý phương Tây, những người luôn bận rộn với các ý tưởng về việc làm sao để xử lý thông tin một cách hiệu quả hay giảm thiểu những nhân tố không chắc chắn, cụm từ “dư thừa” nghe có vẻ không hợp lý bởi những hàm nghĩ về sự dư thừa không cần thiết, lãng phí hay chồng chéo thông tin. Nhưng những gì mà các học giả Nhật Bản muốn đề cập đến sự dư thừa, đó là sự tồn tại của những thông tin đi xa hơn so với những yêu cầu đòi hỏi công việc hiện tại của các thành viên. Trong các tổ chức doanh nghiệp, sự dư thừa ngụ ý tới sự chồng chéo một cách có chủ ý những thông tin về hoạt động kinh doanh, trách nhiệm quản lý nói riêng và thông tin về cả công ty nói chung.

Để hoạt động sáng tạo tri thức trong tổ chức được diễn ra, một ý tưởng được tạo ra bởi một cá nhân hay một nhóm cần được chia sẻ với các cá nhân khác cho dù cá nhân đ1o chưa thấy ý tưởng đó là cần thiết đối với mình ngay lúc này. Chia sẻ những thông tin dự phòng khích lệ quá trình chia sẻ tri thức ẩn, vì các cá nhân có thể cảm nhận những gì người khác đang cố làm rõ ràng. Theo cách lý giải này, thì sự dư thừa thông tin đẩy nhanh tốc độ phát triển của quá trình sáng tạo tri thức. Sự dư thừa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phát triển ý tưởng bởi nó là yếu tố quan trọng giúp làm rõ những hình ảnh bắt nguồn từ tri thức ẩn. Ở giai đoạn này, các thông tin dự phòng giúp các cá nhân vượt qua những ranh giới chuyên môn nghiệp vụ của nhau để đưa những lời khuyên hoặc cung cấp thông tin từ những góc nhìn khác cho người trong cuộc. Tóm lại, những thông tin dự phòng này mag lại một cách học mới, bằng cách “xâm nhập” vào lĩnh vực nhận thức của các cá nhân khác.

Chia sẻ thông tin dự phòng cũng giúp các cá nhân hiểu được vị trí của mình trong tổ chức, từ đó giúp điều khiển suy nghĩ và hành động của mình. Các cá nhân không phải là không kết nối với nhau mà là kết nối mềm dẻo và đều giữ vị trí có ý nghĩa trong bối cảnh tổng thể của tổ chức. Do đó những thông tin dự phòng giúp các tổ chức có được cơ chế tự kiểm soát để giữ mọi thứ đi theo một hướng nhất định.

Có vài cách để tạo sự dư thừa trong tổ chức. Một là áp dụng cách tiếp cận “chồng chéo”, được minh họa bởi việc phát triển sản phẩm theo kiểu “bóng bầu dục” của các công ty Nhật Bản, theo đó các bộ phận có chuyên môn khác nhau làm việc cùng nhau theo một sự phân công lao động tương đối không rõ ràng. Một số công ty chia bộ phận phát triển sản phẩm thành những nhóm cạnh tranh với nhau. Mỗi nhóm có những hướng phát triển khác nhau cho cùng một nội dung dự án, sau đó cùng tranh luận với nhau về điểm lợi và bất lợi trong các đề án họ đưa ra. Sự cạnh tranh bên trong mỗi dự án khuyến khích các nhóm nhìn vào dự án từ những góc nhìn khác nhau. Dưới sự hướng dẫn của trưởng nhóm, cả nhóm cuói cùng sẽ phát triển một cách hiểu chung và rút ra cách tiếp cận tối ưu nhất.

Có một cách khác để tạo được sự dư thừa trong tổ chức là thông qua việc luân chuyển công tác của nhân viên một cách chiến lược, đặc biệt giữa các bộ phận có nhiều sự khác nhau về công nghệ và chức năng ví dụ bộ phận nghiên cứu phát triển và bộ phận marketing. Sự luân chuyển này giúp cho các nhân viên hiểu được công việc của họ từ nhiều góc nhìn khác nhau, do đó làm cho tri thức của tổ chức trở nên linh động hơn và dễ dàng đưa vào thực tiễn. Nó cũng tạo điều kiện cho mỗi cá nhân tự làm phong phú kỹ năng chuyên môn cũng như nguồn thông tin của mình lên. Những thông tin dự phòng được sở hữu bởi các cá nhân từ bộ phận chuyên môn khác nhau giúp cho tổ chức mở rộng khả năng sáng tạo tri thức của mình.

