Các cuộc tấn công nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia có tác động mạnh đến nền kinh tế Mỹ?


Theo bài viết đăng trên Wall Street Journal ngày 15/9, các chuyên gia kinh tế nhận định các cuộc tấn công mới nhất nhằm vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia không có tác động trực tiếp nhiều tới nền kinh tế Mỹ, song có thể khiến giá xăng tăng cao hơn và gia tăng áp lực tới tăng trưởng toàn cầu.

Trong khi vẫn chưa biết rõ tác động tổng thể của các vụ tấn công trên, song các nhà phân tích khẳng định nền kinh tế Mỹ sẽ không rơi vào suy thoái khi giá dầu tăng mạnh giống như những năm 1970, bởi hiện nay những cú sốc về giá dầu không còn gây ra tác động tương tự đối với nền kinh tế. Tuy nhiên, các cuộc tấn công trên sẽ là một yếu tố mới để lãnh đạo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tính đến khi họ xem xét một loạt nguy cơ địa chính trị có thể gây ảnh hưởng tới tương lai của nền kinh tế. Các yếu tố khác có thể kể đến như cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung, bất ổn ở Hong Kong (Trung Quốc) và việc Anh sắp rời Liên minh châu Âu (EU).

Nguy cơ giảm đầu tư kinh doanh và sự chững lại của tăng trưởng toàn cầu chính là lý do chính khiến FED quyết định giảm lãi suất trong tháng Bảy vừa qua và có khả năng sẽ tiếp tục xu hướng này trong cuộc họp sắp tới. Lãnh đạo FED cũng sẽ theo dõi giá dầu trong những tuần tới để xác định ảnh hưởng tới lạm phát.

Tháng trước, Chủ tịch FED Jerome Powell cho biết, các quan chức trong ủy ban thiết lập lãi suất của ngân hàng trung ương nên đưa ra chính sách một cách thận trọng. Vì những tác động quan trọng nhất của chính sách tiền tệ được cảm nhận với mức độ bất ổn trong một năm hoặc hơn, nên ủy ban này của FED cần cố gắng xem xét những diễn biến đã xảy ra và tập trung vào yếu tố có khả năng sẽ tác động tới triển vọng kinh tế.

Các chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Bank of America cho biết, hiện nay năng lượng chiếm khoảng 2,5% tiêu dùng hộ gia đình, giảm từ 8% trong những năm 1970. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), kể từ đầu những năm 2000, các công ty năng lượng của Mỹ đã đẩy mạnh sản xuất bằng cách sử dụng các kỹ thuật khoan mới, chẳng hạn như công nghệ thủy lực. Sản lượng dầu đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua, từ năm 2008 – 2018 và Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới và đứng thứ hai là Saudi Arabia.

Một mặt, giá dầu cao hơn sẽ gây tổn hại cho người tiêu dùng và gây áp lực cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào năng lượng để sản xuất hoặc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên, mặt khác, những tổn thất đó sẽ được bù đắp bằng lợi nhuận mà ngành công nghiệp dầu mỏ Mỹ kiếm được từ giá dầu cao. Ngành công nghiệp này của Mỹ gần đây đang gặp khó khăn khi sản xuất năng lượng tăng trong khi nhu cầu giảm đã khiến giá cả đi xuống. Kết thúc phiên giao dịch ngày 6/9, giá dầu thô kỳ hạn ở mức 54,82 USD/thùng, thấp hơn đáng kể so với mức 76,41 USD/thùng ngày 3/10/2018. Các cuộc cạnh tranh trong ngành công nghiệp này làm giảm đầu tư kinh doanh. Đầu tư cố định phi chính phủ đã giảm với tỷ lệ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 0,6% trong quý II/2019, điều này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong quý này.

Giá dầu tăng liên tục có thể thúc đẩy đầu tư nhiều hơn vào hoạt động thăm dò và khoan dầu, nhưng cũng có thể làm giảm đầu tư cố định vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều năng lượng. Các quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu năng lượng, như Trung Quốc và Nhật Bản, các nền kinh tế lớn thứ hai và thứ ba thế giới sau Mỹ sẽ bị tác động nhiều. Theo EIA, Trung Quốc sản xuất khoảng 4,8 triệu thùng dầu mỗi ngày, nhưng tiêu thụ khoảng 12,8 triệu thùng, khiến nước này phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu dầu. Nền kinh tế Trung Quốc đã chịu áp lực từ cuộc chiến thương mại với Mỹ và sự suy giảm tăng trưởng toàn cầu trên diện rộng. Giá dầu cao hơn có thể khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại hơn nữa, qua đó sẽ làm giảm nhu cầu của Trung Quốc  đối với hàng xuất khẩu của Mỹ.

Tháng Bảy vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế cho biết sự giảm tốc mạnh mẽ của thương mại khiến nền kinh tế chững lại. Dự báo, tăng trưởng toàn cầu, được điều chỉnh theo lạm phát, sẽ giảm xuống 3,2% trong năm nay, từ mức 3,6% của năm ngoái và 3,8% trong năm 2017. Nếu các cuộc tấn công vào các cơ sở sản xuất dầu của Saudi Arabia vào ngày 14/8 vừa qua khiến giá năng lượng tiếp tục cao, điều này có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế toàn cầu.

Cho tới nay, Mỹ vẫn tránh được những hậu quả nghiêm trọng của sự suy giảm toàn cầu. Nền kinh tế trong nước tăng trưởng với tốc độ hàng năm được điều chỉnh theo mùa là 2% trong quý II/2019. Công ty dự báo kinh tế Macroeconomic Advisers dự đoán tăng trưởng kinh tế sẽ giảm nhẹ xuống mức 1,9% trong quý III/2019.

Trong một diễn biến khác, một nguồn thạo tin cho hay hoạt động xuất khẩu dầu của Saudi Arabia sẽ trở lại bình thường trong tuần này, khi Riyadh sử dụng nguồn dầu từ các cơ sở dự trữ lớn. Các vụ tấn công nhằm vào 2 nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia hôm 14/9 đã làm giảm hơn một nửa sản lượng dầu của nước này, tương đương hơn 5% nguồn cung toàn cầu. Nguồn tin trên cho hay hiện vẫn chưa rõ việc ngừng sản xuất dầu của Saudi Arabia sẽ kéo dài bao lâu, vì tổn thất đối với cơ sở hạ tầng do các vụ tấn công này là khá lớn và không thể khôi phục một sớm một chiều.

Trước đó, lực lượng Houthi tại Yemen thừa nhận thực hiện vụ tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào 2 nhà máy của Aramco ở thành phố Abqaia và Khurais của Saudi Arabia. Kênh truyền hình vệ tinh Al-Masirah của Houthi cho biết, lực lượng này đã mở một chiến dịch quy mô lớn gồm 10 máy bay không người lái nhằm vào 2 cơ sở dầu mỏ này.

Cùng ngày, Iran đã lên tiếng bác bỏ tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cáo buộc Tehran tấn công vào các nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia, coi đây là những cáo buộc vô nghĩa khi Washington đang cố viện lý do để trả đũa nước Cộng hòa Hồi giáo này. Trong một tuyên bố, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran Abbas Mousavi nêu rõ: “Những cáo buộc mù quáng và vô ích như vậy là khó hiểu và vô nghĩa. Những cáo buộc này được cho là chứng minh cho các hành động (của Mỹ) chống Iran”.

Bộ Ngoại giao Iran đưa ra tuyên bố trên sau khi Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo trước đó cùng ngày trên mạng xã hội Twitter, cho biết: “Giữa lúc tất cả (các nước) kêu gọi giảm căng thẳng, thì Iran đã phát động một cuộc tấn công không thể chấp nhận được vào nguồn cung năng lượng của thế giới”. Hiện Bộ Ngoại giao Mỹ chưa cung cấp bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho cáo buộc của ông Pompeo.

Nguồn: TKTTK – 17/09/2019

Advertisements

Vén màn thỏa thuận thế kỷ tại Trung Đông của Mỹ – Phần cuối


Số phận sẽ ra sao?

Theo truyền thông Mỹ, trước hôm công bố bản báo cáo điều tra của công tố viên đặc biệt Miller, Kushner và hai trợ lý cấp cao Nhà Trắng đã gặp nhau tại Văn phòng điều hành Eisenhower để thảo luận và kế hoạch này.

Mặc dù đã nỗ lực trong hai năm, nhưng mọi người đa phần tin rằng Kushner gần như không có cơ hội thành công trong bối cảnh các cuộc đàm phán hòa bình giữa Palestine và Israel năm 2014 bị đình trệ.

