Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần cuối


Sự đồng thuận giữa Mỹ và châu Âu cũng rất quan trọng. Trong vài chục năm qua, các nước châu Âu thỉnh thoảng vẫn theo đuổi đối thoại với Iran và đưa ra các gói hỗ trợ kinh tế với hy vọng điều tiết chính sách của Tehran trong 4 vấn đề: nhân quyền, vũ khí hạt nhân, khủng bố và hòa bình Trung Đông. Tuy nhiên, cách tiếp cận này đến nay vẫn chưa tạo ra kết quả nào đáng kể trong các chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Iran. Trái lại, Iran còn đe dọa sử dụng chính sách khu vực để làm phức tạp thêm cuộc khủng hoảng di cư tại châu Âu, đồng thời tiếp tục bắt giữ công dân châu Âu làm con tin, thậm chí còn hành quyết một công dân Pháp trong năm 2020. Điều này phần nào khiến người dân châu Âu cũng có thái độ tiêu cực về Iran giống như người Mỹ.

Có thể nói lần duy nhất chính sách của châu Âu tác động tích cực tới hành vi của Iran là vào năm 2012, khi Liên minh châu Âu hợp tác với chính quyền Obama quyết định ngừng nhập khẩu dầu thô từ Iran, mở đường cho sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân 2015. Chính phủ Iran sẽ không nhượng bộ các yêu cầu của Mỹ nếu cảm thấy châu Âu đứng về phía mình, như trường hợp năm 2018, khi Tổng thống Mỹ Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận hạt nhân.

Mặc dù vậy, Mỹ còn cần phải tìm kiếm sự hợp tác ngoài châu Âu. Theo một số ước tính, xấut khẩu dầu thô của Iran sang Trung Quốc đã tăng gấp 4 lần chỉ trong năm qua, khiến Tehran không còn cảm thấy nhất thiết phải quay lại thỏa thuận hạt nhân. Mọi nỗ lực nhằm thay đổi toan tính của Iran đều phải được Trung Quốc chấp thuận. Mặc dù quan điểm về Iran giữa Washington và Bắc Kinh có sự khác biệt, nhưng hai bên vẫn có điểm chung là không muốn Iran sở hữu bom hạt nhân và không muốn xung đột với Iran. Hơn nữa, Trung Quốc muốn Trung Đông ổn định để bảo đảm nguồn cung dầu dồi dào từ khu vực này. Các vụ Iran bắt giữ tàu chở dầu hoặc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào Saudi Arabia và UAE – hai đối tác mà giá trị thương mại của họ với Trung Quốc đều cao hơn với Iran – ảnh hưởng tới lợi ích của Bắc Kinh nhiều hơn lợi ích của Mỹ, do gần đây xuất khẩu năng lượng của Washington đã nhiều hơn nhập khẩu.

Cuối cùng, Mỹ cần phải giúp củng cố các quốc gia Arab đang bị Iran thao túng và nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết giữa họ. Các quốc gia này bị Iran lợi dụng do có chính quyền yếu kém, bất ổn hoặc xã hội chia rẽ. Trong thế kỷ 20, chủ nghĩa dân tộc là nhân tố quyết định để các nước thuộc địa chống lại các đế quốc phương Tây và Xô Viết. Tương tự, chủ nghĩa dân tộc ở các nước như Iraq, Liban, Syria và Yemen – hoặc một tinh thần dân tộc chung của khối Arab – sẽ là yếu tố không thể thiếu để chống lại sức ảnh hưởng của Iran và khôi phục chủ quyền của các quốc gia này. Tinh thần đoàn kết nội bộ trong khối Arab cũng vô cùng quan trọng. Mối bất hòa giữa các thành viên Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) dẫn đến việc Saudi Arabia và UAE cấm vận Qatar từ năm 2017 đến đầu năm 2021 đã làm suy yếu đáng kể tiếng nói của GCC về các mối quan ngại chung liên quan đến chương trình hạt nhân và các chính sách khu vực khác của Iran. Mặc dù Mỹ, châu Âu và Trung Quốc có các lợi ích khác nhau liên quan đến Iran, nhưng không bên nào muốn gây chiến với Tehran hoặc chứng kiến họ sở hữu vũ khí hạt nhân. Mỹ từng đóng vai trò liên kết các cường quốc này trong vòng đàm phán dẫn đến sự ra đời của Thỏa thuận hạt nhân năm 2015, và hiện nên một lần nữa đứng ra nhận trách nhiệm này trong các cuộc thảo luận mới về an ninh Trung Đông. Không một quốc gia nào có lợi (có lẽ ngoại trừ Nga) nếu Trung Đông không tôn trọng pháp quyền, chủ quyền, quyền tự do cung cấp năng lượng, hoặc bị các lực lượng khủng bố hoành hành. Mỹ cần phải nỗ lực thuyết phục các đối tác về sự thật này, kêu gọi các bên cùng chống lại các hành vi ác ý của Iran và hạn chế cũng như chống lại các năng lực của nước này.

Vua bãi rác

Quyền lực của Iran ở Trung Đông đang lên, nhưng có thể sẽ sớm chấm dứt. Người Arab từng đối đầu với các thế lực bá quyền Thổ Nhĩ Kỳ và phương Tây trong nhiều thế kỷ sẽ không dễ dàng khuất phục trước ảnh hưởng của Iran. Ngay cả những người Arab được coi là có thiện cảm với Iran, chẳng hạn như cựu Thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki, người từng sống lưu vong nhiều năm ở Tehran trước khi bước chân vào chính trường, cũng oán hận Iran. Maliki từng nói với Đại sứ Mỹ ở Baghdad: “Ngài chưa hiểu thế nào là đau khổ, trừ phi ngài là một người Arab buộc phải sống chung với người Ba Tư”.

Đại chiến lược của Iran làm nước này kiệt quệ về nguồn lực và sa sút về uy tín như một cây nến cháy cả hai đầu. Nó mang sang các nước khác sự đàn áp chính trị, bức bối xã hội và khó khăn kinh tế mà người dân Iran trong nước từ lâu đã phải gánh chịu. Có thể Iran sẽ tiếp tục là “vua bãi rác” trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ nữa. Rất ít quốc gia trong khu vực hoặc thế giới mong muốn hoặc có đủ khả năng thách thức sự vượt trội của Iran tại Iraq, Liban, Syria và Yemen. Sau hai thập kỷ chiến tranh ở Afghanistan và Iraq, chắc chắn Mỹ không điều quân đến Trung Đông nộp mạng. Vì vậy, giống như một tòa nhà cao tầng với nền móng đang xuống cấp, Iran dù lung lay dễ đổ nhưng sẽ tiếp tục phủ bóng đen lên một số nước Trung Đông trong tương lai.

Cũng có thể tòa nhà cao tầng này sẽ sụp đổ. Mỹ không thể thay đổi quyết tâm chống Mỹ và tiêu diệt Israel của Iran, nhưng với sự giúp đỡ của các nước khác, Mỹ có thể kiềm chế Tehran cho đến khi quốc gia này có một chính phủ mới với mong muốn làm những điều tốt cho Iran, thay vì hành động chỉ để chống phá các đối thủ về ý thức hệ. Rốt cuộc, đại chiến lược của Iran sẽ bị đánh bại, không phải bởi Mỹ hay Israel, mà bởi chính người dân Iran, những người đã phải trả cái giá đắt nhất cho chính sách này.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần III


Thành công dẫn tới tự mãn

Một cuộc cách mạng chống lại tình trạng hủ bại và sự đàn áp dưới thời chế độ quân Mohammad Reza Shah Pahlavi giờ đây đã trở thành một đội quân Hồi giáo nước ngoài lún sâu vào những hành vi đàn áp chính trị còn nghiêm trọng hơn, như tiến hành các vụ ám sát, bắt giữ con tin, tham nhũng và buôn bán ma túy. Tuy nhiên, dù Iran thành công trong việc nuôi dưỡng các nhóm chiến binh trên khắp Trung Đông, có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy họ đã đi quá xa. Theo các cuộc thăm dò dư luận, gần 2/3 thanh niên Arab trong khu vực coi Iran là kẻ thù; phần lớn người Arab ở mọi lứa tuổi muốn Iran rút khỏi các cuộc xung đột khu vực; và hơn một nửa số người Arab Hồi giáo dòng Shiite có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Trong những năm gần đây, người biểu tình Iraq đã tấn công và phóng hỏa các lãnh sự quán Iran ở Najaf và Karbala – hai thành phố linh thiêng của người Shiite và vốn là thành trì lâu đời của Iran ở Iraq – và người Shiite ở Liban đã biểu tình chống lại Hezbollah ở thành phố Nabatiyah, miền Nam Liban.

Mối lo ngại chung về Iran cũng là lý do dẫn đến sự ra đời của Hiệp định Abraham, thỏa thuận năm 2020 nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Israel với các nước Arab mang lại cho Israel một chỗ đứng chiến lược cách biên giới Iran vài chục cây số. Lên án hiệp định Abraham là “sự phản bội đối với thế giới Hồi giáo”, Khamenei cho rằng những khó khăn của người Palestine là vấn đề quan trọng nhất trong thế giới Hồi giáo và tiếp tục dành nguồn lực đáng kể để chống lại Israel. Sự ủng hộ của Khamenei dành cho các đội quân ủy nhiệm khu vực trong và ngoài các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng đã tạo ra một “trục đau khổ” trải dài khắp Trung Đông. Syria và Yemen vẫn chìm trong nội chiến. Tại Liban, một cuộc thăm dò gần đây của Gallup cho thấy 85% dân số sống trong nghèo khó, hơn 50% không đủ tiền mua thực phẩm và 63% muốn rời khỏi đất nước vĩnh viễn.

Các chính sách khu vực của Iran có thể khiến người Arab xa lánh, nhưng nhiều khả năng sẽ không thể khiến Mỹ đưa ra phản ứng đáng kể. Không giống các nhóm cực đoan tiến hành tấn công trực diện vào lãnh thổ Mỹ, chẳng hạn như al-Qaeda và ISIS, các nhà lãnh đạo thần quyền của Iran – những người điều hành một đất nước dồi dào tài nguyên và do đó có nhiều điều để mất – nhắm vào các lợi ích của Mỹ ở Trung Đông thông qua các lực lượng ủy nhiệm và máy bay không người lái, tạo ra thêm một tầng ngăn cách giữa hai bên. Hơn nữa, mục tiêu của Iran là khuếch trương ảnh hưởng ở Trung Đông mà không phải gánh trách nhiệm điều hành công vụ hàng ngày. Không có quyết định an ninh quốc gia quan trọng nào có thể được đưa ra ở Iraq hoặc Liban mà không có ự ủng hộ của các dân quân Shiite do Iran điều khiển. Nhưng các lực lượng dân quân này không phải chịu trách nhiệm giải quyết tình trạng thất nghiệp hoặc tham nhũng, hay những việc như thu gom rác thải. Lực lượng dân quân của Iran có sức mạnh; chính phủ chịu trách nhiệm giải trình.

Quê nhà sẽ là nơi chiến lược lớn của chế độ Iran đe dọa sự tồn vong của chính họ. Khi nền kinh tế trong nước suy thoái, người dân Iran chắc chắn sẽ chất vấn các chính sách của chính phủ bao gồm chính sách thù địch với Mỹ và chủ nghĩa phiêu lưu nước ngoài. Trong các cuộc biểu tình ở Iran, người dân thường hô các khẩu hiệu như “Quên Syria đi; hãy nghĩ về chúng tôi” và “Họ nói dối rằng kẻ thù của chúng ta là Mỹ; kẻ thù của chúng ta đang ở ngay đây”. Tuy nhiên, thường có hai điều kiện tiên quyết dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ độc tài: áp lực từ bên dưới và sự chia rẽ ở cấp trên. Mặc dù bất ổn trong dân chúng Iran ngày càng gia tăng, nhưng chí ít thì khi nhìn từ bên ngoài, lực lượng an ninh Iran hiện vẫn đoàn kết và sẵn sàng xuống tay thực hiện các vụ sát hại, trong khi quần chúng bất mãn vẫn bị chia rẽ và thiếu sự dẫn dắt.

