Những người ủng hộ cho Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel có thực sự biết ông ta bênh vực cho cái gì không?


Trong những tuần vừa qua, câu chuyện chính trị của người đoạt giải Nobel đã được chuyển thành câu chuyện về một cá nhân anh hùng, người đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Quan điểm của ông ta hầu như đã bị bỏ qua để tránh một sự tranh luận về chúng, dẫn đến sự tranh luận một chiều. Trong ba tuần qua, tại Hong Kong, chẳng hạn, hơn 500 bài báo được xuất bản nói đến Lưu, nhưng chỉ có 10 bài có tính phê phán về con người hay giải Nobel hòa bình.

Ở Trung Quốc, trước khi được trao giải, phần lớn không ai biết đến Lưu, trong khi, theo Andrew Jacobs, viết cho tờ International Herald Tribune, một “cuộc khảo sát chính thức các sinh viên đại học được thực hiện từ khi trao giải cho thấy rằng 85% nói rằng họ không biết gì về ông Lưu và “Hiến chương 08”. Một nhà Trung Quốc học người Na Uy đã đưa ra ý kiến nhận xét từ người dân Trung Quốc và chỉ ra rằng những người Trung Quốc trẻ tuổi thậm chí còn không biết đến Lưu. Những trí thức Trung Quốc lớn tuổi quan tâm bàn luận về giải thưởng, nhưng họ đa phần không cho rằng Lưu là người nhận giải thích hợp.

Việc bắt giam Lưu là hoàn toàn không cần thiết. Nếu câu chuyện chính trị của Lưu trở nên nổi tiếng, phần lớn người ta sẽ không ủng hộ ông nhận giải, bởi vì ông ta là một nhà vô địch của chiến tranh, chứ không phải hòa bình. Ông ta đã tán thành việc xâm lược Iraq và Afghanistan, và ông ta hoan nghênh các cuộc chiến tranh ở Việt Nam và Triều Tiên được hồi tưởng trong một bài viết vào năm 2001.  Tất cả những xung đột này đã gây ra nhiều vụ vi phạm nhân quyền. Nhưng trong bài viết Những bài học từ Chiến tranh Lạnh, Lưu chỉ ra rằng “Thế giới tự do do Mỹ lãnh đạo đã chiến đấu với hầu hết các chế độ chà đạp nhân quyền… Những cuộc chiến tranh chủ chốt mà Mỹ trở thành bên liên quan thì hầu hết được biện hộ bởi lý do đạo đức”. Trong suốt cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2004, Lưu đã nỗ lực ca ngợi George Bush về những nỗ lực của ông chống lại Iraq và lên án ứng cử viên đảng Dân chủ John Kerry vì đã không ủng hộ tích cực cho các cuộc chiến của Hoa Kỳ:

Những thành tựu nổi bật của Bush trong cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố hoàn toàn không thể bị phủ nhận bởi sự vu khống của Kerry… Cho dù nhiều rủi ro xuất hiện trong quá trình loại bỏ Saddam Hussein, nhưng không hành động nào dẫn đến rủi ro lớn hơn. Điều này đã được chứng minh bởi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai và sự kiện 11 tháng Chín! Cuộc chiến chống lại Saddam Hussein chẳng có vấn đề gì cả! Quyết định của Tổng thống Bush là đúng đắn!

Lưu cũng đã từng ca ngợi thái độ của Israel trong cuộc xung đột Trung Đông. Ông ta đổ lỗi cuộc xung đột Israel/Palestine cho những người Palestine, những người được coi như “thường là những kẻ khiêu khích”.

Lưu cũng ủng hộ sự Tây phương hóa hoàn toàn Trung Quốc. Trong một phỏng vấn năm 1988 ông ta đã nói rằng “chọn lựa Tây phương hóa là chọn lựa nhân bản”. Ông ta cũng đổ lỗi cho một bộ phim tài liệu, He Shang, hay River Elegy, vì đã không chỉ trích văn hóa Trung Hoa mà không ủng hộ cho Tây phương hóa một cách nhiệt thành: “Nếu tôi được thực hiện bộ phim này tôi sẽ chỉ ra người Trung Hoa thực sự lắt léo, nhu nhược và mất trật tự [weisuo, ruanruo, caodan] như thế nào”. Lưu cho rằng sự không may mắn lớn nhất là chủ nghĩa đơn phương của ông đã buộc ông phải đối thoại với một cái gì đó “rất dốt nát [yumei] và thù địch [yongsu]”, của không gian văn hóa Trung Hoa. Nhà nghiên cứu Lin Tongqi của Harvard đã chỉ ra rằng trong cuốn sách đầu những năm 1990 của Lưu chứa đựng “những sự tấn công cay độc đối với đặc tính dân tộc Trung Hoa”. Trong một tuyên bố nổi tiếng năm 1988, Lưu nói:

Tôi cho rằng 100 năm qua Hong Kong trở thành như bây giờ. Thậm chí với quy mô như của Trung Quốc chắc chắn chỉ cần 300 năm thực dân thì nó cũng sẽ như Hong Kong ngày hôm nay. Tôi thậm chí còn không cho rằng cần đến 300 năm.

Khẳng định tình cảm này trong tạp chí Open năm 2006, ông ta đã bổ sung thêm rằng những tiến bộ tại Trung Quốc phụ thuộc vào sự Tây phương hóa và càng Tây phương hóa, càng tiến bộ hơn. Trong khi những người ủng hộ ông ta bỏ qua việc chủ nghĩa hậu thực dân như là một sự khiêu khích, và đi cùng với logic đó là sự ủng hộ của ông ta với sự Tây phương hóa hoàn toàn và những cuộc chiến tranh thay đổi chế độ được lãnh đạo bởi Hoa Kỳ.

Lưu, trong “Hiến chương 08”, kêu gọi một hệ thống chính trị theo cách thức của phương Tây tại Trung Quốc và tư nhân hóa tất cả các xí nghiệp và đất nông nghiệp. Không có gì ngạc nhiên, các tổ chức mà ông đứng đầu nhận được sự ủng hộ tài chính từ National Endowment for Democracy của chính phủ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, những nghiên cứu cho thấy, ở những nơi chuyển sang bầu cử dân chủ tại các nước có sự phát triển trung bình hoặc thấp, luật pháp thường không theo kịp, nhưng mức độ bất ổn và mức độ phát triển thấp lại diễn ra. Chế độ bầu cử dân chủ không đem đến sự quản trị tốt, thậm chí cũng không thể duy trì trong điều kiện như vậy.

Không ở đâu trong thế giới hậu cộng sản hay đang phát triển có được sự tư nhân hóa công bằng như Lưu tuyên bố tìm kiếm. Tư nhân hóa tại Đông Âu thường dẫn đến một sự ăn cắp ở quy mô lớn những tài sản công bởi các đầu sỏ chính trị và trở nên rất không được lòng quần chúng, với một số lớn người dân tại tất cả các quốc gia hậu Cộng sản muốn thay đổi nói. Tư nhân hóa cũng không được mong đợi tại Ấn Độ, châu Mỹ Latinh và chính tại Trung Quốc, khi mà các nghiên cứu về tư nhân hóa tại nhiều nơi của thế giới chỉ ra rằng nó có thể có những ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển. Tư nhân hóa đất đai tại Trung Quốc có thể đẩy nhanh sự tích tụ ruộng đất và tình trạng nông dân không có đất.

Bốn mươi năm trước, ủy ban giải thưởng Nobel đã ủng hộ cho nhà văn bị bỏ tù Alexander Solzhenitsyn trước đây như một biểu tượng của tự do chống lại chế độ Xô Viết. Cũng như Lưu, cũng đã có một sự không biết đến hay chọn cách tảng lờ quan điểm phản động kinh điển của Solzhenitsyn: phiên bản độc đoán của chính ông, một động thái chống người Do Thái, tố cáo Hoa Kỳ không theo đuổi chiến tranh tại Việt Nam mạnh mẽ hơn, lên án Tổ chức Ân xá Quốc tế cũng như tự do, và ủng hộ cho nhà độc tài phát xít Tây Ban Nha Francisco Franco.

Giải Nobel hòa bình là một giải thưởng chính trị của một số loại nhất định. Giám đốc Viện Nobel Na Uy đã chỉ ra rằng Ủy ban Nobel đã thường chọn lựa “nhưng người đã phát ngôn… chống lại các nhà độc tài cộng sản tại Moscow và những nhà độc tài tại Bắc Kinh”. Nhà triết học Pháp Jean-Paul Sartre đã nhìn nhận vai trò của giải thưởng Nobel trong Chiến tranh Lạnh và từ chối nhận giải năm 1964. Ông ta cho rằng: “Trong bối cảnh hiện tại, Giải Nobel đang là một sự phân biệt đối xử giữa một bên là các nhà văn phương Tây và những phiến quân phương Đông”. Vai trò đó đã được tiếp tục với giản thưởng của Lưu.

