Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần IV


Nhìn từ bên trong, con người là chủ thể phát triển, là động lực và mục tiêu của phát triển. Hạt nhân và thực chất của cải thiện dân sinh là lấy dân làm gốc, mục đích là thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người. Đồng chí Hồ Cẩm Đào chỉ rõ: “Kiên trì lấy dân làm gốc chính là cần lấy mục tiêu thực hiện phát triển toàn diện con người, xuất phát từ lợi ích cơ bản của nhân dân để tìm cách phát triển, thúc đẩy phát triển, không ngừng thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng tăng của quần chúng nhân dân, thiết thực đảm bảo quyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa cho quần chúng nhân dân, để thành quả phát triển có thể tới với toàn thể nhân dân”. Xuất phát từ sự biến đổi sâu sắc của đất nước, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cụ thể hóa, hiện thực hóa thêm một bước lý luận thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người của chủ nghĩa Marx, lấy quan niệm phát triển khoa học chân chính và hiện thực “yếu nghĩa thứ nhất là phát triển, hạt nhân là lấy dân làm gốc, yêu cầu cơ bản là tính toàn diện lâu dài nhịp nhàng, phương pháp căn bản là thống nhất trù hoạch, chăm lo toàn diện” làm điều kiện và lộ trình thực hiện phát triển toàn diện con người. Đảng Cộng sản Trung Quốc còn chỉ rõ nhiệm vụ và yêu cầu của xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, chỉ rõ xã hội đó “phải là xã hội pháp trị dân chủ, chính nghĩa công bằng, thành tín hữu ái, sung mãn sức lực, an định trật tự, con người chung sống hài hòa với tự nhiên”. Kiên trì lấy dân làm gốc chính là cần kiên trì quan tâm tới lợi ích, nhu cầu của từng người trên cơ sở sự thống nhất với lợi ích cơ bản của toàn dân, thể hiện xã hội chính nghĩa, nhân đạo chủ nghĩa và quan tâm nhân văn, thỏa mãn nhu cầu đa dạng và nguyện vọng phát triển của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ nhân quyền. Đó chính là sự quan tâm đến các giá trị người, quan tâm đến chất lượng sống, tiềm năng sống, tiềm năng phát triển và chỉ số hạnh phúc, nhằm thực hiện sự phát triển toàn diện con người.

Lịch sử cận đại Trung Quốc từ chiến tranh nha phiến trở lại đây là lịch sử đấu tranh của dân tộc Trung Hoa giành độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, đồng thời là lịch sử của nhân dân Trung Quốc giành lấy cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc. Từ năm 1840 tới khi nước Trung Quốc mới được thành lập tròn 100 năm, Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử độc lập dân tộc và giải phóng nhân dân, tiền đề tất yếu để thực hiện quốc gia phồn vinh, phú cường và nhân dân cùng sáng tạo giàu có, mở ra một viễn cảnh tốt đẹp. Từ mở cửa cải cách tới cuối thế kỷ trước, theo tư tưởng chiến lược “ba bước đi” của Đặng Tiểu Bình, tới năm 1990, Trung Quốc thực hiện bước đầu tiên là giải quyết vấn đề ăn no mặc ấm cho nhân dân; tới năm 2000 thực hiện bước thứ hai là đưa đời sống nhân dân đạt tới mức tiểu khang. Trước mắt, Trung Quốc đang hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thứ ba. Đó là, từ năm 2010 tới năm 2020, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập tròn 100 năm, xây dựng một xã hội tiểu khang ở mức độ cao hơn nữa cho hơn 1 tỷ người; tới năm 2050, tức giữa thế kỷ XXI, khi Trung Quốc mới thành lập tròn 100 năm, GDP bình quân đầu người đạt mức ngang bằng các quốc gia phát triển, hoàn thành cơ bản việc hiện đại hóa, xây dựng thành công quốc gia xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Tới khi đó, trải qua sự phấn đấu trọn 200 năm, dân tộc Trung Hoa sẽ thực hiện sự phục hưng vĩ đại, nhân dân Trung Quốc sẽ thực sự có được cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc.

3/ Những vấn đề dân sinh còn tồn tại và một số đối sách trong giai đoạn hiện nay

Trong 30 năm cải cách mở cửa, kinh tế Trung Quốc tạo lập nên kỳ tích phát triển nhanh chóng làm thế giới kinh ngạc. Năm 2008, tổng sản lượng kinh tế của Trung Quốc vươn từ thứ 6 lên đứng thứ 4 thế giới. Kết quả trực tiếp của sự phát triển kinh tế mạnh mẽ đó là sự gia tăng nhanh chóng của tiến bộ xã hội và mức sống của nhân dân. Dù phương Tây ra sức tăng cường sức ép Tây hóa và chiến lược phân hóa đối với Trung Quốc, tuyên truyền “luận thuyết Trung Quốc uy hiếp”, hoặc lợi dụng vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để công kích, song Trung Quốc luôn kiên trì bảo vệ cục diện chính trị ổn định đoàn kết, đồng thời ngày càng nhận được nhiều sự hiểu biết và tôn trọng của thế giới. Có được điều đó, một trong những nguyên nhân quan trọng chính là sự nâng cao có lợi rõ rệt cho đời sống nhân dân và sự cải thiện không ngừng môi trường sinh thái.

Đồng thời, Trung Quốc cần tỉnh táo nhận thấy rằng, trong đời sống hiện thực của đất nước vẫn tồn tại nhiều nhân tố bất ổn, đều liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, có những vấn đề dân sinh chưa được giải quyết hiệu quả và kịp thời. Biểu hiện nổi trội nhất là sự chênh lệch thu nhập do phân phối bất hợp lý giữa cư dân thành thị và nông thôn, khoảng cách thu nhập khu vực và thu nhập ngành nghề ngày càng lớn, các giai tầng xã hội khác nhau xuất hiện sự phân hóa giàu nghèo; tình hình thiếu việc làm ở thành thị và nông thôn, một bộ phận người dân thiếu cơ hội được tham dự công bằng vào phát triển kinh tế; sự xuất hiện thường xuyên các sự kiện công cộng đột xuất, lo lắng về sự an toàn và ổn định xã hội tăng cao, một số địa phương phát sinh sự cố an toàn sản xuất và an toàn thực phẩm gây tổn thất nghiêm trọng đối với sinh mạng và tài sản của nhân dân; mâu thuẫn nổi trội giữa bất bình đẳng chi phí công cộng, mất công bằng về cơ hội giáo dục, đặc biệt là vấn đề những người nghèo khó ở nông thôn khó có cơ hội học tập, khám bệnh,… phạm vi vươn tới của hệ thống an sinh xã hội hạn hẹp, mức bảo đảm thấp, pháp luật chưa kiện toàn, gây ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển xã hội và sức khỏe của dân chúng;… Những mâu thuẫn và vấn đề trên phản ánh mâu thuẫn ở tầng sâu được tích tụ trong một thời gian dài, đa số đều liên quan tới vấn đề dân sinh, tới lợi ích của quần chúng. Nếu những vấn đề này được xử lý không tốt, sẽ làm tăng thêm mâu thuẫn giai tầng, hình thành một tập hợp sự kiện làm mất đi sự hài hòa, gây bất ổn xã hội, và thế cục bất ổn; sẽ khiến Đảng bị mất đi sự ủng hộ và giúp đỡ của dân chúng, tổn hại tới cơ sở của chế độ xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng tới trị an lâu dài của quốc gia. Với điều này, cần phải có ý thức cảnh giác và trách nhiệm cao độ, đưa quan điểm phát triển khoa học quán triệt vào các lĩnh vực và các công việc xây dựng hiện đại hóa, khiến cho quá trình phát triển khoa học trở thành quá trình không ngừng tạo phúc dân sinh.

Dựa trên đòi hỏi đảm bảo và cải thiện dân sinh của quan điểm phát triển khoa học, thì cần phải trước sau kiên trì lấy việc xây dựng kinh tế làm trung tâm, thực hiện phát triển khoa học, phát triển hài hòa, phát triển hòa bình. Việc kiên trì lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm được quyết định bởi tình hình cơ bản của Trung Quốc trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, ở Trung Quốc, về tổng thể không có biến đổi nhân khẩu nhiều, nền tảng yếu, kinh tế và văn hóa phát triển không cân bằng, sức sản xuất không phát triển; do vậy, chỉ có không ngừng giải phóng và phát triển sức sản xuất, gia tăng sự giàu có xã hội lên cực đại mới có thể kiến tạo một nền tảng hùng hậu để cải thiện dân sinh. Phải quán triệt quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Trung Quốc lấy phát triển kinh tế làm trung tâm, không được dao động, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, giải phóng và phát triển sức sản xuất xã hội, không ngừng nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, thúc đẩy sự chuyển biến từ mô hình tăng trưởng bề ngoài, số lượng thành sự phát triển hiện đại, sâu sắc và chất lượng, sửa chữa quan điểm thành tích không đúng đắn của một số cán bộ lãnh đạo Đảng coi tăng trưởng GDP là trung tâm, nỗ lực nâng cao chất lượng và hiệu ích phát triển, thực hiện sự phát triển kinh tế vừa tốt vừa nhanh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Advertisements

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần III


Giai đoạn thứ hai: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực hiện bước 2 của mục tiêu phát triển chiến lược, với tập thể lãnh đạo Đảng thế hệ thứ ba do đồng chí Giang Trạch Dân chủ xướng, đề ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn lãnh đạo toàn thể nhân dân cả nước thực hiện tổng thể mục tiêu đời sống tiểu khang.

