Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần cuối


4/ Làm cho tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc trở nên phức tạp hơn

Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, tình hình an ninh xung quanh Trung Quốc đã được cải thiện toàn diện, “môi trường an ninh xung quanh về tổng thể ổn định, láng giềng hữu nghị, hợp tác cùng có lợi là xu hướng chính trong quan hệ của các nước xung quanh đối với Trung Quốc”. Tuy nhiên, bên cạnh việc duy trì cục diện ổn định tổng thể, môi trường an ninh xung quanh Trung Quốc vẫn tồn tại rất nhiều nhân tố không ổn định và thách thức an ninh, đặc biệt là từ khi quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đến nay, Mỹ trở thành nhân tố bên ngoài chủ yếu nhất ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh của Trung Quốc. Những năm gần đây, Mỹ đẩy nhanh tiến độ bố trí ở khu vực xung quanh Trung Quốc, như tăng cường sự hiện diện quân sự và thâm nhập quân sự ở khu vực xung quanh Trung Quốc, tăng cường quan hệ với các đồng minh ở châu Á, lôi kéo các nước không phải là đồng minh làm cho các nước này trở thành lực lượng kiềm chế Trung Quốc, để xây dựng vòng bao vây chiến lược đối với Trung Quốc. Đông Nam Á và xung quanh Nam Hải là trọng điểm trong chiến lược châu Á của Mỹ, phát triển quan hệ, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng với Việt Nam, cũng như tranh thủ giành lấy căn cứ quân sự ở Việt Nam là bước đột phá quan trọng trong chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Việc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí đối với Việt Nam không phải là “không liên quan đến Trung Quốc” như Tổng thống Mỹ Obama từng nói, không những có ý đồ đối đầu với năng lực quân sự của Trung Quốc, mà còn nâng cao trình độ vũ khí và năng lực tác chiến quân sự, làm cho Việt Nam ngày càng cứng rắn hơn với Trung Quốc trong tranh chấp Nam Hải. Ngoài ra, một khi quân đội Mỹ tiến vào vịnh Cam Ranh, khả năng can thiệp quân sự của Mỹ sẽ được nâng cao rõ rệt, phòng tuyến bao vây của Mỹ đối với hướng Nam của Trung Quốc cũng vững chắc hơn, an ninh quốc gia của Trung Quốc sẽ đối diện với mối đe dọa hiện thực gay gắt hơn.

IV/ Kết luận

Sự phát triển của quan hệ Việt – Mỹ là hiện tượng đáng để quan tâm trong quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Dưới sự thúc đẩy của các nhân tố như Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương, “tái cân bằng châu Á – Thái Bình dương”, đọ sức địa chiến lược Trung – Mỹ và tranh chấp Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam…, hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt còn có thể phát triển hơn nữa. Tuy Tổng thống Mỹ Donald Trump ký sắc lệnh hành chính Mỹ chính thức rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP), đây là điều có lợi cho Trung Quốc về kinh tế, nhưng trong thời gian tranh cử Donald Trump đã gắn mác quân sự hóa cho các hoạt động của Trung Quốc ở Nam Hải, đồng thời phê phán các hành vi không chính đáng của Chính phủ Trung Quốc. Trong nhiệm kỳ của mình, Donald Trump có thể áp dụng nhiều hành động hơn nữa trong vấn đề Nam Hải, tăng cường hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt, tạo thành thách thức về địa chính trị và an ninh quân sự đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự phát triển của quan hệ Mỹ – Việt cũng chịu sự hạn chế của nhiều nhân tố, trong tình hình hiện nay Mỹ và Việt Nam khó có thể xây dựng liên minh quân sự.

Một là do chế độ chính trị của hai nước khác nhau và sự đối lập về ý thức hệ, chắc chắn sẽ làm cho hợp tác an ninh và quốc phòng giữa hai nước không thuận lợi. Từ lâu nay, Mỹ chưa từng từ bỏ việc lợi dụng vấn đề “dân chủ” và “nhân quyền” để thực hiện “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam, còn thường thông qua thương mại vũ khí để can thiệp công việc nội bộ Việt Nam. Từ trước đến nay Chính phủ Việt Nam luôn duy trì cảnh giác cao độ đối với “sự thâm nhập” và “lật đổ” của Mỹ, cộng thêm sự tổn thương do chiến tranh gây ra cho Việt Nam khó có thể xóa bỏ, vì vậy không khó để hiểu được “bất kỳ hành động cụ thể nào nhằm nâng cao quan hệ an ninh Mỹ – Việt đều sẽ làm gay gắt hơn quan hệ căng thẳng giữa nhóm thân phương Tây và nhóm thân Trung Quốc trong tầng lớp cấp cao trong Bộ Chính trị Việt Nam”. Hai là cho dù giữa Trung Quốc và Việt Nam tồn tại bất đồng, nhưng với tư cách là nước láng giềng của nhau, không gian hợp tác rộng rãi, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện đã trở thành nhận thức chung của hai bên.

Ba là chiến lược “cân bằng nước lớn” của Việt Nam đã quyết định tính hạn chế của hợp tác Việt – Mỹ. Trong tình hình thực lực có hạn, Việt Nam áp dụng chiến lược cân bằng nước lớn – dựa vào một nước lớn để cân bằng một nước lớn khác, đồng thời tránh xích lại quá gần với một nước lớn nào đó  mà kích thích một nước lớn khác. Một mặt Việt Nam phát triển quan hệ kinh tế, ngoại giao và quân sự với Mỹ, dựa vào sức mạnh của Mỹ để kiềm chế hành động của Trung Quốc ở Nam Hải; mặt khác lại thúc đẩy mối liên hệ kinh tế và quan hệ chính trị với Trung Quốc đi vào chiều sâu, tìm sự trợ giúp để chống lại “diễn biến hòa bình”, đồng thời thừa nhận “xảy ra đối đầu quân sự với Trung Quốc sẽ là tai họa đối với Việt Nam”.

Tuy nhiên, cho dù hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt đi đến mức độ nào, đều sẽ nảy sinh ảnh hưởng đối với lợi ích quốc gia của Trung Quốc, Trung Quốc chắc chắn sẽ phải quan tâm và coi trọng nhiều hơn để tích cực đối phó. Một là thúc đẩy sự phát triển của quan hệ Trung – việt. Tình hữu nghị của Trung Quốc và Việt Nam không những có truyền thống lịch sử, mà còn có tính tất yếu của hiện thực. Trung Quốc và Việt Nam phải thông qua phương thức hiệp thương và đàm phán song phương để giải quyết bất đồng và tăng cường hợp tác trong vấn đề Nam Hải, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt. Hai là tăng cường quan hệ Trung Quốc – ASEAN, sự phát triển của quan hệ Trung Quốc – ASEAN có lợi cho việc thúc đẩy quan hệ Trung – Việt và ngoại giao của ASEAN đối với Trung Quốc khi đối diện với ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài như Mỹ… Vì vậy, bên cạnh việc tích cực thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại với ASEAN, phải tích cực thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau về chính trị và hợp tác an ninh với tổ chức này, làm cho quan hệ láng giềng hữu nghị tin cậy lẫn nhau Trung Quốc – ASEAN được phát triển toàn diện, xây dựng cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – ASEAN. Ba là nỗ lực xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ; tuy Trung Quốc và Mỹ tồn tại bất đồng trong không ít vấn đề, nhưng lợi ích chung mà hai nước có luôn là quan trọng nhất. Hai bên phải tăng cường hợp tác song phương, khu vực và quốc tế, tăng cường đối thoại và trao đổi, để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, tôn trọng lới ích cốt lõi và sự quan tâm của nhau, quản lý tốt mâu thuẫn và bất đồng, làm cho quan hệ Trung – Mỹ tiếp tục phát triển lành mạnh và ổn định, thực hiện hợp tác cùng thắng. Bốn là tăng cường hợp tác chiến lược Trung – Nga, nhất là hợp tác an ninh và quốc phòng ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, làm giảm sức ép quân sự do Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đối với Trung Quốc. Năm là phải tăng cường xây dựng quốc phòng và quân đội, hoàn thiện chiến lược an ninh xung quanh, nâng cao năng lực đối phó với khủng hoảng an ninh xung quanh.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017