Một trong những điểm đáng lưu ý nhất của các công ty Nhật Bản so với các công ty ở phương Tây là coi trọng những thông tin dự trữ. Các doanh nghiệp hàng đầu Nhật Bản đã tạo ra sự dư thừa bên trong chính mỗi công ty để phát triển sản phẩm dịch vụ mới một cách nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu thay đổi từng ngày của thị trường và công nghệ. Họ cũng nghĩ ra thêm nhiều kênh khác làm tăng và duy trì sự dư thừa. Ví dụ như việc tạo ra các địa điểm họp thông thường và bất thường (họp ở khu nghỉ dưỡng để cùng thảo luận, sáng tạo ý tưởng) của Công ty Honda, hay tạo ra những mạng lưới giao tiếp không chính thức (ví dụ các buổi đi nhậu cùng nhau của nhân viên sau giờ làm việc). Những kênh này có tác dụng xúc tiến việc chia sẻ cả tri thức ẩn lẫn tri thức hiện.

Sự dư thừa về thông tin làm tăng tổng lượng thông tin phải xử lý và có thể dẫn đến vấn đề quá tải thông tin. Nó cũng làm tăng chi phí của hoạt động sáng tạo tri thức, ít nhất là trong ngắn hạn (ví dụ giảm hiệu quả hoạt động). Do đó, cân bằng giữa hoạt động sáng tạo tri thức và xử lý thông tin là một khía cạnh quan trọng khác. Một trong những cách làm giảm thiểu sự dư thừa là xác minh rõ xem thông tin có thể được đặt ở chỗ nào và dự trữ ở bộ phận nào trong tổ chức.

3.5/ Điều kiện thứ năm: Sự đa dạng cần thiết

Điều kiện thứ năm giúp cho vòng xoắn ốc tri thức được mở rộng là sự đa dạng (diversification). Theo Ashby, sự đa dạng trong nội bộ tổ chức phải phù hợp với sự phong phú và phức tạp của môi trường nhằm đương đầu với những thách thức do môi trường bên ngoài gây ra. Các thành viên trong tổ chức có thể đối mặt với những tình huống bất ngờ xảy ra nếu như họ có được sự linh động, nhờ đó có thể kết hợp nhanh chóng, mềm dẻo những thông tin đa dạng, và tìm ra được cách truy cập thông tin bên trong tổ chức. Để tối đa hóa sự đa dạng, linh động, mọi thành viên trong tổ chức cần được đảm bảo có thể tiếp cận nhanh nhất tới hệ thống thông tin cần thiết.

Khi sự chênh lệch về thông tin tồn tại trong tổ chức, các thành viên không thể tiếp cận chúng theo một cách giống nhau. Điều này làm cản trở việc tìm kiếm những cách giải thích khác nhau cho những thông tin mới. Tập đoàn KAO, một trong những nhà sản xuất các sản phẩm gia dụng hàng đầu của Nhật Bản nổi bật là các sản phẩm tẩy rửa, cho rằng các nhân viên nên được tiếp cận bình đẳng với những thông tin chung của công ty. KAO đã phát triển một mạng lưới thông tin bằng máy tính để phục vụ mục đích này. Sau đó, mạng lưới thông tin này đã trở thành công cụ căn bản giúp trao đổi quan điểm khác nhau giữa những bộ phận khác nhau trong tổ chức.

Phát triển một cấu trúc tổ chức phẳng và linh động trong đó các đơn vị khác nhau được kết nối qua một mạng lưới thông tin chung là một trong những cách đối mặt với sự đa dạng của môi trường bên ngoài. Một cách khác để phản ứng nhanh với những xáo trộn ngoài mong muốn từ bên ngoài và duy trì sự đa dạng bên trong tổ chức là thường xuyên thay đổi cấu trúc tổ chức. Ví dụ, Công ty Matsushita đã tái cấu trúc hệ thống phòng ban 3 lần trong 10 năm. Thêm vào đó, việc luân chuyển nhân viên các phòng ban thường xuyên giúp đa dạng hóa vốn tri thức đa ngành, giúp họ có trải nghiệm đối mặt với những vấn đề phức tạp cùng những xáo trộn không mong đợi từ môi trường bên ngoài.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp – NXB TT&TT 2016.

