Sự biến đổi của Trung Đông trong dịch COVID-19 – Phần cuối


Việc Thái tử Mohammed làm việc của cha ông là một điều đáng lo ngại đối với khu vực này. Cuộc chiến ở Yemen năm 2015 và nỗ lực cô lập Qatar năm 2017, mà đã chia rẽ Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh – cả hai đều do Thái tử Mohammed khơi mào – đã gây tốn kém cho tất cả các bên liên quan, bao gồm cả bản thân ông. Dự trữ ngoại tệ của vương quốc dầu mỏ này đã giảm từ 732 tỷ USD vào cuối năm 2014 xuống còn khoảng 500 tỷ USD vào năm 2019. Cũng trong giai đoạn đó, nợ nước ngoài tăng vọt từ 12 tỷ USD lên khoảng 185 tỷ USD. Bị giảm thu nhập sau khi giá dầu sụp đổ, Riyadh đã điều chỉnh lại chương trình Tầm nhìn 2030 của Thái tử Mohammed nhằm giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Chế độ này cũng có nguy cơ không được lòng dân do tuyên bố tăng gấp ba thuế hàng hóa và dịch vụ lên tới 15%.

Do có hai địa điểm linh thiêng nhất của Hồi giáo và là nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, Saudi Arabia có ảnh hưởng toàn cầu lớn cả về tình thần lẫn vật chất. Chế độ quân chủ đã cùng tồn tại trong cảnh giác với các giáo phái theo trào lưu chính thống. Kể từ năm 1979, khi Cách mạng Iran kích động sự thức tỉnh trong thế giới Hồi giáo, các nhà cầm quyền Saudi Arabia chịu ngày càng nhiều sức ép buộc phải làm hài lòng các giáo sĩ vì lo sợ bị buộc tội suy đồi đạo đức. Vì lý do này, ngay cả những bước tiến rất nhỏ như việc Riyadh quyết định cho phép đàn ông và phụ nữ nước ngoài ở chung phòng khách sạn, ngay cả khi hai người không phải là vợ chồng, vào tháng 10/2019 đã trở thành tiêu điểm trên khắp thế giới.

Những rủi ro và phần thưởng

Cho dù Thái tử Mohammed được đánh giá cao vì đã nới lỏng một số điều luật như trên, mà phần lớn định hướng cách nhìn nhận của phương Tây về ông, nhưng nó đi kèm với những đặc điểm tính cách khác, trong đó có cả sự không khoan nhượng với sự bất đồng chính kiến. Cuộc chiến với Qatar về cơ bản liên quan đến việc Doha được cho là quá mềm mỏng với Iran, cường quốc Hồi giáo mà Riyadh cảnh giác nhất, và kênh truyền hình Al Jazeera của Qatar thường có cái nhìn khắt khe về các chế độ Arab. Vụ ám sát nhà báo đồng thời là nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng của Saudi Arabia Jamal Khashoggi tại lãnh sự quán Saudi Arabia ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) đã gây sốc vì mức độ tàn bạo của nó. Vụ ám sát đã mang lại cho Thổ Nhĩ Kỳ cái cớ để xứ lý Thái tử Mohammed, ngay cả khi Ankara đang xây dựng liên minh chiến lược với Doha. Mới đây, Qatar đã tăng hạn mức hoán đổi tiền tệ với Thổ Nhĩ Kỳ từ 5 tỷ USD lên 15 USD, báo hiệu có thêm một quốc gia giàu có ở khu vực lân cận.

Tuy nhiên, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác có mối quan hệ phức tạp với các nhóm thiểu số Hồi giáo cũng coi trọng tình bạn của họ với Thái tử Mohammed không chỉ vì những tín hiệu mà tình bạn đó phát đi trong thế giới Hồi giáo, mà còn vì các thỏa thuận chia sẻ tình báo song phương mà có vẻ có lợi cho phần lớn khu vực, giúp họ kiềm chế chủ nghĩa cực đoan ở chính đất nước họ.

Một số điều này có thể gặp rủi ro nếu Thái tử Mohammed và chế độ Saudi Arabia suy yếu. Trên mặt trận tôn giáo, những người có tư tưởng bảo thủ mà ông chọc tức đang tìm kiếm một cơ hội để tái lập nhóm. Về chính trị, có những dấu hiệu cho thấy không phải tất cả các nhà lãnh đạo Arab đều để mặc Saudi Arabia muốn làm gì thì làm.

Trong một tài liệu tình báo gần đây, Soufan Group lưu ý rằng vào cuối tháng 4, những người ly khai ở miền Nam Yemen dưới ngọn cờ Hội đồng Chuyển tiếp miền Nam (STC) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp và sắc lệnh tự quản, vi phạm một cách trắng trợn hiệp định hòa bình được ký vào tháng 11/2019 ở Riyadh. Chính phủ Yemen được Saudi Arabia hậu thuẫn gọi tuyên bố này là “nguy hiểm và thảm họa” và thậm chí cả UAE, nơi dừng chân của các nhà lãnh đạo STC, cũng bày tỏ sự phản đối. Tài liệu viết: “Nhưng ít ai tin rằng STC sẽ có một động thái khiêu khích đến vậy mà không có ít nhất là sự chấp thuận ngầm của Abu Dhabi”.

Một cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”

Phần còn lại của châu Á nên làm gì trước những diễn biến này và chúng ta có nên lo lắng?

Một nhà quan sát Đông Á chuyên nghiên cứu về Saudi Arabia cho biết chừng nào những sự suy yếu và chuyển hướng còn diễn ra trong bối cảnh “huynh đệ tương tàn” của thế giới Arab, phần còn lại của khu vực này có lẽ không cần phải lo lắng quá nhiều.

Theo như lưu ý của một nhà ngoại giao châu Á dày dạn kinh nghiệm, xét tới tính cách của Thái tử Mohammed, bất kỳ sự suy yếu ảnh hưởng nào của ông mà hạn chế khả năng hăm dọa các nước Arab khác có lẽ cũng đều có lợi cho Tây Á, ông nói thêm: “Điều có lợi cho Tây Á không thể gây hại cho lợi ích của chính chúng ta”.

Điều đó cho thấy vẫn còn sớm để coi đó là sự sụt giảm uy tín đáng kể của Saudi Arabia. Ngay cả khi khoa học nhanh chóng chuyển sang phát triển các nhiên liệu thay thế, dầu mỏ vẫn là nguồn năng lượng toàn cầu chính. Liên minh Mỹ – Saudi Arabia cũng không suy yếu đến mức khiến các nhà hoạch định chính sách phải vội vã xem lại cách tiếp cận khu vực của họ. Tuy nhiên, không thể không nói rằng rất nhiều thay đổi đang diễn ra. Câu hỏi là chính xác thì có bao nhiêu thay đổi.

Nguồn: The Straits Times – 22/05/2020

TLTKĐB – 29/05/2020.

Sự biến đổi của Trung Đông trong dịch COVID-19 – Phần đầu


Khi những tác động kinh tế do đại dịch COVID-19 giáng vào Trung Đông, những đồng minh và kẻ thù cũ phải điều chỉnh theo những thay đổi ảnh hưởng đến các mối quan hệ của họ.

Khoảng 9 giờ tối ngày 19/5, một chiếc máy bay chở hãng hãng Airbus sơn màu trắng không mang ký hiệu đã hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv và di chuyển đến một góc sân bay, nơi 16 tấn vật tư y tế trên máy bay, bao gồm cả thiết bị bảo hộ và máy thở, đã được dỡ xuống. Đó là các nguồn cung cấp cứu trợ quan trọng cho lãnh thổ Palestine bị Israel chiếm đóng, mà cùng với các khu vực còn lại của Trung Đông, đang vật lộn chống lại sự bùng phát của dịch COVID-19. Tuy chuyến bay không chở hành khách, nhưng nó có ý nghĩa to lớn: Đây là lần đầu tiên Ethiad, hãng hàng không thuộc sở hữu của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), kết nối hai thủ đô vốn không có quan hệ ngoại giao chính thức.

Theo như lưu ý của tờ Times of Israel, cả Dải Gaza lẫn Bờ Tây đều không có sân bay, có nghĩa là bất kỳ hàng hóa nào chuyển đến lãnh thổ Palestine đều phải đi qua Israel. Điều đó có thể đòi hỏi phải có một cầu không vận từ UAE, nơi đạt các kho dự trữ nhân đạo của Liên hợp quốc. Tuy nhiên xét tới việc hai năm trước, UAE là nước Arab đầu tiên cho phát Quốc ca Israel trong một sự kiện thể thao và tiếp đón Bộ trưởng Thể thao Israel, điều này chắc chắn phải được xem là một bước tiến.

Liên kết hàng không chưa từng có giữa hai cường quốc Tây Á diễn ra chưa đầy hai tuần sau khi Quốc hội Iraq phê chuẩn ông Mustafa al-Kadhimi làm thủ tướng mới, kế nhiệm Adel Abdul-Mahdi vừa từ chức. Là cựu giám đốc tình báo, Kadhimi rõ ràng đảm nhận cương vị thủ tướng nhờ một thỏa thuận ngầm giữa Mỹ và Iran.

Theo trang mạng Middle East Eye có trụ sở tại London, Tehran rõ ràng đã “mua chuộc được” một số phe phái Shiite mà họ hậu thuẫn ở Iraq nhằm tìm cách khác khiến Mỹ giải phóng một số tài sản của họ ở châu Âu. Ở một quốc gia nơi chính trị phụ thuộc vào một “kiềng 3 chân” bất ổn gồm các bên Sunni, Shiite và người Kurd, ban đầu việc bổ nhiệm Kadhimi bị các lực lượng dân quân Shiite thân Iran khác như Kataib Hezbollah phản đối kịch liệt.

Việc Kadhimi được bổ nhiệm làm Thủ tướng đưa Mỹ trở lại vị trí kiểm soát tình hình ở Baghdad và, không ai ngạc nhiên khi một trong những hành động đầu tiên của Thủ tướng mới là triệu hồi nhân vật quân sự nổi tiếng Abdul Wahab al-Saadi. Tướng al-Saadi là người đứng đầu Cơ quan chống khủng bố ở Iraq, đơn vị mà ông đã lãnh đạo một cách xuất sắc giành chiến thắng trước tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Iraq và Syria trong một cuộc tấn công từ năm 2014 – 2016.

Trong hi đó, Mỹ đang nghiêng về phía Israel hơn bao giờ hết để làm suy giảm mối quan hệ với Trung Quốc. Tờ Jerusalem Post mới đây đưa tin rằng Washington đang mất kiên nhẫn với “sự đổi hướng khôn khéo” của Tel Aviv về chủ đề Trung Quốc, một nước mà Israel đã từng bước mở rộng quan hệ, trong đó có cả các lĩnh vực công nghệ mang tính sống còn. Tờ báo trên dẫn lời một quan chức Mỹ biết rõ các cuộc thảo luận này rằng yêu cầu là “giảm các vướng mắc nói trên (và) loại bỏ các lĩnh vực quan trọng”.

Saudi Arabia không ngừng thay đổi

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế do sự sụp đổ giá dầu gây ra và các cuộc đọ sức chính trị ngày càng tồi tệ giữa Washington và Bắc Kinh trở nên trầm trọng hơn do đại dịch COVID-19, những thay đổi lớn đang diễn ra trên toàn khu vực Tây Á. Không nơi đâu có nhiều thay đổi như ở Saudi Arabia, nhà lãnh đạo thực tế của liên minh OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ) và là quốc gia Arab duy nhất nằm trong Nhóm 20 cường quốc kinh tế.

Những gì xảy ra ở Saudi Arabia và các nước láng giềng đều quan trọng đối với phần còn lại của châu Á vì nhiều lý do, chứ không chỉ do họ là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Một trong số những lý do đó là thu nhập từ lao động nhập cư ở vùng Vịnh mà kiều hối họ gửi về nước có tầm quan trọng then chốt đối với hàng triệu hộ gia đình ở Philippines, Indonesia, Myanmar và tiểu lục địa Ấn Độ. Mạng lưới liên kết kết nối các nhóm dân quân ở Tây Á với các vùng khác trong khu vực cũng gây quan ngại.

