Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần cuối


Mỹ và Israel: Lợi ích của nước nào quan trọng hơn?

Việc Trump làm thỏa mãn nguyện vọng của Netanyahu đã cản trở lời hứa về tính hợp pháp của Mỹ với tư cách nhà môi giới hòa bình, với việc không có lợi lộc chính trị rõ ràng nào đền đáp lại cho Washington. Mặc dù tính toán chi phí – lợi ích có vị trí nổi bật trong suy nghĩ của một nhà đàm phán, nhưng Trump đã bỏ qua các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực chính trị và tư lợi của ông, được phân tích sâu trong triết lý của đảng Cộng hòa. Lập trường mới của ông về Jerusalem có thể được xem như một đề xuất đơn phương mà không có giá trị chiến lược cụ thể cho Mỹ. Ông đã tự nguyện từ bỏ động lực giành chiến thắng, một trọng tâm trong hình mẫu nghệ thuật đàm phán của ông. Như ông đã viết trong cuốn sách “Nghĩ lớn để thành công” của mình: “Tôi thích thành công lớn và thực hiện hợp đồng lớn. Tôi thích đè bẹp đối phương và nhận được lợi ích. Tại sao lại như vậy? Bởi vì không có điều gì tuyệt vời hơn”.

Đối lập với những gì ghi trong sách, tinh thần giánh chiến thắng của Trump đã suy yếu, điều này khiến nhiều nhà phân tích tại Mỹ và những nơi khác tự hỏi về việc thỏa thuận Jerusalem lại thiếu lợi ích đáp lại, nhất là đối với một vị tổng thống đã nhiệt tình thuyết giảng về cách tiếp cận có đi có lại và giành được các khoản đầu tư trị giá gần 500 tỷ USD từ các nước vùng Vịnh trong thời gian ông tới dự Hội nghị thượng đỉnh Riyadh vào tháng 5/2017. Trump dường như đã chuyển từ nghệ thuật đàm phán mặc cả cứng rắn sang nghệ thuật cho không tương đối hào phóng. Thomas Friedman, nhà quan sát kỳ cựu về chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần 30 năm, giải thích rằng “Trump dễ bị tác động bởi những món quà cho không như vậy, không chỉ vì ông ta thiếu hiểu biết, mà còn vì ông ta không coi bản thân là tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông ta coi mình là tổng thống của nhóm người ủng hộ ông. Và vì Trump chỉ còn lại duy nhất sự ủng hộ đó, nên ông cảm thấy cần phải tiếp tục làm hài lòng nhóm người ủng hộ mình bằng cách thực hiện những lời hứa thô lỗ và thiếu suy nghĩ mà ông đã đưa ra cho họ trong suốt chiến dịch tranh cử… Tôi chưa bao giờ thấy một tổng thống từ bỏ quá nhiều thứ cho quá nhiều bên chỉ để nhận lại quá ít như vậy, bắt đầu với Trung Quốc và Israel”.

Quyết định của Trump cũng đã phản ánh dự đoán của 2 nhà khoa học chính trị quan trọng, John Mearsheimer và Stephen Walt, những người lập luận rằng mặc dù “không thể xác định chính xác các ranh giới của hoạt động vận động hành lang của Israel”, nhưng nó “có cốt lõi bao gồm các tổ chức có mục đích công khai là khuyến khích chính phủ và công chúng Mỹ cung cấp viện trợ vật chất cho Israel và ủng hộ các chính sách của chính phủ nước này, cũng như các cá nhân có ảnh hưởng mà đối với họ, những mục tiêu này là ưu tiên hàng đầu”.

Trong cuốn sách có tên “Hoạt động vận động hành lang của Israel và chính sách đối ngoại của Mỹ” xuất bản cách đây 10 năm, Mearsheimer và Walt đã nghiên cứu hoạt động vận động hành lang như một “liên minh lỏng lẻo gồm các cá nhân và tổ chức tích cực hoạt động nhằm lèo lái chính sách đối ngoại của Mỹ theo hướng ủng hộ Israel”. Gia đình tỷ phú Adelson và các nhà tài phiệt người Mỹ gốc Do Thái khác trên thực tế đã thuyết phục thành công Trump đi theo hướng đó. Họ thuộc một nhóm vận động hành lang thân Israel rộng hơn bao gồm người Mỹ gốc Do Thái, người Thiên chúa theo chủ nghĩa Zion (chủ nghĩa phục quốc Do Thái) và các nhóm cánh hữu chính trị mà phần nào bao gồm phe tân bảo thủ.

Mối liên hệ mang tính cá nhân và chính trị giữa Adelson, Netanyahu và Trump đã vượt ra ngoài cơ chế kiểm soát và cân bằng trong nền chính trị Mỹ. Mearsheimer và Walt đã cảnh báo về tác động tiêu cực này của hoạt động vận động hành lang của Israel. Họ cho thấy hoạt động vận động hành lang của Israel có một tác động tiêu cực không chỉ đối với các lợi ích của Mỹ, mà còn vô tình gây tổn hại tới Israel như thế nào.

Từ nhà môi giới hòa bình trở thành bên tham gia xung đột

Tính chất tạm thời trong quyết định của Trump làm dấy lên những mối quan ngại mới về sự nghiêm túc trong ý định của ông nhằm đạt được một “thỏa thuận cuối cùng” giữa Israel và Palestine nằm trong tiến trình nối lại quan hệ ngày càng phát triển giữa Israel và các quốc gia vùng Vịnh, cụ thể là Saudi Arabia và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất. Trong khi giải quyết cái ông coi là “không gì khác ngoài một sự công nhận thực tế”, ông lại có một tuyên bố kỳ lạ rằng “chúng tôi không đưa ra lập trường về bất kỳ vấn đề vị thế cuối cùng nào, bao gồm các ranh giới cụ thể cho chủ quyền của Israel tại Jerusalem hoặc nghị quyết về ranh giới tranh chấp. Những vấn đề đó sẽ do các bên tham gia quyết định”. Nghịch lý là giải pháp 2 nhà nước và toàn bộ tiến trình Oslo hiện là thiệt hại ngoài dự tính đầu tiên của việc ông bị buộc nhảy vào xung đột Israel – Palestine. Nhà đàm phán kỳ cựu của Palestine Hanan Ashrawi nhấn mạnh: “Tiến trình hòa bình đã chấm dứt. Họ đã chặn trước để không cho kết quả xảy ra”. Và với chính lý do đó, Tổng thống Chính quyền Palestine Mahmoud Abbas nói rằng quyết định đó “tương đương với việc Mỹ từ bỏ vai trò của mình là một bên môi giới hòa bình”.

Quyết định của Trump là một đề xuất được mất ngang nhau có lợi cho Israel, nước sẽ đầu tư hơn nữa vào sự chuyển hướng của Mỹ nhằm mục tiêu mở rộng quá trình bình thường hóa quan hệ của họ với các nước khác trong khu vực. Theo sau đó, vốn liếng chính trị của Mỹ đã suy yếu tại Trung Đông và xa hơn nữa, và chứng thực 2 cảm nhận tiêu cực thường thấy: a) Mỹ đã không phải là một nhà môi giới chân thành cho tiến trình hòa bình; và b) sự ảo tưởng của Hiệp ước Oslo khi né tránh vấn đề vị thế cuối cùng của Jerusalem, quyền quay trở lại của người tị nạn Palestine và sự thiếu khả thi của giải pháp 2 nhà nước. Như một nhà bình luận đã nói: “Nếu trong tuyên bố của Trump có một điểm tích cực, thì đó là nó đem lại sự rõ ràng và một mục tiêu thống nhất của người Palestine”.

Đối với các quan chức và nhà ngoại giao Mỹ làm việc trong khu vực, một tình thế tiến thoái lưỡng nan mới đã nổi lên về khía cạnh xây dựng lại một đường lối chính trị của Mỹ ít mang tính đối kháng hơn đối với người Palestine và công luận thế giới. Sacb Erakat, nhà đàm phán chính của Tổ chức giải phóng Palestine (PLO), đã cảnh báo rằng Mỹ sẽ “tự loại mình ra khỏi bất kỳ vai trò nào trong bất kỳ sáng kiến nào hướng tới việc đạt được một nền hòa bình công bằng và lâu dài”. Tại Gaza, nhà lãnh đạo Hamas Ismail Haniya coi sự thay đổi chính sách của Mỹ về Jerusalem là “một hành động gây hấn chống lại người dân chúng tôi. Đây là một lời tuyên chiến chống lại người dân Palestine chúng tôi”, và kêu gọi tiến hành một phong trào Intifada (cuộc nổi dậy) mới.

