Khủng hoảng ngoại giao ở Qatar: Nguyên nhân và tác động


Ngày 5/6, Qatar – một nước nhỏ ở Trung Đông với diện tích chưa đầy 12.000 km2, dân số hơn 2 triệu người – đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Chỉ trong 1 ngày, 7 quốc gia gồm Saudi Arabia, UAE, Bahrain, Ai Cập, Lybia, Yemen và Maldives đã tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Qatar, tạm thời Qatar bị cô lập ở khu vực, tại sao khu vực Trung Đông lại bùng phát làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao? Cuộc khủng hoảng lần này sẽ đi về đâu là vấn đề mà dư luận bên ngoài rất quan tâm.

Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao ở Trung Đông bùng phát nhanh chóng

Ngày 5/6, Bahrain đột ngột tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, sau đó sự việc này tiếp tục lan nhanh, các nước ở khu vực Trung Đông như Arabia, Ai Cập, UAE, Libya… lần lượt tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao đã nảy sinh hiệu ứng lan tỏa, Maldives cũng gia nhập “đội quân” cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Qatar hiện giờ đang trở thành tiêu điểm quan tâm của cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng trở thành một trong những quốc gia bị quốc tế cô lập.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao này đã nhận được sự quan tâm cao độ của cộng đồng quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson đang có chuyến thăm Australia đã bày tỏ mong muốn các quốcc gia vùng Vịnh duy trì quan hệ đoàn kết, khuyến khích các bên ngồi lại cùng giải quyết bất đồng. Bộ Ngoại giao Iran kêu gọi Saudi Arabia và Qatar giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại. Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu cũng kêu gọi giải quyết vấn đề thông qua đối thoại và cảm thấy đau lòng trước tình hình hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ coi sự ổn định ở vùng Vịnh là sự ổn định của chính nước mình. Người phát ngôn của Chính phủ Nga nhấn mạnh hòa bình và ổn định ở vùng Vịnh phù hợp với lợi ích của Nga, khủng hoảng ngoại giao này sẽ không ảnh hưởng đến liên minh chống khủng bố quốc tế. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại bày tỏ mong muốn các nước liên quan giải quyết bất đồng thông qua đối thoại, thương lượng và thỏa hiệp, duy trì đoàn kết, cùng thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực.

Đối mặt với cục diện bị động, Qatar cũng tự biện hộ cho mình. Bộ Ngoại giao nước này nhấn mạnh Qatar là nước thành viên tích cực của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC), hoàn toàn tuân thủ điều lệ của GCC, Qatar tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, thực hiện trách nhiệm chống chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan quốc tế. Cách làm của các nước như Saudi Arabia là thiếu tính hợp lý, không hề có căn cứ, sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân Qatar.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có đặc điểm sau: Một là tốc độ lan tỏa nhanh chóng, trong 1 ngày có đến 7 nước cắt đức quan hệ ngoại giao với Qatar, cho thấy vai trò dẫn đầu của Saudi Arabia trong các nước vùng Vịnh. Hai là làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này có tính tổ chức, mang tính chất móc nối nhất định, do vậy xuất hiện tình trạng nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar trong cùng một ngày. Ba là các nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar rất đa dạng, có nước là thành viên của GCC, có nước lớn ở Bắc Phi, còn có cả nước ở ngoài khu vực Trung Đông.

Sự thay đổi đột ngột trong quan hệ giữa các nước Trung Đông khiến cộng đồng quốc tế rất bất ngờ. Bởi thông thường trong các nước Trung Đông, Israel hay Iran là đối tượng thường xuyên bị “bao vây công kích”, nhưng lần này đối tượng bị “bao vây công kích” lại là Qatar – quốc gia Arập, quốc gia Hồi giáo theo dòng Sunni, quốc gia vùng Vịnh, đồng thời cũng là quốc gia theo chế độ quân chủ. Điều này đã làm tăng thêm nhiều tính bất ổn cho tình hình Trung Đông vốn phức tạp và khó giải quyết.

Qatar bị “bao vây công kích” vì đâu?

Sự việc của Qatar có vẻ như đường đột, thực tế là đều có lý do của nó, trong cái ngẫu nhiên ẩn chứa cái tất nhiên. Đằng sau làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này còn có nguyên nhân sâu xa hơn, lý do cơ bản là Qatar đã chạm vào điểm giới hạn cuối cùng của các nước như Saudi Arabia, họ nhận định Qatar đã “ủng hộ tổ chức khủng bố”, có quan hệ mập mờ với Iran, nên muốn thông qua đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao để cảnh cáo, ràng buộc các hành vi ngoại giao của Qatar. Làn sóng đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao lần này nhìn bề ngoài có vẻ như nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, trên thực tế là mâu thuẫn giữa Saudi Arabia với Qatar đã được công khai, là hình ảnh thu nhỏ của mâu thẫn giữa Saudi Arabia và Qatar.

Khủng hoảng ngoại giao xảy ra giữa các nước vùng Vịnh không phải là lần đầu tiên. Tháng 3/2014, Saudi Arabia, UAE và Bahrain đã ra tuyên bố chung, tuyên bố ngay lập tức triệu hồi các đại sức Qatar để phản đối việc nước này can thiệp vào công việc nội bộ của GCC. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao ngày 5/6, cùng một chủ thể cùng một nguyên nhân, chẳng qua là phạm vi của khủng hoảng ngoại giao mở rộng hơn, mức độ khủng hoảng cũng lớn hơn. Vì vậy, cắt đứt ngoại giao không phải bỗng dưng xảy ra, mà có nguồn gốc lịch sử. Và sự kiện tin tắc tấn công hồi cuối tháng 5 đã mở ra chiếc hộp pandora giữa Saudi Arabia với Qatar.

Sự kiện tin tắc tấn công là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này. Cái gọi là sự kiện hacker chính là sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm các nước Trung Đông, Hãng thông tấn quốc gia Qatar (QNA) đã dẫn lời phát biểu của Quốc vương nước này tại một buổi lễ của quân đội, cho biết Iran là “nước lớn Hồi giáo không thể xem nhẹ”, và “giữ thái độ thù địch với Iran là thiếu khôn ngoan”. Từ ngày 24/5, một số nước như UAE, Saudi Arabia bắt đầu chặn các kênh truyền thông chính thức của Chính phủ Qatar.

Sau đó, Doha ngay lập tức bác bỏ tin đồn, cho biết trang web chính thức của QNA bị hacker tấn công. Cho dù Qatar đã làm sáng tỏ mọi việc, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tiếp tục lây lan. Cho đến nay, những bình luận lan truyền trên mạng đối với việc ủng hộ Iran, rốt cuộc là do tin tặc tấn công hay chính là sự khắc họa chân thực về lập trường của Qatar đối với Iran, vẫn là vụ việc không có manh mối, vẫn chưa thể kết luận. Nhưng trong mắt của Saudi Arabia, việc Qatar ngang nhiên làm ngược lại chủ trương của Saudi Arabia đã chạm vào giới hạn cuối cùng của Saudi Arabia. Ngày 27/5, Quốc vương Qatar Tamim bin Hamad al-Thani đã điện đàm chúc mừng Tổng thống tái cử Iran Rouhani. Theo quan điểm của Saudi Arabia, việc làm này đã công khai “lạc điệu” với lập trường đối với Iran của Saudi Arabia bởi vì thời gian xảy ra sự kiện tin tặc tấn công tương đối đặc biệt – ngay sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm Saudi Arabia. Trước sự khích lệ của Mỹ trong việc đối phó với Iran, đường lớn đã được mở rộng trước mắt Saudi Arabia. Thái độ thân Iran của Qatar đã phá vỡ cục diện chống Iran đang từng bước hình thành, ảnh hưởng đến việc tranh giành quyền chủ đạo khu vực giữa Saudi Arabia với Iran. Saudi Arabia coi Iran là đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong khu vực, đương nhiên không thể chấp nhận sự mập mờ của Qatar trong vấn đề Iran.

Một lý do khác của sự kiện lần này là Qatar bị các nước như Saudi Arabia nhận định là quốc gia “ủng hộ tổ chức khủng bố”, đây cũng là lý do chung khiến các nước như Saudi Arabia tuyệt giao với Qatar. Tiêu diệt các tổ chức khủng bố là nhận thức chung lớn nhất của khu vực Trung Đông cũng là “con át chủ bài” hữu hiệu nhất để tập hợp các lực lượng. Saudi Arabia, UAE phải đối mặt với mối đe dọa từ tổ chức cực đoan như Nhà nước Hồi giáo (IS) và Al-Qeada, còn Ai Cập đối mặt với mối đe dọa an ninh từ tổ chức Anh em Hồi giáo.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao mang lại tác động ở nhiều góc độ

Cuôc khủng hoảng ngoại giao với quy mô lớn như vậy chắc chắn sẽ gây ra tác động ở nhiều phương diện.

Một là ảnh hưởng đến mức độ gắn kết của GCC. Dưới trào lưu thời đại toàn cầu hóa và nhất thể hóa khu vực, Trung Đông vẫn ở trong trạng thái chia rẽ. GCC là một trong những thành quả hiếm có của nhất thể hóa khu vực Trung Đông, việc các nước thành viên GCC như Saudi Arabia, UAE và Bahrain cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar sẽ dẫn đến nội bộ GCC chia rẽ, chia thành hai phe: một phe do Saudi Arabia trong đó có UAE và Bahrain, phe kia chỉ có Qatar, trong khi đó Kuwait và Oman trở thành những nước đứng ngoài. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao này sẽ khiến những mâu thuẫn trong nội bộ GCC trở nên công khai, điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sức hội tụ trong nội bộ GCC.

Hai là ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Trung Đông. Đối với Mỹ, các nước Trung Đông đột ngột cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar là việc không ngờ tới. Tổng thống Donald Trump vừa rời khu vực Trung Đông, các đồng minh của Mỹ ở khu vực này đã cắn xé lẫn nhau, đây rõ ràng là điều Chính quyền Trump không muốn nhìn thấy. Cho dù một bên trong cuộc khủng hoảng là Saudi Arabia, UAE và Ai Cập hay bên kia chỉ có Qatar, đều là đồng minh của Mỹ ở Trung Đông. Bộ Tư lệnh của Mỹ ở Trung Đông được đặt ở Qatar, căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở khu vực Trung Đông cũng được đặt tại Qatar. Chính sách Trung Đông của Mỹ sau khi Trump lên cầm quyền là khôi phục và củng cố mối quan hệ với các đồng minh Trung Đông. Các cuộc đấu đá trong nội bộ liên minh chắc chắn sẽ làm giảm những nỗ lực của Chính quyền Trump trong việc tập hợp các đồng minh. Tính ổn định trong nội bộ các nước đồng minh giảm sút cũng sẽ làm suy yếu hệ thống đồng minh của Mỹ ở khu vực này.

