Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần cuối


Dự kiến bố trí nhân sự ngoại giao thời gian tới

Tờ Minh báo của Hong Kong phân tích, nhìn về độ tuổi, Dương Khiết Trì và Vương Nghị đã lần lượt 67 tuổi và 64 tuổi, chỉ có thể giữ chức một khóa. Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đã gần 65 tuổi, hơn thế đã được bầu là ủy viên chủ nhiệm Ủy ban Ngoại sự Nhân đại toàn quốc. Cho nên, Trương Nghiệp Toại giữ chức ở Bộ Ngoại giao chỉ là quá độ, sẽ rất nhanh rút về tuyến hai. Trong tương lai người có thể kế thừa Dương Khiết Trì và vương Nghị, nhân vật “nóng” đầu tiên chính là đương kim Trưởng Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Tống Đào (Song Tao).

Tống Đào từng làm việc ở trường đại học, cơ quan nghiên cứu khoa học, huyện ủy, doanh nghiệp ngoại thương và từng lưu học tại Australia, hiện được đánh giá là cán bộ có năng lực chuyên môn, trình độ học vấn cao và được rèn luyện qua nhiều cương vị công tác. Năm 2000, Tống Đào được tuyển chọn và sau đó được bổ nhiệm làm Đại sứ Trung Quốc tại Philippines. Sau năm 2008, Tống Đào được đưa lên giữ chức Bí thư Ban Kỷ luật, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Năm 2013, Tống Đào được điều động giữ chức Phó Chủ nhiệm Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, năm 2014, được đưa lên cấp bộ trưởng với chức phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Tiểu Ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự và năm 2015 được điều động sang Ban Liên lạc đối ngoại trung ương. Tống Đào năm nay 63 tuổi, theo nhu cầu công việc, độ tuổi của các chức vụ cơ quan đảng vụ được mở rộng thích hợp, đến Đại hội XX sẽ là 67 tuổi, có thể được đưa lên giữ chức vụ cao hơn và nhiều khả năng sẽ thay Dương Khiết Trì giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác Ngoại sự Trung ương.

Nhân vật thứ hai là Lạc Ngọc Thành, 54 tuổi. Lạc Ngọc Thành giữ chức vụ cấp thứ trưởng gần 4 năm, đã qua mặt nhiều vị thứ trưởng lão luyện, giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Sự sắp xếp này của Tập Cận Bình chính là để Lạc Ngọc Thành thay Vương Nghị giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao khóa sau. Hơn thế, tại Đại hội XIX, Lạc Ngọc Thành được bầu là ủy viên Trung ương dự khuyết. Tuy nhiên, vẫn còn một quan chức khác có thể thay thế Vương Nghị. Đó chính là cựu Trợ lý ngoại trưởng đã chuyển chiến tuyến sang hệ thống kiểm tra kỷ luật là Lưu Kiến Siêu (Liu Jianchao). Mới đây, Lưu Kiến Siêu đang giữ chức Bí thư Ban kỷ luật Tỉnh ủy Chiết Giang đã được đưa về Bắc Kinh giữ chức phó Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, trực tiếp phục vụ lãnh đạo cấp cao. Đây chính là sự sắp xếp của Tập Cận Bình để bồi dưỡng Lưu Kiến Siêu. Giống như Lạc Ngọc Thành, trong tương lai Lưu Kiến Siêu sẽ là nhân vật quan trọng trong hệ thống ngoại giao và cũng là ứng cử viên thay Vương Nghị giữ chức Ngoại trưởng khóa tới.

Ngoại giao – mặt trận thứ hai sau chống tham nhũng của Tập Cận Bình

Trong nhiệm kỳ thứ hai, Tập Cận Bình đặc biệt coi trọng lĩnh vực ngoại giao. Đây có thể là mặt trận thứ hai của Tập Cận Bình sau chiến dịch chống tham nhũng được triển khai ngay từ khi Tập Cận Bình mới lên nắm quyền.

Nguyệt san Ngoại tham bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, nhận định, Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị được đưa lên giữ chức Ủy viên Quốc vụ (chức vụ riêng có của Trung Quốc, trên bộ trưởng dưới Phó thủ tướng) chính là Tập Cận Bình đã khôi phục lại mô hình của Tiền Kỳ Tham 25 năm trước. Điều này không chỉ là nổi bật địa vị của Bộ Ngoại giao trong hệ thống Quốc Vụ viện (Chính phủ), mà còn tạo thành tổ hợp Dương Khiết Trì – Vương Nghị cùng phụ trách lĩnh vực ngoại giao ở hai hệ thống Đảng và Chính phủ. Đây là minh chứng cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng lĩnh vực ngoại giao trong công tác toàn cục.

Chuyên gia vấn đề Trung Quốc thuộc trường Đại học George Washington, giáo sư David Shambaugh (tên tiếng Trung là Thẩm Đại Vĩ) phân tích, Trung Quốc hiện nay tập trung cho phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa, điều này không chỉ đồng nghĩa với việc phải nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, mà một khẩu ngữ đặc biệt quan trọng là nâng tầm sức ảnh hưởng quốc tế. Bố trí nhân sự và cải cách mở rộng thể chế ngoại giao của Trung Quốc hiện nay cũng là để thích ứng với nhu cầu này. Theo giáo sư David Shambaugh, bằng chứng cụ thể nhất cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu coi trọng công tác ngoại giao là trong cải cách Đảng, chính quyền, quân đội, đã thành lập Văn phòng Hợp tác quân sự quốc tế Quân ủy Trung ương. Cải cách cơ cấu Quốc Vụ viện đã thành lập Cục phát triển hợp tác quốc tế, ngoài nghiệp vụ thường nhật, còn đảm nhận viện trợ quân sự và viện trợ tài chính. Đáng chú ý hơn là trong cải cách cơ quan Đảng lần này, Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại đã được nâng cấp thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương phụ trách ngoại giao của Đảng đã thiết lập thêm cơ quan mới là Cục điều phối ngoại sự các đảng.

Tại hệ thống Quốc Vụ viện trong cải cách cơ cấu đợt này cũng đã làm nổi bật vai trò và vị thế của công tác đối ngoại, nhất là công tác ngoại giao kinh tế. Ví như, ngoài Bộ Thương mại phụ trách ngoại thương ra, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, đều thiết lập thêm cơ cấu mở rộng công tác đối ngoại, lần lượt là Vụ Kinh tế quốc tế Bộ Ngoại giao, Vụ Quan hệ kinh tế quốc tế và Vụ Hợp tác tài chính quốc tế Bộ Tài chính. Những cơ quan này phụ trách xử lý công việc của các sân chơi như G20, APEC, BRICS. Theo giáo sư David Shambaugh, trong công tác ngoại giao kinh tế, Phó Thủ tướng Lưu Hạc đóng vai trò mấu chốt, trực tiếp triển khai thực hiện quyết sách liên quan và báo cáo với Tập Cận Bình. Hiển nhiên, phía sau Lưu Lạc còn có Vương Kỳ Sơn, có kinh nghiệm phong phú trong lĩnh vực kinh tế quốc tế hỗ trợ.

Liên quan đến vấn đề này, tờ Minh báo (Hong Kong) cho biết, trong 5 năm cầm quyền tiếp theo, Tập Cận Bình sẽ cùng với Vương Kỳ Sơn coi lĩnh vực ngoại giao là mặt trận thứ hai sau chiến dịch chống tham nhũng. Như vậy, lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước là Tập Cận Bình, cùng với lãnh đạo tối cao cảu Quốc Vụ viện (Chính phủ) là Lý Khắc Cường đều trở thành lãnh đạo thượng tầng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này không chỉ thể hiện Trung Quốc đặc biệt coi trọng ngoại giao chính trị, mà còn chú trọng ngoại giao kinh tế. Hơn thế, Lý Khắc Cường thay vị trí vốn có của Phó Chủ tịch nước giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương chính là Tập Cận Bình muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác ngoại giao và Quốc Vụ viện không thể đứng ngoài cuộc chơi.

