Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần cuối


Qatar sẽ ngừng vận hành đường ống dẫn chính?

Một kịch bản có thể sẽ làm nghiêm trọng hơn nữa cuộc khủng hoảng, đó là việc ngừng vận hành đường ống dẫn Dolphin nối liền Qatar và một số quốc gia có hành động xâm phạm đến họ.

Trong khi hai phần ba lượng LNG của Qatar được dành cho châu Á và châu Âu, khoảng 10% được chuyển đến Trung Đông. Hai thị trường xuất khác được đảm bảo nhờ những mố quan hệ chính trị tốt, đó là Kuwait và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng hai nước khác là Ai Cập và UAE lại tham gia các quốc gia hiện nay đang cô lập Qatar. Nếu như Riyadh và UAE đẩy sự căng thẳng lên cao, điều đó sẽ làm dấy lên những lo ngại liên quan đến tương lai của đường ống dẫn dầu.

Ai Cập đón nhận từ Qatar hai phần ba nhu cầu khí đốt – khoảng 4,4 triệu tấn trong năm 2016 – theo giá thị trường cũng như hợp đồng ký kết trong ngắn hạn. Cairo đứng về phía của Saudi Arabia, nhưng không thể ngăn cản sự vận chuyển khí đốt. Kể từ khi khủng hoảng nổ ra, Ai Cập tiếp tục chấp nhận lô hàng khí đốt của Qatar trên những tàu vận tải được treo cờ của nước khác. Khoảng 300.000 người Ai Cập sống, làm việc tại Qatar đang tiếp tục công việc của họ một cách bình thường. Không một quốc gia nào mong muốn cắt đứt quan hệ mà không có lý do chính đáng, đặc biệt là Ai Cập – nước mới đây đã tránh được sự phá sản nhờ những sự trợ giúp tài hào phóng từ Qatar (đã có khoảng 6 tỷ USD được Qatar viện trợ cho Ai Cập sau cuộc nổi dậy – đảo chính “Mùa xuân Arập” năm 2011).

Tuy nhiên, tuyến đường ống dẫn khí Dolphin – vận chuyển khí đốt từ Qatar đến UAE và Oman mới là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất. UAE nhập khẩu khảong 17,7 tỷ m3 khí đốt tự nhiên từ Qatar trong năm 2016 (theo báo cáo của BP), tương đương hơn 1/4 nguồn cung cấp khí đốt cho UAE. Cả UAE và Oman sẽ phải gánh chịu những mất mát to lớn nếu như không còn nhận được dòng khí hóa lỏng, đặc biệt là vào mùa Hè – thời điểm sản xuất điện đòi hỏi phải đạt công suất lớn nhất để vận hành hệ thống điều hòa không khí. Hậu quả của việc Qatar ngừng cung cấp khí đốt tại vùng Vịnh có thể so sánh với sự kiện tương tự vào tháng 1/2009, khi Nga tạm dừng hoạt động tuyến đường ống dẫn khí đốt đến Ukraine.

UAE nhận thức được rằng họ sẽ ngay lập tức phải đối mặt với nhiều khó khăn hàng ngày. Nước này được xem như tự bắn một viên đạn vào chân mình nếu không nhận được nguồn cung cấp khí đốt. Tuy nhiên, về phần mình, Qatar xem tuyến ống dẫn này là một sự lắp đặt vĩnh viễn, không phải như là một công cụ để phục vụ cho các lợi ích chính trị trong ngắn hạn. Do đó, không một bên liên quan nào mong muốn thay đổi nguyên trạng hiện nay và cũng không bên nào thông báo có được lợi ích khi áp dụng sự thay đổi.

Một số nhà phân tích cho rằng cả hai bên đều có được những kế hoạch dự phòng nếu như đường ống Dolphin tạm dừng hoạt động. Lúc đó, UAE sẽ phải vật lộn để bù đắp phần thiếu hụt nguồn khí đốt từ Qatar. Nước này sẽ phải nhập khẩu LNG vì không ai có thể gửi nó thông qua tuyến ống dẫn. Điều này sẽ khiến giá thành tăng lên gấp 3 lần so với mức giá mà UAE mua khí đốt từ Qatar. Cho dù không có mức giá chính thức, dự kiến UAE sẽ phải trả thêm khoảng 1,1 tỷ USD. Mặt khác, nếu UAE muốn ngừng nhập khẩu khí đốt của Qatar, họ sẽ tiếp tục phải trả một khoản tiền đắt gấp 3, theo mức giá hiện hành, bởi vì giá LNG liên kết chặt chẽ với giá dầu. Như vậy, liên quan đến vấn đề này, trong trường hợp UAE mua khí đốt từ một nguồn khác, với một hợp đồng theo giá thị trường và được chuyên chở bằng tàu thủy, nước này sẽ phải trả một khoản tiền gấp 6 lần so với các hợp đồng đã ký kết với Qatar. Đây quả thực là một thiệt hại đáng kể.

Sự gián đoạn gây ra do một bên nào đó đều dẫn đến việc vi phạm các hợp đồng song phương. Nếu như UAE vi phạm hợp đồng, họ sẽ phải trả giá. Trong trường hợp vì khủng hoảng, Qatar buộc phải ngừng hợp đồng, họ cũng sẽ gửi một thông điệp tiêu cực đến các khách hàng của mình – việc cung cấp khí đốt bị ảnh hưởng vì lý do chính trị.

Nếu một biện pháp như vậy được Qatar thực hiện có thể gây tổn hại đến chiến lược mà nước này đang theo đuổi, thì đó là muốn khẳng định cho thế giới thấy rằng dù bị các nước GCC đối xử bất công, nhưng Qatar vẫn tôn trọng các hợp đồng thương mại – trái ngược hoàn toàn với UAE và Saudi Arabia. Qatar đã khẳng định rằng việc vận chuyển khí đốt đến UAE và Oman thông qua tuyến ống Dolphin vẫn sẽ được tiếp tục. Do đó, các quốc gia liên quan không phải bận tâm về thời điểm của một kịch bản tồi tệ, khi mà Qatar có thể thay đổi quyết định đã đưa ra về vấn đề trên.

Liệu Qatar có bị mất thị phần vào tay Saudi Arabia?

Một số nhà phân tích đã không loại trừ một số biện pháp trừng phạt có thể được Saudi Arabia và UAE áp đặt trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng hiện nay. Bất kỳ biện pháp nào nhắm đến việc ngừng xuất khẩu năng lượng, đặc biệt là thông qua đường ống dẫn Dolphin có thể được xem như là một sự leo thang nghiêm trọng do Doha gây ra, và điều này cũng dẫn đến khả năng nền kinh tế nước này bị tê liệt.

Một kịch bản mang tính giả thuyết vốn là chủ đề của cuộc tranh luận chính trị gay gắt hiện nay, theo các nhà phân tích, dựa trên sự phong tỏa hoàn toàn đối với Qatar, Riyadh và Dubai đã đề cập đến khả năng tái cơ cấu GCC thông qua việc khai trừ Qatar ra khỏi tổ chức này, trừ khi có một sự thay đổi chế độ tại Doha.

Một phần mở rộng của kịch bản này có thể sẽ là việc Saudi Arabia sẽ được thừa hưởng trực tiếp lợi nhuận đến từ thị phần năng lượng đầy béo bở của Qatar. Lợi nhuận này sẽ giúp cung cấp tài chính cho chiến lược “tầm nhìn 2030” được hoàng tử Mohammed ben Salmane phát triển nhằm đa dạng hóa nền kinh tế của quốc gia này. Trên thực tế, kế hoạch chuyển đổi mang tầm vóc quốc gia và dự án “tầm nhìn 2030” chưa đạt được kết quả như ý muốn. Việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của Tập đoàn Saudi Aramco (dự kiến giá trị niêm yết là 2000 tỷ USD) có thể không đạt được giá trị đã đề ra. Trong trường hợp đó, Saudi Arabia sẽ cần thêm vào một lượng tiền lớn và nước này nhiều khả năng sẽ nhanh chóng thúc đẩy kịch bản trên xảy ra.

Một biện pháp như vậy được Riyadh thực hiện có thể sẽ mang đến những điều kinh khủng cho hoàng gia Qatar. Các thủ lĩnh Hồi giáo của Doha sẽ buộc phải thoái vị – như gợi ý của Khalaf al-Habtoor.

Các chuyên gia vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng hiện nay vẫn đang trong giai đoạn yên tĩnh và có thể sẽ sớm được giải quyết. Hợp đồng mua máy bay chiến đấu trị giá 12 tỷ USD được ký kết gần đây giữa Qatar và Mỹ, cho Riyadh và Dubai thấy rằng họ sẽ không dễ dàng đạt được chiến thắng. Căn cứ quân sự của Mỹ đặt tại al’Udeid – Qatar là Bộ chỉ huy trung tâm của Mỹ (CENTCOM) tại khu vực, chi phối 20 quốc gia trong khu vực. Mới đây, việc quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đến Qatar để huấn luyện cũng sẽ giúp xoa dịu những căng thẳng. Hai nước này cũng đã ký kết một hiệp ước quốc phòng. Ankara sở hữu số lượng quân đội thường trực lớn nhất khu vực và sự hiện diện của nước này ở gần biên giới Saudi Arabia được đánh giá là hành động có tính can ngăn.

Tuy nhiên, cũng có những nhà phân tích cho rằng chưa hề xuất hiện những dấu hiệu cho thấy sự giảm căng thẳng thời gian gần đây. Họ nhắc lại rằng những hậu duệ của Ibn Abd al-Wahhab – cha đẻ của chủ nghĩa Wahhabi, học thuyết chủ đạo của Saudi Arabia và cũng là của Qatar – từng tách mình ra khỏi gia tộc cai trị của UAE, gây tổn hại đến sự hợp pháp của nó. Sự leo thang của Riyadh và UAE chống lại Qatar vẫn tiếp tục. Vào giữa tháng 6, UAE đã kêu gọi Mỹ di dời căn cứ không quân khỏi al-Udeid của Qatar.

“Không còn ‘con thiên nga đen’ nào trên thế giới của chúng ta”. Và ý tưởng về sự tranh giành thị phần bắt đầu được gợi lên.