Đầu tiên, Giang Trạch Dân coi cải thiện dân sinh như một tôn chỉ phục vụ nhân dân và sự thể hiện cuối cùng cho tư tưởng “ba đại diện” của Đảng Cộng sản Trung Quốc là đỉnh cao của sự kết hợp cải cách, phát triển và ổn định. Cụ thể là, thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn phải kiên trì tính thống nhất phấn đấu vì lý tưởng cao cả và mưu cầu lợi ích cho quảng đại nhân dân, kiên trì thực hiện sự thống nhất giữa các công việc của Đảng với việc thực hiện lợi ích của nhân dân. “Điểm xuất phát và cơ sở cho hành động chúng ta là sự giải quyết mọi công việc bất luận trước sau đều phải suy nghĩ tới lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân”. Mà lợi ích cơ bản của quần chúng nhân dân, xét đến cùng, thể hiện ở sự cải thiện không ngừng mức sống của dân chúng. Thứ hai, “ba đại diện” là một chỉnh thể thống nhất liên hệ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Phát triển không ngừng sức sản xuất tiên tiến và văn hóa tiên tiến, rốt cuộc là nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa ngày càng tăng của quần chúng nhân dân; thực hiện lợi ích căn bản nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, mà biểu hiện cuối cùng của nó là ở sự cải thiện đời sống của nhân dân. Thứ ba, kết hợp một cách thích ứng sức mạnh cải cách, tốc độ phát triển và mức độ ổn định, luôn là vấn đề trọng đại, có ảnh hưởng tới toàn cục mà Đảng Cộng sản Trung Quốc phải quan tâm. Tâm điểm của sự kết hợp trên chính là ở việc không ngừng cải thiện đời sống nhân dân.

Tiếp đó, Giang Trạch Dân đưa ra suy đoán khoa học về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang”. Khi bàn về “xã hội tiểu khang”, Đặng Tiểu Bình đặc biệt nhấn mạnh tới phát triển kinh tế, chủ yếu dùng chỉ tiêu kinh tế để đánh giá “xã hội tiểu khang”; Giang Trạch Dân đã cụ thể hóa “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” thành “khiến cho kinh tế càng thêm phát triển, dân chủ càng thêm kiện toàn, khoa học – giáo dục càng thêm tiến bộ, văn hóa càng thêm phồn vinh, xã hội càng thêm hài hòa, đời sống nhân dân càng thêm giàu có”. Điều này đòi hỏi sự phát triển hài hòa ở trình độ cao hơn nữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần của chủ nghĩa xã hội, đồng thời tác động tích cực tới hơn 1 tỷ người trong cả nước. Từ mục tiêu phấn đấu “xã hội tiểu khang” do Đặng Tiểu Bình đề ra tới những giải thích mới của Giang Trạch Dân về “xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang” đã thể hiện sự mở rộng và làm sâu sắc thêm trong việc nhận thức nội hàm xã hội tiểu khang và dân sinh.

Thứ nữa, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của người đi trước về sự phát triển toàn diện của con người, trong điều kiện thời đại mới, Giang Trạch Dân đã chỉ rõ nhu cầu và nhiệm vụ phải bắt đầu xúc tiến sự phát triển toàn diện con người trong giai đoạn hiện đại hóa chủ nghĩa xã hội ngày nay. Ông khẳng định: “Sự nghiệp mà chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc, tất cả những việc chúng ta tiến hành vừa phải để mắt tới nhu cầu đời sống vật chất, văn hóa hiện thực của nhân dân, vừa cần hướng tới sự đề cao việc thúc đẩy tố chất dân chúng, cũng chính là cần nỗ lực xúc tiến sự phát triển toàn diện con người. Đây là đòi hỏi bản chất trong việc xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Marx”. “Phát triển toàn diện con người” là sự thống nhất giữa phát triển đời sống vật chất và phát triển đời sống tinh thần, vừa “cần nhanh ch1ong khiến cho nhân dân cả nước đều có đời sống tiểu khang sung túc, đồng thời không ngừng tiên lên tầm cao mới”, vừa “phải nỗ lực nâng cao tố chất đạo đức tưt ưởng và tố chất văn hóa khoa học của toàn dân tộc, thực hiện sự phát triển toàn diện đời sống tư tưởng và itnh thần của con người”. Ông còn phân tích thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển toàn diện con người với sự phát triển xã hội, cải thiện dân sinh. Ông chỉ rõ: “Thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là tiền đề và cơ sở của nhau. Con người càng phát triển toàn diện, sự giàu có vật chất và tinh thần của xã hội càng được sáng tạo nhiều, đời sống nhân dân càng được cải thiện và điều kiện vật chất tinh thần đầy đủ thì càng có thể thúc đẩy sự phát triển toàn diện con người. Mức độ phát triển sức sản xuất xã hội và kinh tế, văn hóa là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng, trình độ phát triển toàn diện con người cũng là quá trình lịch sử dần được nâng cao không ngừng. Hai quá trình lịch sử này kết hợp với nhau, thúc đẩy lẫn nhau tiến về phía trước”.

Giai đoạn thứ ba: Sau khi Đại hội Đảng lần thứ XVI, việc xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc thực thi mục tiêu chiến lược bước ba, với đồng chí Hồ Cẩm Đào là Tổng Bí thư Trung ương Đảng, đưa ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn dẫn dắt nhân dân cả nước xây dựng toàn diện xã hội tiểu khang.

Những người cộng sản Trung Quốc bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, đối mặt với thế giới đang có nhiều biến đổi và điều chỉnh lớn, vận mệnh Trung Quốc ngày càng gắn chặt với thế giới; đứng trước một Trung Quốc đang sinh ra những biến đổi rộng lớn và sâu sắc, một số mâu thuẫn và vấn đề tích lũy lâu dài trong phát triển dần bộc lộ rõ. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tổng kết sâu sắc thực tiễn phát triển đất nước, rút ra bài học kinh nghiệm phát triển của nước ngoài, đi sâu phân tích đặc trưng mang tính giai đoạn của sự phát triển ở Trung Quốc, kịp thời và sáng tạo trong việc xây dựng lý luận quan trọng theo quan điểm phát triển khoa học về các vấn đề thành thị, nông thôn, khu vực, kinh tế, xã hội về sự phát triển không cân bằng, không nhịp nhàng giữa con người và tự nhiên trong giai đoạn mới của thế kỷ mới; đồng thời, dựa trên lý luận đó, đưa ra một loạt tư tưởng chiến lược quan trọng về dân sinh. Chủ yếu biểu hiện ở những mặt dưới đây:

Nhìn theo chiều ngang, kết cấu tổng thể của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc phát triển từ lưỡng vị nhất thể sang tứ vị nhất thể, vị trí dân sinh ngày càng nổi trội. Báo cáo tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XII chỉ rõ: cùng với việc xây dựng nền văn minh vật chất trình độ cao, nhất định phải nỗ lự xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa trình độ cao. Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định lấy giàu mạnh, dân chủ, văn minh làm mục tiêu phấn đấu hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa. Đến Đại hội Đảng XIV, XV, một lần nữa, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh sự phát triển hài hòa giữa văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Bắt đầu từ Đại hội lần thứ XVI, Đảng Cộng sản Trung Quốc nhấn mạnh xây dựng toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa. Đại hội XVI còn tiến thêm một bước, đề ra nhiệm vụ trọng đại xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy sự phát triển nhịp nhàng giữa xây dựng xã hội với xây dựng kinh tế, xây dựng chính trị, xây dựng văn hóa, khiến cho mục tiêu xây dựng hiện đại hóa Trung Quốc vốn từ tam vị nhất thể mở rộng thành tứ vị nhất thể. Đại hội Đảng lần thứ XVII đã lần đầu tiên chính thức đưa ra khái niệm “văn minh sinh thái”, khiến cho chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc hình thành một hệ thống văn minh hoàn chỉnh và toàn diện phát triển nhịp nhàng, ảnh hưởng lẫn nhau, chế ước lẫn nhau. Trong đó, văn minh sinh thái là tiền đề, văn minh vật chất là cơ sở, văn minh chính trị là bảo đảm, văn minh tinh thần là linh hồn, văn minh xã hội là mục đích. Bất luận kết cấu tổng thể là tứ vị nhất thể hay sự phát triển nhịp nhàng của năm loại văn minh, dân sinh đều chiếm địa vị quan trọng. Nói cách khác, giải quyết vấn đề dân sinh trở thành trọng điểm xây dựng xã hội. Mở rộng nghề nghiệp, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội, quan hệ phân phối phù hợp, tăng nhanh phát triển sự nghiệp xã hội trở thành bốn nội dung trọng tâm cần dốc sức thực hiện trong xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt những vấn đề lợi ích mà quần chúng quan tâm nhất.

Nhìn theo chiều dọc, gắn kết việc phát triển bền vững với dân sinh bền vững.Từ chỗ coi “phát triển mới là đạo lý cứng rắn”, “hai tay bắt, hai tay đều phải cứng”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đề xuất “phát triển là nhiệm vụ đầu tiên của việc chấp chính hưng quốc”, “phát triển là sự phát triển toàn diện văn minh vật chất, văn minh chính trị, văn minh tinh thần” xã hội chủ nghĩa, đồng thời xác định “phát triển lấy dân làm gốc, toàn diện, nhịp nhàng, lâu dài”, “phát triển vừa tốt vừa nhanh”, Đảng tiến hành tìm hiểu và trả lời một loạt vấn đề trọng đại phát triển cái gì, phát triển ra sao, phát triển cho ai, phát triển dựa vào ai, thành quả phát triển do ai hưởng thụ?… Từ đó, có thể nhận thấy rõ quỹ đạo nhận thức của Đảng về vấn đề phát triển bước vào giai đoạn mới của thế kỷ mới, ngoài những tiềm lực to lớn và không gian rộng rãi, sự phát triển còn chịu sức ép nặng nề từ vấn đề nhân khẩu, môi trường… cũng như các vấn đề phát triển xã hội theo sau phát triển kinh tế, phát triển kinh tế không cân bằng, mất cân đối trong quan hệ giữa người và tự nhiên, quan hệ lợi ích xã hội không điều hòa,… ngày càng trầm trọng. Căn cứ vào tình hình mới và vấn đề mới của giai đoạn mới trong thế kỷ mới, Đảng Cộng sản Trung Quốc không ngừng làm sâu sắc thêm nhận thức về phát triển, xác định phát triển không chỉ đơn thuần là theo đuổi tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự phát triển toàn diện nhịp nhàng giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, là sự phát triển bền vững hài hòa giữa con người với tự nhiên; là sự phát triển mà chữ tốt được đặt lên hàng đầu, vừa tốt vừa nhanh, mục đích của nó là mức sống con người không ngừng được nâng cao. Phát triển bền vững thực chất là dân sinh bền vững. Bởi, con người vừa là một thực thể xã hội, vừa là một thực thể tự nhiên. Con người chỉ có trong quan hệ với tự nhiên, quan hệ với người khác, với xã hội mới đạt tới trạng thái nhịp nhàng hòa hợp, mới có thể có sự phát triển sung mãn của chính mình. Đúng như đồng chí Hồ Cẩm Đào đã nó: “Một cách thẳng thắn, chúng ta không hy vọng cũng không theo đuổi tốc độ quá cao, chúng ta coi trọng hiệu ích và chất lượng của phát triển, càng coi trọng việc chuyển đổi phương thức tăng trưởng, tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, càng xem trọng hơn nữa việc cải thiện dân sinh.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần cuối


