Cần thừa nhận vai trò của Trung Quốc trong quản trị toàn cầu


Javier Solana

Rõ ràng biến động địa chiến lược nổi bật nhất trong hai thập niên vừa qua là sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuy vậy, phương Tây lại không thể chấp nhận việc Trung Quốc có một tầm ảnh hưởng tương xứng với sức mạnh của nước này trong hệ thống quản trị toàn cầu ngày nay, chưa nói đến các nền kinh tế lớn mới nổi khác. Nhưng điều này có khả năng sẽ phải thay đổi.

Hiện nay, Trung Quốc dựa vào các dàn xếp song phương để tăng cường can dự vào các quốc gia khắp châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Được hậu thuẫn bởi lượng dự trữ ngoại hối 3,8 nghìn tỉ USD, Trung Quốc đã cung cấp các khoản đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng để đổi lấy hàng hóa, qua đó biến mình trở thành nước cung cấp tài chính lớn nhất cho các nước đang phát triển, với việc Ngân hàng Phát triển Trung Quốc hiện đã cho vay nhiều hơn cả Ngân hàng Thế giới.

Tuy vậy, do được thực hiện bởi các tập đoàn nhà nước, những thỏa thuận nói trên vẫn thường không tuân thủ các quy chuẩn quốc tế chung. Phương Tây vì thế đã thúc giục Trung Quốc hướng tới các tiến trình đa phương vốn đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời mở rộng cung cấp hàng hóa công toàn cầu. Tổng thống Mỹ Barack Obama thậm chí đã gọi Trung Quốc là “kẻ ngồi không hưởng lợi” vì nước này không màng đến trách nhiệm được kỳ vọng đối với một cường quốc toàn cầu.

Thế nhưng, nếu những sáng kiến chính sách ngoại giao gần đây của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ám chỉ điều gì đó, thì có lẽ đó là thay đổi trong tương lai gần. Tháng Bảy năm 2014, Trung Quốc khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới của năm nước khối BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, và Nam Phi) và đóng góp một khoản đáng kể vào số vốn 100 tỉ USD của ngân hàng này.

Tương tự, tại cuộc họp gần nhất của Diễn đàn hợp tác Á-Âu tại Bắc Kinh, Trung Quốc lại khởi xướng việc thành lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng châu Á (AIIB). Nước này đã thiết lập một Quỹ Con đường Tơ lụa trị giá 40 tỉ USD, nhằm phục vụ tham vọng tái tạo lại con đường nối liền châu Á với châu Âu cả trên đất liền và trên biển.

Để theo đuổi chiến lược với tên gọi “Một vành đai, Một con đường”, Trung Quốc sẽ tiếp tục các khoản đầu tư có ảnh hưởng tới khoảng 60 nước, bao gồm cả khu vực Trung Á, nơi Trung Quốc đã rút hầu bao ra chi tới hơn 50 tỉ USD cho các dự án ở đây. Tuyến đường trên biển sẽ bao gồm cả Ấn Độ Dương, biển Đông (biển Nam Trung Hoa), và biển Địa Trung Hải. Khi hợp thành một thể, đây sẽ không đơn thuần là một con đường, mà là một mạng lưới xúc tiến trao đổi cả hàng hóa và sáng kiến giữa hai châu lục.

Trong sáng kiến này, châu Âu đã có vai trò quan trọng hơn khi Cảng Piraeus – Hy Lạp, nơi có sự tham gia vận hành của Công ty Vận tải biển Trung Quốc COSCO, được xác định là một điểm dừng trong tuyến đường tơ lụa trên biển. Những cơ sở hạ tầng được Trung Quốc đầu tư xây dựng tại Balkans và Hungary sẽ giúp nối liền Cảng Piraeus với các khu vực khác của châu Âu, củng cố thêm vai trò của Trung Quốc như một đối tác thương mại chính của EU.

Sáng kiến Con đường Tơ lụa Mới tái khẳng định tham vọng của Trung Quốc trong việc biến mình thành một cường quốc ở lục địa Á Âu. Con đường ấy sẽ không chỉ kết nối các nền kinh tế năng động tại Đông Á với Tây Âu, mà còn vươn tới các quốc gia Trung Á – nơi mà tầm ảnh hưởng của Nga đang trên đà sụt giảm. Sáng kiến này cũng có thể giúp xoa dịu các căng thẳng về tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với một số nước láng giềng của mình.

Cho đến nay, những nỗ lực tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc dường như đang phát huy hiệu quả, không chỉ trong khối các nước đang phát triển. Gần đây Vương quốc Anh đã tuyên bố ý định tham gia với tư cách là một thành viên sáng lập AIIB, khuấy động một trào lưu xin gia nhập  từ nhiều nước như Úc, Braxin, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha.

Tuy nhiên, nước Mỹ lại coi những bước đi ấy là trở ngại về mặt địa chính trị cho mình. Quan điểm này về cơ bản là một sai lầm. Xét đến cùng, chính việc các nước phát triển từ chối trao cho Trung Quốc vai trò tương xứng với sức mạnh kinh tế của nước này đã đẩy Trung Quốc tới quyết định bỏ qua các định chế tài chính quốc tế ra đời sau Thế chiến II.

Lấy ví dụ như trong trường hợp Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản và Mỹ mỗi bên luôn nắm giữ 13% số phiếu biểu quyết, trong khi con số này của Trung Quốc chỉ là chưa đầy 6%, chưa kể đến việc chủ tịch Ngân hàng luôn là người Nhật Bản. Tương tự, người nắm quyền cao nhất ở Ngân hàng Thế giới luôn là người Mỹ, và Giám đốc điều hành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế luôn là người châu Âu. Kể cả khi khối G-20 có một bước đi nhỏ đúng hướng là đồng ý tăng tỉ lệ phiếu bầu của Trung Quốc từ 3,65% lên 6,19% vào năm 2010, Quốc hội Mỹ lại từ chối phê chuẩn thỏa thuận này, chặn đứng việc tiến hành những cải cách đó.

Sự thật ở đây là sáng kiến mới của Trung Quốc không mang tính xét lại, mà là phản kháng. Nếu các cường quốc mới không được tiếp cận các kiến trúc quản trị toàn cầu đang tồn tại, họ sẽ tự tạo ra các hệ thống khác cho riêng mình. Điều này cũng có nghĩa là các nước phát triển có khả năng ngăn chặn việc trật tự thế giới bị vỡ vụn thành nhiều khối tư tưởng và kinh tế – nhưng chỉ khi họ có thể vượt qua sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc.

Theo đó, sự tham gia của các nước châu Âu vào AIIB là một bước đi tích cực, vì nó giúp đảm bảo rằng ngân hàng mới này sẽ hỗ trợ chứ không cạnh tranh với các thể chế tài chính hiện hành. (Thực tế, ảnh hưởng của châu Âu sẽ còn lớn hơn nữa nếu bản thân liên minh này, chứ không phải các nước thành viên đơn lẻ, có được sự hiện diện ở AIIB, như đã có ở G-20 và Tổ chức Thương mại Thế giới.)

Phương Tây phải làm nhiều điều, không chỉ là chào mừng Trung Quốc tham gia vào hệ thống quản trị toàn cầu, mà còn phải thừa nhận và hợp tác với các định chế mà Trung Quốc đang kiến tạo nên. Chỉ có thể bằng thái độ cởi mở, phương Tây mới có thể đảm bảo rằng những thể chế do Trung Quốc dẫn dắt sẽ áp dụng các quy chuẩn về đa phương hóa và trách nhiệm giải trình, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và môi trường.

Hiện tại là thời điểm lý tưởng để bắt đầu những công việc đó. Vì nếu châu Âu, Mỹ, và Trung Quốc có thể dung hòa các ý định của mình sao cho phù hợp với các lợi ích chung trong năm nay thì họ sẽ ở tư thế sẵn sàng để tận dụng tối đa Hội nghị thượng đỉnh G-20 tại Trung Quốc vào năm 2016.

Việc Trung quốc tham gia vào các tiến trình đa phương là một tín hiệu tích cực đối với thế giới. Châu Âu – và đặc biệt là nước Mỹ – phải vượt qua được sự mất lòng tin chiến lược đối với Trung Quốc. Để tối đa hóa việc chia sẻ lợi ích, họ không được phép phung phí cơ hội tham gia vào và định hình các tiến trình này.

Biên dịch: Nguyễn Thị Thanh Xuân | Hiệu đính: Phạm Trang Nhung

Nguồn: Javier Solana, “China and Global Governance”, Project Syndicate, 30/3/2015

Javier Solana nguyên là Đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu phụ trách chính sách Đối ngoại và An ninh, Tổng thư ký NATO, và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Tây Ban Nha.

