Giải mã cuộc tấn công tay ba vào Syria


Hiệu quả răn đe từ cuộc tấn công của Mỹ và các đồng minh vào Syria chỉ đạt được một phần. Đạt được là vì như trong tất cả các cuộc ném bom khác mà Mỹ đã thực hiện nhiều lần vào lãnh thổ các quốc gia có chủ quyền (Nam Tư, Iraq, Lybia…) quân đồng minh đã thể hiện được sức mạnh quân sự, thói trắng trợn và sự bất chấp luật pháp quốc tế của mình. Còn chỉ đạt được một phần là do quá nhiều tên lửa của họ đã bị lực lượng phòng không Syria (không phải là hiện đại và hoàn hảo nhất, được chế tại tại Nga/Liên Xô từ 3 thập kỷ trước) đánh chặn. Chuyên gia của câu lạc bộ Valdai, giám đốc khoa học của Viện nghiên cứu phương Đông thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, viện sĩ Vitaly Naumkin cho rằng đây cũng là chiến thắng của Nga, vũ khí do Nga cung cấp đã hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi bất kỳ một hành động nào của phương Tây chống lại Damascus giờ đây đều được Nga coi là công cụ chống lại đất nước mình, đất nước đã trở thành bên tham gia then chốt nhất tại Trung Đông trong những năm vừa qua.

Trong lời phát biểu của bà Theresa May sau cuộc không kích vào lãnh thổ Syria trong bối cảnh liên quân tuyên bố đây cũng là mục tiêu của chiến dịch tấn công, bà có nhắc đến việc ngăn chặn hành động sử dụng vũ khí hóa học trên cả “lãnh thổ Anh”. Điều đó chứng tỏ trong bộ ba, Anh gắn vụ tấn công với chiến dịch chống Moskva mà trong đó London kiên quyết tiếp tục cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học trên lãnh thổ nước mình.

Tác giả thấy kỳ lạ là Anh lại không nhìn thấy vô số điều vô lý trong các giả thuyết mà họ đưa ra về vụ Skirpal, cũng như trong cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học ở Syria. Kỳ lạ vì Anh là quốc gia có kinh nghiệm nhất trong việc sử dụng vũ khí hóa học ở Syria. Ngày 17/4/2018 là tròn 101 năm kể từ khi quân đội Anh bắt đầu sử dụng chất khí Clo chống lại quân đội Thổ Nhĩ Kỳ tại Palestin, trong cái gọi là Trận đánh thứ hai tại Gaza. Tuy nhiên, điều đó không mang lại cho họ chiến thắng quân sự (cũng là bại học hay ho). Trung Đông còn nhớ điều đó, dù vũ khí hóa học chỉ được chính thức cấm từ năm 1925. Nhưng cả sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, vào tháng 8/1919 Anh đã sử dụng vũ khí hóa học trong cuộc tấn công vào phía Bắc nước Nga, còn năm 1920 là trong cuộc chiến tranh với quân khởi nghĩa Iraq. Công bằng mà nóio, Anh không đơn độc trong việc này.

Cuộc tấn công làn này đã được nói đến nhiều, song cần có thời gian để phân tích các chi tiết của nó. Rõ ràng hiệu quả răn đe từ cuộc tấn công của Mỹ và các đồng minh vào Syria chỉ đạt được một phần. Cái được của Mỹ ở đây chỉ là các đơn đặt hàng mới đối với tên lửa Tomahawk. Đa số các đòn tấn công được thực hiện từ các bệ phóng trên biển và trên không nằm ở bên ngoài lãnh thổ Syria.

Song đây cũng là chiến thắng của Nga. Rõ ràng, theo các thỏa thuận nào đó mà quân đội Nga đã không phải tự mình tham gia chiến sự và sử dụng hệ thống tên lửa hiện đại nhất S-300 và S-400. Điều thần kỳ là các đòn tấn công cũng không gây thiệt mạng cho binh sĩ cũng như chuyên gia của cả Nga lẫn Syria. Chúng chỉ thỏa mãn các tay súng đang hy vọng trò hề với vũ khí hóa học sẽ được lặp lại, và Washington cùng đồng minh sẽ lại tiếp tục chiến dịch quân sự.

Trong lúc này, chỉ huy các nhóm vũ trang lại thất vọng với tuyên bố của tổng thống Mỹ rằng chiến dịch tấn công không nhằm mục đích “thay đổi chế độ”, và chỉ diễn ra một lần, mang tính trừng phạt và răn đe. Họ tự hỏi nếu lại không cáo buộc được ông Assad sử dụng vũ khí hóa học, thì sau khi thể hiện được sức mạnh và chiến thắng tại Đông Ghouta, ông Assad có hành động tự tin hơn không? Rõ ràng giờ đây Moskva có thể nối lại vấn đề cung cấp S-300 cho Syria, vốn bị gián đoạn do lo ngại của một số đồng minh (Israel).

Cần lưu ý rằng cho dù luận điệu là rất gay gắt, song trong các diễn biến vừa rồi tất cả các bên xung đột đều thể hiện sự kiềm chế và trách nhiệm, không để xảy ra leo thang. Qua các tuyên bố chính thức, Nga cũng dự định hành động theo con đường ngoại giao chứ không phải quân sự. Tại Trung Đông, ngay cả các đồng minh của Mỹ cũng không hài lòng với những hành động độc đoán của Mỹ: Khu vực này luôn không chấp nhận việc các bên tham gia toàn cầu vi phạm chủ quyền, ngay cả nếu một số nước láng giềng của Syria và Iran muốn họ suy yếu đi vì lý do chiến thuật.

Dù vậy, liên quân ba nước đã đạt được một trong những nhiệm vụ đặt ra là gây chia rẽ giữa bộ ba bảo đảm: Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran. Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ ủng hộ tấn công hạn chế vào Syria, song đây là điều đã được dự báo. Tuy nhiên, trước đó cũng khó mà giấu được sự khác biệt trong quan điểm của ba quốc gia bảo đảm về Syria. Còn trên thực tế, sự hợp tác giữa họ không chỉ được duy trì mà còn tiếp tục phát triển, chủ yếu là nhờ vai trò trụ cột của Moskva, biết dùng công cụ ngoại gia là tiến trình Astana và diễn tiến quan hệ song phương để lèo lái tránh các bước ngoặt nguy hiểm.

Cuộc tấn công tay ba

Ngày 31/10/1956, Anh và Pháp đã về phe Israel tấn công Ai Cập, sau khi lãnh đạo nước này quốc hữu hóa kênh đào Suez. Trong chiến dịch “tấn công tay ba” này, liên quân Anh – Pháp – Israel, đã ném bom Cairo, Aleksandria và các thành phố lân cận vùng kênh đào. Ngày 14/4/2018, một nước Arab khác lại bị “tấn công tay ba”. Sự liên tưởng còn rõ rệt hơn nhiều.

Cuộc tấn công năm 1956 kết thúc không vẻ vang gì cho ba nước khơi mào, song không nên nói bài học của lịch sử là lịchs ử không dạy gì cả. Khác với cuộc tấn công Anh – Pháp – Israel nhằm vào Ai Cập năm 1956, bộ ba mới gồm có Mỹ, Anh và Pháp. Dù thù địch với Damascus, song Israel không tham gia liên quân. Ngoài ra, dù thế giới vào thời điểm năm 1956 là hai cực nhưng quan điểm của Liên Xô và Mỹ là gần nhau.

Xin nhắc lại một sự kiện khác liên quan đến Trung Đông. Tháng 7/1958 ở Iraq, tại chính trung tâm của Khối hiệp ước Baghdad (hay còn gọi là CENTO do Anh đứng đầu) đã xảy ra cuộc cách mạng lật để chế độ quân chủ dưới sự lãnh đạo của Abd al-Karim Qasim. Phương Tây coi cuộc cách mạng này là sự tiếp diễn của cuộc khủng hoảng kênh đào Suez vào năm 1956 của Gamal Abdel Nasser (Tổng thống Ai Cập từ năm 1956 đến năm 1970) và là cú đòn giáng mạnh vào vị thế của phương Tây, vì đẩy Khối hiệp ước Baghdad chống lại Liên Xô vào lãng quên.

Tổng thống Eisenhower không nhất trí với lo ngại của Thủ tướng Anh Churchill rằng nếu phương Tây không hành động kiên quyết thì toàn bộ Trung Đông có thể rơi vào vòng kiểm soát của Liên Xô. Ông lo sợ “hiệu ứng domino”, giống những gì đã xảy ra tại Đông Nam Á. Việc 20.000 lính Mỹ đổ bộ vào Liban để ủng hộ tổng thống Camille Chamoun vốn trung thành với phương Tây và hơn 6000 lính nhảy dù Anh đổ bộ xuống Jordan để ủng hộ nhà vua Husein ngay sau khi chế độ quân chủ Iraq bị lật đổ đã xác nhận tính chất nghiêm túc của các lo ngại đó. Và hai năm sau sự kiện tại Suez, Mỹ và Anh lại cùng nhau hành động và thảo luận kế hoạch can thiệp quân sự vào Iraq.

Tuy nhiên, Eisenhower không quyết tâm sử dụng sức mạnh quân sự: Học thuyết năm 1957 của ông không cho rằng Mỹ phải sử dụng sức mạnh quân sự để lật đổ các chế độ cộng sản hoặc cánh tả. Rõ ràng, Mỹ chọn các chiến dịch đặc nhiệm thay vì can thiệp quân sự công khai. Ngoài ra, Mỹ không muốn đi đồng vốn đạo đức mà họ có được tại thế giới Arab sau vụ Suez. Uy tín của Mỹ chỉ đi xuống vào cuối những năm 1950, khi họ và Anh bắt đầu có quan điểm thân Israel. Song, Ngoại trưởng John Dulles công khai nói về việc cần phải xa rời chủ nghĩa thực dân châu Âu.

Ông Qasim, người đả kích trung tâm đầu não của khối chống Liên Xô ở Trung và Cận Đông và cũng là người thiết lập được quan hệ không tồi với phe cộng sản địa phương, la ứng cử viên tốt cho vị trí đồng minh mới của Liên Xô. Cuộc khủng hoảng quốc tế xung quan Iraq năm 1958 nghiêm trong hơn người ta vẫn nghĩ. Liên Xô cảnh cáo gay gắt và đe dọa dự định của liên quân Anh – Mỹ can thiệp vào Iran. Tuy nhiên, giới lãnh đạo Liên Xô không dễ dàng đưa ra quyết định.

