Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần III


Quan hệ cạnh tranh – hợp tác trong thời kỳ mới dẫn đến sự chuyển hướng trọng tâm được chú ý

Những năm 1990, đóng góp của MỸ đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 29,1%, tổng lượng của các nền kinh tế phát triển phương Tây với G7 làm đại diện là 76%, khi so sánh, đóng góp cảu Trung Quốc là 9% và của những nền kinh tế mới nổi và phát triển là 36,3%. Từ năm 2008 đến 2016, đóng góp của Mỹ và các nước phát triển đối với kinh tế thế giới giảm xuống mức 7,4% và 23,9%, còn đóng góp của Trung Quốc là 35,6% và các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển là 77,7%, thể hiện rõ xu thế phương Đông tiến lên, phương Tây thụt lùi. Năm 2005, tổng lượng GDP của Trung Quốc đã vượt qua Anh, năm 2007 vượt qua Đức, năm 2010 đã thay thế Nhạt Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Năm 2012, tổng lượng kinh tế Trung Quốc đạt đến một nửa của Mỹ, năm 2017 đã lên tới mức 2/3 tổng lượng kinh tế của Mỹ. Ngay từ năm 2011, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố một dự báo tính toán GDP trên cơ sở thuyết sức mua tương đương (PPP) cho rằng GDP của Trung Quốc có thể ngang bằng, thậm chí vượt qua Mỹ sau năm 2020. Báo cáo mới nhất của Trung tâm nghiên cứu Trung Quốc và thế giới thuộc Đại học Thanh Hoa dự báo Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới sau năm 2025.

Tuy xem xét về mặt mức thu nhập bình quân đầu người của một nước, giữa Trung Quốc và Mỹ còn có khoảng cách khá lớn, tổng lượng kinh tế giữa hai nước xích lại gần nhau, sự phát triển công nghệ của Trung Quốc đang trong quá trình rượt đuổi Mỹ và ảnh hưởng của Trung Quốc không ngừng gia tăng trên vũ đài quốc tế đều có dấu ấn cạnh tranh quyết liệt về tâm lý của giới tinh hoa, dân chúng Mỹ và quan hệ Trung – Mỹ. Chắc chắn, Trung Quốc đã bị Mỹ coi là đối thủ cạnh tranh chủ yếu, từ “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” công bố vào ngày 18/12/2017, “Báo cáo chiến lược quốc phòng” được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố vào ngày 19/1/2018 đến “Chương trình chính sách thương mại năm 2918 và Báo cáo hàng năm năm 2017” do Văn phòng Đại diện thương mại Mỹ công bố tháng 2/2018 đều nâng vấn đề thương mại với Trung Quốc lên tầm cao của an ninh quốc gia Mỹ. Trong báo cáo điều tra liên quan đến Mục 301 của Đạo luật thương mại Mỹ năm 1974 dài 184 trang, từ “nhập siêu” chỉ xuất hiện một lần, mục tiêu liên quan đến Mục 301 mà Đại diện thương mại Mỹ công khai tuyên bố chính là chĩa mũi nhọn vào chiến lược “Made in China 2025”. Ngày 8/11/2017, Thượng viện và Hạ viện Mỹ đã lần lượt đề xuất một dự thảo “Luật hiện đại hóa đánh giá rủi ro từ đầu tư của nước ngoài”, một trong những người khởi xướng đạo luật này là hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Robert Pittenger cho biết bộ luật sẽ đảm bảo khoa học công nghệ Mỹ duy trì vị trí đứng đầu.

Thái độ của Chính phủ Mỹ đối với chiến tranh thương mại thể hiện rất đa dạng

Nghị sỹ hai đảng của Mỹ đưa ra tiếng nói phản đối tại Quốc hội

Ngày 11/7/2018, với 88 phiếu thuận/11 phiếu chống, Thượng viện Mỹ đã thông qua nghị quyết hạn chế quyền áp thuế của Tổng thống Donald Trump. Đây là lần hiếm hoi hai đảng thể hiện lập trường đồng nhất. Tuy là nghị quyết không mang tính ràng buộc, nhưng việc hai đảng có tư tưởng thống nhất và cùng hành động trong cơ chế lập pháp chung lần này, đã truyền đi tín hiệu rằng thể chế chính trị của Mỹ bắt đầu quan ngại đối với chính sách thương mại cấp tiến của Chính quyền Donald Trump. Ngày 18/7/2018, tiếp tục có 140 nghị sĩ cùng lên tiếng phản đối việc chính phủ áp thuế ô tô, cho rằng việc áp thuế đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, thực hiện hạn ngạch thương mại hoặc áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại khác sẽ làm tổn hại sự phát triển của ngành ô tô Mỹ. Việc Donald Trump gây sức ép với Trung Quốc là có cơ sở quần chúng, ví dụ như cuộc thăm dò dư luận do Trung tâm nghiên cứu Pew công bố ngày 19/7 cho thấy 49% người Mỹ được hỏi cho rằng việc áp thuế đối với các đối tác thương mại không có lợi cho Mỹ, trái lại 40% số người được hỏi cho rằng hành động này có lợi cho Mỹ, chỉ có 11% số người được hỏi không biết Mỹ sẽ phải chịu những ảnh hưởng nào. Nếu sự ủng hộ đối với chính sách thương mại của Donald Trump được duy trì ổn định, thì vì sao người của đảng Cộng hòa lại không đoàn kết xung quanh Donald Trump, trái lại còn gây khó khăn cho tổng thống?

Nội bộ đội ngũ của Donald Trump cũng có bất đồng

Đầu tháng 5/2018, Nhà Trắng cử phái đoàn thương mại Mỹ gồm 7 người đến Bắc Kinh đàm phán. Học giả của Đại học Phúc Đán Trung Quốc phân tích, từ góc độ thực dụng cho thấy đội ngũ đàm phán là “tổ hợp của phe diều hâu và phe bồ câu”. Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross được xem là người của phe bồ câu, vì ông – một người am hiểu tình hình Trung Quốc – từng đầu tư xưởng lắp ráp linh kiện ô tô ở Quảng Đông vào những năm 1990, năm 2005 tập đoàn may mặc quốc tế của ông đầu tư 100 triệu USD vào thành phố Gia Hưng thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông cũng là nạn nhân trong cuộc chiến thương mại gang thép của Mỹ, nhưng vì những kinh nghiệm nàyên ông từng bị Donald Trump công khai phê phán là mềm yếu trong chính sách đối với Trung Quốc, sau này thái độ của ông đối với Trung Quốc cũng dần trở nên cứng rắn. Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Terry Branstad được coi là người thuộc phe bồ câu thân Trung Quốc chủ yếu là vì ông đến từ bang xuất khẩu nông nghiệp sang Trung Quốc luôn có quan hệ hữu nghị với giới kinh doanh và giới chính trị Trung Quốc. Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin từng làm việc cho ngân hàng Goldman Sachs là người ủng hộ dự luật cải cách thuế và kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, từng phản đối việc đưa Trung Quốc vào danh sách các nước thao túng tỷ giá hối đoái, đượ ccho là người thuộc phe trung gian. Điều thú vị là trong tuyên bố được đưa ra sau đàm phán, Nhà Trắng đã nhấn mạnh chủ trương của Mỹ là nhận thức chung của đội ngũ đàm phán, điều này đã làm cho bên ngoài suy đoán về những bất đồng trong đàm phán. Theo quan sát của học giả Derek Scissors thuộc Viện Doanh nghiệp Mỹ (AEI), sở dĩ hiện nay Donald Trump chưa có chiến lược trong chính sách thương mại đối với Trung Quốc là vì nội bộ chính phủ có những ý kiến khác nhau.

