FDI Trung Quốc tại Việt Nam: Xu hướng, hiện trạng và thách thức – Phần II


Các doanh nghiệp nước ngoài cũng giúp thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam. Hiện tại, các doanh nghiệp nước ngoài chiếm 70% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Đồng thời, các doanh nghiệp này cũng tạo ra sức ép tích cực buộc các cơ quan, bộ ngành khác nhau thuộc Chính phủ Việt Nam phải cải thiện môi trường pháp lý và hành chính để trở nên thân thiện hơn với doanh nghiệp và phù hợp với các thông lệ quốc tế.

Hơn nữa, với một thị trường tiềm năng hơn 100 triệu người có nhu cầu tiêu dùng cao, thương mại điện tử ở Việt Nam là ngành thu hút nhiều FDI. Trong những năm 2016 – 2018, 2 trang thương mại điện tử phát triển nhất ở Việt Nam, Lazada và Tiki, đều nhận được các khoản đầu tư lớn từ các doanh nghiệp Trung Quốc. Năm 2016 và 2017, Tập đoàn Alibaba của Trung Quốc đã đầu tư 2 tỷ USD vào Lazada. Đầu năm 2018, Tập đoàn Alibaba nói rằng họ sẽ tăng gấp đôi vốn đầu tư vào Lazada để tài trợ cho việc mở rộng khu vực của họ ở Đông Nam Á. Tháng 1/2018, tập đoàn thương mại điện tử lớn thứ 2 ở Trung Quốc, JD.com, đã xác nhận khoản đầu tư 44 triệu USD vào trang bán lẻ trên mạng của Việt Nam là Tiki.vn để cạnh tranh với Lazada. Những hoạt động đầu tư này phần nào được thúc đẩy nhờ triển vọng thu hút dân số đang tăng trưởng và tương đối trả của Việt Nam và tiềm năng hầu như vẫn như chưa được khai thác để phát triển hoạt động bán lẻ trên mạng.

Các doanh nghiệp Trung Quốc đã và đang lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư của họ như một phần trong chiến lược dài hạn của Chính phủ Trung Quốc là theo đuổi sự hội nhập kinh tế với thế giới và các nước láng giềng. Trên thực tế, trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã tích cực theo đuổi mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi nước này gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2001. Cho đến nay, Chính phủ Trung Quốc đã ký hơn 100 thỏa thuận thương mại và đầu tư song phương hoặc đa phương với các nước khác. Trong những năm đầu, những thỏa thuận như vậy đã tạo cơ sở để Trung Quốc thu hút FDI. Giờ đây, những thỏa thuận này mở đường cho Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm các nguồn tăng trưởng mới.

Về mặt này, Việt Nam là một điểm đến khả thi đối với các doanh nghiệp Trung Quốc nhờ những lợi thế vốn có dưới đây. Thứ nhất, Trung Quốc hiện là một trong 10 nhà đầu tư lớn nhất thế giới. Thứ hai, trong những năm gần đây, năng suất và năng lực của các doanh nghiệp Trung Quốc đã tăng lên đáng kể. Thứ ba, các doanh nghiệp Trung Quốc mạo hiểm đầu tư ra nước ngoài để đạt được mục tiêu mở rộng thị trường bên ngoài, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa và khai thác các nguồn lực bên ngoài. Hơn nữa, việc tăng trưởng trong nước giảm tốc đang thúc đẩy ngành công nghiệp chế tạo của Trung Quốc tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài.

Các dự án đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam cũng phù hợp với Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) đầy tham vọng của Trung Quốc. Trong số các dự án nằm khuôn khổ BRI ở Việt Nam có cả dự án xây dựng tuyến đường cao tốc kết nối cac tỉnh phía Nam Trung Quốc với Hà Nội và các cảng phía Bắc Việt Nam và dự án nâng cấp hoặc xây dựng các cảng mới trong khu vực này.

Các tác động của FDI Trung Quốc

Tác động tích cực

FDI đã góp phần đáng kể vào việc tạo công ăn việc làm, tái cơ cấu lao động và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam cho thấy số lượng việc làm trực tiếp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài đã tăng từ 330.000 năm 1995 lên 3,6 triệu năm 2017, đồng thời cũng tạo việc làm gián tiếp cho khoảng 5 – 6 triệu lao động. Mặc dù không có số liệu chi tiết về số lượng việc làm do đầu tư của Trung Quốc tạo ra, nhưng vai trò to lớn của FDI Trung Quốc cho thấy nó đã làm tăng đáng kể cơ hội việc làm.

Hơn nữa, việc Trung Quốc ngày càng đóng vai trò là nguồn FDI then chốt vào Việt Nam đặc biệt giúp Việt Nam nâng cấp và công nghiệp hóa nền kinh tế của mình. Đặc biệt trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Việt Nam rất cần vốn để khôi phục sau cuộc khủng hoảng và theo đuổi mục tiêu phát triển bền vững. Trong dài hạn mặc dù vốn trong nước đóng vai trò quyết định, nhưng vốn nước ngoài (bao gồm vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA, vốn FDI và vốn đầu tư gián tiếp) vẫn là một nguồn rất quan trọng đối với công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa của Việt Nam. Hơn nữa, khi các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam, vốn nước ngoài cũng sẽ đóng vai trò là chất xúc tác trong việc thu hút đầu tư từ các nước khác vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã chuyển từ ngành công nghiệp nhẹ và hàng tiêu dùng sang xây dựng và chế tạo. Ngoài các thành phố và địa phương then chốt được đề cập ở trên, FDI Trung Quốc cũng nhắm mục tiêu vào một số tỉnh biên giới Việt Nam thường bị các nhà đầu tư nước ngoài bỏ qua do cơ sở hạ tầng nghèo nàn và trình độ phát triển kinh tế còn thấp. Những tỉnh này bao gồm Lào Cai (27 dự án), Lạng Sơn (20 dự án), Cao Bằng (7 dự án) và Lai Châu (2 dự án). Dòng vốn chảy vào những khu vực này đã giúp đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và hiện đại hóa vùng sâu vùng xa, thu hẹp khoảng cách giữa các tỉnh kém phát triển ở phía Bắc và các khu vực khác của Việt Nam.

Bản chất định hướng xuất khẩu của FDI Trung Quốc vào Việt Nam cũng thúc đẩy ngành xuất khẩu của Việt Nam bằng việc cung cấp một lộ trình thuận tiện để các sản phẩm Made in Vietnam đến được các thị trường nước ngoài. Nhìn chung, hàng hóa Việt Nam chưa được biết đến nhiều ở châu Á và trên thế giới, trong khi đó doanh nghiệp Việt Nam lại thiếu sức cạnh tranh so với các đối tác nước ngoài có uy tín hơn ở những nước có nền tảng kinh tế vững chắc. Vì vậy, đầu tư của Trung Quốc vào khu vực xuất khẩu của  Việt Nam giúp tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa Việt Nam đến được các thị trường khác nhau, trong đó có Trung Quốc và các nước châu Á khác. Điều này cũng mở đường cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận các thị trường quốc tế. Đồng thời, các hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI cũng giúp thúc đẩy sự tăng trưởng của các khu vực khác có liên quan ở Việt Nam như khách sạn, du lịch, trao đổi ngoại tệ và tư vấn.

Tác động tiêu cực

Một trở ngại lớn đối với Việt Nam là xuất khẩu phụ thuộc rất nhiều vào các doanh nghiệp nước ngoài (hơn 70%), khiến Việt Nam phải chịu những rủi ro không cần thiết. Nhìn chung, khi sản xuất phụ thuộc vào các dây chuyền cung ứng xuyên quốc gia, các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam thường can dự sâu vào cả hai tiến trình xuất – nhập khẩu, khiến nền kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương trước tình hình kinh tế toàn cầu. Bộ trưởng Công thương Việt Nam Trần Tuấn Anh nói: “Sự phụ thuộc quá mức này là một điểm bất lợi và thiếu bền vững đối với lĩnh vực xuất khẩu của nước ta, vì sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp FDI phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, nên khá nhạy cảm với các biến động thương mại trên thị trường thế giới”.