Sự ổ định trong ngắn hạn cho thấy chiến lược lớn của Iran sẽ không thay đổi chừng nào Khamenei còn là nhà lãnh đạo tối cao, và có thể sẽ còn được duy trì sau khi ông ra đi, nhờ thành công mà Iran nhận thấy từ nó. Sau khi Mỹ rút khỏi Afghanistan, Iran càng có thêm động lực để ép Washington phải từ bỏ Iraq và các căn cứ quân sự ở vùng Vịnh. Với các chính sách của mình trong khu vực, Iran chỉ phải trả những cái giá tương đối nhẹ nhàng, nhất là nếu so với những thiệt hại khổng lồ mà Tehran đã phải gánh chịu khi bị phương Tây trừng phạt mỗi khi vi phạm cam kết hạt nhân. Vì vậy, không có lý do gì để Tehran ngừng sự hỗ trợ cho các lực lượng dân quân ở Trung Đông.

Mặt trận thống nhất

Trải qua 4 thập kỷ thù địch Mỹ – Iran, đã có vô số giải pháp đơn giản được đề xuất nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh này. Tại sao Mỹ không theo đuổi chính sách ngoại giao, bắt tay với nước Cộng hòa Hồi giáo, hoặc ủng hộ người dân Iran lật đổ chế độ? Tuy nhiên, vấn đề cơ bản nhất lại không tìm được câu trả lời dễ dàng: Mỹ phải làm gì trước một đối thủ luôn tránh đối thoại trực tiếp, coi sự thù địch với Mỹ là nền tảng cho bản sắc, đồng thời có cả nguồn lực lẫn quyết tâm gieo rắc sự hỗn loạn khắp Trung Đông và sẵn sàng sát hại hàng nghìn công dân của chính mình để bảo toàn quyền lực?

Nhận thức của Mỹ về Iran bị ảnh hưởng bởi sự ghẻ lạnh và tự kiêu chiến lược trong 4 thập kỷ qua. Các nhà hoạch định chính sách ở Washington tin rằng tư tưởng cách mạng của Iran có thể được uốn nắn bằng cách can dự hoặc bị triệt tiêu bởi các biện pháp cứng rắn. Phe cấp tiến cho rằng sự cứng đầu của Tehran chỉ là sự phản ứng trước các chính sách thù địch của Mỹ, trong khi phe bảo thủ tin rằng kinh tế cùng quẫn sẽ buộc Tehran phải lựa chọn giữa lý tưởng và sự tồn vong của chế đọ. Tuy nhiên, với Khamenei, duy trì lý tưởng cách mạng Iran vừa là mục đích vừa là phương tiện để đảm bảo sự tồn tại của chế độ.

Giống như Nga, Iran luôn tìm kiếm an ninh trong sự bất an của kẻ khác. Nhà nước Cộng hòa Hồi giáo luôn lợi dụng sự chia rẽ về ý thức hệ, bè phái và tôn giáo để có được sức ảnh hưởng tại các quốc gia nhỏ, đồng thời cũng rất giỏi trong việc lợi dụng sự cạnh tranh giữa các nước lớn. Do Mỹ không có nhiều công cụ để gây sức ép với Iran, bởi hầu hết thương mại của Tehran là với các nước khác, nên việc xây dựng một chiến lược hiệu quả để kiềm chế và chống lại Iran không chỉ cần tới sự lãnh đạo của Mỹ mà còn đòi hỏi phải xây dựng một sự đồng thuận quốc tế.

Bước đi đầu tiên hướng tới chiến lược này là xây dựng sự đồng thuận chính trị trong nước Mỹ. Trước khi thỏa thuận hạt nhân năm 2015 được ký kết, đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa đã có sự nhất trí cao về bản chất của chế độ Iran và các mối đe dọa của nó đối với an ninh khu vực. Nhưng thỏa thuận năm 2015, theo đó các lệnh trừng phạt của Mỹ và quốc tế được dỡ bỏ để đổi lấy sự nhượng bộ hạt nhân của Iran, lại khiến cuộc tranh luận chính sách rẽ theo hai hướng khác nhau, thể hiện rõ chủ trương của mỗi đảng: Phe Cộng hòa chỉ trích Chính quyền Obama quá mềm mỏng và phe Dân chủ chỉ trích đảng Cộng hòa thích gây chiến.

Tuy nhiên, nhìn bao quát, rõ ràng cả hai đảng đều có chung quan điểm chiến lược về Iran. Đảng Cộng hòa có thể kịch liệt phản đối chế độ Iran và thỏa thuận hạt nhân, nhưng cũng nhận ra rằng các đảng viên đều không muốn Mỹ dính líu vào một cuộc xung đột nữa ở Trung Đông. Về phần mình, các đảng viên Dân chủ có thể ủng hộ biện pháp can dự với Tehran và quay lại thỏa thuận hạt nhân, nhưng các cuộc thăm dò của Trung tâm nghiên cứu Pew cho thấy 70% cử tri Dân chủ có cái nhìn không thiện cảm về Iran. Nói cách khác, giữa hai đảng đã có đủ cơ sở để xây dựng sự đồng thuận trong đánh giá khách quan về bản chất về chế độ Iran, không cường điệu hóa và cũng không coi nhẹ mối đe dọa mà Tehran đang tạo ra với Mỹ, cũng như với lợi ích và các đối tác của Washington tại Trung Đông.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Thổ Nhĩ Kỳ là trọng tâm địa chiến lược mới của thế giới?


Theo thehill.com, Mỹ và Trung Quốc hiện là hai nền kinh tế lớn nhất nhì thế giới, trong khi Mỹ và Nga là siêu cường hạt nhân duy nhất trên toàn cầu. Thế nhưng, Thổ Nhĩ Kỳ, vối vị trí địa lý của mình cùng cú hat-trick gồm 3 quyết định vô cùng thảm họa của Tổng thống Nga Vladimir Putin, có thể còn có sức ảnh hưởng hơn cả ba nước kia tại thời điểm này.

Cuộc tấn công của Putin vào Ukraine đã phơi bày sự yếu kém của quân đội Nga; kéo theo điều có thể coi là một sự mở rộng của NATO – điều mà Putin không muốn nhất; và đẩy nhanh một cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu cho khoảng 1 tỷ dân. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ cần phải chấp nhận để Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO, điều kiện cần thiết theo quy định về sự đồng thuận tuyệt đối trong Hiệp ước Washington. Tuy nhiên, cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đưa ra những phản đối mạnh mẽ đối với cả hai nước này với lý do Phần Lan, Thụy Điển bị cho là ủng hộ hoặc công nhận Đảng Công nhân người Kurd (PKK) – vốn bị Thổ Nhĩ Kỳ ấn định là một tổ chức khủng bố.

Công ước Montreux 1936 quy định hạn chế các tàu không thuộc các nhà nước nằm ở xung quanh Biển Đen tiếp cận vùng biển này về cả mặt thời gian, trọng tải và vũ trang. Nếu một chuyến tàu nhân đạo thông qua Eo biển Dardanelles được lập ra để vận chuyển các nông sản thiết yếu tại Odessa để phân phối ra toàn cầu, qua đó dập tắt nạn đói tiềm tàng và đòi hỏi sự hỗ trợ của tàu hộ tống hải quân, thì Thổ Nhĩ Kỳ là nước duy nhất có thể cho phép hoặc từ chối các tàu chiến quá cảnh.

Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan là người rất nóng tính và sự thất bại trong việc nhất trí kết nạp thêm các thành viên mới sẽ là một đòn giáng mạnh vào NATO, còn hơn cả việc Pháp không tham gia khía cạnh quân sự của liên minh này vào năm 1966 dưới thời Charles de Gaulle. Putin hẳn nhận thức rõ được tình huống này. Chắc chắn là ông sẽ làm mọi thứ để có thể thuyết phục Erdogan từ chối sự kết nạp này.

Về các hình thức vận tải trên biển để chở lúa mì và các sản phẩm nông nghiệp khác từ Odessa, nhưng trở ngại là rất lớn. Nga sẽ chỉ đồng ý với một điều kiện thuận lợi cho họ, chẳng hạn như dỡ bỏ các lệnh trừng phạt. Các phương pháp tiếp cận Odessa đang được khai thác. Ukraine sẽ phải đồng ý đảm bảo một tuyến đường an toàn ra vào cảng. Và một nghị quyết của Liên hợp quốc nhất thiết phải đến từ Đại hội đồng vì Nga sẽ phủ quyết mọi đề xuất tại Hội đồng Bảo an.

Các bên khác thì lập luận rằng tàu chiến của NATO là cần thiết nếu như buộc phải đi vào vùng biển này. Tuy nhiên, các tàu đó có thể sẽ phải đối đầu với các lực lượng hải quân, không quân và tên lửa của Nga và có thể dẫn đến một sự leo thang căng thẳng, thậm chí là một cuộc chiến tranh trên biển. Hầu hết hạm đội trên Biển Đen của Nga đều đã già nua. Tuy nhiên, các tàu ngầm chạy bằng diesel lớp Kilo của nước này vẫn rất dữ dội. Với tính chất ồn ào của Biển Đen, việc phát hiện các lực lượng này là rất khó. Và tên lửa Kalibr cùng các loại tên lửa khác của Nga cũng đã được chứng tỏ là rất hiệu quả. NATO cũng cần sự hỗ trợ mạnh mẽ ở trên không.

Nếu Thổ Nhĩ Kỳ vẫn duy trì lập trường cứng rắn đối với sự gia nhập của Phần Lan và Thụy Điển và việc cho phép các tàu chiến của NATO hay các bên thứ ba đi vào Biển Đen, sẽ còn rất ít lựa chọn tích cực. Vậy liệu một phiếu trắng, cũng có tác dụng như một phiếu chống, đối với sự mở rộng của NATO, có thể được tận dụng để cho phép một tỷ lệ bỏ phiếu 29-0 đủ được coi là nhất trí hay không? Khả năng là không, bởi Thổ Nhĩ Kỳ vẫn phải thông qua các thay đổi theo quy định trong công ước.

Công ước Montreux là một công ước mang tính lịch sử lâu đời. Điều thú vị là trong số 4 nước đầu tiên ký kết công ước, gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Romania và Liên Xô, thì Liên Xô hiện đã không còn tồn tại. Và các thành viên mới hơn như Gruzia và Ukraine theo đó cũng không tồn tại nữa. Tuy nhiên, công ước này vẫn có hiệu lực. Việc thay thế nó dường như là bất khả thi bởi Thổ Nhĩ Kỳ có một vai trò chủ đạo nhờ vị trí địa lý của mình và có các Eo biển Bosporus và Dardanelles nằm giữa đất nước.

Về vấn đề thiếu lương thực, đây là một công cụ ngoại giao mạnh mẽ có thể được sử dụng để chống lại Nga. Việc cản trở chuyển hàng cứu trợ cho hàng trăm triệu người đang bị thiếu ăn thực sự là một tội ác chiến tranh. Tuy nhiên, Nga sẽ đổi lỗi cho Ukraine và phương Tây đã gây ra tình trạng thiếu lương thực này và thoái thác mọi trách nhiệm. Mặc dù vậy, vẫn còn phải chờ xem lời cáo buộc dù có hơi thái quá nói trên có được chấp nhận bởi những khu vực và cộng đồng người dân bị ảnh hưởng hay không. Nhìn chung, chính sách ngoại giao và các thông điệp truyền tải của Mỹ và NATO sẽ là cần thiết để gây sức ép buộc Nga chấm dứt chiến tranh.

Một kết luận quan trọng khác có lẽ đã bị bỏ quên. Thế giới vẫn là một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau, không thể tách rời và vì vậy rất dễ bị tổn thương trước những cuộc tấn công ồ ạt mới gây rối loạn trên toàn cầu. Trớ trêu thay, chiến tranh tại Ukraine càng làm trầm trọng thêm tính chất dễ bị tổn thương này.

