Tổng quan về tri thức – Phần II


1.3/ Tri thức

Hầu hết chúng ta đều có một cảm nhận trực quan rằng tri thức rộng hơn; sâu hơn dữ liệu và thông tin. Chúng ta thường dùng thuật ngữ “người có tri thức” để ám chỉ một người uyên thâm về một lĩnh vực, một người vừa có học vị cao vừa thông minh. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều không nói “một mẩu tin nhắn đầy tri thức” hay “một cơ sở dữ liệu thông thái” kể cả khi đó là kết quả làm việc của những người hoặc nhóm những người có tri thức.

Hiểu tri thức là gì vốn là đề tài nguyên thủy của triết học. Ở đây và trong khuôn khổ của quản trị tri thức, chúng tôi sẽ tập hợp và đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, thực tế giúp người đọc nhận định; sau đó cùng bàn luận về tri thức trong tổ chức. Định nghĩa sẽ thiên về mô tả các đặc tính riêng, có giá trị của tri thức, cũng như những đặc tính làm cho việc quản trị tri thức trở nên khó khăn nhưng cần thiết.

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức nảy sinh trong bộ não của con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hiện công việc hay những chuẩn mực chung.

Như vậy, rõ ràng tri thức không hề rõ ràng và đơn giản. Tri thức là một dạng tổng hợp của rất nhiều các thành tố, nó vừa có cấu trúc lại thể hiện sự linh hoạt trong kết hợp các thành tố. Đồng thời, tri thức là trực quan nên khó có thể nắm bắt, thể hiện ra thành lời hoặc hiểu trọn vẹn. Tri thức tồn tại trong con người, là một phần tạo nên tính phức tạp và khó nắm bắt của con người. Mặc dù chúng ta vẫn nghĩ rằng tài sản là cái gì có thể định nghĩa được, nắm bắt được, song tài sản tri thức lại không như thế.

Tri thức được tạo nên từ thông tin, giống như thông tin được hình thành từ dữ liệu. Thông tin trở thành tri thức thông qua các quá trình sau:

+ So sánh (Comparison): thông tin về hoàn cảnh hay sự việc này so với hoàn cảnh và sự việc khác mà chúng ta đã biết.

+ Đúc rút (Consequense): những bài học gì mà thông tin mang lại hỗ trợ cho các quyết định và hành động của chúng ta.

+ Kết nối (Connection): tri thức này liên hệ với tri thức khác như thế nào.

+ Hội thoại (Conversation): những người khác nghĩ gì về thông tin này.

Tiếp ví dụ 1 về trạm xăng ở mục 1.1/ Dữ liệu và 1.2/ Thông tin. Sau khi có được các thông tin có ý nghĩa, người quản lý trạm xăng có thể dựa thêm vào những kiến thức, kinh nghiệm có sẵn của mình để phân tích rằng khách hàng đến trạm xăng phần nhiều vào khoảng thời gian sáng hoặc chiều muộn, trùng với thời điểm họ đi làm và tan sở. Thời điểm này ai cũng rất vội và không kiên nhẫn. Do vậy, anh ta quyết định sẽ tăng cường nhân viên phục vụ, gồm cả nhân viên bơm xăng, nhân viên thu đổi tiền, nhân viên hướng dẫn khách hàng để đảm bảo việc bán hàng được nhanh chóng thuận lợi và làm khách hàng hài lòng.

Rõ ràng những hoạt động sáng tạo tri thức diễn ra trong và giữa con người với con người. Khi tìm kiếm dữ liệu trong các bản ghi hoặc các giao dịch, tìm kiếm thông tin trong các thông điệp, chúng ta thu được tri thức từ các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc thông qua các thói quen, tập quán của tổ chức. Tri thức được chuyển qua những phương tiện như sách, tài liệu, quan hệ người – người, từ những trao đổi thông thường đến những trao đổi mang tính chính thống hơn.

1.4/ Tri thức trong hành động

Một trong những lý do khẳng định tri thức có giá trị hơn là vì tri thức gần hành động hơn dữ liệu và thông tin. Tri thức có thể và nên được đánh giá bằng các quyết định hành động mà nó dẫn tới. Chúng ta có thể sử dụng tri thức để đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả hơn về chiến lược kinh doanh, đối thủ, khách hàng, kênh phân phối, chu kỳ sống của sản phẩm và dịch vụ. Tất nhiên, do tri thức và quyết định thường nằm trong bộ óc con người, rất khó có thể nhận định được đường dẫn cụ thể từ tri thức tới hành động.

Hiện nay nhiều tổ chức đang rất nỗ lực quản trị tri thức. Các nhà quản trị đều đưa ra câu hỏi “Làm thế nào để phân biệt được dữ liệu, thông tin và tri thức?” Họ thường khích lệ các sáng kiến nhằm cộng thêm giá trị vào dữ liệu và thông tin có thể tạo được tri thức.

Ví dụ 2: Hãng sản xuất ô tô Chrysler đã lưu giữ tri thức về việc phát triển một mẫu xe mới trong một series sách với nhan đề “Bộ sách kỹ thuật tri thức” (Engineering Books of Knowledge). Mục tiêu của “bộ sách” này, thực chất là các tệp tin trên máy tính, là tạo ra một “bộ nhớ điện tử” để lưu giữ tri thức của đội phát triển xe. Cuốn sách là kết quả tập hợp dữ liệu va chạm thử nghiệm của xe. Tác giả cuốn sách phân loại các kết quả đó như dữ liệu và động viên người nộp kết quả cộng thêm giá trị cho dữ liệu đó. Ngữ cảnh của các kết quả đó là gì? Tại sao các thử nghiệm va chạm lại được thực hiện? Việc so sánh kết quả của mẫu xe mới với các mẫu xe trước và các mẫu xe đối thủ ra sao? Những kết quả này có gợi ý gì liên quan tới thiết kế lại thanh chống va đập trước xe? Rất khó có thể xác định được chính xác ở mức nào thì dữ liệu trở thành thông tin và thông tin trở thành tri thức, tuy vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng chuỗi giá trị cộng thêm trong từng bước công việc thực hiện.

Tri thức cũng có thể giảm giá trị, chuyển về trạng thái của thông tin và dữ liệu. Lý do điển hình nhất cho quá trình này thường là sự quá tải. Khi con người bị quá tải tri thức, họ không dùng đến nữa, tri thức với họ trở thành dữ liệu.

Do tính phức tạp và khó nắm bắt của tri thức, có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra. Hộp 1.1 tập hợp một số định nghĩa để người đọc tham khảo. Việc sử dụng định nghĩa nào còn phụ thuộc vào ý tưởng và mục tiêu sử dụng của người dùng. Tuy vậy, nếu xét một cách tổng quát thì các định nghĩa tri thức đều nhấn mạnh ở các từ khóa chung như “kinh nghiệm”, “học tập”, “ngữ cảnh”, “hành động” và cũng phù hợp với khái niệm đã được dẫn ở trên. Như vậy, ta có thể hiểu về tri thức như sau:

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức dẫn dắt hành động của chủ thể. Tri thức có thể là tri thức cá nhân nhưng cũng có thể là tri thức của tổ chức. Tri thức cá nhân nảy sinh trong bộ não con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hành công việc hay những chuẩn mực chung.

Hộp 1.1 Các định nghĩa về tri thức

Tri thức là sự hiểu biết về một sự vật mà con người có được thông qua kinh nghiệm hoặc học tập. Tri thức có thể là của cá nhân một người, học một nhóm người nói chung.