Các giới kinh tế, ngành nghề của Mỹ đưa ra lời cảnh báo

Trước khi cuộc chiến thương mại diễn ra, có phương tiện truyền thông đưa tin 1140 nhà kinh tế học của Mỹ, trong đó có 14 người từng đoạt giải Nobel, cùng gửi thư cho Donald Trump, khẩn cầu tổng thống không nên phạm sai lầm dẫn tới cuộc đại suy thoái của Mỹ. Không lâu trước đó, 25 nhà bán lẻ nổi tiếng của Mỹ gồm Walmart, Macy’s, Best Buy… cùng gửi thư cho Donald Trump, kêu gọi Chính phủ Mỹ không nên áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc để tránh làm tổn hại người tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của người làm công ăn lương, gia tăng khoảng cách giàu nghèo. 45 hiệp hội ngành nghề đại diện cho lợi ích của ngành bán lẻ, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp và hàng tiêu dùng khác cũng bày tỏ áp thuế sẽ làm cho chi phí của ngành sản xuất Mỹ tăng lên, làm rối loạn chuỗi cung ứng hiện có, và làm giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu của ngành sản xuất, từ đó ảnh hưởng đến việc làm của Mỹ. Tháng 5/2018, khi Bộ Thương mại Mỹ khởi động cuộc điều tra theo điều 232 của Luật Thương mại Mỹ đối với ô tô và linh kiện nhập khẩu, có phương tiện truyền thông cho rằng “những người chỉ trích đang xếp hàng” để kêu gọi chính phủ từ bỏ áp thuế tại phiên điều trần. Hàng nghìn công nhân Mỹ được các nhà sản xuất ô tô nước ngoài thuê cũng biểu tình ở Capitol Hill, khoảng 150 nghị sĩ của hai đảng cũng lên tiếng phản đối việc áp thuế ô tô, phiên điều trần đã trở thành “cuộc bao vây tấn công” để các bên cùng lên tiếng phê phán. Hội đồng kinh doanh Mỹ – Trung Quốc (USCBC) đưa ra công văn cho rằng USCBC đồng ý với Chính quyền Donald Trump – hiện trạng chuyển giao công nghệ của Trung Quốc và sự bảo vệ đối với quyền sở hữu trí tuệ quả thực cần được chú trọng, nhưng doanh nghiệp Mỹ vẫn hy vọng nhìn thấy phương án giải quyết những vấn đề này, chứ không chỉ là đơn phương áp thuế trừng phạt cuối cùng có thể gây ra tổn thất lớn hơn. Chủ tịch Hiệp hội thương mại Mỹ tại Trung Quốc William Zarit cho biết các đoàn thể thương mại tỏ ra rất quan ngại trước sự đáp trả do các biện pháp áp thuế của Chính quyền Donald Trump và hạn chế Trung Quốc đầu tư ở Mỹ có thể gây ra cũng như những tổn thương có thể gây ra đối với kinh tế Mỹ và thế giới.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Advertisements

Dư luận Trung Quốc về Thông điệp Liên bang 2019 của Trump


Tổng thống Mỹ Donald Trup đã đọc Thông điệp Liên bang năm 2019 tại phiên họp chung của lưỡng viện Quốc hội vào tối 5/2/2019 theo giờ Mỹ (tức sáng 6/2/2019 theo giờ Việt Nam). Đây là một hoạt động thường niên quan trọng của người đứng đầu Nhà Trắng, trong đó đưa ra tầm nhìn, phương hướng và chính sách đối nội cũng như đối ngoại của chính phủ trong năm.

Về sự chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ

Nhìn lại năm 2018, các chương trình nghị sự chính của Nhà Trắng cơ bản đều vấp phải sự ngăn cản mạnh mẽ của Quốc hội. Trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Trump khẳng định Mỹ có nền kinh tế và quân đội mạnh nhất thế giới, là nước sản xuất dầu mỏ, khí đốt lớn nhất thế giới… Tuy nhiên, trên chính trường Mỹ hiện nay, đoàn kết đang trở thành sự thiếu thốn lớn nhất. Bức tường dọc biên giới Mỹ – Mexico khó được thúc đẩy, việc đóng cửa chính phủ Mỹ đã lập nên kỷ lục lịch sử, truyền thông chính thống của Mỹ cơ bản đứng về phe đối lập với tổng thống nước này.

Đoàn kết cần dựa trên nền tảng của thành tích chính trị. Thành tích chính trị bình thường chưa đủ, mà phải có cả những thành tích nổi bật. Trong Thông điệp Liên bang này, Tổng thống Trump nhấn mạnh vấn đề kinh tế, tức là trong 2 năm qua Mỹ đã tăng 600.000 việc làm trong lĩnh vực chế tạo, tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng cao gấp đôi so với Chính quyền tiền nhiệm, tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 20 năm qua.

Mặc dù Tổng thống Trump tuyên bố đây không phải là thắng lợi của một đảng mà là của cả quốc gia, nhưng những người thuộc đảng Dân chủ lại thấy được những con số khác. Trong khi Tổng thống phát biểu thì một số người thuộc giới tinh hoa bình luận trên mạng xã hội rằng những thứ đó đều do vay nợ mang lại, bao gồm việc “vay tiền của Trung Quốc” để đổi lấy “triển vọng tốt trong ngắn hạn”. Hiện nay Mỹ thâm hụt ngân sách khoảng 1000 tỷ USD, “con số này thế hệ sau sẽ phải trả”.

Trước đó, Trung tâm nghiên cứu Pew công bố số liệu điều tra cho thấy, mặc dù kinh tế là chủ đề được công chúng Mỹ quan tâm nhiều nhất, nhưng chỉ có 40% số người được hỏi cho rằng kinh tế nước Mỹ được cải thiện kể từ khi Tổng thống Trump lên cầm quyền. Thực tế mà Tổng thống Trump đang phải đối mặt là triển vọng về sự “đoàn kết” không đáng lạc quan. Nước Mỹ vẫn rơi vào tình trạng chia rẽ sâu sắc, những vấn đề không đạt được sự đồng thuận trong hai năm qua trở nên khó tìm tiếng nói chung. Nguyên tố quan trọng nhất trong thể chế hai đẳng ở Mỹ là sự thỏa hiệp chính trị dường như đang bị phân tách. Chiến dịch bầu cử tổng thống tại Mỹ ngày càng đến gần, cạnh tranh chính trị ngày càng trở nên gay gắt. Điều tra của Trung tâm nghiên cứu Pew cũng cho thấy 71% người được hỏi cho rằng sự chia rẽ giữa Đảng Dân chủ và Cộng hòa sẽ ngày càng gia tăng trong năm 2019.

Về quan hệ Trung – Mỹ

Thông điệp Liên bang năm 2019 của Mỹ nhắc đến Trung Quốc một cách “có tính toán”. Mặc dù Tổng thống Trump chủ yếu nhắc đến chính sách thương mại nhưng không quên liên kết vấn đề chính trị. Ông nhấn mạnh việc tăng thuế nhằm làm giảm nhập siêu thương mịa của Mỹ, qua đó bảo vệ vấn đề việc làm, đồng thời nhấn mạnh việc yêu cầu Trung Quốc phải thay đổi về cơ cấu. Xét về tổng thể, Tổng thống Trump khẳng định sự đồng thuận tính đến nay Trung – Mỹ đã đạt được trong lĩnh vực thương mại.

Trong vòng 1 năm qua, nhận thức về nhau của từng nước đã có thay đổi to lớn. Mặc dù lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ có sự khác nhau, nhưng sự khác biệt đó nhỏ hơn rất nhiều so với các vấn đề chính trị khác, chỉ thể hiện ở trọng tâm của chính sách và mức độ thực thi. Sự đồng thuận (trong lập trường đối với Trung Quốc của hai đảng ở Mỹ) đó dần phát triển thành hành động thống nhất trong các cơ quan, ban ngành của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc. Trong tương lai gần, quan hệ Trung – Mỹ sẽ tiếp tục trạng thái cọ sát, căng thẳng. Sự đọ sức giữa hai bên sẽ xuất hiện trên càng nhiều lĩnh vực với mức độ khác nhau, tuy nhiên Mỹ sẽ chĩa mũi nhọn nhiều hơn vào vấn đề cấu trúc chính trị tại Trung Quốc. Giữa hai nước vẫn có hợp tác, nhưng hai bên chỉ tìm kiếm, lựa chọn cơ hội và phương thức hợp tác dựa trên nền tảng nhận thức mới.

Về một số vấn đề khác

Trong Thông điệp Liên bang năm 2019, Tổng thống Trump còn tuyên dương những thành tích khác trong lĩnh vực ngoại giao, từ việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước Các lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) – Hiệp định cắt giảm tên lửa tầm trung, tầm ngắn do Mỹ và Liên Xô ký kết năm 1987 – đến Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Triều lần thứ hai sắp diễn ra tại Việt Nam, Tổng thống Trump đều nhấn mạnh đến vai trò giương cao ngọn cờ của Mỹ. Tuy nhiên, một nước Mỹ ngày càng chuyên quyền độc đoán làm sao có thể tạo ra một thế giới đoàn kết? Hai năm qua, cộng đồng quốc tế cũng đang tìm tòi phương thức, con đường thích ứng với sự thay đổi của Mỹ, sự kinh ngạc trước việc Nhà Trắng sẵn sàng “đi chệch khỏi quỹ đạo” (rút khỏi các hiệp ước, hiệp định, tổ chức quốc tế khác nha) ngày càng giảm bớt. Tiến trình tìm kiếm hệ thống có thể thay thế hoặc cân bằng khu vực hoặc hệ thống đa nguyên hóa đang bắt đầu tăng tốc.

Nguồn: Thời báo Hoàn cầu (TQ) – 06/02/2019

TKNB – 12/02/2019

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần cuối


Kết luận

Có ba bài học có thể rút ra từ các cuộc luận bàn này của Trung Quốc về Nhật Bản và “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Trước hết, đa số áp đảo các tư liệu học thuật, các phát ngôn chính thống và các phương tiện truyền thông Trung Quốc đều không đề cập đến Nhật Bản khi xét đến tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Điều này chứng tỏ ý niệm của Trung Quốc dành rất ít không gian cho các quốc gia hàng đầu châu Á như Nhật Bản, và người Trung Quốc xem mối quan hệ Trung – Mỹ là khác biệt so với các mối quan hệ cường quốc khác trong khu vực. Mỹ nên lưu tâm tới thực tế này, cũng nên xem xét tầm nhìn của mình về trật tự châu Á – Thái Bình Dương liệu có phù hợp với ý niệm của Trung Quốc.

