Vấn đề Biển Đông trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc hiện nay


  1. Vũ Cao Phan

Trong các nước Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia có quan hệ sâu rộng nhất với Trung Quốc, trên mọi lĩnh vực. Cùng với Myanmar và Lào, Việt Nam có đường biên giới trên bộ khá dài với Trung Quốc. Việt Nam cùng có biên giới trên biển quan trọng với nước này, không nói về “đường 9 đoạn”. Việt Nam cũng sở hữu hệ thống Mekong – Lan Thương với Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lục địa. Việt Nam cũng là nước có quan hệ kinh tế – thương mại lớn nhất với Trung Quốc.

Để thấy rằng những tính chất bất khả kháng của Việt Nam trong mối quan hệ này và cũng để thấy rằng Việt Nam phải ở tuyến đầu trong cách ứng xử với Trung Quốc. Theo cách mà Jay Batongbacan nói về vai trò của Philippines trong phán quyết của Tòa Trọng tài (đã nêu ở trên), ta cũng có thể bảo: Nếu Việt Nam không quan tâm đến vai trò tuyến đầu của mình thì không một nước nào trong hoặc ngoài khu vực có thẩm quyền (cả về mặt đạo đức lẫn pháp lý) nắm giữ vai trò ấy.

Trong ba mối quan hệ/ràng buộc đang có với Trung Quốc thì Biển Đông nằm ở trung tâm, còn kinh tế và hệ thống sông Mekong-Lan Thương rất có thể trở thành công cụ của một bên thứ ba như đã nói. Không khó để nhìn ra sự “khôn ngoan” của đối phương nhưng chưa thấy Việt Nam có một đối sách thật sự ở tầm chiến lược. Nói “thoát Trung” để bây giờ càng “dính” chặt hơn? Về hệ thống Mekong-Lan Thương cũng vậy. Trung Quốc trữ một lượng nước lớn ở thượng nguồn bằng một loạt con đập nhưng nhiều con đập không để làm thủy điện. Để làm gì? Người ta có quyền đặt câu hỏi về vấn đề này, nhất là từ lâu Trung Quốc đã có ý định tìm cách cung cấp nước cho vùng khô hạn phía đông và phía bắc của mình. Cơ chế hợp tác Lan Thương – Mekong (LMC) không cho thấy mục đích rõ ràng, dù nó nằm dưới ngọn cờ “cộng đồng chung vận mệnh” với rất nhiều tiêu ngữ bóng bẩy. Hầu như Bắc Kinh chưa đưa ra cam kết nào đối với yêu cầu quản lý và ổn định dòng chảy, bảo đảm cung cấp nước và phù sa cho hạ lưu, giữ vững hệ sinh thái. Tóm lại, vấn đề quản lý tài nguyên nước đã hoàn toàn bị bỏ qua; trong khi ở thượng lưu, chỉ với 11 con đập, Trung Quốc trữ tới 50% lượng nước của Mekong – Lan Thương vào mùa khô hạn!

Biển Đông là nơi tập trung những vấn đề chủ yếu liên quan đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đáng tiếc đó lại là những vấn đề tiêu cực, trái với điều Trung Quốc thường rêu rao là tình hình khu vực này ổn định (ngay cả khi xảy ra sự việc ở bãi Tư Chính nửa cuối năm 2019). Không thể hy vọng giải quyết cơ bản hoặc một lần khi các mâu thuẫn diễn ra đã mấy chục năm mà vẫn đang ngày thêm trầm trọng. Nhưng đã đến lúc yêu cầu các bên nhìn thẳng vào vấn đề với tinh thần hợp tác, không lảng tránh.

Thứ nhất, vấn đề Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Việt Nam cần nắm lấy cơ hội, buộc nước lớn này phải đàm phán thực chất trên cơ sở kiến nghị của tất cả 11 bên, đặc biệt với các nước có tranh chấp Biển Đông.

Thứ hai, vấn đề “đường 9 đoạn”. Gần đây, phía Trung Quốc đã giảm thiểu phát ngôn chính thức từ phía nhà nước về “đường 9 đoạn”. Giáo sư Robert Beckman từ Đại học Quốc gia Singapore ngày 6/1/2020 cho rằng Trung Quốc đang từ bỏ yêu sách “đường 9 đoạn” và thay thế nó bằng yêu sách chủ quyền đối với 4 cụm đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, Pratas/Đông Sa và Macclesfield/Tây Sa). Trung Quốc sẽ không bao giờ tìm được cơ sở pháp lý cho “đường 9 đoạn” để giải thích cho chính người Trung Quốc (chưa nói quốc tế) như tuyên bố hùng hồn (rồi bỏ mặc đấy) của ông Ngô Sĩ Tồn nhiều năm về trước.

Thứ ba, vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc chẳng những nói đây là đất của tổ tiên từ đời nhà Hán mà có lúc còn bảo, Trịnh Hòa thời Minh trong các lần xuất dương đã tuyên chiếm các đảo nào. Nhà báo Bertil Lintner trên trang Asia Times ngày 15/11/2019 vạch rõ, Trịnh Hòa thậm chí chưa đi qua Biển Đông. Mà dù chủ quyền thuộc về ai – thuộc về Việt Nam cũng vậy thì như phán quyết của Tòa Trọng tài, “không một cấu trúc nào ở Trường Sa có thể tạo ra các vùng biển mở rộng”.

Thứ tư, phải thừa nhận rằng, mặc dù Trung Quốc là nước lớn có tiềm lực quân sự hùng mạnh, hầu như không có công ty, tập đoàn khai thác dầu khí quốc tế nào vì lợi ích kinh tế chấp nhận lời mời chào của họ vào thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng mà Trung Quốc gọi là Vạn An (bãi Tư Chính) cũng như trong phạm vi “đường 9 đoạn”, ngoại trừ tập đoàn năng lượng Crestone (Mỹ) năm 1992. Nhưng trước sự phản đối của Việt Nam, tập đoàn này sau đó đã rút lui và Việt Nam đã xây dựng thêm 3 nhà giàn ở đây để khẳng định chủ quyền. Thất  bại đó có thể là lý do chủ yếu khiến Trung Quốc đã luôn yêu cầu COC phải có điều khoản ràng buộc “không hợp tác khai thác tài nguyên với các nước ngoài khu vực”.

Thứ năm, sự ủng hộ của quốc tế. Sự ủng hộ này gần như tuyệt đối khi các nước khẳng định mọi cách làm của Việt Nam đều dựa trên trật tự và quy tắc quốc tế, trong đó bao gồm Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS), cũng như quyền bảo vệ chủ quyền bằng các biện pháp hòa bình. Tuy nhiên, phản ứng nói chung là tiêu cực từ các quốc gia trong ASEAN/Đông Nam Á là điều đáng chú ý. Vì nguyên tắc đồng thuận, ASEAN đã không ra được tuyên bố chung dù rằng các nước ven Biển Đông, cách này hay cách khác đều từng bị Trung Quốc xâm phạm, gây hấn.

Thứ sáu, thế giới đánh giá ra sao trước những phản ứng của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông? Với cả dư luận chính giới và truyền thông, Việt Nam được đánh giá cao khi phản ứng tích cực trước những lợi ích hợp pháp bị xâm phạm nhiều nhất và liên tục. Tờ Straits Times (Singapore) viết: Hà Nội phản ứng mạnh nhất trong số các quốc gia tuyên bố chủ quyền. Asia Times nhận định Việt Nam hầu như là quốc gia duy nhất trong cuộc chiến chống lại nỗ lực của Bắc Kinh nhằm kiểm soát Biển Đông, với ba mặt liên kết: ngoại giao, thăm dò, khai thác; giảm phụ thuộc kinh tế…

Việt Nam đã trở thành Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 – 2021 và ch1inh thức tiếp nhận cương vị Chủ tịch ASEAN năm 2020. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức, nhất là trong cương vị Chủ tịch ASEAN. Sáu vấn đề vừa nêu trên hy vọng là những dữ kiện, những cơ sở để đề ra đối sách.

Vấn đề đầu tiên và xuyên suốt trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Việt Nam là tạo nên sự gắn kết khu vực. Cương vị Chủ tịch sẽ giúp Việt Nam có quan hệ chặt chẽ hơn, “gắn kết” hơn với ASEAN để tìm ra những cách thức “chủ động thích ứng”. Không ồn ào nhưng kiên quyết, Việt Nam phải bắt tya vào trả lời các câu hỏi, các thách thức ngay từ đầu nhiệm kỳ Chủ tịch. Nếu chỉ xử lý mỗi khi có sự cố (như cách làm hiện nay) là bất an, mạo hiểm. Chúng ta giữ quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, một quan hệ được dệt nên từ lịch sử nhưng không để “cục to, cục lớn” (đại cục) ghè chân mình.

Bị bắt nạt, chèn lấn quá lâu, đã đến lúc Việt Nam cần chứng tỏ bản lĩnh. Đã đến lúc Việt Nam cần xem việc đưa sự xâm phạm thô bạo của Trung Quốc ra Tòa Trọng tài. Không quan trọng việc Trung Quốc có tham gia hay không. Hiệu ứng chắc chắn sẽ mạnh hơn rất nhiều nếu thêm một lần phán quyết của Tòa Trọng tài được tuyên bố theo luật pháp quốc tế.