Người dịch: T.Giang – SCDRC

Nguồn: https://www.theguardian.com/commentisfree/2010/dec/15/nobel-winner-liu-xiaobo-chinese-dissident?CMP=share_btn_fb

Chu Ân Lai với vấn đề Hoàng Sa


Theo đài BBC, Phó Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Trung Quốc Vương Quán Trung tuyên bố tại diễn đàn đối thoại Shangri-La năm 2014 rằng “Bản đồ với đường 9 đoạn phản ánh 2000 năm lịch sử Trung Quốc”. Sở dĩ ông Vương Quán Trung quả quyết như vậy là vì tài liệu Trung Quốc luôn khẳng định: chính thủy thủ Trung Quốc đã phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa từ 2000 năm trước. Bây giờ, đến lượt Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trường Long tuyên bố còn mạnh mẽ hơn.

Theo tường thuật của Tân Hoa Xã, trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua, Tướng Phạm Trường Long đã nhấn mạnh rằng “toàn bộ các hải đảo ở biển Hoa Nam (Biển Đông) đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc kể từ xa xưa”. Trong những năm qua, giới truyền thông và lãnh đạo Trung Quốc luôn dùng lịch sử 2000 năm để chứng minh chủ quyền ở Biển Đông. Như vậy, có thể là những thế hệ trẻ đã không biết hoặc không nhớ rằng chính ông Chu Ân Lai đã thú nhận rằng Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam từ 2000 năm trước.

Người tranh đấu cho “đường 9 đoạn”

Năm 1948, dưới thời Tưởng Giới Thạch, một bản đồ hành chính của Trung Hoa Dân Quốc có kèm theo một phụ lục về “vị trí các đảo biển Hoa Nam” gồm 11 vạch được công bố. Tuy nhiên, chính phủ ông Tưởng chỉ xác định một cách mập mờ, không đệ trình yêu sách lên Liên Hợp Quốc.

Năm 1949, sau khi Mao Trạch Đông chiếm được lục địa, Trung Quốc bỏ đi 2 vạch ở Vịnh Bắc Việt và vẽ lại bản đồ với một tuyến 9 vạch chi tiết. Tác giả của sáng kiến này chính là Chu Ân Lai (1898 – 1976), một con người đầy quyền lực, đã thoát được nhiều cơn lốc chính trị của thời gian Cách mạng văn hóa và Hồng vệ binh để giữ được chức thủ tướng 27 năm tới khi qua đời.

Lúc còn đương thời, ông Chu Ân Lai đã hăng say tranh đấu cho tuyến 9 vạch, nhưng vào lúc hoàng hôn của cuộc đời thì trong nơi hậu trường kín đáo, chính ông lại lên án tổ tiên ông đã bóc lột Việt Nam. Như vậy, bằng một cách gián tiếp, ông cũng đã tự phê phán hành động của chính mình.

Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa

Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam đã được nhiều sử gia, luật gia, chứng minh rõ ràng, BBC nhắc lại vài sự kiện lịch sử liên hệ để nói đến câu chuyện tâm sự của ông Thủ tướng họ Chu với tiến sĩ Henry Kissinger (Cố vấn Tổng thống Nixon) về lịch sử 2000 năm và về con người Việt Nam.

Tháng 3/1945 : sau khi lật đổ Pháp ở Đông Dương, Nhật Bản đã trao trả chủ quyền lãnh thổ cho Việt Nam. Ngày 11/3/1945, Đại sứ Nhật Masayuky Yokohama đã nhân danh Nhật Hoàng trao trả độc lập cho Hoàng đế Bảo Đại. Đại sứ Mark Masayuki Yokohama nói với cựu hoàng Bảo Đại : « Tâu Hoàng thượng, đêm hôm qua, chúng tôi đã chấm dứt chủ quyền của Pháp ở đất nước này. Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho Hoàng thượng ».

« Tôi được trao nhiệm vụ dâng nền độc lập của Việt Nam cho Hoàng thượng » có nghĩa là trao trả chủ quyền toàn thể lãnh thổ gồm cả các hải đảo. Ngày hôm sau, vua Bảo Đại mời ông Yokohama tới để trao cho ông một bản sao của tuyên ngôn độc lập Việt Nam.

Năm 1951 : Một hiệp ước quốc tế gọi là « Hiệp ước Hòa bình với Nhật Bản » hay « Hiệp ước San Francisco » (vì ký ở Memorial Opera House tại thành phố San Francisco) được 48 quốc gia tham dự và ký kết ngày 8/9. Trong số những quốc gia thành viên không có cả hai chính phủ Trung Quốc (Bắc Kinh và Đài Loan) nhưng có chính phủ Việt Nam.

Vì hiệp ước này không đả động gì đến 2 nhóm quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa, lại trao đỏa Pratas (Đông Sa) cho Liên Hợp Quốc, bởi vậy, ngay trước và sau khi ký kết (ngày 15/8 và 18/9/1951), Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố mạnh mẽ rằng Hiệp ước San Francisco là bất hợp pháp và khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Vào dịp này, ông Chu Ân Lai chính thức công bố cho quốc tế một bản đồ chi tiết : lãnh thổ Trung Quốc gồm cả khu vực ở Biển Đông vẽ bằng 9 vạch, trông giống như hình lưỡi bò, bao gồm cả trăm quần đảo, bãi cạn. Bảy năm sau, lập trường này còn được nhắc lại lần thứ hai vào năm 1958, khi ông Chu Ân Lai tuyên bố với quốc tế quyết định về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Trung Quốc chuẩn bị ăn mừng năm 2049

Trong cuốn sách « Cuộc chạy đua 100 năm » (The Hundred Year Marathon) xuất bản năm 2015, chuyên gia về Trung Quốc nổi tiếng Micheal Pillsbury khẳng định : Trung Quốc đang chuẩn bị để thay thế Mỹ trong vai trò là cường quốc mạnh nhất thế giới vào năm 2049, khi Bắc Kinh ăn mừng kỷ niệm 100 năm chiến thắng.

Để tiến tới mục tiêu ấy, Trung Quốc tập trung để xây một tuyến quốc phòng ngay trên biển. Trong cuốn « Vạn lý Trường Thành trên mặt biển : Hải quân Trung Quốc bước vào thế kỷ 21 » (2010), tác giả Bernard Cole (chuyên gia về châu Á, Giáo sư tại Đại học Quốc phòng Mỹ) chứng mình rằng chiến lược của Trung Quốc là « lục địa hóa mặt biển », làm sao để kiểm soát được một vùng biển bao trùm 200 dặm tính từ vùng duyên hải.

Hai nhận xét này giải mã được tất cả các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông trong những năm qua, gây nên tình trạng căng thẳng ngày nay. Trong bối cảnh ấy, tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La vừa qua (ngày 3/6/2017), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis đã cáo buộc Trung Quốc khinh thường lợi ích của các quốc gia khác và không tuân theo luật quốc tế. Trung Quốc kịch liệt phản đối và cho đó là những « nhận xét vô trách nhiệm ».

Xây dựng « Lãnh thổ Xanh »

Việc « coi thường lợi ích của các quốc gia khác » đã được thể hiện rõ ràng qua những hành động mới nhất. Hãy bỏ việc lắp đặt giàn khoan Hải Dương – 981 năm 2014 và những diễn biến tiếp theo đó, gần đây Trung Quốc lại đưa giàn khoan khổng lồ « Lam Kinh 1 » (Blue Whale 1) cao tương đương một tòa nhà 34 tầng (khoảng 118m) tới Biển Đông.

Ngoài giàn khoan Lam Kinh 1 và việc tiếp tục xây dựng các căn cứ quân sự tại các hải đảo, bãi cạn, những hành động trong 3 tháng qua gồm có :

Tàu du lịch Trường Lạc Công Chúa đã khởi hành từ thành phố Tam Á thuộc tỉnh đảo Hải Nam chở theo 308 du khách trong một chuyến đi 4 ngày 3 đêm đến nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc quần đảo Hoàng Sa (tin ngày 3/3/2017). Tàu du lịch mới này có thể chuyên chở tới gần 500 người, có 82 phòng, với các dịch vụ ăn uống, giải trí, mua sắm, chăm sóc y tế và bưu điiện. Trước đó, phía Trung Quốc đã tiết lộ các dự án khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng và các bệnh viên trên nhóm đảo Lưỡi Liềm.

Chính quyền tỉnh Hải Nam ở miền Nam Trung Quốc cho biết, sẽ tổ chức các chuyến du lịch thường xuyên ra quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) ở Biển Đông vào năm 2020. Truyền thông Trung Quốc cho rằng tỉnh Hải Nam đang nâng cấp các hải cảng và có kế hoạch tổ chức các tuyến tàu du lịch khắp vùng Biển Đông gồm các nước thuộc « Con đường Tơ lụa trên biển ».

Chiêu dụ du khách tới các hải đảo để thưởng ngoạn khung cảnh thần tiên : trời xanh, biển rộng, không phải ở chung cư chật chội, chen chúc như trên đất liền, lại dư thừa hải sản tươi sống, tất hiên là sẽ rất thành công. Như vậy, chẳng mấy lúc phong trào di dân đến hải đảo sẽ bùng lên. Thế là nhiều nhà đầu tư từ bốn phương sẽ đổ xô vào các hải đảo.

