Thương chiến Mỹ – Trung và ảnh hưởng đối với Việt Nam


Việt Nam nằm trong nhóm bị ảnh hưởng nặng nề

Tờ Business Times ngày 6/8 đăng bài cho rằng các nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của châu Á như Việt Nam, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc và Malaysia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi nhu cầu đối với các sản phẩm của Trung Quốc suy giảm và hiện tượng gián đoạn chuỗi cung ứng do thương chiến Mỹ – Trung leo thang.

Theo bài viết, nguyên nhân là do nhiều nhà xuất khẩu đã được tích hợp sâu vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Họ chuyên cung cấp thiết bị điện tử, phụ tùng và máy móc cho các nhà máy Trung Quốc, sau đó lắp ráp và tái xuất các sản phẩm điện tử sang Mỹ và các thị trường toàn cầu khác.

Theo báo cáo của Fitch Solutions hôm 6/8, tại châu Á, Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore tiếp xúc nhiều nhất với thị trường Trung Quốc, với tỷ lệ tương ứng 41%, 31% và khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc Đại lục và Hong Kong vào năm 2018. Phần lớn xuất khẩu của các nước này là mặt hàng điện tử và máy móc.

Fitch Solutions khuyến nghị Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác như Thái Lan và Malaysia có thể bù đắp sự sụt giảm nhu cầu của Trung Quốc bằng cách chào mời các tập đoàn đa quốc gia đang muốn di dời hoặc mở rộng sản xuất ở bên ngoài Trung Quốc.

Tuy nhiên, quá trình di dời không đơn giản và Việt Nam cũng như các quốc gia Đông Nam Á này có thể phải đối mặt với các hạn chế thương mại của Mỹ. Theo Fitch Solutions, điều đó có nghĩa là rất khó để chứng minh hiệu quả đầu tư cho đến khi chính sách thương mại toàn cầu trở nên rõ ràng hơn.

Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng cũng là một quá trình phức tạp, có thể mất vài năm và đối diện với nhiều thách thức trong thực tế.

Hơn nữa, kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm chạp cũng đang “đè nặng” lên các thị trường xuất khẩu khác, vốn phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc với tư cách là người mua chính nguyên liệu thô và hàng hóa lâu bền như ô tô.

Fitch Solutions cho rằng các nhà xuất khẩu hàng hóa như Chile, Congo, Angola, Brazil và Australia, cũng như các nhà xuất khẩu xe hơi lớn như Đức và Nhật Bản sẽ phải đối diện với sự sụt giảm nhu cầu từ Trung Quốc.

Fitch Solutions lưu ý: Căng thẳng thương mại toàn cầu sẽ vẫn tiếp diễn trong năm nay, gây sức ép đối với nhiều nền kinh tế.

Hơn nữa, nhiều nguy cơ Trung Quốc có thể tiếp tục trì hoãn thỏa thuận với hy vọng có được các điều khoản tốt hơn khi cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đã gần kề.

Trong năm qua, chính quyền Trung Quốc đã thực hiện các bước đi nhằm nới lỏng chính sách tiền tệ và cắt giảm thuế để giảm bớt áp lực từ việc loại bỏ lĩnh vực tài chính “đen” và suy giảm tăng trưởng giảm do căng thẳng thương mại với Mỹ. Tuy nhiên, Fitch Solutions vẫn dự đoán tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 6,3% trong năm nay, từ mức 6,7% của năm 2018.

Căng thẳng thương mại đã làm trầm trọng thêm sự suy giảm cấu trúc của Trung Quốc, và ngày càng có nhiều dấu hiệu cho thấy các biện pháp kích thích nền kinh tế cho đến nay không mấy hiệu quả. Fitch Solutions cho rằng Bắc Kinh sẽ sớm thực hiện các biện pháp kích thích để tăng thu nhập khả dụng. Báo cáo của Fitch nhấn mạnh: “Phần lớn sẽ dựa vào khả năng kích cầu của Trung Quốc để vực dậy các hoạt động kinh tế và giúp bình ổn nhu cầu đối với nguyên liệu thô”.

Làm sao Việt Nam có thể thoát khỏi những hậu quả bất lợi?

Theo đài RFA, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa phân tích về bối cảnh chung làm cơ sở suy luận và ước đoán về tương lai:

Thứ nhất, dân Mỹ thường “lạc quan tếu” rồi “hốt hoảng bậy”. Tâm lý đó ảnh hưởng đến sự dao động hàng ngày hàng giờ của thị trường tài chính Mỹ.

Thứ hai, các nước đều lệ thuộc vào việc xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ hơn là Mỹ cần bán hàng ra ngoài nên đều chú ý đến tình hình kinh tế Mỹ mà ít thấy nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn của Trung Quốc.

Thứ ba, ít ai chú ý đến kinh tế Mỹ giao dịch nhiều nhất là với Mexico, sau đó là Canada và Trung Quốc chỉ đứng thứ ba thôi.

Thứ tư, sau giai đoạn lạc quan thái quá về đà tăng giá cổ phiếu, người Mỹ lại sợ kinh tế bị suy trầm vì đã tăng trưởng trong 10 năm liền nên có lúc điều chỉnh. Phản ứng đó giải thích vì sao quyết định hạ lãi suất cơ bản tại Mỹ hôm 31/7 làm thị trường Mỹ không tăng mà sụt giá và gây lo ngại cho thiên hạ, khiến Ngân hàng Trung ương Mỹ lại có ảnh hưởng toàn cầu.

Sau cùng, chính là nỗi phập phồng đó mới làm thị trường Mỹ sụt giá kỷ lục vào ngày thứ Hai khi tin tức về cuộc chiến thương mại từ ngày 6/8/2018 đã lên tới cao độ.

Do vậy, có lẽ chúng ta nên bình tĩnh hơn!

Mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đã tích lũy từ lâu và có tính chất đa diện vì bao gồm cả an ninh chính trị, chứ không thu hẹp vào mặt trận kinh tế, thương mại, đầu tư hay ngoại hối nên tình hình còn căng thẳng chứ không giảm. Ngoài ra, Trung Quốc mất ưu thế dân số đông nhân công rẻ nên từ năm qua không còn là “công xưởng toàn cầu” và phải leo lên trình độ sản xuất cao hơn. Đấy là cơ hội cho Việt Nam tiếp nhận đầu tư rút khỏi thị trường Trung Quốc.

Khi mâu thuẫn Mỹ – Trung bùng nổ, Việt Nam tưởng là bãi đáp an toàn cho giới đầu tư tránh khỏi hậu quả bất lợi từ cuộc chiến thương mại. Thật ra, hậu quả bất lợi là số cầu giảm mạnh trên thế giới nên Việt Nam khó xuất khẩu hơn trước. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay chỉ tăng hơn 7% so với gần 18% của cùng kỳ năm ngoái.