Nhắc lại những lo ngại của giới quân sự năm 1957, Nguyên soái Voroshilov tuyên bố tại một phiên họp rằng ông không thích khuynh hướng Chính sách của Chính phủ Liên Xô tại Trung Đông và việc nhắc lại quá thường xuyên những đe dạ đối với phương Tây sẽ làm mất giá trị của những đe dọa ấy. Ông cho rằng việc ủng hộ các chế độ tiến bộ tại Trung Đông có thể gây ra hậu quả rất nghiêm trọng đối với Liên Xô, khiêu khích chiến tranh với Mỹ. Các ủy viên khác trong Bộ Chính trị cũng không muốn chiến tranh, mà cho rằng cách tốt nhất để tránh chiến tranh là liên tục đe dọa Mỹ. Khrushev ủng hộ quan điểm đó. Mikoian (Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô thời đó) thì nói Mỹ đang cân nhắc có tấn công Iraq hay không, và tính toán địa đánh giá liệu Liên Xô có tham chiến để bảo vệ Iraq hay không. Voroshilov khẳng định phương Tây đã quyết định can thiệp, vì vậy không cần phải mạo hiểm, để tránh việc bị buộc phải xung đột công khai với Mỹ.

Có thể giả thuyết rằng khả năng các cường quốc đụng độ vì Iraq lúc đó là rất lớn. Chính nỗi sợ sự can thiệp quân sự của Anh – Mỹ là cơ sở của lời kêu gọi mà Khrushev gửi tới lãnh đạo 6 nước tại Hội nghị Geneva ngày 22/7/1958. Hội nghị đã quyết định hỗ trợ quân sự cho Iraq, việc cung cấp vũ khí được thực hiện thông qua Ai Cập. Trong khi đó, lãnh đạo Liên Xô bình thản trước việc Mỹ và Anh gửi quân đến Liban và Jordan.

Các cường quốc phương Tây cũng không có sự đồng thuận về vấn đề công nhận Iraq. Khi vấn đề can thiệp được xóa bỏ, Anh thấy cần phải công nhận Iraq để không đẩy nước này về phía Liên Xô, Mỹ thì lại không muốn vội vàng để không làm các nhà lãnh đạo Iran và Thổ Nhĩ Kỳ tức giận. Mặc dù vậy, Mỹ rồi cũng công nhận chế độ Iraq. Song việc Liên Xô và Iraq xích lại gần nhau đã được đẩy mạnh, và dưới ảnh hưởng của Moskva, Thủ tướng Iraq Qasim đã đồng ý hợp tác với phe cộng sản ở đây.

Việc phương Tây công nhận Iraq được đánh giá là chiến thắng chính trị của Liên Xô. Kết luận rút ra là phương Tây muốn lật đổ chế độ Iraq song đã phải lùi bước trước sức ép của Liên Xô, rằng sức ép chính trị mạnh mẽ là ngôn ngữ duy nhất mà các đối thủ phương Tây của Liên Xô hiểu được. Vậy là Iraq đã đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh. Còn trong cuộc chiến tranh lạnh mới hiện nay, Syria giữ vai trò tương tự.

Còn lâu mới đặt được dấu chấm kết thúc cuộc xung đột Syria và những gì xung quanh nó. Song việc đơn phương sử dụng sức mạnh quân sự không thể khiến cái ngày xung đột được giải quyết đến gần hơn.

Nguồn: http://ru.vadaiclub.com – 15/04/2018

TLTKĐB – 18/04/2018

Advertisements

Iran đối phó ra sao khi Mỹ áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt


Ngày 7/8, gói biện pháp tái trừng phạt đầu tiên nhằm vào Iran sau khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân lịch sử, hay còn có tên gọi Kế hoạch hành động chung toàn iện (JCPOA) đã chính thức có hiệu lực. Việc Mỹ áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt sẽ có những tác động ra sao đối với quan hệ Mỹ – Iran và thỏa thuận hạt nhân Iran.

Khả năng chống đỡ của Iran mạnh như thế nào?

Theo các nguồn tin, gói biện pháp tái trừng phạt đầu tiên chủ yếu nhằm vào lĩnh vực phi năng lượng như tài chính và sản xuất công nghiệp, Iran sẽ không thể mua USD giao dịch vàng và các kim loại quý, việc nhập khẩu ô tô và máy bay cũng bị cấm. Ngoài ra, các sản phẩm như thảm trải nhà, hạt dẻ cười cũng không thể xuất khẩu.

Hiện nay, nền kinh tế Iran đang phải gánh chịu các nỗi đau như tỉ giá hối đoái sụt giảm, thị trường tài chính rối ren và giá cả tăng cao. Sau khi Mỹ áp đặt trở lại gói biện pháp trừng phạt đầu tiên, liệu nó có tác động gấp đôi lên sự ổn định của nền kinh tế, xã hội Iran, khả năng chống đỡ áp lực của Iran như thế nào?

Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Trung Đông, Đại học ngoại ngữ Thượng Hải (Trung Quốc), Lưu Trung Dân cho rằng sau khi gói biện pháp tái trừng phạt đầu tiên có hiệu lực, nó sẽ làm trầm trọng thêm những khó khăn kinh tế của Iran, trong đó có thị trường tài chính biến động, đồng tiền mất giá cũng như cuộc khủng hoảng dân sinh, nhưng sẽ không dẫn đến sự sụp đổ của nền kinh tế Iran, dẫn tới cuộc khủng hoảng chính trị, thậm chí dẫn tới chính quyền sụp đổ. Ông nói: “Trong 40 năm qua, Iran vẫn tồn tại được trong môi trường quốc tế khắc nghiệt và đã quen như vậy, trừng phạt cũng chính là làm cho nước này trở lại trạng thái trước khi ký thỏa thuận hạt nhân năm 2015”.

Cựu Đại sứ Trung Quốc tại Iran, Hoa Lê Minh cho rằng Iran luôn phải hứng chịu sự trừng phạt của Mỹ nên đã tích lũy được nhiều biện pháp để đối phó với các lệnh trừng phạt, có khả năng chống đỡ áp lực khá mạnh. Ông nhận định: “Trong thời kỳ hó khăn nhất của cuộc chiến tranh Iran – Iraq, mặc dù mọi nguồn lực kinh tế dường như đều bị cắt đứt, nhưng Iran vẫn sinh tồn, do đó đừng đánh giá thấp khả năng chống đỡ của nước này”. Hơn nữa, mục đích chính của gói biện pháp tái trừng phạt đầu tiên là cắt đứt con đường ngoại hối của Iran, làm cho nước này bán dầu mỏ nhưng không thu về được USD. Tuy nhiên, Iran hiện nay không hoàn toàn lệ thuộc vào USD, họ cũng đã chuyển sang thanh toán bằng đồng euro và NDT. Cục diện kinh tế khó khăn ở trong nước hiện nay quả thực không liên quan đến các lệnh trừng phạt của bên ngoài, mà phần nhiều do các biện pháp cải cách kinh tế trong nước chưa hiệu quả cũng như do vấn đề tham nhũng gây ra.

Trên thực tế, đối diện với “những cơn mưa lớn sắp xảy ra”, Iran đã xúc tiến trên nhiều mặt, đưa ra “nắm đấm tổ hợp” trong các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự, sẵn sàng làm giảm những tác động của lệnh trừng phạt.

Trong lĩnh vực kinh tế và tài chính, Chính phủ Iran đã gấp rút đưa ra một dự luật cứu trợ tài chính để ngăn đồng rial mất giá. Theo Lưu Trung Dân, để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, Iran đã rút tiền mặt từ các ngân hàng ở nước ngoài, ví dụ như đã rút hơn 300 triệu USD từ Deutsche Bank của Đức.

Trong thương mại xuất nhập khẩu, kể từ tháng 7 tới nay, Iran đã cấm xuất khẩu hơn 10 loại sản phẩm nông nghiệp để đảm bảo cung cấp cho thị trường trong nước. Theo Reuter ngày 6/8, Iran và ngày 5/8 đã tiếp nhận 5 chiếc máy bay mới từ công ty sản xuất máy bay ATR   liên doanh giữa Pháp và Italy ngay trước khi các biện pháp trừng phạt của Mỹ có hiệu lực. Lưu Trung Dân nhận định: “Trong con mắt của các nước bên ngoài, Iran đã khởi động mô hình kinh tế thời chiến”.

Ở cấp độ ngoại giao, để tháo gỡ những khó khăn do việc Mỹ áp đặt trở lại các biện pháp trừng phạt, các quan chức Iran cũng tìm mọi cách để dàn xếp. Theo các phương tiện truyền thông Iran, bên lề Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) lần thứ 51 vừa diễn ra ở Singapore, Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif đã hội kiến với ngoại trưởng các nước như Trung Quốc, Nga và Australia cũng như đại diện cấp cao về an ninh và đối ngoại của Liên minh châu Âu Federica Mogherini.

Về mặt quân sự, Lực lượng Vệ binh cách mạng Iran đã chứng thực gần đây có diễn tập quân sự ở vịnh Persian để đối phó với các mối đe dọa tiềm tàng và bày tỏ hài lòng đối với thành quả của cuộc diễn tập.

Liệu Iran có rút khỏi thỏa thuận hạt nhân không?

Tuy nhiên, một số nhà phân tích cho rằng so với gói biện pháp tái trừng phạt đầu tiên, tác động của gói biện pháp tái trừng phạt thứ hai có hiệu lực vào ngày 4/11/2018 có thể tác động lớn hơn, khi đó Iran sẽ bị cấm xuất khẩu dầu thô. Theo Giám đốc hoạch định chính sách của Bộ Ngoại giao Mỹ Brian Hook, Mỹ muốn doanh thu từ xuất khẩu dầu thô của Iran giảm xuống bằng không. Ellie Geranmaveh thuộc Hội đồng châu Âu về quan hệ đối ngoại cho biết nếu lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ Iran vào tháng 11 tới nghiêm khắc như lệnh trừng phạt hồi năm 2011 thì có thể sẽ ảnh hưởng tới 40% thu nhập của Chính phủ Iran. Tờ Washington Post cho rằng gọi biện pháp tái trừng phạt thứ hai sẽ làm gia tăng hơn nữa xu thế căng thẳng giữa Washington và Tehran. Khi Mỹ nổ phát súng trừng phạt nhằm vào trụ cột kinh tế của Iran – xuất khẩu dầu mỏ, nó có khả năng buộc Iran cuối cùng phải rút khỏi thỏa thuận hạt nhân.