Cùng một lúc, Bắc Kinh lại hình thành được một lực lượng lao động cần thiết để khai thác các loại kỹ nghệ hóa dầu lấy từ dầu thô ở vùng gần Hoàng Sa, Trường Sa. Các hoạt động xây cất nhà cửa và chế biến đã theo sau như : thực phẩm, may mặc, đồ tiêu dùng và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của người dân hải đảo. Như vậy, đến năm 2049, Bắc Kinh lại có thêm một « Trung Quốc hải đảo » vì đã hoàn tất việc phát triển được một Lãnh thổ Xanh trong lành.

Lịch sử 2000 năm

« 2000 năm trước, Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam ». đây không phải là lập luận của một luật gia, sử gia, học giả mà là lời của chính Thủ tướng danh tiếng nhất của CHND Trung Hoa Chu Ân Lai.

Tài liệu của Nhà Trắng (đã được giải mật) ghi rõ biên bản cuộc họp kín tại Bắc Kinh ngày 9/7/1971 giữa Thủ tướng Chu Ân Lai và Cố vấn Henry Kissinger. Lúc ấy ông Kissinger gặp ông Chu để sắp xếp chuyến viếng thăm của Tổng thống Nixon (tháng 2/1972).

Thật lạ lùng, trong buổi họp, ông Chu đã xác nhận : « Hai nghìn năm trước Trung Quốc đã xâm lăng Việt Nam, tổ tiên chúng tôi là những người bóc lột, nhưng bị đánh bại bởi hai nữ tướng ». Nói tới khí phách của con người Việt Nam, ông Chu xác nhận : « Hai nữ anh hùng ấy đã đánh bại tổ tiên của chúng tôi là những người bóc lột ».

Ít người, kể cả người Trung Quốc được biết đến câu chuyện là chính Thủ tướng Chu Ân Lai khi sang thăm Việt Nam đã tới Đền thờ Hai Bà Trưng để phúng viếng. Ông Chu Ân Lai nói tiếp : « Khi tôi sang Việt Nam với tư cách là đại diện của nước Trung Hoa mới, tôi đã đi thăm Hà Nội, đã đích thân đến tận mộ hai nữ tướng ấy và đặt vòng hoa để tỏ lòng kính trọng của tôi đói với hai vị nữ anh hùng, họ là những người đã đánh bại tổ tiên của chúng tôi là những người bóc lột ».

Lịch sử Trung Quốc viết về Hai Bà Trưng

Chính lịch sử Trung Quốc cũng phải ghi nhận về chiến thắng của Hai Bà Trưng tuy vậy vẫn ngạo nghễ gọi người dân Việt là « Nam man ».

Chương 86 trong sách sử Hậu Hán thư (thế kỷ thứ V), quyển thứ 5 viết về « Lịch sử miền Nam và Tây Nam man » có ghi »

« Vào năm Kiến Vũ thứ 16, ở quận Giao Chỉ có 2 người phụ nữ tên là Trưng Trắc (Zheng Ce) và Trưng Nhị (Zheng Er) nổi loạn và tấn công thủ đô của thái thú. Trưng Trắc là con gái của lạc tướng ở quận Mê Linh kết hôn với một người đàn ông tên là Thi Sách. Người phụ nữ này là một chiến binh hung dữ, bị thái thú Giao Chỉ kỷ luật nên mới nổi giận và nổi loạn. Các thị trấn man rợ của quận Cửu Chân (Jiuzhen), Nhật Nam (Rinan), và Hợp Phố (Hepu) tất cả đều theo hai bà này và đánh chiếm được 65 thành phố và tuyên bố là Vua ».

Tài liệu của Trung Quốc không nói gì tới những tàn ác của quân đội và quan chức Trung Quốc đối với người dân Việt, kể cả việc giết chồng bà Trưng Trắc.

Sau Hai Bà Trưng, Trung Quốc luôn quay lại xâm chiếm nhưng không chiếm hẳn được. Bốn lần Việt Nam bị Bắc thuộc tổng cộng tới hơn 1000 năm.

Ông Chu Ân Lai đã phản hồi về lịch sử nhà Hán cũng như những triều đại khác, cho nên không úp mở khi dùng cả hai chữ « xâm lăng » và « bóc lột » để nói về tổ tiên ông.

Vì sao chiếm Hoàng Sa ?

Câu hỏi đặt ra là nếu ông đã nói như vậy, tại sao ông lại để cho Trung Quốc tấn chiếm Hoàng Sa năm 1974?

Để trả lời phần nào câu hỏi này, trước hết phải nhớ rằng quyền lực ở Trung Quốc luôn tập trung vào tay Mao Trạch Đông cho tới ngày ông chết (9/9/1976). Ngoài ra, nếu nhìn vào quãng đời cuối cùng của ông Chu Ân Lai thì thấy từ cuối năm 1972, ông đã lâm bệnh nặng. Theo tác giả Gao Wenqian viết về tiểu sử ông Chu Ân Lai gần đây, một nhóm bác sĩ Trung Quốc đã chuẩn đoán ông mắc bệnh ung thư bàng quang.

Nhóm này báo cáo rằng nếu được điều trị ngay thì ông có cơ hội hồi phục 80 – 90%. Tuy nhiên, việc điều trị cho cấp lãnh đạo luôn đòi hỏi phải được Mao Trạch Đông chấp thuận. Thật lạ lùng, chính Mao Trạch Đông đã cấm các bác sĩ không được tiết lộ cho cả ông Chu Ân Lai lẫn bà vợ biết tin về chẩn đoán ung thư, cũng như không được chữa bệnh hay chuẩn đoán lại. Ông Chu Ân Lai suy yếu rất nhanh và qua đời ngày 8/1/1976.

Ngày nay, ngoài Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đang thâu tóm những hải đảo khác ở Biển Đông. Các quốc gia “bị bóc lột” đang xích lại thành những liên minh với nhau và với Mỹ, như bình luận của Tướng không quân Mỹ Herbert Carlisle: “Thái độ hung hăng của Trung Quốc mang lại nguy cơ là họ đã tính toán sai lầm, một số hành xử hung hăng của họ trong thực tế đã đẩy bạn bè chúng tôi lại gần chúng tôi hơn, họ là những người mong muốn chúng tôi hiện diện ở nơi đây”.

Nếu các quốc gia này không nhận được sự liên kết hữu hiệu của Mỹ để cùng nhau hành động cho kịp thời thì sẽ phải chấp nhận một hậu quả trầm trọng của “một sự đã rồi”, đó là một vạn lý trường thành trên mặt Thái Bình Dương để bá chủ châu Á, và từ đó sẽ phóng quyền lực đi thật xa.

Có dư luận cho rằng để ngăn chặn Trung Quốc, chính quyền Trump (gồm Phó Tổng thống Mike Pence – người sẽ kế vị Tổng thống Trump trong trường hợp bị bãi nhiệm) đang chuản bị đánh “ván bài Nga”: liên kết với Moskva để cân bằng với Trung Quốc, ngược lại với “ván bài Trung Quốc”, Tổng thống Nixon đã từng dùng Trung Quốc để cân bằng với Liên Xô hồi đó.

Nguồn: TKNB – 06/07/2017

Tranh chấp Biển Đông có làm ảnh hưởng đến quan hệ Việt – Trung?


Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc thời gian qua khá căng thẳng từ những diễn biến liên quan đến tranh chấp Biển Đông cùng những động thái mới của Việt Nam với Mỹ và Nhật Bản mà Trung Quốc từng đưa ra lời cảnh báo, Thanh Trúc phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia về quan hệ quốc tế Đại học George Mason, Mỹ, về những sự việc mới xảy ra trên Biển Đông:

– Thưa Giáo sư, các chuyên gia quốc tế đánh giá quan hệ Việt Nam và Trung Quốc trong vài tuần qua đã trở nên căng thẳng sau khi Tướng Phạm Trường Long, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc cắt ngắn chuyến thăm Việt Nam. Nhưng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam gần đây lại tuyên bố hai bên không căng thẳng. Ông nhận định như thế nào về tình hình quan hệ hai nước hiện nay?

+ Quan hệ 2 nước khi nóng khi lạnh, một trong những nguyên nhân mâu thuẫn là vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông. Tranh chấp lên đỉnh điểm vào năm 2014 khi Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào Biển Đông và Việt Nam phản đối dữ dội. Nhưng sau khi họ kéo ra thì quan hệ 2 bên lại bắt đầu ấm lại cho đến chuyến thăm của ông Phạm Trường Long thì sự kiện đột nhiên ông về nước rõ ràng là có chuyện không hay. Bởi vì, trong chương trình viếng thăm ngoại giao thì ông sẽ cùng Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch chủ trì cuộc giao lưu quân sự 2 bên ở vùng biên giới 2 tỉnh Lạng Sơn và Vân Nam, sự kiện này đã bị hủy.

– Có lẽ hai nước đều không muốn làm cho sự việc căng thẳng hơn nên Trung Quốc chỉ cho biết Phạm Trường Long về sớm bởi vì có khó khăn trong việc sắp đặt chương trình và phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng không có căng thẳng, nhưng trên thực tế có nhiều dấu hiệu căng thẳng.

Thứ nhất, khi Tướng Phạm Trường Long đột ngột về nước sớm ngày 18/6 thì chiều hôm đó, Cục Hải vụ của Trung Quốc tuyên bố đưa giàn khoan đi vào cửa Vịnh Bắc Bộ, vùng biển mà hai nước đang đàm phán để giải quyết vấn đề lãnh hải. Cũng sáng hôm đó, 2 tàu Trung Quốc do những sĩ quan mặc quân phục đã tấn công tàu đánh cá Việt Nam.