Ngoài những thiệt hại không thể bù đắp về người, sự tàn phá đất nước và hàng nghìn sinh mạng mà cuộc chiến Ukraine gây ra, sự đoàn kết của NATO cũng đang lâm nguy. Tồi tệ hơn, nạn đói có thể bao trùm một phần lớn dân số thế giới. Những kịch bản này không phải là mới. Điều mới ở đây là số lượng chúng nhiều hơn và mang tính tàn phá hơn trong kỷ nguyên này. Và với đại dịch COVID-19 đang hoành hành hiện nay mà thế giới chưa kịp chuẩn bị trước, mọi thứ còn tồi tệ hơn nữa.

Nguồn: TKNB – 03/06/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần II


Trục đau khổ

Iran có được thành công là nhờ chủ nghĩa cơ hội và cũng nhờ quyết tâm. Nội chiến ở Liban, cuộc xâm lược Iraq của Mỹ và cuộc nổi dậy ở các nước Arab đã tạo ra những khoảng trống quyền lực để Iran có thế lấp đầy bằng các lực lượng dân quân ở nước ngoài, với tổng quân số hiện có trong khoảng 50.000 đến 200.000 chiến binh. Nói cách khác, câu chuyện ở Trung Đông hiện đại liên quan đến sự yếu kém của các nước Arab nhiều hơn là sức mạnh của Iran: Tình trạng rối ren ở các nước Arab đã tạo điều kiện cho tham vọng của Iran, và tham vọng của Iran làm trầm trọng thêm tình trạng rối ren của các nước Arab.

Tài sản lớn nhất của cuộc cách mạng Iran ở nước ngoài là Hezbollah. Được thành lập năm 1982, sau cuộc xâm lược của Israel vào Liban, đây là nhóm đầu tiên đưa ra chiến lược mà sau này đã được Iran áp dụng đối với các lực lượng ủy nhiệm khác: thực hiện các cuộc tấn công gây thương vong nhằm vào lính Mỹ ở Trung Đông để đánh vào dư luận và làm suy yếu quyết tâm của Washington. Tháng 10/1983, Hezbollah dùng bom xe tấn công một phái đoàn gìn giữ hòa bình đa quốc gia, giết chết hơn 300 người trong khi họ đang ngủ, trong đó có 241 binh sĩ Mỹ. Iran và Hezbollah đã ăn mừng vụ tấn công này nhưng phủ nhận trách nhiệm. Bốn tháng sau, Chính quyền Reagan bắt đầu rút các lực lượng Mỹ khỏi Liban.

Hiện Hezbollah đang là lực lượng mạnh nhất ở Liban. Nhóm này sát hại các đối thủ chính trị và người bất đồng chính kiến mà không phải chịu hậu quả, vận hành nền kinh tế ngầm riêng và được cho là đang sở hữu trên 100.000 quả rocket và tên lửa có khả năng vươn tới Israel. Hezbollah cáo buộc các đối thủ tại Liban là những kẻ phản quốc, nhưng giờ đây thậm chí còn không giấu giếm sự phụ thuộc vào Iran. Thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah cho hay trong một bài phát biểu năm 2016: “Chúng tôi công khai khẳng định rằng ngân sách của Hezbollah, thu nhập, chi phí, mọi thứ từ đồ ăn thức uống, vũ khí và tên lửa, đều đến từ Cộng hòa Hồi giáo Iran. Iran có tiền là chúng tôi có tiền… Chúng tôi nhận được tiền, giống như nhận được tên lửa để đe dọa Israel”.

Iran áp dụng cách tiếp cận tương tự để biến Iraq thành địa ngục đối với Mỹ vì lo ngại Washington sẽ lấy một Iraq dân chủ và thành công làm bàn đạp để lật đổ hoặc đe dọa Iran. Lực lượng dân quân người Shiite do Iran hậu thuẫn đã gây thương vong cho 1000 người Mỹ bằng các thiết bị nổ tự tạo. Trong khi Mỹ còn phải mang gánh nặng tái thiết Iraq, thì Tehran chỉ tìm cách cản trở mọi nỗ lực của Mỹ. Khi bị tra khảo, Qais al-Khazali, một thủ lĩnh lực lượng dân quân Shiite do Iran hậu thuẫn ở Iraq, từng khai với quân đội Mỹ rằng Washington chi “hàng tỷ” cho cuộc chiến tại Iraq, trong khi Iran chi “hàng triệu”, nhưng Iran hiệu quả hơn. Ngày nay, dân quân Shiite do Iran ủy nhiệm là lực lượng chiến đấu mạnh mẽ nhất tại Iraq và là một tổ chức xã hội đen vụ lợi, vừa làm giàu cho bản thân vừa giúp Iran đảm bảo lợi ích của mình ở Iraq.

Iran và các lực lượng dân quân ủy nhiệm cũng đóng vai trò quyết định trong việc giúp chế độ tàn bạo Assad ở Syria không sụp đổ. Chế độ Assad là chính phủ đồng minh duy nhất của Tehran trong khu vực. Mối quan hệ hợp tác mang tính chiến thuật vào những năm 1980 nhằm chống lại Iraq dưới thời Saddam Hussein sau đó đã được duy trì do hai bên cùng có ác cảm với Mỹ và Israel và có chung bản năng sinh tồn. Các quốc gia Arab đã thúc đẩy nỗ lực lôi kéo Assad tránh xa Tehran nhưng không thành công, bởi hai chính phủ giờ đây rất phụ thuộc lẫn nhau: Assad cần tiền và vũ khí của Iran, còn Tehran cần lãnh thổ Syria làm cầu nối với Hezbollah và làm tiền đồn chống Israel. Năm 2017, BBC đưa tin Iran đang xây dựng một “căn cứ quân sự thường trực” ở Syria để bổ sung mặt trận mới chống lại nhà nước Do Thái.

Mặc dù Iran khẳng định các nguyên tắc đạo đức của một nhà nước thần quyền, nhưng các lực lượng ủy nhiệm của nước này khi gặp phải khó khăn kinh tế lại tìm đến các hoạt động bất chính để kiếm tiền. Mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn nhất đối với Chính phủ Syria túng thiếu hiện nay là Captagon, một loại amphetamine bất hợp pháp được Hezbollah vận chuyển đi khắp thế giới với sự hỗ trợ ngầm của Tehran. Chính phủ Iran đã hành quyết hàng nghìn công dân của mình vì các tội liên quan đến ma túy, nhưng lại trở thành trụ cột của một trong những mạng lưới buôn lậu ma túy lớn nhất thế giới.

Gần đây, Yemen được bổ sung vào danh sách các quốc gia nơi Tehran có ảnh hưởng đáng kể thông qua các lực lượng dân quân ủy nhiệm. Iran cung cấp vũ khí và các hình thức hỗ trợ khác cho Houthi, lực lượng nắm quyền ở Sanaa kể từ năm 2014, bằng khoản ngân sách mà phần nào được cho là đến từ buôn bán ma túy. Tiếp tay cho Houthi là một biện pháp hiệu quả và tiết kiệm để Iran gây thiệt hại lớn về tài chính và uy tín cho Saudi Arabia, quốc gia ước tính đã chi hơn 100 tỷ USD để can thiệp vào Yemen và được coi là nguyên nhân gây ra thảm họa nhân đạo khủng khiếp trong cuộc xung đột này. Quy tắc không khoan nhượng và các khẩu hiệu của Houthi – tiêu diệt Mỹ, Israel, người Do Thái và những người theo tín ngưỡng Bahai – phản ánh tư tưởng của nhà bảo trợ Iran. Houthi tìm cách gây ra cho Saudi Arabia những gì mà Hamas và Hezbollah lâu nay vẫn làm với Israel – chỉ khác ở chỗ họ sử dụng các máy bay không người lái chính xác và công nghệ mới nhất thay vì các tên lửa cũ kỹ và các vụ đánh bom liều chết.

Với tư cách là nhà nước thần quyền duy nhất ở Trung Đông, Iran đã lợi dụng chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo (Sunni cũng như Shiite) thành công hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Một trong những lý do khiến Tehran đánh bại các đối thủ Arab dòng Sunni là hầu hết các nhóm cực đoan dòng Shiite đều sẵn sàng chiến đấu vì Iran, trong khi hầu hết các nhóm cực đoan dòng Sunni, bao gồm cả al-Qaeda và IS, đều chống lại các chính phủ Arab cầm quyền. Iran lấy ý thức hệ, chứ không phải tôn giáo, làm tiêu chí đầu tiên cho các liên minh chiến lược. Bằng chứng là Tehran có quan hệ mật thiết với nhóm cực đoan người Sunni Hamas và các chiến binh thánh chiến Hồi giáo Palestine, với việc họ chi hàng tỷ USD để các nhóm này chống lại Israel. Moussa Abu Marzouk, mọt lãnh đạo Hamaas, nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2021: “Iran là một trong những quốc gia giúp đỡ Hamas nhiều nhất, là quốc gia duy nhất phớt lờ các giới hạn áp đặt đối với Hamas. Họ hỗ trợ quân sự cho chúng tôi về huấn luyện, vũ khí và chuyên môn”.

Thậm chí đôi khi Iran còn hợp tác cả với các nhóm Sunni theo chủ nghĩa chính thống như al-Qaeda và Taliban, bất chấp việc các nhóm này thường xuyên tấn công bằng hữu dòng Shiite của Iran mà họ coi là dị giáo. Thay vì ưu tiên lợi ích quốc gia, chính quyền Iran xây dựng chiến lược dựa trên hệ thống phân cấp kẻ thù: Bất kỳ kẻ thù nào của Mỹ và Israel đều có thể là đối tác của Tehran. Năm 2021, Đại giáo chủ Khamenei từng tuyên bố: “Chúng tôi sẽ hỗ trợ và giúp đỡ bất kỳ quốc gia hoặc bất kỳ nhóm nào ở bất kỳ đâu phản đối và chống lại Nhà nước Do Thái, và chúng tôi không ngần ngại nói lên điều này”.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Chiến thắng rỗng tuếch của Iran: Cái giá phải trả cho việc thống trị khu vực – Phần I


Karim Sadjadpour

Ít có quốc gia nào duy trì được khát vọng kiên định và rõ ràng trong suốt 4 thập niên qua như Cộng hòa Hồi giáo Iran. Kể từ năm 1979, khi các cuộc cách mạng Hồi giáo biến đổi đất nước từ một vương triều thân Mỹ sang một chế độ thần quyền chống Mỹ gay gắt, Iran luôn tìm cách hất cẳng Mỹ khỏi Trung Đông, thay thế Israel bằng Palestine và tái thiết khu vực theo cách mình mong muốn. Không giống như chiến lược của Mỹ đối với Iran nói riêng và Trung Đông nói chung, với những thay đổi đáng kể dưới thời mỗi chính quyền, chiến lược của Iran với Mỹ và khu vực thể hiện sự nhất quán đáng chú ý. Tehran chưa hiện thực hóa được tham vọng đáng kể nào, nhưng liên tục có bước tiến, và những thành công gần đây càng khiến quốc gia này thêm tự tin.

Trong hai thập kỷ qua, Iran đã gây dựng được vị thế vượt trội ở Iraq, Liban, Syria và Yemen, 4 quốc gia yếu kém hình thành “trục kháng chiến” theo cách gọi của các quan chức Iran. Kết quả này có được sau khi Iran gây dựng thành công các lực lượng dân quân tại chỗ, như Hezbollah ở Liban và Houthi ở Yemen, và bằng cách khai thác khoảng trống do Mỹ để lại sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003 và các cuộc nổi dậy ở các nước Arab trong các năm 2010 – 2011. Cả Mỹ lẫn các đối thủ của Iran trong khu vực đều không có ý định hoặc khả năng thách thức vị thế của Tehran tại 4 quốc gia này.

Iran cũng là nhân tố làm phức tạp thêm các thách thức an ninh quốc gia của Mỹ, bao gồm vấn đề phổ biến vũ khí hạt nhân, an ninh mạng, khủng bố, bất ổn năng lượng, các cuộc xung đột tại Afghanistan, Iraq, Syria và Yemen cũng như xung đột Israel – Palestine. Mặc dù từ năm 1979 đến nay, Iran và Mỹ đã đối mặt với một vài thách thức chung – bao gồm Liên Xô, Iraq dưới thời Saddam Hussein, al-Qaeda, Taliban và tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS), nhưng Washington vẫn không thể khiến Iran thay đổi đường lối sau nhiều lần tìm cách thuyết phục hoặc gây sức ép. Tehran cứng nhắc và tàn nhẫn đến mức không thể khuất phục.