Việt Nam là nước nhỏ so với Trung Quốc. Cả về diện tích, dân số cũng như tiềm lực kinh tế, quốc phòng, Việt Nam ở một vị trí cách xa so với láng giềng phương Bắc. Câu chuyện nước nhỏ Việt Nam bắt nạt nước lớn Trung Quốc là một câu chuyện hoang đường. Việt Nam cũng không đòi hỏi nước lớn Trung Quốc phải nhường nhịn nước nhỏ Việt Nam. Việt Nam chỉ muốn Trung Quốc hành xử như một nước lớn đáng kính trọng. Tất nhiên, Việt Nam muốn duy trì tình hữu nghị với Trung Quốc, nhưng để duy trì tình hữu nghị ấy mà phải đánh đổi lợi ích của dân tộc là điều không thể. Cũng không thể nói như một nhà ngoại giao Trung Quốc rằng, để xảy ra tình trạng như vừa qua là vì Trung Quốc coi Biển Đông là câu chuyện nhỏ, còn Việt Nam lại coi là chuyện lớn. Để giải quyết vấn đề Biển Đông hãy chân thành làm việc dựa trên chuẩn luật pháp quốc tế và một sự hiểu biết lẫn nhau.

Xin đề xuất một bước tiến nhỏ: Trong khi bảo lưu quan điểm của mình, hai nước Việt Nam và Trung Quốc cần đàm phán về vấn đề quần đảo Hoàng Sa/Tây Sa. Và trước hết là sự thỏa thuận để ngư dân Việt Nam được tiếp tục truyền thống đánh cá như hàng ngàn năm nay trong quần đảo này.

Nguồn: www.nghiencuuquocte.org

TKNB – 11/03/2020

Lý do Mỹ thua trong cuộc chiến với Huawei


Thất bại lớn về tình báo đã khiến chính sách vốn đã dao động của Lầu Năm Góc trở nên tồi tệ hơn và khiến cho nhiều đồng minh chủ chốt của Mỹ không còn lưu tâm đến lời khẩn cầu của Trump về việc tránh xa hệ thống 5G của gã khổng lồ công nghệ Huawei.

Bĩ bẽ mặt sau khi Anh từ chối loại trừ Huawei khỏi mạng băng thông rộng 5G của nước này, Chính quyền Trump đã tăng cường các nỗ lực ngăn chặn Trung Quốc, với rất ít triển vọng thành công.

Cách đối phó của Mỹ bao gồm truy tố Huawei theo đạo luật của Tổ chức chống tham nhũng và ảnh hưởng của xã hội đen (RICO), được soạn thảo nhằm chống tội phạm có tổ chức. Ngoài ra Mỹ còn đề xuất các quy chế về việc ngừng bán linh kiện Mỹ cho Huawei và công ty viễn thông lớn thứ 2 Trung Quốc ZTE nếu 10% sản phẩm của họ có áp dụng công nghệ Mỹ.

Một lệnh cấm khác được đề xuất là cấm bán động cơ phản lực cho số máy bay dân sự mà tập đoàn General Electric của Mỹ và Safran của Pháp bán cho Trung Quốc kể từ năm 2014 – một biện pháp chiến tranh kinh tế không liên quan tới lý do an ninh quốc gia.

Trong số tất cả các sự kiện của Mỹ, chưa từng có sự kiện nào nhận được nhiều sự chú ý đến thế nhưng lại cho ít kết quả đến thế.

Trong khi đó, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien đã nói với tờ Wall Street Journal ào ngày 12/2 rằng Mỹ đã phát hiện ra một “cửa hậu” bí mật trong các thiết bị của Huawei cho phép công ty Trung Quốc này theo dõi mạng lưới thông tin liên lạc của phương Tây. Huawei bác bỏ cáo buộc này, yêu cầu Mỹ công khai các dữ liệu.

Cáo buộc của Mỹ bị cộng đồng quốc tế chế nhạo, Giám đốc điều hành (CEO) của tập đoàn Orange, Stephane Richard nói vào hôm 14/2: “Tôi rất muốn xem bằng chứng. Nó gợi tôi nhớ đến những vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Chiến tranh Iraq”. Tờ Der Spiegel của Đức giật tít: “Cánh cửa hậu chỉ Mỹ mới có thể nhìn thấy”.

Tại hội nghị an ninh thường niên ở Munich (Đức) ngày 14/2, các quan chức Mỹ trong đó có Bộ trưởng Quốc phòng Mike Esper và Chủ tịch Hạ viện Nancy Pelosi đã cảnh báo các nước châu Âu phải tránh xa Huawei. Esper nói: “Việc phụ thuộc vào các công ty cung cấp 5G của Trung Quốc có thể khiến các hệ thống quan trọng của các đối tác của chúng ta dễ bị phá vỡ, thao túng và do thám. Làm vậy cũng có thể gây nguy hiểm cho thông tin liên lạc và các năng lực chia sẻ thông tin tình báo của chúng ta và liên minh của Mỹ nói chung”. Nhưng hãng tin Politico của Mỹ lại đăng bài viết có tiêu đề: “Châu Âu phớt lờ cảnh báo của Mỹ về mạng 5G của Trung Quốc”.

Hậu quả tiềm tàng ngoài dự tính

Hậu quả ngoài dự tính đối với uy tín của Mỹ và rủi ro đối với các công ty Mỹ là rất lớn. Nếu Mỹ lợi dụng mối đe dọa thường được đồn đoán này để ngừng vận chuyển động cơ phản lực cho Trung Quốc, cản trở chương trình của Trung Quốc nhằm phát triển một máy bay dân sự lắp ráp trong nước sử dụng động cơ của General Electric hoặc Safran, thì cuộc chiến thương mại Mỹ – Trung sẽ có đặc thù hoàn toàn khác. Công ty Safran của Pháp là một tài sản an ninh quốc gia và việc cản trở họ sẽ đẩy Paris về phía Bắc Kinh.Các công ty hàng đầu của Mỹ, trong đó có Boeing – với 1/4 số máy bay của họ được bán cho Trung Quốc, cũng như các hãng thiết kế vi mạch hàng đầu của Mỹ có thể sẽ phải chịu tổn thất nặng nề trong thời gian tới.

Mỹ chưa từng thực hiện biện pháp nào trong số này kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Chúng bắt nguồn từ sự thất vọng ở Washington sau khi gần như toàn bộ đồng minh của Mỹ – trừ Israel, Nhật Bản và Australia – phớt lờ những yêu cầu đanh thép của Mỹ về việc loại trừ Huawei khỏi tiến trình khai thác mạng băng thông rộng 5G cho điện thoại di động.

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã công khai phản đối quyết định của Thủ tướng Anh Boris Johnson về việc cho phép Huawei xây dựng một phần các mạng lưới 5G của Anh, và Tổng thống Trump đã đích thân can thiệp với Thủ tướng Anh nhưng vô hiệu. Ngày 6/2, tờ Financial Times đưa tin rằng Tổng thống Trump đã “bừng bừng tức giận” trong một cuộc điện đàm với Boris Johnson. Ngày 14/2, Boris Johnson đã hoãn một chuyến thăm Nhà Trắng như dự kiến để đáp trả.

Trong khi đó, Chính phủ Đức đã gạt bỏ sự phản đối của một nhóm các thành viên thuộc đảng cầm quyền tại Quốc hội Đức về việc Huawei can dự vào quá trình triển khai mạng 5G của nước này.

Vẫn chưa rõ đạo luật RICO có thể ngăn cản các hoạt động của Huawei bằng cách nào ngoài việc khiến các nhân viên của công ty Trung Quốc này phải chịu các hình phạt pháp lý cực đoan. Việc kiểm soát xuất khẩu các linh kiện của Mỹ cho Huawei có hiệu lực từ tháng 5/2019 đã không thể cản trở Huawei cung cấp thiết bị và điện thoại di động 5G, khi gã khổng lồ Trung Quốc này quay sang các nhà cung cấp Nhật Bản, Đài Loan và các nước khác. Huawei hiện sản xuất cả các trạm phát sóng thông tin mặt đất và điện thoại thông minh 5G mà không cần linh kiện của Mỹ.

Cuối tháng 1/2020, Bộ Quốc phòng Mỹ bỏ phiếu phủ quyết một đề xuất của Bộ Thương mại nhằm áp đặt quy tắc bán linh kiện của Mỹ cho Huawei và ZTE với điều kiện số hàng hóa đó được sử dụng tối đa 10% nguồn lực của Mỹ trong quá trình sản xuất, nhằm ngăn các công ty nước ngoài sử dụng công nghệ của Mỹ từ việc bán hàng cho các công ty của Trung Quốc. Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng Larry Kudlow nói với tờ Wall Street Journal vào ngày 4/2 rằng ông ủng hộ các lập luận phản đối của Lầu Năm Góc, vì “chúng tôi không muốn đẩy các doanh nghiệp lớn của mình đến tình trạng đóng băng kinh doanh”. Tuy nhiên, ngày 12/2, truyền thông Mỹ lại đưa tin rằng Lầu Năm Góc đã đổi ý và hiện ủng hộ lệnh cấm nghiêm ngặt hơn đối với việc xuất khẩu linh kiện cho Huawei – rõ ràng là để đáp ứng sự thay đổi ý kiến ở Nhà Trắng.