Thứ hai, báo Trung Quốc tường thuật lại là khi gặp các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam chính ông Long đã nói thẳng là tất cả các biển và các đảo vùng Biển Đông thuộc về Trung Quốc từ thời thượng cổ.

Thứ ba, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế của Mỹ (CSIS) cho biết ông Long đến Việt Nam để phản đối việc Việt Nam cho phép công ty của Tây Ban Nha khai thác lô 118 Cá Voi Xanh và lô 136 nhưng bị Việt Nam phản đối nên ông bỏ về. Ba điều đó cho thấy rõ ràng là có sự căng thẳng.

– Tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc mới đây đăng cảnh báo Việt Nam về “ngoại giao đi dây” tức là quan hệ với cả Mỹ và Nhật Bản. Những bước tiến nào trong quan hệ của Việt Nam với Nhật Bản và Mỹ gần đây khiến Trung Quốc lo ngại nhất?

+ Từ khi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú trọng thăm Mỹ nào năm 2015 và tuyên bố Mỹ là địa bàn hoạt động tối quan trọng của nền ngoại giao Việt Nam, từ đó có sự đồng ý của Đảng và Nhà nước về quan hệ Việt – Mỹ tăng cường nhanh chóng, nhất là về phương diện quốc phòng. Gần đây, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc là người lãnh đạo đầu tiên ở Đông Nam Á được mời sang Mỹ hội kiến với ông Trump và ký những hiệp ước thỏa thuận tăng cường hợp tác. Đồng thời, Mỹ cũng đã giao cho Việt Nam tàu tuần tra. Khi ông Phúc sang Mỹ thì Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain đã dẫn đầu đoàn quốc phòng của thượng viện sang thăm Việt Nam và Vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Khi đó, tàu John McCain cũng có mặt ở Cam Ranh. Những điều đó cho thấy những dấu hiệu Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau.

Trước khi thăm Mỹ, ông Phúc cũng sang Nhật Bản gặp Thủ tướng Shinzo Abe, hai bên thỏa thuận nâng cấp hợp tác quân sự và an ninh, Nhật Bản đồng thời cũng cam kết viện trợ cho Việt Nam 900 triệu USD để tăng cường khả năng tuần tra của Việt Nam, trao qua Việt Nam 6 tàu hải giám. Trong các thông cáo chung, Việt Nam, Mỹ, Nhật Bản đều đề cập đến Biển Đông theo lập trường của Việt Nam. Khi mà Việt Nam đi gần với 2 nước lớn có khả năng thì dĩ nhiên phải quan tâm.

– Liệu sức ép từ Trung Quốc có khiến Việt Nam phải thay đổi hay điều chỉnh chính sách ngoại giao trong thời gian tới hay không?

+ Mục tiêu của một quốc gia về ngoại giao thường ít thay đổi nhưng chính sách để thi hành mục tiêu đó phải thay đổi tùy theo hoàn cảnh. Do đó, một khi Trung Quốc có sức ép thì Việt Nam phải tìm cách thích ứng, chỉ cần bảo vệ được lập trường của mình. Mục tiêu hiện nay của Việt Nam về vấn đề biển đảo là phải bảo vệ được chủ quyền quốc gia, bảo vệ được những vùng biển đảo mà họ còn kiểm soát được, đó là vấn đề quan trọng nhất. Sự bảo vệ đó, một bên là sức ép Trung Quốc, một bên là sự ứng phó của Việt Nam, tùy thuộc vào điều gọi là cán cân lực lượng giữa hai bên. Lực lượng này gồm những yếu tố vô hình lẫn yếu tố hữu hình. Những yếu tố hữu hình thí dụ như số lượng binh lính, vũ khí, đồng minh. Còn yếu tố vô hình là sự đáng tin cậy của đồng minh, quyết tâm và tinh thần cảu quân sĩ, sự đoàn kết quốc gia, phong trào thế giới và dư luận quốc tế. Đó là những điều có thể vận dụng để đối phó với những áp lực của Trung Quốc.

– Việt Nam và Trung Quốc đều theo chế độ một đảng lãnh đạo mà cụ thể là Đảng Cộng sản. Căng thẳng giữa hai nước liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển ảnh hưởng thế nào đến quan hệ giữa hai đảng?

+ Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc gồm quan hệ nhà nước và của đảng, trong trường hợp thông thường vì sự tương đồng về ý thức hệ làm cho quan hệ 2 nước, giữa nhà nước với nhà nước, tương đối chặt chẽ hơn. Tuy  nhiên, khi quyền lợi quốc gia lớn thì mâu thuẫn đó ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giữa hai đảng.

Lô Cá Voi Xanh là lô 118 thì rõ ràng nằm ở vùng thềm lục địa của Việt Nam. Trung Quốc phản đối là bởi khi khai thác dầu khí ở đó thì có thể luồn hút phía bên “đường 9 đoạn”. Lô 118 hoàn toàn nằm ngoài “đường 9 đoạn”. Thế còn khu 136 mà công ty Tây Ban Nha khai thác thì nằm trên đảo gọi là Bãi Tư Chính, đó là bãi chìm mà hai bên tranh chấp hàng chục năm nay. Khi Trung Quốc công bố “đường 9 đoạn” thì bãi Tư Chính đó nằm trong đường của Trung Quốc. Việt Nam không công nhận “đường 9 đoạn” nên có tranh chấp.

Bây giờ vấn đề đặt ra là Việt Nam sẽ khai thác như thế nào vì cho phép khai thác là quyền của Việt Nam. Nhưng việc quyết định có khai thác không, khai thác lúc nào là sự chọn của các công ty dầu mỏ. Trong quá khứ đã có trường hợp Trung Quốc ép quá thì các công ty dầu mỏ cũng không khai thác nữa. Sẽ rất khó khăn bởi vì việc đó sẽ gây ra sự đụng độ mà Việt Nam không muốn. Việt Nam đòi hỏi được khai thác nhưng cứ trì hoãn cho đến khi giải quyết được vấn đề chủ quyền thì việc khai thác mới dễ dàng hơn.

– Trong tuyên bố mới đây giữa Nga và Việt Nam, Việt Nam cam kết tăng cường hoạt động mở rộng thăm dò khai thác dầu khí với các tập đoàn của Nga, theo ông sức ép của Trung Quốc có làm Nga phải quan ngại trong việc mở rộng thăm dò khai thác này?

+ Các công ty của Nga từng cộng tác với Việt Nam để khai thác nhưng ở những vùng không có tranh chấp với Trung Quốc. Trong những vùng đó thì không có vấn đề gì xảy ra, nhưng khi khai thác những vùng mà Trung Quốc đòi hỏi là của họ và họ đưa ra cảnh cái thì dĩ nhiên Nga phải lo ngại.

– Ông đánh giá thế nào về khả năng có thể xảy ra đụng độ trên biển giữa hai nước trong thời gian tới khi Việt Nam tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác ngoài khơi và Trung Quốc cho giàn khoan tới cửa Vịnh Bắc Bộ?

+ Việc tuyên bố và những động thái trên giấy tờ để tiến hành khai thác là một chuyện, nhưng việc thực sự khai thác lại là chuyện khác, nó là vấn đề thời gian. Đụng độ hay không thì trong tình trạng hiện nay, khi mà tàu chiến Mỹ cứ tiếp tục làm công tác tuần tra bảo vệ tự do hàng hải thì các quốc gia tranh chấp thường muốn gây áp lực nhưng không dẫn đến chiến tranh. Khả năng có những hành động gây đụng độ thì có nhưng rất thấp.

– Ngày 30/6, Nhóm Sáng kiến minh bạch hàng hải (AMTI) thuộc CSIS ở thủ đô Washington của Mỹ cho biết trong một báo cáo gần đây là 3 đảo nhân tạo lớn nhất mà Trung Quốc bồi đắp tại khu vực Trường Sa đang sẵn sàng để được bố trí các trang thiết bị quân sự như bệ phóng tên lửa, những công trình ngầm chứa đạn dược, theo ông những hoạt động này của Trung Quốc ảnh hưởng như thế nào đến an ninh khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng?

+ Trung Quốc muốn có vai trò trọng yếu toàn châu Á, mục tiêu của họ kiên trì lắm, họ cứ từng bước tiến hành. Trước hết họ xây những đảo nhân tạo mang tính phòng thủ mà Mỹ và các nước khác đều phản đối. Họ thành công trong việc đó vì không có phản ứng mạnh. Khi ra điều trần để quốc hội chấp thuận cho ông làm ngoại trưởng Mỹ, ông Tillerson đã tuyên bố không cho phép tàu Trung Quốc đến những đảo nhân tạo đó. Ông nói như vậy nhưng không thể thực hiện được.

– Mỹ mới đây cho tàu chiến USS Stethem đi qua khu vực 12 hải lý thuộc đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa để thách thức các đòi hỏi về chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực này. Đây là một hoạt động thuộc chương trình tự do hàng hải của Mỹ được thực hiện từ thời Tổng thống Obama nhưng bị một số chuyên gia đánh giá là không có hiệu quả, việc Chính quyền Tổng thống Trump cho tàu đi qua đảo Tri Tôn lần này nói lên điều gì trong cách tiếp cận với vấn đề Biển Đông của Chính quyền Mỹ mới?