Tuy nhiên, giống như một vận động viên thể hình bị suy đa tạng, Iran biểu hiện ra bên ngoài sức sống mãnh liệt nhưng lại ẩn giấu bên trong những căn bệnh khó bề cứu chữa. Sử gia John Lewis Gaddis định nghĩa chiến lược của Iran là “sự kết hợp của những khát vọng có thể là vô hạn, với năng lực chắc chắn là hữu hạn”. Iran đã vận dụng khả năng có hạn của mình nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới, bao gồm cả Trung Quốc và Nga, để phục vụ khát vọng thay đổi trật tự thế giới do Mỹ dẫn đầu. Hơn nữa, khoảng cách rất lớn giữa khát vọng và khả năng đồng nghĩa với việc Iran sẽ tiếp tục chấp nhận chảy máu nguồn lực quốc gia để tài trợ cho các đội quân trong khu vực và các cuộc xung đột bên ngoài, làm trầm trọng thêm nỗi thất vọng của người dân về hiện trạng kinh tế, chính trị và xã hội, và khiến cho việc gia tăng đàn áp trở nên cần thiết.

Bất chấp nhiều lần vỡ mộng, khao khát cách mạng của Iran vẫn chưa nguôi ngoai theo thời gian. Đại giáo chủ Ali Khamenei, 82 tuổi, lãnh tụ tối cao của đất nước, là một trong những nhà độc tài tại vị lâu nhất và giáo điều nhất trên thế giới. Kể từ khi nắm quyền vào năm 1989, cũng là lần gần nhất ông ra nước ngoài, Khamenei đã khôn khéo đánh bại 4 tổng thống Iran, dùng vũ lực dập tắt một số cuộc nổi dậy lớn, mở rộng quyền lực của Iran trên khắp Trung Đông và làm thất bại các nỗ lực của 6 tổng thống Mỹ nhằm hất cẳng, can dự với ông hoặc dọa nạt ông. Khamenei chưa từng gặp mặt trực tiếp quan chức Mỹ nào. Ông cấm các nhà ngoại giao Iran nói chuyện với đối tác Mỹ trong các cuộc đàm phán hạt nhân đang diễn ra. Ông lựa chọn cẩn thận những người theo đường lối cứng rắn, trung thành với nguyên lý cách mạng để điều hành các thể chế quyền lực nhất của chế độ.

Sự kiên định của Khamenei với các nguyên lý của cách mạng Iran được thôi thúc bởi mong muốn tự bảo vệ. Giống như nhiều chế độ độc tài khác, nhà nước Cộng hòa Hồi giáo đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan trong cải cách: phải mở cửa và thay đổi để tồn tại, nhưng làm vật sẽ tự hủy hoại mình. Trái ngược với một số nhân vật cải cách thực dụng hơn của Iran, như các cựu tổng thống Akbar Hashemi Rafsanjani và Hassan Rouhani – những người muốn đi theo con đường mở cửa nền kinh tế giống như Trung Quốc và hàn gắn quan hệ với Mỹ – Khamenei từ lâu đã đi đến kết luận rằng việc từ bỏ các nguyên lý cách mạng, bao gồm chống lại Mỹ và Israel, không khác gì lấy đá tự ghè chân. Ông cho rằng sự sụp đổ của Liên Xô là do những cải cách theo hướng mở cửa của Mikhail Gorbachev, vì vậy ông càng tin vào lời cảnh báo của nhà triết học Alexis de Tocqueville rằng: “thời khắc nguy hiểm nhất của chính phủ yếu kém là lúc họ cố gắng cải cách”.

Mặc dù việc chấm dứt 4 thập kỷ chiến tranh lạnh có thể mang lại lợi ích cho cả Iran lẫn Mỹ nhưng Washington sẽ khó lòng đạt được một dàn xếp hòa bình với một chế độ lấy việc chống Mỹ làm nền tảng cho bản sắc của mình, và người đứng đầu chế độ cho rằng việc giảm bớt thái độ chống đối sẽ khiến ông mất tất cả. Cũng không có bất kỳ giải pháp dễ dàng nào, dù là Mỹ can dự nhiều hơn hay gây áp lực lớn hơn, có thể nhanh chóng thay đổi bản chất của mối quan hệ  Mỹ – Iran hoặc thay đổi chế độ ở Iran. Vì vậy, Washington phải đối phó với Tehran như mọi đối thủ khác: thông tin liên lạc để tránh xung đột, hợp tác khi có thể, đối đầu khi cần thiết và phối hợp kiềm chế với các đối tác.

Ý thức hệ đặt trên dân tộc

Giống như nhiều nền văn minh trước đây đã trải qua cả những chiến thắng vĩ đại lẫn những nỗi nhục lớn, Iran vừa tự tin vừa vô cùng bất an. Đế chế Ba Tư cổ xưa được cho là siêu cường đầu tiên trên thế giới. Nhưng trong nhiều thế kỷ trước năm 1979, các cường quốc bên ngoài đã xâm chiếm lãnh thổ Iran, vi phạm chủ quyền của nước này. Từ năm 1813 đến năm 1828, đế quốc Nga dùng vũ lực chiếm đóng các vùng lãnh thổ rộng lớn ở Kavkaz từ tay Đế chế Ba Tư dưới triều đại Qajar. Năm 1946, các lực lượng Liên Xô chiếm đóng và tìm cách sáp nhập tỉnh Azerbaijan ở phía Tây Bắc Iran, nhưng sau đó bị hất cẳng nhờ sự can thiệp của Tổng thống Mỹ Harry Truman. 7 năm sau, vào năm 1953, Vương quốc Anh và Mỹ giật dây một cuộc đảo chính và lật đổ Thủ tướng Iran khi đó là Mohammad Mosaddeq.

Với bối cảnh lịch sử đó, nhiều người Iran, dù có quan điểm chính trị như thế nào, vẫn tin rằng các cường quốc chỉ muốn ngăn cản đất nước họ trên con đường tìm kiếm thịnh vượng và độc lập. Cũng giống như nhiều chế độ độc tài khác, Cộng hòa Hồi giáo Iran lợi dụng quá khứ để biện minh cho các cuộc đàn áp bên trong và tham vọng bên ngoài của mình. Những người biểu tình ôn hòa, các nhà hoạt động dân quyền và các nhà báo luôn bị coi là đặc vụ nước ngoài, bị đánh đập và bỏ tù. Iran cho rằng việc phát triển vũ khí hạt nhân và xây dựng lực lượng dân quan trong khu vực – vi phạm rõ ràng chủ quyền của các nước Arab láng giềng – vừa là quyền bất khả xâm phạm vừa là một biện pháp chống lại chủ nghĩa đế quốc nước ngoài.

Kể từ khi ra đời, chế độ cách mạng Iran luôn đặt khát vọng ý thức hệ lên trên sự thịnh vượng và an ninh của người dân. Vì lẽ này, Tehran thường xuyên đưa ra các quyết định gây tổn hại sâu sắc đến lợi ích quốc gia, như kéo dài cuộc chiến tranh tàn khốc 8 năm với Iraq vào những năm 1980 để củng cố quyền lực trong nước, và gần đây là cấm nhập vaccine COVID-19 từ Mỹ dù đại dịch đang tàn phá Iran. Sau hàng nghìn ca tử vong vì COVID-19 mà lẽ ra có thể được cứu chữa, lệnh cấm này đã lặng lẽ được hủy bỏ.

Không một quốc gia nào ở Trung Đông có quy mô địa lý, nguồn nhân lực, lịch sử cổ đại và tài nguyên thiên nhiên dồi dào như Iran. Nhưng thay vì tận dụng những ưu đãi này để trở thành cường quốc kinh tế thế giới hoặc thúc đẩy lợi ích quốc gia, chế độ Iran đã xây dựng chính sách đối ngoại dựa trên hai trụ cột là đối đầu với Mỹ và Israel. Vận dụng 3 hệ tư tưởng khác biệt là chủ nghĩa chống đế quốc, chủ nghĩa phe phái Shiite và chủ nghĩa dân tộc Iran, thể chế này đã gây dựng mạng lưới đối tác đa dạng ở trong và ngoài Trung Đông, sử dụng họ như các lực lượng ủy nhiệm để chống lại kẻ thù.

Theo hình dung lý tưởng của Iran, Trung Đông không có sự hiện diện của Mỹ, nhà nước Israel được thay thế bởi nhà nước Palestine nhờ một cuộc trưng cầu dân ý, và chế độ thần quyền theo chủ nghĩa Khomenei là nguồn cảm hứng cho trái tim và khối óc của người Arab và Hồi giáo. Những điều này vẫn còn cách quá xa hiện thực. Dù đã rút quân khỏi Afghanistan và Iraq, nhưng Mỹ vẫn giữ lại từ 45000 đến 65000 quân ở Vịnh Ba Tư, chủ yếu là để răn đe Iran. Trong khi đó, Israel là một trung tâm công nghệ toàn cầu, hội nhập mạnh mẽ nhất từ trước đến nay với thế giới Arab, đặc biệt là giờ đây khi nước này đã bình thường hóa quan hệ với Bahrain, Maroc và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE). Và hình mẫu mà hầu hết người Arab hướng tới là xã hội tự do, hội nhập toàn cầu và thịnh vượng về kinh tế như UAE, chứ không phải một Iran theo chủ nghĩa Khomeini.

Tuy nhiên, so với cách đây một thập kỷ, Iran đang tiến gần hơn tới mục tiêu hiện thực hóa lý tưởng. Cách đây 10 năm, số quân đồn trú của Mỹ tại Afghanistan và Iraq là gần 200.000, giờ chỉ còn 2500. Tổng thống Syria Bashar al-Assad, người chịu ơn cứu mạng của Iran, đang dần nối lại quan hệ với các chính phủ Arab. Ngoài các lực lượng Hezbollah ở Liban và các tay súng Shiite ở Iraq, Iran còn có thể coi lực lượng Houthi ở Yemen là đồng minh tận tụy, luôn sẵn sàng thực hiện các cuộc tấn công nhằm vào những kẻ thù chung.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/iran/2022-02-16/irans-hollow-victory

TLTKĐB – 19 – 20/03/2022

Chiến lược ngoại giao mới của Trung Quốc đối với Trung Đông


Theo Tạp chí Tuần san châu Á số tháng 5/2022, khi Mỹ thúc đẩy “Khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, thì Trung Quốc lại có động thái ngược lại, mời đại diện các nước vùng Vịnh và Iran đến thăm Vô Tích (Giang Tô), cùng hội đàm với Ngoại trưởng Vương Nghị, thiết lập mạng lưới thương mại Ấn Độ Dương, phát huy sức ảnh hưởng ở khu vực Trung Đông.

Kể từ khi lên cầm quyền đến nay, thành công lớn nhất của Joe Biden về mặt ngoại giao chính là bắt tay với đồng minh thành lập “Liên minh chống Trung Quốc”, khiến cho chính sách ngoại giao của Trung Quốc ở thế giới phương Tây rơi vào hoàn cảnh khó khăn, đình trệ và đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm cả việc hợp tác lâu dài với Australia và Canada về vấn đề năng lượng. Từ trước đến nay, Canada chưa bao giờ có sự tranh chiến lược với Trung Quốc và đóng vai trò quan trọng trong việc nhập khẩu năng lượng của Trung Quốc, nhưng sau sự kiện Mạnh Vãn Châu, Canada đã đầu tư khoản kinh phí lớn 3,5 tỷ CAD (2,8 tỷ USD) để nghiên cứu chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phiên bản Canada, mục đích chính là giảm bớt sự phụ thuộc vào kinh tế-thương mại Trung Quốc. Đây là sự thay đổi định hướng đầu tiên sau 51 năm kể từ khi Pierre Trudeau và Chu Ân Lai thiết lập quan hệ ngoại giao. Ở mức độ nhất định, sự phong tỏa của phương Tây cũng buộc Trung Quốc thay đổi trật tự ưu tiên trong chiến lược toàn cầu, đặt ngoại giao khu vực ở vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự ngoại giao, trong đó chiến lược ngoại giao mới về Trung Đông trở thành điểm sáng truyền thông ngay đầu năm 2022 tiếp sau chính sách ngoại giao châu Phi, tăng thêm sức nóng ngoại giao cho Thế vận hội Mùa Đông Bắc Kinh diễn ra vào đầu tháng 2 bị nhiều nước phương Tây tẩy chay ngoại giao.

