Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời – Phần I


Li Jie

Năm 2003, Nhà xuất bản Tấm gương (Mirror Books) ở New York Mỹ đã xuất bản cuốn Chu Ân Lai cuối đời của Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian), một người Trung Quốc cư trú tại Mỹ. Trên cơ sở số lượng lớn tài liệu hồ sơ mà phía Trung Quốc chưa chính thức công bố, cuốn sách đã trình bày lại kỹ càng quan hệ giữa Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai trước và sau cách mạng văn hóa, trong đó đề cập đến nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc như Lâm Bưu (Lin Piao), Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping), Giang Thanh (Jiang Qing)… Nội dung mà cuốn sách này làm rõ trái ngược hẳn với hệ tư tưởng mà phía quan phương Trung Quốc chú tâm tạo dựng nên. Theo các phương tiện truyền thông nước ngoài, đây được coi là tác phẩm “phi Mao hóa” tiêu biểu mà tuy phía quan phương Trung Quốc ra sức ngăn chặn nhưng nó vẫn được lưu truyền rộng rãi, thậm chí trở thành món quà quý để tặng các nhân vật trong quan trường, được gọi là “cuốn sách của cán bộ cấp bộ”.

Năm 2004 Tư Mã Công (Zima Gong) công bố tài liệu viết trên tạp chí Kính góc rộng (Guangjiao jing), phê phán Chu Ân Lai cuối đời. Gần đây, ngày 14 tháng 10 năm 2013, phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc Lý Tiệp (Li Jie) lại công bố trên báo Khoa học xã hội Trung Quốc bài viết “Bác lại sự bôi xấu Mao Trạch Đông trong cuốn Chu Ân Lai cuối đời”. Các website lớn và các cơ quan truyền thông Trung Quốc đều đăng lại bài viết, các phương tiện truyền thông bằng Trung văn quan trọng ở hải ngoại đều đưa tin về việc này; tìm kiếm qua Google tiêu đề bài viết này, có trên 50 nghìn kết quả.

Từ bên kia đại dương, Cao Văn Khiêm đã viết bài đăng trên tạp chí ra hai tuần một kỳ Quyền con người ởTrung Quốc (Zhongguo renquan shuangzhukan) phản bác lại bài viết của Lý Tiệp.

Cao Văn Khiêm cho rằng bối cảnh của việc nhắc lại chuyện cũ này là Tập Cận Bình (Ji Jinping) muốn lấy việc giương ngọn cờ Mao Trạch Đông (Mao Zedong) để nắm lại quyền diễn ngôn tư tưởng hệ, cũng là dọn sạch sân cho việc kỷ niệm 120 năm ngày sinh Mao vào năm nay.

Hơn 20 năm trước Cao Văn Khiêm và Lý Tiệp cùng là đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu Văn kiện Đảng thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngày 18 tháng 5 năm 1989, trong đội ngũ diễu hành của hàng triệu người thuộc các giới ở Bắc Kinh ủng hộ sinh viên tuyệt thực tại Thiên An Môn, Cao Văn Khiêm là một trong đội ngũ đi đầu diễu hành của Trung tâm Văn kiện, còn Lý Tiệp là người tham gia. Sau cuộc trấn áp ngày 4 tháng 6, họ đều bị đơn vị tra xét thanh lọc, Lý qua được cửa ải kiểm tra, được lãnh đạo tín nhiệm lại, Cao thì cảm thấy “duyện phận với Đảng Cộng sản đã hết”, chuồn ra hải ngoại, hai người phân biệt đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau, một bên là phò Mao, một bên là bài Mao.

Dưới đây là bài viết của Lý Tiệp và của Cao Văn Khiêm.

BÁC LẠI SỰ BÔI XẤU MAO TRẠCH ĐÔNG TRONG CUỐN CHU ÂN LAI CUỐI ĐỜI

Lý Tiệp

Mấy năm gần đây có người nhân danh “suy xét lại” để tùy tiện bóp méo “cách mạng văn hóa”, thực sự không nên. Cuốn Chu Ân Lai cuối đời của ông Cao Văn Khiêm (Gao Wenqian) nhiều chỗ phớt lờ thực tế lịch sử, thay thế miêu tả khách quan bằng tưởng tượng cá nhân, thay thế phân tích lý tính bằng trích dẫn cắt xén, thay thế kết luận công tâm bằng cách nhìn thành kiếm cảm tính. Việc “suy xét lại” như vậy rốt cuộc có giá trị và ý nghĩa gì? Ở đây chúng tôi chỉ xin phân tích một số vấn đề liên quan đến Mao Trạch Đông trong cuốn sách này, tin rằng qua đó bạn đọc có thể thấy rõ vấn đề, làm rõ đúng sai.

Cuốn sách này bắt đầu bằng một “câu chuyện” nhỏ về việc Mao Trạch Đông đốt pháo. Chuyện xảy ra vào đêm trừ tịch 3 tuần sau khi Chu Ân Lai tạ thế, Mao Trạch Đông cho người đốt một trận pháo tại chỗ ở Trung Nam Hải. Đốt pháo đêm trừ tịch là phong tục của người Trung Quốc, việc làm này của Mao Trạch Đông làm sao lại có “ngụ ý” được? Nhưng tác giả lại cho rằng đây là sự “bất kính lớn” của Mao đối với Chu Ân Lai vừa qua đời. Nhưng thực tế là, là người chứng kiến tại chỗ lúc bấy giờ, Trương Ngọc Phượng (Zhang Yufeng) trong “Vài mẩu chuyện về Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cuối đời” đã nhớ lại như sau: Đêm trừ tịch năm 1975, thân thể cực kỳ suy yếu, Mao Trạch Đông nghe thấy “tiếng pháo phía xa xa khiến Người nghĩ đến cảnh tượng đốt pháo năm trước. Người nói với tôi bằng giọng khàn khàn: “Đốt ít pháo đi. Những người trẻ tuổi các bạn cũng phải ăn tết chứ”. Thế là tôi báo cho mấy nhân viên khác đang trực ban. Họ sửa soạn mấy bánh pháo và đốt một lúc ngoài phòng. Mao Chủ tịch lúc này nghe thấy tiếng pháo, trên nét mặt gầy yếu, mềm nhão của Người lộ một nét cười. Trong lòng chúng tôi đều hiểu, nét cười này của Chủ tịch là đang an ủi chúng tôi, những nhân viên công tác tháp tùng Người”. Đọc đến chỗ này tôi vỡ nhẽ, “sự kiện đốt pháo” chẳng qua là như vậy, không hề liên quan gì đến việc Chu Ân Lai qua đời.

Tác giả tóm lấy việc đốt pháo để viết văn, đó tuy chỉ là một cách “mở đầu” giàu tính văn học nhưng nó đã đặt ý chính cho cả cuốn sách, tức là những năm tháng cuối đời của Chu Ân Lai mây mù lớp lớp, đầy bí ẩn. Để bồi lấp vào cái khuôn khổ tự sự đặt trước này, giống như một vị quan tòa lịch sử bất chấp luật pháp vì tư lợi, tác giả dùng mọi thủ đoạn làm cho “hồ sơ” có vẻ càng đáng tin cậy. Thủ pháp của Chu Ân Lai cuối đời trong việc treo đầu dê bán thịt chó, lập lờ đánh lận con đen vô cùng điêu luyện. Thí dụ, trong sách nói rằng Mao Trạch Đông phát động “cách mạng văn hóa” là “xuất phát từ sự thúc đẩy của nỗi sợ hãi sâu trong lòng, chỉ sợ mình rơi vào kết cục bị người ta quất vào thây sau khi chết giống như Stalin, từ đó có hành vi tiên phát chế nhân đối với Lưu Thiếu Kỳ, một “Khrushov của Trung Quốc””. Tác giả tùy tiện tưởng tượng cuộc “cách mạng văn hóa” do Mao Trạch Đông phát động là một thứ quyền mưu. Ông còn nói: “Trước cái chết của Stalin, Mao Trạch Đông vừa mừng vừa lo”. “Vừa mừng vừa lo” đích xác từ miệng Mao Trạch Đông nói ra, nhưng ý nghĩa đích thực của nó cũng không phải như trong sách nói Nói theo lời của chính Mao Trạch Đông, mừng là mừng đã gỡ bỏ được cái ô thần thánh hóa Stalin, xóa bỏ mê tín, giải phóng tư tưởng, khiến mọi người dám nói lời thực, dám nghĩ vấn đề; lo là cái kiểu phủ định toàn diện đối với Stalin, một gậy đập chết, từ đó sẽ sớm đem lại một loạt hậu quả nghiêm trọng. Do vậy Mao Trạch Đông cũng lo ngại Trung Quốc xuất hiện Khrushov, và dần dần coi Lưu Thiếu Kỳ – một người nhiều lần không nhất trí với mình về đường hướng công tác – là Khrushov của Trung Quốc, đây là lối tư duy của một thời đại cụ thể, có thể hiểu được. Nhưng cuốn Chu Ân Lai cuối đời lại đánh lộn giới hạn thời gian, khái quát cái đơn lẻ thành cái toàn bộ để gây hiểu lầm cho nhữg bạn đọc không am hiểu giai đoạn lịch sử này.

