Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần cuối


Trung Quốc và những kẻ thù

Tuy nhiên, việc phương Tây đạt tới bá quyền toàn cầu đến lượt nó lại tạo ra những thay đổi to lớn hơn. Ông Vương đặc biệt lưu ý tới một hiện tượng kỳ lạ. Đó là tại sao các nước tư bản sau khi thống trị phần còn lại của thế giới lại dần từ bỏ chủ quyền quốc gia phương Tây để tiến đến một tầm nhìn phổ quát về “điều hành toàn cầu”, “nhân quyền” và những thứ tương tự vậy? Ông lý giải chủ đề này trong nghiên cứu của mình, cũng chính là một bài viết đăng vào năm 1985 có tiêu đề “Về những phát triển mới trong Lý thuyết Hiện đại về Chủ quyền”, hay trong cuốn “Chủ quyền Nhà nước” xuất bản năm 1987 và nhiều ấn phẩm khác đầu thập kỷ 1990.

Vương Hộ Ninh cho rằng không phải ngẫu nhiên mà các nước phương Tây phát triển quan điểm bác bỏ chủ quyền nhà nước và chuyển sang ý tưởng toàn cầu ngay chính tại thời điểm họ tìm cách củng cố kiểm soát các đế chế thuộc địa rộng lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ Nhất, khi không còn nhiều vùng đất để xâm chiếm, nhưng lại có quá nhiều lãnh thổ chiếm đoạt cần phải giữ cho được, các quyền lực thực dân thiết lập những thiết chế quốc tế, như Hội Liên quốc, cùng với cách thức mới để bao biện cho việc thực thi kiểm soát thực dân hoặc bán thực dân đối với nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn trên thế giới, trong đó có nhiều vùng thuộc Trung Quốc. Cùng lúc, ý tưởng về tự quyết quốc gia vốn phát triển mạnh trong lý thuyết chủ quyền truyền thống thoái lui nhằm duy trì nguyên trạng quốc tế. Sau Chiến tranh thế giới thứ Hai và Chiến tranh Lạnh, các nước lãnh đạo phương Tây tiếp tục kìm kẹp hay kiểm soát tiến trình phi thực dân hóa, thường hợp tác để đè nén các dân tộc mà theo quan điểm của ông Vương là thực sự đại diện cho ý chí chính trị của Thế giới thứ ba. Việc Mỹ tiếp tục các nỗ lực kiềm chế CCP lúc đó có thể được cắt nghĩa từ khía cạnh này, như là một phần trong các nỗ lực bấy lâu của phương Tây duy trì chủ quyền đối với thế giới phi phương Tây, không cho phép dân tộc ngoài phương Tây có quyền chống lại nền thống trị này.

Vì thế khi nhà khoa học chính trị Samuel Huntington đưa ra thuyết “Xung đột giữa các nền văn minh” vào đầu thập kỷ 1990 với luận điểm xung độ giữa các nhóm văn minh lớn như Đạo Khổng, Đạo Hồi và thế giới phương Tây sẽ quyết định địa chính trị thế kỷ 21, Vương Hộ Ninh đã sẵn sàng tung ra một nghiên cứu về ý tưởng này, có sức nặng và có lợi cho đảng. Theo ông Vương, những giá trị được cho là phổ quát của văn minh phương Tây chính là hình thức của “bành trướng văn hóa” được thúc đẩy để xâm nhập xã hội Trung Quốc. Trung Quốc chỉ có thể chống lại được khi CCP đủ sức khẳng định vững chắc “chủ quyền văn hóa”, một thuật ngữ mà Vương là người đưa ra nhằm chỉ khả năng của Trung Quốc trong duy trì độc quyền tư tưởng và thống nhất chính trị chống lại chỉ trích của thế giới bên ngoài.

Theo quan điểm của ông Vương, những thảm kịch như đụng độ bạo lực sau khi xảy ra các cuộc biểu tình ở quảng trường Thiên An Môn, là hệ quả tất yếu từ việc cho phép công dân được tiếp cận ảnh hưởng nước ngoài, làm suy yếu quyền lực nhà nước và kết cục là đe dọa đẩy Trung Quốc trở về cảnh chia cắt cát cứ. Vì thế cả chủ quyền bên ngoài của Trung Quốc, hay chính là tự do từ kiểm soát trực tiếp từ phương Tây và chủ quyền bên trong – tức năng lực của nhà nước trong tổ chức xã hội và ngăn chặn xung đột giữa các nhóm và giai tầng lợi ích, phụ thuộc vào khả năng của đảng trong xác định và áp đặt các giá trị chính trị và đạo đức theo ý muốn và được tuân thủ.

Lý luận của Vương Hộ Ninh mang tính tiêu cực, được hình thành trên việc đánh bại những ác quỷ tiềm tàng thay vì đạt tới một tầm nhìn tích cực phía trước. Và dù CCP tự mình tìm cách đề cao lý luận truyền thống Trung Hoa, các nghiên cứu của Vương Hộ Ninh không cho thấy điểm đáng chú ý nào về quan niệm chủ nghĩa vị chủng dân tộc trong vấn đề nhà nước. Trong tư tưởng của Vương, ít có chỗ cho những yếu tố thuộc bản chất Trung Hoa. Thay vào đó ông chú ý nhiều đến năng lực nhà nước và tầng lớp mà nhà nước là người đại diện lợi ích trong trung hòa bất kỳ một thế lực nào có ý định chia rẽ và làm suy yếu họ. Tương tự như vậy, các tác phẩm của Vương thời kỳ tiền Thiên An Môn đôi khi đề cập đến yêu ầu cần cải cách hài hòa, nhưng những ý tưởng đó luôn được đặt dưới việc phụng sự và phục vụ cho mục tiêu lớn hơn – đó là duy trì quyền lực nhà nước. Cuối cùng, phải thấy rằng không một khái niệm trừu tượng nào – dù là tự do, công lý, công bằng, hài hòa xã hội, nhân từ Khổng giáo, khiến Vương Hộ Ninh quan tâm bằng với thực tế chân thực về quyền lực, tuân thủ và trật tự.

Lý thuyết gia của Đảng

Việc Vương Hộ Ninh quá chú trọng vào chủ quyền cùng với những nghi ngờ của ông đối với xâm lấn văn hóa phương Tây vẫn thể hiện thống nhất trong các bài viết, ấn phẩm trong thập kỷ 1980 và 1990. Năm 1995, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân (Jiang Zemin) cùng với Tăng Khánh Hồng (Zeng Quinghong) và Ôn Gia Bảo triệu hồi ông Vương vào Văn phòng nghiên cứu Chính sách Trung ương Đảng, nghiên cứu, xử lý các vấn đề thuộc hệ tư tưởng. Tại đây, Vương Hộ Ninh là người giúp dự thảo thuyết “Ba đại diện”, được xem là đóng góp hệ tư tưởng của Giang Trạch Dân đối với điều lệ đảng. Những năm sau đó, ông Vương chính là người đảm nhận vai trò lãnh đạo trong phát triển lý thuyết của các đời Tổng Bí thư kế nhiệm, nổi bật là “Quan điểm phát triển khoa học” của Hồ Cẩm Đào và “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Ông Tập là nhà lãnh đạo đầu tiên sau Mao Trạch Đông có tên được ghi vào Điều lệ Đảng. Chính ở Tập Cận Bình, ông Vương lần đầu tiên nhận ra một “Quân vương” mạnh mẽ, mẫu hình mà Machiavelli từng tìm kiếm (tác phẩm cùng tên, The Prince) người có khả năng hiện thực hóa các ý tưởng của Vương Hộ Ninh về bảo vệ chủ quyền Trung Quốc và chống lại phương Tây.

Ủng hộ của Vương Hộ Ninh với Tập Cận Bình  sẽ ngày một bền chặt hơn, khi Vương đạt tới vị trí hiện tại không phải bởi quyền lực cá nhân ông, mà là do những toan tính của chính trị tinh anh. Đáng chú ý, là người làm việc gần gũi với ba đời lãnh đạo Trung Quốc thời kỳ hậu Đặng Tiểu Bình, Vương Hộ Ninh là Ủy viên Bộ Chính trị duy nhất mà cả Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đều không có bất kỳ cảm giác bị đe dọa, bất tuân. Những lý thuyết gia của Đảng trước đây – dù leo tới các vị trí quyền lực cao như Trần Bá Đạt hay như những người nghi ngờ cải cách về sau như Hồ Kiều Mộc (Hu Qiaomu), Đặng Lực Quần (Deng Liqun giống nhau ở điểm họ thăng tiến hay ngã ngựa đều là do những thay đổi từ người bảo trợ tinh anh. Ý thức được điều này, Vương Hộ Ninh sẽ lại càng có thêm lý do để bảo đảm những đóng góp tư tưởng của cá nhân ông sẽ tiếp tục nhằm hợp thức quyền lực không thể thách thức của đảng và của Tập Cận Bình. Thực tế, kể từ sau tháng Đại hội 19, ông Vương công khai kêu gọi giới báo chí “kiên định theo đảng” và đưa ra nhiều bình luận đối với giới lãnh đạo công nghệ Trung Quốc và phương Tây về nhu cầu cần bảo vệ “chủ quyền mạng” đối với Trung Quốc.