Nguồn: http://dictionary.cambridge.org/dictionary/british/knowledge

Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội.

Nguồn: http://vdict.com/tri+th%E1%BB%A9c,3,0,0.html

Tri thức là hệ thống thông tin. Tri thức liên quan tới các sự kiện, sự thật, các nguyên tắc có được thông qua quá trình học hoặc tự tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm

Nguồn: www.seattlecentral.org/library/101/textbook/glossary.html

Tri thức là thông tin đã được đánh giá và tổ chức trong trí óc con người để phục vụ cho một mục đích nhất định.

Nguồn: www.aslib.co.uk/info/glossary/html

Tri thức là thông tin liên quan tới các quy luật cho phép hiểu thông tin và sử dụng thông tin vào các mục đích có ý nghĩa.

Nguồn: www.seanet.com/daveg/glossary/htm

Tri thức là sự quen thuộc, sự nhận thức hoặc những hiểu biết thu được thông qua quá trình trải nghiệm hoặc học tập.

Nguồn: www.ifcom.mil/about/glossary.htm

Tri thức là thông tin trong ngữ cảnh, là sự hiểu về ý nghĩa của thông tin.

Nguồn: www.cio.gov.bc.ca/other/daf/IRM_Glossary.htm

Tri thức là niềm tin đã được kiểm chứng, làm tăng khả năng hoạt động hiệu quả của một tổ chức (Nonaka).

Nguồn: www.sims.berkeley.edu/courses/is213/s99/Projects/P9/web_site/glossary.htm

Tri thức là thông tin cộng với ý nghĩa của nó.

Nguồn: www.wotug.ukc.ac.uk/parallel/acronyms/hpccgloss/all.html

Tri thức là sự hiểu biết và trí nhớ (recall) về thông tin được đánh giá bằng độ sâu, độ rộng và khả năng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề.

Nguồn: www.csufresno.edu/humres/Classification.Compensation/Glossary%20of%20Terms.htm

Tri thức là thông tin mà con người sử dụng cùng với các quy luật và ngữ cảnh để sử dụng các thông tin ấy.

Nguồn: www.vnulearning.com/kmwp/glossary.html

Tri thức là thông tin cần thiết để phát triển các kỹ năng. Tri thức để thực hiện công việc gồm các khái niệm hoặc quy luật liên quan tới công việc đó (tri thức mô tả) và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng (tri thức cấu trúc). Tri thức chứa đựng nội dung hoặc thông tin về một công việc cụ thể mà một người tiếp thu được thông qua quá trình đào tạo, giáo dục hoặc làm việc. Tri thức được xây dựng dựa trên nền tảng khả năng nhận thức mà một người đưa vào hoàn cảnh làm việc cụ thể.

Nguồn: www.eurocontrol.int/eatmp/glossary/terms/terms-11.htm

Tri thức là một phần trong hệ thống thứ bậc gồm dữ liệu, thông tin và tri thức. Dữ liệu là những sự việc nguyên bản. Thông tin là dữ liệu trong hoàn cảnh. Tri thức là thông tin với các hướng dẫn hành động dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm.

Nguồn: www.itilpeople.com/Glossary/Glossary_k.htm

Thông tin định nghĩa sự việc (A là B). Tri thức định nghĩa những việc mà một người cần làm khi một sự việc nhất định xảy ra. Vì vậy, nếu A là B, thì hãy làm C. Tri thức có thể được mã hóa theo nhiều cách khác nhau. Các chính sách hay các quy tắc kinh doanh là những dạng phổ biến của tri thức.

Nguồn: www.bptrends.com/resources_glossary.cfm

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.

Tổng quan về tri thức – Phần I


Tri thức ngày càng được nhận biết như là một tài sản chiến lược của các tổ chức. Vì vậy mỗi tổ chức phải tạo dựng và gìn giữ tri thức để duy trì lợi thế so với các tổ chức khác trên thị trường. Quan điểm chung của hầu hết chúng ta là phải giữ tri thức của mình vì nó tạo và duy trì vị thế cho bản thân, giúp chúng ta trở thành tài sản có giá trị với tổ chức. Ngày nay, quan điểm về tri thức đang dần thay đổi, đặc biệt là khi xem xét từ góc độ tổ chức, doanh nghiệp. Quan điểm mới là tri thức cần phải được chia sẻ trong tổ chức và doanh nghiệp để phát triển chính nó. Các tổ chức có thể chia sẻ tri thức giữa các nhân viên sẽ trở nên cạnh tranh hơn. Và chia sẻ tri thức cũng trở thành điểm cốt lõi của quản trị tri thức.

1/ Khái niệm tri thức

Để có thể hiểu khái niệm quản trị tri thức thì trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm tri thức.

Trong ngôn ngữ ngày thường, chúng ta sử dụng thuật ngữ tri thức khá thường xuyên. Thuật ngữ “tri thức” ngụ ý về sự thông thái, cũng có ngụ ý về khả năng có thể hoàn thành một việc gì đó của con người. Trong nhiều trường hợp, chúng ta sử dụng thuật ngữ tri thức để diễn tả về thông tin.

Một khó khăn không nhỏ khi định nghĩa tri thức xuất phát từ mối quan hệ giữa tri thức với thông tin và dữ liệu. Tri thức không phải dữ liệu hoặc thông tin, mặc dù nó liên hệ với cả hai. Sự thành công hay thất bại của tổ chức có thể phụ thuộc vào việc nhận biết được bản thân tổ chức cần yếu tố gì? dữ liệu, thông tin hay tri thức; tổ chức hiện đang có yếu tố gì? tổ chức có thể tạo ra và không thể tạo ra yếu tố nào trong ba yếu tố đó. Như vậy, việc hiểu dữ liệu, thông tin và tri thức là gì à làm sao có thể có được một yếu tố từ các yếu tố khác là rất cần thiết để đảm bảo hoàn thành một công việc tri thức thành công. Do vậy, chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tri thức xuất phát từ việc phân biệt tri thức với thông tin và dữ liệu.

1.1/ Dữ liệu

Dữ liệu là một bộ các đặc điểm khách quan rời rạc về các sự kiện. Trong bối cảnh tổ chức, dữ liệu có thể là ghi chép về các giao dịch.

Ví dụ 1: Khi một khách hàng tới trạm xăng để bơm xăng vào ô tô, giao dịch ấy có thể được miêu tả một phần bởi các dữ liệu: Thời gian khách hàng mua; anh ta mua bao nhiêu lít xăng; anh ta đã trả nhiều tiền. Tuy vậy, dữ liệu không cho biết về việc tại sao khách hàng tới trạm bơm xăng này mà không tới trạm bơm xăng khác, và cũng không dự đoán được liệu anh khách hàng đó có quay trở lại bơm xăng nữa không. Dữ liệu thu được cũng không thể hiện gì liên quan tới việc trạm xăng đó đang hoạt động tốt hay không tốt, liệu nó đang gặp khó khăn về điều hành hay không.

Các tổ chức này nay thường lưu giữ liệu trong các hệ thống công nghệ. Dữ liệu được đưa vào hệ thống bởi các phòng, ban khác nhau; chẳng hạn, phòng tài chính kế toán, phòng marketing… Một số công ty có thể tổ chức phòng hệ thống thông tin riêng nhằm xử lý và cung cấp dữ liệu cần thiết cho các phòng ban khác và cho mục tiêu quản trị.

