Dịch cúm do virus corona cho thấy sự phụ thuộc của OPEC vào Trung Quốc


Thành phố Vũ Hán đang bị phong tỏa. Hơn 50 triệu người đeo khẩu trang ngay trong chính ngôi nhà của mình. Hiếm khi nào trong lịch sử, nhân loại phải đối mặt với mối đe dọa virus gây hậu quả khủng khiếp như vậy. Những con người bất hạnh ở tỉnh Hồ Bắc có thể biết rằng khoa học cuối cùng sẽ có thể giải cứu họ, nhưng mối đe dọa về bệnh dịch toàn cầu và vết nhơ này có thể sẽ tồn tại mãi mãi.

Ngay sau khi đợt bùng phát virus gây sự chú ý của toàn thế giới, giới chức y tế Anh đã nhanh chóng đề cập đến những thông tin ít ỏi mà các đối tác Trung Quốc chia sẻ. Thông tin về số ca nhiễm mới và số người chết do chủng mới của virus corona gây ra cũng rất mập mờ. Bên cạnh sự che giấu thông tin, rào cản ngôn ngữ cũng ngăn chặn việc tiếp cận các chuyên gia và nguồn lực bên ngoài.

“Virus Vũ Hán” sẽ đánh gục nền kinh tế Trung Quốc, nhưng quan trọng nhất vẫn là những đồn đoán về an ninh quốc tế. Rõ ràng rằng đây là một bệnh dịch kiểu mới.

Nỗi lo sợ về sự giảm tốc kinh tế, bị kích động bởi đợt bùng phát virus corona tại Trung Quốc, đã hướng sự chú ý tới Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC), vốn phụ thuộc lớn vào nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Phát biểu với AFP, nhóm nghiên cứu JBC Energy cho biết: “Trung Quốc đang ngày một trở nên quan trọng với các nước OPEC trong những năm gần đây”. Hơn 2/3 lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc là từ các nước OPEC và Nga. Sau đợt sụt giảm của giá dầu, OPEC và Nga – nước đồng minh sản xuất dầu chính của tổ chức này – đã tiến hành cuộc họp trong tuần để thảo luận về tình hình hiện nay.

Trong một dấu hiệu cho thấy các khó khăn đang bủa vây, các đại biểu OPEC tham dự cuộc họp ở Vienna cho biết sự kiện này sẽ tiếp tục trong ngày 6/2. Tuy nhiên, đây không phải là cuộc họp chính thức về sản lượng dầu mỏ, như trong cuộc họp hồi tháng 12/2019 khi OPEC và các đồng minh OPEC+ đồng ý gia hạn thỏa thuận hiện hành nhằm hạn chế sản lượng dầu thô để nâng giá dầu.

Saudi Arabia và Nga hiện là các nước cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc. Tuy nhiên, về tổng thể, OPEC sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sự sụt giảm về nhu cầu dầu mỏ của Trung Quốc.

Bất luận việc tăng nhẹ trở lại hôm 5/2, nhìn chung giá dầu đã tụt dốc “thảm hại” trong các tuần qua do lo sợ về sự giảm tốc kinh tế toàn cầu bị kích động bởi Trung Quốc. Giá dầu sụt giảm khiến nhiều người tỏ ra quan ngại về OPEC bởi 13 quốc gia thành viên của tổ chức này sản xuất khoảng 1/3 lượng dầu thô thế giới và hiện đang lo ngại về nguồn thu của họ bởi nhu cầu yếu đi của Trung Quốc.

Yuijao Lei, nhà phân tích tại nhóm nghiên cứu Wood McKenzie, nói: “Trung Quốc là nước tiêu thụ dầu lớn thứ 2 thế giới, chiếm 13% nhu cầu dầu mỏ của thế giới. Hơn 1/3 tăng trưởng trong nhu cầu dầu mỏ thế giới từ Trung Quốc. Bởi không có đủ nguồn cung trong nước, sự phụ thuộc của Trung Quốc ngày một gia tăng, khiến Trungn Quốc trở thành một trong các thị trường quan trọng của OPEC”.

Tuần này, Saudi Arabia nói rằng tác động của virus corona đối với nhu cầu dầu mỏ của thế giới là “vô cùng hạn chế” và “được kích động bởi các yếu tố tâm lý”.

Tuy nhiên, theo JBC Energy, “các nước OPEC/OPEC+ chỉ có một lựa chọn duy nhất, và đó sẽ là tuyên bố cắt giảm nguồn cung hơn nữa, nếu không giá dầu sẽ lại tiếp tục sụt giảm” trong bối cảnh thế giới chưa thể kiềm chế sự lây lan của virus.

Naeem Aslam, nhà phân tích của Avatrade, nói: “Giá dầu đang chịu sức ép lớn kể từ sau đợt bùng phát virus corona bởi các nhà đầu tư đều quan ngại về nhu cầu dầu. Nhiều người dự đoán rằng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc – hiện ở mức gần 11 triệu thùng/ngày trong đầu tháng 2/2020 – sẽ sụt giảm nghiêm trọng. Chúng tôi dự đoán rằng con số đó sẽ giảm xuống 7 triệu thùng/ngày”.

Nguồn: TKNB – 10/02/2020.

Những thay đổi cơ bản của quan hệ Mỹ – Trung – Phần IV


Quản trị

Lĩnh vực mới nổi cuối cùng của cạnh tranh Mỹ – Trung là những ý tưởng về quản trị: quản trị toàn cầu và lựa chọn quản trị trong nước của các quốc gia. Biến thể chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc của Tập Cận Bình, nổi bật là chủ nghĩa ngoại lệ của Trung Quốc, có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này, xét tới Tập Cận Bình có thể là một nhân vật chủ chốt trong hoạt động chính trị của giới tinh hoa, chính  thức hoặc không chính thức, trong ít nhất một thập kỷ nữa. Những tham vọng của Tập Cận Bình biến Trung Quốc thành một nước lãnh đạo quốc tế và biến ĐCSTQ thành chính đảng lãnh đạo quản trị chính trị, kinh tế và xã hội ở trong nước đang gây ra sự cạnh tranh về tư tưởng giữa hai nước. Tập Cận Bình đang có nhiều hành động nhằm tái tạo vai trò của Trung Quốc trên thế giới và trong Đảng-nhà nước-xã hội hơn bất kỳ nhà lãnh đạo nào khác trong thời kỳ cải cách trước đây, và ông đang làm như vậy rất nhanh chóng và hiệu quả. Phần lớn thế giới phương Tây, đặc biệt là Mỹ, đang chú ý và một số nước coi đây là một cạnh tranh mới nổi giữa các hệ thống và ý thức hệ.

Công bằng mà nói, việc này xảy ra vào thời điểm chính sách đối ngoại của Mỹ bị cuộc khủng hoảng bản sắc của chính mình thách thức. Tổng thống Trump rất hoài nghi về chủ nghĩa quốc tế truyền thống của chính sách đối ngoại, các đồng minh, các tổ chức quốc tế và các hiệp định đa phương của Mỹ, và do đó nhiều nhà lãnh đạo thế giới đã bắt đầu xem nhẹ vai trò của Mỹ. Các nhà chiến lược chính thống của Mỹ về châu Á đã có một cuộc tranh luận về việc Mỹ nên tiếp tục theo đổi quyền bá chủ và địa vị đứng đầu ở châu Á hay chuyển sang một chiến lược dựa trên sự cân bằng chiến lược giữa các cường quốc chính.