Tại thành phố cổ của Jerusalem, nơi hiện thân cho nhịp đập chính trị của người dân Palestine bình thường, cảm giác thất vọng và tuyệt vọng đã trở nên sâu sắc hơn. Một cư dân địa phương tên là Salah Zuhikeh đã tóm tắt tư thế thu hẹp lại của Mỹ: “Với quyết định này, Mỹ đã trở thành một quốc gia rất nhỏ bé, giống như bất kỳ quốc gia nhỏ bé nào trên thế giới, như Micronesia. Mỹ từng là một quốc gia vĩ đại đối với chúng tôi và tất cả mọi người”.

Kết luận: Vượt ra ngoài quyết định của Trump

Bằng cách phớt lờ các hệ quả của việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, Trump đã phủu nhận cam kết của mình rằng “một Chính quyền Trump sẽ không bao giờ đặt lợi ích của người nước ngoài lên trước lợi ích của đất nước mình. Từ nay trở đi, tất cả sẽ là ‘Nước Mỹ trước tiên’”. Tuy nhiên, có một niềm tin phổ biến rằng quyết định của ông sẽ đem lại lợi ích cho Israel về mặt ngoại giao. Cánh tả chính trị tại Mỹ, bao gồm người Do Thái theo chủ nghĩa tự do, không hài lòng với một Trump thiên nhiều về cánh hữu của đảng Likud và ít mang tính dân tộc chủ nghĩa Mỹ hơn. Bộ máy chính trị sẽ thách thức ông chứng minh kiểu lợi ích nhận lại mà ông đã giành được cho Mỹ. Quyết định về Jerusalem của Trump đã làm suy yếu uy tín của ông trong mắt hơn 1 tỷ người Hồi giáo, người Thiên chúa giáo, người Arab cũng như người châu Âu, và sẽ làm sâu sắc thêm tình cảm chống Mỹ ở Trung Đông, châu Phi, châu Á và thậm chí ở châu Âu. Theo đó, Trump đã đặt nền móng cho một số thay đổi sắp tới:

+ Quyết định Jerusalem đã chôn vùi hy vọng cuối cùng trong các cuộc đàm phán hòa bình và Hiệp ước Oslo. Nó cũng giải thoát người Palestine khỏi lời hứa không trở thành hiện thực về một nhà môi giới hòa bình không thiên vị. Ban lãnh đạo Palestine có thể xác định lại chiến lược của mình từ trạng thái đối phó sang việc theo đuổi một cách chủ động và độc lập các mục tiêu quốc gia của họ với sự giúp đỡ của một số cường quốc khu vực và thế giới.

+ Người Palestine đã quyết định ngừng liên lạc với Chính quyền Trump và từ chối gặp Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence trong chuyến thăm khu vực của ông này. Họ đã lật sang trang mới về vai trò của Mỹ trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào. Thay vào đó, như họ đã chỉ ra, họ sẽ “tìm kiếm một nhà trung gian mới từ những người anh em Arab của chúng tôi và cộng đồng quốc tế, một nhà trung gian có thể giúp đạt được giải pháp 2 nhà nước”.

+ Uy tín đang phai nhạt của vai trò của Mỹ trong các cuộc đàm phán hòa bình đã đưa toàn bộ cuộc xung đột tới một giao lộ mang tính quyết định. Các đại sứ Thụy Điển, Anh và Pháp tại Liên hợp quốc đã duy trì cam kết của cộng đồng quốc tế đối với giải pháp 2 nhà nước với Đông Jerusalem là thủ đô của một nhà nước Palestine và Tây Jerusalem là thủ đô của nhà nước Israel. Do Trump đã nhượng bộ Israel, rất có thể người Palestine sẽ nghiêng về hướng châu Âu đảm nhận vai trò lãnh đạo trong các cuộc đàm phán hòa bình trong tương lai.

+ Sự quan tâm nhiệt tình của Trump trong việc ủng hộ Israel đã phớt lờ sự bùng nổ chủ nghĩa chống Mỹ trong tương lai, điều mà vẫn còn là một thách thức kể từ khi Chính quyền Bush-Cheney quyết định xâm lược Iraq vào năm 2003 mà không có chiến lược xây dựng quốc gia sau sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein theo hệ tư tưởng Baath. Một lần nữa, Iran, Hezbollah cũng như các nhóm vũ trang dòng Sunni khác sẽ dễ dàng truyền bá đường lối chống Mỹ, chống Israel và chống tiến trình hòa bình hơn với những hậu quả khôn lường về một phong trào liên Arab mới mạnh mẽ và một phong trào liên Hồi giáo cực đoan mới.

+ Vấn đề Jerusalem nhiều khả năng sẽ định hình một mặt trận mới bao quát gồm người Arab, người Ba Tư, người Hồi giáo, người Thiên chúa giáo, người Sunni, người Shiite, người theo Hồi giáo chính trị, người theo chủ nghĩa hiện đại, người thuộc phe ôn hòa và người theo chủ nghĩa dân tộc. Câu chuyện “nói không với một thủ đô Jerusalem của người Do Thái” lặp lại trong nhiều cuộc biểu tình tại các thành phố ở Trung Đông và xa hơn có thể biến thành một đường lối có sức hút mà sẽ truyền cảm hứng cho một phong trào phản kháng và thách thức mạnh mẽ. Tính biểu tượng của Jerusalem không thể bị thu nhỏ thành các khía cạnh về chính trị, tâm lý, tôn giáo và văn hóa của thành phố này.

+ Quyết định của Trump đã làm leo thang cuộc xung đột và nêu bật khía cạnh tôn giáo giữa người Palestine theo đạo Hồi hay đạo Thiên chúa và người Do Thái Israel. Đợt bùng phát bạo lực tiếp theo sẽ xuất phát từ lòng mộ đạo trong chính trị và sự tử vì đạo để bảo vệ các địa điểm tôn giáo ở cả hai bên. Trump sẽ đi vào lịch sử như một vị tổng thống ngoan cố mà đã tiếp sinh lực cho giả thuyết Xung đột giữa các nền văn minh và làm cho Samuel Huntington mỉm cười dưới nấm mồ của mình.

Trên tất cả những động lực và kịch bản ảm đạm trong tương lai này, vị tổng thống kiêm nhà đàm phán đã nhanh chóng chuyển từ chỗ công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel sang dự báo về khả năng đạt được một “thỏa thuận của thế kỷ” sắp tới trong bài diễn văn của ông. Tuy nhiên, người Palestine đơn giản đã nói với ông rằng: “Ông đã bị sa thải”.

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Advertisements

Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần II


10 ngày trước khi đưa ra tuyên bố về Jerusalem, Trump đã bước vào một cuộc họp của êkip của ông trong Hội đồng an ninh quốc gia mà đang nghiên cứu các giải pháp khả thi cho vấn đề Đạo luật Jerusalem, và yêu cầu phải có “các giải pháp sáng tạo hơn”. Các cố vấn của ông đã đưa ra cho ông 2 sự lựa chọn thay thế: “Ký vào quyết định trì hoãn một lần nữa, hoặc ký quyết định nhưng công nhận Jerusalem là thủ đô và khởi động kế hoạch di dời đại sứ quán”.

Phù hợp với kiểu tuyên bố “đao to búa lớn” ưa thích của Trump, Nhà Trắng đã khởi xướng 2 cuộc hội đàm qua điện thoại vào ngày 5 và 6/12, trước khi Trump đựa ra tuyên bố, với các nhà lãnh đạo Cơ đốc theo giáo phái Phúc âm và các nhà lãnh đạo Do Thái bao gồm cả người sáng lập Liên minh tín ngưỡng và tự do là Ralph Reed và một mục sư ở Dallas là Robert Jeffress, người đã phát biểu tại buổi lễ cầu nguyện riêng trong ngày nhậm chức của Trump. Cuối cuộc hội đàm, một mục sư và một giáo trưởng đã kết thúc bằng những lời cầu nguyện. Vị mục sư nói: “Cầu cho hòa bình của Jerusalem. Và cảm ơn Chúa vì chúng ta có một vị tổng thống sẽ thực hiện bước đi này”. Tuy nhiên, mưu cầu này của giáo phái Phúc âm về một thủ đô Jerusalem của người Do Thái dường như khác với quan điểm của dòng Cơ đốc chính thống và trái với luật pháp quốc tế. Giáo hoàng Francis đã bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” và “kêu gọi mạnh mẽ tất cả các bên phải tôn trọng nguyên trạng của thành phố này, tuân thủ các nghị quyết có liên quan của Liên hợp quốc”.

Hầu hết giới quan sát vẫn hoài nghi về tính hữu dụng cũng như quỹ đạo của việc Mỹ thay đổi lập trường về Jerusalem. Một số người trong đó nghi ngờ “tính sáng suốt” về mặt chính trị của Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem gốc năm 1995. Như một bình luận viên đã viết: “Logic như vậy bắt đầu sụp đổ trong mớ rắc rối là Trung Đông. Nó sụp đổ vì lịch sử phức tạp kéo dài hàng thế kỷ, sự đổ máu trên các tài sản tinh thần và vật chất, và vai trò lãnh đạo kéo dài 7 thập niên của Mỹ vốn được xem là lý do khiến Israel hiện đại trở thành một mớ rắc rối về thần học và địa chính trị”.