Trước tiên, phía Palestine đã nhiều lần tuyên bố rằng họ từ chối chấp nhận cái gọi là “thỏa thuận thế kỷ” của Mỹ. Chủ tịch Chính quyền dân tộc Palestine – Mahmoud Abbas cũng đang nỗ lực để đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo Arab không đi chệch khỏi lập trường đã định trong vấn đề này. Liên đoàn Arab đã tổ chức một cuộc họp vào ngày 21/4, cam kết giúp đỡ Palestine 100 triệu USD mỗi tháng và đưa ra tín hiệu “không quan tâm” đến kế hoạch hòa bình Trung Đông mới mà Mỹ sắp công bố.

Thứ hai, các đồng minh châu Âu của Mỹ dường như không đứng về phía nước này. Theo Newsweek đưa tin vào trung tuần tháng 4/2019, các cựu quan chức cấp cao của châu Âu bao gồm 6 cựu thủ tướng và 25 cựu ngoại trưởng và hai cựu tổng thư ký NATO đã đưa ra một bức thư ngỏ kêu gọi “bất kể kế hoạch hòa bình ở Trung Đông của Trump như thế nào, châu Âu nhất định phải tiếp tục ủng hộ ‘phương án hai nhà nước’”. Financial Times viết: “Người Palestine chưa bao giờ mềm yếu như vậy, Israel chưa bao giờ cứng rắn đến thế, tương lai về sự hòa bình chưa bao giờ mịt mù như thế này”, “vì vậy người châu Âu rất vui khi thấy Kushner thất bại”.

Học giả Trung Đông Khalid Elkindi, người từng làm cố vấn cho các nhà đàm phán Palestine nói rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ có truyền thống nghiêng về xem nhẹ hoặc hoàn toàn bỏ qua hai lĩnh vực ngoại giao: quyền lực của Israel và chính trị của Palestine, điểm mù kép này đã gây trở ngại cho Mỹ trong khi đảm nhiệm vai trò trung gian hiệu quả. Ông cho rằng kế hoạch hòa bình ở Trung Đông nếu muốn thành công thực sự cần phải đáp ứng ba tiêu chí: thứ nhất, liệu có yêu cầu phải chấm dứt chiếm đóng Israel hay không. Thứ hai, liệu có liên quan đến Nghị quyết 242 của Liên hợp quốc hay không, đây là nguyên tắc cơ bản của tiến trình hòa bình. Thứ ba, liệu có yêu cầu phải thành lập một nhà nước Palestine có chủ quyền hay không không. “Nếu cả ba tiêu chí này không được đáp ứng, thì thậm chí chưa đạt được yêu cầu tối thiểu của một tiến trình hòa bình không thực chất”.

Trong nước Mỹ cũng không thiếu những nhân tố đáng lo ngại. Theo tờ Haaretz của Isreal đưa tin vào ngày 25/4/, Nhà Trắng có thể đã đặt ra giả thuyết người Palestine sẽ từ chối kế hoạch này, nhưng hy vọng rằng một số nước Arab đồng ý chấp nhận nó “như là một nền tảng để thảo luận”. Theo các nguồn tin, Nhà Trắng chủ yếu lo lắng về Jordan và Ai Cập, tương đối lạc quan đối với Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất. Một quan chức ngoại giao bày tỏ rằng, Nhà Trắng có lẽ nhận thức được việc để đa số các nước Arab ủng hộ một kế hoạch không bao gồm việc thành lập nhà nước Palestine hay giải quyết các vấn đề về người tị nạn sẽ là rất khó khăn. Theo Washington Post chỉ ra rằng Kushner dường như không muốn thảo luận về đóng góp tài chính của Mỹ, hiện nay vẫn chưa rõ liệu Quốc hội có chấp nhận một khoản chi tiêu lớn cho một “thỏa thuận” không cam kết tình trạng của Palestine hay không.

Lưu Trung Dân cho rằng việc đầu tiên là chú ý đến phản ứng của người Palestine, vấn đề chính là Mỹ xử lý các vấn đề của phía Palestine như thế nào. Nếu không có sự chấp thuận của Palestine, việc xem xét các khía cạnh khác cũng sẽ vô ích. Nhưng việc xử lý các vấn đề Palestine cũng tương đối khó khăn. Vấn đề này liên quan đến tính hợp pháp và tự tôn dân tộc của người Palestine cũng như sự phản đối của Hamas, phía Palestine có thể không đưa ra quá nhiều nhượng bộ.

Thứ hai, về vấn đề này các nước Arab khó cả đôi đường: một số nước có thể có sự phối hợp nhất định với Mỹ, nhưng cũng không dám tiến xa hơn nếu động chạm đến tình cảm dân tộc của các nước Arab. Thậm chí còn có một câu nói rằng một nút thời gian quan trọng sau này là liệu Trump có thể tái đắc cử hay không, nếu không thể tái đắc cử thì kế hoạch này cuối cùng vẫn có thể nhanh chóng tan biến. Dương Quang cho rằng một khi kế hoạch này được đề xuất thì khả năng giành được sự ủng hộ trong thế giới Arab và cộng đồng quốc tế là vô cùng nhỏ, đây cũng là một lý do khiến Mỹ do dự và không dám đưa ra cái gọi là “thỏa thuận thế kỷ”.

Nếu không được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, việc thúc đẩy kế hoạch này chắc chắn sẽ tương đối khó khăn. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng điều này không ngăn cản Mỹ đưa ra kế hoạch này trong điều kiện nhất định. Giờ đây, lợi ích của Mỹ ở Trung Đông đang ngày càng tập trung vào các vấn đề an ninh của Israel và vấn đề hạt nhân Iran, đủ để thông qua kế hoạch này củng cố quan hệ đồng minh với Israel. Mặt khác, cục diện khu vực Trung Đông đang có sự thay đổi, ngoài việc Mỹ thu hẹp chiến lược và đa cực hóa phát triển, lực lượng các nước Arab trong khu vực này cũng ở trong tình trạng tương đối phân tán, sức mạnh tổng thể yếu, Israel ở vị thế thống trị. Trong hoàn cảnh này, Mỹ đề xuất một sự trao đổi có lợi cho Israel, cho dù các nước Arab không đồng ý, nhưng triển vọng về việc đoàn kết lại phản đối kế hoạch này của Mỹ cũng không rõ ràng như trước đây. Do đó, Mỹ có thể sẽ không chút e ngại trong việc đề xuất kế hoạch này.

Ảnh hưởng lớn như thế nào?

Việc Chính quyền Trump đề xuất “thỏa thuận” bằng phương thức nào cũng là một điểm đáng quan tâm. Trực tiếp công bố tất cả các chi tiết cho công chúng hay thông báo riêng tư cho các bên rồi mới công bố báo cáo vắn tắt hiện vẫn là một ẩn số. Tuy nhiên, bất kể là cách nào và vào thời gian nào, kế hoạch cho việc giải quyết vấn đề Palestine-Israel này sẽ đều tác động đến cuộc xung đột giữa Palestine và Israel, tiến trình hòa bình và thậm chí cả cộng đồng quốc tế.

Đầu tiên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiến trình hòa bình giữa Palestine và Israel. Lưu Trung Dân cho rằng rất khó phối hợp với phía Palestine, việc buộc phải công bố trong tình hình này là một tai họa đối với tiến trình hòa bình giữa Palestine và Israel. Palestine không có lựa chọn nào khác ngoài việc phản đối. Ở một mức độ nhất định, Hamas có thể càng kiên quyết phản đối, thậm chí phản công bằng phương thức bạo lực nhất định, khiến cho tình hình căng thẳng giữa Palestine và Israel càng gia tăng.

Thứ hai, ảnh hưởng đến thế giới Arab thậm chí là cục diện khu vực Trung Đông. Lưu Trung Dân nói rằng đối với kế hoạch hòa bình Trung Đông, các nước như Saudi Arabia, Jordan, Ai Cập chắc chắn sẽ can dự, điều này có thể gây ra một làn sóng nhất định trong thế giới Arab, dẫn đến sự phản đối của người dân Arab. Hiện nay khu vực Trung Đông đã xuất hiện cục diện tương đối bí ẩn: có sự phân hóa trong nội bộ các nước Arab, thậm chí một số nước đang xích lại gần Israel, dẫn đến quan hệ giữa các nước Arab xung quanh vấn đề Palestine càng trở nên phức tạp, và thậm chí có thể dẫn đến sự chia rẽ thế giới Arab. Hai nước không phải Arab là Iran và Thổ Nhĩ Kỳ trong vấn đề này cũng đứng về phía Palestine, nhìn vào tình hình hiện tại, một khi thỏa thuận được công bố, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ có thể nắm bắt điểm này, khiến tình hình khu vực trở nên phức tạp hơn.

