Xu thế của học thuật Trung Quốc – Phần XI


Cuộc đấu tranh giữa hai phái Chu, Lục chính là do trong cả một đạo lý hoàn chỉnh, một bên nói một nửa, nếu chúng ta có thể nhìn chung toàn thể sẽ biết được hai thuyết có thể cùng tồn tại. (1) Khổng Tử nói: “Học mà không suy nghĩ sẽ sai lầm, suy nghĩ mà không học sẽ bế tắc”. Chu Tử coi trọng việc học, Lục Tử coi trọng việc suy nghĩ, hai người vốn không thể bỏ đi bên nào. (2) Mạnh Tử nói: “Học rộng mà giãi bày rõ ràng, rồi mới trở lại giãi bày những điều trọng yếu”. Tôn chỉ của Chu Tử chính là cách nói này. Mạnh Tử còn nói: “Tác dụng của tâm là để suy nghĩ, suy nghĩ thì được, không suy nghĩ thì không được, đây là do ông trời ban cho ta, trước tiên xác lập được bộ phận quan trọng này đã thì những bộ phận thứ yếu khác sẽ không thể bị hồ đồ được”. Tôn chỉ của Lục Tử chính là cách nói này. Hai cách nói đều xuất phát từ Mạnh Tử, vốn là không xung đột với nhau. (3) Lục Tử tôn trọng đức tính, Chu Tử nói về học vấn, Trung dung nói: “Tôn đức tính mà xa học vấn”. Ở giữa có một chữ “mà”, hai thứ vốn có thể nối liền làm một. (4) Xét về mặt luân lý học thì Chu Tử dùng phép quy nạp, Lục Tử dùng phép diễn dịch, hai phép đều là thứ mà người nghiên cứu học vấn không thể thiếu được. (5) Xét về hiện tượng tự nhiên: Chu Tử quy vạn thứ khác nhau về một gốc, là hiện tượng hướng tâm, Lục Tử từ một gốc tỏa ra vạn thứ khác nhau, là hiện tượng lực li tâm, hai thứ vốn có tác dụng lẫn nhau. Chúng ta quan sát như vậy, kết hợp học thuyết của hai người lại để dùng là đúng đắn.

Học thuật của Minh Đạo chia thành hai phái Trình Chu và Lục Vương, Tượng Sơn bằng với Y Xuyên, Dương Minh bằng với Chu Tử. Có được cách vật chí tri “vạn thứ khác nhau quy về một gốc” của Chu Tử, tiếp sau đó liền có cách vật chí tri “một gốc tỏa ra vạn thứ khác nhau” của Dương Minh, giống như có được phép quy nạp của Bacon, tiếp sau đó liền có được phép diễn dịch của Descartes, học thuyết của Bacon giống với Y Xuyên và Chu Tử, học thuyết của Descartes giống với Tương Sơn và Vương Dương Minh. Chân lý của vũ trụ từ xua nay vốn là như nhau, cho nên sự phân chia bè phái về mặt học thuật và phương pháp nghiên cứu vấn đề xưa nay cũng vốn giống nhau.

15/ Sự chia hợp của học thuật

Khổng Tử là người “thuật nhi bất tắc”, noi gương Nghiêu Thuấn, hiến chương văn võ, dung hợp nhiều thuyết, lập thành một phái. Trong sách của Lão Tử có những câu như “cốc thần bất tử” và “tương dục thủ chi”, theo khảo chứng của người đời sau đều là trích dẫn từ sách cổ. Trong sách của ông có những câu như “dụng kinh hữu ngôn” và “kiến ngôn hữu chi”, càng rõ ràng là viện dẫn từ những học thuyết cổ, có thể thấy Lão Tử cũng là người “thuật nhi bất tắc”, rồi lập thành một phái. Ấn Độ có 96 ngoại đạo, Thích Ca lần lượt nghiên cứu hết sau đó lập riêng một thuyết, đây cũng là dung hợp học thuyết của nhiều người rồi lập thành một phái. Học thuyết của Tống Nho là dung hợp tam giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, cũng là dung hợp học thuyết của nhiều người rồi lập thành một phái. Hiện tượng này là hiện tượng do chia mà hợp trong học thuật.

Phàm là loại học thuyết nào sau khi trở thành một phái độc lập tiếp theo trong phái đó sẽ phải chia nhỏ ra. Hàn Phi nói: “Nho chia làm tám, Mặc chia làm ba”, chính là tuân theo quỹ đạo này. Khổng học chia thành tám phái, sau khi nước Tần bị diệt, Khổng học tuyệt diệt, Hán Nho nghiên cứu kinh điển còn lại của họ, thành lập Hán học, tiếp sau đó lại chia làm rất nhiều phái. Học thuyết của họ Lão cũng chia làm rất nhiều phái. Phật học ở Ấn Độ chia làm nhiều phái, truyền vào Trung Quốc lại phân làm nhiều phái nữa. Cái mà Tống Nho gọi là Phật học tức là thiền tông. Thiền tông từ Đạt Ma truyền đến Ngũ Tổ, chia làm hai phái Nam Bắc, Thần Tú ở phương Bắc, Huệ Năng ở phương Nam, Huệ Năng là Lục tổ, môn hạ của ông lại chia làm năm phái. Minh Đạo sáng tạo ra một phái lý học, tiếp sau đó liền chia thành hai phái Trình Chu và Lục Vương. Mà môn hạ của Y Xuyên lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Chu Tử lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Chủ Tử lại chia thành nhiều phái nữa, môn hạ của Lục Vương cũng chia thành nhiều phái nữa. Loại hiện tượng này là do hợp mà chia.

Chân lý của vũ trụ là hình tròn, là một thứ nguyên vẹn, tri thức của loài người rất ngắn ngủi, không thể thấy hết được sự toàn vẹn của nó, nhất định phải chia rồi lại hợp, do hợp mà chia như vậy để nghiên cứu mới có thể nghiên cứu được rõ ràng thứ trọn vẹn đó. Phương thức của nó là mỗi khi các học thuyết trở nên quá nhiều liền có người dung hợp chúng lại, khiến chúng trở lại thành một, đây là làm công việc do chia mà hợp. Sau khi đã hợp lại thành một rồi, mọi người lại chia nhau ra nghiên cứu, đây là làm công việc do hợp mà chia.

Thời đại của chúng ta hiện nay là khi học thuyết của phương Tây được truyền bá vào Trung Quốc, xảy ra xung đột với những học thuyết vốn có, chính là thời kỳ mà các học thuyết trở nên quá nhiều. Chúng ta nên dung hợp các học thuyết của cả hai phái Đông Tây lại làm một, cố gắng làm công viẹc do chia mà hợp. Nhất định phải làm như vậy mới phù hợp với xu thế của học thuật, đợi sau khi đã dung hợp được rồi lại chia ra nghiên cứu, làm công việc do hợp mà chia.

II/ Tống học và Thục học

Thời Ngũ đại, Trung Nguyên đại loạn, những người nổi tiếng trong tam giáo đều tề tựu ở Thành Đô, giống như ba dòng sông lớn cùng đổ về một cửa sông hiểm yếu nhất, thiên nhiên nên dung hợp làm một, dường như các danh sĩ đều tụ tập ở Thành Đô cùng nhau thảo luận, để lại không ít học thuyết. Hai anh em Minh Đạo tới Tứ Xuyên, tập hợp những lời giảng đạo của Di lão trúc đài, dung hợp xuyên suốt và đưa vào ý kiến của mình, trở thành một hệ thống gọi là Tống học.

1/ Mối quan hệ giữa nhị Trình và Tứ Xuyên

Tư tưởng của người thường, ngoài việc chịu ảnh hưởng của thời đại thì còn chịu ảnh hưởng về mặt địa lý. Khổng Tử là người nước Lỗ cho nên học theo Chu Công; Quản Trọng là người nước Tề cho nên học theo Thái Công; Mạnh Tử là người phương Bắc cho nên suy tôn Khổng Tử; Trang Tử là người phương Nam cho nên suy tôn Lão Tử. Nguyên nhân của việc này là: (1) Phàm con người ta sống ở một nơi nào đó, mắt thấy tai nghe những chuyện xảy ra ở đó, bất tri bất giác liền trở thành ý kiến cố chấp. (2) Do sinh sống ở vùng đó nên có sự quan sát rất tỉ mỉ về những danh nhân ở đó, có thể thấy được chỗ hay của họ, do vậy đặc biệt tôn sùng họ. Có thể nói đây là hai đặc tính phổ thông của người bình thường, tôi viết bài văn này cũng không thoát khỏi loại ý vị đó.

Học thuyết của Trình Minh Đạo dung hợp tam giáo Nho, Phật, Đạo mà thành, là thuận theo xu thế của thời đại. Còn về quan hệ địa lý, ông sinh trưởng ở Hà Nam là nơi trung tâm của thiên hạ, là nơi dựng đồ của triều Tống, văn nhân đông đúc, là nơi hội tụ của học thuật, do vậy học thuyết của ông có thể dung hợp được học thuyết của các nhà, điểm này rất giống với Lão Tử. Lão Tử làm quan sử của triều Chu, địa điểm cũng ở Hà Nam, Chu thiên tử định đô ở đây, chư hầu qua lại triều bái, là nơi tập trung của các học thuyết được truyền bá, do vậy học thuyết của Lão Tử có thể thông suốt các học thuyết khác.

Chỉ riêng học thuyết của Trình Minh Đạo chịu ảnh hưởng rất lớn của Tứ Xuyên. Về điểm này ít có người chú ý tới, chúng ta có thể đưa ra để thảo luận:

Cha của Minh Đạo làm quan ở Hán Châu thuộc Tứ Xuyên, Minh Đạo cùng em trai là Y Xuyên từng theo cha tới Tứ Xuyên, trong văn tập của Y Xuyên có ba bài “Thay Thái trung làm đề thi vấn đáp cho học sinh ở Hán Châu”, “Tái thư”, “Thục thủ ký”…, đều là những bài văn được sáng tác ở Tứ Xuyên, lúc đó tam giáo Nho, Phật, Đạo rất thịnh hành ở Tứ Xuyên, nhị Trình ở Tứ Xuyên chịu ảnh hưởng rất sâu sắc, sự thật có đủ, rất đáng để chúng ta nghiên cứu.