Tứ 10 – 14/01, Ngoại trưởng các nước Saudi Arabia, Kuwait, Oman, Bahrain và Tổng thư ký Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC) Nayef bin Falah-al-Hajrah lần lượt đến thăm Vô Tích (Giang Tô), cùng Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hội đàm, thảo luận cách thức đẩy sâu quan hệ đối tác chiến lược và kinh tế thương mại giữa các nước Vùng Vịnh với Trung Quốc.

Các nước vùng Vịnh có ba mục đích chủ yếu. Thứ nhất, tiếp tục tham gia kế hoạch “Con đường tơ lụa mới” của Trung Quốc, chia sẻ lợi ích lan tỏa về địa chính trị và kinh tế – thương mại của Trung Quốc, đồng thời dựa vào sự hỗ trợ thị trường của Trung Quốc để chuyển đổi từ hình thái kinh tế lấy dầu mỏ làm chủ đạo đang được coi là ngành công nghiệp hoàng hôn sang mô hình kinh tế đa dạng hóa. Thứ hai, xác định rõ “Chương trình hành động 2022 – 2025” giữa Bắc Kinh và các nước chủ chốt của Vùng Vịnh nhằm hoàn thành quá trình đàm phán đã kéo dài 17 năm, nhanh chóng ký Hiệp định thương mại tự do giữa Trung Quốc và các nước vùng Vịnh, từ đó “thiết lập khu thương mại tự do Trung Quốc – GCC”. Điều đáng quan tâm là Trung Quốc đang thay thế Liên minh châu Âu (EU) trở thành đối tác kinh tế lớn nhất của các nước GCC trong bối cảnh dịch bệnh năm 2020, đồng thời nhập khẩu khoảng 70% dầu mỏ từ khu vực này. Thứ ba, hai bên trao đổi ý kiến về đàm phán hạt nhân giữa cộng đồng quốc tế với Iran. Dựa trên lịch sử nội bộ và mâu thuẫn giữa các tôn giáo ở Trung Đông, các nước Vùng Vịnh rất lo ngại Tehran phát triển vũ khí hạt nhân mang lại sự mất ổn định của khu vực, do đó hy vọng Trung Quốc có tiếng nói trọng lượng với Iran có thể ngăn chặn hiệu quả việc Iran thúc đẩy phổ biến vũ khí hạt nhân.

Đối với Trung Quốc, ý nghĩa chiến lược của tăng cường hợp tác với Trung Đông rất lớn, hơn nữa mở rộng ảnh hưởng ở Trung Đông cũng có thể mang lại hiệu ứng liên quan trong đọ sức Mỹ – Trung, bởi vì “thùng thuốc súng chiến tranh” và dầu mỏ trong lịch sử Trung Đông đều có tác dụng kiềm chế quan trọng đối với Mỹ, EU và thậm chí thế giới. Mặc dù Mỹ có quan hệ mật thiết với các nước vùng Vịnh như Saudi Arabia ở Trung Đông, nhưng do quan hệ đặc thù với Israel nơi rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan được cái này mất cái kia, ít bạn bè ở khu vực Trung Đông. Sau Chính quyền Donald Trump tấn công tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) và quyết định dời Sứ quán Mỹ đến Jerusalem, thừa nhận quyền sở hữu vĩnh viễn của Israel đối với cao nguyên Golan đang tồn tại tranh chấp, việc thực hiện chiến lược của Mỹ ở Trung Đông gặp nhiều áp lực, đồng thời việc Chính quyền Joe Biden thất bại trong kế hoạch rút quân khỏi Afghanistan càng khiến cho các đối tác của Mỹ ở Trung Đông bất bình. Điều duy nhất đáng chú ý là Washington phối hợp với các đồng minh châu Âu và các nước lớn trên thế giới tái thúc đẩy đàm phát thỏa thuận hạt nhân Iran, động thái này chắc chắn sẽ mang lại ý nghĩa tích cực cho khu vực Trung Đông.

Trung Quốc tăng cường vai trò hòa giải ngoại giao đối với Trung Đông trong bối cảnh chiến lược Trung Đông của Mỹ bộc lộ nhiều kẽ hở, khác biệt lớn nhất với Mỹ là chiến lược cân bằng Trung Quốc áp dụng ở Trung Đông, vừa vân bằng quan hệ giữa Israel với các nước thuộc thế giới Arab, vừa cân bằng quan hệ với các nước theo dòng Sunni và Shiite vốn là kẻ thù của nhau. Mục tiêu chủ yếu của động thái ngoại giao lớn lần này với Trung Đông rất rõ ràng, ngoài tăng cường hỗ trợ đa dạng hóa nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc, tìm cách thanh toán bằng đồng NDT trong các giao dịch dầu mỏ, mở rộng chiến lược “Vành đai và Con đường”, thì một điểm rất quan trọng chính là tranh thủ các nước Trung Đông ủng hộ lập trường của Trung Quốc về vấn đề Tân Cương để phá vỡ vòng vây mà Mỹ và đồng minh phương Tây đang gây áp lực với Trung Quốc. Điều này đã hình thành một hiện tượng trái ngược: Các nước phương Tây, vốn có mối thâm thù với các nước Hồi giáo và hơn nữa đã xảy ra chiến tranh tôn giáo trong lịch sử, đang bảo vệ quyền lực của Hồi giáo Tân Cương trong khi các nước Trung Đông cùng thuộc thế giới Hồi giáo lại đứng về chính sách Tân Cương của Bắc Kinh.

Trung Quốc và Iran hợp tác kiềm chế đàm phán hạt nhân

Ngày 14/1, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã hội kiến Ngoại trưởng Iran Hossein Amir-Abdollahian tại Vô Tích, hai bên tuyên bố khởi động thỏa thuận hợp tác toàn diện kéo dài 25 năm. Thỏa thuận này được ký vào tháng 3/2021 sau nhiều năm đàm phán sẽ bao gồm nhiều lĩnh vực như năng lượng, an ninh, cơ sở hạ tầng và thông tin… Với tư cách là đối tác thương mại lớn nhất của Iran, đồng thời cũng là một trong những bên mua dầu mỏ lớn nhất trước khi Chính quyền Donald Trump áp đặt các lệnh trừng phạt Iran, trọng điểm của việc Trung Quốc thông qua thỏa thuận hợp tác toàn diện Trung Quốc – Iran kéo dài 25 năm này chính là đảm bảo Trung Quốc có được nguồn cung dầu mỏ ổn định.

Thỏa thuận hợp tác toàn diện Trung Quốc – Iran không chỉ tập trung vào Trung Quốc và Iran, mà còn kiềm chế và dẫn dắt tương đối tinh tế việc tái khởi động đàm phán hạt nhân mà Mỹ và các đồng minh đang tiến hành với Iran ở Vienna (Áo). Thỏa thuận đồng nghĩa tuyên bố với Washington rằng ngay cả khi đàm phán đổ vỡ, Trung Quốc cũng không thể một lần nữa tham gia các lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran, ngừng nhập khẩu dầu mỏ từ Iran. Thêm vao 2đó, Trung Quốc đã cùng Iran ký chương trình hợp tác kinh tế trị giá 400 tỷ USD, giúp Iran có được quyền chủ động lớn hơn trong đàm phán. Tuy nhiên, điều Bắc Kinh đạt được lại nhiều hơn: Nguồn cung dầu mỏ ổn định của Iran giúp Trung Quốc có được sự đa dạng hóa về nguồn cung năng lượng (Mỹ, Canada, Nga, Trung Á, châu Phi…), đồng thời giảm thiểu sự lệ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ như Canada. Điều quan trọng hơn là khi truyền thống văn hóa hỗ hợp Turco-Ba Tư trỗi dậy trở lại, Bắc Kinh có thể nhận được sự hậu thuẫn của Iran về chính sách Tân Cương của Trung Quốc, không những có thể phá vỡ “bức tường nhân quyền” mà Mỹ và các nước phương Tây dựng lên về vấn đề Tân Cương, đồng thời cũng có thể làm suy yếu năng lượng của chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa ly khai Tân Cương, bảo vệ sự ổn định ở biên giới Tây Bắc Trung Quốc. Do đó, Vương Nghị còn gặp Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỹ vào ngày 12/1, không những tăng cường kết nối chiến lược “Vành đai và Con đường” BRI và kế hoạch “Hành lang trung giang” của Thổ Nhĩ Kỳ, hơn nữa còn tận dụng để kiềm chế triệt để phong trào độc lập Đông Turkestan (Tân Cương độc lập).

Trên thực tế, cùng với việc Trung Quốc và Mỹ triển khai đọ sức toàn diện, Trung Quốc không còn e ngại thái độ của Mỹ ở khu vực Trung Đông và cũng không tự trói chân mình, không oc2n trao cho Mỹ tiếng nói trừng phạt kinh tế đối với các nước ở khu vực này. Ngoài Iran, ngày 12/1, Chính quyền Bashar al-Assad của Syria, may mắn tồn tại sau cuộc “cách mạng màu” và “can thiệp vũ trang” do Mỹ thúc đẩy, tuyên bố chính thức tham gia kế hoạch đầu tư “Con đường tơ lụa mới” của Trung Quốc. Đây là phản ứng của Damscus đối với các lệnh trừng phạt kinh tế của Washington, đồng thời cũng giúp Trung Quốc gia tăng sức ảnh hưởng đối với Syria tiếp sau Nga. Kết quả này khiến Mỹ một lần nữa cảm thấy mất mặt ở Trung Đông.

Bắc Kinh không công khai thách thức Mỹ

Rõ ràng, trong chiến lược ngoại giao Trung Đông lần này, Bắc Kinh đã thu được thành công tương đối lớn, giành được làn sóng “hỗ trợ” ngoại giao đối với Thế vận hội Mùa Đông Bắc Kinh sắp diễn ra, giảm bớt hậu quả gây nên từ việc Liên minh ngũ nhãn bao gồm Mỹ và Canada tẩy chay ngoại giao Thế vận hội Mùa Đông Bắc Kinh. Tuy nhiên, trong tuyên bố công khai về chính sách ngoại giao Trung Đông, Bắc Kinh vẫn tránh sử dụng “ngoại giao chiến lang” trực tiếp thách thức Mỹ, mà nhấn mạnh xuất phát từ lợi ích cơ bản của nhân dân Trung Đông, phản đối trừng phạt phiến diện, kiên trì Trung Quốc không tìm kiếm người ủy quyền, mà thuyết phục và thúc đẩy đàm phán; không tham gia vào các phạm vi ảnh hưởng, mà thúc đẩy vòng tròn bạn bè BRI; không tìm cách “điền vào chỗ trống”, mà xây dựng mạng lưới đối tác hợp tác cùng thắng. Rõ ràng, khi chiến lược mới về Trung Đông tiến triển, Bắc Kinh không tự mãn, đồng thời cũng không muốn mở chiến trường đối đầu với Mỹ ở Trung Đông, thay vào đó thông qua phát huy sức mạnh mềm để giành được lòng tin của một trong những khu vực then chốt trên thế giới, trở thành một nhân tố thúc đẩy tiến trình hòa bình Trung Đông.