Về mặt định lượng, các công ty đánh giá việc quản trị dữ liệu theo chi phí, tốc độ và dung lượng: Công ty mất bao nhiêu tiền để có được một lượng dữ liệu nhất định? Công ty mất bao nhiêu thời gian để truy cập vào hệ thống và lấy thông tin cần dùng ra? Dung lượng của hệ thống dữ liệu là bao nhiêu? Các thước đo về chất lượng của dữ liệu bao gồm tính kịp thời, tính phù hợp và tính rõ ràng: chúng ta có thể truy nhập vào dữ liệu khi cần không? Dữ liệu có đúng là thứ chúng ta cần không? Chúng ta có thể hiểu dữ liệu một cách dễ dàng không?

Tất cả các tổ chức đều cần dữ liệu và một số ngành công nghiệp còn phụ thuộc lớn vào nó. Các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các công ty điện – nước – gas, các cơ quan chính phủ chẳng hạn Bảo hiểm xã hội… là những ví dụ rõ ràng nhất. Việc ghi chép dữ liệu là trung tâm trong hoạt động kinh doanh của những công ty này và quản trị dữ liệu hiệu quả là chìa khóa cho thành công của họ. Tuy nhiên, với nhiều công ty khác dữ liệu không được quan tâm. Một số công ty còn cho rằng quá nhiều dữ liệu là không tốt. Thứ nhất, quá nhiều dữ liệu có thể làm công ty lạc lối trong việc tìm ra dữ liệu thật sự cần thiết. Thứ hai và quan trọng hơn, dữ liệu bản thân nó không có ý nghĩa. Dữ liệu mô tả chỉ một phần những gì đã diễn ra; nó không giúp đánh giá và hiểu hành động. Mặc dù nguyên liệu cơ bản để ra quyết định quản trị kinh doanh bao gồm dữ liệu nhưng dữ liệu lại không bạn biết bạn phải làm gì. Dữ liệu cũng không thể tự thể hiện nó là quan trọng hay không quan trọng. Mặc dù vậy, dữ liệu đối với tổ chức nói chung lại không thể thiếu bởi nó là cơ sở để tạo ra thông tin.

1.2/ Thông tin

Thông tin thường thể hiện dưới dạng một tài liệu hay một cuốn băng hình hay băng tiếng, file dữ liệu. Cũng giống như bất cứ thông điệp nào, thông tin có một người gửi và một người nhận. Thông tin thường thay đổi cách nhìn nhận về sự vật, sự việc của người nhận, từ đó ảnh hưởng tới cách đánh giá và hành động của người đó. Hiểu hẹp thì chính người nhận chứ không phải người gửi thông tin sẽ quyết định liệu thông điệp anh ta thu được có phải là thông tin hay không, tức là thông điệp ấy có thật sự làm đổi khác cách nhìn nhận của anh ta về sự việc hay không. Một thông điệp có thể được người gửi xem là thông tin, tuy vậy với người nhận nó có thể là thư rác.

Thông tin lưu chuyển trong tổ chức thông qua các “mạng cứng” và “mạng mềm”. Một mạng cứng có cơ sở vật chất xác định và hữu hình: dây truyền, máy tính, các vệ tinh, bưu điện, các địa chỉ, các hòm thư… Các thông điệp và các mạng cứng truyền tải bao gồm các thư truyền thống, thư điện tử, các gói dịch vụ dữ liệu, hay các thông điệp khác truyền trên mạng Internet. Một mạng mềm ít chính thống và ít hữu hình hơn. Một người nào đó chuyển cho bạn một bài báo hoặc một mẩu giấy lưu ý, hay đơn giản kể cho bạn nghe một câu chuyện là các ví dụ về việc truyền tin thông qua mạng mềm.

Các phép định lượng trong quản trị thông tin có xu hướng gộp cả đường dẫn và giao dịch: Có bao nhiêu tài khảon thư điện tử mà công ty đang có? Có bao nhiêu thông điệp mà chúng ta gửi đi trong một khoảng thời gian nhất định? Các phép đo chất lượng đo lường tính thông báo và sự hữu dụng của thông tin: Thông điệp tôi nhận được có giúp tôi có một góc nhìn mới? Thông điệp có giúp tôi hiểu hơn về hoàn cảnh, sự việc và hỗ trợ cho việc ra quyết định hoặc giải quyết vấn đề của tôi?

Khác với dữ liệu, thông tin có ý nghĩa. Thông tin luôn được tổ chức với một hoặc một vài mục tiêu. Dữ liệu trở thành thông tin nếu người tạo ra nó đưa thêm ý nghĩa vào. Chúng ta chuyển dữ liệu thành thông tin bằng cách cộng thêm giá trị theo nhiều cách khác nhau. Một số các cách quan trọng gồm:

+ Tạo bối cảnh (Contextualized): chúng ta biết mục đích tập hợp dữ liệu,

+ Phân loại (Categorized): chúng ta biết các bộ phận hoặc các nhóm dữ liệu,

+ Tính toán (Calculated): dữ liệu có thể được phân tích theo toán hoặc thống kê học,

+ Sửa chữa (Corrected): các lỗi được loại bỏ khỏi dữ liệu,

+ Nén lại (Condensed): dữ liệu có thể được tóm tắt lại trong dạng gọn hơn.

Trong ví dụ 1 về trạm bơm xăng đã dẫn trong phần trên, dữ liệu về thời gian mua xăng của khách hàng khi tập hợp lại có thể giúp người quản lý nhận ra những thời gian cao điểm về lượng khách hàng và lượng tiêu thụ xăng trong ngày. Người quản lý cũng có thể xem xét dữ liệu lượng tiêu thụ xăng và thời gian tiêu thụ xăng theo phân loại khách hàng… Như vậy bằng cách xử lý dữ liệu, anh ta đã có những thông tin có ý nghĩa hơn, từ đó có những đánh giá và suy nghĩ về biện pháp quản trị bán hàng hợp lý.

Lưu ý rằng các máy tính có thể giúp đưa thêm giá trị và chuyển dữ liệu thành thông tin, nhưng máy tính gần như không hỗ trợ được các vấn đề liên quan tới bối cảnh. Các cách tạo thông tin khác như phân loại, tính toán… vẫn thường cần có sự tham gia của con người. Một vấn đề mà chúng ta cũng cần làm rõ là sự lẫn lộn giữa thông tin, tri thức với công nghệ chuyển tải chúng. Chúng ta biết rằng công nghệ thông tin sẽ thay đổi không những cách thức chúng ta làm việc mà thay đổi cả con người chúng ta. Nhưng một điểm quan trọng cần nhấn mạnh là công nghệ chỉ là phương tiện chứ không phải là thông điệp, mặc dù nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến thông điệp được chuyển tải. Thông điệp được chuyển tải là quan trọng, chứ không phải là phương tiện chuyển tải nó. Có điện thoại để nói chuyện không đảm bảo một cuộc trò chuyện thú vị. Có một máy chiếu chất lượng tốt không đảm bảo buổi thuyết trình thành công. Tương tự, đối với các nhà quản trị, xây dựng được một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại không chắc chắn sẽ đảm bảo được tình trạng thông tin lưu chuyển hợp lý và cần thiết trong doanh nghiệp.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.

Xã hội tri thức: Giáo dục là hàng hóa?


Bùi Văn Nam Sơn

Các “chiến lược quản trị” hiện đại (thuật ngữ của Michel Foucault) ăn sâu bám rễ vào trong hệ thống giáo dục của xã hội tri thức ở các nước phát triển – đang và sẽ ảnh hưởng không tránh khỏi đối với nước ta. Xin thử tiếp tục tìm hiểu những quan niệm nhất định về chủ thể vốn ẩn chứa trong cuộc nghị luận về giáo dục dưới sự tác động ngày càng mạnh mẽ của tư tưởng “tân tự do”.