Mặt khác, di sản của Chính quyền Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo làm cho chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân lẫn thị trường của Kim Jong-un có thể trở thành hiện thực. Năm 2005, chuyến thăm Triều Tiên của Hồ Cẩm Đào nhận được sự đón tiếp trọng thể, sua khi về nước lập tức xây dựng Triều Tiên thành kiểu mẫu ý thức hệ trong nước, bổ sung cho sự thiếu hụt về tính hợp pháp ý thức hệ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 2008, Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã chọn Triều Tiên trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên chính là dựa trên nhu cầu về ý thức hệ như vậy. Năm 2009, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đến thăm Triều Tiên, đã ký một loạt dự án viện trợ và hợp tác kinh tế trị giá khoảng 1 tỷ NDT, kỳ vọng vừa có thể duy trì chính quyền vừa giúp đỡ Triều Tiên mạnh dạn tiến hành cải cách thị trường hóa. Tuy mọi việc không được hoàn toàn thực hiện, sau khi cầu hữu nghị Trung – Triều được xây dựng, do Triều Tiên không làm đồng bộ đường giao thông nên không thể sử dụng, nhưng vẫn là tài sản quý giá mà Kim Jong-il để lại. Ví dụ các kiến trúc tương đối mới ở ven bờ sông Áp Lục dường như đều được Triều Tiên tận dụng xây dựng từ nguồn vốn và vật liệu giành được trong dự án của Ôn Gia Bảo; Triều Tiên cử các nhà quản lý doanh nghiệp sang Trung Quốc học tập kinh tế thị trường giống như Trung Quốc cửa cán bộ sang Đại học Harvard và Singapore học tập. Sau khi lên cầm quyền, Kim Jong-un có thể đã sửa đổi chiến lược tiên quân của cha mình, áp dụng chiến lược kép coi trọng cả vũ khí hạt nhân và thị trường, từ đó bên cạnh việc củng cố quyền lực vẫn có thể duy trì ổn định xã hội và kinh tế, và giành được sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa chính trị Triều Tiên.

Nhưng quan sát của tác giả tại Triều Tiên cũng cho thấy mức độ thị trường hóa của nền kinh tế nước này tương đối cao, đã gây dựng được tầng lớp trung lưu mới nổi thế tục, rất giống “vương quốc ẩn dật” như học giả Ralph Hassig và Kongdan Oh thuộc Viện Brookings từng mô tả. Đằng sau nó là một nền kinh tế xám khổng lồ, theo tính toán của giáo sư Kim Byung-Yeon thuộc Đại học Quốc gia Seoul, chiếm khoảng 70% GDP, gần như hoàn toàn thay thế hệ thống phân phối công cộng truyền thống, chiếm trên một nửa thu nhập quốc dân Triều Tiên. Năm 2015, GDP của Triều Tiên vào khoảng 16 tỷ USD, kim ngạch thương mại với Trung Quốc là 5,4 tỷ USD, ngoại thương với Trung Quốc chiếm tỷ lệ gần 70% kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên, có thể nhận thấy kinh tế Triều Tiên phụ thuộc gần 50% vào bên ngoài. 70% là một con số lớn bí ẩn của nền kinh tế Triều Tiên, ví dụ như dưới thời Kim Nhật Thành, vì các cơ sở điện kém chất lượng nên tổn thất điện năng lên đến 70% tổng công suất phát điện, và ngay nay 70% lại đại diện cho mức độ thị trường hóa của nền kinh tế: như Triều Tiên dùng 3% đất đai để cung cấp gần 70% các sản phẩm nông nghiệp, và hơn 70% lực lượng lao động Triều Tiên đang làm việc cho một nền kinh tế thị trường.

Trong 6 năm qua, mặc dù nội bộ Triều Tiên có sự thay đổi quyền lực, các công ty Triều Tiên tham gia ngoại thương và xuất khẩu lao động cũng đã trải qua nhiều thay đổi, tuy hiên, trong các điểm mù chiến lược của Tập Cận Bình, dưới chiến lược mơ hồ của Tập Cận Bình đối với Triều Tiên, các công ty và người dân Triều Tiên dường như đã đầu tư vào toàn cầu hóa lấy Trung Quốc làm trung gian theo kiểu sùng bái họ Kim. Trong các nhà hàng nhỏ ở Đan Đông, chủ nhà hàng hàng ngày xử lý các đơn hàng đến từ Nghĩa Ô, sau đó chuyển giao cho thương nhân Triều Tiên và chịu trách nhiệm vận chuyển; trong các khu kinh tế, hàng chục nghìn công nhân và nông dân Triều Tiên làm việc miệt mài trong nhà máy sản xuất quần áo và phần mềm, khách hàng của họ đến từ khắp nơi trên thế giới. Đầu tháng 3/2017, lệnh cấm vận nghiêm ngặt được thực thi đã làm gián đoạn việc buôn bán than và xuất khẩu lao động đến từ Triều Tiên, nhưng các chuyến xe hàng qua lại như con thoi ở cảng Đan Đông không giảm đáng kể. Mặc dù phải đối mặt với áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, nhưng chiến lược mơ hồ của Trung Quốc lại khiến các quan chức và người dân Triều Tiên dần dần thích ứng với sự chuyển đổi mô hình của thị trường, không chỉ để nuôi quốc gia, mà còn hỗ trợ các chương trình hạt nhân và cho phép Kim Jong-un thử hạt nhân, cũng giành được thời gian quý báu để chính thức thúc đẩy cải cách toàn diện theo định hướng thị trường.

Thứ hai, từ lập trường và cách sắp đặt của Trung Quốc trong mối quan hệ với Triều Tiên cho thấy quan hệ Trung – Triều vẫn còn giới hạn ở mối quan hệ liên đảng truyền thống, mà không phải mối quan hệ giữa các quốc gia bình thường. Về mặt truyền thống, Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn coi Triều Tiên như một chính đảng anh em của phong trào cộng sản quốc tế và không phân biệt giữa đảng và nhà nước. Cho dù là thời kỳ liên quân kháng Nhật Đông Bắc hay là cuộc nội chiến sau năm 1946 cũng như trong mối quan hệ ba bên Xô – Trung – Triều sau năm 1949, dù liên quan đến vấn đề phân chia biên giới hay vấn đề chủ quyền vùng Đông Bắc, hoặc vấn đề quân nhân Triều Tiên và vấn đề kiều dân quay trở lại, hay các vấn đề ngoại giao thì quan hệ song phương luôn lấy mối quan hệ đặc biệt giữa hai đảng làm chủ đạo, mà không phải là chủ nghĩa quốc gia, vượt qua mối quan hệ bình thường giữa hai nước. Mối quan hệ đặc biệt này độc đáo ngay cả khi so sánh quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước khác. Trên thực tế, trong hầu hết cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này đều có sự tham gia của ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị phụ trách ngoại giao liên đảng Vương Hộ Ninh, đồng thời nhân vật này còn tiễn Kim Jong-un ở ga tàu Bắc Kinh; thành viên phái đoàn Trung Quốc tại cuộc gặp cũng ưu tiên nêu trước chức danh trong đảng. Trong thái độ đó với Triều Tiên, Tập Cận Bình kế thừa nguyên tắc quan hệ liên đảng, và không có ý định thay đổi việc này, điều này giống với đường lối nhấn mạnh sự lãnh đạo của đảng đối với đất nước của Tập Cận Bình kể từ Đại hội XIX tới nay.

Tuy nhiên, thái độ của Triều Tiên lại hoàn toàn khác, nhấn mạnh chủ nghĩa dân tộc trong quan hệ song phương. Ví dụ, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng phát năm 1950, Triều Tiên luôn giữ sắc thái quốc gia dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ trong việc xử lý vấn đề thay đổi đảng tịch và quân tịch của quân nhân Triều Tiên quốc tịch Trung Quốc, nhấn mạnh sự thừa nhận dân tộc và khác biệt quốc tịch đối với quân nhân Triều Tiên có quốc tịch Trung Quốc, chứ không phải là mối quan hệ chính đảng anh em, hạn chế nghiêm ngặt việc họ trở về nước. Về vấn đề lãnh thổ và biên giới, trong khi tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế, Triều Tiên tương tự lợi dụng lập trường liên đảng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và sự khác biệt tế nhị về lập trường quốc gia dân tộc của Triều Tiên để giành được lợi ích tối đa, đặc biệt là lợi dụng các cuộc tranh luận về ý thức hệ giữa chính đảng Trung – Xô để họ viện trợ cho Triều Tiên. Sau khi lên nắm quyền, Đặng Tiểu Bình ngừng xuất khẩu cách mạng, làm phai nhạt ý thức hệ, làm nhạt mối quan hệ liên đảng, quan hệ Trung – Triều cũng rơi vào lạnh nhạt trong thời gian dài. Sau Đại hội 6 năm 1980, Đảng Lao Động Triều Tiên không tổ chức đại hội trong 36 năm, chủ nghĩa Marx bị loại bỏ, Triều Tiên diễn biến thành đất nước do một người cai trị, và cuối cùng rơi vào nạn đói sau Chiến tranh Lạnh. Xét theo nghĩa này, mối quan hệ giữa Trung Quốc và Triều Tiên không phải là bình thường từ đầu đến cuối, và nó không phải là mối quan hệ giữa hai quốc gia bình thường.

Trục mới

Nếu thế giới bên ngoài coi mối quan hệ Trung – Triều trong tương lai là một “trục mới” vượt trên mối quan hệ quốc gia bình thường thì không có gì đáng ngạc nhiên, sự tiếp nối của mối quan hệ chính đảng Trung – Triều truyền thống cũng là sự liên tưởng tự nhiên tới việc Tập Cận Bình, Kim Jong-un có thể cầm quyền suốt đời. Ngoài ra, mong muốn đối thoại trực tiếp giữa Triều Tiên và Mỹ quá mạnh, gần như có thể được xem như Triều Tiên hoặc Kim Jong-un muốn sớm thoát khỏi mối quan hệ nhà nước không bình thường này dù phải đợi hơn 30 năm sau Chiến tranh Lạnh mới có cơ hội.