2/ Dịch học ở Tứ Xuyên

“Tốn sử – Tiếu Định truyện” chép: “Cha của Trình Di là Hướng, làm quan ở Quảng Hán, Trình Di cùng anh là Trình Hạo đều đi theo, dạo chơi ở Thành Đô, thấy một người thợ đóng đai thùng đang đọc một quyển sách, lại gần nhìn xem, thì ra là “Chu Dịch”, cảm thấy có chút kinh ngạc bèn mốn thử hỏi ông ta xem sao. Ai ngờ người thợ đóng đai thùng lại mở miệng hỏi trước: “Ông đã học cái này chưa?” rồi chỉ vào câu “vị tế nam chi cùng” bảo Trình Di giảng giải. Trình Di biết rằng người này chắc chắn có lai lịch, bèn khiêm nhường nhờ ông ta chỉ giáo, người thợ đóng đai thùng nói ngắn gọn: “Ba hào dương đều ở sai vị trí”. Hai huynh đệ Trình Di nghe xong được gợi mở rất nhiều, ngay hôm sau quay lại thì người đó đã đi rồi”. Những năm cuối đời Trình Di chú giải “Chu Dịch” đối với những quẻ chưa đầy đủ, về sau ghi chép lại thuyết “tam dương thất vị”, còn nói: “Ý nghĩa này nghe được từ một người ẩn sĩ ở Thành Đô”. Đủ để thấy Tống sử ghi chép không sai. Theo “Thành Đô huyện chí” ghi chép lại: “Nơi mà nhị Trình gặp người thợ đóng đai thùng chính là chùa Đại Từ trong tỉnh thành”.

“Tiếu Định truyện” còn chép rằng: “Viên Tư tới Lạc Dương , hỏi Trình Di về “Chu Dịch”, Trình Di đáp: “Dịch học ở Thục đó, còn muốn đi đâu tìm nữa?” Viên Tư vào Thục tìm kiếm đã lâu mà không gặp, sau đó gặp được người bán tương là Tiết ông ở Mi Cung”. Chúng ta cẩn thận đọc kỹ mấy chữ “Dịch học ở Thục đó”, đại khái biết được trong thời gian nhị Trình ở Tứ Xuyên đã gặp được rất nhiều người hiểu rõ về Dịch học, không chỉ là một người thợ đóng đai thùng, cho nên mới nói như vậy.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020

Liệu Trung Quốc có sáp nhập Đài Loan vào năm 2030?


Theo đài BBC, tình báo Mỹ cho biết, Trung Quốc đang xây dựng năng lực quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030, nhưng liệu điều này có khả thi?

Đầu tháng 5/2022, Avril Haines, Giám đốc tình báo quốc gia Mỹ, cho biết mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra đối với Đài Loan đến năm 2030 là “cực kỳ nghiêm trọng”. Trung Quốc hiện không đủ năng lực để xâm lược Đài Loan, nhưng Bắc Kinh đang xây dựng một quân đội có thể thôn tính Đài Loan vào năm 2030.

Đó là một suy đoán dựa trên các nghiên cứu về việc mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang của Trung Quốc.

Ông Sean King, chuyên gia của công ty tư vấn Park Strategies ở New York (Mỹ), cho rằng khả năng Trung Quốc tấn công Đài Loan trong tương lai gần là rất thấp. Liên minh 3 bên Mỹ, Australia và Nhật Bản đã họp bàn về việc làm sao cùng nhau giải quyết mối đe dọa tiềm tàng với Đài Loan. Tập Cận Bình sẽ suy tính kỹ lưỡng trước khi đẩy chế độ của mình vào nguy hiểm.

Đài Loan khác với Ukraine

Cuộc tấn công của Nga ở Ukraine cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng Trung Quốc sẽ thôn tính Đài Loan trong tương lai gần.

Trong chuyến thăm Đông Bắc Á vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden cảnh báo rằng Trung Quốc đang “vờn với mối nguy” xung quanh vấn đề Đài Loan, đồng thời tuyên bố sẽ can thiệp quân sự để bảo vệ hòn đảo này nếu bị tấn công.

Liệu Mỹ có bảo vệ Đài Loan về mặt quân sự nếu như Trung Quốc xâm lược? Ông Biden khẳng định, chính sách của Mỹ đối với Đài Loan là “không thay đổi” và thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”.

Ông Sean King nhận định việc Mỹ hiện diện mạnh mẽ ở khu vực sẽ khiến cho Bắc Kinh phải kiêng dè nếu muốn thử bất kỳ điều gì.

Mỹ có 50.000 quân đóng ở Nhật Bản, 28.500 quân ở Hàn Quốc và vài trăm thủy quân lục chiến ở Đài Loan với mục đích tập luyện. Nhiều người cho rằng, Đài Loan và Ukraine có tình cảnh khá giống nhau vì cả hai đều là vùng lãnh thổ độc lập nằm bên cạnh quốc gia có sự tương đồng về mặt văn hóa, nhưng quyền lực hơn nhiều.

Tuy nhiên, ông Sean King lại dẫn chứng, không giống như Ukraine vốn nằm sát Nga với đường biên giới chung dài khoảng 2000 km, Trung Quốc và Đài Loan cách nhau eo biển với khoảng cách gần nhất giữa lãnh thổ Trung Quốc và hòn đảo là khoảng 130 km.

Mỹ không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng vẫn bán vũ khí cho hòn đảo này như một phần của Đạo luật Quan hệ với Đài Loan – tức Mỹ phải cung cấp cho Đài Bắc các phương tiện để tự vệ.

Ông Sean King nhấn mạnh Trung Quốc chưa bao giờ kiểm soát Đài Loan, chưa có lực lượng quân đội nào đặt chân đến hòn đảo.

Tầm quan trọng cảu Đài Loan

Đài Loan là hòn đảo nằm cách bờ biển phía đông nam của Trung Quốc khoảng 100 hải lý. Hòn đảo nằm trong chính sách gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” có ý nghĩa quan trọng với chính sách ngoại giao của Mỹ từ những năm 1950, bao gồm các vùng lãnh thổ thân thiện với Mỹ.

Trong khi đó, sự tiếp cận tự do ra vùng biển lớn hơn của Trung Quốc lại bị kiềm hãm bởi “chuỗi đảo thứ nhất” – bao gồm hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ kéo dài từ Quần đảo Nhật Bản, Okinawa và Philippines, đến đảo Borneo, Sumatra.

Những nhóm đảo này được goi là “tuyến phòng thủ đầu tiên” vì chúng nằm ở vị trí án ngữ, có thể kiểm soát chuyển động của Hải quân Trung Quốc. Mỹ có sức ảnh hưởng đến những quốc gia nằm trong “chuỗi đảo đầu tiên” này.

Chuyên gia Sean King cho rằng, Đài Loan đóng vai trò quan trọng với một số quốc gia vì các nước đó đều có chương trình nghị sự của riêng mình, đặc biệt với Trung Quốc. Nếu Bắc Kinh chiếm được Đài Loan, sẽ phá vỡ cái gọi là “Chuỗi đảo đầu tiên” – để cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có thể tiếp cận tự do và phát triển sức mạnh ở các phần rộng lớn của Thái Bình Dương, thậm chí có thể đe dọa các căn cứ quân sự ở xa của Mỹ như Guam và Hawaii.

Đây sẽ là bước lật ngược thế cờ, với chiến lược “chống tiếp cận/chống xâm nhập”, Bắc Kinh có thể chặn đứng sự tiếp cận và đẩy lực lượng Mỹ lẫn Nhật Bản vào khu vực Biển Đông. Đây sẽ là điều tồi tệ với Việt Nam.

Bên cạnh đó, sáp nhập thành công Đài Loan là một trong những tham vọng chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình. Ông nhấn mạnh việc hiện thực hóa sự thống nhất hoàn toàn Trung Quốc là sứ mệnh lịch sử và là cam kết không gì lay chuyển được của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Bài học từ Nga

Ông Sean King cho biết không nhìn thấy mối liên kết giữa Ukraine và Đài Loan vì đó là hai trường hợp rất hác biệt. Tập Cận Bình và Đảng Cộng sản Trung Quốc xem mình là một cường quốc đang trở lại, trong khi họ coi Nga là cường quốc chết dần chế mòn. Tuy nhiên, Trung Quốc có thể rút ra cho mình bài họ từ Nga. Trung Quốc đang học hỏi từ sự bành trướng của Nga, nghiên cứu kỹ lưỡng sai lầm, kinh nghiệm của Nga cũng như cách phản ứng của thế giới tự do đối với cuộc chiến, để tìm cho mình lối thoát nếu rơi vào thế bí.

Theo suy đoán của ông Sean King, trong ngắn và trung hạn, Trung Quốc sẽ gây sức ép khiến Đài Loan bị cô lập trên trường quốc tế và làm cho người Đài Loan cảm thấy vô vọng như thể chỉ còn có cách duy nhất là hợp nhất với Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 02/06/2022

Campuchia “qua mặt” Việt Nam khi cho Trung Quốc đặt căn cứ hải quân


Theo đài RFA, Việt Nam thất bại trong việc ngăn chặn Trung Quốc đặt căn cứ quân sự ở sát vách, cách Phú Quốc chỉ 30 km.

Báo Washington Post ngày 7/6 đăng thông tin cho biết Trung Quốc sẽ tổ chức khởi công dự án xây dựng cơ sở hải quân tại Campuchia vào ngày 9/6 tới. Tờ báo cũng cho biết một phần căn cứ quân sự mới sẽ dành riêng cho quân đội Trung Quốc.

Tờ The Guardian (Anh) ngày 7/6 nhận định rằng sự hiện như vậy sẽ đánh dấu sự mở rộng đáng kể về khả năng tiếp cận quân sự của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Một quan chức phương Tây cho rằng các kế hoạch mở rộng được chốt lại hồi năm 2020 có điều khoản về việc quân đội Trung Quốc “sử dụng độc quyền phần phía Bắc của căn cứ, tuy nhiên, sự hiện diện không được công khai”.

Washington Post cho biết một quan chức Bắc Kinh xác nhận quân đội Trung Quốc sẽ sử dụng “một phần” căn cứ, nhưng phủ nhận rằng họ sẽ sử dụng độc quyền. Quan chức này cho biết Trung Quốc không tham gia bất kỳ hoạt động nào trên phần thuộc Campuchia ở căn cứ này.

Người phát ngôn chính phủ Campuchia Phay Siphan xác nhận rằng hai nước Campuchia và Trung Quốc sẽ động thổ 2 dự án liên quan đến cảng tại căn cứ này. Tuy nhiên, ông bác bỏ tuyên bố cho rằng Trung Quốc sẽ có bất kỳ quyền tiếp cận độc quyền nào ở đó.