Advertisements

Trung Quốc dè chừng các ông trùm mới – Phần cuối


Ông Guo, người đang chạy trốn các cáo buộc tham nhũng ở Trung Quốc, đã hứa hẹn sẽ tiết lộ nhiều thông tin hơn – như ông đã nói trên YouTube, được chứa trong “91 thư mục và 18 đoạn băng ghi hình” mà ông đã mang ra khỏi Trung Quốc khi ông rời đi vào năm 2015. Tháng 10, Facebook đã chặn hồ sơ trực tuyến của ông, nói rằng nó chứa thông tin cá nhân của người khác mà không được họ cho phép. Khi đó Viện nghiên cứu Hudson, một tổ chức tư vấn ở Washington, đã hoãn một sự kiện có ông Guo tham gia, ông nói rằng ông nghi ngờ đó là do sức ép từ Chính phủ Trung Quốc. (Một phát ngôn viên của Viện nghiên cứu Hudson cho biết đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ đà phàn nàn về sự kiện có ông Guo tham gia nhưng nói rằng nó đã bị hủy bỏ do viện này “lên kế hoạch chưa chu đáo”).

Hiện giờ, ông Guo là một người ngoài cuộc. Không mấy ai trong số các nhà lãnh đạo doanh nghiệp lớn của Trung Quốc – từ những kẻ cướp trong lốt ông trùm cho đến những người nhìn xa trông rộng thực sự – dám thách thức trực tiếp ban lãnh đạo đảng. Đối với nhiều người, tư cách đảng viên và các mối quan hệ của họ đã trở thành những con đường dẫn đến các khoản vay ngân hàng giá rẻ, sự thăng tiến và giàu có.

Theo Barry Naughton, một chuyên gia về kinh tế Trung Quốc thuộc Đại học California, San Diego, “Các công ty tư nhân được trao một sự lựa chọn rất rõ ràng: Anh có thể kiếm tiền, nhưng anh phải thừa nhận uy thế của Đảng Cộng sản”.

ĐCSTQ đã mất một thời gian dài để tuyên bố sự quan tâm của mình dành cho giới kinh doanh. Đầu những năm 1980, một vài năm sau khi Đặng Tiểu Bình phát động các cải cách thị trường mang tính chuyển đổi của mình. Điều lệ đảng vẫn khoe khoang về “ưu thế vượt trội không gì sánh được của chủ nghĩa xã hội so với hệ thống tư bản chủ nghĩa”. Các quan chức địa phương, lo lắng về việc phát hiện ra các doanh nghiệp tư nhân đang phát triển mạnh mẽ giữa họ, đã thường tham vấn Đặng Tiểu Bình trước khi cho phép các doanh nghiệp này tiếp tục kinh doanh.

Đảng đã không vượt quá giới hạn về ý thức hệ cho đến đầu thế kỷ 21, khi các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận ra rằng họ rất cần giới doanh nghiệp tư nhân để tạo thêm nhiều việc làm hơn khi khu vực nhà nước bị thu hẹp. Giang Trạch Dân, nhà lãnh đạo đảng từ năm 1989 đến 2002, đã đưa ra những sửa đổi trong các văn kiện của đảng để đưa giới doanh nghiệp tư nhân lên một nền tảng chính trị vững chắc hơn. Giang Trạch Dân tuyên bố: “Các doanh nhân đều là những nhà kiến tạo chủ nghĩa xã hội đặc sắc của Trung Quốc”.

Dù vậy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn thận trọng về chủ nghĩa tư bản không bị ràng buộc. Trong thập kỷ qua, các quan chức Trung Quốc ở mọi cấp bậc đã bị buộc phải tham dự các buổi nghiên cứu về sự sụp đổ của Liên Xô và hậu quả của nó, cùng với sự trỗi dậy của một tầng lớp đầu sỏ chính trị mới của Nga trở nên giàu có nhờ thực sự đánh cắp của cải nhà nước.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã theo dõi trong nỗi kinh hoàng khi Liên Xô tan rã và các tài sản của Liên Xô bị tư hữu hóa. Chứng kiến giới kinh doanh đe dọa tiếp quản nhà nước ở Nga, các quan chức ở Trung Quốc đã quyết định làm điều ngược lại. Trong 2 thập kỷ vừa qua, Bắc Kinh đã cố gắng “thực dân hóa” khu vực tư nhân để đảm bảo các doanh nhân nằm dưới sự kiểm soát.

Theo Jude Blanchette đến từ Trung tâm Kinh tế và Kinh doanh Trung Quốc thuộc tổ chức nghiên cứu kinh tế Conference Board, “đảng đang cố gắng tính toán xem sợ dây kiểm soát nên dài bao nhiêu. Nếu quá ngắn, anh sẽ đè nén tăng trưởng. Nếu quá dài, anh sẽ mất quyền kiểm soát”.

Các doanh nhân được khuyến khích gia nhập đảng, vốn từ lâu đã tự coi mình là mái nhà cho công nhân, binh lính và nông dân. Theo số liệu riêng của họ, năm 2016, khi số lượng đảng viên là doanh nhân tăng vọt, nam và nữ doanh nhân chiếm hơn 8% trong tổng số 89,5 triệu đảng viên. Một nghiên cứu vào năm 2015 của Curtis Milhaupt đến từ Trường Luật Columbia và Wentong Zheng đến từ Trường Luật thuộc Đại học Florida cho thấy 95 người trong số các nhà sáng lập hay người kiểm soát thực tế 100 doanh nghiệp tư nhân hàng đầu và 8 trên 10 lãnh đạo của các công ty Internet hàng đầu của Trung Quốc từng là thành viên của các tổ chức chính trị do đảng lãnh đạo.

Yashung Huang, một chuyên gia về Trung Quốc tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) cho biết đảng “đã tìm ra cách để hợp nhất khu vực tư nhân một cách tương đối hiệu quả”. Ông đã viện dẫn quyền kiểm soát của khu vực nhà nước đối với những lĩnh vực như tài chính, thép và điện lực như một đòn bẩy để áp đặt quyền định giá mạnh mẽ đối với ngành kinh doanh. “Có nhiều công cụ kinh tế mà họ có thể áp dụng đối với khu vực tư nhân”.

Việc đảng nhắm mục tiêu vào các ông trùm không phải chỉ dựa vào các cáo buộc tham nhũng. Với hàng chục tỷ USD chảy ra nước ngoài trong những năm gần đây để tìm kiếm các tài sản nước ngoài, Bắc Kinh lo sợ rằng một sự sụt giảm về dự trữ ngoại hối sẽ gây mất ổn định cho hệ thống tiền tệ Trung Quốc. Các quan chức cấp cao cũng lo ngại rằng cơn sốt giao dịch sẽ kết thúc tương tự như cách mà Nhật bản đã làm vào đầu những năm 1990, với số tiền khổng lồ bị lãng phí vào các tài sản bị đẩy giá.

Bắc Kinh đã nỗ lực đặc biệt để giữ những gã khổng lồ trong ngành công nghiệp Internet của Trung Quốc trong tầm kiểm soát, bao gồm Robin Li của Baidu và đặc biệt là Jack Ma của Alibaba và Pony Ma của Tencent. 3 công ty này – lần lượt là công cụ tìm kiếm, nền tảng thương mại điện tử và dịch vụ gửi tin nhắn và truyền thông xã hội chủ đạo của Trung Quốc – thường được gọi chung ở Trung Quốc bằng tên viết tắt là BAT. Chỉ trong vài năm, nhờ có công cụ tìm kiếm trực tuyến và thanh toán điện tử, các công ty này đã trở thành một kho lưu trữ dữ liệu hiệu quả theo thời gian thực mà bộ máy an ninh nhà nước rộng khắp của Trung Quốc hẳn là chỉ có thể mơ ước được sở hữu.

Các gã khổng lồ công nghệ của Trung Quốc là những nhà lãnh đạo thế giới trong lĩnh vực thanh toán qua điện thoại di động, và họ cũng làm việc với chính phủ về trí tuệ nhân tạo, trao cho nhà nước Trung Quốc nhiều công cụ giám sát hơn, bao gồm cả các công cụ nhận diện khuôn mặt. Các công ty Trung Quốc đang sử dụng trí tuệ nhân tạo để cố gắng lên kế hoạch và dự đoán hành vi của người tiêu dùng; chính phủ muốn sử dụng các công cụ tương tự để đoán trước sự bất đồng chính kiến và ngăn chặn nó. Việc xóa bỏ tiền mặt khiến chính phủ dễ dàng theo dõi các hoạt động thanh toán và người dân của họ hơn.

Cả Baidu và Tencent đều cảm nhận được cơn thịnh nộ của chính phủ gần đây. Năm 2016, Baidu bị điều tra vì bán thứ hạng trên công cụ tìm kiếm của họ; Tencent bị buộc phải đặt giới hạn thời gian cho trò chơi trên điện thoại di động có doanh thu cao nhất của họ sau những chỉ trích của truyền thông nhà nước rằng nó gây nghiện theo hướng có hại. Cả 2 công ty đều bị điều tra vì cáo buộc vi phạm an ninh mạng.

Jack Ma, người thẳng thắn và nổi tiếng nhất trong số những nhà lãnh đạo cao nhất của các công ty công nghệ, hầu như đã tránh xa rắc rối với chính quyền. Người sáng lập Alibaba muốn nói rằng ở Trung Quốc, các doanh nghiệp cần tránh làm ăn với các quan chức chính phủ. Ông nói: “Hãy yêu họ, nhưng đừng kết hôn với họ”.