Các công ty sẽ chuyển sản phẩm của họ đi nơi khác

Một số công ty Mỹ sẽ không đóng băng, nhưng họ sẽ rời khỏi Mỹ. Ngày 16/2, tờ New York Times đưa tin rằng Quỹ RISC-V, một tổ chức phi lợi nhuận lập ra tiêu chuẩn phần mềm nguồn mở cho các loại vi mạch sử dụng trong điện thoại di động và các thiết bị điện tử khác, trong những tháng gần đây đã thừa nhận rằng họ quyết định rời trụ sở từ Delaware sang Thụy Sĩ vì các thành viên của tổ chức lo ngại về những quy định nghiêm ngặt hơn ở Mỹ. Cũng theo tờ New York Times, Scott Jones, một nhà nghiên cứu hợp tác với Trung tâm Stimson, cho biết thếm: “Nếu chính quyền tiếp tục đi theo quỹ đạo hiện nay, chúng ta sẽ chứng kiến sự ra đi của nhiều công ty và nhiều nhà khoa học hơn. Họ sẽ đưa sản phẩm của họ đi nơi khác, và các nền kinh tế khác sẽ hưởng lợi từ điều đó”.

Phần lớn doanh thu của Qualcomm, Nvidia và các công ty sản xuất chất bán dẫn khác của Mỹ là từ châu Á. Nếu họ không được phép bán hàng cho Trung Quốc, họ sẽ mất một phần lớn hoạt động kinh doanh. Thậm chí tệ hơn, Huawei hiện đang sản xuất bộ vi mạch xử lý cho điện thoại thông minh, chẳng hạn như dòng Kirin cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm của Qualcomm, và bộ xử lý Ascend cho các máy chủ, cạnh tranh với Nvidia.

Theo một chuyên gia phân tích người Trung Quốc, Huawei có thể giảm 30% giá thành các bộ vi xử lý của mình trong cuộc cạnh tranh về giá với Mỹ, đẩy các công ty Mỹ ra khỏi toàn bộ thị trường châu Á. Chuyên gia phân tích này cho biết trong trường hợp đó, Nvidia sẽ hết sạch tiền mặt trong 18 tháng và Qualcomm sẽ hết sau 24 tháng, buộc họ phải ngừng hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho tầm quan trọng của Mỹ trong ngành sản xuất chất bán dẫn do chính Mỹ tạo ra.

Được biết lệnh cấm gây nhiều tranh cãi về việc bán động cơ phản lực cho Trung Quốc sẽ được thảo luận tại một cuộc họp nội các vào ngày 28/2 ở Washington. General Electric và các công ty khác của Mỹ đang ráo riết vận động hành lang để phản đối đề xuất này vì nó không có mục đích rõ ràng về an ninh quốc gia. Một số quan chức Mỹ đề nghị Trung Quốc có thể cải tạo các động cơ do Pháp và Mỹ đồng sản xuất, nhưng General Electric nhận thấy Trung Quốc vẫn mua các động cơ này kể từ năm 2014, và không cần thay bằng bất kỳ động cơ nào mới.

Đề xuất này được đưa ra như một nỗ lực nhằm ngăn Trung Quốc phát triển một công nghệ thông thường. Kết quả là Trung Quốc có thể sẽ đặt mua máy bay từ hãng Airbus của châu Âu thay vì hãng Boeing khi hãng này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn tài chính sau sự đổ vỡ của chương trình Max 737.

Thất bại thê thảm về mặt tình báo

Chính quyền Trump đã đưa ra những tín hiệu mâu thuẫn về ý định của họ đối với Huawei, khi Lầu Năm Góc liên tục đổi ý về những giới hạn được đề xuất cho việc bán linh kiện sử dụng công nghệ và bằng sáng chế của Mỹ. Nhà Trắng tin rằng họ có thể thuyết phục Chính phủ Anh loại trừ Huawei, và không thể nhận ra những gì đã xảy ra ngay cả sau khi London quyết định. Điều này nhấn mạnh một thất bại về tình báo mà phần lớn trách nhiệm thuộc về phía Mỹ.

Huawei không chỉ bán thiết bị viễn thông chất lượng cao với giá cả phải chăng cho các nhà cung cấp điện thoại di động của Anh, mà còn trở thành một phần trong cấu trúc viễn thông của Anh kể từ năm 2011, khi công ty này thuê Giám đốc an ninh thông tin của Chính phủ Anh John Suffolk làm người đứng đầu phụ trách hoạt động kinh doanh của công ty ở Anh. Một giám đốc điều hành cấp cao của Huawei cho biết trong số các nước phương Tây, Anh là quốc gia có quan hệ tốt nhất với công ty này. Cơ quan thông tin chính phủ Anh (GCHQ) – đóng vai trò như cơ quan an ninh quốc gia – đã dành nhiều năm để chỉ trích bộ mã của Huawei, thường đặt ra những đòi hỏi cải tiến mà công ty Trung Quốc này luôn nhanh chóng thực hiện.

Năm 2012, trước sự tán thưởng của Thủ tướng Anh khi đó là David Cameron, Huawei tuyên bố đầu tư 1,3 tỷ bảng vào Anh. Một báo cáo của Huawei lưu ý rằng trong năm 2018, họ đã đầu tư 112 triệu bảng vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, tuyển dụng hơn 300 nhà nghiên cứu ở Anh. Báo cáo cũng cho biết Huawei đã hợp tác với 35 trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc.

Huawei tuyển dụng 50.000 người nước ngoài, phần lớn là các nhà nghiên cứu, tại 20 trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới và trợ cấp cho hàng nghìn người khác. Đây là công ty Trung Quốc đầu tiên kết nối với giới tinh hoa kỹ thuật và khoa học của phương Tây và chiếm được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ với sự giúp đỡ của họ.

Không ai nghi ngờ việc Anh sẽ tiếp tục hợp tác với Huawei, minh họa cho câu ngạn ngữ của Tôn Tử: “Sự chuẩn bị quyết định cuộc chiến thành hay bại”. Huawei đã xây dựng mối quan hệ với Anh một cách cởi mở và trở thành một phần trong cơ sở kỹ thuật của Anh với các dự án đầu tư chiến lược và sự phục tùng có tính toán trước các cơ quan an ninh của Anh.

Mỹ không nhận thấy điều đó cũng như không cơ quan nào của Mỹ cân nhắc khả năng Trân Châu Cảng có thể là một mục tiêu của Nhật Bản vào tháng 12/1941, hay cũng như quân đội Anh không cân nhắc khả năng Nhật Bản tấn công Singapore năm 1942. Đơn giản là các cơ quan tình báo Mỹ không nhận ra rằng Trung Quốc có khả năng thâu tóm toàn bộ thị trường thế giới bằng một công nghệ thay đổi cục diện. Washington cũng không nhận ra rằng Trung Quốc đã phát triển đủ năng lược trong lĩnh vực sản xuất chất bán dẫn để tạo ra các vi mạch cao cấp của riêng mình và phớt lờ lệnh cấm nhập khẩu của Mỹ.

Rõ ràng Donald Trump đang tiếp nhận thông tin từ chính những cơ quan tình báo đã phớt lờ thách thức từ Trung Quốc cho đến khi quá muộn – và không muốn gì hơn ngoài việc đổ lỗi cho người khác về những thất bại của chính mình. Kết quả là một nỗi ô nhục và nguy cơ gián đoạn kinh tế nghiêm trọng của Mỹ.

Nguồn: Asia Times – 17/02/2020

TLTKĐB – 21/02/2020

Dịch COVID-19 thúc đẩy tiến trình tách rời giữa Mỹ và Trung Quốc


Vào tháng 11/2019, cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger có mặt ở Bắc Kinh để tham dự Diễn đàn Kinh tế mới do Bloomberg tổ chức. Tại đây, ông Kissinger cảnh báo rằng Mỹ và Trung Quốc đang ở chân đồi của một cuộc Chiến tranh Lạnh và cuộc xung đột này có thể tồi tệ hơn Chiến tranh Thế giới thứ Nhất nếu cứ để nó tiếp diễn một cách không giới hạn.

Theo Asia Times, những bình luận của ông Kissinger được đưa ra trong bối cảnh những năm gần đây, căng thẳng leo thang trong lĩnh vực thương mại; nguy cơ xung đột quân sự giữa hai bờ eo biển Đài Loan và trên Biển Đông gia tăng; các cáo buộc liên quan đến hoạt động gián điệp và ảnh hưởng đến chiến dịch bầu cử xuất hiện. Nói cách khác, đây là một cuộc cạnh tranh toàn diện để xác định các quy tắc và giá trị làm nền tảng cho trật tự quốc tế. Một điều đáng chú ý nữa là một tháng sau, nghĩa là vào tháng 12/2019, dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 đã bùng phát ở thành phố Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc dẫn tới sự hoảng loạn trên toàn thế giới và sự cách ly trên thực tế của nền kinh tế Trung Quốc do nhiều thành phố của nước này bị phong tỏa, hoạt động kinh doanh ngừng trệ và bởi lệnh cấm đi lại của cộng đồng quốc tế.