Nguồn: TKNB – 08/02/2022

Khả năng Iran trở thành đối tác năng lượng mới của châu Âu


Báo Die Welt (Thế giới) của Đức ngày 6/4 có bài bình luận về khả năng thiết lập đối tác năng lượng mới giữa Liên minh châu Âu (EU) và Iran, nội dung chính như sau:

Iran có trữ lượng khí đốt khổng lồ. Một thỏa thuận hạt nhân mới giữa Iran và phương Tây có thể sắp được ký kết, qua đó giúp Tehran quay trở lại thành một đối tác thương mại và nhà cung cấp năng lượng hợp pháp. Tuy nhiên, phương Tây có nguy cơ lặp lại một sai lầm với quốc gia này.

Trong bối cảnh xung đột Nga – Ukraine, chủ đề cấm vận năng lượng đối với Nga ngày càng được tranh luận sôi nổi, cùng với đó là việc tìm kiếm các nhà cung cấp năng lượng thay thế. Đối với Đức – nền kinh tế đầu tàu châu Âu và là quốc gia phụ thuộc rất lớn và khí đốt và dầu mỏ từ Nga, Berlin vẫn chưa rõ quốc gia nào có thể là cung cấp năng lượng thay thế Nga. Câu trả lời ngắn gọn là không có nhà cung cấp nào. Do đó, Đức vẫn đang phải cố gắng đa dạng hóa nguồn cung với nhiều nhà cung cấp mới.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế Đức Robert Habeck đã tới Qatar với mục đích đó. Quốc gia nhỏ bé này có trữ lượng khí đốt tự nhiên lớn, được lưu trữ trong các mỏ khí dưới đáy biển ngoài khơi bờ biển Qatar. Tuy nhiên, khả năng để Qatar có thể đáp ứng ngay tất cả nhu cầu của Đức là không dễ dàng.

Iran cũng nhiều lần được nhắc đến như một nhà cung cấp năng lượng tiềm năng, nhất là khi tiến trình đàm phán một thỏa thuận hạt nhân mới giữa các nước phương Tây và nước này có tiến triển tốt. Theo thông báo chính thức từ cả hai bên, một thỏa thuận hạt nhân mới sắp hoàn thành. Iran cam kết giảm hoạt động làm giàu uranium và phương Tây sẽ dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với quốc gia Hồi giáo này.

Iran có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai và là nhà sản xuất dầu lớn thứ tư trên thế giới. Nếu thỏa thuận hạt nhân mới được ký kết, Tehran một lần nữa sẽ trở thành đối tác thương mại hợp pháp và nhà cung cấp năng lượng tiềm năng. Điều này sẽ rất đáng chú ý, đặc biệt là trên thị trường dầu mỏ. Chuyên gia kinh tế Ali Vaez từ tổ chức International Crisis Group cho rằng việc công bố một thỏa thuận hạt nhân mới sẽ có tác động ngay lập tức đến tâm lý thị trường dầu mỏ.

Hiện giá dầu trên thị trường thế giới đang ở mức hơn 100 USD/thùng, mức rất cao trong vòng 10 năm qua, Iran có thể giúp tăng nguồn cung và do đó làm giảm giá dầu. Một khi các lệnh trừng phạt thương mại được dỡ bỏ, Tehran ngay lập tức có thể xuất xưởng hàng trăm nghìn tấn dầu mỗi ngày. Trong vòng vài tháng, Iran có thể tăng sản lượng từ 1 triệu lên đến 1,5 triệu tấn mỗi ngày. Mặc dù khối lượng đó vẫn không thể thay thế năng lực giao hàng khoảng 7 triệu tấn mỗi ngày của Nga, nhưng đó sẽ là một bước khởi đầu mới.

Bộ trưởng Dầu mỏ Iran Javad Owji cũng nhấn mạnh rằng Tehran có “năng lực cần thiết” để cung cấp cả khí đốt cho các nước láng giềng và thậm chí cả châu Âu. Với khối lượng khí đốt tự nhiên ước tính vào khoảng 34.000 tỷ mét khối, Iran là quốc gia có trữ lượng khí đốt lớn thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, hầu hết trữ lượng đó chưa được khai thác. Iran xuất khẩu tối đa 25 tỷ mét khối mỗi năm. Để so sánh, lượng khí đốt xuất khẩu của Nga lên tới khoảng 180 tỷ mét khối/năm.

Chuyên gia kinh tế Ali Vaez cho rằng mặc dù Tehran có thể đáp ứng nhu cầu khí đốt của chính mình và cung cấp lượng khí dư thừa cho các nước láng giềng gần kề, nhưng hiện quốc iga này không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của châu Âu. Ngoài ra, cơ sở hạ tầng cần thiết cho việc vận chuyển khí đốt từ Iran tới châu Âu như các đường ống hoặc các cảng khí lỏng cũng không tồn tại.

Trước đây, đã có một số nỗ lực đưa khí đốt từ Iran đến châu Âu như nỗ lực của Thổ Nhĩ Kỳ – Iran đưa khí đốt từ Iran qua đường ống Nabucco (dự án đã thất bại) qua Thổ Nhĩ Kỳ tới châu Âu. Dự án này nhằm giảm sự phụ thuộc của châu Âu vào khí đốt từ Nga. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Mỹ và EU đã lên tiếng phản đối sự tham gia của Iran. Những tranh cãi về vấn đề hạt nhân với Iran và các lệnh trừng phạt của Mỹ khi đó đã ngăn cản Tehran trở thành một nhà cung cấp khí đốt quan trọng của thế giới. Hiện Iran không đủ tiềm lực đầu tư vào lĩnh vực khai thác khí đốt. Theo các số liệu chính thức, cần tới 160 tỷ USD để có thể biến Iran thành một nhà cung cấp dầu và khí đốt hàng đầu thế giới.

Với khoản đầu tư cần thiết, chuyên gia Ali Vaez cho rằng Iran có thể thay thế Nga trở thành nhà cung cấp khí đốt trong vòng 5 đến 7 năm. Thế nhưng, phương Tây đã rút ra bài học từ cuộc khủng hoảng Ukraine rằng việc tự rằng buộc với một nhà cung cấp năng lượng không chia sẻ các giá trị chung với phương Tây là rất rủi ro. Châu Âu không sẵn sàng phạm sai lầm tương tự tại Iran.

Dưới góc độ nhân quyền, không có một giải pháp thực sự tốt nào ở Trung Đông để thay thế nguồn cung từ Nga. Tuy nhiên, chuyên gia Ali Vaez cho rằng với phương Tây, các quốc gia vùng Vịnh khác đáng tin cậy hơn Iran vì các quốc gia này hướng về phương Tây.

Saudi Arabia, Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) và Israel đều cảnh báo về một khía cạnh quan trọng khác nếu lệnh trừng phạt kinh tế Iran được dỡ bỏ và Tehran có thể xuất khẩu dầu mỏ trở lại: việc Iran kiếm được nhiều tiền hơn từ dầu mỏ cũng đồng nghĩa với việc họ có thể cung cấp nhiều tiền hơn cho các hoạt động khủng bố. Mặc dù Iran không xâm lược các nước láng giềng lân cận, nhưng Tehran lại tài trợ cho các nhóm khủng bố và sử dụng các nhóm này để gây bất ổn cho các quốc gia láng giềng.

Nguồn: TKNB – 08/04/2022

Thế lưỡng nan của các quốc gia vùng Vịnh trong thỏa thuận hạt nhân Iran


Nhân cuộc đàm phán thỏa thuận hạt nhân Iran đang diễn ra tại Áo, Tiến sĩ Tobias Borck mới đây đã có bài phân tích đang trên trang mạng của Viện nghiên cứu quốc phòng và an ninh Hoàng gia (RUSI) về quan điểm của các quốc gia vùng Vịnh đối với vấn đề này. Theo Tiến sĩ Tobias Borck, dù lo sợ các kịch bản tồi tệ có thể xảy đến, các nhà lãnh đạo tại vùng Vịnh vẫn miễn cưỡng ủng hộ nối lại các cuộc đàm phán về việc khôi phục Kế hoạch hành động toàn diện chung (JCPOA).

Các cuộc đàm phán để khôi phục thỏa thuận hạt nhân Iran đã được bắt đầu từ ngày 29/11 tại Vienna (Áo) sau 6 tháng gián đoạn. Mặc dù các nhóm đàm phán từ Iran và 5 nước thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cùng với Đức (nhóm P5 + 1) đang nhóm họp tại thủ đô của Áo, nhưng quyết định có khôi phục JCPOA hay không cuối cùng vẫn sẽ phụ thuộc vào Washington và Tehran. Các bên tham gia khác của thỏa thuận – châu Âu, Trung Quốc và Nga – luôn duy trì cam kết với thỏa thuận năm 2015, nhưng họ biết rằng sự tồn tại của nó phụ thuộc chủ yếu vào việc Iran tuân thủ các hạn chế đối với chương trình hạt nhân và sự sẵn sàng của Mỹ dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với nước Cộng hòa Hồi giáo này.

Trong khi đó, các nước Trung Đông thậm chí còn có ít ảnh hưởng hơn đến vấn đề này. Khu vực không có lập trường thống nhất liên quan đến Iran. Saudi Arabia và các quốc gia quân chủ vùng Vịnh, cũng như nhiều quốc gia Arab khác, coi Iran là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và khu vực rộng hơn, nhưng họ có mối quan tâm cụ thể khác nhau, và mỗi quốc gia đều có mối quan hệ riêng biệt với Iran. Tuy nhiên, khi cuộc đàm phán Vienna được nối lại, tâm trạng chung trong khu vực có lẽ là sự kết hợp của sự thất vọng, cam chịu và lo lắng.

Các quốc gia vùng Vịnh luôn nhấn mạnh rằng, bất kỳ thỏa thuận nào với Iran đều phải vượt ra ngoài vấn đề hạt nhân, bao gồm cả việc đối phó với chương trình tên lửa và các hoạt động gây mất ổn định trên toàn khu vực của Tehran, cụ thể là hỗ trợ các tổ chức phi nhà nước có vũ trang như Hezbollah ở Liban và Houthi ở Yemen. Các nước này lo ngại rằng Iran sẽ sử dụng bất kỳ lợi ích nào thu được từ việc nới lỏng các lệnh trừng phạt, như một phần của thỏa thuận hạt nhân, để thúc đẩy các hoạt động khác này, giống như trước khi JCPOA được ký kết. Trên thực tế, khi đánh giá hành vi của Iran trong khu vực kể từ năm 2015, chính phủ các quốc gia vùng Vịnh cảm thấy rằng những dự đoán của họ về vấn đề này đã được chứng minh là đúng. Theo quan điểm của họ, và ảnh hưởng của Iran trên toàn khu vực – dù ở Iraq, Liban, Syria hay Yemen, hay ở vùng biển của vùng Vịnh và biển Arab – đã gia tăng trong 6 năm qua.

Tuy nhiên, trong khi Mỹ và phần còn lại của Nhóm P5 + 1 thừa nhận rằng những vấn đề đó cuối cùng phải được giải quyết để ổn định Trung Đông, nhưng các nước này lại đang theo đuổi cách tiếp cận tuần tự hoặc song song: giải quyết chương trình hạt nhân Iran trước mà không có sự tham gia trực tiếp của các quốc gia trong khu vực, sau đó hỗ trợ và thúc đẩy các sáng kiến cho đối thoại khu vực. Việc đạt được một thỏa thuận lớn bao gồm cả chương trình hạt nhân của Iran và an ninh khu vự được coi là một nhiệm vụ quá phức tạp. Đánh giá này có thể đúng, nhưng điều đó không thể trấn an các quốc gia trong khu vực rằng Iran sẽ có thái độ cởi mở và mang tính xây dựng hơn đối với các mối quan ngại của họ so với trước đây, hoặc P5 + 1 sẽ thực sự thúc đẩy các thỏa thuận tiếp theo về an ninh khu vực.

Các nước quân chủ vùng Vịnh miễn cưỡng ủng hộ JCPOA

Đầu tháng 11/2021, 6 nước vùng Vịnh theo chế độ quân chủ, cũng như Ai Cập và Jordan, đã cùng với Mỹ và Nhóm E3 (bao gồm Anh, Pháp và Đức) đã kêu gọi “quay trở lại cùng tuân thủ JCPOA”. Hành động này lặp lại một tuyên bố tương tự được đưa ra trước đó bởi Nhóm công tác giữa Mỹ và Hội đồng hợp tác vùn Vịnh (GCC) về Iran, được thành lập lần đầu tiên vào năm 2015 để trấn an các quốc gia vùng Vịnh về cam kết tiếp tục của Washington đối với an ninh của họ.