Về vấn đề này, Lưu Trung Dân cho rằng Iran có rút khỏi thỏa thuận hạt nhân hay không sẽ được quyết định bởi kết quả trừng phạt và hiệu ứng chính sách của Mỹ. Nếu xuất khẩu dầu mỏ của Iran giảm mạnh, dẫn đến điều kiện tiền đề để Iran ở lại thỏa thuận hạt nhân không còn – theo Iran, lợi ích của việc ký thỏa thuận hạt nhân Iran là được hội nhập hệ thống quốc tế, được hưởng lợi ích từ toàn cầu hóa kinh tế, nếu trừng phạt ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Iran, thì sự tồn tại của thỏa thuận hạt nhân Iran là vô nghĩa. Iran có thể sẽ lựa chọn rút khỏi thỏa thuận này. Tuy nhiên, trước đó, Iran vẫn sẽ giành được điểm cao đạo đức, đưa ra điều kiện với các nước cũng ký kết thỏa thuận này. Nếu cộng đồng quốc tế muốn cứu vãn thỏa thuận hạt nhân Iran thì sẽ phải đền bù tổn thất cho Iran. Tuy nhiên, điều này cũng có nghĩa là cuộc đọ sức quốc tế sẽ phức tạp hơn.

Theo Hoa Lê Minh, nếu Donald Trump thực sự cắt giảm lượng xuất khẩu dầu mỏ của Iran xuống còn 0%, thì nước này có thể rút khỏi thỏa thuận. Nhưng viễn cảnh này tương đối nguy hiểm, và cũng không phải là điều Mỹ mong muốn, vì một khi rút khỏi thỏa thuận hạt nhân, Iran sẽ khôi phục tiến trình xây dựng năng lực hạt nhân, và với trình độ công nghệ hạt nhân hiện nay của họ, chỉ một đến hai năm là Iran có thể vượt ngưỡng hạt nhân. Nếu Iran vượt ngưỡng hạt nhân, trong khi Israel từng tun tin sẽ tấn công nước này, Mỹ sẽ không thể đứng ngoài cuộc. Ông nhận định: “Đây là kết quả mà Mỹ không muốn nhìn thấy và cũng muốn né tránh, Chính quyền Donald Trump không muốn bị cuốn vào một cuộc chiến tranh Trung Đông khác. Đối với Chính quyền Donald Trump, điều quan trọng nhất hiện nay là vượt qua cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, giành được nhiều phiếu bầu, đặc biệt là phiếu bầu của người Do Thái”.

Hiệu quả của biện pháp trừng phạt e rằng sẽ giảm xuống

Hoa Lê Minh còn cho rằng so với biện pháp trừng phạt được đưa ra khi Chính quyền Obama giới thiệu Dự luật trao quyền quốc phòng vào năm 2012, mức độ và hiệu quả của gói biện pháp tái trừng phạt lần này của Chính quyền Donald Trump e rằng sẽ giảm, vì gói trừng phạt trước đây nhận được sự ủng hộ của các đồng minh, còn lần này lại nhận được rất ít sự ủng hộ. Các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức… đều không ủng hộ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ cũng cho biết sẽ không đi theo Mỹ áp đặt trừng phạt đối với Iran.

Ví dụ như Liên minh châu Âu (EU) và rất nhiều nước châu Âu đang cố gắng làm giảm những tổn thất do biện pháp trừng phạt gây ra đối với Iran và các doanh nghiệp châu Âu. Giờ đây, trang mạng của tờ Wall Street Journal có viết một số quan chức châu Âu cho biết chính phủ của Pháp, Anh và Đức đã nói với Iran rằng họ đang thảo luận khả năng kích hoạt tài khoản của ngân hàng trung ươong Iran ở ngân hàng trung ương nước mình, tìm cách mở kênh tài chính để duy trì thỏa thuận hạt nhân Iran. EU còn quyết định “hồi sinh” và đổi mới điều lệ đáp trả trừng phạt đã bị bỏ quên 22 năm. Điều lệ này vốn là để đối phó với Đạo luật Helms-Burton được Chính phủ Mỹ thông qua năm 1996 nhằm tăng cường phong tỏa kinh tế đối với Cuba, nhưng chưa được thực thi thật sự. Căn cứ theo điều lệ này, doanh nghiệp châu Âu không cần phải tuân thủ lệnh trừng phạt của Mỹ, có thể phản công để đền bù tổn thất do trừng phạt gây ra. Gần đây, Federica Mogherini cho rằng cho dù Mỹ từ chối trao quyền miễn trừ cho các công ty châu Âu khỏi các biện pháp trừng phạt Iran, nhưng EU vẫn quyết tâm kiên trì đến cùng.

Liệu có khả năng đàm phán hòa bình?

Ngoài ra, điều đáng chú ý là trước đó Donald Trump từng nhắc lại mong muốn đối thoại với Iran, dường như để lại khoảng trống cho Mỹ và Iran quay trở lại bàn đàm phán. Theo hãng thông tấn AFP của Pháp ngày 6/8/2018, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Iran Hassan Rouhani đều sẽ tham dự cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc được tổ chức vào tháng 9/2018. Hai bên tiếp xúc với nhau trong thời gian diễn ra hội nghị là điều có thể tưởng tượng.

Tuy nhiên, Lưu Trung Dân cho rằng ít có khả năng diễn ra đàm phán hòa bình Mỹ – Iran. Vì việc Donald Trump đề nghị đối thoại vô điều kiện với Iran là không nghiêm túc, vài giờ sau lại bị Ngoại Mike Pompeo phủ nhận, điều này một lần nữa phản ánh sự thay đổi thất thường trong chính sách ngoại giao của Chính quyền Donald Trump. Hơn nữa, cho dù Donald Trump có ý tiến hành đàm phán với Iran, Iran cũng chưa chắc sẽ chấp nhận. Cho dù là phe cứng rắn hay phe cải cách của Iran đều hiểu rõ sách lược vừa gây sức ép tối đa, vừa thể hiện tư thế đàm phán của Donald Trump. Do đó, trong nước Iran đều giữ lập trường không đàm phán.

Hoa Lê Minh cho rằng nếu Mỹ thực sự muốn đàm phán với Iran thì cũng không có gì kỳ lạ, hội nghị thượng điểnh Mỹ – Triều đã chứng minh tính khó đoán định trong chính sách ngoại giao của Donald Trump. Tuy nhiên, đối với Iran, việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran là điều đáng hổ thẹn, tiền đề của đàm phán là Mỹ phải quay trở lại thỏa thuận hạt nhân, cho nên Iran không dễ dàng quay lại bàn đàm phán.

Nguồn: shovserver – 06/08/2018

TLTKĐB – 10/08/2018

Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần cuối


Mỹ và Israel: Lợi ích của nước nào quan trọng hơn?

Việc Trump làm thỏa mãn nguyện vọng của Netanyahu đã cản trở lời hứa về tính hợp pháp của Mỹ với tư cách nhà môi giới hòa bình, với việc không có lợi lộc chính trị rõ ràng nào đền đáp lại cho Washington. Mặc dù tính toán chi phí – lợi ích có vị trí nổi bật trong suy nghĩ của một nhà đàm phán, nhưng Trump đã bỏ qua các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa hiện thực chính trị và tư lợi của ông, được phân tích sâu trong triết lý của đảng Cộng hòa. Lập trường mới của ông về Jerusalem có thể được xem như một đề xuất đơn phương mà không có giá trị chiến lược cụ thể cho Mỹ. Ông đã tự nguyện từ bỏ động lực giành chiến thắng, một trọng tâm trong hình mẫu nghệ thuật đàm phán của ông. Như ông đã viết trong cuốn sách “Nghĩ lớn để thành công” của mình: “Tôi thích thành công lớn và thực hiện hợp đồng lớn. Tôi thích đè bẹp đối phương và nhận được lợi ích. Tại sao lại như vậy? Bởi vì không có điều gì tuyệt vời hơn”.

Đối lập với những gì ghi trong sách, tinh thần giánh chiến thắng của Trump đã suy yếu, điều này khiến nhiều nhà phân tích tại Mỹ và những nơi khác tự hỏi về việc thỏa thuận Jerusalem lại thiếu lợi ích đáp lại, nhất là đối với một vị tổng thống đã nhiệt tình thuyết giảng về cách tiếp cận có đi có lại và giành được các khoản đầu tư trị giá gần 500 tỷ USD từ các nước vùng Vịnh trong thời gian ông tới dự Hội nghị thượng đỉnh Riyadh vào tháng 5/2017. Trump dường như đã chuyển từ nghệ thuật đàm phán mặc cả cứng rắn sang nghệ thuật cho không tương đối hào phóng. Thomas Friedman, nhà quan sát kỳ cựu về chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần 30 năm, giải thích rằng “Trump dễ bị tác động bởi những món quà cho không như vậy, không chỉ vì ông ta thiếu hiểu biết, mà còn vì ông ta không coi bản thân là tổng thống của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ông ta coi mình là tổng thống của nhóm người ủng hộ ông. Và vì Trump chỉ còn lại duy nhất sự ủng hộ đó, nên ông cảm thấy cần phải tiếp tục làm hài lòng nhóm người ủng hộ mình bằng cách thực hiện những lời hứa thô lỗ và thiếu suy nghĩ mà ông đã đưa ra cho họ trong suốt chiến dịch tranh cử… Tôi chưa bao giờ thấy một tổng thống từ bỏ quá nhiều thứ cho quá nhiều bên chỉ để nhận lại quá ít như vậy, bắt đầu với Trung Quốc và Israel”.

Quyết định của Trump cũng đã phản ánh dự đoán của 2 nhà khoa học chính trị quan trọng, John Mearsheimer và Stephen Walt, những người lập luận rằng mặc dù “không thể xác định chính xác các ranh giới của hoạt động vận động hành lang của Israel”, nhưng nó “có cốt lõi bao gồm các tổ chức có mục đích công khai là khuyến khích chính phủ và công chúng Mỹ cung cấp viện trợ vật chất cho Israel và ủng hộ các chính sách của chính phủ nước này, cũng như các cá nhân có ảnh hưởng mà đối với họ, những mục tiêu này là ưu tiên hàng đầu”.