Liên minh Mỹ – Saudi Arabia kéo dài 7 thập kỷ đã căng thẳng kể từ tháng 3/2020, khi Thái tử Saudi Arabia đặt cược mối quan hệ đặc biệt của mình với Nhà Trắng bằng cách âm thầm tăng sản lượng dầu mỏ như một nước cờ đầu buộc Nga phải cắt giảm sản lượng, do đó giúp định ra một mức sàn trong tình trạng giá dầu đang giảm. Động thái này đã phản tác dụng một phần vì nó xảy ra đồng thời với cuộc khủng hoảng COVID-19, mà dù thế nào cũng khiến cho nhu cầu dầu sụt giảm mạnh.

Hơn nữa, động thái trên đã chọc giận Tổng thống Mỹ, người nổi tiếng một phần nhờ tiềm lực kinh tế mạnh mà hiện tại đã bị dịch COVID-19 tàn phá. Hơn nữa, những tai họa kinh tế của Mỹ được nêu bật thông qua sự sa thải quy mô lớn trong ngành năng lượng của nước này khi các nhà sản xuất dầu đá phiên phải chịu áp lực từ giá dầu thấp kỷ lục.

Phản ứng này gần như là thảm họa khi xem xét bản chất thân mật của mối quan hệ mà Thái tử Mohammed bin Salman đã vun đắp với Tổng thống Donald Trump. Những người thạo tin nói về cuộc điện đàm giữa Tổng thống Trump và Thái tử Mohammed vào ngày 2/4 trong đó giọng điệu của nhà lãnh đạo Mỹ giận dữ đến nỗi Thái tử Mohammed ra lệnh cho những người đang nghe cuộc gọi cùng ông phải rời khỏi phòng để giữ thể diện.

Sau đó, Trump đe dọa sẽ rút lại tên lửa Patriot của Mỹ được bố trí vào năm 2019 sau cái thường được gọi là một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran vào một cơ sở dầu mỏ chủ chốt. Thái tử Mohammed đã nhanh chóng nhượng bộ để không khiến Tổng thống Trump tức giận hơn, đồng ý cắt giảm sản lượng dầu của Saudi Arabia từ 1/6 xuống mức thấp nhất trong 20 năm.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Straits Times – 22/05/2020

TLTKĐB – 29/05/2020.

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần cuối


Đặt cược của Trump

Tổng thống Mỹ tin rằng việc giết Soleimani trong chiến dịch sẽ thúc đẩy triển vọng tái đắc cử của ông, nhưng động thái này cũng có thể phản tác dụng.

Đảng Dân chủ hiện đang nhìn lại nỗi kinh hoàng vào năm 2003, khi George W. Bush tham chiến với lý do dối trá rằng nhà độc tài Saddam Hussein của chế độ Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Một số đảng viên đảng Dân chủ ủng hộ cuộc chiến vào thời điểm đó, bao gồm một thượng nghị sĩ từ Delaware tên là Joe Biden, người hiện đang dẫn đầu nhóm ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ.

Cho đến ngày nay, Biden nhận thấy phải biện minh cho lá phiếu của mình tại Quốc hội tán thành cuộc chiến tranh Iraq. Đó là một phần lý do tại sao đảng Dân chủ bây giờ rất muốn tìm hiểu lý do thực sự tại sao Trump giết Soleimani. Tuy nhiên, cho đến nay, không ai có thể moi được điều gì từ Trump và Ngoại trưởng Pompeo ngoài tuyên bố yếu ớt rằng Qassem Soleimani đã lên kế hoạch tấn công vào các mục tiêu Mỹ. Ngay cả một buổi thông báo tình hình kín giữa Ngoại trưởng Pompeo, Bộ trưởng Quốc phòng Esper, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Milley và Giám đốc CIA Gina Haspel đã không làm đảng Dân chủ thỏa mãn. Ngay cả Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Rand Paul cũng phàn nàn về sự thiếu hụt thông tin cụ thể được cung cấp.

Một điều chắc chắn: Với cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào tướng Iran, Trump đã đưa chính sách đối ngoại vào chương trình nghị sự của chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020. Tuy nhiên, không chắc rằng nó sẽ giúp Trump nhiều. Kết quả nhiều cuộc thăm dò dư luận cho thấy người Mỹ đang cảm thấy mệt mỏi với chiến tranh, với quân đội Mỹ đã và đang chiến đấu ở Afghanistan trong vòng 18 năm, và cuộc chiến tại Iraq đã kéo dài đến 16 năm. Gần 7000 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng ở cả hai nước, và điều đó sẽ không giúp gì cho Trump nếu ông lao vào một cuộc xung đột đẫm máu với Iran.

Đồng  thời, nếu việc Soleimani bị giết không khiến bạo lực leo thang, thì tổng thống cũng có thể coi là giành chiến thắng. Hầu hết các cử tri Mỹ coi câu hỏi về việc liệu giết Qassem Soleimani có đúng theo luật pháp quốc tế không là câu hỏi lý thuyết thuần túy. Ngay cả tờ New York Times theo quan điểm tự do đã viết: “Câu hỏi thực sự về cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Mỹ mà đã giết Tướng Qassem Soleimani không phải là liệu nó có hợp lý hay không, mà là nó có khôn ngoan không”.

Các lập luận tương tự có thể được nghe từ những người có lập trường ôn hòa thuộc đảng Dân chủ do Biden dẫn dắt, người đang buộc tội Tổng thống đưa Mỹ vào một cuộc xung đột mất kiểm soát với Iran. Khác với các đối thủ cánh tả của mình, Biden không chỉ trích các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào Soleimani. Bernie Sanders và Elizabeth Warren nói về vụ giết người này và làm rõ họ coi Trump là một tội phạm chiến tranh để ghi điểm với phe cánh tả của họ.

Một cấp độ khó dự đoán mới

Soleimani trở thành mối nguy hiểm an ninh với Israel, do cách ông chỉ đạo và sử dụng các lực lượng dân quân ở Liban và Syria. Cựu Thủ tướng Isarel Ehud Barak nói với DER SPIEGEL rằng tên của Soleimani đã nổi tiếng trong các giới an ninh trong 25 năm qua. Ông nói: “Chúng tôi đưa ông ta vào danh sách theo dõi qua nhiều thế hệ”.

Nhưng nước này chưa bao giờ dám đi xa đến mức giết Soleimani, “mặc dù ông ta khiến tất cả chúng ta đau đầu”, một cựu nhân viên tình báo thừa nhận. Cái giá có vẻ quá cao. Israel không muốn có một cuộc chiến công khai với Iran.

Quả thực, ngay cả khi các nhà lãnh đạo của Israel có thể bí mật ăn mừng cái chế của Soleimani, họ đã cẩn thận không dính líu đến quyết định của Trump. Theo báo chí, Thủ tướng Benjamin Netanyahu đã mô tả cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là một “sự kiện của Mỹ”, nói thêm rằng Israel nên “đứng ngoài” bất cứ thứ gì có thể xảy ra. Quân đội Israel thể hiện quan điểm tương tự, nói rằng các quan chức đang theo dõi cuộc xung đột “từ bên lề”.

Đó là một sự xa rời khá nổi bật khỏi những yêu cầu trước đây của Netanyahu muốn Mỹ ném bom các cơ sở hạt nhân của Iran. Ít nhất trong lúc này, chính phủ ở Jerusalem đã quyết định muốn tiếp tục các cuộc tấn công bí mật vào Iran. Đây phần nào có thể quy cho thực tế rằng hiện tại mọi người ít chắc chắn về sự hỗ trợ của Mỹ hơn so với trước đây.

Cựu Thủ tướng Barak nói rằng nhiều quyết định của Trump có thể là tốt cho Israel. Các quyết định trước đây của Trump trong đó có việc di chuyển Đại sứ quán Mỹ đến Jerusalem và chính thức công nhân cao nguyên Golan, được thôn tính từ Syria, là nằm trong lãnh thổ Israel. Ông nói, nhưng Trump là khó lường, Israel không thể chắc chắn rằng liệu Mỹ sẽ đứng bên cạnh nước này trong mọi hoàn cảnh hay không. Aharon Zeevi-Farkash, cựu lãnh đạo tình báo quân sự Israel, nói rằng ít nhất người Iran hành động sáng suốt, nói thêm rằng ông không nhất thiết nói điều tương tự về Trump.

Tình hình là tương tự ở Saudi Arabia. Sự im lặng của một phần lãnh đạo đất nước là điều dễ thấy. Thái tử Mohammed bin Salman dựa vào sự hỗ trợ từ Mỹ trong những năm xung đột với Iran. Nhưng ông nhận ra rằng chiến lược này là nguy hiểm khi Trump đã không làm gì cho các đồng minh của mình ở  Riyadh sau khi các cơ sở lọc dầu bị tấn công vào mùa Thu.

Kể từ đó, Thái tử Mohammed đã và đang thực hiện việc giảm leo thang. Ông đã gửi một phái đoàn đến Washington sau vụ giết Soleimani. Nhưng không giống như các chuyến thăm trước, các phái viên của ông đã không đến đó để thuyết phục người Mỹ cần đối đầu với Iran. Lúc này, họ lập luận ủng hộ điều ngược lại.

Chiến tranh hay ném bom?

Jens Stoltenberg đã có được ưu thế nhất định trong giao thiệp với Tổng thống Mỹ. Tổng thư ký NATO đã tìm ra cách để công nhận sự chính đáng cho Donald Trump trong khi đồng thời cũng làm nhụt chí ông ta theo cách mà ít người khác có được.

Điều đó có thể được nhìn thấy vào ngày 8/1. Trong một bài phát biểu, Trump kêu gọi liên minh phương Tây “tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình Trung Đông”. Sau đó, trụ sở của NATO xác nhận rằng Stoltenberg và Trump đã trao đổi điện đàm, nói rằng cả hai bên đã đồng ý rằng NATO có thể “đóng góp nhiều hơn cho sự ổn định của khu vực và cuộc chiến chống khủng bố quốc tế”.

Nghe có vẻ như là một thỏa thuận, nhưng thực sự không là gì. Stoltenberg nhận thức rõ rằng các thành viên khác nhau của NATO không còn muốn tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào Trung Đông. Jean Asselborn của Luxembourg, người giữ chức ngoài trưởng lâu nhất ở châu Âu, nói: “Thật dễ hiểu việc NATO sẽ không can dự quân sự vào thế giới Arab. Các nước thành viên châu Âu sẽ không bao giờ tham gia điều đó”.

Nhưng không ai muốn tham gia cuộc xung đột công khai với Mỹ. Thay vào đó, người châu Âu đang cố tránh xa điều này. Trong các tuyên bố chính thức, họ đang kêu gọi giảm leo thang, đặc biệt với người Iran. Tuy nhiên họ đang ngầm nguyền rủa Trump.

Phần lớn châu Âu đang bị đe dọa. Nếu Trung Đông chìm vào hỗ loạn, châu Âu có thể bị đe dọa với giá dầu tăng lên và một cuộc khủng hoảng tị nạn mới. Ngoài ra, Mỹ có thể không nằm trong tầm bắn của các tên lửa của Iran, nhưng lục địa châu Âu láng giềng thì lại đối mặt với hiểm nguy. Và người châu Âu đã thất bại trong việc tách họ khỏi Washington về vấn đề Iran.

Không có điểm nào khác rõ ràng hơn trong mâu thuẫn về thỏa thuận hạt nhân. Trump đã yêu cầu Đức, Pháp và Anh cuối cùng chấm dứt “những tàn dư” của thỏa thuận “rất thiếu sót” này, mà Washington đã đơn phương rút ra khỏi đó vào tháng 5/2018. Người châu Âu đã và đang cố gắng giải cứu cái mà kể từ đó không còn có thể cứu vãn được nữa.

Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif đã phàn nàn với nhà ngoại giao chủ chốt của EU Josep Borrell về việc thiếu các lợi ích kinh tế đang ra thu được từ thỏa thuận. Và ông nói đúng. Brussels vẫn chưa tìm ra cách trách các biện pháp trừng phạt của Mỹ. Và EU không ở địa vị hỗ trợ các công ty muốn tiếp tục làm ăn với Iran. Chẳng hạn, các ngân hàng lớn ở châu Âu từ chối thực hiện các giao dịch với Tehran, vì ngay cả Ngân hàng đầu tư châu Âu, một thể chế công cộng, cũng phụ thuộc vào thị trường vốn của Mỹ để tái cấp vốn. Đồng USD vẫn có ảnh hưởng lớn đến mức Washington có thể dễ dàng thực thi các biện pháp trừng phạt của mình.