Chưa thỏa mãn với việc đe dọa các công ty công nghệ, chính phủ hiện đang hối thúc những công ty như Alibaba và Tencent bán cổ phần trong những công ty này và dành một ghế trên bàn đàm phán cho Bắc Kinh khi đưa ra các quyết định kinh doanh. Chính phủ có lẽ cũng sẽ nhận được dòng lợi tức ổn định từ phần vốn của mình.

Bất chấp những lo ngại của Tập Cận Bình về các ông trùm, sự nghiệp của ông hẳn đã giúp ông biết trân trọng vai trò mà giới kinh doanh có thể nắm giữ trong việc làm cho Trung Quốc – và đảng – trở nên vĩ đại một lần nữa. Từ năm 1985 đến năm 2007, ông đã được bổ nhiệm làm việc ở tỉnh Phúc Kiến và Chiết Giang, hai tỉnh ven biển phía Nam Thượng Hải, và là một trong số những nhà lãnh đạo có tinh thần doanh nhân cao nhất ở Trung Quốc. Theo Nicholas Lardy thuộc Viện kinh tế quốc tế Peterson, một cơ quan cố vấn của Washington: “Tôi nghĩ rằng dựa vào những nơi ông từng phục vụ, ông ấy được cho là có một ý tưởng rất tốt về cách thức hoạt động của khu vực tư nhân và tầm quan trọng của nó, nhưng rất khó để thấy điều đó”.

Tầm nhìn của Tập Cận Bình dường như không phải tầm nhìn về hoạt động kinh doanh tự do. Phát biểu gần đây về khu vực tư nhân của Trung Quốc, ông tuyên bố rằng các doanh nhân nợ đất nước của họ một nghĩa vụ chính trị. Ông nói rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần “tăng cường việc tự học hỏi, tự rèn luyện và tự cải thiện”.

Tập Cận Bình nói thêm: “Họ không nên cảm thấy không thoải mái với yêu cầu này. Đảng Cộng sản có những yêu cầu tương tự và nghiêm khắc hơn đối với các nhà lãnh đạo của họ”.

Nguồn: The Wall Street Journal – 13/10/2017

TLTKĐB – 25/10/2017

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần cuối


Không gian nỗ lực của “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam

Mặc dù các doanh nghiệp Đài Loan kinh doanh ở Việt Nam nhiều năm, đầu tư vào Việt Nam vẫn có không gian tăng trưởng nhất định, nhưng cùng với sự thay đổi môi trường kinh doanh của Việt Nam, các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam sẽ đối mặt với trở ngại nhiều hơn. Tập đoàn Formosa Đài Loan đầu tư vào Việt Nam gặp thất bại bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, cho thấy các loại trở ngại ẩn giấu mà doanh nghiệp Đài Loan phải đối mặt khi đầu tư ở Việt Nam đã hạn chế sự phát triển của các doanh nghiệp Đài Loan một cách nghiêm trọng. Ngay cả đầu tư của doanh nghiệp lớn như tập đoàn Formosa Đài Loan cũng gặp trắc trở, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Đài Loan nếu muốn đầu tư ở Việt Nam thì mức độ khó khăn lớn như thế nào có thể tưởng tượng được. Ngoài phương diện đầu tư, mục tiêu mà nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có ý đồ dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để tăng cường quan hệ thực chất với Việt Nam cũng khó có thể thực hiện được.

Tuy những năm gần đây Trung Quốc và Việt Nam tồn tại tranh chấp trong vấn đề Nam Hải (Biển Đông), nhưng xét về tổng thể phát triển tương đối ổn định. Trung – Việt đã đạt được tiến triển quan trọng trong việc hợp tác “Vành đai và Con đường”. Đầu năm nay hai bên đã ký kết “Thông cáo chung Trung Quốc – Việt Nam”, “Việt Nam khẳng định kiên trì chính sách một nước Trung Quốc; ủng hộ quan hệ hai bờ phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc; kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất kỳ quan hệ chính thức nào với Đài Loan”. Thái độ bày tỏ rõ ràng của Chính phủ Việt Nam đã ngăn chặn khả năng nhà lãnh đạo Thái Anh Văn muốn dựa vào chính sách “hướng Nam mới” để thực hiện sự “đột phá chính trị”. Nhưng xét về xu thế tương lai, “chính sách hướng Nam mới” của nhà cầm quyền Thái Anh Văn vẫn có thể tập trung ở những lĩnh vực sau:

Một là xóa bỏ dần trong tư tưởng của người dân Việt Nam về kết cấu “Một nước Trung Quốc” của Trung Quốc Đại lục. Chuyến thăm Việt Nam lần này, tác giả bài viết đã cảm nhận được rằng Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc rất sâu sắc. Tác giả bài viết đã nói chuyện với một số doanh nhân Đài Loan, họ nói rằng trong sách giáo khoa lịch sử Việt Nam đã ghi chép rõ ràng rằng Đại lục và Đài Loan cùng thuộc một nước Trung Quốc, khiến cho kết cấu “Một nước Trung Quốc” đặt nền tảng khá vững chắc trong tư tưởng người dân Việt Nam. Tháng 5/2014, khi Việt Nam xảy ra làn sóng bạo động chống Trung Quốc, nhiều người Việt Nam cũng có hành động phá phách cướp bóc đối với các doanh nghiệp Đài Loan, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan bị tổn thất nghiêm trọng. Nhà lãnh đạo Quốc dân đảng Đài Loan xuất phát từ suy nghĩ tự bảo vệ mình, đã đưa ra khẩu hiệu và biểu ngữ không vẻ vang như “doanh nghiệp Đài Loan không phải là doanh nghiệp Trung Quốc”, “Đài Loan và Trung Quốc là hai nước khác nhau”… Theo giới thiệu của người nhà doanh nghiệp Đài Loan ở địa phương, kể từ sau sự kiện đó, ngày càng nhiều người Việt Nam “phân biệt rõ ràng 2 bờ eo biển Đài Loan”, nền tảng dư luận “2 bờ eo biển cùng thuộc về một nước Trung Quốc” ở trong nước Việt Nam có sự dao động. Điều có thể thấy trước là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn biết rõ rằng dường như không thể thách thức chính sách “Một nước Trung Quốc” của Chính phủ Việt Nam trong tương lai, rất có thể sẽ tuân theo mô hình này, trên nhiều lĩnh vực xóa bỏ dần nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam.

Hai là lợi dụng sự liên kết xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam để tăng cường giao lưu với người dân Việt Nam. Trải qua hàng chục cuộc giao lưu, sự liên kết văn hóa xã hội giữa Đài Loan và Việt Nam ngày càng mật thiết, đã hình thành “dân tộc Đài – Việt”  với số lượng khả quan. Chẳng hạn như số lượng công nhân Việt Nam ở Đài Loan đã vượt trên 180.000 người, các cô dâu Việt Nam ở Đài Loan cũng vượt trên 100.000 người, những nhóm này đều sẽ trở thành mục tiêu chủ yếu để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn tăng cường “chính sách hướng Nam mới”. Đặc biệt là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn trong thời gian tới chắc chắn sẽ tăng cường tác động tới “thế hệ thứ hai Đài – Việt” (thế hệ tiếp nối của đàn ông Đài Loan với cô dâu Việt Nam), lợi dụng họ thông thuộc hai thứ tiếng, mạng lưới quan hệ xã hội ở 2 nơi Đài Loan – Việt Nam để tăng cường mối liên hệ văn hóa xã hội Đài Loan – Việt Nam… Điều đáng quan tâm là trong bối cảnh tỷ lệ sinh ở xã hội Đài Loan hạ thấp, tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình mà đàn ông Đài Loan kết hôn với các cô dâu Đông Nam Á lấy Việt Nam làm đại diện lại tương đối cao, khiến cho tỷ lệ cái gọi là “thế hệ Đài Loan mới” trong cơ cấu dân số, đặc biệt là khu vực Trung, Nam bộ có xu thế tiếp tục tăng lên, được dư luận bên ngoài cho là “nhóm dân tộc thứ 5” chỉ xếp sau người Mân Nam, người Khánh Gia, người ngoại tỉnh và người bản địa. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng sâu rộng đến kết cấu xã hội, môi trường chính trị của Đài Loan trong tương lai.

Ba là nhà lãnh đạo Thái Anh Văn có thể thúc đẩy ký kết thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng, tính cục bộ với Việt Nam. Trước tình hình ký kết hiệp định thương mại tự do với Việt Nam về cơ bản vô vọng, Chính quyền Thái Anh Văn xuất phát từ suy nghĩ thúc đẩy doanh nghiệp Đài Loan đầu tư vào Việt Nam, đi sâu hợp tác kinh tế song phương…, thúc đẩy có trọng điểm thỏa thuận kinh tế thương mại mang tính chức năng với Việt Nam. Tuy vào thập niên 90 của thế kỷ 20, Đài Loan và Việt Nam đã ký kết một thỏa thuận mang tính chức năng như đảm bảo đầu tư…, nhưng một số thỏa thuận cần thay đổi nâng cấp, năm 2014 sau khi các doanh nghiệp Đài Loan bị ảnh hưởng bởi “cuộc bạo động chống Trung Quốc”, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa có sự đền bù hợp lý cần có, dự kiến trong tương lai việc thúc đẩy ký kết các thỏa thuận như đảm bảo đầu tư phiên bản nâng cấp… sẽ trở thành trụ cột để Chính quyền Thái Anh Văn tăng cường hợp tác kinh tế với Việt Nam.