Một trở ngại khác liên quan đến loại hình và chất lượng ngành công nghiệp và công nghệ được đưa vào Việt Nam. Dòng FDI Trung Quốc thường chảy vào các doanh nghiệp như dệt, giày dép, sợi, năng lượng, nhiệt năng và khai thác mỏ, vốn là các ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm. Vụ ô nhiễm nghiêm trọng liên quan đến Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh đã làm dấy lên những quan ngại về hậu quả của các dự án FDI Trung Quốc đối với môi trường. Hơn nữa, nhiều dự án FDI Trung Quốc hoặc có hàm lượng công nghệ thấp hoặc sử dụng công nghệ đã lỗi thời. Vì vậy, Việt Nam có nguy cơ trở thành “bãi rác công nghệ” của Trung Quốc do bất cẩn trong việc lựa chọn các dự án FDI Trung Quốc. Ngoài ra, trong một số trường hợp, máy móc và thiết bị được các công ty Trung Quốc mang sang Việt Nam là các loại mà Việt Nam có thể sản xuất được ở trong nước. Việc nhập khẩu hàng loạt hàng tiêu dùng giá rẻ từ Trung Quốc cũng khiến một số ngành công nghiệp trong nước của Việt Nam khó tồn tại.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Sing) – 24/04/2019

TLTKĐB – 07/05/2019

Advertisements

Đã đến lúc cho Trump một bài học – Phần đầu


Ngày 5/5/2019, hai dòng tweet của Trump đã bao phủ một màu đen lên vòng đàm phán thương mại Trung – Mỹ lần thứ 11. Trump viết trên Twitter rằng từ ngày 10/5/2019, Mỹ sẽ tăng thuế đối với gói hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 200 tỷ USD, ngoài ra một lượng hàng hóa Mỹ nhập khẩu từ Trung Quốc trị giá 324 tỷ USD khác hiện chưa bị đánh thuế, nhưng sắp tới sẽ phải chịu thuế 25%.

Vào thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ, Trump viện cớ Trung Quốc thay đổi ý kiến để khiến tình hình xấu đi một cách đột ngột, động cơ thực sự của Trump là gì? Trung Quốc nên đối phó như thế nào với việc có thể bước vào một chu kỳ lâu dài “vừa chiến tranh vừa đàm phán” trong tương lai?

Động cơ thứ nhất của Trump: Tăng ngân khố quốc gia

Kể từ khi Trump lên nắm quyền, logic ngoại giao của ông rất rõ ràng, và một trong số đó đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia, đó là: phải tìm cách thu được tiền. Từ phàn nàn về việc không được trả thêm phí bảo hộ cho quân đội Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc mang lại chiếc ô bảo vệ cho nước này đến vì sao các nước khác trong NATO trả ít tiền như vậy, điều Trump coi trọng là các nước khác có thể trả thêm nhiều tiền hơn cho Mỹ.

Biểu hiện của những logic này trong thương mại chính là chính phủ phải tăng thuế nhập khẩu, cho dù đó là áp thuế thép và nhôm đối với các đồng minh hay xung đột thương mại với Trung Quốc. Các nhà kinh tế nên nói với các nhà hoạch định chính sách rằng tác động từ việc tăng thuế sẽ có hai mặt, có người được hưởng lợi và có người chịu tổn thất. Các ngành được bảo hộ thì được hưởng lợi, nhà nước được hưởng lợi từ việc áp thuế bổ sung (thuế đặc biệt), trong khi người mua các sản phẩm liên quan (người tiêu dùng) thì chịu thiệt hại. Đối với một quốc gia, lợi ích mà nhà nước và các ngành thu được từ việc tăng thuế luôn nhỏ hơn tổn thất mà người dân phải chịu. Nhưng “nhà nước” của Trump rõ ràng không có “nhân dân”, chỉ cần kho bạc nhà nước tăng thu, còn những thứ khác thì không quan tâm. Vì vậy, logic của Trump là: Tại sao phải sớm kết thúc xung đột thương mại để làm gián đoạn nguồn thu cho kho bạc nhà nước này? Vẫn có thể tiếp tục thu tiền, thì phải tiếp tục thu tiền!

Động cơ thứ hai: Tạo ra tiền bạc

Kể từ khi lên nắm quyền, Trump luôn “nghĩ ra chuyện” vào những thời điểm quan trọng để tìm cách “kiếm tiền”. Trong mắt ông, một yếu tố quan trọng của cuộc đàm phán là tạo ra cơ hội thu lợi, như vậy khi bạn trở về thời điểm ban đầu, đối phương sẽ cảm thấy rằng bạn đã nhượng bộ, nhưng thực tế là bạn không làm gì cả.

Trước chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2017, Trump từng có những phát ngôn hung hăng nhằm vào Triều Tiên và vấn đề thương mại, trước cuộc gặp thượng đỉnh Kim – Trump cũng vậy. Trong các vấn đề nội bộ, Trump còn liên tục áp dụng cách làm này. Do đó, trước thời điểm quan trọng của cuộc đàm phán, Trump đương nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội “kiếm tiền” này. Các cuộc đàm phán vẫn chưa kết thúc, động cơ này của Trump càng được thể hiện rõ hơn.

Động cơ thứ ba: Chuyển hướng mối quan tâm khỏi cuộc “can thiệp tư pháp”

Cuộc điều tra của Công tố viên đặc biệt Mueller đã kết thúc, nhưng vì cách trình bày và giải thích về kết quả điều tra của các bên trong nước Mỹ rất khác nhau, bản tổng kết 4 trang mà Bộ trưởng Tư pháp chuyển đến công chúng trước khi bản báo cáo điều tra hoàn chỉnh được đưa ra rõ ràng có ý đồ ủng hộ Trump, khiến người ta cảm thấy một sự che đậy lộ liễu. Theo cuộc thăm dò mới nhất của NBC/Wall Street Journal, sua khi báo cáo điều tra của Mueller được công bố, 49% số người được hỏi cho rằng Quốc hội cần phải ngay lập tức khởi động phiên điều trần luận tội, 32% cho rằng nên tiếp tục điều tra cho đến khi có đầy đủ bằng chứng mới khởi động phiên điều trần luận tội Trump. Trong vài tuần tới, có thể sẽ có nhiều cuộc thảo luận về vấn đề liệu Trump có can thiệp vào tư pháp hay không.

Một cao thủ như Trump đương nhiên không thể để vấn đề này tiếp tục âm ỉ, do đó việc chuyển hướng mối quan tâm của truyền thông và dân chúng vào cuộc đàm phán thương mại Turng – Mỹ được ông xem như là một lựa chọn tốt. Nhưng ngay cả sau khi ông cố gắng chuyển sự chú ý đó, New York Times và các phương tiện truyền thông lớn khác vẫn không chịu lép vế, tuyên bố tình hình nộp thuế của Trump trong 10 năm (từ 1985 – 1994), trong đó có những thông tin cho thấy ông không những không giàu có như tuyên bố, mà còn không phải là một doanh nhân thành công.

Ba động cơ nói trên không loại trừ nhau, mà bổ trợ cho nhau. Với hai dòng tweet, hướng nhìn của dư luận đã thực sự chuyển hướng phần nào, và dù tờ New York Times công bố tình hình thuế 10 năm qua của Trump, nhưng cùng với việc thị trường chứng khoán Mỹ liên tục giảm mạnh trong vài ngày nay, mối quan tâm của công chúng Mỹ trong những ngày này vẫn là cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ.

Về việc tạo cơ hội “kiếm tiền” liệu có thành công, Trump hoàn toàn không lo lắng, bởi vì ngya cả khi không thành công, ít nhất ông vẫn có thể tiếp tục (theo logic lệch lạc của ông) thu thuế cho kho bạc nhà nước.