Để chứng minh cho cái gọi là “lão luyện trong quyền mưu” của Mao Trạch Đông. Chu Ân Lai cuối đời bám riết lấy “sự kiện Ngũ Hào” để làm nên chuyện. “Sự kiện Ngũ Hào” xẩy ra năm 1967 mà cuốn sách nói tới thực ra vốn rất rõ ràng, là sự việc do Giang Thanh và một số người cố ý tạo ra nhằm vu khống Chu Ân Lai là “kẻ phản bội”. Đối mặt với “sự kiện Ngũ Hào”, Chu Ân Lai ra sức làm rõ chân tướng vụ việc và trình lên Mao Trạch Đông. Sau khi Mao Trạch Đông nghiêm khắc ngăn chặn, nhóm Giang Thanh tạm thời thôi. Trong vụ việc này, mỗi lần họ Chu vượt qua được cửa ải gian nan nguy hiểm đều có quan hệ rất lớn với sự ủng hộ, tín nhiệm trước sau như một của Mao Trạch Đông đối với ông. Phát động “cách mạng văn hóa”, thúc đẩy “cách mạng văn hóa”, duy trì “cách mạng văn hóa”, Mao Trạch Đông không thể rời nhóm Giang Thanh, càng không thể rời Chu Ân Lai Đây là sự thực lịch sử lúc bấy giờ.

(còn tiếp)

Người dịch: Viễn Phố Nguồn:

TN 2014 – 64 & 65

Nhật Bản sẽ đấu tranh pháp lý như thế nào với Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc?


Theo JB Press ngày 19/2, trước việc Trung Quốc ban hành Luật Hải cảnh mới cho phép sử dụng vũ khí trong “trường hợp cần thiết”, Nhật Bản cần điều chỉnh tiêu chí sử dụng vũ khí của lực lượng chức năng được quy định trong luật, tương ứng với tiêu chí của thế giới. Nếu không sẽ khó có thể ngăn chặn được hành vi xâm lược của phía Trung Quốc.

Ngày 1/2, Luật Hải cảnh mới của Trung Quốc chính thức có hiệu lực, trong đó quy định thẩm quyền cho phép sử dụng vũ khí đối với lực lượng Hải cảnh nước này. Điều này thu hút sự chú ý của giới truyền thông Nhật Bản và thế giói. Nội dung cụ thể quy định trong Điều 22 Luật Hải cảnh mới nêu rõ: “Khi chủ quyền quốc gia, quyền chủ quyền và quyền tài phán Trung Quốc bị các cá nhân và tổ chức nước ngoài xâm phạm phi pháp hoặc đối diện mối nguy cấp bách bị xâm phạm phi pháp, theo luật này và các luật liên quan khác, lực lượng Hải cảnh có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, gồm sử dụng vũ khí, để chặn đứng hành vi xâm phạm và loại trừ mối nguy”.

Như vậy, tàu tuần tra của lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sử dụng vũ khí nhằm vào các tàu nước ngoài (tàu ngầm Mỹ hoặc tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản). Điều này dẫn đến lo ngại về khả năng phát sinh xung đột vũ trang trên biển. Việc lực lượng Hải cảnh Trung Quốc có thể sủ dụng vũ khí tại “vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc” và “lãnh hải Trung Quốc” có thể xem là tương ứng với tiêu chuẩn sử dụng vũ khí của thế giới. Tuy nhiên, các điều khoản liên quan của Luật này lại không xác định rõ đâu là khu vực thuộc “quyền tài phán của Trung Quốc”, đây chính là vi phạm luật pháp quốc tế.

Về mặt lý thuyết, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản có trách nhiệm vụ đối phó với các hoạt động xâm phạm lãnh hải của Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (còn gọi là “vùng xám”). Trong trường hợp Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản không thể kiểm soát đuọc tình hình, Thủ tướng Nhật Bản có quyền điều động Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản phối hợp đảm bảo an ninh. Tuy nhiên, hiện vẫn có một số hạn chế về tiêu chuẩn sử dụng vũ khí đối với các lực lượng này theo Hiến pháp Nhật Bản.

Theo đó, Điều 7 của Luật thực thi nhiệm vụ của sỹ quan cảnh sát quy định sử dụng vũ khí gây hại cho đối phương trong các trường hợp: (i) Phòng vệ chính đáng hoặc cứu nạn khẩn cấp; (ii) Trấn áp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (iii) Thi hành lệnh bắt. Như vậy, có thể thấy quy định này đã hạn chế nhất định trong việc triển khai ứng phó của lực lượng chức năng Nhật Bản trước hành động xâm phạm chủ quyền của tàu Hải cảnh Trung Quốc tại khu vực “vùng xám”.

Tác giả bài viết cho rằng, Nhật Bản cần nghiên cứu để sửa đổi Luật An ninh lãnh hải nhằm tăng quyền hạn cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển Nhật Bản và cho phép sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ trên Biển Nhật Bản, trong đó quy định tiêu chí được phép sử dụng vũ khí phải tương ứng với tiêu chí của thế giới hiện nay.

Một số ý kiến cho rằng, Nhật Bản không nên củng cố các thể chế liên quan để tránh bị Trung Quốc tạo cớ nhằm củng cố lập trường cứng rắn đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, làm như vậy sẽ dẫn đến một chính sách mang tính “xoa dịu” đối với Trung Quốc hay còn gọi là chính sách ứng phó “kiểu thỏa hiệp”. Lịch sử đã chứng minh chính sách “xoa dịu” của cựu Thủ tướng Anh Chamberlain đối với Đức trong những năm 1930 là một thất bại. Chính vì vậy, Nhật Bản nên cho thấy quyết tâm cao, sẵn sàng đương đầu với xung đột vũ trang với một quốc gia đã bộc lộ ý đồ xâm phạm chủ quyền một cách phi pháp. Tất nhiên, không nên cố đẩy việc leo thang căng thẳng không cần thiết vì vẫn còn giải pháp ngoại giao. Trước mắt, cần liên hệ chặt chẽ với cộng đồng quốc tế, nhất là Mỹ để kiềm chế hành vi phi pháp và thái độ ngạo mạn của phía Trung Quốc.

Sau khi thông tin trên được đăng tải, nhiều cư dân mạng Mỹ đã viết trên mạng xã hội: “Hãy nhìn xem, đây là thế giới thực tế mà Donald Trump đã gây ra sau 4 năm nhậm chức. Đây là hậu quả xấu xa mà ông ta gieo rắc”. Ngoài ra, một số cư dân mạng Iran bình luận trên các mạng xã hội rằng “cái này gọi là “gậy ông đập lưng ông”, “lấy độc trị độc”. Từ trước tới nay, Mỹ luôn thích dùng “tập trận chung” để gây rối tình hình ở Biển Đông và Đông Âu. Bây giờ thì đến lượt chúng ta”.

Nguồn: TKNB – 22/02/2021.

Định vị chủ đề cốt lõi trong chính sách của Biden với Trung Quốc


Chính quyền Biden đang chuyển sang đặt chất bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mạng di động thế hệ tiếp theo làm trọng tâm trong chiến lược của Mỹ đối với châu Á, đồng thời nỗ lực tập hợp lực lượng mà các quan chức gọi là “các nền dân chủ công nghệ” để chống lại Trung Quốc và các “nền chuyên chế công nghệ” khác.

Khuôn khổ mới trong cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung càng trở nên gay gắt hơn bởi sự thiếu hụt đột ngột trên toàn cầu các con chip cần thiết trong các sản phẩm ô tô, điện thoại di động và tủ lạnh. Chiến lược này sẽ tìm cách tập hợp một liên minh các quốc gia chiến đấu để giành được lợi thế trong hoạt động chế tạo chất bán dẫn và điện toán lượng tử, bỏ qua các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như kho dự trữ tên lửa và số lượng các binh sĩ.

Các quan chức chính phủ đương nhiệm và các cựu quan chức, cùng với các chuyên gia bên ngoài, cho rằng các kế hoạch của Chính quyền Biden trong lĩnh vực công nghệ là một mô hình thu nhỏ của các kế hoạch rộng lớn hơn nhằm thực hiện một cách tiếp cận theo định hướng liên minh nhiều hơn nhưng vẫn thù địch với Trung Quốc, sau khi Washington đã có một cách tiếp cận đầy hỗn loạn dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Lindsay Gorman, chuyên gia về các công nghệ mới nổi tại Quỹ Marshall Đức của Mỹ, cho biết: “Hiện có một nhận thức mới về tầm quant rọng của chất bán dẫn trong cuộc đấu tranh địa chính trị này bởi vì các con chíp là nền tảng cho mọi công nghệ trong kỷ nguyên hiện đại. Mỹ và các đối tác dân chủ của họ đang nỗ lực để tăng cường lợi thế so sánh về công nghệ này”.