Thứ hai, ở tất cả các tài liệu của Trung Quốc có bàn đến Nhật Bản trong bối cảnh “quan hệ cường quốc kiểu mới”, các quan điểm về Nhật Bản đều được hiểu một cách hết sức hẹp hòi Nhật Bản được mô tả lần lượt là một cường quốc đang suy yếu và là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia mà bản thân sự trỗi dậy quyền lực kiểu gây hấn của họ là một điểm đối sánh tiêu cực với tương lai trỗi dậy của Trung Quốc; là một quốc gia có quan hệ song phương không ngang tầm với Mỹ, và vì vậy là một mẫu hình kém thuyết phục cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ; cũng là một quốc gia ngày càng quân phiệt và cánh hữu, đang nỗ lực kích động tình trạng bất ổn ở khu vực trong vấn đề tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Thấy rất ít sự tích cực trong những mô tả này về Nhật Bản. Hơn thế, những quan điểm này lại hoàn toàn trái ngược với những gì người Trung Quốc nhận thức về Nhật Bản ở những giai đoạn trước trong lịch sử. Chứng cứ lưu trữ hiện thời của Trung Quốc cho thấy, trong những năm 1950 – 1960, giới chức Trung Quốc đã mô tả Nhật Bản không chỉ là một kẻ xâm lược thời chiến, mà còn là một mẫu hình quốc gia hiện đại, công nghiệp hóa và đầy quyền lực, cũng là một đối tác kinh tế quan trọng đối với Trung Quốc. Mặc dù hai nước không có quan hệ ngoại giao, song các quan chức hàng đầu Trung Quốc như Thủ tướng Chu Ân Lai và Thống đốc Ngân hàng Trung Quốc Nam Hán Thần đã hoan nghênh rất nhiều nhóm các nhà tư bản công nghiệp và doanh nghiệp Nhật Bản đến Trung Quốc hồi những năm 1950, 1960 và 1970 để tư vấn giải pháp cho nền kinh tế thời hậu chiến đang phát triển của Trung Quốc. Cuối những năm 1980, vai trò của Nhật Bản với tính cách là một đối tác kinh tế đã trở nên quan trọng hơn, nhưng Trung Quốc cũng lo ngại về sức mạnh trỗi dậy của Nhật Bản, một mối lo ngại sớm muộn cũng không còn được giảm thiểu bởi bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn, trong đó Trung Quốc và Nhật Bản cùng sát cánh chống lại mối đe dọa Xô Viết. Sự hẹp hòi trong các quan điểm của Trung Quốc về Nhật Bản càng trở nên sâu sắc hơn trong kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh, khi các nhà lãnh đạo cộng sản ở Trung Quốc bắt đầu tiến trình “tái ghi nhớ” những hành động tàn bạo của người Nhật trong suốt Thế chiến thứ hai. Đến giữa những năm 1990, nghị trình chính thống đã đặt trọng tâm lớn vào những sai phạm chết người trong lịch sử của Nhật Bản, và chỉ trích cao độ việc tăng cường liên minh Mỹ – Nhật và mối quan hệ Nhật Bản – Đài Loan. Nghị trình này cổ vũ cho tinh thần chống Nhật mạnh mẽ trogn số đông dân chúng, dẫn đến những cuộc biểu tình quy mô lớn hồi đầu những năm 2000 liên quan đến những vấn đề như việc Nhật Bản được đề nghị một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tuy nhiên, ngay tại cao trào của những tình huống căng thẳng này, nghị trình của Trung Quốc về Nhật Bản hồi đầu những năm 2000 vẫn hàm chứa rất nhiều quan điểm khác nhau. Minh chứng đáng chú ý nhất ở đây là sự hiện diện của “các nhà tư tưởng mới” – như Shi Yinhong và Ma Licheng – những người thẳng thắn nêu tranh luận cho rằng, Trung Quốc không thể hy vọng Nhật Bản mãi mãi là một quốc gia “phi chuẩn” không có quyền lực quân sự.

Điểm có vẻ khác biệt trong nghị trình hiện thời của Trung Quốc về Nhật Bản chính là sự thiếu vắng của số nhiều các quan điểm. Thay vì thế, ta sẽ nhận ra một sự thu hẹp đáng lo ngại những ý niệm của Trung Quốc về Nhật Bản. Đôi khi vẫn có những tham chiếu đến mối quan hệ kinh tế trọng yếu ràng buộc Trung Quốc và Nhật Bản, như sự kiện hồi tháng 9/2012, ở thời điểm cao trào của những cuộc biểu tình phản kháng và tẩy chay chống Nhật đang lan rộng ở Trung Quốc, tờ Nhân dân Nhật báo đã nhắc nhở độc giả của mình rằng “bất cứ một sự đổ vỡ nghiêm trọng nào trong quan hệ thương mại song phương [giữa Trung Quốc và Nhật Bản] đều có thể gây tổn hại cho cả hai quốc gia”. Song những tham chiếu như vậy đang ngày càng trở nên hiếm hoi. Hiện nay, những nhãn mác đáng chú ý nhất trong nghị trình học thuật và chính thống của Trung Quốc về Nhật Bản là những thuật ngữ kiểu như “quyền lực suy giảm”, “xâm lược lịch sử”, “cánh hữu” và “chủ nghĩa thân tộc”, cùng với những biểu trưng của tiến trình giải trừ quân bị của Nhật Bản từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai như các Phiên tòa Tokyo, Tuyên bố Cairo, và Tuyên bố Potsdam. Những nhãn mác này đã mô tả một hình ảnh hết sức phiến diện về Nhật Bản. Dù là công cụ hay là gì khác nữa, chúng đều tạo thành quan điểm cho rằng Nhật Bản thua kém Trung Quốc, rằng lịch sử xâm lược đã khiến Nhật Bản không đủ tư cách nắm giữ vai trò cường quốc “quy chuẩn”, và hành vi “phi pháp” và “dân tộc chủ nghĩa” của Nhật Bản – chứ không phải là bất cứ hành động nào từ phía Trung Quốc – đang thách thức hiện trạng ở châu Á. Quan trọng không kém, những nhãn mác này cũng giúp giới chức và các nhà khoa học Trung Quốc đặt tương lai của Trung Quốc bên cạnh quá khứ của Nhật Bản; họ cho rằng, bởi lẽ Trung Quốc không quân phiệt và dân tộc chủ nghĩa như Nhật Bản, nên thế giới không cần phải e sợ và kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sau cùng, nghị trình này về Nhật Bản đã đặt ra những vấn đề quan trọng sống còn đối với việc trị lý hòa bình tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Như Evelyn Goh mới đây đã nhận định, “bước chuyển tiếp trật tự đang diễn ra đòi hỏi một sự tính toán cho nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản về những điều kiện để Nhật Bản tái hòa nhập với cộng đồng khu vực hiện thời” ở châu Á. Song, như đã thấy rõ từ phân tích này, những quan niệm của Trung Quốc vẫn là những quan điểm nhận thức hẹp hòi về Nhật Bản với tính cách là một thế lực gây hấn, quân phiệt và bất hợp pháp. Mọi sự tính toán cho nhau đều có vẻ như bất khả thi. Điều này có nghĩa Mỹ sẽ tiếp tục là một “nhân tố trung lập” giữa một Trung Quốc đầy năng lực cạnh tranh và Nhật Bản, từ đó dần phong hóa những nỗ lực của Trung Quốc nhằm tạo dựng một trật tự mới ở châu Á, trong đó sức mạnh và uy quyền được chia sẻ ngang bằng hơn giữa Mỹ và Trung Quốc. Tháng 10/2013, ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc đã tổ chức một hội nghị công tác quan trọng về vấn đề ngoại giao khu vực, một hội nghị có vẻ nhằm tìm cách tái thiết và phục hồi các mối quan hệ trong khu vực của Trung Quốc sau một thời kỳ khó khăn kéo dài 3 – 4 năm. Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Trung Quốc củng cố “mối quan hệ bạn hữu” với các quốc gia láng giềng, nhận định “khu vực châu Á – Thái Bình Dương là đủ lớn để tất cả các quốc gia cùng phát triển”, đồng thời thúc giục Trung Quốc thực hiện những bước tiến tiên phong để tăng cường an ninh khu vực. Nghị trình mới này của Trung Quốc tuy có liên quan đến Nhật Bản song vẫn chưa rõ ràng. Từ trước đến nay, ta vẫn chỉ có chút ít dẫn chứng từ Trung Quốc chứng minh tư duy sáng tạo về vai trò mà một Nhật Bản đầy quyền năng có thể nắm giữ bên cạnh một Trung Quốc đầy quyền năng. Trong khi một số người, như Yuan Peng, đã thừa nhận ý nghĩa quan trọng của việc tăng cường mối quan hệ ba bên Trung – Nhật – Mỹ với tính cách là một “điều kiện tiên quyết” để đạt được “quan hệ cường quốc kiểu mới”, thì cách tư duy kiểu này vẫn là hiếm thấy. Trừ khi Trung Quốc suy xét lại vai trò của Nhật Bản ở châu Á, và việc làm thế nào để quá trình chuyển tiếp quyền lực có thể diễn ra theo cách chấp nhận được cho cả Trung Quốc lẫn Nhật Bản, bằng không ta sẽ khó có thể chứng kiến thành tựu lớn từ “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc.