Theo Minh báo, bố trí Lý Khắc Cường mà không phải là Vương Kỳ Sơn thay Lý Nguyên Triều, giữ chức phó Chủ nhiệm Ủy ban ngoại sự Trung ương đã phản ánh tư duy của Tập Cận Bình trong lĩnh vực ngoại giao là Trung ương tăng cường thiết kế đỉnh cao đối với công tác ngoại sự. Tờ Thời báo học tập của trường Đảng trung ương mới đây đăng bài viết thừa nhận, so với Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác ngoại sự, chức năng của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương nhiều hơn, bố trí cơ cấu quy phạm hơn, thành viên tham dự đa nguyên, điều phối thống nhất có hiệu lực hơn, quyền uy quyết sách nghị sự cao hơn. Đây chính là bước đi đáp ứng yêu cầu công tác ngoại giao thời đại mới của Trung Quốc hiện nay, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc tập trung triển khai sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Liên quan đến bố trí nhân sự và cải cách cơ cấu trong hệ thống ngoại giao của Trung ương hiện nay, nguồn thạo tin Trung Quốc cho biết, Vương Kỳ Sơn ngoài chức phó Chủ tịch, còn giữ chức ủy viên Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Điều này cho thấy Vương Kỳ Sơn đã thực sự trở thành một trong những người xây dựng các quyết sách quan trọng của nền ngoại giao Trung Quốc hiện nay. Theo đó, Vương Kỳ Sơn có toàn quyền kiểm soát ngành ngoại giao cũng như chịu trách nhiệm về chiến lược ngoại giao trước Tập Cận Bình. Ví dụ điển hình là Ủy viên Quốc vụ, Ngoại trưởng Trung Quốc mới đây thăm Nhật Bản chính là thực hiện theo yêu cầu của Vương Kỳ Sơn, mục đích nhằm cải thiện quan hệ Trung – Nhật.

Theo nguồn thạo tin Trung Quốc, Lý Khắc Cường giữ chức Phó Chủ nhiệm Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương là sự bố trí khéo léo, hợp lý, đảm bảo bộ máy ngoại giao của Trung Quốc do Tập Cận Bình lãnh đạo luôn kiên cố và ổn định. Thứ nhất, Tập Cận Bình tránh được sự công kích của những người bất đồng chính kiến về việc làm “trống rỗng” quyền lực của Thủ tướng Lý Khắc Cường do Lý Khắc Cường là người của phái “Đoàn Thanh niên”. Thứ hai, ngoại giao là lĩnh vực liên quan đến bên ngoài, thành bại luôn tồn tại rủi ro lớn, Lý Khắc Cường đứng trong tầng quyết sách ngoại giao đồng nghĩa với gánh vác một phần trách nhiệm thất bại trong hoạt động đối ngoại. Thứ ba, Tập Cận Bình muốn đưa thông điệp ngoại giao kinh tế không kém phần quan trọng so với ngoại giao chính trị, là người đứng đầu Quốc Vụ viện, Lý Khắc Cường không thể đứng ngàoi cuộc. Ngoài ra, để tăng cường công tác ngoại sự, Tập Cận Bình sẽ tận dụng mọi nguồn lực trong hệ thống Quốc Vụ viện.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Advertisements

Bước đại nhảy vọt lùi của Trung Quốc – Phần đầu


Jonathan Tepperman

Trong suốt hàng thập kỷ, Trung Quốc đã tìm cách tránh khỏi hầu hết các vấn đề mà những chế độ độc tài gặp phải. Giờ đây, cuộc chơi quyền lực cá nhân của Tập Cận Bình có nguy cơ làm suy yếu tất cả những gì từng giúp Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ.

Trong 40 năm qua, Trung Quốc đã tích lũy được một danh sách dài những thành tựu nổi bật của mình. Trong giai đoạn 1978 – 2013, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình là 10%/năm, khiến thu nhập trung bình của người trưởng thành tăng gấp 10 lần. Sự tăng trưởng như vậy đã giúp khoảng 800 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo đói; đồng thời, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh của Trung Quốc cũng giảm 85% và tuổi thọ trung bình của nước này tăng thêm 11 năm.

Điều khiến cho tất cả những thành tựu này trở nên nổi bật hơn là việc Chính phủ Trung Quốc đã đạt được chúng trong khi vẫn duy trì nền chính trị đàn áp – điều được cho là rất khó xét theo tiền lệ lịch sử và lý thuyết chính trị. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi học giả về Trung Quốc Orville Schell mô tả bảng thành tích này là “một trong những phép lạ gây sửng sốt nhất về phát triển kinh tế trong lịch sử thế giới”.

Sự phi thường trong những thành tựu của Trung Quốc khiến cho những gì đang diễn ra ở đất nước này hiện nay đặc biệt bi thảm và đáng báo động. Với vỏ bọc chống tham nhũng, Chủ tịch Tập Cận Bình đang xóa bỏ một cách có hệ thống gần như mọi cải cách đã giúp Trung Quốc tăng trưởng ngoạn mục như vậy trong 4 thập kỷ qua. Nhằm thay thế một hệ thống còn thiếu sót nhưng rất thành công, ông đang gây dựng sự sùng bái cá nhân với quy mô rất lớn chỉ xoay quanh mình ông, tập trung trong tay quyền lực nhiều hơn bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào kể từ thời Mao Trạch Đông.

Trong ngắn hạn, những nỗ lực của Tập Cận Bình có thể khiến Trung Quốc dường như bớt tham nhũng và trở nên ổn định hơn. Nhưng bằng việc phá hủy nhiều cơ chế từng khiến phép màu Trung Quốc có thể trở thành hiện thực, Tập Cận Bình có nguy cơ đảo ngược những thành quả đó và biến Trung Quốc thành một nhà nước khác theo “chế độ dùi cui” (hãy nghĩ tới một Triều Tiên phiên bản lớn và cởi mở hơn): yếu kém, thiếu hiệu quả, dễ vỡ và hiếu chiến. Và điều đó không chỉ khiến 1,4 tỷ công dân Trung Quốc mà còn cả những người khác phải lo ngại.

Để hiểu được điều gì khiến cho chiến dịch xây dựng đế chế cá nhân của Tập Cận Bình trở nên nguy hiểm đến thế, trước hết nên hiểu điều gì đã khiến cho Trung Quốc trở thành một trường hợp ngoại lệ trong thời gian dài đến vậy. Trong suốt lịch sử hiện đại, hầu hết các nhà độc tài và các nước độc đảng đều có chung một vài đặc điểm cơ bản. Quyền lực do một số rất nhỏ các cá nhân nắm giữ. Để duy trì quyền lực của mình, những cá nhân này đàn áp sự bất đồng quan điểm và cai trị bằng sự đe dọa. Vì cả quan chức lẫn người dân đều sống trong sợ hãi, nên họ cạnh tranh lẫn nhau để tâng bốc ông chủ của mình. Không ai nói ra sự thật, đặc biệt khi điều đó có thể làm xấu đi hình ảnh của họ hoặc các nhà lãnh đạo của họ. Kết quả là những bạo chúa ẩn dật – cái tôi của họ được những lời khen ngợi xum xoe không ngớt thổi phồng – nhận thấy mình ngày càng rời xa thực tế và phần còn lại của thế giới (hãy nghĩ tới Kim Jong-un, Bashar al-Assad hay Robert Mugabe) và cuối cùng cai trị bằng ý nghĩ nhất thời và bản năng, mà hầu như không có chút cảm giác nào về những gì đang thực sự diễn ra ở đất nước họ. Sự thiếu hiểu biết này có tác động tai hại đối với chính sách đối nội và đối ngoại.

Trong khoảng 35 năm – từ khi Mao Trạch Đông qua đời và Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách của mình vào cuối những năm 1970 cho tới khi Tập Cận Bình lên nắm quyền vào năm 2012 – Trung Quốc đã tránh khỏi rất nhiều cạm bẫy trong số này và thách thức quy luật về tính trung bình trong chính trị bằng cách xây dựng cái mà các học giả gọi là chế độ “chuyên quyền thích ứng”. Trong khi vẫn đi theo chủ nghĩa cộng sản trên danh nghĩa, quốc gia này đã đón nhận chủ nghĩa tư bản thị trường dưới nhiều hình thức và một số cải cách tự do hóa khác. Đương nhiên, hệ thống cũ vẫn rất hà khắc (hãy nhớ đến quảng trường Thiên An Môn) và còn lâu mới đạt đến sự hoàn hảo trên nhiều phương diện khác. Tuy nhiên, nó quả thực đã cho phép Chính phủ Trung Quốc hoạt động hiệu quả khác thường và tránh khỏi nhiều biểu hiện lệch lạc thường thấy ở các chế độ chuyên chế. Chẳng hạn, quyền kiểm duyệt chưa bao giờ biến mất, nhưng các đảng viên có thể không đồng tình và tranh luận về các ý tưởng, và những báo cáo nội bộ có thể thẳng thắn đến mức đáng ngạc nhiên.