Cùng với sự thay đổi chính sách Trung Quốc của Washington, từ can dự tới ngăn chặn và đến thời của Tổng thống Donald Trump là tách rời, một số nhà quan sát như Curtis Chin, một thành viên châu Á tại Viện Milken, tin rằng virus COVID-19 đang đẩy nhanh việc tách rời với Trung Quốc khi các nước và các doanh nghiệp buộc phải “suy xét về một chuỗi cung ứng cho dài hạn”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross chia sẻ quan điểm này và coi cuộc khủng hoảng đại dịch ở Trung Quốc là một cơ hội để đưa việc làm trở lại Mỹ. Trong khi đó, giới diều hâu Mỹ tiếp tục gây áp lực tối đa để tẩy chạy, loại bỏ và trừng phạt (BDS) Trung Quốc với cảnh báo rằng, Bắc Kinh đang tiến hành chiến tranh sinh học thông qua một phòng thí nghiệm virus ở Vũ Hán và Mỹ cần từ chối hỗ trợ y tế với Trung Quốc, để virus thổi bùng cơn giận dữ đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ cho rằng, các quan chức Mỹ đã bị lợi dụng như những người đại diện bất đắc dĩ của Trung Quốc và Trung Quốc cần phải tiếp tục áp đặt biện pháp thuế quan thương mại cũng như nhiều biện pháp trừng phạt đối với nền kinh tế Trung Quốc.

Báo cáo trên cho biết thêm trong những năm gần đây, các nhà theo dõi Trung Quốc đang gia tăng báo động về sự xuống cấp nhanh chóng trong quan hệ Mỹ-Trung. Ngày nay, người ta thường nghe thấy những tranh luận cảnh báo về sự phân chia nền kinh tế toàn cầu thành các phạm vi ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc. Cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd cảnh báo rằng, nếu quả thực chúng ta đang ở trong một thế giới hoàn toàn tách rời, đây sẽ là điềm báo sự trở lại của một “bức màn sắt” giữa phương Đông và phương Tây và là “sự khởi đầu cho một cuộc chạy đua vũ trang thông thường và vũ khí hạt nhân mới với tất cả sự bất ổn chiến lược và rủi ro của nó”.

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Tôn Vận thuộc Trung tâm Stimson, Mỹ và Trung Quốc đã tham gia cuộc chiến tiêu hao đẩy nhanh sự tách rời trong quan hệ kinh tế giữa hai nước. Nguyên nhân là do cả Mỹ, Trung Quốc và bên thứ ba đều thay đổi thành phần và phương hướng trong chuỗi cung ứng của họ, chuyển đi nơi khác. Tôn Vận cảnh báo nếu việc tách rời ở hai nước làm biến mất tất cả các lợi ích chung, để lại những lợi ích xung đột thô sơ và thuần túy, đó sẽ là một con đường nguy hiểm, dẫn đến đối đầu quân sự. Trung tướng về hưu Karl Eikenberry của Quân đội Mỹ cũng có chung quan điểm.

Trong một phát biểu gần đây tại Đại học Stanford, tướng Eikenberry đã cảnh báo về một “tai nạn quân sự hoặc tính toán sai lầm trong hành động” tiềm tàng giữa các lực lượng vũ trang của cả hai nước trong bối cảnh xảy ra sự tách rời nêu trên. Trong quá khứ đã có một vài trường hợp đụng độ quân sự gần như nổ ra vào năm 2018, một tàu khu trục Trung Quốc và tàu khu trục hải quân Mỹ suýt va chạm ở Biển Đông. Trước đó vào tháng 4/2001, một máy bay hải quân Mỹ đã va chạm với một máy bay chiến đấu của Trung Quốc và buộc phải hạ cánh xuống Hải Nam. Năm 1996, Mỹ đã vô tình ném bom trúng đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade. Nhưng không trường hợp nào dẫn đến chiến tranh.

Cùng với việc căng thẳng giữa hai nước gia tăng, sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ trong lĩnh vực tiêu dùng trong khi mặt trận đã mở rộng sang lĩnh vực công nghệ và không gian mạng, tướng Eikenberry cho biết, Washington hiện đang tập trung vào “an ninh hóa các trao đổi kinh tế”. Như vậy, các thỏa thuận không còn bó hẹp trong phạm vi cân bằng thâm hụt thương mại mà đã mang ý nghĩa bảo mật rộng hơn. Nếu xảy ra một sự cố ngoại giao hoặc quân sự nào trong bối cảnh căng thẳng này, tướng Eikenberry tin rằng hậu quả sẽ lớn hơn nhiều.

Asia Times lại cho biết, bên cạnh lĩnh vực kinh tế và quân sự, sự tách rời còn diễn ra trên phương diện trao đổi học thuật và giao lưu nhân dân ở cấp địa phương. Tháng 6/2019, Bloomberg đăng tải một bài viết tiết lộ rằng, Mỹ đang thanh trừng các nhà khoa học người Trung Quốc, bao gồm cả công dân Mỹ gốc Hoa. Những người này đang nghiên cứu ung thư tại các cơ sở hàng đầu của Mỹ cũng như tham gia các dự án khác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Nhiều cơ sở đã hợp tác với FBI, giám sát các nhà khoa học và học giả Trung Quốc, dẫn đến nỗi sợ hãi của người Mỹ gốc Á. Đây có thể là sự chuyển dịch nguy hiểm dẫn tới hoang tưởng và định kiến chủng tộc, tương tự như chiến dịch định kiến chủng tộc của Trung Quốc nhằm vào người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương. Trên thực tế từ năm 2015, Nghị sĩ Ted Liêu (D-Torrance) và 42 thành viên Quốc hội đã nêu ra những quan ngại này với Bộ Tư pháp Mỹ. Nhưng trước một môi trường ngày càng đáng sợ và căng thẳng trong các tổ chức học thuật, trao đổi học thuật và hợp tác nghiên cứu song phương giữa Mỹ và Trung Quốc đã xuất hiện sự lạnh nhạt và tiến trình tách rời có vẻ sẽ còn tiếp tục.

Căn cứ vào những quan sát tiên đoán của cựu Ngoại trưởng Mỹ Kissinger, tại thời điểm quan trọng này, sự xuất hiện của những cảnh báo của ông liên quan đến một cuộc Chiến tranh Lạnh mới có vẻ đúng. Paul Haenle, cựu cố vấn châu Á của các Tổng thống Mỹ G. Bush và B. Obama, cho biết thêm: “Nếu bạn nói chuyện với những người ở Lầu Năm Góc, họ sẽ không còn tranh luận về việc Trung Quốc có phải là kẻ thù hay không. Họ đang lập kế hoạch cho chiến tranh và nếu bạn nói về sự hợp tác, bạn sẽ được nhìn nhận như những kẻ ngây thơ”.

Cây bút Evan Osnos của tờ The New  Yorker lưu ý cách Kissinger so sánh tình hình quan hệ song phương hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc với sự tương đồng đáng lo ngại về Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Theo Evan Osnos, chiến tranh thương mại là một tín hiệu đáng ngại về sự phân cực kinh tế. Đây thường là khúc dạo đầu của một cuộc chiến tranh thực sự. Điều tương tự đã đẩy Anh chống lại Đức trước năm 1914. Còn ông Kissinger cho rằng nếu nhìn vào lịch sử thì không ai trong số các nhà lãnh đạo bắt đầu Chiến tranh Thế giới thứ Nhất sẽ làm như vậy nếu họ biết cuối cùng thế giới sẽ như thế nào. “”Đó là tình huống chúng ta phải tránh”, cựu Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh.

Nhà sử học Odd Arne Westad thuộc Đại học Yale đồng ý với quan điểm trên và lưu ý rằng tương tự như giai đoạn trước năm 1914, tất nhiên không chỉ là trỗi dậy của Đức. Những gì chúng ta cần nghĩ, cần tập trung vào là điều gì thực sự dẫn đến chiến tranh. Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh đó là nỗi sợ hãi của người Đức về vị thế của đất nước họ trong tương lai sẽ không còn được hùng cường như là ở thời điểm mùa Hè năm 1914 khi sức mạnh của Đức là vô hạn.

Cây bút Osnos cảnh báo rủi ro lớn nhất hiện nay là sự mù quáng sinh ra từ thiếu hiểu biết, tính kiêu ngạo hoặc ý thức hệ. Như những gì xảy ra gần đây trong quan hệ đưa Mỹ – Iran đến bờ vực chiến tranh thì sự hiểu lầm đã làm dẫn đến tính toán sai lầm và leo thang xung đột. Do đó, theo Osnos, nếu Washington đánh cược vào an ninh quốc gia với những dự đoán sai lầm và ý thức hệ trong lĩnh vực thương mại, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng. Và nếu nhận thấy Mỹ quyết tâm loại trừ Trung Quốc khỏi sự thịnh vượng và nhấn chìm Trung Quốc, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có thể hiểu lầm điều này như là chuốc lấy nỗi bất hạnh cho chính mình.

Nguồn: TKNB – 20/02/2020.