Advertisements

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần IV


III/ Ảnh hưởng của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt đối với ngoại giao và an ninh của Trung Quốc

Hiện nay, tuy Mỹ và Việt Nam cũng khó có thể phát triển đến quan hệ đồng minh quân sự, nhưng hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt đang được tiến hành một cách rầm rộ, và giành được tiến triển khiến mọi người phải chú ý, điều này không những nảy sinh ảnh hưởng đối với tình hình an ninh và địa chính trị của châu Á – Thái Bình Dương, mà còn tạo thành thách thức đối với môi trường an ninh xung quanh và ngoại giao của Trung Quốc. Trong bối cảnh hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt, tiến trình hợp tác và nhất thể hóa của khu vực Đông Á chịu sự quấy rối nhiều hơn của Mỹ, nhân tố ảnh hưởng tình hình an ninh châu Á – Thái Bình Dương ngày càng đan xen và phức tạp, cạnh tranh địa chính trị của nước lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ có xu thế quyết liệt hơn. Hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ – Việt sẽ nảy sinh những ảnh hưởng đố với Trung Quốc như sau:

1/ Ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của quan hệ Trung – Việt

Trung Quốc và Việt Nam núi liền núi, sông liền sông, có chế độ xã hội tương đồng, tình hữu nghị nhân dân hai nước bền vững lâu dài. Từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, Trung Quốc và Việt Nam đã có sự khôi phục và phát triển nhanh chóng trên rất nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế thượng mại, đầu tư, du lịch và văn hóa, đem đến thành quả mang tính thực chất cho hai bên. Năm 1999, hai nước đã đưa ra phương châm chỉ đạo 16 chữ “láng giềng hữu nghị, ổn định lâu dài, hợp tác toàn diện, hướng tới tương lai”, đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khuôn khổ tổng thể cho sụ phát triển của quan hệ song phương trong thế kỷ mới. Tháng 2/2002, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân đến thăm Việt Nam, lãnh đạo hai nước quyết định Trung Quốc và Việt Nam phải phát triển quan hệ hơn nữa, mãi là “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Năm 2008, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm Trung Quốc, hai bên đã đưa ra “Tuyên bố chung Trung – Việt”, đưa ra kế hoạch toàn diện về việc củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ song phương. Tháng 4/2015, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt nam Nguyễn Phú Trọng đến thăm Trung Quốc, hai bên nhấn mạnh phải quý trọng và bảo vệ “tình hữu nghị truyền thống đồng chí anh em”. Tháng 11 cùng năm, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm Việt Nam, nhà lãnh đạo hai nước nhấn mạnh phải tiếp tục kiên trì phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt”, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt lành mạnh, ổn định và phát triển bền vững. Tuy nhiên, ý đồ của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt nhằm vào Trung Quốc đã làm tổn hại sự tin cậy lẫn nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam, không có lợi cho sự hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực an ninh quân sự cũng sẽ ảnh hưởng đến sự thúc đẩy của hai nước trên quan hệ kinh tế thương mại, văn hóa, nhân dân, ngoại giao, từ đó không có lợi cho sự phát triển lành mạnh quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt.

2/ Không có lợi cho việc giải quyết hòa bình vấn đề Nam Hải

Trong vấn đề Nam Hải, Chính phủ Trung Quốc một mặt tuyên bố có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo đá và vùng biển lân cận trên Nam Hải, đồng thời chủ trương lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp trên Nam Hải; mặt khác, cho rằng vấn đề Nam Hải chỉ là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi biển giữa các nước có liên quan, không phải là vấn đề giữa Trung Quốc và ASEAN, càng không phải vấn đề khu vực hoặc quốc tế, kiên quyết phản đối các nước không liên quan đến vấn đề Nam Hải can dự vào vấn đề này, phản đối quốc tế hóa, đa phương hóa và mở rộng hóa vấn đề Nam Hải. Trung Quốc còn ký “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Nam Hải” (DOC), xác nhận Trung Quốc và ASEAN sẽ cố gắng tăng cường quan hệ đối tác tin cậy lẫn nhau, láng giềng hữu nghị, cùng bảo vệ hòa bình và ổn định của khu vực Nam Hải, nhấn mạnh thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị để giải quyết các tranh chấp có liên quan ở Nam Hải. Chủ trương và hành động nêu trên của Trung Quốc có lợi cho việc giải quyết hòa  bình vấn đề Nam Hải, cũng nhận được sự công nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế. Các nước lớn bên ngoài khu vực như Mỹ can dự vào vấn đề Nam Hải, thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Nam Hải, làm cho vấn đề Nam Hải trở nên phức tạp hơn. Từ khi quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương đến nay, ngoài tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines, Mỹ còn tích cực lôi kéo Việt Nam, tăng cường hợp tác quân sự Mỹ – Việt, tăng thêm sự hiện diện quân sự của Mỹ ở xung quanh Nam Hải, cũng viện trợ rất lớn cho các nước ASEAN như Việt Nam…, từ đó làm cho các nước như Việt nam có chỗ dựa nên không sợ hãi để từng bước xâm chiếm quyền lợi biển của Trung Quốc ở khu vực Nam Hải, không thèm quan tâm đến chủ trương giải quyết hòa bình tranh chấp Nam Hải của Trung Quốc. Có phương tiện truyền thông cho rằng: “Những năm gần đây, Việt Nam tích cực tập trận với Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, và ngầm ám chỉ cho Mỹ có thể sử dụng lại căn cứ quân sự vịnh Cam Ranh, tìm cách thông qua tăng cường hợp tác về quân sự với Mỹ, coi đó là sự hậu thuẫn để nước này đối đầu với Trung Quốc”. Chuyên gia bình luận chính trị của Nam Phi Shannon Ebrahim cho rằng Mỹ luôn là cánh tay ở hậu trường làm cho tình hình căng thẳng của Nam Hải ngày càng gay gắt, vì nước này tổ chức tập trận hải quân chung với các bên tranh chấp ở Nam Hải, chuẩn bị đối đầu bất ngờ với tàu chiến Trung Quốc, thậm chí khuyến khích các bên tranh chấp ở Nam Hải tăng cường hành động chiếm lĩnh các đảo, đá ở Nam Hải. Vì vậy, việc hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt và mức độ can dự của Mỹ ở khu vực Nam Hải liên tục tăng lên, làm cho mức độ khó khăn của Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền Nam Hải, giải quyết vấn đề Nam Hải tăng lên mạnh mẽ.