Tất nhiên, với sự tùy tiện làm liều của Trump, chính sách áp thuế mới đã có hiệu lực vào 12 giờ trưa ngày 10/5 (giờ Bắc Kinh), và cho đến sáng ngày 11/5, cuộc đàm phán cấp cao thương mại Trung – Mỹ vòng thứ 11 đã kết thúc sau khi vượt qua sóng gió tăng thuế này.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn các phóng viên ở Washington, Phó Thủ tướng Lưu Hạc, cũng là lãnh đạo Trung Quốc tại cuộc đàm phán thương mại Trung – Mỹ đã tiết lộ nhiều thông tin quan trọng, như hai bên có bất đồng và cũng có đồng thuận, nhưng đều nhất trí cho rằng cần phải tiếp tục xu thế tốt đẹp cảu cuộc đàm phán dù tạm thời còn tồn tại trở ngại, và sẽ tiếp tục thúc đẩy vòng đàm phán tiếp theo tại Bắc Kinh.

Còn tại sao bất đồng, Lưu Hạc thẳng thắn nói rằng nó liên quan đến các nguyên tắc quan trọng của quốc gia, bất kỳ quốc gia nào cũng có nguyên tắc, Trung Quốc không thể nhượng bộ về các nguyên tắc quan trọng.

Dù thế nào, đàm phán thương mại Trung – Mỹ cuối cùng cũng không bị tan vỡ như thế giới bên ngoài lo lắng. Tại vòng đàm phán này, hai bên đã làm rõ được lập trường về nhiều vấn đề, thảo luận về nội dung của vòng đàm phán tiếp theo, giải thích những phức tạp rối rắm khó tránh khỏi trong đàm phán. Ngay sau khi Mỹ áp thuế bổ sung, đoàn đại biểu Trung Quốc vẫn muốn đàm phán với Mỹ bằng thái độ tích cực, hoanh nghênh các cuộc đàm phán trong tương lại tổ chức tại Bắc Kinh, cùng tìm cách giải quyết vấn đề, tránh việc dân chúng hai nước Trung Quốc và Mỹ chịu tổn thất về lợi ích.

Tuy nhiên, đôi khi không tránh khỏi việc “mọi thứ xong xuôi chỉ thiếu một điều kiện quan trọng” và tương lai vẫn nên lạc quan. Như chuyên gia về các vấn đề Trung – Mỹ tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ, Scott Kennedy nói trong một cuộc phỏng vấn với Washington Post vào 6/5, “nét mực chưa khô thì chưa có gì là chắc chắn”. Hơn nữa, đối với Trump, ngay cả khi mực khô, là ngày hôm sau vẫn có thể đảo lộn.

Hiện tại, Chính quyền Trump đã áp mức thuế 25%, và Trung Quốc cảm thấy không hợp lý và đáng kinh ngạc. Hai năm trước, Trump từng nhiều lần nói rằng ông muốn tăng thuế nhập khẩu từ Trung Quốc lên 45%. Vì vậy, đừng hy vọng cứ đạt được thỏa thuận trọn gói là có thể tuyên bố chiến thắng, mà cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc đấu với nhiều biến động trong trung hạn và dài hạn. Xét theo góc độ cuộc xung đột thương mại Trung – Mỹ có thể diễn ra trong dài hạn, Trung Quốc nên đối phó như thế nào?

(còn tiếp)

Nguồn: Người quan sát (TQ) – 11/05/2019

TLTKĐB – 15/05/2019

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần cuối


+ Tháng Sáu năm 1996, Lầu Năm góc đã đồng ý cung cấp cho Cục Phòng vệ Nhật Bản các dữ liệu cảnh báo đầu tiên từ các vệ tinh do thám, đó là lời cảnh báo đầu tiên về một cuộc tấn công bằng tên lửa điều khiển từ xa.

+ Tháng Bảy năm 1996, Sách trắng quốc phòng hàng năm của Nhật Bản đã công bố những nhận định về các mối đe dọa chiến lược đối với Nhật Bản. Mặc dù lời lẽ mang tính ngoại giao đối với nước ngoài, nhưng những lời đề cập đến Trugn Quốc lại là cứng rắn nhất: “Sự thúc đẩy liên tục (của Trung Quốc) việc hiện đại hóa các lực lượng không quân, hải quân và vũ khí hạt nhân, mở rộng… các hoạt động hải quân; và tình trạng căng thẳng gây ra do các cuộc tập trận quân sự xung quanh Đài Loan, tất cả làm cho chúng tôi thấy cần phải chú ý cẩn thận tới… cách ứng xử của Bắc Kinh”.

+ Tháng Tám năm 1996 các hiệp hội công nghiệp quốc phòng ở Nhật Bản và Mỹ đã đồng ý thành lập một cơ quan phối hợp nhằm thúc đẩy phát triển chung về thiết bị quân sự kỹ thuật cao.

Xu hướng có ý nghĩa nhất nổi lên từ các sự kiện này là có những động lực ngày càng tăng ủng hộ cho việc xây dựng thống phòng thủ tên lửa điều khiển từ xa cho Nhật Bản. THAAD tạo thành một tấm lá chắn chống tên lửa đạn đạo xung quanh Nhật Bản và Hàn Quốc, sẽ được xây dựng vào năm 2005. Hiện nó vẫn đang ở giai đoạn triển khai ở Mỹ, và người ta vẫn chưa quyết định được vấn đề quan trọng là Nhật bản sẽ chịu phần chi phí phát triển như thế nào trong công trình này. Tuy nhiên, nếu THAAD được chấp nhận thì đó sẽ là một bước tiến quan trọng nữa tới một liên minh chiến lược Mỹ – Nhật khăng khít hơn nhằm chủ yếu là vào Trung Quốc. Một lần nữa Bắc Kinh lại nhận ra một thách thức trước sự việ này, và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đã tấn công mạnh mẽ cả Mỹ và Nhật Bản, thậm chí cả việc xem xét đến một hệ thống phòng thủ tên lửa. David Lampton, chủ tịch Ủy ban Quốc gia về Quan hệ Mỹ – Trung, đã nói: “Người Trung Quốc thì lo ngại vì THAAD sẽ vô hiệu hóa sự hiện đại hóa các hệ thống tên lửa và vũ khí hạt nhân của chính họ”.

Ít ra là Trung Quốc cũng không hài lòng, về xu hướng này, và có thể hy vọng tăng cường sức ép của họ đối với Nhật Bản. Chẳng hạn, một quan chức Trung Quốc đã thông báo hồi tháng Sáu năm 1996 rằng các lý do chính trị sẽ có ảnh hưởng đến sự lựa chọn cuối cùng các nhà thầu cho Dự án Ba Thung Lũng khổng lồ của Trung Quốc, một loạt các đập nước và trạm thủy định dự định xây trên sông Trường Giang. Tờ Trung Hoa Nhật báo của Bắc Kinh trích lời ông Qin Zhongyi, phó chủ tịch công ty phát triển Ba Thung Lũng Trường Giang của Trung Quốc, rằng cơ hội cho các tập đoàn Nhật Bản (Tập đoàn công nghiệp nặng Mitsubishi, công ty điện tử Mitsubishi, Toshiba và Hitachi) để thắng thầu các hợp đồng trị giá 4 tỷ USD “có vẻ không chắc chắn, vì người ta không dễ dàng quên được mối liên kết gần gũi của Nhật bản với các chính sách khó chịu của Mỹ”. Qin, người phụ trách cuộc đấu thầu quốc tế cho dự án, đã nói rằng một tập đoàn Đức – Canada đang là người dẫn đầu vì “các mối quan hệ tốt đẹp giữa đất nước họ và Trung Quốc”.

