Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần cuối


Những đồng minh này đang dần rời xa Mỹ cũng là điều chắc chắn. Ngày 6/11/2018, Tổng thống Pháp Macron hô hào trên Đài phát thanh Europe 1 rằng châu Âu nên xây dựng một quân đội riêng của mình để giảm bớt phụ thuộc quốc phòng vào Mỹ. Trump ngay sau đó lập tức công kích Macron trên Twitter: “Tổng thống Pháp vừa kiến nghị châu Âu xây dựng quân đội riêng để đề phòng Mỹ, Trung Quốc và Nga. Thật xúc phạm! Nhưng có lẽ châu Âu trước hết nên chi trả thỏa đáng phần chi phí quân sự của NATO, Mỹ đã bù vào đó khá nhiều rồi”. Có thể thấy quan hệ giữa châu Âu với Mỹ ngày một sứt mẻ, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc ngày càng gần gũi hơn, lệnh trừng phạt Iran lần này sẽ một lần nữa làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng xa rời.

Thứ ba, chia rẽ giữa Mỹ và châu Âu có thể là xu thế dài hạn. Kể từ khi Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu ngày càng xấu đi. Tuy nhiên hầu hết người dân đều thiếu nhận thức về điều này, thường cho rằng đó chỉ là cạnh tranh anh em giữa các nước Âu – Mỹ, về đối ngoại vẫn phải đoàn kết để đối phó với Nga và Trung Quốc. Hoặc cho rằng đây chỉ là phong cách cầm quyền của Trump, chỉ là hành vi nhất thời.

Nhưng tình hình hiện tại dường như không hoàn toàn như vậy. Một mặt, giá trị quan giữa Mỹ và châu Âu là nhất quán, chắc chắn vẫn mang nhiều lợi ích chung, không gian hợp tác tương đối lớn; nhưng mặt khác, nếu đúng như Trump coi EU là kẻ địch lớn hơn cả Nga và Trung Quốc thì châu Âu cũng ngày càng coi Mỹ là mối đe dọa lớn hơn, và kêu gọi Nga, Trung Quốc liên kết để chống lại sức ép từ Mỹ.

Hơn nữa, nhìn vào hiện tại, sự lạnh nhạt trong quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chỉ là vấn đề của cá nhân Trump, mà là kết quả tất yếu của sự thay đổi tình hình quốc tế nói chung, thực lực Mỹ tương đối suy giảm cũng như sự thay đổi của lực lượng Âu – Mỹ. Cục diện liên minh Âu – Mỹ hiện nay được xây dựng trên nền tảng là châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng do sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và Mỹ trở thành nước lớn độc tài, do đó cùng với việc Mỹ có quyền lãnh đạo châu Âu thì cũng phải gánh vác nghĩa vụ lớn hơn. Nhưng cùng với việc kinh tế châu Âu hồi phục tương đối và kinh tế Mỹ có phần suy thoái thì cục diện này ngày càng khó duy trì.

Ngoài ra, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mong muốn chi trả nhiều chi phí hơn cho phương Tây để duy trì địa vị lãnh đạo của mình là bởi vì Mỹ cho rằng mình có thể đạt được lợi ích từ địa vị chủ đạo này. Hiện nay có vẻ Mỹ xác định được lợi ích từ địa vị này là không ít, nhưng lợi ích này phân phối không đồng đều ở trong nước.

Người sáng lập kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của Quỹ quản lý đầu tư Bridgewater Associates Mỹ, Ray Dalio trong bài phát biểu “The Two Economies: The Top 40% and the Bottom 60%” hồi tháng 10/2017 đã chỉ ra rằng, sự chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng của xã hội Mỹ khó mà duy trì lâu dài. Theo Dalio, của cải của 0,1% dân số tầng lớp cao nhất hiện nay của Mỹ tương đương với của cải của 90% dân số tầng lớp thấp, tương đương với khoảng cách giàu nghèo trong giai đoạn 1935 đến 1940. “Từ năm 1980 đến nay, thu nhập thực tế của các hộ gia đình trung lưu về cơ bản vẫn giữ nguyên, trong khi thu nhập bình quân của 40% hộ gia đình tầng lớp cao đã nhiều gấp 4 lần so với 60% hộ gia đình tầng lớp thấp”. “Tỷ lệ tử vong của 60% dân chúng tầng lớp thấp đang gia tăng, sức khỏe về tinh thần và thể chất đều đang xấu đi”.

Trong hoàn cảnh này, một bộ phận người Mỹ mà đại diện là Donald trump đã không còn muốn duy trì trật tự quốc tế này nữa.

IV/ Kết luận

Lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây cho rằng: không có tình hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Không chỉ vậy, mà đôi khi ngay cả lợi ích chung cũng có thể tranh giành. Nếu lợi ích của việc phản bội lớn hơn lợi ích mà các đồng minh có thể có được thì sao không làm?

Quả thực, giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu tồn tại nhiều điểm chung, đặc biệt  là sự nhất trí về giá trị quan, nhưng điều này không có nghĩa là họ không trở mặt với nhau. Trong các cuộc Thập Tự Chinh từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, các nước Tây Âu và Đế quốc Byzantine là đồng minh, còn có chung tín ngưỡng, nhưng trong cuộc Thập Tự Chinh thứ tư (1202 – 1204), quân Thập Tự đã quay lại đánh úp và tiêu diệt Byzantine. Trong lịch sử, các nước Trung – Đông Âu thường duy trì sự nhất trí cao độ về ý thức hệ và lợi ích quốc gia, nhưng kể từ khi ký Hòa ước Versailles năm 1919, trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước phương Tây về chính trị đã nhiều lần bán rẻ các nước đồng minh Trung Âu và Đông Âu. Hiện tượng này xảy ra nhiều lần đến mức lịch sử quan hệ quốc tế đã xuất hiện một cụm từ là “sự phản bội của các đồng minh phương Tây”.

Do đó, ngày nay, sự trở mặt giữa Mỹ và các nước Tây Âu cũng phù hợp với tác phong của họ. Ví dụ như khi thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 2015, các nước Anh, Pháp, Đức nhìn thấy lợi ích to lớn trong đó nên đã làm trái ý Mỹ để tham gia AIIB. Các nước châu Âu cũng đều phản ứng tích cực đối với đề xướng “Vành đai và Con đường” mà Mỹ phản đối.

Ngày nay, vì cả Mỹ và châu Âu đều cho rằng quan hệ đồng minh giữa họ đã làm tổn hại đến lợi ích cơ bản của mỗi bên, nên các liên minh như vậy khó mà tiếp tục duy trì. Trong khi Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran, vì lợi ích bản thân mà tổn hại các đồng minh châu Âu, lại sẽ từng bước làm trầm trọng thêm quá trình này. Có lẽ trong tương lai không xa, Mỹ và châu Âu sẽ không còn coi nhau là đồng minh thân thiết.

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Advertisements

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần II


Thứ hai, Mỹ trừng phạt Iran đã làm tổn hại đến lợi ích của các đồng minh châu Âu.

Các lệnh trừng phạt Iran hiện nay của Mỹ đã từng bước gây tổn hại cho lợi ích của các nước đồng minh châu Âu. Mỹ sở dĩ đưa ra các lệnh trừng phạt đơn phương đối với Iran là vì xác định Iran là mối đe dọa lớn đối với an ninh, ngoại giao và kinh tế của Mỹ, nhưng các nước châu Âu lại không nghĩ như vậy. Cân nhắc đến tầm quan trọng của Iran trên thị trường khí đốt và dầu mỏ quốc tế, các nước châu Âu lại không muốn thực hiện lệnh trừng phạt đối với Iran, mà chủ trương thông qua con đường ngoại giao và chính trị để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran.

Trước khi ký kết Thỏa thuận hạt nhân Iran năm 2015, các nước châu Âu cùng với Mỹ đã tiến hành các biện pháp trừng phạt đối với Iran, mặc dù gây thiệt hại lớn nhưng không ngăn được sự phát triển kinh tế cũng như ngoại thương của Iran, rất nhiều nước đạt được lợi ích lớn nhờ vào quan hệ thương mại với Iran. Ví dụ, quy mô thương mại của Trung Quốc đối với Iran tăng lên trong kẽ hở của các lệnh trừng phạt của Mỹ, chỉ trong năm 2017, kim ngạch thương mại Trung Quốc – Iran đã tăng khoảng 20%. Ngoài Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Nga… cũng không cắt đứt quan hệ thương mại thông thường với Iran, ngược lại những nước châu Âu theo Mỹ trừng phạt Iran lại chịu tổn thất kinh tế không đáng có do không tiến được vào thị trường Iran. Sau khi lệnh trừng phạt Iran được nới lỏng, các doanh nghiệp châu Âu mong muốn có được thị trường Iran lâu nay đã nhanh chóng thâm nhập thị trường này.