Dương Quang cho rằng trong quá trình thay đổi cục diện khu vực Trung Đông, niềm tin của các nước Arab đối với Mỹ sẽ tiếp tục suy giảm. Việc các nước Arab không tin tưởng vào Mỹ đã tồn tại từ lâu, về vấn đề Palestine-Israel, Mỹ cũng có những hành vi tương tự, điều này sẽ khiến tình trạng mất lòng tin của các quốc gia Arab càng trở nên trầm trọng hơn. Sự mất lòng tin dẫn đến việc gia tăng các nhân tố kinh tế, có thể khiến chính sách đối ngoại của các nước trong khu vực từng bước đa nguyên hóa, bao gồm cả chính sách “hướng về phía Đông”. Đồng thời với việc hoài nghi độ tin cậy của Mỹ, các nước trong khu vực đã nhìn thấy lợi ích thực tế về kinh tế mà các dự án như “Vành đai và Con đường” mang lại, đặc biệt là xu thế đa nguyên hóa của quan hệ nước lớn sẽ càng phát triển hơn nữa.

Dương Quang tiếp tục chỉ ra rằng sau khi giao dịch được thúc đẩy, nếu nội dung giống như hiện nay dự đoán hoàn toàn nghiêng về ủng hộ Israel, thì cũng sẽ không có lợi cho việc hàn gắn rạn nứt giữa các nước Arab với Israel và xoa dịu tình hình ở Trung Đông, thậm chí cũng có khả năng có một số nước hay các thế lực dựa vào đó dựng chuyện, phản đối Israel và Mỹ, khó mà mang lại “năng lượng tích cực” cho việc thúc đẩy hòa bình ở Trung Đông.

Ba là, từ góc độ của cộng đồng quốc tế, “cách làm của Trump bất chấp sự sắp xếp trước đây của Liên hợp quốc về vấn đề Palestine-Israel”. Lưu Trung Dân nói cách làm đơn phương của Mỹ đã làm suy yếu nghiêm trọng sự phối hợp nhịp nhàng của chủ nghĩa đa phương trong cộng đồng quốc tế, trong khi sự bất đồng giữa các nước lớn xung quanh vấn đề Palestine càng trở nên trầm trọng hơn.

Nguồn: www.shobserver.com

TLTKĐB – 04/06/2019

Vén màn thỏa thuận thế kỷ tại Trung Đông của Mỹ – Phần đầu


Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump lên nắm quyền vào đầu năm 2017, ông lên kế hoạch thúc đẩy cái gọi là “Thỏa thuận thế kỷ” dể giải quyết những vướng mắc giữa Palestine và Israel đã kéo dài hơn nửa thế kỷ qua. Trump cũng ủy nhiệm cố vấn cấp cao của tổng thống, con rể Kushner giữ vai trò “nhà giao dịch” trong kế hoạch hòa bình Trung Đông của Mỹ. Trong hơn hai năm, cái gọi là kế hoạch hòa bình Trung Đông luôn trong trạng thái “thùng rỗng kêu to”, ngày càng gây ra sự hiếu kỳ và suy đoán của thế giới. Ngày 23/4/2019, Kushner đã ra “ám hiệu” rõ ràng nhất từ trước đến nay, nói rằng kế hoạch đề xuất một “tầm nhìn toàn diện” cho hòa bình Trung Đông này sẽ chính thức được thúc đẩy sau khi tháng Ramadan kết thúc vào đầu tháng 6/2019. Vậy thì, cái gọi là thỏa thuận thế kỷ dược chờ đợi từ lâu này có thể kéo dài được bao lâu? Sẽ ảnh hưởng như thế nào đến tình hình Trung Đông vốn phức tạp và đầy biến động?

“Ra lò” vào tháng 6/2019?

Chính quyền Trump đã nhiều lần tuyên bố rằng “Thỏa thuận thế kỷ” sẽ sớm được công bố, trogn thời gian diễn ra Đại hội dồng liên hợp quốc tháng 9/2018, đến đầu năm 2019 và trước cuộc bầu cử của Israel, Mỹ đều bày tỏ thái độ tương tự, nhưng lại luôn bí mật không công bố. Kushner nói rằng ngay từ cuối năm 2018, kế hoạch đã sẵn sàng, nhưng nó không được công bố ngay do cuộc bầu cử ở Israel. Như vậy, cái gọi là “thỏa thuận thế kỷ” được chờ đợi từ lâu nay vì sao dến lúc này mới được “vén màn”?

Chủ tịch Hiệp hội Trung Đông học của Trung Quốc, giáo sư tại Đại học Thượng Hải, Dương Quang cho rằng các tổng thống Mỹ nhiệm kỳ trước đều muốn đề xuất một kế hoạch như vậy, và việc Trump lần nữa chưa đề xuất là vì liên quan đến việc chính sách Trung Đông của Mỹ không rõ ràng và Mỹ dang trong bối cảnh thu hẹp chiến lược Trung Đông. Tuy nhiên, Mỹ cẫn có nhiều lợi ích ở Trung Đông và cũng không né tránh được vấn đề này, nên nhất thiết phải lên tiếng đối với vấn đề cơ bản của khu vực Trung Đông, vì vậy Mỹ luôn có một sự chuẩn bị cho việc này. “Cuối năm ngoái, kế hoạch này nói chung đã có khung sơ bộ, cần tìm thời điểm thích hợp để đưa ra”. Ông Dương Quang nói: “Mặc dù kế hoạch chưa được công bố, nhưng theo tin tức đã điều tra thì đây là một phương án vô cùng bất lợi cho Palestine, công bố vào lúc đó e rằng sẽ gây tác động bất ngờ cho cuộc bầu cử ở Israel, do đó nó vẫn chưa được đưa ra”.

Sau cuộc tái đắc cử thành công của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, Mỹ nhìn thấy thời cơ đã đến, nhưng lại đứng trước lễ Ramadan của các nước Arab. Đối với người Hồi giáo, Ramadan là tháng lễ thiêng liêng nhất trong năm, trong tình hình này, nếu đưa ra phương án có phần xúc phạm đối với Palestine và Hồi giáo, thì có thể dẫn tới những phản ứng tương đối mạnh mẹ, vì vậy Mỹ hết sức tránh lễ Ramadan. Dương Quang nhận định, “Đến khi đó, Mỹ liệu có công bố hay không, hiện giờ vẫn chưa rõ. Mỹ lần lữa hết lần này đến lần khác, từ đó có thể thấy họ chưa đủ tự tin trong việc giải quyết vấn đề Palestine”.

Giáo sư Lưu Trung Dân, Viện trưởng Viện nghiên cứu Trung Đông của Đại học Ngoại ngữ Thượng Hải cũng có quan điểm tương tự. Ông cho rằng Kushner nhụt chí vào thời điểm này có thể là do hai yếu tố: một là, sự phức tạp của vấn dề Palestine, kế hoạch lần lữa mãi chưa thể công bố; hai là, mục đích phối hợp với bầu cử Israel của Mỹ đã đạt được, cho dù là vấn đề cao nguyên Golan hay là đàn áp Iran, Mỹ hiện nay có thể ung dung hơn trong việc sắp xếp kế hoạch này. “Mỹ toan tính rất kỹ lưỡng, quan hệ Mỹ – Israel cũng được cải thiện rất nhiều so với sự lãnh đạo của thời kỳ Obama, nhưng vấn đề Palestine – Israel không phải là vấn đề mà Mỹ và Israel mong muốn”.

Ngăn chặn nghiêm ngặt việc “tình tiết bị tiết lộ”

So với việc một số mệnh lệnh hành chính và nội dung thảo luận của Nhà Trắng đôi khi còn bị tiết lộ ra bên ngoài, thì mức độ bảo mật của kế hoạch dã được soạn thảo trong hai năm này còn chắc chắn hơn, bên ngoài biết rất ít chi tiết về nó.

Theo truyền thống nước ngoài, cái gọi là “Thỏa thuận thế kỷ” do Kushner – đại diện đặc biệt đàm phán quốc tế của Tổng thống Mỹ, đặc phái viên Mỹ về Trung Đông Jason Greenblatt và trợ lý của Kushner – Avi Berkowitz sắp xếp lên kế hoạch. Một số phương tiện truyền thông nước ngoài cho rằng chỉ có ba người trên và đại sứ Mỹ tại Israel Friedman biết toàn bộ nội dung của kế hoạch. Bắt đầu từ mùa Hè năm 2018, chỉ có 4 quan chức nội các là Phó Tổng thống Mike Pence, Ngoại trưởng Pompeo, Cố vấn An ninh Quốc gia Bolton và cựu Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley đã đọc một phần của báo cáo và đưa ra những bình luận liên quan.