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Advertisements

Khí đốt và khủng hoảng vùng Vịnh: Làm thế nào để Qatar có thể nắm lấy lợi thế? – Phần I


Nhờ thị trường châu Á, các đồng minh quân sự và một đường ống dẫn dầu chính, Doha giữa được một quyền lực nhất định để chống lại những đối thủ của mình trong bối cảnh khủng hoảng hiện nay.

Sự phong tỏa đối với Qatar, được lãnh đạo bởi Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), đã gây ra một tác động kinh tế nhất định. Qatar – nhà sản xuất khí Heli lớn thứ hai thế giới, đã buộc phải ngừng sản xuất 2 nhà máy, không thể xuất khẩu khí đốt theo đường bộ. Hãng hàng không Qatar Airways không thể thực hiện các đường bay đến 18 điểm. Những ngân hàng Qatar cũng bị tác động nặng nề, đặc biệt là Ngân hàng Quốc gia Qatar (QNB) – lớn nhất khu vực về mặt tài sản, cũng như Ngân hàng Doha: cả hai đều sở hữu mạng lưới rộng khắp đất nước là thành viên của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC). Ngày 8/6, cơ quan đánh giá tín nhiệm Standard&Poor’s (S&P) đã hạ xếp hạng tín dụng của Qatar, từ AA xuống A-, đồng thời xếp nước này với triển vọng tiêu cực, dấu hiệu cho thấy khủng hoảng có thể gây ra ảnh hưởng đối với đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Moody’s cũng theo bước S&P bằng cách xếp hạng phát hành trái phiếu chính phủ (IDR) trong dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ của Qatar ở mức AA nhưng dưới cảnh báo triển vọng tiêu cực.

Tuy nhiên, Doha đã không nhượng bộ sớm. Nước này rất mạnh về tài chính, đặc biệt là Quỹ dự trữ quốc gia (QIA) có vốn lên đến 213,7 tỷ USD, theo ước tính của Viện Tài chính quốc tế. Vốn khởi điểm của quỹ này đến từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt của Qatar. Thu nhập đến từ năng lượng chiếm đến một nửa GDP của Qatar, 85% nguồn thu từ xuất khẩu và 70% doanh thu của Chính phủ. Khủng hoảng có thể tác động đến những hợp đồng năng lượng trong trung hạn của quốc gia này, khi các nhà nhập khẩu buộc phải đa dạng hóa nguồn cung năng lượng của họ để giảm phụ thuộc vào khí đốt của Qatar.

Theo ông Roudi Baroudi – CEO của EEH – một công ty tư vấn độc lập (chủ sở hữu chính của EEH là Cheikh Jaber ben Youssef Jassem al-Thani – Tổng giám đốc Ban thư ký chung về kế hoạch và phát triển Qatar), cho biết, về dầu mỏ, muốn có được lợi thế thì phải tham gia nhóm do Riyadh lãnh đạo: Saudi Arabia gần đây đã vượt qua Nga trở thành nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới, trong khi UAE cũng được xếp trong nhóm 10 nước dẫn đầu. Tuy nhiên, về khí đốt, Qatar lại chiếm nhiều “quân bài” trong cuộc chơi, và đó là lại là những quân bài tốt nhất.

Doha có thể sử dụng năng lượng có lợi cho mình như là một công cụ đối ngoại: cách thức mà Qatar sử dụng sẽ rất quan trọng trong nỗ lực để vượt qua “cơn bão” hiện nay.

Làm thế nào để Qatar vận chuyển các mặt hàng xuất khẩu của mình?

Qatar là nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới. Theo Liên minh khí đốt quốc tế, nước này chiếm gần một phần ba sản lượng toàn cầu, với khảong 77,8 tỷ tấn trong năm 2016. Từ trước đến nay, hầu như không có sự gián đoạn khai thác hoặc xuất khẩu của Qatar, có lúc có đến 60 nhà vận chuyển LNG thuộc Công ty vận chuyển khí đốt Qatar (trong tiếng Arập là Nakilat). Nhưng ngay sau khi cuộc khủng hoảng nổ ra, những doanh nghiệp nhà nước thuộc sở hữu của Nikilat, dầu mỏ và công nghiệp Qatar đã gặp nhiều khó khăn. Một phần lớn khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được vận chuyển bằng tàu chở dầu. Mặc dù chúng ta không được nghe về sự ngừng chuyển dầu, nhưng vẫn có một sự lo ngại bao trùm lên hành trình đưa các mặt hàng của Qatar đến châu Á, khách hàng chủ chốt của đa số sản lượng dầu của họ, cũng như một phần lớn xuất khẩu từ vùng Vịnh. Những nguồn tin từ ngành công nghiệp vận tải biển cho biết một số giao dịch đã có thể bị hủy bỏ hoặc trì hoãn: các công ty bảo hiểm và hóa dầu đã báo rằng 17 tàu vận chuyển LNG hiện đang thả neo ngoài khơi cảng Ras Laffan của Qatar – một số lượng nhiều hơn thông thường khoảng 6 – 7 tàu.

Về mặt lịch sử, các khách hàng châu Á đòi hỏi một hỗn hợp dầu thô đến từ vùng Vịnh: thông thường, các tàu chở dầu rời khỏi vương quốc với dầu của Qatar, sau đó dừng lại để tiếp nhiên liệu và thêm dầu thô của Saudi Arabia, UAE và Oman, thông thường là tại các cảng của UAE. Karim Nassif, phó giám đốc của S&P tại Dubai cho biết, nếu những tàu chở dầu không được phép dừng lại và tiếp liệu, như theo một số thông tin gần đây, điều đó có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các khách hàng muốn loại dầu thô hỗn hợp.

Tờ Daily Telegraph đưa tin rằng vì tác động của khủng hoảng, hai tàu vận chuyển LNG đến vương quốc Anh đã phải chuyến hành trình; tuy nhiên, nhiều chuyên gia khẳng định đây không phải là một vấn đề lớn. Nếu những thông tin trên trở thành sự thật, đấy chỉ là một chuyện bình thường mà các công ty quốc tế phải đối mặt, và họ có đủ các biện pháp cần thiết để ứng phó với lệnh trừng phạt của Saudi Arabia.

Giả thiết rằng công ty A đã có dự định vận chuyển LNG của Qatar đến UAE, nhưng nước này kể từ nay không cho phép các tàu vận tải của Qatar cập bến và dỡ hàng. Câu trả lời của công ty A có thể sẽ là gửi một nhà vận chuyển LNG của một nước thứ ba thực hiện việc vận chuyển này, sau đó chuyển hướng một hay nhiều nhà vận chuyển khác để đảm bảo rằng tất cả các khách hàng đều nhận được hàng.

Naser Tamimi, chuyên gia năng lượng độc lập của Qatar, cho rằng kịch bản tương tự sẽ xảy ra với khả năng Ai Cập không cho các tàu chở dầu của Qatar đi qua kênh đào Suez hoặc tăng giá đối với các tàu vận tải của Qatar. Nhưng Qatar có thể giải quyết vấn đề thông qua một tàu chở dầu mang quốc tịch nước khác, ví dụ như của đảo Marshall, hoặc chuyển hướng một phần các tàu chở hàng của họ đến châu Âu qua đường Nam Phi. Những biện pháp này có thể làm tăng thêm chi phí, nhưng là cách mà Qatar có thể dựa vào, ngay cả khi họ phải chịu tất cả chi phí này cho người tiêu dùng.

Khoảng 70% xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar được thực hiện trong khuôn khổ các hợp đồng dài hạn – thông thường là khoảng 15 năm. Sản lượng và giá thành vì thế luôn đảm bảo. Những nhà xuất khẩu khác theo đuổi chế độ giá trong ngắn hạn hoặc biến động theo thị trường quốc tế.

Thị trường châu Á sẽ hướng đến nơi khác

Phần lớn LNG Qatar được đưa đến Đông Á – và một số phân tích đã khẳng định rằng ít có khả năng xu hướng này sớm chấm dứt. Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar không bị tác động bởi sự phong tỏa của các biện pháp trừng phạt, một cách đơn giản, bởi vì các quốc gia của GCC đều có nhu cầu duy trì quan hệ tốt với các đối tác Đông Á, theo tiết lộ của Theodore Karsik, cố vấn cao cấp của Gulf State Analytics – có trụ sở tại Washington. Theo ông, nếu Saudi Arabia và UAE làm gián đọn xuất khẩu LNG sang châu Á, các khách hàng có thể không muốn đầu tư vào các chương trình hướng đến chuyển đổi nền kinh tế của UAE và Saudi Arabia, ví dụ như chiến lược “tầm nhìn 2030”.

Baroudi cũng chia sẻ quan điểm này: “Không nơi nào được như thị trường châu Á. Các quốc gia châu Á cần – và họ biết điều đó – quan hệ trong dài hạn với những nhà cung cấp ổn định, và, theo nghĩa đó, Qatar đóng vai trò một phần trong đó. Những quốc gia khác trên thế giới cũng vậy. Do đó, cho dù cuộc khủng hoảng có leo thang hơn nữa – và đến thời điểm hiện nay, mọi thứ liên quan đến xuất khẩu LNG của Qatar dường như vẫn không có gì xáo trộn, tất cả mọi sự gián đoạn sẽ chỉ là một hiện tượng tạm thời trong ngắn hạn”.

Khí đốt tự nhiên hóa lỏng của Qatar đơn giản là không thể thay thế. LNG của Australia sẽ bắt đầu có tác động trên thị trường quốc tế từ nay đến hết thập kỷ, nhưng điều đó đơn giản chỉ nhằm nhấn mạnh “sự cạnh tranh” trên thị trường không có mặt hàng thay thế.

Tuy nhiên, Tamimi cũng cho rằng cuộc khủng hoảng có thể khuyến khích các khách hàng châu Á đa dạng hóa các nhà cung cấp và giảm sự phụ thuộc của họ vào khí đốt của Qatar. “Kể từ nay, các khách hàng sẽ ít phải chịu áp lực hơn trong bối cảnh thế giới đang thừa thãi nguồn cng LNG. Tất cả các khách hàng của Qatar yêu cầu những hợp đồng tốt hơn, trong khi thị phần của Qatar chứng kiến sự sụt giảm so với năm 2013 do tác động từ sự cạnh tranh không chỉ đến từ Australia, Indonesia, mà còn từ Malaysia. Khủng hoảng cho phép nhắc lại với tất cả mọi người tại châu Á rằng khu vực Trung Đông không ổn định, rằng mọi thứ có thể thay đổi chỉ trong vài ngày”.

