Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần cuối


Trong khi những cân nhắc mang tính quyết định diễn ra bên trong nhóm nội bộ của Putin, việc Tổng thống có sẵn sàng chú ý đến lời khuyên của các nhóm vận động hành lang khác nhau hay không dường như dao động theo thời gian. Chẳng hạn như, sau thất bại của thỏa thuận ngừng bắn hồi tháng 9/2016, mà Nga làm trung gian với Mỹ, vị thế của Bộ Quốc phòng Nga dường như đã được nâng lên bên trong giới cầm quyền, được thúc đẩy bởi cả thành công nhận biết được của chiến dịch quân sự và sự thất bại của chính sách ngoại giao. Sự ủng hộ sau đó của Nga cho chiến dịch của chế độ Assad nhằm chiếm lại Aleppo từ lực lượng chống đối có vũ trang là kết quả đương nhiên của sự thay đổi đó. Nhưng khả năng quân đội Nga áp đặt những ưu tiên của họ không phải là cố định. Vào những thời điểm khác, những cân nhắc ngoại giao được ưu tiên hơn những lợi ích của tổ hợp quân sự – công nghiệp, chẳng hạn như khi Chính phủ Nga cấm bán hệ thống phòng thủ tên lửa S-300 cho Iran vào mùa hè năm 2010, trong cái mà một phần là hành động bày tỏ thiện chí đối với Mỹ. Thay vào đó, các sự kiện trong những tuần gần đây cho thấy rằng những quan ngại về ngoại giao và quân sự vẫn được xác định một cách thận trọng trong chiến lược Syria của Nga và rằng không một nhóm vận động hành lang đơn lẻ nào nhận được sự chú ý của Tổng thống. Sau khi Aleppo sụp đổ, Nga nôn nóng muốn nhanh chóng thiết lập một thỏa thuận ngừng bắn và khởi động các cuộc đàm phán chính trị được nối lại. Cũng có thể không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên rằng, cùng ngày thỏa thuận ngừng bắn được thông báo, Thứ trưởng Quốc phòng Anatolii Antonov – người có nhiều kinh nghiệm ngoại giao trong việc đàm phán với Chính phủ Mỹ – đã được tái bổ nhiệm vào Bộ Ngoại giao, mà ở đó ông sẽ “điều phối các vấn đề an ninh quân sự và chính trị”. Cuối cùng, Moskva cần một giải pháp chính trị (theo điều kiện của họ) đối với cuộc khủng hoảng Syria, nhằm giải thoát chính mình khỏi cuộc chiến, tuyên bố địa vị “sứ giả hòa bình” thành công và thúc đẩy chính sách của họ bảo vệ trật tự nhà nước Syria cho đến cùng.

Kết luận

Xem xét các động lực then chốt của chính sách Syria của Nga, những dự đoán có cơ sở nào có thể được đưa ra về những diễn biến trong năm 2017 và những câu hỏi quan trọng mà các nhà phân tích cần đặt ra hướng về phía trước là gì? Đối với chế độ bất ổn này của Nga, chế độ ngày càng xem mình như là một “pháo đài bị vây hãm” mà vị thế xứng đáng của họ không được Mỹ thừa nhận, việc bảo vệ trật tự nhà nước Syria vẫn là mối quan tâm chính. Nếu ai đó suy ngẫm về loạt hành động mà Nga đã thực hiện trong suốt cuộc chiến Syria – từ làm việc với Mỹ về vấn đề giải trừ vũ khí hóa học của Syria, đến tiến hành các cuộc không kích ở Syria, rồi mới đây là buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải đồng ý với cách tiếp cận của Nga thông qua việc khai thác các điểm yếu của nước này – Moskva sành sỏi về mặt ngoại giao và khôn ngoan về mặt quân sự trong khi theo đuổi mục đích của mình. Chẳng có gì cho thấy tài khéo léo của người Nga đã đạt đến giới hạn của nó.

Thiết lập một liên minh mới với Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và tới một mức độ nào đó với Ai Cập, Nga đã thành công trong việc gạt Mỹ sang bên lề cuộc xung đột Syria trong thời gian hiện tại. Trong khi quân đội của Nga giữ vai trò then chốt trong việc đặt Moskva vào vị trí có ưu thế tương đối này, rút cục Nga cần một thắng lợi về mặt chính trị. Ngày càng tự do đặt ra điều kiện của mình, Moskva sẽ vẫn đưa ra một biện pháp linh hoạt nào đó nhằm mang lại cho ngoại giao một cơ hội. Danh sách các nhóm mà Moskva đưa vào trong thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất có cả Ahrar Al-Sham và Jaysh Al-Islam – trước bị dán nhãn là “khủng bố”, hiện được coi là nằm trong số các nhóm “ôn hòa” – trong một tín hiệu mà Điện Kremlin xem là đáng khen ngợi trong việc điều chỉnh lập trường của mình như một hành động chứng tỏ thiện chí đối với Thổ Nhĩ Kỳ. Hơn nữa, nghị trình ủng hộ chế độ của Nga sẽ vẫn được xác định nhằm theo đuổi các mục tiêu có giới hạn. Trong khi điều quan trọng là Assad không ngừng chống lại áp lực bên ngoài, Moskva không cam kết sẽ giúp ông lấy lại toàn bộ lãnh thổ Syria. Thay vào đó, Moskva muốn Assad hầu như phải đủ linh hoạt cho một tiến trình ngoại giao để vẫn tồn tại. Miễn là có một con đường chính trị, Nga sẽ nằm ở trung tâm của nó và Nga sẽ được nói đến. Điều này là rất cần thiết để Nga lấy lại vị thế ở Trung Đông và cộng đồng quốc tế xét trên phạm vi rộng hơn.

Ý thức được những cân nhắc này, điều cũng có thể hiểu được là Điện Kremlin sẽ sẵn sàng tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ hơn với Chính quyền Trump sắp tới về Syria. Tuy nhiên, việc Điện Kremlin sẽ không nhượng sáng kiến hay ưu thế leo thang cho Chính quyền Mỹ đã được làm rõ trong những tháng gần đây, khi Nga thúc đẩy việc giúp Assad chiếm lại Aleppo, thay vì ngồi bên ngoài cuộc chuyển giao vị trí tổng thống Mỹ và chờ Donald Trump đến Nhà Trắng. Thay vào đó, như được trình bày trong chiến lược chính sách đối ngoại gần đây nhất của mình được công bố vào cuối năm 2016, Moskva sẽ tiếp tục thiết lập các liên minh phi thể thức trong khu vực và toàn khu vực bất cứ khi nào họ nhận thấy chúng có lợi cho các mục tiêu của họ.

Tác giả lập luận rằng chúng ta có thể sẽ bước vào một giai đoạn mà ở đó Trung Đông không còn là một lợi thế mặc cả trong mối quan hệ của Nga với Mỹ, mà tự nó đang đạt được một mức độ quan trọng chiến lược mới về chất đối với Moskva. Tuy nhiên, liệu Nga có một “tầm nhìn” độc lập về trật tự an ninh khu vực, một tầm nhìn không chỉ là chủ nghĩa xét lại chống phương Tây, hay không vẫn còn chưa chắc chắn. Có mặt tại hội nghị Valdai Club hồi tháng 10, Tổng thống Putin đã kêu gọi một “kiểu Kế hoạch Marshall” cho Trung Đông như một “nỗ lực mà trong đó Nga chắc chắn sẽ sẵn sàng tham gia”. Và các đại diện của cộng đồng chuyên gia của Moskva đã nuôi hy vọng rằng một ngày nào đó Nga có thể giữ vai trò trung gian hòa giải giữa GCC và Iran. Liệu những ý định như vậy chỉ là những tham vọng ngông cuồng hay thực sự là những khả năng thực tế còn phụ thuộc vào một số nhân tố mà một thời gian sau mới xuất hiện: mức độ sẵn sàng của các bên trong khu vực để Nga lấp đầy khoảng trống do chính sách hạn chế chi tiêu gần đây của Mỹ để lại, các chính sách của Tổng thống Trump đối với Trung Đông, cũng như quỹ đạo của sự ổn định kinh tế và xã hội trong chính Liên bang Nga. Tại thời điểm này, một số nhà đối thoại Trung Đông sẽ nói rằng sự tôn trọng lớn hơn đối với Nga trong khu vực được duy trì bởi cảm giác lo sợ chứ không phải sự ngưỡng mộ, bởi việc nước này sẵn sàng triển khai sức mạnh tàn bạo, hơn là sức hấp dẫn của sức mạnh mềm của họ. Những người khác, thay vào đó, sẽ ngưỡng mộ Nga vì xuất hiện chống lại ảnh hưởng của Mỹ, đại diện cho các giá trị bảo thủ và bảo vệ các cộng đồng thiểu số Cơ đốc trong khu vực. Vì vậy, lịch sử của việc hình ảnh của Nga sẽ trở nên tốt hơn hay xấu đi do vai trò của họ trong cuộc chiến Syria, và vị thế lớn hơn của họ ở Trung Đông sẽ bị ảnh hưởng như thế nào, là cái mà vẫn cần phải được ghi lại. Điều dường như chắc chắn, đối với bây giờ, là chính sách Syria của Moskva vẫn sẽ là quyết tâm theo đuổi việc bảo vệ cái mà là nhận thức của Nga về trật tự nhà nước ở Trung Đông và xa hơn.

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Advertisements

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần V


Nga và Iran: cuộc hôn nhân vụ lợi ở Syria

Một nhân tố quan trọng của sự hồi sinh khu vực rộng lớn hơn này là mối quan hệ đang tiến triển của Nga với Iran. Trước khi cuộc khủng hoảng Syria nổ ra, các mối quan hệ Nga – Iran đã xấu đi trong vòng vài năm, chẳng hạn do Tổng thống Medvedev đã ủng hộ lệnh trừng phạt của Liên hợp quốc chống lại Iran vào năm 2010 và ký lệnh cấm Nga chuyển giao hệ thống phòng thủ tên lửa S-300 cho Tehran. Sau khi cuộc khủng hoảng Syria nổ ra vào năm 2011, Nga và Iran đã hợp tác nhằm cứu chế độ Assad, cho dù vì những lý do khác nhau. Trong khi Moskva quan tâm đến việc bảo vệ nguyên tắc trật tự nhà nước và tính bất khả xâm phạm của chế độ ở Syria, sự ủng hộ của Iran đối với Damascus được thúc đẩy bởi mong muốn của nước này duy trì ảnh hưởng khu vực và sự tiếp cận chuỗi phòng thủ của họ trong đó có Liban, Syria, Iraq và Yemen. Việc đảm bảo triều đại Assad cầm quyền vẫn nắm giữ quyền lực là quan trọng đố với “pháo đài bị vây hãm” tự nhận thức được của Iran hơn là đối với Moskva rất nhiều.