Lần này, Mỹ làm trái với mong muốn của đồng mình châu Âu, tự ý rút khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran và áp đặt lệnh trừng phạt với Iran, điều này có nghĩa là Thỏa thuận hạt nhân Iran rất khó khăn mới đạt được vào năm 2015 và kéo dài trên 9 năm giữa EU với 7 nước bao gồm cả Iran đã tan thành mây khói. Mặc dù các nước châu Âu cực lực phản đối, nhưng cuối cùng không giải quyết được vấn đề. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận này và thực hiện trừng phạt Iran khả năng lớn sẽ khiến cho giá dầu tăng, ngành sản xuất dầu của Mỹ hiện nay tự đủ cung cấp và có thể bán dầu để thu lợi, còn đa số các nước EU lại không thể mua dầu giá cao. Dưới sự ép buộc của Mỹ, một số công ty đa quốc gia của châu Âu, không thể không gián đoạn hoạt động tại Iran và buộc phải rút khỏi thị trường Iran.

Mỹ trừng phạt Iran tương đương với việc buộc các đồng minh châu Âu phải trả tiền cho lợi ích của Mỹ, điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước châu Âu có liên quan, càng khiến những nước này bất mãn đối với Mỹ.

III/ Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran có thể làm tăng thêm sự chia rẽ của phe cánh phương Tây

Hàng loạt hành động gây tổn hại đến lợi ích đồng minh châu Âu của Mỹ đương nhiên sẽ chịu hậu quả.

Trước tiên là các đồng minh châu Âu ngày càng rời xa Mỹ.

Cùng với việc sau khi lên nắm quyền thái độ của Trump đối với các đồng minh châu Âu xấu đi, các nước châu Âu cũng ngày càng thiếu đoàn kết. Tại Hội nghị thượng đỉnh G7 vào tháng 6/2018, Mỹ và 6 nước còn lại công khai đối địch. Trong phương diện quan hệ với Nga, châu Âu cũng đã nhiều lần bày tỏ không hài lòng đối với Mỹ. Ngày 11/7/2018, tại Hội nghị thượng đỉnh NATO Trump đã chỉ trích rằng người Đức không nên nhập khẩu năng lượng của Nga, trở thành nô lệ cho Nga. Nhưng bản thân ông quay lại bày tỏ tình hữu nghị với nước Nga cũng như Putin trong “cuộc gặp Trump – Putin”, tăng cường hợp tác với Nga về năng lượng. Điều này đã gây ra nhiều sự nghi ngờ của châu Âu.

Đầu tháng 5/2018, theo một cuộc khảo sát của Đức với tên gọi là “Young Europe 2018” cho thấy đa số những người trẻ tuổi ở Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Italy, Ba Lan, Tây Ban Nha đều không ủng hộ lập trường của chủ nghĩa dân túy, 57% trong số người được phỏng vấn coi Tổng thống Trump là “mối đe dọa”, chỉ có 11% coi ông là một “cơ hội”.

Ngày 16/7/2018, Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas nói rằng, châu Âu “không thể hoàn toàn trông chờ” vào Mỹ, cần phải đoàn kết lại, phát triển quan hệ với Mỹ theo cách mới. Chủ tịch Hội đồng châu Âu – cơ quan ra quyết sách tối cao của EU, Donald Tusk cảnh cáo rằng, Mỹ dường như không có đồng minh. Thậm chí Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng công khai chỉ trích Donald Trump là “phá hủy niềm tin vào trật tự quốc tế”.

Thứ hai, các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ có thể làm tăng sự chia rẽ của phe cánh phương Tây.

Sau khi Mỹ tuyên bố khởi động lại lệnh trừng phạt đối với Iran, một số nước châu Âu kiên quyết phản đối. Pháp, Đức, Anh và EU cùng lên án hành vi của Mỹ, và tuyên bố sẽ bảo vệ các công ty châu Âu kinh doanh “hợp pháp” với Tehran.

Hiện tại, phần lớn các giao dịch toàn cầu đều thông qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế), Mỹ có thể dựa vào hệ thống này để giám sát và điều khiển một cách hiệu quả các giao dịch toàn cầu, và dựa vào đó để thực hiện trừng phạt các nước khác. Đó cũng là một trong những trụ cột quan trọng trong việc xây dựng quyền lực tài chính của Mỹ. Tuy nhiên, các nước khác không chấp nhận như vậy, ví dụ như Trung Quốc và Nga đã xây dựng hệ thống thanh toán của riêng mình.

Trước những hành động cô lập ngày càng nghiêm trọng của Mỹ, các nước châu Âu cũng cố gắng thiết lập hệ thống thanh toán của riêng mình. Ngày 2/11/2018, EU cùng với Anh, Pháp, Đức đã ra tuyên bố chung rằng phải duy trì “kênh tài chính hiệu quả với Iran”, tiếp tục mua dầu và khí đốt của Iran. Còn phải nỗ lực hợp tác với Trung Quốc và Nga – là những bên cũng ký kết thỏa thuận hạt nhân Iran. Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas, trong một bài viết hồi tháng 8/2018, đã đề xuất châu Âu nên lập nên một hệ thống thanh toán mới độc lập với Mỹ để cứu vãn Thỏa thuận hạt nhân Iran và tăng cường quyền tự chủ của châu Âu. Nếu điều này thành hiện thực, quyền lực tài chính của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

Ngày 5/11/2018, ngay sau khi Mỹ chính thức khôi phục lại lệnh trừng phạt đối với Iran, đồng thời tuyên bố 8 nước hoặc khu vực được miễn trừ, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Italy, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ mà không bao gồm các nước cốt lõi của EU như Pháp, Đức và Anh, điều này chắc chắn càng làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu. Tuy lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Iran của Anh và Đức tương đối ít, trong khi quy mô nhập khẩu từ Iran của Pháp là 5%, Italy 7% và Nhật Bản 5%. Xét về địa vị và tầm ảnh hưởng của Pháp trong các nước châu Âu có thể khẳng định rằng đây là một sách lược trừng phạt mang tính xúc phạm đối với các đồng minh châu Âu truyền thống, thể hiện rất rõ ràng thái độ không tin tưởng các đồng minh châu Âu.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần I


Tháng 5/2018, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran, đồng thời yêu cầu các nước trên thế giới ngừng nhập khẩu dầu của Iran, nếu không các nước và các doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với các lệnh trừng phạt kinh tế. Tháng 8/2018, Mỹ khởi động lại các lệnh trừng phạt đối với Iran trong hàng loạt lĩnh vực phi năng lượng như tài chính, kim loại, khoáng sản, xe hơi… Ngày 5/11, Mỹ chính thức khôi phục lệnh trừng phạt đơn phương trong lĩnh vực năng lượng và tài chính đối với Iran.

Các lệnh trừng phạt là vũ khí quan trọng của Mỹ, lâu nay luôn phát huy vai trò quan trọng trong việc xử lý các công việc quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện trừng phạt Iran lần này của Mỹ chưa có đủ các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa kết quả chưa chắc đã như mong đợi, mà có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ nội bộ của phe cánh phương Tây.

I/ Quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và các nước đồng minh

Quan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh phương Tây là một kiểu quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Các nước đồng minh này dĩ nhiên cần phải dựa vào sự bảo vệ của Mỹ, Mỹ cũng cần phải dựa vào sự hỗ trợ của các đồng minh.

Trước hết, hệ thống đồng minh là chỗ dựa quan trọng cho sức mạnh của Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ có hơn 800 căn cứ quân sự tại hơn 70 nước trên toàn thế giới, nhưng để chống lại các đối thủ với bảo vệ lợi ích toàn cầu của mình, chỉ có sức mạnh quân sự là chưa đủ. Mỹ có thể trở thành thủ lĩnh thế giới, giành được thắng lợi trong nhiều cuộc đấu tranh quốc tế bao gồm cả Chiến tranh Lạnh, ngoài việc dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, cũng phụ thuộc nhiều vào ý thức hệ của mình và các mối quan hệ đồng minh đã dày công gây dựng lâu nay.