+ Có 2 nhận xét về điều đó. Thứ nhất, kế hoạch tuần tra bảo vệ tự do hàng hải dưới thời Chính quyền Obama dè dặt hơn nhiều. Dưới thời ông Trump thì nó mạnh hơn, nó đi vào trong vùng 12 hải lý. Không những thế nó lại còn thi hành cái gọi là tuần tra chứ không còn gọi là đi qua vô hại nữa, nó khác hẳn trước. Từ khi Trump lên làm tổng thống, Mỹ có 2 cuộc tuần tra kiểu đó. Mỹ muốn chứng tỏ sự hiện diện của mình. Thứ hai là hiệu quả đến đâu thì mình không biết là vì Tổng thống Trump hành động khó lường, ông thích đưa ra những thỏa thuận, kích thích kinh tế và ông đưa ra những quyết định nhất thời trong khi các cố vấn quân sự của ông thì có quyết định chiến lược.

– Xin cảm ơn giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng về bài phỏng vấn này.

Nguồn: RFA – 04/07/2017

TLTKNB – 07/07/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần cuối


Lưu ý điều này, những sự chuẩn bị của Mỹ chia thành một số loại hình:

+ Cải thiện khả năng duy trì các hoạt động quân sự cường độ cao: Bộ Quốc phòng cần phân tích “những vật tư tiêu hao” quan trọng (các vũ khí và đạn được) mà có thể không hết hạn sử dụng và làm nghiêng cán cân trong trường hợp xảy ra một cuộc chiến tranh kéo dài.

+ Thay đổi hướng tới những phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn: Lầu Năm Góc không cần tăng các kho dự trữ các phương tiện mang vũ khí dễ bị tổn hại (các tàu mặt nước và các máy bay có người lái) mà được cho là chịu những tổn thất đáng kể do A2/AD của Trung Quốc. Đúng hơn, Lầu Năm Goác cần thực hiện một chương trình có chủ đích trong dài hạn để thay thế các hệ thống có khả năng sống sót hơn, ít nhất là đối với khu vực này.

+ Cải thiện các khả năng tiến hành chiến tranh của Mỹ và đồng minh: Ngoài việc cải thiện khả năng tồn tại, các lực lượng Mỹ và đồng minh cần lợi dụng về mặt chiến lược nhiều hơn các công nghệ mà Trung Quốc đang lợi dụng ở A2/AD  của nước này, bao gồm các tên lửa nhằm mục tiêu, phạm vi chiến trường, hệ thống phòng không phạm vi rộng tiên tiến và các tàu ngầm.

+ Thực hiện lập kế hoạch tình huống bất ngờ với các đồng minh then chốt: Nhật Bản là đồng minh quan trọng nhất nhưng cũng gây tranh cãi nhất; tuy nhiên, việc lập kế hoạch quân sự Mỹ – Nhật không phô trương hiện nay là một khuôn khổ đã định (được Trung Quốc biết rõ) có thể bắt đầu động chạm đến các vấn đề về cuộc xung đột xác suất thấp và hậu quả cao với Trung Quốc. Việc lập kế hoạch tương tự với các đồng minh Đông Á khác được khuyến khích. Việc lập kế hoạch của NATO cần được mở rộng theo hướng các đồng minh châu Âu sẽ phản ứng như thế nào trước mối đe dọa của Nga nếu Mỹ ở trong cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc. Một lần nữa, đây là một vấn đề tế nhị và tốt nhất được làm mà không phô trương ầm ĩ.

Thực hiện các biện pháp làm giảm nhẹ sự gián đoạn của các sản phẩm quan trọng từ Trung Quốc: ở đây một lần nữa đánh giá có cơ sở phải phổ biến. Đối với Mỹ, cắt giảm bớt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc trong trường hợp vạn nhất xảy ra một cuộc chiến tranh sẽ làm phương hại đến chính nền kinh tế nước này khi lường trước một sự kiến khó có khả năng xảy ra, mà mặc dù sẽ gây ra khó khăn về kinh tế, sẽ không mang tính thảm họa. Nó sẽ đủ để Chính phủ Mỹ xác định các nguồn cung cấp trong và ngoài nước thay thế chỉ cho các sản phẩm và linh kiện quan trọng nhất sản xuất ở Trung Quốc. Việc này có thể bao gồm dự trữ các nguyên vật liệu đặc biệt thiết yếu.

+ Phát triển những lựa chọn để ngăn chặn sự tiếp cận của Trung Quốc với các hàng hóa và công nghệ quan trọng cho chiến tranh trong trường hợp xảy ra chiến tranh: Mặc dù một cuộc phong tỏa chung của Mỹ sẽ không phải là cần thiết để làm phương hại đến nền kinh tế Trung Quốc, Mỹ có thể thực hiện các biện pháp gây khó khăn cho Trung Quốc trong việc duy trì một cuộc chiến khốc liệt và kéo dài. Cắt giảm sự tiếp cận của Trung Quốc với các nguồn cung dầu lửa và khí tự nhiên hóa lỏng bằng đường biển sẽ có tác động đáng kể nhất. Mặc dù Nga có thể hăm hở và có khả năng cung cấp cho Trung Quốc thiết bị quân sự trong một cuộc chiến tranh, sự tiếp cận của Trung Quốc với các hệ thống phức tạp hơn của phương Tây có thể bị ngừng lại.

Những biện pháp như vậy của Mỹ có thể củng cố những nhận thức của Trung Quốc rằng Mỹ kiên quyết bao vây và cô lập Trung Quốc, cũng như tạo ra những nhận thức chor ằng Mỹ sẽ tìm cách phá Trung Quốc và phá hủy nhà nước của họ trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Sự phân biệt đưa ra là Mỹ không tìm cách cô lập Trung Quốc trừ khi cuộc chiến tranh đòi hỏi nước này làm vậy. Nguy cơ làm phương hại các mối quan hệ Trung – Mỹ có thể giảm bớt, mặc dù chỉ ở mức độ nhất định, bằng các nỗ lực kiên nhẫn và kiên trì của Mỹ để cùng những người đồng nhiệm về chính trị và quân sự của Trung Quốc thảo luận về hợp tác và xử lý khủng hoảng.

Lục quân Mỹ, với tư cách là lực lượng thuận Chuẩn luật số 10 và trong các trách nhiệm chung của nó, có các vai trò quan trọng trong nhiều mặt sự chuẩn bị như vậy. Quân đội Mỹ nên làm những việc sau:

+ Đầu tư vào các khả năng A2/AD được đặt trên đất liền (ví dụ như các tên lửa di động tầm chiến trường và các hệ thống phòng không tiên tiến) để góp phần gây những tổn thất quân sự lớn của Trung Quốc.

+ Khuyến khích và giúp cho các đối tác Đông Á tăng cường phòng thủ mạnh mẽ, bao gồm các tên lửa và phòng không.

+ Cải thiện khả năng hành động phối hợp với các đối tác, đặc biệt là Nhật Bản.

+ Góp phần mở rộng và làm sâu sắc sự hiểu biết và hợp tác giữa quân đội với quân đội Trung – Mỹ để giảm những mối nguy hiểm của sự hiểu sai và tính toán sai.

Bởi vì một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ, trong cấu trúc được sử dụng ở đây, sẽ không bao gồm một trận chiến trên bộ lớn, những tổn thất dự kiến của Lục quân Mỹ sẽ ít hơn so với những tổn thất của lực lượng Hải quân và Không quân. Do đó, phân tích này không thay đổi các yếu tố lên kế hoạch hiện nay liên quan đến những đòi hỏi tổng thể về quân số thực hay huy động – cho dù với những đầu tư quan trọng vào công nghệ và phươgnt iện mang vũ khí và những thay đổi trong cấu trúc lực lượng để tăng cường hỏa lực tầm xa và phòng không như đã lưu ý. Tuy nhiên, một cuộc xung đột lớn trên bán đảo Triều Tiên sẽ làm thay đổi giả định này.

Các nhận xét kết luận

Khi những cải thiện về quân sự của Trung Quốc vô hiệu những lợi thế quân sự của Mỹ, và bởi vì công nghệ có lợi cho lực đối kháng thông thường, cuộc chiến tranh giữa hai nước có thể khốc liệt, kéo dài trong 1 năm hoặc hơn, không có người thắng, và gây ra những tổn thất và chi phí lớn ở cả hai phía. Một cuộc chiến tranh như vậy càng kéo dài, thì những tác động kinh tế, chính trị trong nước và quốc tế càng đáng kể. Trong khi các tác động phi quân sự như vậy sẽ giáng vào Trung Quốc mạnh nhất, chúng cũng có thể gây phương hại lớn cho nền kinh tế Mỹ và khả năng của Mỹ đáp ứng các thách thức an ninh trên toàn thế giới. Mỹ cần tạo ra những sự chuẩn bị thận trọng để có thể tiến hành một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt với Trung Quốc. Không kém phần quan trọng là khả năng của Mỹ giới hạn quy mô, cường độ và khoảng thời gian của một cuộc chiến tranh với Trung Quốc thông qua việc lập kế hoạch của nước này, hệ thống kiểm soát dân sự, và khả năng của Mỹ thông tin liên lạc với Trung Quốc trong thời bình, trong khủng hoảng và trong chiến tranh.