Ngay cả khi nhìn lại lịch sử cũng không thấy có gì lạ. Sau binh biến Nhâm Ngọ năm 1882, (tương đương với các cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay), vua Cao Tông của Triều Tiên năm 1887 đã cử Bak Jeongyang làm công sứ đầu tiên tại Mỹ, và sau đó còn xảy ra tranh chấp ngoại giao với Nhà Thanh xung quanh việc Nhà Thanh là thuộc quốc hay là chủ thể tự do hoàn toàn, cuối cùng đã diễn biến thành Chiến tranh Giáp Ngọ giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Kết cục như vậy là điều nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay không mong muốn nhìn thấy, cũng chưa có sự chuẩn bị sẵn sàng, bao gồm sẵn sàng chấp nhận Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân để làm sự kiềm chế đối với bên thứ ba – đây là sự đảo lộn cơ bản hệ thống Yalta và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Bắc Kinh đang chịu mối đe dọa của cuộc chiến thương mại của Trump, nhưng không ai dám thách thức trật tự quốc tế lấy WTO và toàn cầu hóa theo chủ nghĩa tự do làm cơ sở. Điều này về cơ bản cũng đã phủ nhận khả năng Trung Quốc và Triều Tiên sẽ hình thành một “trục mới” trên cơ sở là “các nước sở hữu hạt nhân”. Sau cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un, Trung Quốc đã nhanh chóng thông báo tình hình cho Mỹ và Hàn Quốc.

Đối với Triều Tiên, tất nhiên một mặt họ đang cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của nước mẹ hàng nghìn năm này, tìm kiếm tính chủ thể mới trên vũ đài thế giới; mặt khác, nếu Triều Tiên vượt qua cuộc khủng hoảng hạt nhân thuận lợi, tìm được giải pháp, thì cũng sẽ thu hoạch được lợi ích kinh tế từ trong chiến lược “tống tiền hạt nhân”. Sau tất cả, trong tương lai liệu Triều Tiên có thực sự từ bỏ chương trình hạt nhân, bàn về thời gian biểu cho việc từ bỏ hạt nhân hay không thì còn nhiều tính khó lường. Kim Jong-un có thể tận dụng tính khó lường của chủ nghĩa cơ hội để biến “khoản hoa hồng từ sự tống tiền hạt nhân” thành hiện thực, sử dụng chính sách song phương giành được lợi ích tối đa từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, giống như Trung Quốc thực hiện cải cách và mở cửa và giành được “lợi ích từ Chiến tranh Lạnh” theo đường lối chủ nghĩa thực dụng.

Tuy nhiên, về mặt dài hạn, sự mơ hồ chiến lược của Triều Tiên, Trung Quốc và chủ nghĩa cơ hội lại có thể kiềm chế sự bình thường hóa quan hệ Triều – Mỹ trong thời gian dài, cản trở Triều Tiên gạt Trung Quốc sang một bên, ôm lấy toàn cầu hóa và trật tự quốc tế. Chu dù là trục cũ hay mới, có tồn tại hay không, sự kiên trì đối với mối quan hệ liên đảng đặc biệt giữa Trung Quốc và Triều Tiên đều đã cản trở Trung Quốc từ bỏ gánh nặng Triều Tiên, hoặc cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” thậm chí “quan hệ nuôi dưỡng” với hệ tư tưởng của Triều Tiên, về cơ bản cản trở việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, cũng cản trở tiến trình Trung Quốc và Triều Tiên là quan hệ bình thường trong con mắt của cộng đồng quốc tế.

Có lẽ giải pháp duy nhất để cắt đứt “mối quan hệ máu thịt” giữa Trung Quốc và Triều Tiên, giúp Trung Quốc loại bỏ sự mơ hồ chiến lược, đạt được bình thường hóa hoàn toàn quan hệ song phương, chính là thống nhất bán đảo Triều Tiên. Ví dụ, trong khi Trung Quốc thực hiện sự phục hưng quốc gia, giúp người dân ở Bắc – Nam bán đảo Triều Tiên đạt được sự thống nhất và hòa giải dân tộc. Đây mới là ý nghĩa thực tế nhất của cái được gọi là “cộng đồng chung vận mệnh của con người”.

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần II


Tư tưởng dân sinh khoa học chân chính là quan niệm dân sinh của chủ nghĩa Marx. Tư tưởng của chủ nghĩa Marx về vấn đề dân sinh lấy quan niệm duy vật lịch sử làm cơ sở lý luận, lấy học thuyết về bản chất con người, về nhu cầu và phát triển con người làm căn cứ trực tiếp. Nội dung cơ bản của nó bao gồm những điểm sau: Thứ nhất, tính chủ thể lịch sử của con người. K. Marx cho rằng, bản chất người nằm ở tính xã hội của nó. Bản chất con người không phải là thứ trừu tượng cố hữu của con người cá nhân mà trong tính hiện thực của mình, nó là sự tổng hòa của tất cả các quan hệ xã hội. Ông viết: “Con người vốn sinh ra đã là động vật xã hội, vậy thì chỉ có trong xã hội nó mới có thể phát triển hết năng lực bẩm sinh chân chính của nó, mà phán đoán về sức mạnh bẩm sinh của nó cũng không thể lấy tiêu chuẩn của sức mạnh cá nhân đơn nhất, mà phải lấy tiêu chuẩn sức mạnh của toàn bộ xã hội”. Quần chúng nhân dân, đặc biệt là quảng đại quần chúng nhân dân lao động là chủ thể của lịch sử xã hội, là người sáng tạo ra sự giàu có vật chất và tinh thần của xã hội, là lực lượng quyết định thúc đẩy sự phát triển và biến đổi xã hội. Thứ hai, con người là con người hiện thực, hoạt động thực tiễn, là con người nằm trong quan hệ sản xuất; trong xã hội có giai cấp, đó là người bị lệ thuộc vào giai cấp khác. K. Marx cho rằng, con người xuất phát từ nhu cầu sản xuất thực tiễn xã hội của mình, đồng thời dựa vào nhu cầu mà tiến hành hoạt động thực tiễn; để sáng tạo ra lịch sử, con người buộc phải sinh sống, cho nên hoạt động sản xuất ra tư liệu sản xuất vật chất để thỏa mãn nhu cầu con người là hoạt động lịch sử đầu tiên của loài người. Trong quá trình sản xuất, con người hình thành nên các quan hệ giữa người và người, tức quan hệ sản xuất; trên nền tảng quan hệ sản xuất, hình thành và phát triển các loại quan hệ xã hội và hiện tượng xã hội; từ khi có giai cấp, người ta lệ thuộc vào một giai cấp nhất định, thuộc về một kiểu quan hệ giai cấp nhất định. Thứ ba, nhu cầu con người và phát triển con nguòi. Học thuyết Marx về nhu cầu con người cho rằng, nhu cầu là động lực nội tại trực tiếp của hoạt động thực tiễn của loài người, chính trong quá trình sản xuất, con người đã hình thành nên các nhu cầu, các nhu cầu đó không ngừng gia tăng và biến đổi, khiến cho đời sống xã hội không ngừng được điều chỉnh và tiến bộ. Cùng với những vận động mâu thuẫn trong sản xuất, những nhu cầu đó thúc đẩy xã hội loài người phát triển từ thấp tới cao. Mức độ phát triển và trình độ phong phú của nhu cầu con người là tiêu chí quan trọng thể hiện mức độ phát triển người. Học thuyết phát triển con người của K. Marx cho rằng, sự phát triển toàn diện năng lực con người là nội dung trung tâm của phát triển toàn diện người, nội dung hạt nhân mang tính bản chất của nó chính là sự phát triển toàn diện và cao độ của năng lực sản xuất, năng lực tinh thần và năng lực thẩm mỹ của con người. Thứ tư, con người làm thế nào để thực hiện sự giải phóng và phát triển của mình? Quan niệm duy vật lịch sử cho rằng, xét đến cùng, việc thực hiện sự giải phóng triệt để và phát triển toàn diện con người cần phải có hai điều kiện: giai cấp công nhân thông qua lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa giành được sự giải phóng triệt để bản thân mình và toàn bộ loài người chính là tiền đề xã hội; sự phát triển cao của sức sản xuất xã hội là cơ sở vật chất; sự xác lập chủ nghĩa cộng sản là đảm bảo chế độ; thời gian tự do phong phú là điều kiện cơ bản. Việc thực hiện những điều kiện lịch sử xã hội nói trên là một quá trình lịch sử phát triển lâu dài và khúc khuỷu.

Dựa vào những quan điểm duy vật lịch sử cơ bản của chủ nghĩa Marx để giải thích “dân sinh” như trên, tôi cho rằng, “dân” chính là quần chúng nhân dân rộng lớn, “sinh” chính là thực hiện những nhu cầu của đời sống vật chất và đời sống văn hóa tinh thần ngày càng tăng của quần chúng nhân dân. Thực hiện dân sinh chính là thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người. Đây là sự khác biệt bản chất giữa quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx với quan điểm lịch sử dân sinh của chủ nghĩa duy tâm muôn hình muôn vẻ. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ: “Tin ai, dựa ai, vì ai, trước sau có đứng trên lập trường của đông đảo nhân dân không, đó chính là phân giới rạch ròi giữa quan điểm duy vật lịch sử với quan điểm duy tâm lịch sử, đồng thời cũng chính là hòn đá thử vàng xét đoán chính đảng chủ nghĩa Marx”.

Một loạt những chủ trương và quan điểm của Đảng Cộng sản về dân sinh lấy cơ sở lý luận là quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx, đồng thời kế thừa những nhân tố hợp lý trong tư tưởng dân bản truyền thống của Trung Quốc, tiếp thu tinh hoa lý luận của chủ nghĩa nhân bản phương Tây, là bộ phận cấu thành quan trọng của chủ nghĩa Marx được Trung Quốc hóa, là thành quả to lớn giành được trong thực tiễn vĩ đại tiến hành cách mạng, xây dựng và cải cách mà Đảng đã dẫn dắt quảng đại quần chúng nhân dân.