Thật khó nói cán cân lực lượng ở châu Á trong tương lai sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác Nhật – Mỹ tới mức độ nào. Như một nhà bình luận người Nhật Bản đã dẫn lời Thomas L. Friedman của tờ New York Times, “một mình Nhật Bản không thể bắt tay Trung Quốc, một mình Nhật Bản không thể bắt tay một Triều Tiên thống nhất, và một mình Nhật Bản không thể bảo vệ đường biển của chính nó – vì tất cả những lý do này, chúng ta cần liên minh với Mỹ”. Tuy nhiên, như thế không có nghĩa là Nhật Bản sẽ liên minh vững chắc với Mỹ. Nhiều yếu tố quyền lợi của các quan chức và các công ty Nhật Bản hẳn sẽ chống lại một liên minh hồi sinh rõ ràng là nhằm làm đối trọng với Trung Quốc, vì liên minh đó đe dọa những khoản lợi nhuận mà Nhật Bản có thể giành được ở Trung Quốc.

Công chúng rộng rãi cũng chống lại, vì họ cũng lo sợ các thảm họa mà chủ nghĩa quân phiệt không bị kiềm chế sẽ mang lại cho Nhật Bản. Sau nửa thế kỷ có thái độ hòa bình, sự tự nhận thức của Nhật Bản có lẽ không đơn giản cho phép đất nước chấp nhận vai trò một cường quốc thật sự, thậm chí chỉ ở khu vực của mình. Như Friedman đã diễn tả, vấn đề là “chính phủ Nhật Bản không muốn nói về từ C hay từ K”.

Nhiều lần trong thế kỷ này, sự suy yếu của Trung Quốc và sức mạnh của Nhật Bản đã phá hủy bất cứ khả năng nào về cán cân lực lượng châu Á ổn định. Do đó, từ Thế chiến II, đã có tiền đề cho rằng một Nhật Bản được tái vũ trang sẽ đe dọa hòa bình và ổn định ở châu Á. Nhưng nếu một lần nữa điều đó là sự thật, thì nay không còn là sự thật nữa. Trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, chính sự yếu kém của Nhật Bản đe dọa hòa bình và ổn định do chỗ tạo ra một khoảng trống quyền lực mà Mỹ không thể lấp đầy, nhưng Trung Quốc lại có thể. Một Nhật Bản hợp tác chân thành với Mỹ là điều thiết yếu cho một cán cân lực lượng mới ở châu Á. Một Nhật Bản yếu chỉ có lợi cho Trung Quốc, bằng chứng hiển nhiên chỉ ra rằng Trung Quốc không hướng tới một cán cân lực lượng mới mà nhắm tới bá quyền của Trung Quốc, và trong đó, Nhật Bản, nếu chịu nhường bước cho định mệnh đó, thì sẽ phục vụ như là một nước chư hầu hữu ích nhất và giàu có nhất của Trung Quốc.

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

FDI Trung Quốc tại Việt Nam: Xu hướng, hiện trạng và thách thức – Phần I


Tóm tắt

+ Kể từ năm 2011, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào Việt Nam tăng trong bảng xếp hạng các quốc gia đầu tư vào Việt Nam, và mở rộng về phạm vi địa lý và lĩnh vực đầu tư.

+ Mặc dù các dự án đầu tư của Trung Quốc mang lại lợi ích cho Việt Nam, nhưng nhiều người phàn nàn rằng những dự án này có hàm lượng công nghệ thấp, sử dụng công nghệ đã lỗi thời, có liên quan đến việc chuyển giá và gây phiền toán vì bị trì hoãn nhiều lần.

+ Việt Nam có khả năng cải thiện môi trường tổng thể cho các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả các nhà đầu tư Trung Quốc.

+ Về phần mình, Chính phủ Trung Quốc có thể làm nhiều hơn nữa để giải quyết tình trạng công chúng Việt Nam có suy nghĩ tiêu cực và thiếu lòng tin vào các dự án đầu tư của Trung Quốc.

Tổng quan về FDI Trung Quốc vào Việt Nam

Kể từ năm 2011, FDI Trung Quốc vào Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể về nhiều mặt – vươn lên vị trí cao hơn trong bảng xếp hạng, gia tăng về quy mô, thay đổi về hình thức và lĩnh vực. Đây là những xu hướng then chốt của FDI Trung Quốc vào Việt Nam. Từ năm 2015 đến nay, nhất là kể từ khi Việt Nam ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), sau đổi thành Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Trung Quốc thường đứng trong top 10 nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam vì họ đang tìm cách có được chỗ đứng trên thị trường CPTPP béo bở thông qua Việt Nam.

Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, tổng vốn đăng ký của Trung Quốc (kể cả Đài Loan) ở Việt Nam năm 2011 là 700 triệu USD. Năm 2017, vốn đăng ký của Trung Quốc đã đạt trên 1,4 tỷ USD, tăng gấp đôi nhờ tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt khoảng 18%. Chiếm 12% tổng FDI đăng ký năm 2017, Trung Quốc xếp vị trí thứ 8 trong số các nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đứng sau Nhật Bản (vị trí thứ nhất với tổng đầu tư chiếm 30%), Hàn Quốc (vị trí thứ 2, 28%) và Singapore (vị trí thứ 3, 19%). Đây là bước nhảy vọt ấn tượng của FDI Trung Quốc vào Việt Nam vì năm 2011, Trung Quốc chỉ xếp thứ 14 trong số 94 nước đầu tư vào Việt Nam.

Trong giai đoạn 1991 – 200, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tập trung chủ yếu ở khu vực công nghiệp nhẹ và tiêu dùng. Trong những năm gần đây, FDI Trung Quốc vào Việt Nam đã dịch chuyển mạnh mẽ sang xây dựng, chế tạo, chế biến và năng lượng. Ngành công nghiệp chế biến và chế tạo hiện chiếm 61,4% tổng vốn đầu tư, theo sau là ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước, điều hòa không khí (18,2%) và bất động sản (5,6%). Năm 2018, Trung Quốc dành trung bình 6,3 triệu USD cho mỗi dự án, với nhiều dự án có giá trị từ 1 – 10 triệu USD.

Các dự án của Trung Quốc trải khắp lãnh thổ Việt Nam. Ở miền Bắc, một số dự án quy mô lớn của Trung Quốc bao gồm:

+ dự án khai thác mỏ và luyện kim Việt – Trung ở tỉnh Lào Cai (337,5 triệu USD);

+ dự án nhà máy sợi ở tỉnh Quảng Ninh (300 triệu USD) thuộc Tập đoàn Texhong;

+ dự án nhà máy chế biến cao su ở tỉnh Lào Cai (337,5 triệu USD);

+ dự án mở rộng nhà máy sắt thép ở tỉnh Thái Nguyên (340 triệu USD);

+ dự án đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông (với đầu tư ban đầu của Trung Quốc là 419 triệu USD);

+ dự án đường ống dẫn nước sông Đà (450 triệu USD);

+ dự án nhà máy luyện và cuộn thép ở tỉnh Thái Bình (33 triệu USD);

+ dự án khu đô thị Nam Thành Đông 1, trong đó có một nhà máy sản xuất thực phẩm cho những người theo đạo Hồi (20 triệu USD) tại Hải Dương;

Ở miền Trung, các dự án lớn là:

+ dự án nhà máy sản xuất đồ nhựa (420 triệu USD);

+ dự án nhà máy sản xuất thiết bị điện tử ở Đà Nẵng (18 triệu USD);

Ở miền Nam, các dự án then chốt của Trung Quốc bao gồm:

+ dự án bất động sản ở tỉnh Tiền Giang (100 triệu USD);

+ dự án nhà máy giày ở tỉnh Đồng Nai (60 triệu USD);

+ dự án nhà máy sản xuất gỗ dán MDF ở tỉnh Long An (10 triệu USD);

+ dự án Công ty Hải Thái cung cấp dịch vụ in phun, đồ họa và quảng cáo ở TPHCM (10 triệu USD)

+ dự án nhà máy điện Vĩnh Tân 1 ở tỉnh Bình Thuận (1,76 tỷ USD);

+ dự án Công ty TNHH lốp xe Việt Luân ở tỉnh Tây Ninh (400 triệu USD);

+ dự á n nhà máy dệt thuộc Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa tại KCN Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai (gần 1 tỷ USD);

Những dự án này phản ánh sự mở rộng về quy mô của các dự án đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam trong những năm gần đây.