Quan hệ hợp tác Nga – Iran về Syria chắc chắn là trên diện rộng, với việc Tehran thậm chí còn tạm thời cho phép quân đội Nga tiến hành các cuộc không kích từ căn cứ Hamadan của họ vào mùa hè 2016. Tuy nhiên, tình trạng mất lòng tin vào nhau kéo dài và các mục tiêu ở Syria là khác nhau đã liên tục gây ra những trở ngại hướng tới phát triển một liên minh chính thức. Moskva chưa bao giờ muốn Tehran phát triển năng lực vũ khí hạt nhân và sẵn sàng có những hành động trong quá khứ nhằm ngăn cản bất kỳ tham vọng nào như vậy. Những bất đồng về cách thức giữa hai bên tham gia đã bộc lộ hoàn toàn trong suốt thời gian Nga sử dụng Hamadan, mà kết thúc khác đột ngột với việc Bộ Quốc phòng Iran chỉ trích Nga công khai về các cuộc đột kích và thể hiện thái độ “phô trương”. Hơn nữa, Iran đã thoải mái hơn khi triển khai những sự ủy nhiệm trong cuộc chiến Syria, một cách tiếp cận mà không gắn kết thật khéo léo với phong cách của Nga. Kể từ khi  những bất bình trước sự sụp đổ của nhà nước ở Libya và Iraq được thể hiện một cách rõ nét trong tư tưởng của Điện Kremlin, họ muốn tránh một tình huống tương tự ở Syria, mà ở đó các bên tham gia không phải nhà nước chi phối địa bàn. Cuối cùng, sau thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất trên toàn Syria do Nga – Thổ Nhĩ Kỳ làm trung gian, các cuộc tấn công được Iran hậu thuận ỡ khu vực Wadi Barada gần Damascus, mặc dù không bị Moskva chính thức phê phán, đóng vai trò như sự nhắc nhở mạnh mẽ gần đây nhất về những ưu tiên khác biệt của 2 bên ở Syria.

Từ quan điểm của Moskva, ngoại trừ Syria, có thêm những lý do cho thấy tại sao mố quan hệ Nga – Iran được mô tả tốt nhất như là một “cuộc hôn nhân vụ lợi”, hơn là một liên minh chính thức. Thứ nhất, trong khi có bất đồng lớn với các nước Arập vùng Vịnh trong cách tiếp cận của họ với cuộc khủng hoảng Syria, Moskva vẫn mong muốn thúc đẩy các mối quan hệ ngoại giao và thương mại với các thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) và rõ ràng là miễn cưỡng khi bị cho là ngồi quá vững bên phe thân Shitte của Iran. Phải thừa nhận là theo sau tuyên bố về thỏa thuận ngừng bắn gần đây nhất ở Syria vào ngày 29/12, Sergey Lavrov đã tiết lộ rằng Saudi Arabia và Qatar sẽ không được mời đến vòng đàm phán Syria đầu tiên ở Astana, trong cái mà là một dấu hiệu khác rằng Nga đang thành lập một liên minh mới trong đó có Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, một liên minh mà có khả năng áp đặt các điều khoản của chính sách ngoại giao Syria không chỉ lên Mỹ mà còn lên cả các nước Arập vùng Vịnh. Nhưng mặc dù nói vậy, Moskva vẫn quan tâm đến cuộc đối thoại với GCC, tiếp tục chính sách ngoại giao đa vector của họ thiết lập những mối quan hệ với các bên tham gia khắp Trung Đông mà tiêu biểu cho chính sách ngoại giao của Nga đối với khu vực kể từ đầu những năm 2000. Và chủ nghĩa thực dụng của Nga đã mang lại kết quả: Quỹ đầu tư quốc gia của Qatar chỉ vừa mới đây đã thông báo ý định của họ sẽ chi 5 tỷ USD tiền mặt mua cổ phần của công ty Rosneft, báo trước một trong những thỏa thuận lớn nhất mà Nga từng có với một nước GCC.

Thứ hai, trong khi theo đuổi các mục tiêu chiến lược của mình ở Syria, Nga muốn tránh nguy cơ khiến Israel trở nên xa lánh một cách nghiêm trọng, huống hồ là gắn kết với luận điệu hung hăng chống Israel mà tiêu biểu cho giới lãnh đạo Iran. Các mối quan hệ Nga – Israel đã tiến triển dưới nhiệm kỳ tổng thống của Putin, bất chấp những bất đồng kéo dài về việc Moskva hợp tác với Iran và Syria và can dự với Hamas. Kể từ khi các cuộc không kích của Nga ở Syria bắt đầu, Nga và Israel đã thận trọng phối hợp các hoạt động quân sự của họ dọc biên giới Syria – Israel nhằm ngăn chặn các rủi ro. Các quan điểm khác nhau về vị thế pháp lý của biển Caspian, cũng như mức độ hợp tác kinh tế tương đối khiêm tốn, vẫn là những trở ngại bổ sung đối với một liên minh Nga – Iran vững mạnh hơn.

Nga và cuộc tìm kiếm vị thế nước lớn

Mong muốn của Nga giữ vai trò then chốt trong việc làm trung gian hòa giải cho cuộc chiến Syria một cách bình đẳng với Washington đã làm nổi bật động lực cuối cùng của chiến lược nước này: sự coi trọng “vị thế” quốc tế của họ. Trong khi ngay cả những người theo chủ nghĩa thực dụng cũng thừa nhận rằng tất cả các nước đều quan tâm đến vị thế (Robert Gilpin từng gọi “sự phổ biến hàng ngày của các hoạt động chính trị quốc tế” là uy thế), nước Nga thời kỳ hậu Xô Viết dường như quan tâm đến điều này một cách thiếu cân xứng. Mặc dù Nga đã mất vị thế siêu cường khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các giới tinh hoa kế tiếp của Nga đã từ chối chấp nhận rằng nước họ vì thế đã trở thành một nước yếu hơn.

Trong việc leo thang vai trò của họ trong cuộc chiến Syria theo một cách được tính toán một cách cẩn trọng, Nga đã ép buộc Mỹ và các bên tham gia khác chấp nhận họ như một bên trung gian hòa giải không thể thiếu của cuộc xung đột, và như một lực lượng được coi trọng trong khu vực rộng lớn hơn. Vở kịch của Nga rõ rằng phục vụ cho cuộc tìm kiếm sự công nhận vị thế của họ, đặc biệt kể từ khi nó cho phép Điện Kremlin phô bày năng lực quân sự gần đây nhất của Nga và nhờ vậy giành được các khách hàng mới. Nếu ai đó thêm luận điệu nổi bật của Nga về “việc cầm đuốic trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố quốc tế” vào bức tranh, điều dường như rõ ràng là sự can dự của Nga vào Syria đã phơi bày mong muốn triển khai một hình ảnh nhất định, trong nước và quốc tế. Ít tình tiết đã minh họa sinh động điều này như việc Điện Kremlin dàn dựng một buổi hòa nhạc thắng trận tại Palmyra đầu năm 2017, sau khi các lực lượng do Nga hậu thuẫn chiếm lại nơi này từ IS. Như một nhà bình luận lỗi lạc người Nga đã nói, Trung Đông đã trở thành một vũ đài “để thể hiện rằng giai đoạn nước Nga vắng bóng khỏi sân khấu quốc tế như một nước hạng nhất đã chấm dứt”.

Trong những tháng gần đây, các nhà bình luận phương Tây và cộng đồng mạng Twitter thường nhanh chóng chế nhạo các thảm họa của Nga ở Syria, coi một tàu sân bay được triển khai về phía Địa Trung Hải của nước này là “cái xô gỉ đang trở nên cũ kỹ” hay gọi vụ máy bay Su-33 của Nga rơi khi đang cố gắng hạ cánh xuống tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov là “đáng xấu hổ”. Nhưng sự chế nhạo như vậy đã bỏ lỡ một điều rằng ngay cả quân đội chưa được hiện đại hóa của Nga cũng có đủ sức mạnh trên không để đập tan cuộc nổi loạn ở Aleppo, đưa Nga vào vị trí trung gian hòa giải chính trong cuộc khủng hoảng Syria. Ngay cả những kẻ chế nhạo Nga cũng phải thừa nhận nước này đã giành được vị thế quốc tế thông qua sự can dự của họ vào Syria – một vị thế không nhất thiết  phải như cái mà “phương Tây” miêu tả là bên tham gia có trách nhiệm đảm nhận vai trò mang tính xây dựng, mà là một bên tham gia khôn ngoan đang triển khai sức mạnh cứng một cách nhất quán, phần lớn là thành thạo, luôn tập trung vào việc đạt được mục tiêu của mình.

Phụ lục: Ai hoạch định chính sách Syria của Nga?