Ba là ảnh hưởng đến các cuộc đấu đá giáo phái ở khu vực Trung Đông. Từ xu thế hiện nay cho thấy Iran chính là nước được lợi nhất trong cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này vì các nước bị cuốn vào cuộc khủng hoảng ngoại giao này đều có thể được tính là quốc gia thù địch với Iran, các nước chống đối Iran bị hao tổn sinh lực thì chắc chắn sẽ làm phân tán hoặc suy yếu sức lực trong việc đối phó với Tehran. Có thể nhận thấy nhóm các nước phản đối Iran ở khu vực Trung Đông không phải là một khối vững chắc. Các nước theo dòng Sunni luôn xảy ra đấu đá trong nội bộ, các nước theo dòng Shiite do Iran đứng đầu lại tỏ ra vui mừng khi nhìn thấy cảnh này.

Bốn là ảnh hưởng đến giá dầu quốc tế. Trong thời gian diễn ra khủng hoảng, do nỗi lo ngại trước việc cung ứng dầu thô gián đoạn gia tăng, giá dầu thế giới đã tăng 1,24%, lên 50,57 USD/thùng.

Ngoài ra, tác giả bài viết cho rằng cuộc khủng hoảng lần này sẽ không có những tác động quá lớn tới tiến trình chống khủng bố của khu vực Trung Đông. Mỹ là nước giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình chống khủng bố ở khu vực này, cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này chắc chắn sẽ không làm dao động mục tiêu đã định của Mỹ, các quốc gia như Saudi Arabia cũng sẽ tiếp tục đi theo Mỹ trong vấn đề chống khủng bố.

Cuộc khủng hoảng có xu hướng phát triển mạnh nhưng vẫn có thể kiểm soát

Tôi cho rằng cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có khí thế mạnh mẽ, nhưng không kéo dài. Mức độ khủng hoảng sẽ không tăng lên, nhưng do đây là sự cắt đứt ngoại giao toàn diện nên việc khôi phục hoàn toàn quan hệ ngoại giao sẽ cần một thời gian. Có những lý do khác nhau:

Một là Qatar khó có thể đơn độc đối phó với cuộc khủng hoảng ngoại giao. Một người không thể địch lại đông người, sau cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này, Qatar có thể sẽ không và cũng không đủ khả năng tiếp tục đối đầu với các nước như Saudi Arabia.

Hai là Mỹ can thiệp hòa giải. Có thể nói Trump có bước mở màn không tồi ở khu vực Trung Đông, nhưng sự bất hòa trong nội bộ các nước đồng minh ở khu vực này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ đối với Trung Đông. Vì vậy, Mỹ chắc chắn phải can thiệp hòa giải, tránh để sự việc leo thang mở rộng. Một mặt tiếp tục thực hiện chính sách vốn có với các đồng minh, mặt khác tránh làm ảnh hưởng tới sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực. Trong thời gian ở thăm Trung Đông, Trump đã hội kiến với Quốc vương Qatar, cho biết Mỹ và Qatar là những người bạn hợp tác lâu dài. Những phát ngôn này chứng tỏ Mỹ sẽ không bỏ rơi Qatar.

Ba là Saudi Arabia sẽ lựa chọn có chừng mực. Lần này Saudi Arabia ra tay với “người của mình” với mục đích dạy dỗ “người em nhỏ”, chứ không phải thật sự đẩy Qatar ra ngoài, điều này không có lợi cho sự phát triển của GCC. Vì vậy, tiếp theo có thể Saudi Arabia sẽ nới lỏng tay, sẽ không làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này cho thấy sự phức tạp nhiều thay đổi của khu vực Trung Đông đã được thể hiện một cách tinh tế, phái Sunni và Shiite là đầu mối chính trong sự ganh đua và hợp tác của mối quan hệ giữa các nước Trung Đông, nhưng điều này không đại diện cho sự hòa thuận trong phái Sunni. Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này còn đại diện cho sự không đoàn kết trong nội bộ các nước Arập, ý thức cộng đồng của các nước Arập vẫn chưa hình thành, đây cũng là nhân tố quan trọng kiềm chế các nước Arập nâng cao hơn nữa vị thế của mình ở khu vực Trung Đông.

Nguồn: thepaper.cn – 06/06/2017

TLTKĐB – 09/06/2017

Tấn công Syria: Một mũi tên nhắm 7 “đích” của Donald Trump – Phần cuối


4/ Không cần đồng minh

Từ khi được bầu làm tổng thống, Donald Trump không ngừng cáo buộc NATO “lỗi thời” và chỉ làm hao tiền tốn của cho Hoa Kỳ. Ông cũng chỉ trích tổ chức quốc phòng này chưa hành động hết sức để chống khủng bố. Với đợt tấn công ngày 7/4, Tổng thống Mỹ đơn phương hành động, trước một cộng đồng quốc tế khó khăn đưa ra phản ứng.

Trong bài diễn văn đọc từ tư dinh ở Mara Lago, Floria, Tổng thống Mỹ phát biểu: “Trong nhiều năm, mọi ý định nhằm làm thay đổi thái độ của Tổng thống Syria al-Assad đều thất bại và thật sự thất bại thảm hại. Hậu quả là cuộc khủng hoảng di dân càng thêm nghiêm trọng và tình hình khu vực tiếp tục trở nên bất ổn, đe dọa đến Hoa Kỳ và các đồng minh. Tối nay, tôi kêu gọi các quốc gia văn minh tham gia với chúng tôi để tìm cách chấm dứt cuộc thảm sát và bể máu tại Syria, cũng như chấm dứt mọi phương tiện, mọi hình thức khủng bố”.

Khi đột nhiên và tạm thời lấy lại vị trí đứng đầu một cộng đồng quốc tế còn đang lưỡng lự, dường như Hoa Kỳ quyết định làm gương, đồng thời vừa tái khẳng định khả năng dấn thân vào một cuộc phản công đơn phương, cả về mặt quân sự lẫn ngoại giao.

Vả lại, đợt tấn công của Mỹ cũng không bị Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg lên tiếng cáo buộc. Trong một thông cáo, không tỏ ra vui mừng cũng không tố cáo sự đổi hướng bất ngờ của Tổng thống Mỹ, ông Jens Stoltenberg chỉ tuyên bố NATO ủng hộ “mọi nỗ lực quốc tế trong mục đích mang lại hòa bình và giải pháp chính trị tại Syria”.

5/ Làm hài lòng ngành công nghiệp vũ khí Mỹ

Hoa Kỳ luôn là nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới và chiếm 33% thị trường, vượt qua cả Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, dù chiếm vị trí nổi trội và ngân sách khổng lồ (582,7 tỉ USD cho năm 2017) dành cho quốc phòng, thì việc rút quân khỏi Trung Đông và các khoản cắt giảm từ thời Chính quyền Obama cũng làm nguội lạnh phần nào tham vọng của các nhà công nghiệp.

Khi lên nắm quyền, ông Donald Trump chủ trương đặt an ninh quốc gia là một trong những ưu tiên của mình và đã ngáng chân người tiền nhiệm khi tuyên bố ủng hộ đánh giá lại ngân sách quốc phòng. Ngày 27/2, Tổng thống Mỹ đã đề xuất “một khoản tăng lịch sử” cho quốc phòng năm 2018 để “kiến thiết lại” quân đội và để đối phó với các mối đe dọa của một thế giới “nguy hiểm”. Mục tiêu là đạt đến 603 tỉ USD vào năm 2018. Ngay lập tức, thông báo trên đã khiến cổ phần của các công ty có hợp đồng với Lầu Năm Góc tăng lên. Tuy nhiên, với Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain, kiêm Chủ tịch Ủy ban quân sự tại Thượng viện, khoản tăng đó vẫn chưa đủ và ông yêu cầu phải tăng thành 640 tỉ USD cho năm 2018.

Khi ra lệnh bắn 59 tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa trị giá 832.000 USD, Tổng thống Mỹ gửi tín hiệu tích cực mới đến một trong số các tập đoàn công nghiệp có thế lực của Mỹ, như nhận định của chính trị gia cực hữu Pháp Marion Maréchal Le Pen. Và dù trận oanh kích vào Syria hẳn là lựa chọn “được cân nhắc” nhất và hiện tại không kéo Hoa Kỳ về lâu dài vào cuộcchiến tại Syria, thì quyết định trên cũng được hiểu là lời hứa một tương lai xán lạn cho ngành công nghiệp vũ khí.

6/ Làm hòa với các “lão thành” đảng Cộng hòa

Giữa Donald Trump và các thành viên Đảng Cộng hòa là một câu chuyện phức tạp. Một số nghị sĩ Cộng hòa cũng như Dân chủ cáo buộc quyết định tấn công của Mỹ là một hành động vi hiến. Tuy nhiên, với những người chủ chốt trong đảng Cộng hòa, đây lại là thời điểm cho tập hợp, trong đó có cả những người đã chỉ trích quyết định giảm ngân sách cho quốc tế để tăng chi cho quốc phòng.

Trong số họ, cựu ứng viên tổng thống năm 2008 John McCain và Thượng nghị sĩ Lindsey Graham đều hoan nghênh quan điểm chống chế độ Bachar al-Assad và hành động nhanh chóng của Nhà Trắng. Trong một thông cáo chung, hai chính trị gia Cộng hòa viết: “Ngược với chính quyền trước, Tổng thống Donald Trump đã đối mặt với một thời điểm bản lề tại Syria và đã chọn hành động. Vì thế, ông xứng đáng với sự ủng hộ của dân tộc Mỹ”.

Thượng nghị sĩ Marco Rubio, người từng đánh giá đề xuất ngân sách của Tổng thống Trum là “thảm họa”, cũng có cùng nhận định: “Chúng ta hy vọng tối nay, cuộc tấn công chống chế độ Assad sẽ làm giảm bớt khả năng gây ra những hành động tàn bạo nhắm vào người vô tội của chế độ này”.