Cũng tương tự đối với Trung Quốc, đòi hỏi phải có sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc cấp cao tốt thời chiến. Thực sự là những cải thiện về quân sự của Trung Quốc làm giảm bớt nguy cơ thất bại rõ ràng trước Mỹ. Tuy nhiên, Trung Quốc không thể dựa vào một cuộc chiến tranh ngắn, và một cuộc chiến tranh kéo dài có thể khiến Trung Quốc yếu kém, không ổn định, không an toàn và nghèo khổ.

Để diễn giải lời Frederick the Great, các cường quốc được vũ trang tốt ngang sức nhau đang toan tính chiến tranh sẽ muốn cân nhắc xem liệu những thành quả có thể thậm chí có sẽ “trả lãi” cho những phí tổn có thể có không. Khi Mỹ và Trung Quốc trở nên ngang bằng về khả năng phá hủy của các lực lượng của nhau, không bên nào có thể tin tưởng sẽ giành chiến thắng với một cái giá có thể chấp nhận được. Tốt hơn hết là nếu cả hai phía suy nghĩ về làm thế nào để hạn chế thiệt hại, chứ không phải chỉ về làm thế nào để chiến thắng, nếu một cuộc đối đầu hoặc một sự cố có thể dẫn đến những hành động thù địch.

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XVI


Hậu quả này cho thấy rằng một cuộc xung đột có thể được quyết định bởi các yếu tố chính trị trong nước, quốc tế, và đặc biệt là kinh tế, tất cả sẽ có lợi cho Mỹ trong một cuộc chiến tranh kéo dài và khốc liệt:

+ Mặc dù một cuộc chiến tranh có thể làm phương hại cả hai nền kinh tế, thiệt hại đối với nền kinh tế Trung Quốc sẽ tồi tệ hơn nhiều (có thể là 25 – 35% GDP sau 1 năm). Bởi vì phần lớn Tây Thái Bình dương sẽ trở thành một vùng chiến tranh, thương mại của Trung Quốc với khu vực này và phần còn lại của thế giới sẽ suy giảm đáng kể. Những mất mát của Trung Quốc về nguồn cung năng lượng bằng đường biển sẽ đặc biệt gây thiệt hại. Mặc dù tiêu thụ chiếm một phần nhỏ hơn trong nền kinh tế Trung Quốc hơn so với trong nền kinh tế Mỹ, nó được dự kiến sẽ tăng lên, làm cho nền kinh tế Trung Quốc dễ bị tổn hại trước sự suy giảm hơn nữa trong trường hợp xảy ra chiến tranh.

+ Về mặt chính trị, một cuộc xung đột dài, đặc biệt là nếu khốc liệt về quân sự mang tính trừng phạt về kinh tế, có thể đưa Trung Quốc vào tình trạng chia rẽ nội bộ – đòi hỏi nhiều và thử thách nhà nước.

+ Sự tham gia của Nhật Bản và ở một chừng mực ít hơn là các đối tác của Mỹ trong khu vực có một ảnh hưởng đáng kể lên các hoạt động quân sự. Những phản ứng của Nga, Ấn Độ, và NATO ít quan trọng hơn. Tuy nhiên, các nỗ lực của NATO duy trì an ninh ở các khu vực khác (ít nhất là ở châu Âu, nếu không muốn nói là cả ở Trung Đông) sẽ cho phép cam kết lớn hơn hoặc ít mạo hiểm hơn của các lực lượng Mỹ đối với cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Một sự kết hợp những phản ứng quốc tế như vậy có thể làm tăng những tổn thất của Trung Quốc trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, bất chấp A2/AD được cải thiện.

Nói tóm lại, bất chấp những xu hướng quân sự có lợi cho mình, Trung Quốc không thể giành chiến thắng, và có thể thất bại, một cuộc chiến tranh khốc liệt với Mỹ vào năm 2025, đặc biệt nếu kéo dài. Hơn nữa, những phí tổn về kinh tế và những nguy cơ chính trị của một cuộc chiến tranh như vậy có thể gây nguy hiểm cho sự ổn định của Trung Quốc, chấm dứt sự phát triển của nước này và làm xói mòn tính hợp pháp của nhà nước.

Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, các khả năng, động lực và các kế hoạch quân sự của cả hai phía khiến cho một cuộc xung đột khốc liệt, kéo dài, và quá tốn kém trở thành một khả năng rõ ràng. Trong số nhiều lý do mà Mỹ không muốn có một cuộc chiến tranh như vậy, quan trọng nhất là những tổn thất lớn về quân sự và những phí tổn kinh tế đối với chính nước này và những ảnh hưởng đối với đất nước này, khu vực và thế giới của tổn hại gây choáng váng cho Trung Quốc. Những triển vọng như vậy làm nổi bật tầm quan trọng của việc Mỹ và Trung Quốc suy tính nên làm thế nào để kiểm soát và hạn chế chiến sự nếu một cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực, điều làm nổi bật các nguyên tắc và thủ tục cho sự kiểm soát chính trị và thông tin liên lạc.

Những khuyến nghị

Những phát hiện khẳng định những gì đang được nhìn nhận rộng rãi: một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ sẽ có hại tới mức cả hai bên cần đặt ưu tiên rất cao cho việc tránh một cuộc chiến như vậy. Trong khi những triển vọng như vậy làm cho cuộc chiến tranh có suy tính trước rất không chắc chắn, chúng cũng đòi hỏi quản lý khủng hoảng cá nhân và song phương hiệu quả, cũng như các biện pháp khác để tránh những sự hiểu sai và những sai lầm.

Bởi vì Mỹ không thể kiểm soát, giành chiến thắng hoặc tránh những tổn thất và chi phí lớn của một cuộc xung đột khốc liệt, nước này phải bảo vệ chống lại việc tự động thực hiện các cuộc tấn công ngay lập tức vào A2/AD của Trung Quốc và cần có các kế hoạch và biện pháp để ngăn chặn những hành động thù địch trở nên nghiêm trọng hơn. Việc thiết lập những dàn xếp “dự phòng để đảm bảo an toàn” sẽ đảm bảo sự chấp thuận về mặt chính trị dứt khoát  và có hiểu biết cho các hoạt động quân sự.

Cũng như vậy, Trung Quốc có quá nhiều thứ mất mát từ một cuộc xung đột khốc liệt, và thậm chí còn mất nhiều hơn từ một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt. Bất kể các xu hướng quân sự thuận lợi, Trung Quốc cũng có nhiều lý do như Mỹ phải tránh việc thực hiện tự động các kế hoạch quân sự cho một cuộc đấu đối kháng dữ dội và ngay lập tức, bao gồm một đòi hỏi song song về phải có một sự kiểm soát chính trị rõ ràng. Một lần nữa, nếu cả hai nhà nước thực hiện các kế hoạch quân sự của mình để tấn công lực lượng của phía kia, một cuộc chiến tranh khốc liệt có thể xảy ra sau đó.

Do đó, sẽ là cần thiết nhưng không đủ nếu Mỹ có thể kiềm chế thực hiện đầy đủ các kế hoạch quân sự một khi cuộc chiến bắt đầu, vì nước này có thể không do dự tấn công mạnh nếu Trung Quốc đang hoặc sắp làm vậy. Do sự trừng phạt cực đoan đối với việc để cho các lực lượng của một bên bị tấn công trước khi họ tấn công, việc tạo ra sự kiên nhẫn với nhau ngay từ khi bắt đầu tình trạng thù địch có thể cũng ở mức khó như mức độ quan trọng của nó. Nó đòi hỏi một khả năng hợp tác vào thời điểm áp lực căng thẳng buộc phải tấn công, mà đến lượt nó khiến việc thông tin liên lạc chính trị rõ ràng, trực tiếp và kịp thời sau đó cũng quan trọng như trước khi chiến sự bắt đầu. Cùng với việc đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo chính trị Mỹ và Trung Quốc có những lựa chọn quân sự ngoài các cuộc tấn công ngay tức khắc nhằm phá hủy các lực lượng đối phương, việc có các phương tiện tham khảo và kiềm chế một cuộc xung đột trước khi nó vượt ngoài tầm kiểm soát là khuyến nghị quan trọng nhất từ bài phân tích này.

Cùng với các biện pháp ngăn cản các cuộc khủng hoảng trở nên bạo lực và ngăn chặn bạo lực trở nên khốc liệt, Mỹ cần tìm cách giảm tác động A2/AD của Trung Quốc trong những năm tới. Công việc tại RAND và những nơi khác ngày càng nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư vào các phương tiện mang vũ khí có khả năng tồn tại hơn (ví dụ như các tàu ngầm) và vào chống A2/AD (ví dụ các tên lửa chiến trường). Những nỗ lực như vậy sẽ củng cố biện pháp răn đe, giúp làm sự tin tưởng của Trung Quốc vào việc thắng thế trong một cuộc xung đột khốc liệt, và cải thiện sự ổn định trong các cuộc khủng hoảng, cũng như trong giai đoạn đầu quan trọng của một cuộc xung đột. Nhưng các nỗ lực này sẽ không làm giảm đáng kể những tổn thất về quân sự và những phí tổn về kinh tế của Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt.