Mặc dù có thể thấy các dự án đầu tư trực tiếp của Trung Quốc ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, nhưng những dự án này tập trung chủ yếu ở các thành phố đông dân có kết nối cơ sở hạ tầng tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho viẹc đi lại giữa Trung Quốc và Việt Nam, chú trọng vào xuất – nhập khẩu hàng hóa và nguồn lao động sẵn có. Theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 4/2017, các dự án đầu tư của Trung Quốc đã có mặt ở 54/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Tỉnh Bình Thuận thu hút nhiều vốn đầu tư của Trung Quốc nhất, 2,03 tỷ USD (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam) cho 7 dự án, Tây Ninh đứng ở vị trí thứ 2 với 46 dự án và tổng vốn đầu tư là 1,65 tỷ USD (chiến 14,8% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam). Tỉnh Bắc Giang xếp thứ 3 với 61 dự án và vốn đầu tư là 957,56 triệu USD (chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư đăng ký của Trung Quốc ở Việt Nam).

Lý do Trung Quốc tăng FDI vào Việt Nam

Chính phủ Việt Nam từ lâu đã coi nguồn lao động tương đối rẻ là một lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, kể cả đầu tư từ Trung Quốc. Điều này đặc biệt có liên quan tại thời điểm giá lao động ở Trung Quốc đang tăng lên. Hiện tại, giá lao động bình quân một tháng ở Việt Nam nằm trong khoảng từ 300 – 350 USD, bằng một nửa giá lao động ở Trung Quốc.

Việt Nam cũng khuyến khích các công ty nước ngoài đến đây để giới thiệu các công nghệ mới và tiên tiến hơn cũng như các mô hình quản lý mới nhất. Đây là cơ hội tốt để cá doanh nghiệp địa phương học hỏi và nâng cao kỹ năng quản lý và năng suất của mình. Các doanh nghiệp Trung Quốc ở Việt Nam có đóng góp đáng kể trong lĩnh vực này.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện nghiên cứu Đông Nam Á (Sing) – 24/04/2019

TLTKĐB – 07/05/2019

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần V


Những gì làm cho Nhật Bản cũng như các quốc gia Đông Nam Á phải lo lắng là sự cố tình lừa dối của Trung Quốc (những thông báo của Giang Trạch Dân chỉ là những bảo đảm có thẩm quyền nhất và mới nhất cho ý đồ hòa bình) và dường như quyết tâm của Trung Quốc nắm quyền kiểm soát Biển Nam Trung Hoa bất chấp dư luận trong khu vực không hề thay đổi. Mặc dù các tham vọng của Trung Quốc tập trung vào các đảo nhỏ và các bãi đá ngầm, họ cũng đòi hỏi quyền – mà cho tới bây giờ, họ vẫn nói là họ sẽ không áp dụng – “điều chỉnh” hoạt động của tàu bè qua lại trên vùng biển đó. Tất nhiên, đối với Nhật Bản, việc Trung Quốc áp dụng “quyền” đó buộc Nhật Bản phải có sự điều chỉnh các con đường buôn bán quan trọng nhất của mình. Nhưng viễn cảnh biển Nam Trung Hoa bị biến thành ao nhà của Trung Quốc đã có những ý nghĩa nghiêm trọng đối với đầu tư của Nhật Bản. Một lượng tài sản khổng lồ của Nhật Bản được đầu tư ở các quốc gia Đông Nam Á ở giáp ranh con đường hàng hải mà chẳng bao lâu nữa có thể sẽ bị Trung Quốc kiểm soát. Ngược lại, Nhật Bản thậm chí không có quyền hợp hiến để cử tàu chiến tới Biển Nam Trung Hoa bảo vệ cho đầu tư của họ tại đó. Thay cho điều đó, họ phải phụ thuộc vào ý muốn giúp đỡ của Mỹ, cử các lực lượng quân đội Mỹ tới bảo vệ cho các công ty Sony và NEC. Như một quan sát viên đã nhận xét, trước đây, chưa bao giờ có một quốc gia mạnh và quan trọng nào lại cho phép những lượng tài sản lớn của mình lưu thông ở nước ngoài mà không có khả năng bảo vệ.

Cũng trong năm 1995, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đẩy mạnh các cuộc tập trận ở Triều Tiên, nơi họ đã thể hiện thái độ chống Nhật rất rõ ràng. Trong khi tình cảm chống Nhật đang biến mất khỏi Đông Nam Á, thì nó vẫn dữ dội trong người Triều Tiên. Cảm nhận của họ về cuộc xâm chiếm tàn bạo và kéo dài của Nhật Bản trên đất nước họ, từ 1895 tới 1945, vẫn còn sâu đậm, thậm chí ở cả những người được sinh ra sau Thế chiến II. Trong một cuộc viếng thăm cấp nhà nước có tính lịch sử tới Hàn Quốc tháng 11 năm 1995, cứ có cơ hội là Giang Trạch Dân lại kêu gọi thái độ thù địch của người dân Triều Tiên đối với Nhật Bản. Gợi lại ký ức về chế độ thuộc địa Nhật Bản ở Triều Tiên, Giang Trạch Dân đã cùng Tổng thống Hàn Quốc lên án lịch sử cuộc xâm lược của Nhật Bản, và Giang Trạch Dân còn gợi ý thêm rằng bọn “quân phiệt” Nhật Bản vẫn là một mối đe dọa cho sự tồn tại của cả Trung Quốc lẫn Triều Tiên.

Đối với phương Tây, thái độ của Giang Trạch Dân ở Triều Tiên dường như là biểu hiện lành mạnh thiện ý của Trung Quốc nhằm mở rộng phạm vi các mối quan hệ tốt đẹp của mình. Tuy nhiên, thực ra, thái độ của Trung Quốc ở Triều Tiên, vốn dựa trên giả thiết rằng cuối cùng chế độ Bình Nhưỡng sẽ sụp đổ dần, lại kích thích cơn ác mộng của Nhật Bản: một nước Triều Tiên tái thống nhất, được trang bị vũ khí hạt nhân, nghiêng về Trung Quốc và chống lại Nhật Bản. “Địa chính trị học Nhật Bản đã không thay đổi qua nhiều thế kỷ”, Hisahiko Okazaki, một nhà phân tích chiến lược Nhật Bản, đã nói: “Tầm quan trọng chiến lược của Bán đảo Triều Tiên vẫn tồn tại như nó đã luôn luôn tồn tại”. Nếu Trung Quốc có ảnh hưởng quyết định ở một nước Triều Tiên tái thống nhất và được trang bị vũ khí hạt nhân, nó sẽ có tác động to lớn đối với Nhật Bản, trên thực tế là buộc Nhật Bản phải tìm kiếm sự bảo vệ của Trung Quốc để chống lại Triều Tiên.

Phương án giải quyết của Mỹ cho vấn đề này là đề nghị các cuộc đàm phán bốn bên giữa hai nước Triều Tiên cũng như Mỹ và Trung Quốc. Cho đến nay lời đề nghị này chưa được thực hiện ở bất cứ đâu. Trong lúc này, có những báo cáo liên tục về việc Trung Quốc đang bí mật tạo điều kiện cho các cuộc tiếp xúc giữa Bắc và Nam Triều Tiên, xúc tiến chương trình nghị sự của mình với tư cách là một đấu thủ bên ngoài nhưng có tính quyết định đối với bán đảo. Bất chấp các tài sản quân sự của mình trên bán đảo, dường như Mỹ không có đối sách nào, và điều này đã làm Nhật Bản càng lo ngại hơn bao giờ hết.