Paul Ryan, Chủ tịch phe Cộng hòa tại Hạ viện và có lẽ là người chỉ trích Tổng thống Trump nhiều nhất trong đảng, cũng đã đánh giá hành động tại Syria là “phù hợp và đúng đắn… Cuộc tấn công sách lược này chứng minh rằng chế độ Assad, từ giờ trở đi, đừng trông chờ vào việc Mỹ không hành động trước những tội ác của chế độ Damas đối với người dân Syria”.

7/ Đánh lạc hướng dư luận trong nước

Giữa cuộc tuần hành của Phụ nữ, sắc lệnh về nhập cư bị phản đối và thất bại đau đớn trong cải cách luật bảo hiểm Obamacare, những tháng cầm quyền đầu tiên của Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng chưa biết đến thành công trong chính sách đối nội. Hầu như tất cả các cải cách mà ông cố tiến hành đều không đạt thành công và khiến ông suy yếu đi.

Và để làm quên đi những thất bại của mìh, còn gì tốt hơn là chuyển hướng sang điều gì đó có quy mô hơn? Bằng cách tấn công Syria và làm mất lòng Nga, Donald Trump chắc chắn đã đẩy được sự chú ý của thế giới, các phương tiện truyền thông và người dân Mỹ, đến nơi mà ông muốn: nơi nào đó tách xa hẳn những vấn đề liên quan đến việc quản lý nội tình nước Mỹ.

“Bài trắc nghiệm thật sự đối với ông Trump là chuyện xảy ra sau này”

Khi chọn tấn công có chủ ý nhằm vào một căn cứ không quân Syria, ông Donald Trump muốn gửi một thông điệp đến Tổng thống Bachar al-Assad, mà vẫn không thay đổi căn bản sự can thiệp của Mỹ vào Syria, như nhận định của cố vấn an ninh quốc gia Herbert Raymond McMaster, được tờ Washington Post trích dẫn.

Thế nhưng, hành động bất ngờ trên lại làm dấy lên hàng loạt câu hỏi về trật tự địa chính trị. Ông Antony Blinken, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ dưới thời Chính quyền Obama, khi trả lời phỏng vấn New York Times, cho rằng bài trắc nghiệm thật sự đối với Tổng thống Donald Trump bắt đầu từ bây giờ.

Vì quyết định bất ngờ của chủ nhân Nhà Trắng có thể đánh dấu một bước ngoặt mới trong quan hệ Nga – Mỹ, cùng đang dấn thân vào cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố và trong bối cảnh Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson dự kiến đến Moskva ngày 12/4. Và Washington có nguy cơ phải chấp nhận trò chơi người giữ thăng bằng: một bên là cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố ở Syria, hoàn toàn nằm dưới sự bảo trợ của Moskva; bên kia là khả năng chỉ trích, thậm chí là trừng phạt, như hiện nay đang làm, các quyết định gây tranh cãi của Bachar al-Assad. Để làm được “tất cả chuyện này sẽ cần một điều gì đó mà chính quyền tỏ ra ít quan tâm: đó là nền dân chủ thông minh”, như cựu thứ trưởng ngoại giao Antony Blinken nhấn mạnh.

Nguồn: Tổng hợp báo chí Mỹ

TKNB – 12/04/2017

Tấn công Syria: Một mũi tên nhắm 7 “đích” của Donald Trump – Phần đầu


Ngày 7/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump khiến cả thế giới ngạc nhiên khi ra lệnh bắn 59 tên lửa hành trình vào căn cứ không quân Shayrat tại Syria để đáp trả vụ tấn công hóa học do chính quyền Damas tiến hành nhắm vào thường dân ở Khan Cheikhoun. Theo trang Huffington Post (7/4), chỉ một mũi tên bắn đi, Tổng thống Mỹ đã đạt được 7 mục tiêu, đồng thời một lần nữa chứng minh ông Trump là người khó lường.

Cho đến giờ, đường lối đối ngoại của Tổng thống Mỹ khá rõ ràng: hạn chế vai trò của Hoa Kỳ trong mọi hiệp định khác nhau, từ lĩnh vực thương mại đến quân sự, vì mục đích “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Ngày 30/3, cả Ngoại trưởng Rex Tillerson và đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, đều tuyên bố việc Tổng thống Syria Bachar al-Assad ra đi không còn là “ưu tiên” đối với Mỹ.

Vậy mà mọi chuyện đã thay đổi trong vòng một tuần. Sau khi lên án vụ tấn công hóa học tại Syria như nhiều nguyên thủ khác, Tổng thống Donald Trump dường như quyết định tăng tốc khi ra lệnh bắn 59 tên lửa vào lãnh thổ Syria. Ngoài hậu quả, hiện chưa chắc chắn, về phương diện địa chính trị thế giới, bước ngoặt này có thể phục vụ các lợi ích của Tổng thống Mỹ , trên trường quốc tế cũng như các vấn đề chính trị nội bộ. Huffington Post phân tích 7 điểm chính sau.

1/ Donald Trump thể hiện vị trí tổng thống và muốn mọi người nhớ điều này

Đợt tấn công của Mỹ tại Syria đánh dấu quyết định đầu tiên về lập trường của Donald Trump, hoàn toàn độc lập với di sản chính trị mà cựu tổng thống Barack Obama để lại. Đối với Tổng thống Mỹ đương nhiệm, vụ tấn công Syria cũng là cách thể hiện khác biệt với người tiền nhiệm.

Năm 2012, Barack Obama từng khẳng định việc sử dụng vũ khí hóa học tại Syria sẽ là “lằn ranh đỏ” không được vượt qua. Một lời tuyên bố gây xôn xao, cuối cùng lại tác động ngược lại tổng thống Mỹ thời đó. Vì sau vụ thảm sát Ghouta (Syria) năm 2013, Barack Obama đã chần cừ can thiệp quân sự, để cuối cùng rút lui và chấp nhận một bản thỏa thuận với Nga về việc phá hủy kho vũ khí hóa học của Syria. Vậy là “lằn ranh đỏ” bị chế nhạo, trong đó có cả tướng Micheal Flynn, cựu cố vấn an ninh của Donald Trump.

Khi cho thực thi những lời đe dọa của ình chỉ trong vòng vài giờ, phải chăng Donald Trump cuối cùng cũng tìm cách thể hiện vai trò của người đứng đầu hành pháp?

Ông Pierre Guerlain, giáo sư về văn minh Mỹ, phân tích: “Bỗng nhiên, chúng ta tin vào lời nói của Trump. Đó là một đòn truyền thông bậc thầy”.

Tuy nhiên, chẳng có gì đảm bảo về tỉ lệ tín nhiệm của Tổng thống Mỹ, cú đánh cược này sẽ phải trả giá, vì bị tổn thương do chiến trnah Iraq, rồi đến Afghanistan, người dân Mỹ không hưởng ứng một cuộc tham chiến mới. Vì vậy quyết định của Donald Trump có thể tác động đến tỉ lệ được lòng dân của ông, đang bị sụt giảm từ khi ông bắt đầu nhiệm kỳ.

2/ Gây ấn tượng với Trung Quốc, Triều Tiên và Iran

Như trùng hợp ngẫu nhiên, quyết định can thiệp của Mỹ được đưa ra đúng vào lúc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang công du Hoa Kỳ. Sự tính toán hoàn hảo cho phép Donald Trump chứng minh quyền lực trong mắt Trung Quốc mà ông chủ Nhà Trắng duy trì mối quan hệ tế nhị.

Đúng là cuộc gặp giữa hai nguyên thủ được đánh giá “rất khó khăn” với nhiều cuộc đàm phán nhạy cảm về thâm hụt thương mại và vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tuy nhiên, quyết định đầy ngạc nhiên của Donald Trump đã làm đảo lộn mọi vấn đề ưu tiên và gửi một tín hiệu đặc biệt mạnh mẽ đến châu Á: Tổng thống Mỹ “sẵn sàng đưa ra các biện pháp dứt khoát, khi cần thiết” như tuyên bố ngày 6/4 của Ngoại trưởng Rex Tillerson.

Đây là thông điệp cần được chú ý tiếp nhận tại châu Á, vì chỉ vì ngày trước khi đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ đã lên tiếng cảnh báo Bình Nhưỡng trong buổi trả lời phỏng vấn Financial Times: “Nếu Trung Quốc không giải quyết vấn đề Triều Tiên, chúng ta sẽ làm”.

Một nước khác có thể cũng đang chú ý theo dõi cuộc phản công của Mỹ là Iran. Quốc gia Trung Đông này duy trì mối quan hệ căng thẳng với Chính quyền Trump. Điểm bất đồng chính giữa hai nước là thỏa thuận hạt nhân Iran được Chính quyền Obama ký năm 2015 và thường xuyên bị chính phủ hiện nay chỉ trích.

Donald Trump từng trực tiếp đe dọa Iran sau khi nước này tiến hành thử tên lửa hành trình ngày 29/1. Vài ngày sau, Tổng thống Trump viết trên Twitter: “Iran đang đùa với lửa. Họ đã không biết đánh giá lòng tử tế của tổng thống Obama với họ. Nhưng tôi thì không!”. Khi tấn công Syria, thông điệp đưa ra rất rõ ràng: Donald Trump, càng khó đoán hơn bao giờ hết, không ngần ngại cho thi hành những lời đe dọa của mình.

3/ Giữ khoảng cách với Nga

Khi bước vào Nhà Trắng, Donald Trump ngay lập tức nói thẳng: quan hệ Mỹ – Nga phải tiến triển, thậm chí Tổng thống Mỹ còn hy vọng “một mối quan hệ rất tốt đẹp” với đồng nhiệm Ng. Tuy nhiên, ý định rõ ràng này cùng với cùng với những nghi ngờ vê việc Nga can thiệp vào đợt tranh cử tổng thống Mỹ, cuối cùng lại tác động ngược đến Tổng thống Donald Trump, người từng bị bà Hillary Clinton cáo buộc là “con rối” của Vladimir Putin.

Khi tấn công vào quôc gia được Moskva bảo trợ ở Trung Đông, Donald Turmp có thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Tổng thống Nga. Vladimir Putin coi sự can thiệp của Mỹ là “hành động xâm lược đối với một nhà nước có chủ quyền”. Còn theo nhận định của giáo sư Pháp Pierre Guerlain, “với hành động mang tính biểu tượng này, Donald Trump muốn gột bỏ mọi nghi ngờ là con rối của Putin”.