Hiện chưa có đánh giá thống nhất về ảnh hưởng của Vương Hộ Ninh. Một số xem ông là người thực sự tin theo “chủ nghĩa tân chuyên chế”, số khác nhìn nhận Vương là người có tư tưởng tự do thận trọng, dựa trên những phát biểu của ông về giá trị dân chủ và pháp trị đối với các nhà nước hiện đại. Vậy nhưng sẽ là sai lầm nếu ai đó cố tìm kiếm tầm quan trọng tuyệt đối của cá nhân Vương Hộ Ninh để thu vén lợi ích cá nhân, dù là vai trò đó đã được thừa nhận hay còn “giấu kín”. Ngay cả khi tiến sát tới đỉnh cao quyền lực, Vương vẫn là người một mực quy lụy lợi ích của CCP. Công việc của Vương Hộ Ninh sẽ vẫn là phục vụ đảng. Thực tế, chính những lý thuyết của Vương đã là câu giải thích cho sự lệ thuộc của ông.

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Advertisements

Tư tưởng Trung Quốc – Phần đầu


Khi Phật giáo đến Trung Quốc trong khoảng thế kỷ thứ I thì gặp nơi đó một nền văn hóa hơn hai ngàn năm. Trong nền văn hóa này, các tư tưởng triết học đạt đỉnh cao trong những thời đại sau của nhà Chu (khoảng 500 – 221 trước Công nguyên), thời đại hoàng kim của triết học Trung Quốc, được sự tôn trọng cao nhất của thời bấy giờ.

Từ xưa nền triết học đó có hai khía cạnh bổ túc cho nhau. Vì người Trung Quốc vốn thực tiễn với một ý thức xã hội cao độ nên mọi trường phái triết học không ít thì nhiều đều có tính nhập thế, đều nói về quan hệ giữa người với người, về những vấn đề luân lý và trị nước. Thế nhưng đó chỉ là một mặt của tư tưởng Trung Hoa. Nó được bổ sung bằng mặt siêu hình của tính chất Trung Hoa, tính chất đó cho rằng mục đích cao nhất của triết lý là vượt qua đời sống hàng ngày của xã hội và đạt một bình diện tâm thức cao hơn nữa. Đó là bình diện của chân nhân, là hình ảnh lý tưởng của tư tưởng Trung Hoa về con người giác ngộ, đó là người đã đạt sự thống nhất huyền bí với vũ trụ.

Tuy thế chân nhân của Trung Quốc không chỉ sống trên bình diện tinh thần cao siêu, mà cũng còn quan hệ với các vấn đề thế gian. Đó là người dung hợp trong mình hai mặt tự tính con người – tuệ giác trực tiếp và suy luận cụ thể, tâm tư hướng nội và tác động ngoại cảnh – hai điều mà người Trung Quốc gắn với đặc trưng của chân nhân và hoàng đế. Theo lời của Trang Tử thì con người chứng thực là người “qua tĩnh lặng mà thành chân nhân, qua hoạt động mà ra hoàng đế”. Vào thế kỷ thứ sáu trước Công nguyên, hai mặt của triết học Trung Quốc biến thành hai trường phái triết học, đó là Khổng giáo và Lão giáo. Khổng giáo là triết lý của sự tổ chức xã hội, của đầu óc suy luận trước sau, của tri kiến thực tiễn. Nó cho xã hội Trung Quốc có một hệ thống giáo dục và quy tắc nghiêm nhặt về lễ nghĩa. Một mục đích chính của Khổng giáo là hình thành một nền tảng đạo đức cho hệ thống gia đình truyền thống với những quan hệ phức tạp và lễ nghi thờ cúng tổ tiên. Còn Lão giáo, trước hết quan tâm đến những quan sát thiên nhiên và tìm hiểu đường đi của chúng, đó là “Đạo”. Theo Lão giáo thì con người chỉ hạnh phúc khi nó đi theo đúng quy luật tự nhiên, hành động hồn nhiên và dựa trên trực giác.

Hai tư tưởng này đại biểu cho hai cực trong nền triết lý Trung Quốc, nhưng tại xứ này chúng luôn luôn được xem là hai cực của một tự tính con người duy nhất, chúng bổ túc lẫn nhau. Khổng giáo thường được sử dụng để giáo dục cho trẻ con, để chúng học những phép tắc cần thiết trong đời sống xã hội, trong lúc người già cả hướng về Lão giáo để tìm kiếm và phát huy lại sự hồn nhiên đã bị quy định của xã hội phá hủy. Vào thế kỷ 11 và 12 có nhiều nhà Khổng học hậu thế cố hình thành một sự dung hợp từ Khổng giáo. Phật giáo và Lão giáo, nó trở thành đỉnh cao trong triết học của Chu Hy, một trong những tư tưởng gia lớn nhất của Trung Quốc. Chu Hy là nhà triết học xuất sắc, người đã nối kết giáo lý Khổng Tử với chiều sâu tư tưởng Phật giáo, Lão giáo và xây dựng những yếu tố của ba dòng truyền thừa vào trong hệ thống triết học của mình.

Danh từ “Khổng giáo” xuất phát từ Khổng Phu Tử, vị “vạn thế sư biểu” xuất chúng, là vị thầy xem trách nhiệm của mình là truyền lại gia tài văn hóa cho học trò. Ngài vượt lên phương pháp truyền đạt kiến thức đơn giản bằng cách dùng những khái niệm đạo đức của chính mình để lý giải những ý niệm ngàn xưa truyền lại. Đạo lý của Ngài đặt nền tảng trên năm bộ sách cổ điển về triết lý, lễ nghi, thơ văn, âm nhạc và lịch sử; chúng là tài sản văn hóa và tâm linh của “thánh hiền” trong quá khứ của Trung Quốc để lại. Truyền sử Trung Quốc coi Khổng Tử như gắn liền với tất cả mọi tác phẩm đó, với tính chất là tác giả, nhà luận giải hay người phổ biến. Thế nhưng những khảo cứu gần đây cho thấy Ngài không phải là người viết hay lậun các tác phẩm đó, cũng không phải là người phổ biến. Tư tưởng của Ngài được nêu rõ trong Luận Ngữ, một tuyển tập do học trò của Ngài ghi lại.

Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử, mà tên của Ngài có nguyên nghĩa là vị thầy già cả và theo tương truyền là người cùng thời nhưng già hơn Khổng Tử. Người cho rằng Ngài là tác giả của một tập sách, tập sách này được xem là tác phẩm then chốt trong Lão giáo. Tại Trung Quốc người ta gọi tập này đơn giản là Lão Tử, tại phương Tây là Đạo Đức Kinh, một cái tên người ta gán cho sau này. Tôi đã nhắc tới văn phong nghịch lý và ngôn ngữ mạnh mẽ, nên thơ của tập này mà Joseph Needham đã gọi là “không ai chối cãi là tác phẩm sâu sắc và tuyệt diệu nhất trong ngôn ngữ Trung Quốc”.

Tác phẩm quan trọng đứng thứ hai trong Lão giáo là bộ Trang Tử, một tác phẩm có quy mô lớn hơn Đạo Đức Kinh mà tác giả là Trang Tử, sống sau Lão Tử khoảng hai trăm năm. Theo những phát hiện sau này thì tập Trang Tử và cả tập Lão Tử không phải là tác phẩm của một người duy nhất, mà có lẽ là tập hợp những luận giải về Lão giáo, do nhiều tác giả trong nhiều thời kỳ khác nhau họp lại.