Tập Cận Bình đã nói nhiều và tích cực về việc Trung Quốc định hình trật tự quốc tế hơn những người tiền nhiệm của ông, mặc dù họ đã nói lên những khát vọng tương tự. Bắt đầu vào năm 2013, Tập Cận Bình đã thúc đẩy một vai trò lớn hơn trong các thể chế hiện có, khởi động các thể chế mới, tìm cách tiếp sức cho các thể chế khu vực hiện tại và khởi xướng nỗ lực soạn thảo các quy tắc về các vấn đề an ninh mới nổi như an ninh mạng và Bắc Cực. Ông bắt đầu cho phép cải tạo đất ở biển Nam Trung Hoa, với mục tiêu đảm bảo các yêu sách hàng hải của Trung Quốc bằng cách xây dựng 7 căn cứ bán quân sự gần như chỉ trong vài năm. Ông quyết định khởi động dự án này vì cho rằng rất có nguy cơ xảy ra sự phản công của Mỹ và các nước trong khu vực, mà ông sẵn sàng chịu đựng. Tương tự, vào mùa Thu 2013, Tập Cận Bình đã triển khai một vùng nhận dạng phòng không xung quanh biển Hoa Đông như một biện pháp để khẳng định các yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp. Động thái này đã khiến Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc có những phản ứng mạnh mẽ và làm dấy lên những câu hỏi vẫn tồn tại là liệu Trung Quốc có động thái tương tự ở biển Nam Trung Hoa hay không. Sau đó, Tập Cận Bình đã bác bỏ phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài, khi tòa ra phán quyết Philippines thắng kiện về các vấn đề mang tính kỹ thuật, có ảnh hưởng trực tiếp đến yêu sách của Trung Quốc ở biển Nam Trung Hoa. Bắt đầu vào năm 2014, Trung Quốc đã thành lập một ngân hàng cho vay mới trong khu vực gọi là Ngân hàng Đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á (AIIB) như một phần nỗ lực nâng tầm Trung Quốc thành nhà lãnh đạo quản trị kinh tế toàn cầu. Khoảng thời gian đó, Tập Cận Bình đưa ra sáng kiến đầu tư cơ sở hạ tầng “Một vành đai, Một con đường” với các bài phát biểu đặc trưng ở Trung Á và Đông Nam Á. Tập Cận Bình dần dần mở rộng sáng kiến này thành dự án có quy mô toàn cầu, đổi tên thành sáng kiến “Vành đai và Con đường” và sau đó tổ chức các hội nghị toàn cầu quy mô lớn về sáng kiến “Vành đai và Con đường” vào năm 2017 và 2019.

Trong bài phát biểu trước Đại hội Đảng XIX, ông đã tuyên bố rằng Trung Quốc tìm cách “trở thành một nước dẫn đầu toàn cầu về sức mạnh quốc gia và ảnh hưởng quốc tế”, và phát triển “một lực lượng quân sự đẳng cấp thế giới” vào năm 2050. Năm 2018, tại một hội nghị nội bộ quan trọng bàn về các vấn đề đối ngoại, lần đầu tiên Tập Cận Bình tuyên bố rằng Trung Quốc nên “tích cực tham gia lãnh đạo cải cách hệ thống quản trị toàn cầu”, một biểu hiện nữa cho thấy tham vọng của ông đối với Trung Quốc. Ngay cả trước những tuyên bố rất công khai này, hành động của Tập Cận Bình đã hoàn toàn chấm dứt việc tuân thủ quan điểm “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình và thúc đẩy bằng cả lời nói lẫn hành động một vai trò tích cực hơn và quyết đoán hơn của Trung Quốc trên vũ đài thế giới cũng như trong các vấn đề và ở các khu vực mà trước đây Trung Quốc tỏ ra không mấy quan tâm. Trung Quốc cũng tích cực thách thức các quy tắc và chuẩn mực quốc tế, như về các tranh chấp trên biển và nhân quyền.

Chắc chắn là Tập Cận Bình đã nỗ lực không ngừng để hiện thực hóa tham vọng của mình. Ông đã điều chỉnh lại khi đối mặt với sự chống đối và sức ép. Cuối năm 2018, ông đã bị các nhà lãnh đạo doanh nghiệp khu vực tư nhân công khai phản đối vì đã dành nhiều đặc quyền cho các doanh nghiệp và các bên tham gia nhà nước hơn so với các công ty tư nhân, đặc biệt là trong việc tiếp cận vốn và môi trường hoạt động. Đáp lại, Tập Cận Bình chuyển hướng. Ông đã gặp họ, lắng nghe những mối quan ngại này và thông qua các chính sách để giải quyết một số quan ngại. Về đối ngoại, Tập Cận Bình đã làm điều tương tự khi đối mặt với sự chỉ trích toàn cầu về dự án “Vành đai và Con đường”. Trong bài phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh quốc tế “Vành đai và Con đường” 2019 ở Bắc Kinh, Tập Cận Bình đã thừa nhận những thiếu sót của các nỗ lực BRI hiện tại, chẳng hạn như các vấn đề về tính bền vững của nợ và cam kết Trung Quốc áp dụng các biện pháp mới để tránh điều này và các vấn đề khác liên quan đến các dự án cơ sở hạ tầng lớn ở nước ngoài. Như một dấu hiệu cho thấy cam kết của Tập Cận Bình, sau hội nghị thượng đỉnh, Giám đốc điều hành IMF Christine Lagarde đã công khai ca ngợi những cam kết mới của Tập Cận Bình và hứa sẽ hợp tác với Trung Quốc để cải thiện chất lượng hoạt động cho vay của mình.

Thách thức quản trị toàn cầu cốt lõi đối với mối quan hệ Mỹ – Trung là cả hai nước đều là những nước xét lại có chọn lọc. Cả hai đều là các cường quốc nguyên trạng không quan tâm đến việc duy trì hệ thống quốc tế hiện tại và đều muốn cải tổ nó, nhưng vì những lý do khác nhau và theo những cách khác nhau. Mối quan ngại cốt lõi của Trung Quốc là hệ thống hiện tại sau Chiến tranh thế giới thứ hai được tạo ra mà không có vai trò của nước này và, mặc dù phần nào được hưởng lợi từ hệ thống này, Trung Quốc không hài lòng với vai trò chi phối của Mỹ trong các lĩnh vực ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế và an ninh của Trung Quốc. Như nhà phân tích Robert Kagan lập luận, chính sách đối ngoại của Mỹ cũng tìm kiếm sự thay đổi liên tục nhưng không thoát khỏi xu hướng tước quyền và trao quyền. Thay vào đó là do sự kết hợp giữa lòng nhiệt thành, các lợi ích toàn cầu và các năng lực đang thay đổi của Mỹ (đặc biệt là các năng lực quân sự). Ông cho rằng điều này không đổi kể từ khi Mỹ thành lập nước và có khả năng sẽ tiếp tục. Cuộc cạnh tranh do việc này gây ra về dạng thức và những đường nét của trật tự toàn cầu khó có thể sớm thay đổi xét tới việc cả hai đều coi hành động của nhau vốn đe dọa và gây bất ổn cho tầm nhìn của họ về hệ thống quốc tế.

Ngoài quản trị toàn cầu, những bất đồng giữa Mỹ và Trung Quốc về các lựa chọn chính trị và kinh tế của Trung Quốc không có gì mới. Tuy nhiên, việc Tập Cận Bình hướng mang lại cho ĐCSTQ sự kiểm soát lớn hơn, kết hợp với nỗ lực tích cực để hợp pháp hóa, hay thúc đẩy, những niềm tin này trên phạm vi quốc tế, đã mở ra một chương cạnh tranh hơn trong các cuộc tranh luận Mỹ – Trung về dân chủ và thị trường. Tập Cận Bình củng cố quyền lực nhanh hơn hai người tiền nhiệm của ông và sử dụng quy trình đó để tập trung quyền ra quyết định bên trong bộ máy ĐCSTQ, tước quyền của Quốc vụ viện. Chiến dịch chống tham nhũng của ông trong dân sự và quân đội có lẽ đã gây ra sự thay đổi chính trị hỗn loạn nhất kể từ sau khi Mao Trạch Đông qua đời, dẫn đến chuyển biến lớn trong đảng, chính phủ và quân đội. Ông đã lợi dụng tình huống này để mở rộng ảnh hưởng của ĐCSTQ đối với đời sống kinh tế và xã hội ở Trung Quốc, dẫn đến suy giảm các cải cách dựa trên thị trường cũng như việc tự do hóa  các quyền chính trị và dân sự, khiến tư tưởng quản trị trong nước của Mỹ và Trung Quốc thêm đối lập. Việc Tập Cận Bình trao quyền cho ĐCSTQ kiểm soát đời sống xã hội, chính trị và kinh tế, xa rời cải cách thị trường, bãi bỏ giới hạn nhiệm kỳ và các chiến dịch chống lại các thiểu số sắc tộc và tôn giáo cùng các hành động khác nhau đang làm tăng thêm những mối lo ngại của Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Washington Quarterly, Volume 42, 2019, Issue 3

CVĐQT – số 12/2019

Khuyến khích theo cách quản lý kiểu Trung Quốc – Phần II


Trong “Xuất sư biểu” Gia Cát Lượng đã khuyên Hậu Chủ của nước Thục là Lưu Thiện rằng, cho dù là hoàng thân quốc thích hay dân thường thì thưởng phạt đều cần phải xem như nhau, không vì thân thích mà thưởng, cũng không vì thù riêng mà phạt. Gia Cát Lượng đã nói và làm như thế. Trong lần đầu tiên Bắc phạt Tào Ngụy, ông đã ủy thác cho Mã Tốc trọng trách trấn giữ ở đoạn đường trọng yếu. Nhưng sau khi Mã Tốc thất thủ, Khổng Minh không màng tình riêng, lau nước mắt chém chết Mã Tốc đồng thời cũng tự trừng phạt mình. Điều đáng quý của Gia Cát Lượng là ông không chỉ xử phạt Mã Tốc mà còn tự trừng phạt mình. Điều này có tác dụng làn nền tảng cho cách dùng người sau này.