Gắn chính sách Syria của Nga vào một bối cảnh rộng lớn hơn, đánh giá nó thông qua các lăng kính quan điểm của Nga về Trung Đông thời kỳ hậu “Mùa xuân Arập”, trải nghiệm lịch sử của nước này trong các Cuộc chiến tranh Chechnya, những lo ngại của họ về cái được gọi là “các cuộc cách mạng màu” và mối quan hệ của họ với phương Tây, bài viết này đã lập luận rằng có khả năng nhận biết các lợi ích cơ bản của Nga trong cuộc chiến Syria, mà phần lớn vẫn nhất quán trong vòng 6 năm qua và thúc đẩy chính sách. Mặc dù nói như vậy, việc tìm hiểu ai là người quyết định các hành động cụ thể của Nga và quyết định như thế nào còn thách thức hơn nhiều. Tính minh bạch về các tiến trình đưa ra quyết định cuối cùng về chính sách đối ngoại, trong khi bị kìm hãm trong bất cứ hệ thống chính trị nào, đặc biệt bị hạn chế ở Liên bang Nga. Thậm chí cho dù một số bên tham gia trong nước, đáng chú ý nhất là tổ hợp quân sự – công nghiệp, ngành công nghiệp dầu mỏ và Giáo hội chính thống Nga là những nhóm vận động hành lang quan trọng ảnh hưởng đến chính sách Trung Đông của Nga, và trong khi Bộ Ngoại giao trong lịch sử có khuynh hướng thân Arập có thể nói giữ vai trò trong việc thi hành chính sách ngoại giao, các nhà phân tích Nga trong những năm gần đây đều nhất trí rằng các quyết sách đối ngoại cuối cùng được đưa ra bởi một nhóm nhỏ, trong đó có Tổng thống và các cố vấn then chốt của ông.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần IV


Tuy nhiên, cho dù việc thừa nhận những quan ngại khác nhau về an ninh này là quan trọng, những lo ngại về một “sự lan tràn của Hồi giáo” chưa bao giờ là động lực quan trọng nhất của chiến lược của Moskva trong cuộc chiến Syria. Trong khi điều có thể hiểu được là quân đội Nga, sau sự sụp đổ của Aleppo, có thể đẩy mạnh các cuộc không kích chống IS ở Syria tới chừng mực nào đó, mục tiêu cốt lõi của họ vẫn là bảo vệ chế độ Assad. Vì một mặt, chiến dịch quân sự của họ có thể lập luận đã làm gia tăng mối đe dọa khủng bố đối với nước Nga. Trong khi một nhóm giáo sĩ Wahhabi của Saudi Arabia kêu gọi cuộc thánh chiến chống lại Nga sau khi nước này triển khai quân đội đến Syria, IS đã tung ra một video bằng tiếng Nga ngay sau đó, cảnh báo rằng “máu người Nga sẽ đổ như biển”. Nhưng điều quan trọng hơn là, những kẻ cực đoan từ Bắc Caucasus đã có thể đến Syria với số lượng lớn và phần lớn không bị ngăn cản kể từ khi bắt đầu cuộc nổi dậy vào năm 2011, đặc biệt cho đến khi diễn ra Thế vận hội Sochi năm 2014, vì các nhà chức trách hy vọng có thể đẩy cuộc thánh chiến trong nước ra nước ngoài. Tuy nhiên, Nga đã không nhận ra sự cần thiết phải có các cuộc không kích “chống khủng bố” cho đến tháng 9/2015. Và khi đó, họ thậm chí không nhằm chủ yếu vào IS tại địa bàn. Thay vào đó, việc Moskva quyết định leo thang sự can dự của họ ở Syria đã được thúc đẩy bởi những thắng lợi vào đầu năm 2015 của các nhóm chống đối có vũ trang, mà đã đe dọa mục tiêu cốt lõi của Nga là sự tồn tại của chế độ Syria. Trong khi các quan chức của Nga chắc chắn là có xu hướng xếp bất kỳ lực lượng chống đối có vũ trang nào vào nhóm “khủng bố”, họ cũng lập luận rằng mối đe dọa chiến binh nước ngoài nhằm vào chính Liên bang Nga phần lớn xuất phát từ IS và các nhóm chi nhánh của Al-Qaeda. Không giống như việc cứu chế độ Assad, việc chống lại IS nhằm ngăn chặn trước một “sự lan tràn” chưa bao giờ là mục tiêu chính của Nga ở Syria, nhưng cách nói như vậy đã gây được tiếng vang lớn với người dân trong nước.

Hơn nữa, ảnh hưởng của IS đối với cộng đồng Hồi giáo ở Nga bị hạn chế nhiều hơn là luận điệu chính thức cho thấy, với việc các chiến binh nước ngoài trở về hoạt động phần lớn là bị động và các tổ chức cực đoan khu vực, như Caucasus Emirate, về cơ bản vẫn tồn tại riêng rẽ. Cộng đồng Hồi giáo Sunni lớn ở Nga phần lớn trung thành với nhà nước khi đề cập đến chiến dịch Syria, thay vì là có bất kỳ hành động nào hay biểu tình với số lượng đáng kể. Mặc dù nói như vậy, nhưng các chuyên gia Nga về Hồi giáo và Bắc Caucasus đã theo dõi chặt chẽ tình hình, cảnh báo rằng sự yên ả hiện tại có thể nhường chỗ cho một sự bùng phát khác hoạt động cực đoan, với các hành động của Nga ở Syria đóng vai trò như một nhân tố kích động thêm chứ không phải nhân tố loại trừ. Chẳng hạn như, một số người đã hiểu các cuộc tấn công gần đây vào các lực lượng an ninh ở thủ đô Grozny của Chechnya, mà khiến cho 11 binh sĩ bị chết, là phản ứng của một bộ phận xã hội Chechnya trước sự ủng hộ quân sự của Nga đối với Damascus.

Nga và địa chính trị: từ những hy vọng buộc Mỹ hợp tác đến chính sách thực dụng trong khu vực

Chính sách Syria của Moskva: thông điệp đến Washington

Để sang một bên những quan ngại về trật tự nhà nước của Nga mà, như đã lập luận, được củng cố bởi trải nghiệm lịch sử và phản ánh những lo sợ về các cuộc cách mạng màu ở các nước hậu Xô Viết (và về sự lan tràn của Hồi giáo từ Trung Đông tới ở một mức độ ít hơn), cũng có những lợi ích đại chính trị quan trọng hơn của Moskva bị đe dọa ở Syria. Liên minh của họ với chế độ Assad là cốt lõi của sự hiện diện thời kỳ hậu Xô Viết của họ ở Trung Đông và các hành động của Nga trong những tháng gần đây đã phơi bày mong muốn của họ mở rộng các năng lực triển khai sức mạnh trong khu vực. Các lực lượng vũ trang của Nga đã tiến hành các cuộc tiến công vào các mục tiêu ở Syria từ biển Caspian, các tàu ngầm, căn cứ Hamadam của Iran, Hạm đội Hắc Hải và gần đây nhất là tàu sân bay duy nhất của nước này, Đô đốc Kuznetsov. Phần cứng quân sự đáng kể đã được triển khai đến Syria, trong đó có hệ thống phòng thủ tên lửa S-400 và S-300, một số lượng đang dao động máy bay chiến đấu, xe tăng, tàu ngầm, tàu khu trục và máy bay giám sát và trinh thám. Sau khi điều này được Duma Quốc gia thông qua, Tổng thống Putin đã ký một đạo luật liên bang khẳng định việc triển khai không giới hạn các lực lượng của Nga tại căn cứ không quân Hmeymim và cho phép những đầu tư vào quá trình hiện đại hóa của nó, cũng như quá trình hiện đại hóa cảng Tartus.

Mong muốn của Nga triển khai sức mạnh cứng ở Syria phải được hiểu trong bối cảnh mối quan hệ đang tiến triển của họ với Mỹ. Trong khi sự leo thang quân sự ban đầu của họ rõ ràng được thúc đẩy bởi sự cần thiết nhận thức được là phải chống đỡ một chế độ Assad đang mất rất nhiều lãnh thổ vào giữa năm 2015, một động cơ bổ sung có khả năng thay đổi những thực tế đang diễn ra ở Syria theo một cách mà sẽ buộc Mỹ phải tái can dự với Nga một cách tích cực hơn về mặt ngoại giao. Có vẻ như Chính phủ Nga đã tin rằng cuộc khủng hoảng Syria có thể trở thành phương tiện để tạo điều kiện cho một “sự tan băng” trong các mối quan hệ giữa Nga và phương Tây, sau bất đồng nghiêm trọng về Crimea và cuộc chiến ở Đông Ukraine. Moskva tự xác định đây là mục tiêu đáng mong muốn – bất chấp luận điệu chống phương Tây thường xuyên của họ được thào luận ở trên – vì một cuộc khủng hoảng được duy trì với phương Tây chưa bao giờ nằm trong lợi ích của họ. Quan điểm rằng Nga sẽ sử dụng các cuộc không kích ở Syria để đạt được điều đó nghe có thể kỳ quặc đối với các nhà quan sát phương Tây, nhưng quan điểm này thường xuyên được phát biểu một cách rõ ràng trong cộng đồng chuyên gia Moskva tại thời điểm đó. Liệu có hay không việc Điện Kremlin đã hy vọng có được những lợi ích cụ thể hơn – một giải pháp về cuộc khủng hoảng Ukraine theo những điều kiện mà Nga có thể chấp thuận hay việc bãi bỏ các lệnh trừng phạt – là một vấn đề còn phải nghiên cứu. Nhưng những đòi hỏi không ngừng của Moskva về việc hợp tác với Washington về Syria chỉ cho thấy sự nhận thức về một mối quan hệ đối tác bình đẳng vẫn có giá trị như thế nào đối với Điện Kremlin. Trong khi những kỳ vọng của Nga vào bất kỳ hoạt động chung nào về Syria đã suy giảm trong giai đoạn chuyển giao chức vụ tổng thống gần đây của Mỹ, với việc Tổng thống Obama bị coi là một “con vịt què” về Syria và căng thẳng giữa 2 nước gia tăng sau sự sụp đổ của Aleppo và quyết định của Mỹ trục xuất các nhà ngoại giao Nga, có hy vọng phải chăng về quan hệ hợp tác với Chính quyền Trump sắp tới.

Ảnh hưởng khu vực ngày càng gia tăng của Moskva: phải chăng chính nó ngày càng trở thành một mục đích?