(còn tiếp) 

Nguồn: arretsurinfo.ch

TLTKĐB – 07/07/2017

Khủng hoảng ngoại giao ở Qatar: Nguyên nhân và tác động


Ngày 5/6, Qatar – một nước nhỏ ở Trung Đông với diện tích chưa đầy 12.000 km2, dân số hơn 2 triệu người – đã thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Chỉ trong 1 ngày, 7 quốc gia gồm Saudi Arabia, UAE, Bahrain, Ai Cập, Lybia, Yemen và Maldives đã tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Qatar, tạm thời Qatar bị cô lập ở khu vực, tại sao khu vực Trung Đông lại bùng phát làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao? Cuộc khủng hoảng lần này sẽ đi về đâu là vấn đề mà dư luận bên ngoài rất quan tâm.

Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao ở Trung Đông bùng phát nhanh chóng

Ngày 5/6, Bahrain đột ngột tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, sau đó sự việc này tiếp tục lan nhanh, các nước ở khu vực Trung Đông như Arabia, Ai Cập, UAE, Libya… lần lượt tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao đã nảy sinh hiệu ứng lan tỏa, Maldives cũng gia nhập “đội quân” cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar. Qatar hiện giờ đang trở thành tiêu điểm quan tâm của cộng đồng quốc tế, đồng thời cũng trở thành một trong những quốc gia bị quốc tế cô lập.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao này đã nhận được sự quan tâm cao độ của cộng đồng quốc tế. Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson đang có chuyến thăm Australia đã bày tỏ mong muốn các quốcc gia vùng Vịnh duy trì quan hệ đoàn kết, khuyến khích các bên ngồi lại cùng giải quyết bất đồng. Bộ Ngoại giao Iran kêu gọi Saudi Arabia và Qatar giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại. Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Mevlut Cavusoglu cũng kêu gọi giải quyết vấn đề thông qua đối thoại và cảm thấy đau lòng trước tình hình hiện nay, Thổ Nhĩ Kỳ coi sự ổn định ở vùng Vịnh là sự ổn định của chính nước mình. Người phát ngôn của Chính phủ Nga nhấn mạnh hòa bình và ổn định ở vùng Vịnh phù hợp với lợi ích của Nga, khủng hoảng ngoại giao này sẽ không ảnh hưởng đến liên minh chống khủng bố quốc tế. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại bày tỏ mong muốn các nước liên quan giải quyết bất đồng thông qua đối thoại, thương lượng và thỏa hiệp, duy trì đoàn kết, cùng thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực.

Đối mặt với cục diện bị động, Qatar cũng tự biện hộ cho mình. Bộ Ngoại giao nước này nhấn mạnh Qatar là nước thành viên tích cực của Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC), hoàn toàn tuân thủ điều lệ của GCC, Qatar tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác, thực hiện trách nhiệm chống chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa cực đoan quốc tế. Cách làm của các nước như Saudi Arabia là thiếu tính hợp lý, không hề có căn cứ, sẽ không ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của người dân Qatar.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có đặc điểm sau: Một là tốc độ lan tỏa nhanh chóng, trong 1 ngày có đến 7 nước cắt đức quan hệ ngoại giao với Qatar, cho thấy vai trò dẫn đầu của Saudi Arabia trong các nước vùng Vịnh. Hai là làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này có tính tổ chức, mang tính chất móc nối nhất định, do vậy xuất hiện tình trạng nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar trong cùng một ngày. Ba là các nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar rất đa dạng, có nước là thành viên của GCC, có nước lớn ở Bắc Phi, còn có cả nước ở ngoài khu vực Trung Đông.

Sự thay đổi đột ngột trong quan hệ giữa các nước Trung Đông khiến cộng đồng quốc tế rất bất ngờ. Bởi thông thường trong các nước Trung Đông, Israel hay Iran là đối tượng thường xuyên bị “bao vây công kích”, nhưng lần này đối tượng bị “bao vây công kích” lại là Qatar – quốc gia Arập, quốc gia Hồi giáo theo dòng Sunni, quốc gia vùng Vịnh, đồng thời cũng là quốc gia theo chế độ quân chủ. Điều này đã làm tăng thêm nhiều tính bất ổn cho tình hình Trung Đông vốn phức tạp và khó giải quyết.

Qatar bị “bao vây công kích” vì đâu?

Sự việc của Qatar có vẻ như đường đột, thực tế là đều có lý do của nó, trong cái ngẫu nhiên ẩn chứa cái tất nhiên. Đằng sau làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao lần này còn có nguyên nhân sâu xa hơn, lý do cơ bản là Qatar đã chạm vào điểm giới hạn cuối cùng của các nước như Saudi Arabia, họ nhận định Qatar đã “ủng hộ tổ chức khủng bố”, có quan hệ mập mờ với Iran, nên muốn thông qua đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao để cảnh cáo, ràng buộc các hành vi ngoại giao của Qatar. Làn sóng đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao lần này nhìn bề ngoài có vẻ như nhiều nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, trên thực tế là mâu thuẫn giữa Saudi Arabia với Qatar đã được công khai, là hình ảnh thu nhỏ của mâu thẫn giữa Saudi Arabia và Qatar.

Khủng hoảng ngoại giao xảy ra giữa các nước vùng Vịnh không phải là lần đầu tiên. Tháng 3/2014, Saudi Arabia, UAE và Bahrain đã ra tuyên bố chung, tuyên bố ngay lập tức triệu hồi các đại sức Qatar để phản đối việc nước này can thiệp vào công việc nội bộ của GCC. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao ngày 5/6, cùng một chủ thể cùng một nguyên nhân, chẳng qua là phạm vi của khủng hoảng ngoại giao mở rộng hơn, mức độ khủng hoảng cũng lớn hơn. Vì vậy, cắt đứt ngoại giao không phải bỗng dưng xảy ra, mà có nguồn gốc lịch sử. Và sự kiện tin tắc tấn công hồi cuối tháng 5 đã mở ra chiếc hộp pandora giữa Saudi Arabia với Qatar.

Sự kiện tin tắc tấn công là ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này. Cái gọi là sự kiện hacker chính là sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm các nước Trung Đông, Hãng thông tấn quốc gia Qatar (QNA) đã dẫn lời phát biểu của Quốc vương nước này tại một buổi lễ của quân đội, cho biết Iran là “nước lớn Hồi giáo không thể xem nhẹ”, và “giữ thái độ thù địch với Iran là thiếu khôn ngoan”. Từ ngày 24/5, một số nước như UAE, Saudi Arabia bắt đầu chặn các kênh truyền thông chính thức của Chính phủ Qatar.

Sau đó, Doha ngay lập tức bác bỏ tin đồn, cho biết trang web chính thức của QNA bị hacker tấn công. Cho dù Qatar đã làm sáng tỏ mọi việc, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tiếp tục lây lan. Cho đến nay, những bình luận lan truyền trên mạng đối với việc ủng hộ Iran, rốt cuộc là do tin tặc tấn công hay chính là sự khắc họa chân thực về lập trường của Qatar đối với Iran, vẫn là vụ việc không có manh mối, vẫn chưa thể kết luận. Nhưng trong mắt của Saudi Arabia, việc Qatar ngang nhiên làm ngược lại chủ trương của Saudi Arabia đã chạm vào giới hạn cuối cùng của Saudi Arabia. Ngày 27/5, Quốc vương Qatar Tamim bin Hamad al-Thani đã điện đàm chúc mừng Tổng thống tái cử Iran Rouhani. Theo quan điểm của Saudi Arabia, việc làm này đã công khai “lạc điệu” với lập trường đối với Iran của Saudi Arabia bởi vì thời gian xảy ra sự kiện tin tặc tấn công tương đối đặc biệt – ngay sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đến thăm Saudi Arabia. Trước sự khích lệ của Mỹ trong việc đối phó với Iran, đường lớn đã được mở rộng trước mắt Saudi Arabia. Thái độ thân Iran của Qatar đã phá vỡ cục diện chống Iran đang từng bước hình thành, ảnh hưởng đến việc tranh giành quyền chủ đạo khu vực giữa Saudi Arabia với Iran. Saudi Arabia coi Iran là đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong khu vực, đương nhiên không thể chấp nhận sự mập mờ của Qatar trong vấn đề Iran.

Một lý do khác của sự kiện lần này là Qatar bị các nước như Saudi Arabia nhận định là quốc gia “ủng hộ tổ chức khủng bố”, đây cũng là lý do chung khiến các nước như Saudi Arabia tuyệt giao với Qatar. Tiêu diệt các tổ chức khủng bố là nhận thức chung lớn nhất của khu vực Trung Đông cũng là “con át chủ bài” hữu hiệu nhất để tập hợp các lực lượng. Saudi Arabia, UAE phải đối mặt với mối đe dọa từ tổ chức cực đoan như Nhà nước Hồi giáo (IS) và Al-Qeada, còn Ai Cập đối mặt với mối đe dọa an ninh từ tổ chức Anh em Hồi giáo.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao mang lại tác động ở nhiều góc độ

Cuôc khủng hoảng ngoại giao với quy mô lớn như vậy chắc chắn sẽ gây ra tác động ở nhiều phương diện.

Một là ảnh hưởng đến mức độ gắn kết của GCC. Dưới trào lưu thời đại toàn cầu hóa và nhất thể hóa khu vực, Trung Đông vẫn ở trong trạng thái chia rẽ. GCC là một trong những thành quả hiếm có của nhất thể hóa khu vực Trung Đông, việc các nước thành viên GCC như Saudi Arabia, UAE và Bahrain cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar sẽ dẫn đến nội bộ GCC chia rẽ, chia thành hai phe: một phe do Saudi Arabia trong đó có UAE và Bahrain, phe kia chỉ có Qatar, trong khi đó Kuwait và Oman trở thành những nước đứng ngoài. Làn sóng cắt đứt quan hệ ngoại giao này sẽ khiến những mâu thuẫn trong nội bộ GCC trở nên công khai, điều đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới sức hội tụ trong nội bộ GCC.