Cả Luận Ngữ cũng như Đạo Đức Kinh được viết với một văn phong gọn gàng, có tính chất gợi mở, nó là đặc trưng của tư duy Trung Quốc. Tinh thần người Trung Quốc không thích những loại tư duy logic trừu tượng và nó sản sinh một thứ ngôn ngữ khác xa ngôn ngữ phương Tây. Nhiều từ của họ dùng làm danh từ, tính từ hay cả động từ và thứ tự của chúng không do ngữ pháp quy định mà do nội dung cảm tính của câu văn hình thành. Từ cổ điển của ngôn ngữ Trung Quốc khắc hẳn với một nhóm chữ trừu tượng, mang một khái niệm nhất định. Từ Trung Quốc thường là một âm thanh có một sức kích thích tưởng tượng, nó mang một hình ảnh có phạm vi nhất định, mang lại một số cảm xúc nào đó. Người nói không chú tâm trình bày một ý niệm có tính suy luận mà là nói với người nghe hầu như để tạo một ảnh hưởng lên họ. Cũng vì thế mà các nét chữ của ngôn ngữ này không phải là những hình, dấu trừu tượng mà là một cấu trúc có liên hệ với nhau, đó là một dạng hình chứa đựng toàn bộ hình dung và sự kích thích của một từ.

Vì các triết gia có thể diễn tả tư duy của mình bằng một ngôn ngữ phù hợp như thế, nên các luận giải và quan niệm của họ một mặt được trình bày rất ngắn, không chính xác, một mặt lại đầy hình ảnh gợi mở. Rõ ràng là những hình ảnh này bị mất đi trong các bản dịch ra ngoại ngữ khác. Thí dụ bản dịch của một câu trong Đạo Đức Kinh chỉ phản ánh được một phần của nội dung phong phú đầy ý tưởng của nguyên bản. Vì thế mà các bản dịch khác nhau của tác phẩm này thường mang câu chữ hoàn toàn khác, nội dung có lúc mâu thuẫn lẫn nhau. Phùng Hữu Lan nói: “Người ta cần phải phối hợp nhiều bản dịch đã có cũng như nhiều bản cần có, để khám phá được sự phong phú của nguyên tác Đạo Đức Kinh và Luận Ngữ…”.

Cũng như người Ấn Độ, người Trung Quốc tin rằng có một thực tại cuối cùng, nó là nền tảng của mọi hiện tượng và biến cố, là nơi chúng thống nhất với nhau:

Có ba cách nói – “cái toàn triệt”, “cái bao trùm tất cả”, “cái tổng thể”. Những từ này khác nhau, nhưng tự tính nằm trong những chữ đó thì giống nhau: đó là một cái duy nhất.

Họ gọi cái tự tính này là “Đạo”, nguyên nghĩa của nó là “đường đi”. Đó là đường đi hay tiến trình của vũ trụ, là trật tự của tự nhiên. Về sau môn đệ của Khổng Tử cho nó một nghĩa khác. Họ nói về Đạo của con người hay Đạo của xã hội loài người và xem như là cách thế sống đúng đắn trong nghĩa đạo đức.

Trong nghĩa nguyên thủy, nói về vũ trụ thì Đạo là thể cuối cùng, không thể định nghĩa và như thế nó được đặt ngang tầm Brahman của Ấn Độ giáo và pháp thân của Phật giáo. Thế nhưng nó khác với các khái niệm Ấn Độ là đạo mang tính năng động nội tại, mà theo quan điểm Trung Quốc thì đó là tính chất then chốt của vũ trụ. Đạo là tiến trình vũ trụ trong đó mọi sự vật đều tham dự và thế giới là một sự trôi chảy liên tục và biến đổi không bao giờ ngừng.

Quan điểm của Phật giáo Ấn Độ với thuyết vô thường cũng có cái nhìn tương tự, tuy thế chủ yếu nói về tình trạng con người và hướng về những hệ quả có tính tâm lý. Còn người Trung Quốc không chỉ tin rằng tính biến đổi trôi chảy là tự tính của tự nhiên, mà còn cho rằng cũng có những cấu trúc bất dịch trong sự biến đổi mà con người biết được. Thánh nhân là người biết nhận ra những cơ cấu này và hành động phù hợp với chúng. Được như thế thì con người “là một với Đạo”, sống tùy thuận với tự nhiên và làm gì cũng thành cả. Sau đây là câu nói của Hoài Nam Tử, triết gia sống vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên:

Ai cùng tùy thuận với đạo, cùng thuận theo biến chuyển của trời đất, người đó làm chủ thiên hạ.

Thế thì những gì là cơ cấu của Đạo vũ trụ mà con người cần biết? Đặc điểm chính của đạo là tính chất chu kỳ trong quá trình vận động và biến đổi liên tục. Lão Tử nói: Quy căn viết Tịnh (trở về cội rễ, gọi là Tịnh) và Thệ viết viễn, viễn viết phân (mỗi vật đi đến cực độ phải biến, biến trở về cái đối địch). Đó là quan niệm mọi sự trong trời đất, trong thế giới vật lý, trong đời con người, có một cơ cấu “phản phục”, có sự lên xuống chu kỳ, cơ cấu của đến và đi, của giãn nở và co thắt.

Quan niệm này hiển nhiên bắt nguồn từ vận động của mặt trời, mặt trăng và các mùa trong năm, nhưng cũng được lấy từ quy luật của đời sống. Người Trung Quốc cho rằng, một tình hình khi đã đi tới cùng cực sẽ quay lùi và biến thành dạng ngược lại. Niềm tin cơ bản làm cho họ thêm dũng cảm và sức chịu đựng trong thời kỳ khó khăn cũng như làm cho họ thận trọng và khiêm tốn trong lúc thành công. Nó dẫn đến chủ trương trung dung mà cả Lão giáo hay Khổng giáo đều tin tưởng. Lão Tử nói: “Thị dĩ thánh nhân; khứ thậm, khứ xa, khứ thái” (Ấy nên thánh nhân, lánh bỏ những gì thái quá).

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Fritjof Capra – Đạo của vật lý – NXB Trẻ 2015.

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần III


Các nhà khoa học có ý kiến ngược lại cho rằng lý luận, chế độ và các hệ thống đều là nhằm chống chủ nghĩa Marx – Lenin, không đáp ứng các yêu cầu của chủ nghĩa xã hội khoa học, không theo kịp thời đại. « Dù chúng ta đi sâu bàn về khía cạnh nào chăng nữa thì chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc cũng là sự phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Điều này đã được chứng minh bằng lịch sử cải cách và mở cửa Trung Quốc ». Theo ý kiến của phái theo quan điểm này, quá trình cải cách và mở cửa ở Trung Quốc chính là quá trình từ bỏ hoàn toàn của mô hình Xô Viết. Một số nhà khoa học sau khi phân tích toàn diện những khác biệt căn bản giữa hai mô hình đã chỉ ra rằng mô hình Trung Quốc và mô hình Xô viết là hai mô hình hoàn toàn khác nhau của chủ nghĩa xã hội.

Cần lưu ý rằng cả hai bên đều nhất trí về vấn đề công nhận mô hình của Trung Quốc (tức là chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc). Cả hai đều giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản và ủng hộ cải cách và cởi mở. Cuộc tranh cãi của họ chỉ đóng khung trong việc nên hiểu về mô hình Xô viết thế nào.

Các nhà khoa học tán đồng loại ý kiến thứ nhất về cơ bản chấp nhận mô hình Xô viết, cho rằng nó tuân thủ đúng các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội. Với cách tiếp cận này, việc phân tích những mặt khiếm khuyết của mô hình Xô viết và xem xét so sánh hai mô hình – để đi tới kết luận cho rằng các nguyên tắc cơ bản của hai mô hình là giống nhau, và những khác biệt của chúng thể hiện trong các hệ thống cụ thể do điều kiện và thời điểm lịch sử khác nhau. Theo Châu Tân Thành, gốc rễ của sự thay đổi mạnh thái độ của Liên Xô đối với Trung Quốc là do giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Liên Xô đi theo con đường của chủ nghĩa xét lại, phản bội các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Do đó, Trung Quốc cần rút ra bài học và kiên trì quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản. Phủ định mô hình Xô viết có nghĩa là phủ định bốn nguyên tắc cơ bản và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Các nhà khoa học khác cho rằng các luận điểm cơ bản của lý luận, nguyên lý của mô hình Xô viết là xa lạ với các luận điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học, không đáp ứng yêu cầu của tình thế của Liên Xô. Mô hình Xô viết là giáo điều, trì trệ, đầy mâu thuẫn gay gắt, lãnh đạo xa rời dân. Ma Long Sơn lưu ý rằng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô viết, tức là mô hình Stalin, không phải là chủ nghĩa xã hội đích thực, chân chính, vì Stalin đã bóp méo chủ nghĩa Marx – Lenin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nhóm các học giả này đã rất chú tâm phân tích những điểm khiếm khuyết của mô hình Xô viết. Các nhà khoa học nhấn mạnh rằng Trung Quốc đã phạm sai lầm khi khảo cứu mô hình Xô viết. Cải cách và mở cửa torng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trước hết cần chỉ ra những hạn chế của mô hình Xô viết. Trọng tâm của các học giả này là nhấn mạnh cải cách và mở cửa, đề cao vai trò của đổi mới trong các hệ thống. Chỉ bàn suông về bốn nguyên tắc cơ bản, mà không tập trung chú ý vào những thành tựu to lớn đạt được nhờ cải cách và mở cửa, thì không thể hiểu đúng được thực chất của việc phát huy chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Tiếp tục vận dụng mô hình Xô viết ở Trung Quốc thì chắc chắn không tránh khỏi lặp lại những sai lầm của Liên Xô.