Liệu cuộc tấn công ngày 7/4 có đủ để làm dịu công luận và bịt miệng mọi nghi ngờ can thiệp hay không? Chưa chắc, vì FBI đã mở một cuộc điều tra. Ngược lại, quyết định đánh vào Syria “giáng thêm một đòn đáng kể cho quan hệ Nga – Mỹ, hiện đang trong tình trạng xấu”, như khẳng định trước báo giới của ông Dmitri Peskov, một orng số phát ngôn viên của Tổng thống Putin.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tổng hợp báo chí Mỹ

TKNB – 12/04/2017

Vì sao Nga viết Hiến pháp Syria?


Leonid Isayev

Dự thảo Hiến pháp Syria do Nga soạn thảo chứa không ít sự lạ lùng và khiếm khuyết. Dự thảo này trong các kế hoạch của Moskva là thực hiện chức năng công vụ, và đối với Nga nó được thông qua hay không, điều đó không quan trọng lắm. Điều quan trọng hơn là thúc đẩy tiến trình thảo luận chế độ chính trị tương lai của Syria như thế nào, sau khi xuất hiện những dự thảo Hiến pháp thay thế.

Vòng hòa đàm về Syria diễn ra vào tháng 1 vừa qua tại Kazakhstan không mang lại bất cứ kết quả đột phá nào. Chính quyền Syria và chính một phần các nhóm đối lập, vốn đồng ý tham gia cuộc hòa đàm, từ chối ký tuyên bố chung. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán tại Astana hoàn toàn không để lại bất cứ sáng kiến mới nào, ở đó Moskva đưa ra dự thảo Hiến pháp mới Syria.

Tại sao chờ đợi?

Với tất cả sự bất ngờ của nó, Hiến pháp mới Syria do Nga đề xuất hoàn toàn phù hợp với chiến lược chung của Nga trong cuộc xung đột tại Syria. Lợi dụng thời kỳ chuyển giao tại Washington, Moskva đã quyết định chớp lấy sáng kiến về Syria và nỗ lực định rõ luật chơi của mình với tư cách được mọi người thừa nhận. Cuộc gặp các bộ trưởng Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga tại Moskva vào tháng 12 năm ngoái, cũng như cuộc gặp sau đó tại Astana nhằm hiện thực hóa ý đồ trên của Moskva. Theo quan điểm của lãnh đạo Nga và hai đồng minh tình huống của Moskva sự tiếp nối logic của sáng kiến khu vực này là các cuộc đàm phán tại Geneva. Vì vậy, hiện Moskva đang rất chú ý tới cuộc gặp sắp tới tại Thụy Sĩ, bởi vì chính kết quả của cuộc gặp này có thể sẽ đánh giá được mức độ thành công những nỗ lực trung gian chung của Nga, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Các cuộc đàm phán tại Geneva sẽ rất quan trọng đối với Moskva xét theo quan điểm danh dự, bởi vì trong trường hợp các cuộc đàm phán này đổ vỡ Nga sẽ không có cơ hội xóa bỏ tất cả đối với vai trò phá hoại của Mỹ. Moskva sẽ buộc phải tự đi tiếp xúc với chính lực lượng mà cách đây chưa lâu bị coi là khủng bố, cũng như tạo những điều kiện để tăng thêm cho cuộc gặp sau này dù chỉ một chút mang tính xây dựng. Như vậy, sáng kiến hiến pháp của Nga nhằm giải quyết nhiệm vụ hình ảnh này và trong một chừng mực nào đó mang tính chất chiến lược đối với Moskva. Thế nhưng trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán Geneva gần đây các bên tham gia cũng không thể chuyển sang thảo luận cải cách hiến pháp ở Syria, theo tinh thần Nghị quyết số 2254 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Con đường không có triển vọng nhất đó là chờ đợi hiến pháp sẽ được các lực lượng ở Syria viết. Sự thiếu tin tưởng giữa các bên và lực lượng chống đối chế độ tới mức mà đến nay vẫn chưa sẵn sàng tham gia các cuộc đàm phán trực tiếp. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, bất cứ dự thảo Hiến pháp nào do Chính quyền Syria đề xuất, bị phe đối lập bác bỏ một cách vô điều kiện, và ngược lại. Đó là chưa nói đến việc trong môi trường phe đối lập rất phổ biến ý kiến cho rằng hoàn toàn không nên soạn thảo hiến pháp cho tới khi vấn đề tương lai của Tổng thống Syria Bashar al-Assad được giải quyết. Nếu như soạn thảo hiến pháp bên ngoài lãnh thổ Syria, thì trong đó nhất định sẽ xuất hiện ít nhất hai vấn đề nghiêm trọng mà ngay cả sáng kiến của Nga cũng đã vấp phải. Thứ nhất, bị cản trở nghiêm trọng bởi kinh nghiệm thất bại của quốc gia Iraq láng giềng, nơi hiến pháp được soạn thảo với sự tham gia trực tiếp của Mỹ. Đại diện phe đối lập Syria Yahya al-Aridi đã nói về điều này tại Astana. Thứ hai, vấn đề nằm ở chỗ các quốc gia trung gian, đồng thời là các bên trong cuộc xung đột Syria, nên tính không định kiến của những nước này bị nghi ngờ. Đối với phe đối lập Syria, Moskva vừa là quan tòa, vừa là đối thủ, vì vậy dự thảo Hiến pháp ngay từ đầu đã gây ra cho lực lượng nổi dậy cảm giác bị tước đoạt, bất chấp tính toàn diện của dự thảo này. Quả thực, sáng kiến tương tự từ phía những lực lượng bên ngoài khác, chắc có lẽ cũng gây ra phản ứng tiêu cực tương từ từ phía một trong các bên xung đột.

Không Arập và Hồi giáo

Có lẽ, điều này do tính phổ quát của bản hiến pháp được đề xuất, là bản tuyên ngôn độc đáo, kịch bản lý tưởng của Nga dành cho Syria. Điều này chứng thực ngay cả dung lượng bản hiến pháp, dự thảo của Nga ngắn gần gấp đôi so với hiến pháp hiện hành, lời lẽ rất chungchung mà trên thực tế có đầy rẫy trong tất cả các điều khoản của Luật cơ bản tiềm năng. Rõ ràng, Moskva cố gắng tránh những cách trình bày khiêu khích, bỏ qua tất cả những mặt mâu thuẫn nhất.

Ví dụ rõ ràng là Điều 5 dự thảo hiến pháp, Nga đề xuất mô tả thể chế tương lai chính trị của Syria. Trong đó nói rằng “hệ thống chính trị được xây dựng dựa trên những nguyên tắc và thành lập các cơ quan chính quyền nhà nước bằng cách bí mật”. Rõ ràng, được trình bày dưới dạng như thế, điều khoản này không cung cấp thêm sự hiểu biết rằng hệ thống chính trị tương lai của nước này sẽ như thế nào, còn cách diễn đạt như vậy có thể dễ dàng đề xuất cho bất cứ nước nào trên thế giới. Tuy nhiên, vớit ất cả tính chất phổ quát trong phương án hiến pháp của Nga đang phát triển theo một số xu hướng mà có lẽ sẽ được thảo luận tại Geneva.

Thứ nhất, đó là từ bỏ hoàn toàn việc sử dụng từ “Arập”. Điều này liên quan đến cả tên gọi mới – Cộng hòa Syria (hiện tên gọi là Cộng hòa Arập Syria) và một số điều khoản khác, mà ở đó sẽ không còn những thuật ngữ như “dân tộc Arập”, “nền văn minh Arập”…, mặc dù trong Hiến pháp có đầy rẫy những thuật ngữ này. Tất nhiên, bước đi này có thể coi là sự nhượng bộ của chế độ Baath, vốn có khẩu hiệu “Dân tộc Arập thống nhất, có sứ mệnh thiêng liêng”, đến nay vẫn chưa thay đổi, nhưng sự nhượng bộ mang tính chất rất biểu tượng.

Xét về phương diện nào đấy, còn có một đổi mới mang tính cách mạng đối với thế giới Arập đó là trong phương án hiến pháp do Nga đề xuất không chỉ Arập mà còn cả Hồi giáo không được nhắc đến. Nhiều người liên hệ điều này với lập trường của Bashar al-Jafari tại Astana, nhấn mạnh rằng Syria phải là “nhà nước thế tục và dân sự”. Điều 3 Hiến pháp Syria hiện hành nêu rõ: “Tôn giáo của Tổng thống là đạo Hồi, còn Sharia là nguồn chính của luật pháp”. Cách viết như thế là tấm danh thiếp của đa số chế độ Arập, vốn cổ vũ cho điều khoản này để hợp pháp hóa sự cầm quyền của mình trong con mắt của người dân Hồi giáo, cũng như hạn chế quyền chính trị và tự do của lực lượng đối lập, khi viện dẫn họ vi phạm các chuẩn mực đạo đức Hồi giáo.

Một số cách trình bày mờ nhạt trong dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất có thể có lợi cho chế độ của Tổng thống Bashar Assad. Ví dụ, như Điều 5 đã nói ở trên, bắt buộc các đảng phái chính trị phải tôn trọng chế độ hiến pháp, những nguyên tắc dân chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”. Với cách trình bày như thế, bất cứ đảng phái đối lập nào đều có thể bị tuyên bố đứng ngoài pháp luật với cáo buộc, ví dụ, chà đạp những giá trị dân chủ.

Xung lực mơ hồ

Còn một phương diện quan trọng của dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất là phân bổ lại quyền lực giữa trung ương và khu vực, song không đưa ra bất cứ chi tiết cụ thể nào.

Chỉ có duy nhất một đơn vị tự trị được nhắc đến trong hiến pháp, đó là tự trị văn hóa người Kurd, tuy nhiên ngay lập tức gây ra sự phản đối từ phía người Kurd. Tại cuộc gặp với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov, đại diện đảng người Kurd, Liên minh Dân chủ ông Khaled Issa tuyên bố rằng chính định nghĩa “tự trị văn hóa người Kurd” là không đúng và cần phải đổi thành “Khu tự trị miền Bắc Syria”.