Trump chống lại thế giới

Trong chiến dịch tranh cử của mình, Trump cam kết sẽ là một “người bạn thực sự đối với Israel” và Mỹ sẽ “làm việc hết sức chặt chẽ với Israel”. Cam kết này đối với các tổ chức của người Mỹ gốc Do Thái và sự ủng hộ cho các lợi ích chiến lược của Israel đã giúp ông tạo dựng một niềm tin mang tính giáo điều vào một vị tổng thống đôi khi có nguyên tắc, trong khi đó ông lại hành động như một theo chủ nghĩa thực tế đang đùa cợt với “chính sách xảo quyệt” mới trong các vấn đề khác ít phức tạp hơn. Christopher Ruddy, giám đốc điều hành công ty truyền thông theo tư tưởng bảo thủ, ca ngợi cái mà ông nhìn nhận là động cơ rõ ràng thúc đẩy chủ nghĩa thực dụng của Trump: “Mọi người đang thức tỉnh trước thực tế rằng tổng thống không nhìn thấy các mảng màu xám và không thích các màu nhạt. Ông rất tự hào rằng ông đã thực hiện được rất nhiều lời hứa trong chiến dịch tranh cử, và quyết định về đại sứ quán là một thành tích nữa trong chuỗi các thành tích của ông”.

Trên mặt trận ngoại giao, Trump đã nói chuyện với Netanyahu 3 lần trước khi có bài phát biểu về Jerusalem. Các phái đoàn tại Liên hợp quốc của Israel và Mỹ cũng đã phối hợp các nỗ lực của họ nhằm ngăn chặn bất kỳ tuyên bố hay quyết định có ý nghĩa nào của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, quyết định của Trump đã gây ra sự chỉ trích từ phía các uqan chức và công chúng trên toàn thế giới, từ Ankara đến London, và từ Amman đến New York. 8/15 thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã yêu cầu một cuộc họp khẩn cấp, bao gồm cả Anh, Italy và Pháp, giữa những tuyên bố từ phía Palestine và Thổ Nhĩ Kỳ rằng việc Trump công nhận là vi phạm cả luật pháp quốc tế lẫn các nghị quyết của Liên hợp quốc.

Cuộc tranh luận ảm đạm tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho thấy sự phân chia rõ ràng giữa 2 phe: Mỹ và Israel chống lại cộng đồng quốc tế với các quan điểm khác nhau về tương lai của tiến trình hòa bình. Đại sứ Mỹ Nikki Haley đã tiếp cận cuộc chiến ngoại giao với quan điểm rằng chiến lược phòng thủ tốt nhất là tấn công, và chỉ trích việc Liên hợp quốc nói rằng “việc đó đã gây tổn hại hơn nhiều tới các triển vọng cho Trung Đông hơn là thúc đẩy khu vực này”. Bà cũng chỉ trích tổ chức thế giới này vì là “một trong những trung tâm thù địch trước nhất đối với Israel”.

Tuy nhiên, đa số thành viên trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vẫn cho rằng Đông Jerusalem, vốn bị Israel chiếm giữ trong cuộc chiến tranh năm 1967, là “lãnh thổ bị chiếm đóng”, và rằng tình trạng của nó cần phải được giải quyết trong các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine. Trong nỗ lực của bà nhằm né tránh câu hỏi về tính bất hợp pháp và trái đạo đức trong quyết định của Trump, Haley ám chỉ nhận thức về tình trạng là nạn nhân: “Israel sẽ không bao giờ, và không bao giờ nên, bị ép buộc vào một thỏa thuận bởi Liên hợp quốc, hay bất kỳ tập hợp nào gồm các nước từng chứng tỏ sự thiếu tôn trọng của họ đối với an ninh của Israel”. Đại sứ Israel tại Liên hợp quốc Danny Danon đã tìm cách xác lập vị trí cho quyết định của Trump như “một cột mốc cho Israel, cho hòa bình và cho thế giới”.

Mặt khác, đã có một sự đồng thuận giữa các thành viên thường trực và không thường trực về tính chất vội vàng của việc Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Đại sứ Thụy Điển Olof Skoog đã thể hiện rõ ràng sự phản đối của mình và nhấn mạnh rằng hành động của Mỹ “trái với luật pháp quốc tế và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc”. Ông cũng nhấn mạnh rằng tình trạng của Jerusalem sẽ được quyết định trong các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Israel và Palestine, và nhắc nhở Nhà Trắng rằng quyết định của Trump “đi ngược lại với lời yêu cầu khẩn thiết của nhiều nước bạn bè với Mỹ và Israel”.

Đại sứ Bolivia Sacha Sergio Llorently Soliz là người đã thể hiện rõ ràng sự phản đối mạnh mẽ nhất trước quyết định của Trump. Ông đã bày tỏ mối quan ngại của mình rằng “Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sẽ trở thành một lãnh thổ bị chiếm đóng”. Sau cuộc gặp khẩn cấp, đại sứ các nước Anh, Pháp, Thụy Điển, Đức và Italy đã đưa ra một tuyên bố chung bên ngoài các phòng của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc chỉ trích lập trường của Mỹ, nói rằng lập trường đó “không phù hợp với các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và không có ích gì đối với triển vọng hòa bình trong khu vực”. Với lý do tương tự, Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nói rõ rằng “trong thời điểm hết sức lo lắng này, không có sự lựa chọn thay thế nào cho giải pháp 2 nhà nước. Không có Kế hoạch B”.

Jerusalem: Sự chia rẽ của liên minh xuyên Đại Tây Dương

Một diễn biến chung nổi lên từ cuộc họp khẩn cấp là sự chia rẽ ngày càng sâu sắc giữa Mỹ và các nước thành viên châu Âu. Anh, Thụy Điển và Pháp chỉ trích kịch liệt và rõ ràng quyết định của Trump. Sự phản đối của châu Âu trước kế hoạch của ông là chưa từng có cả về giọng điệu phản đối lẫn mức độ cam kết với giải pháp 2 nhà nước; và sau đó làm sâu sắc thêm rạn nứt trong nội bộ liên minh Mỹ – EU. Kể từ khi Trump nhậm chức vào ngày 20/12/2017, Đức và Pháp đã chỉ trích rất nhiều các chính sách của ông, và cố gắng can dự ít hơn với cách tiếp cận không thể đoán trước của ông tới nền chính trị quốc tế.

Giờ đây, Thủ tướng Angela Merkel nói rằng Chính phủ Đức cũng “không nhất trí”, và sẽ ủng hộ các nghị quyết hiện hành của Liên hợp quốc, những nghị quyết “nói rõ rằng tình trạng của Jerusalem phải được đàm phán như là một phần của các cuộc đàm phán về một giải pháp 2 nhà nước, và đó là lý do vì sao chúng tôi muốn tiến trình này được khôi phục”. Động lực giúp khai sáng trong mối quan hệ Anh – Mỹ là phản ứng của Thủ tướng Anh Theresa May. Bà coi quyết định của Trump là “không giúp gì cho triển vọng hòa bình trong khu vực”; và nói rõ rằng “Đại sứ quán Anh tại Israel được đặt ở Tel Aviv và chúng tôi không có kế hoạch di dời nó”.

Từ quan điểm lục địa rộng lớn hơn, Đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu, Federica Mogherini, đã tuyên bố bà không nhất trí với quyết định của Trump. Bà nhấn mạnh: “Đó là một bối cảnh rất mong manh và tuyên bố đó có khả năng đưa chúng ta trở lại thời đại thậm chí còn đen tối hơn là thời đại chúng ta đang sống… Thời điểm khó khăn này đỏi hỏi phải có một sự can dự thậm chí còn mạnh mẽ hơn vì hòa bình”. Bà cũng tuyên bố rằng lập trường của bà nhận được sự ủng hộ của “tất cả các ngoại trưởng của 28 nước thành viên Liên minh châu Âu”.

Mogherini đã nói với Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson trong cuộc gặp của họ tại Brussels trước khi Trump đưa ra quyết định: “Chúng tôi tin rằng giải pháp thực tế duy nhất cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine là dựa trên cơ sở 2 nhà nước và với Jerusalem là thủ đô của cả 2 nhà nước Israel và nhà nước Palestine”. Bà cũng cảnh báo về khả năng có “một sự leo thang những căng thẳng xung quanh các địa điểm linh thiêng và trong khu vực, vì chuyện xảy ra ở Jerusalem có tầm quan trọng đối với toàn bộ khu vực và trên toàn thế giới”.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần I


Mohammed Cherkaoui

Giải phẫu chính sách Jerusalem của Trump

Quyết định về Jerusalem của Donald Trump ngụ ý những điềm báo ngầm nhất định về một sự thay đổi đáng báo động trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với cuộc xung đột kéo dài nhất ở Trung Đông. Trong bài phát biểu ngắn của ông tại Nhà Trắng, khi nhắc đến Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem vốn được Quốc hội khóa 104 thông qua vào ngày 23/10/1995, Trump hăm hở quả quyết rằng “mặc dù các tổng thống trước đã biến điều này thành một lời hứa lớn trong chiến dịch tranh cử, nhưng họ đều thất bại trong việc thực hiện. Giờ đây, tôi đang thực hiện lời hứa”.