Mỹ cũng hiểu sâu sắc đạo lý “chính nghĩa thì được ủng hộ, phi nghĩa thì không”, “dùng mưu kế quân sự đánh bại địch, dùng thủ đoạn ngoại giao gây chia rẽ địch”, đã xây dựng hệ thống đồng minh rộng rãi và hiệu quả trên toàn cầu. Ví dụ, tại Trung Đông, Israel và Saudi Arabia là những điểm tựa chiến lược quan trọng của Mỹ, còn tại Đông Á, Nhật Bản và Hàn Quốc là tiền tuyến chiến lược trong việc chống lại Liên Xô trước đây và sau này là Trung Quốc và Nga. Tại Đông Nam Á, Mỹ và Singapore vẫn hợp tác vui vẻ. Tại khu vực Nam Á, Mỹ lại thay đổi các nước trụ cột khác nhau dựa theo những thay đổi của tình hình.

Trong hai cuộc chiến tranh thế giới và trong nhiều hành động chính trị và quân sự lớn của quốc tế trong thời kỳ hậu chiến tranh, Mỹ đều rất hiếm khi hành động một mình, mà thường chọn cách hợp tác tập thể. Ví dụ trong Chiến tranh Triều Tiên, Mỹ sử dụng chiêu bài “quân đội Liên hợp quốc”, đã tổ chức liên quân 17 nước tham chiến. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, các đồng minh tham gia đã đạt con số kỷ lục với 40 nước, trong đó có 34 nước có cống hiến thực sự vào việc giải phóng Kuwait. Nếu không có sự phối hợp của các đồng minh, địa vị lãnh đạo của Mỹ cho dù về mặt lý lẽ hay là hiệu quả thực tế đều bị giảm đáng kể.

Thứ hai, trong tất cả các đồng minh của Mỹ, đồng minh châu Âu là trụ cột quan trọng nhất. Có thể thấy các nước châu Âu với Mỹ tương đồng về văn hóa và thể chế chính trị, vị trí địa lý quan trọng, hơn nữa đều có sức mạnh về kinh tế và công nghệ, vì vậy, lâu nay các đồng minh châu Âu không những là đồng minh thân cận mà còn là đồng minh có sức mạnh nhất của Mỹ. NATO và Liên minh châu Âu (EU) tiền thân là Cộng đồng châu Âu không những là công cụ quan trọng để chống lại Liên Xô khi đó, cũng là cái cớ quan trọng nhất để sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Mỹ tiếp tục chống lại Nga cũng như lựa chọn hành động, quán triệt chiến lược, theo đuổi lợi ích lớn nhất tại Đông Âu và Trung Đông đồng thời đẩy mạnh địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, các nước lớn châu Âu lần lượt tham gia lực lượng đa quốc gia do Mỹ dẫn đầu bao gồm quân đội của hơn 10 nước đồng minh châu Âu. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (2003 – 2010) không được Liên hợp quốc cho phép, hầu hết các nước đều phản đối. Khi Mỹ quyết tâm xâm chiếm Iraq, cũng muốn lôi kéo cả Anh cùng hành động.

Tuy nhiên, giữa Mỹ và các nước đồng minh châu Âu khác không hẳn là thân mật, mà là đồng thời với việc duy trì sự hợp tác chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau cùng tồn tại nhiều xung đột về lợi ích. Trong phạm vi toàn cầu, Mỹ và các đồng minh vừa là đối tác hợp tác vừa là đối thủ cạnh tranh. EU vừa phản đối chủ nghĩa đơn phương của Mỹ, vừa lại lo lắng chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa dân tộc của Mỹ; một mặt dựa vào sự bảo vệ quân sự của Mỹ, mặt khác lại hy vọng nâng cao địa vị quốc tế của minh. Do đó EU ngày càng tích cực tham gia vào các vấn đề gây tranh cãi của quốc tế, từ Triều Tiên đến khu vực Trung Đông, EU đều cố gắng phát huy hết sức vai trò của mình. Trong một số khu vực, sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể bổ sung cho nhau, nhưng ở một số khu vực khác, lợi ích của Mỹ và những nước này có thể nảy sinh xung đột. Nói tóm lại, về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, Mỹ và các đồng minh châu Âu có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại rắc rối phức tạp.

Nói một cách đơn giản, tuy giữa Mỹ và châu Âu luôn tồn tại xung đột lợi ích nhất định, nhưng nhìn về dài hạn, quan hệ Mỹ – châu Âu tương đối thân thiết và ổn định, tạo thành nền tảng quan trọng cho an ninh của châu Âu cũng như địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ.

II/ Các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ làm tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu

Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu đã có sự thay đổi lớn. Ông khởi xướng “Nước Mỹ trước tiên”, “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, kiên trì đường lối có lợi cho Mỹ nhưng gây tổn hại cho nước khác, kể cả các nước đồng minh, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đồng minh ngày càng sâu sắc, nội bộ ngày càng lục đục.

Trước tiên, chính sách ngoại giao của Trump gây tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu. Thời gian qua, Mỹ đã tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và Thảo thuận hạt nhân Iran, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại, di dời đại sứ quán ở Israel…, những việc làm này đã làm hao mòn lòng tin của các nước châu Âu đối với Mỹ. Đặc biệt là gần đây Mỹ tự ý rút khỏi “Hiệp ước Các lực lượng tên lửa tầm trung” đã ký kết cùng Liên Xô năm 1987, điều này gây tổn hại lớn đến an ninh khu vực châu Âu, khiến họ khó mà chấp nhận.

Tháng 6/2018, sau khi tiếp tục từ chối ủng hộ thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh G7 tổ chức tại Canada, Trump liên tục công kích Thủ tướng Canada Trudeau trên Twitter về vấn đề thương mại. Truyền thông phương Tây bình luận rằng, sau Hội nghị Thượng đỉnh G7, quan hệ giữa Mỹ và đồng minh phương Tây “trượt xuống hố sâu”.

Đặc biệt khiến thế giới phải choáng váng là, sau khi Trump lên nắm quyền, ông bất ngờ lựa chọn đường lối “liên kết với Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc”, muốn lôi kéo Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc. Tháng 7/2018, trước cuộc hội đàm với người đồng cấp Nga Putin, Trump công khai phát biểu chỉ trích châu Âu, gọi châu Âu là kẻ thù lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc thứ 2, Nga chỉ có thể đứng thứ 3. Trump cũng buộc các nước châu Âu phải tăng chi phí quốc phòng. Ngoài ra, Trump rất bất mãn với thâm hụt trong thương mại giữa Mỹ với châu Âu (thâm hụt thương mại của Mỹ với EU năm 2017 là 173,8 tỷ USD). Theo tờ The Washington Post nói về người châu Âu, Trump nói: “Họ muốn bóp chết chúng ta trong những việc khác nữa… quan trọng nhất là, họ dùng NATO để giết chúng ta…”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Viễn cảnh địa ngục của chiến tranh Mỹ – Iran


Amin Saikal

Chính quyền Iran đang nỗ lực củng cố an ninh quốc gia trong một khuôn khổ trợ giúp khu vực, mà nó cho phép Iran sẽ không bị đẩy lùi trong một cuộc xung đột với Mỹ. Ngược lại, phản ứng của Iran đối với bất kỳ cuộc tấn công quân sự lớn nào cũng sẽ biến nó thành một địa ngục không thể kiểm soát.

Cựu Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Samantha Power đã một lần gọi các cuộc chiến tranh diệt chủng là “một vấn đề của địa ngục”. Khi Chính quyền Donald Trump gia tăng căng thẳng với Iran, thế giới cần phải nghĩ đến một “cuộc đối đầu địa ngục” giữa hai quốc gia.

Hiện tại, cả Mỹ và Iran đều tuyên bố không muốn có chiến tranh. Tuy nhiên, họ đang từng bước tiến vào quỹ đạo xung đột. Mỹ đã tăng cường triển khai quân sự ở khu vực xung quanh Iran, điều động nhóm tàu sân bay tấn công USS Abraham Lincoln và một đội đặc nhiệm máy bay ném bom đến Trung Đông để cảnh báo Tehran không được thực hiện các hành động đe dọa. Iran lên án hành động này là đòn chiến tranh tâm lý và coi đó là hành động khiêu khích nhằm lôi kéo Tehran vào một cuộc xung đột quân sự.

Kể từ khi nhậm chức, Tổng thống Trump không ngừng mô tả Iran là nguồn gốc của mọi tội lỗi – bao gồm khủng bố quốc tế – trong và ngoài khu vực. Ông đảo ngược chính sách can dự với Iran của người tiền nhiệm Barack Obama và đang gây sức ép tối đa lên chính quyền Tehran với 3 mục tiêu trọng tâm.