“TỰ DO” VÀ “TÂN TỰ DO”

Trước hết là sự khác biệt giữa tư tưởng hay học thuyết tự do cổ điển và tân tự do, ảnh hưởng đến sự chuyển đổi của các chiến lược giáo dục. Với hình thức nhà nước, chủ nghĩa tự do cổ điển tạo điều kiện cho những cá nhân được “tự do”, theo nghĩa “tạo ra” sự tự do. Tất nhiên, sự tự do theo nghĩa này không phải và không thể là vô giới hạn, do đó cần được điều tiết bằng bài toán an toàn. Và đây chính là chỗ khác biệt với chủ trương tân tự do: khác với “lý tính” tự do cổ điển, nhà nước tân tự do không kiểm soát và điều tiết sự tự do của thị trường, trái lại, bản thân thị trường sẽ trở thành nguyên tắc tổ chức và điều tiết nhà nước. Nói cách khác, nguyên tắc duy lý điều khiển hành động của nhà nước không còn là quyền tự do tự nhiêncần phải tôn trọng, mà ở trong sự tự do được sắp đặt một cách nhân tạo. Nói cụ thể, nhà nước cổ điển giới hạn sự tự do nhằm bảo vệ nhà nước phúc lợi, ngược lại, nhà nước tân-tự do trong xã hội tri thức sử dụng sự giới hạn này để phục vụ cho sự tự do của thị trường và thu hẹp dần nhà nước phúc lợi. Tự do thị trường, trong cách hiểu mới, sẽ bảo đảm tốt nhất cho sự sống còn của xã hội tri thức. Tiến trình chuyển đổi ấy cần đến những “chiến lược quản trị” kiểu mới, nhằm tạo ra những “công nghệ tự quản”, gắn liền với các mục tiêu của nhà nước. “Trong khuôn khổ sự quản trị tân-tự do, sự tự quyết, trách nhiệm và sự tự do lựa chọn không nói lên những ranh giới của hoạt động nhà nước nữa, mà bản thân chúng trở thành công cụ để thay đổi mối quan hệ của chủ thể với chính mình và với người khác” (L.Pongratz, Giáo dục người lớn. Phân tích, phê phán và gợi ý, 2010).

“NHỮNG CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC”

Tiến trình chuyển hóa ấy ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống giáo dục và quan niệm sư phạm. Những người tham gia “thị trường giáo dục” được tái định nghĩa thành những nhà tự-quản lý tri thức, sẽ hứa hẹn đạt được thành công nếu thỏa ứng những phẩm chất quản trị hiện đại. Những phẩm chất ấy là: “học cách học” (chiếm lĩnh phương tiện sản xuất của nền sản xuất tri thức), “quản lý động cơ” (tự buộc mình thường xuyên kiểm tra và tối ưu hóa chất lượng); “tự quản lý” (vừa như là khách hàng, vừa như là kẻ chào hàng) và “tự tối ưu hóa” (sẵn sàng để được kiểm định và “ngã giá”). Như đã thấy trước đây, là “trung tâm dịch vụ”, “trung tâm kỹ năng”, con người phải không ngừng sở đắc kỹ năng mới, tự học và học suốt đời mới có thể tìm được chỗ đứng trong khu từng rậm của nền thị trường toàn cầu hóa. Sự kết nối giữa những “công nghệ tự quản” và những “chiến lược quản trị kỷ luật hóa” sẽ hình thành sự “tự kiểm soát tự nguyện” của từng cá nhân trong xã hội tri thức. Không lạ gì khi giáo dục ắt sẽ được tổ chức theo hình mẫu của việc thực thi đề án kinh tế-thương mãi, còn tri thức thì hành xử và được đối xử như là hàng hóa. Là một món hàng, người tốt nghiệp có một “thương hiệu”, và luôn phải đối diện với “tòa án chất lượng”, được nhìn nhận như là điều tự nhiên và không thể tránh được. Ta thấy ở đây sự phối hợp tinh vichưa từng có giữa sự tự trị và ngoại trị, giữa quyền tự quyết và sự tuân phục không có khe hở và lối thoát!

“CHỦ THỂ HÓA” TRONG XÃ HỘI TRI THỨC “TÂN TỰ DO”

Foucault gọi việc hình thành định chế mới ấy cho chủ thể hiện đại là những “công nghệ của cái Tôi”, thông qua những nghi thức và thói quen thực hành ngày càng thuần thục. Vừa là “khách hàng”, vừa là kẻ “chào hàng”, cá nhân xuất hiện dưới hai danh nghĩa: “nhà kinh doanh sức lao động” và “nhà kinh doanh một thành viên”. Một tác giả khác định nghĩa không kém… ấn tượng: đó là “kinh tế hóa chủ thể” và “chủ thể hóa kinh tế”. Nói dễ hiểu, cá nhân, trong xã hội tri thức, với tư cách “nhà kinh doanh sức lao động”, không chỉ làm vai trò của kẻ thực thi hợp đồng, mà còn tự chịu trách nhiệm về quy trình lao động, đề nghị những cải tiến, trao đổi trong nhóm, phát huy năng lực đến cực độ, truyền thông đa dạng, xóa nhòa trật tự thứ bậc. Người lao động truyền thống (làm công ăn lương, có chỗ làm lâu dài, ổn định) được thay thế bằng người làm việc luôn phải năng động và sẵn sàng… cơ động.

Trong thực tế, ai cũng biết số“nhân công tri thức” thực sự thỏa ứng được những yêu cầu rất cao về chuyên môn và điều kiện sinh hoạt (di chuyển và thay đổi thường xuyên chỗ ở, với mối đe dọa thất nghiệp thường trực…) bao giờ cũng chiếm tỉ lệ nhỏ trong xã hội, nhất là ở các nước đang phát triển. Và ngay cả hệ thống nghề nghiệp kiểu cũ với đủ loại bằng cấp tốt nghiệp cũng không còn là chỗ dựa vững chắc nữa.

Rồi với tư cách là “nhà kinh doanh một thành viên”, lấy chính mình làm vốn liếng, người sản xuất lẫn nguồn thu nhập (Foucault), cá nhân trở thành pháp nhân như một “giả tưởng có thật”, luôn lo sợ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt trước khả năng bị loại trừ và loại bỏ trong cơ chế thị trường.

Nếu lao động chuyên sâu đến mức vụn vặt trong trường hợp trước khó đồng nghĩa với việc phát huy một cách tự do tính chủ thể cá nhân, thì, trong trường hợp sau, sự tự chủ, tự trị có khi chỉ là một vẻ ngoài ảo tưởng. Ảo tưởng còn ở chỗ: làm lợi cho đại công ty, đại tập đoàn và các cổ đông, trong khi vẫn tưởng rằng vì lợi ích và sở thích của chính mình!

NHIỀU CHỦ ĐỀ CÒN NGẦM ẨN

Năng lực tự tổ chức là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của xã hội tri thức. Nếu trước đây việc thành bại đặt trên vai doanh nghiệp, thì ngày nay trách nhiệm ấy chuyển dần sang cho việc đào tạo của cá nhân. Nhưng, sự tự định hướng ngày nay chỉ nhắm đến một phân mảnh của điều trước đây được hiểu là sự tự quyết: đó chỉ còn là cách hành xử hiệu quả đúng theo chức năng trong hệ thống. Trong bối cảnh ấy, liệu khái niệm giáo dục có đánh mất yêu cầu và lý tưởng khai minh của mình? Nếu mục tiêu của giáo dục trước đây là nỗ lực đưa con người thoát ra khỏi sự “không trưởng thành” (Kant), thì sự chuyển hóa tinh vi của những “công nghệ quản trị” hiện đại có nguy cơ đưa con người về lại tình trạng ấy?