Điều đó giờ đây không còn nữa. Ngày nay, Tập Cận Bình đang làm suy yếu một cách có hệ thống hầu hết những đặc tính từng khiến Trung Quốc trở nên khác biệt và từng giúp nước này vận hành tốt đến như vậy trong quá khứ. Những nỗ lực của ông có thể thúc đẩy quyền lực và uy tín của chính ông trong ngắn hạn và giảm bớt tình trạng tham nhũng dưới một số hình thức. Tuy nhiên, nhìn chung, chiến dịch của Tập Cận Bình sẽ gây ra những hậu quả tai hại về lâu dài đối với đất nước của ông và với thế giới.

Có lẽ đặc tính khác thường nhất của hệ thống do Đặng Tiểu Bình tạo dựng là cách nó phân bổ quyền lực giữa các nhà lãnh đạo khác nhau. Thay vì để cho một người thực thi quyền lực tối cao giống như hầu hết các chế độ độc tài, Đặng Tiểu Bình phân chia quyền lực cho Tổng bí thư Đảng Cộng sản (người đồng thời giữ chức Chủ tịch nước), Thủ tướng và Bộ Chính trị.

Đặng Tiểu Bình hy vọng hệ thống này sẽ bảo đảm rằng không một cá nhân nào có thể một lần nữa thực thi quyền kiểm soát theo kiểu Mao Trạch Đông – vì quyền lực không được kiểm soát của ông đã dẫn tới những sự lạm dụng và những sai lầm lớn, chẳng hạn như Đại nhảy vọt (ước tính đã có 45 triệu người thiệt mạng trong giai đoạn này) và Cách mạng Văn hóa (trong giai đoạn này, chính Đặng Tiểu Bình cũng bị thanh trừng và con trai ông bị tra tấn nặng nề dẫn tới tàn tật). Theo cách lý giải của Bùi Mẫn Hân, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Đại học Claremont McKenna, mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng Tiểu Bình đã thiết kế giúp loại bỏ những ý tưởng tồi tệ và thúc đẩy những ý tưởng tốt bằng cách nhấn mạnh sự suy tính thận trọng và ngăn chặn sự mạo hiểm.

Từ khi nắm quyền vào năm 2012, Tập Cận Bình đã có những hành động nhằm dỡ bỏ hệ thống lãnh đạo tập thể của Trung Quốc theo nhiều cách. Thứ nhất, trên danh nghĩa chống tham nhũng – một mục tiêu quan trọng mà Trung Quốc rất cần theo đuổi – ông đã thanh trừng với số lượng lớn các quan chức mà tội ác thực sự của họ, theo quan điểm của Tập Cận Bình, là không thể hiện đầy đủ sự trung thành đối với nhà lãnh đạo tối cao. Mạnh Hoành Vĩ, người đứng đầu Interpol bị Trung Quốc đột ngột bắt giữ gần đây, chỉ là trường hợp đáng chú ý diễn ra gần đây nhất: câu chuyện của ông hầu như chẳng có gì khác thường.

Trong 6 năm qua, đã có 1,34 triệu quan chức – một con số đáng kinh ngạc – trở thành mục tiêu của chiến dịch này, và hơn 170 lãnh đạo cấp bộ trưởng hoặc thứ trưởng đã bị cách chức (và phần lớn bị cầm tù). Cảnh ngộ của Mạnh Hoành Vĩ, giống như tình cảnh của Bạc Hy Lai – bí thư thành ủy Trùng Khánh đầy quyền lực bị hạ bệ vào năm 2012 – cho thấy cuộc thanh trừng của Tập Cận Bình không chừa một ai. Quả thật, số lượng ủy viên Ban chấp hành Trung ương đầy quyền lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc bị xử lý kỷ luật từ năm 2012 đến nay còn nhiều hơn trong toàn bộ giai đoạn tính từ đó trở về Cách mạng Cộng sản.

Không hài lòng với việc chỉ loại bỏ mọi sự cạnh tranh, Tập Cận Bình còn củng cố quyền lực của mình bằng việc loại bỏ giới hạn về nhiệm kỳ đối với chức vụ của ông và từ chối chỉ định người kế nhiệm như những người tiền nhiệm đã làm vào giữa nhiệm kỳ của họ. Ông cũng đã đưa “Tư tưởng Tập Cận Bình” vào Hiến pháp Trung Quốc (một vinh dự mà ngoài ông ra chỉ có Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình có được); nắm quyền kiểm soát trực tiếp các lực lượng vũ trang; và biến mình thành “chủ tịch của mọi thứ” bằng cách thành lập nhiều nhóm công tác về các chính sách từ tài chính, vấn đề Đài Loan cho tới an ninh mạng – tất cả đều chịu trách nhiệm trực tiếp trước ông.

Đặc tính quan trọng thứ hai của hệ thống cũ là các quan chức ở mọi cấp đều có thể trông đợi được tưởng thưởng nếu đạt thành tích tốt. Đây không hẳn là chế độ nhân tài, và trong hệ thống này vẫn tồn tại tình trạng tham nhũng và bảo trợ ở mức độ khá lớn. Nhưng cả hai đặc tính này thực sự phục vụ cho điều tốt đẹp chung theo một cách chính: Nếu một quan chức đạt thành tích tốt, thì người đó có thể trông đợi nhận được một phần tiền thu được và được đề bạt đều đặn. Trái lại, Tập Cận Bình đã “thay thế hệ thống dựa trên sự khích lệ này bằng hệ thống dựa trên sự sợ hãi, theo cách nói của Bùi Mẫn Hân. Và sự thay đổi này có 2 vấn đề lớn. Thứ nhất, nó bóp méo ưu tiên của các quan chức, từ việc cho thấy thành quả sang việc thể hiện lòng trung thành. Vấn đề thứ hai, theo Alexander Gabuev, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Carnegie Moskva, là “khi chẳng còn gì khác ngoài nỗi sợ hãi, các quan chức sẽ hoảng sợ đến mức không làm bất kỳ việc gì nếu không có chỉ thị rõ ràng từ cấp trên. Vậy là cả bộ máy quan liêu trở nên bị động. Họ chẳng làm được bất ỳ việc gì”.

(còn tiếp) 

Nguồn: https://foreignpolicy.com/2018/10/15/chinas-great-leap-backward-xi-jinping/

TLTKĐB – 24/10/2018

Việt Nam tận dụng xung đột Mỹ – Trung để tái cân bằng quan hệ kinh tế và an ninh


Cả châu Á đều chung tâm trạng “thấp thỏm” khi Trung Quốc và Mỹ chưa chắc liệu sau thời hạn “ngừng chiến” 90 ngày có tháo gỡ được bế tắc liên quan đến cuộc xung đột thương mại hay không. Trong khi đó, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc đang làm thay đổi mối quan hệ của Việt Nam với nước láng giềng phương Bắc và tạo điều kiện để Hà Nội đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế và an ninh.

Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc để thúc đẩy nền kinh tế đang phát triển nhanh chóng vì đây là đối tác thương mại lớn nhất. Tuy nhiên, có dấu hiệu cho thấy Hà Nội đang tái cân bằng mối quan hệ này.