3/ Ảnh hưởng đến việc xây dựng sự tin cậy lẫn nhau về chiến lược Trung – Mỹ và quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ

Quan hệ Trung – Mỹ có thể nói là cặp quan hệ song phương quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế hiện nay. Sự phát triển lành mạnh của quan hệ Trung – Mỹ không những phù hợp với lợi ích của người dân hai nước, mà còn phù hợp với lợi ích của người dân trên thế giới. Đúng như khi đến thăm Trung Quốc tháng 7/2016, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Susan Rice từng nhấn mạnh: “Không có quan hệ song phương nào quan trọng hơn ý nghĩa của quan hệ Trung – Mỹ”. Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, quan hệ Trung – Mỹ đã giành được sự phát triển rất lớn, Trung Quốc cũng rất coi trọng quan hệ với Mỹ, và những năm gần đây đã đề xuất và hy vọng xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới “không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác cùng thắng” với Mỹ. Nhưng do sự khác biệt về các mặt như văn hóa lịch sử, chế độ xã hội, quan niệm giá trị, mức độ phát triển và ý đồ chiến lược ngoại giao, nên hai bên tồn tại bất đồng trong không ít vấn đề, quan hệ song phương trải qua nhiều khó khăn, được cho là “quan hệ song phương phức tạp nhất”. Nhất là cùng với việc thực lực kinh tế và quân sự của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng, sự cảnh giác chiến lược của Mỹ đối với sự thành công của Trung Quốc đang tăng lên, khiến cho quan hệ Trung – Mỹ đối diện với thách thức mới. Có học giả cho rằng sự không tin tưởng nhau về chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ có xu thế sâu sắc thêm, đồng thời cảnh báo nếu cứ để mặc “sự hoài nghi lẫn nhau về chiến lược” này tiếp tục phát triển, chắc chắn sẽ làm cho tất cả các bên liên quan phải trả cái giá nặng nề. Sự tin cậy lẫn nhau về chiến lược là tiền đề để xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ, nếu Mỹ không từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh truyền thống, tiếp tục thúc đẩy quan hệ quân sự Mỹ – Việt đi vào chiều sâu, thì giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ thiếu hụt lòng tin chiến lược, quan hệ nước lớn kiểu mới Trung – Mỹ cũng khó có thể xây dựng.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần III


2/ Mỹ muốn lôi kéo Việt Nam để làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc

Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, Mỹ áp dụng chính sách vừa tiếp xúc vừa kiềm chế đối với Trung Quốc, cùng với việc Trung Quốc ngày càng hùng mạnh, chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc cùng với sự rêu rao của “Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc” liên tục nghiêng về kiềm chế. Sau khi Mỹ “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương”, bao vây và kiềm chế toàn diện Trung Quốc đã trở thành trọng điểm chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của nước này. Việt Nam được coi là quốc gia quan trọng của khu vực Đông Nam Á, nối liền trên đất liền và trên biển với Trung Quốc, phía Đông của Việt Nam trấn giữ vịnh Bắc Bộ và Nam Hải, có địa vị chiến lược rất quan trọng. Những năm gần đây, Trung Quốc thông qua ngoại giao láng giềng tích cực phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á, liên tục mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á, đây là điều mà Mỹ không muốn nhìn thấy. Do ân oán lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam phức tạp, hiện nay lại đang tồn tại tranh chấp chủ quyền, nên Việt Nam có mong muốn kiềm chế Trung Quốc, điều này đem đến cơ hội cho Mỹ lôi kéo Việt Nam. Mỹ tận dụng cơ hội Việt Nam có mưu cầu đối với mình về kinh tế, liên tục lôi kéo Việt Nam, tìm cách kéo Việt Nam vào phe kiềm chế Trung Quốc, hoàn thiện chuỗi kiềm chế do Hàn Quốc – Nhật Bản – Đài Loan (Trung Quốc) – Philippines – Việt Nam tạo thành, đồng thời trở thành điểm kết nối của “chuỗi đảo thứ nhất” với tuyến kiềm chế Trung Quốc của Ấn Độ. Vì vậy, báo cáo của Trung tâm dịch vụ nghiên cứu thuộc Quốc hội Mỹ cho rằng Việt Nam là “đối tác chiến lược tự nhiên” của Mỹ trên phương diện kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, phải “đưa Việt Nam vào hàng ngũ các quốc gia chủ yếu”, lấy Việt Nam để kiềm chế Trung Quốc. Hợp tác an ninh và quốc phòng là mồi nhử quan trọng để Mỹ lôi kéo Việt Nam. Mục đích của việc Mỹ từ dỡ bỏ một phần đến dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam là bán nhiều vũ khí tiên tiến và vũ khí sát thương cho Việt Nam, nâng cao năng lực kiềm chế Trung Quốc của nước này. Việc Mỹ tiến hành hợp tác với Việt Nam, ngầm cho phép Việt Nam tiến hành làm giàu urani, vừa là kết quả của việc thúc đẩy lợi ích kinh tế, vừa là xuất phát từ xem xét kiềm chế Trung Quốc về mặt ngoại giao và quân sự.

3/ Việt Nam hy vọng dựa vào sức mạnh của Mỹ để kiềm chế Trung Quốc

Cho dù Trung Quốc luôn kiên trì chính sách ngoại giao hòa bình, đặc biệt coi trọng sự hòa thuận và hữu nghị với các nước xung quanh, nhưng sự trỗi dậy của Trung Quốc vẫn làm cho một số nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam nảy sinh sự quan ngại, sợ rằng một Trung Quốc hùng mạnh sẽ tạo thành “mối đe dọa” đối với lợi ích và an ninh quốc gia của các nước này, vì vậy hy vọng dựa vào sức mạnh bên ngoài để kiềm chế Trung Quốc. Nghiên cứu viên của Trung tâm nghiên cứu Đông Tây Evelyn Goh cho rằng trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, cùng với tính không xác định của mối đe dọa tiềm tàng trong khu vực do sự trỗi dậy của Trung Quốc tạo ra khiến cho một số nhà phân tích nhận định, dường như tất cả các nước Đông Nam Á hiện nay đều coi Mỹ là “nước cân bằng tốt nhất” trên lĩnh vực quân sự, kinh tế và chính trị. Vì vậy, những quốc gia này đã lựa chọn “chiến lược nước đôi”: Một mặt tích cực triển khai hợp tác kinh tế thương mại, duy trì sự tiếp xúc về chính trị, chiến lược với Trung Quốc; mặt khác tăng cường hợp tác quân sự và chiến lược với Mỹ, hoan nghênh Mỹ đóng vai trò “nước cân bằng khu vực”. Trong các nước Đông Nam Á, các quốc gia biển đặc biệt hoan nghênh Mỹ, các quốc gia lục địa lại dựa vào Trung Quốc, còn Việt Nam vừa là quốc gia lục địa vừa là quốc gia biển, nên rất có hứng thú đối với “chiến lược nước đôi”, đồng thời trở thành lựa chọn chiến lược quan trọng của Việt Nam. Từ khi Mỹ tuyên bố “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương” đến nay, quan hệ Mỹ – Việt liên tục ấm lên, hợp tác quân sự được tăng cường liên tục, và Việt Nam về thực lực quân sự không thể đơn phương đối đầu với Trung Quốc hy vọng thông qua sự hỗ trợ quân sự của Mỹ để đạt được ý đồ chiến lược “dựa vào Mỹ để kiềm chế Trung Quốc”.

