Nhà Trắng chuyển trọng tâm chiến lược từ Trung Đông sang Trung Quốc


Trang Politico ngày 28/01 đăng bài phân tích cho rằng, tân Tổng thống Mỹ Joe Biden đang chuyển hướng sang châu Á, nhưng có thể ông không nói ra một cách rõ ràng.

Theo bài viết, Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan mới đây tiến hành tái cơ cấu đội ngũ nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC), tập trung vào hai tổng cục Trung Đông và châu Á, cụ thể là giảm bớt người chuyên trách về Trung Đông và tăng cường người ở bộ phận điều phối chính sách của Mỹ đối với châu Á, một khu vực rộng lớn trên thế giới trải dài từ Ấn Độ Dương đến Thái Bình Dương. Politico nhận định rằng động thái này là dấu hiệu mới nhất cho thấy chính quyền mới của Mỹ sẽ ưu tiên châu Á trong các sáng kiến chính sách đối ngoại của họ.

Điều này cũng phản ánh sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua và mối quan tâm ngày càng tăng của các quan chức và nhà lập pháp thuộc cả hai đảng lớn ở Mỹ về cách thức các nhà lãnh đạo chuyên chế ở Bắc Kinh đang sử dụng sức mạnh cơ bắp mới của họ. Một phóng sự truyền hình của CNN dẫn lời ông Rory Medcalf, Hiệu trưởng trường cao đẳng an ninh quốc gia, Đại học Quốc gia Australia khẳng định rằng châu Á đang là tâm điểm của một cuộc cạnh tranh quyền lực: “Châu Á đang là đấu trường để tranh giành ưu thế cả về kinh tế lẫn chính trị có ảnh hưởng đến toàn cầu. Trung Quốc đang tìm cách có sức mạnh chi phối, thậm chí họ muốn có quyền lực như một đế quốc và nhiều nước trong khu vực không muốn thấy có sự thống trị như vậy”.

Theo CNN, nhà khoa học chính trị và tác giả sách Richard Heydarian ở Philippines chỉ ra rằng với sức mạnh ngày càng tăng, Trung Quốc đang lợi dụng điều đó để hăm dọa các nước láng giềng. Ông Heydarian nói: “Trung Quốc đối đầu với hầu hết các nước láng giềng, chỉ trừ Nga, điều đó nói lên rất nhiều về việc Trung Quốc đang thực hiện một chính sách đối ngoại không phù hợp trong quan hệ với các nước khác”.

CNN cho biết bản thân Trung Quốc đang dính líu đến một loạt những điểm nóng trong khu vực. Đó là lãnh thổ Đài Loan, vùng Hymalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Biển Đông và Biển Hoa Đông. Tất cả những nơi này đều có tiềm năng bùng nổ thành xung đột.

Politico dẫn lời một số quan chức hiện tại và cựu quan chức cho biết, theo cấu trúc mới của NSC, phạm vi của ông Kurt Campbell, điều phối viên về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đang mở rộng thêm, trong khi bộ phận dưới quyền điều phối viên về Trung Đông Brett McGurk sẽ thu hẹp lại.

Những thay đổi này về cơ bản làm đảo ngược cấu trúc của NSC dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, Tổng cục Trung Đông có quy mô lớn hơn nhiều so với hiện tại, còn bộ phận châu Á có số nhân viên ít hơn và cấp bậc của họ cũng thấp hơn.

Tổng thống Biden và đội ngũ của ông giờ đây tin rằng những thách thức an ninh lớn nhất sẽ xuất hiện từ cuộc cạnh tranh quyền lực lớn giữa Mỹ, Trung Quốc và Nga, do đó, bộ máy của ông Biden đang điều chuyển nguồn lực của họ sao cho phù hợp. Bộ máy của ông Biden muốn tránh chuyện lại có một vũng lầy nữa ở Trung Đông. Họ củng cố các liên minh cốt lõi ở châu Á và châu Âu mà họ cho rằng đã bị bỏ rơi hoặc bị hắt hủi dưới thời cựu Tổng thống Donald Trump.

Trong bài viết của Politico, ông Sadjadpour Karim Sadjadpour, chuyên gia về Trung Đông tại Quỹ hòa bình quốc tế Carnegie, cho biết: “Việc điều chuyển các nguồn lực phục vụ chính sách từ Trung Đông sang châu Á phản ánh tốt hơn về hiện thực kinh tế Mỹ. Chính sách châu Á có liên quan trực tiếp đến các nông dân, các tập đoàn và các công ty công nghệ Mỹ, trong khi Trung Đông thì không, đặc biệt là xét đến tình hình về tài nguyên năng lượng nội địa của Mỹ. Sau 2 thập kỷ đau đớn ở Iraq và Afghanistan, giờ đây lưỡng đảng ở Mỹ cũng còn rất ít sự ủng hộ đối với chuyện cần làm nhiều hơn nữa ở Trung Đông”.

Các ưu tiên mới được thể hiện rõ ràng từ những hoạt động ban đầu của đội ngũ của ông Biden để tiếp xúc với các đồng minh châu Âu và châu Á quan trọng, đó là việc họ gọi điện chào hỏi với các nước bao gồm Pháp, Đức, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Mexico.

Ở thời điểm hiện tại, các công việc về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thuộc thẩm quyền của ông Campbell và ông có 3 cục trưởng thường trực, Laura Rosenberger là cục trưởng thường trực chuyên trách Trung Quốc, Sumona Guha là cục trưởng thường trực chuyên trách Nam Á và Andrea Kendall-Taylor là cục trưởng thường trực chuyên trách Nga và Trung Á.

Tuy nhiên, một cựu quan chức, người phục vụ cho chính quyền Obama, cho rằng trong NSC dưới thời ông Obama, bộ phận về Trung Quốc không có “cục trưởng thường trực”, còn bộ phận về châu Á không có tổng cục trưởng đứng đầu: “Về cơ bản đây là sự tiếp nối với chính sách “xoay trục” sang châu Á nhưng có lẽ người ta không nói công khai nhiều”.

Ông Campbell, hiện là tổng cục trưởng chuyên trách Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, từng là một trong những nhân vật chủ chốt thúc đẩy cho chiến lược xoay trục sang châu Á dưới thời Tổng thống Obama, khi đó, ông giữ chức Trợ lý Ngoại trưởng chuyên trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương trong chính quyền Obama. Tuy nhiên, mức độ thành công của chiến lược đó không được rõ ràng và nó đã bị các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông và châu Âu nhìn nhận một cách hoài nghi.

Vì vậy, cựu quan chức thời Obama mà Politico không nêu tên trên cho rằng việc chính quyền Biden tái cơ cấu một cách âm thầm, không phô trương hay ra tuyên bố rầm rộ, dường như là việc làm có chủ ý.

Sự chuyển đổi rõ rệt này không chỉ giới hạn ở NSC. Politico chỉ ra rằng các chuyên gia về châu Á cũng đang được đưa vào nhiều nơi trong chính quyền mới, bao gồm cả tại Bộ Quốc phòng Mỹ, ở đó, cựu phụ tá của ông Biden là Ely Ratner được bổ nhiệm làm cố vấn chính về Trung Quốc cho Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin: còn Kelly Magsamen, từng là phó trợ lý chính của Bộ trưởng Quốc phòng chuyên trách về an ninh châu Á và Thái Bình Dương cho đến năm 2017, đã được bổ nhiệm làm chánh văn phòng của ông Austin.

Ông Austin, một cựu tư lệnh Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (Centcom), nhận thức rõ ràng chính quyền Biden muốn chuyển trọng tâm của Lầu Năm Góc về phương Đông. Ông Austin nói trong phiên điều trần để được chuẩn thuận làm bộ trưởng rằng: “Trên bình diện toàn cầu, tôi hiểu rằng châu Á phải là trọng tâm trong nỗ lực của chúng ta. Trung Quốc là mối đe dọa lớn nhất trong tương lai bởi vì Trung Quốc đang đi lên”.

Một trong những động thái đầu tiên của ông Austin trong công việc mới là bổ nhiệm 3 cố vấn đặc biệt về các vấn đề chính là Trung Quốc, đại dịch COVID-19 và khí hậu. Có thể thấy Trung Đông đã vắng bóng trong nghị trình của ông.

Tại Bộ Ngoại giao Mỹ, chuyên gia châu Á – Thái Bình Dương Mira Rapp-Hooper được bổ nhiệm làm cố vấn cấp cao về Trung Quốc ở Vụ Hoạch định chính sách; còn tại Liên hợp quốc, Jeffrey Prescott, từng là phó cố vấn an ninh quốc gia và cố vấn cấp cao về châu Á cho Phó Tổng thống Biden trước đây, được đề cử làm phó đại sứ.

Việc Mỹ giờ đây nhấn mạnh rất nhiều vào châu Á là những gì tiếp nối chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020 mà trong đó Trung Quốc là vấn đề nổi bật, khi đó, cả hai ứng cử viên là ông Trump và ông Biden đều cố chứng tỏ mình cứng rắn hơn người kia trong việc xử lý quan hệ với Bắc Kinh.

Nguồn: TKNB – 02/02/2021.

Nhìn lại 2020 – Trung Đông: Sự hỗn loạn và bước đột phá cùng tồn tại


Đường Chí Siêu

2020 vẫn là một năm hỗn loạn và đầy bất ổn ở Trung Đông, nhưng cũng sẽ có những thay đổi và bước đột phá quan trọng. Bắt đầu từ việc Mỹ ám sát Chỉ huy lực lượng đặc nhiệm Quds của Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran Qassem Soleimani, đến việc các nước Arab như Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Bahrain và Sudan thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel, và kết thúc bằng việc nhà khoa học hạt nhân hàng đầu của Iran Mohsen Fakhrizadeh bị ám sát, các điểm nóng liên tục xuất hiện, khiến tình hình khu vực càng trở nên bất ổn hơn.

Tình trạng bất ổn và hỗn loạn trong khu vực vẫn tiếp diễn. Năm 2020, chiến tranh ở Syria, Yemen và Libya vẫn tiếp diễn. Chiến tranh ở Syria và Yemen tiếp tục rơi vào cục diện bế tắc và không có tiến triển lớn. Nga và Syria chưa thể đạt được bước đột phá lớn trong vấn đề Idilb, và cuộc tấn công mùa Xuân gặp trở ngại. Ở Libya, cuộc nội chiến phát triển theo hướng chiến tranh ủy nhiệm, việc Thổ Nhĩ Kỳ cử quân tham chiến đã tạo ra bước ngoặt lớn cho cuộc chiến. Tình hình chính trị rối ren ở các nước Iraq, Liban, Sudan, Algeria, vụ nổ lớn ở cảng của Liban đã gây ra tình hình khủng hoảng. Vấn đề Đông Địa Trung Hải đã trở thành một điểm nóng mới của khu vực. Các nước cạnh tranh gay gắt xoay quanh tài nguyên dầu khí và địa chính trị, mâu thuẫn giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hya Lạp, Cyprus và Pháp ngày càng tăng lên.

Kế hoạch hòa bình Trung Đông mới (Thỏa thuận thế kỷ) được Tổng thống Mỹ Donald Trump thúc đẩy sau khi lên cầm quyền đã chính thức kết thúc. Do quá thiên vị Israel nên ông đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của Palestine, khiến quan hệ Palestine-Israel xấu đi. Dưới sự thúc đẩy của Mỹ, mối quan hệ giữa các nước Arab vùng Vịnh và Israel có những thay đổi lớn. UAE, Bahrain và Sudan đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel, khiến vấn đề Palestine đã bị gạt ra bên lề hơn nữa.