Sau khi đã lược qua vấn đề “tính chủ thể” trong viễn tượng hiện đại, hậu hiện đại và xã hội tri thức, bài cuối – tạm khép lại chuyên mục “Câu chuyện giáo dục” lâu nay – sẽ đi vào câu hỏi: liệu con người trong xã hội tri thức (đang ló dạng ở nước ta) có thể trở thành chủ thể tự do được không? Câu hỏi cốt lõi và là cứu cánh (mục đích tối hậu) của triết học giáo dục!

Nguồn: Người Đô Thị, Bộ mới, số 53, 29.09.2016. 

Phiên bản điện tử do tác giả gửi http://triethoc.edu.vn

Thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil – một góc nhìn so sánh – Phần cuối


4.9/ Các cơ quan nghiên cứu đầu ngành của Trung Quốc

Nhìn vào nguồn dữ liệu xuất bản của Trung Quốc ta thấy, 18 cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc đã thể hiện năng lực nghiên cứu mạnh mẽ của mình trong lĩnh vực khoa học xã hội. Mỗi cơ quan xuất bản khoảng 50 và nhiều hơn lượng ấn phẩm xuất bản trong thời kỳ 1996 – 2007. Tính tổng 18 cơ quan này đã đóng góp 13,256 bài báo, chiếm 45,27% tổng lượng ấn phẩm xuất bản của Trung Quốc trên lĩnh vực khoa học xã hội. Mỗi cơ quan xuất bản từ 74 đến 3076 ấn phẩm trong thời kỳ 1996 – 2007, với tỉ lệ trung bình mỗi cơ quan là 730,6 ấn phẩm xuất bản. Chỉ có 6 cơ quan đóng góp lượng ấn phẩm vượt mức trung bình trên. Tỉ lệ đóng góp của tất cả các cơ quan trong thời kỳ 1996 – 1998 và tiếp tục duy trì với tỉ lệ 40,30% trong thời kỳ 2005 – 2007. Tốc độ tăng trưởng xuất bản của 18 cơ quan trên là 635,92% trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007. Chỉ có 8 cơ quan có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình trên. Tỉ lệ trích dẫn trung bình mà mỗi bài báo của các cơ quan trên nhận được là 1,70 lần. 7 trong tổng số 18 có tỉ lệ trích dẫn cao hơn mức trung bình trên (Bảng 11).

20170116-103652_p16-1

20170116-103652_p17-1

4.10/ Các cơ quan nghiên cứu đầu ngành của Brazil

17 cơ quan nghiên cứu của Brazil được cho là có năng lực cao trong nghiên cứu khoa học xã hội. Mỗi cơ quan đóng góp từ 53 đến 1523 ấn phẩm xuất bản, với tỉ lệ trung bình là 265 ấn phẩm xuất bản cho mỗi cơ quan. Chỉ có 5 cơ quan có lượng bài báo phát hành vượt mức trung bình trên. Tổng cộng 17 cơ quan trên đóng góp 4507 bài báo, chiếm 69,64 tổng lượng ấn phẩm xuất bản của quốc gia này trên lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007. Tỉ lệ đóng góp của 17 cơ quan này trong thời kỳ 1996 – 1998 là 60,45% và tăng lên 77,63% trong thời kỳ 2005 – 2007. Tốc độ tăng trưởng xuất bản trung bình của 17 cơ quan trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007 là 489,33%. Chỉ có 7 cơ quan của Brazil có tốc độ tăng turởng cao hơn mức trung bình trên. Tỉ lệ trích dẫn trung bình mà mỗi bài báo của các cơ quan trên nhận được là 1,83 lần. Tuy nhiên, chỉ có 6 trong tổng số 17 cơ quan trên có tỉ lệ trích dẫn trung b2inh cao hơn mức trên (Bảng 12).

20170116-103652_p18-1

20170116-103652_p19-1

5/ Kết luận

Việc phân tích các tài liệu xuất bản của Ấn Độ, Trng Quốc, và Brazil trong thời kỳ 1996 – 2007 cho thấy những quốc gia dẫn đầu trong các nền kinh tế đang phát triển đang trong thời kỳ tăng trưởng xuất bản; các ấn phảm xuất bản của họ trong lĩnh vực khoa học xã hội tăng trưởng với những tỉ lệ khác nhau. Tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm của Ấn Độ là 10,9%, Trung Quốc là 36,75% và Brazil là 24,79%. Tỉ lệ ấn phẩm xuất bản trong lĩnh vực khoa học xã hội của Trung Quốc trên thế giới là 2,16%, Ấn Độ là 1% và Brazil là 0,48%. Ấn Độ đứng sau Trung Quốc về năng lực xuất bản và tốc độ tăng trưởng xuất bản ấn phẩm trong lĩnh vực khoa học xã hội. Điều này có liên quan đến các nhà thực thi và hoạch định chính sách. Ba nền kinh tế cũng có sự khác nhau về tỉ lệ trích dẫn của từng bài báo – Nguồn chỉ dẫn đã từng được sử dụng để đo lường và so sánh chất lượng các kết quả nghiên cứu khoa học. Brazil có tỉ lệ trung bình là một bài báo nhận được 1,66 lần trích dẫn; Trung Quốc là 0,52 và Ấn Độ là 0,82. Thật ngạc nhiên khi Brazil đạt được tỉ lệ trích dẫn trên mỗi bài báo cao nhất trong số ba nước trên, mặc dù tỉ lệ các ấn phẩm xuất bản của nước này trên thế giới là thấp nhất (0,48%) so với Ấn Độ là 1,01% và Trung Quốc là 2,16%. Điều này chứng minh rằng chỉ đơn thuần có năng suất cao trong xuất bản thì vẫn chưa phải là chỉ dẫn cần thiết của chất lượng và sự hoàn hảo trong nghiên cứu. Brazil đứng trên Ấn Độ và Trung Quốc trong việc hợp tác nghiên cứu. Hơn thế nữa, nguồn tài liệu được phân tích đã chỉ ra năng lực hợp tác nghiên cứu của ba nền kinh tế trên, đặc biệt, Ấn Độ vẫn là quốc gia có năng lực yếu và thiếu động lực. Những quốc gia trên không có sự thay đổi đáng kể nào trong hợp tác xuất bản các ấn phẩm khoa học. Ấn Độ đã thể hiện sự phát triển hạn chế với 1,5% trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007, trái lại, Trung Quốc và Brazil đã có sự suy giảm từ 7% đến 10%. Mỹ và Anh là những đối tác chính trong hợp tác nghiên cứu khoa học của ba nước trên với tỉ lệ từ 56% đến 66% trong tổng số các ấn phẩm hợp tác nghiên cứu quốc tế của từng nước. Trong khi đó, sự liên kết trong nghiên cứu của ba nước trên với những quốc gia khác là yếu, chỉ từ 1% – 6%.