Trong tuyên bố chính sách của Mỹ, đạo luật này nói rõ rằng: a) Jerusalem sẽ vẫn là một thành phố không bị chia cắt mà ở đó quyền lợi của mọi nhóm sắc tộc và tôn giáo được bảo vệ; b) Jerusalem sẽ được công nhận là thủ đô của nhà nước Israel; và c) Đại sứ quán Mỹ tại Israel sẽ được thiết lập ở Jerusalem muộn nhất vào ngày 31/5/1999. Tuy nhiên, các tổng thống Bill Clinton, George Bush (con), và Barack Obama đã ký các quyết định trì hoãn việc thực thi đạo luật này theo định kỳ 6 tháng/lần. Quay trở lại tháng 6/2017, Trump đã miễn cưỡng ký quyết định trì hoãn 6 tháng lần đầu tiên của ông sau khi cân nhắc lời khuyên của con rể ông và cũng là “kiến trúc sư” tương lai của một sáng kiến hòa bình mới, Jared Kushner, người đã “lập luận rằng việc di dời đại sứ quán khi đó có thể cản trở nỗ lực trước khi chính quyền thiết lập các mối quan hệ trong khu vực”.

Câu chuyện của Trump về thành tựu và sự tự khen cũng gây ra một vài tình thế tiến thoái lưỡng nan về chính trị và an ninh dưới cam kết công khai của ông về việc thực hiện những cam kết trong chiến dịch tranh cử, quan tâm đến nền tảng cực hữu theo giáo phái Phúc âm của mình và củng cố nỗ lực thúc đẩy chủ nghĩa biệt lập về chính trị của ông dưới khẩu hiệu phục vụ “Nước Mỹ trước tiên”. Tuy nhiên, lòng trung thành có giới hạn của ông đối với những người ủng hộ cánh hữu theo giáo phái Phúc âm của ông làm dấy lên những câu hỏi thực sự: Trump thực sự lưu tâm đến mức độ nào các lợi ích chiến lược của Mỹ thông qua việc tôn trọng mong muốn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu hay đảm bảo các lợi ích của Israel? Hầu hết các chính phủ Arab đều bị phá hoại nặng nề bởi các cuộc nội chiến tại Yemen, Syria và Liby và những thách thức trong nước khác trên tiền đề các cuộc nổi dậy xã hội năm 2011.

Liệu quyết định của Trump là một đòi hỏi cấp thiết về mặt ngoại giao hay là một sự hiệu chỉnh kịp thời chiến lược của Mỹ ở Trung Đông, khi mà các dấu hiệu chỉ báo việc quản lý xu hướng rủi ro báo hiệu các cuộc khủng hoảng đáng lo ngại hơn có liên quan đến sức mạnh của Nhà nước Hồi giáo (IS) tại Syria, ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Yemen, Iraq và Liban, nội chiến dữ dội và sự trở lại của chế độ nô lệ và nạn buôn người tại Libya, hay các mối đe dọa hạt nhân chưa được giải quyết của Triều Tiên? Triết lý đơn giản của Trump “những thách thức cũ đòi hỏi các cách tiếp cận mới” dường như bị che mờ bởi mong muốn mạnh mẽ là nắm quyền kiểm soát ngay cả với một công thức bị tính toán sai lầm không mang tính ngoại giao cho cuộc xung đột khó giải quyết giữa Israel và Palestine. Với xu hướng coi mình là trung tâm và tự đề cao bản thân, ông đã phô bày “đặc tính của một nhà đàm phán tự tin sẵn sàng đặt cược để làm mọi thứ rối tung lên”.

Với uy tín ngày càng giảm của Chính quyền Trump trong mắt hầu hết các nhà lãnh đạo, giới tinh hoa và dân thường Arab, Hồi giáo, Cơ đốc giáo và thậm chí là châu Âu, người ta tự hỏi liệu quyết định của ông có triển vọng thúc đẩy một chiến lược phản công của người Palestine, Arab và Hồi giáo hay không. Với hy vọng ngày càng giảm về một giải pháp 2 nhà nước cho cuộc xung đột, câu hỏi vẫn là: Ai sẽ thế chân Mỹ trong các nỗ lực hòa bình trong tương lai? Nga có rất nhiều thách thức sau khi can dự vào cuộc xung đột ở Syria. Bằng việc bảo vệ chế độ Bashar Assad, họ đã làm giảm uy tín của mình để có được một vai trò trong khu vực. Trung Quốc quan tâm đến việc phát triển các mối liên kết thương mại hơn là việc định hình một sự can dự chính trị vào Trung Đông.

Điều gì đằng sau lời hứa không mang tính ngoại giao trong chiến dịch chính trị của Trump?

“Tổng thống Trump, ngài đã hứa. Ngài đã thực hiện lời hứa. Cảm ơn ngài vì đã dũng cảm công nhận Jerusalem là thủ đô vĩnh viễn của Israel”. Đây là khẩu hiệu trong một quảng cáo chiếm trọn trang, mô tả cảnh Trump đang cầu nguyện tại Bức tường phía Tây, được Ủy ban Do Thái cộng hòa đăng trên New York Times một ngày sau bài phát biểu của Donald Trump. Điều mỉa mai là trong số 282 lời hứa được ông đưa ra trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, Trump đã lựa chọn vấn đề có lẽ là gây tranh cãi nhiều nhất và bất ổn nhất trong tình trạng hỗn loạn ở Trung Đông, và châm lửa cho một vấn đề dễ bùng phát nhất trong cuộc xung đột.

Nghịch lý ở đây là hầu hết hứa hẹn của ông trong chiến dịch tranh cử, bao gồm cả ObamaCare và việc rút Mỹ ra khỏi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), đều dựa trên một nền tảng dễ lung lay do mối quan hệ bất đồng của ông với Quốc hội và các nhà lãnh đạo của đảng Cộng hòa. Hơn nữa, Trump đã quyết định tiến về phía trước với tuyên bố về Jerusalem chống lại những kiến nghị của các quan chức chính sách của ông ở Bộ Ngoại giao và Lầu Năm góc, chứ chưa nói đến sự bất đồng ý kiến của hầu hết các nhà lãnh đạo thế giới ở Trung Đông, châu Âu và châu Á. Ví dụ, Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đã khuyên ông không nên giải quyết vấn đề Jerusalem. Giờ đây, họ vẫn lo ngại về hậu quả không lường trước được của chủ nghĩa bài Mỹ tiềm tàng, đặc biệt là đối với các nhà ngoại giao và binh lính đang phục vụ ở nước ngoài.

Tương tự, điều phối viên đặc biệt của Liên hợp quốc về tiến trình hòa bình Trung Đông Nickolay Mladenov đã phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng Jerusalem “có lẽ là vấn đề căng thẳng và khó khăn nhất” trong số các vấn đề về tình trạng cuối cùng trong cuộc xung đột. Các nhà quan sát khác lưu ý rằng “Trump giờ đây sẵn sàng áp dụng chiến lược phá hoại quốc tế của ông cho điểm nóng địa chính trị có lẽ là nhạy cảm nhất trên thế giới”.

Để giúp nắm bắt được các sắc thái trong quyết định của Trump về Jerusalem, người ta cần coi chính trị không chỉ mang tính nội bộ mà còn mang tính cá nhân. 10 ngày trước lễ nhậm chức tổng thống vào tháng 1/2017, tỷ phú sòng bạc và nhà hảo tâm thuộc đảng Cộng hòa Sheldon G. Adelson đã tham dự một cuộc họp riêng với Tổng thống đắc cử Trump tại Tháp Trump của ông ở New York. Ông đã thông tin vắn tắt cho chủ tịch của Tổ chức phục quốc Do Thái ở Mỹ là Morton A. Klein về việc Trump quyết tâm di dời Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem vì đó là “một mối ưu tiên lớn” đối với ông và là “một điều gì đó trong tâm trí ông”.