2/ Sự tìm kiếm không mệt mỏi cách giải quyết vấn đề dân sinh của những người cộng sản Trung Quốc

Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân Trung Quốc và dân tộc Trung Hoa là người đại biểu cho lợi ích căn bản của đông đảo quần chúng nhân dân, đồng thời là người lãnh đạo quần chúng nhân dân cùng sáng tạo nên cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp. Trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, những người cộng sản Trung Quốc trước sau đều quan tâm tới dân sinh, coi trọng dân sinh, không ngừng làm sâu sắc hóa nhận thức lý luận về dân sinh, không ngừng xúc tiến sự tìm kiếm thực tiễn để giải quyết vấn đề dân sinh.

Trong thời kỳ cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới, tập thể lãnh đạo đầu tiên của Đảng do đồng chí Mao Trạch Đông đứng đầu đã kết hợp chủ nghĩa Marx với thực tế Trung Quốc, lãnh đạo giai cấp công nah6n và quảng đại nhân dân lao động lật đổ “ba ngọn núi lớn”, giành được độc lập dân tộc và giải phóng dân sinh, xây dựng nước Trung Hoa mới xã hội chủ nghĩa, quét sạch chướng ngại thực hiện nhiệm vụ lịch sử là xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chúng ấm no. Trong tiến trình lịch sử đó, Mao Trạch Đông đưa ra tư tưởng mang tính sáng tạo về “nhân dân”, đề xướng quan điểm phải quan tâm và cải thiện đời sống của quần chúng. Những luận điểm đó về sau trở thành cội nguồn và nền tảng tư tưởng quan trọng cho những người cộng sản tìm kiếm lý luận và cơ sở thực tiễn tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lần đầu tiên Mao Trạch Đông đưa ra khái niệm “vì dân phục vụ”, yêu cầu tất cả các đảng viên của Đảng phải “toàn tâm toàn ý vì dân phục vụ”, đồng thời coi đó là tôn chỉ của Đảng. Trước sau như một, ông luôn quan tâm đến dân sinh, nhấn mạnh “phải khiến cho nhân dân thấy được lợi ích vật chất”, chỉ rõ: “Vấn đề đời sống thực tế của tất cả quần chúng, đều là những vấn đề mà chúng ta cần chú ý. Nếu chúng ta đã chú ý, đã giải quyết, đã thỏa mãn nhu cầu cho quần chúng, chúng ta sẽ thực sự trở thành những người tổ chức đời sống cho quần chúng, quần chúng sẽ thực sự tập hợp quanh chúng ta, nhiệt liệt ủng hộ chúng ta”. Yêu cầu “tất cả hành động, lời nói của người cộng sản đều buộc phải phù hợp với lợi ích lớn nhất của đông đảo quần chúng nhân dân, tiêu chuẩn cao nhất là những gì mà quần chúng nhân dân ủng hộ”. Ông còn coi sự liên hệ mật thiết với đông đảo quần chúng nhân dân là tiêu chí rõ ràng để phân biệt người cộng sản với những chính đảng khác. Kinh nghiệm lịch sử của cách mạng Trung Quốc đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Trung Quốc một lòng một dạ mưu cầu lợi ích cho nhân dân, thiết thực giải quyết vấn đề dân sinh, trnah thủ được sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân, đó là nguyên nhân căn bản của thắng lợi giành được trong cuộc cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới.

Việc xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội sau khi thành lập nước Trung Hoa mới ở vào thời điểm khó khăn của lịch sử, trong đó việc giải quyết vấn đề dân sinh vừa đạt được những thành tựu to lớn do việc phát triển kinh tế mang lại, vừa gặp phải những gian nan do sai lầm nghiêm trọng trong quá trình thực hiện. Trong thời kỳ cải cách mở cửa, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành sự nghiệp vĩ đại – xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Suốt 30 năm qua, dựa trên những gợi ý về “ba bước đi” trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đồng chí Đặng Tiểu Bình, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có những tìm tòi tích cực để giải quyết vấn đề dân sinh. Quá trình đó, về đại thể, phân thành ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược thực hiện bước đầu tiên xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta, với tập thể lãnh đạo thế hệ thứ hai của Đảng do đồng chí Đặng Tiểu Bình làm chủ chốt, đưa ra tư tưởng dân sinh trong thực tiễn lãnh đạo dân chúng cả nước thực hiện đời sống ăn no mặc ấm.

Nhân dân Trung Quốc có đời sống no đủ là mục đích cuối cùng và nguyên tắc tối cao trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Đặng Tiểu Bình. Ông coi “chế độ công hữu giữ vai trò chủ thể” và “cùng giàu có” là nguyên tắc cơ bản bắt buộc nhằm kiên trì chủ nghĩa xã hội; coi “giải phóng sức sản xuất, phát triển sức sản xuất, tiêu diệt sự bóc lột, trù bỏ sự phân hóa hai cực, cuối cùng đạt tới sự giàu có chung” là bản chất của chủ nghĩa xã hội; đem “sự cùng giàu có của nhân dân cả nước, kh6ong phân chia hai cực” và “phát triển sức sản xuất, dần nâng cao mức sống vật chất và văn hóa của nhân dân” khái quát thành mục tiêu và nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội; coi “cùng nhau giàu có, không gây ra sự phân hóa hai cực, giàu có cho đất nước và nhân dân, không sinh ra giai cấp tư sản mới” là điểm phân biệt chủ yếu giữa chủ nghĩa xa hội với chủ nghĩa tư bản. Về sau, Đặng Tiểu Bình lại đem tiêu chuẩn phán đoán “tư bản” và “xã hội” quy nạp thành “ba cái có lợi”, tức “cần phải xem có lợi cho sự phát triển sức sản xuất xã hội xã hội chủ nghĩa không, có lợi cho việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của một đất nước xã hội chủ nghĩa không, có lợi cho việc nâng cao mức sống nhân dân không”; xác định nhiệm vụ cơ bản của xây dựng văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa là nhằm “làm cho nhân dân các dân tộc ở Trung Quốc trở thành những người có lý tưởng, hiểu đạo lý, có văn hóa và giữ kỷ luật”. Ông còn đưa ra khái niệm mới, “xã hội tiểu khang”, coi nó là giai đoạn phát triển hiện đại hóa Trung Quốc. Nhằm thực hiện mục tiêu nhân dân cùng giàu có, Đặng Tiểu Bình còn thiết kế một lộ trình hiện thực là để cho một số vùng, một số người giàu lên trước. Từ những phân tích trên có thể thấy, Đặng Tiểu Bình đã hướng tới lợi ích của nhân dân, hướng tới sự cùng giàu có của toàn dân, đồng thời đề cao tố chất chỉnh thể của nhân dân. Ông đặt dân sinh cùng giàu có, dân sinh phát triển toàn diện trong sự liên hệ mật thiết với bản chất, mục đích, nguyên tắc, tính ưu việt lớn nhất và nhiệm vụ chủ yếu của chủ nghĩa xã hội, thống nhất trong tiến trình vĩ đại của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc.

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Liệu Trung Quốc và Triều Tiên có kết thành trục mới? – Phần đầu


Vào thời điểm tình hình Đông Bắc và Tây Thái Bình Dương phức tạp, căng thẳng chưa từng có, liệu việc hai nhà lãnh đạo Trung Quốc và Triều Tiên tuy ở rất gần nhưng chưa từng gặp nhau lại tiến hành cuộc gặp không chính thức dưới sự sắp đặt hết sức bí mật có thể làm ấm lại mối quan hệ giữa hai nước đã lạnh nhạt trong nhiều năm hay không. Ngoài ra, tại cuộc gặp giữa Tập Cận Bình và Kim Jong-un lần này, các phát ngôn như “đi thăm người thân” và “di nguyện”…, Trung Quốc và Triều Tiên sẽ khôi phục tình hữu nghị truyền thống, tiếp đến kết thành trục mới ở Đông Bắc Á, thay đổi cục diện an ninh Tây Thái Bình Dương cũng đều là những điều có giá trị nghiên cứu.

Điều thú vị có lẽ rằng đây là chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của Kim Jong-un từ khi lên làm nhà lãnh đạo Triều Tiên. Tuy chỉ là chuyến thăm không chính thức, nhưng Trung Quốc lại dành cho Kim Jong-un các biện pháp đảm bảo an ninh nghiêm ngặt chưa từng có. Đoàn tàu chở nhà lãnh đạo Kim Jong-un vừa đi qua cầu hữu nghị Trung – Triều nối giữa hai thành phố Đan Đông – Trung Quốc và Sinuiju – Triều Tiên một đoạn thì rào chắn thép được dựng lên để ngăn không cho các phóng viên dòm ngó từ khách sạn gần cầu. Từ đêm ngày 25/3 đến gần tối ngày 26/3, đoàn tàu chở Kim Jong-un đi lại rất thuận lợi trong lãnh thổ Trung Quốc. Hành trình đến Bắc Kinh của Kim Jong-un đã được kiểm soát, đến camera giám sát ở các đường giao nhau cũng bị bịt kín. Tuy nhiên, chuyến thăm Bắc Kinh ngắn ngủi của Kim Jong-un lại không phải là chuyến thăm “không chính thức”, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp đóng Kim Jong-un bằng nghi lễ quốc gia long trọng, sau Kim Jong-un về nước, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc và các phương tiện truyền thông chính thức mới đưa tin rầm rộ về cuộc gặp thân mật giữa hai nhà lãnh đạo này.

Vì vậy, vào thời điểm cục diện chính trị Đông Bắc Á có bước chuyển ngoặt thông qua hành trình bí mật trong chuyến thăm của Kim Jong-un và khói mù bao phủ trên bầu trời Bắc Kinh, cuộc gặp được tiến hành vội vã này và nội dung cuộc hội đàm mà các phương tiện truyền thông chính thức của Trung Quốc tiết lộ, đã cung cấp những thông tin vô cùng hiếm hoi để bên ngoài có thể dựa vào đó phân tích toàn diện sự phát triển của quan hệ Trung – Triều, làm sáng tỏ rất nhiều dự đoán của cộng đồng quốc tế, ví dụ như liệu Trung Quốc có vì cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ mà bị gạt sang một bên, liệu Trung Quốc có chuẩn bị chấp nhận Triều Tiên là quốc gia sở hữu hạt nhân…, để từ đó nắm bắt hơn nữa ý đồ chiến lược của Trung Quốc. Điều đặc biệt là cộc gặp thượng đỉnh lần này diễn ra trước cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều vào tháng 4 và cuộc gặp thượng đỉnh Triều – Mỹ vào tháng 5. Cuộc gặp đầy kịch tính này dường như diễn ra trong tiến trình khó khăn của quan hệ Trung – Triều sau khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên ngày càng trầm trọng, bao hàm hiện trạng, bước chuyển ngoặt trong 5 năm qua và tương lai.