Một số phương tiện truyền thông cho rằng khả năng giữ bí mật của nhóm này một phần là do lòng trung thành đặc biệt đối với Trump: Kushner, Friedman, và Greenblatt đều biết Trump nhiều hơn một thập kỷ, từ trước khi Trump tham gia chính trường, Berkowitz và Kushner là bạn cũ. Trong giai đoạn trước khi khởi động, các thành viên của nhóm cho biết sự cân nhắc riêng tư đã cho họ không gian nghỉ ngơi cần thiết để kiểm nghiệm lại những ý tưởng.

Mặc dù ở trong trạng thái tuyệt đối bí mật, nhưng bản kế hoạch với “nội dung vốn có” của riêng nó khó mà không dẫn tới sự chú ý. Kushner khi đó từ chối tiết lộ bất kỳ chi tiết nào của kế hoạch, ông cũng từ chối bình luận về việc liệu có thực hiện “phương án hai nhà nước” hay không. Tuy nhiên, ông nói rằng kế hoạch này rất chi tiết và có triển vọng là đại diện cho “tầm nhìn toàn diện” về hòa bình. “Hai bên sẽ đưa ra những thỏa hiệp khó khăn”.

Nhiều phương tiện truyền thông cũng nỗ lực khai thác, thậm chí cố gắng dò la nội dung thực sự của “Thỏa thuận thế kỷ” từ thái độ của cá quan chức liên quan.

Về số trang, theo The Jerusalem Post đưa tin vào ngày 20/4, Đại sứ Pháp tại Mỹ Gerard Arau nói rằng nội dung bản kế hoạch dài đến 50 trang rất chi tiết, nhưng ông cũng không biết nội dung chi tiết. Về nội dung, truyền thông nước ngoài cho rằng bản kế hoạch này có thể bao gồm hai khía cạnh:

Một là khu vực kinh tế, bao gồm xây dựng cơ sở hạ tầng, khôi phục công nghiệp, thúc đẩy đầu tư và phục hồi kinh tế ở khu vực Palestine, thúc đẩy hợp tác khu vực, cung cấp hỗ trợ tài chính liên quan cho các nước vùng Vịnh.

Hai là vấn đề sắp xếp chính trị bí ẩn nhất cũng là quan trọng nhất. Có nhiều lời lẽ xôn xao về sự sắp xếp này, và việc liệu có thực thi “phương án hai nhà nước” mà thế giới bên ngoài quan tâm nhất này hay không cũng chưa đi đến kết luận. Tuy nhiên, Greenblatt gần đây đã ám chỉ rằng phương án mới không bao gồm nội dung “xây dựng hai quốc gia trên đường biên giới năm 1967”. Dương Quang chỉ ra rằng vấn đề sắp xếp chính trị liên quan đến một số vấn đề then chốt có liên quan đến Palestine, những vấn đề này từ lâu đã khó đạt được sự nhất trí: một là việc phân chia lãnh thổ và biên giới, hai là vấn đề địa vị của Jerusalem, ba là vấn đề sắp xếp ổn thỏa cho dân tị nạn Palestine, bốn là các khu định cư của người Israel.

Thông tin hiện tại của cái gọi là “Thỏa thuận thế kỷ” không thực sự đầy đủ, Dương Quang nói, “nhưng nhìn một cách tổng thể vào tình hình như dư luận quốc tế, Mỹ rất có thể sẽ lựa chọn các biện pháp nghiêng về Israel nhiều hơn, ví dụ như trong vấn đề Jerusalem trước đó, Mỹ đã chuyển đại sứ quán nước này đến Jerusalem; trong vấn đề cao nguyên Golan, Mỹ tuyên bố công nhận chủ quyền của Israel…” Lưu Trung Dân cho rằng quan sát tình hình hiện tại thì bản kế hoạch này có thể là một bản kế hoạch “về chính trị nghiêng về Israel, xoa dịu người Palestine bằng lợi ích kinh tế”. Có phương tiện truyền thông Arab đưa tin rằng kế hoạch có thể bao gồm trao đổi đất đai với Ai Cập và Jordan. Nhưng Greenblatt đã phủ nhận điều này trên mạng xã hội. Washington Post dẫn lời những người nói chuyện với nhóm Kushner: “Kushner và các quan chức khác của Mỹ gắn liền phát triển kinh tế và hòa bình với việc người Arab công nhận Israel và chấp nhận hiện trạng “tự trị” của Palestine chứ không phải là chủ quyền”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.shobserver.com

TLTKĐB – 04/06/2019

“Canh bạc” đầy rủi ro của Tổng thống Trump đối với Iran


Theo mạng tin Foreign Policy, việc Tổng thống Mỹ Donald Trump quyết định chấm dứt quy chế miễn trừ trừng phạt đối với toàn bộ 8 quốc gia và vùng lãnh thổ được phép mua dầu thô của Iran không chỉ đẩy giá “vàng đen” tăng lên mà còn tác động tới quan hệ giữa Mỹ và các nền kinh tế phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu từ Iran, đồng thời châm ngòi cho những căng thẳng mới ở vùng biển quanh vịnh Ba Tư.

Trên thực tế, động thái bất ngờ mới nhất của Tổng thống Trump nhằm gây sức ép tối đa để kéo xuất khẩu gần bằng 0 – mức mục tiêu vốn đã được Washington theo đuổi kể từ khi rút khỏi thỏa thuận hạt nhân với Tehran hồi tháng 5 năm ngoái.

Hai tuần sau hi Tổng thống Trump thông báo liệt Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) vào danh sách tổ chức khủng bố, quyết định mới nhất này của ông chủ Nhà Trắng được coi là “canh bạc” mà Washington tin rằng họ có thể gia tăng áp lực ngoại giao và kinh tế đối với Tehran mà không làm tổn thương nền kinh tế toàn cầu hoặc “gây khó chịu” cho các đối tác ở châu Âu và châu Á.

Rủi ro về kinh tế và chính trị

Tuy nhiên, “nước cờ” nói trên của Tổng thống Trump ẩn chứa nhiều rủi ro kinh tế và chính trị, đặc biệt khi ông chủ Nhà Trắng đang bước vào chiến dịch tái tranh cử. Do đó, Mỹ ngay lập tức tuyên bố sẽ phối hợp với Saudi Arabia và UAE – hai địch thủ khu vực của Iran, để kiểm soát nguy cơ gián đoạn nguồn cung và giữ giá dầu trong tầm kiểm soát.

Mặc dù vậy, Saudi Arabia hiện vẫn để ngỏ khả năng gia tăng sản lượng dầu mỏ và sẽ chỉ quyết định sau khi đánh giá đầy đủ tác động đối với thị trường dầu mỏ theo sau chính sách mới của Mỹ. Bản thân Saudi Arabia cũng cảm thấy họ từng là “nạn nhân” khi phải tăng sản lượng hồi năm ngoái để bù đắp lượng dầu thiếu hụt sau các lệnh trừng phạt của Washington nhằm vào ngành công nghiệp dầu mỏ Iran.

Hầu hết các nhà phân tích từng dự đoán chính quyền Mỹ sẽ gia hạn quy chế miễn trừ nói trên, trong bối cảnh giá dầu thế giới vẫn ở mức tương đối cao và nhu cầu tiêu thụ năng lượng của Mỹ đang bước vào mùa cao điểm. Vì vậy, nhiều người đã cảm thấy bất ngờ trước quyết 9i5nh đột ngột của ông Trump.

Một số nguồn tin cho hay các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ từng thông báo tới các nước và vùng lãnh thổ nằm trong diện miễn trừ trừng phạt khi nhập khẩu Iran rằng quy chế này có thể sẽ được gia hạn, song mọi chuyện đột ngột thay đổi khi Nhà Trắng can thiệp. Cả ông Trump và Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ John Bolton đều đang theo đuổi lập trường cứng rắn với Iran, bất chấp sự phản đối từ các đồng minh của Mỹ tại châu Âu, vốn ủng hộ duy trì quan hệ ngoại giao với Tehran.