4/ Vấn đề Nam Hải đã đẩy nhanh tiến trình hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt

Những năm gần đây, vấn đề Nam Hải nóng lên nhanh chóng. Vấn đề Nam Hải chủ yếu là vấn đề Nam Sa (Trường Sa), tuy Trung Quốc đã sớm tuyên bố toàn bộ chủ quyền đối với quần đảo Nam Sa, nhưng phần lớn các đảo, đá của quần đảo này đã bị các nước láng giềng xung quanh như Việt Nam, Philippines… chiếm lĩnh, hình thành trạng thái “6 nước 7 bên” (Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Brunei và Đài Loan) can dự và hiện diện quân sự. Bên cạnh đó, các nước lớn bên ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản cũng can dự vào tranh chấp Nam Hải, làm cho xu thế quốc tế hóa vấn đề Nam Hải tăng nhanh. Việt Nam là quốc gia duy nhất trong các nước Đông Nam Á cho rằng nước này sở hữu toàn bộ chủ quyền và có phạm vi kiểm soát thực tế rộng nhất ở quần đảo Nam Sa, là nước tham gia chủ yếu trong tranh chấp Nam Hải. Do Nam Hải có nguồn tài nguyên biển phong phú và vị trí chiến lược quan trọng, Việt Nam có bờ biển trải dài đã đưa ra chính sách quốc gia “xây dựng quốc gia biển”, chủ yếu   là lấy kiểm soát và khai thác tài nguyên biển của Nam Hải làm trục chính trong sự phát triển của đất nước trong tương lai. Việt Nam không thể đơn phương đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải, hy vọng dựa vào sức mạnh của Mỹ để làm cho sự theo đuổi của mình ở Nam Hải được thực hiện, đặc biệt là phải biến sự chiếm giữ của Việt Nam đối với 29 đảo, đá trên Nam Hải thành sự thật. Và Mỹ cho rằng có lợi ích quốc gia ở Nam Hải, đang tìm cách xây dựng Việt Nam thành cầu nối để nước này can dự vào Nam Hải, liên kết với các nước như Việt Nam, Philippines… để kiềm chế đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Nam Hải, tăng cường sự hiện diện của Mỹ về quân sự và kinh tế ở khu vực Nam Hải, nâng cao quyền phát ngôn của Mỹ trong vấn đề Nam Hải. Chính sách của Nam Hải của Mỹ là giương cao ngọn cờ tự do hàng hải ở Nam Hải, khuyến khích các nước Đông Nam Á liên kết với nhau để quốc tế hóa vấn đề Nam Hải, gây sức ép với Trung Quốc để đạt được mục đích của mình. Vì vậy, quan hệ căng thẳng với Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải đã trở thành động lực lớn nhất của quan hệ an ninh Mỹ – Việt.

5/ Hợp tác quân sự Mỹ – Việt cũng là để đối đầu với Nga

Những năm gần đây, do Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và EU mở rộng về phía Đông, nhất là Cộng hòa Crimea tách khỏi Ukraine để gia nhập Nga, xung đột chiến lược Mỹ – Nga ngày càng gay gắt, quan hệ song phương liên tục xấu đi, cách nói “Chiến tranh Lạnh mới” giữa Mỹ và Nga liên tục xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, Mỹ và Nga không những triển khai đọ sức địa chính trị ở châu Âu, Trung Đông và Trung Á, mà còn kéo dài chiến trường đến các khu vực như Đông Á và Đông Nam Á. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Việt Nam từng là đồng minh chiến lược của Liên Xô. Hiện nay, nước Nga dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Putin tràn đầy nhiệt huyết, muốn khôi phục ảnh hưởng của Liên Xô ở Việt Nam, và quay trở lại vịnh Cam Ranh luôn là ước muốn của Nga. Tháng 11/2013, khi đến thăm Việt Nam, ông Putin đã thảo luận vấn đề tăng cường hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực quân sự, sau đó Nga đã viện trợ trang thiết bị và công nghệ quân sự cho Việt Nam, hải quân Nga cũng đã làm một số công tác chuẩn bị để khôi phục căn cứ quân sự ở vịnh Cam Ranh. Việc một lần nữa tiến vào đóng quân ở vịnh Cam Ranh có thể bảo đảm cho các hoạt động của Hạm đội Thái Bình Dương của Nga, có thể giúp đỡ hải quân Nga tấn công cướp biển ở khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Một khi kế hoạch quay trở lại Việt Nam của Nga thành công, có nghĩa là Nga giành được một thắng lợi địa chính trị, tạo thành thách thức đối với việc Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương và can dự vào tranh chấp Nam Hải. Vì vậy, ý đồ của việc Mỹ từ dỡ bỏ một phần đến dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm xuất khẩu vũ khí mang tính sát thương cho Việt Nam, đồng thời thực hiện các chuyến viếng thăm quân sự đến vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng, đối đấu với Nga trong việc bán vũ khí cho Việt Nam và mở rộng hải quân tương đối rõ rệt. Tuy Việt Nam hoan nghênh viện trợ quân sự đến từ Nga, đồng thời mong muốn phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Nga, nhưng Việt Nam cũng nhận thức được một cách rõ ràng rằng hiện nay quan hệ Trung – Nga là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vô cùng quan trọng và đáng tin cậy, các mối đe dọa do Mỹ quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương tạo ra sẽ thúc đẩy Trung Quốc và Nga tăng cường hợp tác trên nhiều phương diện, vào thời khắc then chốt Nga sẽ xem xét đến lợi ích của Trung Quốc, chưa chắc đứng về phía Việt Nam, vì vậy Việt Nam nghiêng nhiều hơn về hợp tác an ninh và quốc phòng với Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần II


4/ Sự hợp tác trên lĩnh vực năng lượng hạt nhân được tăng cường

Phát triển và sử dụng năng lượng hạt nhân có tính lưỡng dụng – quân sự và dân sự đặc biệt, vì vậy hợp tác hạt nhân có thể phản ánh kịp thời sự thay đổi của quan hệ giữa các nước. Ngay từ năm 2001 Việt Nam đã tìm cách hợp tác với Mỹ trên lĩnh vực hạt nhân dân sự, khi đó hai nước đã ký bản ghi nhớ liên quan. Tháng 8/2008, Đặc phái viên của Bộ Ngoại giao Mỹ về không phổ biến vũ khí hạt nhân bà Jackie Wolcott đến thăm Việt Nam, hai bên đã ký Bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng hạt nhân dân sự. Sau khi lên cầm quyền, Obama đã đẩy mạnh mức độ hợp tác hạt nhân Mỹ – Việt. Tháng 3/2010, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Michael W. Michalak và Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam Lê Đình Tiến ký Bản ghi nhớ hợp tác về năng lượng hạt nhân tại Hà Nội. Tháng 10/2013, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry và Phó Thủ tướng Việt Nam Phạm Bình Minh ký Thỏa thuận hợp tác năng lượng hạt nhân dân sự Mỹ – Việt tại Hội nghị cấp cao Đông Á. Theo thỏa thuận này, Mỹ sẽ chia sẻ công nghệ hạt nhân và nhiên liệu hạt nhân với Việt Nam, triển khai trao đổi công nghệ hạt nhân, tiến hành hợp tác trên lĩnh vực an ninh và tồn trữ hạt nhân…, đồng thời cho phép các công ty Mỹ xuất khẩu linh kiện hạt nhân và lò phản ứng hạt nhân dân sự sang Việt Nam. Tháng 2/2014, Tổng thống Obama đã phê chuẩn thỏa thuận này. Tháng 5/2016, Mỹ và Việt Nam lại ký dàn xếp hành chính của thỏa thuận này, nội dung bao gồm xây dựng mối liên hệ mang tính cơ chế, tăng cường đào tạo và giáo dục, bồi dưỡng cơ quan giám sát hiệu quả, tăng cường quản lý xuất khẩu, tăng cường theo dõi và đảm bảo an ninh đối với hạt nhân và nhiên liệu có tính phóng xạ, tăng cường năng lực phản ứng với sự kiện, tăng cường hợp tác công – tư và thúc đẩy thương mại hạt nhân dân sự giữa hai nước…

5/ Dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm xuất khẩu vũ khí đối với Việt Nam