Những tranh cãi này hiện vẫn tiếp diễn. Có thể nói mỗi ý kiến đều có điểm hợp lý và khiếm khuyết riêng của nó. Nhưng điểm chính yếu nhất là cần có những đánh giá mang tính khoa học về mô hình Xô viết.

4/ Mô hình Xô viết qua đánh giá của các nhà khoa học Trung Quốc

Nên đánh giá thế nào về mô hình của Liên Xô – đây là một vấn đề có tính nguyên tắc. Lời giải cho câu hỏi này động chạm đến vấn đề Trung Quốc nên đi theo con đường nào. Bởi vì định hướng tương lai phát triển của Trung Quốc gắn bó chặt chẽ với những bài học cần rút ra từ con đường tiến hóa của Liên Xô.

Giáo sư Châu Tân Thành lưu ý rằng việc đánh giá mô hình Xô viết – đó không chỉ là vấn đề về mặt khoa học, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng liên quan đến vận mệnh của các đảng cộng sản và các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần đứng trên lập trường giai cấp vô sản, sử dụng phương pháp của chủ nghĩa Marx để đánh giá một cách khoa học và tích cực mô hình này. Mô hình Xô viết là sự kết hợp của các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Marx với hoàn cảnh thực tế. Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chưa có chút kinh nghiệm nào. Vì vậy, việc tìm kiếm thành công hay không thành công con đường của mình là vốn kinh nghiệm quý báu cho phong trào cộng sản quốc tế và giúp ích nhiều cho các dân tộc và quốc gia bước vào con đường phát triển xã hội chủ nghĩa. Chúng ta nên có thái độ cẩn trọng khi tìm hiểu những sai lầm và thiếu sót trong quá trình tìm kiếm. Chớ nên cười nhạo người đi trước, lại càng không nên công kích. Cũng không nên hoàn toàn phủ nhận nó, vì làm như thế không phải là thái độ marxist khi giải quyết vấn đề. Chính vì vậy, ta không nên dùng chữ « thất bại » như đôi khi vẫn nói.

Ma Long Sơn cho rằng không thể không học hỏi kinh nghiệm của Liên Xô, nước xây dựng chủ nghĩa xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Và cho dù những người đương thời có những ý kiến đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết, vẫn phải thừa nhận rằng nó đã giải quyết được hai vấn đề quan trọng – sự ra đời và phát triển của Liên Xô. Liên Xô không chỉ đã đánh thắng phát xít Đức, mà còn đi theo con đường hiện đại hóa đất nước. Shen Tsung – cộng tác viên khoa học Viện Marx – Lenin trực thuộc Viện HLKHXH Trung Quốc, tác giả cuốn « Suy ngẫm lại về mô hình Stalin dưới ánh sáng thời đại ngày nay » (2004) đã khẳng định vị trí lịch sử và những thành tựu của mô hình Xô viết từ góc nhìn hiệu ứng khách quan. Mô hình Xô viết đã đóng một vai trò rất hiệu quả trong việc thực hiện nhanh chóng của hiện đại hóa, tạo dựng cơ sở nền đại công nghiệp, một nền khoa học và văn hóa tiên tiến, trong việc củng cố cơ sở quốc phòng và các lĩnh vực khác. Từ góc nhìn hiện đại hóa, Liên Xô đã nhận trách nhiệm lớn về nền kinh tế và văn hóa lạc hậu, đồng thời nó vẫn trụ vững trước mối đe dọa của kẻ thù bên trong và bên ngoài. Trong hoàn cảnh như vậy, mô hình Xô viết đã giúp Liên Xô hiện đại hóa với nhịp độ nhanh và thoát khỏi tình huống khó khăn.

Còn theo ý kiến của Zheng Yiping và Gun Hailin, mô hình Xô viết không giúp gì cho việc giải quyết các nhiệm vụ cơ bản của chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền dân chủ và luậ pháp xã hội chủ nghĩa, đoàn kết các dân tộc và phát triển mạnh khoa học và văn hóa, (mô hình này) không phù hợp với những tư tưởng của Lenin về xây dựng chủ nghĩa xã hội và kết quả là đã cản trở nhiệm vụ phát triển nhanh nền kinh tế.

Xiao Feng nhấn mạnh rằng mô hình Xô viết là một mô hình quái dị và cứng nhắc của thực tiễn xã hội chủ nghĩa. Mặc dù mô hình này đã đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử đất nước và đã cho phép đạt được những thành tích lớn, nhưng trong điều kiện hiện nay nó phải được cải biến lại hoàn toàn. Theo ý kiến tác giả này, mô hình Xô viết là không nhất thiết đối với các nước khác.

Theo Zhang Guangming và Li Zhongyu, sau một nửa thế kỷ cố gắng tìm cách hiện thực hóa mô hình Xô viết, lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy đây là một mô hình không thành công. Nó khép kín và bảo thủ, không có khả năng tự điều chỉnh, hạn chế tính tích cực của quần chúng và kìm hãm sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội. Zuo Fengrun còn cho rằng mô hình Xô viết không có cơ chế sửa sai lỗi, rằng mô hình không đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại.

Mặc dù các nhà khoa học đã đưa ra những đánh giá khác nhau về mô hình Xô viết – cả tích cực lẫn tiêu cực – tất cả đều đã đi tới một ý kiến thống nhất : để đưa ra được những đánh giá khoa học hơn, cần phải kiên định lập trường của chủ nghĩa Marx, sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phân tích một cách công minh và đánh giá công bằng sẽ giúp chúng ta rút ra được những bài học của quá khứ lịch sử và có thêm kinh nghiệm. Và hiển nhiên là tất cả những cái đó có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình hiện đại hóa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Sự sụp đổ của Liên Xô là một bài học tốt cho chúng tôi : chủ nghĩa xã hội nhất thiết phải đáp ứng mệnh lệnh của thời đại và phải được kết hợp với thực tế mỗi nước, không thể sao chép lịch sử, sao chép mô hình của các nước khác, mà phải tự tìm ra mô hình của mình, phù hợp với thực tế và đặc thù của đất nước mình.

(còn tiếp)

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11

Lý thuyết gia đứng sau Tập Cận Bình – Phần đầu


Ryan Mitchell

Ngày 25/10/2017, bảy nhân vật trong bộ complet màu đen bước lên bục chính tại Đại lễ đường Nhân dân, trong buổi lễ ra mắt Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong số này, chỉ có một gương mặt gây bất ngờ, đó chính là Vương Hộ Ninh, một nhà tư tưởng lão luyện của đảng, cựu giáo sư chuyên ngành chính trị quốc tế tại Đại học Phúc Đán (Fudan) ở Thượng Hải. Rất ít người nghĩ rằng Vương Hộ Ninh có thể vươn tới một vị trí cao nhất trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPP). Nhưng giờ thì mọi chuyện đã rõ. Một cựu học giả ẩn dật, nổi tiếng với vẻ điềm đạm, cẩn trọng giờ đã trở thành nhân vật có quyền lực tư tưởng xếp hàng thứ hai trong CCP, chỉ sau Chủ tịch Tập Cận Bình.

Sự xuất hiện của ông Vương trong cơ cấu Thường vụ là điểm khác biệt so với thực tế chính trị tại Trung Quốc trong nhiều thập kỷ trở lại đây. Thông thường, các ủy viên Thường vụ được lựa chọn từ số Ủy viên Bộ Chính trị tiêu biểu, có kinh nghiệm và từng kinh qua cương vị Bí thư tỉnh ủy, Thành ủy. Nhưng ông Vương lại là người xuất thân từ Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương (CPRO), từng làm Giám đốc của một đơn vị tại CPRO phụ trách việc phát triển nền tảng hệ tư tưởng cho CCP. Trường hợp duy nhất một lý thuyết gia tương tự Vương Hộ Ninh có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị xảy ra vào năm 1966, thời kỳ đầu Cách mạng Văn hóa, khi Mao Trạch Đông tiến cửu cựu Thư ký Trần Bá Đạt (Chen Boda).