Chuyện éo le là Việt Nam lại xuất siêu với Mỹ (đứng thứ 6) nên cần suy nghĩ về cán cân ngoại thương với Mỹ và về chính sách tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp Mỹ. Vì vậy, Việt Nam cần nhìn vào bài toán ngắn hạn trong viễn ảnh dài hạn.

Bài toán ngắn hạn là tăng nhập khẩu từ Mỹ và kiểm lại tiêu chuẩn xuất xứ theo tỷ lệ đóng góp thực của Việt Nam, tối thiểu là 30% để khỏi “gây họa” là bán hàng Trung Quốc hay của nơi khác vào thị trường Mỹ mà bị vạ. Hà Nội biết bài toán đó.

Còn trong dài hạn, Việt Nam nên nghĩ tới chuỗi cung ứng toàn cầu – là các nước chia nhau từng phần chế biến ra sản phẩm hoàn chỉnh để bán cho nhau, với giá trị gia tăng hay đóng góp của từng nước theo lợi thế tương đối. Việt Nam nên tránh nghĩ tới lợi thế là nhân công nhiều và rẻ (vì như vậy chỉ làm gia công cấp thấp cho nơi khác) mà cần kế hoạch giáo dục và đào tạo dài hạn để nhân công có tay nghề và năng suất nhằm chiếm phần đóng góp cao hơn cho mình. Trước thái độ hung hăng của Bắc Kinh với các doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam cần cho các nước thấy mình có nỗ lực xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất và hạ tầng vô hình là giáo dục cùng hệ thống luật lệ công khai minh bạch để có sân chơi bình đẳng cho mọi nhà đầu tư trong ngoài.

Việt Nam đang nỗ lực hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu khi tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương tự do với EU (EVFTA). Tiêu chuẩn rất cao của CPTPP và EVFTA đòi hỏi Việt Nam thực thi cải cách về môi sinh và quyền lao động để dễ nhận đầu tư từ các nước tiên tiến. EVFTA còn có chương trình Đối tác Công-Tư (PPP về khai thác hạ tầng mà Việt Nam nên sớm thông qua luật lệ để trấn an giới đầu tư nước ngoài và tư doanh nội địa về phần chia sẻ rủi ro. Các định chế viện trợ quốc tế đều cho rằng thủ tục rườm rà của Việt Nam làm chậm đà giải ngân và thực hiện các dự án. Đây là cơ hội cho Hà Nội sớm cải thiện hạ tầng luật lệ của mình.

Riêng với Mỹ, Việt Nam cần nhớ mâu thuẫn Mỹ – Trung trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là Mỹ chưa cho Trung Quốc quy chế “kinh tế thị trường”. Cho tới nay, Việt Nam mới chỉ được 69 nước công nhận quy chế đó. Đây là một ưu tiên cải cách sau CPTPP và EVFTA.

Còn về mối nguy thương chiến với Mỹ sau lời đả kích cực nặng của ông Trump vào đầu tháng trước rằng “Việt Nam là nước lạm dụng nhất” và dọa áp thuế 456% với thép do Việt Nam nhập từ Hàn Quốc và Đài Loan rồi bán sang thị trường Mỹ – đó là chuyện liên quan đến quy chế kinh tế thị trường. Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974 có Khoản 301 cho doanh nghiệp Mỹ khiếu nại khi bị cạnh tranh bất chính bằng bán phá giá. Mỹ dùng khoản đó để trừng phạt Trung Quốc. Nếu Việt Nam cũng bị áp thuế giảm 25% thì xuất khẩu có thể sụt 25% và tổng sản lượng mất 1 điểm, thay vì tăng 6,8% thì chỉ còn 5,8%, vì kinh tế vẫn còn quá lệ thuộc vào xuất khẩu.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Advertisements

Bản đồ du lịch châu Á đang thay đổi vì bất ổn chính trị


Theo tờ Nikkei Asia Review, những bất ổn về chính trị trong mùa Hè này đang tái định hình bản đồ du lịch châu Á, khi nhiều du khách Hàn Quốc và Trung Quốc từ bỏ các điểm đến ưa thích trước đó như Nhật Bản và Hong Kong để tìm đến các quốc gia Đông Nam Á.

Tình trạng căng thẳng đang gia tăng trong mối quan hệ thương mại giữa Tokyo và Seoul, các cuộc biểu tình ở Hong Kong (Trung Quốc) cùng với các chiến dịch quảng bá tích cực của nhiều quốc gia Đông Nam Á chính là nguyên nhân dẫn tới những thay đổi này.

Trong nửa đầu năm 2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Đông Nam Á đã tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Con số này có thể tiếp tục tăng trong các kỳ nghỉ lễ sắp tới. Chỉ tính riêng trong tháng Sáu, số lượng du khách Hàn Quốc tới Malaysia đã tăng mạnh sau khi Kuala Lumpur tích cực quảng bá hình ảnh thông qua các hãng lữ hành và các phương tiện truyền thông, đồng thời mời những người có ảnh hưởng với giới trẻ tới nước này. Các hình ảnh và thông tin do những người có ảnh hưởng đăng tải trên mạng xã hội đã giúp thu hút những du khách trẻ tuổi.

Cùng với Malaysia, cả Việt Nam và Philippines đều chứng kiến tốc độ tăng trưởng 2 con số về số lượng du khách Hàn Quốc đến thăm. Đối với Việt Nam, lý do chủ yếu là khoảng 150.000 người Hàn Quốc đang sống ở nước này, nơi có hai nhà máy lớn của Samsung Electronics – tập đoàn đang chiếm gần 1/4 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Một hãng lữ hành ở Hà Nội cho biết Việt Nam là một quốc gia quen thuộc với người Hàn Quốc.

Bên cạnh đó, khoảng cách gần gũi về địa lý là một nhân tố khác đóng góp vào sự tăng trưởng số lượng du khách Hàn Quốc đến Việt Nam. Chuyến bay từ Seoul đến Đà Nẵng thường mất khoảng 4 tiếng rưỡi vá điều này khiến Đà Nẵng trở nên thuận tiện hơn so với Phuket của Thái Lan hay Bali của Indonesia. Chính phủ Hàn Quốc dự định sẽ mở lãnh sự quán ở Đà Nẵng vào cuối năm nay để phục vụ các du khách tại đây.

Trong nỗ lực thu hút khách du lịch, Tổng cục Du lịch Thái Lan (TAT) bắt đầu giảm giá 30% cho các du khách đến từ Đông Á tại các cửa hàng miễn thuế và khu mua sắm lớn. Chiến dịch giảm giá này sẽ kéo dài cho đến cuối tháng 10 năm nay. Các du khách đến từ Đông Á vẫn được biết đến là những người thích mua sắm. Vì vậy, Phó Tổng cục trưởng TAT Chattan Kunjara Na Ayudhya cho biết, ông hy vọng rằng chiến dịch này sẽ giúp nâng doanh thu của ngành du lịch Thái Lan.