Dỡ bỏ lệnh cấm xuất khẩu vũ khí đối với Việt Nam là trọng tâm của hợp tác quân sự Mỹ – Việt. Mỹ bắt đầu cấm vận vũ khí đối với Việt Nam từ năm 1975. Năm 1984, Mỹ chính thức thực hiện cấm vận vũ khí đối với Việt Nam. Năm 1995, sau khi Việt Nam gia nhập ASEAN và thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ dỡ bỏ trừng phạt kinh tế đối với Việt Nam, nhưng vẫn giữ lại các quy định cấm vận có liên quan đến quốc phòng. Cùng với sự cải thiện của quan hệ Mỹ – Việt, thái độ của Mỹ đối với lệnh cấm vận vũ khí Việt Nam dần thay đổi trong những năm gần đây. Tháng 12/2006, Chính quyền Bush (con) xóa bỏ lệnh cấm bán vật tư quân sự không mang tính sát thương cho Việt Nam. Năm 2007, Mỹ lại sửa đổi điều lệ thương mại vũ khí, cho phép xem xét bán vũ khí không mang tính sát thương cho Việt Nam, điều này đánh dấu sự tin cậy lẫn nhau về quân sự Mỹ – Việt bước đầu đã được xây dựng. Tháng 10/2014, Mỹ dỡ bỏ một phần cấm vận vũ khí mang tính sát thương cho Việt Nam, miễn là những vũ khí và trang thiết bị này được sử dụng vào phòng ngự an ninh trên biển. Tháng 5/2016, trong thời gian đến thăm Việt Nam Tổng thống Obama tuyên bố Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, việc dỡ bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam đã xóa sạch tàn dư cuối cùng còn sót lại trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, đánh dấu sự tin cậu lẫn nhau về quân sự giữa Mỹ và Việt Nam đang tăng lên, hợp tác an ninh quốc phòng song phương phát triển đến một giai đoạn mới.

6/ Hợp tác an ninh quốc phòng ngày càng được cơ chế hóa

Kể từ khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Cohen đến thăm Việt Nam năm 2000, cơ bản đã hình thành cơ chế cứ 3 năm Bộ trưởng Quốc phòng hai nước thực hiện một chuyến thăm viếng lẫn nhau. Năm 2008, Mỹ và Việt nam đã khởi động đàm phán an ninh hàng năm do Bộ Ngoại giao Mỹ và Bộ Ngoại giao Việt Nam đứng đầu, triển khai đối thoại chiến lược về đề tài chính trị, quốc phòng và an ninh, trong đó liên quan đến vấn đề an ninh rộng rãi, bao gồm quân đội Việt Nam tham gia nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc, quân đội Mỹ giúp đỡ hoạt động tìm kiếm cứu nạn ở Việt Nam… Từ năm 2010 đến nay, mỗi năm hai nước đều tổ chức đối thoại chính sách quốc phòng cấp thứ trưởng. Tháng 9/2011, tại Hội nghị đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 2, Mỹ và Việt Nam đã ký Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, với mục đích là xây dựng khuôn khổ cho hợp tác an ninh và quốc phòng song phương. Ngoài hợp tác song phương, Mỹ và Việt Nam còn hợp tác an ninh quốc phòng trong các cơ chế đa phương như Hội nghị cấp cao Đông Á, Diễn đàn khu vực ASEAN, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng..

II/ Nguyên nhân và ý đồ của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt

Quan hệ Mỹ – Việt từ kẻ thù trước kia diễn biến phát triển thành quan hệ đối tác toàn diện hiện nay, nhất là những tiến triển đã giành được trên lĩnh vực hợp tác an ninh và quốc phòng nhận được sự quan tâm của mọi người. Cho dù quan chức hai nước rất ít đề cập thậm chí tránh không đề cập đến nguyên nhân và mục đích của sự hợp tác giữa hai nước trên lĩnh vực an ninh và quốc phòng, nhưng tổng hợp các yếu tố phân tích như tình hình địa chính trị và địa an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, bối cảnh và nội dung của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt… trong những năm gần đây, không khó để phát hiện nguyên nhân và ý đồ của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt.

1/ Sự trỗi dậy của Trung Quốc là nguyên nhân chủ yếu của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt

Từ cải cách mở cửa đến nay, sức mạnh tổng hợp quốc gia của Trung Quốc tăng lên nhanh chóng, địa vị và ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc liên tục tăng cao, là nước có ảnh hưởng quan trọng lớn ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, về khách quan đã tạo thành thách thức đối với ảnh hưởng và địa vị chủ đạo của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cố thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu cảnh báo “Nếu Mỹ không tiếp tục tham gia các công việc của châu Á để kiềm chế sức mạnh quân sự và kinh tế của Trung Quốc, thì có thể mất địa vị lãnh đạo toàn cầu”. Tuy Mỹ là siêu cường duy nhất trên thế giới hiện nay, nhưng việc thực lực suy yếu tương đối cũng như thực tế phát triển đa cực hóa trên thế giới khiến cho Mỹ không thể muốn làm gì thì làm, nếu không tận dụng các nước đồng minh hoặc kết hợp với các lực lượng khác, không xây dựng sự cân bằng quyền lực trong khu vực, thì không thể đề phòng trên thế giới một lần nữa xuất hiện đối thủ hùng mạnh giống như Liên Xô thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ. Trong tình hình mới, để bảo vệ địa vị bá quyền của mình, Mỹ thúc đẩy chiến lược “cân bằng quyền lực bá quyền”, đó là theo đuổi bá quyền thế giới trên cơ sở bảo đảm sự cân bằng quyền lực trong khu vực và cân bằng quyền lực nước lớn. Chính quyền Obama đề xuất “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương”, thực hiện chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương”, đưa nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương bao gồm cả Việt Nam vào phạm vi chiến lược này, để đạt được mục đích cùng kiềm chế Trung Quốc, trên thực tế chiến lược này là một phần của chiến lược “cân bằng quyền lực bá quyền”. Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ “lợi ích quốc gia”. Việt Nam sẵn sàng trở thành quân cơ của Mỹ trong chiến lược “tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương”, dựa vào thực lực của Mỹ để đối đầu với Trung Quốc. Cả Mỹ và Việt Nam đều có nhu cầu của mình, phối hợp với nhau, liên tục thúc đẩy hợp tác song phương trên lĩnh vực an ninh và quốc phòng đi vào chiều sâu.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017

Trung Quốc đang vũ khí hóa nguồn tài nguyên nước


Eugene K. Chow

Một vũ khí sắc bén giấy trong chiếc vỏ bình yên của Trung Quốc đang đe dọa và cho phép nước này giữ được 1/4 con tin của thế giới mà không phải bắn một phát súng nào. Mặc dù, thế giới đã chú ý nhiều tới các trang thiết bị quân sự mới đáng sợ của các quốc gia châu Á này nhưng ít ai chú ý tới một thành phần trong kho vũ khí đáng gờm này mà Trung Quốc gần như lẩn tránh không thông báo, đó là những con đập.

Với hơn 87.000 con đập và khả năng kiểm soát vùng cao nguyên Tây Tạng, nơi bắt nguồn của 10 con sông lớn, cung cấp sinh kế cho khoảng 2 tỷ người, Trung Quốc đang sở hữu một vũ khí hủy diệt hàng loạt. Chỉ cần vặn nút, Trung Quốc có thể giải phóng hàng trăm triệu gallon nước từ các đập lớn, gây lũ lụt thảm khốc, làm thay đổi toàn bộ hệ sinh thái ở cá quốc gia khu vực hạ lưu. Trung Quốc từ lâu đã biết tới sức mạnh hủy diệt của nước. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm ngăn chặn quân đội Nhật Bản, Tướng Lương Khải Siêu, chỉ huy Quân đội Trung Quốc lúc bấy giờ đã cho phá hủy một con đê dọc theo sông Hoàng Hà làm ngập hàng nghìn hecta đất nông nghiệp, khiến khoảng 800.000 Trung Quốc thiệt mạng và gần 4 triệu người phải di dời. Rất ít khả năng Trung Quốc sẽ thực hiện hành động hủy hoại này đối với các nước láng giềng, nhưng thực tế, đây vẫn là đòn bẩy của Trung Quốc, với vị thế là một quốc gia ở khu vực thượng lưu có khả năng kiểm soát nguồn lực thiết yếu nhất của cuộc sống.