Trước hết, chính quyền Trump muốn mang lại sự thay đổi chế độ, hoặc ít nhất là thay đổi hành vi của Iran. Mỹ tìm cách làm suy yếu nền kinh tế Iran để nước này không còn là một tác nhân có ảnh hưởng trong khu vực. Mỹ cũng muốn củng cố vị thế của Israel với tư cách là một đồng minh mạnh mẽ và trung thành nhất của Mỹ ở Trung Đông, đồng thời củng cố quan hệ chiến lược chặt chẽ giữa nhà nước Do Thái và các nước Arab chống Iran, bao gồm các quốc gia Vùng Vịnh – do Saudi Arabia lãnh đạo – cùng với Ai Cập.

Để đạt được những mục tiêu này, Trump đã rút Mỹ ra khỏi thỏa thuận hạt nhân với Iran năm 2015, có tên gọi chính thức là Kế hoạch hành động toàn diện chung (JCPOA). Chính quyền Trump cũng áp đặt các biện pháp trừng phạt hà khắc đối với Iran, ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực kinh tế của nước này, khiến một số công ty nước ngoài phải ngừng kinh doanh với Tehran. Và trong một động thái chưa từng có vào tháng trước, Tổng thống Trump đã gọi lực lượng chủ chốt của quân đội Iran, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, là  tổ chức khủng bố.

John Bolton, Cố vấn an ninh quốc gia có tư tưởng diều hâu của Trump, gần đây tuyên bố: “Mỹ không muốn gây chiến với Iran, nhưng chúng tôi sẵn sàng đáp trả bất kỳ cuộc tấn công nào, cho dù là bởi các lực lượng được Iran ủy nhiệm, bởi Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, hoặc bởi lực lượng quân đội chính quy của Iran”. Điều này đẩy Mỹ và Iran tiến gần hơn đến một cuộc đối đầu quân sự có thể được kích hoạt một cách có chủ ý hoặc do các tính toán sai lầm.

Trong trường hợp xảy ra chiến tranh, Iran sẽ không có khả năng quân sự để đứng vững trước hỏa lực của Mỹ. Mỹ có thể nhanh chóng tiêu diệt các cơ sở quân sự của Iran, các địa điểm hạt nhân và các cơ sở hạ tầng trọng yếu. Ngoài ra, Mỹ có thể ngăn Iran chặn eo biển Hormuz, nơi khoảng 30% lượng dầu thế giới đi qua.

Tuy nhiên, Iran cũng có khả năng khiến bất kỳ cuộc tấn công quân sự nào của Mỹ – có hoặc không có sự hỗ trợ của Israel và Saudi Arabia – trở nên rất tốn kém cho Mỹ và khu vực. Chính quyền Iran có thể đánh chìm một vài con tàu tại điểm hẹp nhất của eo biển Hormuz – tuyến đường hàng hải chỉ rộng 3,2 km theo cả hai chiều nơi hẹp nhất – nhằm gây tắc nghẽn eo biển này. Quan trọng hơn, Iran đã xây dựng một chiến lược chiến tranh bất đối xứng dựa trên cả sức mạnh cứng và sức mạnh mềm. Mặc dù Iran thiếu một lực không quân tiền tuyến hiện đại, nhưng nước này đã đạt được tiến bộ đáng kể trong việc phát triển và sản xuất các tên lửa tầm ngắn, tầm trung và tầm xa, có khả năng tấn công các mục tiêu ở xa như Israel.

Hơn nữa, chế độ này có thể nhắm và các địa danh như tháp Buji Khalifa ở Dubai – tòa nhà cao nhất thế giới – để gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn khu vực. Ngay cả khi độ chính xác của tên lửa Iran không thể được đảm bảo, nhưng nhiều quả trong số đó vẫn có thể thoát được các hệ thống phòng thủ. Chẳng hạn, hệ thống phòng thủ chống tên lửa Vòm Sắt (Iron Dome) tối tân của Israel thậm chí cũng không thể vô hiệu hóa tất cả các tên lửa loại đơn giản được phóng từ dải Gaza.

Hơn nữa, chế độ Iran đã tạo ra một mạng lưới các lực lượng ủy nhiệm trên toàn khu vực. Syria và Iraq đã trở thành những mắt xích quan trọng trong một vòng cung chiến lược của người Hồi giáo dòng Shiite do Iran dẫn đầu, trải dài từ Afghansitan đến Lebanon. Các lực lượng ủy nhiệm của Iran bao gồm bộ phận dân cư dòng Shiite tại Afghanistan, lực lượng dân quân Shiite ở Iraq, và nhóm Hezbollah, vốn đagn kiểm soát miền Nam Lebanon và có hàng nghìn tên lửa sẵn sàng nhắm vào Israel. Thực tế, Hezbollah sau cuộc chiến năm 2006 với Israel đã trở  nên mạnh hơn trước.

Ngoài ra, Iran có thể huy động hàng ngàn chiến binh đánh bom tự sát muốn hy sinh vì mục tiêu chung của người Hồi giáo dòng Shiite và chủ nghĩa dân tộc mà chế độ Iran đã thúc đẩy thành công. Những chiến binh đánh bom tự sát này được cài sâu trong lực lượng an ninh Iran và trên toàn bộ khu vực.

Chính quyền Iran đã nỗ lực tăng cường an ninh quốc gia với sự hỗ trợ của một vài nhân tố trong khu vực. Do đó, trong trường hợp xảy ra xung đột với Mỹ, Iran sẽ không dễ dàng bị tiêu diệt. Ngược lại, bất kỳ cuộc tấn công quân sự lớn nào cũng có thể dẫn đến một địa ngục không thể kiểm soát được. Cả hai bên đều có lý do chính đáng để tránh châm ngòi cho một cuộc chiến.

Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary/united-states-iran-war-consequences-by-amin-saikal-2019-05

TKNB – 15/05/2019

Iran giữa đống tàn tích – Phần cuối


Nhưng bất chấp những dự đoán này, Mỹ không thay đổi về căn bản cách tiếp cận của họ đối với khu vực này. Chính quyền Obama đã tìm cách giảm bớt các cảm giác lo lắng của Arab bằng việc ký kết các thỏa thuận vũ khí lớn với Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE). Những người ở Tehran từng ủng hộ thỏa thuận hạt nhân này cảm thấy thất vọng: Iran đã từ bỏ một phương tiện quan trọng chỉ để nhận thấy khoảng cách quân sự thông thường với các đối thủ khu vực của họ trở nên lớn hơn. Vào năm 2015, Saudi Arabia và các đồng minh của họ lần đầu tiên tỏ ra sẵn lòng sử dụng ưu thế quân sự đó, với tác động gây tổn hại nặng nề, ở Yemen – một tín hiệu đã được Iran chú ý. Tehran đã phản ứng bằng cách tăng cường chương trình tên lửa của họ.

Chính quyền Trump đã đảo ngược tiến trình thỏa thuận hạt nhân và đang “xoay trục” trở lại hệ thống liên minh Mỹ – Arab cũ, với Saudi Arabia là điểm tựa của nó. Thỏa thuận này có thể chật vật để tồn tại, nhưng cơ hội mà nó mang đến cho Iran và Mỹ đã khép lại. Tuy nhiên, việc quay trở lại chiến lược kiềm chế sẽ là khó khăn. Hai trụ cột quan trọng đã mất đi: Iraq và Syria yếu ớt và tan vỡ, không thể kiểm soát lãnh thổ của chính họ và được cai trị bởi các chính quyền thân thiết với Iran hơn là với các đồng minh Arab của Mỹ. Hai nước này bao trùm hầu hết khu vực Levant trong vài thập kỷ đã áp đặt trật tự đối với các giáo phái, sắc tộc và bộ tộc đang cạnh tranh nhau trong khu vực này. Kể từ Chiến tranh thế giới thứ nhất, cùng với Ai Cập và Saudi Arabia, họ đóng vai trò là các trụ cột của trật tự Arab. Cụ thể, sau năm 1958, Iraq đóng vai trò vừa là một lá chắn chống lại tầm ảnh hưởng của Iran vừa là một ngọn giáo chĩa vào Iran.

Xét cho cùng, lập trường của Mỹ ở Trung Đông phản ánh sự rút lui rõ ràng hơn của họ khỏi vai trò lãnh đạo toàn cầu. Mỹ thiếu năng lực để đẩy lùi những thành quả của Iran và lấp đầy khoảng trống mà việc làm này sẽ để lại. Những thiếu sót trong chính sách của Mỹ được phô bày đầy đủ trong cuộc trưng cầu dân ý đòi độc lập của người Kurd ở Iraq tổ chức vào năm 2017. Mặc dù Washington kêu gọi người Kurd không tổ chức cuộc bỏ phiếu này nhưng không thể ngăn cản được họ, và sau khi người Kurd bỏ phiếu đòi độc lập, Washing hầu như không đóng vai trò gì trong việc xử lý cuộc khủng hoảng diễn ra sau đó. Thay vào đó, Iran đã xoa dịu tình trạng đối đầu, mà đe dọa leo thang thành cuộc xung đột công khai giữa Baghdad và Erbil. Tehran buộc các nhà lãnh đạo người Kurd phải rút lại tuyên bố độc lập, từ bỏ quyền kiểm soát đối với thành phố tranh chấp Kirkuk, và thậm chí chấp nhận một sự thay đổi về ban lãnh đạo trong Chính quyền khu vực người Kurd.