Đồng thời, theo nhận định của bất cứ nhà chiến lược nào, mối quan hệ thân thiết đang tăng lên giữa Trung Quốc với Nga (trong khi mối quan hệ đó không nhằm vào Nhật Bản một cách rõ rệt), lại đi ngược lại các lợi ích của Nhật Bản. Nó làm lệch thêm cán cân lực lượng ở Đông Bắc Á có lợi cho Trung Quốc và chống lại các lợi ích của Nhật Bản và Mỹ. Mặc dù phần nào do sự trùng hợp ngẫu nhiên, và không phải do quan hệ nhân quả, mối giao kết thân thiện Nga – Trung dường như đang đi song song gần gũi với mối giao kết thân thiết Nhật – Mỹ. Quả vậy, năm 1996, Tổng thống Nga Boris Yeltsin và Giang Trạch Dân đã tuyên bố một hiệp ước chiến lược Nga – Trung và trong cùng tháng Tư đó, Clinton và Hashimoto đã công bố tuyên bố chung của họ ở Tokyo.

Đối với Nhật Bản, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan được xem như đi ngược lại bối cảnh này, Đài Loan có tầm quan trọng quyết định đối với an ninh Nhật Bản. Thực ra nó đã góp phần bảo vệ sườn phía Nam của Nhật Bản. Từ cuộc chiến tranh Triều Tiên, các mối quan hệ khăng khít với Mỹ và các chính sách ủng hộ buôn bán, ủng hộ phương Tây đã đưa lại cho Đài Loan một chỗ đứng đáng khích lệ. Một điều hầu như bao giờ cũng bị bỏ quên hoàn toàn là Đài Loan còn bảo vệ các cửa ngõ phía Đông và Biển Nam Trung Hoa – Đài Loan chia sẻ với Trung Quốc eo biển Đài Loan, và chia sẻ với Philippines đường lạch Bashi của eo biển Luzon. Sự quan tâm ít ỏi đối với thực tế chiến lược quan trọng này là do cam kết của Đài Loan về thương mại và tự do đi lại trên đường biển – điều đó có nghĩa là sẽ không bao giờ có chuyện Đài Loan phong tỏa các tuyến đường hàng hải đó. Nhưng viễn cảnh về quyền kiểm soát này của Trung Quốc đối với Đài Loan, một viễn cảnh mà chắc chắn người ta phải nghĩ tới do cuộc đụng độ trên eo biển Đài Loan vào năm 1996, đã buộc các nhà chiến lược Nhật Bản phải đánh giá lại từ đầu tầm quan trọng chiến lược vô cùng to lớn của Đài Loan đối với Nhật Bản.

Trong bất cứ trường hợp nào, các bài phát biểu và các sự kiện khác nhau này, diễn ra trong thế giới sau Chiến tranh Lạnh, đã dẫn tới một số cam kết Nhật – Mỹ. Đặt cạnh nhau, các cam kết đó thể hiện một sự gia tăng đáng quan tâm về hợp tác quân sự giữa hai nước:

+ Tháng Hai năm 1996, Mỹ và Nhật Bản đã ký kết một biên bản ghi nhớ liên quan đến việc chia sẻ các thông tin chi tiết về phòng phủ bằng tên lửa điều khiển từ xa. Tháng Tư năm 1995, Cục phòng vệ Nhật Bản đã thành lập Cơ quan nghiên cứu phòng vệ bằng tên lửa đạn đạo, nhiệm vụ của nó là quyết định có triển khai hay không triển khai hệ thống phòng thủ chống tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD.

+ Tháng Tư năm 1996 đã có tuyên bố an ninh chung.

+ Tháng Năm năm 1996 chính phủ Nhật Bản đã xem xét việc xây dựng các đường lối chỉ đạo mới cho Nhật Bản “để hành động phối hợp với Washington trong việc giải quyết tất cả các trường hợp khẩn cấp… xảy ra ở trong khu vực xung quanh”. Đây là một bước phát triển của tuyên bố tháng Tư. Một tờ báo đã đưa tin rằng Nhật Bản đang tìm cách nói thích hợp để tìm lý do chính đáng cho việc Nhật Bản đảm nhận vai trò quân sự tích cực hơn nữa bên cạnh Mỹ nếu chiến tranh xảy ra.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19

Tổng thống Philippines “sập bẫy” Trung Quốc


Năm 2016, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte bắt đầu sưởi ấm quan hệ với Trung Quốc để có được đầu tư. Bắc Kinh từng hứa cung cấp 24 tỷ USD tín dụng để Manila nâng cấp hạ tầng cơ sở. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, chỉ có một số rất ít được thực sự chỉ ra.

Chuyến công du Philippines đầu tiên của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong 2 ngày 20 – 12/11 vừa qua cũng không làm thay đổi toàn cảnh đó, trong lúc ông Duterte bị cáo buộc đã bị lừa khi “dâng” trước chủ quyền Biển Đông của Philippines cho Trung Quốc.

Trong bài phân tích ngày 23/11 mang tựa đề “Quyết định của Philippines xoay trục qua Trung Quốc vẫn chưa mang lại lợi quả. Manila vẫn ngóng trông các khoản tiền cam kết”, kênh truyền thông CNBC của Mỹ đã nêu bật phản ứng của công luận Philippines phê phán chính quyền Duterte đã vội vã nhượng bộ Trung Quốc về địa chính trị ở Biển Đông để đánh đổi lấy hư không.

Theo nhà báo Nyskha Chandran của CNBC, sau khi tuyên bố “bỏ Mỹ, theo Trung”, năm 2016, ông Duterte đã được chính quyền Tập Cận Bình cam kết 24 tỷ USD đầu tư và tín dụng để nâng cấp hạ tầng cơ sở tại Philippines. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như Manila vẫn chưa thấy tăm hơi những khoản cam kết đó.

Bắc Kinh đã hứa với Manila đến 10 dự án hạ tầng cơ sở to lớn, nhưng theo nhà chính trị học Richard Heydarian, thuộc Đại học La Salle ở Philippines, chỉ mới có một dự án là đã đi vào thực hiện. Trong khi đó, ông Duterte đã “giảm nhẹ hẳn việc tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, và đi theo đường lối của Bắc Kinh”.

Cựu Tổng thống Philippines Benigno Aquino đã đưa vấn đề tranh chấp lãnh thổ Trung Quốc – Philippines ở Biển Đông ra trước Tòa trọng tài quốc tế ở La Haye (Hà Lan), năm 2016, tòa án đã ra phán quyết thuận lợi cho Manila, vô hiệu hóa yêu sách của Bắc Kinh. Trung Quốc đã bác bỏ phán quyết đó. Nhiều người đã chỉ trích ông Duterte là đã không làm gì để yêu cầu Bắc Kinh tôn trọng phán quyết.

Chẳng những thế, chỉ vài tháng sau phán quyết nói trên, ông Duterte lại thay đổi chính sách đối ngoại, tuyên bố chia tay với đồng minh Mỹ để quay sang đồng hành với Bắc Kinh.

Quyết định trên đã khiến nhiều người Philippines giận dữ. Họ cho rằng ông Duterte đã nhượng bộ ở Biển Đông để có được tiền từ Trung Quốc, nhưng lại chẳng thấy gì.

Gần một nửa trong số 75 dự án hạ tầng cơ sở của ông Duterte – trụ cột của chiến lược kinh tế “Xây dựng, xây dựng và xây dựng”, trị giá 180 tỷ USD, dự trù dùng tiền của Trung Quốc, nhưng đến nay mới chỉ có 3 đề án là nhận được tài trợ. Bộ trưởng Tài chính Philippines Benjamin Diokno ngày 19/11 đã thừa nhận rằng đầu tư Trung Quốc đến rất chậm.

Mặc dù Tổng thống Duterter hiện vẫn còn được sự ủng hộ của dân chúng, nhưng các cuộc thăm dò cho thấy người Philippines rất dè dặt về chính sách của ông đối với Trung Quốc. Theo kết quả cuộc thăm dò dư luận do viện Social Weather Station công bố ngày 19/11, hơn 80% số người được hỏi cho rằng Philippines nên chống lại việc Trung Quốc quân sự hóa các đảo nhân tạo đã bồi đáp ở Biển Đông.