Tuy nhiên, kết quả khảo sát của công ty thương mại điện tử Wemakeprice cho thấy Đà Nẵng vẫn là điểm đến được ưa chuộng nhất đối với các du khách Hàn Quốc trong các kỳ nghỉ lễ Chuseok của Hàn Quốc. Tiếp theo là Bangkok và Guam. Vị trí của các điểm đến ở Nhật Bản như Tokyo và Okinawa đã bị rớt trên bảng xếp hạng.

Trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 7/2019, số lượng du khách Hàn Quốc tới Nhật Bản đã giảm 4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó chỉ riêng trong tháng Bảy, mức giảm đã lên tới 8%. Nhiều du khách Hàn Quốc đã tẩy chay tất cả những gì liên quan đến Nhật Bản, do tình trạng căng thẳng trong quan hệ Nhật – Hàn khởi đầu từ vấn đề lao động cưỡng ép đã lan sang lĩnh vực thương mại.

Tất cả 8 hãng hàng không của Hàn Quốc đều đã cắt giảm số lượng chuyến bay đến và đi từ Nhật Bản trong bối cảnh nhu cầu giảm. Hơn 60 chuyến bay đã bị tạm ngừng hoặc hủy bỏ. Thay vào đó, các hãng này đã tăng số lượng các chuyến bay tới khu vực Đông Nam Á.

Korean Air dự định sẽ tăng thêm 7 chuyến bay giữa Seoul và sân bay quốc tế Clark ở thủ đô Manila của Philippines trong tháng 10 cũng như tăng số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng của Việt Nam và Bali của Indonesia. Trong khi đó, các hãng hàng không Asiana Airlines và Air Seoul cũng có kế hoạch tăng gấp đôi số lượng chuyến bay tới Đà Nẵng trong các tháng tới.

Tại Trung Quốc, các cuộc biểu tình ở Hong Kong có vẻ như đã ảnh hưởng rất lớn. Trong 6 tháng đầu năm 2019, số lượng du khách Trung Quốc tới Đông Nam Á đã tăng 10% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi số lượng du khách Trung Quốc tới Hong Kong giảm 31% vào đầu tháng Tám. Vùng lãnh thổ Đài Loan (Trung Quôc cũng đang mất vị thế trên bản đồ du lịch châu Á do tình trạng căng thẳng đang gia tăng với đại lục. Chính phủ Trung Quốc đã ngừng cấp giấy thông hành cá nhân cho Đài Loan trong tháng 8 như một thông điệp gửi tới nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn, người đang cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ.

Các nhà chức trách Đài Loan dự báo số lượng du khách Trung Quốc tới vùng lãnh thổ này sẽ giảm 400.000 lượt người trong nửa cuối năm nay. CBRE ước tính thiệt hại kinh tế cho Đài Loan sẽ lên tới khoảng 630 triệu USD.

Các số liệu thống kê của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho thấy Hàn Quốc chiếm khoảng 5% số lượng du khách tới khu vực này  và đứng thứ ba trong số các thị trường du lịch ngoài ASEAN, sau Trung Quốc và Liên minh châu Âu (EU).

Theo thống kê của Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên hợp quốc (UNTWO), các du khách Trung Quốc đã chi 277 tỷ USD cho các chuyến du lịch nước ngoài năm 2018, đứng đầu thế giới. Về số tiền mà du khách chi trả cho các chuyến du lịch nước ngoài, Hàn Quốc đứng thứ 2 ở châu Á và thứ 9 trên toàn thế giới, với tổng số tiền là 32 tỷ USD.

Nguồn: TKT – 17/09/2019

Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của một cuộc chiến tiền tệ


Ngày 6/8, hãng tin Kyodo News đã đăng bài phân tích cảu tác giả Tomoyuki Tachikawa với tiêu đề “Cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ”, trong đó bày tỏ quan ngại về khả năng cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung có thể leo thang thành cuộc chiến tiền tệ và Nhật Bản có thể trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất” của cuộc chiến tiền tệ này.

Các nhà giao dịch nhận định trong bối cảnh hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy căng thẳng giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ lắng dịu, thị trường ngoại hối toàn cầu chắc chắn sẽ tiếp tục phản ứng trước bất cứ phát biểu hay động thái nào của Mỹ và Trung Quốc trong thời gian tới.

Các nhà phân tích cho rằng Nhật Bản, với đồng Yen được coi là một tài sản an toàn trong thập kỷ qua, sẽ gặp rắc rối với các tranh chấp thương mại và tiền tệ đang gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Ông Masanobu Ishikawa, Tổng Giám đốc Tokyo Forex & Ueda Harlow – một công ty kinh doanh ngoại hối, nói: “Chúng ta không thể dự đoán Tổng thống Trump sẽ làm gì tiếp theo. Điều chúng ta có thể nói bây giờ là sự hỗn loạn trên thị trường tiền tệ có thể sẽ kéo dài trong một thời gian, và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại từ sự hỗn loạn này”.

Một đồng NDT yếu hơn thường giúp thúc đẩy xuất khẩu bằng cách giúp cho hàng hóa của các công ty Trung Quốc rẻ hơn khi xuất khẩu sang các nước khác, đồng thời làm tăng doanh thu bằng đồng NDT ở nước ngoài. Chuyên gia kinh tế trưởng Junichi Makino của Công ty Chứng khoán SMBC Nikko, nói: “Nếu Trung Quốc cố gắng giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung bằng cách bằng cách hạ giá đồng bản tệ, cuộc chiến thương mại giữa hai cường quốc kinh tế này có thể sẽ chuyển thành một cuộc chiến tiền tệ”.

Một nhà kinh doanh ngoại hối nói: “Không thể loại trừ khả năng Tổng thống Trump sẽ can thiệp vào thị trường tiền tệ để hạ giá đồng bạc xanh của Mỹ”.

Mỹ vẫn chưa can thiệp vào thị trường tiền tệ kể từ năm 2011, thời điểm khi Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tiến hành một hành động chung để giúp bình ổn giá của đồng Yen sau trận động đất kinh hoàng tháng 3 năm đó ở Nhật Bản, và tránh các tác động tiềm tàng lên thị trường tài chính toàn cầu.