Cách tiếp cận này một phần dựa trên việc ngăn chặn Trung Quốc tiếp cận với một số công nghệ nhất định càng lâu càng tốt, tìm cách chèn ép những “gã khổng lồ” Trung Quốc như Huawei Technologies Co., và thậm chí “bắt chước” cách làm của Đảng Cộng sản Trung Quốc bằng việc tăng cường sự can dự của chính phủ vào các ngành công nghiệp then chốt khi cần thiết.

Điều này diễn ra khi các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Tập Cận Bình, dự kiến sẽ trình bày cách họ sẽ làm để đưa công nghệ trở thành trung tâm của sự phát triển trong tương lai tại kỳ họp Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc (Quốc hội), dự kiến khai mạc vào cuối tuần này.

Một số nhân vật am hiểu về hoạt động hoạch định chính sách của chính quyền Mỹ và đặc biệt là của ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực châu Á của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ – cho biết ông Campbell đang hướng tới một cách tiếp cận rộng hơn và tập trung nhiều hơn vào một số đối tác chính như Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan, đồng thời triển khai các biện pháp khuyến khích nhằm đưa hoạt động sản xuất con chíp trở lại Mỹ.

Lĩnh vực sản xuất chip cũng nằm trong các kế hoạch củng cố “Bộ Tứ” (Quad) – liên minh giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, từng được thúc đẩy mạnh mẽ dưới thời cựu Tổng thống Trump – bao gồm cả việc cuối cùng sẽ đưa thêm nhiều hoạt động sản xuất công nghệ đến Nam Á.

Cuộc chiến về con chíp – và sự chú ý mà lĩnh vực này nhận được ngay trong những ngày đầu tiên của Chính quyền Biden – đang trở nên cấp bách đối với chính quyền mới ở Nhà Trắng bởi sự cần thiết của chúng. Tình trạng thiếu hụt chíp trên toàn cầu, một phần do hoạt động dự trữ của Trung Quốc và nhu cầu tăng vọt trong thời kỳ đại dịch, đã buộc một số nhà sản xuất ô tô Mỹ phải đóng cửa các nhà máy và bộc lộ những điểm yếu trong chuỗi cung ứng của Mỹ khi họ phải phụ thuộc quá nhiều vào một số nhà sản xuất ở châu Á.

Ngày 24/2, Tổng thống Joe Biden đã yêu cầu tiến hành cuộc đánh giá chuỗi cung ứng toàn cầu đối với chíp cũng như pin dung lượng lớn, dược phẩm, khoán sản quan trọng và vật liệu chiến lược như đất hiếm. Hầu hết các chíp của Mỹ đến từ Đài Loan, nơi Trung Quốc vẫn luôn tuyên bố là lãnh thổ của mình, và gần như tất cả số đất hiếm của Mỹ đều được nhập từ Trung Quốc. Trung Quốc nhanh chóng tuyên bố rằng cam kiết tìm nguồn cung ứng thay thế là viển vông.

Các quan chức nói rằng còn quá sớm để biết được chi tiết chiến lược của Mỹ sẽ như thế nào. Ý tưởng về “các nền dân chủ công nghệ” thách thức “các nền chuyên chế công nghệ” xuất hiện trogn một bài phân tích đăng trên tạp chí Foreign Affairs vào cuối năm 2020 nhằm kêu gọi xây dựng “một diễn đàn toàn diện, trong đó các nước cùng chí hướng có thể cùng nhau đưa ra các phản ứng chung” để đáp trả thách thức đến từ Trung Quốc.

Trong buổi họp báo ngày 22/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price cho biết: “Chúng ta phải cùng nhau đương đầu với thách thức này – sự lạm dụng của Trung Quốc, các hành vi cướp bóc của Trung Quốc xuất khẩu các công cụ mà họ sử dụng để củng cố hơn nữa chủ nghĩa chuyên chế về công nghệ”.

Cách tiếp cận này đã nhận được phản ứng tích cực từ Quốc hội, nơi các nhà lập pháp đang đề xuất một số dự luật nhằm khuyến khích đưa hoạt động sản xuất chíp trở về nước, và Đạo luật các lĩnh vực vô tận để đầu tư nhiều hơn vào tiến bộ công nghệ.

Từ máy bay F-35 tới những chiến điện thoại

Thượng nghị sĩ John Cornyn, đảng viên đảng Cộng hòa của bang Texas, phát biểu sau khi gặp ông Biden tại Nhà Trắng hôm 24/2: “Tất cả chúng ta đều hiểu điều này là quan trọng, không chỉ đối với nền kinh tế của chúng ta mà còn đối với an ninh quốc gia của chúng ta, bởi những chất bán dẫn cao cấp, tiên tiến này – chúng ta cần cho tất cả mọi thứ, từ máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ năm F-35 đến điện thoại di động của chúng ta”.

Mặc dù nhiều ý tưởng trong kế hoạch đang được xây dựng có từ thời Chính quyền Trump, song những người ủng hộ kế hoạch này nói rằng một trong những điểm khác biệt là nỗ lực gắn kết các yếu tố khác nhau thành một chiến lược thống nhất. Dưới thời Trump, cứng rắn với Trung Quốc thường xung đột với việc ông tập trung nỗ lực để đạt được một thỏa thuận thương mại với Bắc Kinh, từ đó làm xáo trộn thông điệp của Mỹ.

Những người ủng hộ Tổng thống Biden nói rằng chiến lược của ông sẽ bao gồm hợp tác chặt chẽ hơn với các quốc gia khác, tìm cách củng cố các mối quan hệ đối tác hiện có nhưng hiếm khi được sử dụng. Đứng đầu trong số đó là “Bộ Tứ” và niềm tin rằng Ấn Độ hiện nay có thể đã sẵn sàng chống lại Trung Quốc trong bối cảnh giữa hai quốc gia đông dân nhất thế giới này gần đây xảy ra căng thẳng.

Rexon Ryu, đối tác quản lý của Asia Group – một hãng tư vấn chiến lược có trụ sở ở Washington, cho biết: “Một trong những mục tiêu chính là mở rộng và làm sâu sắc thêm nền tảng quyền lực và ảnh hưởng trong khu vực và chúng ta làm điều đó tốt nhất khi chúng ta hợp tác với các đồng minh và đối tác. Không phải chúng ta nói với các quốc gia khác những gì họ không thể làm đối với mạng 5G và trí tuệ nhân tạo mà là về những gì chúng ta có thể cùng nhau làm”.

Điều này cũng dựa trên ý thức rằng Trung Quốc về cơ bản đã buộc Mỹ phải bắt đầu cắt đứt các yếu tố của quan hệ kinh doanh và công nghệ trong một kế hoạch gọi “tách rời”. Về cơ bản, Trung Quốc đã xây dựng cơ sở hạ tầng Internet của riêng mình, ngăn chặn nhiều phương tiện truyền thông và mạng xã hội của Mỹ như Twitter và Facebook, đồng thời thể hiện sự sẵn sàng sử dụng quy mô thị trường và sức mạnh kinh tế của mình như một loại vũ khí để khiến các quốc gia khác rơi vào tình thế khó khăn.

Một điều trớ trêu trong quan hệ Mỹ – Trung là bất chấp tất cả các tranh luận truyền thống của Mỹ về chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản, lưỡng đảng Mỹ ở Washington ngày càng ủng hộ việc chính phủ đóng vai trò lớn hơn trong việc cung cấp các động lực và đầu tư vào các công ty.

Elizabeth Economy, thành viên cấp cao tại Viện Hoover của Đại học Stanford, cho biết: “Để cạnh tranh, chúng ta sẽ phải thay đổi cách chơi. Trung Quốc sẽ không thích ứng với các quy tắc mà chúng ta đặt ra, nên chúng ta phải thích ứng”.

Nguồn: www.bloomberg.com

TKNB – 04/03/2021

Những lỗ hổng nghiêm trọng trong tư duy chiến lược của Trung Quốc


Tuần qua, một bài xã luận trên tờ Thời báo Hoàn cầu (Global Times) của nhà nước Trung Quốc cáo buộc rằng liên minh Five Eyes gần 80 năm tuổi – gồm Australia, Canada, New Zealand, Anh và Mỹ – là “trục các nước theo thuyết “người da trắng thượng đẳng””. Những tuyên bố vô lý một cách trắng trợn như vậy khiến người khác không thể tin dược và gần như chắc chắn không kích động một phản ứng nà. Tuy nhiên, bài xã luận chỉ ra 4 lỗ hổng nghiêm trọng trong tư duy chiến lược của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) về tương lai của nước này.