Nhìn lại bối cảnh

Từ khi Kim Jong-un lên cầm quyền năm 2011, Tập Cận Bình lên cầm quyền năm 2012 đến nay, hai nhà lãnh đạo 6 năm chưa gặp mặt, và 6 năm qua cũng là khoảng thời gian cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên có những diễn biến xấu nhất. Qua việc hai nguyên thủ chưa từng tới thăm nhau, gọi điện cho nhau, không thể không nói rằng quan hệ song phương rất lạnh nhạt, ở thời kỳ kém phát triển nhất kể từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992. Trong 6 năm qua, năm 2012 Lý Kiến Quốc và năm 2017 Tống Đào lần lượt đến Triều Tiên thông báo tình hình Đại hội XVIII và XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc với tư cách đặc phái viên, năm 2013 Phó Chủ tịch nước Lý Nguyên Triều và năm 2015 Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Vân Sơn đến thăm Triều Tiên, tham dự lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Lao động Triều Tiên. Về phía Triều Tiên, từ sau chuyến thăm Trung Quốc không chính thức của Kim Jong-il năm 2011, thời kỳ Kim Jong-un cầm quyền chỉ có trợ lý thân cận là Choe Ryong-hae đến thăm Bắc Kinh vào các năm 2015, 2016 và 2017. Những chuyến thăm ít ỏi này về cơ bản không có lợi cho việc hai bên loại bỏ những cản trở của các sự việc đan xen như nhân vật số 2 của Triều Tiên thân Trung Quốc, chú rể của Kim Jong-un là Jang Song-thaek bị xử tội chết, Kim Jong-nam bị ám sát…, trái lại còn rơi vào khủng hoảng trong các cuộc thử hạt nhân và phóng tên lửa liên tiếp của Triều Tiên.

Có 4 trong 6 vụ thử hạt nhân mà Triều Tiên đã tiến hành cho đến nay được thực hiện trong 6 năm qua, đây cũng là 6 năm quan hệ Trung – Triều rơi vào lạnh nhạt, chương trình vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã hoàn thành cuộc nhảy vọt từ bom nguyên tử đến bom H, từ thử nghiệm đến đưa vào thực tế chiến đấu, từ tên lửa đạn đạo tầm trung chưa hoàn thiện đến tên lửa đạn đạo liên lục địa, lần đầu tiên có năng lực đe dọa lãnh thổ Mỹ, khiến cho Liên hợp quốc thực hiện lệnh cấm vận nghiêm khắc chưa từng có. Trung Quốc cũng đứng vào hàng ngũ các nước lên án và cấm vận Triều Tiên. Năm 2017 quan hệ Trung – Triều ở vào thời kỳ kém phát triển nhất.

Trong bối cảnh này, kể từ Olympic Pyeongchang diễn ra hồi tháng 2 đến nay, Chính quyền Kim Jong-un đã chủ động thực hiện ngoại giao mềm dẻo qua việc cử em gái là Kim Yo-jong mở ra cánh cửa đối thoại liên Triều. Trong thời gian này, bên ngoài dường như bị mê hoặc bởi tư thế ngoại giao của Triều Tiên, ngoài cuộc đối thoại thượng đỉnh liên Triều, thượng đỉnh Triều – Mỹ đã được xác định, cuộc gặp mặt thượng đỉnh Triều – Nhật cũng đang được xem xét. Trong cuộc đối thoại Triều – Trung lần này, như thông tin mà hai bên đã chứng thực sau chuyến thăm, việc Kim Jong-un đưa ra kiến nghị đến thăm Trung Quốc, sau đó nhận được lời mời của Trung Quốc, đều được tiến hành rất vội vàng, làm theo mô hình chuyến thăm không chính thức năm 2011 của Kim Jong-il, chủ yếu là trao đổi, tiếp tục nhấn mạnh sự hữu nghị truyền thống giữa hai nước và sự trao đổi “đi thăm người thân” do cố lãnh đạo Hồ Diệu Bang từng đưa ra, không đưa ra thông cáo, cũng không có họp báo, đã để lại không gian làm ấm quan hệ song phương.

Bầu không khí thoải mái trong cuộc gặp dường như cũng cho thấy quan hệ Trung – Triều đã tìm lại được nền tảng của nhận thức chung, tức là chủ trương kiên trì phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên mà phương tiện truyền thông chính thức Trung Quốc đưa tin và Kim Jong-un thừa nhận đây là di nguyện của ông cha. Quay lại phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên có khả năng mới là nguyên nhân chính khiến Kim Jong-un thực hiện chuyến thăm lần này: Không phải sự yết kiến của nước được bảo hộ với nước bá chủ, mà là với nỗ lực ngoại giao chủ động, linh hoạt, Kim Jong-un đã phá vỡ được sự cô lập về ngoại giao.

Đây có lẽ là xuất phát điểm cơ bản để hiểu về cuộc gặp giữa Kim Jong-un và Tập Cận Bình lần này, cũng là chìa khóa để nhận định chính sách của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong 6 năm qua thậm chí là lâu hơn thành công hay thất bại: Sau khi hoàn thành cơ bản chương trình thử nghiệm hạt nghân và có đủ các con bài, Kim Jong-un thực hiện ngoại giao song phương tích cực, không những đã thực hiện được mục tiêu đối thoại trực tiếp Triều – Mỹ mà Triều Tiên lâu nay luôn cố gắng tìm kiếm, mà còn làm tan rã mô hình ngoại giao đa phương do Trung Quốc lập ra với Đàm phán 6 bên làm trung tâm, có thể nói là đã phá vỡ sự ràng buộc và giành được sự chủ động. Đương nhiên, sự ràng buộc này cũng mất rất nhiều công sức, trên thực tế nó đã che chở cho sự nghiệp phát triển hạt nhân của Triều Tiên, giành lấy thời gian cho nước này, sau đó từ bỏ những thứ mà mình cảm thấy không còn giá trị.

Tuy nhiên, chuyến thăm chủ động với tư thế khiêm tốn của Kim Jong-un, trong đó ngày thứ 2 sau khi đến Bắc Kinh, Kim Jong-un đến tham quan triển lãm trưng bày những thành quả của Viện Khoa học Trung Quốc, xem những tiến triển vật lý hạt nhân, kính viễn vọng vô tuyến khẩu độ 500m và công nghệ tương tác thực tế (VR) của Trung Quốc, chắc chắn sẽ gây cho bên ngoài ảo giác Trung Quốc đang phát huy ảnh hưởng tích cực trong thời kỳ then chốt như lời của học giả người Mỹ Gordon G. Chang, đồng thời không bị gạt sang bên lề, nếu Trung Quốc không tích cực điều chỉnh, e rằng sẽ khó có thể đối phó với những thách thức của tình hình hoàn toàn mới ở Đông Bắc Á trong thời gian tới. Ở đây có hai vấn đề cần phải nghiên cứu:

Một là chương trình hạt nhân của Triều Tiên, trong đó có chương trình tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM), mặc dù vẫn còn cần thời gian để đưa vào thực tế chiến đấu nhưng điều không thể phủ nhận là những tiến triển mang tính đột phá mà Triều Tiên đạt được trong 6 năm qua có liên quan đến điểm mù chiến lược sau khi trung tâm chiến lược của Trung Quốc chuyển dịch sang phía Nam tạo ra, điều này cũng có nghĩa là sự mơ hồ chiến lược của Trung Quốc đối với Triều Tiên trong thời gian dài qua trên thực tế đã dung túng cho sự phát triển hạt nhân của Triều Tiên. Một mặt kể từ cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan từ giữa những năm 1990 đến nay, trung tâm chiến lược của Trung Quốc bắt đầu chuyển dịch sang phía Nam, mối quan tâm chủ yếu đặt ở Đông Hải (biển Hoa Đông), eo biển Đài Loan, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Trong 20 năm qua, Trung Quốc lần lượt xảy ra đối đầu căng thẳng với Nhật Bản, nhiều nước xung quanh Nam Hải như Philippines cũng như Đài Loan xoay quanh các vấn đề như khai thác dầu khí ở Đông Hải, chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, các đảo/đá ở Nam Hải cũng như sự thay đổi chính quyền và khuynh hướng độc lập của Đài Loan. 6 năm qua, cùng với việc Trung Quốc chủ động đưa ra và thúc đẩy chiến lược “Vành đai và Con đường”, đồng thời nhanh chóng xây dựng chiến trường ở các đảo và đá thuộc Nam Hải, cộng đồng quốc tế bắt đầu lo ngại toàn bộ Tây Thái Bình Dương đối diện với rủi ro “Phần Lan hóa”, nên mới đưa ra các biện pháp đối phó như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…, cho đến cuộc chiến thương mại Trung – Mỹ có thể sắp bùng phát.

(còn tiếp) 

Nguồn: bbcchinese.com – 29/03/2018

TLTKĐB – 11/04/2018

Một vài suy tư lý luận về vấn đề dân sinh – Phần I


Ngô Thượng Dân

Từ vấn đề “nghề nghiệp là gốc của dân sinh” được đưa ra trong báo cáo của Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVI, “dân sinh” trở thành một khái niệm quan trọng được các nhà lãnh đạo Đàng và Nhà nước các cấp sử dụng thường xuyên. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XVII đã đưa vấn đề dân sinh lên một tầm cao chưa từng có. Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ rằng, thúc đẩy nhanh việc cải thiện dân sinh là trọng điểm của công cuộc xây dựng xã hội, nỗ lực hình thành cục diện xã hội hài hòa trong đó mọi người đều có trách nhiệm và đều được thụ hưởng. Đây chính là những luận đoán và sắp đặt mới của Đảng được đề ra trước một khởi điểm mới của lịch sử, thích ứng với nhu cầu mới của phát triển và những nguyện vọng mới của nhân dân, cũng như trước mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện toàn diện việc xây dựng một xã hội tiểu khang.