Xây dựng “Vành đai và Con đường” có sức hút khá mạnh đố với các doanh nghiệp Đài Loan ở Việt Nam

Qua chuyến thăm Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng các doanh nghiệp Đài Loan ở nơi đó, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc Đại lục sang có tình cảm rất sâu sắc đối với Trung Quốc Đại lục, vẫn có mối liên hệ kinh tế khá mạnh với Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan sau khi sang Việt Nam đầu tư vẫn thuê một số lượng lớn cán bộ quản lý quốc tịch Đại lục, đồng thời đặt các bộ phận cốt lõi như nghiên cứu phát triển, thiết kế, mua sắm… ở Đại lục. Có thể nói những doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch sang Việt Nam này không phải là các doanh nghiệp Đài Loan đơn thuần, ở mức độ nào đó đã trở thành “hiệp hội doanh nghiệp hai bờ eo biển”. Những doanh nghiệp này kỳ vọng rất lớn đối với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”, hy vọng dựa vào việ xây dựng “Vành đai và Con đường” để tiến vào khu công nghiệp mà Đại lục thành lập ở Việt Nam, đồng thời mong muốn có thể được sự bảo hộ lãnh sự và ủng hộ chính sách của Đại lục. Nhiều doanh nghiệp Đài Loan cho rằng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc Đại lục ở Việt Nam rất lớn, “chính sách hướng Nam mới” của Chính quyền Thái Anh Văn và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc Đại lục hoàn toàn không phải là cùng cấp độ, triển vọng tương lai của các doanh nghiệp Đài Loan đáng lo ngại.

Xét về tổng thể, trong bối cảnh quan hệ Trung – Việt duy trì ổn định và việc xây dựng “Vành đai và Con đường” tăng cường thúc đẩy, Chính quyền Thái Anh Văn ra sức thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới” ở Việt Nam khó có thể đạt được hiệu quả thực chất trên phương diện chính trị và “ngoại giao”. Nhưng cùng với nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phát triển nhanh chóng, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam tuy đối mặt với ngày càng nhiều trở ngại, mà khó có thể tái hiện được tình hình phát triển tốc độ cao như trước đây, nhưng vẫn có không gian tăng trưởng khá lớn, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam trong tương lai có hy vọng tiếp tục phát triển sâu sắc. Dựa vào đó, nhà lãnh đạo Thái Anh Văn rất có thể sẽ dựa vào hoạt động của các doanh nghiệp thị trường đầu tư vào Việt Nam để rêu rao thành tích chính trị “chính sách hướng Nam mới” của bà ở Đài Loan nhằm dựa vào đó để đạt được nhiều lợi ích hơn trên các phương diện như bầu cử… Đồng thời, Chính quyền Thái Anh Văn rất có thể dựa vào “chính sách hướng Nam mới” để thúc đẩy hợp tác giao lưu trên một loạt phương diện như văn hóa, giáo dục, y tế…, ở Việt Nam, nhằm từng bước xóa bỏ nhận thức “Một nước Trung Quốc” của người dân Việt Nam. Đối với vấn đề này, phía Đại lục cần phải coi trọng và đề phòng cao độ.

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

Trung Quốc dè chừng các ông trùm mới – Phần đầu


Lo sợ sự trỗi dậy của giới đầu sỏ chính trị kiểu Nga, Tập Cận Bình lên kế hoạch nhắc nhở tầng lớp doanh nhân giàu có của Trung Quốc rằng ai mới thực sự là người nắm quyền kiểm soát.

Trước khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) bầu ông làm người lãnh đạo Trung Quốc trog nhiệm kỳ 5 năm lần 2, Tập Cận Bình dường như làm chủ tất cả những gì ông bao quát. Ông đã tập trung chính sách kinh tế và an ninh quốc gia dưới quyền của mình. Quân đội và cảnh sát được kiểm soát chặt chẽ. Hàng loạt quan chức tham nhũng – một vài trong số đó là các đối thủ chính trị, những người khác bị bắt ngay khi đang nhận hối lộ – đã bị tống giam. Những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động đã bị gạt sang bên lề hoặc bị giam giữ.

Nhưng cuộc chiến chính trị có sức ảnh hưởng lớn nhất của Tập Cận Bình hiện nay hầu như không nhận được sự chú ý. Vì ông đã siết chặt quyền kiểm soát đối với đảng và quân đội, nên giờ đây nhóm đối thủ thực sự tiềm tàng duy nhất mà ông phải đối mặt là tầng lớp doanh nhân giàu có mới nổi của Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo ĐCSTQ từ lâu đã được biết đến là lo sợ sự sụp đổ kiểu Liên Xô, nhưng Tập Cận Bình và các đồng sự cấp cao của ông đang lo lắng không kém về việc lặp lại những hậu quả xảy ra sau đó: sự trỗi dậy của giới đầu sỏ chính trị của Nga, những người giành giật quyền kiểm soát các tài sản nhà nước và tự biến mình thành tỷ phú và những bên tham gia chính trị quyết đoán. Tập Cận Bình quyết tâm không để điều đó xảy ra ở Trung Quốc.

Một số ông trùm mới của Trung Quốc đã thách thức nhà nước; những người khác đã quy phục sau các cuộc đụng độ với chính quyền, hầu hết đều cúi đầu và tập trung vào việc kiếm tiền. Nhưng dù những doanh nhân này có chống đối Tập Cận Bình hay không, thì Tập Cận Bình cũng quyết định phải chặn trước bất kỳ mối đe dọa nào bằng cách gây chiến với họ trước.

Chiến dịch của Tập Cận Bình nhằm chi phối khu vực tư nhân dường như đã bắt đầu một cách nghiêm túc vào tháng 6, với sự biến mất của vị doanh nhân “có máu mặt”, người đã trở thành nhân vật điển hình cho những ông trùm trong nước dẫn đầu một làn sóng mạnh mẽ mới thực hiện các thương vụ ở nước ngoài. Wu Xiaohui, chủ tịch tập đoàn bảo hiểm Anbang, đã đi con đường tương tự như những đảng viên cộng sản khi gặp rắc rối với chế độ này, biến mất trong hệ thống giam giữ ngoài vòng pháp luật của đảng mà không có một lời giải thích chính thức.

Chỉ vài tháng trước đó, ông Wu đã dẫn dắt các cuộc đàm phán để chi 14 tỷ USD mua tập đoàn khách sạn và khu nghỉ dưỡng toàn cầu Starwood trước khi thương vụ này thất bại. Vẫn chưa có tin tức của ông Wu kể từ vụ bắt giữ; không có cáo buộc nào được đưa ra.

Theo Andy Rothman, một nhà chiến lược đầu tư thuộc quỹ Matthews Asia ở San Francisco, từ một khởi đầu gần như đứng im vào những năm 1990, các doanh nhân hiện nay đóng góp 3/4 sản lượng kinh tế của Trung Quốc và sử dụng hơn 80% lao động ở các thành phố. Ông Rothman cho biết: “Khu vực tư nhân đã chi phối nền kinh tế Trung Quốc trong thập kỷ vừa qua và mãi mãi trong tương lai. Điều này không có gì phải bàn cãi. Có nhiều người ở Berkeley, nơi tôi sinh sống, tin vào học thuyết Marx – Lenin hơn là ở Bắc Kinh”.

Nhưng trong khi tầng lớp doanh nhân mới của Trung Quốc có thể không tin vào Marx – thì các nhà lãnh đạo của họ có những ý tưởng khác. Phát biểu trong một cuộc họp các quan chức cấp cao của đảng vào tháng 9, Tập Cận Bình nói: “Nếu chúng ta xa rời hay từ bỏ chủ nghĩa Marx, đảng của chúng ta sẽ mất đi linh hồn và phương hướng”. Cũng trong tuần đó, đảng và chính phủ đã ban hành một tuyên bố chung lần đầu tiên xác định những phẩm chất thiết yếu của “giới doanh nghiệp Trung Quốc”. Đứng hàng đầu là “lòng yêu nước”.

Tại đại hội đảng năm nay diễn ra vào ngày 8/10 tại Bắc Kinh, hiểu biết thông thường cho rằng thách thức kinh tế trọng tâm của Tập Cận Bình là tiếp sinh lực cho các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc đang mở rộng bừa bãi và thua lỗ, chỉ tập trung vào ngành công nghiệp nặng và các dịch vụ công cộng. Nhưng quan điểm này khiến cho vấn đề này trở nên mâu thuẫn. Rất khó để cải cách các dự án kinh doanh không hiệu quả của nhà nước, nhưng chúng luôn là một phần trong hệ thống của Trung Quốc, với ban quản trị cấp cao do đảng tuyển dụng và sa thải.