Hậu quả của làn sóng rút khỏi Trung Quốc


Katsuji Nakazawa

Sau khi dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 bùng phát, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã kêu gọi xây dựng một nền kinh tế ít phụ thuộc hơn vào một quốc gia, cụ thể là Trung Quốc, để nước này có thể tránh được sự đứt gãy trong các chuỗi cung ứng. Lời kêu gọi này đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận đang nóng lên trong chính giới Trung Quốc.

Một nguồn tin kinh tế của Trung Quốc cho biết tại Trung Nam Hải (một khu vực nằm ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh nơi có văn phòng của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản và Chính phủ Trung Quốc), đã xuất hiện những mối quan ngại về việc các công ty nước ngoài đang rút khỏi Trung Quốc. Nguồn tin này cho biết: “Điều được đề cập tới nhiều khi nói về vấn đề này là điều khoản  “khuyến khích (và tài trợ) cho việc tái thiết lập các chuỗi cung ứng” trong gói kích thích kinh tế của Nhật Bản”.

Nếu dịch bệnh không bùng phát, thì chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình giờ đây đã kết thúc với việc Tập Cận Bình tự hào tuyên bố “một kỷ nguyên mới” trong quan hệ Trung – Nhật. Ông hẳn sẽ chúc mừng Thủ tướng Shinzo Abe trong bối cảnh Nhật Bản chuẩn bị đăng cai sự kiện thể thao quan trọng là Thế vận hội 2020. Giờ đây, thay vào đó, cả chuyến công du Nhật bản của Tập Cận Bình lẫn Olympic Tokyo 2020 đều đã bị hoãn lại, và quan hệ Trung – Nhật đang đứng trước ngã rẽ.

Các dấu hiệu về một chính sách mới của Thủ tướng Abe đã trở nên rõ ràng vào ngày 5/3. Cuối cùng, Nhật Bản đã có thể chấm dứt cuộc khủng hoảng liên quan tới du thuyền Diamond Princess, nhưng nước này vẫn phải đối mặt với thách thức trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch COVID-19.

Trong ngày 5/3, ngày quyết định hoãn chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch Tập Cận Bình được công bố, Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức một cuộc họp của Hội đồng đầu tư cho tương lai. Thủ tướng Abe, Chủ tịch Hội đồng này cho biết ông muốn đưa các dây chuyền sản xuất có giá trị gia tăng cao trở lại Nhật Bản.

Tham dự cuộc họp nói trên có các nhà lãnh đạo kinh doanh có ảnh hưởng như ông Hiroaki Nakanishi, Chủ tịch Liên đoàn kinh tế Nhật Bản – tổ chức vận động hành lang lớn nhất nước này và thường được biết đến với tên gọi Keidanren. Tại cuộc họp, Thủ tướng Abe phát biểu: “Do dịch COVID-19, ngày càng có ít sản phẩm từ Trung Quốc vận chuyển tới Nhật Bản. Đã có nhiều lo ngại về các chuỗi cung ứng của chúng ta”. Ông Abe nhấn mạnh trong số các sản phẩm của Nhật Bản mà hoạt động sản xuất phụ thuộc nhiều vào một quốc gia, “cần cố gắng di dời các sản phẩm có giá trị gia tăng cao về Nhật Bản”. Đối với các sản phẩm khác, Abe cho rằng Nhật Bản “cần phải đa dạng hóa (sản xuất) sang các nước khác, chẳng hạn như các nước ASEAN”.

Ông Abe đã có những phát biểu rất rõ ràng trong bối cảnh sự gián đoạn của các chuỗi cung ứng đang tác động tiêu cực tới việc nhập khẩu linh kiện ô tô và các sản phẩm khác mà Nhật Bản vốn phụ thuộc vào Trung Quốc, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp nước này. Điều được Thủ tướng Abe đề cập tới khác hẳn so với quan niệm truyền thống “Trung Quốc+1”, trong đó các công ty sẽ xây dựng thêm một cơ sở ở ngoài Trung Quốc để đa dạng hóa sản xuất. Trên thực tế, ông Abe đã hình thành chính sách “rời bỏ Trung Quốc”.

Tại một quốc gia vẫn đang tập trung vào những tin tức về dịch COVID-19 như Nhật Bản, kế hoạch của ông Abe không thu hút được nhiều sự chú ý. Tuy nhiên, Trung Quốc đang theo dõi một cách cẩn trọng, có lẽ đang cân nhắc xem liệu nước này có sắp phải đối mặt với một làn sóng tháo chạy mới giống như Nhật Bản đã từng trải qua hay không. Một làn sóng như vậy sẽ làm rung chuyển nền tảng mô hình tăng trưởng lâu nay của Trung Quốc.

Trong gói kích thích kinh tế khẩn cấp được thông qua hôm 7/4, Chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi tái thiết các chuỗi cung ứng đang phải chịu thiệt hại do sự lây lan của virus SARS-CoV-2. Chính phủ Nhật Bản dự định sẽ phân bổ hơn 240 tỷ Yen (2,2 tỷ USD) trong kế hoạch ngân sách bổ sung cho năm tài khóa 2020 để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước di dời các cơ sở sản xuất về nước hoặc tìm đến Đông Nam Á để đa dạng hóa hoạt động sản xuất.

Một ngày sau đó, hôm 8/4, Ban Thường vụ Bộ Chính trị, cơ quan ra quyết định cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã nhóm họp tại Bắc Kinh. Phát biểu tại cuộc họp, Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhận định: “Trong bối cảnh dịch COVID-19 tiếp tục lây lan khắp toàn cầu, nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái gia tăng. Các nhân tố bất ổn và không chắc chắn đang gia tăng đáng kể”.

Bên cạnh đó, Tập Cận Bình cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải gắn với cách tư duy lấy kết quả làm trung tâm – tức là lường trước những kết quả tồi tệ nhất – và kêu gọi “sẵn sàng trong suy nghĩ và hành động để đối phó với những thay đổi kéo dài của môi trường bên ngoài”.

Không chỉ ở Nhật Bản, tại Mỹ cũng đã bắt đầu xuất hiện các cuộc thảo luận về sự phụ thuộc vào Trung Quốc. Larry Kudlow, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia của Nhà Trắng, đã bày tỏ ý định xem xét khả năng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nước này chi phí di dời các cơ sở sản xuất từ Trung Quốc về Mỹ. Ý tưởng này phù hợp với chương trình nghị sự “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Nếu Mỹ và Nhật Bản – nền kinh tế lớn nhất và lớn thứ ba thế giới – di dời hoạt động sản xuất ra khỏi Trung Quốc, thì nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ phải chịu tác động vô cùng to lớn.

Một chủ đề thảo luận khác cũng đang được giới tri thức Trung Quốc thảo luận. Theo biểu đồ tử vi của Trung Quốc, 2020 là năm Tý. Người ta cho rằng cứ mỗi khi đến năm Canh Tý, một sự kiện chấn động lịch sử sẽ xảy ra. Năm 1840, dưới thời triều đại nhà Thanh, Chiến tranh Nha phiến đã nổ ra, dẫn tới sự trì trệ của Trung Quốc trong hơn một thập kỷ. 60 năm sau đó, vào năm 1900, vào cuối triều đại nhà Thanh, lực lượng đồng minh 8 nước, gồm Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Italy, Nga, Nhật Bản và Áo – Hung, đã di chuyển từ Thiên Tân tới Bắc Kinh – một hành động được châm ngòi do cuộc nổi loạn của Nghĩa Hòa Đoàn bắt đầu vào năm 1899. Bộ phim Mỹ “55 ngày tại Bắc Kinh” với sự góp mặt của ngôi sao Charlton Heston, đã mô tả việc các thành viên Nghĩa Hòa Đoàn vây hãm các tòa công sứ nước ngoài ở Bắc Kinh trong cuộc nổi loạn đó.

Năm Canh Tý 1960 đã xảy ra nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt” dưới sự lãnh đạo của Mao Trạch Đông, người sáng lập “một Trung Hoa mới” (hay nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa). Dương Kế Thằng, cựu phóng viên của Tân Hoa xã đã viết cuốn sách với tiêu đề “Bia mộ” mô tả chi tiết về thảm kịch này. Dựa trên cơ sở các phỏng vấn và thu thập thông tin tại hiện trường, Dương Kế Thằng tiết lộ khoảng 36 triệu người đã chết trong nạn đói do cuộc “Đại nhảy vọt”, cao hơn rất nhiều so với số liệu do Trung Quốc công bố.

Vậy điều không may mắn nào sẽ xảy ra ở Trung Quốc trong năm Canh Tý 2020?

Trung Quốc đã vượt qua đỉnh dịch COVID-19. Tuy nhiên, Trương Văn Hoành, người đứng đầu nhóm chuyên gia y tế lâm sàng về SARS-CoV-2, cảnh báo đợt lây nhiễm thứ hai sẽ xảy ra vào tháng 11/2020 hoặc sau đó.

Trong đại dịch cúm Tây Ban Nha giai đoạn 1918 – 1920, đợt lây nhiễm thứ hai nghiêm trọng hơn so với đợt thứ nhất. Kể từ đó đến nay, chưa có đại dịch nào lấy đi nhiều sinh mạng hơn so với đại dịch cúm này. Ước tính vào thời điểm đó có 500 triệu người, chiếm khoảng 1/3 dân số trên hành tinh, đã bị nhiễm bệnh, trong đó có 50 triệu người đã thiệt mạng.