Đối với Trung Quốc hiện nay, dân sinh là nhiệm vụ chính trị lớn nhất, vấn đề dân sinh là vấn đề lợi ích mà quần chúng nhân dân quan tâm nhất, trực tiếp nhất và hiện thực nhất. Đảm bảo và cải thiện dân sinh là yêu cầu bản chất của xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc, là hạt nhân và nội dung thực chất của quan điểm phát triển khoa học chân thực toàn diện, là mắt xích trọng yếu của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội và xã hội hài hòa. Chính vì vậy, chúng ta cần phải suy tư để làm rõ rằng, dân sinh có quan hệ như thế nào với quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx và tôn chỉ của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không ngừng làm sâu sắc hóa trong quá trình tìm kiếm lý luận và thực tiễn về vấn đề dân sinh ra sao; dân sinh trong giai đoạn hiện nay còn tồn tại những vấn đề gì, cần có những kiến nghị đối sách nào? Bài viết này muốn trả lời những vấn đề nêu trên.

1/ Xây dựng nhận thức khoa học trên cơ sở quan niệm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx

“Dân sinh” là một khái niệm đã có từ lâu ở Trung Quốc. Xã hội hiện đại đã có những giải thích về nội hàm của khái niệm này theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp. Bài viết này bàn về “dân sinh” với hàm nghĩa chỉ sự sinh tồn và phát triển của con người cần phải được thực hiện trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đồng thời, dân sinh không phải là một khái niệm mang tính cộng đồng, tầng nghĩa sơ cấp hay hình thái sơ giản nhất của dân sinh là sự sinh tồn và phát triển cơ bản hay tối giản của con người, chủ yếu chỉ để nhu cầu sinh tồn và phát triển cơ bản của con người. Tầng thứ cao hay hình thái cao cấp của dân sinh là sự đề cao chất lượng sống cũng như sự phát triển toàn diện, đặc biệt là sự phát triển sức sáng tạo của con người. Thống nhất với sự phát triển xã hội và lịch sử, sự phát triển dân sinh từ hình thái sơ cấp tới hình thái cao cấp thể hiện tính giai cấp và tính tầng bậc, là một quá trình xoáy ốc tiệm tiến, không ngừng vươn lên.

Vấn đề dân sinh là vấn đề căn bản của xã hội loài người. Lịch sử nhân loại, theo một nghĩa nhất định, chính là lịch sử mà loài người không ngừng cải tiến điều kiện sinh tồn, giải quyết vấn đề dân sinh, thực hiện nhu cầu phát triển tự thân. Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau đều có những vấn đề dân sinh đặc thù cần phải giải quyết, song tình hình dân sinh và trình độ giải quyết luôn quyết định sự ủng hộ hay phản đối của mọi người và sự được mất của chính quyền cùng sự hưng vong của quốc gia. Cho nên, các thánh hiền và triết nhân của các thời kỳ đều xuất phát từ yêu cầu củng cố chính quyền và duy trì sự ổn định mà đề xướng những chủ trương, quan niệm dân sinh và những phương án giải quyết vấn đề dân sinh muôn hình muôn vẻ.

Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là quan niệm chính trị của giai cấp thống trị phong kiến Trung Quốc. Khổng Tử chủ trương “Bách tích no đủ, vua còn không đủ với ai? Bách tính không no đủ, vua no đủ với ai?”. Lão Tử cho rằng, “Thánh nhân không có tâm hẳng thường, lấy tâm bách tích làm tâm mình”. Mạnh Tử đề xướng: “Dân là quý, thứ đến xã tắc, vua là thứ đáng coi nhẹ”. Những tư tưởng đó phản ánh sự thể nghiệm quan sát đối với những khổ đau của dân chúng và sự thừa nhận đối với sức mạnh dân chúng của các nhà tư tưởng và các nhà chính trị cổ đại, thể hiện sự hướng tới giá trị “trọng dân” một cách đơn sơ của họ và tư duy chính trị cai trị đất nước kiểu “dân vi bang bản, bản cố bang ninh” (dân là gốc của nước, gốc có bền thì nước mới vững – ND) là tài nguyên tư tưởng trọng yếu trong văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa.

Mặc dù vậy, những thuyết giáo về nhân sinh đó có mối liên kết chặt chẽ với toàn bộ hình thái ý thức phong kiến. Đứng trên lập trường giai cấp thống trị phong kiến để nói về dân bản, yên dân, thì kỳ thực không phải lấy dân làm gốc mà là một thứ “thuật đế vương” “khống chế dân”, “trị dân”, làm tăng thêm sự vững mạnh của nền thống trị chuyên chế quân chủ.

Giai cấp tư sản phương Tây cận đại trong khi phản đối chủ nghĩa phong kiến, thúc đẩy việc giải phóng con người đã đề ra tư tưởng dân sinh nhân bản chủ nghĩa. Những chủ trương và phương án đó đã phê phán hiện tượng xã hội phong kiến, xã hội tư bản đi ngược lại tính nhân đạo, làm tổn hại nghiêm trọng tới dân sinh; đồng thời, chứa đựng những nhân tố tích cực, có ý nghĩa nhất định đối với tiến bộ xã hội và cải thiện dân sinh lúc đó. Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân bản đã tách rời khỏi điều kiện lịch sử và tính xã hội người cụ thể, chủ trương dùng thứ nhân tính vĩnh hằng bất biến để giải thích lịch sử xã hội, lý tưởng của nó là để nhân tính có được sự thực hiện toàn vẹn, xây dựng thiên đường nhân gian tự do, bình đẳng, bác ái phù hợp với thiên tính của nhân loại. Quan niệm giá trị này kiên trì lấy cá nhân làm đơn vị, lấy nhu cầu và lợi ích của cá nhân làm điểm xuất phát, mục đích và trung tâm để xử lý vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội và với người khác, nhằm thực hiện sự theo đuổi tự ngã là giá trị chủ yếu. Chủ trương dân sinh của chủ nghĩa nhân bản, về thực chất, có lợi cho giai cấp tư sản. Chủ nghĩa tư bản đã mượn danh nghĩa tự do nhân loại và sự nhân đạo thiêng liêng để giải phóng giai cấp công nhân từ gông cùm của chủ nghĩa phong kiến; vì thế, xét đến cùng, nó phục vụ cho giai cấp tư sản giành lấy và bảo vệ địa vị thống trị của mình.

Trong lịch sử cận đại Trung Quốc, nhà cách mạng tiên phong Tôn Trung Sơn đã tiếp thu tư tởng phương Tây, kết hợp với quan niệm dân bản cổ đại để đề xướng “quan niệm lịch sử dân sinh”. Ông nâng “dân sinh” lên tầm chủ nghĩa, song hành cùng “dân tộc, dân quyền”, hình thành nên “chủ nghĩa tam dân” nổi tiếng. Tôn Trung Sơn cho rằng, “dân sinh là trọng tâm của lịch sử”, “là động lực cơ bản của mọi hoạt động trong xã hội”, “điều đầu tiên cần xây dựng là dân sinh”, cách mạng “chính là để trừ bỏ những buồn phiền cho dân chúng, thay nhân dân tìm kiếm hạnh phúc”, đem những yếu nghĩa của dân sinh khái quát thành “người cày có ruộng”, “tiết chế tư bản” và “quyền đất đai bình quân”. Cần phải thấy rằng, đây chính là quan điểm lịch sử của giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc theo hướng tiến bộ, là chủ trương giải quyết vấn đề dân sinh tiên tiến nhất thời đó và trong một trình độ nhất định, nó đại biểu cho lợi ích của quảng đại nhân dân Trung Quốc đương thời. Ông đã kiên cường bất khuất, tận tâm tận lực, cống hiến vô tư cả đời mình cho việc giải quyết vấn đề này. Đặc biệt, khi cách mạng Trung Quốc tiến nhập vào giai đoạn chủ nghĩa dân chủ mới, Tôn Trung Sơn đã tiếp thu sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trung Quốc và giai cấp vô sản quốc tế, xác lập ba chính sách lớn “liên Nga, liên cộng, giúp đỡ công nông”, đem chủ nghĩa tam dân cũ phát triển thành chủ nghĩa tam dân mới. Đáng tiến là ông không thể thực hiện được chủ nghĩa tam dân của mình. Rất rõ ràng là, trong điều kiện chính trị và hoàn cảnh xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến, quân đội hỗn chiến, dân chúng hết đường sống, nếu rời khỏi sự quy thuộc tư liệu sản xuất và đấu tranh giai cấp để bàn tới “dân sinh”, “hỗ trợ con người” một cách phiến diện, trừu tượng thì làm sao có thể chỉ đạo cuộc cách mạng dân chủ phản đế phản phong, làm sao có thể xây dựng hiện đại hóa, mong đất nước mạnh giàu, thực hiện hạnh phúc cho nhân dân được?

(còn tiếp) 

Nguồn: Phạm Văn Đức, Đăng Hữu Toàn, Nguyễn Đình Hòa (đcb) – Vấn đề dân sinh và xã hội hài hòa – NXB KHXH 2010.

Tại sao Tập Cận Bình muốn phục hồi Khổng Tử? – Phần cuối


Nguyễn Hải Hoành

….