Thứ nhất, là một sự nhầm lẫn cơ bản về quyền bá chủ. Khi thảo luận về Five Eyes, tờ Thời báo Hoàn cầu lập luận: “Chúng ta không thể cho phép sự ích kỷ của họ giả danh dưới hình ảnh đạo đức thế giới, và họ không thể thiết lập chương trình nghị sự của nhân loại”.

Kiểu suy nghĩ đó nhầm lẫn giữa “sự thống trị” và “khả năng lãnh đạo”. Tất nhiên, mặc dù họ có thể thống trị, nhưng quyền lực thực sự đến từ khả năng lãnh đạo. Trong nước, CCP mong muốn sử dụng quyền lực của mình để khẳng định quyền kiểm soát liên tục với người dân. Việc thực hiện kiểu kiểm soát hay quyền lực tuyệt đối này trong các mối quan hệ quốc tế là không thể và cũng không được mong muốn. Các cường quốc toàn cầu trong quan hệ quốc tế không phụ thuộc vào sự cưỡng ép, đe dọa hay kiểm soát mà dựa vào sự lãnh đạo và ảnh hưởng. Nỗ lực nhằm thách thức trật tự dựa trên luật pháp thông qua quyền lực mềm hoặc các mối đe dọa cưỡng bức và chia rẽ sẽ không mang lại quyền bá chủ cho CCP và đó không phải là trò chơi có tổng bằng không. Khi thế giới hoạt động theo trật tự dựa trên luật pháp, khuynh hướng phân chia và thống trị của CCP gần như không giúp được gì cho việc duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng.

Thứ hai, quan hệ quốc tế không phải là một hoạt động phù hợp với các “lựa chọn một trong hai” hoặc việc khái quát hóa. Thật mỉa mai khi tờ Thời báo Hoàn cầu đưa ra các khái niệm về “nền văn minh Anglo-Saxon”. Giống như tư duy chiến lược chung của CCP, quan điểm này có nhiều điểm chung với những câu hỏi trong Kinh thánh lỗi thời như “Bạn đứng về phía chúng tôi hay về phía kẻ thù của chúng tôi?” – vốn là một thái độ hầu như không được chấp nhận trong văn hóa phương Tây, chưa nói đến quan hệ quốc tế.

Thứ ba, các mối đe dọa và các hành động cưỡng chế, cho dù trong lĩnh vực kinh tế hay lĩnh vực khác, đang ngày càng trở nên ít thành công hơn. Việc Trung Quốc hạn chế nguồn cung cấp đất hiếm cho Nhật Bản, và sau đó là Mỹ, khiến họ bắt đầu các chiến lược hoàn toàn mới để đảm bảo chuỗi cung ứng của mình. Các lệnh trừng phạt kinh tế của CCP đối với Australia kéo dài hơn một năm qua đã củng cố ý chí quyết tâm của Canberra và làm giảm uy tín toàn cầu của Bắc Kinh.

Cuối cùng, và quan trọng nhất, các chiến lược chia rẽ và nền chính trị bản sắc, dù ở cấp quốc gia, song phương hay khu vực, đều không tạo ra quyền lực. Mặc dù nền chính trị về bản sắc của CCP có thể có một số sức hút trong nước, nhưng nó lại thất bại trên phạm vi quốc tế. Việc kích động nền chính trị bản sắc về bản chất là vô cùng gây hại. Hành động tìm cách liên kết chính phủ của các quốc gia Five Eyess với “mối đe dọa xuyên quốc gia” ngày càng tăng của các phong trào ủng hộ thuyết da trắng thượng đẳng cực đoan và coi nhóm dân số “nhỏ” của các nước này chống lại phần còn lại của thế giới là một công cụ phản tác dụng. Nó không hề giúp củng cố cho tuyên bố ủng hộ sự đa dạng quốc tế của CCP.

CCP đang lo lắng về “chủ nghĩa đa phương hiệu quả”, vì lợi thế của họ đến từ việc xử lý vấn đề một cách song phương. Bạn có thể kiểm soát mọi thứ dễ dàng hơn nhiều khi bạn là bên lớn hơn trong mối quan hệ hai chiều. Nhà nước Trung Quốc đang sử dụng cách tiếp cận gây chia rẽ đối với chủ nghĩa đa phương. Các nhà quan sát nhận thấy họ đang sử dụng chiến lược này trong quan hệ tương tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các quốc gia thành viên ASEAN. Trong nhiều thập kỷ, sự phát triển kinh tế của các thành viên ASEAN đã bị cản trở bởi sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng chất lượng cao trong thời gian dài. Vấn đề không phải là thiếu mong muốn là thiếu khả năng tiếp cận vốn đầu tư. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc đã đổ vào khu vực này trước khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) vào năm 2013. Tuy nhiên, sự ra đời của BRI là một bước ngoặt trong phát triển cơ sở hạ tầng ASEAN. Nó cũng khiến hầu hết các thành viên ASEAN ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc về mặt kinh tế. Khoản đầu tư này, đặc biệt ở Lào và Campuchia không chỉ ảnh hưởng đến các nước này mà còn ảnh hưởngđến các phản ứng tập thể của ASEAN. Những phản ứng gay gắt đối với các hành động của CCP ở biển Hoa Nam (Biển Đông) dường như sẽ không xảy ra.

Tuy nhiên, các nước trong khu vực cũng đang nhận ra sự phụ thuộc của họ vào đầu tư của Trung Quốc. Nhận thức này đang thúc đẩy các mối liên kết mới xuất hiện trong khu vực. Các dự án mang tính biểu tượng như cầu hữu nghị Việt Nam – Australia ở Đồng Tháp và cầu hữu nghị Việt – Nhật ở Hà Nội cho thấy hiện tại vẫn có những lựa chọn thay thế.

Bài phân tích “khôi hài” của Thời báo Hoàn cầu gợi nhớ đến hoạt động tuyên truyền hồi những năm 1950 của Liên Xô. Bài xã luận cũng cho thấy rằng một trong những chiến lược thiết yếu để đối phó với các cuộc tấn công của CCP vào chủ nghĩa đa phương là duy trì cam kết đối với một trật tự dựa trên luật pháp.

Nguồn: www.aspistrategist.org.au

TKNB – 03/03/2021.

An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga


Tối 9/3, trang mạng Thời báo Hoàn Cầu – ấn bản của tờ Nhân dân Nhật báo, cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đăng bài viết nhan đề “Chuyên gia: An ninh mạng trở thành vũ khí mới của Mỹ chống Trung Quốc và Nga”, trong đó nhấn mạnh an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin.

Mỹ được cho là đã phát động một loạt cuộc tấn công mạng bí mật nhằm vào Nga để trả đũa các cuộc tấn công SolarWinds trên diện rộng được cho là tiến hành từ Nga. Hành động này diễn ra cùng với những tin tức nói rằng chính quyền của tân Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thành lập một lực lượng đặc nhiệm để đối phó với các cuộc tấn công mạng lớn mà Tập đoàn công nghệ Microsoft tuyên bố rằng có liên quan đến Trung Quốc.

Các nhà quan sát Trung Quốc cho biết, an ninh mạng đã trở thành vũ khí mới của Mỹ và các đồng minh chống lại Trung Quốc và Nga trong cuộc chiến thông tin, đồng thời nhắc nhở Trung Quốc thực hiện các biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn các mối đe dọa trên mạng.

Ngày 8/3, một nhóm các nhà lập pháp Mỹ đã đề xuất dự luật cho phép người Mỹ buộc các chính phủ nước ngoài và nhân viên của họ phải chịu trách nhiệm trước tòa án về hoạt động mạng độc hại, trong bối cảnh gia tăng các cáo buộc chống lại Nga và Trung Quốc.

Giáo sư Vương Nghĩa Nguy (Wang Yiwei), Viện trưởng Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế thuộc Đại học Nhân dân của Trung Quốc nói với Thời báo Hoàn Cầu rằng việc Mỹ chơi quân bài tấn công mạng đang làm thay đổi cuộc chiến tranh tư tưởng và tìm cách độc chiếm thế giới bằng cách đàn áp bất kỳ kẻ thách thức nào với nhiều lý do.

Giáo sư Vương Nghĩa Ngụy nhấn mạnh, Nga và Trung Quốc đã phá vỡ quyền bá chủ của Mỹ trong thế giới mạng bằng những phát triển công nghệ tiên tiến. Trung Quốc, đang diễn ra sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ như 5G, công nghệ chuỗi khối (blockchain) và tiền tệ kỹ thuật số khi mạng Internet đang trải qua sự phát triển lớn giữa các thế hệ, bị Mỹ coi là một “mối đe dọa” tiềm tàng không chỉ trong không gian mạng mà còn cả trong lĩnh vực tài chính.