Người dân đã phản ứng trước dự luật thành lập 3 đặc khu, dẫn đến cuộc biểu tình rầm rộ hồi tháng 6 để phản đối kế hoạch được xem là tạo điều kiện cho Trung Quốc hiện diện trên lãnh thổ Việt Nam. Quốc hội Việt Nam đã hoản bỏ phiếu vào tháng 10/2018 và lặng lẽ trì hoãn lần nữa việt xem xét dự luật này cho đến tháng 5/2019. Động thái này được coi là dấu hiệu cho thấy Việt Nam cảnh giác hơn với ảnh hưởng của Trung Quốc và đang lợi dụng sự cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc để tái cân bằng mối quan hệ.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và phát triển quốc tế (CSSD) tại Hà Nội cho rằng về mặt chính trị, việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc rất tốt cho Việt Nam: “Quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nếu tốt đẹp thì không hẳn là tốt cho Việt Nam, mà xấu đi cũng không phải là điều tệ với Việt Nam. Với những quốc gia nhỏ như Việt Nam, quan hệ tốt đẹp giữa hai cường quốc lại có khía cạnh nguy hiểm hơn. Dưới thời Obama, khi Mỹ và Trung Quốc có quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc đã cố gắng làm những việc rất có hại liên quan đến các đảo nhân tạo trên Biển Đông”.

Có ý kiến cho rằng lời lẽ phản đối của Hà Nội đối với Bắc Kinh liên quan đến những tranh chấp trên biển cũng quyết liệt hơn khi Việt Nam có quan hệ với một nước Mỹ quyết đoán hơn.

Chiến lược về thương mại

Trong thương mại, Việt Nam đã không bỏ lỡ cơ hội bùng phát cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung để trở thành điểm đến hàng đầu cho các nhà sản xuất muốn tránh đòn thuế quan.

Ông John Rockkeep, giám đốc Phòng Thương mại Mỹ chi nhánh TPHCM, cho biết ông đã chứng kiến sự gia tăng lớn về số lượng các công ty quan tâm đến việc chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc đến Việt Nam. Từ tháng 9/2018, cứ mỗi tuần, có 4 công ty tiếp cận chi nhánh của ông để được tư vấn về việc chuyển đến Việt Nam – gấp 4 lần so với các tháng trước.

Zhang Zhang Diansheng, tổng giám đốc Trung tâm dịch vụ kinh doanh Hàng Sinh, cho biết hiện tượng chuyển dịch sản xuất bắt đầu vào cuối tháng 8/2018, nhưng sự gia tăng cực kỳ rõ ràng. Trong 3 tháng, Zhang nhận được câu hỏi từ hơn 100 công ty, gấp 2 đến 3 lần số vụ so với cùng thời điểm năm ngoái. Ông tin rằng đây mới chỉ là sự khởi đầu, vì thỏa thuận đình chiến giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ là tạm thời và xung đột thương mại là không thể ngăn chặn được.

Cuộc chiến thương mại cũng nêu bật tình trạng phụ thuộc kinh tế mang tính lịch sử của Việt Nam vào Trung Quốc và làm tăng rủi ro cho Việt Nam. Lý do là càng nhiều công ty chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam, thì càng nhiều khả năng Washington sẽ từ chối các sản phẩm của Việt Nam.

Vì vậy, cuộc chiến thương mại càng củng cố quyết tâm của Việt Nam đa dạng hóa các rủi ro và thúc đẩy phát triển dựa trên nỗ lực tích cực theo đuổi các hiệp định thương mại với nhiều đối tác.

Ông Max Maxfield Brown, người đứng đầu đơn vị tình báo kinh doanh Dezan Shira Muff phụ trách khu vực ASEAN, cho rằng không phải ngẫu nhiên mà Việt Nam đã cố gắng phát triển mối quan hệ với các đối tác đầu tư lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đài Loan. Từ góc độ đầu tư, Việt Nam đang lấy những đối tác này làm đối trọng với Trung Quốc mà không phải hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam.

Trong những năm gần đây, Việt Nam cũng ráo riết theo đuổi các hiệp định thương mại lớn cũng như tăng số lượng đối tác. Tháng này, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định thương mại đối tác toàn diện và tiến bộ (CPTPP – không có Trung Quốc và Mỹ) và trong năm nay cũng đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU.

Brown nói: “Đây không phải là cơ hội để Việt Nam trở thành một thế lực thống trị khu vực, vì vẫn còn Trung Quốc ở đây, nhưng Việt Nam có thể chơi bài của mình để trở thành nền kinh tế thực sự phát triển và thành công”.

Quan hệ đối ngoại

Hà Nội đã cố gắng áp dụng chính sách đa dạng hóa-đa phương hóa trong quan hệ ngoại giao. Sách lược này cũng giúp Việt Nam chống lại Trung Quốc.

Zhang Jie, nhà nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, nói: “Thiếu lòng tin chính trị với Bắc Kinh, trong khi an ninh không đủ mạnh, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước khác để lấy làm đối trọng với Trung Quốc”.

Ở Biển Đông, Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ một giải pháp đa phương thông qua bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN và đã tìm thấy sự ủng hộ từ chính quyền Trump quyết đoán hơn.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã gặp nhau tại Thượng Hải vào tháng 11, cam kết tăng cường quan hệ song phương, nhưng điều đó không ngăn được nhà lãnh đạo Việt Nam nêu ra những vấn đề nhạy cảm như Biển Đông.

Chỉ vài ngày sau đó, Bắc Kinh đã bị cả Washington và Hà Nội đả kích vì những động thái trên quần đảo Trường Sa: Việt Nam yêu cầu Trung Quốc ngừng vận hành các trạm thời tiết mới trên các đảo nhân tạo, nói rằng hành động của Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này; Washington lặp lại những lời chỉ trích của Việt Nam trong một động thái chưa từng có, yêu cầu Trung Quốc gỡ bỏ các cơ sở tên lửa khỏi Trường Sa, dù tại Washington vừa diễn ra cuộc họp cấp cao Mỹ – Trung về vấn đề an ninh.

Việt Nam và một Washington ngày càng quyết đoán đang tìm kiếm nhiều hiệp lực hơn trong lĩnh vực an ninh.

Tại hội nghị cấp cao ASEAN ở Singapore vào giữa tháng 11/2018, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã gặp Phó tổng thống Mỹ Mike Pence và cảm ơn Mỹ vì ủng hộ quan điểm của ASEAN về vấn đề Biển Đông. Về phía mình, ông Pence cam kết bảo vệ quyền tự do hàng hải trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Theo ông Dereck Grossman, nhà phân tích quốc phòng cao cấp của RAND Corporation, Hà Nội đã tăng cường quan hệ quốc phòng với nhiều cường quốc – bao gồm và đáng kể nhất là với Mỹ – để làm phức tạp mọi nỗ lực của Trung Quốc nhằm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông trong tương lai.

Collin Koh, chuyên gia nghiên cứu tại Chương trình An ninh Hàng Hải thuộc Đại học Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, bình luận Việt Nam là một trong những tiếng nói lớn nhất ở châu Á trong việc chống lại Bắc Kinh trên biển: “Việt Nam liên tục lên tiếng bất cứ khi nào có vấn đề gì xảy ra ở Biển Đông. Việt Nam đã phản ứng, trong khi các bên liên quan khác chỉ im lặng, và vì thế, Trung Quốc sẽ không muốn làm cho to chuyện thêm nữa”.

Song song với chiến lược đối ngoại đa dạng hóa – đa phương hóa, Việt Nam vẫn tuân thủ các nguyên tắc cốt lõi của mình như chính sách “ba không”: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất kỳ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Ngay cả không có Mỹ, Việt Nam cũng vẫn tiếp tục đa dạng hóa các đối tác an ninh – điều này giúp Việt Nam đối phó với những bất đồng trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong chuyến thăm của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind đế Việt Nam tháng trước, lãnh đạo hai nước đã nhất trí thúc đẩy hợp tác thương mại và tăng cường hợp tác về dầu khí và quốc phòng. Tổng thống Ấn Độ cũng tuyên bố hai nước có tầm nhìn chung về khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với cam kết tự do hàng hải và thương mại trên biển.

Cái giá cho Việt Nam

Năm ngoái, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đề nghị Việt Nam tăng mua vũ khí để giảm thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng chưa có thỏa thuận nào được công bố.