Tuy nhiên, khu vực tư nhân được hình thành bên ngoài tầm kiểm soát của đảng. Mượn sự tương đồng từ lý thuyết địa chính trị phổ biến với tên gọi “Cái bẫy Thucydides”, các doanh nhân Trung Quốc chính là thế lực đang lên được sinh ra để tranh đấu với quyền lực đã được thiết lập của đảng và nhà nước. Ông Ding Xueliang thuộc Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong cho biết: “Rõ ràng từ trước thời đại của Tập Cận Bình, nếu các doanh nhân tìm cách sử dụng mạng lưới kinh doanh của họ để giành quyền lực chính trị, thì đảng sẽ nhanh chóng ngăn chặn họ. Nhưng đảng không thể mãi kiểm soát tất cả mọi người trong khu vực tư nhân của Trung Quốc”.

Khi khu vực tư nhân của Trung Quốc nở rộng, nhà nước đã củng cố phần cốt lõi của chủ nghĩa Lenin, mà chỉ ra rằng không trung tâm quyền lực nào được phép đối nghịch với đảng Cộng sản. Việc giam giữ ông Wu – và “quấy rối” các doanh nhân giàu có khác – dường như là một phần nhỏ trong cuộc đấu tranh sắp tới giữa đảng và tầng lớp doanh nhân.

Từng là một chủ đại lý ô tô kết hôn với cháu gái của cựu lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, ông Wu đã rút khỏi một số thương vụ lớn ở nước ngoài, bao gồm việc mua lại Khách sạn Waldorf Astoria nổi tiếng ở New York vào năm 2014. 18 tháng trước khi “thân bại danh liệt”, công ty của ông đã chi tiêu hơn 20 tỷ USD. Sự nổi tiếng, những mối quan hệ sâu sắc và những thương vụ táo bạo của ông dường như đã khiến ông trở thành mục tiêu cho ban lãnh đạo đang muốn nhắc nhỏ tầng lớp CEO mới nổi của Trung Quốc rằng ai mới thực sự là người nắm quyền kiểm soát.

Một số ông trùm khác đang điều hành những công ty tư nhân lớn cũng bị nghi ngờ cùng thời điểm đó. Vào tháng 7, Tập Cận Bình đã ngăn không cho các ngân hàng quốc doanh Trung Quốc trao cho Tập đoàn Dalian Wanda, sở hữu chuỗi rạp chiếu phim AMC, các khoản cho vay mới để mở rộng ra nước ngoài. Wang Jianlin, chủ tịch của công ty này đồng thời cũng là một tỷ phú, đã rút khỏi các dự án lớn ở nước ngoài dưới sức ép của chính phủ và đã đưa ra tuyên bố bác bỏ lệnh cấm đi lại sau khi giá cổ phiếu của công ty này sụt giảm do tin đồn rằng ông bị cấm rời khỏi Trung Quốc.

Tương tự, tỷ phú Guo Guangchang – mà Tập đoàn Fosun của ông ở Thượng Hải đã mua lại tập đoàn sở hữu chuỗi khu nghỉ dưỡng Club Mediterranée và có cổ phần trong Cirque du Soleil đã nhiều lần buộc phải lên tiếng phủ nhận việc ông bị giam giữ sau những tin đồn lan truyền trên mạng và các tờ báo địa phương. Vào một thời điểm trong năm 2015, ông Guo đã tới New York, cố tình đăng một tấm ảnh bản thân lên mạng để chứng tỏ rằng ông vẫn tự do – và vẫn làm việc.

Trước đại hội đảng, Tập Cận Bình đã có một kinh nghiệm đau đớn với những gì có thể xảy a khi một doanh nhân trở nên “bất hảo”. Từ căn hộ xa hoa của mình ở Manhattan, Guo Wengui, một nhà đầu tư bất động sản trước đây ở Bắc Kinh, đã tấn công tới tấp Bắc Kinh bằng những tiết lộ khủng khiếp – trong các cuộc phỏng vấn qua video và các bài đăng trên Twitter được thảo luận rộng rãi – về cáo buộc tham nhũng cấp cao và các ủy viên Bộ Chính trị có con ngoài giá thú. Không phải toàn bộ những tuyên bố đôi khi kỳ quặc của ông về các nhà lãnh đạo Trung Quốc đều có thể được xác nhận một cách độc lập, nhưng quan hệ của doanh nhân lưu vong này với các cựu quan chức cấp cao – đáng chú ý là Ma Jian, một cựu gián điệp hiện nay đang ở trung tù sau một vụ hối lộ và điều tra lạm dụng quyền lực – đã trao cho ông quyền lực nào đó.

(còn tiếp) 

Nguồn: The Wall Street Journal – 13/10/2017

TLTKĐB – 25/10/2017

Việt Nam: Mục tiêu quan trọng trong chính sách “Hướng nam mới” của Đài Loan – Phần đầu


Việt Nam, nằm ở phía Đông bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, diện tích khoảng 330.000 km2, gấp khoảng 9 lần Đài Loan; dân số gần 100 triệu người, khoảng gấp 4 lần Đài Loan, là quốc gia có ảnh hưởng lớn trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Việt Nam kể từ khi thúc đẩy cải cách mở cửa vào giữa thập niên 80 của thế kỷ 20 đến nay, kinh tế phát triển nhanh chóng, đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế mới nổi thu hút sự chú ý của thế giới.

Kể từ sau thập niên 90 của thế kỷ 20, một số lượng lớn doanh nhân Đài Loan đổ sang Việt Nam, quan hệ kinh tế Đài Loan – Việt Nam ngày càng mật thiết. Dù là vào thời Lý Đăng Huy, Trần Thủy Biển hay Thái Anh Văn hiện đang nắm quyền, Việt Nam đều là mục tiêu chính được xác định trong “chính sách hướng Nam” của nhà cầm quyền Đài Loan. Theo quan điểm của nhà cầm quyền Đài Loan, tiềm lực kinh tế của Việt Nam rất lớn, ưu thế dân số vượt trội, là “thị trường lý tưởng” thúc đẩy các doanh nhân Đài Loan đầu tư, giảm bớt sự phụ thuộc kinh tế vào Đại lục. Cộng thêm các nhân tố như triển vọng kinh tế sáng sủa của Việt Nam kể từ khi cải cách mở cửa đến nay, sự liên kết vững chắc giữa Đài Loan và Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa xã hội… Việt Nam đã trở thành mục tiêu vô cùng quan trọng để nhà lãnh đạo Thái Anh Văn thúc đẩy “chính sách hướng Nam mới”.

Điểm nóng đầu tư của các doanh nhân Đài Loan

Đến các nơi như Hà Nội, TPHCM của Việt Nam, việc xây dựng cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp, phát triển đô thị ở khắp nơi cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang nhanh chóng khởi sắc như Trung Quốc Đại lục trong thời kỳ đầu của thế kỷ này. Nhìn ra xa, trong nhiều nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, quy mô đầu tư và tầm ảnh hưởng của các doanh nghiệp Hàn Quốc và Nhật Bản như Samsung, Lotte Mart, Honda… dường như lớn hơn so với các doanh nghiệp Đài Loan, “cảm giác tồn tại” rõ ràng mạnh hơn rất nhiều. Nhưng trên thực tế, kể từ sau giai đoạn giữa thập niên 90 của thế kỷ 20, Việt Nam luôn là điểm nóng đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan. Rõ ràng sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan đối với khối ASEAN vẫn dậm chân tại chỗ, ngày càng nhiều doanh nghiệp Đài Loan chuyển hướng sang Đại lục, nhưng trên thực tế đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam luôn duy trì ở trạng thái tăng trưởng khá nhanh. Chỉ có điều so sánh với tình hình đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Đại lục tăng lên nhanh chóng sau khi 2 bờ eo biển lần lượt gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào đầu thế kỷ này, Việt Nam dường như có phần “ảm đạm”. Nhưng khi điều tra nghiên cứu thực tế ở Việt Nam, tác giả bài viết phát hiện ra rằng trong việc đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào các nước Đông Nam Á, đầu tư vào Việt Nam có thể nói là nổi trội, “bám rễ” rất lâu và rất “âm thầm”.

Theo số liệu thống kê của các cơ quan chính thức ở Việt Nam, tính đến cuối tháng 4/2017, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam khoảng 2526 dự án với tổng mức đầu tư khoảng 31,84 tỷ USD, Đài Loan là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ tư tại Việt Nam chỉ đứng sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore, chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Cách đây 10 năm, Đài Loan trong một thời gian dài xếp vị trí thứ nhất về đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, tuy nhiên những năm gần đây cùng với sự đổ vào của các doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, vị trí xếp hạng của Đài Loan có phần sụt giảm. Nhưng do rất nhiều doanh nghiệp Đài Loan thích mượn việc đầu tư ở nước thứ 3 như quần đảo Virgin thuộc Anh, Singapore…, quy mô thực tế của đầu tư Đài Loan vào Việt Nam cao hơn so với thống kê chính thức của Việt Nam. Có cơ quan nghiên cứu thậm chí cho rằng nếu cộng với quy mô đầu tư qua nước thứ 3, quy mô đầu tư thực tế của Đài Loan vẫn xếp vị trí hàng đầu.