Sự can dự quân sự ngày một gia tăng của họ ở Syria đã tạo các cơ hội cho Moskva xây dựng các mối quan hệ thương mại và ngoại giao mạnh mẽ hơn với các bên tham gia khác ở Trung Đông, tại thời điểm khi mà bước đi khởi đầu của họ ép buộc Washington vào mối quan hệ hợp tác có vẻ như không mang lại kết quả gì. Kể từ tháng 9/2015, tổ hợp quân sự – công nghiệp của Nga đã dẫn đến các cuộc thảo luận về những thỏa thuận vũ khí với các bên tham gia bao gồm Algeria, Iran, Bahrain, Thổ Nhĩ Kỳ và Liban, trong khi cũng củng cố sự tiếp cận khu vực bằng việc tiến hành các cuộc diễn tập quân sự chung với các bên tham gia được lựa chọn. Đồng thời, Bộ trưởng Ngoại giao Nga đã nối lại các nỗ lực khiêm tốn nhằm khởi động lại tiến trình hòa bình Israel – Palestine và đưa ra tín hiệu cho thấy sự quan tâm của họ đến việc giữ vai trò trung gian hòa giải trong cuộc khủng hoảng Libya. Ảnh hưởng tích lũy của chuỗi sáng kiến này của Nga, một số sáng kiến quan trọng hơn những cái khác, là quan điểm mới nổi rằng Moskva “đang gia tăng sức ép” trong khu vực. Khi các mối quan hệ  Nga – Mỹ đang trượt về phía một điểm thấp khác, sau nỗ lực cuối cùng của cả 2 bên nhằm duy trì một thỏa thuận ngừng bắn tại Syria hồi tháng 9/2016, việc Nga đầu tư vào biên giới Syria và khéo léo nuôi dưỡng các mối quan hệ với các bên tham gia chủ chốt (đặc biệt là Thổ Nhĩ Kỳ) khi đó đã đặt Điện Kremlin vào một vị trí mà từ đó nó có khả năng ngày càng tăng đưa ra các điều khoản của chính sách ngoại giao Syria. Trong khi sự leo thang quân sự ban đầu của họ một phần nhằm ép buộc Washington vào một mối quan hệ hữu nghị hững hờ, mục tiêu đó hiện đã lùi vào hậu trường, do cả những thất vọng dai dẳng về Mỹ lẫn sự tự nhận thức về ảnh hưởng ngày càng lớn của Nga ở Trung Đông. Không giống như việc bảo vệ chế độ Assad và duy trì trật tự nhà nước Syria, việc giành được ảnh hưởng như vậy ban đầu không phải là động lực then chốt của chiến lược Syria của Nga. Nhưg nó đã trở thành như vậy theo thời gian, khi cuộc chiến Syria đã trở thành một sản phẩm phái sinh của sự đối đầu Nga – Mỹ rộng lớn hơn.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần III


Thứ hai, sự luận bàn của Nga đã mô tả cuộc khủng hoảng Syria là một cuộc chiến quan trọng đối với sự tồn tại. Như đã được lập luận ở phần trước, cuộc xung đột ở Syria về cơ bản đã bị đẩy xuống thành một cuộc đấu tranh giữa Assad và những kẻ khủng bố, giữa những người văn minh và những kẻ man rợ của IS, giữa Jabhat Fateh Al-Sham (trước đây là Jabat Al-Nusra) và các nhóm chi nhánh. Trong việc liên tiếp đưa ra các câu chuyện kể về những mối đe dọa bên ngoài đến sự tồn tại mà Nga cần phải đứng lên chống lại – những kẻ phát xít ở Ukraine, chủ nghĩa khủng bố quốc tế ở Syria – Điện Kremlin đã làm trệch hướng sự chú ý của công chúng khỏi các vấn đề kinh tế cấp thiết.

Nhìn vào Syria thông qua lăng kính của “các cuộc cách mạng màu” rất đáng sợ, Nga đã đưa ra một bản báo cáo về cuộc xung đột có tính chất chống lại phương Tây, mang tính răn dạy và an ninh hóa mối đe dọa đến sự tồn tại, một bản báo cáo mà được thiết kế nhằm khích động chủ nghĩa yêu nước, trong khi đồng thời mang một thông điệp rõ ràng đến người dân Nga: các cuộc nổi dậy của dân chúng chẳng mang lại lợi ích gì. Trong bối cảnh này, do câu chuyện về mối đe dọa Ukraine trong một chừng mực nào đó đã đi theo quá trình diễn biến của nó đến giữa năm 2015 và cuộc chiến ở đó được xem là kéo dài mà không mang lại kết quả đáng kể nào, một số nhà phân tích lập luận rằng việc bắt đầu các cuộc không kích của Nga ở Syria cũng tiện đáp ứng việc đảm bảo sự huy động dân chúng được tiếp tục.

Chiến dịch truyền thông của Nga về hoạt động Syria quả thực là hiểu biết và đã mang lại một bức tranh rất sai lệch về các động cơ và hành động của Nga – gần đây là việc đưa tin trên diện rộng về “cuộc giải phóng” được Nga hậu thuẫn cho những thường dân ở Đông Aleppo bị “những kẻ khủng bố” bắt làm con tin, về các cuộc tấn công chính xác bằng tên lửa được thực hiện từ tàu sân bay Kuznetsov, hay về việc thường dân Syria nướng bánh mì làm bằng bột của Nga sau nhiều tháng bị lực lượng đối lập có vũ trang bỏ đói. Bằng việc làm cho chiến dịch Syria của Nga thấm đẫm tầm quan trọng của một trật tự đạo đức cao hơn, câu chuyện truyền thông chính thức đã mang lại cho công chúng trong nước cảm giác tự hào và cấp bách, nhằm khích động chủ nghĩa yêu nước. Sức hấp dẫn của cuộc chiến của Nga ở nước ngoài, như được truyền thông giới thiệu, phần nào được thúc đẩy bởi việc không có những tổn thất đáng kể về phía Nga, nhưng cũng bởi thực tế là nó được lên khung như một cuộc chiến có tính chất chính đáng, phòng vệ, thắng lợi và phòng ngừa, mang lại sự bù đắp mang tính tượng trưng cho sự trì trệ về kinh tế trong nước. Điều quan trọng là, câu chuyện truyền thông đó bị thúc ép trong bối cảnh một mặt là sự thiếu hụt ngày càng gia tăng các nguồn thông tin thay thế và mặt khác là sự thờ ơ của công chúng rộng rãi hơn đối với các hành động của Nga ở nước ngoài.

Tuy nhiên, bất chấp cuộc tấn công khéo léo bằng truyền thông do nhà nước lãnh đạo của mình, có vẻ như chiến dịch Syria của Nga ít quan trọng đối với các mục đích củng cố chế độ hơn là việc sáp nhập Crimea hay cuộc xung đột ở Đông Ukraine trước đây. Đầu tháng 10/2015, khi người dân Nga được hỏi ý kiến về sự ủng hộ của họ đối với chiến dịch quân sự của Nga ở Syria, chỉ có 47% bày tỏ sự ủng hộ rõ ràng, trong khi 33% thể hiện sự do dự. Rốt cuộc, Syria không phải là một phần trong thế giới nước Nga của Putin. Và sự can dự vào một nước Trung Đông đã gợi lên những mối lo ngại về một “Afghanistan thứ 2” trong số gần như một nửa những người được hỏi ý kiến sau khi các cuộc không kích bắt đầu.

Hiện nay, theo số liệu chính thức, thương vong của Nga tại Syria vẫn còn hạn chế, đặc biệt nếu so sánh với những thiệt hại của Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Hezbollah. Tuy nhiên, tiếp theo cái chết của 2 y tá người Nga phục vụ tại tỉnh Aleppo hồi đầu tháng 12, mà đã gây chấn động dư luận có phần lớn hơn, là tai nạn thảm khốc của một máy bay của Bộ Quốc phòng rơi khi đang chở các nhạc công và nhà báo Nga đến căn cứ không quân Hmeymim vào ngày Giáng sinh. Ngoài ra, một máy bay chiến đấu phản lực MIG-29 của Nga đã rơi xuống biển Địa Trung Hải vào ngày 14/11, như trường hợp của một máy bay phản lực SU-33 của nước này khi đang cố gắng hạ cánh xuống tàu sân bay Kuznetsov và ngày 5/12. Trước những thảm họa ngày càng gia tăng như vậy, việc triển khai theo báo cáo mới đây các binh lính Chechnya đến Syria được hiểu trong một số giới là phần nào được thúc đẩy bởi tính toán của Điện Kremlin rằng cái chết có thể xảy ra của người Chechnya ở Syria sẽ ít gây lo lắng hơn trong toàn bộ dân chúng Nga. Các kết quả thăm dò về thái độ trong nước đối với chiến dịch quân sự ở Syria không thay đổi nhiều trong năm 2016, với sự ủng hộ vẫn dao động ở mức 50%. Trong khi tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Putin gia tăng sau những động thái quân sự của Nga đối với Crimea và vẫn ổn định kể từ đó, vì vậy dường như còn phải bàn cãi là liệu những động thái này có được hỗ trợ cụ thể bởi chiến dịch Syria hay không. Tiến về phía trước, việc huy động dân chúng trong suốt cuộc chiến của Nga ở Syria có khả năng lớn nhất là vẫn bị hạn chế và Điện Kremlin nhận thức rõ về những hạn chế này.

Ngăn chặn trước sự lan tràn của trật tự nhà nước đang sụp đổ: Phải chăng chiến dịch của Nga là “chống khủng bố”?

Kể từ tháng 9/2015, truyền thông và các quan chức Nga đã tuyên bố rằng mục đích then chốt của chiến dịch quân sự của Nga ở Syria là tiêu diệt các chiến binh nước ngoài. Mối quan ngại, cũng như lập luận, mạnh mẽ là sự sụp đổ của trật tự nhà nước Syria có thể tạo điều kiện thuận lợi cho “sự lan tràn” khủng bố vượt ra khỏi biên giới nước này. Một kịch bản như vậy sẽ gây một mối đe dọa an ninh thức đối với chính Liên bang Nga nếu những kẻ cực đoan di chuyển đến Bắc Caucasus và các khu vực khác của Nga hay Trung Á. Sergey Lavrov đã cảnh báo ngay từ tháng 3/2011 rằng “Trung Đông càng bất ổn, nguy cơ những kẻ với các mục đích xấu xa gây rắc rối cho chúng ta càng lớn”. Và 2 tuần trước khi quân đội Nga mở màn các cuộc không kích ở Syria vào tháng 9/2015, Tổng thống Putin đã lập luận tại hội nghị CSTO ở Dushanbe rằng “những chiến binh đang chịu sự truyền bá tư tưởng và huấn luyện quân sự của IS đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có… Liên bang Nga và nhiều nước cộng hòa Xô Viết trước đây. Và, dĩ nhiên, chúng ta quan ngại về khả năng họ quay trở lại các lãnh thổ của chúng ta”.