Theo Bloomberg, Phay Siphan cho rằng lễ động thổ ngày 8/6 liên quan đến việc xây dựng một xưởng sửa chữa tàu và một đường trượt ở ụ tàu. Bất kỳ việc sử dụng quân sự độc quyền nào đối với căn cứ sẽ vi phạm hiến pháp của quốc gia.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên cho biết việc cải tạo căn cứ Ream là nhằm tăng cường khả năng của hải quân của Campuchia trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ hàng hải và chống lại tội phạm hàng hải.

Triệu Lập Kiên nhấn mạnh sự hợp tác trên diện rộng là công khai, minh bạch, hợp lý và công bằng, điều này không chỉ mang lại lợi ích cho hai quốc gia, mà còn là tấm gương về xây dựng một kiểu quan hệ quốc tế mới và cộng đồng với một tương lai chung cho nhân loại.

Ông Sam Roggeveen, Giám đốc chương trình an ninh quốc tế của Viện Lowy nhận định giá trị thực tế của căn cứ này đối với Bắc Kinh sẽ là cho phép Trung Quốc triển khai các tàu chiến và tàu tuần duyên đến xung quanh khu vực một cách dễ dàng hơn và đơn thuần là có nhiều sự hiện diện hơn.

Ý định đặt căn cứ hải quân ở Campuchia của Trung Quốc đã bị báo chí phương Tây tiết lộ từ năm 2019, tuy nhiên, giới chức của cả Campuchia và Trung Quốc liên tiếp phủ nhận. Tờ Washington Post đăng thông tin cho thấy những lời phủ nhận trên chỉ là đòn đánh lạc hướng.

Việt Nam nên làm gì?

Là nước đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, Việt Nam được cho là đã cố gắng thuyết phục Campuchia chọn vị trí trung lập và không để Trung Quốc đặt căn cứ hải quân trên đất của mình, nhưng giờ đây, những nỗ lực trên đã thất bại.

Căn cứ Hải quân Ream của Campuchia là vị trí mà Trung Quốc chọn để thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài đầu tiên ở một quốc gia Đông Nam Á và là tiền đồn quân sự hải ngoại thứ 2 của Trung Quốc sau khi đã xây dựng một căn cứ tại Djibouti ở vùng Sừng châu Phi. Điều đáng chú ý là căn cứ này chỉ cách đảo Phú Quốc của Việt Nam chưa đầy 30 km.

Trước đó, trong chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tới xứ Chùa tháp hồi tháng 12/2021, hai bên đã ra Tuyên bố chung, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không cho phép bất cứ lực lượng thù địch nào sử dụng lãnh thổ của nước mình để phương hại đến an ninh của nước kia.

Giáo sư Carl Thayer của Đại học New South Wales (Australia) cho biết phía Việt Nam từng tin tưởng rằng Campuchia sẽ không để Trung Quốc đặt căn cứ quân sự: “Phía Việt Nam cho biết là họ đã đạt được đồng thuận với Campuchia về việc sẽ không để bên thứ ba thiết lập sự hiện diện quân sự và gây tổn hại đến lợi ích của bên còn lại”.

Bình luận về việc Campuchia “nói một đằng, làm một nẻo”, Giáo sư Carl Thayer cho rằng cả Campuchia và Trung Quốc trước đó đều “chơi chữ” với các nước trong khu vực.

Ngoài căn cứ hải quân, Trung Quốc được cho là đang xây dựng một sân bay với vỏ bọc dân sự, nhưng có thể được chuyển sang mục đích quân sự trong tình huống khẩn cấp.

Với hai cơ sở trên, Giáo sư Thayer cho rằng, trong tình huống căng thẳng với Việt Nam, Trung Quốc có thể huy động cả hải quân và không quân để đối phó: “Trung Quốc sẽ có đủ năng lực thực địa để chuẩn bị cho tình huống căng thẳng với Việt Nam. Rất nhanh chóng, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc sẽ xuất hiện ở sau lưng Việt Nam”.

Theo Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam có rất ít khả năng để đảo ngược tình huống, thay vào đó, Việt Nam nên tập trung nghiên cứu hậu quả của việc bị Trung Quốc đặt căn cứ hải quân sát với phần lãnh thổ phía Nam của nước mình: “Trước hết, Việt Nam cần phải huy động lực lượng tình báo để tìm hiểu xem Trung Quốc đang thực sự xây cái gì ở Campuchia và phân tích xem lợi ích của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng ra sao, cả trong trường hợp xấu nhất, nhưng Việt Nam hiện không có khả năng để đe dọa hoặc đưa Campuchia trở lại quỹ đạo của mình”.

Giáo sư Carl Thayer đồng thời cho rằng, ở thời điểm hiện tại, Việt Nam chưa bị đe dọa, nhưng về lâu dài thì tình hình có thể thay đổi.

Nguồn: TKNB – 09/06/2022

Xu thế của học thuật Trung Quốc – Phần X


Di thư của nhị Trình ghi chép rằng: Minh Đạo nói: “Cái lý của vạn vật trong trời đất, không phải một mình tất có đôi, đây là lẽ tự nhiên, không phải là do sắp xếp”. Điều mà Minh Đạo ngộ ra chính là điều mà Lão Tử đã nói: “Có và không sinh lẫn nhau; dễ và khó tạo nên lẫn nhau; ngắn và dài làm rõ lẫn nhau; cao và thấp dựa vào nhau; âm và thanh hòa lẫn nhau; trước và sau theo nhau”. Trong sách của Lão Tử, mỗi khi dùng đến những từ trống mái, vinh nhục, họa phúc, tĩnh ồn, nặng nhẹ, cong thẳng, sống chết, ít nhiều, mạnh yếu… từng đôi đối lập, đều là thuyết minh cho hiện tượng “không phải một mình tất có đôi”. Minh Đạo đưa ra hai chữ “tự nhiên” giống như học thuyết của Lão Tử.

Những chỗ khác nói về tự nhiên còn rất nhiều, ví dụ như trong di thư, Minh Đạo viết: “Nói về tự nhiên của trời tức là thiên đạo”. Ông còn nói: “Một âm một dương gọi là đạo, là đạo của tự nhiên”. Do vậy gần đây có Chương Thái Viêm nói: “Đại Trình ở xa họ Thích, gắn với Lão Đam”. (Xem trong “Kiểm luận quyển – Tứ thông trình thiên”).

Tống học là do Minh đạo sáng lập ra, học thuật của Minh Đạo lại gần với Lão Tử, cho nên các nhà Nho thời Triệu Tống đều hàm chứa ý vị của họ Lão. Học thuật  của Tống Nho sao có thể hàm chứa ý vị của họ Lão chứ? Bởi vì họ Thích là phép xuất thế và phép thế gian là một nhà xuyên suốt. Tống Nho lấy phép của họ Thích để trị lòng, lấy đạo học của Khổng Tử để trị thế, cả hai đều là thuận theo cái lý của tự nhiên mà thi hành, gộp trị tâm trị đời lại thành một, vừa khéo lại đi vào con đường của Lão Tử. Tống Nho vốn không hề có dự định đi vào con đường của Lão Tử. Tống Nho vốn không hề có dự định đi vào con đường của Lão Tử, chỉ vì chân lý của vũ trụ quả thực là như vậy, vô tri vô giác đã đi vào con đường này rồi. Từ đó biết được: Học thuyết của Lão Tử không chỉ có thể thông suốt với các học giả thời Chu Tần mà còn có thể thông suốt với các học giả thời Tống Minh. Nói một cách khác  tức là học thuyết của Lão Tử có thể thông suốt với toàn bộ học thuyết của Trung Quốc.

Y Xuyên nói: “Quay lại tìm trong “Lục kinh” mà có được”. Rốt cuộc ông có được điều gì từ trong “Lục kinh”? Họ tìm ra được hai thiên “Đại học”, “Trung dung” từ trong “Lễ ký”, đưa ra để cùng nghiên cứu với “Luận ngữ”, “Mạnh Tử”. Trong “Thượng thư” tìm ra được mười sáu chữ “nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung”. Lại tìm ra được những câu “nhân sinh nhi tĩnh, thiên địa chi tính dã, cảm ư vật nhi động, tính chi dục dã” (người ta sinh ra thích yên tĩnh, là tính của trời đất, cảm ứng với vật mà động, là ham muốn của tính) từ trong “Nhạc ký”, sáng tạo ra những danh từ như thiên lý, nhân dục, nghiên cứu lẫn nhau, đây chính là cái gọi là “không truyền đạo học ở di kinh”.

Tống Nho tìm ra được những thứ này, xét về mặt học lý thì cố nhiên là đúng, nhưng phải nói những thứ này là “học thuật không truyền lại” của Khổng môn, kh1o tránh khỏi không thể dựa vào, những lời như “nhân sinh nhi tĩnh” theo khảo chứng của người đời sau là những lời của “Văn tử” viện diễn của “Lão Tử”, Hà Gian Hiến vương đưa nó vào trong “Nhạc ký”. Mà cuốn sách “Văn tử” lại có người nói là ngụy thư, quan sát toàn bộ sách này thì thấy là sách của Đạo giao, không phải là sách của Khổng môn.

Chu Tử chú giải “Đại học” có nói: “Một chương kinh là những lời của Khổng Tử do Tăng Tử thuật lại. Còn mười chương truyện là ý của Tăng Tử, do học trò ghi chép lại”. Trước Chu Tử chưa hề có người nào nói “Đại học” là của Tăng Tử viết, không biết Chu Tử căn cứ vào đâu, chắc là do trong chương Kiến thành ý có ba chữ “Tăng Tử nói”, theo như Diêm Bách Thi nói thì: Bốn mươi chín thiên trong “Lễ ký” có một trăm chỗ nhắc đến Tăng Tử, ngoài một chỗ là chỉ Tăng Trung ra, còn lại chín mươi chín chỗ đều là chỉ Tăng Sâm, vì thấy trong những thiên này có nhiều chỗ nhắc đến hai chữ “Tăng Tử” nên nói là của Tăng Tử viết hay sao?