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần II


Doanh nghiệp Mỹ đã giành được phần lớn lợi nhuận trong thương mại Trung – Mỹ

Báo cáo của Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ 59% xuất siêu của Trung Quốc năm 2017 đến từ thương mại gia công, 57% đến từ doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp ở Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ có thể nói chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài. Kết quả nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) năm 2010 cho biết trong số các hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc như dệt may, da giày…, lợi nhuận mà thương nhân nhập khẩu và thương nhân bán lẻ ở Mỹ được hưởng chiếm tới 90% tổng lợi nhuận. Doanh nghiệp xuất khẩu nhiều nhất của Trung Quốc năm 2017 là Công ty Foxconn Trịnh Châu đã sản xuất điện thoại cho Công ty Apple của Mỹ với số tiền là 104 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH], dường như đã chiếm một nửa lượng tiêu thụ điện thoại của Apple trên toàn thế giới, kim ngạch lên tới 28,1 triệu USD [số liệu không kiểm tra bản gốc được nên không chính xác – NTH]. Điện thoại iPhone được thiết kế, nghiên cứu và phát triển ở Mỹ, nhưng trên 80% linh kiện lắp ráp được sản xuất tại Trung Quốc. Một bài viết trên tờ Foreign Affairs ước tính khi bán một chiếc điện thoại iPhoneX với giá 999 USD, chi phí chế tạo ở Trung Quốc chỉ từ 3 đến 6% tổng chi phí 370 USD, công ty Apple đã giành được phần lớn lợi nhuận. Công ty Apple có tài sản bao gồm tiền mặt và cổ phiếu lên tới 250 tỷ USD ở nước ngoài, sau khi quốc hội Mỹ thông qua dự thảo luật cải cách thuế, công ty này tuyên bố sẽ thanh toán một lần khoản thuế đánh vào lợi nhuận ở nước ngoài với số tiền là 38 tỷ USD, rút số tiền 245,1 tỷ USD ở nước ngoài về Mỹ, đồng thời có kế hoạch đầu tư hơn 350 tỷ USD tại Mỹ trong 5 năm tới, tăng thêm 20.000 việc làm, điều này tương đương với việc đem số tiền kiếm được ở Trung Quốc trở về Mỹ. Tập đoàn Foxconn sản xuất điện thoại iPhone cho Apple đã quyết định xây dựng nhà máy ở Mỹ, tổng đầu tư lên tới 10 tỷ USD, sẽ cung cấp 13000 việc làm tại bang Wisconsin. Có thể nói, trong chuỗi giá trị toàn cầu, xuất siêu phản ánh ở Trung Quốc, nhưng xuất siêu lợi ích lại phản ánh ở Mỹ.

Tốc độ tăng trưởng xuất siêu thương mại dịch vụ nhanh chóng với kim ngạch rất to lớn

Cách tính toán của Mỹ lấy kim ngạch nhập khẩu trừ đi kim ngạch xuất khẩu thấy tình trạng nhập siêu đã không xem xét đến tăng trưởng thương mại dịch Mỹ – Trung. Trong 10 năm qua, tăng trưởng xuất khẩu của ngành dịch vụ Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5 lần. Năm 2017, kim ngạch thương mại dịch vụ giữa Trung Quốc và Mỹ là 118,2 tỷ USD, trong đó giá trị dịch vụ của Mỹ được Trung Quốc mua lên tới 90 tỷ USD, mà kim ngạch 90 tỷ USD đó không được thể hiện trong tính toán thương mại Trung – Mỹ. Hội đồng thương mại Mỹ – Trung nêu rõ Trung Quốc là điểm lớn thứ hai của ngành xuất khẩu dịch vụ của Mỹ, tổng số tiền xuất siêu dịch vụ của Mỹ sang Trung Quốc là 53 tỷ USD (Trung Quốc thống kê là 54,7 tỷ USD). Phần xuất sei6u dịch vụ sang Trung Quốc của Mỹ đã bị bỏ qua mà không tính đến.

Thay đổi môi trường kinh tế chính trị trong nước và quốc tế là nhân tố quan trọng gây ra va chạm thương mại

Sự thay đổi môi trường chính trị bên trong nước Mỹ là động lực quan trọng

Va chạm thương mại có liên quan đến nền tảng chính trị của quan hệ thương mại Trung – Mỹ có sự thay đổi. Chuyên gia nổi tiếng về kinh tế chính trị học của Đại học Harvard (Mỹ) Dani Rodrik cho rằng chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến việc tái phân phối trong chính sách đối nội của một quốc gia. Toàn cầu hóa kinh tế đã tạo ra kẻ thắng và người thua ở Mỹ, sự chia rẽ giữa giới tinh hoa của Mỹ và giới bảo thủ truyền thống ở Mỹ do tích tụ vấn đề trong nhiều năm đã giúp Trump đắc cử tổng thống, do đó hiện tượng Trump là sự phản ánh ở mức độ nhất định nguyện vọng của nhân dân.

Có học giả Mỹ cho rằng: “Trump thiếu kiên nhẫn hơn các tổng thống tiền nhiệm, nguyên nhân là sự mỏng yếu của ông về chính trị, 2018 cũng là năm diễn ra cuộc bầu cử quốc hội giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, Trump phải giành được thắng lợi to lớn về ngoại giao để sánh ngang với những việc làm vĩ đại của Nixon năm 1972”. Để làm hài lòng cư tri thuộc tầng lớp hạ lưu bị tác động ở những bang có nền công nghiệp “sắt gỉ” (ngành công nghiệp cũ bị suy thoái) trong tiến trình xóa bỏ công nghiệp hóa ở Mỹ, Trump mong muốn thông qua phương thức chiến tranh thương mại quyết liệt để thể hiện mình là người thực hiện cam kết khi tranh cử, là người anh hùng giúp người Mỹ nguôi giận, gia tăng khả năng chiến thắng của đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử quốc hội lần này, động cơ rõ ràng đó đã được sự đồng thuận của đông đảo mọi người. Ngoài ra, nội bộ Nhà Trắng từ hơn một năm rưỡi cầm quyền của Trump có sự biến động liên tục về nhân sự, sau hàng loạt hành động “tẩy rửa biển hiệu”, bao gồm hàng loạt người thuộc phái ôn hoa như Gary Cohn đến từ Wall Street bị sa thải, hạt nhân của nhóm giúp việc cho Trump về kinh tế hiện nay thể hiện sự cứng rắn rõ ràng đối với Trung Quốc, những người đại diện tiêu biểu nhất là Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer và Cố vấn thương mại Nhà Trắng Peter Navarro (Cuốn sách “Chết bởi Trung Quốc” của Navarro trở thành cương lĩnh để Mỹ tấn công thương mại đối với Trung Quốc). Tháng 3/2018, Trump cũng đã bổ nhiệm John Bolton làm Cố vấn an ninh quốc gia, Mike Pompeo làm ngoại trưởng, tạo thành một nội cách mà phe diều hâu mạnh nhất trong lịch sử Mỹ.

Sự thúc đẩy trực tiếp từ chuyển đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế Trung Quốc và Mỹ

Cải cách mở cửa được 40 năm, thành công trong phát triển kinh tế Trung Quốc đã thể hiện sự chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Mô hình phát triển tăng trưởng cao dựa vào lực lượng lao động đông đảo và định hướng xuất khẩu được các chuyên gia kinh tế gọi là mô hình phát triển công xưởng của thế giới, làm cho kinh tế Trung Quốc nhanh chóng vươn lên, nhảy vọt trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, mô hình phát triển công xưởng của thế giới dựa vào tiêu hao tài nguyên nhiều, lợi thế dân số, trả giá về môi trường và bán nhiều lãi ít đã đi đến hồi kết. Xem xét từ cấp độ vĩ mô, có thể xuất siêu lớn mà xuất khẩu giành được có nhân tố nhất định từ tình trạng quá dư thừa tính lưu động, xem xét về vi mô, có thể thấy sự thay đổi cơ cấu lao động làm cho ưu thế về giá thành trong ngành chế tạo tập trung nhiều lao động không còn nữa, ngành chế tạo với công nghệ lạc hậu đã mất khả năng cạnh tranh trên thế giới. Trung Quốc cũng như cộng đồng quốc tế không thể tiếp tục thực hiện mô hình tăng trưởng theo chiều rộng như tiêu hao nhiều tài nguyên, lượng khí thải cao, môi trường ô nhiễm nặng… Kinh tế Trung Quốc đang trải qua sự chuyển đổi mô hình sâu sắc, mô hình tăng trưởng lấy đầu tư làm động lực chuyển sang lấy tiêu dùng làm động lực cần thông qua không ngừng ưu việt hóa cơ cấu sản xuất, thông qua đổi mới công nghệ để thực hiện nâng cấp ngành sản xuất, nâng lên vị trí cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là nội dung cốt lõi của kinh tế Trung Quốc từ tăng trưởng với tốc độ cao chuyển sang giai đoạn phát triển chất lượng cao trong bối cảnh thời đại mới.