Theo các số liệu chính thức mới nhất, 3200 công dân Nga đã gia nhập một đội hình khủng bố ở Syria hay Iraq. Ước tính có thêm 2000 đến 3000 người từ Trung Á trong hàng ngũ các nhóm khác nhau trong cuộc thánh chiến ở Syria. Khả năng các chiến binh nước ngoài trở về và tiến hành các cuộc tấn công khủng bố trên lãnh thổ Nga, hay thành lập và hỗ trợ các tổ chức cực đoan khu vực, thường được các quan chức và truyền thông Nga đưa ra. Moskva quả thực lo lắng về tình hình an ninh, đặc biệt ở Dagestan và Kabardino-Balkaria, mà ở đó những kẻ nguyện trung thành với IS đã tuyên bố nhận trách nhiệm về một số vụ tấn công, gần đây hơn cũng là ở Moskva và Nizhny Novgorod. Theo các báo cáo, Cơ quan an ninh liên bang (FSI) đã ngăn chặn được một số vụ tấn công do IS truyền cảm hứng trong những tháng qua, không chỉ ở cả Moskva lẫn St. Petersburg, mà còn ở bên ngoài các trung tâm đô thị lớn. Trước mối đe dọa nhận thức được, các cuộc diễn tập quân sự và chống khủng bố vẫn được diễn ra thường xuyên ở Bắc Caucasus, đặc biệt là Dagestan.

Những lo lắng của Điện Kremlin về mối quan hệ giữa cuộc chiến Syria và chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan hướng nội đã mở rộng vượt ra ngoài Bắc Caucasus. Họ từ lâu cũng đã quan ngại về sự xâm nhập của IS qua biên giới Afghanistan – Tajikistan. Một hội nghị ba bên mới đây giữa Nga, Pakistan và Trung Quốc một phần là nhằm giải quyết những mối lo sợ này. Trong những năm qua, Nga đã liên tục cam kết giúp đỡ quân đội Tajikistan chống lại chủ nghĩa khủng bố, chẳng hạn bằng việc tăng viện xe bọc thép chở quân và xe tăng chiến đấu cho căn cứ quân sự của Dushanbe. Chỉ mới đầu tháng 1, Đại sứ của Moskva tại Dushanbe đã tiết lộ rằng Nga đang tìm cách mở rộng hơn nữa sự hiện diện quân sự của họ ở Tajikistan bằng việc thuê lại căn cứ không quân Ayni. Những cảnh báo về ý định của IS xây dựng và củng cố “Tỉnh Khorasan” của chúng, mà trong đó có Trung Á, đã được đưa ra không chỉ bởi giới lãnh đạo Nga mà còn bởi các lãh đạo khu vực khác, chặng hạn như Almazbek Atambaev của Kyrgyzstan.

Khi đó, có một thách thức gây nản lòng của việc quản lý số lượng lớn dân Trung Á nhập cư trong nước, tại các thành phố công nghiệp của Nga, như Moskva, Vladivostok hay Tyumen. Phần lớn người dân Trung Á đều bị làm cho trở nên quá khích và bị lôi kéo vào cuộc thánh chiến ở Syria trong khi đang làm việc tại Nga, hơn là tại quê hương của họ. Khó mà nghiên cứu theo lối thực nghiệm các quá trình tuyển mộ trong những cộng đồng này, nhưng có bằng chứng rằng họ được tiếp cận tại nơi làm việc, các phòng tập thể dục và các nhà thờ Hồi giáo không chính thức, nơi mà những người nhập cư thường lui tới. Chẳng hạn như, ở Moskva, ngay cả việc khánh thành Đại thánh đường Hồi giáo hồi tháng 9/2015 cũng không có khả năng giảm bớt sự thiếu hụt các địa điểm thờ cúng chính thức. Không có các thầy tế địa phương nói ngôn ngữ bản địa của họ để xin chỉ giáo, nhiều người nhập cư đã tham gia các cộng đồng mộ đạo trên mạng, mà ở đó họ thường trở thành mục tiêu của những kẻ tuyển mộ cực đoan.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần II


Giống như lăng kính dân chủ chủ quyền, lăng kính Chechnya đã định hình chính sách Syria của Nga. Việc Moskva khăng khăng rằng chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo xuyên quốc gia đe dọa chính sự toàn vẹn của nhà nước Syria lặp lại những tuyên bố tương tự mà Điện Kremlin đã đưa ra về Chechnya vào đầu những năm 2000. Hơn nữa, Chiến tranh Chechnya lần thứ 2 được đóng khung hoàn toàn như là một cuộc xung đột được khích động bởi các lực lượng bên ngoài. Sau các cuộc tấn công khủng bố vào ngày 11/9 và cuộc xâm lược Afghanistan của Mỹ hồi tháng 10/2001, Điện Kremlin đã tổ chức các cuộc họp báo hàng tuần nhằm ủng hộ các tuyên bố rằng người Chechnya có các mối liên kết với Taliban và cung cấp đội quân lớn nhất cho lực lượng nước ngoài của al-Qaeda ở Afghanistan. Tương tự, ở Syria, Nga đã dán nhãn cho lực lượng đối lập có vũ trang là lực lượng lính đánh thuê nước ngoài được ủng hộ bởi các bên tham gia bên ngoài, mà cố gắng lợi dụng cuộc xung đột ở Syria để thúc đẩy các mục tiêu xấu xa của chính họ. Sự luận bàn của nước này đã miêu tả cuộc xung đột ở Syria như một cuộc đối đầu 2 bên giữa chế độ Assad và “những kẻ khủng bố”. Như trường hợp của Chechnya, Nga đã bác bỏ bất cứ sự phân biệt nào giữa các lực lượng đối lập có vũ trang tốt và xấu với nhà nước Syria và chỉ trích Mỹ suốt năm 2016, khi mà Moskva và Washington đang cố gắng thiết lập một thỏa thuận ngừng bắn ổnđịnh, vì đã không cung cấp đầy đủ thông tin tình báo về nơi ở của những kẻ nổi loạn “ôn hòa”. Cuối cùng, cả ở Chechnya và Syria, Nga cũng đã tuyên bố rằng nước này đang chiến đấu chống lại một mối đe dọa khủng bố có phạm vi không chỉ là khu vực mà là xuyên quốc gia, để Moskva ở tuyến đầu trong cuộc chiến chống lại cái không khác gì một thách thức đối với nền văn minh.

Sự tồn tại của chế độ: lo ngại “các cuộc cách mạng màu”

Cuối cùng, mó quan ngại của Nga về trật tự nhà nước ở Syria phơi bày những lo sợ về “các cuộc cách mạng màu” được phương Tây ủng hộ, không chỉ ở Trung Đông mà còn ở chính khu vực lân cận của nước Nga. Trong việc cung cấp sự hỗ trợ trước sau như một cho chế độ Assad kể từ khi cuộc khủng hoảng Syria bùng nổ vào năm 20111, Moskva lập luận rằng họ đang ngăn chặn một ỗ lực khác của phương Tây nhằm áp đặt các chuẩn mực về tính hợp pháp chính trị lên một nhà nước có chủ quyền. Luận điệu chính thức của Nga về Syria thường xuyên ám chỉ những can thiệp được phương Tây hậu thuẫn trong quá khứ vào Trung Đông rộng lớn hơn là vi phạm luật pháp quốc tế, trong khi nhấn mạnh rằng sự dính líu quân sự của chính Nga vào cuộc xung đột Syria là theo yêu cầu của chính phủ hợp pháp của nước này và do vậy là một “sự can thiệp theo yêu cầu” khác. Những bất bình trước các nỗ lực thúc đẩy dân chủ của phương Tây là một chủ đề nhất quán trong quan điểm của Moskva kể từ sự kiện 11/9 và từ khi bắt đầu các chiến dịch quân sự của Mỹ ở Afghanistan và Iraq, nhưng chúng đã tăng lên đáng kể theo thời gian.

Xem Taliban là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của chính mình, Nga đã ủng hộ chiến dịch do Mỹ đứng đầu vào tháng 10/2001 ở Afghanistan, nhưng khi Washington dần dần chấp nhận một câu chuyện kể về xây dựng nhà nước ở nước này, Nga đã trở nên chỉ trích hơn. Nước này sau đó đã kiên quyết phản đối hành động quân sự chống lại Iraq. Khi những tuyên bố về sự hiện diện của các vũ khí hủy diệt hàng loạt (WMD) bên trong Iraq được chứng minh là không có căn cứ và những từ ngữ về sự thay đổi chế độ bắt đầu xuất hiện một cách nổi bật hơn trong sự luận bàn của Mỹ về cuộc chiến, những lo ngại của Nga trở nên sâu sắc hơn. Hơn nữa, sau khi bỏ phiếu trắng cho Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về Libya, trong cái mà phần nào là một hành động bày tỏ thiện chí đối với Mỹ, Điện Kremlin đã quan sát với sự hoài nghi hoàn toàn xem sự can thiệp vào năm 2011 rốt cuộc đã dẫn đến sự thay đổi chế độ như thế nào. Tống thống Putin đã gọi việc loại bỏ ông Gaddafi không chỉ là “sự sùng bái thời trung cổ” mà rõ ràng là “sự sùng bái thời nguyên thủy” sự can thiệp của phương Tây vào các vấn đề khu vực, cảnh báo rằng Nga sẽ không cho phép kịch bản Libya tái diễn ở Syria. Những lo lắng về các ý định thay đổi chế độ của Mỹ chống lại Damascus đã được bày tỏ từ lâu trước khi cuộc khủng hoảng Syria bùng nổ vào năm 2011. Dù đó là việc Chính quyền Bush đã đưa Syria vào “trục ma quỷ” khét tiếng hồi tháng 5/2002, hay việc Mỹ đã tăng cường các mối đe dọa của mình chống lại chế độ Assad sau vụ ám sát Rafik Hariri ở Beirut hồi tháng 2/2005 – Nga luôn tỏ rõ là nước này sẽ không chấp nhận sự thay đổi chế độ được dàn xếp từ bên ngoài ở Syria.