Đồng minh Arab hàng đầu của Mỹ, Saudi Arabia cũng không thể làm gì hơn. Họ đã tập hợp thành công dư luận Arab dòng Sunni phản đối việc Iran can thiệp vào Syria và phần còn lại của thế giới Arab. Và từ năm 2013 đến năm 2016, họ đã cùng với Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ gây ngạc nhiên cho Iran và các bên được nước này bảo trợ ở Syria khi hỗ trợ cho nhiều nhóm đối lập chống Assad. Nhưng khi đó nỗ lực của Saudi Arabia là không đủ. Saudi Arabia có mâu thuẫn với Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ, và chế độ Assad đã vượt qua được phe đối lập do người Sunni lãnh đạo. Và ở Yemen, lực lượng Houthi vẫn duy trì được vị thế của mình trước sức mạnh quân sự to lớn của liên minh do Saudi Arabia lãnh đạo.

Iran vẫn lo lắng về sự quyết đoán mới thấy của Saudi Arabia. Thái tử Mohammed đang tiến hành chiến tranh ở Yemen và cô lập Qatar, và thậm chí còn cố gắng dùng vũ lực để buộc Thủ tướng Liban Saad Hariri phải từ chức vào tháng 11/2017. Khác với những người tiền nhiệm của mình, ông cũng cho thấy sự sẵn lòng đảm nhận một vai trò nào đó ở Iraq, nơi ông đang cố giành cho được sự ủng hộ của các chính trị gia Iraq theo dòng Shiite, kể cả nhà lãnh đạo lực lượng dân quân Muqtada al-Sadr vốn không theo một khuôn phép nào. Tuy nhiên, Saudi Arabia sẽ có một khoảng thời gian khó khăn khi tiếp tục chiến lược hung hăng này. Thái tử phải khôn khéo khi kế vị cha mình, Nhà vua Salman, và thực hiện một chương trình cải cách xã hội và kinh tế đầy tham vọng, tất cả trong khi đối đầu với Iran.

Iran cũng không cảm thấy bị cô lập như Washington và các đồng minh của họ. Tháng 6/2017, Saudi Arabia đã lãnh đạo một liên minh các nhà nước Arab tẩy chay Qatar về ngoại giao và kinh tế, trừng phạt họ vì đã lấy lòng Iran và hỗ trợ cho các nhóm khủng bố và tổ chức Hồi giáo dòng Sunni Anh em Hồi giáo. Những nỗ lực cô lập Qatar chỉ thúc đẩy họ đến gần hơn với Iran, mang lại cho Tehran một chỗ đứng trên bờ biển phía Nam vịnh Persia.

Động thái của Saudi Arabia cũng gây tổn hại đến mối quan hệ với Thổ Nhĩ Kỳ. Đảng Công lý và Phát triển cầm quyền của Ankara có quan có quan hệ với tổ chức Anh em Hồi giáo, và nước này có khát vọng của riêng họ là lãnh đạo thế giới dòng Sunni. Tầm nhìn Mỹ – Saudi Arabia về trật tự khu vực không phản ánh các lợi ích và tham vọng của Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả điều này khiến Thổ Nhĩ Kỳ nhanh chóng “xoay trục” về phía Iran và Nga. Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đã tìm cách tránh những bất đồng của ông với Tehran và Moskva để xây dựng một mối quan hệ đối tác với hai nước này nhằm định hình các sự kiện ở Syria. Trục mới này đã lộ diện đầy đủ vào tháng 11/2017 khi Erdogan gặp mặt Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ira Hassan Rouhani tại Sochi để quyết định số phận của Syria. Căng thẳng gia tăng giữa Iran và Mỹ đang diễn ra trong bối cảnh Nga bước vào Trung Đông, mà thực sự bắt đầu vào năm 2015, khi Nga can thiệp vào cuộc nội chiến Syria nhân danh chế độ Assad. Các quan chức Mỹ trước sau vẫn coi nhẹ vai trò của Moskva ở Syria và gạt bỏ ý tưởng rằng Nga sẽ giành được tầm ảnh hưởng bằng cách mở rộng tầm với của họ đến khu vực này. Nhưng Nga đã nổi lên như là nước chủ yếu định đoạt vận mệnh của Syria, và khi vai trò của họ đã phát triển vượt ra bên ngoài Syria, họ trở thành bên trung gian quyến lực duy nhất ở Trung Đông mà tất cả các bên đều phải đàm phán cùng.

Nga hẳn không thể tạo ra những thành quả này mà không có Iran. Sự hiện diện của Iran trên thực địa đã mang lại chiến thắng cho Nga ở Syria. Và ở Afghanistan, Trung Á và Caucasus, Iran và Nga đã làm việc chặt chẽ với nhau để chống lại tầm ảnh hưởng của Mỹ. Hai nước này tự xem mình là những nước lớn đang xung đột với các liên minh của Mỹ vốn được xây dựng nên để kiềm chế họ. Nga hiểu được giá trị của Iran đối với các tham vọng lớn hơn của mình. Iran có vị trí địa lý quan trọng và là một nước giàu năng lượng với 80 triệu dân cùng một mạng lưới các đồng minh và các nước được bảo trợ trải rộng khắp Trung Đông – tất cả đều nằm ngoài khu vực ảnh hưởng của Mỹ. Điều đó khiến Iran trở thành một phần thưởng đối với Putin, người đang nóng lòng muốn đẩy lùi Mỹ bất kỳ nơi nào ông có thể.

Bằng việc hợp tác với nhau trong cuộc nội chiến Syrai, quân đội và các cộng đồng tình báo Iran và Nga đã xây dựng mối quan hệ sâu sắc với nhau, điều sẽ giúp Iran chống lại sự ép buộc của Mỹ trong tương lai. Trong năm qua, khi Mỹ quay lưng lại với thỏa thuận hạt nhân và gây áp lực ngày càng tăng đối với Iran, một sự đồng thuận đã xuất hiện ở Tehran xung quanh mối quan hệ thân thiết hơn với Nga. Iran đang hướng tới việc gia tăng trao đổi thương mại với Nga và mua vũ khí tinh vi từ nước này để đối phó với sự gia tăng chi tiêu quân sự trong khối do Saudi Arabia lãnh đạo. Thậm chí họ còn có thể ký kết một hiệp ước phòng thủ với Nga, mà sẽ bao gồm việc hợp tác chặt chẽ về mặt quân sự và tình báo và quyền tiếp cận của Nga đối với các cơ sở quân sự của Iran, điều từng bị Iran phản đối trong quá khứ. Cuối cùng, chính sách của Mỹ có thể thành ra trao sức mạnh cho Nga mà không thu hẹp tầm ảnh hưởng của Iran.

Đã đến lúc đàm phán

Dựa trên hiểu biết sai lầm của họ về các nguyên nhân dẫn đến tình trạng hỗn loạn ở Trung Đông, chính sách Iran cảu Chính quyền Trump đang rơi vào vòng xoáy tự chuốc lấy thất bại. Giả định rằng Mỹ và các đối tác Arab của họ sẽ có thể kiềm chế Iran một cách nhanh chóng và không gặp tổn thất nào, và việc làm này sẽ mang lại ổn định cho khu vực, là giả định sai lầm đến mức nguy hiểm. Ngay lúc này, Mỹ không có đủ binh lính ở Trung Đông để tác động đến các diễn biến ở Iraq hay Syria, chưa kể đến việc ngăn chặn Iran. Việc triển khai các nguồn lực quân sự cần thiết sẽ buộc Trump phải đi ngược lại với tuyên bố công khai của ông là không tham gia các cuộc phiêu lưu quân sự tốn kém. Và các nguồn lực đó sẽ phải trả giá bằng các vấn đề cấp thiết khác, như việc đối phó với Triều Tiên cũng như răn đe Trung Quốc và Nga. Washington cũng không nên đặt hy vọng vào các đồng minh khu vực của mình. Họ không thể gạt Iran ra khỏi thế giới Arab, họ cũng sẽ không thể thay thế được tầm ảnh hưởng của nước này nếu như họ làm vậy. Bất kỳ xung đột lớn nào trong khu vực chắc chắn cũng sẽ bu65c Mỹ phải can thiệp.