Theo Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, các lệnh trừng phạt của Mỹ đang tác động mạnh mẽ tới Iran, bởi 40% nguồn thu của nước Cộng hòa Hồi giáo này là từ xuất khẩu dầu mỏ. Trước khi Washington áp đặt biện pháp trừng phạt Iran có thể kiếm được tới 50 tỷ USD/năm từ doanh thu dầu mỏ.

Giới phân tích nhận định động thái mới nhất của Mỹ có thực sự thành công hay không còn tùy thuộc vào việc các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc tuân thủ lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Iran như thế nào. Cả ba nước này vốn là những khách hàng dầu mỏ lớn của Iran, khi nhập khẩu tổng cộng gần 1 triệu thùng/ngày. Đặc biệt, Trung Quốc chưa bao giờ tuân thủ triệt để các yêu cầu của Mỹ về việc từ bỏ mua dầu thô Iran, đồng thời Bắc Kinh tái khẳng định quan hệ thương mại của mình với Tehran là hợp pháp. Tương tự, Hàn Quốc sẽ mất nhiều thời gian và gặp khó khăn để thay thế nguồn dầu nhập khẩu từ Iran cho ngành công nghiệp hóa dầu của nước này.

Trong khi đó, Saudi Arabia và những thành viên khác trong Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), cùng với Nga, lại đang theo đuổi thỏa thuận cắt giảm sản lượng để tiếp tục kéo giá “vàng đen” lên. Saudi Arabia thực tế đã giảm sản lượng nhiều hơn so với dự kiến và trên lý thuyết, Riyadh thừa khả năng đẩy mạnh sản xuất để bù đắp lượng dầu thiếu hụt từ Iran.

Ông Matthew Reed, Phó Chủ tịch hãng tư vấn năng lượng Foreign Reports, nhận định: “Quyết định chấm dứt quy chế miễn trừ trừng phạt của Mỹ nhiều khả năng sẽ tác động tới thỏa thuận cắt giảm nguồn cung của OPEC. Tổ chức này sẽ không thể vừa tiếp tục giữ nguyên mức cắt giảm 1,2 triệu thùng/ngày vừa bù đắp cho lượng dầu thiếu hụt từ Iran”.

Iraq, một thành viên chủ chốt khác trong OPEC, cho rằng các quốc gia không nên đưa ra quyết định đơn phương nhằm tăng sản lượng, đồng thời khuyến khích khối này nên chờ tới cuộc họp toàn thể vào tháng 6 để đưa ra quyết định.

Ngay cả khi Saudi Arabia hoặc các nhà sản xuất lớn khác “mở van” để bù đắp cho bất kỳ sự thiếu hụt nào từ Iran và giữ giá dầu mỏ ở mức ổn định, thị trường “vàng đen” sẽ vẫn chưa hết lo lắng. Đối với các nước tiêu thụ, không phải tất cả dầu mỏ đều giống nhau và không phải quốc gia nào cũng có thể sản xuất cùng loại dầu chất lượng mà Iran đang cung cấp, điều mà các nhà lọc hóa dầu rất cần.

Bên cạnh đó, cuộc xung đột đang leo thang tại Libya làm dấy lên nhưng lo ngại về nguy cơ hoạt động sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ của nước này có thể gặp rủi ro. Tình hình sản xuất dầu mỏ tại Venezuela cũng không khả quan hơn khi sản lượng “vàng đen” của quốc gia Nam Mỹ này đã giảm mạnh xuống dưới ngưỡng 1 triệu thùng/ngày, trong bối cảnh bất ổn định chính trị và khủng hoảng kinh tế lan rộng trên toàn quốc. Venezuela thậm chí sẽ phải chịu nhiều áp lực hơn nữa khi các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào chính quyền Tổng thống Nicolas Maduro sắp có hiệu lực.

Ngoài ra, những biện pháp trừng phạt cứng rắn hơn của Mỹ nhằm vào Iran cũng sẽ làm phức tạp thêm mối quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia châu Âu và châu Á. Đức, Pháp và Anh đã thiết lập một cơ chế tài chính thay thế để có thể tiếp tục giao dịch với Iran, bất chấp các lệnh trừng phạt của Mỹ nhằm vào Tehran.

Thổ Nhĩ Kỳ, một đồng minh của Mỹ trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), cũng là một quốc gia có thể bị tổn thương sau quyết định chấm dứt quy chế miễn trừ trừng phạt của ông Trump. Hiện Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đang cố gắng tăng cường thương mại song phương, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng và Ankara cho biết họ đang cân nhắc xây dựng một hệ thống thay thế để né các lệnh trừng phạt của Mỹ và tiếp tục trao đổi thương mại với Tehran.

Nguy cơ “gậy ông đập lưng ông”

Không thể phủ nhận những sức ép rất lớn mà Mỹ đã tạo ra đối với Iran, song ngược lại điều đó cũng sẽ đẩy Tehran và “thế chân tường” và sẵn sàng đưa ra các biện pháp đáp trả. Quân đội Iran đã lên tiếng cảnh báo sẽ ngăn cản hoạt động vận chuyển dầu mỏ bằng đường biển đi qua eo biển Hormuz, một tuyến đường vận tải dầu mỏ quan trọng tại vùng Vịnh, nếu Mỹ cố “bóp chẹt” nền kinh tế Iran bằng cách chặn xuất khẩu dầu mỏ của nước này.

Chuyên gia Suzanne Maloney tại Viện Nghiên cứu Brookings khẳng định: “Nếu bị dồn vào đường cùng, Iran sẽ tìm mọi cách để giảm nguồn cung dầu mỏ từ vùng Vịnh ra khỏi khu vực. Bên cạnh đó, Iran cũng có thể gây áp lực dầu mỏ đối với Iraq, hoặc nhắm vào các công ty năng lượng nước ngoài thông qua các cuộc tấn công mạng nhằm gây gián đoạn thị trường để trả đũa quyết định của Mỹ. Sẽ có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn mà không ai có thể lên kế hoạch hoặc mong muốn nó xảy ra”.

Trung Quốc phản đối quyết định của Mỹ tái áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các khách hàng tiếp tục mua dầu của Iran. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Geng Shuang tuyên bố sự hợp tác giữa Trung Quốc và Iran là công khai, minh bạch và tuân thủ luật pháp, do đó phải được đối xử với sự tôn trọng.

Trung Quốc vẫn là nhà tiêu thụ và nhập khẩu lớn nhất thế giới. Quốc gia này phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung bên ngoài, trong đó có Iran. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, Iran có trữ lượng dầu lớn thứ ba thế giới, với 18,8 tỷ tấn qua kiểm chứng. Theo tính toán của Reuters, kể từ năm 2016, Liên minh châu Âu (EU) đã đầu tư hơn 20 tỷ USD vào các dự án ở Iran. Do đó, không chỉ Trung Quốc, mà ngay cả các đồng minh chủ chốt của Mỹ trong NATO cũng phản đối quyết định của Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran.

Trong khi đó, Washington đã không đáp ứng yêu cầu của các đối tác và tuyên bố rằng các biện pháp trừng phạt thứ cấp sẽ được áp dụng đối với bất kỳ quốc gia nào tiếp tục mua dầu thô từ Iran. Mặc dù Mỹ hứa rằng các lệnh trừng phạt Iran sẽ không dẫn đến tình trạng thiếu hụt dầu mỏ, song 1,3 triệu thùng/ngày vẫn cần phải được lấy từ đâu đó, và không ai có thể tăng sản lượng nhanh như vậy trong một thời gian ngắn. Do đó, không thể tránh khỏi tình trạng giá dầu tăng lên. Trong điều kiện như vậy, Trung Quốc không thể ngay lập tức ngừng mua dầu từ Iran để đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu thô với giá phải chăng.

Trong cuộc phỏng vấn của Sputnik, Giáo sư Chen Xiaoqing tại Đại học Nhân dân Trung Quốc cho biết: “Trung Quốc nên hợp tác với các đối tác châu Âu để duy trì thỏa thuận hạt nhân Iran đồng thời duy trì quan hệ hợp tác với Iran. Trên thực tế, cả EU và Nga cũng lên án các lệnh trừng phạt đơn phương của Mỹ. Trung Quốc nên tập trung nỗ lực để giảm thiểu các tác động tiêu cực từ lệnh trừng phạt này và duy trì hợp tác với Iran”. Đại diện chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đã nêu rõ Trung Quốc phản đối các biện pháp trừng phạt đơn phương của Mỹ. Trung Quốc, cùng với các nước EU và Nga phải hợp lực để phản đối chính sách trừng phạt của Mỹ đối với Iran.