Chu Tử nói: “Trung dung” là tâm pháp truyền thụ của Khổng môn, Tử Tư học ở trong sách để truyền cho Mạnh Tử. Lời này cũng rất đáng nghi ngờ. Trong “Trung dung” có một câu “chứa Hoa Nhạc mà không nặng”, Khổng Mạnh là người Sơn Đông, ngước mắt lên là nhìn thấy Thái Sơn, cho nên nói về núi cao mà Mạnh Tử nhắc tới thì nhất định phải là Thái Sơn. Hoa Sơn ở Thiểm Tây, Khổng Tử đi về phía Tây chưa tới nước Tần, Hoa Sơn lại không nổi danh bằng Thái Sơn, vì sao trong sách của Khổng môn lại nhắc đến Hoa Sơn chứ? Rõ ràng là kinh đô Trường An của nhà Hán, sách của nhà Nho thời Hán, ngước mắt nhìn lên thấy Hoa Sơn, nên lấy làm ví dụ. Còn nói “nay thiên hạ xe cùng độ dài trục, sách cùng loại chữ viết”, càng là hiện tượng sau khi nhà Doanh Tần thống nhất thiên hạ. Những chỗ này cũng đã từng được người đời trước chỉ ra rồi.

Theo những điều kể trên, thứ tìm được trong di kinh của Tống Nho về cơ bản phát sinh điểm nghi ngờ. Cho nên học vấn của Tống Nho tuyệt đối không phải là chân truyền của Khổng Tử mà là do Khổng, Lão, Mạnh, Tuân hỗn hợp mà thành, lạoi công việc này của Tống Nho không thể nói là lỗi lầm của họ, ngược lại là công lao lớn nhất của họ, họ ra sức tôn sùng Khổng Mạnh, phản đối Lão Tử và Tuân Tử, trên thực chất lại là tuyên truyền thay cho Lão Tử, Tuân Tử. Từ đó biết được: Những điều mà Lão Tử, Tuân Tử đã nói là hợp lý, những điều mà Tống Nho đã nói cũng hợp lý. Chúng ta coi trọng việc khảo sát tìm ra chân tướng, trải qua loại công việc này của họ liền có thể chứng minh Khổng, Lão, Mạnh, Tuân có thể hợp làm một, công lao của Tống Nho về mặt học thuật đúng là không nhỏ.

Chúng ta nghiên cứu như vậy sẽ có thể nhìn ra được xu thế của học thuật. Xu thế là gì? Chính là các loại học thuyết về cơ bản là chung nhau, càng công kích lẫn nhau thì càng có xu hướng dung hợp, vì sao lại như vậy? Bởi vì càng công kích thì càng phải nghiên cứu, bất tri bất giác sẽ phát hiện ra điểm giống nhau.

“Tống Nguyên học án” chép: “Minh Đạo không từ bỏ việc đọc sách của Thích, Lão, trò chuyện cùng các học giả, có lúc còn ngẫu nhiên dẫn câu nói của Phật. Y Xuyên thì bỏ hết tất cả, dù là Trang Liệt cũng không xem”. Minh Đạo dung hợp thông suốt cái lý của tam giáo, phát minh ra nguyên tắc lớn, Y Xuyên chỉ là dựa vào nguyên tắc của ông mà tiếp tục nghiên cứu, bởi vì về mặt nguyên tắc có chứa thành phần Thích Lão nên tuy Y Xuyên từ bỏ không đọc sách của Thích Lão nhưng học vấn mà ông truyền thụ ra thì vẫn mang ý vị của Thích Lão.

Y Xuyên thường nói với môn nhân là Trương Thích rằng: “Trước kia ta làm hành trạng cho Minh Đạo tiên sinh, con đường ta đi giống với Minh Đạo, còn muốn biết chỗ khác biệt ở đâu thì xem trong văn này là được”. Y Xuyên làm hành trạng cho Minh Đạo, nói ông ra vào đạo Lão Thích mấy chục năm, tự xung là cùng đường với Minh, đương nhiên cũng ra vào đạo Lão Thích. Cái gọi là không đọc sách của Lão Thích chỉ nói về sau học thành mà thôi, còn lúc trước thì cũng đã từng nghiên cứu Lão Thích.

Học thuyết của Tống Nho vốn là một loại phương pháp cách mạng. Họ hoàn toàn lật đổ cách nói của Hán Nho, lập ra một cách nói mới, có đủ cả hai loại thủ đoạn phá hoại và xây dựng. Họ không dám nói là mình sáng tạo ra học thuyết mới mà vẫn dựa vào Khổng Tử, gọi là phục cổ, trên thực tế là sáng tạo cái mới. Tân giáo của Luther, phong trào Phục Hưng của châu Âu đều là đi theo con đường này. Học thuyết của Tống Nho mang tính sáng tạo, cho nên những người tin theo vốn rất nhiều, người phản đối cũng không ít, phàm là khi học thuyết mới xuất hiện đều có hiện tượng này.

14/ Chia phái sau khi Trình Minh Đạo mát

Minh Đạo vừa mới thành công trong việc hợp nhất tam giáo thì sau đó liền qua đời. Sau khi ông mất, học thuật của ông chia làm hai phái lớn: Một phái là Y Xuyên và Chu Tử (Chu Hi), một phái là Lục Tượng Sơn và Vương Dương Minh. Minh Đạo mất năm 54 tuổi, sau khi ông mất hơn 20 năm thì Y Xuyên mới mất. Y Xuyên truyền thụ học vấn của Minh Đạo, trao lại cho Chu Tử. Người đời sau nói Chu Tử là tập đại thành của Tống học, kỳ thực ông vẫn chưa thấy hết được toàn thể của Minh Đạo. Các học giả thời Tống Nguyên nói: “Chu Tử cho rằng Minh Đạo nói chuyện hồ đồ. Chu Tử được Y Xuyên giúp đỡ, cho nên học thuật của Minh Đạo chưa chắc đã truyền hết cho ông ta”. Từ có thể biết được: Chu Tử được thừa kết từ Minh Đạo, Lục Tượng Sơn cũng kế thừa từ Minh Đạo, đối kháng với Chu Tử, không những cảm thấy bất mãn đối với Chu Tử mà còn bất mãn với cả Y Xuyên. Khi ông còn trẻ, nghe người khác học theo những lời nói của Y Xuyên đã nói rằng: “Lời của Y Xuyên chẳng khác gì của Khổng Tử”. Còn nói: ‘Nguyên Hồi giống Y Xuyên, Khâm Phu giống Minh Đạo, Y Xuyên che đậy lại, Minh Đạo thì khai thông”. Tượng Sơn tự cho rằng mình là người kế thừa Minh Đạo, Y Xuyên cũng tự cho rằng mình là người kế thừa Minh Đạo, kỳ thực Y Xuyên và Tượng Sơn đều chỉ lấy được một phần của Minh Đạo, chưa đủ hết học thuật của Minh Đạo. Học thuật của Y Xuyên được Chu Tử phát huy mở mang, còn học thuật của Tượng Sơn được Dương Minh phát huy mở mang, trở thành hai phái đối kháng. Cách vật chí tri của Chu Tử là thiên về bên ngoài, cách vật chí tri của của Dương Minh là thiên về bên trong. Minh Đạo nói: “So với việc không phải là bên ngoài mà là bên trong, chi bằng quên đi cả trong lẫn ngoài”. Cách nói này của Minh Đạo đã bao quát cả hai phái Chu, Lục.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020

Tâm điểm của Đối thoại Shangri-La 2022


Trang mạng của Viện Nghiên cứu các vấn đề chiến lược quốc tế (IISS) (Anh) mới đây đăng bài viết của chuyên gia James Crabtree, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á của IISS, cho biết các đại biểu đang tập trung tại Singapore để tham dự Hội nghị thượng đỉnh an ninh châu Á (còn được biết đến với tên gọi Đối thoại Shangri-La), và đây sẽ là cơ hội hiếm có để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về một danh sách dài các bất đồng cũng như các chủ đề cùng quan tâm.

Đối thoại Shangri-La 2022 diễn ra từ ngày 10 – 12/6 (Đối thoại Shangri-La bị tạm hoãn trong năm 2020 và 2021 do dịch COVID-19), bắt đầu với bài phát biểu quan trọng của Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida. Tuy nhiên, các đại biểu chắc chắn sẽ tập trung nhiều hơn vào các bài phát biểu của Mỹ và Trung Quốc trong bối cảnh mối quan hệ giữa 2 siêu cường này ngày càng xấu đi. Có 5 khía cạnh quan trọng sẽ được chú trọng trong đối thoại năm nay.

Thứ nhất, bối cảnh của cuộc chiến ở Ukraine càng củng cố vai trò của Mỹ và Trung Quốc như những nhà lãnh đạo của các khối địa chính trị đối địch. Mặc dù không công khai ủng hộ các hành động của Nga ở Ukraine, song Bắc Kinh đã từ chối lên án Moskva. Ngay trước cuộc xung đột Nga – Ukraine, Nga và Trung Quốc đã ra một tuyên bố chung nhấn mạnh sự hợp tác, đồng thời khẳng định “tình hữu nghị giữa hai quốc gia không có giới hạn và không có vùng cấm”. Đã có những dấu hiệu cho thấy sự hợp tác này đang diễn ra trên thực tế. Cuối tháng 5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã đến Tokyo để gặp gỡ những người đồng cấp trong nhóm Bộ tứ – đó là các nhà lãnh đạo của Australia, Nhật Bản và Ấn Độ. Đáp lại, Trung Quốc và Nga đã tiến hành các cuộc tuần tra chung với các máy bay ném bom chiến lược có khả năng mang hạt nhân là Xian H-6 (của Trung Quốc) và Tu-95 (của Nga).

Thứ hai, căng thẳng Mỹ – Trung về “điểm nóng” Đài Loan ngày càng sâu sắc. Tổng thống Biden đã gửi tín hiệu sai về vấn đề “Đài Loan độc lập”, điều này rất nguy hiểm. Mối quan hệ giữa 2 bờ Eo biển Đài Loan trong tương lai vẫn rất bấp bênh, không loại trừ khả năng Trung Quốc dùng vũ lực để thu phục hòn đảo này. Mặc dù về mặt chính thức, Mỹ cho biết các chính sách lâu nay của nước này đối với Đài Loan không thay đổi; song rõ ràng Bắc Kinh khó có thể yên tâm khi nghe những tuyên bố lặp đi lặp lại của ông Biden về vấn đề này. Gần đây nhất, trong chuyến công du Nhật Bản, ông Biden đã nói rằng Mỹ sẽ sử dụng vũ lực để bảo vệ Đài Loan trước sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc, khiến các quan chức Mỹ phải nhanh chóng nói rõ rằng điều này không thể hiện sự thay đổi quan điểm của Mỹ.