Thưởng phạt phải theo nguyên tắc là thưởng việc tốt phạt việc xấu, thưởng công phạt tội. Gia Cát Lượng đã chỉ ra rõ ràng: thưởng là để khen thưởng mọi người lập công, phạt là dùng để đề phòng cẩn thận, ngăn chặn những hành vi sai lầm từ đầu. Nhưng xác định thưởng phạt rõ ràng rất khó vì còn phải dựa vào mức độ. Thưởng phạt quá nhẹ hoặc quá nặng đều có ảnh hưởng đến việc quản lý. Thưởng phạt quá nhẹ không khuyến khích được nhân viên làm việc hết mình, không răn đe được những kẻ lười biếng, nhưng nếu thưởng phạt quá nặng thì có thể có tác dụng ngược lại, đặc biệt là xử phạt quá nặng thường khiến người mắc sai lầm khó tiếp thu, rất dễ tạo thành mâu thuẫn gay gắt giữa nhân viên.

Hai tình trạng này đều có thể làm việc quản lý doanh nghiệp không hiệu quả. Thưởng phạt cần có một “lượng” thích hợp và lượng thích hợp này không thể rập khuôn, càng không thể ở trạng thái tình phải linh động phù hợp với bất cứ thời kỳ nào. Hiện nay có một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp thích chạy theo kiểu mẫu quản lý của nước ngoài. Trên thực tế, quản lý doanh nghiệp cũng cần theo tình hình cụ thể mà vận dụng, không nên sao chép.

Có một số nhà lãnh đạo doanh nghiệp thích phương pháp quản lý “trọng thưởng trọng phạt” và coi đó là mô hình mang tính kinh nghiệm và cố định. Trên thực tế, đây là cách làm mang tính phiến diện. Trọng thưởng trọng phạt là do nhà tư tưởng Hàn Phi thời Chiến Quốc đưa ra lần đầu tiên. Ông cho rằng trọng thưởng nhiều thì mới có thể có nhiều nhân tài tận tâm tận sức được; xử phạt nặng có thể ngăn chặn những người xấu làm việc không tốt. Ông còn cho rằng không chỉ thưởng nhiều cho những người có công trạng lớn lao mà điều quan trọng là khen thưởng mọi người trong nước, khiến cho những người không có công lao gì ngưỡng mộ những người có nhiều công lao. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây quả là cách phân tích rất đặc sắc mà đến tận bây giờ nó vẫn mang ý nghĩa hiện thực đối với quản lý doanh nghiệp, nhưng chúng ta không thể áp dụng đồng loạt như nhau được.

Trọng thưởng trọng phạt phù hợp với thời kỳ các doanh nghiệp cần lập lại trật tự. Nếu việc quản lý các doanh nghiệp đang nằm trong tình trạng hỗn loạn thì trọng thưởng trọng phạt là phương thức quản lý khả thi. Cũng như thế, trọng thưởng, trọng phạt có thể nhanh chóng kìm hãm sự hỗn loạn của xã hội, làm cho xã hội ổn định, từ chỗ không có trật tự chuyển sang có trật tự. Đặc biệt, khi việc trị an xã hội rơi vào tình trạng hỗn loạn, nếu không trừng phạt nặng những thói hư tật xấu mà chỉ tiến hành xử phạt thông thường thì không thể giải quyết được vấn đề gì. Cũng như thế, muốn khởi xướng trào lưu mới của xã hội, nếu không trọng thưởng cũng khó để mọi người tiếp thu. Do vậy, trong bối cảnh xã hội như thế thì trọng thưởng trọng phạt quả là rất đúng. Nhưng nếu rời xa bối cảnh xã hội đặc biệt này mà coi trọng thưởng trọng phạt là mô hình cố định và đề xướng mở rộng thì có thể xảy ra những sai lầm, thậm chí có những kết quả ngược lại.

Ví dụ, khi thời kỳ Chiến Quốc kết thúc, sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, xã hội bước sang một quỹ đạo có trật tự, lúc này mọi người hi vọng sản xuất phát triển, kinh tế phồn vinh, hướng tới cuộc sống ổn định, hòa bình. Trong bối cảnh như thế, nếu tiếp tục lấy trọng phạt làm tư tưởng chủ đạo, thực hiện hình phạt nghiêm khắc thì chỉ có thể làm cho mâu thuẫn trở nên gay gắt, ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định xã hội. Tần Thủy Hoàng hoàn toàn sai lầm về điểm này nên sau khi thống nhất Trung Quốc vẫn quán triệt việc trọng phạt, tiếp tục áp dụng những hình phạt tàn khốc như ngũ mã phanh thây, chém ngang lưng bêu chợ. Trọng hình là một trong những nguyên nhân khiến cho nhà Tần nhanh chóng sụp đổ.

Vì thế, khen thưởng theo phương thức quản lý kiểu Trung Quốc cần tùy theo thời thế mà áp dụng, tùy theo tình hình thời cuộc và hình thức mà xác định, điều cơ bản là không theo mô hình hay tiêu chuẩn nhất định nào.

Thưởng phạt có mức độ

Khi vận dụng phương pháp khen thưởng theo kiểu Trung Quốc, chúng ta cần khen thưởng đúng mực, cần chú ý tính nhịp nhàng và hiệu quả. Khen thưởng chính xác khuyến khích mọi người phấn đấu, tăng sức cạnh tranh. Nếu khen thưởng không đúng mức độ có thể gây ra phản tác dụng.

Trong sách “Tư trị thông giám – Đường kỉ 36” viết rằng: Tất cả những người nắm chính quyền quốc gia đều được thưởng công và cũng bị tội. Vì thế, làm những việc tốt thì được nâng đỡ, làm việc không tốt thì bị trừng phạt… Nếu việc khen thưởng khích lệ những cái ác, cái xấu thì việc xấu và người xấu ở khắp nơi.

Năm 758, vào thời nhà Đường, Bình Lô Quân Tiết độ sứ Vương Huyền Chí qua đời, theo di chiếu cho Kỳ Tứ kế nhiệm. Không ngờ, bộ tướng Lý Hoài Ngọc lại giết chết con trai của Vương Huyền Chí, đưa người thân của mình là Hầu Hy Dật lên kế nhiệm. Đường Túc Tông không những không xử phạt Lý Hoài Ngọc mà ngược lại, chính thức bổ nhiệm Hầu Hy Dật làm Phó Tiết độ sứ Bình Lô Vương. Đây là cơ sở dẫn đến các cuộc kiêu binh nổi dậy sau này vì nhà Đường tự ý phế lập Tiết độ sứ theo ý mình.

Trong quá trình đấu tranh quân sự, chính trị phức tạp, một số bậc quân chủ vì lợi ích trước mắt mà áp dụng một số kế sách tạm thời nhưng một số quân chủ cao minh khi khen thưởng công lao của cấp dưới đều chú ý hướng dẫn cấp dưới không nên hiểu kế sách thích nghi tạm thời là kế sách lâu dài. Thời Xuân Thu, quân Tấn và quân Sở đánh nhau ở Bộc Thành. Tấn Văn Công hỏi kế sách của đại thần. Cửu Phạm kiến nghị: trong tình thế Sở mạnh Tấn yếu, để giành được thắng lợi phải dùng ngụy kế. Đại thần Ung Lý phản đối, nói: “Ngụy kế dù hiện tại có thể ngầm sử dụng, nhưng về sau không thể dùng lại được, nên là kế sách không có tính lâu dài”. Tấn Văn Công mặc dù làm theo mưu kế của Cửu Phạm đánh bại nước Sở nhưng khi luận công để thưởng thì lại thưởng cho Ung Lý đầu tiên. Tất cả các đại thần đều không thể lý giải được. Tấn Văn Công nói: “Những lời nói của Ung Lý hàng trăm năm sau vẫn có lợi. Còn những lời góp ý của Cửu Phạm rất có ích cho việc lúc này vậy. Nếu như cái chỉ có lợi cho việc ngay lúc này thôi thì nên ưu tiên cho việc có lợi cho trăm năm sau có phải hơn không?”