Nước Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương, cũng đang gặp rắc rối khi kinh tế suy thoái, từ số liệu thống kê của Cơ quan phân tích kinh tế M4y (BEA), có thể thấy sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tăng trưởng kinh tế của Mỹ đã trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên được gọi là “thời kỳ 4%”, thời kỳ đó là giai đoạn tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ năm 1950 đến 1960 là 4,2%; giai đoạn từ năm 1970 đến 1990 tăng trưởng chậm lại xuống còn 3,3%, giai đoạn hai gọi là “thời kỳ 3%”; tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 thuộc “thời kỳ 2%”, tốc độ tăng bình quân trong 10 năm đầu thế kỷ 21 là 2,7% từ năm 2007 đến 2017 đã giảm xuống còn 2,3%. Giáo sư Lư Phong ở Đại học Bắc Kinh phân tích rằng xu thế kinh tế tăng trưởng chậm lại đã tạo ra tình trạng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào chính sách kích thích nới lỏng tiền tệ. Với mô hình phân công quốc tế toàn cầu hóa, ngành công nghiệp Mỹ đã xuất hiện xu hướng lưỡng cực hóa – một cực là ngành sản xuất chất lượng cao tập trung nhiều tri thức và công nghệ, một cực khác là nông nghiệp, kết quả là làm suy yếu ngành chế tạo của Mỹ. Cựu chủ tịch Ngân hàng dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Alan Greenspan cho rằng ảnh hưởng dự trữ ngoại tệ của Mỹ đối với đầu tư trước năm 1980 rất rõ ràng, tăng trưởng kinh tế sau năm 1980 đã tìm được một động lực khác là tín dụng, các khoản vay của Mỹ trên toàn thế giới đã nhanh chóng tăng lên 8000 tỷ USD, nhanh chóng chuyển từ xã hội công nghiệp sang xã hội tiêu dùng. Do đó, theo quan điểm của nhiều người, vấn đề mà Trump khởi xướng không phù hợp với “chấn hưng ngành chế tạo”  theo đặc trưng kinh tế Mỹ, là một điều chỉnh mà ông cho rằng do toàn cầu hóa trước đây đã đưa lộ trình phát triển kinh tế Mỹ vào con đường sai lầm. Đối với việc tấn công về thuế nhằm vào Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Canada, Mexico…, kết hợp với nhóm biện pháp kinh tế giảm thuế với quy mô lớn và hạn chế tăng lãi suất, theo quan điểm của nhóm giúp việc cho Trump, sẽ đẩy nhanh sự lưu động của đầu tư toàn cầu về Mỹ, thúc đẩy ngành chế tạo “trở về” Mỹ.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần III


Họ nói thêm rằng, quan hệ kinh tế Trung – Mỹ hiện thời là một mối quan hệ cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, cả Trung Quốc và Mỹ đều không tính đến việc thực thi một sự cạnh tranh kinh tế tương tự vốn đã đẩy Đức và Nhật Bản đến bờ vực chiến tranh. Song điều quan trọng là, các tác giả này và cả các học giả Trung Quốc khác đều không thừa nhận mối quan hệ kinh tế cùng bổ trợ và phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nhật Bản cũng có thể tạo thành nền tảng cho một “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa hai quốc gia này. Thay vì thế, những học giả như Liu Jiangyong chỉ đơn thuần nhấn mạnh, quan hệ kinh tế Trung – Nhật đã phải chịu nhiều tổn thất bởi tình trạng căng thẳng về an ninh và chính trị trong quan hệ song phương.

Theo Yang Lu-hui (Dương Lỗ Tuệ), mối quan hệ của Nhật Bản với Mỹ thời hậu Chiến tranh Lạnh chính là một mẫu hình “tiêu cực” buộc phải ngăn ngừa trong tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. “Quan hệ cường quốc kiểu mới” không thể học theo mối quan hệ đó, vốn được ông mô tả như là một “liên minh quân sự giữa hai cường quốc” “không đối xứng” (buduichen), “không cân sức” (feijunhengxing), và một trong số hai quốc gia này không thỏa mãn với vị thế ngang bằng (buduideng). Vì mối quan hệ không ngang bằng ấy mà Yang Lu-hui kết luận rằng, “kiểu quan hệ cường quốc Nhật – Mỹ rõ ràng không phải là một lựa chọn chiến lược cho quan hệ cường quốc kiểu mới Trung – Mỹ”.

Trật tự thời hậu Thế chiến thứ hai: Chúng ta không thể để Nhật Bản đảo ngược trật tự quốc tế thời hậu chiến

Trong các cuộc luận bàn về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, người Trung Quốc cũng thường xuyên tham chiếu đến trật tự quốc tế thời hậu Thế chiến thứ hai (zhanhou guoji zhixu) cùng với vị thế của Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Những tham chiếu này nhằm hai mục đích. Trước hết, chúng cho phép các nhà lãnh đạo Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản vì hành vi mà họ xem là nỗ lực lật đổ trật tự thời hậu chiếu: những chuyến viếng thăm của Thủ tướng Shinzo Abe đến Đền Yasukuni, các kế hoạch xét lại Hiến pháp thời hậu chiến, và thái độ không sẵn sàng chính thức thừa nhận sự tồn tại của một cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư/Senkaku. Chẳng hạn, ở một trong những bài phát biểu mới đây về “quan hệ cường quốc kiểu mới”, Chủ tịch Tập Cận Bình đã chỉ rõ, Nhật Bản đang đe dọa lật đổ trật tự quốc tế thời hậu chiến được hình thành từ khi kết thúc Thế chiến thứ hai.

81 năm trước, Nhật Bản đã khiến thế giới sửng sốt với “Biến cố Thẩm Dương”. Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản không chỉ gây ra những đớn đau khôn xiết cho người dân Trung Quốc, mà còn gây ra những tổn thương to lớn cho các quốc gia châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có nước Mỹ. Một số thế lực chính trị ở Nhật Bản hông những không truy vấn lương tâm mà còn làm sâu sắc thêm những thương tích chiến tranh đã gây ra cho các nước láng giềng và các nước châu Á – Thái Bình Dương, và đang lặp lại những sai lầm tương tự, đang diễn hài kịch “mua lại các đảo”, công khai nghi ngờ tính hợp pháp quốc tế của “Tuyên bố Cairo” và “Tuyên bố Potsdam”, làm căng thẳng thêm các cuộc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng, và vân vân. Cộng đồng quốc tế không cần tính đến nỗ lực của Nhật Bản nhằm phủ nhận các hệ quả của cuộc Chiến tranh thế giới chống chủ nghĩa phát xít, hay nhằm thách thức trật tự quốc tế thời hậu chiến. Nhật Bản nên dừng lại trước khi quá muộn, nên ngừng lại việc gây tổn hại đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc với những phát ngôn và hành động hoàn toàn sai lầm của mình”.

Tuyên bố này của Chủ tịch Tập Cận Bình cũng như những tuyên bố và văn bản chính thống khác ở Trung Quốc thời gian gần đây đều tham chiếu phổ rộng đến các biểu trưng của trật tự thời hậu chiến, như Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam. Những văn kiện pháp lý mang tầm quốc tế này đã được “ba đồng minh lớn” – Mỹ, Anh và Trung Quốc – vận dụng để soạn thảo các điều kiện đầu hàng của Nhật Bản, để ghi nhận vai trò vô cùng đặc biệt thời hậu chiến của Nhật Bản với tính cách là một quyền lực phi quân sự miễn cưỡng và “phi chuẩn”. Những tuyên bố như phát ngôn của Chủ tịch Tập Cận Bình về hồi chuông cảnh tỉnh từ phía Trung Quốc trước những gì họ xem là lời luận giải tiềm tàng cho một trật tự thời hậu chiến đã đóng vai trò là “nền tảng của các quan hệ quốc tế”. Trật tự quốc tế theo tính toán của Trung Quốc là một trật tự kiềm chế không cho Nhật Bản mở rộng tự do vị thế đặc biệt thời hậu chiến, ngăn giữ Nhật Bản thực thi các bước tiến quân sự chống phá sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc.