Ngoài ra, sự thay đổi thế hệ lãnh đạo trong khu vực đang diễn ra nhanh chóng khiến nguy cơ bất ổn tăng lên. Các nhà lãnh đạo thế hệ cũ của Oman, Sudan và Algeria đã rút lui khỏi chính trường, năm 2020 Quốc vương Kuwait và Thủ tướng Bahrain liên tiếp qua đời. Trong tương lai, các nước như Saudi Arabia, UAE, Iran và Palestine cũng sẽ phải đối diện với sự thay đổi thế hệ.

Sự phân hóa giữa các phe phái trong khu vực ngày càng rõ rệt. Khu vực Trung Đông xuất hiện khoảng trống quyền lực, thế giới Hồi giáo ngày càng chia rẽ và cạnh tranh nước lớn trở thành đặc điểm quan trọng của sự phát triển chính trị khu vực và là nguồn gốc chính của xã hội. Các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Iran, UAE, Qatar, Israel đang liên tục tăng cường tính tự chủ chiến lược trong các vấn đề khu vực, tìm cách định hình lại trật tự khu vực theo mong muốn của mình. Các quốc gia này đọ sức quyết liệt trên nhiều chiến trường, đồng thời dần mở rộng sang Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á và châu Phi.

Hiện nay, ở khu vực Trung Đông đã hình thành nhiều cuộc xung đột và phe đối đầu xoay quanh các vấn đề lớn và điểm nóng của khu vực, sự đối lập giữa các phe ngày càng rõ rệt, ranh giới cũng ngày càng rõ ràng, mâu thuẫn giữa các bên đan xen phức tạp, có nhiều ý kiến bất đồng. Ở Địa Trung Hải, Thổ Nhĩ Kỳ đối đầu với Ai Cập, Israel, Hy Lạp và Cyprus; ở Libya, Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar đối đầu với Ai Cập, UAE và Nga. Khu vực vùng Vịnh có hai phe đối lập lớn: một là Iran đối đầu với UAE, Saudi Arabia và Israel; hai là Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar chống lại Saudi Arabia, UAE và Bahrain. Sự chia rẽ, phe phái và đối đầu đã trở thành những đặc điểm nổi bật củasu57 phát triển của quan hệ nội bộ trong thế giới Arab và Hồi giáo hiện nay.

Trên thực tế, sự đối đầu giữa các nước lớn trong khu vực chủ yếu là cuộc đối đầu giữa các nước Arab vùng Vịnh và hai quốc gia không thuộc Arab là Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Sự đối đầu giữa liên minh Arab-Israel với Thổ Nhĩ Kỳ và Iran đã tạo thành một thách thức lớn đối với an ninh khu vực. Mặc dù bước đột phá ngoại giao của Israel có sự thúc đẩy của Mỹ, nhưng động lực cơ bản là những toan tính chiến ược của những nước này để đối phó với mối đe dọa chung là Iran.

Cuộc đọ sức giữa các nước lớn bên ngoài khu vực xuất hiện tình hình mới. Năm 2020, Chính quyền Trump chủ yếu tập trung thực hiện ba vấn đề ở Trung Đông: một là, thực hiện “Thỏa thuận thế kỷ”, thúc đẩy ba nước Arab thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel; hai là, tiếp tục gây sức ép để răn đe Iran và đẩy nhanh tiến trình thành lập liên minh chiến lược Trung Đông; ba là, nhanh chóng rút quân khỏi Syria và Iraq, thực hiện các cam kết trong chiến dịch tranh cử.

Ảnh hưởng của Nga tiếp tục gia tăng và đạt được những thành tựu mới. Trên chiến trường Libya, Nga đã sử dụng lính đánh thuê để can thiệp, mặc dù gặp phải sự phản đối của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nhìn chung vẫn có vị trí vững chắc. Mối quan hệ giữa Nga và các nước vùng Vịnh trở nên ổn định, mặc dù nổ ra cuộc chiến giá dầu với Saudi Arabia hồi đầu năm, nhưng sau khi bị tổn thất nặng nề hai bên vẫn tiếp tục lựa chọn hợp tác. Năm 2020, thành công lớn nhất của Nga ở khu vực này là đã thành lập một căn cứ quân sự mới ở Sudan, đây là bước đột phá về quân sự và ngoại giao lớn của Nga ở khu vực Tây Á và châu Phi.

Vai trò của EU trong vấn đề Đông Địa Trung Hải, Libya và vùng Vịnh tăng lên, trong đó Pháp và Đức có vai trò tương đối nổi bật hơn. EU đang rất muốn lấp đầy khoảng trống quyền lực và hy vọng quay trở lại những khu vực này, song phải đối mặt với những thách thức rất lớn.

Dịch bệnh và giá dầu thấp đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế khu vực. Các quốc gia Trung Đông vẫn đang chịu tác động kép của dịch COVID-19 và giá dầu thấp, vấn đề kinh tế và xã hội của các nước trong khu vực trở nên nổi bật hơn. Trung Đông là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất của dịch bệnh. Các nước Arab, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel và Iran có gần 5 triệu ca mắc COVID-19 và hơn 100.000 ca tử vong.

Dịch bệnh đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế khu vực. Tháng 10/2020, Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra báo cáo, dự đoán năm 2020 tăng trưởng kinh tế của khu vực Trung Đông là -5%, đây là số liệu tồi tệ nhất kể từ năm 1978. Kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh, lạm phát tăng cao và tỷ lệ đói nghèo tăng nhanh đã ảnh hưởng đến sự ổn định của các nước trong khu vực. Cục diện chính trị bất ổn ở các nước như Sudan, Iran, Liban, Iraq, Algeria có liên quan nhiều đến nền kinh tế không khởi sắc.

Việc Joe Biden điều chỉnh chính sách đối với Trung Đông sẽ là biến số lớn nhất. Sau khi lên cầm quyền, chính quyền mới của Mỹ sẽ áp dụng chính sách nào đối với Trung Đông là điểm quan tâm lớn nhất. Biden sẽ mang lại những biến số mới. Vấn đề liên quan đến Trung Đông được đề cập trong cương lĩnh tranh cử của ông bao gồm ba khía cạnh: một là, chấm dứt các cuộc chiến tranh bất tận; hai là, đề xuất quay trở lại thỏa thuận hạt nhân Iran (JCPOA); ba là, nhấn mạnh việc đảm bảo an toàn cho các đồng minh, trong đó có Israel. Trung Đông sẽ không còn là ưu tiên chiến lược trong chính sách đối ngoại của Chính quyền Biden, mà ở mức độ lớn có thể là tiếp tục chính sách Trung Đông từ thời Obama, nhìn chung vẫn là thu hẹp chiến lược.

Đối với Biden, ưu tiên hàng đầu của chính sách Trung Đông là Iran. Tuy nhiên, việc quay trở lại thỏa thuận hạt nhân Iran sẽ không thể diễn ra thuận lợi, Biden có thể sẽ gây ra xung đột lớn đối với Israel, Saudi Arabia và UAE về vấn đề này. Israel sẽ trở thành trở ngại lớn nhất để Biden quay trở lại thỏa thuận hạt nhân Iran và nối lại tiếp xúc với Iran. Để ngăn chặn chính sách của Biden đối với Iran, không loại trừ khả năng Israel có hành động quân sự đơn phương nhằm vào Iran. Ngoài ra, Biden cũng sẽ có các chính sách và hành động khác với Trump trong các vấn đề như Yemen, Syria, Palestine, dân chủ và nhân quyền. Chẳng hạn như gây sức ép để chấm dứt chiến tranh ở Yemen, ủng hộ phe đối lập ở Syria và phủ nhận một phần “Thỏa thuận thế kỷ”, nối lại tiếp xúc với Chính quyền Palestine và khôi phục viện trợ, chỉ trích vấn đề dân chủ và nhân quyền của các đồng minh khu vực như Saudi Arabia, UAE…

* * *

Đường Chí Siêu, Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chính trị thuộc Trung tâm nghiên cứu Tây Á và châu Phi, Viện khoa học xã hội Trung Quốc.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) – số 24/2020

TLTKĐB – 26/12/2020

Cục diện mới ở Trung Đông sau thỏa thuận UAE-Israel


Ngày 13/08/2020, Bộ Ngoại giao Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) ra tuyên bố cho biết Thái tử Mohammed bin Zayed Al Nahyan đã đạt được thỏa thuận với Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu và Tổng thống Mỹ Donald Trump sau cuộc điện đàm ba bên diễn ra cùng ngày, đồng ý thực hiện bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Israel. Việc UAE và Israel ký kết thỏa thuận hòa bình là thời khắc lịch sử quan trọng trong nền chính trị Trung Đông. Israel và các nước Arab vùng Vịnh như UAE có khả năng sẽ đẩy nhanh tiến độ thành lập liên minh khu vực để cùng ứng phó với mối đe dọa đến từ Iran, trong khi vấn đề Palestine đang dần bị thế giới lãng quên.

Sự thay đổi lập trường của các nước Arab vùng Vịnh

Kể từ khi thành lập vào năm 1948 đến nay, Israel bị thế giới Arab coi là kẻ thù và cô lập trong một thời gian dài. Thế giới Arab luôn áp dụng sách lược “nhắm mắt làm ngơ”, phủ nhận sự tồn tại của nhà nước Israel, gọi Israel là Chính quyền của chủ nghĩa phục quốc Do Thái, xác nhận Palestine thay vì Israel trên bản đồ, phủ nhận tính hợp pháp của nước này.

Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, Israel không những không bị diệt vong, mà còn trở thành một cường quốc ở Trung Đông. Năm 1979, Ai Cập và Israel ký hiệp ước hòa bình, Israel bắt đầu được thế giới Arab công nhận. Năm 1987, Palestine bùng bổ Phong trào Intifada lần thứ nhất, Israel và Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) bắt đầu tiếp xúc bí mật để tìm kiếm khả năng hòa bình. Năm 1994, Palestine và Israel bắt đầu khởi động tiến trình hòa bình, Jordan và Israel thiết lập quan hệ ngoại giao. Ai Cập và Jordan trở thành những quốc gia đầu tiên trong thế giới Arab thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel.

Đối với nhiều người Arab, phát triển quan hệ và tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel đồng nghĩa với việc phản bội thế giới Hồi giáo và Arab. Anwar Al-Sadad, nhà lãnh đạo Ai Cập, người ký hiệp ước hòa bình với Israel, đã bị ám sát vào năm 1981; những tiếng nói yêu cầu hủy bỏ hiệp ước hòa bình với Israel ở Jordan cũng không ngừng tăng lên. Năm 2017, Đại sứ quán Israel tại Jordan bị tấn công, nhân viên an ninh của Israel bắn chết người Jordan xông vào đại sứ quán, điều này đã gây ra làn sóng kích động mạnh mẽ trong xã hội Jordan. Trước những nỗ lực của Quốc vương Jordan Abdullah II, quan hệ hai nước mới có thể vượt qua giai đoạn khó khăn.