Hai là ảnh hưởng đến chính sách của Mỹ đối với Trung Đông. Đối với Mỹ, các nước Trung Đông đột ngột cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar là việc không ngờ tới. Tổng thống Donald Trump vừa rời khu vực Trung Đông, các đồng minh của Mỹ ở khu vực này đã cắn xé lẫn nhau, đây rõ ràng là điều Chính quyền Trump không muốn nhìn thấy. Cho dù một bên trong cuộc khủng hoảng là Saudi Arabia, UAE và Ai Cập hay bên kia chỉ có Qatar, đều là đồng minh của Mỹ ở Trung Đông. Bộ Tư lệnh của Mỹ ở Trung Đông được đặt ở Qatar, căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở khu vực Trung Đông cũng được đặt tại Qatar. Chính sách Trung Đông của Mỹ sau khi Trump lên cầm quyền là khôi phục và củng cố mối quan hệ với các đồng minh Trung Đông. Các cuộc đấu đá trong nội bộ liên minh chắc chắn sẽ làm giảm những nỗ lực của Chính quyền Trump trong việc tập hợp các đồng minh. Tính ổn định trong nội bộ các nước đồng minh giảm sút cũng sẽ làm suy yếu hệ thống đồng minh của Mỹ ở khu vực này.

Ba là ảnh hưởng đến các cuộc đấu đá giáo phái ở khu vực Trung Đông. Từ xu thế hiện nay cho thấy Iran chính là nước được lợi nhất trong cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này vì các nước bị cuốn vào cuộc khủng hoảng ngoại giao này đều có thể được tính là quốc gia thù địch với Iran, các nước chống đối Iran bị hao tổn sinh lực thì chắc chắn sẽ làm phân tán hoặc suy yếu sức lực trong việc đối phó với Tehran. Có thể nhận thấy nhóm các nước phản đối Iran ở khu vực Trung Đông không phải là một khối vững chắc. Các nước theo dòng Sunni luôn xảy ra đấu đá trong nội bộ, các nước theo dòng Shiite do Iran đứng đầu lại tỏ ra vui mừng khi nhìn thấy cảnh này.

Bốn là ảnh hưởng đến giá dầu quốc tế. Trong thời gian diễn ra khủng hoảng, do nỗi lo ngại trước việc cung ứng dầu thô gián đoạn gia tăng, giá dầu thế giới đã tăng 1,24%, lên 50,57 USD/thùng.

Ngoài ra, tác giả bài viết cho rằng cuộc khủng hoảng lần này sẽ không có những tác động quá lớn tới tiến trình chống khủng bố của khu vực Trung Đông. Mỹ là nước giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình chống khủng bố ở khu vực này, cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này chắc chắn sẽ không làm dao động mục tiêu đã định của Mỹ, các quốc gia như Saudi Arabia cũng sẽ tiếp tục đi theo Mỹ trong vấn đề chống khủng bố.

Cuộc khủng hoảng có xu hướng phát triển mạnh nhưng vẫn có thể kiểm soát

Tôi cho rằng cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này có khí thế mạnh mẽ, nhưng không kéo dài. Mức độ khủng hoảng sẽ không tăng lên, nhưng do đây là sự cắt đứt ngoại giao toàn diện nên việc khôi phục hoàn toàn quan hệ ngoại giao sẽ cần một thời gian. Có những lý do khác nhau:

Một là Qatar khó có thể đơn độc đối phó với cuộc khủng hoảng ngoại giao. Một người không thể địch lại đông người, sau cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này, Qatar có thể sẽ không và cũng không đủ khả năng tiếp tục đối đầu với các nước như Saudi Arabia.

Hai là Mỹ can thiệp hòa giải. Có thể nói Trump có bước mở màn không tồi ở khu vực Trung Đông, nhưng sự bất hòa trong nội bộ các nước đồng minh ở khu vực này sẽ ảnh hưởng tới chính sách của Mỹ đối với Trung Đông. Vì vậy, Mỹ chắc chắn phải can thiệp hòa giải, tránh để sự việc leo thang mở rộng. Một mặt tiếp tục thực hiện chính sách vốn có với các đồng minh, mặt khác tránh làm ảnh hưởng tới sự hiện diện quân sự của Mỹ ở khu vực. Trong thời gian ở thăm Trung Đông, Trump đã hội kiến với Quốc vương Qatar, cho biết Mỹ và Qatar là những người bạn hợp tác lâu dài. Những phát ngôn này chứng tỏ Mỹ sẽ không bỏ rơi Qatar.

Ba là Saudi Arabia sẽ lựa chọn có chừng mực. Lần này Saudi Arabia ra tay với “người của mình” với mục đích dạy dỗ “người em nhỏ”, chứ không phải thật sự đẩy Qatar ra ngoài, điều này không có lợi cho sự phát triển của GCC. Vì vậy, tiếp theo có thể Saudi Arabia sẽ nới lỏng tay, sẽ không làm cho sự việc trở nên tồi tệ hơn.

Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này cho thấy sự phức tạp nhiều thay đổi của khu vực Trung Đông đã được thể hiện một cách tinh tế, phái Sunni và Shiite là đầu mối chính trong sự ganh đua và hợp tác của mối quan hệ giữa các nước Trung Đông, nhưng điều này không đại diện cho sự hòa thuận trong phái Sunni. Cuộc khủng hoảng ngoại giao lần này còn đại diện cho sự không đoàn kết trong nội bộ các nước Arập, ý thức cộng đồng của các nước Arập vẫn chưa hình thành, đây cũng là nhân tố quan trọng kiềm chế các nước Arập nâng cao hơn nữa vị thế của mình ở khu vực Trung Đông.

Nguồn: thepaper.cn – 06/06/2017

TLTKĐB – 09/06/2017

Tấn công Syria: Một mũi tên nhắm 7 “đích” của Donald Trump – Phần cuối


4/ Không cần đồng minh

Từ khi được bầu làm tổng thống, Donald Trump không ngừng cáo buộc NATO “lỗi thời” và chỉ làm hao tiền tốn của cho Hoa Kỳ. Ông cũng chỉ trích tổ chức quốc phòng này chưa hành động hết sức để chống khủng bố. Với đợt tấn công ngày 7/4, Tổng thống Mỹ đơn phương hành động, trước một cộng đồng quốc tế khó khăn đưa ra phản ứng.

Trong bài diễn văn đọc từ tư dinh ở Mara Lago, Floria, Tổng thống Mỹ phát biểu: “Trong nhiều năm, mọi ý định nhằm làm thay đổi thái độ của Tổng thống Syria al-Assad đều thất bại và thật sự thất bại thảm hại. Hậu quả là cuộc khủng hoảng di dân càng thêm nghiêm trọng và tình hình khu vực tiếp tục trở nên bất ổn, đe dọa đến Hoa Kỳ và các đồng minh. Tối nay, tôi kêu gọi các quốc gia văn minh tham gia với chúng tôi để tìm cách chấm dứt cuộc thảm sát và bể máu tại Syria, cũng như chấm dứt mọi phương tiện, mọi hình thức khủng bố”.

Khi đột nhiên và tạm thời lấy lại vị trí đứng đầu một cộng đồng quốc tế còn đang lưỡng lự, dường như Hoa Kỳ quyết định làm gương, đồng thời vừa tái khẳng định khả năng dấn thân vào một cuộc phản công đơn phương, cả về mặt quân sự lẫn ngoại giao.

Vả lại, đợt tấn công của Mỹ cũng không bị Tổng Thư ký NATO Jens Stoltenberg lên tiếng cáo buộc. Trong một thông cáo, không tỏ ra vui mừng cũng không tố cáo sự đổi hướng bất ngờ của Tổng thống Mỹ, ông Jens Stoltenberg chỉ tuyên bố NATO ủng hộ “mọi nỗ lực quốc tế trong mục đích mang lại hòa bình và giải pháp chính trị tại Syria”.

5/ Làm hài lòng ngành công nghiệp vũ khí Mỹ

Hoa Kỳ luôn là nhà xuất khẩu vũ khí hàng đầu thế giới và chiếm 33% thị trường, vượt qua cả Nga và Trung Quốc. Tuy nhiên, dù chiếm vị trí nổi trội và ngân sách khổng lồ (582,7 tỉ USD cho năm 2017) dành cho quốc phòng, thì việc rút quân khỏi Trung Đông và các khoản cắt giảm từ thời Chính quyền Obama cũng làm nguội lạnh phần nào tham vọng của các nhà công nghiệp.

Khi lên nắm quyền, ông Donald Trump chủ trương đặt an ninh quốc gia là một trong những ưu tiên của mình và đã ngáng chân người tiền nhiệm khi tuyên bố ủng hộ đánh giá lại ngân sách quốc phòng. Ngày 27/2, Tổng thống Mỹ đã đề xuất “một khoản tăng lịch sử” cho quốc phòng năm 2018 để “kiến thiết lại” quân đội và để đối phó với các mối đe dọa của một thế giới “nguy hiểm”. Mục tiêu là đạt đến 603 tỉ USD vào năm 2018. Ngay lập tức, thông báo trên đã khiến cổ phần của các công ty có hợp đồng với Lầu Năm Góc tăng lên. Tuy nhiên, với Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain, kiêm Chủ tịch Ủy ban quân sự tại Thượng viện, khoản tăng đó vẫn chưa đủ và ông yêu cầu phải tăng thành 640 tỉ USD cho năm 2018.

Khi ra lệnh bắn 59 tên lửa Tomahawk, mỗi tên lửa trị giá 832.000 USD, Tổng thống Mỹ gửi tín hiệu tích cực mới đến một trong số các tập đoàn công nghiệp có thế lực của Mỹ, như nhận định của chính trị gia cực hữu Pháp Marion Maréchal Le Pen. Và dù trận oanh kích vào Syria hẳn là lựa chọn “được cân nhắc” nhất và hiện tại không kéo Hoa Kỳ về lâu dài vào cuộcchiến tại Syria, thì quyết định trên cũng được hiểu là lời hứa một tương lai xán lạn cho ngành công nghiệp vũ khí.