Trong bài viết chi tiết của mình, Mark Landler giải thích cách thức ủy ban hành động chính trị ủng hộ việc Trump đứng ra ứng cử thu lợi từ khoản tiền ủng hộ 20 triệu USD của nhà Adelson, những người cũng đã trao thêm 1,5 triệu USD cho ủy ban vốn đã tổ chức hội nghị của đảng Cộng hòa vào mùa Hè năm 2016. Sau đó đối với ứng cử viên và Tổng thống Trump, tình trạng của Jerusalem luôn là “một đòi hỏi cấp bách về mặt chính trị hơn là một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt ngoại giao. Phải đối mặt với những nhà hậu thuẫn theo giáo phái Phúc âm ủng hộ Israel đáng thất vọng như ông Adelson, hay những đồng minh và các nhà lãnh đạo Arab đáng lo ngại trong khi gây nguy hiểm cho sáng kiến hòa bình của riêng mình, tổng thống đã đứng về phía những người ủng hộ then chốt của mình”. Một nhân tố góp phần khác là các cuộc họp tái diễn của Trump với đại diện của các nhóm Cơ đốc giáo khác nhau theo giáo phái Phúc âm thúc giục ông phải có hành động về tình trạng của Đại sứ quán Mỹ tại Israel. Ví dụ, Chủ tịch Hội đồng nghiên cứu gia đình Tony Perkins nhắc lại rằng trong các cuộc họp mà ông tham dự, “điều được truyền tải rõ ràng là những người theo giáo phái Phúc âm và những người Cơ đốc tin vào Kinh thánh thừa nhận một mối quan hệ đặc biệt với Israel”.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Jerusalem: Sai lầm nghiêm trọng của Donald Trump ở Trung Đông


Ashish Kumar Sen

James Cunningham, cựu Đại sứ Mỹ tại Israel, cho rằng việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel không thúc đẩy các lợi ích của Mỹ hay khu vực.

James B. Cunningham, một nghiên cứu viên cấp cao không thường trực thuộc Hội đồng Đại Tây Dương cho rằng quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump đảo ngược gần 7 thập kỷ của chính sách Mỹ và công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel “có khả năng là một sai lầm rất nghiêm trọng”.

Trong tuyên bố của mình tại Nhà Trắng vào ngày 6/12, Trump cũng nói rằng Đại sứ quán Mỹ sẽ được di dời từ Tel Aviv đến Jerusalem. Giờ đây, Mỹ là quốc gia duy nhất công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel.

Trong những ngày trước khi tuyên bố này được đưa ra, các nhà lãnh đạo Arab và châu Âu, và thậm chí là cả Giáo hoàng Francis, đã cảnh báo và hối thúc Trump không tiến hành sự công nhận này. Mặc dù được Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ca ngợi, nhưng tuyên bố này đã gặp phải sự lên án rộng rãi của quốc tế.

Israel tuyên bố toàn bộ Jerusalem là thủ đô “vĩnh viễn và không bị chia cắt” của nước này, trong khi Palestine tuyên bố Đông Jerusalem là thủ đô của nhà nước Palestine tương lai. Các địa điểm linh thiêng của Jerusalem đều được người Do Thái, người Hồi giáo và người Cơ đốc tôn sùng.

Chính phủ Israel chính thức coi Jerusalem là thủ đô của nước này. Quốc hội, tổng thống, thủ tướng và hầu hết các bộ của Israel đều có trụ sở tại Jerusalem. Tuy nhiên, tất cả các đại sứ quán nước ngoài đều có trụ sở tại Tel Aviv.

Năm 1995, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu đặt Đại sức quán Mỹ tại Jerusalem. Trong hơn 2 thập kỷ, các tổng thống Mỹ – thuộc đảng Cộng hòa cũng như đảng Dân chủ – cứ mỗi 6 tháng đều ký sắc lệnh trì hoãn cho phép họ trì hoãn việc di dời Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv tới Jerusalem vì lý do an ninh quốc gia.

Trong chiến dịch tranh cử, Trump đã cam kết sẽ di dời Đại sứ quán Mỹ, nhưng lại ký sắc lệnh trì hoãn vào tháng 6. Vào ngày 4/12, ông đã không ký sắc lệnh trì hoãn.

Giải thích quyết định của mình về Jerusalem, Trump đã nói tại Nhà Trắng: “Chúng ta không thể giải quyết các vấn đề của mình bằng việc đưa ra cùng những giả định thất bại và lặp lại cùng các chiến lược thất bại của quá khứ. Các thách thức cũ đòi hỏi cách tiếp cận mới”.

Ông nói thêm rằng ông “xét thấy tiến trình hành động này nằm trong những lợi ích tốt nhất của Mỹ và việc theo đuổi hòa bình giữa Israel và Palestine”.

Trump đã giao phó cho con rể kiêm cố vấn cấp cao của mình, Jared Kushner, nhiệm vụ tạo ra một thỏa thuận hòa bình ở Trung Đông. Kushner và Jason D. Greenblatt, đặc phái viên của tổng thống, đã nỗ lực nhiều tháng cho nhiệm vụ này. Trump đã khẳng định cam kết của Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho một thỏa thuận hòa bình giữa Israel và Palestine “mà có thể chấp nhận được đối với cả 2 bên”.

Tuy nhiên, Cunningham cho rằng quyết định của Trump sẽ làm dấy lên những câu hỏi trong số các đối tác của Mỹ ở Trung Đông về vai trò của Mỹ trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trong tương lai.

James B. Cunningham đã trả lời một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với phóng viên Ashish Kumar Sen của tờ New Alanticist. Dưới đây là các đoạn trích từ cuộc phỏng vấn này.

Ashish Kumar Sen: (+) Ông có những suy nghĩ gì về quyết định của Tổng thống Trump chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel?

Cunningham: (-) Tôi nghĩ đó là một sai lầm và có khả năng là một sai lầm rất nghiêm trọng. Nếu anh muốn đảo lộn các thập kỷ của chính sách Mỹ, thì đó phải là vì một lý do thích đáng và vì một lợi ích chính trị và ngoại giao đáng kể. Tôi không nhận thấy điều nào trong số 2 điều đó đạt được ở  đây.

Việc nêu lên vấn đề này theo cách mà ông ấy đã làm không thúc đẩy sự nghiệp hòa bình, nó không thúc đẩy sự nghiệp ổn định trong khu vực, nó không khiến cho Israel an toàn hơn, và nó không khiến cho Mỹ an toàn hơn chút nào. Theo những gì tôi có thể thấy, nó làm dấy lên một nguy cơ đáng kể với rất ít mặt tích cực.

(+): Liệu có thể tin tưởng Mỹ là một bên trung gian công bằng nếu họ đứng về phe nào đó trong một vấn đề có vai trò trung tâm đối với sự bất đồng Arab – Israel?

(-): Tôi nghĩ là có thể. Tôi không nghĩ rằng có bất kỳ một nước nào khác có thể đảm nhận kiểu vai trò mà chúng tôi đã và có thể đảm nhận.

Liệu chính quyền này có thể đảm nhận vai trò đó hay không thì còn phải bàn cãi. Tuyên bố này sẽ làm dấy lên thêm nhiều câu hỏi không chỉ trong số những người Palestine, mà còn trong cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn.

Có nhiều đối tác đã dành nhiều thời gian và sức lực cùng với chúng tôi cố gắng tiến tới một hồi kết ở Trung Đông và điều này sẽ làm dấy lên những câu hỏi dành cho tất cả họ về việc Mỹ sẽ đảm nhận vai trò nào trong tương lai.

(+) : Điều này sẽ tạo ra những thách thức nào đối với nỗ lực của Jared Kushner và Jason Greenblatt chuẩn bị một kế hoạch hòa bình cho Trung Đông ?

(-) : Nếu anh định làm điều gì đó giống như đưa ra tuyên bố như của Trump, thì nó nên nằm trong bối cảnh một chiến lược mà ở đó có một lợi ích đáng kể có thể đạt được. Tôi không biết điều họ nghĩ họ đang làm gì khi tạo dựng một cách tiếp cận đối với hòa bình của Trung Đông, nhưng từ những gì tổng thống đã nói vào hôm 6/12, thì điều hoàn toàn không rõ ràng là bước đi này có ăn khớp với bất kỳ chiến lược nào hay không, hay nó đang nỗ lực thúc đẩy các mục tiêu chiến lược nào.

(+) : Với tuyên bố của mình, phải chăng tổng thống đã từ bỏ bất kỳ quyền thương lượng nào ?

(-) : Đây là một câu hỏi có tính nghiêm túc của ý định. Việc có một tầm nhìn chiến lược và thực thi tầm nhìn đó là điều sẽ gây ra sự nghi ngờ. Việc thương lượng sẽ được thực hiện giữa Israel và Palestine và các nước khác, nếu họ tiến xa đến mức đó.

Điều này sẽ được xem như một sự thúc đẩy vị thế của Israel, nhưng nó không làm thay đổi thực tế rằng tình trạng của Jerusalem là thủ đô của Israel và Palestine là một vấn đề cốt lõi đối với các cuộc đàm phán mà sẽ cần phải được giải quyét dù chúng ta nói gì đi nữa.

(+) : Liệu việc Trump công nhận Jerusalem có mang lại cho ông nguồn vốn để gây áp lực đối với Israel buộc họ phải có những sự nhượng bộ về lãnh thổ trong bất kỳ cuộc đàm phán Israel – Palestine nào trong tương lai hay không ?