Ông Ishikawa nhận định Mỹ hầu như không có cơ hội kiểm soát tỷ giá USD vì Washington đang thúc giục Bắc Kinh không làm như vậy. Tuy nhiên, ông nói: “Tôi không thể nói là “tuyệt đối không”. Tổng thống Trump có thể làm bất cứ điều gì mà ông ấy có thể để thách thức Trung Quốc”. Nếu các quan ngại về một cuộc chiến tiền tệ đang lan rộng trên thị trường ngoại hối, Nhật Bản, nước có nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu, có thể sẽ trở thành “nạn nhân dễ thấy nhất”.

Cùng chung nhận định đó, chuyên gia Makino cho rằng đồng Yen của Nhật Bản đang tăng giá khi nhiều nhà giao dịch đã bán các tài sản rủi ro hơn, trong đó có chứng khoán, và đổ xô mua vào các tài sản an toàn hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu đang mờ mịt hơn.

Hôm 6/8, đồng Yen đã ngừng tăng giá nhưng đồng tiền này vẫn đứng ở mức cao nhất trong 7 tháng, trên ngưỡng 105 Yen/USD. Việc đồng Yen tăng giá sẽ làm giảm giá hàng nhập khẩu, khiến cho Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện mục tiêu đưa nền kinh tế thoát khỏi tình trạng thiểu phát đã kéo dài nhiều thập kỷ qua và gây khó khăn cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) trong việc thực hiện mục tiêu nâng tỷ lệ lạm phát ở nước này lên 2%.

Trong tháng 6/2019, chỉ số giá tiêu dùng lõi của Nhật Bản (không bao gồm sự biến động của giá thực phẩm tươi sống) đã tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, các số liệu thống kê mới nhất của Chính phủ cho thấy đà tăng của chỉ số này vẫn thấp nhất trong gần 2 năm qua do giá dầu giảm. Trong tình hình như vậy, có những đồn đoán về khả năng BOJ sẽ nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ để kích thích nền kinh tế và chặn đà tăng giá của đồng Yen.

Tuy nhiên, Thủ tướng Abe đã cam kết tăng thuế tiêu dùng từ mức 8% hiện nay lên 10% vào đầu tháng 10/2019 để giúp khôi phục sự lành mạnh tài chính của nước này trong bối cảnh nợ công đang ở mức cao nhất trong số các nền kinh tế phát triển. Điều này làm gia tăng dự đoán rằng chi tiêu và đầu tư của khu vực tư nhân sẽ giảm. Các nhà kinh tế cho rằng nếu nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới đối mặt với áp lực suy thoái, giá cổ phiếu sẽ giảm và điều này có thể làm đẩy nhanh nhu cầu tìm đến đồng Yen như một nơi trú ẩn an toàn.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Phá giá tiền tệ – chiến thuật “lợi bất cập hại” của Bắc Kinh


Theo đài RFI, Bắc Kinh vừa mở một mặt trận mới trong cuộc thương chiến với Mỹ. Biện pháp thả nổi đồng NDT của Trung Quốc có thể giới hạn thiệt hại trước đòn tấn công áp thuế của Donald Trump. Tuy nhiên, theo giới phân tích cả quốc tế lẫn Trung Quốc, chiến thuật này là con dao hai lưỡi, lợi ít, nhưng hại nhiều cho kinh tế Hoa Lục. Bắc Kinh sử dụng vũ khí tiền tệ để đương đầu với Mỹ trong cuộc chiến tranh thương mại, nhưng ở thế bị động.

Vài giờ sau khi Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc thả nổi đồng tiền, Donald Trump bắn lên Twitter cáo buộc: “Trung Quốc cho đồng tiền của mình rơi giá đến mức gần như thấp nhất lịch sử. Hành động này gọi là thao túng tiền tệ và sẽ làm cho Trung Quốc suy yếu nghiêm trọng hơn theo thời gian”. Tổng thống Mỹ cũng nhân cơ hội này một lần nữa thúc giục Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giảm lãi suất chỉ đạo để cho USD giảm theo.

Cho dù thống đốc Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc Dịch Cương phủ nhận cáo buộc phá giá đồng tiền để trả đũa Mỹ, nhưng trong một bản thông cáo, ngân hàng này xác nhận đang phải “đối phó với những tác động đơn phương, những biện pháp bảo hộ mậu dịch”.

Theo AFP, giới phân tích tin rằng Bắc Kinh đã sẵn sàng sử dụng vũ khí tiền tệ để trả đũa Mỹ trong bối cảnh thương chiến không lối thoát. Bo Zhuang, chuyên gia người Trung Quốc của Trung tâm nghiên cứu TS Lombard, cho rằng sự kiện đồng NDT mất giá đột ngột là hậu quả của một cuộc “can thiệp chủ động” của Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ cho hàng xuất khẩu, cũng như để làm giảm bớt phần nào tác động của biện pháp áp thuế của Mỹ.

Vì sao Bắc Kinh sử dụng vũ khí này và hiệu năng đến đâu?

Tuần trước, Tổng thống Donald Trump lên án Trung Quốc tìm mọi cách kéo dài thời gian đàm phán để chờ một chủ nhân mới tại Nhà Trắng sau năm 2020. Rất có thể vì vậy mà thay vì gây áp lực với Washington bằng cách ngưng mua công trái phiếu của Mỹ, Bắc Kinh thao túng tỷ giá hối đoái của đồng tiền quốc gia để duy trì xuất siêu. Vấn đề là vũ khí này có giới hạn và phản tác dụng.

Trả lời câu hỏi của RFI, Giáo sư Nathalie Janson, Đại học thương mại NEOMA, Paris giải thích: “Đây là dấu hiệu căng thẳng cao độ và trong bối cảnh không có đối thoại thật sự, Trung Quốc chỉ có tiền tệ để làm vũ khí. Nhưng vấn đề là phương tiện này có hiệu quả hay không, bởi vì không phải giảm giá đồng bạc là xuất khẩu gia tăng. Nhiều nước đã học được kinh nghiệm này. Không có gì bảo đảm là Trung Quốc sẽ thành công, nhưng Bắc Kinh chỉ có phương tiện này, trong cuộc chiến tranh thương mại, để hỗ trợ xuất khẩu vào thị trường Mỹ”.

Chiến lược tiền tệ của Trung Quốc còn một số điểm bất cập khác. Chuyên gia Tao Wang của Ngân hàng Thụy Sĩ UBS cảnh báo rằng “cho dù có phá giá đến đâu cũng không đủ bù đắp thiệt hại vì chiến tranh thương mại”. Mặt khác, chính sách phá giá cũng bất lợi cho Trung Quốc bởi vì từ năm 2015, Bắc Kinh cố gắng ổn định đồng tiền để ngăn chặn xu hướng vốn đầu tư chạy ra nước ngoài.

Vòng xoáy đầy bất trắc

Theo nhận định của Mark Sobel, một cựu viên chức của Bộ Tài chính Mỹ, Bắc Kinh có thể sẽ kiểm soát chặt chẽ vốn đầu tư và tránh không để cho đồng NDT lao dốc không phanh.