Dãy Himalaya được mệnh danh là “Tháp nước của châu Á”. Năm trong số những con sông lớn nhất của lục địa bắt nguồn từ đây, bao gồm: sông Mekong, sông Hằng, sông Dương Tử, sông Indus và sông Irrawaddy. Nước bắt nguồn từ tuyết tan trên cao nguyên Tây Tạng tạo thành những dòng sông hùng vĩ chảy qua biên giới của Trung Quốc trước khi đến Nam Á. Nhằm đáp ứng nhu cầu điện còn thiếu hụt và một phần giảm sự phụ thuộc vào than, Trung Quốc đã xây dựng một loạt con đập. Năm 1949, Trung Quốc có chưa đến 40 đập thủy điện nhỏ, nhưng hiện tại, nước này có nhiều đập hơn cả Mỹ, Brazil và Canada kết hợp lại. Riêng trên sông Mekong, Trung Quốc đã xây dựng 7 con đập lớn và có kế hoạch xây dựng thêm 21 con đập nữa. Chỉ tính riêng một con đập mới của Trung Quốc thôi cũng có khả năng sản xuất thủy điện nhiều hơn tất cả các con đập của Việt Nam và Thái Lan trên sông Mekong cộng tại. Sự gia tăng mạnh mẽ trong hoạt động xây dựng đập đã có tác động môi trường lớn và gây lo ngại ở các quốc gia phía hạ lưu.

Milap Chandra Sharma, một nhà nghiên cứu khí hậu học thuộc Đại học Jawaharlal Nehru ở Ấn Độ, nói: “Ngoài những vấn đề môi trường, các đập ở Tây Tạng có thể khiến (Ấn Độ) rơi vào tình trạng thảm khốc. Chúng có thể vỡ trong các trận động đất, việc phá vỡ đập dù vô tình hay cố ý đều có thể trở thành vũ khí chống lại Ấn Độ trong một cuộc chiến tranh”. Các nước láng giềng phía Nam của Trung Quốc sẽ không lo lắng nếu không có lý do. Trong quá khứ, Ấn Độ đã cáo buộc Trung Quốc xả các con đập gây các trận lũ quét, bao gồm một trận gây ra thiệt hại ước tính khoảng 30 triệu USD và khiến 500.000 người trở thành vô gia cư ở khu vực Đông Bắc Ấn Độ. Mỗi năm, vào mùa mưa của Trung Quốc, các quốc gia ở hạ lưu đều trong trạng thái cảnh giác cao độ khi các con đập của nước này xả nước để giảm áp lực mà ít khi cảnh báo trước.

Ông Lê Anh Tuấn, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu Việt Nam, giải thích: “Việc xả một con đập sẽ gây hiệu ứng ảnh hưởng domino trên toàn bộ hệ thống, có thể gây ra thiệt hại lớn”. Ngoài lũ lụt, các con đập của Trung Quốc cũng được cho là nguyên nhân gây ra các đợt hạn hán tồi tệ hơn. Năm ngoái, Việt Nam đã “xin” Trung Quốc xả nước từ đập Vân Nam trên sông Mekong để giảm bớt tình trạng thiếu nước trầm trọng ở hạ nguồn. Sau đó, Trung Quốc mới đồng ý và cho nước chảy vào Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan và Việt Nam. Hai thái cực hạn hán và lũ lụt không chỉ làm nổi bật tác động môi trường của các con đập ở Trung Quốc mà còn là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước láng giềng phía Nam. Những con sông này là nguồn gốc sự sống ở Nam Á, cung cấp ước uống, tưới tiêu cho canh tác, môi trường sống cho ngư nghiệp và vận chuyển thương mại.

Bằng cách kiểm soát dòng chảy huyết mạch của khu vực, Trung Quốc đã đạt được sức mạnh to lớn và đối mặt với những cáo buộc lạm dụng. Ông Tanasak Phosrikun, một nhà hoạt động Thái Lan ở sông Mekong, nói: “Về mặt ngoại giao, Trung Quốc đã sử dụng các con sông như một quân bài mặc cả”. Trung Quốc đã phủ nhận những cáo buộc này. Năm ngoái, phản bác trước sự tức giận ngày càng tăng ở Ấn Độ đối với các con đập của Trung Quốc, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc đã đưa ra một tuyên bố: “Quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ không nên bị ảnh hưởng bởi một cuộc chiến tranh nước”. Tuyên bố có đoạn: “Thành thật mà nói, Ấn Độ không nhất thiết phải cường điệu hóa các dự án (xây dựng đập) này, vì các dự án chỉ nhằm mục đích giúp phát triển và sử dụng các tài nguyên nước một cách hợp lý”. Mặc dù Trung Quốc phủ nhận sự tồn tại của một “cuộc chiến tranh nước”, nhưng lại từ chối chia sẻ dữ liệu thủy văn với Ấn Độ vào năm nay, mặc dù hai bên đã ký một thỏa thuận. Dữ liệu này rất quan trọng trong mùa mưa, do nó có thể giúp Ấn Độ dự báo chính xác hơn lũ lụt và cảnh báo người dân và quan trọng nhất là có thể cứu mạng sống và giảm thiểu thiệt hại.

Cho dù cố ý hay không nhưng nước đã trở thành một vũ khí hữu hình cung cấp cho Trung Quốc đòn bẩy chính trị đáng kể so với các nước láng giềng phía Nam. Khi tình trạng khan hiếm nước trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu và sự gia tăng dân số thì nhu cầu về nguồn tài nguyên quý giá này sẽ tăng lên, làm tăng sức mạnh của Trung Quốc và tăng cường xung đột. Mặc dù có nhiều nỗ lực hợp tác khu vực nhưng các nước Nam Á vẫn không thể thành công trong việc khuyến khích phát triển bền vững và có trách nhiệm đối với các con sông. Khi nói đến các con sông ở châu Á, với khả năng kiểm soát cao nguyên Tây Tạng nhờ vị trí địa lý của mình, Trung Quốc là vua, và có rất ít quốc gia ở hạ lưu có thể làm để thay đổi ngai vàng của vị vua này.

Nguồn: http://nationalinterest.org/blog/the-buzz/china-weaponizing-water-22053

TKNB – 31/08/2017

Hợp tác an ninh quốc phòng Việt – Mỹ và ảnh hưởng đối với Trung Quốc – Phần I


Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995 đến nay, quan hệ song phương Mỹ – Việt liên tục phát triển, lĩnh vực hợp tác không ngừng mở rộng, mức độ hợp tác liên tiếp được nâng cao, nhất là từ khi Chính quyền Obama đưa ra chiến lược “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương” đến nay, Mỹ đã đẩy nhanh tiến độ hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt, đồng thời đã giành được những tiến triển quan trọng. Việt Nam là láng giềng của Trung Quốc, là thành viên quan trọng của Đông Á, đặc biệt là trong các nước ASEAN. Vì vậy, hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ – Việt tăng lên chắc chắn sẽ nảy sinh những ảnh hưởng đối với tình hình an ninh và đại chính trị của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng sẽ nhận được sự quan tâm nhiều hơn của rất nhiều quốc gia ở châu Á trong đó có cả Trung Quốc. Ý định hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt là gì? Liệu Mỹ và Việt Nam cuối cùng có xây dựng liên minh quân sự hoặc liên minh bán quân sự hay không? Hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt sẽ nảy sinh ảnh hưởng như thế nào đối với ngoại giao và an ninh của Trung Quốc? Trung Quốc phải đối phó ra sao? Giới học giả và giới chiến lược Trung Quốc đã có những nghiên cứu nhất định về những vấn đề này, bài viết dự định thực hiện nghiên cứu hơn nữa đối với những vấn đề nêu trên.