Chuyên gia Vương Nghĩa Ngụy lưu ý rằng việc Mỹ cáo buộc Nga và Trung Quốc nhân danh cái gọi là dân chủ, tự do và an ninh, thực ra là đang tìm kiếm một cái cớ để nước này xây dựng chuỗi cung ứng toàn cầu trong thời kỳ hậu đại dịch COVID-19, qua đó loại trừ Trung Quốc và Nga, kiểm soát các đồng minh của họ từ công nghệ và dẫn đầu thế giới.

Các nguồn tin cho biết, Ấn Độ đang điều tra các vụ xâm nhập mạng bị tình nghi có thể đã ảnh hưởng đến hoạt động tại một sàn giao dịch chứng khoán quan trọng ở Ấn Độ và sự cố mất điện ở thủ đô thương mại Mumbai của nước này. Một số phương tiện truyền thông Ấn Độ và Mỹ cũng cáo buộc rằng Trung Quốc đứng đằng sau vụ tấn công bị nghi ngờ này.

Theo Thời báo Hoàn cầu, các chuyên gia tin rằng những cáo buộc về cái gọi là tấn công mạng từ Trung Quốc, mà không có bằng chứng nào, thực sự đang chính trị hóa vấn đề an ninh mạng, vốn nhằm phục vụ cho cuộc chiến dư luận và cuộc chiến thông tin của một số nước chống lại Trung Quốc. Báo cáo này dẫn lời Lỗ Hướng, một chuyên gia nghiên cứu về Mỹ tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc cho biết: “Có rất nhiều vấn đề và rủi ro chưa được biết đến trong thế giới mạng và xã hội của chúng ta phụ thuộc nhiều vào mạng Internet. Việc tổ chức sức mạnh quốc gia để tấn công mạng của một quốc gia khác có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như các cuộc tấn công hạt nhân”. Theo báo cáo này, chuyên gia Lỗ Hướng là người đã kêu gọi thực hiện một cơ chế đàm phán và phối hợp cũng như một cơ chế thực thi pháp luật dựa trên sự bình đẳng giữa các nước lớn để giải quyết các vấn đề an ninh mạng.

Nguồn: TKNB – 11/03/2021.

Căng thẳng Mỹ – Trung và gợi ý chính sách cho Việt Nam


Trần Thiên Hùng

Cuộc đối thoại Mỹ – Trung đầu tiên kể từ khi Biden nhậm chức đã kết thúc trong sự căng thẳng, cáo buộc lẫn nhau và không đưa ra được tuyên bố chung.

Rất nhiều nhà phân tích đã đưa ra những góc nhìn khác nhau về kết quả của cuộc đối thoại này. Tiến sĩ Phạm Sỹ Thành – một chuyên gia tốt nghiệp ở Trung Quốc nhận định rằng, với cuộc gặp mặt này, Trung Quốc muốn nhắm tới ba nhóm đối tượng chủ yếu, bao gồm: Mỹ, đồng minh của Mỹ và nội bộ Trung Quốc. Tiến sĩ Thành cũng kết luận: “…trong bài kiểm tra của Mỹ, Trung Quốc đã giành được quyền chủ động. Đừng nghĩ rằng cuộc họp không có kết quả. Trung Quốc đã có được điều họ cần”.

Viết trên Twitter của mình, Elbridge Colby – chuyên gia chiến lược của Mỹ viết rằng: “Những gì rút ra được từ cuộc gặp ở Alaska không phải là các vấn đề tranh luận mà là sự tự tin và quyết đoán của Trung Quốc. Rõ ràng họ “biết” họ mạnh”.

Marsin Przychodniak – chuyên gia về Trung Quốc của Ba Lan, làm rõ thêm: “Giọng điệu tự tin của Trung Quốc chủ yếu là bởi lý do chính trị nội bộ, chứ không phải là sự ngạo mạn thực sự của kẻ mạnh. Dương Khiết Trì và Vương Nghị có cách để đáp trả lại phía Mỹ như vậy. Bất kỳ sự phản ứng yếu ớt nào sẽ bị xem như là thiếu nhất quán với những gì Trung Quốc đã tuyên truyền”.

Mối đe dọa từ Trung Quốc và phản ứng của khu vực

Trong hai thập kỷ, Trung Quốc là nguyên nhân chính dẫn đến gần như mọi tranh chấp trong khu vực. Từ dãy Himalaya, Đông Nam Á, Biển Đông đến biển Hoa Đông, Trung Quốc trở thành mối đe dọa chính ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Theo đánh giá độc lập của Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI), chi tiêu quốc phòng của Bắc Kinh hiện tăng hơn 6 lần so với hồi đầu thiên niên kỷ Trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã vươn từ vị trí thứ 6 lên vị trí thứ 2 trên thế giới về tổng chi tiêu quốc phòng. Đây là mức tăng ngoạn mục thể hiện sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Cộng với các hành vi và thái độ hung hăng của Trung Quốc, điều này khiến các nước láng giềng của Trung Quốc lo lắng.

Tuy nhiên, nhìn xung quanh biên giới Trung Quốc, có thể thấy, từ mọi phía, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) phải đối mặt với các đối thủ quân sự vốn có và mới nổi. Ngay cả khi giả định có được thỏa thuận giữa Nga và Trung Quốc (một viễn cảnh luôn có khả năng xảy ra trong tương lai so với thực tại), Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức trên khu vực gọi là vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Những nước này, trải dài từ Ấn Độ ở phía Tây Nam đến Nhật Bản ở phía Đông Bắc, sẽ hợp thành bức tường hiệu quả chống lại chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ không khuyến khích và ủng hộ rõ ràng.

Vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mạnh nhất ở điểm cuối và yếu nhất ở điểm giữa. Lực lượng phòng vệ Nhật Bản có nhiều danh tiếng về công nghệ và khả năng sẵn sàng. Để đối phó với chương trình đóng tàu sân bay của Trung Quốc, Nhật Bản đang chuyển đổi hai tàu sân bay trực thăng trực thăng hiện có thành tàu sân bay cánh cố định. Dù các tàu sân bay của Nhật Bản nhỏ hơn nhiều so với tàu của Trung Quốc, nhưng các máy bay chiến đấu tàng hình thế hệ thứ 5 F-35 cất cánh từ tàu sân bay của Nhật Bản sẽ có sức mạnh lớn hơn nhiều. Trong khi đó, máy bay Shenyang J-15 của Hải quân Trung Quốc là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 4 kém tiên tiến hơn, từng gặp sự cố kỹ thuật nghiêm trọng.

Nhật Bản chắc chắn có các nguồn lực và bí quyết công nghệ để tự bảo vệ nước này. Ở đầu bên kia của vòng cung Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, Ấn Độ thường được xem là yếu thế hơn so với Trung Quốc. Tuy nhiên, những nhận định này đã lỗi thời từ lâu dù thực tế đã từng đúng. Năm 1962, Trung Quốc chiếm giữ những vùng núi rộng lớn thuộc lãnh thổ Ấn Độ trong cuộc tấn công chớp nhoáng, kéo dài 5 tuần. Tuy nhiên, chiến thắng này là kết quả của cuộc tấn công bất ngờ trong thời bình chống lại một thân thiện, đáng tin.

Các điểm yếu trong vòng cung Ấn Độ Dương – Thái bình Dương là các đảo Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte vốn ủng hộ liên minh tiềm năng của Trung Quốc, đã trở thành một quân bài bí ẩn. Tuy nhiên, sau 4 năm với những tuyên bố chống Mỹ, Duterte đối mặt với những phản ứng ngày càng dữ dội từ người dân ủng hộ Mỹ. Các lực lượng vũ trang của Philippines có lẽ cũng ủng hộ duy trì quan hệ chặt chẽ với Mỹ. Giống như Việt Nam, Hải quân Philippines cũng muốn mua tên lửa chống hạm BrahMos trong một thỏa thuận nhiều khả năng thành công hơn so với thỏa thuận giữa Ấn Độ và Việt Nam. Trong chiến lược A2/AD khác, mục tiêu thực tế duy nhất của những tên lửa này là Hải quân Trung Quốc đang hoạt động ở Biển Đông.