Ông Koh Koh nói: “Chính phủ Việt Nam không thể hiện là quá thân thiết với Mỹ. Ông Trump muốn bán vũ khí, nhưng vấn đề là Việt Nam không có khả năng mua được. Thay vào đó, Việt Nam có thể sẽ tập trung vào các giao dịch mua hàng ở “cấp độ thấp” như các thiết bị điện tử, thay vì các mặt hàng rất đắt đỏ. Việt Nam không muốn quá “chịu ơn” Mỹ, mà hướng đến mục tiêu duy trì một cơ sở đối tác cung cấp vũ khí đa dạng, từ Hàn Quốc đến Ấn Độ và chủ yếu là từ nguồn vũ khí truyền thống là Nga”.

Theo Reuters, Việt Nam đã mua hơn 1 tỷ USD vũ khí Nga vào tháng 9/2018 và cũng đã mua tầu ngầm tấn công, tàu chiến và máy bay chiến đấu phản lực từ Nga.

Zhang Jie thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung, việc tái cân bằng để thoát khỏi Trung Quốc sẽ xảy ra, nhưng các nước nhỏ như Việt Nam lo sợ mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát: “Đối với Việt Nam, sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ thực sự có lợi ở một mức độ nào đó và Hà Nội có thể tận dụng điều đó để chống lại Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dễ dàng thay đổi mối quan hệ. Trung Quốc sẽ không nhượng bộ Việt Nam về vấn đề Biển Đông chỉ vì sự canh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Dù căng thẳng, Việt Nam và Trung Quốc vẫn dựa vào sự trao đổi giữa hai đảng Cộng sản ở hai nước, cũng như các hình thức hợp tác có giới hạn khác”.

Nguồn: The South China Morning Post – 11/12/2018

TKNB – 13/12/2018

Về thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay – Phần đầu


Sau Đại hội XIX (tháng 10/2017) và nhất là sau kỳ họp “Lưỡng hội” (tháng 3/2018), dựa vào bố trí nhân sự và cải cách cơ quan Đảng và Nhà nước, Tập Cận Bình đã hình thành thế trận ngoại giao hoàn toàn mới. Trong đó, không chỉ bộc lộ phương hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc, mà còn cho thấy Tập Cận Bình bắt đầu tập trung cho lĩnh vực ngoại giao, coi ngoại giao là “mặt trận thứ hai” của Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn sau chiến dịch chống tham nhũng.

Thế trận tổng thể ngoại giao của Trung Quốc hiện nay

Dư luận và truyền thông Hong Kong cho rằng, điểm nổi bật trong thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là thể hiện sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong công tác ngoại giao, đồng thời xác lập thể chế Đảng quản ngoại giao, còn Chính phủ, Nhân đại (Quốc hội) chỉ là cơ quan phối hợp chấp hành.

Từ góc độ cơ chế và tổ chức, tờ Đông phương, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, phân tích: Tiểu ban Lãnh đạo Trung ương về công tác đối ngoại thay đổi thành Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, bản chất là trở thành cơ cấu tầng cao thống lĩnh công tác ngoại giao. Văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương trở thành khu vận hành trung ương, đứng trên chỉ đạo các đơn vị liên quan đến ngoại giao như Bộ Ngoại giao, Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương, Hiệp hội hữu nghị đối ngoại, Nhà sử học, chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc, Chương Lập Phàm nêu rõ, từ Tiểu ban lãnh đạo Trung ương về công tác bảo vệ quyền lợi biển đã không còn là cơ quan riêng rẽ, mà sáp nhập với Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, mọi chức trách liên quan của Tiểu ban này do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương và văn phòng ủy ban này đảm nhận. Trong Văn phòng Ủy ban ngoại sự Trung ương thiết lập văn phòng công tác bảo vệ quyền lợi biển. Đây là bước đi của Trung ương Đảng nhằm tập trung thống nhất hơn nữa tài nguyên và nguồn lực ngoại giao, đồng thời mở rộng quyền lực của Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương. Theo đó, mọi công tác liên quan bảo vệ quyền lợi biển đều do Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương thống nhất vạch kế hoạch và đưa ra bố trí tổng thể, các cơ quan liên quan trong hệ thống Quốc Vụ viện và Nhân đại chịu trách nhiệm thực thi.

Từ góc độ bố trí nhân sự, nguyệt san Minh kính, có trụ sở tại New York (Mỹ), bản tiếng Trung phát hành tại Hong Kong, dẫn lời chuyên gia về vấn đề chính trị Trung Quốc sống ở Mỹ, Hà Tần phân tích, trong 5 năm qua, thể chế lãnh đạo ngoại giao của Trung Quốc là 2 cấp. Tức phía dưới lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình là ủy viên Quốc vụ phụ trách ngoại giao Dương Khiết Trì. Khi đó, Dương Khiết Trì cùng với Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Lật Chiến Thư và Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu chính sách Trung ương Vương Hộ Ninh tạo thành “cỗ xe tam mã” hộ tống lãnh đạo tối cao Tập Cận Bình trong các trường hợp ngoại giao quốc tế. Tuy nhiên, từ sau Đại hội XIX đến tháng 3/2018, cục diện này đã có sự thay đổi lớn, Dương Khiết Trì được đưa vào Bộ Chính trị, trở thành quan chức ngoại giao đầu tiên vào Bộ Chính trị trong 15 năm qua. Ngoại trưởng Vương Nghị kế nhiệm chức Ủy viên Quốc vụ, Vương Kỳ Sơn là Phó Chủ tịch nước, hỗ trợ lãnh đạo tối cao xử lý công việc ngoại giao. Vì thế, thế trận ngoại giao hình thành cơ chế 4 cấp Tập – Vương – Dương – Vương (Tập Cận Bình – Vương Kỳ Sơn – Dương Khiết Trì – Vương Nghị). Như vậy, là trong các trường hợp ngoại giao lớn như lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un thăm Trung Quốc, chính là 4 cấp cùng tham gia.

Theo chuyên gia Hà Tần, điểm đáng chú ý là Dương Khiết Trì, với vị thế ủy viên Bộ Chính trị giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương, chứng tỏ Ủy ban công tác ngoại sự Trung ương chính thức trở thành tầng quyết sách ngoại giao tối cao của Trung Quốc. Còn Vương Nghị sau khi được đưa lên chức Ủy viên Quốc vụ, kết cấu 2 thủ trưởng, tức “thể chế nhị nguyên” gồm Bộ trưởng Ngoại giao và Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao riêng rẽ, cùng ngang hàng đến nay đã bị phá vỡ. Bộ trưởng do lãnh đạo cấp nhà nước (Ủy viên Quốc vụ) kiêm nhiệm, tự nhiên cao hơn Bí thư Đảng ủy. Thế nhưng, để cân bằng quyền lực này, Tập Cận Bình đã nhanh chóng điều động Phó Chủ nhiệm văn phòng Ủy ban Ngoại sự Trung ương, Lạc Ngọc Thành giữ chức thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao. Như vậy, Lạc Ngọc Thành cùng với Bí thư Đảng ủy Bộ Ngoại giao Trương Nghiệp Toại đều là quan chức cấp hàm bộ trưởng. Sự bố trí nhân sự này đã hình thành thể chế mới “một chính” là Vương Nghị và “hai phụ” là Trương Nghiệp Toại và Lạc Ngọc Thành của Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện nay.

Tuy nhiên, chuyên gia Hà Tần cho rằng, phía sau bố cục này vẫn còn một vai trò quan trọng hơn, đó chính là Phó Chủ tịch Vương Kỳ Sơn. Có thể khẳng định, Vương Kỳ Sơn được giao phụ trách lĩnh vực ngoại giao và nội chính, trong đó ngoại giao là chủ yếu. Theo uy tín công tác, địa vị chính trị, ảnh hưởng quốc tế, Vương Kỳ Sơn là khâu quyết sách mấu chốt ở tầng quyết sách, Dương Khiết Trì và Vương Nghị ở vị trí bổ trợ quan trọng và tầng nấc thực thi. Như vậy, bố trí thế trận ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là rất rõ ràng: Tập Cận Bình là lãnh đạo tối cao đưa ra chủ trương, sự chỉ đạo thống nhất và đưa ra quyết sách cuối cùng. Vương Kỳ Sơn là cố vấn cấp cao, cùng Tập Cận Bình đưa ra quyết sách ngoại giao cụ thể. Dương Khiết Trì tổ chức thực hiện các quyết sách ngoại giao của Tập Cận Bình. Vương Nghị có vai trò chấp hành và triển khai từng nhiệm vụ ngoại giao cụ thể.