Thứ ba, các đời bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần đây đã sử dụng các bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La để khẳng định các cam kết của họ ở châu Á. Các quan chức Lầu Năm Góc nhiều lần cho biết Mỹ có ý định rút khỏi Trung Đông và các nơi khác để dành nhiều nguồn lực quân sự hơn cho châu Á. Tuy nhiên, tiến độ này diễn ra rất chậm chạp, ngay cả trước các sự kiện ở Ukraine. Các đại biểu đến từ các nước trong khu vực sẽ theo dõi chặt chẽ bất kỳ tín hiệu nào cho thấy Mỹ sẽ tăng tốc đầu tư vào các sáng kiến về vị thế khu vực – một chủ đề được đề cập sâu hơn trong chương mở đầu của Đánh giá An ninh Khu vực châu Á – Thái Bình Dương của IISS năm nay. Các động thái an ninh ngày càng được tăng cường của Trung Quốc tại khu vực cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ, trong bố cảnh có những thông tin về thỏa thuận an ninh giữa Trung Quốc và Quần đảo Solomon cũng như việc Trung Quốc đang xây dựng một cơ sở hải quân ở Campuchia.

Thứ tư, sự cạnh tranh chiến lược ngày càng tăng giữa hai siêu cường đang tạo ra những vấn đề của riêng hai nước. Chính quyền Biden hiện gọi chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc là “cạnh tranh trong hàng rào an toàn” – nghĩa là Washington tìm cách cạnh tranh mạnh mẽ với Bắc Kinh, nhưng vẫn tránh nguy cơ làm suy thoái nghiêm trọng và gây tổn hại trong lĩnh vực an ninh. Tuy nhiên, Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Biden, được công bố hồi tháng 2/2022, đã thẳng thừng đề cập đến mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho các lợi ích của Mỹ, cho rằng “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang kết hợp sức mạnh kinh tế, ngoại giao, quân sự và công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và tìm cách trở thành cường quốc có ảnh hưởng nhất thế giới”. Chính quyền Biden hiện phải đối mặt với những lựa chọn phức tạp về cách cạnh tranh với Trung Quốc. Mỹ nhận ra rằng Mỹ không thể cạnh tranh một mình, do đó Washington tập trung vào việc thắt chặt quan hệ với các “đồng minh  và đối tác”, như những gì Mỹ đã thể hiện trong các liên minh AUKUS (gồm Australia, Anh, Mỹ) và Bộ tứ (gồm Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, Mỹ). Trong khi đó, Trung Quốc cũng hành động tương tự, thể hiện ở Sáng kiến An ninh Toàn cầu được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi động gần đây cho đến các kế hoạch của Trung Quốc về một “Tầm nhìn phát triển chung” mới với 10 quốc đảo Thái Bình Dương.

Thứ năm, vấn đề liên lạc giữa Bắc Kinh và Washington, hoặc việc thiếu kênh liên lạc, là thách thức cuối cùng. Tháng 4/2022, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin và Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phương Hòa đã có cuộc điện đàm lần đầu tiên để thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và các chủ đề khác. Cuộc điện đàm thu hút sự chú ý vì trước đó Lầu Năm Góc đã nỗ lực thiết lập các cuộc điện đàm với một quan chức cấp cao khác của Trung Quốc, Tướng Hứa Kỳ Lượng – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Một số quan chức cấp cao khác của Mỹ, trong đó có Cố vấn An ninh Quốc gia Jake Sullivan, sau đó cũng đã có các cuộc điện đàm với các quan chức tương ứng của Trung Quốc. Nhưng nói chung, những cuộc đối thoại như vậy vẫn hiếm khi xảy ra trong một mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng những mối liên hệ ít ỏi. Sự thiếu thông tin liên lạc này sẽ là nguyên nhân gây lo lắng trong bất kỳ cuộc khủng hoảng khu vực nào trong tương lai.

Các sự kiện như Đối thoại Shangri-La sẽ tạo cơ hội để Mỹ và Trung Quốc thảo luận về các vấn đề cùng quan tâm, với việc cả hai quốc gia đều đưa các phái đoàn quan trọng tới hội nghị. Tuy nhiên, khả năng cải thiện quan hệ giữa các siêu cường là rất nhỏ. Nguy cơ mối quan hệ Mỹ – Trung “lao dốc” hơn nữa đã thực sự được kiểm soát trong những năm gần đây do đại dịch COVID-19, với việc các nhà lãnh đạo của cả hai nước đều phải tập trung vào việc phục hồi trong nước. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong năm 2022 do Tổng thống Biden phải tập trung vào cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ, còn Chủ tịch Tập Cận Bình phải tập trung chuẩn bị cho Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XX, cả hai đều sẽ diễn ra vào tháng 11 tới. Tuy nhiên, những rủi ro mà Kurt Campbell – điều phối viên của Mỹ phụ trách khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – gọi là “bất ngờ chiến lược” có thể xảy ra trong ngắn hạn sẽ khó có thể giảm bớt, và cùng với đó là nguy cơ rạn nứt quan hệ vẫn gia tăng

Nguồn: TKNB – 13/06/2022

Mục đích Đài Loan cải tạo đường băng trên đảo Ba Đình


Theo trang Telegram China3army của Nga, Đài Loan có kế hoạch cải tạo kéo dài đường băng cất hạ cánh trên đảo Ba Bình ở Biển Đông từ 1150 lên 1500 mét. Mục đích là cung cấp khả năng tiếp nhận các máy bay quân sự trong trường hợp các nhóm tác chiến quy mô được triển khai khẩn cấp hoặc tăng cường tại khu vực này.

Đường băng hiện tại cho phép tiếp nhận các loại máy bay, gồm: máy bay chiến đấu F-16 (chiều dài đường băng yêu cầu là 1000 m), máy bay chống ngầm PC-3 (chiều dài đường băng yêu cầu là 975 m) và máy bay vận tải C-130. Việc nâng cấp đường băng cho phép tiếp nhận được các loại máy bay hạng nặng và nâng công suất tiếp nhận các phương tiện bay. Ngoài ra, việc cải tiến hệ thống radar và các công trình liên quan cho phép biến đảo Ba Bình thành căn cứ và trung tâm giám sát quy mô ở khu vực. Giới quan sát cho rằng việc quân sự hóa hòn đảo tới mức như vậy không chỉ phục vụ lợi ích của Đài Loan mà còn cả các đồng minh của họ.

Hơn nữa, có tin rằng chính quyền Mỹ ngầm ủng hộ việc xây dựng lại đường băng trên đảo Ba Bình. Truyền thông Nga bình luận, Lầu Năm góc từ lâu đã theo dõi Trung Quốc, nước đang xây dựng cơ sở hạ tầng quân sự ở Biển Đông. Trước những sự kiện gần đây, Washington rõ ràng đã quyết định trong tương lai sẽ tận dụng đảo Đài Loan để chọc tức Bắc Kinh hơn nữa và tăng cường sự hiện diện của họ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Về vấn đề này, truyền thông Nga trích dẫn bình luận của ông Mã Hiểu Quang, phát ngôn viên Văn phòng Các vấn đề Đài Loan thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc, cho rằng: “Quần đảo Nam Sa (Trường Sa), bao gồm cả đảo Ba Bình, là lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc, và tên đảo Ba Bình xuất phát từ tàu khu trục cùng tên của Hải quân Trung Quốc. Việc đặt tên cho một con tàu như vậy nhằm ghi nhớ lịch sử, và tuyên bố chủ quyền. Mọi nỗ lực cấu kết với các thế lực bên ngoài và bán rẻ lợi ích của đất nước Trung Quốc là trò chơi với lửa”.

Mỹ lôi kéo Trung Quốc vào cuộc xung đột

Trang mạng quân sự Nga mới đây đưa ra đánh giá nhận định về khả năng Trung Quốc có hành động can thiệp quân sự đối với Đài Loan vì bị Mỹ thúc đẩy.

Trang mạng này cho rằng tất cả các bước đi tiếp theo của Bắc Kinh sẽ được chứng minh sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào mùa Thu năm nay, khi Tập Cận Bình có thể sẽ được bầu làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ nữa. Trong khi đó, Mỹ đang nhất quán đi theo con đường của cuộc khủng hoảng Ukraine, cố gắgn tạo ra một tình huống tương tự ở Đài Loan, để kích động Trung Quốc thực hiện các hành động trả đũa. Trong chiến lược an ninh mới cập nhật, Mỹ gọi Trung Quốc là “đối thủ và thách thức quan trọng chiến lược”.

Trong bối cảnh đó, Lầu Năm gốc đang tiến hành đánh giá ý kiến công dân Mỹ và thăm dò phản ứng của Bắc Kinh đối với những bước đi trong tương lai. Đây là sự chuển bị trước về dư luận nhằm có được sự ủng hộ và khẳng định mình trong những ý đồ và kế hoạch quân sự tinh vi nhằm vào Trung Quốc.

Các chuyên gia quân sự Nga đánh giá chiến sự tại Ukraine sớm muộn gì cũng kết thúc, nhưng Mỹ không quan tâm bên nào sẽ chiến thắng, mà quan tâm tới việc đánh giá toàn diện về cuộc chiến và tác động liên quan, bao gồm cả những tính toán sai lầm của họ của để chuyển sang áp dụng ở mặt trận Đài Loan.

Chuyên gia Nga đánh giá những nỗ lực nhằm kéo Bắc Kinh vào một cuộc xung đột cục bộ đã trở thành hiển nhiên. Trong đó, người Mỹ ủng hộ Đài Loan về mọi mặt gồm: Thứ nhất, Mỹ kêu gọi Đài Bắc tham gia Liên hợp quốc; Thứ hai, ký kết hợp đồng với hòn đảo về việc cung cấp vũ khí và các trang thiết bị khác; Thứ ba, thực hiện các chuyến thăm của các phái đoàn Mỹ đến hòn đảo, bao gồm cả trong cuộc khủng hoảng Ukraine, khiến giới lãnh đạo Đài Loan có tình cảm chống Trung Quốc và tạo ra một mối đe dọa tấn công tưởng tượng; Thứ tư, ủng hộ Litva trong quan hệ với Đài Loan và sự chống đối của nước này đối với ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc; Thứ năm, gia tăng các hoạt động của Lực lượng vũ trang Mỹ trên các vùng biển của Biển Đông tiếp giáp với quần đảo Trường Sa, đẩy mạnh các chuyến tàu Mỹ thường xuyên qua eo biển Đài Loan; Thứ sáu, tăng cường huấn luyện của các giảng viên cảu các đơn vị Lực lượng Tác chiến Đặc biệt Mỹ đối với lực lượng Lục quân của Đài Loan, cũng như Thủy quân lục chiến của Hải quân Đài Loan.