Đối với một số quốc gia vùng Vịnh, tình thế này không có gì mới. Chẳng hạn, Oman đã đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán dẫn đến JCPOA vào đầu những năm 2010, còn Qatar và Kuwait nói chung cũng ủng hộ thỏa thuận này kể từ khi nó được ký kết vào năm 2015. Trong khi đó, Saudi Arabia, UAE và Bahrain là những ước ủng hộ mạnh mẽ nhất quyết định rút khỏi thỏa thuận của cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump và gia tăng sức ép lên Iran.

Tuy nhiên, việc Riyadh, Abu Dhabi và Manama đều đang kêu gọi quay trở lại JCPOA không nên bị hiểu sai là biểu thị bất kỳ sự nhiệt tình đáng kể nào đối với thỏa thuận. Thay vào đó, các nuóc này cho rằng tốt hơn hết là không nên thể hiện như là các thành phần cố tình phá hoại chính sách ngoại giao hạt nhân.

Nếu JCPOA thực sự được hồi sinh, các quốc gia vùng Vịnh hy vọng rằng Mỹ sẽ đánh giá cao lập trường ủng hộ thỏa thuận của những nước này, và do đó có xu hướng ủng hộ họ nhiều hơn khi đối thoại với Tehran để giải quyết các quan ngại khác nhau của họ về an ninh khu vực. Điều mà các quốc gia vùng Vịnh còn lo sợ hơn cả là bị bỏ mặc để đối phó với các tham vọng khu vực của Iran.

Trong bối cảnh đó, việc Mỹ rút quân khỏi Afghanistan gần đây là điển hình cho một viễn cảnh ác mộng đối với các quốc gia vùng Vịnh. Theo quan điểm của họ, Washington trước tiên đã thỏa thuận với Taliban để đảm bảo lợi ích của mình, sau đó nhấn mạnh rằng Mỹ muốn tạo điều kiện cho một thỏa thuận giữa Taliban và Chính phủ Afghanistan, nhưng cuối cùng đã rút lui mà không duy trì nỗ lực này, để Taliban tiếp quản đất nước. Trong phiên bản Trung Đông của kịch bản này, Chính quyền Biden đạt được thỏa thuận hạt nhân với Iran, sau đó kêu gọi có các thỏa thuận tiếp theo về an ninh khu vực, nhưng rồi lại quay lưng với khu vực, cho phép Iran tự do làm điều họ muốn. Mặc dù các kênh liên lạc song phương giữa Iran và Saudi Arabia, UAE và các quốc gia vùng Vịnh khác đã được mở ra trong hơn 2 năm qua, các nước vùng Vịnh không tin tưởng những kênh liên lạc đó sẽ mang lại kết quả rõ ràng trừ khi Iran biết rằng Mỹ vẫn duy trì cam kết với các đối tác của mình trong khu vực. Nhìn chung, việc các quốc gia vùng Vịnh bày tỏ sự ủng hộ công khai đối với việc quay trở lại JCPOA phần lớn là nỗ lực nhằm đảm bảo thiện chí của Mỹ và phần còn lại của Nhóm P5 + 1 đối với những gì xảy ra sau khi thỏa thuận hạt nhân được ký kết.

Bất kỳ thỏa thuận nào cũng tốt hơn không có thỏa thuận?

Bên cạnh đó, các quốc gia vùng Vịnh giờ đây dường như cũng nhận thấy kết quả của các cuộc đàm phán tại Vienna, ít nhất là khôi phục cơ chế kiểm tra đối với chương trình hạt nhân của Iran, như một phương án ít tồi tệ nhất hiện có. Từ quan điểm của họ, cả sự đổ vỡ của ngoại giao hạt nhân và tình trạng bế tắc, trong đó Iran có thể đạt được những tiến bộ hơn nữa trong chương trình hạt nhân của nước này, làm tăng khả năng kịch bản ác mộng khác của họ trở thành hiện thực: leo thang quân sự trong khu vực do hành động quân sự của Mỹ hoặc Israel nhằm vào các cơ sở hạt nhân của Iran.

Saudi Arabia, UAE và những nước khác thường phàn rằng Washington đã khiến Iran cảm thấy quá an toàn trước mối đe dọa từ các cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào lãnh thổ của mình, miễn là Iran bày tỏ tinh thần sẵn sàng thỏa hiệp. Trong khi các nước này muốn chứng kiến Mỹ duy trì lực lượng quân sự ở vùng Vịnh để răn đe Iran, nhưng họ thực sự không muốn lực lượng này được sử dụng. Riyadh và Abu Dhabi có lẽ đúng khi ít nghi ngờ về quyết tâm sử dụng vũ lực của Israel nếu không có cách nào khác để ngăn Iran chế tạo được bom hạt nhân. Các quốc vùng Vịnh luôn đánh giá nghiêm túc các đe dọa của Iran rằng nước này sẽ đáp trả bất kỳ hành động quân sự nào trên lãnh thổ của mình bằng cách tấn công trả đũa nhằm vào các mục tiêu của Dubai hoặc các nơi khác trong vùng Vịnh. Các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái vào các cơ sở dầu mỏ của Saudi Arabia vào tháng 9/2019 – được cho là do Iran tiến hành – là một minh chứng rõ ràng về khả năng dễ bị tổn thương của các nước vùng Vịnh trước các cuộc tấn công của Iran và làm dấy lên lo ngại rằng các nước này không thể dựa vào sự bảo vệ của Mỹ. Do đó, Saudi Arabia và các chế độ quân chủ vùng Vịnh đều không muốn có bất kỳ cuộc chiến nào khác trong khu vực lân cận của họ, đặc biệt là vào thời điểm những nước này đang cố gắng hướng tất cả các nguồn lực của mình vào thách thức là đa dạng hóa nền kinh tế, thoát khỏi sự phụ thuộc vào dầu mỏ và khí đốt. Bước thụt lùi của các nỗ lực cải cách do cú sốc kinh tế của đại dịch COVID-19, kết hợp với động lực ngày càng tăng đằng sau các nỗ lực quốc tế nhằm giảm phát thải nhà kính, có nghĩa là các chính phủ ở Riyadh, Abu Dhabi và khắp vùng Vịnh đang phải chịu áp lực ngày càng lớn để đảm bảo tương lai kinh tế của họ.

Tóm lại, các quốc gia vùng Vịnh hiện không thấy một giải pháp thay thế khả thi cho một thỏa thuận hạt nhân được nối lại giữa Iran và nhóm P5 + 1. Các nước này lo sợ về những kịch bản tồi tệ xảy ra sau khi thỏa thuận được ký kết, nhưng ít nhất là vào thời điểm hiện tại họ chấp nhận, dù miễn cưỡng, rằng một thỏa thuận loại bỏ khả năng Iran chế tạo được bom hạt nhân mà không dẫn tới một thảm họa quân sự thảm khốc trong khu vực có thể là tất cả những gì có thể hy vọng trên thực tế.

Nguồn: TLTKĐB – 13/12/2021

Vấn đề hạt nhân Iran: Điều gì đã thay đổi? – Phần cuối


Những tính toán của Israel

Sự thay đổi quan trọng nhất là ở Israel. Thủ tướng Naftali Bennett, người lên nắm quyền với một liên minh mong manh hồi tháng Sáu, tiếp tục phản đối việc khôi phục JCPOA. Tuy nhiên, không giống như Benjamin Netanyahu, người tiền nhiệm cực hữu của ông, Thủ tướng Israel hiện nay không có ý định can dự vào chiến dịch ầm ĩ chống lại thỏa thuận hạt nhân này, hay huy động giới vận động hành lang hùng mạnh ủng hộ Israel để giúp ông phá hoại JCPOA, như Netanyahu đã cố gắng làm.

Có một số lý do giải thích cho sự thay đổi lập trường này của Israel. Thứ nhất, phần lớn giới tinh hoa chính trị của Israel lo ngại sâu sắc về thực tế Netanyahu đã gắn Nhà nước Do Thái với vận may của đảng Cộng hòa ở Mỹ, và đặc biệt là với Donald Trump. Vì điều này đi ngược lại mục tiêu lịch sử của Israel là duy trì liên minh với Mỹ, vốn là một vấn đề nhận được sự ủng hộ của lưỡng đảng ở Washington. Những khó khăn mà Chính quyền Biden đã gặp phải vào đầu năm nay khi thông qua một khoản tài trợ cho việc phát triển thêm hệ thống phòng thủ tên lửa Vòm Sắt của Israel vì sự phản đối của một số nghị sỹ Dân chủ trong Quốc hội là một lời cảnh báo cho Chính phủ Israel về những gì có thể xảy ra nếu họ liên kết với một đảng, và bởi vậy Thủ tướng Bennett quyết tâm tránh trở thành một trở ngại chính trị cho Tổng thống Biden.

Cũng có sự đồng tình ngày càng tăng trong dân chúng ở Israel rằng việc Trump rút Mỹ khỏi JCPOA là một thảm họa đối với Nhà nước Do Thái. Hay như cựu Bộ trưởng Quốc phòng Israel Moshe Ya’alon phát biểu gần đây, việc Trump rút khỏi thỏa thuận với sự khuyến khích của Chính phủ Israel vào thời điểm đó là một “sai lầm lớn trong thập kỷ qua” trong chính sách đối với Iran. Người Israel vẫn không tin rằng JCPOA phục vụ bất kỳ mục đích nào. Tuy nhiên, họ đã thừa nhận rằng họ không có lựa chọn tốt hơn.

Bởi vậy, chiến lược của Israel không phải là trở ngại, và không đặt ra những câu hỏi khó, với hi vọng rằng khi Chính quyền Biden cuối cùng buộc phải thừa nhận – và người Israel có thể dự đoán – rằng JCPOA không thể được hồi sinh, Israel sẽ ở đó để tác động đến chiến lược tiếp theo của Mỹ đối với Iran.

Đương nhiên, Israel nhất định sẽ phải trả phí cho sự hợp tác của mình, dưới hình thức cung cấp thêm vũ khí, đặc biệt là các máy bay tiếp đầu để tiếp nhiên liệu trên không nhằm đem lại cho lực lượng không quân của Israel tầm hoạt động dài hơn, cũng như một số loại bom xuyên phá mới.

Trong khi đó, các quốc gia vùng Vịnh cũng thận trọng ủng hộ Mỹ ; quan điểm của họ là nếu vấn đề rẽ sang một hướng khác, giờ đây họ có thể công khai cùng với Israel gây dựng sự nghiệp chung chống Iran, và trong bất kỳ trường hợp nào có thể một cách riêng tư dựa vào người Israel để thúc đẩy những gì mà các chế độ quân chủ Arab mong muốn.

Trong các cuộc đàm phán này, Mỹ cũng có thể dựa vào sự hỗ trợ trung thành từ Anh, Pháp và Đức; cả ba quốc gia này đều có lợi ích sâu sắc trong việc cho thế giới thấy rằng họ có thể hợp tác chặt chẽ với nhau đối phó với các cuộc khủng hoảng quốc tế lớn, bất chấp việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU).

Và điều đáng chú ý là cả Nga và Trung Quốc đều không cản trở việc khôi phục các cuộc đàm phán về JCPOA. Giả định là cả Moskva và Bắc Kinh sẽ không can thiệp mà sẽ tìm cách thu được gì đó từ Mỹ – dưới hình thức một sự nhượng bộ chính trị khác không liên quan – để đổi lấy sự ủng hộ bất kỳ thỏa thuận nào từ Vienna.