Xét từ bố cục ngành nghề, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở các ngành nghề truyền thống như dệt may thành phẩm, da giày, các sản phẩm nhựa và cao su, đồ dùng gia đình làm từ gỗ…; xét từ bố cục khu vực, đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực miền Nam lấy thành phố Hồ Chí Minh làm trung tâm, chủ yếu là ngành chế tạo gia công truyền thống. Những năm gần đây, tình hình đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam “tiến ra Bắc” ngày càng rõ rệt, trong đó đầu tư vào khu vực miền Trung Việt Nam chủ yếu lấy ngành công nghiệp nặng như dầu khí, gang thép…, đầu tư vào các ngành khoa học công nghệ cao như IT… ở khu vực miền Bắc lấy Hà Nội làm trung tâm. Đầu tư của doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam đã trực tiếp thúc đẩy thương mại song phương, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan vào Việt Nam, kim ngạch thương mại song phương năm 2016 tăng lên đến 13,3 tỷ USD.

Thông qua các cuộc thăm dò thực tế phát hiện ra rằng những năm gần đây số lượng các doanh nghiệp Đài Loan chuyển dịch từ Trung Quốc đại lục sang Việt Nam tăng lên rõ rệt. Đặc biệt là sau năm 2005, cùng với giá thành sản xuất như đất đai ở khu vực ven biển Đại lục, chi phí lao động… tăng lên và việc liên tiếp ban hành chính sách phúc lợi xã hội như “5 bảo hiểm và 1 quỹ” (bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm thai sản và quỹ tiết kiệm nhà ở)… nhiều doanh nghiệp Đài Loan hoạt động trong lĩnh vực sản xuất truyền thống ở Đại lục cảm thấy sức ép tăng lên gấp bội, do vậy lần lượt lựa chọn chuyển dịch sang Việt Nam đầu tư. Hiệp hội doanh nghiệp Đài Loan ở thành phố Hồ Chí Minh thậm chí dự đoán sau cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế, hơn 60% doanh nghiệp Đài Loan đầu tư ở khu vực miền Nam như thành phố Hồ Chí Minh đều chuyển dịch từ Đại lục sang, chủ yếu kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất gia công như dệt may, da giầy…

Môi trường đầu tư đang thay đổi nhanh chóng

Không còn nghi ngờ, sở dĩ Việt Nam trước đây có thể thu hút một số lượng lớn doanh nghiệp Đài Loan đổ vào, vừa vó liên quan mật thiết đến sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, vừa có liên quan đến giá thành sản xuất rẻ của Việt Nam. Ưu thế dân số của Việt Nam rất rõ rệt, lực lượng lao động chiếm trên 2/3 tổng dân số. Theo dự đoán của các tổ chức có liên quan của Liên hợp quốc, Việt Nam bước vào năm thứ 7 của giai đoạn dân số “vàng”, và có hơn 20 năm ưu thế dân số. Hiện nay, lương tháng của người lao động nói chung ở các tỉnh miền Nam Việt Nam chưa đầy 1000 NDT, khu vực kinh tế lạc hậu như miền Trung, Bắc chỉ khoảng 600 NDT, thấp hơn nhiều so với mức lương ở Trung Quốc Đại lục. Đồng thời, những năm gần đây Việt Nam tích cực phát triển nền kinh tế theo hướng xuất khẩu, đồng thời tham gia đàm phán “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương” (TPP) và “Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), đã thu hút không ít doanh nghiệp Đài Loan theo ngành nghề truyền thống như dệt may, da giày… đến đầu tư. Nhưng điều đáng quan tâm là những năm gần đây môi trường kinh doanh ở Việt Nam đang có những thay đổi phức tạp sâu sắc, một số ưu thế mà trước đây Việt Nam dựa vào để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đang dần kém đi, đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt Nam trong thời gian tới chắc chắn sẽ đối mặt với nhiều thách thức hơn. Một là giá thành sản xuất như nhân lực, đất đai ở Việt Nam… tăng lên nhanh chóng. Không còn nghi ngờ gì, đối với các doanh nghiệp Đài Loan, dân số trẻ ở Việt Nam nhiều, nguồn lao động dồi dào và giá cả rẻ là những nguyên nhân chủ yếu thu hút đầu tư của nước này. Khi tham quan thực địa một số doanh nghiệp đóng giày có vốn đầu tư của Đài Loan ở thành phố Hồ Chí Minh của Việt Nam, tác giả bài viết đã phát hiện ra lượng sử dụng công nhân ở những doanh nghiệp này rất lớn, mỗi một nhà xưởng đều có hàng nghìn công nhân lao động trẻ. Tuy nhiên, cùng với việc nhiều doanh nghiệp nước ngoài ồ ạt đầu tư sang Việt Nam những năm gần đây, một số khu vực ở Việt Nam tồn tại vấn đề “thiếu hụt nhân công” ở mức độ khác nhau, đặc biệt là ở khu vực có nước ngoài đầu tư nhiều như thành phố Hồ Chí Minh… Về mặt này đã tạo ra việc tuyển dụng công nhân của các doanh nghiệp rất khó tái hiện cảnh tượng như trước đây, đó là “trước cổng nhà máy dán thông báo tuyển công nhân thì có thể thu hút ồ ạt thanh niên”; mặt khác cũng nâng cao trực tiếp tiền lương của công nhân, gia tăng chi phí sử dụng lao động, đồng thời khiến cho một số công nhân tùy tiện “nhảy việc”, mang lại khó khăn nhất định cho việc kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, những năm gần đây giá cả đất đai ở Việt Nam tăng vọt, vô hình chung cũng nâng cao tiêu chuẩn tiến vào của các doanh nghiệp Đài Loan, đặc biệt là các doanh nghiệp Đài Loan dự định và Việt Nam.

Hai là chi phí ẩn khi đầu tư ở Việt Nam ngày càng tăng cao. Một mặt, đa số công nhân Việt Nam có lòng tự trọng khá cao, các doanh nghiệp Đài Loan về mặt quản lý kinh doanh thường đối mặt với vấn đề không thể thích nghi hoàn cảnh. Đặc biệt là một số doanh nghiệp Đài Loan sau khi đưa biện pháp kinh doanh ở Trung Quốc Đại lục sang Việt Nam thường phát sinh xung đột giữa người lao động và chủ lao động. Những năm gần đây tại Việt Nam liên tiếp phát sinh các sự việc bãi công, các doanh nghiệp Đài Loan phải đứng mũi chịu sào. Mặt khác, vấn đề tham những như vòi vĩnh mời ăn uống, cố ý gây khó dễ để kiếm lợi… ở một số khu vực ở Việt Nam ngày càng nổi rõ, làm nâng cao hơn nữa chi phí của các doanh nghiệp. Đặc biệt là yêu cầu bảo vệ môi trường ở trong nước Việt Nam những năm gần đây nhanh chóng trỗi dậy, khiến cho các doanh nghiệp Đài Loan chủ yếu làm nghề gia công truyền thống phải đối mặt với sức ép dư luận rất lớn. Năm 2016, Tập đoàn nhựa Formosa Đài Loan ở Việt Nam bị dư luận bên ngoài chỉ trích xả thải tùy tiện, khiến cho nguồn cá ven biển Việt Nam gặp tổn thất lớn và bị Chính phủ Việt Nam phạt nặng, trong đó các đoàn thể bảo vệ môi trường trong nước Việt Nam đã đóng vai trò rất quan trọng. Trước bối cảnh này, Chính phủ Việt Nam ngày càng có xu hướng thu hút các doanh nghiệp khoa học kỹ thuật tương đối cao của châu Âu, Mỹ, Nhật Bản…, mức độ coi trọng và chính sách ưu đãi dành cho các doanh nghiệp Đài Loan không còn như trước đây, từ đó khiến cho đầu tư của các doanh nghiệp Đài Loan vào Việt nam dần dần đối mặt với việc kiểm duyệt gắt gao “lựa chọn kêu gọi đầu tư”, tiêu chuẩn để một số doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc các ngành nghề truyền thống của Đài Loan đầu tư vào Việt Nam ngày càng cao.