I/ Sự phát triển của hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt

Như mọi người đã biết, Mỹ và Việt Nam từng là kẻ thù không đội trời chung, Chiến tranh Việt Nam kéo dài 20 năm đã gây ra tổn thất to lớn cho cả hai bên. Tuy nhiên, giữa các nước không có kẻ thù vĩnh viễn, cũng không có bạn bè vĩnh viễn, cùng với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và sự thay đổi của tình hình quốc tế, Mỹ và Việt Nam – cặp kẻ thù trước kia này – đang nhanh chóng xích lại gần nhau.

Hợp tác an ninh và quốc phòng là mắt xích quan trọng của hợp tác Mỹ – Việt. Tháng 7/1995, Mỹ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao, thực hiện bình thường hóa quan hệ, điều này đã đặt cơ sở chính trị tốt đẹp cho sự phát triển của quan hệ quân sự song phương trong tương lai. Sau đó, cùng với sự phát triển liên tục của quan hệ chính trị và ngoại giao song phương, hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt liên tiếp tăng lên. Tháng 3/2000, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ William Cohen đến thăm Việt Nam. Tháng 11 cùng năm, Tổng thống Bill Clinton trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên đến thăm Việt Nam sau chiến tranh, hai “chuyến thăm phá băng” này đã mở đầu cho các bước hợp tác quân sự song phương. Những năm gần đây, hợp tác an ninh và quốc phòng Mỹ – Việt giành được tiến triển liên tiếp, chủ yếu được thể hiện ở những mặt sau:

1/ Hai bên từ chiến lược ngày càng coi trọng hợp tác an ninh và quốc phòng

Ngay từ tháng 5/2001, công ty RAND của Mỹ đưa ra bản báo cáo có tiêu đề là: “Mỹ và châu Á: Hướng tới tình thế chiến lược và sức mạnh mới” cho rằng Mỹ và Việt Nam tồn tại tiềm năng hợp tác quân sự rất lớn. Từ khi đề xuất “quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương” đến nay, Chính quyền Obama ngày càng coi trọng địa vị và vai trò quan trọng của các nước châu Á như Việt Nam… trong chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Báo cáo quốc phòng 4 năm một lần của Mỹ được đưa ra năm 2010 đề cập đến việc coi Việt Nam, Indonesia và Malaysia là trọng điểm của châu Á, đồng thời cho rằng những quốc gia này là đối tác chiến lược tiềm tàng của Mỹ. Báo cáo chiến lược quân sự quốc gia được đưa ra năm 2012 nhấn mạnh Mỹ phải phát triển quan hệ quân sự với Việt Nam, xây dựng Việt Nam trở thành đối tác chiến lược mới, để phục vụ cho chiến lược quay trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ. Báo cáo quốc phòng 4 năm một lần của Mỹ được đưa ra năm 2014 đề xuất bên cạnh việc tăng cường hợp tác an ninh với các đồng minh then chốt như Nhật Bản, Australia…, phải thúc đẩy quan hệ quốc phòng với các đối tác then chốt như Việt Nam… đi vào chiều sâu. Tháng 6/2012, khi đến thăm vịnh Cam Ranh, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó Leon Panetta nói thẳng: “Mỹ và Việt Nam tồn tại mối quan hệ phức tạp trên lĩnh vực quốc phòng, nhưng chúng ta sẽ không bị ràng buộc bởi lịch sử, Mỹ hy vọng mở rộng quan hệ quốc phòng với Việt Nam”. Tháng 7/2013, Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đến thăm Mỹ, cùng với Tổng thống Mỹ Barack Obama đưa ra tuyên bố chung, hai bên quyết định xây dựng quan hệ đối tác toàn diện, để thúc đẩy sự hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại, khoa học, công nghệ và quốc phòng. Học giả người Canada gốc Việt Nam Vũ Đức Khanh phân tích cho rằng để thực hiện chiến lược “xoay trục” sang châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ phải mở rộng số lượng đối tác chiến lược đáng tin cậy của nước này, và Việt Nam có thể trở thành đối tác như vậy. Tháng 6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng của Mỹ và Việt Nam ký “Tuyên bố chung về tầm nhìn quan hệ quốc phòng” tại Hà Nội, để tăng cường hơn nữa quan hệ quốc phòng song phương. Tuyên bố này chỉ đạo hơn nữa hai nước phát triển quan hệ quốc phòng, cùng xử lý vấn đề còn sót lại sau chiến tranh, chia sẻ kinh nghiệm trong các vấnt đề như tìm kiếm cứu nạn, đối phó với thảm họa thiên nhiên, gìn giữ hòa bình…, tăng cường đối thoại.

2/ Các chuyến viếng thăm quân sự cấp cao liên tiếp

Tiếp sau khi William Cohen và Bill Clinton đến thăm Việt Nam tháng 11/2003, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phạm Văn Trà đến thăm Mỹ, đây là chuyến thăm Mỹ đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 đến nay, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã tiến hành hội đàm về vấn đề còn sót lại của lịch sử và quan hệ quân sự song phương. Tháng 6/2006, Bộ trưởng Quốc phòng mỹ Donald Henry Rumsfeld đến thăm Việt Nam, với mục đích thúc đẩy quan hệ quân sự Mỹ – Việt. Tháng 12/2009, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quanh Thanh đến thăm Mỹ, 10/2010 Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Roberts Gates lấy danh nghĩa tham gia Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng thăm đáp lễ Việt Nam. Tháng 6/2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đến thăm Việt Nam, đây là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đầu tiên đến thăm vịnh Cam Ranh trong hơn 30 năm, điều này cho thấy quan hệ quân sự Mỹ – Việt đã đi sâu hơn nữa. Tờ Washington Post của Mỹ đưa ra bình luận về vấn đề này, cho rằng hành động này đã thể hiện quan hệ đối tác ngày càng đi sâu giữa Mỹ và kẻ thù trước kia. Tháng 8/2014, Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey đến thăm Việt Nam, đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ sau Chiến tranh Việt Nam. Cuối tháng 5 đến đầu tháng 6/2015, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter đến thăm Việt Nam.