Ngay cả khi các khả năng quân sự của Trung Quốc cải thiện, nước này sẽ gánh chịu những thiệt hại lớn trong một cuộc xung đột kéo dài, khốc liệt. Hơn nữa, những tác động về kinh tế, ở trong nước và quốc tế của một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt có chiều hướng chống lại Trung Quốc. Mỹ cần đảm bảo rằng Trung Quốc đặc biệt nhận thức được khả năng có những kết quả mang tính thảm họa cho dù một cuộc chiến tranh không gây ra tổn thất về mặt quân sự.

Trong khi quên thiệt hại nghiêm trọng đối với Mỹ trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt, những sự chuẩn bị cẩn thận của Mỹ cho một cuộc xung đột sẽ giúp cho Trung Quốc tỉnh ngộ trước ảo tưởng về một chiến thắng đầy mong đợi với cái giá có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, nhấn mạnh thêm lẽ phải thông thường cần thiết trong việc suy tính về những sự chuẩn bị như vậy. Như được nhấn mạnh ngay từ đầu nghiên cứu này, cuộc chiến tranh với Trung Quốc là điều không thể, một phần bởi vì cả hai phía hiểu rằng những cái giá sẽ lớn hơn những thành quả đạt được, ngay cả với người dành chiến thắng – nếu quả thực có một bên chiến thắng như vậy. Hơn nữa, những cái giá của việc hoàn toàn sẵn sàng là quá cao – chắc chắn là lớn hơn những cái giá của cuộc chiến tranh khi bị giảm bớt bởi khả năng thấp của một cuộc chiến.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Chiến tranh với Trung Quốc, xem xét những điều không tưởng – Phần XV


Những lời báo trước về phản ứng của các bên thứ ba đầy sự thiếu chắc chắn ngay cả vào lúc này, chứ chưa nói đến 10 năm tới. Phần nhiều sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân chiến tranh: Chẳng hạn, một động thái của Trung Quốc nhằm giành được quyền kiểm soát biển Hoa Đông hay Nam Trung Hoa đủ trắng trợn để buộc Mỹ can thiệp có vũ trang sẽ có nhiều khả năng tạo ra một phản ứng đáng kể của quốc tế chống lại Trung Quốc hơn so với một cuộc xung đột về Đài Loan, đặc biệt là nếu có vẻ là người Trung Quốc đã bị khiêu khích. Có thể hiểu được rằng nhiều bạn bè của Mỹ, gần và xa, sẽ ngồi yên chờ thời cơ hoặc rằng Nga hoặc Triều Tiên sẽ hành động theo các cách làm gia tăng các nguy cơ và gánh nặng quân sự cho Mỹ. Nhưng một khả năng khác, đã được đề cập trong phần thảo luận trước về “các giới hạn trên” của chiến tranh, là nhiều nước sẽ bị lôi kéo vào hoặc tham chiến một cách cơ hội, dẫn tới một cuộc chiến tương tự như chiến tranh thế giới. Tuy nhiên, nhóm tác giả cho rằng phản ứng quốc tế có khả năng nhiều hơn sẽ là việc các nước khu vực với những lợi ích trực tiếp và then chốt, chẳng hạn như Nhật Bản, sẽ tham gia, chủ yếu gây bất lợi cho Trung Quốc.

Tóm lại, công luận thế giới sẽ ủng hộ việc ngừng chiến ngay lập tức. Nga có thể cằn nhằn khó chịu, tỏ thái độ và lợi dụng một cuộ xung đột Trung – Mỹ bằng cách chủ động hành động ở một nơi khác, dù có đồng thuận với Trung Quốc hay không. Một số nước Đông Á, ở các mức độ khác nhau, sẽ đứng sau ủng hộ cho Mỹ. Sự tham gia của Nhật Bản có thể khiến một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài trở nên tốn kém hơn cho Trung Quốc nhưng cũng có thể gia tăng những mối nguy hiểm cho sự leo thang.

4 trường hợp và tác động của chúng

Mỗi loại tác động đều quan trọng vì bản thân nó và vì những ảnh hưởng của nó tới những tác động khác:

+ Những thiệt hại quân sự có thể tác động tới năng lực, đặc biệt là của Trung Quốc, để duy trì thương mại, ngăn chặn việc phá hoại cơ sở hạ tầng, và duy trì quyền tiếp cận các nguồn năng lượng.

+ Những lĩnh vực mới của chiến tranh – mạng và không gian – có thể có cả tác động quân sự lẫn kinh tế, do các hệ thống sử dụng kép (ví dụ như thông tin liên lạc, các mạng lưới hậu cần, GPS) có thể bị vô hiệu hóa.

+ Chiến tranh mạng, nếu không được hạn chế ở các mạng lưới quân sự, có thể cản trở các phản ứng chính trị tới chiến tranh, ảnh hưởng tới các bên thứ ba, và làm trầm trọng thêm những gián đoạn về kinh tế.

+ Các phí tổn kinh tế, dù do chiến sự hay do gián đoạn về thương mại, sẽ ảnh hưởng tới năng lực của các binh lính bù đắp cho những thiệt hại quân sự trong một cuộc xung đột kéo dài và khốc liệt.

+ Khó khăn về kinh tế, chẳng hạn như giảm tiêu dùng và sự tiếp cận các mặt hàng thiết yếu, có thể ảnh hưởng tới sự ủng hộ chính trị, sự ổn định và sự gắn bó, và từ đó ảnh hưởng tới năng lực và quyết tâm của mỗi bên để tiếp tục chiến đấu với cường độ cao.

+ Dư luận thế giới bất lợi với một hoặc cả hai bên sẽ mang lại ít sự khác biệt trong năng lực và ý chí chiến đấu của họ, ít nhất trong ngắn hạn. Tuy nhiên, những phản ứng của các bên thứ ba quan trọng cuói cùng có thể giúp bên này hoặc bên kia bằng các cách chính: chiến đấu trực tiếp, tiếp tế chiến tranh, thương mại, quyền tiếp cận năng lượng, và, trong trường hợp của Mỹ, hỗ trợ trên các chiến trường khác mà tạo điều kiện cho tập trung các lực lượng.

Nhìn chung, sự giảm sút trong các lợi thế chiến đấu của Mỹ không có nghĩa là Trung Quốc có thể chiến thắng một cuộc chiến mà Mỹ sẵn sàng chiến đấu. Tới năm 2025, một cuộc chiến tranh có thể là một thế giằng co ngoài những thiệt hại trên mạng và trong không gian. Tuy nhiên không bên nào sẽ rơi vào tình trạng kém hơn nhiều so với bên kia đến mức cảm thấy bị buộc phải nhận thua, làm gia tăng khả năng rằng một cuộc chiến có thể vừa khốc liệt vừa kéo dài. Một cuộc chiến nhưv ậy có thể được quyết định bởi các phí tổn kinh tế, các tác động chính trị trong nước và những phản ứng quốc tế. Sự tham gia của Nhật bản có thể bù đắp cho sự suy giảm ưu thế quân sự của Mỹ, đặc biệt là trong một cuộc xung đột kéo dài. Tất cả những nhân tố này, tổng hợp lại, sẽ có lợi nhiều cho Mỹ.

Hãy nhớ lại nhận xét trước đây rằng chiến tranh giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tồi tệ hơn cả trường hợp khốc liệt và kéo dài đã được mô tả ở đây. Trong thế kỷ 20, hai cuộc chiến tranh giữa các nước lớn đã trở thành chiến tranh thế giới, và một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba có thể đi theo tiến trình tương tự, thậm chí tồi tệ hơn. Khả năng một cuộc chiến tranh Trung – Mỹ lôi kéo thêm các cường quốc và nhiều nước khác không thể bị loại trừ: Ngoài Nhật Bản, có thể Ấn Độ, Việt Nam và NATO sẽ đứng về phía Mỹ; Nga và Triều Tiên sẽ ở phía Trung Quốc. Chiến sự có thể lan vượt ra ngoài khu vực. Các mục tiêu chiến tranh có thể mở rộng, và khi điều này xảy ra, các phí tổn của thất bại cũng vậy. Thậm chí nếu vũ khí hạt nhân không được sử dụng, Trung Quốc có thể tìm các cách khác để tấn công Mỹ thích đáng. Việc sử dụng không gian và không giang mạng có thể bị cắt giảm. Chừng nào chiến sự vẫn còn mang tính toàn diện, sự phá hủy và khó khăn có thể tiếp thêm nhiên liệu cho quyết tâm và sự huy động thêm. Tóm lại, cả thời lượng và mức độ khốc liệt của chiến tranh đều có thể vượt quá trường hợp cao hơn được sủ dụng trong bài viết này vì mục đích phân tích. Nếu vậy, những thiệt hại và phí tổn thậm chí sẽ còn lớn hơn đối với cả hai bên và thế giới, và kết quả sẽ không có lợi hơn cho Trung Quốc, bất chấp sự mở rộng sức mạnh của nước này.