Nguồn: TKTTK – 26/04/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần cuối


Những đồng minh này đang dần rời xa Mỹ cũng là điều chắc chắn. Ngày 6/11/2018, Tổng thống Pháp Macron hô hào trên Đài phát thanh Europe 1 rằng châu Âu nên xây dựng một quân đội riêng của mình để giảm bớt phụ thuộc quốc phòng vào Mỹ. Trump ngay sau đó lập tức công kích Macron trên Twitter: “Tổng thống Pháp vừa kiến nghị châu Âu xây dựng quân đội riêng để đề phòng Mỹ, Trung Quốc và Nga. Thật xúc phạm! Nhưng có lẽ châu Âu trước hết nên chi trả thỏa đáng phần chi phí quân sự của NATO, Mỹ đã bù vào đó khá nhiều rồi”. Có thể thấy quan hệ giữa châu Âu với Mỹ ngày một sứt mẻ, trong khi quan hệ với Nga và Trung Quốc ngày càng gần gũi hơn, lệnh trừng phạt Iran lần này sẽ một lần nữa làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ và châu Âu. Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng xa rời.

Thứ ba, chia rẽ giữa Mỹ và châu Âu có thể là xu thế dài hạn. Kể từ khi Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu ngày càng xấu đi. Tuy nhiên hầu hết người dân đều thiếu nhận thức về điều này, thường cho rằng đó chỉ là cạnh tranh anh em giữa các nước Âu – Mỹ, về đối ngoại vẫn phải đoàn kết để đối phó với Nga và Trung Quốc. Hoặc cho rằng đây chỉ là phong cách cầm quyền của Trump, chỉ là hành vi nhất thời.

Nhưng tình hình hiện tại dường như không hoàn toàn như vậy. Một mặt, giá trị quan giữa Mỹ và châu Âu là nhất quán, chắc chắn vẫn mang nhiều lợi ích chung, không gian hợp tác tương đối lớn; nhưng mặt khác, nếu đúng như Trump coi EU là kẻ địch lớn hơn cả Nga và Trung Quốc thì châu Âu cũng ngày càng coi Mỹ là mối đe dọa lớn hơn, và kêu gọi Nga, Trung Quốc liên kết để chống lại sức ép từ Mỹ.

Hơn nữa, nhìn vào hiện tại, sự lạnh nhạt trong quan hệ giữa Mỹ và châu Âu không chỉ là vấn đề của cá nhân Trump, mà là kết quả tất yếu của sự thay đổi tình hình quốc tế nói chung, thực lực Mỹ tương đối suy giảm cũng như sự thay đổi của lực lượng Âu – Mỹ. Cục diện liên minh Âu – Mỹ hiện nay được xây dựng trên nền tảng là châu Âu bị suy yếu nghiêm trọng do sự tàn phá của Chiến tranh thế giới thứ hai và Mỹ trở thành nước lớn độc tài, do đó cùng với việc Mỹ có quyền lãnh đạo châu Âu thì cũng phải gánh vác nghĩa vụ lớn hơn. Nhưng cùng với việc kinh tế châu Âu hồi phục tương đối và kinh tế Mỹ có phần suy thoái thì cục diện này ngày càng khó duy trì.

Ngoài ra, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ mong muốn chi trả nhiều chi phí hơn cho phương Tây để duy trì địa vị lãnh đạo của mình là bởi vì Mỹ cho rằng mình có thể đạt được lợi ích từ địa vị chủ đạo này. Hiện nay có vẻ Mỹ xác định được lợi ích từ địa vị này là không ít, nhưng lợi ích này phân phối không đồng đều ở trong nước.

Người sáng lập kiêm chủ tịch hội đồng quản trị của Quỹ quản lý đầu tư Bridgewater Associates Mỹ, Ray Dalio trong bài phát biểu “The Two Economies: The Top 40% and the Bottom 60%” hồi tháng 10/2017 đã chỉ ra rằng, sự chênh lệch giàu nghèo nghiêm trọng của xã hội Mỹ khó mà duy trì lâu dài. Theo Dalio, của cải của 0,1% dân số tầng lớp cao nhất hiện nay của Mỹ tương đương với của cải của 90% dân số tầng lớp thấp, tương đương với khoảng cách giàu nghèo trong giai đoạn 1935 đến 1940. “Từ năm 1980 đến nay, thu nhập thực tế của các hộ gia đình trung lưu về cơ bản vẫn giữ nguyên, trong khi thu nhập bình quân của 40% hộ gia đình tầng lớp cao đã nhiều gấp 4 lần so với 60% hộ gia đình tầng lớp thấp”. “Tỷ lệ tử vong của 60% dân chúng tầng lớp thấp đang gia tăng, sức khỏe về tinh thần và thể chất đều đang xấu đi”.

Trong hoàn cảnh này, một bộ phận người Mỹ mà đại diện là Donald trump đã không còn muốn duy trì trật tự quốc tế này nữa.

IV/ Kết luận

Lý thuyết quan hệ quốc tế phương Tây cho rằng: không có tình hữu nghị vĩnh viễn giữa các quốc gia, chỉ có lợi ích vĩnh viễn. Không chỉ vậy, mà đôi khi ngay cả lợi ích chung cũng có thể tranh giành. Nếu lợi ích của việc phản bội lớn hơn lợi ích mà các đồng minh có thể có được thì sao không làm?

Quả thực, giữa Mỹ và các đồng minh châu Âu tồn tại nhiều điểm chung, đặc biệt  là sự nhất trí về giá trị quan, nhưng điều này không có nghĩa là họ không trở mặt với nhau. Trong các cuộc Thập Tự Chinh từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, các nước Tây Âu và Đế quốc Byzantine là đồng minh, còn có chung tín ngưỡng, nhưng trong cuộc Thập Tự Chinh thứ tư (1202 – 1204), quân Thập Tự đã quay lại đánh úp và tiêu diệt Byzantine. Trong lịch sử, các nước Trung – Đông Âu thường duy trì sự nhất trí cao độ về ý thức hệ và lợi ích quốc gia, nhưng kể từ khi ký Hòa ước Versailles năm 1919, trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các nước phương Tây về chính trị đã nhiều lần bán rẻ các nước đồng minh Trung Âu và Đông Âu. Hiện tượng này xảy ra nhiều lần đến mức lịch sử quan hệ quốc tế đã xuất hiện một cụm từ là “sự phản bội của các đồng minh phương Tây”.

Do đó, ngày nay, sự trở mặt giữa Mỹ và các nước Tây Âu cũng phù hợp với tác phong của họ. Ví dụ như khi thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) 2015, các nước Anh, Pháp, Đức nhìn thấy lợi ích to lớn trong đó nên đã làm trái ý Mỹ để tham gia AIIB. Các nước châu Âu cũng đều phản ứng tích cực đối với đề xướng “Vành đai và Con đường” mà Mỹ phản đối.

Ngày nay, vì cả Mỹ và châu Âu đều cho rằng quan hệ đồng minh giữa họ đã làm tổn hại đến lợi ích cơ bản của mỗi bên, nên các liên minh như vậy khó mà tiếp tục duy trì. Trong khi Mỹ đơn phương áp đặt lệnh trừng phạt đối với Iran, vì lợi ích bản thân mà tổn hại các đồng minh châu Âu, lại sẽ từng bước làm trầm trọng thêm quá trình này. Có lẽ trong tương lai không xa, Mỹ và châu Âu sẽ không còn coi nhau là đồng minh thân thiết.

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần II


Thứ hai, Mỹ trừng phạt Iran đã làm tổn hại đến lợi ích của các đồng minh châu Âu.

Các lệnh trừng phạt Iran hiện nay của Mỹ đã từng bước gây tổn hại cho lợi ích của các nước đồng minh châu Âu. Mỹ sở dĩ đưa ra các lệnh trừng phạt đơn phương đối với Iran là vì xác định Iran là mối đe dọa lớn đối với an ninh, ngoại giao và kinh tế của Mỹ, nhưng các nước châu Âu lại không nghĩ như vậy. Cân nhắc đến tầm quan trọng của Iran trên thị trường khí đốt và dầu mỏ quốc tế, các nước châu Âu lại không muốn thực hiện lệnh trừng phạt đối với Iran, mà chủ trương thông qua con đường ngoại giao và chính trị để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran.