Tương tự một ví dụ khác cũng xảy ra vào những năm cuối đời Đông Hán (đầu thế kỷ III), Viên Thượng là thuộc hạ của Viên Thiệu sau khi bị quân Tào Tháo đánh bại đã bỏ chạy, dựa vào thủ lĩnh Liễu Tây là Ô Hoàn. Còn về phía Tào Tháo, quân Tào thừa thắng xông lên, tiến hành cuộc Bắc phạt chinh phục Ô Hoàn. Khi đó, có rất nhiều tướng lĩnh và mưu sĩ đứng ra khuyên can Tào Tháo, nhưng Tào Tháo vẫn kiên quyết làm theo kế hoạch đó, đến biên giới thì gặp ngay quân địch đang lâm vào tình cảnh khó khăn nên nhờ đó giành được thắng lợi. Sau khi chiến thắng trở về, Tào Tháo trước mặt mọi người ban thưởng hậu hĩnh cho từng quan đại thần đã lên tiếng can gián mình và nói với họ rằng: “Ta lần này tham chiến, nhân lúc quân địch đang lâm vào tình thế nguy hiểm hoảng loạn nên mới may mắn giành được thắng lợi. Thắng lợi đó chẳng qua cũng chỉ là ông trời giúp ta giành được mà thôi. Tuy nhiên, không thể lúc nào cũng làm như thế. Lời khuyến cáo của chư vị mới là kế sách yên ổn nhất, cho nên phải thưởng riêng thật hậu hĩnh. Sau này tiếp tục gặp phải tình hình như thế cũng không được sợ mà không dám can ngăn đấy!”

Khen thưởng là một hình thức đền đáp công lao của một người, cũng đồng thời là hướng chỉ đạo đối với phạm vi đạo đức của người lãnh đạo. Mặc dù khen thưởng có dụng khích lệ sĩ khí nhưng cũng khiến cho sự hỗn loạn càng tăng, như thế loại khen thưởng này phải kèm theo tổn thất. Vì thế, một vị lãnh đạo khi khen thưởng cần suy xét thận trọng xem đối với cấp dưới có những ảnh hưởng gì, tất cả không thể chỉ chú ý cái này mà bỏ cái kia.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – CSCI

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay – Phần cuối


2/ Về một số điểm tương đồng giữa lý luận xây dựng xã hội hài hòa và đường lối đổi mới ở Việt Nam hiện nay

Từ mục tiêu xây dựng xã hội hài hòa được Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc xác định, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ những nội dung cơ bản của xã hội hài hòa trên những khía cạnh khác nhau. Một số những nghiên cứu ấy đã được chuyển tải vào Việt Nam thông qua trao đổi sách báo, Hội thảo khoa học và thông tin đại chúng. Từ mục tiêu và những nội dung ấy, chúng ta thấy có những tương đồng đáng ghi nhận giữa lý luận xây dựng xã hội hài hòa với lý luận về đổi mới ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, về nội hàm của khái niệm hài hòa. Có tác giả cho rằng, hài hòa ở đây là chỉ các sự vật khác nhau, các bộ phận khác nhau của sự vật, các thành phần khác nhau cùng tồn tại cộng sinh bên cạnh nhau một cách hòa bình, nhịp nhàng. Khi phân tích về xã hội hài hòa, tác giả Trung Quốc Dương Quốc học đã viết: ““Hài hòa” trong xã hội hài hòa là sự phát triển kết hợp của nhiều nhân tố xã hội, nó biểu hiện ở kinh tế, chính trị, văn hóa… Xã hội hài hòa là xã hội ổn định có trật tự… Nhưng ổn định ở đây là một loại ổn định tương đối và một loại ổn định không ngừng phát triển”. Như vậy, hài hòa trước hết là sự ổn định, song không phải là sự ổn định chết cứng mà là ổn định để phát triển. Ở Việt Nam, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn đặc biệt chú ý đến vấn đề ổn định xã hội, lấy ổn định xã hội làm cơ sở cho đổi mới, cho phát triển. Về đổi mới chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cho rằng đó là nhiệm vụ hết sức cần thiết, tuy nhiên phải tiến hành cẩn trọng và có bước đi chắc chắn cùng với đổi mới kinh tế và các mặt khác của đời sống xã hội. Sự đúng đắn và nhất quán của quan niệm này đã tránh cho Việt Nam những sai lầm không đáng có mà quá trình cải cách, cải tổ ở nhiều nước đã xảy ra. Trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, Việt Nam luôn giữ được sự ổn định – ổn định về chính trị, ổn định về xã hội. Chính sự ổn định ấy là tiền đề cho sự phát triển với nhịp điệu tương đối nhanh và ổn định trong suốt thời gian dài vừa qua. Đường lối đại đoàn kết dân tộc, hòa hợp dân tộc của Việt Nam chính là sự đề cao tinh thần đoàn kết – “hài hòa” giữa các cộng đồng, giới trên lãnh thổ Việt Nam cùng nhau xây dựng và phát triển đất nước.

Về mục tiêu chung. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã xác định xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Từ mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam đã từng bước cụ thể hóa trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội qua từng bước đi của mình. Trong quá trình ấy, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã xây dựng những định hướng cơ bản để thực hiện mục tiêu chiến lược trên.

Trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế – xã hội”. Trong định hướng chiến lược trên, “sự phát triển hài hòa” giữa các mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, đã được hết sức chú ý, thậm chí trong sự hài hòa này, các mặt tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội gắn liền thành một chỉnh thể hữu cơ. Với mục tiêu lâu dài và cụ thể trên, chúng ta thấy có một sự tương đồng rất rõ với nội dung của lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc.

Nội dung xây dựng xã hội hài hòa (đã nhắc ở trên) của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã bộc lộ một cách rõ ràng sự phát triển hài hòa giữa các mặt của đời sống xã hội “kiên trì lấy con người làm gốc, chỉnh đốn toàn diện, điều chỉnh thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người và kinh tế xã hội”. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc đã đi sâu phân tích, làm rõ mục tiêu, nội dung cơ bản của lý luận xây dựng xã hội hài hòa: “Nội hàm của xã hội hài hòa rất phong phú, không chỉ là sự tăng trưởng kinh tế, mà còn bao gồm sự tiến bộ của khao học, giáo dục, thiết lập pháp chế, xã hội dân chủ và nhân văn,… tạo thuận lợi cho sự giàu có của toàn xã hội, con người và tự nhiên cùng phát triển cộng sinh”.

Trong lĩnh vực kinh tế, cùng với công cuộc cải cách, đổi mới, Trung Quốc đã xác định rõ phải xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đại học lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ rõ: “Kiên trì và hoàn thiện chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa, duy trì nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần sở hữu cùng phát triển, kiên trì và hoàn thiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Có thể nói, xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa là mô thức cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc. Nó cũng là phương tiện cơ bản để xây dựng xã hội hài hòa, trong đó “các thành phần kinh tế cùng phát triển”.

Ở Việt Nam, cùng với công cuộc đổi mới, chúng ta đã tiến hành chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Về cơ sở lý luận. Lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc và lý luận đổi mới của Việt Nam đều dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Marx – Lenin, lấy lý luận phát triển làm nền tảng. Trong quá trình cải cách, đổi mới và xây dựng lý luận xã hội hài hòa ở Trung Quốc, cũng như trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam, hai nước luôn kiên trì các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Marx – Lenin về sự vận động của lịch sử, dựa trên quan điểm phát triển khoa học của chủ nghĩa Marx – Lenin, xem đó như nền tảng lý luận để xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách của mỗi nước. Đây là điểm tương đồng lớn nhất.