Chung Nam Sơn, một bác sỹ 83 tuổi, đã nổi lên từ năm 2003 khi ông đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống lại hội chứng hô hấp cấp tính (SARS). Bác sỹ này cảnh báo rằng virus SARS-CoV-2 đã biến đổi, và tỷ lệ tử vong do virus này gây ra đã tăng gấp 20 lần so với virus cúm.

SARS-CoV-2 khởi phát từ Trung Quốc vào cuối năm 2019, sau đó lây lan khắp toàn cầu. Việc Trung Quốc kiểm soát thông tin và mạng xã hội liên quan tới dịch bệnh này cho đến giữa tháng 1/2020 và phản ứng chậm chạp của Bắc Kinh trước cuộc khủng hoảng y tế công cộng này trong giai đoạn đầu đã dẫn tới thảm họa và châm ngòi cho sự phản đối của quốc tế. Tổng thống Trump từng nhiều lần gọi SARS-CoV-2 là “virus Trung Quốc”.

Dư luận thế giới sẽ có ảnh hưởng tới việc thiết lập lại trật tự thế giới sau dịch COVID-19. Dựa trên tình hình hiện tại, những nước đưa ra sáng kiến sẽ là Mỹ và Trung Quốc.

Ở Trung Quốc cổ đại, những thẻ tre là phương tiện chủ yếu để lưu trữ văn bản trước khi giấy xuất hiện. Nhờ có thẻ tre, các văn bản chính thức được lưu giữ cho hậu thế, và việc khắc lên các thẻ tre này có ý nghĩa quan trọng đối với một vị hoàng đế. Nếu đại dịch COVID-19 làm thay đổi triệt để trật tự thế giới trong thế kỷ 21, thì các thẻ tre đó sẽ khắc tên Mỹ hay Trung Quốc? Trung Quốc không được phép thua cuộc.

Kết quả cuối cùng phụ thuộc vào việc Mỹ và Trung Quốc sẽ tái thiết nền kinh tế của mình như thế nào sau đại dịch. Nếu các công ty lớn của nước ngoài rút khỏi Trung Quốc, thì đ1o sẽ là một trở ngại không nhỏ đối với sự phục hồi kinh tế của nước này.

Nguồn: Nikkei Asia Review – 16/04/2020

TLTKĐB –  21/04/2020

Cuộc chạy đua điều chế vaccine phòng chống COVID-19 tăng tốc tại Mỹ và Trung Quốc


Ba loại vaccine phòng dịch COVID-19 đang được đưa vào giai đoạn thử nghiệm trên người tại Trung Quốc và Mỹ, song đó vẫn là một con đường rất dài để xem xét liệu những loại dược phẩm này có thực sự hiệu quả hay không.

Theo thông báo từ Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ngày 14/4, phòng Thí nghiệm Sinh học CanSino (trụ sở tại Thiên Tân) của Trung Quốc đã bắt đầu giai đoạn thử nghiệm thứ hai với các tình nguyện viên.

Trong khi đó, Mỹ cũng không chậm chân hơn với hoạt động nghiên cứu tại Viện Y tế Quốc gia Mỹ (NIH) khi tình nguyện viên thử vaccine tháng trước đã tới phòng nghiên cứu tại Seattle ngày 14/4 để tiêm liều vaccine thứ hai.

Tổ chức Y tế Thế giới trong tuần này cho biết trên khắp thế giới có hơn 60 loại vaccine đang trong những giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Nhiều nhóm nghiên cứu cũng đã phối hợp với nhau để đẩy nhanh công việc, như tập đoàn Sanofi và GSK là những đối tác mới nhất thự chiện kế hoạch này.

Nỗ lực tại Trung Quốc

Vaccine của phòng thí nghiệm CanSino là vaccine tái tổ hợp do nhóm nghiên cứu của nhà dịch tễ học, Thiếu tướng Chen Wei (Trần Vi), làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Quân y. Đây là loại vaccine đầu tiên được đưa vào thử nghiệm lâm sàng dựa trên một vật liệu di truyền vốn được tạo ra để kháng lại virus ebola. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại Mỹ đi theo hướng điều chế vaccine từ việc sao chép một phần bộ gen của virus corona.

Về vaccine của CanSino, giai đoạn I của quá trình thử nghiệm đã hoàn tất vào tháng 3/2020 và giai đoạn II bắt đầu từ ngày 12/4/2020. WHO cũng xác nhận đây là vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng thứ hai. Trong giai đoạn hai, tình nguyện viên không còn bị giới hạn độ tuổi dưới 60. Bà Chen cho rằng người cao tuổi là nhóm đối tượng dễ bị lây nhiễm và tiến triển năng khi nhiễm SARS-CoV-2, vì vậy, các loại vaccine nên được điều chế để tạo thành lá chắn cho nhóm đối tượng này. Vaccine mang theo gen của các protein bề mặt (lồi thành dạng gai) của virus SARS-CoV-2 (đã giảm độc lực) được tiêm vào cơ thể tình nguyện viên để từ đó vật chủ xây dựng hệ thống miễn dịch với các protein này. Khi SARS-CoV-2 thực sự tấn công, cơ thể sẽ nhận dạng loại protein đó và ngăn chặn cuộc tấn công của chúng.

Wu Yuanbin, Vụ trưởng Vụ Công nghệ khoa học phát triển xã hội thuộc Bộ Khoa học và Kỹ thuật Trung Quốc, cho biết hai đơn vị khác được cấp phép thử nghiệm vaccine trên người là Viện sản phẩm sinh học Vũ Hán, thuộc Tập đoàn Dược phẩm Quốc gia (Sinopharm) (phối hợp cùng Viện virus Vũ Hán, Học viện Khoa học Trung Quốc); và Công ty Nghiên cứu và phát triển Sinovac. Hai đơn vị này đều phát triển các loại vaccine bất hoạt (chứa virus được nuôi cấy nhân tạo nhưng không còn khả năng gây bệnh).

Cũng theo ông Wu, Trung Quốc đang triển khai 5 cách tiếp cận trong quá trình phát triển vaccine phòng COVID-19, cụ thể là các vaccine bất hoạt, vaccine tái tổ hợp protein, vaccine sử dụng loại virus không chứa các đặc tính truyền nhiễm mà cung cấp vật liệu di truyền cho vật chủ, vaccine nucleic acid và vaccine dùng virus cúm đã được giảm độc lực làm vật chủ. Các nghiên cứu đều đang được gấp rút đẩy mạnh.

Nhấn mạnh an toàn là ưu tiên hàng đầu, ông Wang khẳng định, quá trình thử nghiêm lâm sàng vaccine luôn được tiến hành theo 3 giai đoạn. Giai đoạn I là thử nghiệm với vài chục tình nguyện viên để xác định độ an toàn của vaccine và sức chịu đựng của cơ thể con người với các liều khác nhau. Giai đoạn II sẽ có vô số người tham gia thử nghiệm nhiều hơn để xác định độ hiệu quả và an toàn. Giai đoạn III có thể được tiến hành với khoảng vài nghìn, cho đến vài chục nghìn người với thời gian theo dõi có thể là cả một chu kỳ dịch bệnh để quyết định hiệu quả của loại vaccine đó và xây dựng cơ sở khoa học nhằm đưa vào sử dụng.

Mũi thử nghiệm thứ hai tại Mỹ

Ngày 14/4, tình nguyện viên thử nghiệm vaccine mRNA-1273 tại Mỹ đã được tiêm mũi thứ hai. Đây là sản phẩm của NIH và công ty công nghệ sinh học Mordena hợp tác nghiên cứu và phát triển. Loại vaccine không chứa virus vì vậy giảm thiểu khả năng lây nhiễm.

Tiến sĩ Anthony Fauci, người đứng đầu khoa lây nhiễm của NIH chia sẻ với phóng viên hãng tin AP rằng cho đến nay, họ chưa ghi nhận bất kỳ cảnh báo nguy hiểm nào và hy vọng việc thử nghiệm trên quy mô rộng hơn sẽ được bắt đầu vào khoảng tháng 6 tới. Tiến sĩ Fauci cho rằng nếu dịch COVID-19 tiếp tục lan rộng suốt cả mùa Hè và mùa Thu tới, nhiều khả năng các nhà khoa học sẽ “nỗ lực hoàn thành các nghiên cứu quy mô sớm hơn khoảng thời gian dự kiến là 12 – 18 tháng”.

Doanh nghiệp Inovio Pharmaceuticals cũng bắt đầu đưa vaccine nghiên cứu vào thử nghiệm lần hai, và hy vọng có thể mở rộng các nghiên cứu tới Trung Quốc nhờ quá trình đàm phán với công ty công nghệ sinh học Advaccine Bắc Kinh.

Các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I chủ yếu chú trọng tới tính an toàn, và các nhà khoa học ở cả Mỹ và Trung Quốc đều đang thử các liều lượng khác nhau cho từng loại vaccine. Tuy nhiên, việc tiến tới giai đoạn thử nghiệm thứ hai là bước tiến quan trọng cho phép vaccine có thể được thử nghiệm trên người nhiều nhơn để quan sát và ghi nhận các dấu hiệu miễn dịch của các tình nguyện viên này.