Nhưng các nhà ngoại giao ở Berlin và Paris cũng đổ lỗi cho chính phủ ở Tehran vì đã không cầm lấy nhánh ô liu mà người châu Âu đã trao cho các quan chức ở đó. Trong một động thái bất ngờ, Tổng thống pháp Macron đã tổ chức một cuộc gặp với Ngoại trưởng Iran vào tháng 8/2019 bên lề cuộc họp G-7 ở Biarritz. Tổng thống Trump thậm chí đã sẵn sàng gặp Tổng thống Rohani. Nhưng Tổng thống Rohani từ chối, bất chấp thực tế là người châu Âu đề xuất cho Iran vay hàng tỷ euro.

Thay vào đó, thỏa thuận hạt nhân đang dần hết hiệu lực, tiến tới bị chấm dứt hoàn toàn. Sau khi Tehran tuyên bố sẽ tăng số lượng máy ly tâm làm giàu urani, bất chấp điều kiện khác của thỏa thuận hạt nhân, các bộ trưởng ngoại giao của Đức, Pháp và Anh đồng ý sẽ triệu tập ủy ban trọng tài chung của thỏa thuận nếu cần thiết. Nếu không tìm ra giải pháp hòa giải, các biện pháp trừng phạt của châu Âu cũng sẽ có hiệu lực trở lại. Vào thời điểm đó, thỏa thuận sẽ kết thúc tốt đẹp, và cách duy nhất khiến Iran dừng việc chế tạo bom hạt nhân là thông qua sử dụng sức mạnh quân sự.

Tại thời điểm nào đó, chiến tranh trong bóng tối rồi sẽ trở thành cuộc chiến công khai.

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần V


Sự chỉ trích các nhà lãnh đạo và cách tiếp cận của họ đã ngừng và có thể sẽ như vậy trong một thời gian. Những người ôn hòa, vốn trước đây chỉ trích vai trò của Iran trong khu vực và đã ủng hộ cho việc nối lại quan hệ với Mỹ một cách cẩn trọng, đã giữ im lặng cho đến bây giờ. Cả hai nhóm chính trị lớn, các nhà cải cách và những người theo lập trường cứng rắn, đang tiếp nhận Soleimani như người của riêng mình. Ngay cả Ardeshir Zahedi, một cựu bộ trưởng ngoại giao cao tuổi từ thời Shah, đã ca ngợi “người con của Iran” là một “người lính yêu nước và danh giá” trong một phỏng vấn.

Ý thức đoàn kết dân tộc có thể giúp những người nắm quyền huy động cử tri trong cuộc tổng tuyển cử dự kiến vào ngày 21/2. Điều đó rất quan trọng bởi tỷ lệ cử tri đi bầu cao được coi là thước đo cho sự ủng hộ của người dân, đồng thời cho tính hợp pháp của hệ thống.

Các nhà lãnh đạo của đất nước cũng được hưởng lợi từ sức mạnh của truyền thống tưởng niệm của người Shiite ở Iran. Sự hy sinh của một nhà lãnh đạo nổi tiếng và được tôn trọng thường được tôn vinh theo văn hóa Shitte. Mỗi năm vào tháng Muharram, tháng tưởng niệm của Hồi giáo, hàng nghìn tín đồ diễu hành qua các con đường để tưởng nhớ giáo sĩ Hussein, thủ lĩnh Shiite bị giết vào năm 680 gần Karbala. Đó là một hoạt động văn hóa mà trong đó sự đau khổ và sức chịu đựng là động lực. Và một trong số đó là sự sẵn sàng hy sinh và tính hợp pháp đóng vai trò quan trọng hơn là chiến thắng. Người Shiite luôn tự xem mình là một nhóm thiểu số bị áp bức trong Hồi giáo, những người đứng yên chống lại một thế lực vượt trội. Chính sự tự nhận thức về bản thân này đã định hình sự thù địch của họ đối với Mỹ trong nhiều thập kỷ.

Trong truyền thống này, nước mắt không được coi là dấu hiệu của sự yếu đuối. Khi lãnh đạo tối cao Iran Ali Khamenei bật khóc trước quan tài của Soleimani, ông trở thành một phần trong truyền thống lâu đời của các chính khách Iran: Thủ tướng huyền thoại Mohammed Mossadegh và nhà lãnh đạo cách mạng Khomeini thường khóc trước công chúng, và Shah đã rơi nước mắt khi phải rời khỏi đất nước sau khi ông  bị lật đổ. Tổng thống ủng hộ cải cách Mohammad Khatami đã khóc khi ông phải chịu một thất bại chính trị.

Qassem Soleimani đã được lòng dân trong suốt cuộc đời mình, nhưng không phải ở mức độ lớn như vậy. Bây giờ ông ta đã chết và dù vậy đã trở thành không khác gì một anh hùng được mến mộ. Thái độ của xã hội Iran đối với Vệ binh cách mạng từ lâu đã mâu thuẫn. Một mặt, họ bị chửi rủa như một biểu tượng của bạo lực và áp bức, nhưng đồng thời, họ được tôn trọng vì bảo vệ đất nước trong cuộc chiến chống Iraq.

Sự nổi tiếng của Soleimani chủ yếu dựa vào danh tiếng của ông là người bảo vệ đất nước – từ Chiến tranh Iraq-Iran trong những năm 1980 đến cuộc chiến chống IS. Nhiều người Iran coi sự hợp tác, tuyển mộ và vũ trang của ông ta cho lực lượng dân quân Shiite trong khu vực không phải là một nỗ lực để đạt được quyền bá chủ, mà là một chính sách bảo đảm chống lại một cuộc tấn công có thể xảy ra. Là một quốc gia, Iran cảm thấy bị đe dọa bởi sự hiện diện của hơn 60.000 binh sĩ Mỹ trong khu vực và những ký ức về cuộc chiến tranh xâm lược của Iraq do Mỹ hậu thuẫn chống lại Iran đã ăn sâu bén rễ.

Soleimani cũng chứng tỏ mình là một ngoại lệ trong số các nhà lãnh đạo của đất nước ở chỗ mọi người không coi ông là quan chức tham nhũng. Lý do duy nhất đồn thổi rằng Qassem Soleimani được lòng dân hơn nhà lãnh đạo cách mạng dường như không làm hại ông, vì ông luôn thể hiện sự phục tùng và tôn kính. Mặc dù nhiều người biết ông có thể là người kế nhiệm cho Tổng thống Hassan Rohani, nhưng ông chưa bao giờ thể hiện bất kỳ tham vọng chính trị nào.

Người kế nhiệm của Qassem Soleimani, Esmail Ghaani, không có được danh tiếng có thể so sánh – cả trong nhân dân cũng như trong giới quyền lực bên trong Iran. Do đó, ông sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào ban lãnh đạo chính trị và sẽ không có tự tin và độc lập để hành động so với người tiền nhiệm.

Hoạt động của Trump là một món quà cho lãnh đạo Iran không chỉ ở trong nước, mà còn ở nước ngoài. Bởi vì nhiều người Shiite trong khu vực coi việc giết Qassem Soleimani như một lời tuyên chiến, nó có thể giải phóng các lực lượng chống Mỹ bên ngoài Iran. Nếu chế độ Iran thành công trong việc đưa quân đội Mỹ ra khỏi khu vực, thì đó sẽ là di sản thực sự của Soleimani.

Nhưng Iran cũng không quan tâm tới một cuộc xung đột quân sự quy mô lớn – đặc biệt là một cuộc chiến mà Tehran sẽ không có hy vọng chiến thắng. Thật vậy, hành động phản công đầu tiên của Iran dường như có cân nhắc và thích đáng, nhưng nó có thể không phải là duy nhất. Một điều khá dễ hiểu là Iran đang theo đuổi một chiến lược kép và họ sẽ để các nhóm ủy nhiệm trong khu vực thực hiện các cuộc tấn công bổ sung, điều này sẽ cho phép Tehran công khai tránh xa sự gây hấn vốn đã từng xảy ra trong quá khứ.

Cái chết của Soleimani có thể đã che đậy những khó khăn của chế độ trong thời điểm hiện tại, nhưng chúng vẫn chưa được giải quyết. Trong khi đó, các lệnh trừng phạt của Mỹ tiếp tục gây khó khăn cho nền kinh tế Iran. Mặc dù các cuộc biểu tình phản đối  các nhà lãnh đạo Iran đã bị dập tắt nhưng nguyên nhân sâu xa khơi mào vẫn chưa biến mất. Phần lớn tầng lớp trung lưu bị bần cùng hóa, lạm phát và thất nghiệp ở mức cao và giới trẻ của đất nước cảm thấy họ không còn chút triển vọng.

Vào tối 8/1/2020 ở Tehran, một cảm giác nhẹ nhõm trước tuyên bố kiềm chế của Trump dường như lan tỏa khắp nơi. Doanh nhân Arash Mussavi nói rằng căng thẳng là rõ ràng trong cả ngày hôm đó sau cuộc tấn công của Iran vào các căn cứ ở Iraq. “Mọi người thực sự sợ chiến tranh”.

Cuộc chia tay của một siêu cường

Soleimani đã thành công một lần trước đó trong việc đẩy quân Mỹ ra khỏi Baghdad. Khi các phe khác nhau ở Iraq không thể đạt được sự nhất trí về người đứng đầu chính phủ sau cuộc bầu cử năm 2010, Qassem Soleimani đã cố gắng đảm bảo đa số cho một ứng cử viên trong các vòng đàm phán khó khăn: Nouri al-Maliki, một nhân vật cốt cán Hồi giáo dòng Shiite.

Nó đánh dấu sự thất bại của Mỹ trong một nỗ lực thành lập một chính phủ. Vào thời điểm đó, Washington đã hy vọng rút một số trong khoảng 130.000 binh sĩ mà Mỹ vẫn còn đóng quân ở Iraq và duy trì sự hiện diện với một lực lượng nhỏ hơn. Nhưng Soleimani nói không và Maliki trở thành thủ tướng, với sự ủng hộ của Washington. Sau đó, ông đã thúc đẩy thành công việc rút hoàn toàn người Mỹ, những người đã rời đi vào năm 2011.

Nhưng họ đã trở lại vào năm 2014 theo yêu cầu của người kế nhiệm Maliki để cứu Iraq trước sự phát triển của IS. Kể từ đó, Soleimani đã làm mọi thứ trong khả năng của mình để chấm dứt sự hiện diện của 6000 lính Mỹ đồn trú tại Iraq. Ý tưởng là làm yếu dần quân đội Mỹ thông qua các cuộc tấn công liên tục và đẩy Mỹ đến các cuộc phản công quân sự – những hành động khiêu khích cuối cùng đã góp phần vào việc tiêu diệt Soleimani.

Chính phủ Mỹ cho rằng không cần thiết phải thông báo trước cho Baghdad về cuộc tấn công bằng máy bay không người lái theo kế hoạch vào Qassem Soleimani. Và thay vì xoa dịu người Iraq sau khi thực hiện cuộc tấn công trong biên giới của họ, Trump đe dọa sẽ áp đặt “các biện pháp trừng phạt mà họ chưa từng thấy trước đây” nếu Iraq kêu gọi lực lượng Mỹ rời đi.

Nhưng người Iraq đã làm điều đó. Vào ngày 5/1/2020, đa số trong quốc hội ở Baghdad đã thông qua một nghị quyết không ràng buộc kêu gọi chính phủ trục xuất quân đội Mỹ ra khỏi nước này. Nhiều người Kurd và các thành viên Sunni của quốc hội đã tẩy chay phiên họp và cũng hoàn toàn không rõ Thủ tướng Abd al-Mahdi có còn quyền hạn gì hay không. Ông tuyên bố từ chức sau các cuộc phản kháng trong nhiều tháng và hiện chỉ đóng vai trò là người đứng đầu chính phủ lâm thời cho đến khi có thể tìm được người thay thế phù hợp. Tuy nhiên, ý thức về việc từ chức dường như đang lan ra khắp ở Washington. Ngay sau nghị quyết, một lá thư đã được tìm thấy trên phương tiện truyền thông xã hội từ William Seely, tổng chi huy Lực lượng đặc nhiệm Mỹ tại Iraq. Trong thư, ông viết: “Chúng tôi tôn trọng quyết định chủ quyền của các bạn khi yêu cầu chúng tôi ra đi”.