Các nước Arab với đại diện là Saudi Arabia và UAE từ lâu đã coi việc Palestine và Israel đạt được thỏa thuận hòa bình cuối cùng là điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ với Israel. Năm 2005, Saudi Arabia đưa ra Sáng kiến hòa bình Arab, bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel dưới tiền đề đạt được thỏa thuận hòa bình Palestine-Israel. Năm 2014, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã tổ chức cuộc đàm phán hòa bình giữ Palestine và Israel, mặc dù hai bên đặt ra điều kiện tiên quyết cho cuộc đàm phán song phương này nhưng đã kết thúc trong thất vọng. Sau đó, Palestine và Israel không tổ chức thêm các cuộc đàm phán hòa bình, khiến lộ trình hòa bình cũng trở nên xa vời.

Năm 2011, cục diện địa chính trị ở Trung Đông biến động mạnh. Thế lực của Iran ở Iraq, Syria, Liban và Yemen phát triển mạnh, khiến các nước Arab vùng Vịnh như Saudi Arabia, UAE, Bahrain và Kuwait như đang “ngồi trên đống lửa”. Iran là quốc gia theo dòng Shiite, không chỉ đối lập với các nước Arab vùng Vịnh theo dòng Sunni với nòng cốt là người Arab, mà hai bên còn bất đồng trong các vấn đề thực tế như Syria và Yemen. Sau khi Quốc vương Saudi Arabia Salman bin Abdulaziz Al Saud lên ngôi vào năm 2015, ông càng cảnh giác hơn đối với việc phát triển vũ khí hạt nhân và công nghệ tên lửa của Iran.

Sau năm 2011, Mỹ không còn tích cực can dự vào Trung Đông, cho dù là Obama hay Trump đều có khuynh hướng gây sức ép với Iran thông qua các biện pháp trừng phạt gián tiếp thay vì các biện pháp quân sự trực tiếp. Mặc dù “sức ép tối đa” mà Trump nhằm vào Iran đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng vẫn khó đáp ứng được yêu cầu của các nước Arab vùng Vịnh. Năm 2011, Ai Cập thay đổi chính quyền, tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh này, Israel dường như đã trở thành lựa chọn duy nhất của các nước Arab vùng Vịnh.

Cục diện mới ở Trung Đông đang dần hình thành

Việc UAE và Israel bình thường hóa quan hệ có thể dẫn đến một loạt thay đổi về địa chính trị. Một mặt, các nước vùng Vịnh khác như Saudi Arabia và Bahrain…có thể tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Israel và kéo theo các nước Arab khác tiếp xúc với Israel. Là “đồng minh thân thiết” của Saudi Arabia và UAE, Bahrain không chỉ có quan hệ chặt chẽ với Mỹ, mà còn duy trì tiếp xúc với Israel trong nhiều năm qua, nên việc hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao có thể sẽ được hoàn tất trong tương lai gần. Mặt khác, UAE và Israel có thể sẽ thúc đẩy hợp tác quân sự chặt chẽ hơn để cùng đối phó với Iran. Đối với Israel, Iran từ lâu đã lớn tiếng tuyên bố muốn xóa sổ Israel khỏi bản đồ, phát triển năng lực hạt nhân và tên lửa tầm xa, đồng thời hỗ trợ các tổ chức như Hezbollah của Liban, Lực lượng huy động nhân dân (PMU) của Iraq và Hamas của Palestine… tấn công Israel. Trước mối đe dọa đến từ Iran, quan hệ UAE-Israel có thể sẽ nhanh chóng ấm lên và phát triển theo hướng liên minh quân sự.

UAE và Saudi Arabia đã thiết lập cơ chế hợp tác tình báo với Israel để chia sẻ thông tin tình báo quân sự nhằm vào Iran; các nhân viên quân sự của UAE đã bắt đầu tiếp nhận sự huấn luyện của Israel; một số nhân viên công nghiệp quốc phòng của Israel cũng đã hợp tác với UAE. Năm 2018, sự kiện Bộ trưởng Văn hóa và Thể thao Israel Regev dẫn đội tuyển Judo đến thăm UAE để tham dự giải vô địch Judo Abu Dhabi Grand Slam năm 2018 và đến thăm Nhà thờ Hồi giáo Sheikh Zayed ở Abu Dhabi được giới truyền thông Trung Đông miêu tả là chưa từng có trong tiền lệ. Tại nhà thi đấu Judo của UAE, lần đầu tiên họ cho phép kéo quốc kỳ và cử quốc ca của Israel. Khi Trump công bố thỏa thuận thế kỷ Palestine-Israel vào đầu năm 2020, đại diện của UAE và Bahrain cũng tham dự, thể hiện sự đồng tình và ủng hộ đối với Israel.

UAE là thủ lĩnh quan trọng của các nước Arab vùng Vịnh và cũng có ảnh hưởng lớn đối với thế giới Arab, nhiều nước Arab đã tiếp nhận các khoản tài trợ của UAE để duy trì sự ổn định tài chính. UAE có quan hệ thân thiết với Saudi Arabia, thái tử của hai nước không chỉ tương đồng tuổi tác và quan hệ cá nhân khăng khít, mà còn chia sẻ quan niệm địa chính trị chung. Do đó, việc UAE thiết lập quan hệ hòa bình với Israel rất có thể sẽ dẫn đến các nước Arab lần lượt thiết lập quan hệ chính thức với nước này, từ đó dẫn đến những thay đổi lớn về địa chính trị ở khu vực Trung Đông.

Việc UAE và Israel đạt được thỏa thuận hòa bình vào thời điểm này không thể tách khỏi vai trò trung gian của Mỹ. Ngay sau khi cuộc điện đàm kết thúc, Trump đã đăng trên Twitter việc UAE và Israel ký thỏa thuận hòa bình. Điều này cho thấy vai trò và ảnh hưởng đặc biệt của Mỹ đối với khu vực này. Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp diễn ra và Trump vẫn chưa thể đưa ra câu trả lời khiến người ta hài lòng, cho dù là vấn đề hạt nhân Iran hay vấn đề Palestine-Israel. Do đó, thúc đẩy UAE và Israel thừa nhận lẫn nhau sẽ được Trump thổi phồng là thành tích ngoại giao Trung Đông quan trọng.

Đối với Israel, thỏa thuận hòa bình với UAE cũng là thành tích ngoại giao lớn. Chính phủ liên minh do Thủ tướng Netanyahu đứng đầu không chỉ phải đối phó với những áp lực xã hội như dịch bệnh ở trong nước tái bùng phát và tình hình kinh tế không mấy khởi sắc, mà còn phải đối phó với những áp lực xã hội như dịch bệnh ở trong nước tái bùng phát và tình hình kinh tế không mấy khởi sắc, mà còn phải đối phó với thách thức cạnh tranh đảng phái. Bản thân Netanyahu cũng đối diện với các cáo buộc tham nhũng của cơ quan tư pháp, do đó, ông rất cần những thành tích ngoại giao để bảo vệ địa vị của mình. Tháng 5/2020, đảng Likud do Netanyahu lãnh đạo và Liên minh Xanh-Trắng do Benny Ganz lãnh đạo đã đạt được thỏa thuận thành lập nội các. Theo thỏa thuận, Netanyahu sẽ chuyển giao chức thủ tướng cho Bộ trưởng Quốc phòng Granz vào tháng 11/2021. Nhiều khả năng Netanyahu sẽ tuyên bố giải tán chính phủ và tổ chức bầu cử sớm trước tháng 11/2021. Do đó, việc ký kết thỏa thuận hòa bình với UAE chắc chắn sẽ là “liều thuốc trợ lực” cho Chính quyền Netanyahu.

Việc UAE và Israel đạt được thỏa thuận hòa bình đồng nghĩa với tiến trình hòa bình Palestine-Israel sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Các nước Arab vùng Vịnh không còn dựa vào hòa bình Palestine-Israel để làm tiền để phát triển quan hệ với Israel. Palestine cảm nhận được sự phản bội của các nước Arab khác, con đường tìm kiếm nền độc lập sẽ trở nên khó khăn hơn và niềm tin đạt được thỏa thuận hòa bình với Israel cũng sẽ bị lung lay mạnh. Israel sẽ cứng rắn hơn trong việc thúc đẩy thực hiện chính sách sáp nhập Bờ Tây nhằm giành quyền chủ động lớn hơn trong tiến trình hòa bình Palestine-Israel trong tương lai. Một Palestine yếu ớt, chia rẽ và thù địch không thể trở thành đối tác đàm phán bình đẳng đối với Israel.

Việc UAE và Israel đạt được thỏa thuận hòa bình cũng là kết quả tất yếu của cuộc đọ sức địa chính trị ở Trung Đông. Do Thái tử UAE Mohammed bin Zayed Al Nahyan và Quốc vương Saudi Arabia Salman bin Abdulaziz Al Saud đều là thế hệ lãnh đạo chính trị mới trong thế giới Arab, khác với thế hệ cha ông theo đuổi sự thống nhất của thế giới Arab và “tình anh em Arab”, họ chú trọng nhiều hơn đến lợi ích quốc gia. Cuối cùng, sự phát triển của lịch sử đã giúp chủ nghĩa dân tộc đánh bại các bản sắc chính trị khác, và việc Palestine bị gạt ra bên lề cũng có thể là điều tất yếu trong tiến trình vận động phát triển của lịch sử.

Nguồn: Tạp chí Tri thức thế giới (TQ) số 17/2020

TLTKĐB – 15/09/2020

Kế hoạch của Iran nhằm đối phó với lệnh cấm vận vũ khí – Phần cuối


Mặt khác, dù Trung Quốc nhiều lần hỗ trợ cho Iran trước áp lực của các biện pháp trừng phạt, nhưng đồng thời nước này thể hiện sự miễn cưỡng chấp nhận rủi ro. Chẳng hạn, Trung Quốc gần đây đã giảm trao đổi thương mại và giao dịch dầu khí với Iran sau khi Mỹ gây áp lực. Do vậy, Bắc Kinh có khả năng sẽ lặp lại hành vi này, nhất là khi nhắc đến những lĩnh vực nhạy cảm như việc bán thiết bị quân sự cho Iran. Theo đó, mặc dù Trung Quốc có khuynh hướng chống lại Mỹ về mặt chính trị, nhưng nước này vẫn khó có khả năng tham gia hoạt động buôn bán vũ khí lớn với Iran. Tuy nhiên, thị trường vũ khí lớn của Iran có thể hấp dẫn đối với Bắc Kinh, cải thiện vị trí của họ giữa những nước xuất khẩu vũ khí của thế giới.

Iran hầu như không có hy vọng về việc các nước châu Âu sẽ tỏ ra hữu ích. Một mặt, các nước thành viên EU lo ngại về các hoạt động của Iran trong khu vực, chương trình hạt nhân và tên lửa của Iran. Mặt khác, Brussels dường như không hài lòng với các chính sách đơn phương của Trump. Kinh nghiệm trước đó của Iran trong các cuộc đàm phán với các cường quốc châu Âu để cứu vãn JCPOA, dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt, và cơ chế hỗ trợ trao đổi thương mại (INSTEX) cho thấy rằng cuối cùng các nước châu Âu sẽ đứng về phía Mỹ. Điều duy nhất có thể đưa châu Âu xích lại gần hơn với Iran là nỗi lo sợ về khả năng chấm dứt JCPOA, nhưng dường như ngay cả vấn đề quan trọng này cũng sẽ không làm thay đổi thái độ của châu Âu. Do đó, Iran đã có câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi của Shamkhani về việc liệu châu Âu có nên “bảo vệ phẩm giá và ủng hộ chủ nghĩa đa phương hay chấp nhận sự sỉ nhục và giúp đỡ chủ nghĩa đơn phương”.