6/ Làm hòa với các “lão thành” đảng Cộng hòa

Giữa Donald Trump và các thành viên Đảng Cộng hòa là một câu chuyện phức tạp. Một số nghị sĩ Cộng hòa cũng như Dân chủ cáo buộc quyết định tấn công của Mỹ là một hành động vi hiến. Tuy nhiên, với những người chủ chốt trong đảng Cộng hòa, đây lại là thời điểm cho tập hợp, trong đó có cả những người đã chỉ trích quyết định giảm ngân sách cho quốc tế để tăng chi cho quốc phòng.

Trong số họ, cựu ứng viên tổng thống năm 2008 John McCain và Thượng nghị sĩ Lindsey Graham đều hoan nghênh quan điểm chống chế độ Bachar al-Assad và hành động nhanh chóng của Nhà Trắng. Trong một thông cáo chung, hai chính trị gia Cộng hòa viết: “Ngược với chính quyền trước, Tổng thống Donald Trump đã đối mặt với một thời điểm bản lề tại Syria và đã chọn hành động. Vì thế, ông xứng đáng với sự ủng hộ của dân tộc Mỹ”.

Thượng nghị sĩ Marco Rubio, người từng đánh giá đề xuất ngân sách của Tổng thống Trum là “thảm họa”, cũng có cùng nhận định: “Chúng ta hy vọng tối nay, cuộc tấn công chống chế độ Assad sẽ làm giảm bớt khả năng gây ra những hành động tàn bạo nhắm vào người vô tội của chế độ này”.

Paul Ryan, Chủ tịch phe Cộng hòa tại Hạ viện và có lẽ là người chỉ trích Tổng thống Trump nhiều nhất trong đảng, cũng đã đánh giá hành động tại Syria là “phù hợp và đúng đắn… Cuộc tấn công sách lược này chứng minh rằng chế độ Assad, từ giờ trở đi, đừng trông chờ vào việc Mỹ không hành động trước những tội ác của chế độ Damas đối với người dân Syria”.

7/ Đánh lạc hướng dư luận trong nước

Giữa cuộc tuần hành của Phụ nữ, sắc lệnh về nhập cư bị phản đối và thất bại đau đớn trong cải cách luật bảo hiểm Obamacare, những tháng cầm quyền đầu tiên của Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng chưa biết đến thành công trong chính sách đối nội. Hầu như tất cả các cải cách mà ông cố tiến hành đều không đạt thành công và khiến ông suy yếu đi.

Và để làm quên đi những thất bại của mìh, còn gì tốt hơn là chuyển hướng sang điều gì đó có quy mô hơn? Bằng cách tấn công Syria và làm mất lòng Nga, Donald Trump chắc chắn đã đẩy được sự chú ý của thế giới, các phương tiện truyền thông và người dân Mỹ, đến nơi mà ông muốn: nơi nào đó tách xa hẳn những vấn đề liên quan đến việc quản lý nội tình nước Mỹ.

“Bài trắc nghiệm thật sự đối với ông Trump là chuyện xảy ra sau này”

Khi chọn tấn công có chủ ý nhằm vào một căn cứ không quân Syria, ông Donald Trump muốn gửi một thông điệp đến Tổng thống Bachar al-Assad, mà vẫn không thay đổi căn bản sự can thiệp của Mỹ vào Syria, như nhận định của cố vấn an ninh quốc gia Herbert Raymond McMaster, được tờ Washington Post trích dẫn.

Thế nhưng, hành động bất ngờ trên lại làm dấy lên hàng loạt câu hỏi về trật tự địa chính trị. Ông Antony Blinken, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ dưới thời Chính quyền Obama, khi trả lời phỏng vấn New York Times, cho rằng bài trắc nghiệm thật sự đối với Tổng thống Donald Trump bắt đầu từ bây giờ.

Vì quyết định bất ngờ của chủ nhân Nhà Trắng có thể đánh dấu một bước ngoặt mới trong quan hệ Nga – Mỹ, cùng đang dấn thân vào cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố và trong bối cảnh Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson dự kiến đến Moskva ngày 12/4. Và Washington có nguy cơ phải chấp nhận trò chơi người giữ thăng bằng: một bên là cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố ở Syria, hoàn toàn nằm dưới sự bảo trợ của Moskva; bên kia là khả năng chỉ trích, thậm chí là trừng phạt, như hiện nay đang làm, các quyết định gây tranh cãi của Bachar al-Assad. Để làm được “tất cả chuyện này sẽ cần một điều gì đó mà chính quyền tỏ ra ít quan tâm: đó là nền dân chủ thông minh”, như cựu thứ trưởng ngoại giao Antony Blinken nhấn mạnh.

Nguồn: Tổng hợp báo chí Mỹ

TKNB – 12/04/2017

Tấn công Syria: Một mũi tên nhắm 7 “đích” của Donald Trump – Phần đầu


Ngày 7/4, Tổng thống Mỹ Donald Trump khiến cả thế giới ngạc nhiên khi ra lệnh bắn 59 tên lửa hành trình vào căn cứ không quân Shayrat tại Syria để đáp trả vụ tấn công hóa học do chính quyền Damas tiến hành nhắm vào thường dân ở Khan Cheikhoun. Theo trang Huffington Post (7/4), chỉ một mũi tên bắn đi, Tổng thống Mỹ đã đạt được 7 mục tiêu, đồng thời một lần nữa chứng minh ông Trump là người khó lường.

Cho đến giờ, đường lối đối ngoại của Tổng thống Mỹ khá rõ ràng: hạn chế vai trò của Hoa Kỳ trong mọi hiệp định khác nhau, từ lĩnh vực thương mại đến quân sự, vì mục đích “làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại”. Ngày 30/3, cả Ngoại trưởng Rex Tillerson và đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc Nikki Haley, đều tuyên bố việc Tổng thống Syria Bachar al-Assad ra đi không còn là “ưu tiên” đối với Mỹ.

Vậy mà mọi chuyện đã thay đổi trong vòng một tuần. Sau khi lên án vụ tấn công hóa học tại Syria như nhiều nguyên thủ khác, Tổng thống Donald Trump dường như quyết định tăng tốc khi ra lệnh bắn 59 tên lửa vào lãnh thổ Syria. Ngoài hậu quả, hiện chưa chắc chắn, về phương diện địa chính trị thế giới, bước ngoặt này có thể phục vụ các lợi ích của Tổng thống Mỹ , trên trường quốc tế cũng như các vấn đề chính trị nội bộ. Huffington Post phân tích 7 điểm chính sau.

1/ Donald Trump thể hiện vị trí tổng thống và muốn mọi người nhớ điều này

Đợt tấn công của Mỹ tại Syria đánh dấu quyết định đầu tiên về lập trường của Donald Trump, hoàn toàn độc lập với di sản chính trị mà cựu tổng thống Barack Obama để lại. Đối với Tổng thống Mỹ đương nhiệm, vụ tấn công Syria cũng là cách thể hiện khác biệt với người tiền nhiệm.

Năm 2012, Barack Obama từng khẳng định việc sử dụng vũ khí hóa học tại Syria sẽ là “lằn ranh đỏ” không được vượt qua. Một lời tuyên bố gây xôn xao, cuối cùng lại tác động ngược lại tổng thống Mỹ thời đó. Vì sau vụ thảm sát Ghouta (Syria) năm 2013, Barack Obama đã chần cừ can thiệp quân sự, để cuối cùng rút lui và chấp nhận một bản thỏa thuận với Nga về việc phá hủy kho vũ khí hóa học của Syria. Vậy là “lằn ranh đỏ” bị chế nhạo, trong đó có cả tướng Micheal Flynn, cựu cố vấn an ninh của Donald Trump.

Khi cho thực thi những lời đe dọa của ình chỉ trong vòng vài giờ, phải chăng Donald Trump cuối cùng cũng tìm cách thể hiện vai trò của người đứng đầu hành pháp?

Ông Pierre Guerlain, giáo sư về văn minh Mỹ, phân tích: “Bỗng nhiên, chúng ta tin vào lời nói của Trump. Đó là một đòn truyền thông bậc thầy”.

Tuy nhiên, chẳng có gì đảm bảo về tỉ lệ tín nhiệm của Tổng thống Mỹ, cú đánh cược này sẽ phải trả giá, vì bị tổn thương do chiến trnah Iraq, rồi đến Afghanistan, người dân Mỹ không hưởng ứng một cuộc tham chiến mới. Vì vậy quyết định của Donald Trump có thể tác động đến tỉ lệ được lòng dân của ông, đang bị sụt giảm từ khi ông bắt đầu nhiệm kỳ.

2/ Gây ấn tượng với Trung Quốc, Triều Tiên và Iran

Như trùng hợp ngẫu nhiên, quyết định can thiệp của Mỹ được đưa ra đúng vào lúc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang công du Hoa Kỳ. Sự tính toán hoàn hảo cho phép Donald Trump chứng minh quyền lực trong mắt Trung Quốc mà ông chủ Nhà Trắng duy trì mối quan hệ tế nhị.

Đúng là cuộc gặp giữa hai nguyên thủ được đánh giá “rất khó khăn” với nhiều cuộc đàm phán nhạy cảm về thâm hụt thương mại và vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tuy nhiên, quyết định đầy ngạc nhiên của Donald Trump đã làm đảo lộn mọi vấn đề ưu tiên và gửi một tín hiệu đặc biệt mạnh mẽ đến châu Á: Tổng thống Mỹ “sẵn sàng đưa ra các biện pháp dứt khoát, khi cần thiết” như tuyên bố ngày 6/4 của Ngoại trưởng Rex Tillerson.

Đây là thông điệp cần được chú ý tiếp nhận tại châu Á, vì chỉ vì ngày trước khi đón Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Tổng thống Mỹ đã lên tiếng cảnh báo Bình Nhưỡng trong buổi trả lời phỏng vấn Financial Times: “Nếu Trung Quốc không giải quyết vấn đề Triều Tiên, chúng ta sẽ làm”.

Một nước khác có thể cũng đang chú ý theo dõi cuộc phản công của Mỹ là Iran. Quốc gia Trung Đông này duy trì mối quan hệ căng thẳng với Chính quyền Trump. Điểm bất đồng chính giữa hai nước là thỏa thuận hạt nhân Iran được Chính quyền Obama ký năm 2015 và thường xuyên bị chính phủ hiện nay chỉ trích.