Nguồn: TKNB – 17/04/2020.

COVID-19, đòn giáng mạnh vào tham vọng lãnh đạo toàn cầu của Trung Quốc


Mặc dù chính quyền Bắc Kinh đã đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền, nhưng danh tiếng quốc tế của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nặng nề trong đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 này. Liệu dịch COVID-19 sẽ đem lại cho Trung Quốc cơ hội trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu hay không? Giống như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra tranh cãi về vấn đề phải chăng Mỹ đang rơi vào suy thoái, cuộc khủng hoảng COVID-19 đã đưa đến cuộc thảo luận về mối quan hệ tương lai giữa Trung Quốc và Mỹ.

Quan điểm cho rằng đại dịch đã “đặt dấu chấm hết cho Thế kỷ Mỹ” dường như đang được ưa chuộng ở Trung Quốc. Không thể phủ nhận rằng những cách thức xử lý vụng về ban đầu của Chính quyền Trump đã bộc lộ những yếu kém của hệ thống y tế Mỹ và những sai lầm trong khả năng của Mỹ đối phó một cách hiệu quả trước tình trạng khẩn cấp về chính sách công.

Tuy nhiên, sẽ là quá sớm khi dự đoán rằng cuộc khủng hoảng COVID-19 sẽ đẩy nhanh sự kết thúc vai trò lãnh đạo của Mỹ và đưa Trung Quốc tới vị thế ưu việt toàn cầu. Trên thực tế, khi virus SARS-CoV-2 trở nên hiện hữu, Trung Quốc có thể đã không còn nỗ lực để trở thành một siêu cường toàn cầu.

Các nước trên khắp thế giới đã cảnh giác với sự hối thúc của Đảng Cộng sản Trung Quốc yêu cầu cần có sự phối hợp toàn cầu đối phó với dịch bệnh. Sự hối thúc này có mục đích không chỉ để làm chệch hướng việc đổ lỗi cho Trung Quốc về nguồn gốc và sự lây lan của virus SARS-CoV-2 ở thành phố Vũ Hán, mà còn nhằm tận dụng đại dịch để tăng cường vị thế và ảnh hưởng toàn cầu của Trung Quốc.

Các nhà báo và nhà ngoại giao Trung Quốc tuyên truyền chế độ của Trung Quốc có hiệu quả hơn so với phương Tây trong việc kiềm chế đại dịch và cho rằng Trung Quốc là vị cứu tinh của thế giới. Giả định của Bắc Kinh cho rằng quân đội Mỹ đã tạo ra loại virus này và đưa nó đến Vũ Hán đã bị các nhà khoa học vạch trần. Họ xác nhận rằng cấu trúc của virus SARS-CoV-2 tương tự như cấu trúc của các loại virus được biết đã gây bệnh cho dơi và tê tê, khác với cái mà con người có khả năng tạo ra.

Hơn nữa, ở Mỹ, Anh và các nước khác tồn tại nghi ngờ rằng loại virus này có thể bị lọt ra từ Viện Virus học hoặc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Vũ Hán, cả hai cơ sở nằm trong phạm vi 16 km từ chợ động vật nơi được cho là bắt đầu bùng phát dịch bệnh.

Những nỗ lực của Trung  Quốc nhằm biện minh cho những hành động của chính phủ dập tắt thông tin về virus đã không thành công ở trong và ngoài nước.

Những biện pháp kiềm chế khắc nghiệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc như tập trung và cách ly những người bị nhiễm bệnh, thực hiện giám sát công dân qua các ứng dụng có cài mã, và thậm chí buộc những người ốm yếu phải ở trong nhà… đã bị một số nhà quan sát chỉ trích là quá đáng và vi phạm nhân quyền.

Vai trò là nguồn cứu tinh toàn cầu mà Bắc Kinh hi vọng có được đã bị cản trở bởi các trang thiết bị y tế dưới chuẩn của Trung Quốc, trong đó có khẩu trang và bộ kit xét nghiệm xuất khẩu sang Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Gruzia, Cộng hòa Czech và Hà Lan. Người ta còn hoài nghi về độ tin cậy của các con số thống kê chính thức mà Trung Quốc đưa ra về số ca nhiễm virus và số ca tử vong, khiến các chính trị gia ở Mỹ và châu Âu đổ lỗi cho Trung Quốc thông tin thiếu chính xác một cách có chủ ý và bởi vậy gây trở ngại cho các kế hoạch đối phó của họ.

Việc Trung Quốc đưa tin thiếu thỏa đáng có thể dẫn đến  hậu quả không chỉ là mất đi danh tiếng. Mỹ và các nước khác có thể kiện Trung Quốc về tôi vi phạm những quy định về y tế của Tổ chức y tế thế giới. Một báo cáo của tổ chức Henry Jackson Society ước tính rằng chỉ riêng nhóm G7 có thể kiện Trung Quốc gây thiệt hại 4000 tỷ USD. Người ta đang kêu gọi Trung Quốc xóa nợ cho các nước coi đó như một cách thể hiện tinh thần trách nhiệm và bồi thường cho những phí tổn liên quan đến virus SARS-CoV-2.

Hậu quả kinh tế

Nhiều nhà kinh tế giờ đây đang dự đoán rằng sự chậm lại trong hoạt động kinh tế do kết quả của việc phong tỏa và hạn chế đi lại sẽ dẫn đến suy thoái toàn cầu trong năm nay sâu như cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu xảy ra, Bắc Kinh đã được ca tụng và giành được tiếng tăm khi Trung Quốc tung ra gói kích thích kinh tế trị giá 4000 tỷ NDT để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ở trong nước và chống đỡ cho nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, hiện nay Chính phủ Trung Quốc đã chi tiêu ít hơn nhiều do mức nợ cao. Nếu Bắc Kinh bơm nhiều nợ hơn vào nền kinh tế để tránh suy thoái, họ sẽ làm cho việc duy trì tăng trưởng trở nên khó khăn hơn.

Cuộc khủng hoảng COVID-19 đã khiến cho các nguồn cung y tế cùng với trang thiết bị viễn thông trở thành các lĩnh vực an ninh quốc gia có ý nghĩa sống còn mà ít nhất một số chính phủ sẽ quyết tâm sản xuất ở trong nước hay hợp tác với các đối tác tin cậy. Các nỗ lực nhằm làm giảm sự dễ bị tổn thương có khả năgn sẽ khiến nhiều chuỗi cung ứng rời khỏi Trung Quốc. Những bước đi như vậy cùng với các nhân tố khác đang làm đảo ngược sự hội nhập kinh tế giữa Trung Quốc và thế giới, đẩy nhanh việc tách rời và phi toàn cầu hóa. Những xu hướng này không có lợi cho nền kinh tế Trung Quốc.

Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI), chính sách đối ngoại quan trọng nhất của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, đang phải đối mặt với khó khăn khi dịch bệnh lan rộng. Sáng kiến này đã mở rộng cơ sở hạ tầng và tăng cường sự kết nối đồng thời triển khai ảnh hưởng của Trung Quốc trên khắp thế giới. Các biện pháp cách ly và cắt giảm vận tải bằng đường biển đã dẫn đến những thiếu hụt lao động và sự gián đoạn khác. Mặc dù công việc đối với nhiều dự án BRI sẽ được nối lại, nhưng những dự án khác sẽ bị hủy bỏ. Phá sản và ngừng dự án sẽ làm giảm mạnh thêm đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài. Khó khăn về tín dụng trong nước có thể sẽ khiến một số doanh nghiệp nhà nước bán hoặc rút khỏi những dự án rủi ro.

Việc Chính phủ Trung Quốc không chia sẻ thông tin chính xác, bưng bít thông tin và nỗ lực thô thiển của Bắc Kinh nhằm giành được thành quả chính trị đã dẫn đến sự thiếu tin tưởng trong cộng đồng quốc tế. Phản ứng cẩu thả của Bắc Kinh trong giai đoạn đầu bùng phát dịhc bệnh đã bộc lộ những yếu kém của hệ thống quản lý trong nước của Trung Quốc và phá vỡ tham vọng của Tập Cận Bình muốn dẫn dắt những cải cách về quản lý toàn cầu.

Thảm họa COVID-19 đem lại cho Mỹ cơ hội để đánh giá lại các chính sách đối nội và chiến lược toàn cầu của mình. Nếu Washington tiến hành các biện pháp để tăng cường tính cạnh tranh của Mỹ, khôi phục các liên minh và chứng minh khả năng lãnh đạo toàn cầu của nước này, Mỹ có thể tự đặt mình vào vị trí cạnh tranh hiệu quả hơn trong tương lai.