Hiện tại, năng lực nghiên cứu khoa học xã hội của Ấn Độ chỉ giới hạn trong 19 cơ quan nghiên cứu chủ yếu, ngay cả khi quốc gia này chi phí nhiều hơn 6 tỉ rupee mỗi năm trong nghiên cứu khoa học xã hội và điều hành trên 400 cơ quan, tổ chức nghiên cứu. Điều này chứng tỏ rằng chúng ta không khai thác hết tiềm năng vốn có trong nghiên cứu khoa học xã hội. Nếu Ấn Độ phải tạo ra bước nhảy vọt về tỉ trọng và thứ hạng, nằm trong số 5 quốc gia đứng đầu thế giới về năng lực nghiên cứu khoa học xã hội thì cần phải khai thác hết các tiềm năng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức trong cả nước và đưa nó sánh ngang với những quốc gia hàng đầu thế giới trong nghiên cứu khoa học xã hội như Mỹ, Anh và Canada.

Người dịch: Nguyễn Kim Tôn

Nguồn: B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan, Social Science Research in India, China and Brazil – A comparative Stud, DESIDOC Journal of Library & Information Technology, Vol. 29, No. 2, March 2009, pp 15 – 23 # 2009

TN 2013 – 80, 81 & 82

Thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil – một góc nhìn so sánh – Phần III


4.6.1/ Đôi nét về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học xã hội của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil

Brazil đang dẫn đầu trong hợp tác quốc tế với con số thống kê đạt tỉ lệ lớn nhất các ấn phẩm xuất bản quốc tế với 27,75% trong tổng số các ấn phẩm được cộng tác xuất bản trong suốt thời kỳ 1996 – 2007, theo sau là Trung Quốc với tỉ lệ 15,81% và Ấn Độ là 14,96%. Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil có đối tác nghiên cứu từ trên 20 quốc gia khác nhau. Mỹ và Vương quốc Anh là những đối tác nghiên cứu chủ yếu với 12% đến 47% các ấn phẩm hợp tác quốc tế là cộng tác với hai quốc gia này trong thời kỳ 1996 – 2007. Đối tác nghiên cứu khoa học của ba nước trên đến từ những quốc gia khác chiếm từ 0,10% đến 10% trong tổng số các ấn phẩm hợp tác quốc tế, bao gồm Đức, Australia, Hà Lan, Canada, Hungary, Nhật Bản, Thụy Sĩ, Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch, Bỉ, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) (Bảng 8).

20170116-103652_p11-1

4.7/ Đôi nét về xuất bản của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil chia theo vùng địa lý

Delhi, Mumbai, Bangalore, Kolkata và Chennai là những vùng chủ yếu của Ấn Độ đóng góp từ 5% đến 20,9% của mỗi vùng trong tổng số các ấn phẩm xuất bản của cả nước trong lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007 (Tổng cộng các vùng trên chiếm 53,73%). Hyderabad, Pune, Kanpur, Chandigarh và Lucknow đóng góp với tỉ lệ từ 1,0% đến 3,14%. Mumbai và Pune đã thể hiện sự tăng trưởng tỉ lệ đóng góp trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007, trong khi các khu vực chính lại cho thấy sự suy giảm tỉ lệ trong cùng thời kỳ.

Vũ Hán, Bắc Kinh và Thượng Hải là những thành phố chủ yếu của Trung Quốc đóng góp với tỉ lệ từ 17,29% đến 21,8% của mỗi thành phố trong tổng số các ấn phẩm xuất bản của Trung Quốc trên lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007 (Tổng đóng góp của 3 thành phố trên là 58,35%). Nam Kinh, Cáp Nhĩ Tân, Tứ Xuyên, Triết Giang và Hồ Bắc là những khu vực có đóng góp đáng kể. Vũ Hán và Bắc Kinh cho thấy sự suy giảm trong tỉ lệ đóng góp của họ trong 9 năm, trong khi các vùng khác lại có những tăng trưởng trong tỉ lệ đóng góp trong thời kỳ từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007.

Sao Paulo và Rio de Janeiro là những khu vực chính của Brazil đóng góp từ 20,09% đến 30,06% của mỗi khu vực trong tổng số các ấn phẩm xuất bản của Brazil trên lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007 (Tổng đóng góp của 3 khu vực trên là 50,75%). Rio Grande, Brasilia, Minas Gerais và Panana đóng góp từ 3% đến 7,37%. Rio de Janeiro, Bahia, Para và Amazonas có sự suy giảm trong tỉ lệ đóng góp của mỗi vùng qua thời gian, nhưng các vùng khác lại cho thấy sự gia tăng tỉ lệ đóng góp của họ trong thời kỳ 1996 – 1998 và 2005 – 2007 (Bảng 9).

20170116-103652_p12

20170116-103652_p13

4.8/ Các cơ quan nghiên cứu đầu ngành của Ấn Độ

Trên cơ sở phân tích nguồn dữ liệu xuất bản của Ấn Độ thấy rằng có 19 cơ quan có tiềm lực lớn trong nghiên cứu khoa học xã hội. Mỗi cơ quan này xuất bản khoảng 50 hoặc nhiều hơn các ấn phẩm khoa học trong thời kỳ từ 1997 – 2007. Tổng số 19 cơ quan này đã đóng góp 3860 bài báo, chiếm 28,39% tổng số các ấn phẩm khoa học xã hội được xuất bản của Ấn Độ. Mỗi cơ quan nghiên cứu này đóng góp từ 59 đến 779 ấn phẩm xuất bản, tính trung bình mỗi đơn vị đóng góp 230 ấn phẩm xuất bản. Chỉ có 5 cơ quan đóng góp lượng ấn phẩm xuất bản với số lượng trên trung bình. Tỉ lệ đóng góp cảu họ đã suy giảm 7% qua thời gian (từ 34,7% xuống còn 27,7%) trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007. Tốc độ tăng trưởng xuất bản trung bình của 19 cơ quan này trong 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007 là 62,77%. Chỉ có 7 cơ quan có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình của 19 cơ quan. Tỉ lệ trích dẫn trung bình của một bài báo của 19 cơ quan trên là 1,17 lần. 11 trong tổng số 19 cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ có tỉ lệ trích dẫn của mỗi bài báo cao hơn mức trung bình của 19 cơ quan (Bảng 10).

20170116-103652_p14

20170116-103652_p15

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Kim Tôn

Nguồn: B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan, Social Science Research in India, China and Brazil – A comparative Stud, DESIDOC Journal of Library & Information Technology, Vol. 29, No. 2, March 2009, pp 15 – 23 # 2009

TN 2013 – 80, 81 & 82

Thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil – một góc nhìn so sánh – Phần II


4.2/ Sự thay đổi tỉ lệ của các quốc gia phát triển

26 quốc gia hàng đầu trong nghiên cứu khoa học xã hội đã cho thấy sự thay đổi tỉ lệ đóng góp của họ qua thời gian. Đặc biệt, một số quốc gia phát triển trong danh sách lựa chọn đã cho thấy sự đi xuống trong tỷ lệ đóng góp của họ qua 10 năm. Những quốc gia này bao gồm cả Mỹ (giảm từ 36,17% xuống còn 24,71% trong thời kỳ 1996 – 2007), Nhật Bản (từ 1,73% xuống còn 1,47%), Liên bang Nga (từ 0,38% xuống còn 0,29%) và Ba Lan (từ 0,31% xuống còn 0,30%). Mặt khác, các quốc gia như Vương quốc Anh, Tây Ban Nha, Australia, Italy, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Thụy Sĩ đã cho thấy sự phát triển hạn chế trong tỉ lệ của họ so với thế giới, từ 0,17% đến 0,58% trong cùng thời kỳ (Bảng 2).