29 thỏa thuận ký kết, nhưng chỉ là thứ yếu

Trong bối cảnh những cam kết tài trợ của Trung Quốc cho ông Duterte rõ ràng chưa thành hiện thực, đồng thời chính sách thân Bắc Kinh của Tổng thống Philippines bị chỉ trích là không mang lại lợi ích mong muốn, nhiều nhà quan sát cho rằng Bắc Kinh sẽ phải cố buông ra một cái gì nhân chuyến công du Philippines của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Nhân chuyến thăm Philippines của ông Tập Cận Bình, Manila và Bắc Kinh đã ký đến 29 thỏa thuận trên nhiều lĩnh vực, từ hợp tác giáo dục cho đến xây dựng khu công nghiệp. Tuy nhiên, theo chuyên gia Heydarian, khi xem xét kỹ thì giá trị các văn kiện đó chẳng là bao.

Đại đa số các văn bản được ký kết chỉ là những biên bản ghi nhớ và những khuôn khổ hợp tác mơ hồ, hầu như có rất ít thỏa thuận có liên quan đến việc thực hiện các dự án hạ tầng cơ sở quan trọng.

Trong một bản thông cáo công bố ngày 21/11, Phó Tổng thống Philippines, bà Leni Robredo, một trong những chính khách đối lập với Tổng thống Duterte, đã lên tiếng rằng “tình hữu nghị song phương không được quyền ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia và dân tộc”. Theo Phó Tổng thống Robredo, “Chủ quyền của Philippines không thể bị tác động bởi bất kỳ thỏa thuận nào với bất kỳ quốc gia nào”.

Trung Quốc không cần giữ lời hứa

Khái niệm chủ quyền được bà Robredo nhắc đến được cho là liên quan đến Biển Đông. Trong chuyến thăm Philippines của ông Tập Cận Bình, hai bên đã cam kết quản lý đúng đắn các bất đồng ở Biển Đông.

Điều làm giới quan sát thắc mắc là không rõ Tổng thống Duterte có đề cập đến phán quyết cả Tòa Trọng tài La Haye năm 2016 hay không? Thế nhưng, hai bên đã ký một thỏa thuận chung khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp, cho dù theo phán quyết nói trên, Trung Quốc không có quyền hạn gì ở vùng này.

Theo chuyên gia Malcolm Cook, thuộc Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak tại Singapore, “Tổng thống Duterte đang ở trong thế yếu trước Trung Quốc và chính ông đã tự đặt mình trong thế đó”. Chuyên gia này giải thích:

Ông Duterte đã xích lại gần Trung Quốc quá nhanh, quá toàn diện ngay sau khi lên cầm quyền, đồng thời đã cho Trung Quốc tất cả những gì họ muốn trước khi Bắc Kinh đền đáp lại. Cho nên, không mấy ngạc nhiên khi thấy những lợi lộc kinh tế mà Trung Quốc hứa cho Philippines lại đến ít và chậm hơn là cam kết”.

Theo giới quan sát, có nhiều lý do khiến Trung Quốc tài trợ chậm trễ cho các đề án hạ tầng cơ sở của Philippines. Các đề án như tuyến đường tàu hỏa Mindanao Railway chẳng hạn, một phần của Con đường Tơ lụa mới, mang tính chất chính trị nhiều hơn là thương mại, do đó các ngân hàng Trung Quốc do dự trong việc chi tiền. Theo chuyên gia Cook, Sáng kiến “Vành đai và Con đường” đã bắt nhiều ngân hàng phải gánh những khoản cho vay về hạ tầng cơ sở mà hiệu quả rất đáng ngờ.

Theo Heydarian, ở một khía cạnh khác, “Bắc Kinh không cảm thấy cần phải gấp rút đầu tư vì họ đã đạt được những nhượng bộ mà họ muốn từ Manila”.

Nguồn: TKNB – 28/11/2018

Kế hoạch của Trung Quốc đối với Nhật Bản – Phần IV


Một hiệp ước như vậy sẽ ủng hộ mạnh mẽ cho ưu thế của Trung Quốc ở châu Á. Quân đội Mỹ đóng tại Nhật Bản sẽ chỉ nhằm ngăn ngừa việc tái vũ trang của Nhật Bản, không phải để sử dụng Nhật Bản như một căn cứ của các hoạt động tấn công. Về quân sự Nga sẽ vẫn còn quá yếu để thách thức ưu thế của Trung Quốc. Thậm chí nhiều người Nhật sẽ bị quyến rũ bởi ý đồ của Trung Quốc, vì nó hứa hẹn một nền quốc phòng ít tốn kém. Mỹ cũng sẽ có quan điểm vững chắc ủng hộ điều đó, đặc biệt nếu Mỹ, sau khi mất đi các căn cứ của mình ở Philippines, cũng sẽ sẵn sàng rời khỏi Triều Tiên. Người Mỹ sẽ có một cách thức để cắt giảm chi phí quân sự, chấm dứt vai trò sen đầm quốc tế của Mỹ, một vai trò dù sao cũng làm cho nhiều người Mỹ cảm thấy bất tiện. Rất có thể sẽ có “các chiến dịch tấn công hòa bình” của Trung Quốc khá giống với “phong trào hòa bình” của Liên Xô trong những năm 1970 và 1980. Nhưng sự thật là nếu một ngày nào đó Bắc Kinh đề cập đến một thỏa thuận như vậy với Mỹ, thì tức là họ yêu cầu Mỹ chấp nhận ưu thế ở châu Á của Trung Quốc và đặt Nhật Bản trong phạm vi bá quyền của Trung Quốc như một chuyện đã rồi.

Trong khi Trung Quốc từ lâu đã coi Nhật Bản là kẻ thù chiến lược thì Nhật Bản cho đến gần đây vẫn tương đối lơi là về Trung Quốc. Cuối năm 1993, một cuốn sách quan trọng về các vấn đề an ninh của Nhật Bản hầu như đã không đề cập đến Trung Quốc. Vài năm trước đó, thường thường những người Nhật vốn bi quan cũng đã bắt đầu tin những thông cáo báo chí của họ coi Nhật Bản là quốc gia số một (Number 1) (tiêu đề một cuốn sách của một học giả người Mỹ trở thành cuốn sách best seller ở Nhật Bản). Người Nhật ngày càng thêm tin rằng đối với Nhật Bản, tầm quan trọng của Mỹ đang giảm đi và Nhật Bản nên dốc toàn lực để trở thành nước lãnh đạo châu Á.

Vào đầu những năm 1990, bất chấp những dấu hiệu cảnh báo như là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Nhật Bản, sức mạnh của Nhật Bản dường như vẫn là nỗi ám ảnh kinh hoàng trên khắp châu Á. Người ta cho là sắp tới sẽ ra đời khối đồng Yen, một hiệp hội kinh tế dưới sự lãnh đạo kinh tế vững chắc của Nhật Bản. Ở Tokyo, người ta nghe một ẩn dụ dành cho các nền kinh tế châu Á là “một đàn sếu bay”. Trong khi các nước châu Á đang ở các giai đoạn phát triển kinh tế và kỹ thuật khác nhau, thì tất cả đang bay theo kế hoạch bay và theo sự dẫn đường của Nhật Bản. Nhật Bản ở đầu đội hình chữ V. Ngay sau nó là Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore, các nhà máy của các nước này đã chế tạo những sản phẩm mà Nhật Bản chỉ sản xuất sớm hơn một thập kỷ. Rồi đến Malaysia và Indonesia, cùng với các nước như Myanmar và Việt Nam ở sau.