Vấn đề này rõ ràng về mặt nguyên tắc: cả hai thuật ngữ cho đến nay vẫn chưa có sự ràng buộc địa lý rõ ràng và tiềm ẩn xung đột lớn. Rõ ràng, người Kurd sẽ buộc phải sử dụng sức mạnh để tăng cường những yêu sách của mình về những vùng lãnh thổ mong muốn. Ngay cả chính quyền hợp pháp ở Syria thay đổi theo dự thảo của Nga cũng phải đệ trình lưỡng viện Quốc hội. Như vậy tại Syria sẽ xuất hiện thể chế mới đó là Hội đồng lãnh thổ, có chức năng “bảo đảm sự tham gia của đại diện các đơn vị hành chính trong việc thông qua luật quản lý nhà nước”. Chức năng của Hội đồng này còn bao gồm bổ nhiệm các quan tòa của Tòa án hiến pháp tối cao, cũng như “thông qua quyết định của tổng thống về áp đặt tình trạng khẩn cấp và về tuyên bố động binh”. Đối với Syria, quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo” thì ý tưởng như thế có lẽ hoàn toàn hợp lý, tuy nhiên tính hiệu quả hoạt động của Thượng viện đang gây ra không ít vấn đề – dự thảo hiến pháp của Nga không chỉ rõ những đơn vị hành chính, nơi bầu ra đại diện tham gia Hội đồng lãnh thổ.

Cuối cùng, dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất dù hạn chế quyền lực của tổng thống so với hiến pháp hiện hành, nhưng dẫu sao ở Syria vẫn duy trì hình thức cầm quyền – Cộng hòa Tổng thống. Trong khi điều này càng làm cho vấn đề khả năng tham gia của ông Bashar Assad vào cuộc bầu cử tổng thống sắp tới trở nên căng thẳng. Câu trả lời cho vấn đề này có thể tìm thấy ở mục “Những điều khoản chuyển tiếp và kết thúc”. Và câu trả lời này rõ ràng là một bước đi thụt lùi thậm chí so với hiến pháp hiện hành của Syria. Dự thảo của Nga trao cho ông Bashar Assad cơ hội xóa sạch số nhiệm kỳ tổng thống. Điều 82 nêu rõ: “nhiệm kỳ Tổng thống Syria đương nhiệm kết thúc khi hết 7 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức. Tổng thống có quyền một lần nữa tái tranh cử chức vụ tổng thống nước Cộng hòa Syria. Những chuẩn mực của hiến pháp về thời hạn quyền lực được áp dụng đối với ông Assad bắt đầu tư cuộc bầu cử tổng thống tới”. Hay nói cách khác, Bashar Assad sẽ vẫn là tổng thống hợp pháp đến năm 2021, khi nhiệm kỳ hiện nay của ông kết thúc, sau đó có khả năng kéo dài thời gian đứng đầu chính phủ thêm hai nhiệm kỳ 7 năm nữa.

Chính ý tưởng duy trì mô hình cộng hòa tổng thống tại Syria trông có vẻ đáng ngờ. Các đối thủ bên ngoài ngày càng nghiêng về khuynh hướng chia đất nước Syria thành những lĩnh vực ảnh hưởng, có nghĩa là Syria buộc phải học hỏi kinh nghiệm của Liban, đòi hỏi phải chuyển qua hình thức cộng hòa nghị viện. Quả thực, với kịch bản như thế cũng đầy rẫy nguy cơ. Sau khi cố định nguyên trạng hiện nay, không có bất cứ sự bảo đảm nào, rằng cân bằng lực lượng sắp tới sẽ không thay đổi và không gây ra vòng xoáy xung đột dân sự tiếp theo.

Nguồn: Trung tâm Carnegie Moscow

TLTKĐB – 01/03/2017

“Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan – Phần cuối


Sự can thiệp và chính trị hóa: Số phận của bộ máy tư pháp và tính hợp pháp

Thái độ coi thường đối với tinh thần của hiến pháp được thể hiện trong những hành động này cũng được phản ánh trong cách đối xử từ ngữ trong hiến pháp và các quy phạm luật pháp khác. Erdogan đã phớt lờ điều 101 của hiến pháp, trong đó quy định tổng thống phải từ bỏ tư cách thành viên trong đảng và từ chức nghị sĩ quốc hội ngay sau khi được bầu. Erdogan vẫn giữ nguyên tư cách thành viên tại 2 tổ chức nói trên, đảm bảo rằng ông đã đưa Davutoglu làm người kế nhiệm và chỉ từ chức nghị sĩ quốc hội sau khi chính thức nhậm chức Tổng thống.

Khi xét tới sự mạnh mẽ của giới tinh hoa quyền lực mới, đang tồn tại nguy cơ không chỉ hiến pháp và luật pháp đánh mất vai trò kiềm chế và chỉnh sửa của mình đối với giới hành pháp, mà điều tương tự cũng đang diễn ra với bộ máy tư pháp.

Ngay sau khi các cuộc điều tra tham nhũng chống lại một số thành viên trong nội các của Erdogan được tiến hành vào tháng 12/2013, chính phủ Erdogan đã gây áp lực lên Hội đồng Thẩm phán và Ủy viên công tố Tối cao (SBJP), theo luật là một cơ quan độc lập tự quản của bộ máy tư pháp. Chính phủ đã đạt được những thay đổi trong thành phần của hội đồng này và thuyên chuyển công tác các ủy viên công tố và thẩm phán điều tra cáo buộc tham nhũng, cũng như giới hạn nhiều hơn phạm vi các cuộc điều tra được thực hiện bởi ủy viên công tố nhà nước thông qua một sắc lệnh. Một chương trình cải cách bộ máy tư pháp được đưa ra một cách vội vàng và áp lực lên SBJP nhằm chỉ định các thẩm phán dễ bảo đã đảm bảo cho chính phủ có được ảnh hưởng lên các quyết định sơ thẩm và phúc thẩm mà liên quan tới việc bỏ tù và bắt giữ. Sau khi các thẩm phán và ủy viên công tố có liên quan bị thay thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi các vụ điều tra tham nhũng đang được tiến hành chống lại 4 bộ trưởng của Erdogan và con trai ông Bilai đã bị rút lại.

Ngoài việc can thiệp vào bộ máy tư pháp, chính phủ còn lợi dụng các tiêu chuẩn thấp để chính trị hóa các vụ truy tố. Ví dụ, các vụ điều tra nói trên đã bị rút lại với lý do các nhà điều tra có liên quan tới một âm mưu lật đổ chính phủ và các ủy viên công tố và cảnh sát phải đối mặt với cáo buộc này. Các cáo buộc “lật đổ chính phủ” và phá vỡ trật tự chính trị cũng được đưa ra cho các thành viên lãnh đạo một câu lạc bộ hâm mộ bóng đá, mà đóng một vai trò quyết định trong các cuộc biểu tình tại công viên Gèzi ở Istanbul vào mùa Hè năm 2013. Cũng trong vụ này, các ủy viên công tố đã chính trị hóa phiên tòa bằng việc tập trung vào cái được cho là các ý đồ chính trị hơn là những tội ác cụ thể có thể chứng minh được.

Thủ tướng Davutoglu cũng ủng hộ quan điểm này trước thềm cuộc bỏ phiếu bầu chọn các thành viên SBJP vào ngày 12/10/2014, nói rằng ông muốn chấm dứt sự kiểm soát của bộ máy tư pháp đối với nền chính trị sau khi được bầu làm lãnh đạo AKP. Trong tuyên bố mới nhất, Davutoglu cũng khẳng định rằng một phần bộ máy tư pháp đang chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Tuyên bố này dường như sẽ báo trước các bước đi tiếp theo để định hình bộ máy tư pháp theo mong muốn của chính phủ.

Một cơ quan tình báo mạnh hơn, lớn hơn

Ngoài nhiệm vụ phản gián, Cơ quan Tình báo Quốc gia (MIT) cũng chịu trách nhiệm cho cả công tác tình báo trong nước và nước ngoài. Cơ quan này chia sẻ trách nhiệm thu thập thông tin tình báo trong nước với cơ quan tình báo của cảnh sát, lực lượng hiến binh và ban tham mưu, việc này đã tạo ra sự kình địch và xung đột giữa các cơ quan nói trên trong một thời gian dài.

Cho tới giữa những năm 1990, MIT được coi là lãnh địa của quân đội. Chính phủ AKP đã lần đầu tiên thành công trong việc thiết lập một hệ thống thứ bậc rõ ràng của các cơ quan và đặt MIT ở vị trí hàng đầu. Hiện nay MIT là công cụ chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ. Các cuộc đàm phán với đảng PKK của Abdullah Őcalans đã được tiến hành thành công qua các kênh của MIT, và cơ quan này tiếp tục chịu trách nhiệm cho việc điều phối sự hợp tác chính thức và không chính thức với các nhóm Sunni và Salafist chiến đấu trong cuộc nội chiến tại Syria. Một bước đi vào tháng 1/2014 nhằm tìm kiếm một sự xem xét của tòa án đối với các hoạt động này đã kết thúc với cáo buộc chống lại các sĩ quan điều tra của lực lượng hiến binh và việc ngăn chặn đưa thông tin cho báo chí. MIT cũng sắp xếp việc thả các tù nhân là thành viên của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) để đổi lấy 46 con tin người Thổ Nhĩ Kỳ, diễn ra vào ngày 19/9.

Vào tháng 5/2010, cố vấn của Erdogan là Hakan Fidan đã được bổ nhiệm làm lãnh đạo của MIT. Từ năm 2012 đến năm 2014, ngân sách của MIT đã tăng lên 40,2% và những sự gia tăng thêm nữa đã được lên kế hoạch trong các năm tiếp theo. Trong nửa đầu năm 2011, chính phủ đã chuyển quyền kiểm soát đối với cơ sở nghe lén lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ từ quân đội sang cho MIT. Tình trạng bỏ bê về kỹ thuật cũng như những tiết lộ đáng xấu hổ về các tướng lĩnh hàng đầu đã tạo điều kiện cho bước đi này, như là một phần trong chiến lược của chính phủ nhằm phá vỡ quyền lực đối nội của quân đội. Phản ứng trước các cuộc điều tra chống lại Hakan Fidan vì “làm việc cho PKK”, được thực hiện bởi các công tố viên thân cận với Fethullah Gülen, chính phủ thông qua quốc hội đã vội vã giới thiệu một đạo luật nhằm củng cố quyền được miễn trừ của các đặc vụ tình báo vào tháng 3/2012. Vào tháng 8/2014, quyền lực của MIT được mở rộng để ban cho cơ quan này sự tiếp cận gần như không bị giới hạn đối với tài liệu và hồ sơ của tất cả các cơ quan nhà nước, tòa án và thể chế phi nhà nước. Quyền hạn của MIT cũng được mở rộng để tiến hành các biện pháp nghe lén điện tử và kỹ thuật số trên quy mô lớn mà không có sự kiểm soát của tòa án. Việc thành lập một ủy ban thuộc quốc hội nhằm giám sát cơ quan tình báo, vốn được lên kế hoạch vào tháng 4/2014, vẫn chưa được tiến hành.