Thứ hai, người Trung Quốc coi trọng trật tự thời hậu chiến không chỉ bởi cách thức trật tự này giúp giải trừ quân bị ở Nhật Bản, mà còn bởi cách nó gán cho Trung Quốc (dẫu là Trung Hoa dân quốc) một vị thế đặc biệt với tính cách là một trong những cường quốc dẫn đầu trong hệ thống quốc tế. Viện dẫn những hình tượng và biểu trưng của trật tự quốc tế thời hậu chiến, như các Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam, các nhà lãnh đạo đã khôn khéo nhắc nhở nước Mỹ rằng Trung Quốc nên được nhìn nhận là một cường quốc ngang sức ngang tài và là “một điểm trong quá khứ, chứ không phải là quá khứ lâu dài, khi Trung Quốc đã sát cánh cùng các thế lực cấp tiến chống chủ nghĩa phát xít”. Thay vì nhấn mạnh những điểm khác biệt với nước Mỹ, các tài liệu của Trung Quốc chú trọng lịch sử và những giá trị chung này, như đã ca ngợi những nỗ lực của nước Mỹ hồi tháng 9/2012:

Trong suốt thời kỳ Thế chiến thứ hai, sức mạnh Mỹ là một đóng góp quan trọng để đánh bại Nhật Bản. Đóng góp lịch sử của nước Mỹ đối với người dân châu Á, trong đó có Trung Quốc, cần được đánh giá cao và tôn trọng hết mức. Nước Mỹ từ sau chiến tranh đã mang trọng trách “tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật”.

Những ý niệm về sự ngang bằng, vị thế cường quốc và đóng góp chung cho trật tự quốc tế – xuất phát từ trải nghiệm và hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai – đã giúp Trung Quốc vững tin kêu gọi một “quan hệ cường quốc kiểu mới” với nước Mỹ.

Song vấn đề là ở chỗ giới chức Trung Quốc chỉ muốn duy trì một số khía cạnh nhất định của trật tự quốc tế thời hậu chiến: vị thế cường quốc của Trung Quốc và sự giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản. Còn những khía cạnh khác của trật tự thời hậu chiến – nhất là liên minh Mỹ – Nhật – thì lại là vấn đề xa vời đối với Bắc Kinh. Các tư liệu và phát ngôn chính thống của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” đã để lộ thái độ lo ngại về cách thức liên minh Mỹ – Nhật cho phép Mỹ “chuyển giao trái phép” chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư cho Nhật Bản hồi những năm 1970, về kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản trong nội bộ liên minh Mỹ – Nhật, và về cách thức hiện trở thành một nguyên tắc quan trọng cốt yếu của liên minh này trong kế hoạch “tái cân bằng” sức mạnh quân sự Mỹ ở châu Á. Đây là thế tiến thoái lưỡng nan của Trung Quốc: cơ chế thời hậu chiến cho phép giải trừ quân bị hoàn toàn ở Nhật Bản – liên minh Mỹ – Nhật – hiện đang tạo điều kiện cho kế hoạch tái vũ trang của Nhật Bản và có thể được khai thác để chống phá sự trỗi dậy của Trung Quốc. Mặc dù mong muốn duy trì trật tự quốc tế thời hậu chiến, nhưng nghị trình Trung Quốc về trật tự này lại không thừa nhận bất cứ một động thái nào trong liên minh Mỹ – Nhật. Người Trung Quốc muốn liên minh Mỹ – Nhật duy trì nguyên trạng, chỉ để khóa chốt Nhật Bản vào vị thế “phi chuẩn” thời hậu chiến. Đây là một yêu cầu quan trọng, thậm chí đã trở nên quan trọng hơn bởi thực tế là bản thân sự trỗi dậy của Trung Quốc đang làm biến đổi trật tự chiến lược ở châu Á, chắc hẳn đang thôi thúc những cường quốc như Mỹ và Nhật Bản phải đáp lời.

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44

Nguyên nhân hình thành sự mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ – Phần I


Căn cứ vào số liệu thống kê thương mại mới nhất do Bộ Thương mại Mỹ công bố, nhập siêu của Mỹ năm 2017 cao kỷ lục trong 9 năm gần đây, lên tới 566 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2017 giữa Mỹ và Trung Quốc là 635,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc của Mỹ chỉ là 130,3 tỷ USD. Mỹ đã nhập khẩu 505,6 tỷ USD từ Trung Quốc, nhập siêu là 375,2 tỷ USD. Nhập siêu lớn mà Mỹ tính toán có phải do thương mại bất bình đẳng với Trung Quốc hay không? Xem xét từ nguyên lý thương mại và thực tế của quan hệ thương mại Trung – Mỹ, sự mất cân bằng thương mại song phương được hình thành từ những phương diện sau:

Vấn đề mang tính cơ cấu do sự phát triển kinh tế thế giới nhanh chóng

Nhập siêu là kết quả tất yếu từ vị thế vượt trội của đồng USD trong hệ thống tiền tệ quốc tế

Về nguyên lý kinh tế, mất cân bằng thương mại của Mỹ trước hết là do dự trữ tiền tiết kiệm quốc dân của nước này. Nghiên cứu của chuyên gia kinh tế nổi tiếng Martin Feldstein cho thấy: Xuất khẩu ròng = (dự trữ cá nhân – đầu tư) + (thuế thu được – chi ngân sách chính phủ). Quan điểm chung là sự mất cân bằng thương mại của một quốc gia về căn bản không phải chứng tỏ quốc gia đó căn cứ vào số liệu về nguồn thu để xác định nguyên tắc chi ngân sách, mà là trạng thái thu không bù được chi. Nếu kim ngạch đầu tư của Mỹ vượt trên số lương dự trữ của cả đất nước thì phải thu hút nguồn tiền từ các khu vực khác trên thế giới để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa hai bên, cũng đã tạo ra nhập siêu hiện nay. Ngoài ra, sử dụng hệ thống dự trữ tiền tệ quốc tế với trụ cột là nguồn vay cảu chính phủ Mỹ, một mặt in nhiều đồng USD mà Mỹ không sợ lạm phát để duy trì mức độ tiêu dùng vượt quá năng lực sản xuất của họ, mặt khác sự lưu động của đồng USD trở thành sản phẩm công cộng của hệ thống thương mại quốc tế. Chuyên gia kinh tế nổi tiếng Triffin Dilemma cho rằng một khi đồng tiền của một quốc gia trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế có tầm ảnh hưởng thế giới, nhất định sẽ nhập siêu về thương mại, đồng thời nếu Mỹ không duy trì nhập siêu, tính lưu động của đồng USD sẽ giảm đi, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại toàn cầu.

Tiết kiệm của hộ gia đình liên tục giảm đi và trái phiếu của Mỹ tăng vọt làm gia tăng sự chênh lệch về thương mại

Gần 20 năm qua, tỷ lệ tiết kiệm của hộ gia đình tại Mỹ liên tục giảm, tỷ lệ này đã giảm từ 8% vào những năm 1990 xuống còn 1,75% năm 2006, giảm xuống mức âm vào 6 tháng đầu năm 2007. Tỷ lệ nợ của Mỹ giảm từ 49% năm 1994, xuống còn 34% năm 2000, nhưng lại tăng lên 70% vào năm 2006. Tỷ lệ tiết kiệm hộ gia đình năm 2017 giảm xuống mức 3,6% mà tỷ lệ nợ của nhà nước đã lên tới hơn 100%.

Hệ thống phân công quốc tế hiện tại đã quyết định cục diện thương mại Trung – Mỹ

Lợi thế so sánh tương đối của Mỹ là ngành tập trung nhiều vốn, lợi thế so sánh cảu Trung Quốc là ngành sản xuất tập trung nhiều lao động. Tỷ lệ ngành sản xuất sơ cấp chiếm 8% trong GDP của Trung Quốc, tỷ lệ này chỉ chiếm 1% ở Mỹ; tỷ lệ ngành sản xuất công nghiệp (ngành sản xuất thứ hai) chiếm 20% GDP của Trung Quốc, chỉ chiếm 12% GDP của Mỹ; 53% GDP của Trung Quốc đến từ ngành dịch vụ (ngành sản xuất thứ ba) cò tỷ lệ này chiếm 79% ở Mỹ, cơ cấu kinh tế của Trung Quốc có vai trò chủ đạo của nông nghiệp cơ sở và ngành chế tạo, cơ cấu kinh tế của Mỹ là ngành dịch vụ nắm vai trò chủ đạo. Xuất siêu ngành dịch vụ của Mỹ năm 2016 lên tới 249,4 tỷ USD, mà nhập siêu ngành dịch vụ của Trung Quốc cùng giai đoạn đó là 240,9 tỷ USD. Thương mại song phương giữa Trung Quốc và Mỹ có sự hỗ trợ lẫn nhau giữa hai nước về lợi thế so sánh và cơ cấu kinh tế. Trong thương mại hàng hóa, Mỹ nhập siêu, trong thương mại dịch vụ, Trung Quốc nhập siêu. Từ năm 2006 đến 2014, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu dịch vụ của Mỹ đối với Trung Quốc hàng năm là 16,7%, lên tới 33 tỷ USD vào năm 2015, trong đó bao gồm du lịch và giáo dục (57,2%), tiền thuế bản quyền (12,3%), giao thông (10,1%), dịch vụ thương mại (7,7%) và dịch vụ tài chính (6,3%).