Dĩ nhiên bối cảnh Trung Quốc hiện nay khác xa so với thập niên 1960. Thế nhưng ở một góc độ nào đó vẫn có điểm tương đồng thú vị: Những thay đổi về cục diện quốc gia và quy tắc của chính trị tinh anh dường như một lần nữa lại đưa CCP tới điểm lây nhiễm lịch sử. Với quyền lực tích tụ ngày một lớn, được xem là lãnh đạo hạt nhân của CCP, ông Tập Cận Bình trong nhiệm kỳ hai đã đưa ra lý thuyết cá nhân về “Thời đại mới của chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”, kết hợp với yêu cầu bảo đảm ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế chất lượng cao, gia tăng sức mạnh quốc gia cho Trung Quốc. Cùng lúc, ông Tập nhắc lại những mối đe dọa hiện hữu từng diễn ra ở Liên Xô mà CCP cần phải nhận ra, nếu như đảng cầm quyền không tìm cách thu phục tin tưởng, tin cậy của người dân Trung Quốc.

Nhiều chính sách của ông Tập Cận Bình, từ “Giấc mộng Trung Quốc” cho tới chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt và “4 Tự tin” mà mỗi đảng viên cần phải thể hiện, đều nhắm tới mục tiêu củng cố, tạo chính danh cho vai trò lãnh đạo của CCP. Khi CCP củng cố quyền lực, sự nổi lên của Vương Hộ Ninh có thể sẽ cho thấy điều gì về con đường của Trung Quốc trong “Kỷ nguyên mới” của Tập Cận Bình.

Tìm kiếm trật tự

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 và Cách mạng Văn hóa dần nhường chỗ cho kỷ nguyên cải cách, hàng triệu người Trung Quốc bắt đầu theo đuổi giấc mộng đã từng bị làm thui chột sau một thập kỷ đấu đá chính trị. Ông Vương giành những năm tháng này nghiên cứu văn bản, tài liệu về tính ác trong bản chất con người, nguồn gốc của nhà nước và yêu cầu đối với một người trị vì đầy quyền lực để kiểm soát xung đột xã hội.

Tham gia giảng dạy tại Đại học Phúc Đán năm 1978 sau khi tốt nghiệp cử nhân tiếng Pháp, ông Vương theo học thạc sĩ chuyên ngành chính trị quốc tế năm 1981, với khóa luận tốt nghiệp về chủ đề khái niệm chủ quyền theo quan điểm phương Tây. Tài liệu khảo sát ý tưởng về chủ quyền nhà nước hiện đại, từ thời tiền khởi theo lý luận của nhà tư tưởng người Pháp Jean Bodin trong thế kỷ 16, qua giai đoạn hình thành và cho đến khi bị chối bỏ trong thế kỷ 20. Ông Vương quay lại chủ đề này trong các cuốn sách, bài viết được xuất bản, công bố một thập kỹ rưỡi sau đó, khi ông đạt tới học hàm giáo sư và làm giám đốc chương trình chính trị quốc tế – chuyên ngành mà ông theo học.

Tư tưởng cơ bản của Vương Hộ Ninh về chủ quyền ăn khớp với các lý thuyết gia chủ chốt khác ở phương Tây. Chủ quyền theo quan điểm của ông Vương bao gồm khả năng quyền lực chính trị trong thực thi kiểm soát hành chính thống nhất đối với một vùng lãnh thổ mà không gặp phải đe dọa bên ngoài hay rối loạn bên trong. Bodin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về chính trị trong đó chỉ có nhà nước mới nắm giữ quyền lực này, loại trừ vai trò của các quyền lực chính trị, tôn giáo hay luật pháp. Điểm mấu chốt của khái niệm chính trị là giả định chủ quyền không thể bị chia cắt; tranh cãi vẫn có thể xuất hiện trong các chính sách hay nguyên tắc nào đó, nhưng vai trò của chủ quyền sẽ không cho phép điều này tồn tại. Trong bộ “Sáu cuốn sách của nền Cộng hòa” (Six Books of the Commonwealth), Bodin khẳng định, “Chủ quyền quốc gia cũng giống như Đức Chúa trời. Không thể có thứ ngang bằng với Chúa, bởi Chúa là tuyệt đối và theo logic thì không thể có hai thực thể tuyệt đối cùng tồn tại. Vì thế chúng ta có thể nói rằng Quân vương, người mà chúng ta cho là mang hình ảnh của Chúa trời, không thể đạt tới chủ thể ngang hàng với Chúa mà không hủy diệt quyền lực của Đức Chúa”.

Đối với Vương Hộ Ninh, phát triển lịch sử của những ý tưởng như vậy là điều đặc biệt quan trọng, vì nó cho thấy ở ngay giai đoạn đầu châu Âu hiện đại – tương tự như xã hội Trung Quốc trong thế kỷ 20, nhà nước hiện đại đã phải chiến đấu để tồn tại giữa những bất ổn của các lực lượng phong kiến chống đối, chia cắt lãnh thổ và đứt gãy xã hội. Những lý thuyết gia vĩ đại nhất châu Âu về chủ quyền, nổi bật là Bodin, Thomas Hobbles và Machiavelli (người mà Vương Hộ Ninh xem là đấu tranh để thống nhất một nước Italy chia rẽ), đã đi trước thời đại khi nhận ra nhu cầu cần một hình thức tổ chứ chính trị có khả năng tạo ra đoàn kết và trật tự để vượt lên yếu kém và hỗn độn. Thời Trung Quốc hiện đại, tương tự như giai đoạn thời kỳ phục hưng Italy, những xu thế bẩm sinh của nhân loại về chiến tranh và cách mạng nói lên rằng chỉ có thể tạo ra nền tảng sức mạnh và độc lập quốc gia nếu như tất cả cùng tuân thủ quyền lực tối cao – tức Nhà nước.

Những ý tưởng như vậy hẳn nhiên từng có ý nghĩa đặc biệt đối với Trung Quốc những năm cuối thập kỷ 1970, sau khi thử nghiệm tệ hại của Cách mạng Văn hóa đã làm suy yếu Nhà nước, khiến nhiều người đặt câu hỏi về nền tảng hệ tư tưởng giúp tạo dựng quyền lực Nhà nước. Nhưng đối với Vương Hộ Ninh, những lý thuyết gia phương Tây thời kỳ đầu về chủ quyền luôn có giá trị bất diệt, bởi họ đã sử dụng quan điểm thực tế để giải thích cho những đam mê hệ tư tưởng của thời đại và hiểu thấu những gì mà xã hội thực sự cần đến: Một người cai trị mạnh mẽ, thống nhất và trung thành với dân tộc, phủ nhận ảnh hưởng của bất kỳ thế lực phong kiến, ngoại bang hay tôn giáo nào. Để rồi chính những nhà cai trị chuyên chính như vậy đã tạo ra nền tảng của nhà nước ổn định và tự trị, đưa phương Tây tiến đến đỉnh cao thống trị toàn cầu.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://www.foreignaffairs.com/articles/china/2017-12-04/chinas-crown-theorist

TKNB – 11/12/2017

Tranh chấp chủ quyền biển khiến quan hệ Việt – Trung đi xuống


Nguyệt san Ngoại tham có trụ sở tại New York (Mỹ), bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, số 91 tháng 12/2017 có đăng bài dự báo của giới chuyên gia cho rằng Việt Nam hiện nay sẽ không đối kháng với Trung Quốc nếu Việt Nam không cảm nhận được mối đe dọa cực lớn. Việt Nam thiếu đi sự ủng hộ rõ ràng từ các nước khác như Mỹ và quan hệ đồng minh mới nổi với Ấn Độ chưa được củng cố.

Từ tháng 5/2017 đến nay, Trung Quốc và Việt Nam xảy ra một loạt sự kiện, đem đến cho hai nước láng giềng này nguy cơ một lần nữa bùng nổ tâm lý đối địch trong vấn đề quyền kiểm soát chủ quyền biển Hoa Nam (Biển Đông). Tuy nhiên, Việt Nam trong tương lai gần do thiếu sự ủng hộ rộng rãi nên sẽ kìm nén tức giận.

Chủ nghĩa dân túy dâng cao

Bộ Ngoại giao Việt Nam phản đối Trung Quốc tuyên bố tiến hành diễn tập quân sự tại khu vực Vịnh Bắc Bộ. Trước đó, Trung Quốc đã công khai ép buộc Việt Nam và nhà thầu Tây Ban Nha là công ty Repsol hồi cuối tháng 7 ngừng dự án thăm dò dầu mỏ ở biển Hoa Nam (Biển Đông) trị giá hàng triệu USD.