Về các giao dịch vũ khí, nếu lệnh cấm vận bị dỡ bỏ, thì cần lưu ý rằng mặc dù Nga là lựa chọn hàng đầu của Iran, nhưng Iran sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu vũ khí của mình từ nhiều nước khác nhau, như Trung Quốc, để tránh trở nên phụ thuộc quá mức vào Nga. Nhu cầu chủ yếu của Iran là tăng cường không quân, hệ thống phòng không, phòng thủ biển, hệ thống radar và chiến tranh điện tử. Do mối quan ngại của các nước/công ty xuất khẩu vũ khí về các biện pháp trừng phạt và các giao dịch vũ khí bí mật, không có thông tin chính xác về các vũ khí mà Iran yêu cầu.

Các báo cáo chưa được xác thực cho thấy Iran đang tìm cách mua máy bay chiến đấu Sukhoi (mẫu 35, 30SM, và 27SM-3), máy bay chiến đấu MiG, các hệ thống phòng không như S-400, Hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion và xe tăng T-90 từ Nga. Nghe nói Iran cũng đã có các buổi trao đổi với Trung Quốc về việc mua máy bay chiến đấu G-10C, hệ thống tên lửa phòng không FD-2000, hệ thống LY-80 và hệ thống phòng không tự động.

Theo Iran, Nga và Trung Quốc thận trọng về việc bán vũ khí cũng như khá miễn cưỡng trong việc đối đầu với Mỹ. Nga và Trung Quốc biết rằng Mỹ nhạy cảm với vấn đề này, và ngay cả khi lệnh cấm vận vũ khí được dỡ bỏ, thì Mỹ cũng sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt đơn phương. Theo đó, việc vi phạm các biện pháp trừng phạt này sẽ khiến Nga và Trung Quốc phải trả giá đắt. Vì vậy, họ sẽ không làm tổn hại tới các lợi ích của mình bằng việc can dự với Iran và đối đầu với Mỹ. Đồng thời, một số lợi ích, trong đó có việc củng cố cán cân sức mạnh, tăng cường lợi thế mặc cả với Mỹ, tận dụng thị trường vũ khí của Iran, có thể khiến họ duy trì động cơ bán vũ khí cho Iran. Một điều họ có thể làm là ký các thỏa thuận vũ khí với Iran nhưng trì hoãn việc giao hàng.

Ngoài biến số Mỹ, các biến số khác như phản ứng của các đối thủ cạnh với Iran trong khu vực, là điều rất cần thiết cho Nga và Trung Quốc. Họ có quan hệ chính trị kinh tế và quân sự với các nước Arab cũng như với Israel. Việc bán số lượng lớn vũ khí cho Iran có thể gây tổn hại tới các mối quan hệ của họ. Mặt khác, cán cân quyền lực khu vực ở Trung Đông là điều cần thiết đối với Nga và Trung Quốc, và họ không muốn làm đảo lộn cán cân hiện tại bằng việc cung cấp vũ khí tiên tiến cho Iran. Những cân nhắc này khiến họ trở nên thận trọng hơn.

Iran dường như đang xem xét việc mua vũ khí từ các nước khác như Pakistan hay Triều Tiên. Cần lưu ý rằng chiến lược này hầu như không liên quan gì tới việc dỡ bỏ hay gia hạn lệnh cấm vận vì trong bất kỳ trường hợp nào, việc giao dịch cũng phải được thực hiện một cách bí mật mà không cho Mỹ biết.

Cũng cần lưu ý rằng Iran sẽ đặc biệt thận trọng trong việc mua vũ khí, đó là lý do tại sao giả định rằng nước này sẽ mở rộng hoạt động mua vũ khí nếu lệnh cấm vận được dỡ bỏ dường như không chính xác. Iran coi việc dỡ bỏ lệnh cấm vận là một bước ngoặt trong việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt và phủ nhận tính hợp pháp trong chính sách của Mỹ. Lý do nằm ở chỗ Iran cam kết với cộng đồng quốc tế rằng mục tiêu của nước này chỉ liên quan đến việc củng cố cán cân sức mạnh và khả năng răn đe, và rằng quan điểm của Mỹ về nỗi sợ Iran là dối trá. Đồng thời, Iran nhận thức được rằng thái độ cực đoan có thể đẩy cộng đồng quốc tế chống lại nước này.

Iran cũng nhận thức rằng mục tiêu chính của Trump là buộc nước này rút khỏi JCPOA (nhằm phản ứng trước khả năng gia hạn lệnh cấm vận vũ khí), để kéo các cường quốc khác như Nga và Trung Quốc đứng về phía Mỹ chống lại Iran. Với suy nghĩ này, Iran sẽ không tỏ thái độ cực đoan, ngay cả khi lệnh cấm vận được gia hạn.

Mặc dù việc chi tiền mua vũ khí mới trong bối cảnh doanh thu từ dầu mỏ giảm vì các biện pháp trừng phạt và việc kiểm soát đại dịch COVID-19 trên toàn cầu gặp khó khăn, nhưng với kinh nghiệm né tránh các biện pháp trừng phạt và kinh nghiệm thúc đẩy các kế hoạch dù chịu áp lực từ bên ngoài cho thấy nước này có thể khắc phục được vấn đề.

Trong những năm gần đây, mặc dù bị áp đặt các biện pháp trừng phạt, nhưng Iran vẫn cải thiện được năng lực quân sự về tên lửa, máy bay không người lái, và chiến tranh điện tử, điều được phản ánh qua cuộc tấn công của Iran vào căn cứ Ain al-Assad, vụ bắn rơi máy bay không người lái của Mỹ và hoạt động quân sự ở Syria cho thấy rằng tiến trình này sẽ tiếp tục, dù lệnh cấm vận được dỡ bỏ hay không.

Nguồn: Hội đồng quan hệ quốc tế Nga

TLTKĐB – 07/08/2020

Kế hoạch của Iran nhằm đối phó với lệnh cấm vận vũ khí – Phần đầu


Việc dỡ bỏ hay gia hạn lệnh cấm vận vũ khí của Liên hợp quốc đối với Iran, mà theo Nghị quyết 2231 của Hội đồng Bảo an được cho là sẽ kết thúc vào tháng 10/2020, đã dẫn đến một cuộc đối đầu mới giữa Tehran và Washington. Mỹ đã đề xuất một bản dự thảo nghị quyết Liên hợp quốc kéo dài lệnh cấm vận, và Ngoại trưởng Mỹ Pompeo cam kết sử dụng mọi biện pháp có sẵn để làm điều đó. Trong trường hợp thất bại, Washington đã đe dọa kích hoạt cơ chế được gọi là “khôi phục tức thì” để tái áp đặt các biện pháp trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Iran. Đồng thời, phần lớn Hạ viện Mỹ kêu gọi sử dụng biện pháp ngoại giao nhiều hơn để tiếp tục lệnh cấm vận vũ khí đối với Iran.

Theo Washington, việc dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sẽ dẫn đến cạnh tranh vũ trang và gây bất ổn ở Trung Quốc. Bác bỏ cáo buộc này, Iran cho rằng theo Nghị quyết 2231, họ có quyền dỡ bỏ lệnh cấm vận và đổ lỗi cho Mỹ vì gây bất ổn trong khu vực. Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif nhấn mạnh rằng “Mỹ từ lâu đã là nước đứng đầu thế giới về chi tiêu quân sự, bán vũ khí, là bên khởi xướng và kích động chiến tranh, và cũng là bên trục lợi trong xung đột”. Tuy nhiên, rõ ràng là Ngoại trưởng Pompeo lo ngại về Iran đến mức bố trí vũ khí ở khắp nơi trên thế giới.

Về vấn đề này, Tổng thống Iran Hassan Rouhani cảnh báo về “khả năng đáp trả gây điêu đứng” của Iran. Thư ký Hội đồng an ninh quốc gia tối cao (SNSC) của Iran, Ali Shamkhani, đã cảnh báo rằng thỏa thuận hạt nhân sẽ bị chấm dứt vĩnh viễn nếu lệnh cấm vận vũ khí được gia hạn thêm. Chủ tịch Ủy ban An ninh quốc gia và chính sách đối ngoại của Quốc hội, Mojtaba Zolnoori, đã tuyên bố rằng tình huống như vậy có thể dẫn đến một loạt hậu quả, trong đó có sự sụp đổ của JCPOA, ngừng thực hiện Nghị thư bổ sung, hoặc thậm chí rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Phản ứng gay gắt của giới chức Iran cho thấy rằng các mục tiêu của Iran và quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí của nước này vượt ra ngoài phạm vi mua hoặc bán vũ khí. Mục tiêu đầu tiên là chính trị, cụ thể là nhằm ngăn chặn chiến lược “gây sức ép tối đa” của Trump. Kiềm chế và gia hạn lệnh cấm vận Iran cũng có thể được xem là một phần chiến lược của Mỹ. Về vấn đề này, nếu Mỹ gia hạn được lệnh cấm vận, thì điều đó cũng có nghĩa là chiến lược của Mỹ thành công, còn thất bại sẽ chứng tỏ chiến lược của Mỹ suy yếu. Theo đó, Iran sẽ tận dụng cơ hội này để tăng cường vị thế chính trị của mình và làm suy yếu chiến lược “gây sức ép tối đa” bằng cách phủ nhận tính hợp pháp trong nỗ lực gia hạn lệnh cấm vận của Mỹ.

Mục tiêu thứ hai là về kinh tế và có liên quan đến việc phá vỡ cấu trúc của các biện pháp trừng phạt. Nếu lệnh cấm vận vũ khí không được gia hạn, thì sẽ có một kẻ hỡ trong cấu trúc của các biện pháp trừng phạt. Do vậy, Iran sẽ bước vào một giai đoạn mới là giảm bớt những hạn chế và có thể sẽ gặt hái nhiều lợi ích từ JCPOA. Trong trường hợp này, việc dỡ bỏ những hạn chế trong các giai đoạn tiếp theo vào năm 2023, 2025 và 2030 sẽ được thực hiện hiệu quả hơn. Mua bán vũ khí cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy thương mại ở những lĩnh vực khác.

Mục tiêu thứ ba có liên quan tới quân sự, đó là củng cố cán cân sức mạnh và khả năng răn đe bằng việc cung cấp vũ khí tiên tiến và phát triển hợp tác quân sự. Mặc dù Iran đã cải thiện khả năng quân sự của mình trong những năm gần đây, đặc biệt là về tên lửa và máy bay không người lái, nhưng đó vẫn là một lĩnh vực rất cần phải phát triển.

Mục tiêu thứ tư là thông qua trao đổi vũ khí để phát triển hợp tác quân sự-chính trị với các nước như Nga, Trung Quốc, cũng như các nước khác trong khu vực, Iran, Nga và Trung Quốc đã tổ chức các cuộc tập trận chung ở Ấn Độ Dương và vịnh Oman vào cuối năm 2019. Hơn nữa, hợp tác uân sự Iran-Nga ở Syria, và hợp tác an ninh-quân sự của Iran với Iraq, Syria và Afghanistan là những ví dụ khác về hợp tác quân sự, vốn có thể được cải thiện thông qua trao đổi vũ khí.