(-) : Nếu điều đó đúng thì sẽ khá là ngu ngốc khi đảm nhận vai trò đó vào lúc này. Đó là điều mà anh có thể làm một cách bí mật giữa các đối tác đàm phán. Tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy đây là điều gì khác ngoại trừ một tuyên bố mang tính tượng trưng mà sẽ được nhiều người ở Israel nhìn nhận là một mối lợi dành cho họ, nhưng dù thế nào nó cũng sẽ không gây ảnh hưởng đến triển vọng của các cuộc đàm phán. Dĩ nhiên, không có cuộc đàm phán nào vào lúc này.

(+) Tuyên bố này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến 2 phe phái đối địch ở Palestine – phe Hamas hiếu chiến ở dải Gaza và phe Fatah ôn hòa hơn ở Bờ Tây? Liệu nó có làm giảm bớt sự ủng hộ của người Palestine dành cho Fatah hay không?

(-) Chúng ta phải xem người Palestine phản ứng như thế nào. Đây rõ ràng là một đòn giáng đối với những người mà chúng ta đã và đang cố gắng làm việc cùng. Chúng ta sẽ phải xem cách thức họ xử lý điều này.

Trump đã cố gắng có cả hai thứ cùng lúc bằng việc nói rằng điều này không nên được nhìn nhận là sự giảm bớt các vấn đề về tình trạng cuối cùng. Điều đó sẽ là một lý lẽ mà bất kỳ nhà lãnh đạo Palestine hay Arab nào cũng khó mà chấp nhận và bảo vệ trước người dân của họ.

Tuyên bố của Trump sẽ khiến cho vị thế của những người Palestine ôn hòa hơn trở nên khó khăn và phức tạp hơn nhiều.

(+) Liệu điều này có khiến các nhà lãnh đạo Arab khó khăn hơn trong việc ủng hộ một kế hoạch hòa bình mà hiện giờ Mỹ đã thay đổi các tham số?

(-) Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho tất cả những người bạn Arab của chúng tôi và nó sẽ làm phức tạp những nỗ lực tạo ra một nhận thức chung về mục đích và định hướng trong khu vực mà bao gồm cả Israel một cách ngấm ngầm hoặc công khai. Điều này cũng sẽ đem lại lý lẽ cho các đối thủ của chúng tôi, những người sẽ tìm cách khai thác điều này vì các mục đích của riêng họ.

(+) Tổng thống Trump đã biến việc chiến đấu chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan thành một ưu tiên. Liệu tuyên bố của ông về Jerusalem có thể làm giảm bớt ưu tiên đó hay không?

(-) Tuyên bố này chắc chắn sẽ không giúp Mỹ và các đối tác của Mỹ giải quyết thách thức đó. Chiến đấu chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là ưu tiên của Mỹ và của các nước trong khu vực, nhưng tuyên bố đó sẽ làm phức tạp khả năng của chúng tôi đạt được tiến bộ trong cuộc chiến này vì các đối thủ của chúng tôi – cả các nước lẫn các phong trào ý thức hệ – sẽ tìm cách lợi dụng điều này để làm giảm bớt vai trò của Mỹ và bạn bè của Mỹ trong khu vực và cố gắng chuyển trọng tâm sang Israel thay vì chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, vốn là mối đe dọa cơ bản đối với khu vực.

Nguồn: http://www.atlanticcouncil.org/blogs/new-atlanticist/trump-s-pretty-serious-mistake-in-the-middle-east

TLTKĐB – 20/12/2017

Di sản của Đế chế Ottoman đối với trật tự Trung Đông


Carl Bildt

Nguồn gốc sâu xa của rất nhiều xung đột tại Trung Đông nằm ở sự tan rã của Đế chế Ottoman vào đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự thất bại trong việc xây dựng một trật tự ổn định cho khu vực kể từ thời điểm nói trên. Trong quá trình hướng tới mục tiêu đảm bảo nền hòa bình bền vững cho toàn vùng, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế cần ghi nhớ bài học lịch sử từ Đế chế Ottoman.

Ottoman – một đế chế từng trải dài từ thành phố Bihac của Bosnia ngày nay đến tận Basra, Iraq – là bức tranh đầy màu sắc bởi sự pha trộn văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ dưới quyền cai quản tối cao của vị Sultan[1] ở Istanbul. Đây từng là nơi đặc biệt ổn định, tạo ra nền tảng hòa bình cho toàn khu vực suốt hàng trăm năm. Tuy nhiên, khi sự tan rã bắt đầu nhen nhóm, nó đã khiến tình hình trở nên vô cùng bạo lực.

Vùng Balkan là nơi khởi đầu của quá trình tan rã của Đế chế Ottoman thành các quốc gia – dân tộc. Đó cũng đồng thời là tiến trình mở màn cho những cuộc chiến khốc liệt – lần đầu tiên diễn ra vào đầu thế kỷ 20, lần thứ hai là vào thập niên 1990.

Trong khi đó, ở vùng Lưỡng Hà và Levant (Đông Địa Trung Hải), một loạt các quốc gia mới nổi lên khi các cường quốc bên ngoài vẽ lại bản đồ Ottoman. Syria và Iraq là kết quả của các cuộc đàm phán tranh giành lợi ích giữa Pháp và Anh. Người Hy Lạp đã thực hiện một nỗ lực thất bại nhằm xâm chiếm miền tây Anatolia – rốt cuộc làm nổ ra cuộc cách mạng dẫn tới sự ra đời của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đồng thời, Tuyên bố Balfour năm 1917 – một cam kết của nước Anh về việc thành lập nhà nước Do Thái trên vùng lãnh thổ Palestine – đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của Israel vào năm 1948, kéo theo hàng chục năm xung đột và thương lượng triền miên.

Việc xác định tỉnh Mosul của Đế chế Ottoman sẽ thuộc về nước nào cho thấy là một vấn đề khó khăn, bởi tỉnh này cùng lúc được cả chính quyền mới của Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Iraq tuyên bố chủ quyền. Một hội đồng được thành lập bởi Hội Quốc Liên và do một nhà ngoại giao Thụy Điển dẫn đầu đã đi khắp khu vực nhằm tìm kiếm một giải pháp phù hợp nhưng sau cùng đành thất bại trong việc vẽ ra được đường ranh giới thỏa mãn các bên. Rốt cuộc, hội đồng này đề xuất sáp nhập Mosul vào Iraq, nhưng quyết định này được đưa ra là do nước này được cho là sẽ nằm dưới sự ủy trị kéo dài hàng thập niên của Hội Quốc Liên.

Kể từ đó, trải qua các cuộc chiến tranh và cách mạng triền miên, có một chân lý vẫn giữ nguyên giá trị: không một ranh giới nào ở Ottoman đủ rõ ràng để có thể sắp đặt êm thấm một trật tự mới giữa các nhà nước hay thực thể chính trị mà vẫn đảm bảo được sự thuần nhất về sắc tộc, dân tộc cũng như tôn giáo. Thừa nhận thực tế đó quả thực là một nghịch lý, bởi trật tự khu vực được tạo ra sau Thế chiến I có thể là một sự sắp đặt tùy tiện, nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi trật tự đó lại có thể dẫn đến những hậu quả thậm chí còn đẫm máu hơn.

Một ví dụ điển hình là nếu tách Iraq thành 2 nhà nước theo giáo phái Sunni và Shia sẽ dễ dàng tạo ra phiên bản ở vùng Lưỡng Hà của thảm kịch 1947 tại Nam Á khi hàng triệu người bỏ mạng trong lúc cố gắng trốn chạy sang Pakistan hoặc Ấn Độ sau sự kiện đất nước này tách làm hai. Thực vậy, cuộc xung đột giữa người Ả-rập và người Kurd vốn sẽ nảy sinh nếu Iraq bị chia cắt có lẽ sẽ vô cùng đẫm máu và dai dẳng, đồng thời tạo ra những hệ lụy sâu sắc đối với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, những nơi có số lượng người Kurd đông đảo. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát Baghdad rất có thể cũng sẽ khốc liệt tương tự.

Để tìm ra một giải pháp cho xung đột tại Syria cũng không phải là điều đơn giản. Nhà nước của tộc Alawite (do Assad lãnh đạo) được Nga bảo trợ dọc vùng ven biển có thể sẽ đứng vững, nhưng quyền lực tại Damascus vẫn là một cuộc tranh giành không hồi kết. Nhóm thiểu số đạo Cơ Đốc tại Syria sẽ trở thành nạn nhân của những nỗ lực tranh đoạt nói trên. Quốc gia này vốn là cội nguồn của một vài những cộng đồng Cơ Đốc giáo cổ xưa nhất trên thế giới, những cộng đồng dù quy mô đã bị thu hẹp đi đáng kể so với trước đây nhưng vẫn tiếp tục nắm giữ những quyền lịch sử không thể chối cãi đối với toàn khu vực. Họ là một phần của mảnh ghép nhỏ trong bức tranh về một Ottoman đa dạng được giữ gìn ở Syria ngày nay; và họ sẽ diệt vong nếu bức tranh đa sắc này biến mất hoàn toàn.