Tháng 7/2017, các nhà hoạt động thân Trung Quốc ở hải ngoại rõ ràng đã tấn công hệ thống máy tính tại hai sân bay của Việt Nam. Hồi tháng 8 vừa qua, Trung Quốc và Việt Nam đã hủy cuộc gặp cấp bộ trưởng ngoại giao bên lề một hoạt động mang tính khu vực tổ chức tại Manila (Philippines). Trước đó, hồi tháng 6/2017, quan chức quân sự Trung Quốc rút ngắn lịch trình chuyến thăm Việt Nam. Các nhà phân tích cho rằng hành động này của phía Trung Quốc là sự phản đối Việt Nam thăm dò khai thác dầu khí ở biển Hoa Nam (Biển Đông).

Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia, chuyên gia về vấn đề Đông Nam Á cho rằng sau khi trải qua hàng loạt rắc rối với phía Trung Quốc, Việt Nam đang thể hiện rõ sự bực bội của mình. Giáo sư Carl Thayer nói: “Tôi cho rằng tâm lý chống Trung Quốc của người dân Việt Nam mạnh đến mức nếu như trong vấn đề biển Hoa Nam (Biển Đông), dân chúng Việt Nam cho rằng chính phủ không bảo vệ chủ quyền, Chính phủ Việt Nam sẽ gặp phải rắc rối thực sự”.

Giới chuyên gia nêu rõ, hai nước Trung – Việt mặc dù trải qua nhiều năm nỗ lực hợp tác, triển khai nghiệp vụ nghề cá và khoan thăm dò dầu khí trên biển, nhưng quan hệ giữa hai nước liên quan vấn đề chủ quyền biển vẫn đang xấu đi, dẫn đến hai nước có tuyên bố chủ quyền ở khu vực biển Hoa Nam (Biển Đông) này đối lập, bất chấp những nỗ lực trong khu vực từ tháng 7/2016 đến nay nhằm gác lại bất đồng. Trong lịch sử Trung – Việt thập niên 70 của thế kỷ trước từng xảy ra xung đột trên biển. Không chỉ Việt Nam và Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á khác như Brunei, Malaysia, Philippines và vùng lãnh thổ Đài Loan cũng tuyên bố có chủ quyền toàn bộ hoặc một phần khu vực biển Hoa Nam (Biển Đông).

Chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu biển Hoa Nam có trụ sở tại Đài Bắc (Đài Loan), Jonathan Spangler nêu rõ trên phương diện phản đối Trung Quốc, Việt Nam không nhận được sự ủng hộ từ các nước khác nên cảm nhận rất rõ sự đơn độc. Tuy nhiên, còn một lý do khác, đó là giới chức Việt Nam luôn mong muốn duy trì trao đổi thương mại với Trung Quốc. Trong 4 tháng đầu năm 2017, kim ngạch thương mại hai nước Trung – Việt đạt 25,5 tỷ USD, khiến Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Hơn thế, Trung Quốc vẫn nắm trong tya kiểm soát kinh tế, có thể căn cứ vào động cơ chính trị để điều chỉnh kinh tế, thương mại và đầu tư.

Chuyên gia Jonathan Spangler cho rằng, sau Đại hội XIX, địa vị và quyền lực chính trị của Tập Cận Bình (Xi Jinping) được xác lập, nhiều khả năng Trung Quốc đối với Việt Nam trong vấn đề biển Hoa Nam sẽ cứng rắn hơn. Sau Đại hội XIX, quyền lực của Tập Cận Bình đã được củng cố, hiển nhiên, chính sách của Tập Cận Bình sẽ càng cứng rắn hơn. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng sẽ tránh mọi sự quá đà trong quan hệ với Việt Nam bởi vì, nhìn tổng thể, Việt Nam vẫn coi Trung Quốc là nước láng giềng hợp tác.

Mấy thế kỷ qua, quan hệ Trung – Việt luôn chịu sức ép bởi tranh chấp biên giới. Hai bên hiện đang tranh chấp một vùng đất hẹp nằm ở phía Đông bờ biển Việt Nam. Hai nước đều lấp biển xây đảo tại chuỗi đảo từ quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) đến quần đảo Nam Sa (Trường Sa).

Chuyên gia Jonathan Spangler cho rằng, giống như trước đây, quan hệ Trung – Việt sẽ tiếp tục duy trì trạng thái dao động, nhưng chính phủ hai nước sẽ đều chịu sự ràng buộc bởi lợi ích mấu chốt của họ. Đối với Việt Nam, trao đổi thương mại tự do với Trung Quốc sẽ vẫn là nhiệm vụ hàng đầu, có lẽ chỉ đứng sau ổn định chính trị trong nước. Còn đối với Trung Quốc, duy trì sức ảnh hưởng đối với khu vực, ngăn chặn mọi nhận thức chung khu vực đe dọa lợi ích của Trung Quốc sẽ tiếp tục là xem xét ưu tiên.

Chuyên gia Jonathan Spangler nêu rõ, do Trung Quốc có được lực lựng tuần tra bờ biển mang tính xâm lược và các dự án lấp biển xây đảo có thể đáp ứng yêu cầu của máy bay chiến đấu cất hạ cánh, khiến Trung Quốc được nhìn nhận là bên có địa vị chủ đạo trong 6 bên tranh chấp ở biển Hoa Nam. Trung Quốc có sức mạnh quân sự đứng hàng thứ 3 thế giới. Việt Nam cho rằng Trung Quốc thông qua điều động lực lượng quân đội hùng mạnh của mình để kiểm soát quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) của Việt Nam, khiến Trung Quốc chiếm thế thượng phong trong tình trạng không công bằng. Việt Nam thường xuyên phản đối hoạt động quân sự của Trung Quốc tại khu vực này.

Bạo loạn chống Trung Quốc năm 2014 xảy ra ở Việt Nam đã khiến hơn 20 người chết và bị thương, đồng thời khiến các nhà đầu tư lo sợ mà rút khỏi Việt Nam. Nguyên nhân dẫn đến biểu tình là do Trung Quốc đưa giàn khoan dầu khí vào tác nghiệp tại vùng biển tồn tại tranh cãi. Giới chuyên gia cho rằng lãnh đạo Việt Nam hiện nay dường như là “để dành” phản ứng mạnh mẽ hơn đối với mối đe dọa chủ quyền nghiêm trọng hơn. Thực tế cho thấy, bất kể lãnh đạo nào của Việt Nam cũng đều không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Nguồn: TKNB – 28/12/2017

Cạm bẫy trên biển dành cho Trung Quốc – Phần cuối


Thứ hai, Trung Quốc cần tiến hành các cuộc đàm phán có ý nghĩa với các bên yêu sách và thiết lập dạng quy tắc nào đó cho lộ trình này càng sớm càng tốt để tránh hoặc kiểm soát các sự cố hay xung đột tiềm tàng trên biển. Trong vài năm qua, Trung Quốc và các bên yêu sách khác đã can dự vào một dạng đấu tranh “ăn miếng trả miếng” trong các tranh chấp trên biển giữa các bên. Điều đó không chỉ leo thang tình hình vốn đã căng thẳng, mà còn có khả năgn cao xảy ra sự cố hoặc xung đột. Là một bên yêu sách của hầu hết tất cả các tranh chấp trên Biển Đông và Biển Hoa Đông, và là một cường quốc đang trỗi dậy trên quy mô lục địa, Trung Quốc cần nắm thế chủ động trong việc xuống thang tình hình này. Ở biển Hoa Đông, Trung Quốc và Nhật Bản đã khởi động một cuộc đối thoại vào năm 2015 để thiết lập Cơ chế liên lạc hàng hải để sử dụng trong các tình huống khẩn cấp, một bước đi tích cực hướng tới ngăn chặn các cuộc đụng độ bất ngờ và cần được theo đuổi hơn nữa.