Trước khi ký kết Thỏa thuận hạt nhân Iran năm 2015, các nước châu Âu cùng với Mỹ đã tiến hành các biện pháp trừng phạt đối với Iran, mặc dù gây thiệt hại lớn nhưng không ngăn được sự phát triển kinh tế cũng như ngoại thương của Iran, rất nhiều nước đạt được lợi ích lớn nhờ vào quan hệ thương mại với Iran. Ví dụ, quy mô thương mại của Trung Quốc đối với Iran tăng lên trong kẽ hở của các lệnh trừng phạt của Mỹ, chỉ trong năm 2017, kim ngạch thương mại Trung Quốc – Iran đã tăng khoảng 20%. Ngoài Trung Quốc, các nước khác như Ấn Độ, Nga… cũng không cắt đứt quan hệ thương mại thông thường với Iran, ngược lại những nước châu Âu theo Mỹ trừng phạt Iran lại chịu tổn thất kinh tế không đáng có do không tiến được vào thị trường Iran. Sau khi lệnh trừng phạt Iran được nới lỏng, các doanh nghiệp châu Âu mong muốn có được thị trường Iran lâu nay đã nhanh chóng thâm nhập thị trường này.

Lần này, Mỹ làm trái với mong muốn của đồng mình châu Âu, tự ý rút khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran và áp đặt lệnh trừng phạt với Iran, điều này có nghĩa là Thỏa thuận hạt nhân Iran rất khó khăn mới đạt được vào năm 2015 và kéo dài trên 9 năm giữa EU với 7 nước bao gồm cả Iran đã tan thành mây khói. Mặc dù các nước châu Âu cực lực phản đối, nhưng cuối cùng không giải quyết được vấn đề. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận này và thực hiện trừng phạt Iran khả năng lớn sẽ khiến cho giá dầu tăng, ngành sản xuất dầu của Mỹ hiện nay tự đủ cung cấp và có thể bán dầu để thu lợi, còn đa số các nước EU lại không thể mua dầu giá cao. Dưới sự ép buộc của Mỹ, một số công ty đa quốc gia của châu Âu, không thể không gián đoạn hoạt động tại Iran và buộc phải rút khỏi thị trường Iran.

Mỹ trừng phạt Iran tương đương với việc buộc các đồng minh châu Âu phải trả tiền cho lợi ích của Mỹ, điều này gây tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của các nước châu Âu có liên quan, càng khiến những nước này bất mãn đối với Mỹ.

III/ Các biện pháp trừng phạt của Mỹ đối với Iran có thể làm tăng thêm sự chia rẽ của phe cánh phương Tây

Hàng loạt hành động gây tổn hại đến lợi ích đồng minh châu Âu của Mỹ đương nhiên sẽ chịu hậu quả.

Trước tiên là các đồng minh châu Âu ngày càng rời xa Mỹ.

Cùng với việc sau khi lên nắm quyền thái độ của Trump đối với các đồng minh châu Âu xấu đi, các nước châu Âu cũng ngày càng thiếu đoàn kết. Tại Hội nghị thượng đỉnh G7 vào tháng 6/2018, Mỹ và 6 nước còn lại công khai đối địch. Trong phương diện quan hệ với Nga, châu Âu cũng đã nhiều lần bày tỏ không hài lòng đối với Mỹ. Ngày 11/7/2018, tại Hội nghị thượng đỉnh NATO Trump đã chỉ trích rằng người Đức không nên nhập khẩu năng lượng của Nga, trở thành nô lệ cho Nga. Nhưng bản thân ông quay lại bày tỏ tình hữu nghị với nước Nga cũng như Putin trong “cuộc gặp Trump – Putin”, tăng cường hợp tác với Nga về năng lượng. Điều này đã gây ra nhiều sự nghi ngờ của châu Âu.

Đầu tháng 5/2018, theo một cuộc khảo sát của Đức với tên gọi là “Young Europe 2018” cho thấy đa số những người trẻ tuổi ở Anh, Pháp, Đức, Hy Lạp, Italy, Ba Lan, Tây Ban Nha đều không ủng hộ lập trường của chủ nghĩa dân túy, 57% trong số người được phỏng vấn coi Tổng thống Trump là “mối đe dọa”, chỉ có 11% coi ông là một “cơ hội”.

Ngày 16/7/2018, Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas nói rằng, châu Âu “không thể hoàn toàn trông chờ” vào Mỹ, cần phải đoàn kết lại, phát triển quan hệ với Mỹ theo cách mới. Chủ tịch Hội đồng châu Âu – cơ quan ra quyết sách tối cao của EU, Donald Tusk cảnh cáo rằng, Mỹ dường như không có đồng minh. Thậm chí Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng công khai chỉ trích Donald Trump là “phá hủy niềm tin vào trật tự quốc tế”.

Thứ hai, các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ có thể làm tăng sự chia rẽ của phe cánh phương Tây.

Sau khi Mỹ tuyên bố khởi động lại lệnh trừng phạt đối với Iran, một số nước châu Âu kiên quyết phản đối. Pháp, Đức, Anh và EU cùng lên án hành vi của Mỹ, và tuyên bố sẽ bảo vệ các công ty châu Âu kinh doanh “hợp pháp” với Tehran.

Hiện tại, phần lớn các giao dịch toàn cầu đều thông qua hệ thống SWIFT (Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế), Mỹ có thể dựa vào hệ thống này để giám sát và điều khiển một cách hiệu quả các giao dịch toàn cầu, và dựa vào đó để thực hiện trừng phạt các nước khác. Đó cũng là một trong những trụ cột quan trọng trong việc xây dựng quyền lực tài chính của Mỹ. Tuy nhiên, các nước khác không chấp nhận như vậy, ví dụ như Trung Quốc và Nga đã xây dựng hệ thống thanh toán của riêng mình.

Trước những hành động cô lập ngày càng nghiêm trọng của Mỹ, các nước châu Âu cũng cố gắng thiết lập hệ thống thanh toán của riêng mình. Ngày 2/11/2018, EU cùng với Anh, Pháp, Đức đã ra tuyên bố chung rằng phải duy trì “kênh tài chính hiệu quả với Iran”, tiếp tục mua dầu và khí đốt của Iran. Còn phải nỗ lực hợp tác với Trung Quốc và Nga – là những bên cũng ký kết thỏa thuận hạt nhân Iran. Ngoại trưởng Đức, Heiko Maas, trong một bài viết hồi tháng 8/2018, đã đề xuất châu Âu nên lập nên một hệ thống thanh toán mới độc lập với Mỹ để cứu vãn Thỏa thuận hạt nhân Iran và tăng cường quyền tự chủ của châu Âu. Nếu điều này thành hiện thực, quyền lực tài chính của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.

Ngày 5/11/2018, ngay sau khi Mỹ chính thức khôi phục lại lệnh trừng phạt đối với Iran, đồng thời tuyên bố 8 nước hoặc khu vực được miễn trừ, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Italy, Hy Lạp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ mà không bao gồm các nước cốt lõi của EU như Pháp, Đức và Anh, điều này chắc chắn càng làm xấu đi quan hệ giữa Mỹ với các đồng minh châu Âu. Tuy lượng dầu mỏ nhập khẩu từ Iran của Anh và Đức tương đối ít, trong khi quy mô nhập khẩu từ Iran của Pháp là 5%, Italy 7% và Nhật Bản 5%. Xét về địa vị và tầm ảnh hưởng của Pháp trong các nước châu Âu có thể khẳng định rằng đây là một sách lược trừng phạt mang tính xúc phạm đối với các đồng minh châu Âu truyền thống, thể hiện rất rõ ràng thái độ không tin tưởng các đồng minh châu Âu.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019

Mỹ trừng phạt Iran có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của phương Tây – Phần I


Tháng 5/2018, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi Thỏa thuận hạt nhân Iran, đồng thời yêu cầu các nước trên thế giới ngừng nhập khẩu dầu của Iran, nếu không các nước và các doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với các lệnh trừng phạt kinh tế. Tháng 8/2018, Mỹ khởi động lại các lệnh trừng phạt đối với Iran trong hàng loạt lĩnh vực phi năng lượng như tài chính, kim loại, khoáng sản, xe hơi… Ngày 5/11, Mỹ chính thức khôi phục lệnh trừng phạt đơn phương trong lĩnh vực năng lượng và tài chính đối với Iran.

Các lệnh trừng phạt là vũ khí quan trọng của Mỹ, lâu nay luôn phát huy vai trò quan trọng trong việc xử lý các công việc quốc tế. Tuy nhiên, việc thực hiện trừng phạt Iran lần này của Mỹ chưa có đủ các điều kiện thiên thời, địa lợi, nhân hòa kết quả chưa chắc đã như mong đợi, mà có thể làm trầm trọng thêm sự chia rẽ nội bộ của phe cánh phương Tây.