Donald Trump từng trực tiếp đe dọa Iran sau khi nước này tiến hành thử tên lửa hành trình ngày 29/1. Vài ngày sau, Tổng thống Trump viết trên Twitter: “Iran đang đùa với lửa. Họ đã không biết đánh giá lòng tử tế của tổng thống Obama với họ. Nhưng tôi thì không!”. Khi tấn công Syria, thông điệp đưa ra rất rõ ràng: Donald Trump, càng khó đoán hơn bao giờ hết, không ngần ngại cho thi hành những lời đe dọa của mình.

3/ Giữ khoảng cách với Nga

Khi bước vào Nhà Trắng, Donald Trump ngay lập tức nói thẳng: quan hệ Mỹ – Nga phải tiến triển, thậm chí Tổng thống Mỹ còn hy vọng “một mối quan hệ rất tốt đẹp” với đồng nhiệm Ng. Tuy nhiên, ý định rõ ràng này cùng với cùng với những nghi ngờ vê việc Nga can thiệp vào đợt tranh cử tổng thống Mỹ, cuối cùng lại tác động ngược đến Tổng thống Donald Trump, người từng bị bà Hillary Clinton cáo buộc là “con rối” của Vladimir Putin.

Khi tấn công vào quôc gia được Moskva bảo trợ ở Trung Đông, Donald Turmp có thể thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Tổng thống Nga. Vladimir Putin coi sự can thiệp của Mỹ là “hành động xâm lược đối với một nhà nước có chủ quyền”. Còn theo nhận định của giáo sư Pháp Pierre Guerlain, “với hành động mang tính biểu tượng này, Donald Trump muốn gột bỏ mọi nghi ngờ là con rối của Putin”.

Liệu cuộc tấn công ngày 7/4 có đủ để làm dịu công luận và bịt miệng mọi nghi ngờ can thiệp hay không? Chưa chắc, vì FBI đã mở một cuộc điều tra. Ngược lại, quyết định đánh vào Syria “giáng thêm một đòn đáng kể cho quan hệ Nga – Mỹ, hiện đang trong tình trạng xấu”, như khẳng định trước báo giới của ông Dmitri Peskov, một orng số phát ngôn viên của Tổng thống Putin.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tổng hợp báo chí Mỹ

TKNB – 12/04/2017

Vì sao Nga viết Hiến pháp Syria?


Leonid Isayev

Dự thảo Hiến pháp Syria do Nga soạn thảo chứa không ít sự lạ lùng và khiếm khuyết. Dự thảo này trong các kế hoạch của Moskva là thực hiện chức năng công vụ, và đối với Nga nó được thông qua hay không, điều đó không quan trọng lắm. Điều quan trọng hơn là thúc đẩy tiến trình thảo luận chế độ chính trị tương lai của Syria như thế nào, sau khi xuất hiện những dự thảo Hiến pháp thay thế.

Vòng hòa đàm về Syria diễn ra vào tháng 1 vừa qua tại Kazakhstan không mang lại bất cứ kết quả đột phá nào. Chính quyền Syria và chính một phần các nhóm đối lập, vốn đồng ý tham gia cuộc hòa đàm, từ chối ký tuyên bố chung. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán tại Astana hoàn toàn không để lại bất cứ sáng kiến mới nào, ở đó Moskva đưa ra dự thảo Hiến pháp mới Syria.

Tại sao chờ đợi?

Với tất cả sự bất ngờ của nó, Hiến pháp mới Syria do Nga đề xuất hoàn toàn phù hợp với chiến lược chung của Nga trong cuộc xung đột tại Syria. Lợi dụng thời kỳ chuyển giao tại Washington, Moskva đã quyết định chớp lấy sáng kiến về Syria và nỗ lực định rõ luật chơi của mình với tư cách được mọi người thừa nhận. Cuộc gặp các bộ trưởng Iran, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga tại Moskva vào tháng 12 năm ngoái, cũng như cuộc gặp sau đó tại Astana nhằm hiện thực hóa ý đồ trên của Moskva. Theo quan điểm của lãnh đạo Nga và hai đồng minh tình huống của Moskva sự tiếp nối logic của sáng kiến khu vực này là các cuộc đàm phán tại Geneva. Vì vậy, hiện Moskva đang rất chú ý tới cuộc gặp sắp tới tại Thụy Sĩ, bởi vì chính kết quả của cuộc gặp này có thể sẽ đánh giá được mức độ thành công những nỗ lực trung gian chung của Nga, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ. Các cuộc đàm phán tại Geneva sẽ rất quan trọng đối với Moskva xét theo quan điểm danh dự, bởi vì trong trường hợp các cuộc đàm phán này đổ vỡ Nga sẽ không có cơ hội xóa bỏ tất cả đối với vai trò phá hoại của Mỹ. Moskva sẽ buộc phải tự đi tiếp xúc với chính lực lượng mà cách đây chưa lâu bị coi là khủng bố, cũng như tạo những điều kiện để tăng thêm cho cuộc gặp sau này dù chỉ một chút mang tính xây dựng. Như vậy, sáng kiến hiến pháp của Nga nhằm giải quyết nhiệm vụ hình ảnh này và trong một chừng mực nào đó mang tính chất chiến lược đối với Moskva. Thế nhưng trong thời gian diễn ra các cuộc đàm phán Geneva gần đây các bên tham gia cũng không thể chuyển sang thảo luận cải cách hiến pháp ở Syria, theo tinh thần Nghị quyết số 2254 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Con đường không có triển vọng nhất đó là chờ đợi hiến pháp sẽ được các lực lượng ở Syria viết. Sự thiếu tin tưởng giữa các bên và lực lượng chống đối chế độ tới mức mà đến nay vẫn chưa sẵn sàng tham gia các cuộc đàm phán trực tiếp. Vì vậy, không còn nghi ngờ gì nữa, bất cứ dự thảo Hiến pháp nào do Chính quyền Syria đề xuất, bị phe đối lập bác bỏ một cách vô điều kiện, và ngược lại. Đó là chưa nói đến việc trong môi trường phe đối lập rất phổ biến ý kiến cho rằng hoàn toàn không nên soạn thảo hiến pháp cho tới khi vấn đề tương lai của Tổng thống Syria Bashar al-Assad được giải quyết. Nếu như soạn thảo hiến pháp bên ngoài lãnh thổ Syria, thì trong đó nhất định sẽ xuất hiện ít nhất hai vấn đề nghiêm trọng mà ngay cả sáng kiến của Nga cũng đã vấp phải. Thứ nhất, bị cản trở nghiêm trọng bởi kinh nghiệm thất bại của quốc gia Iraq láng giềng, nơi hiến pháp được soạn thảo với sự tham gia trực tiếp của Mỹ. Đại diện phe đối lập Syria Yahya al-Aridi đã nói về điều này tại Astana. Thứ hai, vấn đề nằm ở chỗ các quốc gia trung gian, đồng thời là các bên trong cuộc xung đột Syria, nên tính không định kiến của những nước này bị nghi ngờ. Đối với phe đối lập Syria, Moskva vừa là quan tòa, vừa là đối thủ, vì vậy dự thảo Hiến pháp ngay từ đầu đã gây ra cho lực lượng nổi dậy cảm giác bị tước đoạt, bất chấp tính toàn diện của dự thảo này. Quả thực, sáng kiến tương tự từ phía những lực lượng bên ngoài khác, chắc có lẽ cũng gây ra phản ứng tiêu cực tương từ từ phía một trong các bên xung đột.

Không Arập và Hồi giáo

Có lẽ, điều này do tính phổ quát của bản hiến pháp được đề xuất, là bản tuyên ngôn độc đáo, kịch bản lý tưởng của Nga dành cho Syria. Điều này chứng thực ngay cả dung lượng bản hiến pháp, dự thảo của Nga ngắn gần gấp đôi so với hiến pháp hiện hành, lời lẽ rất chungchung mà trên thực tế có đầy rẫy trong tất cả các điều khoản của Luật cơ bản tiềm năng. Rõ ràng, Moskva cố gắng tránh những cách trình bày khiêu khích, bỏ qua tất cả những mặt mâu thuẫn nhất.

Ví dụ rõ ràng là Điều 5 dự thảo hiến pháp, Nga đề xuất mô tả thể chế tương lai chính trị của Syria. Trong đó nói rằng “hệ thống chính trị được xây dựng dựa trên những nguyên tắc và thành lập các cơ quan chính quyền nhà nước bằng cách bí mật”. Rõ ràng, được trình bày dưới dạng như thế, điều khoản này không cung cấp thêm sự hiểu biết rằng hệ thống chính trị tương lai của nước này sẽ như thế nào, còn cách diễn đạt như vậy có thể dễ dàng đề xuất cho bất cứ nước nào trên thế giới. Tuy nhiên, vớit ất cả tính chất phổ quát trong phương án hiến pháp của Nga đang phát triển theo một số xu hướng mà có lẽ sẽ được thảo luận tại Geneva.

Thứ nhất, đó là từ bỏ hoàn toàn việc sử dụng từ “Arập”. Điều này liên quan đến cả tên gọi mới – Cộng hòa Syria (hiện tên gọi là Cộng hòa Arập Syria) và một số điều khoản khác, mà ở đó sẽ không còn những thuật ngữ như “dân tộc Arập”, “nền văn minh Arập”…, mặc dù trong Hiến pháp có đầy rẫy những thuật ngữ này. Tất nhiên, bước đi này có thể coi là sự nhượng bộ của chế độ Baath, vốn có khẩu hiệu “Dân tộc Arập thống nhất, có sứ mệnh thiêng liêng”, đến nay vẫn chưa thay đổi, nhưng sự nhượng bộ mang tính chất rất biểu tượng.