Công cuộc cải cách, đổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam đã thu được những thành tựu hết sức to lớn. Để tiếp tục con đường phát triển đã đặt ra, thiết nghĩ, một mặt, chúng ta cần tăng cường sự hợp tác cả về lý luận và thực tiễn. Trong công tác lý luận, việc tìm hiểu lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc cũng như đường lối đổi mới của Việt Nam sẽ hết sức bổ ích cho cả hai nước. Mặt khác, có thể thấy, từ lý luận phát triển của chủ nghĩa Marx mà hạt nhân là lý luận về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, chúng ta cần phải có cái nhìn thực tế, phải xuất phát từ thực tế khách quan để xây dựng lý luận đổi mới và phát triển của mỗi nước cho phù hợp với thực tiễn cách mạng trong mỗi giai đoạn cụ thể. Trong điều kiện hiện nay, phải chăng cần nhấn mạnh khía cạnh thống nhất – sự hài hòa giữa các mặt đối lập – để xây dựng một xã hội phát triển hài hòa và bền vững.

Thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”, “hòa hợp dân tộc” và sự chọn lựa con đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Tuy chưa có lý luận về xây dựng xã hội hài hòa song với tinh thần trên, công cuộc đổi mới ở Việt Nam chắc chắn sẽ tiến tới xây dựng và phát triển trên thực tế một xã hội hài hòa giữa các mặt của đời sống xã hội: hài hòa giữa giàu có về vật chất và giàu có về tinh thần, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội, hài hòa giữa phát triển xã hội và bảo vệ môi trường tự nhiên, hài hòa giữa các bộ phận, tầng lớp dân cư trong xã hội… Trong bối cảnh như vậy, lý luận xây dựng xã hội hài hòa của Trung Quốc chắc chắn sẽ có giá trị gợi mở nhất định đối với công cuộc đổi mới của Việt Nam hiện nay.

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Sự “mất tích” kỳ lạ của Tập Cận Bình trong cuộc chiến chống virus corona


Sau lần đầu can thiệp vào cuộc khủng hoảng virus corona Vũ Hán hồi cuối tháng 1 vừa qua, Tập Cận Bình đã không được nhìn thấy trong nhiều ngày, hoàn toàn biến mất khỏi trang nhất của tờ báo Nhân dân Nhật báo, vốn là nơi ông thường xuyên xuất hiện nổi bật, cũng như trong các bản tin thời sự hàng đêm của Đài truyền hình nhà nước CCTV.

Điều này thật kỳ lạ, không chỉ bởi nhà lãnh đạo của một quốc gia thông thường luôn xuất hiện ngay tại trung tâm của một cuộc khủng hoảng, mà còn vì Tập Cận Bình thường chiếm vị trí nổi bật trên truyền thông vào những thời điểm quan trọng nhất, bất kể đó là các hoạt động thường ngày của ông.

Sự biến mất của Tập Cận Bình không phải không bị để ý ở Trung Quốc, nơi nhiều người đang đặt câu hỏi trên mạng xã hội – hầu hết bị bộ phận kiểm duyệt nhanh chóng xóa đi. Bên ngoài Trung Quốc, đặc biệt là trong các cộng đồng bất đồng chính kiến, những suy đoán ngoài tầm kiểm soát đang gia tăng.

Đây cũng không phải là lần đầu tiên “Tập Cận Bình mất tích” trở thành một sự kiện. Khi một chính phủ độc tài tập trung quyền lực xung quanh một nhân vật duy nhất – cách Trung Quốc hoạt động xoay quanh Tập Cận Bình trong suốt 5 năm qua, ngya cả việc loại nhân vật đó dù chỉ một chút khỏi ánh đèn sân khấu – cũng sẽ gây ra sự bàn tán.

Tập Cận Bình đang ở đâu? Đằng sau sự vắng mặt của Tập Cận Bình là gì?

Hoạt động nội bộ của ĐCSTQ có thể là một “hộp đen” vào thời điểm quan trọng nhất, nhưng có một số giả thuyết đáng chú ý. Sự tức giận đối với virus Vũ Hán đang tạo ra làn sóng chống lại sự kiểm duyệt ở Trung Quốc. Điều đó sẽ không kéo dài. Tập Cận Bình đã rút lui khỏi sâộ khấu để đưa các quan chức khác đứng ra nhận trách nhiệm không thể tránh khỏi cho một cuộc khủng hoảng – ngay cả khi Chính phủ duy trì sự kiểm soát và cuối cùng sẽ thành công – đang gây thiệt hại lớn về kinh tế và xã hội.

Tập Cận Bình là nhà lãnh đạo Trung Quốc quyền lực nhất kể từ thời Mao Trạch Đông, nhưng ông cũng dễ bị tổn thương đặc biệt do cách ông ta thâu tóm kiểm soát – quyền lực tuyệt đối kéo theo trách nhiệm tuyệt đối. Các quan chức ở Vũ Hán là những người thất bại hiển nhiên nhất trong cuộc khủng hoảng, và một số người đã tỏ ý sẵn sàng từ chức. Nhưng khi virus tiếp tục lan rộng khắp Trung Quốc và thế giới, họ có thể không phải là một “vật tế thần” đủ lớn để xoa dịu sự tức giận của công chúng.

Một nhân vật có thể cảm thấy lo lắng vào lúc này là Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường. Hầu hết các chuyên gia phân tích đều nhất trí rằng Lý Khắc Cường đã bị Tập Cận Bình loại khỏi cuộc chơi trong những năm gần đây, bị tước bỏ nhiều trách nhiệm và bị đẩy vào vai trò mang tính lễ tân nhiều hơn. Tuy nhiên, ông đã bất ngờ bị đẩy lên phía trước trong cuộc khủng hoảng này, chỉ đạo một nhóm phản ứng quốc gia và đến thị sát Vũ Hán.

Mạng xã hội Trung Quốc tràn ngập những đồn đoán về việc liệu Lý Khắc Cường có bị cách ly sau khi trở về từ thành phố tâm chấn của dịch bệnh hay không. Nếu giả thuyết này là chính xác, đó có thể là nỗi lo sợ ít nhất của ông ta.

Cách bàn tay vô hình (quyền lực) của Tập Cận Bình đang được phóng đại trên các phương tiện truyền thông nhà nước dường như ủng hộ giả thuyết này. Ông dường như đang âm thầm làm việc chăm chỉ, giám sát và chỉ đạo mọi nỗ lực, mà không thực sự xuất hiện trên tuyến đầu ở bất cứ đâu – do đó giảm thiểu sự liên quan trực tiếp tới những nỗ lực đó nếu chúng thất bại.

“Chính quyền trung ương có thể vẫn đang trong quá trình tích cực xem xét khi nào là thời điểm thích hợp để Tập Cận Bình xuất hiện để nắm quyền kiểm soát các nỗ lực phòng chống virus corona”, Rui Zhong, chuyên gia về Trung Quốc thuộc Trung tâm Wilson, nhận định.

Sau một cuộc họp quan trọng của các quan chức hàng đầu hôm 3/2, Tân Hoa xã đưa tin Tập Cận Bình nhấn mạnh sự cần thiết phải “hướng dẫn dư luận”, điều này sẽ “củng cố lòng tin tốt hơn và giành thiện cảm của người dân”.

Là người phải chịu trách nhiệm cuối cùng, điều quan trọng là bộ máy tuyên truyền của đất nước không cho phép điều này xảy ra. Thay vào đó, Tập Cận Bình đang bị đóng khung như là người duy nhất có thể giải quyết cuộc khủng hoảng và đưa Trung Quốc trở lại con đường dẫn đến sự vĩ đại mà ông đã hứa từ khi lên nắm quyền.

Bill Bishop, một nhà phân tích Trung Quốc độc lập, nói rằng “một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của tất cả các đảng viên là bảo vệ hạt nhân, tức ông Tập Cận Bình”. Bishop nói thêm: “Trong khi bạn nghĩ rằng “nhà lãnh đạo nhân dân” sẽ muốn được trông thấy gần gũi với người dân, có lẽ trong trường hợp này, nguy cơ ông ấy nhiễm virus có thể quá cao, và hình ảnh ông ấy đeo khẩu trang có thể là sự ám ảnh đối với các nhà tuyên giáo”.

Thay vào đó, các nhiệm vụ quan hệ công chúng đầy rủi ro như vậy đã được giao cho các quan chức có thể hy sinh nhiều hơn như Lý Khắc Cường, Thủ tướng bị gạt ra rìa.