20170116-103652_p2

20170116-103652_p3

4.3/ Sự thay đổi tỉ lệ của các quốc gia đang phát triển

Thứ bậc của các quốc gia đang phát triển trong danh sách 26 quốc gia có năng lực cao nhất trong nghiên cứu khoa học xã hội, trừ Israel cho thấy sự tăng trưởng về tỉ lệ đóng góp của họ trong tổng số các ấn phẩm xuất bản trên toàn thế giới, trong khoảng 0,10% đến 2,78%. Trung Quốc cho thấy sự tăng trưởng lớn nhất,  2,78% (từ 0,85% lên đến 3,63%), trái lại, Ấn Độ có mức tăng trưởng thấp và không thực sự ấn tượng, chỉ có 0,10% (từ 0,91% lên đến 1,01%) trong cùng thời kỳ, từ 1996 – 2007.

4.4/ Tốc độ tăng trưởng xuất bản

Ấn Độ đạt được tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 10,9% trong suốt thời kỳ 1996 – 2007. So sánh với Trung Quốc và Brazil có được tốc độ tăng trưởng cao hơn so với 36,75% và 24,79% tương ứng trong cùng thời kỳ. Brazil dẫn trước Ấn Độ và Trung Quốc về bài báo được trích dẫn. Nó có tỉ lệ trích dẫn trung bình trên mỗi bài báo là 1,66 lần, so với 0,82 lần của Ấn Độ và 0,52 lần của Trung Quốc. Nguồn dữ liệu này đã thể hiện rằng năng suất cao không phải là chỉ dẫn cần thiết để xác định chất lượng và sự hoàn hảo trong nghiên cứu. Brazil thể hiện năng lực thấp nhất trong xuất bản trong ba nước nhưng lại thể hiện khả năng cao nhất trong số lần các bài báo được trích dẫn (Bảng 3 và 4).

20170116-103652_p4

20170116-103652_p5

4.5/ Những tương đồng trong ưu tiên nghiên cứu của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil

Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Ấn Độ trong ưu tiên nghiên cứu khoa học xã hội. Cả hai nước đều cho thấy lĩnh vực kinh doanh, quản lý và kế toán là những lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu và đóng góp tỉ lệ lớn nhất trong tổng số sản phẩm nghiên cứu của mỗi quốc gia (tại Trung Quốc là 52,61% và Ấn Độ là 41,12%). Khoa học xã hội nói chung là lĩnh vực ưu tiên thứ hai với tỉ lệ 30,06% tại Trung Quốc và 39,41% tại Ấn Độ. Tiếp theo là khoa học quyết định với 14,53% của Trung Quốc và 14,2% của Ấn Độ. Kinh tế học, kinh tế lượng và tài chính với 4,22% của Trung Quốc và 9,08% của Ấn Độ và tâm lý học chiếm tỷ lệ 4,14% tại Trung Quốc và 6,46% tại Ấn Độ. Brazil, trái ngược lại, thể hiện sự khác biệt tỉ lệ khá lớn trong thứ tự ưu tiên nghiên cứu của từng ngành trong lĩnh vực khoa học xã hội. Chiếm tỉ lệ lớn nhất là tâm lý học với 25,74%, 14,29% của ngành khoa học quyết định, 9,53% của ngành kinh tế học, kinh tế lượng và tài chính, 9,22% của ngành kinh doanh, quản lý và kế toán (Bảng 5).

20170116-103652_p6

20170116-103652_p7

4.6/ Đôi nét về hợp tác nghiên cứu của Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil

Brazil được công nhận có tỉ lệ cộng tác trong xuất bản cao nhất (27,7%) trong tổng số các ấn phẩm xuất bản trong lĩnh vực khoa học xã hội trong thời kỳ 1996 – 2007, tiếp theo sau là Trung Quốc (16,8%), Ấn Độ (14,9%). Tuy nhiên, sự hợp tác nghiên cứu của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil tiến triển không vững chắc. Cả Brazil và Trung Quốc đều có những thay đổi theo chiều hướng giảm dần tỉ lệ trong các ấn phẩm được hợp tác nghiên cứu trong tổng số các ấn phẩm xuất bản của họ với 10,6% và 7,6% của mỗi nước. Trái lại, Ấn Độ đã cho thấy sự tăng trưởng hạn chế với 1,5% trong 9 năm, từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007 (Bảng 6). Sự thay đổi không tíhc cực trong hợp tác nghiên cứu đã xảy ra mặc dù Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng trong xuất bản các ấn phẩm khoa học xã hội cao nhất với 638,3% trong suốt 9 năm từ 1996 – 1998 đến 2005 – 2007, tiếp theo là Brazil với 358,9% và Ấn Độ là 103,6% (Bảng 7).

20170116-103652_p8

20170116-103652_p9

20170116-103652_p10

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Kim Tôn

Nguồn: B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan, Social Science Research in India, China and Brazil – A comparative Stud, DESIDOC Journal of Library & Information Technology, Vol. 29, No. 2, March 2009, pp 15 – 23 # 2009

TN 2013 – 80, 81 & 82

Thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil – một góc nhìn so sánh – Phần I


B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan

Tóm tắt

Bài báo so sánh thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil trên cơ sở sử dụng các nguồn chỉ dẫn khác nhau. Nó đặc biệt tập trung vào việc phân tích tỷ lệ trung bình các ấn phẩm xuất bản hàng năm so với tổng số các ấn phẩm được xuất bản và chia sẻ trên toàn cầu; những nét tương đồng trong nghiên cứu ở những quốc gia khác nhau; ưu tiên nghiên cứu của các nước thông qua việc xác định phạm vi nghiên cứu của các ấn phẩm xuất bản trên các lĩnh vực; tỉ lệ các ấn phẩm hợp tác quốc tế trong tổng số các ấn phẩm đã xuất bản của mỗi quốc gia; sự phân bố các ấn phẩm xuất bản theo vùng địa lý trong mỗi quốc gia; đặc 9diểm của các tổ chức có năng lực cao trong nghiên cứu và thống kê các bài báo được trích dẫn.

1/ Giới thiệu

Nghiên cứu khoa học xã hội ở Ấn Độ phần lớn được thực hiện từ nguồn quỹ nhà nước, chủ yếu là do Chính phủ Ấn Độ (GOI) và các cơ quan của nó như Hội đồng Nghiên cứu Khoa học xã hội Ấn Độ, Hội đồng Tài trợ Đại học (UGC). UGC đã giới thiệu một số chương trình tài trợ như: Chương trình hỗ trợ đặc biệt; Trung tâm nghiên cứu cao cấp; học bổng tiến sĩ phục vụ cho việc thành lập và mở rộng các khoa học xã hội trong các trường đại học, tương đương các trường đại học và sau đại học. Ngoài ra, các cơ quan của Liên hợp quốc, cơ quan tài trợ của chính phủ các nước, các cơ quan tài chính quốc tế, các cơ quan và các tổ chức tài trợ tư nhân tài trợ cho nghiên cứu khoa học xã hội. Tuy nhiên, nó chiếm tỷ lệ nhỏ so với nguồn quỹ được cung cấp bởi chính phủ Ấn Độ.