Mục tiêu thứ năm là để gia tăng ảnh hưởng của Iran trong khu vực thông qua việc hỗ trợ cho các bên ủy nhiệm của nước này, dựa vào việc mua vũ khí tối tân và bán vũ khí của chính họ. Nhìn chung, việc cải thiện các năng lực quân sự và khả năng răn đe của Iran bằng những vũ khí và các công nghệ quân sự mới sẽ có hiệu quả trong việc tăng cường vị thế khu vực của nước này, cũng như vị thế của các lực lượng ủy nhiệm và các đồng minh trong khu vực.

Đương nhiên, Iran cần sự ủng hộ của quốc tế về chính trị và vũ trang để đạt được những mục tiêu này và ngăn chặn những nỗ lực của Mỹ trong việc gia hạn các lệnh cấm vận vũ khí. Nga và Trung Quốc là hai cường quốc mà Iran đang trông cậy vào, và sẽ không dễ dàng để Mỹ đối đầu với 2 nước này cùng với Iran. Trong khi đó, vì nhiều lý do khác nhau, Nga có thể hữu ích hơn đối với Iran so với bất kỳ nước nào khác.

Đầu tiên, về mặt chính trị, Nga và các quan chức Nga, từ Ngoại trưởng Lavrov cho tới Thứ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ryabkov và Vụ trưởng Vụ kiểm soát vũ khí và không phổ biến vũ khí hạt nhân thuộc Bộ Ngoại giao Nga Vladimir Ermakov, đã nhiều lần phản đối việc Mỹ gây sức ép đối với Iran và kế hoạch gia hạn lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ. Sự phản đối cũng xuất hiện trong tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nga vào ngày 3/3/2020, nhấn mạnh rằng không có lý do nào để đưa vấn đề gia hạn lệnh cấm vận vũ khí của Iran lên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Thứ hai, Iran và Nga có lịch sử hợp tác vũ trang-quân sự. Trước đây, Iran nhận được nhiều loại vũ khí khác nhau của Nga, như hệ thống S-300, và 2 nước cũng đã hợp tác chặt chẽ ở Syria. Họ có các thỏa thuận an ninh và quân sự khác nhau, trong đó có chống khủng bố và hợp tác khu vực và đã tổ chức các cuộc tập trận chung ở biển Caspi và vịnh Oman. Sự hợp tác này cho thấy hai nước sẵn sàng phát triển quan hệ.

Thứ ba, Iran và Nga có quan điểm địa chính trị nhất quán về sự ổn định và an ninh khu vực, cũng như nhu cầu củng cố cán cân sức mạnh và khả năng răn đe đối với Mỹ. Là một lực lượng chống Mỹ trong khu vực và trên đường biên giới phía Nam của Nga, Iran phục vụ lợi ích của Nga. Do đó, thông qua việc cung cấp vũ khí để chống lại Mỹ, việc giúp đỡ Iran thực tế chính là trợ giúp cho lợi ích của Nga.

Cuối cùng, Iran đã nhiều lần tuyên bố rằng họ quan tâm tới việc mua vũ khí của Nga, và Nga muốn tận dụng nhu cầu hiện đại hóa quân sự của Iran. Việc bán vũ khí cho Iran sẽ làm gia tăng sự phụ thuộc của nước này vào Nga, đồng thời mang lại lợi ích kinh tế vô cùng lớn cho Nga. Ngoài ra, Nga – nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ hai thế giới – có thể tận dụng cơ hội này để cải thiện vị thế của mình trong thị trường vũ khí thế giới bằng việc lợi dụng nhu cầu mua vũ khí lớn của Iran.

(còn tiếp) 

Nguồn: Hội đồng quan hệ quốc tế Nga

TLTKĐB – 07/08/2020

Cơn địa chấn địa chính trị mới tại Trung Đông – Phần cuối


Chính quyền Palestine do Mahmoud Abbas lãnh đạo cũng mất đi điều gì đó sau thỏa thuận này, và điều đó có thể buộc ông phải ngồi vào bàn đàm phán. Thỏa thuận này tước đi quân át chủ bài lớn nhất của ông – ý tưởng rằng các nước Arab vùng Vịnh sẽ bình thường hóa quan hệ với Israel chỉ sau khi Israel đáp ứng các yêu cầu của Chính quyền Palestine về một nhà nước theo ý muốn của họ. Lời khuyên dành cho Abbas là: Hãy quay trở lại bàn đàm phán ngay lúc này và nói rằng ông xem kế hoạch của Trump là “nền tảng”, chứ không phải là “ngưỡng” cho các tham vọng của Palestine. Lập trường như vậy sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ Trump, các nước châu Âu và các nước Arab. Ông vẫn sẽ có lợi thế đòn bẩy, Israel vẫn phải thương lượng với ông, vì người dân của ông ở Bờ Tây sẽ không tự nhiên biến mất, dù có xảy ra điều gì chăng nữa giữa UAE và Israel.

Thỏa thuận này chắc chắn sẽ khuyến khích các nước Hồi giáo khác trong vùng Vịnh – Bahrain, Oman, Qatar, Kuwait và Saudi Arabia, với các giao dịch công khai hay vụng trộm và các trao đổi về tình báo với Israel – noi gương UAE. Họ sẽ không muốn UAE giành được lợi thế khi kết hợp vốn liếng tài chính của mình với ngành công nghệ không gian, công nghệ nông nghiệp và công nghệ y tế của Israel, với khả năng sẽ khiến hai quốc gia này trở nên mạnh mẽ và thịnh vượng hơn.

Ngoài ra còn có 3 bên hưởng lợi khác: Thứ nhất là Quốc vương Abdullah của Jordan. Ông lo sợ rằng hành động sáp nhập của Israel sẽ tiếp thêm sức mạnh cho các nỗ lực biến Jordan thành một phần của Palestine. Mối đe dọa này đã tạm thời lắng dịu. Thứ hai là cộng đồng người Do Thái ở Mỹ. Nếu Israel sáp nhập một phần Bờ Tây, điều đó sẽ tạo sự chia rẽ giữa phe cứng rắn ủng hộ việc sáp nhập và phe tự do phản đối việc sáp nhập tại mọi giáo đường và cộng đồng người Do Thái ở Mỹ. Đó từng là một thảm họa cận kề, nhưng giờ không còn nữa. Và bên hưởng lợi thứ ba là Joe Biden. Nếu kế nhiệm Trump, Biden sẽ không phải lo lắng về vấn đề sáp nhập đầy gai góc này, và ông cần phải có một liên minh thân Mỹ mạnh mẽ hơn trong khu vực để cùng hợp tác.

Những nhân tố địa chính lớn sẽ nhận phần thua là Iran và các lực lượng ủy nhiệm của nước này: lực lượng Hezbollah, lực lượng dân quân Iraq, Tổng thống Syria Bashar al-Assad, Hamas, các phần tử thánh chiến Hồi giáo, lực lượng Houthi ở Yemen và Thổ Nhĩ Kỳ. Có một số lý do giải thích cho điều này. Cho đến nay, UAE đã duy trì một vị thế cân bằng mong manh giữa Iran và Israel, không tìm cách khiêu khích Iran và ngấm ngầm trao đổi với Israel.

Tuy nhiên, thỏa thuận này là một đòn trực diện đối với Iran. Thông điệp ngầm là: “Giờ chúng tôi đã có Israel ở bên, đừng gây rối với chúng tôi”. Thiệt hại to lớn mà Israel gây ra đối với Iran qua các cuộc chiến tranh mạng trong những tháng gần đây thậm chí có thể đã trao cho UAE thêm nhiều không gian để thực hiện thỏa thuận này.

Tuy nhiên, còn một thông điệp khác sâu sắc hơn về mặt tâm lý. Đó là thông điệp mà UAE gửi gắm tới Iran và tất cả các lực lượng ủy nhiệm của nước này: Trên thực tế, hiện khu vực này có hai liên minh – những người muốn lấy tương lai để chôn vùi quá khứ và những người muốn lấy quá khứ để vùi lấp tương lai. UAE đang dẫn đầu phe thứ nhất, và buộc Iran trở thành nhà lãnh đạo của phe thứ hai.

Tháng 1/2020, khi Chính quyền Trump tiêu diệt Qassim Soleimani, người đứng đầu Lực lượng Quds của Iran – một nhánh của Lực lượng vệ binh cách mạng Hồi giáo hoạt động ở nước ngoài, tác giả đã có bài viết trong đó cho rằng Mỹ đã triệt hạ “kẻ ngu ngốc nhất Iran”. Tại sao lại nói như vậy? Phải chăng đó là vì phương thức hoạt động của Soleimani đã trở thành phương thức hoạt động của người Hồi giáo Shiite ở Iran? Nghĩa là thuê người Arab và những người Shiite khác chống lại người Hồi giáo Sunni ở Iraq, Liban, Yemen và Syria – nhằm thể hiện sức mạnh của Iran. Và kết quả của tất cả những hành động này là gì? Iran đã giúp biến cả 4 quốc gia thành những nhà nước thất bại. Vai trò lãnh đạo về mặt tôn giáo của Iran đã trở thành yếu tố lớn nhất dẫn đến sự thất bại của các nhà nước ở Trung Đông – bao gồm cả chính họ – và đó cũng là lý do giải thích tại sao nhiều người Liban đã đổ lỗi cho họ và lực lượng Hezbollah vì tình trạng điều hành tồi tệ trong nước, dẫn tới vụ nổ kinh hoàng ngày 4/8 tại cảng Beirut.

Tác giả đã theo dõi tình hình ở Trung Đông đủ lâu để đưa ra nhận xét rằng “Khu vực này sẽ không bao giờ trở lại như xưa”. Các thế lực theo chủ nghĩa giáo phái, đề cao tính bộ lạc, tham nhũng và phản đối chủ nghĩa đa nguyên đã ăn sâu bắt rễ tại đây. Tuy nhiên, vẫn còn những trào lưu khác – những nam nữ thanh niên đã mệt mỏi với trò chơi cũ, những cuộc chiến cũ, những vế thương cũ đang bị khơi lại hết lần này đến lần khác. Ta có thể thấy họ biểu tình trên khắp các đường phố Beirut sau khi vụ nổ thảm khốc diễn ra, lớn tiếng yêu cầu phải có sự điều hành đúng đắn và cơ hội để phát huy hết tiềm năng của họ.

Thỏa thuận vừa qua giữa UAE và Israel do Mỹ làm trung gian đã cho thấy – ít nhất là torng một khoảnh khắc tỏa sáng ngắn ngủi – rằng quá khứ không phải lúc nào cũng sẽ chôn vùi tương lai, và những kẻ hận thù cũng như những người ủng hộ chia rẽ không phải lúc nào cũng giành chiến thắng. Đó là một luồng gió mới, và có lẽ sẽ sớm trở thành một trận cuồng phong mang những htay đổi quét qua toàn bộ khu vực này.

Nguồn: The New York Times – 13/08/2020

TLTKĐB – 18/08/2020

Cơn địa chấn địa chính trị mới tại Trung Đông – Phần đầu


Thomas Friedman

Thỏa thuận giữa Israel và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) sẽ tác động tới toàn bộ khu vực.

Thỏa thuận do Chính quyền Trump đứng ra làm trung gian để UAE bình thường hóa quan hệ hoàn toàn với Israel và đổi lại, đất nước Do Thái này sẽ không có bất kỳ động thái nào nhằm sáp nhập Bờ Tây vào thời điểm hiện tại, chính là điều mà Trump đã nói trong dòng tweet của mình: “Một bước đột phá lớn”.