Ba là sau khi TPP bị phá vỡ, đã ảnh hưởng tương đối đến mong muốn đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam của các doanh nghiệp nước ngoài. Việt Nam với tư cách là nước thành viên đàm phán TPP và RCEP, vài năm trước ở mức độ tương đối đã được hưởng lợi nhuận kỳ vọng “sắp gia nhập TPP”. Do TPP đã thiết lập quy tắc xuất xứ khắt khe “từ sợi trở đi” trong lĩnh vực dệt may, đã thu hút một số lượng lớn doanh nghiệp dệt may nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Nhưng sau khi Donald Trump lên nắm quyền tuyên bố rút khỏi TPP, chủ nghĩa bảo hộ thương mại của Mỹ có xu hướng ngày càng gia tăng, tuy các nước tham gia TPP như Nhật Bản, Australia… vẫn muốn tiếp tục thúc đẩy thực hiện hiệp định, nhưng không còn nghi ngờ gì, TPP đã trở thành “công trình dở dang”, nền kinh tế phát triển theo loại hình dẫn dắt xuất khẩu của Việt Nam sẽ đối mặt với tính bất ổn nhiều hơn.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí “Tri thức thế giới” (TQ), số 19/2017

TLTKĐB – 04/11/2017

Đánh giá về quan hệ Việt – Trung – Phần cuối


Cuối cùng, trong khi quan hệ thân thiện với Trung Quốc đã trở thành một trách nhiệm cho ĐCSVN, quan hệ với Mỹ đã trở thành một tài sản. Trong những năm gần đây, hầu hết các công dân Việt Nam đã ủng hộ quan hệ chặt chẽ với Mỹ, và các lợi ích hội tụ trong việc kiềm chế chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc ở châu Á đã dẫn đến các quan hệ chính thức mạnh mẽ hơn. Đáng chú ý là, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sử dụng cuộc gặp vào tháng 7/2015 của ông với Tổng thống Mỹ Obama tại Phòng Bầu dục để báo hiệu một sự tái cân bằng với Trung Quốc trong khi tăng cường tính hợp pháp trong nước. Vào thời điểm đó, ông tuyên bố: “Đó là một cuộc gặp thực sự mang tính lịch sử”, và ghi nhận rằng “Nhà Trắng thừa nhận cấu trúc chính trị của Việt Nam và sự lãnh đạo của đảng”. Những tương đồng về ý thức hệ dường như đã trở nên kém quan trọng hơn ngoại giao thực sự, có gì đó gợi nhắc đến chủ nghĩa thực dụng mà ĐCSTQ từng thể hiện trong việc liên kết với Washington chống lại Liên Xô trước đây. Đối với ban lãnh đạo ĐCSVN lúc này, tính hợp pháp được duy trì của họ được phục vụ tốt nhất bởi quan hệ mạnh mẽ hơn với Mỹ, và bị hủy hoại bởi cái được cho là sự thỏa hiệp với Trung Quốc, đặc biệt liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Có lẽ có liên quan nhất đến lĩnh vực hàng hải là việc Chính quyền Obama đã gỡ bỏ lệnh cấm vũ khí của Washington về việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, điều này cho phép Hà Nội đa dạng hóa vũ khí quân sự của mình và giảm bớt sự phụ thuộc vào Nga. Tuyên bố trên được đưa ra trong chuyến thăm của Tổng thống Obama đến Hà Nội vào tháng 5/2016, cùng với tuyên bố của Obama rằng hợp tác song phương trong các vấn đề an ninh khu vực sẽ được tăng cường. Mặc dù động thái này được Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Tom Malinowski mô tả là “phần lớn chỉ mang tính biểu tượng”, do liên kết chặt chẽ trong việc cải thiện hồ sơ nhân quyền của Việt Nam với việc mua bán vũ khí, nhưng nó đã mở đường cho hợp tác trong tương lai. Hợp tác song phương theo kế hoạch bao gồm việc Mỹ cung cấp tàu tuần tra và huấn luyện cho lực lượng cảnh sát biển của Việt Nam, bề ngoài là phục vụ cho việc xây dựng khả năng nhân đạo, không phải nhằm vào Trung Quốc. Đáng chú ý là, chuyến thăm Việt Nam của Obama được tiếp nối bởi chuyến thăm của Đô đốc Harry B. Harris Jr., Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, vào tháng 10/2016. Harris đã có các cuộc gặp với Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trung tướng Phan Văn Giang, và các lãnh đạo cấp cao khác, trong đó ông khẳng định lại cam kết của Washington tăng cường khả năng của Việt Nam trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải và thực thi pháp luật.

Tóm lại, quan hệ của Việt Nam với Mỹ đã cải thiện đáng kể dưới thời Chính quyền Obama, vào thời điểm các chính sách bành trướng của Bắc Kinh ở châu Á biển trở nên nổi bật hơn; điều này đã hối thúc Washington và Hà Nội tìm kiếm một quan hệ đối tác an ninh tăng cường “đôi bên cùng có lợi”. Sự chuyển biến dễ thấy của Việt Nam xoay sang Mỹ cũng nhằm mục đích cho phép ĐCSVN né tránh những lời cáo buộc về việc thỏa hiệp với Trung Quốc, trong khi đồng thời tăng cường tính hợp pháp của họ với công chúng ủng hộ Mỹ của mình. Tuy nhiên, với sự kết thúc của Chính quyền Obama và sự khởi đầu của Chính quyền Trump, quan hệ Việt – Mỹ đã bước vào một giai đoạn không chắc chắn. Việc Trump rút khỏi Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và các chính sách thương mại bảo hộ do ông đề xuất đã đe dọa nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, Việt Nam có thể buộc phải tìm kiếm quan hệ gần gũi hơn với các nước láng giềng của mình để giảm bớt các hậu quả kinh tế.

Nhìn về phía trước, những điều không chắc chắn cho đến nay liên quan đến các chính sách và ưu tiên của Mỹ ở Đông Á, bao gồm cả tranh chấp Biển Đông, có thể thúc đẩy Việt Nam tăng cường hợp tác với Trung Quốc. Giữa năm 2017, các cuộc trao đổi cấp cao Việt – Trung và các sáng kiến chung gần đây có thể là dấu hiệu cho thấy sự bắt đầu của một xu hướng như vậy. Tháng 4/2017, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Dương Khiết Trì đã gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh trong cuộc họp lần thứ 10 Ủy ban chỉ đạo hợp tác Việt – Trung, trong đó các phát biểu của ông Dương đã nêu bật tầm quan trọng của việc “tăng cường hợp tác thực tế” trước các chuyến thăm cấp nhà nước dự kiến diễn ra trong năm nay. Theo như đưa tin, đã có một thỏa thuận về sự can dự của Việt Nam trong việc thúc đẩy Sáng kiến “Vành đai và Con đường”, cũng như “duy trì hòa bình và ổn định trên biển”. Ngoài ra, trong chuyến thăm Bắc Kinh để tham dự Diễn đàn Vành đai và Con đường cho hợp tác quốc tế vào giữa tháng 5/2017, Chủ tịch Việt Nam Trần Đại Quang đã kỹ một thông cáo chung với Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình, nhất trí “quản lý và kiểm soát thỏa đáng các tranh chấp trên biển của họ” và “không thực hiện bất kỳ hành động nào làm phức tạp thêm tình hình hoặc mở rộng tranh chấp”. Hơn nữa, cả 2 bên đã nhất trí tận dụng “các cơ chế hiện hành” để tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác song phương. Bất chấp những dấu hiệu của quan hệ hữu nghị ngày càng tăng giữa 2 nước, sự hợp tác này có khả năng vẫn bị hạn chế bởi sự mất lòng tin tiềm ẩn và xung đột lợi ích.

Những tác động đối với tranh chấp trên Biển Đông

Như cuộc gặp hồi tháng 11/2016 giữa Trương Đức Giang với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các nhà lãnh đạo hàng đầu khác của Việt Nam tại Hà Nội cho thấy, ĐCSVN có khả năng sẽ tiếp tục tham gia ngoại giao cấp cao thường xuyên giữa hai đảng, vì đảng này dường như thực sự coi trọng những cuộc trao đổi này như một công cụ cho thông tin liên lạc và quản lý khủng hoảng. Đổi lại, ĐCSTQ có khả năng sẽ tiếp tục chính sách chiến dịch gây cảm tình của mình, ngay cả khi họ kết hợp chính sách ngoại giao như vậy với nỗ lực cưỡng ép. Công tác liên lạc của đảng có thể củng cố mối quan hệ và cho phép tiếp tục các cuộc trao đổi ngay cả khi căng thẳng trên Biển Đông tiếp diễn. Tuy nhiên, công cụ này dường như không thể vượt qua các thực tế chiến lược tiềm ẩn hay các lo ngại trong nước của ban lãnh đạo ĐCSVN. Những gợi nhắc của ĐCSTQ tới một lịch sử chung mang tính nền tảng với Việt Nam dường như có chọn lọc và tư lợi, vì nhiều sự kiện lịch sử tiếp tục làm hạn chế sự nhiệt tình của Việt Nam đối với sự tương tác không thận trọng với láng giềng phía Bắc của mình. Tương tự, những bất đồng về ý thức hệ tiếp tục gây ra sự cảnh giác của Trung Quốc đối với Việt Nam. Mặt khác, quan hệ ấm áp hơn và hợp tác an ninh phát triển với Mỹ dường như trao cho Việt Nam lợi thế đòn bẩy họ cần để tăng cường khả năng của mình chống lại sức mạnh đang gia tăng của Trung Quốc.