Xét về phương diện nào đấy, còn có một đổi mới mang tính cách mạng đối với thế giới Arập đó là trong phương án hiến pháp do Nga đề xuất không chỉ Arập mà còn cả Hồi giáo không được nhắc đến. Nhiều người liên hệ điều này với lập trường của Bashar al-Jafari tại Astana, nhấn mạnh rằng Syria phải là “nhà nước thế tục và dân sự”. Điều 3 Hiến pháp Syria hiện hành nêu rõ: “Tôn giáo của Tổng thống là đạo Hồi, còn Sharia là nguồn chính của luật pháp”. Cách viết như thế là tấm danh thiếp của đa số chế độ Arập, vốn cổ vũ cho điều khoản này để hợp pháp hóa sự cầm quyền của mình trong con mắt của người dân Hồi giáo, cũng như hạn chế quyền chính trị và tự do của lực lượng đối lập, khi viện dẫn họ vi phạm các chuẩn mực đạo đức Hồi giáo.

Một số cách trình bày mờ nhạt trong dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất có thể có lợi cho chế độ của Tổng thống Bashar Assad. Ví dụ, như Điều 5 đã nói ở trên, bắt buộc các đảng phái chính trị phải tôn trọng chế độ hiến pháp, những nguyên tắc dân chủ, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ”. Với cách trình bày như thế, bất cứ đảng phái đối lập nào đều có thể bị tuyên bố đứng ngoài pháp luật với cáo buộc, ví dụ, chà đạp những giá trị dân chủ.

Xung lực mơ hồ

Còn một phương diện quan trọng của dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất là phân bổ lại quyền lực giữa trung ương và khu vực, song không đưa ra bất cứ chi tiết cụ thể nào.

Chỉ có duy nhất một đơn vị tự trị được nhắc đến trong hiến pháp, đó là tự trị văn hóa người Kurd, tuy nhiên ngay lập tức gây ra sự phản đối từ phía người Kurd. Tại cuộc gặp với Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov, đại diện đảng người Kurd, Liên minh Dân chủ ông Khaled Issa tuyên bố rằng chính định nghĩa “tự trị văn hóa người Kurd” là không đúng và cần phải đổi thành “Khu tự trị miền Bắc Syria”.

Vấn đề này rõ ràng về mặt nguyên tắc: cả hai thuật ngữ cho đến nay vẫn chưa có sự ràng buộc địa lý rõ ràng và tiềm ẩn xung đột lớn. Rõ ràng, người Kurd sẽ buộc phải sử dụng sức mạnh để tăng cường những yêu sách của mình về những vùng lãnh thổ mong muốn. Ngay cả chính quyền hợp pháp ở Syria thay đổi theo dự thảo của Nga cũng phải đệ trình lưỡng viện Quốc hội. Như vậy tại Syria sẽ xuất hiện thể chế mới đó là Hội đồng lãnh thổ, có chức năng “bảo đảm sự tham gia của đại diện các đơn vị hành chính trong việc thông qua luật quản lý nhà nước”. Chức năng của Hội đồng này còn bao gồm bổ nhiệm các quan tòa của Tòa án hiến pháp tối cao, cũng như “thông qua quyết định của tổng thống về áp đặt tình trạng khẩn cấp và về tuyên bố động binh”. Đối với Syria, quốc gia đa sắc tộc và đa tôn giáo” thì ý tưởng như thế có lẽ hoàn toàn hợp lý, tuy nhiên tính hiệu quả hoạt động của Thượng viện đang gây ra không ít vấn đề – dự thảo hiến pháp của Nga không chỉ rõ những đơn vị hành chính, nơi bầu ra đại diện tham gia Hội đồng lãnh thổ.

Cuối cùng, dự thảo hiến pháp do Nga đề xuất dù hạn chế quyền lực của tổng thống so với hiến pháp hiện hành, nhưng dẫu sao ở Syria vẫn duy trì hình thức cầm quyền – Cộng hòa Tổng thống. Trong khi điều này càng làm cho vấn đề khả năng tham gia của ông Bashar Assad vào cuộc bầu cử tổng thống sắp tới trở nên căng thẳng. Câu trả lời cho vấn đề này có thể tìm thấy ở mục “Những điều khoản chuyển tiếp và kết thúc”. Và câu trả lời này rõ ràng là một bước đi thụt lùi thậm chí so với hiến pháp hiện hành của Syria. Dự thảo của Nga trao cho ông Bashar Assad cơ hội xóa sạch số nhiệm kỳ tổng thống. Điều 82 nêu rõ: “nhiệm kỳ Tổng thống Syria đương nhiệm kết thúc khi hết 7 năm kể từ ngày tuyên thệ nhậm chức. Tổng thống có quyền một lần nữa tái tranh cử chức vụ tổng thống nước Cộng hòa Syria. Những chuẩn mực của hiến pháp về thời hạn quyền lực được áp dụng đối với ông Assad bắt đầu tư cuộc bầu cử tổng thống tới”. Hay nói cách khác, Bashar Assad sẽ vẫn là tổng thống hợp pháp đến năm 2021, khi nhiệm kỳ hiện nay của ông kết thúc, sau đó có khả năng kéo dài thời gian đứng đầu chính phủ thêm hai nhiệm kỳ 7 năm nữa.

Chính ý tưởng duy trì mô hình cộng hòa tổng thống tại Syria trông có vẻ đáng ngờ. Các đối thủ bên ngoài ngày càng nghiêng về khuynh hướng chia đất nước Syria thành những lĩnh vực ảnh hưởng, có nghĩa là Syria buộc phải học hỏi kinh nghiệm của Liban, đòi hỏi phải chuyển qua hình thức cộng hòa nghị viện. Quả thực, với kịch bản như thế cũng đầy rẫy nguy cơ. Sau khi cố định nguyên trạng hiện nay, không có bất cứ sự bảo đảm nào, rằng cân bằng lực lượng sắp tới sẽ không thay đổi và không gây ra vòng xoáy xung đột dân sự tiếp theo.

Nguồn: Trung tâm Carnegie Moscow

TLTKĐB – 01/03/2017

“Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan – Phần cuối


Sự can thiệp và chính trị hóa: Số phận của bộ máy tư pháp và tính hợp pháp

Thái độ coi thường đối với tinh thần của hiến pháp được thể hiện trong những hành động này cũng được phản ánh trong cách đối xử từ ngữ trong hiến pháp và các quy phạm luật pháp khác. Erdogan đã phớt lờ điều 101 của hiến pháp, trong đó quy định tổng thống phải từ bỏ tư cách thành viên trong đảng và từ chức nghị sĩ quốc hội ngay sau khi được bầu. Erdogan vẫn giữ nguyên tư cách thành viên tại 2 tổ chức nói trên, đảm bảo rằng ông đã đưa Davutoglu làm người kế nhiệm và chỉ từ chức nghị sĩ quốc hội sau khi chính thức nhậm chức Tổng thống.

Khi xét tới sự mạnh mẽ của giới tinh hoa quyền lực mới, đang tồn tại nguy cơ không chỉ hiến pháp và luật pháp đánh mất vai trò kiềm chế và chỉnh sửa của mình đối với giới hành pháp, mà điều tương tự cũng đang diễn ra với bộ máy tư pháp.

Ngay sau khi các cuộc điều tra tham nhũng chống lại một số thành viên trong nội các của Erdogan được tiến hành vào tháng 12/2013, chính phủ Erdogan đã gây áp lực lên Hội đồng Thẩm phán và Ủy viên công tố Tối cao (SBJP), theo luật là một cơ quan độc lập tự quản của bộ máy tư pháp. Chính phủ đã đạt được những thay đổi trong thành phần của hội đồng này và thuyên chuyển công tác các ủy viên công tố và thẩm phán điều tra cáo buộc tham nhũng, cũng như giới hạn nhiều hơn phạm vi các cuộc điều tra được thực hiện bởi ủy viên công tố nhà nước thông qua một sắc lệnh. Một chương trình cải cách bộ máy tư pháp được đưa ra một cách vội vàng và áp lực lên SBJP nhằm chỉ định các thẩm phán dễ bảo đã đảm bảo cho chính phủ có được ảnh hưởng lên các quyết định sơ thẩm và phúc thẩm mà liên quan tới việc bỏ tù và bắt giữ. Sau khi các thẩm phán và ủy viên công tố có liên quan bị thay thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi các vụ điều tra tham nhũng đang được tiến hành chống lại 4 bộ trưởng của Erdogan và con trai ông Bilai đã bị rút lại.

Ngoài việc can thiệp vào bộ máy tư pháp, chính phủ còn lợi dụng các tiêu chuẩn thấp để chính trị hóa các vụ truy tố. Ví dụ, các vụ điều tra nói trên đã bị rút lại với lý do các nhà điều tra có liên quan tới một âm mưu lật đổ chính phủ và các ủy viên công tố và cảnh sát phải đối mặt với cáo buộc này. Các cáo buộc “lật đổ chính phủ” và phá vỡ trật tự chính trị cũng được đưa ra cho các thành viên lãnh đạo một câu lạc bộ hâm mộ bóng đá, mà đóng một vai trò quyết định trong các cuộc biểu tình tại công viên Gèzi ở Istanbul vào mùa Hè năm 2013. Cũng trong vụ này, các ủy viên công tố đã chính trị hóa phiên tòa bằng việc tập trung vào cái được cho là các ý đồ chính trị hơn là những tội ác cụ thể có thể chứng minh được.

Thủ tướng Davutoglu cũng ủng hộ quan điểm này trước thềm cuộc bỏ phiếu bầu chọn các thành viên SBJP vào ngày 12/10/2014, nói rằng ông muốn chấm dứt sự kiểm soát của bộ máy tư pháp đối với nền chính trị sau khi được bầu làm lãnh đạo AKP. Trong tuyên bố mới nhất, Davutoglu cũng khẳng định rằng một phần bộ máy tư pháp đang chịu ảnh hưởng từ nước ngoài. Tuyên bố này dường như sẽ báo trước các bước đi tiếp theo để định hình bộ máy tư pháp theo mong muốn của chính phủ.

Một cơ quan tình báo mạnh hơn, lớn hơn

Ngoài nhiệm vụ phản gián, Cơ quan Tình báo Quốc gia (MIT) cũng chịu trách nhiệm cho cả công tác tình báo trong nước và nước ngoài. Cơ quan này chia sẻ trách nhiệm thu thập thông tin tình báo trong nước với cơ quan tình báo của cảnh sát, lực lượng hiến binh và ban tham mưu, việc này đã tạo ra sự kình địch và xung đột giữa các cơ quan nói trên trong một thời gian dài.