Trong cuốn sách có tên “Hoạt động vận động hành lang của Israel và chính sách đối ngoại của Mỹ” xuất bản cách đây 10 năm, Mearsheimer và Walt đã nghiên cứu hoạt động vận động hành lang như một “liên minh lỏng lẻo gồm các cá nhân và tổ chức tích cực hoạt động nhằm lèo lái chính sách đối ngoại của Mỹ theo hướng ủng hộ Israel”. Gia đình tỷ phú Adelson và các nhà tài phiệt người Mỹ gốc Do Thái khác trên thực tế đã thuyết phục thành công Trump đi theo hướng đó. Họ thuộc một nhóm vận động hành lang thân Israel rộng hơn bao gồm người Mỹ gốc Do Thái, người Thiên chúa theo chủ nghĩa Zion (chủ nghĩa phục quốc Do Thái) và các nhóm cánh hữu chính trị mà phần nào bao gồm phe tân bảo thủ.

Mối liên hệ mang tính cá nhân và chính trị giữa Adelson, Netanyahu và Trump đã vượt ra ngoài cơ chế kiểm soát và cân bằng trong nền chính trị Mỹ. Mearsheimer và Walt đã cảnh báo về tác động tiêu cực này của hoạt động vận động hành lang của Israel. Họ cho thấy hoạt động vận động hành lang của Israel có một tác động tiêu cực không chỉ đối với các lợi ích của Mỹ, mà còn vô tình gây tổn hại tới Israel như thế nào.

Từ nhà môi giới hòa bình trở thành bên tham gia xung đột

Tính chất tạm thời trong quyết định của Trump làm dấy lên những mối quan ngại mới về sự nghiêm túc trong ý định của ông nhằm đạt được một “thỏa thuận cuối cùng” giữa Israel và Palestine nằm trong tiến trình nối lại quan hệ ngày càng phát triển giữa Israel và các quốc gia vùng Vịnh, cụ thể là Saudi Arabia và Các tiểu vương quốc Arab thống nhất. Trong khi giải quyết cái ông coi là “không gì khác ngoài một sự công nhận thực tế”, ông lại có một tuyên bố kỳ lạ rằng “chúng tôi không đưa ra lập trường về bất kỳ vấn đề vị thế cuối cùng nào, bao gồm các ranh giới cụ thể cho chủ quyền của Israel tại Jerusalem hoặc nghị quyết về ranh giới tranh chấp. Những vấn đề đó sẽ do các bên tham gia quyết định”. Nghịch lý là giải pháp 2 nhà nước và toàn bộ tiến trình Oslo hiện là thiệt hại ngoài dự tính đầu tiên của việc ông bị buộc nhảy vào xung đột Israel – Palestine. Nhà đàm phán kỳ cựu của Palestine Hanan Ashrawi nhấn mạnh: “Tiến trình hòa bình đã chấm dứt. Họ đã chặn trước để không cho kết quả xảy ra”. Và với chính lý do đó, Tổng thống Chính quyền Palestine Mahmoud Abbas nói rằng quyết định đó “tương đương với việc Mỹ từ bỏ vai trò của mình là một bên môi giới hòa bình”.

Quyết định của Trump là một đề xuất được mất ngang nhau có lợi cho Israel, nước sẽ đầu tư hơn nữa vào sự chuyển hướng của Mỹ nhằm mục tiêu mở rộng quá trình bình thường hóa quan hệ của họ với các nước khác trong khu vực. Theo sau đó, vốn liếng chính trị của Mỹ đã suy yếu tại Trung Đông và xa hơn nữa, và chứng thực 2 cảm nhận tiêu cực thường thấy: a) Mỹ đã không phải là một nhà môi giới chân thành cho tiến trình hòa bình; và b) sự ảo tưởng của Hiệp ước Oslo khi né tránh vấn đề vị thế cuối cùng của Jerusalem, quyền quay trở lại của người tị nạn Palestine và sự thiếu khả thi của giải pháp 2 nhà nước. Như một nhà bình luận đã nói: “Nếu trong tuyên bố của Trump có một điểm tích cực, thì đó là nó đem lại sự rõ ràng và một mục tiêu thống nhất của người Palestine”.

Đối với các quan chức và nhà ngoại giao Mỹ làm việc trong khu vực, một tình thế tiến thoái lưỡng nan mới đã nổi lên về khía cạnh xây dựng lại một đường lối chính trị của Mỹ ít mang tính đối kháng hơn đối với người Palestine và công luận thế giới. Sacb Erakat, nhà đàm phán chính của Tổ chức giải phóng Palestine (PLO), đã cảnh báo rằng Mỹ sẽ “tự loại mình ra khỏi bất kỳ vai trò nào trong bất kỳ sáng kiến nào hướng tới việc đạt được một nền hòa bình công bằng và lâu dài”. Tại Gaza, nhà lãnh đạo Hamas Ismail Haniya coi sự thay đổi chính sách của Mỹ về Jerusalem là “một hành động gây hấn chống lại người dân chúng tôi. Đây là một lời tuyên chiến chống lại người dân Palestine chúng tôi”, và kêu gọi tiến hành một phong trào Intifada (cuộc nổi dậy) mới.

Tại thành phố cổ của Jerusalem, nơi hiện thân cho nhịp đập chính trị của người dân Palestine bình thường, cảm giác thất vọng và tuyệt vọng đã trở nên sâu sắc hơn. Một cư dân địa phương tên là Salah Zuhikeh đã tóm tắt tư thế thu hẹp lại của Mỹ: “Với quyết định này, Mỹ đã trở thành một quốc gia rất nhỏ bé, giống như bất kỳ quốc gia nhỏ bé nào trên thế giới, như Micronesia. Mỹ từng là một quốc gia vĩ đại đối với chúng tôi và tất cả mọi người”.

Kết luận: Vượt ra ngoài quyết định của Trump

Bằng cách phớt lờ các hệ quả của việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel, Trump đã phủu nhận cam kết của mình rằng “một Chính quyền Trump sẽ không bao giờ đặt lợi ích của người nước ngoài lên trước lợi ích của đất nước mình. Từ nay trở đi, tất cả sẽ là ‘Nước Mỹ trước tiên’”. Tuy nhiên, có một niềm tin phổ biến rằng quyết định của ông sẽ đem lại lợi ích cho Israel về mặt ngoại giao. Cánh tả chính trị tại Mỹ, bao gồm người Do Thái theo chủ nghĩa tự do, không hài lòng với một Trump thiên nhiều về cánh hữu của đảng Likud và ít mang tính dân tộc chủ nghĩa Mỹ hơn. Bộ máy chính trị sẽ thách thức ông chứng minh kiểu lợi ích nhận lại mà ông đã giành được cho Mỹ. Quyết định về Jerusalem của Trump đã làm suy yếu uy tín của ông trong mắt hơn 1 tỷ người Hồi giáo, người Thiên chúa giáo, người Arab cũng như người châu Âu, và sẽ làm sâu sắc thêm tình cảm chống Mỹ ở Trung Đông, châu Phi, châu Á và thậm chí ở châu Âu. Theo đó, Trump đã đặt nền móng cho một số thay đổi sắp tới:

+ Quyết định Jerusalem đã chôn vùi hy vọng cuối cùng trong các cuộc đàm phán hòa bình và Hiệp ước Oslo. Nó cũng giải thoát người Palestine khỏi lời hứa không trở thành hiện thực về một nhà môi giới hòa bình không thiên vị. Ban lãnh đạo Palestine có thể xác định lại chiến lược của mình từ trạng thái đối phó sang việc theo đuổi một cách chủ động và độc lập các mục tiêu quốc gia của họ với sự giúp đỡ của một số cường quốc khu vực và thế giới.

+ Người Palestine đã quyết định ngừng liên lạc với Chính quyền Trump và từ chối gặp Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence trong chuyến thăm khu vực của ông này. Họ đã lật sang trang mới về vai trò của Mỹ trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào. Thay vào đó, như họ đã chỉ ra, họ sẽ “tìm kiếm một nhà trung gian mới từ những người anh em Arab của chúng tôi và cộng đồng quốc tế, một nhà trung gian có thể giúp đạt được giải pháp 2 nhà nước”.

+ Uy tín đang phai nhạt của vai trò của Mỹ trong các cuộc đàm phán hòa bình đã đưa toàn bộ cuộc xung đột tới một giao lộ mang tính quyết định. Các đại sứ Thụy Điển, Anh và Pháp tại Liên hợp quốc đã duy trì cam kết của cộng đồng quốc tế đối với giải pháp 2 nhà nước với Đông Jerusalem là thủ đô của một nhà nước Palestine và Tây Jerusalem là thủ đô của nhà nước Israel. Do Trump đã nhượng bộ Israel, rất có thể người Palestine sẽ nghiêng về hướng châu Âu đảm nhận vai trò lãnh đạo trong các cuộc đàm phán hòa bình trong tương lai.

+ Sự quan tâm nhiệt tình của Trump trong việc ủng hộ Israel đã phớt lờ sự bùng nổ chủ nghĩa chống Mỹ trong tương lai, điều mà vẫn còn là một thách thức kể từ khi Chính quyền Bush-Cheney quyết định xâm lược Iraq vào năm 2003 mà không có chiến lược xây dựng quốc gia sau sự sụp đổ của chế độ Saddam Hussein theo hệ tư tưởng Baath. Một lần nữa, Iran, Hezbollah cũng như các nhóm vũ trang dòng Sunni khác sẽ dễ dàng truyền bá đường lối chống Mỹ, chống Israel và chống tiến trình hòa bình hơn với những hậu quả khôn lường về một phong trào liên Arab mới mạnh mẽ và một phong trào liên Hồi giáo cực đoan mới.

+ Vấn đề Jerusalem nhiều khả năng sẽ định hình một mặt trận mới bao quát gồm người Arab, người Ba Tư, người Hồi giáo, người Thiên chúa giáo, người Sunni, người Shiite, người theo Hồi giáo chính trị, người theo chủ nghĩa hiện đại, người thuộc phe ôn hòa và người theo chủ nghĩa dân tộc. Câu chuyện “nói không với một thủ đô Jerusalem của người Do Thái” lặp lại trong nhiều cuộc biểu tình tại các thành phố ở Trung Đông và xa hơn có thể biến thành một đường lối có sức hút mà sẽ truyền cảm hứng cho một phong trào phản kháng và thách thức mạnh mẽ. Tính biểu tượng của Jerusalem không thể bị thu nhỏ thành các khía cạnh về chính trị, tâm lý, tôn giáo và văn hóa của thành phố này.

+ Quyết định của Trump đã làm leo thang cuộc xung đột và nêu bật khía cạnh tôn giáo giữa người Palestine theo đạo Hồi hay đạo Thiên chúa và người Do Thái Israel. Đợt bùng phát bạo lực tiếp theo sẽ xuất phát từ lòng mộ đạo trong chính trị và sự tử vì đạo để bảo vệ các địa điểm tôn giáo ở cả hai bên. Trump sẽ đi vào lịch sử như một vị tổng thống ngoan cố mà đã tiếp sinh lực cho giả thuyết Xung đột giữa các nền văn minh và làm cho Samuel Huntington mỉm cười dưới nấm mồ của mình.