Phản ứng với diễn biến đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Esper tuyên bố ông không biết nội dung của bức thư. Cuối cùng, Tham mưu trưởng liên quân Milley không có lựa chọn nào khác ngoài việc thừa nhận rằng bức thư là có thất và được công bố do sơ suất.

Các nhà lãnh đạo của Iran hiện có thể sẽ nỗ lực hết sức để giúp Baghdad buộc Mỹ rút quân khỏi Iraq.

Tehran hiện đang trong tiến trình củng cố quyền lực ở Iraq. Đồng thời, các lực lượng khác cũng có lợi từ hoàn cảnh khó khăn của Mỹ – đặc biệt là IS, tổ chức này có thể sẵn sàng quay trở lại. Đại diện cấp cao của cơ quan an ninh Đức cho biết: “Bây giờ ở Trung Đông chúng ta đang trong một hoàn cảnh mà người Kurd đang chiến đấu chống lại Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ đang rút quân và Iran đang tìm cách trả thù. Đây là những điều kiện tuyệt vời cho IS”.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần IV


Thời điểm trả thù

Khi Donald Trump xuất hiện trước báo chí ở Washington vào ngày 8/1, mong muốn của ông thể hiện trạng thái bình thường là rõ ràng. Ông đã đăng tải dòng tweet “mọi chuyện tốt đẹp” chỉ ngay sau đó. Ông nói rằng Iran muốn hướng đến giảm leo thang, nói như thế không có gì quan trọng đã xảy ra, như thể quân đội của ông đã không giết một trong những đại diện quan trọng nhất và được yêu mến nhất của một quốc gia nước ngoài theo mệnh lệnh của ông, đẩy Trung Đông đến  bờ vực của một cuộc chiến tranh khác.

Trump vẫn tin rằng ông có thể thực hiện một “thỏa thuận” với Tehran, mặc dù trong lập trường này ông phần lớn là đơn dộc. Có nhiều khả năng hơn là cuộc đối đầu sẽ tiếp tục, ngay cả khi các cuộc tấn công tên lửa vào 2 cơ sở mà Mỹ sử dụng đánh dấu chấm dứt chính thức chiến dịch trả đũa, ít nhất là theo lãnh đạo Iran.

Nhà ngoại giao Mỹ Brett McGurk, người mà cho đến năm 2018 trên danh nghĩa vẫn là đặc phái viên của Tổng thống trong liên minh toàn cầu chống lại IS, nói: “Mọi việc chưa kết thúc”. Ông lập luận rằng Iran bây giờ sẽ khôi phục lại chiến lược chiến tranh bất đối xứng, trong đó Tehran sử dụng các lực lượng ủy nhiệm người Shiite để thực hiện các công việc bẩn thỉu của mình.

Hassan Nasrallah – người đứng đầu lực lượng dân quân Hezbollah của Liban, có quan hệ mật thiết với Iran – đã tuyên bố rằng ông sẽ đảm bảo tất cả quân đội Mỹ rút khỏi khu vực. Ông nói rằng các cuộc tấn công vào các căn cứ, tàu chiến và binh lính, bao gồm cả sử dụng những kẻ tấn công tự sát được ưu tiên, gián tiếp tiến một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt Israel.

Các chiến binh bóng tối của Iran được Qassim Soleimani hết sức hỗ trợ, là rất mạnh mẽ: Họ có khả năng tấn công binh lính Mỹ ở Afghanistan và Syria, trong khi phiến quân Houthi của Yemen cũng là đồng minh với Tehran có thể tăng cường các cuộc tấn công vào Saudi Arabia.

Những gì diễn ra trong tháng 9/2019 gợi ý về những việc chế độ Iran có khả năng thực hiện, khi dường như nước này đã thực hiện một cuộc tấn công tinh vi về mặt công nghệ sử dụng tên lửa hành trình và máy bay không người lái được trang bị vũ khí vào các cơ sở dầu của Saudi Arabia, tạm thời khiến sản lượng dầu nước này giảm một nửa. Iran chối bỏ trách nhiệm đối với vụ tấn công, nhưng Mỹ, Anh, Pháp và Đức đều kết luận rằng Tehran đã đứng sau vụ tấn công.

Giới cầm quyền Đức tin rằng mức độ đe dọa tăng lên. Theo dự đoán ban đầu của Cảnh sát hình sự Liên bang Đức: “Có lý do để lo sợ rằng kỷ nguyên của hoạt động đe dọa chính trị trong khu vực sẽ theo sau các cuộc tấn công trả đũa (bằng quân sự) của Iran cũng như các cuộc tấn công của 2 đồng minh quan trọng nhất của nước này (Hezbollah và Syria)”. Các mục tiêu rõ ràng nhất, theo lập luận, là các cơ sở ngoại giao và quân sự của Mỹ và Israel.

Iran cũng có nhiều binh sĩ trong lực lượng không gian mạng và một kho vũ khí mà sẽ có lợi trong một cuộc chiến tranh mạng. Quyết định của mỗi nước mở rộng nhanh chóng các khả năng này có thể được thúc đẩy bởi một cuộc tấn công duy nhất của phương Tây. Khoảng 10 năm trước, người Iran đã phát hiện ra nguyên nhân tại sao nhiều bộ phận của cơ sở làm giàu urani của họ ở Natanz gặp trục trặc: Một phần mềm độc hại có tên Stuxnet, được cho là do các cơ quan tình báo của Mỹ và Israel phát triển, đã phá hủy máy ly tâm của cơ sở và phá hoại chương trình hạt nhân.

Iran đã phản ứng bằng cách xây dựng quân đội mạng của riêng mình. Các tin tặc của Iran đã tấn công hệ thống kiểm soát của một con đập gần thành phố New York và cố gắng đánh sập các máy chủ của các ngân hàng lớn Mỹ và Sàn giao dịch chứng khoán New York bằng các cuộc tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS). Khi ông trùm sòng bạc người Mỹ Sharon Adelson đề nghị tấn công Iran bằng vũ khí hạt nhân, công ty tỷ đô của ông cũng đã nằm trong tầm ngắm của Iran. Cựu Giám đốc tình báo quốc gia James Clapper chỉ trích Iran và nói rằng điều đó có nghĩa là Mỹ “lần đầu tiên nhìn thấy các cuộc tấn công phá hoại trên mạng được thực hiện trên đất Mỹ bởi các thực thể quốc gia”.

Theo phân tích của trung tâm Nghiên cứu an ninh của ETH Zurich, Iran đã tiếp tục phát triển năng lực của mình kể từ đó và tích cực trên nhiều mảng của chiến tranh mạng, từ gián điệp mạng đến các chiến dịch đưa tin giả có chủ đích, đến các nỗ lực phá hoại các quy trình công nghiệp. Lữ đoàn Quds cũng có vũ khí mạng của riêng mình.

Các nhà phân tích ETH đã liệt kê một loạt các nhóm đang làm công việc liên lạc được trả tiền cho chế độ. Họ cho biết có hơn 50 nhóm chiến tranh mạng có tổ chức thuộc loại này hiện đã được xác định.

Gần đây, các tin tặc Iran đã đưa ra một dự báo trước về các hành vi trả thù trên mạng có thể xảy ra khi nước này chiếm quyền điều khiển trang mạng của Chương trình thư viện lưu giữ liên bang của Chính phủ Mỹ. Trang mạng này hiển thị một hình ảnh động trong đó một người đàn ông mặc quân phục Iran đã đấm vào mặt Trump, ở trên có lời cảnh báo rằng đây “chỉ là một phần nhỏ trong khả năng mạng của Iran”.

Quà tặng của Trump

Cậu bé khoảng 5 – 6 tuổi, đứng trong một nhóm người, cậu bé hét lên: “Tôi là Qassem!” Những người lớn xung quanh nó cổ vũ. Sau đó, cậu ta giơ nắm đấm nhỏ của mình lên không trung, khuôn mặt méo mó vì gắng sức và hét lên một, hai, ba lần nữa: “Tôi là Qassem!” Tôi là “Qassem Soleimani!”.

Một người phụ nữ, khuôn mặt ẩn sau chiếc áo trùm đen than khóc, nước mắt rưng rưng: “Người Mỹ sẽ phải trả giá!” Tôi có 2 đứa con trai. Tôi sẵn sàng hy sinh chúng để trả thù. Những người đàn ông hét lên: “Chúng tôi là Qassem Soleimani. Chúng ta đều là những người lính của ông ấy!” Và ông liên tục hét: “Chết đi nước Mỹ!”.

Những hình ảnh này đã xuất hiện trên truyền hình nhà nước Iran trong tuần này, trên tất cả các kênh cùng với một biểu ngữ màu đen chồng lên nhau. Hình ảnh những đám tang dài vô tận, những giọt nước mắt, những cơn giận dữ xuất hiện.

Những hình ảnh về cuộc đời Qassem Soleimani được xen kẽ trong tin tức: Soleimani đến thăm quân đội, bắt tay, vỗ lưng, cầu nguyên. Soleimani cúi đầu trước Lãnh tụ tối cao Iran Ali Khamenei. Và tất cả những điều này đã được nhấn mạnh bằng bài ca tụng hoa mỹ, những bài thơ tôn vinh người chết và bài hát của Trung Đông: “Ôi Qassem, Qassem của chúng tôi, chiến binh tử vì đạo yêu mến, ông sống và ông sẽ mãi sống”.

Việc giết chết chỉ huy của Lực lượng Quds đã trở thành một sự kiện quốc gia quan trọng đối với người Iran. Nhiều người lớn tuổi hơn thấy nó gợi nhớ đến lễ tang Ayatollah Ruhollah Khomeini vào năm 1989. Một người quan sát cho biết: “Nhưng cái này lớn hơn nhiều. Điều này chưa bao giờ diễn ra trong lịch sử nước Cộng hòa Hồi giáo”.

Bộ máy nhà nước Iran rất thành thạo khi tuyên truyền, và tổ chức các lễ kỷ niệm của cuộc cách mạng là những sự kiện lớn, được dàn dựng công phu. Và cỗ máy tuyên truyền đó bắt đầu hoạt động ngay sau cái chết của Soleimani. Các thành phố của Iran đã nhanh chóng được dán các tờ áp phích và biểu ngữ: Soleimani với Khameini, Soleimani trên bầu trời. Chỉ riêng trong chương trình truyền hình vào Chủ nhật, ngày đầu tiên của buổi tang lễ kéo dài ba ngày, một người quan sát ở Tehran đã đếm được 32 bài hát khác nhau mà được sáng tác và biểu diễn để tôn vinh vị tướng đã chết.

Nhưng sự thương tiếc và giận dữ của hàng trăm ngàn người ở các thành phố trên khắp đất nước còn hơn cả một sự kiện được chế độ tổ chức. Arash Mussavi, một doanh nhân ở Tehran, người từ chối cung cấp tên thật của mình, cho biết: “Có tuyên truyền, nhưng mọi người không đến vì điều đó”. Ông nói rằng Soleimani cực kỳ nổi tiếng, trong số những người bạn của ông có cả những người chỉ trích chế độ.

Cái chết của Qassem Soleimani, ít nhất trong một khoảnh khắc, đã thống nhất một đất nước bị chia rẽ và dễ bị kích động. Trump đã làm được điều mà giới lãnh đạo Iran không bao giờ làm được. Phe đối lập đã tham gia lễ tang và nhiều người Iran cảm thấy tức giận về tình hình kinh tế nghiệt ngã – sự tức giận mà chỉ vài tuần trước đã nhằm vào chế độ của chính họ hiện đã chuyển sang Mỹ.

Nhiều người Iran coi cái chết của tướng quân là một cuộc tấn công vào họ và đất nước của họ. Đám tang bao gồm không chỉ phụ nữ mặc áo chùm đen, mà cả phụ nũ đeo khăn che tóc và trang điểm nhiều. Tác giả Mahmoud Dowlatabadi, nguòi mặt khác không đặc biệt ủng hộ lãnh đạo Iran, đã gủi lời chia buồn công khai, tương tự như chính gia đối lập Mehdi Karroubi, người đã bị quản thúc tại gia trong gần 10 năm, kể từ các cuộc biểu tình của Phong trào Xanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần III


Khi Soleimani hạ cánh ở Baghdad, thủ lĩnh Kataib Hezbollah đang ở sân bay chờ ông ta. Một số người nghĩ ông ta là người đứng sau vụ tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad. Theo tờ Guardian, Soleimani và đoàn tùy tùng ban đầu được đưa đến khu vực VIP của sân bay trong một chiếc Toyota Avalon và một chiếc xe buýt nhỏ của Hyundai Starex. Sau đó, họ dự định đi thẳng tới trung tâm thành phố.