Việc quản lý xuất khẩu của Mỹ làm gia tăng chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước

Có thể nói, một nguyên nhân gây mất cân bằng thương mại Trung – Mỹ hoàn toàn do việc Mỹ hạn chế xuất khẩu công nghệ cao sang Trung Quốc, luôn không thay đổi màu sắc của Chiến tranh Lạnh. Năm 2001, tỷ trọng sản phẩm công nghệ của Mỹ trong tổng lượng hàng hóa xuất khẩu sang Trung Quốc là 16,7%, tỷ lệ này gảim xuống còn 8,2% năm 2016. Việc làm này không tương xứng với địa vị cường quốc công nghệ của Mỹ và hiện trạng của đối tác quan trọng thuơng mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo báo cáo của Quỹ Hòa bình Quốc tế Carnegie được công bố vào tháng 4/2017, nếu mức độ hạn chế xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc giảm xuống bằng mức mà Mỹ dành cho Brazil, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc có thể giảm tối đa ở mức 24%; nếu Mỹ giảm bằng mức hạn chế đối với Pháp, nhập siêu có thể giảm tối đa 34%.

Phương pháp thống kê truyền thống có sự đánh giá sai lầm nghiêm trọng về chênh lệch cán cân thương mại Trung – Mỹ

Đã hình thành cục diện đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trong hệ thống chuỗi giá trị toàn cầu

Theo báo cáo nghiên cứu công bố vào tháng 3/2018 của quốc hội Mỹ, trong chuỗi giá trị toàn cầu, sản phẩm giữa Trung Quốc và Mỹ dường như đã đạt đến bước đi “có linh kiện Mỹ trong sản phẩm của Trung Quốc, có linh kiện Trung Quốc trong sản phẩm Mỹ”. Ví dụ như sản phẩm điện tử, cả thế giới có hơn 900 nhà máy nhận thầu chế tạo vỏ ngoài cho các sản phẩm của công ty Apple, trong đó, số nhà máy ở Trung Quốc là 358. Trong số 10 nhà máy sản xuất chip của Intel của Apple, có 3 nhà máy đặt ở Mỹ, 2 nhà máy đặt ở Trung Quốc. Trung Quốc và Mỹ triển khai hợp tác thương mại là kết quả tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phân công sản xuất quốc tế, sắp đặt ưu hóa nguồn lực. Mỹ đứng ở vị trí cao và trung bình trong chuỗi giá trị toàn cầu, Trung Quốc ở vị trí trung bình thấp. Cùng với sự điều chỉnh trong chuỗi sản xuất và sự phát triển xuyên quốc gia của chuỗi cung ứng, việc thiết kế và hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm giá trị gia tăng cao có quan hệ ngày càng chặt chẽ với sản xuất và khâu lắp ráp chi phí thấp, doanh nghiệp Mỹ đã nắm chắc được các khâu có giá trị gia tăng cao như thiết kế sản phẩm, chế tạo linh kiện cốt lõi, vận chuyển lưu kho và kinh doanh tiêu thụ…, từ đó giành được phần lớn lợi nhuận. Xem xét từ góc độ giá trị gia tăng, căn cứ vào báo cáo “Giá trị thương mại gia tăng” do Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) công bố năm 2011, giá trị gia tăng trong nước của hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ chỉ chiếm 46%. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy 77% xuất khẩu giá trị gia tăng cao của Trung Quốc là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất. Ngân hàng đầu tư Goldman Sachs của Mỹ ước tính chỉ có 30% xuất siêu của Trung Quốc sang Mỹ là hàng hóa xuất khẩu có giá trị gia tăng cao, còn 46% là do doanh nghiệp nước ngoài sản xuất.

Phương pháp thống kê của Mỹ quá đơn giản và xa rời tình hình thực tế

Chính quyền Trump lâu nay lấy tình trạng nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ là 375,2 tỷ USD làm lý do chính đáng để phát động chiến tranh thương mại, thực tế cho thấy đó là điều cần phải xem xét lại. Thứ nhất, cách tính chênh lệch cán cân thương mại giữa hai nước có sự khác biệt, chênh lệch giữa các con số lại khá lớn. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Trung Quốc về thương mại Trung – Mỹ năm 2017, chênh lệch cán cân thương mại là 275,8 tỷ USD, trong đó số liệu vênh nhau là 99,4 tỷ USD. Thứ hai căn cứ theo “nguyên tắc xuất xứ hàng hóa” của Mỹ thì Mỹ xuất siêu vào Hong Kong lên tới 32 tỷ USD và xuất siêu gián tiếp sang Đại lục, Trung Quốc với hình thức tái xuất từ Hong Kong, Ma Cao lên tới 100 tỷ USD, đều không được tính vào kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ. Theo quan điểm của giáo sư Kim Xán Vinh của Đại học nhân dân Turng Quốc, chênh lệch thực sự về thương mại giữa hai nước chỉ là 220 tỷ USD. Cuối cùng, tính toán theo giá trị gia tăng, xuất siêu của Trung Quốc đã thu hẹp đi nhiều. Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Oxford nêu rõ có 44% sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ là “sản phẩm trung gian”, nếu cắt giảm phần giá trị này đi, nhập siêu của Mỹ từ Trung Quốc sẽ giảm 50% cũng là mức nhập siêu của Mỹ từ Liên minh châu Âu (EU). Căn cứ vào tính toán của Ngân hàng Deutch, nếu xem xét nhân tố giá trị gia tăng, với giả thiết là cơ cấu xuất khẩu hông có sự thay đổi rõ rệt, nhập siêu từ Trung Quốc vào Mỹ trên thực tế năm 2017 chỉ khoảng 31 tỷ USD.

(còn tiếp) 

Nguồn: CVĐQT số 10/2018

Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc? – Phần II


Các bài viết của Trung Quốc sau đó đều đề cập chi tiết thêm về ảnh hưởng của cuộc tranh chấp biển đảo đến “quan hệ cường quốc kiểu mới”. Các bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo hồi cuối năm 2012 đầu năm 2013 đều nêu ra một lập luận rõ ràng rằng kiểu quan hệ này sẽ không thể đạt được nếu phía Mỹ không tôn trọng “các lợi ích cốt lõi” (hexin liyi) của Trung Quốc. Một bài xã luận còn cho rằng, việc “tôn trọng các lợi ích cốt lõi” chính là “mấu chốt” của “quan hệ cường quốc kiểu mới” đang được chung sức tạo dựng, và rằng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ chính là vấn đề mang tính căn bản đối với các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Một bài xã luận đăng hồi tháng 12/2012 thậm chí đã bày tỏ thái độ thẳng thắn hơn:

Lập trường của Mỹ liên quan đến việc ‘hoan nghênh một Trung Quốc cường lực, thịnh vượng và hòa bình’ cùng với quan niệm của Trung Quốc về ‘quan hệ cường quốc kiểu mới’ xứng đáng được xác nhận. Tuy nhiên, việc tạo thành một quan hệ cường quốc Trung – Mỹ kiểu mới sẽ không hiệu quả nếu các nước này chỉ nói mà không làm. Mỹ cần học cách tôn trọng các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, và hạn chế những việc làm thiếu khôn ngoan… Vấn đề quần đảo Điếu Ngư có liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc và Mỹ nên hiểu rõ tính nhạy cảm cao độ của vấn đề này; xuất phát từ triển vọng hòa bình và ổn định ở khu vực, Mỹ phải thận trọng, không nên can thiệp vào vấn đề chủ quyền ở quần đảo Điếu Ngư, và không [nên] có bất cứ hành động nào có thể làm sâu sắc thêm mâu thuẫn và khiến cho tình hình trở nên phức tạp hơn”.