Khi lý do tuyên truyền bị gạt bỏ để Tập Cận Bình được xem là người đang kiểm soát và, quan trọng nhất là, thành công trong cuộc chiến chống virus Vũ Hán, có những dấu hiệu cho thấy những câu chuyện tiêu cực đang bị hạ thấp mức độ nghiêm trọng và các bác sĩ, các chuyên gia khác đang bị áp lực không được nói ra ý kiến của họ. Các phóng viên ở Hồ Bắc cũng đã nói về việc họ bị gây áp lực phải kiềm chế phạm vi đưa tin của họ, sau khi một loạt chú ý ban đầu của giới truyền thông đã gây tiết lộ vô số sai lầm của chính quyền Vũ Hán.

Góc nhìn từ Hong Kong về sự kiện này

Tờ Nhật báo Tinh đảo (Hong Kong) cho biết một số dư luận suy đoán rằng dịch nCoV đang bùng phát và đang hoành hành, khả năng virus xâm nhập Trung Nam Hải không thể loại trừ, các lãnh đạo cấp cao buộc phải cách ly lẫn nhau.

Cũng có phân tích cho rằng trước tình hình hiện nay, xuất hiện trước bất kỳ nơi công cộng nào cũng đều phải đeo khẩu trang, ĐCSTQ chắc chắn không muốn để dư luận bên ngoài nhìn thấy tất cả các nhà lãnh đạo có quyền lực cao nhất của đất nước này đeo khẩu trang.

Trong khi đó, chuyên mục bình luận của trang HK01 phân tích rằng hiện tượng “biến mất” tập thể của các nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc từng xuất hiện vào thời điểm nhiệm kỳ đầu tiên của Tập Cận Bình vừa mới bắt đầu. Khi đó, những tin đồn về cuộc đảo chính, ám sát, binh biến nhằm vào Tập Cận Bình lan truyền khắp nơi. Vào thời điểm đó, nhiều kênh thông tin thân cận với Trung Nam Hải nói rằng Giang Trạch Dân, Tăng Khánh Hồng có ý đồ buộc Tập Cận Bình phải từ chức trong thời gian ngắn thông qua các thủ đoạn đặc biệt. Giờ đây, tình hình quốc tế và trong nước đều có diễn biến phức tạp, đúng vào lúc ĐCSTQ đang phải đối mặt với những khó khăn trong nước và bên ngoài thì dịch bệnh lại bùng phát, Tập Cận Bình một lần nữa rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị lớn.

Để giải quyết cuộc khủng hoảng dịch bệnh nCoV, Trung Quốc đã khởi động toàn bộ bộ máy nhà nước ở tốc độ tối đa. Tuy nhiên, đúng như Hội nghị Trung ương Đảng ngày 3/2 cho biết, dịch bệnh lần này là một thử thách lớn đối với hệ thống và năng lực quản trị của Chính phủ Trung Quốc. Đó cũng là một hồi chuông cảnh tỉnh cho Trung Nam Hải; Mặc dù Chính phủ Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nhưng vẫn còn quá nhiều thiếu sót trong hệ thống và năng lực quản trị cần phải được bổ sung. Đy không chỉ là một vấn đề mà các nhà lãnh đạo cấp cao của ĐCSSTQ phải suy nghĩ, mà còn là một khía cạnh quan trọng để cả thế giới hiểu được sự phát triển của Trung Quốc.

Nguồn: TKNB – 10/02/2020

Mục đích của Hun Sen trong chuyến thăm đặc biệt đến Trung Quốc


Ngày 5/2, ở vào thời điểm quan trọng Trung Quốc đang dốc sức chống lại dịch viêm phổi cấp do chủng mới của virus corona, Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã đến thăm Bắc Kinh và có các cuộc hội kiến với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường tại Bắc Kinh.

Thông điệp từ chuyến thăm

Tờ Văn Hối (Hong Kong) ngày 6/2 dẫn lời các học giả Bắc Kinh cho rằng tại thời điểm đặc biệt này, chuyến thăm Trung Quốc của Hun Sen để bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ của ông đối với cuộc chiến chống lại dịch viêm phổi Vũ Hán của Trung Quốc, điều này thể hiện ý nghĩa sâu sắc của cộng đồng vận mệnh Trung Quốc – Campuchia và truyền tải đến quốc tế thông điêp Campuchia tin tưởng Trung Quốc chắc chắn sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến lại đại dịch lần này, bên cạnh đó tìm kiếm sự đồng thuận của dư luận trong công tác chống dịch.

Kể từ khi dịch bệnh bùng phát, trong nhiều bài phát biểu ở Campuchia, Hun Sen luôn bày tỏ niềm tin vào cuộc chiến của chính phủ Trung Quốc chống lại dịch bệnh và yêu cầu người dân Campuchia đứng bên cạnh người dân Trung Quốc.

Về chuyến thăm của Hun Sen trong thời điểm đặc biệt này, Tập Cận Bình chỉ rõ: “Chuyến thăm thể hiện tình hữu nghị và sự tin tưởng lẫn nhau vững chắc của Trung Quốc và Campuchia, lý giải các nội dung quan trọng cốt lõi của cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – Campuchia”.

Hứa Lợi Bình, chuyên gia Viện nghiên cứu châu Á – Thái Bình Dương và chiến lược toàn cầu thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, cho rằng chuyến thăm của Hun Sen là thực tiễn cụ thể và sinh động về cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc – Campuchia. Trong bối cảnh Trung Quốc đối mặt với dịch bệnh, nhà lãnh đạo của các nước láng giềng quan trọng đến thăm Trung Quốc thể hiện sự tin tưởng của họ đối với chính phủ và nhân dân Trung Quốc trong việc chống lại dịch bệnh, mối quan hệ chặt chẽ “anh em thực sự”, “bạn bè đáng tin cậy”.

Nguyễn Tông Trạch, Phó Viện trưởng thường trực Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế Trung Quốc cho rằng chuyến thăm này sẽ giải phóng năng lượng quan trọng cho quan hệ Trung Quốc – Campuchia. Việc Trung Quốc và Campuchia cùng chia sẻ phải có lịch sử lâu dài thì cộng đồng chung vận mệnh mới có thể vượt qua được thử thách trước những thảm họa và tỏa sáng như “vàng” như hiện nay.

Trong cuộc hội kiến Tập Cận Bình, Hun Sen nói: “Trước tình hình bệnh dịch, một số nước đã áp dụng một số biện pháp hạn chế cực đoan, điều này là không nên. Điều đáng sợ hơn cả dịch bệnh là sự hoảng loạn… Campuchia sẽ tiếp tục thực hiện hợp tác và trao đổi bình thường với Trung Quốc, dốc sức cùng Trung Quốc xây dựng một cộng đồng chung vận mệnh Campuchia – Trung Quốc”.

Về vấn đề này, Nguyễn Tông Trạch cho rằng tuyên bố của Hun Sen thể hiện mục đích rất rõ ràng: “Bản thân ông đến Bắc Kinh để thể hiện bằng những hành động thực tế rằng sự hoảng loạn mù quáng là vô căn cứ và không cần thiết. Sự phản ứng thái quá đến từ sự hoảng loạn”.

Ban đầu, trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Hun Sen dự kiến đích thân đến Vũ Hán để động viên các sinh viên Campuchia đang theo học ở đây, nhưng phía Trung Quốc đã từ chối do cân nhắc đến nỗ lực ngăn chặn dịch bệnh lây lan tại Vũ Hán và điều kiện thời gian eo hẹp, việc sắp xếp chuyến thăm đến Vũ Hán không thuận tiện. Mặc dù vậy, quyết định này được dư luận xem là một tín hiệu rõ ràng gửi đến cho cộng đồng quốc tế.

Hứa Lợi Bình bình luận: “Chuyến thăm của Hun Sen cho thấy dịch bệnh ở Trung Quốc về tổng thể có thể kiểm soát được, người dân Trung Quốc tự tin và quyết tâm chiến thắng dịch bệnh này. Những tín hiệu như thế này giúp giải tỏa những ồn ào một cách hiệu quả, kịp thời phản hồi sự quan tâm của dư luận, tiếp tục thúc đẩy niềm tin của cộng đồng quốc tế trong việc chống lại dịch bệnh”.