Sự đáp trả mạnh mẽ của Mỹ

Không chỉ thể hiện thái độ không khoan nhượng trước Bắc Kinh, chính quyền Biden còn có những lời lẽ gay gắt với Nga. Với sự thể hiện quan điểm mạnh mẽ trước Nga và Trung Quốc, chính quyền Biden muốn cùng lúc đáp trả quan điểm chung của Moskva và Bắc Kinh, cho rằng Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung đang đến hồi suy tàn. Ngoài ra, một thông điệp quan trọng khác của Biden, chính là: “Chính sách đối ngoại phục vụ cho đối nội”. Tỏ thái độ cứng rắn với Trung Quốc, Nhà Trắng muốn trấn an những tầng lớp cử tri cánh hữu và một bộ phận cánh tả cũng như là nhiều nhà chiến lược đảng Dân chủ thường hay chỉ trích chủ nghĩa tân tự do đã tạo đà tiến cho Trung Quốc trên trường quốc tế, gây tổn hại cho việc làm của tầng lớp trung lưu trong các ngành công nghiệp Mỹ. Đây cũng chính là lý do dẫn đến thắng lợi bầu cử của Donald Trump trước đây.

Ngoài ra, thái độ cứng rắn này của chính quyền Biden còn nhằm bảo đảm với các đồng minh tại vùng châu Á – Thái Bình Dương như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia, rằng đã qua rồi cái thời chính sách hỗn loạn của Donald Trump ngông cuồng trước những kẻ chuyên quyền ở Bắc Kinh và Moskva. Như vậy, có thể nói rằng, mặc dù không có tuyên bố chung nào đưa ra, hai bên vẫn “khẩu chiến” với nhau gay gắt, song mỗi bên đều đạt được những kết quả nhất định cho mình.

Việt Nam tránh nhu nhược

Với các nước Đông Nam Á như Việt Nam, lúc này cần phải hoạch định một chính sách đối ngoại tuy uyển chuyển nhưng phải quyết đoán rõ ràng. Một ví dụ cụ thể như Philippines dưới thời của Duterte, mặc dù thực hiện chính sách “Hướng về Trung Quốc”, tuy nhiên “tình thân ái” đó vẫn không ngăn cản được việc Trung Quốc tham vọng xâm chiếm lãnh thổ Philippines. Mới đây, ngày 20/01, báo chí Philippines đã đưa thông tin hơn 200 tàu của Trung Quốc bao quanh khu vực đảo Sinh Tồn Đông (thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền) và sau đó, quân đội Philippines đã ra thông báo phản đối sự đe dọa này của Trung Quốc. Chính vì vậy, mềm dẻo và tránh đối đầu với Trung Quốc là điều cần làm đối với các quốc gia có tranh chấp biển với Trung Quốc như Việt Nam. Tuy nhiên, nhu nhược trước Trung Quốc như Duterte đã làm thì không thể tránh khỏi được họa xâm lăng từ Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 23/03/2021.

Những nguy cơ từ việc Trung Quốc thu thập dữ liệu y tế của Mỹ


Trung tâm Phản gián và An ninh Quốc gia Mỹ (NCSC) ngày 1/2 cảnh báo rằng các nỗ lực của chính phủ Trung Quốc nhằm thu thập dữ liệu y tế của Mỹ, đặc biệt là dữ liệu ADN, thông qua tin tặc và các phương tiện khác đã được đẩy mạnh trong thời kỳ đại dịch COVID-19.

Trogn một báo cáo, NCSC nêu rõ: “Trong nhiều năm, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thu thập các bộ dữ liệu lớn về y tế của Mỹ và các quốc gia trên toàn cầu, thông qua cả phương tiện hợp pháp và bất hợp pháp, với mục đích mà chỉ họ mới có thể biết được. Việc Trung Quốc thu thập dữ liệu y tế của Mỹ đã gây ra những rủi ro nghiêm trọng không chỉ đối với quyền riêng tư của của người Mỹ mà còn đối với cả những nền kinh tế và an ninh quốc gia của Mỹ”. NCSC lưu ý rằng những nỗ lực này đã được đẩy mạnh trong thời gian đại dịch COVID-19, với việc tập đoàn công nghệ sinh học Trung Quốc BGI cung cấp bộ dụng cụ thử nghiệm COVID-19 cho phần lớn các quốc gia và thành lập 18 phòng thí nghiệm chỉ trong vòng 6 tháng qua, được cho là một phần trong nỗ lực nhằm thu thập dữ liệu y tế. Theo NCSC, dữ liệu y tế của Mỹ là một mục tiêu hấp dẫn đối với chính phủ Trung Quốc do sự đa dạng của dân số và do các biện pháp bảo vệ tương đối lỏng lẻo của Mỹ đối với dữ liệu cá nhân. Báo cáo của NCSC có đoạn: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiểu rằng việc thu thập và phân tích các dữ liệu lớn về bộ gen từ các quần thể đa dạng sẽ giúp thúc đẩy các khám phá và phương pháp chữa bệnh mới mà có thể có giá trị thương mại đáng kể, đồng thời thúc đẩy trí tuệ nhân tạo và các ngành y học chính xác”.

NCSC nêu bật quan ngại rằng chính phủ Trung Quốc đã sử dụng dữ liệu y tế, bao gồm cả dữ liệu về ADN, để đàn áp và kiểm soát công dân của mình, đồng thời lưu ý rằng nhiều cư dân của tỉnh Tân Cương, nơi sinh sống của người Duy Ngô Nhĩ, đã bị buộc phải cung cấp dấu vân tay, nhóm máu và các dữ liệu cá nhân khác.

Báo cáo được công bố một ngày sau khi cựu Giám đốc NCSC William Evanina, trong buổi trả lời phỏng vấn của chương trình “60 Minutes” do đài CBS News thực hiện, đã cảnh báo về những rủi ro mà Trung Quốc có thể gây ra khi nước này thu thập được dữ liệu y tế của Mỹ, đồng thời ông lưu ý rằng có khả năng “110%” Trung Quốc đã thu thập được dữ liệu cá nhân của người dân Mỹ nói chung. Evanina nói: “Có 5 hoặc 6 cơ sở chăm sóc sức khỏe ở Mỹ trong 5 năm qua đã bị Trung Quốc xâm nhập, thu thập thông tin. Hiện tại, ước tính có tới 80% người Mỹ trưởng thành đã bị Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh cắp tất cả các thông tin nhận dạng cá nhân”.

Ngày 1/2, NCSC đã cảnh báo rằng chính phủ Trung Quốc đang sử dụng dữ liệu y tế để “vượt mặt” ngành công nghệ sinh học của Mỹ, và điều này gây ra mối đe dọa về việc Mỹ sẽ phải “phụ thuộc nhiều hơn vào sự đổi mới và phát triển thuốc chữa bệnh của Trung Quốc”, làm tổn thương thị trường việc làm của Mỹ. Evanina cảnh báo rằng nếu không hành động, Mỹ có thể phải đối mặt với mối đe dọa từ việc Trung Quốc cố gắng “loại bỏ một cách có hệ thống các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Mỹ”. Ông cũng cho biết phần lớn các dữ liệu này đã được truy cập thông qua tin tặc, đặc thời lưu ý rằng Trung Quốc đứng “số 1 thế giới về khả năng tin tặc”. Ông mô tả Trung Quốc là một nước “trơ trẽn” trong các nỗ lực tin tặc.

Trong năm qua, tin tặc Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực nhằm vào cả các nhà nghiên cứu của Mỹ và chuỗi cung ứng vaccine ngừa COVID-19. Đầu tháng trước, phát biểu tại một sự kiện, Evanina cho biết ông rất lo ngại về những nỗ lực của cả Trung Quốc và Nga nhằm mục tiêu quá trình tiêm chủng. Giám đốc FBI Christopher Wray cũng từng nói trước một ủy ban của Thượng viện rằng FBI đã nhận thấy “hoạt động rất tích cực của người Trung Quốc và của những người khác, nhắm vào các nghiên cứu liên quan đến COVID-19 của Mỹ, cho dù đó là vaccine, phương pháp điều trị hay thử nghiệm công nghệ”.

Nguồn: TKNB – 03/02/2021.

Thông qua đạo luật hải cảnh, Trung Quốc nhắm vào những mục tiêu gì?


Ngày 22/01, Trung Quốc thông qua một đạo luật cho phép cảnh sát biển nước này nổ súng vào các tàu nước ngoài, một động thái có thể làm dậy sóng các vùng biển đang trong vòng tranh chấp xung quanh Trung Quốc.

Trung Quốc đang tranh chấp chủ quyền lãnh hải với Nhật Bản ở biển Hoa Đông và với nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, trên Biển Đông. Bắc Kinh đã điều tàu hải cảnh đánh đuổi các tàu đánh cá của các nước khác và đôi khi đánh chìm những tàu này.

Truyền thông Trung Quốc cho biết Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc, cơ quan lập pháp cao nhật Trung Quốc, thông qua Luật Hải cảnh ngày 22/1, theo đó, lực lượng hải cảnh Trung Quốc được phép sử dụng “mọi phương tiện cần thiết” để chặn hoặc tránh các mối đe dọa từ các tàu nước ngoài. Luật ghi rõ các điều kiện nên sử dụng các loại vũ khí nào, chẳng hạn vũ khí cầm tay, vũ khí gắn trên tàu, hoặc vũ khí từ máy bay, có thể được sử dụng.