Đoàn xe thậm chí còn chưa rời khỏi sân bay khi tên lửa bắt đầu bắn xuống vào khoảng 1 giờ sáng giờ địa phương. Soleimani và những người bạn đồng hành, bao gồm cả con rể của ông và Muhandis, đã bị giết ngay lập tức. Xác của Soleimani chỉ có thể được xác định dựa vào chiếc nhẫn hồng ngọc mà ông ta đang đeo.

Trump và những người theo lập trường cứng rắn

Mỹ và Iran là kẻ thù trong nhiều thập kỷ. Trong Chiến tranh Lạnh, CIA đã dàn xếp cuộc lật đổ Thủ tướng Iran Mohammad Mossadegh và trao quyền lực tuyệt đối cho Shah. Kể từ năm 1979, khi những người Hồi giáo theo Ayatollah Khomeini lên nắm quyền, cuộc xung đột giữa Washington và Tehran đã ít nhiều được công khai.

Người tiền nhiệm của Trump, Barack Obama, đã đảm nhận công việc mà cho đến nay là nỗ lực nghiêm túc nhất để xoa dịu sự thù địch. Cùng với người châu Âu, ông đã đàm phán một hiệp ước với Tehran vốn hứa hẹn sẽ nới lỏng các biện pháp trừng phạt đối với họ để đổi lấy việc Iran ngừng chương trình hạt nhân của nước này. Nhưng thậm chí trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, Trump đã nói rõ rằng ông không phải là người hâm mộ thỏa thuận.

Khi Trump nhậm chức vào tháng 1/2017, ban đầu ông được bao quanh bởi những người ủng hộ thỏa thuận hạt nhân Iran. Cả Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đều hối thúc ông đừng rút khỏi thỏa thuận. Khi Mattis được hỏi trong phiên điều trần ngày 3/10/2017 của Thượng viện về việc liệu ông có tin rằng thỏa thuận hạt nhân là vì lợi ích tốt nhất cảu nước Mỹ hay không, ông trả lời: “Vâng, thượng nghị sĩ, tôi tin”.

Trump thấy mình phải đối mặt với một vấn đề nan giải: Ông ta muốn ép buộc ý chí của mình lên Iran, nhưng cảnh giác với cuộc xung đột quân sự. Và trong nhiều tháng, không có gì nhiều xảy ra. Brian Hook, người được bổ nhiệm làm đại diện đặc biệt của Mỹ tại Iran, đã làm cho người châu Âu có ấn tượng rằng Trump sẵn sàng đàm phán lại các phần của thỏa thuận thay vì từ bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên, mọi chuyện đã sớm trở nên rõ ràng rằng Hook không hành động theo mệnh lệnh từ Nhà Trắng.

Vào tháng 3/2018, Trump đã sa thải Tillerson cùng với Cố vấn an ninh quốc gia H.R. McMaster trong cùng tháng đó. Cả hai đều được thay thế bởi những người có lập trường cứng rắn ưa thích một quan điểm không khoan nhượng đối với Iran. Tillerson được thay thế bởi Mike Pompeo – người đã lên tiếng chống lại thỏa thuận hạt nhân với tư cách là nghị sĩ và sau đó, với tư cách là giám đốc CIA, đã thiết lập quan hệ chặt chẽ với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Pompeo là một người đàn ông vô cùng sùng đạo, với một số quan chức thấy ông giống một Giáo chủ của Cơ đốc giáo. Trong một cuộc phỏng vấn mạng lưới truyền hình Cơ đốc giáo vào tháng 3/2019, Ngoại trưởng Pompeo cho rằng có thể Thiên Chúa đã gửi Trump đến để bảo vệ Israrel.

Trong khi đó, cố vấn an ninh quốc gia mới của Trump, John Bolton là một người có lập trường cực kỳ cứng rắn và đã luôn thể hiện công khai niềm tin của mình rằng Mỹ nên lật đổ chế độ tại Tehran, bằng bạo lực nếu cần thiết. Khi đàm phán với Iran về việc thỏa thuận hạt nhân đã đi đến hồi kết vào mùa Xuân 2015, Bolton đăng một bài viết trên New York Times với tiêu đề: “Để ngăn chặn những quả bom của Iran, hãy ném bom Iran”.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để cứu vãn thỏa thuận trong chuyến thăm tới Washington vào tháng 4/2018. Ông nói với tổng thống Mỹ rằng các cuộc đàm phán với đại diện đặc biệt về Iran, Brian Hook đầy hứa hẹn. Theo New York Times, Trump phản ứng “Ai là Brian Hook”.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Pompeo có một bài phát biểu quan trọng về Iran theo lời mời của Heritage Foundation có lập trường cực kỳ bảo thủ, trong đó ông coi Tehran là một chế độ bất lương. Trong bài phát biểu của mình, ông đã đề cập đến một cái tên mà nhiều người trong số thính giả của ông có khả năng chưa bao giờ nghe đến trước đây: Ông nói rằng Qassem Soleimani đã sử dụng toàn bộ số tiền nhận được từ thỏa thuận hạt nhân vào mục đích xấu xa.

Ông Pompeo không chỉ yêu cầu chấm dứt chương trình hạt nhân Iran, mà ông còn nhấn mạnh rằng Iran phải từ bỏ những tham vọng quyền lực trong khu vực và chấm dứt hoạt động phổ biến tên lửa đạn đạo. Vào tháng 8, Trump đã áp đặt trở lại toàn bộ biện pháp trừng phạt đối với Iran mà đã bị loại bỏ như một phần của hiệp ước hạt nhân.

Vài tháng sau, tổng thống loan báo Bộ trưởng Quốc phòng Mattis từ chức. Ông là một người luôn kiên định tránh leo thang với Iran. Rõ ràng ông đã từ chối việc Nhà Trắng yêu cầu chuẩn bị cho các phương án tấn công Iran.

Hiện nay Trump được cố vấn bởi những người sẵn sàng lật đổ chế độ của Tehran bằng vũ lực. Vào đầu tháng 5, Bolton tuyên bố kế hoạch đưa tàu sân bay USS Abraham Lincoln đến vịnh Persia. Ngay sau đó, Chính phủ Mỹ đã áp đặt thêm các biện pháp trừng phạt đối với Tehran, vốn được mở rộng để gây ảnh hưởng đến hoạt động thương mại thép, đồng và nhôm. Thành quả kinh tế của Iran đã nhận một đòn đau đớn hơn nữa.

Cuộc đối đầu quân sự đầu tiên giữa Mỹ và Iran diễn ra vào tháng 6/2019, khi không quân Iran bắn hạ một máy bay không người lái giám sát của Mỹ trên eo biển Hormu. Dường như sự trả đũa là không thể tránh khỏi và cuối cùng Trump đã đưa ra một kế hoạch tấn công mà có thể khiến tới 150 người thiệt mạng. Trên Twitter, Trump viết rằng mặc dù vũ khí của quân đội Mỹ đã “khóa mục tiêu và lên nòng”, nhưng cái chết của 150 người sẽ là một phản ứng quá mức đối với việc bắn hạ một máy bay không người lái.

Điều này đánh dấu thất bại đầu tiên của những người có lập trường cứng rắn thân cận với Pompeo. Mặc dù Trump đã đẩy tất cả các nhóm ôn hòa ra khỏi chính phủ của mình, nhưng ông vẫn không muốn thúc đẩy thành một cuộc chiến tranh với Iran.

Tuy nhiên, những mâu thuẫn không thể tránh khỏi trong chính sách Iran của ông đã buộc ông phải hành động, khi Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad bị tấn công. Một mặt, trong chiến dịch tranh cử của mình, Donald Trump khẳng định rằng ông sẽ chấm dứt các cuộc chiến dài bất tận ở Trung Đông. Mặt khác, ông không muốn bị coi là một kẻ nhút nhát. Rốt cuộc, Trump đã nhiều lần chế nhạo Obama vì đã vạch ra một ranh giới đỏ trong cuộc nội chiến ở Syria nhưgn cuối cùng quyết định không can thiệp khi chế độ ở Damascus sử dụng vũ khí hóa học chống lại thường dân.

Sự việc Soleimani cho thấy rõ ràng việc đưa ra quyết định của Nhà Trắng đã trở nên thất thường như thế nào. Hội đồng an ninh quốc gia có nhiệm vụ thông báo cho tổng thống về các điểm rắc rối trên thế giới trong nhiều thập kỷ, nhưng không có tổng thống nào sa thải nhiều nhân viên trong một khoảng thời gian ngắn như vậy. Trong ba năm, Trump đã  sử dụng tới ba cố vấn an ninh quốc gia. Robert O’Brien đã nắm giữ vị trí này kể từ khi John Bolton rời đi vào tháng 9/2019, và điều quan trọng nhất là Robert O’Brien không mâu thuẫn với Donald Trump.

Douglas A. Silliman, Đại sứ Mỹ tại Iraq cho đến năm 2019, cho biết: “Tôi không tin rằng Tổng thống Trump nói chung được chỉ dẫn đầy đủ về những hậu quả nhiệm kỳ thứ hai và thứ ba” trong các quyết định của ông. “Và ông ấy luôn không chú ý đến chỉ dẫn chi tiết về những gì có thể xảy ra sau đó”.

Silliman nhớ những ngày mà Mỹ có một chiến lược về Iran. Ông nói: “Vấn đề mà chính quyền này gặp phải là họ không thể khẳng định rõ ràng những thay đổi chính sách mà họ đã tìm kiếm từ Iran”.

Liệu họ có muốn chấm dứt chương trình hạt nhân? Hay để Iran từ bỏ các mục tiêu bá quyền của mình? Hay liệu cuối cùng có lật đổ chế độ này hay không?        Bằng việc giết Soleimani, Trump hy vọng giải quyết vấn đề Iran một lần và mãi mãi, nhưng ông chỉ thành công trong việc làm cho vấn đề này trở nên lớn hơn. Cuộc xung đột với Tehran sẽ theo ông cho đến hết nhiệm kỳ tổng thống.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

COVID-19 và quan hệ Israel – Palestine – Phần cuối


Israel trì hoãn hay kịp thời chuyển giao khoản thu thuế cho Palestine xuất phát từ sự thu xếp đặc biệt về quan hệ kinh tế giữa Palestine và Israel trong “Nghị định thư kinh tế Paris” được hai bên ký kết vào năm 1994. Về vấn đề này, Israel luôn dựa vào nhu cầu chính trị của mình và thực tế quan hệ Palestine – Israel để hành xử theo ý mình. Từ việc chậm chuyển giao khoản thu thuế làm cho Bộ Y tế Palestine đối diện với khủng hoảng nhân đạo vào năm 2006, đến việc vui vẻ chuyển giao giúp Palestine tăng cường năng lực phòng chống dịch bệnh hiện nay, cho thấy Israel dựa vào sự không bình đẳng trong quan hệ kinh tế giữa hai bên để chủ động gia tăng sức ép đối với quan hệ song phương.

Trên thực tế, không đơn giản là vấn đề thuế thông thường, việc Israel thu thuế cho Palestine cũng là ví dụ cho mối quan hệ kinh tế bất thường giữa hai bên. Thuế là nguồn thu ngân sách chủ yếu của Chính quyền Palestine, tuy nhiên Israel lại thông qua kiểm soát hải quan thu hộ thuế của Palestine, đồng thời lấy việc chuyển giao khoản thu thuế làm con bài mặc cả nhằm gây sức ép với Palestine. Ngoài ra, do vị trí địa lý có hạn, cuộc đọ sức xoay quanh tài nguyên nước cũng là vấn đề không thể xem nhẹ trong quan hệ giữa hai bên.

Có thể thấy cho dù là thu hộ thuế trên lĩnh vực xã hội, hay là tài nguyên nước và vấn đề dịch bệnh trên lĩnh vực tự nhiên đều cung cấp góc nhìn mới cho việc xem xét mối quan hệ Palestine – Israel. Tuy nhiên, đằng sau những nhân tố ảnh hưởng trên lĩnh vực xã hội và tư nhiên này, thì nhân tố chính trị vẫn đóng vai trò chủ đạo, nghĩa là việc thu hộ và trả lại khoản thuế, tranh giành tài nguyên nước và phòng chống dịch COVID-19 đều thể hiện rõ xu hướng chính trị hóa.

Nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến quan hệ Palestine – Israel sau dịch bệnh

Mong muốn và nỗ lực hợp tác chống dịch giữa Palestine và Israel là điều tốt, tuy nhiên đây không phải là trạng thái bình thường trong quan hệ giữa hai bên trong những năm gần đây, tinh thần hợp tác được nêu bật trong sự dàn xếp tạm thời này chính là yếu tố cốt lõi thiếu hụt nhất trong tiến trình hòa bình Palestine – Israel. Dịch COVID-19 cuối cùng sẽ chấm dứt, nhưng quan hệ Palestine – Israel sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng nặng nề trên các phương diện nội bộ, khu vực và quốc tế.

Trước hết là biến số trong nội bộ Palestine và Israel. Tình trạng không thành lập được chính phủ do kịch bản “một năm ba cuộc bầu cử” vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng chính phủ lâm thời Netanyahu và đối thủ chính trị của ông – cựu Tổng tham mưu trưởng quân đội Benjamin Gantz vẫn đang trong tình thế so găng, chưa bên nào nắm được phần thắng. Trong cục diện “một năm ba cuộc bầu cử”” này, phong trào tự do dân tộc Likud do Netanyahu lãnh đạo và liên minh Xanh Trắng do Benjamin Grantz lãnh đạo luôn ở trạng thái đối đầu nhau. Thế lực ngang bằng và không thỏa hiệp dẫn đến việc hai lần sắp xếp nội các đều không mang lại kết quả, nên “thiểu số chủ chốt” trong các đảng phái chính trị ở Israel đã lần lượt giáng những đòn chí mạng vào Netanyahu và Benjamin Grantz trong các vòng bầu cử.

Ngày 2/3, Israe tổ chức cuộc bầu cửa Quốc hội khóa 23 dưới sự đe dọa của dịch bệnh COVID-19. Kết quả của cuộc bầu cử cơ bản không thay đổi so với hai vòng trước đó, Netanyahu rất lo lắng về điều này. Tổng thống Israel Reuven Rivlin ủy quyền cho Benjamin Grantz thành lập nội các, Benjamin Grantz có trách nhiệm phải lên kế hoạch cho sự ra đời của chính phủ mới trong vòng 6 tuần sau đó.

Ngày 26/3, Benjamin Grantz trúng cử Chủ tịch Quốc hội khóa 1 của chính phủ Israel mới. Ngày 29/3, Netanyahu và Grantz nhấn mạnh trong một bản tuyên bố chung rằng hai ông sẽ tổ chức đối thoại về việc thành lập chính phủ liên minh khẩn cấp, cố gắng đạt được tiến triển rõ ràng nhằm ứng phó với dịch COVID-19 và những thách thức khác mà Israel đối diện. Trước đó, ngày 21/2, Bộ Y tế Israel chính thức xác nhận Israel đã có ca nhiễm virus SARS-CoV-2 đầu tiên, ca bệnh này là công dân Israel, là trường hợp nhiễm bệnh trên tàu Diamond Princess.

Vấn đề cần phải đề cập là ngày 15/3 Tòa án quận Jerusalem tuyên bố do dịch bệnh nên vụ án tham nhũng liên quan đến Netanyahu vốn được dự kiến xét xử vào ngày 17/3 sẽ hoãn đến ngày 24/5. Cuộc hội đàm giữa Netanyahu và Benjamin Grantz vốn được dự kiến tổ chức vào ngày 29/3 cũng bị hủy bỏ do trợ lý của Netanyahu là Rivka Paluch bị nhiễm SARS-CoV-2, một ngày sau Văn phòng Thủ tướng Isarel thông báo Netanyahu đã chấp nhận xét nghiệm virus và tự mình cách ly.

Về phía Palestine, lực ly tâm của dải Gaza do Hamas chiếm đóng so với Chính quyền Palestine ngày càng rõ ràng. Do sự ngăn cách về địa lý, trên thực tế Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza là hai thực thể phòng chống dịch tương đối độc lập với nhau. Ngày 22/3, dải Gaza lần đầu tiên xác nhận hai cư dân Gaza nhiễm bệnh, đều là các ca bệnh bên ngoài “nhập cảnh”. Do ở tương đối xa Bộ Y tế Palestine, nên trực tiếp hợp tác với Israel trở thành lựa chọn ưu tiên của dải Gaza. Trên thực tế, hợp tác phòng chống dịch bệnh giữa Palestine và Israel là hợp tác giữa Israel và Bờ Tây sông Jordan và hợp tác giữa Israel-Gaza. Sau khi dịch bệnh qua đi, biến số trong nội bộ Palestine-Israel chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ song phương.

Thứ hai, khuynh hướng chống Iran và “xáo bài” lại giữa các nước Trung Đông đến từ cái gọi là “mối đe dọa Iran” ngày càng rõ, một số nước lớn trong thế giới Arab vẫn không thay đổi thái độ thực dụng đối với Palestine. Saudi Arabia đổ lỗi do Iran không hành động nên mới dẫn đến những ca bệnh trong nước, cáo buộc người Hồi giáo dòng Shiite ở Saudi Arabia đến Iran từ nước thứ ba, tuy nhiên trên hộ chiếu của họ lại không có dấu xác nhận của Iran. Saudi Arabia cho rằng Iran phải chịu trách nhiệm về việc để dịch bệnh lây lan sang Saudi Arabia, đồng thời chỉ trích động thái này của Iran đã tạo thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với y tế cộng đồng quốc tế. Trên thực tế, người Hồi giáo dòng Shiite ở Saudi Arabia đã che giấu hành trình từ nước thứ 3 đến Iran chính là phản ứng dây chuyền khởi phát từ việc Saudi Arabia cắt và Iran đứt quan hệ ngoại giao trong sự kiện khủng hoảng ngoại giao Qatar. Điều này cũng phản ánh những tranh chấp địa chính trị Vùng Vịnh, tranh chấp giáo phái và tranh chấp phe phái ở Trung Đông cơ bản vẫn chưa được xoa dịu trong bối cảnh dịch bệnh, thậm chí ở mức độ nào đó dịch bệnh còn trở thành công cụ đấu tranh mới. Dưới những hành động theo quán tính này, vấn đề Palestine dường như ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.

Sau cùng, sức nóng của cuộc đua tranh cử tổng thống Mỹ cũng rất đáng quan tâm. Chính quyền Donald Trump thiên vị Israel là chính sách nhất quán, trong đó biểu hiện cụ thể nhất là nỗ lực kéo dài nội các của Netanyahu. Mỗi khi Netanyahu đối diện với sức ép bầu cử hoặc bị chỉ trích tham nhũng, Donald Trump liền gửi đến một số món quà để giải vây, chẳng hạn như công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, dời sứ quán đến Jerusalem, công nhận cao nguyên Golan là lãnh thổ của Israe, tiếp tục không xem khu định cư người Do Thái ở Bờ Tây sông Jordan vi phạm pháp luật quốc tế…, cho đến việc chính thức công bố Thỏa thuận thế kỷ vào ngày 28/1/2020, trong đó vẫn có mục đích chuẩn bị “bến đỗ” cho Netanyahu trong cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 3.

Kết quả thăm dò ý kiến ở Mỹ cho thấy tỷ lệ ủng hộ Donald Trump tăng chứ không giảm trong bối cảnh dịch bệnh, điều này không phải là tin tốt đối với Palestine, xu hướng ch1inh trị Palestine-Israel vẫn gắn chặt với con đường tái cử của Donald Trump.

Nguồn: Tạp chí Hoàn Cầu (TQ) – số 8/2020

TLTKĐB – 07/05/2020

COVID-19 và quan hệ Israel – Palestine – Phần đầu


Dịch COVID-19 đã ấn nút “STOP” đối với xung đột trên quy mô lớn giữa Israel và Palestine, nhưng dưới sự tích hợp của các nhân tố bên trong và bên ngoài, quan hệ giữa hai bên sẽ tiếp thể hiện rõ trạng thái phức tạp là xung đột và thỏa hiệp đan xen lẫn nhau.

Nếu không phải là sự kích hoạt của COVID-19 thì sẽ rất khó xuất hiện tình huống hai kẻ thù “đối đầu sống chết” Israel và Palestine lại bắt tay nhau một cách kịch tính như thế này. Dải Gaza trước đây luôn mịt mù đạn  pháo thì nay lại duy trì trạng thái tĩnh lặng hiếm thấy, các cơ quan chức năng của Israel và Palestine thông báo cho nhau tình hình dịch bệnh hàng ngày, thậm chí Israel còn cung cấp bộ xét nghiệm virus SARS-CoV-2 và huấn luyện nhân viên y tế cho Palestine.

Theo tờ Haaretz của Israel, hợp tác phòng chống dịch bệnh giữa Israel và Palestine lần này được xem là lần hợp tác chặt chẽ nhất giữa hai bên trong lịch sử. Mazan Shameya, nhà phân tích về tình hình dải Gaza cho rằng có lẽ giữa Israel và Hames đã hình thành mối quan hệ theo hình thức nào đó trong vấn đề này. Tuy nhiên, ngay từ đầu các quan chức hai bên đều tuyên bố rằng hợp tác phòng chống dịch bệnh không liên quan đến chính trị.

Liệu hợp tác phòng chống dịch bệnh giữa Israel và Palestine có liên quan đến chính trị hay không, mỗi người có một cách nhìn khác nhau. Tuy nhiên, nhận thức chung là virus không có quốc tịch, dịch bệnh không có biên giới. Xét theo ý nghĩa này, hợp tác phòng chống dịch bệnh giữa Israel và Palestine thực sự là vấn đề chính trị lớn nhất hiện nay. Một mặt, Israel và Palestine chung tay trong vấn đề phòng chống dịch bệnh, điều đó cho thấy hai bên thấm nhuần triết lý đơn giản “không có bông tuyết vô tội khi tuyết lở”; mặt khác, hai bên cố gắgn che đậy bản chất chính trị đằng sau việc hợp tác phòng chống dịch bệnh, điều này đã phản ánh hai bên vừa không thể nhắm mắt làm ngơ đối với thực tế tồi tệ của mối quan hệ song phương, vừa phải giao thiệp với các lực lượng chính trị trong nội bộ và các bên có liên quan đến lợi ích quốc tế.

Xung đột giữa Israel và Palestine ấn nút “STOP”

Ngày 17/3, Tổng thống Israel Reuven Rivlin và Tổng thống Palestine Mahmoud Abbas đã điện đàm với nhau, hai bên đi sâu trao đổi về sự lây lan và ảnh hưởng của dịch COVID-19. Trên cơ sở đồng thuận hợp tác phòng chống dịch bệnh mà hai bên đạt được, Israel nhanh chóng cung cấp viện trợ y tế cho Palestine, phân lô chuyển giao các bộ xét nghiệm nhanh virus và các loại vật tư bảo hộ y tế quan trọng khác, đồng thời cử chuyên gia thực hiện 4 đợt huấn luyện cho hơn 100 nhân viên y tế của Palestine. Herhenan Barn, Giám đốc Trung tâm cứu trợ thiên tai và nhân đạo Israel phụ trách đợt huấn luyện này đã thể hiện niềm vui trong việc chia sẻ kinh nghiệm và thông tin phòng chống dịch bệnh với Palestine.

Ngày 19/3, Bộ Tài chính Israel ký sắc lệnh cho phép chuyển giao khoản thuế 33 triệu USD cho Chính phủ Palestine để duy trì sự vận hành của hệ thống y tế. Ngày 31/3, Israel và Phong trào Kháng chiến Hồi giáo Palestine (Hamas) – lực lượng kiểm soát thực tế dải Gaza khởi động hợp tác phòng chống dịch bệnh, vận chuyển một lượng lớn vật tư y tế do Tổ chứ Y tế thế giới (WHO) quyên góp đến Gaza.

Những năm 1990, sau khi ký Hiệp định Oslo thúc đẩy tiến trình hòa bình Israel – Palestine, hai bên đã thiết lập mối quan hệ song phương phi đối xứng. Cùng với việc đẩy mạnh “đổi đất lấy hòa bình” ở Bờ Tây sông Jordan và dải Gaza, cũng như thành lập chính phủ tự trị Palestine, mối quan hệ phi đối xứng này đã trở thành “con dao hai lưỡi”: ở mức độ nhất định, Palestine hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế của Israel, đồng thời cũng bị Isreal kiềm chế về kinh tế.