Tờ Minh báo, nhật báo có quan điểm trung lập của Hong Kong, cho rằng, theo bố trí nhân sự ngoại giao hiện nay, Tập Cận Bình đứng trên thống lĩnh toàn cục, Vương Kỳ Sơn có kinh nghiệm trong xử lý quan hệ với Mỹ tham gia quyết sách, Dương Khiết Trì từng là Đại sứ Trung Quốc tại Mỹ tổ chức thực hiện, Vương Nghị từng là Đại sứ Trung Quốc tại Nhật triển khai nhiệm vụ cụ thể, còn Lạc Ngọc Thành xuất thân với chuyên môn là tiếng Nga, trong mấy chục năm công tác đều liên quan đến xử lý công việc trong quan hệ Trung – Nga đã phản ánh phươong hướng chiến lược ngoại giao của Trung Quốc trong những năm tới. Đó chính là ưu tiên xử lý quan hệ với Mỹ, tập trung giải quyết quan hệ với Nhật Bản và duy trì củng cố quan hệ với Nga, hình thành thế trận ngoại giao “cận giao viễn công”.

(còn tiếp) 

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Vụ Huawei tạo cơ hội cho Tập Cận Bình củng cố quyền lực?


Tờ Bình quả, nhật báo có quan điểm chống Đảng Cộng sản Trung Quốc của Hong Kong, ngày 11/12 cho rằng vụ Giám đốc Tài chính Công ty Huawei Mạnh Vãn Chu (Meng Wanzhou) bị bắt tại Canada tiếp tục trở thành tiêu điểm báo chí của ngoại giao Trung Quốc. Trên thực tế, trước khi diễn ra cuộc gặp Tập – Trump bên lề Hội nghị thượng đỉnh G20 tại Argentina hôm 1/12 vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã sớm biết được thông tin Mạnh Vãn Chu bị bắt, nhưng tại cuộc gặp, Tập Cận Bình đã không đưa ra bất kỳ ý kiến liên quan nào.

Giới phân tích chính trị Trung Quốc cho rằng, sở dĩ Tập Cận Bình làm như vậy là để tránh vụ việc này ảnh hưởng đến đàm phán thương mại Trung – Mỹ, nhưng cũng cho thấy Trung Quốc có thể tiếp tục nhượng bộ để nhanh chóng kết thúc chiến tranh thương mại Trung – Mỹ. Cho nên, ngay cả khi Mỹ vừa đám vừa “đâm dao” phía sau lưng, Trung Quốc vẫn tạm thời nén giận. Đương nhiên, một loạt vấn đề như đàm phán Trung – Mỹ trong thời gian 3 tháng tới liệu sẽ có được tiến triển như thế nào, Mạnh Vãn Chu liệu có bị dẫn độ sang Mỹ và còn những tư liệu nào được công khai,… vẫn tồn tại rất nhiều biến số.

Theo giới phân tích Trung Quốc, vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt liệu có gắn với đàm phán thương mại Trung – Mỹ, giữa hai vấn đề liệu có ảnh hưởng lẫn nhau, hiện nay đưa ra phán đoán vẫn còn quá sớm. Nhưng một điều có thể xác định là vụ Mạnh Vãn Chu bị bắt đã đem đến cho Tập Cận Bình cơ hội dựa vào cổ súy chủ nghĩa dân tộc, dân túy để củng cố quyền lực. Tập Cận Bình tất nhiên sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để chuyển hướng dư luận trong nước Trung Quốc vốn đang tập trung vào hàng loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình và kinh tế Trung Quốc xuất hiện nguy cơ suy thoái hiện nay.

Giới phân tích Trung Quốc nêu rõ, bất kể nhân vật nào hay đảng nào nắm quyền cũng đều có những lý do để giải thích với người dân về tính chính đáng nắm quyền chấp chính của mình, chế độ dân chủ hay chuyên chế cũng đều như vậy. Khi ĐCSTQ mới thành lập, lấy chủ nghĩa cộng sản, quốc gia bình đẳng làm lý tưởng. Thời kỳ nội chiến, ĐCSTQ lấy việc đánh đổ Quốc Dân Đảng, thực hiện một đảng chuyên chế làm khẩu hiệu. Nhu cầu bình đẳng và dân chủ của người dân đã đưa ĐCSTQ lên địa vị nắm quyền chấp chính, nhưng trong tình trạng không có quyền lực cân bằgn đã rất nhanh chóng khiến những chí sỹ cách mạng hủ bại. Trung Quốc đã thử nghiệm mô hình Stalin suốt 30 năm, kết quả là không thể thực hiện bình đẳng, càng không thể thực hiện dân chủ, đất nước suy yếu, tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ bị nghi ngờ. Đến khi Đặng Tiểu Bình thúc đẩy cải cách mở cửa, vứt bỏ lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trống rỗng, chuyển sang lấy phát triển kinh tế làm mục tiêu nắm quyền chấp chính duy nhất của ĐCSTQ. Trải qua 40 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc với hơn một tỷ dân đã thóa khỏi nghèo đói, kinh tế phồn vinh. Chính điều này đã trở thành tính chính đáng nắm quyền chấp chính của ĐCSTQ, thậm chí trở thành lý do để ĐCSTQ từ chối cải cách chính trị.

Đương nhiên trong bối cảnh kinh tế phồn vinh không thể bảo đảm lâu dài, lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ hiểu rất rõ cần phải tìm kiếm tính chính đáng nắm quyền chấp chính khác để bổ sung. Vậy là từ thời kỳ Hồ Cẩm Đào vào Ôn Gia Bảo nắm quyền, tiếng nói “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc” xuất hiện mọi lúc mọi nơi, từ tổ chức Thế vận hội (Olympic 2008) đến công trình thám hiểm không gian vũ trụ, đều được ĐCSTQ gắn mác “nước lớn trỗi dậy” và “cường quốc”. Điều này đã khiến ĐCSTQ tiếp tục nắm quyền chấp chính được hợp lý hóa. Sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền càng thúc đẩy “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” mạnh mẽ hơn, biểu hiện cụ thể là “Vành đai và con đường”, được triển khai ở khắp mọi nơi, “giấc mộng cường quốc” và “phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” trở thành tính chính đáng chủ yếu của ĐCSTQ trong nắm quyền chấp chính. Theo đó, át chủ bài phát triển kinh tế của Đặng Tiểu Bình do không hợp với tư duy cánh Tả của Tập Cận Bình nên được xếp vào vị trí thứ yếu, thậm chí Tập Cận Bình còn muốn thay thế bằng tư tưởng Mao Trạch Đông.

Từ sau khi lên nắm quyền, Tập Cận Bình tìm mọi cách tạo dựng bản thân mình trở thành “Hoàng đế phục hưng Trung Quốc”, nhưng tác phong chuyên quyền và hành xử kiêu ngạo của Tập Cận Bình đã dẫn đến việc Mỹ dùng chiến tranh thương mại để chèn ép Trung Quốc. Hệ quả là nền kinh tế Trung Quốc vốn đã tồn tại nhiều ẩn họa, dưới sự tác động của chiến tranh thương mại càng trở nên mờ mịt hơn, theo đó, kế hoạch phục dụng Chủ nghĩa Mao Trạch Đông, quốc tiến dân lui của Tập Cận Bình buộc phải gác lại. Hiện nay trong ĐCSTQ, thế lực ủng hộ đường lối của Đặng Tiểu Bình bày tỏ bất bình trước việc Tập Cận Bình đi ngược thời đại khiến Mỹ bao vây, còn dân chúng trong nước do một loạt quyết sách sai lầm của Tập Cận Bình như nhấn mạnh chuyên chế, vung tiền khắp nơi dẫn đến kinh tế suy thoái, tham nhũng tràn lan… đã không còn ủng hộ Tập Cận Bình chống tham nhũng như hồi mới lên nắm quyền. Tình trạng này với Tập Cận Bình có thể nói là trong ngoài khó khăn, thậm chí dẫn đến xuất hiện thông tin quyền lực của Tập Cận Bình đã bị lung lay.