Sáng tạo tri thức – Phần V


3/ Các điều kiện để tiến hành sáng tạo tri thức trong tổ chức

Vai trò của tổ chức trong hoạt động sáng tạo tri thức là cung cấp một bối cảnh thích hợp để thúc đẩy các hoạt động nhóm cũng như hoạt động sáng tạo và tích lũy tri thức ở cấp độ cá nhân. Trong mục này, chúng ta sẽ bàn đến 5 điều kiện đòi hỏi ở cấp độ tổ chức để thúc đẩy vòng xoắn ốc tri thức.

3.1/ Điều kiện thứ nhất: Có mục đích rõ ràng

Vòng xoắn ốc tri thức được vận hành bởi mục tiêu của tổ chức. Nói cách khác tổ chức phải có mục đích (intention) rõ ràng. Những nỗ lực để đạt được mục đích thường mang hình thức các chiến lược bên trong một bối cảnh kinh doanh nhất định. Nhìn từ quan điểm sáng tạo tri thức trong tổ chức, bản chất các chiến lược thể hiện ở việc triển khai các năng lực của tổ chức để thu nhận, tạo ra, tích lũy và khai thác tri thức. Nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạch định chiến lược là xây dựng tầm nhìn, xác định được loại tri thức nào nên được phát triển và làm thế nào biến nó thành một hệ thống quản lý có tính khả thi.

Lấy ví dụ, Công ty Điện tử NEC (Nippon Electric Company) – một công ty đa quốc gia của Nhật Bản, có trụ sở tại Tokyo – luôn coi công nghệ như là một hệ thống tri thức khi họ phát triển các chương trình công nghệ trọng điểm tại các phòng thí nghiệm nghiên cứu trung tâm vào năm 1975. Ở thời điểm đó, công ty tập trung vào 3 mảng kinh doanh: viễn thông, máy tính và vật liệu bán dẫn. Vì rất khó để kết nối phần nghiên cứu và phát triển của 3 mảng này, nên nhu cầu đặt ra là phải nắm bắt về công nghệ ở mức độ cao hơn, trừu tượng hơn – đó chính là tri thức. Theo ông Michiyuki Uenohara, cựu phó chủ tịch công ty, “công nghệ cơ sở” được xác định bằng cách dự đoán nhóm sản phẩm trong vòng 10 năm, bao gồm cả việc khai thác những công nghệ cần thiết phục vụ cho những nhóm sản phẩm này. Những công nghệ cơ sở có liên quan bổ trợ sau đó được nhóm thành “công nghệ trọng điểm”, ví dụ như nhận dạng, xử lý hình ảnh và VLSI (Very Large Scale Integrated: tích hợp với quy mô rất rộng). Kể từ năm 1975, NEC đã mở rộng chương trình công nghệ trọng điểm của họ tận dụng những nhóm làm việc độc lập, hiện nay đã có khoảng 36 chương trình công nghệ trọng điểm đi vào hoạt động.

Mục đích của tổ chức đưa ra tiêu chuẩn quan trọng nhất cho việc đánh giá độ trung thực của những phần tri thức đã được trình bày. Nếu không vì một mục đích cụ thể gì, sẽ rất khó để đánh giá được giá trị của thông tin hay tri thức nhận được hay tạo ra. Ở cấp độ tổ chức; mục đích ban đầu sau đó thường được thể hiện ra ở các tiêu chuẩn, sứ mệnh, tầm nhìn của công ty, những thứ được sử dụng để đánh giá và chứng minh tính đúng đắn cho những tri thức mới được tạo ra. Những điều này cần phải được coi trọng.

Để tạo ra tri thức, các tổ chức nên kêu gọi cam kết của nhân viên bằng việc tạo ra những mục tiêu của tổ chức và khuyến khích nhân viên thực hiện chúng. Quản lý cấp trung hay cấp cao có thể kêu gọi sự quan tâm của nhân viên tới những cam kết với các giá trị nền tảng căn bản, quan trọng, thông qua việc đặt ra những câu hỏi cơ bản như: “Sự thật là gì?”, “Con người là gì?” hay “Cuộc sống là gì?”. Hoạt động này thường mang tính tổ chức hơn là quy mô cá nhân. Thay vì việc chỉ dựa vào suy nghĩ hay hành vi của một cá nhân đơn lẻ, công ty có thể tái định hướng và xúc tiến hoạt động này thông qua những cam kết tập thể. Như Polanyi đã từng nói: những cam kết chính là nền tảng của hoạt động sáng tạo tri thức của con người.