Cho tới giữa những năm 1990, MIT được coi là lãnh địa của quân đội. Chính phủ AKP đã lần đầu tiên thành công trong việc thiết lập một hệ thống thứ bậc rõ ràng của các cơ quan và đặt MIT ở vị trí hàng đầu. Hiện nay MIT là công cụ chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ. Các cuộc đàm phán với đảng PKK của Abdullah Őcalans đã được tiến hành thành công qua các kênh của MIT, và cơ quan này tiếp tục chịu trách nhiệm cho việc điều phối sự hợp tác chính thức và không chính thức với các nhóm Sunni và Salafist chiến đấu trong cuộc nội chiến tại Syria. Một bước đi vào tháng 1/2014 nhằm tìm kiếm một sự xem xét của tòa án đối với các hoạt động này đã kết thúc với cáo buộc chống lại các sĩ quan điều tra của lực lượng hiến binh và việc ngăn chặn đưa thông tin cho báo chí. MIT cũng sắp xếp việc thả các tù nhân là thành viên của lực lượng Nhà nước Hồi giáo (IS) để đổi lấy 46 con tin người Thổ Nhĩ Kỳ, diễn ra vào ngày 19/9.

Vào tháng 5/2010, cố vấn của Erdogan là Hakan Fidan đã được bổ nhiệm làm lãnh đạo của MIT. Từ năm 2012 đến năm 2014, ngân sách của MIT đã tăng lên 40,2% và những sự gia tăng thêm nữa đã được lên kế hoạch trong các năm tiếp theo. Trong nửa đầu năm 2011, chính phủ đã chuyển quyền kiểm soát đối với cơ sở nghe lén lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ từ quân đội sang cho MIT. Tình trạng bỏ bê về kỹ thuật cũng như những tiết lộ đáng xấu hổ về các tướng lĩnh hàng đầu đã tạo điều kiện cho bước đi này, như là một phần trong chiến lược của chính phủ nhằm phá vỡ quyền lực đối nội của quân đội. Phản ứng trước các cuộc điều tra chống lại Hakan Fidan vì “làm việc cho PKK”, được thực hiện bởi các công tố viên thân cận với Fethullah Gülen, chính phủ thông qua quốc hội đã vội vã giới thiệu một đạo luật nhằm củng cố quyền được miễn trừ của các đặc vụ tình báo vào tháng 3/2012. Vào tháng 8/2014, quyền lực của MIT được mở rộng để ban cho cơ quan này sự tiếp cận gần như không bị giới hạn đối với tài liệu và hồ sơ của tất cả các cơ quan nhà nước, tòa án và thể chế phi nhà nước. Quyền hạn của MIT cũng được mở rộng để tiến hành các biện pháp nghe lén điện tử và kỹ thuật số trên quy mô lớn mà không có sự kiểm soát của tòa án. Việc thành lập một ủy ban thuộc quốc hội nhằm giám sát cơ quan tình báo, vốn được lên kế hoạch vào tháng 4/2014, vẫn chưa được tiến hành.

Các cuộc đàm phán hòa bình với PKK: Sự thay thế cho dân chủ hóa?

Những người bảo vệ Erdogan lập luận rằng quan điểm cứng rắn của ông là chấp nhận được về mặt chính trị, vì chỉ có ông và AKP sẵn sàng đưa các cuộc đàm phán với PKK đi tới kết thúc. Theo họ, thỏa thuận ngừng bắn kéo dài 18 tháng và việc công nhận bản sắc, các quyền và yêu cầu của người Kurd đạt được trong thời kỳ này đại diện cho những bước đi quan trọng tiến tới dân chủ và là điều kiện tiên quyết cho những tiến bộ tiếp theo.

Nhưng cho dù lý thuyết rằng sự dân chủ hóa không thể tiến lên phía trước mà không có một giải pháp cho vấn đề người Kurd đúng tới đâu, sự đánh đồng tự do văn hóa lớn hơn với tự do chính trị lớn hơn vẫn còn nhiều vấn đề.

Trong nhà nước Kemalist trước khi Erdogan nắm quyền, sự ngăn chặn một cách cố ý người Hồi giáo sùng đạo, người Kurd, người Alawite và người không theo đạo Hồi đã thiết lập một thuyết nhất nguyên về mặt văn hóa mà cản trở hay ngăn chặn hoàn toàn sự tham gia vào chính trị của các nhóm này. Nhưng nhà nước Kemalist lại mang tính đa nguyên về mặt chính trị. Các đảng phái chính trị khác nhau có cơ hội thành lập chính phủ, trong khi tòa án và quyền lực phủ quyết như quân đội – dù có được hợp pháp hóa một cách dân chủ hay không – kiềm chế quyền lực của chính phủ. “Nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan chắc chắn mang tính đa nguyên về mặt văn hóa nhiều hơn nhà nước Kemalist, nhưng lại bị thống trị bởi một thuyết nhất nguyên về mặt chính trị. Chỉ có một đảng phái mới có cơ hội thành lập chính phủ, quyền lực của bộ máy tư pháp đang ngày càng bị trói chặt, và các bên tham gia từng tận hưởng quyền lực phủ quyết đang bị cô lập.

Tóm tắt: Cán cân quyền lực bên trong “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới”

Không như Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ và giới báo chí thân chính phủ của nước này muốn mọi người tin vào, nền dân chủ đang phát triển không phải là đặc trưng cho “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan, cũng như sự hội nhập thành công của cộng đồng người Hồi giáo bảo thủ vào quá trình đưa ra quyết định chính trị được cho là nhờ vào “nước Thổ Nhĩ Kỳ mới” của Erdogan. Đúng là AKP đã đạt được cả hai điều trên, nhưng quá trình này đã diễn ra trong giai đoạn 2005 – 2011 hơn là mới gần đây.

Đặc trưng cho tình hình hiện nay là sự củng cố quyền lực của một cá nhân và sự tương đối hóa đồng thời ảnh hưởng của các thể chế mà nếu không có chúng, sẽ không thể có được một nền dân chủ: các đảng phái chính trị (bao gồm cả AKP), quốc hội, bộ máy tư pháp, các bộ luật được soạn thảo và hiến pháp. Erdogan đứng ngoài tầm ảnh hưởng của đảng mình, cho dù đảng này vẫn giữ được quyền bá chủ đối với quốc hội. Sau một loạt sự thanh lọc, chính phủ đã nắm chắc trong tay bộ máy hành chính, đặc biệt là cảnh sát. Sự suy yếu của hệ tư tưởng Kemalist đã cướp đi của quân đội, từng là một thể chế quyền lực, khả năng huy động sự ủng hộ của công chúng ở mức tối thiểu mà cần thiết cho việc can thiệp vào quá trình chính trị. Giới báo chí, như đã được dẫn chứng một cách đầy đủ, bị phơi bày trước sức ép hiện nay từ một chính phủ đang đồng thời siết chặt sự kìm kẹp đối với bộ máy tư pháp. Cơ quan tình báo đã được nâng cấp cả về mặt tài chính và kỹ thuật, giành được quyền lực mở rộng và trên thực tế nằm dưới quyền của tổng thống.

Thế tiến thoái lưỡng nan của EU

Khi xét tới tình hình đã được phác họa ở trên, việc Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đáp ứng các tiêu chuẩn Copenhagen mà là điều kiện tiên quyết về mặt chính trị để khởi động các cuộc đàm phán gia nhập EU là điều rất đáng ngờ. Điều này đem lại cho EU một thế tiến thoái lưỡng nan. Thổ Nhĩ Kỳ quá quan trọng về các mặt kinh tế, chính sách ngoại giao và an ninh để Brussels và các nước thành viên EU có thể dễ dàng quên đi việc gây ảnh hưởng lên Ankar. Nhưng họ không thể bỏ qua thực tế rằng động lực bên trong hướng tới dân chủ hóa mà được châm ngòi bởi sự trỗi dậy của AKP hiện đã kiệt quệ. Thời kỳ mà EU cho rằng lảng tránh kết nạp một nước Thổ Nhĩ Kỳ đã sẵn sàng và quản lý nguyên trạng là đủ đã chấm dứt. Ngoài ra, cũng tồn tại thực tế là EU đã thất bại trong việc đưa Thổ Nhĩ Kỳ hội nhập vào chính sách an ninh và đối ngoại của khối này ngoài các cuộc đàm phán gia nhập, cho dù một sự hội nhập như vậy có thể chỉ là tưởng tượng. EU chỉ có thể giành lại ảnh hưởng nếu khối này hồi sinh các cuộc đàm phán gia nhập.

Sự ủng hộ của người dân Thổ Nhĩ Kỳ đối với tư cách thành viên EU đã gia tăng đáng kể, từ 45% trong năm 2013 lên 53% trong năm 2014. Điều này cho thấy, trong thời kỳ khủng hoảng của hệ thống chính trị Thổ Nhĩ Kỳ, EU một lần nữa có thể trở thành ánh sáng dẫn đường cho những phát triển về dân chủ. Các lực lượng thế tục, người Alawite và thậm chí nhiều nhóm trong khối bảo thủ tôn giáo đang thấy bản thân phải đối mặt với sự đàn áp của chính phủ. Với bối cảnh như vậy, các tiêu chuẩn của châu Âu về các quyền cơ bản, tự do báo chí và tư pháp lại có thể trở thành mẫu số chung cho một phe đối lập mờ nhạt và thường không có cảm hứng.

Một bước đi cụ thể tiến tới việc tiếp thêm sinh lực cho các cuộc đàm phán và truyền động lực mới hướng tới dân chủ hóa sẽ là gây áp lực lên Chính phủ đảo Cyprus để họ từ bỏ việc ngăn chặn các cuộc thảo luận về chương 23 (tư pháp và các quyền cơ bản) và chương 24 (an ninh, tự do và công bằng). Một bước đi khác có thể bao gồm các yêu cầu cho pháp trị và sự minh bạch trong các cuộc thảo luận về du lịch miễn thị thực và xem xét lại liên minh hải quan, hai vấn đề mà Thổ Nhĩ Kỳ đều rất quan tâm.

Nguồn: Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế và an ninh (Đức) – 10/2014

CVĐQT – 12/2014