Có một điều chắc chắn là bức tranh đa dạng của Ottoman đã bị hủy hoại nghiêm trọng và hiện đang trong tiến trình tan rã. Nhưng dù những thành phố thương nghiệp đa văn hóa cổ xưa như Aleppo và Mosul có thể không bao giờ phục hồi và phồn vinh trở lại, đó cũng không phải là cái cớ để cắt xẻ lãnh thổ khu vực này theo các ranh giới mới, nếu không muốn trả giá bằng một biển máu.

Trong quá trình nỗ lực để chấm dứt sự hỗn loạn và xung đột đang xé nát Trung Đông, đồng thời thiết lập một trật tự khu vực có thể giúp duy trì hòa bình và ổn định dài lâu, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế nên cố gắng làm việc trong các khuôn khổ hiện hữu. Những chiến lược gia ngồi phòng lạnh ở các đất nước xa xôi sẽ chỉ đang tự huyễn hoặc bản thân nếu họ nghĩ rằng các nỗ lực áp đặt các biên giới mới rõ ràng hơn lên vùng đất cổ xưa này sẽ không thất bại trong bối cạnh hiện nay.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Carl Bildt, “Preserving the Ottoman Mosaic”, Project Syndicate, 30/11/2015.

Carl Bildt là ngoại trưởng Thụy Điển từ năm 2006 đến tháng 10 năm 2014, và là Thủ tướng trong giai đoạn 1991-1994, khi ông đàm phán cho việc Thụy Điển gia nhập EU. Là nhà ngoại giao quốc tế nổi tiếng, ông từng đảm trách chức vụ Đặc sứ của EU ở Nam Tư cũ, Đại diện cấp cao về vấn đề Bosnia và Herzegovina, Đặc sứ của Liên Hiệp Quốc ở khu vực Balkan, và là Đồng Chủ tịch của Hội nghị Hòa bình Dayton.

Không kích Syria khó có thể thay đổi cục diện


Tân Hoa xã dẫn lời Osama Danura, tiến sĩ chính trị học và cũng là chuyên gia chính trị về Syria, nhận định rằng cuộc tấn công quân sự do Mỹ dẫn đầu nhằm vào Syria có hiệu quả rất ít trong việc kiềm chế năng lực chiến đấu của các lực lượng Syria. Cuộc tấn công sẽ không thay đổi được gì và cũng không thể đưa phe nổi dậy đã bị thấy bại quay trở lại những khu vực từng nằm dưới sự kiểm soát của họ.

Chắc chắn là vụ không kích đã nhằm vào các vị trí quân sự, bao gòm cơ sở nghiên cứu khoa học, song nó không thể làm tê liệt hoạt động của các lực lượng Syria. Ông nói thêm: “Các lực lượng phòng không của Syria đã chặn đứng được hầu hết số tên lửa bắn ra. Và Nga cũng sẽ trao cho Syria hệ thống phòng thủ S300, một “cái tát” mạnh vào mặt Israel, cũng là điều mà Mỹ không hề muốn xảy ra”.

Theo Tiến sỹ Dunara, “Nga sẽ không trực tiếp đáp trả vụ tấn công này, song một khi Nga trao cho Syria những hệ thống phòng không tiên tiến, thì đó sẽ là “tai họa lớn” đối với liên minh do Mỹ dẫn đầu và cả Israel”. Chuyên gia này cũng lên án điều mà Mỹ và các đồng minh vừa làm là một mối đe dọa nguy hiểm không chỉ đối với Syria mà cả hòa bình và an ninh thế giới vì đã vi phạm luật pháp quốc tế và hiến chương Liên hợp quốc.

AFP dẫn nhận định của giới phân tích cho rằng cuộc tấn công vừa qua chủ yếu chỉ là một biệ pháp mang tính “răn đe” và sẽ không thể thay đổi cục diện của cuộc xung đột tại quốc gia Trung Đông này. Mặc dù Tổng thống Mỹ Donald Trump tán dương hành động quân sự này đã được “tiến hành một cách hoàn hảo”, song giới phân tích nhấn mạnh rằng quy mô của nó vẫn còn hạn chế và sức mạnh quân sự của chế độ Tổng thống Bashar al-Assad hầu như không bị ảnh hưởng. Sasha al-Alou, chuyên gia về Syria tại hãng tư vấn Omran có trụ sở tại Thổ Nhĩ Kỳ, nhận định: “Đây chỉ là một biện pháp mang tính răn đe, kỷ luật. Thông điệp của nó mang tính chính trị nhiều hơn là quân sự”.

Trước đó, Paris cho biết Moskva, đồng minh chính trị của Damascus, đã được thông báo vè vụ tấn công này. Và tổ chức Giám sát Nhân quyền Syria, một tổ chức giám sát của Anh, cho biết các mục tiêu tấn công đã được tản cư trước khi các tên lửa được phóng ra trước rạng sáng ngày 14/4. Bruno Tertrais thuộc Quỹ Nghiên cứu Chiến lược, một hãng tư vấn Pháp, cho biết: “Mục tiêu của hành động này chủ yếu mang tính chính trị: nhằm răn đe chế độ Syria thấy là không phải họ sẽ mãi mãi được để yên như vậy”.

Cách đây một năm, 59 quả tên lửa hành trình của Mỹ cũng đã được phóng vào một cơ sở quân sự của chế độ Assad ở miền Bắc Syria nhằm đáp trả một vụ tấn công bằng khí độc sarin đã cướp đi sinh mạng của hơn 80 dân thường. Tuy nhiên, “cán cân quyền lực vẫn không thay đổi”, chuyên gia Karim Bitar thuộc Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế và chiến lược tại Paris nhận định. Theo ông, “Tất cả các địa điểm mà Nga đồn trú đều được cẩn thận tránh xa. Phương Tây muốn ngăn ngừa một sự leo thang căng thẳng và một cuộc xung đột toàn diện”.

Các cuộc tấn công của phương Tây cũng sẽ không giúp gì nhiều cho việc làm chậm tiến trình chiếm lại các khu vực từng bị phe nổi dậy chiếm đóng của quân đội chính phủ, vốn được Nga và Iran hậu thuẫn và thực tế chính quyền Assad đã giành lại được hơn một nửa lãnh thổ Syria.

Việc sử dụng các vũ khí hóa học, chẳng hạn như khí clo, làm dấy lên sự phẫn nộ của cộng đồng quốc tế, song nó không phải là loại vũ khí hủy diệt nguy hiểm nhất trong kho vũ khí của chế độ này. Raphael Pitti, một bác sĩ và cũng là nhà hoạt động xã hội người Pháp, nhận định: “Lợi ích có được từ một hành động như vậy của phương Tây là gì nếu như nó không mang lại được sự chấm dứt ngay lập tức bạo lực và tội ác mà người dân Syria đang phải gánh chịu?”

Theo Tân Hoa xã, giới phân tích dự báo cho rằng sẽ ít có khả năng xảy ra các vụ tấn công tiếp theo sau cuộc đột kích của liên quân do Mỹ dẫn đầu vào Syria, và cũng sẽ không có sự đáp trả hay bất ổn leo thang trong khu vực. Imad Salamay, giám đốc Viện Công lý Xã hội và Giải quyết Xung đột thuộc Đại học Mỹ của Liban, nhận định rằng các cuộc không kích vừa qua “sẽ không gây ra những hậu quả chính trị nghiêm trọng”. Ông nói: “Cả Nga và Iran đều không muốn tình hình leo thang bởi cả hai nước này đều đang bị cộng đồng quốc tế theo dõi chặt chẽ. Họ cũng đang phải chiến đấu trên nhiều mặt trận”.

Bất chấp căng thẳng lâu nay giữa Nga và phương Tây, chuyên gia này dự báo sẽ không xảy ra những cuộc đáp trả nghiêm trọng giữa các cường quốc thù địch. Theo ông “ý nghĩa duy nhất của vụ tấn công lần này là lời tuyên bố rằng một liên minh quân sự lớn mạnh hơn đã được hình thành giữa Anh, Pháp và Mỹ. Họ có lập trường quân sự cứng rắn hơn, đã củng cố liên minh của mình với mục tiêu rõ ràng là kiềm chế và kiểm soát sự mở rộng hiện diện và ảnh hưởng quân sự của Nga tại khu vực này”.

Nguồn: TKNB – 17/04/2018

Lý do Putin kiềm chế trước các cuộc không kích Syria của phương Tây


Theo AP, trước quyết định khó khăn là đối đầu trực diện với Mỹ, Anh và Pháp hay “án binh bất động” để liên quân tấn công đồng minh của mình, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã lựa chọn giải pháp “hòa bình”. Phản ứng khá thận trọng này có thể hủy hoại hình ảnh cứng rắn của nhà lãnh đạo Nga, song lại tránh gây tổn hại tới các thành quả mà ông đã đạt được ở Syria cũng như tới ảnh hưởng và uy tín ở trong nước.