Trên tất cả những động lực và kịch bản ảm đạm trong tương lai này, vị tổng thống kiêm nhà đàm phán đã nhanh chóng chuyển từ chỗ công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel sang dự báo về khả năng đạt được một “thỏa thuận của thế kỷ” sắp tới trong bài diễn văn của ông. Tuy nhiên, người Palestine đơn giản đã nói với ông rằng: “Ông đã bị sa thải”.

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần II


10 ngày trước khi đưa ra tuyên bố về Jerusalem, Trump đã bước vào một cuộc họp của êkip của ông trong Hội đồng an ninh quốc gia mà đang nghiên cứu các giải pháp khả thi cho vấn đề Đạo luật Jerusalem, và yêu cầu phải có “các giải pháp sáng tạo hơn”. Các cố vấn của ông đã đưa ra cho ông 2 sự lựa chọn thay thế: “Ký vào quyết định trì hoãn một lần nữa, hoặc ký quyết định nhưng công nhận Jerusalem là thủ đô và khởi động kế hoạch di dời đại sứ quán”.

Phù hợp với kiểu tuyên bố “đao to búa lớn” ưa thích của Trump, Nhà Trắng đã khởi xướng 2 cuộc hội đàm qua điện thoại vào ngày 5 và 6/12, trước khi Trump đựa ra tuyên bố, với các nhà lãnh đạo Cơ đốc theo giáo phái Phúc âm và các nhà lãnh đạo Do Thái bao gồm cả người sáng lập Liên minh tín ngưỡng và tự do là Ralph Reed và một mục sư ở Dallas là Robert Jeffress, người đã phát biểu tại buổi lễ cầu nguyện riêng trong ngày nhậm chức của Trump. Cuối cuộc hội đàm, một mục sư và một giáo trưởng đã kết thúc bằng những lời cầu nguyện. Vị mục sư nói: “Cầu cho hòa bình của Jerusalem. Và cảm ơn Chúa vì chúng ta có một vị tổng thống sẽ thực hiện bước đi này”. Tuy nhiên, mưu cầu này của giáo phái Phúc âm về một thủ đô Jerusalem của người Do Thái dường như khác với quan điểm của dòng Cơ đốc chính thống và trái với luật pháp quốc tế. Giáo hoàng Francis đã bày tỏ “mối quan ngại sâu sắc” và “kêu gọi mạnh mẽ tất cả các bên phải tôn trọng nguyên trạng của thành phố này, tuân thủ các nghị quyết có liên quan của Liên hợp quốc”.

Hầu hết giới quan sát vẫn hoài nghi về tính hữu dụng cũng như quỹ đạo của việc Mỹ thay đổi lập trường về Jerusalem. Một số người trong đó nghi ngờ “tính sáng suốt” về mặt chính trị của Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem gốc năm 1995. Như một bình luận viên đã viết: “Logic như vậy bắt đầu sụp đổ trong mớ rắc rối là Trung Đông. Nó sụp đổ vì lịch sử phức tạp kéo dài hàng thế kỷ, sự đổ máu trên các tài sản tinh thần và vật chất, và vai trò lãnh đạo kéo dài 7 thập niên của Mỹ vốn được xem là lý do khiến Israel hiện đại trở thành một mớ rắc rối về thần học và địa chính trị”.

Trump chống lại thế giới

Trong chiến dịch tranh cử của mình, Trump cam kết sẽ là một “người bạn thực sự đối với Israel” và Mỹ sẽ “làm việc hết sức chặt chẽ với Israel”. Cam kết này đối với các tổ chức của người Mỹ gốc Do Thái và sự ủng hộ cho các lợi ích chiến lược của Israel đã giúp ông tạo dựng một niềm tin mang tính giáo điều vào một vị tổng thống đôi khi có nguyên tắc, trong khi đó ông lại hành động như một theo chủ nghĩa thực tế đang đùa cợt với “chính sách xảo quyệt” mới trong các vấn đề khác ít phức tạp hơn. Christopher Ruddy, giám đốc điều hành công ty truyền thông theo tư tưởng bảo thủ, ca ngợi cái mà ông nhìn nhận là động cơ rõ ràng thúc đẩy chủ nghĩa thực dụng của Trump: “Mọi người đang thức tỉnh trước thực tế rằng tổng thống không nhìn thấy các mảng màu xám và không thích các màu nhạt. Ông rất tự hào rằng ông đã thực hiện được rất nhiều lời hứa trong chiến dịch tranh cử, và quyết định về đại sứ quán là một thành tích nữa trong chuỗi các thành tích của ông”.

Trên mặt trận ngoại giao, Trump đã nói chuyện với Netanyahu 3 lần trước khi có bài phát biểu về Jerusalem. Các phái đoàn tại Liên hợp quốc của Israel và Mỹ cũng đã phối hợp các nỗ lực của họ nhằm ngăn chặn bất kỳ tuyên bố hay quyết định có ý nghĩa nào của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, quyết định của Trump đã gây ra sự chỉ trích từ phía các uqan chức và công chúng trên toàn thế giới, từ Ankara đến London, và từ Amman đến New York. 8/15 thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã yêu cầu một cuộc họp khẩn cấp, bao gồm cả Anh, Italy và Pháp, giữa những tuyên bố từ phía Palestine và Thổ Nhĩ Kỳ rằng việc Trump công nhận là vi phạm cả luật pháp quốc tế lẫn các nghị quyết của Liên hợp quốc.

Cuộc tranh luận ảm đạm tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho thấy sự phân chia rõ ràng giữa 2 phe: Mỹ và Israel chống lại cộng đồng quốc tế với các quan điểm khác nhau về tương lai của tiến trình hòa bình. Đại sứ Mỹ Nikki Haley đã tiếp cận cuộc chiến ngoại giao với quan điểm rằng chiến lược phòng thủ tốt nhất là tấn công, và chỉ trích việc Liên hợp quốc nói rằng “việc đó đã gây tổn hại hơn nhiều tới các triển vọng cho Trung Đông hơn là thúc đẩy khu vực này”. Bà cũng chỉ trích tổ chức thế giới này vì là “một trong những trung tâm thù địch trước nhất đối với Israel”.

Tuy nhiên, đa số thành viên trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc vẫn cho rằng Đông Jerusalem, vốn bị Israel chiếm giữ trong cuộc chiến tranh năm 1967, là “lãnh thổ bị chiếm đóng”, và rằng tình trạng của nó cần phải được giải quyết trong các cuộc đàm phán giữa Israel và Palestine. Trong nỗ lực của bà nhằm né tránh câu hỏi về tính bất hợp pháp và trái đạo đức trong quyết định của Trump, Haley ám chỉ nhận thức về tình trạng là nạn nhân: “Israel sẽ không bao giờ, và không bao giờ nên, bị ép buộc vào một thỏa thuận bởi Liên hợp quốc, hay bất kỳ tập hợp nào gồm các nước từng chứng tỏ sự thiếu tôn trọng của họ đối với an ninh của Israel”. Đại sứ Israel tại Liên hợp quốc Danny Danon đã tìm cách xác lập vị trí cho quyết định của Trump như “một cột mốc cho Israel, cho hòa bình và cho thế giới”.

Mặt khác, đã có một sự đồng thuận giữa các thành viên thường trực và không thường trực về tính chất vội vàng của việc Trump công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel. Đại sứ Thụy Điển Olof Skoog đã thể hiện rõ ràng sự phản đối của mình và nhấn mạnh rằng hành động của Mỹ “trái với luật pháp quốc tế và các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc”. Ông cũng nhấn mạnh rằng tình trạng của Jerusalem sẽ được quyết định trong các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Israel và Palestine, và nhắc nhở Nhà Trắng rằng quyết định của Trump “đi ngược lại với lời yêu cầu khẩn thiết của nhiều nước bạn bè với Mỹ và Israel”.

Đại sứ Bolivia Sacha Sergio Llorently Soliz là người đã thể hiện rõ ràng sự phản đối mạnh mẽ nhất trước quyết định của Trump. Ông đã bày tỏ mối quan ngại của mình rằng “Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc sẽ trở thành một lãnh thổ bị chiếm đóng”. Sau cuộc gặp khẩn cấp, đại sứ các nước Anh, Pháp, Thụy Điển, Đức và Italy đã đưa ra một tuyên bố chung bên ngoài các phòng của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc chỉ trích lập trường của Mỹ, nói rằng lập trường đó “không phù hợp với các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và không có ích gì đối với triển vọng hòa bình trong khu vực”. Với lý do tương tự, Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nói rõ rằng “trong thời điểm hết sức lo lắng này, không có sự lựa chọn thay thế nào cho giải pháp 2 nhà nước. Không có Kế hoạch B”.

Jerusalem: Sự chia rẽ của liên minh xuyên Đại Tây Dương

Một diễn biến chung nổi lên từ cuộc họp khẩn cấp là sự chia rẽ ngày càng sâu sắc giữa Mỹ và các nước thành viên châu Âu. Anh, Thụy Điển và Pháp chỉ trích kịch liệt và rõ ràng quyết định của Trump. Sự phản đối của châu Âu trước kế hoạch của ông là chưa từng có cả về giọng điệu phản đối lẫn mức độ cam kết với giải pháp 2 nhà nước; và sau đó làm sâu sắc thêm rạn nứt trong nội bộ liên minh Mỹ – EU. Kể từ khi Trump nhậm chức vào ngày 20/12/2017, Đức và Pháp đã chỉ trích rất nhiều các chính sách của ông, và cố gắng can dự ít hơn với cách tiếp cận không thể đoán trước của ông tới nền chính trị quốc tế.

Giờ đây, Thủ tướng Angela Merkel nói rằng Chính phủ Đức cũng “không nhất trí”, và sẽ ủng hộ các nghị quyết hiện hành của Liên hợp quốc, những nghị quyết “nói rõ rằng tình trạng của Jerusalem phải được đàm phán như là một phần của các cuộc đàm phán về một giải pháp 2 nhà nước, và đó là lý do vì sao chúng tôi muốn tiến trình này được khôi phục”. Động lực giúp khai sáng trong mối quan hệ Anh – Mỹ là phản ứng của Thủ tướng Anh Theresa May. Bà coi quyết định của Trump là “không giúp gì cho triển vọng hòa bình trong khu vực”; và nói rõ rằng “Đại sứ quán Anh tại Israel được đặt ở Tel Aviv và chúng tôi không có kế hoạch di dời nó”.