Đạo luật cho phép nhân viên hải cảnh phá hủy các cấu trúc do các nước khác xây trên những đảo đá, bãi cạn mà Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của họ, đồng thời cho phép hải cảnh Trung Quốc lên tàu và lục soát các tàu nước ngoài đi lại trong vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của họ. Đạo luật này còn cho phép lực lượng hải cảnh tạo ra các khu cấm tạm thời “khi cần thiết” để chặn các tàu khác, hay nhân sự nước khác xâm nhập.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh ngày 22/1 nói luật hải cảnh của Trung Quốc “phù hợp với thông lệ quốc tế”.

Điều khoản đầu tiên của đạo luật giải thích luật này là cần thiết để bảo vệ chủ quyền, an ninh và quyền hàng hải của Trung Quốc.

Các chuyên gia phân tích cho rằng Luật Hải cảnh là nỗ lực tạo tiền đề cho Cảnh sát biển Trung Quốc gia tăng hành vi quyết đoán trên Biển Đông. Giáo sư Carl Thayer của trường Đại học New South Wales nói: “Trung Quốc chỉ đang hợp thức hóa những việc mà nước này làm và nói rằng “luật cho phép việc này””.

Bài viết ngày 23/1 trên trang aljazeera.com dẫn ý kiến chuyên gia phân tích ngoại giao hàng hải Christian Le Miere kiêm nhà sáng lập nhóm Arcipel có trụ sở ở London và Hague đăng trên mạng xã hội cho rằng Luật Hải cảnh mới “đâm thẳng” vào chính sách tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông: “Cảnh sát biển Trung Quốc đã thực hiện hầu hết các hoạt động cưỡng chế hàng hải ở các vùng biển gần; vì vậy, cần phải xem xét luật mới vừa được thông qua về vấn đề này”.

Nhà nghiên cứu Colin Koh thuộc trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam của Đại học Công nghệ Nanyang (Singapore) cho rằng ngôn từ mơ hồ trong văn bản luật có thể làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm trong vùng biển tranh chấp: “Dù việc ban hành Luật Hải cảnh là một thông lệ chung mà các nước khác đã và đang thực hiện (như Việt Nam đã làm vào cuối năm 2018), Luật Hải cảnh của Trung Quốc hàm chứa ngôn từ mơ hồ, cần được định nghĩa phù hợp như “vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia”. Điều này cũng có nghĩa là luật này cho phép… chính quyền sử dụng vũ lực để khẳng định những quyền đó trước các bên khác ngay cả khi hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế hợp pháp của bên khác. “Nhìn chung, luật mới của Trung Quốc làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm và thậm chí có thể cản trở những hành động thực thi pháp luật của các bên khác đối với ngư dân Trung Quốc”.

Ông Koh cho rằng khi lực lượng tuyến đầu của Trung Quốc được trao quyền quyết định có nên nổ súng hay không thì bản chất lỏng lẻo của các điều khoản trong luật “có thể dễ bị lạm dụng” và có thể khiến cho tình hình căng thẳng leo thang.

Thượng nghị sĩ Philippines Francis Pangilinan ngày 24/01 đã kêu gọi Manila không được khuất phục trước động thái gần đây của BắcKinh khi cho phép lực lượng Hải cảnh Trung Quốc nổ súng vào tàu nước ngoài tại các vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). Thượng nghị sĩ Pangilinan cho rằng Philippines không nên sợ hãi trước luật của Trung Quốc: “Chúng tôi bác bỏ và không công nhận các luật lệ nước ngoài xâm phạm vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của chúng tôi, Indonesia và Việt Nam từ chối bị đe dọa. Tôi không tin rằng họ dũng cảm hơn chúng ta và tôi tin chắc rằng ch1ung ta không phải là một quốc gia hèn nhát”.

Theo trang tiếng Anh của tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng, các bên tranh chấp khác ở Biển Đông đang đua nhau tăng quyền lực cho các đội cảnh sát biển. Ví dụ, Việt Nam đã thông qua luật cho phép các đội cảnh sát biển hoạt động bên ngoài lãnh hải.

Nguồn: TKNB – 26/01/2021.

Tham vọng biên giới của Trung Quốc tiềm ẩn trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14”


Trang mạng dwnews.com (tiếng Trung) đưa tin, “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14 và các mục tiêu dài hạn 2035” vừa được công bố cho thấy, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố sẽ khởi động một loạt dự án chiến lược nhằm củng cố biên giới phía Tây Nam. Các dự án này không chỉ bao gồm dự án phát triển nhà máy thủy điện đã được công bố trước đây ở hạ lưu sông Yarlung Zangbo, mà còn là huyết mạch giao thông chính kết nối Tây Tạng với thế giới bên ngoài.

Trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14”, các quan chức Trung Quốc khẳng định sẽ thúc đẩy triển khai các dự án phát triển thủy điện ở hạ lưu sông Yarlung Zangbo. Kế hoạch này đã xuất hiện trong “Đề xuất Quy hoạch 5 năm lần thứ 14” được Hội nghị trung ương 5 khóa XIX thông qua vào năm 2020. Khi đó, biên giới Trung – Ấn vẫn tiếp tục trong tình trạng đối đầu.

Trên thực tế, thời gian lập kế hoạch cho các dự án phát triển thủy điện ở hạ lưu sông Yarlung Zangbo tương đối dài và vẫn chưa thể thực thi do các yếu tố kỹ thuật. Cho đến nay, việc “chốt” dự án đã nằm trong chương trình nghị sự và giá trị mà nó phát huy không chỉ về mặt kinh tế, mà còn là mức độ răn đe chiến lược nhất định đối với Ấn Độ.

Trong trận “thủy chiến” trên sông Yarlung Zangbo giữa Trung Quốc và Ấn Độ quy mô tương đương với Tam Hiệp, Yarlung Zangbo là một con sông xuyên quốc gia bắt nguồn từ Trung Quốc, Trung Quốc không thể vì sự tưởng tượng và lo lắng của Ấn Độ mà từ bỏ quyền lợi tự chủ của mình, nhất là đối với một nước có tranh chấp lãnh thổ lớn với Trung Quốc. Tại thời điểm này, Ấn Độ không thể làm ngơ trước “bộ mặt” của Trung Quốc và chắc chắn Trung Quốc sẽ lo lắng về hành động của Ấn Độ ở miền Nam Tây Tạng. Tất nhiên, nếu cả hai bên đều sẵn sàng hợp tác, vấn đề sẽ trở nên dễ giải quyết hơn.

Quy mô của dự án thủy điện hạ lưu sông Yarlung Zangbo rất lớn, vốn tuyên bố có thể đáp ứng công suất lắp đặt của 3 trạm thủy điện Tam Hiệp và dự án này chắc chắn sẽ mất nhiều thời gian.

Ngoài các dự án thủy điện ở hạ lưu sông Yarlung Zangbo, không có dự án chiến lược nào quan trọng hơn việc xây dựng giao thông quy mô lớn ở phía Tây Nam Trung Quốc. Trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14”, Trung Quốc không chỉ tuyên bố triển khai tuyến đường sắt Tứ Xuyên – Tây Tạng, mà quan trọng hơn là “cải thiện toàn diện hành lang giao thông vận tải, tăng cường xây dựng các kênh xương sống chiến lược cho các lối ra từ Tân Cương tới Tây Tạng, các khu vực miền Trung và miền Tây, các sông và biên giới ven biển”.

Theo kế hoạch, một số dự án đường sắt và đường cao tốc liên quan đến kết nối của Tây Tạng với thế giới bên ngoài đã được đưa vào kế hoạch “Đường xương sống chiến lược” để xây dựng một quốc gia có hệ thống giao thông lớn mạnh trong “Quy hoạch 5 năm lần thứ 14”. Kế hoạch “Đường xương sống chiến lược” nêu rõ rằng tuyến đường sắt Tứ Xuyên – Tây Tạng từ Ya’an đến Nyingchi và Yining đến Aksu, Cửu Tuyền đến Eljina, Ruoqiang đến Lop Nur và các tuyến đường sắt khác sẽ được xây dựng, thúc đẩy xây dựng các tuyến đường sắt Shigatse đế Gyirong và Hotan đến Shigatse trước thời hạn.

Có thể thấy, các dự án liên quan đến Tân Cương và Tây Tạng đều bao hàm tất cả nội dung của kế hoạch, trong đó hơn một nửa nội dung liên quan đến Tây Tạng.