3.2/ Điều kiện thứ hai: Quyền tự chủ

Điều kiện thứ hai để thúc đẩy quá trình phát triển vòng xoắn ốc tri thức đó là quyền tự chủ (autonomy). Ở cấp độ cá nhân, mỗi thành viên trong tổ chức nên được cho phép hành động một cách tự chủ trong giới hạn cho phép. Với việc cho phép các cá nhân được hành động tự chủ, các tổ chức có thể tự tạo thêm những cơ hội bất ngờ. Quyền tự chủ cũng giúp các cá nhân tự thúc đẩy bản thân mình tạo ra tri thức mới. Những ý tưởng khởi nguồn xuất phát từ những cá nhân tự chủ, lan truyền ra trong nhóm và sau đó có thể trở thành những ý tưởng của cả tổ chức. Xét từ quan điểm sáng tạo tri thức, một tổ chức như vậy sẽ có nhiều khả năng duy trì sự linh hoạt hơn trong việc thu nhận, giải thích và liên hệ thông tin.

Một tổ chức sáng tạo tri thức có được sự tự chủ được mô tả như một “hệ thống tự tạo tự sinh”, có thể được giải thích bởi phép loại suy sau. Một cơ thể sống hữu cơ bao gồm rất nhiều cơ quan khác nhau, những cơ quan được tạo thành từ nhiều tế bào. Mối quan hệ giữa hệ thống và các cơ quan, giữa các cơ quan và tế bào, không phải là quan hệ cấp trên – cấp dưới, cũng không phải là mối quan hệ tổng thể – bộ phận. Mỗi đơn vị, như một tế bào tự chủ, điều khiển tất cả những sự thay đổi xuất hiện liên tục bên trong chính nó. Hơn nữa, mỗi đơn vị xác định ranh giới của nó qua việc tự sinh sản. Bản chất “tự tham chiếu” này chính là tinh hoa của hệ thống tự tạo tự sinh.

Giống như một hệ thống tự tạo sinh, các cá nhân và các nhóm tự chủ, độc lập tự đặt ranh giới nhiệm vụ cho chính mình để theo đuổi đến cuối cùng. Trong các tổ chức doanh nghiệp, các nhóm tự tổ chức chính là một công cụ hữu hiệu để tạo ra những hoàn cảnh trong đó các nhân có thể được hành động một cách tự chủ. Những nhóm đó nên được hình thành dưới mô hình đa chức năng, bao gồm các thành viên trên một dải rộng bao quát các hoạt động khác nhau của tổ chức. Các nhóm đa chức năng thường được phát triển ở các công ty của Nhật Bản ở mọi giai đoạn của quá trình cách tân. Trong những công ty được trình bày ví dụ ở trên như Fuji Xerox, Honda, Canon, Mastushita Electric… hầu hết các nhóm dự án bao gồm khoảng từ 10 đến 30 người, với những chuyên mô nghiệp vụ khác nhau như nghiên cứu và phát triển (R&D), hoạch định, sản xuất, quản lý chất lượng, bán hàng và tiếp thị và dịch vụ khách hàng. Mỗi công ty hầu như đều có khảong 4 đến 5 thành viên trọng điểm, mỗi người lại sở hữu một số nghiệp vụ chuyên môn khác nhau. Ví dụ các thành viên trọng điểm tham gia phụ trách phát triển dự án FX3500 của Fuji Xerox có ít nhất 3 nghiệp vụ chuyên môn khi họ mới chỉ khoảng 30 tuổi ở thời điểm vận hành dự án.

Một nhóm làm việc độc lập có thể đảm đương rất nhiều chức năng, do đó những khía cạnh cá nhân được phát triển và khuyến khích ở mức độ cao hơn bình thường.