Ngay dù Mỹ có tập hợp được các nguồn lực cần thiết để kiềm chế Iran, thì việc làm này cũng sẽ không mang đến ổn định. Iran là một thành phần không thể thiếu trong bất kỳ trật tự bền vững nào ở Trung Đông. Sự đối đầu quân sự sẽ chỉ khuyến khích Tehran đầu tư thậm chí còn nhiều hơn vào chiến lược phòng thủ phía trước, dẫn đến việc Iran can thiệp nhiều hơn và tình trạng bất ổn hơn. Các nước ổn định, như Bahrain, Jordan, Qatar và UAE, có thể mắc sai lầm, và các nước yếu, như Iraq và Liban, có thể rơi vào tình trạng vô trật tự và bạo lực vốn là đặc trưng của Libya và Yemen trong những năm gần đây. Hơn nữa, Mỹ sẽ phải đương đầu với các cuộc khủng hoảng nhân đạo và các nhóm khủng bố mà sẽ đảm nhận những việc IS bỏ lại.

Thay vì thiết lập một trật tự khu vực để kiềm chế Iran, Mỹ nên thúc đẩy một tầm nhìn về Trung Đông bao gồm cả Iran. Họ nên thuyết phục Tehran rằng tốt hơn nên làm việc với Washington và các đồng minh của Washington thay vì đặt hy vọng vào một trật tự khu vực được Nga hậu thuẫn.

Để đạt được điều đó, Mỹ phải dựa nhiều vào ngoại giao hơn là vũ lực. Washington nên tìm cách giảm bớt căng thẳng bằng việc lôi kéo Iran tham gia trực tiếp, đảm nhận những việc mà thỏa thuận hạt nhân để lại. Họ cũng nên khuyến khích Iran và Saudi Arabia hợp tác để giải quyết các cuộc khủng hoảng khu vực, bắt đầu bằng các cuộc khủng hoảng ở Syria và Yemen.

Xét tới niềm tin mà Saudi Arabia giờ đây đặt vào Chính quyền Trump, Mỹ nên làm điều mà Chính quyền Obama đã không thể làm: dẫn đầu một nỗ lực ngoại giao quốc tế để làm trung gian cho một thỏa thuận khu vực mà sẽ chấm dứt các cuộc xung đột và tạo ra một khuôn khổ cho hòa bình và ổn định. Nhiệm vụ này không nên giao cho Nga. Một nỗ lực như vậy sẽ là khó khăn, đặc biệt kể từ khi Washington vứt bỏ mọi nguồn vốn ngoại giao mà thỏa thuận hạt nhân đã tạo ra. Nhưng lựa chọn thay thế – leo thang tình trạng đối đầu – sẽ chỉ đẩy Trung Đông sâu hơn vào tình trạng hỗn loạn.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/middle-east/2018-02-13/iran-among-ruins

TLTKĐB – 26/05/2018

Iran giữa đống tàn tích – Phần II


Để bù đắp cho bất lợi này, Iran đã thông qua chiến lược “phòng thủ phía trước”. Chiến lược này đòi hỏi phải hỗ trợ cho các lực lượng dân quân và các nhóm nổi dậy thân thiết trên khắp Trung Đông, kể cả Hamas và Hezbollah, vốn đều đe dọa biên giới Israel. Đơn vị quân đội được ca ngợi nhiều nhất của Iran là Lực lượng Quds, một phần của Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáo (IRGC) chịu trách nhiệm huấn luyện và trang bị cho các lực lượng ủy nhiệm như vậy. Hezbollah đã tỏ ra là một đồng minh đặc biệt hiệu quả, vì họ đã mang lại những thắng lợi vẻ vang nhất cho quân đội Arab trước Israel. Vào năm 2000, họ đã buộc binh lính Israel phải rút khỏi miền Nam Liban và vào năm 2006, họ đã làm suy yếu cuộc tấn công của Israel ở đây.

Một logic tương tự làm nền tảng cho chương trình tên lửa tầm xa của Iran (và trước khi có thỏa thuận năm 2015 là các nỗ lực hạt của họ). Tehran muốn những chương trình của họ trở thành một chiếc ô bảo vệ cho các lực lượng khác của họ, một chiến lược đã được Pakistan tận dụng thành công để chống lại Ấn Độ. Iran đã nhất trí đóng băng chương trình hạt nhân của mình; giờ đây ý tưởng là với một chương trình tên lửa được phát triển đầy đủ, ngay cả một đất nước mạnh hơn rất nhiều cũng không thể tấn công Iran hay các lực lượng ủy nhiệm của họ mà không phải đối mặt với sự trả đũa gây tổn hại nặng nề.

Bị bao vây bởi sự hỗn loạn

Nếu cách hành xử của Iran hiện nay dường như mang tính đe dọa hơn trước, thì đó không phải vì Iran có ý định đối đầu với các đối thủ của họ và gieo rắc sự hỗn loạn hơn trước, mà là vì những sự thay đổi mạnh mẽ mà Trung Đông đã trải qua trong 15 năm qua. Trật tự Arab mà Washington đã dựa vào đó trong nhiều thập kỷ để xử lý các vấn đề khu vực và hạn chế cơ hội hành động của Iran đã không còn. Một loạt sự kiện, bắt đầu bằng việc Mỹ xâm lược Iraq vào năm 2003, đã lên đến cực điểm trong sự sụp đổ từ bên trong của thế giới Arab, khi thì tình trạng bất ổn xã hội đã khiến những kẻ thống trị bị lật đổ, phá vỡ các thể chế nhà nước, và châm ngòi cho các cuộc xung đột sắc tộc và phe phái mà trong một số trường hợp đã leo thang thành các cuộc nội chiến thực sự.

Xét về nhiều mặt, sự bất ổn này đã tăng cường quyền lực và tầm ảnh hưởng tương đối của Iran trên khắp khu vực; với việc rất nhiều trung tâm quyền lực khác bị suy yếu, Tehran hiện ra lớn mạnh hơn trước. Ở Iraq, thông qua một loạt lực lượng chính trị của người Kurd và dòng Shiite. Iran định hình các liên minh, thành lập các chính phủ, giải quyết các xung đột và quyết định các chính sách. Do đó, Iraq bị ảnh hưởng bởi Iran ở mức độ sâu sắc hơn so với bất kỳ nước nào khác, kể cả ở Mỹ. Ở Syria, Iran đã kết hợp các chiến binh Hezbollah với các tình nguyện viên dòng Shitte từ khắp Trung Đông để tạo thành một lực lượng quân sự hiệu quả, mà họ đã sử dụng để tiến hành chiến tranh với phe đối lập. Khi Assad giành được ưu thế trong cuộc nội chiến, tầm ảnh hưởng của Iran ở Damascus đã gia tăng. Và ở Yemen, với rất ít sự đầu tư, Iran đã khiến cho Saudi Arabia và các đồng minh của họ sa lầy vào một cuộc chiến tranh tốn kém, chuyển hướng các nguồn lực của Saudi Arabia ra khỏi Iraq và Syria.

Nhưng sự bất ổn này cũng tạo ra những mối đe dọa mới. Dư luận Arab chỉ trích mạnh mẽ Iran ủng hộ chế độ Assad ở Syria. Theo một cuộc thăm dò ý kiến của Zogby được công bố vào năm 2012, ngay sau khi Iran bước vào cuộc xung đột Syria, tỷ lệ ủng hộ nước này ở thế giới Arab đã tụt xuống mức 25%, giảm từ mức cao là 75% vào năm 2006. Sự trỗi dậy nhanh chóng của IS, vốn đối lập gay gắt với dòng Shiite và Iran, đã làm nổi bật sự kháng cự của dòng Sunni trước tầm ảnh hưởng của Iran. Tuy nhiên, số phận của IS cũng xác nhận tính hiệu quả của chiến lược phòng thủ phía trước trong mắt Tehran. Không có tầm với quân sự của Iran và sức mạnh của mạng lưới các đồng minh của họ và các bên được họ bảo trợ ở Iraq và Syria, IS hẳn đã nahnh chóng tràn vào Damascus, Baghdad và Erbil (thủ phủ của người Kurd ở Iraq), trước khi vươn tới chính biên giới của Iran. Mặc dù các đối thủ của Iran xem chiến lược ủng hộ các nhóm quân sự phi nhà nước là một nỗ lực nhằm xuất khẩu cuộc cách mạng, nhưng tính toán rằng sau nó là hoàn toàn bình thường: Thế giới Arab càng có vẻ hăm dọa, thì Iran càng quyết tâm can dự vào đó.