Từ quan điểm lục địa rộng lớn hơn, Đại diện cấp cao phụ trách chính sách đối ngoại của Liên minh châu Âu, Federica Mogherini, đã tuyên bố bà không nhất trí với quyết định của Trump. Bà nhấn mạnh: “Đó là một bối cảnh rất mong manh và tuyên bố đó có khả năng đưa chúng ta trở lại thời đại thậm chí còn đen tối hơn là thời đại chúng ta đang sống… Thời điểm khó khăn này đỏi hỏi phải có một sự can dự thậm chí còn mạnh mẽ hơn vì hòa bình”. Bà cũng tuyên bố rằng lập trường của bà nhận được sự ủng hộ của “tất cả các ngoại trưởng của 28 nước thành viên Liên minh châu Âu”.

Mogherini đã nói với Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson trong cuộc gặp của họ tại Brussels trước khi Trump đưa ra quyết định: “Chúng tôi tin rằng giải pháp thực tế duy nhất cho cuộc xung đột giữa Israel và Palestine là dựa trên cơ sở 2 nhà nước và với Jerusalem là thủ đô của cả 2 nhà nước Israel và nhà nước Palestine”. Bà cũng cảnh báo về khả năng có “một sự leo thang những căng thẳng xung quanh các địa điểm linh thiêng và trong khu vực, vì chuyện xảy ra ở Jerusalem có tầm quan trọng đối với toàn bộ khu vực và trên toàn thế giới”.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Nụ hôn tử thần của Trump đối với tiến trình hòa bình ở Trung Đông – Phần I


Mohammed Cherkaoui

Giải phẫu chính sách Jerusalem của Trump

Quyết định về Jerusalem của Donald Trump ngụ ý những điềm báo ngầm nhất định về một sự thay đổi đáng báo động trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với cuộc xung đột kéo dài nhất ở Trung Đông. Trong bài phát biểu ngắn của ông tại Nhà Trắng, khi nhắc đến Đạo luật Đại sứ quán Jerusalem vốn được Quốc hội khóa 104 thông qua vào ngày 23/10/1995, Trump hăm hở quả quyết rằng “mặc dù các tổng thống trước đã biến điều này thành một lời hứa lớn trong chiến dịch tranh cử, nhưng họ đều thất bại trong việc thực hiện. Giờ đây, tôi đang thực hiện lời hứa”.

Trong tuyên bố chính sách của Mỹ, đạo luật này nói rõ rằng: a) Jerusalem sẽ vẫn là một thành phố không bị chia cắt mà ở đó quyền lợi của mọi nhóm sắc tộc và tôn giáo được bảo vệ; b) Jerusalem sẽ được công nhận là thủ đô của nhà nước Israel; và c) Đại sứ quán Mỹ tại Israel sẽ được thiết lập ở Jerusalem muộn nhất vào ngày 31/5/1999. Tuy nhiên, các tổng thống Bill Clinton, George Bush (con), và Barack Obama đã ký các quyết định trì hoãn việc thực thi đạo luật này theo định kỳ 6 tháng/lần. Quay trở lại tháng 6/2017, Trump đã miễn cưỡng ký quyết định trì hoãn 6 tháng lần đầu tiên của ông sau khi cân nhắc lời khuyên của con rể ông và cũng là “kiến trúc sư” tương lai của một sáng kiến hòa bình mới, Jared Kushner, người đã “lập luận rằng việc di dời đại sứ quán khi đó có thể cản trở nỗ lực trước khi chính quyền thiết lập các mối quan hệ trong khu vực”.

Câu chuyện của Trump về thành tựu và sự tự khen cũng gây ra một vài tình thế tiến thoái lưỡng nan về chính trị và an ninh dưới cam kết công khai của ông về việc thực hiện những cam kết trong chiến dịch tranh cử, quan tâm đến nền tảng cực hữu theo giáo phái Phúc âm của mình và củng cố nỗ lực thúc đẩy chủ nghĩa biệt lập về chính trị của ông dưới khẩu hiệu phục vụ “Nước Mỹ trước tiên”. Tuy nhiên, lòng trung thành có giới hạn của ông đối với những người ủng hộ cánh hữu theo giáo phái Phúc âm của ông làm dấy lên những câu hỏi thực sự: Trump thực sự lưu tâm đến mức độ nào các lợi ích chiến lược của Mỹ thông qua việc tôn trọng mong muốn của Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu hay đảm bảo các lợi ích của Israel? Hầu hết các chính phủ Arab đều bị phá hoại nặng nề bởi các cuộc nội chiến tại Yemen, Syria và Liby và những thách thức trong nước khác trên tiền đề các cuộc nổi dậy xã hội năm 2011.

Liệu quyết định của Trump là một đòi hỏi cấp thiết về mặt ngoại giao hay là một sự hiệu chỉnh kịp thời chiến lược của Mỹ ở Trung Đông, khi mà các dấu hiệu chỉ báo việc quản lý xu hướng rủi ro báo hiệu các cuộc khủng hoảng đáng lo ngại hơn có liên quan đến sức mạnh của Nhà nước Hồi giáo (IS) tại Syria, ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Iran tại Yemen, Iraq và Liban, nội chiến dữ dội và sự trở lại của chế độ nô lệ và nạn buôn người tại Libya, hay các mối đe dọa hạt nhân chưa được giải quyết của Triều Tiên? Triết lý đơn giản của Trump “những thách thức cũ đòi hỏi các cách tiếp cận mới” dường như bị che mờ bởi mong muốn mạnh mẽ là nắm quyền kiểm soát ngay cả với một công thức bị tính toán sai lầm không mang tính ngoại giao cho cuộc xung đột khó giải quyết giữa Israel và Palestine. Với xu hướng coi mình là trung tâm và tự đề cao bản thân, ông đã phô bày “đặc tính của một nhà đàm phán tự tin sẵn sàng đặt cược để làm mọi thứ rối tung lên”.

Với uy tín ngày càng giảm của Chính quyền Trump trong mắt hầu hết các nhà lãnh đạo, giới tinh hoa và dân thường Arab, Hồi giáo, Cơ đốc giáo và thậm chí là châu Âu, người ta tự hỏi liệu quyết định của ông có triển vọng thúc đẩy một chiến lược phản công của người Palestine, Arab và Hồi giáo hay không. Với hy vọng ngày càng giảm về một giải pháp 2 nhà nước cho cuộc xung đột, câu hỏi vẫn là: Ai sẽ thế chân Mỹ trong các nỗ lực hòa bình trong tương lai? Nga có rất nhiều thách thức sau khi can dự vào cuộc xung đột ở Syria. Bằng việc bảo vệ chế độ Bashar Assad, họ đã làm giảm uy tín của mình để có được một vai trò trong khu vực. Trung Quốc quan tâm đến việc phát triển các mối liên kết thương mại hơn là việc định hình một sự can dự chính trị vào Trung Đông.

Điều gì đằng sau lời hứa không mang tính ngoại giao trong chiến dịch chính trị của Trump?

“Tổng thống Trump, ngài đã hứa. Ngài đã thực hiện lời hứa. Cảm ơn ngài vì đã dũng cảm công nhận Jerusalem là thủ đô vĩnh viễn của Israel”. Đây là khẩu hiệu trong một quảng cáo chiếm trọn trang, mô tả cảnh Trump đang cầu nguyện tại Bức tường phía Tây, được Ủy ban Do Thái cộng hòa đăng trên New York Times một ngày sau bài phát biểu của Donald Trump. Điều mỉa mai là trong số 282 lời hứa được ông đưa ra trong chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, Trump đã lựa chọn vấn đề có lẽ là gây tranh cãi nhiều nhất và bất ổn nhất trong tình trạng hỗn loạn ở Trung Đông, và châm lửa cho một vấn đề dễ bùng phát nhất trong cuộc xung đột.

Nghịch lý ở đây là hầu hết hứa hẹn của ông trong chiến dịch tranh cử, bao gồm cả ObamaCare và việc rút Mỹ ra khỏi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), đều dựa trên một nền tảng dễ lung lay do mối quan hệ bất đồng của ông với Quốc hội và các nhà lãnh đạo của đảng Cộng hòa. Hơn nữa, Trump đã quyết định tiến về phía trước với tuyên bố về Jerusalem chống lại những kiến nghị của các quan chức chính sách của ông ở Bộ Ngoại giao và Lầu Năm góc, chứ chưa nói đến sự bất đồng ý kiến của hầu hết các nhà lãnh đạo thế giới ở Trung Đông, châu Âu và châu Á. Ví dụ, Ngoại trưởng Rex Tillerson và Bộ trưởng Quốc phòng James Mattis đã khuyên ông không nên giải quyết vấn đề Jerusalem. Giờ đây, họ vẫn lo ngại về hậu quả không lường trước được của chủ nghĩa bài Mỹ tiềm tàng, đặc biệt là đối với các nhà ngoại giao và binh lính đang phục vụ ở nước ngoài.

Tương tự, điều phối viên đặc biệt của Liên hợp quốc về tiến trình hòa bình Trung Đông Nickolay Mladenov đã phát biểu trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng Jerusalem “có lẽ là vấn đề căng thẳng và khó khăn nhất” trong số các vấn đề về tình trạng cuối cùng trong cuộc xung đột. Các nhà quan sát khác lưu ý rằng “Trump giờ đây sẵn sàng áp dụng chiến lược phá hoại quốc tế của ông cho điểm nóng địa chính trị có lẽ là nhạy cảm nhất trên thế giới”.

Để giúp nắm bắt được các sắc thái trong quyết định của Trump về Jerusalem, người ta cần coi chính trị không chỉ mang tính nội bộ mà còn mang tính cá nhân. 10 ngày trước lễ nhậm chức tổng thống vào tháng 1/2017, tỷ phú sòng bạc và nhà hảo tâm thuộc đảng Cộng hòa Sheldon G. Adelson đã tham dự một cuộc họp riêng với Tổng thống đắc cử Trump tại Tháp Trump của ông ở New York. Ông đã thông tin vắn tắt cho chủ tịch của Tổ chức phục quốc Do Thái ở Mỹ là Morton A. Klein về việc Trump quyết tâm di dời Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv đến Jerusalem vì đó là “một mối ưu tiên lớn” đối với ông và là “một điều gì đó trong tâm trí ông”.