Nguy cơ này được tạp chí tài chính Caixin (Tài Tân) nêu rõ rằng đồng tiền Trung Quốc có thể rơi vào vòng xoáy không lối thoát. Vì lo sợ vốn liếng tiêu tan, người dân sẽ tống khứ đồng NDT và càng làm cho nội tệ mất giá với những hệ quả tai hại như lạm phát, vật giá leo thang, hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là dầu mỏ đắt đỏ sẽ tác động tiêu cực lên kinh tế Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 08/08/2019

Trung Quốc là mục tiêu tên lửa tầm trung của Mỹ


Theo đài RFI, một tháng sau khi hủy bỏ Hiệp định tên lửa hạt nhân INF với Nga, ngày 19/8, Mỹ thông báo thử nghiệm thành công một tên lửa quy ước tầm trung. Đâu là mục tiêu thực sự mà Mỹ đang theo đuổi và không nói ra? Nga chỉ trích hành động “leo thang quân sự”. Còn Trung Quốc lên án Mỹ “kích động chạy đua vũ trang dẫn đến xung đột quân sự”.

Tên lửa thử nghiệm được phóng từ đảo San Nicolas (bang California), từ hệ thống ống phóng Mark 41, đánh trúng mục tiêu cách xa 500 km trên biển Thái Bình Dương. Một viên chức Mỹ cho biết thêm “đây là tên lửa được chế tạo từ tên lửa hành trình Tomahawk”.

Mỹ đã được rảnh tay cải tiến và thử nghiệm tên lửa mới có tầm bay từ 500 – 5000 km sau khi hủy bỏ hiệp định giới hạn vũ khí hạt nhân tầm trung gọi tắt là INF ký kết từ thời Ronald Reagan và Mikhail Gorbachev.

Hai lý do được Washington chính thức đưa ra là nước Nga của Vladimir Putin không tôn trọng hiệp ước này, chế tạo vũ khí mới 9M729 hay SS C8, theo cách gọi của NATO. Lý do thứ hai là Trung Quốc đứng ngoài, thì tại sao Mỹ lại tự trói tay.

Về điểm thứ nhất, Nga biện minh, 9M729 chỉ có tầm bay tối đa 480 km. Về điểm thứ hai, trong quá trình đàm phán với Nga từ tháng 2/2019 cho đến lúc thất bại, Lầu Năm Góc lý giải là cần canh tân vũ khí để đối đầu với Trung Quốc đang bành trướng sức mạnh tại châu Á..

Tín hiệu quân sự nhắm vào Trung Quốc

Phải chăng Mỹ cố tình phát động một cuộc chạy đua vũ trang? Đúng! Nhưng với ai? Theo một chuyên gia chiến lược Pháp, Tướng Dominique Trinquand, nguyên chỉ huy trưởng phái bộ quân sự Pháp tại Liên hợp quốc, đối tượng của Mỹ không phải là Nga mà chính là Trung Quốc. Người ta bàn luận rất nhiều về mối đe dọa từ Nga nhưng Trung Quốc mới là mục tiêu cảnh báo. Lên án Nga “không tôn trọng INF” chỉ là cái cớ. Tổng thống Donald Trump “muốn rảnh tay để đối phó với Trung Quốc, một đại cường quân sự đang lên”.

Theo tướng Dominique Trinquand, “kho tên lửa của Trung Quốc tương đối ít” nhưng nếu Mỹ “như đã loan báo, trong một năm nữa, sẽ bố trí tên lửa trong vùng Thái Bình Dương trực tiếp đe dọa Trung Quốc, thì Bắc Kinh sẽ phải chạy đua vũ trang”.

Nhận định “Trung Quốc là mục tiêu của Mỹ” không phải là võ đoán.

Trung Quốc cũng thấy rõ và phản ứng qua người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Cảnh Sảng “Hành động của Mỹ với mục tiêu duy nhất là bảo vệ thế thượng phong quân sự sẽ gây những hệ quả tiêu cực cho an ninh khu vực và quốc tế”.

Từ khi vào Nhà Trắng cách đây gần 3 năm, Tổng thống Donald Trump thường xuyên có những tuyên bố bốc đồng. Tuy nhiên, thái độ “sáng nắng chiều mưa” của Tổng thống thứ 45 của Mỹ tuân thủ một nguyên tắc xuyên sốt “làm cho nước Mỹ hùng mạnh”. Trong chiều hướng này, nhiều đồng minh truyền thống của Mỹ bị bạc đãi nhưng trong danh sách đối thủ của Mỹ, Trung Quốc bị xem là mục tiêu số một chứ không phải là Nga.

Chỉ trong vấn đề G7 hay G8 thôi, đã 2 lần Donald Trump đề xuất mời Nga trở lại, sau khi tư cách thành viên của Moskva (do vụ sáp nhập Crimea) bị Tổng thống Obama và giới lãnh đạo châu Âu “đình chỉ” năm 2014.

Trong khi đó, Trung Quốc đứng trước một cuộc chiến tranh thương mại gần như toàn diện: chính quyền bị lên án khuynh đảo đồng tiền, hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ bị áp thuế, các tập đoàn công nghệ bị tố cáo làm gián điệp, đánh cắp phát minh của đối tác…

Bằng mọi cách, phải bảo vệ thế áp đảo của Mỹ từ kinh tế, công nghệ cao cấp cho đến quân sự đang bị Trung Quốc cạnh tranh quyết liệt với mục tiêu qua mặt nước Mỹ vào năm 2049, theo kế hoạch của Tập Cận Bình.

Gia tăng ngân sách quốc phòng, thành lập binh chủng không gian, chế tạo vũ khí mới vừa làm hài lòng phe quân đội, vừa tạo thêm công ăn việc làm, thúc đẩy kinh tế nhưng cũng để bảo vệ thế thượng phong quân sự.

Những quyết định giúp Đài Loan tăng cường vũ trang, đưa các hải đội tác chiến vào vùng biển Đông Nam Á nơi Trung Quốc tranh giành chủ quyền, dự án bố trí tên lửa tầm trung ở châu Á – Thái Bình Dương và củng cố mặt trận ở Nam Thái Bình Dương với Australia và các tiểu quốc đảo cũng cùng mục đích là “Trung Hoa lục địa”.