Các cuộc đàm phán hòa bình với PKK: Sự thay thế cho dân chủ hóa?

Những người bảo vệ Erdogan lập luận rằng quan điểm cứng rắn của ông là chấp nhận được về mặt chính trị, vì chỉ có ông và AKP sẵn sàng đưa các cuộc đàm phán với PKK đi tới kết thúc. Theo họ, thỏa thuận ngừng bắn kéo dài 18 tháng và việc công nhận bản sắc, các quyền và yêu cầu của người Kurd đạt được trong thời kỳ này đại diện cho những bước đi quan trọng tiến tới dân chủ và là điều kiện tiên quyết cho những tiến bộ tiếp theo.

Nhưng cho dù lý thuyết rằng sự dân chủ hóa không thể tiến lên phía trước mà không có một giải pháp cho vấn đề người Kurd đúng tới đâu, sự đánh đồng tự do văn hóa lớn hơn với tự do chính trị lớn hơn vẫn còn nhiều vấn đề.

Trong nhà nước Kemalist trước khi Erdogan nắm quyền, sự ngăn chặn một cách cố ý người Hồi giáo sùng đạo, người Kurd, người Alawite và người không theo đạo Hồi đã thiết lập một thuyết nhất nguyên về mặt văn hóa mà cản trở hay ngăn chặn hoàn toàn sự tham gia vào chính trị của các nhóm này. Nhưng nhà nước Kemalist lại mang tính đa nguyên về mặt chính trị. Các đảng phái chính trị khác nhau có cơ hội thành lập chính phủ, trong khi tòa án và quyền lực phủ quyết như quân đội – dù có được hợp pháp hóa một cách dân chủ hay không – kiềm chế quyền lực của chính phủ. “Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan chắc chắn mang tính đa nguyên về mặt văn hóa nhiều hơn nhà nước Kemalist, nhưng lại bị thống trị bởi một thuyết nhất nguyên về mặt chính trị. Chỉ có một đảng phái mới có cơ hội thành lập chính phủ, quyền lực của bộ máy tư pháp đang ngày càng bị trói chặt, và các bên tham gia từng tận hưởng quyền lực phủ quyết đang bị cô lập.

Tóm tắt: Cán cân quyền lực bên trong “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới”

Không như Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ và giới báo chí thân chính phủ của nước này muốn mọi người tin vào, nền dân chủ đang phát triển không phải là đặc trưng cho “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan, cũng như sự hội nhập thành công của cộng đồng người Hồi giáo bảo thủ vào quá trình đưa ra quyết định chính trị được cho là nhờ vào “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan. Đúng là AKP đã đạt được cả hai điều trên, nhưng quá trình này đã diễn ra trong giai đoạn 2005 – 2011 hơn là mới gần đây.

Đặc trưng cho tình hình hiện nay là sự củng cố quyền lực của một cá nhân và sự tương đối hóa đồng thời ảnh hưởng của các thể chế mà nếu không có chúng, sẽ không thể có được một nền dân chủ: các đảng phái chính trị (bao gồm cả AKP), quốc hội, bộ máy tư pháp, các bộ luật được soạn thảo và hiến pháp. Erdogan đứng ngoài tầm ảnh hưởng của đảng mình, cho dù đảng này vẫn giữ được quyền bá chủ đối với quốc hội. Sau một loạt sự thanh lọc, chính phủ đã nắm chắc trong tay bộ máy hành chính, đặc biệt là cảnh sát. Sự suy yếu của hệ tư tưởng Kemalist đã cướp đi của quân đội, từng là một thể chế quyền lực, khả năng huy động sự ủng hộ của công chúng ở mức tối thiểu mà cần thiết cho việc can thiệp vào quá trình chính trị. Giới báo chí, như đã được dẫn chứng một cách đầy đủ, bị phơi bày trước sức ép hiện nay từ một chính phủ đang đồng thời siết chặt sự kìm kẹp đối với bộ máy tư pháp. Cơ quan tình báo đã được nâng cấp cả về mặt tài chính và kỹ thuật, giành được quyền lực mở rộng và trên thực tế nằm dưới quyền của tổng thống.

Thế tiến thoái lưỡng nan của EU

Khi xét tới tình hình đã được phác họa ở trên, việc Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đáp ứng các tiêu chuẩn Copenhagen mà là điều kiện tiên quyết về mặt chính trị để khởi động các cuộc đàm phán gia nhập EU là điều rất đáng ngờ. Điều này đem lại cho EU một thế tiến thoái lưỡng nan. Thổ Nhĩ Kỳ quá quan trọng về các mặt kinh tế, chính sách ngoại giao và an ninh để Brussels và các nước thành viên EU có thể dễ dàng quên đi việc gây ảnh hưởng lên Ankar. Nhưng họ không thể bỏ qua thực tế rằng động lực bên trong hướng tới dân chủ hóa mà được châm ngòi bởi sự trỗi dậy của AKP hiện đã kiệt quệ. Thời kỳ mà EU cho rằng lảng tránh kết nạp một nước Thổ Nhĩ Kỳ đã sẵn sàng và quản lý nguyên trạng là đủ đã chấm dứt. Ngoài ra, cũng tồn tại thực tế là EU đã thất bại trong việc đưa Thổ Nhĩ Kỳ hội nhập vào chính sách an ninh và đối ngoại của khối này ngoài các cuộc đàm phán gia nhập, cho dù một sự hội nhập như vậy có thể chỉ là tưởng tượng. EU chỉ có thể giành lại ảnh hưởng nếu khối này hồi sinh các cuộc đàm phán gia nhập.

Sự ủng hộ của người dân Thổ Nhĩ Kỳ đối với tư cách thành viên EU đã gia tăng đáng kể, từ 45% trong năm 2013 lên 53% trong năm 2014. Điều này cho thấy, trong thời kỳ khủng hoảng của hệ thống chính trị Thổ Nhĩ Kỳ, EU một lần nữa có thể trở thành ánh sáng dẫn đường cho những phát triển về dân chủ. Các lực lượng thế tục, người Alawite và thậm chí nhiều nhóm trong khối bảo thủ tôn giáo đang thấy bản thân phải đối mặt với sự đàn áp của chính phủ. Với bối cảnh như vậy, các tiêu chuẩn của châu Âu về các quyền cơ bản, tự do báo chí và tư pháp lại có thể trở thành mẫu số chung cho một phe đối lập mờ nhạt và thường không có cảm hứng.

Một bước đi cụ thể tiến tới việc tiếp thêm sinh lực cho các cuộc đàm phán và truyền động lực mới hướng tới dân chủ hóa sẽ là gây áp lực lên Chính phủ đảo Cyprus để họ từ bỏ việc ngăn chặn các cuộc thảo luận về chương 23 (tư pháp và các quyền cơ bản) và chương 24 (an ninh, tự do và công bằng). Một bước đi khác có thể bao gồm các yêu cầu cho pháp trị và sự minh bạch trong các cuộc thảo luận về du lịch miễn thị thực và xem xét lại liên minh hải quan, hai vấn đề mà Thổ Nhĩ Kỳ đều rất quan tâm.

Nguồn: Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế và an ninh (Đức) – 10/2014

CVĐQT – 12/2014

“Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan – Phần II


Sự kết hợp giữa sự khao khát đầy luyến tiếc của đất nước, chủ nghĩa dân tộc chống phương Tây và đạo đức bảo thủ không thể tạo ra các cương lĩnh chính sách đối nội và đối ngoại rõ ràng. Nhưng luận bàn về “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” đã thiết lập một hệ thống thứ bậc mới về bản sắc chính trị, với chính phủ tìm cách đạt được sự thống trị đối với các khái niệm chính trị trung ương như quốc gia, lợi ích quốc gia, công bằng, tiến bộ và tôn giáo. Ngôn từ của chính phủ đã miêu tả Erdogan và AKP như là những thành phần không thể thiếu cho sự tồn tại và tương lai của tổ quốc và dân tộc, đồng thời làm mất uy tín của phe đối lập. Erdogan và những người ủng hộ ông không hề ngần ngại cho các chính trị gia đối lập cái mác bên phá hoại, kẻ phản bội và mật vụ của nước ngoài. Tất cả là nhằm hợp pháp hóa việc hạn chế các quyền và sự tự do, đồng thời đảm bảo quyền lực cho chính phủ hiện nay và đảng cầm quyền.

Từ thời điểm này, đây chỉ là một bước nhỏ tiến tới sự từ chối công khai cái gọi là các giá trị châu Âu và bất kỳ định hướng nào về châu Âu, như cố vấn kinh tế chính của Erdogan là Yigit Bulut đã tuyên truyền. Trên tờ báo thân chính phủ Star, Bulut viết rằng châu Âu đã làm suy yếu văn hóa của Thổ Nhĩ Kỳ để mở rộng ảnh hưởng của mình, giống như họ đã từng làm với Nga. Theo ông, con đường duy nhất để giành được sức mạnh mới là quay trở lại truyền thống của riêng đất nước.

AKP: Cương lĩnh của chúng tôi là Erdogan!

Sự đa nghĩa của hệ tư tưởng hiện tại của AKP và sự mơ hồ của những chính sách bắt nguồn từ đó không đem lại khó khăn gì cho đảng này, vì AKP đã chuyển giao mọi quyết định quan trọng cho người sáng lập và cựu lãnh đạo đảng Erdogan. “Chúng tôi ủng hộ Erdogan và lý tưởng của ông ấy về “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” và chống lại tất cả những ai chối bỏ ông ấy và lý tưởng này”. Yalcin Akdogan đã viết như vậy trên trang Twitter của mình vào ngày 13/8, khi ông còn là cố vấn chính sách của Erdogan và hiện là một trong số 4 phó thủ tướng mới. Erdogan quả thực là biểu tượng cho một trong số những đặc điểm quan trọng của hệ tư tưởng AKP: sự hợp nhất giữa nhà nước và quốc gia thành một thực thể đơn lẻ, với bản thân Erdogan đứng ở trung tâm của thực thể này với tư cách là đại diện cho nhà nước và người lãnh đạo được yêu mến của nhân dân.