Trong bài viết chi tiết của mình, Mark Landler giải thích cách thức ủy ban hành động chính trị ủng hộ việc Trump đứng ra ứng cử thu lợi từ khoản tiền ủng hộ 20 triệu USD của nhà Adelson, những người cũng đã trao thêm 1,5 triệu USD cho ủy ban vốn đã tổ chức hội nghị của đảng Cộng hòa vào mùa Hè năm 2016. Sau đó đối với ứng cử viên và Tổng thống Trump, tình trạng của Jerusalem luôn là “một đòi hỏi cấp bách về mặt chính trị hơn là một tình thế tiến thoái lưỡng nan về mặt ngoại giao. Phải đối mặt với những nhà hậu thuẫn theo giáo phái Phúc âm ủng hộ Israel đáng thất vọng như ông Adelson, hay những đồng minh và các nhà lãnh đạo Arab đáng lo ngại trong khi gây nguy hiểm cho sáng kiến hòa bình của riêng mình, tổng thống đã đứng về phía những người ủng hộ then chốt của mình”. Một nhân tố góp phần khác là các cuộc họp tái diễn của Trump với đại diện của các nhóm Cơ đốc giáo khác nhau theo giáo phái Phúc âm thúc giục ông phải có hành động về tình trạng của Đại sứ quán Mỹ tại Israel. Ví dụ, Chủ tịch Hội đồng nghiên cứu gia đình Tony Perkins nhắc lại rằng trong các cuộc họp mà ông tham dự, “điều được truyền tải rõ ràng là những người theo giáo phái Phúc âm và những người Cơ đốc tin vào Kinh thánh thừa nhận một mối quan hệ đặc biệt với Israel”.

(còn tiếp) 

Nguồn: http://studies.aljazeera.net/mritems/Documents/2017/12/12/ec6a13bb803d438a90bdf9faa47013c2_100.pdf

TLTKĐB – 21/12/2017

Jerusalem: Sai lầm nghiêm trọng của Donald Trump ở Trung Đông


Ashish Kumar Sen

James Cunningham, cựu Đại sứ Mỹ tại Israel, cho rằng việc công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel không thúc đẩy các lợi ích của Mỹ hay khu vực.

James B. Cunningham, một nghiên cứu viên cấp cao không thường trực thuộc Hội đồng Đại Tây Dương cho rằng quyết định của Tổng thống Mỹ Donald Trump đảo ngược gần 7 thập kỷ của chính sách Mỹ và công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel “có khả năng là một sai lầm rất nghiêm trọng”.

Trong tuyên bố của mình tại Nhà Trắng vào ngày 6/12, Trump cũng nói rằng Đại sứ quán Mỹ sẽ được di dời từ Tel Aviv đến Jerusalem. Giờ đây, Mỹ là quốc gia duy nhất công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel.

Trong những ngày trước khi tuyên bố này được đưa ra, các nhà lãnh đạo Arab và châu Âu, và thậm chí là cả Giáo hoàng Francis, đã cảnh báo và hối thúc Trump không tiến hành sự công nhận này. Mặc dù được Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu ca ngợi, nhưng tuyên bố này đã gặp phải sự lên án rộng rãi của quốc tế.

Israel tuyên bố toàn bộ Jerusalem là thủ đô “vĩnh viễn và không bị chia cắt” của nước này, trong khi Palestine tuyên bố Đông Jerusalem là thủ đô của nhà nước Palestine tương lai. Các địa điểm linh thiêng của Jerusalem đều được người Do Thái, người Hồi giáo và người Cơ đốc tôn sùng.

Chính phủ Israel chính thức coi Jerusalem là thủ đô của nước này. Quốc hội, tổng thống, thủ tướng và hầu hết các bộ của Israel đều có trụ sở tại Jerusalem. Tuy nhiên, tất cả các đại sứ quán nước ngoài đều có trụ sở tại Tel Aviv.

Năm 1995, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu đặt Đại sức quán Mỹ tại Jerusalem. Trong hơn 2 thập kỷ, các tổng thống Mỹ – thuộc đảng Cộng hòa cũng như đảng Dân chủ – cứ mỗi 6 tháng đều ký sắc lệnh trì hoãn cho phép họ trì hoãn việc di dời Đại sứ quán Mỹ từ Tel Aviv tới Jerusalem vì lý do an ninh quốc gia.

Trong chiến dịch tranh cử, Trump đã cam kết sẽ di dời Đại sứ quán Mỹ, nhưng lại ký sắc lệnh trì hoãn vào tháng 6. Vào ngày 4/12, ông đã không ký sắc lệnh trì hoãn.

Giải thích quyết định của mình về Jerusalem, Trump đã nói tại Nhà Trắng: “Chúng ta không thể giải quyết các vấn đề của mình bằng việc đưa ra cùng những giả định thất bại và lặp lại cùng các chiến lược thất bại của quá khứ. Các thách thức cũ đòi hỏi cách tiếp cận mới”.

Ông nói thêm rằng ông “xét thấy tiến trình hành động này nằm trong những lợi ích tốt nhất của Mỹ và việc theo đuổi hòa bình giữa Israel và Palestine”.

Trump đã giao phó cho con rể kiêm cố vấn cấp cao của mình, Jared Kushner, nhiệm vụ tạo ra một thỏa thuận hòa bình ở Trung Đông. Kushner và Jason D. Greenblatt, đặc phái viên của tổng thống, đã nỗ lực nhiều tháng cho nhiệm vụ này. Trump đã khẳng định cam kết của Mỹ tạo điều kiện thuận lợi cho một thỏa thuận hòa bình giữa Israel và Palestine “mà có thể chấp nhận được đối với cả 2 bên”.

Tuy nhiên, Cunningham cho rằng quyết định của Trump sẽ làm dấy lên những câu hỏi trong số các đối tác của Mỹ ở Trung Đông về vai trò của Mỹ trong bất kỳ tiến trình hòa bình nào trong tương lai.

James B. Cunningham đã trả lời một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với phóng viên Ashish Kumar Sen của tờ New Alanticist. Dưới đây là các đoạn trích từ cuộc phỏng vấn này.

Ashish Kumar Sen: (+) Ông có những suy nghĩ gì về quyết định của Tổng thống Trump chính thức công nhận Jerusalem là thủ đô của Israel?

Cunningham: (-) Tôi nghĩ đó là một sai lầm và có khả năng là một sai lầm rất nghiêm trọng. Nếu anh muốn đảo lộn các thập kỷ của chính sách Mỹ, thì đó phải là vì một lý do thích đáng và vì một lợi ích chính trị và ngoại giao đáng kể. Tôi không nhận thấy điều nào trong số 2 điều đó đạt được ở  đây.

Việc nêu lên vấn đề này theo cách mà ông ấy đã làm không thúc đẩy sự nghiệp hòa bình, nó không thúc đẩy sự nghiệp ổn định trong khu vực, nó không khiến cho Israel an toàn hơn, và nó không khiến cho Mỹ an toàn hơn chút nào. Theo những gì tôi có thể thấy, nó làm dấy lên một nguy cơ đáng kể với rất ít mặt tích cực.

(+): Liệu có thể tin tưởng Mỹ là một bên trung gian công bằng nếu họ đứng về phe nào đó trong một vấn đề có vai trò trung tâm đối với sự bất đồng Arab – Israel?

(-): Tôi nghĩ là có thể. Tôi không nghĩ rằng có bất kỳ một nước nào khác có thể đảm nhận kiểu vai trò mà chúng tôi đã và có thể đảm nhận.

Liệu chính quyền này có thể đảm nhận vai trò đó hay không thì còn phải bàn cãi. Tuyên bố này sẽ làm dấy lên thêm nhiều câu hỏi không chỉ trong số những người Palestine, mà còn trong cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn.

Có nhiều đối tác đã dành nhiều thời gian và sức lực cùng với chúng tôi cố gắng tiến tới một hồi kết ở Trung Đông và điều này sẽ làm dấy lên những câu hỏi dành cho tất cả họ về việc Mỹ sẽ đảm nhận vai trò nào trong tương lai.

(+) : Điều này sẽ tạo ra những thách thức nào đối với nỗ lực của Jared Kushner và Jason Greenblatt chuẩn bị một kế hoạch hòa bình cho Trung Đông ?

(-) : Nếu anh định làm điều gì đó giống như đưa ra tuyên bố như của Trump, thì nó nên nằm trong bối cảnh một chiến lược mà ở đó có một lợi ích đáng kể có thể đạt được. Tôi không biết điều họ nghĩ họ đang làm gì khi tạo dựng một cách tiếp cận đối với hòa bình của Trung Đông, nhưng từ những gì tổng thống đã nói vào hôm 6/12, thì điều hoàn toàn không rõ ràng là bước đi này có ăn khớp với bất kỳ chiến lược nào hay không, hay nó đang nỗ lực thúc đẩy các mục tiêu chiến lược nào.

(+) : Với tuyên bố của mình, phải chăng tổng thống đã từ bỏ bất kỳ quyền thương lượng nào ?

(-) : Đây là một câu hỏi có tính nghiêm túc của ý định. Việc có một tầm nhìn chiến lược và thực thi tầm nhìn đó là điều sẽ gây ra sự nghi ngờ. Việc thương lượng sẽ được thực hiện giữa Israel và Palestine và các nước khác, nếu họ tiến xa đến mức đó.

Điều này sẽ được xem như một sự thúc đẩy vị thế của Israel, nhưng nó không làm thay đổi thực tế rằng tình trạng của Jerusalem là thủ đô của Israel và Palestine là một vấn đề cốt lõi đối với các cuộc đàm phán mà sẽ cần phải được giải quyét dù chúng ta nói gì đi nữa.

(+) : Liệu việc Trump công nhận Jerusalem có mang lại cho ông nguồn vốn để gây áp lực đối với Israel buộc họ phải có những sự nhượng bộ về lãnh thổ trong bất kỳ cuộc đàm phán Israel – Palestine nào trong tương lai hay không ?

(-) : Nếu điều đó đúng thì sẽ khá là ngu ngốc khi đảm nhận vai trò đó vào lúc này. Đó là điều mà anh có thể làm một cách bí mật giữa các đối tác đàm phán. Tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy đây là điều gì khác ngoại trừ một tuyên bố mang tính tượng trưng mà sẽ được nhiều người ở Israel nhìn nhận là một mối lợi dành cho họ, nhưng dù thế nào nó cũng sẽ không gây ảnh hưởng đến triển vọng của các cuộc đàm phán. Dĩ nhiên, không có cuộc đàm phán nào vào lúc này.