Nhìn về phía trước, Việt Nam dường như sẵn sàng tiếp tục việc hiện đại hóa quân sự và bảo vệ các tuyên bố lãnh thổ của mình, bằng vũ lực nếu cần thiết, trên Biển Đông. Điều này có thể bao gồm việc tiếp tục xây dựng công sự trên các đảo của họ, mà nghe nó đã có thêm các bệ phóng tên lửa di động đủ khả năng tấn công vào các đường băng và các cơ sở quân sự của Trung Quốc. Việt Nam cũng có thể mua từ Ấn Độ hệ thống phòng thủ tên lửa đất đối không tầm trung Akash, có khả năng nhắm mục tiêu vào máy bay, trực thăng, và máy bay không người lái cách xa 25 km. Ngoài ra, Ấn Độ cũng đề nghị bán ngư lôi chống tàu ngầm Varunastra cho Việt Nam, rõ ràng là để đáp trả hành động quân sự hóa của Trung Quốc trên Biển Đông. Do đó, có vẻ như ngay cả khi Philippines tìm kiếm hòa giải lớn hơn với Bắc Kinh dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Duterte, thì mặt khác Việt Nam sẽ có khả năng tiếp tục phòng ngừa thông qua liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ và Ấn Độ, trong khi tăng cường các khả năng quân sự của mình.

Những điều không chắc chắn trong tương lai

Đương nhiên, có thêm một sự không chắc chắn nữa được đưa thêm vào trong những tính toán của cả Hà Nội và Bắc Kinh với sự đắc cử của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Là một bên ký kết TPP, Việt Nam chắc chắn thất vọng với sự phản đối gay gắt của Trump đối với thỏa thuận này, cũng như quyết định của Chính quyền Obama không tiếp tục theo đuổi TPP với Quốc hội trước khi Trump lên nắm quyền. Một nghiên cứu gần đây của Trung tâm Đông – Tây cho thấy các đối tác của Mỹ trong khu vực có khả năng sẽ coi việc Washington bác bỏ TPP là một bằng chứng khác cho thấy sự bất lực trong việc duy trì các cam kết của họ ngoài lĩnh vực quân sự. Sau cuộc bầu cử, Việt Nam quyết định gác lại việc thông qua TPP. Tương tự, sự thiếu rõ ràng tương ứng trong quan điểm của Trump về các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông khiến cả Trung Quốc và Việt Nam đều không hài lòng. Các nhà hoạch định chính sách Việt Nam có thể muốn tiếp tục các chính sách dễ dự đoán hơn của Obama đối với Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hillary Clinton. Tuy nhiên, sự sẵn sàng rõ ràng của Trump để làm việc với bất kỳ nước nào có chung mục tiêu, bất chấp ý thức hệ, cũng như kế hoạch tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ, đặc biệt thông qua việc tăng cường Hải quân Mỹ lên tới 350 tàu, có thể mang lại cho Hà Nội các cơ hội để tiếp tục sự can dự an ninh mạnh mẽ với Washington.

Với những động lực phức tạp và đang biến đổi này, công tác liên lạc khéo léo của ĐCSTQ có thể tiếp tục làm dịu căng thẳng và tăng cường việc thông tin liên lạc khác với các nhà lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, họ không có khả năng thuyết phục Hà Nội từ bỏ việc hiện đại hóa quân sự hay giảm bớt mối quan hệ với Washington, vì những lựa chọn chính sách này có thể tiếp tục làm nên niềm hi vọng tốt đẹp nhất của ĐCSVN là bảo vệ cả các nước tuyên bố lãnh thổ của mình cũng như các lợi ích chính trị của giới tinh hoa trong nước. Dù thế, tác động của những bất ổn hiện nay liên quan đến quỹ đạo tương lai của chính sách của Mỹ ở châu Á đối với định hướng chính sách đối ngoại của Việt Nam trong tương lai vẫn cần phải xem xét.

Nguồn: http://www.project2049.net/documents/CCP_Liaison_ID_China_Vietnam_Gitter_Kania.pdf

TLTKĐB – 18, 19/10/2017

Trung Quốc dẫn đầu ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu


Trong ngành công nghiệp đóng tàu hải quân toàn cầu, dường như Trung Quốc đang là nước dẫn đầu.

Hải quân Mỹ có kế hoạch tăng quy mô hạm đội của họ và Nga cũng đang nỗ lực phục hồi lĩnh vực đóng tàu của nước này sau 25 năm suy giảm. Hải quân Nga và Trung Quốc đang nỗ lực theo cách riêng của mình kể từ khi hai nước được coi là đối thủ có tiềm năng ngang bằng với Mỹ và phương Tây. Cả hai nước đều có công nghệ quân sự tiên tiến và đang nỗ lực đóng mới tàu chiến. Tuy nhiên, nếu so sánh về mặt kinh tế thì Trung Quốc vượt xa nỗ lực xây dựng hải quân của Nga.

Ngân sách của Nga gặp khó khăn do các biện pháp trừng phạt kinh tế và giá dầu thấp. Hơn 2/3 trong số 108 tàu chiến mặt nước của Nga được trang bị từ thời Chiến tranh Lạnh. Kể từ năm 2000, hải quân Nga được trang bị 21 tàu chiến mặt nước mới, trong đó có 17 tàu hộ tống nhỏ. Tàu hộ tống của Nga có xu hướng được trang bị vũ khí phù hợp với kích cỡ và được bố trí hoạt động ở biển Baltic và Caspi. Tuy nhiên, nếu coi đây là thước đo để đánh giá khả năng công nghiệp thì tàu hộ tống nhỏ là không phù hợp.

Nga đã đóng 4 tàu khu trục mới cỡ trung bình (tương đương với kích cỡ của tàu khu trục Anzac của Australia) kể từ năm 2009, chiếc thứ 5 hoàn tất trong năm nay. Đây là những chiếc khu trục lớn nhất của hải quân Nga được trang bị kể từ năm 1999 khi tàu khu trục lớp Udaloy cuối cùng được trang bị.

Nga có thể đóng mới nhiều tàu khu trục hơn song động cơ chạy bằng khí đốt cần để cấp điện cho tàu được sản xuất tại Ukraine. Kiev đã ngừng xuất khẩu đơn đặt hàng trong năm 2014 do cuộc khủng hoảng Crimea, chính điều này đã làm trì hoãn các kế hoạch của Moskva từ 2 – 3 năm qua. Trong tương lai, nhiều khả năng Nga sẽ thúc đẩy các kế hoạch thay thế tàu chiến cỡ lớn hơn, tiếp tục nâng cấp tàu khu trục từ thời Chiến tranh Lạnh và tàu tuần dương với khả năng hiện đại.

Việc đóng tàu ngầm của Nga cũng còn chưa rõ ràng. Các dự án hiện đại cho cả hai loại tàu ngầm tấn công dùng năng lượng hạt nhân (SSN) và dùng điện – diesel (SSK) đều giảm đáng kể. Tuy nhiên, các dự án hiện đại hóa tàu SSK lớp Kilo từ những năm 1980 là phần bổ sung hiệu quả và tàu lớp Kilo là sản phẩm xuất khẩu thành công nhất của Nga. Chiếc SSN lớp Yasen thứ hai sẽ hoàn tất vào năm tới cho dù thiết kế được điều chỉnh khiến cho chiếc tàu ngầm này có giá thành đắt gấp đôi chiếc đầu tiên cùng loại. Nga chắc chắn vẫn là một trong số ít nước có khả năng đóng tàu SSN trong một vài thập kỷ tới.

Trong khi đó, rõ ràng là những tàu lớp cũ ngày càng lỗi thời và Nga đang phải nâng cấp, sửa chữa và hiện đại hóa những tàu chiến cũ để duy trì năng lực hải quân. Tuy nhiên, ngành công nghiệp hải quân của Nga nay chỉ là cái bóng so với ngành này của Xô Viết trước đây.

Trong lĩnh vực đóng tàu hải quân, Trung Quốc lại hoàn toàn khác Nga. Nhờ có được lợi thế từ tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và coi trọng vai trò ngày càng gia tăng của an ninh hàng hải, Trung Quốc đã đóng mới hàng chục tàu chiến lớn, nhỏ khác nhau. Những năm gần đây, các xưởng đóng tàu của Trung Quốc hoạt động không ngừng, duy trì ổn định đóng tàu chiến mặt nước cho hải quân.

Hải quân Trung Quốc được trang bị 15 tàu khu trục có tên lửa dẫn đường loại 052 với nhiều biến thể khác nhau kể từ năm 1994. Khoảng một nửa số này đã đi vào hoạt động kể từ năm 2014 và 8 chiếc khác sẽ được đưa vào hoạt động năm 2020. Hải quân Trung Quốc cũng được trang bị khoảng 25 chiếc tàu khu trục cỡ trung bình loại 054 kể từ năm 2005, trung bình khoảng 2 chiếc/năm và 33 chiếc tàu hộ tống nhỏ loại 056 kể từ năm 2013.

Mặc dù nhịp độ xây dựng hải quân của Trung Quốc chậm, nước này không dừng lại. Những chiếc tàu về sau có khả năng tốt hơn những chiếc trước. Không giống như Nga, Trung Quốc đang trong giai đoạn đóng tàu hải quân mạnh mẽ nhất của mình.

Nguồn: The Australian – 11/07/2017

TKNB – 12/07/2017