Điện Kremlin từng cảnh báo Washington rằng Nga sẽ đáp trả mọi cuộc tấn công nhằm vào người Nga tại Syria, và phương Tây cũng tôn trọng “giới hạn đỏ” này khi thông báo trước cho nga về vụ tấn công vào rạng sáng 14/4, tương tự những gì từng diễn ra một năm trước khi Mỹ không kích một căn cứ không quân của Syria. Đối đầu có thể nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát, một kịch bản cực kỳ tồi tệ và thậm chí còn được so sánh với khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962, khi thế giới tránh khỏi một cuộc xung đột hạt nhân chỉ trong “đường tơ kẽ tóc”.

Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Florence Parly nói: “Chúng tôi cam đoan rằng Nga đã được cảnh báo trước”. Trong khi đó, một quan chức cấp cao của Pháp cho biết Tổng thống Emmanuel Macron không trao đổi với người đồng cấp Putin về kế hoạch này khi hai bên có cuộc điện đàm hôm 13/4, song “các cơ chế giảm thiểu xung đột cụ thể” đã được triển khai, và “cả hai bên đều biết tình hình sẽ nhanh chóng có những biến chuyển mới”.

Quân đội Nga cho biết hệ thống phòng không tại 2 căn cứ của họ ở Syria đã phát hiện và theo dõi các tên lửa nhắm đến quốc gia Trung Đông này song không ngăn chặn chúng. Các trang mạng xã hội Nga ngày 14/4 liên tục nóng lên vì những bình luận chỉ trích Tổng thống Putin không bảo vệ đồng minh của mình. Trong khi đó, kênh truyền hình nhà nước chủ yếu tập trung vào việc lên án phương Tây lấy cớ vụ tấn công hóa học mà Moskva cho là có nhiều thông tin sai lệch.

Thực tế, sự kiểm soát chặt chẽ mà Kremlin áp đặt với truyền thông Nga sẽ giúp hình ảnh cứng rắn và mạnh mẽ mà Putin gây dựng tránh bị tổn hại. Thay vào đó, sự thận trọng này càng củng cố uy tín của ông trong bối cảnh có những lo ngại về nguy cơ chiến trnah mà Nga có thể bị sa lầy.

Trong những ngày gần đây, truyền thông nhà nước Nga liên tục đưa ra những lời khuyên về việc nên làm trong trường hợp nổ ra xung đột hạt nhân và những gì mà người dân cần mang theo vào hầm trú ẩn. Hầu hết người dân Nga hiện đều thở phào và cảm thấy biết ơn Putin vì đã đưa nước Nga tránh khỏi nguy cơ chiến tranh. Các kênh truyền hình chính thức còn so sánh thái độ kiềm chế và có trách nhiệm này với những hành động thiếu chín chắn của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Fyodor Lukyanov, Chủ tịch Hội đồng Chính sách Đối ngoại và Quốc phòng, một hiệp hội bao gồm nhiều chuyên gia về chính sách đối ngoại và an ninh của Nga, phát biểu trên kênh truyền hình nhà nước rằng cảnh báo của Nga về các đòn trả đũa “rõ ràng đã được Lầu Năm Góc biết tới và cuộc tấn công vừa qua là cố tình”.

Điện Kremlin cũng dùng cuộc khủng hoảng này để nhấn mạnh thêm quan điểm của mình rằng một phương Tây hung hăng đang đẩy thế giới đứng trước bất ổn và phớt lờ luật pháp quốc tế. Giới chức và các nhà lập pháp Nga so sánh tình hình hiện nay với cuộc xâm lược năm 2003 của Chính quyền Bush tiến hành tại Iraq, với cái cớ là những thông tin tình báo về việc Baghdad đang phát triển vũ khí hóa học – những cáo buộc hoàn toàn sai lầm. Nhiều nhà bình luận thậm chí còn phát biểu trên truyền hình rằng Trump và Thủ tướng Anh Theresa May tiến hành cuộc tiến công nhằm vào syria chỉ để chuyển hướng dư luận khỏi các bê bối chính trị trong nước.

Phản ứng của Tổng thống Putin cho đến nay mới chỉ giới hạn ở lời kêu gọi triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nga chưa nêu lên bất kỳ phương án quân sự nào, song Trung tướng Sergei Rudskoi, Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nga, đã đưa ra một cảnh báo rõ ràng đối với Mỹ và các đồng minh rằng Moskva có thể sẽ triển khai thêm các khẩu đội tên lửa S-300 cho hệ thống phòng thủ có từ thời Xô viết tại Syria. Ông cũng lưu ý rằng Moskva cho đến nay vẫn tôn trọng yêu cầu của phương Tây về việc không cung cấp tên lửa cho Damascus song sau đây có thể Nga sẽ phải cân nhắc lại vấn đề này.

Ông Rudskoi cũng đe dọa rằng Moskva đang xem xét khả năng cung cấp các tên lửa tầm xa cho một số quốc gia khác, song không nói chi tiết. Trong số này rất có thể sẽ có Iran, nước từng được Nga trang bị các hệ thống S-300. Tuyên bố này rõ ràng là nhằm răn đe phương Tây về các cuộc tấn công khác nhằm vào Syria và gây ảnh hưởng tiêu cực tới những thành quả mà ông Assad giành được trên thực địa, nơi nhờ sự hỗ trợ của Nga, Chính quyền Damascus đã đảm bảo được quyền kiểm soát hầu hết các khu vực chiến lược.

Hãng tin Reuters bình luận: Cuộc tấn công rạng sáng 14/4 khiến dư luận có nhiều ý kiến trái chiều. Tuy nhiên, dù Mỹ khoanh tay hành động, những nguy cơ sau đó cũng đều có lợi cho Nga. Các hoạt động triển khai quân của Mỹ tại vùng Địa Trung Hải, với tàu sân bay USS Harry S. Truman di chuyển từ vùng Norfolk, Virginia hồi tuần trước là minh chứng cho thấy phạm vi hoạt động của quân đội Mỹ vẫn vượt trội hơn hẳn so với Nga. Tuy nhiên, việc Mỹ phải có bước điều động này lại là dấu hiệu phản ánh rõ nét những lo ngại và yếu kém của Washington.

Cho đến nay, Nga vẫn chỉ có các tuyên bố mang tính lên án cuộc không kích mà Mỹ – Anh – Pháp vừa tiến hành. Nếu muốn trả đũa, Putin sẽ không dùng cách đối đầu trực diện mà thay vào đó là đáp trả trên các mặt trận khác, chẳng hạn như đẩy mạnh cuộc chiến tại Ukraine.

Điều mỉa mai là thỏa thuận Mỹ – Nga hiện nay lại được xem là tia hy vọng lớn nhất để ngăn chặn nguy cơ đối đầu giữa Iran và Israel leo thang căng thẳng tại Syria. Israel đã đẩy mạnh các cuộc tấn công nhằm vào những mục tiêu mà họ cho là của Iran ở Syria, trong khi Tehran không ngừng củng cố các lực lượng ủy nhiệm địa phương, cụ thể là Hamas và Hezbollah để tấn công nhà nước Do Thái. Để có thể đối thoại, Moskva và Washington cần phải giải quyết những bế tắc hiện nay, song mọi dấu hiệu lại cho thấy tương lai không mấy tươi sáng.

Cuộc can thiệp quân sự mà Nga tiến hành tại Syria vào năm 2015, cũng như các diễn biến tại Ukraine năm 2014 và tại Gruzia năm 2008 là những kế hoạch cho thấy khả năng tài tình của Nga trong việc đạt được các hiệu quả chiến lược quan trọng mà không phải tiêu tốn quá nhiều sức lực. Đối mặt với các kẻ thù, Moskva luôn dựa vào những đe dọa về ảnh hưởng và sức mạnh quân sự, nhất là năng lực hạt nhân. Trên mặt trận Syria, giới chức Nga không ngần ngại tuyên bố về nguy cơ nổ ra chiến tranh giữa các cường quốc hạt nhân, một nỗ lực không che giấu nhằm răn đe phương Tây.

Nga hiểu rằng mọi cuộc thảo luận về vũ khí hóa học và các bằng chứng bí mật sẽ khiến giới lãnh đạo và các cử tri phương Tây nhớ về các thông tin tình báo sai lệch liên quan tới vũ khí hủy diệt hàng loạt mà Chính quyền Bush từng viện cớ để xâm lược Iraq. Các hãng truyền thông Nga đã nhiều lần so sánh hai sự kiện này, một bằng chứng cho thấy chiến tranh thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược tổng thể của Nga. Một số nhà quan sát Kremlin thậm chí còn cho rằng Moskva kích động Trump và phương Tây tấn công Syria để khoét sâu thêm những mâu thuẫn nội bộ tại các nước phương Tây và hợp lý hóa các hành động tiếp theo của mình.

Nguồn: TKNB – 17/04/2018