(+) Tuyên bố này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến 2 phe phái đối địch ở Palestine – phe Hamas hiếu chiến ở dải Gaza và phe Fatah ôn hòa hơn ở Bờ Tây? Liệu nó có làm giảm bớt sự ủng hộ của người Palestine dành cho Fatah hay không?

(-) Chúng ta phải xem người Palestine phản ứng như thế nào. Đây rõ ràng là một đòn giáng đối với những người mà chúng ta đã và đang cố gắng làm việc cùng. Chúng ta sẽ phải xem cách thức họ xử lý điều này.

Trump đã cố gắng có cả hai thứ cùng lúc bằng việc nói rằng điều này không nên được nhìn nhận là sự giảm bớt các vấn đề về tình trạng cuối cùng. Điều đó sẽ là một lý lẽ mà bất kỳ nhà lãnh đạo Palestine hay Arab nào cũng khó mà chấp nhận và bảo vệ trước người dân của họ.

Tuyên bố của Trump sẽ khiến cho vị thế của những người Palestine ôn hòa hơn trở nên khó khăn và phức tạp hơn nhiều.

(+) Liệu điều này có khiến các nhà lãnh đạo Arab khó khăn hơn trong việc ủng hộ một kế hoạch hòa bình mà hiện giờ Mỹ đã thay đổi các tham số?

(-) Điều này sẽ gây khó khăn hơn cho tất cả những người bạn Arab của chúng tôi và nó sẽ làm phức tạp những nỗ lực tạo ra một nhận thức chung về mục đích và định hướng trong khu vực mà bao gồm cả Israel một cách ngấm ngầm hoặc công khai. Điều này cũng sẽ đem lại lý lẽ cho các đối thủ của chúng tôi, những người sẽ tìm cách khai thác điều này vì các mục đích của riêng họ.

(+) Tổng thống Trump đã biến việc chiến đấu chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan thành một ưu tiên. Liệu tuyên bố của ông về Jerusalem có thể làm giảm bớt ưu tiên đó hay không?

(-) Tuyên bố này chắc chắn sẽ không giúp Mỹ và các đối tác của Mỹ giải quyết thách thức đó. Chiến đấu chống chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan là ưu tiên của Mỹ và của các nước trong khu vực, nhưng tuyên bố đó sẽ làm phức tạp khả năng của chúng tôi đạt được tiến bộ trong cuộc chiến này vì các đối thủ của chúng tôi – cả các nước lẫn các phong trào ý thức hệ – sẽ tìm cách lợi dụng điều này để làm giảm bớt vai trò của Mỹ và bạn bè của Mỹ trong khu vực và cố gắng chuyển trọng tâm sang Israel thay vì chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan, vốn là mối đe dọa cơ bản đối với khu vực.

Nguồn: http://www.atlanticcouncil.org/blogs/new-atlanticist/trump-s-pretty-serious-mistake-in-the-middle-east

TLTKĐB – 20/12/2017

Di sản của Đế chế Ottoman đối với trật tự Trung Đông


Carl Bildt

Nguồn gốc sâu xa của rất nhiều xung đột tại Trung Đông nằm ở sự tan rã của Đế chế Ottoman vào đầu thế kỷ 20, cùng với đó là sự thất bại trong việc xây dựng một trật tự ổn định cho khu vực kể từ thời điểm nói trên. Trong quá trình hướng tới mục tiêu đảm bảo nền hòa bình bền vững cho toàn vùng, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế cần ghi nhớ bài học lịch sử từ Đế chế Ottoman.

Ottoman – một đế chế từng trải dài từ thành phố Bihac của Bosnia ngày nay đến tận Basra, Iraq – là bức tranh đầy màu sắc bởi sự pha trộn văn hóa, truyền thống và ngôn ngữ dưới quyền cai quản tối cao của vị Sultan[1] ở Istanbul. Đây từng là nơi đặc biệt ổn định, tạo ra nền tảng hòa bình cho toàn khu vực suốt hàng trăm năm. Tuy nhiên, khi sự tan rã bắt đầu nhen nhóm, nó đã khiến tình hình trở nên vô cùng bạo lực.

Vùng Balkan là nơi khởi đầu của quá trình tan rã của Đế chế Ottoman thành các quốc gia – dân tộc. Đó cũng đồng thời là tiến trình mở màn cho những cuộc chiến khốc liệt – lần đầu tiên diễn ra vào đầu thế kỷ 20, lần thứ hai là vào thập niên 1990.

Trong khi đó, ở vùng Lưỡng Hà và Levant (Đông Địa Trung Hải), một loạt các quốc gia mới nổi lên khi các cường quốc bên ngoài vẽ lại bản đồ Ottoman. Syria và Iraq là kết quả của các cuộc đàm phán tranh giành lợi ích giữa Pháp và Anh. Người Hy Lạp đã thực hiện một nỗ lực thất bại nhằm xâm chiếm miền tây Anatolia – rốt cuộc làm nổ ra cuộc cách mạng dẫn tới sự ra đời của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Đồng thời, Tuyên bố Balfour năm 1917 – một cam kết của nước Anh về việc thành lập nhà nước Do Thái trên vùng lãnh thổ Palestine – đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của Israel vào năm 1948, kéo theo hàng chục năm xung đột và thương lượng triền miên.

Việc xác định tỉnh Mosul của Đế chế Ottoman sẽ thuộc về nước nào cho thấy là một vấn đề khó khăn, bởi tỉnh này cùng lúc được cả chính quyền mới của Thổ Nhĩ Kỳ lẫn Iraq tuyên bố chủ quyền. Một hội đồng được thành lập bởi Hội Quốc Liên và do một nhà ngoại giao Thụy Điển dẫn đầu đã đi khắp khu vực nhằm tìm kiếm một giải pháp phù hợp nhưng sau cùng đành thất bại trong việc vẽ ra được đường ranh giới thỏa mãn các bên. Rốt cuộc, hội đồng này đề xuất sáp nhập Mosul vào Iraq, nhưng quyết định này được đưa ra là do nước này được cho là sẽ nằm dưới sự ủy trị kéo dài hàng thập niên của Hội Quốc Liên.

Kể từ đó, trải qua các cuộc chiến tranh và cách mạng triền miên, có một chân lý vẫn giữ nguyên giá trị: không một ranh giới nào ở Ottoman đủ rõ ràng để có thể sắp đặt êm thấm một trật tự mới giữa các nhà nước hay thực thể chính trị mà vẫn đảm bảo được sự thuần nhất về sắc tộc, dân tộc cũng như tôn giáo. Thừa nhận thực tế đó quả thực là một nghịch lý, bởi trật tự khu vực được tạo ra sau Thế chiến I có thể là một sự sắp đặt tùy tiện, nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi trật tự đó lại có thể dẫn đến những hậu quả thậm chí còn đẫm máu hơn.

Một ví dụ điển hình là nếu tách Iraq thành 2 nhà nước theo giáo phái Sunni và Shia sẽ dễ dàng tạo ra phiên bản ở vùng Lưỡng Hà của thảm kịch 1947 tại Nam Á khi hàng triệu người bỏ mạng trong lúc cố gắng trốn chạy sang Pakistan hoặc Ấn Độ sau sự kiện đất nước này tách làm hai. Thực vậy, cuộc xung đột giữa người Ả-rập và người Kurd vốn sẽ nảy sinh nếu Iraq bị chia cắt có lẽ sẽ vô cùng đẫm máu và dai dẳng, đồng thời tạo ra những hệ lụy sâu sắc đối với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, những nơi có số lượng người Kurd đông đảo. Cuộc chiến giành quyền kiểm soát Baghdad rất có thể cũng sẽ khốc liệt tương tự.

Để tìm ra một giải pháp cho xung đột tại Syria cũng không phải là điều đơn giản. Nhà nước của tộc Alawite (do Assad lãnh đạo) được Nga bảo trợ dọc vùng ven biển có thể sẽ đứng vững, nhưng quyền lực tại Damascus vẫn là một cuộc tranh giành không hồi kết. Nhóm thiểu số đạo Cơ Đốc tại Syria sẽ trở thành nạn nhân của những nỗ lực tranh đoạt nói trên. Quốc gia này vốn là cội nguồn của một vài những cộng đồng Cơ Đốc giáo cổ xưa nhất trên thế giới, những cộng đồng dù quy mô đã bị thu hẹp đi đáng kể so với trước đây nhưng vẫn tiếp tục nắm giữ những quyền lịch sử không thể chối cãi đối với toàn khu vực. Họ là một phần của mảnh ghép nhỏ trong bức tranh về một Ottoman đa dạng được giữ gìn ở Syria ngày nay; và họ sẽ diệt vong nếu bức tranh đa sắc này biến mất hoàn toàn.

Có một điều chắc chắn là bức tranh đa dạng của Ottoman đã bị hủy hoại nghiêm trọng và hiện đang trong tiến trình tan rã. Nhưng dù những thành phố thương nghiệp đa văn hóa cổ xưa như Aleppo và Mosul có thể không bao giờ phục hồi và phồn vinh trở lại, đó cũng không phải là cái cớ để cắt xẻ lãnh thổ khu vực này theo các ranh giới mới, nếu không muốn trả giá bằng một biển máu.

Trong quá trình nỗ lực để chấm dứt sự hỗn loạn và xung đột đang xé nát Trung Đông, đồng thời thiết lập một trật tự khu vực có thể giúp duy trì hòa bình và ổn định dài lâu, các nhà lãnh đạo của cộng đồng quốc tế nên cố gắng làm việc trong các khuôn khổ hiện hữu. Những chiến lược gia ngồi phòng lạnh ở các đất nước xa xôi sẽ chỉ đang tự huyễn hoặc bản thân nếu họ nghĩ rằng các nỗ lực áp đặt các biên giới mới rõ ràng hơn lên vùng đất cổ xưa này sẽ không thất bại trong bối cạnh hiện nay.

Biên dịch: Nguyễn Lương Sỹ | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Nguồn: Carl Bildt, “Preserving the Ottoman Mosaic”, Project Syndicate, 30/11/2015.

Carl Bildt là ngoại trưởng Thụy Điển từ năm 2006 đến tháng 10 năm 2014, và là Thủ tướng trong giai đoạn 1991-1994, khi ông đàm phán cho việc Thụy Điển gia nhập EU. Là nhà ngoại giao quốc tế nổi tiếng, ông từng đảm trách chức vụ Đặc sứ của EU ở Nam Tư cũ, Đại diện cấp cao về vấn đề Bosnia và Herzegovina, Đặc sứ của Liên Hiệp Quốc ở khu vực Balkan, và là Đồng Chủ tịch của Hội nghị Hòa bình Dayton.