Hiện tại, có khoảng trên 400 các cơ quan, tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ, tiêu biểu như những trường đại học chuyên ngành thuộc lĩnh vực học thuật (190 đơn vị); các cơ quan chính phủ dưới sự điều hành của chính phủ (67); các cơ quan nghiên cứu tự chủ dưới sự điều hành của các cơ quan chính phủ (27); NGOs, các cơ quan quốc tế, các đơn vị tư nhân (133). Trong giai đoạn từ 2004 – 2005, chính phủ Ấn Độ đã chi tiêu xấp xỉ 6 tỷ rupie mỗi năm để duy trì hoạt động của các tổ chức nghiên cứu khoa học. Trải qua nhiều năm, các tổ chức nghiên cứu này đã tạo dựng được năng lực và khả năng to lớn trong nghiên cứu khoa học xã hội. Mục tiêu của họ là sáng tạo ra tri thức bằng việc nâng cao nhận thức của chúng ta về những tiến trình xã hội – kinh tế; ứng dụng tri thức bằng việc thực hiện các nghiên cứu về chính sách công và các nghiên cúu khác nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội – kinh tế và sử dụng tri thức bằng cách đánh giá sự tác động của các chương trình chính phủ. Ủy ban thẩm định trực thuộc Hội đồng nghiên cúu khoa học xã hội Ấn Độ (ICSSR) báo cáo rằng, nghiên cứu khoa học xã hội hiện nay chủ yếu được dẫn dắt theo hai hướng: Quan tâm đến sự nhận biết về chức năng của xã hội trong sự đa dạng trên các khía cạnh xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế cũng như là các yếu tố làm hình thành chúng; những hành động cần thiết của các nhà quản lý, hoạch định chính sách trong chính phủ, xã hội dân sự, khu vực tư nhân để có được các tư liệu tin cậy và phân tích khoa học.

Trong quá khứ, một số nghiên cứu dựa trên phương pháp toán học, thống kê và định lượng (bibliometric studies) đã được thực hiện nhằm tìm hiểu về thực trạng nghiên cứu khoa học xã ội tại Ấn Độ. Báo cáo của Ủy ban thẩm định thuộc Hội đồng nghiên cứu khoa học xã hội Ấn Độ (ICSSR) cũng đánh giá thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội tại Ấn Độ dựa trên phương pháp phân tích toán học, thống kê và định lượng các nguồn tài liệu mẫu xuất bản trong năm 2004 – 2005 của 8 tạp chí được lựa chọn và các ấn phẩm xuất bản như sách, tài liệu chuyên khảo dược xuất bản dưới dạng các chủ đề nghiên cứu khoa học xã hội của 8 nhà xuất bản.

Những thông tin thu được từ việc nghiên cứu trên có thể lệch lạc và không chuẩn xác. Để tạo dựng một bức tranh chân thực và khách quan hơn về thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội của Ấn Độ, hiểu được bức tranh nghiên cứu này thay đổi như thế nào qua thời gian thì điều quan trọng là phải phân tích tổng thể các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội đã được xuất bản trong 10 năm hoặc lâu hơn chứ không chỉ giới hạn nghiên cứu ở một nhóm tạp chí. Hơn thế nữa, sẽ hữu ích hơn nếu thực hiện nghiên cứu trong nền tảng so sánh, nghiên cứu xem Ấn Độ đã và đang tiến hành nghiên cứu khoa họ xã hội như thế nào trong sự so sánh với Trung Quốc và Brazil – những quốc gia hàng đầu trong số các nước đang phát triển. Đây là điều cần thiết cho việc thực hiện nghiên cứu này.

2/ Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là so sánh thực trạng nghiên cứu khoa học xã hội của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil trên cơ sở sử dụng các tiêu chuẩn như:

(i) Tỉ lệ ấn phẩm xuất bản hàng năm trong mối tương quan với tổng số các ấn phẩm xuất bản trên toàn thế giới.

(ii) Nét tương đồng trong nghiên cứu ở những quốc gia khác nhau;

(iii) Ưu tiên nghiên cứu của các nước được xác định bởi phạm vi nghiên cứu của các ấn phẩm đã được xuất bản trên các lĩnh vực;

(iv) Tỉ lệ các ấn phẩm hợp tác quốc tế trong tổng số các ấn phẩm đã xuất bản của mỗi quốc gia;

(v) Sự phân bố các ấn phẩm xuất bản theo từng vùng địa lý trong mỗi quốc gia;

(vi) Đặc điểm của các tổ chức có năng lực cao trong nghiên cứu và thống kê các bài báo được trích dẫn.

3/ Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Bài nghiên cứu này sử dụng SCOPUS – nguồn dữ liệu quốc tế để nắm bắt được các nguồn tài liệu xuất bản của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil trong lĩnh vực khoa học xã hội. SCOPUS là nguồn dữ liệu quốc tế đa dạng bao phủ 15000 tạp chí quốc tế, trong đó có khoảng 4000 tạp chí trong lĩnh vực khoa học xã hội. Nghiên cứu này sử dụng nguồn dữ liệu đã được xuất bản trong 12 năm từ 1996 – 2007 của Ấn Độ, Trung Quốc và Brazil. Hơn thế nữa, nghiên cứu này còn sử dụng các nguồn tài liệu trích dẫn để phân tích chất lượng các sản phẩm nghiên cứu. Chất lượng các sản phẩm nghiên cứu đã được so sánh với trung bình các trích dẫn mà mỗi bài báo nhận được trong ba năm đầu tiên kể từ khi được đăng trên tạp chí. Khung thời gian ba năm trích dẫn đã được sử dụng để so sánh chất lượng nghiên cứu được xuất bản từ năm 1996 đến năm 2004. Khung thời gian 2 và 1 năm trích dẫn được sử dụng cho các bài báo được xuất bản trong năm 2005 và năm 2006.

4/ Phân tích

4.1/ Tỷ lệ ấn phẩm xuất bản của Ấn Độ trong lĩnh vực khoa học xã hội và xếp hạng trên thế giới

Trong lĩnh vực khoa học xã hội, xếp hạng của Ấn Độ là đứng thứ 13 trong tổng số 26 nước có năng lực cao nhất, chiếm 1% trong tổng số các ấn phẩm xuất bản trên toàn thế giới. Xét về tổng thể, 26 quốc gia chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số các ấn phẩm xuất bản của thế giới trên lĩnh vực khoa học xã hội cho thấy sự chênh lệch khá lớn trong tỷ lệ đóng góp của từng quốc gia, giữa 0,35% đến 29,17% tổng số các ấn phẩm xuất bản của thế giới tích lũy trong suốt thời kỳ 1996 – 2007. Mỹ đứng đầu danh sách với tỷ lệ 29,17% tổng số ấn phẩm xuất bản trên toàn thế giới. Theo sau Mỹ là Vương quốc Anh với 9,84%. Những quốc gia đứng ở vị trí thứ 3 đến thứ 14 hco thấy sự chênh lệch trong tỷ lệ đóng góp nhưng sự chênh lệch này là không lớn, chỉ từ 1% đến 4,07%. Những quốc gia phát triển nằm trong thứ tự trên lần lượt là Canada, Đức, Australia, Hà Lan, Trung Quốc và Pháp (chiếm tỷ lệ từ 2,13% đến 4,07% trong tổng số các ấn phẩm xuất bản trên toàn thế giới). Những quốc gia khác trong danh sách này là Nhật Bản, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Ấn Độ và Israel, đứng ở vị trí từ thứ 9 đến 14 và sự chênh lệch trong tỉ trọng ấn phẩm xuất bản trên thế giới có sự khác nhau torng khoảng từ 1% đến 1,62% (Bảng 1).

 

Bảng 1

 

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Kim Tôn

Nguồn: B.M. Gupta, UgrasenSingh & S.M. Dhawan, Social Science Research in India, China and Brazil – A comparative Stud, DESIDOC Journal of Library & Information Technology, Vol. 29, No. 2, March 2009, pp 15 – 23 # 2009

TN 2013 – 80, 81 & 82