Bối cảnh chính trị Campuchia và mục đích của Hun Sen

Quan hệ Trung Quốc – Campuchia đang ở mức rất cao. Giáo sư Nadezhda Bektimirova từ Đại học Quốc gia Moskva, nhà Đông phương học hàng đầu về lịch sử và sự phát triển chính trị của Campuchia, lưu ý trong cuộc phỏng vấn của Sputnik: “Tất nhiên, đây là một thời điểm bất thường để tổ chức chuyến thăm. Chuyến thăm này cho thấy rằng, Campuchia là một người bạn trung thành của Trung Quốc, sẵn sàng giúp đỡ trong lúc khó khăn, ủng hộ Trung Quốc về mặt đạo đức. Chuyến thăm này tượng trưng cho tình hữu nghị Trung Quốc – Campuchia.

Hun Sen có hình ảnh vị cứu tinh của dân tộc Khmer. Hình ảnh này đã được xây dựng vào thời điểm đảng của ông lên nắm quyền, sau khi lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Bây giờ, đối với người dân Campuchia, ông Hun Sen là nhà lãnh đạo chính trị sẵn sàng chấp nhận rủi ro để đến gần và giúp đỡ những người trẻ Campuchia đang học tập tại Trung Quốc. Tức là, ông quyết hy sinh tính mệnh để giúp người khác. Đây là một phần không thể thiếu trong hình ảnh của nhà lãnh đạo và hình ảnh này đang được xây dựng rất cẩn thận. Tuy nhiên, những người trẻ thường chỉ trích ông và thông cảm với phe đối lập. Do đó, chuyến thăm Trung Quốc cũng phản ánh ý muốn của Hun Sen tranh thủ sự ủng hộ của một phần xã hội Campuchia vốn không ủng hộ ông”.

Theo chuyên gia Nga, Thủ tướng Hun Sen có những khó khăn nhất định trong quan hệ với các đối tác phương Tây.

Ngày 12/2, EU sẽ thông qua quyết định liệu họ có duy trì các ưu đãi thuế quan cho hàng hóa Campuchia vào EU, hoặc các ưu đãi sẽ bị loại bỏ vì quá trình dân chủ hóa ở nước này tiến triển rất chậm. Trong điều iện này, các cuộc đàm phán Trung Quốc – Campuchia tại Bắc Kinh cung cấp sự ủng hộ chính trị cho Campuchia.

Chuyên gia Nadezhda Bektimirova lưu ý rằng trong khi phương Tây đang chỉ trích Campuchia vì thiếu dân chủ, Trung Quốc là một quốc gia đang giúp đỡ Campuchia hơn bất kỳ ai khác. Bắc Kinh cung cấp tín dụng và mở cửa thị trường đối với hàng hóa Campuchia. Có thể thấy, trong khi phương Tây gây áp lực ngày càng tăng lên Campuchia, Trung Quốc bảo đảm sự ổn định chính trị cho nước ngày.

Nguồn: TKNB – 10/02/2020

Trung Quốc 2020: Những khó khăn sẽ nghiêm trọng hơn


2019 là năm thử thách nhất đối với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kể từ khi ông nắm quyền lực cách đây 7 năm. Trung Quốc đã phải vật lộn với một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm lại, thương mại khó khăn và cuộc chiến công nghệ với nước Mỹ mà họ cho là ngày càng có thái độ thù địch, tình trạng bạo lực căng thẳng ở Hong Kong và sự chỉ trích của phương Tây về các vụ bắt giam hàng loạt người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ.

Không bị khuất phục, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đánh dấu lễ kỷ niệm 70 năm thành lập ngày 1/10 bằng một cuộc duyệt binh lớn nhất kể từ cuộc cách mạng năm 1949. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra thông cáo sau một cuộc họp kín của giới tinh hoa cầm quyền vào tháng 10/2019, nhấn mạnh tính ưu việt của hệ thống chính trị Trung Quốc trong một tín hiệu rõ ràng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận dân chủ tự do.

Tuy nhiên, tất cả những khó khăn của năm 2019 sẽ vẫn tồn tại, nếu không muốn nói là nghiêm trọng hơn vào năm 2020. Trung Quốc có kế hoạch điều chỉnh giảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, từ mức 6 – 6,5% năm 2019 xuống khoảng 6% năm 2020, đồng thời tăng tài trợ cho cơ sở hạ tầng nhà nước để tránh suy giảm mạnh mẽ hơn nữa. Nhưng các thể chế tài chính nước ngoài thì ít lạc quan hơn. Họ dự đoán rằng tăng trưởng GDP của Trung Quốc sẽ giảm xuống dưới 6% vào năm 2020, mức thấp nhất lần đầu tiên kể từ năm 1990.

Năm 2020, Trung Quốc sẽ tập trung vào việc ổn định kinh tế và duy trì một chính sách tài chính chủ động, chính sách tiền tệ thận trọng nhằm đảm bảo chất lượng tăng trưởng. Việc xử lý khối nợ xấu khổng lồ, các khoản thâm hụt của chính quyền địa phương và duy trì tỷ lệ thất nghiệp trong tầm kiểm soát cũng là những ưu tiên của Chính quyền Bắc Kinh.

Năm 2020 cũng là năm Trung Quốc sẽ bám sát Quy hoạch 5 năm lần thứ 14 mà sẽ được công bố tại kỳ họp Quốc hội hàng năm vào tháng 3. Quy hoạch giai đoạn 2021 – 2025 sẽ đặt ra mục tiêu phát triển, đường lối chỉ đạo công tác và những nhiệm vụ then chốt cho giai đoạn chủ chốt khi Trung Quốc đang thay đổi các phương thức phát triển kinh tế, tối ưu hóa các cơ cấu kinh tế, và chuyển đổi các động lực thúc đẩy tăng trưởng. Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã phát biểu rằng kế hoạch nói trên nhằm mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế, cải thiện đời sống người dân, ngăn chặn và giải quyết các nguy cơ.

Ba mục tiêu cao cả

Trung Quốc đặt ra 3 mục tiêu cao cả trong năm 2020: tăng gấp đôi mức GDP của năm 2010 vào năm nay, xóa nghèo và trở thành “xã hội khá giả toàn diện”. Trong giai đoạn 2010 – 2019, GDP của Trung Quốc đã tăng hơn gấp đôi từ 6100 tỷ USD năm 2010, lên 13.400 tỷ USD năm 2019, và được dự báo sẽ vượt 15.00 tỷ USD vào năm 2020.

Trung Quốc đang trên đường đạt được mục tiêu thứ hai là chấm dứt tình trạng đói nghèo cùng cực sau khi đưa được hơn 700 triệu người thoát khỏi đói nghèo trong 4 thập kỷ qua. Nước này đã rót hàng tỷ USD vào việc xây dựng trường học, cầu, đường và nhiều cơ sở hạ tầng khác. Tuy vậy, Trung Quốc vẫn còn phải đi một quãng đường nữa nếu tiêu chuẩn đánh giá của Ngân hàng thế giới (mức sống dưới 1,9 USD/ngày), thay vì của Trung Quốc (1,1 USD/ngày), được sử dụng để xác định mức độ đói nghèo cùng cực. Người tiền nhiệm của Chủ tịch Tập Cận Bình, Hồ Cẩm Đào, đặt mục tiêu đến năm 2020 Trung Quốc trở thành “xã hội khá giả toàn diện”, trong đó người dân có thể có cuộc sống tương đối dễ chịu. Thu nhập bình quần đầu người của Trung Quốc đã tăng mạnh từ khoảng 49,7 NDT năm 1949 lên 28.200 NDT năm 2019.

Nền kinh tế Trung Quốc năm 2019

Năm 2019, đồng NDT suy yếu, Chính quyền Bắc Kinh đã cắt giảm hàng tỷ USD tiền thuế phí, tiếp tục chính sách nới lỏng và kích thích tài chính và tiền tệ để cứu trợ nền kinh tế, nhưng xuất khẩu và lòng tin cảu các nhà đầu tư cũng như người tiêu dùng đã giảm sút trong bối cảnh diễn ra cuộc chiến thương mại với Mỹ.

Trong khi Trung Quốc không có khả năng thoát khỏi tình trạng khó khăn của mình trong một sớm một chiều, những người lạc quan hi vọng rằng năm 2020 sẽ tốt đẹp hơn ngay cả khi thị trường tài sản và đầu tư cơ sở hạ tầng vẫn nguội lạnh. Tiến sĩ Chai Shaojin thuộc trường Đại học Sharjah tại Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) cho rằng những vấn đề khó khăn của Trung Quốc sẽ không chuyển biến tốt hơn trong một sớm một chiều, nhưng cũng không tồi tệ hơn. Cải cách doanh nghiệp nhà nước dường như sẽ trở thành điểm sáng trong năm 2020. Theo đánh giá của các nhà phân tích, những vấn đề khó khăn sẽ đẩy nhanh các cải cách về kinh tế, đặc biệt là cải cách các doanh nghiệp nhà nước.