3.3/ Điều kiện thứ ba: Những biến động và hỗn loạn mang tính sáng tạo

Điều kiện thứ ba để thúc đẩy sự phát triển của vòng xoắn ốc tri thức là những biến động và sự hỗn loạn mang tính sáng tạo (chaos), những thứ kích thích sự tương tác giữa doanh nghiệp và môi trường bên ngoài. Sự biến động thì hoàn toàn khác so với sự rối loạn và được đặc trưng bởi “trật tự không lặp lại”. Nó là một trật tự mà định dạng của nó khó có thể phỏng đoán được ngay từ đầu. Nếu tổ chức có thái độ cởi mở với những tín hiệu từ môi trường bên ngoài, họ có thể khai thác được những sự mơ hồ, dư thừa và “tiếng ồn” từ những tín hiệu đó để cải tiến hệ thống tri thức riêng của mình.

Khi sự biến động được du nhập vào tổ chức, các thành viên phải đối mặt với những “sự cố xáo trộn” về thói quen, tập quán, hay khuôn khổ nhận thức. Winograd và Flores nhấn mạnh tầm quan trọng của những sự cố định kỳ trong sự phát triển nhận thức của con người. Một sự cố có nghĩa là một gián đoạn ảnh hưởng tới những thói quen thường lệ. Khi chúng ta đối mặt với một sự cố, chúng ta có dịp xem xét lại những suy nghĩ và quan điểm căn bản của mình. Nói cách khác, chúng ta bắt đầu đặt câu hỏi về tính đúng đắn trong thái độ của chúng ta với thế giới. Một quá trình như vậy đòi hỏi sự cam kết cá nhân sâu sắc về phần của riêng cá nhân đó. Một sự cố đòi hỏi chúng ta tập trung vào đối thoại và coi đó như là một phương tiện để giao tiếp xã hội, do đó giúp chúng ta tạo ra một khái niệm mới. Quá trình liên tục đặt câu hỏi và cân nhắc lại tình trạng hiện tại của các cá nhân thúc đẩy quá trình sáng tạo của tổ chức. Một sự xáo trộn về môi trường gây ra biến động trong tổ chức, kích hoạt làm cho những tri thức mới được tạo ra.

Tình trạng hỗn loại (chaos) được tạo ra một cách tự nhiên khi tổ chức phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thực sự, ví dụ như sự suy giảm hiệu suất kinh doanh một cách nhanh chóng phát sinh từ nhu cầu thị trường hay sự phát triển đột biến của đối thủ cạnh tranh. Tình trạng lộn xộn cũng có thể xuất hiện có chủ ý khi các nhà lãnh đạo cố gắng làm dấy lên một “cảm giác như đang bị khủng hoảng” giữa các nhân viên bằng cách đưa ra những mục tiêu thách thức. Ryuzaburo Kaku, Chủ tịch của hãng Canon, thường nói: “Vai trò của lãnh đạo cấp cao là phải tạo cho nhân viên có cả cảm giác về khủng hoảng lẫn lý tưởng cao cả của công ty”. Tình trạng hỗn loạn có chủ ý, hay hỗn loạn mang tính sáng tạo, làm tăng bầu không khí căng thẳng bên trong tổ chức và tập trung sự chú ý vào việc xác định vấn đề để sau đó giải quyết tình trạng khủng hoảng.

Cách tạo ra tình trạng hỗn loạn này tương phản rõ rệt với mô hình xử lý thông tin, khi mà một vấn đề được nêu, sau đó giải pháp được tìm ra thông qua một quá trình tổng hợp các thông tin liên quan dựa trên một thuật toán được cài sẵn. Chu trình này bỏ qua tầm quan trọng của việc xác định vấn đề cần được giải quyết. Để đạt được điều này, những vấn đề phải xây dựng từ những tri thức sẵn có ở một khoảng thời gian và bối cảnh nhất định.

Các công ty Nhật Bản thường trông cậy rất nhiều vào việc sử dụng có mục đích “sự mơ hồ không rõ ràng” và “sự hỗn loạn mang tính sáng tạo”. Các lãnh đạo cấp cao thường đưa ra những sứ mệnh rất mơ hồ và tạo ra sự biến động trong tổ chức một cách có chủ ý. Yutaka Yume, Chủ tịch Tập đoàn Nissan đã đưa ra một khẩu hiệu nổi tiếng: “Hãy thay đổi dòng chảy”. Bằng cách đó, ông cố gắng khuyến khích sự sáng tạo thông qua việc tìm kiếm các phương án thay thế cho những chu trình vốn có. Một khi triết lý hay tầm nhìn của lãnh đạo cấp cao không rõ ràng, sự mơ hồ đó sẽ dẫn đến “những sự lập lờ có thể giải thích được” ở cấp độ những nhân viên thực thi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp – NXB TT&TT 2016.