Nguồn: TKNB – 23/08/2019

Hong Kong: Làm thế nào để “vá” lỗ hổng an ninh quốc gia? – Phần cuối


Mặc dù phong trào “Chiếm trung tâm” thất bại, nhưng nó được coi là một phong trào xã hội hoàn toàn mới theo phong cách Hong Kong, và được phe đối lập thấu hiểu, đồng thuận làm theo. Cuộc biểu tình ngày 9/6 chứng minh rằng sự kế thừa và học theo này đã thành công. Tất nhiên, thời điểm khó khăn và nguy hiểm nhất không phải là ngày 9/6, mà là ngày 28/6, thời điểm quyết định việc sửa đổi luật dẫn độ. Vì vậy, lần “Chiếm trung tâm” thứ hai có thể diễn bei61n thành chiếm Hội đồng lập pháp. Phong trào Hoa hướng dương biểu tình và chiếm đóng tòa nhà Quốc hội của Đài Loan năm 2014 là nguồn cảm hứng và có ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào “Chiếm trung tâm” của Hong Kong. Năm 2019, nếu phe đối lập của Hong Kong chiếm Hội đồng Lập pháp và thành công trong việc làm tê liệt hệ thống lập pháp, thì có thể lập nên một kỷ lục lịch sử của phong trào xã hội ở đặc khu này. Nếu thực sự như vậy, Điều 23 trong Luật cơ bản và điều lệ giáo dục quốc dân không thể được thông qua một cách thuận lợi. Tuy nhiên, mọi thứ có thể không xảy ra. Hành vi tùy tiện leo thang đối kháng chính trị, đứng về phía Mỹ trong cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ của phe đối lập có thể vấp phải thất bại lớn về chính trị, chính quyền trung ương sẽ càng không tin tưởng, và con đường đến với nền dân chủ của Hong Kong sẽ càng khó khăn hơn.

(-) Ngoài những khó khăn của con đường đi tới dân chủ, thách thức thực tế hơn vào lúc này là những khó khăn của việc hòa hợp giữa Hong Kong và Đại lục cũng như những khó khăn về cơ cấu quản lý của Hong Kong.

(+) Đúng vậy, hơn nữa những khó khăn về cơ cấu này chủ yếu được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Thứ nhất, việc Hong Kong không có lòng tin đối với thể chế và pháp luật của Đại lục đã ăn sâu bám rẽ, khó mà thay đổi. Điều này không chỉ bắt nguồn từ hệ thống pháp trị Hong Kong khá giống với phương Tây cũng như cảm giác vượt trội về chế độ của người Hong Kong, mà còn xuất phát từ tiến trình hiện đại hóa quản lý và pháp luật của Đại lục vẫn chưa hoàn thiện về mặt cơ cấu, thậm chí hiện tượng “chuyển sang cánh tả” xuất hiện tại Đại lục những năm gần đây càng làm tăng thêm sự hoài nghi của người dân Hong Kong trong việc hài hòa với Đại lục.

Thứ hai, cuộc biểu tình phản đối dự luật dẫn độ đã phơi bày những điểm không hoàn hảo và yếu kém của chính quyền trung ương ở Hong Kong. Quyền tự tri cao của “Một nước, hai chế độ” ban đầu được chính quyền trung ương trao cho Hong Kong dựa trên sự tin tưởng, nhưng bị phe đối lập Hong Kong và các thế lực bên ngoài lạm dụng để chống lại lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Một câu nói của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo thậm chí còn ảnh hưởng hơn nhiều lần lời kêu gọi của chính quyền trung ương, tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của Mỹ đối với Hong Kong và “sự cai trị trong bóng tối” là điều không được phép xem nhẹ.

Thứ ba, quyền hạn của trưởng đặc khu và cơ chế quản lý hành chính chịu nhiều tác động hơn. Luật cơ bản mặc dù không phải là cơ chế quản lý hành chính điển hình nhất, nhưng có khuynh hướng nghiêng về cơ chế quản lý hành chính, đặc biệt là cơ chế trách nhiệp kép của trưởng đặc khu đối với cả đặc khu lẫn đất nước, nhưng kể từ khi Hong Kong trở về Trung Quốc, thể chế này đang phải đối mặt với “4 ngọn núi lớn” và đang dần suy yếu: thủ tục câu giờ của Hội đồng lập pháp, phúc thẩm tư pháp, phong trào xã hội, sự phản kháng mang tính bảo thủ của công chức. Ngay cả Trưởng đặc khu Lâm Trịnh Nguyệt Nga vẫn phải đối mặt với những tình huống khó xử về cơ cấu như vậy.

Thứ tư, sự hòa nhập của Vùng vịnh lớn Quảng Đông – Hong Kong – Macau phải đối mặt với nhiều rào cản về chế độ và văn hóa. Vùng vịnh Quảng Đông – Hong Kong – Macau đã trải ra một con đường đúng đắn trong tương lai cho “Một nước, hai chế độ” và sự phát triển của Hong Kong, nhưng giới tinh hoa Hong Kong vẫn hoài nghi về điều đó, sợ “bị quy hoạch”, sợ mất đi bản sắc và sự tự chủ, lo sợ Hong Kong sáp nhập với vùng vịnh Quảng Đông – Hong Kong – Macau sẽ bị hạ thấp địa vị quốc tế, sợ một sự tích hợp hệ thống mạnh mẽ hơn vào thể chế và pháp luật của Đại lục. Đằng sau những nỗi sợ hãi này vẫn là sự lưu luyến vốn có đối với phương Tây và sự mất lòng tin vào thể chế và triển vọng phát triển của đất nước.

Thứ năm, không thể xem nhẹ sự bôi nhọ của Đài Loan đối với “Một nước, hai chế độ” cũng như sự hỗ trợ chính trị của phe đối lập Hong Kong. Sau khi xảy ra biểu tình, Ủy ban Đại lục của Đài Loan và Thái Anh Văn thừa cơ “đục nước béo cò”, một mặt, từ góc độ giá trị chung của tự do dân chủ, ra sức ủng hộ phe đối lập của Hong Kong, mặt khác lại bêu xấu “Một nước, hai chế độ”, đe dọa sẽ cản trở nguyện vọng và không gian của dân chúng Đài Loan đối với phương án Đài Loan “Một nước, hai chế độ” cũng như thỏa thuận dân chủ giữa hai bờ eo biển.

Thứ sáu, công nghệ tổ chức huy động xã hội của phe đối lập đã có nhiều tiến bộ trong lần biểu tình này, phe cầm quyền tiến thoái lưỡng nan, hình thức vẫn như cũ, sức chiến đấu không đủ mạnh, cần phải xem xét lại và cải thiện. Năng lực huy động truyền thông xã hội, nắm bắt đề tài thảo luận và chương trình nghị sự, cập nhật và hệ thống hóa ngôn ngữ tuyên truyền cũng như năng lực tương tác chính xác với sự nhạy cảm của dư luận… của phe sáng lập đều kém hơn nhiều so với phe đối lập. Làm thế nào để tăng cường khả năng kết nối giữa thảo luận, hành động và dư luận của phe cầm quyền là một vấn đề quan trọng trong việc kiểm điểm chính trị của phe cầm quyền sau khi điều lệ được thông qua.