Ở Biển Đông, tin tốt là bất chấp phán quyết bất lợi của Tòa Trọng tài ở La Hay và chủ nghĩa dân tộc dâng cao trong nước, Trung Quốc đã cho thấy sự kiềm chế và tính linh hoạt trong việc đối phó với các vấn đề gai gác. Ngày 15 – 16/8/2016, Trung Quốc và ASEAN đã tổ chức Cuộc họp các quan chức cấp cao lần thứ 13 về việc thực hiện DOC tại Mãn Châu Lý, một thành phố nội địa xa xôi, mát mẻ, được lựa chọn kỹ càng, giáp biên giới với Trung Quốc và Nga, nơi Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã nói một cách ngụ ý rằng các bên có thể rút ra cảm hứng nào đó từ các cuộc đối thoại biên giới thành công giữa Trung Quốc và Nga trong những năm 1990. Cuộc họp đã kết thúc với một số  bước đột phá mang tính thăm dò về việc thực hiện DOC và tham vấn về bộ Quy tắc ứng xử (COC). Các bên đã nhất trí về nguyên tắc chỉ đạo cho một đường dây nóng trong các tình huống khẩn cấp trên biển, một tuyên bố chung về việc áp dụng Quy tắc cho những va chạm ngoài ý muốn trên biển đối với Biển Đông, và nhắc lại hi vọng và mong muốn đạt được một khuôn khổ dự thảo cho một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông vào giữa năm 2017. Trung Quốc cũng đã mời Tổng thống Philippines Rodrigo Roa Duterte tới thăm Trung Quốc vào tháng 10/2016, trong thời gian đó hai nước đã nhất trí tự kiềm chế việc tiến hành cá hoạt động ở Biển Đông mà sẽ làm phức tạp thêm hoặc làm leo thang tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định.

Thứ ba, Trung Quốc cần đề xuất các cuộc đối thoại với các bên yêu sách khác về việc đánh bắt cá và bảo vệ môi trường biển. Ngoài vấn đề chủ quyền, các xung đột nảy sinh từ việc đánh bắt cá cũng như khai thác và thăm dò dầu khí ở khu vực Biển Đông và biển Hoa Đông bị tranh chấp là những động cơ chính đằng sau các mối quan hệ đang xuống cấp giữa Trung Quốc và các bên yêu sách khác. Điều này cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng trong khu vực Đông Á. Nếu Trung Quốc và các bên yêu sách khác có thể đạt được một thảo thuận về việc đánh bắt cá ở các khu vực tranh chấp hoặc tìm ra cách cùng khai thác và phát triển dầu khí, việc này sẽ làm giảm đáng kể một trong những nguồn căng thẳng chính. Xét lịch sử khó khăn và các yêu cầu chuyên môn phức tạp hơn trong việc khai thác và phát triển dầu khí chung ở Biển Đông, một cách đơn giản hơn nhiều để bắt đầu quá trình này sẽ là mở ra đối thoại về việc đánh bắt cá chung ở các khu vực tranh chấp hoặc một chương trình thí điểm về các địa điểm đánh bắt cá chung. Một cuộc họp riêng ở Hong Kong vào mùa Hè năm 2016 giữa cựu Tổng thống Philippines Fidel Ramos và quan chức Trung Quốc Phó Oánh, trong đó họ đã thảo luận về khả năng hợp tác giữa Trung Quốc và Philippines trong việc đánh bắt cá, là một bước tiến đáng hoan nghênh. Trong khi chờ đợi, các bên yêu sách có thể thăm dò cách để bảo vệ môi trường biển một cách hợp tác và thành lập quỹ bảo vệ môi trường biển. Những biện pháp đó sẽ giúp xuống thang tình hình và góp phần xây dựng lòng tin. Dựa trên những biện pháp và thành tựu này, các bên liên quan sau đó có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo là thăm dò các phương thức hợp tác phát triển dầu khí.

Thứ tư, Trung Quốc cần thăm dò đối thoại với Mỹ về các hoạt động quân sự trong các vùng đặc quyền kinh tế và việc qua lại vô hại trên biển trong vùng lãnh hải của nước này. Trung Quốc và Mỹ có những quan điểm rất khác biệt và thậm chí mâu thuẫn nhau về vấn đề này. Trung Quốc, cùng với hơn hai chục quốc gia khác, phản đối việc do thám quân sự nước ngoài và các hoạt động quân sự khác ở các vùng đặc quyền kinh tế được cho là có hại đối với an ninh của các quốc gia ven biển, trong khi Mỹ lập luận rằng nước này có quyền quy định những hoạt động này. Trung Quốc yêu cầu xin phép hoặc thông báo trước về việc di chuyển bên trong vùng lãnh hải của nó, trong khi Mỹ khẳng định việc qua lại vô hại không cần xin phép hay thông báo trước. Các cách hiểu khác nhau đã dẫn đến một số va chạm nhỏ về ngoại giao và thậm chí cả va chạm trên biển và trên không giữa Trung Quốc và Mỹ, và “Hoạt động tự do hàng hải” cùng “sự qua lại vô hại” mới đây của các tàu khu trục Mỹ và những phản ứng với giọng điệu gay gắt của Trung Quốc, đã làm nổi bật hơn nữa những khác biệt và nguy cơ của các sự cố này. Nếu Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được một số hiểu biết hay thỏa thuận dù ngấm ngầm hay công khai, đặc biệt liên quan đến các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế, điều đó sẽ loại trừ một cái gai trong quan hệ Trung – Mỹ.

Nhìn về phía trước

Phán quyết của Tòa Trọng tài vào tháng 7/2016 ở La Hay chắc chắn là một sự thất bại đối với các tuyên bố hàng hải của Trung Quốc, và đã thu hút sự lên án và phản đối trên toàn quốc. Tuy nhiên, mặc dù giọng điệu thách thức và bất bình, Trung Quốc cho đến này đã hành xử rất thận trọng và kiềm chế. Trung Quốc đã không tuyên bố một ADIZ ở Biển Đông hay thực hiện những nỗ lực cải tạo mới ở bãi cạn Scarborough, như một số người đã dự đoán Trung Quốc sẽ làm; thay vào đó, Trung Quốc đã kêu gọi duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông và tiếp cận ASEAN và Philippines để xuống thang tình hình, mặc dù Trung Quốc lên án phán quyết và thề sẽ không công nhận hay thực hiện phán quyết đó.

Theo nghĩa này, phán quyết hẳn đã mang lại một cơ hội để xuống thang căng thẳng ở Biển Đông và một cách khả thi để thoát khỏi các tranh chấp trên biển lộn xộn, nếu tất cả các bên có thể tận dụng phán quyết này một cách khôn ngoan trong những tháng tới. Xét chiến thắng quyết định mà Philippines đã giành được từ phán quyết và thất bại đáng xấu hổ của Trung Quốc, đã đến lúc phải trở lại bàn đàm phán và cho ngoại giao một cơ hội đầy đủ.

Trong những tháng tới, nếu Trung Quốc và Philippines có thể thành công đi đến một thỏa thuận về đánh bắt cá và hợp tác trên Biển Đông, điều đó sẽ giúp làm dịu quan hệ và thậm chí có thể làm gương về cách đối phó với các tranh chấp trên biển khác. Và nếu Trung Quốc và ASEAN có thể hoàn thiện khuôn khổ dự thảo COC của mình, tốt nhất là trước cuối năm 2017, đó sẽ là một bước đột phá lớn trong việc đưa ra quy tắc trong các tranh chấp ở Biển Đông. Hơn nữa, nếu Trung Quốc và Nhật Bản hoàn thành đối thoại về việc ổn định tình hình trên biển Hoa Đông, vốn bắt đầu từ năm 2015, nó sẽ tạo cơ hội cho cả hai nước chuyển sang một giai đoạn mới từ mối quan hệ ảm đạm hiện nay. Cuối cùng, nếu Trung Quốc và Mỹ có thể đạt được một dạng đồng cảm nào đó liên quan đến quyền tự do đi lại ở các vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải, và Mỹ cho thấy một số kiềm chế cũng như tránh thu hút sự chú ý đến các FONOP ở Biển Đông, nó sẽ giúp ngăn chặn sự mất lòng tin ngày càng tăng giữa hai nước.

Tất cả đều là những sự không chắc chắn lớn, và dứt khoát không phải những nhiệm vụ dễ dàng. Chúng đòi hỏi tầm nhìn chiến lược, sự đồng cảm và các nỗ lực ngoại giao phối hợp từ tất cả các bên, đặc biệt là từ Trung Quốc, Mỹ, và các bên yêu sách khác.

Nguồn: Wei Zongyou – China’s Maritime Trap – The Washington Quarterly Vol. 40, 2017, No. 1.

CVĐQT – số 6/2017.

Mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc: Phân tích trên cơ sở các nghiên cứu của các học giả Trung Quốc – Phần II


2/ Những khác biệt giữa hai mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc

Mô hình của Liên Xô là mô hình chủ nghĩa xã hội đầu tiên trên thế giới. Nó đã được tuyên bố là một mô hình duy nhất, chung cho tất cả các nước xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc về cơ bản là sao chép mô hình của Liên Xô. Nhờ đó, Trung Quốc đã thành công trong việc tuân theo đúng các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa cơ bản: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, vượt qua nhiều khó khăn để bước vào con đường công nghiệp hóa. Nhưng qua thời gian, những biểu hiện lạm dụng hệ thống kinh tế kế hoạch sao chép từ mô hình Liên Xô, đã dẫn đến những khó khăn trên đường hiện đại hóa của Trung Quốc. Không cải cách thì không thể phát triển. Tiến hành chính sách cải cách và mở cửa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc – đó là một kết quả tìm tòi và nỗ lực của nhiều thế hệ lãnh đạo Trung Quốc, cho phép nó đi theo con đường phát triển riêng của mình, chứng minh tính đúng đắn của nó trong suốt 30 năm qua.