Sáng tạo tri thức – Phần IV


2.5/ Vòng xoắn ốc tri thức

Như đã giải thích ở trên, phương thức “Xã hội hóa” (Socialization) hướng tới mục tiêu chia sẻ tri thức ẩn. Tuy nhiên, nếu chỉ tách riêng bước này, nó sẽ chỉ là một quá trình sáng tạo tri thức tồn tại nhiều điểm hạn chế. Nếu tri thức không được chuyển hóa thành tri thức hiện, thì sẽ rất khó để tổ chức có thể vận dụng nó.

Mặt khác, sự kết hợp đơn thuần của những mảnh ghép thông tin đơn lẻ vào tổng thể, ví dụ như một kiểm toán viên thu thập những thông tin tài chính trong toàn bộ công ty và đưa nó vào bản báo cáo tài chính, thực chất không làm phát triển thêm kho tri thức đang tồn tại của tổ chức. Nhưng khi tri thức ẩn và tri thức hiện được tương tác với nhau, giống như trong ví dụ của công ty Matsushita, thì sự đổi mới cách tân có thể xuất hiện. Sáng tạo tri thức ở cấp độ tổ chức là một sự tương tác linh động và liên tục giữa tri thức ẩn và tri thức hiện. Sự tương tác này được định hình sau những lần chuyển dịch từ phương thức chuyển giao tri thức này tới phương thức chuyển giao tri thức khác trong mô hình sáng tạo SECI. Mỗi một phương thức đều được tạo ra bởi những “cú hích” (Hình 3.2).

Đầu tiên, phương thức “Xã hội hóa” thường bắt đầu với việc tạo nên những cơ hội tương tác. Những cơ hội này khích lệ quá trình chia sẻ kinh nghiệm và các hình dung mô phỏng giữa các thành viên. Tiếp đến, phương thức “Biểu đạt” được tạo ra thông qua những đối thoại, những cuộc họp tổng kết rút kinh nghiệm. Những mô hình ẩn dụ hay loại suy được sử dụng trong cuộc họp giúp cho các thành viên cụ thể hóa được những tri thức ẩn vốn dĩ rất khó trao đổi qua giao tiếp. Thứ ba, phương thức “Kết hợp” được hình thành bởi việc liên kết những tri thức mới được tạo ra với những tri thức đang tồn tại trogn những bộ phận khác nhau của tổ chức, kết tinh lại thành những sản phẩm, dịch vụ hay những hệ thống quản lý mới. Cuối cùng, hoạt động “học thông qua thực hành” tạo ra phương thức “Lĩnh hội”.

Nội dung tri thức được tạo ra trong mỗi phương thức chuyển giao về cơ bản là khác nhau. Phương thức xã hội hóa tạo ra những tri thức gọi là “tri thức đồng cảm – sympathized knowledge”, ví dụ như những mô hình tư duy hay bí quyết kỹ thuật. Phương thức “Biểu đạt” cho ra đời những “tri thức khái niệm – conceptual knowledge”. Khái niệm “Cậu bé cao – Tall Boy” trong ví dụ của Honda là một loại tri thức khái niệm được tạo ra từ hình ảnh ẩn dụ của khái niệm “cuộc cách mạng về ô tô” và sự tương đồng giữa khối hình cầu và khái niệm “tối đa lượng người ngồi – tối giản về máy móc”. Phương thức “Kết hợp” tạo ra “tri thức hệ thống – systematic knowledge”, ví dụ như một nguyên mẫu hay một kỹ thuật kết hợp mới. Chương trình Bán lẻ của công ty Thực phẩm Kraft General Foods là một ví dụ về tri thức hệ thống được cấu thành từ phương pháp quản lý bán lẻ. Phương thức “Nội nhập” tạo ra “tri thức vận hành – operational knowledge” về quản lý dự án, chu trình sản xuất, cách sử dụng sản phẩm mới và việc thực thi các chính sách (Hình 3.3).