3/ Hợp tác và giao lưu quân sự mang tính thực chất được triển khai liên tục

Một là tập trận chung. Năm 2002, với tư cách là quan sát viên quân sự, Việt Nam lần đầu tiên đã tham gia cuộc tập trận chung « Hổ mang vàng » giữa Mỹ, Thái Lan và Singapore. Tháng 4/2009, Mỹ mời quân đội Việt Nam lên tàu sân bay USS John C. Stennis quan sát diễn tập bay của tàu sân bay này ở Nam Hải (Biển Đông). Cùng với tình hình Nam Hải ấm lên, kể từ năm 2010 việc Hạm đội 7 của Mỹ đến thăm Việt Nam và triển khai tập trận chung « không mang tính tác chiến » đã trở thành trạng thái bình thường, mỗi năm hải quân hai nước đều muốn tổ chức các cuộc tập trận liên quan. Hai là mở cửa cảng quân sự của Việt Nam, triển khai « ngoại giao chiến hạm ». Tháng 11/2003, tàu chiến Vandegrift (FFG-48) đến thăm thành phố Hồ Chí Minh, đây là chuyến thăm đầu tiên của tàu quân sự Mỹ từ năm 1975 đến nay, chuyến thăm này đã mở ra tiến trình « ngoại giao chiến hạm » giữa hai nước, sau đó tần suất Mỹ đến thăm Việt Nam ngày càng cao, nội dung giao lưu ngày càng phong phú. Tháng 8/2010, tàu sân bay USS George Washington (CVN-73) của Mỹ đến vùng biển Đà Nẵng của Việt Nam, đoàn cán bộ liên ngành Việt Nam còn lên tàu sân bay của Mỹ, sau đó tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS John S. McCain (DDG-56) cũng đến Đà Nẵng, tham gia tập trận chung hải quân Mỹ – Việt. Năm 2011, Bộ Quốc phòng Việt Nam lần đầu tiên cử quan chức quân đội đến các trường quân sự và cơ quan quân sự của Mỹ học tập. Tháng 7/2011, tàu chiến USS Chung-Hoon (DDG-93) và tàu cứu hộ USNS Safeguard (T-ARS-50) của Hạm đội 7 của Mỹ đến thăm Đà Nẵng. Tháng 4/2012, tàu chiến của Hạm đội 7 một lần nữa đến thăm Việt Nam. Tháng 6 cùng năm, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đến thăm vịnh Cam Ranh. Việt Nam mở cửa cảng quân sự là mấu chốt hợp tác quân sự Mỹ – Việt. Vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng từng là cầu nối để lực lượng mặt đất của Mỹ can dự vào Chiến tranh Việt Nam, hiện nay bị bên ngoài coi là « trụ cột chiến lược » để Mỹ can dự vào Nam Hải. Cùng với hợp tác quân sự Việt – Mỹ mật thiết hơn nữa, Việt Nam « về nguyên tắc đã đồng ý cho tàu quân sự Mỹ lưu lại vịnh Cam Ranh để tiếp tế », khiến cho khả năng quân đội Mỹ quay trở lại vịnh Cam Ranh trong tương lai dần trở thành hiện thực. Ngoài ra, hợp tác giao lưu quân sự hai nước còn bao gồm hoạt động cứu trợ nhân đạo, Mỹ huấn luyện gìn giữ hòa bình và cung cấp tàu tuần tra, radar, máy bay giám sát trên biển… cho quân đội Việt Nam.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh quốc tế (TQ)

TLTKĐB – 16, 17/08/2017

Thế khó của Việt Nam trong xử lý quan hệ với Trung Quốc hiện nay


Đe dọa sử dụng vũ lực của Bắc Kinh chống lại Hà Nội nhằm phản đối kế hoạch khai thác năng lượng của Việt Nam trên Biển Đông có nguy cơ làm xấu đi mối quan hệ vừa được hâm nóng lại giữa hai nước.

Tình hình Biển Đông trong những năm gần đây luôn căng thẳng, nhưng Trung Quốc chưa từng công khai đe dọa tấn công Việt Nam vì những hoạt động khai thác năng lượng ở vùng biển này.

Tuy nhiên, ngày 24/7 vừa qua, theo thông tin của BBC, Trung Quốc đã đe dọa sử dụng vũ lực nếu Việt Nam không ngừng thăm dò dầu khí tại lô 136-03, nơi tập đoàn dầu khí Repsol của Tây Ban Nha đang thăm dò chung với một doanh nghiệp năng lượng quốc doanh của Việt Nm. Hà Nội sau đó đã đề nghị Repsol rời khu vực.

Bộ Ngoại giao Việt Nam không đưa ra các bình luận nhằm làm rõ về tình hình và lời đe dọa mà Bắc Kinh đưa ra. Về phía mình, Bắc Kinh cũng không phủ nhận thông tin này. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết đã hối thúc “các bên liên quan ngừng các hành động xâm phạm đơn phương và tránh làm phức tạp thêm tình hình Biển Đông”. Trước đó, Trung Quốc cũng đã đe dọa tất cả các công ty đa quốc gia và các công ty dầu khí nhà nước tránh xa khu vực biển tranh chấp.

Có thể thấy Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật “cây gậy” và “củ cà rốt” với các công ty nước ngoài khi bóng gió rằng các lợi ích của những công ty này có thể bị ảnh hưởng nếu họ tiếp tục hợp tác với Việt Nam.

Trung Quốc từng rất khó chịu với thỏa thuận khai thác dầu khí trị giá 10 tỷ USD giữa Việt Nam với Exxon-Mobil tại mỏ Cá Voi Xanh ngoài khơi bờ biển Quảng Ninh. Trữ lượng của mỏ này ước tính khoảng 150 tỷ m3 khí. Ngoài ra, Hà Nội gần đây còn gia hạn việc khai thác dầu khí trên Biển Đông cho công ty dầu khí nhà nước Ấn Độ ONGC Videsh Ltd.

Ý đồ của Ấn Độ là muốn giữ chân Trung Quốc lâu hơn tại Biển Đông nhằm làm chậm bước tiến của Bắc Kinh xuống khu vực Ấn Độ Dương. Tuy nhiên, New Delhi cũng không muốn mở một mặt trận đối đầu khác với Trung Quốc, nhất là trên biển, trong khi tình hình tranh chấp biên giới trên bộ với Trung Quốc đang nóng lên tại Sikkim.

Vụ việc tại mỏ 136-03 với Repsol làm dấy lên câu hỏi liệu Exxon-Mobil có phải là nạn nhân tiếp theo. Lợi ích của tập đoàn này tại Việt Nam có thể sẽ buộc Mỹ điều tàu chiến tới bảo vệ khỏi sự đe dọa của Trung Quốc. Một kịch bản có nguy cơ làm gia tăng sự bất ổn trong khu vực, bất chấp việc Việt Nam mong muốn Mỹ tiến hành các hoạt động tuần tra bảo đảm tự do hàng hải trên Biển Đông.

Tới nay, những tuyên bố cứng rắn của chính quyền Trump với Trung Quốc trên Biển Đông vẫn chưa được thể hiện rõ nét bằng hành động. Hồi tuần trước, 2 máy bay chiến đấu Trung Quốc đã chặn một máy bay do thám của Hải quân Mỹ trên Biển Hoa Đông. Một trong số đó đã bay cách máy bay Mỹ khoảng 300 feet.

Quan hệ Việt – Trung hiện đang phức tạp hơn bao giờ hết. Hai bên đều muốn giữ mối quan hệ thân thiết, thể hiện qua một loạt cuộc gặp đều đặn và các thỏa thuận song phương. Trung Quốc đã có những động thái cố gắng kết nối lại với Việt Nam sau sự kiện giàn khoan Hải Dương – 981 hồi tháng 5/2014. Hai nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, mức cao nhất trong quan hệ song phương và là mối quan hệ được Hà Nội đặt cao hơn so với Nga và Ấn Độ. Trung Quốc cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, một nhà đầu tư lớn, chỉ sau Hàn Quốc và cũng là thị trường cung cấp khách du lịch ngày càng quan trọng với Việt Nam.

Tuy vậy, căng thẳng giữa hai nước không vì thế mất đi. Tướng Phạm Trường Long – Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, mới thăm Việt nam hồi đầu tháng này và đã cắt ngắn chuyến đi. Lý do được cho là hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam tại lô 136-03 kể trên. Một chi tiết đáng chú ý nữa là chuyến thăm diễn ra chỉ 2 ngày sau khi Trung Quốc triển khai một hệ thống phòng không trên Đá Chữ Thập.

Dường như hiện nay Việt Nam không muốn làm lớn căng thẳng với Trung Quốc trên các phương tiện truyền thông nhằm tránh các cuộc biểu tình chống Trung Quốc từng biến thành bạo lực như giữa năm 2014. Thời điểm mà Trung Quốc vừa đưa ra lời đe dọa với Việt Nam cũng rất nhạy cảm trong bối cảnh Việt Nam đang gia tăng trấn áp các tiếng nói bất đồng. Nếu sự đe dọa của Trung Quốc tăng lên, rất có khả năng sẽ có những cuộc biểu tình bùng phát. Gần đây, chính phủ Việt Nam đã bỏ tù hoặc trục xuất nhiều blogger chỉ trích chính phủ và Trung Quốc. Do vậy, đây không phải là thời điểm để Hà Nội có thể cho phép các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vốn có thể lan rộng và biến tướng.

Nguồn: TKNB – 31/07/2017