Trong khi sự ủng hộ hiện tại của Moskva đối với Damascus cần phải được hiểu theo quan điểm lịch sử này, thì chính mối lo sợ về sự lây lan của những nỗ lực thúc đẩy dân chủ vượt ra ngoài Trung Đông mới thực sự nằm ở trung tâm của những mối lo sợ của họ. Ngay trong cuộc khủng hoảng Libya, Sergey Lavrov đã lập luận rằng việc gieo hy vọng trong dân chúng rằng “những người nước ngoài [đang giúp] chúng ta” lật đổ chế độ có thể “lây lan”, và có khả năng “lan sang những phần tử phản kháng ở các nước khác trong khu vực” mà đang hy vọng sẽ nhận được sự trợ giúp từ cộng đồng quốc tế, và rằng điều này sẽ là “lời mời đối với cả một loạt các cuộc nội chiến”. Những lo sợ về một động lực thay đổi chế độ được phương Tây hậu thuẫn lan truyền như virus rút cục lại phơi bày căn bệnh hoang tưởng của chế độ Nga về cái gọi là “các cuộc cách mạng màu” trong không gian hậu Xô viết, mà Nga xem như là phạm vi ảnh hưởng hợp pháp của mình. Phản ứng của Moskva trước các cuộc nổi dậy của dân chúng ở Gruzia và Ukraine trong năm 2003 và 2004, mà Điện Kremlin kiên quyết cáo buộc là do phương Tây dàn dựng, là ví dụ cụ thể từ đầu. Tháng 2/2011, Tổng thống khi đó là Dmitri Medvedev đã cảnh báo rằng kịch bản mà đang diễn ra tại thế giới Arập chắc hẳn cũng được các nhà viết kịch nào đó chuẩn bị cho Nga, trong khi Đại tướng lục quân Nikolai Makarov lập luận sau sự sụp đổ của Gaddafi rằng phương pháp “các cuộc cách mạng màu”, được “lãnh đạo của một số nước” sử dụng nhằm “xóa bỏ các chế độ chính trị không mong muốn”, có thể được áp dụng sau đó cho Nga và các đồng minh của nước này. Sau Libya, Syria đã trở thành phép thử của Nga và các đồng minh của nước này. Sau Libya, Syria đã trở thành phép thử của Nga cho việc phương Tây sẽ được phép phản ứng như thế nào với những xung đột nội bộ trong tương lai. Cho đến hôm nay, Syria vẫn là giới hạn đỏ của Nga mà “không bao giờ lặp lại” sự thay đổi chế độ được Mỹ hậu thuẫn.

Điều quan trọng cần lưu ý là các sự kiện trong năm 2011 ở Libya không chỉ trùng khớp với sự bắt đầu của cuộc khủng hoảng Syria mà còn trùng khớp với tình trạng hỗn loạn trong nước xung quanh các cuộc bầu cử quốc hội và tổng thống ở chính nước Nga. Tuyên bố của Điện Kremlin vào năm 2011 rằng ông Vladimir Putin sẽ đảm nhận chức Tổng thống một nhiệm kỳ thứ 3 đã kích động các cuộc biểu tình chưa từng có trên các đường phố Moskva. Tình hình chính trị căng thẳng trong nước đã buộc ông Putin phải củng cố hơn nữa quyền lực của mình chống lại phe đối lập. Ông cũng đổ lỗi cho các thế lực xấu xa nước ngoài về các cuộc biểu tình, phỉ báng Mỹ và công kích cá nhân Ngoại trưởng Hillary Clinton và Đại sứ Mỹ Michel McFaul về cái được cáo buộc là sự dính líu của họ. Việc chọn lựa lập trường không thỏa hiệp đối với cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Syria đã trở thành một phần của chính sách củng cố quyền lực chống phương Tây này, mà ngày càng được thúc đẩy bởi định kiến của Nga ngăn chặn hơn nữa các cuộc cách mạng màu, và những viên gạch xây dựng nền móng hệ tư tưởng của nó đã được lắp đặt cùng với “dân chủ chủ quyền” của Surkov trước đó 5 năm.

Quan điểm chống phương Tây ngày một gia tăng của Điện Kremlin, mà đã được hình thành từ năm 2011, làm cơ sở cho quan điểm thiếu tự do của Nga về dân chủ chủ quyền, và hỗ trợ những nỗ lực của Putin nhằm kiểm soát sau khi trở lại vị trí Tổng thống, đã định hình luận điệu của Nga về cuộc chiến Syria. Một là, câu chuyện của Nga đã truyền bá một cuộc xung đột rộng lớn hơn về các giá trị giữa một bên là sự tham nhũng và suy đồi về đạo đức của phương Tây và một bên là việc bảo vệ truyền thống và các giá trị bảo thủ của Nga. Luận điệu này đã được nuôi dưỡng và khích động bởi Giáo hội chính thống giáo Nga, một nhóm vận động hành lang có quyền lực ngày càng lớn đang ủng hộ chính sách đối ngoại của Điện Kremlin. Tại cuộc họp báo gần đây nhất của ông được tổ chức vào ngày 17/1, Sergey Lavrov đã dành một ít thời gian để nói rõ thêm và chỉ trích các giá trị thời kỳ “hậu Cơ Đốc” của phương Tây, mà ông lập luận không phải là các giá trị mà “tổ tiên của những người châu Âu đã tôn trọng”, mà đúng hơn là “cái gì đó mới, cái gì đó dễ bị ‘hiện đại hóa’, cái gì đó dễ được chấp nhận hoàn toàn”. Vì vậy mà trên chiến trường Syria, Nga đã khắc họa bản thân họ như là một lực lượng bảo vệ sự ổn định và đảm bảo bản sắc dân tộc và trật tự nhà nước, cũng như là cường quốc chủ yếu duy nhất thực sự nghiêm túc về việc đấu tranh chống lại mối đe dọa do IS gây ra. Trong bài phát biểu của ông trước Đại hội đồng Liên hợp quốc hồi tháng 9/2015, Tổng thống Putin đã đề xuất một liên minh kiểu “chống Hitler” để chống lại IS. Cho đến nay, các uqan chức Nga vẫn nhắc đến bài phát biểu này, nhằm bày tỏ sự thất vọng của họ rằng các nhà nước phương Tây vẫn chưa gia nhập một liên minh như vậy.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017

Liệu Iran có thể trở thành Triều Tiên thứ hai?


Philip Gordon & Amos Yadlin

Các cuộc thử nghiệm tên lửa đạn đạo tầm xa gần đây nhất của Triều Tiên, để chứng tỏ rằng vũ khí hạt nhân do nước này phát triển đã đạt được tiến bộ, có thể tấn công các mục tiêu trên lãnh thổ Mỹ tại châu Á. Tuy nhiên, hậu quả của vụ thử rõ ràng đã vượt ra khỏi khu vực châu Á và Bắc Mỹ. Trên khắp Trung Đông, dư luận đặt nghi vấn rằng phản ứng của Mỹ đối với vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, khi số vũ khí này giờ đây có thể vươn tới lãnh thổ Mỹ, sẽ là câu trả lời cho những gì sẽ xảy ra ở Iran. Các nhà lãnh đạo và người dân trong khu vực, đặc biệt là ở Israel và các quốc gia vùng Vịnh, lo ngại rằng họ sẽ có thể sớm được xem ngay gần nhà một bộ phim điện ảnh đang chiếu ở Đông Á.

Sự lo lắng này không phải là vô căn cứ và sự tương đồng giữa hai trường hợp đang gây chú ý cho dư luận. Năm 1994, Chính quyền Bill Clinton từng tuyên bố rằng “Thỏa thuận khung” sẽ “đóng băng và sau đó xóa bỏ” chương trình hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời hứa hẹn rằng “Hàn Quốc và các đồng minh khác của chúng ta sẽ được bảo vệ tốt hơn”, “tòa thế giới sẽ an toàn hơn” và “Mỹ cùng với các thanh sát viên quốc tế sẽ giám sát Triều Tiên cẩn trọng để đảm bảo rằng nước này sẽ thực hiện các cam kết của mình”. Tuy nhiên, Bình Nhưỡng đã lừa gạt, thỏa thuận đổ vỡ và trong vòng một thập niên, Triều Tiên đã quay lại phát triển vũ khí hạt nhân.

Chính quyền George W. Bush đã thử một cách tiếp cận mang tính đối đầu hơn, nhưng cũng thất bại. Mặc dù đưa ra học thuyết mới về tấn công phủ đầu và cam kết ngăn chặn các quốc gia thù địch như Triều Tiên sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, ông Bush đã không thể làm gì ngoại trừ tuyên bố “lên án hành động khiêu khích này” khi Bình Nhưỡng thử vũ khí hạt nhân vào năm 2006. Và mặc dù cam kết Triều Tiên sẽ phải chịu “hoàn toàn trách nhiệm” nếu phát triển vũ khí hoặc vật liệu hạt nhân, Chính phủ Mỹ vẫn không hành động khi Bình Nhưỡng tiến hành xây dựng một lò phản ứng nước nặng sản xuất plutoni bí mật ở Syria. Theo các quan chức tình báo cấp cao của Mỹ, nỗ lực của Triều Tiên chỉ dừng lại khi Israel tự tay giải quyết và tiến hành ném bom khu vực này vào năm 2007. Mặc dù tấn công quân sự Iran không phải là lựa chọn lý tưởng, nhưng Mỹ và các đồng minh cần tiếp tục cân nhắc.

Năm 2009, Chính quyền Barack Obama triển khai chính sách “kiên nhẫn chiến lược”, tránh đối đầu quân sự, từ chối đàm phán với Triều Tiên, nhưng kết quả là Mỹ cũng chỉ có thể kiên nhẫn đứng nhìn Bình Nhưỡng xây dựng một kho vũ khí hạt nhân quan trọng và đạt được tiến bộ trong phát triển hệ thống mang vũ khí hạt nhân.

Tiếp đến là Chính quyền Donald Trump. Tháng 1/2017, khi nhà độc tài Triều Tiên Kim Jong-un đánh tiếng về ý định thử tên tửa đạn đạo tầm xa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, Tổng thống Trump khoe khoang trên Twitter rằng “điều đó sẽ không xảy ra!” và sau đó tuyên bố rằng ông đã điều “một hạm đội” đến khu vực. Phó Tổng thống Mike Spence củng cố thông điệp của ông Trump bằng chuyến thăm đến khu phi quân sự của Hàn Quốc đồng thời cảnh báo Bình Nhưỡng không nên “thử thách quyết tâm (của Trump) hay sức mạnh của quân đội Mỹ”. Tuy nhiên, Triều Tiên đã thử vũ khí và điều này cho thấy rằng các phản ứng của Mỹ không hề mang lại hiệu quả hơn so với những gì mà nước này từng sử dụng để đối phó với Triều Tiên trong vòng 20 năm qua.