Những nội dung này của tri thức tương tác với nhau trong vòng xoắn ốc tri thức của chu trình sáng tạo tri thức. Lấy ví dụ tri thức đồng cảm về mong muốn của khách hàng có thể được biểu đạt ra thành tri thức khái niệm về một sản phẩm mới thông qua phương thức xã hội hóa và biểu đạt. Những tri thức khái niệm như thế nào được coi như một bản hướng dẫn để tạo ra tri thức hệ thống từ phương thức “Kết hợp”. Ví dụ, khái niệm một sản phẩm mới gợi mở ra phương thức “Kết hợp”, qua đó những kỹ thuật riêng lẻ đang tồn tại hoặc đã phát triển được hợp thành một phiên bản mới. Tri thức hệ thống (ví dụ chu trình sản xuất được mô phỏng cho một sản phẩm mới) được tạo thành những tri thức vận hành, hữu ích trong việc sản xuất sản phẩm đồng loạt thông qua phương thức “Lĩnh hội”. Thêm vào đó, tri thức vận hành dựa trên kinh nghiệm thường kích hoạt một chu kỳ mới của sáng tạo tri thức. Lấy í dụ, tri thức vận hành ẩn của người sử dụng về một sản phẩm thường được xã hội hóa, dẫn tới sự cải tiến chất lượng của một sản phẩm đang tồn tại hoặc sự ra đời của những cách tân.

Về mặt cơ bản, một tổ chức không thể tự tạo ra tri thức được. Tri thức ẩn của các cá nhân là nền tảng cho sáng tạo tri thức của tổ chức. Tổ chức phải biết huy động những tri thức được tạo ra và được sở hữu bởi các cá nhân. Những tri thức ẩn được huy động tăng lên qua bốn phương thức chuyển đổi của tri thức (Xã hội hóa, Biểu đạt, Kết hợp, Lĩnh hội) và được kết tinh ở những mức độ cao hơn. Việc kết tinh này được gọi là “vòng xoắn ốc tri thức”, theo đó quá trình tương tác giữa tri thức ẩn với tri thức hiện sẽ ngày một tăng lên về quy mô. Vì vậy, sáng tạo tri thức của tổ chức là một chu trình xoắn ốc, bắt đầu từ cấp độ cá nhân và di chuyển thông qua việc mở rộng cộng đồng tương tác, bằng cách vượt qua các ranh giới phòng ban, bộ phận, tổ chức.

Chu trình này có thể được minh họa thông qua quá trình phát triển một sản phẩm. Tạo ra một khái niệm sản phẩm thường bao gồm một cộng đồng những cá nhân tương tác với những nền tảng kiến thức, năng lực, trình độ và những lối mô phỏng tư duy khác nhau. Trong khi các thành viên của bộ phận nghiên cứu và phát triển tập trung vào các vấn đề liên quan tới công nghệ, những thành viên thuộc bộ phận sản xuất và marketing lại có mối quan tâm tới những vấn đề hoàn toàn khác. Chỉ có rất ít những kinh nghiệm, mô phỏng tư duy, động cơ, dự định khác nhau giữa họ được biểu đạt ra thành tri thức hiện. Do đó, phương thức “Xã hội hóa” được thực hiện nhằm mục đích chia sẻ tri thức giữa các thành viên. Hơn thế nữa, cả phương thức “Xã hội hóa” và “Biểu đạt” đều hữu ích cho việc kết nối giữa tri thức ẩn và tri thức hiện của các cá nhân. Nhiều công ty Nhật Bản đã phổ cập mô hình các buổi giao lưu brainstoming ý tưởng (brainstoming camp) như là một công cụ nhằm mục đích kết nối giữa tri thức ẩn và tri thức hiện.

Sản phẩm mới được tạo ra từ quá trình hợp tác và làm việc tập thể này sau đó sẽ được tổng kết đánh giá để tạo sự gắn kết, xâu chuỗi với những khái niệm tầm trung và khái niệm quy mô lớn hơn. Khi một sản phẩm mới được tạo ra có chất lượng vượt trội, nó vẫn có thể không tương thích với mục tiêu ở tầm trung và tầm lớn của các bộ phận hay của tổ chức. Lúc này cần phải có một chu trình khác ở cấp độ lớn hơn nhằm duy trì sự tương thích, toàn vẹn tổng thể. Điều này đòi hỏi phải diễn ra một chu kỳ sáng tạo tri thức mới trong một bối cảnh lớn hơn. Mỗi lần như vậy, lại có một vòng xoắn ốc diễn ra và tương tác giữa tri thức ẩn và tri thức hiện sẽ ngày càng tăng lên về quy mô.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp – NXB TT&TT 2016.