Và những điều trên đây chỉ là một phần nổi của những gì người Mỹ đang làm ở Đài Loan trong nỗ lực châm ngòi cho một cuộc xung đột ở bên cạnh Trung Quốc. Nếu tất cả các hoạt động này tiếp tục được thực hiện và thổi phồng bởi cơ sở tuyên truyền của Mỹ, việc Bắc Kinh bị lôi kéo vào cuộc xung đột quân sự ở Đài Loan sẽ không còn bao lâu nữa.

Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ sử dụng quân đội tương tự như Nga đã làm để bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để không bị thiệt hại và chi phí lớn. Chuyên gia Nga dự báo nhiều khả năng giới quân sự của Bắc Kinh sẽ chọn giải pháp phong tỏa Đài Loan bằng cách tiến hành hoạt động đổ bộ tấn công với sự hỗ trợ của nhóm máy bay, tàu chiến và lực lượng tên lửa.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Việt Nam – mối lo đối với Trung Quốc về thị phần sản xuất?


Theo trang PingWest  của Trung Quốc ngày 30/5, VIệt Nam gần đây đã “gây sốc” với con số đáng kinh ngạc: Trong tháng 3/2022, xuất khẩu của Việt Nam đạt 34,7 tỷ USD, tăng 14,8% so với cùng kỳ năm 2021, trong khi xuất khẩu của Thâm Quyến (thành phố xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc) chỉ đạt 18,9 tỷ USD, giảm 14%. Sự tăng trưởng “bùng nổ” của Việt Nam khiến những người chứng kiến quá trình cải cách và mở cửa của Trung Quốc phải bất ngờ. Liệu vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu có phải mối lo đối với Trung Quốc?

Các sản phẩm “Made in China” phổ biến trên thị trường toàn cầu đếu mức Trung Quốc được mệnh danh là “công xưởng của thế giới”. Tuy nhiên, những gì xảy ra do tác động của đại dịch COVID-19 càng khiến nhiều quốc gia nhận ra mối nguy từ việc phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.

Ví dụ, không chỉ đối với thiết bị y tế và dược phẩm, mà đối với ngành công nghiệp ô tô, Pháp cũng như Mỹ đã phụ thuộc rất nhiều vào chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Cải cách chuỗi cung ứng là một chủ đề “nóng” ở Nhật Bản. Trong bài phát biểu tại Đại học Việt – Nhật, Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga cho biết “Nhật Bản sẽ hợp tác hơn nữa với ASEAN để tăng khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng và hỗ trợ các nền kinh tế ở châu Á chống chọi với khủng hoảng”.

Các tập đoàn lớn đang muốn mở rộng sản xuất ra bên ngoài Trung Quốc. Mới đây, tờ Wall Street Journal đưa tin các nhà thầu Trung Quốc sản xuất cho hãng Apple đang tìm đến Việt Nam, vốn là trung tâm sản xuất điện thoại thông minh cho tập đoàn Samsung.

Các yếu tố chủ yếu khác chi phối xu thế đa dạng hóa chuỗi cung ứng là việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa chống COVID-19 thời gian gần đây và xung đột leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc cả về thương mại, công nghệ và địa chính trị. Rajiv Biswas, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á – Thái Bình Dương tại IHS Markit, tin rằng VIệt Nam đang nổi lên như một trong những trung tâm sản xuất mới của thế giới khi quá trình đa dạng hóa chuỗi cung ứng tiến triển nhanh chóng.

Tuy nhiên, dù Việt Nam có nhiều khả năng trở thành một phần bổ sung cho chuỗi cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ cạnh tranh, nhưng Trung Quốc phải tăng cường chuẩn bị cho một tương lai cạnh tranh hơn.

Các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam cũng đang nỗ lực biến Việt Nam trở thành lựa chọn đầu tư an toàn, hấp dẫn và tiềm năng cao cho các nhà đầu tư nước ngoài. Trong quý I/2022, cả nước nhận được 4,42 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tăng 7,8% so với quý trước.

Những thành tựu này là “bàn đạp” để Việt Nam hướng tới cạnh tranh với các nước trong khu vực về các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài chất lượng cao. Chính phủ đã thực hiện một số kế hoạch, gồm chiến lược giáo dục và đào tạo nghề 2021 – 2030 và Quyết định 17 về hỗ trợ đào tạo nghề, nhằm đào tạo thêm lao động có tay nghề và nhân tài công nghệ thông tin cho các ngành công nghiệp cao cấp hơn.

Trong chuyến thăm Mỹ mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp gỡ các công ty công nghệ “nặng ký” ở Thung lũng Silicon như Apple và Intel, cố gắng “lôi kéo” họ thành lập các cơ sở sản xuất tại Việt Nam.

Dù vậy, Trung Quốc không nên quá lo lắng về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian gần đây. Momentum Wokrs, một công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Singapore, nhận định: “Việt Nam nhiều khả năng trở thành một phần mở rộng trong mạng lưới cung ứng của Trung Quốc hơn là một đối thủ. Với dân số và nền kinh tế nhỏ hơn tỉnh Quảng Đông, Việt Nam khó có thể trở thành chuỗi cung ứng toàn diện như Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc siết chặt phong tỏa là bằng chứng cho thấy các sản phẩm “Made in Vietnam” gắn bó chặt chẽ với chuỗi cung ứng của Trung Quốc. Bằng chứng là những nỗ lực kiểm soát dịch COVID-19 nghiêm ngặt tại một số cửa khẩu biên giới Trung – Việt đã dẫn đến tình trạng gián đoạn chuỗi cung ứng và hạn chế dòng chảy của một số sản phẩm.

Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu của Việt Nam về thép, bảng mạch, máy móc thiết bị và nguyên liệu cho ngành may mặc và da giày. Hãng Bloomberg dẫn lời ông Phạm Xuân Hồng, Chủ tịch Hội dệt may thêu đan TPHCM đầu tháng 5 cho biết vấn đề thiếu nguyên liệu đã ảnh hưởng đến sản xuất và xuất khẩu của tất cả các nhà máy may mặc.

Tuy nhiên, việc tổ chức lại chuỗi cung ứng toàn cầu không phải là quá trình đơn giản và đại dịch COVID-19 chứng minh rằng Trung Quốc và các nền kinh tế lớn trên thế giới liên kết chặt chẽ và khó có thể tách rời như thế nào. Bất kỳ sự chuyển đổi thực sự nào cũng có thể mất nhiều năm.

Sản xuất, đặc biệt là các ngành thâm dụng lao động, chắc chắn sẽ chuyển đến các thị trường mới nổi khác với chi phí lao động thấp hơn. Do đó, Trung Quốc phải giải quyết tình trạng mất việc làm do chuyển giao công nghiệp. Trong khi đó, Việt Nam phải duy trì lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng cấp cao để đảm bảo tăng trưởng dài hạn vì các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam tập trung nhiều hơn vào nâng cấp sản xuất.

Nguồn: TKNB – 01/06/2022

Trò chơi quyền lực của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương


Theo wsj.com cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama không bao giờ có thể lấy lại uy tín của mình sau khi ông không thể thực thi được một “lằn ranh đỏ” như đã tuyên bố trước đó ở Syria. Không có gì quá lời khi nói rằng liệu một nguyên thủ quốc gia giữ lời về những vấn đề như vậy có thể làm thay đổi lịch sử hay không. Đó là lý do vì sao những phát biểu gần đây của Thủ tướng Australia Scott Morrison về sức mạnh của Trung Quốc ở Thái Bình Dương lại không có ý nghĩa gì.

Ngày 24/4, đánh giá về ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc đối với Quần đảo Solomon, Thủ tướng Morrison tuyên bố: “Australia cùng vạch ra lằn ranh đỏ với Mỹ liên quan đến vấn đề này. Chúng tôi sẽ không cho phép Trung Quốc thiết lập các căn cứ hải quân ở khu vực Thái Bình Dương vốn là cửa ngõ của Australia”. Thế nhưng, nhà lãnh đạo Australia lại không đề cập chi tiết cách thức Canberra sẽ đáp trả khi Trung Quốc vượt qua “lằn ranh đỏ” mà Australia đưa ra.

Thủ tướng Australia đưa ra những tuyên bố nói trên sau thông tin hồi tuần trước cho biết Trung Quốc đã ký một thỏa thuận an ninh với Quần đảo Solomon. Đây là chiến thắng mới nhất về mặt ngoại giao đối với Bắc Kinh tại một quốc gia nhỏ bé song có vị trí chiến lược ở khu vực Thái Bình Dương. Quần đảo Solomon đã hoan nghênh sự hỗ trợ của Trung Quốc sau khi phải đối mặt với tình trạng bất ổn xã hội hồi năm 2021. Bản thỏa thuận cuối cùng giữa Bắc Kinh và Honiara vẫn chưa được công bố. Tuy nhiên, bản dự thảo của thỏa thuận này, vốn bị rò rỉ từ hồi tháng 3, cho thấy Trung Quốc cuối cùng có thể thiết lập một nơi đồn trú cho binh lính và tàu hải quân của nước này ở một quốc gia chỉ cách Australia 1200 dặm (khoảng hơn 1900 km). Thủ tướng Quần đảo Solomon Manasseh Sogavare khẳng định thỏa thuận “không liên quan đến việc Trung Quốc thiết lập một căn cứ quân sự ở Quần đảo Solomon liên quan đến việc hỗ trợ giải quyết những mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống nội bộ mà Quần đảo Solomon phải đối mặt”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng những bàn luận về việc thiết lập một căn cứ quân sự là “thông tin sai lệch do những người có động cơ ngầm thêu dệt nên”.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ của Bắc Kinh luôn đi kèm với những điều kiện ràng buộc, và lừa dối là bản chất của chiến lược quân sự của Trung Quốc. Chủ tịch Tập Cận Bình đã cam kết với cựu Tổng thống Obama rằng Trung Quốc sẽ không quân sự hóa các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). Thế nhưng, hiện nay, các đảo nhân tạo đó đã được Trung Quốc cải tạo và bố trí các thiết bị và hệ thống quân sự có khả năng triển khai lực lượng và sức mạnh ở cách xa bờ biển của Trung Quốc.