Bối cảnh khu vực mới cũng làm gia tăng rủi ro về cuộc xung đột trực tiếp giữa Iran và Mỹ hoặc các đồng minh Arab của Mỹ. Nhưng ở đây, các nhà lãnh đạo Iran cũng cảm thấy họ có lợi thế. Iran đã mạnh mẽ hơn trước khi bước ra khỏi cuộc chiến chống IS. IRGC đã huấn luyện và tập hợp các chiến binh dòng Shiite từng đối đầu với IS ở Iraq, các tình nguyện viên dòng Shiite đã di chuyển từ tận Afghanistan đến Syria để chiến đấu, và các lực lượng Houthi chiến đấu với chính quyền ủng hộ Saudi Arabia ở Yemen. Cùng với Hezbollah, các nhóm dòng Shiite này tạo thành một lực lượng có vai trò quan trọng. Sau khi chiến sự kết thúc, họ sẽ tiếp tục định hình đất nước của họ khi tham gia chính trị địa phương, bảo vệ tầm ảnh hưởng của Iran ở thế giới Arab. Do đó, các nước Arab dòng Sunni sẽ không còn có khả năng quản lý khu vực này theo cách riêng của họ.

Trong năm qua, căng thẳng ngày càng leo thang với Saudi Arabia, việc Chính quyền Trump đe dọa gây chiến với Iran, và lệnh cấm nhập cảnh của chính quyền này đối với công dân một vài nước có đa số người dân theo đạo Hồi, trong đó có Iran, đã gây ra một phản ứng mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa. Sự thách thức đối với Mỹ đi liền với sự lo lắng về mối đe dọa ngày càng tăng từ quan hệ Mỹ – Saudi Arabia được hồi sinh. Căng thẳng giữa Iran và Saudi Arabia đã gia tăng kể từ khi thỏa thuận hạt nhân được ký kết, nhưng từ khi Chính quyền Trump lên nắm quyền, căng thẳng này đã diễn biến theo chiều hướng đáng lo ngại. Vào tháng 5/2017, Thái tử Mohammed bin Salman, Phó Thủ tướng thứ nhất và là Bộ trưởng Quốc phòng của Saudia Arabia, đã cảnh báo rằng cuộc chiến giành tầm ảnh hưởng ở Trung Đông phải diễn ra “bên trong Iran”.

Iran cũng không còn “miễn nhiễm” trước các kiểu tấn công khủng bố mà đã diễn ra ở các thủ đô của thế giới Arab và phương Tây. Tháng 6/2017, các tay súng và những kẻ đánh bom cảm tử của IS đã tấn công tòa nhà quốc hội Iran và lăng nhà lãnh đạo tối cao đầu tiên của Iran, Ruhollah Khomeini, khiến 18 người thiệt mạng. Ý thức về sự nguy hiểm từ những mối đe dọa đang xoay quanh đất nước này đã khiến nhiều người Iran chấp nhận logic của chiến lược phòng thủ phía trước. Trong những năm đầu của cuộc nội chiến Syria, các nhà cai trị Iran đã rất nỗ lực giảm bớt sự can dự của Iran và che giấu thương vong của Iran. Giờ đây, nước này công khai tôn vinh những người tử nạn trong chiến tranh là các liệt sĩ.

Trong các cuộc biểu tình phản đối chính phủ vào cuối tháng 12/2017 và đầu tháng 1/2018, một số người biểu tình đã hô vang các khẩu hiệu chất vấn về sự can dự của Iran ở Liban, Syria và lãnh thổ của người Palestine. Những người biểu tình tuyên bố chiến lược phòng thủ phía trước đã chuyển các nguồn lực hiếm hoi đến các cuộc xung đột ở xa, rời khỏi đáp ứng các nhu cầu cấp thiết trong nước. Các cuộc phản kháng cho thấy chủ nghĩa dân tộc bị kiềm chế bởi phí tổn kinh tế của nó. Nhưng bất chấp sự chỉ trích của người dân, Iran sẽ không sụp đổ dưới áp lực của sự bành trướng quá mức theo kiểu đế quốc. Người Iran hoài nghi về những tham vọng khu vực của chính phủ nước họ, nhưng họ không nghi ngờ đòi hỏi cấp thiết về việc phòng thủ. Họ lo ngại về các mối đe dọa mà những kẻ cực đoan dòng Sunni gây ra đối với các thánh địa của người Shiite ở Iraq và Syria, và thậm chí còn lo lắng hơn cho chính Iran. Dù thế nào, các nhà cai trị của Iran cũng không bị sự chỉ trích làm cho thay đổi. Nhiều người trong số họ đã nhận thấy bàn tay của nước ngoài đằng sau các cuộc phản kháng này. Họ tin chắc rằng thay vì rút lui, Iran phải chứng tỏ sức mạnh bằng cách bảo vệ mảnh đất của họ ở Trung Đông.

Từ đàm phán đến đối đầu

Chính quyền Obama đã phản ứng với trật tự đang tan rã ở Trung Đông bằng cách để Mỹ tránh xa khỏi sự bất ổn không hồi kết của hu vực này. Đoạn tuyệt hoàn toàn với chính sách của Mỹ trong quá khứ, họ đã từ chối can thiệp vào cuộc nội chiến Syria và vượt ra khỏi chiến lược kiềm chế cũ để xây dựng một thỏa thuận hạt nhân với Iran. Thỏa thuận đó đã khiến thế giới Arab giận dữ và làm trầm trọng thêm những căng thẳng trong khu vực, nhưng nó cũng làm giảm bớt mối đe dọa mà hẳn sẽ tiếp tục trói buộc Mỹ với Trung Đông đúng lúc họ đang tìm cách thoát ra.

Thành công của thỏa thuận hạt nhân cho thấy Mỹ có thể khôi phục mối quan hệ của họ với Iran. Các đồng minh Arab kết luận rằng Washington sẽ hông còn cam kết kiềm chế nước này và lo ngại rằng Mỹ sẽ quay lưng lại với họ. Tehran nhất trí với điều này. Họ lập luận rằng với việc thế giới Arab đang suy sụp nhanh chóng, một chiến lược kiềm chế nhằm vào Iran là không bền vững, và thỏa thuận hạt nhân sẽ khiến chiến lược đó trở nên không cần thiết.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/middle-east/2018-02-13/iran-among-ruins

TLTKĐB – 26/05/2018

Iran giữa đống tàn tích – Phần I


Vali Nasr

Lợi thế của Tehran ở một khu vực Trung Đông hỗn loạn

Trong 7 năm qua, những biến động xã hội và các cuộc nội chiến đã phá vỡ trật tự chính trị mà đã định rõ khu vực Trung Đông kể từ Chiến tranh thế giới thứ nhất. Một khi các chế độ chuyên quyền vững chắc không thể tiếp tục tồn tại, các thể chế nhà nước của họ sẽ bị tổn hại và tan vỡ, và biên giới quốc gia của họ bị đe dọa. Syria và Yemen rơi vào các cuộc nội chiến đẫm máu mà đã trở nên tồi tệ hơn bởi những sự can thiệp quan sự của nước ngoài. Một tổ chức khủng bố, Nhà nước Hồi giáo (còn gọi là IS), đã chiếm đóng các khu vực rộng lớn của Iraq và Syria trước khi bị một liên minh quốc tế do Mỹ lãnh đạo đẩy lùi.

Trong mắt Chính quyền Trump, và một loạt nhà quan sát và quan chức khác ở Washington và khu vực, có một thủ phạm quan trọng hơn cả đằng sau sự hỗn loạn này: Iran. Họ chỉ ra rằng nước này đã tài trợ cho các nhóm khủng bố, hỗ trợ nhà lãnh đạo độc tài của Syria Bashar al-Assad, và giúp đỡ quân nổi dậy Houthi chống lại Saudi Arabia ở Yemen. Tổng thống Mỹ Donald Trump đã gọi Iran là “nhà nước tài trợ khủng bố hàng đầu thế giới”, với một “tầm nhìn xấu về tương lai”, và coi thỏa thuận hạt nhân mà Iran, Mỹ và 5 cường quốc thế giới khác đã đạt được vào năm 2015 là “thỏa thuận tồi tệ nhất từ trước tới nay” (và từ chối xác nhận rằng Iran đang tuân thủ các điều khoản của thỏa thuận này). Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã miêu tả Iran là “mối đe dọa dai dẳng nhất đối với sự ổn định và hòa bình ở Trung Đông”. Và Ngoại trưởng Saudi Arabia Adel-al-Jubeir đã cáo buộc rằng “Iran đang nổi loạn”.