Tóm lại, cuộc biểu tình ngày 9/6 đã đánh dấu sự trở lại của mô hình “Chiếm trung tâm”, cũng đánh dấu sự nóng lên của “quân bài Hong Kong” trong cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, còn phản ánh những khó khăn thực tại của cơ chế quản lý hành chính Hong Kong cũng như điểm yếu mang tính cơ cấu về năng lực quản lý của chính quyền trung ương tại Hong Kong. Nói một cách cụ thể, sau khi điều lệ được chính quyền đặc khu sửa đổi, đã hoàn thiện về cơ bản các yêu cầu chính trị của phe đối lập đã vượt quá phạm vi hợp lý, chính quyền không có đường lui, trung ương cũng không thể lùi, điều lệ được th6ong qua cũng không còn là vấn đề lớn.

Nhìn từ góc độ quản lý lâu dài, cuộc biểu tình đã phơi bày sự thất bại của phe đối lập Hong Kong trong việc chuyển đổi thành “phe đối lập trung thành”, cũng cho thấy tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của “sự cai trị trong bóng tối” của Mỹ tại Hong Kong, từng bước lộ ra “lỗ thủng an ninh quốc gia” đang tồn tại ở đặc khu này. Những “chứng bệnh” này là thách thức thực sự mà cơ chế “Một nước, hai chế độ” phải đối mặt, cũng là kết quả tất yếu phải tính đến sự phức tạp trong vấn đề Hong Kong cũng như những thay đổi nanh chóng của trật tự chính trị quốc tế. Kinh nghiệm cho thấy từ các cuộc chiếm trung tâm trong lịch sử, chính quyền đặc khu và trung ương đều trưởng thành hơn nhiều về chính trị và pháp luật, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ, hệ thống nhà nước và trật tự pháp lý đang được điều chỉnh, tái thiết hợp lý và chặt chẽ hơn. Những tranh luận về dự luật dẫn độ lần này cũng như kinh nghiệm đấu tranh chính trị tương ứng cũng có thể từng bước nâng cao năng lực quản lý tổng hợp của đất nước để đối phó với những thách thức của cơ chế “Một nước, hai chế độ” cũng như sức ép toàn diện của Mỹ.

Nguồn: Mạng Đa chiều – 11/06/2019

TLTKĐB – 14/06/2019

Tìm hiểu và ngăn ngừa các cuộc xung đột và chiến tranh mới – Phần cuối


Ngày nay chúng ta phải kế thừa học thuyết của Đặng Tiểu Bình và xác định cơ hội chiến lược và thậm chí triển khai chiến lược đối ngoại dài hạn của Trung Quốc. Tình hình thay đổi đòi hỏi phải có sự thay đổi về nhận thức và chiến lược. Chiến tranh lạnh đã kết thúc, các mối đe dọa chủ yếu đã thay đổi, và thế giới cũng đang thay đổi. Sau hai thập niên cải tổ, Trung Quốc đã chuyển từ một nước kém phát triển thành một nước đang phát triển với sức mạnh tổng thể quốc gia được tăng cường một cách đáng kể. Trung Quốc đang thay đổi các điều kiện quốc gia của mình. Thế giới đòi hỏi và trông đợi ở Trung Quốc nhiều hơn. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã tham gia sâu hơn vào các vấn đề quốc tế và vai trò của nó ngày càng trở nên quan trọng. Mối quan hệ nhân quả của hai biến số đang dịch chuyển. Nghiên cứu sự trỗi dậy hòa bình là tìm hiểu cách thức đối phó với các mối đe dọa mới, duy trì hòa bình ở Trung Quốc, khu vực và thế giới, cũng như biến quan niệm an ninh mới thành sự đồng thuận toàn cầu.

Thứ hai, chúng ta cần phải đẩy mạnh nghiên cứu về cách thức Trung Quốc có thể đóng góp cho hòa bình và phát triển trong tình hình mới, để Trung Quốc và thế giới có thể cùng chia sẻ trong cuộc chiến chống lại mối đe dọa và cùng hưởng an ninh.

Trung Quốc đã ký hai công ước quốc tế về nhân quyền và đang xem xét ký công ước thứ ba, và đó là một giải pháp chính sách rất có ý nghĩa. Trung Quốc, giống như phần còn lại của thế giới, đề cao chủ quyền, và không nghi ngại hay do dự trong việc bảo vệ các quyền con người vì chủ quyền. Mặt khác, Trung Quốc phải có tư duy thực tế đối với lý thuyết và thực tiễn đang biến đổi về chủ quyền, và theo đó, điều chỉnh chiến lược và chính sách của mình. Trên thực tế, Trung Quốc đã bắt đầu với thực tiễn mới. Chẳng hạn, Trung Quốc đã nhượng bộ chủ quyền trong thời kỳ bùng nổ dịch SARS bằng cách chấp nhận sự giám sát và hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới. Trung Quốc đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á và Tuyên bố Ứng xử tại biển Nam Trung Hoa mang đậm màu sắc chia sẻ chủ quyền. Sự “nhượng bộ chủ quyền” và sự “chia sẻ chủ quyền” trở nên nổi bật khi Trung Quốc tham gia sâu hơn vào quá trình hợp tác đa phương ở khu vực và trên thế giới. Mặc dù không phải là không có khác biệt, nhưng hợp tác kinh tế thì dễ dàng được hòa giải. Còn hợp tác an ninh thì khó thực hiện hơn vì nhiều kiểu tư duy rập khuôn cản trở.

Trung Quốc đang chủ động hơn trong việc tham gia vào các tổ chức khu vực, thí dụ như cơ chế 10+1, 10+3, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN,… đánh dấu sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc. Phải thừa nhận rằng, lợi ích quốc gia của Trung Quốc và các nước láng giềng trong lĩnh vực an ninh có liên hệ chặt chẽ với nhau và cần phải được bảo vệ bằng các nỗ lực chung. Mức độ hợp tác hiện nay vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các quốc gia liên quan. Đây cũng chính là điều các nước phê phán và mong đợi. Ngoại giao phòng ngừa cần phải được trù tính với sự đầu tư nguồn nhân lực, vật chất và ngân sách để trở thành một thứ công cụ hiệu quả ngăn chặn xung đột và duy trì hòa bình. Điều cũng đáng được mong đợi là việc thiết lập các cơ chế quản lý khủng hoảng giúp giảm bớt tác động tàn phá có thể xảy ra của các biến cố bất ngờ.