Israel vừa duy trì cảnh giác đối với Palestine, vừa có nhu cầu lớn đối với lực lượng lao động giá rẻ của Palestine. Vì lý do đó, Israel hiểu rõ đạo lý “môi hở răng lạnh” về phương diện phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, có người cho rằng việc Israel giúp Palestine chống dịch chính là chuyển tiền tuyến phòng chống dịch bệnh của mình vào lãnh thổ Palestine.

Thực lực kinh tế quá chênh lệch giữa Israel và Palestine cũng ảnh hưởng đến trình độ y tế, từ lâu trình độ y tế của Palestine luôn được WHO rất quan tâm. Cùng với dịch bệnh ngày càng có diễn biến nghiêm trọng, Israel và Palestine đều khẩn trương áp dụng các biện pháp phòng ngừa “ngăn sông cấm chợ”, việc chủ động cách ly lẫn nhau khiến cho bức tường ngăn cách do Israel xây dựng vô tình trở thành một phòng tuyến ngăn chặn sự lây lan của virus.

Sau khi Israel chuyển giao công nghệ và thiết bị y tế, thực lực phòng chống dịch của Palestine được tăng cường, điều này vừa có lợi cho việc giảm bớt sức ép phòng chống dịch của Israel, vừa có thể tạo ra môi trường an ninh y tế tích cực cho sự hợp tác kinh tế bền vững giữa hai bên từ đây về sau. Mặc dù giữa Israel và Palestine vẫn thường xuyên xảy ra xung đột, song có thể dự đoán được rằng trước khi tình hình phòng chống dịch bệnh của thế giới cũng như Israel và Palestine có sự chuyển biến tốt hơn một cách căn bản, hợp tác cơ bản vẫn là trạng thái bình thường giữa hai bên.

Góc nhìn mới về quan hệ Israel – Palestine

Ngay cả sau khi dịch bệnh lần này kết thúc, “liên minh tạm thời” về sức khỏe y tế được hình thành từ việc phòng chống dịch bệnh cũng sẽ không hoàn toàn bị xóa bỏ, trên thực tế điều này cũng đã cung cấp góc nhìn mới cho cộng đồng quốc tế, thậm chí là Israel và Palestine trong việc xem xét lại quan hệ chính trị song phương.

Từ trước đến nay, nhận thức của cộng đồng quốc tế về mối quan hệ Israel – Palestine thường dừng lại ở phương diện chính trị và quân sự…, hoặc do bầu không khí đa tôn giáo sâu đậm ở khu vực Palestine – Israel mà người ta chỉ tập trung vào phương diện “tôn giáo và chính trị” vốn có, xem nhẹ ảnh hưởng của các khía cạnh khác. Trên thực tế, ảnh hưởng của vấn đề quản lý y tế đối với khu vực Palestine – Israel không phải là câu chuyện mới mẻ.

WHO đã phát huy vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống quản lý y tế cộng đồng toàn cầu, vị trí của Palestine và Israel trong WHO cũng chịu ảnh hưởng của mối quan hệ giữa hai bên. Với tư cách là một quốc gia có chủ quyền, mặc dù được sự thừa nhận của nhiều nước, nhưng Israel lại vấp phải sự ngăn cản của các nước thuộc thế giới Arab và Hồi giáo, do đó dù trở thành thành viên của WHO, song Israel chỉ có thể trực thuộc sự quản lý của văn phòng khu vực châu Âu của WHO có trụ sở tại Copenhagen, mà không thuộc sự quản lý của văn phòng khu vực Đông Địa Trung Hải có trụ sở ở Cairo, sự sai lệch so với vị trí địa lý thực tế này  cho thấy tình cảnh chính trị khó khăn của Israel ở khu vực Trung Đông.

Mặc dù Palestine không phải là thành viên của WHO, song trình độ y tế của khu vực này lại được WHO rất quan tâm. Tháng 6/2006, WHO cảnh báo ngành y tế Palestine đang đối diện với khủng hoảng tài chính nghiêm trọng, đặc biệt lưu ý đến một trong những nguyên nhân bao gồm “trì hoãn chuyển giao khoản thu thuế” và “thực hiện các hạn chế kinh tế vào tháng 3 năm nay”, trên thực tế là chĩa mũi nhọn vào Israel, Mỹ và Liên minh châu Âu – những nước phản đối bầu Hamas lên nắm quyền vào đầu năm 2006.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Hoàn Cầu (TQ) – số 8/2020

TLTKĐB – 07/05/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần II


Di sản của Qassem Soleimani

Sự nghiệp của Qassem Soleimani bắt đầu gây dựng trong giai đoạn Saddam Hussein xâm lược Iran và thực hiện các cuộc tàn sát khủng khiếp vào năm 1980. Cuộc chiến kết thúc với một lệnh ngừng bắn 8 năm sau đó, sau khi hàng trăm nghìn người thiệt mạng.

Vào đầu những năm tuổi hai mươi, chiến tranh đã giúp sự nghiệp của Qassem Soleimani cất cánh. Ông trở thành sĩ quan chỉ huy của một đơn vị Vệ binh cách mạng ở tỉnh Kerman, quê hương ông. Ông được quý trọng bởi lòng dũng cảm và khả năng vận dụng chiến thuật của mình, sau đó ông đã phụ trách toàn bộ một sư đoàn. Tuy nhiên, ông đã chứng kiến một số lượng rất lớn binh lính của mình chết trên tiền tuyến, cùng với việc các lãnh đạo quân sự liên tục yêu cầu quân của họ xông qua bãi mìn khi đối mặt với hỏa lực của Iraq.

Bài học mà Qassem Soleimani rút ra từ cuộc bạo lực là rõ ràng Không bao giờ lại để quá nhiều người phải hy sinh vì lợi ích quá ít ỏi. Iran sẽ tiếp tục tiến hành chiến tranh – rút cuộc, cả Saudi Arabia và Mỹ đều ủng hộ cuộc xâm lược của Saddam Hussein. Nhưng việc sử dụng các lực lượng thông thường dẫn đến những tổn thất khủng khiếp khiến vị chỉ huy trẻ của Iran thề sẽ tránh cuộc chiến tranh không hạn chế như vậy trong tương lai.

Lực lượng Vệ binh cách mạng (được biết đến ở Iran là Pasdaran) – mà Lực ượng Quds cũng nằm trong đó – được thành lập vào năm 1979 bởi Lãnh tụ cách mạng Hồi giáo Ruhollah Khomeini. Ban đầu, lực lượng này được cho là hỗ trợ các cuộc cách mạng ở các quốc gia khác, một mục tiêu đã tạo ra cho Hezbollah ở Liban trong những năm 1980.

Tuy nhiên, khi Qassem Soleimani nắm quyền chỉ huy Lực lượng Quds vào năm 1998, ông quyết định biến lực lượng này thành công cụ hoàn hảo làm các nước khác phải nằm dưới quyền kiểm soát của ông. Qassem Soleimani đã tạo ra một bộ máy khủng bố mà sẽ tiếp tục hoạt động ngay cả này, khi Soleimani đã chết.

Bất cứ nơi nào có người Shiite sinh sống, thì một mạng lưới các trường học, tổ chức viện trở và hoạt động truyền giáo đều mọc lên để lấy lòng dân chúng và chiêu mộ các chiến binh và phát triển các lực lượng dân quân. Niềm tin và tiền bạc đã được sử dụng để củng cố lòng trung thành. Khi làm như vậy, Qassem Soleimani tận dụng sự thù địch từ lâu giữa người Sunni và người Shiite, khơi dậy lòng hận thù như một công cụ để đạt được các mục tiêu của mình. Nhưng tính thực dụng cũng khiến ông phải hợp tác với các nhóm Sunni khi cần thiết.

Ryan Crocker, Đại sứ Mỹ tại Iraq (2007 – 2009) nói: “Bản thân Qassem Soleimani không phải là một người đặc biệt sùng đạo”. Ryan Crocker đôi khi có sự trao đổi qua lại với chỉ huy Lực lượng Quds thông qua các sứ giả và ông nói rằng tôn giáo không phải là một động lực chính trị đối với Qassem Soleimani và ông ta chỉ thỉnh thoảng đến thăm nhà thờ Hồi giáo. Ryan Crocker cho biết động lực chính của ông ta bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc, và tình yêu chiến đấu.

Giống như Pasdaran, nơi phát triển đế chế kinh tế của riêng mình ở Iran, lực lượng ủy nhiệm của Qassem Soleimani ở Iraq bắt đầu vào năm 2010, nếu không nói là sớm hơn, chuyển một phần số tiền hàng tỷ USD thu được từ xuất khẩu dầu mỏ của Iraq vào kho bạc của Lực lượng Quds. Chậm nhưng chắc – đôi khi dưới các vỏ bọc và đôi khi công khai hơn – sức mạnh của những bên ủy nhiệm cho Soleimani đã tăng lên kể từ đầu thiên niên kỷ.

Tại Liban, Hezbollah đã trở thành một nhà nước trong một nhà nước. Không có chính phủ nào ở Liban có thể làm được gì nhiều về điều đó, bất chấp áp lực đáng kể từ Mỹ và Saudi Arabia. Khi Chính phủ Liban đã cố giành lại quyền kiểm soát sân bay Beirut và mạng điện thoại di động của đất nước từ Hezbollah vào tháng 5/2008, các lực lượng dân quân đã làm tê liệt Beirut trong vài ngày.

Ở phía Tây Afghanistan, Iran bắt đầu xâm nhập vào các thể chế chính phủ vào năm 2010, nếu không nói là trước đó. Họ cũng bắt đầu sử dụng các lực lượng dân quân của riêng họ để tấn công các căn cứ quân sự và các dự án cơ sở hạ tầng của Mỹ, như công trường xây dựng một con đập mà có thể làm tổn hại nguồn cung cấp nước của Iran.

Ở Iraq, nước láng giềng quan trọng nhất của Iran với đa số người Shiite ở đó cùng nguồn dầu mỏ dồi dào, lực lượng dân quân Shiite hình thành sau cuộc xâm lược của Mỹ vào năm 2003. Những đơn vị đó đã dành nhiều năm để tiến hành một cuộc chiến tranh trong bóng tối chống lại quân đội Mỹ, cuối cùng đã khiến khoảng 600 binh lính Mỹ thiệt mạng.

Nhưng chính sự can dự của Iran vào Syria bắt đầu từ năm 2012 đã chứng tỏ được sức mạnh của Qassem Soleimani. Vào thời điểm đó, chế độ độc tài của Bashar al-Assad đang phải đối mặt với sự sụp đổ và chỉ có thể dựa vào nhóm thiểu số Alawite của mình, chiếm khoảng 10% dân số.

Để cứu đồng minh lâu năm của Iran, chỉ huy Lực lượng Quds đã đưa Hezbollah vào Syria, sau đó là hàng chục nghìn chiến binh từ Iraq, Afghanistan và Pakistan. Vũ khí, đạn dược và các bộ phận thay thế đã được gửi tới Syria qua Iraq để giúp đỡ Assad cho đến khi không quân Nga tham gia cuộc chiến vào mùa Thu năm 2015, một bước đi mà đã chuyển cơn thủy triều thành có lợi cho nhà độc tài Syria.

Vào lúc đó, quân đội hoạt động ngầm của Soleimani đã phát triển thành một lực lượng chiến đấu đa quốc gia, có thể huy động một số lượng lớn binh lính trong một khoảng thời gian cực kỳ ngắn. Và việc sử dụng lính đánh thuê nước ngoài đã mang lại cho các chiến lược gia Iran một lợi thế quyết định: Nó đã cho phép Tehran lảng tránh trách nhiệm. Ngoài các mật vụ Pasdaran chuyên nghiệp, không người Iran nào được phép chiến đấu bên cạnh các lực lượng dân quân nước ngoài. Mô hình này đã được chứng minh là cực kỳ có lợi khi cho phép giới lãnh đạo Iran tránh các cuộc tranh luận nội bộ kéo dài về sự can thiệp nước ngoài và không phải giải quyết cơn phẫn nộ của các thành viên gia đình những người thiệt mạng trong trận chiến.