Mối tương quan giữa hai mô hình của Trung Quốc và của Liên Xô đang được xem xét như thế nào? Các nhà khoa học Trung Quốc hầu như không ai có ý kiến tranh cãi về các nét khác biệt giữa chúng.

Thứ nhất, mô hình của Trung Quốc (chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc) là một hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, và mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô là dựa trên nền kinh tế kế hoạch, hoàn toàn loại trừ, phủ nhận thị trường. Mô hình kiểu Xô Viết giữ lập trường sở hữu công về phương tiện sản xuất, là cái được phát triển dựa trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch tập trung thái quá quyền lực (bao cấp) và phủ nhận vai trò điều tiết của thị trường. Hoạt động kinh tế ở Liên Xô được xác định hoàn toàn bởi kế hoạch pháp lệnh chỉ đạo. Còn mô hình của Trung Quốc thì không thế, bởi vì nền kinh tế kế hoạch – đó chưa hẳn đã là chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường cũng không hẳn là chủ nghĩa tư bản. Trung Quốc đã đi theo conđường sử dụng hệ thống kinh tế thị trường. Đúng như Đặng Tiểu Bình đã nói: “Kinh tế thị trường không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản”, “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là sát chuột”.

Thứ hai, trong lĩnh vực kinh tế, Trung Quốc tuân theo luận điểm về vị trí chủ đạo của sở hữu công cộng. Nhưng đồng thời vẫn phát triển các khu vực kinh tế khác, tạo thành một cấu trúc tầng bậc mới mà đặc trưng là sự cạnh tranh công bằng về mặt kinh tế và phát huy đồng thời mọi hình thức sở hữu. Nguyên tắc phân phối theo lao động vẫn là hình thức phân phối chủ yếu, đồng thời cho phép các hình thức phân phối bổ sung. Còn đặc trưng của cái chủ nghĩa xã hội theo mô hình Xô viết là lực lượng sản xuất vẫn ở trình độ thấp, chủ yếu định hướng vào sở hữu công cộng hạ thấp vai trò và ý nghĩa của các hình thức sở hữu khác, và tập trung cao độ chú ý vào tính kế hoạch của nền kinh tế và chế độ tập trung bao cấp nên đúng là thực tế đã vô hiệu hóa vai trò của điều tiết thị trường. Do đó, hoạt động kinh tế hoàn toàn được quyết định bởi các kế hoạch pháp lệnh.

Thứ ba, mô hình Trung Quốc theo chính sách cải cách và mở cửa, trong khi mô hình của Liên Xô là đóng cửa và đã bộc lộ rõ những dấu hiệu trì trệ. Kết quả là, tình trạng trì trệ và khép kín tất yếu đã đi đến mâu thuẫn với xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày càng phát triển nhanh chóng, và kết quả là nhịp độ phát triển kinh tế chậm lại, mối liên hệ khoa học – kỹ thuật và văn hóa giữa phương Đông và phương Tây suy yếu, khoảng cách về trình độ  phát triển giữa hai bên ngày càng xa. Hệ quan niệm mới của Đặng Tiểu Bình đã xác định phương hướng phát triển của Trung Quốc. Chính sách cải cách và mở cửa đáp ứng được yêu cầu của thời đại và đặc điểm quốc tộc. Ra sức thu hút vốn của các nước tư bản chủ nghĩa, làm chủ công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của họ đã và đang góp phần kích thích phát triển lực lượng sản xuất, tăng cường sức mạnh của đất nước. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã đạt được những kết quả nổi bật nhờ chính sách cải cách và mở cửa.

Thứ tư, các nguyên lý chủ yếu của mô hình Trung Quốc là sự phát triển các lực lượng sản xuất, thủ tiêu bóc lột, phân hóa giai cấp, và cuối cùng là đạt tới một mức sống cao hơn. Phúc lợi phổ biến, sự phồn vinh của đất nước đã trở thành tiêu chí đánh giá công sức của cả người lao động lẫn ban lãnh đạo đất nước. Mô hình của Liên Xô rõ ràng là đã đi chệch theo hướng quân sự hóa nền kinh tế. Tuy không tuyên bố một cách trực tiếp tư tưởng “cách mạng thế giới”, Liên Xô vẫn hướng tới chiếm giữ vai trò lãnh đạo trong các vấn đề thế giới. Trong nước, Liên Xô tập trung phát triển ngành công nghiệp quân sự, và điều này đã cản trở việc cải thiện mức sống của người dân. Trên vũ đài thế giới thì chạy đua vũ trang, trong thế giới thứ ba thì đấu tranh gay gắt, nguồn lực con người, vật chất, tài chính đều đã cạn. Một mô hình phát triển như thế ắt ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của đất nước.

Thứ năm, sự khác biệt giữa hai mô hình còn thể hiện cả ở nền tảng lý luận, chiến lược phát triển, các hệ thống chính trị và văn hóa. Nền kinh tế kế hoạch thống nhất của Liên Xô loại trừ kinh tế trường. Liên Xô đã vội vã trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Còn trong mô hình Trung Quốc thì nhấn mạnh rằng Trung Quốc vẫn còn ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ cơ bản đặt ra cho Trung Quốc là xây dựng một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, còn Liên Xô thì lại nhằm mục tiêu đuổi kịp và vượt các nước TBCN phát triển về kinh tế trong một thời gian ngắn. Mô hình Trung Quốc đề ra chiến lược “ba bước”, nhấn mạnh sự phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững. Mô hình Xô viết có đặc điểm là tập trung cao độ quyền lực hệ tư tưởng toàn trị. Còn mô hình của Trung Quốc thì theo chế độ tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo.

Nói tóm lại, mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc có những điểm khác biệt rất rõ, nhưng những điểm chung, giống cũng là hiển nhiên, chẳng hạn, cả hai đều theo chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của chủ nghĩa Marx và đảng Cộng sản, duy trì chuyên chính vô sản, hệ thống sở hữu công cộng và nguyên tắc phân phối theo lao động. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ hơn những tương đồng này thì lại có thể thấy nhiều điểm khác biệt cụ thể.

3/ Kế thừa, phát triển sáng tạo hay phủ định hoàn toàn?

Trong giới khoa học Trung Quốc có hai luồng ý kiến đối lập về mối liên hệ giữa mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và của Trung Quốc. Ý kiến thứ nhất: hai mô hình xét về bản chất và các nguyên tắc cơ bản thì như nhau, mô hình Trung Quốc – đó là sự kế thừa và phát triển sáng tạo mô hình Xô viết, những khác biệt chủ yếu giữa chúng được phản ánh qua những hình thức và hệ thống cụ thể của chúng. Ý kiến này là của Zhou Sinchen, Liu Shulin… Một luồng ý kiến khác: hai mô hình là hoàn toàn khác nhau, mô hình Trung Quốc là một bước đột phát hay nói cách khác, phủ định hoàn toàn mô hình Xô viết, mô hình của Liên Xô là một sự bế tắc. Những nhà khoa học ủng hộ quan điểm này là Liêu Thụ Lâm, Ma Lunshan, Chu Tân Thành và những người khác.

Theo Chu Tân Thành, Liêu Thụ Lâm và những người khác, trong hai mô hình của Liên Xô và của Trung Quốc cần tách ra hai mảng : mảng cơ bản – bản chất và chế độ, và mảng kia là các hệ thống cụ thể. Xét về bản chất và chế độ cơ bản thì hai mô hình giống nhau, cùng kiểu.

Mô hình Trung Quốc là sự kế thừa mô hình Stalin. Trong trường hợp này, không thể nói mô hình Trung Quốc là một phủ định hoàn toàn mô hình Stalin. Còn các hệ thống cụ thể của mô hình Xô viết thì có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực của nó. Do đó ta không thể phủ nhận hoàn toàn mô hình Stalin mà cần có sự suy nghiệm khoa học về nó. Có thể nói rằng trong các hệ thống cụ thể, mô hình Trung Quốc đã phát triển có sáng tạo mô hình Xô viết, và mô hình của Trung Quốc là một mô hình khác của chủ nghĩa xã hội.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 10 & 11