Trong số đó, về đường sắt, ngoài tuyến Tứ Xuyên – Tây Tạng, Shigatse đến Gyirong (nằm ở biên giới Trung Quốc – Nepal) và Hotan đến Shigatse sẽ tạo ra sự kết nối của miền Nam Tân Cương qua miền Bắc Tây Tạng và thung lũng Yarlung Zangbo ở vùng nội địa của Tây Tạng. Chúng sẽ trở thành kênh chiến lược thứ 3 ra vào Tây Tạng sau Thanh Hải – Tây Tạng và Tứ Xuyên – Tây Tạng. Hơn nữa, do nó gần với biên giới phía Tây của Trung Quốc và một loạt biên giới quân sự, nên không còn nghi ngờ gì nữa Trung Quốc sẽ tăng cường mạnh mẽ khả năng triển khai nhân sự và vũ khí hạng nặng ở biên giới Trung – Ấn.

Tương tự như vậy, mặc dù đường cao tốc G219 là một đường quốc lộ bình thường dọc biên giới, qua khu vực ở biên giới phía Tây và có giá trị chiến lược vô cùng quan trọng. Con đường này được coi là kênh chiến lược quốc phòng quan trọng nhất của Trung Quốc.

Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã nhắc lại kênh này trong “Đề cương Quy hoạch 5 năm lần thứ 14” và ý đồ của nó có thể thấy được. Sau khi hoàn thành, quốc lộ 219 sẽ trở thành quốc lộ dài nhất Trung Quốc và là quốc lộ duy nhất dài hơn 10.000 km kết nối các vùng biên giới.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.

Trung Quốc quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào


Trang mạng rfa.org/lao vừa đăng tải bài viết nhận định về việc Chính phủ Lào ngày 11/03 đã ký thỏa thuận tô nhượng với Công ty truyền tải điện quốc gia (EDLT), một liên doanh giữa Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) và Công ty Điện lực Lào (EDL), cho phép liên doanh do phía Trung Quốc nắm cổ phần chi phối này quản lý và kiểm soát mạng lưới truyền tải điện của Lào. Phóng viên TTXVN tại Lào lược dịch bài viết của RFA nhận định về vấn đề này.

Theo bài viết, một ban lãnh đạo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào cho biết, Trung Quốc đã được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện tại Lào, sau khi Chính phủ nước này đồng ý ký thỏa thuận với EDLT – liên doanh do Trung Quốc làm chủ đầu tư để bảo đảm việc truyền tải và xuất khẩu điện an toàn, ổn định với các quốc gia láng giềng khu vực.

Quan chức trên cho biết: “Thỏa thuận được thực hiện theo hình thức Công ty cổ phần trong thời gian 25 năm; sau khi hết thời hạn trên, hoạt động của dự án sẽ được chuyển giao cho Chính phủ Lào”.

Quan chức này cho biết thêm, EDLT sẽ xây dựng và quản lý hệ thống đường dây tải điện từ 230 KV trở lên và xây dựng hệ thống hạ tầng mạng lưới điện của Lào kết nối với các nước xung quanh, đưa Lào trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á” theo Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Lào. Trong khi mạng lưới đường dây tải điện dưới 230 KV sẽ vẫn do EDL xây dựng và quản lý như trước đây.

Chia sẻ với RFA về vấn đề sử dụng điện, một người dân ở tỉnh Savannakhet, Trung Lào cho biết ông chẳng hy vọng gì về việc người dân Lào sẽ được sử dụng điện miễn phí khi nhiều đập thủy điện lớn và hệ thống truyền tải điện tại Lào không phải do Chính phủ Lào đầu tư và rằng người dân sẽ tiếp tục phải trả giá điện cao hơn.

Đề cập tới vấn đề này, một người dân Thủ đô Vientiane cho rằng việc Trung Quốc tham gia xây dựng mạng lưới truyền tải điện cũng là vấn đề hợp lý, là hoạt động đầu tư thông thường. Tuy nhiên, nếu để cho công ty Trung Quốc hoàn toàn chịu trách nhiệm xây dựng, quản lý và vận hành hệ thống mạng lưới điện tại Lào là không phù hợp. Nếu như không còn lựa chọn, nên vay tiền của nước ngoài để triển khai dự án hơn là để cho Trung Quốc quản lý.

Đánh giá về vấn đề này, một chuyên gia về năng lượng điện thuộc Bộ Năng lượng và Mỏ Lào giấu tên cho biết, trong bối cảnh nền kinh tế Lào suy thoái cùng với tình trạng nợ công cao, để phát huy mọi nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đưa Lào thoát khỏi tình trạng quốc gia kém phát triển, Chính phủ Lào không còn lựa chọn nào khác ngoài việc để Trung Quốc hợp tác đầu tư.

Theo chuyên gia trên, Trung Quốc có điều kiện về tài chính, lao động và công nghệ hiện đại để tham gia quá trình xây dựng, quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào, nhằm giúp Lào thực hiện mục tiêu trở thành “Bình ắc quy của Đông Nam Á”.

Tuy nhiên, chia sẻ với RFA, một người dân Lào cho biết, trong hợp tác lần này giữa Lào và Trung Quốc, phía Lào bị mất nhiều hơn được, đặc biệt trong vấn đề chuyển giao công nghệ cao cho lao động Lào, do không có điều khoản yêu cầu công ty Trung Quốc thực hiện nên cũng như các dự án đầu tư lớn khác, lao động Lào không được chuyển giao kiến thức, chuyên môn và kỹ thuật.

RFA cho biết, hợp tác lần này bắt đầu khi Công ty Điện lực Lào (EDL) và Tập đoàn Truyền tải điện miền Nam Trung Quốc (CSG) ký hợp đồng góp vốn – khai thác hệ thống lưới điện quốc gia và thành lập Công ty Truyền tải điện quốc gia Lào (EDLT) vào tháng 9/2020. Theo thỏa thuận này, hai bên sẽ cùng góp vốn đầu tư khoảng 2 tỷ USD để thực hiện dự án. Và ngày 11/3/2021, EDLT đã ký thỏa thuận với Chính phủ Lào để được nhượng quyền xây dựng và quản lý hệ thống truyền tải điện tại Lào trong thời gian 25 năm. Thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Mặc dù thông tin chi tiết về Thỏa thuận được giữ kín, nhưng trong Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ Lào số 475/NNM của Bộ Năng lượng và Mỏ ngày 30/04/2020 về việc đề xuất thành lập Công ty EDLT giữa EDL và CSG, Bộ Năng lượng và Mỏ đã đề nghị Thủ tướng Lào cho phép thành lập EDLT. Theo đó, EDL chỉ giữ 10% cổ phần, trong khi CSG giữ tới 90% cổ phần. Về cơ cấu lãnh đạo dự kiến, Báo cáo đề xuất Hội đồng quản trị và Ban điều hành của EDLT có tất cả 7 người (5 người Trung Quốc và 2 người Lào). Theo đó, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc điều hành là người của CSG; Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị và 1 Phó Giám đốc là người của EDL.

Mặc dù chưa rõ thỏa thuận ký ngày 11/03 giữa EDLT và Chính phủ Lào có những nội dung chi tiết gì, nhưng theo đánh giá của phóng viên TTXVN tại Lào, việc một công ty nhà nước của Trung Quốc được quyền nắm mạng lưới truyền tải điện của Lào trong 25 năm sẽ đem lại cho Trung Quốc vô số lợi ích.

Thứ nhất, Trung Quốc vừa được tiếng giúp Lào phát triển kinh tế, vừa tận dụng được mạng lưới này để bán điện từ một loạt nhà máy điện mà nước này đã đầu tư tại Lào, ví dụ như chuỗi 7 nhà máy thủy điện Nam-U 1-7. Chỉ tính riêng tiền đầu tư cho chuỗi dự án có tổng công suất 1.272 MW này, Trung Quốc đã bỏ ra 2,8 tỷ USD.

Thứ hai, trong bối cảnh Trung Quốc đang tăng cường tìm mọi cách để tạo ảnh hưởng tại Lào nói riêng và Đông Nam Á nói chung, việc Trung Quốc nắm được quyền điều hành mạng lưới điện của Lào trong hàng chục năm sẽ giúp nước này có thể tác động tới an ninh năng lượng không chỉ của Lào, mà còn của các nước trong khu vực đã, đang và sẽ nhập khẩu điện của Lào (Việt Nam là một trong số đó với số lượng điện mua ngày càng lớn). Sau khi chi phối nguồn nước sông Mekong, việc Trung Quốc có thể tác động tới an ninh năng lượng khu vực sẽ giúp nước này có thêm công cụ để “mặc cả” hoặc “răn đe” các nước trong khu vực. Ngoài ra, trong bối cảnh Lào đang ngập trong nợ và đang đối mặt với nguy cơ vỡ nợ như một số tổ chức tín dụng trên thế giới cảnh báo, việc Trung Quốc tiếp tục cho Lào vay nợ sẽ khiến nước này lún sâu vào “bẫy nợ”, buộc Vientiane phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 17/03/2021.