Sự kiện này chưa thể sánh ngang với chuyến thăm của Anwar el-Sadat tới Jerusalem – không điều gì có thể sánh ngang với sự kiện mở màn lớn này trong quan hệ Arab – Israel. Sự kiện này chưa thể ngang tầm với cái bắt tay giữa Yasir Arafat và Yitzhak Rabin trên bãi cỏ Nhà Trắng – không điều gì có thể sánh được với thời khắc đầu tiên công khai nối lại quan hệ giữa người Israel và người Palestine. Tuy nhiên, nó cũng đã gần đạt tới tầm cỡ đó.

Chỉ cần nhìn vào sự ủng hộ dành cho các đảng phái chính trị thì người ta có thể nhận thấy tác động của thỏa thuận này tới mọi chính đảng lớn trong khu vực – với những việc đảng thuộc phe ủng hộ Mỹ, ủng hộ Hồi giáo ôn hòa, ủng hộ việc chấm dứt hoàn toàn cuộc xung đột với Israel được hưởng lợi nhiều nhất, và các đảng cực đoan thuộc phe ủng hộ Iran, bài Mỹ, ủng hộ cuộc đấu tranh Hồi giáo trường kỳ với Israel ngày càng bị cô lập và bỏ lại phía sau.

Đó là một cơn địa chấn địa chính trị.

Để đánh giá đầy đủ lý do, chúng ta cần bắt đầu từ những động lực nội tại của thỏa thuận . Chính kế hoạch hòa bình của Trump do Jared Kushner vạch ra, và việc họ sẵn sàng tuân thủ kế hoạch đó, trên thực tế đã tạo tiền đề cho bước đột phá này. Nó diễn ra như sau:

Về cơ bản, kế hoạch của Kushner kêu gọi Israel và Palestine thiết lập hòa bình, với việc Israel có thể sáp nhập khoảng 30% Bờ Tây, nơi sinh sống của hầu hết những người định cư Israel, và Palestine có thể thành lập một nhà nước phi quân sự và chắp vá ở 70% diện tích còn lại, cùng với một số thỏa thuận hoán đổi đất đai với Israel.

Palestine đã thẳng thừng từ chối và cho rằng thỏa thuận này không công  bằng. Tuy nhiên, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, người về cơ bản đã giúp vạch ra kế hoạch rất có lợi này cho Israel, nói rằng ông có ý định tiến hành phần sáp nhập trong kế hoạch trước ngày 1/7 mà không nhất trí với phần mà những người định cư Israel, vốn là nền tảng ủng hộ chính trị của ông, phản đối: Đó là việc người Palestine sau đó sẽ có được một nhà nước ở 70% diện tích còn lại. (Chúng ta hẳn đều tự hỏi rằng phải chăng David Friedman, Đại sứ Mỹ tại Israel d Trump bổ nhiệm và cũng có tư tưởng cực đoan ủng hộ người định cư, đã khuyến khích Netanyahu nghĩ rằng ông cót hể thực hiện kế hoạch này trót lọt).

Kế hoạch này đã không phát huy tác dụng, vì Kushner, người thường xuyên được nghe từ các nước Ai Cập, Jordan và các nước Arab vùng Vịnh rằng việc Israel đơn phương sáp nhận như vậy là hoàn toàn không thể chấp nhận được với họ, đã nói với Netanyahu rằng ông không thể vội mừng. Kushner đã thuyết phục Trump ngăn cản Netanyahu tiến hành sáp nhập ngay lúc này như một cách giành lấy phần thuận lợi hơn trong kế hoạch.

Điều này đã khiến Netanyahu mất đi sự ủng hộ của những người định cư, và – vào thời điểm ông đang bị xét xử vì cáo buộc tham nhũng và phải đối mặt với các cuộc biểu tình diễn ra hàng ngày bên ngoài nơi ở của mình do thành tích yếu kém của ông trong việc lãnh đạo Israel vượt qua cuộc khủng hoảng COVID-19 – khiến ông tuột dốc trong các cuộc thăm dò.

Do vậy, theo lời giải thích của Itamar Rabinovich – một trong những sử gia hàng đầu của Israel về Trung Đông và là cựu đại sứ Israel tại Washington – điều mà Trump, Kushner, Thái tử Mohammed bin Zayed – nhà lãnh đạo trên thực tế của UAE – và Netanyahu đã làm là biến khó khăn thành sức mạnh. Trong một cuộc phỏng vấn, Rabinovich nói: “Thay vì Israel sáp nhập đổi lấy một nhà nước Palestine, thì họ đã biến thành Israel không sáp nhập đổi lấy hòa bình với UAE”. Ông nói thêm: “Kushner về cơ bản đã tạo ra tài sản từ con số 0, mà Israel sau đó có thể trao đổi để giành được hòa bình với UAE. Đây là cuộc trao đổi hòa bình lấy hòa bình, chứ không phải đổi đất đai lấy hòa bình”.

Tiến trình này dường như đã bắt đầu sau khi Đại sứ UAE tại Mỹ Yousef al-Otaiba đăng một lá thư bằng tiếng Hebrew lên tờ Yediot Ahronot của Israel vào tháng 6/2020, trong đó trực tiếp cảnh báo rằng việc Isreal sáp nhập Bờ Tây sẽ làm suy yếu tiến trình thầm lặng mà Israel đã tiến hành với các nước Arab vùng Vịnh.

UAE đã suy nghĩ về mối quan hệ ngoại giao cởi mở hơn với Israel trong một thời gian, nhưng chính cuộc thảo luận về cách thức ngăn chặn việc sáp nhập đã tạo ra khuôn khổ mà ở đó UAE có thể được coi là đã đạt được điều gì đó cho người dân Palestine để đổi lấy việc bình thường hóa quan hệ với Israel.

Ở đây, động lực của Netanyahu rất đáng chú ý, hay theo lời cây bút Israel Ari Shavit: “Netanyahu đang tìm cách thoát khỏi vụ Watergate của riêng mình bằng cách tìm đến Trung Quốc. Ông ấy giống như một Nixon phiên bản ngược lại”.

Ý của Shavit là Netanyahu đang làm tất cả những gì có thể để xoa dịu các thế lực cánh hữu ở Israel – bằng những món quà sáng nhoáng như việc sáp nhập – để họ đứng về phía ông khi ông phải đối mặt với hệ thống tòa án và Bộ trưởng Tư pháp Isarel trong vụ án tham nhũng.

Theo Shavit, bằng cách chấp nhận thỏa thuận này, Netanyahu, như Nixon đã làm với Trung Quốc, đã bỏ mặc các đồng minh tự nhiên có cùng tư tưởng – những người định cư ủng hộ ông vì cho rằng ông sẽ thực hiện được việc sáp nhập – và điều này sẽ buộc Netanyahu trở nên phụ thuộc hơn vào phe ôn hòa và trung hữu ở Israel trong tương lai. Shavit nói: “Thỏa thuận này có thể giúp cứu vãn nền dân chủ khi giờ đây khiến Netanyahu mất đi toàn bộ đội quân gồm các lực lượng cánh hữu mà ông cần có để hạ gục Tòa án tối cao Israel”.

(còn tiếp) 

Nguồn: The New York Times – 13/08/2020

TLTKĐB – 18/08/2020

Sự biến đổi của Trung Đông trong dịch COVID-19 – Phần cuối


Việc Thái tử Mohammed làm việc của cha ông là một điều đáng lo ngại đối với khu vực này. Cuộc chiến ở Yemen năm 2015 và nỗ lực cô lập Qatar năm 2017, mà đã chia rẽ Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh – cả hai đều do Thái tử Mohammed khơi mào – đã gây tốn kém cho tất cả các bên liên quan, bao gồm cả bản thân ông. Dự trữ ngoại tệ của vương quốc dầu mỏ này đã giảm từ 732 tỷ USD vào cuối năm 2014 xuống còn khoảng 500 tỷ USD vào năm 2019. Cũng trong giai đoạn đó, nợ nước ngoài tăng vọt từ 12 tỷ USD lên khoảng 185 tỷ USD. Bị giảm thu nhập sau khi giá dầu sụp đổ, Riyadh đã điều chỉnh lại chương trình Tầm nhìn 2030 của Thái tử Mohammed nhằm giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Chế độ này cũng có nguy cơ không được lòng dân do tuyên bố tăng gấp ba thuế hàng hóa và dịch vụ lên tới 15%.

Do có hai địa điểm linh thiêng nhất của Hồi giáo và là nước sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới, Saudi Arabia có ảnh hưởng toàn cầu lớn cả về tình thần lẫn vật chất. Chế độ quân chủ đã cùng tồn tại trong cảnh giác với các giáo phái theo trào lưu chính thống. Kể từ năm 1979, khi Cách mạng Iran kích động sự thức tỉnh trong thế giới Hồi giáo, các nhà cầm quyền Saudi Arabia chịu ngày càng nhiều sức ép buộc phải làm hài lòng các giáo sĩ vì lo sợ bị buộc tội suy đồi đạo đức. Vì lý do này, ngay cả những bước tiến rất nhỏ như việc Riyadh quyết định cho phép đàn ông và phụ nữ nước ngoài ở chung phòng khách sạn, ngay cả khi hai người không phải là vợ chồng, vào tháng 10/2019 đã trở thành tiêu điểm trên khắp thế giới.

Những rủi ro và phần thưởng

Cho dù Thái tử Mohammed được đánh giá cao vì đã nới lỏng một số điều luật như trên, mà phần lớn định hướng cách nhìn nhận của phương Tây về ông, nhưng nó đi kèm với những đặc điểm tính cách khác, trong đó có cả sự không khoan nhượng với sự bất đồng chính kiến. Cuộc chiến với Qatar về cơ bản liên quan đến việc Doha được cho là quá mềm mỏng với Iran, cường quốc Hồi giáo mà Riyadh cảnh giác nhất, và kênh truyền hình Al Jazeera của Qatar thường có cái nhìn khắt khe về các chế độ Arab. Vụ ám sát nhà báo đồng thời là nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng của Saudi Arabia Jamal Khashoggi tại lãnh sự quán Saudi Arabia ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) đã gây sốc vì mức độ tàn bạo của nó. Vụ ám sát đã mang lại cho Thổ Nhĩ Kỳ cái cớ để xứ lý Thái tử Mohammed, ngay cả khi Ankara đang xây dựng liên minh chiến lược với Doha. Mới đây, Qatar đã tăng hạn mức hoán đổi tiền tệ với Thổ Nhĩ Kỳ từ 5 tỷ USD lên 15 USD, báo hiệu có thêm một quốc gia giàu có ở khu vực lân cận.

Tuy nhiên, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và một số quốc gia khác có mối quan hệ phức tạp với các nhóm thiểu số Hồi giáo cũng coi trọng tình bạn của họ với Thái tử Mohammed không chỉ vì những tín hiệu mà tình bạn đó phát đi trong thế giới Hồi giáo, mà còn vì các thỏa thuận chia sẻ tình báo song phương mà có vẻ có lợi cho phần lớn khu vực, giúp họ kiềm chế chủ nghĩa cực đoan ở chính đất nước họ.