Tuần trước, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cử một phái đoàn đến Quần đảo Solomon. Thông báo của Nhà Trắng nêu rõ: “Nếu các bước đi được triển khai để thiết lập sự hiện diện quân sự lâu dài trên thực tế, năng lực triển khai sức mạnh hoặc lắp đặt thiết bị quân sự thì phái đoàn của Mỹ đã lưu ý rằng Mỹ khi đó sẽ có những quan ngại to lớn và sẽ đáp trả tương ứng”. Những bình luận của Thủ tướng Morrison dường như không phải là những lời nói suông trong chiến dịch tranh cử hiện nay ở Australia. Những vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại đã đóng một vai trò lấn át hơn so với những vấn đề đối nội trong chiến dịch tranh cử trước khi diễn ra cuộc tổng tuyển cử ở Australia vào tháng 5/2022. Australia dưới thời Thủ tướng Morrison – người không hề nao núng và sợ hãi trước cách hành xử bắt nạt của Bắc Kinh – là một đồng minh điển hình của Mỹ. Ông Morrison đã cứng rắn kêu gọi tiến hành một cuộc điều tra quốc tế về nguồn gốc của đại dịch COVID-19 bất chấp Trung Quốc đáp trả bằng lệnh cấm nhập khẩu các mặt hàng chủ lực của “xứ sở chuột túi” này.

Đã quen với việc cáo buộc phe trung tả có thái độ mềm mỏng đối với Trung Quốc, giờ đây, Thủ tướng Morrison vấp phải chỉ trích ở trong nước vì đã không thể ngăn chặn việc ký kết thỏa thuận an ninh mới nói trên. Như một chính trị gia đối lập đã gọi sự thất bại này là “thất bại tồi tệ nhất trong chính sách đối ngoại của Australia ở khu vực Thái Bình Dương kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai”. Mặc dù chính trị bầu cử luôn hỗn độn với những “trò bẩn” song nếu Australia phát triển được sự đồng thuận giữa hai lực lượng cánh tả và cánh hữu về mối đe dọa của Trung Quốc thì điều này sẽ là một tín hiệu đáng khích lệ.

Mỹ và các đồng minh đang phải đối mặt với những thách thức chiến lược và quân sự trên khắp thế giới, và bước tiến của Bắc Kinh ở khu vực Nam Thái Bình Dương sẽ không phải là minh chứng cuối cùng của việc Trung Quốc đang nỗ lực tận dụng sự sao nhãng của phương Tây đối với khu vực này khi phải bận tâm xử lý cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Khi chiến sự ở Ukraine có nguy cơ kéo dài, tình hình bất ổn sẽ tiếp tục gia tăng hơn nữa, không chỉ ở châu Âu mà cả ở những khu vực khác trên thế giới.

Nguồn: TKNB – 29/04/2022

Xu thế của học thuật Trung Quốc – Phần IX


Học thuyết của Chu Đôn Di được lợi từ Thọ Nhai hòa thượng của Phật gia và Thái cực đồ của Trần Đoàn thuộc Đạo gia, đây là chuyện mà mọi người đều biết. Trình Y Xuyên nói: “Trình Minh Đạo ra vào giữa đạo Lão và đạo Thích suốt mấy chục năm”. Tống sử nói: Phạm Trọng Yêm lệnh cho Trương Hoành Cừ đọc “Trung dung”, đọc rồi vẫn cảm thấy chưa đủ, lại tìm hiểu thêm về Thích, Lão. Đây đều là do “Nho môn đạm bạc, không lưu giữ nổi”. Minh Đạo và Hoành Cừ đều là “tìm lại trong “Lục Kinh” sau đó có được”. Thử hỏi: Hai người bọn họ lúc đầu đọc sách của Khổng Tử, vì sao không được chân truyền, phải nghiên cứu Lão Thích nhiều năm, sau đó tìm lại trong “Lục Kinh” mới tìm ra được? Vì sao đối với cả hai người đều như vậy? Đây rõ ràng là lúc đầu đọc sách Nho, tiếp tục đọc sách Phật Lão, thấm nhuần đã lâu, dung hợp xuyên suốt, trong lòng bỗng nhiên chợt hiểu. Sau đó vẫn tìm kiếm trong “Lục Kinh”, thấy những điều được nói trong đó có chỗ phù hợp với điều trong lòng mình, liền đưa ra tổ chức thành một hệ thống, đây chính là cái gọi là Tống học. Do chân lý trong thiên hạ đều như nhau, cho nên kết quả mà hai người có được là giống nhau.

Tác giả năm trước có viết một bài văn nhan đề “Tâm lý và lực học”, sáng tạo ra một giả thuyết: “Tâm lý thay đổi dựa trên quy luật chung của lực học”. Từng nói: “Tâm Trái đất có lực hấp dẫn, hút hết mọi vật có hình dạng cụ thể như đất đá cát sỏi lại tạo thành Trái đất, lòng người cũng có lực hút, hút hết những vật không có hình dạng cụ thể mà mắt thấy tai nghe lại, tạo thành một tấm lòng”. Tống Nho nghiên cứu tam giáo Nho Thích Đạo nhiều năm, tấm lòng của họ đã trở thành vật kết hợp của Nho Thích Đạo, tự mình còn chưa nhận ra được, cho nên bề ngoài Tống học là Khổng học nhưng bên trong lại là một thứ do Nho Thích Đạo dung hợp mà thành. Từ đó về sau, Nho môn liền không đạm bạc nữa, liền giữ người lại được, vậy là Tống học phổ biến khắp thiên hạ, trải qua các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh cho đến nay, truyền tụng không dứt. Họ làm được công việc vĩ đại này rồi, hoàn toàn có thể thành lập một phái độc lập, không cần phải dựa vào Khổng Tử nữa, họ tưởng rằng dựa vào Khổng Tử là suy tôn ông tổ của đạo mà không biết rằng dựa vào Khổng Tử ngược lại là xem thường giá trị của Tống Nho rồi.

13/ Tống học chứa nhiều thành phần của Lão học nhất

Tống học là do tam giáo hợp lại mà thành, do vậy chỗ nào cũng hàm chứa ý vị của Phật Lão. Những chỗ có chứa Phật học, người đời trướcđã chỉ ra rất nhiều rồi, không cần phải thảo luận thêm nữa. Cái mà chúng ta cần thảo luận chính là thành phần của họ Lão hàm chứa trong Tống học đặc biệt sâu đậm. Công lao mà Tống Nho đã làm được không gì ngoài tám chữ “quét sạch nhân dục, lưu hành thiên lý”. Thiên lý tức là cái lý của thiên nhiên, cũng tức là cái lý của tự nhiên. Nhân dục tức là ý muốn của cá nhân. Tống Nho bảo người ta phải quét sạch ý muốn của cá nhân mình, thuận theo đạo lý của tự nhiên mà làm, cách nói này có gì khác biệt so với Lão Tử chứ? Chỗ khác biệt là lấy chữ “trời” thay cho hai chữ “tự nhiên”, chẳng qua là khác nhau về mặt chữ mà thôi.

Nhưng về sau họ lại chú trọng lý học, xem nhẹ chữ “trời”, tức là xem nhẹ hai chữ “tự nhiên”, còn lý học liền trở thành kiến giải hạn hẹp, do vậy Đới Đông Nguyên mới nói lý học dùng lý để giết người.

Chu Tử viết “Thái cực đồ thuyết” có nói: “Vô cực mà thái cực”. Hai chữ “vô cực” ở đây xuất phát từ “Đạo đức kinh”. “Dịch thuyết” của Trương Hoành Cừ mở đầu giảng giải về tứ đức, liền dẫn câu “đón trước không thấy đâu” của Lão Tử. Ở giữa lại dẫn những câu như “cốc thần, sô cầu”…, càng vô cùng rõ rệt.

Học trò của Y Xuyên (Trình Di) là Doãn Trác nói: “Dụng ý bình sinh của thầy (chỉ Y Xuyên) đều nằm ở Dịch truyện, muốn tìm đọa học của thầy chỉ cần đọc ở đây là đủ rồi, những thứ như ngũ lục đều là do học trò ghi lại, kiến thức nông sâu thế nào, viết hay dở thế nào, khó tránh khỏi không có sai lầm”. Từ “Nhị Trình toàn thư” có thể thấy được Dịch học là vấn căn bản của Y Xuyên, Y Xuyên thường sai học trò đọc những chú giải của Vương Bật về “Kinh Dịch”, trong sách “Nhị Trình toàn thư”, “Tứ khố đề yếu” có nói: “Từ thời Hán tới nay, dựa vào Lão Trang nói về Dịch, bắt đầu là Vương Bật của nhà Ngụy”. Y Xuyên bảo học trò đọc sách này tức là biết được: Học thuật của Y Xuyên về căn bản là tham khảo từ Lão học.

Chu Tử tự xưng là người tập đại thành Tống học. “Luận ngữ” mở đầu bằng: “Học đi đôi với hành”. Chu Tử chú giải rằng: “Người phát giác ra sau nhất định sẽ học theo hành động của người phát giác ra trước, sau đó sẽ có thể hiểu rõ sự lương thiện của bản tính mà khôi phục bản tính lương thiện của con người như lúc ban đầu”. Đới Đông Nguyên nói: “Khôi phục như lúc ban đầu xuất phát từ Trang Tử”. “Đông Nguyên niên phổ” hiểu rõ sự lương thiện, khôi phục như lúc đầu, là học thuyết căn bản của Tống Nho, Trang Tử là môn đồ của họ Lão, đây cũng là bằng chứng pha trộn của Lão học.

Sách “Đại học” mở đầu viết: “Đại học chỉ đạo, tại minh minh đức” (Đạo họ làm việc lớn là ở chỗ làm rạng tỏ cái đức sáng của mình). Chu Tử chú giải rằng: “Minh đức giả, nah6n chi sở đắc hồ thiên, nhi hư linh bất muội, dĩ kỳ chúng lý nhi ứng vạn sự giả dã” (Cái gọi là làm rạng tỏ cái đức là con người có được từ tự nhiên, tâm trạng an tường, nắm rõ hết cả mọi điều trên đời, có đủ tất cả đạo lý trong tự nhiên có thể dùng để giải quyết ứng phó với mọi sự việc khác nhau). Cách nói này chính là cách nói của Lão Tử. Chúng ta có thể dùng mấy câu này để chú giải về Lão Tử. Lão Tử nói: “Cốc thần bất tử”. “Cốc” tức là “hư”, “thần” tức là “linh”, “bất tử” tức là nói “hư linh bất muội”. “Kì chúng lí nhí ứng vạn sự” tức là ý “hư nhi bất khuất, động nhi dũ xuất” của Lão Tử.