Trong lúc này, Tập Cận Bình củng cố quyền lực, củng cố tính hợp lý nắm quyền chấp chính của mình, bất kể là quay trở lại tư tưởng Mao Trạch Đông khi xưa, hay tiếp tục đường lối của Đặng Tiểu Bình là lấy phát triển kinh tế làm át chủ bài đều đã không còn tác dụng. Hiện nay, “giấc mộng cường quốc” mà Tập Cận Bình ra sức tuyên truyền đã liên tiếp vấp phải sự tấn công của Mỹ, buộc phải chững lại. Câu hỏi đặt ra là Tập Cận Bình còn lại “quân bài” gì trong tay? Giữa sáng tạo công nghệ của Trung Quốc, bị bắt, đã vô tình tạo cơ hội cho Tập Cận Bình khơi dậy chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy để ngưng tụ sự ủng hộ của dân chúng. Thực tế cho thấy, sau khi Mạnh Vãn Chu bị bắt, Bộ Ngoại giao, truyền thông chính thống của Trung Quốc đồng loạt lên tiếng, yêu cầu thả người vô điều kiện. Rõ ràng là đơn giản mà trực tiếp, không cần phải động não, Tập Cận Bình đã có thể đổ hết tội lỗi lên đầu thế lực bên ngoài chống Trung Quốc, muốn Trung Quốc diệt vong. Như vậy, Tập Cận Bình đã có thể che đậy được những sai lầm trong các quyết sách nắm quyền chấp chính của mình. Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa dân tộc, dân túy có thể chuyển hướng dư luận, nhưng cũng khiến Tập Cận Bình rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”. Một khi Tập Cận Bình không có được công trạng gì nổi bật, thì sẽ càng bộc lộ sự bất tài của mình, và theo đó tính chính đáng nắm quyền chấp chính của Tập Cận Bình cũng như của ĐCSTQ sẽ không còn chỗ dựa.

Nguồn: TKNB – 13/12/2018

Kinh tế Mỹ đang chịu tác động thực sự do chiến tranh thương mại


Tờ Thời báo Hoàn cầu số ra ngày 25/7 cho hay Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố hôm 24/7 rằng Bộ Nông nghiệp nước này sẽ thông qua gói kế hoạch khẩn cấp trị giá 12 tỷ USD để hỗ trợ người nông dân bị ảnh hưởng do cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung Quốc. Đây được coi là một tín hiệu rõ ràng rằng chiến tranh thương mại đang gây ra tác động thực sự đối với nền kinh tế Mỹ, đồng thời cũng là một sự công khai thừa nhận của Tổng thống Trump về việc triển khai các hàng rào thuế quan làm vũ khí trong chiến tranh thương mại.

Báo trên cho rằng đây là một viễn cảnh nực cười. Hiện nước Mỹ không phải hứng chịu các đợt thiên tai, nên nông dân nước này đáng lẽ phải kiếm tiền để mở rộng thị trường của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, những người nông dân lại đang được trợ giúp. Hiện không ai biết được “đợt thảm họa” kỳ lạ này sẽ kéo dài bao lâu, trong khi nhiều nông dân Mỹ chắc chắn sẽ tỏ ra bối rối và lúng túng về sinh kế tương lai của họ.

Do sự leo thang của chiến tranh thương mại, sẽ có thêm nhiều ngành nghề bị ảnh hưởng. Do đó, sẽ rất khó để quyết định đối tượng nào sẽ nhận trợ cấp và đối tượng nào sẽ không được nhận trợ cấp. Chính quyền Trump đang làm rối loạn logic cơ bản của đời sống kinh tế. Với việc gây rắc rối cho Trung Quốc, EU, Mexico và Canada, chính quyền Trump đang đẩy nền kinh tế nội địa của Mỹ vào tình cảnh hỗn loạn. Trả lời phỏng vấn Thời báo Hoàn cầu, Mã Văn Phong – nhà phân tích cấp cao của Công ty tư vấn kinh doanh nông nghiệp Đông Phương Bắc Kinh – cho rằng nông dân Mỹ không chỉ bị ảnh hưởng bởi thuế quan mà còn bị gián đoạn trong chuỗi cung ứng của họ, và những nỗ lực cứu trợ tạm thời sẽ không khắc phục được tình hình. Ông Mã Văn Phong nhấn mạnh: “Tranh chấp thương mại cũng phá vỡ các thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu, theo đó có thể còn gây ra tác động lớn hơn nhiều so với thuế quan. Thật khó để nói rằng nông dân Trung Quốc chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ điều này, nhưng nông dân Mỹ chắc chắn lụn bại”.

Hiện nay, nhiều quốc gia khác, trong đó gồm cả Trung Quốc, chắc chắn sẽ bị buộc phải đối mặt với ảnh hưởng của chiến tranh thương mại. Các nước này cũng sẽ thực thi các hoạt động hỗ trợ đối với ngành nghề và công ty bị ảnh hưởng. Nhà Trắng đang hy vọng rằng Bắc Kinh sẽ đưa ra sự nhượng bộ lớn đối với Washington khi Trung Quốc không còn có thể chịu đựng nổi những thiệt hại ngày càng leo thang.

Tuy nhiên, Thời báo Hoàn cầu nhận định rằng tư duy mơ hồ như vậy là quá ngây thơ. Tổng thống Trump tin rằng xã hội Mỹ có thể chịu đựng sự bi thảm của một cuộc chiến tranh thương mại tạm thời để đổi lấy những lợi ích lâu dài. Vậy tại sao ông ta lại chắc chắn rằng Trung Quốc không thể chịu đựng được một nỗi đau như thế? Trong khi đó, đại đa số người dân Trung Quốc nhận thức rõ rằng nước này đang bị buộc phải đương đầu với Mỹ trong một cuộc chiến thương mại. Bất luận như thế nào, Trung Quốc sẽ phải “tham chiến” bởi hông còn cách nào khác.

Báo trên nhấn mạnh rằng xã hội Mỹ thừa biết rằng cuộc chiến thương mại này là do chính Nhà Trắng phát động và quả bóng đang ở bên phần sân của Chú Sāmkhya, việc dừng cuộc chiến hay tìm ra giải pháp thông minh hơn là hoàn toàn phụ thuộc vào phía Mỹ. Do đó, chính quyền Trump cần phải chứng minh rằng họ đã đúng khi gây ra nỗi thống khổ cho người dân nước này thông qua cuộc chiến tranh thương mại, trong khi các quốc gia khác không cần phải làm bất cứ điều gì khác ngoài việc trả đũa.

Trung Quốc đã trải qua hàng loạt khó khăn và thách thức. Tuy sự phát triển của Trung Quốc trong 20 năm qua diễn ra tương đối suôn sẻ, song cơ chế của nước này hiện vẫn phải đối phó với những trở ngại lớn. Trước đó, Trung Quốc đã từng phải đối mặt với những đợt tinh giảm và sa thải quy mô lớn trong các doanh nghiệp quốc doanh cũng như các biện pháp trừng phạt kinh tế tập thể từ phương Tây. Vậy liệu những khó khăn của một cuộc chiến tranh thương mại là không thể khắc phục được? Washington luôn cáo buộc châu Âu và Trung Quốc về trợ cấp nông nghiệp. Là một vấn đề thực tế, chính phía Mỹ từ lâu đã trợ cấp cho nông dân của nước này, và bây giờ Nhà Trắng đã công bố các khoản trợ cấp tăng cường. Nhiều khả năng, những phát ngôn quốc tế xung quanh các quy định này sẽ được thay đổi.

Cũng theo báo trên, một số người cho rằng Tổng thống Trump sẽ tiếp tục những sai lầm của mình trước cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11 tới nhằm duy trì sự ủng hộ. Tuy nhiên, người dân Trung Quốc đang hướng về bên ngoài tháng 11 và họ đang chuẩn bị cho một cuộc chiến đấu trường kỳ. Có lẽ khi nổ ra một cuộc chiến thương mại lớn như vậy, thì Washington mới có thể suy xét lại giá trị của sự hợp tác Trung – Mỹ.