Trước tình hình như vậy, việc các nhà lãnh đạo và dân chúng trên khắp Trung Đông nghi ngờ khả năng Mỹ thành công trong việc ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân cũng là điều dễ thông cảm. Tuy nhiên, có những điểm khác biệt chính giữa hai nước này và điều quan trọng là phải rút ra bài học đúng đắn từ kinh nghiệm với Triều Tiên. Vẫn còn thời gian để ngăn Iran không theo bước Triều Tiên, nhưng chỉ khi các nhà lãnh đạo Mỹ và các nước khác đánh giá khách quan về thách thức và nhận ra điểm tương đồng cũng như điểm khác biệt giữa hai tình huống này.

Một số người cho rằng từ thất bại ngoại giao đối với Triều Tiên, Mỹ và các đối tác nên tránh mọi cuộc đàm phán và chỉ tập trung cô lập kinh tế và ngoại giao đến khi Chính phủ Iran nhượng bộ hoặc sụp đổ. Nhưng đó sẽ là một sai lầm vì một số lý do. Đối với Triều Tiên, Thỏa thuận khung đổ vỡ một phần là do Quốc hội Mỹ, nhất quyết không “dỗ dành” Bình Nhưỡng, từ chối cung cấp năng lượng cho Triều Tiên như đã thỏa thuận trước đó. Nhưng việc không thực hiện thỏa thuận đã không làm cho Triều Tiên sụp đổ hay thỏa hiệp mà dẫn đến sự xuất hiện của một quốc gia vũ khí hạt nhân hoang tưởng với khả năng tên lửa đạn đạo liên lục địa – hầu như không phải là quảng cáo cho chiến lược đó. Do đó, cách tiếp cận đúng đắn với Iran hiện nay không phải là từ bỏ đàm phán, dẫn đến khả năng xuất hiện quốc gia hạt nhân Iran hoặc sẽ phải đưa ra lựa chọn thảm khốc là tấn công Iran, mà phải là tiến hành đàm phán thành công.

Iran là một xã hội cởi mở và năng động hơn Triều Tiên. Iran có một chính phủ không được nhiều người ủng hộ, tầng lớp trung lưu có học thức và dân số trẻ mong muốn hội nhập với cộng đồng quốc tế, nên điều này sẽ khiến chính quyền phải chịu nhiều áp lực hơn. Mặc dù chưa thể đảm bảo nhưng sau một thập kỷ nữa khi một số hạn chế hiện nay đối với chương trình hạt nhân của Iran hết hiệu lực, với nhà lãnh đạo khác cầm quyền tại Tehran, có thể sẽ có nhiều cuộc đối thoại mang tính xây dựng hơn, các đảm bảo về hạt nhân và thậm thậm chí hợp tác khu vực có thể diễn ra.

Sẽ là ngây thơ khi tin rằng sẽ có một chính phủ tại Iran – ngay cả khi chính phủ đó không thù địch với Israel và các quốc gia Hồi giáo do người Sunni chiếm đa số – hoàn toàn từ bỏ nỗ lực phát triển ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân đã được thực hiện nhiều thập kỷ nay. Tuy nhiên, sẽ là khôn ngoan khi xem xét quan điểm cho rằng sự kết hợp đúng đắn giữa khuyến khích và làm thoái chí có thể khiến các nhà lãnh đạo Iran khác nhau chấp nhận những giới hạn có ý nghĩa và giám sát hiệu quả ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân. Triều Tiên đã có lựa chọn khác và hiện là một trong những nước nghèo nhất và bị cô lập nhất trên thế giới. Tehran, hoặc thực tế hơn, những người Iran, có thể nhìn vào tiền lệ đó và quyết định một tương lai khác.

Điểm khác biệt nữa là giải pháp quân sự nhằm ngăn chặn Iran sở hữu năng lực hạt nhân sẽ vẫn là lựa chọn cuối cùng. Ở Triều Tiên, quyền tấn công phủ đầu quân sự từ lâu không thể thực hiện được do thực tế chiến lược rằng hầu hết dân số Hàn Quốc, bao gồm thủ đô Seoul, nằm trong tầm bắn của hàng ngàn tên lửa của Triều Tiên. Đồng thời tất cả các nước láng giềng của Triều Tiên, bao gồm Hàn Quốc, phản đối sử dụng hành động quân sự để ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân. Một cuộc tấn công phủ đầu chống lại chương trình hạt nhân của Iran tất nhiên sẽ tốn kém và không rõ hiệu quả, nhưng khi cân nhắc giữa chi phí và hậu quả từ khả năng hạt nhân của Iran, đây vẫn sẽ là một lựa chọn thực tế được nhiều nước láng giềng của Iran ủng hộ.

Vì vậy, mặc dù giải pháp quân sự đối với Iran là không lý tưởng, nhưng Mỹ và các đồng minh vẫn cần tính đến lựa chọn này. Điều đó có nghĩa là Mỹ sẽ vẫn duy trì và phát triển thêm các khả năng như: sử dụng Massive Ordnance Penetrator, quả bom 30.000 pound (gần 14 tấn) có khả năng phá hủy các boongke dưới mặt đất, để bảo vệ chính sách mà Mỹ từng tuyên bố rằng nước này sẽ không cho phép Iran sở hữu vũ khí hạt nhân; triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa hiệu quả tại Israel và các quốc gia vùng Vịnh để đảm bảo rằng thủ đô của các nước này không bị Iran đe dọa như cách thức mà Triều Tiên đang làm với Seoul. Tehran có thể sẽ nhìn vào tiền lệ của Bình Nhưỡng và sẽ đưa ra một quyết định khác.

Sự khác biệt cuối cùng là mặc dù Triều Tiên hiện đã trở thành một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân được trang bị nhiều tên lửa tầm xa, nhưng vẫn còn thời gian với Iran. Ngay cả các nhà lãnh đạo ở Washington và Trung Đông phản đối thỏa thuận hạt nhân với Iran cũng nên thừa nhận rằng cho đến nay thỏa thuận này ít nhất đã ngăn chặn Iran tiếp tục phát triển chương trình hạt nhân và họ nên sử dụng thời gian đó một cách khôn ngoan. Mỹ nên chấp nhận các kết luận của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế và các cơ quan khác rằng Iran đang tuân thủ thỏa thuận và cần tiếp tục trì hoãn áp dụng các biện pháp trừng phạt bổ sung định kỳ để duy trì thỏa thuận. Một quyết định đơn phương của Chính quyền Trump tuyên bố Iran không tuân thủ, hoặc gây ra một cuộc khủng hoảng giả tạo trong quá trình tiến hành các cuộc thanh sát, như một số nhân vật trong chính quyền này đang lên kế hoạch, sẽ chỉ có tác dụng cô lập Mỹ và tạo cho Iran cái cớ để nối lại các hoạt động hạt nhân.

Thay vào đó, Mỹ và các đối tác quốc tế nên tận dụng thời gian mà thỏa thuận hạt nhân tạo ra để bắt đầu tính đến khả năng Iran sẽ bỏ qua cơ hội trấn an cộng đồng quốc tế và thay vào đó tìm cách làm theo kịch bản của Triều Tiên. Mỹ nên khởi động cuộc đối thoại chiến lược chân thật với tất cả các đối tác quốc tế để bàn biện pháp thẩm tra và thực thi thỏa thuận hạt nhân Iran trong khi thỏa thuận vẫn còn hiệu lực, cũng như những gì cần làm nếu Iran đang hoặc sẽ vi phạm thỏa thuận trong tương lai.

Theo thỏa thuận hạt nhân Iran, nước này có thời gian từ 10 năm đến 15 năm để chứng minh rằng chương trình năng lượng hạt nhân của họ là hoàn toàn vì mục đích hòa bình. Nếu tại thời điểm các hạn chế đó được dỡ bỏ, Iran vẫn là quốc gia chủ yếu tài trợ khủng bố, không muốn sống trong hòa bình với các nước láng giềng cũng như không thể đảm bảo rằng nước này không có ý định sở hữu vũ khí hạt nhân, Mỹ và các đối tác trong khu vực và trên thế giới sẽ phải quyết định làm thế nào để đối phó với Iran. Để có thể cùng đưa ra được một quyết định phù hợp, Mỹ và các nước đối tác nên bắt đầu thảo luận từ ngày hôm nay.

Triều Tiên luôn có một đồng minh, đó là Trung Quốc, quốc gia không ủng hộ các biện pháp trừng phạt đối với những vi phạm về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên bởi nước này lo sợ sẽ dẫn đến sự sụp đổ của một chế độ và mất đi một quốc gia ủy nhiệm. Iran không có người bảo vệ như vậy. Nếu Iran không thể sử dụng thời gian mà thỏa thuận hạt nhân tạo ra để trấn an thế giới rằng “Iran sẽ không bao giờ tìm kiếm, phát triền hoặc sở hữu bất kỳ vũ khí hạt nhân nào”, các cường quốc của thế giới cần thống nhất rằng họ vẫn còn đầy đủ các lựa chọn, trong đó có lựa chọn quân sự và tái áp dụng các lệnh trừng phạt khiến Iran phải quay lại đàm phán từ đầu.

Không thể phủ nhận những điểm tương đồng gây khó chịu giữa trường hợp của Triều Tiên và Iran, nhưng cũng có thể là sai lầm nếu bỏ qua những khác biệt. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ và các đối tác Trung Đông rút ra được bài học đúng đắn từ kinh nghiệm đối với Triều Tiên, họ sẽ có cơ hội tránh đi vào vết xe đổ đối với Iran.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/north-korea/2017-08-01/will-iran-become-next-north-korea

TLTKĐB – 15/08/2017

Vai trò của Nga trong cuộc chiến Syria – Phần I


Giới thiệu

Trong năm quan, Nga đã trở thành một bên tham gia ngày càng giữ vai trò chủ chốt trong cuộc chiến Syria và mở rộng ra, ở Trung Đông rộng lớn hơn. Việc nước này can thiệp quân sự kể từ tháng 9/2015, gần đây là hỗ trợ Chính quyền Assad chiếm lại Aleppo và sau đó là xây dựng một thỏa thuận ngừng bắn trên toàn Syria với Ankara đã có những ảnh hưởng đáng kể tại địa bàn và gạt sang bên lề vai trò của Mỹ trong cuộc xung đột. Việc Nga hợp tác chặt chẽ với Iran và nối lại mối quan hệ hữu nghị với Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập sẽ tiếp tục vạch lại các ranh giới ảnh hưởng, không chỉ ở Syria mà rõ ràng là cả khu vực.