I/ Quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa Mỹ và các nước đồng minh

Quan hệ giữa Mỹ và các nước đồng minh phương Tây là một kiểu quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Các nước đồng minh này dĩ nhiên cần phải dựa vào sự bảo vệ của Mỹ, Mỹ cũng cần phải dựa vào sự hỗ trợ của các đồng minh.

Trước hết, hệ thống đồng minh là chỗ dựa quan trọng cho sức mạnh của Mỹ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ có hơn 800 căn cứ quân sự tại hơn 70 nước trên toàn thế giới, nhưng để chống lại các đối thủ với bảo vệ lợi ích toàn cầu của mình, chỉ có sức mạnh quân sự là chưa đủ. Mỹ có thể trở thành thủ lĩnh thế giới, giành được thắng lợi trong nhiều cuộc đấu tranh quốc tế bao gồm cả Chiến tranh Lạnh, ngoài việc dựa vào sức mạnh kinh tế, quân sự, cũng phụ thuộc nhiều vào ý thức hệ của mình và các mối quan hệ đồng minh đã dày công gây dựng lâu nay.

Mỹ cũng hiểu sâu sắc đạo lý “chính nghĩa thì được ủng hộ, phi nghĩa thì không”, “dùng mưu kế quân sự đánh bại địch, dùng thủ đoạn ngoại giao gây chia rẽ địch”, đã xây dựng hệ thống đồng minh rộng rãi và hiệu quả trên toàn cầu. Ví dụ, tại Trung Đông, Israel và Saudi Arabia là những điểm tựa chiến lược quan trọng của Mỹ, còn tại Đông Á, Nhật Bản và Hàn Quốc là tiền tuyến chiến lược trong việc chống lại Liên Xô trước đây và sau này là Trung Quốc và Nga. Tại Đông Nam Á, Mỹ và Singapore vẫn hợp tác vui vẻ. Tại khu vực Nam Á, Mỹ lại thay đổi các nước trụ cột khác nhau dựa theo những thay đổi của tình hình.

Trong hai cuộc chiến tranh thế giới và trong nhiều hành động chính trị và quân sự lớn của quốc tế trong thời kỳ hậu chiến tranh, Mỹ đều rất hiếm khi hành động một mình, mà thường chọn cách hợp tác tập thể. Ví dụ trong Chiến tranh Triều Tiên, Mỹ sử dụng chiêu bài “quân đội Liên hợp quốc”, đã tổ chức liên quân 17 nước tham chiến. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991, các đồng minh tham gia đã đạt con số kỷ lục với 40 nước, trong đó có 34 nước có cống hiến thực sự vào việc giải phóng Kuwait. Nếu không có sự phối hợp của các đồng minh, địa vị lãnh đạo của Mỹ cho dù về mặt lý lẽ hay là hiệu quả thực tế đều bị giảm đáng kể.

Thứ hai, trong tất cả các đồng minh của Mỹ, đồng minh châu Âu là trụ cột quan trọng nhất. Có thể thấy các nước châu Âu với Mỹ tương đồng về văn hóa và thể chế chính trị, vị trí địa lý quan trọng, hơn nữa đều có sức mạnh về kinh tế và công nghệ, vì vậy, lâu nay các đồng minh châu Âu không những là đồng minh thân cận mà còn là đồng minh có sức mạnh nhất của Mỹ. NATO và Liên minh châu Âu (EU) tiền thân là Cộng đồng châu Âu không những là công cụ quan trọng để chống lại Liên Xô khi đó, cũng là cái cớ quan trọng nhất để sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Mỹ tiếp tục chống lại Nga cũng như lựa chọn hành động, quán triệt chiến lược, theo đuổi lợi ích lớn nhất tại Đông Âu và Trung Đông đồng thời đẩy mạnh địa vị lãnh đạo toàn cầu của mình. Trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, các nước lớn châu Âu lần lượt tham gia lực lượng đa quốc gia do Mỹ dẫn đầu bao gồm quân đội của hơn 10 nước đồng minh châu Âu. Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai (2003 – 2010) không được Liên hợp quốc cho phép, hầu hết các nước đều phản đối. Khi Mỹ quyết tâm xâm chiếm Iraq, cũng muốn lôi kéo cả Anh cùng hành động.

Tuy nhiên, giữa Mỹ và các nước đồng minh châu Âu khác không hẳn là thân mật, mà là đồng thời với việc duy trì sự hợp tác chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau cùng tồn tại nhiều xung đột về lợi ích. Trong phạm vi toàn cầu, Mỹ và các đồng minh vừa là đối tác hợp tác vừa là đối thủ cạnh tranh. EU vừa phản đối chủ nghĩa đơn phương của Mỹ, vừa lại lo lắng chủ nghĩa cô lập và chủ nghĩa dân tộc của Mỹ; một mặt dựa vào sự bảo vệ quân sự của Mỹ, mặt khác lại hy vọng nâng cao địa vị quốc tế của minh. Do đó EU ngày càng tích cực tham gia vào các vấn đề gây tranh cãi của quốc tế, từ Triều Tiên đến khu vực Trung Đông, EU đều cố gắng phát huy hết sức vai trò của mình. Trong một số khu vực, sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể bổ sung cho nhau, nhưng ở một số khu vực khác, lợi ích của Mỹ và những nước này có thể nảy sinh xung đột. Nói tóm lại, về văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, Mỹ và các đồng minh châu Âu có mối quan hệ chặt chẽ nhưng lại rắc rối phức tạp.

Nói một cách đơn giản, tuy giữa Mỹ và châu Âu luôn tồn tại xung đột lợi ích nhất định, nhưng nhìn về dài hạn, quan hệ Mỹ – châu Âu tương đối thân thiết và ổn định, tạo thành nền tảng quan trọng cho an ninh của châu Âu cũng như địa vị lãnh đạo thế giới của Mỹ.

II/ Các biện pháp trừng phạt Iran của Mỹ làm tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu

Tuy nhiên, sau khi Tổng thống Donald Trump lên nắm quyền, quan hệ Mỹ – châu Âu đã có sự thay đổi lớn. Ông khởi xướng “Nước Mỹ trước tiên”, “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”, kiên trì đường lối có lợi cho Mỹ nhưng gây tổn hại cho nước khác, kể cả các nước đồng minh, điều này dẫn đến mâu thuẫn giữa Mỹ và các nước đồng minh ngày càng sâu sắc, nội bộ ngày càng lục đục.

Trước tiên, chính sách ngoại giao của Trump gây tổn hại đến lợi ích của đồng minh châu Âu. Thời gian qua, Mỹ đã tuyên bố rút khỏi Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và Thảo thuận hạt nhân Iran, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại, di dời đại sứ quán ở Israel…, những việc làm này đã làm hao mòn lòng tin của các nước châu Âu đối với Mỹ. Đặc biệt là gần đây Mỹ tự ý rút khỏi “Hiệp ước Các lực lượng tên lửa tầm trung” đã ký kết cùng Liên Xô năm 1987, điều này gây tổn hại lớn đến an ninh khu vực châu Âu, khiến họ khó mà chấp nhận.

Tháng 6/2018, sau khi tiếp tục từ chối ủng hộ thông cáo chung của Hội nghị thượng đỉnh G7 tổ chức tại Canada, Trump liên tục công kích Thủ tướng Canada Trudeau trên Twitter về vấn đề thương mại. Truyền thông phương Tây bình luận rằng, sau Hội nghị Thượng đỉnh G7, quan hệ giữa Mỹ và đồng minh phương Tây “trượt xuống hố sâu”.

Đặc biệt khiến thế giới phải choáng váng là, sau khi Trump lên nắm quyền, ông bất ngờ lựa chọn đường lối “liên kết với Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc”, muốn lôi kéo Nga để kiềm chế châu Âu và Trung Quốc. Tháng 7/2018, trước cuộc hội đàm với người đồng cấp Nga Putin, Trump công khai phát biểu chỉ trích châu Âu, gọi châu Âu là kẻ thù lớn nhất của Mỹ, Trung Quốc thứ 2, Nga chỉ có thể đứng thứ 3. Trump cũng buộc các nước châu Âu phải tăng chi phí quốc phòng. Ngoài ra, Trump rất bất mãn với thâm hụt trong thương mại giữa Mỹ với châu Âu (thâm hụt thương mại của Mỹ với EU năm 2017 là 173,8 tỷ USD). Theo tờ The Washington Post nói về người châu Âu, Trump nói: “Họ muốn bóp chết chúng ta trong những việc khác nữa… quan trọng nhất là, họ dùng NATO để giết chúng ta…”.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.thepaper.cn

CVĐQT – số 3/2019