Nguồn: TKNB – 27/07/2018

Trung Quốc hiện thực hóa bành trướng Biển Đông và giải pháp của Việt Nam


Trung Quốc hiện thực hóa mưu đồ bành trướng Biển Đông

Theo đài RFA, trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tiếp có những động thái gây căng thẳng trên Biển Đông, chèn ép các quốc gia khác trong khu vực, như xây dựng, mở rộng và quân sự hóa các đảo, đá mà nước này xâm chiếm được tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; thường xuyên tổ chức tập trận bắn đạn thật… Trong năm 2018, Trung Quốc càng tỏ rõ mưu đồ bành trướng trên Biển Đông qua các phát biểu chính thức.

Theo Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, tuyên bố hành động xâm chiếm của Trung Quốc đối với các đảo trên Biển Đông của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, ngay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cho đến bây giờ. Ông nói: “Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Quá trình này nằm trong chính sách được thiết kế, được tính toán khá kỹ lưỡng. Người ta thực hiện lúc nào, hành động lúc nào, cái đó là do những tính toán chiến thuật, chiến lược. Cho nên, không phải đến bây giờ chúng ta mới biết Trung Quốc có một chiến lược hẳn hoi để chei61m Biển Đông, mà chúng ta đã biết từ lâu, thậm chí từ trong chiến tranh”.

Đáp lại những động thái đó, Tiến sĩ Thắng cho biết, tùy vào hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh quốc tế và khu vực, nhất là quan hệ song phương giữa hai quốc gia cộng sản, mà chính quyền Việt Nam có phản ứng công khai hoặc đấu tranh thầm kín.

Ông Thắng đánh giá, sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương – 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 4/2014 là một mốc quan trọng trong việc Trung Quốc công khai trước thế giới về chính sách bành trướng trên Biển Đông. Ông nêu rõ: “Có thể nói đây là phép thử của họ. Họ vừa thử phản ứng của Việt Nam – ở đây có hai loại phản ứng: của nhà nước và của người dân. Thứ hai  là họ thách thức dư luận trong khu vực, trong đó có dư luận của thế giới, của Mỹ và các nước khác”.

Mặt khác, việc kéo giàn khoan Hải Dương – 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam còn đạt nhiều mục đích khác, trong đó có việc “giương Đông, kích Tây”, đánh lạc hướng truyền thông và sự chú ý của cộng đồng quốc tế, nhằm xây dựng, mở rộng, quân sự hóa các đảo, đá tại Trường Sa ngay trong mùa Hè năm 2014.

Ngoài phương diện quân sự, ngoại giao, Trung Quốc còn có nhiều biện pháp khác để khẳng định chủ quyền của họ trong “đường 9 đoạn” phi pháp, trong đó có cả nghề cá. Từ trước đến nay, chúng ta vẫn chỉ nghe và thấy những đoàn tầu cá của Trung Quốc tràn xuống Biển Đông, thì nay, GS-TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội nuôi biển Việt Nam cảnh báo một mối nguy mới.

Năm 2017, Nhà máy đóng tàu Thanh Đảo (Trung Quốc) đóng thuê cho Na Uy một lồng nuôi cá đại dương có tên “Ocean Farm No.1” với đường kính 110m, cao 67m, nặng 7.700 tấn, bằng thép. Từ đó, Trung Quốc lấy được công nghệ và đầu tư 1 tỷ USD để sản xuất đại trà các lồng nuôi tương tự, với đường kính lớn hơn để đưa ra các vùng biển xa có tranh chấp, trong đó có Biển Đông. Ông Dũng nói: “Ta tưởng tượng với 1 tỷ USD, nếu họ đóng hàng chục cái lồng nuôi lớn như thế thả vào Vịnh Bắc Bộ và vùng nước đang tranh chấp, thì an ninh của chúng ta sẽ như thế nào?”

Trong khi đó, khi thăm Quân khu phía Nam và Hạm đội Nam Hải trong tháng 10 vừa qua, ông Tập Cận Bình đã tuyên bố quân đội nước này sẵn sàng chuẩn bị cho chiến tranh, khiến các nước trong khu vực phải nâng cao cảnh giác.

Giải pháp bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam

Trong mọi cuộc tiếp xúc và tuyên bố, Việt Nam và các bên khác đều nêu việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, và dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Tuy nhiên, sau hơn 2 năm Tòa trọng tài ra phán quyết bác bỏ “đường 9 đoạn” yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc, thì phán quyết này vẫn chưa có ý nghĩa và hiệu lực trên thực tế, đồng thời dần trôi vào quên lãng.

Trung Quốc, một trong 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đã không tham gia quá trình tố tụng tại Tòa trọng tài từ khi Philippines khởi kiện, và sau khi có phán quyết, nước này đã phản ứng quyết liệt, tuyên bố bác bỏ và không thực thi. Trong khi đó, các nước khác (bao gồm cả Việt Nam) phản ứng thận trọng, và bản thân Philippines còn làm nhẹ đi tác động của phán quyết trong thực tế. Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng cho rằng, đây là một hiện tượng tiêu cực trong quan hệ quốc tế và một tiền lệ xấu trong công pháp quốc tế. Ông Thắng nói: “Luật quốc tế bao giờ cũng vậy, chỉ là quy ước, quy phạm, phải được sự thống nhất của các bên. Còn tính ràng buộc, tính pháp lý áp đặt của nó phải trên cơ sở tương quan lực lượng, mà xét tương quan lực lượng trong khu vực hiện nay thì Trung Quốc đang chiếm ghế trên so với các bên tranh chấp. Cho nên, nếu nói là tự nguyện thì không bao giờ có chuyện Trung Quốc sẽ thực thi phán quyết đó, trừ khi có những sức ép mạnh từ những lực lượng mà một là trên hoặc ngang bằng Trung Quốc, hai là từ những tập hợp lực lượng có chiến lược hẳn hoi để ép Trung Quốc theo hướng đó”.

Vì cán cân chênh lệch như vậy, trong nhiều năm nay, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng đã suy nghĩ và đưa ra một biện pháp giải quyết tổng thể, một mô thức có tên là “P&DOWN” (trong đó P là Partnership – đối tác, D là Democratization – dân chủ hóa), nhằm nâng cao nội lực các nước nhỏ trong khu vực và tạo một liên kết (N – networking) mạnh giữa các nước nhỏ này với các nước đối tác lớn như Mỹ, Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, EU để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng. Ông Thắng nói: “Nếu như tiềm lực, sức mạnh bên trong của mỗi nước, mỗi tổ chức không có thì không bao giờ ép được Trung Quốc. Tóm lại, hai thứ rất quan trọng là xây dựng quan hệ đối tác và thúc đẩy dân chủ hóa quan hệ quốc tế, cộng với việc tổ chức một cuộc chiến trên hai khía cạnh pháp lý và truyền thông phải làm thật mạnh. Về pháp lý thì đi đâu, diễn đàn nào anh cũng phải nói rõ: anh là nước bị hại”.

Đồng quan điểm với Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng trong việc phải hợp tác quốc tế trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông và bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam, GS-TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, Việt Nam nên phát triển kinh tế biển, trong đó có nuôi biển công nghiệp, dầu khí và đóng tàu với sự hợp tác đầu tư của nước ngoài. Ông Dũng nói: “Tôi nghĩ là có rất nhiều quốc gia mong muốn được hợp tác với chúng ta để khai thác Biển Đông, vùng biển nhiệt đới rất giàu tiềm năng. Nếu có sự hiện diện của các quốc gia khác trên vùng biển của chúng ta, trong các hoạt động rất hòa bình là nuôi biển, thì đó là một sự bảo đảm rất tốt cho chủ quyền của chúng ta”.

Biển Đông là một vùng biển quốc tế, do đó không thể giải quyết song phương, mà phải đa phương hóa, quốc tế hóa. Đây là một thực tế khách quan mà Trung Quốc không thể tự ý thay đổi. Vì vậy, giải quyết vấn đề Biển Đông phải có sự tham gia của các cường quốc với vai trò trung tâm của ASEAN, mà Việt Nam là một thành viên chủ chốt, một bên tranh chấp.

Nguồn: TKNB – 11/12/2018