Cuộc chiến chống tham nhũng sẽ mở rộng

Sự trừng trị thẳng tay của Chủ tịch Tập Cận Bình đối với tham nhũng dường như đã dịu bớt, thể hiện sự khoan dung đối với các quan chức ăn năn hối cải. Những người này có thể được miễn truy tố nếu họ thành khẩn khai báo tội lỗi, hoàn trả tài sản chiếm đoạt bất hợp pháp cho nhà nước và không dính líu vào các mưu đồ chính trị. Tuy nhiên, sự trừng phạt này có khả năng sẽ được nhân rộng sang các lĩnh vực khác trong năm 2020, trong đó có tài chính, nhằm đảm bảo chống lại những rủi ro “thiên nga đen” và ngăn chặn những “con tê giác xám” sau khi Trung Quốc đạt được mức tăng trưởng GDP thấp nhất vào năm 2019 kể từ 28 năm qua. “Thiên nga đen” đề cập đến một sự việc xảy ra bất ngờ dẫn đến những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, trong khi “tê giác xém “ là mối đe dọa rõ ràng nhưng bị phớt lờ.

Hong Kong và Tân Cương

Mặc dù hình ảnh quốc tế của Trung Quốc trong năm 2019 đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ do tình trạng hỗn loạn ở Hong Kong và việc bắt giam người Duy Ngô Nhĩ ở tỉnh Tân Cương, nhưng Bắc Kinh vẫn siết chặt an ninh ở trong nước nhằm ngăn chặn bất kỳ sự bất ổn xã hội nào.

Các cuộc bầu cử ở hai khu vực ngoại vi diễn ra trong năm 2020 sẽ là vấn đề rất đau đầu đối với Bắc Kinh. Các ứng cử viên ủng hộ Bắc Kinh đang nỗ lực hết sức để đương đầu với một trở ngại khác trong cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp ở Hong Kong sẽ diễn ra vào tháng 9/2020 sau thất bại thảm hại trong cuộc bầu cử hội đồng cấp quận hồi tháng 12/2019 vừa qua.

Tình trạng hỗn loạn diễn ra trong nhiều tháng ở Hong Kong bắt nguồn từ việc phản đối Dự luật dẫn độ là “của trời cho” dành cho Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn thuộc Đảng dân tiến ủng hộ độc lập, gia tăng cơ hội tái đắc cử của bà trong cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 11/1/2020.

Chủ tịch Tập Cận Bình được cho là sẽ tiếp tục cản trở bà Thái Anh Văn trong việc phản đối tái thống nhất. Trung Quốc khẳng định Đài Loan sẽ vẫn là hòn đảo tự trị và đe dọa tiến hành chiến tranh nếu hòn đảo này chính thức tuyên bố độc lập. Bà Thái Anh Văn đã tìm các mô tả công thức “một quốc gia, hai chế độ” của Hong Kong là một thất bại. Theo công thức này, Hong Kong được chuyển giao nằm dưới sự cai trị của Trung Quốc vào năm 1997 với những sự đảm bảo mức độ tự trị cao. Tuy nhiên, Trung Quốc không chấp nhận quan điểm của bà cho rằng chế độ này thất bại. Các cuộc bạo loạn ở Hong Kong không phải là thất bại của chế độ này mà là kết quả của sự can thiệp của nước ngoài, của khoảng cách thu nhập ngày càng lớn và tình trạng thiếu nhà ở. Nó là thất bại của dân chủ và chủ nghĩa tư bản. Hong Kong là một cái gương phản chiếu tình trạng hỗn loạn mà dân chủ có thể mang lại.

Tháng 2/2019, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã làm tăng thêm căng thẳng trong quan hệ Trung – Mỹ khi ký thành luật một dự luật của Quốc hội ủng hộ nhiều tháng phản kháng ở Hong Kong và đe dọa áp đặt các biện pháp trừng phạt nhằm vào Trung Quốc. Các cuộc biểu tình đã biến thành tình trạng hỗn loạn cùng với những lời kêu gọi đòi dân chủ và tâm lý bài Trung Quốc.

Quan hệ Mỹ – Trung

Trên mặt trận địa chính trị, Trung Quốc đã nhất trí với Mỹ về thỏa thuận thương mại “giai đoạn I” để cứu quan hệ song phương, nhưng Bắc Kinh cũng lên án Washington gây ra nhiều khó khăn hơn cho Trung Quốc trong năm 2020. Theo nhận định của các chuyên gia, kiềm chế và chống kiềm chế là điều không thể tránh khỏi và sẽ là vấn đề lâu dài giữa hai nước lớn này. Cuộc chiến thương mại có thể biến thành “cuộc chiến tài chính”, nhưng việc tách rời hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này là điều phi thực tế và không hợp lý.

Số phận của Mạnh Vãn Chu, con gái nhà sáng lập tập đoàn viễn thông khổng lồ của Trung Quốc Huawei và hai người Canada sẽ được quyết định trong năm 2020. Mỹ đã trừng phạt Huawei và yêu cầu Canada bắt giữ và dẫn độ bà Mạnh. Trong một động thái trả đũa rõ ràng, Trung Quốc đã bắt giữ hai người Canada.

Mối quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này gần như chắc chắn sẽ trở nên tồi tệ hơn nếu Tổng thống Donald Trump ban hành một luật khác lên án việc bắt giữ tới 1 triệu người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ. Bắc Kinh đã bác bỏ những cáo buộc lạm dụng nhân quyền và lập luận rằng người Duy Ngô Nhĩ đang trải qua đợt giáo dục cải tạo để “cắt bỏ những khối u ác tính của chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và chủ nghĩa ly khai” kể từ năm 2017. Các tay súng người Duy Ngô Nhĩ đã sát hại hàng trăm nghìn dân thường vô tội trong rất nhiều cuộc tấn công kể từ năm 2009. Nhưng các tổ chức nhân quyền phương Tây và quốc tế luôn hoài nghi và gọi các trung tâm giáo dục này là các trại tập trung theo kiểu Đức quốc xã.

Mỹ khẳng định rằng họ không tìm cách kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhưng rõ ràng Washington đang lo ngại rằng một ngày nào đó Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vì vậy, Mỹ đang tìm cách không chỉ kiềm chế Trung Quốc, mà còn khiến thế giới Hồi giáo chuyển từ tâm lý bài Mỹ sang tâm lý bài Trung Quốc.

Quan hệ với Triều Tiên, Nhật Bản

Không có khả năng Trung Quốc sẽ kỷ niệm 70 năm ngày bắt đầu cuộc Chiến tranh Triều Tiên (nổ ra vào tháng 6/1950), nhưng nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un có thể đến thăm Trung Quốc lần thứ 5 kể từ năm 2019.

Nếu Mỹ cản trở đề xuất của Trung Quốc và Nga nhằm giảm bớt một số biện pháp trừng phạt của Liên hợp quốc đối với Triều Tiên, thì Bình Nhưỡng có khả năng gia tăng các vụ thử tên lửa đạn đạo liên lục địa. Tiến sỹ Hồ An Cương, Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc thuộc trường Đại học Thanh Hoa, dự đoán rằng Trung Quốc sẽ trở thành một “siêu cường trưởng thành, có trách nhiệm và hấp dẫn”, cùng với Liên minh châu Âu (EU), sẽ góp phần “chấm dứt kỷ nguyên đơn cực mà Mỹ thống trị”. Chủ tịch Tập Cận Bình dự kiến sẽ có chuyến thăm cấp nhà nước đến Nhật Bản vào mùa hoa anh đào tới trong bối cảnh mối quan hệ giữa hai nước láng giềng này đang ấm lên. Ông sẽ gặp Nhật hoàng Naruhito và Thủ tướng Shinzo Abe trong một nỗ lực nhằm thắt chặt hơn nữa mối quan hệ song phương và có thể tìm cách thuyết phục Triều Tiên nối lại các cuộc đàm phán với Nhật Bản. Các nhà phân tích cho rằng không có món quà nào lớn hơn cuộc gặp thượng đỉnh giữa ông Abe và ông Kim.

Nguồn: The Straits Times – 31/12/2019

TLTKĐB – 08/01/2020