Một số điều này có thể gặp rủi ro nếu Thái tử Mohammed và chế độ Saudi Arabia suy yếu. Trên mặt trận tôn giáo, những người có tư tưởng bảo thủ mà ông chọc tức đang tìm kiếm một cơ hội để tái lập nhóm. Về chính trị, có những dấu hiệu cho thấy không phải tất cả các nhà lãnh đạo Arab đều để mặc Saudi Arabia muốn làm gì thì làm.

Trong một tài liệu tình báo gần đây, Soufan Group lưu ý rằng vào cuối tháng 4, những người ly khai ở miền Nam Yemen dưới ngọn cờ Hội đồng Chuyển tiếp miền Nam (STC) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp và sắc lệnh tự quản, vi phạm một cách trắng trợn hiệp định hòa bình được ký vào tháng 11/2019 ở Riyadh. Chính phủ Yemen được Saudi Arabia hậu thuẫn gọi tuyên bố này là “nguy hiểm và thảm họa” và thậm chí cả UAE, nơi dừng chân của các nhà lãnh đạo STC, cũng bày tỏ sự phản đối. Tài liệu viết: “Nhưng ít ai tin rằng STC sẽ có một động thái khiêu khích đến vậy mà không có ít nhất là sự chấp thuận ngầm của Abu Dhabi”.

Một cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”

Phần còn lại của châu Á nên làm gì trước những diễn biến này và chúng ta có nên lo lắng?

Một nhà quan sát Đông Á chuyên nghiên cứu về Saudi Arabia cho biết chừng nào những sự suy yếu và chuyển hướng còn diễn ra trong bối cảnh “huynh đệ tương tàn” của thế giới Arab, phần còn lại của khu vực này có lẽ không cần phải lo lắng quá nhiều.

Theo như lưu ý của một nhà ngoại giao châu Á dày dạn kinh nghiệm, xét tới tính cách của Thái tử Mohammed, bất kỳ sự suy yếu ảnh hưởng nào của ông mà hạn chế khả năng hăm dọa các nước Arab khác có lẽ cũng đều có lợi cho Tây Á, ông nói thêm: “Điều có lợi cho Tây Á không thể gây hại cho lợi ích của chính chúng ta”.

Điều đó cho thấy vẫn còn sớm để coi đó là sự sụt giảm uy tín đáng kể của Saudi Arabia. Ngay cả khi khoa học nhanh chóng chuyển sang phát triển các nhiên liệu thay thế, dầu mỏ vẫn là nguồn năng lượng toàn cầu chính. Liên minh Mỹ – Saudi Arabia cũng không suy yếu đến mức khiến các nhà hoạch định chính sách phải vội vã xem lại cách tiếp cận khu vực của họ. Tuy nhiên, không thể không nói rằng rất nhiều thay đổi đang diễn ra. Câu hỏi là chính xác thì có bao nhiêu thay đổi.

Nguồn: The Straits Times – 22/05/2020

TLTKĐB – 29/05/2020.

Sự biến đổi của Trung Đông trong dịch COVID-19 – Phần đầu


Khi những tác động kinh tế do đại dịch COVID-19 giáng vào Trung Đông, những đồng minh và kẻ thù cũ phải điều chỉnh theo những thay đổi ảnh hưởng đến các mối quan hệ của họ.

Khoảng 9 giờ tối ngày 19/5, một chiếc máy bay chở hãng hãng Airbus sơn màu trắng không mang ký hiệu đã hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv và di chuyển đến một góc sân bay, nơi 16 tấn vật tư y tế trên máy bay, bao gồm cả thiết bị bảo hộ và máy thở, đã được dỡ xuống. Đó là các nguồn cung cấp cứu trợ quan trọng cho lãnh thổ Palestine bị Israel chiếm đóng, mà cùng với các khu vực còn lại của Trung Đông, đang vật lộn chống lại sự bùng phát của dịch COVID-19. Tuy chuyến bay không chở hành khách, nhưng nó có ý nghĩa to lớn: Đây là lần đầu tiên Ethiad, hãng hàng không thuộc sở hữu của Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE), kết nối hai thủ đô vốn không có quan hệ ngoại giao chính thức.

Theo như lưu ý của tờ Times of Israel, cả Dải Gaza lẫn Bờ Tây đều không có sân bay, có nghĩa là bất kỳ hàng hóa nào chuyển đến lãnh thổ Palestine đều phải đi qua Israel. Điều đó có thể đòi hỏi phải có một cầu không vận từ UAE, nơi đạt các kho dự trữ nhân đạo của Liên hợp quốc. Tuy nhiên xét tới việc hai năm trước, UAE là nước Arab đầu tiên cho phát Quốc ca Israel trong một sự kiện thể thao và tiếp đón Bộ trưởng Thể thao Israel, điều này chắc chắn phải được xem là một bước tiến.

Liên kết hàng không chưa từng có giữa hai cường quốc Tây Á diễn ra chưa đầy hai tuần sau khi Quốc hội Iraq phê chuẩn ông Mustafa al-Kadhimi làm thủ tướng mới, kế nhiệm Adel Abdul-Mahdi vừa từ chức. Là cựu giám đốc tình báo, Kadhimi rõ ràng đảm nhận cương vị thủ tướng nhờ một thỏa thuận ngầm giữa Mỹ và Iran.

Theo trang mạng Middle East Eye có trụ sở tại London, Tehran rõ ràng đã “mua chuộc được” một số phe phái Shiite mà họ hậu thuẫn ở Iraq nhằm tìm cách khác khiến Mỹ giải phóng một số tài sản của họ ở châu Âu. Ở một quốc gia nơi chính trị phụ thuộc vào một “kiềng 3 chân” bất ổn gồm các bên Sunni, Shiite và người Kurd, ban đầu việc bổ nhiệm Kadhimi bị các lực lượng dân quân Shiite thân Iran khác như Kataib Hezbollah phản đối kịch liệt.

Việc Kadhimi được bổ nhiệm làm Thủ tướng đưa Mỹ trở lại vị trí kiểm soát tình hình ở Baghdad và, không ai ngạc nhiên khi một trong những hành động đầu tiên của Thủ tướng mới là triệu hồi nhân vật quân sự nổi tiếng Abdul Wahab al-Saadi. Tướng al-Saadi là người đứng đầu Cơ quan chống khủng bố ở Iraq, đơn vị mà ông đã lãnh đạo một cách xuất sắc giành chiến thắng trước tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS) ở Iraq và Syria trong một cuộc tấn công từ năm 2014 – 2016.

Trong hi đó, Mỹ đang nghiêng về phía Israel hơn bao giờ hết để làm suy giảm mối quan hệ với Trung Quốc. Tờ Jerusalem Post mới đây đưa tin rằng Washington đang mất kiên nhẫn với “sự đổi hướng khôn khéo” của Tel Aviv về chủ đề Trung Quốc, một nước mà Israel đã từng bước mở rộng quan hệ, trong đó có cả các lĩnh vực công nghệ mang tính sống còn. Tờ báo trên dẫn lời một quan chức Mỹ biết rõ các cuộc thảo luận này rằng yêu cầu là “giảm các vướng mắc nói trên (và) loại bỏ các lĩnh vực quan trọng”.

Saudi Arabia không ngừng thay đổi

Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế do sự sụp đổ giá dầu gây ra và các cuộc đọ sức chính trị ngày càng tồi tệ giữa Washington và Bắc Kinh trở nên trầm trọng hơn do đại dịch COVID-19, những thay đổi lớn đang diễn ra trên toàn khu vực Tây Á. Không nơi đâu có nhiều thay đổi như ở Saudi Arabia, nhà lãnh đạo thực tế của liên minh OPEC (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ) và là quốc gia Arab duy nhất nằm trong Nhóm 20 cường quốc kinh tế.

Những gì xảy ra ở Saudi Arabia và các nước láng giềng đều quan trọng đối với phần còn lại của châu Á vì nhiều lý do, chứ không chỉ do họ là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Một trong số những lý do đó là thu nhập từ lao động nhập cư ở vùng Vịnh mà kiều hối họ gửi về nước có tầm quan trọng then chốt đối với hàng triệu hộ gia đình ở Philippines, Indonesia, Myanmar và tiểu lục địa Ấn Độ. Mạng lưới liên kết kết nối các nhóm dân quân ở Tây Á với các vùng khác trong khu vực cũng gây quan ngại.

Liên minh Mỹ – Saudi Arabia kéo dài 7 thập kỷ đã căng thẳng kể từ tháng 3/2020, khi Thái tử Saudi Arabia đặt cược mối quan hệ đặc biệt của mình với Nhà Trắng bằng cách âm thầm tăng sản lượng dầu mỏ như một nước cờ đầu buộc Nga phải cắt giảm sản lượng, do đó giúp định ra một mức sàn trong tình trạng giá dầu đang giảm. Động thái này đã phản tác dụng một phần vì nó xảy ra đồng thời với cuộc khủng hoảng COVID-19, mà dù thế nào cũng khiến cho nhu cầu dầu sụt giảm mạnh.

Hơn nữa, động thái trên đã chọc giận Tổng thống Mỹ, người nổi tiếng một phần nhờ tiềm lực kinh tế mạnh mà hiện tại đã bị dịch COVID-19 tàn phá. Hơn nữa, những tai họa kinh tế của Mỹ được nêu bật thông qua sự sa thải quy mô lớn trong ngành năng lượng của nước này khi các nhà sản xuất dầu đá phiên phải chịu áp lực từ giá dầu thấp kỷ lục.

Phản ứng này gần như là thảm họa khi xem xét bản chất thân mật của mối quan hệ mà Thái tử Mohammed bin Salman đã vun đắp với Tổng thống Donald Trump. Những người thạo tin nói về cuộc điện đàm giữa Tổng thống Trump và Thái tử Mohammed vào ngày 2/4 trong đó giọng điệu của nhà lãnh đạo Mỹ giận dữ đến nỗi Thái tử Mohammed ra lệnh cho những người đang nghe cuộc gọi cùng ông phải rời khỏi phòng để giữ thể diện.

Sau đó, Trump đe dọa sẽ rút lại tên lửa Patriot của Mỹ được bố trí vào năm 2019 sau cái thường được gọi là một cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran vào một cơ sở dầu mỏ chủ chốt. Thái tử Mohammed đã nhanh chóng nhượng bộ để không khiến Tổng thống Trump tức giận hơn, đồng ý cắt giảm sản lượng dầu của Saudi Arabia từ 1/6 xuống mức thấp nhất trong 20 năm.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Straits Times – 22/05/2020

TLTKĐB – 29/05/2020.

Một thời kỳ mới nguy hiểm ở Trung Đông – Phần cuối


Đặt cược của Trump

Tổng thống Mỹ tin rằng việc giết Soleimani trong chiến dịch sẽ thúc đẩy triển vọng tái đắc cử của ông, nhưng động thái này cũng có thể phản tác dụng.

Đảng Dân chủ hiện đang nhìn lại nỗi kinh hoàng vào năm 2003, khi George W. Bush tham chiến với lý do dối trá rằng nhà độc tài Saddam Hussein của chế độ Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt. Một số đảng viên đảng Dân chủ ủng hộ cuộc chiến vào thời điểm đó, bao gồm một thượng nghị sĩ từ Delaware tên là Joe Biden, người hiện đang dẫn đầu nhóm ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ.