NHỮNG PHÁT HIỆN, KHUYẾN NGHỊ VÀ NHẬN XÉT KẾT LUẬN

Những phát hiện

Trừ khi các nhà lãnh đạo chính trị của cả Mỹ lẫn Trung Quốc từ chối cho phép quân đội của họ thực hiện các chiến lược đối kháng, khả năng của hai nhà nước kiểm soát cuộc xung đột xảy ra tiếp sau sẽ bị suy yếu nghiêm trọng. Cả hai nước ngay từ đầu sẽ phải chịu những tổn thất lớn về quân sự và trong suốt một cuộc xung đột khốc liệt: Vào năm 2015, những tổn của Mỹ có thể là một phần lực lượng tương đối nhỏ, nhưng vẫn đáng kể; những tổn thất của Trung Quốc có thể nặng nề hơn so với những tổn thất của Mỹ và phần lực lượng đáng kể. Khoảng cách về tổn thất này sẽ thu hẹp lại khi A2/AD của Trung Quốc cải thiện: Cho tới năm 2025, những tổn thất của Mỹ có thể từ đáng kể đến nặng nề; những tổn thất của Trung Quốc, trong khi vẫn rất nặng nề, có thể phần nào ít hơn so với năm 2015, do sự suy giảm ngày càng tăng của các khả năng tấn công của Mỹ. Một cuộc xung đột khốc liệt và kéo dài có thể làm cho cả hai nước bị suy giảm đáng kể toàn bộ khả năng quân sự và do đó dễ bị tổn hại trước các mối đe dọa khác.

A2/AD của Trung Quốc sẽ làm cho Mỹ ngày càng khó có thể giành được sự thống trị tác chiến quân sự và chiến thắng, ngay cả trong một cuộc chiến tranh kéo dài. Tuy nhiên, miễn là Mỹ sẵn sàng chiến đấu, Trung Quốc không thể hy vọng giành chiến thắng về quân sự. Do đó, hai nước có thể đối mặt với triển vọng thế đối đầu giằng co về quân sự hết sức tốn kém.

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Mục đích chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc tới Australia


Mục tiêu chính trong chuyến thăm của Thủ tướng Lý Khắc Cường là thúc đẩy thương mại và đầu tư, đặc biệt thông qua sáng kiến “Một vành đai, một con đường” của Chủ tịch Tập Cận Bình mà Trung Quốc hy vọng phù hợp với kế hoạch phát triển phía Bắc của Australia. Tuy nhiên, chuyến thăm của ông Lý Khắc Cường cũng nhằm thể hiện sự ổn định của Trung Quốc so với Chính quyền Donald Trump và biện họ cho cán cân quan hệ toàn cầu nghiêng về phía Trung Quốc: một trong số đó là Trung Quốc không đối mặt với một mặt trận thống nhất các đồng minh của Mỹ.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc dường như cuối cùng đã tìm ra một công thức về chính sách để các đồng minh của Mỹ có thể cùng cộng hưởng đó là: Trung Quốc và Australia (nên) nằm trong “vòng tròn bạn bè chung”. Chính sách này không nhằm chia rẽ Australia và Mỹ, và cũng không đặt ra lựa chọn để Australia cần phải chọn Mỹ hay Trung Quốc. Tránh lựa chọn vốn là ưu tiên hàng đầu của Australia tron gần 2 thập kỷ qua. Bắc Kinh hiểu rất rõ rằng nếu nước này buộc Canberra phải lựa chọn thì bản thân họ cũng không thích câu trả lời, do vậy, người Australia và người Trung Quốc có điểm chung là cả hai không muốn Australia phải lựa chọn.

Có một lý do đơn giản và không thể vượt qua cho việc Canberra không thể chọn Trung Quốc trên Mỹ mặc dù là mối quan hệ mạnh và hữu nghị, song Trung Quốc và Australia về cơ bản không tin cậy lẫn nhau. Giữa lúc có những bình luận gần đây cho rằng Trump có lẽ đang đẩy Australia gần Trung Quốc hơn, song đơn giản là không còn chỗ cho mối quan hệ gần hơn nữa – bởi Australia và Trung Quốc hiện đã ở mức gần nhất có thể. Sự thiếu tin cậy luôn làm nản lòng giới chính trị gia qua nhiều chính quyền khác nhau mỗi khi muốn thúc đẩy mối quan hệ này. Giới lãnh đạo chóp bu ở Australia hiện nay thậm chí còn thận trọng hơn khi Trung Quốc ngày càng tìm cách can thiệp sâu hơn vào vấn đề nội chính của Australia, gián điệp qua mạng, cam kết không rõ ràng về chủ quyền đối với các nước láng giềng, hay thói quen của Bắc Kinh trừng phạt những công ty của những nước phá hoại lợi ích chính trị của Trung Quốc. Australia đã thẳng thừng từ chối các khoản đầu tư của Trung Quốc, can thiệp vào các tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước khác, giảng dạy cho Trung Quốc về vấn đề nhân quyền và dân chủ.

Mặc dù có sự không tin cậy sâu sắc như vậy, song cấp độ thiện chí giữa hai bên lại vượt xa mức chính thức. Vì điều đó và vì bản thân Australia luôn muốn xây dựng  một hình ảnh quốc gia dựa trên “tình bạn”, nên khái niệm “bạn bè chung” được đón nhận tốt. Nó giúp công chúng Australia tin rằng tài sản kinh tế của họ phụ thuộc vào mối quan hệ tốt với Trung Quốc và đòi hỏi mối quan hệ thân thiện Mỹ – Trung để đảm bảo an ninh cho họ. Tóm lại, “bạn bè chung” đóng vai trò đối với cả các giá trị và lợi ích của Australia – một chiến thắng chiến thuật hiếm hoi đối với Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Trong khi thúc đẩy ý tưởng “bạn bè chung”, ông Lý Khắc Cường cũng muốn tạo ấn tượng với người Australia về một Trung Quốc ổn định, trái với một Trump không đáng tin cậy. Ông Lý không cần nói rõ sự tương phản này, bởi truyền thông cũng như công chúng Australia có thể tự quan sát được điều này sau những hành động “không thể đoán trước” của Tổng thống Trump trong vài tháng qua.

Phần lớn các tuyên bố mà ông Lý Khắc Cường đưa ra trong chuyến thăm sẽ chỉ tập trung vào thương mại và đầu tư, chứ không phải các mối quan hệ chiến lược. Về thương mại, Trung Quốc đang tự thể hiện mình như một quán quân của nền kinh tế toàn cầu mở, đối nghịch với Trump. Tiến triển trong Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) do ASEAN đứng đầu mà cả Trung Quốc và Australia đều tham gia, trái ngược với sự thất bại của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Về đầu tư, Trung Quốc không hài lòng với cơ chế đầu tư nước ngoài của Australia, song vẫn ủng hộ để nước này tham gia sáng kiến “Một vành đia, một con đường”. Tháng trước, Ngoại trưởng Vương Nghị đã bảy tỏ ý định kết hợp sáng kiến này với kế hoạch phát triển phía Bắc của Australia.

Cuối cùng, ông Lý có thể buộc phải bác bỏ những bình luận của Ngoại trưởng Julie Bishop về dân chủ và một “trật tự dựa trên luật lệ”. Trước đây, ông Vương Nghị từng lập luận rằng giá trị của một nước không nhất thiết là sự phổ quát và rằng “các quy định quốc tế nên do tất cả các nước cùng nhau đặt ra”. Trong khi đó, Australia dù biết rằng không thể buộc Trung Quốc chấp nhận văn hóa chính trị của mình, song vẫn có quyền phản đối chiến dịch đàn áp dân chủ và bài phương Tây ở trong nước của Trung Quốc, nước vốn mô tả “những ý tưởng phương Tây” là lộn xộn, hỗn loạn và vô vọng, trái ngược với hệ thống tự mô tả là ổn định của Trung Quốc.

Quan điểm của Trung Quốc về các quy tắc quốc tế có một mức độ giá trị nào đó. Mặc dù bản thân Trung Quốc tránh làm việc với cộng đồng quốc tế để điều chỉnh một cách hiệu quả các quy tắc đã được thống nhất trên bình diện quốc tế trong một loạt lĩnh vực. Và khi có phán quyết theo những luật lệ mà Trung Quốc từng nhất trí đi ngược lại lợi ích của nước này, thì Bắc Kinh đơn giản lại phủ nhận tính hợp pháp của phán quyết đó. Điển hình là phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực về vụ Philippines kiện Trung Quốc ở biển Hoa Nam (Biển Đông). Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều có thể bác bỏ theo cách đó: Trung Quốc vẫn thường xuyên phải chấp nhận các phán quyết của WTO, kể cả khi các phán quyết này đi ngược lại lợi ích của Trung Quốc.

Ông Lý Khắc Cường nhiều khả năng có một chuyến đi thành công khi thể hiện được Trung Quốc như một đối tác buôn bán đáng tin cậy với nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn. Thông điệp của ông rằng Trung Quốc và Australia đang trong “vòng tròn bạn bè chung” có thể được đón nhận nồng nhiệt. Tuy nhiên, nếu ông có thể giảm bớt mối quan ngại về cách tiếp cận của Trung Quốc đối với chủ quyền của các nước bạn bè và láng giềng, thì chuyến thăm thậm chí sẽ được hoan nghênh nhiều hơn.

Nguồn: The Interpreter (Australia) – 21/03/2017

TKNB – 24/03/2017