Lúc đầu, người Nhật đã coi Trung Quốc là một con sếu rất lớn nhưng chậm chạp. Tuy nhiên, thật đáng khen là các nhà lãnh đạo chính trị và kinh doanh Nhật Bản đã nhận ra rằng ở thời kỳ sau cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, Trung Quốc đang xuất hiện với tư cách là một cường quốc kinh tế và quân sự cần phải lưu tâm đến. Trong thời gian đó, người Nhật hầu như đơn độc, canh bạc Trung Quốc ở Mỹ và các nước phương Tây khác đang đầu cơ trên sự suy sụp của chế độ. Nhưng Nhật Bản đã bắt đầu một nỗ lực quan trọng vào đầu những năm 1990 nhằm cải thiện các mối quan hệ với Trung Quốc. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân của Nhật Bản tiếp tục chuyển chậm chạp sang các lĩnh vực đầu tư và buôn bán, thì chính phủ Nhật Bản đã đẩy mạnh chương trình viện trợ nước ngoài và giúp đỡ kinh tế cho Trung Quốc. Vào giữa những năm 1990, viện trợ trọn gói của Nhật Bản cho Trung Quốc đã đạt tổng trị giá gần 5,5 tỷ USD dưới hình thức các khoản vay mềm và các khảon trợ cấp không hoàn lại. Chính phủ Nhật Bản đã cử Hoàng đế và Hoàng hậu của mình tới Trung Quốc trong một chuyến viếng thăm cấp Hoàng gia, một biểu tượng hùng hồn cho sự tôn trọng của Nhật Bản. Tokyo cũng lên tiếng tại các diễn đàn quốc tế nhằm tìm ra phương pháp hòa giải với Bắc Kinh trong nỗ lực chung nhằm làm cho Trung Quốc hội nhập hơn nữa với cộng đồng thế giới. Cuối cùng, các nhà lãnh đạo Nhật Bản đã đưa ra lời xin lỗi Trung Quốc và các quốc gia khác vì những hành động của Nhật Bản trong thế chiến II.

Nhưng chúng ta đã thấy, những nỗ lực của Nhật Bản nhằm lập lại mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc đã không thành công. Trung Quốc chấp nhận viện trợ và đầu tư của Nhật Bản, nhưng đã khuyến khích tình cảm chống Nhật của nhân dân trong và ngoài nước. Đồng thời, việc Chính phủ Nhật Bản tác động lên các lực lượng thị trường và điều chỉnh quá mức thị trường trong nước đã dồn gánh nặng lên nền kinh tế Nhật Bản vốn đã gặp những vấn đề có tính cơ cấu rất cơ bản và nghiêm trọng. Năm 1996, rất nhiều các nhà kinh tế học của cả Nhật Bản và nước ngoài đã đồng ý rằng các vấn đề về kinh tế của Nhật Bản là lâu dài và có tính kinh niên. Theo các tiêu chuẩn đánh giá của thế giới, Nhật Bản vẫn còn mạnh và phồn vinh, nhưng tỷ lệ tăng trưởng – dẫn đến bước nhảy vọt kỳ diệu của Nhật Bản từ một nền kinh tế đổ nát năm 1945 tới một nước cạnh tranh giành vị trị nền kinh tế số một của thế giới – đã thuộc về lịch sử. Quả vậy, chắc chắn rằng trong một vài năm tới, Trung Quốc sẽ vượt Nhật Bản về tổng sản lượng kinh tế, đẩy Nhật Bản xuống vị trí thứ ba trên thế giới.

Tâm trạng bấp bênh ám ảnh đất nước Nhật vào giữa những năm 90 đã được phản ánh rất đúng qua kết quả của một cuộc thăm dò ý kiến do tờ báo Asahi Shimbun  tiến hành vào tháng Tám năm 1994. Với câu hỏi quốc gia nào sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với châu Á trong thế kỷ 21 thì có 54% người Nhật đã trả lời là Trung Quốc, 30% là Mỹ, và chỉ có 16% trả lời là Nhật Bản.

Tâm trạng bi quan và lo âu này, không nghi ngờ gì nữa, đã góp phần vào quyết định nhằm tìm kiếm các mối quan hệ chiến lược thân thiết hơn với Mỹ. Một yếu tố khác là Trung Quốc vẫn tiếp tục một loạt chiến dịch tuyên truyền chống Nhật Bản. Nhưng cuối cùng điều đã làm Nhật Bản tin rằng cần phải nghiêng về phía Mỹ là một loạt hành động quân sự và chính trị hiếu chiến của Trung Quốc đã diễn ra trong hơn một năm và đe dọa những lợi ích an ninh cơ bản của Nhật Bản.

Nhật Bản đặc biệt lo lắng vì các hành động hiếu chiến của Trung Quốc ở vùng biển Đông và Nam Trung Hoa đe dọa các con đường kinh tế huyết mạch của Nhật Bản. Hầu hết các nguyên liệu và năng lượng của Nhật Bản là chuyển qua Biển Nam Trung Hoa, mà ở đó trong những năm 1970, Trung Quốc bắt đầu xâm chiếm các hòn đảo thuộc về một nước Việt Nam yếu hơn nhiều. Những đòi hỏi khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa cũng đã báo động cho các nhà nước Đông Nam Á như Philippines và Malaysia là những nước cũng đã đòi hỏi và chiếm giữ một vài hòn đảo nhỏ từ lâu. Những nước khác, đặc biệt là Indonesia và Singapore, đã không có các cuộc tranh chấp công khai nào với Trung Quốc và biển Nam Trung Hoa nhưng đã có sự quan tâm cấp thiết đến việc ngăn chặn một cuộc xung đột.

Tháng 11 năm 1994, Giang Trạch Dân đã thăm một vài nước Đông Nam Á để chứng tỏ ý đồ hòa bình của Trung Quốc. Đề cập tới quần đảo Trường Sa (Spratly) một quần đảo gần với Việt Nam, Malaysia và Philippines hơn nhiều so với Trung Quốc, ông ta đã nói tại ột cuộc họp báo ở Singapore rằng: “của Trung Quốc là rõ ràng và không thay đổi. Chúng tôi ủng hộ cách giải quyết các cuộc tranh chấp có liên quan thông qua các cuộc đàm phán song phương. Tất cả những lời phát biểu xuất phát từ định đề “Trung Quốc sẽ tạo ra một mối đe dọa” là không có cơ sở”.

Tuy nhiên, gần như đúng vào khi Giang Trạch Dân tuyên bố cam kết của Trung Quốc giải quyết một cách hòa bình cuộc tranh chấp về các bãi đá ngầm và ác đảo nhỏ trên biển, thì hải quân Trung Quốc chuẩn bị xâm chiếm một trong số các đảo này. Philippines đã được coi như là “chủ nhân” của đảo Mischief, cách phía Tây đảo Palawan của Philippines khoảng 135 dặm, nhưng các lực lượng vũ trang được trang bị thô sơ và ít ỏi của họ đã không bao giờ làm được việc tuần tra đầy đủ lãnh thổ Philippines (Mỹ đã từ bỏ công việc này khi các căn cứ quân sự của Mỹ ở Philippines đã bị đóng cửa). Người Trung Quốc đã xây dựng xong một cơ sở trên đảo Mischief khi một ngư dân Philippines tình cờ khám phá ra rằng người Trung Quốc đã ở đó vào tháng Giêng năm 1995. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố rằng những người chiếm giữ trên đảo chỉ là những ngư dân, nhưng chẳng ai tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” tin điều đó cả. Những gì mà Bắc Kinh gọi là “các cơ sở đơn giản của ngư dân” gồm có các kho nhiên liệu, đĩa vệ tinh và thiết bị radar. Mọi người dễ dàng hiểu rằng việc Trung Quốc chiếm giữ đảo Mischief là một hoạt động quân sự trên biển.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đức Nhân

Hiệu đính: Nguyễn Chí Tình

Nguồn: Richard Bernstein, Ross H. Munro – China’s Plan for Japan – Trong sách “The Coming Confict with China” – New York 1997, pp167 – 185.

TĐB 97 – 18 & 19