Những lợi ích của Iran

Dù thế nào thì lập trường của Mỹ hiện đã mạnh mẽ hơn nhiều. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất vẫn là bản thân Iran, vì lập trường của nước này đang tiến triển theo hướng tiêu cực. Việc ông Ebrahim Raisi được bầu làm tổng thống mới của Iran là điều có ý nghĩa quan trọng: Raisi là người theo đường lối cứng rắn, thiển cận với Giáo chủ Ali Khamenei, Lãnh tụ tối cao của nước này. Về lý thuyết, tân Tổng thống Iran có nhiều không gian hành động hơn so với những người tiền nhiệm của ông vì nếu ông chấp nhận một thỏa thuận với người Mỹ, thì điều này được đảm bảo là sẽ được Giáo chủ Khamenei chấp thuận.

Tuy nhiên, có những nghi ngờ sâu sắc rằng liệu người Iran có thực sự muốn có một thỏa thuận hay không. Nền kinh tế của họ đang ở trong tình trạng hết sức tồi tệ, nhưng họ tự coi mình là bên hiện đang chiến thắng ở khu vực Trung Đông. Các lực lượng dân quân của Iran gần đây đã bị cự tuyệt ở nước Iraq láng giềng, tuy nhiên họ vẫn là công cụ ở đất nước đó. Trong khi đó, Iran là yếu tố then chốt cho sự tồn tại của chế độ ở Syria, và nắm giữ “chìa khóa” cho tương lai của Liban vốn đang nhanh chóng trở thành một nhà nước thất bại. Các lực lượng ủy nhiệm của Iran cũng có khả năng giành chiến thắng ở Yemen, nơi một cuộc chiến khác đang hoành hành. Vì vậy, ảnh hưởng của Iran đang lan rộng. Các kho tên lửa, máy bay không người lái, nguyên liệu phân hạch hạt nhân của Iran cũng ngày càng gia tăng. Điều đáng ngờ là người Iran khá hài lòng với tình hình hiện tại. Một tiến trình ngoại giao không buộc họ phải làm bất cứ điều gì và cho phép họ có thời gian để tiếp tục tiến trình hạt nhân của mình mà không phải đương đầu với một cuộc tấn công quân sự tiềm tàng của Mỹ vào các cơ sở của Iran.

Nếu đặc điểm này về lập trường của Iran là đúng, thì khi đó vấn đề chính mà các nhà đàm phán Mỹ hiện nay phải đối mặt không phải là đưa ra những nhượng bộ mới mà chắc chắn Iran sẽ bác bỏ, coi đó là chưa đủ, mà thay vào đó họ phải thuyết phục người Iran rằng thời gian đàm phán là ngắn ngủi và Mỹ không thể lúc nào cũng sẵn sàng đàm phán. Tổng thống Biden vẫn rất miễn cưỡng thực hiện động thái này. Nhưng nếu ông nghiêm túc về việc thực hiện lại lời cam kết mà ông đã đưa ra hồi tháng Sáu rằng “Iran sẽ không bao giờ có được vũ khí hạt nhân trong tầm theo dõi của tôi”, thì Tổng thống Mỹ sẽ phải chuyển sang suy tính về những lựa chọn quân sự đáng sợ hơn. Bi kịch như thế này có thể xảy ra: Lựa chọn mà thế giới đang phải đối mặt vẫn là giữa một Iran bị ném bom hay một Iran có được bom. Hoặc nếu Tổng thống Biden có một lựa chọn đầy thảm họa thì sẽ có cả hai kịch bản cùng một lúc.

Nguồn: TLTKĐB – 08/12/2021

Vấn đề hạt nhân Iran: Điều gì đã thay đổi? – Phần đầu


Theo bài viết trên báo The Straits Times ngày 30/11/21, cả Iran và Israel đều có nhà lãnh đạo mới, các đảng phái khác nhau đã và đang có những thay đổi. Tuy nhiên, Mỹ không thể hi vọng quay trở lại trạng thái trước thời kỳ Donald Trump.

Các cuộc đàm phán nhằm khôi phục thỏa thuận hạt nhân Iran đã được nối lại ở thủ đô Vienna của Áo. Đây là vòng họp thứ bảy giữa Mỹ, Iran, Anh, Đức, Pháp và Trung Quốc, mặc dù vòng đầu tiên diễn ra cách đây gần 6 tháng. Rất nhiều việc đã xảy ra trong nửa năm qua. Israel có thủ tướng mới, Iran có tổng thống mới, trong khi uy tín của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang giảm sút. Và “đằng sau cánh gà”, hầu như tết cả các bên liên quan đến triến trình ngoại giao này đã thay đổi một cách khéo léo lập trường của mình.

Tuy nhiên, như thường lệ ở Trung Đông, rất nhiều chuyển động không nhất thiết là tương đương với nhiều tiến bộ. Vì vậy, những cơ hội để thỏa thuận hạt nhân vốn ban đầu được hình thành vào năm 2015 có thể được hồi sinh là con số không. Vấn đề duy nhất là liệu có thể có một thỏa thuận tạm thời để ít nhất là giữ cho một lựa chọn ngoại giao tồn tại, hay liệu chúng ta có đang hướng tới một cuộc đối đầu tồi tệ hơn nhiều hay không?

Thỏa thuận hạt nhân 2015 đã luôn gây tranh cãi sâu sắc. Chính cái tên rườm rà của nó – chính thức được gọi là Kế hoạch Hành động chung toàn diện (JCPOA) – đã được phát minh vì nó không thể chính thức được gọi là một hiệp ước hạt nhân do Thượng viện Mỹ sẽ không bao giờ phê chuẩn. Quả thực, trong bất kỳ thời điểm nào, JCPOA, ngoại trừ được coi là một trong những thành tựu ngoại giao sáng giá nhất của Chính quyền Obama, đều không nhận được sự ủng hộ đa số ở Washington.

Người Israel thì căm thù thỏa thuận này vì nó chỉ hạn chế chứ không xóa bỏ được chương trình hạt nhân của Iran, và cũng chỉ hạn chế được trong một khoảng thời gian nhất định, chứ không phải vĩnh viễn. Hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các quốc gia Arab cũng không thích JCPOA, vì thỏa thuận này không giải quyết được hành vi gây mất ổn định của Iran trên toàn khu vực Trung Đông, hay với kho vũ khí ngày càng tăng gồm các tên lửa tầm ngắn và tầm trung của nước này.

Người Nga và Trung Quốc ủng hộ JCPOA vì nó hứa hẹn hạn chế quy mô hành động của Mỹ ở khu vực Trung Đông. Những bên duy nhất tin tưởng vào thỏa thuận này là Anh, Pháp và Đức. Họ được trải nghiệm hành động cùng nhau vì châu Âu và ngồi vào bàn với những “ông lớn”, và là những bên tiếp tục nhiệt thành tin rằng JCPOA là thỏa thuận tốt nhất có thể hình dung được.

Các biện pháp trừng phạt của Donald Trump

Sau đó, vào tháng 5/2018, chính quyền của Tổng thống Donald Trump tuyên bố thay thế thỏa thuận này bằng một chiến dịch “gây sức ép tối đa” đối với Iran. Chiến dịch này đã được cho là sẽ giải quyết mọi vấn đề mà JCPOA không giải quyết được. Không cần phải nói, Tổng thống Trump đã không đạt được gì theo hình thức này. Nền kinh tế của Iran đã suy yếu do sức ép của các biện pháp trừng phạt được gia hạn của Mỹ. Tuy nhiên, được giải phóng khỏi những nghĩa vụ của JCPOA, Iran đã đẩy mạnh chương trình hạt nhân của mình, chính là điều mà những người chỉ trích Chính quyền Trump cảnh báo có thể xảy ra.

Kết luận rõ ràng duy nhất rút ra được từ việc Trump từ bỏ JCPOA là cách thức Mỹ có thể duy trì vị trí trung tâm đối với bất kỳ tiến trình nào của Trung Đông. Ba bên ban đầu của châu Âu tham gia thỏa thuận đã bắt tay với Nga và Trung Quốc tuyên bố rằng việc Mỹ từ bỏ hiệp định là sự vi phạm luật pháp quốc tế, và các bên ký kết khác vẫn có ý định tiếp tục duy trì thỏa thuận.

Người châu Âu thậm chí còn đi xa hơn bằng việc thiết lập một cơ chế cho việc bồi thường cho các công ty tiếp tục buôn bán với Iran bất chấp các biện pháp trừng phạt của Trump. Đây là động thái bất thường đối với một số đồng minh thân cận nhất của Mỹ. Nhưng tất cả đều vô ích: Sức mạnh tài chính của Mỹ lớn đến mức không một công ty thương mại nào dám thách thức Mỹ.

Và Trung Quốc cũng vậy. Bắc Kinh đã mua một số lượng dầu nhất định với giá được chiết khấu của Iran, nhưng nhìn chung họ quyết định họ đã có đủ tranh chấp với Mỹ, nên không muốn mạo hiểm dấy lên một tranh chấp khác về vấn đề Iran. Nói tóm lại, Donald Trump đã chứng minh rằng bất chấp mọi lời bàn tán về sự suy giảm của Mỹ, không thể làm được gì nhiều ở Trung Đông nếu không có Mỹ.

Bởi vậy, lời hứa của Tổng thống mới đắc cử Joe Biden về việc đưa Mỹ quay trở lại JCPOA ngay lập tức, vốn là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính quyền của ông, đã khiến tất cả các bên tham gia chủ chốt “thởi phào nhẹ nhõm”. Tất cả dường như đều hài lòng. Các quan chức của ông nói về “trái ngọt ngoại giao dưới thấp”, được cho là có thể hái nhanh, đem lại cho êkip của Biden một thắng lợi tức thì về chính sách đối ngoại.

Joe Biden mong muốn điều gì?

Đề xuất của Joe Biden rất đơn giản: Mỹ sẽ quay trở lại JCPOA, Iran cũng sẽ làm như vậy, cả hai bên sẽ trở lại vị trí ban đầu – trong trường hợp của Mỹ là hủy bỏ các biện pháp trừng phạt được áp đặt dưới thời Chính quyền Trump và trong trường hợp Iran là hủy bỏ tất cả các tiến bộ hạt nhân mà nước này đã đạt được trong vài năm qua – và thời gian sẽ quay trở lại năm 2015 như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Đây được coi là kịch bản “tuân thủ để tuân thủ” vốn vẫn là nền tảng cho lập trường đàm phán của Mỹ.

Nhưng tất nhiên, đó là một sự ảo tưởng: Điều tưởng chừng như đơn giản nhưng hóa ra lại khó đạt được. Người Iran tuyên bố với lý lẽ mang tính biện minh rằng việc Mỹ phá vỡ một thỏa thuận quốc tế và sau đó mong đợi quay trở lại thỏa thuận mà không phải chịu hình phạt nào là điều không thể chấp nhận được; nếu Mỹ muốn khôi phục JCPOA, thì trước hết họ phải thể hiện thiện chí bằng việc hủy bỏ tất cả các biện pháp trừng phạt họ đã áp đặt mà không có bất kỳ điều kiện tiên quyết nào, đồng thời đưa ra cam kết công khai sẽ không bao giờ vi phạm thỏa thuận này nữa. Người Iran cũng từ chối thảo luận trực tiếp với Mỹ cho tới khi các điều kiện của họ được đáp ứng. Vì vậy, tất cả các cuộc đàm phán chính thức cho đến nay đều thông qua các bên trung gian.

Trong khi đó, tất cả các “nhân vật chính” khác đã quay trở lại lập trường truyền thống của họ: Người Arab phàn nàn rằng hiệp ước này không giải quyết được những mối lo ngại khu vực của họ, trong khi Israel tuyên bố JCPOA là không cần thiết. Và sau đó, cuộc bầu cử tổng thống Iran đã diễn ra, “đóng băng” tất cả mọi tiến bộ. Vì vậy, một tiến trình mà các phụ tá của Joe Biden ban đầu cho rằng sẽ mất vài tuần hoặc vài tháng, giờ đây đã mất gần một năm mà không có sự đột phá nào. Tuy nhiên, vòng đàm phán mới đây ở Vienna có ý nghĩa quan trọng, vì nó đánh giá một số sự thay đổi quan trọng gần đây về lập trường của tất cả các bên liên quan.

(còn tiếp)

Nguồn: TLTKĐB – 08/12/2021