Cho đến ngày nay, Biden nhận thấy phải biện minh cho lá phiếu của mình tại Quốc hội tán thành cuộc chiến tranh Iraq. Đó là một phần lý do tại sao đảng Dân chủ bây giờ rất muốn tìm hiểu lý do thực sự tại sao Trump giết Soleimani. Tuy nhiên, cho đến nay, không ai có thể moi được điều gì từ Trump và Ngoại trưởng Pompeo ngoài tuyên bố yếu ớt rằng Qassem Soleimani đã lên kế hoạch tấn công vào các mục tiêu Mỹ. Ngay cả một buổi thông báo tình hình kín giữa Ngoại trưởng Pompeo, Bộ trưởng Quốc phòng Esper, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Milley và Giám đốc CIA Gina Haspel đã không làm đảng Dân chủ thỏa mãn. Ngay cả Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Rand Paul cũng phàn nàn về sự thiếu hụt thông tin cụ thể được cung cấp.

Một điều chắc chắn: Với cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm vào tướng Iran, Trump đã đưa chính sách đối ngoại vào chương trình nghị sự của chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2020. Tuy nhiên, không chắc rằng nó sẽ giúp Trump nhiều. Kết quả nhiều cuộc thăm dò dư luận cho thấy người Mỹ đang cảm thấy mệt mỏi với chiến tranh, với quân đội Mỹ đã và đang chiến đấu ở Afghanistan trong vòng 18 năm, và cuộc chiến tại Iraq đã kéo dài đến 16 năm. Gần 7000 binh sĩ Mỹ đã thiệt mạng ở cả hai nước, và điều đó sẽ không giúp gì cho Trump nếu ông lao vào một cuộc xung đột đẫm máu với Iran.

Đồng  thời, nếu việc Soleimani bị giết không khiến bạo lực leo thang, thì tổng thống cũng có thể coi là giành chiến thắng. Hầu hết các cử tri Mỹ coi câu hỏi về việc liệu giết Qassem Soleimani có đúng theo luật pháp quốc tế không là câu hỏi lý thuyết thuần túy. Ngay cả tờ New York Times theo quan điểm tự do đã viết: “Câu hỏi thực sự về cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Mỹ mà đã giết Tướng Qassem Soleimani không phải là liệu nó có hợp lý hay không, mà là nó có khôn ngoan không”.

Các lập luận tương tự có thể được nghe từ những người có lập trường ôn hòa thuộc đảng Dân chủ do Biden dẫn dắt, người đang buộc tội Tổng thống đưa Mỹ vào một cuộc xung đột mất kiểm soát với Iran. Khác với các đối thủ cánh tả của mình, Biden không chỉ trích các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái vào Soleimani. Bernie Sanders và Elizabeth Warren nói về vụ giết người này và làm rõ họ coi Trump là một tội phạm chiến tranh để ghi điểm với phe cánh tả của họ.

Một cấp độ khó dự đoán mới

Soleimani trở thành mối nguy hiểm an ninh với Israel, do cách ông chỉ đạo và sử dụng các lực lượng dân quân ở Liban và Syria. Cựu Thủ tướng Isarel Ehud Barak nói với DER SPIEGEL rằng tên của Soleimani đã nổi tiếng trong các giới an ninh trong 25 năm qua. Ông nói: “Chúng tôi đưa ông ta vào danh sách theo dõi qua nhiều thế hệ”.

Nhưng nước này chưa bao giờ dám đi xa đến mức giết Soleimani, “mặc dù ông ta khiến tất cả chúng ta đau đầu”, một cựu nhân viên tình báo thừa nhận. Cái giá có vẻ quá cao. Israel không muốn có một cuộc chiến công khai với Iran.

Quả thực, ngay cả khi các nhà lãnh đạo của Israel có thể bí mật ăn mừng cái chế của Soleimani, họ đã cẩn thận không dính líu đến quyết định của Trump. Theo báo chí, Thủ tướng Benjamin Netanyahu đã mô tả cuộc tấn công bằng máy bay không người lái là một “sự kiện của Mỹ”, nói thêm rằng Israel nên “đứng ngoài” bất cứ thứ gì có thể xảy ra. Quân đội Israel thể hiện quan điểm tương tự, nói rằng các quan chức đang theo dõi cuộc xung đột “từ bên lề”.

Đó là một sự xa rời khá nổi bật khỏi những yêu cầu trước đây của Netanyahu muốn Mỹ ném bom các cơ sở hạt nhân của Iran. Ít nhất trong lúc này, chính phủ ở Jerusalem đã quyết định muốn tiếp tục các cuộc tấn công bí mật vào Iran. Đây phần nào có thể quy cho thực tế rằng hiện tại mọi người ít chắc chắn về sự hỗ trợ của Mỹ hơn so với trước đây.

Cựu Thủ tướng Barak nói rằng nhiều quyết định của Trump có thể là tốt cho Israel. Các quyết định trước đây của Trump trong đó có việc di chuyển Đại sứ quán Mỹ đến Jerusalem và chính thức công nhân cao nguyên Golan, được thôn tính từ Syria, là nằm trong lãnh thổ Israel. Ông nói, nhưng Trump là khó lường, Israel không thể chắc chắn rằng liệu Mỹ sẽ đứng bên cạnh nước này trong mọi hoàn cảnh hay không. Aharon Zeevi-Farkash, cựu lãnh đạo tình báo quân sự Israel, nói rằng ít nhất người Iran hành động sáng suốt, nói thêm rằng ông không nhất thiết nói điều tương tự về Trump.

Tình hình là tương tự ở Saudi Arabia. Sự im lặng của một phần lãnh đạo đất nước là điều dễ thấy. Thái tử Mohammed bin Salman dựa vào sự hỗ trợ từ Mỹ trong những năm xung đột với Iran. Nhưng ông nhận ra rằng chiến lược này là nguy hiểm khi Trump đã không làm gì cho các đồng minh của mình ở  Riyadh sau khi các cơ sở lọc dầu bị tấn công vào mùa Thu.

Kể từ đó, Thái tử Mohammed đã và đang thực hiện việc giảm leo thang. Ông đã gửi một phái đoàn đến Washington sau vụ giết Soleimani. Nhưng không giống như các chuyến thăm trước, các phái viên của ông đã không đến đó để thuyết phục người Mỹ cần đối đầu với Iran. Lúc này, họ lập luận ủng hộ điều ngược lại.

Chiến tranh hay ném bom?

Jens Stoltenberg đã có được ưu thế nhất định trong giao thiệp với Tổng thống Mỹ. Tổng thư ký NATO đã tìm ra cách để công nhận sự chính đáng cho Donald Trump trong khi đồng thời cũng làm nhụt chí ông ta theo cách mà ít người khác có được.

Điều đó có thể được nhìn thấy vào ngày 8/1. Trong một bài phát biểu, Trump kêu gọi liên minh phương Tây “tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình Trung Đông”. Sau đó, trụ sở của NATO xác nhận rằng Stoltenberg và Trump đã trao đổi điện đàm, nói rằng cả hai bên đã đồng ý rằng NATO có thể “đóng góp nhiều hơn cho sự ổn định của khu vực và cuộc chiến chống khủng bố quốc tế”.

Nghe có vẻ như là một thỏa thuận, nhưng thực sự không là gì. Stoltenberg nhận thức rõ rằng các thành viên khác nhau của NATO không còn muốn tham gia mạnh mẽ hơn nữa vào Trung Đông. Jean Asselborn của Luxembourg, người giữ chức ngoài trưởng lâu nhất ở châu Âu, nói: “Thật dễ hiểu việc NATO sẽ không can dự quân sự vào thế giới Arab. Các nước thành viên châu Âu sẽ không bao giờ tham gia điều đó”.

Nhưng không ai muốn tham gia cuộc xung đột công khai với Mỹ. Thay vào đó, người châu Âu đang cố tránh xa điều này. Trong các tuyên bố chính thức, họ đang kêu gọi giảm leo thang, đặc biệt với người Iran. Tuy nhiên họ đang ngầm nguyền rủa Trump.

Phần lớn châu Âu đang bị đe dọa. Nếu Trung Đông chìm vào hỗ loạn, châu Âu có thể bị đe dọa với giá dầu tăng lên và một cuộc khủng hoảng tị nạn mới. Ngoài ra, Mỹ có thể không nằm trong tầm bắn của các tên lửa của Iran, nhưng lục địa châu Âu láng giềng thì lại đối mặt với hiểm nguy. Và người châu Âu đã thất bại trong việc tách họ khỏi Washington về vấn đề Iran.

Không có điểm nào khác rõ ràng hơn trong mâu thuẫn về thỏa thuận hạt nhân. Trump đã yêu cầu Đức, Pháp và Anh cuối cùng chấm dứt “những tàn dư” của thỏa thuận “rất thiếu sót” này, mà Washington đã đơn phương rút ra khỏi đó vào tháng 5/2018. Người châu Âu đã và đang cố gắng giải cứu cái mà kể từ đó không còn có thể cứu vãn được nữa.

Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif đã phàn nàn với nhà ngoại giao chủ chốt của EU Josep Borrell về việc thiếu các lợi ích kinh tế đang ra thu được từ thỏa thuận. Và ông nói đúng. Brussels vẫn chưa tìm ra cách trách các biện pháp trừng phạt của Mỹ. Và EU không ở địa vị hỗ trợ các công ty muốn tiếp tục làm ăn với Iran. Chẳng hạn, các ngân hàng lớn ở châu Âu từ chối thực hiện các giao dịch với Tehran, vì ngay cả Ngân hàng đầu tư châu Âu, một thể chế công cộng, cũng phụ thuộc vào thị trường vốn của Mỹ để tái cấp vốn. Đồng USD vẫn có ảnh hưởng lớn đến mức Washington có thể dễ dàng thực thi các biện pháp trừng phạt của mình.

Nhưng các nhà ngoại giao ở Berlin và Paris cũng đổ lỗi cho chính phủ ở Tehran vì đã không cầm lấy nhánh ô liu mà người châu Âu đã trao cho các quan chức ở đó. Trong một động thái bất ngờ, Tổng thống pháp Macron đã tổ chức một cuộc gặp với Ngoại trưởng Iran vào tháng 8/2019 bên lề cuộc họp G-7 ở Biarritz. Tổng thống Trump thậm chí đã sẵn sàng gặp Tổng thống Rohani. Nhưng Tổng thống Rohani từ chối, bất chấp thực tế là người châu Âu đề xuất cho Iran vay hàng tỷ euro.

Thay vào đó, thỏa thuận hạt nhân đang dần hết hiệu lực, tiến tới bị chấm dứt hoàn toàn. Sau khi Tehran tuyên bố sẽ tăng số lượng máy ly tâm làm giàu urani, bất chấp điều kiện khác của thỏa thuận hạt nhân, các bộ trưởng ngoại giao của Đức, Pháp và Anh đồng ý sẽ triệu tập ủy ban trọng tài chung của thỏa thuận nếu cần thiết. Nếu không tìm ra giải pháp hòa giải, các biện pháp trừng phạt của châu Âu cũng sẽ có hiệu lực trở lại. Vào thời điểm đó, thỏa thuận sẽ kết thúc tốt đẹp, và cách duy nhất khiến Iran dừng việc chế tạo bom hạt nhân là thông qua sử dụng sức mạnh quân sự.

Tại thời điểm nào đó, chiến tranh trong bóng tối rồi sẽ trở thành cuộc chiến công khai.

Nguồn: Spiegel

CVĐQT – số 02/2020