Để đối phó với những mối đe dọa đã được phát hiện và tiềm ẩn, hành động can thiệp chung, bao gồm những hoạt động trước và sau can thiệp, có thể phải được cân nhắc ở mức độ những hành động đó phải được các tổ chức khu vực ủy quyền. Các hình thức can thiệp có diễn ra từ đối thoại cưỡng ép nhẹ nhàng đến mức can thiệp bằng phương thức truyền tin rộng rãi, đến cắt giảm viện trợ kinh tế, đến hành động quân sự cưỡng chế mạnh mẽ. Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đang thành lập một Đội quân phản ứng nhanh. Trung Quốc đã tổ chức một cuộc tập trận chung với các nước khác Kyrgizstan. Hợp tác an ninh Trung Quốc – ASEAN sẽ được nâng cấp từ mức thấp lên mức cao. Trung Quốc cần phải chuẩn bị sẵn sàng cho sự hợp tác, không được quá trễ và không để trở thành nạn nhân.

Sẽ là một nhận thức sai nếu cho rằng trỗi dậy hòa bình là điều gì đó không cần nỗ lực tăng cường sức mạnh quân sự và không cần sử dụng vũ lực. Ngược lại, trong khi đối phó với những mối đe dọa, xung đột và chiến tranh mới, Trung Quốc phải chuẩn bị tất cả các phương tiện, bao gồm cả các lực lượng quân sự. Việc sử dụng vũ lực, chừng nào có lợi cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và thế giới, và được xác minh là chính đáng và hợp lý thì sẽ được đại đa số các quốc gia và dân tộc ủng hộ, và cũng là một nội dung quan trọng của trỗi dậy hòa bình.

Trong quá khứ, các quốc gia láng giềng lo ngại sự can thiệp của Trung Quốc vào các vấn đề khu vực. Giờ đây, khi Trung Quốc lựa chọn trỗi dậy hòa bình và do đó “mối đe dọa Trung Quốc” đang giảm bớt, thì thay vào đó, các quốc gia láng giềng lại phàn nàn về hành động không can thiệp hoặc can thiệp không thỏa đáng của Trung Quốc. Chẳng hạn, thế giới mong đợi Trung Quốc có vai trò lớn hơn trong việc giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, và Trung Quốc đăng cai tổ chức một vòng đàm phán ba bên và hai vòng đàm phán sáu bên được thế giới khen ngợi. Hệ thống, các thể chế và cơ chế quốc tế đang không ngừng thay đổi, định hướng của chúng bị tác động bởi tất cả các quốc gia tùy thuộc vào mức độ tham gia và đóng góp của họ. Tham gia càng sâu và đóng góp càng nhiều thì tiếng nói và vai trò của nước đó càng lớn.

Thứ ba, chúng ta phải thiết lập một khuôn khổ hợp tác rộng hơn, đa dạng hơn và toàn diện hơn, phải giải tỏa những mâu thuẫn phát sinh từ tâm lý chiến tranh lạnh, và phải tìm giải pháp an ninh cùng có lợi.

Rõ ràng là, một mặt, sức mạnh siêu cường của Mỹ đang thay đổi nhanh chóng để thích ứng với những mối đe dọa mới, mặt khác, tư duy chiến tranh lạnh của Mỹ vẫn ăn sâu và khó có thể vượt qua. Tình trạng lưỡng phân này sẽ còn tồn tại khá lâu và đôi khi được thể hiện cả trong các vấn đề an ninh châu Á – Thái Bình Dương và vấn đề Đài Loan. Trung Quốc sẽ ủng hộ và khuyến khích vai trò xây dựng, đồng thời ngăn cản và giảm thiểu vai trò tiêu cực của Mỹ. Đối với các liên minh quân sự và quan hệ hợp tác quân sự của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương, Trung Quốc sẽ thực hiện chính sách cam kết và đối thoại. Trung Quốc sẽ hợp tác với Mỹ đặc biệt là trong những vấn đề về các mối đe dọa chung. Những động thái này sẽ giúp xóa bỏ những nhận thức sai lầm, những điều nghi ngại và ác cảm, loại trừ sức cuốn hút của tâm lý chiến tranh lạnh đến hết mức có thể.

Việc xử lý vấn đề Đài Loan, tư duy chiến lược về trỗi dậy hòa bình cũng có thể được áp dụng. Bên cạnh nguyên tắc ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan bằng sức mạnh quân sự và thúc giục Mỹ kiềm chế khả năng độc lập của Đài Loan, Trung Quốc cần phải làm gì đó cụ thể để thu phục lòng dân Đài Loan trên cơ sở hiểu biết đầy đủ thực tế về vùng đảo này. Chiến lược trỗi dậy hòa bình đòi hỏi phải vượt lên trên nền chính trị nội bộ Đài Loan, và thậm chí vượt lên trên cả những mối quan hệ giữa hai bờ eo biển. Chỉ bằng cách đó Trung Quốc mới có thể giải quyết đúng đắn vấn đề Đài Loan và cuối cùng đạt đến mục tiêu thống nhất Tổ quốc.

Dành ưu tiên cho Mỹ không có nghĩa chúng ta cho rằng Mỹ có thể thay thế được vai trò của các nước khác. Trung Quốc chia sẻ các quan điểm gần gũi hơn và những lợi ích chung để hợp tác với các cường quốc khác. Do đó, quan hệ đối tác là điều thực sự quý giá đối với vấn đề an ninh của Trung Quốc. Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt và bất đồng với Nga, Nhật Bản, và các cường quốc châu Âu, nên đối với vấn đề này Trung Quốc cần theo đuổi lập trường tìm kiếm những điểm tương đồng trong khi vẫn duy trì sự khác biệt. Trung Quốc đã bắt đầu tham gia vào ngoại giao đa phương dù là với các tổ chức khu vực hay với các tổ chức thế giới. Một loạt các cơ chế an ninh đang cùng tồn tại, đặc biệt là ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó một số bị các cường quốc chi phối, số khác không cần có sự chi phối nào hoặc thay vì thế có thể chỉ bị một quốc gia chi phối trong một vấn đề cụ thể nào đó. Vì đó là một hiện tượng đặc biệt nên đòi hỏi phải điều tra thêm và có sự đổi mới trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đến nay, Trung Quốc đã có thể bắt đầu với những vấn đề an ninh thực tiễn nhằm kích thích tính sáng tạo, củng cố hợp tác và tích lũy kinh nghiệm.

Những thách thức lớn luôn chứa đựng những cơ hội lớn. Trung Quốc sẽ nắm bắt và tạo ra những cơ hội để ứng phó với những thách thức trên con đường trỗi dậy hòa bình và Trung Quốc sẽ hội nhập vào xu thế tiến bộ thế giới.

Người dịch: Mai Diên

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Yu Xintian – Understanding and Preventing New Conflicts and Wars. China’s Peaceful Rise as a Strategic Choic – Summer 2004 – p14.

TN 2006 – 48 & 49