Bản thân Qassem Soleimani từ lâu đã rất cẩn thận để tránh gây bất kỳ sự chú ý nào khi đi khắp Trung Đông. Qassem Soleimani như một bóng ma: Mọi người đều biết ông ta quan trọng như thế nào, nhưng hầu như chưa có ai thực sự nhìn thấy ông ta.

Soleimani chỉ thôi lo sợ về sự an toàn của mình trong những năm gần đây. Những hình ảnh về Qassem Soleimani bắt đầu xuất hiện, cho thấy ông ta hiện diện ở mặt trận Syria, ở ngoại ô Beirut hay tại trụ sở chính phủ ở Baghdad. Hình ảnh một kẻ chủ mưu quân sự trong bóng tối dần dần biến thành hình ảnh gần giống với một ngôi sao nhạc pop. Thậm chí, nhiều người phản đối chế độ còn coi ông là người bảo vệ Iran khỏi những nguy hiểm từ IS, vốn đã nhanh chóng mở rộng ảnh hưởng trên khắp Iraq và Syria.

Nhưng cho dù chiến lược của Soleimani hiệu quả, thì chủ nghĩa đế quốc Iran gần đây đã đi đến giới hạn của nó. Tại Yemen, một tình thế bế tắc đã phát triển giữa phiến quân Houthi do Iran hậu thuẫn và các lực lượng được Saudi Arabia hỗ trợ gia tăng. Tại Liban, nền kinh tế nước này đã sụp đổ. Tại Iraq, hàng nghìn người gần đây đã xuống đường trong nhiều tuần lễ để phản đối tình trạng tham nhũng của chính phủ nước họ và chống lại quyền bá chủ của Iran ở nước này.

Vào tháng 10/2019, Qassem Soleimani đã gặp các đồng minh Shiite bên bờ sông Tigris ở Baghdad để thảo luận về việc làm thế nào để dập tắt các cuộc nổi dậy của dân chúng. Các quan chức Iraq nói với Reuters rằng Qassem Soleimani đã chọn một tiến trình hành động cực đoan và cực kỳ rủi ro: Ông chỉ thị cho thủ lĩnh Kataib Hezbollah, Abu Mahdi al-Muhandis và các nhà lãnh đạo dân quân khác kích động Mỹ can thiệp quân sự vào Iraq bằng cách tấn công các cơ sở của Mỹ ở nước này. Hy vọng làm như vậy sẽ chuyển hướng cơn tức giận của ngườid ân Iraq sang phía người Mỹ.

Nếu câu chuyện được các quan chức Iraq kể lại là đúng, thì Soleimani đã chính xác ra lệnh thực hiện một loạt các cuộc tấn công vào ngày đó tháng 10, mà sẽ khiến ông chết dưới tay Mỹ 3 tháng sau đó.

Có những tranh luận về lý do tại sao Qassem Soleimani bay trở lại Baghdad vào đêm ngày 2 – 3/1/2020. Chính phủ Mỹ tuyên bố Qassem Soleimani đang trong quá trình lên kế hoạch tấn công bổ sung nhắm vào công dân Mỹ. Ngược lại, Thủ tướng lâm thời Iraq Adel Abdul-Mahdi nói rằng vị tướng này đã muốn thảo luận về một đề xuất hòa bình từ Saudi Arabia với ông.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần I


Với việc giết chết tướng hàng đầu của Iran Qassem Soleimani, Mỹ đã khiến một khu vực vốn đã bất ổn càng trở nên khó lường hơn. Cả hai bên đều khẳng định họ không muốn chiến tranh. Nhưng cuộc xung đột có thể sẽ tiếp tục bị bóng đen bao phủ.

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã quyết tâm trả thù. Nhưng vào ngày 28/12/2019, ông vẫn không chắc sẽ làm như thế nào. Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper và Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Mark Milley đã đi từ Washington, D.C. đến Florida, nơi Trump đang trong thời kỳ nghỉ ở khu dinh thực sang trọng Mar-a-Lago của mình. Bên ngoài, khách du lịch đi dạo dọc bãi biển. Bên trong, giới lãnh đạo Mỹ thảo luận về cách tốt nhất để trừng phạt Iran hiệu quả.

Ngày hôm trước đó, các đồng minh của Tehran đã thực hiện một cuộc tấn công bằng rocket vào một căn cứ quân sự ở miền Bắc Iraq, khiến một người Mỹ thiệt mạng. Mỹ chắc chắn rằng Tehran đã ra lệnh cho Kataib Hezbollah, một trong những nhóm dân quân Shiite mà Iran hợp tác cùng, thực hiện vụ tấn công.

Các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ đã chuẩn bị một cuộc tấn công trả đũa và đưa ra cho Trump một số lựa chọn, hầu hết trong số đó là các mục tiêu quân sự thông thường, chẳng hạn theo một ý kiến trên tờ New York Times, đó là các tàu, các cơ sở tên lửa hoặc các vị trí của Kataib Hezbollah. Nhưng như những gì họ thường làm, các quan chức Lầu Năm Góc cũng tính đến một lựa chọn cực đoan hơn: đó là giết Tướng Qassem Soleimani, người đàn ông lực thứ hai ở Iran và chiến lược gia quân sự chính của nước này.

Qassem Soleimani từ lâu đã được coi là không thể đụng tới do ông giữ vị trí cấp cao ở Tehran. Là chỉ huy của Lực lượng Quds, Qassem Soleimani chịu trách nhiệm  phần lớn các hoạt động của Iran ở Trung Đông.  Những người tiền nhiệm của Donald Trump ở Nhà Trắng, George W. Bush và Barack Obama, đều từ chối ý tưởng giết Qassem Soleimani do nguy cơ thực sự cao xảy ra cuộc chiến không thể kiểm soát với Iran.

Ban đầu Donald Trump cũng cảnh giác khi thực hiện một động thái như vậy, thay vào đó, ông ủy quyền cho Lực lượng không quân đánh bom các vị trí của Kataib Hezbollah vào ngày 29/12/2019. Nhưng điều đó hầu như không làm gì được để dập tắt cuộc khủng hoảng đang phát triển nhanh. Ngược lại, những người Hồi giáo đã tấn công Đại sứ quán Mỹ ở Baghdad 2 ngày sau đó, một lần nữa có thể theo mệnh lệnh của các lãnh đạo Iran.

Trump đã rất tức giận khi theo dõi các sự kiện trên truyền hình. Những hình ảnh gợi nhớ đến vụ tấn công năm 2012 và Lãnh sự Mỹ tại Benghazi (Libya), khiến đại sứ Mỹ thiệt mạng. Trở lại khi đó, đảng Cộng hòa đã cố gắng quy trách nhiệm về vụ tấn công cho nguyên Ngoại trưởng Hillary Clinton.

Vào ngày 2/1/2020, Trump sau đó đã đưa ra một quyết định khiến ngay cả những cố vấn thân cận nhất của ông cũng phải kinh ngạc: Ông đã ra lệnh giết Qassem Soleimani. Đó là một lựa chọn cực đoan nhất trong số các lựa chọn có thể đối với tổng thống và một lựa chọn mà cho đến lúc đó chỉ được thảo luận về mặt lý thuyết ở Lầu Năm Góc.

Đó là một quyết định trọng yếu, bước đi chính sách đối ngoại quan trọng nhất trong nhiệm kỳ của ông cho đến nay, và một quyết định có những tác động sâu sắc và khó lường đối với Trung Đông và cả những khu vực khác nữa. Và theo truyền thông Mỹ, Donald Trump đã làm như vậy mà không hỏi ý kiến các chuyên gia về Iran – một quyết định bốc đồng. Chỉ vài giờ sau, Qassem Soleimani đã bị giết bởi một máy bay không người lái của Mỹ.

Các đồng minh và kẻ thù của Mỹ cũng bị bất ngờ trước bước đi này. Nhiều chuyên gia nhận thấy việc giết một vị tướng của một nước mà Mỹ không chính thức giao tranh cũng là một sự vi phạm tiềm tàng luật pháp quốc tế. Tại Iran, Iraq và Liban, những người biểu tình theo dòng Shiite tuyên bố sẽ trả thù, trong khi ở Iran, các lãnh đạo tuyên bố để tang ba ngày, trong lúc đó hàng triệu người Iran đã xuống đường để tưởng nhớ Qassem Soleimani.

Việc giết chết Soleimani đánh dấu sự khởi đầu của một thời kỳ mới và nguy hiểm ở Trung Đông, trong đó các quy tắc chiến tranh truyền thống đang thực hiện không còn được áp dụng, với logic ăn miếng trả miếng một lần nữa được đẩy lên trước. Có phải chúng ta đang đứng trước cuộc chiến tranh công khai giữa Iran và Mỹ? Một cách ngấm ngầm, cuộc xung đột đã bắt đầu từ lâu. Thay vì được tiến hành bởi các lực lượng quân sự thông thường, đó là một kiểu chiến tranh ủy nhiệm được dẫn dắt bởi các bên tham gia khác nhau thay đổi trong nhiều giai đoạn.

Vào hôm 8/1, Iran đã thực hiện hành động trả đũa chính thức bằng việc bắn hơn 20 quả rocket vào 2 căn cứ quân sự ở Iraq. Đó là một cuộc tấn công hạn chế và không có thương vong, dường như Iran đã chọn cách này để tránh sự leo thang kịch tính của cuộc xung đột. Tuy nhiên, cuộc xung đột đã bước sang một giai đoạn mới.

Tình hình nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát bởi vụ tai nạn máy bay Boeing 737 của Ukraine ngay sau khi cất cánh ở Iran vào ngày 8/1/2020. Các quan chức tình báo hàng đầu phương Tây tin rằng máy bay này đã vô tình bị bắn hạ bởi một tên lửa đất đối không của Iran. Tổng cộng có 176 người thiệt mạng trong vụ tai nạn, 63 người trong số họ là công dân Canada.

Nếu Iran chọn leo thang cuộc chiến trong bóng tối với Mỹ, thì họ có thể sẽ phải dựa vào mạng lưới rộng lớn của các nhóm dân quân mà Soleimani đã phát triển ở khu vực Trung Đông. Đặc biệt, Hezbollah ở Liban đã thể hiện năng lực thực hiện các cuộc tấn công khủng bố ở ngoài khu vực.

Nhưng ngoài các mối đe dọa tấn công quân sự, Donald Trump có rất ít lựa chọn để chống lại hành động gây hấn của Iran. Các biện pháp trừng phạt của ông đối với Tehran, một phần chiến lược “Áp lực tối đa” của Nhà Trắng, đã không thể khiến nước này chịu khuất phục. Quả thực, cựu cố vấn Chính phủ Mỹ Vali Nasr lập luận rằng việc giết tướng Soleimani về bản chất cho thấy rằng Trump đã thừa nhận việc gây áp lực kinh tế lên Iran không hiệu quả. Vali Nasr nói: “Hiện nay, tổng thống bị cuốn vào vòng xoáy lao nhanh hơn vào cuộc chiến tranh. Và ông không có chiến lược thoát ra”. Thỏa thuận hạt nhân mà Obama, EU, Nga và Trung QUốc đã thương lượng với Iran gần như đã chết.

Herfried Münkler, một nhà khoa học chính trị tại Đại học Humboldt ở Berlin, nói rằng tình hình hiện nay gợi nhớ đến cuộc Chiến tranh 30 năm. Cuộc xung đột giữa người Sunni và Shiite, các cuộc tranh chấp biên giới, những tham vọng bá quyền của nhiều nước và các cuộc xung đột xã hội nội bộ đối mặt với quá trình hiện đại hóa: Münkler nói tất cả điều đó giúp tạo thành một tình trạng căng thẳng rối ren gần như không thể giải quyết.

Trong khi đó, ảnh hưởng của Mỹ ở Trung Đông tiếp tục bị xói mòn. Sau khi Qassem Soleimani bị giết chết, Quốc hội Iraq đã yêu cầu quân đội Mỹ rời khỏi đất nước này và NATO ngay lập tức chuyển sang tạm thời rút quân khỏi Iraq. Khoảng trống có thể được lấp đầy bởi các cường quốc quốc tế như Nga, hoặc thậm chí bởi các tổ chức khủng bố như tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS). Và sau tất cả nếu Mỹ rút quân khỏi khu vực, thì đồng nghĩa với việc Qassem Soleimani đã tìm được cách đạt được mục tiêu của mình.

(còn tiếp) 

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020