Khi mà một cá nhân và tầm nhìn của ông ta trở thành cương lĩnh, không có chỗ cho sự tham khảo ý kiến, và thậm chí cả cho thảo luận. Trên thực tế, cơ quan đảng có rất ít tiếng nói khi xét tới việc xác định các quan điểm chính trị của AKP. Các thành viên của AKP gửi ý kiến của mình trong các phong bì đóng kín mà sau đó được chuyển tới lãnh đạo đảng. Khi lựa chọn các ứng cử viên ra tranh cử trong bầu cử quốc hội, vị trí của họ trong đảng không phải là điều quan trọng. Thủ tướng Davutoglu, lãnh đạo mới của AKP, đã đánh đồng các cuộc thảo luận trong nội bộ đảng với “sự bất hòa” và “âm mưu” và kêu gọi các thành viên tới gặp trực tiếp ông khi có phàn nàn. Tuy việc có một lãnh đạo rất quyền lực và tổ chức đảng tương ứng yếu ớt là đặc trưng cho các đảng phái chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ nói chung, AKP hiện nay đại diện cho một sự cực đoan về 3 phương diện.

Thứ nhất, Erdogan trong những năm vừa qua đã tập hợp xung quanh mình một đội ngũ gồm chủ yếu các cố vấn trẻ tuổi hơn và hợp tác với ông, những người trực tiếp phụ thuộc vào ông vì họ có rất ít hay không có người ủng hộ trong đảng và hầu hết thậm chí còn không có ghế trong quốc hội. Nhóm này bao gồm Yalcin Akdogan và Yigit Bulut. Bulut không có ghế trong quốc hội, còn Akdogan mới chỉ là thành viên của cơ quan này từ năm 2011. Numan Kurtulmus, cũng không phải là thành viên quốc hội, đã từ bỏ chức vị trí lãnh đạo đảng Hồi giáo cánh tả mới thành lập Tiếng nói của nhân dân (HAS) vào tháng 9/2012 và gia nhập AKP theo lời mời của Erdogan; hiện nay ông là một trong số 4 phó thủ tướng. Ngay cả Süleyman Soylu, trước đây là lãnh đạo đảng Dân chủ (DP) ít tiếng nói, cũng được Erdogan lôi kéo vào tháng 9/2012 và hiện là một trong số các phó lãnh đạo của AKP. Ibrahim Kalin đã trở thành cố vấn chính về chính sách đối ngoại cho Erdogan vào năm 2009, sau khi người thầy của ông là Ahmet Davutoglu được bổ nhiệm làm Ngoại trưởng. Hiện nay Kalin, người cũng không có ghế trong quốc hội, giữ chức Phó Tổng thư ký của tổng thống. Một nhân vật nổi bật khác không có ghế trong quốc hội là Efkan Ala, người đã kế nhiệm Bộ trưởng Nội vụ Muammer Güler vào tháng 12/2013 sua khi các cáo buộc tham nhũng buộc Güler và 3 thành viên nội các khác phải từ chức. Emrullah Isler, nghị sĩ Quốc hội từ năm 2011, cũng tham gia nội các trong chính bối cảnh này và giữ chức phó thủ tướng trong nội các cuối cùng của Erdogan. Đội ngũ những nhân vật khá trẻ tuổi và trung thành với Erdogan này sẵn sàng tham gia nội các sau cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 6/2015 và tiếp tục thực hiện các chính sách của ông tại đó.

Điều này sẽ càng trở nên dễ dàng hơn nhờ vào đặc điểm khác thường thứ hai của AKP: Việc Erdogan khăng khăng muốn AKP tuân thủ một điều khoản trong quy định của mình là giới hạn các thành viên của đảng này tại quốc hội trong 3 kỳ lập pháp. Điều này sẽ ngăn cản 73 trong tổng số 312 nghị sĩ của AKP ra ứng cử lần nữa, trong đó bao gồm 4 phó thủ tướng, 15 bộ trưởng, người phát ngôn của quốc hội (cả đương nhiệm và tiền nhiệm) và một số lượng lớn các cá nhân đã từng hoặc hiện đang nắm giữ các vị trí lãnh đạo trong đảng. Nếu quy định này vẫn có hiệu lực, tới cuộc bầu cử năm 2015 Erdogan sẽ loại bỏ được tất cả những đối thủ nặng ký trong nhóm nghị sĩ quốc hội mà có khả năng hình thành cốt lõi của một phe đối lập trong nội bộ AKP. Bülent Arinc, Ali Babacan và Sadullah Ergin thường xuyên được nhắc đến trong hoàn cảnh này. Họ sẽ hoàn toàn bị gạt ra ngoài lề về mặt chính trị, giống như trường hợp của Abdullah Gül, Tổng thống tiền nhiệm của Erdogan.

Đặc điểm khác thường thứ ba của AKP là trung tâm đưa ra quyết định của đảng này, mà ở đây chính là Recep Tayyip Erdogan, chính thức hoạt động bên ngoài đảng và qua đó thoát khỏi ảnh hưởng của các thành viên AKP. Erdogan đã giao phó trọng trách lãnh đạo AKP và nội các cho Ahmet Davutoglu, Yalcin Akdogan và Numan Kurtulums, những người không có sự ủng hộ đáng kể nào trong đảng.

Tất cả những việc làm trên được thực hiện nhằm cản trở quá trình hình thành ý kiến, ngăn chặn các thành viên AKP tham gia vào việc đưa ra các quyết định chính trị nội bộ và gây đình trệ cho sự năng động mà tạo ra sự phát triển trong thời gian dài của đảng này. Trong những năm đầu mới hoạt động, AKP không chỉ quan tâm tới lợi ích của các nhóm Hồi giáo bảo thủ, mà còn giúp hòa nhập nhiều chính trị gia trung hữu, những người Kurd có nhiều ảnh hưởng, các cá nhân theo đường lối dân chủ xã hội cũng như những người Hồi giáo có tư tưởng thân phương Tây mạnh mẽ. Với tư cách là phe đối lập trung dung đối với nhà nước Kemalist, AKP đã nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong công chúng theo chủ nghĩa tự do. Nhưng giờ đây, các nhóm này lại cho rằng AKP sử dụng sức mạnh nhà nước và sẵn sàng viện tới các công cụ chuyên quyền để chống lại các đối thủ của mình.

Việc giới thiệu trên thực tế hệ thống tổng thống

Trong bài diễn văn vào ngày 27/8 để cảm ơn các đại biểu sau khi được bầu làm lãnh đạo AKP, Davutoglu đã đặt ra cho đảng này mục tiêu trước mắt là giành được 2/3 số ghế trong cuộc bầu cử quốc hội được tổ chức vào tháng 6/2015. Một đa số như vậy sẽ tạo điều kiện cho AKP và chính phủ của đảng này sửa đổi hiến pháp nếu họ muốn. Mục tiêu chính ở đây liên quan tới việc giới thiệu một hệ thống tổng thống. Việc Davutoglu đặt ra mục tiêu này, nỗ lực làm suy yếu quốc hội với AKP chiếm đa số và chính phủ của chính mình nhằm phục vụ lợi ích của Erdogan, đã nói lên nhiều điều về cán cân quyền lực giữa thủ tướng và tổng thống.

Trên thực tế, cuộc bầu cử đưa Erdogan lên làm tổng thống đã chuyển đổi Thổ Nhĩ Kỳ sang một hệ thống tổng thống, ngay cả khi hiến pháp vẫn tạo điều kiện cho một hệ thống quốc hội. Nội các mới rõ ràng mang dấu ấn của Erdogan. Thủ tướng Davutoglu khẳng định không biết mệt mỏi rằng các chính sách của ông được dẫn dắt bởi tầm nhìn của Erdogan. Và Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ cũng không ngần ngại công bố một cách công khai các chỉ thị mà ông đã đưa ra hay có ý định đưa ra cho thủ tướng của mình nhằm giải quyết các vấn đề chính trị cụ thể.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế và an ninh (Đức) – 10/2014

CVĐQT – 12/2014

“Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan – Phần I


Các nhà bình luận châu Âu và Mỹ cảnh bảo rằng Thổ Nhĩ Kỳ đang có xu hướng quay trở lại chủ nghĩa chuyên chế, với bằng chứng là bạo lực quá mức của cảnh sát chống lại người biểu tình, các hạn chế đối với tự do báo chí và Internet, can thiệp của chính phủ vào bộ máy tư pháp, thanh lọc trong các cơ quan quản lý và sự thay đổi về chính sách mang tính chống châu Âu. Các nhà bình luận cũng ghi nhận với sự kinh ngạc rằng cựu Thủ tướng Recep Tayyip Erdogan đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống với số phiếu bầu tăng thêm bất chấp các cáo buộc tham nhũng đáng tin cậy, chia rẽ bên trong phe bảo thủ và các thất bại về chính sách đối ngoại. Bản thân Erdogan cũng nói về “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” đã kế nhiệm nước cộng hòa cũ chuyên chế theo chủ nghĩa Kemal và thúc đẩy nền dân chủ tiến bộ.

Sự ủng hộ dành cho đảng Công lý và Phát triển (AKP) của Erdogan lớn đến mức nào trong xã hội? Chúng ta có thể trông đợi điều gì từ chính phủ mới? Sự xây dựng lại hệ thống chính trị sẽ diễn ra cơ bản như thế nào và điều này có ý nghĩa gì đối với tương lai của nền dân chủ? Châu Âu có thể và nên phản ứng như thế nào?