Washington dường như tin rằng việc giảm bớt ảnh hưởng của Iran sẽ khôi phục trật tự cho Trung Đông. Nhưng kỳ vọng đó lại dựa trên sự hiểu biết sai lầm về điều đã khiến nó tan vỡ ngay từ đầu. Iran không gây ra sự sụp đổ, và việc kiềm chế Iran sẽ không mang sự ổn định quay trở lại. Không có gì phải nghi ngờ về việc nhiều khía cạnh trong cách hành xử của Iran gây ra những thách thức nghiêm trọng đối với Mỹ. Cũng không có gì phải nghi ngờ việc Iran đã hưởng lợi từ sự sụp đổ của trật tự cũng trong thế giới Arab từng kiềm chế họ. Tuy nhiên, chính sách đối ngoại của họ thực dụng hơn nhiều so với mức độ mà nhiều người ở phương Tây cảm nhận được. Như việc Iran sẵn lòng can dự với Mỹ về chương trình hạt nhân của họ đã cho thấy, họ được thúc đẩy bởi những tính toán thực dụng về lợi ích quốc gia, chứ không phải khát khao lan tỏa cuộc Cách mạng Hồi giáo của họ ra nước ngoài. Trung Đông sẽ chỉ giành lại được sự ổn định khi Mỹ làm nhiều hơn để xử lý xung đột và khôi phục sự cân bằng ở đây. Điều đó sẽ đòi hỏi phải có một cách tiếp cận tinh tế, bao gồm cả việc hợp tác với Iran, chứ không phải đối đầu với nước này theo phản xạ.

Bình thường hơn người ta nghĩ

Các chính trị gia và nhà phân tích ở phương Tây thường xuyên hạ thấp các lợi ích và tham vọng của Tehran xuống thành sự nhiệt tình cách mạng. Theo cáo buộc này, Iran quan tâm đến việc trở thành một sự nghiệp hơn là một đất nước. Trên thực tế, mặc dù Tehran chắc chắn có những người theo đường lối cứng rắn một cách cuồng tín, nhưng họ cũng có nhiều chính trị gia theo đường lối thực dụng, thậm chí là ôn hòa, mà hăng hái can dự với phương Tây. Trong nền chính trị trong nước, hai phe phái này, bị mắc kẹt trong một cuộc giằng co lâu dài. Nhưng khi đề cập đến chính sách đối ngoại, có một sự đồng thuận ngày càng tăng xung quanh những đòi hỏi cấp thiết về chủ nghĩa dân tộc và an ninh quốc gia. Chính sự đồng thuận này đã khiến Iran ký kết và sau đó là thực thi thỏa thuận hạt nhân.

Một số nhà quan sát nhìn nhận Iran hiện nay, với việc họ sử dụng lực lượng dân quân và các cuộc nổi dậy ở nước ngoài, giống như cách Mỹ nhìn nhận Liên Xô hay Trung Quốc ở đỉnh cao của sự nhiệt tình cách mạng của họ – là một cường quốc có ý định sử dụng các biện pháp bất cân xứng để làm đảo lộn trật tự hiện có và gieo rắc sự hỗn loạn. Mattis nói trong phiên điều trần phê chuẩn chức vụ của ông rằng mục tiêu của Iran là “mở rộng ảnh hưởng xấu của họ để tái tạo hu vực này theo hình dung của họ”. Nhưng Iran thân thiết với nước Nga và Trung Quốc hiện đại hơn là với những tiền bối cách mạng của họ. Giống như hai nước này, Iran là một cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, chứ không phải một cường quốc cách mạng. Họ phản đối một trật tự khu vực được tạo ra để loại trừ họ. Các phương thức của Iran thường bất chấp các chuẩn mực quốc tế, nhưng các lợi ích quốc gia mà chúng đáp ứng, ngay cả khi xung đột với các lợi ích cảu Mỹ, thì lại phổ biến. Thế giới quan của Iran được định hình bởi những người như Vladimir Putin và Tập Cận Bình hơn là những người như Lenin và Mao Trạch Đông. Và họ bị thúc đẩy bởi chủ nghĩa dân tộc hơn là nhiệt tình cách mạng.

Điều làm nên đặc trưng cho tầm nhìn hiện nay của Iran không chỉ gợi nhớ đến cuộc Cách mạng Iran năm 1979 mà còn gợi nhớ đến triều đại Pahlavi, vốn cai trị đất nước này trong 5 thập kỷ trước cách mạng. Mohammad Reza Pahlavi, nhà vua cuối cùng, đã hình dung ra cảnh Iran thống trị Trung Đông với sự trợ giúp của năng lực hạt nhân, một quân đội ưu việt và sự kiệm soát độc quyền đối với vịnh Persia. Trong một thời gian, nước Cộng hòa Hồi giáo này đã tránh né tư tưởng dân tộc chủ nghĩa như vậy để ủng hộ những khao khát bị chi phối nhiều hơn bởi ý thức hệ. Nhưng trong 15 năm qua, chủ nghĩa dân tộc đã trỗi dậy. Giờ đây, các nhà lãnh đạo Iran đã kết hợp những biểu hiện của lòng trung thành của họ đối với các lý tưởng hồi giáo với các câu chuyện thần thoại mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa đã có từ lâu. Giống như Nga và Trung Quốc, Iran có những ký ức sống động về quá khứ của họ dưới thời đế quốc và những khao khát về vị thế nước lớn đi cùng với những ký ức đó. Và giống như 2 nước này, Iran nhìn nhận một trật tự khu vực do Mỹ lãnh đạo như là một chướng ngại vật trên con đường đi đến các tham vọng của họ.

Các tham vọng mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa như vậy đi cùng với những quan ngại sâu sắc hơn về an ninh quốc gia. Quân đội Israel và quân đội Mỹ gây ra những mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu đối với Iran. Các cuộc xâm lược Afghanistan và Iraq của Mỹ đã đưa hàng trăm nghìn binh lính Mỹ đến biên giới Iran và thuyết phục Tehran rằng sẽ là ngu ngốc nếu họ nghĩ rằng các lực lượng của Iran có thể ngăn cản quân đội Mỹ trên chiến trường. Nhưng việc Mỹ chiếm đóng Iraq cho thấy rằng một khi cuộc xâm lược ban đầu kết thúc, lực lượng dân quân dòng Shiite và quân nổi dậy dòng Sunni sẽ làm đúng điều đó, buộc Mỹ phải rút lui. Việc sử dụng các lực lượng dân quân đó, vốn dựa vào hoạt động huấn luyện và kho vũ khí do Iran cung cấp để tiêu diệt và làm hàng nghìn binh lính Mỹ bị thương trong Chiến tranh Iraq, cũng giúp giải thích sự ác cảm của Chính quyền Trump đối với Iran.

Iran cũng nhận thấy những mối đe dọa từ thế giới Arab. Từ năm 1958, khi một cuộc cách mạng lật đố chế độ quân chủ Iraq, cho đến năm 2003, Iraq liên tục đe dọa Iran. Ký ức về cuộc Chiến tranh Iran – Iraq kéo dài 8 năm trong những năm 1980 định hình quan điểm của Iran về thế giới Arab. Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao của Iran là các cựu chiến binh trong cuộc chiến tranh này, mà trong đó Iraq đã thôn tính lãnh thổ Iran, sử dụng vũ khí hóa học nhằm vào binh lính Iran, và đe dọa tấn công các thành phố của Iran bằng tên lửa. Và kể từ năm 2003, chủ nghĩa ly khai mà người Kurd đang ấp ủ ở Iraq và Syria và căng thẳng Shiite – Sunni ngày càng tăng trên khắp khu vực đã củng cố nhận thức rằng thế giới Arab gây nguy hiểm cho an ninh của Iran.

Iran cũng lo lắng rằng họ sẽ bị các đối thủ truyền thống của mình đánh bại. Theo Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, vào năm 2016, Iran đã chi 3% GDP của nước này cho quân đội, ít hơn Saudi Arabia (10%), Israel (6%), Iraq (5%) và Jordan (4%), đặt Iran vào vị trí thứ 8 ở Trung Đông về chi tiêu quốc phòng tính theo tỷ lệ phần trăm GDP. Mức chi tiêu của Iran cũng tụt hậu xét về con số tuyệt đối, Chẳng hạn, vào năm 2016, Saudi Arabia chi 63,7 tỷ USD cho quốc phòng, gấp 5 lần con số 12,7 tỷ USD của Iran.

(còn tiếp)

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/middle-east/2018-02-13/iran-among-ruins

TLTKĐB – 26/05/2018