Phản ứng của dư luận

Người Trung Quốc có truyền thống “sùng thánh”, bởi vậy khi CT Tập muốn phục hồi Khổng Tử thì truyền thông chính thống cả nước liền nhiệt liệt hưởng ứng. Cơn sốt Khổng Tử nóng trở lại. Cán bộ Đảng và chính quyền thi nhau phát biểu ý kiến giải thích và chứng minh quan điểm của CT Tập là hợp lý nhất. Các đài truyền hình làm chương trình Giảng đường trăm nhà để các học giả giảng giải đạo Khổng. Bà Vu Đan (tháng 11/2012 bị sinh viên ĐH Bắc Kinh la hét phải rời diễn đàn) ngày 8/12/2015 lại ra mắt công chúng để quảng bá Khổng Tử. Chính phủ bỏ tiền tỷ đẩy mạnh xây dựng các Học viện Khổng Tử trên toàn cầu…

Giới học giả hăng hái nói về các ưu điểm của Nho giáo. Dương Triều Minh, Giám đốc Viện Nghiên cứu Khổng Tử, nói: 2000 năm qua trên thế giới chưa ai được quan tâm và bị đánh giá mâu thuẫn nhiều như Khổng Tử. Thời cận đại, người Trung Quốc cho rằng muốn thoát khổ thì phải vứt bỏ văn hóa truyền thống với hạt nhân là Nho giáo. Mới đây, sau 30 năm nghiên cứu, giới học giả Trung Quốc phát hiện Nho giáo ban đầu (thời Tiên Tần) có “sắc thái tính đạo đức” rõ rệt, còn Nho giáo sau đời Hán thì có “sắc thái quyền uy” rõ rệt. Nho giáo ban đầu với đại diện là Khổng Tử nhấn mạnh “chính danh”, chủ trương “Tu dĩ an nhân” và “nhân chính”, “đức trị” – là các giá trị quan cốt lõi của Khổng Tử thật. Nho giáo sau đời Hán thì thích ứng nhu cầu chế độ chuyên chế phong kiến, phiến diện nhấn mạnh quân quyền, phụ quyền, phu quyền. Nho giáo suy thoái dần, có đặc điểm “thiếu ý thức bình đẳng và ý tưởng tự do”, không thích hợp với xã hội hiện đại. Đó là giá trị quan của Khổng Tử giả. Nay mọi người nên nhận thức được tinh thần chân chính của Nho giáo nguyên thủy, nên phục hồi các giá trị quan của Khổng Tử thật.

GS Vương Kiệt ở Trường Đảng Trung ương nhấn mạnh: kể từ phong trào Dương Vụ đời Thanh, cách mạng tư sản của Tôn Trung Sơn cho tới việc ĐCSTQ thời kỳ đầu đi theo chủ nghĩa Mác, Trung Quốc đã du nhập không ít học thuyết của phương Tây nhưng thực tế chứng minh đều không thành công. ĐCSTQ dần dần nhận ra giá trị to lớn của văn hóa truyền thống Trung Quốc, hiểu rằng chỉ có kiên trì chủ nghĩa Mác, kế thừa có phê phán nền văn hóa truyền thống Trung Quốc, kiên trì nguyên tắc “cổ vi kim dụng”, “dương vi trung dụng” thì mới có thể vứt bỏ cái vỏ bọc cũ rích của truyền thống Trung Quốc, kế thừa nội hàm tinh thần và linh hồn sống động của văn hóa truyền thống ưu tú, qua đó thực hiện sự phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa. CT Tập đã tổng kết sơ bộ tác dụng của việc kế thừa Văn hóa truyền thống ưu tú của Trung Quốc đối với sự phục hưng đó, thống nhất được hai mặt phát triển cá nhân và quốc gia giàu mạnh. Sức mạnh cứng rất quan trọng, nhưng sức mạnh mềm, như văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng, tinh thần, giá trị quan… cũng rất quan trọng.

GS Diêu Trung Thu nói: Việc kỷ niệm Khổng Tử với sự có mặt của lãnh đạo tối cao cho thấy Trung Quốc phải dựa vào tư tưởng Khổng Tử để đạt được sự đồng thuận. Tư tưởng này không giải quyết được mọi vấn đề nhưng có lợi cho việc giải quyết vấn đề cơ bản nhất là lòng người, là giá trị quan của quốc dân, là cơ sở tinh thần của đất nước. Ở tầng nấc đời sống cá nhân, Khổng Tử đề xuất phải “tu thân”, ở tầng nấc quản trị nhà nước, Khổng Tử đề xuất phải “Chính giả chính dã政者正也” (người làm chính trị phải chính trực công bằng), rất coi trọng xã hội tự trị. Ý tưởng Giấc mơ Trung Quốc thể hiện hình ảnh của tư tưởng Nho giáo. Hội nghị TƯ 3 khóa 18 ĐCSTQ nêu ra “đẩy mạnh hiện đại hóa hệ thống trị lý nhà nước và năng lực trị lý”, trong đó trị lý (cai trị, quản lý) là một khái niệm kiểu Nho giáo. Nho giáo coi trọng việc đào tạo người lãnh đạo xã hội, tức đào tạo sĩ quân tử 士君子.

Sử gia Chương Lập Phàm cho rằng phục hưng Nho giáo bắt nguồn từ một vấn đề vô cùng quan trọng là xã hội Trung Quốc hiện nay chịu ảnh hưởng nặng của tư tưởng chủ nghĩa vật chất, cần phải lấp đầy khoảng trống về ý thức hệ.

Triết gia Lê Minh nói toàn bộ văn nhân Khổng-Nho đều là lũ ngốc; sau hơn 2000 năm ngụp đầu trong cái hũ tương văn hóa Khổng-Nho người Trung Quốc đã đánh mất toàn bộ cái “tôi”, vì thế không thể xây dựng được triết học của Trung Quốc; tội ác hơn 2000 năm qua đều tập trung ở một chữ Lễ, tức chế độ mọi người mãi mãi không bình đẳng (Lễ chế).

Nhà Trung Quốc học người Đức Michael Schuman nói ĐCSTQ cần tới sự ủng hộ của Nho giáo, nhưng đề cao Nho giáo cũng có rủi ro, vì Khổng Tử bảo vệ chế độ đẳng cấp xã hội, chủ trương xã hội hài hòa và phản đối nổi loạn nhưng cũng yêu cầu chính quyền phải công bằng chính trực, minh bạch, suốt đời Khổng Tử phê phán quyền lực.

Báo Le Figaro (Pháp) phân tích: với việc khôi phục Khổng Tử, Nho giáo sẽ trở thành một công cụ hữu ích để Tập Cận Bình kiểm soát chặt xã hội và bóp nghẹt nguyện vọng dân chủ. Nhưng có thể lợi bất cập hại: chưa chắc sẽ làm nhụt được nguyện vọng dân chủ của dân mà ngược lại CT Tập có thể sẽ lấy làm tiếc là đã khôi phục đức Khổng, nếu người dân đòi hỏi ĐCSTQ phải trung thực và làm gương như Khổng Tử đã dạy.

Roderick MacFarquhar, GS ĐH Harvard và là nhà Trung Quốc học nổi tiếng nhận xét: Từ thời Mao đến nay, chưa một lãnh đạo Trung Quốc nào đẩy mạnh một chương trình trọn vẹn phục hồi các giá trị cũ và sức mạnh thô bạo của ĐCSTQ như Tập Cận Bình đang làm.

Rõ ràng việc CT Tập cố phục hồi Nho giáo dưới chiêu bài phục hồi Văn hóa truyền thống cho thấy ông đang muốn sử dụng Nho giáo để siết chặt quyền lực của mình, trấn áp mọi sự phản kháng từ những người đòi dân chủ, các phái đối lập, làn sóng phản kháng này đang dâng lên.

Đầu năm 2016, Trung Quốc ra luật mới về xuất bản. Sau đó blog của Nhiệm Chí Cường, một tiếng nói đòi dân chủ được gọi là Nhiệm đại pháo, bị cấm. Mới đây La Vũ, con của cố Đại tướng La Thụy Khanh viết thư cho bạn cũ là Tập Cận Bình, yêu cầu chấm dứt chế độ độc tài, chuyển Trung Quốc thành quốc gia dân chủ. Trước đó La Vũ còn công khai đòi giải tán ĐCSTQ.

Vài nhận xét bước đầu

Có thể thấy chiến dịch phục hồi Khổng Tử của CT Tập chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tuy bộ máy Đảng và chính quyền ra sức hưởng ứng nhưng dân vẫn thờ ơ. Nguyên nhân sâu xa là do họ đã quá chán ngán với học thuyết của Khổng Tử và văn hóa truyền thống Trung Quốc. Dù có được tô son điểm phấn thế nào, Nho giáo vẫn bị coi là hệ tư tưởng của chế độ phong kiến độc tài chuyên chế và việc CT Tập viện đến Nho giáo để củng cố sự lãnh đạo của ĐCSTQ chỉ có thể gây phản cảm. Dư luận nước ngoài cho rằng việc lợi dụng chiến dịch chống tham nhũng để thanh trừng một loạt cán bộ tay chân của lãnh đạo tiền nhiệm đã làm tê liệt bộ máy ĐCSTQ, chiến dịch đàn áp làn sóng đòi dân chủ đã làm tăng sự bất đồng trong Đảng.

Trung Quốc hiện đã lớn mạnh nhiều về kinh tế, khoa học kỹ thuật, quân sự, sức mạnh cứng rất lớn, nhưng sức mạnh mềm thì vẫn còn quá yếu. Hơn 100 năm nay Khổng Tử bị chính người Trung Quốc vùi dập tới mức khó có thể sống lại. Văn hóa truyền thống Trung Quốc chẳng có gì để quá tự hào. Mao Trạch Đông nhận định văn hóa truyền thống Trung Quốc có tính chất phong kiến và phản động, cần loại bỏ. Suốt mấy chục năm qua, giới học giả Trung Quốc vẫn chưa phản bác được nhận định của bà Thatcher “100 năm nữa người Trung Quốc cũng không có tư tưởng mới nào”. Một nhà văn Trung Quốc nhận xét câu này điểm trúng huyệt của Trung Quốc, một triết gia Trung Quốc cảm ơn bà Thatcher đã nói như vậy. Lưu Á Châu nói Trung Quốc chưa hề có nhà tư tưởng. Cũng thế, giới nhà văn Trung Quốc chưa phản bác được ý kiến “Văn học đương đại Trung Quốc là rác rưởi” do một nhà Hán học người Đức nêu ra năm 2006.

Năm 2013, nhà văn nổi tiếng Trương Hiền Lượng nói hiện nay người Trung Quốc thiếu nơi quy y (ý nói thiếu niềm tin): chủ nghĩa cộng sản chỉ là lý tưởng chứ không phải là niềm tin; Trung Quốc  cần xây dựng tín ngưỡng và giá trị quan của mình, nếu không thì chẳng thể trở thành nước lớn, điều mà CT Tập mong ước hơn ai hết.

Xã hội Trung Quốc đang khủng hoảng đức tin, đời sống tinh thần và tâm linh trống rỗng, cần chấn chỉnh. Nhưng dựng dậy cái thây ma Khổng Tử sẽ chẳng giúp gì cho việc ấy, ngược lại có lẽ Tập Cận Bình sẽ chỉ càng ngày càng lúng túng hơn./.