Như Ren Xiao đã chỉ rõ, khái niệm về một “quan hệ cường quốc kiểu mới” của Trung Quốc thừa nhận, con đường duy nhất để Mỹ và Trung Quốc phòng tránh tương lai đối đầu chính là việc tìm ra những cách thức thỏa hiệp trước những “vấn đề nhạy cảm” như các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Tuy nhiên, khi tiến hành khảo cứu sâu hơn câu hỏi Nhật Bản sẽ khớp nối ở đâu trong mối quan hệ này, chúng tôi tìm thấy được rất ít bằng chứng chứng minh Trung Quốc sẵn sàng thỏa hiệp trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản. Tháng 1/2013, một bài xã luận trên tờ Nhân dân Nhật báo đã lên tiếng cảnh báo nước Mỹ, rằng Trung Quốc đơn giản là không thể “nhượng bộ” (tuirang) trong các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, và đã “không từ một thủ đoạn nào” (meiyou renhe huixuan kongjiani), trong vấn đề Điếu Ngư/Senkaku. Theo đó chỉ rõ Mỹ phải học cách “phát ngôn và hành động một cách thận trọng” (jinyan shenxing) trong cuộc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhưng Mỹ đã không làm như vậy khi chỉ trích động thái của Trung Quốc ở biển Hoa Đông, chứ không chỉ trích hành động của Nhật Bản.

Các nguồn tin từ Trung Quốc thừa nhận, tranh chấp quần đảo Điếu Ngư/Senkaku chỉ là một trong số hàng loạt các cuộc tranh chấp chủ quyền, cùng với vấn đề Đài Loan và vấn đề Biển Đông, tất cả đều ẩn chứa tiềm năng làm trật bánh mối quan hệ Trung – Mỹ. Nhưng chính cuộc tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản mới là vấn đề nhận được sự chú tâm nhiều nhất trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” trong hơn 18 tháng qua. Một bài viết của Ruan Zongze – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Quốc tế của Trung Quốc (CIIS) đã nêu bật ý nghĩa quan trọng của vấn đề này thông qua việc đề nghị Trung Quốc nên xem “các tuyên bố và hành động của Mỹ về các vấn đề liên quan đến Nhật Bản như một phép thử giấy quỳ sự ngay thật của Washington đối với Trung Quốc”. Tương tự, Yuan Peng (Viên Bằng) – Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Các quan hệ quốc tế đương đại Trung Quốc (CICIR) cho rằng, tranh chấp biển đảo đã ảnh hưởng đến “ván cờ” (boyi) giữa Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản, và rằng sự “can thiệp” (ganyu) của Mỹ vào cuộc tranh chấp đã làm tăng rủi ro hiện hữu một cuộc đụng độ quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc.

Thời kỳ chuyển giao quyền lực: đánh giá sự trỗi dậy của Trung Quốc bằng cách tham chiếu đến Nhật Bản

Lý do thứ hai để Nhật Bản được quan tâm đặc biệt trong các cuộc luận bàn của Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” chính bởi Nhật Bản là điểm tham chiếu tương phản để đánh giá sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc. Trong lúc khái niệm này được định hình để gán cho tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ, thì một số người đã xem việc Trung Quốc đang vượt hơn Nhật Bản chính là giải pháp chính yếu để Trung Quốc đạt được vị thế cường quốc của mình. Trong một bài viết có tiếng vang, Yuan Peng đã lập biểu đồ sự trỗi dậy của Trung Quốc thông qua việc đánh giá cán cân quyền lực đang thay đổi giữa Trung Quốc và Nhật Bản, tập trung vào tiến trình chuyển giao quyền lực diễn ra hồi năm 2010 khi Trung Quốc thế chỗ Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Theo Yuan Peng, sự chuyển giao quyền lực về kinh tế này giữa Nhật Bản và Trung Quốc là “sự kiện trọng đại nhất trong lịch sử châu Á kể từ [khi Nhật Bản chịu thua trận Trung Quốc trong] Cuộc chiến Trung – Nhật lần thứ nhất, và là sự kiện biểu trưng cho hiện thực trỗi dậy của Trung Quốc. Ông gắn kết sự kiện của những năm 2000 này với cuộc chiến giai đoạn 1894 – 1895 khi Trung Quốc chiếm giữ “vị thế dẫn đầu không thể bàn cãi” ở Đông Á thông qua chế độ triều cống của mình. Yuan Peng nhận định, bằng cách vượt qua nền kinh tế Nhật Bản, Trung Quốc đã hóa giải một “mâu thuẫn lớn” trong trật tự cấu trúc châu Á, vốn xem Trung Quốc là thế lực yếu hơn so với Nhật Bản.

Yuan Peng cũng chỉ ra việc đăng cai thành công Đại hội thể thao Olympic Bắc Kinh 2008, đại lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa hồi năm 2009, và Hội chợ Thương mại quốc tế năm 2010 với tính cách là những biểu trưng quyền lực và vị thế mới nổi của Trung Quốc. Trái lại, ông cho rằng sự suy yếu của Nhật Bản được biểu trưng bởi “hàng loạt những hiểm họa liên tiếp” mà quốc gia này phải gánh chịu hồi năm 2011; nhất là động đất, sóng thần và vụ rò rỉ hạt nhân ở Fukushima. Yuan Peng kết luận, do tiến trình chuyển giao quyền lực này giữa Trung Quốc và Nhật Bản, “trong khoảng 10 – 20 năm sau năm 2010, hai đối thủ cạnh tranh sẽ là Mỹ và Trung Quốc”.

Những bài học lịch sử: tương lai của Trung Quốc sẽ không phải là quá khứ của Nhật Bản

Khía cạnh nổi bật thứ ba trong nghị trình Trung Quốc về “quan hệ cường quốc kiểu mới” là quá khứ của Nhật Bản được dùng làm một điểm tương phản để luận bàn về tương lai của Trung Quốc. Một số học giả đã định hình một cách chuẩn xác khái niệm này bằng việc chỉ rõ sự đối lập giữa tương lai của Trung Quốc và quá khứ của Nhật Bản trong sự trỗi dậy về quyền lực. Theo Zun Zhe (Tôn Triết), “quan hệ cường quốc kiểu mới” giữa Mỹ và Trung Quốc được kiến tạo để tránh bị lạc vào “cựu lộ” mà những cường quốc mới nổi như Nhật Bản (và Đức) đã tạo ra hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ý niệm này rất giống với cách diễn ngôn của Zheng Bijian (Trịnh Tất Kiên) – tác giả của khái niệm “sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc”. Năm 2005, Zheng Bijian viết:

Trung Quốc sẽ không theo bước đường hướng của Đức để thắng thế trong Thế chiến thứ nhất hay đường hướng của Đức và Nhật Bản để thắng thế trong Thế chiến thứ hai, khi những nước này dùng bạo lực để cưỡng đoạt tài nguyên và theo đuổi bá quyền. Trung Quốc cũng sẽ không theo bước lộ trình của những cường quốc ganh đua nhau giành quyền thống trị toàn cầu trong Chiến tranh lạnh”.

Những quan điểm tương tự cũng được Xue Litai (Tiết Lý Thái) và Feng Zheng (Phong Chính) lặp lại, những người đã lên tiếng cảnh báo rằng, do những thay đổi mạnh mẽ về bản chất các quan hệ kinh tế, quyền lực quân sự, ngoại giao, công nghệ và chính trị nội bộ, sẽ là thiếu khôn ngoan nếu “máy móc” chỉ ra những dẫn chứng và khái niệm xưa cũ trong lịch sử để lý giải tương lai mối quan hệ Trung – Mỹ. Họ cho rằng, những khía cạnh “bản sắc dân tộc” (minzu xinge) Trung Hoa hàm nghĩa sự trỗi dậy của họ sẽ vô cùng khác biệt so với sự trỗi dậy của Nhật Bản, và lưu ý rằng Trung Quốc không chia sẻ “tham vọng ngông cuồng” (juda yexin) để mở rộng lãnh thổ mà Nhật Bản đã biểu lộ trong suốt những năm 1930 và 1940. Các tác giả này nhận định, sự gắn kết giữa “chủ nghĩa dân tộc cực đoan”, hành động kiểm soát quân sự của chính phủ Nhật Bản, với các nguồn lực đất đai và tự nhiên khan hiếm đã khiến nước Nhật phải theo đuổi chính sách bành trướng thuộc địa ở Bắc Á và Đông Nam Á để trở thành “bá chủ khu vực” (diqu baquan). Hơn thế, họ thừa nhận các tác nhân kinh tế đã khiến Nhật Bản và Đức theo đuổi các chính sách gây hấn trong suốt những năm 1920 và 1930. Đối với cả hai nước, quyền tiếp cận các nguyên liệu thô cấp thiết như dầu lửa, cao su, quặng sắt, và các nguyên liệu thực phẩm – cùng với tình trạng bất lực trong việc tiếp cận các nguyên liệu này trên thị trường thế giới – chính là chất xúc tác cho những quyết sách xâm lấn và thuộc địa hóa các quốc gia của Đức và Nhật bản. Theo các tác giả này, khác với Nhật Bản, Trung Quốc không có truyền thống bành trướng ra bên ngoài và đó chính là “nền văn minh hướng nội của Trung Quốc” (neixiangxing de Zhonghua wenming).

(còn tiếp) 

Người dịch: Phúc Chi Nhi

Nguồn: Amy King – Where Does Japan Fit in China’s “New Type of Great Power Relations”? – The ASAN Forum. March – April 2014. Vol. 2. No.2

TN 2014 – 43 & 44