Nguồn: The Straits Times – 10/04/2020

TKNB – 14/04/2020

Thế tiến thoái lưỡng nan về năng lực lãnh đạo của Trung Quốc – Phần cuối


Thách thức đối với sự tập trung quyền lực của Tập Cận Bình và năng lực lãnh đạo của ĐCSTQ: Cuộc khủng hoảng COVID-19 là ví dụ mới nhất

Do đó, việc thông qua nghị quyết của Hội nghị trung ương 4 được coi là một thành tựu mới đối với Tập Cận Bình để tập trung quyền lực hơn nữa vào trong tay và tránh ngay cả những bất mãn nhỏ nhất có thể làm suy yếu quyền lực của ông. Điều này không hề bất thường vì ĐCSTQ tin rằng việc tập trung quyền lực trong đảng, trung ương đảng và trong tay nhà lãnh đạo đầy quyền lực của đảng là cách tốt nhất để đối phó với những thách thức và khó khăn hoặc – theo cách nói thời thượng của riêng họ – để củng cố năng lực lãnh đạo của chế độ.

Niềm tin này không hoàn toàn sai lầm, nhất là khi xét tới hai phép màu mà Hội nghị trung ương 4 đã khẳng định, cụ thể là phép màu phát triển (kinh tế) và phép màu ổn định (chính trị) – các phương tiện truyền thông của ĐCSTQ nhắc nhở độc giả rằng đây là lần đầu tiên một văn kiện hội nghị toàn thể của đảng đưa ra câu chuyện về hai “phép màu” như vậy, và những phép màu này ủng hộ mạnh mẽ những khẳng định của ĐCSTQ về sức sống và năng lực lãnh đạo của các thể chế.

Tuy nhiên, logic về phản hồi tích cực như vậy đã bỏ qua thực tế lịch sử rằng chính việc phân quyền, chứ không phải tập trung quyền lực, đã khởi xướng những cải cách hậu Mao Trạch Đông ở Trung Quốc và khiến tính hiệu quả kinh tế của chế độ được cải thiện. Nó cũng bỏ qua cái giá và những phí tổn mà Trung Quốc và thế giới đã phải trả để có được hai phép màu này – những phí tổn khác nhau trên nhiều khía cạnh quan trọng của đời sống con người, trong đó có bình đẳng kinh tế, công bằng xã hội, chất lượng môi trường cũng như những quyền công dân và chính trị của người dân.

Tình trạng thiếu nhận thức về thể chế và chính trị như vậy đã gióng lên hồi chuông cảnh báo khi một loạt dịch bệnh đối với con người và động vật thuần dưỡng đã nổ ra ở Trung Quốc trong năm 2019, trong đó có dịch tả lợn châu Phi vào cuối tháng 4/2019 khiến hơn 1 triệu con lợn bị chết, theo số liệu của Chính phủ Trung Quốc (vốn thường báo cáo số liệu về thiên tai thấp hơn so với thực tế). Đợt bùng nổ dịch bệnh tai hại nhất là vào tháng 12/2019 – dịch COVID-19 do chủng mới của virus corona gây ra, có nguồn gốc từ Vũ Hán, thành phố 11 triệu dân ở miền Trung Trung Quốc. Dịch COVID-19 vẫn đang nhanh chóng lây lan rộng rãi trên khắp thế giới, gây ra một cuộc khủng hoảng y tế công cộng toàn cầu với quy mô rất lớn.

Nguồn gốc của loại virus chết người này vẫn còn là bí ẩn, nhưng một số người đã quy cho những hành động hay sai lầm của con người là nguyên nhân khiến virus lây lan. Mặc dù điều này gây tranh cãi gay gắt, nhưng chắc chắn việc Chính phủ Trung Quốc cố ý trì hoãn đến mức quá muộn việc công bố sự bùng nổ của virus hẳn phải là nguyên nhân khiến virus lây lan tai hại. Trên thực tế, Chính phủ Trung Quốc nổi tiếng vì có thói quen che đậy và cấm giới truyền thông đưa tin về các thảm họa nhân đạo, như được thể hiện trong cuộc khủng hoảng SARS năm 2002 – 2003. Trước khi dịch COVID-19 xuất hiện, trong năm 2019, Chính phủ Trung Quốc đã cấm các tin tức về sự lây lan của dịch tả lợn châu Phi vào tháng 8 bất chấp việc dịch này đã đạt đỉnh sau đó. COVID-19 có khả năng bùng phát v ào ngày 1/12/2019, nhưng Chính phủ Trung Quốc đã trì hoãn việc công bố tình trạng này cho tới tận ngày 23/1/2020. Trong 54 ngày quan trọng này, chế độ đã giam giữ ít nhất 8 nhân viên y tế và kết tội họ “tung tin đồn gây rối trật tự xã hội” vì đã công bố về sự xuất hiện của đại dịch qua nhóm liên lạc WeChat của họ.

Chế độ Trung Quốc có thể đã có nhiều lý do để hành động chậm chạp trong việc công khai ổ dịch, nhưng tất cả bằng chứng đều chỉ ra một nguyên nhân chính: Tất cả các cán bộ đều phải chờ được Tập Cận Bình đích thân chỉ đạo trước khi có bất kỳ hành động nào, vì theo lời của chính Tập Cận Bình, ông đích thân phụ trách vấn đề này (cũng như mọi vấn đề khác). Bên cạnh những tranh cãi liên quan đến trách nhiệm, điều này rõ ràng nêu bật vấn đề do sự tập trung quyền lực cao độ trong tay nhà lãnh đạo tối cao trên khía cạnh năng lực lãnh đạo. Nếu nhà lãnh đạo tối cao không phản ứng, thì chế độ hoàn toàn bất lực trong mọi việc, và chỉ tới khi những hướng dẫn của nhà lãnh đạo tối cao được đưa ra, hệ thống mới có thể được huy động mạnh mẽ.

Trong bối cảnh Trung Quốc, điều này có thể được gọi là thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của Tập Cận Bình. Trước khi Tập Cận Bình tập trung quyền lực cao độ, chế độ đã vận hành nhiều thập kỷ dưới quyền các nhà lãnh đạo đầu sỏ, mà theo những cách hạn chế cho phép bộ máy trung ương đảng-nhà nước, bộ máy hành chính của các bộ, chính quyền địa phương, chính quyền cấp cơ sở và thậm chí là một tổ chức xã hội có sự chủ động nào đó trong việc đối phó với các vấn đề quản lý khác nhau. Đương nhiên, như bài viết đã chỉ ra, một chế độ độc đoán đầu sỏ như vậy cho phép có sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị, nhưng chế độ không có khả năng đối phó với những ảnh hưởng mà sự phát triển và ổn định như vậy gây ra. Giờ đây, những tác động của sự xuất hiện của cả hai thế tiến thoái lưỡng nan – của Tập Cận Bình và ĐCSTQ – đã khiến năng lực lãnh đạo của chế độ nhanh chóng suy giảm thay vì được cải thiện. Dịch COVID-19 bùng phát có thể là do thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của chế độ, và việc chế độ thiếu năng lực đối phó với sự lây lan của dịch bệnh có thể là do thế tiến thoái lưỡng nan về lãnh đạo của Tập Cận Bình.

Kết luận

Năng lực lãnh đạo của chế độ cộng sản Trung Quốc nằm ở khả năng độc quyền thao túng sức mạnh của công chúng, nhưng việc độc quyền thao túng sức mạnh có thể gây ra một loạt thách thức nghiêm trọng, thậm chí mang tính căn bản đối với hoạt động quản lý, nhất là quản lý một xã hội với nền kinh tế thị trường, sự đa nguyên xã hội ở mức độ nhất định và sự can dự toàn cầu. Thế tiến thoái lưỡng nan trong chế độ độc đoán càng trở nên nan giải do ban lãnh đạo dưới quyền Tập Cận Bình sau khi ông lên nắm quyền; và Hội nghị trung ương 4 khóa XIX, tổ chức tháng 10/2019, là điển hình của việc ânng cấp thế tiến thoái lưỡng nan của ĐCSTQ lên thành của chính Tập Cận Bình trong vấn đề năng lực lãnh đạo. Đây là sự nâng cấp về mức độ tập trung quyền lực, vì thẩm quyền và sức mạnh của Tập Cận Bình giờ đây áp đảo so với trung ương đảng, và điều trước đó được tuyên bố là sự lãnh đạo tập thể của Ban thường vụ Bộ Chính trị đã bị thay thế bởi chế độ độc tài cá nhân của Tập Cận Bình. Tuy nhiên, điều này thể hiện sự suy thoái về thể chế, vì ĐCSTQ với tư cách một chính đảng rất lớn với 90 triệu đảng viên cũng như đất nước Trung Quốc rộng lớn không thể chỉ dựa vào một cá nhân, dù người này có tài giỏi đến đâu chăng nữa. Thế tiến thoái lưỡng nan của ĐCSTQ liên quan tới năng lực lãnh đạo có thể dẫn tới sự trỗi dậy của cái được gọi là mô hình Trung Quốc, theo đó sự độc quyền của ĐCSTQ đối với quyền lực có một số lợi thế về quản lý, nhất là trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và duy trì sự ổn định chính trị, nhưng làm phát sinh những phí tổn lớn không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, nếu chế độ của Tập Cận Bình không thể giải quyết được thế tiến thoái lưỡng nan của Tận Cận Bình cho thấy rằng quyền lực càng được tập trung trong tay Tập Cận Bình thì năng lực lãnh đạo của chế độ càng bị suy yếu.

Nguồn: China Leadership Monitor – 01/03/2020

TLTKĐB – 03/04/2020