Các nhà quan sát Thổ Nhĩ Kỳ và quốc tế đều thống nhất rằng việc Recep Tayyip Erdogan giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 10/8/2014 đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển chính trị của quốc gia này. Tân tổng thống không chỉ coi bản thân mình là nhà lãnh đạo đất nước, mà còn là người bảo đảm cho ý nguyện của người dân. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập nước cộng hòa, chính phủ, các chính sách của nó và cá tính của Tổng thống được khẳng định sẽ phản ánh bản sắc, văn hóa và xu hướng chính trị của người dân. Ngoài ra, sự đa văn hóa của người dân lần đầu tiên được công nhận, được thể hiện thông qua các cuộc đàm phán hòa bình với đảng Công nhân người Kurd (PKK) bị cấm hoạt động. “Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” được cho là đã vượt qua sự giám hộ về chính trị mà tầng lớp tinh hoa thế tục cũ thực hiện đối với đa số người dân cùng sự ủng hộ của quân đội và bộ máy tư pháp. Chế độ mới được khẳng định không chỉ có tính xác thực về mặt văn hóa, mà còn mang tính dân chủ.

Thành công bầu cử của Erdogan

Khi tính cả các cuộc bầu cử quốc hội, cấp thành phố và cuộc trưng cầu dân ý về hiến pháp, chiến thắng của Erdogan trong cuộc bầu cử tổng thống với 51,8% số phiếu ủng hộ là chiến thắng bầu cử thứ 9 liên tiếp của ông. Chỉ riêng sức lôi cuốn của Erdogan, vốn được nhiều người lưu ý, cũng không thể lý giải cho một loạt các chiến thắng liên tiếp này. Cái mà chúng ta thực chất đang thấy dưới thời Erdogan là sự kết thúc của một quá trình dài hạn trong nền chính trị Thổ Nhĩ Kỳ: sự hội nhập dần dần của đa số chúng bảo thủ theo đạo cũng như người Kurd vào hệ thống chính trị. 3 cuộc đảo chính quân sự và việc cấm 26 đảng phái chính trị hoạt động mới chỉ là những ví dụ rõ ràng nhất cho những biện pháp được thực hiện từ năm 1960 nhằm ngăn chặn các bên tham gia Hồi giáo bảo thủ và người Kurd hòa nhập vào nước cộng hòa Kemal. Ngay cả AKP cũng suýt bị cấm hoạt động vào năm 2008, thời điểm mà đảng này đang nắm quyền với đa số tuyệt đối. Trước năm 2007, ảnh hưởng chính trị của các tướng lĩnh thông qua Hội đồng An ninh Quốc gia và quyền phủ quyết của Tổng thống đã hạn chế đáng kể các lựa chọn của chính phủ bảo thủ.

Kể từ khi bắt đầu sự nghiệp của mình trong AKP, luận bàn chính trị của Erdogan vì vậy xoay quanh “sự dân chủ hóa”, được hiểu là việc khẳng định mong muốn của đa số bảo thủ chống lại sự kiểm soát về chính trị của tầng lớp tinh hoa theo chủ nghĩa Kemal. Chính kế hoạch này đã đem lại cho Erdogan sự ủng hộ ở khắp các tầng lớp, nhóm và tôn giáo khác nhau, đồng thời tìm được sự hỗ trợ ở nước ngoài.

Trong xung đột về kế hoạch xây dựng lại công viên Gezi ở Istanbul vào mùa Hè năm 2013, Erdogan đã sử dụng “luận bàn về dân chủ hóa” đã được thiết lập này để hợp pháp hóa một chiến lược thẳng thừng nhằm nắm giữ quyền lực. Erdogan đã thay thế sự giám hộ chính trị có thực kéo dài nhiều thập kỷ của các tướng lĩnh bằng một “sự giám hộ chính trị tưởng tượng của các quyền lực nước ngoài đối với đất nước và chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ”. Việc này đã tạo điều kiện cho ông giới thiệu các bước đi chuyên quyền chống lại phe đối lập và sự can thiệp vào bộ máy tư pháp như là các biện pháp nhằm bảo vệ nền dân chủ. Các biện pháp này đặc biệt nhắm vào mật vụ và bù nhìn nước ngoài, chủ yếu vào đội ngũ người ủng hộ nhà thuyết pháp Fethullah Güllen trong các cơ quan quản lý. Ông đã sử dụng biện pháp bằng ngôn từ này đặc biệt thành công trước thềm cuộc bầu cử cấp thành phố vào cuối tháng 3/2014 và trong chiến dịch tranh cử tổng thống mới đây.

Sự gia tăng số phiếu bầu cho Erdogan từ 43,39% trong cuộc bầu cử cấp thành phố lên gần 52% trong cuộc bầu cử tổng thống đương nhiên cũng có những lý do khác. Thứ nhất, Erdogan đã thành công trong việc tập hợp phiếu bầu của các đảng cánh hữu nhỏ hơn, những đảng không đưa ứng cử viên của riêng mình ra tranh cử, ví dụ như đảng Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ Hạnh phúc (SP), đảng Đại Thống nhất (BBP) theo chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ và đảng Hồi giáo nguòi Kurd Sự nghiệp Tự do (HüdaPar). Vì vậy, người ta không trông đợi một sự lặp lại kết quả đầy ấn tượng trên trong cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 6/2015. Thứ hai, nhiều người ủng hộ của đảng cánh tả Nhân dân Cộng hòa (CHP) và đảng cánh hữu Hành động Quốc gia (MHP) không muốn bỏ phiếu cho ứng cử viên chung của hai đảng này.

Chính phủ mới: Mặt ngoài thân châu Âu trên thực tế độc đoán

Tân Thủ tướng Ahmet Davutoglu, người từng giữ chức Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ, đã giới thiệu nội các đầu tiên của mình vào ngày 29/8/2014. Một tiếng thở phào nhẹ nhõm đã nghe thấy ở Brussels, vì chính sách đối ngoại và châu Âu đều được giao phó cho những nhân vật được nhiều người biết tới ở châu Âu. Ngoại trưởng mới Mevlüt Cavusoglu từng đảm nhận chức Bộ trưởng Phụ trách các vấn đề về Liên minh châu Âu (EU) trong một thời gian ngắn, và từng là Chủ tịch Nghị viện Hội đồng châu Âu từ năm 2010 – 2012. Chức vụ cũ của ông là Bộ trưởng Phụ trách các vấn đề về EU được nhà ngoại giao Volkan Bozkir tiếp quản, người trước đây là đại diện thường trực của Thổ Nhĩ Kỳ trong EU. Việc bổ nhiệm cựu Bộ trưởng Kinh tế Ali Babacan vào vị trí Phó Thủ tướng và giữ lại Mehmet Simsek làm Bộ trưởng Tài chính cũng được nhiều người đón nhận, vì cả hai nhân vật nói trên đều được coi là có năng lực trong lĩnh vực của mình và không theo hệ tư tưởng nào. Thêm vào đó, Tuyên bố chính sách của Chính phủ mới đem lại cho châu Âu tầm quan trọng trung tâm trong việc hiện đại hóa đất nước và thúc đẩy việc gia nhập EU vào năm 2023, đúng vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ.

Nhưng phương thức chính phủ mới thể hiện trước dân chúng lại nói theo một ngôn ngữ khác. Ngôn ngữ này phù hợp với nhiều đoạn trong Tuyên bố Chính sách mà coi Thổ Nhĩ Kỳ như là một nền văn minh riêng, khá khác biệt với châu Âu, với “những giá trị dân tộc” riêng biệt có nguồn gốc từ lịch sử đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỳ. Những giá trị cố hữu của nền văn minh Thổ Nhĩ Kỳ không chỉ cần được làm mới, mà còn cần được khẳng định trên toàn bộ các thể chế nhà nước, và nhà nước phải khiến những giá trị này trở nên gần gũi với công chúng.

Với việc nhà nước và chính phủ chuẩn bị cho việc đồng nhất dân chúng về mặt văn hóa và đạo đức, “sự dân chủ hóa” được dùng để phá vỡ quyền lực của tầng lớp tinh hoa thế tục đã được thay thế bằng một chủ nghĩa độc đoán mới, lần này dưới chiêu bài bản sắc tôn giáo bảo thủ.

Sau khi được đề cử vào vị trí chủ tịch AKP, Ahmet Davutoglu đã xác định rõ AKP là một “phong trào nòng cốt” mà đã xuất hiện trên sân khấu chính trị để làm hồi sinh và sống lại một truyền thống nhà nước có từ lâu, chứ không phải là đại diện cho lợi ích của các nhóm lớn trong dân chúng. Davutoglu cho biết dưới sự lãnh đạo của ông, “sự phục hồi” này sẽ được tiếp tục thực hiện mà không bị gián đoạn. Sau khi đảm nhận chức Chủ tịch AKP, Davutoglu đã tuyên bố rằng người Thổ Nhĩ Kỳ trong tương lai sẽ phải sử dụng các quyền tự do dân sự của mình trong khuôn khổ một “mô hình đạo đức” đặc biệt mà dường như được chính phủ quy định.

Hệ tư tưởng được sử dụng để biện minh cho nhà nước chuyên quyền này và việc hạn chế các quyền tự do dân sự là một sự kết hợp lẫn lộn giữa chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ, lòng mộ đạo và sự nhiệt tình đối với chủ nghĩa liên Hồi giáo của Abdul Hamid II, vị vua Hồi giáo có uy thế chính trị lớn cuối cùng của đế chế Ottoman. Điều này được thể hiện một cách súc tích trong đoạn phim tuyên truyền mới đây được thực hiện theo yêu cầu của AKP để giới thiệu nhà lãnh đạo mới của mình. Trong đoạn phim này, Davutoglu được giới thiệu như là “niềm hy vọng của những người Hồi giáo mệt mỏi và chịu nhiều gánh nặng”, “trung thành với thông điệp của nhà tiên tri”, “xuất thân từ triều đại Ottoman và Seljuks”, “linh hồn được chờ đợi từ lâu của (vua Hồi giáo Ottoman) Abdul Hamid II, “cố vấn đáng tin cậy của nhà lãnh đạo (ở đây chỉ Erdogan)” và làm việc “cho cộng đồng người Hồi giáo trên toàn thế giới, cho quốc gia tôn giáo Thổ Nhĩ Kỳ theo đạo Hồi và cho thánh Allah”. Về phần mình, Erdogan thích coi bản thân mình trong tấm áo là người kế nhiệm của Atatürk, và như vậy dẫn đầu cuộc chiến nhằm giải phóng đất nước thoát khỏi sự thống trị của phương Tây. Trên thực tế, ông tin rằng mình vượt trội hơn người tiền nhiệm ở mặt này, vì những nỗ lực của ông cho sự nghiệp quốc gia luôn có được sự ủng hộ của đa số dân chúng.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế và an ninh (Đức) – 10/2014

CVĐQT – 12/2014