Giữa sự ồn ào mà ảnh hưởng của Nga ở Syria gây ra, các động lực cơ bản của chiến lược nước này – các động lực trong nước, về an ninh và hệ tư tưởng – vẫn rất hay bị bỏ qua. Kết quả là, các quyết định của Nga về Syria thường gây bất ngờ cho các nhà quan sát và làm tồn tại mãi quan điểm rằng các hành động của Nga trong trường hợp tốt nhất là không thể đoán định, và trong trường hợp xấu nhất là phi lý. Tuy nhiên, trong khi việc phân tích chính sách đối ngoại của Nga gặp khó khăn bởi thực tế thiếu sự minh bạch về việc quyết định cụ thể được đưa ra bởi ai và như thế nào, thì điều gây tranh cãi lại là các lợi ích cơ bản của Nga ở Syria lại nhất quán một cách đáng ngạc nhiên trong 6 năm qua. Các chính sách của họ, đến lượt chúng, lại logic khi xem xét những lợi ích này. Để hiểu được những điều này cần phải theo phép phân tích gắn chính sách Syria của Nga vào một bối cảnh rộng lớn hơn, đánh giá nó thông qua các lăng kính quan điểm của Nga về Trung Đông thời kỳ hậu “Mùa xuân Arập”, trải nghiệm lịch sử của nước này trong Các cuộc chiến tranh Chechnya, mối lo ngại của họ về cái được gọi là “các cuộc cách mạng màu” ở các nước hậu Xô viết và mối quan hệ của họ với phương Tây.

Bài viết này sẽ xem xét các động lực cơ bản then chốt của chính sách Syria của Nga, phân biệt giữa các lợi ích và quan điểm của Nga về (1) trật tự nhà nước và (2) địa chính trị, nhằm giải thích tại sao Nga lại kiên trì hỗ trợ chế độ Assad, tăng cường sự can dự của mình tại những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc chiến và cố gắng tính toán cẩn thận một lối đi giữa leo thang quân sự và ngoại giao. Những ảnh hưởng của chiến lược Syria của nước này đó với vị thế của Nga ở Trung Đông rộng lớn hơn, cũng như các triển vọng cho ngoại giao Syria trong năm 2017 cũng sẽ được thảo luận.

Nga và trật tự nhà nước: những cân nhắc về hệ tư tưởng, lịch sử và tồn tại của chế độ

Hệ tư tưởng: Nga và “dân chủ chủ quyền”

Trước tiên, một sự quan ngại về trật tự nhà nước, hay sự ổn định của chế độ, là thiết yếu đối với quan điểm của Nga về xung đột Syria. Như các vấn đề được nhìn nhận từ phía Moskva, không một bên tham gia bên ngoài nào mà đang tuyên truyền cái mà họ gọi là một “thời kỳ quá độ chính trị” ở Syria lại có kế hoạch đáng tin nhằm đảm bảo sự tồn tại có trật tự của các cơ cấu nhà nước đang tồn tại sau khi ông Assad ra đi. Nga sợ rằng sự sụp đổ của các thể chế và sự lan rộng kèm theo của tình trạng hỗn loạn sẽ nuôi dưỡng sự bất ổn và cho phép các phe phái Hồi giáo cực đoan mở rộng ảnh hưởng của họ. Sự nhận thức về chuỗi nhân quả này – sự loại bỏ các nhà lãnh đạo mạnh mẽ dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước, mà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự trỗi dậy của những người Hồi giáo – giúp khắc họa một cách khái quát hơn phản ứng của Nga đối với “Mùa xuân Arập” từ năm 2011. Trong khi phản ứng chính thức của Moskva trước các sự kiện ban đầu ở Ai Cập và Tunisia là tương đối dè dặt, các chuyên gia và các nhà ngoại giao Nga đã sớm bày tỏ những quan ngại thận trọng.

Tác động khu vực từ cuộc xâm lược Iraq của Mỹ vào năm 2003 đã dần dần nuôi dưỡng một niềm tin giữa các quan chức Nga, điều mà sau đó được củng cố mạnh mẽ bởi sự can thiệp vào Libya vào năm 2011 và việc lật đổ Muammar Gaddafi, rằng các chính sách xây dựng chính trị – xã hội trong khu vực của phương Tây vừa ngây thơ vừa hoàn toàn thiếu trách nhiệm. Các nhà ngoại giao Nga hiện chia sẻ, dĩ nhiên là bí mật, quan điểm rằng cuộc sống của người dân Iraq và Libya dưới các chế độ áp bức, theo thứ tự, Saddam và Gaddafi là tương đối tốt hơn so với cuộc sống của họ trong các xã hội bị chiến tranh tàn phá hiện nay. Do các tiền lệ Iraq và Libya, các ý định của phương Tây ủng hộ những nguyện vọng dân chủ ở Syria hoặc bị đánh giá là sai lầm sâu sắc, hoặc, tồi tệ hơn, bị xem là vỏ bọc cho những động cơ kín đáo, như nhằm làm suy yếu vị thế của chính Nga ở Trung Đông bằng việc phá hoại các đồng minh của nước này.

Chuyển sang các nền tảng tư tưởng của quan điểm này của Nga, có niềm tin rằng sự ổn định và sự sung túc về mặt vật chất của một xã hội cần được ưu tiên hơn là mối quan ngại về nhân quyền và mức độ tự do mà các công dân của xã hội đó được hưởng. Trong những năm gần đây, Điện Kremlin đã tăng cường nhận thức của chính mình về dân chủ hóa, mà đặt lên hàng đầu việc thay đổi dần dần, ưu tiên sự ổn định và do nhà nước lãnh đạo được đánh đổi bằng vai trò có tính đa nguyên hơn của xã hội dân sự vốn có trong mô hình dân chủ tự do.

Nhận thức đó đã được nuôi dưỡng bởi ác cảm sâu sắc của giới lãnh đạo Nga đối với quan điểm gắn kết tính hợp pháp của chế độ trong nước với sự công nhận của các bên tham gia bên ngoài hay một tiến trình dân chủ cụ thể được quy định từ bên trong. Khái niệm “dân chủ chủ quyền”, được Phó Chánh văn phòng của Putin Vladislav Surkov đưa ra lần đầu tiên vào năm 2006 khi phản ứng lại “Nghị trình tự do” của George W. Bush, dẫn đến quan điểm rằng “hình thức dân chủ phù hợp với xã hội Nga, và mở rộng ra với các xã hội đang hiện đại hóa khác, là hình thức mà ở đó nhà nước có vai trò quan trọng nhất trong việc quản lý sự quá độ lên dân chủ, đảm bảo rằng kết quả biến đổi xã hội không dẫn đến tình trạng mất trật tự và xung đột mà duy trì sự ổn định xã hội và cải cách kinh tế”. Cách tiếp cận của Nga do vậy là cách tiếp cận coi trọng “trật tự” hơn là “công bằng” và an ninh chế độ hơn là an ninh con người.

Chính phủ Nga xây dựng chính sách Syria của họ thông qua lăng kính dân chủ chủ quyền. Họ lập luận rằng có những con đường khác dẫn đến, và là hiện thân của, dân chủ và rằng mô hình của Nga phù hợp hơn với Syria và các nước khác thời kỳ sau Mùa xuân Arập, do cơ cấu sắc tộc và tôn giáo phức tạp của họ đòi hỏi các chính sách ưu tiên sự ổn định. Trong một cuộc phỏng vấn dài vào năm 2012 thảo luận quan điểm của Nga về Mùa xuân Arập nói chung, và các sự kiện ở Ai Cập và Syria nói riêng, Ngoại trưởng Sergey Lavrov đã cảnh báo rằng “bất kỳ nỗ lực nào nhằm ‘biến đổi’ các mô hình cơ cấu nhà nước và phát triển chính của một nước, truyền bá các giá trị của chính nước đó sang vùng đất của những nước khác, bỏ qua các truyền thống và văn hóa của họ, như một quy tắc chung thì đều không thể thành công được. Nga tin chắc rằng cả tiến độ lẫn hình thức dân chủ hóa cần được xác định từ chính bên trong các xã hội”.

Lịch sử: Các cuộc chiến tranh Chechnya

Hơn nữa, sự quan ngại của Moskva về trật tự nhà nước ở Syria bắt nguồn từ trải nghiệm lịch sử của chính nước Nga: Sau Chiến tranh Lạnh, tình trạng hỗn loạn giữa các cộng đồng người Hồi giáo bản địa ở Bắc Caucasus đã làm dấy lên những mối lo ngại trong Điện Kremlin rằng chủ nghĩa ly khai Chechnya có thể lan tràn sang các khu vực khác của Nga và đẩy nhanh sự tan rã của nhà nước. Tổng thống Putin đã bày tỏ rõ ràng nhất những quan ngại này trong một cuộc phỏng vấn vào năm 2000, cảnh báo rằng “bản chất của tình hình ở Bắc Caucasus và Chechnya… là sự tiếp tục của sự sụp đổ của Liên Xô trước đây. Nếu chúng ta không nhanh chóng làm gì đó để ngăn chặn nó, Nga với tư cách là một nước trong hình thái hiện tại của nó sẽ không còn tồn tại… chúng ta sẽ đối mặt với… tình trạng Nam Tư hóa nước Nga”. Ông tin rằng chính hứa hẹn giả dối về dân chủ kiểu phương Tây, mà đã được thúc đẩy vào những năm 1990 – trong đó có ở Nga – và khuyến khích sự kiểm soát ít hơn đối với một trung tâm hùng mạnh, đã dẫn đến tình trạng hỗn loạn và nội chiến ở Bắc Caucasus do một khoảng trống quyền lực đang nổi lên ở Moskva. Mức độ và những nhận thức cá nhân này trong việc đi tới quyền lực torng giai đoạn cuối những năm 1990 đầy biến động sẽ quyết định quan điểm của Tổng thống Putin về tình hình ở Syria một thập niên sau đó là khó có thể được phóng đại.

(còn tiếp) 

Nguồn: Quỹ Konrad Adenauer

CVĐQT – số 5/2017