Mở đầu sách “Trung dung” viết: “Mệnh trời gọi là tính, phát triển thuận theo tính gọi là đạo”. Chu Tử chú giải đưa ra hai chữ “tự nhiên”. Sách “Luận ngữ” viết: “Văn chương của thầy có thể nghe được, nhưng đối với lý luận, ngôn hành và thiên đạo của thầy thì không thể chỉ dựa vào nghe mà hiểu được”. Chu Tử chú giải cũng đưa ra hai chữ “tự nhiên”. Một chương “thiên hạ nói về tính” của Khổng Tử, Chu Tử chú giải năm lần đưa ra hai chữ “tự nhiên”, việc này ở phía trước đã nói rồi.

Lão Tử lại có hai câu “trí hư cực, thủ tĩnh đốc”, Tống Nho nói về tâm tính, khắp trang giấy đều là chữ “hư tĩnh”, chữ “tĩnh” có thể nói là trong sách “Đại học” đã có, còn chữ “hư” thì rõ ràng là lấy từ Lão Tử.

Tống Nho bắt nguồn từ ba người là Tôn Minh Phục, Hồ An Định, Thạch Thủ Đạo, giai đoạn cực thịnh là nhờ mấy người Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trương Tái. Huynh đệ họ Trình khi còn trẻ đã từng theo học Chu Tử, học thuật của họ là do Chu Tử truyền lại cho, nhưng Y Xuyên (Trình Di) làm hành trạng cho Minh Đạo (Trình Hạo) có nói: “Tiên sinh vì việc học, từ năm mười lăm, mười sáu tuổi đến nghe Chu Mậu Thúc ở Nhữ Nam bàn luận về đạo, dần dần theo nghiệp khoa cử, có chí cầu đạo, chưa biết được chỗ trọng yếu, giữa lúc xuất hiện rất nhiều học phái, ra vào đạo Lão, Thích mấy chục năm, quay lại cầu “Lục kinh”, sau đó có được”. Có thể thấy Tống học là do Trình Minh Đạo sáng tạo ra, trước thời Minh Đạo chỉ coi như là mầm mống của Tống học, đến thời Minh Đạo mới tổ chức nó thành một hệ thống, trở thành cái được gọi là Tống học. Chu Tử chẳng qua là người khơi gợi cho ý chí của Minh Đạo mà thôi. Do vậy chúng ta nghiên cứu Tống học phải bắt đầu nghiên cứu từ Minh Đạo.

Minh Đạo là ông tổ của Tống học, giống như Lão Tử là ông tổ của các học giả thời Chu Tần. Mà học thuật của Minh Đạo lại rất giống với Lão Tử. Lão Tử nói: “Thánh nhân không có lòng, thường lấy lòng thiên hạ làm lòng mình”. Minh Đạo khi viết sách về tính đã nói: “Đạo thường của trời đất là lấy lòng để chiếu khắp vạn vật mà lại vô tâm; đạo thường của thánh nhân là lấy tình có thể thay đổi thuận theo vạn vật mà lại vô tình. Cho nên đạo học của quân tử không gì bằng chí công vô tư, thuận theo tự nhiên”. Cách nói này so với Lão Tử có gì khác biệt chứ?

(còn tiếp)

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Lý Tôn Ngô – Hậu Hắc Học – NXB VH 2020

Khủng hoảng Ukraine: Vỏ bọc cho Trung Quốc ở Biển Đông?


Theo các trang mạng asiatimes.com, ndtv.com ngày 22/3, trong khi cộng đồng quốc tế đổ dồn sự quan tâm vào cuộc xung đột quân sự ở Ukraine, Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn 3 hòn đảo mà họ chiếm đóng ở Biển Đông. Bài viết trên trang mạng Asia Times cho rằng chiến sự ở Ukraine có thể đã cung cấp một vỏ bọc chiến lược cho hành động này của Bắc Kinh. Trong khi đó, báo chí Ấn Độ gần đây cho biết New Delhi và Canberra vẫn chú tâm đến “điểm nóng” này.

Đô đốc John C. Aquillino, Tư lệnh Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, hôm 20/3 nói rằng Mỹ đã quân sự hóa hoàn toàn ít nhất 3 đảo mà nước này cải tạo ở Biển Đông gồm đá Vành Khăn, đá Su Bi và đá Chữ Thập tại quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp ở Biển Đông. Thông tin này được đưa ra khi vị đô đốc này thực hiện hoạt động tuần tra ở Biển Đông bằng máy bay P-8A Poseidon của Hải quân Mỹ. Đô đốc Aquillino nói rằng Trung Quốc đã trang bị cho các thực thể này hệ thống tên lửa chống hạm và hệ thống tên lửa phòng không, thiết bị laser và gây nhiễu cùng các máy bay tiêm kích trong một động thái ngày càng gây hấn và quyết đoán hơn nhằm đe dọa tất cả các quốc gia hoạt động gần đó.

Mặc dù Bắc Kinh khăng khăng nói rằng hoạt động mở rộng quân sự của họ ở Biển Đông chủ yếu mang tính phòng thủ và nhằm bảo vệ chủ quyền mà Bắc Kinh tự đặt ra đối với các thực thể ở vùng biển tranh chấp này, song hoạt động quân sự hóa gần đây trái ngược hoàn toàn với những khẳng định mà Chủ tịch Tập Cận Bình đưa ra trước đó rằng Trung Quốc sẽ không biến những thực thể mà nước này chiếm đóng thành những căn cứ quân sự. Mục tiêu của Trung Quốc ở Biển Đông có thể được gói gọn thành 3 điểm chính:

Thứ nhất, Bắc Kinh muốn biến Biển Đông thành một “bãi đáp” cho đội tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân của nước này. Trung Quốc muốn đội tàu ngầm này hoạt động ở Tây Thái Bình Dương để đảm bảo khả năng răn đe và ngăn chặn hạt nhân đối với Mỹ.

Thứ hai, Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành một vùng đệm giữa nước này và Mỹ trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột vũ trang ở Eo biển Đài Loan. Lâu nay, Bắc Kinh vẫn coi sự tồn tại của Đài Loan không nằm dưới sự kiểm soát của Đảng Cộng sản Trung Quốc là một mối đe dọa trực tiếp nhất đối với những lợi ích cốt lõi của Đại lục. Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh mà cuối cùng sẽ được tái thống nhất với Đại lục.

Thứ ba, Trung Quốc muốn kiểm soát nguồn tài nguyên ở vùng biển tranh chấp này, gồm dầu mỏ, khí đốt, nguồn lợi thủy sản cũng như muốn kiểm soát những tuyến hải lộ mà nước này sử dụng ở Biển Đông.

Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành hoạt động quân sự hóa các thực thể mà nước này chiếm đóng ở Biển Đông cách đây 20 năm, gây quan ngại cho Mỹ và các đồng minh Thái Bình Dương của Mỹ cùng với các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Vùng biển này. Mặc dù Mỹ và các nước đồng minh vẫn thường xuyên tiến hành các hoạt động tự do hàng hải ở vùng biển này, song các nước Đông Nam Á vẫn chưa có được đồng thuận và tiếng nói chung trong việc đưa ra những phản ứng trước những hành động của Bắc Kinh, trong đó Brunei và Malaysia thường có quan điểm và giọng điệu mềm mỏng hơn, chủ trương tiến hành chính sách ngoại giao “im lặng” đối với những tuyên bố chủ quyền rộng lớn của Trung Quốc. Mặc dù Indonesia không phải là một bên trong tranh chấp ở Biển Đông, song những hoạt động của Bắc Kinh xâm phạm lãnh hải thuộc quần đảo Natuna của Indonesia vốn nằm ở cực Nam của cái gọi là “đường 9 đoạn” (mà Trung Quốc đơn phương vẽ ra) đã buộc Jakarta thể hiện lập trường cứng rắn đối với những hoạt động đánh bắt cá phi pháp của Trung Quốc ở khu vực. Đồng thời, Indonesia cũng tăng cường công cuộc hiện đại hóa quân sự của mình và tăng cường những năng lực hoạt động ở biển xa. Trong khi đó, Philippines chủ yếu dựa vào “ô an ninh” của Mỹ thông qua hiệp ước phòng thủ lẫn nhau mà hai nước ký hồi năm 1951 cũng như dựa vào luật lệ quốc tế để khẳng định chủ quyền lãnh hải của mình và để thách thức những yêu sách của Bắc Kinh.

Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông tiếp tục gia tăng do những hoạt động quân sự hóa các thực thể nói trên của Trung Quốc, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Thủ tướng Australia Scott Morrison đã kêu gọi hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) mang tính hiệu quả và hoàn toàn phù hợp với luật lệ quốc tế. Lời kêu gọi này được đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh trực tuyến giữa hai nhà lãnh đạo của Ấn Độ và Australia hôm 21/03. Thông cáo chung của Bộ Ngoại giao Ấn Độ có đoạn: “Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có thể thực hiện các quyền và tự do ở tất cả các vùng biển và đại dương của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) bao gồm quyền tự do hàng hải và hàng không. Họ đã kêu gọi thiết lập một COC hiệu quả, thực chất và hoàn toàn phù hợp với luật lệ quốc tế…”.

Tuy nhiên, hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh rằng những tranh chấp lãnh hải chỉ có thể được giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình và rằng các nước cần tự kiềm chế trong việc tiến hành những hoạt động có thể làm phức tạp tình hình hoặc làm leo thang căng thẳng, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định khu vực. Hai thủ tướng bày tỏ cam kết chung đối với một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở và dựa trên luật lệ, ủng hộ một cấu trúc khu vực mạnh mẽ, trong đó ASEAN đóng vai trò trung tâm. Thủ tướng Modi và người đồng cấp Australia cũng tái cam kết đối với một khu vực thịnh vượng và bao trùm trong đó chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của tất cả các nước cần được tôn trọng và các nước không bị o ép về mặt quân sự, kinh tế và chính trị. Ngoài ra, hai thủ tướng nhấn mạnh cam kết hợp tác trong khuôn khổ nhóm Bộ tứ cùng với Mỹ và Nhật Bản để thúc đẩy hơn nữa quá trình triển khai chương trình nghị sự đầy tham vọng của nhóm vì sự thịnh vượng và ổn định trong khu vực.

Nguồn: TKNB – 25/03/2022